Dictionary Search
pháp vương tử
3339梵語 kumārabhūta。音譯究摩羅浮多、鳩摩羅浮。意譯童真。乃菩薩之別名。菩薩爲佛位之繼承者,佛爲法王,故總稱菩薩爲法王子。菩薩與如來法王之關係猶如世間王子與國王之關係,故稱法王子。〔阿彌陀經、大乘本生心地觀經卷二報恩品、大智度論卷四、卷三十二、注維摩經卷一〕
; Kumārabhuta (S), Dharma Prince, Kumāra (S)Đồng tử, Câu ma la vương, Câu ma la thiên, Câu ma la, Pháp vương tử Một danh hiệu để gọi Văn thù Sư lợi Bồ tát. Tên một vị sư.
; Kumàra (S). Son of the Dharma-king, a Bodhisattva.
; Kumarabhuta (skt)—Cưu Ma La Phù Đa—Cưu Ma La Phù—Pháp Vương tử hay Bồ Tát, người kế thừa ngôi vị của Phật để nối truyền Chánh Pháp—Son of the Dharma-king—Bodhisattva—Dharma prince.
; (法王子) Phạm: Kumàrabhùta. Hán âm: Cứu ma la phù đa, Cưu ma la phù.Hán dịch: Đồng chân. Con bậc Pháp vương, là tên khác của Bồ tát. Bồ tát là người kế thừa ngôi vị của Phật, Phật là Pháp vương, nên Bồ tát được gọi chung là Pháp vương tử. Sự quan hệ giữa Pháp vương Như lai và Bồ tát cũng giống như quan hệ giữa Quốc vương và Vương tử ở thế gian, vì thế gọi Bồ tát là Pháp vương tử. [X. kinh A di đà; phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2; luận Đại trí độ Q.4, 32; Chú duy ma kinh Q.1].
Pháp vương tử trú
法王子住; C: fă wángzí zhù; J: hō-ōshi jū; |Giai vị thứ 9 trong Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát. Là giai vị xuất sinh trí huệ tương ứng với giáo pháp của Đức Phật, và niềm xác tín là tương lai sẽ thành Phật.
Pháp vương tử trú 法王子住
[ja] ホウオウシジュウ hō-ōshi jū ||| The ninth of the "ten abidings" 十住 in the 52 stage path of the bodhisattva. The "abiding of the dharma-prince." The stage of producing wisdom in accordance with the Buddha's teaching, and being assured of becoming a Buddha in the future. => Giai vị thứ 9 trong Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ-tát. Là giai vị xuất sinh trí huệ tương ứng với giáo pháp của Đức Phật, và chắc chắn tương lai sẽ thành Phật.
pháp vương tự
3340位於河南登封嵩山之太室山南麓,嵩岳寺之東北。相傳建於漢明帝永平十四年(71)。魏明帝青龍年間改爲護國寺。西晉時於寺前增建法華寺。隋初造舍利塔,改名舍利寺。唐太宗貞觀年間,勅命補修佛像,賜予莊園,改爲功德寺。玄宗開元年間,改稱御容寺。代宗大曆年間,重修殿堂樓閣,改名文殊師利廣德法王寺。至五代時廢壞,而分爲五院,仍沿襲護國、法華、舍利、功德、御容等舊稱。北宋初,合稱五院。仁宗慶曆年間增置殿宇、僧寮,重造佛像,改稱「嵩山大法王寺」。今存毘盧殿、大雄殿及方形十五層塼塔等。寺據嵩山之勝,爲天下名剎之一。
; (法王寺) Chùa ở chân núi phía nam ngọn Thái thất thuộc Tung sơn, huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, tương truyền được sáng lập vào năm Vĩnh bình thứ 10 (71) đời vua Minh đế nhà Hán. Khoảng năm Thanh long đời vua Minh đế nhà Ngụy, chùa được đổi tên là chùa Hộ quốc. Thời Tây Tấn xây dựng thêm chùa Pháp hoa ở phía trước chùa này. Đến đầu đời Tùy, có xây tháp Xá lợi, lại được đổi tên là chùa Xá lợi. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, vua Thái tông ban sắc tu bổ tượng Phật, cấp cho ruộng vườn và đổi tên là chùa Công đức. Đến khoảng năm Khai nguyên, vua Huyền tông lại đổi tên là chùa Ngự dung. Khoảng năm Đại lịch, vua Đại tông ra lệnh sửa lại nhà điện, lầu gác và đổi tên là chùa Văn thù sư lợi quảng đức Pháp vương. Đến đời Ngũ đại, chùa được chia ra 5 viện theo tên cũ: Hộ quốc, Pháp hoa, Xá lợi, Công đức và Ngự dung. Đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi chung là Ngũ viện. Khoảng năm Khánh lịch, vua Tống nhân tông cho xây dựng thêm các nhà điện, phòng tăng, làm lại các tượng Phật và đổi tên là chùa Tung Sơn Đại Pháp Vương. Trong chùa hiện còn các kiến trúc: Điện Tì Lô, Điện Đại Hùng và ngôi tháp 5 tầng, hình vuông, bằng gạch.
Pháp vương 法王
[ja] ホウオウ hō-ō ||| (1) The king of the dharma--the Buddha. (2) A king who is truly concerned about transmitting the Buddhist teaching. => 1. Vua của các pháp – Đức Phật. 2. Vị vua chân thực trong việc truyền bá chính pháp.
pháp vận chí lược
Fa-yiin chih-lueh (C).
pháp vật
3361指佛教僧團中,爲維持教理之傳統而使用之財物、資財等。主要指經卷、帙、箱類及法寶之供養物品。乃佛、法、僧等三寶物之一。依四分律刪繁補闕行事鈔卷中之一載,法物分爲四種:(一)法受用物,指軸帙、箱巾、函帕等物。(二)施屬法物,施予法之田園等。可分作二分,一分施予經,一分施予誦經者。(三)供養法物,如供養經卷之香花等。(四)獻法物,如供養經卷之飲食等。(參閱「三寶物」703)
; (法物) Những vật thuộc về Pháp. Chỉ cho các loại kinh sách, hòm, tráp và các phẩm vật cúng dường Pháp bảo, là 1 trong Tam bảo vật.Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung phần 1, thì Pháp vật được chia làm 4 loại: 1. Pháp thụ dụng vật: Những vật được dùng vào những việc duy trì Pháp bảo, như kinh quyển, hòm tủ, màn che, khăn phủ... 2. Thí thuộc pháp vật: Những vật bố thí cho Pháp bảo, như ruộng vườn... được chia làm 2 phần: Một phần cúng dường kinh, một phần cho người tụng kinh. 3. Cúng dường pháp vật: Những vật cúng dường Pháp bảo, như hương hoa cúng dường kinh quyển... 4. Hiến pháp vật: Những vật dâng hiến Pháp bảo, như thức ăn uống cúng dường kinh quyển... (xt. Tam Bảo Vật).
Pháp vị
法位; C: făwèi; J: hōi; S: dharma-niyāmatā. |1. Nhân duyên hay tiến trình mà các pháp (sinh mệnh, vật thể, tâm ý) được biểu hiện. Những luận sư thuộc phái Hữu bộ ban sơ, trong lúc cố gắng giải thích làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, vị lai đã kết luận rằng đó là do quan điểm hoạt dụng khác nhau giữa các sự hiện hữu. Lí thuyết nầy được giải thích chi tiết trong Câu-xá luận, cho rằng thời gian mà các pháp đã hoại là quá khứ. Quan điểm nầy, nếu như không được giải thích kĩ, có thể dẫn đến kết quả xu hướng dẫn đến tà kiến cho rằng các pháp có một bản ngã nhất định và có tự tính riêng của chúng. Do vậy, quan điểm nầy bị Long Thụ và các vị khác bác bỏ.|2. Một pháp, hay mỗi pháp hiện hữu trong một vị thế tương ứng với chân tính như thật của nó.|3. Thành viên trong tăng đoàn.
pháp vị
3356即妙法之滋味。又作佛法味、法智味。佛所說之法門,其義趣甚深,須細細咀嚼體得,方生快樂,故以美味譬之,稱爲法味。天親之淨土論(大二六‧二三一上):「愛樂佛法味,禪三昧爲食。」新譯華嚴經卷二十五(大一○‧一三六上):「願一切眾生,得無量法味,了達法界。(中略)願一切眾生,法味增益,常得滿足。」〔藥師如來本願功德經、梁高僧傳卷八〕
; 3346爲真如之異稱。真如爲諸法安住之位,故稱法位。宗鏡錄卷七(大四八‧四五五上):「言法位者,即真如正位。故智論說:『法性、法界、法住、法位,皆真如異名。』」(參閱「真如」4197)
; (1) Dharma-state, the bhùtatathatà. (2) The grade or position of a monk.
; Dharmaniyamata (skt). 1) Chân Như: The bhutatathata—Dharma state. 2) Vị cam lồ của pháp: The “sweet-dew” taste or flavour of the dharma. 3) Thứ tự hay ổn định của các sự vật, mỗi mỗi ở trong vị trí riêng của nó: Orderliness or fixedness of things, each in its own position. 4) Ngôi thứ của một vị Tăng: The grade or position of a monk.
; (法味) Cũng gọi Phật pháp vị, Pháp trí vị. Hương vị của diệu pháp. Nghĩa thú của các pháp môn do đức Phật dạy rất sâu xa, phải nghiền ngẫm một cách tinh tế mới thể nhận được và sinh ra niềm vui, cho nên dùng vị ngon, để ví dụ mà gọi là Pháp vị. Luận Tịnh độ của ngài Thiên thân (Đại 26, 231 thượng) nói: Ưa thích pháp vị của Phật, Thiền tam muội là thức ăn. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 25, (Đại 10, 136 thượng), nói: Nguyện cho tất cả chúng sinh, được vô lượng pháp vị, rõ suốt pháp giới. (...) Nguyện tất cả chúng sinh, pháp vị càng tăng, thường được đầy đủ.[X. kinh Dược sư Như lai bản nguyện công đức; Lương cao tăng truyện Q.8].
; (法位) Tên khác của Chân như. Chân như là vị trí các pháp an trụ, nên gọi là Pháp vị. Tông kính lục quyển 7 (Đại 48, 455 thượng) nói: Pháp vị tức là chính vị Chân như, thế nên luận Đại trí độ cho rằng Pháp tính, Pháp giới, Pháp trụ, Pháp vị, đều là tên khác của Chân như. (xt. Chân Như).
pháp vị tự tại chướng
Non-attainment of complete mastery of all things.
Pháp vị 法位
[ja] ホウイ hōi ||| (dharma-niyāmatā). (1) The condition or process in which all dharmas (existences, things, mental states) are established. The early Sarvāstivādins, in attempting to explain how we can distinguish between past, present and future, had concluded that it was because the point of function differs between existences. This theory was further worked out in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, which said that the time in which dharmas function is called the present; the time in which dharmas have disappeared is called the past. This view, if not properly analyzed, can result in a tendency to lead to the mistaken view that things are self-established and have their own individual natures. Therefore this position was refuted by Nāgārjuna 龍樹 and others. (2) "Dharma-position." A thing, or each thing being in its appropriate place in terms of its suchness. (3) To be a member of the clergy. => (s: dharma-niyāmatā). Nhân duyên hay tiến trình mà các pháp (sinh mạng, vật thể, tâm ý) được biểu hiện. Những luận sư Thuộc phái Hữu bộ trước đây, trong cố gắng giải thích làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, vị lai; đã kết luận rằng đó là do quan điểm hoạt dụng khác nhau giữa các sự hiện hữu. Lý thuyết nầy được giải thích chi tiết trong Câu-xá luận, cho rằng thời gian mà các pháp đã hoại là quá khứ. Quan điểm nầy, nếu như không được giải thích kỹ, có thể dẫn đến kết quả xu hướng dẫn đến tà kiến cho rằng các pháp có một bản ngã nhất định và có tự tính riêng của chúng. Do vậy, quan điểm nầy bị Long Thụ và các vị khác bác bỏ. Một pháp, hay mỗi pháp hiện hữu trong một vị thế tương ứng với chân tính như thật của nó. Trở nên thành viên trong tăng đoàn.
pháp vực
Pháp Giới—The realm of dharma.
pháp xung
3352(587?~665)唐代僧。隴西成紀(位於甘肅)人,俗姓李。字孝敦。二十四歲官拜鷹揚將軍。母歿,讀涅槃經而發出家之心。從慧暠學大品、三論、楞伽等諸經,後入武都山修業。貞觀(627~649)初年,朝廷下令嚴禁私度僧尼,遂決死剃度,避至嶧陽山修禪,講楞伽經。二祖慧可之後裔亦捨徒眾而就學於師。弘福寺靈潤稱之爲「大心開士」,與玄奘三藏並稱。師堪爲初期禪宗南宗思想發展上受矚目之人。〔續高僧傳卷三十五〕
; (法沖) (587 ?-665) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thành kỉ, Lũng tây, (thuộc tỉnh Cam túc), họ Lí, tự Hiếu đôn. Năm 24 tuổi, sư làm quan đến chức Ưng dương tướng quân. Sau khi mẹ mất, sư đọc kinh Niết bàn mà phát tâm xuất gia. Sư theo ngài Tuệ cảo học các kinh luận như: Đại phẩm bát nhã, Lăng già, Tam luận..., sau sư vào núi Vũ đô tu tập. Đầu năm Trinh quán (627), triều đình hạ lệnh nghiêm cấm tư nhân độ tăng ni (tức phải qua tổ chức Tăng quan mới được độ làm tăng ni), sư quyết chí xuất gia và lánh đến núi Dịch dương tu thiền, giảng kinh Lăng già. Hậu duệ của Nhị tổ Tuệ khả cũng bỏ đồ chúng mà đến theo sư tu học. Ngài Linh nhuận ở chùa Hoằng phúc gọi sư là Đại tâm Khai sĩ. Sư nổi tiếng ngang với ngài Huyền trang và là nhân vật rất có công trong việc phát triểntư tưởngThiền Nam tông ở thời kì đầu. [X. Tục cao tăng truyện Q.35].
pháp xá lợi
3363又稱法身舍利、法頌舍利。<一>指佛所說之經典。佛說之經,旨在闡明實相中道之理,不變不易,性相常爾,故稱法身舍利。能代替佛舍利,供奉於塔中。法華經法師品(大九‧三一中):「若說、若讀、若誦、若書、若經卷所住處,皆應起七寶塔,極令高廣嚴飾,不須復安舍利。所以者何?此中已有如來全身。此塔應以一切華、香、瓔珞、繒蓋、幢幡、伎樂歌頌、供養、恭敬、尊重、讚歎。」〔大唐西域記卷九〕 <二>指載於浴佛功德經中,馬勝比丘對舍利弗所說之諸法緣起頌(大一六‧八○○上):「諸法從緣起,如來說是因;彼法因緣盡,是大沙門說。」乃說四諦中苦、集、滅三諦之偈頌,或稱緣生偈、緣起偈。以闡明法身之不生不滅,故稱法身偈,又稱爲法身舍利偈、緣起法頌。供經入塔時,亦須唱頌此偈。〔佛本行集經卷四十八、大智度論卷十八〕(參閱「法身偈」3354)
; (法舍利) Cũng gọi Pháp thân xá lợi, Pháp tụng xá lợi. I. Pháp Xá Lợi. Chỉ cho kinh điển của đức Phật. Kinh Phật nói là nêu rõ lí Trung đạo thực tướng, tính tướng thường nhiên, không biến đổi, vì thế gọi là Pháp thân xá lợi. Những kinh điển này được thờ trong tháp để thay thế cho xá lợi của Phật. Phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 trung) nói: Nếu những nơi nào có kinh điển này, hàng ngày giảng nói, đọc tụng, viết chép, thì nên xây tháp bảy báu để tôn thờ mà không cần phải an trí xá lợi. Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như lai. Nên đem hoa, hương, anh lạc, lọng lụa, cờ phướn, kĩ nhạc, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi tháp ấy. [X. Đại đường tây vực kí Q.9]. II. Pháp Xá Lợi. Cũng gọi Duyên sinh kệ, Duyên khởi kệ, Duyên khởi pháp tụng, Pháp thân kệ, Pháp thân xá lợi kệ. Chỉ cho bài kệ tụng nói về các pháp duyên khởi được ghi chép trong kinh Dục Phật công đức. Bài kệ này do tỉ khưu Mã thắng đọc cho ngài Xá lợi phất nghe. Nhờ nghe bài kệ này mà ngài Xá lợi phất về qui y và làm đệ tử đức Phật. Bài kệ như sau (Đại 16, 800 thượng): Chư pháp tòng duyên khởi, Như lai thuyết thị nhân; Bỉ pháp nhân duyên tận, Thị đại sa môn thuyết. (Các pháp theo duyên sinh, Như lai nói là nhân; Duyên hết pháp cũng diệt, Đại sa môn nói thế). Nội dung bài kệ này nói về 3 đế: Khổ, Tập, Diệt trong 4 đế(Khổ, tập, diệt, đạo). Khi đặt kinh vào trong tháp để thờ, cũng phải đọc bài kệ này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.48; luận Đại trí độ Q.18]. (xt. Pháp Thân Kệ).
pháp xã
3362爲在家之佛教徒所組成之信仰團體,其性質類似義邑。始於東晉廬山慧遠所創之白蓮社,其組織成員,在南方以貴族、知識階級爲主,北方則以平民爲中心。又如北齊之道紀,於鄉間極力呼籲禁屠,結成強調持戒之法社。法社之興盛,則在唐代天寶安祿山之亂後至宋代之間。關於法社之基本史料有:法社經一卷、慧遠之法社節度序、僧祐之法社建功德邑記、白居易之社誡文等。
; (法社) Đoàn thể tín ngưỡng do tín đồ tại gia của Phật giáo tổ chức thành, tính chất của nó giống như Nghĩa ấp. Bắt đầu từ Bạch liên xã do ngài Tuệ viễn thời Đống Tấn sáng lập ở Lô sơn, thành viên của tổ chức này, tại miền Nam thì giai cấp quí tộc, trí thức là chủ yếu, còn ở miền Bắc thì giai cấp bình dân là trung tâm. Lại như ngài Đạo kỉ đời Bắc Tề, ra sức hô hào dân quê cấm sát sinh, kết thành Pháp xã chủ trương trì giới. Phong trào Pháp xã phát triển mạnh trong khoảng thời gian từ sau loạn An lộc sơn từ đời Đường cho đến đời Tống. Về sử liệu cơ bản của Pháp xã thì có: kinh Pháp xã 1 quyển, Pháp xã tiết độ tự của ngài Tuệ viễn, Pháp xã kiến công đức ấp kí của ngài Tăng hựu, Xã giới văn của thi hào Bạch cư dị...
pháp xã kinh
3362全一卷。據傳爲西晉竺法護譯。開元釋教錄將之歸入「疑錄」中,後世學者亦多視爲偽經。乃關於廬山慧遠創始法社之資料,與慧遠之法社節度序、僧祐之法社建功德邑記等,爲同時代之著作。
; (法社經) Kinh, 1 quyển, tương truyền do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. Khai nguyên thích giáo lục xếp kinh này vào loại Nghi lục, các học giả đời sau phần nhiều cũng coi là ngụy kinh. Đây là trứ tác cùng thời đại với Pháp xã tiết độ tự của ngài Tuệ viễn và Pháp xã kiến công đức ấp kí của ngài Tăng hựu.
pháp xưng
3419梵名 Dharmakīrti。西元六七世紀之瑜伽行派論師,亦爲著名之因明學者。生於南印度睹梨摩羅耶國(梵 Trimalaya),婆羅門種出身。少有才俊,早年修習婆羅門教及外道諸學,達十八年之久,後學佛法始皈佛教爲優婆塞。至摩揭陀國從陳那之弟子護法出家修學,未久又依止陳那之另一弟子自在軍(梵 Iśvarasena,音譯伊濕伐邏羨那),鑽研陳那之「集量論」,爲之作注,即因明名著「釋量論」,學識堪匹陳那。又就金剛陳闍梨受灌頂,遊歷諸方,弘法宣化。晚年入羯陵伽國建立伽藍,入寂於該地。師生於印度佛教漸衰之時,力挽教勢,特以因明著稱,影響後世甚鉅。然師之因明著作,歷來未譯爲漢文,直至民國七十三年(1984)始有法尊所編譯之「釋量論略解」出版。而於重視因明辯論之西藏,則於現存大藏經丹珠爾(論藏)中,收錄師所著之釋量論、量決擇、正理一滴、因一滴、相屬觀察並自註、諍正理、他相續成就(以上七書,世稱因明七論)、本生廣疏、佛涅槃讚、吉祥金剛荼迦常愛讚等。此外,師另著有大乘集菩薩學論、金剛針論,兩書皆有漢譯本。〔多羅那他印度佛教史第二十六章、Th. Stcherbatsky: Buddhist Logic, vol. I〕
; Dharmayaśas (S), Dharmakīrti (S)Pháp Xứng, Đàm ma da xáSa môn Ấn độ dịch kinh tại Trường an năm 407 - 415 biên soạn quyển Thích Tượng luận. Năm 424 Ngài về Tây Vực.
; (法稱) Phạm: Dharmakìrti. Luận sư phái Du già, cũng là học giả trứ danh về Luận lí học Nhân minh, người nước Đổ lê ma la da (Phạm: Trimalaya) Nam Ấn độ, xuất thân dòng Bà la môn, sống vào thế kỉ VI, VII. Tây lịch. Thủa nhỏ, sư tu tập theo Bà la môn giáo và các học phái ngoại đạo suốt 18 năm. Sau, sư học Phật pháp và qui y làm Ưu bà tắc. Rồi sư đến nước Ma yết đà theo ngài Hộ pháp xuất gia tu học; không bao lâu, sư lại nương vào ngài Tự tại quân (Phạm: Izvarasena, Hán âm: Y thấp phạt la tiện na) để nghiên cứu luận Tập lượng của ngài Trần na. Sư thụ pháp Quán đính nơi A xà lê Kim cương rồi đi hoằng pháp giáo hóa khắp nơi. Sư sinh vào thời đại mà Phật giáo Ấn độ đang suy tàn dần, nên sư đã gắng hết sức dùng Nhân minh học để vãn cứu uy thế của Phật giáo, tạo ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế. Cuối đời, sư đến nước Yết lăng già tĩnh tu và thị tịch tại đó. Sư để lại các tác phẩm: Thích lượng luận, Lượng quyết trạch, Chính lí nhất trích, Nhân nhất trích, Tương thuộc quán sát tịnh tự chú, Tránh chính lí, Tha tương tục thành tựu, Bản sinh quảng sớ, Phật niết bàn tán, Cát tường kim cương đồ ca thường ái tán, Đại thừa tập bồ tát học luận, Kim cương châm luận. [X. chương 26 trong Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử; Buddhist Logic, vol. I by Th. Stcherbatsky].
Pháp xứ
法處; C: fă chù; J: hossho; S: dharma-āyatana. |Một trong 12 xứ theo giáo lí Duy thức. Là những gì hiện hữu ngay lúc phát sinh ý niệm. »Ý niệm«. Cảnh giới sở đối của ý niệm.
; [ja] ホッショ hossho ||| (dharma-āyatana). The 'locus of concepts.' One of the twelve loci 十二處 in Consciousness-only theory. That which exists as the point of the production of conceptualization. The locus of conceptions--non-perceptory objects. "Ideas." Non-material objects of thought. => (s: dharma-āyatana). Một trong 12 xứ theo giáo lý Duy thức. Là những gì hiện hữu ngay lúc phát sinh ý niệm. “Ý niệm”. Cảnh giới sở đối của ý niệm.
pháp xứ
Dharmayatana (S).
; Dharmàyatana (S). Mental objects.
Pháp xứ sở nhiếp sắc
法處所攝色; C: făchù suŏshè sè; J: hossho-shojōshiki; |Còn gọi là Đoạ pháp xứ sắc (墮法處色). Theo giáo lí Pháp tướng tông, thuật ngữ nầy chỉ cho các sắc pháp bao gồm trong đối tượng của 6 giác quan mà không được bao hàm trong Ngũ căn (五根) và Ngũ cảnh (五境). Nghĩa là có những pháp đối tượng của tâm được gom vào trong sắc pháp.|Theo giáo lí Duy thức, có 5 loại bao hàm trong loại nầy: 1. Cực lược sắc (極略色): Lí giải tính chất cực nhỏ sự hiện hữu của 5 giác quan, 5 trần cảnh, tứ đại, v.v… đúng theo sự phân tích qua trí huệ. Đây là mức độ vi tế được lí thuyết hoá qua phân tích, nhưng không thể cảm nhận được qua các giác quan. Đối tượng vật thể quá nhỏ không thể thấy được, nhưng sự hiện hữu của chúng của thể được xác nhận qua tỉ lượng (sự phân tích); 2. Cực sắc (極色): Những hiển sắc cực kì vi tế trong phạm trù tương quan như ánh sáng, bóng tối, chói chang, u ám; và những phạm trù tương quan với vật thể như dài, ngắn, vuông tròn; 3. Thụ sở dẫn sắc (受所引色): Vô biểu sắc phát sinh trong tâm mình từ kết quả thụ nhận giới pháp. (Vô biểu sắc 無表色 và Giới thể 戒體). Theo học thuyết trong A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đây chỉ đơn giản là »Vô biểu sắc«, nhưng theo Duy thức, »chủng tử thiện« có được như là tâm hành ngay vào lúc thụ nhận giới pháp được gọi là »giới thể«. Nên thuật ngữ trên được hiểu là »tâm hành có được ngay khi thụ giới«. Chỉ là sắc pháp có tạm thời; 4. Định sở dẫn sắc (定所引色): là sắc pháp mà các bậc thánh có thể tự tại biến hiện trong định. Khi nghĩ đến nước hoặc lửa, họ có thể tạo ra ngay. Hoặc có thể biến đất cát thành vàng bạc,v.v… 5. Biến kế sở khởi sắc (遍計所起色): trường hợp của thức thứ 6, không quan hệ gì với 5 thức trước, tương ứng với quá khứ, hoặc sinh khởi những ảo tượng như hoa đốm giữa hư không, sắc pháp này sinh khới do sức phân biệt sai lầm của thức thứ 6.
pháp xứ sở nhiếp sắc
3389又作墮法處色、法處色。乃唯識宗所立十一色法之第十一。指意識所攀緣的法處所攝之色法。唯識宗將一切諸法概分爲色法、心法、心所有法、心不相應行法、無爲法等五大類,稱爲五位,其中之色法,廣義而言,爲所有物質存在之總稱,具有變壞、質礙之性質。色法又可分爲十一類,即眼、耳、鼻、舌、身等五根,色,聲、香、味、觸等五境,及法處所攝色。法處之「處」,爲生長、養育之義,意指能長養吾人之心與心所,且爲心與心所依靠、攀緣者,共分爲十二種,稱爲十二處,亦即上記所說之五根加上第六根意根,五境加上第六境法境。法境即是法處,乃十二處之一,惟「法境」係強調其乃「意根」(主觀作用)之客觀對境,而「法處」則著重說明其與其他之十一處共爲長養心與心所,且爲心與心所依靠、攀緣者。於一切色法中,凡攝屬於法處者,即稱爲法處所攝色。 據大乘阿毘達磨雜集論卷一、法苑義林章卷五末等所載,法處所攝色又可細分爲五種,即:(一)極略色,亦即極微之色法;乃分析色聲香味觸等五境、眼耳鼻舌身等五根或地水火風等四大種,舉凡一切具有質礙性之實色而令至物質的最小單位「極微」。(二)極迥色,又作自礙色;即分析空界色、明、暗等不具質礙性之顯色而令至極微。(三)受所引色,即無表色;乃依身、口發動之善惡二業,而生於身內之無形色法,爲一種不能表現於外之現象,例如由持戒所引起的一種防非止惡之精神作用;由於被視爲是身內地水火風四大所造,故列入色法。(四)遍計所起色,意識緣五根、五境,產生周遍計度、虛妄分別之作用,而在心內所變現之影像色法,例如空中花、水中月、鏡中像等,皆攝於此色法中;此類色法,僅具有影像而並無所依托之自體本質。(五)定自在所生色,又作定所生色、定所引色、勝定果色、定果色、自在所生色;即指由禪定力所變現之色聲香味等境;此類色法係以勝定力於一切色變現自在,故稱定自在所生色。又此類色法通於凡聖所變,然凡聖所變現者有假實之別,若由凡夫之禪定力所變現者,爲假色,不能實用;若由八地以上之聖者,憑威德之勝定力,能變現爲可實用之實在色法,例如變土砂而成金銀魚米,可令有情眾生受用之。 又以大乘唯識之看法而言,上記五色中,前四色均屬假色,惟第五色通於假實,而以聖者所變現者爲實色,此蓋以聖者之威德勝定乃爲一種無漏定,由無漏定所變現之色法即爲實色;然若以小乘如說一切有部等之觀點而言,則如極略色、極迥色,乃至受所引色等,皆爲具有實體之實色。〔大毘婆沙論卷七十四、卷七十五、瑜伽師地論卷三、卷三十七、順正理論卷三十五、成唯識論卷一、成唯識論述記卷三本〕
; (法處所攝色) Cũng gọi Đọa pháp xứ sắc, Pháp xứ sắc. Sắc pháp thứ 11 trong 11 sắc pháp do tông Duy thức thành lập. Tông Duy thức chia tất cả các pháp làm 5 loại, gọi là Ngũ vị, gồm: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Trong đó, Sắc pháp, nói theo nghĩa rộng là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại, có tính cách biến đổi, hư hoại và chướng ngại. Sắc pháp lại được chia làm 11 loại gồm: 5 căn(nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân), 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) và Pháp xứ sở nhiếp sắc. Chữ xứ của Pháp xứ có nghĩa là sinh ra và nuôi lớn tâm và tâm sở, đồng thời là chỗ để cho tâm và tâm sở nương tựa và vin theo, được chia làm 12 thứ, gọi là Thập nhị xứ, tức là 5 căn đã nói ở trên thêm vào căn thứ 6 là ý căn, 5 cảnh thêm vào cảnh thứ 6 là pháp cảnh. Pháp cảnh tức là pháp xứ trong 12 xứ, chỉ có điều pháp cảnh là đối cảnh khách quan của ý căn(tác dụng chủ quan), còn pháp xứ thì nói rõ nhiệm vụ của nó cùng với 11 xứ kia đều là nuôi lớn tâm và tâm sở, hơn nữa, là chỗ để cho tâm và tâm sở nương tựa, vin theo. Trong tất cả sắc pháp, bất cứ pháp nào, hễ được thu nhiếp vào pháp xứ thì đều gọi là Pháp xứ sở nhiếp sắc. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 và Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5 phần cuối, thì Pháp xứ sở nhiếp sắc lại có thể được chia nhỏ ra làm 5 loại là: 1. Cực lược sắc: Chỉ cho tất cả pháp cực nhỏ (cực vi) mà vẫn có tính chất chướng ngại.2. Cực huýnh sắc, cũng gọi Tự ngại sắc: Chỉ cho những hiển sắc của Không giới không đủ tính chất chướng ngại, như sáng, tối... 3. Thụ sở dẫn sắc, cũng gọi Vô biểu sắc: Chỉ cho sắc pháp vô hình, nương vào 2 nghiệp thiện và ác phát động nơi thân, khẩu, rồi khởi lên ở trong thân chứ không biểu hiện ra ngoài. Chẳng hạn như do giữ giới mà dẫn sinh 1 loại tác dụng tinh thần ngăn ngừa được tội lỗi. Vì được xem là do 4 đại đất, nước, lửa, gió ở trong thân tạo ra, cho nên được liệt vào loại Sắc pháp. 4. Biến kế sở khởi sắc: Ý thức duyên theo 5 căn, 5 cảnh mà sản sinh ra tác dụng tính toán, so đo, phân biệt tất cả 1 cách hư vọng, rồi trong tâm biến hiện ra bóng dáng của sắc pháp, như hoa đốm giữa hư không, bóng mặt trăng dưới đáy nước, ảnh tượng trong gương... đều được thu nhiếp vào loại sắc pháp này. Loại sắc pháp này chỉ có bóng dáng chứ hoàn toàn không có bản chất tự thể để nương tựa. 5. Định tự tại sở sinh sắc, cũng gọi Định sở sinh sắc, Định sở dẫn sắc, Thắng định quả sắc, Định quả sắc, Tự tại sở sinh sắc. Chỉ cho các cảnh sắc, thanh, hương, vị... do sức thiền định biến hiện ra. Loại sắc pháp này nhờ sức thiền định thù thắng, đối với tất cả sắc pháp, có năng lực biến hiện 1 cách tự tại vô ngại, cho nên gọi là Định tự tại sở sinh sắc. Ngoài ra, theo Duy thức Đại thừa, thì trong 5 loại sắc pháp nói trên, 4 loại trước đều là giả sắc, chỉ có loại thứ 5 là thông cả giả lẫn thực. Hễ sắc do bậc Thánh biến hiện thì đều là thực sắc. Vì uy lực thắng định của bậc Thánh là 1 loại định vô lậu, sắc pháp do định vô lậu biến hiện ra là thực sắc. Nhưng, nếu nói theo quan điểm của Thuyết nhất thiết bộ Tiểu thừa, thì Cực lược sắc, Cực huýnh sắc, cho đến Thụ sở dẫn sắc... đều là thực sắc có tự thể. [X. luận Đại tì bà sa Q.74, 75; luận Du già sư địa Q.3, 37; luận Thuận chính lí Q.35; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thứcluận thuật kí Q.3].
Pháp xứ sở nhiếp sắc 法處所攝色
[ja] ホッショショショウシキ hosshoshojōshiki ||| Also expressed as duofachuse 墮法處色. In the doctrine of the Faxiang school, this refers to all material elements that are included as objects of the six senses that are not covered under the categories of the five faculties (五根) and the five object-realms (五境). That is, there are some objects of the mind which are included as material elements. In Consciousness-only theory, five types are included in this group.(1) jiluese 極略色 The understanding of the atomic nature of existence of the five faculties, the five object realms, the four elements and so forth, due to the analysis by wisdom. This is a level of subtlety that can be theorized through analysis, but cannot be perceived by the sense organs. Material objects too small to be seen. The existence of atoms cannot be directly perceived by the five senses, but their existence can be inferred. (2) jise 極色 The extreme subtlety of the visible colors of the relative category, such as light, shadow, brightness, dullness, and the relative categories of forms, such as length, shortness, squareness and roundness. (3) shousuoyin se 受所引色 Unmanifest matter that is created as a result of receiving the precepts into one's mind. See wubiao se 無表色 and jieti 戒體. In the doctrine of the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, this is simply considered as "unmanifest form", but in Consciousness-only, the 'seeds of goodness' that are gained as a result of the mental action at the time of receiving the precepts are taken as the 'essence of the precepts.' The word means "gained according to the reception of the precepts." A provisional element. (4) dingsuoyin se 定所引色 Forms of magical production and transformation.' This is a form element where the sage in meditation can freely transform and manifest things. By thinking of water or fire, he can manifest water or fire. Or he can transform sand and soil into gold and silver and so forth. (5) bianjisuoqi se 遍計所起色 The situation of the sixth consciousness, unconnected to the other five consciousnesses, reflecting on the past, or giving rise to illusory objects, such as flowers in the sky. This form (object) is risen through the mistaken discriminatory power of the sixth consciousness. => Còn gọi là Đoạ pháp xứ sắc (c: duofachuse 墮法處色). Theo giáo lý Pháp tướng tông, thuật ngữ nầy chỉ cho các sắc pháp bao gồm trong đối tượng của sáu giác quan mà không được bao hàm trong Ngũ căn (五根) và Ngũ cảnh (五境). Nghĩa là có những pháp đối tượng của tâm được gom vào trong sắc pháp. Theo giáo lý Duy thức, có năm loại bao hàm trong loại nầy: 1. Cực lược sắc (c: jiluese 極略色): Lý giải tính chất cực nhỏ sự hiện hữu của năm giác quan, năm trần cảnh, tứ đại,v.v..., đúng theo sự phân tích qua trí huệ. Đâu là mức độ vi tế được lý thuyết hoá qua phân tích, nhưng không thể cảm nhận được qua các giác quan. Đối tượng vật thể quá nhỏ không thể thấy được, nhưng có thể nhận biết được sự hiện hữu của chúng. 2. Cực sắc (c: jise 極色): Những hiển sắc cức kỳ vi tế trong phạm trù tương quan như ánh sáng, bóng tối, chói chang, u ám; và những phạm trù tương quan với vật thể như dài, ngắn, vuông tròn. 3. Thụ sở dẫn sắc (c: shousuoyin se 受所引色): Vô biểu sắc phát sinh trong tâm mình từ kết quả thọ nhận giới pháp. Xem Vô biểu sắc (c: wubiao se 無表色 ) và Giới thể (c: jieti 戒體). Theo học thuyết A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, đây đơn giản chỉ là 'Vô biểu sắc', nhưng theo Duy thức, 'chủng tử ' thiện có được như là tâm hành ngay vào lúc thụ nhận giới pháp được gọi là 'giới thể'. Nên thuật ngữ trên được hiểu là ' tâm hành có được ngay khi thọ giới'. Chỉ là sắc pháp có tạm thời. 4. Định sở dẫn sắc (c: dingsuoyin se 定所引色): là sắc pháp mà các bậc thánh có thể tự tại biến hiện trong định. Khi nghĩ đến nước hoặc lửa, họ có thể tạo ra ngay. Hoặc có thể biến đất cát thành vàng bạc,v.v... 5. Biến kế sở khởi sắc (c: bianjisuoqi se 遍計所起色): trường hợp của thức thứ sáu, không quan hệ gì với năm thức trước, tương ứng với quá khứ, hoặc sinh khởi những ảo tượng như hoa đốm giữa hư không, sắc pháp này sinh khới do sức phân biệt sai lầm của thức thứ sáu.
Pháp Xứng
法稱; S: dharmakīrti;|Tên của hai luận sư Phật giáo:|1. Devarakṣita Jayabahu Dharmakīrti, sống khoảng năm 1400, một Cao tăng của Phật giáo Tích Lan và tác giả của hai tác phẩm nói về sự phát triển của đạo Phật tại đây là Nikāya-saṃgrahaya và Saddharmalaṅkāra-ya.|2. Một trong những Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Duy thức tông (vijñānavāda) và Nhân minh học (s: hetuvidyā), sống trong thế kỉ thứ 7 (~ 600-650) tại Nam Ấn Ðộ và là môn đệ của Hộ Pháp (dharmapāla) tại Na-lan-đà (Mười đại luận sư).|Sư sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) và đã tinh thông tất cả những môn học thời đó lúc còn trẻ. Sau đó, Sư bắt đầu nghiên cứu, tu học Phật pháp với tư cách của một Cư sĩ. Phật học lôi cuốn Sư đến mức Sư bỏ đạo Bà-la-môn, đến viện Na-lan-đà thụ giới cụ túc và tham học với Hộ Pháp. Các tác phẩm của Trần-na (s: di-gnāga, diṅnāga) tại viện Phật học này chính là yếu tố ngộ đạo của Sư. Sau khi kết thúc giai đoạn tu tập, Sư bắt đầu công việc hoằng hoá, xiển dương đạo Phật, viết nhiều luận giải, đại diện Phật giáo tham dự nhiều cuộc tranh luận. Trong những cuộc tranh luận này, Sư dùng Nhân minh học để hàng phục đối phương và trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng đặt Sư lên một địa vị cao hơn cả Trần-na. Trong những năm cuối đời mình, Sư từ bỏ việc chu du đây đó và lui về một trụ trì một Tinh xá tại Orissa (bây giờ là Kālinga) và mất tại đây.|Sử sách mô tả Sư là một người tự lực cánh sinh, căm ghét tính phàm tục của dân dã và các tăng chúng dối trá, nhưng Sư cũng được tả là một Ðại sư thiếu khiêm tốn, nếu không nói là kiêu mạn. Nhà sử học nổi tiếng của Tây Tạng là Bố-đốn (t: buston) có ghi lại một sự việc sau: Sau khi Sư viết và trình bày Lượng thích luận (s: pramāṇavarttika-kārikā) và -chú (-vṛtti), nhiều người không hiểu nổi. Những người hiểu được thì trở nên ganh tị, tuyên bố rằng, tác phẩm này không đúng. Họ lấy dây buộc bài luận này vào lưng một con chó và cho nó chạy rong ngoài đường, với kết quả là những trang (lá bối) của luận này bay tung toé khắp nơi. Thấy cảnh tượng này, Sư tuyên bố rằng: »con chó sẽ chạy đến khắp nơi và truyền bá tác phẩm này toàn thế giới«.|Những lời sau đây của Sư còn được lưu lại: »Loài người có những đặc tính, tư tưởng rất phàm; họ không hướng vào nội tâm để tìm lấy cái tinh hoa, cốt tuỷ. Không chú ý đến những lời dạy của Thiện tri thức đối với họ chưa đủ, họ còn phát lòng thù ghét và ganh tị. Vì vậy mà ta cũng chẳng viết cho họ. Tuy thế, tâm của ta đã có được niềm an vui khi viết tác phẩm này bởi vì qua nó, lòng quý trọng thiền định thâm sâu vượt qua mọi ngôn ngữ của ta đã được bù đáp.«|Sư viết nhiều luận giải nhưng quý giá hơn hết là các tác phẩm về Nhân minh học Phật giáo. Trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng có giữ lại bảy tác phẩm của Sư, được gọi chung là Pháp Xứng nhân minh thất bộ, là luận lí học nền tảng của Phật giáo Tây Tạng (tất cả đều chưa được dịch ra Hán ngữ).|Bảy tác phẩm chính về Nhân minh học của Sư là: 1. Quan tướng thuộc luận (saṃbandhaparīkṣāpra-karaṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ; 2. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), chỉ còn bản Tạng ngữ. Bộ luận này được chia làm 3 phần với chủ đề thụ tưởng, kết luận và trình bày phương pháp suy diễn ba đoạn (e: syllogism). Luận này được xem là bản nhỏ của Lượng thích luận vì hơn nửa phần được trích ra từ đây; 3. Lượng thích luận (pramāṇavart-tika-kārikā), luận quan trọng nhất, chú giải Tập lượng luận (pramāṇasamuccaya) của Trần-na (dig-nāga); 4. Chính lí nhất đích luận (nyāyabindu-pra-karaṇa); 5. Nhân luận nhất đích luận (hetubindu-nāma-prakaraṇa), bản Tạng ngữ có, bản Phạn ngữ mới được tìm thấy. Bộ luận này được chia làm 3 phần, giảng giải về ba đoạn của suy luận; 6. Luận nghị chính lí luận (vādanyāya-nāma-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ, nói về cách tranh luận với địch thủ; 7. Thành tha tướng thuộc luận (saṃtānān-tarasiddhi-nāma-prakaraṇa), triết luận chống đối quan niệm Duy ngã và nói về »sự thật« của ý nghĩ người khác;
pháp xứng
Xem Pháp Xưng.
; See Dharmakirti in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Pháp y
法衣; J: hō'e;|Danh từ dùng chỉ áo Ca-sa của một vị tăng tu học Phật pháp. Trong Thiền tông thì pháp y chính là biểu hiện của việc »Dĩ tâm truyền tâm« trong hệ thống truyền thừa của các vị Tổ sư, bắt nguồn từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni). Tại Trung Quốc, pháp y dược các vị Tổ sư truyền cho nhau làm một dấu hiệu của sự Ấn khả chứng minh.
pháp y
3346又作法服、僧服、僧衣。即僧尼所著之服。指佛所制定之衣服而言,即如法衣、應法衣之意。釋尊所制定之衣服有三衣、五衣等,通稱法衣。中國、日本等地,由於氣候風土異於印度,故法衣之範圍較廣,形式多樣,凡僧尼所穿,被認爲不違背戒律、佛法之衣服,皆可稱爲法衣。又於三衣(即袈裟)之下,另著之衣,亦併稱爲法衣。於禪宗,則特稱傳法時所授與之金襴衣爲法衣。 在印度,規定比丘有僧伽梨、鬱多羅僧、安陀會等三衣,比丘尼除上述三衣外,另加僧祇支、厥修羅,則有五衣。此外,並允許隨時可穿用襯衣(下著)。三衣即支伐羅(梵 cīvara,意譯爲衣)之總稱,又由其染色而稱爲袈裟(梵 kāṣāya,意譯爲不正色、壞色、不美而濁之色),或稱福田衣、降邪衣、幢相衣(解脫幢相衣)、間色衣、離塵服、無垢衣、無相衣、勝幢衣、無上衣、解脫服、道服、出世服、阿耨多羅三藐三菩提衣、慈悲服、忍辱鎧、忍鎧衣、功德衣、消瘦衣、蓮華衣、蓮華服、田相衣等。 三衣之中,僧伽梨(梵 saṃghāṭi),又稱大衣、重衣、雜碎衣、高勝衣、入王宮聚落衣等,乃至王宮及上街時所穿用者,係用九條乃至二十五條布所縫製,因布之條數有九種類,故又稱九品大衣。鬱多羅僧(梵 uttarāsaṅga),又稱七條袈裟、七條衣、七條、上衣、中價衣(三衣之中位)、入眾衣等,乃禮誦、聽講、布薩之際所穿用者,係用七條布所製。安陀會(梵 antarvāsa),又稱五條衣、內衣、中宿衣,乃日常生活及就寢之時所穿用者,係用五條布所製。有關三衣之製法,十誦律卷二十七及四分律卷四十等,均有所規定,首先割截成小布片,而後再縫合所成。此乃爲杜防法衣之他用,並使僧尼捨離對衣服之欲心,以及避免他人之盜取而有此製法。依規定所裁之衣,稱爲割截衣;反之,若不依規定所裁之衣,則稱縵衣。縱之縫合,稱爲豎條;橫之縫合,稱爲橫堤;由於兩者縱橫交錯縫合而呈田形,故稱田相。至於裁縫亦有所規定,禁止直縫,布料太薄者則需重疊縫製,其重疊層數亦有一定。 法衣之顏色,由於諸律所說各異,大抵諸律贊同三種壞色之說,即以青、泥、木蘭(又作茜、棧、赤、乾陀、不均色)等三色爲如法色;稱爲三如法色。又四分律刪繁補闕行事鈔卷下一舉青、黃、赤、白、黑等五正色及緋、紅、紫、綠、碧等五間色爲不如法色,故禁用之。亦有一說,認爲青、黃、赤、黑、木蘭爲五如法色。至於如何穿著法衣,亦有規定,通常係將衣之兩端,由左肩披至右脅下後,將環掛於扣或鉤上固定,稱爲搭衣。坐禪時則可覆搭兩肩,稱爲通肩相、福田相;而在禮佛時,則必露出右肩,稱爲偏袒右肩、偏露右肩。此外,當法衣不穿著時,則用衣囊(又作三衣囊、袈裟行李、袈裟文庫)裝盛,以便攜行。後世則改用三衣筥(至今,三衣筥則變成裝盛經卷等之居箱)。 三衣之外,有穿著於三衣之內,而覆蓋左肩及兩腋之僧祇支(梵 saṃkakṣikā),及覆於腰部之厥修羅(梵 kusūla)。僧祇支,又作僧腳崎、僧竭支、僧腳差,意譯爲掩腋衣、覆肩衣等。一般簡稱爲祇支。乃尼五衣之一,比丘亦可用之。即掩腋之長方形下衣,可覆蓋胸部。長度自左肩而至腰下。一說覆肩衣與覆右肩者有所區別。厥修羅,又作俱蘇羅,意譯爲篅衣、圌衣、下裙。爲長方形之布片,縫合其兩端而成。此爲尼五衣之一,比丘不用。此外,尚有涅槃僧(梵 nivāsana)與舍勒(梵 śāṭaka)。涅槃僧,又作泥洹僧,意譯爲裙、下裙、內衣。乃長方形之布片而穿著於腰上,並以腰紐固定之。爲十三資具衣之一,係比丘所穿用者。舍勒,乃比丘所穿用之襯衣,猶如犢鼻褲。 比丘之五衣爲三衣、僧祇支、覆肩衣,或三衣、僧祇支、水浴衣二種。僧祇支一般意譯爲覆肩衣,然四分律卷二十七、卷四十八則並舉僧祇支、覆肩衣二名,南山一派遂以此二種爲不同之物。又三衣、五衣均爲佛所制定之衣,故稱制衣。對此,佛應對方需要而允許其穿著之衣,稱爲聽衣,以上二者合稱二衣。通常係將棄於糞塵中之布洗淨後製成,故稱糞掃衣(梵 pāṃsu-kūla),又作衲衣,有塚間衣(包裹亡者後而棄於墓地之布所製之衣)、出來衣(布施予比丘的包裹亡者之布所製成之衣)、無所屬者之無主衣與土衣(捨棄於塚間或糞塵中之布所製之衣)四種(亦有分爲十種者)。又由著衲衣之意,故稱僧侶爲衲、衲僧、衲子、老衲、野衲、布衲、小衲等;僧眾則稱衲眾。所謂五衲衣、百衲衣,即是由五色或多色之布片所縫製之衣。又五種糞掃衣,即有施主衣、無施主衣、往還衣、死人衣、糞掃衣。 法衣之材料(衣體)有六種、七種、十種規定,並絕對禁止使用絹布類,但亦有異說。依四分律卷三十九載,拘舍衣(絹)、劫貝衣(綿)、欽婆羅衣(羊毛)、芻摩衣(麻)、叉摩衣(麻)、舍㝹衣(樹皮)、麻衣、翅夷羅衣(樹皮)、拘攝羅衣(鳥毛)、嚫羅鉢尼衣(草)等十種衣,乃佛陀所准許僧眾穿用者。於中國及日本,三衣日趨形式化,故有各種袈裟之製作,而袈裟內所穿著之法衣,亦有多種,其布之質料、色彩等亦日趨華麗。尤其於日本,安陀會出現各種變形,包括諸宗所用之五條袈裟、疊五條(折五條),或由頭陀袋(衣囊)變形之輪袈裟以及絡子(又作掛絡、掛子,乃禪宗所用)、威儀細(淨土宗所用)、種子袈裟(又作咒字袈裟,主要係真宗所用)、結袈裟(亦作不動袈裟,乃修驗道所用)、三緒袈裟、小五條等。又一般稱鬱多羅僧爲七條,僧伽梨爲九條。此外,另有平袈裟、甲袈裟、衲袈裟、遠山袈裟等種類。而依袈裟之色,則有赤袈裟、青袈裟、黃袈裟、墨袈裟等類。 法衣係始於中國北魏時之慧光,有縫合僧祇支與覆肩衣,另加襟而成之褊衫(偏衫)以及褊衫與裙子(裳)縫合之直綴。在日本,褊衫與直綴之外,另有袍服(袍裳)、鈍色、裘代、素絹、裳附、裳無衣等。又簡略褊衫或直綴而改製者有道服(又稱直綴)、布袍、褊綴、十德等。十德可作俗服穿用。以金襴製作之法衣,稱爲金襴衣、金色衣,於律中並無此規定,據中阿含經卷十三所載,金襴衣係佛之養母摩訶波闍波提奉施佛者。 中、日之法衣,多爲灰色或黑色,故稱緇衣、黑衣;依此故稱僧侶爲緇衣、緇流、緇門。僧俗即併稱爲緇素,素乃白衣之意。此外,法衣尚有紫衣、香衣等種種色衣。紫衣係由中國古時官服而來,傳說唐代武則天即曾授與法朗等紫袈裟;肅宗時,亦曾授紫袍於道平,歷代均有賜紫衣、賜緋衣之例。香衣爲佛所允許之如法色之一種,其色赤黃,本由乾陀樹皮所染,但至後世,尤其日本,除紫、緋色法衣以外,尚有青、黃、赤、湘等色之衣,亦皆稱香衣。〔毘尼母經卷八、梵網經卷下、四分律卷十六、十誦律卷十五、大比丘三千威儀卷下、四分律刪補隨機羯磨疏卷四、四分律行事鈔資持記卷下一之一、南海寄歸內法傳卷二、佛制比丘六物圖〕(參閱「袈裟」4784)
; Hō'e (J)Cà sa.
; Dharma garment, the robe.
; See Pháp Phục.
; (法衣) Cũng gọi Pháp phục, Tăng phục, Tăng y. Y phục đúng pháp Phật chế của tăng ni. Đức Phật chế định tỉ khưu có 3 áo, 5 áo, gọi chung là Pháp y. Nhưng Trung quốc, Nhật bản... do phong thổ và khí hậu có khác với Ấn độ, nên phạm vi pháp y tương đối rộng hơn, hình thức cũng đa dạng, phàm những y phục của tăng ni không trái với giới luật, thì đều được gọi là Pháp y. Lại nữa, ngoài 3 tấm Pháp y (tức ca sa), những y phục khác, như áo hậu(áo lễ)... cũng được gọi là Pháp y.Thiền tông thì đặc biệt gọi áo Kim lan được trao cho đệ tử lúc thầy truyền tâm pháp là Pháp y. Ở Ấn độ, như đã nói ở trên, đức Phật qui định tỉ khưu được mặc 3 áo là: 1. Tăng già lê (Phạm: Saôghàỉi, cũng gọi Đại y: Áo có 9 điều(nẹp) hoặc 25 điều, mặc lúc đi khất thực, khi vào cung vua. 2. Uất đa la tăng (Phạm:Uttaràsaíga), cũng gọi Thất điều ca sa: Áo có 7 điều, mặc vào những lúc nhập chúng, tụng niệm, lễ bái, nghe giảng, bố tát... 3. An đà hội (Phạm: Antarvàsa), cũng gọi Ngũ điều y: Áo 5 điều, mặc lúc làm việc hàng ngày và khi đi ngủ. Ngoài 3 áo trên, còn có thêm 2 thứ nữa là Tăng kì chi và Khuyết tu la, thành 5 áo. Về cách cắt may thì trước hết cắt tấm vải thành những miếng nhỏ, rồi sau lại khâu liền với nhau. Lí do làm như vậy là để phòng ngừa người khác dùng Pháp y, đồng thời khiến tăng ni không sinh tâm tham đắm đối với y phục và kẻ trộm cũng chẳng muốn lấy áo ấy làm chi. Những miếng vải nhỏ được khâu dính lại với nhau, theo 2 chiều ngang dọc, vuông vức giống như chữ Điền (thửa ruộng), vì thế gọi là Điền tướng. Về màu sắc của 3 áo tuy có nhiều thuyết, nhưng đại khái đều tán đồng 3 màu chính là: Xanh, đen và mộc lan, gọi là Tam như pháp sắc (3 màu đúng pháp). Còn về cách mặc Pháp y thì thông thường 2 góc áo được đắp từ vai trái đến cạnh sườn bên phải và rủ xuống sau lưng. Lúc ngồi thiền thì có thể đắp kín cả 2 vai, gọi là Thông kiên tướng, Phúc điền tướng. Còn lúc lễ Phật thì để lộ vai bên phải ra, gọi là Thiên đản hữu kiên, Thiên lộ hữu kiên. Ngoài 3 áo, còn có loại áo lót là Tăng kì chi (Phạm: Saôkakwikà), mặc để che kín vai trái và 2 nách. Khuyết tu la (Phạm: Kusùla), mặc để che nơi eo, tức là cái quần chỉ dành cho tỉ khưu ni mà thôi. Về nguyên liệu may 3 áo thì cấm ngặt không được dùng vải lụa, mà chỉ được sử dụng vải dệt bằng sợi cây bông, hoặc sợi cây gai, hay vỏ cây, cũng có thể dùng lông chim hoặc là cỏ... [X. kinh Tì ni mẫu Q.9; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.15; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Phật chế tỉ khưu lục vật đồ]. (xt. Ca Sa).
pháp yếu
3376<一>指教法中之要義。又作要文、主眼。大日經疏卷一(大三九‧五八四中):「於此真言法要,方便修行,得至初地。」注維摩詰經卷五闡說「善說法要」一語時謂(大三八‧三七○下):「什曰:『此文不便,依經本應言,以要言說法,謂能簡要之言折繁理也。』肇曰:『善以約言而舉多義,美其善得說法之要趣也。』」〔心地觀經卷七、遺教經〕 <二>又作法會。即聚集一處慶讚諸佛菩薩之誕生等,或設齋施物,或講經說法等之活動。(參閱「法會」3411) <三>又作法用。指於佛前修行誦經、梵唄等之作法。有四箇法要、二箇法要等之別。此「法要」之語盛行於日本。
; The essentials of the Truth.
; Sự thiết yếu của chân lý—The essentials of the truth.
; (法要) I. Pháp Yếu. Cũng gọi Yếu văn, Chủ nhãn. Chỉ cho những nghĩa lí nòng cốt trong giáo pháp. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 370 hạ) nói: Đối với chân ngôn pháp yếu này, nếu biết tu hành thì sẽ đạt đến bậc Sơ địa.[X. kinh Tâm địa quán Q.7; kinh Di giáo]. II. Pháp Yếu. Cũng gọi Pháp hội. Nhóm họp ở 1 nơi để lễ mừng ngày đản sinh của chư Phật và Bồ tát, hoặc để tổ chức các hoạt động thiết trai, bố thí, giảng kinh, thuyết pháp... (xt. Pháp Hội). III. Pháp Yếu. Cũng gọi Pháp dụng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho việc tụng kinh, bái tán trên điện Phật.
Pháp ái
法愛; C: făài; J: hōai; |1. Yêu mến, gắn bó với giáo pháp; 2. Tìm cầu chân lí.
pháp ái
3411<一>謂得法者由法喜之心,而憐憫未得法之迷者。或指佛菩薩之愛護慈念眾生。 <二>謂自己由證悟而愛著善法。天台宗十乘觀法之第十爲無法愛(離法愛、除法愛、法愛不生),乃以此斥責未證真實,而愛著相似之法者。
; Dharma-priya (S)Tên một vị sư Ấn độ đến Trung quốc khoảng năm 365.
; Dharma-love, religious love.
; Tình yêu trong phạm trù tôn giáo—Tình yêu của những vị Bồ tát muốn cứu độ chúng sanh, ngược lại với Dục ái hay tình yêu phàm tục—Religious love—Bodhisattva love with desire to save all creatures, in contrast with ordinary love (Dục ái). 1) Pháp Ái Tiểu và Đại Thừa—Hinayana and Mahayana Dharma-love: a) Pháp Ái Tiểu Thừa: Lòng yêu niết bàn của kẻ căn cơ thấp kém—Hinayana Dharma-love as desire for nirvana. b) Pháp Ái Đại Thừa: Lòng ái thiện của bậc Bồ Tát Đại Thừa—Mahayana Dharma-love or Bodhisattva attachment to illusory things ** Cả hai thứ pháp ái nầy đều cần phải loại bỏ—Both of which are to be eradicated. 2) Pháp Ái Như Lai: Tâm Đại Bi của Như Lai hay tình yêu cứu độ chúng sanh chân chánh vô thượng—Tathagata-love, which goes out to all beings for salvation.
; (法愛) I. Pháp Ái. Người đã được pháp (giác ngộ) do tâm sinh vui mừng nên thương xót những người còn mê chưa được pháp; hoặc chỉ cho tâm niệm từ bi thương xót của chư Phật, Bồ tát đối với chúng sinh. II. Pháp Ái. Đắm trước các thiện pháp mà mình đã chứng ngộ. Pháp quán thứ 10 (Vô ái pháp, Li ái pháp, Trừ ái pháp, Ái pháp bất sinh) trong Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai, dùng từ ngữ này để chê trách những người chưa chứng chân thực mà đắm trước pháp tương tự.
Pháp ái 法愛
[ja] ホウアイ hōai ||| (1) To love, or be attached to the dharma (teaching). (2) To seek truth. => 1. Yêu mến, gắn bó với giáo pháp. 2. Tìm cầu chân lý.
pháp âm
Dharmaghosa (S). Dharma-voice; the sound of Truth, or of preaching.
; Âm thanh thuyết pháp hay của chân lý—The sound of the Truth, or of preaching.
pháp ân
Buddha-grace.
; Ân Tam Bảo—Dharma-grace, i.e. the grace of Triratna.
pháp ích
Dharma-vardhan (S)Con vua A dục.
pháp ý
Dharma-mati (S), Dharma idea.
pháp điển
The scriptures of Buddhism.
; 1) Kinh điển Phật giáo—The scriptures of Buddhism. 2) Tiếng chớp của chân lý, chỉ Phật pháp—The lightning of the truth, or Buddha-teaching.
Pháp điện
法殿; C: fădiàn; J: hōden; |1. Nơi giảng pháp; 2. Cung điện, dụ cho chính pháp của Đức Phật.
pháp điện
3411<一>即說法堂。指闡舉大法,宣揚宗旨,行一切法式之堂宇。 <二>即正法(佛之教法)。因正法乃賢聖所依止者,故以殿堂比喻正法。北本涅槃經卷十九(大一二‧四八○上):「法殿欲崩,法幢欲倒。」
; The temple, or hall, of the Law.
; 1) Chánh điện trong tự viện—The temple or hall of law—The main hall of a monastery—The lightening of the truth. 2) Quan Âm Điện: The Kuan-Yin Hall.
Pháp điện 法殿
[ja] ホウデン hōden ||| (1) A teaching hall; (2) A palace as a metaphor for the correct teaching of the Buddha; "dharma-palace, dharma-hall." => 1. Nơi giảng pháp. 2. Cung điện, dụ cho chính pháp của Đức Phật.
pháp đà la ni
3364指於佛之教法聞持而不忘。又作聞持陀羅尼、法總持。爲陀羅尼之一。菩薩地持經卷八(大三○‧九三四上):「云何法陀羅尼?菩薩得如是憶念智慧力,於未曾所聞、未曾修習名句味身,次第莊嚴,次第所應,無量章句,經無量劫,憶持不忘。」〔瑜伽師地論卷四十五、大乘義章卷十一〕(參閱「陀羅尼」3607)
; Dharma-dhàrani (S). One of the four kinds of dharani.
; Dharma-dharani (skt)—Nghe giáo pháp của Phật mà thụ trì không quên, đây là một trong ba pháp Đà La Ni—Holding firmly to the truth one has heard, one of the three kinds of dharani. ** For more information, please see Tam Đà La Ni.
; (法陀羅尼) Cũng gọi Văn trì đà la ni, Pháp tổng trì. Nghe giáo pháp của đức Phật và nhớ giữ không quên, 1 trong các Đà la ni. Kinh Bồ tát địa trì quyển 8 (Đại 30, 934 thượng) nói: Thế nào là pháp Đà la ni? Nghĩa là Bồ tát đã chứng được năng lực trí tuệ nhớ nghĩ như thế, thì đối với danh cú vị thân, dù chưa từng được nghe, chưa từng tu tập, nhưng vẫn trang nghiêm và ứng dụng theo thứ lớp, vô lượng chương cú, trải vô lượng kiếp, vẫn nhớ giữ không quên. [X. luận Du già sư địa Q.45; Đại thừa nghĩa chương Q.11]. (xt. Đà La Ni).
pháp đà la ni môn
Dhāraṇī-Door.
Pháp đàn
(法壇): đàn tràng cử hành pháp sự cầu đảo. Như trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 45, có đoạn: “Chỉ kiến na phụ nhân kiều tố sơ trang, lai đáo pháp đàn thượng, chấp trước thủ lư, niêm hương lễ Phật (只見那婦人喬素梳妝、來到法壇上、執着手爐、拈香禮佛, chỉ thấy nhiều phụ nữ ăn mặc đơn giản, đến trên pháp đàn, tay cầm thủ lư, dâng hương lạy Phật).” Hay trong Tục Bổ Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19, phần Minh Ô Tư Pháp Vương Truyện (明烏斯法王傳), lại có đoạn: “Vi hoàng khảo tỷ, thiết tiến tự pháp đàn, cảm tháp ảnh kim quang chi thụy (爲皇考妣、設薦祀法壇、感塔影金光之瑞, vì cha mẹ đã qua đời của nhà vua, thiết pháp đàn cúng siêu độ, cảm điềm lành hào quang sáng chói nơi bóng tháp).” Hoặc trong Thích Môn Kê Cổ Lược Tục Tập (釋鑑稽古略續集, Taishō Vol. 49, No. 2038) tập 3, phần Văn Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝), cũng có đoạn: “Nhị nguyệt mạng Tây tăng Thượng Sư Cáp Lập Ma, ư Linh Cốc Tự khải kiến pháp đàn, tiến tự hoàng khảo hoàng tỷ; Thượng Sư suất thiên hạ tăng già, cử dương Phổ Độ Đại Trai Khoa (二月命西僧尚師哈立麻、於靈谷寺啟建法壇、薦祀皇考皇妣、尚師率天下僧伽、舉揚普度大齋科, vào tháng hai, Hoàng Đế hạ mệnh cho vị Tây tăng là Thượng Sư Cáp Lập Ma, kiến lập pháp đàn tại Linh Cốc Tự, cúng siêu độ cho song thân nhà vua; Thượng Sư điều khiển tăng chúng khắp thiên hạ, cử hành Đại Khoa Nghi Phổ Độ Trai Đàn).”
pháp đàn
The pulpit, the ceremony platform.
Pháp đăng
(法燈): ngọn đèn chánh pháp, vì chánh pháp được ví như ngọn đèn sáng, có thể chiếu sáng và phá tan mọi u tối của thế gian. Trong Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh (千光眼觀自在菩薩祕密法經) có đoạn: “Thiện tai ! Thiện tai ! Thánh Quán Tự Tại ! Tùng vô lượng kiếp lai, thành tựu đại bi pháp môn lợi ích chúng sanh, ư sanh tử khổ hải vi tác thuyền phiệt, ư vô minh ám thường vi pháp đăng, duy nguyện Đại Thánh phổ vi đại hội cập đương lai nhất thiết chúng sanh cố, tùy ngã đẳng vấn năng thuyết kỳ pháp (善哉、善哉、聖觀自在、從無量劫來、成就大悲法門利益眾生、於生死苦海爲作船筏、於無明闇常爲法燈、唯願大聖普爲大會及當來一切眾生故、隨我等問能說其法, Lành thay ! Lành thay ! Thánh Quán Tự Tại ! Từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu pháp môn đại bi, làm lợi ích chúng sanh, nơi biển khổ sanh tử làm thuyền bè, nơi chỗ tối tăm vô minh thường làm ngọn đèn pháp; xin nguyện Đại Thánh rộng vì đại hội và hết thảy chúng sanh trong tương lai, tùy theo chỗ chúng con hỏi mà có nói pháp này).” Hay như trong bài Đại Đường Thần Đô Thanh Long Tự Cố Tam Triều Quốc Sư Quán Đảnh A Xà Lê Huệ Quả Hòa Thượng Chi Bi (大唐神都青龍寺故三朝國師灌頂阿闍梨惠果和尚之碑) do Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835) soạn, có đoạn: “Hoặc tác nhất nhân sư, hoặc vi Tứ Chúng y, pháp đăng mãn giới, lưu phái biến vức, tư cái đại sư chi pháp thí dã (或作一人師、或爲四眾依、法燈滿界、流派遍域、斯蓋大師之法施也, hoặc làm thầy của một người, hoặc làm nơi nương tựa cho Bốn Chúng, đèn pháp đầy cõi, dòng phái khắp nơi, cũng nhờ pháp thí của đại sư vậy).”
pháp đăng
3426<一>以燈比喻佛法。謂佛法能照破迷界癡闇,猶如燈火能照亮暗夜。與法光、法炬同義。心地觀經卷二(大三‧二九九下):「法寶猶如一切明燈。」又燃此燈者爲佛,故指佛爲法燈。弘傳教法即稱傳燈。又教法乃自佛智所出,故又稱智燈、智火、無漏慧燈,與眾生之癡闇相對而稱。〔新華嚴經卷二、梁高僧傳卷十八〕 <二>宋代法眼宗僧清涼泰欽之諡號。(參閱「泰欽」4147)
; Hoto (J)Tên một vị sư.
; The lamp of dharma.
; Ngọn đèn Phật Pháp xua tan bóng tối vô minh—The lamp of Dharma which dispels the darkness of ignorance.
; (法燈) I. Pháp Đăng. Đồng nghĩa: Pháp quang, Pháp cự. Đèn pháp. Nghĩa là pháp của Phật có năng lực chiếu phá cảnh giới u mê tăm tối, giống như ánh đèn xóa tan bóng đêm. Kinh Tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 299 hạ) nói: Pháp bảo giống như ngọn đèn sáng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.2 (bản dịch mới); Lương cao tăng truyện Q.18]. III. Pháp Đăng. Thụy hiệu của ngài Thanh lương Thái khâm, thuộc tông Pháp nhãn đời Tống. (xt. Thái Khâm).
pháp đăng thiền sư
Zen master—Pháp Đăng Thiền sư là một trong những vị Tăng nổi tiếng đời nhà Đường—Zen master Fa-T'eng was one of the noted monks during the T'ang dynasty. • Một hôm Pháp Đăng hỏi một vị Thiền Sư: “Đầu sào trăm trượng làm sao tiến được?” Vị Thiền sư trả lời: “Câm!” Ngài cứ khán câu đó hoài trong ba năm. Một hôm ngài cưỡi ngựa đi qua cây cầu ván, ván mục, ngựa sụp chân té nhào, quăng ngài rơi xuống cầu. Vừa rơi xuống ngài liền ngộ và làm bài kệ: “Ngã hữu minh châu nhất khỏa Cửu bị trần lao quang tỏa Kim triêu trần tận quang sanh Chiếu phá sơn hà vạn đóa.” (Ta có một viên minh châu Đã lâu bị bụi vùi sâu Hôm nay bụi sạch phát sáng Soi thấu núi sông muôn vật) One day he asked a famous Zen master: “The top of the pole is a hundred yards tall; how can you reach it?” The Zen master replied: “Just keep silent.” He then meditated on that statement for over three years. One day, he rode a hose across a wooden bridge. The bridge was so old that it collapsed right after the horse trod on. Both he and the horse were thrown off the bridge. At that moment he was enlightened and composed the following verse: “I've got a precious gem It was buried deep for a long time Today, being completely clean, it regains its brightness, Illuminates rivers, mountains all over the world.”
pháp đăng vị liễu
3426禪宗公案名。此公案係宋代清涼泰欽(法燈)之示眾語。五燈會元卷十(卍續一三八‧一七五下):「師乃曰:『某甲本欲居山藏拙,養病過時,奈緣先師有未了底公案,出來與他了卻。』時,有僧問:『如何是先師未了底公案?』師便打曰:『祖禰不了,殃及兒孫。』曰:『過在甚麼處?』師曰:『過在我,殃及你。』」上引之中,法燈所說先師未了之公案,乃謂濟度眾生爲佛教行者永無止盡之悲願。法燈所以打該僧,即示意其若不自救,爲師者亦不得證菩提。
; (法燈未了) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Thanh lương Thái khâm (Pháp đăng) với 1 vị tăng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 10 (Vạn tục 138, 175 hạ) ghi: Sư nói: Ta vốn muốn sống trong núi để giấu sự vụng về kém cỏi, nhưng hiềm vì tiên sư có công án giải quyết chưa xong (vị liễu) nên ta phải trở ra để giải quyết. Lúc đó có vị tăng hỏi: Thế nào là công án của tiên sư chưa giải quyết xong? Sư liền đánh, nói: Ông nội không rõ, để họa đến con cháu. Vị tăng hỏi: Lỗi ở chỗ nào? Sư nói: Lỗi ở ta, họa đến ông. PHÁP ĐIÊN I. Pháp Điện. Chỉ cho Pháp đường, nơi diễn nói đại pháp, tuyên dương tông chỉ và cử hành tất cả pháp sự. II. Pháp Điện. Chỉ cho chính pháp của đức Phật, vì chính pháp là nơi nương tựa của các bậc Thánh hiền, cho nên dùng Điện đường để ví dụ chính pháp. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 19 (Đại 12, 480 thượng) nói: Pháp điện muốn hư nát, pháp chàng muốn ngã đổ.
pháp đường
3383請參閱 大乘義章 乃七堂伽藍之一。即禪林演布大法之堂。位於佛殿之後方,方丈之前方。相當於講堂,而「講」通於「講教」,爲別於他宗,且示其教外別傳之宗旨,故於禪宗特稱爲法堂。依據歷代三寶紀卷十二、景德傳燈錄卷四等所載,我國自古除佛殿外,亦建有法堂。及至百丈懷海禪師定禪苑之規制,遂模倣朝制之太極殿建立法堂,堂內中央設一高臺,四方均得仰望,然後世則於座後設大板屏,已失古意。或謂禪剎之法堂係模倣帝釋天之善法堂而建者。據禪苑清規卷十(卍續一一一‧四六六上):「不立佛殿,唯搆法堂。」可知禪苑古來不存佛殿,只建法堂;後始於佛殿之後方建法堂;或於小寺院中,衍爲佛殿、法堂兩者兼用。〔佛本行集經卷五十、勅修百丈清規卷上尊祖章(達磨忌)、禪苑清規卷五、卷七、卷九、禪林象器箋殿堂門〕(參閱「講堂」6517)
; Pháp đường hay giảng đường—The chief hall—Dharma Hall—Lecture Hall.
; (法堂) Chỉ cho Giảng đường trong Thiền lâm, tọa lạc ở phía sau điện Phật và phía trước nhà Phương trượng, 1 trong 7 tòa nhà trong toàn già lam. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4, thì ở Trung quốc từ xưa, ngoài Phật điện cũng có Pháp đường. Cho đến thời Thiền sư Bách trượng Hoài hải mới định ra qui chế Thiền lâm, phỏng theo điện Thái cực của triều đình mà kiến lập Pháp đường. Chính giữa thiết lập một tòa cao, 4 phía đều trông thấy, nhưng đời sau phía sau tòa, đặt 1 bức bình phong lớn bằng gỗ, làm mất ý nghĩa ban đầu. Hoặc có thuyết cho rằng Pháp đường trong Thiền viện là mô phỏng kiểu kiến trúc Thiện pháp đường của trời Đế thích. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn 111, 466 thượng) nói: Không kiến thiết Phật điện, chỉ tạo lập Pháp đường. Căn cứ vào đó có thể biết trong Thiền lâm thời xưa không có Phật điện, chỉ có Pháp đường. Về sau mới xây Phật điện ở phía trước Pháp đường. Hoặc trong các chùa viện nhỏ thì Phật điện và Pháp đường được dùng chung. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.50; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Thiền uyển thanh qui Q.5, 7, 9; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Giảng Đường).
pháp đạo
3417天竺人。又稱法道仙人。靈鷲山中有五百誦持明咒之仙人,修金剛摩尼法而得神力,可須臾遊十方而歸,且壽命無量,導利人天。法道即其中之一人,曾乘紫雲,經中國、百濟而至日本,住於播磨國印南郡法華山,常誦法華經,修深觀,所持有千手大悲銅像、佛舍利、寶鉢等。〔元亨釋書卷十八、本朝高僧傳卷七十四、播磨石所巡覧図会卷三〕
; Buddhism.
; (法道) Cũng gọi Pháp đạo tiên nhân. Người Thiên trúc. Trong núi Linh thứu có 500 vị tiên tụng trì minh chú, tu pháp Kim cương ma ni mà được thần thông, chỉ trong chốc lát, có thể đi khắp 10 phương rồi trở về, thọ mệnh vô lượng, lợi ích trời người. Pháp đạo là 1 trong 500 vị tiên ấy, từng cỡi mây tía qua Trung quốc, Bách tế, rồi đến Nhật bản, ở trên núi Pháp hoa, quận Ấn nam, nước Bá ma, thường tụng kinh Pháp hoa, tu các pháp quán, mang theo tượng Thiên thủ Đại bi bằng đồng, xá lợi Phật, bát báu v.v... [X. Nguyên hanh thích thư Q.18; Bản triều cao tăng truyện Q.74].
pháp đế
Dharma emperor, i.e. the Buddha.
; Phật được ví như một vị Pháp Vương (Vua Pháp)—Dharma emperor, i.e. the Buddha.
pháp đệ
Phật giáo đồ (tín đồ Phật giáo)—A Buddhist disciple.
pháp định
One of the twelve names for the Dharma-nature, implying that it is the basis of all phenomena. Inherent dharma.
; 1) Pháp thiền định: Meditation dharma. 2) Phật Tánh: Inherent dharma—Buddha-nature.
pháp đồ
3379即學法之徒眾。南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○六上):「論斷輕重,但用數行,說罪方便,無煩半日,此則西方南海法徒之大歸。」
; Disciple.
; (法徒) Chỉ cho đồ chúng tu học Phật pháp. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 206 thượng) nói: Luận đoán nặng nhẹ, chỉ dùng vài hàng làm phương tiện nói tội, không nhọc đến nửa ngày. Đây là phép thú tội của pháp đồ vùng Nam hải phương tây.
pháp đồng xá
Xem chùa.
; A communal religious abode, i.e. a monastery or convent where religion and food are provided for spiritual and temporal needs.
pháp độ
3365(437~500)南齊僧。黃龍(吉林農安)人。年少出家,初遊學北方,以苦行爲務,劉宋末年南下遊行江都。劉宋明帝泰始(465~471)年間,當代名士明僧紹結廬隱遁於攝山(南京棲霞山),值法度至此講說無量壽經,明僧紹捨宅以安之,敬以爲師友。明僧紹歿後,法度以其宅建寺,號棲霞精舍,並與僧紹次子仲璋同造大佛龕,供奉三丈一尺五寸高之無量壽佛坐像等。於永元二年示寂,世壽六十四。〔梁高僧傳卷八〕
; Rules, or disciplines and methods.
; Luật lệ, hay giới luật và phương cách tu hành—Rules, or disciplines and methods.
; (法度) (437-500) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Hoàng long (Nông an, Cát lâm). Sư xuất gia từ nhỏ, ban đầu sư học ở miền Bắc, lấy khổ hạnh làm chính. Vào những năm cuối đời Lưu Tống, sư xuống miền Nam, học ở Giang đô. Khoảng năm Thái thủy (465-471) đời Minh đế nhà Lưu Tống, các danh sĩ đương thời như Minh tăng thiệu... cất nhà tranh ở ẩn tại Nhiếp sơn (núi Thê hà ở Nam kinh), gặp sư đến đây giảng kinh Vô lượng thọ, ông Minh tăng thiệu thỉnh sư về ở nhà ông, kính sư như bậc thầy. Sau khi Minh tăng thiệu qua đời, sư dùng nhà ông làm chùa, lấy hiệu là Tinh xá Thê hà, rồi cùng với người con thứ của ông Minh tăng thiệu tên Trọng chương cùng tạo khám thờ Phật để an vị pho tượng Phật Vô lượng thọ ngồi, cao 3 trượng, 1 thước, 5 tấc. Năm Vĩnh nguyên thứ 2, sư thị tịch, thọ 64 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.8].
pháp ấn
3343<一>梵語 dharma-mudrā。與「法本末」、「法本」、「相」、「憂檀那」(梵 udāna)等詞同義。法,指佛法、佛教;印,即旗印、印記、標幟。法印係指佛教之旗幟、標幟、特質,乃證明爲真正佛法之標準。又印有真實、不動不變之義,例如王者之印,能爲證明。吉藏之法華義疏卷六載,印,印定諸法不可移改。又以文爲印,將文定理,謂理與文相應者乃爲實理,故稱法印。後世稱雜阿含經卷十所指之一切行無常、一切法無我、涅槃寂靜等三者,爲三法印。又稱一切行無常、一切行苦、一切法無我、涅槃寂靜,爲四法印、四憂檀那。此四者加一切法空,則稱五法印。據法華玄義卷八上載,三法印係小乘之法印,而大乘僅有諸法實相之一法印,即一實相印。〔增一阿含經卷十八、北本大般涅槃經卷十三、菩薩地持經卷八、大智度論卷三十二、俱舍論光記卷一〕 <二>日本僧位之一。全稱法印大和尚位。即僧正之位,乃日本僧綱之最上位。日本僧位之制度原爲滿位、法師位、大法師位等三位,僧綱與凡僧二職皆可同授此三階位,不分位號,亦無尊卑。真雅鑒於此弊,遂於清和天皇貞觀六年(864)上奏,請於三階之外更制定法橋上人位、法眼和上位、法印大和尚位等,以爲律師以上之位。法印大和尚位宜僧正之階位爲之,法眼和上位宜僧都之階位爲之,法橋上人位宜律師之階位爲之。因此,真雅亦爲日本受賜法印大和尚位僧正之第一人。(參閱「僧官」5731)
; Yantra (S)Ấn, Xem Ấn.
; Mùdrâ (S). The seal of Buddha-truth.
; 1) Dấu ấn của diệu pháp, diệu pháp chân thực, không chuyển động hay biến đổi nên gọi là “Ấn.”—The seal of Buddha-truth, expressing its reality and immutability. 2) Dấu hiệu chứng ngộ mà chư Phật hay chư Tổ trao truyền tâm pháp cho nhau—Its universality and its authentic transmission from one Buddha or patriarch to another.
; (法印) I. Pháp Ấn. Phạm: Dharma-mudrà. Đồng nghĩa: Pháp bản mạt, Pháp bản, Tướng, Ưu đàn na (Phạm: Udàna). Chỉ cho dấu ấn, đặc chất của Phật pháp. Ấn cũng có nghĩa là chân thực bất biến, là chuẩn mực chứng minh sự chân chính của Phật pháp, cho nên gọi là Pháp ấn. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 6 của ngài Cát tạng cho rằng, ấn là ấn định các pháp không thể dời đổi. Lại lấy văn làm ấn, dùng văn để quyết định lí, nếu lí và văn tương ứng với nhau thì đó là lí chân thực, nên gọi là Pháp ấn. Như Nhất thiết hành vô thường, Nhất thiết pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh trong kinh Tạp a hàm quyển 10, được gọi là Tam pháp ấn. Hoặc Nhất thiết hành vô thường, Nhất thiết hành khổ, Nhất thiết pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh, được gọi là Tứ pháp ấn, Tứ ưu đàn na. Nếu lại thêm Nhất thiết pháp không vào nữa, thì gọi là Ngũ pháp ấn. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8, thượng, thì Tam pháp ấn là Pháp ấn của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì chỉ có 1 pháp ấn Chư pháp thực tướng gọi là Nhất thực tướng ấn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.13 (bản Bắc); kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Đại trí độ Q.32; Câu xá luận quang kí Q.1]. II. Pháp Ấn. Gọi đủ: Pháp ấn đại hòa thượng vị. Chỉ cho vị Tăng cương cao nhất ở Nhật bản, tức là ngôi vị Tăng chính. Chức vị của chư tăng ở Nhật bản vốn có 3 bậc: Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị. Hai chức Tăng cương và Phàm tăng đều có thể được trao cho 3 chức vị này, không chia vị hiệu, cũng không có tôn ti. Vào năm Trinh quán thứ 6 (864), ngài Chân nhã tâu lên Thiên hoàng Thanh hòa, ngoài 3 bậc trên, xin chế định thêm 3 chức vị nữa là: Pháp kiều thượng nhân vị, Pháp nhãn hòa thượng vị và Pháp ấn đại hòa thượng vị, là những chức vị trên Luật sư. Chức Pháp ấn đại hòa thượng vị phải do cấp bậc Tăng chính đảm nhiệm, chức Pháp nhãn hòa thượng vị phải do cấp bậc Tăng đô đảm nhiệm và chức Pháp kiều thượng nhân vị thì do cấp bậc Luật sư đảm nhiệm. Từ đó, chế độ Tăng chức ở Nhật bản mới có vị hiệu và tôn ti. (xt. Tăng Quan).
pháp ứng
Tùy theo nhu cầu của chúng sanh ứng hiện Pháp thân—Dharmakaya response, its response to the needs of all.
Pháp 法
[ja] ホウ hō ||| (Skt. dharma, Pali dhamma). The word dharma is originally derived from the Indic root dhr, with the meaning of "that which preserves or maintains", especially that which preserves or maintains human activity. The term has a wide range of meanings: (1) Custom, habit, standard of behavior; (2) That which should be done; occupation, duty, obligation; (3) social order, social pattern; (4) goodness, good action, virtue; (5) truth, reality, true principle, law, (Skt. satya); (6) the basis of all worlds and realms; (7) religious duty; (8) the standard of the awareness of truth, the law; (9) teachings, explanation; (10) original essence, original nature. (11) Attribute, quality, characteristic quality, elemental construct. It is this sense of the term that is commonly used in the treatises of the Yogācāra school 瑜伽行派, which categorizes the gamut of the experiential world into one hundred types of phenomena, or elemental constructs. The fact that these constructs lack inherent existence is not recognized by the practitioners of the two vehicles 二乘, but is a distinctive characteristic of the contemplations of the bodhisattvas 菩薩. The lack of perception of the emptiness of elemental constructs is important in the formation of the noetic hindrances. See also 百法. (12) In logic, a predicate or verb object. => (s: dharma; p: dhamma). Chữ dharma vốn xuất phát từ tiếng Ấn Độ, ngữ căn dhr, có nghĩa là “nắm giữ”, đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Thuật ngữ nầy có nhiều nghĩa: 1. Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử. 2. Điều phải làm; nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ. 3. Trật tự xã hội; quy củ trong xã hội. 4. Điều lành, việc thiện, đức hạnh. 5. Sự thực, thực tại, chân lý, luật tắc (s: satya). 6. Nền tảng của thế gian và các cõi giới. 7. Tín ngưỡng tôn giáo. 8. Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lý, về luật tắc. 9. Giáo lý, sự giải thích. 10. Bản thể, bản tính. 11. Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa nầy của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Thực tế các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính nầy hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng bồ-tát. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem Bách pháp百法. 12. Trong Luận lý học, pháp là tiền đề hay là đối tượng của một sự kiện.
phát
To shoot forth, send, issue; start, initiate; expound, prosper.
; 1) Phân Phát: To issue—To distribute—To give out—To send. 2) Phát Khởi: To shoot forth—To initiate—To start. 3) Tóc trên đầu: Hair of the head.
phát biểu
To express a view—To state.
phát bà đề
Purva-Videha (S). Đông thắng thần châu.
phát bồ đề tâm
To open the bodhi-mind.
phát bồ đề tâm luận
5163<一>凡二卷。天親著,鳩摩羅什譯。全稱發菩提心經論。收於大正藏第三十二冊。共分十二章。內容係就發菩提心而論,據大乘經論、小乘阿毘達磨論書,而詳細注釋、分類,並說明法數。 <二>全一卷。唐代不空譯。全稱金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論。收於大正藏第三十二冊。本論共立行願、勝義、三摩地等三門,敘述菩提心之行相。(參閱「金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論」3559)
; (發菩提心論) I. Phát Bồ Đề Tâm Luận. Tên đầy đủ: Phát bồ đề tâm kinh luận. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiên thân (Thế thân) soạn, ngài Cưu ma la thập dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Sách này được chia làm 12 chương, nội dung bàn về việc phát tâm bồ đề, y cứ vào các kinh luận Đại thừa và những bộ luận A tì đạt ma của Tiểu thừa để chú thích, phân loại và thuyết minh pháp số 1 cách rất tỉ mỉ, rõ ràng. II. Phát Bồ Đề Tâm Luận. Gọi đủ: Kim cương đính du già trung phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm luận.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này lập ra 3 môn là Hành nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa để trình bày về hành tướng của tâm bồ đề. (xt. Kim Cương Đính Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận).
Phát bồ-đề tâm
發菩提心; J: hotsu-bodaishin;|Chỉ sự quyết định đạt Bồ-đề bằng con đường của một vị Bồ Tát. Một thệ nguyện xuất phát từ Ðại tín căn và Ðại nghi đoàn.
Phát bồ-đề tâm 發菩提心
[ja] ホツボダイシン hotsu bodaishin ||| To arouse the mind (thought) of intention to achieve enlightenment. To make the resolve to attain supreme enlightenment. 〔法華經T 262.9.35a14〕 => Phát khởi tâm nguyện đạt đến giác ngộ. Quyết tâm đạt đến sự giải thoát tối thượng.
phát chân
5163即發起自己本有之真性。楞嚴經卷九(大一九‧一四七中):「汝等一人發真歸元,此十方空皆悉銷殞。」
; (發真) Tức phát khởi chân tính sẵn có của mình. Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 147 trung) nói: Nếu một người trong các ông phát chân trở về nguồn gốc, thì hư không trong 10 phương này thảy đều tiêu mất.
Phát dương 發揚
[ja] ホツヨウ hotsuyō ||| Make known; spread; popularize. => Làm cho mọi người được biết rộng rãi; lan truyền, truyền bá.
phát giới
To issue to, or bestow the commandments on a disciple.
Phát huy 發揮
[ja] ホッキ hokki ||| (1) The spreading of the teachings. (2) To explain the meaning of the teachings. (3) Exhibition, demonstration, realization. To manifest, elucidate, develop. => 1. Truyền bá giáo pháp. 2. Giảng giải nghĩa lý giáo pháp. 3. Bày tỏ, thể hiện, thực hiện. Biểu thị, làm sáng tỏ, phát triển.
phát hạ phẩm thập thiện tâm
5162十種發心之一。下品,指於作善之時,即生後悔心。十善,指不殺生、不偷盜、不邪淫、不妄語、不兩舌、不惡口、不綺語、不貪欲、不瞋恚、不邪見。眾生念念生起欲勝人之心,輕他重己而外揚仁義,植阿修羅道之種,稱發下品十善心。〔華嚴經隨疏演義鈔卷三十五〕
; (發下品十善心) Chỉ cho người phát tâm làm các việc thiện rồi lại hối hận, là 1 trong 10 loại phát tâm.Thập thiện(10 điều thiện) là: Không giết hại, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói ác, không nói thêu dệt, không tham muốn, không sân hận và không tà kiến. Chúng sinh luôn luôn khởi tâm muốn hơn người, khinh người trọng mình, bề ngoài tỏ ra nhân nghĩa, nhưng bên trong thì gieo hạt giống A tu la, gọi là Phát hạ phẩm thập thiện tâm. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.35].
phát khiển chiêu hoán
5164指釋尊在娑婆世界發遣眾生往生淨土,而阿彌陀佛於淨土招喚眾生往生。略稱遣喚。據善導觀經疏散善義之二河譬所載,譬如有人欲向西行百千之里,於中途忽見二河,南為火河,北為水河。二河各闊百步,南北無邊,於水火中間有一白道,闊約四、五寸,此道從東岸至西岸,亦長百步。水之波浪交過濕道,火焰亦來燒道,水火相交常無止息。此人既至空曠處,僅見群賊惡獸欲來殺害。此人怖死直走向西,見此大河即自念言(大三七‧二七二下):「此河南北不見邊畔,中間見一白道,極是狹小,二岸相去雖近,何由可行?今日定死不疑。」欲倒回則群賊惡獸漸相逼近,欲南北避走則惡獸毒蟲競來相逼,欲向西尋道而去,復恐墮入水火二河。此人惶怖不已,即自思念:「我今迴亦死,住亦死,去亦死,一種不勉死者,我寧尋此道向前而去,既有此道,必應可度。」作此念時,東岸忽聞勸人之聲:「仁者!但決定尋此道行,必離死難。」又聞西岸有人喚言:「汝一心正念直來,我能護汝眾不畏墮於水火之難。」此人既聞此遣彼喚,即自正身心,決定尋道直進,不生疑怯退心。時又聞東岸群賊等喚言:「仁者!迴來!此道嶮惡不得過,必死不疑。我等眾無惡心相向。」此人雖聞喚聲,亦不回顧,一心直進而行,須臾即到西岸,而永離諸難。
; (發遣招喚) Gọi tắt: Khiển hoán. Khuyến khích và kêu gọi. Đức Phật Thích ca ở thế giới Sa bà khuyến khích chúng sinh sinh về Tịnh độ, còn đức Phật A diđà ở Tịnh độ thì kêu gọi chúng sinh vãng sinh Tịnh độ. [X. Nhị hà thí trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo].
phát khởi
5163指物之初起。又作發處。或指激揚鼓動他人。注維摩詰經卷二(大三八‧三四四上):「欲令其顯維摩詰辯才殊勝,發起眾會。」此外,發起信心之一念,稱為一念發起。又引發佛說該經因緣之大眾,稱為發起眾。
; (發起) Cũng gọi Phát xứ. Chỉ cho chỗ khởi đầu của 1 sự vật, hoặc chỉ cho sự khuyến khích, cổ vũ người khác làm 1 việc gì đó. Chú duy ma cật kinh quyển 2 (Đại 38, 344 thượng) nói: Vì muốn nêu bật tài biện luận thù thắng của ngài Duy ma cật, nên phát khởi chúng hội. Ngoài ra, phát khởi 1 niệm tín tâm, gọi là Nhất niệm phát khởi. Đại chúng phát khởi, nhân duyên dẫn đến việc đức Phật nói 1 bộ kinh nào đó, gọi là Phát khởi chúng.
phát khởi chúng
5163指開端發起之眾。聽法四眾之一。即能鑒知時機,發起集會,發起瑞相,發起問答等之眾,稱為發起眾。如法華經之會座,由於舍利弗三請佛陀而發起法華經之說法。法華文句卷二下(大三四‧二六下):「發起者,權謀智鑒,知機、知時,擊揚發動,成辦利益。如大象躄樹,使象子得飽。」〔大明三藏法數卷十五〕
; (發起衆) Chỉ cho hàng thính chúng có khả năng biết rõ thời cơ, tạo ra nhân duyên phát khởi pháp hội, là 1 trong 4 chúng nghe đức Phật nói pháp. Pháp hoa văn cú quyển 2, phần cuối (Đại 34, 26 hạ) nói: Người phát khởi là những bậc có trí tuệ sáng suốt, biết cơ, biết thời, dùng phương tiện khéo léo, khuyến khích, phát động, thành tựu sự lợi ích, giống như voi mẹ dùng chân đạp cây xuống để cho voi con ăn. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.15].
phát khởi tự
5163二序之一。為「證信序」之對稱。在諸經序分中,僅記該經個別之發起緣由之序文,稱為發起序,又稱別序;而總通諸經之序文,稱為證信序,又稱通序。如於諸經之始,通常以「如是我聞,一時佛在」等聞、信、時、主、處、眾六事,為證誠信,故稱證信序。而法華經於「爾時世尊為四眾圍繞」等經文以下,即敘述入定、雨華、動地、放光等之祥瑞,此等祥瑞皆僅限於法華一經發起之說,故稱發起序。
; (發起序) Đối lại: Chứng tín tự. Cũng gọi Biệt tự. Một trong hai loại tựa. Trong phần tựa của các kinh, lời tựa chỉ ghi nguyên do đã phát khởi riêng 1 bộ kinh ấy, gọi là Phát khởi tự, hoặc Biệt tự; còn lời tựa chung cho các kinh khác thì gọi là Chứng tín tự, hay Thông tự. Như bắt đầu các kinh, thông thường, dùng câu: Tôi nghe như vầy, một thời kia đức Phật ở... để chứng minh rằng chính tôi (tức tôn giả A nan)được nghe, chứ không phải do người khác kể lại, vì thế nên gọi là Chứng tín tự. Còn đoạn văn Lúc bấy giờ đức Thế tôn vì 4 chúng vây quanh... trở xuống trong kinh Pháp hoa là nói về các điềm lành như nhập định, mưa hoa, đất rúng động, phóng hào quang... Những điềm lành này chỉ nói về nhân duyên phát khởi riêng kinh Pháp hoa mà thôi, cho nên gọi là Phát khởi tự.
phát lồ
Apaṭṭhi-pratideśanā (S), Confession Apaṭṭhi-deśanā (S), Apaṭṭhi-desanā (P), Pratide-śanīya (S), Pāṭidesanīya (P), Pratideśanā (S)Hương bỉ bối, Phát lồ, Xưng tội, Ba la đề đề xá ni1- Sám hối với người mình lỡ xúc phạm (có ghi trong Luận tạng). 2- Xưng tội ra với người khác Tỳ kheo có 4 điều, Tỳ kheo ni có 8 điều, trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
phát lộ
5165 請參閱 南嶽願文謂顯露表白所犯之過失而無所隱覆。天台四教儀(大四六‧七七九上):「如是五逆十惡及餘一切,隨意發露,更不覆藏,畢故不造新;若如是則外障漸除,內觀增明。」
; Xem Ba la đề đề xá ni.
; (髮露) Trình bày rõ các tội lỗi mình đã phạm. không dám che giấu. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Tội ngũ nghịch thập ác như thế và tất cả tội lỗi khác đều phát lộ hết, không được che giấu, dứt tội cũ, không tạo tội mới; nếu được vậy thì các ngoại chướng sẽ dần dần tiêu trừ, mà nội quán sẽ thêm sáng.
phát lộ (lồ)
To reveal, manifest, confess.
phát lộ sám hối
tự mình bộc lộ, bày tỏ chỗ sai trái, phạm lỗi của mình ra cho mọi người đều biết và quyết tâm hối cải không tái phạm nữa.
phát minh tâm địa
Tức là minh tâm kiến tánh.
Phát minh 發明
[ja] ホツミョウ hotsumyō ||| (1) To enlighten, to clarify. (2) To invent. To explain. => 1. Làm sáng tỏ, làm cho sáng sủa dễ hiểu. 2. Sáng chế ra. Giảng giải.
phát nghiệp nhuận sinh
5163請參閱 發菩提心論請參閱 阿毘達磨發智論謂由惑起業,由惑潤生。即由煩惱滋潤業,而引生未來之果。此係惑之兩種作用,唯識宗以此說明眾生流轉生死之根源。所謂發業,係指發業之惑之作用,乃以分別起之煩惱為主,其中更以與第六識相應之分別無明所發之業為主,又通於俱生起之煩惱。以分別起之煩惱為主者,此係就行相增勝而言;以分別無明為主者,則是由於與他惑相比而有殊勝之作用。 所謂潤生,係指潤生之惑之作用,即俱生起之惑,乃以與第六識相應之貪煩惱為主,例如臨終若有貪愛之惑,顧戀自體及境界等,由之遂潤「中有」之生,此為增上之用。相當於十二因緣之愛、取二支,能滋潤五果之種子,令生現行,故稱潤生。其中,有正潤與助潤之別,「正潤生」為俱生起之惑,於修道時斷除之;「助潤生」通於分別起之惑,為見道時所斷除。 此潤生之惑,若於凡夫,必有現行,聖者則不然;二乘三果無現行之貪愛,而僅為種子之潤生。然七地以前之菩薩,為利他之行,故起惑,是為現行之潤生。又俱舍宗以欲界九品之修惑能招感七大生,此乃意謂於欲界九品之修惑上具有潤生之作用。另於天台宗之教義,謂三乘共十地之第九菩薩地,為化他之行,乃有「扶習潤生」之作用,此即謂菩薩以其誓願力而添力於見思習氣中,並以之發業潤生,受生三界。〔俱舍論卷十、瑜伽師地論卷五十九、成唯識論卷八、俱舍論光記卷十、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「惑」4943)
; (發業潤生) Chỉ cho phiền não tưới tẩm (nhuận) nghiệp mà sinh ra quả ở vị lai. Phát nghiệp là chỉ cho tác dụng của Hoặc, lấy phiền não phân biệt khởi làm chính, trong đó lại lấy nghiệp do vô minh phân biệt phát ra, tương ứng với thức thứ 6 làm chủ yếu, rồi chung với phiền não Câu sinh khởi mà phát ra nghiệp. Tác dụng hoặc lấy phiền não Phân biệt khởi làm chính, là nói theo hành tướng tăng thắng. Còn tác dụng hoặc lấy vô minh phân biệt làm chủ yếu thì là tác dụng thù thắng hơn so với các hoặc khác. Nhuận sinh chỉ cho tác dụng của hoặc nhuận sinh, tức là hoặc Câu sinh khởi lấy phiền não Tham, tương ứng với thức thứ 6 làm chính, chẳng hạn như lúc hấp hối có hoặc tham ái thì quyến luyến tự thể và cảnh giới, nhờ đó mà tưới tẩm sự sống của Trung hữu (tức thân chưa đi đầu thai), đó là tác dụng tăng thượng. Tác dụng này tương đương với 2 chi Ái và Thủ trong 12 nhân duyên, có năng lực tưới tẩm (nhuận) hạt giống của 5 quả, làm phát sinh hiện hành, vì vậy gọi là Nhuận sinh. Trong đó, có Chính nhuận sinh và Trợ nhuận sinh khác nhau. Chính nhuận sinh là hoặc Câu sinh khởi, khi đến giai vị Tu đạo thì đoạn trừ hết; còn Trợ nhuận sinh thì chung cho cả hoặc Phân biệt khởi, khi đến giai vị Kiến đạo thì đoạn trừ. Hoặc Nhuận sinh này chỉ hiện hành ở địa vị phàm phu, chứ với bậc Thánh thì không, ở 3 quả của Nhị thừa không có tham ái hiện hành mà chỉ là sự nhuận sinh của chủng tử. Nhưng Bồ tát từ Thất địa trở về trước, vì hạnh lợi tha nên khởi hoặc, đó là sự nhuận sinh hiện hành. Tông Câu xá cho rằng 9 phẩm Tu hoặc cõi Dục có năng lực chiêu cảm sinh ra thất đại (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại, thức đại) ý nói trong 9 phẩm Tu hoặc cõi Dục có đủ tác dụng nhuận sinh. Còn giáo nghĩa của tông Thiên thai thì cho Bồ tát Đệ cửu địa trong Tam thừa cộng Thập địa vì hạnh hóa tha mà có tác dụng Phù tập nhuận sinh ý nói Bồ tát nhờ có sức thệ nguyện mà thêm sức ở trong tập khí Kiến, Tư hoặc, đồng thời dùng sức ấy để phát nghiệp nhuận sinh, thụ sinh trong 3 cõi. [X. luận Câu xá Q.10; luận Du già sư địa Q.59; luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu]. (xt. Hoặc).
Phát nghiệp 發業
[ja] ホツゴウ hotsugō ||| To produce karma, generate activity. 〔二障義HPC 1.795b〕 => Gây ra nghiệp, tạo tác.
phát nguyện
5165發起誓願之意。又作發大願、發願心、發志願、發無上願。總指發求佛果菩提之心(菩提心);別指完成淨土,以救濟眾生之心(即誓願)。蓋菩薩所發之願,有總願、別願、淨土成佛願、穢土成佛願等,種類甚多。於淨土宗,誓願往生淨土者發遣自己修善,此發願往生之心,稱為迴向發願心。唐代善 肊鬷[經疏玄義分解釋六字名號(南無阿彌陀佛),稱南無有發願迴向之意。親鸞謂此乃阿彌陀佛發救度眾生之願,而為眾生得救之因;或解作遵行釋迦、彌陀二尊之發遣招喚,而欲生於淨土之心。 又願心大體可分為二:(一)發求菩提之願,(二)發度化有情之願。又四弘誓願、十大願皆屬於發願。此外,有關修善作福等皆須先發願,而記其趣旨之文稱為發願文,又作願文、誓願文。如南朝梁代沈約之千僧會願文、隋代智者大師之發願文、善導之發願文等皆是。〔菩薩地持經卷一種性品、發菩提心經論卷上願誓品、大智度論卷五、俱舍論卷十二分別世品〕(參閱「發遣招喚」5164)
; To take a vow; to take one's vow; to vow, resolve.
; (發願) Cũng gọi Phát đại nguyện, Phát nguyện tâm, Phát chí nguyện, Phát vô thượng nguyện. Phát khởi thệ nguyện, tức phát tâm bồ đề cầu chứng quả Phật, đặc biệt chỉ cho tâm hoàn thành Tịnh độ để cứu giúp chúng sinh (tức thệ nguyện). Nguyện mà Bồ tát phát khởi có rất nhiều loại như: Tổng nguyện, Biệt nguyện, Tịnh độ thành Phật nguyện, Uế độ thành Phật nguyện v.v... Đối với tông Tịnh độ, người thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ khuyến khích tự mình tu thiện, tâm phát nguyện vãng sinh này, gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, khi giải thích 6 chữ Nam mô A di đà Phật, ngài Thiện đạo cho rằng Nam mô có nghĩa là phát nguyện hồi hướng. Ngài Thân loan thì cho rằng đó là đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ chúng sinh và là nhân của chúng sinh được cứu. Hoặc giải thích niệm chữ Nam mô là tuân hành lời khuyến khích và kêu gọi (phát khiển chiêu hoán)của 2 đức Phật Thích ca, Di đà mà phát tâm vãng sinh Tịnh độ. Về đại thể, Nguyện tâm có thể chia làm 2 loại: Một là nguyện cầu bồ đề, hai là nguyện hóa độ chúng sinh. Bốn thệ nguyện rộng lớn và 10 đại nguyện đều thuộc về phát nguyện. Ngoài ra, về việc làm phúc, tu thiện... đều phải phát nguyện trước; bài văn ghi chỉ thú của lời phát nguyện gọi là Phát nguyện văn, Nguyện văn, Thệ nguyện văn, như Thiên tăng hội nguyện văn của ngài Trầm ước đời Lương thuộc Nam triều, Phát nguyện văn của Đại sư Trí khải đời Tùy, Phát nguyện văn của ngài Thiện đạo đời Đường... [X. phẩm Chủng tính kinh Bồ tát địa trì Q.1; phẩm Nguyện thệ trong Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; luận Đại trí độ Q.5; phẩm Phân biệt thế luận Câu xá Q.12]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
Phát nguyện 發願
[ja] ホツガン hotsugan ||| To arouse the vow (to save all sentient beings). To arouse the aspiration for enlightenment, or rebirth in the Pure Land. => Phát khởi tâm nguyện (cứu độ tất cả chúng sinh). Phát khởi tâm nguyện đạt đến giác ngộ, hoặc vãng sinh Tịnh độ.
phát ngạ quỷ tâm
5165十種發心之一。指眾生於念念之間,欲得名聞四遠,八方稱揚,而內無實德,虛比聖賢;唯行諂誑,作下品十惡,以植三惡道之種子,稱為發餓鬼心。
; (發餓鬼心) Phát tâm quỉ đói, 1 trong 10 loại phát tâm.Chúng sinh muốn được tiếng tăm lừng lẫy khắp nơi, muốn được mọi người khen ngợi; bên trong vốn không có thực đức mà muốn sánh với thánh hiền, đó chỉ là dối trá, lừa gạt, tạo 10 điều ác, gieo nhân ngã quỉ, nên gọi là Phát ngã quỉ tâm.
Phát phu
(髪膚): tóc và da, tức chỉ toàn thân con người. Trong chương Khai Tông Minh Nghĩa (開宗明義) thứ nhất của Hiếu Kinh (孝經) có đoạn rằng: “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã (身體髪膚、受之父母、不敢毀傷、孝之始也, toàn bộ thân thể, thọ của cha mẹ, không dám thương tổn, đó là việc làm đầu tiên của hiếu).” Câu “cảm hà phát phu chi báo (感荷髪膚之報)” có nghĩa là cảm thấy nặng trĩu không biết làm sao báo đáp ơn sâu của cha mẹ đã ban cho tấm thân này.
phát quang
5162唐代僧。河南汝陽人,俗姓楊。歷代祖先皆為官宦。師每見罪人,輒歎曰:「人本無罪,無明陷之;地獄本無,夙業感之。」遂發願至少林寺出家。精研戒律及諸教乘,後遍歷諸方,至雞足山,創建石鐘寺,大弘法化,世稱石鐘發光禪師。生卒年不詳。〔增訂佛祖道影卷四(虛雲)〕
; To send forth light, radiate.
Phát quang địa
xem Mười địa vị.
phát quang địa
5163菩薩十地之第三地。因修持佛道,而開發極明淨之慧光,故稱發光地。〔十地經卷十、八十華嚴卷三十五〕
; Prabhākari-bhŪmi (S), Radiant stage Trong Thập địa.
; (發光地) Địa thứ 3 trong 10 địa của Bồ tát. Vì hàng Bồ tát ở địa vị này tu trì Phật đạo, phát ra ánh trí tuệ rất trong sáng, cho nên gọi là Phát quang địa. [X. kinh Thập địa Q.10; kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản 80 quyển).
Phát quang địa 發光地
[ja] ホツコウチ hotsukōchi ||| The stage of the emission of light (prabhākarī) . The third of the ten stages 十地 in the path of the bodhisattva. => Giai vị phát ra ánh sáng giác ngộ (prabhākarī). Địa thứ 3 trong thập địa trong pháp tu của hàng Bồ-tát.
phát sanh phật đảnh
Xem Cao Phật đảnh.
phát tháp
6201指供養佛陀頭髮之塔。十誦律卷五十六(大二三‧四一五中):「起塔法者,給孤獨居士深心信佛,(中略)白佛言:『世尊!世尊遊行諸國土時,我不見世尊,故甚渴仰,願賜一物,我當供養。』佛與爪髮。(中略)居士即時白佛言:『願世尊聽我起髮塔、爪塔。』佛言:『聽起髮塔、爪塔。』是名起塔法。」此乃有關造塔供養起源之記載。〔法苑珠林卷十出家部〕(參閱「塔」5421)
; (發塔) Tháp là nơi thờ xá lợi của Phật. Theo Phật quốc kí thì sau khi đức Phật Thích ca mâu ni nhập diệt, xá lợi của Ngài được chia cho 8 nơi, mỗi nơi đều có xây tháp, miếu để thờ cúng. (xt. Tháp).
phát thú
Kasina (P), Kṛṣṇapura (S), Kṛstnā (S)Biến xứThập phát thú, một trong Tứ thập vị tu chứng Bố tát đạo.
phát thú luận
5164巴利名 Paṭṭhāna-ppakaraṇa。原稱發趣大論(巴 Paṭṭhāna-mahāpakaraṇa),或單作鉢叉(巴 Paṭṭhāna)。本論詳述「論本母」一二二門與二十四緣之關係,為錫蘭分別上座部七論之一。初分為論母設置分及緣分別分,次述本文,由二十四發趣而成。二十四發趣大別為順發趣、逆發趣、順逆發趣及逆順發趣等四種,再各開展出三法發趣、二法發趣、二法三法發趣、三法二法發趣、三法三法發趣及二法二法發趣等六種。本論現有原文出版及日譯本(南傳大藏經第五十至第五十六)。〔善見律毘婆沙卷一、南方上座部論書解說、B.C. Law: A History of Pāli Literature〕
; Patthama (P)Một trong bảy tập của bộ Luận tạng Xem Nhân duyên thuyết.
; (發趣論) Pàli: Paỉỉhàna-ppakaraịa. Gọi đủ: Phát thú đại luận (Pàli: Paỉỉhàna-mahàpakaraịa). Gọi tắt: Bát xoa (Pàli: Paỉỉhàna) Một trong 7 bộ luận của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan. Luận này trình bày rõ sự quan hệ giữa 122 môn và 24 duyên của luận Bản mẫu. Trước hết, chia làm 2: Phần Luận mẫu thiết trí và phần Duyên phân biệt; kế đến, trình bày chính văn cho 24 phát thú mà thành. Hai mươi bốn phát thú được chia làm 4 loại: Thuận phát thú, Nghịch phát thú, Thuận nghịch phát thú và Nghịch thuận phát thú, mỗi phát thú lại mở rộng ra làm 6 loại: Tam pháp phát thú, Nhị pháp phát thú, Nhị pháp tam pháp phát thú, Tam pháp nhị pháp phát thú, Tam pháp tam pháp phát thú và Nhị pháp nhị pháp phát thú. Luận này có xuất bản nguyên văn và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh 50 đến 56). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History ofPàli Literature by B.C. Law].
Phát thú vị 發趣位
[ja] ホッシュイ hosshui ||| The starting point of practice. => Vị trí bắt đầu tu tập.
phát trí luận
Jānaprasṭhāna (S)Do ngài Kàtyàyànìputra (Ca la Diễn Ni Tử) trước tác khoảng thế kỷ 2 BCXem A tỳ đạt ma phát trí luận.
Phát trí luận 發智論
[ja] ホツチロン Hotsuchiron ||| Fazhi lun See 阿毘達磨發智論 Apidamo fazhi lun. => (c: Fazhi lun). Xem A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận (阿毘達磨發智論 c: Apidamo fazhi lun).
phát tâm
5162又作初發意、新發意、新發心、初心、發意。<一>指發願求無上菩提之心。發菩提心之略稱。即發起求解脫苦難,往生淨土或成佛之願望。菩提心乃一切諸佛之種子,淨法長養之良田,發此心,勤行精進,以速證無上菩提。翻譯名義集卷十二載有三種發心,即:(一)發大智心,欲以智慧廣求一切佛法,普令眾生皆得法喜之樂。(二)發大悲心,慈愍一切眾生輪迴生死,受種種苦,誓願救拔。(三)發大願心,依四弘誓願,發無上菩提之心,上求佛道,下化眾生。釋氏要覽所載三種發心為:(一)厭離有為發心,厭惡世間皆是有為之法,能招感三界生死之苦,欲求出離此苦,即發心修行。(二)所求菩提發心,宿有善本,具正知見,欲求出世妙道,即發心修行。(三)饒益有情發心,起慈悲心,愍念世間一切眾生受生死苦,即發心修行,願拔其苦而予其樂。(參閱「菩提心」5200) <二>於日本淨土真宗,指初入佛道,或新近出家得度之童男。
; Mental initiation or initiative, resolve, make up the mind to; to start out for Bodhi, or perfect enlightenment; to show kindness of heart, give alms.
; (發心) Cũng gọi Sơ phát ý, Tân phát ý, Tân phát tâm, Sơ tâm, Phát ý. I. Phát Tâm. Gọi đủ: Phát bồ đề tâm. Chỉ cho tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề. Tức phát khởi tâm mong cầu giải thoát khổ nạn, được vãng sinh Tịnh độ hoặc thành Phật. Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi, phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được Vô thượng bồ đề. Phiên dịch danhnghĩa tập quyển 12 có nêu ra 3 loại phát tâm: 1. Phát tâm đại trí: Muốn dùng trí tuệ rộng lớn cầu được tất cả pháp của Phật để hóa độ hết thảy chúng sinh, làm cho họ được niềm vui pháp hỉ. 2. Phát tâm đại bi: Thương xót hết thảy chúng sinh, chịu vô lượng khổ não trong vòng luân hồi sinh tử, thệ nguyện cứu vớt họ. 3. Phát tâm đại nguyện: Nương theo 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm Vô thượng bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh.Còn Thích thị yếu lãm quyển 3 thì nêu 3 loại phát tâm là: 1. Phát tâm nhàm chán xa lìa hữu vi: Các pháp thế gian đều là pháp hữu vi, chỉ mang lại khổ não sống chết trong 3 cõi; muốn cầu thoát khỏi nỗi khổ ấy, thì phải nhàm chán pháp hữu vi mà phát tâm tu hành. 2. Phát tâm cầu bồ đề: Vốn có thiện căn và chính kiến, muốn cầu đạo xuất thế mầu nhiệm thì phải phát tâm tu hành. 3. Phát tâm làm lợi ích cho loài hữu tình: Khởi tâm từ bi, thương xót tất cả chúng sinh thế gian chịu khổ sinh tử, nguyện nhổ hết gốc khổ và mang lại niềm an vui cho họ, nên phát tâm tu hành. (xt. Bồ Đề Tâm). II. Phát Tâm. Trong Tịnh độ chân tông của Nhật bản, người đồng nam mới vào Phật đạo, hoặc gần gũi chúng tăng mà chưa xuất gia, được gọi là Phát tâm.
Phát tâm trú 發心住
[ja] ホッシンジュウ hosshinjū ||| The first of the Ten Abidings: The "abiding of awakening operation." The 'ten faiths' stage of provisionally following to enter the view of emptiness is completed, the true wisdom of no outflow arises, and the mind dwells in the principle of absolute reality. => Giai vị đầu tiên trong Thập trú. Giai vị Thập tín nhất thời nhập vào Tính không đã hoàn mãn, chân trí huệ vô lậu đã phát sinh, nên tâm an trú trong thể tính chân như cứu cánh.
Phát tâm tu hành chương 發心修行章
[ja] ホッシンシュギョウショウ Hosshin shugyō shō ||| Palsim suhaeng chang by Wŏnhyo 元曉; HPC 1.841-2. => (k: Palsim suhaeng chang), của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉).
phát tâm tự
5162日本曹洞宗寺院。位於福井縣小浜市伏原。山號靈松山。大永元年(1521),前光祿大夫武田三品源元光所開基。中岩宗恕為開山。原屬真言宗寺院。近代之原田祖岳(1871~1961)為曹洞宗頗著名之禪師,大正十一年(1922)住本寺,任二十七世住持,攝化參禪行腳僧甚多。
Phát tâm 發心
[ja] ホッシン hosshin ||| (1) The arousal of the thought, or sincere and earnest intention to attain enlightenment, especially for the sake of saving other sentient beings (bodhicitta-samutpāda). An abbreviation of 發菩提心.〔法華經T 262.9.54a13〕(2) To enter the sangha. => 1. Đánh thức tâm tư, lòng chân thành và ý định nghiêm túc để đạt đến giác ngộ, đặc biệt là vì cứu độ cho chúng sinh (bodhicitta-samutpāda). Viết tắt của Phát bồ-đề tâm 發菩提心. 2. Xuất gia làm Tăng.
Phát tấu
(發奏): văn thư của bề tôi bên dưới khải tấu, tâu trình sự việc lên đức vua hay đấng tôn kính; còn gọi là tấu văn (奏聞). Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), phần An Đế Kỷ (安帝紀), có đoạn: “Tam Ty chi chức, nội ngoại thị giám, ký bất tấu văn, hựu vô cử chánh (三司之職、內外是監、旣不奏聞、又無舉正, chức của Ba Ty, trong ngoài giám sát, đã không tâu trình, lại chẳng sửa đúng).” Hay trong Tập Di Ký (集异記), phần Diệp Pháp Thiện (葉法善), của Tiết Dụng Nhược (薛用弱, ?-?) nhà Đường, lại có đoạn: “Huyền Tông thừa tộ kế thống, sư ư thượng kinh, tá hựu thánh chúa, phàm cát hung động tĩnh, tất dự tấu văn (玄宗承祚繼統、師於上京、佐佑聖主、凡吉凶動靜、必預奏聞, vua Huyền Tông kế thừa ngôi báu trị vì, sư lên kinh đô, phò tá thánh chúa, phàm lành dữ động tĩnh, đều phải tâu trình trước).”
phát tế
6201額頭上部之髮根處,稱為髮際。佛三十二相中之廣長舌相,即有舌端可至髮際之說。離垢施女經(大一二‧九○下):「廣長舌覆面,乃至於髮際。」此外,於佛像之造像儀軌中,髮際為計量長度基點之一。造像量度經解(大二一‧九四一下):「肉髻,佛頭巔頂上有肉塊,高起如髻,形似積粟覆甌,高四指。由其根下至髮際之分量,亦如此四指。」〔大乘大集地藏十輪經卷二、寶雲經卷六、大智度論卷八〕
; (發際) Chỉ cho chỗ chân tóc ở trên trán. Nói về tướng lưỡi rộng dài trong 32 tướng hảo của đức Phật. Tức đầu lưỡi của Phật khi thè ra thì che cả mặt, cho đến chỗ chân tóc. Kinh Li cấu thí nữ (Đại 12, 90 hạ) nói: Lưỡi rộng dài che cả mặt, cho đến chỗ chân tóc. Ngoài ra, trong Nghi quĩ nói về phương pháp tạo tượng Phật thì Phát tế là 1 trong những điểm cơ bản để tính độ dài. Kinh Tạo tượng lượng đạc giải thích (Đại 21, 941 hạ): Nhục kế: Trên đỉnh đầu của Phật có 1 khối thịt (nhục) nổi cao lên như búi tóc (kế) hình tròn, cao 4 ngón tay, từ chân nhục kế đến chân tóc cũng bằng 4 ngón tay. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.2; kinh Bảo vân Q.6; luận Đại trí độ Q.8].
phát âm
To pronounce.
phát ý
To resolve on, have a mind to.
phát đầu
6202禪林中,司理剃髮之職僧。每月之四、九、十四、十九、二十四、二十九等日粥罷即行剃髮,時浴主掛「淨髮牌」於眾寮前,髮頭準備湯水、面盆、髮板、剃刀、砥石等,並敲打「柝」一通後,眾僧集合寮前,即行剃髮。
; (發頭) Chỉ cho chức vụ trông coi việc cạo tóc cho chúng tăng trong Thiền lâm. Vào các ngày 4, 9, 14, 19, 24 và 29, sau khi ăn cháo buổi sáng, chư tăng liền đi cạo tóc. Khi vị Dục chủ(chức vụ coi về việc tắm gội) treo bảng cạo tóc (Tịnh phát bài) ở trước các liêu (phòng tăng ở) của chúng tăng, thì vị Phát đầu sắp sẵn nước nóng, thau rửa mặt, dao cạo tóc, đá mài... xong rồi, đánh 1 hồi mộc bản (tấm bảng gỗ dùng để đánh báo hiệu), chúng tăng liền tập trung ở trước liêu để được cạo tóc.
Phát đắc 發得
[ja] ホットク hottoku ||| To produce, or gain wisdom, meditative concentration, etc., within oneself. => Phát ra, hay đạt được trí huệ, thiền định v.v...trong chính mình.
Phát động 發動
[ja] ハツドウ hatsudō ||| Initiative, first motion. Motive, active. => Khởi đầu, chuyển động ban đầu. Động cơ.
Phát 發
[ja] ホツ、ハツ hotsu, hatsu ||| (1) To arise, to appear [起]. To blossom forth. (2) To give birth [生]. (3) To release (an arrow, etc.); to go, to go out, [出]. To emit, to leave; (4) To open, to reveal (that which was hidden). [顯] To make manifest. [現] (5) To start or begin. => 1. Nảy sinh ra, xuất hiện ( khởi, 起). Trổ hoa. 2. Sinh ra 生. 3. Bắn ra (một mũi tên v.v...); đi, đi ra, [xuất出]. Phát ra, rời đi. 4. Mở ra, tiết lộ (những gì bị ẩn dấu) [Hiển顯]. Làm cho bày ra [ hiện現]. 5. Bắt đầu.
phân biện minh bồ tát
Xem Thanh Biện Bồ tát.
Phân biệt
分別; C: fēnbié; J: funbetsu;|Có các nghĩa sau: 1. Sự phán quyết, sự kết luận (đối với hiện tượng ngoại giới; p: vinicchaya). Thuật ngữ nầy thường dùng với ý nghĩa chê bai, liên quan đến các tâm hành có tính thiên vị và cục bộ gây chướng ngại cho tính dụng của tâm giác ngộ. Suy nghĩ với sự phân biệt (s: vikalpa, kalpana); 2. Bất đồng ý kiến, tranh luận, không tán thành (p: vivadati); 3. Sự thụ kí của đức Phật cho một đệ tử sẽ được thành Phật trong tương lai; 4. Luận nghị (論議; s: upadeśāh), một trong 9 (hay 12) thể loại trong kinh văn Phật giáo; 5. Phân loại, chia ra từng phần, giải quyết được, sắp xếp; 6. Sự phân tích, sự phân huỷ, sự phân biệt, sự khác nhau (s: vibhāga, lakṣayati); 7. Trong nghĩa tích cực, là phân biệt rõ chính với tà, chính pháp và tà thuyết.
phân biệt
1315<一>梵語 vikalpa。推量思惟之意。又譯作思惟、計度。即心及心所(精神作用)對境起作用時,取其相而思惟量度之意。俱舍論卷二舉有三分別:(一)自性分別,以尋或伺之心所為體,直接認識對境之直覺作用。(二)計度分別,與意識相應,以慧心所為體之判斷推理作用。(三)隨念分別,與意識相應,以念心所為體,而能明記過去事之追想、記憶作用。六識之中,意識具足上述之三分別,故謂有分別(梵 savikalpa);前五識僅有自性分別,而無其他二分別,故謂無分別(梵 avikalpa)。阿毘達磨雜集論卷二認為三分別乃意識之作用,故謂自性分別屬現在,隨念分別屬過去,計度分別則共通於過去與未來者。 但在大乘佛教,尤其是攝大乘論認為凡夫所起之分別,係由迷妄所產生,與真如之理並不契合,僅依分別,無法如實悟證真如之理,故凡夫之分別,乃為虛妄分別(簡稱妄分別)。若欲得真如,則須捨離凡夫之分別智,而依無分別智始可。亦即菩薩於初地入見道時,緣一切法之真如,超越能知與所知之對立,始可獲得平等之無分別智。此無分別智分加行(準備階段)、根本、後得三階段,依次稱為加行智、根本智、後得智。〔成唯識論卷七、大毘婆沙論卷四十二、攝大乘論本卷中、顯揚聖教論卷十六、瑜伽師地論卷五十三〕 <二>梵語 vibhaṅga, vibhajya。區分、類別、分析之意。即欲分類、分析教法,而由種種立場來研究考察之意。
; Vibhājya (S, P), Vikappa (P), Vikalpa (S), Fumbetsu (J), Prativikalpa (S), Paṭivikappa (P), Vibhāga (S), Discrimation Vibhaṅga (S)Suy lường tính toán.
; Vibhàga, vikalpa (S). To distinguish, to discriminate, to discern, to differentiate, to reason.
; Distinction.
; (分別) Phạm:Vikalpa. Cũng gọi Tư duy, Kế đạc. Chỉ cho sự suy lường, tính toán, so đo... Luận Câu xá quyển 2 nêu ra 3 thứ phân biệt: 1. Tự tính phân biệt: Tác dụng trực giác lấy tâm sở Tầm hoặc Tứ làm thể, trực tiếp nhận thức đối cảnh. 2. Kế đạc phân biệt: Tác dụng phán đoán suy lí, tương ứng với ý thức, lấy tâm sở Tuệ làm thể. 3. Tùy niệm phân biệt: Tác dụng ghi nhớ, truy tưởng, tương ứng với ý thức, lấy tâm sở Niệm làm thể, có khả năng nhớ rõ việc quá khứ. Trong 6 thức, chỉ có ý thức là đầy đủ cả 3 loại phân biệt nói trên, cho nên gọi là Hữu phân biệt (Phạm: Savikalpa); 5 thức trước thì chỉ có Tự tính phân biệt chứ không có 2 phân biệt kia, cho nên gọi là Vô phân biệt (Phạm: Avikalpa). Luận A tì đạt ma tạp tập quyển 2 cho rằng 3 phân biệt là tác dụng của ý thức và bảo Tự tính phân biệt thuộc hiện tại, Tùy niệm phân biệt thuộc quá khứ, còn Kế đạc phân biệt thì chung cho cả quá khứ và vị lai. Nhưng luận Nhiếp đại thừa thì cho rằng sự phân biệt của phàm phu là do mê vọng sinh ra, hoàn toàn không thể chứng ngộ được lí chân như 1 cách như thực, do đó, sự phân biệt của phàm phu chỉ là sự phân biệt hư vọng (gọi tắt: Vọng phân biệt). Nếu muốn chứng ngộ được lí chân như, thì phải xả bỏ trí phân biệt của phàm phu, mà nương vào trí vô phân biệt mới được. Cũng tức là Bồ tát Sơ địa khi vào Kiến đạo, duyên với chân như của tất cả pháp, vượt lên trên sự đối lập giữa năng tri vàsở tri, mới có thể chứng được trí bình đẳng vô phân biệt. Trí vô phân biệt này được chia làm 3 giai đoạn: Gia hạnh (giai đoạn chuẩn bị), Căn bản và Hậu đắc, theo thứ tự gọi là trí Gia hạnh, trí Căn bản và trí Hậu đắc. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Đại tì bà sa Q.42; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Du già sư địa Q.53]. II. Phân Biệt. Phạm: Vibhaíga, Vibhajya. Chỉ cho sự khu biệt, chia loại, phân tích giáo pháp để nghiên cứu, khảo sát, theo nhiều phương hướng và trên nhiều lập trường.
phân biệt biến
1318謂由心、心所之作意分別力所產生之對境。為「因緣變」之對稱。八識之中,第八識、前五識及五俱意識等所緣之境,乃由因緣任運而生,皆有實用,故稱因緣變。相對於此,第七識及第六獨頭意識所緣之境,由分別作意力而生,非由實種子所生,如鏡中之火,無有實用,僅為影像而已,故稱分別變。又與第八識相應之觸等心所之境,雖任運而起,然係假種之所生,無有勝力,故亦攝於分別變。據成唯識論掌中樞要卷上末所載,三類境中,獨影境與帶質境之一分,為分別變;性境由因緣而生,具有實用,故為因緣變。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷三本、成唯識論了義燈卷三、百法問答抄卷二〕
; (分別變) Đối lại: Nhân duyên biến. Chỉ cho cảnh sở duyên (đối tượng) do sự tác ý phân biệt của tâm và tâm sở sinh ra. Trong 8 thức thì cảnh sở duyên của thức thứ 8, 5 thức trước và Ngũ câu ý thức là do nhân duyên nhậm vận sinh ra, đều có tác dụng thực sự, cho nên gọi là Nhân duyên biến. Trái lại, cảnh sở duyên của thức thứ 7 và Độc đầu ý thức thứ 6 là do sức tác ý phân biệt sinh ra, chẳng phải do chủng tử thực sinh ra, như lửa trong gương không có tác dụng thực, chỉ là bóng dáng mà thôi, vì thế gọi là Phân biệt biến. Ngoài ra, cảnh của các tâm sở như Xúc... tương ứng với thức thứ 8, tuy nhậm vận mà khởi, nhưng do chủng tử giả sinh ra, không có tác dụng thực sự, cho nên cũng thuộc về Phân biệt biến.Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần cuối, trong 3 loại cảnh, thì Độc ảnh cảnh và 1 phần của Đới chất cảnh, là Phân biệt biến; còn Tính cảnh do nhân duyên sinh ra, có đầy đủ thực dụng cho nên là Nhân duyên biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.2].
phân biệt bảo tánh chi đại thừa tối thắng yếu nghĩa luận
Ratnagotra-vibhago-mahāyanottara-tantra śāstra (S)Cứu cánh nhất thừa bào tánh luận, Bảo tánh luậnTên một bộ luận kinh.
Phân biệt bộ
分別部; S: vibhajyavādin;|Một bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira, p: theravāda) khoảng 240 năm trước Công nguyên. Từ bộ này lại xuất phát ra Thượng toạ bộ, Ẩm Quang bộ và Hoá địa bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).
Phân biệt chướng
分別障; C: fēnbié zhàng; J: funbetsushō;|Chướng ngại do phân biệt. Là Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) sinh khởi từ ý thức phân biệt. Vì phân biệt là chức năng của thức thứ 6 nên Phân biệt chướng sinh khởi từ thức đó. Nó sinh khởi do tà sư, tà thuyết, hay là tà kiến. Phân biệt khởi (分別起).
Phân biệt chướng 分別障
[ja] フンベツショウ funbetsushō ||| The 'hindrances due to discrimination.' Hindrances of evil passions (fannaozhang 煩惱障) and the hindrances of what is known (souzhizhang 所知障) that arise from discriminatory thought. Since discrimination is the function of the sixth consciousness the hindrances of discrimination are hindrances that arise from that consciousness. They arise from following a deluded teacher, deluded teaching, or one's deluded thoughts. See also 分別起. => Chướng ngại do phân biệt. Là Phiền não chướng 煩惱障và Sở tri chướng 所知障)sinh khởi từ ý thức phân biệt. Vì phân biệt là dụng của thức thứ 6, nên Phân biệt chướng sinh khởi từ thức đó. Nó sinh khởi do tà sư, tà thuyết, hay là tà kiến. Xem Phân biệt khởi分別起.
phân biệt công đức luận
1315請參閱 分別功德論 梵名 Puṇya-vibhaṅga。凡五卷。又作分別功德經、增一阿含經疏。屬印度小乘論部。著者、譯者均不詳,傳係後漢時代所譯出。今收於大正藏第二十八冊。本書詳釋增一阿含經之前四品,並敘述有關佛弟子之事蹟及修行之功德。雖屬小乘論,但論述之內容敘及六度與十住,同時認可大乘戒與小乘戒,在思想上與般若經頗為類似,故知著者熟知大乘佛教。又由書中之稱揚大天,可知著者親近大眾部之思想。本書如為後漢時代所譯出,則最遲約於二世紀之後所成立。然學界或有謂本書乃於東晉之後譯出者。〔開元釋教錄卷十三、出三藏記集卷四、法經錄卷五〕
; Puṇya-vibhaṅga (S)Tên một bộ luận kinh.
; (分別功德論) Phạm: Puịya-vibhaíga. Cũng gọi Phân biệt công đức kinh, Tăng nhất a hàm kinh sớ. Tác phẩm, 5 quyển, thuộc Luận bộ của Tiểu thừa ở Ấn độ, tương truyền được dịch vào thời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 28. Nội dung luận này giải thích 4 phẩm đầu của kinh Tăng nhất a hàm, đồng thời, trình bày về sự tích và công đức tu hành của các vị đệ tử Phật. Luận này tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung có bàn về Lục độ và Thập trụ, đồng thời, chấp nhận cả giới Đại thừa và giới Tiểu thừa, điểm này, về mặt tư tưởng, rất giống với kinh Bát nhã, do đó biết người soạn luận này rất hiểu về Phật giáo Đại thừa. Hơn nữa, trong sách tán thán ngài Đại thiên cho nên biết soạn giả cũng gần gũi tư tưởng Đại chúng bộ. Nếu như sách này thực sự được phiên dịch vào đời Hậu Hán thì muộn nhất nó cũng đã được soạn thuật vào sau thế kỉ II. Nhưng trong giới học giả có người cho rằng sách này được dịch ra sau thời Đông Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.13; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.5].
phân biệt du già luận
1317請參閱 佛為首迦長者說業報差別經 為法相宗所依十一論之一。本頌係彌勒菩薩所說,世親造釋論。又稱攝散歸觀論。本書未傳譯。
; Vibhaga-yogā śāstra (S)Một trong 5 bộ luận mà Bồ tát Di Lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Bồ tát Vô Trước.
; Vibhàga-yogà-sàstra.
; (分別瑜伽論) Cũng gọi Nhiếp tán qui quán luận. Luận do bồ tát Di lặc nói, ngài Thế thân soạn Thích luận, là 1 trong 11 bộ luận y cứ của tông Pháp tướng. Luận này chưa được truyền dịch.
Phân biệt du-già luận
分別瑜伽論; C: fēnbié yúqié lùn; J: funbetsu-yugaron;|Được xem là một tác phẩm của Bồ Tát Di-lặc (彌勒), Thế Thân (世親) luận giải. Là 1 trong 11 bộ luận của Pháp tướng tông, nhưng chưa được dịch sang Hán văn.
Phân biệt Du-già luận 分別瑜伽論
[ja] フンベツユカロン Funbetsuyugaron ||| Attributed to Maitreya 彌勒, commented on by Vasubandhu 世親. One of the eleven treatises of the Dharmalakṣaṇa 法相 school, but which was not translated into Chinese. => Được xem là của Bồ-tát Di-lặc, Thế Thân luận giải. Là một trong 11 bộ luận của Pháp tướng tông (s: Dharmalakṣaṇa) nhưng chưa được dịch sang Hán văn.
phân biệt duyên
Vikalpapratyaya (S), Conditions of discrimination.
; Vikalpapratyaya (S). Conditions of discrimination.
Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn kinh
分別縁起初勝法門經; C: fēnbié yuànqǐ chūshèng fǎmén jīng; J: funbetsu engi shoshō hōmon kyō; S: vikalpa-pratītya-samutpāda-dhar-mottara-praveśa-sūtra.|Kinh, 2 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Đại Từ Ân năm 650. Đây là bài thuyết pháp về Mười hai nhân duyên.
Phân Biệt Duyên Khởi Sơ Thắng Pháp Môn Kinh 分別縁起初勝法門經
[ja] フンベツエンギショショウホウモンキョウ Funbetsu engi shoshō hōmon kyō ||| The Fenbie yuanqi chusheng famen jing; *Vikalpa-pratītya-samutpāda-dharmottara-praveśa sūtra (Sutra on The Primacy of the Dharma Gate Distinguishing Conditioned Arising). T 717 .16.837-844. Two fascicles, translated by Xuanzang 玄奘 at Dacien Monastery in 650. A sermon on the twelve limbs of conditioned origination. => (s: Vikalpa-pratītya-samutpāda-dharmottara-praveśa sūtra); 2 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Đại Từ Ân năm 650. Đây là bài thuyết pháp về Mười hai nhân duyên.
phân biệt giai cấp
Distinction of class and caste.
phân biệt giả
Vibhājyavadin (P), Follower of Vibhājyavāda.
phân biệt giới kinh
Dhàtuvibhanga-sutta (P)
Phân biệt khởi
分別起; C: fēnbiéqǐ; J: funbetsuki;|Phiền não sinh khởi từ phân biệt. Phiền não sinh khởi sau khi xuất sinh trong thế gian nầy, tùy thuộc vào những tà kiến mà người ta đã ôm ấp do y cứ vào giáo lí sai lầm… Những phiền não nầy sẽ được giải trừ khi qua giai vị Kiến đạo. Phiền não nầy khác với Câu sinh khởi (倶生起) và Nhậm vận khởi (任運起).
phân biệt khởi
1316梵語 parikalpasamutthita。即一切煩惱中,由邪教、邪師、邪思惟等所引起者。為「俱生起」之對稱。十根本煩惱中,疑、邪見、見取見、戒禁取見等四者均屬之。分別起易斷,故於見道中,證得生法二空之真如時,得頓斷之。〔成唯識論卷一、卷二、卷六、顯揚聖教論卷六、大乘阿毘達磨雜集論卷四〕(參閱「俱生起」4027)
; Parikalpa samutthita (S)Câu sanh khởi.
; Delusions arising from reasoning and teaching.
; (分別起) Phạm: Parikalpasamutthita. Đối lại: Câu sinh khởi. Chỉ cho những phiền não do tà giáo, tà sư, tà tư duy... sinh ra. Trong 10 phiền não căn bản thì 4 phiền não Nghi, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến thuộc về Phân biệt khởi. Phân biệt khởi dễ đoạn trừ, cho nên ở giai vị Kiến đạo, khi hành giả chứng được chân như Sinh không, Pháp không thì lập tức dứt hết. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2, 6; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4]. (xt. Câu Sinh Khởi).
Phân biệt khởi 分別起
[ja] フンベツキ funbetsuki ||| The afflictions produced from discrimination. Afflictions that are produced subsequent to birth in this world, depending upon the mistaken thoughts that one produces based on incorrect teachings, etc. These afflictions are eliminated in the course of the Path of Seeing 見道, and are contrasted to inherent afflictions ( 倶生起and 任運起).〔二障義HPC 1.790b23〕 => Phiền não sinh khởi từ phân biệt. Phiền não sinh khởi theo khi sinh ra nơi thế gian nầy, tùy thuộc vào những tà kiến mà sinh khởi phiền não do y cứ vào giáo lý sai lầm...Những phiền não nầy sẽ được giải trừ khi qua giai vị Kiến đạo. Phiền não nầy khác với Câu sinh khởi 倶生起và Nhậm vận khởi任運起.
Phân biệt kinh
分別經; C: fēnbié jīng; J: funbetsu kyō;|Tên gọi tắt của kinh Phật thuyết A-nan phân biệt (佛説阿難分別經).
phân biệt kinh
Sùtravibhanga (S).
Phân Biệt Kinh 分別經
[ja] ブンベツキョウ Funbetsu kyō ||| The Fenbie jing; an abbreviation of the title 佛説阿難分別經; T 495.14.758-760. => Tên gọi tắt của Phật thuyết A-nan Phân Biệt Kinh佛説阿難分別經.
phân biệt luận
1317請參閱 略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門經 巴利名 Vibhaṅga-ppakaraṇa。略稱毘崩伽(分別)。係由多方面分別解說一切法之作。為錫蘭分別上座部七論之一,一般認為係法聚論之續篇。乃僅次於「法集」之基礎論書。在有部諸論書中,法蘊足論最類於本書。本書共有十八分別(品),前十五分別概揭示經分別、論分別與問難三段;末三分別則分本母與廣釋二段而解說之。其次第如下:蘊、處、界、諦、根、緣相、念處、正勤、神足、覺支、道、定、無量、學處、無礙解、智、小事與法心等分別。本論之原文已整理出版,並有日譯本(南傳大藏經第四十六、四十七卷)。此外,佛授(A.P. Buddhadatta)將五世紀時佛音(梵 Buddhaghosa,巴同)對本論所作之注釋書「除癡迷論」(巴 Sammoha-vinodanī)之原文,整理出版(P.T.S. 1923)。〔善見律毘婆沙卷一、南方上座部論書解說、B.C. Law: A History of Pāli Literature〕
; (分別論) Pàli: Vibhaíga-ppakaraịa. Gọi tắt: Tì băng già(Phân biệt). Tác phẩm, 1 trong 7 luận của Phân biệt thượng tọa bộ ở Tích lan. Phổ thông cho rằng luận này là thiên tiếp theo của luận Pháp tụ. Đây là bộ luận nền tảng chỉ đứng sau luận Pháp tập mà thôi. Trong các bộ luận của Hữu bộ thì luận Pháp uẩn túc giống với luận này nhất. Nội dung luận này gồm có 18 Phân biệt (phẩm), 15 Phân biệt đầu chia làm 3 phần là Kinh phân biệt, Luận phân biệt và Vấn nạn; 3 Phân biệt cuối thì chia làm 2 phần là Bản mẫu và Quảng thích để thuyết minh. Thứ tự của 18 Phân biệt như sau: Uẩn, Xứ, Giới, Đế, Căn, Duyên tướng, Niệm xứ, Chính cần, Thần túc, Giác chi, Đạo, Định, Vô lượng, Học xứ, Vô ngại giải, Trí, Tiểu sự và Pháp tâm. Nguyên văn bản luận này đã được chỉnh lí và xuất bản, đồng thời có bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 46, 47). Ngoài ra, vào thế kỉ thứ V, ngài Phật âm (Phạm: Pàli:Buddhaghosa) có soạn luận Trừ si mê (Pàli: Sammohavinodanì) để chú thích luận này. Ngài Phật thụ (A.P Buddhadatta) cũng đã chỉnh lí nguyên văn luận Trừ si mê và do Hiệp Hội Pàli (Pàli Text Society) xuất bản vào năm 1923. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A Histrory ofPàli Literature by B.C. Law].
phân biệt luận giả
1317梵名 Vibhajya-vādin,巴利名 Vibhajja-vādin。音譯毘婆闍婆提、毘婆闍縛地。又作分別論師、分別說部。指作分析論議之論者。對未盡理之說,更須分別論究,故稱分別論者。所立如信等五根唯無漏、緣起無為、阿羅漢無退、三界無中有等說,皆與小乘化地部之本宗同義相合。大眾部、一說部、說出世部、雞胤部等四部,主張一切如來無有漏法、佛無睡眠、心性本淨等,亦與分別論者所立相同。或謂飲光部(屬上座部)、說假部(屬大眾部)亦稱分別論者。 錫蘭所傳之上座部原屬於分別說部。蓋南方流傳之上座部學說,並非正宗,印度佛教史家均視之為上座部之別傳,常用「分別說」之名加以區別。如玄奘所譯無性菩薩攝大乘論釋,言及上座部稱阿賴耶識為有分識一段,結論即作「如是等分別說部」。西藏所傳,關於分別說部,異說甚多,概以分別說部為獨立之一派,與說一切有部關係密切,其下分出化地、銅鍱、飲光等諸部。另據印順所著印度之佛教、說一切有部為主的論書與論師之研究序論中,謂分別說部屬於上座部,別成一系,下出化地、飲光、法藏、(赤)銅鍱(傳於錫蘭者)等四部。〔俱舍論卷二十、大毘婆沙論卷五、卷十八、卷十九、卷二十三、攝大乘論釋卷二(無性)、成唯識論卷三、成唯識論述記卷四本、成唯識論了義燈卷四本、俱舍論光記卷二十、印度佛教史(多羅那他)、教團分裂詳說〕(參閱「小乘二十部」928)
; (分別論者) Phạm: Vibhajya-vàdin. Pàli: Vibhajja-vàdin. Hán âm: Tì bà xà bà đề, Tì bà xà phược địa. Cũng gọi Phân biệt luận sư, Phân biệt thuyết bộ. Chỉ cho 1 phái Luận sư chuyên phân tích, biện biệt nghĩa lí các pháp đến chỗ rốt ráo. Phái Luận sư này chủ trương các thuyết như: Ngũ căn vô lậu, Duyên khởi vô vi, A la hán vô thoái, Tam giới vô trung hữu... đều là đồng nghĩa và hợp với tông chỉ căn bản của Hóa địa bộ Tiểu thừa. Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ chủ trương tất cả Như lai không có pháp hữu lậu, Phật không ngủ nghỉ, tâm tính vốn thanh tịnh... cũng giống với lập trường của Phân biệt luận giả. Có thuyết cho rằng Ẩm quang bộ (thuộc Thượng tọa bộ) và Thuyết giả bộ (thuộc Đại chúng bộ) cũng được gọi là Phân biệt luận giả. Thượng tọa bộ lưu truyền ở Tích lan vốn thuộc về Phân biệt thuyết bộ. Học thuyết của Thượng tọa bộ được truyền bá ở phương Nam, hoàn toàn chẳng phải chính tông, các sử gia Phật giáo Ấn độ đều xem học thuyết ấy là do Thượng tọa bộ truyền riêng và thường dùng tên Phân biệt thuyết để khu biệt. Ở Tây tạng có rất nhiều thuyết khác nhau về Phân biệt thuyết bộ, đại để cho rằng Phân biệt thuyết bộ là 1 phái độc lập, liên quan mật thiết với Thuyết nhất thiết hữu bộ. Từ Phân biệt thuyết bộ lại chia ra các bộ: Hóa địa, Đồng diệp, Ẩm quang... Còn Ấn độ chi Phật giáo của ngài Ấn thuận cho rằng Phân biệt thuyết bộ thuộc về Thượng tọa bộ, thành 1 hệ riêng, rồi từ đó lại chia ra 4 bộ: Hóa địa, Ẩm quang, Pháp tạng và (Xích)Đồng diệp (truyền ở Tích lan). [X. luận Câu xá Q.20; luận Đại tì bà sa Q.5, 18, 19, 23; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính); luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần đầu; Câu xá luận quang kí Q.20; Ấn độ Phật giáo sử (Đa la na tha); Giáo đoàn phân liệt tường thuyết]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
Phân biệt lực
分別力; C: fēnbiélì; J: bunbetsuriki;|Năng lực nhận biết, năng lực phán đoán (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Phân biệt lực 分別力
[ja] フンベツリキ bunbetsuriki ||| Discrimination power. 〔二障義HPC 1.791c〕 => Năng lực nhận biết, Năng lực phán đoán.
Phân biệt sự thức
分別事識; C: fēnbié shìshì; J: funbetsu jishiki;|1. Thức phân biệt các hiện tượng các nhau (s: vastu-prativikalpa-vijñāna); 2. Thức thứ 6, ý thức (意識; s: mano-vijñāna).
phân biệt sự thức
1316意識之別名。略稱事識。大乘起信論以眼、耳、鼻、舌、身、意等六識總稱為意識,能於過去、現在、未來等三世之境及內根外塵之種種事相起分別之認識作用,故稱分別事識。
; (分別事識) Gọi tắt: Sự thức. Tên khác của ý thức. Luận Đại thừa khởi tín gọi chung 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là Ý thức; Ý thức này có khả năng khởi tác dụng nhận thức và phân biệt đối với các cảnh quá khứ, hiện tại, vị lai và những sự tướng của nội căn ngoại trần, vì thế gọi là Phân biệt sự thức.
phân biệt sự thức huân tập
1316為大乘起信論所說淨法薰習中,妄心薰習二義之一。與「意薰習」相對稱。謂凡夫及二乘人等,不覺阿黎耶本識,不知唯識無境,執著外界實有境界,於分別事識之中,厭離生死之苦,發心企求無上之道。(參閱「四薰習」1848、「薰習」6612)
; (分別事識熏習) Đối lại: Ý huân tập. Một trong 2 nghĩa của Vọng tâm huân tập thuộc Tịnh pháp huân tập được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Nghĩa là phàm phu và hàng Nhị thừa không biết bản thức A lại da chỉ là thức chứ không có cảnh, chấp trước ngoại cảnh là cảnh giới có thực, ở trong phân biệt sự thức mà chán lìa cái khổ sinh tử, phát tâm mong cầu đạo vô thượng. (xt. Tứ Huân Tập, Huân Tập).
Phân biệt sự thức 分別事識
[ja] フンベツジシキ funbetsu jishiki ||| (1) The consciousness that discerns the various phenomena (vastu-prativikalpa-vijñāna). 〔起信論 T 1666.32.577b〕(2) The mano (sixth) consciousness = 意識 (mano-vijñāna). => 1. Thức phân biệt các hiện tượng các nhau (s: vastu-prativikalpa-vijñāna). 2. Thức thứ 6, ý thức (s: mano-vijñāna).
phân biệt thuyết
Vaibhāṣika (S)Tỳ bà sa bộ, Tỳ bà sa đệ tử.
phân biệt thuyết bộ
Vibhājyavāda (P).
; Vibhàjyavàda (S). Name of a sect.
phân biệt thánh đế kinh
Xem Kinh Phân biệt về sự thật.
; Saccavibhangacitta-sutta (P). Also Đế phân biệt tâm kinh.
Phân biệt thức
分別識; C: fēnbiéshì; J: funbetsushiki;|Đồng nghĩa với thức thứ 6, Ý thức (意識).
phân biệt thức
Manovijā (P).
; The discriminating perception.
Phân biệt thức 分別識
[ja] フンベツシキ funbetsushiki ||| A synonym for the mano (sixth) consciousness = 意識. => Đồng nghĩa với thức thứ sáu, ý thức.
phân biệt trí
1317即分別有為事相之智。在凡夫為虛妄的計度分別之智;在佛為後得之權智。
; Pratisamvid (S), Analytical knowledge.
; Viveka (S). Differentiating knowledge.
; (分別智) Chỉ cho trí phân biệt các sự tướng hữu vi. Ở phàm phu là trí phân biệt, tính toán hư vọng, ở chư Phật là quyền trí hậu đắc.
phân biệt trí tương ưng nhiễm
1317為大乘起信論所說六染心之一。相當於六粗中之智相。依境界而起智,能分別世間、出世間之法,故稱分別智。此智與心王相應而能染污清淨心性,故稱相應染。為俱生起之微細法執,菩薩於第七地之位斷之。〔大乘起信論義疏卷上之下、起信論疏卷上〕
; (分別智相應染) Một trong 6 nhiễm tâm được nói trong luận Đại thừa khởi tín, tương đương với Trí tướng trong Lục thô. Trí này nương vào cảnh giới mà sinh khởi, có khả năng phân biệt các pháp thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi là Phân biệt trí. Trí này tương ứng với tâm vương và có thể làm cho tâm tính thanh tịnh bị ô nhiễm, nên gọi là Tương ứng nhiễm. Đây là pháp chấp nhỏ nhiệm thuộc câu sinh khởi (có cùng lúc khi con người sinh ra), Bồ tát đến Thất địa thì đoạn trừ hết. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần cuối; Khởi tín luận sớ Q.thượng].
phân biệt trí đà la ni
1317又作分別知陀羅尼、分別陀羅尼。為大智度論所說三陀羅尼之一。陀羅尼,謂能總持而不忘失之念慧之力。悉知一切眾生及諸法之大小好醜等差別之念慧力,稱為分別智陀羅尼。〔大智度論卷五〕
; (分別智陀羅尼) Cũng gọi Phân biệt tri đà la ni, Phân biệt đà la ni. Một trong 3 Đà la ni nói trong luận Đại trí độ. Đà la ni là sức trí tuệ có năng lực tóm thu, gìn giữ tất cả không để quên mất. Sức trí tuệ biết rõ sự sai khác về tính chất lớn nhỏ, đẹp xấu của tất cả chúng sinh và các pháp, gọi là Phân biệt trí đà la ni. [X. luận Đại trí độ Q.5].
Phân biệt tính
分別性; C: fēnbié xìng; J: funbetsushō;|Bản tính y theo tâm phân biệt (s: pari-kalpita-svabhāva). Đồng nghĩa với Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: parikalpita-svabhāva).
Phân biệt tính 分別性
[ja] フンベツショウ funbetsushō ||| The nature of existence according to the discriminating mind (parikalpita-svabhāva). Synonymous with bianji suoyixing 遍計所執性. => Bản tính y theo tâm phân biệt (s: parikalpita-svabhāva). Đồng nghĩa với Biến kế sở chấp tính (s: parikalpita-svabhāva).
phân biệt tương tự quá loại
1316因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第三。即於因明對論之中,敵者(問難者)為破立者(立論者)所立之量(論式),於立論者之同喻(由正面來說明之例證)強以物性之種種差別為攻擊非難之詞所犯之過失。如勝論師立「聲為無常(宗,命題),以聲勤勇無間所發性故(因,理由)」之論式,以「瓶」等為同喻,以「虛空」等為異喻(由反面來說明之例證);聲論師則相對立一「聲為常(宗),以聲不可燒、不可見故(因)」之論式,以「虛空」等為同喻,以「瓶」等為異喻,並在立者之同喻「瓶」等,作種種物性之差別分析,即以瓶之可燒性、可見性及聲之不可燒性、不可見性等之差別義,而謂「若可燒、可見為無常,則不可燒、不可見為常」,並以不可燒、不可見之義通於無常之心、心所與常住之虛空,強說對方違犯「不定」之過,然實為敵者自己違犯此分別相似之過。此過相當於如實論道難品所說顛倒難中第三之「長相難」。 因明正理門論本(大三二‧四上):「分別差別名分別者,前說示現等故,今說分別差別故,應知分別同法差別,謂如前說瓶為同法,於彼同法有可燒等差別義故,是則瓶應無常非聲,聲應是常不可燒等,有差別故,由此分別顛倒所立,是故說名分別相似。」〔因明論疏瑞源記卷八、因明論理概論(法峰)〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
; (分別相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho lỗi thứ 3 trong 14 lỗi của Nhân thuộc Tự năng phá trong luận thức Nhân minh do ngài Túc mục –Tổ khai sáng của Nhân minh cũ– thành lập. Trong đối luận Nhân minh, kẻ địch luận (người vấn nạn) vì muốn phá luận thức (lượng) của người lập luận, nên đối với Đồng dụ, cưỡng dùng sự sai biệt của vật tính để công kích, bác bỏ luận thức của đối phương. Nhưng vì luận thức của người lập luận là đúng đắn, nên kẻ địch luận lại tự chuốc lấy lỗi Phân biệt tương tự quá loại (lỗi phân biệt sai lầm) này. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh (tức do sự tác động của ý chí mà phát sinh). Đồng dụ: Như cái bình. Dị dụ: Như hư không. Đối lại, Thanh luận sư (chủ trương âm thanh là vô thủy vô chung) lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường (tức vô thủy vô chung). Nhân: Vì nó không thể bị thiêu đốt, không thể nhìn thấy nó. Đồng dụ: Như hư không. Dị dụ: Như cái bình. Rồi Thanh luận sư phân tích về tính chất sai khác của các vật mà cho rằng cái bình có thể thiêu đốt được, có thể thấy được, còn âm thanh thì không thể thiêu đốt được, không thể thấy được và kết luận: Nếu cái có thể thiêu đốt được, có thể thấy được là vô thường, thì cái không thiêu đốt được, không thấy được là thường, đồng thời, lấy cái nghĩa không thể thiêu đốt được, không thể thấy được là chung cho cả tâm, tâm sở vô thường và hư không thường trụ mà cưỡng gán cho đối phương là đã vi phạm lỗi bất định, nhưng thực thì chính kẻ địch luận đã vi phạm lỗi Phân biệt tương tự này. Lỗi này tương đương với Trường tương nạn thứ 3 trong Điên đạo nạn nói trong phẩm Đạo nạn của luận Như thực. [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh luận lí khái luận (Pháp phong)]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
Phân biệt 分別
[ja] フンベツ funbetsu ||| 'discrimination.' (1) Decisions, or conclusions (made regarding external phenomena) (Pali vinicchaya). This term is usually used with a negative connotation, referring to the mental action of partial and limiting rationality which hinders the function of the originally enlightened mind. To think in terms of difference (vikalpa, kalpana). (2) Dispute, argue, differ (Pali vivadati). (3) Guarantee or prediction by the Buddha of the future enlightenment of a disciple. (4) 'Discussion;' one of the nine (or twelve) kinds of scriptures (upadeśāh; 論議). (5) To distribute, to apportion, manage, arrange. (6) Analysis, decomposition, disintegration; distinction, difference (vibhāga, lakṣayati). (7) In a positive sense, to distinguish: right from wrong, the true teaching from the false teaching. => Có các nghĩa sau: 1. Sự phán quyết, sự kết luận (đối với hiện tượng ngoại giới)(p: vinicchaya) . Thuật ngữ nầy thường dùng với ý nghĩa phủ định, liên quan đến các tâm hành có tính thiên vị và cục bộ khiến gây chướng ngại cho tính dụng giải thoát của tâm. Suy nghĩ với sự phân biệt (s: vikalpa, kalpana). 2. Bất đồng ý kiến, tranh luận, không tán thành (p: vivadati). 3. Sự thọ ký của Đức Phật cho một đệ tử sẽ được thành Phật trong tương lai. 4. Luận nghị; một trong chín ( hay 12) thể loại trong Kinh văn Phật giáo (s: upadeśāh). 5. Phân loại, chia ra từng phần, giải quyết được, sắp xếp. 6. Sự phân tích, sự phân hủy, sự phân biệt, sự khác nhau (s: vibhāga, lakṣayati). 7. Trong nghĩa tích cực, là phân biệt rõ chính với tà, chính pháp và tà thuyết.
phân chia
Division-Separation.
phân chư thừa
1320「融本末」之對稱。法藏於華嚴五教章中,以融本末解釋同教一乘之名義,而以分諸乘彰顯同教一乘之法體。所謂同教之名義,係以一乘為本,三乘為末,合同融和三一本末,故釋其名義為融本末。然同教一乘之法體,乃方便引接分為二乘、三乘乃至無量乘之諸乘,或將一乘分為二乘、三乘乃至無量乘而誘引之者,故所分諸乘即為同教一乘之法體。 同書又將分諸乘分別為一乘、二乘、三乘、四乘、五乘、無量乘等六重。第一重之一乘有七義,即:(一)約法相交參,(二)約攝方便,(三)約所流辨,(四)約殊勝門,(五)約教事深細,(六)約八義意趣,(七)約十義方便。此六重七義之分別,即祖述華嚴孔目章之所流、所目、攝方便等三義。其中,第一重之七義一乘依所流、攝方便二義,第二重以下之二乘乃至無量乘等五重則依所目一義。所流者,謂三乘之法門由一乘海流出。攝方便者,謂三乘法門乃入一乘之方便。即指三乘之法門為一乘之所流,總為一乘之方便,故稱之為同教一乘,此為七義一乘之大要。所目者,謂就三乘等之法,非以所流、攝方便等義為一乘,而以三乘等之當體本來即一乘。〔華嚴一乘教義分齊章卷一〕
; (分諸乘) Đối lại: Dung bản mạt. Chia các thừa. Tức lấy pháp thể của Nhất thừa làm gốc mà chia giáo pháp của đức Phật thành các thừa để thích nghi với các căn cơ của chúng sinh. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương, ngài Pháp tạng dùng Dung bản mạt (dung hòa gốc và ngọn với nhau) để giải thích danh nghĩa của Nhất thừa đồng giáo và dùng Phân chư thừa (chia ra các thừa) để làm sáng tỏ pháp thể của Nhất thừa đồng giáo. Danh nghĩa của Đồng giáo lấy Nhất thừa làm gốc (bản), Tam thừa làm ngọn(mạt), dung hợp hòa đồng Tam thừa, Nhất thừa, gốc và ngọn với nhau, vì thế mà giải thích danh nghĩa của Đồng giáo là Dung bản mạt. Nhưng, pháp thể của Nhất thừa đồng giáo là vì phương tiện dẫn dắt mà chia làm Nhị thừa, Tam thừa, cho đến vô lượng thừa, hoặc đem Nhất thừa chia ra làm Nhị thừa, Tam thừa, cho đến vô lượng thừa để dẫn dụ, vì thế, các thừa được chia ra ấy chính là pháp thể của Nhất thừa đồng giáo. Phân chư thừa còn được chia làm 6 lớp là: Nhất thừa, Nhị thừa, Tam thừa, Tứ thừa, Ngũ thừa và Vô lượng thừa. Nhất thừa của lớp thứ nhất có 7 nghĩa: Ước pháp tướng giao tham, Ước nhiếp phương tiện, Ước sở lưu biện, Ước thù thắng môn, Ước giáo sự thâm tế, Ước bát nghĩa ý thú và Ước thập nghĩa phương tiện. Sự phân biệt 6 lớp, 7 nghĩa trên đây chính là 3 nghĩa: Sở lưu, Sở mục và Nhiếp phương tiện của Hoa nghiêm khổng mục chương. Trong đó, 7 nghĩa Nhất thừa của lớp thứ nhất nương vào 2 nghĩa Sở lưu và Nhiếp phương tiện, còn Nhị thừa của lớp thứ 2 trở xuống cho đến Vô lượng thừa của lớp thứ 5... thì nương vào 1 nghĩa Sở mục.Sở lưu có nghĩa là pháp môn của Tam thừa là từ biển Nhất thừa chảy ra. Nhiếp phương tiện có nghĩa là pháp môn Tam thừa nhập vào phương tiện của Nhất thừa. Nói cách khác, pháp môn Tam thừa là từ Nhất thừa mà ra, lại chính là phương tiện của Nhất thừa, cho nên gọi là Nhất thừa đồng giáo. Đó là điểm trọng yếu của 7 nghĩa Nhất thừa. Còn Sở mục thì có nghĩa là khi nói về pháp Tam thừa thì không phải lấy các nghĩa Sở lưu và Nhiếp phương tiện làm Nhất thừa, mà lấy ngay cái đương thể vốn có của Tam thừa làm Nhất thừa. [X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.1].
Phân giải
分解; C: fēnjiě; J: bunkai;|Phân tích, chia thành từng phần, sự phân tích, tháo dỡ hết vật che đậy bên ngoài, sự phân huỷ, sự giải tán, sự giảm trừ.
Phân giải 分解
[ja] ブンカイ bunkai ||| Analysis, parting, decomposition, dismantling, disintegration, dissolution, reduction. => Phân tích, chia thành từng phần, sự phân tích, tháo dỡ hết vật che đậy bên ngoài, sự phân hủy, sự giải tán, sự giảm trừ.
Phân giới
分界; C: fēnjiè; J: bunkai;|Sự phân định ranh giới, giới tuyến, ranh giới, biên giới.
Phân giới 分界
[ja] ブンカイ bunkai ||| A delimitation, a demarcation, boundary, border. => Sự phân định ranh giới, giới tuyến, ranh giới, biên giới.
phân hoàng tự
3507位於韓國慶尚北道慶州市九黃洞。又作芬葟寺、芬篁寺。創建於新羅善德女王三年(634)。十二年,慈藏律師來唐請得大藏經四百餘函歸住於此。元曉晚年在該寺編集華嚴經疏,未完成即示寂,遂葬於此地。新羅景德王十四年(755),造藥師大銅像,重三十六萬七千七百斤,惜已不存。又舊有九層甎塔一座,係採石材加工成甎形而成者,高十八公尺,爲模甎石塔之代表,今僅殘存三層石塔一座,堪稱韓國最古老之建築物,略可窺見我國南北朝甎塔樣式之遺風及新羅建築之創意。〔三國遺事卷二至卷五、朝鮮佛教通史、東國輿地勝覽卷三〕
Phân lượng
分量; C: fēnliàng; J: bunryō;|Có hai nghĩa: 1. Số lượng, mức độ, phạm vi; 2. Trọng lượng.
Phân minh
分明; C: fēnmíng; J: bunmyō;|Thấy một cách rõ ràng. Rõ ràng (s: vyakta, vispasta).
Phân minh 分明
[ja] ブンミョウ bunmyō ||| (1) To see clearly. Clear (vyakta, vispasta). => Thấy một cách rõ ràng. Rõ ràng (s: vyakta, vispasta).
phân nghĩa
Jalpa (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
Phân phương
(芬芳): có hai nghĩa. (1) Mùi hương, hương khí. Như trong Tuân Tử (荀子), phần Vinh Nhục (榮辱), có câu: “Khẩu biện toan hàm cam khổ, tỷ biện phân phương tinh tao (口辨酸鹹甘苦、鼻辨芬芳腥臊, miệng biết chua mặn cay đắng, mũi biết thơm tho tanh hôi).” Hay trong bài thơ Trùng Vân Lý Quán Tật Tặng Chi (重雲李觀疾贈之) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường cũng có câu: “Cùng đông bách thảo tử, u quế nãi phân phương (窮冬百草死、幽桂乃芬芳, cuối đông trăm cỏ chết, quế rậm vẫn ngát hương).” Hoặc trong Phật Thuyết Kim Diệu Đồng Tử Kinh (佛說金耀童子經, Taishō Vol. 14, No. 546) lại có đoạn: “Ư kỳ đình trung hốt sanh liên hoa, mãn thất thiên hương hằng thời phân phương, nhất thiết chúng sanh phổ giai ái nhạo (於其庭中忽生蓮華、滿室天香恆時芬芳、一切眾生普皆愛樂, ở trong sân vườn chợt sanh hoa sen, đầy nhà hương trời luôn luôn thơm ngát, hết thảy chúng sanh thảy đều vui thích).” (2) Tỷ dụ cho thanh danh và đức hạnh tốt đẹp. Như trong bài thơ Thái Vĩnh Tường (蔡永祥) của Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) có câu: “Nhất thuấn Thái Sơn trọng, bách đại tụng phân phương (一瞬泰山重、百代頌芬芳, chớp mắt Thái Sơn nặng, muôn đời ngợi tiếng thơm).”
Phân thân
分身; C: fēnshēn; J: bunjin;|Có nghĩa là »phân chia thân«, là hoá thân của đức Phật để giáo hoá và cứu độ chúng sinh.
phân thân
1318指分身化現,或指其化身。諸佛、菩薩由於慈悲,用種種方便法門,化身至各處教化眾生;故分身乃是為教化、攝取眾生而起,稱為分身攝化。〔法華玄義卷七〕
; Parturition; a Buddha's power to reproduce himself ad infinitum and anywhere.
; (分身) Hóa hiện ra nhiều thân để cứu độ chúng sinh.Vì lòng từ bi, chư Phật, Bồ tát dùng phương tiện quyền xảo, hóa hiện ra các loại thân đến các nơi để giáo hóa chúng sinh.[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7].
phân thân nhiếp hoá
1319謂佛菩薩等變化成各種身,依眾生之根機而廣行化導。又作分身遣化。佛為攝取十方有緣之眾生,起大慈悲,以方便示現種種身,是即分身如來。又如觀世音菩薩分三十三身,地藏菩薩現六道身等,皆以慈悲權化而垂無窮之應益。〔法華經卷四、觀無量壽經、法事讚卷下〕
; (分身攝化) Cũng gọi Phân thân khiển hóa. Nghĩa là chư Phật, Bồ tát biến hóa thành các loại thân để tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa đạo. Vì muốn thu nhiếp những chúng sinh có duyên trong 10 phương, nên Phật khởi tâm đại từ bi, dùng phương tiện thị hiện ra các loại thân để giáo hóa, tế độ. [X. kinh Pháp hoa Q.4; kinh Quán Vô lượng thọ; Pháp sự tán Q.hạ].
phân thân xá lợi
1319荼毘之遺骨分葬於各地者,稱為分身舍利。又稱碎身舍利。為「全身舍利」之對稱。如佛陀之舍利分葬於八國,阿難之舍利分葬於毘舍離、摩揭陀二地。〔長阿含經卷四、大唐西域記卷七〕
; (分身舍利) Cũng gọi Toái thân xá lợi. Đối lại: Tòan thân xá lợi. Phân chia di cốt sau khi hỏa thiêu (trà tì) để an táng ở các nơi, gọi là Phân thân xá lợi. Như xá lợi của đức Phật được chia ra 8 phần để an táng ở 8 nước; xá lợi của ngài A nan thì được an táng ở Tì xá li và Ma yết đà. [X. kinh Trường a hàm Q.4; Đại đường tây vực kí Q.7].
Phân thân 分身
[ja] ブンジン bunjin ||| Literally "dividing the body" referring to the transformation bodies of the Buddha 化身, with which he teaches and saves living beings. 〔法華經 T 262.9.62b22〕 => Có nghĩa là "phân thân", hóa thân của Đức Phật để giáo hóa và cứu độ chúng sinh.
phân thủ bản
1315即禪堂內之西南床。又作立僧板、汾州板。乃後堂首座分手位之板,故稱分手板。
; (分手板) Cũng gọi Lập tăng bản, Phần châu bản. Chỉ cho chiếc giường kê ở phía tây nam trong Thiền đường. Đây là giường của chức vụ Phân thủ(người chịu trách nhiệm phân chia công việc cho chúng tăng trong Thiền lâm) thuộc Hậu đường thủ tọa, vì thế nên gọi là Phân thủ bản.
phân toà
1320分半座令坐之意。分座席之半與他人並坐,表示受者與自己有同等之地位。如雜阿含經卷四十一載,釋尊分半座與摩訶迦葉;法華經卷四見寶塔品載,多寶如來分半座與釋尊。又於禪林之中,首座代替住持而接化,陞座說法,稱為分座說法。〔敕修百丈清規卷四〕(參閱「半座」1593)
; (分座) Chia nửa tòa ngồi. Ý nói chia nửa tòa của mình để mời người khác cùng ngồi, biểu thị nghĩa người được mời có địa vị ngang hàng với mình. Theo kinh Tạp a hàm quyển 41 thì có lần đức Thế tôn đã chia nửa tòa cho ngài Đại ca diếp. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 cũng nói rằng đức Đa bảo Như lai chia nửa tòa ngồi cho đức Phật Thích ca. Trong Thiền lâm, vị Thủ tọa thay Trụ trì để tiếp hóa, lên tòa nói pháp, gọi là Phân tòa thuyết pháp. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4]. (xt. Bán Tòa).
phân tách
Analyst.
Phân tích quán
分析觀; C: fēnxī guān; J: bunshakukan;|Pháp quán sát bằng phân tích.
Phân tích quán 分析觀
[ja] ブンシャクカン bunshakukan ||| Analytical observation. => Pháp quán sát bằng phân tích.
Phân tích thân phần
P: dhātu-vavatthāna;|Một trong 40 phép tu tập được trình bày trong Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) của Ðại sư Phật Âm (s: buddhaghoṣa). Theo phương pháp này, hành giả trong tâm phân thân ra những phần tử và nhận thức được rằng, thân thể chẳng qua là sự tổng hợp của Tứ đại chủng, đó là Ðịa, Thuỷ, Hoả, Phong. Từ đó kiến chấp Ngã bị tiêu diệt.|Ẩn dụ sau đây được ghi lại trong Thanh tịnh đạo (XI, 2) để mô tả cách tu tập này: |»Ngoài ra, ồ chư tăng, một tỉ-khâu quán chính cái thân thể này trong mọi tư thế và phân nó ra theo từng bộ phận: ›Ở thân phần này ta tìm thấy yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, yếu tố gió.‹ Giống như một đồ tể hoặc người phụ tá của ông – sau khi ông ta mổ một con bò và phân nó ra thành nhiều phần rồi ngồi đợi (bán) ở ngã tư đường, cũng như vậy, ồ chư tăng, một tỉ-khâu phân chia chính cái thân thể này trong bất cứ tư thế nào ra thành tứ đại chủng… Người đồ tể – kẻ đã nuôi con bò lớn, dẫn đến nơi làm thịt, trói lại, để đấy rồi làm thịt – ông ấy không bao giờ thoát khỏi ý nghĩ ›Bò‹ nếu ông ta chưa mổ và phân nó ra thành từng miếng. Nhưng khi ông ta đã phân nó ra thành từng miếng và ngồi đó thì ông ta không còn mang theo ý nghĩ ›Bò‹, và thay vào đó là ý nghĩ ›Thịt‹. Ông ta không mang những ý nghĩ như ›Tôi bán một con bò‹ hoặc ›Người ta mua một con bò.‹ Cũng như thế, thâm tâm của một tỉ-khâu – khi vị này còn là một Phàm phu, có nhà hoặc không nhà – không thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹ hoặc ›Một người nam‹ hoặc ›Cá nhân‹, cho đến khi vị này phân ngay chính cái thân này trong bất cứ tư thế nào ra thành từng phần và quán từng yếu tố. Nhưng khi vị này đã phân cái thân này ra thành từng phần và yếu tố thì sẽ thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹, tâm của vị này sẽ dần dần vững chắc trong lúc quán các yếu tố.«
phân tích thân phần
Dhātu-vavatthāna (P).
Phân tướng môn
分相門; C: fēn xiāng mén; J: funsōmon;|Nhất thừa là tuyệt đối, là độc lập. »Phương diện riêng biệt« của Nhất thừa.
phân tướng môn
The doctrine which differentiates the three vehicles from the one vehicle.
Phân tế
分際; C: fēnjì; J: bunzai;|Có ba nghĩa: 1. Sự phân biệt; 2. Sự giới hạn, cực độ; 3.Trạng thái, chi tiết.
Phân tề
分齊; C: fēnqí; J: bunzai;|Có các nghĩa sau: 1. Sự khác nhau, sự phân biệt; 2. Mức độ, giới hạn, phạm vi, lĩnh vực (s: pariccheda, pravibhāga); 3. Trạng thái, tình trạng sự việc, điều kiện; 4. Ranh giới giữa 2 làng.
phân tề
1320指限界、差別。又指有所差別之內容、範圍、程度,或指具有程度差別之階位、身分等。為佛教論書中之常用語彙;其不云「分別」或「界別」等語者,概用以強調程度上之差異、區別,而非僅為一般性質之異同出入而已。後世多與「分際」一詞混同。
; (分齊) Chỉ cho giới hạn, sự sai khác. Cũng chỉ cho nội dung, phạm vi, trình độ có chỗ sai khác, hoặc chỉ địa vị, thân phận có trình độ sai khác. Từ ngữ này thường được các bộ luận của Phật giáo sử dụng thay cho từ ngữ phân biệt hoặc giới biệt để nhấn mạnh sự khu biệt, sai khác về mặt trình độ có tính chất đặc biệt. Người đời sau thường dùng từ Phân tề lẫn lộn với từ Phân tế.
phân vệ
Pindàpata (S). Food given as alms.
phân vị
1315分,指時分;位,指地位。謂於事物或生變化之時分與地位。為顯假立法之詞。如波為水之鼓動分位,故波為假立於水之分位者,離水則波無實法。百法中之二十四不相應法為假立於色與心或心所三法或生變化之分位者,故為無別體性。〔順正理論卷二十七〕
; (分位) Chỉ cho thời phần và địa vị của mỗi sự vật.Từ ngữ này được sử dụng để hiển bày các pháp giả lập, như sóng là do nước khởi động mà có, cho nên sóng là phần vị giả lập của nước, lìa nước thì sóng không có pháp thật. Hai mươi bốn pháp Bất tương ứng hành trong 100 pháp của Duy thức là phần vị giả lập của sắc, tâm và tâm sở, vì thế chúng không có thể tính riêng biệt. [X. luận Thuận chính lí Q.27].
Phân đoạn
分段; C: fēnduàn; J: bundan;|Có hai nghĩa: 1. Sự phân chia, sự phân biệt (s: pariccheda); 2. Những khía cạnh khác nhau của một lí thuyết đơn độc.
Phân đoạn sinh tử
分段生死; C: fēnduàn shēngsǐ; J: bundan-shōji;|Có hai nghĩa: 1. Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Sự luân hồi trong một thân xác và cuộc sống tiên định; 2. Phần đoạn sinh tử. Dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử (變易生死), dạng luân hồi mà hàng Bồ Tát trải qua.
phân đoạn tam đạo
1319即指惑、業、苦等迷界之三道。分段,區別之意,特指顯現於外在上的形貌、壽量等果報之差別相。蓋惑、業、苦等迷界三道,以果報之別,遂有形貌等之差別相,而以「分段三道」稱此三道,其意概謂三道各有果報上之差異。天台宗依此三者輪轉之義,而說三道之別,即以見思之惑稱為煩惱道,煩惱潤業稱為業道,招感界內之生稱為苦道。(參閱「三道」644)。
; (分段三道) Chỉ cho 3 đường mê muội: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Phần đoạn nghĩa là phân biệt, đặc biệt chỉ cho tướng sai khác của quả báo hiển hiện ra bên ngoài, như hình dáng, tuổi thọ... Vì quả báo trong 3 đường Hoặc, Nghiệp và Khổ khác nhau, nên có tướng sai biệt về hình dáng, cho nên gọi 3 đường ấy là Phần đoạn tam đạo. Đại khái, ý nói trong 3 đường mỗi đường đều có sự khác nhau về mặt quả báo. Tông Thiên thai căn cứ vào nghĩa xoay vòng của 3 đường này mà nói về sự sai khác của Tam đạo, tức gọi Kiến, Tư hoặc là Phiền não đạo, gọi phiền não nhuận nghiệp là Nghiệp đạo và gọi sự chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi là Khổ đạo. (xt. Tam Đạo).
Phân đoạn 分段
[ja] ブンダン bundan ||| (1) Division, discrimination (pariccheda). (2) Different aspects of a single theory. => Có hai nghĩa: 1. Sự phân chia, sự phân biệt (s: pariccheda). 2. Những khía cạnh khác nhau của một lý thuyết đơn độc.
phân đà lị
Pundarika (S). Lotus flower.
phân đà lợi hoa
3507梵語 puṇḍarīka,巴利語同。又作奔荼利迦化、分荼利花、分陀利花。意譯白蓮華。屬白色睡蓮之一,又爲五種蓮華之一。據大日經疏卷十五載,此花雪白如銀,光亮奪目,甚香甚大,多生於阿耨達池,人間少見,莖長一尺餘,花色、形狀極類睡蓮。此花生於泥中而不爲泥所污染,故經論中每以之比喻佛性、法性之於煩惱而不爲煩惱所污染。另據妙法蓮華經後序之說,此花未開敷時,稱爲屈摩羅;將凋謝時,稱爲迦摩羅;正開放時,稱爲芬陀利。(參閱「蓮華」6146)
; (芬陀利華) Phạm, Pàli: Puịđarìka. Cũng gọi Bôn đồ lợi ca hoa, Phân đồ lợi hoa, Phân đà lợi hoa. Hán dịch: Bạch liên hoa. Hoa sen trắng, 1 trong 5 loại hoa sen. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 15, loại hoa này có hình dáng giống hoa súng, cọng nó dài hơn 1 thước (Tàu), màu hoa trắng như tuyết, lấp lánh như bạc, hương rất thơm, phần nhiều mọc ở hồ A nậu đạt, nhân gian hiếm thấy. Hoa này mọc ở trong bùn nhưng không bị mùi bùn làm ô nhiễm, cho nên trong các kinh luận, hoa này thường được dùng để ví dụ Phật tính, pháp tính, tuy ở trong phiền não mà không bị phiền não làm cho nhơ nhớp. Ngoài ra, theo Diệu pháp liên hoa kinh hậu tự thì hoa Phân đà lợi khi chưa nở, được gọi là Khuất đa la, khi sắp tàn, gọi là Ca ma la, khi đang nở thì gọi là Phân đà lợi. (xt. Liên Hoa).
Phân, Phần 分
[ja] フン、ブン fun, bun ||| (1) To divide, to cut up, to distribute. (2) To be divided. (3) To discriminate, distinguish. (4) An allotment. One's allotment in life, in terms of basic character or disposition. [Buddhism] (1) A minutely small part (kala). (2) A branch, section or limb (anga). One branch of the three-part method of Buddhist logic [hetu-vidyā; 因明]. (3) One of the twelve limbs of dependent origination. (4) A part (ava-yāna). (5) Partially. (6) In Huayan discourse, an aspect. (7) Determination, decision. => Có các nghĩa sau: 1.Chia, cắt ra, phân ra. 2. Bị chia cắt. 3. Phân biệt . 4. Phần việc. Phần việc của một người trong đời sống. theo ý nghĩa cá tính hoặc thiên hướng. [Phật học ] 1. Khoảnh khắc thời gian nhỏ (thời phần; s: kala) 2. Một nhánh, một chi phần(s: anga ). Một phần trong Tam đoạn luận Phật giáo [Nhân minh luận; s: hetu-vidyā; 因明] 3. Một trong Mười hai nhân duyên. 4.Một phần (s: ava-yāna). 5. Cục bộ, thiên vị. 6. Một phương diện, theo trong Kinh Hoa Nghiêm. 7. Sự phân định, sự phán quyết.
Phân, phần, phận
分; C: fēn; J: fun, bun;|Có các nghĩa sau: 1.Chia, cắt ra, phân ra; 2. Bị chia cắt; 3. Phân biệt; 4. Phần việc. Phần việc của một người trong đời sống. theo ý nghĩa cá tính hoặc thiên hướng.|Ý nghĩa trong Phật học: 1. Khoảnh khắc thời gian nhỏ (thời phần; s: kala); 2. Một nhánh, một chi phần (s: anga). Một phần trong Tam đoạn luận Phật giáo (Nhân minh luận; s: hetu-vidyā; 因明); 3. Một trong Mười hai nhân duyên; 4. Một phần (s: ava-yāna); 5. Cục bộ, thiên vị; 6. Một phương diện theo kinh Hoa Nghiêm; 7. Sự phân định, sự phán quyết.
phân-đà-lỵ
xem bốn loại hoa sen
phép
Authorization—Permission—Permit.
phép lạ
See Phép mầu.
phép lịch sự
Civility—Courtesy.
phép mầu
Miracle—Mysterious power.
phép rửa tội
Externalists believe that the Sacrament of Baptism or Christianity case wash away all their sins.
phép tam ma địa
Xem đại định.
phét
To boast—To brag about oneself.
phê bình
To criticize constructively—To comment.
phê bình phản tỉnh
Critical reflection.
phê bằng thức
2948批,即批鑿、判斷是非之意;憑,即公家之證明。僧侶欲離寺往他處巡禮時,應取得公家憑證,其上明定離寺之年、月、日與期限,然若由於氣候、疾病等因素,無法如期前往,而恐違反公家憑證所記期限,則必須製作一文書,以申請延長離寺之期,並乞求公家之決裁,此一文書即稱爲批憑〔禪苑清規卷一掛搭〕
; (批憑式) Một loại văn thư xin chính quyền gia hạn.Phê là phê chuẩn; bằng là bằng chứng. Khi vị tăng muốn rời chùa để đi hành hương, tham lễ nơi khác, phải có giấy chứng nhận của chính quyền, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm và thời hạn rời khỏi chùa. Nhưng nếu vì một lí do bất ngờ nào đó, như mưa bão hoặc bị bệnh chưa đi được, thì đương sự phải làm một văn thư xin gia hạn rời khỏi chùa, văn thứ ấy gọi là Phê bằng thức. [X. điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1].
phê chuẩn
To ratify—To conffirm—To approve.
phê duyệt
See Phê chuẩn.
phê na
Một loại sáo Ấn Độ—An Indian lute.
phê án
An order of a court.
phì
Mập phì—Fat.
phì cười
To burst out laughing.
phì giả da
3492梵名 Vijayā。四姊妹女天之一。又作毘社耶、微誓耶、微惹野。意譯無勝。位於密教現圖胎藏界曼荼羅文殊院童母盧之右方,惹耶(梵 Jayā)之上方,乃文殊菩薩之眷屬。密號金剛,種子爲???(vi)或???(ka),三昧耶形爲棒。身呈肉色,右手屈臂持半獨鈷杵,左手屈臂仰掌置於腰部。該尊出自玄法寺儀軌卷一,或係後世之阿闍梨依「理趣經四姊妹女天段」所說而增列。 四姊妹女天,即若耶、肥者耶、阿爾多(梵 Ajitā)、阿波羅爾多(梵 Aparājitā)四位天女。大日經卷一謂,若耶、肥者耶爲日天妃;陀羅尼集經卷一謂,四姊妹爲大自在天之眷屬;文殊師利根本儀軌卷四謂。此四姊妹爲文殊菩薩之眷屬,有真言顯示彼等親近菩薩,經行大地以救度眾生。〔大日經卷五秘密漫荼羅品、理趣釋卷下、大日經疏卷五、青龍寺儀軌卷下〕
; Vajradhatri (skt)—Nữ lực của Đức Tỳ Lô Giá Na—The wife or female energy of Vairocana.
; (肥者耶) Phạm: Vijayà. Cũng gọi: Tì xã da, Vi thệ da, Vi nhạ dã. Hán dịch: Vô thắng. Vị Thiên nữ ngồi ở phía bên phải của Đồng mẫu lô, phía trên Nhã da, trong viện Văn thù trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, làquyến thuộc của bồ tát Văn thù, là 1trong 4 chị em Thiên nữ. Mật hiệu Kim cương, chủng tử là (vi) hoặc (ka), hình Tam muội da là cây gậy. Hình tượng vị tôn này mình màu da người, cánh tay phải co lại cầm chày 1 chẽ, tay trái co lại, ngửa bàn tay để ở eo. Vị tôn này có xuất xứ từ Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 1, hoặc do các vị A xà lê đời sau căn cứ vào đoạn nói về 4 chị em thiên nữ trong kinh Lí thú mà thêm vào. Bốn chị em Thiên nữ gồm: Nhã da (Phạm: Jayà), Phì giả da, A nhĩ đa (Phạm: Ajità) và A ba la nhĩ đa (Phạm: Aparàjità). Theo kinh Đại nhật quyển 1 thì Nhã da và Phì giả da là vợ của Nhật thiên. Theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì 4 chị em Thiên nữ là quyến thuộc của trời Đại tự tại. Theo Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ quyển 4 thì 4 chị em Thiên nữ này là quyến thuộc của bồ tát Văn thù,thườngđi khắp cõi đất để cứu độ chúng sinh. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ].
phì nị
3492<一>梵語 piṇḍī,或 pinodhni。爲一種產於印度雪山(喜馬拉雅山)之草。據傳,牛若食此草,所出即爲醍醐。蓋提煉牛乳得經由酪、生酥、熟酥而至最高之美味,即稱醍醐;佛家以之比喻涅槃、佛性、真實教等義。據北本涅槃經卷八如來性品載,牛食肥膩即能出醍醐,乃比喻眾生因覺悟佛性而得佛果。 <二>形容物質生活極爲富裕豐饒。大毘娑沙論卷一二三(大二七‧六四五中):「時,近事女作是思惟:『尊者所食極爲肥膩,若飲冷水,或當致疾。』」
; Một loại cỏ làm tăng dinh dưỡng của sữa bò—A grass or herb said to enrich the milk of cattle.
; (肥膩) I. Phì Nị. Phạm: Piịđì, hoặc Pinodhni. Tên 1 loài cỏ mọc trên núi Tuyết (Hi mã lạp sơn) ở Ấn độ. Tương truyền, nếu bò ăn được loại cỏ này thì sữa của nó thành vị đề hồ. Vì sữa bò được biến chế qua các giai đoạn: Lạc, sinh tô, thục tô rồi đến vị ngon nhất gọi là Đề hồ. Nhà Phật dùng vị đề hồ để ví dụ cho Niết bàn, Phật tính, giáo nghĩa chân thực…... Cứ theo phẩm Như lai tính trong kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì bò ăn cỏ Phì nị sữa của nó sẽ cho vị đề hồ, ví dụ chúng sinh nhờ giác ngộ tính Phật mà được quả vị Phật. II. Phì Nị. Chỉ cho cuộc sống vật chất rất đầy đủ, dồi dào. Luận Đại tì bà sa quyển 123 (Đại 27, 645 trung) nói: Lúc bấy giờ, người Cận sự nữ nghĩ rằng: Thực phẩm mà Tôn giả dùng rất dồi dào, béo bổ (phì nị) nếu uống nước lạnh có thể bị bệnh.
phí
1) Lãng phí: To waste. 2) Phí tổn: Expense—To spend.
phí công
To waste one's efforts.
phí của
To waste money.
phí lực
To waste one's energy.
phí phạm
See Phí.
phí thỉ địa ngục
3332指以沸屎苛治罪人之地獄。爲比丘、比丘尼等七眾污戒者及污其父母之食、僧之淨食等,或眾生等破八戒齋者,及四部弟子以不淨之身坐於僧祇之床、犯「偷蘭遮」而久不懺悔,以及徒然披著袈裟、參與法會、消耗僧食者,凡此眾多不淨惡業之罪人所生之處,稱爲沸屎地獄。據觀佛三昧海經卷五載,此地獄上有鐵網,縱廣八十由旬,有十八鐵城;每一鐵城十八鬲,一一鬲中有四壁,皆有百億萬之劍樹。地如刀刃,刃厚三尺,刃上有百千蒺梨,又蒺梨與劍樹間有無數鐵蟲,每一鐵蟲有百千頭,一頭有百千嘴,一嘴頭皆有百千蚘(蛔)蟲,口吐熱屎,沸如融銅,遍布鐵城之內。罪人命終,即如風吹墮於沸屎中,糜爛而受眾蟲噉食,行走時,受削骨徹髓之痛,並爲飢渴所逼而飲沸屎,此時蚘蟲、疽(蛆)蟲即咬其舌根,於一日一夜間,猶如歷經九十億之生死。罪畢乃生於貧賤家,又受惡王之苦、惡瘡之難。其後若有宿世聞法之善因緣,方得遇善知識,出家學道,證成阿羅漢。(參閱「十六小地獄」383)
; (沸屎地獄) Địa ngục phân sôi, tức chỉ cho địa ngục dùng nước phân sôi để trừng trị tội nhân. Tỉ khưu, tỉ khưu ni... làm ô nhiễm giới hạnh, làm bẩn thức ăn uống của cha mẹ mình, làm dơ dáy thức ăn uống của chúng tăng, hoặc những chúng sinh phá 8 trai giới, 4 bộ đệ tử đem thân ô uế ngồi lên giường của chư tăng thanh tịnh, phạm tội Thâu lan giá đã lâu mà không chịu sám hối, mặc bừa ca sa tham dự pháp hội, tiêu hao vật thực của tăng... đều phải đọa vào địa ngục Phí thỉ. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5, địa ngục này có lưới sắt chắn ngang bên trên, rộng 8 vạn do tuần, có 18 thành sắt, mỗi thành sắt có 18 ngăn, mỗi ngăn đều có vách sắt bao quanh, trong đó có trăm nghìn vạn ức cây gươm và vô số trùng sắt, mỗi con trùng sắt có trăm nghìn đầu, mỗi đầu có trăm nghìn con giun, miệng nhả ra phân nóng sôi như nước đồng sôi chảy tràn lan khắp trong thành sắt. Những tội nhân vừa chết, tức thì như gió thổi rơi vào trong phân sôi, bị những con trùng sắt rúc rỉa xương tủy, đau đớn vô cùng. Lúc đói khát thì uống nước phân sôi, chịu các nỗi khổ như thế, chỉ trong khoảng 1 ngày đêm mà như trải qua 90 kiếp sống chết. Vì cứ mỗi lần tội nhân chết đi thì lập tức 1 cơn gió nóng thổi đến làm cho sống lại để tiếp tục chịu các cực hình cho đến khi hết nghiệp mới sinh nơi khác. Nếu được sinh làm người thì sinh vào nhà nghèo hèn và chịu các tai nạn như gặp vua quan độc ác, đói rét, lở loét khắp mình... (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).
phí trường phòng
5276隋代成都人。博學能文,通佛儒百家。初爲僧,於後周武廢佛時,被迫還俗,尋遁歸隱居。隋興,開設譯場,受詔爲翻經博士。由其擔任筆受之譯經有那連提黎耶舍之大方等大集日藏經、力莊嚴三昧經,及闍那崛多之佛本行集經、善思童子經、移識經、觀察諸法行經、商主天子所問經等。復因見列代經錄散落,年載蕪沒,乃撰歷代三寶紀十五卷,成爲唐代經典目錄之重要參考。然書中有不少資料誤引混用,如編選入藏錄、大小乘經錄之準則偏誤,爲後代之經錄所批評;又如書中將前代經錄如出三藏記集等書所列之失譯經典,大半配屬古代知名譯經家之名下,尤爲現代學者所攻伐。今收於大正藏第四十九冊。〔續高僧傳卷二達摩笈多傳、歷代三寶紀卷十二、開元釋教錄卷七、佛書解說大辭典佛典總論第二部第二章(小野玄妙)〕(參閱「失譯經典」1881、「歷代三寶紀」6253)
; (費長房) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Thành đô. Sư học rộng, giỏi văn chương, thông hiểu cả Nho, Phật, Bách gia...Vào thời Bắc Chu, Vũ đế (543-578) phá hủy Phật giáo, sư bị cưỡng bức hoàn tục, tìm nơi ở ẩn. Khi nhà Tùy nổi lên, phục hưng Phật giáo, thiết lập đạo tràng dịch kinh, sư vâng sắc chỉ giữ chức Bút thụ trong dịch trường. Những kinh do sư ghi chép gồm có: Kinh Đại phương đẳng đại tập nhật tạng, do ngài Na liên đề lê da xá dịch, kinh Lực trang nghiêm tam muội; kinh Phật bản hành tập, do ngài Xà na quật đa dịch, kinh Thiện tư đồng tử, kinh Di thức, kinh Quán sát chư pháp hành, kinh Thương chủ thiên chủ sở vấn... Sư nhận thấy mục lục các kinh qua các đời bị tản mạn, thất lạc, năm tháng thì lộn xộn, thiếu sót, nên sư soạn bộ Lịch đại tam bảo kỉ 15 quyển là tư liệu tham khảo quan trọng cho các bộ mục lục kinh điển ở đời Đường. Nhưng trong bộ sách này có nhiều tài liệu được dẫn dụng lầm lẫn, như chuẩn tắc biên soạn Nhập tạng lục, Đại tiểu thừa kinh lục rất thiên vị và sai lạc, bị các bộ Mục lục kinh đời sau phê bình. Hơn nữa, trong sách này, tác giả đã đem quá nửa các kinh điển mà các bộ Kinh lục trước đó, như Xuất tam tạng kí tập, đã xếp vàoloại các kinh điển mất tên người dịch, gán cho các nhà dịch kinh nổi tiếng đời trước, điều này đặc biệt bị các nhà học giả cận đại công kích.Bộ Lịch đại tam bảo kỉ nàyhiệnđược thu vào Đại chính tạng tập 49. [X.truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận đệ nhị bộ đệ nhị chương (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Thất Dịch Kinh Điển, Lịch Đại Tam Bảo Kỉ).
phí ẩn thiền sư ngữ lục
5276凡十四卷(或十六卷)。明代臨濟宗僧費隱通容(1593~1661)撰,隱元隆琦等編,崇禎十六年(1643)刊行。內容包括上堂、小參、入室、法語、偈、書問、問答機緣、拈古、頌古、判古、贊、雜著、小佛事等,卷末附錄紀年錄。
; (費隱禪師語錄) Ngữ lục, 14 quyển (hoặc 16 quyển), do ngài Phí ẩn Thông dung (1593-1661) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Minh, các vị Ẩn nguyên Long kì... biên tập, được ấn hành vào năm Sùng trinh 16 (1643). Nội dung bao gồm: Thướng đường, Tiểu tham, Nhập thất, Pháp ngữ, Kệ, Thư vấn, Vấn đáp cơ duyên, Niêm cổ, Tụng cổ,Phán cổ,Tán, Tạp trứ, Tiểu Phật sự... Cuối quyển có thêm Kỉ niên lục.
Phí Ẩn Thông Dung
(費隱通容, Hiin Tsūyō, 1593-1661): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Phí Ẩn (費隱), sinh ngày mồng 8 tháng 12 năm thứ 21 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), xuất thân Huyện Phúc Thanh (福清縣), Mân (閩, Tỉnh Phúc Kiến), họ Hà (何). Năm lên 7 tuổi, ông đã chịu tang cha, đến năm 12 tuổi thì để tang mẹ. Năm 14 tuổi, ông xuất gia tu học với Huệ Sơn (慧山) ở Tam Bảo Tự (三寳寺), sau đó đến tham yết một số cao tăng như Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄), Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) và Vô Dị Nguyên Lai (無異元來). Vào năm thứ 2 (1622) niên hiệu Thiên Khải (天啓), trên đường dự định đi từ Giang Tây (江西) đến Thiên Thai (天台), giữa đường dừng chân tại Hống Sơn (吼山), tham yết Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), cơ duyên khế ngộ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông vào Dục Vương Sơn (育王山), và sau đó chuyển đến sống một số nơi như Hoàng Bá Sơn Vạn Phước Thiền Tự (黃檗山萬福禪寺) ở Huyện Phúc Thanh, Liên Phong Viện (蓮峰院) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến), Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang), Siêu Quả Tự (超果寺) ở Phủ Tùng Giang (松江府, Tỉnh Giang Tô), Phước Nghiêm Thiền Tự (福嚴禪寺) ở Huyện Sùng Đức (崇德縣, Tỉnh Triết Giang), Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (徑山興聖萬壽寺) ở Phủ Hàng Châu (杭州府, Tỉnh Triết Giang), Duy Ma Tự (維摩寺), và Nghiêu Phong Sơn Hưng Phước Viện (堯峰山興福院), v.v. Vào ngày 29 tháng 3 năm thứ 18 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông soạn các bộ Ngũ Đăng Nghiêm Thống (五燈嚴統) 25 quyển, Ngũ Đăng Nghiêm Thống Giải Hoặc Biên (五燈嚴統解惑編) 1 quyển, Tổ Đình Kiềm Chùy Lục (祖庭鉗鎚錄) 2 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Trác Luân Giải (般若心經斲輪解), Ngư Tiều Tập (漁樵集). Môn nhân Hoàng Bá Ẩn Nguyên (黃檗隱元) biên tập bộ Phí Ẩn Thiền Sư Ngữ Lục (費隱禪師語錄) 14 quyển, Cư Sĩ Vương Cốc (王谷) soạn bản Phước Nghiêm Phí Ẩn Dung Thiền Sư Kỷ Niên Lục (福嚴費隱容禪師紀年錄), Thủy Giám Huệ Hải (水鑑慧海) soạn cuốn Phí Ẩn Dung Hòa Thượng Hành Trạng (費隱容和尚行狀).
phía
Side—Direction.
phích
1) Lánh xa: To avoid. 2) Ngôi vua: Throne. 3) Quốc vương: Lord—King. 4) Vương quốc: Sovereign.
phích chi ca
Pratyeka (skt)—Một mình—Each one—Individual—Oneself only.
phích chi ca phật đà
See Chi Phật.
phích chi phật thừa
See Bích Chi Phật Thừa.
phích lôi
To rend as thunder—To thunder.
phích lịch hỏa
Lửa sấm sét—A thunder fire.
phích lịch tinh
6882梵名 Nirghātaḥ。音譯涅伽多,為雷電霹靂之義。即天狗,表世之夢幻者。密教胎藏現圖曼荼羅中,此尊位於外金剛部院東方日天之旁,形像呈肉色童子形,於頂上合掌,作飛行之勢。〔大日經疏卷五〕
phích quỷ
Diệt quỷ—To suppress demons.
phích trừ
Loại bỏ—To get rid of—To suppress.
phò tá
To support—To help.
phòng
1) Phòng ốc: Room—Ward—House. 2) Phòng ốc của chư Tăng Ni trong tự viện: The rooms for monks and nuns in a monastery or nunnery. 3) Đề phòng: To prevent—To ward off—To protect—To beware—To counter.
phòng dung
3243唐代洛陽人。生卒年不詳。博識多聞,成進士業。武后時,依附張昌宗,以正諫大夫同鳳閣鸞台平章事,爲士林所不恥。迨中宗誅二張後,貶之於高州(廣東茂名),後卒於該地。據傳其流放途中,抵廣州時,巧遇天竺沙門般剌密諦譯大佛頂首楞嚴經,房融乃爲筆受。景龍元年(707)譯成,進呈於武后。〔唐詩紀事卷十三、全唐詩卷四〕
; (房融) Danh sĩ Trung quốc, sống vào đời Đường, người Lạc dương. Ông là người học rộng nghe nhiều, có học vị Tiến sĩ, làm quan đến chức Chính gián đại phu đồng phượng các loan đài bình chương sự. Đời vua Trung tông, ông mắc lỗi và bị đày đi Cao châu (Mậu danh, Quảng đông), sau ông qua đời tại đó. Tương truyền, trên đường lưu đày, khi tới Quảng châu, tình cờ ông gặp sa môn Bát lạt mật đế, người Thiên trúc, đang dịch kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, ông liền làm bút thụ. [X. Đường thi kỉ sự Q.13; Toàn đường thi Q.4].
phòng hộ luật nghi
3036指受戒後,順於戒體而能受持戒相。蓋正攝受遠離戒,是為攝受律儀,其後,依五根之增上力,遠離思與種子俱行,而不作罪,即稱防護律儀。大毘婆沙論卷一二三載稱,離飲酒戒能總防護諸餘律儀,如塹垣城能總防護。瑜伽師地論卷五十三(大三○‧五九○中):「若正攝受遠離戒時,名攝受律儀。從是已後,此遠離思,五根攝受增上力故,恒與彼種子俱行,於時時間,亦與現行俱行。即由五根所攝善思,如先所受律儀,防護而轉;由此思故,或因親近惡友,或因煩惱增多,隨所生起,惡現行欲,即便慚羞,速能捨離,勿彼令我違越所受,當墮惡趣,是名防護律儀。」〔大乘義章卷十〕(參閱「戒」2896)
; (防護律儀) Phòng vệ, giữ gìn các luật nghi. Tức sau khi thụ giới, thuậntheo giới thể mà thụ trì giới tướng. Về sau, nhờ vào sức tăng thượng của 5 căn(tín, tiến, niệm, định, tuệ), xa lìa tâm sởTư ác và chủng tử cùng hiện hành nên không tạo tội. Theo luận Đại tì bà sa quyển 123 thì giới không uống rượu có khả năng phòng vệ được các luật nghi khác, cũng như hào lũy thành quách có thể phòng ngự kẻ địch xâm phạm. Luận Du già sư địa quyển 53 (Đại 30, 590 trung) nói: Chính lúc nhiếp thụ giới viễn li, gọi là Nhiếp thụ luật nghi. Từ đó về sau, tâm sở Tư viễn li này, nhờ sức tăng thượng của 5 căn nhiếp thụ mà thường xuyên sinh khởi chung với chủng tử và hiện hành; tức là tâm sở Tư thiện được 5 căn nhiếp thụ, như luật nghi đã thụ trước, phòng hộ mà chuyển. Nhờ tâm sở Tư này mà dù có gần gũi bạn xấu, hoặc muốn làm ác, liền xấu hổ ngay và xa lìa tức khắc, không để mình tái phạm những giới luật đã thụ. Như thế gọi là Phòng hộ luật nghi. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới).
phòng la
3036又作防邏、訪羅。為地獄道中之巡邏。順正理論卷五十四(大二九‧六四三下):「欲貪及瞋,猶如獄卒,(中略)身見等三,如防邏者。」〔俱舍論卷二十一、玄應音義卷十八〕
; Cai ngục hay tuần tra nơi địa ngục—Warders or patrols in Hades.
; (防羅) Cũng gọi Phỏng la. Chỉ cho việc đi tuần tra trong địa ngục. Luận Thuận chính lí quyển 54 (Đại 29, 643 hạ) nói: Tham dục, sân khuể giống như cai ngục, (...) ba món thân kiến, biên kiến... như kẻ tuần tra(phòng la). [X. luận Câu xá Q.21; Huyền ứng âm nghĩa Q.18].
phòng na
Vana (skt)—May hay dệt—Weaving or sewing.
phòng nan
Giải quyết những khó khăn—To counter or solve difficulties, especially difficult questions.
phòng ngừa
To ward off—To prevent.
phòng sơn
3243位於河北房山縣,在北平西南方約四十公里處。爲我國現存石經中規模最大者。又作石經山。隋代沙門靜琬(一說智宛)因恐佛經毀滅失傳,誓言刻經卷成石碑,遂於大業元年(605),於房山山麓開鑿岩洞,並在石室四壁刻上經文,造立華嚴、涅槃、般若、寶積等七室,另有部分石經置於山下雲居寺之壓經塔下。其後經唐、五代,遼等歷朝陸續刻造,直至遼大安十年(1094),歷經四百八十年之刻經事業始告終結,今尚存有九室。據統計,房山現存石經版共有四千多條,每條約長兩公尺,寬十八公分,共刻佛經達數千卷。另在壓經塔下之經版則有七、八千條,但長寬度均較小。房山石經之出土,不僅可用來校正印本佛經之錯漏,並成爲書法史與藝術史之珍貴資料。此外,石碑上所附刻經人行業組織之記載,亦爲研究我國古代經濟史之重要史料。(參閱「石經山藏經」2137)
; (房山) Cũng gọi Thạch kinh sơn. Núi ở huyện Phòng sơn, tỉnh Hà bắc, cách Bắc bình khoảng 40 cây số về mạn tây nam. Đây là nơi có Thạch kinh qui mô lớn nhất hiện còn ở Trung quốc. Vì sợ kinh Phật bị hủy diệt, thất truyền, nên sa môn Tĩnh uyển (có thuyết nói là Trí uyển) đời Tùy đã thệ nguyện khắc những quyển kinh trên những tấm bia đá, hoặc trên vách các hang động trong núi để bảo tồn lâu dài. Cho nên, vào niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) đời Tùy, ngài Tĩnh uyển bắt đầu mở đục các hang động ở chân núi Phòng sơn, rồi khắc văn kinh trên 4 vách của các hang động. Bấy giờ, ngài Tĩnh uyển tạo lập 7 động: Hoa nghiêm, Niết bàn, Bát nhã, Bảo tích... Ngoài ra, còn 1 bộ phận Thạch kinh(bằng những tấm bia đá) được chôn ở dưới tháp Áp kinh tại chùa Vân cư dưới núi. Về sau, trải qua các triều đại Đường, Ngũ đại, Liêu... Thạch kinh vẫn tiếp tục được khắc tạo, mãi đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu là 480 năm, sự nghiệp khắc kinh đá mới hoàn thành. Hiện nay còn 9 động. Theo thống kê, bây giờ ở núi Phòng sơn còn tất cả hơn 4.000 bản kinh đá, khắc tới vài nghìn quyển kinh Phật, mỗi bản dài khoảng 2m và rộng 18cm. Còn số kinh ở dưới tháp Áp kinh thì có 7, 8 nghìn bản, nhưng kích thước đều nhỏ hơn.Thạch kinh đào được ở Phòng sơn không những chỉ được dùng để hiệu đính những chỗ sai sót trong các bản kinh Phật ấn loát mà còn trở thành tư liệu quí giá của lịch sửthư pháp và nghệ thuật. Ngoài ra, trên những tấm bia có ghi thêm về tổ chức và hành nghiệp của những người phụ trách khắc kinh cũng là sử liệu quan trọng để nghiên cứu về nên kinh tế của Trung quốc cổ đại. (xt. Thạch Kinh Sơn Tàng Kinh).
phòng thân
To defend oneself.
phòng túc
Kapphina (skt)—See Kiếp Tân Na.
Phòng Túc 房宿
[ja] ボウシュク bōshuku ||| Kapphiṇa, one of the direct disciples of Śākyamuni; see 劫賓那. => (s: Kapphiṇa), một trong các đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni . Xem Kiếp-tân-na劫賓那.
phòng xa
To anticipate—To foresee.
phòng xá kiền độ
3243巴利名 Senāsanakhandaka。乃四分律所說二十犍度之第十九。又作臥具法。舉凡僧團房舍臥具之造作,及其設備等方面之規定均屬之。又如地敷、林、褥、枕、衣、經行堂、池、牆、植樹、浴室、房舍止住等法亦包括於內。
; (房舍犍度) Pàli: Senàsana-khandaka. Cũng gọi Ngọa cụ pháp. Chương nói về sự tạo lập phòng xá, ngọa cụ của Tăng đoàn và các qui định về mặt trang thiết bị cho phòng xá... là chương thứ 19 trong luật Tứ phần.
phòng đọc kinh
Khán Kinh Đường—Sutra Reading Hall.
phó
1) Chức phụ tá: Vice—Deputy—Second. 2) Giao phó: To hand over—To hand down—To deliver. 3) Phụ: To aid—To assist.
Phó chúc
付囑; C: fùzhǔ; J: fuzoku;|Có các nghĩa sau: 1.Nhắm đến một người nào đó, và có sự thỉnh cầu ở họ điều gì; 2. Giao phó, đề nghị, giao cho (nhiệm vụ, trách nhiệm). Trong đạo Phật thì Phó chúc có nghĩa là sự giao phó trọng trách truyền bá giáo pháp của đức Phật (cho đệ tử).
phó chúc
1537指托與物事。又作付囑、附囑、囑累。付,與物;屬,託事,乃以言語託所思之意。多表示佛陀託付弘傳教法之意。例如無量壽經卷下曾載,釋尊付屬彌勒菩薩弘傳本願念佛(彌勒付屬)。法華經之如來神力品亦載,釋尊付屬本經最重要之「妙法蓮華經」五字於上行菩薩等之本化菩薩。由此,日本日蓮宗認為法華經(題目)之付屬,乃對末法時代最下等眾生之特別要法,特選本化菩薩付屬之,故稱「別付屬」;而在法華經囑累品,佛對一切菩薩付託此經,稱為「總付屬」。此外,神力品係釋迦佛在多寶塔中,與多寶佛並坐時所付屬,故稱塔內付屬;而囑累品乃釋迦佛出多寶塔後之付屬,故稱塔外付屬。又囑託袈裟等物,或付與大法,亦稱為付屬。在禪宗中,師者授弟子佛法奧義時,均稱為付屬,故為禪宗常用之語。〔六祖法寶壇經、曆代法寶記〕
; Phó thác hay giao phó (đem vật trao gọi là phó, đem việc trao gọi là chúc): 1) Phó: To deliver (things). 2) Chúc: To entrust to (work).
; (付屬) Cũng gọi Phụ chúc, Chúc lụy. Phó là cấp cho, trao cho; Chúc là gửi gắm, phó thác, dặn dò lại. Từ ngữ này phần nhiều biểu thị ý nghĩa đức Phật phó thác việc hoằng truyền giáo pháp. Chẳng hạn như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, đức Thế tôn phó chúc bồ tát Di lặc hoằng truyền bản nguyện niệm Phật(Di lặc phó chúc). Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa cũng ghi, đức Thế tôn phó chúc 5 chữ trọng yếu nhất là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cho các Bản hóa bồ tát, đứng đầu là bồ tát Thượng hành. Do đó, tông Nhật liên của Nhật bản cho rằng sự phó chúc kinh Pháp hoa(đề mục) là yếu pháp đặc biệt đối với chúng sinh tối hạ đẳng trong thời đại mạt pháp, đặc biệt chọn các Bồ tát bản hóa để phó thác, vì thế gọi là Biệt phó chúc. Còn trong phẩm Chúc lụy kinh Pháp hoa, đức Phật trao phó kinh này cho tất cả các vị Bồ tát thì gọi là Tổng phó chúc. Lại nữa, trong phẩm Thần lực đức Phật Thích ca cùng ngồi với đức Phật Đa bảo trong tháp Đa bảo mà phó chúc, cho nên gọi là Tháp nội phó chúc; còn ở phẩm Chúc lụy thì khi Phật Thích ca ra khỏi tháp Đa bảo mới phó chúc, nên gọi là Tháp ngoại phó chúc. Ngoài ra, trao cho ca sa, bình bát..., hoặc phó thác đại pháp cũng gọi là Phó chúc. Trong Thiền tông, khi thầy truyền trao ý nghĩa sâu xa của Phật pháp cho đệ tử đều gọi là Phó chúc, bởi thế Thiền tông rất thường dùng từ ngữ này. [X. Lục tổ Pháp bảo đàn kinh; Lịch đại tam bảo kí].
phó chúc nhất niệm
1537一念,指行之一念,即一聲之稱名念佛。據無量壽經卷下所載,釋尊嘗對彌勒菩薩慇懃付屬彌陀之名號,告以一念之稱名有無上大利之功德,命永宣傳此法門。
; (付屬一念) Nhất niệm, chỉ cho 1 niệm tu hành, tức là 1 tiếng xưng danh niệm Phật. Phó chúc nhất niệm nghĩa là dặn dò phó thác pháp môn xưng danh niệm Phật. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì đức Thế tôn Thích ca từng ân cần phó chúc danh hiệu Di đà cho bồ tát Di lặc. Ngài dạy bồ tát Di lặc rằng một niệm xưng danh có công đức lợi ích lớn lao vô thượng, nên phải mãi mãi lưu truyền pháp môn này.
Phó chúc 付囑
[ja] フゾク fuzoku ||| (1) To address another person, making a request of them. (2) To commit to, to submit to; to entrust with. [Buddhism] The entrustment of the buddhas with the transmission of the teaching. => Có các nghĩa sau: 1.Nhắm đến một người nào đó, và có sự thỉnh cầu ở họ điều gì. 2. Giao phó, đề nghị, giao cho (nhiệm vụ, trách nhiệm). [Phật học] Sự giao phó trọng trách truyền bá giáo pháp của Đức Phật (cho đệ tử).
phó cơ
3956應眾生之根機而說法。與「應病與藥」同義。宗鏡錄卷三十(大四八,五九○下)﹕「云何坐道場?現四種成佛,赴機無差殊。」
; Thuyết pháp theo căn cơ của chúng sanh (như hốt thuốc theo bệnh)—To go or to preach according to the need or opportunity.
; (赴機) Đồng nghĩa: Ứng bệnh dữdược(tùy theo chứngbệnh mà cho thuốc). Tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói pháp. Phiếu mạo trùm đầu Phiếu mạo quàng cổ Tông kính lục quyển 30 (Đại 48, 590 hạ) nói: Thế nào là ngồi đạo tràng? Đó là hiện 4 thứ thành Phật, tùy cơ(phó cơ)không sai khác.
phó hoả ngoại đạo
3956印度古代苦行外道之一。彼等身常炙熱及熏鼻等,甘受熱惱,或赴火而死,執此苦行以爲得果之因。(參閱「苦行外道」3944)
; (赴火外道) Ngoại đạo nhảy vào lửa, 1 trong các ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ đời xưa. Phái ngoại đạo này thường ngồi hơ lửa và xông khói vào mũi, nhẫn chịu sự nóng rát khổ não, hoặc nhảy vào lửa mà chết. Họ chấp mê rằng sự hành hạ thân thể như vậy là cái nhân để được quả báo sinh lên thiên đường! (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).
phó hấp
4854(497~569)南朝梁代禪宗著名之尊宿。東陽烏傷(浙江義烏)人。字玄風,號善慧。又稱善慧大士、魚行大士、傅大士、雙林大士、東陽大士、烏傷居士。與寶誌共稱為梁代二大士。嘗與里人共捕魚,每得魚則盛於竹籠,沈入深水,並謂:「欲去者去,欲止者留。」時人以之為愚。年十六,娶劉氏女妙光,生普建、普成二子。年二十四,於沂水取魚,適逢胡僧嵩頭陀(名達摩),遂棄魚具,入烏傷縣松山雙檮樹下結庵,自號「雙林樹下當來解脫善慧大士」,自稱由兜率天宮來說法。日常營作,夜歸行道,苦行七年,自謂得首楞嚴定。並能通儒道典籍,學徒漸集,眾皆虔誠精進,不惜身命。 梁大通六年(534)遣弟子傅暀上書致武帝,獻上中下三善之策。閏十二月,帝召入禁闕,講經於重雲殿,帝親臨聽之,眾見帝至皆起,唯傅翕獨坐不動,群臣詰之,傅翕言:「法地若動,一切不安。」禪林傳為佳話。大同元年(535)四月,還松山,五年,重赴鍾山,於壽光殿與帝論真諦,作偈頌呈之。六年(一說五年),營造松山雙檮樹間之佛殿、九重塼塔,並於該地寫經律千餘卷;此即雙林寺。七年,自宣為賢劫千佛之一佛。十年,捨屋宇田地,設大施會。太清二年(549)欲焚身供養三寶,弟子堅留之,代師燒身者十九人,師乃止之。未久亂起,梁亡。 傅翕家居徒眾甚多,講說不輟,每率徒眾焚指燃臂以供佛。嘗營齋轉法華經二十一遍,屢設無遮會,並於會稽鑄寶王像十尊。為便於讀大藏經,建有輪藏,令眾轉之,可得大利益,故後世所作輪藏皆安置其父子三人之像。此外,師於天台之一心三觀有其獨到之領略,而以三觀四運為其心要,倡導三觀一心四運推檢之說。陳太建元年四月,集弟子告誡畢,趺坐入寂,世壽七十三。弟子葬之於雙林山頂,號彌勒下生。撰有心王銘、語錄四卷、還源詩等。〔善慧大士語錄、續高僧傳卷二十五、景德傳燈錄卷二十七、卷三十、神僧傳卷四〕
; (傅翕) (497-569) Cũng gọi Thiện tuệ đại sĩ, Ngư hành đại sĩ, Phó đại sĩ, Song lâm đại sĩ, Đông dương đại sĩ, Ô thương cư sĩ. Cư sĩ Trung quốc, sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người Ô thương, Đông dương (nay là Nghĩa ô, Chiết giang), tự Huyền phong, hiệu Thiện tuệ, cùng với ngài Bảo chí được tôn xưng là 2 vị Đại sĩ đời Lương. Khi chưa biết đạo, cư sĩ thường cùng với người trong làng đi bắt cá, mỗi khi được cá thì đựng vào cái lồng tre rồi dìm sâu xuống nước và nói: Con nào muốn đi thì đi, không muốn thì ở lại. Người đời cho cư sĩ là ngu. Năm 16 tuổi, cư sĩ cưới người con gái họ Lưu tên Diệu quang, sinh được 2 con là Phổ kiến và Phổ thành. Năm 24 tuổi, lúc đang lưới cá ở sông Nghi, cư sĩ gặp vị tăng Ấn độ Tung đầu đà (tên là Đạt ma), liền bỏ dụng cụ bắt cá, vào núi Tùng ở huyện Ô thương kết am dưới 2 cây đào, lấy hiệu là Song lâm thụ hạ đương lai giải thoát Thiện tuệ đại sĩ(Đại sĩ Thiện tuệ sau này sẽ được giải thoát dưới gốc hai cây đào), tự cho là từ cung trời Đâu suất đến thuyết pháp. Ban ngày cư sĩ làm việc, ban đêm hành đạo, khổ hạnh 7 năm, tự chứng được định Thủ lăng nghiêm. Cư sĩ thông suốt sách vở Nho giáo và Đạo giáo, học trò dần dần tụ tập, tất cả đều chí thành tinh tiến, không tiếc thân mệnh. Năm Đại thông thứ 6 (534) đời Lương, cư sĩ sai đệ tử là Phó vãng dâng thư lên vua Vũ đế hiến kế sách về 3 việc thiện thượng, trung, hạ. Tháng 12 nhuận, vua mời cư sĩ vào cung, giảng kinh ở điện Trùng vân, vua đích thân đến nghe. Lúc vua đến, mọi người đều đứng dậy, chỉ mình cư sĩ ngồi yên, các quan gạn hỏi, cư sĩ nói: Đất pháp nếu động thì tất cả đều bất an. Chuyện này về sau truyền thành giai thoại trong Thiền lâm. Tháng 4 niên hiệu Đại đồng năm đầu (535), cư sĩ trở lại núi Tùng. Năm Đại đồng thứ 5 (540), cư sĩ lại đến Chung sơn, bàn luận về chân đế với vua ở điện Thọ quang, làm kệ tụng trình vua. Năm Đại đồng thứ 6 (541, có thuyết nói năm thứ 5), cư sĩ xây điện Phật ở giữa khoảng 2 cây đào tại núi Tùng và tháp gạch 9 tầng, đồng thời viết hơn 1.000 quyển kinh và luật. Nơi này sau trở thành chùa Song lâm. Năm Đại đồng thứ 7 (542), cư sĩ tự tuyên bố mình là 1 trong 1.000 vị Phật kiếp Hiền. Năm Đại đồng thứ 10 (545), cư sĩ xả bỏ vườn ruộng, nhà cửa, mở hội Đại thí. Năm Thái thanh thứ 2 (549), cư sĩ muốn thiêu thân cúng dường Tam bảo, các đệ tử kiên quyết ngăn cản và có 19 người phát nguyện thiêu thân thay thế. Đồ chúng tại gia rất đông, cư sĩ giảng pháp không ngừng, thường hướng dẫn đồ chúng đốt ngón tay cúng Phật; từng thiết trai chuyển 21 biến kinh Pháp hoa, mở hội Vô già, đúc 10 pho tượng Bảo vương ở Cối kê. Để tiện cho việc đọc Đại tạng kinh, cư sĩ thiết lập Luân tạng khiến mọi người cùng xoay để đạt lợi ích lớn, cho nên đời sau làm Luân tạng đều để tượng 3 cha con cư sĩ. Ngoài ra, đối với pháp môn Nhất tâm tam quán của tông Thiên thai, cư sĩ có sự lãnh hội độc đáo, dùng Tam quán Tứ vận làm tâm yếu, đề xướng thuyết Tam quán nhất tâm tứ vận suy kiểm. Tháng 4 niên hiệu Thái kiến năm đầu (569) đời Trần, cư sĩ cho triệu tập đệ tử lại, răn dạy xong, cáo biệt và ngồi xếp bằng thị tịch, thọ 73 tuổi. Đệ tử an táng trên đỉnh núi Song lâm, hiệu Di Lặc Hạ Sinh. Cư sĩ có các tác phẩm: Tâm vương minh, Ngữ lục 4 quyển,Hoàn nguyên thi... [X. Thiện tuệ Đại sĩ ngữ lục; Tục cao tăng truyện Q.25; Cảnh đức truyền đăng Q.27, 30; Thần tăng truyện Q.4].
phó hỏa ngoại đạo
Một trong lục ngoại đạo khổ hạnh. Nhóm nầy nhẩy vào lửa để tự thiêu sống (cho rằng đây là nhân chứng đắc đạo quả)—Ascetics who burn themselves alive, one of the six kinds of heterodox setcs.
phó liêu
Vị phó trụ trì trong tự viện—Deputy in a monastery.
phó nã
5754梵語 pūṇa。十二合掌之第四。意譯爲初割蓮合掌。此合掌之形式爲,先呈未敷蓮華合掌(合十指,掌內虛空,稍穹隆)狀,次則二拇指、二小指相著,餘指稍開敷如初開之蓮華。〔大日經疏卷十三〕(參閱「十二合掌」336)
phó pháp
1536指付囑傳法。又作附法、付衣、傳衣、傳法。即擇人授法,令教法維持傳承,付囑護持之。次第傳法授人,稱為付法相承。佛教不允許個人之獨斷,故頗重視釋尊以來之正法無誤地相傳,各宗亦均有其付法相承之說,尤以禪宗及密宗特別重視,付法之時為作表記,常授與衣鉢,故又有「付法傳衣」之稱。〔傳法正宗記卷一、正法眼藏卷十三、付法藏因緣傳卷二、景德傳燈錄卷三〕(參閱「傳法」5389)
; (付法) Cũng gọi Phụ pháp, Phó y, Truyền y, Truyền pháp. Chọn người trao truyền giáo pháp để giáo pháp được gìn giữ và tiếp nối mãi mãi. Theo thứ tự truyền trao giáo pháp cho người, gọi là Phó pháp tương thừa. Phật giáo không chấp nhận sự độc đoán của cá nhân, cho nên từ thời đức Thế tôn đến nay vẫn rất coi trọng việc tương thừa chính pháp. Các tông cũng đều có thuyết phó pháp tương thừa của mình, nhất là Thiền tông và Mật tông đặc biệt xem trọng. Lúc phó pháp, cần có biểu tượng làm tin, nên thường truyền trao áo và bát, do đó, còn gọi là Phó pháp truyền y. [X. Truyền pháp chính tông kí Q.1; Chính pháp nhãn tạng Q.13; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3]. (xt.Truyền Pháp).
phó pháp bát tổ
1537 指日本真言宗中,以教法次第相承之八位祖師。與「傳持八祖」相對稱。即:大日如來、金剛薩埵、龍猛、龍智、金剛智、不空、慧果、空海等八祖。(參閱「傳持八祖」5391)
; (付法八祖) Đối lại: Truyền trì bát tổ. Chỉ cho 8 vị Tổ sư của tông Chân ngôn Nhật bản theo thứ tự đem giáo pháp trao phó cho nhau. Tám vị Tổ sư là: Đức Đại nhật Như lai, bồ tát Kim cương tát đỏa, tổ Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả và Không hải. (xt. Truyền Trì Bát Tổ).
phó pháp tạng
1537請參閱 付法藏因緣傳 或 真言付法傳 指付囑傳遞佛陀之正法。即佛陀入滅後,為傳持佛陀所教示之奧義,迦葉尊者結集法藏,受持二十年後,付囑於阿難,阿難再付囑於商那和修,乃至輾轉至於師子尊者。(參閱「付法藏因緣傳」1537)
; Sau khi Đức Phật nhập diệt, thì tôn giả Ma Ha Ca Diếp đã cùng với 24 vị trưởng lão khác kết tập pháp tạng—The work explaining the handing down of Sakyamuni's teaching by Mahakasyapa and the elders, twenty-four in number.
; (付法藏) Chỉ cho sự phó chúc, truyền trao tạng chính pháp của đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, để duy trì và truyền nốilí nghĩa sâu xa mà đức Phật đã chỉ dạy, nên tôn giả Ca diếp kết tập pháp tạng, sau khi thụ trì 20 năm, tôn giả Ca diếp phó chúc cho ngài A nan, ngài A nan lại phó chúc cho ngài Thương na hòa tu, cứ thế lần lượt đến tôn giả Sư tử... (xt. Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện).
phó pháp tạng nhân duyên truyện
1537凡六卷。元魏吉迦夜、曇曜共譯。又稱付法藏因緣經、付法藏傳、付法藏經、付法傳。收於大正藏第五十冊。乃敘述釋尊入滅後,迦葉、阿難等二十三位印度祖師嫡嫡付法相傳之事蹟與傳法世系。其最後一祖師子尊者,為罽賓國王彌羅掘殺害,付法遂至此斷絕。古來天台宗、禪宗均重視本傳,以此為付法相承之規準。智顗摩訶止觀所述西天二十四祖即根據本書(加上旁系之摩田提),道原景德傳燈錄亦採用本書二十三祖之傳承,另加上婆須蜜、婆舍斯多、不如密多、般若多羅、菩提達磨等五人,而成禪門付法西天二十八祖。然本傳內容與阿育王傳多所類似,似非由梵文翻譯而來,或依口傳,或參照該書而作。又宋代明教大師契嵩根據禪經與寶林傳之說,謂本書乃曇曜之偽作,並另撰傳法正宗記九卷、傳法正宗定祖圖一卷,重定西天之付法二十八祖,且宣稱付法藏一書已可付之一炬。〔出三藏記集卷二、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷五、卷六、卷十三〕
; (付法藏因緣傳) Cũng gọi Phó pháp tạng nhân duyên kinh, Phó pháp tạng truyện, Phó pháp tạng kinh, Phó pháp truyện. Sử truyện, 6 quyển, do các ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung nói về sự tích phó pháp và thế hệ truyền thừa của 23 vị Tổ sư Ấn độ sau khi đức Phật nhập diệt, từ ngài Ca diếp, A nan... cho đến vị Tổ sư cuối cùng là tôn giả Sư tử. Tôn giả Sư tử bị vua nước Kế tân là Di la quật giết hại, sự phó pháp đến đây bị dứt hẳn. Xưa nay, tông Thiên thai và Thiền tông đều quí trọng bộ truyện này, coi đó là khuôn phép của sự phó pháp tương thừa. Trong 24 vị Tổ Ấn độ nói trong Ma ha chỉ quán của ngài Trí khải thì 23 vị là căn cứ vào sách này, rồi thêm ngài Ma điền đề vào thành 24 vị. Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên cũng theo sự truyền thừa của 23 vị Tổ trong sách này, rồi thêm vào 5 vị: Bà tu mật, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma mà trở thành 28 vị Tổ phó pháp Ấn độ của Thiền môn. Nhưng nội dung bộ truyện Phó pháp tạng nhân duyên này có nhiều chỗ giống với truyện A dục vương, có vẻ như đã không được phiên dịch từ bản tiếng Phạm mà là do khẩu truyền, hoặc tham chiếu truyện A dục vương mà soạn thành. Đại sư Minh giáo Khế tung đời Tống căn cứ vào thuyết trong Thiền kinh và Bảo lâm truyện, cho rằng sách này do ngài Đàm diệu ngụy tạo, rồi ngài Khế tung soạn Truyền pháp chính tông kí 9 quyển và Truyền pháp chính tông định tổ đồ 1 quyển, xác định lại 28 vị Tổ phó pháp Ấn độ, đồng thời, tuyên bố bộ truyện Phó pháp tạng nhân duyên đáng đem phó cho ngọn lửa! [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, 6, 13].
Phó pháp tạng nhân duyên truyện 付法藏因縁傳
[py] Fù făzàng yīnyuán zhuàn [wg] Fu fa-tsang yin-yüan chuan [ko] 부법장인연전 Pu pŏpchang inyŏn chŏn [ja] フホウゾウインエンデン Fuhouzouin'enden ||| Fu fazang yinyuan zhuan; T 2058.50.297a-322b
phó thỉnh
3956又作受請、受齋、訃請。即指僧人應施主之請,而受其供養。四分律刪繁補闕行事鈔卷下之訃請設則篇,對赴請之規則有所記載,且舉出十種赴請之法:(一)受請法,(二)往訃法,(三)至請家法,(四)就座命客法,(五)觀食淨法,(六)行香咒願法,(七)受食方法,(八)食竟收斂法,(九)噠嚫布施法,(十)出請家法。其中之受請法又分爲二:(1)凡請特定之人,稱爲別請。(2)請眾僧共赴之時,稱爲僧次請。又法苑珠林卷四十一之受請篇亦復詳述其法。於禪林中,赴請之例甚多。〔大宋僧史略卷上受齋懺法、釋氏要覽卷上赴請項、諸經要集卷五受請部〕
; Đáp lại lời mời của thí chủ mà phó hội—To go in response to an invitation—To go to invite.
; (赴請) Cũng gọi Thụ thỉnh, Thụ trai. Nhận lời mời. Nghĩa là chư tăng nhận lời thỉnh của thí chủ mà lãnh thụ những thứ họ cúng dường, như trai phạn chẳng hạn.Thiên Phó thỉnh thiết tắc trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, có nói về qui tắc phó thỉnh và nêu ra 10 pháp: Pháp nhận lời thỉnh, pháp đi đến nơi thỉnh, pháp đến nhà người thỉnh, pháp xếp đặt khách vào chỗ ngồi, pháp quán tịnh thực, pháp niệm hương chú nguyện, pháp lãnh nhận thức ăn, pháp ăn xong thu dọn, pháp nhận vật bố thí và pháp rời khỏi nhà người thỉnh. Trong đó, pháp nhận lời thỉnh được chia làm 2: Biệt thỉnh(mời riêng 1 vị nào đó trong chúng tăng) và Tăng thứ thỉnh(mời chúng tăng cùng đến). [X. Đại tống tăng sử lược Q.thượng; mục Phó thỉnh trong Thích thị yếu lãm Q.thượng; Thụ thỉnh bộ trong Chư kinh yếu tập Q.5].
phó tài
1537請參閱 付法藏因緣傳 請參閱 付法藏因緣傳 請參閱 付法藏因緣傳 佛於般若會座加被須菩提等小乘聲聞,使彼等對大乘菩薩說般若經;猶如將大乘法財付與小乘聲聞,故稱付財。「付財」一語取意自法華經信解品,即藉聲聞之轉教以彰顯佛意,乃將大乘法財付與小乘聲聞,恰如信解品中之長者將家財委付窮子。〔天台四教儀集註卷上〕(參閱「轉教融通」6622)
; (付財) Giao phó tài sản cho. Nghĩa là trên hội Bát nhã, đức Phật gia bị cho ngài Tu bồ đề –vốn là Thanh văn Tiểu thừa– nói kinh Bát nhã cho hàng Bồ tát Đại thừa nghe, cũng như đem pháp tài Đại thừa giao phó cho Thanh văn Tiểu thừa, vì thế gọi là Phó tài. Từ ngữ phó tài lấy ý trong phẩm Tín giải kinh Pháp hoa, tức nhờ sự chuyển giáo của Thanh văn để nêu tỏ thâm ý của đức Phật là đem pháp tài Đại thừa giao phó cho hàng Thanh văn Tiểu thừa, cũng giống như vị Trưởng giả đem gia tài ủy thác cho đứa con nghèo cùng trong phẩm Tín giải vậy.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Chuyển Giáo Dung Thông).
phó tự
FŪsu (J).
phó y hoà thượng
1536據明代法藏所輯之弘戒法儀卷上載,於傳戒之際,以法衣袈裟付囑受戒者之戒師,稱為付衣和尚。若以坐具付囑者,則稱為付具和尚。
; (付衣和尚) Vị Hòa thượng Giới sư trao áo pháp Ca sa cho người nhận giới. Nếu vị Giới sư trao tọa cụ thì gọi là Phó cụ hòa thượng.
phó đa
Bhutah (skt)—Một phái khổ hạnh lúc nào cũng bôi tro đầy mình—A sect of asetics who smeared themselves with ashes.
phó đại sĩ
Fudaishi (J), Fu ta shih (C), Fudaishi (J).
phó đại sĩ giảng kinh
4853禪宗公案名。記述梁武帝請傅大士(善慧傅翕)講經之一段因緣。碧巖錄第六十七則(大四八‧一九七上):「梁武帝請傅大士講金剛經,大士便於座上揮案一下,便下座。武帝愕然。誌公問:『陛下還會麼?』帝云:『不會。』誌公云:『大士講經竟。』」 梁武帝深奉佛法,並供養僧尼,廣作譯經事業,且曾親自開講放光般若經。彼雖知文獻之經卷,卻不知其自身亦為一部活經卷。傅大士受請講經,而僅於座上揮案一下,便下座。其作為堪稱親切,意在破除武帝陷於文字經句之迷執,惟武帝未能會解。故誌公(寶誌)於此時登場,告以「大士講經竟」,然武帝仍未通解。誌公此舉實為傅大士出氣,否則大士恐亦將因與武帝機緣不投契而離開梁國,轉往他處,重蹈達摩離梁赴魏之覆轍。故雪竇於碧巖錄第六十七則作頌以贊誌公(大四八‧一九七下):「不向雙林寄此身,卻於梁土惹埃塵;當時不得誌公老,也是栖栖去國人。」
; (傅大士講經) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại việc vua Vũ đế nhà Lương thỉnh Phó đại sĩ (ngài Thiện tuệ Phó hấp) giảng kinh. Bích nham lục tắc 67 (Đại 48, 197 thượng) nói: Lương vũ đế thỉnh Phó đại sĩ giảng kinh Kim cương, Đại sĩ liền ngồi lên tòa vỗ bàn một cái rồi đi xuống. Vua Vũ đế ngạc nhiên. Ngài Chí công hỏi: Bệ hạ có hiểu không? Vua đáp: Không hiểu! Ngài Chí công nói: Đại sĩ giảng kinh xong rồi.
phó đại sĩ lục
4853凡四卷。南朝梁代善慧傅翕(497~569)述,唐代樓頴編錄。又稱善慧大士語錄、善慧大士錄、大士錄。收於卍續藏第一二○冊。本書係輯錄善慧大士傅翕之語要、行業及其所作詩歌,並錄有往來問道者之傳記。又樓頴所輯者,原為八卷,其文繁雜,用語俗野,宋代紹興十三年(1143),兩浙東路安撫使樓炤乃刪其訛誤,刊定為四卷。
; (傅大士錄) Cũng gọi Thiện tuệ đại sĩ ngữ lục, Thiện tuệ đại sĩ lục, Đại sĩ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Thiện tuệ Phó hấp (497-569) soạn thuật vào đời Lương thuộc Nam triều, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung sách này thu chép các yếu ngữ, hành trạng và thi ca của Thiện tuệ đại sĩ Phó hấp, đồng thời chép cả truyện kí của 1 số người đến hỏi đạo nơi Đại sĩ, do ông Lâu dĩnh biên tập vào đời Đường, nguyên có 8 quyển, nhưng văn rườm rà, lộn xộn, tiếng dùng quê mùa. Bởi thế, vào năm Thiệu hưng 13 (1143) đời Tống, quan An phủ sứ Đông lộ Lưỡng chiết là Lâu chiểu mới lược bỏ những chỗ dài dòng, lầm lẫn mà san định lại còn 4 quyển.
phó ứng tự
3957明洪武十五年(1382),將元代佛寺所分之禪、講、律三種,改爲禪、講、教三種。其中,教寺即是赴應寺。此係因教寺之瑜伽顯密等儀式,乃應世俗之要求而舉行者,故稱教寺、赴應寺,又稱瑜伽教寺。
; (赴應寺) Chỉ cho những ngôi chùa chuyên về việc cử hành các nghi thức đàn tràng theo Du già hiển mật để đáp ứng nhu cầu của thế tục.Ở Trung quốc, vào đời Nguyên, các chùa Phật giáo được chia làm 3 loại: Thiền tự, Giảng tự và Luật tự. Đến năm Hồng vũ 15 (1382) đời Minh, vua ban sắc đổi lại là: Thiền tự, Giảng tự và Giáo tự.Trong đó, Giáo tự tức là Phó ứng tự.
phóng
To let go, release, send out; put, place.
; 1) Thả: To let go—To release. 2) Phóng đi: To send out.
Phóng diệm khẩu
放焰口; C: fàngyànkǒu; nghĩa là »Phóng thả những miệng đang cháy«;|Một nghi lễ dành cho người đã chết. Diệm khẩu là một loại Ngạ quỷ. Buổi lễ này – vốn bắt nguồn từ hệ thống Tan-tra của Mật tông – được thực hành với mục đích giải thoát những con quỷ đói ra khỏi những cảnh khổ đau của địa ngục và tạo điều kiện cho chúng tái sinh trở thành người hoặc bước vào những Tịnh độ. Lễ này rất được ưa chuộng và phổ biến, được các thân quyến của những người chết tổ chức thực hiện và cũng có khi được thực hiện chung với lễ Vu-lan-bồn (s: ullambana). Ngày nay, buổi lễ này không thuộc vào một trường phái nhất định nào của Phật giáo.|Lễ Phóng diệm khẩu kéo dài khoảng 5 tiếng và được thực hiện vào buổi tối bởi vì trong thời gian này, quỷ đói dễ di chuyển kiếm ăn hơn. Các vị tăng thực hiện nghi lễ này đều mang mũ đỏ hoặc vàng dưới dạng một vương miện, sử dụng những khí cụ thuộc Mật giáo như chuông, Kim cương chử (s: vajra) và kêu gọi Tam bảo hỗ trợ. Sau đó, các vị mở cửa địa ngục bằng những thủ ấn, khế Ấn, mở những »miệng đang cháy« và rót nước dịu ngọt vào, một loại nước trước đó được ban phép lành bằng những Man-tra. Ngay sau đó thì những Diệm khẩu này Quy y tam bảo, Thụ giới Bồ Tát. Nếu buổi lễ này được thực hiện nghiêm chỉnh với kết quả tốt thì những quỷ đói có thể lập tức tái sinh vào cõi người hoặc một tịnh độ.|Lễ này còn được thực hiện đến ngày nay tại các nước Ðông, Ðông nam á, đặc biệt là tại Ðài Loan (taiwan) và Hương Cảng (hongkong). Theo truyền thuyết thì lễ này bắt nguồn từ Tôn giả A-nan-đà. Sau khi nằm chiêm bao thấy những Diệm khẩu, Tôn giả sợ hãi. Ðể ngăn ngừa khả năng tái sinh thành loài quỷ đói này, Tôn giả bèn tham vấn đức Phật và Ngài liền đọc chú Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) để cứu giúp chúng.
phóng dật
buông thả, phóng túng, lười nhác, không giữ mình theo các pháp lành, cũng không có sự tinh tấn nỗ lực tu tập.
; 3275梵語 pramāda。心所(心的作用)之名。略稱逸。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。即放縱欲望而不精勤修習諸善之精神狀態。俱舍宗謂放逸係與一切染污心(不善心與有覆無記心)相應而起之心所,係屬大煩惱地法;唯識宗謂此屬八大隨惑之一。反之,防杜諸惡而專注於修善之精神作用,稱爲不放逸。俱舍宗以不放逸爲一切善心生起的心所,係屬大善地法;唯識宗亦以之爲善心所。〔成唯識論卷六、品類足論卷三、入阿毘達磨論卷上、順正理論卷十一〕(參閱「大隨煩惱」890)
; Pramada (S)Tâm buông lung, chạy theo dục vọng, không siêng năng tu tập các việc thiện. Một trong 6 Đại tuỳ phiền não pháp.
; Loose, unrestrained.
; Pamado (p). 1) Uể oải: Sloth. 2) Không chú ý: Carelessness—Distracted—Loose—Unrestrained.
; (放逸) Phạm: Pramàda. Gọi tắt: Dật. Đối lại: Bất phóng dật. Chỉ cho tâm tính buông thả, phóng túng chạy theo dục vọng, không chịu siêng năng tu tập các pháp lành, là 1 trong 75 pháp của luận Câu xá, 1 trong 100 pháp của luận Duy thức. Tông Câu xá cho rằng Phóng dật là 1 loại tâm sở tương ứng với tất cả tâm ô nhiễm (tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí)mà sinh khởi, thuộc về Đại phiền não địa pháp. Còn tông Duy thức thì cho rằng tâm sở này thuộc 8 Đại tùy hoặc(phiền não). [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.11; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng]. (xt. Đại Tùy Phiền Não).
Phóng dật 放逸
[ja] ホウイツ hōitsu ||| Negligence, indolence, dissipation (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa).' Careless, undisciplined. One of the great defilement elements as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; one of the twenty secondary defilements (隨煩惱) in Yogācāra 瑜伽行派 doctrine. Playing with one's energy. Negligence, laziness, self-indulgence. Not holding to the intent of practicing goodness and repelling evil. A function of the 'three poisons' 三毒. => Sự phóng túng, sự lười biếng, sự phung phí (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa). Là một trong các đại địa phiền não pháp theo Câu-xá luận, là một trong 20 tuỳ phiền não trong giáo lý Du-già hành tông. Phung phí năng lực của chính mình. Phóng túng, lười nhác, bê tha. Không kiên trì thực hành các thiện pháp và trừ bỏ các việc ác. Là một tác dụng của 'tam độc'.
; [ja] ホウイツ hōitsu ||| Negligence, indolence, dissipation (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa).' Careless, undisciplined. One of the great defilement elements as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; one of the twenty secondary defilements (隨煩惱) in Yogācāra 瑜伽行派 doctrine. Playing with one's energy. Negligence, laziness, self-indulgence. Not holding to the intent of practicing goodness and repelling evil. A function of the 'three poisons' 三毒. => Sự phóng túng, sự lười biếng, sự phung phí (Skt. pramāda, Pali pamāda, Tib. bag med pa). Là một trong các đại địa phiền não pháp theo Câu-xá luận, là một trong 20 tuỳ phiền não trong giáo lý Du-già hành tông. Phung phí năng lực của chính mình. Phóng túng, lười nhác, bê tha. Không kiên trì thực hành các thiện pháp và trừ bỏ các việc ác. Là một tác dụng của 'tam độc'.
phóng hào quang
Emit bright light, to.
; To emit rays of light.
phóng hạ
3273<一>禪林用語。謂拋下手中之物。又作放下著(著,語助詞)。即指離棄一切邪念、妄執,達於解脫自在、了無牽掛之境界。〔圜悟心要卷上示曾待制、從容錄第五十七則〕 <二>指日本鎌倉、室町時代,以表演歌唱舞蹈或作各種遊戲而行乞之僧侶。又稱放下僧、放下遣、放下師。因其灑脫而不執著,遂有此稱。或謂此係責其身爲出家人,卻捨棄佛道而從事雜藝小技。
; Buông bỏ—To put down—To let down—To lay down.
; (放下) I. Phóng Há. Cũng gọi Phóng há trứ(trứ là trợ từ). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Buông bỏ hết những vật đang nắm giữ trong tay. Tức là xả lìa tất cả tà niệm, vọng chấp, hoàn toàn không còn vướng mắc, để đạt đến cảnh giới tự tại, giải thoát. [X. Thị tằng đãi chế trong Viên ngộ tâm yếu Q.thượng; Thung dung lục tắc 75]. II. Phóng Há. Cũng gọi Phóng há tăng, Phóng há khiển, Phóng há sư. Chỉ cho các vị tăng Nhật bản ở thời đại Liêm thương, Thất đinh lấy việc ca xướng, nhảy múa hoặc các trò vui chơi để xin ăn. Vì họ bất chấp, không để bị gò bó bởi bất cứ cái gì nên gọi họ là Phóng há. Ngoài ra, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ hàng người xuất gia, nhưng có điều gì bất đắc chí mà xả bỏ Phật đạo để làm nghề xướng ca...
phóng hạ đồ đao lập địa thành phật
3273佛(梵 buddha,巴同),全稱佛陀,意譯爲覺者,即自覺、覺他、覺行圓滿之大聖者。「放下屠刀,立地成佛」一語,係套用佛家之「佛」字,轉其意,謂作惡之人,只要決心改過向善,即可立刻變成好人,其善心與佛心無異。即用以勸勉人改過自新、棄惡從善。
; (放下屠刀立地成佛) Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật. Phật là bậc Đại thiện. Chữ Phật được dùng ở đây là để chỉ cho tâm thiện, hoặc người tốt. Ý nói người làm ác chỉ cần quyết tâm bỏ ác hướng thiện là lập tức trở thành người tốt. Thiện tâm của người này không khác gì thiện tâm của Phật.
Phóng hạ 放下
[ja] ホウゲ hōge ||| To cast off attachment as the result of awakening to the truth of no-self. => Từ bỏ sự chấp trước nhờ kết quả từ sự giác ngộ chân lý vô ngã.
phóng khoáng
Freely.
Phóng khí 放棄
[ja] ホウキ hōki ||| Renunciation, esp. of worldly status and possessions in the quest for enlightenment. A standard practice of the śramaṇa 沙門. => Sự xả bỏ, đặc biệt là hoàn cảnh thế tục và mọi sở hữu để tìm cầu giải thoát giác ngộ. Là một tiêu chuẩn của hạnh sa-môn (s: śramaṇa 沙門).
phóng quang
Tỏa ra ánh sáng—Light-emitting—To emit shining light—To send out an illuminating ray—To discharge halo—To demonstrate the halo form the body (usually the Buddha's body).
phóng quang bát nhã ba la mật kinh
Xem Phóng quang Bát nhã kinh.
phóng quang bát nhã kinh
3275請參閱 放光般若經 梵名 Pañcaviṃśatisāhasrikā-prajñāpāramitā。凡二十卷,或三十卷。西晉無羅叉(無叉羅)、竺叔蘭等共譯。收於大正藏第八冊。又作放光般若波羅蜜經、放光摩訶般若經、摩訶般若放光經、光般若波羅蜜經、放光經。本經記述般若波羅蜜法及其功德,並勸眾生修學之。自放光品以下至囑累品,計九十品,經名蓋依初品而立。據出三藏記集卷七之放光經記(作者不詳)所載,本經係曹魏齊王甘露五年(260)頃,由潁川朱士行入于闐,抄得梵本九十六章六十萬餘言,後由弟子弗如檀送回洛陽,至晉惠帝元康元年(291)始由于闐僧無羅叉執梵本,竺叔蘭口傳,祝太玄、周玄明筆受完成。又本經與竺法護之光讚經十卷、鳩摩羅什之摩訶般若波羅蜜經(大品般若)、玄奘之大般若波羅蜜多經第二會(卷四○一~四七八)等經有部分相同之處,而相當於現存梵文二萬五千頌般若。〔大般若經第二會序、出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷六、開元釋教錄卷二〕
; Xem Phóng quang Bát nhã Ba la mật đa Kinh. Xem Đại phẩm bát nhã.
; (放光般若經) Phạm: Paĩcaviôzatisàhasrikàprajĩàpàramità. Cũng gọi Phóng quang bát nhã ba la mật kinh, Phóng quang ma ha bát nhã kinh, Ma ha bát nhã phóng quang kinh, Quang bát nhã ba la mật kinh, Phóng quang kinh. Kinh, 20 quyển, hoặc 30 quyển, do các ngài Vô la xoa (Vô xoa la) và Trúc thúc lan cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh gồm 90 phẩm nói về pháp Bát nhã ba la mật và công đức của pháp này, đồng thời, khuyên chúng sinh Nên tu học pháp Bát nhã. Cứ theo Phóng quang kinh kí (không rõ tác giả)trong Xuất tam tạng kí tập quyển 7, khoảng năm Cam lộ thứ 5 (260) đời Tề vương nhà Tào Ngụy, ngài Chu sĩ hành từ Dĩnh xuyên đến nước Vu điền sao chép được bản tiếng Phạm của kinh này gồm 96 chương hơn 60 vạn chữ. Sau đó, ngài Chu sĩ hành giao cho đệ tử là Phất như đàn đưa về Lạc dương. Đến niên hiệu Nguyên khang năm đầu (291) đời Huệ đế nhà Tấn, mới do các ngài Vô la xoa(vị tăng người Vu điền) và Trúc thúc lan dịch sang chữ Hán. Giữa kinh này và các kinh: Quang tán, 10 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch, Ma ha bát nhã ba la mật (Đại phẩm bát nhã), do ngài Cưu ma la thập dịch và Đệ nhị hội (quyển 401-478) kinh Đại bát nhã ba la mật đa, do ngài Huyền trang dịch, có nhiều chỗ giống nhau và tương đương với Hai vạn năm nghìn bài tụng Bát nhã bằng tiếng Phạm hiện còn. [X. bài Tựa trong Đệ nhị hội kinh Đại bát nhã; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
phóng quang kinh
Xem Phóng quang Bát nhã Ba la mật đa Kinh.
phóng quang phật đảnh
Xem Quang Tụ Phật đảnh.
phóng quang quán đảnh
Buddha reveals his glory to someone to his profit.
phóng quang tam muội
3275百八三昧之一。菩薩入於火遍處定,得神通力,自由放出種種色光,照諸三昧,悉皆明了,稱爲放光三昧。大智度論卷四十七(大二五‧三九九中):「放光三昧者,常修火一切入故,生神通力,隨意放種種色光,隨眾生所樂,若熱若冷,若不熱不冷。照諸三昧者,光明有二種,一者色光,二者智慧光,住是三昧中,照諸三昧,無有邪見、無明等。」(參閱「百八三昧」2480)
; Raśmi-pramukta-samādhi (S).
; A samàdhi in which all kinds and colours oflight are emitted.
; Một trong 108 loại tam muội, tam muội phóng ra ánh hào quang nhiều màu sắc—A samadhi in which all kinds and colours of light are emitted, one of the one hundred eight kinds of samadhi.
; (放光三昧) Bồ tát chứng được Tam muội này, có sức thần thông, phóng ra ánh sáng, chiếu soi các Tam muội khác đều rõ ràng. Một trong 108 Tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399 trung) nói: Phóng quang tam muội, do thường tu định Hỏa biến xứ, sinh ra thần thông, tùy ý phóng ánh sáng, tùy chỗ chúng sinh ưa thích mà các ánh sáng hoặc nóng hoặc lạnh, hay không nóng không lạnh. Ánh sáng chiếu rọi các Tam muội có 2 loại: Ánh sáng màu sắc và ánh sáng trí tuệ. Trụ trong Tam muội này thường hay chiếu soi khắp các Tam muội, không còn tà kiến, vô minh. (xt. Bách Bát Tam Muội).
phóng quang thụy
The auspicious ray emitted from between the eyebrows of the Buddha before pronouncing the Lotus sùtra.
phóng quang tự
3275位於雲南大理雞足山。山在賓川、大理、鄧川三縣之間,一頂三趾,故稱雞足。世人遂以之比擬印度之雞足山。放光寺爲山中七十二寺之一,明萬曆(1573~1620)末年,係沐公爲本無禪師所建,殿宇巍峨,架構奇特,爲朝山者所必至。抗戰期間太虛大師曾駐錫於此。
phóng quang đoan
Tia hào quang kiết tường được phóng ra giữa hai chân mày của Phật trước khi Ngài thuyết giảng Kinh Pháp Hoa—The auspicious ray emitted from between the eyebrows of the Buddha before pronouncing the Lotus Sutra.
Phóng quang 放光
[ja] ホウコウ hōkō ||| Emission of light. => Sự phát ra ánh sáng.
Phóng sanh
(放生): Phóng Sanh là một hành vi có tâm thương yêu, nhân từ, biết thông cảm cho nỗi khổ bị giam cầm, bắt bớ của các loài động vật; có nghĩa là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống của sinh vật khác. Nguyên lai, Trung Quốc đã có quan niệm truyền thống cho rằng Trời có đức háo sinh (muốn sống, ham sống). Lập cước trên tinh thần từ bi, cứu nhân độ thế, Phật Giáo lại càng nêu cao và tôn trọng tinh thần Phóng Sanh. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 13 có nhấn mạnh rằng: “Chư dư tội trung, sát tội tối trọng; chư công đức trung, bất sát đệ nhất (諸餘罪中、殺罪最重、諸功德中、不殺第一, trong các tội lỗi, tội giết là nặng nhất; trong các công đức, không giết là số một).” Cho nên, không sát sanh cũng như Phóng Sanh là phương pháp hữu hiệu để nuôi dưỡng và làm tăng trưởng tâm từ bi. Phạm Võng Kinh (梵網經, Taishō Vol. 24, No. 1484) quyển 2 nhấn mạnh rằng: “Nhược Phật tử, dĩ từ tâm cố hành phóng sanh nghiệp, nhất thiết nam tử thị ngã phụ, nhất thiết nữ nhân thị ngã mẫu; ngã sanh sanh vô bất tùng chi thọ sanh; cố Lục Đạo chúng sanh giai thị ngã ngã phụ mẫu, nhi sát nhi thực giả, tức sát ngã phụ mẫu diệc sát ngã cố thân; nhất thiết địa thủy thị ngã tiên thân, nhất thiết hỏa phong thị ngã bản thể; cố thường hành phóng sanh, sanh sanh thọ sanh thường trú chi pháp, giáo nhân phóng sanh; nhược kiến thế nhân sát súc sanh thời, ưng phương tiện cứu hộ giải kỳ khổ nạn (若佛子、以慈心故行放生業、一切男子是我父、一切女人是我母、我生生無不從之受生、故六道眾生皆是我父母、而殺而食者、卽殺我父母亦殺我故身、一切地水是我先身、一切火風是我本體、故常行放生、生生受生常住之法、敎人放生、若見世人殺畜生時、應方便救護解其苦難, nếu Phật tử, vì lấy từ tâm mà thực hành nghiệp phóng sanh, hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta; ta đời đời không theo đó mà thọ sanh; cho nên sáu đường chúng sanh đều là cha mẹ của ta; nếu giết nếu ăn thịt họ, tức là giết cha mẹ ta cũng như giết thân trước kia của ta; hết thảy đất nước là thân trước kia của ta, hết thảy gió lửa là bản thể của ta; cho nên thường thực hành phóng sanh, đời đời thọ sanh pháp thường trú, chỉ cho người phóng sanh; nếu khi thấy người đời giết sinh vật nuôi, nên phương tiện cứu giúp để giải mở khổ nạn của con vật ấy).” Đại Thừa Đại Tập Đia Tạng Thập Luân Kinh (大乘大集地藏十輪經, Taishō Vol. 13, No. 411) có nêu một số công đức của việc Phóng Sanh như: (1) Được sống lâu, (2) Tâm từ bi tự nhiên sanh khởi, (3) Chư thiện thần là bạn, (4) Các động vật đều nhận là thân thuộc, (5) Có vô lượng công đức, (6) Mọi người cung kính, (7) Không bệnh hoạn, không nguy hại, (8) Vui vẻ và mãi được hạnh phúc, (9) Đời đời kiếp kiếp thường kính tin công hạnh của chư Phật, (10) Không rời Tam Bảo, (11) Cuối cùng chứng quả vô thượng bồ đề, (12) Vãng sanh về cõi Tịnh Độ. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 4, phần Vãng Sanh Nữ Nhân Đệ Lục (往生女人第六) có kể câu chuyện Điền Bà (田婆): “Điền Bà, Thái Châu dã điền trang nhân, phu phụ câu tín Tam Bảo, tạo tượng phóng sanh, trai tăng bố thí; kỳ phu nhật tụng Pháp Hoa Kinh, bà độc niệm Phật, như thị nhị thập dư niên (田婆、泰州野田莊人、夫婦俱信三寶、造像放生、齋僧布施、其夫日誦法華經、婆獨念佛、如是二十餘年, Điền Bà, người nhà nông quê ở Thái Châu, cả chồng vợ đều tin vào Tam Bảo, làm tượng, phóng sanh, trai tăng và bố thí; chồng bà hằng ngày tụng Kinh Pháp Hoa, riêng bà chỉ có niệm Phật, như vậy hơn hai mươi năm).” Hay như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 16, Truyện Nhan Thanh Thần Vi Thành Võ (顏清臣韋城武傳) có đoạn: “Thời Túc Tông chiếu thiên hạ lập Phóng Sanh Trì, Thanh Thần vi lập bi, ca tụng chúa đức, trợ tuyên Phật hóa (時肅宗詔天下立放生池、清臣爲立碑、歌誦主德、助宣佛化, lúc bấy giờ vua Túc Tông [tại vị 756-762] nhà Đường hạ chiếu khắp thiên hạ cho lập Hồ Phóng Sanh, Nhan Thanh Thần vì vậy lập bia, ca tụng đức của nhà vua, giúp tuyên diễn Phật pháp).” Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 4 có đề cập câu chuyện nhờ thực hành hạnh phóng sanh mà sau khi chết được sanh lên cõi Trời: “Trương Đề Hình thường nghệ đồ gia dĩ tiền thục vật phóng chi; hậu lâm chung, ngữ gia nhân vân, ngô dĩ phóng sanh cố, Thiên Cung lai nghênh, đương thượng sanh hĩ, an nhiên nhi thệ (張提刑常詣屠家以錢贖物放之、後臨終、語家人云、吾以放生故、天宮來迎、當上生矣、安然而逝, Trương Đề Hình thường đến nhà đồ tể lấy tiền mua chuộc con vật rồi thả chúng đi; về sau khi lâm chung, ông bảo với người nhà rằng ta nhờ có phóng sanh, nên cung Trời đến đón đi, sẽ sanh lên cõi trên, rồi an nhiên mà ra đi).”
phóng sanh
Phóng sinh bao gồm trả tự do cho những sinh vật và tháo gở cho những sinh vật bị mắc bẫy—To release living creatures as a work of merit, including to liberate live animals and ro release trapped animals.
phóng sinh
To release living creatures as a work of merit.
phóng sinh hội
3274贖取被捕之魚、鳥等諸禽畜,再放於池沼、山野,稱爲放生;行此儀式之法會,稱爲放生會。供此放生用之水池,特稱作放生池。放生係由經典中之誡殺生食肉而來,進而積極行救護。據梵網經卷下所載,佛子應以慈心行放生之業,因一切男子是我父,一切女子是我母,我生生世世皆由彼受生,故六道眾生悉是我父母;若見世人殺畜生時,應方便救護,解其苦難。關於放生救護之法,諸經多有記載,如金光明經卷四流水長者子品載,流水長者子救起瀕死之魚,與之水、食,爲其解說大乘經典,諸魚聞經後,皆生忉利天。又雜寶藏經卷五,敘述一沙彌因救起漂流水中之諸蟻子,而得長命之果報。 我國於南朝齊、梁以降,斷肉之說頗爲盛行,梁武帝曾下詔禁止殺生,又廢止宗廟供獻犧牲之制。隋代天台宗智者居天台山時,爲令臨海居民莫以捕魚殺生爲業,曾自捨身衣,並勸募眾人購置放生池,復傳授池中族類三歸戒,爲彼等說金光明經、法華經等,以結法緣。是爲天台放生會之濫觴。 其後,唐肅宗於乾元二年(759)下詔,在山南道、劍南道、荊南道、浙江道等地設置放生池。至宋真宗天禧元年(1017),勅令天下重修放生池。天禧三年,天台宗遵式奏請以杭州西湖爲放生池,自製「放生慈濟法門」,於每年四月八日舉行放生會,爲天子祝聖。天聖三年(1025),四明知禮亦奏請永久成立南湖放生池之佛生日放生會,並撰放生文以定其儀軌。〔盂蘭盆經疏卷中、隋天台智者大師別傳、四明尊者教行錄卷一、釋門正統卷四、佛祖統紀卷八、法苑珠林卷六十五〕(參閱「放生器」3274)
; (放生會) Pháp hội thả các loài sinh vật theo lời dạy trong kinh. Kinh Phạm võng quyển hạ nói, Phật tử nên phát tâm từ bi mà phóng sinh, vì tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, đời đời kiếp kiếp ta đều do họ sinh ra, bởi vậy, tất cả chúng sinh trong 6 đường đều là cha mẹ của ta. Khi thấy người khác giết hại sinh vật ta phải dùng phương tiện giải cứu khổ nạn cho chúng. Về việc phóng sinh cứu hộ, các kinh ghi chép rất nhiều, như phẩm Lưu thủy trưởng giả tử trong kinh Kim quang minh quyển 4 ghi: Con ông trưởng giả Lưu thủy cứu đàn cá sắp chết trong 1 vũng lầy cạn nước bằng cách tháo nước vào và đem thức ăn cho chúng, rồi giảng nói kinh điển Đại thừa cho chúng nghe. Sau khi nghe kinh, đàn cá đều sinh lên cung trời Đao lợi. Còn kinh Tạp bảo tạng thì ghi việc 1 Sa di nhờ cứu đàn kiến đang trôi theo dòng nước mà được quả báo sống lâu. Ở Trung quốc, từ các đời Tề, Lương thuộc Nam triều về sau, thuyết Đoạn nhục (không ăn thịt)rất thịnh hành. Vua Lương vũ đế từng hạ lệnh cấm chỉ sát sinh và bãi bỏ tập tục dùng con vật sống để cúng tế trong các tông miếu. Khi ngài Trí giả tông Thiên thai đời Tùy ở trên núi Thiên thai, vì muốn dân cư vùng ven biển đừng làm nghề đánh bắt cá, từng tự lấy áo mình mặc để bán và khuyến mộ mọi người mua cá thả xuống ao, truyền thụ qui giới cho các loài thủy tộc trong ao, rồi giảng kinh Kim quang minh, kinh Pháp hoa cho chúng nghe để kết duyên với Phật pháp. Đó là nguồn gốc của hội Phóng sinh thiên thai.Về sau, vào năm Càn nguyên thứ 2 (759), vua Túc tông nhà Đường hạ chiếu chỉ cho các đạo(tỉnh): Sơn nam, Kiếm nam, Kinh nam, Chiết giang... đào ao phóng sinh. Đến niên hiệu Thiên hi năm đầu (1017), vua Chân tông nhà Tống ra lệnh sửa sang lại các ao phóng sinh.Năm Thiên hi thứ 3 (1019), ngài Tuân thức thuộc tông Thiên thai tâu vua lấy hồ Tây ở Hàng châu làm nơi phóng sinh và làm ra pháp môn Phóng sinh từ tế, cử hành vào ngày 8 tháng 4 hàng năm để chúc thọ cho vua. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025), ngài Tứ minh Tri lễ cũng tâu vua xin trưng dụng hồ Nam làm ao phóng sinh vĩnh viễn của hội Phóng sinh ngày Phật đản, đồng thời, soạn văn phóng sinh cho pháp hội này. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.trung; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.1; Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.65]. (xt. Phóng Sinh Khí).
phóng sinh khí
3274佛陀規定比丘日常用水須以濾水袋濾之,所濾得之小生物即放置一容器中,藉此容器將彼等送入河川泉池,此器稱爲放生器。可用鐵、銅、瓦、木爲之,又於器上穿繩,以備置諸較深之水底,方達放生之目的。護命放生軌儀法(大四五‧九○二上):「觀蟲濾水是出家之要儀,見危存護乃悲中之拯急。既知有蟲,律文令作放生器者,但爲西國久行。」蓋出家修道者以悲憫眾生爲念,而戒殺生食肉,基於此乃有救護、放生之舉。〔說一切有部毘奈耶雜事卷十九〕
; (放生器) Đồ dùng chứa các vi sinh vật để mang thả xuống ao, hồ... Đức Phật qui định các tỉ khưu hàng ngày dùng nước phải lấy cái túi lọc nước để lọc. Những sinh vật nhỏ li ti lọc được phải để sang 1 vật khác có chứa nước rồi đem thả xuống ao, hồ, sông, ngòi... Vật dụng này (Phóng sinh khí) có thể được làm bằng sắt, đồng, sứ, gỗ... phía trên có xỏ dây để phòng khi cần phải thả xuống nước sâu hơn. Hộ mệnh phóng sinh qui nghi pháp (Đại 45, 902 thượng) nói: Xem xét trùng, phải lọc nước là phép cốt yếu của người xuất gia, thấy nguy cứu gấp, đó là sự thôi thúc của lòng từ. Khi biết có trùng trong nước, giới luật dạy làm phóng sinh khí. Việc này bên Ấn độ đã thực hành từ lâu. [X. Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.19].
phóng tham
3275請參閱 放光般若經 請參閱 放光般若經 禪院中,朝參、晚參等爲日常行事,若臨時休止,即稱放參,後轉而特指休止晚參爲放參。據勅修百丈清規卷六坐參載,放參之制始於汾陽善昭,因汾洲地寒,不堪夜間坐禪之故。一般則於迎接貴賓、祈禱、普請、看誦、送亡等特殊行事時放參。又通知大眾放參所敲之鐘、鼓,分別稱爲放參鐘、放參鼓;所懸掛之揭示牌,稱爲放參牌。此外,進用晚餐(藥石)之時刻,恰與敲擊放參鐘之時刻相同,故亦稱晚餐爲放參飯。〔禪林僧寶傳卷二十一、禪苑清規卷一赴粥飯、卷二上堂、卷三首座、禪林象器箋叢軌門〕
phóng túng
To be free (unrestrained).
Phóng xả 放捨
[ja] ホウシャ hōsha ||| (1) To abandon, give up on, throw away, release. Become detached. (2) To still the mind by abandoning worry and planning. => 1. Ruồng bỏ, từ bỏ, vứt đi, phóng thả. Không lệ thuộc. 2. Làm cho tâm an tĩnh bằng cách từ bỏ mọi lo nghĩ và tính toán.
phóng đăng
Lighting strings of lantern on the fifteenth of the first moon.
; Những dây đèn lồng đốt lên vào đêm rằm Thượng Ngươn, sau nầy người ta kéo dài từ mồng bảy đến rằm. Theo tập tục từ thời Hán Minh Đế thì vào thời nầy chư Tăng (Ma Đằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan) cùng các đạo sĩ của Lão giáo tranh luận về giáo lý và đã thắng các đạo sĩ. Do đó vua Hán Minh Đế xuống chiếu lấy ngày rằm Thượng Ngươn thắp đèn suốt đêm để biểu thị sự sáng sủa của Phật pháp—Lighting strings of lanterns, on the fifteenth of the first month, later extended to the seventh and fifteenth of the month. A custom attributed to Han-Ming Ti, to celebrate the victory of Buddhism in the debate with Taoists
Phóng 放
[ja] ホウ pang ||| (1) Set free, release, fire, shoot, emit, give out. (2) Let go, release, disengage, liberate. (3) Give up, neglect, leave alone. (4) To act unrestrainedly, without discipline. (5) To go to; to reach to. (6) To depend upon. => 1. Thả tự do, phóng thích, bắn, chớp loé, phát sáng, toả ra. 2. Buông ra, thả ra, tách rời ra, thả ra. 3. Từ bỏ, không chú ý, bỏ mặc. 4. Hành động không kiềm chế, không quy củ. 5. Đi tới, đến. 6. Trông vào, tin vào.
Phổ Hóa
(普化, Fuke, ?-?): vị Thiền tăng sống vào thời nhà Đường, người kế thừa dòng pháp của Bàn Sơn Bảo Tích (盤山寶積), thường sống ở Trấn Châu (鎭州, thuộc Tỉnh Hà Đông). Ông theo hầu Bàn Sơn, thọ nhận yếu chỉ, rồi sống cuộc đời như vị cuồng tăng. Sau khi thầy qua đời, ông đi ngao du địa phương phía Bắc. Tương truyền ông thường cầm trên tay cái chuông lắc, mỗi khi gặp người ta thì ông lại lắc lên. Nếu có ai quan tâm đến, ông liền bảo rằng: “Xin cho tôi một quan tiền.” Ông thường kết giao với Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), và cũng đã từng phụ giúp vị nầy giáo hóa đồ chúng. Theo phần Kham Biện (勘辨) của Lâm Tế Lục (臨濟錄) cho biết rằng ông đã từng muốn chính Lâm Tế tặng cho ông một cỗ quan tài, và sau đó ông thị tịch trong quan tài ấy tại cửa bắc Trấn Châu. Cuối đời ông đến sống ở Lâm Tế Viện, hằng ngày ăn rau cỏ sống, bị Lâm Tế phát hiện được mới bảo ông là giống con lừa. Tương truyền khi nghe nói như vậy Phổ Hóa liền thét lên tiếng lừa.
Phù
(符): là cái thẻ làm bằng tre viết chữ vào rồi chẻ làm đôi, mỗi người giữ một mảnh khi nào ráp vào nhau mà đúng thì phải, là vật để làm tin. Ngày xưa khi phong các chư hầu hay sai các đại thần đi, người ta đều lấy cái thẻ làm tin.
phù
Floating, drifting, unsettled.
; 1) Nổi lềnh bềnh: Floating—Drifting—Unsettled. 2) Phù trợ—Aid—Support—Uphold.
Phù bôi
(浮杯): (1) Vào thời cổ đại, cứ đúng ngày Tỵ của tuần đầu tháng 3 Âm Lịch, mọi người tập trung bên mương nước, trên đầu nguồn cho thả một chén rượu, mặc cho nó trôi đi, nếu chén ấy dừng trước mặt ai, thì người ấy phải lấy lên uống hết. Đó được gọi là phù bôi (chén trôi nỗi), hay lưu thương (流觴, chén rượu trôi). Như trong bài thơ Thượng Tỵ Nhật Giản Nam Viên Kỳ Vương Sơn Nhân Trần Thất Gia Công Bất Chí (上巳日澗南園期王山人陳七諸公不至) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Thượng Tỵ kỳ tam nguyệt, phù bôi hứng thập tuần (上巳期三月、浮杯興十旬, đầu tháng ba ngày Tỵ, chén nỗi suốt mười tuần).” Hay trong bài thơ Đáp Vô Nguyện Thượng Nhân Thư (答無願上人書) của Tế Kỉ (齊己, 863-937) thời Ngũ Đại cũng có câu: “Tất hữu Nam du sơn thủy hứng, Hán giang bình ổn hảo phù bôi (必有南游山水興、漢江平穩好浮杯, có hứng phương Nam chơi sơn thủy, Hán sông bình lặng rộn chén trôi).” (2) Phạt uống chén rượu đầy. Như trong bài Nhàn Cư Phú (閒居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Phù bôi lạc ẩm, ty trúc biền la (浮杯樂飲、絲竹騈羅, rượu phạt vui uống, tơ trúc kết liền).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 41 lại có câu: “Kim nhụy tùng tùng đới lộ tân, thải lai phanh mính thưởng giai thần, phù bôi hà tất tu nghi tửu, đản hữu thanh hương tự túy nhân (金蕊叢叢帶露新、采來烹茗賞佳辰、浮杯何必須宜酒、但有清香自醉人, vàng nhụy um tùm sương mới toanh, hái về trà nấu thưởng vị thơm, chén nỗi đâu cần dùng rượu thật, chỉ có hương trong đủ say mèm).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 13, Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休, 797-870) trình lên Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運, ?-?) ở Hồng Châu (洪州) bài kệ như sau: “Tự tùng Đại Sĩ truyền tâm ấn, ngạch hữu viên châu thất xích thân, quải tích thập niên thê Thục thủy, phù bôi kim nhật độ Chương Tân, nhất thiên long tượng tùy cao bộ, vạn lý hương hoa kết thắng nhân, nghĩ dục sự sư vi đệ tử, bất tri tương pháp phú hà nhân (自從大士傳心印、額有圓珠七尺身、掛錫十年棲蜀水、浮盃今日渡章濱、一千龍象隨高歩、萬里香花結勝因、擬欲事師爲弟子、不知將法付何人, từ khi Đại Sĩ truyền tâm ấn, trán có ngọc tròn bảy thước thân, dừng trượng mười năm nơi đất Thục, chén nỗi ngày nay đến Chương Tân, một ngàn rồng tượng trên cao xuống, muôn dặm hương hoa kết duyên nhân, những muốn hầu thầy làm đệ tử, truyền pháp về ai được thêm gần).”
phù chú
Amulets, charms, spells, incantations.
; Incantation.
phù danh
Vainglory.
Phù Dung Ðạo Khải
芙蓉道楷; C: fúróng dàokăi; J: fuyo dōkai; 1043-1118, cũng được phiên thiết là Phù Dung Ðạo Giai;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng. Sư nối pháp Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh và là thầy của nhiều vị danh tiếng như Ðan Hà Tử Thuần, Hương Sơn Pháp Thành, Ðại Trí Tề Liên và Bảo Phong Duy Chiếu.|Sư họ Thôi, quê ở Nghi Thuỷ, Nghi Châu, tính tình cương trực. Thuở nhỏ Sư đã tu học kham nhẫn, vào ở ẩn trong núi Y Dương. Sau, Sư đến kinh đô tu học tại chùa Thuật Ðài và thụ giới cụ túc tại đây.|Bước đầu du phương, Sư đến tham học nơi Thiền sư Nghĩa Thanh ở núi Ðầu Tử chùa Hoa Nghiêm. Sư hỏi: »Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà. Lìa rời việc này riêng có chỗ vì người hay chăng?« Ðầu Tử đáp: »Ngươi nói sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này, lại nhờ vua Võ, Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?« Sư suy nghĩ đáp lại, Ðầu Tử thấy thế liền cầm phất tử bịt miệng Sư, nói: »Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi!« Ngay câu này, Sư tỉnh ngộ, làm lễ và ra đi. Ðầu Tử gọi: »Xà-lê hãy lại đây!« Sư chẳng ngó lại. Ðầu Tử liền nói: »Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?« Sư liền bịt tai.|Sau, Sư coi trông việc nhà trù. Ðầu Tử hỏi: »Việc trong nhà trù không phải là dễ.« Sư thưa: »Chẳng dám.« Ðầu Tử hỏi: »Ngươi thổi cơm ư? Nấu cháo ư?« Sư thưa: »Nhân công đãi gạo nhúm lửa, trị nhật nấu cháo thổi cơm.« Ðầu tử hỏi: »Còn ngươi làm gì?« Sư thưa: »Nhờ ơn Hoà thượng từ bi cho con rảnh rang.«|Sau, Sư trở về Nghi Châu núi Mã An truyền bá Phật pháp. Ban đầu, Sư ở Tiên Ðộng, sau dời đến chùa Long Môn, rồi lại sang trụ núi Thái Dương thuộc Dĩnh Châu và Ðại Hồng ở Tuỳ Châu. Môn phong của tông Tào Ðộng rất hưng thịnh vùng Tây bắc.|Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104), vua ban chiếu mời Sư trụ trì Thiền viện Thập Phương Tịnh Nhân ở Ðông Kinh. Ðến niên hiệu Ðại Quan năm thứ nhất (1107), Vua áp đặt Sư trụ trì tại Thiên Ninh không được từ chối. Vì nghe lời ca tụng đạo hạnh của Sư, vua ban tử y và danh hiệu Ðịnh Chiếu Thiền sư. Sư thắp hương tạ ân xong rồi dâng biểu từ chối không nhận. Vua Tống Huy Tông xem biểu của Sư xong sai quan là Lí Hiếu Thọ khuyên Sư không nên từ chối. Quan họ Lí khuyên dụ nhiều lời nhưng Sư vẫn một mực từ chối. Vua nổi giận bắt Sư đem giam. Quan tra khảo hỏi Sư: »Trưởng lão thân gầy ốm như vậy có bệnh chăng?« Sư đáp: »Ngày thường cũng có bệnh nhưng hiện nay thì không bệnh.« Quan tra khảo lại nói: »Nếu nói có bệnh thì đối với pháp luật khỏi bị hình phạt.« Sư bảo: »Ðâu dám dối trá nói bệnh để mong khỏi tội« và an nhiện chấp nhận hình phạt. Sau đó, Sư bị đày ra Tri Châu, người người đều đau xót nhưng Sư sắc khí vẫn nhàn hạ.|Mùa đông năm sau, vua ban sắc phóng thích. Sư cất am tại hồ Phù Dung và từ đây, tăng chúng hội họp vây quanh. Tại đây mỗi ngày chỉ có một chén cháo, những người không chịu nỗi đều dần dần đi bớt nhưng số tăng thường trực không dưới một trăm.|Sư dạy chúng: »Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sinh tử, thôi tâm dứt niệm cắt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong mắt. Vì từ vô thuỷ đến giờ, những cái ấy đâu chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự thì Phật Tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên này…|Các ngươi đâu chẳng thấy, Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người, Triệu Châu (Tòng Thẩm) đến chết chẳng biên thư cho đàn việt, thà lượm trái giẻ trái lật mà ăn. Ðại Mai (Pháp Thường) lấy lá sen làm áo. Chỉ Y Ðạo Giả mặc y phục bằng giấy, Thượng toạ Huyền Thái chỉ mặc bằng bố. Thạch Sương (Khánh Chư) nơi nhà cây khô cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Ðầu Tử (Ðại Ðồng) sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi. Các bậc Thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi…«.|Năm thứ tám niên hiệu Chính Hoà (1118) ngày 14 tháng năm, Sư cầm bút viết bài kệ:|吾年七十六,世緣今已足|生不愛天堂,死不怕地獄|撒手橫身三界外,騰騰任運何拘束|Ngô niên thất thập lục|Thế duyên kim dĩ túc|Sinh bất ái thiên đường|Tử bất phạ địa ngục|Tán thủ hoành thân tam giới ngoại|Ðằng đằng nhậm vận hà câu thúc.|*Ta tuổi bảy mươi sáu|Duyên đời nay đã đủ|Sinh chẳng thích thiên đường|Chết chẳng sợ địa ngục|Buông tay đi ngang ngoài tam giới|Mặc tình vươn bảng nào buộc ràng.|Ngay sau khi viết kệ, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi.
Phù Dung Đạo Giai
(芙蓉道楷, Fuyō Dōkai, 1043-1118): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Phí Huyện (費縣), Nghi Châu (沂州, Tỉnh Sơn Đông), họ là Thôi (崔). Lúc nhỏ ông học phái thần tiên đạt được các bí thuật rồi đến ẩn cư tại Y Dương Sơn (伊陽山) thuộc Tỉnh Hà Nam (河南省). Lâu sau ông lên kinh sư dạo chơi, rồi xuất gia ở Thuật Thánh Viện (述聖院, tức Thuật Đài Tự [術台寺]), tôn Đức Xiêm (德暹) làm thầy. Vào năm 23 tuổi ông thọ Cụ Túc giới. Sau đó, ông đi du phương tham học, gặp được Nghĩa Thanh (義清) ở Đầu Tử Sơn (投子山) vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), nhân nghe lời dạy của vị này mà đại ngộ và được kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông từ giã thầy đến Thiều Sơn (韶山), hằng ngày thường sống với cọp beo. Vào năm thứ 5 (1082) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), ông khai mở đạo tràng bố giáo tại Tiên Động Sơn (仙洞山), Nghi Châu. Ông đã từng sống qua các nơi như Càn Nguyên Chiêu Đề (乾元招提) vùng Tây Kinh (西京, Tỉnh Hà Nam) cũng như Đại Dương Sơn (大陽山) ở Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc). Vào năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), ông đến làm trú trì đời thứ hai của Sùng Ninh Bảo Thọ Thiền Viện (保壽禪院) ở Đại Hồng Sơn (大洪山), Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Năm sau, thể theo chiếu chỉ nhà vua, ông đến trú trì Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (十方淨人禪院) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam), rồi vào năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông chuyển đến Thiên Ninh Tự (天寧寺). Vào mùa xuân năm sau, ông được ban cho Tử Y và hiệu là Định Chiếu Thiền Sư (定照禪師), nhưng ông cố từ không nhận. Cũng do vì việc này mà vào mùa đông năm này, ông bị lưu đày đến Chuy Châu (淄州, Tỉnh Sơn Đông). Đến năm đầu (1111) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông được tha tội, bèn lên Thiên Thai (天台), Nhạn Đãng (雁蕩) ngao du và khi trở về cố hương thì cha đã già yếu, nên ông dừng chân tại đây. Vị quan Xu Mật Lưu Công (劉公) dựng am thất ở Phù Dung Hồ Điền (芙蓉湖田, Tỉnh Sơn Đông), thỉnh ông đến ở và ông đã thành lập nơi đây khu tùng lâm. Vào ngày 14 tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Chính Hòa, ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 42 hạ lạp. Đệ tử ông có 93 người, trong đó ra đời thành công là 29 người, đặc biệt có Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) là nhân vật kiệt xuất nhất. Hiện vẫn còn lưu hành bộ Phù Dung Giai Thiền Sư Ngữ Yếu (芙蓉楷禪師語要) 2 quyển của ông.
phù dung đạo giai thiền sư
Zen master Fu-Reng-T'ao-Jai—Thiền sư Phù Dung Đạo Giai sanh năm 1043 tại Nghi Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), là đệ tử của Đầu Tử Nghĩa Thanh—Zen master Fu-Reng-Yi-Qing was born in 1043 in Yi-Chou (now the city in southern San-T'ong Province), was a disciple of T'ou-Tzi-Yi-Qing. • Sư hỏi Đầu Tử: “Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà, lìa rời việc nầy riêng có chỗ vì người hay chăng?” Đầu Tử đáp: “Ngươi nói sắc lệnh của Thiên Tử trong cõi nầy, lại nhờ vua Võ, vua Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?” Sư suy nghĩ để đáp lại. Đầu Tử lấy phất tử bịt miệng sư, nói: “Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.” Ngay câu nói nầy, sư tỉnh ngộ, đảnh lễ, liền lui ra. Đầu Tử gọi: “Xà Lê hãy lại đây.” Sư chẳng ngó lại. Đầu Tử nói: “Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?” Sư liền bịt tai—Fu-Rong asked T'ou-Tzi: “The words of the Buddhas and ancestors were about everyday things such as drinking tea or eating rice. Besides this, does the teaching have anything special for people or not?” T'ou-Tzi said: “You speak the Cosmic Emperor's edict. Are you pretending to be Yao, Shun, Yu, and T'ang or not? Fu-Rong wanted to continue speaking but T'ou-Tzi raised his whisk and placed it over Fu-Rong's mouth, saying: “If you have some intention, then you already deserve thirty hits with the stick!” Fu-Rong then experienced enlightenment. He bowed and turned to leave. T'ou-Tzi said: “Come back! Your reverence!” Fu-Rong ignored him. T'ou-Tzi said: “Have you come to the place of no doubt?” Fu-Rong then covered his ears with his hands. • Một hôm, sư theo Đầu Tử đi dạo vườn trà. Đầu Tử trao cây gậy cho sư, sư nhận lấy liền đi theo sau Đầu Tử. Đầu Tử bảo: “Lý nên thế ấy.” Sư thưa: “Cùng Hòa Thượng xách giày cầm gậy, cũng chẳng phải việc phần ngoài.” Đầu Tử bảo: “Vẫn có người đồng hành.” Sư thưa: “Đây là một người không nhận dạy.” Đầu Tử thôi hỏi. Đến chiều, Đầu Tử bảo: “Sớm mai nói thoại chưa hết.” Sư thưa: “Thỉnh Hòa Thượng nói tiếp.” Đầu Tử nói: “Mạo sanh nhật, tuất sanh nguyệt.” Sư liền đốt đèn đem đến. Đầu Tử nói: “Ngươi đi lên đi xuống đều không luống công.” Sư thưa: “Ở bên cạnh Hòa Thượng lý phải như thế.” Đầu Tử nói: “Kẻ tôi đòi trong nhà nào mà không có.” Sư thưa: “Hòa Thượng tuổi cao thiếu nó không được.” Đầu Tử hỏi: “Ân cần cái gì?” Sư thưa: “Có phần đền ăn.”—One day, T'ou-Tzi and Fu-Rong were walking in the vegetable patch. T'ou-Tzi came up to Fu-Rong and handed him his staff. Fu-Rong took it, then walked behind T'ou-Tzi. T'ou-Tzi said: “Is this in accordance with principle?” Fu-Rong said: “Carrying the master's shoes or staff for him, it can't be otherwise.” T'ou-Tzi said: “There's one walking with me.” Fu-Rong said: “Who's not learning from you?” T'ou-Tzi went back. When evening came, he said to Fu-Rong: “The master we spoke of earlier isn't finished.” Fu-Rong said: “Master, please speak your mind.” T'ou-Tzi said: “The morning gives birth to the sun. The evening gives birth to the moon.” Fu-Rong then lit the lamp. T'ou-Tzi said: “Your comings and goings, none of it is like that of a disciple.” Fu-Rong said: “Taking care of the master's affairs, this is in accordance with principle.” T'ou-Tzi said: “Servants and slaves, what household doesn't have them?” Fu-Rong said: The master is advanced in years. Neglecting him is unacceptable.” T'ou-Tzi said: “So this is how you apply your diligence!” Fu-Rong said: “One should repay kindness.” • Vào ngày mười bốn tháng tám âm lịch năm 1118, sư hỏi bút giấy, đoạn viết kệ: “Ngô niên thất thập lục Thế duyên kim dĩ túc Sanh bất ái thiên đường Tử bất phạ địa ngục Tán thủ hoành thân tam giới ngoại Đằng đằng nhận vận hà câu thúc.” (Ta tuổi bảy mươi sáu, Duyên đời nay đã đủ Sanh chẳng thích thiên đường Chết chẳng sợ địa ngục Buông tay đi ngang ngoài tam giới Mặc tình vươn bổng nào buộc ràng). Sau đó, sư thị tịch. On the fourteenth day of the eighth lunar month in the year 1118, Fu-Rong asked for a brush and paper. He then wrote this verse: “I'm seventy-six years old, My causational existence is now completed In life I did not favor heaven In death I don't fear hell Hands and body extend beyond the three realms. What stops me from roaming as I please? Soon after writing this verse, the master passed away.
phù dung đạo khải
Fuyo Dokai (J)Tên một vị sư.
phù hoặc nhuận sinh
2947謂菩薩為濟度眾生,故不斷煩惱,反由煩惱之扶助而於三界利益眾生。乃大悲闡提之行。
; (扶惑潤生) Nhờ phiền não giúp đỡ mà sinh trong 3 cõi. Nghĩa là Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn từ phiền não, ngược lại, còn nhờ sự giúp đỡ của phiền não mà sinh vào 3 cõi để làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là hạnh nguyện của Xiển đề đại bi.
phù hộ
To protect (spirits).
phù hợp
To agree—To correspond—To accord.
phù khâu sơn
4159位於河南濬縣城南一公里處。山有疊峰三層,突出平原,若舟漂浮海中,故稱浮丘山。山上松柏蒼鬱,幽徑曲回,山石壁立,景色秀麗。山之西北有千佛寺,寺內有千佛洞,現存唐至明代石刻造像九百六十餘尊。千佛寺南為道教建築碧霞宮,原為碧霞元君之行宮,後改名為聖母廟,創建於明代,宮內現存殿宇八十餘座。殿內雕樑畫棟,石欄精美。濬縣博物館設於此,館內藏有歷代文物、古代石刻、塔、幢等藝術珍品。
phù khổng
Lổ hỏng xuyên qua bọng cây trôi lền bềnh trên biển, mà con rùa một mắt tình cờ nhìn thấy được mặt trăng, quả là cơ hội hiếm có, giống như cơ hội được gặp Phật quả là hiếm hoi vậy—A hole in a floating log, through which a one-eyed turtle accidentally obtains a glimse of the moon, the rarest of chances, e.g. the rareness of meeting a Buddha.
phù khởi
2946禪林用語。為「推倒」、「放倒」之對稱。即師家接化指導學人時,所採用權巧方便之和緩方法。大慧普覺禪師語錄卷七(大四七‧八三八中):「放倒扶起,有賓有主。」 時而扶起,時而放倒,稱為扶起放倒。原意謂時而肯定、時而否定;在禪林中,轉指師家接化學人時,所採取靈活自由運作之機法。無門關第十一則州勘庵主(大四八‧二九四中):「若向者裏下得一轉語,便見趙州舌頭無骨,扶起放倒,得大自在。」
; (扶起) Đối lại: Thôi đảo (xô ngã), Phóng đảo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đỡ dậy, nâng đỡ. Tức chỉ cho phương pháp hòa hoãn, khéo léo mà bậc thầy sử dụng trong khi tiếp hóa chỉ dạy người học. Đại tuệ Phổ giác Thiền sư ngữ lục quyển 7 (Đại 47, 838 trung) nói: Xô ngã, đỡdậy, có khách có chủ. Vô môn tắc 11 (Đại 48, 294 trung) ghi: Ngài Triệu châu xét nghiệm Am chủ và nói: Nếu người ở trong đó mà hạ được một chuyển ngữ thì thấy đầu lưỡi của Triệu châu không có xương. Đỡ dậy xô ngã đều được tự tại.
phù kiên
3951請參閱 綜理眾經目錄 (338~385)東晉時代之前秦王。字永固,一字文玉。略陽氐族世酋。博學多才,有經世大志,雅量能容,士皆樂於歸順。弒其主苻生而自立,號秦天王,平服北土,兼併宛襄。後與東晉戰於淝水。敗歸,爲姚萇弒於新平佛寺,時爲晉太元十年五月,享年四十八。平生頗知禮敬三寶,優遇高僧,躬聆講說。曾送佛經、佛像於高麗,爲韓國、日本知有佛法之始。迎道安法師於襄陽,待以殊禮,咨以大政。又聞鳩摩羅什名,遣將帥往迎。既遇弒,將被害,猶整衣禮佛而後受死。〔晉書卷九十六〕
; (苻堅) (338-385) Vua nhà Tiền Tần đời Đông Tấn, tự Vĩnh cố hoặc Văn ngọc. Ông là người học rộng, nhiều tài, có chí trị nước an dân, hay khoan dung độ lượng, kẻ sĩ đều vui mà theo về. Ông giết chúa Phù sinh rồi tự lên làm vua, lấy hiệu là Tần thiên vương, bình định đất Bắc, thôn tính Uyển Tương. Sau, giao chiến với nhà Đông Tấn ở sông Phì thủy, thua trận quay về, bị Diêu trành giết chết ở chùa Phật tại Tân bình, lúc đó là tháng 5 năm Thái nguyên thứ 10 đời Tấn, hưởng dương 48 tuổi. Bình sinh ông rất kính tin Tam bảo, ưu đãi các bậc cao tăng, cung kính nghe giảng pháp. Ông từng sai sứ mang kinh và tượng Phật đến nước Cao li, mở đầu việc truyền bá Phật giáo ở Hàn quốc và Nhật bản. Ông rước ngài Đạo an đến Tương dương, tiếp đãi với lễ nghi đặc biệt và thỉnh ý về các việc lớn trong nước. Ông nghe danh ngài Cưu ma la thập liền sai tướng súy đi đón rước. Lúc sắp bị hại, ông vẫn bình thản và y phục chỉnh tề, lễ Phật rồi mới chịu chết.
phù li mô bích
2947禪林用語。原意謂手扶圍牆,作探摸牆壁之勢,猶如黑夜尋物之狀;在禪林中,轉指凡夫以思慮分別,來臆測佛之境界。碧巖錄第七則(大四八‧一四七下):「三級浪高魚化龍,癡人猶戽夜塘水。(扶籬摸壁,挨門傍戶。衲僧有什麼用處?守株待兔)」
; (扶籬摸壁) Đỡ bờ dậu, sờ bức vách. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là 2 tay nâng hàng rào, sờ tường vách, giống như mò tìm vật gì trong đêm tối. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho người phàm phu dùng tâm phân biệt mà suy lường cảnh giới Phật. Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 hạ) nói: Sóng cao 3 cấp cá hóa rồng, người ngu ra sức tát ao đêm (Đỡ dậu sờ vách, đẩy cửa nhà bên. Nạp tăng cần gì? Ôm cây đợi thỏ).
Phù Luật
(扶律): tức Phù Luật Thuyết Thường (扶律說常) hay Phù Luật Đàm Thường (扶律談常), dụng ngữ dùng để nói về hạng người chuyên miệt thị giới pháp, thấy Như Lai nhập diệt rồi sinh ngộ giải cho rằng chính Phật cũng vô thường. Từ này chủ ý muốn nhấn mạnh vấn đề giữ gìn giới luật và Phật tánh là thường trụ. Đối với Thiên Thai Tông thì từ này dùng để nói về giáo thuyết của Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經).
phù luật đàm thường
2945又作扶律說常。係天台宗顯示涅槃經教說之用語。佛陀愍念末代鈍根之機,易起斷滅之見,毀破戒法,亡失教乘,謂如來為無常,復誦讀外典,如是則戒、乘並無而淪喪法身常住之慧命;佛陀乃於涅槃經中宣說戒律,扶助戒門(戒律),又談佛性常住之理,扶助乘門(教乘),故稱扶律談常。又涅槃經乃佛陀扶律談常,為末代鈍根之機贖其法身之慧命,故為扶律談常之教,稱為末代贖命之涅槃。〔法華玄義釋籤卷二下〕(參閱「末代贖命涅槃」1939)
; (扶律談常) Cũng gọi Phù luật thuyết thường. Nói về luật và lí thường trụ để giúp đỡ cho Giới môn và Giáo môn. Đây là dụng ngữ của tông Thiên thai hiển bày giáo thuyết trong kinh Niết bàn. Đức Phật thương xót những chúng sinh độn căn ở đời mạt pháp, dễ sinh ra cái thấy đoạn diệt, hủy phá giới pháp, quên mất giáo thừa, cho rằng Như lai là vô thường, lại đọc tụng ngoại điển, như thế thì giới và thừa đều không và hủy mất tuệ mệnh của pháp thân thường trụ; do đó, trong kinh Niết bàn, đức Phật giảng về giới luật để phù trợ Giới môn (giới luật), rồi lại nói rõ về lí Phật tính thường trụ để phù trợ Thừa môn (giáo thừa), vì thế gọi là Phù luật đàm thường. Lại nữa, trong kinh Niết bàn, đức Phật tuyên thuyết Phù luật đàm thường là để chuộc lại tuệ mệnh pháp thân cho những chúng sinh độn căn đời mạt pháp, cho nên giáo pháp Phù luật đàm thường gọi là Mạt đại thục mệnh Niết bàn(Niết bàn chuộc mệnh đời mạt pháp). [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, phần cuối]. (xt. Mạt Đại Thục Mệnh Niết Bàn).
phù luật đàm thường giáo
Giáo pháp phù trợ giới luật, thuyết giải Phật tính thường trụ, như trong Kinh Niết Bàn—The teaching which supports the rules and speaks of the eternal, i.e. the Nirvana Sutra.
phù mộc
4159人身之難得,佛法之難聞,譬如海中盲龜之逢浮木,千載難有一遭。〔雜阿含經卷十五、北本涅槃經卷二、卷二十三〕(參閱「盲龜浮木」3457)
; Khúc gỗ nổi (dụ con rùa mù và khúc gỗ nổi)—A floating log—See Manh Quy.
; (浮木) Bộng cây nổi. Được làm người, được nghe Phật pháp là một việc vô cùng khó khăn, ví như con rùa mù giữa biển cả mênh mông, trải qua nghìn năm khó được một lần gặp bộng cây nổi.[X. kinh Tạp a hàm Q.15; kinh Niết bàn Q.1, 23 (bản Bắc)]. (xt. Manh Qui Phù Mộc).
phù nam quốc
2944(Funan)位於中南半島南部,係柬埔寨(Cambodia,今之高棉)古名。又作跋南、邑心、閣茂。據梁書海南諸國傳第四十八、通典卷一八八等記載,於三國時代,此國之國勢逐漸擴張,吳國曾派遣康秦、朱應至此,初其國人皆裸形,勸以著衣,始疊布、著橫幅。西晉永寧元年(301),該國國王遣使來獻鏤金龍佛像與象牙塔,可知早在三、四世紀之交,佛教已傳播至此。延至初唐,皆相繼來貢,如南齊書列傳第三十九載,南齊永明二年(484),扶南王僑陳如,派遣天竺道人釋那伽仙來獻龍王坐像與象牙塔時,釋那伽仙曾上書,謂扶南國為摩醯首羅天神守護地,亦為佛法流通處。 另據歷代三寶紀卷十一載,梁天監(502~519)初年,彼國沙門曼陀羅仙齎梵本來貢,復與僧伽婆羅於揚都共譯寶雲經等三部十一卷,又於天監五年,再與僧伽婆羅譯出阿育王經、解脫道論等十一部三十八卷。又梁書海南諸國傳第四十八謂,大同五年(539),武帝聞此國有長一丈二尺之佛髮,遂派遣沙門雲寶前往迎接,適逢真諦三藏住於此,乃請赴梁。由上可知,唐代之前,不僅大乘佛教流布該國,南方佛教重要論書亦曾盛行於其地。直至崇拜印度教之信仰盛行,佛教乃逐漸衰微,此即南海寄歸內法傳序所說(大五四‧二○五中):「惡王今並除滅,逈無僧眾,外道雜居。」 扶南國至初唐為止皆呈現獨立之勢,至貞觀(627~649)初年,則為真臘國所合併。真臘,本為扶南之屬國,於隋大業十三年(616)、唐武德六年(619)、貞觀二年、明洪武三年(1370 )等,屢至中土朝貢。於洪武年間,該國自稱為「甘孛智」,後訛傳為「甘破蔗」,萬曆以後改為「柬埔寨」,未久為暹羅所破,其後又被安南入侵。。於十八世紀至二十世紀中葉,先後為暹羅、安南、法國之隸屬國或殖民國,直至一九五四年始得獨立,然於一九七五年四月又淪入共黨政權下。如今大部分住民為吉蔑族(Khmer)。 扶南與真臘合併後,約於九世紀初闍邪跋摩二世(Jayavarman Ⅱ)開始定都安哥城(Angkor Thom),其處位於現今洞里湖(Tonlⅰ-Sap)之北約二十二公里處。城中所有宮室、伽藍等之建構,歷經十餘代,至十二世紀始完成,與爪哇之婆羅浮屠(Bolo-Budur)並為人類現存早期建築藝術中之雙璧。安哥城之南約一點六公里處另有安哥寺(Angkor-Vat),係十二世紀中葉之蘇利耶跋摩二世(Sūryavarman Ⅱ)所建。 安哥城與安哥寺原皆屬佛教建築,如安哥城所雕刻之世自在(梵 Lokeśvara)神像即是佛教之觀世音像。其後由於佛教衰微,此二者之建築物漸被改建為印度教寺院。至十四世紀,由暹羅等國傳入南方佛教,佛教勢力逐漸復興,兩建築物乃由暹羅僧人掌理,於聖殿與其餘諸堂皆奉置各類佛菩薩像。十五世紀時,泰人攻陷安哥,吉蔑王朝南遷,安哥遂告荒蕪,久之漸為熱帶叢林所淹沒,直至十九世紀,由法國學者亨利莫特(Henri Monkot)、伯希和等人之探險考證,安哥古蹟始重現於世,而扶南國一度盛行佛教之情形乃能與歷代史傳相互印證。 於共黨統治之前,佛教為高棉之國教,國王親轄政教兩權。僧侶之職,除以柬埔寨文字書寫、流傳巴利三藏外,亦負有儀式祈禱、教育國民之責。共黨統治後,則已全面禁止宗教活動。〔續高僧傳卷一真諦傳、大唐西域求法高僧傳卷上、隋書南蠻傳第四十七、舊唐書南蠻傳第一四七、明史真臘傳第二一二、古今圖書集成邊裔典第一○一、E. Aymonier: Le Cambodge; J. Fergusson: History of Indian and Eastern Architecture, vol. Ⅱ〕
; (扶南國) Cũng gọi Bạt nam, Ấp tâm, Các mậu. Nước Phù nam (Funan), tên xưa của Kampuchia, nằm về phía nam của bán đảo Trung nam. Cứ theo Lương hải nam chư quốc truyện 48 và Thông điển quyển 188, vào thời đại Tam quốc, thế lực của nước Phù nam đã dần dần được mở rộng, nước Ngô từng sai các sứ giả như Khang tần, Chu ứng… đến Phù nam. Mới đầu, các sứ Tàu thấy người Phù nam đều ở truồng, sứ Tàu khuyên họ mặc quần áo, họ mới khoác tấm vải trên mình và quấn váy. Niên hiệu Vĩnh ninh năm đầu (301) đời Tây Tấn, Quốc vương Phù nam sai sứ sang Trung quốc triều cống 1 pho tượng Phật bằng vàng có khắc rồng và tháp bằng ngà voi; như vậy đủ biết, ngay từ thế kỉ III, IV, Phật giáo đã được truyền đến Phù nam. Theo Nam Tề thư liệt truyện 39 thì vào năm Vĩnh minh thứ 2 (484) đời Nam Tề, vua Phù nam là Kiều trần như sai đạo nhân Thích na già tiên, người Thiên trúc, đến Trung quốc triều cống tượng Long vương ngồi và tháp bằng ngà voi.Trongdịp này, sứ Phù nam Thích na già tiên dâng thư nói rằng nước Phù nam là đất được thần Ma hê thủ la thiên bảo hộ, cũng là nơi Phật pháp lưu thông. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11, vào đầu năm Thiên giám (502-519), sa môn nước Phù nam là Mạn đà la tiên mang kinh tiếng Phạm sang Trung quốc triều cống, rồi cùng với ngài Tăng già bà la ở Dương đô cùng dịch các kinh gồm 3 bộ, 11 quyển, như kinh Bảo vân... Đến năm Thiên giám thứ 5 (507), 2 vị lại dịch các kinh, luận gồm 11 bộ, 38 quyển, như kinh A dục vương, luận Giải thoát đạo... Theo Lương thư hải nam chư quốc truyện 48, năm Đại đồng thứ 5 (539), vua Vũ đế nghe nước Phù nam có sợi tóc Phật dài 1 trượng 2, liền phái sa môn Vân bảo sang nghinh tiếp, lại gặp Tam tạng Chân đế đang ở nước này, bèn thỉnh ngài về Trung quốc. Căn cứ vào các ghi chép trên đây, người ta được biết, trước đời Đường, chẳng những Phật giáo Đại thừa đã được truyền bá ở Phù nam mà ngay cả những bộ luận quan trọng của Phật giáo Nam truyền cũng đã được lưu hành ở xứ này. Cho mãi đến khi Ấn độ giáo được sùng bái thì Phật giáo mới bắt đầu suy thoái dần, đó chính là tình trạng được miêu tả trong lời Tựa của Nam hải kí qui nội pháp truyện (Đại 54, 205 trung): Vua bạo ác đã hủy diệt tất cả, không còn chúng tăng, chỉ có các ngoại đạo ở lẫn lộn. Nước Phù nam đến đầu đời Đường vẫn còn là 1 nước độc lập, nhưng đầu năm Trinh quán (627-649) thì bị nước Chân lạp thôn tính sáp nhập. Sau khi vua Phù nam hợp nhất với Chân lạp thì khoảng đầu thế kỉ IX, vua Jayavarman II đóng đô ở Angkor Thom, cách Tonlé-Sap về mạn bắc khoảng 22 km và bắt đầu xây dựng các cung điện, già lam... trải qua 10 triều đại, đến thế kỉ XII mới hoàn thành, cùng với Bolo-Budur ở đảo Java là 2 viên ngọc trong nghệ thuật kiến trúc của nhân loại hiện còn đến ngày nay. Cách Angkor Thom về phía nam khoảng 1,6 km có Angkor-Vat do vua Sùryavarman II xây dựng vào giữa thế kỉ XII. Angkor Thom và Angkor-Vat vốn là các kiến trúc thuộc Phật giáo, như tượng thần thế tự tại (Phạm:Lokezvara) khắc ở thành Angkor chính là tượng Quan thế âm của Phật giáo. Về sau, vì Phật giáo suy vi nên 2 kiến trúc này mới dần dần bị đổi lại làm thành các đền thờ của Ấn độ giáo. Vào thế kỉ XIV, Phật giáo Nam truyền được du nhập Phù nam, thế mạnh của Phật giáo dần dần được khôi phục, Angkor Thom và Angkor-Vat được đặt dưới sự quản chưởng của chư tăng Thái lan, trong các điện đường đều đặt tượng Phật, Bồ tát để thờ. Đến thế kỉ XV, người Thái lan công hãm thành Angkor, Vương triều Khmer phải dời về phía nam, Angkor trở thành hoang vu, lâu dần bị cây rừng nhiệt đới trùm lấp mất. Mãi đến thế kỉ XIX, hai học giả người Pháp là các ông Henri Monkot và P. Pelliot mới tìm ra, kho tàng cổ tích Angkor được coi là 1 trong những kì quan của thế giới và tình hình Phật giáo nước Phù nam đã từng thịnh đạt 1 thời cũng được lịch sử ghi nhận. Trước thời cộng sản, Phật giáo là quốc giáo của Kampuchia, Quốc vương thống lãnh cả chính trị và tông giáo. Nhiệm vụ của tăng sĩ, ngoài việc dùng văn tự Kampuchia viết chép Tam tạng Pàli, còn phụ trách các nghi thức cầu cúng và giáo dục quốc dân. Nhưng sau khi Khmer đỏ thống trị thì tất cả hoạt đông tông giáo đều bị nghiêm cấm, chùa tháp, kinh tượng bị phá hủy, chúng tăng buộc phải hoàn tục...[X. Tục cao tăng truyện Q.1; Chân đế truyện; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Tùy thư nam man truyện 47; Cựu đường thư nam man truyện 147; Minh sử chân lạp truyện 212; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Le Cambodge par E. Aymonier; History of Indian and Eastern Architecture, vol. II by J. Fergusson].
Phù nang
(浮囊): túi không khí, tức áo phao ngày nay; là vật cần thiết cho người qua biển không bị chìm đắm, chết đuối. Như trong Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, Taishō Vol. 54, No. 2128) quyển 3 định nghĩa rằng: “Kim kinh ngôn phù nang giả, khí nang dã; dục độ đại hải, bằng thử khí nang khinh phù chi lực dã (今經言浮囊者、氣囊也、欲渡大海、憑此氣囊輕浮之力也, nay trong kinh nói về phù nang, là túi không khí; muốn qua biển lớn, nhờ vào sức nhẹ nỗi lên của túi phao này).” Từ đó, phù nang được dùng để chỉ cho một vật vô cùng cao quý, giá trị còn hơn cả thân mạng con người, có thể giúp hành giả vượt qua biển sanh tử luân hồi. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 11, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品) thứ 19, đề cập đến câu chuyện có người cầm túi phao này muốn đi qua biển lớn; lúc ấy có con quỷ La Sát đến cầu xin túi phao, người ấy trả lời rằng: “Nhữ ninh sát ngã, phù nang phả đắc (汝寧殺我、浮囊叵得, người tha giết tôi, chứ túi phao thì không thể được).” Và túi phao này được ví như việc hành trì cấm giới, oai nghi không sai khuyết. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 87, phần Thuật Ý Bộ (述意部), đưa ra các ví dụ như: “Thiện liệu chúng bệnh, dụ chi lương y; năng tiêu cơ khát, dụ chi Cam Lộ; tiếp tế trầm nịch, dụ chi kiều lương; vận độ đại hải, dụ chi phù nang; chiếu trừ hôn ám, dụ chi đăng quang (善療眾病、喻之良醫、能消飢渴、喻之甘露、接濟沉溺、喻之橋梁、運度大海、喻之浮囊、照除昏暗、喻之燈光, khéo chữa các bệnh, dụ cho thầy thuốc; tiêu trừ đói khát, dụ cho Cam Lộ; tiếp cứu chìm đắm, dụ cho cầu đường; chở qua biển lớn, dụ cho túi phao; chiếu trừ tăm tối, dụ cho đèn sáng).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1118) quyển 1, phần Thượng Thiên Giới Luật Môn (上篇戒律門), có đoạn: “Giới thị việt khổ hải chi phù nang, trang nghiêm Pháp Thân chi Anh Lạc, cố tu cẩn thận (戒是越苦海之浮囊、莊嚴法身之瓔珞、故須謹愼, giới là túi phao vượt qua biển khổ, ngọc Anh Lạc để trang nghiêm Pháp Thân, phải nên cẩn thận).”
phù nang
4161渡海人所帶防溺之物,渡海人若無浮囊則有溺水之憂。諸經論每以浮囊喻指戒律,謂菩薩奉持禁戒,其心堅固,猶如金剛;譬如渡海之人,護惜浮囊,惟恐命喪,絲毫不懈。〔北本大般涅槃經卷十一聖行品、慧琳音義卷三〕
; A floating bag, a swimming float, a lifebuoy.
; Chiếc phao (vật mà người đi sông lớn hay biển thường hay mang theo để đề phòng chết đuối. Phù nang ví như giới cấm đối với người tu. Muốn vượt qua biển khổ, muốn chấm dứt luân hồi, người tu phải giữ gìn giới luật, không giữ giới thì chẳng khác nào đâm lủng phao, chẳng những không qua được bờ bên kia, mà còn bị nhận chìm trong biển đời sanh tử nữa)—A floating bag, a swimming float, a lifebuoy.
; (浮囊) Túi nổi. Tức cái phao của những người đi biển mang theo để đề phòng khi đắm thuyền; người đi biển nếu không có phao thì thường lo chết đuối. Các kinh luận thường dùng phù nang để ví dụ giới luật. Nghĩa là Bồ tát vâng giữ giới cấm, tâm mình kiên cố, giống như kim cương, không hề xao lãng; cũng như người đi biển, quí trọng cái phao, luôn giữ bên mình, vì sợ mất mạng. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc); Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].
phù phiếm
Futility
phù phép phù du
Externalist guru or shaman.
phù sinh
Short life.
phù sơn cửu đới
4158宋代禪僧浮山法遠(991~1067)提示學人之宗門語句。由學人編集之,名為「佛禪宗教義九帶集」,略稱浮山九帶。即:(一)佛正法眼藏帶,謂帶貫一切理脈,直截佛之正法。(二)佛法藏帶,謂佛法乃教外別傳,為方便之故,聖人以之示眾。(三)理貫帶,謂至理佛法為言詮所不及,揚眉瞬目之間盡是佛法。(四)事貫帶,謂山河國土大地無非佛法。(五)理事縱橫帶,謂理事融通,行於佛世界。(六)屈曲垂帶,謂雖證悟成佛卻甘為菩薩而不安住佛位,以亟力濟度眾生。(七)妙叶兼帶,謂不執著則大用現前。(八)金鍼雙鎖帶,謂自理事縱橫帶之立場更進一步,不執著於佛世界而自由自在。(九)平懷常實帶,謂佛法無特別處,日常著衣吃飯皆屬真實佛法。〔人天眼目卷二〕
; (浮山九帶) Gọi đủ: Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập. Chín phương pháp dắt dẫn người học của Thiền sư Phù sơn Pháp viễn đời Tống, tức là những ngữ cú của tông môn mở bày cho người học được họ biên tập lại và đặt tên là: Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập, gọi tắt: Phù sơn cửu đới. Đó là: 1. Phật chính pháp nhãn tạng đới: Thấu suốt tất cả lí nghĩa sâu xa, triệt ngộ chính pháp của Phật. 2. Phật pháp tạng đới: Phật pháp vốn truyền riêng ngoài giáo, nhưng vì phương tiện hóa độ, nên Phật tổmới dùng giáo pháp để chỉ dạy mọi người. 3. Lí quán đới: Lời nói không thể diễn tả được lí tột cùng của Phật pháp, nhưng mọi hành vi, cử chỉ như nhướng mày, chớp mắt đều là Phật pháp. 4. Sự quán đới: Núi sông đất đai tất thảy là Phật pháp. 5. Lí sự tung hoành đới: Lí sự dung thông, tự tại lưu hành trong thế giới Phật. 6. Khuất khúc thùy đới: Tuy đã chứng ngộ thành Phật, nhưng không an trụ trong quả vị Phật mà vẫn làm Bồ tát để cứu độ chúng sinh. 7. Diệu hiệp kiêm đới: Không chấp trước thì đại dụng liền hiển hiện. 8. Kim châm song tỏa đới: Từ lập trường Lí sự tung hoành đới, lại tiến lên bước nữa, không chấp trước vào thế giới Phật mà tự do tự tại. 9. Bình hoài thường thực đới: Phật pháp chân thực chẳng có gì đặc biệt mà chỉ là những việc tầm thường hàng ngày như mặc áo, ăn cơm... [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
Phù Sơn Pháp Viễn
(浮山法遠, Fusan Hōon, 991-1067): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Trịnh Châu (鄭州, Tỉnh Hà Nam). Ông theo xuất gia với Tam Giao Trí Tung (三交智嵩), sau đó kế thừa dòng pháp của Quy Tỉnh (歸省) ở Diệp Huyện Quảng Giáo Viện (葉縣廣敎院) vùng Nhữ Châu (汝州, Tỉnh Hà Nam). Chính Âu Dương Tu (歐陽修) đã từng đến làm môn đệ và tham học với ông. Sau ông đến trú tại Phù Sơn (浮山), Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), cử xướng tông phong của mình. Ngoài ra, ông còn được Đại Dương Cảnh Huyền (大陽警玄) bí mật phó chúc cho và giao y hậu giày dép cho Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義青).Vào ngày mồng 6 tháng 2 năm thứ 4 niên hiệu Trị Bình (治平), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Viên Giám Thiền Sư (圓鑑禪師).
phù sơn thập lục đề
4158宋代禪僧浮山法遠辨別宗旨之十六種範疇:(一)識自宗,須識本來之宗旨,不落言詮思量。(二)死中活,絕思量。(三)活中死,執著言語,則遠離真相。(四)不落死活,不墮二邊,不住一色,逍遙自在。(五)背捨,背事捨理,無凡無聖,離四句,絕百非。(六)不背捨,不損事理,隨流而不違佛法。(七)活人劍,語話不犯鋒茫,放行而自由自在。(八)殺人刀,打破凡聖之見。(九)平常,日用尋常之中皆是佛法。(十)利道拔生,以佛祖大道救濟眾生。(十一)言無過失,粗言細語皆合乎佛法。(十二)透脫,迥然超脫一切束縛。(十三)透脫不透脫,超然於束縛,卻僅止於此種透脫之境而終為其所束縛。(十四)稱揚,高揚舉唱佛法。(十五)降句,不弄言語,默契佛法。(十六)方入圓,言語動作一切盡入佛法大海中。〔五家宗旨纂要卷中〕
; (浮山十六題) Mười sáu phạm trù biện biệt tông chỉ do Thiền sư Phù sơn Pháp viễn đời Tống đặt ra. Đó là: 1. Thức tự tông (biết tông mình): Cần phải biết tông chỉ xưa nay, không để bị rơi vào lời nói, suy lường. 2. Tử trung hoạt (sống trong chết): Dứt hẳn suy tính, nghĩ lường. 3. Hoạt trung tử (chết trong sống): Bám níu vào lời nói thì xa lìa chân tướng. 4. Bất lạc tử hoạt (không rơi vào sống chết): Không rơi vào 2 bên, không trụ ở 1 vật thì được thung dung tự tại. 5. Bội xả (quay lưng lại vứt bỏ): Quay lưng lại với sự, vứt bỏ lí, chẳng phàm chẳng thánh, lìa 4 câu, bặt trăm phi (chẳng phải có chẳng không...). 6. Bất bội xả (không quay lưng lại, không vứt bỏ): Không tổn hại sự và lí, tùy duyên mà không trái với Phật pháp. 7. Hoạt nhân kiếm (Kiếm cứu sống người): Nói năng mà không phạm vào ngọn lưỡi, buông tha mà tự do tự tại. 8. Sát nhân đao (Dao giết người): Đả phá cái thấy phàm thánh. 9. Bình thường: Những việc tầm thường hàng ngày đều là Phật pháp. 10. Lợi đạo bạt sinh (Lợi đạo cứu người): Vận dụng đạo lớn của Phật tổ cứu giúp chúng sinh. 11. Ngôn quá vô thất (Nói không lầm lỗi): Lời nói dù thô tháo hay tế nhị đều hợp với Phật pháp. 12. Thấu thoát: Vượt thoát tất cả sự ràng buộc. 13. Thấu thoát bất thấu thoát: Vượt thoát sự trói buộc, nhưng nếu chỉ dừng lại ở cảnh vượt thoát thì rốt cuộc lại bị cảnh ấy trói buộc. 14. Xưng dương: Khen ngợi và nêu cao Phật pháp. 15. Hàng cú (chế ngự câu nói): Không nói năng bông lông, im lặng hợp Phật pháp. 16. Phương nhập viên (vuông nhập vào tròn): Nói năng động tác tất cả đều nhập vào biển lớn Phật pháp. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.trung].
phù sớ
Tên khác của Kinh Niết Bàn mà tông Thiên Thai cho rằng là sự khuếch đại của Kinh Pháp Hoa—Supporting Commentary, another name for the Nirvana Sutra. According to the T'ien-T'ai, it is an amplification of the Lotus Sutra.
Phù Sứ
(符使): tức Phù Quan (符官). Đối với Đạo Giáo, đây là vị thần quan thủ hộ các bùa chú, phù lục. Như trong Tỉnh Thế Hằng Ngôn (醒世恆言), phần Lữ Đồng Tân Phi Kiếm Trảm Hoàng Long (呂洞賓飛劍斬黃龍), có đoạn: “Đồng Tân ư kinh khuông lam nội thủ nhất cá tiên quả, dữ Phù Sứ ngật liễu, bái tạ thượng mã nhi khứ (洞賓於荆筐籃內取一個仙果、與符使吃了、拜謝上馬而去, Đồng Tân lấy một trái tiên từ trong giỏ tre, cùng quan Phù Sứ ăn xong, bái tạ rồi lên ngựa mà đi).”
Phù Tang
(扶桑): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên của vị thần Phù Tang (Thần Mộc), ở phương Đông của Trung Quốc, nằm trong biển nơi mặt trời mọc. (2) Nó còn là tên gọi của Nhật Bản, nơi có nhiều cây hoa Phù Tang (dâm bụt, Chinese hibiscus, China rose, Hibiscus rosa-sinensis L., thuộc Khoa Cẩm Quỳ [錦葵, Malvaceae]). Phù Tang Đại Đế (扶桑大帝) là tên gọi khác của Đông Vương Công (東王公), Đông Vương Phụ (東王父), Đông Hoa Đế Quân (東華帝君), Phù Tang Đế Quân (扶桑大帝), Thanh Đồng Quân (青童君), Thanh Đề Đế Quân (青提帝君), Đông Phụ (東父), Đông Quân (東君), Mộc Công (木公), v.v., là vị tiên nhân trong thần thần thoại Trung Quốc, vị vua ở phương Đông, thường đối ứng với Tây Vương Mẫu (西王母); nghĩa là Tây Vương Mẫu thống suất các tiên nữ trên thiên giới, còn Đông Vương Công thì thống lãnh các tiên nam. Về lai lịch của Phù Tang Đại Đế hay Đông Vương Công, có nhiều ký lục khác nhau. Chẩm Trung Thư (枕中書) thì cho rằng ông do Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) và Thái Nguyên Thánh Mẫu (太元聖母) sanh ra. Trong khi đó, Thần Dị Kinh (神異經) do (東方朔, 154-93 ttl) nhà Hán soạn, lại ghi rằng: “Đông hoang sơn trung hữu đại thạch thất, Đông Vương Công cư yên; trường nhất trượng, đầu phát hạo, nhân hình điểu diện nhi hổ mao, tải nhất hắc hùng, tả hữu cố vọng (東荒山中有大石室、東王公居焉、長一丈、頭髮皓、人形鳥面而虎尾、載一黑熊、左右顧望, trong núi hoang vu phía Đông có một hang đá lớn, là nơi Đông Vương Công ở; thân ông dài một trượng, đầu tóc trắng, hình người, mặt chim mà lông cọp, mang một con gấu đen, nhìn quanh phải trái).” Lại có thuyết cho rằng Đông Hoa Đế Quân lãnh đạo các tiên nam, có họ là Nghê (倪), tên Quân Minh (君明). Khi thiên hạ đang còn hỗn độn, ông sanh ra trên biển xanh, sáng tạo ra vạn vật, chủ quản khí âm dương ở phương Đông. Ngày sinh nhật của ông là mồng 6 tháng 2 Âm Lịch. Cho nên, trong Thượng Chơn Chúng Tiên Ký (上眞眾仙記) cũng cho biết rằng: “Phù Tang Đại Đế trú tại bích hải chi trung, trạch địa tứ diện, tinh phương tam vạn lí, thượng hữu Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành (扶桑大帝住在碧海之中、宅地四面、並方三萬里、上有太眞宮、碧玉城, Phù Tang Đại Đế ở trong biển xanh, có nhà và đất bốn mặt, vuông vức 30.000 dặm, trên có Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành).” Cũng có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân có liên quan đến tín ngưỡng thời Xuân Thu Chiến Quốc (春秋戰國). Đương thời tín ngưỡng vị thần Đông Hoàng Thái Nhất (東皇太一) ở vùng đất Sở, còn gọi là Đông Quân (東君), tức là Thần Thái Dương (太陽神, hay Thái Dương Tinh Quân [太陽星君]) biến hóa; được xem như là hóa thân của Đông Vương Cung hay Đông Hoa Đế Quân. Có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân tên là Vương Huyền Phủ (王玄甫), sư phụ của Chánh Dương Chân Nhân Chung Ly Quyền (正陽眞人鍾離權); tương truyền ông là tiền thân của Thuần Dương Chân Nhân Lữ Nham (純陽眞人呂岩, tức Lữ Đồng Tân [呂洞賓]). Thuyết này có thể thấy trong các truyện tiểu thuyết như Bát Tiên Đắc Đạo Truyện (八仙得道傳), Đông Du Ký (東遊記), v.v. Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, CBETA No. 1497) quyển 3 có đoạn rằng: “Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, Tứ Hải Cửu Giang Ngũ Hồ Thất Trạch chư Long Vương chúng (東嶽天齊仁聖帝、五嶽聖帝、五嶽佐命眞君、水府扶桑大帝、四大海王、四瀆源公、水府諸神、五方龍王、四海九江五湖七澤諸龍王眾, Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, các chúng Long Vương khắp bốn biển, chín sông, năm hồ, bảy suối).”
phù tang
2946乃傳說中東方之神仙國,或指日本。據佛祖統紀卷三十六所載,南齊永元元年(499),有一扶桑沙門慧深者來華,並入京師,其國位於我國之東三萬里。又劉宋大明五年(461),有罽賓國沙門五人至該國,佛法始流行。然大明五年相當於日本雄略天皇五年,而佛法傳入日本之年代遠在其後,故此一記載恐係誤傳。
; (扶桑) Một nước thần tiên ở phương đông trong truyền thuyết, hoặc chỉ cho nước Nhật bản. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh nguyên năm đầu (499) đời Nam Tề, có 1 vị sa môn người Phù tang tên là Tuệ thâm giả đến Kinh đô Trung quốc. Nước Phù tang nằm cách Trung quốc 3 vạn dặm về phía đông. Vào năm Đại minh thứ 5 (461) đời Lưu Tống, có 5 vị sa môn nước Kế tân đến Phù tang truyền pháp thì Phật pháp mới lưu hành ở đó. Nhưng năm Đại minh thứ 5 tương đương với đời Thiên hoàng Hùng lược của Nhật bản năm thứ 5, còn niên đại Phật pháp truyền vào Nhật bản thì sau Thiên hoàng Hùng lược rất xa, cho nên e rằng sự ghi chép trên đây có lầm lẫn.
Phù Tang Lược Ký
(扶桑略記, Fusōryakki): sử thư được thành lập vào cuối thời Bình An, là biên niên sử bằng Hán văn trong khoảng thời gian từ thời Thần Võ Thiên Hoàng (神武天皇, Jimmu Tennō) cho đến Quật Hà Thiên Hoàng (堀河天皇, Horikawa Tennō), trước tác của Hoàng Viên (皇圓, Kōen) thuộc Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Nguyên gốc bộ này có 30 quyển, nhưng bản hiện tồn là bản tàn khuyết, chỉ còn 16 quyển và sao bản mà thôi. Nó căn cứ vào điển tịch của Lục Quốc Sử (六國史) cũng như các truyện xưa có liên quan đến tự viện, và trong các điều khoản có nêu lên xuất xứ điển tịch.
phù tang thiền lâm tăng bảo truyện
2946凡十卷。明末清初僧性潡撰。係集錄日本禪門高僧一一七人之傳記。性潡於明永曆十五年(1661)東渡日本,延寶三年(1675)撰成此書。卷首有自序、目次,並附進扶桑僧寶傳表,卷末附跋,傳記末亦有稱歎德行之贊。貞享三年(1686),性潡復撰續扶桑禪林僧寶傳三卷,記慧瑃等四十八人之事蹟。大正六年(1917),二書編入大日本佛教全書第一○九卷。
; (扶桑禪林僧寶傳) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tính đôn soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 109. Nội dung thu chép truyện kí của 117 vị cao tăng Nhật bản. Năm Vĩnh lịch 15 (1661) đời Minh, ngài Tính đôn sang Nhật bản. Đến năm Diên bảo thứ 3 (1675) ngài soạn xong bộ sách này. Đầu quyển có lời tựa của tác giả, mục lục, bài biểu, cuối quyển phụ thêm lời bạt và cuối mỗi truyện cũng có bài tán ca ngợi đức hạnh. Năm Trinh hưởng thứ 3 (1686), ngài Tính đôn lại soạn Tục phù tang thiền lâm tăng bảo truyện, 3 quyển, nói về sự tích của 48 vị, bắt đầu từ ngài Tuệ xuân và cũng được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 109.
phù thạch tự
4159位於韓國慶尚北道榮川郡。山號太白山。依三國遺事卷四所載,新羅文武王十六年(676),時為唐儀鳳元年,留學我國之新羅僧義湘歸返太白山,奉旨開創本寺,並以此為根本道場,大闡華嚴一乘之旨,成為新羅華嚴宗之祖。佛殿後有三層石,遂得浮石之名。據傳,義湘去寺時曾於寮門前植杖,後生枝葉結果,時人稱為「仙飛花樹」。高麗朝初期燒毀,靖宗王七年(1041)圓融國師奉王命再建,以至於今。高麗朝第四代光宗王(950~975 在位)以後,觀惠之法門盛行於以智異山為中心諸地,號稱南岳;希朗則以浮石寺為據點,弘法布教,號稱北岳,高僧輩出。 寺域景觀極佳,於聚遠樓眺望,盡得其景。寺內藏有新羅以來駐錫本寺之名僧畫像十餘幅,形態怪異,神采逼人。此外,本寺之無量壽殿、祖師堂、釋迦如來塑像、三層石塔、無量壽殿前石燈、祖師堂壁畫等皆被列為國家寶物古蹟。其中,無量壽殿為韓國最古之木造建築。寺內所藏六十、八十、四十卷等之華嚴經版木,以字體之纖細,或謂為圓融國師決凝時代(964~1053)所開雕,然今已殘闕。〔朝鮮佛教通史、朝鮮禪教史、朝鮮古蹟圖譜〕
phù thế
4159又作憂世、浮生。本謂世間動盪不定,充滿憂苦;亦即無常之世。巨力長者所問大乘經卷上(大一四‧八三○上):「浮世匪堅,如夢所見。」又李白春夜宴桃李園序:「浮生若夢,為歡幾何?」於日本,至江戶初期後,天下太平,此字乃失其原本深刻之含意,一變而為享樂之意,且具有現世與當世之意味,故漸有「浮世繪」之名稱出現。
; (浮世) Cũng gọi Ưu thế, Phù sinh. Cuộc đời biến động, trôi nổi không cố định, đầy dẫy lo khổ; tức bao hàm ý nghĩa thế gian là vô thường. Kinh Cự lực trưởng giả sở vấn đại thừa quyển thượng (Đại 14, 830 thượng) nói: Cõi đời trôi nổi không bền chắc, hệt như cảnh thấy trong giấc mộng. Tại Nhật bản, vào thời đầu Giang hộ, thiên hạ thái bình, nên từ ngữ Phù thế đã mất hàm ý sâu xa mà biến thành ý niệm hưởng lạc và bao hàm nghĩa hiện thế.
Phù Thế Hội
(浮世會, Ukyoe): một loại hình thức tranh thế tục vốn phát triển rất phổ cập dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867); đặc biệt nó tạo ra cái đẹp độc đáo trong những bức tranh trên bảng gỗ. Nó thoát thai từ thể loại tranh phong tục, người đẹp vốn rất thịnh hành từ thời đại Đào Sơn đến Giang Hộ; và đến hậu bán thế kỷ 17 thì được Lăng Xuyên Sư Tuyên (菱川師宣) tạo nền tảng vững chắc cho thể loại tranh áp vào bảng gỗ, rồi đến năm 1765 thì Linh Mộc Xuân Tín (鈴木春信) đã khai sáng ra loại tranh ấn loát trên bảng với nhiều màu sắc phong phú; cuối cùng nó đạt đến đỉnh cao rực rỡ hoàng kim. Chủ đề của thể loại tranh này là lấy những cảnh tương tợ như dạo chơi thôn xóm, tình cảnh đóng kịch, người đẹp, võ sĩ, v.v., làm trung tâm. Ngoài những nhân vật vừa nêu trên, còn có những tác giả nổi tiếng khác như Điểu Cư Thanh Tín (鳥居清信), Tây Xuyên Hựu Tín (西川祐信), Điểu Cư Thanh Trường (鳥居清長), Hỷ Đa Xuyên Ca Lữ (喜多川歌麿), Đông Châu Trai Tả Lạc (東洲齋寫樂), Cát Sức Bắc Trai (葛飾北齋), Ca Xuyên Quảng Trọng (歌川廣重), v.v. Từ thế kỷ thứ 19 trở đi, thể loại tranh này cũng có ảnh hưởng đến mỹ thuật Châu Âu.
Phù trần
浮塵; C: fúchén; J: fujin;|»Bụi lăng xăng«. Là mọi hiện tượng tạo tác. Vì không nhận ra chân tính của mình, nên thấy các pháp sinh khởi và hoại diệt một cách lăng xăng không có cơ sở.
phù trần
4161一切有為之諸法,虛假不實,污染真性,故稱浮塵。〔楞嚴經卷二〕
; Floating dust.
; Bụi nổi—Tất cả các pháp hữu vi đều như bụi nổi, không chân thực. Nó che lấp mất chân tính—Floating dust or atoms, unstable matter, i.e. phenomena which hide reality.
; (浮塵) Bụi nổi trong hư không, ví dụ tất cả các pháp hữu vi, hư giả không thực, như bụi nổi, làm nhơ nhớp chân tính. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].
phù trần căn
2947指眼球、外耳等肉團所形成之五根外形器官,係扶助正根之五塵,其自身並無發識取境之作用,故稱為扶塵根。又作扶根、浮根、扶根塵。五根具有扶根與正根,正根(又作勝義根)非生理機能,而是五根據以發生感覺認識作用之實體,乃依於扶根而立,取外界之境,發內界之識,其體清淨微妙,為集合極微之四大而成,非肉眼可見,即指五官之神經。〔俱舍論卷二、成唯識論述記卷二〕(參閱「勝義根」4866)
; Indriya (S). The organs of sensation, eye, ear etc. in contrast with the function or faculty of sensation thắng nghĩa căn.
; Ngũ Trần Phù Trợ Chính Căn hay ngoại hình của ngũ căn, có thể thấy được hay nghe được như thị giác, thính giác, vân vân, là phù trần phù trợ “chính căn.” Đối lại với thắng nghĩa căn—The external organs of sensation, i.e. of sight, hearing, etc, which aid the senses. Also means “fleeting,” or “vacuous,” these external things having an illusory existence; the real organs, or indriya; in contrast with the function of faculty of sensation.
; (扶塵根) Cũng gọi Phù căn, Phù căn trần. Hình bề ngoài của 5 căn (5 khí quan) do da thịt tạo thành mà ta có thể nhìn thấy được, như mắt, tai, mũi, lưỡi...Bản thân các căn này không có tác dụng sinh ra thức để duyên theo các cảnh, mà chỉ là các trần có công năng phù trợ chính căn (Thắng nghĩa căn), đồng thời làm chỗ y cứ cho Chính căn phát sinh nhận thức mà thôi.[X. luận Câu xá Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2]. (xt. Thắng Nghĩa Căn).
Phù trần căn 扶塵根
[ja] フジンコン fujinkon ||| See 根. => Xem Căn根.
Phù trần 浮塵
[ja] フジン fujin ||| Literally, "floating dust." All created phenomena. Because of lack of awareness of our true nature, all things rise and fall haphazardly without basis. => 'Bụi lăng xăng'. Là mọi hiện tượng tạo tác. Vì không nhận ra chân tính của mình, nên thấy các pháp sinh khởi và hoại diệt một cách lăng xăng không có cơ sở.
phù tát
Bodhisattva (skt)—See Bồ Tát.
Phù tưởng
浮想; C: fúxiăng; J: fusō;|Vọng tưởng, niệm tưởng lăng xăng.
phù tưởng
Passing thoughts, unreal fancies.
; Những tư tưởng phù phiếm không thật—Passing thoughts, unreal fancies.
Phù tưởng 浮想
[ja] フソウ fusō ||| Floating thoughts; false thoughts. => Vọng tưởng, niệm tưởng lăng xăng.
phù tập nhuận sinh
2947又作誓扶習生。為天台宗顯示三乘通教第十地中之第九地菩薩修相之語。通教菩薩為成佛之故,必利益三界之眾生而修利他行,然既已於第七地斷除見思二惑,故不再生於三界,是以必須立誓,憑其願力扶持殘餘之習氣,生於三界而救度眾生,成就利他行,此即扶習潤生。至於藏教之菩薩,雖已制伏見思二惑,猶未斷之,故仍有生於三界之因;別、圓二教之菩薩,雖已斷除見思二惑,但由於無明惑之力,仍須生於三界。故扶習潤生,僅限於通教之菩薩。〔大智度論卷二十七、卷二十八、法華經玄義卷一、卷四下、維摩經玄疏卷三、止觀輔行傳弘決卷五之六、四念處卷二、四教義卷九、天台八教大意、天台四教儀〕
; (扶習潤生) Cũng gọi Thệ phù tập sinh. Nhờ sức thệ nguyện phù trợ cho tập khí còn rớt lại để được sinh trong 3 cõi. Đây là tiếng dùng của tông Thiên thai hiển bày tướng tu của Bồ tát địa thứ 9 trong 10 địa thuộc Tam thừa thông giáo. Bồ tát Thông giáo, để được thành Phật, ắt phải tu hạnh lợi tha làm lợi ích chúng sinh trong 3 cõi; nhưng đến địa thứ 7 thì đã đoạn từ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, không còn sinh lại trong 3 cõi nữa, vì thế phải lập thệ nguyện, nhờ sức thệ nguyện của mình phù trì cho tập khí còn sót lại, được sinh trong 3 cõi mà cứu độ chúng sinh để thành tựu hạnh lợi tha, đó gọi là Phù tập nhuận sinh. Về bồ tát Tạng giáo thì dù đã chế phục được Kiến hoặc, Tư hoặc, nhưng chưa hoàn toàn dứt hết, nên vẫn còn nhân (...) sinh trong 3 cõi. Còn các bồ tát Viên giáo và Biệt giáo, tuy đã dứt hết Kiến, Tư hoặc, nhưng do thế lực của hoặc Vô minh nên vẫn phải sinh trong 3 cõi. Bởi vậy, Phù tập nhuận sinh chỉ hạn cuộc ở bồ tát Thông giáo mà thôi. [X. luận Đại trí độ Q.27, 28; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, 4; Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 6; Tứ niệm xứ Q.2; Tứ giáo nghĩa Q.9; Thiên thai bát giáo đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi].
phù vân
4160維摩經十喻之一。浮雲聚散不定,變幻莫測,以此比喻人身如浮雲,須臾變滅。〔維摩經方便品〕
; A drifting cloud, e.g. this life, the body etc.
; Đời sống hay thân nầy cũng trôi nổi giống mây bay vậy—A drifting cloud, e.g. this life, or the body.
; (浮雲) Mây nổi, 1 trong 10 ví dụ của kinh Duy ma.Mây nổi tụ tán không định, biến hóa khó lường, dụ cho thân người vô thường, chốc lát bỗng tan biến. [X. phẩm Phương tiện kinh Duy ma].
phù đà
See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section.
phù đà bạt ma
4159梵名 Buddhavarman。又作佛陀跋摩。意譯覺鎧。西域人。自幼履操明直,聰悟拔群,博習三藏,尤善阿毘曇毘婆沙論,常誦持此部以為心要。後於劉宋元嘉年中來北涼。沙門道泰自葱嶺附近獲得阿毘曇毘婆沙論之梵本十萬偈,請師譯之。師遂於承和五年(437,宋元嘉十四年)奉北涼主沮渠牧犍之命,於涼州城內閑豫宮寺譯之,道泰筆受,沙門慧嵩、道朗與義學僧等三百餘人考正文義。至承和七年業畢,凡一百卷。未幾,魏滅北涼,經書什物皆被焚蕩,譯本亦散佚。時跋摩避難西返,不知所終。其後,涼王書寫六十卷,傳來宋朝,道挺為之作序,此即舊婆沙論。〔梁高僧傳卷三、歷代三寶紀卷九〕
; (浮陀跋摩) Phạm: Buddhavarman. Cũng gọi Phật đà bạt ma. Hán dịch: Giác khải. Cao tăng người Tây vực, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Lưu Tống. Thủa nhỏ sư đã có tiết tháo, sáng suốt, thẳng thắn, thông minh hơn người, làu thông Tam tạng, nhất là luận A tì đàm tì bà sa. Sư thương trì tụng bộ luận này và lấy đó làm tâm yếu. Trong năm Nguyên gia, sư đến Bắc Lương. Lúc đó, sa môn Đạo thái tìm được 10 vạn bài kệ bản tiếng Phạm của luận A tì đàm tì bà sa ở vùng phụ cận Thông lãnh, thỉnh sư dịch sang Hán văn. Năm Thừa hòa thứ 5 (437 – năm Nguyên gia 14 đời Lưu Tống), sư vâng mệnh chúa Bắc Lương là Thư cừ Mục kiền đến chùa trong cung Nhàn dự tại thành Lương châu, dịch bộ luận này, ngài Đạo thái bút thụ, các sa môn Tuệ trung, Đạo lãng cùng với hơn 300 vị tăng chuyên về nghĩa học hiệu đính văn nghĩa. Đến năm Thừa hòa thứ 7 (439) thì dịch xong bộ luận, tất cả 100 quyển. Chưa bao lâu thì Ngụy diệt Bắc Lương, bao nhiêu kinh sách đều bị đốt hết, bản dịch bộ luận cũng bị thất lạc, sư trở về Tây vực tị nạn, sau không biết sư thị tịch ở đâu. Về sau, Lương vương sao chép được 60 quyển, truyền đến Tống triều, ngài Đạo đĩnh làm bài Tựa, đây chính là luận Bà sa bản cũ. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9].
phù đầu
See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section.
Phù Đồ
(浮圖, 浮屠): còn gọi là Phật Đồ (佛圖), ý dịch của chữ stūpa (s.) và thūpa (p.), nghĩa là tháp. Trong Ngụy Thư (魏書), quyển 114, phần Thích Lão Chí (釋老志) có đoạn: “Tự lạc trung cấu Bạch Mã Tự, thạnh sức Phật Đồ, họa tích thậm diệu, vi tứ phương thức; phàm cung tháp chế độ, do y thiên trúc cựu trạng nhi trùng cấu chi, tùng nhất cấp chí tam, ngũ, thất, cửu, thế nhân tương thừa, vị chi Phù Đồ (自洛中構白馬寺、盛飾佛圖、畫跡甚妙、爲四方式、凡宮塔制度、猶依天竺舊狀而重構之、從一級至三、五、七、九、世人相承、謂之浮圖, trong kinh đô xây dựng Bạch Mã Tự, trang trí tháp Phật, nét vẽ tuyệt diệu, theo bốn phương thức; phàm chế độ cung tháp, đều nương theo hình trạng cũ của Thiên Trúc [Ấn Độ] mà kiến lập, từ một tầng cho đến ba, năm, bảy, chín tầng; người đời kế thừa, gọi đó là Phù Đồ).” Như trong bài Khương Cư Quốc Hội Tôn Giả Tượng Tán (康居國會尊者像贊) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 18 có câu: “Thường văn Tôn Quyền sơ kiến Hội công, nghi kỳ hình phục, cập cầu Xá Lợi hữu nghiệm, toại kiến Phù Đồ (嘗聞孫權初見會公、疑其形服、及求舍利有驗、遂建浮圖, thường nghe rằng ban đầu khi Tôn Quyền mới gặp Khương Tăng Hội thì nghi ngờ hình tướng vị này, bèn cầu xin Xá Lợi và có linh nghiệm, cuối cùng kiến lập tháp thờ).” Hay như trong Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (薩曇分陀利經, Taishō No. 265) cũng có đoạn: “Thị thời, thất bảo Phù Đồ, dũng tùng địa xuất thượng chí Phạm Thiên, Phù Đồ trung ương, hữu thất bảo đại Giảng Đường, huyền tràng phan hoa cái, danh hương thanh khiết (是時、七寶浮圖、涌從地出上至梵天、浮圖中央、有七寶大講堂、懸幢幡華蓋、名香清潔, lúc bấy giờ, tháp bằng bảy báu, từ đất vọt ra lên đến Phạm Thiên, giữa trung tâm tháp, có Giảng Đường bằng bảy báu, treo tràng phan, lọng báu, hương thơm tinh khiết).” Trong Tăng Quảng Hiền Văn (增廣賢文) có câu: “Cứu nhân nhất mạng, thắng tạo thất cấp Phù Đồ (救人一命、勝造七級浮屠, cứu người một mạng, hơn tạo bảy cấp tháp thờ).” Và tục ngữ dân gian Việt Nam cũng có câu tương tự như vậy: “Dẫu xây chín bậc Phù Đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”
phù đồ
4161又作浮屠、佛圖、蒲圖、休屠。<一>梵語 buddha(佛陀)之訛譯。我國古代稱佛陀為「浮屠氏」,稱佛教為「浮屠教」。魏書釋老志:「浮屠,正號曰佛陀,佛陀與浮圖聲相近,皆西方言,其來轉為二音,華言譯之謂淨覺。」(參閱「佛」2605) <二>梵語 buddha-stūpa(巴 buddha-thūpa)之訛略。指佛寺、佛塔、卒塔婆而言。大智度論卷十一(大二五‧一四四上):「阿輸伽王一日作八萬佛圖。」〔翻譯名義集卷二十、類聚名物考卷二十五〕(參閱「塔」5421)
; Buddha-stŪpa (S).
; Stùpa (S) Pagoda, shrine. Also Buddha.
; 1) Buddha (skt): Còn gọi là Hưu Đồ, là âm khác của Phật Đà—Another name for Buddha—See Buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section. 2) Stupa (skt): Xưa gọi Phật giáo là Phù Đồ, về sau nầy từ Phù Đồ dùng để chỉ riêng tháp thờ xá lợi Phật—Formerly “Phù Đồ” means “Buddhism;” however, nowadays, it is used to indicate a stupa of Buddha's relics—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (浮圖) Cũng gọi Phật đồ, Bồ đồ, Hưu đồ. I. Phù Đồ. Phạm: Buddha. Dịch âm đúng của từ Buddhaphải là Phật đà, dịch Phù đồ là sai. Trung quốc đời xưa gọi Phật đà là Phù đồ thị, gọi Phật giáo là Phù đồ giáo. Ngụy thư thích lão chí nói: Phù đồ, gọi đúng là Phật đà, tiếng Phật đà và Phù đồ gần giống nhau, đều là tiếng Tây trúc, đến Trung quốc chuyển làm 2 âm; Hán dịch là Tịnh giác. (xt. Phật). II. Phù Đồ. Dịch sai âm của tiếng Phạm: Buddhastùpa (Pàli: Buddha-thùpa) chỉ cho chùa Phật, tháp Phật, Tốt tháp bà. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 144 thượng) nói: Vua A du già 1 ngày làm 8 vạn Phật đồ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.20; Loại tụ danh vật khảo Q.25]. (xt. Tháp).
phù đồ từ
4160指祭祀佛陀之祠,即我國早期之佛寺。浮屠,梵語 buddha 之古譯,新譯為佛陀。我國最古之浮屠祠,據傳為東漢末年笮融於徐州地方所建,其中供有外表塗金之銅造佛像,為我國最古之金銅像。另楚王英及東漢桓帝(146~167 在位)之浮屠祠所供則為佛之畫像。又現存最古之金銅佛乃後趙建武四年(338)所鑄造。
; (浮屠祠) Nhà thờ phụng đức Phật, tức là chùa thờ Phật ở Trung quốc vào thời kì Phật giáo mới được truyền nhập. Chữ Phạm Buddha, dịch cũ: Phù đồ; dịch mới: Phật đà. Tương truyền, Phù đồ từ đầu tiên tại Trung quốc là do cư sĩ Sạ dung xây dựng ở vùng Từ châu vào những năm cuối đời Đông Hán, trong đó thờ tượng Phật đúc bằng đồng có mạ vàng bên ngoài, là tượng đồng mạ vàng xưa nhất ở Trung quốc. Còn tượng Phật thờ trong Phù đồ từ của Sở vương anh và vua Hoàn đế (ở ngôi 146-167) nhà Đông Hán là tượng vẽ. Ngoài ra, pho tượng Phật đồng mạ vàng xưa nhất hiện còn đã được đúc vào năm Kiến vũ thứ 4 (338) đời Hậu Triệu.
Phù-đà Mật-đà
浮陀蜜陀; S: buddhamitra;|Tổ thứ 9 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù-đà Nan-đề
浮陀難提; S: buddhanandi;|Tổ thứ 8 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù-đồ
浮圖; C: fútú; J: futo;|Phiên âm chữ buddha (Phật 佛) hoặc chữ stūpa (tháp 塔) từ tiếng Phạn. Còn có thể chỉ cho chùa viện hoặc là tăng sĩ Phật giáo. Cũng được dùng chỉ Phật pháp (viết 浮屠).
Phù-đồ 浮圖 , Phù-đồ 浮屠
[ja] フズ futo ||| (1) A transcription of the Sanskrit term buddha 佛. (2) A transcription of the Pali term Thūpa (s: Stūpa) 塔 (ta). (3) The Buddhist teachings. Can also refer to a temple or member of the Buddhist clergy--a Buddhist. => 1. Phiên âm chữ buddha (Phật 佛) từ tiếng Sanskrit. 2. Phiên âm chữ Thūpa từ tiếng Pali, chữ stūpa ( tháp 塔) trong tiếng Sanskrit . 3. Phật pháp. Còn có thể chỉ cho chùa viện hoặc là tăng sĩ Phật giáo–người Phật tử
phùng hữu lan
5366(1895~ )河南唐河人。字芝生。民國八年(1919)畢業於北京大學,十二年獲美國哥倫比亞大學哲學博士,歸國後歷任燕京、清華、中山、北京諸大學教授。二次大戰期間,任國立西南聯大文學院院長。曾出國講學,先後在美國賓夕法尼亞大學(Pennsylvania University)、夏威夷大學任客座教授。中共政權建立後仍任北大、清華教授。曾於一九五二年率領文化代表團訪問印度,同時任中共政協委員。二十三年著中國哲學史,頗獲當代學者推許;書中第七、八、九等三章綜論南北朝及隋唐之佛學思想,剖析精闢,見重學林。民國二十八年著新理學、新事論、新世訓,尤以「新理學」一書,融會宋儒道學中之「理學」(即「心」學)而成一家之言,迄今猶爲中外學術界所重視。另以「新原道」一書,對我國佛教,尤其是禪宗,詳加論列。中共統治初期即遭批鬥,馮氏亦自行發表文字,否定其以往著作思想之價值。
phùng mộng trinh
5367(1548~1595)明代秀水(浙江嘉興)人。字開之。崇尚氣節,擅長文章。神宗萬曆(1573~1620)年間,會試中狀元,官至國子監祭酒。氏素奉佛法,喜接近禪僧,從雲棲袾宏受菩薩戒,敬持無懈,又與紫柏真可修念佛三昧,刺血寫經,刻印大藏經。平素常誦楞嚴經,有釋鈔行世。於萬曆二十三年逝世,世壽四十八。諡莊簡,贈太子太保。著有歷代貢舉誌、快雪堂集、快雪堂漫錄等。〔明史卷三一七、明人小傳卷三、詩志居詩話卷十五〕
; (馮夢禎) (1548-1595) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Minh, người Tú thủy (Gia hưng, Chiết giang), tự là Khai chi. Ông có khí tiết cao thượng, giỏi văn chương. Khoảng năm Vạn lịch (1573-1620) đời vua Thần tông, ông thi đậu Trạng nguyên, làm quan đến chức Quốc tử giám tế tửu. Ông vốn kính tín Phật pháp, thích giao tiếp với các Thiền sư, từng xin ngài Vân thê Châu hoành thụ giới Bồ tát. Ông giữ giới rất nghiêm cẩn, lại cùng với ngài Tử bá Chân khả tu Tam muội niệm Phật. Ông chích máu viết kinh, khắc in Đại tạng. Ông tụng kinh Lăng nghiêm hàng ngày và soạn chú thích lưu hành. Năm Vạn lịch 22, ông qua đời, hưởng dương 48 tuổi, thụy hiệu là Trang giản, được phong tặng Thái Tử Thái Bảo. Ông để lại các tác phẩm: Lịch đại cống cử chí, Khoái tuyết đường tập, Khoái tuyết đường mạn lục. [X. Minh sử Q.317; Minh nhân tiểu truyện Q.3; Thi chí cư thi thoại 15].
phùng tiếp
5366(?~1153)宋代四川遂寧人。字濟川。曾任給事、知事等官。壯年時,參學於佛眼清遠座下,並嗣其法。復參謁大慧宗杲,得其心印。晚年勤修淨土,以往生西方爲願,並自費補修大藏經。於紹興二十三年示寂。著有語錄行世。〔五燈會元卷二十、五燈全書卷四十四、居士分燈錄卷下、嘉泰普燈錄卷二十三〕
; (馮楫) (?-1153) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Tống, người Toại ninh, tỉnh Tứ xuyên, tự Tế xuyên. Ông từng làm quan, giữ các chức Cấp sự, Tri sự. Lúc tuổi tráng niên, ông tham học ngài Phật nhãn Thanh viễn và nối pháp của ngài. Sau, ông lại tham yết ngài Đại tuệ Tông cảo và được tâm ấn. Về già, ông siêng tu Tịnh độ, nguyện vãng sinh Tây phương, xuất tiền tu bổ Đại tạng kinh. Năm Thiệu hưng 23 (1153), ông qua đời, có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.20; Ngũ đăng toàn thư Q.44; Cư sĩ phần đăng lục Q.hạ; Giathái phổ đăng lục Q.23].
phú
6613梵語 mrakṣa,巴利語 makkha。心所(心之作用)之名。為俱舍七十五法之一,唯識百法之一。即恐名譽將墮而隱藏自己之過惡,不發露悔過之行為或精神作用。俱舍宗以之為小煩惱地法之一,十纏之一;唯識宗則以之為小隨惑之一。依大毘婆沙論卷四十載,覆為貪著名利,或由無知,故覆藏自罪;為貪、癡二者之等流。又因自在起之故,乃為修道所斷除之煩惱,與五受中之憂、喜二受相應。〔俱舍論卷二十一、成唯識論卷六、品類足論卷三、雜阿毘曇心論卷二、順正理論卷五十四〕
; Mṛaksa (S), Makkha (P)Che dấu tội lỗi vì sợ tổn thương danh dự. Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; 1) Che dấu: Một trong các địa pháp tiểu phiền não (sợ mất danh dự mà che dấu tội lỗi của mình)—Covering—Deceit—See Tùy Phiền Não. 2) Giàu sang—Rich—Wealthy—Well-supplied. 3) Ném: To throw—To overthrow.
; (覆) Phạm: Mrakwa. Pàli: Makkha. Che giấu, tên 1 loại tâm sở, tức tâm che dấu tội lỗi vì sợ tổn thương danh dự. Một trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá cho Phú là 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong 10 triền; còn tông Duy thức thì cho Phú là 1 trong các Tiểu tùy hoặc. Theo luận Đại tì bà sa quyển 40 thì Phú là tham đắm danh lợi, hoặc do vô tri nên che dấu tội lỗi của mình, là đẳng lưu của tham và si. Lại vì Phú sinh khởi một cách tự tại, nên là phiền não do Tu đạo đoạn trừ, tương ứng với Ưu (lo âu) và Hỉ (mừng) trong 5 thụ (cảm nhận). [X. luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.54].
phú bát
6614指向下之半球體,狀如倒覆之鉢。即於佛塔塔身之上所作半圓之覆鉢形狀。俗稱斗形。於各種樣式之佛塔中,形制最古者為覆鉢形塔,係由欄楯、基壇、塔身、覆鉢、平頭、輪竿、相輪、寶瓶等各部分組成。依印度佛塔古制,覆鉢為九輪之基部,其上設置露盤。今則以露盤為相輪之基部,上安置覆鉢,與古制有異。(參閱「九輪」158、「承露盤」3254、「相輪」3911、「塔」5421)
; Bát lộn ngược đặt dưới chín vòng tròn trên nóc chùa—The inverted bowl at the top of a pagoda below the nine circles.
phú bạch
Phủ một tấm khăn nhỏ lên bức tượng—To throw a coverlet over an image.
phú ca la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
phú cường
See Phú Hào.
phú diện
1) Vải che mặt: A veil for the face. 2) Che mặt: To cover the face.
phú gia
A wealthy family.
phú già la
Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Phú Đặc Ca La—Chúng sanh có hình tướng, dáng vẻ và tâm thức (con người): Living beings that have form, body and soul (living beings that have body, matter, the soul, personal identity, interpreted by man, men, human being, and all the living). 1) Hữu tình: The sentient beings. 2) Tất cả chúng sanh: All living beings. 3) Tất cả chúng sanh chịu luân lưu trong luân hồi sanh tử: All living beings subject to metempsychosis. 4) Thú hướng: Direction, or transmigration.
phú giảng
6614又作覆述。聞師講授後,弟子能重述其師之所講者,稱為覆講。法華玄義卷六下(大三三‧七六一中):「彼佛八千劫說經,十六王子八萬四千劫覆講。」〔法華義記卷七、續高僧傳卷十靖崇條〕
; Trả bài cho thầy—To repeat a lesson to a teacher.
phú hào
Wealthy and powerful.
phú hậu
Enormously rich.
phú hộ
See Phú Gia.
phú khí
6614指器具之口朝下。據大智度論卷十五載,佛陀以覆器之譬喻訓示其子羅睺羅。謂轉覆之器具,雖注水而不入;以之比喻無慚愧之人,其心既已覆蓋,雖濟之以道法,亦難進入其心。〔釋門歸敬儀卷上〕
; 1) Đồ dùng để ngăn cản hay tắc, chẳng hạn như đồ tắc nước, hay ngói không cho nước thấm vào nhà: Things for turning off, e.g. water, as tiles do. 2) Tâm bị tắc nghẽn không thấm được đạo pháp: Impermeable resistant to teaching.
phú khả sĩ
4928(Foucaux, Philippe Edouard; 1811~1894)法國之印度學學者。師事布爾諾夫(E. Burnouf),一八四二年後,講授西藏語、梵文學。先後刊行方廣大莊嚴經(Lalitavistara)之藏(原典 Rgya-tcher-rol-pa)法對照本(1847~1848)與譯自梵本之法譯本(1884~1892)。並得閔那耶夫(Minayeff, Ivan Pavlovitch; 1840~1890)及中國學學者朱利安(Julien, Stanislas; 1799~1873)協助,共同校訂翻譯名義大集(梵 Mahāvyutpatti)。此外尚有 Doctrine des Bouddhists sur le Nirvāṇa, 1864;Grammaire de la langue tibetaine, 1858; Mālavikā et Agnimitra, 1877;Sakountalā, 1877; Vikramorvaçī, 1879 等論著。
; (富可士) Foucaux, Philippe Edouard (1811-1894) Học giả Ấn độ học người Pháp, là học trò của ông E. Burnouf. Từ năm 1842 về sau, ông dạy tiếng Tây tạng và văn học Phạm ngữ. Ông lần lượt ấn hành bản Tạng Pháp đối chiếu kinh Phương quảng đại trang nghiêm (Phạm: Lalitavistara – 1847-1848) và bản dịch tiếng Pháp của kinh này (1884-1892). Đồng thời, hợp lực với các ông Minayeff, Ivan Pavlovitch (1840-1890) và Julien, Stanislas (1799-1873), hiệu đính Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti). Ngoài những công trình nói trên,ông còn có các tác phẩm: -Doctrine des Bouddhists sur le Nirvàịa, 1864. -Grammaire de la langue tibetaine, 1858. -Màlavikàet Agnimitra, 1877. -Sakountalà, 1877; Vikramorvacì, 1879.
phú kiên
Mặc phủ lên vai (loại áo cà sa phú-kiên-y che vai phải; trong khi kỳ-chi-y là áo che vai trái)—To throw a robe over the shoulder.
phú la
Pula or Para (skt). 1) Quốc độ: Pura (skt)—Land—Country—City. 2) Chiếc giày ngắn dùng để trang sức: A short-legged (ornament) boot—Boot or shoe ornamentation.
phú la bạt đà la
See Phú La (2).
phú lan na
4929梵名 Purāṇa。古印度教聖典之總稱。約成書於西元前一世紀至十世紀間,流傳至今,可分為大富蘭那(梵 Mahāpurāṇa)、續富蘭那(梵 Upapurāṇa)二大類,又各分為十八部。大富蘭那敘述祭典、習俗等,分別為各教派所依據之經典,包括梵天、蓮花、毘濕奴、風神、薄伽梵、那羅陀、摩根德耶、火神、未來、梵轉、林伽、野豬、室建陀、侏儒、龜、魚、大鵬、梵卵等十八種富蘭那。續富蘭那則包含「富蘭那」之典型五相(梵 Pañcalakṣaṇa):宇宙創造(梵 Sarga)、世界成壞(梵 Pratisarga)、神仙之系譜(梵 Vaṃśa)、摩拏之治世(梵 Manvantara),及日種月種之王統系譜(梵 Vaṃśānucarita)等。本書富有濃厚之印度教色彩,各教派經常擷取其內容,以詮釋各自之教義,故富蘭那隨時代、地域等之變遷已失其原始風貌。然大體而言,其內容涵蓋習俗、傳統、通俗哲學、醫學、建築、詩歌、音樂等,實係研究古印度文化之珍貴資料。或謂本書編者即摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)之編者毘耶娑(梵 Vyāsa)。〔プラ|ナの成立と內容について(真田有美)、プラ|ナ概說(中野義照)〕(參閱「往世書」3198)
; (富蘭那) Phạm: Puràịa. Danh từ gọi chung các Thánh điển của Ấn độ giáo cổ đại. Thánh điển này được viết thành sách vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch đến thế kỉ X và lưu truyền đến ngày nay. Có thể chia làm 2 loại: Đại phú lan na (Phạm: Mahàpuràịa) và Tục phú lan na (Phạm: Upapuràịa). Mỗi loạilạiđược chia làm 18 bộ. Đại phú lan na nói về phép cúng tế, tập tục... là kinh điển y cứ của các giáo phái, bao gồm 18 thứ Phú lan na: Phạm thiên, Liên hoa, Tì thấp nô, Phong thần, Bạc già phạm, Na la đà, Ma căn đức da, Hỏa thần, Vị lai, Phạm chuyển, Lâm già, Dã trư, Thất kiến đà, Chu nho, Qui, Ngư, Đại bằng và Phạm noãn. Tục phú lan na thì bao gồm 5 tướng điển hình (Phạm: Paĩcalakwaịa) của Phú lan na: Vũ trụ sáng tạo (Phạm: Sarga), Thế giới thành hoại (Phạm: Pratisarga), Hệ phổ của các thần tiên (Phạm: Vaôza), Sự cai trị thế gian của Ma noa (Phạm: Manvantara) và Hệ phổ của vương thống dòng Nhật chủng, Nguyệt chủng (Phạm: Vaôzànucarita). Phú lan na mang đặm sắc thái Ấn độ giáo, mỗi giáo phái đều rút tỉa lấy nội dung của sách này để giải thích giáo nghĩa của phái mình. Bởi thế, theo sự biến thiên của thời đại và địa vực, Phú lan na cũng đã mất đi cái phong cách nguyên thủy của nó. Tuy nhiên, trên đại thể, vì nội dung Phú lan na chứa đựng những thành phần như tập tục, truyền thống, triết học thông tục, y học, kiến trúc, thi ca, âm nhạc... nên nghiễm nhiênnóđã trở thành tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn độ cổ đại. Có thuyết cho rằng người biên soạn sách này cũng chính là Tì da sa (Phạm: Vyàsa) – soạn giả của thiên anh hùng ca Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata).
phú lan na ca
PŪrṇajit (S)Phú NaMột vị Đại La hán, đại đệ tử Phật.
phú lan na ca diếp
4930梵名 Pūraṇa-kāśyapa,巴利名 Pūrāṇa-kassapa 或 Purāṇa-kassapa。為佛世時六師外道之一,住於中印度。又作富蘭迦葉、不蘭迦葉、老迦葉、補剌拏迦葉波、布剌拏迦葉波。略作富蘭那,脯剌拏。「富蘭那」為其字,意譯作滿、究竟;「迦葉」為其母姓,意譯作龜、飲光、護光。據法句譬喻經卷三地獄品載,富蘭那迦葉為舍衛國婆羅門師,有五百弟子,曾與佛陀較量道力,落敗後投水而死;或說其為奴隸之子,常為裸形。依長阿含卷十七沙門果經、北本大般涅槃經卷十九等所載,其人主張無因論、無道德論,認為眾生之迷悟等皆無因緣,善惡諸業亦無果報。另據巴利文增支部(Aṅguttara-nikāya 6, 57)記載,富蘭那迦葉將人分為六種階級,即:(一)黑生(巴 kaṇhābhijāti),指屠夫、獵師等操執賤業者。(二)青生(巴 nīlābhijāti),指佛教之比丘及業論者、所作論者等。(三)赤生(巴 lohitābhijāti),指尼乾子之徒眾。(四)黃生(巴 haliddābhijāti),指在家之裸形者。(五)白生(巴 sukkābhijāti),指邪命外道。(六)最勝白生(巴 parama-sukkābhijāti),指難陀跋蹉(巴 Nanda-vaccha),瞿沙商吉迦(巴 Kisa-saṅkicca)、末伽利瞿舍梨子(巴 Makkhali-gosāla)等。〔中阿含卷五十七箭毛經、長阿含卷十七沙門果經、增一阿含經卷三十二、卷三十九、北本大般涅槃經卷十八、寂志果經、撰集百緣經卷一、蓮華面經卷下、眾許摩訶帝經卷二、有部毘奈耶出家事卷一、有部毘奈耶破僧事卷十、注維摩詰經卷三、摩訶止觀卷十上、慧琳音義卷二十六、外道哲學、印度哲學研究卷二〕
; Pùrana Kàsyapa (S).
; Puruna-kasyapa (skt)—See Bất Lan Ca Diếp.
; (富蘭那迦葉) Phạm: Pùraịa-kàzyapa. Pàli: Pùraịa-kassapa, Puràịakassapa. Cũng gọi Phú lan ca diếp, Phất lan ca diếp, Lão ca diếp, Bổ lạt noa ca diếp ba, Bố lạt noa ca diếp ba. Gọi tắt: Phú lan na, Bô lạt noa. Tên của ngoại đạo ở Trung Ấn độ vào thời đại đức Phật, là 1 phái trong Lục sư ngoại đạo. Phú lan na, Hán dịch: Mãn (đầy đủ), Cứu cánh (rốt ráo), là tên của ngoại đạo này; Ca diếp, Hán dịch: Qui(loài rùa), Ẩm quang(uống ánh sáng), Hộ quang (ánh sáng che chở), là họ mẹ của ngoại đạo này. Cứ theo phẩm Địa ngục trong kinh Pháp cú thí dụ quyển 3, Phú lan na ca diếp là 1 thầy Bà la môn ở nước Xá vệ, có 500 đệ tử, từng cùng với đức Phật thi thố đạo lực, bị thua liền nhảy xuống sông mà chết. Có thuyết cho rằng ông là con của nô lệ, thường trần truồng. Theo kinh Sa môn quả trong Trường a hàm quyển 17 và kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Bắc) thì Phú lan na ca diếp chủ trương Vô nhân luận, Vô đạo đức luận, cho rằng sự mê ngộ của chúng sinh không có nhân duyên gì hết, các nghiệp thiện ác cũng không có quả báo. Cứ theo Tăng chi bộ (Aíguttaranikàya, 6, 75) tiếngPàli, Phú lan na ca diếp chia người làm 6 giai cấp theo 6 màu: Đen, xanh, vàng, đỏ, trắng, trắng phau. 1. Hắc sinh (Pàli: Kaịhàbhijàti): Chỉ cho những người làm các nghề hèn hạ như đồ tể, săn bắn... 2. Thanh sinh (Pàli:Nìlàbhijàti): Chỉ cho các tỉ khưu Phật giáo và các nhà chủ trương Nghiệp luận, Sở tác luận... 3. Xích sinh (Pàli: Lohitàbhijàti): Chỉ cho đồ chúng của ngoại đạo Ni kiền tử. 4. Hoàng sinh (Pàli: Haliddàbhijàti): Chỉ cho người lõa hình tại gia. 5. Bạch sinh (Pàli: Sukkhàbhijàti): Chỉ cho ngoại đạo Tà mệnh. 6. Tối thắng bạch sinh (Pàli: Paraamasukkhàbhijàti): Chỉ cho Nan đà bạt ta (Pàli:Nanda-vaccha), Cù sa thương cát ca (Pàli: Kisa-saíkicca), Mạt già lợi cù xá lê tử (Pàli: Makkhali-gosàla)... [X. kinh Tiễn mao trong Trung a hàm Q.57; kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Tăng nhất a hàm Q.32, 39; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Tịch chí quả; kinh Soạn tập bách duyên Q.1; kinh Liên hoa diện Q.hạ; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; Hữu bộ tì nại da xuất gia sự Q.1; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.10; Chú Duy ma cật kinh Q.3; Ma ha chỉ quán Q.10, phần đầu; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Ngoại đạo triết học; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.2].
phú lan đà la
Purandara (skt). 1) Người phá vở thành lũy: Stronghold breaker, fortress destroyer. 2) Một tên khác của Thần Sấm Sét: Another name for Indra for thunder-god.
phú lâu na
4929梵名 Pūrṇa,巴利名 Puṇṇa。為釋尊十大弟子之一。全名富樓那彌多羅尼子(梵 Pūrṇa-maitrāyaṇīputra,巴 Puṇṇa-mantāni-putta)。又作布剌拏梅但利曳尼子、分耨文陀尼子。或略作富婁那、彌多羅尼子。意譯為滿慈子、滿祝子、滿願子。「滿」是其名,「慈」是其母姓,從母得名,故稱滿慈子。「彌多羅」為其母之族名,有祝、願之義,故稱滿祝子、滿願子。為迦毘羅婆蘇(即迦毘羅衛)人,淨飯王國師之子,屬婆羅門種。容貌端正,自幼聰明,能解韋陀等諸論,長而厭俗,欲求解脫,遂於悉達太子出城之夜,與朋友三十人同時於波梨婆遮迦法中出家,入雪山,苦行精進,終得四禪五通。及佛成道,於鹿野苑轉法輪,師乃至佛所求出家受具足戒,後證得阿羅漢果。以其長於辯才,善於分別義理,後專事演法教化,因聞其說法而解脫得度者,多達九萬九千人,故被譽為「說法第一」。 據雜阿含經卷十三、摩訶僧祇律卷二十三等所載,西方輸盧那人兇惡弊暴,好嘲罵,師聞之,徵得佛陀允許,乃前往教化其國,為五百優婆塞說法,建立五百僧伽藍,令其具足夏安居等事,後於彼地入無餘涅槃。另據法華經卷四「五百弟子受記品」載,佛陀曾記莂師當來成佛,號法明如來。另據大唐西域記卷四載,秣菟羅國之大都城存有師之遺身塔。〔雜阿含經卷十、卷十六、中阿含卷二「七車經」、增一阿含經卷三弟子品、佛本行集經卷三十七富樓那出家品、滿願子經、道行般若經卷一道行品、分別功德論卷四、大智度論卷三、玄應音義卷三、卷八〕
; PŪrna (S)Mãn từ tử, Mãn nguyện tử, Mãn kiến tử;Một trong thập đại đại đệ tử. Trọn tên là Purna Maitrayaniputtra: Phú lâu na Di đa la ni tử. Ngài Phú la nâu (Purna) được Phật Thích Ca thọ ký vể vị lai sẽ thành Phật có hiệu này, cõi thế giới của Ngài là Thiện Tịnh, kỳ kiếp là Bảo Minh.
; Pùrna (S).
; Purna (skt)—Phú Lâu Na Di Chất Na Ni Tử, con của trưởng giả Ba-Va và một người gái nô lệ. Ông là một trong 1250 vị A La Hán đệ tử Phật, cũng là một trong thập đại đệ tử của Phật có biệt tài thuyết pháp. Bị người anh bạc đãi trong thương vụ, nhưng ông đã cứu người anh nầy trong một chuyến đắm tàu. Về sau ông xây một tịnh xá hiến cho Phật. Ông được Phật thọ ký sẽ thành Phật đời vị lai với hiệu là Pháp Minh Như Lai—Purnamaitrayaniputra, or Maitrayaniputra, son of Bhava by a slave girl, often confounded with Maitreya. One of the 1250 Arhat disciples of the Buddha. He was also one of the ten great disciples of the Buddha. He was the chief preacher among the ten principal disciples of Sakyamuni. Ill-treated by his brother, engaged in business, saved his brother from shipwreck by conquering Indra through samadhi. He built a vihara (monastery) for Sakyamuni. The Buddha predicted that he would become a Buddha titled Dharmaprabhasa.
; (富樓那) Phạm: Pùrịa. Pàli: Puịịa. Gọi đủ: Phú lâu nadiđa la ni tử (Phạm: Pùrịa-maitràyaịìputra, Pàli: Puịịamantàni-putra). Cũng gọi: Bố lạt noa mai đãn lợi duệ ni tử, Phân nậu văn đà ni tử. Gọi tắt: Phú lâu na, Di đa la ni tử. Hán dịch: Mãn từ tử, Mãn chúc tử, Mãn nguyện tử. Mãn là tên của ngài, Từ là họ mẹ; vì lấy họ mẹ nên gọi là Mãn từtử. Di đa la là tên tộc của bà mẹ, có nghĩa là chúc, nguyện, vì thế gọi là Mãn chúc tử, Mãn nguyện tử, tên vị A la hán, 1 trong 10 Đại đệ tử của đức Phật, người Ca tì la bà tô (tức Ca tì la vệ), con vị Quốc sư triều vua Tịnh phạn, thuộc dòng Bà la môn. Ngài có dung mạo đoan chính, thông minh từ thủa nhỏ, am hiểu các luận Phệ đà, lớn lên ngài cảm thấy chán thế tục, muốn tìm đường giải thoát, nên vào đúng đêm Thái tử Tất đạt đa vượt thành, ngài cùng với 30 bạn hữu đồng thời xuất gia theo pháp Ba lê bà già ca, vào núi Tuyết, khổ hạnh tinh tiến, cuối cùng được Tứ thiền, Ngũ thông. Đến khi đức Phật thành đạo, chuyển pháp luân ở vườn Lộc dã, ngài đến chỗ Phật cầu xuất gia thụ giới Cụ túc, sau đó chứng được quả A la hán. Vì ngài có biện tài vô ngại, khéo phân biệt nghĩa lí, nên ngài chuyên thuyết pháp giáo hóa, những người nhờ nghe ngài thuyết pháp mà được giải thoát có tới 9 vạn 9 nghìn, vì thế ngài được tôn là Thuyết pháp đệ nhất. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 13 và luật Ma ha tăng kì quyển 23 thì người Thâu lư na ở miền tây Ấn độ hung ác thô bạo, thích chửi mắng, ngài bèn xin phép đức Phật đến nước ấy giáo hóa. Ngài thuyết pháp độ được 500 ưu bà tắc, xây dựng 500 tăng già lam, khiến cho việc an cư mùa hạ được đầy đủ. Sau, ngài nhập Vô dư niết bàn ở xứ này. Theo phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa quyển 4, đức Phật thụ kí cho ngài trong vị lai sẽ thành Phật, hiệu là Pháp minh Như lai. Ngoài ra, theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì ở đô thành của nước Mạt thố la vẫn còn tòa tháp thờ xá lợi của ngài. [X. kinh Tạp a hàm Q.10, 16; kinh Thất xa trong Trung a hàm Q.2; phẩm Đệ tử kinh Tăng nhất a hàm Q.3; phẩm Phú lâu na xuất gia trong kinh Phật bản hạnh tập Q.37; kinh Mãn nguyện tử; phẩm Đạo hạnh trong kinh Đạo hành bát nhã Q.1; luận Phân biệt công đức Q.4; luận Đại trí độ Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.3, 8].
phú lâu na di đa la ni tử
PŪrṇa-maitrayaniputtra (S)Xem Purna.
; Purna-Maitrayaniputtra (skt)—See Phú Lâu Na.
phú lâu na phú la
Purusapura (skt)—Phú Lâu Sa Phú La—Phú Lưu Sa Phú La—Trượng Phu Thổ, tên một vương quốc cổ, phía Bắc Ấn Độ, bây giờ là Peshwar, nơi mà người ta nói rằng Ngài Thiên Thân Bồ Tát đã ra đời—The ancient capital of Gandhara, north of India, the modern Peshawar, stated to be the native country of Vasubandhu.
phú lâu sa
Purusa (skt). 1) Nhân loại: Man—Mankind. 2) Con người được nhân cách hóa làm Na La Diên Thiên (một loại trời): Man personified as Narayana—See Narayana. 3) Tâm Thức: Soul and source of the universe. 4) Thần Ngã: The spiritual self. 5) Ngã: Atman (skt)—Ego—Tánh chất đặc biệt của “ngã” là tư tưởng, và qua một chuỗi thay đổi của kiếp hiện hữu—The atman whose characteristic is thought, and which through successive modifications, all forms of existence—See Atman in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
phú lâu sa phú la
Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.
phú lưu sa phú la
Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.
phú mộ
6614於屍體安葬後第三日之掃墓,稱為覆墓。釋氏要覽卷下(大五四‧三○九下):「殯後三日,再往墓所,謂之覆墓。杜氏云:『不載禮經,但以孝子自迁奉後追慕所親,又慮墳墓未完,復往省之。』今釋子往亦無咎,蓋檢校之至也。」
; Vong linh trở về viếng mồ ba ngày sau khi đã được chôn cất—To return to visit a grave on the third day after internment.
Phú Mộc Thường Nhẫn
(富木常忍, 1216-1299): tức Phú Mộc Nhật Thường (富木日常, Tōki Nichijō), người ngoại hộ đắc lực cho Nhật Liên, vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, húy là Thường Nhẫn (常忍), Nhật Thường (日常); hiệu là Thường Tu Viện (常修院). Vốn là quan có thế lực của dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa), trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Trường (建長, 1249-1256), ông quy y theo Nhật Liên ở vùng Liêm Thương; từ đó về sau, ông trở thành tín đồ dắc lực cho Nhật Liên trong việc ủng hộ Tông môn và truyền bá giáo nghĩa. Sau khi Nhật Liên qua đời, ông xuất gia và biến nhà ông thành chùa, lấy tên là Pháp Hoa Tự (法華寺, tức Pháp Hoa Kinh Tự [法華經寺, Hokkekyō-ji] ở Trung Sơn [中山, Nakayama]), rồi lập nên cơ sở cho Môn Phái Trung Sơn. hơn nữa, ông có công rất lớn trong việc bảo tồn các di thư của Nhật Liên. Trước tác của ông có Thường Tu Viện Bổn Tôn Thánh Giáo Sự (常修院本尊聖敎事).
phú na
Xem Phú lan na ca.
; Punya, Punar, or Purna (skt)—See Phú Lâu Na.
phú na bà tô
Punarvasu (skt)—Tên của một vị sư Ấn Độ—Name of an Indian monk.
phú na bạt đà
Purnabhadra (skt)—Tên cùa một Thần tướng—Name of a spirit-general.
phú na da xá
Punyayasas (skt)—Phú Na Dạ Xoa—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11).
phú na dạ xa
4928梵名 Puṇyayaśas。又作富那耶舍、富那奢、富那、夜奢。中印度華氏城人,為空身長者第七子,付法藏第十祖(一說十一祖)。依付法藏因緣傳卷五所載,師受法於脅比丘,演暢勝法,教化無量眾生。後於閑林中與馬鳴對論佛法,說第一義諦空、無我之義,遂屈馬鳴為弟子,臨終付法。然馬鳴菩薩傳、出三藏記集卷十二薩婆多部記目錄序則謂脅比丘為馬鳴之師,而未載師之名。另據大莊嚴論經卷一所記「無垢清淨僧富那、脅比丘」之句,可知馬鳴對二師均極為推重。〔寶林傳卷三、景德傳燈錄卷一、佛祖統紀卷五、內證佛法相承血脈譜〕
; Puṇyayaśa (S), Punyayasha Tổ thứ 11 trong 28 vị tổ Phật giáo Ấn độ.
; Punyayasas (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11).
; (富那夜奢) Phạm: Puịyayazas. Cũng gọi Phú na dạ xá, Phú na xa, Phú na, Dạ xa. Tổ thứ 10 (có thuyết nói tổ thứ 11) của Thiền tông Ấn độ được phó pháp tạng, người ở thành Hoa thị Trung Ấn độ, là con thứ 7 của trưởng giả Không thân. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 thì ngài thụ pháp ở nơi Hiếp tôn giả, thuyết pháp thù thắng, giáo hóa vô lượng chúng sinh. Sau, ngài tranh luận về Phật pháp với ngài Mã minh, ngài nói nghĩa Đệ nhất nghĩa đế không, vô ngã, khuất phục được ngài Mã minh và thu nhận làm đệ tử, đến khi lâm chung thì phó pháp. Nhưng Mã minh bồ tát truyện và bài tựa Tát bà đa bộ kí mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12 thì cho rằng tỉ khưu Hiếp là thầy của ngài Mã minh, mà không nói đến tên ngài Phú na dạ xa. Còn trong Đại trang nghiêm luận kinh quyển 1 có ghi câu Vô cấu thanh tịnh tăng Phú na, Hiếp tỉ khưu chứng tỏ ngài Mã minh rất kính trọng 2 vị này. [X. Bảo lâm truyện Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.5; Nội chứng Phật pháp tương thừa huyết mạch phổ].
phú na dạ xa tổ sư
Puṇyagasa (S)Tổ sư thứ 11 trong 28 vị Tổ sư Phật ghiáo tại Ấn.
phú na kỳ
Purneccha (skt). 1) Tên của một loại ngạ quỷ (khi Đức Phật đang trụ tại tịnh xá Trúc Lâm trong thành Vương Xá, tôn giả Mục Kiền Liên thấy một con quỷ thân hình đen đủi như cột nhà cháy, bụng to như núi, cổ khẳng khiu như cây kim, vừa chạy khắp nơi vừa la hét om sòm, đòi phân và nước tiểu để uống. Ngài Mục Kiền Liên bèn đến hỏi Đức Phật. Đức Phật đáp: “Trong đời Hiền Kiếp nầy ở thành Xá Vệ, có một vị trưởng giả làm nghề ép mía lấy mật mà trở nên đại phú. Bấy giờ có vị Bích Chi Phật mắc bệnh tiêu khát, bèn đến vị trưởng giả xin nước mía để uống. Vị trưởng giả lòng rất hoan hỷ, bảo với người vợ là Phú Na Kỳ rằng 'tôi có việc cần phải đi gấp, nàng ở nhà hãy lấy nước mía mà bố thí cho vị Bích Chi Phật nầy.' Sau khi chồng đi, người vợ bèn cầm lấy chiếc bát của vị Bích Chi Phật, vào bên trong mà tiểu tiện vào đó, đoạn đổ thêm nước mía vào, rồi đưa cho vị Bích Chi Phật. Vị Bích Chi Phật cầm bát định uống, nhưng biết không phải là nước mía, bèn đổ xuống đất rồi cầm bát không ra về. Người phụ nữ ấy khi thác sanh đọa làm ngạ quỷ, lúc nào cũng bị cơn đói khát ghê gớm dày vò)—Name of a preta, or hungry ghost. 2) Tên của một nhà sư: Name of a monk.
phú na xa
Punyanyasa (S).
phú nhĩ khâu cát
4929(Hultzsch, Eugen Julius Theodor; 1857~1927)德國之印度學學者。於維也納大學從事印度古文書、碑文之研究,一八八四至一八八五年探查北印度,其後定居於南印度邁所,二十年間廣泛蒐集寫本、碑文、貨幣等,並學習達羅維荼語。一九○三年歸國後,任哈勒大學教授,講授梵語。其對梵文王統史(Rājataraṅgiṇi)之研究,頗能補充印度史書之不足,指出不足採信之處,特別強調碑文史、貨幣史之價值,並蒐集整理多數新資料而發表。曾出版及翻譯吠陀以後之原典,對文獻學之解釋與批判貢獻頗鉅。其重要著作有 Inscriptions of Asoka(Coryus Inscriptionum Indicarum, vol. Ⅰ)1925;South-Indian Inscriptions, 3 vols., 1890~1903.
phú nông
A rich farmer.
phú quí
Rich and noble.
phú sa
Pusya (skt). 1) Một vị cổ Tiên—An ancient rsi. 2) Tên một chòm sao: Name of a constellation.
phú thương
Rich merchant.
phú thọ
Rich and long-lived.
phú thủ hướng hạ hợp chưởng
6614密教十二合掌之第十一。即二掌俱覆,二拇指相並,以二中指之指頭相觸接。所謂十二合掌乃合兩掌所作之十二種印相。密宗以此十二種合掌之形式,與另外六種拳印同為諸印契之基礎,故稱之為印母。〔大日經疏卷十三、大日經義釋卷八〕(參閱「十二合掌」336)
; (覆手向下合掌) Một kiểu chắp tay với hình thức 2 bàn tay úp (phúc) xuống, 2 ngón cái để song song, đầu của 2 ngón giữa chạm vào nhau. Là kiểu thứ 11 trong 12 kiểu chắp tay của Mật giáo. Mười hai kiểu chắp tay này tức là 12 thứ hình tướng của ấn khế, cùng với 6 thứ Quyền ấn (ấn nắm tay) đều là nền tảng của các ấn khế trong Mật giáo, vì thế được gọi là Ấn mẫu (mẹ của các ấn). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.8]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).
phú tục đế
Thế Tục Đế—Tục đế chẳng những không lột hết được nghĩa lý mà còn che lấp mất chân lý (thí dụ như sắc vốn không phải là cái bình mà cho là cái bình; thanh vốn không phải là ca khúc mà cho là ca khúc)—The unenlightened inversion of reality, common views of things.
Phú Vĩnh Trọng Cơ
(富永仲基, Tominaga Nakamoto, 1715-1746): học giả và là tư tưởng gia sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Tử Trọng (子仲); thông xưng là Tam Lang Binh Vệ (三郎兵衛); hiệu Khiêm Trai (謙齋); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka). Ông sinh ra trong một gia đình chuyên kinh doanh tương dấm. Phụ thân ông, Cát Tả Binh Vệ (吉左兵衛), là một trong những người sáng lập Hoài Đức Đường (懷德堂). Ban đầu, ông theo học với Tam Trạch Thạch Am (三宅石庵) của Hoài Đức Đường và cuối cùng học về Cổ Văn Từ Học cũng như Phật Giáo. Sau ông mở trường dạy ở nhà và viết các tác phẩm Xuất Định Hậu Ngữ (出定後語), Ông Văn (翁文) để phê phán những việc làm của người đời sau trong ba tôn giáo Nho, Phật, Thần. Ông chủ trương đạo chân thành, phổ biến, không câu nệ vào tôn giáo nào cả; và đã tảo ảnh hưởng to lớn đới với nhóm Bổn Cư Tuyên Trường (本居宣長), Bình Điền Đốc Dận (平田篤胤).
phú ông
A rich man.
phú đa
Putana (skt)—See Bố Đát Na and Phú Đơn Na.
phú đan na quỷ
4928富單那,梵名 Pūtana。為鬼神之一種。又作富多那鬼、布怛那鬼。意譯作臭鬼、臭餓鬼。又稱熱病鬼、災恠鬼。此鬼與乾闥婆皆為持國天之眷屬,守護東方。依護諸童子陀羅尼經載,富多那鬼外形如豬,能使孩童在睡眠中驚怖啼哭。又據慧琳音義卷十二、卷十八所述,富單那鬼為餓鬼中福報最勝者,其易極為臭穢,能予人畜災害。另有名為迦吒富單那(梵 Kaṭa-pūtana)之鬼,與富單那鬼為同類。〔守護大千國土經卷下、翻梵語卷七、翻譯名義集卷六、孔雀經音義卷上、大佛頂陀羅尼勘註〕
; (富單那鬼) Phú đơn na, Phạm: Pùtana. Cũng gọi Phú đa na quỉ, Bố đát na quỉ. Hán dịch: Xú quỉ, Xú ngã quỉ, Nhiệt bệnh quỉ, Tai quái quỉ. Một trong các loại quỉ thần, là quyến thuộc của Trì quốc thiên, giữ gìn, che chở phương Đông. Theo kinh Hộ chư đồng tử đà la ni, thân hình quỉ Phú đa na giống như lợn (heo),thường làm cho trẻ con đang ngủ giật mình kinh sợ kêu khóc. Còn theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 12, 18, thì quỉ Phú đơn na là loài quỉ có phúc báo hơn hết trong loài quỉ, mình mẩy cực kì hôi thối, nhớp nhúa, hay gây tai họa cho người và súc vật. Ngoài ra, có giống quỉ tên Ca tra phú đơn na (Phạm: Kaỉa-pùtana) là đồng loại với quỉ Phú đơn na. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.hạ; Phiên Phạm ngữ Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Khổng tước kinh âm nghĩa Q.thượng; Đại Phật đính đà la ni khám chú].
phú đà na
Putana (skt)—See Phú Đơn Na.
phú đơn na
Xem Xú ngạ quỉ.
; Putana (skt)—Phú Đà Na—Xú Ngạ Quỷ—Loài quỷ một khi bắt người liền làm cho người ấy cảm thấy như mình đang nằm trên lửa—A kind of demon who once invades a person's body makes that person feel as if he or she is on fire (a class of pretas in charge of fevers).
phú đặc ca gia
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
phú đặc ca la
Pudgala (skt)—See Phú Già La.
phú-la-ca-diếp
, một nhân vật Pḥrana Kassapa (P).
Phú-lan-na
tức Phú-lan-na Ca-diếp, phiên âm từ Phạn ngữ Praṇa-kyapa, là một trong sáu vị thầy ngoại đạo vào thời đức Phật, thường gọi chung là lục sư ngoại đạo.
Phú-lan-na Ca-diếp
xem Phú-lan-na.
Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử 富樓那彌多羅尼子
[ja] フルナミタラニシ Furuna mitaranishi ||| See 富樓那. => Xem Phú-lâu-na富樓那.
Phú-lâu-na 富樓那
[ja] ッフルナ Fūruna ||| Purna Maitrāyaniputra, one of the ten principal disciples of Śākyamuni 十大弟子, famous for his eloquence in preaching the dharma. Full Chinese transliteration is 富樓那彌多羅尼子. His name means "son of Maitrāyanī, as his mother Maitrāyanī was also one of Śākyamuni's early disciples. He appears as one of the interlocutors in the Śūrangama-sūtra 首楞嚴經. => s: Purna Maitrāyaniputra. Một trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , nổi tiếng về biện tài thuyết pháp. Hán dịch đầy đủ là Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử. Tên ngài có nghĩa là con trai của Maitrāyanī, vì mẹ ngài, Maitrāyanī đời trước cũng là đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni . Ngài xuất hiện như là một đương cơ trong pháp hội giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm (s: Śūrangama-sūtra 首楞嚴經).
Phú-lưu-na 富留那
[ja] フルナ furyūna ||| Sanskrit Pūrṇa, Pali Puṇṇa. An Indian scholar associated with Abdhidharma studies. Putative author of the Apidamo jieshenzu lun 阿毘達磨界身足論 => s: Pūrṇa; p: Puṇṇa. Một học giả Ấn Độ quan hệ với môn học A-tỳ-đạt-ma. Được cho là tác giả của A-tỳ-đạt-ma giới thân túc luận (c: Apidamo jieshenzu lun 阿毘達磨界身足論).
Phú-na Da-xá
富那耶舍; S: puṇyayaśa;|Tổ thứ 11 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phú-na-bạt-đà
phiên âm từ Phạn ngữ là Prṇabhadra, tên một vị Thần tướng, được dịch nghĩa là Mãn Hiền (滿賢).
Phú-na-kỳ 富那奇
[ja] フナキ Funaki ||| See Pūrṇa 富留那. => Xem Phú-lưu-na.
Phúc
福; S: puṇya; P: puñña; hoặc phúc đức;|Phúc đức nhờ bố thí, hay thực hiện nghi Lễ (s: pūjā), tụng kinh niệm Phật. Người ta cho rằng phúc này có thể tạo Thiện nghiệp để tái sinh trong một đời sống hạnh phúc hơn. Trong Ðại thừa – với mong cầu mọi chúng sinh cùng được giác ngộ – nhiều hành giả không quan tâm đến phúc đức riêng của mình mà »hồi hướng«, trao truyền phúc đức của mình cho mọi người. Ðó là một trong những hạnh Bồ Tát quan trọng.
phúc
5850 請參閱 碧巖集 [1]梵語 puṇya,巴利語 puñña。又作功德、福德。指能夠獲得世間、出世間幸福之行爲。阿含經將善行分爲出世間無漏梵行(清淨行)與世間有漏福德二種。福德即指布施等行爲,係成爲生天之因的在家修行。 部派佛教將眾生繫於三界(世間)之業,分爲福、非福、不動等三業,而以福業爲招感欲界善果之因。此係將「福」限定於世間之一例。大乘則將六度之行分爲福、智二業,而將以智慧爲體之行爲以外的一切,稱爲福業,且視之爲成佛之因,此乃通於出世間之福的一例。觀無量壽經亦將生於淨土之因的修行分爲定善(使心集中一事而不散亂時所修之善)與散善(以日常心所修之善)。散善又分三福,係根據十六觀之最後三觀所說,與九品之往生有關,故稱爲二善三福、三福九品。三福即:(一)世福,世間之道德。(二)戒福,佛所制定之戒律。(三)行福,大乘自行化他之善根。 至於慧遠等則認爲十六觀全部爲觀(智業、定善),以三福爲福業,主張修福智二業即可往生。但善導認爲,三福爲正因,九品爲正行,三福與九品均含攝於散善,故三福乃無法修觀之劣機(能力素質低劣)的往生修行。日僧源空則認爲三福與九品乃方法之不同而已。 修福業而得幸福,稱爲福因福果。又由於布施予僧伽,即可得福果,故作爲布施對象之僧伽,有生福德之意,遂稱僧伽爲福田。此外,供旅人及貧窮者所使用之宿舍,稱爲福舍(梵 puṇya-śālā,音譯奔攘舍羅)。
; Xem phước.
; Punya (S). Blessing, happiness, felicity, good fortune, chance. Có phúc, fortunate, blessed. Làm phúc, to do good, to engage in good works. Con hơn cha là nhà có phúc, blessed is the father whose son outshines him. Cầu phúc, to pray for good chance, for divine blessings.
; 1) Cái bụng: The belly. 2) Phước đức: Blessing—Happiness—Felicity—Good fortune.
; (福) Phạm: Puịya. Pàli: Puĩĩa. Cũng gọi Công đức, Phúc đức. Chỉ cho những hành vicó năng lực mang lại hạnh phúc thế gian, xuất thế gian. Kinh A hàm chia thiện hạnh làm 2 loại: Xuất thế gian vô lậu phạm hạnh và Thế gian hữu lậu phúc đức. Phúc đức chỉ cho việc bố thí... là nhân sinh lên cõi trời của những người tu hạnh tại gia. Phật giáo Bộ phái chia nghiệp buộc chúng sinh trong 3 cõi (thế gian) làm 3 loại: Phúc, Phi phúc, Bất động và cho Phúc nghiệp là nhân mang lại quả thiện trong cõi Dục. Đây là trường hợp Phúc chỉ được hạn cuộc trong thế gian. Đại thừa thì chia hạnh Lục độ làm 2 nghiệp là Phúc và Trí, gọi tất cả thiện hạnh không lấy trí tuệ làm thể là Phúc nghiệp và được coi là nhân để thành Phật. Đây là trường hợp Phúc không bị hạn định ở thế gian thôi mà thông cả xuất thế gian. Kinh Quán Vô lượng thọ cũng chia nhân tuTịnh độ lành Định thiện (khi tu thiện làm cho tâm tập trung vào 1 đối tượng, không để tán lọan) và Tán thiện (dùng tâm tán loạn để tu thiện). Tán thiện lại được chia làm Tam phúc: 1. Thế phúc: Đạo đức thế gian. 2. Giới phúc: Giới luật do đức Phật chế định. 3. Hành phúc: Thiện căn tự hành hóa tha.Do tu nhân phúc đức mà được quả báo hạnh phúc, gọi là Phúc nhân phúc quả. Ngoài ra, lấy chúng tăng làm đối tượng để bố thí có thể sinh ra phúc đức, chúng tăng được gọi là Phúc điền (ruộng phúc). Nhà cửa cung cấp cho người lữ hành và nghèo khổ sử dụng, được gọi là Phúc xá (Phạm: Puịyasàlà).
phúc điền
Zen Master Phúc Điền—Thiền sư Phúc Điền, quê ở Hà Đông. Ngài là người có công trong việc bảo tồn sử liệu Phật Giáo Việt Nam. Ngài thường trụ tại chùa Liên Tông để hoằng pháp. Ngài cũng là người khai sơn chùa Thiên Quang trên núi Đại Hưng ở Hà Nội. Sau đó, không ai biết ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A Vietnamese Zen master from Hà Đông, North Vietnam. He had the credit of preserving a lot of Vietnamese Buddhist history materials. He stayed most of his life at Liên Tông Temple in Hanoi to expand the Buddha Dharma. He was also the founder of Thiên Quang Temple at Mount Đại Hưng in Hanoi. Where and when he passed away were unknown.
phúc an tự
5855位於臺灣桃園。達明法師創建於民國三十七年(1948),始稱福安堂。後因信徒日增,原址不敷使用,遂購寺前土地三百坪,於四十五年增建四層大樓一棟,四十八年改稱福安寺。大樓工程於五十年完竣。
phúc báo
A blessed reward, e.g. to be reborn as a man or a deva.
; See Phước Báo.
Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục
(福州玄沙宗一大師廣錄, Fukushūgenshashūitsudaishikōroku): xem Huyền Sa Quảng Lục (玄沙廣錄, Genshakōroku).
phúc cái
5860謂福德覆身,即由修行諸善業而得種種福利加被其身。福蓋正行所集經卷一(大三二‧七一九中):「樂持淨戒,讀誦經典,如是作已,汝諸比丘!於其福蓋,速得圓滿。」
; The cover, or canopy, of blessing.
; (福蓋) Lọng phúc, tức phúc đức che thân. Nghĩa là nhờ tu hành thiện nghiệp mà được các phúc lợi làm chỗ nương tựa. Kinh Phúc cái chính hành sở tập (Đại 32, 719 trung) nói: Này các tỉ khưu! Nếu các ông nghiêmgiữgiới luật, siêng đọc tụng kinh điển thì đối với phúc cái, mau được tròn đủ.
phúc cái chính hành sở tập kinh
5860凡十二卷。龍樹集,宋代日稱等譯。收於大正藏第三十二冊。內容輯錄能成就福德覆身之諸正行法。多引用佛說,並列舉佛教所倡導之善業,如五戒、十善業等,所引用之經典如央崛摩羅經、伊羅葉龍王因緣經、造作福業經、難禰迦經等則多係鮮爲人知之典籍。本經以布施、持戒爲中心而修行諸德之見解中,未見龍樹所說中道之空思想、大乘思想。
; (福蓋正行所集經) Kinh, 12 quyển, do ngài Long thụ biên tập, ngài Nhật xứng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung thu chép những lời đức Phật dạy có năng lực thành tựu phúc đức che thân, đồng thời đề cao các thiện nghiệp như 5 giới, 10 thiện đạo; dẫn dụng các kinh Ương quật ma la, kinh Y la diệp long vương nhân duyên, kinh Tạo tác phúc nghiệp, kinh Nan nễ ca... là những kinh điển được ít người biết đến. Kinh này lấy bố thí, trì giới làm trung tâm tu hành các đức, trong đó chưa thấy ngài Long thụ đề cập đến tư tưởng Không, Trung đạo và tư tưởng Đại thừa nói chung.
phúc dụ
5858(1203~1275)元代曹洞宗僧。太原文水(山西文水)人,俗姓張。號雪庭。字好問。五歲解語,日背千言。九歲入學,一目十行,鄉里呼爲「聖小兒」。十二歲時,逢蒙古南侵,故鄉淪失,於徬徨無所依時,得一老比丘之助,遂促成入佛門之機緣。 首先往謁仙巖之休林古佛,正式落髮受具足戒,師事古佛達七年之久。其後往謁燕京報恩寺之萬松行秀,得行秀印可,隨從十年間,因學德深厚,而名聲大顯,來學者日增,得以振乏起疲,顯揚宗風。後受招請,初於西京少林寺弘法,並奉當時皇太子(世祖)之命,營管大資戒會。又於定宗三年(1248),受詔兼住和林興國寺,甚受帝室之親信。 當時新道教「全真教」在華北一帶十分活躍,佛教教團頗受壓迫,佛、道之對立日趨尖銳。憲宗元年(1251),全真教主李志常刊布老子化胡經及老子八十一化圖。師即於憲宗五年至七年間,數次與李志常對辯,志常皆敗,道藏中之偽經遭焚毀,道觀二三七所歸還佛教,師則受賜號「光宗正辯」。未久,師返故里受勅建立報恩寺,又陸續在和林、燕京、長安、太原、洛陽等地營建寺院,普及教法。晚年歸隱嵩陽少林寺,至元十二年示寂,世壽七十三。門下有文泰、智泰、淨肅等。〔辯偽錄五卷、五燈會元續略卷一上、續燈存〖膏 Thế月bằng禾〗卷一〕
phúc giảng
(覆講) Cũng gọi Phúc thuật. Giảng lại. Nghĩa là sau khi nghe xong, đệ tử trình bày được những điều mà thầy đã giảng dạy, gọi là Phúc giảng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, phần cuối (Đại 33, 761 trung) nói: Đức Phật kia thuyết trong 8.000 kiếp, 16 vị Vương tử giảng lại (phúc giảng) trong 84.000 kiếp. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.7; điều Tĩnh sùng trong Tục cao tăng truyện Q.10].
phúc huệ
5861<一>又稱福觀。即福德與智慧二種莊嚴。福者修六度中之布施、持戒、忍辱、精進、禪定等善業,屬利他;慧者智慧,即觀念真理,屬自利。華嚴五教章卷二(大四五‧四九○下):「此終教中論其實行,從初發意即福慧雙修,故成佛時無別修也。」〔法華經方便品、摩訶止觀卷六、禪苑清規卷六受書〕(參閱「福智」5857) <二>(1623~?)明末清初臨濟宗僧。渝州(四川)長壽人,俗姓葉。字思修,後改野竹。二十二歲時,父母雙亡,乃參謁東明曉,依其落髮出家。三十歲於獨山天竺庵遇龍門之雪林,受其指示,禮謁龍門之山暉完璧禪師而得法,於萬壽院受具足戒,後辭返獨山。康熙(1662~1722)初年,開法於昆明嵩山院,學侶數千。康熙二十六年,時年六十五,於長松院受山暉付囑。歷住雲南府慈雲院、蒙化府竹林院、順寧府雲州五福院及樹宗山善法院、富民縣臥龍山法華院、徵江府潞南州彌勒院。上記諸寺剎均在雲南。後以亂起,不知所終。有嵩山野竹禪師語錄十四卷、嵩山野竹禪師後錄八卷行世。 <三>(1931~1985)臺灣苗栗人,俗姓陳。二十五歲時因悟生命無常、佛道難成,遂摒棄一切塵緣,而毅然剃染。出家後三十年間,恆以頭陀行自勵,更致力於濟貧救亡,鋪路造橋,建寺修廟。師爲苗栗苑裡大興善寺之住持,常以「大悲法水」爲人治病,遠近聞名。民國七十四年示寂,世壽五十五。
; (福慧) I. Phúc Tuệ. Cũng gọi Phúc quán. Tức là 2 thứ trang nghiêm: Phúc đức và Trí tuệ. Phúc là các nghiệp thiện bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định thuộc về lợi người;Tuệ là trí tuệ, tức quán niệm chân lí, thuộc về lợi mình.Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Trong Chung giáo, bàn về thực hành, thì ngay từ lúc mới phát tâm đã tu cả phúc lẫn tuệ, cho đến khi thành Phật không cần tu pháp nào khác nữa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Ma ha chỉ quán Q.6; Thiền uyển thanh qui Q.6]. (xt. Phúc Trí). II. Phúc Tuệ (1623-?). Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Trừng thọ, Du châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Diệp, tự Tư tu, sau đổi là Dạ trúc. Năm 22 tuổi, song thân qua đời, sư nương vào ngài Đông minh hiểu xuất gia. Năm 30 tuổi, khi ở am Thiên trúc tại Độc sơn, được ngài Tuyết lâm chỉ bảo, sư đến lễ yết Thiền sư Sơn huy Hoàn bích ở Long môn và đắc pháp, sư thụ giới Cụ túc ở viện Vạn thọ, rồi trở về Độc sơn. Đầu năm Khang hi (1662-1722), sư khai đường giảng pháp ở viện Tung sơn tại Côn minh, có tới cả nghìn học tăng. Năm Khang hi 26, lúc đó sư đã 65 tuổi, được ngài Sơn huy ở viện Trường tùng phó chúc. Sau, sư lần lượt trụ ở viện Từ vân phủ Vân nam, viện Trúc lâm phủ Mông hóa, viện Ngũ phúc tại Vân châu, phủ Thuận ninh, viện Thiện pháp ở núi Thụ tông, viện Pháp hoa, núi Ngọa long, huyện Phú dân và viện Di lặc ở châu Lộ nam, phủ Trưng giang, tất cả chùa viện trên đều ở tỉnh Vân nam. Sư có các tác phẩm: Tung sơn Dã trúc thiền sư ngữ lục 14 quyển, Tung sơn Dã trúc thiền sư hậu lục 8 quyển.
phúc huệ tự
5861位於臺灣臺中。原名福慧庵。係常緣法師於民國四十四年(1955)所創建。五十三年常緣示寂後,由照空法師繼任住持迄今。舊址位於中港路,因寺宇狹隘,工廠迫近,乃於六十三年在大坑大湖口另覓新址,七十三年動工興建,七十五年遷入新址。
phúc hạnh
The life or conduct which results in blessing, e.g, being reborn as a man or a deva.
phúc hậu
Kind—Virtuous—Benevolent.
phúc họa
Happiness and misfortunes.
phúc khánh
Blessedness and felicity, blessed felicity; to congratulate on good fortune.
phúc khí
(覆器) Đồ dùng úp xuống. Tức chỉ cho cái miệng của dụng cụ đặt úp xuống đất. Theo luận Đại trí độ quyển 15 thì đức Phật đã dùng phúc khí làm thí dụ để dạy bảo ngài La hầu la. Nghĩa là một khi cái miệng của đồ dùng đã đặt úp xuống thì dù có rót nước, nước cũng không vào; vídụ như người không biết hổ thẹn thì tâm họ đã bị che lấp, tuy dùng đạo pháp để cứu cũng khó vào được. [X. Thích môn qui kính nghi Q.thượng].
phúc kiến tử
5856指宋代臨濟宗智朋禪師。閩(福建)人。號介石。生卒年不詳。秉性高潔而懇摯,在浙翁如琰門下得法印。紹定二年(1229),初於溫州鴈山羅漢寺弘法。其後,歷住臨安府臨平山佛日淨慧禪寺、慶元府大梅山保福禪寺及香山孝慈真應禪寺、平江府承天能仁禪寺、臨安府淨慈報恩光孝禪寺等。著有介石禪師語錄一卷。又上記之寺剎除能仁寺地處江蘇外,其餘諸寺皆在浙江境內。〔續傳燈錄卷三十五、五燈嚴統卷二十二、禪林口實混名集卷下〕
; (福建子) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người tỉnh Phúc kiến (đất Mân), tên Trí bằng, hiệu Giới thạch. Sư bẩm tính cao khiết, chân thật, đắc pháp nơi ngài Triết ông Như diễm. Năm Thiệu định thứ 2 (1229), đầu tiên sư hoằng pháp ở chùa La hán tại Nhạn sơn thuộc Ôn châu, về sau, sư lần lượt trụ ở Phật nhật tịnh tuệ thiền tự, núi Lâm bình, phủ Lâm an; Bảo phúc thiền tự, núi Đại mai, phủ Khánh nguyên; Hiếu từ chân ứng thiền tự ở Hương sơn; Năng nhân thiền tự ở Thừa thiên, phủ Giang bình; Tịnh từ báo ân quang hiếu thiền tự, phủ Lâm an... Sư để lại tác phẩm: Thạch giới thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22; Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.hạ].
phúc lâm đường
5855位於臺灣新竹。黃素蓮居士創建於清乾隆二十二年(1757)。迄今二百餘年,代有整建。民國五十三年(1964)重建大殿、寮房、客房、齋堂等,堂皇整潔,頗爲壯觀。該寺歷來皆由在家人主持。
phúc lương
5855日本三論宗大和元興寺之學僧。又作福領。本係我國隋唐時吳國人,歸化日本後,姓熊凝。爲日本三論宗二祖智藏之父。從三論宗初祖高麗僧慧灌習學三論,兼究法相。住於元興寺,盛倡空宗,後受勅任僧正。大化元年(645)入選爲十師之一。齊明天皇四年(658)應鎌足之請,於山科陶原家講維摩經,此爲南都維摩會之濫觴。寂年與世壽皆不詳,弟子有神泰。〔扶桑略記卷四、三國佛法傳通緣起卷中、元亨釋書卷十六〕
phúc lạc
Xem A nan đà.
phúc lạc vô biên
Vāsanānanda (S), Imperishable impression of bliss.
phúc lộc
Happiness and wealth. Phúc lộc thọ. happiness, wealth and longevity.
; Happiness and wealth
phúc lợi
Happiness and benefit.
; Well-being
phúc lực thái tử
5850昔時,有眼力王者,善理國政,威神廣大;王后名爲廣照,曾以金寶廣行布施,並爲大眾宣說法要。後生一子,容止端嚴,具足天中吉祥福力勝相,故命名福力,即爲福力太子。 據福力太子因緣經卷一載,諸比丘會集,談論何種行業最殊勝,阿難謂色相行業最勝,阿尼樓陀謂工巧行業最勝,舍利弗謂智慧行業最勝。後據此請問佛陀,佛陀以智慧最勝,而修福因緣爲極勝,遂說福力太子之因緣,鼓勵比丘常勤愛樂正法,尊重信奉供養,由此福力得大利益。
; (福力太子) Vị Thái tử con vua Nhãn lực và Hoàng hậu Quảng chiếu. Cứ theo kinh Phúc lực thái tử nhân duyên, thủa xưa có vị vua tên là Nhãn lực, rất giỏi việc trị nước an dân, uy đức rộng lớn. Hoàng hậu tên là Quảng chiếu, thường đem vàng bạc châu báu bố thí rộng khắp, đồng thời, tuyên thuyết pháp yếu cho dân chúng nghe. Sau, Hoàng hậu sinh được một con, dung mạo đoan chính, có đầy đủ các thắng tướng phúc lực tốt lành của cõi trời, cho nên đặt tên là Phúc lực.
phúc mộ
(覆墓) Thăm lại phần mộ. Vào ngày thứ 3 sau khi chôn cất thi hài người chết, trở lại viếng thăm và quét tước phần mộ, gọi là Phúc mộ. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 309 hạ) ghi: Ba ngày sau khi an táng, đến thăm lại phần mộ, gọi là Phúc mộ. Đỗ thị nói: Điều này không thấy trong kinh Lễ ghi, chỉ do con hiếu sau khi chôn cất thương tiếc người thân, vả lại, lo rằng phần mộ chưa được hoàn toàn nên đến xem xét lại. Nay, Thích tử đến thăm mộ cũng không có lỗi, vì chăm sóc mà đến.
phúc nghiêm tự
5862<一>位於湖南衡山擲鉢峰下,距磨鏡臺約半公里。創建於南朝陳廢帝光大元年(567)。天台宗二祖慧思曾久居本寺,宣講般若經、中論等般若中觀之經典,故於當時,本寺多被稱爲般若寺、般若道場。至唐代,禪宗高僧懷讓禪師亦棲止本寺,故世有「南嶽懷讓」之稱。北宋太平興國年間改寺名爲福嚴寺。現存之寺爲清同治九年(1870)所重建者。依山勢而建,磚木結構,有僧房、藏經閣、大雄寶殿、嶽神殿、山門和過殿等。山門橫額石刻「天下法院」,寺後拜經臺巖上刻有「極高明」三字,傳爲唐代李泌所書。寺右有古銀杏一株,腰圍逾五公尺,迄今已有一千四百餘年。寺前里許有三生塔,即慧思禪師之塔墓。〔古今圖書集成山川典第一六五至第一六八〕 <二>位於臺灣宜蘭礁溪鄉。民國五十年(1961)由普同法師開山創建。五十八年增建七層福嚴寶塔。六十四年九月普同示寂後,由宏榮法師晉任住持迄今。六十五年重建大殿,禮請佛光山星雲大師破土,同時興建廚房、寮房,並整修福嚴寶塔等。七十年復建華嚴大樓。本寺辦有華嚴佛學院、幼稚園,並於電臺布教。
phúc nghiệp
5858梵語 puṇya-karma。指能招感人、天福利果報之有漏善業。據百論疏卷上之上所說,福乃富饒之義,修行善業能招感人、天之樂果,故稱爲福業。另據增一阿含經卷十二「三寶品」載,世尊以布施、持戒(平等)、修定(思惟,屬有漏定)等爲福業。又稱三福,或三福業事。(參閱「福等三業」5858)
; The karma of blessedness, a happy karma.
; (福業) Phạm: Puịya-karma. Chỉ cho nghiệp thiện hữu lậu có năng lực mang lại quả báo phúc lợi cõi người, cõi trời. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng, phần đầu, thì phúc nghĩa là giàu có, tu hành nghiệp thiện có thể mang lại quả báo vui sướng ở cõi người, cõi trời, vì thế gọi là Phúc nghiệp. Theo phẩm Tam bảo trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 12 thì đức Thế tôn cho bố thí, trì giới (bình đẳng), tu định (tư duy, thuộc định hữu lậu)... là Phúc nghiệp, cũng gọi Tam phúc, hoặc Tam phúc sự nghiệp. (xt. Phúc Đẳng Tam Nghiệp).
phúc ngộ
5859(1245~1313)宋末曹洞宗僧。又作弗遇。字還源,世稱還源福遇禪師。霍州(山西)靈石人,俗姓王。於邑中兜率寺落髮,遍遊諸講肆,雄辯如流,後參謁文泰禪師於少室山,得其印可。初於天慶寺弘法,至元二十六年(1289)遷住西京寶應寺。元貞元年(1295)繼掌少室,至大四年(1311)退居洛陽白馬寺。皇慶二年十月示寂,世壽六十九,法臘四十九。〔五燈會元續略卷一、續指月錄卷十、續燈存〖膏 Thế月bằng禾〗卷十一〕
phúc nhân
5854請參閱 諸德福田經請參閱 玄沙師備禪師廣錄 請參閱 玄沙師備禪師廣錄 請參閱 雪峰慧空禪師語錄指招感福德果報之業因,即布施等善根功德之總稱。據福力太子因緣經卷一載,若諸有情能勤修福因,則所獲之福果必極勝。若依諸善業因而獲得之福德果報,即稱爲福果,亦可稱爲福報,如於六趣中得人、天之善果。另據大乘義章卷九載,依智而起福,依福而起報。於百論卷上則謂(大三○‧一七○上):「福報滅時,離所樂事,生大憂苦。」 又吾人修行五戒、十善等行法,能招感人、天之福果,此類行法稱爲福行,乃「三行」之一。此外,所獲福利足資慶喜者,稱爲福慶。法華經化城喻品(大九‧二三下):「我等宿福慶,今得值世尊。」〔增一阿含經卷一、灌頂經卷十二、俱舍論卷十八〕
; That which causes or gives rise to blessing.i.e. all good deeds.
; 1) Một người sung sướng hạnh phúc: Happy man. 2) Nghiệp nhân cảm ứng từ quả phúc đức, thí dụ như thiện căn: A cause which gives rise to blessing, i.e. all good deeds.
; (福因) Chỉ cho nghiệp nhân mang lại quả báo phúc đức, tức gọi chung các công đức thiện căn bố thí, trì giới... Cứ theo kinh Phúc lực thái tử nhân duyên quyển 1, nếu các hữu tình thường siêng tu phúc nhân thì kết quả đạt được rất thù thắng. Nếu nhờ các nghiệp nhân thiện mà được quả báo phúc đức thì gọi là phúc quả, hoặc có thể gọi là Phúc báo, như được quả thiện của cõi người, cõi trời trong 6 đường. [X. kinh Phúc lực thái tử nhân duyên Q.1].
phúc nhơn sanh phúc quả
Blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter.
phúc phần
5851爲「道分」之對稱。係「二分」之一。福者,功德之義;得福德之部分,即稱爲福分。如招感世俗幸福之五戒、十善等行法。反之,招感出世果之發菩提心行,則稱爲道分。華嚴五教章卷二(大四五‧四九○下):「以小乘中偏修智分不修福分,是故臨成佛時,更於百劫別修彼業。」
; (福分) Đối lại: Đạo phần. Đạt được phần phúc đức, 1 trong 2 phần. Phúc nghĩa làcông đức, tu hành các pháp 5 giới, 10 thiện thì được quả báo hạnh phúc thế tục, gọi là Phúc phần; trái lại, phát tâm bồ đề tu hành 6 độ, được quả báo xuất thế thì gọi là Đạo phần. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Vì hàng Tiểu thừa chỉ tu Trí phần chứ không tu Phúc phần, cho nên khi sắp được thành Phật lại phải tu thêm Phúc phần 100 kiếp nữa.
phúc quán
Blessedness and insight, similar to phúc tuệ, phúc trí.
phúc quả
The reward of blessedness.
phúc quốc tự
5856位於臺灣臺南。爲高雄縣佛光山寺之臺南分院。本寺原爲和妙法師於民國五十年(1961)籌建,六十三年落成後開始組織福國寺青年會,成立布教所及「福國之聲」空中布教等弘法活動,六十八年更傳授在家五戒、菩薩戒。六十九年五月禮請佛光山星雲大師爲導師。 本寺所舉辦之定期弘法活動有念佛共修會、金剛禪座會,及佛菩薩節日法會;其他之不定期活動有佛學講座、書法、烹飪研習會、監獄布教、巡迴義診等。又本寺所附設之福國幼稚園,七十二年度起曾連續五年榮獲全省幼稚園成績考核評定爲優等,並列爲七十四年度全省幼稚園教育觀摩之示範場所,於地方上口碑甚佳。
phúc sinh
Born of or to happiness.
phúc sinh thiên
5851梵名 Puṇya-prasava。爲色界十八天之一,即第四禪中之第七天。音譯波栗推訶、維呵。意譯生福、得福、受福、無量光、無量嚴飾、無量密身、廣妙、用果。據立世阿毘曇論卷六載,生於此天者,受用智、念、捨等相應之福,故稱生福。據順正理論卷二十一載,此天乃勝福者往生之處所,故稱福生。又立世阿毘曇論卷七載,由中品四禪相應之業可生此天,其壽量爲四百大劫。雜阿毘曇心論卷二、彰所知論卷上等則謂,此天壽量二百五十劫,身量二百五十由旬。〔長阿含經卷二十忉利天品、道行般若經卷三、俱舍論卷八、法苑珠林卷二、卷三〕
; Punyaprasavàs (S). The tenth brahmaloka, the first region of the fourth dhyàna.
; (福生天) Phạm: Puịya-prasava. Hán âm: Ba lật suy ha, Duy ha. Hán dịch: Sinh phúc, Đắc phúc, Thụ phúc, Vô lượng quang, Vô lượng nghiêm sức, Vô lượng mật thân, Quảng diệu, Dụng quả.Một trong 18 tầng trời của cõi Sắc, tức tầng trời thứ 7 trong Đệ tứ thiền. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 6 thì người sinh vào cõi trời này thụ dụng phúc lợi tương ứng với trí, niệm, xả... cho nên gọi là Sinh phúc. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 21 thì cõi trời này là nơi vãng sinh của những người có phúc đức thù thắng, nên gọi là Phúc sinh. Theo luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì nhờ nghiệp nhân tương ứng với Trung phẩm Tứ thiền mà được sinh vào cõi trời này, sống 400 đại kiếp. Còn luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng thì cho rằng thân người ở cõi trời này cao 250 do tuần và sống lâu 250 kiếp. [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đạo hành bát nhã Q.3; luận Câu xá Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.2, 3].
phúc sơn tự
5851位於臺灣彰化。爲高雄縣佛光山之彰化分院。民國六十四年(1975)四月破土興建。全寺佔地二甲,已完成之建築有大雄寶殿、放生池、寮房、教室、朝山會館、辦公大樓等。高速公路未完成前,本寺爲南北佛教徒交流之橋樑,及南北旅遊朝拜之休憩中心。現爲佛光山文化出版事業和教育推展之重鎮。現任住持爲慈怡法師。 寺中設有:(一)佛光出版社編輯部,此機構專事整理、編纂佛教典籍與佛書出版。主要工作爲:(1)編印適於現代人使用之佛光大辭典。(2)編印佛光大藏經,係將已有之各版藏經,予以重新校勘、分段、標點、注釋、解題。(3)編印佛教史年表,將佛陀時代迄今二千五百餘年之佛教史實,包羅中外各國,予以系統之表格化,爲數十年來國人所編最完整之佛教年表。(4)編印一般佛教書籍。在此服務之僧俗二眾,皆具有學士以上之學歷。(二)福山佛學院,此爲福山寺培養弘法人才之教育機構。創建於民國七十二年九月,院長慈怡法師。爲目前極具水準的佛教學院之一。(三)念佛會,此爲成人信眾之念佛共修會,每週六晚上集會,課程包含行解二門。(四)福慧念佛會,由信徒提供地點,設置於彰化市內之布教所,每週二晚上由慈怡法師領導信眾共修,並講解佛法。 福山寺之弘法事業,除前述外,每年另又舉辦各種定期及不定期之法會。近年來每年更籌辦彰化、臺中、南投等各縣市之大型佛學講座,恭請星雲大師講演,以接引中部地方信眾,每次講座,聽眾均達萬人之多。
phúc thanh huyền nột
5857唐末五代高麗僧。法號玄訥。通解語文,嗣法於青原系統之雪峰義存禪師。住於泉州(福建)福清院達三十年,致力宣揚宗風,遠近學人皆來請益。泉守王公曾請問「如何是宗乘中事」,師叱責之。晚年歸返雪峰,即於該處示寂,生卒年不詳。(景德傳燈錄卷十九、祖堂集卷十一、五燈會元卷七)
phúc thành
5856指善財童子參詣文殊菩薩之處所。依八十華嚴經卷六十二入法界品載,文殊菩薩於南行途中止住福城東方之莊嚴幢娑羅林中,往昔諸佛曾於此教化眾生,又有一大塔廟,係釋尊往昔修菩薩行時捨棄無量難捨之處。善財童子聞悉文殊在此,即來請益。其時,善財童子已了悟根本智,而更欲學菩薩行、修菩薩道以得差別智,故依文殊菩薩之指示而南遊,經一百一十城,參見五十三善知識。六十華嚴經卷四十九,稱福城爲覺城,四十華嚴經卷四,則稱之爲福生城。
; (福城) Cũng gọi Giác thành, Phúc sinh thành. Nơi đồng tử Thiện tài tham vấn bồ tát Văn thù. Theo phẩm Nhập phápgiới kinh Hoa nghiêm quyển 62 (bản 80 quyển), trên đường đi về phương Nam, bồ tát Văn thù dừng nghỉ trong rừng sa la Trang nghiêm chàng ở phía đông Phúc thành (...). Bấy giờ, đồng tử Thiện tài nghe biết bồ tát Văn thù đang trụtạikhu rừng này, liền đến tham học.
phúc thọ
Happiness and longevity.
phúc tinh
Fuxing (C), Fu-hsing (C), Lucky Star Fuxing (C).
; Lucky star.
phúc trung
1) Cái trong bụng: Within the belly. 2) Đứa trẻ chưa sanh: Unborn child. 3) Trái tim: The heart. 4) Tử cung: Womb.
phúc trí
5857福德與智慧之並稱。據成唯識論卷九記載,菩薩所修諸勝行中,以慧爲性者稱爲智,其餘則稱爲福。菩薩爲成就佛果,必須上求菩提(智業),下化眾生(福業),因其所具備之福、智二行(福智二業),係成佛最勝之實踐,故稱爲「二種勝行」。菩薩一切行爲,雖總攝於福行與智行,若加以區別,則有布施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧等六度。此中,前五者屬於福行,智慧屬智行;或以前三者屬福行,智慧屬智行,而居中之精進、禪定則通於智行與福行。 又以菩薩自初發心修六度萬行,具足所有福德,能顯現法身,莊嚴佛果,故稱福德莊嚴,略稱福嚴,屬利他之行;修習正智見,淨盡無明,能顯現法身,莊嚴佛果,故稱智慧莊嚴,略稱智嚴,屬自利之行。菩薩若具足二種莊嚴而自利利他,則能知佛性。〔北本涅槃經卷二十七、大乘義章卷十二、大乘入道次第、釋門歸敬儀卷中〕
; Xem phúc quán.
; (福智) Từ ngữ gọi chung phúc đức và trí tuệ. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 thì trong các hạnh thù thắng mà Bồ tát tu hành, hạnh lấy tuệ làm tính gọi là Trí, các hạnh còn lại gọi là Phúc. Bồ tát muốn thành tựu quả Phật thì phải thực hành đầy đủ 2 hạnh thù thắng là thượng cầu bồ đề (trí nghiệp) và hạ hóa chúng sinh (phúc nghiệp). Tất cả hành vi của Bồ tát được thu chung vào Phúc hạnh và Trí hạnh, nhưng nếu chia riêng ra thì trong 6 độ, 5 độ trước (bố thí, trìgiới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định) thuộc về Phúc hạnh, còn độ thứ 6 (trí tuệ) thì thuộc về Trí hạnh. Cũng có thuyết cho rằng 3 độ trước thuộc Phúc hạnh, trí tuệ thuộc Trí hạnh, còn tinh tiến và thiền định thì chung cho cả Trí hạnh và Phúc hạnh. [X. kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.12; Đại thừa nhập đạo thứ đệ; Thích môn qui kính nghi Q.trung].
phúc trí nhị nghiệp
5857體達智慧之業,稱爲智業;其他一切功德業稱爲福業。於布施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧等六度中,前五度屬福業,智慧則屬智業。此福智二業相輔相成,可得佛果。〔金剛般若經贊述卷上、華嚴五教章卷二〕(參閱「福智」5857)
; (福智二業) Từ ngữ gọi chung Phúc nghiệp và Trí nghiệp. Hạnh nghiệp đạt được trí tuệ, gọi là Trí nghiệp; còn hạnh nghiệp đạt được tất cả phúc đức thì gọi là Phúc nghiệp. Trong 6 độ thì 5 độ trước thuộcvềPhúc nghiệp, độ thứ 6 thuộc về Trí nghiệp. Hai nghiệp phúc trí này phụ trợ và thành tựu lẫn nhau thì được quả Phật. [X. Kim cương bát nhã kinh tán thuật Q.thượng; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Phúc Trí).
phúc trí tạng
5858指大無量壽經所說弘願念佛之大行,亦即「南無阿彌陀佛」之名號。日本淨土真宗以此名號爲含攝福德與智慧二種莊嚴之真實法藏;若信受此名號,即能證妙果,故稱福智藏。是爲開顯阿彌陀佛第十八願之念佛。又福智藏爲真宗所立三藏之一,此三藏係分別法義真(真實)假(方便)之三種法門。〔教行信證卷二〕(參閱「三藏」690)
; (福智藏) Kho phúc trí. Tức chỉ cho Đại hạnh hoằng nguyện niệm Phật nói trong kinh Đại vô lượng thọ, cũng tức là danh hiệu Nam mô A di đà Phật. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản cho rằng danh hiệu Nam mô A di đà Phật là pháp tạng chân thực chứa đựng 2 thứ trang nghiêm: Phúc đức và Trí tuệ. Nếu tín ngưỡng và thụ trì danh hiệu này thì chứng được diệu quả, cho nên gọi là Phúc trí tạng. Đó là hiển bày sự niệm Phật trong nguyện thứ 18 của đức Phật A di đà. Phúc trí tạng là 1 trong 3 tạng do Tịnh độ chân tông Nhật bản thành lập, 3 tạng này là 3 pháp môn phân biệt chân (chân thực) giả (phương tiện) của pháp nghĩa. [X. Giáo hành tín chứng Q.2]. (xt. Tam Tạng).
phúc trạch
Happiness and favour.
phúc trạch dụ kiết
Fukuzawa yukichi (J)Tên một vị sư.
phúc tuệ (phước huệ)
Blessedness and wisdom, the two virtues which adorn.
phúc túc
5855二足之一。爲「智足」之對稱。足,爲進修之義。謂六波羅蜜中,除智波羅蜜外,所修施、戒等五波羅蜜福德之行,能莊嚴應身之相好,稱爲福足。(參閱「二足」198)
; The feet of blessedness one consisting the first five pàramitàs, the other being the sixth pàramità, i.e. wisdom; happiness replete.
; (福足) Đối lại: Trí túc. Túc có nghĩa là tiến tu, tức tiến tu đầy đủ phúc đức của 5 hạnh Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định để trang nghiêm hình tướng đẹp đẽ của Ứng thân. (xt. Nhị Túc).
phúc tăng
5860<一>梵名 Śī-vaddhi,巴利名 Sirī-vaddhi。音譯尸利苾提。爲佛弟子之一。據賢愚經卷四出家功德尸利苾提品載,釋尊於王舍城迦蘭陀竹園時,城內有位百歲長者名爲福增,發心出家。初爲舍利弗所拒,以其年老而無法誦經、坐禪、佐理眾事。後得釋尊許可,由目連授具足戒。然福增於眾中常受少年比丘之刺激,益增苦惱,竟欲投水尋死,幸爲目連所救,更依目連之神通度化,速得羅漢果。〔菩薩本生鬘論卷四出家功德緣起〕 <二>即東印度古國奔那伐彈那(梵 Puṇḍra-vardhana)之意譯名稱,相傳世尊曾於此國說法。(參閱「奔那伐彈那國」3769)
; (福增) I. Phúc Tăng. Phạm: Zrì-vaddhi. Pàli: Sirì-vaddhi. Hán âm: Thi lợi bật đề. Tên vị A la hán, người thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ đời xưa, là đệ tử của đức Phật. Cứ theo phẩm Xuất gia công đức Thi lợi bật đề trong kinh Hiền ngu quyển 4, lúc đức Thích tôn đang ở tại vườn trúc Ca lan đà gần thành Vương xá, trong thành có vị trưởng giả đã 100 tuổi, tên là Phúc tăng phát tâm xuất gia. Lúc đầu bị ngài Xá lợi phất từ chối vì lí do ông đã già yếu, không thể nào tụng kinh, ngồi thiền, chấp tác. Sau, được đức Phật cho phép và do ngài Mục liên truyền giới Cụ túc. Nhưng ở trong chúng, Phúc tăng thường bị những tỉ khưu trẻ trêu chọc nên rất khổ não, cuối cùng không chịu nổi bèn nhảy xuống sông tự trầm, nhưng rất may được ngài Mục liên cứu sống. Sau đó, nhờ sức thần thông của ngài Mục liên hóa độ, tỉ khưu Phúc tăng đã mau chóng chứng được quả A la hán. [X. Xuất gia công đức duyên khởi trong luận Bồ tát bản sinh man Q.4]. II. Phúc Tăng. Phạm: Puịđra-vardhana. Hán âm: Bôn na phạt đàn na. Hán dịch: Phúc tăng. Tên một nước xưa ở Đông Ấn độ, tương truyền, đức Phật từng đến nước này thuyết pháp giáo hóa. (xt. Bôn Na Phạt Đàn Na Quốc).
phúc tư bảo nhĩ
5857(Fausb隶ll, Michael Viggo; 1821~1908)丹麥之印度學學者、巴利語言學創始者。受拉斯克(Rask, Rasmus Kristion)及韋斯特格(Westergard, Niels Ludwig)之薰陶。一八七八年,任哥本哈根大學教授,研究印度古代學,尤其專注於南傳巴利佛典,當時巴利語學尚在草創期。一八五五年,校訂出版巴利語法句經之原典(Dhammapadam, Ex tribus codicibus Havniensibus Palice edidit, Latine vertit, excerptis ex Commentario Palico nostique illustravit V. Fausb隶ll. Havniae, 1855),此爲具有學術價值之最初出版的巴利原典。繼而又刊布多種本生經之原典抄本及英譯本,一八九七年出版本生經大集七卷(The jātaka, together with its Commentary, Being Tales of the Anterior Births of Gotama Buddha, London, 1875~1897),歷二十餘年始告完成。此外,更出版巴利語經集之英譯(The Suttanipāta, SBE. X, pt. II, 1881)及其原典與語彙(2 vols. I, Text; II, Glossary, 1884~1893)。
; (福斯保爾) Fausbôll, Michael Viggo (1821-1908). Học giả Ấn độ học người Đan mạch, người đầu tiên sáng lập môn ngôn ngữ học Pàli. Ông là học trò của Rask, Rasmus Kristion và Westergard, Niels Lusdwig. Năm 1878, ông làm Giáo sư trường Đại học Copenhagen, nghiên cứu học thuật cổ đại của Ấn độ, đặc biệt chú trọng kinh Phật Nam truyền bằng tiếng Pàli. Năm 1855, ông hiệu đính và xuất bản nguyên điển kinh Pháp cú Pàli (Dhammapadam, Ex tribus codicibus Havniensibus Palice edidit, Latine vertit, excerptis ex Commentario Palico nostique illustravit V. Fausbôll Havniae, 1855). Đây là bộ kinh nguyên văn tiếngPàli đầu tiên có giá trị học thuật được xuất bản. Kế tiếp, ông lại cho ấn hành nguyên điển các loại kinh Bản sinh và bản dịch tiếng Anh. Năm 1897, ông xuất bản kinh Bản sinh đại tập 7 quyển (TheJàtaka, together with its Commentary, Being Tales of the Anterior Births of Gotama Buddha, London, 1875- 1897), mất hơn 20 năm mới hoàn thành. Ngoài ra, ông còn xuất bản bản dịch tiếng Anh của Kinh tập tiếng Pàli (The Suttanipàta, SBE. X, pt. II, 1881), cùng với nguyên điển và ngữ vựng (2 vols. I, Text; II, Glossary, 1884-1893).
phúc tướng pháp thân
5856二種法身之一。爲「智相法身」之對稱。即受持教法而爲他人言說。若布施大千世界之七寶,不如說四句偈文之福德爲大,由此福相而得法身之住處,故稱福相法身。大乘法苑義林章卷七(大四五‧三六二上):「由於化身聽聞言教,言說法身因故,當成佛果,能生智、福二種法身。」(參閱「二種法身」228)
; The Buddha-dharmakàya as blessedness, in contrast with it as wisdom.
; (福相法身) Đối lại: Trí tướng pháp thân. Một trong hai loại pháp thân, là pháp thân chứng được do thụ trì giáo pháp và giảng nói cho người khác nghe. Dù đem 7 thứ báu bố thí khắp đại thiên thế giới, thì phúc đức cũng không bằng phúc đức nói 4 câu kệ, nhờ phúc tướng nói pháp ấy mà được pháp thân, cho nên gọi là Phúc tướng pháp thân. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 362 thượng) nói: Từ nơi hóa thân nghe lời dạy, nhờ nhân pháp thân ngôn thuyết mà sẽ thành quả Phật, thường sinh Trí tướng pháp thân và Phúc tướng pháp thân. (xt. Nhị Chủng Pháp Thân).
phúc tường
Propicious, auspicious. Triệu phúc tường, good omen.
phúc tế tự
Fukusai-ji (J)Tên một ngôi chùa.
phúc tụ
5859(1686~1765)清初律僧。義烏(浙江)人,俗姓駱。字文海。號二愚。十五歲依溧水上方寺之靜生出家,日禮佛號,清修苦行達十年。往詣寶華山隆昌寺,依閔緣常松得戒。後遊方參學歷八年,登天童、天目二山,默印法契,知照戒法寶相,復歸寶華山,繼寶華山第七世之席。後移住法源寺,世稱法源第一代律祖,此即南山律宗千華派在北京分支之始。又受勅開三壇大戒,四方乞戒學徒達千餘人。未久,將法源寺交與法嗣天月性實,自行歸返寶華山。乾隆二年(1737),奏請以寶華山諸師之著作入藏,如寂光之梵網經直解四卷、讀體之毘尼止持會集十六卷、德基之毘尼關要十六卷等。師任寶華山住持凡三十年,得戒學徒遍天下,數逾十萬,高足掌理南北叢林者二十餘人。乾隆三十年示寂,世壽八十。著有瑜伽補註、施食儀觀、南山宗統、寶華志餘等。〔新續高僧傳卷三十二、中國佛教史卷四〕
phúc tụ hải vô lượng
5860謂福德之積聚廣如大海,無量無限,乃讚歎觀世音菩薩福德無量之語。觀世音菩薩具足一切功德,以大慈悲心救濟眾生,爲眾生所依怙,其福德無量。法華經觀世音菩薩普門品(大九‧五八上):「觀世音淨聖,於苦惱死厄,能爲作依怙,具一切功德,慈眼視眾生,福聚海無量,是故應頂禮。」
; (福聚海無量) Phúc đức tích tụ rộng lớn vô lượng vô biên như biển cả. Là lời tán thán phúc đức của bồ tát Quan thế âm. Bồ tát Quan thế âm đầy đủ hết thảy công đức, đem lòng đại từ bi làm chỗ nương tựa và cứu hộ tất cả chúng sinh trong tai ách khổ não. Phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 58 thượng): Bậc Tịnh thánh Quan âm Thường làm nơi nương tựa Cho những người khổ nạn Ngài đầy đủ công đức Mắt hiền nhìn chúng sinh Phúc tụ hải vô lượng Vì thế nên đính lễ.
phúc xá
5855梵語 puṇya-śālā。音譯奔攘舍羅。爲供應旅人及貧者所使用之宿舍。在印度各處皆有設置此種宿舍之風習,以方便一般人使用。大唐西域記卷四磔迦國條載,此國已往多設有福舍,以供給貧匱者,或施藥品,或施食物等,令行旅無虞匱乏。又同卷秣底補羅國恆河門條載,常有遠方數百千人集於此地澡濯,樂善諸王遂建立福舍,以供大眾之需。於印度境外之劫盤陀國亦有此類設置。此外,於雜阿含經卷三十六、十誦律卷十二等,則稱此類宿舍爲福德舍。〔大唐西域記卷十二〕
; (福舍) Phạm: Puịya zàlà. Hán âm: Bôn nhương xá la. Nhà nghỉ cung ứng cho người đi đường và người nghèo khổ sử dụng miễn phí. Ở các nơi tại Ấn độ đời xưa đều xây dựng loại nhà này, giúp mọi người trong hoàn cảnh khó khăn để cầu phúc đức. Vì thế loại nhà này cũng được gọi là Phúc đức xá. Theo điều Trách ca quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, thì nước này có thiết trí nhiều Phúc xá để cung cấp cho những người túng bấn, hoặc phát thuốc men, hoặc cho thực phẩm để giúp cho người đi đường không sợ đói khát. [X. Đại đường tây vực kí Q.12].
phúc điền
5851梵語 puṇya-Kṣetra,巴利語 puñña-kkhetta。謂可生福德之田;凡敬侍佛、僧、父母、悲苦者,即可得福德、功德,猶如農人耕田,能有收穫,故以田爲喻,則佛、僧、父母、悲苦者,即稱爲福田。據正法念處經卷十五、大方便佛報恩經卷三等載,佛爲大福田、最勝福田,而父母爲三界內之最勝福田。據優婆塞戒經卷三供養三寶品、像法決疑經、大智度論卷十二、華嚴經探玄記卷八等載,受恭敬之佛法僧等,稱爲敬田(恭敬福田、功德福田);受報答之父母及師長,稱爲恩田(報恩福田);受憐憫之貧者及病者,稱爲悲田(憐愍福田、貧窮福田)。以上三者,合稱三福田。 又據大方便佛報恩經卷五載,有所求而爲者,稱爲有作福田,如父母、師長;無所求而爲者,稱爲無作福田,如諸佛、菩薩等。以上二者稱爲二種福田。關於二種福田尚有中阿含卷三十福田經所說之學人田(修行中之聖者),與無學人田(得究極之聖者);以及敬田與恩田,悲田與敬田等多種。另有阿毘曇甘露味論卷上布施持戒品所說之大德田(相當於敬田)、貧苦田(相當於悲田)、大德貧苦田等三種田。俱舍論卷十八則說趣田(畜生等)、苦田(貧者等)、恩田(父母等)、德田(佛等)等四種田。又智顗於菩薩戒義疏卷下列舉出佛田、聖人田、僧田、和尚田、阿闍梨田、父田、母田、病田等八種田(八福田)。 依成實論卷一福田品之說,二十七賢聖斷盡貪、恚等諸煩惱,其心空而不起煩惱惡業,所得禪定皆清淨而永離諸煩惱,棄捨憂樂,又能斷除五種心縛,成就八種功德田,並以七定護持善心,滅盡七種漏,具足戒等七淨法,成就少欲知足等八功德,復以能度彼岸、精勤求度等,稱爲福田。 又據首楞嚴三昧經卷下載,具足「十法行」者稱爲真實福田,即:(一)住於空、無相、無願之解脫門而不入法位,(二)見知四諦而不證道果,(三)行八解脫而不捨菩薩行,(四)能起宿住、死生、漏盡等三種智證明而行於三界,(五)能現聲聞形色威儀而不隨音教從他求法,(六)現辟支佛形色威儀而以無礙辯才說法,(七)常在禪定而能現行一切諸行,(八)不離正道而現入邪道,(九)深貪染愛而離諸欲一切煩惱,(十)入於涅槃而生死不壞不捨。 由前述可知福田說有多種,然以佛及聖弟子爲福田者爲其根本,據此而稱阿羅漢爲應供,其後即有三寶之敬田、貧窮者之悲田等名稱。我國向重敬、悲二田,多行供養惠施。依廣弘明集卷二十八啟福篇道宣之序言,今論福德乃以悲敬爲始,悲則能哀矜苦趣之艱辛,欲願拔濟彼等出離;敬則知佛法難遇,能信仰弘布之。〔雜阿含經卷三十五、長阿含卷六小緣經、小品般若經卷八、新華嚴經卷十三、四分律卷二、大智度論卷四、阿毘達磨藏顯宗論卷二十三、無量壽經義疏卷上(慧遠)、梵網經菩薩戒本疏卷五(法藏)、釋氏要覽卷中、法苑珠林卷二十一、卷三十三、翻譯名義集卷四〕
; Field of merit, Fukuda gyōkai (J).
; The field of blessedness, i.e. any sphere of kindnes, charity, or virtue; there are categories of 2,3,4, and 8, e.g. that of study and that of charity; parents, teachers etc; the field of poverty as a monk etc,.
; (福田) Phạm: Puịya-kwetra. Pàli: Puĩĩa-kkhetta. Thửa ruộng có năng lực sinh ra phúc đức, ví dụ Phật, tăng, cha mẹ, người đau khổ... Vì kính thờ Phật, chúng tăng, cha mẹ và xót thương cứu giúp những người nghèo khổ, đau ốm thì được phúc đức, giống như người nông phu gieo trồng trên mảnh ruộng thì được thu hoạch, cho nên Phật, chúng tăng, cha mẹ và những người nghèo khổ được gọi là Phúc điền. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 15 và kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3 thì Phật là đại phúc điền, tối thắng phúc điền, còn cha mẹ là phúc điền thù thắng nhất trong 3 cõi. Theo phẩm Cúng dường tam bảo trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3, kinh Tượng pháp quyết nghi, luận Đại trí độ quyển 12 và Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 8 thì có 3 loại Phúc điền: 1. Kính điền: (cũng gọi Cung kính phúc điền, Công đức phúc điền): Tức là Tam bảo Phật, Pháp, Tăng được chúng sinh cung kính. 2. Ân điền: (cũng gọi Báo ân phúc điền): tức cha mẹ, sư trưởng được báo đáp. 3. Bi điền (cũng gọi Lân mẫn phúc điền, Bần cùng phúc điền):Tức chỉ cho những người nghèo khổ, ốm đau cần được sự quan tâm giúp đỡ, chăm sóc. Ngoài ra, các kinh còn nêu lên nhiều cách phân loại về Phúc điền, như: 1. Hai loại phúc điền: -Hữu tác phúc điền: Cha mẹ, sư trưởng còn có sở cầu. Vô tác phúc điền: Chư Phật, Bồ tát không có sở cầu. -Học nhân điền: Bậc thánh Hữu học. Vô học nhân điền: Bậc thánh Vô học. 2. Ba loại phúc điền: Đại đức điền, tức Kính điền. Bần khổ điền, tứcBi điền. Đại đức bần khổ điền. 3. Bốn loại phúc điền: Đức điền: Chư Phật, Bồ tát. Ân điền: Cha mẹ, sư trưởng. Khổ điền: Người nghèo khổ, bệnh tật. Thú điền: Các loài súc sinh. 4. Tám loại phúc điền: Phật điền, Thánh nhân điền, Tăng điền, Hòa thượng điền, A xà lê điền, Phụ điền, Mẫu điền và Bệnh điền. Theo phẩm Phúc điền trong luận Thành thực quyển 1 thì 27 bậc Hiền Thánh đã dứt hết các phiền não tham, khuể...; tâm các Ngài vắng lặng, không khởi phiền não ác nghiệp, thiền định mà các Ngài chứng được đều thanh tịnh, mãi mãi xa lìa các phiền não, xả bỏ buồn vui, có năng lực dứt trừ 5 thứ tâm phược, thành tựu 8 loại Công đức điền, đồng thời dùng 7 thiền định hộ trì thiện tâm, tận diệt 7 thứ lậu hoặc, đầy đủ 7 tịnh pháp như giới..., thành tựu 8 công đức thiểu dục tri túc, lại có năng lực vượt qua bờ bên kia, tinh tiến cầu độ... gọi là Phúc điền. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ, người nào đầy đủ 10 pháp hạnh thì gọi là Chân thực phúc điền. Mười pháp hạnh ấy là: 1. Trụ trong 3 cửa giải thoát: Không, Vô tướng, Vô nguyện, nhưng không vào pháp vị. 2. Thấy biết rõ ràng lí 4 đế, nhưng không chứng đạo quả. 3. Thực hành 8 giải thoát nhưng không xả bỏ hạnh bồ tát. 4. Có năng lực phát khởi 3 loại trí chứng minh: Túc trụ, Sinh tử, Lậu tận, nhưng thường ở trong 3 cõi. 5. Thường hiện hình tướng uy nghi của Thanh văn, nhưng không theo âm thanh ngôn giáo mà cầu pháp nơi người khác. 6. Hiện hình tướng uy nghi của Bích chi phật, nhưng thường dùng biện tài vô ngại đẻ thuyết pháp. 7. Thường ở trong thiền định, nhưng có năng lực hiện hành tất cả pháp. 8. Không lìa chính đạo mà thị hiện đi vào tà đạo. 9. Tham đắm ái nhiễm, nhưng xa lìa tất cả phiền não của các thứ dục. 10. Chứng nhập Niết bàn nhưng không hủy hoại và xả bỏ sinh tử. Qua sự trình bày trên đây, ta thấy có nhiều loại Phúc điền, nhưng chủ yếu là lấy Phật và các Thánh đệtử làm Phúc điền, do đó mà gọi A la hán là Ứng cúng (xứng đáng tiếp nhận sự cúng dường), về sau thì có những tên gọi như Kính điền, Bi điền... Trung quốc từ xưa đến nay vốn quí trọng Kính điền và Bi điền nên thường thực hành cúng dường huệ thí... Lời tựa thiên Khải phúc của ngài Đạo tuyên trong Quảng hoằng minh tập quyển 28 nói rằng: Nay luận về phúc đức thì lấy bi kính làm đầu, bi thì thương xót những người chịu các nỗi khổ đau đớn đắng cay trong đường khổ, nguyện cứu giúp họ ra khỏi; kính thì biết Phật pháp khó gặp nên thường tín ngưỡng và hoằng truyền. [X. kinh Tạp a hàm Q.35; kinh Tiểu duyên trong Trường a hàm Q.6; kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.8; kinh Hoa nghiêm Q.13 (bản dịch mới); luật Tứ phần Q.2; luận Đại trí độ Q.4; luận A tì đặt ma tạng Q.23; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.5 (Pháp tạng); Thích thị yếu lãm Q.trung; Pháp uyển châu lâm Q.21, 33; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
phúc điền hành giới
5852(1806~1888)日本淨土宗僧。武藏人。字晉阿,號建蓮社立譽。法名行誡。出家於小石川傳通院,至比叡山廣學佛法,並擅和歌。明治維新時,任諸宗代表所組織之同盟會盟主,反對政府許可僧侶食肉娶妻,遂爲大教院之教頭。歷住傳通院、增上寺、知恩院,任淨土宗管長。於日本縮刷大藏經之刊行,多有貢獻。乃學德崇高,超越宗派,而爲人尊仰之名僧。著有雪窗答問、法語筆話、大日本國法傳、釋教百首、於知葉集等,均收於行誡上人全集。
phúc điền nghiêu dĩnh
5854(1867~1954)日本佛教學者,天台宗學僧。岐阜縣人,幼名吉彌。法名堯長,後改堯穎。年十五出家,明治二十八年(1895)畢業於天台宗大學林。歷任天台宗大學及中學講師、天台宗教義討究所委員、大正大學教授、校長等,及金勝院、天王寺諸剎住持,專研天台學,提倡戒淨雙修、布教統一。昭和二十九年示寂。著有戒密綱要、傳教大師、兜率遺芳、法話集、天台宗の在家安心、天台學概論、續天台學概論等。〔尸羅上善院堯穎大和尚略歷〕
phúc điền tịnh đức
5854謂出家之人須清淨己德,以作爲世間之福田。蓋世人若供養僧眾可得大福德,故稱僧眾爲福田。諸德福田經即列舉作爲「福田」所應具足之五種德行。即:(一)發心離俗,即發勇猛心,脫離凡俗,修習佛菩提而能懷佩妙道。(二)毀其形好,即剃除鬚髮,毀壞相好,袪除世俗之塵衣,披著如來之法服,具足佛威儀。(三)永割親愛,即依佛出家,割絕父母親愛之情,一心精勤修道,以報父母生成之德。(四)委棄軀命,即於身命無所顧惜,唯務一心,求證佛道。(五)志求大乘,即常懷濟物之心,專志勤求大乘之法,度脫一切有情。
; (福田淨德) Người xuất gia phải có giới đức thanh tịnh mới xứng đáng làm phúc điền cho thế gian. Vì người đời nếu cúng dường chúng tăng thanh tịnh thì được phúc đức lớn, nên gọi chúng tăng giới đức thanh tịnh là Phúc điền.Kinh Chư đức phúc điền nêu ra 5 đức hạnh mà người xuất gia cần phải có đủ để được làm phúc điền, đó là: 1. Phát tâm li dục: Phát tâm mạnh mẽ ra khỏi phàm tục để tu tập đạo Bồ đề của Phật, mới có thể liễu ngộ đạo mầu nhiệm. 2. Hủy kì hình hảo: Cạo bỏ râu tóc, không màng tướng đẹp, cởi bỏ áo thế tục, mặc áo pháp của Như lai, đầy đủ uy nghi của Phật. 3. Vĩnh cát thân ái: Nương theo Phật xuất gia, cắt đứt tình thân ái cha mẹ, một lòng siêng chăm tu đạo để báo đền ân đức sinh thành của cha mẹ. 4.Ủy khí khu mệnh: Không luyến tiếc thân mệnh, chỉ nhất tâm cầu chứng Phật đạo.5. Chí cầu đại thừa: Thường ôm lòng cứu giúp chúng sinh, chuyên cần tu tập, quyết chí cầu pháp Đại thừa, độ thoát tất cả hữu tình.
phúc điền viện
5853即救濟院,專門收容老幼殘疾而無依靠之人。北宋嘉祐(1056~1063)之前,即於京師設立東西福田院,嘉祐八年復增設南北福田院,以安頓一般老幼貧疾之人。據舊唐書及唐會要之記載,於宋代之前,唐代即有「悲田院」之設立,亦爲收容貧困者之用,宋代沿襲其例,然改爲福田院。(參閱「悲田」4953)
; (福田院) Nơi chuyên thu nhận nuôi dưỡng những người già yếu, trẻ em, tàn tật không nơi nương tựa. Trước năm Gia hựu (1056-1063) đời Bắc Tống, ở kinh đô đã thiết lập viện Đông tây phúc điền. Đến năm Gia hựu thứ 8 lại xây thêm viện Nam bắc phúc điền để chăm lo săn sóc cho những người già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ và tật bệnh. Cứ theo Cựu đường thư và Đường hội yếu thì ở đời Đường viện Bi điền cũng đã được thiết lập để nuôi dưỡng những lớp người như trên, đời Tống chỉ phỏng theo đời Đường, nhưng đổi tên là viện Phúc điền mà thôi. (xt. Bi Điền).
phúc điền vô thượng tâm
5854爲六種淨心之一。即於敬田、悲田、恩田等諸福田中,虔信佛法僧等三寶之福田爲最上而盡力供養之心。據菩薩地持經卷七載,菩薩在如來所,生起六種淨心,即:福田無上心、恩德無上心,於一切眾生無上心、如優曇鉢花難遇心、於三千大干世界獨一心、於世間出世間法一切具足依義心等,以此六心供養如來、法、僧,能獲無量功德。
; (福田無上心) Một trong 6 thứ tịnh tâm. Tâm tận lực cúng dường phúc điền Tam bảo, vì trong các phúc điền như Kính điền, Bi điền, Ân điền... thì phúc điền Tam bảo Phật, Pháp, Tăng là phúc điền tối thượng. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 7, Bồ tát đối trước Như lai sinh khởi 6 thứ tâm thanh tịnh: Tâm phúc điền vô thượng, tâm ân đức vô thượng, tâm vô thượng đối với tất cả chúng sinh, tâm khó gặp như hoa Ưu đàm bát, tâm độc nhất trong 3 nghìn đại thiên thế giới và tâm nương vào nghĩa đầy đủ tất cả pháp thế gian xuất thế gian. Dâng 6 thứ tâm này lên cúng dường Phật, Pháp, Tăng thì được vô lượng công đức.
phúc điền y
5853爲袈裟之異名。以供養僧眾能獲大功德,而稱僧眾爲福田,彼等所披著之袈裟即稱福田衣。據四分律刪補隨機羯磨疏卷四之解釋,袈裟之條相模倣田地之畦畔,田用畦盛水,生長嘉禾,以長養身命;法衣之田則弘布四利(慈悲喜捨)、增三善(無貪、無瞋、無癡)之心,長養法身之慧命,因取其義而稱之爲福田衣。亦即比丘由披著三衣之功德,得受他供養以支持身命;又行法施於他,得自他共享福德。〔釋氏要覽卷上〕(參閱「袈裟」4784)
; The garment of the field of blessing, the monk's robe.
; (福田衣) Áo ruộng phúc, tên khác của áo ca sa. Vì cúng dường chúng tăng thì được đại công đức, nên gọi chúng tăng là Phúc điền và gọi áo ca sa các ngài mặc là Phúc điền y. Cứ theo sự giải thích trong Tứ phần luật san phồn tùy cơ yết ma sớ quyển 4 thì tấm áo cà sa vuông vức như 1 thửa ruộng, những đường nẹp trong ca sa tượng trưng cho bờ ruộng; vì ruộng phải có bờ để giữ nước thìmới nuôi lớn và làm cho lúa mạ tốt tươi. Còn áo pháp ca sa thì mở rộng tâm của 4 điều lợi (từ bi hỉ xả) và tăng thêm 3 điều thiện (không tham, không sân, không si) để nuôi lớn tuệ mệnh của pháp thân. Vì có ngụ ý ấy nên gọi ca sa là Phúc điền y. Cũng tức là tỉ khưu nhờ công đức mặc 3 áo (ca sa) mà được người khác cúng dường để duy trì thân mệnh; lại thực hành pháp thí (tức nói pháp) đối với người khác để mình và người cùng được hưởng phúc đức.
phúc đáp
To reply—To answer—To respond.
phúc đình
A court, or hall of blessedness, a monastery.
; Sảnh đường của phúc đức, hay tự viện—A court, or hall, of blessedness, a onastery.
phúc đẳng tam nghiệp
5858福業、非福業與不動業之並稱。係就界之上下與感果之可愛、非可愛等而將業分爲三種。即:(一)福業(梵 puṇya-karma),爲欲界之善業,感生可愛果而利益有情。(二)非福業(梵 apuṇya-karma),爲欲界諸不善業,感生非可愛果而損害有情。(三)不動業(梵 aniñjya-karma),爲色界、無色界之善業,招感不動果。瑜伽師地論卷九(大三○‧三一九下):「福業者,謂感善趣異熟及順五趣受善業;非福業者,謂感惡趣異熟及順五趣受不善業;不動業者,謂感色、無色界異熟及順色、無色界受善業。」〔正法念處經卷五十五、俱舍論卷十五、成唯識論卷八〕(參閱「三業」638)
; (福等三業) Từ ngữ gọi chung Phúc nghiệp, Phi phúc nghiệp và Bất động nghiệp. 1. Phúc nghiệp (Phạm: Puịyakarma): Nghiệp thiện của cõi Dục, chiêu cảm quả như ý lợi ích chúng sinh. 2. Phi phúc nghiệp (Phạm: Apuịyakarma): Các nghiệp bất thiện ở cõi Dục chiêu cảm quả bất như ý tổn hại chúng sinh.3. Bất động nghiệp (Phạm: Aniĩjyakarma): Nghiệp thiện ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, chiêu cảm quả bất động. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 hạ) nói: Phúc nghiệp là cảm quả dị thục trong đường thiện và thuận thụ nghiệp thiện trong 5 đường. Phi phúc nghiệp là cảm quả dị thục trong đường ác và thuận thụ nghiệp bất thiện trong 5 đường. Bất động nghiệp là cảm quả dị thục ở cõi Sắc, cõi Vô sắc và thuận thụ nghiệp thiện ở cõi Sắc, cõi Vô sắc. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.55; luận Câu xá Q.15; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Tam Nghiệp).
phúc địa
5854<一>寺院之美稱,意即能生福德之處,亦有稱之爲福庭者。 <二>梵名 Kurukṣetra。音譯俱嚕乞曬。爲中印度之古戰場。據大唐西域記卷四薩他尼濕伐羅國條載,此國大城周長二百里地之範圍內稱爲福地。蓋因古代五印度國由二王分治,境壤相侵,干戈不息。其後二王更合謀欲作最後之決戰,以分勝負,然百姓皆已不堪其苦而不從王命,王乃心生一計,即告諭百姓,此王城二百里地,自古即爲福利之地,若於此地抗敵而死,得生人中,若能多殺無辜,則受天之福樂。百姓遂奮戰不懈,視死如歸,兩國會戰於此,積屍如莽。古印度人向尊重古人之骸骨,遂相傳謂之福地。〔金剛針論〕
; Blessed land; a lucky grave spot; elysium.
; Tên gọi chùa chiềng, mảnh đất sinh ra phúc đức—A place of blessedness, a monastery.
; (福地) I. Phúc Địa. Cũng gọi là Phúc đình. Chỉ cho chùa viện, là nơi có năng lực sinh ra phúc đức. II. Phúc Địa. Phạm: Kurukwetra. Hán âm: Câu rô khất sái. Cổ chiến trường ở Trung Ấn độ. Cứ theo điều Tát tha ni thấp phạt la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, trong 1 phạm vi rộng 200 dặm đất ở kinh đô nước này được gọi là Phúc địa. Vì tất cả 5 nước Ấn độ đời xưa do 2 ông vua chia nhau thống trị, chiến tranh liên miên vì nạn xâm chiếm đất đai của nhau. Về sau, 2 vua đồng ý quyết chiến với nhau 1 trận cuối cùng để phân thắng bại, nhưng trăm họ đã đau khổ quá nhiều, không còn chịu đựng được nữa nên không theo lệnh vua. Nhà vua liền nghĩ ra 1 kế dụ dỗ dân chúng, bảo họ rằng 200 dặm đất trong thành vua, từ xưa vốn là đất phúc lợi, nếu ai vì chốngkẻ địch mà chết ở chỗ này thì sẽ được sinh làm người. Còn nếu giết được nhiều kẻ thù thì sẽ được hưởng phúc lạc trên cõi trời. Nhân dân bèn ra sức chiến đấu, coi cái chết như trở về. Hai nước thư hùng 1 trận tại đây, xác chết chất cao như núi. Người Ấn độ có truyền thống tôn trọng hài cốt của cổ nhân, nên truyền nhau bảo nơi đó là Phúc địa. [X. luận Kim cương châm].
phúc độ
5856(1637~?)明末清初臨濟宗僧。西蜀(四川)永川人,俗姓張。號梅溪。十六歲,從東山之知如出家受業。二十歲,在闊浪門下受具足戒,翌年,參謁滇城(雲南)新興雲集寺之靈隱印文。二十五歲,至竇寶觀音寺受靈隱付囑大法,而初於蓬萊永興院弘法。康熙七年(1668)以降,歷住忠義院、安龍華光寺、雲南蒙化府等覺寺、玉閣院、宗州觀音閣、普安縣(四川)圓通寺、安龍吉祥庵等寺剎。師之示寂年代不詳,唯於所撰十卷「東山梅溪禪師語錄」卷四載有「六旬誕日上堂」之文,時當康熙三十五年(1696)。
; (福度) (1637-?) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Vĩnh xuyên, Tây thục (tỉnh Tứ xuyên), họ trương, hiệu Mai khê. Năm 16 tuổi, sư lễ ngài Tri như ở Đông sơn xin xuất gia tu học. Năm 20 tuổi, cầu ngài Khoát lãng thụ giới Cụ túc. Năm sau, sư tham yết ngài Linh ẩn Ấn văn ở chùa Vân tập tại Tân hưng, Điền thành (tỉnh Vân nam). Năm 25 tuổi, sư đến chùa Quán âm ở Đậu bảo, được ngài Linh ẩn phó chúc đại pháp. Mới đầu, sư hoằng pháp ở viện Vĩnh hưng tại Bồng lai. Từ năm Khang hi thứ 7 (1668) trở về sau, sư lần lượt trụ các chùa như: Viện Trung nghĩa, chùa Hoa quang ở An long, chùa Đẳng giác ở phủ Mông hóa, tỉnh Vân nam, viện Ngọc các, Quan âm các ở Tông châu, chùa Viên thông ở huyện Phổ an, tỉnh Tứ xuyên, am Cát tường ở An long…... Sư có tác phẩm: Đông sơn Mai khê thiền sư ngữ lục, 10 quyển.
phúc đức
5860<一>指過去世及現在世所行之一切善行,及由於一切善行所得之福利。據金剛般若波羅蜜經載,菩薩於法應無所住,須行不住色布施、不住聲布施,乃至不住法布施等,由此不住相之布施,其福德不可思量。〔法華經方便品〕 <二>與善法同義。據法華經方便品載,於四眾中,若比丘、比丘尼心懷增上慢,優婆塞心懷我慢,優婆夷心懷不信,如此則不能自見其過,於戒律有所缺漏。此類少有善法者,實不堪受持一佛乘之法。〔有部毘奈耶雜事卷三十五〕 <三>指六度中之前五度,係相對於智慧而言。(參閱「福智」5857)
; Pua (P), Merit Puṇya (S).
; Blessed virtues, all good deeds; the blessing arising from good deeds. Good fortune and virtue.
; See Phước Đức.
; (福德) I. PhúcĐức. Chỉ cho phúc lợi nhờ làm tất cả việc thiện ở quá khứ và hiện tại mà có được. Cứ theo kinh Kim cương bát nhã ba la mật thì Bồ tát đối với các pháp không nên để bị dính mắc (ưng vô sở trụ), phải thực hành bố thí chẳng trụ sắc, bố thí chẳng trụ thanh, cho đến bố thí chẳng trụ pháp... Nếu bố thí mà không trụ tướng như thế thì được phúc đức chẳng thể nghĩ lường. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa]. II. Phúc Đức. Đồng nghĩa với pháp thiện. Theo phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, nếu tỉ khưu, tỉ khưu ni có tâm tăng thượng mạn, ưu bà tắc có tâm ngã mạn, ưu bà di có tâm bất tín thì không thấy được lỗi của mình, khuyết phạm giới luật. Những hạng người này ít có pháp lành, không thể thụ trì pháp Nhất Phật thừa. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.35].
phúc đức môn
5861二門之一。爲「智慧門」之對稱。指六度中之布施、持戒、忍辱、精進、禪定等五度。若入於福德門,則一切罪業皆能除,所願皆得。大智度論卷十五(大二五‧一七二中):「欲成佛道凡有二門,一者福德,二者智慧。行施、戒、忍,是爲福德門;知一切諸法實相摩訶般若波羅蜜,是爲智慧門。」(參閱「福智」5857)
; The gates of blessedness and virtue, the first five of the six paramitas.
; (福德門) Đối lại: Trí tuệ môn. Một trong 2 môn. Chỉ cho 5 độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến và thiền định trong 6 độ. Nếu vào được cửa phúc đức thì tất cả tội nghiệp đều được trừ, những điều nguyện ước đều được toại. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 172 trung) nói: Muốn thành tựu Phật đạo phải tu đủ 2 môn là Phúc đức và Trí tuệ. Thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, là Phúc đức môn; Ma ha bát nhã ba la mật biết rõ thực tướng của các pháp là Trí tuệ môn. (xt. Phúc Trí).
phúc đức thân
The Buddhakàya, or body ođ Buddha, in the enjoyment of the highest samàdhi bliss.
phúc đức trang nghiêm
The adornment of blessedness and virtue, i.e. of good deeds.
phúc đức tư lương
5861二種資糧之一。爲福德莊嚴之異名。謂修持六度中之前五度,如布施、持戒等善行,以爲證佛果之資糧。而六度中之智慧,即稱爲智慧資糧。大乘法苑義林章卷七(大四五‧三六六上):「復有二因能得二果,如大乘經莊嚴論說:『福德、智慧二資糧,菩薩善修無邊際,乃至勇猛疾歸德海岸。』」(參閱「福智」5857)
; The nutriment of blessedness, i.e. deeds of charity.
; (福德資糧) Cũng gọi Phúc đức trang nghiêm. Đối lại: Trí tuệ tư lương. Một trong hai thứ tư lương. Dùng phúc đức làm tư lương để đạt đến quả vị viên mãn. Như tu trì 5 độ trước: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục... trong 6 độ làm tư lương để chứng quả Phật. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 366 thượng) nói: Lại có 2 nhân có thể đạt được 2 quả. Như Đại thừa trang nghiêm kinh luận nói Phúc đức và trí tuệ, Bồ tát khéo léo, mạnh mẽ tu tập đến cùng tận 2 thứ tư lương này để mau chóng đạt đến bờ giác. (xt. Phúc Trí).
phúc đức tạng
5861指觀無量壽經所說之定善、散善諸行。以此類善行能得種種福利,猶如能納福德之藏,故稱福德藏。日本淨土真宗將此藏列爲分別法義真(真實)假(方便)的三種法門之一,此三法門即稱三藏。而福德藏乃淨土要門之方便藏;以自力修定散諸行,得往生化土。是爲開顯阿彌陀佛第十九願之定散諸行。(參閱「三藏」690)
; (福德藏) Chỉ cho các hạnh định thiện, tán thiện được nói đến trong kinh Quán Vô lượng thọ. Vì các loại thiện hạnh này có công năng đem lại nhiều phúc lợi, giống như cái kho (tạng) có sức chứa đựng các phúc đức, cho nên gọi là Phúc đức tạng. Tịnh độ chân tông của Nhật bản xếp tạng này làm 1 trong 3 pháp môn để phân biệt pháp nghĩa chân thực với phương tiện giả tạm. Ba pháp môn này được gọi là Tam tạng (Phúc trí tạng, Phúc đức tạng, Công đức tạng), trong đó, Phúc đức tạng là Phương tiện tạng của yếu môn Tịnh độ; dùng tự lực tu tập các hạnh định, tán để được vãng sinh Hóa độ. Đó là mở bày các hạnh định, tán trong nguyện thứ 19 của đức Phật A di đà. (xt. Tam Tạng).
phúc ấm
The beneficent influence of one's ancestors'virtues.
Phúc 腹
[ja] フク fuku ||| (1) The lower stomach, the abdomen. (2) In East Asian tradition, the 腹, located just below the navel, is the true center of the person, and the proper seat of the mind. True mind. (3) Thick, heavy; to hold to. => 1. Bụng dưới, dạ dày, bụng. 2. Theo truyền thống Á Đông, Phúc 腹 là bộ phận nằm ngay dưới rốn, trung tâm chính của cơ thể con người, và là nơi chỉ riêng cho tâm ý. 3. Dày, nặng; giữ kín.
phúc-đà-mật-đa
Xem Tổ Phật-đà-mật-đa.
phúng
Nói bóng gió hay châm biếm—To satirize—To intone.
Phúng kinh
(諷經): tụng kinh, đọc kinh văn theo âm điệu trầm bổng, lên xuống. Nguyên lai là pháp của Bà La Môn giáo, sau đó đức Phật hứa khả cho các Tỳ Kheo được sử dụng pháp này, tức là Phạn Bối (梵唄). Người có khả năng về khoa này được gọi là kinh sư (經師). Trong bài Lễ Tụng Dược Sư Cáo Văn (禮誦藥師告文) của Lý Chí (李贄, 1527-1602) nhà Minh có câu: “Sấn thử nhất bách nhị thập nhật kỳ hội, phúng kinh bái sám đạo tràng (趁此一百二十日期會、諷經拜懺道塲, nhân dịp 120 ngày này, tụng kinh lạy sám hối đạo tràng).” Hay trong tác phẩm Tô Châu Phong Tục (蘇州風俗), chương Hôn Tang Lễ Tục (婚喪禮俗), của Chu Chấn Hạc (周振鶴) có đoạn: “Tử hậu mỗi thất nhật, tất diên tăng lữ hoặc vũ y lễ sám phúng kinh (死後每七日、必延僧侶或羽士禮懺諷經, sau khi chết vào mỗi tuần bảy ngày, phải mời tăng sĩ hay đạo sĩ đến lạy sám hối, tụng kinh).” Trong Phật Thuyết Di Nhật Ma Ni Bảo Kinh (佛說遺日摩尼寶經, Taishō Vol. 12, No. 350) có nêu lên tầm quan trọng của việc tụng kinh, trì giới như sau: “Tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới, thí như nhân bệnh đắc vương gia dược, bất tự hộ tọa tử, tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới như thị, thí như Ma Ni bảo châu đọa ư thỉ trung (雖多諷經而不持戒、譬如人病得王家藥、不自護坐死、雖多諷經而不持戒如是、譬如摩尼珠墮於屎中, tuy tụng kinh nhiều mà không giữ giới, giống như người bị bệnh có được thuốc nhà vua, nhưng không thoát khỏi chết ngồi, tuy kinh nhiều mà không giữ giới như vậy, giống như ngọc báu Ma Ni rơi trong đống phân).”
phúng kinh
Điều chỉnh giọng nói để phúng tụng kinh văn, đặc biệt là trong các cuộc lễ (dù là pháp của Bà La Môn, nhưng Đức Phật vẫn cho phép chư Tăng Ni dùng trong các buổi tụng kinh cho thuận theo lòng người)—To intone a scripture, especially one suited to the occasion.
Phúng tụng
xem Già-đà. Xem Mười hai bộ kinh.
phúng tụng
6312諷詠諳誦之意。又作誦經、諷經、諷讀、讀經。即出聲讀誦經文、偈頌等。諷誦之法,原為印度婆羅門間所行的六行(梵 ṣaṭ karmāṇi)之一,後佛教徒亦用此法。諷頌經典供養僧,稱諷供。於禪林,諷經依對象、時間、場合之不同而分多種,如每日粥罷、齋罷、放參罷之三時上殿諷經,稱三時諷經;每月朔望之祝聖諷經;為「具應供之德」的無量賢聖及十六大阿羅漢而諷之應供諷經;此外尚有半齋諷經、日中諷經、土地堂諷經、祖堂諷經、韋馱天諷經、朝課諷經、晚課諷經等。〔長阿含卷十五種德經、無量壽經卷上、法華經卷三化城喻品、敕修百丈清規卷一聖節條、禪苑清規卷二、禪林象器箋諷唱門〕
; Peyyavajja (P), Gāthā (S, P), Verse Kệ, Kệ ngôn, Cô khởi, Già thaPhần kệ tụng độc lập, ghi chép giáo thuyết mà không lặp lại ý của văn trường hàng (ceya). Lấy 4 câu làm một bài. Bài thi tụng, vịnh để xưng tán công đức hay tỏ bày lòng cảm kích.
; Gàthà (S)
; Gatha (skt)—Già Đà—Những câu phúng vịnh, tán thán nghĩa lý thâm diệu và ca tụng công đức của Phật và Tam Bảo—To intone—To sing.
; (諷誦) Cũng gọi Tụng kinh, Phúng kinh, Phúng độc, Độc kinh. Tức đọc tụng văn kinh và tán vịnh các câu kệ. Phúng tụng vốn là 1 trong 6 hành pháp (Phạm:Waỉ karmàịi) của người Bà la môn Ấn độ thực hành, về sau, tín đồ Phật giáo cũng dùng pháp này. Phúng tụng kinh điển cúng dường tăng, gọi là Phúng cúng. Trong Thiền lâm, tùy theo đối tượng, thời gian, trường hợp khác nhau mà Phúng kinh được chia ra nhiều loại. Như mỗi ngày 3 thời dùng cháo, thụ trai và ngồi thiền xong, chúng tăng lên điện phúng kinh, gọi là Tam thời phúng kinh; mỗi tháng vào các ngày mồng 1, ngày rằm có Chúc thánh phúng kinh, Ứng cúng phúng kinh. Ngoài ra còn có Bán trai phúng kinh, Nhật trung phúng kinh, Thổ địa đường phúng kinh, Tổ đường phúng kinh, Vi đà thiên phúng kinh, Triêu khóa phúng kinh, Vãn khóa phúng kinh... [X. kinh Ngũ chủng đức trong Trường a hàm Q.10; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa Q.3; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phúng tụng văn
6312法會時用以讚歎三寶或追悼死者之文。多係古德所作之法語、發願文、迴向文,或偈頌。禪宗之心王銘、信心銘、參同契、證道歌及教會修證義等皆屬之。
phúng điếu
To offer ritual objects to a deceased person.
phút chốc
In a moment.
phũ phàng
Brutal—Cruel.
phưng phức
Rất thơm tho ngọt ngào—Very sweet-smelling.
phương
1432梵語 diś。乃唯識宗二十四不相應行法之一。即指方位、空間。色法(物質的存在)與色法相對而生存在空間之分位關係,計有東、西、南、北、四維(四隅)、上、下等十方。〔大乘阿毘達磨雜集論卷二、顯揚聖教論卷一、瑜伽師地論卷三〕
; Caturasra (S)Vuông.
; Square; place; correct; a means, plan, prescription; then, now, just.
; 1) Vuông: Square. 2) Phương cách: Method—Way—Means. 3) Địa phương: A place—Locality. 4) Đền (chánh điện): A temple—A place of assembly.
; (方) Phạm: Diz. Chỉ cho phương vị, không gian. Một trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức. Tức là những phần vị tồn tại trong không gian do sự quan hệ đối đãi giữa các sắc pháp(sự tồn tại của vật chất) mà sinh ra. Gồm có 10 phương: Đông, tây, nam, bắc, 4 duy (4 góc), trên và dưới. [X. luận Đại thừaa tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Du già sư địa Q.3].
phương châm
Tenets.
phương châm tu hành của phật tử
Bồ đề tâm làm nhân, đại bi tâm làm căn bản, phương tiện thiện xảo làm phương cách thực hành, và Niết bàn làm cứu cánh.”—Guideline (tenets) of cultivation for Buddhists: “Bodhi mind is the cause, great compassion is the foundation, skillful means is daily method of practicing, and Nirvana is the ultimate goal.”
phương chước
Expedient—Means.
phương chỉ
Direction.
phương cách
Way—Context—Means Approach.
phương cách đáng kính
A respectable way.
phương danh
Good name (reputation).
phương diện
Aspect.
Phương hiển 方顯
[ja] ホウゲン hōgen ||| And then it became apparent. => Thế rồi mới hiện bày.
phương hướng
Direction.
phương hại
To be harmful—To be detrimental.
phương hội
Fang-hui (C)Tên một vị sư.
phương hội dương kỳ thiền sư
Zen master Fang-Hui-Yang-Qi—Thiền sư Phương Hội sanh năm 992 tại Viên Châu (bây giờ thuộc tỉnh Giang Tây), đệ tử và là người kế thừa Pháp của Thiền Sư Thạch Sương Sở Viện, và là thầy của Bạch Vân Thủ Đoan. Dương Kỳ lập ra phái Thiền Lâm Tế mang tên ông, một trong hai nhánh thiền Lâm Tế sau khi thầy Thạch Sương thị tịch. Phái Thiền nầy được các thiền sư Trung Hoa và Nhật Bản mang vào Nhật Bản và hiện nay vẫn còn được lưu truyền tại đây—Zen master Fang-Hui-Yang-Qi was born in 992 in Yuan-Chou (now in Jiang-Xi Province), was a disciple and dharma successor of Shi-Shuang-Chu-Yuan, and the master of Pai-Yun-Shou-Tuan. Yang-Qi founded the Yogi school of Lin-Chi Zen, which bears his name. It is one of the two lineages into which the tradition of the Lin-Chi school divided after Master Shih-Shuang. The strict Zen of Yogi lineage was brought to Japan by Chinese and Japanese masters and still flourishes there today. • Đi du phương, sư đến yết kiến Thiền sư Từ Minh ở Nam Nguyên. Sư dừng lại đây phụ tá cho Từ Minh một cách siêng năng cần khổ. Từ Minh dời sang Thạch Sương Đạo Ngô, sư cũng dời theo. Nơi đây sư làm Giám Tự (administrator). Tuy theo Từ Minh đã lâu mà sư chưa tỉnh ngộ. Mỗi khi đến thưa hỏi, Từ Minh bảo: “Việc trong ty khố quá nhiều hãy đi.” Hôm khác sư đến hỏi, Từ Minh bảo: “Giám Tự ngày sau con cháu khắp thiên hạ cần gì vội gấp.” Một hôm Từ Minh vừa đi ra chợt mưa đến, sư rình ở con đường tắt. Từ Minh đến, sư liền nắm đứng lại nói: “Ông già này! Hôm nay phải vì tôi nói, nếu không nói tôi sẽ đánh ông.” Từ Minh nói: “Giám Tự biết là việc quanh co liền thôi.” Câu nói chưa dứt, sư đại ngộ, liền đảnh lễ ngay dưới bùn. Hôm sau, sư đầy đủ oai nghi đến phương trượng lễ tạ. Từ Minh quở: “Chưa phải.”—When Shi-Shuang Chu-Yuan moved from Nan-Yuan to Mount T'ao-Wu, and then to Shi-Shuang, Yang-Qi followed him, performing administrative affairs in each place. Although Yang-Qi remained with Shi-Shuang for a long time, he never attained enlightenment. Each time he would have an interview, Shi-Shuang would say: “There are a lot of administrative affairs requiring attention. Go do them.” On one occasion when Yang-Qi went to see Shi-Shuang for instruction on practice, Shi-Shuang said: “Director! Someday your descendants will cover the earth. Why are you in a hurry?” One day, Shi-Shuang had just gone out when it suddenly began to rain. Yang-Qi spied his teacher's walking on a small path, chased him down, and grabbed him, saying: “You've got to talk to me now, or else I'm going to hit you!” Shi-Shuang said: “Director! You already completely know how to take care of things, so that's enough!” Before Shi-Shuang had finished speaking, Yang-Qi experienced great enlightenment. He then knelt and bowed to Shi-Shuang on the muddy path. • Từ Minh thượng đường, sư ra hỏi: “Khi chim núp kêu nẩm nẩm, từ mây bay vào núi loạn, là thế nào?” Từ Minh đáp: “Ta đi trong cỏ hoang, ngươi lại vào thôn sâu.” Sư thưa: “Quan chẳng nhận kim, lại mượn một câu hỏi.” Từ Minh liền hét. Sư thưa: “Hét hay” Từ Minh lại hét. Sư cũng hét. Từ Minh hét luôn hai tiếng. Sư lễ bái. Từ Minh nói: “Việc nầy là cá nhơn mới gánh vác.” Sư phủi áo ra đi—Yang-Qi asked Shi-Shuang: “How is it when the great dark bird cries 'Na! Na!' and flies down from the clouds into the chaotic mountain peak?” Shi-Shuang said: “I walk in wild grasses. You rush into the village.” Yang-Qi said: “When the senses have no room for even a needle, still there is another question.” Shi-Shuang then shouted. Yang-Qi said: “Good shout.” Shi-Shuang shouted again. Yang-Qi also shouted. Shi-Shuang then shouted twice. Yang-Qi bowed. Shi-Shuang said: “This affair concerns one person taking up and carrying a lotus.” Yang-Qi shook his sleeves and went out. • Dương Kỳ thường nói một cách tích cực về an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của ngài. Thay vì nói chỉ có đôi tay không, ngài lại nói về muôn vật trong đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá đủ lắm rồi như chúng ta có thể thấy qua bài thơ sau đây diễn tả về ngôi nhà điêu tàn của sư: “Nhà ta phên mái rách tơi bời Nền trắng một màu tuyết trắng rơi Giá lạnh toàn thân, lòng vạn mối Người xưa nhà chỉ bóng cây thôi.” —Zen master Yang Ch'i always talked positively about his contentment and unworldly riches. Instead of saying that he is empty-handed, he talked of the natural sufficiency of things about him as we can see through this poem concerning his deserted habitation: My dwelling is now here at Yang-Ch'i The walls and roof, how weather-beaten! The whole floor is covered white with Snow crystal, shivering down the neck, I am filled with thoughts. How I recall the ancient masters whose habitat was no better than the shade of a tree!” Theo Thiền sư D. T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, bài thơ nầy không ngụ ý tác giả ăn không ngồi rồi hay không làm gì khác, hoặc không có gì khác hơn để làm hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hay ngắm vầng trăng trong tuyết bạc, trong ngôi nhà đìu hiu. Ngược lại, ngài có thể đang hăng say làm việc, hoặc đang dạy đệ tử, hoặc đang tụng kinh, quét chùa hay dẫy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm thanh tịnh khinh an. Mọi mong cầu đều xả bỏ hết, không còn một vọng tưởng nào gây trở ngại cho tâm trí ứng dụng dọc ngang, do đó tâm của ngài lúc bấy giờ là tâm 'không,' thân là 'thân nghèo.' Vì nghèo nên ngài biết thưởng thức hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Trái lại, nếu có của thế gian chồng chất đầy con tim, thì còn chỗ nào dành cho những lạc thú thần tiên ấy. Kỳ thật, theo sư Dương Kỳ thì sự tích trữ của cải chỉ toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với những lý tưởng thánh thiện, chính vì thế mà sư nghèo. Theo sư thì mục đích của nhà Thiền là buông bỏ chấp trước. Không riêng gì của cải, mà ngay cả mọi chấp trước đều là của cải, là tích trữ tài sản. Còn Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu, mục đích là làm cho con người trở nên nghèo và khiêm cung từ tốn. Trái lại, học thức khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức là nắm giữ, là chấp; càng học càng có thêm, nên 'càng biết càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm.' Đối với Thiền, những thứ ấy chỉ là khổ công bắt gió mà thôi—According Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, this poem is not to convey the idea that he is idly sitting and doing nothing particularly; or that he has nothing else to do but to enjoy the cherry-blossoms fragrant in the morning sun, or the lonely moon white and silvery in a deserted habitation. In the contrary, he may be in the midst of work, teaching pupils, reading the sutras, sweeping and farming as all the master have done, and yet his own mind is filled with transcendental happiness and quietude. All hankerings of the heart have departed, there are no idle thoughts clogging the flow of life-activity, and thus he is empty and poverty-stricken. As he is poverty-stricken, he knows how to enjoy the 'spring flowers' and the 'autumnal moon.' When worldly riches are amassed in his heart, there is no room left there for such celestial enjoyments. In fact, according to Zen master Yang-Ch'i, the amassing of wealth has always resulted in producing characters that do not go very well with our ideals of saintliness, thus he was always poor. The aim of Zen discipline is to attain to the state of 'non-attainment.' All knowledge is an acquisition and accumulation, whereas Zen proposes to deprive one of all one's possessions. The spirit is to make one poor and humble, thoroughly cleansed of inner impurities. On the contrary, learning makes one rich and arrogant. Because learning is earning, the more learned, the richer, and therefore 'in much wisdom is much grief; and he that increased knowledge increased sorrow.' It is after all, Zen emphasizes that this is only a 'vanity and a striving after wind.' • Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Mây dày đường hẹp xe to từ đâu đến?” Vị Tăng thưa: “Trời không bốn vách.” Sư hỏi: “Đi rách bao nhiêu giày cỏ?” Vị Tăng liền hét. Sư bảo: “Một hét hai hét sau lại làm gì?” Vị Tăng nói: “Xem ông Hòa Thượng già vội vàng.” Sư nói: Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà.”—Yang-Qi asked a monk who had just arrived: “The fog is thick and the road is obscured, so how did you get here?” The monk said: “The sky does not have four walls.” Yang-Qi said: “How many straw sandals did you wear out coming here?” The monk shouted. Yang-Qi said: “One shout. Two shout. After that, then what?” The monk said: “I meet you, Master, but you're quite busy.” Yang-Qi said: “I don't have my staff. Sit and have some tea.” • Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Lá rụng mây dồn sớm rời chỗ nào?” Vị Tăng thưa: “Quan Âm.” Sư nói: “Dưới chơn Quan Âm một câu làm sao nói?” Vị Tăng nói: “Vừa đến thấy nhau xong.” Sư hỏi: “Việc thấy nhau là thế nào?” Vị Tăng không đáp được: Sư bảo: “Thượng Tọa thứ hai đáp thế Thượng Tọa thứ nhất xem?” Vị Tăng thứ hai cũng không đáp được. Sư bảo: “Cả hai đều độn hết.”—When another monk arrived, Yang-Qi said to him: “The leaves fall and the clouds gather. Where did you come from today?” The monk said: “From Kuan-Yin.” Yang-Qi asked: How would you say one word from beneath Kuan-Yin's heels?” The monk said: “I've just arrived to see you.” Yang-Qi said: “What is it that you've seen?” The monk didn't answer. Yang-Qi said to a second monk who had also come: “You! Can you say something for this practitioner?” The second monk didn't answer. Yang-Qi said: “Here are a couple of dumb horses.” • Sư thị tịch năm 1054—He passed away in 1054. ** For more information, please see Dương Kỳ Phương Hội Phái.
Phương Hội 方會
[ja] ホウエ Hōe ||| Fanghui (995-1049) The originator of the Yangji branch of Linji Ch'an. Originally from Yichun 宜春 in Yuanzhou 袁州. He received the dharma-transmission from Shishuang Ciming , becoming the eighth generation successor of Linji. He did a major part of his teaching during his stay at Mt. Yang-chi. Later in his life, he moved to Mt. Yungai 雲蓋 in Tanzhou 潭州, where he passed away in 1054 at the age of 54. There is a two-fascicle teaching record attributed to him. He passed his dharma-seal first to 白雲守端 and later to about ten or so other disciples, who spread his teaching methods widely, which later became known as the Yang-chi school. => Fanghui (995-1049). Vị khai sáng phái thiền Dương Kỳ thuộc tông Lâm Tế. Sư xuất thân từ Nghi Xuân ở Viên Châu. Sư là pháp tự của Thạch Sương Sở Viên (c: Shishuang Ciming), trở thành pháp hệ truyền thừa thứ 8 thuộc dòng thiền Lâm Tế. Sự nghiệp giáo hoá của sư phần lớn là trong thời gian sư trụ ở núi Dương Kỳ. Về sau, sư dời về núi Vân Cái (c: Yungai 雲蓋 ) ở Đàm Châu (c: Tanzhou 潭州), và viên tịch ở đó vào năm 1054, lúc sư được 54 tuổi. Có 2 tập Ngữ lục ghi lại hành trạng của sư. Sư ấn chứng đầu tiên cho Bạch Vân Thủ Đoan白雲守端, và sau đó vào khoảng chừng 10 đệ tử, về sau đều làm rạng danh phái thiền Dương Kỳ.
phương khẩu thực
1432四邪命食之一。方口,巴利語 disāmukha,本指臉朝四面張望,故「方口食」引申為出家人曲媚顯貴,通使於四方,借巧言令色而求活命。〔雜阿含經卷十八、大智度論卷三〕(參閱「四食」1741)
; Opportunism in obtaining a living, i.e. a monk who makes a living by fawning or by bullying, one of the tứ tà mệnh four illicit ways of livelihood.
; Vị Tăng đã xuất gia mà còn xu nịnh, vòi vĩnh để tìm cơ kiếm sống. Đây là một trong tứ tà mệnh—Opportunism in obtaining a living—A monk who makes a living by fawning or by bullying (One of the four illicit ways of livelihood—Tứ tà hạnh). ** For more information, please see Tà Mệnh.
; (方口食) Phương khẩu. Pàli: Disàmukha. Nghĩa đen là ngửa mặt trông ngóng 4 phương, nghĩa bóng là chỉ cho người xuất gia xu nịnh kẻ có quyền thế, giàu sang, đi khắp 4 phương, dùng lời khéo léo mê hoặc người khác để kiếm sống. Là 1 trong 4 thứ tà mệnh thực. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tứ Thực).
phương kế
Expedient—Device—Means.
phương luân
1440(1896~ )福建福州人。字心五。福建馬尾海軍學校畢業,曾任軍艦輪機長、海軍總司令部科長等職。篤信佛教,從事佛學教育多年,曾任東方佛教學院等佛學院教師、臺灣南部道場及電臺之宣教師。近年以來,於淨土法門甚為提倡。著有大乘起信論講記、唯識三頌講記、禪話與淨話、初級中級高級佛學教本、淨法概述、今願室文存等書。
phương luận sư
1443請參閱 大通方廣懺悔滅罪莊嚴成佛經 印度二十種外道之一。係以方位為萬物之因的外道論師。據外道小乘涅槃論載,方論師執方為常住,以四方、四維等方位為天地之本源,天地滅後還入彼處,稱為涅槃。又大智度論卷十記勝論師亦以方為常住,攝於六句義之第一實句義中。〔百論卷下破常品〕(參閱「二十種外道」182)
; (方論師) Luận sư ngoại đạo chủ trương phương vị là nhân sinh ra muôn vật, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn thì Phương luận sư chấp phương vị là thường trụ, cho rằng phương vị 4 phương, 4 duy là nguồn gốc của trời đất, sau khi trời đất tiêu diệt lại trở về các phương vị, gọi là Niết bàn. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 10 nói rằng Thắng luận sư cũng cho phương vị là thường trụ, thuộc về Thực cú nghĩa trong 6 cú nghĩa(6 nguyên lí). [X. phẩm Phá thường trong Bách luận Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Chủng Ngoại Đạo).
phương nghệ
1442請參閱 方等三昧行法 方,謂方所;詣,謂所至。即謂事物之方針。四分律刪繁補闕行事鈔卷上之一(大四○‧二上):「薄知方詣。」
; (方詣) Phương là nơi chốn; Nghệ là đến. Phương nghệ là chỗ qui về, tức là ý thú, yếu chỉ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển 1 (Đại 40, 2 thượng) nói: Dẫn sơ qua các điều thì có thể hiểu được ý thú (phương nghệ). Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao tư trì kí (Đại 40, 108 thượng) nói: Phương nghệ tức là có chỗ qui về. Phương là nơi chốn; Nghệ là đến.
phương ngoại
1433方,乃「道」之意;在人應守之道外,稱為方外。道外之人,多指捨世之人,後世則專指佛教徒。又指方域之外,此即指夷狄之地。由儒家立場而言,除其本身以外之教,均稱方外之學,認為佛教乃外國、夷狄之教,故稱佛教為方外之教。又稱僧侶為方外之侶。但依佛教立場而言,出家者乃俗人所守道之外者,故不應以世俗之道規律之,因此自稱為方外之士或塵外之士。〔沙門不敬王者論、梁高僧傳卷六、弘明集卷五〕
; Out of the world; the life of a monk.
; 1) Thế ngoại hay bên ngoài cuộc đời: Out of the world. 2) Cuộc đời của một vị Tăng: The life of a monk.
; (方外) Phương hàm ý là đạo. Ở ngoài vòng cái đạo mà người ta phải giữ, gọi là Phương ngoại. Người Phương ngoại phần nhiều chỉ cho những người xa rời thế tục. Phương ngoại cũng chỉ cho những vùng đất ở ngoài biên thùy Trung quốc, tức là những xứ di địch (mọi rợ) theo quan điểm của người Tàu. Bởi thế, Phật giáo cũng bị người Trung quốc xem là Phương ngoại giáo và chư tăng Phật giáo được gọi là Phương ngoại tăng. Nhưng,nóitheo lập trường của Phật giáo thì người xuất gia là người ở ngoài vòng cái đạo của người thế tục, cho nên tự gọi mình là Phương ngoại sĩ, hoặc Trần ngoại sĩ. [X. luận Sa môn bất kính vương giả; Lương cao tăng truyện Q.6; Hoằng minh tập Q.5].
phương ngoại hữu
1433方外,世外之義,或指僧道等。士子俗人與沙門交遊往來,乃世俗以外之友,稱方外友。禪林中,在家之士大夫為新任住持致賀所作之疏,稱方外疏。〔禪林象器箋文疏門〕
; (方外友) Người bạn ngoài thế tục. Tức là từ ngữ mà giới trí thức thế gian dùng để gọi những bạn xuất gia. Trong Thiền lâm, lá sớ do hàng sĩ đại phu soạn để chúc mừng vị Tân trụ trì, gọi là Phương ngoại sớ. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phương ngung pháp giới
See Tứ Phương in Vietnamese-English Section.
phương ngôn
Idiom.
phương niệm
1434(?~1594)明代曹洞宗僧。唐縣(河南)人,俗姓楊。字慈舟。號清涼。十歲出家,初修性相宗旨,而傾慕教外禪法。受具足戒後,游學兩河禪窟,多謁耆德,後參少室寺幻休常潤座下,遂繼其法緒。年二十八,入五臺山掩關,後登普陀洛山,住越州(浙江)大善寺,應請說法。歷主東塔、雲居、圓通等名剎,後遷京師大覺寺。萬曆二十二年示寂於五臺山,世壽不詳。〔續燈存稾卷十一、五燈全書卷六十二〕
phương phi
Tall and handsome.
phương pháp
Method—Mode—Plan.
phương pháp đối trị sân hận là nhẫn nhục, thân nhẫn, khẩu nhẫn và ý nhẫn
Method to combat and subdue anger is forebearances (endurances or patience), body patience, mouth patience and mind patience.
phương phần
1433主張極微有上、下、左、右之方位,在空間占有體積,稱為方分。一說極微為圓形,而無方分。〔成唯識論述記卷一〕(參閱「極微」5479)
; (方分) Chủ trương cho cực vi có các phương vị trên, dưới, phải, trái và có thể tích chiếm dụng khoảng không gian, gọi là Phương phần. Nhưng có thuyết lại cho cực vi là hình tròn, nên không có Phương phần. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1]. (xt. Cực Vi).
phương phục
1434比丘之法衣(袈裟)皆為方形,故稱方服,又稱方袍。〔方服圖記〕
; A monk's robe.
; Pháp phục của Tăng Ni, hết thảy đều được ráp nối bằng hình vuông—A monk's robe (Cà Sa), to be so called because its square appearance.
; (方服) Cũng gọi Phương bào. Chỉ cho áo pháp(ca sa) của tỉ khưu, vì ca sa đều là hình vuông, nên gọi là Phương phục. [X. Phương phục đồ kí].
phương quy
Có hình vuông—Square-shaped.
phương quảng
Feng-kan (C), Vaipulya (S)Phương đẳng, Tỳ Phật Lược Kinh1- Cac kinh ấy nghĩa lý rộng lớn như hư không nên gọi là Phương quảng Kinh. 2- Phương đẳng kỳ là thời kỳ thuyết giáo chung cho tất cả chúng sanh. 3- Một thể loại trong 12 thể loại kinh mà Phật đã dùng để thuyết pháp, giảng nói giáo nghĩa rộng lớn sâu xa.
; Vaipulya (S). Expansion, enlargement, broad, spacious. Phương is intp. by phương chính correct in doctrine and quảng by quảng bác broad or wide; broad school, wider teaching, in contrast with the narrow school or Hìnayàna. Mahàyàna-sùtras.
; Vaipulya (skt). 1) Tên chỉ chung cho các kinh Đại Thừa—Extension—Enlargement—Broad—Spacious—Fuller explanation of the doctrine—The whole of the Mahayana sutras—Scriptures of measureless meaning (universalistic or infinite). Vaipulya sutra is used to indicate all Mahayana sutras—See Đại Thừa Kinh. 2) Tên của bộ kinh thứ mười trong 12 bộ Kinh Phật: Name of the tenth of the twelve Buddhist sutras. 3) Tên một thiền sư thời nhà Đường. Niên đại về cuộc đời của ông không được biết rõ, có lẽ ông sống giữa thế kỷ thứ bảy. Ông từng trụ trì tu viện Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Người ta biết đôi chút về ông là qua lời tựa quyển Hàn Sơn Tự, một sưu tập thơ do ẩn sĩ Hàn Sơn soạn, trong đó có vài đoạn được coi là của Phương Quảng—Feng-Kuang, a Chinese Ch'an master of the T'ang period. Precise dates of his life are unknown, probably the middle of the seventh century. He was the abbot of the Kuo-Ch'ing Monastery in the T'ien-T'ai Mountains. The little that is known of him comes for the most part from the foreword to the Han-Shan-Tzih, a collection of the poetry of the hermits of Han-Shan. It also contains several poems attributed to Feng-Kuang.
phương quảng kinh
Xem Đại thừa phương đẳng kinh. Xem Đại thừa phương đẳng kinh.
phương quảng thập luân kinh
Xem Đại Phương Quảng Thập Luân kinh.
phương quảng tự
1442請參閱 大方廣十輪經 <一>位於南嶽衡山(湖南)蓮花峰之中。四面峰巒擁抱,環繞如城,形似千瓣蓮花,寺基則在蓮房上。為唐代古剎,唐宋時香火甚盛,遊人不絕。今已頹廢,然規模猶依稀可觀,殿上佛像修偉,可見舊時盛況。寺周森林蓊翳,蔭蔽天日,泉流竹樹間,冷然清澈。寺之西面,林泉夾道,有洗衲石、補衲石,為梁代惠海尊者洗補衲處衣之遺跡。 <二>位於福建永泰方廣岩。創建於宋代,係利用三二○○公尺之石岩所造成,全寺不用一瓦一木。石室可容千人,有勝蹟一○八處。寺前巨石橫刻「方廣禪寺」四大字。進第二門,有韋馱尊者像,內祀伽藍祖師等。寺內詩文楹聯甚多。 <三>位於浙江天台山。原屬石橋寺之一院。石橋寺創建於宋建中靖國元年(1101)。明萬曆三十二年(1604),居士葛一鵬重興之,後分為上、中、下方廣寺。上方廣寺今存山門、大雄殿、左右廊廡、方丈、羅漢堂、藏經閣、七石塔等。中方廣寺僅存客殿。下方廣寺為小伽藍,有大雄殿、左右僧房,及前門等。
phương quảng đại trang nghiêm kinh
Fang-kuang ta-chuang-yen ching (C)Tên một bộ kinh.
; Lalitàvistara-sùtra (S).
; A Vaipulya Sutra—Kinh nói về những chuyện Phật giáng trần từ trên cung trời Đâu suất xuống thế xuất gia, thành đạo với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni—The Lalita-vistara, which gives an account of the Buddha in the Tusita Heaven and his descent to earth as Sakyamuni.
Phương quảng đại trang nghiêm kinh 方廣大莊嚴經
[ja] ホウコウダイショウゴンキョウ Hōkō dai shōgon kyō ||| The An in-depth account of the historical Buddha's life. (1) 27 chapters in 12 fasc. T 187.3.539-617, alt. 神通遊戲經, abbr. 大莊嚴經, tr. Divākara 地婆訶羅. (2) 30 chapters in 8 fasc. T 186.3.483-539; also called the Puyao jing 普曜經, alt. Fangdeng benqi jing 方等本起經, tr. Dharmarakṣa 竺法護. For an Eng. tr. and Mongol ed. see Poppe-1967. => (c: Fangguang da zhuangyan jing ; s: Lalitavistara; t: rgya cher rol pa; e: Extensive Merriment). Ghi lại chi tiết lịch sử cuộc đời Đức Phật. Gồm các bản: Thần thông du hý kinh , gọi tắt là Đại trang nghiêm kinh, Địa-bà-ha-la (s: Divākara 地婆訶羅) dịch; gồm 27 phẩm trong 12 quyển. Phổ diệu kinh, tên gọi khác là Phương đẳng bản khởi kinh; Trúc Pháp Hộ dịch; gồm 30 phẩm trong 8 quyển. Về bản tiếng Anh và tiếng Mông Cổ, xin xem Poppe-1967. Phương quảng 方廣 [ja] ホウコウ hōkō ||| Literally, "corrective and extensive." A Chinese translation of the Sanskrit vaipulya 毘佛略, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. These works treated broad issues of the Buddhist doctrine, often in an intersectarian manner. => Nghĩa chung là “để hiệu chỉnh và bao quát”. Hán dịch chữ vaipulya (tỳ-phật-lược毘佛略) trong tiếng Sanskrit, là một trong 12 thể loại của kinh tạng Phật giáo. Những kinh nầy đề cập rộng rãi đến nhiều vấn đề trong giáo lý đạo Phật, thường theo tinh thần dung nhiếp nhau.
phương quảng đạo nhân
1443指大乘中附佛法之外道。方廣,即方正廣大之意,係指大乘。道人,即「學道之人」意。自語義而言,係指大乘之學者;但據大智度論卷一載,方廣道人乃誤解大乘空之真義,而主張虛無主義之一派。小乘犢子部立補特伽羅說,承認有我之實體;大乘之方廣道人則執著於空之思想(即惡取空),不承認因果。以上二者均為附於佛法之外道,應視為佛教內非佛教之教派。〔華嚴經疏卷二十八、摩訶止觀卷十、三論玄義〕
; Heretical followers of Mahàyàna, who hold a false doctrine of Không the Void, teaching it as total non-existence, or nihilism.
; Ngoại đạo phụ vào Đại Thừa chấp vào lý “không kiến”—Heretical followers of Mahayana, who hold a false doctrine of the Void, teaching it as total non-existence, or nihilism.
; (方廣道人) Chỉ cho những người ngoại đạo sống nhờ vào Phật pháp Đại thừa.Phương quảng là vuông vức, rộng lớn, chỉ cho Đại thừa; Đạo nhân là người học đạo. Như vậy, nói theo ngữ nghĩa thì Phương quảng đạo nhân là những người tu học Phật pháp Đại thừa. Nhưng, theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Phương quảng đạo nhân là một phái hiểu lầm nghĩa chân không của Đại thừa mà chủ trương chủ nghĩa hư vô. Độc tử bộ của Tiểu thừa lập thuyết Bổ đặc già là (Phạm: Pudgala), thừa nhận Ngã có thực thể; Phương quảng đạo nhân của Đại thừa thì chấp trước ngoan không(ác thủ không), bác bỏ lí nhân quả. Hai phái trên đều là những ngoại đạo sống bám vào Phật pháp, là những giáo phái phi Phật giáo trong nội bộ Phật giáo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.28; Ma ha chỉ quán Q.10; Tam luận huyền nghĩa].
phương sách
Process—Way—Procedure
Phương sách 方策
[ja] ホウサク hōsaku ||| Method, process. Plan, device, design, scheme. => Phương pháp, tiến trình. Kế hoạch, phương kế, phác thảo, ý đồ.
phương sĩ
1433我國古代好談神仙之說或奇方異術之人。源於戰國時代燕、齊一帶之近海地區。以修煉成仙及不死藥等方術求得統治者信任。如秦之徐福、漢武帝時主張祀灶之李少君等。
; Fang-shih (C), Black magician.
; (方士) Chỉ cho những người thích luận đàm về thuyết thần tiên, hoặc về những phương thuật kì lạ. Tại Trung hoa, vào thời Chiến quốc, ở các nước Yên, Tề thường có những kẻ dùng các phương thuật như tu luyện thành tiên và thuốc trường sinh... để cầu được các vua chúa tín nhiệm, như Từ phúc đời Tần, Lí thiếu quân đời Hán...
phương sắc dụ ngũ đạo
1433據圓覺經略疏鈔載,圓覺淨性,於五道中隨類各應;譬如清淨之摩尼寶珠,映於五色,隨方各現,此因摩尼寶珠體性瑩淨,絕無瑕疵;故以之比喻圓覺之性在五道中之隨類應現,此即方色喻五道之義。即:(一)白色喻天,謂天因純善白業所感,乃得為天,故以西方白色而喻之。(二)黃色喻人,謂人由持五戒功德所感,乃得為人;以人不在四趣之苦,不在諸天之樂,處於兩者之中,故取中方黃色以喻之。(三)黑色喻地獄,謂地獄由上品十惡黑業所感,乃獲此報,故取北方黑色以喻之。(四)青色喻餓鬼,謂餓鬼由中品十惡之業所感,身常飢瘦,面多青色,故取東方青色以喻之。(五)赤色喻畜生,謂畜生由下品十惡之業所感,常為刀杖所傷害,受報血塗,故取南方赤色以喻之。
; (方色喻五道) Màu sắc và phương hướng dụ năm đường. Cứ theo Viên giác kinh lược sớ sao thì tính Viên giác thanh tịnh, tùy theo các loài mà ứng hiện trong 5 đường (trời, người, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) ví như ngọc bảo châu ma ni trong suốt sáng rỡ, lấp lánh 5 màu, tùy các phương mà ánh hiện. 1. Phương tây, màu trắng, dụ cho cõi trời, vì cõi trời là do bạch nghiệp thuần thiện chiêu cảm. 2. Phương giữa, màu vàng, dụ cho cõi người, vì cõi người là do công đức giữ 5 giới chiêu cảm, không phải chịu nỗi khổ của 4 đường, không được hưởng cái vui của các trời, mà ở khoảng giữa nỗi khổ và cái vui ấy. 3. Phương bắc, màu đen, dụ cho địa ngục, vì địa ngục là do hắc nghiệp thập ác thượng phẩm chiêu cảm. 4. Phương đông, màu xanh, dụ cho ngã quỉ, vì ngã quỉ là do nghiệp thập ác trung phẩm chiêu cảm, thường bị đói khát, thân thể ốm o, mặt mày xanh lè. 5. Phương nam, màu đỏ, dụ cho súc sinh, vì súc sinh là do nghiệp thập ác hạ phẩm chiêu cảm, thường bị đánh giết, chịu báo huyết đồ.
phương sở
1434方角與處所。即佔有空間一部分之場所。俱舍論卷八(大二九‧四一上):「以無色法,無有方所;過去、未來無表無色,不住方所,理決然故。」
; (方所) Phương hướng và nơi chốn. Luận Câu xá quyển 8 (Đại 29, 41 thượng) nói: Vì pháp vô sắc cho nên không có phương sở; các pháp vô biểu, vô sắc ở quá khứ, vị lai không trụ phương sở, đó là lí tất nhiên.
phương thuật
1441我國古代方士所行之術。指天文、曆算、占驗、星相、醫藥(包括巫醫)、卜筮、堪輿、遁甲、神仙、房中術等。其煉丹採藥、服食養生、祭祀鬼神、祈禳禁咒等為道教所承襲,成為重要之修煉濟度方法。
; (方術) Thuật mà các phương sĩ ở Trung quốc thời xưa ứng dụng, như thiên văn, lịch toán, chiêm nghiệm, tướng số, luyện đơn, bói toán, phong thủy (xem đất để mộ), độn giáp, thần tiên, phòng trung thuật...
phương thôn tu cơ
3505(1908~1971)日本佛教學學者。龍谷大學畢業,後任該校教授。著有チべット佛教教學、The Den kar-ma, Tibetan Buddhistology 等。
phương thốn thiền
1433謂僅僅得到少許領悟之禪。五燈會元卷十七法雲杲章(卍續一三八‧三三九上):「每謂人曰:『我於紹聖三年十一月二十一日悟得方寸禪。』」
; (方寸禪) Thiền mới một tấc. Nghĩa là người tham thiền mới chỉ lãnh ngộ được chút ít. Chương Pháp vân cảo trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 17 (Vạn tục 138, 339 thượng) ghi: Sư thường nói với mọi người: Vào ngày 21 tháng 11 năm Thiệu thánh thứ 3, ta ngộ được Phương thốn thiền. Thiền ở đây tuy nói là phương thốn nhưng cực kì sâu xa, mầu nhiệm, cũng như Nhất chỉ thiền (Thiền 1 ngón tay) của Hòa thượng Câu chi vậy. (xt. Nhất Chỉ Thiền).
Phương tiện
(s, p: upāya, 方便): âm dịch là Âu Ba Da (漚波耶), một trong 10 Ba La Mật, còn gọi là Thiện Quyền (善權), Biến Mưu (變謀), chỉ sự uyển chuyển biến đổi tùy theo hoàn cảnh, không gian, thời gian; cũng là một loại phương pháp phát triển hướng thượng. Trong các kinh luận Phật Giáo thường dùng từ này, quy nạp lại thì ý nghĩa của nó có thể phân làm 4 loại: (1) Đối với pháp chân thật mà nói, là pháp môn giả lập ra để dẫn dụ chúng sanh đi vào pháp chân thật; nên được gọi là Quyền Giả Phương Tiện (權假方便), Thiện Xảo Phương Tiện (善巧方便); tức chư Phật, Bồ Tát tùy theo căn cơ của chúng sanh để dùng các loại phương pháp ban cho lợi ích. (2) Đối với Thật Trí (實智) của Bát Nhã mà nói. Theo Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) quyển hạ của Đàm Loan (曇鸞, 476-?), Bát Nhã là đạt đến tuệ như như, phương tiện là thông trí quyền xảo; nên lấy Quyền Trí (權智) để quán chiếu những sai biệt hiện ra trong Bình Đẳng Thật Trí (平等實智). (3) Hai trí quyền và thật đều là pháp môn do chư Phật, Bồ Tát thường dùng để hóa độ chúng sanh. (4) Là hạnh gia trì, tu tập để chúng ngộ chân lý. Lại nữa, trong 12 phương tiện của Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 15 do Huệ Viễn (慧遠, 523-592) nhà Tùy trước tác, Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) của Khuy Cơ (窺基, 632-682), cũng có nêu ra 4 loại phương tiện khác, gồm: (1) Tấn Thú Phương Tiện (進趣方便), giống như 7 phương tiện trước khi ngộ đạo, tức sự chuẩn bị hướng đến Bồ Đề. (2) Quyền Xảo Phương Tiện (權巧方便), như Phương Tiện Trí trong 2 loại trí tuệ, lấy pháp môn của Ba Thừa để tùy theo vật mà quyền hiện. (3) Thí Tạo Phương Tiện (施造方便, hay Thí Vi Phương Tiện [施爲方便]), như Phương Tiện Ba La Mật (方便波羅蜜) trong 10 Ba La Mật, tức làm những việc thiện xảo để đạt đến mục đích lý tưởng. (4) Tập Thành Phương Tiện (集成方便), như thuyết về 6 tướng của Thập Địa Kinh Luận (十地經論), các pháp đồng thể nhưng biến tướng hiện thành, nghĩa là bản chất của các pháp đều như nhau; trong một có tất cả, và trong tất cả cũng thành một. Hơn nữa, theo Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) quyển 7 của Đại Sư Trí Khải (智顗), có nêu ra 3 loại phương tiện là Pháp Dụng (法用), Năng Thông (能通) và Bí Diệu (祕妙); ứng với đối tượng của Tam Giáo Tạng (藏), Thông (通) và Biệt (別). Tịnh Danh Kinh Sớ (淨名經疏) lại đề cập đến 3 loại phương tiện khác là Tự Hành (自行), Hóa Tha (化他) và Tự Tha (自他), v.v. Câu “Từ tâm vô lượng, quảng khai phương tiện chi huyền môn (慈心無量、廣開方便之玄門)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là với tâm từ bi vô lượng, chư Phật đã mở rộng cánh cửa vi diệu của phương tiện để cứu độ chúng sanh; cho nên hình thức cúng Cầu Siêu, Cầu An cũng là phương tiện trong muôn vàn phương tiện khác của Phật Giáo.
; 方便; S, P: upāya; J: hōben; thường được gọi là »Phương tiện thiện xảo« (善巧方便; s: upāya-kauśalya);|Có nhiều khía cạnh:|1. Phương tiện của Bồ Tát nhằm giúp chúng sinh giải thoát, với nhiều cách thức khác nhau, từ giáo hoá đơn giản cho đến những thần thông siêu nhiên. Phương pháp này được xem là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ) mà Bồ Tát hoàn thành trong cấp thứ 7 của Bồ Tát thập địa (Thập địa).|2. Phương tiện trong cách trình bày giáo pháp. Nhiều trường phái Phật giáo (Hoa nghiêm, Thiên Thai) cho rằng chính đức Phật lịch sử đã áp dụng phương tiện này rồi, khi Ngài tuỳ căn cơ từng người mà giảng dạy. Ðặc biệt Ngài đã trình bày giáo lí Tiểu thừa trong giai đoạn một, rồi lúc cuối đời mới giảng pháp Ðại thừa đầy đủ hơn, đặc biệt trong kinh Diệu pháp liên hoa.|Phương tiện được xem là khía cạnh hoạt động của cái Tuyệt đối trong thế giới tương đối của hiện tượng, hiện thành lòng Từ (s, p: maitrī). Phương tiện là khía cạnh ngược của trí Bát-nhã (s: prajñā). Nếu Bát-nhã tượng trưng cho thể tính duy nhất của vạn sự thì phương tiện tượng trưng cho chính cái thiên hình vạn trạng. Trong cách nhìn của bậc giác ngộ thì với con mắt Bát-nhã (Huệ nhãn), Phật hay Bồ Tát không thấy có chúng sinh đau khổ, vì không có gì hiện hữu ngoài Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Còn nếu các Ngài nhìn với con mắt của lòng Từ (s: maitrī) thì khắp nơi đều là Khổ, Khổ do chấp trước vào sắc tướng. Muốn cứu độ chúng sinh thoát khổ, các Ngài dùng mọi phương tiện giúp chúng sinh đạt Niết-bàn, vốn xuất phát từ lòng Từ vô lượng của Pháp thân.
phương tiện
1435梵語 upāya,巴利語同。音譯作漚波耶。十波羅蜜之一。又作善權、變謀。指巧妙地接近、施設、安排等。乃一種向上進展之方法。諸經論中常用此一名詞,歸納之,其意義可分為下列四種,即:(一)對真實法而言,為誘引眾生入於真實法而權設之法門。故稱為權假方便、善巧方便。即佛菩薩應眾生之根機,而用種種方法施予化益。(二)對般若之實智而言,據曇鸞之往生論註卷下舉出,般若者,達如之慧;方便者,通權之智。以權智觀照於平等實智所現之差別。(三)權實二智皆係佛菩薩為一切眾生,而盡己身心所示化之法門。(四)為證悟真理而修之加行。 慧遠之大乘義章卷十五之十二巧方便義、窺基之法華玄贊卷三等,舉出四種方便,即:(一)進趣方便,如見道前之七方便等,即趣向菩提之準備(加行),亦即加行道。(二)權巧方便,如二智中之方便智等,以實無三乘之法門,而為應物權現之。(三)施造方便(即施為方便),如十波羅蜜中之方便波羅蜜等,即為達成理想目的所作的善巧之事。(四)集成方便,如十地經論之六相說,諸法同體巧相集成,即諸法之本質均同,一中即具一切,一切之中亦成於一,彼此巧妙地相集互立。上述之加行道,舊譯方便道,即見道位之加功用行;據成唯識論述記卷九末載,所謂加行,乃為別於佛之善巧方便,而顯二者之差異。此外,加行道單配於四善根。 權巧方便,指佛以方便智施設三乘法門等;此方便智又稱權智,即佛為引導眾生,而施以籌謀假設之智。權巧方便與施造方便二者,皆屬佛之善巧方便。善巧方便以四智中之「成所作智」為體,又稱方便善巧、善權方便、善方便、巧方便、權方便、勝方便、善巧、善權、巧便等。所有教說,自其宣講之觀點而言,一切無非是方便施設,然其中有直接闡釋菩提本身,表其真實之意圖者,稱為真實教;基於此,為使導入真實,而因應眾生顯示種種方法者,稱為方便教(方便假門、權門),其方便稱為化前方便、權假方便等;對此,他種方便則稱為異方便;覺佛果後之方便,稱為果後方便。此外,相對於法報稱為「果極法身」者,有應化稱為「方便法身」之用語;相對於真實之因行所酬之土稱為「實報土」者,有修方便道所感之土稱為「方便有餘土」之用語;相對於般若稱為「實智」者,有利他之化用稱為「方便智」之用語;相對於一乘稱為「正乘」者,有三乘稱為「方便乘」之用語。 施造方便,指十波羅蜜中之方便波羅蜜(梵 upāya-kauśalya,音譯漚和拘舍羅)。即菩薩於一切所為作善巧修習。據大乘義章卷十五,將施造方便分為三種,即:(一)教道方便,謂於世之所行巧能修習。(二)證道方便,謂能捨情相而證入實際。(三)不住方便,謂不執著於空有、染淨、自他等相對差別之見解。同書又舉出,菩薩地持經之十二巧方便,即屬上述教道方便之說。 據菩薩地持經卷七載,菩薩之十二巧方便,分為起內佛法(即向內修證佛法)之六方便,及外成眾生(即向外教導眾生)之六方便。起內佛法之六方便,即:(一)悲心顧念一切眾生。(二)於生死、有為法等諸行,如實了知而生厭離之心。(三)求無上菩提之智。(四)依念眾生,捨離生死。據大乘義章卷十五所釋,菩薩依念眾生欲濟拔之,若自我不出生死之苦,則無以能度,故依念眾生而捨生死。然據瑜伽師地論卷四十五載,菩薩以顧戀眾生之故,而不捨生死。(五)以無染心安住於生死之輪轉,了知生死虛妄無實,故能無染而常處其中。(六)依求佛智之心而熾然精進。菩薩以上述之前三行為本,後三行則為菩薩依前三行而顯示之方便。外成眾生之六方便,即:(一)教眾生以少善迴求菩提一切種德,以迴向故,令眾生以微少善根而得無量果。(二)教眾生捨邪歸正、捨小歸大,而以如此之微少方便,令眾生起無量善。(三)令壞法之眾生除其暴虐,度化之,令生信心。(四)令處中眾生(無信者)生解,而導入佛教正信。(五)令已入眾生(已信者)起行,而使其成就。(六)令已熟眾生(已發菩提心者)得解脫而證果。 上述之前二種化他之行為「起行善巧」,後四種化他之行為「攝人善巧」。就後四種中另有六種巧方便行,能令眾生懷持佛法破除敝害而得解脫,即:(一)隨順方便,因應眾生之性質根機,次第教導,令其悟入。(二)立要方便,眾生有求時,即以利益為誓約而令其修善。(三)報恩方便,菩薩先施恩於眾生,若眾生欲報恩時,菩薩不受而勸令修善。(四)異相方便,對不受教者示現瞋責、恐怖等相,以令其止惡修善。(五)逼迫方便,菩薩化現為王或為尊主,於已所攝之人民眷屬逼令其修善。(六)清淨方便,菩薩八相成道,以身作則,引導眾生入於清淨之行。 據地藏十輪經卷十之說,方便又分為執著善巧方便之有所得者與遠離執著之無所得者;或世間善巧方便與出世間善巧方便等二種方便。舊譯華嚴經卷四十在二千普賢行法中,謂地上之菩薩行有布施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧、大慈、大悲、覺悟、轉不退法輪等十種方便。大乘起信論於信成就發心舉出行根本方便、能止方便、發起善根(增長)方便與大願平等方便等四種方便。其他諸經論亦可見種種的方便之稱。 天台宗智顗之法華文句卷七舉出法用、能通、祕妙等三種方便,其中,應藏、通、別三教之對象所施與者,為法用方便;方便能通真實之門者,為能通方便;法華以前權教之祕因法華圓教而開顯,此祕即妙,為祕妙方便。同書復舉出體外、同體二方便,真實體外之方便,稱為體外方便;方便即真實,稱為同體方便,又稱體內方便。諸佛之隨他意語、隨自意語即屬於後者。此外,摩訶止觀卷四上,就藏、通、別、圓四教而別方便之遠近。即:藏教以三賢為遠方便,以四善根為近方便;通教以十信為遠方便,以三賢為近方便;圓教以名字之二十五方便及觀行五品為遠方便,以相似之六根清淨為近方便。 淨名經疏卷三舉出自行、化他、自他等三種方便。其中,諸佛及四十一位菩薩能悟知不可思議的二諦之理,即為自行方便;於藏通別三教及圓教有門已了然之諸菩薩,不斷除煩惱,而平等地在界內、界外宣揚種種教法,即為化他方便;合以上二者,即所謂自他方便。 此外,據摩訶止觀卷四上、卷四下載,為修圓頓止觀之準備,須先具備具五緣、呵五欲、棄五蓋、調五事、行五法等二十五種方便(二十五方便)。所謂具五緣即:持戒清淨、衣食具足、閑居靜處、息諸緣務、得善知識。呵五欲即勸修行者必須訶責色、聲、香、味、觸等五欲。棄五蓋即指棄貪欲、瞋恚、睡眠、掉悔、疑等五種煩惱心。調五事即調和食、眠、身、息、心五者。行五法即行能生善法之欲、精進、念、巧慧、一心等五法。〔長阿含卷一大本經、大般若經卷三二八、舊華嚴經卷三十七、瑜伽師地論卷四十五、十地經論卷一、法華經義疏卷四、法華文句(會本)卷七、法華經文句卷三上、大乘義章卷十九〕
; Tap (S), Upāya (S), Means, tap (T).
; Upàya (S). A mode of approach, an expedient, stratagem, device; phương is interpreted as phương pháp method, mode, plan and tiện as tiện dụng convenient for use. Way, means.
; Tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh, tùy nghi giả thiết đủ thứ thí dụ để giáo hóa mọi người.
; Upaya (skt)—Contrivance—Expediency—Means—Method—Phương pháp tiện dụng tùy theo hay thích hợp với sự thụ nhận của chúng sanh—Convenience—Adaptability—To be instrumental—Means—Expedients—Tact or skill in teaching according to receptivity—Expedient ways—Skill-in-means—Convenient to the place or situation—Suited to the condition. There are several interpretations: 1) Phương có nghĩa là phương pháp, tiện là tiện dụng; phương tiện là phương pháp tiện dụng thích hợp với căn cơ của những chúng sanh khác nhau: Phương is interpreted as method, mode or plan; and Tiện is interpreted as convenient for use; so Phương Tiện means a convenient or expedient method which is suitable to different sentient beings. 2) Phương có nghĩa là phương chánh, tiện là xảo diệu; phương tiện là dùng lý phương chánh thiện xảo hay lời lẽ khéo léo thích hợp với việc giáo hóa: Phương means correct, Tiện means strategically; Phương tiện means strategically correct. 3) Quyền Đạo Trí: Trí quyền nghi (từng phần, tạm thời hay tương đối) để thâm nhập vào cái chân thực, đối lại với trí Bát Nhã là chân như tuyệt đối—Partial, temporary, or relative teaching of knowledge of reality, in contrast with prajna, and absolute truth, or reality instead of the seeming.
; (方便) Phạm,Pàli: Upàya. Hán âm: Âu ba da. Cũng gọi Thiện quyền, Biến mưu. Phương pháp khéo léo để tiến triển hướng thượng, 1 trong 10 Ba la mật. Danh từ Phương tiện được các kinh luận sử dụng với ý nghĩa rất rộng, nay qui nạp lại làm 3 ý nghĩa như sau: 1. Đối với pháp chân thực thì phương tiện là pháp môn tạm thời được đặt ra để dắt dẫn chúng sinh vào pháp chân thực. Tức là Phật, Bồ tát tùy theo căn cơ, trình độ của các chúng sinh mà sử dụng những phương pháp khéo léo, thích hợp để làm lợi ích cho họ. 2. Đối với thực trí bát nhã, cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì Bát nhã là tuệ đạt như, Phương tiện là trí thông quyền. Dùng Quyền trí quán chiếu sự sai biệt hiển hiện trong Thực trí bình đẳng. 3. Phương tiện là gia hạnh tu tập để chứng ngộ chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 của ngài Tuệ viễn và Pháp hoa huyền tán quyển 3 của ngài Khuy cơ, nêu ra 4 thứ phương tiện:1. Tiến thú phương tiện: Chuẩn bị (gia hạnh) tiến tới bồ đề, như 7 phương tiện trước giai vị Kiến đạo. 2. Quyền xảo phương tiện: Trí phương tiện trong 2 trí. Vì thực ra không có pháp môn Tam thừa, nhưng tùy cơ phương tiện mà đặt ra thôi. Thi tạo phương tiện (Thi vi phương tiện): Phương tiện ba la mật trong 10 Ba la mật, tức những việc được thực hiện một cách khéo léo để đạt thành mục đích lí tưởng. 4. Tập thành phương tiện: Thuyết Lục tướng trong Thập địa kinh luận. Các pháp đồng thể tập thành với nhau một cách khéo léo, tức bản chất của các pháp đều giống nhau, trong 1 có tất cả, trong tất cả cũng thành 1, đây kia tập thành và kiến lập lẫn nhau một cách khéo léo. Quyền xảo phương tiện có nghĩa là đức Phật dùng Trí phương tiện tạm thời bày đặt ra pháp môn Tam thừa... Trí phương tiện này cũng gọi là Quyền trí, tức là trí vì dẫn dắt chúng sinh mà đức Phật tạm thời giả lập ra. Quyền xảo phương tiện và Thi tạo phương tiện đều là những phương tiện khéo léo của Phật. Thiện xảo phương tiện lấy trí Thành sở tác trong 4 trí làm thể, cũng gọi là Phương tiện thiện xảo, Thiện quyền phương tiện, Thiện phương tiện, Xảo phương tiện, Quyền phương tiện, Thắng phương tiện, Thiện xảo, Thiện quyền, Xảo tiện... Tất cả giáo thuyết, nói theo quan điểm tuyên giảng, thì hết thảy chỉ là phương tiện thi thiết, nhưng trong đó, giáo thuyết trực tiếp giải thích rõ bản chất của bồ đề, biểu hiện ý nghĩa chân thực của nó thì gọi là Chân thực giáo; còn giáo thuyết vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà tạm thời nói ra để dẫn dắt họ vào chân thực, thì gọi là Phương tiện giáo (Phương tiện giả môn, Quyền môn), phương tiện này gọi là Hóa tiền phương tiện, Quyền giả phương tiện... Trái lại, loại phương tiện khác thì gọi là Dị phương tiện. Phương tiện sau khi giác ngộ Phật quả, gọi là Quả hậu phương tiện. Ngoài ra, đối lại với Pháp Báo gọi là Quả cực pháp thân thì có Ứng Hóa gọi là Phương tiện pháp thân; đối lại với cõi chân thực do tu nhân mà được, gọi là Thực báo độ, thì có cõi do tu đạo Phương tiện mà chiêu cảm, gọi là Phương tiện hữu dư độ; đối lại với Bát nhã gọi là Thực trí, thì có hóa dụng lợi tha, gọi là Phương tiện trí; đối lại với Nhất thừa gọi là Chính thừa, thì có Tam thừa, gọi là Phương tiện thừa. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 chia Thi tạo phương tiện làm 3 loại: 1. Giáo đạo phương tiện: Tất cả việc làm ở thế gian đều có thể tu tập một cách khéo léo. 2. Chứng đạo phương tiện:Xả bỏ tình tướng chứng vào thực tế. 3. Bất trụ phương tiện: Không chấp trước các kiến giải sai biệt tương đối như không hữu, nhiễm tịnh, tự tha... Kinh Địa tạng thập luân quyển 10 thì chia Phương tiện làm 2 thứ là Phương tiện thiện xảo chấp trước hữu sở đắc và Phương tiện thiện xảo xa lìa chấp trước vô sở đắc; hoặc Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. Kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Phương tiện của bồ tát Thập địa là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, đại từ, đại bi, giác ngộ và chuyển bất thoái chuyển pháp luân. Luận Đại thừa khởi tín thì nêu ra 4 thứ Phương tiện là: Căn bản phương tiện, Năng chỉ phương tiện, Phát khởi thiện căn(tăng trưởng)phương tiện và Đại nguyện phương tiện.Pháp hoa văn cú quyển 7 của ngài Trí khải tông Thiên thai thì nêu 3 thứ Phương tiện: Pháp dụng phương tiện, Năng thông phương tiện và Bí diệu phương tiện. Trong đó, tùy theo các đối tượng Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo mà thi thiết, là Pháp dụng phương tiện; Phương tiện thông suốt được pháp môn chân thực, là Năng thông phương tiện; Pháp hoa dùng nhân sâu kín của Quyền giáo trước mà hiển bày Viên giáo Pháp hoa, nhân sâu kín tức diệu(mầu nhiệm), là Bí diệu phương tiện. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 4, phần đầu, căn cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để phân biệt tính chất xa gần của Phương tiện. Tức là Tạng giáo lấy Tam hiền làm phương tiện xa, lấy Tứ thiện căn làm phương tiện gần, Thông giáo lấy Thập tín làm phương tiện xa, lấy Tam hiền làm phương tiện gần. Viên giáo lấy 25 phương tiện danh tự và 5 phẩm Hành quán làm phương tiện xa, lấy 6 căn thanh tịnh tương tự làm phương tiện gần. Tịnh danh kinh sớ quyển 3 nêu ra 3 thứ phương tiện: Tự hành, Hóa tha và Tự tha. Trong đó, chư Phật và 41 vị Bồ tát biết rõ lí Nhị đế chẳng thể nghĩ bàn, là Tự hành phương tiện. Đối với các Bồ tát Tạng, Thông, Biệt và Viên giáo hữu môn, không đoạn trừ phiền não mà cùng tuyên dương các giáo pháp trong giới nội và giới ngoại một cách bình đẳng, là Hóa tha phương tiện; hợp chung 2 loại trên lại thì gọi là Tự tha phương tiện. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.328; kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); luận Du già sư địa Q.45; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.7; Pháp hoa kinh văn cú Q.3, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
phương tiện ba la mật
1439梵語 upāya-pāramitā。為十波羅蜜之第七。音譯漚波耶波羅蜜。又作方便善巧波羅蜜、方便勝智波羅蜜。可分迴向方便善巧、拔濟方便善巧二種。迴向方便善巧即以前六波羅蜜所集之諸善巧施與有情,並與有情共同迴向,祈求無上正等菩提;拔濟方便善巧則指方便利益濟度諸有情。前者為般若,後者為大悲。即以般若之故,乃求涅槃;以大悲之故,不捨生死。〔金光明最勝王經卷四、成唯識論卷九〕(參閱「十波羅蜜」449)
; Upāyapāramitā (S), Ārya-upāya-pāramitā (S)Một trong Thập Ba la mật. Hiểu rõ cách giúp ích chúng sanh. Không tiếc thân mạng. Coi chúng sanh bình đẳng. Nói pháp vi diệu độ chúng sanh đến bờ giác.
; Upàya-pàramità (S) The seventh pàramità.
; Upaya—Ba La Mật thứ bảy trong mười Ba La Mật—The seventh of the ten paramitas.
; (方便波羅蜜) Phạm:Upàya-pàramità. Hán âm: Âu ba da ba la mật. Cũng gọi Phương tiện thiện xảo ba la mật, Phương tiện thắng trí ba la mật. Chỉ cho Ba la mật thứ 7 trong 10 Ba la mật, được chia làm 2 loại: 1. Hồi hướng phương tiện thiện xảo: Ban phát các thiện xảo đã tích tập được do tu hành 6 Ba la mật trước cho các hữu tình để cùng nhau hồi hướng mong cầu quả Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Bạt tế phương tiện thiện xảo: Phương tiện khéo léo mang lại lợi ích cứu giúp các hữu tình. Hồi hướng phương tiện thiện xảo thuộc về Bát nhã, còn Bạt tế phương tiện thiện xảo thì thuộc về Đại bi. Tức vì Bát nhã nên cầu Niết bàn, vì Đại bi mà không bỏ sinh tử. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.4; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Ba La Mật).
phương tiện ba la mật bồ tát
1439梵名 Ārya-upāya-pāramitā,譯作方便到彼岸。為密教十波羅蜜菩薩之一。位列現圖胎藏界曼荼羅虛空藏院中央虛空藏菩薩南方上列之第二位。密號究竟金剛、究竟善巧金剛。種子為臰(me)或臵(mai)。三昧耶形為羂索。其形像,身呈肉色,右手曲肘持索,左手仰置胸前,受索端,坐赤蓮華座。結誦此尊之印明,可滅除無量劫無善巧方便之業種,而獲得迴向方便善巧、拔濟有情方便善巧。其印契為兩手各以無名指、小指握拇指,二中指相背而立,二食指於側面相拄。其真言為:唵(oṃ,歸命)摩賀(mahā,大)每怛囉(maitra,慈)唧帝(citte,心)娑嚩賀(svāhā,成就)。〔不空羂索神變真言經卷十五出世解脫壇像品、金剛頂瑜伽千手千眼觀自在菩薩修行儀軌經卷下、玄法寺儀軌卷下、青龍寺儀軌卷中〕
; Vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới, đứng hàng thứ hai bên phải của Hư Không Viện—A Bodhisattva in Garbhadhatu group, the second on the right in the hall of Space.
; (方便波羅蜜菩薩) Phạm: Àrya-upàya-pàramità. Hán dịch: Phương tiện đáo bỉ ngạn. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, hàng trên, phía nam bồ tát Hư không tạng ở trung ương viện Hư không tạng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Mật hiệu là Cứu cánh kim cương, Cứu cánh thiện xảo kim cương, chủng tử là (me), hoặc (mai), hình Tam muội da là dây lụa trắng. Về hình tượng thì vị Bồ tát này mình màu da người, ngồi trên tòa sen đỏ, khuỷu tay phải co lại, cầm vòng dây đưa lên ngang mặt, tay trái ngửa ra để ở trước ngực, nâng đầu sợi dây. Nếu kết ấn và tụng chân ngôn của tôn vị này thì diệt trừ được hạt giống nghiệp không có thiện xảo phương tiện trong vô lượng kiếp, chứng đắc Hồi hướng phương tiện thiện xảo và Bạt tế hữu tình phương tiện thiện xảo. Ấn tướng của vị tôn này là: Ngón vô danh và ngón út của 2 tay nắm lấy 2 ngón cái, 2 ngón cái đứng thẳng dựa lưng vào nhau, 2 cạnh ngón trỏ chạm vào nhau. Chân ngôn là: Án (oô– qui mệnh) ma hạ (mahà – đại) mỗi đát ra (maitra– từ) tức đế (citte – tâm) sa phạ hạ (svàhà– thành tựu). [X. phẩm Xuất thế giải thoát đàn tượng trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].
Phương tiện ba-la-mật 方便波羅蜜
[ja] ホウベンハラミツ hōbenharamitsu ||| The perfection of expedient means (upāya-pāramitā). The consummation of the ability to lead sentient beings to the shore of liberation. One of the ten pāramitās 十波羅蜜. => Sự viên mãn của pháp phương tiện (s: upāya-pāramitā). Sự hoàn thiện của năng lực cứu độ chúng sinh đưa đến bờ giải thoát. Là môth trong Mười ba-la-mật.
phương tiện bát nhã
1439<一>謂圓常大覺之方便之德。為三般若之一。方便,猶言善巧。謂方便之德,非寂而寂,善巧分別諸法,故稱方便。即指道種智。〔金光明經玄義卷上〕(參閱「三般若」603) <二>指方便智與般若慧。證達實理,稱般若慧,得此慧者,心行寂滅;通權謀之智,稱方便智,得此智者,備省眾機。〔往生論註卷下〕
; (方便般若) I. Phương Tiện Bát Nhã. Chỉ cho Quyền trí phân biệt các pháp, là đức của phương tiện đại giác viên thường, là 1 trong 3 Bát nhã. Đức phương tiện chẳng phải tịch lặng mà lặng, khéo léo phân biệt các pháp, nên gọi là Phương tiện. Tức chỉ cho Đạo chủng trí. [X. Kim quang minh huyền nghĩaQ.thượng]. (xt. Tam Bát Nhã). II. Phương Tiện Bát Nhã. Chỉ cho trí Phương tiện và tuệ Bát nhã. Tuệ chứng được chân lí gọi là tuệ Bát nhã; người đạt được tuệ này thì tâm hành vắng lặng. Trí thông suốt quyền biến, gọi là trí Phương tiện; người được trí này thì xét rõ mọi căn cơ của chúng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
phương tiện giả môn
1440日本淨土真宗以阿彌陀佛之第十九願(來迎引接願)為方便假門,係為誘導眾生入於真實之道而假設之教。〔顯淨土真佛土文類、顯淨土方便化身土文類、淨土和讚講義卷三〕(參閱「真假二門」4219)
; Expedient gates or ways of using the seeming for the real.
; Expedient gates or ways of using the seeming for the real.
; (方便假門) Giáo môn phương tiện tạm lập ra để đưa chúng sinh vào đạo chân thực. Bồ tát Phương Tiện Ba La Mật (Mạn đồ la Thai tạng giới) Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản lấy nguyện thứ 19 (nguyện đến đón rước) làm Phương tiện giả môn. [X. Hiển tịnh độ chân Phật độ văn loại; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại; Tịnh độ hòa tán giảng nghĩa Q.3]. (xt. Chân Giả Nhị Môn).
phương tiện hiện niết bàn
1440即天台宗所說之方便淨涅槃,為三涅槃之一。又作應化涅槃。謂如來法身雖常住不滅,但為使眾生興起佛世難值之想,而生追慕修道之念,乃以方便示現涅槃。〔法華經壽量品、金光明經玄義卷上〕
; Though the Buddha is eternal, he showed himself as temporarily extinct, as necesseray to arouse a longing for Buddha.
; Như Lai thường trụ bất diệt, nhưng ngài tạm thời nhập Niết Bàn khiến cho chúng sanh khởi lên ý niệm tưởng nhớ Như Lai mà dụng công tu đạo—Though the Buddha is eternal, he showed himself as temporarily extinct, as necessary to arouse a longing for Buddha.
; (方便現涅槃) Cũng gọi Ứng hóa niết bàn. Tức là Phương tiện tịnh niết bàn do tông Thiên thai thiết lập, 1 trong 3 Niết bàn. Nghĩa là pháp thân Như lai tuy thường trụ bất diệt, nhưng vì muốn cho chúng sinh khởi ý tưởng khó gặp Phật ra đời màsinh tâm ngưỡng mộ tu đạo, cho nên đức Phật phương tiện thị hiện nhập Niết bàn. [X. phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng].
phương tiện hoá thân
1438指阿彌陀佛報身中之化身。此化身乃彌陀為酬報四十八願中第十九願(修諸功德願)、第二十願(係念定生願)等方便願,而化現邊地、懈慢界之佛身。
; (方便化身) Chỉ cho hóa thân của đức Phật A di đà thị hiện trụ ở cõi Giải mạn được hóa hiện tại biên địa Tịnh độ để thích ứng với các phương tiện nguyện (nguyện thứ 19 tu các công đức; nguyện thứ 20 niệm Phật tất định vãng sinh)..., trong 48 nguyện của Ngài.
phương tiện hoá độ
1438日本真宗所立二土之一。方便,乃對應於真實而言;化土,乃對應於真佛土而言。為攝引以自力修諸行及行念佛而願求淨土者,彌陀如來乃權現此一淨土,使彼等得以往生。然此淨土非真實之報土,故稱方便;此淨土係以化身佛為教主,非真實報身佛所居之土,故稱化土。蓋日本真宗主張,信樂阿彌陀佛之他力本願者,則能直接往生真實報土而證得佛果;若不能信樂彌陀本願,而以自力或修諸善,並迴向其功德者,可往生方便化土;此因生前存有疑惑,故不能入真實報土,例如觀無量壽經中十三觀所觀之淨土及九品土皆屬之。〔阿彌陀經、愚禿鈔卷上、顯淨土真實教行證文類卷六本〕(參閱「化土」1322)
; (方便化土) Tịnh độ do đức Phật A di đà phương tiện thị hiện để tiếp dẫn các hành giả tự lực tu các thiện hạnh và niệm Phật cầu vãng sinh, 1 trong 2 độ do Chân tông của Nhật bản thành lập. Vì Tịnh độ này không phải Báo độ chân thực, nên gọi là Phương tiện; còn Giáo chủ của Tịnh độ này là Hóa thân Phật chứ không phải Báo thân chân thực của Phật an trụ, cho nên gọi là Hóa độ. Chân tông của Nhật bản chủ trương nếu người nào tin ưa bản nguyện tha lực của Phật A di đà, thì trực tiếp vãng sinh Báo độ chân thực mà chứng đắc quả Phật; còn nếu người không tin ưa bản nguyện Di đà mà tự lực tu các thiện hạnh, đồng thời hồi hướng các công đức ấy, thì được sinh về Phương tiện hóa độ chứ không được sinh về Chân thực báo độ, bởi vì những người này còn ngờ vực. [X. kinh A di đà; Ngu thốc sao Q.thượng; Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại Q.6, phần đầu]. (xt. Hóa Độ).
Phương tiện hoại 方便壞
[ja] ホウベンエ hōben'e ||| The destruction of mistaken (biased) thought through expedient methods. => Sự tiêu trừ tà kiến thông qua pháp phương tiện.
phương tiện hóa thân độ
Nơi Phật A Di Đà xuất hiện hóa thân—Intermediate land of transformation (where Amitabha appears in his transformation-body).
phương tiện hữu dư độ
1438天台宗所立四土之一。即阿羅漢、辟支佛及地前菩薩所居之土。以彼等所修為方便道,斷盡通惑,故稱方便;然彼等尚未斷滅無明之惑,故稱有餘。〔大智度論卷九十三、大乘玄論卷五〕(參閱「四土」1647)
; One of the Thiên Thai tứ độ four lands, which is temporary, as its occupants still have remains to be purged away.
; (方便有餘土) Tịnh độ trong đó các vị A la hán, Bích chi phật và các Bồ tát dưới Thập địa cư trụ, 1 trong 4 độ do tông Thiên thai thiết lập.Vì các bậc Thánh trên tu tập đạo Phương tiện, dứt trừ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, nên gọi là Phương tiện; nhưng các Ngài vẫn chưa đoạn diệt Vô minh hoặc, nên gọi là Hữu dư (còn sót lại). [X. luận Đại trí độ Q.93; Đại thừa huyền luận Q.5]. (xt. Tứ Độ).
phương tiện hữu dư độ (biến dịch độ)
Theo tông Thiên Thai, đây là một trong tứ độ; là cõi nước mà chúng sanh vẫn còn phải tái sanh trong hình thức cao hơn, trụ xứ của chư Thánh Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm A Na Hàm và A La Hán—According to the T'ien-T'ai Sect, this is one of the four lands or realms, the realm which is temporary, where beings still subject to higher forms of transmigration, the abode of Srotapanna (Tu đà hườn), Sakrdagamin (Tư đà hàm), Anagamin (A na hàm), and Arhat (A la hán). ** For more information, please see Tứ Độ.
phương tiện khéo
Skilful means, Upaya (S), Thab (T).
phương tiện môn
The gates of upàya. i.e. convenient or expedient gates leading into Truth.
; Pháp môn phương tiện dẫn tới chân lý—The gate of Upaya—Convenient or expedient gates leading into Truth.
Phương tiện môn 方便門
[ja] ホウベンモン hōbenmon ||| (dvāra-bhūtāni). The teaching through expedient means. A method of guiding people to the Buddhist truth. => (s: dvāra-bhūtāni). Giáo lý thông qua phương tiện. Phương pháp hướng dẫn người đến Phật đạo.
phương tiện nhị chủng tướng
1435謂諸菩薩為救渡眾生所示現之二種善巧方便。據地藏十輪經卷十所載,即:(一)世間方便,謂諸菩薩或為自利,或為利他,所示現之善巧方便,以此之方便,因有所得、有所執著,故稱世間方便。(二)出世間方便,謂諸菩薩僅為利他不為自利,所示現之善巧方便,以此之方便,因無所得、無所執著,故稱出世間方便。
; (方便二種相) Hai thứ phương tiện khéo léo mà Bồ tát thị hiện ra để cứu độ chúng sinh. 1. Thế gian phương tiện: Các phương tiện mà Bồ tát hoặc vì tự lợi, hoặc vì lợi tha thị hiện ra; vì những phương tiện này còn có chỗ sở đắc, sở chấp, nên gọi là Thế gian phương tiện. 2. Xuất thế gian phương tiện: Những phương tiện thiện xảo mà các Bồ tát chỉ vì lợi tha chứ không vì tự lợi, thị hiện ra; vì các phương tiện này không còn chỗ sở đắc, sở chấp, nên gọi là Xuất thế gian phương tiện. [X. kinh Địa tạng thập luânQ.10].
phương tiện pháp thân
Upāya-dharmakāya (S).
phương tiện phẩm
1439<一>為法華經二十八品中第二品之品名。其內容係講說三乘方便與一乘真實者,故稱方便品。 <二>為維摩經第二品之品名。其內容記敘維摩詰居士以各種方便化益眾生,且於毘耶離城權現疾患,為探病者說色身之無常猶如聚沬、浮雲,使彼等發真正道意。
; (方便品) 1. Phương Tiện Phẩm. Chỉ cho tên phẩm thứ 2 trong 28 phẩm kinh Pháp hoa. Nội dung phẩm này giảng nói về Tam thừa phương tiện và Nhất thừa chân thực, cho nên gọi là Phương tiện phẩm. 2. Phương Tiện Phẩm. Chỉ cho tên phẩm thứ 2 trong kinh Duy ma cật. Nội dung phẩm kinh này nói về các phương tiện mà Cư sĩ Duy ma cật sử dụng trong việc giáo hóa lợi ích chúng sinh; đồng thời thuật lại việc Cư sĩ thị hiện thân có bệnh ở thành Tì da li để giảng về sắc thân vô thường như đám bọt nước, áng mây trôi, khiến mọi người phát đạo tâm chân chính.
phương tiện sát sanh
Phương tiện thiện xảo của vị Bồ Tát, biết được nghiệp báo của từng người, nên giết mà không bị tội, để tránh không cho người nầy phạm tội làm khổ đau không ngừng, hay giúp cho người đó được sanh vào cảnh giới cao hơn—The right of Great Bodhisattvas, knowing every one's karma, to kill without sinning, in order to prevent a person from committing sin involving unintermitted suffering, or to aid him reaching one of the higher reincarnations.
phương tiện sát sinh
1440指大菩薩所行利益眾生之殺生。此等殺生無染濁之過失,反生無量福德,速得無上菩提。如菩薩了知某人必作無間等業,唯有殺之方能避免此惡,或知此人於捨命後必生善道;以此所為之殺生,即謂方便殺生。〔華嚴經探玄記卷十九〕
; The right of great Bodhisattvas, knowing every one's karma, to kill without sinning, e.g. in order to prevent a person from commiting sin involving unintermitted suffering, or to aid him in reaching one of the higher reincarnation.
; (方便殺生) Chỉ cho việc giết hại mà bậc Đại bồ tát thực hiện để cứu độ chúng sinh. Chẳng hạn như trên con truyền buôn, Bồ tát biết chắc 1 kẻ cướp định giết chết tất cả mọi người trên thuyền để chiếm đoạt hàng hóa và tiền bạc, Bồ tát liền ra tay trước hạ sát tên cướp để cứu mọi người. Việc làm này của Bồ tát tuy vẫn phải chịu quả báo, nhưng tương đối nhẹ hơn; bởi lẽ, Bồ tát hành động vì lợi ích của người khác, chứ không phải vì lợi ích cá nhân. Hơn nữa, giết chết 1 người để cứu sống nhiều người thì tội cũng được giảm nhẹ.
phương tiện thanh
1440指密教阿字五轉(阿字音韻上之五種變化)中奥(惡)字之聲。其點畫稱為方便點。奥字即豙(阿)字加上方便點,表示方便究竟。依五字轉生之義,方便點又稱方便輪。〔悉曇藏卷二〕
; (方便聲) Chỉ cho âm thanh chữ (a#) trong 5 cách biến hóa về âm vận của chữ (a) trong Mật giáo. Chữ (a#) tức là chữ (a) được thêm 2 cái chấm (:) vào bên phải; 2 chấm này gọi là chấm phương tiện, biểu thị phương tiện cứu cánh, cho nên gọi là Phương tiện thanh. Cứ theo nghĩa của Ngũ tự chuyển sinh thì chấm phương tiện còn được gọi là Phương tiện luân. [X. Tất đàm tạng Q.2].
phương tiện thiện xảo
Upàyakusala (S). Skillful mean. Clever in resources.
; Upaya-kausalya (skt)—Expedient method implies strategically correct—Skilful means—Phương tiện thiện xảo là phương tiện tốt lành và tinh xảo mà chư Phật và chư Bồ Tát tùy căn tánh của các loại chúng sanh mà 'quyền cơ nghi' hay quyền biến hóa độ họ từ phàm lên Thánh (từ si mê thành giác ngộ). Các bậc trí lực không chấp nê nơi hình thức, họ chỉ coi hình thức như những phương tiện thiện xảo để tiến tu và đạt cứu cánh là quả vị Phật—Extraordinary Skilful Means is a good and virtuous practice which Buddhas and Maha-Bodhisattvas use to follow and adapt to the individual capacity, personality, and inclination of sentient beings to aid and transform them from unenlightened to enlightened beings. Practitioners who possess wisdom are no longer attached to forms and appearances; because forms and appearances are only expedients for them to advance in cultivation to obtain the Buddhahood.
phương tiện trí
1440二智之一。又作權智。為「實智」之對稱。指熟達方便法之智。亦指行善巧方便之智。據大乘義章卷十九載,了知三乘權化之法,稱為方便智;反之, F知一乘真實之法,則稱實智。(參閱「二智」215)
; Upāyajāṇa (S).
; Upàyajnàna (S). The wisdom, or knowledge of using skilful means (for saving others).
; Upayajnana (skt)—Skilful knowledge—Skilful means of knowledge—Quyền trí hay trí thông đạt về phương pháp cứu độ chúng sanh. Ý niệm về phương tiện thiện xảo là một ý niệm quan trọng trong Phật giáo Đại Thừa và không tách rời với ý niệm về một trái tim đại từ đại bi vận hành toàn bộ hữu thể của Phật tính. Nó không đủ để vị Bồ Tát có được Thánh Trí hay Bát Nhã được thức tỉnh viên mãn vì ngài phải được phò trợ bằng phương tiện trí nhờ đó có thể đưa toàn bộ cơ phận cứu độ vào thực tiễn tùy theo các yêu cầu của chúng sanh—The wisdom or knowledge of using skillful means for saving others. The idea of “skillful means” is an important idea in Mahayana Buddhism and inseparable from that of a great compassionate heart moving the whole being of Buddhahood. It is not enough for the Bodhisattva to have the supreme wisdom (wisdom of the Buddha) or Aryajnana, or Prajna fully awakened, for he must also be supplied with skillful wisdom (upayajnana) whereby he is enabled to put the whole salvation machinery in practice according to the needs of beings.
; (方便智) Cũng gọi Quyền trí. Đối lại: Thực trí. Chỉ cho trí thấu suốt pháp phương tiện, tức trí ứng dụng các phương tiện khéo léo, 1 trong 2 trí. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 19 thì trí rõ biết pháp Tam thừa quyền hóa, gọi là Phương tiện trí. Trái lại, trí rõ biết Nhất thừa chân thực thì gọi là Thực trí. (xt. Nhị Trí).
phương tiện tuỳ duyên chỉ
1440天台宗所立三止之一。又作繫緣守境止,略稱方便止。係相對於空假中三觀中之假觀而立者,偏於俗諦。菩薩知空非空,能善巧方便,隨緣分別藥病,化益眾生,安於俗諦而心不為內外之變化所動,稱為方便隨緣止。〔摩訶止觀卷三之上〕(參閱「三止」535)
; (方便隨緣止) Cũng gọi Hệ duyên thủ cảnh chỉ. Gọi tắt: Phương tiện chỉ. Một trong ba Chỉ do tông Thiên thai lập ra, đối lại với Giả quán trong 3 quán Không, Giả, Trung và thiên về Tục đế. Bồ tát biết rõ không chẳng phải không, thường khéo léo tùy duyên, phương tiện phân biệt, tùy bệnh cho thuốc để giáo hóa lợi ích chúng sinh. Ở trong tục đế mà tâm không bị biến động bởi nội cảnh và ngoại cảnh, vẫn an nhiên tự tại. [X. Ma ha chỉ quán Q.3; phần đầu]. (xt. Tam Chỉ).
phương tiện tâm
1438<一>四心之一。指權智之心。淨土宗謂,能往生彌陀淨土之菩提心有四,方便心即其一,與智慧心(實智之心)並稱菩薩之父母。若二者具足,則為成就菩薩之法則。〔淨土論(天親)、往生論註卷下〕(參閱「四心」1670) <二>初地以上之菩薩所發三心之一。即以後得智利益眾生之心。〔大乘起信論〕(參閱「三心」532)
; (方便心) I. Phương Tiện Tâm. Chỉ cho tâm của Quyền trí, 1 trong 4 tâm.Tông Tịnh độ cho rằng Phương tiện tâm là 1 trong 4 tâm bồ đề có năng lực giúp hành giả tịnh nghiệp vãng sinh Cực lạc. Phương tiện tâm và Trí tuệ tâm (tâm của Thực trí) là cha mẹ của Bồ tát. Nếu có đầy đủ 2 tâm này thì thành tựu pháp Bồ tát.[X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinhluận chú Q.hạ]. (xt. Tứ Tâm). II. Phương Tiện Tâm. Chỉ cho tâm dùng tríHậu đắc làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 3 tâm của Bồ tát Thập địa. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tam Tâm).
phương tiện tâm luận
1438全一卷。後魏吉迦夜譯。今收於大正藏第三十二冊。本論述說因明論理之綱要,以為分別善惡正邪之方便。分明造論、明負處、辯正論、相應等四品。宋、元、明三本均謂本論為龍樹所造,然高麗本與各經錄中,皆未載其名。〔出三藏記集卷二、法經錄卷五、歷代三寶紀卷七、卷九、開元釋教錄卷六〕
; Upāyahṛdaya-śāstra (S).
; (方便心論) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát ca dạ dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này trình bày về cương yếu của luận lí Nhân minh mà được xem như phương tiện để phân biệt thiện ác, chính tà, gồm 4 phẩm: Minh tạo luận, Minh phụ xứ, Biện chính luận và Tương ứng. Ba bản Tống, Nguyên, Minh đều cho rằng luận này do ngài Long thụ soạn, nhưng bản Cao li và các bộ Kinh lục thì không thấy nói đến luận này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
Phương tiện đáo bỉ ngạn 方便到彼岸
[ja] ホウベントウヒガン hōben tōhigan ||| The perfection of expedient means. See 方便波羅蜜. => Sự viên mãn của pháp phương tiện. Xem Phương tiện ba-la-mật 方便波羅蜜.
Phương tiện đạo 方便道
[ja] ホウベンドウ hōbendō ||| The path of expedient means, a term often used flexibly within various path descriptions to indicate a relatively early stage of practice, wherein one is not yet exercising undefiled wisdom. (1) According to some texts, the second of the five paths 五道 which are stages of religious cultivation in Yogācāra (the second stage is more commonly termed "stage of initiation of practices" 加行位). It includes many practices from the prior stage of preparation 資糧道, as well as practices of samādhi and prajñā. It is followed by the Path of Seeing 見道.〔對法論T 1606.31.734c5-15〕 According to the scheme explained in Wŏnhyo's Doctrine of the Two Hindrances 二障義, the Path of Expedient Means is one of the five sub-paths contained within the Path of Seeing. 〔二障義 HPC 1.802b23〕 (2) The third of the nine yogas 九瑜伽. 〔瑜伽論T 1579.30.346c25〕 => Lối tu tập sử dụng phương tiện , thuật ngữ thường được dùng một cách uyển chuyển trong nhiều cách diễn đạt để nói đến mối liên hệ trong giai đoạn tu tập ban đầu, khi hành giả chưa vận dụng được trí vô lậu. 1. Theo một số kinh văn, đây là giai vị thứ hai trong Ngũ đạo, là giai vị Tu đạo theo Du-già hành phái (giai vị thứ hai thường được gọi bằng thuật ngữ Gia hạnh vị). Bao gồm nhiều công hạnh từ giai vị đầu tiên cho đến Tư lương vị, cũng như tu tập định (samādhi) và huệ (prajñā). Đó là tiếp theo giai vị Kiến đạo. Theo phác đồ do Nguyên Hiểu giải thích trong Nhị chướng nghĩa (e: Doctrine of the Two Hindrances 二障義) của Nguyên Hiểu (k:Wŏnhyo), thì Phương tiện đạo là một trong năm trợ đạo bao gồm trong Kiến đạo. 3. Thứ ba trong Cửu Du-già 九瑜伽.
phương tiện định
Xem Cận phần định.
phương tiện độ
See Phương Tiện Hóa Thân Độ.
Phương tiện 方便
[ja] ホウベン hōben ||| (1) A method, a means, a device for saving sentient beings; "expedient means" (upāya). "Excellent method for converting beings" (upāya-kauśalya). The wisdom of being able to save sentient beings by knowing discriminated phenomena. A temporary teaching established in order to lead sentient beings to the true teaching. This is a subject of primary importance in the Lotus Sutra. (2) The seventh of the 'Ten Perfections.' (3) A plan, scheme, design (ārambha). (4) Usage of metaphor in teaching. (5) Chinese Buddhists utilized the doctrine of expedient means to help deal with the hermeneutical problem of reconciling the disparities among the different teachings attributed to the Buddha-to explain that the differences in the teachings of the Buddha delivered in his forty-nine year ministry were were the result of the different audiences he addressed. => 1. Phương pháp, phương tiện, phương thức để cứu độ chúng sinh (s: upāya). “phương tiện thiện xảo để chuyển hoá chúng sinh ” (s: upāya-kauśalya). Trí hiểu biết để có thể cứu độ chúng sinh bằng cách nhận biết phân biệt các hiện tượng. Là giáo lý tạm thời lập ra để đưa chúng sinh đến giáo pháp chân thật . Đây là chủ đề chính yếu trong Kinh Pháp Hoa. 2. Điều thứ bảy trong Mười ba-la-mật. 3. Kế hoạch, dự án, phác thảo chương trình (s: ārambha). 4. Cách dùng ẩn dụ trong giáo pháp. 5. Phật giáo Trung Hoa dùng giáo lý phương tiện để hỗ trợ cùng với sự giải thích các vấn đề hoà giải sự bất đồng trong các giáo lý được xem là của Đức Phật -- để giải thích sự khác nhau trong giáo lý của Đức Phật thuyết giảng trong suốt 49 năm do là kết quả tiếp nhận không đồng đều của thính chúng.
phương toà
1440指方板之臺座。佛像之臺座,形式極多,其中式樣最簡,僅為一方板,且其上無任何裝飾者,稱為方座。(參閱「臺座」5902)
; (方座) Tòa hình vuông, không có trang sức, một loại tòa ngồi đơn giản nhất của các pho tượng Phật và Bồ tát. (xt. Đài Tòa).
Phương trượng
(方丈): nơi ở của vị trú trì một tự viện, nghĩa là căn nhà bốn phương rộng một trượng. Việc này phát xuất từ điển cố của vị cư sĩ Duy Ma Cật (s: Vimalakīrti, 維摩詰) có căn nhà bốn phương rộng một trượng, có thể chứa 32.000 người. Từ đó, nó có nghĩa là tiếng kính xưng của vị trú trì.
; 方丈; J: hōjō;|Có nhiều nghĩa: 1. Chỉ căn phòng của vị trụ trì của một ngôi chùa. Danh từ này ám chỉ căn phòng của Duy-ma-la-cật (s: vimalakīr-ti), một vị Cư sĩ đạt Giác ngộ viên mãn của một vị Phật (Duy-ma-cật sở thuyết kinh); 2. Chỉ vị trụ trì của một ngôi chùa; 3. Danh hiệu của một Thượng toạ trong một Thiền viện.
phương trượng
1432一丈四方之室。又作方丈室、丈室。即禪寺中住持之居室或客殿,亦稱函丈、正堂、堂頭。印度之僧房多以方一丈為制,維摩禪室亦依此制,遂有方一丈之說;轉而指住持之居室。今轉申為禪林住持,或對師父之尊稱。俗稱「方丈」或「方丈和尚」。〔維摩經文疏卷二十二、法苑珠林卷二十九、大唐西域求高僧傳卷上慧輪傳〕
; Hōjō (J), Fang-chang (C)Phòng ở của hòa thượng trụ trì, ngang rng chỉ có mt trượng, nên gọi là phương trượng.
; An abbot, tự chủ head of a monastery; the term is said to arise from the ten-foot cubic dwelling in which Duy Ma Cật Vimalakirti lived.
; Phòng ở của Hòa thượng Trụ trì, ngang rộng chỉ có một trượng.
; 1) Viện Chủ: Tự Chủ—An abbot—Head of a monastery—The Abbot's Quarters. 2) Khu Mười Thước vuông Anh: The Square Ten Feet. Phưởng Phất: Dimly—Vaguely—Faintly.
; (方丈) Cũng gọi Phương trượng thất, Trượng thất, Hàm thất, Chính đường, Đường đầu. Căn phòng hình vuông mỗi bề 1 trượng, tức là nơi ở của vị Trụ trì hoặc là phòng khách trong các thiền viện thuộc Thiền tông.Phòng chư tăng ở Ấn độ phần nhiều làm theo qui chế Phương nhất trượng (vuông vức một trượng), Thiền thất của cư sĩ Duy ma cật cũng theo quy chế này. Ngày nay, từ Phương trượng được dùng để tôn xưng vị Trụ trì hoặc Sư phụ, thường gọi là Phương trượng, Phương trượng hòa thượng. [X. Duy ma kinh văn sớ Q.22; Pháp uyển châu lâm Q.29; Tuệ luân truyện trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].
phương trượng nội hạ
1432禪林中,每月一日朝食後,五侍者往方丈室向住持表示祝禱之禮法。其作法為五侍者之一燒香,然後五人同時向住持九拜,住持若言免九拜,則三拜即可。此外,受業、授戒、嗣法之弟子等,亦須於五侍者行禮之前後,往方丈室同樣燒香九拜(或三拜)。〔僧堂清規卷二月分行法次第〕
; (方丈內賀) Lễ chúc mừng vị Trụ trì trong phương trượng. Pháp lễ kính mà 5 vị thị giả hành trì để chúc mừng vị Trụ trì ở phương trượng mỗi tháng 1 lần vào ngày mồng 1 sau bữa ăn sáng trong Thiền lâm. Cách thực hành pháp lễ này là: Một trong 5 vị thị giả đốt hương, rồi 5 vị cùng lúc lạy vị Trụ trì 9 lạy; nếu vị Trụ trì cho miễn 9 lạy thì lạy 3 lạy cũng được. Ngoài ra, sau khi 5 vị thị giả hành lễ, các đệ tử thụ học, thụ giới, nối pháp... cũng phải đến phương trượng lạy Trụ trì 9 lạy(hoặc 3 lạy). [X. Tăng đường thanh qui Q.2; Nguyệt phần hành pháp thứ tự].
Phương trượng 方丈
[ja] ホウジョウ hōjō ||| Literally a square zhang , which is one hundred square Chinese feet. (1) The front room, or parlor room of a monastery. (2) The room of the head monk. This meaning is originally derived from the story of Vimalakīrti's 維摩 room, which was supposedly one square zhang (about 9 square meters). It later becomes a term of respect used to address a teacher or a superior monk. => Nói chung là một trượng vuông, một trăm thước vuông theo đơn vị đo lường Trung Hoa . 1. Phòng phía trước, phòng khách riêng của một tu viện. 2. Phòng của vị trú trì tu viện. Nghĩa nầy xuất phát từ câu chuyện căn phòng của Duy-ma-cật, ước chừng một trượng vuông (khoảng 9 mét vuông). Về sau trở thành một thuật ngữ có tính kính trọng, dùng để nói đến bậc một đạo sư hay một vị cao tăng.
phương tướng
1440五種結界相之一。乃大界中之界形方正者。即以河川、樹木、道路等為界,或於四邊立石、植樹作為界標。(參閱「五種結界相」1187)
; (方相) Giới tràng hình vuông trong Đại giới, 1 trong 5 cách kết giới tướng. (xt. Ngũ Chủng Kết Giới Tướng).
phương vinh thăng
1442明代安徽巢縣人。為民間宗教圓教(大同教)之創始人。曾從清茶門教教主王秉衡之徒孫金悰有習教。著有破邪顯正明心錄。
; (方榮升) Người sáng lập ra Viên giáo (Đại đồng giáo, 1 tông giáo dân gian) sống vào đời Minh, người huyện Sào, tỉnh An huy, Trung quốc. Ông từng học giáo pháp nơi Kim tông hữu, đồ tôn của Vương bỉnh hành, Giáo chủ Thanh trà môn giáo. Ông có tác phẩm: Phá tà hiển chính minh tâm lục.
Phương viên 方圓
[ja] ホウエン hōen ||| "Square and round." Partial, or limited, and perfect teachings. Instruction through relative truths and through the absolute truth. The relationship between these two is explicated in depth by Kihwa 己和 in his commentary to the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經説誼. See HPC 7.123-5. => 'Vuông và tròn'. Giáo lý từng phần, hay giới hạn, và giáo lý hoàn chỉnh. Sự giáo hoá thông qua chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Sự tương quan giữa hai giáo lý nầy được giải thích sâu rộng trong luận giải về kinh Viên Giác của Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和).
phương võng tam muội
1442指菩薩之三昧。菩薩之三昧縱橫八方,廣大無邊,猶如面面俱罩之羅網,故稱方網三昧。從容錄第八十二則(大四八‧二八○上):「如今卻向延聖拂子頭上,入方網三昧,東方入定西方起,乃至男身入定女身起。」
; (方網三昧) Tam muội của Bồ tát, vì Tam muội này rộng lớn vô biên, giống như mạng lưới (võng) bao trùm khắp 8 phương. Thung dung lục tắc 82 (Đại 48, 280 thượng) nói: Như nay hướng lên đầu cây phất tử của bậc Thánh mà nhập Phương võng tam muội. Nhập định phương đông, xuất định phương tây, cho đến thân nam nhập định, thân nữ xuất định.
phương vị
1433指方向。我國原有所謂東、南、西、北四方;以及東南、西南、西北、東北等四維;四方與四維合則為八方。自佛教傳入我國後,復加上、下,則為十方。其列舉之順序應為:東、東南、南、西南、西、西北、北、東北、上、下。其中,在四方有關須彌山者,有須彌四洲、四天王天之說;有關現在佛者,則有四方四佛之說。又四方四佛中,以西方阿彌陀佛特別著名,為淨土教所尊崇。 密教之發心、修行、菩提、涅槃等四門,可配合於東、南、西、北等四方。於現圖曼荼羅中,胎藏界曼荼羅之上方為東;向曼荼羅之右為南;其下為西;向曼荼羅之左為北。於金剛界曼荼羅中,其上方則為西,向右為北,其下為東,向左為南。 至於八方,在密教有東方因陀羅等八方天之說;關於十方,除十方十佛之通說外,另有十方諸佛、十方世界。十方即代表全體而言。此外,教團全體之共有物,稱為四方僧物或十方僧物,而別於一結界中之僧眾共有物(現前僧物),此四方或十方,均指全體之意。
; (方位) Chỉ cho phương hướng. Trung quốc vốn có 4 phương: Đông, Nam, Tây, Bắc và 4 góc(tứ duy): Đông nam, Tây nam, Tây bắc và Đông bắc. Bốn phương và 4 góc hợp lại thì là 8 phương. Từ sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc thì lại thêm 2 phương trên, dưới nữa mà thành là 10 phương. Thứ tự các phương được xếp như sau: Đông, Đông nam, Nam, Tây nam, Tây, Tây bắc, Bắc, Đông bắc, Trên, Dưới. Trong đó, 4 phương liên quan đến núi Tu di thì có thuyết: Tu di tứ châu, Tứ thiên vương thiên; liên quan đến Phật hiện tại thì có thuyết Tứ phương tứ Phật. Trong Tứ phương tứ Phật thì đức Phật A di đà ở phương Tây đặc biệt nổi tiếng, được Tịnh độ giáo tôn sùng. Bốn môn Phát tâm, Tu hành, Bồ đề và Niết bàn trong Mật giáo được phối hợp với 4 phương Đông, Nam, Tây, Bắc. Phương trên của Mạn đồ la Thai tạng giới trong Hiện đồ mạn đồ la là phương Đông; hướng bên phải của Mạn đồ la là Nam; phương dưới là Tây; hướng trái của Mạn đồ la là Bắc. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới thì phương trên là Tây, hướng phải là Bắc, phương dưới là Đông, hướng trái là Nam. Về 8 phương, trong Mật giáo có thuyết nói Bát thiên vương như Đông phương Nhân đà la... Về 10 phương, ngoài thuyết Thập phương thập Phật phổ thông ra, còn có Thập phương chư Phật, Thập phương thế giới. Thập phương là nói chung toàn thể, như các vật của toàn thể giáo đoàn gọi là Tứ phương tăng vật hoặc Thập phương tăng vật để phân biệt với những vật dụng của chúng tăng trong một phạm vi kết giới.
phương điển
1434方等經典之略稱。即大乘經之總稱。方,方正;等,平等。大乘經典乃說方正平等之理的經典,故稱方典。觀無量壽經(大一二‧三四五上):「讀誦方等經典。」
; A term covering the whole Mahàyàna-sutràs, idem phương đẳng kinh điển.
; Từ ngữ chỉ toàn thể kinh điển Đại Thừa—A term covering the whole of the Mahyana sutras—See Phương Đẳng Kinh điển.
; (方典) Gọi đủ: Phương đẳng kinh điển. Tức gọi chung các kinh Đại thừa. Các kinh Đại thừa là những kinh điển nói về lí phương chính, bình đẳng, cho nên gọi là Phương điển. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 345 thượng) nói: Đọc tụng Phương đẳng kinh điển.
phương đàn
1443又作地輪壇、金剛輪壇、金輪壇。謂四方正等之曼荼羅壇,大壇多用之。方形為地大之形,表示萬物生長之德。為密教護摩法中與增益法相應之壇,然亦通用息災法、敬愛法等。〔大日經卷七〕
; (方壇) Cũng gọi Địa luân đàn, Kim cương luân đàn, Kim luân đàn. Đàn Mạn đồ la hình vuông. Hình vuông là hình của địa đại (mặt đất), biểu thị cái đức sinh trưởng muôn vật. Trong pháp Hộ ma của Mật giáo, đàn này tương ứng với pháp Tăng ích, tuy nhiên, nó cũng được dùng cho cả các pháp Tức tai, pháp Kính ái... [X. kinh Đại nhật Q.7].
phương đông mĩ
1435(1899~1977)安徽桐城人。早歲畢業於南京金陵大學,旋赴美人威斯康辛大學深造,二十六歲完成哲學博士學位。返國後歷任武昌高等師範大學、東南大學、中央政校及中央大學哲學教授。遷臺後任教於國立臺灣大學與輔仁大學,並曾數度赴美講學,在密西根州立大學、米蘇里大學與南達柯塔大學擔任客座教授。對於中國哲學與文化精神殊多闡發,為享譽中外之一代大哲。晚年致力於大乘佛法之鑽研,於華嚴哲學尤有獨到之見解。民國六十六年逝世於臺北。門人匯集整理其著述,輯為東美全集,內有堅白精舍詩集、方東美先生演講集、中國大乘佛學、華嚴哲學等中文論著,及 The Chinese View of Life; Chinese Philosophy: Its Development 等英文著作。
; (方東美) (1899-1977) Học giả Trung quốc, người Đồng thành, tỉnh An huy. Ông tốt nghiệp ở trường Đại học Kim lăng tại Nam kinh, sau đó, ông sang nước Mĩ vào học trường Đại học Uy tư khang tân (Wisconsin). Năm 26 tuổi, ông hoàn thành học vị Tiến sĩ Triết học. Ông từng là giáo sư giảng dạy môn Triết học tại các trường Đại học ở Trung quốc, Đài loan và Hoa kì. Ông là nhà nghiên cứu và phát huy nền triết học Trung quốc nổi tiếng một thời.Về già, ông tận lực nghiên cứu Phật pháp Đại thừa, đối với triết học Hoa nghiêm ông có những kiến giải rất độc đáo. Năm 1977, ông qua đời tại Đài bắc. Học trò thu gom rồi chỉnh lí các tác phẩm của ông mà biên tập thành Đông Mĩ Toàn Tập, nội dung gồm có: Kiên bạch tinh xá thi tập, Phương đông mĩ tiên sinh diễn giảng tập, Trung quốc Đại thừa Phật học, Hoa nghiêm triết học, The Chinese View of Life; Chinese Philosophy: Its Development...
Phương đẳng
(方等), chỉ chung các kinh điển Đại thừa. Phương (方): hay phương quảng, nghĩa là vuông vức và rộng rãi, chứa đủ các pháp, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao. Đẳng (等): bình đẳng, như nhau. Các kinh Đại thừa do Phật thuyết đều như nhau cả, chứa đủ diệu lý, thật tướng, bất cứ ai tu hành rốt ráo theo một bộ kinh Đại thừa nào cũng có thể thành tựu trí huệ Phật. Vì vậy nên gọi chung là Phương đẳng.
phương đẳng
1441梵語 vaipulya,巴利語 vedalla 。音譯作毘佛略、毘富羅、鞞佛略、斐肥儸、為頭離。譯為方廣、廣破、廣大、廣博、廣解、廣、無比等。又作大方廣、大方等。九部經之一,十二部經之一。指大乘經典。即廣說廣大甚深之義者。於大乘佛教中,主要作為指大乘經典之用語,後世之小乘三藏(佛教聖典)中並未說及方等;故方等不僅意味其量之廣大,主要乃指在內容上說廣大平等之理趣者。大乘經典之名稱冠以大方等、大方廣等語者,係為與九部經、十二部經之一的方等加以區別。以方等意謂大乘經典,故大乘經典亦稱大乘方等經典。此外,方廣道人之「方廣」,亦為大乘之義。〔北本大般涅槃經卷五、卷十五、大毘婆沙論卷一二六、順正理論卷四十四、大智度論卷三十三、華嚴經疏卷二十四、大乘義章卷一〕(參閱「毘佛略」3849)
; Xem Phương quảng.
; Vaipulya (S). Phương is interpreted as referring to the doctrine, đẳng as equal or universal, i.e. everywhere equally. Xem phương quảng.
; Theo tông Thiên Thai, phương có nghĩa là phương chính, đẳng là bình đẳng; phương đẳng ám chỉ hết thảy kinh điển Đại Thừa—According to the T'ien-T'ai sect, Phương is interpreted as referring to the doctrine, Đẳng as equal or universal; Phương Đẳng means everywhere equally. Phương Đẳng implies the Vaipulya Sutras.
; (方等) Phạm: Vaipulya. Pàli: Vedalla. Hán âm: Tì phật lược, Tì phú la, Phỉ phì la, Vi đầu li. Hán dịch: Phương quảng, Quảng phá, Quảng đại, Quảng bác, Quảng giải, Quảng, Vô tỉ. Cũng gọi Đại phương quảng, Đại phương đẳng. Danh từ chỉ chung cho các kinh Đại thừa, là các kinh nói về nghĩa rộng lớn, sâu xa. Là 1 trong 9 bộ loại kinh, 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Tì Phật Lược).
phương đẳng bản khởi kinh
Xem Phổ Diệu Kinh.
Phương đẳng bản khởi kinh 方等本起經
[ja] ホウトウホンキキョウ Hōdō honki kyō ||| The Fangdeng benqi jing (Lalitavistara); an alternative title for the Puyao jing 普曜經. => (c: Fangdeng benqi jing; s: Lalitavistara); tên gọi khác của Phổ diệu kinh (c: Puyao jing 普曜經).
phương đẳng bộ
1442大乘經五大部之一。指華嚴、般若、法華、涅槃等四部以外之大乘諸經。為智旭閱藏知津所用之分類法,依天台五時判教,將大乘經類別為華嚴等五部,第二置方等部。包括開元釋教錄所分五大部(般若、寶積、大集、華嚴、涅槃)中之寶積、大集二部,與五大部之外,不屬於法華部之其餘諸經,以及開元以後譯出之密部儀軌等。 方等部分為方等顯說部、方等密咒部二部。顯說部收大寶積經等三六九部,一一○七卷,密咒部復分密咒經、密咒儀軌二種,密咒經有大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經等二八五部,五三九卷,密咒儀軌則有金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經等八十一部,一○三卷,顯密合計七三五部,一七四九卷。〔閱藏知津總目卷一〕
; (方等部) Từ ngữ chỉ chung cho các kinh Đại thừa ngoài 4 bộ: Hoa nghiêm, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn. Là 1 trong 5 đại bộ của kinh Đại thừa. Trong Ngũ thời phán giáo của tông Thiên thai, các kinh Đại thừa được chia làm 5 bộ, Phương đẳng bộ là bộ thứ 2 gồm 2 bộ (Bảo tích, Đại tập) trong 5 bộ lớn (Bát nhã, Bảo tích, Đại tập, Hoa nghiêm, Niết bàn) do Khai nguyên thích giáo lục chia loại, cùng với các kinh ngoài 5 bộ lớn không thuộc Pháp hoa bộ, cộng với các Nghi quĩ thuộc Mật bộ được phiên dịch từ sau niên hiệu Khai nguyên. Phương đẳng bộ được chia làm 2 bộ: Phương đẳng hiển thuyết bộ và Phương đẳng mật chú bộ. Hiển thuyết bộ gồm các kinh như kinh Đại bảo tích..., có tất cả 369 bộ, 1107 quyển. Còn Mật chú bộ thì chia làm 2 loại là Mật chú kinh và Mật chú nghi quĩ. Mật chú kinh bao gồm các kinh như Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ tátvạnhạnh thủ lăng nghiêm..., có tất cả 285 bộ, 539 quyển. Còn Mật chú nghi quĩ thì bao gồm các kinh như kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương..., có tất cả 81 bộ, 103 quyển. Hiển và Mật cộng chung lại là 735 bộ, 1.749 quyển. [X. Duyệt tạng tri tân tổng lục Q.1].
phương đẳng giới đàn
1441請參閱 方等三昧行法 請參閱 大方等無想經 請參閱 普曜經 請參閱 方等三昧行法 依大乘方等之文所設立之戒壇。即不拘根缺緣差,亦不細拘禁忌,凡發大心之人皆能得戒,攝人最為周遍廣大,故稱方等戒壇,與南山所制之小乘戒壇相對。蓋小乘教中,須一一如法,稍有乖違者,則不得臨壇受戒。唐代宗永泰元年(765)始於京城建方等戒壇,後歷武宗破佛,宣宗朝,建方等戒壇盛度僧尼,使昔時遭令會昌沙汰返俗者得以先行懺罪,後得戒品,重入佛門。〔大宋僧史略卷下〕
; Giới đàn giảng pháp và truyền giới—An open altar at which instruction in the commandments was preached to the people, founded on the Mahayana Vaipulya Sutra (Đại Thừa Phương Đẳng Kinh).
; (方等戒壇) Giới đàn được thiết lập theo ý nghĩa Đại thừa phương đẳng. Giới đàn này không câu nệ các căn thiếu khuyết, các duyên sai biệt, cũng không cố chấp sự cấm kị nhỏ nhặt, mà chỉ cần người thụ giới phát tâm rộng lớn thì đều có thể đắc giới. Điều này khác với giới đàn Tiểu thừa do tông Nam sơn thiết lập. Vì theo Tiểu thừa, tất cả đều phải đúng như pháp, hễ giới tử có 1 chút sai trái cũng không được thụ giới. Ở Trung quốc, Phương đẳng giới đàn được kiến lập lần đầu tiên là vào niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời vua Đại tông nhà Đường. Đời Vũ tông, Phật giáo bị phá hủy. Đến khi vua Tuyên tông lên ngôi, Phương đẳng giới đàn mới được lập lại để tiếp độ tăng ni mà dưới thời Vũ tông đã bị cưỡng bách hoàn tục, nay được ưu tiên sám hối, lãnh nhận giới phẩm, trở lại cửa Phật. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].
Phương đẳng kinh
方等經; S: vaipulya-sūtra;|Chỉ một thể loại kinh Ðại thừa với các nội dung nhất định. Các kinh sau đây thuộc về kinh Phương đẳng: Bát-nhã ba-la-mật-đa, Hoa nghiêm, Bảo tích. Ngoài ra Phương đẳng kinh của Trung Quốc còn kể thêm kinh Ðại bát-niết-bàn, Ðại tập (s: mahāsaṃ-nipāta-sūtra) và Diệu pháp liên hoa.
phương đẳng kinh
1442<一>為大乘經之總稱。(參閱「大乘經典」828) <二>指十二部經中之毘佛略(梵 vaipulya)。毘佛略,意譯作方等、方廣等,乃宣說廣大平等之義理之經典。(參閱「十二部經」344)
; (方等經) I. Phương Đẳng Kinh. Danh từ gọi chung các kinh Đại thừa. (xt. Đại Thừa Kinh Điển). II. Phương Đẳng Kinh. Phương đẳng, Phạm: Vaipulya. Hán âm: Tì phật lược. Hán dịch: Phương đẳng, Phương quảng. Kinh điển nói về nghĩa lí rộng lớn, bình đẳng. Là 1 trong 12 thể loại kinh. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh).
phương đẳng kinh điển
Vaipulya—The whole of the Mahayana Sutras—See Phương Quảng.
phương đẳng sám hối
1442請參閱 大方等無想經 請參閱 大方等陀羅尼經 指方等三昧之懺法。又作方等懺。即行方等三昧時,誠心懺悔六根之罪障。(參閱「方等三昧」1441)
; (方等懺悔) Cũng gọi Phương đẳng sám. Chỉ cho pháp sám hối Phương đẳng tam muội. Nghĩa là khi tu hành pháp Phương đẳng tam muội, hành giả phải sám hối các tội chướng của 6 căn. (xt. Phương Đẳng Tam Muội).
phương đẳng tam muội
1441半行半坐三昧之一。係天台宗智顗大師依大方等陀羅尼經制立之三昧行。三昧,謂專行其法而調直其心。即於閑靜之處莊嚴道場,請二十四尊像,衣鞋等均須清淨,長齋七日,每日三時洗浴,招請熟知內外律者為師,受二十四戒及陀羅尼咒,於初日分三請三寶十佛、方等、父母、十法王子,供養禮拜之後,以赤誠心陳悔罪咎,起誦摩訶袒特陀羅尼,旋繞一百二十匝,一旋一咒,不遲不疾,不高不下。旋咒畢,卻坐思惟,觀實相中道之正空。觀訖,又起而旋咒。旋咒竟,復卻坐思惟。〔摩訶止觀卷二、方等三昧行法〕(參閱「四種三昧」1793)
; One of Thiên Thai's methods of inducing samàdhi, partly by walking, partly by sitting, based on Đại phương đẳng đà la ni kinh.
; (方等三昧) Pháp tuTam muội do Đại sư Trí khải của tông Thiên thai y cứ vào kinh Đại phương đẳng đà la ni mà lập ra. Là 1 trong các tam muội vừa đi vừa ngồi. Khi tu pháp này, phải lập đạo tràng trang nghiêm ở nơi yên tĩnh, tất cả phải thanh tịnh; trường trai 7 ngày, mỗi ngày tắm 3 lần, y phục sạch sẽ; thỉnh 1 vị tỉ khưu thông hiểu tạng Luật truyền 24 giới và đà la ni chú. Ngày đầu tiên chia ra 3 lần thỉnh 10 đức Phật, Phương đẳng, cha mẹ, 10 vị Pháp vương tử, sau khi cúng dường lễ bái, thành tâm sám hối, đứng dậy tụng Ma ha đán đặc đà la ni, đi nhiễu 120 vòng, mỗi ngày tụng 1 bài chú, không chậm không nhanh, giọng tụng không bổng không trầm. Nhiễu quanh tụng chú xong, lại ngồi tư duy, quán xét lí không của thực tướng trung đạo. Quán xong, lại đứng dậy đi nhiễu và tụng chú. Nhiễu quanh và tụng chú xong, lại ngồi tư duy. [X. Ma ha chỉ quán Q.1; Phương đẳng tam muội hành pháp]. (xt. Tứ Chủng Tam Muội).
phương đẳng tam muội hành pháp
1441全一卷。智顗所說,門人灌頂筆受。為行方等三昧之儀軌作法。收於大正藏第四十六冊。又稱大方等行法、方等三昧儀、方等懺儀、方等行法等。方等三昧與法華三昧同屬摩訶止觀四種三昧中之半行半坐三昧,乃基於大方等陀羅尼經之行法,為誦持陀羅尼,懺悔行道,期以延年增壽,得現世利益之單純行法。另國清百錄亦收有方等懺法,為此行法之別行本。
; (方等三昧行法) Cũng gọi Đại phương đẳng hành pháp, Phương đẳng tam muội nghi, Phương đẳng sám nghi, Phương đẳng hành pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải giảng, đệ tử Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Phương đẳng tam muội và Pháp hoa tam muội cùng thuộc Tam muội vừa đi vừa ngồi trong 4 loại Tam muội của Ma ha chỉ quán, được y cứ vào kinh Đại phương đẳng đà la ni mà soạn ra. Nội dung tác phẩm này nói về việc tu hành Tam muội phương đẳng, gồm có 6 phần: 1. Đầy đủ 6 duyên. 2. Biết rõ những chướng ngại. 3. Nói về pháp cấm. 4.Nói về yếu quyết của nội luật. 5. Nói về sự tu hành. 6. Nói về việc thụ giới. Ngoài ra, Phương đẳng sám pháp trong Quốc thanh bách lục chính là bản lưu hành khác của hành pháp này.
phương đẳng thời
1442指佛陀宣說方等經之時期。乃天台宗所判五時中之第三時。即佛陀自成道後第十二年起,於八年之間,廣說維摩經、金光明經等諸方等經典之時期。(參閱「五時八教」1132)
; The third of the five periods of Thiên Thai ngũ thời giáo.
; Thời kỳ thứ ba trong năm thời thuyết giảng—The third of the five periods of Buddha's teaching, from the twelfth to the twentieth years of Buddha's teaching (Hoa nghiêm: Avatamsaka, A Hàm: Agamas, Phương Đẳng: Vaipulyas, Bát Nhã: Prajna, Pháp Hoa & Niết Bàn: Lotus and Nirvana).
; (方等時) Chỉ cho thời kì đức Phật tuyên nói các kinh Phương đẳng, là thời thứ 3 trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Tức là thời kì bắt đầu từ năm thứ 12 sau khi đức Phật thành đạo, Ngài nói các kinh Phương đẳng như kinh Duy ma, kinh Kim quang minh... trong khoảng 8 năm. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
phương đẳng đại vân kinh
Xem Phương đẳng Đại vân kinh.
Phương đẳng 方等
[ja] ホウドウ hōdō ||| (1) Broadly put forth; universally (vaipulya). (2) Mahāyāna; (3) Universal equality. => Có các nghĩa sau: 1. Truyền bá sâu rộng ; phổ biến rộng khắp (s: vaipulya). 2. Đại thừa (Mahāyāna). 3. Bình đẳng phổ quát.
Phương 方
[ja] ホウ hō ||| (1) To make even. (2) To compare. (3) Square. Right, correct. (4) Direction; the four cardinal directions. (5) A place, a location. (6) A method, a way, a principle. A technique; a formula. (7) There; in that place; at that time. In that. Now. [Buddhism] (1) One of the twenty-four elemental constructs 百法 not concomitant with mind in the theory of the Consciousness-only 唯識 school. (2) The ten directions of north, south, east and west, plus the four intermediate directions, as well as the zenith and nadir. Since material existence occupies space, these directions are provisionally established on their mutual relationship. (3) An expedient method; a means of remedying the desire and ignorance possessed by sentient beings. (4) In the preface to his commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經説誼, Kihwa 己和 defines 方 as the self-corrective practices to engaged in by the religious aspirant. After sufficient self-achievement 自利, one may then engage in the work of spreading the dharma to others, a concept represented by the ideograph 廣. => 1. Luỹ thừa. 2. So sánh. 3.Vuông. Đúng đắn, chính trực. 4. Phương hướng, bốn phương hướng chính. 5. Nơi chốn, vị trí. 6. Phương pháp, cách thức, nguyên tắc. Kỹ thuật; công thức. 7. Nơi đó, chỗ đó, lúc đó. Mới, bây giờ. [Phật học] 1. Một trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp trong Bách pháp, theo giáo lý Duy thức tông. 2. Mười phương: Bắc, Nam Đông, Tây, thêm bốn hướng trung gian, cùng phương trên và dưới. Vì vật thể hiện hữu cùng khắp không gian, nên những phương nầy chỉ là giả lập trong mối tương quan trùng trùng. 3. Pháp phương tiện; phương thức để điều trị tham dục và vô minh của chúng sinh. 4. Trong bài tựa luận giải Kinh Viên Giác của Kỷ Hoà, sư định nghĩa Phương là pháp công phu tự hiệu chỉnh thực hiện bởi những ai khát khao tu đạo. Sau khi đạt được tự lợi, hành giả thực hiện việc giáo hoá chúng sinh, là ý niệm được biểu hiện qua chữ Quảng 廣
Phước
Phúc
phước
Puṇyatva (S).
phước báo
Phước báo tưởng thưởng, như được tái sanh vào cõi trời hay người—Merits—Blessings—A blessed reward, e.g. to be born as a man or a deva.
phước cái
Tàng lọng của phước báo—The cover, or canopy, of blessing.
phước huệ
1) Phước đức và trí huệ—Blessings, or blessedness and wisdom—Virtue and wisdom. 2) Tên của một Pháp Sư người Việt Nam tại Úc, vị lãnh đạo Phật giáo quan trọng tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông còn là chủ tịch Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông là người đã sáng lập ra Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam ở Sydney. Trước năm 1975, Hòa Thượng Phước Huệ là giảng sư trong nhiều năm tại Ấn Quang, một trung tâm Phật giáo nổi bậc của miền Nam Việt Nam thời bấy giờ—Name of an important Vietnamese Buddhist leader in Australia and New Zealand, and current head of the Vietnamese Unified Buddhist Congress in Australia and New Zealand. He is a founder of Vietnam Cultural Center in Sydney. Before 1975, Most Venerable Phước Huệ taught for many years at An Quang Pagoda, the pre-eminent Buddhist Center in South Vietnam.
phước huệ song tu, đồng đăng bỉ ngạn
To practice blessings (offerings and charity) and wisdom (meditation) at the same time, you will surely obtain enlightenment.
Phước huệ 福慧
[ja] フクエ fukue ||| (1) Good actions and wisdom. Sometimes called the "two resources." (2) A reference to the six pāramitās. Giving, morality, patience, effort and meditation are 福, and wisdom is 慧 (hui). => 1. Phước đức và Trí huệ. Có khi gọi là Nhị tài. 2. Khi đề cập đến Lục độ, thì Bố thì, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định là Phước; còn Trí huệ là Huệ.
phước hành
Một trong tam hành làm ảnh hưởng đến nghiệp, hành pháp cảm ứng phúc lợi của nhân thiên như ngũ giới và thập thiện giới, vân vân—One of the three lines of actions that affect karma, the life or conduct which results in blessing, e.g. being reborn as a man or deva, as a result of the cultivation of the five basic commandments, or the ten good deeds.
phước hòa
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây dựng từ lâu lắm (không rõ niên đại) với kiểu kiến trúc cổ của các chùa miền Nam. Năm 1958, chùa được trùng tu theo kiến trúc như hiện nay. Trước đây chùa là trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Ngày 24 tháng 2 năm 1952, nhân ngày đại hội, lá cờ Phật giáo đầu tiên ở miền Nam được treo tại chùa. Ngày 1 tháng 4 năm 1956, nhiệm kỳ hai đại hội Phật giáo cũng được triệu tập tại chùa Phước Hòa. Trong Chánh điện có ba tượng gỗ, tượng Phật Thích Ca, tượng Diệm Ma Vương, tượng Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt, được tạc vào khoảng từ năm 1960 đến năm 1962—Name of a famous ancient pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago, with its ancient architectural style of South Vietnam's pagodas. In 1958, it was rebuilt as it is seen today. Formerly, the pagoda functioned as the office of South Vietnam Association of Buddhist Studies. It was at this pagoda, the Buddhist flag was hung for the first time on the occasion of the Congress of the Association on February 24, 1952. On April first, 1956, the second session of Congress of the Vietnam Buddhist Sangha organized its opening at Phước Hòa Pagoda. In the Main Hall, there are three wooden statues of Sakyamuni Buddha, Yama of Hell, and One-thousand-arm and one-thousand-eye Avalokitesvara Bodhisattva. These statues were cast from 1960 to 1962. The statue of Sakyamuni Buddha is 2.5 meters high, 2 meters wide.
phước hưng
Tên của một ngôi tự viện cổ nổi tiếng, tọa lạc trong thị xã Sa Đéc, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Minh Phúc khởi công xây cất năm 1838. Chùa có lối kiến trúc khá đặc sắc. Chánh điện hình chữ nhật dài 19 mét 5, rộng 14 mét, trên nóc trang trí theo kiểu của người Trung Hoa. Bên trong chánh điện được tôn trí trang nghiêm. Ở đây có một pho tượng Phật A Di Đà cổ bằng đất thếp vàng; một chiếc trống cổ khắc năm 1828 có bề ngang 1 mét 4, đường kính 90 phân, và bức hoành sơn son thếp vàng chạm trổ công phu, ở giữa có chạm chiếc lá Bồ Đề có ghi ba chữ Hán: “Phước Hưng Tự 1882,” hai bên là hai bản Lạc Hoa và Thạnh Hoa khắc năm 1846. Chùa hiện còn lưu giữ nhiều bản kinh khắc gỗ chữ Hán hai mặt, mỗi tấm bề ngang 20 phân, dọc 30 phân, dầy 3 phân, khắc các bộ kinh Địa Tạng, Kim Cang, Phổ Môn, Bát Nhã, vân vân—Name of a famous ancient pagoda located in Sa Đéc town, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built in 1838 by Most Venerable Minh Phúc. It has a rather distinctive architecture. Its Main Hall is a rectangular building, 19.5 meters long, 14 meters wide, the top of which is decorated in Chinese pagoda's style. The Main Hall is arranged solemnly. Here stands the old statue of Amitabha Buddha made of clay and gilded. There are also an ancient drum made in 1828, 1.4 meters in width and 0.90 meter in diameter and a horizontal board elaboratedly gilded and engraved. In the middle of the board, a leaf of Bo-tree was carved, on which are three Chinese characters “Phước Hưng Tự 1882.” On both sides of the board are respectively the words Lạc Hoa and Thịnh Hoa. The pagoda has also conserved many wooden pieces on which a lot of sutras were written. The dimension of every piece is 20 by 13 by 3 centimeters. The names of these sutras are Kshigarbha, Vajrachedika, Prajna Paramita, etc.
phước hải
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận nhất, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được một vị tổ người Hoa tên Lưu Minh xây vào cuối thế kỷ 19, và được khánh thành vào năm 1906. Trong Chánh điện có các tượng Ngọc Hoàng, các Thiên Thần, như Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Chớp, Tứ Thiên Vương. Giữa Chánh Điện thờ tôn tượng Đức Phật Thích Ca—Name of a famous ancient pagoda, located in the First district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was called Đa Kao pagoda by the French. It was built by Liu-Ming, a Chinese Patriarch in the late nineteenth century and inaugurated in 1906. In the Main Hall, there are statues of the Emperor of Jade and other Deities as those of Cloud, Wind, Rain, Thunder, Lightning, and the Four Kings of Heaven. The statue of Sakyamuni Buddha is worshipped in the middle of the Main Hall.
phước hậu
Hòa Thượng Phước Hậu, một trong những đại đệ tử của Hòa Thượng Tâm Truyền. Ngài là một Thiền sư lại có khiếu làm thơ. Tiếc thay, qua bao biến cố, thơ văn của ngài bị thất lạc, chỉ còn lại bài thơ sau đây, di ngôn thấm nhuần đạo vị của ngài—Most Venerable Phước Hậu, one of the most outstanding disciples of Most Venerable Tâm Truyền (Tâm Truyền was a disciple of Diệu Giác; Diệu Giác was a disicple of Nhất Định). He was both a Zen master and a poet. It was regrettable that now, after so many changes, all that remains of his works is merely a poem, as his last words imbued with Buddhist thoughts: Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học hành không thiếu cũng không dư, Năm nay tính lại chừng quên hết Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ! Buddhist sutras are not few. My learning cannot be said to be satisfactory or poor. I have forgotten all, it seems, now looking back. There only remains in my heart the word “NHƯ.”
phước khánh
Chúc phúc cho ai—Blessedness and felicity, or blessed felicity—To congratulate on good fortune.
phước lâm
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thành phồ Vũng Tàu, Nam Việt Nam. Chùa được xây trên 200 năm và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu cuối cùng là vào năm 1956. Trong chánh điện có tượng Thần Vishnu. Theo tài liệu của tỉnh Bà Rịa thì tượng làm bằng đá, vào khoảng thế kỷ thứ bảy, di tích của cuối thời Phù Nam đầu thời Chân Lạp—Name of an ancient pagoda, located in Vũng Tàu City, South Vietnam. It was built 200 years ago, and has been rebuilt many times. The last time it was rebuilt was in 1956. There is a statue of Vishnu in the middle of the Main Hall. According to the records from Vũng Tàu province, the statue was made of stone, built in the seventh century. It is a vestige of the late Phù Nam period and the early Chân Lạp one.
phước lưu
Tên của một ngôi chùa cổ nằm trên quốc lộ 22, thị trấn Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên từ lâu lắm. Lúc đầu chùa chỉ là một mái thảo am, gọi là Am Bà Đồng, về sau được nới rộng ra nên gọi là Chùa Bà Đồng vào năm 1900. Tổ Trùng Lực, thuộc phái Liễu Quán đời thứ 42 đã xây lại ngôi chùa và đặt tên Phước Lưu. Kể từ đó đến nay đã kế tục năm vị trụ trì và được trùng tu nhiều lần (vào những năm 1945, 1946, 1968). Chùa Phước Lưu nổi tiếng vì ảnh hưởng của nó trong việc mở rộng phái Liễu Quán (Lâm Tế) trong tỉnh Tây Ninh. Trong Chánh điện có tượng Di Đà Tam Tôn bằng gốm thếp vàng, được mang đến từ Trung Quốc. Mỗi bên chánh điện có tượng các vị La Hán, mỗi tượng cao 35 phân, rộng 20 phân khoảng giữa hai đầu gối. Lại có những tượng của Thập điện Diêm Vương hai bên chánh điện, mỗi tượng cao 1 mét và rộng 50 phân—Name of an ancient pagoda, located alongside of Highway 22, Trảng Bàng town, Tây Ninh province, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago. It was previously called Bà Đồng Thatched Hut and later, Bà Đồng pagoda due to the enlargement in 1900. Patriarch Trùng Lực of the forty-second generation of the Liễu Quán Sect had the pagoda rebuilt and renamed it Phước Lưu. It was in turn headed by five successive Masters and restored many times (1945, 1946, 1968). Phước Lưu Pagoda is famous for its influence on developing the Lin-Chi followers of the Liễu Quán Sect in Tây Ninh province. In the Main Hall stand the statues of the Three Amitabha Noble Ones of ceramincs, gilded and carried from China. On each side of the Main Hall, each Arahat statue, 0.35 meter high, 0.20 meter wide between the two knees, is worshipped on the altar. There also statues of the ten Kings of the Hells, worshipped on the altar of both sides of the Main Hall, each statue is 1 meter high, 0.50 meter wide between the two knees.
phước lộc
Hạnh phúc và tài bây giờ và về sau nầy—Happiness and emolument, good fortune here or hereafter.
phước lực
Power of accumulating merits.
phước nghiệp
Puṇya-karma (S), Good karma, Puakamma (P)Nghiệp lành.
; Hành nghiệp do phúc đức mà sanh ra, một trong tam phước—Happy karma, or the karma of blessedness, one of the three sources of felicity. ** For more information, please see Tam Phước in Vietnamese-English Section.
Phước nghiệp 福業
[ja] フクゴウ fukugō ||| Meritorious activity. Actions or practices that induce positive states in the future. => Công đức, thiện nghiệp. Những việc làm hoặc sự tu tập sẽ đem lại những trạng thái tốt đẹp trong tương lai.
phước nhân
See Phúc Nhân.
Phước Quang tự 福先寺
[ja] フクセンジ Fukusen ji ||| The Fuxian si; a temple founded by Empress Wu at her mother's residence in Loyang; the name was changed from Taiyuan si 太原寺 in 691; briefly the site of a Wujinzang 無盡藏 of the Sanjie jiao 三階教 movement. => j: Fukusen ji; c: Fuxian si. Ngôi chùa do Lương Võ Đế lập cho mẹ ở tại Lạc Dương (Loyang); năm 691 chùa được đổi tên là Thái Nguyên Tự (c: Taiyuan si 太原寺), một thời là địa điểm của phong trào Vô tận tạng (Wujinzang 無盡藏 ) thuộc Tam giai giáo (Sanjie jiao 三階教) hoạt động.
phước quán
Phước báo và quán sát—Blessedness and insight—See Phước Trí.
phước quả
Quả báo của phước đức—The reward of blessedness.
phước sanh
Sanh vào chỗ phước đức—Born of or to happiness.
phước sanh thiên
Puṇyaprasava (S)Tên một cõi trời của những người tu phước đức thù thắng. Một trong 3 cõi thuộc Tứ thiền thiên: Vô vân thiên, Phước sanh thiên, Quảng quả thiên.
; Punyaparsavas (skt)—Cõi trời Phạm Thiên thứ mười trong sơ thiền thiên—The tenth brahmaloka, the first region of the fourth dhyana. ** For more information, please see Tứ Thiền Thiên (1).
Phước sinh thiên 福生天
[ja]フクショウテン fukushō ten ||| The heaven of merit production (puṇya-prasavāḥ), the second of the eight heavens included in the fourth dhyāna heaven 四禪天. listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời nơi được sinh ra do tu tập các thiện nghiệp, là cõi trời thứ nhì trong tám cõi trời thuộc Tứ thiền thiên. Được xem là một trong 17 cõi trời thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên色界十七天).
phước thiện
Benevolence—Charity.
phước trí
Phúc đức và trí huệ, hai loại trang nghiêm—Blessedness and wisdom, the two virtues which adorn—See Nhị Trang Nghiêm.
Phước trí 福智
[ja] フクチ fukuchi ||| Virtue 福徳 and wisdom 智慧, also written 福慧 (puṇya-jñāna). The two vital essentials 二資糧 for Buddhist practice and enlightenment. => Phước đức và trí huệ, cũng gọi là Phước huệ 福慧 (s: puṇya-jñāna). Là hai thứ Tư lương (Nhị tư lương二資糧) đối với việc tu tập và giác ngộ trong đạo Phật.
phước tuệ
See Phước Trí.
phước túc
Một trong nhị túc, chân thứ nhất bao gồm năm Ba La Mật đầu, và chân thứ hai còn gọi là “trí túc,” gồm Ba La Mật thứ sáu—The feet of blessedness, one consisting of the first five paramitas, the other being the sixth paramita, i.e. wisdom; happiness—See Lục Độ Ba La Mật (1) (2) (3) (4) (5).
phước tướng
Marks of merits.
phước tướng pháp thân
Phước báo hình tướng nơi pháp thân Phật, đối lại với trí huệ của Phật—The Buddha-dharmakaya as blessedness, in contrast with it as wisdom.
phước tường
Tên một ngôi chùa, tọa lạc trong thôn Tăng Phú, xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào giữa thế kỷ thứ 18 và trùng tu vào năm 1834 dưới triều vua Minh Mạng. Trong chánh điện có nhiều tượng, trong đó có một tượng hộ pháp, và tượng Tổ Diệu Minh tạc vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19, bằng gỗ quý, thếp vàng sơn đỏ—Name of a temple located in Tăng Phú hamlet, Tăng Nhơn Phú village, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. The temple was built in the middle of the eighteenth century and rebuilt in 1834, under King Minh Mạng's reign. In the Main Hall, there are many statues, including a statue of Dharma Guardians, and the statue of Patriarch Diệu Minh, in the middle of the nineteenth century, it was made of precious wood, gilded, and painted in red.
Phước tụ 福聚
[ja] フクシュ fukushu ||| Accumulated merit; accumulated blessings 〔法華經 T 262.9.58b2〕 => (s: puṇya-skandha). Tích luỹ công đức; chứa nhóm phước đức.
Phước Xương Tự
(福昌寺, Fukushō-ji): ngôi chùa của Tào Động Tông, hiệu là Sĩ Phong Sơn (士峰山); hiện tọa lạc tại Kamisato-mura (上里村), Kodama-gun (兒玉郡), Saitama-ken (埼玉縣). Chùa này nguyên sơ nằm gần bên ngôi mộ của Đới Đao Nghĩa Hiền (帶刀義賢), tên là Đới Đao Sơn Sĩ Phong Viện (帶刀山士峰院); nhưng vào năm 1782 (Thiên Chánh [天正] 10) thì bị binh hỏa, nên được tái kiến lại và lấy tên là Phước Xương Tự cho đến ngày nay. Vị Tổ thời Trung Hưng của chùa là Xuyên Điền Chuẩn Nhân (川田隼人).
Phước điền
(s: puṇya-kṣetra, p: puñña-khetta, 福田): ruộng phước, tức ruộng có thể sanh phước đức. Người nào tôn kính Phật, trọng tăng, thương yêu cha mẹ, người nghèo khổ, có thể có được phước đức giống như người nông dân cày ruộng, có thể thu hoạch, cho nên lấy ruộng làm ví dụ. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 15, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh (大方便佛報恩經) quyển 3, v.v., đức Phật là ruộng phước lớn, tối thắng; cha mẹ là ruộng phước tối thắng trong Ba Cõi. Lại theo Phẩm Cúng Dường Tam Bảo (供養三寶品) của Ưu Bà Tắc Giới Kinh (優婆塞戒經) quyển 3, Tượng Pháp Quyết Nghi Kinh (像法決疑經), Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 12, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記) quyển 8, v.v., cung kính Phật, Pháp, Tăng, v.v., được gọi là Kính Điền (敬田, hay Cung Kính Phước Điền [恭敬福田], Công Đức Phước Điền [功德福田]); báo đáp thâm ân của cha mẹ, thầy dạy là Ân Điền (恩田, hay Báo Ân Phước Điền [報恩福田]); thương xót người nghèo khổ, bệnh tật là Bi Điền (悲田, hay Lân Mẫn Phước Điền [憐愍福田], Bần Cùng Phước Điền [貧窮福田]). Nói chung, có nhiều loại phước điền khác nhau, nhưng căn bản nhất là lấy Phật và đệ tử Ngài làm phước điền. Trong Thiền môn, y Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya; p: kāsāya, kāsāva, 袈裟) của chư tăng mặc hằng ngày được xem là Phước Điền Y (福田衣); vì vậy, khi đắp y Ca Sa, có bài kệ đắp y được thâu lục trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, Taishō No. 1116) rằng: “Thiện tai giải thoát phục, vô thượng Phước Điền Y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế bất xả ly. Án, tất đà da tá ha (善哉解脫服、無上福田衣、我今頂戴受、世世不捨離、唵、悉陀耶莎訶, lành thay áo giải thoát, vô thượng Áo Phước Điền, con nay đội đầu nhận, đời đời không xả rời. Án, tất đà da tá ha).” Hay như trong bài Hóa Trai Cúng Sớ (化齋供疏) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 14 cũng có câu: “Thí tài thí thực tăng ích phước điền, cúng Phật cúng tăng tài bồi thiện quả, dụng nghiêm dược thạch, phổ hiến nhân thiên, kết thử vô thượng duyên, tu hoàn kiến tại Phật (施財施食增益福田、供佛供僧栽培善果、用嚴藥石、普獻人天、結此無上緣、須還見在佛, cho tiền cho thức ăn tăng thêm ruộng phước, cúng Phật cúng tăng vun bổi quả tốt, dùng cháo chay thanh tịnh, dâng cúng khắp trời người, kết duyên vô thượng này, để cuối cùng được gặp Phật).”
phước điền
người có phước đức xứng đáng nhận sự cúng dường của người khác, tạo điều kiện cho người cúng dường được có phước đức nên gọi là phước điền (ruộng phước), nghĩa là thửa ruộng để mọi người gieo trồng phước đức.
; (I) Nghĩa của Phước Điền—The meanings of Field of Blessedness: Ruộng cho người gieo trồng phước báo. Người xứng đáng cho ta cúng dường. Giống như thửa ruộng gieo mùa, người ta sẽ gặt thiện nghiệp nếu người ấy biết vun trồng hay cúng dường cho người xứng đáng. Theo Phật giáo thì Phật, Bồ tát, A La Hán, và tất cả chúng sanh, dù bạn hay thù, đều là những ruộng phước đức cho ta gieo trồng phước đức và công đức—The field of blessedness or the field for cultivation of happiness, meritorious or other deeds, i.e. any sphere of kindness, charity, or virtue. Someone who is worthy of offerings. Just as a field can yield crops, so people will obtain blessed karmic results if they make offerings to one who deserves them. According to Buddhism, Buddhas, Bodhisattvas, Arhats and all sentient beings, whether friends or foes, are fields of merits for the cultivator because they provide him with an opportunity to cultivate merits and virtues (II) Phân loại Phước Điền—Categories of Field of blessedness: (A) Nhị Phước điền—There are two kinds of felicity: 1) Hữu lậu phước điền (giúp con người cải thiện điều kiện sống trong kiếp lai sanh): Worldly field for cultivating of happiness which helps the cultivator to have better living conditions in the next life. a. Bi điền: Compassion fields—Chăm sóc cho người bịnh đáng thương hay người nghèo khó—Tender the sick, the pitiable, or poor and needy as the field or opportunity for charity. b. Kính điền: Revverence fields—Hộ trợ chư Tăng Ni. Kính trọng Phật và Thánh chúng—Support the monks and the nuns. The field of religion and reverence of Buddhas, the saints and the priesthood. c. Ân điền: Gratitude fields. • Gieo phước nơi cha mẹ: Cultivate blessedness in parents—Be dutiful to one's parents. • Gieo phước bằng cách đắp đường, đào giếng, xây cầu, bồi lộ: Cultivate lessedness in making roads and wells, canels and bridges; repair dangerous roads. 2) Vô lậu phước điền: Niết bàn là ruộng phước vĩnh cửu—Nirvana (out of passion) field for cultivating of an eternal happiness. (B) Tam Phước điền—Three sources of felicity—See Tam Phước. (C) Tứ Phước Điền—Four fields of felicity—See Tứ Phước Điền. (D) Bát Phước Điền: Eight fields for cultivating blessedness—see Bát Phúc Điền.
phước điền bồ tát
Puṇyakṣetra (S)Tên một vị Bồ tát.
phước điền tự
Còn gọi là chùa Hang, tọa lạc tại núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh Châu Đốc, Nam Việt Nam. Chùa Hang là một hang đá thiên nhiên. Chánh điện và nhà hậu tổ do bà Thợ dựng lên từ năm 1840 đến 1845 bằng tre và lá đơn sơ. Đến năm 1885, ông Phán Thông ở Châu Đốc cùng nhân dân trong vùng dựng lại chùa. Năm 1946, Hòa Thượng Nguyễn Văn Luận đứng ra trùng tu ngôi chùa như hiện nay. Chùa Hang là một quần thể di tích có kiến trúc đẹp, nổi bậc nhất là các hang đá thiên nhiên với nhiều huyền thoại hấp dẫn khách thập phương—Name of a temple located in Mount Sam, Châu Đốc town, Châu Đốc province, South Vietnam. Hang Temple is a natural cave where the Main Hall and the Patriarch Hall were simply built by Ms. Thợ from 1840 to 1845. In 1885, a government clerk named Thông and the local people rebuilt the temple. In 1946, Most Venerable Nguyễn Văn Luận rebuilt it again. Hang temple is a beautiful complex of architecture. There one can find many natural caverns relating to legends and myths attractive to the pilgrims.
phước điền y
Y áo của ruộng phước, hay y áo của chư Tăng Ni—The robe of a field of happiness (the garment of the field of blessing, or the monk's robe).
Phước điền 福田
[ja] フクデン fukuden ||| "Field of blessings;" "field of merit." (1) A reference to the three treasures: the Buddha, the sangha and dharma; also, one's parents and the poverty-stricken. These are the objects toward which one should direct his/her religious practice. (2) The place where people nurture and develop their meritorious virtues. (3) The practices which lead to enlightenment. => 1. Chỉ cho Tam bảo: Phật, pháp, tăng; cha mẹ và những người nghèo nàn. Đây là những đối tượng mà người tu tập phải hướng đến. 2. Nơi mà mọi Phật tử gieo trồng và nuôi dưỡng lớn mạnh công đức. 3. Công hạnh tu tập hướng đến giác ngộ.
phước địa
See Phúc Địa.
phước đức
Puṇya (S), Merit Pua (P)PhúcNhà tu hành có ba cách lập phước: - Bố thí: cúng dường và nuôi dưỡng cha mẹ - Trì giới: giữ ngũ giới hay bát giới của hàng tại gia hay Thập giới và Cụ túc giới của hàng xuất gia. - Tu định: đọc tụng kinh điển, ngồi thiền hay niệm Phật. Người tu hạnh Bố tát muốn mau thành Phật nên tu cả phước và huệ. Tu phước là làm công đức tế độ chúng sanh. Tu huệ là dùng thiền định mà diệt trừ phiền não, phá tan vô minh.
; Punya (skt)—Phước đức do quả báo thiện nghiệp mà có. Phước đức bao gồm tài sản và hạnh phước của cõi nhân thiên, nên chỉ là tạm bợ và vẫn chịu luân hồi sanh tử—Blessings and virtues—Merit—Blessed virtues—All good deeds, or the blessing arising from good deeds. The karmic result of unselfish action either mental or physical. The blessing wealth, intelligence of human beings and celestial realms; therefore, they are temporary and subject to birth and death.
phước đức công đức không thể nghĩ bàn
Incomparable merit and virtue.
phước đức môn
Cửa phước đức, ba la mật thứ năm trong sáu ba la mật—The gate of blessedness and virtue, the first five of the six paramitas.
phước đức thân
Thân Phật trong niềm hỷ lạc tột cùng của phước đức tam muội—The Buddhakaya, or body of Buddha, in the enjoyment of the highest samadhi bliss.
phước đức trang nghiêm
Tu thiện hạnh phúc đức mà đắc được Phật quả trang nghiêm—The adornment of blessedness, i.e. of good deeds
phước đức tư lương
Những chất dinh dưỡng vun trồng phước đức, như bố thí—The nutriment of blessedness, i.e. deeds of charity.
phước đức và công đức
Merit and virtue.
Phước đức 福德
[ja] フクトク fukutoku ||| Beneficial practices; meritorious virtues. All kinds of good actions and the merit derived from them. The first five of the pāramitās, as opposed to the sixth pāramitā--wisdom. Along with wisdom one of the two provisions for practice 二資糧. 〔法華經 T 262.9.07c17〕 => Thiện hạnh; công đức. Mọi thiện nghiệp và công đức đều xuất phát từ đây. Là năm món đầu tiên trong Lục độ ba-la-mật, khác với điều thứ 6 là Trí huệ ba-la-mật. Cùng với Trí huệ智慧, là một trong hai thứ Tư lương (Nhị tư lương 二資糧)
Phước 福
[ja] フク fuku ||| (1) Fortune, blessing; meritorious virtues, goodness; meritorious behavior. (2) The good rewards that result from practicing the dharma. The fruits of good actions (Skt. puṇya; Pali puñña). (3) The good karma experienced in the desire realm. (4) Charity, giving. => 1. Sự may mắn, sự giàu có, thịnh vượng, phước lành; công đức; lòng tốt, việc lành. 2. Quả báo tốt đẹp do kết quả tu tập Phật pháp. Quả báo do thiện nghiệp (Skt. puṇya; Pali puñña). 3. Thiện nghiệp có được trong Dục giới. 4. Lòng nhân đức, lòng bao dung, lòng từ thiện; sự ban tặng, sự bố thí.
phướn
Dhvaja, Patàkà, Ketu (S). Flag, banner. Also tràng phan, cờ, phan.
; Banner—Streamer Phướn Động, Gió Động Hay Tâm Động? The flag moving, the wind moving, or our minds moving?—Lục tổ Huệ Năng đã khẳng định với các vị sư đang cải cọ trước tu viện Pháp Tâm rằng: “Chẳng phải phướn động, cũng chẳng phải gió động, mà là tâm của mấy ông động.”—Several monks was arguing back and forth about the flag and the wind without reaching the truth in front of the Fa Hsin monastery in Kuang Chou. The sixth patriarch, Hui-Neng, said to them: “It is not the wind moving, neither the flag moving. It is your own minds that are moving."
phướng
Pātākā (S)Phan.
Phường
坊; C: fáng; J: bō;|Có các nghĩa sau: 1. Trú xứ của tăng sĩ; 2. Một khu nhỏ trong thành phố; vùng lân cận; khu phố; 3. Phân xưởng, cửa hàng.
phường
2833指僧侶之住房或區院。十誦律卷三十四(大二三‧二四九下):「諸比丘從憍薩羅國向舍衛國,道中過一空僧坊中宿;諸比丘明日入村乞食,諸居士問:『汝何處宿?』答言:『僧坊中宿。』『是何房舍中宿?』答言:『某房中。』居士言:『此是我房,何不遣使語我等?』」依此,坊指僧坊,乃由眾多房舍所集合而成者。然「坊」原義作「堤防」,後轉謂城邑之一區段為坊;此或受梵語 vihāra(毘訶羅)翻譯之影響,蓋毘訶羅有住處、遊行處之義,後於外圍繞垣牆自成一區域,遂稱為僧坊或寶坊。後世日本將房、坊混用。〔大方等大集經卷二十三、十誦律卷三十八、卷三十九、釋氏要覽卷上、翻譯名義集卷二十、慧琳音義卷二十二僧坊條〕
; (坊) Chỉ cho phòng xá hoặc khu cư trú của chúng tăng. Luật Thập tụng quyển 34 (Đại 23, 249 hạ) nói: Các tỉ khưu từ nước Kiêu tát la đến nước Xá vệ, giữa đường ngủ đêm trong 1 tăng phường bỏ không, sáng hôm sau, các sư vào thôn khất thực, các cư sĩ hỏi: Đêm qua, các thầy nghỉ ở đâu? Đáp: Nghỉ trong tăng phường. Hỏi: Nghỉ trong phòng nào? Đáp: Trong phòng Ất. Cư sĩ đáp: Phòng ấy là phòng của tôi, sao không cho người đến báo cho tôi biết. Theo đó thì Phường là chỉ cho Tăng phường do nhiều phòng xá tập hợp mà thành. Nhưng phường nghĩa gốc là cái đê ngăn nước, sau được chuyển dụng để chỉ 1 khu vực trong thành ấp là Phường, có lẽ đã chịu ảnh hưởng của chữ Phạm Vihàra (Tì ha ra) nghĩa là chỗ cư trú, chỗ du hành. Sau, Vihàra được bao quanh bởi 1 lớp tường rào thành 1 khu vực, bèn được gọi là Tăng phường hoặc Bảo phường. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.23; luật Thập tụng Q.38, 39; Thích thị yếu lãm Q.thượng;Phiên dịch danh nghĩa tập Q.20; điều Tăng phường trong Tuệ lâm âm nghĩa Q.22].
phường chủ
2833日本佛教用語。一坊之主。又作房主。亦即寺坊之主僧、住持。其後轉為對一般僧侶之稱呼,今則用為對僧侶之貶稱。
; Bōzu (S).
; (坊主) Cũng gọi Phòng chủ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vị tăng đứng đầu 1 Tăng phường hoặc trụ trì 1 chùa viện. Về sau, Phường chủ được dùng để chỉ chung cho chúng tăng. Nhưng nay thì nó đã thành từ ngữ chế diễu giới tăng lữ.
Phường 坊
[ja] ボウ bō ||| (1) A monk or priest's residence. (2) A subdivision of a city; a neighborhood, a ward. (3) A workshop; a store. => Có các nghĩa sau: 1. Trú xứ của tăng sĩ. 2. Một khu nhỏ trong thành phố; vùng lân cận; khu phố. 3. Phân xưởng, cửa hàng
phược
Xem Hệ phược.
phược (phọc)
Bandha (S). Tie, attachment, bind, bond; another name for klesa-afflictions, the passions, etc.
phược nhật la kiện đà
Xem Kim Cang Đồ Hương Bồ tát.
phược đà
Baddha (skt)—Hệ phược—Fettered—Bound—Tied—Fixed.
Phược 嚩
[ja] バ ba ||| (1) Transcription of the sound of va. (2) In esoteric Buddhism, this sound represents water among the five elements. The full five elements are represented by the characters 佉訶囉嚩阿. => Có 2 nghĩa: 1.Phiên âm của âm va. 2. Trong Mật giáo Tây Tạng, âm nầy biểu tượng cho nước trong ngũ đại. Năm chữ biểu tượng cho Ngũ đại là Khư ha la phược a (佉訶囉嚩阿).
Phược 縛
[ja] バク baku ||| (1) Arrest, bind, tie, fasten. (2) Binding, bonds, fetters; therefore, affliction or defilement, often synonymous with 繫. (bandhana, anubaddha, pratibaddha, baddha, bandhu, yama, niyama). => 1. Giữ lại, trói buộc, cột lại, buột chặt. 2. Sự ràng buộc, mối ràng buộc, sự giam cầm; do vậy, phiền não hoặc nhiễm ô thường đồng nghĩa với Hệ 繫 (s: bandhana, anubaddha, pratibaddha, baddha, bandhu, yama, niyama).
Phược-cử-la 縛矩羅
[ja] バクラ Bakura ||| Bakkula; see 薄拘羅. => Bakura (j); Bakkula (s); Xem Bạc-câu-la 薄拘羅.
Phược-nhật-la 嚩日羅
[ja] バザラ bazara ||| A transcription of the Sanskrit vajra. See Sanskrit vajra. See 金剛. => Phiên âm chữ vajra từ tiếng Sanskrit. Xem Kim cương 金剛
Phược-nhật-la 縛日羅
[ja] バジラ bajira ||| Transcription of the Sanskrit vajra 金剛杵. => Phiên âm chữ Kim cương chử (s: vajra 金剛杵) từ tiếng Sanskrit.
phạ nhật la mẫu già tam muội da tát đát phạ
Xem Đại An Lạc Bất Không Bồ tát.
phạ sai ni mã lạp cách
(phạ sai ni mã lạp cách) Tạng: Pa-tshab Ĩi-ma-grags. Cũng gọi Phiên dịch quan (Tạng: Spatshab lo-tsà-ba). Tên 1 học giả thuộc phái Trung quán, người vùng Bang do nhĩ (Tạng: Fphan-yul) phía bắc Lạp tát (Tạng: Lhasa), Tây tạng. Ông tham học kinh luận khắp nơi trong suốt 23 năm. Theo Thanh sách (Tạng: Deb-ther síon-po), ông là người cùng thời đại với ông Long yết lỗ (Tạng: Khrom-bsher, 1100-1170) và hoạt động tích cực ở khoảng tiền bán thế kỉ XII. Ông chủ yếu phiên dịch các bộ luận thuộc hệ thống Trung quán và phần nhiều ông dịch các tác phẩm của ngài Nguyệt xứng (Phạm: Candrakìrti). Ông là người có công trong việc truyền bá rộng rãi học thuyết của hệ thống Trung quán. Các dịch phẩm của ông có: Tịnh minh cú ( Phạm: Mùlamadhyamakavftti Prasannapadà-nàma), Nhập trung luận (Phạm: Madhyamakàvatàra) của ngài Nguyệt xứng, luận Lục thập tụng như lí (Phạm:Yuktiwawtikà) và Bí mật tập hội ( Phạm: Guhyasamàja) của ngài Long thụ. [X. Deb-ther síon-po (The Blue Annals)].
Phạm
梵; C: fàn; J: bon; |1. Phiên âm chữ Brahman trong tiếng Phạn. Là nguyên lí tối thượng, nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu trong tín ngưỡng Vệ-đà. Về sau, Brahman được nhân cách hoá trở thành một vị thần, và cuối cùng trở thành vị thần hộ pháp trong Phật giáo; 2. Phiên âm chữ brāhmaṇa trong tiếng Phạn, là một hiền nhân; 3. Thanh tịnh, phạm hạnh, thần thánh; 3. Tiếng Phạn.
phạm
4626梵名 Brahman。音譯梵摩、婆羅賀摩、勃
; To offend against, to break (as a law)
; 1) Phạm Thiên: Brahman (skt)—Supreme Being regarded as impersonal. a) Thanh Tịnh: Celibate and pure. b) Ly Dục: Giving up desires. 2) Phạm Tội: To violate—To commit—To offend against—To break the law. 3) Phạm trù: Khuôn phép—Pattern—Rule—Method.
; (梵) Phạm: Brahman. Hán âm: Phạm ma, Bà la hạ ma, Bột át ma, Bạt lạm ma. Hán dịch: Tịch tĩnh, Thanh tịnh, Li dục. I. Phạm. Nguyên lí tối cao của tư tưởng Bà la môn giáo chính thống ở Ấn độ. Cứ theo Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) thì Kì đảo chủ (Phạm: Bfhaspati) là thần tối thượng, sáng tạo vũ trụ, là nguyên lí sinh thành muôn vật. Lại theo thần thoại về sáng tạo trong Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa) thì Kì đảo chủ là nguyên lí căn bản hình thành vạn hữu, rồi từ đó, dung hợp các nguyên lí trên mà diễn biến thành Sinh chủ (Phạm: Prajàpati) được sùng bái là thần cách căn bản. Lúc đầu, Phạm là chỉ cho các bài ca tán tụng, những lời tế, lời chú... đồng thời được xem là bản chất của Phạm có năng lực thần bí. Từ thời đại Phệ đà đến Phạm thư là thời đại tế tự vạn năng và từ đó trở về sau, Phạm trở thành nguyên lí sáng tạo, nguồn gốc của thế giới, được coi là 1 vật sáng tạo của Sinh chủ. Từ đó, Sinh chủ và Phạm được coi là đồng nhất. Về sau, Sinh chủ mất dần sắc thái nhân cách thần, dần dần chỉ còn đơn thuần là nguyên lí thế giới. Đến khi sự sùng bái Phạm hưng khởi thì Phạm thay thế Sinh chủ làm nguyên lí thế giới vạn hữu, còn Sinh chủ thì được coi là nguyên lí trung tính vốn có tồn tại nơi Phạm và địa vị ở dưới Phạm (Phạm: Brahman svayaôbhù), rồi lấy Phạm làm chủ thể mà lập thuyết sáng tạo vũ trụ, lại tiến thêm bước nữa chủ trương Phạm và Ngã (Phạm: Àtman) là một. Đây là quan niệm trung tâm ở thời đại Áo nghĩa thư (Phạm:Upaniwad) về triết học Phiếm thần luận, là tư tưởng căn bản của tông giáo và triết học Ấn độ. (xt. Bà La Môn Giáo, Phạm Ngã Nhất Như). II. Phạm. Phạm có nghĩa là thanh tịnh, làm những việc thanh tịnh, đặc biệt là việc dứt tâm dâm dục, gọi là Phạm hạnh; người hành dâm dục gọi là Phi phạm hạnh. Mười giới thanh tịnh, gọi là Phạm tịnh thập giới. Âm thanh mầu nhiệm của Phật, Bồ tát, gọi là Phạm âm thanh, Phạm thanh, Phạm âm; tiếng vang của Phạm âm gọi là Phạm hưởng. Tướng Phạm âm là 1 trong 32 tướng của đức Phật. Pháp thân thanh tịnh của Phật gọi là Phạm thân. Phật đường già lam gọi là Phạm sát, Phạm vũ, Phạm các; quả chuông treo của chùa viện gọi là Phạm chung. Phật học cũng gọi Phạm học, Ấn độ cũng gọi là Phạm độ. Phạm hạnh tiên sinh là danh xưng khác của vị tăng; Phạm nghi chỉ cho uy nghi của chư tăng. III. Phạm. Chỉ cho tiếng Phạm. Chẳng hạn như sách vở được viết bằng tiếng Phạm, gọi là Phạm bản; Phạm giáp chỉ cho kinh điển tiếng Phạm được viết trên lá bối. IV. Phạm. Gọi đủ: Phạm thiên. Các vị trời ở cõi Sắc lìa dâm dục, được thanh tịnh, gọi chung là Phạm thiên. Luận Đại trí độ quyển 35 (Đại 25, 315 hạ) nói: Sắc giới đều gọi là Phạm, (...) Cõi Phạm là cõi đầu tiên của Sắc giới.
phạm (ma) thiên
Brahma-deva (S) The Brahmà, the Creator, the ruler of this world.
phạm (phạn)
Brahman (S) Sacred learning, the religious life, the Supreme Being regarded as impersonal, the Absolute, the priestly or sacerdotal class. Noble, pure.
phạm (phạn) ngữ
Brahma language, Sanskrit, the Sanskrit alphabet; "the language of India"; supposed to come from Brahmà.
Phạm bái
梵唄; C: fànbài; J: bonbai; |Bài hát hay kệ tán ca ngợi đức hạnh của đức Phật.
phạm bái
4634梵語 bhāṣā。以曲調誦經,讚詠、歌頌佛德。又作聲唄、讚唄、經唄、梵曲、梵放、聲明。略稱梵。唄,全稱唄匿,又作婆師、婆陟,即讚歎、止斷之意。因依梵土(印度)曲譜詠唱,故稱為梵唄。記錄梵唄之書冊,稱為唄策。又清晨唱偈、唸經之聲音,稱為曉梵。密教之梵唄,則特稱密唄。 釋尊雖禁止以婆羅門法之聲調讀誦經文,然因聲唄有醫治身心之疲勞及強化記憶之作用,故允許唱誦。佛陀入滅後,梵唄普遍流行。 佛教東傳,翻譯經文者眾,傳誦聲唄者寡,因梵音多複音,漢語單奇,若用梵音詠漢語則聲繁偈迫,以漢曲詠梵文則韻短詞長。故以漢曲歌詠梵文,或梵腔詠漢語均不易。我國讚唄起源,相傳為曹魏陳思王曹植遊魚山(山東省東阿縣境),聞空中梵天之讚,深有體會,摹其音節,寫為梵唄,撰文制音,遂刪治太子瑞應本起經,作「太子頌」,又著菩薩睒子頌,此乃合漢曲製梵唄之始。吳國之支謙亦依無量壽中本起經製「讚菩薩連句梵唄」三闋,今皆亡軼。其後吳之康僧會依般泥洹經卷上,造「敬謁法王來,乃至名顯若雪山」一闋,世稱「泥洹唄」。其後,以印度之聲律讀誦漢譯之經文,始廣為流行。梁高僧傳卷十三列有經師一編,專述轉讀及梵唄,並列有帛法橋以下十一名最擅於讚唄者。東晉以後,梵唄更盛行於南地,南齊竟陵王蕭子良推行梵唄最熱心,相關著述甚多。有關當時梵唄之種類,詳載於出三藏記集卷十二法苑雜緣原始集目錄中。至唐代,梵唄漸盛於民間,遂立梵唄為譯經道場九種職位之一。 梵唄主要用於三方面:(一)講經儀式,一般行於講經前後。(二)六時行道,即後世之朝暮課誦。(三)道場懺法,旨在化導俗眾,其儀式尤重歌詠讚歎。梵唄流傳以後,音調因地域而有參差,主要為南北之分。梵音所以有南北二體,係由於授受淵源不同,亦各有特長。唐代以前流行之梵唄有:(一)如來唄,又作如來梵、行香梵(行香讚佛時所唱),即出自勝鬘經之二偈(大一二‧二一七上):「如來妙色身,世間無與等;無比不思議,是故今敬禮。如來色無盡,智慧亦復然;一切法常住,是故我歸依。」(二)云何唄,又稱云何梵,即出自南本涅槃經卷三之二偈(大一二‧六一九中):「云何得長壽、金剛不壞身?復以何因緣,得大堅固力?云何於此經,究竟到彼岸?願佛開微密,廣為眾生說。」(三)處世唄,又稱處世梵,即出自超日明經卷上之偈(大一五‧五三二上):「處世間如虛空,若蓮花不著水;心清淨超於彼,稽首禮無上聖。」(四)菩薩本行經讚佛偈「天上天下無如佛」。又梵唄普通分初唄、中唄、後唄三節。如來唄前一偈「如來妙色身」偈文,唱於一般法事之初,稱為初唄。若講經法會,則以云何唄第二偈「云何於此經」偈文為初唄,又稱「開經梵」。如來唄後偈「如來色無盡」偈文及「天上天下無如佛」讚佛偈,係法事中間所唱,稱為中唄。處世唄用於法事後,稱為後唄。此等梵唄之偈文,稱為梵音偈。云何唄及處世唄至元時猶見流行,但近世講經,已改唱鐘聲偈、回向偈代替云何唄、處世唄。 一般認為學習讚唄有如下功德:能知佛德深遠、體制文之次第、令舌根清淨、得胸藏開通、處眾不惶、長命無病。故名山大剎於結夏安居時,以習唱讚頌為日課,稱為學唱念。佛寺讚唄一科稱為唱念。唱念內容除「水陸道場儀軌」、「瑜伽焰口」等屬於應赴佛事外,古德讚頌多於課誦、祝延等舉唱,有六句讚及八句讚等。(一)六句讚,「香讚」即為六句讚,有數種,主要代表作品為「爐香讚」;北方另有一種讚譜稱為「迓古令」,讚詞共十條,又稱「十供養讚」。此等皆於法事開始時所唱者,以啟請諸佛。(二)八句讚,係由八句讚詞構成,多於誦經之後,法事中間唱之,又稱大讚。如三寶讚、彌陀佛讚、藥師佛讚。唱念方法之記譜法,只用點板,以鐺鉿等敲唱。其音量大小、音階高低及旋律過門等,均依口授。 梵唄傳入日本,始於奈良時代,為四法要之一,平安朝時,真言宗系之聲明,與天台宗系之聲明,二系統並行。前者有進流;後者則有大原流。〔北本涅槃經卷三壽命品、根本薩婆多部律攝卷九、四分律刪繁補闕行事鈔卷上四、宋高僧傳卷三、卷二十五、法苑珠林卷三十六唄贊篇、敕修百丈清規卷五、南海寄歸內法傳卷四、釋氏要覽卷上,開元釋教錄卷六勒那摩提傳、入唐求法巡禮行記卷二〕
; Bhāṣā (S)Ngữ, TiếngDùng khúc điệu để tụng kinh, tán thán công đức Phật.
; (梵唄) Phạm: Bhàwà. Cũng gọi Thanh bái, Tán bái, Kinh bái, Phạm khúc, Phạm phóng, Thanh minh. Gọi tắt: Phạm. Dùng điệu nhạc để tụng kinh, tán vịnh, ca tụng công đức của Phật. Bái, gọi đủ là Bái nặc, là dịch âm từ tiếng PhạmBhàwànghĩa là ngợi khen. Vì dựa theo nhạc điệu tán vịnh của Phạm độ (Ấn độ) nên gọi Phạm bái. Tuy đức Thế tôn cấm chỉ không được đọc tụng văn kinh bằng giọng điệu giống như thanh điệu Bà la môn, nhưng vì thanh bái có công dụng làm giảm bớt sự mỏi mệt của thân tâm và giúp nhớ dai, vì thế đức Phật cũng cho phép xướng tụng. Sau khi đức Phật nhập diệt thì Phạm bái được lưu hành khắp nơi. Khi Phật giáo truyền vào Trung quốc, các nhà truyền dịch kinh văn thì nhiều, nhưng các nhà truyền tụng Thanh bái thì hiếm. Bởi vì tiếng Phạm là tiếng đa âm, mà tiếng Hán là tiếng đơn âm, nếu dùng tiếng Phạm để vịnh tiếng Hán thì tiếng dài mà vần hụt; còn nếu dùng nhạc khúc tiếng Hán mà vịnh tiếng Phạm thì vần ngắn, lời dài. Cho nên dùng nhạc khúc Hán để ca vịnh tiếng Phạm hoặc ngược lại, đều không dễ dàng. Tương truyền, nguồn gốc tán bái của Trung quốc là do Trần tư vương Tào thực đời Tào Ngụy đến du ngoạn núi Ngư sơn (thuộc huyện Đông a, tỉnh Sơn đông), nghe lời tán của Phạm thiên trong hư không, thâm hiểu ý nghĩa, ông bèn mô phỏng âm tiết của lời tán ấy mà viết thành Phạm bái. Sau đó, ông dựa theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, soạn lời tạo âm mà viết thành bài Thái tử tụng, tiếp theo, ông soạn khúc Bồ tát thiểm tử tụng: Đây là khúc Phạm bái Phạm Hán hỗn hợp đầu tiên. Về sau, các ngài Chi khiêm, Khang tăng hội đời Ngô cũng ứng dụng Phạm bái và chế tác các bài: Tán bồ tát liên cú Phạm bái và Nê hoàn Phạm bái... Từ đó về sau Phạm bái mới được lưu hành rộng rãi. Lương cao tăng truyện quyển 13 nêu tên 11 vị, từ ngài Bạch pháp trở xuống, rất giỏi về Phạm bái. Từ đời Đông Tấn về sau, Phạm bái khá thịnh hành ở miền Nam, Trung quốc. Cánh lăng vương Tiêu tử lương đời Nam Tề tận lực cổ xúy Phạm bái, ông sáng tác rất nhiều về bộ môn này. Đến đời Đường, Phạm bái dần dần thịnh hành trong dân gian, trong số 9 chức vị ở Đạo tràng dịch kinh, Phạm bái được dành cho 1 chức. Phạm bái chủ yếu được dùng trong 3 trường hợp: 1. Trong nghi thức giảng kinh: Thông thường được cử hành trước và sau khi giảng kinh.2. Lục thời hành đạo: Tức thực hành trong các khóa tụng kinh vào lúc sáng sớm và chiều tối. 3. Đạo tràng sám pháp: Nhằm mục đích giáo hóa, dắt dẫn quần chúng, nghi thức Phạm bái trong trường hợp này đặc biệt chú trọng ca hát, ngâm vịnh, tán thán... Về sau, tùy theo địa phương mà âm điệu Phạm bái có khác nhau, chủ yếu chia ra 2 miền Nam và Bắc, mỗi miền có đặc trường riêng. Từ đời Đường trở về trước, Phạm bái lưu hành gồm có: 1. Như lai bái: Cũng gọi Như lai phạm, Hành hương phạm(xướng lúc dâng hương tán Phật). Tức những câu kệ: Như lai diệu sắc thân, Thế gian vô dữ đẳng; Vô tỉ bất tư nghị, Thị cố kim kính lễ. Như lai sắc vô tận, Trí tuệ diệc phục nhiên; Nhất thiết pháp thường trụ, Thị cố ngã qui y.(Kinh Thắng man). 2. Vân hà bái: Cũng gọi Vân hà phạm. Tức những câu kệ: Vân hà đắc trường thọ, Kim cương bất hoại thân? Phục dĩ hà nhân duyên, Đắc đại kiên cố lực? Vân hà ư thử kinh, Cứu cánh đáo bỉ ngạn? Nguyện Phật khai vi mật, Quảng vị chúng sinh thuyết. (Kinh Niết bàn quyển 3, bản Nam). 3. Xử thế bái: Cũng gọi Xử thế phạm. Tức bài kệ: Xử thế gian như hư không, Nhược liên hoa bất trước thủy; Tâm thanh tịnh siêu ư bỉ, Khể thủ lễ Vô thượng thánh. (Kinh Siêu nhật nguyệt minh quyển thượng). Thông thường, Phạm bái được chia làm 3 tiết:Sơ bái: Phần văn kệ được xướng lúc bắt đầu pháp sự, tức câu kệ đầu: Như lai diệu sắc thân trong Như lai bái.Trung bái: Văn kệ được xướng khi đang cử hành pháp sự, tức câu đầu Như lai sắc vô tận của bài kệ thứ 2 trong Như lai bái.Hậu bái: Bài kệ của Xử thế bái được xướng khi pháp sự kết thúc. Những bài kệ Phạm bái này được gọi là Phạm âm kệ. Nội dung Phạm bái cóLục cú tán và Bát cú tán. Lục cú tán chủ yếu là bài Hương tán: Lô hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân v.v... được xướng vào lúc bắt đầu pháp sự để cung thỉnh chư Phật. Còn Bát cú tán thì như các bài Tam bảo tán, A di đà Phật tán, Dược sư Phật tán v.v... thường được xướng lúc pháp sự đang diễn tiến và sau khi tụng kinh. Khi xướng Phạm bái có dùng các thứ pháp khí như chuông, mõ, thanh la, tiêu, cảnh, linh... hòa theo âm điệu trầm bổng du dương, tạo thành nhạc khúc đặc biệt của Phật giáo. Phạm bái được truyền đến Nhật bản vào đầu thời đại Nại lương, là 1 trong 4 pháp yếu của Phật giáo xứ Phù tang. Đến thời đại Bình an thì có 2 dòng lớn là Tiến lưu và Đại nguyên lưu rất thịnh hành. Tiến lưu thuộc hệ thống tông Chân ngôn và Đại nguyên lưu thuộc hệ thống tông Thiên thai. [X. phẩm Thọ mệnh kinh Niết bàn (bản Bắc); Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.9; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4; Tống cao tăng truyện Q.3, 25; thiên Bái tán trong Pháp uyển châu lâm Q.36; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thích thị yếu lãm Q.thượng; truyện Lặc na ma đề trong Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.2].
phạm bản
4629又稱梵夾、梵經、梵典。指以梵語書記於貝葉、樺皮、紙等之經典。印度自西元前六世紀左右開始使用梵語,舉凡宗教、學術典籍,概以梵語記錄;梵語經典究始於何時,尚未確知。東漢時,隨佛教之流布,梵本亦陸續傳入中國,由於只重譯經,加以兵亂頻仍,故原本悉皆散佚。於印度,亦因十二世紀頃回教徒入侵,以致正法受創,梵本亦損壞殆盡。一八九○年,英人包爾上尉(Bower)於新疆庫車發現孔雀王咒經之樺皮寫本;其後,史坦因、伯希和再於新疆、敦煌等地得古寫梵本。現存梵語佛典約有五百餘種。 又梵本中,所用語言種類並不完全相同。其中,金剛般若經、阿彌陀經、瑜伽師地論菩薩地、論部諸注釋概用正式之古典梵語,法華、無量壽、十地等諸經偈頌及普賢菩薩行願讚等,文法上異例甚多,與純粹梵語有所差異,稱為伽陀方言(Gāthā dialect)、佛教梵語(Buddhist Sanscrit),或為轉訛語(梵 apabhraṃśa)之一種。佛本行集經異本(梵 Mahāvastu)等之長行亦使用伽陀方言;於般若經、法華經,長行為近似純粹梵語之語形。〔梵文佛典研究の二方面(山田龍城,龍谷大學論叢二八七)、R. Mitra: Sanskrit Buddhist Literature of Nepal, preface; C. Bendall: Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, historical introduction;M. Winternitz:Geschichte der indischen Literatur, Bd. Ⅱ〕(參閱「梵夾」4631)
; Sùtras in the Indian language.
; (梵本) Cũng gọi Phạm giáp, Phạm kinh, Phạm điển.Chỉ cho những bản kinh điển tiếng Phạm được viết trên lá bối, vỏ cây hoa, giấy v.v... Ở Ấn độ, tiếng Phạm được bắt đầu sử dụng từ khoảng thế kỉ VI trước Tây lịch, tất cả sách vở về tông giáo, học thuật nói chung đều được ghi chép bằng tiếng Phạm. Kinh điển bằng tiếng Phạm bắt đầu xuất hiện vào lúc nào thì vẫn chưa được xác định. Thời Đông Hán, song song với sự truyền bá Phật giáo, Phạm bản cũng liên tục được truyền vào Trung quốc, nhưng vì chỉ chú trọng đến bản dịch của các kinh, hơn nữa, do chiến tranh liên miên nên nguyên bản đều đã bị thất lạc. Còn ở Ấn độ thì vì sự xâm lăng và tàn phá của tín đồ Hồi giáo vào thế kỉ XII nên Chính pháp bị hủy hoại, Phạm bản cũng hư nát gần hết! Năm 1890, Thượng úy Bower người Anh có tìm được bản kinh Khổng tước vương chú viết tay trên vỏ cây hoa ở Khố xa tại Tân cương. Về sau, các ông A. Stein, P. Pelliot... lại phát hiện các Phạm bản viết tay xưa ở các vùng Tân cương, Đôn hoàng... Kinh điển Phật bằng tiếng Phạm hiện nay có khoảng hơn 500 loại. Các thứ ngôn ngữ được sử dụng trong Phạm bản không hoàn toàn giống nhau, trong đó, kinh Kim cương bát nhã, kinh A di đà, Du già sư địa luận Bồ tát địa và các chú thích về Luận bộ đại khái đều được viết bằng tiếng Phạm cổ điển chính thức. Nhưng, các bài kệ tụng trong các kinh Pháp hoa, Vô lượng thọ, Thập địa và Phổ hiền bồ tát hành tán v.v... thì, về mặt văn pháp, có rất nhiều điểm khác với tiếng Phạm thuần túy và được gọi là Già đà phương ngôn (Gàthàdialect), Phật giáo Phạm ngữ (Buddhist Sanscrit) hoặc là 1 trong các loại Chuyển ngoa ngữ (Phạm: Apabhraôza). Phần Trường hàng (văn xuôi) trong kinh Phật bản hạnh tập dị bản (Phạm: Mahàvastu) cũng sử dụng Già đà phương ngôn, còn phần Trường hàng trong các kinh Bát nhã, Pháp hoa thì ngôn ngữ gần giống với tiếng Phạm thuần túy. [X. Phạm văn Phật điển nghiên cứu đích nhị phương diện (Sơn điền Long thành, Long cốc Đại học luận tùng 287); Sanskrit Buddhist Literature of Nepal, preface, by R.Mitra; Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, historical introduction, by C. Bendall; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M.Winternitz]. (xt. Phạm Giáp).
Phạm bối 梵唄
[ja] ボンバイ bonbai ||| A song or verse praising the virtues of the Buddha. => Bài hát hay kệ tán ca ngợi đức hạnh của chư Phật.
phạm bổn
Những bộ kinh bằng tiếng Phạn (Ấn Độ)—Sutras in the Indian language.
phạm ca da thiên
Brahma-kayika-deva (S)Từ gọi chung các tầng trời Sơ thiền.
phạm ca di
Brahma-kayikas (skt)—Tên của chư Thiên ở cõi sơ thiền sắc giới—The Brahma-devas in the first dhyana in the realm of form.
phạm ca di thiên
4633梵名 Brahma-kāyika-deva。係色界初禪天之通稱。於長阿含經卷二十譯作梵身天,玄應音義卷三譯作淨身天。〔道行般若經卷一〕(參閱「梵眾天」4638)
; (梵迦夷天) Phạm: Brahma-kàyika-deva. Từ ngữ gọi chung các tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc. Kinh Trường a hàm quyển 20 dịch là Phạm thân thiên. Huyền ứng âm Kinh Pháp Hoa bản tiếng Phạm nghĩa quyển 3 dịch là Tịnh thân thiên. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.1]. (xt. Phạm Chúng Thiên).
phạm chung
4649又作大鐘、釣鐘、撞鐘、洪鐘、鯨鐘。為寺院集大眾時撞鳴之具。朝夕鳴之或齋會節慶鳴之以示其始。梵,清淨義,為有關於佛事者,因取其義以為名。我國較具規模之寺院,皆建有鐘樓以懸梵鐘。我國梵鐘之起源不詳,約始造於後周(十世紀中葉)以後,以青銅為主。形制不定,以高四尺,直徑二尺左右為通例,下方開口,上端稱為龍頭,有紐以便懸掛,下部有相對之兩個鐘座。有杵橫吊,撞鐘座部分以鳴之。〔廣弘明集卷二十八、續高僧傳卷二十九〕(參閱「鐘」6839)
; Đại Hồng Chung của tự viện—The temple or monastery bell.
; (梵鍾) Cũng gọi Đại chung, Điếu chung, Chàng chung, Hồng chung, Kình chung. Chỉ cho quả chuông lớn của các chùa viện. Phạm nghĩa là thanh tịnh, vì chuông được dùng vào việc Phật, mà Phật thì là thanh tịnh, do đó chuông được gọi là Phạm chung (chuông thanh tịnh). Các chùa viện lớn ở Trung quốc phần nhiều đều có xây lầu để treo Phạm chung. Nguồn gốc của Phạm chung ở Trung quốc không được rõ, có lẽ bắt đầu được tạo vào đời Hậu Chu (giữa thế kỉ X) về sau, chủ yếu được đúc bằng đồng xanh. Chuông có hình dáng không nhất định, thông thường cao khoảng 4 thước và đường kính chừng 2 thước (Tàu). Phần trên cùng của Phạm chung gọi là Long đầu(đầu rồng) có quai để treo, phần gần miệng Phạm chung có những cái núm để đánh. [X. Quảng hoằng minh tập Q.28; Tục cao tăng truyện Q.29]. (xt. Chung).
Phạm chí
Phạn ngữ là Brhmaṇa, chỉ người thuộc dòng bà-la-môn xuất gia tu tập, quyết chí cầu sanh lên cõi Phạm thiên nên gọi là Phạm chí.
phạm chí
4631梵語 brāhmaṇa。<一>音譯婆羅門、梵士。意譯淨裔、淨行。又稱淨行者、淨行梵志。婆羅門志求住無垢清淨得生梵天,故有此稱。玄應音義卷十八載,婆羅門應作婆羅賀磨拏,意指承習梵天之法者。自稱由梵天之口而生,為四姓中之最殊勝者,故獨取梵之名。瑜伽論記卷十九之上載,梵為西國之言,譯為寂靜、涅槃;志為本地語,矢志求梵,故合稱梵志。散見於經典中之長爪梵志、螺髻梵志均為著名之佛弟子,亦可知皆出自婆羅門。又梵志之女,或志於梵道之女,稱為梵女。〔中阿含卷四十八馬邑經、增一阿含經卷九、法句經卷下、大日經疏卷四〕(參閱「婆羅門」4463) <二>通稱一切外道之出家者。大智度論卷五十六(大二五‧四六一中):「梵志者,是一切出家外道,若有承用其法者,亦名梵志。」 <三>相對於「尼乾(尼犍)」,而稱在家之婆羅門為梵志。法華文句記卷九上載,在家事梵稱為梵志,出家之外道通稱尼乾。然於法華經要解卷五所載則相反,在家之外道稱為尼犍,而出家之外道稱為梵志。
; Brahamin (S)Tịnh hạnh tôn giả, Tịnh hạnh giả, Phạm hạnh kỳ1- Tịnh hạnh tôn giả: Người tu sĩ Bà la môn đã 120 tuổi còn qui y thọ Tỳ kheo giới ngay ngày Phật nhập diệt, cũng là người đệ tử cuối cùng của đức Phật. Ông đắc A la hán ngay lúc thọ giới, ngay sau đó dùng hoả tam muội nhập Niết bàn trước Phật. 2- Phạm chí: người xuất gia theo Bà la môn giữ giới hạnh trong sạch, lìa bỏ gia đình, vợ con. 3- Phạm hạnh kỳ: Giai đoạn từ 8 - 20 tuổi, một trong bốn giai đoạn trong đời một người Bà la môn: Phạm hạnh kỳ, Gia trụ kỳ, Lâm thê kỳ, Tuần thế kỳ.
; Bramàcàrin (S). Studying sacred learning; practising continence or chastety. A Buddhist ascetic with his will set on purity.
; 1) Brahmacarin (skt): Người xuất gia học Thánh điển và tu hành phạm hạnh—Studying sacred learning; practising continence or chasity. 2) Brahamacari (skt): Người trẻ Bà La Môn tu tập giai đoạn đầu trong bốn giai đoạn đi vào Phạm Thiên—Young Brahman in his first sarama or period of life; ther are four such periods. 3) Người Phật tử xuất gia tu đời thanh tịnh: A Buddhist ascetic with his will set on purity.
; (梵志) Phạm: Bràhmaịa. I. Phạm Chí. Hán âm: Bà la môn, Phạm sĩ. Hán dịch: Tịnh duệ, Tịnh hạnh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả, Tịnh hạnh phạm chí. Chỉ cho người Bà la môn, sống thanh tịnh, cầu được sinh về cõi Phạm thiên. Theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 18 thì Bà la môn lẽ ra phải đọc là Bà la hạ ma noa, chỉ cho người tu tập theo pháp của Phạm thiên. Bà la môn tự nhận mình sinh ra từ miệng Phạm thiên, là dòng họ cao quí nhất trong 4 dòng họ, cho nên đặc biệt lấy tên là Phạm. Theo Du già luận kí quyển 19 phần đầu thì Phạm là tiếng Ấn độ, Hán dịch là Tịch tĩnh, Niết bàn; Chí là tiếng Trung quốc, quyết chí cầu Phạm, cho nên ghép chung 2 chữ lại thành là Phạm chí (nửa Ấn nửa Tàu). Các Phạm chí thấy ghi rải rác trong kinh điển như Phạm chí Trường trảo, Phạm chí Loa kế... đều là Bà la môn, sau trở thành đệ tử nổi tiếng của đức Phật. Ngoài ra, con gái của Phạm chí, hoặc cô gái tu theo đạo Phạm, gọi là Phạm nữ. [X. kinh Mã ấp trong Trung a hàm Q.48; kinh Tăng nhất a hàm Q.9; kinh Pháp cú Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.4]. (xt. Bà La Môn). II. Phạm Chí. Từ gọi chung tất cả những người xuất gia của ngoại đạo Ấn độ. Luận Đại trí độ quyển 56 (Đại 25, 461 trung) nói: Phạm chí chỉ cho tất cả những người xuất gia của ngoại đạo. Hoặc người chỉ theo đạo Phạm mà không xuất gia, cũng gọi là Phạm chí. III. Phạm Chí. Đối lại với Ni kiền mà gọi Bà la môn tại gia là Phạm chí. Theo Pháp hoa văn cú kí quyển 9 thượng, người tại gia thờ Phạm thì gọi là Phạm chí, còn ngoại đạo xuất gia thì gọi chung là Ni kiền. Nhưng Pháp hoa kinh yếu giải quyển 5 thì ngược lại cho rằng ngoại đạo tại gia gọi là Ni kiền, còn ngoại đạo xuất gia thì gọi là Phạm chí.
phạm chí a bạt kinh
4632全一卷。三國吳‧支謙譯於黃武二年至建興二年(223~253)頃。又作佛開解梵志阿
; (梵志阿
Phạm chí Trường Trảo
xem Ma-ha Câu-hy-la.
phạm chí át ba la diên vấn chủng tôn kinh
4632請參閱 梵志頞波羅延問種尊經 全一卷。又作梵志頞羅延問種尊經、梵志問種尊經。東晉竺曇無蘭譯於太元六年至二十年(381~395)。收於大正藏第一冊。內容敘述頞波羅延婆羅門(梵 Assalāyano)與五百婆羅門人至祇樹給孤獨園,詰問世尊有關種姓平等、自性清淨之論說,世尊遂以入溪洗垢、王得賢臣,及火、出生、日月、父母合會等之譬喻,解說人生而平等,惟以所行之善惡為貴賤之別。本經為中阿含卷三十七阿攝惒經之別譯,內容亦相當於南傳巴利文中部(Majjhima nikāya)之第九十三經。〔歷代三寶紀卷七,大唐內典錄卷三、開元釋教錄卷三〕
; (梵志頞波羅延問種尊經) Cũng gọi Phạm chí Át la diên vấn chủng tôn kinh, Phạm chí vấn chủng tôn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô Lan dịch vào khoảng năm Thái nguyên thứ 6 đến năm Thái nguyên 20 (381-395) đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc Bà la môn Át ba la diên (Phạm: Assalàyano) cùng với 500 Bà la môn khác cùng đến vườn ông Cấp cô độc trong khu rừng cây của Thái tử Kì đà để vặn hỏi đức Phật về luận thuyết Chủng tính bình đẳng, Tự tính thanh tịnh, đức Phật dùng việc xuống suối tắm gội, vua được bầy tôi hiền và các thí dụ về lửa, sinh ra, mặt trời, mặt trăng, cha mẹ hội hợp v.v... để giải thích người ta sinh ra là bình đẳng, chỉ do việc làm cao thượng hoặc xấu xa mà khiến người ta trở thành sang, hèn khác nhau mà thôi. Kinh này là bản dịch khác của kinh A nhiếp hòa trong Trung a hàm quyển 37 và nội dung cũng tương đương với bài kinh 93 trong Trung bộ (Majjhima-nikàya) bằng tiếngPàli thuộc Nam truyền. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
Phạm chí Độc Tử
một tu sĩ ngoại đạo, tên Phạn ngữ là Vtsỵ, dịch âm là Bà-tư. Vị này về sau quy y Phật, nên cũng gọi là tỳ-kheo Độc Tử.
phạm chúng
Monks, so called because of their religious practices.
; Chư Tăng Ni—Monks and nuns.
Phạm chúng thiên
梵衆天; C: fànzhòngtiān; J: bonshuten; S: brah-ma-kāyikāḥ. |Tầng trời của những quyến thuộc của Phạm thiên. Là tầng trời thứ nhất trong Tứ thiền thiên (四禪天) thuộc Sắc giới
phạm chúng thiên
4638梵名 Brahma-pāriṣadya-deva。音譯梵波梨沙天。又作梵身天。色界初禪天之第一天。以其乃大梵所有、所化、所領之天眾所住,故稱梵眾天。此天之天眾身長半由旬,壽命半劫。又梵身天,除指梵眾天外,於長阿含經卷二十亦將梵迦夷天(梵 Brahman-kāyika-deva)譯作梵身天,而為色界初禪天之總稱。〔佛地論卷五、俱舍論卷八、卷十一、雜阿毘曇心論卷二〕(參閱「梵天」4627)
; Brahma-parisadya-deva (S), Brahmaparisajjadeva (P), Brahmapa-risadya (S)Một trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Cõi trời này không có dục nhiễm, gồm dân chúng của Thiên chủ cõi Sơ thiền. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên.
; Brahma-pàrisajja (S). Belonging to the retinue of Brahmà; the first Brahmaloka; the first region of the first dhyàna heaven of form.
; Brahmaparisadya or Parsadya (skt)—Các vị chư Thiên ở cõi trời sơ thiền thuộc sắc giới (Phạm Thiên giới được chia làm ba cấp, các vị chư thiên ở hạ cấp thì được gọi là Phạm Chúng Thiên)—The assembly of Brahmadevas, belonging to the retinue of Brahma; the first Brahmaloka; the first region of the first dhyana heaven of form. ** For more information, please see Phạm Thiên (B).
; (梵衆天) Phạm: Brahma-pàriwadya-deva. Hán âm: Phạm ba lê sa thiên. Cũng gọi: Phạm thân thiên. Tầng trời thứ nhất trong các tầng trời thuộc cõi Sắc. Vì tầng trời này là nơi Thiên chúng do Đại Phạm vương thống lãnh cư trú, nên gọi là Phạm chúng thiên. Thiên chúng ở đây thân cao nửa do tuần, sống lâu nửa kiếp. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20 cũng dịch Phạm ca di thiên (Phạm: Brahman-kàyika-deva) là Phạm thân thiên, là tên gọi chung của các tầng trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. [X. luận Phật địa Q.5; luận Câu xá Q.8, 11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2]. (xt. Phạm Thiên).
Phạm chúng thiên 梵衆天
[ja] ボンシュテン bonshuten ||| The heaven of the followers of Brahma. The first level of the first of the four meditation heavens 四禪天 of the form realm 色界. (Brahma-kāyikāḥ) 〔倶舎論、 T 1558.29.1-41a〕 => (s: Brahma-kāyikāḥ) Tầng trời của những quyến thuộc của Phạm thiên. Là tầng trời thứ nhất trong Tứ thiền thiên 四禪天thuộc Sắc giới 色界.
phạm chương
Brahmavastu (skt)—Sách học vần Phạn ngữ gồm 12 chương—A Sanskrit syllabary in twelve parts.
phạm chẩn
3941梁代南鄉舞陰(河南泌陽)人,字子真。生卒年不詳。據南史所載,縝生性不信鬼神,爲宜都太守時,因夷陵有伍相廟、唐漢三神廟、胡里神廟,縝乃下令斷之。常盛稱無佛,不信因果,著有神滅論一文,竟陵王蕭子良集僧問難之,而不能屈。蕭琛、曹思文、沈約均作論駁之。太原王琰著論譏縝曰:「嗚呼范子!曾不知其先祖神靈所在。」縝對曰:「嗚呼王子!知其先祖神靈所在,而不能殺身以從之。」其險詣皆類此。縝本與梁武帝有舊誼,及帝即位,令臣下答范論,答者凡六十四人,此可見神滅論之震動一時。〔弘明集卷九、卷十〕
phạm cung
4635原指梵天之宮殿,引申為佛寺之通稱。法華經卷三化城喻品(大九‧二三上):「梵天宮殿光明照曜,倍於常明。」〔梁高僧傳卷十三〕
; The realm of Brahmà; the first dhyàna heaven of the realm of form.
; 1) Cung điện của Phạm Thiên: Brahma's palace. 2) Chùa: Buddhist temple. 3) Phạm Giới, cõi thiền thứ nhất trong cõi trời sắc giới: The realm of Brahma; the first dhyana heaven of the realm of form.
; (梵宮) Vốn chỉ cho cung điện của Phạm thiên, sau được dùng làm tên gọi chung các chùa viện Phật giáo. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 23 thượng) nói: Cung điện Phạm thiên sáng chói rực rỡ, gấp bội ánh sáng thường. [X. Lương cao tăng truyện quyển 13].
phạm cổ nông
3940(1881~1952)浙江嘉興人。號寄東,又號幻庵,筆名海屍道人。早年曾遊學日本,返國後,熱心弘法。民國二十年(1931),任上海佛學書局總編輯,編有海潮音文庫、佛學百科叢書,並發行宋版藏經,整理佛教文獻。民國二十四年,擔任佛教日報主筆,此爲佛教第一份日報。四十年,任世界佛教居士林林長。著有幻庵文集、古農佛學問答,譯有發趣論。
; (范古農) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, hiệu Kí đông, Huyễn am, bút danh Hải thi đạo nhân. Lúc còn trẻ, ông từng du học ở Nhật bản, sau khi về nước, ông dốc hết tâm lực vào việc hoằng pháp. Năm Dân quốc 20 (1931), ông giữ chức Tổng biên tập của Thượng hải Phật học Phạm chung (được đúc vào đời Minh) thư cục. Năm Dân quốc 24 (1935), ông làm Chủ bút tờ Nhật báo Phật giáo, là tờ Nhật báo đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Năm Dân quốc 40 (1951), ông giữ chức Lâm trưởng của Thế giới Phật giáo cư sĩ lâm. Ông có các tác phẩm: Huyễn am văn tập, Cổ nông Phật học vấn đáp, Hải triều âm văn khố, Phật học bách khoa tùng thư và phiên dịch luận Phát thú.
phạm diên
Phạm Thiên và Trời Na La Diên—Brahma and Narayana.
phạm diễn na
Bayana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Phạm Diễn Na, một vương quốc cổ trong vùng Bokhara, bây giờ là Bamian, nổi tiếng với những tượng Phật Nhập Niết Bàn khổng lồ, dài tới 1.000 bộ Anh—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Bayana, an ancient kingdom and city in Bokhara (modern Bamian), famous for a colossal statue of Buddha (entering Nirvana) believed to be 1,000 feet long.
phạm diễn na quốc
4633興都庫什山中之古王國,位于今阿富汗境內。梵衍那,梵名 Bāmiyan,又作范陽、望衍、帆衍,現今多稱巴米安(Bamian)、巴米央、巴米羊。此國正當於健馱邏往睹貨邏、臾那之通路,其大都城依崖跨谷,生產宿麥,宜於畜牧,氣序寒烈,風俗剛獷。隋煬帝、唐太宗時曾來我國朝貢。西元前三世紀,阿育王遣傳道師布教時,佛教傳入此國。其後,迦膩色迦王建立伽藍,佛教漸盛,雕造甚多之大石佛、洞窟,稱為巴米羊石窟(約三至七世紀開鑿),以東邊高五十三公尺及西邊高三十五公尺之兩佛像為中心,鑿有數以千計之石窟,主要為石雕佛像,並殘存有部分壁畫、佛龕、天井飛天像,為佛教美術重要遺蹟之一。西元十三世紀初,梵衍那國受成吉思汗征服,繼有回教徒入侵,佛教遂告衰亡。本世紀初,頗多考古學者至此發掘佛蹟。〔大唐大慈恩寺三藏法師傳卷二、往五天竺國傳、隋書西域列傳、A. Foucher: Notice Archéologique de la vallée Bāmiyan, 1923〕
; (梵衍那國) Tên 1 vương quốc xưa trong dãy núi Hindu Kush, nay thuộc lãnh thổ nước Afghanistan. Phạm diễn na, tên tiếng Phạm làBàmiyan, cũng gọi Phạm dương, Vọng diễn, Phàm diễn, hiện nay thường gọi là Ba mễ an (Bamian), Ba mễ ương, Ba mễ dương. Nước này chính là con đường giao hông từ nước Kiện đà la đến các nước Đổ hóa la, Du na..., đại đô thành nước này nằm dựa vào sườn núi, sản xuất lúa mì, chăn nuôi gia súc, khí hậu rất lạnh, phong tục cứng cỏi. Vào thời các vua Tùy dượng đế và Đường thái tông, nước này từng đến triều cống Trung quốc. Vào thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục từng phái Truyền đạo sư đến nước này truyền bá Phật pháp. Về sau, vua Ca nị sắc ca xây dựng già lam, Phật giáo dần dần hưng thịnh. Vua cho đục mở rất nhiều hang động và tạc những pho tượng Phật bằng đá rất lớn. Quần thể hang động này được gọi là Ba mễ dương thạch quật (được đục mở từ khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VII). Pho tượng Phật ở hang đá phía đông cao 53m và tượng Phật ở hang phía tây cao 35m, là 2 pho tượng lớn nhất trong quần thể hang động này. Ở đây có tới cả nghìn hang đá lớn nhỏ, chủ yếu khắc tượng Phật, hiện còn sót lại 1 số các bức bích họa, Phật khám, thiên tỉnh, tượng phi thiên... là 1 trong hững di tích quan trọng của mĩ thuật Phật giáo.Vào đầu thế kỉ XIII, nước Phạm diễn na bị Thành cát tư hãn chinh phục, tiếp sau đó lại bị tín đồ Hồi giáo xâm chiếm và phá phách, khiến cho Phật giáo nước này phải suy vong. Đầu thế kỉ XX, có rất nhiều nhà khảo cổ đến đây nghiên cứu các di tích Phật giáo. Nhưng rất đau xót là vào tháng 3 năm 2001 vừa qua, toàn bộ khu di tích Phật giáo ở Bamian đã bị Hồi giáo Taliban cuồng tín dùng chất nổ và hỏa tiễn phá hủy hoàn toàn, khiến cho cả thế giới phải phẫn nộ và lên án! (Người dịch). [X. Đại đường đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện; Tùy thư tây vực liệt truyện; Notice Archéologique de la valléeBàmiyan, 1923, par A.Foucher]. Toàn cảnh quần thể hang động Bamian
phạm diện phật
Đức Phật có gương mặt giống như Phạm Thiên, người ta nói vị ấy sống tới 23.000 năm—A Buddha with Brahma's face (said to be 23.000 years old).
phạm giáo hội
4636(Brāhma Samāj)又稱梵協會、梵社。近代印度教之革新派。一八二八年,藍姆漢羅伊(Rām Mohan Roy, 1772~1833)創於加爾各答。本教定「梵」為唯一之神,提倡以奧義書為中心,回歸傳統之純粹婆羅門教。羅伊研習梵語、英語、希伯來語、希臘語等,深受西歐理性思想與基督教精神之影響,乃將其真髓帶入梵教會;進而排斥多神教及偶像崇拜,否定輪迴思想,革除一夫多妻、寡婦殉節等社會陋俗。羅伊擷取馬太、路加等福音書之精華,於一八二○年出版「耶穌的理想|導入寧靜與快樂之途徑」(The precepts of Jesus, the guide to peace and happiness),曾備受正統印度教徒與印度基督教徒之激烈抨擊。 一八四二年,特朋特拉泰戈爾(Debendra Narthe Tagore, 1815~1905,泰戈爾之父)加入梵教會,提出一套較羅伊更徹底之改革綱領,繼續反對偶像崇拜、種姓對立等。一八五七年,克夏勃強特拉聖(Keshab Chandra Sen, 1838~1884)再加入,梵教會因而更為進步發展。然前者係保守之民族復興主義者,後者則為富有基督教精神之激進改革者,致使梵教會趨於分裂。一八六六年,泰戈爾逐出強特拉聖,另立正統梵教會,強特拉聖則自組印度梵教會。梵教會因之逐漸沒落。〔Sivanath Sastri: History of the Brahmo Samaj, 2 vols., 1911~1912; J.N. Farquhar: Modern Religious Movement in India, 1915〕(參閱「第一梵教會」4758)
phạm giáp
4631指貝葉之經本,又模倣其形式之經典亦稱梵夾。即於貝多羅葉上書寫梵語經文,貝葉重疊,為避免散亂,遂用與樹葉同形稍大之兩片木板相夾,並以繩縛結,即稱為梵夾。又作梵莢、經夾。或謂以其狀如入於箱篋,又稱梵篋。〔信力入印法門經卷五、貞元新定釋教目錄卷十六〕
; Kinh điển làm bằng lá cây đa la (một loại cây kè có lá giống như lá thốt nốt) Palm-leaf scriptures.
; (梵夾) Cũng gọi Kinh pháp. Chỉ cho bản kinh viết bằng tiếng Phạm trên lá bối. Thời xưa chưa có giấy, những sách vở phần nhiều được viết trên lá của cây Bối đa la (Phạm: Pattra). Những lá bối được phơi khô, cắt xén theo 1 khuôn khổ nhất định, viết văn kinh xong, rồi chồng lên nhiều lớp. Sau đó, để khỏi lẫn lộn và rơi mất, người ta dùng 2 miếng ván gỗ mỏng đặt ở phía trên và phía dưới lớp lá bối để kẹp lại (giáp) và buộc bằng dây cho chặt, gọi là Phạm giáp. Ngoài ra, những kinh điển bắt chước theo hình thức này, cũng gọi là Phạm giáp. [X. kinh Tín lực nhập ấn pháp môn Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.16].
phạm giới
Xem Phạm thiên giới. Xem Phá giới.
; To offend against or break the moral or ceremonial laws.
; Phá phạm giới luật mà Đức Phật đã đặt ra—To turn one's back on the precepts—To offend against or break the moral or ceremonial laws of Buddhism.
phạm giới ngũ suy
2018請參閱 永覺元賢禪師廣錄 略稱五衰。<一>據長阿含卷二遊行經、釋氏要覽卷上等載,犯戒者有五種衰耗,即:(一)求財不遂。(二)若有所得,隨即耗損。(三)眾不愛敬。(四)惡名流布。(五)死入地獄。〔般泥洹經卷上、大乘理趣六波羅蜜多經卷三〕 <二>又作犯戒五過、破戒五過。略稱五過。據四分律卷五十九載,破戒有下列五種過失,即:(一)自害,(二)為尊者所呵,(三)惡名流布,(四)臨終生悔,(五)死墮惡道。(參閱「五過」1171)
; (犯戒五衰) Gọi tắt: Ngũ suy. I. Phạm Giới Ngũ Suy. Chỉ cho 5 thứ suy hao của người vi phạm giới luật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 và Thích thị yếu lãm quyển thượng, thì 5 thứ suy hao của người phạm giới là: 1. Cầu tiền của không được như ý. 2. Nếu có được tiền của thì cũng hao tổn hết ngay. 3. Không được mọi người yêu kính. 4. Tiếng xấu lan truyền rộng khắp. 5. Sau khi chết rơi vào địa ngục. [X. kinh Bát nê hoàn Q.thượng; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3]. II. Phạm Giới Ngũ Suy. Cũng gọi Phạm giới ngũ quá, Phá giới ngũ quá. Gọi tắt: Ngũ quá. Chỉ cho 5 lỗi của người phạm giới. Cứ theo luật Tứ phần quyển 59, thì người phá giới có 5 thứ lỗi sau đây: 1. Tự làm hại mình. 2. Bị người trí chê cười. 3. Tiếng xấu đồn xa. 4. Lúc sắp chết sinh tâm hối hận. 5. Sau khi chết đọa vào đường ác. (xt. Ngũ Quá).
phạm hoàng
4633佛之異稱。佛生於西北梵地,為法中之皇帝,故稱梵皇。又西北梵地,即西北印度藍毘尼園,在今尼泊爾境內。〔止觀輔行傳弘決序〕
; The Indian Emperor, Buddha.
; 1) Vua của Ấn Độ: The Indian Emperor. 2) Đức Phật: Buddha.
; (梵皇) Từ tôn xưng đức Phật. Đức Phật đản sinh ở phía bắc Phạm độ (Ấn độ), là Hoàng đế của các pháp, cho nên gọi là Phạm hoàng. Phía tây bắc Phạm độ tức là vườn Lam tì ni ở tây bắc Ấn độ, nay thuộc lãnh thổ nước Nepal. [X. bài Tựa trong Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết].
phạm hành
4630梵語 brahma-caryā,巴利語 brahma-cariya。意譯淨行。即道俗二眾所修之清淨行為。以梵天斷淫欲、離淫欲者,故稱梵行;反之,行淫欲之法,即稱非梵行。娑羅門將一生分為四期,其中第一期即稱梵行期(梵 brahma-cārin),於此期間,其生活遵守不淫之戒,並學吠陀、祭儀等。於佛教以不淫,受持諸戒,稱為梵行。又於長阿含卷九「十上經」,以具足禪,於八解脫中,逆順遊行,稱為梵行具足。大方等大集經卷七不眴菩薩品、大寶積經卷八十六大神變會等以八正道為梵行;北本大般涅槃經卷十五梵行品以慈悲喜捨等四無量心為梵行,住知法等七善法,即稱梵行具足。凡此,皆為廣義之梵行。〔增一阿含經卷三十、瑜伽師地論卷二十九、法華玄義卷四上、法華義疏卷七〕(參閱「五行」1085)
; Noble action—High conduct.
; (梵行) Phạm: Brahma-caryà. Pàli:Brahma-cariya. Hán dịch: Tịnh hạnh. Chỉ cho hạnh thanh tịnh mà người xuất gia và tại gia tu tập. Bà la môn giáo chia đời người làm 4 thời kì, trong đó, thời kì thứ nhất gọi là Phạm hạnh kì (Phạm: Brahma-carin), trong thời kì này, người Bà la môn phải giữ giới cấm dâm dục, học Phệ đà và những nghi thức cúng tế... Trong Phật giáo thì giữ gìn các giới đã thụ nói chung, gọi là Phạm hạnh. Theo kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9, có đầy đủ thiền định, thuận, nghịch đều không chướng ngại trong 8 giải thoát, thì gọi là Phạm hạnh cụ túc. Kinh Đại phương quảng đại tập quyển 7 và kinh Đại bảo tích quyển 86 thì cho rằng thực hành Bát chánh đạo là Phạm hạnh. Kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (bản Bắc) cho rằng 4 tâm Vô lượng(từ, bi, hỉ, xả) là Phạm hạnh, trụ trong 7 thiện pháp, gọi là Phạm hạnh cụ túc... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; luận Du già sư địa Q.29; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7]. (xt. Ngũ Hạnh).
phạm hưởng
4650如來梵音之聲響。佛陀之說法,以微妙清淨之梵音,響徹十方,故稱梵響。〔往生論〕(參閱「梵音相」4634)
; Âm thanh của Đức Phật—The sound of Buddha's voice (Buddha's preaching).
Phạm hạnh
(s, p: brahmacariya, 梵行): Phạm (s, p: brahmā, 梵) nghĩa là thanh tịnh, pháp đoạn trừ dâm dục là Phạm hạnh, tức pháp hành của Phạm Thiên (梵天). Trí Độ Luận (智度論) dạy rằng: “Đoạn dâm dục thiên giai danh vi Phạm Thiên, dĩ thị cố đoạn dâm hành pháp danh vi Phạm hạnh; ly dục diệc danh Phạm; nhược thuyết Phạm tắc nhiếp Tứ Thiền Vô Sắc định (斷婬欲天皆名爲梵天、以是故斷婬行法名爲梵行、離欲亦名梵、若說梵則攝四禪四無色定, vị Trời đoạn dâm dục đều gọi là Phạm Thiên, chính vì vậy hành pháp đoạn dâm dục gọi là Phạm hạnh; nếu nói là Phạm tắc nhiếp vào định của Tứ Thiền, Tứ Vô Sắc).” Hơn nữa, trong Pháp Hoa Gia Tường Sớ (法華嘉祥疏) quyển 7 có giải thích rõ rằng: “Hữu nhân ngôn: 'Thông thủ nhất thiết giới vi Phạm hạnh, biệt danh đoạn dâm dục vi Phạm hạnh' (有人言、通取一切戒爲梵行、別名斷婬爲梵行, Có người bảo rằng: 'Giữ hết tất cả giới là Phạm hạnh, nếu nói riêng thì đoạn trừ dâm dục là Phạm hạnh').” Ngoài ra, Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) được gọi là Phạm, cho nên chứng vạn hạnh của Niết Bàn là Phạm hạnh. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (法華經) có câu: “Cụ túc thanh bạch, Phạm hạnh chi tướng (具足清白、梵行之相, đầy đủ, trong sạch là tướng của Phạm hạnh).”
; (梵行, Phạn ngữ: brahmacarya, Pli: brahmacariya), cũng gọi là tịnh hạnh, là phép tu hành thanh tịnh của hàng xuất gia, chỉ sự đoạn tuyệt dâm dục.
; 梵行; C: fànxíng; J: bongyō; S: brahmacarya; P: brahmacariya; cũng được dịch là Tịnh hạnh;|1. Hạnh thanh tịnh. Phạm (梵) nghĩa là thanh tịnh, thuật ngữ chỉ cho sự tu tập để giải trừ tham dục. Là công phu tu tập của tầng lớp Bà-la-môn thực hiện trong khi học đạo; 2. Là một trong những sự kiềm chế kỉ luật, Dạ-ma; 3. Tu tập hạnh thanh tịnh. Tu tập giới luật của tăng sĩ Phật giáo. Pháp tu giải trừ tham dục.
phạm hạnh
Brahma-caryā (S), Brahma-faring, Holy life, Brahmacārī (P)Tịnh hạnhHạnh tu thanh tịnh của người xuất gia và người theo Bà la môn giáo.
; Brahmacarya (S) Pure living, noble action. Ascetic. religious life.
; Pure living. (I) Nghĩa của “Phạm Hạnh”—The meanings of “Pure living”—Cuộc sống thanh tịnh hay giới pháp giúp hành giả cắt đứt dâm dục, sống đời độc thân để được sanh về cõi trời sắc giới Phạm Thiên hay cao hơn—Pure living; noble action; the discipline of celibacy which ensures rebirth in the Brahmaloka, or in the realms beyond form. (II) Những lời Phật dạy về “Phạm Hạnh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pure living” in the Dharmapada Sutra: 1) Sống trăm tuổi mà phá giới và buông lung, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà trì giới, tu thiền định—To live a hundred years, immoral and uncontrolled, is no better than a single-day life of being moral and meditative (Dharmapada 110). 2) Sống trăm tuổi mà thiếu trí huệ, không tu thiền, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đủ trí, tu thiền định—To live a hundred years without wisdom and control, is no better than a single-day life of being wise and meditative (Dharmapada 111). 3) Sống trăm tuổi mà giải đãi không tinh tấn, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà hăng hái tinh cần—To live a hundred years, idle and inactive, is no better than a single-day life of intense effort (Dharmapada 112). 4) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường—To live a hundred years without comprehending how all things rise and pass away, is no better than a single-day life of seeing beginning and end of all things (Dharmapada 113). 5) Sống trăm tuổi mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy đạo tịch tịnh vô vi—To live a hundred years without seeing the immortal state, is no better than a single-day life of one who sees the deathless state (nirvana) (Dharmapada 114). 6) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp tối thượng—To live a hundred years without seeing the Supreme Truth, is no better than a single-day life of someone who see the highest law (Dharmapada 115).
phạm hạnh kỳ
Xem Phạm chí.
Phạm hạnh 梵行
[ja] ボンギョウ bongyō ||| (1) 'Pure practices.' With 梵 (fan) meaning "pure," a term for the religious practices that involve the cutting off of desire. The practices that a member of the brahman caste carries out during his student life. (2) One of the restraint-disciplines, yama. (3) Pure religious practice. The practices of discipline of a Buddhist monk. The practice of ridding oneself of lust and desire. => 1. Hạnh thanh tịnh. Phạm 梵 nghĩa là thanh tịnh, thuật ngữ chỉ cho sự tu tập để giải trừ tham dục. Là công phu tu tập của tầng lớp Bà-la-môn trong khi học đạo. 2. Là một trong những sự kiềm chế kỷ luật, yama (diêm vương). 3. Tu tập hạnh thanh tịnh. Tu tập giới luật của tăng sĩ Phật giáo. Pháp tu giải trừ tham dục.
phạm học
The study of Buddhism; the study of Brahmanism.
; 1) Nghiên cứu về Bà La Môn: The study of Brahmanism. 2) Nghiên cứu về Phật Giáo: The study of Buddhism.
phạm học tân lương
4648約千卷。日本飲光慈雲尊者編著。蒐集梵字及梵語學習上之參考資料,以供學習之便,今流通於日本各地。全書計分成本詮、末詮、通詮、別詮、略詮、廣詮、雜詮等七部。第一部收錄諸師攜回之梵本、貝葉類;第二部蒐集佛名、偈文、陀羅尼之譯文;第三部為有關悉曇章、悉曇字記等之梵字表、梵文典之文獻集載;第四部收錄梵語千字文、翻譯名義大集等二十九部有關梵語學之書籍;第五部主要解說梵字之字體、書法、符號;第六部解釋佛號、法藏名號等;第七部收錄悉曇創學鈔、外國文字、紀行等有關梵語之參考文獻。編集年代,據推定完成於明和三年(1766),為研究梵語必備之參考書,網羅當時日本所有資料,堪稱曠世大業。原本現藏於河內(大阪府)高貴寺。
; (梵學津梁) Tác phẩm, khoảng 1.000 quyển, do tôn giả Ẩm quang Từ vân người Nhật bản biên soạn và theo sự suy đoán của các học giả cận đại thì sách được hoàn thành vào năm Minh hòa thứ 3 (1766). Nội dung sách này sưu tập các chữ Phạm và những tư liệu tham khảo để giúp cho việc học tập, nghiên cứu tiếng Phạm được tiện lợi. Toàn sách được chia làm 7 bộ: Bản thuyên, Mạt thuyên, Thông thuyên, Biệt thuyên, Lược thuyên, Quảng thuyên và Tạp thuyên. Bộ thứ nhất thu chép các bản Phạm và các sách vở viết trên lá bối do các sư mang về. Bộ thứ hai sưu tập các bản dịch về danh hiệu Phật, văn kệ, Đà la ni... Bộ thứ ba thu chép các văn hiến về biểu đồ chữ Phạm, sách vở tiếng Phạm như: Tất đàm chương, Tất đàm tự kí... Bộ thứ tư thu chép 29 bộ sách liên quan đến Phạm ngữ học như: Phạm ngữ thiên tự văn, Phiên dịch danh nghĩa đại tập...Bộ thứ năm chủ yếu nói rõ về thể chữ, cách viết, phù hiệu chữ Phạm. Bộ thứ sáu giải thích về danh hiệu của Phật, danh hiệu Pháp tạng... Bộ thứ bảy thu chép các văn hiến tham khảo về tiếng Phạm như: Tất đàm sáng học sao, Ngoại quốc văn tự, Kỉ hành... Đây là bộ sách tham khảo mà người nghiên cứu tiếng Phạm cần phải có, nó bao gồm tất cả các tư liệu ở Nhật bản đương thời, xứng đáng được gọi là sự nghiệp to lớn mà thời bấy giờ không có gì sánh được. Nguyên bản hiện được cất giữ ở chùa Cao quí tại Hà nội, phủ Đại phản, Nhật bản.
phạm khiếp ấn
4647指密教大隨求菩薩「隨求八印」中之第八,即一切如來隨心真言印。其印相乃以兩手之五指展開,左手上仰,置於胸前,右手覆於左手之上,兩手相合,手掌稍微彎曲。又如般若菩薩、文殊菩薩等,亦結此手印。
; (梵篋印) Chỉ cho ấn thứ 8 trong Tùy cầu bát ấn của bồ tát Đại tùy cầu thuộc Mật giáo, tức là Nhất thiết Như lai tùy tâm chân ngôn ấn. Ấn tướng là: Năm ngón của 2 tay mở ra, tay trái ngửa lên, đặt ở trước ngực; tay phải úp lên tay trái, 2 tay hợp 1, bàn tay hơi co. Ngoài ra, bồ tát Bát nhã và bồ tát Văn thù cũng kết thủ ấn này.
phạm kinh
4640梵名 Brahma-sūtra。印度六派哲學吠檀多學派(梵 Vedānta)之根本聖典。又稱吠檀多經(梵 Vedānta-sūtra)、根本思惟經(梵 Sarīraka-sūtra)。本書約成於西元前一世紀跋多羅衍那(梵 Bādarāyaṇa)之手,而定型於四○○至四五○年間,共計四篇十六章五五五頌,每一頌文字極其簡單,若不經解說傳授則往往難解其義,故後代學者廣加注解,各解其是,由是又造成眾說紛紜、莫衷一是之情形,而形成吠檀多派系林立之局勢,此為研究本經之一大特點。本經內容承襲吠陀之冥思方式,綜合古奧義書中各家有關形上學之根本思想,加以批判、整理,指出絕對之梵為世界之生成、存續、幻滅等之質料因及動力因,世界之創造係由於梵之幻化表現,即梵生虛空,虛空生風,風生火,火生水,水生地而形成世界,至於世界之幻滅則逆向而行;惟上智者得以真我與梵合一,而脫離「個人我」之輪迴。全經之中,有一明顯特色,即為表明或維護自己之思想而屢對同時代其他學派之教理加以批駁攻擊,其表現最強烈者,為對數論學派(梵 Sāṃkhya)之駁斥,此外對瑜伽派、勝論派、佛教、耆那教、獸主派、順世派等,亦多所攻擊。其論議佛教之部分,大多置於第二篇第二章。本經與奧義書(梵 Upaniṣad)、薄伽梵歌(梵 Bhagavad-gītā)等,同為印度文化史上之重要經典。本經之注釋書極多,較重要者有商羯羅(梵 Śaṅkara)之梵經注,闡論梵我絕對一體之「不二一元論」;羅摩拏闍(梵 Rāmānuja)之梵經注,闡論梵我猶如部分與全體之關係之「制限一元論」;沙達難多(梵 Sadānanda)之吠檀多精要(梵 Vedanta-sāra)等。〔Ānandāśrama Sanskrit Series, 1900; S.K. Belvalkar: The Brahmasūtras of Bādarāyaṇa, 1923~1924〕
; (梵經) Phạm: Brahma-sùtra. Cũng gọi Phệ đàn đa kinh (Phạm: Vedànta-sùtra), Căn bản tư duy kinh (Phạm:Sarìraka-sùtra). Thánh điển căn bản của học phái Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta) trong 6 phái Triết học Ấn độ, do Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa) soạn vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch và trở thành hình thức nhất định trong khoảng thời gian từ năm 400 đến 450 Tây lịch. Kinh này gồm có 4 thiên, 16 chương, 555 bài tụng, văn tự mỗi bài tụng rất đơn giản, nhưng nếu không được giải thích truyền trao thì khó mà hiểu được ý nghĩa hàm súc của nó. Vì thế các học giả đời sau đều giải thích rộng rãi, mỗi người mỗi ý lại tạo thành nhiều thuyết lộn xộn, do đó đã hình thành nhiều hệ phái Phệ đàn đa. Đây là 1 đặc điểm lớn để nghiên cứu kinh này. Nội dung kinh này noi theo phương thức minh tưởng của Phệ đà, tổng hợp các tư tưởng căn bản về hình nhi thượng học của các Triết gia Áo nghĩa thư, phê phán, chỉnh lí thêm, rồi chỉ ra rằng đấng Phạm tuyệt đối là nguyên nhân, là động lực cho sự sinh thành, tồn tục và huyễn diệt của thế giới. Sự sáng tạo thế giới là sự biểu hiện huyễn hóa của Phạm, tức là Phạm sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, gió tạo ra lửa, lửa sinh ra nước, nước sinh ra đất mà hình thành thế giới. Đó là quá trình hình thành, còn quá trình huyễn diệt của thế giới thì đi ngược chiều; chỉ có bậc Thượng trí mới có khả năng đem Chân ngã hợp nhất với Phạm mà ra khỏi vòng luân hồi của Ngã cá thể. Điểm nổi bật trong toàn bộ kinh là 1 mặt làm sáng tỏ học thuyết của mình, mặt khác, phê bình, công kích và bác bỏ giáo lí của các phái khác trong cùng thời đại, đặc biệt đối với học thuyết của phái Số luận (Phạm: Sàôkhya) thì thái độ công kích rất kịch liệt. Ngoài ra, các phái Du già, Thắng luận, Phật giáo, Kì na giáo, phái Thú chủ, phái Thuận thế... cũng thường bị công kích. Phần nói về Phật giáo phần nhiều tập trung ở chương 2 của thiên thứ 2. Kinh này cùng với Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad), Bạc già phạm ca (Phạm: Bhagavad-gìtà) v.v... đều là những kinh điển trọng yếu về mặt văn hóa và lịch sử của Ấn độ. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, quan trọng hơn cả thì có: -Phạm kinh chú của Zaíkara, nói rõ về Bất nhị nhất nguyên luận Phạm Ngã nhất thể tuyệt đối. -Phạm kinh chú của Ràmànuja, nói rõ về Chế hạn nhất nguyên luận, trong đó, mối quan hệ giữa Phạm và Ngã giống như bộ phận và toàn thể. Bút tích của ngài Phạm Kì-Phệ đàn đa tinh yếu (Phạm: Vedantasàra) củaSadànanda. [X. Ànandàzrama Sanskrit Series, 1900; The Brahmasùtras ofBàdaràyaịa, 1923-1924, by S.K. Belvalkar].
phạm kì
4638(1296~1370)元代禪僧。明州(浙江)象山人,俗姓朱。字楚石,小字曇曜。九歲出家,十六歲受具足戒,二十二歲為道場寺侍者,又典藏鑰。一日,閱首楞嚴經有省悟,惟雖自通文意,猶膠礙於名相。後參究徑山之元叟行端,初仍群疑塞胸,時逢英宗招善書者,師應召,一日聞西城樓上鼓鳴,始徹悟,遂嗣元叟之法,時年二十九。其後歷住海鹽福臻寺、天寧永祚寺、杭州鳳山報閣寺、嘉興本覺寺。至正七年(1347),帝賜號「佛日普照慧辯禪師」。十七年,住持報恩光孝寺,十九年,退隱永祚寺,於寺西側築居,自號西齋老人。二十三年再住永祚寺,未久再隱,專修淨業。洪武初年,受敕說法於蔣山(江蘇江寧縣東北,即鍾山)。三年示寂,世壽七十五。法嗣有瑩中景瓛等。著有楚石梵琦語錄二十卷、西齋淨土詩三卷、上生偈、北游鳳山西齋三集、和天台三聖詩等。〔楚石梵琦禪師語錄序、卷二十佛日普照慧辯禪師塔銘、釋氏稽古略續集卷二、南宋元明禪林僧寶傳卷十、續燈正統卷十五〕
; (梵琦) (1296-1370) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở thạch, tiểu tự Đàm diệu.Sư xuất gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, năm 22 tuổi làm thị giả ở chùa Đạo tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi danh tướng. Sau, sư đến Kính sơn tham học ngài Nguyên tẩu Hành đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản giác ở Gia hưng... Năm
Phạm Kỳ
(梵琦) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở thạch, tiểu tự Đàm diệu.Sư xuất gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, năm 22 tuổi làm thị giả ở chùa Đạo tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi danh tướng. Sau, sư đến Kính sơn tham học ngài Nguyên tẩu Hành đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản giác ở Gia hưng... Năm Chí chính thứ 7 (1347), sư được vua ban hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Đầu năm Hồng vũ đời Minh, sư được vua ban sắc thuyết pháp ở Tưởng sơn (tức núi Chung sơn ở phía đông bắc huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô). Năm Hồng vũ thứ 3 (1370) sư thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Sở thạch Phạm kì ngữ lục 20 quyển, Tây trai tịnh độ thi 3 quyển, Thướng sinh kệ, Bắc du Phượng sơn tây trai 3 tập, Họa Thiên thai tam thánh thi. [X. Sở thạch Phạm kì thiền sư ngữ lục tự; Phật nhật phổ chiếu tuệ kiện thiền sư tháp minh; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tục đăng chính thống Q.15].
phạm luân
4648巴利語 brahma-cakka。法輪之別稱。有多種解釋:(一)佛初成道時,梵天王請轉法輪。(二)以佛為真梵,乃真梵王之力所轉。(三)以能遣除諸煩惱。(四)因世人以梵為貴。(五)以佛之說法清淨。(六)謂佛以四梵行心說法等,故稱為梵輪。又大智度論卷二十五載有梵輪、法輪之異同,或以為無有差異,或謂梵輪係示現四無量心,以四無量心得道,示四禪,示修禪定聖道;法輪,則示四諦法,依餘法得道,示三十七品,示修智慧聖道。〔大智度論卷八、俱舍論卷二十四〕(參閱「法輪」3423)
; Brahmacakra (S).
; The brahma-wheel, the wheel of the law, or pure preaching of the Buddha
; 1) Bánh xe chuyển pháp của Đức Phật: The Brahma-wheel—The wheel of the law, or pure preaching of the Buddha. 2) Bài pháp đầu tiên mà Phạm Thiên Vương thỉnh Phật quay bánh xe pháp: The first sermon at the request of Brahma. 3) Giáo thuyết của Phạm Thiên: The doctrine or preaching of the Brahmans.
; (梵輪) Pàli: Brahma-cakka. Tên gọi khác của Pháp luân. Có nhiều cách giải thích: 1. Lúc đức Phật mới thành Phật, Phạm thiên vương thỉnh Phật chuyển pháp luân, cho nên Pháp luân được gọi là Phạm luân. 2. Phật là bậc Chân Phạm, bánh xe pháp do bậc Chân Phạm vương quay chuyển gọi là Phạm luân. 3. Vì bánh xe pháp có năng lực diệt trừ các phiền não, nên gọi là Phạm luân. 4. Vì người đời cho Phạm là tôn quí, nên tôn xưng Pháp luân là Phạm luân. 5. Phạm nghĩa là thanh tịnh, sự thuyết pháp của đức Phật thanh tịnh, nên gọi là Phạm luân. 6. Vì đức Phật dùng 4 tâm Phạm hạnh (4 tâm Vô lượng) để quay bánh xe pháp, cho nên gọi là Phạm luân. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 25 phân biệt giữa Phạm luân và Pháp luân như sau: Phạm luân hiển bày 4 tâm vô lượng, nhờ tu 4 tâm vô lượng mà được đạo, hiển bày Tứ thiền, tu thiền định Thánh đạo; còn Pháp luân thì hiển bày pháp Tứ đế, nhờ pháp khác mà được đạo, hiển bày 37 phẩm, tu trí tuệ Thánh đạo. [X. luận Đại trí độ Q.8; luận Câu xá Q.24]. (xt. Pháp Luân).
phạm luật
To offend against the law—Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi Ưu Ba Li rằng: “Dạ thưa ngài Ưu Ba Li! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ ngài giải rõ chỗ nghi hối cho chúng tôi được khỏi tội ấy.” Ưu Ba Li liền y theo pháp, giải nói cho hai vị. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với Ưu Ba Li—At the time of the Buddha, there were two bhiksus who broke the prohibitions, and being shameful of their sins they dared not call on the Buddha. They came to ask Upali and said to him: “Upali, we have broken the commandments and are ashamed of our sins, so we dare not ask the Buddha about this and come to you. Please teach us the rules of repentance so as to wipe out our sins.” Upali then taught them the rules of repentance. At that time, Vimalakirti came to Upali and said: • “Thưa ngài Ưu Ba Li, ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo nầy, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao? Vì tội tánh kia không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật đã dạy: 'Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch.' Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế ấy. Các pháp cũng thế, không ra ngoài chơn như. Như ngài Ưu Ba Li, khi tâm tướng được giải thoát thì có tội cấu chăng?”—“Upali, do not aggravate their sins which you should wipe out at once without further disturbing their minds. Why? Because the nature of sin is neither within nor without, nor in between. As the Buddha has said, 'living beings are impure because their mind are impure; if their minds are pure they are all pure.' And mind also is neither within nor without, nor in between. Their minds being such, so are their sins. Likewise all things do not go beyond (their ) suchness. Upali, when your mind is liberated, is there any remaining impurity?' • Ưu Ba Li đáp: 'Không.”—Upali replied: “There will be no more.” • Ông Duy Ma Cật nói: 'Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế! Thưa ngài Ưu Ba Li! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Li! Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa nầy gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa nầy gọi là khéo hiểu.”—Vimalakirti said: “Likewise, the minds of all living beings are free from impurities. Upali, false thoughts are impure and the absence of false thought is purity. Inverted (ideas) are impure and the absence of inverted (ideas) is purity. Clinging to ego is impure and non-clinging to ego is purity. Upali, all phenomena rise and fall without staying (for an instant) like an illusion and lightning. All phenomena do not wait for one another and do not stay for the time of a thought. They all derive from false views and are like a dream and a flame, the moon in water, and an image in a mirror for they are born from wrong thinking. He who understands this is called a keeper of the rules of discipline and he who knows it is called a skillful interpreter (of the precepts).” • Lúc đó hai vị Tỳ Kheo khen rằng: “Thật là bực thượng trí! Ngài Ưu Ba Li nầy không thể sánh kịp. Ngài là bực giữ luật hơn hết mà không nói được.”—At that “time, the two bhiksus declared: 'What a supreme wisdom which is beyond the reach of Upali who cannot expound the highest principle of discipline and morality?” • Ưu Ba Li đáp rằng: “Trừ Đức Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo thuyết biện tài của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ ông thông suốt không lường.”—Upali said: 'Since I left the Buddha I have not met a sravaka or a Bodhisattva who can surpass hi rhetoric for his great wisdom and perfect enlightenment have reached such a high degree.' • Khi ấy, hai vị Tỳ Kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và phát nguyện rằng: “Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy.”—Thereupon, the two bhiksus got rid of their doubts and repentance, set their mind on the quest of supreme enlightenment and took the vow that make all living beings acquire the same power of speech.
phạm lịch
4648印度曆法之通稱。梵,本無印度之意,此乃我國佛教者認為悉曇為印度文字,乃梵天所造,故稱梵字,因此「梵」即成為印度之代名詞。至於梵曆一語自何時開始使用則不明。〔仏 典の天文曆法について(善波周,印度學仏教學研究四ノ一)、摩登伽經の天文曆數について(善波周,仏教大學學報二七)〕(參閱「佛國曆象編」2657、「佛教曆法」2708)
; (梵曆) Lịch pháp của Ấn độ. Phạm vốn không có nghĩa là Ấn độ, nhưng các nhà Phật học Trung quốc cho rằng Tất đàm là văn tự Ấn độ, do Phạm thiên tạo ra, cho nên gọi là Phạm tự, vì thế Phạm trở thành đại danh tự chỉ cho Ấn độ. Còn từ Phạm lịch là chỉ chung cho lịch pháp của Ấn độ, đã được sử dụng từ bao giờ thì không rõ. [X. Phật giáo Đại học học báo 27]. (xt. Phật Quốc Lịch Tượng Biên, Phật Giáo Lịch Pháp).
phạm ma
4649梵與魔之併稱。梵,即梵王,為色界初禪天之主,代表色界諸天;魔,即他化自在天,為欲界第六天之主,代表欲界諸天。〔法華經序品〕(參閱「大梵天」850、「他化自在天」1540)
; Brahmà, brahman (S). Phạm ma ni Brahma-mani, pure pearl, or the magic pearl of Brahmà.
; 1) Phạm Thiên và Ma La Vương—Brahma or Brahman and Mara. a) Phạm Thiên là vị chủ ở các cõi trời sắc giới: Brahma is the lord of the realm of form. b) Ma là chủ Lục Dục Thiên hay cõi Tha Hóa Tự Tại—Mara is the lord of desire or passion. 2) Phạm Thiên: Brahma—See Phạm Thiên.
; (梵魔) Từ gọi chung cho Phạm và Ma. Phạm là Phạm vương, đứng đầu cõi trời Sơ thiền, đại biểu cho các vị trời ở cõi Sắc. Còn Ma là Tha hóa tự tại thiên, đứng đầu tầng trời thứ 6 của cõi Dục, đại biểu cho các vị trời ở cõi Dục. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Phạm Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên).
phạm ma du kinh
4647全一卷。又作梵摩喻經。三國吳‧支謙譯於黃武二年至建興二年(223~253)。收於大正藏第一冊。內容敘述婆羅門梵摩渝(梵 Brahmāyu)懷疑佛陀三十二相之真偽,後見到佛陀之廣長舌相、陰馬藏相等三十二相,欣喜感歎之餘,乃歸依佛陀。其後,佛陀又為之解說至道之要,梵摩渝聞之,心開意解,證阿那含果,不久即命終。本經為中阿含卷四十一梵摩經之別譯,內容亦相當於南傳巴利文中部(Majjhima-nikāya)之第九十一經。〔歷代三寶紀卷七、出三藏記集卷二、大唐內典錄卷二、開元釋教錄卷二〕
; (梵摩渝經) Cũng gọi Phạm ma dụ kinh. Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch vào khoảng từ năm Hoàng vũ thứ 2 đến năm Kiến hưng thứ 2 (223-253) đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc Bà la môn Phạm ma du (Phạm: Brahmàyu) hoài nghi về 32 tướng của đức Phật. Về sau, nhân thấy được 32 tướng như tướng lưỡi rộng dài, tướng mã âm tàng... của đức Phật, Bà la môn Phạm ma du rất vui mừng, khen ngợi và qui y đức Phật. Phật liền nói về yếu chỉ của đạo cho Phạm ma du nghe, nghe xong, tâm của Phạm ma du được mở tỏ, chứng quả A na hàm, ít lâu sau thì mệnh chung. Kinh này là bản dịch khác của kinh Phạm ma trong Trung a hàm quyển 41, nội dung cũng tương đương với bài kinh 91 trong Trung bộ (Majjhima-nikàya) tiếngPàli Nam truyền. [X. Lịch Đại tam bảo kỉ Q.7; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
phạm ma la
See Phạm Ma (1).
phạm ma nan quốc vương kinh
4647請參閱 梵摩難國王經 全一卷。又作梵摩難王經。譯於西晉之時,譯者不詳。收於大正藏第十四冊。內容述說梵摩難國王不知其子均鄰儒出家已證得阿羅漢,惟見其精勤粗食,遂對其供養異於僧眾,佛陀乃令均鄰儒現神通為國王解說苦、空等四諦要旨。梵摩難王聞其所說,心意領解,證得須陀洹。佛陀並對阿難闡述比丘受人布施飲食、衣服之時,為使施者得福,不得分別好壞;又令阿難於進食時解說「僧跋」之重要,即謂眾僧飯食皆平等之意。〔出三藏記集卷三、眾經目錄卷三(法經)、開元釋教錄卷二、貞元新定釋教目錄卷四〕
; (梵摩難國王經) Cũng gọi Phạm ma nan vương kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Tây Tấn, nhưng không rõ tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này ghi lại chuyện vua nước Phạm ma nan không biết con của mình tên là Quân lân nho xuất gia tu đạo đã chứng được quả A la hán, chỉ thấy Quân lân nho siêng năng tu hành, ăn uống thanh đạm, nên cúng dường Quân lân nho khác với chúng tăng. Thấy thế, đức Phật mới bảo Quân lân nho nói cho quốc vương nghe về yếu chỉ Tứ đế. Sau khi nghe pháp, tâm nhà vua được mở tỏ và chứng quả Tu đà hoàn. Nhân dịp này, đức Phật cũng bảo tôn giả A nan dạy các tỉ khưu khi nhận thức ăn, áo mặc của thí chủ, muốn cho thí chủ được phúc, thì không được phân biệt thức ăn ngon hay không ngon. Đồng thời Phật cũng sai A nan nói rõ cho chúng hiểu sự quan trọng của tăng bạt khi thụ thực, nghĩa là chúng tăng thụ thực đều bình đẳng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.3; Chúng kinh mục lục Q.3 (Pháp kinh); Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.4].
phạm ma ni
4647梵語 brahma-maṇi。意譯淨珠。即指寶珠。摩尼,為梵語 maṇi 之音譯,又作末尼,乃寶珠之總稱;梵,離垢之意,今加「梵」字,以顯其潔淨。又大梵天王之如意寶珠,亦稱梵摩尼。〔彌勒上生經疏卷下、翻譯名義集卷三〕(參閱「摩尼」6067)
; Brahma-mani (skt). 1) Tịnh Châu: Tên một loại ngọc báu—Pure pearl. 2) Ngọc báu như ý của Phạm Thiên: The magic pearl of Brahma.
; (梵摩尼) Phạm: Brahma-maịi. Hán dịch: Tịnh châu. Chỉ cho các loại ngọc quí. Ma ni là phiên âm của tiếng Phạmmaịi, cũng gọi Mạt ni, Phạm nghĩa là thanh tịnh. Nay thêm chữ Phạm ở trước ma ni để nêu rõ sự trong sạch, thuần khiết của nó. Ngoài ra, ngọc báu như ý của Đại phạm thiên vương cũng gọi Phạm ma ni. [X. Di lặc thướng sinh kinh sớ Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Ma Ni).
phạm ma tam bát
Brahma-sahampati or Mahabrahma-sahampati (skt)—Phạm Thiên, là vị chủ của thế giới—Brahma, lord of the world.
phạm ma tam bát la
4647二十八部眾之一。面如天女,頭戴天冠,左手覆按於臍邊,右手持白拂當胸,瓔珞莊嚴如天人。(參閱「二十八部眾」173)
; (梵摩三鉢羅) Một trong 28 bộ chúng. Mặt của vị này như thiên nữ, đầu đội mũ trời, tay trái úp vào cạnh rốn, tay phải cầm phất trần trắng để ở ngang ngực, đeo chuỗi anh lạc như người trời. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).
phạm ma việt
Tsang Denma (T), Brahmavati (S), Youthful-looking One Tsang Denma (T)Mẹ của Bồ tát Di Lac trong vị lai.
phạm ma đạt
Brahmadatta (skt). 1) Tên vị vua của xứ Kanyakubja: A king of Kanyakubja. 2) Tên vua xứ Varanasi, cha của Ca Diếp: A king of Varanasi, father of Kasyapa.
phạm nan
4649謂梵行之難,為比丘二種難之一。比丘修梵淨行時,因俗家妻室情誼之阻擾,或遭婬女之誘惑,皆為淨行之障難,故稱梵難。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上四〕
; Sự khó khăn trong việc duy trì đời sống phạm hạnh—The diffculty of maintaining celibacy, or purity.
; (梵難) Chướng nạn của người tu hạnh thanh tịnh, là 1 trong 2 thứ nạn của tỉ khưu. Khi tỉ khưu tu phạm hạnh, bị tình cảm của vợ con người thế tục quấy nhiễu, hoặc bị dâm nữ cám dỗ... đều là chướng nạn của hạnh thanh tịnh cho nên gọi là Phạm nạn. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4].
phạm ngã nhất như
4632 【梵志頞羅延問種尊經→】請參閱 梵志頞波羅延問種尊經 梵語 brahma-ātma-aikyam。為奧義書(梵 Upaniṣad)所代表印度正統婆羅門系統世界觀之根本思想。即宇宙根本原理之梵(梵 Brahman)與個人本體之我(梵 ātman)同一不異之思想。據此根本原理,一切萬物依一定順序發生,人類乃至一切生物之靈魂從其業力而有各種形式之輪迴。從此輪迴中求解脫,即是人生最高目的,而由於覺悟梵我一如之根本真理,消滅業力,即能免再生之痛苦。奧義書哲人閃笛耳耶(梵 Śāṇḍilya,西元前六、七世紀間)、烏達拉喀(梵 Uddālaka,西元前六、七世紀間)於百道梵書(梵 Śatapatha-brāhmaṇa)、錢多貴耶奧義書(梵 Chāndogya-upaniṣad)中始揭露「我是梵」(梵 ahaṃ brahmāsmi)、「那就是你」(梵 tat tvam asi)等兩個命題之根據。吠檀多派(The Vedanta School)繼承奧義書,此思想遂為該派學說之中心。商羯羅(梵 Śaṅkara)派亦視此最高之梵與同一之個我為真實,其餘皆是幻影(梵 māyā)。(參閱「梵」4626、「奧義書」5439)
; (梵我一如) Phạm: Brahma-àtma-aikyam. Phạm và Ngã là một. Đây là tư tưởng căn bản về thế giới quan của Bà la môn chính thống ở Ấn độ mà tiêu biểu là Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Áo nghĩa thư chủ trương nguyên lí căn bản của vũ trụ là Phạm (Phạm: Brahman) và bản thể của cá nhân là Ngã (Phạm: Àtman) là cùng 1 thể, không khác. Theo nguyên lí căn bản này thì hết thảy muôn vật phát sinh theo 1 trình tự nhất định, linh hồn của nhân loại cho đến tất cả sinh vật tùy theo nghiệp lực mà mỗi loài đều có hình thức luân hồi khác nhau. Mục đích cao nhất của nhân sinh là làm thế nào để thoát ra khỏi vòng luân hồi ấy. Muốn vậy thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu rõ chân lí căn bản: Phạm Ngã Nhất Như, đồng thời, tiêu diệt nghiệp lực, thì lập tức chấm dứt luân hồi đau khổ của kiếp người. Trong Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha-brahmaịa) và Tiền đa quí da áo nghĩa thư (Phạm: Chàndogyaupaniwad), hai Triết gia Áo nghĩa thư là Thiểm địch nhĩ da (Phạm: Zàịđilya, sống vào khoảng thế kỉ VI, VII trước Tây lịch) và Ô đạt lạp khách (Phạm: Uddàlaka, sống vào khoảng thế kỉ VI, VII trước Tây lịch) mới nêu rõ căn cứ của 2 mệnh đề Ta là Phạm (Phạm: Ahaô brahmàsmi) và Cái ấy là ngươi (Phạm: Tat tvam asi). Tư tưởng này trở thành học thuyết trung tâm của phái Phệ đàn đa (The Vedanta School) là phái kế thừa Áo nghĩa thư. Phái Thương yết la (Phạm: Saíkara) cũng coi Phạm tối cao và Ngã đồng nhất này là chân thực, ngoài ra đều là ảo ảnh (màyà) cả. (xt. Phạm, Áo Nghĩa Thư).
phạm ngư tự
4638位於韓國慶尚南道釜山特別市東萊區。山號金井山,韓國三十一本山之一。為新羅太宗武烈王二年(655)海東華嚴教初祖義湘所開創。文祿元年(1592),燬於日本侵韓之兵火。光海君五年(1613)重建。寺內有雄偉之大雄殿與為數甚多之堂閣。今為韓國著名巨剎之一,並統轄本剎所屬之寺院三十三所。〔朝鮮佛教通史、朝鮮寺剎三十一本山寫真帖〕
; (梵魚寺) Chùa nằm ở đặc khu Đông lai, núi Phũ sơn, thuộc tỉnh Khánh thượng nam tại Hàn quốc, do ngài Nghĩa tương, Sơ tổ Hoa nghiêm giáo ở Hải đông, sáng lập vào năm Vũ liệt thứ 2 (655) đời vua Thái tông nước Tân la, là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc, sơn hiệu là Kim tỉnh sơn. Niên hiệu Văn lộc năm đầu (1592) chùa bị thiêu hủy trong chiến tranh xâm lược của quân Nhật. Năm Quang hải quân thứ 5 (1613), chùa được xây dựng lại. Trong chùa hiện có tòa Đại hùng bảo điện rất nguy nga hoành tráng và khá nhiều lầu gác, là 1 trong những ngôi chùa nổi tiếng hiện nay của Hàn quốc. Chùa này có 33 chùa phụ thuộc. [X. Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên tự sát tam thập nhất bản sơn tả chân thiếp].
phạm ngữ
4644(Sanskrit)古印度之標準語文。又稱天竺語。即吠陀、梵書、森林書、奧義書及北傳佛教聖典所用之語文。屬印歐語族。Sanskrit 乃源自 saṃskṛta(完成之意)。我國、日本依據此語言由梵天所造之傳說,故稱梵語或聖語。相對於一般民間所用之俗語,梵語又稱雅語。廣義而言,可分為吠陀梵語(Vedic Sanskrit)與古典梵語(Classical Sanskrit)。前者為婆羅門教之聖典(吠陀)之語言;後者係於西元前四世紀左右,由文法學者波爾尼(梵 Pāṇini)加以規格化而集其大成。 據推測,約西元前二千年頃,雅利安族由印度西北侵入,驅走當地土著,移住於印度五河地方(梵 Pañjāb),編集以梨俱吠陀為始之四吠陀,不久亦陸續撰述解釋吠陀祭詞之梵書、發揮其深意之森林書與奧義書,乃至略詮梵書要義之「本經」(梵 Sūtra)等;此等聖典所用之語言,總稱為古代梵語(Ancient Sanskrit)、吠陀梵語,即屬於西元前一千五百年至西元前五百年左右之聖典語文。相對於此者,印度二大史詩摩訶婆羅多、羅摩耶那所用之語言,則屬於古典梵語之一種,然因含有為數甚多之通俗語形,故又特稱敘事詩梵語(Epic Sanskrit)。 關於梵語之文法書,自古即有「字彙」(梵 Nighaṇṭu),西元前五世紀之「尼鹿多論」(梵 Nirukta)即是「字彙」之注釋書。其後,波爾尼根據「尼鹿多論」,另又參考諸種文法書,以「本經」之語法撰聲明記論,此即「毘伽羅論」(梵 Vyākaraṇa),後經鉢顛社攞(梵 Patañjali)等加以注釋,使古印度文章語韻、文法得以確定;由是,其後吠陀梵語經由時代之演進,逐漸發展成定型之古典梵語,而漸脫離日常用語;惟其變化較少而久被傳承。 又於十八種富蘭那聖典(梵 Purāṇa)、美文體(梵 kāvya)之愛經(梵 Kāma-śāstra),以及佛所行讚(梵 Buddha-carita)、大事(梵 Mahāvastu)、本生鬘(梵 Jātakamālā)等佛教聖典皆用古典梵語書寫。為區別於古代之梵語,乃將佛教經典所用之梵語特稱為佛教梵語(Buddhist Sanskrit);又因佛典所用之梵語並非純梵語,而已混用為數甚多之俗語,呈現極為複雜之型態,故又稱為佛教混淆梵語(Buddhist Hybrid Sanskrit)。 八世紀頃,耆那教之典籍亦使用梵語。隨著印度人南下,及向東南亞之擴張,其文字對於南印達羅毘荼語(梵 Drāviḍa)文學、東南亞諸國文學皆有鉅大影響。十世紀左右,由於近代印度各種方言發達,以及回教徒之入侵,梵語乃逐漸失去其實際之勢力,僅以古典語之地位存在而已。要之,此一語文具有複雜之文法體系,在現代印度知識階級中仍然存在,多用於書寫方面。 梵語字母(梵 akṣara)計四十七音,此外別加 aṃ,aḥ,kṣa 三音,則成五十音。名詞、代名詞及形容詞分為性、數、格三門。其中,性有男、女、中性,數有單、雙、複數,格有體、業、具、為、從、屬、依、呼格;每一梵語隨其性、數、格不同而有語尾變化。動詞有自動、被動,時態有過去、現在、未來,亦各有語尾變化。我國研究梵語之書籍頗多,有翻梵語十卷(寶唱)、一切經音義(玄應、慧琳、希麟)、華嚴經音義(慧苑)、悉曇字記(智廣)、梵語千字文(義淨)、翻譯名義集(法雲)等。〔大方廣菩薩藏文殊師利根本儀軌經卷十八執魅者儀則品、大毘婆沙論卷七十九、卷一七二、Max Müller: A history of Ancient Sanskrit Literature;Rhys Davids: Buddhist India〕(參閱「佛教梵語」2693)
; Ngôn ngữ của Phạm Thiên—The language came from Brahma. 1) Ngôn ngữ Phạn: Brahma language (Sanskrit). 2) Mẫu tự Phạn: The Sanskrit alphabet. 3) Ngôn ngữ của Ấn Độ: The language of India.
; (梵語) Sanskrit. Cũng gọi Thiên trúc ngữ. Văn tự tiêu chuẩn của Ấn độ cổ đại, thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Các sách như: Phệ đà, Phạm thư, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư và kinh điển của Phật giáo Bắc truyền đều được viết bằng ngữ văn này. Sanskritbắt nguồn từ chữ Saôskfta (nghĩa là hoàn thành). Trung quốc và Nhật bản căn cứ vào truyền thuyết cho rằng ngôn ngữ này là do Phạm thiên sáng tạo ra, cho nên gọi là Phạm ngữ hoặc Thánh ngữ. Để phân biệt với tục ngữ thông dụng trong dân gian, Phạm ngữ được gọi là Nhã ngữ. Nói theo nghĩa rộng, Phạm ngữ được chia làm 2 loại là: Phệ đà Phạm ngữ (Vedic Sanskrit) và Cổ điển Phạm ngữ (Classical Sanskrit). Phệ đà Phạm ngữ là ngôn ngữ Thánh điển (Phệ đà) của Bà la môn giáo; còn Cổ điển Phạm ngữ là do nhà Văn pháp học Ba nhĩ ni (Phạm: Pàịini) qui định thêm về văn pháp mà tập đại thành. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, thì vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch, dân tộc Aryan từ phía tây bắc xâm nhập Ấn độ, đuổi hết thổ dân địa phương mà chiếm lấy khu vực Ngũ hà (Phạm: Paĩjàb) để định cư. Ở đây, họ đã biên tập Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) đầu tiên trong 4 Phệ đà. Sau đó không lâu, họ lại tiếp tục soạn thuật Phạm thư để giải thích những lời tế trong Phệ đà, rồi đến Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư để phát huy ý nghĩa thâm sâu của lời tế; cuối cùng là Bản kinh (Phạm:Sùtra) nói sơ lược về yếu nghĩa của Phạm thư. Ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh điển trên đây được gọi chung là Cổ đại Phạm ngữ (Ancient Sanskrit), Phệ đà Phạm ngữ, tức ngôn ngữ Thánh điển ở khoảng 1.500 năm đến 500 năm trước Tây lịch. Tương đối với ngôn ngữ Thánh điển này, ngôn ngữ được sử dụng trong 2 tác phẩm Sử thi lớn của Ấn độ là Mahàbhàrata và Ràmàyaịa thì thuộc loại Phạm ngữ cổ điển, nhưng vì có bao hàm rất nhiều ngôn ngữ thông tục, nên đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Tự sự thi (Epic Sanskrit). Về các sách Văn pháp của Phạm thư thì từ xưa đã có Tự vựng (Phạm: Nighaịta), luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta), tức sách chú thích Tự vựng được soạn vào thế kỉ V Tây lịch. Về sau, Ba nhĩ ni căn cứ vào luận Ni lộc đa và tham khảo các sách Văn pháp khác, rồi dùng ngữ pháp của Bản kinh mà soạn thành luận Thanh minh kí, đây tức là luận Tì già la (Phạm:Vyàkaraịa), sau lại chú thích thêm Pataĩjali làm cho văn pháp của cổ Ấn độ được xác lập vững chắc. Do đó, Phạm ngữ Phệ đà đã diễn tiến theo thời đại, dần dần phát triển thành Phạm ngữ cổ điển với hình thức nhất định và cũng dần dần trút bỏ những dụng ngữ dung tục. Trong 18 loại Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Ái kinh (Phạm: Kàma-zàstra) và các Thánh điển Phật giáo như: Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), Đại sự (Phạm: Mahàvastu), Bản sinh man (Phạm: Jàtakamàlà) v.v... đều được viết bằngPhạm ngữ cổ điển. Và, để phân biệt với Phạm ngữ cổ, tiếng Phạm được sử dụng trong các kinh điển của Phật giáo đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Phật giáo (Buddhist-Sanskrit). Lại nữa, vì Phạm ngữ được sử dụng trong kinh Phật giáo đã lẫn lộn với rất nhiều tục ngữ, không còn là Phạm ngữ thuần túy, tạo nên 1 hình thái hết sức phức tạp, cho nên cũng gọi là Phạm ngữ Phật giáo hỗn tạp (Buddhist Hybrid Sanskrit). Vào khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, người Ấn độ tiến xưống miền Nam, mang theo Phạm ngữ với họ đến tận các nước vùng Đông Nam Á, kết quả, đối với văn học Đạt la tì đồ (Phạm:Dràviđa) ở Nam Ấn độ và văn học các nước vùng Đông Nam Á, Phạm ngữ đều đã có ảnh hưởng rất lớn. Vào khoảng thế kỉ X, do sự phát đạt của các loại ngôn ngữ địa phương tại Ấn độ cận đại, cùng với sự xâm lăng của tín đồ Hồi giáo, Phạm ngữ đã dần dần mất thế đứng và cuối cùng chỉ còn tồn tại trong địa vị của 1 ngôn ngữ cổ điển mà thôi. Tóm lại, Phạm ngữ là thứ ngôn ngữ có hệ thống Văn pháp rất phức tạp; trong giới trí thức Ấn độ hiện đại, Phạm ngữ phần nhiều vẫn còn được dùng để viết sách. Về phần chữ cái (Phạm: Akwara) của Phạm ngữ thì có 47 âm, nếu thêm vào 3 âm là: Aô,a# và kwa, thì thành 50 âm. Các danh từ, đại danh từ và hình dung từ được chia làm 3 môn là: Tính, Số và Cách. Trong đó, về Tính thì có nam tính, nữ tính và trung tính; Số thì có số đơn, số đôi và số kép; Cách thì có thể cách, nghiệp cách, cụ cách, vi cách, tòng cách, thuộc cách, y cách và hô cách. Mỗi 1 chữ Phạm tùy theo Tính, Số, Cách khác nhau mà vĩ ngữ phải được thay đổi. Động từ thì có Chủ động và Bị động; Thời thì có quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng đều có biến đổi vĩ ngữ... Ở Trung quốc có khá nhiều sách vở để nghiên cứu Phạm ngữ như: Phiên Phạm ngữ, 10 quyển (Bảo xướng), Nhất thiết kinh âm nghĩa (Huyền ứng, Tuệ lâm, Hi lân), Hoa nghiêm kinh âm nghĩa (Tuệ uyển), Tất đàm tự kí (Trí quảng), Phạm ngữ thiên tự văn (Nghĩa tịnh), Phiên dịch danh nghĩa tập (Pháp vân)... [X. phẩm Chấp mị giả nghi tắc trong kinh Đại phương quảng bồ tát Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.18; luận Đại tì bà sa Q.79, 172; A History of Ancient Sanskrit Literature by Max Müller; Buddhist India by Rhys Davids]. (xt. Phật Giáo Phạm Ngữ).
phạm ngữ thiên tự văn
4645全一卷。唐代義淨撰。又作唐字千鬘聖語、梵唐千字文。收於大正藏第五十四冊。即以天地日月等漢文一千字對譯梵語。此千字文意義連續且押韻,四字成一句,二十句為一聯,每二十句換韻。二十句之後,置五言四句之詩,總為一百字,即一齣,全篇由十齣組成。卷末別錄「梵唐消息」約三百字之對譯。
; (梵語千字文) Cũng gọi Đường tự thiên man thánh ngữ, Phạm Đường thiên tự văn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 54. Sách dạy tiếng Phạm, gồm 1.000 chữ Phạm được dịch ra chữ Hán đối chiếu, bắt đầu từ các chữ: Thiên, địa, nhật, nguyệt... Ý nghĩa của 1.000 chữ liên tục với nhau và nối vần nhau, cứ 4 chữ thành 1 câu, giống như loại sách học chữ Hán Tam Thiên Tự: Thiên trời, địa đất, Tử mất tồn còn, Tử con tôn cháu, Lục sáu tam ba, Gia nhà quốc nước, Tiền trước hậu sau v.v.... Cuối sách có chép riêng phần Phạm Đường Tiêu Tức gồm 300 chữ dịch đối chiếu.
phạm ngữ tạp danh
4646全一卷。唐僧禮言集。又作悉曇字引。收於大正藏第五十四冊。係收錄日常使用之漢字對譯梵語。語彙由身體各部分開始,色香味觸、動靜行止、數目、年時、鳥獸、藥物、衣服、親族等繼之,凡舉一千二百五十個漢語,一一注以梵語之音譯及悉曇字。內容類似唐梵兩語雙對集。
; (梵語雜名) Cũng gọi Tất đàm tự dẫn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Lễ ngôn soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này ghi chép những chữ Phạm dịch ra chữ Hán đối chiếu được sử dụng hằng ngày. Phần ngữ vựng bắt đầu từ các bộ phận của thân thể, rồi đến sắc hương vị xúc, động tĩnh hành chỉ, số mục, các mùa trong năm, chim thú, dược thảo, y phục, thân tộc... gồm 1.250 chữ Hán – Phạm đối chiếu, đều có âm tiếng Phạm và hình chữ Tất đàm.
Phạm Nhật
梵日; C: fànrì; J: bonnichi; K: pŏmil, 810-889. |Một nhà lĩnh đạo phong trào Thiền tông Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa tham học với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) và Dược Sơn Duy Nghiễm (樂山惟嚴). Sư được xem là người khai sáng phái Xà-quật sơn (闍崛山, k: sagul san).
phạm nhật
4629(810~889)新羅僧。朝鮮佛教禪門九山闍崛山派之祖。又稱品日。俗姓金。十五歲出家,二十歲受具足戒。興德王六年(831)來唐,遍參禪林宿老,後依止鹽官齊安,於「平常心是道」一語下大悟,服勤六年後,又往參藥山惟儼。文聖王九年(847)歸國,於江原道江陵郡開創崛山寺,蔚成闍崛山派,為禪門九山中門庭最盛之派,景文、景康、定康等三代之王均皈依之,禮封為國師。真聖女王二年入寂,世壽八十,法臘六十。諡號「通曉大師」。門弟子中較著名者有朗圓、朗空。〔祖堂集卷十七、景德傳燈錄卷十〕
Phạm Nhật 梵日
[ja] ボンニチ Bonnichi ||| Pŏmil (810-889), an early leader of the Korean (Silla) Sŏn movement, who studied in China with Yanguan Qian 鹽官齊安 and Yueshan Weiyan 樂山惟嚴. He is considered to be the founder of the Sagul san 闍崛山 school. => k: Pŏmil (810-889), Một nhà lãnh đạo phong trào Thiền tông Cao Ly (Tân La- Silla), sư sang Trung Hoa tham học với Diêm Quan Tế An (Yanguan Qian 鹽官齊安 ) và Dược Sơn Duy Nghiễm (Yueshan Weiyan 樂山惟嚴). Sư được xem là người khai sáng tông phái Xà Quật (k: Sagul san 闍崛山).
phạm nữ
A noble woman, a woman of high character.
; 1) Con gái của Phạm Chí: A noble woman. 2) Người con gái phạm hạnh: A woman of high character.
phạm pháp
To break the law.
phạm phú lâu
Brahmapurohita (skt). 1) Những vị cận thần hay phụ tá của Phạm Thiên: The ministers, or assistants of Brahma. 2) Tên cõi trời sơ thiền thứ hai thuộc sắc giới: The second Brahmaloka; the second region of the first dhyana heaven of form.
phạm phúc
4641梵語 brāhma-puṇyatva。即大梵天之福德。與三乘聖果之聖德並稱二福。斷淫欲之天,稱為梵,色界天即屬此。又總攝色界、無色界亦稱為梵。凡修如下勝行者,可得生梵福,即:(一)建塔供養佛舍利者。(二)造寺施園供養四方僧伽者。(三)令已破和合之佛弟子和合者。(四)於一切有情修慈悲喜捨四無量心者。(五)為救母命、救父命、救如來命而捨身者。(六)於正法中出家者。(七)度他人出家者。(八)未轉法輪處能請轉法輪者。〔增一阿含經卷二十一、俱舍論卷十八〕
phạm phước
Brahma-puṇyatva (S).
phạm phạt
4644<一>即梵壇之治罰法。釋氏要覽卷下載,梵罰有二法:(一)默擯,一切人不與犯者來往、言話等。(二)滅擯,犯重罪而心無慚愧,眾所不能容,不可與其共住,於眾中舉示其罪並驅出。〔四分律卷五十七〕 <二>謂梵天之治罪法。梵王於宮前建立一壇,天眾有不如法者,則令立壇上,餘天眾不與之往來言語。(參閱「梵壇」4648)
; (梵罰) I. Phạm Phạt. Chỉ cho pháp trị phạt Phạm đàn trong Thiền lâm. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, Phạm phạt có 2 pháp: 1. Mặc sấn: Tất cả mọi người không được tiếp xúc, chuyện trò với kẻ phạm tội. 2. Diệt sấn: Người phạm trọng tội mà tâm không hổ thẹn thì đại chúng không thể dung thứ, không thể ở chung với người ấy, đại chúng cử tội rồi đuổi ra khỏi chùa. [X. luật Tứ phần Q.57]. II. Phạm Phạt. Pháp trị tội của Phạm thiên. Trước cung điện của Phạm vương, thiết lập cái đàn(cái nền cao), trong Thiên chúng nếu có ai phạm pháp thì bắt đứng trên cái đàn ấy, các Thiên chúng khác không được qua lại và chuyện trò với người ấy. (xt. Phạm Đàn).
Phạm phụ thiên
梵輔天; C: fànfŭ tiān; J:; S: brahma-purohita.|Cư dân là quyến thuộc của Đại phạm thiên (s: mahābrahman), là tầng trời thứ hai trong 3 tầng trời thuộc Sơ thiền, được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
phạm phụ thiên
4647梵名 Brahma-purohita。又作梵富樓天。即色界初禪之第二天,為大梵天之輔相。舊名梵先行天,又稱梵前益天,以在梵前恆思梵天利益,因以為名。梵輔天之天眾皆為大梵天王之輔弼臣。又天王行幸時,必為列行侍衛。初禪天之主為大梵王,其下之梵眾天、梵輔天分別為其人民、屬臣。〔大毘婆沙論卷九十八、玄應音義卷十八、俱舍頌疏世品卷一〕
; Brahmaparohita (S)Một cảnh Phạm thiên trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên.
; The Brahmapurohitas, or the etinue of Brahma—See Phạm Phú Lâu (2).
; (梵輔天) Phạm: Brahma-purohita. Cũng gọi Phạm phú lâu thiên. Tầng trời thứ 2 trong các tầng trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc, là tướng phụ tá của Đại phạm thiên. Tên cũ là Phạm tiên hành thiên, Phạm tiền ích thiên. Vì khi Phạm vương đi đâu, thiên chúng cõi này đều phải xếp hàng trước sau đi thị vệ, cho nên gọi là Phạm tiên hành thiên. Lại vì khi ở trước Phạm vương thì thiên chúng này thường nghĩ đến lợi ích của Phạm vương, cho nên gọi là Phạm tiên ích thiên. Tất cả thiên chúng ở tầng trời này đều là bày tôi phụ giúp Đại Phạm thiên vương, vì thế nên gọi là Phạm phụ thiên. Đại Phạm vương làm chủ cõi trời Sơ thiền, thần dân của Đại Phạm là Phạm chúng thiên và Phạm phụ thiên. [X. luận Đại tì bà sa Q.98; Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Câu xá tụng sớ thế phẩm Q.1].
Phạm phụ thiên 梵輔天
[ja]ボンホテン bonho ten ||| The Brahma-purohita heaven, whose inhabitants follow Mahābrahman. This is the second of the three heavens in the category of the first absorption, listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => (s: Brahma-purohita). Cư dân là quyến thuộc của Đại phạm thiên (s: Mahābrahman), là tầng trời thứ hai trong 3 tầng trời thuộc Sơ thiền, được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
phạm phục
4633梵天之服,或梵行者之服。袈裟之異名。色界諸天行梵者,皆服此衣,行四無量。〔法苑珠林卷五十三〕(參閱「袈裟」4784)
; The ksàya or monk's robe; the garment of celibacy.
; Kasaya (skt). 1) Y phục của Phạm Thiên: Brahma's robe. 2) Áo cà sa: Monk's robe. 3) Y phục của người tu phạm hạnh: The garment of celibacy.
; (梵服) Áo mặc của Phạm thiên, hoặc áo mặc của người phạm hạnh(tức ca sa). Các vị trời cõi Sắc đều mặc áo này. [X. Pháp uyển châu lâm Q.35]. (xt. Ca Sa).
phạm quốc
Brahmakṣetra (S).
phạm quỳnh
3941唐代蜀人。生卒年不詳。文宗時以善繪佛像名世,成都諸寺多有其手蹟。以聖壽寺釋尊像、聖興寺十大弟子像最爲人稱讚。又嘗作大悲觀音像,於尺絹中繪出三十六臂,所執法器諸物各盡其妙,筆蹟如縷,精勁圓潤,傳爲妙品。復作烏瑟摩像,設色未半而卒,後之妙手,無敢繼成者。氏家世奉佛,幼受皈戒,終身秉持無犯。每將繪畫所得,施之於人,己則綈袍一襲,終歲不易。長年寄宿僧舍,隨眾懺誦。卒年七十餘,健壯如恆。遺言殮以僧服,葬師僧之塔側。〔圖繪寶鑑〕
phạm sát
4633梵語 brahmakṣetra。梵,意謂清淨;剎,剎摩、制多羅之略稱,意謂地方;梵剎,本指清淨佛土,後轉為伽藍之美稱。亦即指佛教寺院。與「梵苑」同。〔翻譯名義集卷七〕(參閱「寺院」2414、「伽藍」2769)
; Brahma-ksha (S).
; Brahmaksetra (S). A name for Buddhist monastery, i.e. a place of purity.
; Brahmaksetra (skt). 1) Cõi Phật: Buddha-land. 2) Tên gọi tự viện như là nơi thanh tịnh: A name for a Buddhist monastery, i.e. a place of purity.
; (梵刹) Phạm: Brahmakwetra. Đồng nghĩa: Phạm uyển. Phạm nghĩa là thanh tịnh; Sát, nói đủ là Sát ma, Chế đa la, nghĩa là cõi, chốn. Phạm sát vốn chỉ cho cõi Phật. Về sau, Phạm sát được dùng để chỉ cho già lam, chùa viện của Phật giáo. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tự Viện, Già Lam).
phạm sư bồ tát
Xem Tối Thánh Bồ tát.
phạm thanh
The voice of Buddha.
; Tiếng của Đức Phật—The voice of Buddha
Phạm thiên
梵天; C: fàntiān; J: bonten; S: brahma-loka. |1. Cõi trời Phạm thiên ở Sắc giới; 2. Brahman, theo tư tưởng Ấn Độ thì đó là nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu, được xem là một vị thần hộ pháp trong Phật giáo, thường dùng để gọi Sơ thiền thiên (初禪天). Đây là một thuật ngữ để gọi 3 cõi trời gồm chung trong đó: Đại chúng thiên (大衆天, brahmā-kāyika), Phạm phụ thiên (梵輔天, brahma-purohita), Đại phạm thiên (大梵天, mahā-brahmā). Thuật ngữ nầy cũng thường dùng để chỉ cho chính Đại phạm thiên (大梵天, s: mahā-brahmā)
phạm thiên
4626梵名 Brahmā。音譯婆羅賀摩、沒羅含摩、梵摩。意譯清淨、離欲。印度思想將萬有之根源「梵」,予以神格化,為婆羅門教、印度教之創造神,與濕婆(Śiva)、毘濕奴(梵 Viṣṇu)並稱為婆羅門教與印度教之三大神。據摩奴法典所載,梵天出自金胎(梵卵),原有五頭,其一頭傳為濕婆所毀,餘四頭,具四手,分別持吠陀經典、蓮花、匙子,念珠或鉢。佛教將其列為色界之初禪天。一般分為三種,即梵眾天(梵 Brahma-pāriṣadya)、梵輔天(梵 Brahma-purohita)與大梵天(梵 Mahā-brahman),總稱為梵天。其中,大梵天王統御梵眾之人民、梵輔之輔弼臣。 又通常所稱之梵天大都指大梵天王,又稱梵王,名為尸棄(梵 Śikhin)或世主(梵 Prajāpati)。印度古傳說中,為劫初時從光音天下生,造作萬物,佛教中則以之與帝釋天同為佛教之護法神。釋尊曾升忉利天為母說法,下降此世時,梵王為佛之右脅侍,持白拂;或謂是梵天與摩羅王相合者。大梵天王身長為一由延半,壽命一劫半,其所住之宮殿,稱為梵王宮。密教將其列為十二天之一,守護上方。密教之梵天像四面四臂,右手持蓮花、數珠,左手執軍持,作唵字印,乘七鵝車,戴髮髻冠。又供養大梵天之修法,稱為梵天供。〔大智度論卷十、大毘婆沙論卷九十八、大日經疏卷五、中論疏卷一末、大唐西域記卷四〕(參閱「大梵天」850)
; Brahmadeva (S), Brahmā (S), Creator of the world Phạm thiên vương, Ngọc Hoàng thượng đế1- Cõi của những người đã hoàn toàn ly dục. 2- Chính vị Phạm vương này khi Phật chưa xuất gia thì Ngài khuyên xuất gia, khi đắc đạo thì Ngài khuyên Phật nên chuyển pháp luân, khi Phật nhập diệt thì Ngài cũng hiện ra tỏ lời thương tiếc1- Phạm thiên: Cha tất cả chúng sanh, Hộ pháp của Phật Pháp. 2- Phạm ma: Thiên thần thanh tịnh ở cõi trời sắc giới, miền sơ thiền. 3- Nghĩa là thanh tịnh, tịnh hạnh, như trong: phạm hạnh, phạm uyển. 5- Dùng trong Phạm tự, Phạm văn, chỉ chữ viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit).
; Brahmas (skt). (A) Nghĩa của Phạm Thiên—The meanings of Brahma: 1) Vị thần chính của Ấn giáo, thường được diễn tả như ngưới sáng tạo hệ thống thế giới—A chief of Hindu gods often described as the creator of world system. 2) Chủ của cung trời sắc giới. Ngài làm chúa tể của chúng sanh, được Phật giáo thừa nhận là chư Thiên, nhưng thấp hơn Phật hay người đã giác ngộ—Lord of the heavens of form. The father of all living beings; the first person of the Brahmanical Trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, recognized by Buddhism as devas but as inferior to a Buddha, or enlightened man. 3) Các chư Thiên trong cõi trời sắc giới: Devas in the realm of form. (B) Ba loại Phạm Thiên—Three kinds of Brahmas: 1) Phạm Chúng Thiên: The assembly of brahmadevas, i.e. Brahmakayika. 2) Phạm Phụ Thiên: Brahmapurohitas, or retinue of Brahma. 3) Đại Phạm Thiên: Phạm Thiên Vương—Mahabrahman, or Brahman himself. ** For more information, please see Thế Chủ.
; (梵天) Phạm: Brahmà. Hán âm: Bà la hạ ma, Một la hàm ma, Phạm ma. Hán dịch: Thanh tịnh, Li dục. Trong tư tưởng Ấn độ, Phạm được xem là nguồn gốc của muôn vật, là thần sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu, cùng với Thấp bà (Phạm: Ziva) và Tì thấp nô (Phạm: Viwịu), gọi chung là Tam đại thần của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Cứ theo pháp điển Ma nô (Phạm: Manusmfti) thì Phạm thiên sinh ra từ thai vàng (Phạm noãn), vốn có 5 đầu, tương truyền 1 đầu bị thần Thấp bà hủy hoại, còn lại 4 đầu, có 4 tay, lần lượt cầm kinh điển Phệ đà, hoa sen, cái thìa(muỗng)và tràng hạt hoặc chiếc bát. Phật giáo xếp Phạm thiên vào Sơ thiền thiên thuộc cõi Sắc. Thông thường, Phạm thiên được chia làm 3 loại là: Phạm chúng thiên (Phạm: Brahmapàriwadya), Phạm phụ thiên (Phạm: Brahma-purohita) và Đại Phạm thiên (Phạm: Mahà-brahmam), được gọi chung là Phạm thiên. Trong đó, Đại Phạm thiên vương thống lãnh các thần dân của Phạm chúng thiên và Phạm phụ thiên. Lại Phạm thiên mà người ta thường gọi phần lớn là chỉ cho Đại Phạm thiên vương, cũng gọi Phạm vương, tên là Thi khí (Phạm: Zikhin), hoặc Thế chủ (Phạm: Prajàpati). Theo truyền thuyết xưa của Ấn độ thì vào lúc kiếp sơ, Phạm thiên từ cõi trời Quang âm sinh xuống, tạo tác ra muôn vật. Trong Phật giáo thì Phạm thiên và Đế thích thiên đều là các vị thần hộ pháp của Phật giáo. Đức Thế tôn từng lên cung trời Đao lợi nói pháp độ cho thân mẫu, khi Ngài trở xuống thế giới Sa bà này thì Phạm vương tay cầm phất trần trắng đứng hầu bên phải đức Phật. Đại Phạm thiên vương thân cao 1,5 do diên, tuổi thọ 1,5 kiếp, cung điện Đại Phạm thiên vương ở, gọi là Phạm vương cung. Mật giáo xếp Phạm thiên làm 1 trong 12 vị trời giữ gìn phương trên. Tượng Phạm thiên trong Mật giáo có 4 mặt 4 tay; 2 tay bên phải cầm hoa sen và tràng hạt, 2 tay bên trái cầm quân trì(cái bình báu) và bắt ấn chữ Án, đầu độimũ búi tóc và ngồi trên cỗ xe do 7 con ngỗng kéo. Ngoài ra, pháp tu cúng dường Đại Phạm thiên, gọi là Phạm thiên cúng. [X. luận Đại trí độ Q.10; luận Đại tì bà sa Q.98; Đại nhật kinh sớ Q.5; Trung luận sớ Q.1, phần cuối; Đại đường tây vực kí Q.4]. (xt. Đại Phạm Thiên).
phạm thiên cõi
World of Brahma.
phạm thiên giảng tự
4628 請參閱 梵天擇地法位於浙江杭縣鳳凰山東麓。吳越王錢氏開創於北宋乾德年間(963~968),初名南墖寺。治平年間(1064~1067)改今名。天台宗山外派慶昭於景德元年(1004)來寺,聯同孤山智圓,與四明知禮五次往返論對法要,長達七年之久。及至清康熙、乾隆之際,承繼明代雲棲袾宏蓮社祖統之省庵實賢住此度化眾生,法席大盛。
phạm thiên giới
4628指色界之初禪天。略稱梵界。係堵塞諸煩惱海之本源者,所生寂靜梵天之世界。梵天界中,有梵眾天(梵 Brahma-pāriṣadya)、梵輔天(梵 Brahma-purohita)等,亦總稱之為梵身天(梵 Brahma-kāyika)或梵世天。〔舊華嚴經卷十二、大堅固婆羅門緣起經卷下、大吉義神咒經卷三、妙吉祥根本智卷下〕(參閱「梵天」4627)
; Brahmaloka (S)Phạm thế, Phạm giới.
; The realm of Brahma.
; (梵天界) Gọi tắt: Phạm giới. Chỉ cho trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Trong Phạm thiên giới gồm có: Phạm thiên (Phạm: Brahmà), Phạm chúng thiên (Phạm: Brahma-pàriwadya) và Phạm phụ thiên (Phạm: Brahma-purohita), cũng gọi chung là Phạm thân thiên (Phạm: Brahma-kàyika) hoặc Phạm thế thiên. Ở cõi trời này tất cả các phiền não căn bản đều đã lắng sạch, chỉ còn là trạng thái hoàn toàn thanh tịnh, vắng lặng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.12 (bản dịch cũ); kinh Đại kiên cố bà la môn duyên khởi Q.hạ; kinh Đại cát nghĩa thần chú Q.3; Diệu cát tường căn bản trí Q.hạ]. (xt. Phạm Thiên).
phạm thiên hoả la cửu diệu
4627梵名 Brahma-horanavagraha。全一卷。唐代僧一行(683~727)撰。收於大正藏第二十一冊,圖像部分收於第九十二冊。本經為密教有關星宿儀軌之經典。內容解說拜祭九曜星宿之諸種作法,如祭祀之方位、供物、所持之真言等,並舉出相應於各種年歲之星宿與吉凶之關係等。附有九曜星圖形。
; (梵天火羅九曜) Phạm: Brahma-horanavagraha. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Nhất hạnh (683-727) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21, riêng phần Đồ tượng được đưa vào tập 92. Sách này nói về nghi quĩ các tinh tú trong Mật giáo, nội dung giải thích tác pháp tế bái 9 vì sao (Cửu diệu) như phương vị cúng tế, vật cúng, chân ngôn tụng trì v.v... đồng thời nói rõ mối quan hệ lành dữ giữa các ngôi sao tương ứng với năm, tháng... có phụ thêm hình vẽ 9 ngôi sao.
phạm thiên hậu
Brahmi (S).
; Hậu phi của Phạm Thiên (Phạm Thiên trong Phật giáo không có hậu phi, tuy nhiên, dân gian Ấn Độ tôn sùng và cho rằng ngài có ba bà hậu phi)—The queen or wife of Braham.
Phạm thiên khuyến thỉnh
梵天勸請; C: fàntiān quànqǐng; J: bonten kanshō; |Sự cầu thỉnh từ Phạm thiên. Huyền thoại liên quan đến chuyện sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo, ngài nói rằng ban đầu không muốn giáo hoá chúng sinh, ngài cho rằng giáo lí ngài chứng ngộ được quá thâm sâu khó hiểu. Lúc ấy, đấng Phạm thiên (s: brahmā) trong Ấn Độ giáo xuất hiện và cầu thỉnh Đức Phật hãy vì chúng sinh mà truyền đạt những kinh nghiệm chứng ngộ của ngài.
Phạm thiên khuyến thỉnh 梵天勸請
[ja] ボンテンカンショウ bonten kanshō ||| The encouragement from Brahmā. The myth attached to the story of Śākyamuni's awakening says that he was originally reluctant to make the effort to teach, thinking the content of his awakening to be too difficult to be understood. At this point the Hindu god Brahmā appears and encourages Śākyamuni to go out and attempt to convey his new experience to others. => Sự cầu thỉnh từ Phạm thiên. Huyền thoại liên quan đến chuyện sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo, ngài nói rằng ban đầu không muốn giáo hoá chúng sinh, ngài cho rằng giáo lý ngài chứng ngộ được quá thâm sâu khó hiểu. Lúc ấy, đấng Phạm thiên trong Ấn Độ giáo xuất hiện và cầu thỉnh Đức Phật hãy vì chúng sinh mà truyền đạt những kinh nghiệm chứng ngộ của ngài.
phạm thiên ngoại đạo
Brahmadeva-heretics—Bà La Môn cho rằng Phạm Thiên là Đấng Tạo Hóa, nhưng với Phật giáo điều nầy trái với chân lý—The Brahmans consider Brahma to be the Creator of al things and the Supreme Being, which is heresy with Budhism.
phạm thiên nữ
4627梵名 Brahmī。音譯沒羅歌弭、末羅呬弭、末羅弭。即梵天之妃。亦有列為七母天之一。又作梵天妃、梵天后。大日經、大日經疏多稱大梵明妃。為密教胎藏界外金剛院之列眾。其形像身呈白肉色,右手屈臂握拳,左手屈臂當胸,持蓮花。梵天離欲清淨,應無后妃,於密教中稱妃,係表主梵天女性之德。阿闍梨所傳曼荼羅中,與大梵天共位於第三重東方。〔大日經義釋卷七、卷十、胎曼大鈔卷七、祕藏記〕(參閱「大梵天」850)
; (梵天女) Phạm: Brahmì. Hán âm: Một la ca nhị, Mạt la hi nhị, Mạt la nhị. Cũng gọi Phạm thiên phi, Phạm thiên hậu.Vợ của Phạm thiên. Cũng có thuyết xếp vị Thiên nữ này vào 1 trong 7 vị Mẫu thiên. Kinh Đại nhật, Đại nhật kinh sớ phần nhiều gọi vị tôn này là Đại Phạm minh phi. Trong Mật giáo, Phạm thiên nữ được liệt vào hàng bộ chúng của viện Ngoại kim cương thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Về hình tượng, vị Thiên nữ này thân màu người, cánh tay phải co, bàn tay nắm lại; tay trái co lại, cầm hoa sen để da ở ngang ngực. Phạm thiên vốn lìa dục trong sạch, nên không có vợ, nhưng trong Mật giáo gọi vợ là biểu thị cái đức chủ về Phạm thiên nữ tính. Trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, Phạm thiên nữ và Đại Phạm thiên cùng ngồi ở lớp thứ 3 về phía đông của Mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7, 10; Thai mạn đại sao Q.7; Bí tạng kí]. (xt. Đại Phạm Thiên).
phạm thiên pháp
4628梵天宮所行之治罰方法。即別立一壇,若有犯法者,令入此壇,諸梵不得與之往來交語。〔維摩經略疏卷一〕(參閱「梵壇」4648)
; (梵天法) Phương pháp trị phạt được thi hành bởi Phạm thiên. Tức lập 1 cái đàn riêng để giữ kẻ phạm pháp, các Phạm chúng khác không được tiếp xúc, giao du với phạm nhân. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. (xt. Phạm Đàn).
phạm thiên trạch địa pháp
4628全一卷。作者不詳。又作梵天擇地經。收於大正藏第十八冊。本書係依據大梵天王內祕密經之內容略述而成者,該經記述如來於過去世五百萬生中曾為持咒仙人,常遊歷諸山,隱居淨室,於遊歷時見到有利於法成就之四十二種地相。本書即略述此四十二種地相之擇地法。又本書所據以成書之大梵天王內祕密經,迄今並無漢譯本。
; (梵天擇地法) Cũng gọi Phạm thiên trạch địa kinh. Tác phẩm, 1 quyển, không rõ tác giả, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Sách này y cứ vào nội dung của kinh Đại Phạm thiên vương nội bí mật mà trình bày sơ lược về việc đức Như lai từng là 1 vị tiên nhân trì chú trong năm trăm vạn năm ở đời quá khứ, Ngài thường đi đến các ngọn núi, ở ẩn trong tịnh thất. Khi du hành, Ngài thấy 42 địa tướng có lợi cho việc thành tựu các pháp và cách chọn đất theo 42 địa tướng ấy. Kinh Đại Phạm thiên vương nội bí mật mà sách này y cứ, cho đến nay, không thấy có bản Hán dịch nào.
phạm thiên tự
4628位於福建同安縣東北之大輪山主峰下。建於隋代,初名興國寺。為十方叢林,有庵七十二所。歷代有高僧真如哲、丕、蔡等禪師先後住持,黃檗祖師亦曾悟道於此。寺寶有明初之銅鐘、宋之陀羅尼經幢、唐之石雕飛天女等。
phạm thiên vương
4628指色界初禪天之大梵天。梵天王名尸棄,又稱娑婆世界主、世主天。深信正法,每逢佛出世,必最先來請佛轉法輪。又常侍佛之右邊,手持白拂。〔雜阿含經卷四十四、法華經序品〕(參閱「大梵天」850)
; Brahma-king Xem Phạm thiên.
; Brahmà (S). Xem Phạm thiên.
; See Phạm Thiên (B) (3).
; (梵天王) Cũng gọi Sa bà thế giới chủ, Thế chủ thiên. Chỉ cho Đại Phạm thiên của trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Phạm thiên vương tên là Thi khí, thâm tín Chính pháp, mỗi khi có Phật ra đời thì Phạm thiên vương là người đầu tiên đến thỉnh Phật quay bánh xe pháp. Phạm thiên vương thường đứng hầu bên phải đức Phật,tay cầm phất trần trắng. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; phẩm Tựa kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Phạm Thiên).
Phạm thiên 梵天
[ja] ボンテン bonten ||| (Brahma-loka). (1) The 'Brahma-Heaven' in the realm of form. (2) Brahman, which in Indian thought is the substrate of all existence, is converted into a god in Buddhism, and is used to name the First Concentration Heaven 初禪天. This is a general term for the three heavens included in it, which are Brahmā-kāyika 大衆天, Brahma-purohita 梵輔天, and Mahābrahmā 大梵天. The term is also often used to denote the Mahā-brahmā heaven itself. => (s: Brahma-loka). 1. Cõi trời Phạm thiên ở Sắc giới. 2. Brahman, theo tư tưởng Ấn Độ thì đó là nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu, được xem là một vị thần hộ pháp trong Phật giáo, thường để gọi cõi trời (Sơ thiền thiên 初禪天). Đây là một thuật ngữ để gọi 3 cõi trời gồm chung trong đó; Đại chúng thiên (Brahmā-kāyika 大衆天), Phạm phụ thiên (Brahma-purohita 梵輔天), Đại phạm thiên (Mahābrahmā 大梵天). Thuật ngữ nầy cũng thường dùng để chỉ cho chính Đại phạm thiên (s: Mahā-brahmā heaven)
phạm thành
6119清末民初僧。江蘇如皋人。光緒三十四年(1904),入南京僧師範學堂,與太虛、仁山、智光等同學。曾與葉恭綽、蔣維喬等人發起影印宋版「磧砂藏經」,並編輯「宋藏遺珍」,於佛教資料之保存,頗有貢獻。師秉性誠篤,慈悲、負責,在對日抗戰時,曾四處奔走,爭取經費,以救濟難民。晚年事蹟不詳。
phạm thân
Brahmakāya (S)1- = Phạm thân thiên: Một cảnh Phạm thiên trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên. 2- Phạm thân: Thân thể thanh tịnh của đức Phạm thiên, tức là pháp thân Phật. 3- Tên chung của tất cả thiên thần ở cảnh thứ nhất trong bốn cảnh cõi sơ thiền.
; The pure spiritual body, or dharmakàya of the Buddha; also pháp thân.
; 1) Thân tâm thanh tịnh: The pure spiritual body. 2) Pháp thân của Phật: Dharmakaya of the Buddha.
phạm thân thiên
Xem Phạm thân.
; Quyến thuộc của Phạm Thiên (Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, và Đại Phạm Thiên)—The Brahmakayika, or retinue of Brahma. ** For more information, please see Phạm Thiên (B).
phạm thích
Trời Phạm Thiên và trời Đế Thích—Brahma and Sakra: 1) Trời Phạm Thiên, chủ cung trời sắc giới: Brahma, the lord of the form-realm. 2) Trời Đế Thích, chủ của trời dục giới: Sakra, the lord of the desire-realm.
phạm thích tứ thiên
Trời Phạm Thiên, Đế Thích, và Tứ Thiên Vương—Brahma, sakra, and the four Maharajas.
phạm thích tứ vương
4649指梵天、帝釋天,及四天王。又作梵釋四天。即色界初禪天之梵天、欲界忉利天主之帝釋天(合稱為梵釋)、四天王之併稱。四天王為東方持國天、西方廣目天、南方增長天、北方多聞天。梵釋四王均為佛法之守護神,常隨侍如來,恆不捨離諸大三昧,能現無量差別諸身。〔八十華嚴經十地品〕
; (梵釋四王) Cũng gọi Phạm thích tứ thiên. Từ ngữ gọi chung Phạm thiên, Đế thích thiên và Tứ thiên vương. Phạm thiên đứng đầu các tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc; Đế thích thiên làm chủ cung trời Đao lợi của cõi Dục. Phạm thiên và Đế thích gọi chung là Phạm thích. Còn Tứ thiên vương là: Trì quốc thiên ở phương đông, Quảng mục thiên ở phương tây, Tăng trởng thiên ở phương nam và Đa văn thiên ở phương bắc. Phạm, Thích, Tứ vương đều là các vị thiện thần giữ gìn Phật pháp. [X. phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)].
phạm thư
4636<一>梵名 Brāhmaṇa。音譯婆羅門那。解釋婆羅門教吠陀聖典之文獻。吠陀,狹義指四吠陀之本集(梵 Saṃhitā);廣義則合本集及梵書(廣義),總稱吠陀。梵書為婆羅門教奠定了吠陀天啟、祭祀萬能、婆羅門至上三大綱領。吠陀本集包括祭儀時讀誦之讚歌、祭詞、咒詞。梵書亦有廣義、狹義之分,規定祭儀之實踐方法,或解釋讚歌、祭詞之意義,說明祭祀之起源、祕義者,屬廣義之梵書,其內容可分為梵書(狹義)、森林書(梵 Āraṇyaka)、奧義書(梵 Upaniṣad)三部分。其中梵書(狹義)又分儀軌(梵 vidhi)與釋義(梵 artha-vāda)二部分;儀軌為規定祭祀之順序方法、讚歌之用途等,釋義則解說讚歌之意義及語源、祭祀之起源及其意義等。森林書及奧義書則同為考察祭祀及人生之意義,二者均重理論;其中奧義書尤深探哲理,又特名為吠檀多(梵 Vedānta)。梵書係以散文體裁書寫,書中採用大量之神話與傳說。 梵書之成立年代約在西元前一千年至六百年,即雅利安人由婆羅門文化中心之印度河流域東移至恆河平原時,乃吠陀祭儀複雜體系完全整備之時代產物。梵書可為神學書,同時為了解當時印度社會、種姓制度、婆羅門至上主義之神觀、神話變遷、集奧義書大成之一元哲學思想之萌芽等之珍貴資料,惜僅限於片段記錄。現存十五部,其中主要為附屬於梨俱吠陀之愛達羅氏梵書(四十一章)與附屬於夜柔吠陀之百道梵書(一百章)。後者在印度宗教文獻中首次提出靈魂轉世之理論。(參閱「吠陀」2820) <二>梵語 Brahmī或 Brāhmī-lipi。為古代印度雅利安民族於西元前六世紀以後,所使用最古字體之一。又作梵寐書。阿育王法敕之刻文,以及印度中央州薩迦爾(Sagar)地方出土(西元前三百年頃)之貨幣,皆書此字體。西元第四世紀之遺物中亦發現不少書此字體者。又此文字雖為印度古來固有者,然據近代研究,與腓尼基文同屬閃族(Semitic)語系,經由印度商人之傳入,於西元前五百年頃完成四十七字母。此文字最初隨閃族語系習慣由右向左橫寫,於中央州出土貨幣亦同樣由右向左,然阿育王刻文等則由左向右橫寫。阿育王時代之文字,特稱為古代孔雀王朝文字,廣行於全印度,亦普及至錫蘭。西元一世紀頃,產生北方梵書漸次以方形、南方梵書漸次以圓形書寫或刻出之傾向。至第四世紀頃,兩者之差異則更明顯化。(參閱「梵字」4630)
; Brāhmaṇa veda (S)Kinh điển Vệ đà.
; (梵書) I. Phạm Thư. Phạm: Brahmaịa. Hán âm: Bà la môn na. Sách giải thích thánh điển Phệ đà (Phạm: Fg-veda) của Bà la môn giáo. Phệ đà, nói theo nghĩa hẹp là chỉ cho Bản tập (Phạm: Saôhità) của Phệ đà; còn nói theo nghĩa rộng thì bao gồm cả Bản tập và Phạm thư(nghĩa rộng), gọi chung là Phệ đà. Phạm thư là bộ sách đặt nền tảng vững chắc cho 3 giềng mối cốt yếu của Bà la môn giáo là: Phệ đà thiên khải, Tế tự vạn năng và Bà la môn chí thượng. Phệ đà bản tập ghi chép các bài ca tán, lời tế và lời chú được xướng tụng khi cúng tế. Phạm thư cũng được chia ra 2 phần là phần nghĩa rộng và phần nghĩa hẹp. Phần nghĩa rộng bao gồm các qui định về cách thực hành nghi thức cúng tế, hoặc giải thích ý nghĩa của các bài ca tán, các lời tế, thuyết minh nguồn gốc và nghĩa sâu xa của sự cúng tế. Nội dung của Phạm thư nghĩa rộng lại được chia làm 3 phần: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Trong đó, Phạm thư(nghĩa hẹp) cũng lại chia làm 2 phần là: Nghi quĩ (Phạm: Vidhi) và Thích nghĩa (Phạm: Artha-vàda). Nghi quĩ qui định thứ tự của sự cúng tế và cách sử dụng các bài ca tán; còn Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa các bài ca tán, nguồn gốc và ý nghĩa của sự cúng tế cũng như nguồn gốc của các lời tế... Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư thì cùng khảo xét về ý nghĩa của việc cúng tế và đời sống con người, cho nên rất trọng phương diện lí luận. Trong đó, Áo nghĩa thư đặc biệt đi sâu vào lĩnh vực tìm hiểu triết lí, nên còn có cái tên riêng là Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta). Phạm thư được viết theo hình thức văn xuôi, trong sách sử dụng rất nhiều thần thoại và truyền thuyết. Về niên đại thành lập Phạm thư thì ước chừng vào khoảng 1.000 đến 600 năm trước Tây lịch, tức là khoảng thời gian mà trung tâm văn hóa của người Aryans từ lưu vực sông Ấn độ dời về phía đông đến đồng bằng sông Hằng. Đây là sản phẩm của thời kì mà hệ thống nghi thức cúng tế phức tạp của Phệ đà được chỉnh lí hoàn bị. Phạm thư có thể là sách về thần học, nhưng đồng thời cũng là tư liệu quí giá để tìm hiểu các vấn đề của xã hội Ấn độ đương thời như: Chế độ chủng tính, chủ nghĩa Bà la môn chí thượng, sự biến đổi thần thoại, tập đại thành tư tưởng Triết học, Nhất nguyên manh nha trong Áo nghĩa thư... Nhưng rất tiếc là những vấn đề ấy chỉ được ghi chép 1 cách vụn vặt có giới hạn mà thôi. Hiện nay còn 50 bộ, trong đó, chủ yếu là Ái đạt la thị Phạm thư (41 chương) phụ thuộc Lê câu Phệ đà và Bách đạo Phạm thư (100 chương) phụ thuộc Dạ nhu phệ đà. (xt. Phệ Đà). II. Phạm Thư. Phạm: Bràhmì, Bràhmì-lipi. Cũng gọi Phạm mị thư. Một trong những thể chữ xưa nhất được dân tộc Aryan sử dụng tại Ấn độ cổ đại từ sau thế kỉVI trước Tây lịch. Những Pháp sắc của vua A dục được khắc trên các cột đá và vách núi, những đồng tiền cổ (khoảng 300 năm trước Tây lịch) được đào thấy ở vùng Sagar của Ấn độ, đều được viết bằng thể chữ này. Trong những di vật của thế kỉ IV Tây lịch, người ta cũng phát hiện không ít thể chữ này. Loại văn tự này tuy Ấn độ đã vốn có từ xưa, nhưng theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ cận đại thì loại chữ này cùng 1 ngữ hệ với văn tự của dân tộc Semitic, do những thương gia Ấn độ đem về truyền bá, đến khoảng năm 500 trước Tây lịch thì hoàn thành được 47 chữ cái. Lúc đầu, văn tự này vẫn theo tập quán của dân tộc Semitic viết ngay từ phải sang trái, lối viết này được thấy trên các đồng tiền cổ đào được ở Sagar, nhưng trong các Pháp sắc của vua A dục thì lại được viết từ trái sang phải và đặc biệt được gọi là Cổ đại khổng tước vương triều văn tự(văn tự của triều đại Khổng tước đời xưa). Loại văn này được lưu hành trên toàn cõi Ấn độ và truyền đến cả Tích lan. (xt. Phạm Tự).
phạm thượng
To offend against one's superior; to wound a superior's feelings
; To be impertinent to superiors.
phạm thất
4633寺院之房舍,乃梵行者之清淨住室。明 代智旭著有「梵室偶談」。
; A dwelling where celibate discipline is pracised, a monastery, temple.
; Nơi Tăng đoàn trú ngụ và tu tập, chùa hay tự viện—A dwelling where the sangha is practicing Buddhist laws—A dwelling where celibate discipline is practised, a monastery, temple.
; (梵室) Phòng ốc trong chùa viện, là nhà ở của những người tu Phạm hạnh.
phạm thế
4629梵語 brahmaloka,巴利語同。又作梵色界、梵世天、梵世界、梵界。指梵天所支配之世界。又「梵世」一詞亦可作為色界諸天之總稱,蓋以此界之人已離淫欲之故,而古來於印度,離欲、清淨之行即稱為梵行。〔佛藏經卷下〕
; Xem Phạm thiên giới.
; (梵世) Phạm, Pàli:Brahmaloka. Cũng gọi Phạm sắc giới, Phạm thế thiên, Phạm thế giới, Phạm giới. Chỉ cho thế giới do Phạm thiên vương thống lãnh, chi phối. Từ ngữ này cũng có thể được dùng để gọi chung các vị trời ở cõi Sắc, vì những người sống ở thế giới này đã dứt bỏ dâm dục, nên xưa nay ở Ấn độ hạnh li dục, thanh tịnh được gọi là Phạm hạnh. [X. kinh Phật tạng Q.hạ].
phạm thế giới
Brahma-loka (S)Xem Brahmaloka.
; The Brahmaloka or the realm of form.
; Brahmaloka (skt)—Phạm Thế Thiên—Các cõi trời thuộc sắc giới—The Brahmaloka of the realm of form.
phạm thế thiên
Brahmaloka (skt)—See Phạm Thế Giới.
phạm thụ thiên
Brahmapurohitadeva (S)Một cảnh Phạm thiên trong 3 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Cõi này gồm các quan phụ tá Thiên chủ cõi Sơ thiền.
phạm thụ vương
Brahma-datta (S).
phạm thừa
4634請參閱 梵語千字文即菩薩乘,取其清淨乘物之意。亦即行慈悲喜捨者,稱為梵乘。乃楞伽阿跋多羅寶經卷二所舉天乘、梵乘、聲聞乘、緣覺乘、諸佛如來乘等五乘之一,大寶積經卷九十四所舉天乘、梵乘、聖乘等三乘之一。(參閱「乘」4021)
; The Brahmayàna, i.e. the noblest of the vehicles, that of the Bodhisattva.
; Brahmayana (skt)—Phạm Thiên Thừa hay Bồ Tát Thừa—The noblest of the vehicles, that of the bodhisattva.
; (梵乘) Thừa thanh tịnh. Chỉ cho Bồ tát thừa, vì Bồ tát lấy sự thanh tịnh làm căn bản và tu hạnh từ, bi, hỉ, xả nên gọi là Phạm thừa, là 1 trong 5 thừa (Thiên thừa, Phạm thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Chư Phật Như lai thừa) theo kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 2; là 1 trong 3 thừa (Thiên thừa, Phạm thừa, Thánh thừa) theo kinh Đại bảo tích quyển 94. (xt. Thừa).
phạm tiên
4639(1292~1348)元代臨濟宗僧。明州(浙江)象山人,俗姓徐。字竺僊(仙)。號來來禪子、寂勝幢、思歸叟。八歲,入吳興(浙江)資福院,為別源流之侍童。十八歲,依靈山之瑞雲隱受具足戒。未久,乃遊訪諸名剎,並參謁晦機元熙、雲外雲岫、元叟行端、中峰明本等師,後成為古林清茂之法嗣。天曆二年(1329),隨徑山之明極楚俊東渡日本,受到北條高時、足利尊氏之崇信。翌年,至鎌倉,任建長寺之第一座,其後,歷住淨妙寺、淨智寺。建武二年(1335),成為無量寺之開山第一祖。曆應四年(1341),住於京都之南禪寺,朝廷遂將該寺之寺格升為天下第一。復轉住楞伽院、真如寺、建長寺等。正平三年示寂,世壽五十七,法臘三十九。嗣法者有大年法延、椿庭海壽等,該法系稱為竺僊派(又作古林派,梅林門徒),為日本禪宗二十四流之一。師著有竺僊和尚語錄、天柱集、來來禪子歌、來來禪子東渡集、古林和尚行實等各一卷。〔本朝高僧傳卷二十七、延寶傳燈錄卷五、扶桑五山記卷二、卷三、卷五〕
; (梵仙) (1292-1348) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Từ, tự Trúc tiên, hiệu là Lai lai thiền tử, Tịch thắng chàng, Tư qui tẩu. Sư xuất gia năm 8 tuổi ở viện Tư phúc tại Ngô hưng (tỉnh Chiết giang). Năm 18 tuổi, sư y chỉ vào ngài Thụy vân ẩn ở Linh sơn thụ giới Cụ túc. Sau ít lâu, sư đi thăm viếng những ngôi chùa nổi tiếng và tham học các ngài Hối cơ Nguyên hi, Vân ngoại Vân tụ, Nguyên tẩu Hành đoan, Trung phong Minh bản... sau, sư nối pháp ngài Cổ lâm Thanh mậu. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư theo ngài Minh cực Sở tuấn vượt biển Đông sang Nhật bản, được Bắc điều Cao thời và Túc lợi Tôn thị kính tin. Năm sau, sư đến Liêm thương, nhận chức Đệ nhất tọa ở chùa Kiến trường; về sau, sư trụ trì các chùa Tịnh diệu và chùa Tịnh trí. Năm Kiến vũ thứ 2 (1335), sư trở thành Tổ khai sơn của chùa Vô lượng. Năm Lịch ứng thứ 4 (1341), sư trụ ở chùa Nam thiền tại Kinh đô (Kyoto), chùa này liền được triều đình phong là Đệ nhất thiên hạ. Về sau, sư lại lần lượt trụ ở viện Lăng già, chùa Chân như, chùa Kiến trường v.v... Năm Chính bình thứ 3 (1348), sư thị tịch, thọ 57 tuổi, 39 tuổi đạo. Đệ tử nối pháp có các vị Đại niên Pháp diên, Xuân đình Mai thọ. Pháp hệ của sư gọi là Trúc tiên phái (cũng gọi Cỗ lâm phái, Mai lâm môn đồ), là 1 trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản.Sư có các tác phẩm: Trúc tiên hòa thượng ngữ lục, Thiên trụ tập, Lai lai thiền tử ca, Lai lai thiền tử đông độ tập, Cổ lâm hòa thượng hành thực (mỗi thứ có 1 quyển). [X. Bản triều cao tăng truyện Q.27; Diên bảo truyền đăng lục Q.5; Phù tang ngũ sơn kí Q.2, 3, 5].
phạm trù
Hara (S).
Phạm trú
梵住; S, P: brahma-vihāra;|Bốn phạm trú.
phạm trú
Brahmavihāra (S).
phạm trăn
4649宋代僧。錢塘人,原名有臻。號南屏。生卒年不詳。受具足戒後,從學於四明知禮,知禮以天台諸學盡授之,唯不授其「摩訶止觀」,令其自行閱讀二十遍後,再加以印可。皇祐三年(1051)至上天竺寺,次年歸金山。熙寧五年(1072),應杭州太守之請,入南屏興教寺開講席。師辯才無礙,每就觀心、觀佛等問題,與淨覺仁岳等之「後山外派」諸師展開對論,名動一時。著有「釋十類」,開創南屏一家特有之類集形式著作。其後所著之諸文類集、讀教記、緒餘集、樂邦文類,皆為此類形式。另著十不二門總別指歸,現已不存。有弟子從諫等人。其門庭為四明三家中最繁盛者。崇寧年間追諡「實相禪師」之號。
; (梵臻) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, người Tiền đường, vốn tên là Hữu trăn, hiệu Nam bình. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo học ngài Tứ minh Tri lễ, ngài Tri lễ truyền hết các học thuyết của tông Thiên thai cho sư, ngoại trừ Ma ha chỉ quán ngài không truyền mà bảo sư phải tự đọc lấy. Sư đọc hơn 20 lần, sau đó, ngài Tri lễ mới ấn khả. Năm Hoàng hựu thứ 3 (1051), sư đến chùa Thượng thiên trúc, năm sau về Kim sơn. Năm Hi minh thứ 5 (1072), nhận lời thỉnh của quan Thái thú Hàng châu, sư đến giảng ở chùa Hưng giáo tại Nam bình. Sư có tài hùng biện, thường dựa vào các vấn đề quán tâm, quán Phật... để mở rộng các cuộc bàn luận, đối đáp với các vị thuộc phái Hậu sơn ngoại như Tịnh giác Nhân nhạc... nổi tiếng 1 thời. Tác phẩm Thích thập loại của sư mở ra 1 trường phái trứ tác rất đặc biệt, các tác phẩm khác của sư đều theo hình thức sáng tác này. Sau khi sư tịch, vào khoảng năm Sùng trinh, được đặt thụy hiệu là Thực Tướng Pháp Sư. Sư để lại các tác phẩm: Thích thập loại, Chư văn loại tập, Độc giáo kí, Tự dư tập, Lạc bang văn loại, Thập bất nhị môn tổng biệt chỉ qui (sách này đã thất lạc).
phạm trọng
2018謂觸犯重罪,即觸犯小乘戒之四重罪或大乘戒之十重罪。四重罪即淫、盜、殺、妄語等四種;十重罪即殺、盜、淫、妄語、酤酒、說四眾過、自讚毀他、慳惜加毀、瞋心不受悔、謗三寶等十種。(參閱「十重禁戒」461、「四波羅夷」1720)
; To break the weightier laws.
; Vi phạm giới trọng hay những giới chính—To break the weightier laws.
; (犯重) Phạm trọng tội. Tức là vi phạm 4 tội nặng của giới Tiểu thừa, hoặc 10 tội nặng của giới Đại thừa. Bốn tội nặng là: Dâm dục, trộm cướp, giết hại và nói dối. Mười tội nặng là: Giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối, bán rượu, nói lỗi của 4chúng, khen mình chê người, bỏn sẻn hủy nhục, lòng tức giận không chịu ăn năn, hủy báng Tam bảo. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Tứ Ba La Di).
phạm trọng yêm
3940(989~1052)宋代吳人。字希文。二歲即孤,家貧母嫁,稍長知之,泣辭,寄住里中僧舍苦讀。後舉進士,任祕閣校理。每慷慨論天下事,一時士大夫法之,皆尚氣節。仁宗時拜爲相,鎮守陝西,防禦西夏,敵不敢犯。後爲讒言所中,謫守青州,貶爲戶部侍郎。皇祐四年卒,享年六十四。贈兵部尚書,諡「文正」。仲淹自幼居佛寺,宿聞正法,淨持律戒,刻苦淬勵。既仕,喜近高僧,參究禪法,樂善好施,置義田以贍族人,平日賴以舉火者恆數十家。卒之日,聞者莫不歎息,仕女哭泣於路,如喪所親。
; (范仲淹) (989-1052) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc sống vào đời Tống, người đất Ngô, tự là Hi văn. Năm lên 2 tuổi, ông mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ tái giá. Khi vừa lớn khôn, ông cảm thấy khổ tâm, khóc lóc từ giã mẹ, đến ở nhờ nhà tăng trong làng, gắng sức học hành. Về sau, ông thi đỗ Tiến sĩ, ra làm quan giữ chức Bí các hiệu lí. Ông thường mạnh dạn bàn bạc việc nước, hàng sĩ phu đương thời đều bắt chước và chuộng khí tiết của ông. Thời vua Nhân tông, ông được phong làm tướng, trấn giữ Thiểm tây, phòng ngự Tây hạ, quân địch không dám xâm phạm. Sau bị bọn nịnh thần dèm pha, ông bị đày đi Thanh châu và giáng chức làm Hộ bộ thị lang. Năm Hoàng hựu thứ 4 (1052) ông qua đời, hưởng thọ 64 tuổi, được tặng Binh bộ thượng thư, thụy hiệu là Văn chính. Từ nhỏ ông đã sống trong chùa, sớm được nghe chính pháp, giữ gìn giới luật thanh tịnh, khắc khổ chuyên cần. Tuy làm quan nhưng ông thích gần gũi các bậc cao tăng, tham cứu pháp thiền, ưa làm việc từ thiện và thích bố thí, lập nghĩa điền để giúp đỡ người trong dòng họ và hàng ngày cấp dưỡng cho vài mươi gia đình đến nhờ cậy. Ngày ông mất, mọi người đều thương tiếc, trai gái đứng trên đường khóc như đám tang người thân.
phạm trụ thiên
Heaven of Pure Abode.
phạm tuyến
4648為婆羅門所用莊嚴具之一種。據毘奈耶雜事卷一載,六群比丘執鉢入城乞食時,見婆羅門身著梵線乞食者,多得美味,遂有仿效者。因而佛陀制定凡著梵線者得越法罪。越法罪為違越正法之罪,初期為輕罪之一種,其後密教判以同越三摩耶之重罪。
phạm tán
4650梵語 stotra。以梵音歎詠佛菩薩功德之讚文。盛行於印度之讚歌有:馬鳴(或謂摩咥里制吒)之四百讚、一百五十讚;陳那就一百五十讚,每讚加一頌以和之,成雜讚三百頌;釋迦提婆復以陳那之頌各加一頌,糅成雜讚四百五十頌;另有龍樹之蘇頡里離佉(梵 Suhṛdalekha,密友書),及馬鳴之佛所行讚等。 印度之佛教讚歌係承襲敘事詩羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)之語法而成之一種宮廷詩(梵 kāvya)文學,並和以音律賦詠;凡此,漢譯本有意譯者,亦有僅依梵音音譯者。如三身梵讚、佛三身讚、佛一百八名讚、佛吉祥德讚、八大靈塔梵讚、讚法界頌、八大靈塔名號經等均是。〔南海寄歸內法傳卷四、出三藏記集卷四、M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. Ⅱ; A.A. Macdonell: Sanskrit Literature〕
; (梵贊) Phạm:Stotra. Bài văn khen ngợi công đức của Phật, Bồ tát bằng tiếng Phạm. Những bài ca tán thịnh hành ở Ấn độ gồm có: Tứ bách tán, Nhất bách ngũ thập tán của ngài Mã minh (có thuyết nói của ngàiMa hí lí chế tra); ngài Trần na dựa vào Ngũ bách ngũ thập tán(150 bài tán), mỗi bài họa thêm 1 bài tụng mà thành Tạp tán tam bách tụng (300 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Rồi ngài Thích ca đề bà lại thêm vào cho 150 bài tán của ngài Trần na mỗi bài 1 bài tụng nữa mà tập thành Tạp tán tứ bách ngũ thập tụng(450 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Ngoài ra còn có Tô hiệt lí li khư (Phạm: Suhfdalekha, Mật hữu thư) của ngài Long thụ và Phật sở hành tán của ngài Mã minh. Những bài ca tán của Phật giáo Ấn độ là 1 thể loại văn học thi ca cung đình (Phạm: Kàvya), phỏng theo ngữ pháp của thi phẩm Anh hùng ca Ma la da na (Phạm: Ràmàyaịa), đồng thời, dùng âm luật phú vịnh để họa theo. Do đó, những tác phẩm thuộc loại ca tán ấy, khi được dịch sang Hán văn, thì có bản chỉ dịch lấy ý, mà cũng có bản chỉ dịch theo âm Phạm thôi. Chẳng hạn như các bài: Tam thân phạm tán, Phật tam thân tán, Phật nhất bách bát danh tán, Phật cát tường đức tán, Bát đại linh tháp phạm tán, Tán pháp giới tạng, Bát đại linh tháp danh hiệu kinh v.v... [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M. Winternitz; Sanskrit Literature by A.A. Macdonell].
phạm tâm
4628修梵行之心,稱為梵心。梵行,清淨之行為,即道俗二眾修習四梵行或禪定,以離欲清淨,故得生於色界、無色界。〔觀察諸法行經卷一、摩訶止觀卷一〕(參閱「梵行」4631)
; The noble or pure mind.
; Tâm tu theo phạm hạnh hay thanh cao và tinh khiết mà người thực tập sẽ được sanh về cõi trời vô sắc—The noble or pure mind (which practises the discipline that ensures rebirth in the realm without form).
; (梵心) Chỉ cho tâm tu phạm hạnh. Phạm hạnh nghĩa là hành vi thanh tịnh, tức người xuất gia hay tại gia tu tập 4 phạm hạnh hoặc tu thiền định, xả bỏ dâm dục, giữ thân tâm trong sạch, được sinh về cõi Sắc và cõi Vô sắc.[X. kinh Quán sát chư pháp hành Q.1; Ma ha chỉ quán Q.1]. (xt. Phạm Hạnh).
phạm tăng
4641一指由西域或印度東來之異國僧侶,一指持戒清淨(即修梵行)之修行僧。然至其後,亦漸用以泛指一般僧人,蓋以出家修行佛道者,必以出離俗世、捨棄雜染、斷除淫欲為基本要務之故。又修梵行之徒眾,則稱梵眾。此外,梵眾天亦略稱梵眾。〔俱舍論卷八、續高僧傳卷二十五釋圓通章〕
; Brahmin (P).
; A monk from India. Also a monk who maintains his purity.
; 1) Vị Tăng Ấn Độ thời xưa. Vào thời đó Tăng sĩ Ấn Độ mặc áo trịch (để lộ) vai phải: A monk from India: Brahman monk is a Buddhist Master of ancient India. During those days, Buddhist monks wore rope, Buddhist monks wore roped exposing thei right shoulders. 2) Vị Tăng gìn giữ tịnh hạnh: A monk who maintains his purity.
; (梵僧) Chỉ cho các vị tăng từ các nước Tây vực, hoặc Ấn độ đến Trung quốc; hoặc chỉ vị tăng tu hành giữ giới thanh tịnh(tức tu Phạm hạnh). Nhưng về sau, từ Phạm tăng cũng dần dần được sử dụng để chỉ chung cho giới tăng sĩ, bởi vì người xuất gia tu hành Phật đạo đều lấy việc xa lìa trần tục, xả bỏ tạp nhiễm, dứt trừ dâm dục làm gốc. [X. luận Câu xá Q.8; Tục cao tăng truyện Q.25 chương Thích viên thông].
Phạm Tướng
梵相; C: fànxiāng; J: bonsō; 1346-1410|Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, xuất thân từ vùng bây giờ là quận Yamanashi. Sư trải qua sự nghiệp hoằng hoá ở các ngôi chùa Thiên Long (天竜寺, j: tenryūji) và Tướng Quốc (相國寺, j: sōkokuji) ở Kinh Đô.
Phạm tướng
(梵相): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ cho tướng trang nghiêm, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 85 có thâu lục bài thơ Võ Túc Vương Hữu Chỉ Thạch Kiều Thiết Trai Hội Tấn Nhất Thi (武肅王有旨石橋設齋會進一詩) của một vị tăng ở Ngô Việt, có câu: “La Hán phàn chi trình Phạm tướng, nham tăng ỷ thọ hiện chơn hình (羅漢攀枝呈梵相、巖僧倚樹現眞形, La Hán vin cành bày tướng hảo, tựa cây tăng núi hiện chơn hình).” Hay trong Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄), chương Sự Thỉ (事始) 2 của Ngô Tằng (吳曾, khoảng thế kỷ 12) nhà Tống có đoạn: “Thiên hạ tự lập Quan Âm tượng, cái bổn ư Đường Văn Tông hảo thị cáp lị; nhất nhật, ngự soạn trung hữu phách bất khai giả, đế dĩ vi dị, nhân phần hương chúc chi, nãi khai, tức kiến Bồ Tát hình, Phạm tướng cụ túc (天下寺立觀音像、蓋本於唐文宗好嗜蛤蜊、一日、禦饌中有擘不開者、帝以爲異、因焚香祝之、乃開、卽見菩薩形、梵相具足, các chùa trong thiên hạ đều dựng tượng Quan Âm, vốn xuất phát từ việc vua Văn Tông [tại vị 826-840] nhà Đường thích ăn con sò; một hôm nọ, trong cỗ ăn của nhà vua có con sò bị nạy mà vẫn không mở ra; nhà vua lấy làm lạ, nhân đó thắp hương cầu khấn, con sò liền mở miệng ra, tức thấy hình Bồ Tát, tướng hảo đầy đủ).” (2) Chỉ chung cho tượng Phật. Như trong bài thơ Tam Nguyệt Thập Nhật Quán Nam An Triệu Sứ Quân Sở Tang Thư Họa Cổ Khí Vật (三月十日觀南安趙使君所藏書畫古器物) của Liễu Quán (柳貫, 1270-1342) nhà Nguyên có câu: “Đình quang cổ Phật xuất Phạm tướng, mãn nguyệt tại thủy liên sanh phu (庭光古佛出梵相、滿月在水蓮生趺, hào quang cổ Phật bày tướng hảo, trăng tròn mặt nước sen ngồi Thiền).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ có câu: “Tống Thích Nghĩa Thông, tánh Duẫn, Cao Lệ quốc tộc, Phạm tướng dị thường, mi trường ngũ thốn dư, ấu xuất gia Quy Sơn Viện (宋釋義通、姓尹、高麗國族、梵相異常、眉長五寸餘、幼出家龜山院, Thích Nghĩa Thông nhà Tống, họ là Duẫn, dòng họ nước Cao Lệ [Triều Tiên], tướng hảo khác thường, lông mày dài hơn 5 tấc, lúc nhỏ xuất gia ở Quy Sơn Viện).” Hay trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19 có đoạn: “Ngôn Pháp Hoa giả, mạc tri kỳ sở tùng lai, Phạm tướng kỳ cổ, ngữ ngôn vô kỵ, xuất một bất trắc, đa hành thị lí, khiên thường nhi xu, hoặc cử chỉ họa không, trữ lập lương cửu, dữ đồ cổ giả du, ẩm đạm vô sở trạch, đạo tục cọng mục vi cuồng tăng (言法華者、莫知其所從來、梵相奇古、語言無忌、出沒不測、多行市里、褰裳而趨、或舉指畫空、佇立良久、與屠沽者游、飲啖無所擇、道俗共目爲狂僧, Ngôn Pháp Hoa, chẳng biết ông từ đâu đến, tướng hảo cổ quái, nói năng chẳng kiêng kỵ, ẩn hiện khôn lường, phần nhiều xuất hiện nơi chợ búa, làng xóm, vén quần mà đi, hoặc có khi đưa ngón tay lên vẽ trên không trung, rồi đứng yên một hồi lâu, cùng với hạng bán rượu thịt giao du, ăn uống đủ thứ, cả đạo lẫn đời đều xem ông là tu sĩ điên).”
phạm tướng
Brahmadhvaja (S). One of the sons of Mahàbhijnà, his Buddha domain is south-west of our universe.
; Brahmadhvaja (skt)—Một trong những người con trai của Mahabhijna, trong cõi Phật ở về phía tây nam vũ trụ của chúng ta—One of the sons of Mahabhijna; his Buddha domain is south-west of our universe.
Phạm Tướng 梵相
[ja] ボンソウ Bonsō ||| Bonsō (1346-1410). A monk of the Japanese Rinzai school, originally from the area that is now Yamanashi prefecture. He spent most of his career at Tenryūji 天竜寺 and Sōkokuji 相國寺temples in Kyoto. => j: Bonsō (1346-1410). Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, xuất thân từ vùng bây giờ là quận Yamanashi. Sư trải qua sự nghiệp hoằng hoá ở các ngôi chùa Thiên Long (j: Tenryūji 天竜寺 ) và Tướng Quốc (j: Sōkokuji 相國寺) ở Kyoto.
phạm tẩu
4639指僧侶所娶之妻。梵道、梵行等之本意,即指斷除淫欲、戒行清淨。又梵僧一詞本指自印度或西域東來之僧人,亦指戒行清淨之僧人;而出家修行佛道者,通常應以出離俗世、捨離雜染為基本要務,故梵僧一詞,亦漸泛指一般僧人。佛陀所制之戒律,原本嚴禁出家僧徒淫行娶妻等事,自印度乃至我國各時代,大部分僧徒皆奉持此一戒律,然不免有少數僧人疏於戒行,或因特殊情事,而有娶妻之事,所娶之妻,則稱為梵嫂。據五雜俎卷八所引宋陶穀之清異錄記載,僧人之妻,稱為梵嫂;又同書所引番禺雜記亦記載,粵中之僧人,其有家室者,稱為火宅僧,乃以「火宅」喻指居處家室之危殆,如處火坑,較之「梵嫂」一詞,則更具有譏嫌警惕之意味。於唐代末期,我國即有僧尼嫁娶之事,至宋代亦曾盛行於蜀、粵之地,宋太宗曾下詔力誡之。佛祖統紀卷四十三太宗雍熙元年(984)條(大四九‧三九九下):「詔嶺南粵俗殺人祭鬼,僧置妻孥,所在長吏誡厲,以順正教。」
; (梵嫂) Chỉ cho vợ của 1 vị tăng. Đây là từ ngữ có tính cách châm biếm, mỉa mai. Bởi vì người xuất gia tu đạo là phải giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, không được lấy vợ, không được dâm dục, gọi là Phạm tăng (tăng trong sạch). Nếu tăng lấy vợ là tăng đã phá giới cấm của Phật, nên vợ của vị tăng ấy được gọi 1 cách châm biếm là Phạm tẩu, còn chính vị tăng có vợ thì được gọi là Hỏa trạch tăng(tăng ở trong nhà lửa), có ý vị châm biếm và mỉa mai hơn cả từ Phạm tẩu! Tại Trung quốc, vào cuối đời Đường đã có hiện tượng tăng sĩ lấy vợ, tình trạng này kéo dài đến đời Tống mới chấm dứt, vì nhà vua hạ lệnh cấm chỉ việc này. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43, thì vào niên hiệu Ung hi năm đầu (984), vua Tống thái tông ban chiếu chỉ cấm tăng sĩ lấy vợ, trong sắc lệnh có câu Các quan lại địa phương phải triệt để răn cấm tăng nhân lấy vợ để làm sáng tỏ và thuận với chính giáo.
Phạm tịch
(梵席): chỗ ngồi trong các tự viện, đặc biệt thường dùng để chỉ chỗ ngồi để thuyết giảng, tụng kinh, làm các Phật sự; đôi khi đồng nghĩa với pháp tịch (法席). Như trong Pháp Hoa Linh Nghiệm Truyện (法華靈驗傳) quyển hạ có câu: “Kim hạnh kiệt thành Trương Hoàng phạm tịch, dục vấn nhất nhị đại chỉ, nhiên thủ hộ thần tương ha cấm bất nhập, bằng hoàng môn ngoại sổ nhật hỉ (今幸竭誠張皇梵席、欲問一二大旨、然守護神將呵禁不入、彷徨門外數日矣, nay đã kiệt sức, may gặp pháp hội của Trương Hoàng, muốn hỏi một hai yếu chỉ quan trọng, nhưng thần thủ hộ khiển trách, cấm không cho vào, tôi bàng hoàng ở ngoài cửa mấy ngày vậy).”
phạm tịnh sơn
4637位於貴州江口縣北,印江縣東南。上多梵剎,故得此名。又稱九龍山、月鏡山,即古三山谷。山勢峻偉,為貴州第一。上有一峰,中如斧劃,麓斷而巔連,旁有金刀峽,峽上有飛橋,人登其上,如凌虛以行,頗稱奇觀。山多鑛產,尤饒汞鑛。自明萬曆年間闢佛教道場以來,即成蜀、湘、黔諸省之遊覽勝地。中有大小金頂、拜佛臺、說法臺,煉丹臺、香爐峰、棉絮嶺,藏經岩、九龍池、定心池、太子石諸景,羅列競秀,劍氣橫天。又建於明末清初之承恩寺、護國寺、霸梅寺、鎮國寺等大小梵剎分佈山間,蔚為壯觀。
phạm tội
To commit or perpetrate a crime.
; To commit a crime—To commit offences.
Phạm tội 犯罪
[ja] ボンザイ bonzai ||| To commit crimes; to be immoral, to break the precepts. => Vi phạm qui chế; trái đạo đức, phạm giới luật.
Phạm tự
梵字; C: fànzì; J: bonji; |Chữ viết Ấn Độ, vốn là dạng chữ Phạn cổ xưa, về sau thuật ngữ nầy trở nên dung để đề cập đến kiểu chữ Devanāgari.
phạm tự
4629梵天所製作之文字之意。係古代印度所通行之文字。亦即由梵書(Brāhmī)字母發展而成之悉曇文字。依據印度之傳說,梵字為梵天所創造,然依近代研究,梵字與現今歐洲所通用文字之原形腓尼基(Phoenicia)文,皆屬閃族(Semitik)語系。係西元前八百年頃,印度商人在美索布達米亞(Mesopotamia)地方,與亞拉姆語(Aramaic)接觸,結果將閃族之二十二字母傳入印度,再由婆羅門等整理充備,推定至西元前五百年頃,始完成四十七字母。 梵字之書寫,本由右向左橫書,後則變成由左向右橫寫,且其書體由於時代及地方不同而漸次變異。西元一世紀頃,北方傾向於用方形;南方則傾向用圓形。至第四世紀頃,兩者之間遂產生明顯之區別。北方系於第四至第五世紀,發展成為笈多(梵 Gupta)文字,更至第六世紀而作悉曇文字。此外,復產生種種文字,如七世紀起於中印度之那軋利(梵 Nāgarī)文字,八世紀之下拉大(梵 Śāradā)文字,終至第十一世紀完成現今出版梵本所用之梵字,即天城體(梵 Deva-nāgarī)文字。至第六世紀以後,傳於西藏、西域等者,即成為其特種之文字。 至於南方系文字,亦發展出諸種文字,如篋冠文字、卡那拉(梵 Kāṇara)文字、帖如固(Telugu)文字、羯结伽(梵 Kaliṅga)文字、各蘭特哈(Grantha)文字、嗒米彔(Tamil)文字、瓦帖彔土(Vaṭṭeḻuttu)文字等;現今寫經及刊本所用之錫蘭、緬甸、泰國、高棉等之文字,均屬南方梵書系統。然除前述北方、南方系之梵字外,亦有屬梵書(梵字)以外系統之文字,如方廣大莊嚴經卷四示書品所列梵寐書等六十四書、耆那教典之十六字母等即是。〔慧琳音義卷二十六、悉曇藏卷一、C. Bendall: Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, palaeographie; M. Monier-Williams: A Sanskrit-English Dictionary, introduction; Rhys Davids: Buddhist India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol.Ⅰ; R. Hoernle: Manuscript Remains of Buddhist Literature found in E. Turkestan, general introduction〕(參閱「梵書」4636、「悉曇」4564)
; Samskrtan (S). Brahma letters; sanskrit. Also Phạm thư the clasical Aryan language of India, systematized by scholars, in contradiction to Pràkit, representing the language as ordinarily spoken.
; 1) Chữ Phạn—Brahma letters—samskrtam—Sanskrit. a) Bắc Phạn: Sanskrit. b) Nam Phạn: Tiếng Phạn Pali được vài học giả Trung Hoa cho rằng cổ hơn tiếng Phạn Sanskrit về cả tiếng nói lẫn chữ viết—Pali, considered more ancient by some Chinese writers than Sanskrit both as a written and spoken language. 2) Phạm Thư: Văn Tự cổ của Ấn Độ, phân biệt với tiếng nói bình dân Prakrit. Chỉ vài ngoại lệ kinh điển Trung Quốc được dịch từ tiếng Phạn Pali (Nam Phạn), còn thì đa phần được dịch sang từ tiếng Phạn Sanskrit (Bắc Phạn). —The classical Aryan language of India, in contradistinction to Prakrit, representing the language as ordinarily spoken. With the exception of a few ancient translations probably from Pali versions, most of the original texts used in China were Sanskrit.
; (梵字) Văn tự do Phạm thiên chế ra, thông dụng ở Ấn độ cổ đại, cũng tức là văn tự Tất đàm được phát triển từ tự mẫu Phạm thư (Bràhmì) mà thành. Theo truyền thuyết của Ấn độ thì Phạm tự là do Phạm thiên chế ra, nhưng theo sự nghiên cứu thời gần đây thì Phạm tự và hình thái ban đầu của văn tự Phoenicia thông dụng ở Âu châu hiện nay đều thuộc ngữ hệ Semitik. Vào khoảng 800 năm trước Tây lịch, những thương gia Ấn độ tiếp xúc với tiếng Aramaic ở vùng Mesopotamia kết quả là 22 chữ cái Semitik đãđược các thương gia ấy đem truyền về Ấn độ, rồi các Bà la môn chỉnh lí, bổ sung, đến khoảng 500 năm trước Tây lịch mới hoàn thành 47 chữ cái. Về cách viết, chữ Phạm vốn được viết ngang từ phải sang trái, nhưng về sau đổi thành viết ngang từ trái sang phải. Cách viết này do thời đại và địa phương khác nhau mà dần dần cũng thay đổi. Khoảng thế kỉ I Tây lịch, miền Bắc Ấn độ có khuynh hướng dùng hình vuông, miền Nam có khuynh hướng dùng hình tròn. Đến khoảng thế kỉ IV thì 2 miền Bắc, Nam đã có sự khác nhau rõ ràng. Từ thế kỉ IV đến thế kỉ V, hệ thống miền Bắc phát triển thành văn tự Cấp đa (Phạm: Gupta), rồi đến thế kỉ VI thì thành văn tự Tất đàm. Ngoài ra còn sản sinh nhiều thứ văn tự khác như văn tự Nàgarìở Trung Ấn độ vào thế kỉ VII, văn tựZàradàtừ thế kỉ VIII trở đi, cuối cùng đến thế kỉ XI thì hoàn thành Phạm tự được dùng để xuất bản các bản Phạm hiện nay, tức là văn tự Deva-nàgarì. Từ thế kỉ XI trở đi, Phạm tự được truyền vào Tây tạng, Tây vực... và trở thành loại văn tự đặc biệt. Còn hệ thống văn tự miền Nam cũng phát triển thành nhiều loại văn tự, như văn tự Khiếp quan, văn tự Ca na lạp (Phạm: Kàịara), văn tự Thiếp như cố (Phạm: Telugu), văn tự Yết lăng già (Phạm: Kaliíga, văn tự Các lan đặc cáp (Phạm: Grantha), văn tự Tamil, văn tự Vaỉỉaơuttuv.v... Các loại văn tự của Tich lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... được dùng để chép kinh hoặc in ấn hiện nay đều thuộc hệ thống Phạm tự miền Nam Ấn độ. Nhưng, ngoài các loại Phạm tự thuộc hệ thống 2 miền Nam, Bắc như đã nói ở trên, còn có các loại văn tự nằm ngoài hệ thống Phạm thư (Phạm tự) như Lục thập tứ thư được liệt kê trong phẩm Thị thư của kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4; Lục thập tự mẫu của Kì na giáo điển v.v... [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Tất đàm tạng Q.1; Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, palaeographie, by C. Bendall; A Sanskrit-English Dictionary, introduction, by M. Monier-Williams; Buddhist India, by Rhys Davids; On Yuan Chwang, by T. Watters; Manuscript Remains of Buddhist Literature found in E. Turkestan, general introduction, by R. Hoernle]. (Xt. Phạm Thư, Tất Đàm).
Phạm tự 梵字
[ja] ボンジ bonji ||| Indic writing; originally the early written forms of Sanskrit, later comes to refer to the style of devanāgari. => Chữ viết Ấn Độ, vốn là dạng chữ Sanskrit cổ xưa, về sau thuật ngữ nầy dùng để chỉ cho mẫu tự Devanāgari.
phạm uyển
A monastery or any place where celibate discipline is practised.
; Tự viện, nơi các vị xuất gia sống đời độc thân tu tập—A monastery or any place where celibate discipline is practised.
phạm vi
1) Phạm trù: Domain—Field. 2) Khuôn khổ hay nguyên tắc: Rule and restraint—To guard by proper means.
Phạm vi 範圍
[ja] ハンイ han'i ||| Limit, scope, sphere. => Giới hạn, tầm, mục tiêu; giới.
phạm võng
Brahmajàla. The net of Brahmà.
; Brahmajala (skt)—Brahma-net.
phạm võng bồ tát
Brahmajala (S)Tên một vị Bồ tát.
phạm võng giới
4642請參閱 梵網經古迹記 請參閱 梵網經合註 即梵網經卷下所載之十重禁戒、四十八輕戒。於大乘戒中,相對於地持、瑜伽之分為「三聚戒」,梵網戒係不分在家、出家,均可受持。(參閱「十重禁戒」461、「菩薩戒」5216)
; See Phạm Võng Giới Bổn.
; (梵網戒) Tức 10 giới nặng và 48 giới nhẹ được ghi trong kinh Phạm võng quyển hạ. Trong giới Đại thừa, giới Phạm võng không phân biệt tại gia hay xuất gia, mà tất cả đều có thể thụ trì. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Bồ Tát Giới).
phạm võng giới bổn
Bồ Tát Giới Kinh hay phần sau của Kinh Phạm Võng—The latter part of the Brahma-sutra. ** For more information, please see Bốn Mươi Tám Giới Khinh, and Mười Giới Trọng của chư Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng.
phạm võng giới phẩm
4642即梵網經之異稱。全稱梵網經盧舍那佛說菩薩心地戒品第十。今之梵網經,僅為廣本梵網經中有關菩薩階位、戒律之菩薩心地戒品之一品,故稱梵網戒品。(參閱「梵網經」4642)
; Tên của Kinh Phạm Võng (Kinh Phạm Võng ngày nay chỉ còn lại một phẩm Bồ Tát Tâm Địa Giới trong bộ Kinh Phạm Võng nên gọi là Phạm Võng Giới Phẩm)—A name for the Brahma-sutra.
; (梵網戒品) Gọi đủ: Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Tên gọi khác của kinh Phạm võng. Kinh Phạm võng hiện nay chỉ là 1 tác phẩm nói về giai vị, giới luật của Bồ tát trong kinh Phạm võng(quảng bản), vì thế gọi là Phạm võng giới phẩm. (xt. Phạm Võng Kinh).
phạm võng hội
4642日本佛教用語。講說讀誦梵網經,以祈死者冥福之追善法會。係基於梵網經卷下所載,父母、兄弟、和尚阿闍黎之亡滅日,乃至三七日、七七日,講說讀誦大乘經典。〔東大寺要錄卷八〕
; (梵網會) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội chuyên giảng diễn và đọc tụng kinh Phạm võng để cầu siêu cho vong linh người chết. Theo kinh Phạm võng quyển hạ, vào ngày mất của cha mẹ, anh em, Hòa thượng A xà lê... cho đến 21, 49 ngày liên tiếp, nên giảng nói, đọc tụng kinh điển Đại thừa. [X. Đông đại tự yếu lục Q.8].
Phạm Võng Kinh
(t: Chos-kyi rgya-mo saṅs-rgyas rnam-par snaṅ-mdsad kyis byaṅ-chub-sems-pdaḥi sems kyi gnas bçad leḥu, c: Fan-wang-ching, j: Bongōkyō, 梵綱經): còn gọi là Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm Đệ Thập (梵綱經盧舍那佛說菩薩心地戒品第十), Bồ Tát Giới Kinh (菩薩戒經), Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh (梵綱菩薩戒經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 24, 997, No. 1484, Cưu Ma La Thập dịch từ năm 402-412 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 4-14) đời Hậu Tần.
Phạm võng kinh
梵網經; S: brahmajāla-sūtra; C: fànwăngjīng; J: bonmōkyō; |2 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch năm 406. Xuất phát từ một phẩm trong một bộ kinh lớn (120 quyển) nhan đề Bồ Tát giới kinh (菩薩戒經, s: bodhisattva-śīla-sūtra). Đây là kinh văn căn bản chỉ rõ nội dung giới luật Đại thừa, được Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản áp dụng. Kinh ghi 10 giới luật quan trọng mà Phật tử không được vi phạm: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Say sưa, 6. Nói xấu người khác, 7. Chê người, tự khen mình, 8. Ganh ghét, 9. Giận dữ, 10. Phỉ báng Tam bảo. Tăng ni vi phạm có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.|Ngoài ra kinh Phạm võng còn ghi thêm 48 giới luật phụ khác. Ðặc biệt trong kinh này còn cho phép tự mình quy y tăng, nếu không có một Tăng-già chính thức hiện diện. Như thế 58 giới luật trong kinh Phạm võng là trọn giới luật Bồ Tát mà mỗi vị tỉ-khâu có nhiệm vụ giữ gìn.
phạm võng kinh
4642請參閱 梵網經 或 梵網戒品 請參閱 菩薩戒義疏<一>西藏名 Chos-kyi rgya-mo saṅs-rgyas rnam-par snaṅ-mdsad-kyis byaṅ-chub sems-dpaḥi sems-kyi gnas bśad-pa leḥu bcu-pa。凡二卷。全稱梵網經盧舍那佛說菩薩心地戒品第十。又作梵網經菩薩心地品、梵網戒品。相傳為後秦鳩摩羅什譯,然未能確定。收於大正藏第二十四冊。係說明菩薩修道之階位及應受持之十重四十八輕之戒相。其廣本之卷數,有諸多異說,據僧肇梵網經序所載,凡六十一品百二十卷,此為第十品。蓋以大梵天王之因陀羅網,重重交錯無相障閡,諸佛之教門亦重重無盡,莊嚴法身無所障閡,一部所詮之法門重重無盡,譬如梵王之網,故稱梵網經。 上卷為釋迦佛於第四禪天普接大眾,使歸蓮華藏世界之紫金剛光明宮中,向臺上盧舍那佛請問菩薩之行因,盧舍那佛乃對千百之釋迦廣說十發趣心、十長養心、十金剛心等三十心及十地等四十法門。下卷則論及菩薩戒,列舉十重禁戒、四十八輕戒;係釋迦佛於娑婆世界閻浮提之菩提樹下所揭示。此經被視為大乘律之第一經典,頗為中國、日本佛教界所重視。尤以日僧最澄以本經為依據,處斷當時有關戒律之問題。此經內容異於小乘律,無出家、在家之區別,而主張眾生依照共通之戒,並以佛性之自覺為其特色。 此外,本經係盧舍那佛本說、釋迦菩提樹下重說,故被認為屬於華嚴經之類。因流傳、譯著者之史實不詳,且所載多引用他經,故亦被推定非譯自梵夾,係於我國所偽造,編述時代約為劉宋末年。昔來本經多盛行下卷,稱之為梵網菩薩戒經、菩薩戒本、多羅戒本、菩薩波羅提木叉經、梵網經盧舍那佛說菩薩十重四十八輕戒。本經之注釋書甚多,如隋代智顗之菩薩戒義疏二卷、唐代明曠刪補之天台菩薩戒疏三卷、唐代法藏撰梵網經菩薩戒本疏六卷、新羅義寂述菩薩戒本疏三卷等。〔金剛頂經大瑜伽祕密心地法門義訣卷上、開元釋教錄卷四、顯戒論卷中〕 <二>巴利名 Brahmajāla-sutta。以巴利語書寫,屬南方上座部之經藏。相當於漢譯長阿含卷十四梵動經、梵網六十二見經。梵網亦稱見網法門,如漁夫用網捕魚,以比喻網羅一切見解之意。本經之內容集二部而成。第一部係說世人從守持瑣細卑近之戒律上讚歎如來,又言戒有小戒、中戒及大戒之分;第二部則敘述如來悟道,體現所說,為極難見微妙之諸法,吾人唯有依佛所說,方為真正之讚歎。因欲明此法,首先述說有關外道之六十二見,此六十二見含盡正統婆羅門及一般思想界諸說,佛不僅悉皆如實了知,並斷諸執著。〔T.W. Rhys Davids and J.E. Carpenter:The Dīgha Nikāya, vol. Ⅰ〕(參閱「梵網六十二見經」4642)
; Brahmajāla sŪtra (S), Brahma Net Sutra Có ghi các giới luật gồm: - 10 giới trọng của đại thừa và 48 giới khinh - 58 giới của Bồ tát (10 giới trọng cùng 48 giới khinh).
; Brahmajàla-sùtra (S) The infinitude of worlds being as the eyes or holes in Indriya's net, which is all-embracing, like the Buddha's teaching. Phạm Võng giới phẩm, a name for the above or the next Phạm Võng giới bản the latter part of the above sùtra.
; Tên gọi tắt của Phạm Võng Kinh Lư Xá Na, Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm Đệ Thập Phạm Võng Kinh, được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ khoảng năm 406 sau Tây Lịch. Lấy tên Phạm Võng là vì pháp giới vô biên, như những mắt lưới của vua Trời Đế Thích (giao nhau mà không hề vướng víu trở ngại), cũng giống như giáo pháp của của chư Phật cũng tầng tầng vô tận, trang nghiêm pháp thân cũng không hề có chướng ngại—Brahmajala-sutra, translated into Chinese by Kumarajiva around 406 A.D., the infinitude of worlds being as the eyes or holes in Indra's net, which is all-embracing, like the Buddha's teaching. There are many treatises on it. ** For More information, please see Kinh Phạm Võng, Mười Giới Trọng của chư Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
; (梵網經) I. Phạm Võng Kinh. Tạng: Chos-kyi rgya-mo saís-rgyas rnam-par snaí-mdsad-kyis byaí-chub sems-dpa#i sems-kyi gnas bzad-pa le#u bcu-pa. Gọi đủ: Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Cũng gọi Phạm võng kinh Bồ tát tâm địa phẩm, Phạm võng giới phẩm. Kinh, 2 quyển, tương truyền do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này nói về các giai vị tu đạo của Bồ tát và 10 giới nặng, 48 giới nhẹ mà Bồ tát thụ trì. Cứ theo bài tựa của ngài Tăng triệu trong kinh Phạm võng, Quảng bản của kinh này gồm có 61 phẩm, 120 quyển, kinh này là phẩm thứ 10. Giáo môn của chư Phật trùng trùng vô tận, trang nghiêm pháp thân không bị ngăn ngại, giống như mạng lưới(võng)Nhân đà la của Đại Phạm thiên vương, lớp lớp giao thoa xen lẫn nhau không cùng tận, cho nên kinh này được gọi là kinh Phạm võng. -Quyển thượng: Từ tầng trời Đệ tứ thiền, đức Phật Thích ca tiếp dắt đại chúng về cung Tử kim cương quang minh ở thế giới Liên hoa tạng, chiêm ngưỡng đức Phật Lô xá na và thưa hỏi về nhân hạnh của Bồ tát, đức Phật Lô xá na liền đối trước trăm nghìn Phật Thích ca nói rộng về 40 pháp môn: 10 tâm phát thú, 10 tâm trưởng dưỡng, 10 tâm kim cương và 10 địa. -Quyển hạ: Nói về 10 giới nặng và 48 giới nhẹ của Bồ tát. Đây là các giới pháp do đức Phật Thích ca chỉ dạy dưới gốc cây Bồ đề ở cõi Diêm phù đề trong thế giới Sa bà.Kinh này được xem là kinh điển bậc nhất về luật Đại thừa, rất được giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản coi trọng. Ngài Tối trừng của Nhật bản đã lấy kinh này làm căn cứ, dựa vào đó mà xử đoán các vấn đề có liên quan đến giới luật đương thời. Ngoài ra, kinh này vốn do đức Phật Lô xá na tuyên thuyết, đức Phật Thích ca nói lại dưới gốc cây Bồ đề, vì thế nên được xếp vào loại kinh Hoa nghiêm. Bởi lẽ không rõ sự thực lịch sử về sự lưu truyền và người phiên dịch, vả lại, trong lời văn phần nhiều dẫn dụng các kinh khác, nên cũng được suy đoán là không phải dịch từ bản tiếng Phạm, mà là do người Trung quốc ngụy tạo và thời đại biên soạn có lẽ vào khoảng những năm cuối đời Lưu Tống. Xưa nay kinh này thường được lưu hành quyển hạ, gọi là Phạm võng bồ tát giới kinh, Bồ tát giới bản, Đa la giới bản, Bồ tát ba la đề mộc xoa kinh, Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát thập trọng tứ thập bát khinh giới. Kinh này có rất nhiều sách chú thích như: Bồ tát giới nghĩa sớ, 2 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy; Thiên thai bồ tát giới sớ, 3 quyển, do ngài Minh khoáng san bổ vào đời Đường; Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ, 6 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường; Bồ tát giới bản sớ, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịch, người Tân la soạn. [X. Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; luận Hiển giới Q.trung]. II. Phạm Võng Kinh. Pàli:Brahmajàla-sutta. Kinh, được viết bằng tiếngPàli, thuộc tạng Kinh của Thượng tọa bộ phương Nam, tương đương với kinh Phạm động và kinh Phạm võng lục thập nhị kiến bản Hán dịch trong Trường a hàm quyển 14. Nội dung kinh này do 2 bộ tập thành: -Bộ thứ nhất: Tán thán hạnh trì giới vi tế của Như lai. Lại chia giới làm 3 thứ là: Tiểu giới, Trung giới và Đại giới. -Bộ thứ hai: Tán thán pháp môn vi diệu, cực kì hiếm có mà đức Phật đã giảng nói. Trước khi tuyên thuyết pháp vi diệu, hiếm có này, đức Như lai nói về 62 kiến chấp của ngoại đạo, 62 kiến chấp bao hàm tất cả các thuyết của Bà la môn chính thống và các học phái khác. [X. TheDìgha Nikàya, vol. I, by T.W. Rhys Davids and J.E. Carpenter]. (xt. Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến Kinh).
phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ
4644請參閱 梵網經 或 梵網戒品凡六卷或三卷。唐賢首大師法藏撰。又稱梵網戒本疏、梵網戒疏、梵網法藏疏。收於大正藏第四十冊。詳解梵網經卷下菩薩戒本,總立教起所因、諸藏所攝、攝教分齊、顯所為機、能詮教體、所詮宗趣、釋經題目、教起本末、部類傳譯、隨文解釋等十門。本書之特色為解釋戒相甚為詳細,十重禁戒一一設立十門,四十八輕戒則分八門。全書援引八十種經律論,其中並含有居士請僧福田經、比丘應供法行經等古佚經數種。注釋書有紀要六卷(鳳潭)、日珠鈔五十卷(凝然)等。
; (梵網經菩薩戒本疏) Cũng gọi Phạm võng giới bản sớ, Phạm võng giới sớ, Phạm võng Pháp tạng sớ. Kinh sớ, 6 quyển, hoặc 3 quyển, do ngài Hiền thủ Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Nội dung sách này lập 10 môn để giải thích rõ giới bản của Bồ tát trong kinh Phạm võng quyển hạ, đó là: Giáo khởi sở nhân, Chư tạng sở nhiếp, Nhiếp giáo phân tề, Hiển sở vi cơ, Năng thuyết giáo thể, Sở thuyên tông thú, Thích kinh đề mục, Giáo khởi bản mạt, Bộ loại truyền dịch và Tùy văn giải thích. Đặc sắc của bộ kinh này là ở chỗ giải thích các giới tướng 1 cách rất cặn kẽ rõ ràng; trong 10 giới nặng, mỗi giới lập ra 10 môn, còn 48 giới nhẹ thì chia làm 8 môn. Toàn bộ sách trích dẫn 80 thứ kinh luật luận, trong đó có bao gồm những kinh đã bị thất lạc từ xưa như: Kinh Cư sĩ thỉnh tăng phúc điền, kinh Tỉ khưu ứng cúng pháp hành v.v... Về các sách chú thích bộ sớ này thì có: Kỉ yếu 6 quyển (Phượng đàm), Nhật châu sao 50 quyển (Ngưng nhiên).
phạm võng kinh cổ tích kí
4642請參閱 梵網經合註 【梵網經古迹→】請參閱 梵網經古迹記 凡三卷,或作二卷、四卷。新羅太賢集。又稱梵網古迹記、梵網經古迹。收於大正藏第四十冊。係梵網經之注釋,分別為時處、機根、藏攝、翻譯、宗趣、題名、本文等七門。注釋書有文集十卷(叡尊)、綱義十卷(清算)、補妄鈔十卷(定泉)等。本書係參照智顗、法藏、義寂等諸疏,而別立一家之見。對淨土之依用智顗菩薩戒義疏而言,本書自昔即為律、真言、法相等宗所重。
; (梵網經古迹記) Cũng gọi Phạm võng cổ tích kí, Phạm võng kinh cổ tích. Kinh sớ, 3 quyển, hoặc 2 quyển, 4 quyển, do ngài Thái hiền người Tân la biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Nội dung sách này chú thích kinh Phạm võng, chia làm 7 môn: Thời xứ, Cơ căn, Tạng nhiếp, Phiên dịch, Tông thú, Đề danh và Bản văn. Sách này tham khảo các bộ Sớ của các ngài Trí khải, Pháp tạng, Nghĩa tịch... mà lập kiến giải riêng. Khác với Bồ tát giới nghĩa sớ của ngài Trí khải là tác phẩm chỉ được tông Tịnh độ dùng làm chỗ y cứ, bộ sách này của ngài Thái hiền từ xưa đã được các tông: Luật, Chân ngôn, Pháp tướng... coi trọng.
phạm võng kinh hợp chú
4644凡三卷或七卷。又作梵網經心地品合註,梵網合註。明代僧智旭(1599~1655)注,道昉校訂。書成於崇禎十年(1637)。收於卍續藏第六十冊。係梵網經菩薩心地品之注釋。智旭為彰顯梵網經之內容,遂作本書論述「無作戒體」之性、因、緣、體、相、期、果等七句之勝義,並略解十重四十八輕戒,乃至此等戒律儀則與孝順等一般德目之關係,亦廣為闡論。此外,又設立十門,以解說戒相,即:(一)隨文釋義,(二)性遮重輕,(三)七眾料簡,(四)大小同異,(五)善識開遮,(六)異熟果報,(七)觀心理解,(八)懺悔行法,(九)修證差別,(十)性惡法門。
; (梵網經合注) Cũng gọi Phạm võng kinh Tâm địa phẩm hợp chú, Phạm võng hợp chú. Kinh sớ, 3 quyển hoặc 7 quyển, do ngài Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, ngài Đạo phưởng hiệu đính, hoàn thành vào năm Sùng trinh thứ 10 (1637), được thu vào Vạn tục tạng tập 60. Đây là tác phẩm chú thích phẩm Bồ tát tâm địa trong kinh Phạm võng. Vì muốn nói rõ nội dung của kinh Phạm võng, nên ngài Trí húc soạn sách này để bàn về thắng nghĩa của Tính, Nhân, Duyên, Thể, Tướng, Kì, Quả... của giới thể vô tác, đồng thời, giải thích sơ lược về 10 giới nặng 48 giới nhẹ và mối quan hệ giữa các nghi tắc của giới luật này với những đức mục phổ thông như hiếu, thuận v.v... Ngoài ra, tác giả còn thiết lập 10 môn để nói rõ về giới tướng: 1. Tùy văn thích nghĩa. 2. Tính giá trọng khinh. 3. Thất chúng liệu giản. 4. Đại tiểu đồng dị. 5. Thiện thức khai giá. 6. Dị thục quả báo. 7. Quán tâm lí giải. 8. Sám hối hành pháp. 9. Tu chứng sai biệt. 10. Tính ác pháp môn.
phạm võng kinh lư xá na phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
Xem Kinh Phạm võng.
Phạm võng kinh 梵網經
[ja] ボンモウキョウ Bonmōkyō ||| The Fanwang jing (Brahmajāla-sūtra); (Sutra of Brahma's Net). 2 fasc. T 1484.24.997a-1010a, trans Kumārajīva 鳩摩 in 406. Originally a chapter in a much larger (120 fasc.) work called the Bodhisattva-śīla-sūtra 菩薩戒經. This is the basic canonical work for defining the vinaya in Mahāyāna. Cf. T 279, 1811-1815, 2246, 2797. => (c: Fanwang jing; j: Brahmajāla-sūtra; e: Sutra of Brahma's Net). 2 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch năm 406. Xuất phát từ một phẩm trong một bộ kinh lớn (120 quyển) nhan đề Bồ-tát giới kinh (Bodhisattva-śīla-sūtra 菩薩戒經). Đây là kinh văn căn bản chỉ rõ nội dung giới luật Đại thừa.
phạm võng lục thập nhị kiến kinh
4641全一卷。又作梵網經、六十二見經。三國吳‧支謙譯於黃武二年至建興二年(223~253)。收於大正藏第一冊。本經旨在顯示佛陀悉知無上甚深微妙之法,既不執著於任何見解,亦不介意外道之毀謗或讚歎,而為諸比丘解說外道所耽著之六十二種偏邪見解。此六十二種邪妄見解,參差交錯,如梵天之羅網,而外道沈湎其中,如魚入網,不能出離,故稱梵網六十二見經。本經之同類本有:巴利本長部第一經、漢譯長阿含卷十四梵動經,另有竺法護所譯之六十二見經,惜已散軼。〔歷代三寶紀卷五、大唐內典錄卷二、開元釋教錄卷二〕(參閱「梵網經」4642)
; (梵網六十二見經) Cũng gọi Phạm võng kinh, Lục thập nhị kiến kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào khoảng năm Hoàng vũ thứ 2 đến năm Kiến hưng thứ 2 (223-253) tại nước Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật biết hết các pháp sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, nhưng Ngài không chấp trước bất cứ một pháp nào, mà cũng chẳng hề quan tâm đến sự khen chê của ngoại đạo. Ngài nói rõ cho các vị tỉ khưu nghe về 62 kiến giải mà ngoại đạo chấp trước 1 cách thiên lệch. Sáu mươi hai kiến giải tà vọng này móc nối chằng chịt như mạng lưới (võng) của Phạm thiên, các ngoại đạo chìm đắm trong đó, như cá bị mắc lưới, không thể gỡ ra được, vì thế gọi là kinh Phạm võng lục thập nhị kiến (kinh 62 kiến giải chằng chịt như mạng lưới của Phạm thiên). Những bản cùng loại với kinh này gồm có: Kinh thứ nhất trong Trường bộ bản Pàli; kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14 bản Hán dịch. Ngoài ra cũng có kinh Lục thập nhị kiến do ngài Trúc pháp hộ dịch, nhưng rất tiếc bản dịch này đã bị thất lạc. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2]. (xt. Phạm Võng Kinh).
phạm võng sám pháp
4644請參閱 梵網經 或 梵網戒品 請參閱 梵網懺法全一卷。又作梵網經懺悔行法。明澫益大師智旭(1599~1655)述。收於卍續藏第一○七冊。本書係依據梵網經之內容所設立之懺悔行儀。共分十門,即:(一)嚴道場,(二)淨三業,(三)香花供養,(四)讚禮歸依,(五)陳罪悔除,(六)立誓誦戒,(七)苦到禮佛,(八)重修願行,(九)旋遶自歸,(十)坐念實相。本書內容並不限於梵網經之要旨,另有多處引用大寶積經勝鬘夫人會及彌勒所問會等之文意,間亦涉及天台宗之意旨。
; (梵網懺法) Cũng gọi Phạm võng kinh sám hối hành pháp. Sám pháp, 1 quyển, do ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 107. Sách này y cứ vào nội dung của kinh Phạm võng mà được soạn thuật, gồm có 10 môn:1. Nghiêm đạo tràng. 2. Tịnh tam nghiệp. 3. Hương hoa cúng dường. 4. Tán lễ qui y. 5. Trần tội hối trừ. 6. Lập thệ tụng giới. 7. Khổ đáo lễ Phật. 8. Trọng tu nguyện hành. 9. Toàn nhiễu tự qui. 10. Tọa niệm thực tướng. Nội dung sách này không chỉ giới hạn trong yếu nghĩa của kinh Phạm võng mà có nhiều chỗ cũng trích dẫn các kinh khác như hội Thắng man phu nhân và hội Di lặc sở vấn trong kinh Đại bảo tích..., thỉnh thoảng cũng đề cập đến ý chỉ của tông Thiên thai.
phạm võng tam trọng bản mạt
4641即指梵網經所說盧舍那等佛之成道。又作三重本末、三重本末成道。於梵網經所說之廣大莊嚴的蓮華臺藏世界中,盧舍那佛為此世界之本源,趺坐於蓮花臺上。此蓮華臺藏世界係由千葉之大蓮花所成,每一葉中有一世界,其中復各有百億之須彌山、四天下、南閻浮提。由盧舍那佛自身變化出千釋迦,各據於千葉之世界;千釋迦復各化出百億之菩薩釋迦,各坐於南閻浮提菩提樹下宣說菩薩之心地法門。 梵網經卷下(大二四‧一○○三下):「我今盧舍那,方坐蓮華臺,周匝千華上,復現千釋迦,一華百億國,一國一釋迦,各坐菩提樹,一時成佛道。」天台宗乃根據此記載,揭出三重本末成道之說,謂第一重係指蓮花臺上盧舍那佛之成佛,第二重指千花葉上千釋迦之成佛,第三重為每一花葉中百億國百億釋迦之成佛;此臺上、葉上、葉中之佛互有本末之關係,故稱三重本末。智顗之菩薩戒經義疏詳述其關係,而以「兩重本迹」解釋之,謂臺上之舍那為「本」,千花葉及千百億之釋迦共為「迹」;又於「迹」中,千釋迦為迹中之本,千百億釋迦為跡中之迹。如是,臺上、葉上、葉中共成三重本末,一一佛悉成正覺,稱為三重本末成道。〔法華玄義卷七上〕(參閱「蓮華藏世界」6152)
; (梵網三重本末) Cũng gọi Tam trùng bản mạt, Tam trùng bản mạt thành đạo. Ba lớp gốc ngọn. Tức chỉ cho 3 lớp thành đạo của đức Phật Lô xá na và Phật Thích ca nói trong kinh Phạm võng. Theo kinh Phạm võng, đức Phật Lô xá na ngồi kết già trên đài hoa sen trong thế giới Liên hoa đài tạng rộng lớn trang nghiêm. Thế giới này do 1.000 cánh hoa sen lớn tạo thành, trong mỗi cánh sen có 1 thế giới, trong mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, 4 châu thiên hạ và Nam diêm phù đề. Từ nơi thân của Phật Lô xá na biến hóa ra 1.000 Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên 1 cánh sen trong thế giới nghìn cánh sen; nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật lại biến hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi bồ tát Thích ca ngồi dưới gốc cây Bồ đề ở cõi Nam diêm phù đề tuyên thuyết pháp môn Tâm địa của Bồ tát. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1003 hạ) nói:Nay ta là Lô xá na, Ngồi kết già trên hoa sen; Trên nghìn hoa sen xung quanh, Lại hiện ra nghìn Thích ca; Một cánh hoa trăm ức cõi, Mỗi cõi có một Thích ca, Đều ngồi dưới gốc Bồ đề, Đồng thời thành Đẳng chính giác. Tông Thiên thai căn cứ vào bài kệ trên đây mà lập ra thuyết Tam trùng bản mạt thành đạo, tức là 3 lớp thành đạo từ gốc đến ngọn. -Lớp thứ nhất: Chỉ cho sự thành đạo của Phật Lô xá na trên đài hoa sen. -Lớp thứ hai: Chỉ cho sự thành đạo của 1.000 Phật Thích ca trên 1.000 cánh hoa sen.-Lớp thứ ba: Chỉ cho sự thành đạo của trăm nghìn ức Thích ca trên trăm nghìn ức cánh sen trong trăm nghìn ức cõi nước. Giữa các đức Phật trên đài hoa sen, trên nghìn cánh sen, trên trăm nghìn ức cánh sen đều có mối quan hệ gốc ngọn với nhau, vì thế gọi là Tam trùng bản mạt. Trong Bồ tát giới kinh nghĩa sớ của ngài Trí khải có trình bày rõ về mối quan hệ ấy và giải thích bằng Lưỡng trùng bản tích, tức cho rằng đức Xá na trên đài sen là Bản, còn các đức Thích ca trên nghìn cánh hoa và trên trăm nghìn ức cánh hoa đều là Tích. Nghìn đức Thích ca là Bản trong Tích, trăm nghìn ức đức Thích ca là Tích trong Tích. Như vậy, trên đài sen, trên nghìn cánh sen và trên trăm nghìn ức cánh sen cùng tạo thành 3 lớp gốc ngọn, mỗi mỗi đức Phật đều thành Chính giác, gọi là Tam trùng bản mạt thành đạo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, phần đầu]. (xt. Liên Hoa Tạng Thế Giới).
phạm võng tông
Luật Tông được mang vào hoằng hóa tại Nhật Bản bởi một nhà sư Trung Hoa tên Giám Chân vào khoảng năm 754 sau Tây Lịch—The sect of Ritsu, brought into Japan by the Chinese monk Chien-Chen in 754 A.D.
Phạm vũ
(梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, 梵) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, Nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, Chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”.
; (梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, 梵) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) nhà Đường có làm bài Đăng Thiền Định Tự Các (登禪定寺閣, có tên khác là Đăng Tổng Trì Tự Các [登總持寺閣]) rằng: “Phạm vũ xuất tam thiên, đăng lâm vọng bát xuyên, khai khâm tọa tiêu hán, huy thủ phất vân yên, hàm cốc thanh sơn ngoại, hỗn trì lạc nhật biên, đông kinh dương liễu mạch, thiếu biệt dĩ kinh niên (梵宇出三天、登臨望八川、開襟坐霄漢、揮手拂雲煙、函谷青山外、昆池落日邊、東京楊柳陌、少別已經年, chùa cổ vút trời xanh, lên lầu ngắm núi sông, vén áo ngồi trời rộng, khua tay vẫy mây vờn, khe thẳm núi xanh vắng, hồ trăng trời lặn buông, kinh đô dương liễu rũ, xa cách đã mấy năm).” Hay như trong Pháp Bảo Đàn Kinh (法寳壇經), Phẩm Cơ Duyên (機緣品) có đoạn: “Thời Bảo Lâm Cổ Tự, tự tùy mạt binh hỏa, dĩ phế, toại ư cố cơ trùng kiến Phạm vũ (時寶林古寺、自隋末兵火、已廢、遂於故基重建梵宇, ngôi chùa cổ Bảo Lâm đương thời, bị nạn binh hỏa cháy rụi từ cuối thời nhà Tùy, nay đã hoang phế, bèn trùng kiến ngôi chùa mới trên nền cũ).” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác lại có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”. Ngay tại cổng sơn môn của Đài Đồng Tự (壹同寺), Phố Tân Trúc (新竹市), Đài Loan (臺灣) có hai câu đối như sau: “Sơn khai giác lộ liên hoa xán, môn ánh kinh lâu Phạm vũ tân (山開覺路蓮花燦、門映經樓梵宇新, núi khai nẻo giác hoa sen rực, cửa rạng lầu kinh mới cảnh chùa).” Trong Tây Sương Ký (西廂記) cũng có câu rằng: “Sinh rằng quán khách lạ lùng, trộm nghe đây lối Phạm cung cảnh mầu.”
phạm vũ
A sacred house, i.e a Buddhist pagoda, monastery or templr.
; Chùa hay tự viện—A sacred house, i.e. a Buddhist monastery, or temple.
Phạm vương
梵王; C: fànwáng; J: bonō; |Vua cõi trời Đại phạm.
phạm vương
Brahma Sahampati (S).
; The father of all living beings; the first person of the Brahminical Trimùrti, Brahmà, Vishnu and Siva, recognized by Buddhism as devas but as inferior to a Buddha, or enlightened man.
; See Phạm thiên.
phạm vương cung
Cung điện của Phạm Thiên—The palace of Brahma.
Phạm vương 梵王
[ja] ボンオウ bonō ||| The King of the Brahma Heaven. => Chủ cõi trời Đại phạm.
Phạm Yến 範宴
[ja] ハンエン Hannen ||| Hannen; a former name of Shinran 親鸞. => Hannen (j); Nguyên là tên của Thân Loan (j: Shinran 親鸞).
Phạm âm
(s: brahma-svara, p: brahmassara, 梵音): âm thanh do vị Đại Phạm Thiên Vương phát ra, hay còn được ví cho tiếng của Như Lai. Bên cạnh đó, với nghĩa chữ phạm (梵) là thanh tịnh, nó có nghĩa là tiếng thanh tịnh của Như Lai, một trong 32 tướng tốt của Phật. Ngoài ra, nó còn có nghĩa là tiếng tụng kinh có âm khúc, là một trong Tứ Pháp Yếu gồm phạm bối, tán hoa, phạm âm và tích trượng.
; (梵音): còn gọi là phạm thanh (s: brahma-svara, 梵聲), một trong 32 tướng tốt của đức Phật, là âm thanh vi diệu, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s:渠 karaviṅka; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. Tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺), Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, hạnh quán tròn đầy từ quán bi quán thanh tịnh quán, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng phạm tiếng hải triều).” Hay như trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Diệu âm quán thế âm, phạm âm hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố tu thường niệm (妙音觀世音、梵音海潮音、勝彼世間音、是故須常念, diệu âm, quán thế âm, phạm âm, hải triều âm, hơn cả âm thế gian kia, cho nên phải thường nhớ đến).”
; giọng nói của Phạm thiên (Phạm âm thanh), Phạn ngữ: brahma-svara. Có năm đặc tính: 1. Nghe rền vang như tiếng sấm; 2. Tiếng trong trẻo nghe rất xa, và ai nghe cũng lấy làm vui vẻ, sung sướng; 3. Ai nghe cũng sanh lòng kính mến; 4. Tiếng giảng giải đạo lý rất giản dị, dễ hiểu; 5. Người nghe không thấy chán.
phạm âm
4634<一>又作梵聲。佛菩薩之音聲。即佛報得清淨微妙之音聲,亦即具四辯八音之妙音。佛三十二相中即有梵音相。據大智度論卷四,佛之梵音如大梵天王所出之聲,有五種清淨之音:(一)甚深如雷。(二)清徹遠播,聞而悅樂。(三)入心敬愛。(四)諦了易解。(五)聽者無厭。〔法華經卷七妙音菩薩品、無量壽經卷下〕 <二>為梵唄之一種。(參閱「四箇法要」1827)
; Brahmaghoṣa (S)Tiếng nói của Phạm thiên vương. Tiếng nói này có 5 đặc tính: thâm trầm như tiếng sấm, trong trẻo nghe rất xa va thấy sung sướng vui vẻ, ai cũng kính mến, giải đạo lý gọn ghẻ dễ dàng, nghe không chán. Do những công đức này, Phạm âm còn là tiếng nói của chư Phật hay chư Bồ tát.
; Bràhmaghosa (S) Brahma voice, clear, melodious, pure, deep, far-reaching, one of the thirty two marks of Buddha.
; 1) Brahma voice, one of the thirty-two marks of a Buddha: a) Tiếng nói trong trẻo: The voice is clear. b) Tiếng nói hòa nhã: The voice is melodious. c) Tiếng nói thanh tịnh (chính trực): The voice is pure. d) Tiếng nói sang sảng: The voice is deep. e) Tiếng nói ấy ngân vang, ở nơi xa cũng nghe thấy: The voice is far-reaching. 2) Tiếng ca hay tụng tán thán Phật: Singing in praise of Buddha. ** For more information, please see Âm Thanh Của Đức Như Lai.
; (梵音) I. Phạm Âm. Cũng gọi Phạm thanh. Chỉ cho âm thanh của Phật và Bồ tát, 1 trong 32 tướng hảo của Phật. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 4 thì Phạm âm vi diệu của Phật có 5 tính chất: 1. Rền vang như sấm. 2. Trong suốt vang xa, người nghe đều vui mừng. 3. Khiến người sinh tâm kính ái. 4. Rõ ràng dễ hiểu. 5. Người muốn nghe mãi, không cảm thấy chán. [X. phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa Q.7; kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. II. Phạm Âm. Một trong các thứ Phạm bái (đọc canh, tán tụng). (xt. Tứ Cá Pháp Yếu).
phạm âm phật
Brahmaghoṣa-Buddha (S), Pure Sound BuddhaTên một vị Phật hay Như Lai.
phạm âm tướng
4634梵語 brahma-svara,巴利語 brahmassara。又作梵聲相、梵音深遠相、得梵音聲相、聲如梵王相、弘雅梵聲相。佛三十二相之一。佛清淨之梵音,聲洪圓滿,如鳴天鼓,微妙最勝;又如迦陵頻伽之音,聞者愛樂,得益無量。此乃佛於因位時,無量世中不惡口、說實言美語、教善語、不謗正法,所感得之妙相。即表示令聞者隨其器得益,皆生善心無雜亂,大小權實皆能解了,斷惑消疑,而常欲聞愛樂之德。(參閱「三十二相」507)
; Brahma-svara (S), Brahmassara (P).
; (梵音相) Phạm: Brahma-svara. Pàli: Brahmassara. Cũng gọi Phạm thanh tướng, Phạm âm thâm viễn tướng, Đắc Phạm âm thanh tướng, Thanh như Phạm vương tướng, Hoằng nhã Phạm thanh tướng. Tướng Phạm âm thanh tịnh, vi diệu của Phật, 1 trong 32 tướng của Ngài. Phạm âm của Phật vang dội tròn đầy, như đánh trống trời, mầu nhiệm, tối thắng; lại như tiếng hót của chim Ca lăng tần già, khiến cho người nghe sinh tâm ưa thích, được vô lượng lợi ích. Đây là diệu tướng chiêu cảm được nhờ trong vô lượng kiếp, khi còn ở địa vị tu nhân, đức Phật đã không bao giờ nói ác khẩu, toàn nói lời chân thật dịu dàng, nói lời tốt đẹp, không chê bai Chính pháp, khiến cho người nghe tùy theo căn cơ đều được lợi ích, đều sinh tâm thiện, thường muốn nghe mãi... (xt. Tam Thập Nhị Tướng).
phạm điển
4633泛指佛教之經典。以佛教經典多從梵土(印度)傳來我國,故稱梵典。又以梵文書寫之書籍,亦稱梵典。(參閱「梵本」4629)
; Buddhist sùtras, or books. Veda texts.
; Kinh điển Phật—The Buddhist sutras, or books.
; (梵典) Từ ngữ chỉ chung cho các kinh điển của Phật giáo. Bởi vì những kinh điển của Phật giáo truyền đến Trung quốc từ Phạm độ (Ấn độ), cho nên gọi là Phạm điển. Ngoài ra, những sách vở được viết bằng tiếng Phạm cũng gọi là Phạm điển. (xt. Phạm Bản). Tượng Vi Đà Thiên do Phạm Đạo Sinh tạc
phạm đàn
4648梵語 brahma-daṇḍa,巴利語同。又作梵怛。意譯為默擯、梵法、梵天法治、梵杖。乃對犯戒之比丘或比丘尼所行之一種治罪法。即不許與犯戒者言語,此係九種治罪法之一。據長阿含卷四遊行經載,佛告阿難,於其涅槃後,若闡怒(巴 Channa,即車匿)不順威儀、不受教誡,阿難等當共行梵壇罰,並敕諸比丘不得與語,亦勿往返教授從事。闡怒為六群比丘之一,常行惡事,與眾僧不和合,故為此而制梵壇法。又維摩經略疏卷一載(大三八‧五六八上):「亦云彼梵天治罪法,別立一壇,其犯法者令入此壇,諸梵不得共語。」依此,梵壇即為梵天之治罪法。〔增一阿含經卷三十七、五分律卷三十、大智度論卷二、梵網經法藏疏卷六、四分律行事鈔資持記卷七〕(參閱「梵罰」4644)
; Brahmadaṇḍa (S).
; Brahmadanda (S). Xem mặc tâm.
; Brahmadanda (skt)—Phép trị tội Phạm Đàn. Khi vị sư nào phạm tội thì được đưa đếm “Phạm Đàn” để cách ly, cấm không cho nói chuyện với ai—Brahma-staff—The Brahma (religious) punishment; the explanation is to send to Coventry a recalcitrant monk, the forbidding of any conversation with him, or exclusion to silence.
; (梵壇) Phạm, Pàli: Brahma-daịđa. Cũng gọi Phạm đát. Hán dịch: Mặc sấn, Phạm pháp, Phạm thiên pháp trị, Phạm trượng. Một cách trị tội các tỉ khưu hoặc tỉ khưu ni phạm giới. Duy ma kinh lược sớ quyển 1 (Đại 38, 568 thượng) nói: Phạm đàn là phép trị tội của Phạm thiên, tức lập riêng 1 cái đàn, bắt người phạm pháp vào trong đó, các Phạm chúng không được nói chuyện với người ấy. Về sau, đức Phật cũng phỏng theo pháp này mà chế định pháp trị tội đối với tỉ khưu, tỉ khưu ni vi phạm giới luật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A hàm quyển 4, đức Phật bảo ngài A nan: Sau khi ta nhập Niết bàn, nếu tỉ khưu Xiển nộ (Pàli: Channa, tức Xa nặc) không thuận theo uy nghi, không chịu nghe lời răn dạy, thì ông nên cùng với đại chúng dùng pháp Phạm đàn mà trị phạt, đồng thời, bảo các tỉ khưu khác không được nói chuyện và làm việc chung với Xiển nộ. Xa nặc là 1trong nhóm 6 tỉ khưu thường làm những việc xấu xa, không hòa hợp với chúng tăng, vì thế mà đức Phật đã chế định pháp Phạm đàn này để răn dạy các tỉ khưu khác. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.37; luật Ngũ phần Q.30; luận Đại trí độ Q.2; Phạm võng kinh Pháp tạng sớ Q.6; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.7]. (xt. Phạm Phạt).
phạm đàn chỉ đa na lâm
4649又作梵檀枳多那林、梵檀祇多那林。為仙居林、聖居山林之意。係指諸仙梵志隱棲之林藪,該林區常發出上妙芬馥之香氣,予人以薰習之益。〔釋摩訶衍論卷五〕
; (梵檀只多那林) Chỉ cho khu rừng trong đó có các vị tiên và Phạm chí ở ẩn. Khu rừng này thường phát ra mùi thơm ngào ngạt. [X. luận Thích ma ha diễn Q.5].
Phạm đường
(梵堂): nhà thờ Phật, tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Như trong bài Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮屠應制) của Sầm Hi (岑羲, ?-713) nhà Đường có câu: “Phạm đường dao tập nhạn, đế nhạc cận tường loan (梵堂遙集雁、帝樂近翔鸞, chùa Phật xa nhạn đến, nhạc vua gần chim bay).” Hay trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林), phần Khí Dụng (器用) có câu: “Thọ quang thị trang đài vô trần chi kính, trường minh thị Phạm đường bất diệt chi đăng (壽光是妝檯無塵之鏡、長明是梵堂不滅之燈, sống lâu là kính trang điểm không gợn bụi, sáng tỏ là đèn bất diệt của Thiền môn).” Trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 8 còn cho biết thêm rằng: “Nhập đệ tứ Thiền, phục hữu tứ pháp, vị tứ Phạm đường, nhất từ, nhị bi, tam hỷ, tứ xả (入第四禪、復有四法、謂四梵堂、一慈、二悲、三喜、四捨, vào cõi Thiền thứ tư, lại có bốn pháp, gọi là bốn Phạm đường: một là từ, hai là bi, ba là hỷ, bốn là xả).”
phạm đạo
4640指斷除淫欲之禪淨修行。雜譬喻經(大四‧五二九中):「是梵天王於諸婬瞋已盡無餘,以是故言:『若有人修禪淨行,斷除婬欲,名為行梵道。』」〔大智度論卷八〕(參閱「梵」4626)
; Thanh tịnh đạo—The way of purity, or celibacy; the brahman way.
; (梵道) Chỉ cho sự tu hành thiền tịnh để đoạn trừ dâm dục. Kinh Tạp thí dụ (Đại 4, 529 trung) nói: Phạm thiên vương này đã dứt sạch hết các thứ dâm dục, sân hận, vì thế nói rằng: Nếu có người tu hành thiền định, đoạn trừ dâm dục thì gọi là Thực hành Phạm đạo. [X. luận Đại trí độ Q.8]. (xt. Phạm).
phạm đạo sinh
3940明末清初佛像彫刻家。隱元禪師於日本建黃檗宗之本山萬福寺(1661 年開工)時,特從中國招請范道生至日本,造黃檗樣式之佛像。於其指導下,造成大雄殿、天王殿、禪堂等諸佛像,以其造像樣式過於特殊,故影響江戶彫刻界甚微。
; (範道生) Nhà điêu khắc tượng Phật Trung quốc sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Lúc khởi công xây cất chùa Vạn phúc (1661), bản sơn của tông Hoàng bá của Nhật bản, Thiền sư Ẩn nguyên đặc biệt mời Phạm đạo sinh từ Trung quốc sang Nhật bản để tạc tượng Phật theo kiểu tượng Hoàng bá. Phương pháp tạc tượng của ông rất đặc thù nên đã có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với giới điêu khắc Nhật bản thời Giang hộ.
phạm độ
Brahman-Land—Ấn Độ—India.
phạm đức
The power, or bliss of Brahmà.
; Năng lực hay phước đức của Phạm Thiên—The power, or bliss of Brahma.
Phạm 梵
[ja] ボン bon ||| (1) A transliteration of the Sanskrit brahman. The ultimate principle, or most elemental substrate of existence in Vedic religion. Later on, Brahman became personified as a god, and ended up becoming a guardian deity in Buddhism. (2) A transliteration of the Sanskrit brāhmana, a sage. (3) Pure, holy spiritual. (4) The sanskrit language. => 1. Phiên âm chữ brahman trong tiếng Sanskrit. Là nguyên lý tối thượng, nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu trong tín ngưỡng Vệ-đà. Về sau, Brahman được nhân cách hoá trở thành một vị thần, và cuối cùng trở thành vị thần hộ pháp trong Phật giáo 2. Phiên âm chữ brāhmana trong tiếng Sanskrit, là một hiền nhân. 3. Thanh tịnh, phạm hạnh, thần thánh. 4. Tiếng Sanskrit.
Phạm 犯
[ja] ボン bon ||| To commit crimes; to be immoral, to break the precepts. => Phạm tội; trái đạo đức, phạm giới luật.
Phạm 範
[ja] ハン han ||| (1) Rule, law, example, model. (2) A pause, an end, a stop. =>1. Phép tắc, quy tắc; quy luật, điều lệ; mẫu mực, khuôn mẫu; mô hình. 2. Chỗ ngừng, sự tạm dừng; giới hạn, đoạn cuối; chỗ dừng.
phạn
1) Ăn cơm: To eat a meal. 2) Cơm: Rice. 3) Thức ăn: Food.
Phạn Bối
(梵唄, Bonbai): từ gọi chung chỉ cho Thanh Minh (聲明). Phạn hay Phạm (梵) là tiếng gọi tắt của Phạn Ngữ (梵語), Phạm Âm (梵音), Phạm Thanh (梵聲), v.v. Bối (唄) là từ xuất hiện đơn độc trong Thập Tụng Luật (十誦律) và thỉnh thoảng cũng thấy xuất hiện một số từ ghép như Bối Nặc (唄匿), Bối Tụng (唄誦), Kinh Bối (經唄), v.v. Nó là từ âm tả tiếng Phạn, còn Bối Nặc được xem như là âm tả của từ pāṭha (đọc tụng). Theo gốc tiếng Sanskrit, Phạn Bối có nghĩa là tán ca, nhưng hiện tại nó ám chỉ cho Thanh Minh vốn bao gồm cả Hán Ngữ Tán cũng như Hòa Tán, v.v., hay nói rộng ra là âm nhạc theo nghi thức Phật Giáo nói chung. Tại Trung Quốc, theo bộ Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) quyển 4, truyền thuyết cho rằng nhân một ngày nọ Tào Thực (曹植, 192-232, tức Trần Tư Vương [陳思王] của nhà Ngụy thời Tam Quốc) leo lên đỉnh núi Ngư Sơn (魚山), bỗng nghe được âm điệu văng vẳng như tiếng tụng kinh truyền lại từ trong hang núi, nên lần đầu tiên ông chế ra Phạn Bối.
phạn dự
Brahmadatta (S)Tên một vị vua có nhắc trong trong kinh Bản sanh.
phạn khánh
5707寺院中,召集僧徒用餐時所擊之磬。然一般寺院於齋前大多擊鼓或打板,其中,齋時擊鼓乃印度以來之風習。(參閱「雲鼓」5348)
; Chiếc khánh nhỏ dùng để đánh báo giờ cơm—The dinner-gong.
; (飯磬) Chiếc khánh dùng để báo hiệu giờ thụ trai của chư tăng.
phạn na
Vana (skt)—Một chòm cây—A wood—A grove.
Phạn ngữ
梵語; sanskrit (saṃskṛta); nguyên nghĩa là »trọn vẹn, hoàn hảo«, cũng được gọi là Nhã ngữ;|Ngôn ngữ được dùng để ghi lại những bài kinh của Ðại thừa Phật pháp, nói chung là ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh kinh của Ấn Ðộ.
phạn ngữ
Sanskrit (S).
; Sanskrit language
; Sanskrit (skt)—See Phạm Ngữ.
phạn sàng
5706又作飯桌。即用餐之臺。臨濟錄(大四七‧五○三中):「普化踏倒飯床,師云:『太麤生!』」〔禪林象器箋器物門〕
; (飯牀) Cũng gọi Phạn trác. Cái mâm dùng để bưng thức ăn của chư tăng.Lâm tế lục (Đại 47, 503 trung) ghi: Ngài Phổ hóa đạp đổ phạn sàng, sư nói: Quá thô tháo!. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Phạn Tăng
(飯僧): tên gọi khác của Trai Tăng (齋僧), tức thiết bày cơm chay cúng dường Tăng chúng, chỉ chung cho việc cúng dường tại các tự viện hay tư gia Phật tử. Theo Phạm Võng Kinh (梵綱經) quyển hạ, vào ngày cha mẹ, anh em, Hòa Thượng, A Xà Lê (阿闍梨) qua đời, hoặc vào dịp 21 ngày hay 49 ngày, nên đọc tụng, thuyết giảng kinh luật Đại Thừa, thiết lập Trai Hội để hồi hướng công đức cho những người này. Ban đầu, việc Trai Tăng thể hiện tín tâm, quy y; nhưng về sau thì chuyển sang mục đích chúc tụng, báo ân, làm điều thiện, v.v.; vì vậy việc làm này trở thành phổ cập hóa. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Trai Tăng rất thịnh hành dưới thời nhà Đường, vào năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch (大曆), trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (貞元, 785-805), năm thứ 12 (871) niên hiệu Hàm Thông (咸通), đều có cử hành những lễ Trai Tăng long trọng. Ngoài ra, tại Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v., hình thức Trai Tăng cũng rất phổ cập và được xem trọng. Trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律卷, Taishō No. 1425) quyển 22 có đoạn: “Nhĩ thời hữu Trưởng Giả tựu Tinh Xá trung phạn tăng, Lục Quần Tỳ Kheo tiên đa thọ canh, hậu thọ phạn (爾時有長者就精舍中飯僧、六群比丘先多受羹、後受飯, lúc bấy giờ có vị Trưởng Giả đến Tinh Xá cúng dường Trai Tăng, nhóm Lục Quần Tỳ Kheo trước hết thọ nhận nhiều canh xúp, sau mới thọ nhận cơm).”
phạn âm
Buddha's voice—See Phạm Âm and Âm Thanh của Đức Như Lai.
phạn đái tử
Cái túi đựng gạo, ví với Tỳ Kheo vô dụng, chỉ biết có ăn uống ngủ nghỉ—A rice-bag fellow, a useless monk who only devoted to his food, drinking, sleeping, and resting.
phạn đầu
5707禪宗叢林內之職稱。爲十務之一。即隸屬典座之下,掌理大眾粥齋之人。其職責,舉凡酌量僧眾之人數、檢看米穀之精粗、分別水漿之清濁、樽節菜蔬之多寡、顧慮柴薪之有無,乃至炊具之洗滌、餿淹之處理等,皆在職役範圍之內。〔幻住清規飯頭條、禪林象器箋職位門、僧堂清規卷五飯頭條〕
; Vị Tăng coi về việc nấu nướng trong chùa—A monk who is responsible for the cooking (kitchen) in a monastery.
; (飯頭) Chức vụ của vị tăng trông nom cơm cháo cho đại chúng trong Thiền lâm, dưới quyền vị Điển tọa. Vị này có trách nhiệm chu toàn các việc như kiểm tra số chúng tăng, xem xét lúa gạo tốt hay xấu, phân biệt nước uống trong hay đục, rau cải nhiều ít, củi than có hay không, cho đến chùi rửa các dụng cụ nhà bếp, xử lí các thực phẩm hư thiu v.v... [X. điều Phạn đầu trong Huyễn trụ thanh qui; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Phạn đầu trong Tăng đường thanh qui Q.5].
Phạp đạo
乏道; C: fádào; J: bōdō;|Tiếng Hán dịch từ chữ samaṇa của tiếng Pa-li hoặc śramaṇa từ tiếng Phạn. Xem Sa-môn (沙門).
phạp đạo
xem sa-môn.
; 1534乃沙門(梵 śramaṇa)之另一譯語。指乏於道,為自謙之詞,用法與「貧道」大致相同。
; (乏道) Nghèo đạo. Là từ dịch khác của chữ Sa môn (Phạm: Zramaịa). Chỉ cho người mà đạo lực còn thiếu thốn, yếu kém. Đây là tiếng khiêm nhường tự nhún, đại khái cũng giống như từ ngữ Bần đạo vậy.
phạt
5896指對於違犯戒律者,依其罪之輕重而施予種種處罰。有大乘戒與小乘戒之別,其罰之性質亦不同。大乘戒中,不論犯何種重罪,皆可懺悔;小乘戒中,重者有逐出教團之波羅夷罪,輕者有求懺悔之突吉羅罪,以及剝奪僧尼權利、別住等種類。〔勅修百丈清規卷二肅眾條〕
; (罰) Chỉ cho sự xử phạt. Đối với những thành viên trong giáo đoàn vi phạm giới luật, tùy theo tội nặng nhẹ mà áp dụng nhiều hình thức xử phạt khác nhau. Về giới luật thì có giới Đại thừa và giới Tiểu thừa. Trong giới Đại thừa, bất luận phạm loại trọng tội nào cũng đều được sám hối; nhưng giới Tiểu thừa thì tội nặng là tội Ba la di, người vi phạm không được sám hối mà phải bị đuổi ra khỏi giáo đoàn, còn tội nhẹ như tội Đột cát la thì cầu sám hối và có thể bị xử phạt ở riêng hay tước bỏ quyền lợi tăng ni. [X. điều Túc chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
phạt chiết la
2159梵名 Vajra。乃藥師十二神將之一。又作跋折羅、跛折羅、拔折魯、和耆羅。意譯金剛。主領夜叉眾,守護佛法,為夜叉神王之上首。關於其形像,有諸多異說,據淨琉璃淨土標載,其色青,眼赤,駕㝹,執三股伐折羅,屈左手。另據藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法載,其色白,執寶劍。又修藥師儀軌布壇法載,其色青,持劍。此外,據覺禪鈔所舉,伐折羅之方位為戌方,以大勢至菩薩為本地。〔灌頂經卷十二、藥師如來本願經、陀羅尼集經卷二〕(參閱「藥師十二神將」6692)
; Vajra (S), Thunder. Diamond.
; (伐折羅) Phạm: Vajra. Cũng gọi Bạt chiết la, Bả chiết la, Bạt chiết lỗ, Hòa kì la. Hán dịch: Kim cương. Tên vị thần thống lãnh chúng Dạ xoa giữ gìn Phật pháp, là 1 trong 12 thần tướng nói trong kinh Dược sư. Về hình tượng của vị thần này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ tiêu, thì vị thần này có da màu xanh, mắt đỏ, cỡi con thỏ, cầm cây phạt chiết la 3 chĩa, tay trái co lại. Còn theo kinh Dược sư Lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp, thì vị thần này có thân màu trắng, tay cầm kiếm báu. Theo Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp thì da vị thần này màu xanh, tay cầm kiếm. Ngoài ra, cứ theo Giác thiền sao thì phương vị của thần Phạt chiết la là phương Tuất, lấy bồ tát Đại thế chí làm bản địa. [X. kinh Quán đính Q.12; kinh Dược sư Như lai bản nguyện; kinh Đà la ni tập Q.2]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng).
phạt dụ
5176謂結筏渡河,既至彼岸,則當捨筏;以此比喻佛之教法如筏,既至涅槃彼岸,正法亦當捨棄。故佛所說一切法,稱為筏喻之法,即表示不可執著於法。金剛經(大八‧七四九中):「是故不應取法,不應取非法。以是義故,如來常說:『汝等比丘知我說法如筏喻者,法尚應捨,何況非法?』」〔中阿含卷五十四大品阿梨吒經〕
phạt khả
5175(1893~1972)廣東南海西樵人,俗姓李。法名昌其,字印載,號筏可。二十歲依鼎湖轂琳法師受具足戒。民國十九年(1930),繼紀修法師住持大嶼山寶蓮寺,興建十方叢林,僧房殿宇兼備,領眾冬參夏學,講教參禪,並依祖師規範,行農禪生活,復依例三年傳戒一次。未久兼任青山寺住持。三十年,日寇據港,師組香港佛教會,以維護佛教道場。後創辦青山佛教義學,培育適齡學童,又捐資籌辦中學於大澳。並創建啟華學校,教育華僑子弟認識中國文化,此外又極力籌建佛教醫院。曾任香港佛教聯合會會長、香港佛教聯合會董事長多年。民國六十一年示寂,世壽八十。
phạt kì sa lạp
2160巴利名 Vācissara。錫蘭之學僧。十二世紀後半葉,於錫蘭王波洛卡摩婆訶一世(巴 Parakkamabāhu I)時代,為長老舍利弗(巴 Sāriputta)之門下,以注釋家馳名。生平事蹟不詳,但據小王統史(巴 Cūḷlavaṃsa, 81)所載,十三世紀前半葉,在錫蘭王毘舍耶婆訶三世(巴 Vijayabāhu Ⅲ)之治世中,烏阿笈薩拉長老為避兵禍,將佛鉢及佛齒從首都普拉提(Pulatthi)移至佝特瑪拉山(Kotthumala)麓,赴南印度,後應毘舍耶婆訶王之招請而歸國,參與佛鉢佛齒大供養會。或謂小王統史中之烏阿笈薩拉與伐其沙拉為同一人,然詳情不明。著有境界莊嚴攝、達磨悉利(巴 Dhammasiri)之根本學之注釋(巴 Mūlasikkhā-abhinava-ṭīkā)、卡瑪(巴 Khema)之名色抄之注釋(巴 Khema-ppakaraṇa-ṭīkā)等。〔G.P. Malalase kera: Dictionary of Pāli proper Names〕
; (伐其沙拉) Pàli:Vàcissara. Cao tăng và học giả người Tích lan, sống vào hậu bán thế kỉ XII, dưới thời vua Parakkamabàhu đệ nhất, là đệ tử của trưởng lãoSàriputta, nổi tiếng là nhà chú thích kinh điển. Nhưng, theo Tiểu vương thống sử (Pàli: Cùơavaôsa, 81), thì vào tiền bán thế kỉ XIII, dưới triều vuaVijayabàhuđệ tam, trưởng lão Ô a cấp tát lạp, vì tránh nạn chiến tranh, nên đem bát và răng của đức Phật từ thủ đô Pulatthi dời đến chân núi Kotthusnala, rồi ngài sang miền Nam Ấn độ. Sau, vua Vijayabàhu thỉnh ngài về nước, tham dự đại hội cúng dường bát và răng của đức Phật. Có thuyết cho rằng trưởng lão Ô a cấp tát lạp này và ngài Phạt kì sa lạp là cùng 1 người, nhưng sự thật thế nào thì không rõ. Ngài có các tác phẩm: Cảnh giới trang nghiêm nhiếp, Chú thích văn bản học (Pàli: Mùlasikkhà-abhinava-ỉìkà) của ngài Dhammasiri, Chú thích danh sắc sao (Pàli: Khema-ppakaraịa-ỉìkà) của ngài Khema. [X. Dictionary ofPàli Proper Names by G.P Malalasekera].
phạt lí sa
2160梵名 Vārṣya。又作伐里娑、筏里沙。古代印度六派哲學中數論學派部主之名。意譯作雨。成唯識論述記卷一末(大四三‧二五二中):「十八部中部主者,名伐里沙。此翻為雨,雨時生故,即以為名。其雨徒黨,名雨眾外道。」〔參閱「雨眾外道」3699)
; (伐裏沙) Phạm: Vàrwya. Cũng gọi Phiệt lí sa. Hán dịch: Vũ. Tên vị bộ chủ của học phái Số luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1, phần cuối (Đại 43, 252 trung) nói: Vị bộ chủ trong 18 bộ tên là Phạt lí sa, Hán dịch là vũ «B(mưa), vì ông sinh ra lúc trời đang mưa, nên dùng Vũ để đặt tên. Đồ chúng của ông gọi là Vũ chúng ngoại đạo. (xt. Vũ Chúng Ngoại Đạo).
phạt lạp tì quốc
2161伐臘毘,梵名 Valabhī。位於南印度之古國名。又稱跋臘毘國、北羅羅國。約當今卡提瓦半島(Kāthiāwār)。依據大唐西域記卷十一載,此國周圍六千餘里,國都周圍三十餘里,居人殷盛,家室富饒,四方奇貨多聚於此。有伽藍百餘所,僧徒六千餘人,多學小乘正量部之法。釋尊在世時,曾屢遊此國。於都城附近,有阿折羅(梵 Ācāra)阿羅漢建立之大伽藍,德慧、堅慧二菩薩,曾於此處造論。此外,天祠亦有數百,異道實多。此國都城之位置,在半島東岸巴夫那革(Bhāonagar)之西北約二十九公里處,今存廢址。半島南岸之索那市(Somnath)今亦殘存。〔南海寄歸內法傳卷四〕
; (伐臘毗國) Phạt lạp tì, Phạm:Valabhì. Cũng gọi Bạt lạp tì quốc, Bắc la la quốc. Tên một nước xưa thuộc miền Nam Ấn độ, có lẽ là bán đảo Kàthiàwàrngày nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11, nước này chu vi hơn 6 nghìn dặm, kinh đô chu vi hơn 30 dặm, dân cư đông đúc, gia đình giầu có, hàng hóa quí hiếm từ khắp nơi đều dồn về đây. Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với trên 6 nghìn tăng đồ, phần nhiều tu học theo pháp của Chính lượng bộ Tiểu thừa. Khi đức Phật còn tại thế, Ngài từng đến nước này giáo hóa nhiều lần. Gần kinh đô có ngôi đại già lam do A và Kiên tuệ từng ở già lam này để viết các bộ luận. Ngoài ra còn có mấy trăm đền thờ trời và nhiều đạo khác. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
phạt na bà tư
2160梵名 Vanavāsin。又作伐那波斯、拔納拔西、伐羅婆斯。為十六羅漢中之第十四。即與眷屬同住於可住山中,護持正法,饒益有情之聖者。據唐代禪月大師貫休所畫之像,其趺坐巖窟內,衣蓋肩,隱兩手,閉目入禪定。蘇東坡題曰:「心如死灰,形如槁木,神妙萬物,蒼巖骨肉;鐵磬誰鳴,空谷傳聲,呼之不聞,不呼眼瞠。」〔大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記、羅漢圖讚集、佛像圖彙卷三〕
; Vanavasin (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
; (伐那婆斯) Phạm: Vanavàsin. Cũng gọi Phạt na ba tư, Bạt nạp bạt tây, Phạt la bà tư. Tên vị A la hán thứ 14 trong 16 vị A la hán, cùng các bậc Thánh ở trong núi Khả trụ, giữ gìn chính pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường, thì Ngài ngồi xếp bằng trong động đá, áo phủ kín 2 vai, che khuất 2 tay, mắt nhắm lại, vào thiền định. Thi hào Tô đông pha đời Tống có đề thơ rằng: Tâm như nắm tro tàn Thân tựa khúc củi khô Thần thấu suốt muôn vật Xương thịt gửi đá lạnh Khánh sắt nào ai đánh Hang trống tiếng truyền vang Người gọi chẳng thèm nghe Mắt cũng không hề chớp. [X. Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vựng Q.3].
phạt trí ha lợi
2160梵名 Bhartṛhari。印度梵語詩人、文法學者、語言學者、哲學家。出身中印度王族。年少時,縱情享受,晚年時,為去除煩惱,乃歸依佛法。著有戀愛百頌(梵 Śṛṅgāra-śataka),及歌頌處世與解脫之道的處世百頌(梵 Nīti-śataka)、離欲百頌(梵 Vairāgya-śataka)等百頌詩集。此外,尚有文章單語篇、大注解書解明等書,以吠檀多哲學之哲學方式解釋言語之實體。 由百頌詩集內所顯示之濕婆崇拜及吠檀多思想等,推測伐㮹呵利應為七世紀頃之抒情詩人。然據南海寄歸內法傳卷四載,大學士伐㮹呵利,虔信佛教,著有蓽拏、伐㮹呵利論等文法書,推測其應為五世紀頃之語文學家。故伐㮹呵利或為不同時代之二人,或同指一人,然其生存年代無可確定。〔D.D. Kosambi: The Epigramsattributed to Bhartṛhari, including the three centuries, Bombay1948〕
; (伐㮹呵利) Phạm: Bhartfhari. Triết gia người Trung Ấn độ, ông còn là nhà thơ, nhà Văn pháp học và Ngôn ngữ học.Ông xuất thân từ dòng dõi vua chúa, thời niên thiếu tha hồ hưởng thụ, lúc về già, vì muốn trừ bỏ phiền não nên ông qui y Phật pháp. Ông là nhà thơ trữ tình nổi tiếng. Ông cũng là người dùng phương thức triết học để giải thích thực thể của ngôn ngữ. Dựa theo tác phẩm Bách tụng thi tập của ông mà suy đoán thì có lẽ ông sống vào thế kỉ thứ VII. Nhưng Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 cho rằng Đại học sĩ Phạt trí ha lợi rất kính tin Phật pháp, có soạn các tác phẩm về văn pháp như Tất noa, Phạt trí ha lợi luận... là nhà Ngữ văn học sống vào khoảng thế kỉ thứ V. Như vậy, Phạt trí ha lợi là 2 người khác thời đại, hay chỉ là 1 người mà không xác định được thời đại sinh sống và hoạt động? Ông có các tác phẩm: Bách tụng thi tập gồm: Luyến ái bách tụng (Phạm: Zfígàrazataka), Xử thế bách tụng (Phạm: Nìtizataka), Li dục bách tụng (Phạm: Vairàgya-zataka), Văn chương đơn ngữ thiên, Đại chú giải thư giải minh... [X. The Epigrams attributed to Bhartfhari, including the three centuries, Bombay 1948, by D.D. Kosambi].
phạt tô bàn độ
Xem Thế Thân Bồ tát.
phạt xà la phất đa la
2161梵名 Vajra-putra。為十六羅漢中之第八。又作伐闍那弗多、伐闍羅佛陀羅、闍羅弗多羅、拔雜哩逋荅喇。意譯金剛子。即與其眷屬千百阿羅漢共住於鉢剌拏洲,護持正法,饒益有情之聖者。據中阿含卷八侍者經載,於佛陀涅槃後不久,一日阿難為大眾說法,尊者金剛子亦在眾中,入定觀阿難,知其未離欲,遂出定為阿難說偈。阿難因受金剛子之教,乃離眾精進,終至證得阿羅漢果。上述之「尊者金剛子」或即指伐闍羅弗多羅尊者。 根據唐代禪月大師貫休所畫之像,其上半身脫法衣,坐石上,兩臂交於膝上,垂掌,作沉思狀,其右側置貝葉。蘇東坡贊曰:「兩眼方用,兩手自寂,用者注經,寂者寄膝;二法相忘,亦不相損,是四句偈,在我指端。」〔羅漢圖讚集、佛像圖彙卷三〕
; (伐闍羅弗多羅) Phạm:Vajra-putra. Cũng gọi Phạt xà na phất đa, Phạt xà la phật đà la, Xà la phất đa la, Bạt tạp lí bô đáp lạt.Hán dịch: Kim cương tử. Tên vị A la hán thứ 8 trong 16 vị A la hán, cùng với 1.100 quyến thuộc trụ ở châu Bát lạt noa để giữ gìn Chính pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Cứ theo kinh Thị giả trong Trung a hàm quyển 8, sau khi đức Phật nhập Niết bàn không bao lâu, một hôm ngài A nan nói pháp cho đại chúng nghe, tôn giả Kim cương tử cũng hiện diện trong đại chúng, nhập định thấy ngài A nan chưa lìa dục, liền xuất định nói kệ cho ngài A nan nghe. Ngài A nan nhân đó thụ giáo tôn giả Kim cương tử và rời chúng tinh tiến tu hành, cuối cùng chứng được quả A la hán. Tôn giả Kim cương tử nêu trên đây chính là chỉ cho tôn giả Phạt xà la phất đa la. Qua bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài quấn áo pháp để hở nửa phần thân trên, ngồi trên phiến đá, 2 cánh tay giao nhau đặt trên đầu gối, bàn tay thõng xuống, dáng vẻ trầm tư, ở bên phải có 1 quyển kinh lá bối. Thi hào Tô đông pha đời Tống có bài tán rằng: Hai mắt lặng nhìn Hai tay buông thõng Mắt để vào kinh Tay buông trên gối Mắt tay quên nhau Cũng chẳng ngại nhau Bốn câu kệ này Trên đầu ngón tay. [X. La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vựng Q.3].
Phạt-na Bà-tư
伐那婆斯; C: fánàpósī; J: banabashi; S: vanavasin.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯
[ja] バナバシ Banabashi ||| Vanavasin, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => (j: Banabashi; s: Vanavasin ) Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
Phạt-tô-mật-đa-la
伐蘇蜜多羅; C: fásūmìduōluó; J: bassomit-tara;|Phiên âm từ chữ Phạn Vasumitra, dịch sang Hán ngữ là Thế Hữu (世友).
Phạt-tô-mật-đa-la 伐蘇蜜多羅
[ja]バッソミッタラ Bassomittara ||| Transcription of the name of Vasumitra, which is translated into Chinese as => Phiên âm tên của Ngài Vasumitra, Hán dịch là Thế Hữu 世友.
Phạt-xà-la Phất-đa-la
伐闍羅弗多羅; C: fádūluófúduōluó; J: batoraputara; S: vajraputra.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
phạt-xà-la-phất-đa-la
Vajraputra (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.
Phạt-xà-la-phất-đa-la 伐闍羅弗多羅
[ja] バトラプタラ Batoraputara ||| Vajraputra, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. (j: Batoraputara; s: Vajraputra) => Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
phả
5948悉曇字???(pha)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作叵、發、葩、破、娑頗。經典中對此字義之解釋有二:(一)係梵語 phala(音譯頗羅,意譯果)之字首。就果之義而作諸說者,如大品般若經卷五廣乘品載,頗字門,謂入諸法遍不可得之故;大智度論卷四十八就上舉廣乘品之文而釋之爲:若聞頗字,即了知一切法因果皆空。方廣大莊嚴經卷四示書品亦說,唱頗字時,得果入現證聲(梵 phala-pratisākṣāt-kriyā-śabda)。 (二)係梵語 phena(音譯沛奴,意譯聚沫)之字首。依聚沫之義而作說者,如瑜伽金剛頂經釋字母品載,頗字門,謂一切法不堅,猶如聚沫之易碎易散。大日經卷二具緣品亦以頗字義爲聚沫。〔佛本行集經卷十一習學技藝品、光讚般若經卷七觀品、文殊師利問經卷上字母品、大日經疏卷七〕
; Kha khá—Quite—Very—Somewhat—Partial.
; (頗) Cũng gọi Phát, Ba, Phá, Sa phả. Chỉ cho chữ Tất đàm (pha), 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Về nghĩa chữ này trong kinh điển có 2 cách giải thích: 1. Phả là chữ đầu của tiếng Phạm Phala (Hán âm: Phả la; Hán dịch: Quả). Căn cứ theo nghĩa Quả mà lập các thuyết như sau: - Phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 cho rằng chữ Phả có nghĩa là vào khắp các pháp bất khả đắc. - Luận Đại trí độ quyển 48 dựa vào phẩm Quảng thừa trên đây mà giải thích là: Nếu nghe chữ Phả thì biết rõ nhân quả của tất cả pháp đều không. - Phẩm Thị thư kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 thì nói: Khi xướng chữ Phả liền được quả nhập vào âm thanh hiện chứng (Phạm: Phala-pratisàkwàtkriyà-zabda). 2. Phả là chữ đầu của tiếng PhạmPhena (Hán âm: Bái nô; Hán dịch: Tụ mạt – đám bọt nước). Dựa theo nghĩa bọt nước mà lập các thuyết sau: - Phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính nói: Chữ Phả nghĩa là tất cả các pháp không bền chắc, giống như đám bọt nước, rất dễ tan biến. - Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 2 cũng giải thích nghĩa chữ Phả là đám bọt nước. [X. phẩm Học tập kĩ nghệ kinh Phật bản hạnh tập Q.11; phẩm Quán kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.7].
; (頗) Cũng gọi Ba, Bá. Chữ Tất đàm (pa), 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm, nghĩa là Đệ nhất nghĩa đế. Kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 (Đại 8, 26 trung) nói: Ba là Đệ nhất nghĩa đế trong các pháp nê hoàn. Phẩm Quảng thừa trong kinh Ma ha bát nhã ba la mật (Đại 8, 256 thượng) nói: Chữ Ba là Đệ nhất nghĩa của tất cả pháp. Phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 339 thượng) nói: Chữ Phả là Đệ nhất nghĩa đế của tất cả pháp bất khả đắc. Bởi vì Đệ nhất nghĩa đế tiếng Phạm là: Paramàrtha, mà Pa là âm đầu trong Paramàrka, cho nên nói chữ Palà Đệ nhất nghĩa đế. Ngoài ra, theo kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản dịch mới) thì Pa có nghĩa là chiếu khắp pháp giới (Phạm: Dharmadhàtu-talasambheda). Phẩm Văn tự kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì cho rằng chữ Pa là nghĩa điên đảo. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù vấn; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; phẩm Bách tự thành tựu trì tụng kinh Đại nhật Q.6; luận Đại trí độ Q.48].
phả la
Phala (skt)—Quả—Fruit—Produce—Progeny—Profit.
phả la đoạ
5949梵名 Bharadvāja。爲印度古代婆羅門六姓之一,或婆羅門十八姓之一。意譯利根仙人、辯才、滿、滿正。又作頗羅吒。據妙法蓮華經序品載,日月燈明佛之俗姓即爲頗羅墮。〔法華義疏卷二、卷三、法華文句卷三、法華玄贊卷二〕
; (頗羅墮) Phạm: Bharadvàja. Cũng gọi Phả la tra. Hán dịch: Lợi căn tiên nhân, Biện tài, Mãn, Mãn chính. Một trong 6 họ Bà la môn, hoặc 1 trong 18 họ Bà la môn ở Ấn độ xưa. Cứ theo phẩm Tựa kinh Diệu pháp liên hoa thì đức Phật Nhật nguyệt đăng minh mang họ Phả la đọa. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2, 3; Pháp hoa văn cú Q.3; Pháp hoa huyền tán Q.2].
phả la đọa
Bharadvâja (S). Xem lợi căn.
; Bharadvaja (skt). 1) Còn gọi là Phả La Trá, dòng dõi của một trong sáu họ Bà La Môn: Descendant of the ancient sage Bharadvaja, interpreted as one of the six Brahmin surnames. 2) Lợi căn hay thông minh: Also has the meaning of keen mind, or clever.
phả lê
5948梵語 sphaṭika,巴利語 phalika。爲七寶之一。意譯水玉、白珠、水精。又作玻璃、玻瓈、頗胝、頗置迦、破置迦、薩頗胝迦、娑婆致迦、塞頗致迦、窣坡致迦。其質瑩淨通明,有紫、白、紅、碧等多種顏色,其中,以紅色、碧色最珍貴,紫色、白色次之。據增廣本草綱目卷八載,玻璃本作頗瓈,光瑩如水,堅實如玉,故又稱水玉。 又據大智度論卷十載,頗瓈產於山窟,經千年而冰化成頗瓈珠。然玄應音義卷二十則謂,西域暑熱,水分稀少,不可能冰化而成,僅爲石之類而已。又該珠有火珠、水珠二種,日宮殿與月宮殿即分別由火珠、水珠所形成。〔慧苑音義卷上、玄應音義卷二、卷六、慧琳音義卷四、卷四十一〕
; Rock crystal—See Pha Lê.
phả lặc cũ nã
5948梵名 Phālguna,巴利名 Phagguṇa。爲印度曆第十二月之名稱。又作頗勒具那、頗攞遇抳、頗求那、區勒具拏、叵勒拏、叵囉虞那、破求。意譯爲孟春。相當於我國陰曆十二月十六日至翌年一月十五日間。此月滿月時正值二十八星宿之翼宿(梵 Uttara-phalgunī)出現,故稱頗勒窶拏。又此月屬於印度六期中之盛寒時,春、夏、秋、冬四時及冬、春、雨、終、長五時中之冬時,熱、雨、寒三時中之寒時(梵 hemanta)。〔十二緣生祥瑞經卷上、宿曜經卷上、舍頭諫太子二十八宿經、大唐西域記卷二、玄應音義卷二十四〕(參閱「十二月名」332)
; (頗勒窶拿) Phạm: Phàlguna. Pàli: Phagguịa. Cũng gọi Phả lặc bối na, Phả la ngộ nị, Phả cầu na, Khu lặc cụ noa, Phả lặc noa, Phả la ngu na, Phá cầu. Hán dịch: Mạnh xuân. Tên gọi tháng 12 của lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 12 đến ngày 15 tháng giêng năm sau của âm lịch Trung quốc. Vào ngày trăng tròn trong tháng này chính là lúc sao Dực (Phạm: Uttara-phalgunì) xuất hiện, cho nên gọi là Phả lặc củ noa. Tháng này rơi vào mùa đông nên rất lạnh. [X. kinh Thập nhị duyên sinh tường thụy Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Xá Đầu gián thái tử nhị thập bát tú; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thập Nhị Nguyệt Danh).
phả ni đa
5948梵語 phāṇita。指煎熬甘蔗最初所得之濃汁。正法念處經卷三(大一七‧一七上):「生白淨法,如甘蔗汁,器中火煎,彼初離垢,名頗尼多。次第二煎,則漸微重,名曰巨呂。更第三煎,其色則白,名曰石蜜。此甘蔗汁,如是如是煎復更煎,離垢漸重,乃至色白。」
; Phanita (skt)—Đường mía—The inspissated juice of the sugar can, or raw sugar.
; (頗尼多) Phạm: Phàịita. Chỉ cho nước mía được nấu lần đầu tiên. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 3 (Đại 17, 17 thượng) nói: Pháp trong trắng sinh ra giốngnhư nước mía, bỏ mía vào nồi đun lên, khi sôi thì chất dơ bẩn nổi lên mặt, lần đầu tiên gọi là Phả ni đa. Nấu lần thứ 2 thì nước ấy đặc dần, gọi là Phả lữ. Nấu lần thứ 3 thì màu của nó trắng ra, gọi là Thạch mật (đường phèn).
phải
1) Bên phải: Right. 2) Cần phải: To have to—Must—Should—Ought to. 3) Đúng: Right.
phải chăng
Reasonable.
phải quấy
Right or wrong.
phải trái
Right or left—Right or wrong.
phản
1) Chiếc phản: Camp-bed—Plank bed. 2) Chống lại: Anti—Counter. 3) Làm phản: To rebel. 4) Ngược lại: Contrary. 5) Phản bội: To betray. 6) Trở về: Turn over—Trun or send back.
Phản Bản Hạnh Nam
(阪本幸男) (1899-1973) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Cương sơn, Nhật bản. Năm 1929, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Văn học ở trường Đại học Đông kinh, ông từng làm Giáo sư trường Đại học Lập chính và Giám đốc sở Nghiên cứu văn hóa Pháp hoa. Ông thuộc tông Nhật liên và là người có uy tín lớn đối với giáo học Hoa nghiêm đương thời tại Nhật bản. Ông có các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí dịch chú, Hoa nghiêm giáo học đích nghiên cứu, Pháp hoa kinh dịch chú, Đại tì bà sa luận dịch chú.
phản chiếu
1329日懸西山而反照東方,稱為反照。以此譬喻鑑往古之事,又喻窮明自心之本源。仁王經菩薩教化品(大八‧八二七下):「圓照三世恆劫事,返照樂虛無盡原。」
; Paribimbaya (skt)—Phản ánh—To reflect.
phản hồn hương
1329又作返魂香。聞此香能返死回生,故有此稱。據漢書東方朔十洲記載,武帝征和三年(90 B.C.)月支國獻反魂香四兩。又本草綱堥髐Q六謂紫苑一名返魂草,是為此香之別種。〔慧琳音義卷十八、增廣本草綱目卷三十四〕
; (反魂香) Hương làm cho hồn trở về. Tên của 1 loại hương, mùi thơm của nó có năng lực làm cho người chết sống lại, vì thế gọi là Phản hồn hương. Cứ theo Hán thư Đông phương sóc thập châu, vào năm Chinh hòa thứ 3 (90 trước Tây lịch) đời vua Vũ đế, nước Nguyệt chi có cống hiến cho Vũ đế nhà Hán 4 lạng Phản hồn hương. Ngoài ra, Bản thảo cương mục quyển 16 cho rằng, Tử uyển còn có tên là Phản hồn thảo (cỏ Phản hồn), chính là 1 loại khác của hương này. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.18; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.34].
phản lưu tứ vị
1329大乘起信論於始覺之始終,立不覺、相似覺、隨分覺、究竟覺等四位,此四位乃反流還滅(反無明生死之流,歸於真如寂滅之本源)之次第,故稱反流四位。又稱始覺四位、始覺返流四位。其中,不覺指凡夫,相似覺指二乘人及三賢之菩薩,隨分覺指初地以上至九地之菩薩,究竟覺則指第十地之菩薩。〔釋摩訶衍論卷三、大乘起信論義記卷中本〕(參閱「本覺」1979)
; (反流四位) Cũng gọi Thủy giác tứ vị, Thủy giác phản lưu tứ vị. Chỉ cho 4 vị: Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác do luận Đại thừa khởi tín lập ra. Bốn vị này theo thứ lớp ngược dòng vô minh sinh tử mà trở về nguồn gốc Chân như tịch diệt, cho nên gọi là Phản lưu tứ vị(4 vị ngược dòng). Trong 4 vị này, Bất giác chỉ cho phàm phu, Tương tự giác chỉ cho Nhị thừa và hàng Bồ tát Tam hiền, Tùy phần giác chỉ cho hàng Bồ tát từ Sơ địa đến Cửu địa, còn Cứu cánh giác thì chỉ cho Bồ tát Thập địa. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Đại thừa khởi tín luậnnghĩa kí Q.trung, phần đầu]. (xt. Bản Giác).
phản quang
Reflected light.
phản quang tự kỷ
Hồi quang tự kỷ—Hồi quang biến chiếu—To turn the spotlight to ourselves—To turn back and reflect ourselves.
phản sao
1329謂反著袈裟,即衣服從前面反翻於右肩上。南海寄歸內法傳卷二(大五四‧二一五上):「屏私執務,隨意反抄。若對尊容,事須齊整,以衣右角寬搭左肩,垂之背後,勿安肘上。」另據十誦律卷十九載,佛陀及諸比丘於舍衛城內受供養,時六群比丘反抄衣入居士家,諸居士以此著衣法猶如王公大臣,遂呵責之。佛陀聞知,即告誡諸比丘不得反抄衣入居士家,否則即犯突吉羅戒。〔彌沙塞五分戒本〕
; (反抄) Lật trái mặt trước của ca sa vắt lên vai bên phải. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 215 thượng) nói: Làm việc riêng ở chỗ vắng, được tùy ý phản sao. Nếu đứng trước tôn dung thì cần phải tề chỉnh, vắt góc áo bên phải lên vai trái, cho rủ xuống phía sau lưng, không được vắt lên khuỷu tay. Theo luật Thập tụng quyển 19 thì có lần đức Phật và các vị tỉ khưu vào nội thành Xá vệ nhận sự cúng dường. Lúc ấy, Lục quần tỉ khưu phản sao y vào nhà cư sĩ, các cư sĩ thấy cách mặc áo ấy giống như vương công, đại thần nên chê trách. Đức Phật nghe biết việc này liền răn dạy các tỉ khưu không được phản sao y vào nhà cư sĩ, nếu không thì phạm tội Đột các la. [X. Di sa tắc ngũ phần giới bản].
phản suất sanh tử
1) Một trong bảy loại sanh tử—One of the seven kinds of mortality. 2) Thoát vòng sanh tử để đi vào Niết Bàn—Escape from mortality into nirvana.
phản trắc
Unreliable—Dishonest.
phản tỉnh
A turning about.
phản tỉnh khẩu nghiệp
Trong Kinh Giáo Giới La Hầu La ở Rừng Am Bà La trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy La Hầu La về 'Phản Tỉnh Khẩu Nghiệp'—The Buddha taught Venerable Rahula about 'Action With the Speech' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: 1) Này La Hầu La, khi ông muốn làm một khẩu nghiệp gì, hãy phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, when you wish to do an ction by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1, just substituting “speech” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết:”Khẩu nghiệp nầy ta muốn làm. Khẩu nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại nguời, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, nhất định chớ có làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1a, just substituting “speech” for “body”). b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Khẩu nghiệp nầy ta muốn làm. Khẩu nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người; không có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1b, just substituting “speech” for “body”). 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một khẩu nghiệp, ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, when you are doing an action by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2, just substituting “speech” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy (Please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “speech” for “body”). b) Nhưng nếu này La Hầu La, khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Khẩu nghiệp như vậy, nầy La Hầu La, ông cần phải tiếp tục làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2b, just substituting “speech” for “body”). 3) Sau khi ông làm xong một khẩu nghiệp, này La Hầu La, ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo khổ.”—Rahula, after you have done an action by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3, just substituting “speech” for “body”). a) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước vị Đạo Sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3a, just substituting “speech” for “body”). b) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3b, just substituting “speech” for “body”).
phản tỉnh thân nghiệp
Trong Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Am Bà La trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy La Hầu La về 'Phản Tỉnh Thân Nghiệp'—The Buddha taught Venerable Rahula about 'Action With the Body' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Dicourses of the Buddha: 1) “Này La Hầu La, khi ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, when you wish to do an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Would this action that I wish to do with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Is it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh ông biết: “Thân nghiệp nầy ta muốn làm. Thân nghiệp nầy của ta có thể đưa tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nhất định chớ có làm—When you reflect, if you know: “This action that I wish to do with the body would lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you definitely should not do such an action with the body. b) Này La Hầu La, khi ông muốn làm một thân nghiệp, nếu sau khi phản tỉnh ông biết: “Thân nghiệp nầy ta muốn làm. Thân nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, , không thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm—When you reflect, if you know: “This action that I wish to do with the body would not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results,” then you may do such an action with the body. 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một thân nghiệp, ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, while you are doing an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Does this action that I am doing with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Is it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy.—Rahula, when you reflect, if you know: “This action that I am doing with the body leads to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you should suspend such a bodily action. b) Nhưng nếu, này La Hầu La, trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải tiếp tục làm.—But when you reflect, if you know: “This action that I am doing with the body does not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results,” then you may continue in such a bodily action. 3) Này La Hầu La, sau khi làm xong một thân nghiệp, ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm, thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, after you have done an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Does this action that I have done with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Was it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm. Thân nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo Sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.—When you reflect, if you know: “This action that I have done with the body leads to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it was an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you should confess such a bodily action, reveal it, and lay it open to the Teacher or to your wise companions in the holy life. Having confessed it, revealed it, and laid it open, you should undertake restraint for the future. b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm. Thân nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.—Rahula, but when you reflect, if you know: “This action that I have done with the body does not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it was a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results," you”can abide happy and glad, training day and night in wholesome states.
phản tỉnh ý nghiệp
Đức Phật đã dạy Đại Đức La Hầu La về 'Phản Tỉnh Ý Nghiệp' trong Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Am Bà La—The Buddha taught Venerable about 'Action With the Mind' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: 1) Này La Hầu La, như ông muốn làm một ý nghiệp gì, hãy phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, when you wish to do an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1, just substituting “mind” for “body'). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta muốn làm. Ý nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nhất định chớ có làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1a, just substituting “mind” for “body”). b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta muốn làm. Ý nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1b, just substituting “mind” for “body”). 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một ý nghiệp, ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, while you are doing an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2, just substituting “mind” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một ý nghiệp như vậy (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “mind” for “body”). b) Nhưng nếu, này La Hầu La, khi phản tỉnh ông biết như sau: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông phải tiếp tục làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2b, just substituting “mind” for “body”). 3) Sau khi làm xong một ý nghiệp, này La Hầu La, ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy ta đã làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, after you have done an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3, just substituting “mind” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Ý nghiệp nầy ta đã làm. Ý nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “mind” for “body”). b) Còn nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3b, just substituting “mind” for “body”).
phản tục
1329指還俗。即謂僧侶還為俗人。大寶積經卷八十八載(大一一‧五○七上):「諸比丘言:『(中略)我等不能修得此法,欲還歸俗。何以故?信施之食難可消故。』」又有以還俗、歸俗為異義者,前者為僧侶犯罪歸家之謂,後者則指自願終止僧道者。〔居家必攜吏學指南篇〕
; (反俗) Chỉ cho vị tăng trở về làm người thế tục.Kinh Đại bảo tích quyển 88 (Đại 11, 507 thượng) chép: Các tỉ khưu nói: (...) Chúng con không thể tu được pháp này, muốn trở về thế tục. Vì sao? Vì thức ăn của tín thí khó tiêu. Ngoài ra, giữa 2 từ ngữ Hoàn tục và Qui tục có nghĩa khác nhau. Hoàn tục là vị tăng phạm tội bị đuổi về nhà; còn Qui tục nghĩa là vị tăng tự nguyện bỏ tăng để trở về tục. [X. Cư gia tất huề lại học chỉ nam thiên].
phản xoa hợp chưởng
Một trong mười hai cách chấp tay, đan bện những ngón tay vào nhau—One of the twelve forms of folded hands, with interlocking fingers.
phản xuất sanh tử
See Phản Suất Sanh Tử.
phản xuất sinh tử
1329七種生死之一。為攝大乘論師所立。謂眾生若發心修行,棄妄歸真,則能反出生死而至涅槃。〔止觀輔行傳弘決卷七之一、大明三藏法數卷三十〕(參閱「七種生死」115)
; (反出生死) Ra khỏi sinh tử, 1 trong 7 loại sinh tử, do Nhiếp đại thừa luận sư lập ra. Nghĩa là nếu chúng sinh phát tâm tu hành, bỏ vọng về chân thì có thể ra khỏi sinh tử mà đến Niết bàn. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 1; Đại minh tam tạng pháp số Q.30]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).
phản điền tự
2834又作金剛寺、小墾田坂田尼寺。為日本最早之寺廟,今為廢寺。位於奈良縣高市郡明日香村坂田。為鞍作部之氏寺,以繼體天皇十六年(522),司馬達等赴日安置大唐神為其起源,其子多須奈於用明天皇二年(587)營建。三代之鳥佛師奉獻水田二十町,為至奈良前期止之大寺。其後衰微,僅存伽藍石,出土者有布目瓦。
phản đạo đức
Immoral.
phản đối
To oppose—To object.
phản ảnh
To reflect
phản ứng
Reaction.
phảng hét
Đức Sơn vào cửa liền phảng (đập gậy), Lâm Tế vào cửa liền hét. So với tác dụng “Niêm hoa thị chúng” của Phật Thích Ca chẳng khác. Ấy đều là dùng để cắt đứt ý thức hiện hành của đương cơ mà đạt đến mục đích “Ngay đó kiến tánh”.
Phảng phất
仿佛; C: pángfó; J: hōfutsu;|Có hai nghĩa: 1. Rất tương đồng, hoàn toàn giống hệt nhau về hình tướng; 2. Lan man, mờ ảo, lờ mờ. Đồng nghĩa với Phảng phất 彷彿 và 髣髴, »phảng phất như…«;
phảng phất
Vaguely—Dimly—Faintly
Phảng phất 仿佛
[ja] ホウフツ hōfutsu ||| (1) To resemble closely; to be almost identical in appearance. (2) Unclear, blurry, indistinct, dim. Synonymous with 彷彿 and 髣髴. => Có hai nghĩa: 1. Rất tương đồng, hoàn toàn giống hệt nhau về hình tướng. 2. Lan man, mờ ảo, lờ mờ. Đồng âm với Phưởng phất 彷彿 và 髣髴.
phấn cốt toái thân
4275為法而碎其身、粉其骨之謂。證道歌(大四八‧三九六下):「粉骨碎身未足酬。」經中多處載有為法粉骨碎身之例,粉骨者如常啼菩薩於香城學般若時,敲骨出髓,賣與長者,以所得金,買種種香花供養於佛。碎身者如釋迦文佛在因地修行時,為求半偈而捨身。〔大品般若經薩陀波崙品、北本涅槃經卷十四〕(參閱「常啼菩薩」4530、「雪山大士」4828)
; (粉骨碎身) Xương thịt bị nghiền nát ra như bột. Ý nói vì pháp mà tan xương nát thịt. Trong kinh điển có nhiều chỗ ghi chép các trường hợp vì pháp mà không tiếc thân mệnh, như bồ tát Thường đề khi ở Hương thành học Bát nhã, đập xương lấy tủy đem bán cho trưởng giả lấy vàng mua các thứ hương hoa để cúng dường. Lại như trường hợp đức Phật Thích ca văn đã bỏ mình để chỉ cầu được nghe 2 câu kệ (Sinh diệt diệt dĩ, Tịch diệt vi lạc)khi còn ở địa vị tu nhân. [X. phẩm Tát đà ba luân trong kinh Đại phẩm bát nhã; kinh Niết bàn Q.14 (bản Bắc). (xt. Thường Đề Bồ Tát, Tuyết Sơn Đại Sĩ).
phấn tảo
Sweepings, garbage.
phấn tảo y
xem nạp y.
; The monk's garment of cast-off rags.
phất bà la ha
Xem Táng Chi đại tướng.
phất la bà
Xem Táng Chi đại tướng.
phất nhã đa la
1927梵名 Puṇyatāra。又作不若多羅。意譯為功德華。北印度罽賓國人。少即出家,以持戒著稱。博通三藏,專精十誦律,時人皆稱已得聖果。姚秦弘始年間入關中,姚興待以上賓之禮。弘始六年(404)十月,應請於逍遙園誦出梵文十誦律,由鳩摩羅什譯成漢文。然僅誦出三分之二(一說二分)即示寂,年壽不詳。其後,十誦律由曇摩流支與鳩摩羅什繼續合譯,再由卑摩羅叉對校梵本而成現行之十誦律。至後世,師被奉為十誦律相承傳持之一祖。〔梁高僧傳卷二、出三藏記集卷三、開元釋教錄卷四〕
; Puṇyatrata (S)Dịch kinh ở Trường an vào thế kỷ V cùng với Đạt Ma Lưu Chi và Cưu Ma La Thập.
; (弗若多羅) Phạm: Puịyatàra. Cũng gọi Bất nhã đa la. Hán dịch: Công đức hoa. Cao tăng người nước Kế tân thuộc Bắc Ấn độ. Sư xuất gia từ nhỏ, chuyên trì giới luật, thông hiểu Tam tạng, đặc biệt tinh thông luật Thập tụng. Khoảng năm Hoằng thủy đời Diêu Tần, sư đến Trung quốc, vua Diêu hưng đãi ngộ sư với lễ thượng khách. Tháng 10 năm Hoằng thủy thứ 6 (404), sư nhận lời mời đến vườn Tiêu dao tụng luật Thập tụng bằng tiếng Phạm, để ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán, nhưng mới chỉ tụng được 2/3 thì sư thị tịch. Về sau, các bộ luật này được các ngài Đàm ma lưu chi và Cưu ma la thập tiếp tục dịch, lại do ngài Ti ma la xoa đối chiếu với nguyên bản tiếng Phạm để kiểm xét lại mà thành luật Thập tụng như hiện nay lưu hành. Đến đời sau, ngài Phất nhã đa la được tôn làm Sơ tổ truyền trì luật Thập tụng tại Trung quốc. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
phất như đàn
1926西域于闐僧。又稱法饒。為我國最早西行求法之僧朱士行之弟子。朱士行出塞外,西至于闐,得放光般若經之梵文正本九十章,於晉太康三年(282)派遣弗如檀等送歸洛陽。其餘事蹟不詳。〔出三藏記集卷七放光經記〕(參閱「朱士行」2462)
; (弗如檀) Cũng gọi Pháp nhiêu. Cao tăng người nước Vu điền, Tây vực, là đệ tử của ngài Chu sĩ hành – vị tăng Trung quốc đầu tiên sang Ấn độ cầu pháp. Khi ra khỏi biên ải, ngài Chu sĩ hành đi về hướng tây đến nước Vu điền, tại đây ngài thỉnh được kinh Phóng quang bát nhã bằng tiếng Phạm, gồm 90 chương. Vào năm Thái khang thứ 3 (282) đời Tấn, ngài sai sư Phất như đàn cùng với mấy vị khác, mang kinh về Lạc dương, Trung quốc. [X. điều Phóng quang kinh kí trong Xuất tam tạng kí tập Q.7]. (xt. Chu Sĩ Hành).
phất sa
1927<一>梵名 Tiṣya。又作底砂、帝沙、提沙、補沙、底沙。即釋尊於過去世三阿僧祇劫修行成滿後,更修百劫相好業之時,所事奉之佛。俱舍論記卷十八(大四一‧二八二中):「過去有佛,號曰底沙,或曰補沙。彼佛有二菩薩弟子勤修梵行,一名釋迦牟尼,二名梅怛儷藥。」(參閱「底沙佛」3197) <二>梵名 Puṣya。二十八宿之一。意譯為鬼宿、熾盛宿。又作勃沙、富沙、逋沙、補沙、底沙。俱舍論記卷十八(大四一‧二八二上):「底沙,此云圓滿,是星名。」據舍頭諫太子二十八宿經、大方等大集經卷四十一星宿品載,此宿有三星(我國則認為有五星),狀如畫瓶(或鉤尺),屬蘗利訶馺撥底神,姓烏波若,或烏和、炮波那毘、謨闍耶那等。於密教之曼荼羅中,稱為「增益」。其形像,左手豎掌,拇指、中指二指彎曲持蓮,蓮上有珠,右手隱而不見。〔摩登伽經卷上、宿曜經卷上〕(參閱「二十八宿」173)
; (弗沙) I. Phất Sa. Phạm:Tiwya. Cũng gọi Để sa, Đế sa, Đề sa, Bổ sa. Tên của 1 đức Phật ở đời quá khứ mà bồ tát Thích ca thờ làm thầy khi đang tu nghiệp tướng hảo trong 100 kiếp. Câu xá luận kí quyển 18 (Đại 41, 282 trung) nói: Thời quá khứ có đức Phật hiệu là Để sa, hoặc gọi là Bổ sa. Đức Phật ấy có 2 vị đệ tử Bồ tát siêng tu phạm hạnh, một vị tên là Thích ca mâu ni, còn vị kia thì tên là Mai đát lệ dược. (xt. Để Sa Phật). II. Phất Sa. Phạm: Puwya. Cũng gọi Bột sa, Phú sa, Bô sa, Bổ sa, Để sa. Hán dịch: Quỉ tú, Xí thịnh tú. Tên 1 ngôi sao trong 28 vì sao. Câu xá luận quang kí quyển 18 (Đại 41, 282 thượng) nói: Để sa, Hán dịch: Viên mãn, là tên một ngôi sao. Cứ theo kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú và phẩm Tinh tú trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, sao này có 3 ngôi (Trung quốc thì cho là có 5 ngôi), hình dạng giống cái bình vẽ(hoặc cái thước móc), thuộc về thần Nghiệt lợi ha tạp bát để, họ Ô ba nhã, hoặc Ô hòa, Pháo ba na tì, Mô xà da na... Trong Mạn đồ la của Mật giáo, sao này được gọi là Tăng ích, hình tượng vị thần này, bàn tay trái dựng lên, ngón cái, ngón giữa co lại cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu, tay phải ẩn khuất không thấy. [X. kinh Ma đăng già Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng]. (xt. Nhị Thập Bát Tú).
phất sa bồ tát
Xem Để Sa Phật.
phất sa mật đa la vương
1927弗沙蜜多羅,梵名 Puṣyamitra 或 Puṣpamitra。又作沸沙蜜多羅王、弗舍蜜哆王。意譯為星友王。為印度孔雀王朝最後之王,乃阿育王後第五世之王。據雜阿含經卷二十五阿育王施半阿摩勒果因緣經載,此王欲其名傳於後世,乃問計於群臣,其中有一佞臣謂,昔日阿育王造八萬四千如來塔,名德傳於世,今王若盡毀其塔,則二人俱可不朽。王從其言,於是破壞八萬四千塔,殺害眾僧,迫害佛法。其後,王至婆伽羅國,有一蟲神排攩大山而壓死王及其士兵,孔雀王朝之苗裔從此永絕。另依近代學者對印度教之古典聖書富蘭那(梵 Purāṇa)研究之結果,認為弗沙蜜多羅乃中印度薰迦王朝(梵 Śuṅga)之祖,原為孔雀王朝最後之王布利哈德拉達(梵 Bṛhadratha)手下之大將,後弒王自立,領有孔雀王朝之國土,試圖復興婆羅門教,在位三十六年而歿。〔舍利弗問經、阿育王經卷五、多羅那他印度佛教史、V.A. Smith: The Early History of India〕
; Puṣpamitra (P), Puṣyamitra (S), Puspamitra (P).
; (弗沙蜜多羅王) Phất sa mật đa la, Phạm: Puwyamitra, hoặc Puwpamitra, Cũng gọi Phí sa mật đa la vương, Phất xá mật đa vương. Hán dịch: Tinh hữu vương. Tên vị vua sau cùng của triều đại Khổng tước ở Ấn độ. Cứ theo kinh A dục vương thí bán A ma lặc quả nhân duyên trong Tạp a hàm quyển 25, ông vua này vì muốn tên tuổi mình được lưu truyền đến đời sau, nên hỏi kế các quan. Trong đó có 1 nịnh thần tâu: Ngày trước vua A dục xây 8 vạn 4 nghìn tháp Như lai, danh đức truyền đời. Ngày nay nếu Bệ hạ phá hủy hết số tháp ấy thì tên tuổi của cả 2 vị sẽ bất hủ như nhau. Vua nghe theo kế sách đó, liền ra lệnh phá hủy hết 8 vạn 4 nghìn ngôi tháp, giết hại chúng tăng, tiêu diệt Phật pháp. Về sau, vua đến nước Bà già la, bị 1 vị thần dấy đổ ngọn núi đè chết nhà vua và đoàn quân đi theo, từ đó Vương triều Khổng tước tuyệt diệt.Còn theo kết quả sự nghiên cứu Thánh điển Puràịa thuộc Ấn độ giáo, của các học giả cận đại, thì Phất sa mật đa la là ông tổ khai sáng của Vương triều Huân ca: (Phạm: Zuíga) ở Trung Ấn độ. Ông này vốn là Đại tướng dưới trướng vua Bfhadratha –vị vua cuối cùng của Vương triều Khổng tước– sau giết vua Bfhadratha để cướp ngôi vua và chiếm đoạt toàn bộ lãnh thổ của Vương triều Khổng tước rồi tự lập làm vua, mưu đồ phục hưng Bà la môn giáo, làm vua được 36 năm. [X. kinh Xá lợi phất vấn; kinh A dục vương Q.5; Ấn độ Phật giáo sử (Đa la na tha); The Early History of India by V.A. Smith].
phất sa phật
Xem Để Sa Phật.
phất trần
Vyajana (S), Vijani (P), Valavyajana (S), Vijani (P).
; Là công cụ của Thiền sư dùng để tiếp dẫn hậu học khiến thiền giả phát khởi nghi tình cho đến khai ngộ.
phất trần khán tịnh
3260謂拂除塵埃、迷霧,以透見本來面目。乃禪宗北宗神秀一系之修行主張。拂塵,指對治世俗煩惱,不受客觀外界之影響;看淨,指認識並保持心性本淨。據六祖壇經記載,神秀有一偈文(大四八‧三四八中):「身是菩提樹,心如明鏡臺;時時勤拂拭,勿使惹塵埃。」即以「修心」作爲通向佛地之主要方法。宗密於禪源諸詮集都序卷上二,揭示其特點爲(大四八‧四○二中):「背境觀心,息滅妄念,念盡即覺悟。」又於圓覺大疏鈔卷三之下,概括此一系之學說爲(卍續一四‧二七七上):「拂塵看淨,方便通經。」由於此種主張未能直接否定心、境之實有,故被列爲「有宗」;又因重視坐禪、誦經等行法,且有凝心、攝心等過程,故又被視爲「漸教」。
; (拂塵看淨) Phủi bụi thấy sạch. Nghĩa là quét sạch bụi nhơ, đánh tan mây mờ để nhận rõ bản lai diện mục. Đây là chủ trương tu hành của ngài Thần tú thuộc hệ thống Thiền Bắc tông. Phất trần là đối trị các phiền não của thế tục, không để bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh khách quan. Khán tịnh là nhận thức rõ và giữ gìn tâm tính bản tịnh. Viên giác đại sớ sao quyển 3 phần cuối (Vạn tục 14, 277 thượng) nói: Phất trần khán tịnh, phương tiện thông kinh.
phất tu nhĩ
1928(Foucher, Alfred; 1865~1952)法國之東方學及佛教史學者,為一佛教美術之權威。曾任法國遠東學院院長(1901~1907)、巴黎大學印度語學教授(1919)。一八九五至一九○七年間數度至印度、中南半島、爪哇等地作學術探險,一九一八至一九二六年,任印度、錫蘭、波斯、阿富汗、日本、中國之考古學團長,活躍一時。曾探險喀布爾(位於阿富汗)、大夏、巴米安(位於阿富汗)等遺蹟。為研究日本美術,留日期間曾任日法會館館長(1926)。歸法後,任巴黎大學教授、巴(巴黎)亞(亞細亞)協會評議員。一八九七年,出版荷吉森(Hodgson, Brian Haught on; 1800~1894)所蒐集有關尼泊爾、西藏佛畫之目錄(Catalogue des Peintures Népalaiseset Tibétaines)。 氏一生尤熱衷於犍陀羅(梵 Gandhāra)美術之研究,所出版「犍陀羅之希臘佛教美術」(L'art grécobouddhique du Gandhāra, 1905~1951)二卷四冊,乃以東西文化之交互關係為主題,而呈現美術之全貌,於此類古典書中,本書獲得甚高之評價。此外,另有關於東南亞美術之著作:佛教美術之起源(Beginnings of Buddhist Art, 1917)、山琦遺物(The Monuments of Sāneīen, 3 vols., 1939),其餘論文甚多,對於佛教考古學與佛教圖像學之分野,氏之貢獻甚大。晚年所出版之佛傳(Lavie du Bouddha, 1949)頗受國際之重視。
; (弗修爾) Foucher Alfred (1865-1952) Nhà học giả Đông phương học và Phật giáo sử người Pháp. Ông từng giữ chức Viện trưởng Pháp quốc Viễn đông học viện (1901-1907), Giáo sư môn Ấn độ ngữ học tại Đại học Paris (1919). Khoảng năm 1895 đến năm 1907, ông thường đến khảo sát và nghiên cứu về học thuật ở các nơi như Ấn độ, bán đảo Trung nam, Java... Từ năm 1918 đến 1926, ông làm Trưởng đoàn Khảo cổ học đến các nước Ấn độ, Tích lan, Ba tư, A phú hãn, Nhật bản, Trung quốc, hoặt động tích cực 1 thời. Ông từng tìm hiểu các di tích ở Kabul (thuộc A phú hãn), Đại hạ, Bamyan (A phú hãn)... Thời gian ông ở Nhật bản để nghiên cứu mĩ thuật, ông từng giữ chức Hội trưởng Hội quán Nhật Pháp (1926). Sau khi trở về Pháp, ông làm Giáo sư Đại học Paris, Hội viên Hiệp hội Paris-Asie. Cả cuộc đời, ông đã cống hiến rất lớn cho công cuộc nghiên cứu về Khảo cổ học và Đồ tượng học của Phật giáo. Ông có các tác phẩm: La vie du Bouddha, 1949, L’art grécobouddhique du Gandhàra 1905-1951, Beginning of Buddhist Art, 1917, The Monuments of Sàcìen, 3 vols, 1939.
phất tích nhập huyền
3259指拂拭所有垢淨、迷梧、始終等之法執,而入於生佛平等、圓滿究竟之法。蓋諸法實相,如如平等,然若有所偏執,則處處以分別心見垢淨、迷悟、始終之差別相,以是之故,乃有方便教門之設立,或權借眾生、菩薩之名目,或巧立修行階位之等次,凡此方便之教門,皆謂之「迹」,用以化導眾生入於無二無別之一真法界。此染淨不二、生佛平等之一真法界即謂之「玄」。又拂與「發」同義,玄通於「源」,故拂迹入玄又稱「發迹入源」。 或以釋迦施化利生之一切法爲「迹」,而以彌陀別意弘願他力之法爲「本」,而謂捨離釋迦之教迹而歸入彌陀之弘願爲發迹入源。〔圓覺經、圓覺經略疏卷上〕
; (拂迹入玄) Cũng gọi Phát tích nhập nguyên. Quét sạch dấu vết mà vào nghĩa lí sâu xa. Tức là trừ bỏ hết các pháp chấp đối đãi như nhơ-sạch, mê-ngộ, đầu-cuối v.v... mà vào pháp viên mãn rốt ráo Sinh Phật bình đẳng(Phật và chúng sinh đều bình đẳng). Bởi vì thực tướng các pháp vốn như như bình đẳng, nhưng nếu có chỗ chấp trước thiên lệch thì do tâm phân biệt mà thấy có các tướng sai khác nhơ sạch, mê ngộ, đầu cuối..., vì thế nên đặt ra các giáo môn phương tiện, hoặc tạm mượn các tên gọi chúng sinh, Bồ tát, hoặc giả lập thứ tự các giai vị tu hành, tất cả những giáo môn phương tiện ấy đều gọi là Tích (dấu vết), dùng để dắt dẫn chúng sinh đi vào cảnh giới chân thực không hai không khác. Cảnh giới ấy gọi là Huyền(sâu kín, mầu nhiệm). Lại Phất đồng nghĩa với Phát (tìm ra), Huyền đồng nghĩa với Nguyên (nguồn), bởi thế, Phất tích nhập huyền (quét sạch dấu vết để vào mầu nhiệm) cũng gọi là Phát tích nhập nguyên (tìm ra dấu vết để vào nguồn gốc). Có thuyết cho rằng tất cả giáo pháp hóa tha lợi sinh của đức Phật Thích ca là Tích, còn pháp tha lực hoằng nguyện của đức Phật A di đà là Bản (Nguyên) và cho rằng xả bỏ giáo tích của đức Thích ca mà qui vào hoằng nguyện của đức Di đà là Phát tích nhập nguyên. [X. kinh Viên giác; Viên giác kinh lược sớ Q.thượng].
Phất tụ 拂袖
[ja] ホッシュウ hosshū ||| To shake one's sleeves. A gesture used by Chan masters. => Phất ống tay áo, cử chỉ các Thiền sư thường hay làm.
Phất Tử
(s: vyajana, vāla-vyajana, p: vijanī, 拂子): một loại vật dụng xưa kia người ta lấy lông thú, v.v., cột thành bó, buộc vào cây dài, dùng để xua đuổi muỗi mòng, quét bụi bặm; còn gọi là Phất (拂), Phất Trần (拂塵), Trần Vĩ (塵尾). Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 3 có đoạn: “Tả hữu nữ tỳ sổ nhân, dã hữu chấp cân trất đích, dã hữu kình Hương Lô đích, dã hữu bổng Như Ý đích, dã hữu trì Phất Tử đích, lưỡng biên thị lập (左右女婢數人、也有執巾櫛的、也有擎香爐的、也有捧如意的、也有持拂子的、兩邊侍立, hai bên phải trái nữ hầu vài người, cũng có người cầm khăn lượt, cũng có người mang lò hương, cũng có người vác cây Như Ý, cũng có kẻ cầm cây Phất Trần, đứng hầu hai bên).” Loại này rất thông dụng tại Ấn Độ. Trong giới luật của Phật Giáo, cho phép vị Tỳ Kheo cầm cây Phất Trần này để xua đuổi muỗi mòng xâm hại; nhưng cấm tuyệt đối không được dùng loại Phất Trần làm bằng các loại vật dụng trân quý, như trường hợp Bạch Phất (白拂, Phất Trần Trắng). Căn cứ vào Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毘奈耶雜事) quyển 6, đức Phật từng cho phép Tỳ Kheo dùng loại Phất Trần được chế bằng 5 loại chất liệu như sau: (1) Lông dê, (2) Cây gai, (3) Vải lông mịn nhỏ, (4) Vật cũ đã dùng rồi, (5) Cành cây, vỏ cây. Bạch Phất là loại Phất Trần được làm bằng lông con bò hay ngựa trắng, là vật rất quý trọng. Trong kinh thường thấy vị Bồ Tát hay Trưởng Giả tay cầm Bạch Phất; như trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) quyển 6 có ghi rằng đức Quan Âm cầm Bạch Phất tay trái và Phổ Hiền cầm tay phải. Hay khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) thuyết pháp cho mẹ rồi trở về lại hạ giới, Phạm Thiên thường cầm cây Bạch Phất hầu bên phải đức Phật. Về phía Mật Giáo, Bạch Phất được dùng để tượng trưng cho khử bỏ phiền não, trừ chướng nạn. Như Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手觀音大悲心陀羅尼經) có đề cập đến trong 40 tay của thiên thủ quan âm có 1 tay cầm cây Bạch Phất. Hay trong Tôn Thắng Phật Đảnh Tu Du Già Pháp Quỹ Nghi (尊勝佛頂修瑜伽法軌儀) quyển Thượng có ghi rằng mỗi khi hành giả xuất hành, thường cầm theo cây Bạch Phất, tụng Chơn Ngôn gia trì 108 biến; nếu khi đang đi gặp súc sanh, có thể khiến cho những loài đó lìa khổ, giải thoát. Trong Thiền Tông, chư vị Thiền sư dùng Phất Trần như là vật dụng trang nghiêm; từ đó, vị Trú Trì hay người đại diện cầm cây Phất Trần thượng đường vì đại chúng thuyết pháp, được gọi là Bỉnh Phất (秉拂). Khi ấy, Phất Trần tượng trưng cho sự thuyết pháp. Dần dần chức vụ chấp hành Bỉnh Phất có 5 loại, gọi là Bỉnh Phất Ngũ Đầu Thủ (秉拂五頭首), gồm: Tiền Đường Thủ Tòa (前堂首座), Hậu Đường Thủ Tòa (後堂首座), Đông Tạng Chủ (東藏主), Tây Tạng Chủ (西藏主), Thư Ký (書記). Tại Nhật Bản, Phất Trần được sử dụng từ thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Về sau, trừ Chơn Tông ra, các tông phái khác đều dùng Phất Trần trong trường hợp các pháp hội, lễ Quán Đảnh, tang lễ, v.v. Tại Việt Nam, Phất Trần được dùng phần lớn trong tang lễ mà thôi.
Phất tử
拂子; J: hossu; S: camāra; cũng gọi là Phất trần; |Cây đuổi ruồi, có truyền thống từ các vị Sa-môn tại Ấn Ðộ. Phất tử được dùng để đuổi ruồi và các côn trùng biết bay để chúng khỏi bị đạp. Phất tử nguyên là một khúc gỗ, được gắn một chùm lông đuôi ngựa ở một đầu. Trong những thiền viện tại Trung Quốc thời xưa, chỉ có vị trụ trì trong viện mới được sử dụng phất tử và các vị này sử dụng nó như là một phương tiện khai thị cho môn đệ. Phất tử trở thành một biểu tượng của »Dĩ tâm truyền tâm« trong Thiền tông và cũng được các Thiền sư truyền lại cho môn đệ xuất sắc nhất.
phất tử
3259梵語 vyajana, vāla-vyajana,巴利語 vijanī。將獸毛、麻等紮成一束,再加一長柄,用以拂除蚊蟲者,稱爲拂子。又稱拂、拂塵、塵尾。於印度一般皆使用此物。戒律中允許比丘執持拂塵,以拂除蚊蟲之侵擾,然禁止使用如「白拂」等以較爲華美貴重之物所成之拂子。據有部毘奈耶雜事卷六載,佛曾允許比丘持用下列五種材料所製之拂子;(一)羊毛,(二)麻,(三)細裂岁布,(四)已用破舊之物,(五)樹枝樹梢。白拂即由白犛牛或白馬尾製成之拂子,乃屬貴重之物。經典中屢有菩薩或長者手執白拂之記載,如陀羅尼集經卷六所載,觀音左手、普賢右手執白拂。又佛上忉利天爲母說法歸來時,梵天嘗執白拂,侍於佛之右。 密教則以白拂作爲去煩惱、除障難之表徵,如千手觀音大悲心陀羅尼經所載,千手觀音四十手中之白拂手即是。又尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷上載,行者每出行時,常作一白拂,誦真言加持一百零八遍,若於持行中逢畜生,能令彼等離苦解脫。 我國禪家尤喜以拂子作爲莊嚴具,住持或代理者手持拂子上堂爲大眾說法,即所謂「秉拂」。其時,拂子即爲說法之象徵。次第執行秉拂之職務者有前堂首座、後堂首座、東藏主,西藏主、書記等,稱爲秉拂五頭首;爲秉拂者作侍者之人,稱爲秉拂侍者。 在日本,鎌倉時代後之禪林亦使用拂子。其後除真宗外,其他諸宗於法會、灌頂、葬儀等場合,皆以拂子作爲導師所使用之莊嚴具。〔陀羅尼集經卷三、摩訶僧祇律卷三十二、有部毘奈耶雜事卷二十九、勅修百丈清規卷七「四節秉拂條」、釋氏要覽卷中、禪林象器箋器物門〕
; Hossu (J).
; (拂子) Phạm: Vyajana, Vàla-vyajana. Pàli:Vijanì. Cũng gọi Phất, Phất trần, Phất vĩ. Cái chổi nhỏ có cán dài bện bằng lông thú, sợi cây gai..., dùng để xua ruồi muỗi, 1 trong những vật tùy thân của tỉ khưu ở Ấn độ, Tích lan..., nhưng không được sử dụng Phất tử làm bằng những chất liệu tương đối đẹp đẽ, quí giá như bạch phất... Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 6 thì đức Phật cho phép các tỉ khưu sử dụng phất tử làm bằng 5 loại tài liệu sau đây: Lông dê, sợi cây gai, vải bông xé nhỏ, vật cũ dùng đã rách, nhánh cây ngọn cây. Bạch phất là loại phất tử làm bằng lông đuôi của con trâu li trắng hoặc bằng lông đuôi của ngựa trắng, là vật quí giá. Trong các kinh điển thường có ghi việc các Bồ tát hoặc các trưởng giả tay cầm bạch phất. Như kinh Đà la ni tập quyển 6 ghi rằng bồ tát Quan âm tay trái cầm bạch phất, bồ tát Phổ hiền tay phải cầm bạch phất. Khi đức Phật lên cung trời Đao lợi nói pháp độ cho thân mẫu, lúc trở về nhân gian, Phạm thiên tay cầm bạch phất đứng hầu bên phải đức Phật.Trong Mật giáo thì bạch phất được dùng làm biểu tượng diệt phiền não, trừ chướng nạn, như tay Bạch phất trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Còn Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ quyển thượng thì cho rằng, mỗi khi ra đi, hành giả thường mang cây bạch phất, tụng chân ngôn gia trì 108 biến, cầm đi, giữa đường nếu gặp súc sinh, có thể khiến cho chúng lìa khổ, được giải thoát. Tại Trung quốc, các Thiền sư rất thích dùng phất tử làm vật trang nghiêm, vị Trụ trì hoặc người đại diện tay cầm phất tử lên Giảng đường nói pháp cho đại chúng nghe, gọi là Bỉnh phất. Lúc ấy, phất tử là biểu tượng của sự thuyết pháp. Các chức vụ được bỉnh phất (thay vị Trụ trì nói pháp) gồm có: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ và Thư kí, gọi là Bỉnh phất ngũ đầu thủ. Người làm thị giả cho vị Bỉnh phất, gọi là Bỉnh phất thị giả. Ở Nhật bản, sau thời đại Liêm thương, Thiền lâm cũng sử dụng phất tử. Về sau, trừ Chân ngôn ra, các tông khác đều dùng phất tử làm vật trang nghiêm của vị Đạo sư trong các dịp như: Pháp hội, Quán đính, Tang lễ... [X. kinh Đà la ni tập Q.3; luật Ma ha tăng kì Q.32; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.29; điều Tứ tiết bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; Thích thị yếu lãm Q.trung; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Phất tử 拂子
[ja] ホッス hossu ||| A fly whisk made out of hemp, silk or animal hair, used by Buddhist monks so that flies and other insects may be chased away without killing them. The tradition of using the whisk comes to Buddhism from Jainism, but in East Asian Ch'an, Sŏn and Zen schools, the usage of the whisk by the master teacher during his sermons becomes ritualized. => Cây phất trần làm bằng sợi gai, lụa, hay lông thú, các tăng sĩ Phật giáo dùng phất trần đuổi ruồi muỗi để khỏi sát hại chúng. Tương truyền việc dùng phất trần bắt nguồn từ Kỳ-na giáo (Jainism), nhưng trong Thiền tông Trung Hoa, Cao Ly và Nhật Bản, các Thiền sư dùng phất trần trong khi giảng pháp đã trở thành lễ nghi.
phất vu đại châu
Xem Đông thắng Thần châuChâu Phất bà đề, Đông Phất bà đề, Phất vu đại châu, Thắng thần châu. Một trong bốn châu lớn, ở đông núi Tu di, người ở đây có thân hình to lớn hơn các châu khác nên còn gọi là Thắng thân, sống đến 600 tuổi. Châu này ở hướng Đông núi Tu di.
phần châu
Feng-chou (C).
Phần Châu Vô Nghiệp
汾州無業; C: fénzhōu wuýè; 760-821;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư.|Sư họ Ðỗ, quê ở Thượng Lạc, Thương Châu, theo học kinh luận lúc lên chín và xuất gia lúc mười hai tuổi. Nghe tiếng Mã Tổ, Sư tìm đến tham học. Mã Tổ thấy Sư tướng mạo kì đặc, tiếng nói thanh như chuông bèn bảo: »Phật đường to lớn mà trong ấy không có Phật.« Sư lễ bái quì thưa: »Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe Thiền môn ›Tức tâm là Phật‹ thật chưa hiểu thấu.« Tổ bảo: »Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.« Sư hỏi: »Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Tổ bảo: »Ðại đức chính đang ồn, hãy đi, khi khác lại!« Sư vừa quay đầu đi, Tổ gọi: »Ðại đức!« Sư xoay đầu lại, Tổ hỏi: »Là cái gì?« Ngay đây Sư lĩnh hội, quì lễ bái. Tổ bảo: »Kẻ độn, lễ bái làm gì!«|Sau khi ngộ huyền chỉ, Sư diêu du đây đó và sau dừng tại Tinh xá Khai Nguyên, Tây Hà tuỳ duyên hoằng hoá. Khi đáp những câu hỏi của thiền khách, Sư thường nói: »Chớ vọng tưởng!« (莫妄想; mạc vọng tưởng). Vua nhiều phen thỉnh Sư nhưng Sư lúc nào cũng từ chối không đến. Sau có hai vị quyết tâm thỉnh Sư đi cho bằng được, Sư chúm chím cười đáp: »Bần đạo có đức gì làm phiền Thế chủ. Mời các Ngài đi trước, tôi sẽ đi đường riêng.« Sau khi sứ giả về, Sư tắm gội, nửa đêm bảo đệ tử vào khuyên: »Các ngươi! Tính thấy nghe hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sinh chẳng diệt, tất cả cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê không hiểu bị cảnh làm lầm, trôi lăn không cùng. Các ngươi phải biết, tâm tính vốn tự có, chẳng phải do tạo tác, ví như kim cương không thể phá hoại. Tất cả như bóng vang không có thật. Cho nên kinh nói: ›Chỉ đây một việc thật, ngoài hai thỉ chẳng chân.‹ Thường hiểu tất cả thông, không một vật hợp tình, là chỗ chư Phật dụng tâm. Các ngươi cố gắng thật hành.« Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 62 tuổi, 42 tuổi hạ. Lễ trà tì có mây năm sắc, hương thơm lạ bốn phương. Vua sắc phong là Ðại Ðạt Quốc sư, tháp hiệu Trừng Nguyên.
phần châu vô nghiệp
Feng chou Wu yeh (C)Tên một vị sư.
phần chứng
1321謂初地以上菩薩次第修行,斷除一部分煩惱而證悟部分之中道。大乘起信論稱之為隨分覺,天台家則稱為分證即。〔摩訶止觀卷一下、止觀大意〕
; (分證) Nghĩa là hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên, theo thứ tự tu hành, hễ đoạn trừ 1 phần phiền não thì chứng ngộ được 1 phần Trung đạo.Luận Đại thừa khởi tín gọi Phần chứng là Tùy phần giác, còn tông Thiên thai thì gọi Phần chứng tức. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, phần cuối; Chỉ quán đại ý].
phần chứng tức
1321天台宗所立圓教菩薩修行階位之一,為六即位中之第五位。又作分真即。即分斷十住、十行、十迴向、十地、等覺等四十一品之無明,而分證中道之位。(參閱「六即」1275)
; (分證即) Cũng gọi Phần chân tức. Một trong các giai vị tu hành của Bồ tát Viên giáo do tông Thiên thai thành lập, là vị thứ 5 trong Lục tức vị. Bồ tát ở giai vị này đoạn trừ từng phần vô minh của 41 phẩm Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác mà chứng từng phần Trung đạo. (xt. Lục Tức).
phần dương ngũ môn cú
2982為比喻五種佛道修行階段之五句,乃宋代臨濟宗汾陽善昭禪師所施設。五句即:(一)入門句,謂初入佛道,猶如獨在異鄉邂逅知己,不勝喜悅;但學人卻不可停滯於此階段而懈怠修行。(二)門裏句,謂既入佛道,應知佛道之修行,非向外求,應如臣見天子之聖容,專注而無二心。(三)當門句,此一階段,論力量,應坐斷千差之路;論德行,應使萬人蒙恩。(四)出門句,此階段之人,已證得佛道,如望江山,應有下化眾生之志,以教化眾生。(五)門外句,謂此一階段,開始教化眾生,應以無為無作,度化眾生,猶如野老在郊外扣牛角唱歌而不覺有他。〔人天眼目卷六〕
; (汾陽五門句) Năm câu ví dụ cho 5 giai đoạn tu hành Phật đạo, do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương, thuộc tông Lâm tế đời Tống đặt ra. Năm câu ấy là: 1. Nhập môn cú: Mới vào cửa. Nghĩa là mới vào Phật đạo, giống như một mình vào xứ lạ quê người mà gặp gỡ tri kỉ thì vui mừng khôn xiết. Nhưng người học không nên dừng lại ở giai đoạn này mà biếng nhác việc tu hành. 2. Môn lí cú: Ở trong cửa. Nghĩa là khi đã vào Phật đạo, thì nên biết rằng việc tu hành không phải tìm cầu bên ngoài, phải như bày tôi nhìn mặt Thiên tử, một lòng chuyên chú vào đó. 3. Đương môn cú: Đang ở cửa. Ở giai đoạn này, bàn về khả năng, cần phải dứt hết mọi phân biệt, nói về đức hạnh, cần phải làm cho muôn người được nhờ ơn. 4. Xuất môn cú: Ra khỏi cửa. Ở giai đoạn này, đã chứng được Phật đạo, như nhìn sông núi từ xa, phải có chí hạ hóa chúng sinh. 5. Môn ngoại cú: Ở ngoài cửa. Giai đoạn này, bắt đầu giáo hóa chúng sinh, phải dùng vô vi vô tác tế độ chúng sinh, giống như ông già nhà quê ở ngoài đồng gõ sừng trâu ca hát mà chẳng biết có ai khác. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.6].
phần dương tam cú
2981即宋代臨濟宗汾陽善昭禪師接引學人時所立之三語句。即:(一)著力句,謂學人之力量須具備可成就宛如嘉州彌勒大石像之大根機。(二)轉身句,謂學人以其機用,固守本分,縱然雙足立地,牢不可破之陝府鐵牛亦無法比擬。(三)親切句,謂學人契入佛法時,疾速而緊密,猶如獅子張口齧咬獵物,其勢速疾而緊密相契。〔人天眼目卷二〕
; (汾陽三句) Ba ngữ cú do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương, thuộc tông Lâm tế đời Tống, lập ra để tiếp dẫn người học. 1. Trước lực cú: Người học phải rán sức làm cho khả năng đầy đủ mới có thể thành tựu được đại cơ, như pho tượng Đại Phật Di lặc bằng đá ở Gia châu. 2. Chuyển thân cú: Người học dùng cơ dụng nắm giữ bản phận vững chắc, cho dù trâu sắt ở Thiểm phủ, 2 chân cắm đất bền chặt không thể phá, cũng không thể nào sánh được. 3. Thân thiết cú: Khi người học khế nhập Phật pháp thì mau lẹ và chắc chắn, giống như sư tử há miệng vồ mồi, cái thế mau lẹ và chắc chắn ấy khế hợp nhau. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
phần dương tam quyết
2981即宋代臨濟宗汾陽善昭禪師為指導學人所設立之三種機法。據人天眼目卷二載,善昭以頌表示汾陽之三訣,謂即使明了佛道之衲僧,亦難以辨別其祕訣。第一訣(大四八‧三○七上):「接引無時節,巧語不能詮,雲綻青天月。」意謂接物利生不分時節,亦無須思量分別。第二訣:「舒光辨賢哲,問答利生心,拔出眼中楔。」意謂以自己之本分、真實之處來辨別世之賢聖,又往來挨拶、問答商量,可令學人袪除心中疑竇或執著而趨向佛道。第三訣:「西國胡人說,濟水過新羅,北地用邠銕。」意謂猶如達磨之說法,一無滯礙;又如濟水流入新羅,奔流而下,其勢速疾;亦如身處北地,以邠鐵製刀,自在而方便。
; (汾陽三訣) Ba loại cơ pháp do Thiền sư Thiện chiêu, thuộc tông Lâm tế đời Tống ở Phần dương đặt ra để dẫn dắt người học. Cứ theo Nhân thiên nhãn mục quyển 2, Thiền sư Thiện chiêu dùng kệ tụng để trình bày 3 bí quyết của mình, dù cho người hiểu rõ Phật đạo cũng khó biện biệt được. 1. Bí quyết thứ nhất (Đại 48, 307 thượng): Tiếp dẫn không thời tiết Lời khéo không nói được Trăng sáng trời đầy mây. Ý nói tiếp vật lợi sinh không chia thời tiết, cũng không nghĩ lường phân biệt. 2. Bí quyết thứ hai: Thung dung biện hiền triết Vấn đáp tâm lợi sinh Nhổ gai trong con mắt. Ý nói dùng bản phận chân thực của chính mình để biện biệt các bậc hiền thánh trong thế gian, lại bằng nhiều cách, hỏi đáp đắn đo thì có thể làm cho người học dứt trừ những mối ngờ vực vướng mắc trong tâm mà hướng tới Phật đạo. 3. Bí quyết thứ 3: Người Tây vực nói pháp. Qua sông đến Tân la Dao Bắc dùng sắt Ban. Ý nói giống như Tổ Đạt ma thuyết pháp, không có gì trở ngại, lại như vượt qua sông vào Tân la (nước Triều tiên), theo dòng mà xuôi, thế rất mau lẹ; cũng như thân ở đất Bắc, dùng sắt xứ Bân mà làm dao, rất dễ dàng tiện lợi.
Phần Dương Thiện Chiêu
(汾陽善昭, Funyō Zenshō, 947-1024): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thái Nguyên (太原, Tỉnh Sơn Tây), họ là Du (兪). Ông xuất gia, thọ cụ túc, rồi sau đó đi tham vấn các bậc tôn túc, cuối cùng đến làm đệ tử của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), được đạt ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến sống ở Thái Tử Viện (太子院) thuộc Phần Dương (汾陽, Phần Châu, Tỉnh Sơn Tây) chuyên tâm thuyết giảng tông yếu và làm cho tông phong của mình phát triển mạnh. Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), hưởng thọ 78 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Vô Đức Thiền Sư (無德禪師).
; 汾陽善昭; C: fényáng shànzhāo; J: hun'yo zen-shō; 947-1024;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Thủ Sơn Tỉnh Niệm và thầy của Thạch Sương Sở Viên. Tương truyền rằng, Sư tham vấn rất nhiều Thiền sư để học hỏi được tất cả những tinh hoa của Thiền tông trong thời kì suy tàn. Vì vậy, những nét đặc biệt của những tông khác đều được tông Lâm Tế hấp thụ và lưu truyền. Sư cũng là một trong những Thiền sư đầu tiên trứ tác những bài kệ tụng lời nói dạy của các vị Tiên sư (xem thêm dưới Tuyết Ðậu Trọng Hiển, Trí Môn Quang Tộ).|Sư họ Du, quê ở Thái Nguyên. Lúc nhỏ Sư đã có thái độ thâm trầm, trí huệ cao cả. Vì cha mẹ mất sớm nên Sư xuất gia và du phương. Trước, Sư tham vấn nhiều vị Thiền sư nhưng chưa ngộ ý chỉ. Ðến Thiền sư Thủ Sơn. Sư hỏi: »Bách Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.« Sư hỏi: »Ý thầy thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Chỗ voi đi bặt dấu chồn.« Nghe câu này, Sư thông suốt. Sau, theo lời thỉnh của chúng, Sư về chùa Thái Bình ở Phần Dương. Ở đây, Sư ba mươi năm không rời cổng, đức hạnh vang xa.|Có vị quan quen với Sư, thỉnh Sư trụ trì một ngôi chùa nhưng Sư vẫn từ chối. Ông lại sai sứ giả đi thỉnh lần nữa, sứ giả nói: »Quyết thỉnh thầy cùng đi, nếu thầy không đi, tôi liều chết thôi.« Sư cười bảo: »Bởi nghiệp già không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao lại quyết đồng?« Sư sửa soạn hành lí, hỏi các đệ tử có ai muốn đi theo. Vị đầu ra nói được, Sư hỏi: »Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?« Vị này trả lời: »Năm mươi dặm.« Sư trả lời không được. Vị thứ hai ra nói 70 dặm, Sư cũng nói không được. Thị giả ra nói: »Con đi theo được, chỉ Hoà thượng đi đến đâu con đi đến đó.« Sư bảo: »Ngươi đi theo được.« Nói xong Sư bảo: »Ta đi trước nghe!« và dừng lại ngồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. Sư thọ 78 tuổi.
phần dương thiện chiêu
Funyō zenshō (J), Fenyang Shanzhao (C), Fenyang Shanzhao (C), Fun'yo Zensho (J)947-1024. Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thủ sơn Tỉnh Niệm, dòng Lâm Tế.
phần dương thập bát vấn
2980宋代臨濟宗汾陽善昭禪師將學人對師家之問話分類為十八種,禪林間稱為汾陽十八問。汾陽,位於山西太原西南之汾州,為汾州之首邑,城中有太子院,善昭住此宏揚禪法,故禪林又以「汾陽v指稱善昭。十八問即:(一)請益,又作請益問。乃學人向師家直接請求指導之問法。(二)呈解,又作呈解問。即學人呈示自己之見解而請求師家提撕之法。(三)察辨,又作察辨問。即學人提出難辨之點而請師家勘辨之法。(四)投機,又作投機問。學人將自己之境界照實提出請示之法。(五)偏僻,又作偏辟、偏僻問。學人建立偏於一端之見解,以之質問師家之法。偏,偏於一邊之意;辟,緊逼之意。意指偏於一端而又急迫地對師家進問之法。(六)心行,又作心行問。即學人針對修行之事乞求提撕之法。(七)探拔,又作探拔問。即學人探求其他見處深淺之問法。(八)不會,又作不會問。即學人由於不了解而提出問題之問法。(九)警擔,又作警載、警擔問。即學人舉問其他不相干之事而愚弄其師之問法。(十)置,又作置問問。即學人以古人問答語句來請益之問法。(十一)故,又作故問問。即學人以經論故事來請益之問法。(十二)借,又作借事、借事問。即學人借譬喻、事例來請益之問法。(十三)實,又作實問問。即學人從事實上來請益之問法。(十四)假,又作假問問。即學人以假設之語氣來請益之問法。(十五)審,又作審問問。即學人呈露不審之點而進問之法。(十六)徵,又作徵問問。即學人以詰難態度提出問題之問法。(十七)明,又作明問問。即學人已明了一事復舉問他事之法。(十八)默,又作默問問。即學人不表現於語言,而以動作進問之法。〔人天眼目卷二〕
; (汾陽十八問) Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, đem những vấn đề do người học hỏi thầy, chia làm 18 loại, Thiền lâm gọi là Phần dương thập bát vấn. Đó là: 1. Thỉnh ích vấn: Người học trực tiếp hỏi thầy xin được chỉ dạy. 2. Trình giải vấn: Người học trình bày sự hiểu biết của mình để xin thầy chỉ bảo. 3. Sát biện cơ vấn: Người học nêu ra những điểm khó phân biệt để xin thầy xem xét và biện biệt. 4. Đầu cơ vấn: Người học đưa ra cảnh giới chiếu thực của mình để xin thầy chỉ giáo.5. Thiên tịch vấn: Người học đề ra 1 kiến giải thiên về 1 bên để chất vấn thầy. 6. Tâm hành vấn: Người học trình bày việc tu hành của mình để xin thầy chỉ dạy. 7. Thám bạt vấn: Người học thăm dò chỗ sâu cạn của các kiến giải khác mà họ được biết. 8. Bất hội vấn: Người học vì không hiểu rõ nên đặt thành vấn đề để hỏi thầy. 9. Cảnh đảm vấn: Người học hỏi những việc chẳng có liên can gì để giỡn cợt, đánh lừa thầy. 10. Trí vấn vấn: Người học dùng những câu hỏi đáp của cổ nhân để xin thầy chỉ dạy.11. Cố vấn vấn: Người học dùng những câu chuyện cổ trong các kinh luận để hỏi và xin thầy chỉ dạy. 12. Tá sự vấn: Người học mượn các thí dụ hoặc những sự kiện đã từng xẩy ra để hỏi.13. Thực vấn vấn: Người học chiếu theo sự thực để hỏi và xin thầy chỉ dạy. 14. Giả vấn vấn: Người học dùng những lời giả thiết để hỏi và xin được chỉ giáo. 15. Thẩm vấn vấn: Người học hỏi những việc mà mình không thể xét rõ được. 16. Trưng vấn vấn: Người học dùng thái độ nạn vấn để đưa ra câu hỏi. 17. Minh vấn vấn: Người học đã hiểu rõ 1 việc rồi lại hỏi thêm việc khác. 18. Mặc vấn vấn: Người học không biểu hiện bằng ngôn ngữ mà dùng động tác để hỏi.[X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
phần dương thập trí đồng chân
2980即宋代臨濟宗汾陽善昭禪師開示學人,身為師家所須具備之十種智。反之,若不具此十智,則難辨認是非、邪正、緇素等,亦難為人天眼目,即如鳥折翼、如弓斷弦,難以發揮本性及作用。十智即:(一)同一質,即學人與師家融成一體,且各盡本分。(二)同大事,即師家常置佛法大事於念頭,以解答學人之疑,而宣演佛法。(三)總同參,即師家具有令森羅萬象一切皆歸依佛法之力量。(四)同真智,即師家持有真實之智慧,認識如巨海入毛孔、芥子納須彌山等超越思量之世界。(五)同徧普,即師家須徹知,了悟佛道一事並非明了特別之世界,而日常生活中微不足道之事物,如土、石等中,亦皆為佛法之所在。(六)同具足,即師家明了人人本具之佛性。(七)同得失,即師家能明辨「得此失彼,得彼失此」之得失關係。(八)同生殺,即學人與師家當有如生死與共之密切關係。(九)同音吼,學人與師家之說法如一,皆為開演佛法。(十)同得入,師家與學人之關係如山門騎佛殿,泯絕一切之對待,而悉皆成佛。〔人天眼目卷一〕
; (汾陽十智同真) Mười thứ trí mà bậc thầy phải có để dẫn đắt người học, do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương chủ trương. Đó là: 1. Đồng nhất chất: Thầy và trò dung hợp thành 1 thể và mỗi người đều làm hết bổn phận của mình. 2. Đồng đại sự: Thầy phải lấy đại sự Phật pháp làm đầu để giải đáp những thắc mắc của người học. 3. Tổng đồng tham: Thầy phải đầy đủ năng lực khiến cho hết thảy sum la muôn tượng đều qui y Phật pháp. 4. Đồng chân trí: Thầy phải có trí tuệ chân thực, nhận thức thế giới vượt ngoài tư tưởng, như gom hết nước biển cả vào lỗ chân lông, đặt núi Tu di vào trong hạt cải. 5. Đồng biến phổ: Thầy phải thấu triệt, hiểu rõ đạo Phật chẳng phải là 1 thế giới xa lạ, đặc biệt nào, mà ngay trong những sinh hoạt ngày thường, không việc gì không là Phật pháp. 6. Đồng cụ túc: Thầy biết rõ mọi người đều có đầy đủ Phật tính sẵn có. 7. Đồng đắc thất: Thầy có khả năng biết rõ mối quan hệ giữa được và mất, tức là hễ được cái này thì mất cái kia và ngược lại, hễ được cái kia thì mất cái này. 8. Đồng sinh sát: Thầy và trò phải có sự quan hệ khắng khít, như sống chết cùng nhau. 9. Đồng âm hống: Thầy và trò nói pháp như nhau, đều là mở bày Phật pháp. 10. Đồng đắc nhập: Mối quan hệ giữa thầy và trò phải như cửa chùa với điện Phật, dứt tuyệt tất cả đối đãi và thảy đều thành Phật.[X. Nhân thiên nhãn mục Q.1].
phần dương trụ trượng
2982禪宗公案名。為宋代臨濟宗汾陽善昭禪師藉拄杖子對大眾開示之公案。一日,善昭手執拄杖,對大眾謂,禪僧須識得拄杖子,始能徹底修行,了畢參學大事。拄杖子,乃禪僧行腳之時,乘危涉險賴以輔助行腳之杖子,故亦引申為禪僧究明自己心性之伴侶,蓋禪僧不僅視拄杖子為伴侶,並使之與自己融合成一體,如此才得以徹底修行,此乃禪僧之本懷。故所謂「識得拄杖子」,即徹底修行之意。又禪僧完成參學大事,一般稱為「行腳事畢」。
; (汾陽拄杖) Tên công án trong Thiền tông. Cây gậy của Phần dương.Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, dùng cây gậy để khai thị đại chúng. Một hôm, ngài Thiện chiêu cầm cây gậy nói với đại chúng rằng: Thiền tăng cần phải biết về cây gậy mới có thể tu hành đến nơi đến chốn, hoàn thành sự nghiệp tham học. Trụ trượng là cây gậy giúp cho Thiền tăng vượt qua những chỗ khó khăn, nguy hiểm khi đi hành cước(đi các nơi tham học), cũng là người bạn đồng hành trên con đường tìm hiểu tâm tính của chính mình. Không những chỉ là bạn, mà hơn nữa, Thiền tăng còn phải làm cho cây gậy dung hợp với mình thành 1 thể, có như vậy thì sự tu hành mới rốt ráo.
phần dương tứ cú
2982即宋代臨濟宗汾陽善昭禪師為勘驗學人所設立之四語句。即:(一)接初機句,師家接引初機學者時,不撥弄特殊之機法,而以直截了當之方式接引之。(二)驗衲僧句,為辨別衲僧之力量,乃使用「夕陽東出」等超越一般常識見解、思量分別之機法。(三)正令行句,正令,指佛法,於禪林中則指不立文字、教外別傳之大旨;行,通行無礙之義。謂具有大機大用之學人無不具有令佛法傳布天下、通行無礙之能力。(四)定乾坤句,謂佛法力量所及之處,自然泯除貪瞋癡等之煩惱,而令天上天下無一不定。〔人天眼目卷二〕
; (汾陽四句) Bốn câu do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương đặt ra để khám nghiệm người học. Bốn câu ấy là: 1. Tiếp sơ cơ cú: Tiếp dắt người mới học. Nghĩa là khi thầy tiếp dắt người mới học thì không cần đưa ra cơ pháp đặc thù, mà chỉ dùng phương thức trực tiếp phù hợp với đương cơ mà tiếp dẫn họ. 2. Nghiệm nạp tăng cú: Xét nghiệm năng lực của nạp tăng. Nghĩa là thầy sử dụng cơ pháp đặc thù Tịch dương đông xuất (mặt trời chiều mọc ở phương đông) vượt ra ngoài những suy tư phân biệt phổ thông và kiến giải thường thức. 3. Chính lệnh hành cú: Chính lệnh chỉ cho Phật pháp, trong Thiền lâm thì chỉ cho tông chỉ Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Hành có nghĩa là thông hành vô ngại. Nghĩa là người học có đại cơ đại dụng, có đầy đủ năng lực làm cho Phật pháp thông hành vô ngại, truyền bá khắp mọi nơi. 4. Định càn khôn cú: Định yên trời đất. Nghĩa là nơi nào Phật pháp đến thì tự nhiên dứt hết các phiền não tham sân si, khiến cho trên trời dưới đất đều được yên ổn. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].
phần dương vãn tham
2982晚參,即指於禪林中,學人在晚間蒙受宗師家之指導而參學;蓋晚參係由宋代臨濟宗之汾陽善昭禪師而盛行,故稱為汾陽晚參。〔嘉泰普燈錄卷三楊岐方會章〕
; (汾陽晚參) Vãn tham là tham học vào buổi chiều. Trong Thiền lâm, Vãn tham do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, thực hành, vì thế nên gọi là Phần dương vãn tham. [X. chương Dương kì phương hội trong Gia thái phổ đăng lục Q.3].
Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục
汾陽無徳禪師語録; C: fényáng wúdéchánshī yŭlù; J: funyō mutoku zenshi goroku;|Ngữ lục của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu, Thạch Sương Sở Viên (楚圓) biên soạn.
phần dương vô đức thiền sư ngữ lục
2983凡三卷。宋代楚圓編。又作汾陽善昭禪師語錄、無德和尚語錄、汾陽錄。收於大正藏第四十七冊。係宋代汾陽善昭(947~1024)禪師之上堂小參、拈頌代別、歌頌等,而由其門人石霜山慈明大師楚圓(986~1039)所編集者。本錄卷中先賢一百則為其後雪竇重顯頌古百則之先例,與卷上洞山五位頌之問答及別頌,同為禪宗頌古中之年代最古者。宋代晦室師明禪師於續古尊宿語要一書天集中,收有「汾陽善昭禪師語要」,係由本錄抄出上堂小參、歌頌之部分者。〔景德傳燈錄卷十三、天聖廣燈錄卷十六、禪籍目錄〕
; (汾陽無德禪師語錄) Cũng gọi Phần dương Thiện chiêu thiền sư ngữ lục, Vô đức hòa thượng ngữ lục, Phần dương lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Sở viên biên tập vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Bộ Ngữ lục này ghi chép những phần Thướng đường, Tiểu tham, Niệm tụng, Đại ngữ, Biệt ngữ, Ca, Tụng... của Thiền sư Thiện chiêu (947- 1024) ở Phần dương. Một trăm tắc trong quyển trung của bộ Lục này là tiền lệ cho 100 tắc tụng cổ của ngài Tuyết đậu Trùng hiển sau này. Những lời vấn đáp và biệt tụng trong quyển thượng về Động sơn ngũ vị, cũng là những bài tụng xưa nhất trong những bài tụng cổ của Thiền tông. Phần dương Thiện chiêu thiền sư ngữ yếu trong Tục cổ tôn túc ngữ yếu nhất thư thiên tập của Thiền sư Hối thất Sư minh đời Tống, chính đã được sao chép từ phần Thướng đường Tiểutham, Ca tụng trong bộ Ngữ lục này mà ra. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiên thánh quảng đăng lục Q.16; Thiền tịnh mục lục].
Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục 汾陽無徳禪師語録
[ja] フンヨウムトクゼンシゴロク Funyō mutoku zenshi goroku ||| The Fenyang wudechanshi yulu; ed. Chuyuan 楚圓T 1992.47.595b-629c. => (c: Fenyang wudechanshi yulu); Sở Viên (c: Chuyuan 楚圓) biên soạn.
phần dụ
1320凡譬喻僅藉以比況其法部分之義,而未能顯喻其法之全貌者,稱為分喻。如說面如滿月,係以月之端正一邊而比顯面容豐滿端正之一分。北本涅槃經卷五(大一二‧三九六中):「面貌端正,猶月盛滿。白象鮮潔,猶如雪山。滿月不得即同於面,雪山不得即是白象。」
; (分喻) Thí dụ một phần. Tức thí dụ chỉ mới so sánh được 1 phần ý nghĩa của 1 pháp, chứ chưa nêu rõ được toàn bộ ý nghĩa của pháp ấy, gọi là Phần dụ. Như nói mặt như trăng tròn là dùng vầng trăng đầy đặn để so sánh với khuôn mặt đầy đặn, chứ không phải nói khuôn mặt tròn như mặt trăng. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 5 (Đại 12, 396 trung) nói: Khuôn mặt đẹp đẽ, như vầng trăng tròn đầy. Bạch tượng trắng sạch, giống như núi Tuyết. Nhưng trăng tròn không thể giống khuôn mặt, núi Tuyết không thể là bạch tượng.
Phần hương
(焚香): đốt hương, xông hương, đốt nhang. Tại Trung Quốc, từ xưa đến nay, từ trong cung đình cho đến ngoài dân gian, đều có tập tục đốt hương để làm cho không khí thanh tịnh, đốt hương đàn cầm, hay đốt hương ngâm thơ, tĩnh tọa, v.v. Hai bên phải trái của bệ trước Thái Hòa Điện (太和殿) nhà Thanh có đặt 4 cái ghế cao gọi là Hương Kỷ (香幾), mỗi ghế an trí Lò Hương 3 chân. Khi Hoàng Đế lên điện, thường đốt Đàn Hương (檀香) ở trong lò, đem đặt trong Kim Loan Điện (金鑾殿); khói hương nghi ngút bay vờn chung quanh, khí thơm tỏa ngát bốn phương, khiến cho tinh thần con người phấn chấn lên. Thời xưa, khi chơi đàn cầm, Gia Cát Khổng Minh (諸葛孔明, 181-234) không chỉ có đồng tử hầu hạ hai bên, mà còn thường đặt hương án, đốt hương để tạo thêm cảm hứng. Các văn sĩ, thục nữ thời cổ đại, khi chơi đàn cũng có thói quen đốt hương, tạo thêm không khí u tĩnh, thanh thoát, phong nhã. Lục Du (陸游, 1125-1210), thi nhân ái quốc thời Nam Triều, mỗi khi đọc sách thường có xông hương. Như trong bài Hà Trung Nhàn Hộ Chung Nhật Ngẫu Đắc Tuyệt Cú (假中閒戶終日偶得絕句), ông có diễn tả cảm hứng rằng: “Thặng hỷ kim triêu tịch vô sự, phần hương nhàn khán ngọc khê thi (剩喜今朝寂無事、焚香閒看玉溪詩, vui quá sáng nay lặng vô sự, đốt hương nhàn ngắm khe ngọc thơ).” Cũng vậy, Tô Đông Pha (蘇東坡, 1037-1101), đại văn hào nhà Bắc Tống, lại thường đốt hương tĩnh tọa và tu tâm dưỡng tánh. Trên đường đến nhậm chức ở Đam Châu (儋州), Hải Nam (海南), ông có mua hơn 10 cân Đàn Hương, sau đó lập nên xe gọi là Tức Hiên (息軒), và tương truyền rằng ông thường xông hương tĩnh tọa trong xe đó. Cho nên, ông bảo rằng: “Vô sự thử tĩnh tọa, nhất nhật thị lưỡng nhật, nhược hoạt thất thập niên, tiện thị bách tứ thập (無事此靜坐、一日是兩日、若活七十年、便是百四十, vô sự ngồi yên lắng, một ngày là hai ngày, nếu sống bảy mươi năm, tức trăm bốn mươi tuổi).” Ngay như Tề Bạch Thạch (齊白石, 1864-1957), họa sĩ trứ danh hiện đại của Trung Quốc, cũng rất tôn kính tác dụng thần kỳ của việc xông hương vẽ tranh. Trong bài thơ Đông Đáo Kim Hoa Sơn Quán (冬到金華山觀) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu rằng: “Phần hương ngọc nữ quỳ, vụ lí tiên nhân lai (焚香玉女跪、霧裏仙人來, đốt hương ngọc nữ quỳ, sương mù tiên nhân đến).” Sách Hiền Kỷ Tập (賢己集) của Lý Tướng (李相) cho rằng khởi đầu của việc đốt hương là từ Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348). Như trong Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 9, phần Trúc Phật Đồ Trừng (竺佛圖澄), có đoạn: “Tức thủ ứng khí thạnh thủy thiêu hương chú chi, tu du sanh thanh liên hoa (卽取應器盛水燒香咒之、須臾生青蓮花, tức lấy bình bát đỗ đầy nước rồi chú nguyện, trong chốc lát thì hoa sen xanh sanh ra).” Trong khi đó, tác phẩm Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄) của Ngô Tằng (吳曾, ?-?) nhà Nam Tống thì cho là khởi đầu từ thời nhà Hán. Tập tục đốt hương đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân châu Á nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Đốt hương để làm thanh tịnh đàn tràng, môi trường, thân tâm, để mặc khải với chư Phật, Bồ Tát, thần linh. Như trong Thiện Nữ Nhân Truyện (善女人傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1657) quyển Hạ, phần Minh Nhân Hiếu Từ Hoàng Hậu (明仁孝徐皇后), có đoạn rằng: “Hồng Võ tam thập nhất niên, Xuân chánh nguyệt sóc đán, ngô phần hương tĩnh tọa các trung, duyệt cổ kinh điển, tâm thần ngưng định, hốt hữu tử kim quang tụ, di mãn tứ châu, hoảng hốt nhược thùy, mộng kiến Quán Thế Âm Bồ Tát (洪武三十一年、春正月朔旦、吾焚香靜坐閣中、閱古經典、心神凝定、忽有紫金光聚、彌滿四周、恍惚若睡、夢見觀世音菩薩, vào sáng sớm ngày mồng một tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Võ thứ 31 [1398], ta đốt hương tĩnh tọa trong gác, đọc kinh điển xưa, tâm thần ngưng định, chợt có hào quang vàng tía tụ lại, đầy khắp bốn phía, mơ hồ như trong giấc ngủ, mơ thấy Bồ Tát Quán Thế Âm).” Đặc biệt, đối với Phật Giáo, truyền thống tắm rửa sạch sẽ, xông hương, ngồi tĩnh tọa và xả báo thân ra đi, được tìm thấy khá nhiều trong các thư tịch. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 42, phần Ân Trần Cố Châu Chu Thái Ngu Hoàng Trang Bào Truyện (殷陳顧朱周蔡虞黃莊鮑傳), có đoạn: “Niên lục thập hữu nhị, tự tri thệ kỳ, phần hương tọa thoát (年六十有二、自知逝期、焚香坐脫, vào năm 62 tuổi, ông tự biết lúc ra đi, bèn xông hương ngồi yên mà thoát hóa).” Hay trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Kim Thích (金奭), lại có đoạn: “Phần hương an tọa, dĩ thủ kết ấn nhi hóa, thiên nhạc dị hương, chung nhật bất tán (焚香安坐、以手結印而化、天樂異香、終日不散, đốt hương ngồi yên, lấy tay bắt ấn mà ra đi, nhạc trời hương thơm lạ, suốt ngày vẫn không hết).” Hoặc trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 6, phần Thụy Châu Cửu Phong Đạo Kiền Thiền Sư (瑞州九峰道虔禪師), cũng có đoạn: “Toại phần hương, hương yên vị đoạn, tọa dĩ thoát khứ (遂焚香、香煙未斷、座已脫去, bèn đốt hương, khói hương chưa dứt, sư đã ngồi yên mà ra đi).”
phần kinh thai
5068漢明帝時,佛道二教燒經決真疑之處。永平十四年(71)正月一日,五嶽八山之道士褚善信等六九○人上表,請帝火驗佛道二教之優劣。同月十五日,帝集眾於壇上,驗燒二教經典,道教之書盡成灰燼,而佛經毫無損壞。翻譯名義集卷七譯師條引唐太宗焚經臺詩(大五四‧一一七八上):「門徑蕭蕭長綠苔,一回登此一徘徊;青牛謾說函關去,白馬親從印土來。確實是非憑烈焰,要分真偽築高臺;春風也解嫌狼籍,吹盡當年道教灰。」(參閱「迦葉摩騰」3971)
; (焚經台) Đài đốt kinh. Đây là nơi mà vào thời vua Minh đế nhà Hán, đạo Phật và đạo Lão đốt kinh để xem đạo nào chân thật, đạo nào không chân thật. Vào ngày mồng 1 tháng giêng năm Vĩnh bình 14 (71), các đạo sĩ ở Ngũ nhạc Bát sơn gồm 690 người, đứng đầu là Chử thiện tín, dâng biểu xin vua cho đốt kinh của Phật giáo và Đạo giáo (Lão giáo) để xem kinh của đạo nào linh nghiệm hơn. Ngày rằm cùng tháng, vua hạ lệnh cho dân chúng tập hợp ở trên đàn, đốt kinh điển của 2 đạo, sách của Đạo giáo đều cháy thành tro, còn kinh Phật thì không hề hấn gì. Điều Dịch sư trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 7 có dẫn bài thơ nhan đề Phần Kinh Đài của vua Thái tông nhà Đường như sau (Đại 54, 1178 thượng): Môn kính tiêu tiêu trường lục đài, Nhất hồi đăng thử nhất bồi hồi; Thanh ngưu mạn thuyết Hàm quan khứ, Bạch mã thân tòng Ấn độ lai. Xác thực thị phi bằng liệt diệm, Yếu phân chân ngụy trúc cao đài. Xuân phong dã giải hiềm lang tạ, Xuy tận đương niên Đạo giáo khôi. (Dịch ý: Đường lên thăm thẳm rêu xanh mọc dài, Mỗi lần đến đây lòng thấy bồi hồi. Trâu xanh nói bịp từ Hàm quan ra đi (1) Ngựa trắng đích thân từ Ấn độ tới (2). Đúng hay sai nhờ lửa mạnh xác định Thật hay giả phải lập đài cao mới biết. Gió xuân cũng biết ghét sự bừa bãi. Nên đã thổi sạch tro tàn của Đạo giáo năm xưa). Chú thích của người dịch: (1).Trâu xanh: Theo lịch sử Đạo giáo, lúc 50 tuổi, ngài Lão tử cỡi con trâu xanh ra khỏi cửa ải Hàm cốc, rồi đi về phía tây và từ đó không thấy ngài xuất hiện nữa. (2).Ngựa trắng: Theo lịch sử Phật giáo Trung quốc, vào khoảng năm Vĩnh bình (58–75) đời vua Minh đế nhà Đông Hán, 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan dùng ngựa trắng mang kinh và tượng Phật từ Ấn độ đến Trung quốc truyền bá. Lịch sử Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đó. (xt. Ca Diếp Ma Đằng).
Phần thiêu địa ngục 炎熱地獄
[ja]エンネツジゴク ennetsujigoku ||| The scorching hot hell (Tapana-narakaḥ), the sixth of the eight burning hells 八熱地獄. => Địa ngục nóng như thiêu đốt (s: tapana-narakaḥ), địa ngục thứ 6 trong Bát nhiệt địa ngục 八熱地獄.
Phần thiêu 焚燒
[ja] フンショウ funshō ||| (1) To set fire to; to burn (up). (2) A translation of the Sanksrit homa. See 護摩. => 1. Thiêu cháy; đốt cháy. 2. Hán dịch chữ Homa trong tiếng Sanskrit. Xem Hộ-ma護摩.
phần tuế
1320又稱歲夜。即指除夕夜。謂舊年去、新年來之分界。聯燈會要卷二十七北禪智賢章(卍續一三六‧四四七上):「歲夜小參,示眾云:『年窮歲盡,無可與諸人分歲。』」此外,又以除夕夜之祭祖聚飲稱為分歲。〔古今類書纂要卷三〕
; (分歲) Cũng gọi Tuế dạ. Chỉ cho đêm trừ tịch, tức giờ giao thừa đánh dấu năm cũ đã qua, bước sang năm mới.Chương Bắc thiền Trí hiền trong Liên đăng hội yếu quyển 27 (Vạn tục 136, 447 thượng) ghi: Tiểu tham lúc giao thừa, dạy chúng rằng: Năm cùng tháng hết, không thể phân tuế cùng với các người được. [X. Cổ kim loại thư toản yếu Q.3].
Phần tướng môn 分相門
[ja] フンソウモン funsōmon ||| The single vehicle is absolute, independent. The "separate aspect" of the single vehicle. => Nhất thừa là tuyệt đối, là độc lập. "Phương diện riêng biệt" của Nhất thừa.
Phần tế 分際
[ja] ブンザイ bunzai ||| (1) Distinction. (2) Limitation, limitation, extreme. (3) Situation, circumstance. => Có ba nghĩa: 1. Sự phân biệt. 2. Sự giới hạn, cực độ. 3.Trạng thái, chi tiết.
Phần tể 分齊
[ja] ブンザイ bunzai ||| (1) Difference, distinction. (2) A level, a limit, extent, range. (pariccheda, pravibhāga) (3) A situation, state of affairs, condition. (4) The border between two villages. => Có các nghĩa sau: 1. Sự khác nhau, sự phân biệt. 2. Mức độ, giới hạn, phạm vi, lĩnh vực (s: pariccheda, pravibhāga) 3. Trạng thái, tình trạng sự việc, điều kiện. 4. Ranh giới giữa hai làng. Phân lượng 分... [ja] ブンリョウ bunryō ||| (1) Quantity, degree, extent. (2) Weight. => Có hai nghĩa: 1. Số lượng, mức độ, phạm vi. 2. Trọng lượng.
phần tử
6881鉢中之小鉢,即淺鐵鉢。乃應量器(頭鉢)內鍵
phần đoạn luân hồi
1320指三界眾生之生死輪迴。分段,指由於果報之異而有形貌、壽量等之區別。三界眾生各以果報之不同,生生世世,各現其身形壽命之差別相,沈浮於欲界、色界、無色界等三界之中而流轉不息。(參閱「分段生死」1319、「輪迴」6186)
; (分段輪回) Chỉ cho sự sống chết xoay vòng của chúng sinh trong ba cõi. Phần đoạn là do quả báo bất đồng mà có thân hình và tuổi thọ khác nhau. Chúng sinh trong 3 cõi đều do quả báo khác nhau mà đời đời kiếp kiếp đều có sự bất đồng về thân tướng, tuổi thọ, chìm nổi và trôi lăn trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc không bao giờ ngừng. (xt. Phần Đoạn Sinh Tử, Luân Hồi).
Phần Đoạn Sanh Tử
(分段生死): Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).”
phần đoạn sinh tử
1319二種生死之一。指三界眾生之生死。為「變異生死」之對稱。分段,指由於果報之異而有形貌、壽量等之區別。蓋三界眾生所感生死之果報各有類別、形貌、壽量等之限度與差異,故稱分段生死。又作分段死、有為生死。依唯識家之說,分段生死係以有漏之善惡業為親因,以煩惱障為助緣所感三界之粗異熟果。以身命有長短,隨因緣之力而定有齊限,故稱為分段,亦即三界、五趣之生死。 大乘義章卷八將分段生死分為二種,謂三塗之報為惡道分段,人天之報為善道分段。復於大乘人中惡道分段立三階,即:(一)凡夫所受之生死,以惡業為因,四住為緣。(二)十住菩薩所受之生死,以惡業為因,四住為正緣,悲願為隨助。(三)種性以上初地菩薩所受之生死,以惡業為因,悲願為正緣,四住為隨助。善道分段亦有三階,即:(一)凡夫二乘乃至十住菩薩所受之生死,以善業為因,四住為緣。(二)種性解行之菩薩所受之生死,以善業為因,四住為正緣,悲願為隨助。(三)地上菩薩所受之生死,以善業為因,悲願為正緣,四住為隨助。此外並詳說其報盡之位次。又大乘法苑義林章卷六本列舉分段生死之四魔,即分段煩惱魔、分段蘊魔、分段死魔、分段天魔等。〔勝鬘經一乘章、成唯識論卷八、勝鬘寶窟卷中本、成唯識論述記卷八末、摩訶止觀卷七上、法華經玄義卷二上、卷六下、華嚴五教章卷二、華嚴經探玄記卷六〕
; (分段生死) Đối lại: Biến dịch sinh tử. Cũng gọi Phần đoạn tử, Hữu vi sinh tử. Chỉ cho sự sinh tử của chúng sinh trong 3 cõi, 1 trong 2 loại sinh tử. Do tạo nghiệp khác nhau nên chúng sinh chiêu cảm quả báo sinh tử trong 3 cõi có thân tướng đẹp, xấu, tuổi thọ dài, ngắn không giống nhau, vì thế gọi là Phần đoạn sinh tử. Theo thuyết của các nhà Duy thức thì Phần đoạn sinh tử lấy nghiệp thiện ác hữu lậu làm nhân trực tiếp và lấy Phiền não chướng làm nhân gián tiếp mà chiêu cảm quả dị thục thô trọng trong 3 cõi. Vì thân mệnh có dài ngắn, tùy theo năng lực của nhân duyên mà quyết định hạn lượng, cho nên gọi là Phần đoạn, cũng tức là sinh tử trong 3 cõi, 6 đường. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 chia Phần đoạn sinh tử làm 2 loại: Ác đạo phần đoạn và Thiện đạo phần đoạn. 1. Ác đạo phần đoạn: Chỉ cho quả báo trong 3 đường, gồm 3 bậc: a) Sinh tử của phàm phu phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm duyên. b) Sinh tử do bồ tát Thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm chính duyên, bi nguyện làm trợ duyên. c) Sinh tử mà Bồ tát Sơ địa từ hàng Chủng tính trở lên phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, Tứ trụ địa làm trợ duyên. 2. Thiện đạo phần đoạn: Cũng có 3 bậc là: a) Sinh tử của phàm phu, Nhị thừa, cho đến bồ tát Thập trụ phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm duyên. b) Sinh tử do Bồ tát chủng tính giải hành phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm chính duyên, bi nguyện làm trợ duyên. c) Sinh tử mà hàng bồ tát Địa thượng phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, Tứ trụ địa làm trợ duyên. Ngoài ra còn nói rõ về thứ bậc của quả báo lúc hết. Còn Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần đầu có liệt kê Tứ ma của Phần đoạn sinh tử, đó là: Phần đoạn phiền não ma, Phần đoạn uẩn ma, Phần đoạn tử ma và Phần đoạn thiên ma. [X. chương Nhất thừa kinh Thắng man; luận Thành duy thức Q.8; Thắng man bảo quật Q.trung, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.7, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6, phần cuối; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6].
Phần đoạn sinh tử 分段生死
[ja] ブンダンショウジ bundanshōji ||| The lot of life and death received by the worldling who wanders about in the world of delusion. Transmigration with a predetermined life-span and body. (2) 'fragmentary samsāra.' Unenlightened people's samsāra, as opposed to miraculous samsāra 變易生死, the samsāra experienced by bodhisattvas. => Có hai nghĩa: 1. Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Sự luân hồi trong một thân xác và kiếp sống tiên định. 2. Phần đoạn sinh tử. Dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử, dạng luân hồi mà hàng Bồ-tát trải qua.
phần đoạn thân
1320即分段生死之身。為凡夫輪迴於六道,所受各種不同果報之身。亦即壽命有長短、形體有大小等之差別、限度之身。
; (分段身) Chỉ cho thân phần đoạn sinh tử, tức thân của phàm phu luân hồi trong 6 đường, chịu các thứ quả báo khác nhau, như tuổi thọ có dài ngắn, hình thể có lớn nhỏ...
phần đoạn đồng cư
1319分段,為分段生死身之略稱,即吾人之體。蓋「分段」,原指由於果報之異而有形貌、壽量等之區別;吾人之身形壽命皆因果報而有異,故以「分段生死身」代稱之。同居,為凡聖同居土之略稱,如吾身所住之娑婆世界;此娑婆世界為凡夫與聖者同住之國土,故稱同居。蓋分段是凡夫之身,同居是其住處。
; (分段同居) Phần đoạn là gọi tắt của Phần đoạn sinh tử thân, tức chỉ cho thân thể con người. Phần đoạn nghĩa là do quả báo khác nhau mà có thân tướng và tuổi thọ khác nhau. Đồng cư là gọi tắt của Phàm thánh đồng cư độ, nghĩa là cõi nước trong đó phàm phu và thánh nhân cùng ở chung với nhau, như thế giới Sa bà. Tóm lại, Phần đoạn là thân phàm phu; Đồng cư là nơi phàm phu sinh sống.
Phần 焚
[ja] フン fun ||| To burn, to cook. => Đốt, nấu nướng.
Phẩm
品; C: pǐn; J: hin, hon; |Có các nghĩa sau: 1. Thuộc về một thứ lọai nào đó; 2. Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài; 3. Sự phân loại, mức độ; 4. Một phần của tác phẩm, chương, đoạn (s: parivarta, patala, varga). Varga được phiên âm là bạt-cừ (跋渠).
phẩm
3764<一>梵語 varga,巴利語 vagga 之意譯。音譯作跋渠。相當於篇、章等語,用以劃分文章。例如法華經共分爲二十八品。品之數目,稱爲品數。對品冠上題目,稱爲品題(與經題相對)。 <二>品類、品別等義。種類或程度相同者集於一,以區別程度、意義內容之異者。如稱九品之惑、八十一品之惑、三品之懺悔。此外,另有法智品、類智品、心品等稱。
; Varga (S), Vagga (P), Vakya (S)Phẩm, thiên, chương, bộ trong kinhMột tập kinh có thể chia thành nhiều phẩm.
; Varga (S). Chapter, section (of a book)
; (品) I. Phẩm. Phạm: Varga. Pàli: Vagga. Hán âm: Bạt cừ. Từ dùng để chia bản văn trong 1 bộ kinh thành những chương mục, tương đương với những chữ thiên, chương... như kinh Pháp hoa được chia làm 28 phẩm... II. Phẩm. Chỉ cho phẩm loại, phẩm biệt... Những chủng loại hoặc trình độ giống nhau thì gom vào một để phân biệt sự khác nhau về trình độ và ý nghĩa nội dung, như 9 phẩm hoặc, 81 phẩm hoặc, 3 phẩm sám hối. Ngoài ra còn có những tên gọi như Pháp trí phẩm, Loại trí phẩm, Tâm phẩm...
phẩm ba dật đề
Pacittiya (S)Tiểu giớiTỳ kheo có 92 điều, Tỳ kheo ni có 166 điều, trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).
phẩm ba la di
Pārājika (S)Ba la di pháp, Căn bản giới1- Tên một trong 6 phẩm của Luật Tạng. 2- Trọng tội nếu vi phạm sẽ bị trụ xuất khỏi tăng đoàn: Tỳ kheo giới có 4 tội (pháp) ba la di: đại dâm giới, đặi đạo giới, đạại sát giới, đại vọng ngữ giới. Tỳ kheo ni giới có 8 tội ba la di: dâm, đạo, sát, vọng ngữ, do ý dâmmà đụng cọ đàn ông từ nách tới gối, do ý dâm mà nắm tay hay áo hẹn hò đàn ông chỗ vắng, che dấu tội tỳ kheo ni khác phạm đại giới, tùng theo một tỳ kheo phạm giới mà không sám hối. Bồ tát giới có 10 tội ba la di: giốt, trộm, dâm, nói láo, mua rượu, nói điều lỗi của tứ chúng, khen mình chê ngươi, keo tiếc lại còn chê bai, lòng hờn giận chẳng chịu ăn năn, gièm chê tam bảo.
phẩm bỉ ngạn đạo
Parayānavagga (P), The Chapter on the Way to the Far Shore (chapter SN V) Bỉ Ngạn Đạo PhẩmMột trong 5 phẩm của Kinh Tập, có 18 tiết.
phẩm bồ đề tâm hồi hướng
Pariṇāmāna (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm bồ đề tâm nhẫn nhục
Kṣānti-pāramitā (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh. Một trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mật Một trong Thập Ba la mật. Dứt giận hờn, được từ tâm tam muội, không huỷ nhục chúng sanh. Khuyên người phát tâm vô thượng bồ đề.
phẩm bồ đề tâm thí cúng dường
Papadesana (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm bồ đề tâm tinh tấn ba la mật đa
Xem Tinh tấn Ba la mật. Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm bồ đề tâm tĩnh lự bát nhã ba la mật
Dhyāna Pāramitā (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm hộ giới
Saṃprājanyaraksana (S)Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
Phẩm loại
品類; C: pǐnlèi; J: honrui; |Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài.
phẩm loại túc luận
Prākāraṇapada (S)Tên một bộ luận kinh. Do Ngài Thế Hữu soạnXem A tỳ đạt ma Phẩm loại túc luận.
Phẩm loại 品類
[ja] ホンルイ honrui ||| Type, kind, class, category, group. 〔攝大乘論 T 1593.31.〕 => Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài.
phẩm nghĩa
Aṭṭhaka vagga (P), The Octet Chapter (chapter SN IV) Một trong 5 phẩm của Kinh Tập, có 16 bài kinh.
phẩm phổ môn
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
phẩm toát yếu
Parivarga (S)Một trong sáu phẩm của Luật Tạng.
phẩm tán bồ đề tâm
Bodhi-citta saṃsa (S)Tên một bộ luận kinh. Tên một trong 8 phẩm của Bồ đề hạnh kinh.
phẩm vương thọ ký
Rājavyākaraṅa-parivarta (S).
phẩm xà
Uraga-vagga (P)Một trong 5 phẩm của Kinh Tập, gồm 12 kinh.
Phẩm 品
[ja] ヒン、ホン hin, hon ||| (1) That which belongs to a certain type or class of things. (2) Type, class, category, kind, species group. (3) Classification, level. (4) A section of a written work; a chapter, a division (parivarta, patala, varga). Varga is transcribed as 跋渠. => Có các nghĩa sau: 1. Thuộc về một thứ lọai nào đó. 2. Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài. 3. Sự phân loại, mức độ. 4. Một phần của tác phẩm, chương, đoạn (s: parivarta, patala, varga). Varga được phiên âm là bạt-cừ 跋渠.
phẩn nộ
Anger—Fierce;
phẩn nộ minh vương
Maharajas as opponents of evil and guardian of Buddhism.
phẩn nộ vương
Xem Kim Cang Dạ xoa.
phẫn
3222梵語 krodha。心所之名。在俱舍宗爲小煩惱地法之一,十纏之一,唯識宗則以之爲小隨煩惱之一。爲欲界繫之煩惱,乃修道所斷除之惑。即對不順自心之對境,引生氣怒之情,而發爲暴惡之行動,稱爲忿。忿由瞋而生,剛烈而強猛,然無餘勢,非長久持續者。〔大乘廣五蘊論、品類足論卷三、雜阿毘曇心論卷二、順正理論卷五十四〕(參閱「七十五法」88、「十纏」504、「小隨煩惱」941)
; Krodha (S), Anger, Kodha (P)Phẫn nộ, SânSanh khởi sự giận dữ. Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; Krodha (S). Anger.
; (忿) Phạm: Krodha. Lòng tức giận phát ra hành động thô bạo khi gặp cảnh trái ý mình, gọi là Phẫn, tên của Tâm sở, là 1 trong Thập triền. Trong tông Câu xá, Phẫn được xếp làm 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp; còn tông Duy thức thì cho nó là 1 trong các Tiểu tùy phiền não. Phẫn là phiền não trói buộc trong cõi Dục, đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được. Phiền não Phẫn là từ tâm sân phát sinh, tính của nó nóng nảy, mạnh mẽ, nhưng không giữ được lâu. [X. luận Đại thừa quảng ngũ uẩn; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.54]. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp, Thập Triền, Tiểu Tùy Phiền Não).
phẫn kết
The bond of anger.
phẫn nộ
3222一般指密教之不動尊所現忿怒威猛相之尊體,總稱爲忿怒,亦稱明王。凡諸佛菩薩皆有二種輪身:(一)正法輪身,由所修之行願而報得之真實身。(二)教令輪身,由大悲而現威猛之相,即奉行大日如來教令之明王身。據祕密瑜伽學習捷圖卷上載,忿怒者,猶如奴僕,於諸經軌中多稱爲明王;然奉行教勅者即猶如君王,故稱忿怒,或稱明王。據大日經卷六出世護摩法品、大日經疏卷二十二等載,十二火法中,修忿怒法所供奉之本尊,攝於降伏法、息災法,形像爲煙黑色,頭髮蓬亂,閉一目,張口作大吼狀,露出上下二齒。此外,忿怒亦爲日本真言宗三十二種血脈之一。〔出曜經卷十六忿怒品、法句經卷下忿怒品、大日經義釋卷七、大日經義釋演密鈔卷十〕(參閱「明王」3278)
; Xem Sân.
; Anger, angry, fierce, over-awing; a term for the Phẫn nộ Minh vương the fierce mahàràja as opponents of evil and guardians of Buddhism.
; (忿怒) Cũng gọi Minh vương. Hiện ra tướng giận dữ. Các vị tôn trong Mật giáo thường hiện tướng phẫn nộ, uy mãnh để hàng phục những chúng sinh cứng cỏi, khó giáo hóa, được gọi chung là Phẫn nộ, hoặc Minh vương. Cứ theo phẩm Xuất thế hộ ma pháp trong kinh Đại nhật quyển 6 và Đại nhật kinh sớ quyển 22, Bản tôn được thờ cúng khi tu pháp Phẫn nộ là thuộc về pháp Hàng phục, pháp Tức tai; hình tượng màu khói đen, đầu tóc rối bù, nhắm một mắt, há miệng như đang la lớn, 2 hàm răng lộ ra. Ngoài ra, Phẫn nộ cũng là 1 trong 32 thứ huyết mạch của tông Chân ngôn Nhật bản.[X. phẩm Phẫn nộ trong kinh Xuất diệu Q.16; Phẫn nộ trong kinh Pháp cú Q.hạ; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.10]. (xt. Minh Vương).
phẫn nộ câu
A form of Quán âm with a hook.
phẫn nộ câu quán thế âm bồ tát
3223梵名 Amogha-krodhāṅkuśa-rāja。音譯阿目佉句路馱央句捨囉惹。 係安置於密教現圖胎藏曼荼羅虛空藏院外列北第二位之菩薩。又作忿怒鉤菩薩。密號持鉤金剛,種子爲???(sa)或???(ka),三昧耶形爲鉞鉤。形像爲三面四臂,正面肉色,左面青色,右面綠色,各面皆具三目,面上有化佛。左第一手持蓮花,第二手持羂索,右第一手持鐵鉤,第二手作「與願印」,結跏趺坐於赤蓮花上。於大日經、大日經疏中未見此菩薩之名,而初見於唐代法全所集之玄法寺儀軌卷二。古來以此尊與大日經卷一具緣品中之行慧菩薩爲同尊,行慧菩薩爲虛空藏菩薩之眷屬。;其真言即同於青龍寺儀軌卷中所載行慧菩薩之真言。〔祕藏記〕(參閱「行慧菩薩」2566)
; Amogha-krodhāṇkuśa-rāja (S)Tên một vị Bồ tát.
; (忿怒鈎觀世音菩薩) Phạm: Amogha-krodhàíkuza-ràja. Hán âm: A mục khư cú lộ đà ương cú xả ra nhạ. Cũng gọi Phẫn nộ câu bồ tát. Vị Bồ tát thứ 2 trong Ngoại viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Trì câu kim cương, chủng tử là (sa) hoặc (ka), hình Tam muội da là cái búa móc. Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, có 3 mặt, 4 tay; mặt chính màu da người, mặt bên trái màu xanh, mặt bên phải màu lục, mỗi mặt đều có 3 mắt, trên mặt có hóa Phật. Tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ hai cầm vòng dây; tay thứ nhất bên phải cầm cái móc sắt, tay thứ hai kết ấn Dữ nguyện. Trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ không thấy có tên của vị Bồ tát này, mà chỉ thấy trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, do ngài Pháp toàn biên tập vào đời Đường. Xưa nay cho rằng vị tôn này và bồ tát Hành tuệ trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 là đồng vị; bồ tát Hành tuệ là quyến thuộc của bồ tát Hư không tạng. Chân ngôn của vị này cũng chính là chân ngôn của bồ tát Hành tuệ được ghi trong Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. [X. Bí tạng kí]. (xt. Hành Tuệ Bồ Tát).
phẫn nộ nguyệt yểm bồ tát
3222忿怒月黶,梵名 Krodha-candra-tilaka,音譯句路馱贊捺羅底攞迦。係安置於密教現圖胎藏曼荼羅金剛手院內列最西(下)端之菩薩。又作忿怒月黶尊、金剛月黶、月黶尊。據大日經卷一具緣品載,於執金剛之下,有忿怒降三世摧伏大障者,稱爲月黶尊。密號底羅金剛,種子爲???(hrīḥ)或???(hrīṃ),三昧耶形爲三鈷戟或獨鈷戟。形像爲身呈青黑色,戴天冠,三目四臂,呈極忿怒形,口現四牙,左右第一手握拳交腕,左第二手張臂持獨鈷杵,右第二手舉肘執三鈷戟,結跏趺坐於赤蓮花上。真言爲:南麼三曼多伐折囉赧頡唎吽發吒莎訶。印契爲金剛慧印,即結五鈷金剛印,二食指屈如鉤,二拇指稍屈相捻。〔大日經卷二普通真言藏品、卷四密印品、大日經疏卷十三〕
; (忿怒月黶菩薩) Phẫn nộ nguyệt yểm. Phạm: Krodhacandra-tilaka. Hán âm: Cú lộ đà tán nại la để la ca. Cũng gọi Phẫn nộ nguyệt yểm tôn, Kim cương nguyệt yểm, Nguyệt yểm tôn. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực tây (hàng dưới) trong viện Kim cương thủ của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Để la kim cương, chủng tử là (hrì#) hoặc (hrìô), hình Tam muội da là cây kích 3 chĩa hoặc cây kích 1 chĩa. T h e o phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 thì hình tượng vị Bồ tát này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, mình màu xanh đen, đầu đội mũ trời, có 3 mắt, 4 tay, hiện tướng rất giận dữ, miệng để lộ 4 răng nanh, tay phải tay trái thứ nhất cổ tay giao nhau, bàn tay nắm lại để ở trước ngực; tay trái thứ hai khuỷu tay khuỳnh ra, cầm cái chày 1 chĩa, tay phải thứ hai đưa lên quá vai, cầm cây kích 3 chĩa. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra noản hiệt lị hồng phát tra sa ha. Ấn khế là ấn Kim cương tuệ, tức bắt ấn Kim cương 5 chĩa, 2 ngón trỏ co lại như hình cái móc, 2 ngón cái hơi co và chạm vào nhau. [X. phẩm Phổ thông chân ngôn tạng kinh Đại nhật Q.2; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].
phẫn nộ nhãn
3223密教瑜伽法中三種眼之一。乃明王爲降伏煩惱所張忿怒威猛之眼目。諸部要目(大一八‧八九九上):「忿怒眼,降伏心,殺害煩惱也。」〔大悲空智經現證儀軌品〕
; (忿怒眼) Mắt giận dữ, 1 trong 3 loại mắt trong pháp Du già của Mật giáo. Đây là mắt của các vị tôn Minh vương trợn trừng, vẻ giận dữ, uy mãnh để hàng phục bọn quân ma phiền não. Chư bộ yếu mục (Đại 18, 899 thượng) nói: Mắt giận dữ, hàng phục tâm, giết hại phiền não. [X. phẩm Hiện chứng nghi quĩ kinh Đại bi không trí].
phẫn nộ quyền
3223密教六種拳印之一。即先作金剛拳,次豎食指、小指之拳印。又金剛拳亦有豎食指著於拇指之背,作「智發生」之形。或以金剛拳又稱忿怒拳,然非一般之說法。(參閱「六種拳印」1304)
; (忿怒拳) Nắm tay giận dữ, 1 trong 6 loại ấn nắm tay(Quyền ấn) của Mật giáo. Trước hết, bắt ấn Kim cương quyền, kế đến, dựng đứng ngón trỏ và ngón út. Ngoài ra, Kim cương quyền cũng có dựng ngón trỏ sát vào lưng ngón cái, làm thành hình Trí phát sinh. Hoặc Kim cương quyền cũng gọi là Phẫn nộ quyền, nhưng thuyết này ít được sử dụng. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).
phẫn nộ trì kim cang bồ tát
Vajragra-Vajadhrah (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
phẫn nộ trì kim cương bồ tát
3222梵名 Vajrāgra-vajradharaḥ,音譯嚩日羅紇羅嚩日羅馱洛。係安置於密教現圖胎藏曼荼羅金剛手院中列東向第三位之菩薩。又作金剛利持菩薩、金剛鋒持菩薩。此尊具有如來極猛利之金剛智,以摧破諸惑障爲本誓。密號威猛金剛,種子爲???(hūṃ),三昧耶形爲三鈷杵。形像爲身呈肉色,右手屈臂開肘,仰掌作「與願印」,左手持三鈷杵置於胸前,立右膝,坐於白蓮花上。真言、印契載於胎藏界七集卷上。又本菩薩出現於胎藏四部儀軌中、玄法寺儀軌卷二等,而未見於大日經及大日經疏之中。〔祕藏記〕
; (忿怒持金剛菩薩) Phạm: Vajràgra-vajradhara#. Hán âm: Phạ nhật la ngật la phạ nhật la đà lạc. Cũng gọi Kim cương lợi trì bồ tát, Kim cương phong trì bồ tát. Vị Bồ tát thứ 3, ngồi nhìn về hướng đông, trong viện Kim cương thủ của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Uy mãnh kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 3 chĩa. Hình tượng vị Bồ tát này ngồi trên hoa sen trắng, mình màu da người, tay phải co và khuỷu tay doãng ra, bàn tay ngửa lên làm ấn Dữ nguyện, tay trái cầm chày 3 chĩa để ở trước ngực, đầu gối bên phải dựng lên. Chân ngôn, ấn khế được ghi trong Thai tạng giới thất tập quyển thượng. Vị Bồ tát này có trí kim cương của Như lai rất mạnh mẽ và sắc bén, Ngài lấy việc phá dẹp các hoặc chướng làm bản thệ. Ngoài ra, vị tôn này được thấy trong Thai tạng tứ bộ nghi quĩ và Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, nhưng không thấy trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ. [X. Bí tạng kí].
phẫn nộ tướng
3223佛像之一。密教中,此類佛像多作瞋目、舉腕之形,呈現忿怒威猛狀,足部之形狀、樣態顯現多種動態變化。如不動明王、十二神將、金剛力士、愛染明王、大元帥明王、金剛童子等均屬之。反之,則爲靜態之慈悲相。
; (忿怒相) Đối lại: Từ bi tướng. Tướng giận dữ, 1 trong các loại tượng của Phật giáo. Trong Mật giáo, loại tượng này phần nhiều được tạo hình trợn mắt, bặm môi, nhe răng, giơ tay, co chân, dựng tóc... hiện tướng rất uy mãnh, dữ tợn như: Bất động minh vương, Thập nhị thần tướng, Kim cương lực sĩ, Ái nhiễm minh vương, Đại nguyên súy minh vương, Kim cương đồng tử v.v...
phẫn nộ vương
Heruka (S), trak thung (T)Hào lỗ ca Minh vươngTên một vị thiên.
Phẫn nộ vương đại uy đức nghi quỹ phẩm 忿怒王大威德儀軌品
[ja] フンヌオウダイイトクギキホン Funnuō daiitoku giki hon ||| The Fennuwang daweide yigui pin (T 1215.21.76-); abbreviated title of the Dasheng fangguang Manshushīi pusa huayan benjiao Yanmandejia fennuwang zhenyan dawei deyi guipin 大乘方廣曼殊室利菩薩華嚴本教閻曼德迦忿怒王眞言大威德儀軌品. => (c: Fennuwang daweide yigui pin); tên viết tắt của Đại thừa phương quảng Mạn-thù-thất-lợi Bồ-tát Hoa Nghiêm bản giáo Diệm-ma-đức-ca phẫn nộ vương chân ngôn đại uy đức nghi quỹ phẩm (c: Dasheng fangguang Manshushīi pusa huayan benjiao Yanmandejia fennuwang zhenyan dawei deyi guipin 大乘方廣曼殊室利菩薩華嚴本教閻曼德迦忿怒王眞言大威德儀軌品).
phẫn quả
6483原指污糞中之果實;於此糞果,取而還棄,比喻凡夫之欣生而惡死。北本大般涅槃經卷十二(大一二‧四三五下):「如婆羅門幼稚童子,為飢所逼,見人糞中有菴羅果,即便取之。有智見已,呵責之言:『汝婆羅門,種姓清淨,何故取是糞中穢果?』童子聞已,赧然有愧,即答之言:『我實不食,為欲洗淨,還棄捨之。』智者語言:『汝大愚癡,若還棄者,本不應取。』善男子!菩薩摩訶薩亦復如是,於此生分不受不捨,如彼智者呵責童子;凡夫之人欣生惡死,如彼童子取果還棄。」蓋欣生猶如取果,而惡死猶如捨果,故不如自始即不欣生。
; (糞果) Chỉ cho trái cây ở trong đống phân, có kẻ lấy ra rồi lại bỏ đi, ví dụ cho tâm thích sống, ghét chết của phàm phu. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 12 (Đại 12, 435 hạ) nói: Như đứa trẻ Bà la môn đang đói bụng, thấy có quả Am ma la (quả xoài) trong đống phân người, liền nhặt lấy. Người có trí thấy thế quở trách đứa bé rằng: Ngươi là Bà la môn, thuộc dòng dõi thanh tịnh, tại sao lại lấy quả bẩn thỉu trong đống phân ấy? Nghe xong, đứa bé hổ thẹn, liền đáp: Thật ra, không phải tôi lấy để ăn mà muốn rửa cho sạch rồi bỏ nó đi. Người trí bảo rằng: Ngươi quá ngu si! Nếu lại bỏ đi thì lấy nó ra là gì? Này thiện nam tử! Đại Bồ tát cũng như thế, đối với sự sống không nên chấp thủ cũng không nên xả bỏ, như người trí kia quở trách đứa trẻ; kẻ phàm phu ưa sống, ghét chết, giống như đứa trẻ kia lấy quả rồi lại bỏ.
phẫn trừ
6483除糞之意。糞,比喻三界之見惑、思惑。據法華經卷二信解品記載,有一長者,安置窮子於家中為奴,給付酬勞,使其清除糞便;以此比喻佛陀以小乘教教化二乘之人,使其斷除三界之見思煩惱。三十七尊出生義(大一八‧二九七下):「起化城以接之,由糞除以誘之。」
; (糞除) Trừ bỏ phân dơ bẩn, ví dụ việc trừ bỏ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. Cứ theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2, có 1 trưởng giả nuôi 1 gã nghèo cùng (cùng tử) trong nhà làm đầy tớ, trả tiền công, sai dọn sạch phân giải nhơ bẩn. Sự kiện này ví dụ việc đức Phật dùng Tiểu thừa để giáo hóa hàng Nhị thừa, khiến họ dứt trừ phiền não Kiến, Tư trong 3 cõi. Tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa (Đại 18, 297 hạ) nói: Khởi Hóa thành để tiếp độ, dùng Phẩn trừ để dẫn dắt.
phẫn tảo y
6484梵語 pāṃsu-kūla,巴利語 paṃsu-kūla。 略稱糞掃。又作衲衣、百衲衣。即摭取被捨棄於糞塵中之破衣碎布,洗滌後作成之袈裟。 據十住毘婆沙論卷十六解頭陀品載,著此衣有十利:(一)慚愧。(二)防寒、熱等。(三)表示沙門之儀法。(四)天人恭敬。(五)無貪好。(六)隨順寂滅,無煩惱熾然。(七)有惡易見。(八)無餘物之莊嚴。(九)隨順八聖道。(十)精進行道,無染污心。故知比丘以糞掃衣為袈裟,最為殊勝,最受尊重。 糞掃衣之種類,因律典而異,據十誦律卷二十七載,共有四種:(一)包裹死者而棄於墓地之塚間衣。(二)包裹死者而布施給比丘之出來衣。(三)在聚落中,置於空地而無所屬者之無主衣。(四)捨棄於巷陌、塚間或糞塵中之弊物,稱為土衣。另於四分律卷三十九舉出牛嚼衣、鼠嚙衣、燒衣、月水衣、產婦衣、神廟中衣、若鳥銜風吹離處者塚間衣、求願衣、受王職衣、往還衣等,稱為十種糞掃衣。 此外,凡受持糞掃衣之比丘,稱為糞掃衣比丘(梵 pāṃsu-kūlika) 又其他如糞掃食、糞掃鉢、糞掃革屣、糞掃臥具等,皆為遺棄於糞掃處之物。〔雜阿含經卷三十八、四分律卷八、五分律卷二十、有部毘奈耶卷二十七、四分律刪繁補闕行事鈔卷下三〕(參閱「三衣」551)
; (糞掃衣) Phạm: Pàôsu-kùla. Pàli:Paôsu-kùla. Gọi tắt: Phẩn tảo. Cũng gọi: Nạp y, Bách nạp y. Chỉ cho Ca sa may bằng những chiếc áo vải đã rách bị bỏ trong đống rác, sau khi được lượm lấy và giặt dũ sạch sẽ. Cứ theo phẩm Giải đầu đà trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 16, mặc áo phẩn tảo có 10 điều lợi là: 1. Biết hổ thẹn. 2. Phòng chống lạnh, nóng. 3. Biểu thị phép tắc của sa môn. 4. Trời và người cung kính. 5. Không ham đẹp, tốt. 6. Tùy thuận tịch lặng, không bị phiền não làm khốn. 7. Có điều xấu dễ thấy. 8. Không trang nghiêm bằng vật khác. 9. Tùy thuận Bát chính đạo. 10. Siêng năng tu đạo, không sinh tâm nhiễm ô. Về chủng loại của Phẩn tảo y thì tùy theo các bộ Luật mà có khác. Cứ theo luật Thập tụng 27 thì có 4 loại Phẩn tảo y: 1. Trủng gian y: Áo ngoài nghĩa địa. Tức áo được may bằng vải bọc xác người chết bị vứt bỏ ở nghĩa trang. 2. Xuất lai y: Áo may bằng vải bọc xác người chết được đem bố thí cho tỉ khưu (chứ không vứt bỏ ngoài nghĩa trang). 3. Vô chủ y: Áo không có chủ. Tức áo được may bằng vải để ở chỗ đất trống trong làng xóm, nhưng không có chủ. 4. Thổ y: Áo không hợp với sở thích của người đời. Nghĩa là áo được may bằng những miếng dẻ rách vứt bỏ trong các đường hẻm, ngoài nghĩa địa, hoặc trong các đống rác... Còn luật Tứ phần quyển 39 thì liệt kê 10 loại Phẩn tảo y: Ngưu tước y, Thử niết y, Thiêu y, Nguyệt thủy y, Sản phụ y, Thần miếu trung y, Trủng gian y, Cầu nguyện y, Thụ vương chức y và Vãng hoàn y. [X. kinh Tạp a hàm Q.38; luật Tứ phần Q.8; luật Ngũ phần Q.20; Hữu bộ tì nại da Q.27; Tứ phần luật san phồ bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3]. (xt. Tam Y).
Phẫn 忿
[ja] フン fun ||| (1) To become angry. (2) Anger. (Skt. krodha; Tib. khro ba) 'wrath.' In the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, one of the ten lesser defilement ground elements; in the doctrine of the Yogācāra school, one of the twenty secondary defilements (隨煩惱). The mental action which occurs specifically through experiencing anger in regard to a disagreeable environment. 〔成唯識論T 1585.31.33b〕 => 1. Nổi giận (Skt. krodha; Tib. khro ba). Theo Câu-xá luận, là một trong 10 tiểu phiền não địa pháp; trong giáo lý Duy thức tông, là một trong 20 tuỳ phiền não. Là tâm hành xảy ra đặc biệt khi trải qua giận dữ khi gặp môi trường không như ý.
Phật
(s, p: buddha, 佛): gọi đủ là Phật Đà (佛陀、佛馱), Hưu Đồ (休屠), Phù Đà (浮陀), Phù Đồ (浮屠、浮圖), Phù Đầu (浮頭), Một Đà (沒馱), Bột Đà (勃陀、馞陀), Bộ Tha (步他); ý dịch là Giác Giả (覺者), Tri Giả (知者), Giác (覺); nghĩa là đấng giác ngộ chân lý; cũng có nghĩa là đầy đủ tự giác (自覺, tự giác ngộ mình), giác tha (覺他, làm cho người khác giác ngộ), giác hành viên mãn (覺行圓滿, giác ngộ và thực hành đều viên mãn), thấy biết như thật hết thảy tánh tướng của các pháp, là bậc Đại Thánh thành tựu Đẳng Chánh Giác. Đây là quả vị tối cao trong tu hành của Phật Giáo. Ba yếu tố tự giác, giác tha và giác hành viên mãn, đối với hạng phàm phu thì không yếu tố nào đầy đủ cả; đối với hàng Nhị Thừa Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺) thì chỉ có tự giác; Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) thì có đủ tự giác và giác tha; chỉ có Phật mới có đủ ba yếu tố này; cho nên đây là tôn xưng cao quý nhất. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Về thân Phật, cõi nước Phật, v.v., các tông phái cũng có nhiều dị thuyết. Cũng có biết bao danh xưng để tán than đức Phật như 10 danh hiệu của đức Như Lai, Nhất Thiết Tri Giả (一切知者, người biết tất cả), Nhất Thiết Kiến Giả (一切見者, người thấy tất cả), Tri Đạo Giả (知道者, người biết đạo), Khai Đạo Giả (開道者, người khai mở đạo [con đường]), Thuyết Đạo Giả (說道者, người thuyết về đạo), Thế Tôn (世尊, đấng được cuộc đời tôn kính), Thế Hùng (世雄, bậc hùng mạnh có thể đoạn trừ mọi phiền não của thế gian), Thế Nhãn (世眼, người có con mắt dẫn dắt thế gian), Thế Anh (世英, bậc ưu tú nhất thế gian), Thiên Tôn (天尊, Đệ Nhất Nghĩa Thiên tối thắng trong 5 vị trời), Đại Giác Thế Tôn (大覺世尊, hay Đại Giác Tôn), Giác Vương (覺王, vua giác ngộ), Giác Hoàng (覺皇, vua giác ngộ), Pháp Vương (法王, vua của các pháp), Đại Đạo Sư (大導師, vị thầy hướng dẫn vĩ đại), Đại Thánh Nhân (大聖人), Đại Sa Môn (大沙門), Đại Tiên (大仙, đấng tôn kính nhất trong chư tiên), Đại Y Vương (大醫王, như danh y tùy theo bệnh mà cho thuốc hay, đức Phật là người tùy theo tâm bệnh mà thuyết pháp), Phật Thiên (佛天), Phật Nhật (佛日, đức Phật như mặt trời chiếu sang khắp nơi), Lưỡng Túc Tôn (兩足尊, đấng tôn kính nhất trong loài có hai chân, lưỡng túc ở đây còn có nghĩa là đầy đủ hai yếu tố nguyện và hạnh), Nhị Túc Tôn (二足尊), Lưỡng Túc Tiên (兩足仙), Nhị Túc Tiên (二足仙), Thiên Trung Thiên (天中天, bậc tối thắng trong chư thiên), Nhân Trung Ngưu Vương (人中牛王, tỷ dụ đức Phật là vua của loài trâu), Nhân Hùng Sư Tử (人雄師子, tỷ dụ đức Phật là con sư tử hùng mạnh trong loài người), v.v. Đức Phật là người có thể hóa độ, dẫn dắt mình và người khác, nên có tên là Năng Nhân (能人); cho nên Phật A Di Đà cũng được gọi là An Lạc Năng Nhân (安樂能人). Đức Phật có những đức tính đặc thù, như thân Ngài có 32 tướng tốt, 48 vẻ đẹp; ngoài ra còn có 10 Lực, 18 pháp bất cọng, v.v. Định, Trí và Bi của Phật đều tối thắng, nên gọi là Đại Định (大定), Đại Trí (大智), Đại Bi (大悲); phối với Ba Đức là Đoạn Đức (斷德), Trí Đức (智德) và Ân Đức (恩德), gọi chung là Đại Định Trí Bi (大定智悲). Chư Phật xuất hiện trong thời quá khứ được gọi là Quá Khứ Phật (過去佛) hay Cổ Phật (古佛), như 7 vị Phật quá khứ, Phật Nhiên Đăng (s: Dīpaṃkara, 燃燈), v.v. Chư Phật sẽ xuất hiện nơi cõi Ta Bà trong tương lai thì gọi là Hậu Phật (後佛) hay Đương Lai Phật (當來佛), như Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Ban đầu, Phật là chỉ cho đức Phật của lịch sử, tức là Phật Thích Ca; về sau sản sinh tư tưởng 7 vị Phật quá khứ, rồi lại có Phật tương lai và đức Phật Di Lặc; nay khoảng cách giữa đức Phật Thích Ca và Phật Di Lặc lại có thời gian không có Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho rằng trong đời hiện tại không thể tồn tại cả hai vị Phật như vậy; đến thời kỳ Phật Giáo Đại Thừa, tùy thế giới quan mở rộng, cho rằng trong nhất thời có nhiều đức Phật tồn tại. Tỷ dụ như, phương Đông có Phật A Súc (s: Akṣhobhya, 阿閦), phương Tây có Phật A Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha, 阿彌陀); đồng thời ngay hiện tại, ở thế giới phương khác lại có vô số chư Phật hiện hữu, gọi là thập phương hằng sa chư Phật (十方恒沙諸佛, chư Phật nhiều như số cát sông Hằng ở mười phương). Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部) của Phật Giáo Nguyên Thủy công nhận rằng tam thiên đại thiên thế giới đồng thời có các đức Phật khác tồn tại, nên chủ trương thuyết gọi là “nhất Phật nhất giới, đa Phật đa giới (一界一佛、多界多佛, một đức Phật một thế giới, nhiều đức Phật nhiều thế giới).” Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 有部) thì chủ trương thuyết “đa giới nhất Phật (多界一佛, nhiều thế giới một đức Phật).” Chữ “giới (界)” ở đây nghĩa là tam thiên đại thiên thế giới. Ngoài ra, ba đời chư Phật tức chỉ cho ngàn vị Phật của Trang Nghiêm Kiếp (莊嚴劫) trong thời quá khứ, ngàn vị Phật của Hiền Kiếp (賢劫) trong thời hiện tại, và ngàn vị Phật của Tinh Tú Kiếp (星宿劫) trong thời tương lai; hợp lại thành ba ngàn vị Phật. Danh xưng của chư vị Phật này có trong Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經).
; 佛; S, P: buddha; T: sangs rgyas;|Dạng viết tắt của chữ Phật-đà, dịch âm của từ Buddha ra Hán ngữ, cũng được gọi là Bụt-đà, Bụt, dịch nguyên nghĩa là Bậc giác ngộ, Giác giả. Danh từ Phật có nhiều nghĩa:|1. Phật là người đã dứt khỏi Luân hồi (s: saṃsāra), đạt Giác ngộ hoàn toàn, đạt giải thoát (Niết-bàn). Nội dung quan trọng nhất của giáo pháp giác ngộ là Tứ diệu đế. Phật là người đã vượt qua mọi tham Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā), là người biết phân biệt hay dở tốt xấu nhưng tâm không vướng mắc vào các phân biệt đó. Sau khi chết, một vị Phật không còn tái sinh.|Người ta phân biệt hai quả vị Phật: Ðộc giác Phật (s: pratyeka-buddha), là người hoàn toàn giác ngộ, nhưng không giáo hoá, và Tam-miệu Tam-phật-đà, dịch ý là Bậc Chính đẳng chính giác, (s: samyak-saṃbuddha) là người giáo hoá chúng sinh về những điều mình chứng ngộ. Một vị Tam-miệu Phật là một vị đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), Mười lực (s: daśabala), chứng Bốn tự tín. Vị Phật của thời đại chúng ta là Thích-ca Mâu-ni. Ðức Thích-ca – một nhân vật lịch sử có thật – không phải là vị Phật đầu tiên và duy nhất. Trong những kinh Tiểu thừa nguyên thuỷ, người ta đã nhắc các vị Phật trong các thời đại trước: Tì-bà-thi (s: vi-paśyin; p: vipassi), Thi-khí (s: śikin; p: sikhī), Tì-xá-phù (s: viśvabhū, p: vessabhū), Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda, p: kakusandha), Câu-na-hàm (s, p: konagāmana) và Ca-diếp (s: kāśyapa, p: kas-sapa). Vị Phật sẽ xuất hiện trong tương lai để tiếp tục hoằng pháp là Di-lặc (s: maitreya, p: metteyya). Trong kinh sách, người ta còn nhắc đến 13 vị Phật khác mà vị quan trọng nhất là Nhiên Ðăng (s, p: dīpaṅkara). Trong thời quá khứ, Phật Thích-ca là người tu khổ hạnh mang tên Thiện Huệ (sumedha), đệ tử của Nhiên Ðăng Phật. Lịch sử các vị Phật được ghi trong Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikā-ya).|Bắt đầu con đường tiến lên Phật quả, một vị Bồ Tát phát nguyện trước một vị Phật, quyết tâm thành đạo giác ngộ. Trải qua vô lượng kiếp, vị Bồ Tát đó thực hành mười hạnh Ba-la-mật-đa. Trước khi sinh lần cuối, vị đó thường giáo hoá ở cung trời Ðâu-suất (s: tuṣita). Khi sinh lần cuối vị Phật sẽ mang trong người Ba mươi hai tướng tốt, 80 vẻ đẹp khác cũng như đã đạt 37 Bồ-đề phần. Các vị Phật khi sinh ra thì mẹ của các Ngài sẽ chết bảy ngày sau đó. Lúc lớn lên, đến thời kì thích hợp, các vị Phật sẽ sống không nhà và sau khi giác ngộ sẽ thành lập Tăng-già. Lúc đức Phật nhập Niết-bàn là cũng là lúc chấm dứt quá trình đạt đạo.|2. Nhân vật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Ngài sinh năm 563 trước Công nguyên, con trai của một tiểu vương của dòng họ Thích-ca (s: śākya), ngày nay thuộc nước Nepal, gần Hi-mã-lạp sơn. Tên thật Ngài là Tất-đạt-đa (s: siddhārtha), thuộc họ Cồ-đàm (s: gautama; p: gotama), vì vậy cũng có người gọi là Phật Cồ-đàm. Sau quá trình tu hành đạt đạo, Ngài mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca.« Nhằm phân biệt đức Phật lịch sử với Phật tính (xem phần 3), người ta nên gọi rõ là Phật Thích-ca.|3. Phật tính, được xem là gốc của mọi hiện tượng; mọi hiện tượng là biểu hiện của Phật tính. Nếu phái Tiểu thừa chỉ công nhận mỗi thời đại chỉ có một vị Phật, và vị này là phải là một nhân vật lịch sử và là đạo sư giáo hoá, thì phái Ðại thừa cho rằng có vô số đức Phật được biểu hiện khác nhau. Theo quan điểm Ba thân (s: trikāya) của Ðại thừa thì Phật tính biểu hiện qua ba dạng chính và mỗi dạng Phật biểu hiện một tính chất của Chân như.|Các dạng siêu việt của Phật tính, Chân như (xem Phật gia) được kể là các vị Phật A-di-đà, Ðại Nhật, Bảo Sinh, Bất Ðộng, Bất Không Thành Tựu, Kim cương Tát-đoá. Các vị này là thầy của các vị Bồ Tát và là giáo chủ của các Tịnh độ. Các dạng Phật-đà siêu việt của Chân như đều có tính chất siêu thế gian, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, toàn năng, vô lượng thọ. Theo quan điểm Ba thân thì Báo thân Phật (s: saṃbhogakāya) chính là hình ảnh lí tưởng của các vị Bồ Tát tự tạo nên để theo đó mà tu học. Báo thân lại chính là Chân tâm của Ứng thân (hay Hoá thân; s: nirmāṇakāya), là thân của Phật có dạng con người sống trên địa cầu. Khoảng năm 750 sau Công nguyên, sau khi Kim cương thừa ra đời thì trong các trường phái Ðại thừa cũng chấp nhận ngoài Pháp thân (dharmakāya) có thêm năm vị Phật chuyển hoá từ Pháp thân đó, được gọi là Ngũ Phật hay Phật gia, vì mỗi một vị Phật đó được xem có thêm một vị Phật lịch sử (từng sống trên địa cầu) và một vị Bồ Tát đi kèm: 1. Cùng với Phật Ðại Nhật là vị Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda) và Bồ Tát Phổ Hiền (s: samantabhadra), 2. Cùng với Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya) là vị Ka-na-ca Mâu-ni (s: kanakamuni) và Bồ Tát Kim Cương Thủ (s: vajrapāṇi), 3. Cùng với Phật Bảo Sinh là vị Phật lịch sử Ca-diếp (s: kāśyapa) và Bồ Tát Bảo Thủ (s: ratnapāṇi), 4. Cùng với Phật Bất Không Thành Tựu là vị Phật Di-lặc và Bồ Tát Phổ Chùy Thủ (s: viśvapāṇi), 5. Cùng với Phật A-di-đà là đức Thích-ca Mâu-ni và Bồ Tát Quán Thế Âm (s: ava-lokiteśvara).|4. Một khái niệm chỉ cái tuyệt đối, cuối cùng của thế giới. Thể này nằm ngoài mọi suy luận, không thể nghĩ bàn, là bản thể không hề biến hoại của Phật tính.«
phật
2604梵語 buddha 之音譯,巴利語同。全稱佛陀、佛馱、休屠、浮陀、浮屠、浮圖、浮頭、沒馱、勃陀、馞陀、步他。意譯覺者、知者、覺。覺悟真理者之意。亦即具足自覺、覺他、覺行圓滿,如實知見一切法之性相,成就等正覺之大聖者。乃佛教修行之最高果位。自覺、覺他、覺行圓滿三者,凡夫無一具足,聲聞、緣覺二乘僅具自覺,菩薩具自覺、覺他,由此更顯示佛之尊貴。對佛證悟之內容,諸經論有種種說法。對佛身、佛土等,各宗派亦各有異說。但大乘則總以「至佛果」為其終極目的。 稱讚佛之功德有種種異名,即如來十號,或一切知者、一切見者、知道者、開道者、說道者,或世尊、世雄(斷世間一切煩惱之雄猛、雄健者)、世眼(世間之引導者)、世英(世間優秀者)、天尊(五天中之最勝第一義天),或大覺世尊(簡稱大覺尊)、覺王(覺皇)、法王、大導師、大聖人、大沙門、大仙(大僊,仙人中之最尊者)、大醫王(如應病與藥之名醫,應心病而說法者)、佛天(五天中之最勝第一義天)、佛日(比喻佛為太陽之語)、兩足尊、二足尊、兩足仙、二足仙(以上四名為二足生類中之最尊者之意。又二足即具足願與行,或福與慧者之意)、天中天(諸天中之最勝者)、人中牛王(比喻佛為牛王之語)、人雄師子(人中之雄者,恰如獸類中之獅子)等種種其名。 佛為能化之人,可教導我人,故稱之為能人;由是阿彌陀佛即稱為安樂能人(安樂世界之能人)。另有以能人為能仁,能仁即釋迦之意譯;故又借釋迦佛之名,遍指一般殊勝之佛。佛所特有之殊勝德性,具足於其身者有三十二相、八十種好,此外尚具有十力、四無所畏及十八不共法等殊勝之能力。又,佛有七項殊勝功德超越常人,稱為七勝事,或稱七種最勝、七種無上,即身勝、如法住勝、智勝、具足勝、行處勝、不可思議勝、解脫勝等。佛之定、智、悲均為最勝者,故稱大定、大智、大悲,配於斷德、智德、恩德等三德,合稱為大定智悲。 過去世所出現之佛(過去七佛、燃燈佛等),稱為過去佛或古佛。未來將出現於娑婆世界之佛(彌勒佛),則稱後佛或當來佛。早期,佛係指歷史上之佛,亦即指釋尊而言。其後復產生過去七佛之思想,而後更有未來佛與彌勒佛之產生;今於釋尊與彌勒二佛之間,別有無佛之世。小乘認為現在世不可能二佛並存,至大乘佛教時期隨其世界觀之擴大,認為於一時中有多佛並存。例如,東方有阿閦佛及西方有阿彌陀佛,同時在現在他方世界,復有無數(如恒河沙之數)佛存在,即所謂十方恒沙諸佛。故一般以小乘為一佛說,而大乘為多佛說。 小乘中之大眾部則認為,其他三千大千世界,同時有其他諸佛存在,故主張「一界一佛,多界多佛」之說。有部則主張多界一佛說;此時之「界」,係指三千大千世界而言。此外,三世諸佛指過去莊嚴劫之千佛、現在賢劫之千佛以及未來星宿劫之千佛,合三劫為三千佛;其佛名出於三劫三千佛名經,佛名會即指據此經之說而行之法會。又,入佛道之因緣,稱為佛緣。〔雜阿含經卷十二、卷二十、新華嚴經卷四十二、千佛因緣經、賢劫經卷八歎古品、大般若經卷三六五巧便行品、首楞嚴三昧經卷上、瑜伽師地論卷八十二、大智度論卷九、卷二十九〕(參閱「如來」2346、「佛土」2609、「佛身」2629)
; Butsu-da (J), Butsu (J), Buddho (P), Buddha (S), Sangs Rgyas (T), Bul (K), Awakened One Giác giảCó 3 tính chất: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Thiếu một trong ba thì chưa là giác giả.
; Buddha (S). Buddha, the founder of Buddhism. Thờ Phật ăn oản: keep the shop and thy shop will keep thee. Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy: who keeps company with a wolf will learn to howl. Thờ Phật: to worship the Buddha. Lễ Phật: to pay one's respect to the Buddha. Phỉ báng Phật: to speak sacrilegiously of the Buddha. Phật khẩu xà tâm: Buddhist tongue and viperish heart.
; (佛) Phạm, Pàli: Buddha. Gọi đủ: Phật đà, Hưu đồ, Phù đà, Phù đồ, Phù đầu, Một đà, Bột đà, Bộ tha. Hán dịch: Giác giả, Tri giả, Giác. Người giác ngộ chân lí, cũng tức là bậc Đại thánh đầy đủ tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, thấy biết tính tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chính giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo. Trong 3 đức: Tự giác, Giác tha, Giác hành viên mãn, thì phàm phu không có 1 đức nào, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ có Tự giác, hàng Bồ tát có được Tự giác, Giác tha, chỉ Phật mới có đầy đủ 3 đức. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, trong các kinh luận có nhiều thuyết; đối với Phật thân, Phật độ... thì các tông phái cũng có nhiều thuyết khác nhau, nhưng nói chung thì Đại thừa đều lấy quả Phật làm mục đích tối hậu. Những từ ngữ được dùng để ngợi khen công đức của Phật thì có rất nhiều như 10 danh hiệu: Như lai, Ứng cúng..., hoặc Nhất thiết tri giả, Nhất thiết kiến giả, Tri đạo giả, Khai đạo giả, Thuyết đạo giả, hoặc Thế tôn, Thế hùng (người dứt trừ tất cả phiền não thế gian 1 cách hùng mạnh), Thế nhãn (người dẫn đường cho thế gian), Thế anh (người ưu tú trong thế gian), Thiên tôn, hoặc Đại giác thế tôn, Giác vương (Giác hoàng), Pháp vương, Đại đạo sư, Đại thánh nhân, Đại sa môn, Đại tiên, Đại y vương (người tùy theo tâm bệnh mà nói pháp, cũng như vị thầy thuốc giỏi tùy theo bệnh mà cho thuốc), Phật thiên, Phật nhật (ví dụ Phật như mặt trời), Lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên, Thiên trung thiên, Nhân trung ngưu vương, Nhân hùng sư tử (người hùng trong loài người giống như sư tử trong loài thú) v.v... Đức Phật là bậc có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nên gọi Ngài là Năng nhân¯đ ¤H, do đó, đức Phật A di đà được gọi là An lạc năng nhân (năng nhân của thế giới an vui). Ngoài ra, còn có thuyết lấy Năng nhân ¯đ ¤H làm Năng nhân ¯đ ¤¯ (hay làm điều nhân từ). Chữ Năng nhân sau là dịch ý của từ ngữ Thích ca, cho nên danh hiệu đức Phật Thích ca cũng được dùng để chỉ chung cho tất cả các đức Phật thù thắng. Đức tính thù thắng có đầy đủ trên thân Ngài là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, ngoài ra còn có 10 lực, 4 vô sở úy và 18 pháp bất cộng. Lại nữa, Phật có 7 công đức thù thắng vượt hơn người thường, gọi là Thất thắng sự, hoặc gọi là Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Đó là: Thân thắng, Như pháp trụ thắng, Trí thắng, Cụ túc thắng, Hành xứ thắng, Bất khả tư nghị thắng và Giải thoát thắng. Định, Trí, Bi của Phật đều là tối thắng, cho nên gọi là Đại định, Đại trí và Đại bi, phối hợp với Đoạn đức, Trí đức và Bi đức mà gọi chung là Đại định trí bi. Phật xuất hiện ở đời quá khứ gọi là Quá khứ Phật hoặc Cổ Phật. Phật sẽ xuất hiện ở thế giới Sa bà trong vị lai, thì gọi là Hậu Phật hoặc Đương lai Phật (tức Phật Di lặc). Ở thời kì đầu, Phật là chỉ cho Phật lịch sử, cũng tức là chỉ cho đức Phật Thích ca. Về sau lại phát sinh tư tưởng Quá khứ thất Phật, Vị lai Phật và Di lặc Phật. Khoảng cách giữa đức Phật Thích ca và Phật Di lặc, sẽ không có vị Phật nào khác ra đời. Tiểu thừa cho rằng không thể có 2 đức Phật cùng xuất hiện và tồn tại trong cùng thời đại, vì thế chủ trương thuyết Nhất Phật. Nhưng đến thời kì Phật giáo Đại thừa thì quan niệm về thế giới được mở rộng, nên cho rằng có nhiều đức Phật ra đời trong cùng thời đại. Chẳng hạn như phương Đông có Phật A súc, phương Tây có Phật A di đà và trong những thế giới ở các phương khác còn có vô số chư Phật đồng thời tồn tại mà trong kinh thường nói Thập phương hằng sa chư Phật (Chư Phật trong 10 phương nhiều như số cát của sông Hằng). Vì thế nên Đại thừa chủ trương thuyết Đa Phật. Đại chúng bộ trong Tiểu thừa thì cho rằng trong 3 nghìn thế giới đại thiên đồng thời có chư Phật tồn tại, cho nên bộ này chủ trương thuyết Một thế giới một Phật, nhiều thế giới nhiều Phật. Còn Hữu bộ thì chủ trương thuyết Nhiều thế giới một Phật, tức là trong 3 nghìn thế giới đại thiên chỉ có 1 đức Phật xuất hiện. Ngoài ra, Chư Phật ba đời là chỉ cho 1.000 vị Phật trong kiếp Trang nghiêm ở đời quá khứ, 1.000 vị Phật trong kiếp Hiền ở đời hiện tại và 1.000 vị Phật trong kiếp Tinh tú ở đời vị lai. Cộng chung 3 kiếp là 3.000 vị Phật. Danh hiệu của các đức Phật này được ghi trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Phật danh hội là chỉ cho pháp hội căn cứ theo kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh mà được tổ chức. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 20; kinh Hoa nghiêm Q.42 (bản dịch mới); kinh Thiên Phật nhân duyên; phẩm Thán cổ trong kinh Hiền kiếp Q.8; phẩm Xảo tiện hành trong kinh Đại bát nhã Q.365; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; luận Du già sư địa Q.82; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Như Lai, Phật Độ, Phật Thân).
phật a súc bệ
Akkhobbha-buddha (P), mi bskyod pa (T), Akṣobhya (S), Imperturbable Buddha, Akkhobbha-Buddha (P)Bất động Phật, Vô động Phật, Vô nộ Phật, Vô sân Phật, Đông Phật, A súc Bất động Như lai, Diệu Sắc Thân Như lai, A súc bà PhậtNgự phương Đông Mạn đà la. Tượng trưng Đại viên cảnh trí. Một trong năm hoá thân của đức Thích ca. Tay trái có hình nắm tay, tay phải đụng mặt đất, da màu vàng kim (Tây tạng: da màu xanh da trời).
phật a súc tỳ hoan hỷ quang
Buddha of Imperturbable-Joy Light.
phật a-lợi-sá
Arittha (P), Ariṣṭa (S)A túc tra. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
Phật A-súc
(阿閦佛- Phạn ngữ: Akobhya Buddha), tức là Phật Bất Động, cũng dịch là Phật Vô Động, được xem là cõi tịnh độ phương Đông, như cõi Phật A-di-đà là tịnh độ phương Tây. Xem phẩm Phật A-súc trong kinh Duy-ma-cật.
phật bào cái chiếu không tự tại vương
Buddha of Sovereign King of the Precious Canopy Which Illumines Space Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật bát
2738又作佛鉢盂。指佛陀所持用之食鉢。佛所持者為石鉢,比丘不得蓄之。據太子瑞應本起經卷下載,佛陀初成道時,四天王各獻頞那山之石鉢,佛受此四鉢,置於左手中,右手按其上,以神力使合為一鉢,故有四際分明。佛鉢 之容量,法苑珠林卷三十所載僧伽耶舍之鉢記謂三斗有餘,高僧法顯傳則載稱容二斗許。 佛陀涅槃後,佛鉢受到供養禮拜。依馬鳴菩薩傳、付法藏因緣傳卷五等載,月氏國王破摩揭陀國華氏城,獲佛鉢及馬鳴而還。又高僧法顯傳弗樓沙國(梵 Puruṣapura,即布路沙布邏)條記載佛鉢在該國,曾有月氏王降伏該國,欲取佛鉢,但以大象、四輪車等載運,均不能移動之,遂於其地建塔與伽藍,供奉佛鉢,稱為佛鉢寺。依此,迦膩色迦王(西元一世紀頃)以前,佛鉢 係流傳於北印度,東晉時則在布路沙布邏國。此外,蓮華面經卷下謂佛鉢曾為罽賓國寐吱曷羅俱邏王所碎,後移往北方,至波羅鉢多國受大供養,由佛力之故,破鉢遂得完好如初。又高僧法顯傳師子國條記述天竺道人之預言,謂佛鉢本在毘舍離國,其時在犍陀衛,而於數百年後,將經由西月氏國、于闐、屈茨、師子、漢地諸國,還中天竺,並上至兜率天,受彌勒供養,其後至龍宮,及至彌勒成道之時,鉢分為四,還移頞那山上。〔過去現在因果經卷三、大品般若經卷一奉鉢品、四分律卷三十一、卷五十二、大智度論卷二十六、卷三十五、出三藏記集卷十五智猛傳、大唐西域記卷八、法苑珠林卷九十八〕
; (佛鉢) Cũng gọi Phật bát vu. Chỉ cho chiếc bát bằng đá đựng thức ăn của đức Phật. Cứ theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển hạ, khi đức Phật mới thành đạo, Tứ thiên vương mỗi vị dâng cúng đức Phật 1 chiếc bát bằng đá của núi Át na, đức Phật nhận lãnh 4 cái bát ấy, rồi để chúng trong bàn tay trái, lấy tay phải đè lên trên, dùng thần lực ấn xuống thành 1 bát, vì thế bát này có 4 cái ngấn rõ ràng. Về dung lượng của Phật bát, theo phần Bát kí của ngài Tăng già da xá trong Pháp uyển châu lâm quyển 30, thì Phật bát chứa được hơn 3 đấu, còn Cao tăng Pháp hiển truyện thì bảo chứa được 2 đấu. Sau khi đức Phật nhập diệt, Phật bát được mọi người lễ bái cúng dường. Theo Mã minh bồ tát truyện và Phó pháp nhân duyên truyện quyển 5, thì vua nước Nguyệt chi đánh phá thành Hoa thị của nước Ma yết đà, chiếm được Phật bát và bắt bồ tát Mã minh đưa về nước. Còn điều Phất lâu sa quốc (Phạm: Puruwapura, tức là thành Bố lộ sa bố la) trong Cao tăng Pháp hiển truyện thì ghi rằng Phật bát ở nước Phất lâu sa, vua nước Nguyệt chi đánh được nước này, muốn lấy Phật bát, nhưng dùng voi lớn và xe 4 bánh để chuyên chở mà vẫn không di chuyển được Phật bát, nên đành xây tháp và già lam ở đó để thờ, gọi là chùa Phật bát. Căn cứ vào đó thì trước thời vua Ca nị sắc ca (khoảng thế kỉ I Tây lịch), Phật bát được lưu truyền ở miền Bắc Ấn độ; đến thời Đông Tấn (thế kỉ IV) của Trung quốc thì Phật bát ở nước Phất lâu sa. Ngoài ra, theo kinh Liên hoa diệu quyển hạ thì Phật bát từng có lần bị vua Mị chi hạt la câu la, nước Kế tân đập vỡ, sau được dời lên phương bắc, đến nước Ba la bát đa, được cúngdường trọng thể, nhờ Phật lực nên bát vỡ này lành trở lại như xưa. Lại nữa, theo điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện ghi, 1 đạo nhân người Thiên trúc dự đoán rằng, Phật bát vốn ở nước Tì xá li, lúc bấy giờ bát được cất giữ ở Kiền đà vệ, sau vài trăm năm, trải qua các nước Tây nguyệt chi, Vu điền, Khuất từ, Sư tử (Tích lan), đất Hán... lại trở về Trung thiên trúc, rồi lên đến cung trời Đâu suất, được bồ tát Di lặc cúng dường, về sau đến Long cung, đến khi bồ tát Di lặc thành đạo, thì bát lại chia ra làm 4 mà trở về núi Át na. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; phẩm Phụng bát trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luật Tứ phần Q.31, 52; luận Đại trí độ Q.26, 35; Trí mãnh truyện trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đại đường tây vực kí Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.98].
phật bát ấn
2738請參閱婦人遇辜經 又作如來鉢、釋迦大鉢、鉢印。鉢為諸佛、菩薩之寶器,在密教,釋迦如來特以鉢為三昧耶形,故阿闍梨所傳曼荼羅中,佛鉢印為一菩薩,列於釋迦院;然胎藏儀軌次第則說此印明出於如來身會,表大日如來持鉢之德。其印相乃取近於左手之袈裟一角及搭肩之一角,繞左臂,入於左手中,置於臍前,右手仰疊於左手上,二拇指相捻,如承鉢之形。大日經疏卷十三(大三九‧七一六上):「作此印即同如來,持此袈裟諸佛標幟之儀,亦能令一切非器眾生,皆堪為法器。」〔大日經密印品〕
; (佛鉢印) Cũng gọi Như lai bát, Thích ca đại bát, Bát ấn. Ấn Phật bát. Bát là vật báu của chư Phật, Bồ tát trong Mật giáo, bát là hình Tam muội da của đức Thích ca Như lai, bởi thế, trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền thì Phật bát ấn là 1 vị Bồ tát, được tôn trí trong viện Thích ca. Nhưng Thai tạng nghi quĩ thứ đệ thì bảo ấn minh này có xuất xứ từ hội Như lai thân, biểu trưng đức trì bát của Đại nhật Như lai. Ấn tướng của ấn này là nắm lấy 1 góc áo ca sa gần tay trái và 1 góc đắp trên vai, quấn quanh cánh tay trái, luồn vào trong tay trái, để ở trước rốn, tay phải ngửa ra đặt chồng lên tay trái, 2 ngón cái bấm vào nhau, dáng như đang nâng bát. Đại nhật kinh sớ quyển 13 (Đại 39, 716 thượng) nói: Bắt ấn này tức đồng với Như lai, mặc ca sa này là tiêu biểu cho uy nghi của chư Phật, có năng lực làm cho tất cả chúng sinh đều là pháp khí. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật]. PHẬT BỘ Cũng gọi Như lai bộ. Bộ thuộc của Phật, 1 trong 3 bộ của Thai tạng giới, 1 trong 5 bộ của Kim cương giới Mật giáo. Chỉ cho đức dụng của Đại nhật Như lai trong Lưỡng giới mạn đồ la. Nhưng Phật Lô xá na không gọi là Như lai, mà Đại nhật Như lai cũng không gọi là Phật. Thông thường thì các đức Phật Thích ca, Dược sư, A di đà, A súc, Bảo sinh, Đa bảo... đều dùng chung cả 2 danh hiệu Phật và Như lai. Tất cả các vị tôn coi về đức dụng của Pháp giới thể tính trí trong 5 trí đều thuộc về Phật bộ, biểu thị về Thân mật trong Tam mật. Chủng tử là (a), (vaô), hình Tam muội da là tháp bà. Về bộ chủ, ở Kim cương giới là đức Đại nhật, ở Thai tạng giới là Kim cương Phật đính. Về bộ mẫu, ở Kim cương giới không có, ở Thai tạng giới là Phật nhãn tôn. [X. kinh Tôtất địa yết la Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5, 14; Bí tạng kí].
Phật Bích-chi
phiên âm từ Phạn ngữ là Pratyekabuddha, cũng đọc là Bích-chi-ca, dịch nghĩa là Duyên giác, Độc giác. Phật Bích-chi là vị sanh ra nhằm lúc không có Phật ra đời, nhờ quán xét 12 nhân duyên mà được giác ngộ, nên gọi là Duyên giác. Vì tự mình tu học vào thời không có Phật, đắc đạo và nhập Niết-bàn, nên gọi là Độc giác. Xem thêm ba thừa.
Phật Bản Hành Tán 佛本行讚
[ja]ブツホンギョウサン Butsu hongyō san ||| The Buddhacarita. See 佛所行讚. => Xem Phật Sở Hành Tán 佛所行讚.
Phật bản hạnh tán
佛本行讚; C: fó běnxíng zàn; J: butsu hongyō san;|Phật sở hạnh tán (佛所行讚).
Phật bản hạnh tập kinh
佛本行集經; C: fó běnxíng jíjīng; J: butsu hongyou shūkyō; S: abhiniṣkramaṇa-sūtra.|Kinh; Xà-na-quật-đa (闍那崛多) dịch, gồm 60 quyển. Trình bày lịch sử đầy đủ nhất của đức Phật tiện dụng cho người Trung Hoa, bao gồm cả tiểu sử các đệ tử lớn của đức Phật.
phật bản hạnh tập kinh
2618梵名 Abhiniṣkramaṇasūtra。凡六十卷。略稱本行集經。隋代闍那崛多譯。收於大正藏第三冊。敘述世尊誕生、出家、成道等事蹟,及佛弟子歸化之因緣。係集佛傳之大成者。其內容分三部六十章。第一部敘述佛陀之本生譚,即發菩提心生於兜率天,託胎於摩耶夫人,計有五章。第二部言佛陀誕生、學習、結婚生子,至懷抱出世思想之在俗期;出家後,訪仙苦行之出家修行期;以及成道後初轉法輪之成道期。以上三期計有三十二章。第三部則是記傳道、教化生活,即記弟子列傳之傳道期,計有十五章。 本經原典至今尚未發現,而漢譯本之修辭文飾甚少,足見其翻譯極其鄭重,且為逐字直譯,往往句節之位置倒裝,閱者須特加注意。關於經名,據跋記載有五者,自摩訶僧祇師以下五部互異,疑係律藏傳持之五部派悉有佛傳,故其題名互異。本經為佛傳中最詳盡者,其異於其他佛傳文學之特色有四:初揭佛統譜、次出王統譜、含有多數本生譚、雜糅各種異傳。為研究印度古代社會與佛教史之重要資料。〔歷代三寶紀卷十二、大唐內典錄卷五、大周刊定眾經目錄卷七、開元釋教錄卷七、至元法寶勘同總錄卷七〕
; Abhiniṣkramaṇa sŪtra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Mahàvastu (S).
; (佛本行集經) Phạm: Abhiniskramaịasùtra. Gọi tắt: Bản hạnh tập kinh. Kinh, 60 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này nói về sự tích đản sinh, xuất gia, thành đạo... của đức Phật và nhân duyên các vị đệ tử về qui y và được Phật hóa độ. Đây là bộ kinh tập đại thành của Phật truyện. Toàn kinh chia làm 3 bộ 60 chương: 1. Bộ thứ nhất: Gồm 5 chương, nói về chuyện bản sinh của đức Phật, tức phát tâm bồ đề, sinh lên cung trời Đâu suất, gá vào thai Ma da phu nhân. 2. Bộ thứ 2: Gồm 32 chương, nói về thời kì tại gia của đức Phật như: Đản sinh, học tập, lấy vợ, sinh con, cho đến nảy chí xuất gia. Sau khi xuất gia là thời kì xuất gia tu hành, thăm hỏi các vị tiên khổ hạnh; cho đến sau khi thành đạo là thời kì thành đạo chuyển pháp luân lần đầu tiên. 3. Bộ thứ ba: Gồm 15 chương, nói về sự truyền đạo, các sinh hoạt giáo hóa, tức thời kì truyền đạo, trình bày về truyện kí của các vị đệ tử. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy, còn bản Hán dịch thì lời văn rất ít được trau chuốt, sửa sang, điều này chứng tỏ sự phiên dịch cực kì trịnh trọng. Đây là bản kinh rõ ràng nhất trong các bản Phật truyện và có 4 đặc sắc khác với các bản Phật truyện khác, đó là: Trước hết, nêu phổ hệ của Phật, kế đến nêu phổ hệ của vua, có nhiều truyện bản sinh, thu tập các loại truyện khác. Bộ kinh này là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về xã hội và lịch sử Phật giáo Ấn độ đời xưa. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.7].
phật bản hạnh tập kinh dị bản
Xem Đại sự kinh.
Phật Bản Hạnh Tập Kinh 佛本行集經
[ja] ブツホンギョウシュウキョウ Butsu hongyou shūkyō ||| The Fo benxing ji jing (Abhiniṣkramaṇa-sūtra); trans. by Jnanagupta 闍那崛多; 60 fasc. T 190.3.655a-932a. The most comprehensive biographies of the Buddha available in Chinese, which also includes biographies of the leading disciples. => (s:Abhiniṣkramaṇa-sūtra) Kinh; Xà-na-quật-đa dịch; gồm 60 quyển. Trình bày lịch sử đầy đủ nhất của Đức Phật tiện dụng cho người Trung Hoa, bao gồm cả tiểu sử các đệ tử lớn của Đức Phật.
phật bảo
Buddha-ratna (S).
; Buddha-ratna (S) Buddha-jewel.
Phật Bất Động
xem Phật A-súc.
phật bất động trí quang
Buddha of Unshakable Insight Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật bổn hạnh tập kinh
Fo-pen-hsing-chi ching (C)Tên một bộ kinh.
phật bổng chi tranh
2725七世紀佛教傳入西藏後,受到原有棒教之抵制。對西藏佛教頗有建樹之乞㗚雙提贊年幼時,支持棒教之貴族大臣,兩度禁止佛教傳播。待其執政後,大力興佛,建桑耶寺,並命佛、棒二教舉行公開辯論。棒教失敗後,乃盡毀棒教經書,禁止流傳,佛教取得正統之地位。迨乞㗚徠巴贍即位,更將佛教之勢力推展至最高峰,此為佛教在西藏之黃金時期。後朗達瑪篡位,復大肆滅法;然其死後,黨眾分裂,西藏陷於內亂,佛法仍被嚴禁,致使佛教在西藏中斷百餘年之久,史稱「佛棒之爭」。在此過程中,佛、棒二教亦不免相互影響吸收,至後傳期(十一世紀)時,帶有濃厚西藏地方特點與棒教色彩之西藏佛教出現,復因棒教大量吸收佛教之內容,致後世亦視棒教為西藏佛教之一支派,佛棒之爭遂告平息。(參閱「西藏前傳期佛教」2597、「西藏後傳期佛教」2597)
; (佛棒之爭) Sự tranh luận giữa Phật giáo và Bổng giáo tại Tây tạng. Sau khi Phật giáo được du nhập Tây tạng vào thế kỉ VII thì bị Bổng giáo, tông giáo truyền thống của dân Tây tạng, chống đối và tẩy chay. Lúc còn niên thiếu, Khất lật song đề tán (người rất có công với Phật giáo Tây tạng sau này), vì ủng hộ các đại thần quí tộc thuộc Bổng giáo, nên đã ngăn cấm Phật giáo, không cho truyền bá. Nhưng, sau khi lên cầm quyền, ông hết sức ủng hộ và phục hưng Phật giáo, ông xây chùa Tang da, đồng thời ra lệnh cho Phật giáo và Bổng giáo tổ chức cuộc tranh luận công khai. Sau khi Bổng giáo thất bại, ông hạ chiếu hủy bỏ hết sách Bổng giáo, cấm chỉ lưu truyền, Phật giáo chiếm được địa vị chính thống. Đến khi Khất lật lai ba thiệm lên ngôi thì thế lực của Phật giáo được phát triển đến điểm cao nhất, đó là thời kì vàng son của Phật giáo Tây tạng. Sau, Lãng đạt ma cướp ngôi, lên làm vua, lại thẳng tay tiêu diệt Phật pháp. Sau khi ông chết, các đảng phái tranh nhau, Tây tạng rơi vào tình trạng nội loạn, Phật giáo vẫn bị nghiêm cấm, suốt hơn 100 năm mà trong sử gọi là Phật Bổng Chi Tranh. Trong quá trình đó, Phật giáo và Bổng giáo không tránh khỏi sự ảnh hưởng và tiếp thu lẫn nhau. Đến thời kì truyền bá sau (tức thế kỉ XI), một nền Phật giáo Tây tạng mang đậm sắc thái Bổng giáo và những đặc điểm địa phương đã xuất hiện. Đồng thời, Bổng giáo vì đã hấp thu 1 nội dung Phật giáo rất lớn, nên đến đời sau cũng được xem là 1 chi phái của Phật giáo Tây tạng: Sự cạnh tranh giữa Phật giáo và Bổng giáo coi như đã cáo chung. (xt. Tây Tạng Tiền Truyền Kì Phật Giáo, Tây Tạng Hậu Truyền Kì Phật Giáo).
phật bộ
2723佛之部屬。為密教胎藏界三部之一,金剛界五部之一。又作如來部。指兩界曼荼羅中,屬大日如來之德用者。但盧舍那佛不稱如來,大日如來亦不使用佛之稱號。一般釋迦佛、藥師佛、阿彌陀佛、阿閦佛、寶生佛、多寶佛等諸佛通用二種稱號。又凡司五智中法界體性智之德用之諸尊均屬佛部,表三密中之身密,種子為???(a)、???(vaṃ),三昧耶形為塔婆;部主,於金剛界為大日,胎藏界為金輪佛頂;部母,於金剛界缺,胎藏界為佛眼尊。〔蘇悉地羯囉經卷上、大日經疏卷五、卷十四、祕藏記〕
phật bộ chủ
2723在密教中有二義:(一)於金剛界曼荼羅中,諸尊分為佛部、金剛部、寶部、蓮華部、羯磨部等五部,而以大日如來為佛部之主,此時之「主」乃上首之義。(二)於胎藏界曼荼羅中,諸尊分為佛部、金剛部、蓮華部等三部,而以金輪王佛頂為部主,此時之「主」為執權管領之義。或謂不分胎藏、金剛,而概以大日如來為部主者。(參閱「五部」1154)
; (佛部主) Trong Mật giáo, Phật bộ chủ có 2 nghĩa: 1. Trong Mạn đồ la Kim cương giới, các vị tôn được chia làm 5 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ, trong đó, đức Đại nhật Như lai là chủ của Phật bộ. Chữ chủ ở đây có nghĩa là Thượng thủ(bậc đứng đầu). 2. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, các vị tôn được chia làm 3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ, trong đó đức Kim luân vương Phật đính làm bộ chủ. Chữ chủ ở đây có nghĩa là cầm quyền quản lãnh. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng không chia Thai tạng, Kim cương mà tất cả đều lấy đức Đại nhật Như lai làm bộ chủ. (xt. Ngũ Bộ).
phật bộ tam muội da ấn
2723為密教護身法五種印言之一。又作法界塔印。密教之修行者經由此印言之加持,則佛部之諸尊即開顯於行者之身業上,並加護之,使身業清淨,消除罪障,增長福慧。其印契為:二手虛心合掌,二食指舒開並微屈,附著各中指之上節,復張二拇指,附著二食指之下節。以此印之形狀頗似佛頂之形,故又稱佛頂印。其真言為:唵(oṃ,歸命)怛他誐都(tathāgata,如來)納婆嚩耶(udbhavāya,發生)娑婆訶(svāhā,成就);意謂能發生且成就三身而達於究竟圓滿之如來。
; (佛部三昧耶印) Cũng gọi Pháp giới tháp ấn. Ấn Tam muội da của Phật bộ, 1 trong 5 loại ấn ngôn của pháp Hộ thân trong Mật giáo.Hành giả Mật giáo đã được sự gia trì của ấn ngôn này rồi, thì các vị tôn của Phật bộ liền mở bày trên thân nghiệp của hành giả, đồng thời gia hộ cho thân nghiệp hành giả thanh tịnh, tiêu trừ tội chướng, tăng trưởng phúc tuệ. Ấn tướng này là: Hai tay chắp để rỗng ở giữa, 2 ngón trỏ doãng ra và hơi co lại, dính sát vào lóng ngón trên cùng của ngón giữa, rồi duỗi 2 ngón cái để sát vào lóng (đốt) dưới của 2 ngón trỏ. Vì hình dáng của ấn tướng này rất giống với hình tướng của Phật đính nên còn gọi Phật đính ấn. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) đát tha nga đô (tathàgata, Như lai) nạp bà phạ da (udbhavàya, phát sinh) sa phạ ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là Như lai có năng lực sinh ra và thành tựu 3 thân, đạt đến viên mãn cứu cánh.
Phật Ca-diếp
(Kyapa), tức là vị Phật thứ ba trong Hiền kiếp, ra đời sau Phật Câu-na-hàm Mâu-ni (Kanakamouni) và ngay trước Phật Thích-ca Mâu-ni. Xem bảy vị Phật.
Phật Ca-la-ca-tôn-đại
xem Phật Cưu-lưu-tần.
phật chiên đàn khốt trang nghiêm thắng
Buddha of Gloriously Adorned Excellence of the Sandalwood Cave Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật chiên đàn quang
Buddha of SandalWood Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật chiếu quang hoà thượng ngữ yếu
2734全一卷。宋代臨濟宗僧拙菴德光(1121~1203)撰,理宗嘉熙二年(1238)刊行。收於卍續藏第一一九冊續古尊宿語要卷五。摘錄上堂語、小參、拈古、贊、偈頌、自贊等,然不知出自何種語錄。
; (佛照光和尚語要) Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Chuyết am Đức quang thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Gia hi thứ 5 (1238), được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 5 trong Vạn tục tạng 119. Nội dung sách này trích lục Thướng đường ngữ, tiểu tham, niêm cổ, tán, kệ, tụng, tự tán..., nhưng không biết xuất xứ từ ngữ lục nào.
phật chiếu thiền sư ngữ lục
2735請參閱 佛照禪師語錄 凡二卷。全稱佛照禪師住慧日山東福禪寺語錄。又作白雲慧曉禪師語錄。日僧白雲慧曉(1223~1297)撰,虛室希白編。收於大正藏第八十冊。卷上包括慧日山東福禪寺之進山、上堂、小參、舉古、拈香,卷下包括小佛事、法語、雜篇、佛祖贊等,卷末附錄摘自虎關師鍊所撰元亨釋書之佛照禪師傳。
; (佛照禪師語錄) Tên đầy đủ: Phật chiếu thiền sư trụ Tuệ nhật sơn Đông phúc thiền tự ngữ lục. Cũng gọi: Bạch vân Tuệ hiểu thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Bạch vân Tuệ hiểu (1223-1297), người Nhật soạn, Hư thất Hi bạch biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này gồm có các mục: -Quyển thượng: Tiến sơn, thướng đường, tiểu tham, cử cổ, niêm hương... -Quyển hạ: Tiểu Phật sự, Pháp ngữ, Tạp biên, Phật tổ tán... Cuối quyển có phụ lục Phật chiếu thiền sư truyện trích từ Nguyên hanh thích thư của ngài Hổ quan Sư luyện.
phật chính pháp nhãn tạng
2618指佛之正教;亦即佛之正道真理。眼,徹見、鑒照之意,比喻正法能燭照萬物;藏,含藏、包含之意,比喻正法能包容一切物。
; (佛正法眼藏) Chỉ cho giáo pháp chân chính của đức Phật.Nhãn nghĩa là thấy suốt, chiếu sáng, ví dụ chính pháp của Phật có năng lực chiếu soi muôn vật. Tạng nghĩa là hàm chứa, bao hàm, ví dụ chính pháp của Phật có công năng dung chứa tất cả sự vật.
phật chủng
2744<一>梵語 buddha-vaṃśa,巴利語 buddha-vaṃsa。佛之種族、佛之系統。印度婆羅門教徒說四姓差別,以誇示其出身與系統;然佛弟子則皆由同一佛法而生,不問其種姓、家系,悉稱佛子,其動機在喝破佛弟子之自覺。廣義言之,凡信佛法者,皆稱佛子;就系統之義而言,亦稱為佛種、釋種子。〔長阿含卷六小緣經、大乘入楞伽經卷五、法華經卷二譬喻品、究竟一乘寶性論卷三如來藏品、佛性論卷二、大乘莊嚴經論卷七〕 <二>指成佛之種子。即佛性,為得佛果之因。因有四種:(一)眾生本來具足之佛性,即緣起之理、中道之理、諸法性空之理等。(二)煩惱,維摩經卷中謂煩惱之外別無菩提,故一切錯誤之見解及煩惱,均是佛種。(三)菩提心,無菩提心之因,即不得佛果。(四)稱名或聞名,依此因則能成佛。〔法華經卷一方便品、華手經卷二發心品、思益梵天所問經卷一「四法品」、法華文句(會本)卷十二、華嚴經探玄記卷十一〕
; Xem Kinh Phật sự.
; The seed of Buddhahood.
; (佛種) I. Phật Chủng. Phạm: Buddha-vaôza. Pàli: Buddha-vaôsa. Dòng dõi Phật, hệ thống Phật. Tín đồ Bà la môn giáo ở Ấn độ chủ trương 4 giai cấp khác nhau để khoe khoang xuất thân và hệ thống của mình; nhưng Phật giáo thì cho rằng đệ tử Phật đều sinh ra từ một Phật pháp đồng nhất, bất luận dòng họ, gia hệ, tất cả đều gọi là Phật tử, nhằm mục đích đánh thức sự tự giác của người con Phật. Nói theo nghĩa rộng, hễ ai tin Phật pháp thì đều gọi là Phật tử; còn nói theo nghĩa hệ thống thì gọi là Phật chủng, Thích chủng tử. [X. kinh Tiểu duyên trong Trường a hàm Q.6; kinh Đại thừa lăng già Q.5; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; phẩm Như lai tạng trong luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính; luận Phật tính Q.2; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7]. II. Phật Chủng. Hạt giống thành Phật, tức là Phật tính, là nhân để được quả Phật. Có 4 loại nhân: 1. Phật tính mà xưa nay chúng sinh vốn có: Chỉ cho lí duyên khởi, lí trung đạo, lí các pháp tính không... 2. Phiền não: Kinh Duy ma quyển trung cho rằng ngoài phiền não ra không có bồ đề nào khác, cho nên tất cả kiến giải sai lầm và phiền não đều là Phật chủng. 3. Bồ đề tâm: Không có nhân là tâm bồ đề thì không được quả Phật. 4. Xưng danh hoặc nghe danh: Nương theo nhân này thì có thể thành Phật [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Phát tâm kinh Hoa thủ Q.2; phẩm Tứ pháp kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.12; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.11].
phật chủng tánh chú sở
Buddhavaṃ-satthakatha tika (S)Một trong những luận kinh do Dhammapala, thế kỷ 5, soạn và chú thích kinh điển Pali.
phật chủng tính
Buddhasamva (P). Those of the Buddha-clan, Buddhist.
phật chủng tính kinh
2744巴利名 Buddha-vaṃsa。凡二十八品。由偈頌合成,闡說過去佛之種姓、經歷,釋尊之因行等。屬小部經(巴 Khuddaka-nikāya)之一。本經所說過去佛中,毘婆尸佛(巴 Vipassī)以下至釋尊等七佛見於長部經之大本經及阿吒曩胝經,然二十四佛等則不存於古經典中,且常侍之男女等說亦為古經典所未見。在巴利文經藏中,本經與譬喻(巴 Apadāna)及所行藏(巴 Cariyā-piṭaka)被認為係最後之編纂。在佛音之長部經註(巴 Sumaṅgala-vilāsinī)謂,中部師以本經為聖典,但長部師則不以為然。本經現有摩理士(R. Morris)之原文出版(P.T.S. 1882),並有立花俊道之日譯(南傳大藏經卷四十一)。注釋書有佛授(巴 Buddhadatta)所著之妙義悅意(巴 Madhurattha-vilāsinī)一書。〔善見律毘婆沙卷一、B.C. Law: A History of Pāli Literature; G.P. Malalasekera: Dictionary of Pāli Proper Names〕
; (佛種姓經) Pàli: Buddha-vaôsa. Kinh, 28 phẩm, do các bài kệ tụng tổ hợp thành, là 1 trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddaka-nikàya). Nội dung kinh này nói rộng về dòng họ, sự tích của các đức Phật quá khứ và nhân hạnh của đức Thế tôn Thích ca... Trong số các đức Phật quá khứ được đề cập đến trong kinh này, thì 7 đức Phật từ Phật Tì bà thi (Pàli: Vipassì) trở xuống đến đức Thích tôn đã được thấy trong kinh Đại bản thuộc Trường bộ kinh và trong kinh A tra nẵng chi, nhưng 24 Phật... thì không thấy trong các kinh điển xưa, vả lại, thuyết nam nữ đứng hầu cũng không được nói đến trong các kinh điển cổ. Trong tạng kinhPàli, thì kinh này, kinh Thí dụ (Pàli: Apadàna) và Sở hành tàng (Pàli: Cariyà-piỉaka) là những kinh được biên soạn sau cùng. Trong Trường bộ kinh chú (Pàli: Sumaígalavilàsinì), ngài Phật âm nói rằng Trung bộ sư cho kinh này là Thánh điển, nhưng Trường bộ sư thì không cho như thế. Nguyên văn kinh này đã được ông R.Morris xuất bản vào năm 1882 và có bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 41) của ông Lập hoa Tuấn đạo. Sách chú thích kinh này thì có: Diệu nghĩa duyệt ý (Pàli: Maddhurattha-vilàsinì) do ngài Phật thụ (Pàli: Buddhadatta) soạn. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A History of PàliLiterature by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by G. P. Malalasekera].
phật chủng tộc
2745其義有二,即:(一)指釋迦族。即與佛陀同種族之人。(二)指依從佛陀之教誨,剃髮染衣而出家學道之人;自東晉道安以後,僧侶多冠上「釋」姓,即自喻為與佛陀同種族之人。
; (佛種族) Dòng họ của Phật, có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho chủng tộc Thích ca, tức là những người cùng dòng họ với Phật Thích ca. 2. Chỉ cho những người y theo lời dạy của đức Phật, cạo tóc, nhuộm áo, xuất gia học đạo. Tại Trung quốc, từ ngài Đạo an đời Đông Tấn trở về sau, chư tăng đều lấy họ Thích, tức cho mình là người cùng dòng họ với đức Phật.
Phật cung
(佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).”
; (佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).”
phật cung
2630謂以米飯供養佛、菩薩。又作佛餉、佛飯、熟佛供。供養儀式(大一八‧一八○下):「凡所供養物,但除五辛酒肉等不淨者;其供養器,皆用金、銀、銅、鐵、瓷等,餘者悉不堪用;其壇內供養諸味等,一日一易,如果子等,三日一易亦得。」依之,當以清淨飲食置於金、銀等所造之圓筒器,日日供養不斷。又佛制過午不食,故供養必於午時前作。 此外,密教於灌頂時,飯染白、赤、黃、青、黑等五色,供養五佛,稱為五色佛供或色佛供、染佛供;白佛供即熟佛供,赤佛供以小豆汁著色,黃佛供染山梔汁,青佛供染青葉汁,黑佛供染黑胡麻;若以紙作飯型,代用五色佛供者,則稱張佛供。〔五雜俎卷十五、持寶通覽卷下、真俗佛事編卷二、考信錄卷一〕
; (佛供) Cũng gọi Phật hướng, Phật phạn, Thục Phật cúng. Dâng cơm, cháo cúng dường Phật và Bồ tát. Cúng dường Phật, phải dùng các thức ăn uống thanh tịnh, đặt trên những khí cụ quí giá và dâng cúng hằng ngày, nhưng phải cúng trước giờ Ngọ chứ không được quá. Cúng dường nghi thức (Đại 18, 180 hạ) ghi: Phàm các vật cúng dường chỉ trừ những thứ bất tịnh như ngũ tân(5 thứ rau có vị cay: Hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ – loại này ở Việt nam không có), rượu, thịt... Đồ đựng vật cúng dường, nên dùng các thứ làm bằng vàng, bạc, đồng, sắt, sành, sứ... còn các thứ khác không nên dùng. Ở trong đàn tràng cúng dường các mùi vị, mỗi ngày mỗi thay đổi, riêng trái cây thì 3 ngày đổi 1 lần cũng được. Ngoài ra, trong Mật giáo, khi cử hành lễ Quán đính, dùng cơm nhuộm 5 màu trắng, đỏ, vàng, xanh, đen, để cúng dường 5 đức Phật, gọi là Ngũ sắc Phật cúng, hoặc Sắc Phật cúng, Nhiễm Phật cúng. Cơm màu trắng tức là cơm chín, cơm màu đỏ nhuộm bằng nước đậu đỏ, cơm màu vàng nhuộm bằng nước hột dành dành, cơm màu xanh nhuộm bằng nước lá xanh, cơm màu đen nhuộm bằng nước hạt vừng(mè)đen. Nếu dùng giấy làm hình cơm mà cúng Phật để thay cho 5 màu thì gọi là Trương Phật cúng. [X. Ngũ tạp trở Q.15; Trì bảo thông giám Q.hạ; Chân tục Phật sự biên Q.2; Khảo tín lục Q.1].
phật cung tự
2644位於山西應縣城內西北隅。建於遼道宗清寧二年(1056),原名寶宮寺,元仁宗時改稱佛宮寺。寺中之木塔係古代木構建築中,除山西五臺山之佛光寺大殿(建於唐代)外,首屈一指之傑作。木塔呈八角形,高六十六公尺,共五層,其基座為八角形,塔基直徑約三十三公尺,足夠安放四座開封鐵塔。第一層由二十五根巨大黃松木支柱,木柱內為三公尺寬之迴廊,圍繞一座八角形塔屋。塔屋內供奉一尊高約十公尺之石刻釋迦牟尼坐像,塔上題有「釋迦」二字,係遼道宗之親筆,故又稱釋迦塔。 全塔在工程技術上,以樑、柱、斗栱等,逐層向上舉托。內外樑柱之間,共使用六十餘種不同之斗栱。此一木塔於工程結構上之驚人成就與建築藝術上之傑出,可謂木構建築中稀世之珍。近年來,木塔內又陸續發現一批遼代燕京雕印之契丹版大藏經佛經刻本,此為繼民國二十三年(1934)所發現趙城藏後又一次重大發現,不僅填補了北方雕版印刷史上之空白,且為研究遼代佛教史及文化狀況之珍貴資料。
Phật Câu-lưu-tôn
xem Phật Cưu-lưu-tần.
Phật Câu-na-hàm mâu-ni
(Kanakamouni) là một vị Phật trong quá khứ, kế tiếp Phật Cưu-lưu-tần. Xem bảy vị Phật.
phật cúng
An offering to Buddha.
Phật Cưu-lưu-tần
(Krakucchanda), cũng viết là Phật Câu-lưu-tôn, hay Phật Ca-la-ca-tôn-đại, là một vị Phật quá khứ, ra đời trước Phật Câu-na-hàm-mâu-ni. Xem bảy vị Phật.
phật cảnh
The (spiritual) region of Buddha. The Buddha's abode.
Phật cảnh giới
佛境界; C: fójìngjiè; J: bukkyōkai;|Cõi Phật, cảnh giới Phật, đất Phật…
phật cảnh giới trang nghiêm tam muội
2743即普賢菩薩之三昧。象徵大日如來圓滿萬行之普賢,以大悲胎藏曇陀羅普現色身,徧滿虛空法界,行菩薩之行,莊嚴種種之佛剎,成熟一切眾生,現起一種善根,隨之圓具萬德。佛境界,即以如來自證無量之德,莊嚴自己,故得此名。〔大日經疏卷一〕
; (佛境界莊嚴三昧) Tam muội của bồ tát Phổ hiền. Phổ hiền tượng trưng cho Đại nhật Như lai đầy đủ muôn hạnh, dùng đại bi Thai tạng mạn đồ la phổ hiện sắc thân, đầy khắp hư không pháp giới, tu hành hạnh Bồ tát, trang nghiêm các cõi Phật, thành tựu tất cả chúng sinh, hiện khởi 1 thiện căn nhưng tùy theo đó mà đầy đủ muôn đức. Phật cảnh giới, tức là dùng vô lượng đức tự chứng của Như lai để trang nghiêm chính mình, cho nên gọi là Phật cảnh giới trang nghiêm tam muội. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
Phật cảnh giới 佛境界
[ja] ブツキョウカイ bukkyōkai ||| "Buddha-realm", "Buddha- sphere", "Buddha-land", etc. => Cõi Phật, cảnh giới Phật, đất Phật...
Phật cốt
佛骨; C: fógǔ; J: bukkotsu; |Phần xương (tinh tuý) của đức Phật còn lưu lại sau khi trà tì. Thường gọi là Xá-lợi (舎利), phiên âm từ tiếng Phạn śarīra.
phật cốt tông
2656乃針對執著於「佛心宗」之稱而權設之語。佛心宗即是禪宗之別稱。蓋禪宗素以不重經典文字而直傳佛心印為宗旨,故六祖壇經、碧巖錄等禪宗要典,以及歷代祖師、各宗派師家等皆常以「佛心宗」一語為禪宗之代稱,特用以彰顯禪旨「以心傳心」之要義。然沿用既久,亦不免流於偏頗狹隘,執著於「佛心宗」之名相語意而粘縛滯礙,忘失禪宗明心見性、自由任運之基本精神。針對此類執著,遂有佛骨宗、佛身宗、佛眼宗、佛髓宗,乃至佛腳宗、佛耳宗、佛鼻宗、佛舌宗等,各種名稱之權設,皆含諷貶之意味。又如日本曹洞宗之祖永平道元一生提倡坐禪為「正傳之佛法」,而反對禪宗、達磨宗、佛心宗等之名稱,以為皆係天下庸流禪徒之妄稱。〔正法眼藏佛道〕
; (佛骨宗) Tông xương Phật. Từ ngữ này được dùng với ý mỉa mai để chỉ cho những người chấp trước vào Phật tâm tông (tông tim Phật). Phật tâm tông là tên khác của Thiền tông. Bởi vì Thiền tông vốn không coi trọng kinh điển văn tự mà lấy việc trực tiếp truyền trao tâm ấn của Phật làm tông chỉ, cho nên các kinh điển quan trọng của Thiền tông như Lục tổ đàn kinh, Bích nham lục cho đến lịch đại Tổ sư, Tông sư đều gọi Thiền tông là Phật tâm tông. Nhưng gọi lâu thành quen, không khỏi rơi vào lối mòn khuôn sáo, cố chấp, thiên lệch, hẹp hòi, cứ mải mê bám lấy danh tướng, ngữ ý của nhóm từ Phật tâm tông, mà quên đi cái tinh thần cơ bản vốn hoạt bát, sinh động, nhậm vận tự do, minh tâm kiến tính của Thiền. Chính vì muốn đả phá cái lề thói mê chấp ấy, nên nhiều tên gọi tương tự mang ý vị châm biếm như: Phật cốt tông, Phật thân tông, Phật nhãn tông (tông mắt Phật),Phật tủy tông, cho đến Phật cước tông (tông chân Phật),Phật nhĩ tông (tông tai Phật), Phật tị tông (tông mũi Phật), Phật thiệt tông(tông lưỡi Phật)... đã phương tiện được đặt ra với mục đích chế diễu để thức tỉnh những Thiền giả chấp mê. Như tổ Vĩnh bình Đạo nguyên của tông Tào động Nhật bản, 1 đời đề xướng tọa thiền là Phật pháp chính truyền, cũng phản đối những tên gọi như Thiền tông, Đạt ma tông, Phật tâm tông... cho đó đều là lời nói khuôn sáo, phô trương, hư dối của bọn thiền đồ tầm thường. [X. Chính pháp nhãn tạng Phật đạo].
Phật cốt 佛骨
[ja] ブッコツ bukkotsu ||| Literally, the buddha's bones--the remains of the Buddha after cremation. More commonly written as 舎利--the transcription of śarīra. => Phần (tinh túy) xương của Đức Phật còn lưu lại sau khi trà tỳ. Thường gọi là xá-lợi, phiên âm từ tiếng Phạn śarīra
phật cụ
2631又作法具、佛器。用於莊嚴佛前,或法會、修法時所用之器具。即天蓋、幢、幡、華鬘、斗帳、法螺、木魚、鐘、鼓、鈴、香爐、花瓶、燭臺等物之總稱。對此,僧尼所用之衣、鉢、數珠、如意、拂子、坐具等物,則稱為僧具。 天蓋又稱蓋,覆於佛像之頂,或覆於導師席上,原係防避日光直射而設。幢、幡乃法會時,懸掛於堂內之布製旗子。斗帳則是小布簾,懸覆於安置本尊之龕前。磬為讀經時所敲打法器之一,形如碗,深者為鏧,淺者為磬,又小磬稱引磬、小手磬。其他能出音之佛具尚有振鈴、木魚(木製魚形者)、雲板(金屬製,成雲形,中央有洞者)、鐃鈸(銅製皿形者,二片相互拍打出聲)、金鼓、梵鐘等物。法螺亦為樂器之一種,特別是日本修驗道(日本佛教之一派)所必備之道具。 佛前之莊嚴物,依宗派之不同而有異。香爐、花瓶、燈臺三物具足,俗稱三具足,係諸宗一般所用。插花之容器,稱為花瓶,有角形與圓形之分。桌面有時覆以布,圍於桌周圍之帛,稱為桌圍,其上所覆三角形之帛,則稱打敷。此外,用來盛飯供養佛之器物,亦稱佛器。香爐又稱火舍,金屬製者稱金香爐,陶土製者稱土香爐。金香爐用於燒香(先放入炭火,然後焚燒香木),土香爐則用於燃香(燃粉末狀之香。現在一般多以線香替代燃香)。至於燈臺,有用於點蠟燭與點油火二種。立蠟燭者,稱為燭臺。或有鶴銜蓮軸立於龜背之形狀者,稱為鶴龜。又垂吊於天花板之輪形燈明用具,稱為輪燈,或稱琉璃燈。臺座為菊花形之燈明臺,稱為菊燈,係用於點油火。(參閱「法衣」3346、「鐘」6839、「鐃鈸」6840)
; Articles used on an altar in worship of Buddha.
; (佛具) Cũng gọi Pháp cụ, Phật khí. Chỉ chung những khí cụ dùng để trang nghiêm trước tượng Phật, hoặc pháp hội như: Lọng, phan, phướn, cờ, tràng hoa, đẩu trướng, pháp loa, mõ, chuông, trống, linh (chuông lắc), lư hương, bình hoa, chân đèn... Những Phật cụ này tùy theo sự sử dụng của các tông phái mà có khác nhau. (xt. Chung, Não Bạt).
phật danh hội
2624又作佛名懺悔。讀誦佛名經,稱念過去、現在、未來諸佛名號,以懺悔滅罪之法會。五、六世紀頃盛行於我國,東晉以降,以賢劫千佛名經、觀藥王藥上二菩薩經為始,曾陸續翻譯編集各種佛名經典,初期所出之十二卷本佛名經(元魏菩提流支譯,宋、元、明三本)共列舉一一○九三位佛菩薩名,為讚歎一切諸佛名號之經典。〔往生論註卷下、佛祖統紀卷三十九、法苑珠林卷八十六〕
; (佛名會) Cũng gọi Phật danh sám hối. Pháp hội đọc tụng kinh Phật danh và xưng niệm danh hiệu chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai để sám hối diệt tội. Loại pháp hội này đã thịnh hành ở Trung quốc vào khoảng thế kỉ V, VI. Từ đời Đông Tấn trở đi, bắt đầu là kinh Hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát, rồi lần lượt đến các loại kinh điển Phật danh khác được phiên dịch và biên tập. Vào thời kì đầu đã xuất hiện bộ kinh Phật danh gồm 12 quyển, do ngài Bồ đề Lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy (kinh này được thu vào cả 3 bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh), tổng cộng có 11.093 danh hiệu Phật và Bồ tát. Đây là bộ kinh tán thán tất cả danh hiệu của chư Phật. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.39; Pháp uyển châu lâm Q.86].
phật danh kinh
2625凡十二卷。元魏菩提流支譯。今收於大正藏第十四冊。經中列舉數千佛、菩薩及辟支佛之名,謂受持讀誦諸佛名號而思惟讚歎者,能得現世安穩,遠離諸難,消滅諸罪,於未來世得無上菩提。有關諸佛之數目,麗本與宋、元、明三本所舉略有出入,依據後三本,總計列出一一○九三佛名。 根據各經錄所記載,歷來經典中,與本經經名雷同或相似者甚多,例如出三藏記集卷二新集經論錄記載西晉竺法護譯賢劫經七卷、東晉竺曇無蘭譯賢劫千佛名經一卷等;同書卷四新集續撰失譯雜經錄所記載之諸經佛名二卷、三千佛名經、五十三佛名經、南方佛名經各一卷等皆是。又法經錄卷二眾經別生部分,亦舉出賢劫千佛名經一卷、佛名經十卷、十方佛名經二卷等。此外,現藏中與本經經名相同或相似者,共有二十部之多,皆收於大正藏第十四冊,表列如左: 上述二十部中之三十卷佛名經,係依據十二卷佛名經,合糅大唐內典錄卷九歷代眾經舉要轉讀錄所載之經律論及賢聖集錄等之題名,以及大乘蓮華寶達問報應沙門經等偽經而成者。此經相當於開元釋教錄卷十八偽妄亂真錄所列之十六卷佛名經,該經於唐代俗稱「馬頭羅剎佛名」,開元釋教錄論述其為偽經。〔法經錄卷一、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷六、大唐內典錄卷四、貞元新定釋教目錄卷二十三〕
; (佛名經) Kinh, 12 quyển, do ngài Bồ đề Lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này liệt kê mấy nghìn danh hiệu của Phật, Bồ tát và Bích chi Phật, bảo rằng người thụ trì đọc tụng, tư duy tán thán danh hiệu của chư Phật, thì đời hiện tại được yên vui, tránh khỏi tai nạn, tiêu trừ mọi tội chướng, trong đời vị lai sẽ được Vô thượng bồ đề. Về số mục danh hiệu của chư Phật, thì Đại tạng bản Cao li và 3 bản Tống, Nguyên, Minh liệt kê có hơi khác nhau. Theo 3 bản sau thì tổng cộng có 11.093 danh hiệu Phật. Căn cứ vào các bộ Kinh lục (mục lục kinh) thì trong các kinh điển từ xưa đến nay có rất nhiều đề kinh hơi giống hoặc giống hệt với tên kinh này. Chẳng hạn như điều Tân tập kinh luận lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 ghi chép, ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch kinh Hiền kiếp 7 quyển, ngài Trúc đàm vô lan đời Đông Tấn dịch kinh Hiền kiếp thiên Phật danh 1 quyển... Rồi điều Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4 thì ghi chép Chư kinh Phật danh 1 quyển, kinh Tam thiên Phật danh 1 quyển, kinh Ngũ thập tam Phật danh 1 quyển, kinh Nam phương Phật danh 1 quyển... cũng tương tự như thế. Lại đến phần chúng kinh biệt sinh trong Pháp kinh lục quyển 2, cũng liệt kê kinh Hiền kiếp thiên Phật danh 1 quyển, kinh Phật danh 10 quyển, kinh Thập phương Phật danh 2 quyển... Ngoài ra, trong Đại tạng hiện nay, những kinh tương tự hoặc giống hệt với kinh này, còn có tới hơn 20 bộ, tất cả đều được thu vào Đại chính tạng tập 14, liệt kê theo biểu đồ như sau. (thiếu biểu đồ) Kinh Bát Phật danh hiệu, Kinh Bát cát tường thần chú, Kinh Bát dương thần chú Kinh Bát bộ Phật danh, Kinh Bát cát tường, Kinh Thập cát tường, Kinh Xưng dương chư Phật công đức, Kinh Diệt thập phương minh, Kinh Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức, Kinh Đại Bảo nguyệt đồng tử vấn pháp, Kinh Chư Phật, Kinh Đại thừa đại phương quảng Phật quan, Kinh Phật danh, Kinh Thập phương thiên ngũ bách Phật danh, Kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh thần chú trừ chướng diệt tội, Kinh Bách Phật danh, Kinh Bất tư nghị công đức chư Phật sở hộ niệm, Kinh Quá khứ trang nghiêm kiếp thiên Phật danh, Kinh Hiện tại hiền kiếp thiên Phật danh, Kinh Vị lai tinh tú kiếp thiên Phật danh.
phật di lặc
Mirokou (J).
phật di lặc tiên quang
Buddha of Sagely Light of Loving Kindness Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật diện thượng quát kim
2642刮取佛像上所鍍之黃金。按佛像一般多漆(或鍍)以黃金。俗諺「佛面上刮金」,係用以比喻向尊長索求金錢財物;含有責人妄為之意。或比喻貪心之人用以搜索財物之手段,無所不用其極;含有責人做事太絕、不留餘地之意。
; (佛面上刮金) Cạo lấy lớp vàng mạ trên mặt tượng Phật. Câu ngạn ngữ này dùng để ví dụ cho kẻ nhắm vào bậc tôn trưởng để đòi hỏi tiền của, hàm trách những người làm việc dối trá; hoặc vídụ người có tâm tham dùng mọi thủ đoạn bóc lột của cải người khác; không việc xấu xa nào mà chẳng làm; cũng hàm ý quở trách những kẻ làm việc cực ác, không từ 1 chút gì.
phật diệt
2734佛陀之涅槃。滅,意為滅度,即滅除煩惱而度脫苦海。涅槃,梵語 nirvāṇa 之音譯,「滅度」為其意譯。又作寂滅、圓寂、大圓寂(梵 mahā-parinirvāṇa,巴 mahā-parinibbāna),意謂永遠滅除一切煩惱災難,而不再受生死輪迴諸苦之境界。蓋佛陀於金剛座下證悟成道之後,本已了斷貪瞋癡等諸煩惱,然以自利、利他、覺行圓滿之故,乃隨緣度眾,經過四十五年之化度方才捨壽,於拘尸那城(梵 Kuśinagara)外之娑羅(梵 sāla)樹林進入涅槃。故一般之佛傳、佛教史多以「入滅、」、「滅度」、「圓寂」、「涅槃」或「佛滅」等語表示佛陀之圓滿世緣、捨壽寂滅,而絕非等同於尋常凡夫生涯中「死」、「去世」等之概念。(參閱「涅槃」4149)
; The Buddha's physical passing, Buddha's parinirvana.
; (佛滅) Cũng gọi Tịch diệt, Viên tịch, Đại viên tịch (Phạm: Mahà-parinirvàịa, Pàli: Mahà-parinibbàna). Phật niết bàn. Diệt là diệt độ, nghĩa là diệt trừ phiền não, vượt qua bể khổ. Chữ Nirvàịacủa tiếng Phạm dịch âm là Niết bàn, dịch nghĩa là diệt độ. Sau khi liễu ngộ thành đạo dưới tòa Kim cương đức Phật đã dứt hết sạch các phiền não tham, sân, si..., nhưng vì hạnh nguyện, tự lợi, lợi tha, giác hành viên mãn, nên Ngài tùy duyên hóa độ chúng sinh suốt hơn 45 năm mới vào Niết bàn ở rừng cây Sa la (Phạm: Sàla), phía ngoài thành Câu thi na (Phạm: Kuzinagara). Trong các sách Phật truyện cũng như lịch sử Phật giáo, phần nhiều những từ ngữ như: Nhập diệt, Diệt độ, Viên tịch, Niết bàn, hoặc Phật diệt... được dùng để biểu thị ý nghĩa viên mãn thế duyên, xả thọ tịch diệt, hoàn toàn khác với khái niệm chết, lìa bỏ cuộc đời của phàm phu tầm thường... (xt. Niết Bàn). PHẬT DIỆT NHẬT (xt. Thích ca mâu ni).
phật diệt nhật
2734佛滅,即指佛陀之涅槃、入滅。法華經序品(大九‧五上):「佛此夜滅度,如薪盡火滅。」佛滅日,略稱佛滅,又稱大惡日。各經典及南北傳佛教所傳之佛滅日說法不一,一般北傳國家以陰曆二月十五日為佛滅日。(參閱「釋迦牟尼」6824)
phật diệt niên đại
2734有關佛陀入滅年代之資料,自古採用「眾聖點記」之說。眾聖點記係佛陀入滅後,由傳持律藏之長老僧,於每年安居終了時記一點,以表示經過之年數。僧伽跋陀羅譯善見律毘婆沙之翌年(永明八年,490)七月半夜,安居終了記一點時,共有九七五點。後至撰述歷代三寶紀之開皇十七年(597),共計一○八二年。由此推測,佛滅年應為西元前四八六年。此係南傳舊說,現今南方上座部佛教通用之佛滅紀元,為西元前五四三年至五四四年。德人蓋格爾(W. Geiger)以為錫蘭至十一世紀中葉以前,遵行從佛滅二一九年阿育王即位一論據推出之西元前四八三年佛滅紀年,其後則用新說五四四紀年。日人宇井伯壽認為,阿育王即位灌頂之年代為西元前二七一年,基於「部執異論」一書有關佛陀入滅後一一六年阿育王即位之記述,斷定佛滅年代為西元前三八六年。其後中村元根據宇井之說,更參考新希臘史與印度史之資料,決定阿育王之即位年為西元前二六八年,由此推定佛滅年為西元前三八三年。我國印順法師以阿育王即位之年代推定釋尊入滅於西元前三九○年,而以之為佛滅紀元元年。總結而言,佛滅在西元前三八○年至三九○年之間,已為多數學者所認可。〔大慈恩寺三藏法師傳卷三、出三藏記集卷十一、歷代三寶紀卷一、卷十一、佛祖統紀卷二、佛教年代考(小野玄妙)、印度哲學研究第二卷(宇井伯壽)、論佛滅的年代(印順,妙雲集下編(9))、世界佛教通史(聖嚴)〕
; (佛滅年代) Niên đại Phật nhập diệt. Tư liệu về niên đại đức Phật nhập diệt thì từ xưa thường dùng thuyết Chúng Thánh Điểm Kí (các bậc Thánh ghi dấu chấm). Nghĩa là năm đức Phật nhập diệt, sau khi kết tập tạng Luật, đúng vào ngày chư tăng tự tứ năm ấy, tôn giả Ưu bà li – người tụng tạng Luật trong lần kếttập đầu tiên– ghi 1 cái chấm (điểm) ở đầu tạng Luật để đánh dấu năm đức Phật nhập Niết bàn. Từ đó về sau, hàng năm, vào ngày kết thúc an cư (ngày chư tăng tự tứ), các vị Trưởng lão lại thắp hương rồi ghi thêm 1 cái chấm vào tạng Luật để ghi nhớ 1 năm đã qua, gọi là Chúng thánh điểm kí. Vào năm Vĩnh minh thứ 8 (490) đời Nam Tề, Trung quốc, ngài Tăng già bạt đà la dịch xong bộ Thiện kiến luật tì bà sa (Pàli:Samantapàsàdikà). Lúc nửa đêm 15 tháng 7 năm ấy – ngày kết thúc hạ an cư– ngài Tăng già bạt đà la ghi thêm 1 dấu chấm, bấy giờ đã được tất cả 975 chấm. Đến năm Khai hoàng 17 (597) đời Tùy, ngài Phí trường phòng soạn xong bộ Lịch Đại tam bảo kỉ thì tất cả là 1082 chấm. Căn cứ vào đó mà tính ra năm thì năm đức Phật nhập diệt phải là năm 486 trước Tây lịch. Đây là thuyết cũ của Nam truyền, còn thuyết mới hiện nay thông dụng trong Phật giáo Thượng tọa bộ Nam phương là năm 543 đến 544 trước Tây lịch. Ông Vũ tỉnh Bá thọ người Nhật cho rằng năm vua A dục lên ngôi là năm 271 trước Tây lịch, rồi căn cứ vào thuyết Bộ chấp dị luận bảo sau khi Phật nhập diệt được 116 năm thì vua A dục lên ngôi, mà đoán định rằng năm Phật nhập diệt là 386 trước Tây lịch. Về sau, ông Trung thôn nguyên –cũng là người Nhật– lại căn cứ vào thuyết của ông Vũ tỉnh Bá thọ mà tham khảo thêm những tư liệu lịch sử của Tân Hi lạp và Ấn độ, mà quyết định rằng năm vua A dục lên ngôi là năm 268 trước Tây lịch, từ đó suy định năm đức Phật nhập diệt là năm 383 trước Tây lịch. Còn ngài Ấn thuận của Trung quốc thì căn cứ vào năm vua A dục lên ngôi mà đoán định năm đức Phật nhập diệt là năm 390 trước Tây lịch, cho đó là năm đầu của kỉ nguyên Phật nhập diệt. Nói tóm lại, niên đại đức Phật nhập diệt là từ khoảng năm 380 đến 390 trước Tây lịch đã được đa số học giả thừa nhận. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.11; Lịch đại tam bảo kỉ Q.1, 11; Phật tổ thống kỉ Q.2; Phật giáo niên đại khảo (Tiểu dã Huyền diệu); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.2 (Vũ tỉnh Bá thọ); Luận Phật diệt đích niên đại (Ấn thuận); Thế giới Phật giáo thông sử (Thánh nghiêm)].
phật diệu âm thắng
Buddha of Sublime Sound.
phật duyên
2748謂來世成佛之因緣。又作佛因。如以信佛之因緣,願往生淨土者,必乘佛之願力往生。故後世常有「入佛道之因緣」、「結佛緣」等語。〔往生論註卷上〕
; (佛緣) Cũng gọi Phật nhân. Nhân duyên thành Phật ở đời sau. Như người nhờ nhân duyên kính tin Phật, phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp
2618為「眾生隨類各得解」之對稱。蓋佛之說法教化並無大小、權實、頓漸等差別,惟眾生各以機類之別,隨其所聞,皆得相應而解。維摩所說經佛國品(大一四‧五三八上):「佛以一音演說法,眾生隨類各得解。」
; (佛以一音演說法) Đối lại: Chúng sinh tùy loại các đắc giải. Đức Phật chỉ dùng 1 thứ tiếng để nói pháp. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 538 thượng) ghi: Đức Phật chỉ dùng 1 thứ tiếng để diễn nói pháp, chúng sinh tùy căn cơ trình độ mà đều được hiểu.
Phật gia
(佛家): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu 'che trùm trời đất', có câu 'theo sóng thuận dòng', có câu 'chận đứt các dòng', ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người này tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taisho Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).”
; (佛家): có ba nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu 'che trùm trời đất', có câu 'theo sóng thuận dòng', có câu 'chận đứt các dòng', ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người này tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taisho Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).”
; 佛家; S: buddhakula;|Năm dạng xuất hiện cơ bản của Báo thân (s: saṃbhogakāya; Ba thân). Ðó là năm cách thể hiện của trí huệ (s: prajñā), xuất hiện dưới mọi dạng »xấu,« »tốt« khác nhau. Mỗi một hiện tượng thế gian đều thuộc về một trong năm nhóm này, nên mỗi nhóm được xem như một »gia đình« (Phật gia) với mọi quyến thuộc. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), Ngũ Phật được nêu thành nguyên lí vũ trụ, thể hiện trong mọi tranh tượng. Các hình ảnh của năm Phật gia này cũng là cơ sở của phép quán linh ảnh hay được áp dụng trong những Nghi quỹ (s: sādhana). Năm vị Phật chủ của năm gia đình này là: Ðại Nhật Như Lai (s: vairocana), Bất Ðộng Như Lai (s: akṣobhya), Bảo Sinh Như Lai (s: ratnasambhava), A-di-đà Như Lai (s: amitābha) và Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: amoghasiddhi).|Vị đầu tiên trong năm Như Lai là Ðại Nhật, có sắc trắng, được đặt vào trung tâm Man-đa-la. Thuộc về Phật gia này có Vô minh (s: avidyā), nguồn gốc của Luân hồi (s: saṃsāra). Cũng thuộc về Phật gia này là trí huệ cao tột của Pháp thân thường trụ, được gọi là Pháp giới trí (法界智; s: dhar-madhātu-jñāna; Năm trí). Phía đông của Man-đa-la là Bất Ðộng Như Lai. Ðó là vị Phật chủ của Phật gia Kim cương (s: vajra). Năng lượng của nhóm này khi xấu thì biến thành sự sân hận (s: dveṣa), khi được chuyển hoá thì thành Ðại viên kính trí (大圓鏡智; s: ādarśa-jñāna), có nghĩa là đạt được trí như một tấm gương tròn sáng. Thân Phật Bất Ðộng được vẽ màu xanh thẩm. Phía Nam của Man-đa-la là Bảo Sinh Như Lai, sắc vàng, Phật chủ của Phật gia Bảo sinh (s: ratna). Năng lượng này có gốc là mạn (s: māna), được chuyển hoá thì trở thành Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna). Phía Tây của Man-đa-la là Phật A-di-đà, Phật chủ của Phật gia Liên hoa (hoa sen; s: padma). Màu đỏ của A-di-đà tượng trưng cho tham dục (s: rāga), một khi năng lượng này biến thể thành xấu ác, nhưng khi được chuyển hoá thì đó là Diệu quan sát trí (妙觀察智; s: pratyavekṣaṇa-jñāna). Cuối cùng, phía Bắc là Bất Không Thành Tựu Như Lai, Phật chủ của Phật gia Nghiệp (s: karma; cũng được gọi là Yết-ma), mang sắc xanh lục. Ðó là năng lượng của sự ghanh ghét (s: īrṣyā), một khi được chuyển hoá sẽ thành Thành sở tác trí (成所作智; s: kṛtyā-nuṣṭhāna-jñāna).|Trong một vài Tan-tra thì sự sắp xếp Man-đa-la có chút khác nhau, nhất là trong Phật gia trung tâm và Phật gia Kim cương. Các Phật gia có nhiều quyến thuộc, thuộc tính, vật cỡi, châu báu khác nhau, có khi được biểu diễn thêm bằng dạng nữ nhân.
phật gia
2644僧侶之自稱。舉凡佛道修行之道場、佛所住之世界、初地以上之境地等,亦稱佛家。〔觀無量壽經、華嚴經入法界品、觀無量壽經疏卷末(慧遠)〕
; Buddhakula (S).
; The school or family of Buddhism.
phật già da
Bodh-gaya (S)Bồ đề đạo tràngTên cảnh rừng trong núi Tượng đầu (Gajasirsa), bên bờ sông Ni liên thiền (Nairanjara), gần thị trấn Gaya (kế Calcutta), nơi đây ngày xưua có cây bồ đề lớn là chỗ Phật ngồi tham thiền và thành đạo. Nay chổ ấy được cất một ngôi chùa lớn tên là Đại Bồ đề (MahaBodhi), toạ lạc ngay chỗ Phật Thích Ca thành đạo và cây bô để chỗ ấy nay được tín đồ Phật giáo và Ấn giáo gìn giữ và tôn thờ.
; Bodh Gàya (S).
phật giác tam muội
2757即由佛之加被而成為如佛覺力之三昧。三昧,為「禪定」之異稱。據法華文句卷一上載,阿難曾得此三昧。
Phật Giám Huệ Cần
(佛鑑慧懃, Bukkan Egon, 1059-1117): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), họ là Uông (汪), pháp từ của Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), trú trì Hưng Quốc Thiền Viện (興國禪院) ở Thái Bình Sơn (太平山), thuộc Thư Châu. Vào năm đầu niên hiệu Chính Hòa (政和, 1111-1118) đời vua Huy Tông nhà Tống, ông nhận sắc chỉ của nhà vua đến trú tại Trí Hải Tự (智海寺) trên kinh đô, sau đó chuyển đến Tương Sơn (蔣山). Vào ngày mồng 8 tháng 11 năm thứ 7 niên hiệu Chính Hòa, ông tắm rửa sạch sẽ, thay áo quần rồi ngồi ngay ngắn mà thị tịch. Sau đó ông được ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師).
Phật giáo
佛教; S: buddhaśāsana; P: buddhasāsana;|Một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (hai tôn giáo lớn khác là Thiên chúa giáo và Hồi giáo). Phật giáo do đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni sáng lập khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên. Ngài là người đầu tiên giảng Tứ diệu đế, là giáo pháp trung tâm của đạo Phật, là điều mà Ngài đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lí đó chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại đó là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong Luân hồi (輪回; s: saṃ-sāra) và liệu con người có thoát khỏi nó chăng. Ðức Phật xem cuộc đời là Vô thường (無常; s: anitya; p: anicca), Vô ngã (無我; s: anātman; p: anattā) và vì vậy mà con người phải chịu Khổ (苦; s: duḥkha; p: duk-kha). Thấu hiểu Ba tính (三相; s: trilakṣaṇa; p: tilakkhaṇa) đặc trưng của sự vật đó là bắt đầu đi vào đạo Phật. Khổ xuất phát từ Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và Vô minh (無明; s: avidyā; p: avijjā), và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi Vòng sinh tử (有輪; s: bhavacakra; p: bhavacakka). Cô chế làm cho chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằng thuyết Mười hai nhân duyên (緣起; duyên khởi; s: pratītyasamut-pāda; p: paṭiccasamuppāda). Chấm dứt vòng sinh tử chính là chứng ngộ Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa; p: nibbāna). Theo Tứ diệu đế, con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo (八正道; s: aṣṭāṅgika-mārga; p: aṭṭhāṅgika-magga;), tức là tu học Giới (戒; s: śīla; p: sīla), Ðịnh (定; s: samādhi, dhyāna; p: samādhi, jhāna) và Huệ (慧; Trí huệ; s: prajñā; p: paññā). Tư tưởng cơ bản của đức Phật đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lí hết sức phức tạp. Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng (三藏; s: tripiṭaka; p: tipiṭaka). Tăng-già (僧伽; s, p: saṅgha) của đạo Phật gồm có Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu; p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī; p: bhikkhunī) và giới Cư sĩ. |Sự phát triển đạo Phật có thể được chia làm bốn giai đoạn:|1. Giữa thế kỉ thứ 6 đến giữa thế kỉ thứ 5 (trước Công nguyên): Giai đoạn nguyên thuỷ, do đức Phật giáo hoá và các đệ tử của Ngài truyền bá.|2. Kể từ thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên: Giai đoạn bắt đầu phân hoá ra nhiều trường phái qua các lần Kết tập (hội nghị) về giáo pháp.|3. Kể từ thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên: Xuất hiện giáo phái Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna;) với hai tông phái quan trọng là Trung quán tông (中觀宗; s: mādhyamika) và Duy thức tông (唯識宗; s: vijñānavāda, yogācāra).|4. Kể từ thế kỉ thứ 7: Sự xuất hiện của Mật tông Phật giáo (Phật giáo Tây Tạng, Kim cương thừa).|Sau thế kỉ thứ 13, Phật giáo được xem là bị tiêu diệt tại Ấn Ðộ, là nơi sản sinh đạo Phật. Từ thế kỉ thứ 3, đạo Phật được truyền đi các nước khác ngoài Ấn Ðộ và mang nặng bản sắc của các nước đó. Ngày nay, phái Tiểu thừa (小乘; s: hīnayāna) với quan điểm của Thượng toạ bộ (上座部; s: sthaviravāda; p: theravāda) được truyền bá rộng rãi tại Tích Lan, Thái lan, Miến Ðiện, Campuchia. Ðại thừa được truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc. Giáo pháp Kim cương thừa – cũng được xếp vào Ðại thừa – phát triển mạnh tại Tây Tạng, Mông Cổ. Ngày nay, chưa ai có một con số tín đồ Phật giáo chính xác, người ta ước lượng có khoảng từ 150 đến 500 triệu người.|Phật giáo tại Miến Ðiện: Truyền thuyết cho rằng Miến Ðiện đã tiếp cận với đạo Phật trong thời vua A-dục (s: aśoka, thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên). Theo một thuyết khác, đạo Phật đã đến Miến Ðiện trong thời đức Phật còn tại thế, do hai thương nhân từ Ấn Ðộ mang tới. Những vị này mang theo cả tóc Phật, ngày nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun.|Kể từ thế kỉ thứ 5, Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của Thượng toạ bộ và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Kể từ thế kỉ thứ 7, hai phái Tiểu thừa và Ðại thừa cùng song hành tại Miến điện, sau đó Mật tông cũng bắt đầu có ảnh hưởng. Thế kỉ thứ 11, nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận Thượng toạ bộ và từ đó, Ðại thừa biến mất tại đây. Tại Miến Ðiện, Pagan ở miền Bắc trở thành trung tâm Phật giáo. Phật giáo Miến Ðiện liên hệ chặt chẽ với Phật giáo Tích Lan, nhất là với Ðại Tự (p: mahāvihāra). Thế kỉ thứ 15, vua Ðạt-ma Tất-đề (p: dhammaceti) lại xác định lần nữa rằng, Phật giáo Miến Ðiện mang nặng quan điểm của Thượng toạ bộ. Sự có mặt của người Anh trong thế kỉ thứ 19 làm xáo trộn Phật giáo Miến Ðiện đáng kể. Mãi đến lúc giành lại độc lập năm 1947, Miến Ðiện mới trở lại cơ chế cũ. Năm 1956 tại Rangun có một cuộc kết tập kinh điển quan trọng. Ngày nay, 85% dân Miến Ðiện là Phật tử, đạo Phật được xem là quốc giáo.|Phật giáo tại Tích Lan: Người ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan khoảng năm 250 trước Công nguyên, do Ma-hi-đà và Tăng-già Mật-đa (p: saṅghamitta), hai người con của A-dục vương (s: aśoka; p: asoka), truyền từ Ấn Ðộ. Nhà vua Tích Lan hồi đó là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) trở thành Phật tử và thành lập Ðại Tự (p: mahāvihāra) nổi tiếng, nơi đó ông trồng một nhánh cây Bồ-đề của nơi Phật thành đạo. Ðại Tự trở thành trung tâm của Thượng toạ bộ.|Theo thời gian, nhiều tông phái Phật giáo khác thành hình và gây nhiều tranh cãi, đến nỗi có khi nhà vua phải can thiệp. Ðó là những tranh luận ban đầu của Tiểu thừa và mầm mống của Ðại thừa, của cả Mật tông thời bấy giờ. Cuối cùng, Thượng toạ bộ thắng, trong đó Phật Âm (s: buddhaghoṣa) – một Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ – đóng vai trò quyết định. Tác phẩm của Phật Âm ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lên Phật giáo Tích Lan. Ðến thế kỉ thứ 12, vua Ba-lạc-la Ma-bà-ha-y (p: parakkambahu), họp hội nghị Phật giáo và ép tất cả các trường phái phải theo giáo lí của Thượng toạ bộ tại Ðại Tự.|Qua thế kỉ thứ 16 người Bồ-đào-nha vào Tích Lan và tìm cách du nhập đạo Thiên chúa. Ðến thế kỉ thứ 17, người Hoà-lan lại ủng hộ việc khôi phục đạo Phật tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Ðiện và Thái Lan cũng có ảnh hưởng đáng kể lên nền đạo Phật tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm 1948, đạo Phật luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngưỡng và nền văn hoá của xứ này.|Phật giáo tại Nam Dương: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập đến Nam Dương khoảng thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Cao tăng Pháp Hiển, vị tăng Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Ðộ, cũng là người đến Nam Dương năm 418. Cuối thế kỉ thứ 5 thì Phật giáo bắt đầu phát triển tại Nam Dương, đến thế kỉ thứ 7 thì Su-ma-tra và Ja-va trở thành hai trung tâm Phật giáo quan trọng. Tại đây, giáo lí Ðại thừa được truyền bá rộng rãi, có một số tư tưởng Tiểu thừa, có lẽ của Nhất thiết hữu bộ, được thừa nhận. Dưới thời vua Shai-len-dra, Phật giáo phát triển rực rỡ, đó là thời kì xây dựng tháp tại Bô-rô-bu-đua (borobudur), là Phật tích lớn nhất còn lưu tới ngày nay. Khoảng cuối thế kỉ thứ 8, Mật tông bắt đầu thịnh hành. Ðại thừa và Mật tông tồn tại mãi đến thế kỉ thứ 15, trong suốt thời gian này, Phật giáo Nam Dương liên hệ nhiều với Ấn Ðộ và với viện Na-lan-đà (s: nālandā). Với sự xâm nhập của Hồi giáo (e: islamism), Phật giáo bắt đầu tàn lụi tại Nam Dương, kể từ thế kỉ thứ 15. Ngày nay chỉ còn một số nhỏ tín đồ, nhất là trong giới người Hoa.|Phật giáo tại Campuchia: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập vào Campuchia trong thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, theo văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), theo trường phái Nhất thiết hữu bộ và đạt được đỉnh cao khoảng thế kỉ thứ 5, thứ 6. Năm 791 người ta tìm thấy gần đền Ðế Thiên Ðế Thích (Ăng-kor Wat) một văn bản chứng tỏ rằng, Ðại thừa đã có mặt nơi đây song song với việc thờ thần Thấp-bà (s: śiva). Sự hỗn hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc thờ cúng Bồ Tát Quán Thế Âm, mà Thấp-bà được xem là một hoá thân. Mọi nhà vua của Campuchia cũng đều được xem là hoá thân của Quán Thế Âm. Sau một thời gian thì yếu tố thần Thấp-bà hầu như bị mất đi, nhưng đến thế kỉ thứ 13, người ta lại tôn thờ thần Thấp-bà và tăng già Phật giáo bị bức hại. Theo các Cao tăng Trung Quốc thì trong thời gian này, Thượng toạ bộ được phát triển trong lúc Ðại thừa bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pā-li ghi năm 1309 chứng minh rằng, Thượng toạ bộ được hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối thế kỉ thứ 19, Phật giáo truyền từ Thái Lan mới bắt đầu có ảnh hưởng.|Phật giáo tại Thái Lan: Người ta biết rất ít việc đạo Phật được truyền bá đến Thái Lan. Kết quả khảo cổ cho thấy Phật giáo đến Thái Lan khoảng thế kỉ thứ 6 từ Miến Ðiện. Ban đầu giáo lí Tiểu thừa có ảnh hưởng rộng rãi. Khoảng giữa thế kỉ thứ 8 và 13, Ðại thừa được truyền bá rộng hơn. Giữa thế kỉ 11 và 14, ảnh hưởng của Ấn Ðộ giáo bắt đầu phát triển. Trong thế kỉ 13, hoàng gia Thái Lan chính thức công nhận Thượng toạ bộ và mối liên hệ với Tích Lan trong thời kì này càng làm cho bộ này phát triển thêm rộng rãi. Năm 1782, nhà vua triệu tâp một đại hội nhằm kiểm điểm lại Tam tạng kinh điển. Trong thế kỉ thứ 19, nhà vua Ma-ha Mông-cút (mongkut) lên ngôi, bản thân ông cũng là một tăng sĩ, ông là người đặt nền tảng cho nền Phật giáo cận đại. Ông thành lập Pháp tông (dhammayut), cơ sở dựa vào Luật tạng và ngày nay có nhiều tín đồ nhất tại Thái Lan. Vua Chu-la-lang-korn – trị nước từ 1868 đến 1910 – cho xuất bản các tạng kinh quan trọng của đạo Phật, có thể gọi là đầy đủ nhất từ xưa đến nay. Ngày nay, 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật.|Phật giáo tại Hàn Quốc: Từ Trung Quốc, Phật giáo lan qua Hàn quốc trong thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất là giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 9. Trong thời kì này, các trường phái quan trọng của Trung Quốc đều được thành lập tại Hàn Quốc như Thiền tông, Hoa nghiêm tông, Mật tông (Chân ngôn tông). Bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) cũng được truyền bá rộng rãi rất sớm tại Hàn Quốc. Người ta cũng tìm thấy nhiều tác phẩm văn hoá mang đặc tính Phật giáo tại đây. Suốt thời nhà Lí (yi, 1392-1910), nền văn hoá Khổng giáo trở thành quốc đạo và tăng ni Phật giáo bị ép buộc phải vào núi tu hành. Sau năm 1945, Phật giáo được phục hưng và phát sinh một phong trào mới gọi là Viên Phật giáo (e: won-buddhism). Ngày nay, tại Hàn Quốc người ta ít phân biệt các tông phái đạo Phật và thực hành song song với nhau thiền quán, niệm Phật A-di-đà và tụng kinh. Phép niệm thần chú cũng được truyền bá rộng rãi, vốn có nguồn gốc từ Mật tông của thời trung cổ. Trong giới trí thức, Thiền tông được nhiều người theo, trong lúc giới dân giã lấy niệm danh hiệu các đức Phật làm chủ yếu. Trộn lẫn với đạo Phật là hình thức thờ đa thần như thần núi, linh vật, thần tinh tú.
phật giáo
2658梵名 Buddha-śāsana 或 Buddhānuśāsana,巴利名 Buddha-sāsana。創始於釋迦牟尼,以合乎理智之教說,示導人類轉迷開悟;其目的在於實現淨化社會之理想,以超越階級、種族為特色。普遍盛行於亞洲南、中及東部。 (一)名稱:近世以降,凡教義、教團、實踐方面,皆以佛教通稱,此語散見於漢譯佛典與中、日典籍。古時以教法為中心者,自稱佛法、大法、聖教、釋教、大教、佛道;以教團為中心者,自稱或他稱為釋氏,他稱為釋家、浮屠氏。其後以教法為中心者又有佛道(梵 Buddha-Mārga)、佛法(梵 Buddha-dharma)、正法(梵 Sad-dharma),或如來之教說(梵 Tathāgata-śāsana)、世尊之教說(梵 Bhagavatas-śāsana)、勝者之教說(梵 Jinasya-śāsana)等稱。又以經典中常記載佛陀具有「十力」,故又稱佛教為「十力教」。此外,以教團為中心,則出現佛教徒(梵 Bauddha)之語。 (二)沿革:西元前五世紀左右,古印度迦毘羅衛國(位於今尼泊爾南部提羅拉科特附近)王子悉達多喬答摩(梵 Siddhārtha Gautama)於印度恆河中游流域宣揚苦、無常、無我、緣起、解脫等教法,並強調無論任何階級均可信奉其教說。釋尊入滅後,其遺法由弟子加以結集而傳持,然百年後,傳持者之間興起若干意見之爭論。西元前三世紀,阿育王皈依佛教,不遺餘力地將佛教傳播至全印與其鄰國,而發展為世界性宗教,形成各具民族特色之教派。其後三百年間,印度、錫蘭興起說一切有部、大眾部、犢子部、錫蘭上座部等部派佛教與大乘佛教,均一一傳來西域、我國。 此後六百年間(西元一世紀至七世紀),大乘佛教急遽發展,教化地區亦隨之擴張,如部派佛教在印度分出經量部等,大乘則分中觀、瑜伽二大學派,且普及緬甸、泰國、柬埔寨(今高棉)、蘇門答臘、爪哇、尼泊爾、西藏地區、越南、韓國、日本等地。在我國方面,部派系之毘曇宗、俱舍宗,其旁系之成實宗,中觀系之三論宗,瑜伽系之地論宗、攝論宗與法相宗等「論宗」;與涅槃、華嚴、天台、淨土等「經宗」,以及大乘別派禪宗之繁興。日本所謂之「南都六宗」,即直接傳自我國之宗派。 此後至十三世紀為止約六百年間,印度密教由成立而興盛,其間由寂護、蓮華生、阿提沙等相繼傳入西藏,而分為寧瑪派(藏 Rñin-ma-pa)、甘丹派(藏 Bkaḥ-gdam-pa)、迦爾居派(藏 Bkaḥ-brgyud-pa)、薩迦派(藏 Sa-kya-pa)等,並及於蒙古。在我國,密教亦曾興盛一時,其勢壯大,而能與禪宗、淨土宗相媲美。日本除天台、真言之平安二宗外,淨土、禪、日蓮等鎌倉諸宗亦應運勃興。至此,佛教發展為亞洲地區之最大宗教。然十四世紀以後,由於西方傳來伊斯蘭教(回教),情勢丕變。 自十一、二世紀開始,由於印度佛教發展為左道密教、印度教之逐漸復興,及回教侵入印度,而使佛教消滅殆盡,僅孟加拉一帶,仍保有些許佛教存在。此係由於脫胎自佛教之法格崇拜(梵 Dharma-thāhur-pūjā)於十二世紀發祥該地之故。 印度之回教傳經馬來半島,於十五世紀覆亡爪哇之佛教,並北至婆羅洲,消蝕南洋之佛教圈。另一方面,由伊朗入西域之回教別支則波及我國西部。由於這兩支東西夾擊之回教勢力,致使亞洲中、南部之佛教被三分,僅殘留錫蘭、緬甸、泰國、柬埔寨等地尚能連結成一教圈,而由錫蘭上座部統一。尼泊爾、不丹、西藏則在其前以金剛乘為核心,形成喇嘛教圈。十五世紀初,因迦爾居派興起,逐漸擴張勢力,致使蒙古、西伯利亞、我國西北部亦形成一喇嘛教圈。唯獨亞洲東部未受回教影響,我國、越南、韓國等地盛行禪宗與淨土宗,日本則維持平安、鎌倉時代之佛教。 十九世紀,歐洲興起研究亞洲(東方學及印度學)之風氣,佛教方漸復甦,自研究而入信者亦甚可觀。至今,佛教與基督教、回教並稱為世界三大宗教。 就佛教整體發展之路線與範圍而言,傳入我國大部地區與日本、韓國、越南者,以大乘佛教為主,稱為北傳佛教,其經典屬漢文系統;而傳入我國西藏、蒙古與西伯利亞等地區者,為北傳佛教中之西藏佛教,俗稱喇嘛教,其經典屬藏文系統;傳入錫蘭(今斯里蘭卡)、緬甸、泰國、寮國等地區者,以上座部佛教為主,稱為南傳佛教,其經典屬巴利文系統。 (三)教義:佛教經二千五百年之傳播與發展,其間歧生許多學派與宗派,故在教義方面亦呈現多樣性與複雜分歧之傾向。大體而言,須彌山、地獄、天界、劫末等有關世界構成、起滅等說,係繼承佛教以前之印度思想。業、苦、輪迴、解脫等說,則為古來印度思想之擴充。作為佛教與他教區別標準之三法印「無常、無我、涅槃」,或加「苦」等四法印,則是佛教之根本教義。同時,佛、法、僧三寶乃為佛教不可或缺之要素,其中,「佛」為歷史上開創佛教之教主釋尊,由於釋尊之涅槃,產生有關佛身之論議,形成生身、法身等二身,及法身、報身、應身等三身之論說,或毘婆尸等過去佛,彌勒等未來佛,阿閦、阿彌陀等他方世界現在佛之說。或在釋尊之前生,以佛為前提,出現菩薩及弟子位之聲聞等說。 就「法」而言,釋尊舉出四諦、十二緣起、八聖道為教法之根本,由「緣起說」再發展為二世一重、三世兩重、六因四緣五果。大乘有實相緣起、賴耶緣起、真如緣起、法界緣起、六大緣起等;反之,四諦說無甚發展,八聖道說則全無發展。就認識而言,一方面從空有二觀、中道說,進而檢討心理,遂產生五根、五位、七十五法或百法之說;另一方面,論理形式之研究促成因明之發達。我國、日本諸宗派各依其所依之經論,造成大小乘、權實二教、頓漸二教、聖道淨土二門、顯密二教等,並創立各種教判,各自宣揚自宗教義;或與帝王、儒家、道教、神道等接觸,而發生論諍或融合之情形。 至於記述教法之文獻,其形式自古即有九分教、十二部經等分類,然於最初係依憑記憶傳承教法,待一世紀頃始有典籍型態,亦漸產生經、律、論三藏之分類。大乘佛教自始即勸說抄經之功德,故佛典漸次增加。以漢文佛典而言,除歷代各版大藏經之外,並包括多數藏外佛典之著作。其他另有巴利三藏、梵文佛典,及西藏文、蒙古語、滿洲語、日文等各種語系之大藏經。 (四)教團:僧伽即教團。釋尊在世時,出家教團形成男女別團,依居住地之別,組織數人至數十人為一團。此等教團除須布薩、安居、自恣等行事外,並有出家、受戒等儀式。會議方法採用羯磨、投票等。進而規定教團之生活規範者,即為戒律。 釋尊入滅後,漸形成以出家教團為中心之風氣,大乘佛教雖加排斥,然亦無法扭轉趨勢,遂成為以寺院為中心之佛教;另一方面則有居士佛教運動之興起,而成為大乘佛教勃興的原因之一。我國方面,宗派因人而異,故寺院宗派較少,日本則自平安朝以後,寺院宗派色彩濃厚,西藏等地之喇嘛教以教團為代表,同時並掌有政權。 (五)實踐:戒、定、慧三學為佛教實踐之要道,八聖道、六度等為其進一步之闡論,此為佛教徒所應具備者。然在我國、日本,各宗派所側重者各自不同,如律宗尊戒,禪宗尊定,華嚴、法相等諸宗尊慧。此外,密教之三密相應、淨土宗之念佛、日本日蓮宗之三祕等,可視為定(觀法)之另一型態。 (六)文化:佛教除豐富了其傳播地區之思想文化內容外,並將歷史、歷史學賦予向來缺乏歷史觀念之印度。而印度之天文、曆法、音韻、音樂、醫術等均以佛教為媒介傳來我國。美術方面,佛教獨特之雕刻、繪畫、建築等,帶給世界各地深遠之影響自不待言。 (七)現況:現今各國佛教大多一改昔時山林自度之風,轉而趨向人生佛教之弘揚,積極從事文化、教育、慈善等事業,使信眾易於親近佛教。此外又著重國際間之聯繫,如設立國際佛教學術會議、世界佛教徒友誼會、世界佛教青年會等,結合國際間僧俗、專家學者等之力量,或舉行聯誼活動,或發表論文,以促進世界各地佛教之融合。(參閱「佛教教理」2688)
; Buddhāgama (S), Buddhasāsanaṁ (P), Buddhasāsana (P), Buddha-śāsana (S), Bukkyō (J)Giáo pháp của Phật.
; Buddhàgama (S). Buddha's teaching; Buddhism.
phật giáo bác vật quán
2693印度自古以來,即有在佛教寺院中保存佛像、壁畫等之習慣,以為輔助修道之用。若就客觀而言,亦具有如同公共美術館保存藝術珍品、教育民眾等之任務。在中國、日本,信徒常將其珍玩遺品布施予寺院。寺院之珍藏,除佛教文物外,間有收藏一般工藝品者。此類寶物收藏館,於國際間,以日本東大寺之正倉院較著名。一般寺院亦附設有收藏庫,興起收藏儀式用具及寶物記錄等物之風氣;至其曝曬晾乾之際,則為收藏物被公開觀賞之最佳時機,後遂逐漸成為常設而公開之設施。我國佛教界近年來於寺院中設置寶物館者漸多,其中以高雄佛光山所設之「佛教文物陳列館」最為蜚聲中外。此外,一般公私立博物館、美術館亦為佛教美術鑑賞之所。
phật giáo bách khoa toàn thư
2676(Encyclopedia of Buddhism)錫蘭政府出版之英文佛教百科全書。第一冊出版於一九六一年。主編原為錫蘭佛教界名人馬拉拉西克拉博士(Dr.G.P. Malalasekera)。馬氏去世後,該書仍繼續出版。 出版當局網羅二十世紀世界之著名學者為該書撰稿。其中包含我國學者法尊、呂澂、周叔迦、李證剛、高觀如、黃懺華等人。
phật giáo bích hoạch
2701古印度多以壁畫莊嚴佛堂,亦有招畫工於門側、講堂、食堂、浴室等作諸彩畫,內容多與佛教有關,如描繪神通變、五趣生死輪、本生故事、地獄變等。現從北印度古代佛教寺院殘存之雕像、建築物、遺址中,發現部分壁畫之薄彩痕跡,可依毘奈耶雜事卷一、卷十七、摩訶僧祇律卷三十三、洛陽伽藍記卷五、大唐西域記卷一、卷二等之記載推定之。如位於孟買東方之阿旃多,當地溪谷所設之石窟寺院,其內部即有壁畫。至於較古老之壁畫,大部分於西元四至十一世紀間完成,木造寺院多於壁上塗白泥,直接彩畫;石窟之畫稍異,乃於側壁、天花板、梁柱等處薄施漆灰而描繪者,歷經千年,其色彩依然鮮麗,然剝落部分亦多。 我國壁畫,最早可考者為漢代,其時佛教傳入,塑像及壁畫隨之茁壯蓬勃。大致南方以寺廟壁畫發展為主,北方則多石窟造像。著名之佛教藝術勝地,除敦煌千佛洞因山壁無法鑿刻而為泥塑及壁畫外,北方之雲岡、龍門、麥積山、天龍山、鞏縣石窟寺皆先後開鑿。南方佛畫之先導,如晉代戴逵、戴顒父子增損塑像,使其具有我國藝術之比例尺度,達到光顏圓滿之境界。顧愷之畫維摩詰像,光照一室,成為千古楷模。現我國內地所存之古壁畫已不多,唯甘肅敦煌之南、鳴沙山莫高窟遺存不少六朝以後之壁畫。 我國人物衣紋之「骨法」,南北朝時有「張家樣」、「曹家樣」,唐代有「吳家樣」、「周家樣」之說法,說明了人物畫於佛畫表現中各種類型之演變。梁朝張僧繇筆跡周密完美,暈染成「沒骨法」,即是受佛畫影響而發展成者,初唐之閻立德、閻立本兄弟即承襲此類衣紋之染法。印度在四世紀初建立笈多王朝,雕刻人像,衣服緊貼全身而顯露曲線,北齊之曹仲達乃倣照其型式而創出新風格,後人稱為「曹衣出水」。唐代開元年間,出現百代畫聖吳道子,由於筆法強勁,氣勢壯闊,以筆奮掃,衣裾飛舞飄動,世人美稱為「吳帶當風」。 藝術之發展,以經濟為基礎,以社會之喜憎為對象,寺院中常舉行「俗講」、「道場」,吸引無數群眾。以佛經為內容之經變、曼陀羅、尊像、頂相等,皆為壁畫之題材,寺廟成為繪畫之競技場。洛陽敬愛寺、成都大聖慈寺、鎮江甘露寺皆為名家壁畫薈萃之所。以成都大聖寺為例,九十六個院落,壁畫有八千五百二十四間,佛、菩薩、羅漢、天王神將等數以萬計。其中包括盧楞伽、張南本、孫知微等之作品。此已是會昌法難以後之殘況,最盛時之狀況可想而知。 五代十國時,寺廟壁畫未衰,從五代迄宋,壁畫受繪畫發展之影響,佛教之內容漸形衰退。如唐宋二代均奉道教,釋道之畫並行於世。而殿庭壁室花卉走獸,四時風景之普遍,多少使壁畫內容發生變動。遼、金、元寺觀壁畫尚保存者,有大同華嚴寺、稷山青龍寺、興化寺、洪趙廣勝寺、水神廟、芮城永樂寺等。明清以降,士大夫作品見於寺壁者如鳳毛麟角,匠人繪畫一則投世俗之所好,二則沿用民間傳說,除釋迦、觀音、羅漢、藥王外,另有關羽、張飛、西遊記、封神榜、施公案等小說中之故事角色之塑畫。臺灣各處廟宇大都代表此種以民俗為主之風格,不易再看到早年整壁之經變,或整堵神佛畫像懾人心魄、氣象萬千之景象。 日本早於白鳳時代即有壁畫之作。其特有之「障壁畫」係於隔扇、拉窗、屏風(皆作為隔間之用)上所描之繪畫總稱。〔J. Burgess: The Cave Temples of India, 1880;J. Griffiths: The Paintings of the Buddhist Cave Temples of Ajanta, 2 vols., 1896~1900;R.S. Wauchope: Buddhist Cave Temples of India; L. Warner: Buddhist Wall-Paintings, 1932;E. Chavannes: Mission Archⅰologique dans la Chine Septentrionale, Tome 5,1909~1915〕
phật giáo các tông cương yếu
2675凡十二卷,共五冊。日本佛教各宗協會編。本書乃敘述日本佛教十二宗之史傳及其宗義大綱。各宗史傳下皆列有歷史、紀傳二段,宗義大綱則分成正依經典、宗名、判釋、宗意四段。又第一冊卷頭揭有序、凡例、總論(佛教源流略史、教主釋尊略傳、佛教大意),第五冊末附默雷之跋。在日本,與本書同類之著作有英譯十二宗綱要,南條文雄譯,刊行甚廣。另有明治諸宗綱要(吉谷覺壽著)、通俗十七宗綱要(伊東洋二郎著)、通俗佛教各宗綱要(來馬琢道編)各一卷等。
phật giáo cải cách
2676(一)印度佛教:最初之改革始自佛滅度後百年頃,毘舍離(梵 Vaiśālī)跋耆族(梵 Vajji)之比丘對律的解釋立十事之新說。為裁決新說是否得當,七百比丘乃群集於毘舍離,決定其十事為非法。以此一機緣,革新派之勢力進行結集,教團遂分裂為革新之大眾部與保守之上座部。後復繼續改革,演為大乘佛教之成立。部派佛教時代,與比丘教團同時存在者乃以佛塔為中心之菩薩團,菩薩團結合進步之比丘,於西元前後發展為大乘佛教教團。大乘佛教教團並無出家與在家之別,編集新經典,堅信一切眾生皆可成佛,如此行動的大乘佛教之成立,造成印度佛教史上空前之改革。 (二)中國佛教:由於政治上之因素、僧團腐敗,或受道教、儒家之壓力,經常發生廢佛、破佛事件,然因佛教教團內部自動改革運動之興起,故不致消滅。民國肇建之後,佛教曾受大規模的破壞運動,當時幸賴太虛、常惺、大醒等人從事革新僧制之建設,佛法命脈遂得以復甦延續。彼等效法三民主義之準則,高唱「佛僧、佛化、佛國」之三佛主義。「佛僧主義」旨在促進僧團之改革;「佛化主義」則力求全國僧俗一體化,以謀求社會佛教化;「佛國主義」則是促使中國成為遍滿菩薩行之淨土。與此同時進行者,有圓瑛等人推行保守、漸進主義之改革運動。一時之間,佛教由久衰之頹勢而漸趨復興之路。 (三)西藏佛教:宗喀巴(藏 Tsoṅ-kha-pa, 1355~1417)得到戒律之傳承以後,開立黃帽派,重整教學內容,革新教團組織,強調嚴守戒律,一掃喇嘛教長時期墮落於咒術、畜妻、酗酒、爭權斂財之陋習,西藏佛教氣象為之一新,是亦佛教改革運動之盛事。 (四)日本佛教:於鎌倉時代,親鸞興起淨土真宗,道元開創曹洞宗,日蓮開創日蓮宗,此三事可謂日本佛教最大之改革。以上三師均曾於比叡山學習舊佛教教義,以為天台、真言、三論、法相等宗遠離大眾,為免陷於抽象、學問化之佛教,故高倡念佛、只管打坐、唱念經題等法門,作為庶民信仰之入門,遂開啟佛教發展之新紀元。
phật giáo cố sự tập
Xem Bồ tát mãn sanh man luận.
phật giáo di tích
2710各佛教國家內,與佛、菩薩及歷代高僧大德有關之處所及建築物,其遺存今世,足供後人瞻仰憑弔者,稱為佛教遺蹟。 (一)印度:古印度阿育王於佛陀降誕、成道、初轉法輪、涅槃等地築塔,後又加上佛陀說法處祇樹給孤獨園、曲女城、王舍域、廣嚴城等四處之塔,合稱八大靈塔。見於法顯、玄奘之記載。 (二)中國:高僧之遺蹟有慧遠之廬山、菩提達摩之少室山、曇鸞之玄中寺、智顗之天台山、慧能之曹溪南華寺;菩薩顯現之遺蹟有文殊之五臺山、觀音之普陀山、普賢之峨眉山、地藏之九華山等。 (三)日本:有聖德太子之法隆寺、最澄之比叡山等遺蹟多處,中世以後,空海之四國八十八所、法然之二十五靈場、親鸞之二十四輩等處,亦列為重要遺蹟。〔Vincent Smith: Asoka, the Buddhist Emperor, 1901; Sir Alexander Cunningham:The Bhilsa Topes, 1854; J. Hackin: Nouvelles Recherches Archⅰologiques ③ Bāmiyān, 1933〕
phật giáo giáo chế
2679教制一詞含義極廣,廣義言之,舉凡有關教團組織、教團行事、團體法規、經濟制度、道德準則、戒條儀式等事宜均屬之;狹義而言,則指僧團制度與教條儀制中之有成規者,此亦為一般所習稱之教制。 佛教教團制度之建立,其原意乃是要建設理想之模範社會,以期將人類自生存之欲望與絕望中解脫出來。而此理想社會之實現,即為佛陀獻身傳道,組織教團,制戒設律,由此具有組織之修道僧團,來推動完成解脫生活之理想。其制戒設律之根本精神,從四分律、五分律、十誦律、摩訶僧祇律、根本說一切有部毘奈耶等五大部律之卷一,均載有設立教制之十義(稱為十句義)。如四分律卷一所載:(一)攝取於僧,使僧團成為傳布佛教、吸收出家成員之單位。(二)令僧歡喜,每吸收一新成員,於其個人為生命新生之慶喜,於僧團則為增加團體力量之慶喜。(三)令僧安樂,僧團之和合互助可令大眾安住身心。(四)未信者信,俾使缺乏信心及未信者起信。(五)已信增長,使已信者增長其信心、信仰。(六)難調者調,此因所吸收成員之品類、習性各異,故須有適當之準則,以處置違犯僧團生活者。(七)慚愧者安,使自知慚愧、覺悟者之修習不受干擾,得以安住潛修。(八)斷現有漏,為證得寂滅涅槃,故須精進修道以斷除現行煩惱。(九)斷當來有漏,為證得無餘涅槃,故須永斷煩惱,不再受生死輪迴之苦。(十)令正法久住,為使佛陀之教法長住世間。 由上可知,十句義之用意,係基於僧團成員之信心鞏固、安住身心辦道,以及令正法久住而建立之僧團之組織制度。蓋佛陀所制定之戒律,皆著重於個人生活上之自我約束,屬個人淨化身心所應嚴守之法則,若從整體之教團教制而言,根本佛教之教團組織與統制,則具有幾項基本特徵: (一)反對階級,提倡人我平等制度:印度傳統之婆羅門教向來重視階級劃分,將人類分為貴、賤、優、劣之別,即所謂之婆羅門、剎帝利、吠舍、首陀羅等四階級。而在佛陀所設立之教團中,乃反對社會階級之劃分,完全以人格之尊重而組成,故凡進入僧團之每一成員皆須捨棄過去之階級、財富、名譽、地位,僅有內修果證的階段境界之差別,而無外在身分階級之劃分,以長幼有序、互敬互愛為僧團秩序之基礎。 (二)中心領導分層教育制度:佛陀住世時,以佛陀所制定之戒律及所說之教法為領導中心,次由有德比丘負起教授比丘、比丘尼之責任,並於每一僧伽藍推選出長老教授師,負責照顧住處僧伽,且隨時呈報佛陀有關住處僧侶們所發生之情事。 (三)托鉢行乞、和合共住制度:佛陀初成道度化五比丘時,即訂下四依住,即:(1)依乞食,(2)依糞掃衣,(3)依樹下住,(4)依陳棄藥等四項理想生活之基本原則,並別立八不淨物,誡告比丘不得持受田宅園林、種植、儲積穀物、蓄養奴僕、蓄養禽獸、蓄錢寶貴物、蓄毯褥釜鑊、蓄象金飾床等八種障道之不淨物。其後,由於僧團之不斷擴展、雨季之困擾,及慈悲垂顧信眾之故,時或受衣、受請,或進而受施田園、房舍等,遂使僧團生活形式有所改變。由是,無論雨季之結夏安居,或平時之和合共處,皆形成生活上之共住制度。在共住規制上,僧侶除個人使用之衣鉢等物外,其他物品、用具、床具,乃至房舍、園林等,均屬僧團共有,不得佔為私有。對僧團器物之維護,則有工作上之分配;於每一住處僧團中,推選一位有德之長老,領導僧侶之生活作息,及擔任平時之教誡,並轉達佛陀僧事之發生。然此等生活型態之演變,對整體僧團而言,仍維繫於托鉢制度之原則。 (四)集合布薩說戒制度:此為佛陀採行印度當時之外道沙門或婆羅門於每月八日、十四(十五)日共集一處和合布薩說戒之制度,期使散布於各處之僧侶能定期集會,以達互磋互勉之修道生活。此種定於新月、滿月之和合布薩,源於印度傳統之家庭祭禮「新滿月祭」,原係藉祭禮與天神溝通,以祈求家內繁榮之定期祭典。而一般修道沙門即藉此普遍於一般家庭之重要時日,定為僧團和合集會之日。 (五)僧伽羯磨會議制度:羯磨制度乃僧侶「僧事共決」之最高行政中心,主要目的係增進僧伽之和合。於每月十五日定期開會行羯磨,凡有平日違犯戒律者,即於此時針對其所犯之情事加以審議、判決、處置。依羯磨之類別,可分兩種:(1)諍事羯磨,(2)非諍事羯磨。諍事,係指僧侶間發生諍論之事,及發生破壞僧伽和合之情事。凡此,皆屬是非問題之裁判案件。非諍事,係關於僧侶之日常生活,及一般行事是否合法之處理指導,或新僧侶加入團體之裁決許可等種種生活上之議決案件。依羯磨之性質,亦可分為兩種:(1)治罪羯磨,(2)成善羯磨。治罪羯磨有苦切羯磨、依止羯磨、驅出羯磨、下意羯磨、擯羯磨等苦惱羯磨。成善羯磨有受戒羯磨、布薩羯磨、自恣羯磨、出罪羯磨、布草羯磨等成善法之羯磨。僧團之羯磨法可促進僧團社會組織之嚴密化,並能統攝僧侶彼此之和合互益,而令僧團成為共同遵守規律、推動愛語、利行、布施、同事之理想道德社會。 (六)僧伽與信眾不共住制度:教團之成員分為比丘、比丘尼、沙彌、沙彌尼、式叉摩那等出家五眾,和優婆塞、優婆夷等在家二眾。在家信眾完全立於護持僧團、供養僧侶各種生活資具之立場,僧侶對信眾則負有開示佛法之責任。信眾不住於僧伽藍內,亦不必遵守僧侶之生活規制,若信眾有對僧侶辱冒不敬之行為,僧侶一律採取寬容原諒態度,不得與信眾有諍。 迨至佛教傳至中國,「三衣一鉢,遊行乞食,樹下一宿」之教制,於我國國情、民俗均未能相應。中國人重視農耕,無法容許乞化生活之存在,而嚴寒之氣候更不適於四處遊化、路邊一宿之生活,故佛教在中國逐漸形成定居式之僧團制,並為使佛教能適存於我國,遂有叢林制與僧官制之產生。 從佛教傳入中國至東晉初,當時之出家人僅依循經西域傳譯來之部分經律,過著離開家庭、完全禁慾之出家人生活,並無一套完整之制度可循,而我國最早制定僧團生活規範者,首推東晉之道安。據梁高僧傳卷五道安傳所載,在道安領導下之僧團,制定之僧尼軌範大概可分作三項:(一)行香、定座、上經、上講之法。(二)常日六時行道、飲食唱食法。(三)布薩、差使、悔過去。然此一軌範,僅屬我國僧制之雛型,仍不足顯現出中國佛教叢林制度之特色。直至唐代馬祖道一確立叢林制度,及其弟子百丈懷海制訂清規後,中國之叢林寺院制度才逐漸形成具體完備之規制。 懷海受馬祖道一印可後,於江西百丈山大智壽聖禪寺舉揚禪風,又糅合大小乘律,制定禪門儀規,後世稱為「百丈古清規」,可謂懷海禪師對中國佛教最大之貢獻。然百丈古清規之原本於唐宋之間即散佚不存,雖有元代之東陽德輝奉敕重編「敕修百丈清規」,惟規約內容已不復原本之面貌。後世欲窺知古清規之體制大要者,則必賴於宋代官吏楊億之「古清規序」及宋代僧宗賾所編「禪苑清規」之記載。自古清規序中,可了解古清規之創立旨意、古清規中作為僧團管理基礎之長老制度觀念與組織、注重勞動生產之農禪生活,乃至僧侶服制自印度式改為中國化之唐朝衣冠等。 禪苑清規為繼百丈之古清規後,最能明顯看出百丈清規組織發展之著作,亦為我國現存各類清規著作中最古者,該書又稱「崇寧清規」,於書中之卷八,在人事制度上,對叢林執事之名稱已有明顯稱呼。清規文云(卍續一一一‧四五九下):「叢林之設,要之本為眾僧,是以開示眾僧,故有長老;表儀眾僧,故有首座;荷負眾僧,故有監院;調和眾僧,故有維那;供養眾僧,故有典座;為眾僧作務,故有直歲;為眾僧出納,故有庫頭;為眾僧主典翰墨,故有書狀;為眾僧守護聖教,故有藏主;為眾僧迎待檀越,故有知客;為眾僧召請,故有侍者;為眾僧看守衣鉢,故有寮主;為眾僧供侍湯藥,故有堂主;為眾僧洗濯,故有浴主、水頭;為眾僧禦寒,故有炭頭、爐頭;為眾僧乞丐,故有街坊化主;為眾僧執勞,故有園頭、磨頭、莊主;為眾僧滌除,故有淨頭;為眾僧給侍,故有淨人。」 又中國叢林之制度,代代相承,大抵皆以百丈清規為張本,而在後世寺院之發展上,除以人事執位之安排為寺院之基本組織外,又有傳法上之別異叢林制。如叢林分有「子孫叢林」和「十方叢林」兩種,十方叢林又依住持繼承制度之不同,而有「選賢叢林制」和「傳法叢林制」之別。 故若就僧團生活在中國之型態而言,可謂寺院不僅成為僧團之固定生活住所,另一方面寺院在住持之領導下,全寺採取分工合作之方式,人人各司其職,彼此照顧,在兩序之人事組織下,執務有文有武,有內務有外務,有執綱紀有執眾勞,有任教育有任幕僚,領執者完全立於為眾僧服務之立場,來共同維護僧團之和合共住。 關於僧官制度,於印度僧團中原有執掌敲鳴犍稚,監督進食等事之上座,稱為「維那」,此外別無職官之稱。至佛法東傳後,佛教既受當權者之保護,然亦被置於歷代執政者之管制下。姚秦弘始年間,姚興以僧荜為「僧正」,同時代之北魏亦以法果為「沙門統」,太和十七年(493)更制定四十七條僧制,此即僧官制度之濫觴。其後歷代所設僧官之職雖各有增減異同,然大抵以沙汰僧眾、試經得度、禁止私設寺院、編製僧籍等政策,為匡正僧眾紀律或壓抑僧團勢力之措施。 上記叢林制與僧官制,為我國佛教之兩大教制,一為一寺一院各自之組織,一為全國性之佛教組織。然此全國性之佛教組織係於執政者之管制下所組成,而非由僧侶自行組織統制。自清末民國以來,僧團在臺灣之發展,除承襲中國內陸之叢林清規制外,在僧團之統制上漸形成二個層面:一為統攝全臺僧團之中心行政機構「中國佛教會」,二為各自獨立發展之寺庵僧團。在僧團之活動型態上 ,亦分為二種:一為側重靜修之保守派,二為側重社會弘法之革新派。尤以革新派在僧團制度之運作上更具突破性,其制度之革新與佛教理想之落實,更為復興佛教之帶動者,而為現今臺灣各地之僧團所效仿。 以臺灣佛教之發展而言,大致可分為三時期:(一)為佛教傳入之初期,此階段屬保守期,參雜民間信仰與儒家思想。(二)為日據時期,為臺灣佛教全盤日化之時期。(三)光復以後,為臺灣佛教之復興期,此階段之一大特色為:內陸高僧大德來臺弘法、傳入叢林制度,並對佛教進行改革。 明清時代臺灣佛教之信仰,大多由閩籍地方信士播遷來臺,在實踐上較注重個人之修持,罕見其他僧團之活動。至馬關條約之後,日人據臺,臺灣佛教受日本推行皇民化運動之影響,於民國十年(1921),由負責調查臺灣宗教信仰之丸井圭次郎,集合基隆月眉山靈泉禪寺善慧、臺北觀音山凌雲禪寺本圓等人,討論全臺佛教教友之團結事宜,於民國十一年四月四日,正式成立名為「南瀛佛教會」之全臺性組織。在皇民化運動及南瀛佛教會之管制下,使臺灣佛教寺院之設備、僧侶服飾,及一切儀式、法式等,均呈現日本化。 迨至民國三十四年臺灣光復後,佛教始漸革除其日本色彩,民國三十六年南瀛佛教會亦更名為「臺灣省佛教分會」,納入中國佛教會之下,並於當年訂立傳戒規則、僧尼剃度規則、寺庵住持規則等有關僧伽之制度,以作為對臺灣僧團之整頓規範。未久由於大陸淪陷,內陸僧侶相繼來臺,並將內陸之佛教戒律生活傳播至臺灣,使本省各地寺院均受其影響。民國四十一年中國佛教總會改選,正式成立全省十九縣市支會,重建中國佛教僧侶制度與戒法。是年,即由白聖法師於臺南縣白河鎮關仔嶺大仙寺傳授第一次傳戒大會,當時接受出家戒法之弟子即有五百人以上,此一以戒法重建僧侶制度之措施,可謂係當代臺灣佛教正式重建之一大關鍵。 歷來中國寺院制度,皆以百丈清規作為僧團共住共修之規範;而今日佛教之發展,若欲因應時代性之需要、積極之社會弘化理想,則勢必亟將佛教教制與僧團之領導更進一步加以組織化、生活化、實用化與大眾化,而以實踐理想之人間社會為建設目標。(參閱「禪林職位」6466、「叢林」6553)
phật giáo giáo kì
2688西元一九五二年,世界佛教徒友誼會第二次大會在日本舉行,美籍奧爾高特(Colonel Henry Stell Olcott)根據佛陀成道時聖體放出之六種色光,設計一面六色旗,作為世界佛教教旗,由錫蘭代表提出通過。六色為藍、黃、紅、白、橙及前五色之混合色。其構圖,縱橫均為藍、黃、紅、白、橙等色,此等諸色係象徵全世界各種人種之顏色。其中,橫者表示普遍全世界人類之和睦相處,縱者表示世界之和平,直至永遠。又就佛教立場而言,教旗之顏色,亦象徵佛陀莊嚴法相和聖教之意義。藍色象徵佛教慈悲和平之主旨,黃色表示中道了義,即離於空有、究竟徹底之義,紅色表示成就福慧、莊嚴吉祥,白色表示清淨解脫、法爾如是,橙色表示佛法之本質乃智慧、堅固而莊嚴的,五色之混合色表示真如不二之義。要言之,佛教教旗有「不分種族、國籍,不分畛域、膚色,一切眾生皆有佛性,是心是佛,是心作佛」之含意。
phật giáo giáo lí
2683指佛教之教相義理。教理,又作教義、宗義、宗旨、宗乘。即佛陀之教示或由教示顯現出來之真理,經由理論、客觀性之整理所呈現出之義理教說。廣義而言,包括教判、教義二者;狹義而言,唯指教義。就佛教教理之發展情形,約可分為六部分,即: (一)原始佛教教理:為其後大小乘根本教理之基礎,即三法印(或四法印)、十二緣起、四諦,皆以「緣起說」為依準。緣起說為佛陀教法之代表,乃佛教與世界上其他宗教或古今任何哲學流派區別之根本特徵。於原始佛教教理中,法印為緣起說之基礎,十二緣起、四諦則為緣起說之一種型態。 四法印指「諸行無常,諸法無我,一切皆苦,涅槃寂靜」,又除去「一切皆苦」,即成三法印。「諸行無常」、「諸法無我」係對現象及諸法之客觀性觀察。即就時間上而言,現象乃經常生滅變化之無常存在(諸行無常);於空間上、理論上而言,現象界之諸法必與他物相互關連和合,無一為孤立獨存者(諸法無我)。如此對現象活動情形,作法則性之觀察,即一般所謂之緣起說。緣起通常即以此二命題為基礎而成立;而反過來說,通過緣起之觀察,才能把握諸行之無常性、諸法之無我性。 對現象、諸法之價值觀,有「一切皆苦」、「涅槃寂靜」二法印。即於現實之凡夫輪迴界中,充斥著不滿、苦惱,而無法獲得絕對之淨福,故深感「一切皆苦」;反之,以脫離輪迴之理想境地為絕對之淨福者,稱為「涅槃寂靜」。此種對現實之苦與其原因理由,兩者間之關係,作法則性之觀照,即稱為「流轉緣起」;而說明理想狀態以及達到之方法者,稱為「還滅緣起」。對於「苦」在何種因素下發生、存在,佛陀舉出十二項具體條件(流轉緣起、順觀),稱為「十二緣起」,更以還滅緣起、逆觀來說明滅此條件即滅苦。四諦即苦、集、滅、道,其中最初之苦、集二諦係闡述現實之苦惱與產生苦惱之因素,以及兩者間之關係(流轉緣起);後之滅、道二諦則明示理想涅槃與達成目的之方法,及兩者間之關係(還滅緣起)。上述四法印、十二緣起、四諦等三大教理之關係,如右表所示。 (二)部派佛教教理:原始佛教教理,於原始經典(阿含經)中並無組織或統一,故上述所示一貫性教理,係後來的祖師、學者從片段性之教示中加以綜合而成者。將原始經典中所載各個教說加以說明解釋,分析組織等學術性之研究,稱為阿毘達磨之研究法。此研究法,至後世逐漸發展,及至佛教即將分裂成諸部派時,教理解釋之歧異遂成為部派分裂原因之一。從而各部派以獨自之教理組織與解釋,製作獨自之教理書,即稱為「根本阿毘達磨」之論書。 初期之論書係原始經典之注解說明,或教理之組織整理,故與經典有密切關係;然至後期論書,與經典之關係逐漸薄弱,遂成立經典所無之阿毘達磨獨特學說。在原始佛教時代,所有教理均係作為實踐修行基礎之理論,並無與實踐無關之論說。然至部派佛教之後期論書,逐漸採用與實踐無關之存在論為考察事物有、無、假、實之論究法,已不再側重具有實踐意義之教理。此外,部派佛教時代,於諸部派間所主張之種種教理學說,每每互相爭論,各執異說。成為爭論之問題者,例如佛陀論、涅槃論、因果論、心法論等皆是。 (三)初期大乘佛教教理:反對部派佛教流於形式上之學術性佛教,及其以無關於實踐修行之存在論為重心之傾向,而提倡佛教回歸本來之實踐信仰。於革新主義者之間,興起新的大乘佛教。大乘佛教相對於部派佛教之理想人格(即依四諦、八正道能成就之阿羅漢),而強調修持六波羅蜜可成就佛道之菩薩,故不僅認為部派佛教乃自利之小乘,又自認為自宗乃利他之大乘。此外,於修行階段方面,新立十地之說,即菩薩依利他之誓願、發菩提心,經由十地而成佛。蓋所謂「利他行」,乃是力行布施為始之六波羅蜜。 大乘比部派更徹底闡明空、無我之教說。就理論上而言,此係由於排斥說一切有部之存在論,而從佛教原本之緣起立場強調空(無我)之教理。初期大乘佛教學說之集大成者龍樹,於其「中論」一書中,徹底地闡述空之理論,成為以後大乘佛教之理論基礎。空,就信仰實踐而言,指空、無我之行;例如布施,為「三輪體空」之布施。就此觀點而言,初期大乘,無論就理論或實踐方面,可說頗能回歸佛教本來之純粹立場。然初期大乘佛教經典亦與原始佛教經典相同,缺乏教理之組織、整理。 (四)中期大乘佛教教理:於中期大乘佛教時期,初期大乘思想與之同時發展,而著重於學術、哲學性之研究。即除初期大乘思想外,另加入中期獨特之新思想,並受部派佛教教理及外教哲學思想之影響。中期大乘之教理組織,大體而言,有下列三種:瑜伽唯識說、如來藏佛性說、前二者之綜合說。 瑜伽唯識(瑜伽行派)之教理要目,約可分為唯識、二無我、三性、八識等。(1)唯識,係由承自原始佛教緣起說之初期大乘華嚴經中「三界虛妄,但是一心作」之說而開展者。謂一切生死輪迴之現象以含有善惡意念之識為原因而起,故諸法之存立根據唯為一心之識,此外無他,故稱唯識。唯識為無常變化,故相通於無我說。(2)二無我,指人無我、法無我。部派佛教中,如犢子部主張有人我、法我;另如說一切有部雖否定人我,然主張法我(法體恒有說)。中期大乘佛教為完全否定此等有我說,遂強調二無我之說,此係承續初期大乘「般若皆空」說而來者。(3)三性說,即:遍計所執性(分別性)、依他起性(依他性)、圓成實性(真實性)。於唯識學派中法相宗(有門唯識)、法性宗(空門唯識)之解釋相異。三性不僅就唯識上之解釋,亦可論及一切現象之存在。例如:1.依他起性,指物質、精神之所有現象非孤立獨存,必依於時間性、空間性之原因理由等諸條件而成立存在;此可視為相當於原始佛教緣起法之諸行無常、諸法無我。2.遍計所執性,指凡夫執迷三界輪迴之狀態。可視為相當於原始佛教之一切皆苦、四諦中苦集二諦、流轉緣起。凡夫依無明、渴愛等煩惱執著而行動造業之狀態,可稱為遍計所執之相。3.圓成實性,相反於遍計所執性,乃指脫離輪迴為聖者之理想狀態。可視為相當於原始佛教之涅槃寂靜、四諦中滅道二諦、還滅緣起。亦即滅盡煩惱執著,成就空無所得、空無礙之狀態。三性皆與緣起相關,亦皆屬「無我」之教理。又為破除對三性之執著而說三無性,即相無性(遍計之境為虛妄無相)、生無性(依他諸法為緣生假有)、勝義無性(依前者而畢竟空)。此亦繼承初期大乘之「般若皆空」說而來者。(4)八識,指原始佛教、部派佛教所說眼識乃至意識之六識,及始於瑜伽行派所說第七末那識、第八阿賴耶識。第七識為煩惱我執之根源。第八識包含具有認識判斷、思惟等過去經驗餘力之種子,相當於原始佛教十二緣起中含有無明、行等之識;又相當於部派佛教所說具有善惡業餘力之輪迴主體之根本識、有分識、一味蘊、窮生死蘊等。中期大乘承襲上述說法,而有更進一步之發展。蓋中期大乘所謂之八識說,係以第八阿賴耶識為中心,而說明輪迴流轉之運行、如何脫離輪迴到達理想之涅槃,及如何轉依有漏諸識成為無漏四智,用以闡釋流轉緣起、還滅緣起之運作。 如上所述,瑜伽行派之教理,其根本立場乃基於初期大乘之「般若皆空」說,並受部派佛教說一切有部、經量部等上座部系之教相所影響。瑜伽行派被稱為法相宗,係以其從「相」(現象)方面為中心加以考察存在之故。與之相對者,如來藏系及綜合說,乃從諸法之本性真如方面考察存在,故亦稱法性宗。法性宗之如來藏、佛性說,係承襲部派佛教大眾部系之「心性本淨」說,加以改善發揚而成者。若從中期大乘佛教與部派佛教之關係而言,可知法相宗係受上座部系之影響,法性宗則受大眾部系思想之影響。概言之,如來藏系之學說,與其說是考察心變化之現象方面,不如說乃就悟證成佛之可能性與理想狀態,來探討永不變之心,即如來藏性、佛性。 融合阿賴耶識說(法相)及如來藏說(法性),即為中期大乘佛教之第三類型綜合說,以大乘起信論之教理為其代表性旨義。此一綜合說,於印度似乎不太流傳,梵語原典中幾乎不存。大乘起信論於一心之上,又立心生滅、心真如,若配當於三性說,則「一心」相當於有染淨變化可能性之依他起性,「心生滅」相當於依虛妄分別而起之遍計所執性,「心真如」則相當於離妄分別而清淨之圓成實性。 中期大乘時代之後半時期亦倡導中觀學說,如唯識之分為有相唯識、無相唯識,中觀學派亦分為近似唯識說之自立派(梵 Svātantrika),及指摘對方過誤、論破所有立論之破邪派(梵 Prāsaṅgika),然卻未形成如瑜伽行派之完備教理與組織。 於中期大乘佛教時代,不僅展開大乘中種種教理學說,與此同時者,小乘部派說一切有部(毘婆沙師)、經量部(經部師)之教理學說,自前一時代以來即極為興盛。如說一切有部系出現世親之俱舍論;經量部系則以成實論為代表論書,該書受大乘佛教之影響甚深,內容主要是從經量部之立場來駁斥說一切有部之教說。 (五)後期大乘佛教教理:中期大乘佛教為對抗當時興盛之外教哲學思想,不得不整理與實踐無關之單方面知識、理論性問題。例如成立作為認識判斷等知識標準之「量」,為論證自說之真實、破斥他說,於佛教亦盛行研習因明學,甚而發展出超越外教之獨特學說。然因明學與信仰、實踐無關,且若就本來之立場而言,將佛教教理哲學化、專門化,則不免流於空泛、抽象、無關宏旨之傾向,久之形成教理發展之危機與墮落。為調整此一危機,與復歸佛教為宗教信仰之本來立場,乃有代表後期大乘之密教興起。 密教之教理,一方面受當時流行之象徵主義怛特羅文學所影響,以平易之象徵意義顯示佛教深遠之哲學理論,另一方面又極為著重信仰實踐。密教之理論層面稱為教相,係利用昔有之學說,以象徵方式說明從「發菩提心」至「成佛」之修行階段,使易於達成理想。成就理想之一般性方法,為三密加持:身密結印契,口密誦真言(陀羅尼),意密觀佛菩薩及其種子。其根本教理,乃在以菩提心為因,以大悲為根,以方便為究竟,此即「即事而真、當相即道」之說。 (六)中國及日本佛教教理:以上所介紹之印度大小乘佛教皆曾傳來我國,於我國成為毘曇宗、成實宗、地論宗、攝論宗、天台宗、三論宗、法相宗、俱舍宗、華嚴宗、密教等宗派之教理,而大為隆盛,比在印度更有超越性之發展。後傳入日本,如日本天台宗、真言宗、真宗、日蓮宗等,皆以日本獨特之教理展現之。(參閱「原始佛教」4061、「部派佛教」4814)
; (佛教教理) Các hành vô thường (tính thời gian) Các pháp vô ngã (tính không gian) Tất cả đều khổ : 12 duyên khởi – thuận quán = Lưu chuyển duyên khởi Niết bàn tịch tĩnh : 12 duyên khởi – nghịch quán = Hoàn diệt duyên khởi Bốn Pháp Ấn Vì cái này sinh nên cái kia sinh Vì cái này diệt nên cái kia diệt Vì cái này có nên cái kia có Vì cái này không nên cái kia không Pháp duyên khởi Khổ Tập Diệt Đạo Pháp tứ đế 2. Giáo lí Phật giáo bộ phái: Trong các kinh điển nguyên thủy (kinh A hàm), nền giáo lí của Phật giáo nguyên thủy hoàn toàn chưa được tổ chức hoặc thống nhất, những giáo lí có tính cách nhất quán được trình bày ở mục trên đều là do các bậc Tổ sư và học giả đời sau đã nghiên cứu các kinh điển nguyên thủy, rồi phân tích, thuyết minh, giải thích và tổ chức tổng hợp mà thành. Các phương pháp nghiên cứu có tính cách học thuật ấy của các ngài được gọi là A tì đạt ma (Phạm: Abhidharma, Pàli: Abhidhamma). Phương pháp nghiên cứu này về sau dần dần phát triển, đến khi Phật giáo nguyên thủy sắp bị phân hóa thành các bộ phái thì sự giải thích giáo lí một cách quá chi li đã trở thành 1 trong những nguyên nhân đưa đến sự phân hóa ấy. Từ đó, mỗi bộ phái đều tự giải thích và tổ chức giáo lí, rồi biên soạn thành các bộ sách giáo lí cho riêng mình, gọi là Căn bản A tì đạt ma luận thư. Các bộ luận thư ở thời kì đầu là những sách chú thích, thuyết minh, chỉnh lí và tổ chức những giáo lí trong kinh điển nguyên thủy, cho nên quan hệ rất mật thiết với kinh điển. Nhưng đến các bộ luận thư ở thời kì sau thì mối quan hệ mật thiết ấy đã phai mờ dần, cuối cùng đã thành lập các học thuyết thuần túy A tì đạt ma, chứ không dính dáng gì đến kinh điển. Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy, tất cả giáo lí đều gắn liền với sự tu hành thực tiễn. Nhưng đến các bộ luận thư ở thời kì sau của Phật giáo bộ phái thì dần dần đã xa rời sự tu hành thực tiễn mà chú trọng khảo sát những vấn đề như hữu, vô, giả, thực của sự vật, chứ ít quan tâm đến ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ra, ở thời đại Phật giáo bộ phái, giữa các phái thường xảy ra các cuộc tranh luận về giáo lí và mỗi phái đều chấp 1 học thuyết khác nhau. Các chủ đề tranh luận chính là Phật đà quan, Niết bàn luận, Nhân quả luận, Tâm pháp luận. 3. Giáo lí Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu: Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu phản đối khuynh hướng lấy Thực tại luận làm trọng tâm, nghiêng về mặt hình thức, học thuật của Phật giáo bộ phái, mà đề xướng chủ trương quay về với nền tín ngưỡng thực tiễn tu hành xưa nay của Phật giáo nguyên thủy. Giữa các nhà chủ trương canh tân, Phật giáo Đại thừa đã hưng khởi. Khác với nhân cách lí tưởng (tức tu theo Tứ đế, Bát chính đạo để thành A la hán)của Phật giáo bộ phái, Đại thừa chủ trương Bồ tát tu trì Lục ba la mật để thành Phật và cho rằng Phật giáo bộ phái là Tiểu thừa tự lợi, còn Đại thừa là Bồ tát lợi tha. Ngoài ra, về mặt các giai đoạn tu hành, Đại thừa thành lập thuyết Thập địa, tức Bồ tát theo thệ nguyện lợi tha, phát tâm bồ đề, tu hành qua 10 giai vị mà thành Phật. Lợi tha tức là nỗ lực thực hiện hạnh bố thí là hạnh đứng đầu Lục ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ). Giáo thuyết của Đại thừa triệt để hiển bày lí không, vô ngã. Đây là giáo lí đứng trên lập trường duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy để bài xích Thực tại luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Học thuyết của Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu này chủ yếu là bộ Trung luận của ngài Long thụ, triệt để thuyết minh lí Không, là cơ sở lí luận cho Phật giáo Đại thừa ở thời kì sau. Không chỉ cho sự tu hành không, vô ngã một cách thực tiễn; chẳng hạn như bố thí là thực hành bố thí với tinh thần Tam luân thể không (tức không thấy có người bố thí, không thấy người nhận của bố thí và không thấy có vật để bố thí). Nói theo quan điểm này thì Phật giáo Đại thừa thời kì đầu, bất luận về phương diện lí luận hay thực tiễn, đều có thể đã trở về với lập trường cố hữu, thuần túy của Phật giáo nguyên thủy. Nhưng về kinh điển của Phật giáo Đại thừa cũng giống hệt như kinh điển của Phật giáo nguyên thủy, nghĩa là về mặt giáo lí cũng thiếu sự chỉnh lí và tổ chức thống nhất. 4. Giáo lí Phật giáo Đại thừa ở thời kì giữa: Phật giáo Đại thừa ở thời kì này chú trọng sự nghiên cứu có tính cách học thuật, triết học. Tức về tổ chức giáo lí, ngoài những tư tưởng ở thời kì đầu, còn triển khai thêm 3 thuyết chính: Du già duy thức, Như lai tạng Phật tính và thuyết tổng hợp 2 thuyết trên. Giáo lí Du già duy thức (Du già hành phái) gồm có các thuyết: a) Duy thức: Khai triển từ thuyết Tam giới hư vọng, đãn thị nhất tâm tác (Ba cõi hư dối, chỉ do tâm tạo)trong kinh Hoa nghiêm của Đại thừa thời kì đầu. Đây cũng là thuyết kế thừa thuyết Duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy. Nghĩa là tất cả các hiện tượng sinh tử luân hồi đều lấy thức (hàm có ý niệm thiện ác) làm nguyên nhân sinh khởi, ngoài thức ra không nương vào bất cứ cái gì khác, cho nên gọi là Duy thức (chỉ có thức). Duy thức là biến hóa vô thường, vì thế nên tương thông với thuyết Vô ngã. b) Nhị vô ngã: Chỉ cho Nhân vô ngã và Pháp vô ngã. Trong Phật giáo bộ phái, như Độc tử bộ chủ trương có nhân ngã và pháp ngã; còn Thuyết nhất thiết hữu bộ tuy phủ định nhân ngã, nhưng lại xác nhận pháp ngã (thuyết Pháp thể hằng hữu). Phật giáo Đại thừa thời kì giữa hoàn toàn phủ định các thuyết Hữu ngã này mà chủ trương thuyết Nhị vô ngã. Đây là tiếp nối thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa thời kì đầu. c) Tam tính: Chỉ cho tính Biến kế sở chấp (tính phân biệt), tính Y tha khởi (tính Y tha) và tính Viên thành thực (tính thành thực). Sự giải thích về Tam tính giữa tông Pháp tướng (Duy thức hữu môn) và tông Pháp tính (Duy thức không môn) có khác nhau. Tam tính chẳng những chỉ giải thích về mặt duy thức, mà cũng bàn đến sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng. Chẳng hạn như:1) Tính y tha khởi: Tất cả hiện tượng vật chất, tinh thần không thể tồn tại một cách cô lập mà phải nhờ vào những nguyên nhân, điều kiện thời gian, không gian. Điều này tương đương với Các hành vô thường, các pháp vô ngã trong Phật giáo nguyên thủy. 2) Tính biến kế sở chấp: Hàng phàm phu vì các phiền não vô minh, khát ái mà bám chặt vào các hoạt động tạo nghiệp, có thể gọi đó là tướng Biến kế sở chấp. Tương đương với Tất cả đều khổ, Khổ đế, Tập đế và Duyên khởi lưu chuyển trong Phật giáo nguyên thủy. 3) Tính viên thành thực: Trạng thái lí tưởng của bậc Thánh đãdiệt trừ hết sạch phiền não chấp trước, thoát li luân hồi, thành tựu không vô sở đắc. Tương đương với Niết bàn tịch tĩnh, Đạo đế, Diệt đế và Duyên khởi hoàn diệt của Phật giáo nguyên thủy. Tam tính đều có quan hệ với Duyên khởi, cũng đều là giáo lí thuộc về vô ngã. Để phá trừ sự chấp trước đối với Tam tính mà lập ra thuyết Tam vô tính, tức Tướng vô tính (cảnh biến kế là hư giả vô tướng), Sinh vô tính (các pháp y tha là duyên sinh có giả) và Thắng nghĩa vô tính(các tính rốt ráo là không). Đây cũng là nối tiếp thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa ở thời kì đầu. 4) Bát thức: Chỉ cho 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của Phật giáo nguyên thủy, của Phật giáo bộ phái và thức Mạt na thứ 7, thức A lại da thứ 8 của phái Du già hành mới thêm vào sau. Thức thứ 7 là nguồn gốc của phiền não ngã chấp. Thức thứ 8 bao hàm những chủng tử của nhận thức phán đoán, tư duy...… trải qua trong quá khứ, tương đương với vô minh, hành, thức…...trong 12 duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy. Nó (thức thứ 8) cũng tương đương với căn bản thức, hữu phần thức, nhất vị uẩn, cùng sinh tử uẩn...… là chủ thể luân hồi do Phật giáo bộ phái chủ trương. Phật giáo Đại thừa thời kì giữa cũng kế thừa học thuyết nói trên rồi phát triển thêm bước nữa. Bởi vì thuyết Bát thức của Đại thừa thời kì giữa lấy thức A lại da thứ 8 làm trung tâm để thuyết minh sự vận hành của vòng luân hồi lưu chuyển, làm thế nào để thoát li luân hồi mà đạt đến Niết bàn lí tưởng và làm thế nào để chuyển các thức hữu lậu thành 4 trí vô lậu. Đồng thời, thức A lại da thứ 8 cũng được sử dụng giải thích rõ sự vận hành của duyên khởi lưu chuyển và duyên khởi hoàn diệt. Như đã trình bày ở trên, giáo lí căn bản của phái Du già hành được đặt trên nền tảng thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa thời kì đầu, đồng thời, cũng chịu ảnh hưởng về giáo tướng của Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ của Phật giáo bộ phái. Phái Du già hành được gọi là Pháp tướng tông, vì phái này đứng về phương diện tướng(hiện tướng) để khảo sát sự tồn tại của vạn vật. Trái lại, các thuyết tổng hợp thuộc hệ thống Như lai tạng thì đứng trên lập trường bản tính chân như để khảo sát sự tồn tại của các pháp, vì thế cũng gọi là Pháp tính tông. Thuyết Như lai tạng, Phật tính của tông Pháp tính là kế thừa thuyết Tâm tính bản tịnh của hệ thống Đại chúng bộ trong Phật giáo bộ phái, rồi cải thiện, phát huy thêm mà thành. Nếu nói theo sự quan hệ giữa Phật giáo Đại thừa thời kì giữa và Phật giáo bộ phái thì tông Pháp tướng chịu ảnh hưởng tư tưởng của Thượng tọa bộ hệ, còn tông Pháp tính thì chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đại chúng bộ hệ. Dung hợp thuyết A lại da (Pháp tướng) và thuyết Như lai tạng (Pháp tính) là loại thuyết Tổng hợp thứ 3 của Phật giáo Đại thừa thời kì giữa; thuyết Tổng hợp lấy giáo lí của luận Đại thừa khởi tín làm cơ sở. Thuyết này ở Ấn độ không được lưu truyền rộng rãi và hầu như không được nói đến trong các kinh điển tiếng Phạm. Trên Nhất tâm, luận Đại thừa khởi tín lại lậpTâm sinh diệt và Tâm chân như; nếu phối hợp với thuyết Tam tính thì Nhất tâm tương đương với tính Y tha khởi nhiễm tịnh biến hóa, Tâm sinh diệt tương đương với tính Biến kế sở chấp nương vào vọng kiến phân biệt mà sinh khởi, còn Tâm chân như thì tương đương với tính Viên thành thực thanh tịnh, lìa vọng tưởng phân biệt. Nửa sau của thời kì Phật giáo Đại thừa thời kì giữa cũng đề xướng học thuyết Trung quán. Cũng như Duy thức chia làm Duy thức hữu tướng và Duy thức vô tướng, học phái Trung quán cũng chia làm phái Tự lập (Phạm: Svàtantrika) và phái Phá tà (Phạm: Prasaígika) chuyên chỉ trích lỗi lầm và đả phá lập luận của đối phương, nhưng giáo lí và tổ chức chưa được hoàn bị như phái Du già hành. 5. Giáo lí Phật giáo Đại thừa thời kì sau: Để đối kháng với tư tưởng triết học thịnh hành ở đương thời, Phật giáo không thể không quan tâm đến những vấn đề có tính tri thức, lí luận và phán đoán chính xác...… Do đó, Phật giáo Đại thừa thời kì giữa đã nghiên cứu và ứng dụng Nhân minh học(tức Luận lí học)làm tiêu chuẩn cho tri thức để phát triển giáo lí Phật giáo. Nhưng, trên thực tế, Nhân minh học và tín ngưỡng không liên quan gì với nhau, vậy nếu đem triết học hóa, chuyên môn hóa giáo lí Phật giáo thì tưởng rằng khó tránh khỏi khuynh hướng phù phiếm, trừu tượng, vô nghĩa mà rơi vào trống không. Để điều chỉnh nguy cơ này, đưa Phật giáo trở về lập trường tín ngưỡng tông giáo cố hữu của mình, nên Mật giáo đã hưng khởi, tiêu biểu cho Phật giáo Đại thừa thời kì sau. Giáo lí của Mật giáo, một mặt chịu ảnh hưởng vănhọc Đát đặc la (Phạm: Tantra) đang thịnh hành ở thời bấy giờ, dùng ý nghĩa tượng trưng bình dị để hiển bày lí luận triết học sâu xa của Phật giáo, mặt khác, lại đặc biệt chú trọng tín ngưỡng thực tiễn. Tầng trên của lí luận Mật giáo gọi là Giáo tướng, là sử dụng học thuyết đã có từ trước, dùng phương thức tượng trưng để nói rõ giai đoạn tu hành từ lúc phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật, khiến cho dễ đạt thành lí tưởng. Phương pháp chung cho việc thành tựu lí tưởng là Tam mật gia trì: Thân mật kết ấn khế, khẩu mật tụng chân ngôn (Đà la ni ), ý mật quán tưởng Phật và Bồ tát cũng như chủng tử của các Ngài. Giáo lí căn bản của Mật giáo lấy tâm bồ đề làm nhân, lấy đại bi làm gốc và lấy phương tiện làm cứu cánh. Đây tức là thuyết Tức sự nhi chân, Đương tướng tức đạo. 6. Giáo lí Phật giáo ở Trung quốc và Nhật bản: Phật giáo Đại, Tiểu thừa của Ấn độ nói trên đây, đều đã được truyền đến Trung quốc và Nhật bản. Ở Trung quốc, giáo lí Phật giáo đã phát triển thành các tông phái rất hưng thịnh, như tông Tì đàm, tông Thành thực, tông Địa luận, tông Nhiếp luận, tông Thiên thai, tông Tam luận, tông Pháp tướng, tông Câu xá, tông Hoa nghiêm, tông Chân ngôn...… Sau khi được truyền vào, giáo lí Phật giáo Nhật bản cũng phát triển thành các tông như: Thiên thai, Chân ngôn, Chân tông, Nhật liên...… mang sắc thái riêng. (xt. Nguyên Thủy Phật Giáo, Bộ Phái Phật Giáo).
phật giáo giáo điển
2678指記錄佛陀教法之經典,及後世學者基於信仰、學理等意念,對經典或教法所作之闡示、品評、考證等論著。惟佛教中並無與基督教之聖經、回教之可蘭經等相當之單冊聖書,而係因應於教史之發展,逐漸形成部帙龐大、系統複雜之經典群,即一般所謂包含經、律、論之大藏經、一切經。就佛教發展南北傳兩大主流而言,系統較統一之教典集,係始於錫蘭(斯里蘭卡)而流布於東南亞之南傳巴利語典籍,今有日譯南傳大藏經八十五卷,流通於北傳佛教國家。北傳漢譯大正藏有三四九三部一三五二○卷,西藏大藏經之卷帙略少於漢譯經典。藏經中含有大量後世之注釋書、解說書等,若以佛教各宗派乃至各時代之觀點而言,選錄典籍之標準勢必因人、因時代、因派別而異,故欲編集一套令所有佛教徒皆普遍滿意之教典選集,極其困難。 今推測佛陀教團當時所使用之俗語(摩揭陀方言),與後來南傳之巴利語恐有相當密切之關聯。又各部派所傳教典之用語亦不同,例如說一切有部使用梵語,大眾部使用混合梵語。十九世紀以降,在尼泊爾、中亞、印度、日本等地,陸續發現不少梵語、混合梵語之教典寫本或斷片,然以數量有限,故就全部佛教教典而言,仍以漢譯、西藏譯藏經為佛教、佛學等之主要研究資料。其他如中亞古代之印度日爾曼語系,及土耳其語系之斷片,亦具有研究價值。 佛陀為佛教教祖,與世界其他大宗教家相同者,乃本身未曾留存任何親筆之著述。今日所流傳之佛陀教法,皆為弟子們於佛陀涅槃後,結集自己日常所聽聞之教法,再代代口傳,彙輯而成。蓋印度古來即以口傳方式傳授知識,對神聖之教說尤其忌諱書寫成文字。是知五世紀初,我國之高僧法顯欲於印度求取梵文原典,實屬不易之事。 佛陀之教法大多因應弟子或大眾之問而作答,亦有隨機對大眾宣講者;然通常是在各種特殊因緣下,為特定之人物及特定之問題而說,並非原本即準備為大眾開示之演講。聞法者以詩或特殊形式之文句背誦、口傳,此因古代之印度人擅長於記誦長篇大論之教說內容。佛陀入滅後,弟子大迦葉主持教典之結集,由阿難誦出「經」,優波離誦出「律」,各弟子互相參照後,獲得參與者之認可即成為思想行為之典範。當時結集教典之確切內容不明,而後世各部派多謂己派之教典係源自初次之結集。 佛陀入滅後一百年間,教團分裂為二十部派,繼有小乘、大乘、顯教、密教之別。各派以己派所傳持之教典為佛教正統,並否定他派所傳持之典籍,而同一典籍,亦每每由於各派不同之傳持而產生相異之內容。又巴利語藏經為南方之上座部分別說系所傳承,在內容與組織上具有一貫性與系統性,漢譯及西藏譯藏經則為長期以來諸宗派各家典籍之集大成者,故趨於龐雜而多樣性。 教典主要分為經、律、論等三部分,約成形於五世紀初。 (一)經,乃佛陀之說法,亦有弟子之說法,篇幅長短不一,文體分為散文、韻文、散文韻文混合體等多種。巴利語之經部分為長部、中部、相應部、增支部、小部等五部。其前四部與漢譯之長阿含、中阿含、雜阿含、增一阿含等,內容部分相符,然非完全相同。而四阿含亦由四種不同來源之典籍偶然配合而成。 巴利語小部共收十五經,以小誦為首。法句經、經集、自說等,集錄佛陀之教說;長老偈、長老尼偈等,集錄出家僧尼之詩句;本生譚則為本生故事之經文與注釋混合而成。 三藏之中,漢譯與西藏譯之經部典籍數量極多,分為:阿含部、本緣部、般若部、法華部、華嚴部、寶積部、涅槃部、大集部、經集部、密教部等。阿含部與巴利語之經部部分一致。本緣部集錄佛陀之傳記、傳說、本生譚等,與巴利語之本生相近。除阿含、本緣部外,其餘大多為大乘經,多與巴利語經典無相關處。 般若部闡說般若之空理,共有四十二部七七六卷。其中,大般若波羅蜜多經六百卷,由唐代玄奘譯出,為般若經典之集大成者,除心經、仁王經外,諸般若經之內容與大般若波羅蜜多經相近。般若心經有多種譯本,篇幅極短,卻有相當重要之地位,金剛般若經為禪宗所重,般若理趣經則為密教所重。 法華部之妙法蓮華經為我國天台宗所依,在日本則因日蓮之弘傳而信眾普遍。華嚴部之華嚴經主要敘述佛陀成道時之悟境,主要譯本有六十卷本、八十卷本、四十卷本等三種,四十卷本為前二種譯本「入法界品」之別譯。華嚴部為我國華嚴宗之根本教典,亦為佛教文學重要文獻。寶積部共有六十四部三○二卷,其中,大寶積經一二○卷為集大成者,由唐代菩提流志譯出。 涅槃部之大般涅槃經,有四十卷本、三十六卷本兩種,然與同名之原始經典(即三卷本大般涅槃經,屬於阿含部)並非同本。涅槃部展開大乘之理念,我國涅槃宗依此而成立,惟後為天台宗融和。大集部由六十卷之大集經構成。經集部所收錄之經典,與大集部、寶積部等性質相同,屬集成式者,而三部所收之小經亦皆各有內容相同之個別經單獨流傳。 寶積、大集、經集等三部所收經典,與淨土宗有關者,有無量壽經、觀無量壽經、阿彌陀經;與禪宗有關者,有楞伽經、維摩經;與法相宗有關者,有解深密經;描寫女性之崇高理想者,有勝鬘經;祈求國家繁榮者,有金光明經。經部最後部分為密教部,乃密教之根本經典,如大日經、金剛頂經、蘇悉地羯羅經等,是為密教之三大部。上記漢譯大藏經之部次,係依大正新修大藏經之排列次第,西藏譯者內容大體一致。 (二)律,乃規定出家修行者應守之戒律,及教團之紀律等,內容包括佛陀之開教、教團之成立及發展等佛教初期之歷史。現今所傳之巴利語律典出於上座部分別說系,漢譯之十誦律出於說一切有部,四分律出於法上部(法藏部),五分律出於化地部,摩訶僧祇律出於大眾部。又北傳之律部教典,除與巴利律典相當者外,亦有純屬大乘獨有之漢譯典籍。 (三)論,乃將經典所說要義加以整理、解說者。巴利語與漢譯之論部,兩者內容有異。南傳巴利語之論部稱為阿毘達磨,由部派佛教之七種論書構成,即:法聚、分別、界論、雙論、發趣、人施設、論事等。漢譯大藏經之論部,廣收諸種著作,分為:釋經論部、毘曇部、中觀部、瑜伽部、論集部等。釋經論部所收者,如大智度論,係注釋般若經之論書;十住毘婆沙論,係注釋華嚴經十地品。 毘曇部,為部派佛教之論書,與巴利語論部典籍少有共通性,以發智論為始,其餘之集異門足論、法蘊足論、施設足論、識身足論、品類足論、界身足論等,稱為六足論。與六足論並列之大毘婆沙論二○○卷,為說一切有部之代表論書,由玄奘譯出;其他如世親之俱舍論、眾賢之順正理論等,亦頗著名。 中觀部收有龍樹所造之中論、十二門論等中觀派之論書,龍樹即中觀學派、中觀思想之祖。瑜伽部收有瑜伽派(唯識派)之論書,如瑜伽師地論一○○卷,由彌勒菩薩說出,無著筆錄,另有無著之攝大乘論、世親之唯識二十論、三十論等,及諸論之注釋書。論集部收錄上記諸部未輯錄之諸派論書,及因明(論理學)之論著。此外,亦收有內容與巴利語藏外經典「彌蘭陀問經」相當之那先比丘經。 上記所列舉之經、律、論等典籍,收於大正藏卷一至卷三十二;卷三十三至卷一○○多為中國、日本各宗派歷代祖師之著述,包括經疏、律疏、論疏、諸宗、史傳、事彙、外教、目錄、續經疏、續律疏、續論疏、續諸宗、悉曇、古逸、疑似、圖像等,廣義而言,皆可稱為佛教教典。 巴利語教典,除上記所述之三藏外,亦包括五世紀之大論師佛音所作之注釋書。其他如彌蘭陀問經、大史、島史等藏外典籍,皆被視為準教典。西藏語譯之大藏經甘珠爾中,大別為佛語部、教理部。佛語部又稱佛部,集錄佛陀之教說,包含經、律;教理部包含印度論師之論、注、記述等,兩部大體與大正藏卷一至卷三十二相一致,而內容不盡相同,書目互有出入。 巴利三藏起源極早,據傳西元前三世紀間,於阿育王時已傳入錫蘭。現今一般咸信編集於西元後,而於五世紀頃成形。漢譯大藏經始於一世紀頃,至十一世紀漸趨式微,著名之翻譯家有鳩摩羅什、真諦、玄奘、不空、義淨等。西藏大藏經盛於七世紀至十一世紀,由印度人與西藏人共同譯出,其後再行補繕、統一文體等。 梵文原典之研究,自十九世紀以來蔚為學界風氣,最早係英國學者荷吉森(Brian Houghton Hodgson)在尼泊爾發現大量梵文原典,其中之大乘典籍有法華經、金光明經、般若經、楞伽經,以及華嚴經十地品、入法界品等。其後,在中亞地區亦陸續發現大乘典籍,及說一切有部之律、論等斷片,今已次第整理出版。並有中亞之古和闐語、粟特語等斷片之研究報告。(參閱「大藏經」893)
phật giáo học quan hệ tạp chí luận văn phân loại mục lục
2707全一冊。日本龍谷大學圖書館編。分研究方法論、語學、典籍、古文書等十九項,收錄真宗學及昭和六年(1931)一月至三十年十二月發表之與佛教學有關之論文題目,為昭和六年七月龍谷大學圖書館所刊行同名目錄之續編。所收學術雜誌凡一一四○餘種,論文題目多達二萬七千之數,為佛教學研究者了解學界動向不可或缺之工具書。昭和四十七年五月刊行其續編。
; (佛教學關係雜志論文分類目錄) Tác phẩm, 1 tập, do thư viện Đại học Long cốc ở Nhật bản biên soạn. Nội dung sách này chia làm 19 hạng mục, thu chép tất cả những đề mục có liên quan đến học thuyết Chân tông và giáo học của Phật giáo nói chung. Đây là bộ sách rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu về giáo học của Phật giáo.
phật giáo hội
Buddhist congregation.
phật giáo lịch pháp
2708佛教有關曆之法則。最初任何國度皆使用太陰曆,迄今單純的太陰曆僅存於宗教之回回曆。在埃及,則依尼羅河之定期泛濫而成立太陽曆,後傳至波斯,又為羅馬所沿用,稱為羅馬曆;幾經修正後,更發展為現代之太陽曆。此曆法雖屬正確,但其月名與季節之關連並無任何意義。在印度,則有以太陰曆為基礎之印度曆法;以此調和一年之季節,而構成太陰太陽曆(luni-solar calendar)。此種組合太陰與太陽之運行,除印度之外,亦見於猶太曆、巴比倫曆、希臘曆、中國曆等,惟其內容各異。 佛教天文曆即古代之梵曆,此係佛典中記載之天文曆法,為佛教徒間常用曆之通稱;佛教係根據須彌山說,而成立此一獨特之曆法。梵曆由滿月之翌日至次一滿月間為一個月。滿月之翌日至新月前一日之前半月,稱為黑分或黑月;從新月至滿月之後半月,稱為白分或白月。故一個月相當於陰曆之十六日至次月之十五日間。一年十二月之名稱與農曆對照如左表所示: 其中,正月十六日至三月十五日為漸熱時,三月十六日至五月十五日為盛熱時,五月十六日至七月十五日為雨時,七月十六日至九月十五日為茂時,九月十六日至十一月十五日為漸寒時,十一月十六日至正月十五日為盛寒時;以上稱為歲分六時,略稱六時。又於六時之中,漸熱時與盛熱時合稱熱時或熱際,雨時與茂時合稱雨時或雨際,漸寒時與盛寒時合稱寒時或寒際;以上稱為三時或三際,然三際如何配於日月,則各有異說。上述係根據真諦三藏及大唐西域記之說。此外,亦有早一個月,或早二個月之說法。 又制呾邏月至逝瑟吒月之期間即所謂之「春」,頞沙荼月至婆達羅鉢陀月之期間即是「夏」,阿濕縛庾闍月至末伽始羅月之期間為「秋」,報沙月至頗勒窶拏月之期間稱為「冬」;以上又稱四時。另有分為冬、春、雨、終、長等「五時」者。 上記之外,另有日曜(又稱太陽、日星、日精)、月曜(又稱太陰、月星、月精)、火曜(又稱火星、熒惑星、火精)、水曜(又稱水星、辰星、滴星、水精)、木曜(又稱木星、歲星、攝提、木精)、金曜(又稱金星、太白星、長庚、金精)、土曜(又稱土星、鎮星、地、土精)、羅睺星(又稱黃幡星、蝕神、複)、彗星(又稱豹尾星、旗星、蝕神星、計都)等九個天體之說,稱為九曜、九執(梵 nava-grahāḥ)。曜,乃可發出光亮之意;執,則隨日時而運行不離之意。 新月至次新月之一個月間,月之運行圈(又稱白道)有二十八個星宿(即星座),此即二十八宿。太陽之十二個月的運行圈(又稱黃道)有十二星宿宮,此即十二宮。九曜、二十八宿、十二宮均可用於占卜。(參閱「佛教天文學」2671)
; (佛教曆法) Lịch pháp của Phật giáo, tức là Phạm lịch đời cổ. Lịch pháp thiên văn nói trong kinh Phật là loại lịch pháp được thông dụng ở thời bấy giờ. Lịch pháp này là Phật giáo căn cứ vào thuyết núi Tu di mà thành lập. Phạm lịch lấy khoảng thời gian từ ngày 16 (ngày trăng tròn) tháng này đến ngày 15 tháng sau làm 1 tháng. Khoảng thời gian từ ngày 16 đến ngày 30 (hoặc 29 nếu là tháng thiếu), gọi là Hắc phần (phần đen) hoặc Hắc nguyệt (tháng đen). Từ ngày mồng 1 (trăng nhú) đến ngày 16 (trăng tròn) gọi là Bạch phần (phần trắng) hay Bạch nguyệt (tháng trắng). Cho nên, 1 tháng theo Phạm lịch tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 âm lịch đến ngày 15 tháng sau. Tên của 12 tháng trong 1 năm theo Phạm lịch đối chiếu với Nông lịch (âm lịch) được đồ biểu như sau. (thiếu biểu đồ). Trong đó, từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là thời gian không khí nóng dần lên; từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5 là thời gian rất nóng; từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7 là thời gian mưa nhiều, từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9 là thời gian cây cỏ tốt tươi, từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11 là thời gian khí hậu lạnh dần, từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng giêng năm sau là thời gian khí hậu rất lạnh; trên đây gọi là Tuế phân lục thời (1 năm chia làm 6 mùa), gọi tắt là Lục thời. Trong lục thời, thời gian nóng dần và thời gian rất nóng được gộp chung lại gọi là Nhiệt thời hoặc Nhiệt tế; thời gian mưa nhiều và thời gian cây cỏ tốt tươi gộp chung lại gọi là Vũ thời hoặc Vũ tế (mùa mưa); thời gian lạnh dần và thời gian rất lạnh gộp chung lại gọi là Hàn thời hoặc Hàn tế (mùa lạnh). Trên đây gọi là Tam thời hoặc Tam tế. Nhưng vấn đề Tam tế được phối hợp như thế nào với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau. Điều được trình bày trên đây là căn cứ theo thuyết của ngài Chân đế của Đại đường tây vực kí. Ngoài ra cũng có thuyết sớm hơn 1 tháng hoặc sớm hơn 2 tháng. Thời gian từ tháng Chế đát la đến tháng Thệ sắt tra là Xuân; thời gian từ tháng Át sa đồ đến tháng Bà đạt la bát đà là Hạ; thời gian từ tháng A thấp phạ dữu xà đến tháng Mạt già thủy la là Thu; thời gian từ tháng Báo sa đến tháng Phả lặc lũ noa là Đông. Trên đây cũng gọi là Tứ thời (4 mùa). Cũng có thuyết chia làm Đông, Xuân, Vũ, Chung và Trường gọi là Ngũ thời. (xt. Phật Giáo Thiên Văn Học)
phật giáo nghi lễ
2696(一)印度:初期佛教教團之行事,如布薩、安居、自恣,及出家、授戒等作法,此儀禮依然行於今日之南傳佛教界。昔時阿育王舉行五年大會(梵 pañca-vārṣika-maha,又作般遮于瑟會),每隔五年,王者行祭必召請眾僧行布施供養。後世亦行於印度、西域。關於釋尊之葬儀,則依釋尊遺誡,以轉輪聖王之葬法葬之。依南海寄歸內法傳卷二載,印度比丘逝後皆行火葬,念誦無常(三啟)經。南傳佛教界於每年釋尊之降誕、成道、涅槃等紀念日行衛塞祭(巴 vesākha-pūjā)。 (二)中國:據後漢書卷一○三陶謙傳載,漢獻帝時,笮融每於浴佛(灌佛)之後,即設飲食以供養之;又如三國吳之支謙有梵唄之製作;西晉之耆域等神異僧之咒願與祈誠,凡此種種,皆為一種當然之佛教儀禮。此外,前秦有道安舉行之講會,後秦有法羽之燒身供養。又有東晉慧遠之白蓮社,為集會結社之先驅。南北朝時,除捨身、放生、祈雨、行像、唱導之外,尚有八關、華嚴、盂蘭盆等齋會,與涅槃、大般若、金剛、般舟、法華、金光明、大通方廣、虛空藏、方等陀羅尼等懺法,與藥師齋懺、婆羅大齋懺、龍華會、無遮大會等法會。隋唐時代有「內道場」之設置;又因儒佛道三教之論諍,而有「帝王誕節三教談論」之儀禮。此外,以百姓為對象之講演亦已流行,稱為俗講。其他如祈雨、舍利供養、上元燃燈、仁王行道、法華道場、藥師道場、塔懺法等。五代、宋代時有行香祝壽、千僧齋、水陸大齋、燃燈會、忌辰道場等法會,法華、金光明、普賢等懺法。民間則流行談經、彈唱因緣等。另於遼、金等二國,除水陸會、龍華會、瑞佛、佛牙等之供養外,一般民間則屢有千人邑會之情形。至元、明時代則有三學講、三禪會、資戒會、水陸無遮會、般若圓覺法會、龍華會、華嚴會、彌陀、法華、大悲、光明、楞嚴等懺法,和祈雨、燃指燒身斷臂等。明洪武十六年(1383),曾制定瑜伽顯密之佉式儀戒。近代則有焚香拜佛、涅槃會、迎佛會、觀音會、佛生日灌佛放生、龍華會、翻經會、盂蘭盆會、地藏王會、放燄口、臘八節等行事之傳承。 記載此類儀禮作法之典籍,現存而較盛行者有梁諸師之慈悲道場懺法、隋代智顗之法華三昧懺儀、康代善導之淨土法事讚、宗密之圓覺經道場修證儀等。密教則有收錄印度以來各種護摩(火祭)作法及有關瑜伽、印明等之儀軌,禪宗有元代德輝整理之敕修百丈清規。 於喇嘛教界,一年中之行事有一月四日至二十一日之祈願會(藏 Smon-lam,又作無遮供養)、四月十五日之成道與涅槃會、六月四日之初轉法輪會、九月二十二日之兜率下生會、六月一日至七月十五日之安居等。此外尚有六月四日蓮華生上師之降誕會、十月二十五日宗喀巴之涅槃會等祖師會。學問寺則有三月十五日之時輪學部春季大會等各學部之集會(其日期則因地而異)。 (三)日本:平安朝以前之佛教儀禮,大多受我國隋唐以前之影響。官營以外之法會常有將其功德迴向予天皇、國土、萬民平安之風俗,此類法會稱最勝會(御齋會)。另外尚有仁王會、法華會等以護國為中心之法會,與即位灌頂、玉體加持等以天皇為中心之法會。又如藥師、吉祥、觀音、地藏、釋迦、阿彌陀等佛名之懺法悔過法會。維摩會、梵網會、華嚴會、季御讀經、講經、安居、布薩、齋會等之敕修法會。追善慶讚、寫經、放生、灌佛、涅槃、盂蘭盆、燃燈、舍利等之諸供養會與各宗之祖師忌等。鎌倉以後,各宗獨自之儀禮大增。更由於佛教之弘通,而有和語之講式、和讚之流行。其後又因與神道結合,而產生神前讀經、神道灌頂之儀禮。至於御影供、報恩講、十夜、會式等,則逐漸傾向民間化,例如與民間行事結合之大念佛、盆踊、說教節等,為一種普及各地之民間娛樂。 有關僧侶之葬法,於敕修百丈清規等書,皆有詳細敘述。而百日、小祥(死後滿一年,又稱一周忌)、大祥(死後滿二年,又稱三回忌)等佛事則始自宋代。日本平安朝以來讀經或念佛之弔葬已普遍流行,另亦增加十三回忌、三十三回忌等忌日。近年更有佛化婚禮之推廣。
; (佛教儀禮) Những nghi lễ được cử hành trong Phật giáo. 1. Ấn độ: Những nghi lễ mà giáo đoàn Phật giáo thực hành trong thời kì đầu là Bố tát, an cư, tự tứ, xuất gia, thụ giới...… Những nghi lễ này, cho đến ngày nay, vẫn được giáo đoàn Phật giáo Nam truyền tổ chức y hệt như vậy. Thủa xưa, cứ 5 năm một lần, vua A dục cử hành Đại hội Vô già (Phạm: Mahàvàrwika), triệu thỉnh chúng tăng tham dự để cúng dường. Đại hội này, đến đời sau, vẫn được Ấn độ và các nước vùng Tây vực tiếp nối tổ chức. Vào những ngày kỉ niệm đức Phật đản sinh, thành đạo, niết bàn...… hàng năm, giới Phật giáo Nam truyền đều cử hành đại lễ Vệ tắc (Pàli: Vesàkha-pùjà). 2. Trung quốc: Cứ theo truyện Đào khiêm trong Hậu Hán thư quyển 103 thì thời vua Hiến đế nhà Hán, Sạ dung thường cử hành lễ tắm Phật vào ngày Phật đản, sau đó thiết trai cúng dường. Kế đến các thời đại Tam quốc, Tây Tấn, Tiền Tần, Hậu Tần, Đông Tấn, Nam Bắc triều…... đều có các lễ nghi như thuyết pháp, giảng kinh, quy y, thụ giới, bố thí, phóng sinh, thiết trai, sám hối…... Đến các thời đại Tùy, Đường thì ngoài các nghi lễ nói trên được cử hành trong dân gian, vua còn thiết lập đạo tràng trong nội cung rồi thỉnh các vị cao tăng vào giảng kinh, thuyết pháp để cầu cho quốc thái dân an. Đến thời Ngũ đại và đời Tống thì có Thiên tăng trai (thiết trai cúng dường nghìn vị tăng), Thủy lục đại trai (bố thí chúng sinh), Nhiên đăng hội(hội thắp đèn), sám pháp Phổ hiền, Pháp hoa. Đến các đời Nguyên, Minh thì có pháp hội Vô già, hội Long hoa, hội Hoa nghiêm và các sám pháp Di đà, Pháp hoa, Đại bi, Lăng nghiêm…... 3. Nhật bản: Nghi lễ Phật giáo Nhật bản trước thời đại Bình an phần lớn chịu ảnh hưởng của nghi lễ Phật giáo Trung quốc trước đời Tùy, Đường. Các pháp hội được cử hành gồm có: Pháp hoa, Dược sư, Quan âm, Địa tạng, Thích ca, Di đà...… Trong các pháp hội này thường tụng kinh, niệm danh hiệu Phật để sám hối tội lỗi và cầu nguyện cho đất nước thái bình, nhân dân an lạc. Còn các pháp hội giảng kinh do Thiên hoàng ban sắc tổ chức thì thường là các pháp hội Duy ma, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Nhân vương bát nhã...… Ngoài ra, các pháp hội có khuynh hướng dân gian là Báo ân giảng, Vu lan bồn, Đại niệm Phật...… là những pháp hội được tổ chức trên toàn quốc để dân chúng tham gia và có giá trị cũng như hiệu quả giáo dục rất cao. Những nghi lễ cầu siêu, cầu an cũng rất phổ cập.
phật giáo nghệ thuật
2711佛教藝術導源於印度工巧明業。自原始佛教至部派佛教時期,由於戒律中(沙彌十戒)有「遠離觀聽歌舞」之明文規定,故未能建立藝術發展之基礎,而僅限於佛足、金剛座、菩提樹等之雕畫,以為佛陀之象徵。約至紀元前後,大乘佛教興起之時,雕刻、建築、繪畫、工藝等藝術活動始隨印度都市工商業與部分進步派僧侶之革新精神而興起,打破以往小乘時代不敢模擬佛像之觀念,而普遍塑造佛像供養禮拜,佛教藝術乃藉造像而大興。 印度佛教藝術可大別為兼具希臘、印度、大夏、安息等藝術素質之犍馱羅藝術與印度佛教藝術。至笈多王朝(302),以摩揭陀為中心,統一印度,印度本身之藝術乃與犍馱羅藝術先後依附於佛教而東傳我國。至隋唐之世,無論佛教義理或藝術均已與我國人性情精神相結合,並融入我國特有之情操與氣度,使佛教藝術衍為純中國之型態。 就佛教藝術發展之廣大範圍與源流而言,可略分為三大系統:(一)小乘佛教藝術,其藝術主體係以根據初期佛教遺物崇拜為基礎之佛塔建築,另於繪畫雕刻方面則多以本生譚、譬喻故事為主題,直至後來佛像製作普及後仍持續此一傾向。此系統包括錫蘭與東南亞等南傳佛教諸國。(二)以尊像之製作與崇拜為中心之大乘佛教藝術,源於印度,經中亞而開展至中國、日本。然於中亞與我國之初期,小乘佛教藝術之色彩甚濃。(三)密教藝術,約始於七八世紀之印度,其中一流系經中國而傳入日本,成為日本平安、鎌倉時代之藝術主流;另一流系經尼泊爾傳入西藏而展開喇嘛教特有之藝術風格,其後亦擴及蒙吉、東北等地。 若純粹就大小乘佛教藝術之特性而言,則小乘佛教藝術多指印度之初期藝術與錫蘭等南傳佛教諸國之藝術。如前所言,其藝術主體多以佛塔為中心,其時亦有部分佛像之製作,然佛像所呈現之風貌樣態乃歷史性之佛陀形像;與之相對者,為呈現多樣化風貌之大乘佛教藝術,其佛像製作則以呈現理想化之佛菩薩諸尊等尊像崇拜之雕像、畫像為主。又隨大乘佛教各宗派思想之發展,而有淨土宗藝術、法華經藝術、禪宗藝術、密教藝術等各具特色之宗派藝術產生。以密教藝術而言,最大特點在於其宗教儀禮與藝術密不可分之性質,如密教修法中之本尊像、諸尊圖像等,實乃密教藝術最重要之主題。此類尊像多為印度教之諸神轉變而來,入於密教後,復擴增其尊像種類,並變化其形像(如多面、多臂之異型尊像,與怒髮忿顏、手持武器之忿怒像)。上記之外,密教隨修法所需之曼荼羅而依準經典、儀軌之記載,描繪出各種曼荼羅圖像,如兩界曼荼羅、尊勝曼荼羅、北斗曼荼羅等,此類曼荼羅圖像普遍流行於西藏、中國、日本。又各類密教修法之法器,如金剛杵、鈴、幢、鐸、鐃鈸、爐、寶珠、花鬘、真言符印、摩尼輪等,亦為密教藝術不可少之一環。要言之,密教藝術各種複雜變化之特色,使之於整體佛教藝術中占有重要之角色。 若就一般藝術之分類而言,約可將佛教藝術分別為建築、雕刻、繪畫、工藝等數種,茲分述如次: (一)建築:據傳世尊在世時已有具備本殿、寮舍、倉庫、客室、火屋(廚房)、經行堂、溫室(浴室)、前堂、蓮池、病室等設施之祇園精舍,惟事實不詳。當時遺留下來之建築主要有塔(梵 stūpa)、塔院(梵 caitya-gṛha,制多堂)、僧院(梵 vihāra)、尖塔(梵 śikhara)等,通常組合三、四種即可構成一個伽藍,主要建材為甎、石材。 就建築型態而別,大抵佛教建築有塔、石窟、僧院、玉垣、門、石柱、幢、曼荼羅等類型:(1)塔,意譯墳、廟、高顯處,營建源於對佛陀舍利之崇奉,故具有佛教崇拜之獨特風格,為佛教特有之建築,通常皆為佛教建築群(伽藍、寺院)之中心。樣式有自然之圓形,半球形覆鉢 式(始於阿育王時)、方形等。材料則印度古塔多內部積累土石,外部蔽以板石或泥灰。半球形覆鉢式即印度之古塔,最重要之遺構可見於山琦遺蹟,塔之最中心處埋藏舍利容器,四周圍以欄楯,塔門敞開。通常古塔平面之直徑比塔之高度大,此係其最大特色,其後始逐漸增高。如犍馱羅式建築於數重基壇上之覆鉢式塔,其圓筒高度已顯見增高,且基壇呈方形,凡此皆由純粹古塔形制變化而來。此一形制傳入我國後,可見於甎造或石造之雁塔、喇嘛塔等。另如我國、日本所遺存之木造塔婆(通常有三重塔、五重塔)亦為此一塔制之變化型態。此外,密教、日本之木造多寶塔、石造五輪塔、寶篋印塔等則為塔制之新形式。(2)石窟,於小乘石窟中,以跋闍(Bhaja)、康打哩(Komdane)為最古;我國則以大同雲岡石窟最奇偉,係北魏、隋朝之遺蹟,此外尚有河南洛陽龍門、鞏縣、南京棲霞山、山西太原天龍山等處。石窟內部,遺存有豐富的尊像雕刻、裝飾、壁畫等,充分顯現出佛教藝術之綜合風貌。(3)僧院,梵語 vihāra,又稱僧坊。有單獨僧房、單層僧院、平地僧院、重層僧院等四型。岩窟中亦有遺存之遺例,較常見者有三面圍成之正方形,中央為空間廣闊之中庭,與我國、日本三面僧坊之形制極為接近。另有由四面配置整然、圍繞中庭之四面僧坊,此一形制係由犍馱羅逐漸普及於中印度。印度之僧院初時為木造,後漸採用石造,我國與日本則一般為木造。於僧院中,另有祠堂、講堂等大眾生活所必需之建築,通常由此等堂塔組為一伽藍而形成一寺院。然在我國,多以七組堂塔為一單位,乃所謂七堂伽藍之制,其後亦傳入日本。一般而言,七堂之種類與配置並無定規,常依宗派之別而累增,或改變用途、名稱、型態式樣等。(4)玉垣,又作周垣,凡伽藍、塔、僧房等建築物周圍均有石質玉垣圍繞,通常由石格、貫及地覆構成,上施以極細微之浮雕,構圖多取獅、象、牛、馬等動物及法輪、菩提樹、本生譚等。(5)石柱,阿育王曾刻詔書、法敕立於國境。柱端鐘形,上載象、獅、輪寶等。(6)幢,梵語 dhvaja,意譯旗、標誌。於印度,幢之樣式類別有三種:1.形狀如旗,2.塔蓋左右各樹一斜竿,3.塔前左右各樹一石(如我國長方形碑)。(7)曼荼羅,形像曼荼羅有以金、銀建造者,形制則有圓壇、方壇、蓮華壇、三角壇等。 各國之佛教建築常因各地人文及地理因素而各顯特色。錫蘭之遺存建築與印度大多相同,緬甸、泰國、柬埔寨等地,則雜有木造建築,爪哇之婆羅浮圖(Boro-Budurl)為一表現密教九層曼荼羅之大規模石造建築。西藏之大寺院,多建於山麓斜坡上,配置有多種建築,連接在一起,呈現一種歐洲風格之市街景觀,特色為塔身下部尚有一細小之喇嘛塔。我國之佛教建築多仿皇宮式之建築,其典型設計多以主要建築物整齊、對稱地配列左右兩方,山門與天王殿、大雄殿、法堂、方丈等呈一直線並列,其左右分別設置鐘樓與鼓樓、伽藍殿與祖師殿、客室與雲水堂等。塔為多層,建於伽藍外。材料以木、甎為主,屋瓦大多加上彩色塗繪。我國著名的佛教建築中,如建於魏孝明帝熙平元年(516)之永寧寺,被譽為「此寺精麗,閻浮所無」。又我國之佛教建築,可謂為中國佛教藝術之大觀,蓋因印度亦無如此諸堂整齊、蔚然壯觀之佛教建築。其他諸國,如韓國、越南之佛教建築,可說係承襲我國之樣式;滿蒙則雜有西藏與中國之風格。日本之佛教建築亦模仿我國之樣式,且多採用木造,初期建築呈現左右整齊對稱之配列,塔多半配置於伽藍內。平安朝以後,除禪宗寺院外,伽藍之配置則多傾向自由化。至於細部之式樣,平安朝以前為和式,鎌倉時代以後則有唐式、和式、天竺式三種,後來為和式與唐式混合之普通樣式。昭和以後採用鋼筋混凝土建造。 (二)雕刻:於世尊涅槃後,佛徒多以金剛座、菩提葉、法輪、佛足、傘蓋等為膜拜對象,直至西元一世紀中葉,始漸流行佛像之塑造。迨四、五世紀阿摩羅婆提(梵 Amaravati)之大塔,其欄楯有佛形像全具之佛傳圖。於印度,雕刻藝術之遺品最著名者為旁遮普之阿旃多石窟(梵 Ajantā)之雕像,阿旃多素有「東方藝術之宮」的美稱,石窟內部多壁畫,外部則多雕刻,其人物表情均極莊嚴生動,富有濃厚的宗教氣息。又印度以北之佛教造像則具犍馱羅藝術風格。此外,阿富汗喀什米爾之巴米羊(Bamian)遺蹟,保存世界著名之崖壁大佛像,高達五十二公尺餘。其他如柬埔寨之安哥窟、爪哇之婆羅浮圖等,皆有雕造精湛之石雕藝術。於我國,歷朝所鑿造之石窟,內中多含大量造像。而我國石窟之造像藝術,初時甚受犍馱羅與印度之影響,至唐宋即完全表現中國風格之特色。此外,東晉戴逵父子,由泥塑而發明夾紵;北朝李雅、張岫先後塑造嵩山少林寺佛像與安陽萬佛溝石窟造像;唐時楊惠之的塑像傳神,凡此皆為後世塑佛樹立良好規範。 (三)繪畫:印度自古即有以畫為業者。如阿旃多石窟之初期作品,即為佛教壁畫之最早製作。例如第十窟之六牙白象本生圖,可追溯為紀元前之作品。此外,殘留於阿旃多第二期(五、六世紀間)、第三期(七世紀)等諸窟之繪畫極多,其特色係由明暗之對比產生立體效果。另於錫蘭悉耆利耶石窟(巴 Sīgiriya)之供養天人圖,可推定為五世紀所傳留下來之壁畫,其手法係屬於阿旃多石窟繪畫之技巧,此一風格係經由西北印度輸入之希臘文化,與佛教文化相混合而產生之特殊藝術型態,故阿旃多石窟不僅成為印度藝術之寶庫,亦成為遠及中亞、中國、日本的佛教藝術之源流。如阿旃多石窟中之龍女傳說圖、飛天圖等,甚至遠如日本亦受其風格影響,如法隆寺之壁畫、日野法界寺阿彌陀堂之飛天圖等。 關於佛畫方面,最初約有本生譚、佛傳圖、㡧像、壁畫等四類。㡧像之畫法,係先於中央畫好佛像,次於像下書寫三歸依之文,再次書寫五學處、十二因緣,最後於像上書寫二頌。通常佛畫有三種用途:莊嚴、供作本尊、法具。大抵而言,一切佛像從其形體容貌之相好而言,均是相同,故區別各各不同之佛,主要由「手印」分辨。除相好與手印外,尚須注意度量,如全身長一二○分,肉髻高四分,面長十二分,頸長四分等。 我國歷代名家多作寺院壁畫,尤於唐代,當時畫家若被任命繪製寺院壁畫,必引為一生中之殊遇。著名之畫家有顧愷之、陸探微、張僧繇、袁子蓣、吳道子、李公麟等。惜以佛寺多為磚木所造,每易毀於兵燹水火,獨西陲之敦煌、吐魯番等地之石窟壁畫得以倖免災厄,燦然存在。西域出身之尉遲乙僧被譽為初唐第一位佛畫家,常以獨特之「遠近法」繪製西域風之變相圖。此外,我國禪僧之水墨畫至今仍被畫界所重,此類僅藉著上墨色來表現宇宙風貌精神之畫風,可視為禪宗特有之風格,亦為中國藝術之奇葩。自宋以後,大型壁畫之獨特畫風逐漸衰微,代之以禪宗祖師像、羅漢像,又在禪僧指導下,墨繪與書法因而發達,著名之禪畫代表者有牧谿、梁楷、石濤、八大山人、漸江、玉磵等,彼等繪畫技巧之特出、氣慨之壯大,予畫界極大之影響。其中尤以石濤最具代表性,其「一筆畫」之絕創,為我國禪畫最佳之寫照。日本十五世紀室町時代即集我國宋代墨繪之大成,中心人物有如拙、周文、雪舟等。 (四)工藝:佛教歷史中最古之工藝品為舍利容器,材料有金屬(金、銀、銅)、玉、石、木等,通常埋於佛塔之中;於印度,最早之遺品約為西元前四世紀之作品。我國與日本之塔婆,中間多埋有舍利容器。一般佛教所用之器具類,統稱為佛具或道具,其種類樣式繁多,以下略分七類統括之:(1)尊像之莊嚴具,如天蓋、幡、花鬘、纓絡等。(2)供養具,如香爐、燭臺、花瓶、花籠、盤等。(3)樂器類,梵鐘、金鼓、磬、銅鑼、鈴、木魚等。(4)容器,如經箱、袈裟箱等。(5)僧侶之法服及所持物,如袈裟、錫杖、念珠、如意等。(6)密教之修法具,如金剛杵、金剛鈴、羯磨杵、禮盤等。(7)與雕刻、建築有關之作品,如櫥子、佛龕、佛壇、燈籠等。 我國唐代前後,佛教與民間生活相結合,工藝方面固然大量製作法器與供具,一般生活器具亦皆滲入佛教藝術之成份。宋代因之,直至目前,即或略有變易,而佛教影響之因素仍不難判知。〔佛教藝術論集(現代佛教學術叢刊(20))、中國佛教藝術(國立歷史博物館)〕
; (佛教藝術) Nghệ thuật Phật giáo. Từ thời kì Phật giáo nguyên thủy đến thời kì Phật giáo bộ phái, nghệ thuật Phật giáo mới chỉ giới hạn trong các bức vẽ hoặc điêu khắc bàn chân Phật, tòa kim cương, cây Bồ đề…... để tượng trưng cho đức Phật, chứ chưa mở rộng đến các lĩnh vực khác. Đến khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, giới tăng sĩ có tinh thần canh tân, đả phá quan niệm bảo thủ của thời Phật giáo bộ phái không dám đắp vẽ tượng Phật, bắt đầu tạo tượng Phật để lễ bái cúng dường. Từ đó, việc tạo hình tượng Phật trở thành phong trào phổ biến khắp nơi, nhờ thế mà nghệ thuật Phật giáo nói chung như điêu khắc, kiến trúc, hội họa... phát triển rất mạnh. Nghệ thuật Phật giáo Ấn độ có thể được chia làm 2 trường phái là: Nghệ thuật Phật giáo Ấn độ thuần túy và Nghệ thuật Kiện đà la chịu ảnh hưởng nghệ thuật Hi lạp, Ấn độ, Đại hạ, An tức...… Khoảng đầu thế kỉ IV, lấy Ma yết đà làm trung tâm, Vương triều Cấp đa thống nhất Ấn độ, thì nghệ thuật Ấn độ và nghệ thuật Kiện đà la lần lượt theo Phật giáo mà được truyền vào Trung quốc. Đến các đời Tùy, Đường thì văn hóa và nghệ thuật Phật giáo đã kết hợp với tinh thần người Trung quốc khiến cho nghệ thuật Phật giáo trở thành hình thái thuần túy Trung quốc. Đứng về phương diện nguồn gốc và phạm vi phát triển rộng lớn mà nói thì nghệ thuật Phật giáo có thể được chia ra 3 hệ thống lớn là Tiểu thừa, Đại thừa và Mật giáo. 1. Nghệ thuật của Phật giáo Tiểu thừa: Chủ thể của nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa là lấy các di vật Phật giáo được sùng bái ở thời kì đầu, như kiến trúc tháp Phật, làm cơ sở. Còn về hội họa, điêu khắc thì phần nhiều lấy các truyện tiền thân của đức Phật (Bản sinh đàm) và các chuyện thí dụ làm chủ đề. Khuynh hướng này tiếp tục mãi cho đến sau khi phong trào tạo tượng Phật đã phổ cập. Hệ thống nghệ thuật này lưu hành ở các nước Phật giáo Nam truyền như: Tích lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào…... 2. Nghệ thuật Phật giáo Đại thừa: Nghệ thuật Phật giáo Đại thừa lấy việc tạo tác và sùng bái tượng Phật làm trung tâm, bắt nguồn từ Ấn độ, qua vùng Trung á rồi truyền đến Trung quốc, Nhật bản...… Tuy nhiên, nghệ thuật Phật giáo ở vùng Trung á và Trung quốc vào thời kì đầu, mang rất đậm sắc thái của nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa. 3. Nghệ thuật Mật giáo: Nghệ thuật của Mật giáo bắt đầu ở Ấn độ vào khoảng thế kỉ VII, VIII, trong đó có 1 hệ phái được truyền đến Trung quốc, từ đó truyền sang Nhật bản rồi trở thành dòng phái nghệ thuật chủ yếu của thời đại Bình an, Liêm thương ở Nhật bản. Lại có 1 hệ phái nữa được truyền qua Nepal, rồi từ đó vào Tây tạng, phát triển thành nghệ thuật đặc hữu của Lạt ma giáo, về sau truyền đến Mông cổ và các nước vùng Đông bắc. Đặc điểm lớn nhất trong nghệ thuật Mật giáo là tính chất gắn liền giữa nghi lễ tông giáo và nghệ thuật, như tượng Bản tôn và tượng của các vị tôn khác trong các pháp tu… là chủ đề quan trọng nhất của nghệ thuật Mật giáo. Tượng chư tôn trong Mật giáo phần nhiều là từ tượng thần của Ấn độ giáo chuyển hóa, sau khi du nhập Mật giáo, chủng loại các tôn tượng được tăng thêm, đồng thời, hình tượng cũng biến hóa (như nhiều mặt, nhiều tay, tay cầm vũ khí, với hình dáng dữ tợn, trợn mắt, nhe răng, tóc dựng đứng, vẻ phẫn nộ…...). Ngoài ra, nghệ thuật Mật giáo còn bao gồm các bức vẽ Mạn đồ la của Kim cương giới, Thai tạng giới và các pháp khí như chày kim cương, chuông, mõ, tràng hoa, lò hương, bảo châu, ma ni luân… tất cả đều có phong cách nghệ thuật. Nói tóm lại, nghệ thuật của Mật giáo hết sức phức tạp và chiếm 1 địa vị trọng yếu trong toàn bộ nghệ thuật Phật giáo nói chung. Nói chung, nghệ thuật Phật giáo có thể được chia làm mấy loại như: Kiến trúc, Điêu khắc, Hội họa và Công nghệ. I. Kiến trúc. Cứ theo sự ghi chép trong các kinh điển thì khi đức Phật còn tại thế đã có các tinh xá lớn, như tinh xá Kì viên với đầy đủ các kiến trúc như chính điện, nhà liêu(phòng tăng),nhà kho, nhà khách, nhà bếp, nhà đi dạo, nhà tắm, hồ sen, nhà chữa bệnh...… Các bức tranh lễ Phật khắc trên đá ở tháp Ba hách đặc tại Ấn độ Một loại Mạn đồ la kiến trúc đương thời còn lưu lại đến đời sau thì chủ yếu là Tháp (Phạm: Stùpa), Tháp viện (Phạm: Caitya-gfha), Tăng viện (Phạm: Vihàra), tháp nhọn (Phạm: Zikhara)…... Thông thường 3, 4 kiến trúc thì có thể cấu tạo thành 1 ngôi già lam, vật liệu xây cất chủ yếu là gạch và đá. Về hình thái kiến trúc của Phật giáo thì đại khái có tháp, hang đá, tăng viện, ngọc viên, cửa, cột đá, cột kinh, Mạn đồ la...…1. Tháp: Cũng gọi Cao hiển xứ. Hán dịch: Mộ, miếu. Vốn được xây dựng để thờ xá lợi của đức Phật, cho nên có phong cách sùng bái đặc biệt của Phật giáo, là trung tâm của quần thể kiến trúc (già lam, chùa viện) trong Phật giáo. Về hình dạng thì có hình tròn, hình bán cầu kiểu bát úp (bắt đầu vào thời đại vua A dục), hình vuông...… Về nguyên liệu thì tháp cổ ở Ấn độ phần nhiều trong ruột tháp chứa đầy đất và đá, bề ngoài thân tháp thì xây bằng đá, hoặc gạch, trát vữa. Kiểu bát úp hình bán cầu là kiểu tháp xưa ở Ấn độ, kiểu kiến trúc quan trọng nhất còn lại mà ngày nay được thấy là di tích ở Sơn kì (Phạm: Sànchi), chính giữa tháp chôn giấu đồ đựng xá lợi, 4 chung quanh có lan can, cửa tháp mở rộng, nền tháp hình vuông. Kiểu tháp này về sau được truyền đến Trung quốc như tháp Nhạn, tháp Lạt ma...…, xây bằng gạch hoặc bằng đá. 2. Hang đá: Trong số các hang đá của Tiểu thừa thì hang Bạt xà (Bhaja), Khang đả lí (Komdane) là xưa nhất. Tại Trung quốc thì hang đá Vân cương ở Đại đồng là to lớn nhất, là di tích của đời Bắc ngụy và đời Tùy. Ngoài ra còn có các hang đá ở Long môn, Lạc dương, tỉnh Hà nam, hang ở huyện Củng, hang ở núi Thê hà tại Nam kinh, hang ở núi Thiên long tại Thái nguyên, tỉnh Sơn tây...… Trong các hang đá kể trên hiện còn những pho tượng bằng đá, những đồ trang sức, các bức bích họa rất phong phú, biểu hiện nền nghệ thuật tổng hợp của Phật giáo. 3. Tăng viện: Phạm:Vihàra. Cũng gọi Tăng phòng. Có 4 loại: Đơn độc tăng viện, Đơn tằng tăng viện, Bình địa tăng viện và Trùng tằng tăng viện. Tại Ấn độ, lúc đầu, Tăng viện được kiến trúc bằng gỗ, sau thì dần dần xây bằng đá. Ở trong tăng viện còn có các kiến trúc cần thiết cho sinh hoạt của chúng tăng như: Nhà thờ, nhà giảng...…, thông thường những kiến trúc này tổ hợp lại mà hình thành 1 ngôi chùa viện. Nhưng ở Trung quốc thì thường tổ hợp 7 kiến trúc thành 1 đơn vị, gọi là Thất đường già lam.4. Ngọc viên, cũng gọi Chu viên. Các kiến trúc như già lam, tháp, tăng viện...… đều có ngọc viên xây bằng đá bao chung quanh gọi là Ngọc viên; trên ngọc viên có những bức tranh khắc nổi rất tinh vi, đề tài phần nhiều là sư tử, voi, bò, ngựa, bánh xe, cây Bồ đề, và chuyện bản sinh. 5. Cột đá: Do vua A dục dựng ở các nơi Phật tích, trên thân cột có khắc lời chiếu chỉ, pháp sắc của vua; trên đầu cột khắc voi, sư tử, bánh xe…... 6. Cột kinh: Hình dáng như cột cờ, 2 bên phía trước tháp mỗi bên đều dựng 1 cột (giống như tấm bia hình chữ nhật của Trung quốc). 7. Mạn đồ la: Hình tượng Mạn đồ la được kiến tạo bằng vàng, bạc; kiểu thì có hình tròn, hình vuông, hình hoa sen, hình tam giác…... II. Điêu Khắc. Sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử và tín đồ dùng tòa kim cương, lá bồ đề, bánh xe pháp, bàn chân Phật, cây lọng… để tượng trưng đức Phật mà làm đối tượng lễ bái. Mãi đến khoảng giữa thế kỉ I Tây lịch, việc đắp tượng mới dần dần được lưu hành. Đến thế kỉ IV, V, người ta mới thấy bức khắc nổi đầy đủ hình tượng đức Phật trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm: Amaravati). Tại Ấn độ, di phẩm của nghệ thuật điêu khắc nổi tiếng nhất là các pho tượng khắc trong hang đá A chiên đa (Phạm: Ajantà) thuộc tỉnh Bàng già phổ (Punjab), vốn cócáimĩ danh là Cung nghệ thuật phương đông; bên trong hang phần nhiều là bích họa, còn bên ngoài hang thì phần nhiều là điêu khắc. Những nhân vật được biểu hiện cực kì trang nghiêm sinh động, đậm đà màu sắc tông giáo. Tượng Phật ở miền Bắc Ấn độ thì lại mang phong cách nghệ thuật Kiện đà la. Ngoài ra, di tích Ba mễ dương (Phạm: Bàmyan) tại nước Afghanistan có pho tượng Phật khắc trong sườn núi, cao tới 52m, nổi tiếng nhất thế giới, đã tồn tại qua 17 thế kỉ(nhưng rất đau xót đã bị những người Hồi giáo cuồng tín Taliban phá hủy vào tháng 3 năm 2001 – ND)! Chùa Angkor (Angkor Vat) ở Cao miên, tháp Bà la phù đồ (Boro-Budur) ở Java… đều là nghệ thuật khắc đá rất tinh xảo. Còn ở Trung quốc, trong các hang đá được đục mở qua nhiều triều đại, phần lớn là khắc tượng Phật. Nghệ thuật khắc tượng trong các hang đá ở Trung quốc, lúc ban đầu, chịu ảnh hưởng sâu đậm nghệ thuật của Kiện đà la và Ấn độ, nhưng đến các đời Đường, Tống thì hoàn toàn thể hiện đặc sắc của phong cách Trung quốc. III. Hội Họa. Những tác phẩm thời kì đầu trong hang đá A chiên đa là những bích họa sớm nhất của Phật giáo. Chẳng hạn như con voi trắng 6 ngà trong bức tranh bản sinh ở hang thứ 10 là tác phẩm trước kỉ nguyên Tây lịch. Bức tranh Cúng dường thiên nhân(người trời cúng dường)trong hang đá Tất kì lợi da (Pàli: Sìgiriya) ở đảo Tích lan thì được suy định là tác phẩm ở thế kỉ V truyền lại, nét vẽ thuộc kĩ xảo của hội họa A chiên đa Ấn độ. Như vậy, hang đá A chiên đa không những chỉ là kho báu của nghệ thuật Ấn độ, mà nó còn là nguồn của những dòng nghệ thuật Phật giáo Trung á, Trung quốc, Nhật bản...… xa xôi. Như các bức tranh Truyền thuyết Long nữ, tranh Phi thiên trong hang đá A chiên đa đã ảnh hưởng rất đậm đà đến các bức bích họa của chùa Pháp long, chùa Pháp giới...… tại Nhật bản. IV. Công Nghệ. Những công nghệ phẩm xưa nhất trong lịch sử Phật giáo là các đồ đựng xá lợi Phật làm bằng vàng, bạc, đồng, ngọc, đá, gỗ…..., thông thường chôn ở trong tháp Phật. Tại Ấn độ, di phẩm sớm nhất là tác phẩm ở khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Ngoài đồ đựng xá lợi Phật ra, các dụng cụ khác dùng trong Phật giáo được gọi chung làPhật cụ hoặc Đạo cụ, có rất nhiều chủng loại và kiểu dáng. Nay chia một cách tổng quát làm 7 loại như sau: 1. Dụng cụ trang nghiêm tượng Phật, Bồ tát: Lọng, phướn, phan, tràng hoa, chuỗi anh lạc…... 2. Dụng cụ cúng dường: Lư hương, chân đèn, bình hoa, lẵng hoa, mâm…... 3. Loại nhạc khí: Chuông lớn, trống, khánh, thanh la, mao bạt, chuông lắc, mõ cá…...4. Dụng cụ chứa đựng: Hòm kinh, hòm áo ca sa. 5. Áo pháp và vật cầm của tăng sĩ: Ca sa, tích trượng, chuỗi tràng, như ý… 6. Dụng cụ tu pháp của Mật giáo:Chày kim cương, linh kim cương, chày yết ma, mâm lễ…... 7. Những tác phẩm liên quan đến điêu khắc, kiến trúc: Khám Phật, đàn Phật, lồng đèn...… [X. Phật giáo nghệ thuật luận tập (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 20); Trung quốc Phật giáo nghệ thuật (Quốc lập lịch sử bác vật quán)].
phật giáo nguyên thủy
Xem Thượng tọa bộ.
phật giáo ngạn ngữ lí ngữ
2708即產生於庶民之間,有關佛教之日常用語或習慣用語,其形式大多傾向於口語化、鄙俗化。由於俗諺具有直接表露社會百態、反映風俗特徵之性質,於近數十年來,漸受學界所重,而不僅視之為民俗學或語言學之重要資料。如對中國佛教史之研究,廣泛之俗諺資料,可呈現佛教於庶民階層弘布之概貌、佛教信仰在一般庶民生活之影響力,或庶民對佛教教義、行事等之心態反應,乃至於一國一地由於風尚習慣之不同而表現出迥異之佛教文化。如「佛要金裝,人要衣裝」一諺,反映出我國將佛像塗成金黃色或覆以金箔之習慣;「家家觀世音,戶戶彌陀佛」一諺,顯現唐代(憲宗迎佛骨時)佛教信仰之熱烈;「秀才不是窮家兒,和尚不是富家兒」、「無法子,就做和尚」等諺,反映昔時頗不乏由於生活困窘而投身寺院以謀溫飽之情形;「平日不燒香,急來抱佛腳」、「無事不登三寶殿」等諺,反映出庶民信仰之特質,即基於現世利益或祈請除災避難之情;「寧可葷口念佛,不可蔬口罵人」、「地獄門前僧道多」等諺,表現庶民對宗教實踐之批判反省觀感;「閻王註定三更死,絕不留人到五更」之諺,則顯示庶民對善惡果報及命運之心態。 在我國,廣為收錄俗諺而可顯示宗教生活之書籍,較重要者有:(一)史襄哉之「中國諺海」,民國十六年(1927)於上海刊行,共收一萬四千多則。(二)西方學者克里巴之「透過俚諺所觀察的中國宗教」,民國十五年編於蕪湖,共收二四四八則,並加英譯、注釋。(三)日本學者下永憲次之「北京俗語辭典」。(四)西方學者維夫里德亞蘭之「英漢對照中國俗諺四千首」。(五)日本學者鳥居久靖之「改編中國俗諺四千首」。此類俗諺,除廣泛收錄一般民間之口傳外,亦收集自儒、釋、道三教之書籍,及歷代流傳之善書等。〔中國佛教發展史第七章(中村元)〕
; (佛教諺語俚語) Những dụng ngữ Phật giáo được dùng như những tục ngữ quen thuộc trong dân gian.Vì tục ngữ và ngạn ngữ có tính chất trực tiếp biểu lộ những trạng thái xã hội, phản ánh đặc trưng của phong tục, cho nên vài mươi năm gần đây dần dần đã được giới học thuật chú ý và xem là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu Dân tục học và Ngôn ngữ học. Như khi nghiên cứu về Tên gọi 12 tháng 1. Chế đát na, Chế đát la, Tổ đát la, Đát la 2. Phệ xá khư, Tô xá khư 3. Thệ sắt tra, Tế sử tra 4. Át sa đồ, A sa đồ, A sa xá 5. Thất la phạt noa, Thất la phiệt noa, Thất ra phạ na 6. Bà đạt la bát đà, Bà đạt la bạt đà, Bà nại la bà na 7. A thấp phược dữu xà, A thấp bà dữu xà, A thấp phạ dụ nhã 8. Ca lạt để ca, Ca lật để ca, Yết lật để ca, Ca đề 9. Mạt ca thủy la, Ma ra nga thủy la 10. Báo sa, Phú sa, Bảo sa, Bố sử 11. Ma khư, Ma già, Mạc già 12. Phả lặc lũ noa, Phả lạc cụ na, Phả cầu na, Phá cầu. Tên Phạm Caitra Vaizàkha Jyewỉha Àwàđha Zravana Bhàdrapada Azvayuja Kàrttika Mfgaziras Pauwa Màgha Phàlguna Nông lịch (âm lịch) Trọng xuân, 16 tháng 1 đến 15 tháng 2 Quí xuân, 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 Mạnh hạ, 16 tháng 3 đến 15 tháng 4 Trọng hạ, 16 tháng 4 đến 15 tháng 5 Quí hạ, 16 tháng 5 đến 15 tháng 6 Mạnh thu, 16 tháng 6 đến 15 tháng 7 Trọng thu, 16 tháng 7 đến 15 tháng 8 Quí thu, 16 tháng 8 đến 15 tháng 9 Mạnh đông, 16 tháng 9 đến 15 tháng 10 Trọng đông, 16 tháng 10 đến 15 tháng 11 Quí đông, 16 tháng 11 đến 15 tháng 12 Mạnh xuân, 16 tháng 12 đến 15 tháng 1 lịch sử Phật giáo Trung quốc, thì tư liệu tục ngữ, ngạn ngữ có thể cho thấy một cách đại khái cái tình hình truyền bá Phật giáo trong dân gian, sức ảnh hưởng của tín ngưỡng Phật giáo trong đời sống của dân chúng phổ thông, hoặc phản ứng của tâm thái dân chúng đối với giáo nghĩa, hành sự...… của Phật giáo, cho đến tình hình do phong tục tập quán bất đồng của các địa phương mà biểu hiện văn hóa Phật giáo rất khác nhau. Như câu tục ngữPhật cần thếp vàng, người cần trang phục phản ánh phong tục người Trung quốc thường sơn son thếp vàng tượng Phật. Hoặc câu Nhà nhà Quan thế âm, chốn chốn A di đànói lên sự toàn thịnh của Phật giáo Trung quốc ở đời Đường. Những câuBình thường chẳng thắp hương, lâm nạn ôm chân Phật; Có bệnh vái tứ phương, không bệnh đồng hương chẳng mất, phản ánh cái đặc chất tín ngưỡng của giới bình dân, tức tín ngưỡng tông giáo chỉ cầu cái lợi trước mắt. Những câuThà ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối,hoặc Chẳng thà ăn mặn niệm Phật còn hơn ăn chay chửi mắng người,biểu hiện thái độ phê phán tông giáo một cách thực tiễn của dân chúng. Câu Vua Diêm la quyết định canh ba thì không thể đợi đến canh năm phản ánh tâm thái của dân chúng đối với quả báo thiện ác. Ở Trung quốc, những sách quan trọng sưu tập những ngạn ngữ, tục ngữ liên quan đến sinh hoạt tông giáo thì có: 1. Trung quốc ngạn hải của Sử tương tai, ấn hành tại Thượng hải năm 1927, thu chép tổng cộng hơn 14.000 tắc. 2. Thâu quá lí ngạn sở quan sát đích Trung quốc tông giáo, do Khắc lí ba biên soạn, thu chép tất cả 2.448 tắc. 3. Bắc kinh tục ngữ từ điển, do học giả Nhật bản Hạ vĩnh Hiến thứ soạn. 4. Anh Hán đối chiếu Trung quốc tục ngạn, do ông Duy phu lí đức á lan biên soạn, gồm 4.000 tắc. 5. Cải biên Trung quốc tục ngạn, do ông Điểu cư Cửu tĩnh người Nhật soạn. [X. Trung quốc Phật giáo phát triển sử (chương 17) của ông Trung thôn nguyên].
phật giáo nhập truyện
2658佛陀之教法,經僧眾及阿育王、迦膩色迦王等護法者之大力宣揚,漸及全印度,並擴展至其他區域;向南傳至錫蘭(今斯里蘭卡)、緬甸、泰國等地,稱為南傳佛教,以巴利語結集佛典,側重自我徹悟;向北經中亞諸國傳至我國、韓國、日本等地,稱為北傳佛教,依準由梵語轉譯之漢語佛典為主,強調自度度人。惟佛教傳入我國之確實年代,至今尚無定論。傳統上則相信係於東漢明帝永平年間(58~75)傳入,如牟子理惑論、四十二章經序等皆載有當時佛教入傳之事。 茲略舉佛教入傳之傳說如下:(一)謂海內經、山海經所載三皇五帝時之伯益已知有佛。(二)列子卷四仲尼篇,孔子嘗言西方有聖人,此聖人即指佛陀,故謂佛教於先秦時代已傳入;更有竄改周穆王篇,而謂西周穆王時佛教已傳入。(三)漢法本內傳、周書異記,均謂佛法於周代已傳入。(四)歷代三寶紀卷一載,周代已於各地建立阿育王佛塔,然佛塔與經典皆為秦始皇所毀;又謂秦始皇四年(243 B.C.),西域沙門釋利房等十八人攜佛典入華。(五)北齊魏收所撰之魏書卷一一四釋老志載,漢武帝元狩二年(121 B.C.)霍去病伐匈奴,得休屠王所祀之金人,安置於甘泉宮;或謂此金人即佛像,亦即佛教東傳之證據。然史記卷一一○匈奴列傳、漢書卷五十五霍去病傳等,僅言及得金人之事,並未言及佛教,此金人或為西域之天神。(六)釋老志又載,張騫出使西域歸國後,謂大夏之鄰有身毒國,嘗聞浮屠之教;然史記卷一二三大宛列傳、漢書卷六張騫傳等,雖言及身毒國,卻無浮屠之記載。(七)劉宋宗炳所撰之明佛論載,東方朔嘗與漢武帝論對劫燒說,此為漢代接觸佛教之據。(八)明佛論又載,劉向所撰之列仙傳中,有七十四人為佛經中之人物;然列仙傳之真偽已屬可疑,更遑論其內容。 以上諸種傳說雖難以與史實相符,然由其內容及所列之時間可推知,佛教傳入我國時,或許未及時受到重視,以致未留下詳盡之記錄。又佛教為外來宗教,在其教團逐漸擴展之時,勢必與道教,甚至儒家學派爭衡,或為提高佛教之權威性而逐步上溯其東傳之年代。 至於一般所承認之說法,則有三種:(一)後漢書卷七十二楚王英傳、卷一一八西域傳,及後漢紀卷十等載,東漢明帝夜夢金人,太史傅毅以為或即西方之佛,明帝遂遣使往西域求法。途中遇梵僧迦葉摩騰、竺法蘭二人。歸至洛陽,明帝建白馬寺,梵僧即於此譯出四十二章經。是為我國有佛僧、佛寺、佛教之始。 (二)楚王英傳載,楚王英崇尚黃老與浮屠。一般公認,東漢之上層階級多信奉儒家、黃老,及外來之佛教。楚王英封於彭城,可知由西域來華之外國沙門,其活動範圍自北方長安、洛陽,已延展向南方各地。其後楚王英因故左遷丹陽涇縣(位於安徽),佛教得以再向南地拓展。 (三)曹魏魚豢所撰之魏略西戎傳,引三國志魏志卷三裴松之(372~451)注,謂西漢哀帝元壽元年(2 B.C.),博士弟子景盧(秦景憲)從大月氏王之使者伊存口授浮屠經。浮屠即佛陀之音譯。是為佛教入傳之最早、最可靠之記載。魏書釋老志對此事件之評述則謂,我國雖已聽聞佛教之說,卻尚未信受其義。故可確知佛教在西漢末年已傳入我國,惟尚未產生有力之影響。 此外,東漢時代處於佛教初傳階段,信徒多以現世的、功利的道教信仰形式來接受佛教,視佛陀為具有禳災招福、不老長壽等靈力之神祇,視大力傳道之西域沙門為巫祝、神仙修行者等。而我國固有之儒家、道教等,難免對此一外來宗教產生極大之排斥作用。 東漢末年牟子作理惑論,一方面揭示佛教之真正面目,將其自方士、神仙家中析出;一方面調和儒、釋、道三家,闡論佛教思想非但不與儒、道相互抵觸,且有相輔相成之效。其後隨著時代之變遷,排佛論與容佛論互有消長,此後此一論諍亦成為歷來知識分子間重要論題之一;至北魏太武帝、北周武帝、唐武宗、後周世宗等時,更有實際迫害佛教之舉動,至宋代理學崛起,始漸融合三教之爭。 我國素有著書立說之教化傳統,故佛教信徒亦重視佛典之翻譯編纂,以為傳教之基礎。佛典來源有二,一由外國沙門自印度、西域攜帶來華;一由我國信徒、高僧親往西域、印度求法、求經所攜回。佛典又分梵本與胡本二種,梵本成書於印度,以梵文書寫;胡本則係西域諸國譯自梵文之經典,如龜茲語、于闐語、粟特語等之經文。又外國譯經沙門中,法號之上若有「安、康、支、帛」等字者,皆為西域人,均非以梵語為國語者,而於翻譯佛典之工作具有極大之貢獻。 初時我國為方便理解佛教,常擷取儒、道二家精義與佛學互作解訓,形成格義佛教。東晉道安(312~385)則倡言,須以佛教立場來理解佛學精義,其否定格義之論廣受矚目,更促進中國式佛教之發展;因隋朝以前之佛教飽受儒、道之影響,至唐朝始因政治安定、民生富足,培養出開闊之世界主義胸襟,能視佛教為印度文化思想之結晶,而以求取新知之態度從事譯經工作。 以下即以各代西行求法及翻譯佛經之概況,略窺佛教入傳之過程: 東漢明帝時,四十二章經首先為迦葉摩騰、竺法蘭二人譯出。迦葉為中天竺人,後示寂於洛陽;法蘭亦中天竺人,精於漢語,受明帝供奉於清涼臺,後亦示寂於洛陽。迦葉、法蘭二人另譯有十地斷結、佛本生、佛本行、法海藏等經,惜皆佚失。惟四十二章經之譯者、版本等問題,至今尚有爭議。東漢末年桓、靈二帝時,西域沙門相繼來華,積極從事譯經工作。 安世高(安清)係安息(伊朗東南)人,質帝時(145~146)入洛陽,譯有安般守意、陰持入、大小十二門、修行道地、人本欲生、阿毘曇王法、四諦、八正道、十二因緣、五陰喻、轉法輪、九十八結等經。支婁迦讖(支讖)係月氏人,精勤法戒,靈帝時至洛陽,受支亮之襄助,譯有般若道行品、首楞嚴、般舟三昧經,及兜沙、阿閦佛國、寶積經等大乘系之般若、方廣、華嚴等諸部經,至此大乘佛教始漸受重視。竺佛朔係天竺人,亦協助支讖譯經,譯有般舟三昧經等。支曜,譯有成具光明定意經、小道地經等。 三國時代,曇摩迦羅(法時、曇柯迦羅)係中天竺人,魏嘉平二年(250)譯出僧祇戒心,此戒本又作僧祇律,屬部派佛教大眾部系之戒本,首立羯磨法授戒,奠定我國佛教戒律基礎。曇諦(帝)係安息人,譯有曇無德羯磨(又作四分律)、摩訶僧祇律之戒本等。康僧鎧(僧伽跋摩、僧伽婆羅)為康居人,於白馬寺譯出郁伽長者等四部經,或謂亦譯有無量壽經。康僧會祖籍係康居人,後移至交阯,譯有六度集、雜譬喻等經,並為安般守意、法鏡等經作序、注釋。 支謙(恭明)係月支人,靈帝時來華,後避亂於孫吳,譯有維摩詰、大明度無極、瑞應本起、大般泥洹等經。另譯有本業、首楞嚴、大阿彌陀等經,然今已佚失。此外又撰有了本生死經注。其時,曹魏沙門朱士行因感般若道行品經文詞晦澀,難解其義,乃於魏甘露五年(260)出塞,至于闐,得大品般若經之梵本。幾經波折,至西晉太康三年(282)始達洛陽。元康元年(291),由于闐沙門無叉羅及優婆塞竺叔蘭等人譯出,稱為放光般若經。竺叔蘭另譯有維摩、首楞嚴等經。 西晉之時,以竺法護(曇摩羅剎)為當代譯經家之代表,世稱月氏菩薩或敦煌菩薩。竺法護原係月氏人,世居敦煌,因隨竺高座出家而易姓,嘗隨師遊西域,攜回賢劫、正法華、光讚等一百六十餘部經,譯出維摩詰子問、正法華、大哀、般泥洹後灌臘等經,共計一百五十餘部,其所依版本中亦雜有胡本,如罽賓之修行道地經、龜茲之阿惟越致遮經、于闐之光讚般若經等。帛遠(法祖)係河內人,譯有惟逮菩薩、佛般泥洹等經。 帛尸梨密多羅(吉友)係西域人,於東晉都城建康譯出大灌頂神咒、大孔雀王神咒、孔雀王雜神咒等經;竺曇無蘭亦為西域人,於揚都譯出咒齒、玄師
phật giáo nhập truyện lộ tuyến
2661漢武帝(140 B.C.~87 B.C.在位)為商業與軍事上之目的,曾兩次派遣張騫出使西域,從此打開東西交通路線,東西文化經此路線而交流融合,佛教思想與信仰亦隨著商旅、使節團、僧眾等,流傳至沿線之大月氏、安息、罽賓(迦溼彌羅,即今喀什米爾)、疏勒、于闐、高昌(吐魯番)等地區,乃至廣大的中國。印度、西域沙門來華弘法譯經,及我國高僧大德西行參學求道,所採行之途徑有陸路、海路二種。 陸路在北方,為主要通道,自今印度西北部經阿富汗、巴基斯坦、中亞、河西走廊,至中原地區。在新疆境內又分為南北二道,二道皆在天山南麓,亦即自洛陽或長安西行,經河西走廊,至敦煌。北道自敦煌沿塔里木盆地北側,經伊吾(哈密)、高昌、焉耆、龜茲(庫車)、疏勒等據點,復越葱嶺(帕米爾高原),西南行至罽賓而達天竺。南道自敦煌沿塔里木盆地南側,經鄯善、于闐、莎車,越過巴達克山南下,復越大雪山與興都庫什山而達罽賓;或由莎車至疏勒,與北道會合。 東晉法顯由北道之龜茲,越過流沙(塔克拉馬干沙漠)至南道之于闐,此稱為中道,其後再西行抵達天竺;唐代玄奘則由北道之龜茲越天山北麓,再過凌山,經中亞藥殺河(錫爾河)一帶,入活國(Kunduz,位於今阿富汗境內),復越大雪山,迂迴到達天竺。又部分行者由河西走廊之涼州(武威)進出巴蜀、江陵等地,如南朝之法獻。至於羅布泊附近之鄯善,原稱樓蘭,初為南北二道之交會點,文物鼎盛,惜自漢末以降漸趨衰落,竟至湮沒。 海路傳法不如陸路興盛,自印度經錫蘭、爪哇或婆羅州、馬來半島,至我國交阯(今越南河內)、廣州、東萊一帶(膠州灣),故廣州、交阯等地,亦為我國與南洋佛教交流之門戶。由海路來華或西行之著名行者有康僧會、真諦、菩提達磨、不空,及法顯(歸國時)、法勇、義淨等。 此外,西元一世紀前後之印度,大乘佛教興起,貶稱固守傳統佛學之教團為小乘,遂形成大、小乘二派對立之形勢,彼此皆大力宣教,欲建立強大之教團勢力,故佛教迅速向西北方、南方傳播,大、小乘勢力在西域諸國縱橫捭闔之際,我國亦開始接受佛教之熏習,因而西域佛教對我國有極大之影響,由是經西域傳來之佛教與自海路傳達者,比較亦有不同,如印度西北部盛行大乘思想,故傳至北方者多為般若、方等;迦溼彌羅為「一切有部」之發祥地,發智、毘婆沙等諸要籍即在北方傳譯;于闐盛行華嚴經,故支法領至該地攜回華嚴梵本三萬六千偈;而信仰小乘佛教之師子國(錫蘭),則由海路傳來其經典,如僧伽跋陀羅譯出善見律毘婆沙。 佛陀入滅之初,信徒僅以法輪、菩提樹、蓮花座、舍利塔等,為追慕佛陀之象徵。至西元前三二七年,希臘亞歷山大大帝入侵印北,其後由於印、希文化之交融,產生出犍馱羅藝術,佛教徒亦模仿希臘人,開始雕繪佛像,此類藝術即於佛教初傳時隨之傳入我國。
; (佛教入傳路綫) Con đường Phật giáo truyền vào Trung quốc. Vì mục đích thương nghiệp và quân sự mà vua Vũ đế (ở ngôi 140-87 trước Tây lịch) nhà Hán đã 2 lần sai ông Trương khiên đi sứ Tây vực và đã mở ra con đường Đông Tây, qua đó, 2 nền văn hóa Đông Tây cũng đã giao lưu dung hợp. Chính tín ngưỡng và tư tưởng Phật giáo cũng theo các đoàn sứ giả, các nhóm khách buôn và chúng tăng trên con đường ấy truyền vào các nước Đại nguyệt thị, An tức, Kế tân (Ca thấp di la, nay là Kashmir), Sớ lặc, Vu điền, Cao xương (Thổ lỗ phồn) cho đến đất Trung quốc bao la. Các vị sa môn Ấn độ, Tây vực đến Trung quốc dịch kinh, hoằng pháp và các vị đại đức, cao tăng Trung quốc sang Tây vực tham học, cầu đạo thì phải theo 2 con đường là đường bộ hoặc đường biển. 1. Đường bộ: Đường bộ phía bắc là con đường giao thông chính yếu, từ vùng tây bắc Ấn độ qua các xứ Afghanistan, Pakistan, Trung á, Hà tây tẩu lang đến Trung nguyên. Trong nội địa Tân cương lại chia làm 2 đường Nam Bắc, 2 con đường này đều ở chân núi phía nam của núi Thiên sơn, cũng tức là từ Lạc dương hay từ Trường an đi sang phía tây, qua Hà tây tẩu lang đến Đôn hoàng. Đường phía bắc men theo mạn bắc xứ Tháp lí mộc bồn, qua Y ngô (Cáp mật), Cao xương, Yên kì, Cưu tư (Khố xa), Sớ lặc…... rồi vượt dãy Thông lãnh (cao nguyên Pamir) đi về hướng tây nam đến Kế tân mà vào Thiên trúc. Đường phía nam thì từ Đôn hoàng men theo mạn nam xứ Tháp lí mộc bồn, qua các xứ Thiện thiện, Vu điền, Sa xa, vượt qua phía nam núi Ba đạt khắc, lại vượt núi Đại tuyết và núi Hưng đô khố thập (Hindukush) mà vào Kế tân; hoặc từ Sa xa đến Sớ lặc mà hợp chung với đường phía bắc. Ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, đi từ Cưu tư theo con đường phía bắc, vượt qua Lưu sa (sa mạc Samarkand) đến Vu điền ở đường phía nam, đây gọi là con đường giữa (tức giữa 2 đường bắc nam nói trên), sau đó lại đi về hướng tây mà đến Thiên trúc. Ngài Huyền trang đời Đường thì từ Cưu tư đi theo đường phía bắc, vượt qua chân núi phía bắc núi Thiên sơn, lại vượt Lăng sơn, qua sông Dược sát ở Trung á vào nước Hoạt (Kundur, nằm ở nội địa nước Afghanistan hiện nay), rồi lại vượt núi Đại tuyết, vòng đến Thiên trúc. Cũng có người đi từ Lương châu thuộc Hà tây tẩu lang tiến ra Ba thục, Giang lăng…... như ngài Pháp hiến đời Nam triều. 2. Đường biển: Sự truyền pháp qua đường biển không hưng thịnh bằng đường bộ, từ Ấn độ qua Tích lan, Java hoặc châu Bà la, bán đảo Mã lai đến Giao chỉ (nay là Hà nội Việt nam), Quảng châu, vùng Đông lai(vũng Giao châu), do đó, Quảng châu, Giao chỉ cũng là cửa ngõ giao lưu của Phật giáo Trung quốc và Nam dương. Các vị cao tăng nổi tiếng đi đường biển đến Trung quốc hay sang Ấn độ, có các ngài Khang tăng hội, Chân đế, Bồ đề đạt ma, Bất không và Pháp hiển (khi trở về nước), Pháp dũng, Nghĩa tịnh…... Ngoài ra, khoảng trướcsauthế kỉ I Tây lịch, Phật giáo Đại thừa hưng thịnh ở Ấn độ, gọi một cách mỉa mai giáo đoàn truyền thống bảo thủ là Tiểu thừa, thế là hình thành 2 phái đối lập nhau, phái nào cũng muốn bành trướng thế lực, nên ra sức hoằng pháp, truyền giáo để trở thành 1 giáo đoàn lớn mạnh, cho nên Phật giáo đã nhanh chóng nhắm tới hướng tây bắc và phương nam để truyền bá. Khi phạm vi thế lực của Đại, Tiểu thừa ở các nước Tây vực được mở rộng, thì Trung quốc cũng bắt đầu tiếp nhận Phật giáo; vì Phật giáo Tây vực đối với Trung quốc có ảnh hưởng rất lớn, nên giữa Phật giáo từ Tây vực truyền sang và Phật giáo từ đường biển đưa vào cũng có điểm khác nhau. Chẳng hạn như tư tưởng Đại thừa thịnh hành ở vùng Tây bắc Ấn độ, cho nên khi truyền đến những nước phương bắc thì phần lớn là các kinh Bát nhã, Phương đẳng; Ca thấp di la là nơi phát sinh ra Thuyết nhất thiết hữu bộ, nên các bộ luận thư quan trọng như Phát trí, Tì bà sa...… đã được truyền dịch ở phương bắc; kinh Hoa nghiêm thịnh hành ở Vu điền, nên ngài Chi pháp lãnh đã đến xứ này thỉnh được 16 nghìn bài kệ Hoa nghiêm bằng tiếng Phạm mang về Trung quốc. Còn nước Sư tử (Tích lan) tin theo Phật giáo Tiểu thừa, nên kinh điển từ nước này được truyền sang Trung quốc bằng đường biển cũng là kinh điển Tiểu thừa, như bộ Thiện kiến luật tì bà sa do ngài Tăng già bạt đà la dịch. Lúc đức Phật mới nhập diệt, tín đồ không dám tạo hình tượng Phật, mà chỉ dùng bánh xe pháp, cây Bồ đề, tòa hoa sen, tháp xá lợi...… để tượng trưng đức Phật mà lễ bái cúng dường. Mãi đến năm 327 trước Tây lịch, Alaxander the Great của Hi lạp xâm lược miền Bắc Ấn độ; về sau, 2 nền văn hóa Hi lạp và Ấn độ giao lưu, rồi dung hợp, từ đó sản sinh nền nghệ thuật Kiện đà la, bấy giờ tín đồ Phật giáo cũng phỏng theo người Hi lạp, bắt đầu điêu khắc và đắp vẽ tượng Phật. Loại nghệ thuật này sau cũng theo Phật giáo được truyền vào Trung quốc.
Phật giáo Nhật Bản
日本佛教|Tại Nhật, Phật giáo du nhập năm 522 với điểm xuất phát là Hàn Quốc. Mới đầu người Nhật thấy đây là một nền văn hoá ngoại lai, nhưng năm 585, Phật giáo được Nhật hoàng Dụng Minh (j: yomei) thừa nhận. Dưới thời vua Thánh Ðức (j: shokotu, 593-621), Phật giáo trở thành quốc giáo. Năm 594 nhà vua ra lệnh cho dân chúng phải thờ phụng Tam bảo (s: triratna). Ông khuyến khích dịch và viết kinh sách, bản thân ông cũng viết luận giải về các kinh (Duy-ma-cật sở thuyết kinh) và cho xây chùa chiền và thành lập Pháp Long tự (j: hōryū-ji) nổi tiếng ở Nại Lương (nara). Các Cao tăng Trung Quốc và Hàn Quốc được mời đến giáo hoá, người Nhật bắt đầu gia nhập Tăng-già. Trong thời kì này, tông Tam luận được thịnh hành.|Trong thời gian từ 710-794, có sáu tông phái tại Nhật Bản, phần lớn do Trung Quốc du nhập: Câu-xá (j: kusha), Pháp tướng (j: hossū), Tam luận (j: sanron), Thành thật (j: jōjitsu), Luật (j: ritsu), Hoa nghiêm (j: ke-gon). Phật giáo Nhật Bản có ảnh hưởng mạnh lên hoàng tộc, nhất là Hoa nghiêm tông. Bộ kinh Kim quang minh tối thắng vương (s: suvarṇaprabhāsottamarāja-sūtra) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá đạo Phật tại Nhật Bản vì được triều đình thời đó chấp nhận. Ðến thời kì Bình An (heian, 794-1184), tông Thiên Thai (j: tendai) và Chân ngôn (j: shingon) bắt đầu có ảnh hưởng. Ðến giữa thế kỉ thứ 10, việc tôn thờ phật A-di-đà bắt đầu thịnh hành và từ đó thành hình ra Tịnh độ (j: jōdo-shū) và Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) trong thời đại Liêm Thương (kamakura, 1185-1333). Năm 1191, Thiền tông du nhập Nhật Bản, một tông phái Phật giáo đã chứng tỏ dược sức sống mãnh liệt đến ngày nay. Thiền Nhật Bản cũng có hai hệ phái: Tào Ðộng (j: sōtō) và Lâm Tế (j: rinzai).|Trong thế kỉ thứ 13, Nhật Liên (nichiren) thành lập Nhật Liên tông, chủ trương theo kinh Diệu pháp liên hoa, xem đó là kinh quan trọng duy nhất. Trong các thế kỉ sau đó, đạo Phật không còn phát triển. Ðến thế kỉ 19, quan điểm Thần đạo (j: shintō) trở thành quốc giáo. Sau thế chiến thứ hai, Phật giáo phục hưng, hình thành các phái như Sáng Giá Học Hội (sōka gakkai), Lập Chính Giải Chính (risshō koseikai), Nhật Bản Sơn Diệu Pháp Tự (nipponzan myōhōji). Các tông phái này đều lấy Diệu pháp liên hoa kinh làm căn bản.
phật giáo pháp trụ học hội
2677於一九八二年在香港成立。係推動現代佛教思想、文化之學術組織。創辦人霍韜晦,有志於從學術文化立場推動佛教思想現代化而成立此會。自本會成立後,即出版世界佛學名著譯叢,並發行月報「法燈」,另又進行會內研究、對外講經弘法等工作,會員人數激增。 一九八四年起,增辦佛學及哲學等課程,兼講西方哲學、中國文化,又招收研究生,設立文化講座等。一九八六年一月,刊行「法言」季刊,除刊登該會成員之研究心得外,並發表會外學者之論著。 本會強調佛教本有之如實觀精神,主張開放及自由研究,故會員不限於佛教徒,而以知識青年為多,至一九八六年,會員人數多達二千人,各項活動頻繁,會址一再擴展,頗受各界囑目。
phật giáo phạm ngữ
2692指佛教經典所用之特殊梵語(Sanskrit)。其文法、語形、發音,與波爾尼等古典文法家們所規定、確立之古典梵語(Classical Sanskrit)不同。因其意義用法及獨特之語彙,未見於正統婆羅門系統之諸文獻中,故近代學者特別稱之為「佛教梵語」(Buddhist Sanskrit)。近代美國學者艾吉頓(Franklin Edgerton)則稱之為「佛教混淆梵語」(Buddhist Hybrid Sanskrit)。 佛典所使用之印度語言可大別為三類:(一)見諸於馬鳴(梵 Aśvaghoṣa)之詩等作品之標準梵語,亦即古典梵語。(二)中期印度語(Middle Indic),此為由吠陀梵語(Vedic Sanskrit)經俗語化、方言化而來,被統稱作普拉克利塔語(梵 Prākṛta, Prākrit),為今日印度語6 對稱。其中包含有巴利語(Pāli)及其他語言。巴利語為現今仍存於南方佛教聖典中之重要語言。印度西部、中部原均使用 Prākṛta。Prākrta 原為西北印度之方言;蓋釋尊昔日說法,大多使用各地方之俗語,其弟子,乃至於後來之各部派亦均以其根據地之方言說法,並記載其文獻和思想。(三)佛教梵語,為北方佛教文獻所用之語言,係根據北印度方言,再參雜梵語、巴利語及其他方言而發展成之佛教教團之特殊宗教語言,而非一般之日常用語。 從以上次第傾向梵語化之特徵觀之,佛典在初期多使用俗語,其後隨著時代之變遷而逐漸梵語化,及至後期,除特殊術語之外,已完全成為古典梵語。 艾吉頓將現存之佛教文獻,依其梵語化之程度,將梵語著作分為如下三期:(一)第一期:為韻文、散文並行採用之著作時期,此一時期之作品保存有極濃厚的中期印度語之色彩。(二)第二期:(1)韻文部分,含有中期印度語之成分較多。(2)散文部分則多梵語化。(3)語彙中含有一般用語以及可視作佛教梵語者亦非常多。(三)第三期:韻文、散文基本上以古典梵語書寫,然語彙中使用佛教梵語者甚多。
; (佛教梵語) Chỉ cho loại tiếng Phạm (Sanskrit) đặc biệt được sử dụng trong kinh điển Phật giáo. Về văn pháp, hình dạng chữ, cách phát âm của loại tiếng Phạm đặc thù này đều khác với tiếng Phạm cổ điển (Classical Sanskrit) do các nhà văn pháp cổ điển như Ba nhĩ ni qui định, xác lập. Vì ý nghĩa, cách sử dụng và ngữ vựng đặc thù của loại tiếng Phạm này không được thấy trong các văn hiến của hệ thống Bà la môn chính thống, cho nên các học giả cận đại đặcbiệt gọi nó là Phật giáo Phạm ngữ (Buddhist Sanskrit). Ông Franklin Edgerton, học giả người Mĩ thời gần đây, thì gọi nó là Phật giáo hỗn hợp Phạm ngữ (Buddhist Hybrid Sanskrit). Ngôn ngữ Ấn độ được sử dụng trong các kinh điển Phật giáo có thể được chia làm 3 loại: 1. Tiếng Phạm tiêu chuẩn: Được sử dụng trong các thi phẩm của bồ tát Mã minh (Phạm: Azvaghowa). 2. Tiếng Ấn độ ở thời kì giữa (Middle Indic): Tiếng Phạm Phệ đà (Vedic Sanskrit) đã bị tục ngữ hóa và phương ngôn hóa, được gọi chung là tiếng Pràkrita hay Pràkrit, đối lại với tiếng Ấn độ ngày nay. Loại tiếng Phạm này bao gồm tiếng Pàli và các ngôn ngữ khác. Tiếng Pàlilà ngôn ngữ quan trọng vẫn còn trong Thánh điển của Phật giáo Nam truyền hiện nay. Miền Tây và miền Trung Ấn độ đều sử dụng tiếng Pràkrita. Pràkrita vốn là phương ngôn của vùng Tây bắc Ấn độ. Thủa xưa, khi nói pháp, đức Phật thường dùng tục ngữ của các địa phương, đến đời sau, các vị đệ tử Phật cũng dùng thứ ngôn ngữ mà Phật đã nói để ghi chép tư tưởng và giáo pháp của Ngài. 3. Tiếng Phạm Phật giáo: Ngôn ngữ được sử dụng trong các văn hiến của Phật giáo phương bắc. Đây là tiếng Phạm căn cứ vào phương ngôn của miền Bắc Ấn độ, rồi xen lẫn tiếng Phạm,Pàli và các phương ngôn khác mà phát triển thành 1 loại ngôn ngữ tông giáo đặc thù của giáo đoàn Phật giáo, chứ không phải loại ngôn ngữ thông thường dùng hàng ngày. Căn cứ vào trình tự của khuynh hướng Phạm ngữ hóa trên đây mà nhận xét, người ta thấy kinh điển Phật giáo ở thời kì đầu phần nhiều sử dụng tục ngữ, về sau, theo sự biến thiên của thời đại mà dần dần Phạm ngữ hóa, cho đến thời kì sau thì ngoài những thuật ngữ đặc biệt ra, còn tất cả đã hoàn toàn trở thành Phạm ngữ cổ điển. Học giả Franklin Edgerton đem những văn hiến Phật giáo hiện còn, dựa theo trình tự Phạm ngữ hóa mà chia những tác phẩm tiếng Phạm làm 3 thời kì như sau: 1. Thời kì thứ nhất: Các tác phẩm sử dụng cả văn vần lẫn văn xuôi, những tác phẩm của thời kì này vẫn còn giữđược sắc thái rất đậm đà của ngôn ngữ Ấn độ thời kì giữa. 2. Thời kì thứ hai: a) Bộ phận văn vần, thành phần ngôn ngữ Ấn độ thời kì giữa tương đối còn nhiều. b) Bộ phận văn xuôi thì nhiều thành phần Phạm ngữ hóa. Trong ngữ vựng, dụng ngữ phổ thông cho đến những thành phần có thể được xem là tiếng Phạm của Phật giáo cũng có rất nhiều. 3. Thời kì thứ ba: Văn vần, văn xuôi; trên cơ bản, đều được viết bằng Phạm ngữ cổ điển, nhưng trong ngữ vựng thì khá nhiều tiếng Phạm Phật giáo.
phật giáo san vật
2673(一)中國(包括新、馬、港等地區之中文佛刊):民國締造後,最早之佛教刊物為佛學叢報,發行於上海,然僅三年即停刊,至民國九年(1920),海潮音創刊後即併入海刊。自民國元年至二十年,計有佛教月報、現代僧伽、覺社季刊(太虛)、佛學旬刊、內學(支那內學院,歐陽竟無)、世界佛教居士林、威音、佛學半月刊(范古農)、弘化社刊(諦閑)、佛教評論(常惺)等發行於上海、廈門、南京、鄞縣等地,且多為綜合性月刊。其中,內學於民國六十二年由國史研究室影印一至四輯,發行單行本,名為內學年刊。又除海潮音之外,餘皆已先後停刊。 民國二十年至三十八年政府遷臺,為佛教刊物蓬勃發展期,計有正信周刊、佛教日報(范古農)、淨土宗(大醒)、微妙音(湯用彤)、人間覺(暮笳)、覺音(竺摩)、大乘月刊(廈門大乘佛教青年會)、覺有情(上海居士會)、獅子吼(廣西省佛教會)、中國佛教(英人克蘭佩)、妙法輪(上海市佛學院)、人間佛教(新加坡中國佛學會)、覺群周報(上海玉佛寺,太虛)、臺灣佛教(白聖)、中國佛學(中國佛學會)等。 政府遷臺後,除海潮音外,有人生(東初)、佛教人間(慈航)、覺生(朱斐)、無盡燈(竺摩)、菩提樹(朱斐)、中國佛教(白聖)、今日佛教(成一、星雲、煮雲、演培等)、覺世旬刊(星雲)、慈明(聖印)、慧炬(周宣德)、獅子吼(道安)、新覺生(林錦東)、慈航(自立)、佛教文化(東初)、華岡佛學學報(聖嚴)、佛光學報(星雲)、普門(星雲)、淨覺(淨心)等定期、不定期之佛教刊物。 目前(1987)仍發行中且發行量較大者有海潮音月刊(妙然)、中國佛教月刊(白聖)、獅子吼月刊(靈根)、覺世旬刊(慈惠)、普門月刊(慈容)、慈聲月刊(聖印)、菩提樹月刊(朱斐)、明倫月刊(董正之)、慧炬月刊(周邦道)、慈濟道侶(印順)、慈雲月刊(樂崇輝)、淨覺(淨心)、人生月刊(聖嚴)、人乘佛刊(聖開)、天華月刊(李雲鵬)、十方月刊(陳世志)、南洋佛教(常凱)、無盡燈(真果、金星、廣餘)、內明(金山)、香港佛教(松泉)等。 (二)日本:除印度學佛教學研究、日本佛教學會年報、鈴木學術財團研究年報、佛教史學、日本佛教、宗教研究等刊物外,各佛教大學亦皆有研究發表之學報、論集、研究紀要等(多為季刊或年報)。此外,各宗派亦發行宗報(多為月刊)。 (三)其他地區國家:印度有 Mahābodhi, Buddhist India,錫蘭有 World Buddhism,The Buddhist World,緬甸有 The Light of the Dharma,英國有 Buddhism in England、中道雜誌(The Middle Way),德國有 Zeitschrift für Buddhismus,Die Buddhistische Welt,法國有佛教思想季刊(La Pensⅰe Bouddhique),比利時有 Le Sentier Bouddhique,為世所知。
phật giáo sử thư
2674(一)印度:印度民族固無史書,然以梵文佛典中文殊師利根本儀軌之王授記品(Rājavyākaraṇa-parivarta),與錫蘭佛教史之大史(巴 Mahāvaṃsa)、小史(巴 Culla-vaṃsa)為例外。其中,王授記品係釋尊時代至八世紀頃之印度王統史。此外,各類史話亦散見於佛教經律典籍及注釋書。而於西藏史料中可見豐富的印度、西藏佛教史。其中,布頓(藏 Bu-ston)之史書著作尤多,乃為組織印度佛教史之根本資料。 (二)中國:我國自古重視歷史,歷代所傳佛教史書亦浩瀚廣博,屬紀傳體者,有梁代寶唱之名僧傳、慧皎之高僧傳等;屬編年體者,有宋代志磐之佛祖統紀、元代念常之佛祖歷代通載等;近於紀事本末體者,有宋朝贊寧之大宋僧史略等。此外,隋代灌頂之隋天台智者大師別傳、唐代冥詳之大唐故三藏玄奘法師行狀等別傳,皆可作為史書之補助資料。又如記載一宗相承之紀傳,有唐代海雲之兩部大法相承師資付法記、宋代道原之景德傳燈錄等。有關一經或一宗信仰之雜傳集者,有唐代惠詳之弘贊法華傳、法藏之華嚴經傳記、宋代戒珠之淨土往生傳等。感應傳方面,有宋代非濁之三寶感應要略錄等。其他尚有梁代僧祐之弘明集等奉佛排佛之佛教史專題資料。 (三)日本:屬紀傳體者,有師蠻之本朝高僧傳、師練之元亨釋書等。屬宗派史者,有豐安之戒律傳來記、凝然之淨土源流章等。屬別傳者,有元開之鑑真過海大師東征傳、真濟之空海僧都傳等。屬靈驗傳者,有鎮源之大日本國法華驗記等。此外,最澄之內證佛法相承血脈譜、杲寶之玉印鈔、靜見之法水分流記等,係屬血脈系譜。興福寺別當次第、天台座主記等,屬於僧官職務之補任類。御八講記、大佛供養記等,屬於行事記錄。真蘂之蔭涼軒日錄、崇傳之本光國師日記等,則屬日記類之史傳資料。
; (佛教史書) Những sách ghi chép lịch sử của Phật giáo. Dân tộc Ấn độ thời cổ đại vốn không chú trọng về lịch sử, nhưng trong kinh điển Phật giáo có nhiều bộ là những sử thư quí giá. Chẳng hạn như phẩm Vương thụ kí (Phạm: Ràjavyàkaraịa-parivarta) trong Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ nói về các triều đại vua chúa Ấn độ từ thời đức Phật đến khoảng thế kỉ VIII Tây lịch và các bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaưsa), Tiểu sử (Pàli: Culla-vaưsa) nói về lịch sử Phật giáo Tích lan...… Ngoài ra, các loại sử thoại thấy rải rác trong các kinh luật điển tịch và các sách chú thích của Phật giáo cũng là những sử thư chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử rất quí giá. Ở Trung quốc, khác với Ấn độ, dân tộc Trung quốc rất coi trọng lịch sử, kho tàng sử thư của Phật giáo từ nhiều đời truyền lại rất là đồ sộ. Sửthư cũng có nhiều thể loại, như kỉ truyện, biên niên, kí sự, biệt truyện…... nói về hành trạng của các bậc Cao tăng như các bộ Danh tăng truyện của ngài Bảo xướng, Cao tăng truyện của ngài Tuệ kiểu…... ở đời Lương; Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn đời Tống...…; hoặc nói về sự tương thừa của tông phái như Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên đời Tống; hoặc nói về sự tín ngưỡng, hoằng truyền 1 bộ kinh như Hoằng tán Pháp hoa truyện của ngài Huệ tường đời Đường; hoặc nói về sự cảm ứng đối với Tam bảo như Tam bảo cảm ứng yếu lược lục của ngài Phi trược đời Tống...…Ngoài ra còn nhiều tác phẩm sử thư khác liên quan đến sự truyền bá cũng như thịnh suy của Phật giáo Trung quốc suốt 2 nghìn năm lịch sử, không thể ghi hết ở đây. Tại Nhật bản cũng có nhiều sử thư Phật giáo quan trọng. Về thể loại kỉ truyện thì có Bản triều cao tăng truyện của ngài Sư man, Nguyên hanh thích thư của ngài Sư luyện, Giám chân quáhải đại sư đông chinh truyện của ngài Nguyên khai; Không hải tăng đô truyện của ngài Chân tế…...Truyện linh nghiệm thì có Đại nhật bản quốc Pháp hoa nghiệm kí của ngài Trấn nguyên.
phật giáo thi ca
2694(一)印度:詩稱為伽陀(梵 gāthā),意譯偈頌, 因長音、短音、排列法之不同而有各種分類。概言之,詩係依據韻律法則而形成者。最古之佛教詩為法句經(巴 Dhamma-pada)與經集(巴 Suttanipāta)。 詩通常可分即物、即興兩種。詩中或含有關人生之警覺教誡,或為內心狀態之描寫。長老僧之詩收於長老偈(巴 Thera-gāthā),其中頗多求道心願之產生、修道之經過、自然景物與內在的交感之美、心境等之描寫。大乘佛教詩人馬鳴(梵 Aśvaghoṣa),其詩具有清雅哀婉之風格;大乘詩一般具有高度敘事詩之特性,馬鳴所作之詩即有此特質。 (二)中國:我國佛教詩歌之特色,大多在於描繪禪僧開悟之心境。如碧巖錄第三十七則「盤山三界無法」之公案所附雪竇之詩(大四八‧一七五中):「三界無法,何處求心?白雲為蓋,流泉作琴。一曲兩曲無人會,雨過夜塘秋水深。」此詩意境極高,且深得翰林學士蘇東坡佳評。此係以內在心境託付自然景況,並以之象徵思想境界之傑作。另如天童如淨禪師之「風鈴頌」:「渾身是口掛虛空,不問東西南北風;一等為他談般若,滴丁東了滴丁東。」亦為膾炙人口之禪詩。 (三)日本:以江戶時代之禪僧良寬,與日蓮宗僧元政為代表人物。良寬於其詩「病起」中,曾有「人命如桃花,人生如江河」之譬喻。其詩如下:「一身寥寥耽枕衾,夢魂幾回逐勝游;今朝病起立江上,無限桃花逐水流。」元政之詩大多收於草山集,其詩充滿思母之情,於「對月思歸」中歌吟:「逐月乘風出竹扉,故山有母沾淚衣;松間一路明如晝,遙知倚門望我歸。」此種歌頌自然與內心之境,係佛教詩之特色,亦可謂東方人作詩之共通性格。
; (佛教詩歌) Thơ ca trong Phật giáo. Trong Phật giáo, thơ được gọi là Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Kệ tụng), do cách sắp xếp và âm vận dài, ngắn khác nhau nên thơ có nhiều loại. Nói một cách khái quát thì thơ căn cứ vào vận luận mà hình thành. Hình thức thi ca xưa nhất trong Phật giáo là kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada) và Kinh tập (Pàli: Suttanipàta). Thông thường, thơ được chia làm 2 loại: Tức vật và Tức hứng. Trong thơ hoặc có hàm ý dạy răn, khuyên bảo người đời, hoặc diễn tả trạng thái nội tâm. Những bài thơ do các vị trưởng lão tăng sáng tác được xếp vào Trưởng lão kệ (Pàli: Theragàthà), trong đó có rất nhiều bài thơ đẹp, miêu tả tâm nguyện cầu đạo, quá trình tu đạo, cảnh vật tự nhiên và tâm cảnh nội tại giao cảm. Phong cách trong thi ca Phật giáo Đại thừa rất thanh nhã và trình độ tự sự cũng rất cao, như trong thơ của ngài Mã minh, 1 thi nhân lớn của Phật giáo Đại thừa. Tại Trung quốc, đặc sắc thi ca Phật giáo phần nhiều ở chỗ miêu tả tâm cảnh khai ngộ của các Thiền sư, ý thơ rất cao siêu, huyền diệu, thanh thoát, lâng lâng, sâu xa thăm thẳm, người thường không thể cảm thưởng được. Mà loại thơ này cũng rất nhiều, chỉ kể trong 2 tập Bích nham lục và Thung dung lục thôi cũng có hàng nghìn bài rồi. Hãy đọc bài thơ của Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển phụ thêm trong công án Bàn sơn tam giới vô pháp trong Bích nham lục như sau (Đại 84, 175 trung): Tam giới vô pháp Hà xứ cầu tâm? Bạch vân vi cái Lưu tuyền tác cầm Nhất khúc lưỡng khúc vô nhân hội Vũ quá dạđường thu thủy thâm. (Ba cõi không một pháp Tìm tâm ở nơi đâu? Mây trắng kia tàn lọng Suối reo này tiếng đàn Một vài khúc nhạc nào ai hiểu? Đêm thu mưa lạnh nước ao sâu). (xt. Phật Giáo Văn Học).
phật giáo thi nhân
2694印度、我國及日本之佛教詩人甚多。通常,傑出之佛教人物大多為傑出之佛教詩人。如佛教之教祖佛陀,其自身即是一位傑出詩人。玆列舉佛教史上較具代表性之詩人於下: (一)原始佛教:經典中被推定為佛陀自身所說者,皆以詩偈(梵 ⅴathā)形式記述,如法句經(巴 Dhamma-pada),全經皆以詩偈構成。 此一特殊文體形式,或因當時不用文字記載,然為便於記憶,遂採詩句形式。此外,可說詩人之特質亦即佛教教團之特質。佛陀弟子大多能作詩,且常以詩歌唱咏其宗教心境。此類詩偈流傳至今者有長老偈(巴 Thera-gāthā)、長老尼偈(巴 Ther勹-gāthā)。佛陀弟子中,最著名之詩人鵬耆舍(巴 Vaṅg勹sa,又作婆耆舍)常以即興之詩偈讚歎佛陀與佛弟子。增一阿含經卷三(大二‧五五七中):「我聲聞中第一比丘,(中略)能造偈頌嘆如來德,所謂鵬耆舍比丘是。」 (二)大乘佛教:大乘佛教之宗教改革運動即具有極濃之文學性格。歷代以來,詩人輩出,以詩偈撰成之經典亦甚豐碩。其中,尤以馬鳴(梵 Aśvaghoṣa)為代表人物。其所著佛所行讚(梵 Buddha-carita),即以詩歌敘述佛陀之傳記。馬鳴另一名著孫陀利難陀詩(梵 Saundarananda-kāvya),則以佛陀異母弟難陀及其妻孫陀利之故事為題材所作之美麗敘事詩。其後,馬鳴學派之詩人摩咥里制吒(梵 Mātṛceṭa)作有四百讚(梵 Catuḥś ataka-stotra)與一百五十讚佛頌(梵 Śata-pañcaśatikā-stotra),迄今為止,此兩篇佛頌受到全印度詩人之讚歎。我國求法僧義淨於其南海寄歸內法傳 鬙|曾云(大五四‧二二七中):「西方造讚頌者,莫不咸同祖習,無著、世親菩薩悉皆仰止,故五天之地初出家者,亦既誦得五戒、十戒,即須先教誦斯二讚,無問大乘、小乘,咸同遵此。」至四世紀時,聖勇(梵 Āryaśūra,亦屬馬鳴學派詩人)以佛陀之本生故事為題材,作成本生鬘論(梵 Jātakamālā)。一○四○年頃,迦濕彌羅詩人克薛門特羅(梵 Kṣemendra)作譬喻集(梵 Avadāna-kalpalatā)。 (三)中國佛教;唐代詩人王維、白居易等,留傳極多佛教詩。此外,居於始豐縣天台山國清寺寒巖中之奇僧寒山,其寒山詩三卷,可謂句句皆具獨特之風趣。至宋代,禪僧輩出,傑出之詩作不勝枚舉,大多收於碧巖錄。其中以雪竇重顯(980~1052)之詩風,被讚為具有翰林學士之風。 (四)日本佛教:平安時代之著名詩人,有撰寫梁塵祕抄二十卷之後白河法皇,與唯信房集之作者大原藤原賴業(寂然)。於鎌倉時代,親鸞以和讚著稱於世。至室町時代,以五山文學最具盛名,尤以雪村友梅、絕海中津、義堂周信為當時傑出詩人。優秀之作品有岷峨集、蕉堅稿、空華集等。江戶時代,曹洞宗僧良寬既長於和歌,亦擅於漢詩。另有日蓮宗僧深草元政(日政)亦為一時詩壇泰斗,著有漢詩集(草山集)。(參閱「佛教文學」2673)
phật giáo thiên văn học
2671印度天文學係吸收自西方之知識,加上其本身風土、宗教之特殊性發展而成者。初時,欲肯定祭祀時日之正確性,遂由婆羅門階級制定之,此即自古即發達之星辰學(梵 jyotiṣa)。長久以來,科學與神學之占星術,未曾分化而渾然合一。佛教天文學係經西域攝取自西方天文學知識,再經由漢譯經典傳至我國、日本。其中較重要者為二十八宿之設定。阿拉伯之 manājil 與我國之「宿」,兩者共通點極多。其他國家另有罕見的二十七宿制度之傳承。 三世紀頃漢譯之摩登伽經(梵 Śārdūlakarṇāvadāna)上記載印度的二十八宿如下(依順序為梵名、漢譯名、星數、形相):(一)Kṛttikā、昴、六、剃刀。(二)Rohiṇī、畢、五、車。(三)Mṛgaśiras、觜、三、鹿首。(四)Ārdrā、參、一、頂珠。(五)Punarvasu、井、二、人步。(六)Puṣya、鬼、三、瓶。(七)Āśleṣā、柳、五、曲鉤。(八)Maghā、星、六、河曲。(九)Pūrva Phalgunī、張、二、人步。(十)Uttara Phalgunī、翼、二、人步。(十一)Hasta、軫、五、手。(十二)Citrā、角、一、頂珠。(十三)Svātī、亢、一‧頂珠。(十四)Viśākhā、氐、四、牛角。(十五)Anurādhā、房、四、連珠。(十六)Jyeṣṭhā、心、三、麥。(十七)Mūlā、尾、九、蠍。(十八)P. āṣāḍhā、箕、四、牛步。(十九)U. āṣāḍhā、斗、四、象步。(廿)Abhijit、牛、三、牛頭。(廿一)Śravaṇa、女、三、麥。(廿二)Dhaniṣṭhā、虛、四、飛鳥。(廿三)Śatabhiṣā、危、一、頂珠。(廿四)P. Bhādrapadā、室、二、人步。(廿五)U. Bhādrapadā、壁、二、人步。(廿六)Revati、奎、一、頂珠。(廿七)Aśvinī、婁、二、馬首。(廿八)Bharaṇī、胃、三、鼎。 上述二十八星宿,我國與印度兩者之間既無語言學之關係,故係各別獨自發展。其次,於占星、曆法上,地位較重要者為十二宮(梵 rāśi)。密教發達後,佛教徒乃將十二宮與二十八星宿重新組合。如宿曜經即載有密教占星法之構成,其梵語名稱大多為西方天文學之直譯,或由於西方天文學直接輸入影響所及者。 下列為十二宮之名(依順序為梵名、音譯、意譯、英語):(一)Meṣa、迷沙、羊宮、Aries。(二)Vṛṣabha、毘利沙、牛宮、Taurus。(三)Mithuna、彌偷那、男女宮、Gemini。(四)Karkaṭaka、羯迦吒迦、蟹宮、Cancer。(五)Siṃha、
phật giáo thánh điển hiệp hội
2694(Buddhist Text Society)成立於一八九三年,專門出版梵文大乘經典及有關著作之研究出版機構。由印度之學者乾德拉達斯(Sarat Chandra Das)創立於加爾各答。自一八九四年陸續刊行 Mādhyamikāvṛtti(相當於鳩摩羅什所譯之中論頌,另又附上月稱論師之梵本注釋)、Samādhirāja(相當於漢譯之月燈三昧經)等梵文原典,對十九世紀東方學及佛教原典之研究風潮,具有極大之影響力。
; (佛教聖典協會) Buddhist Text Society. Cơ quan chuyên nghiên cứu và xuất bản các kinh điển Phật giáo Đại thừa bằng tiếng Phạm và các trứ tác có liên hệ do học giả Sarat Chandra Das – người Ấn độ – sáng lập vào 1893 tại Calcutta, Ấnđộ. Kể từ năm 1894, Hiệp hội này đã liên tiếp xuất bản các nguyên điển tiếng Phạm như: Màdhyamikàvftti (tương đương với Trung luận tụng do ngài Cưu ma la thập dịch, có phụ thêm bản chú thích bằng tiếng Phạm của Luận sư Nguyệt xứng), Samàdhiràja (tương đương với kinh Nguyệt đăng tam muội bản Hán dịch)…... Đối với phong trào nghiên cứu Đông phương học nói chung và nguyên điển Phật giáo nói riêng, ở thế kỉ XIX, sự cống hiến của hiệp Hội này đã có 1 ảnh hưởng rất lớn lao.
Phật giáo Trung Quốc
中國佛教|Theo truyền thuyết thì đạo Phật vào Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Mới đầu nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là một tông phái của đạo Lão (Lão Tử). Sự hiểu lầm này bắt nguồn từ quan điểm chung của hai tôn giáo này; cả hai đều hướng đến giải thoát. Có người cho rằng, mới đầu người Trung Quốc không hiểu đạo Phật vì ngôn ngữ chữ Hán thời đó không tiếp cận được với các khái niệm hoàn toàn trừu tượng của Phật giáo và khi dịch kinh sách Phật giáo, người ta đành dùng ngôn đạo Lão. Vì vậy về sau, khi đạo Phật đã phổ biến, công các dịch giả rất lớn và tên tuổi của họ còn lưu truyền đến ngày nay. Khoảng thế kỉ thứ 3, các nhà dịch kinh bắt đầu dịch từ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán, mà những đại diện kiệt xuất là An Thế Cao (安世高), người chuyên dịch các kinh Tiểu thừa, và Chi Khiêm (支謙), người chuyên dịch các tác phẩm Ðại thừa.|Năm 355, Tăng-già được thành lập. Kể từ thế kỉ thứ 4, nhiều trường phái Bát-nhã Ba-la-mật-đa ra đời với Cao tăng Chi Ðộn (支遁; Chi Ðạo Lâm) là nhân vật quan trọng nhất. Năm 399, Pháp Hiển đi Ấn Ðộ và sau đó một số Cao tăng khác như Huyền Trang cũng lên đường đi Ấn Ðộ. Trong thế kỉ thứ 5, thứ 6, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và được sự ủng hộ của triều đình. Nhờ vậy trong thời gian này, nhiều chùa chiền được xây cất, nhiều tác phẩm ra đời. Vào năm 466 và 574-577 có hai lần Phật giáo bị bức hại nhưng vẫn phát triển mạnh. Trong thời kì này, hai vị có công lớn nhất trong việc dịch kinh điển là Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumāra-jīva) và Chân Ðế (真諦; s: paramārtha). Với trình độ văn chương rất cao, hai vị này đã làm cho hầu hết các kinh Tiểu thừa và Ðại thừa đều có mặt tại Trung Quốc. Ðóng vai trò quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc là các kinh Nhập Lăng-già (入楞伽經; s: laṅ-kāvatārasūtra), Ðại bát-niết-bàn (大般涅槃經; s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi). Từ đó, các tông phái như Tam luận tông (三論宗), Thành thật tông (成實宗) và Niết-bàn tông (涅槃宗) ra đời.|Giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10, Phật giáo Trung Quốc phát triển rực rỡ. Các tông Hoa nghiêm (華嚴), Thiên Thai (天台), Thiền (禪), Tịnh độ (淨土), Pháp tướng (法相) ra đời, trong đó người ta nhắc nhở đến các vị Cao tăng như Huyền Trang Tam Tạng (玄奘), Trí Khải (智顗), Ðế Tâm Ðỗ Thuận (帝心杜順). Với sự hiện diện của Huệ Năng (慧能) và các môn đệ kế thừa, Thiền tông phất lên như một ngọn lửa sáng rực đời Ðường.|Với thời gian, giáo hội Phật giáo – nhờ không bị đánh thuế – trở thành một tiềm lực kinh tế và có những điểm mâu thuẫn với triều đình. Nhiều nông dân cúng dường đất cho nhà chùa rồi thuê lại đất đó để trốn thuế. Năm 845, Phật giáo bị bức hại, giáo hội bị triệt hạ, tăng ni bị buộc phải hoàn tục. Từ thời điểm đó, Phật giáo Trung Quốc không bao giờ trở lại được thời đại huy hoàng như trước, nhưng vẫn để lại những dấu ấn quan trọng trong nền văn hoá nước này.|Trong đời nhà Tống (thế kỉ 10-13), Phật giáo hoà nhập với Khổng giáo và Lão giáo thành một nền văn hoá, trong các tông phái chỉ còn Thiền và Tịnh độ là quan trọng. Dưới thời nhà Minh (thế kỉ 14-17), có một khuynh hướng hợp nhất giữa Thiền và Tịnh độ (禪淨合一; Thiền Tịnh hợp nhất) và gây được ảnh hưởng đáng kể (Vân Thê Châu Hoằng).|Giữa thế kỉ thứ 17 và 20, Phật giáo Tây Tạng bắt đầu gây ảnh hưởng tại Trung Quốc. Qua thế kỉ 20, Phật giáo Trung Quốc lại bị bức hại, nhất là trong thời kì cách mạng văn hoá (1966-1976).
phật giáo trung quốc
Buddhism in China Phật giáo vào Trung quốc qua ngõ Ấn độ vào năm 67 sau Công nguyên, do hai tỳ kheo người Ấn tên Kasyapa Matango và Dharmaraksha. Tu viện Bạch mã ngày xưa được dựng lên để hai ngài tá túc hiện nay cũng vẫn còn tồn tại. Phật giáo Trung quốc sau đó phát triển mạnh thành nhiều trường phái khác nhau nhưng mạnh nhất là hai trường phái Thiền tông (Ch'an hay Zen, Jap) và Tịnh độ.
Phật giáo Tây Tạng
西藏佛教; cũng được nhiều nơi gọi là Lạt-ma giáo (e: lamaism);|Một hệ phái Phật giáo quan trọng thuộc Ðại thừa, được truyền bá nhiều nơi gần Hi-mã-lạp sơn, không chỉ ở Tây Tạng. Ðặc trưng của Phật giáo Tây Tạng là sự trộn lẫn của các giới luật của Nhất thiết hữu bộ và các phép tu của Kim cương thừa. Phật giáo Tây Tạng được xem là thành hình trong thế kỉ thứ 8 dưới triều vua Tri-song Ðet-sen (t: tri-song detsen, 755-597), do hai Cao tăng Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh (padmasambhava) truyền sang. Ðợt đầu của việc truyền bá đạo Phật qua Tây Tạng chấm dứt trong thế kỉ thứ 9. Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) được thành lập từ thời gian đó. Sau một thời gian bị bức hại, Phật giáo lại phục hưng trong thế kỉ 11, phát sinh hai trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Tát-ca (t: sakyapa) và đó là thời gian mà rất nhiều kinh sách được dịch ra tiếng Tây Tạng. Kể từ thế kỉ 14, phái Cách-lỗ (t: ge-lugpa) thịnh hành, được xem là một trong bốn trường phái lớn của Phật giáo Tây Tạng. Ngày nay, trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng được coi trọng, nhiều Lạt-ma Tây tạng đang giáo hoá tại các nước phương Tây.|Trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng thì đạo Bôn được xem là quốc giáo. Khoảng dưới thời vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo; 620-649) thì hoàng gia bắt đầu quay qua Phật giáo. Năm thế hệ sau vị vua này thì Phật giáo được tuyên bố chính thức là quốc giáo và với sự xây dựng tu viện Tang-duyên (samye, 775), các tăng sĩ Tây Tạng bắt đầu thành lập Tăng-già.|Mới đầu Phật giáo Tây Tạng cũng có tiếp xúc, tranh luận với Thiền tông Trung Quốc, nhưng sau đó, người ta theo hẳn giáo lí của Trung quán tông (s: mādhyamika; t: dbu ma pa). Khoảng dưới thời vua Lãng-đạt-ma (langdarma, 838-842), Bôn giáo lại được phục hồi, Phật giáo bị bức hại. Trong thời gian đó, chỉ có phái »áo trắng«, là các vị cư sĩ tại gia, được bảo tồn. Ngày nay phái này còn lưu truyền với phái Ninh-mã (nying-mapa).|Với A-đề-sa, đạo Phật lại được truyền bá lần thứ hai sang Tây Tạng. Từ đây, người ta lại quan tâm đến các trường phái, nhất là các phái truyền tâm từ thầy qua trò, và từ đó sinh ra các tu viện lớn của tông Tát-ca (1073), lôi kéo được »dịch giả« Mã-nhĩ-ba (marpa) – người sáng lập tông Ca-nhĩ-cư (kagyupa) – sang Ấn Ðộ thu thập kinh sách. Trong Phật giáo Tây Tạng và các tông phái tại đây, các vị đại sư được gọi là Lạt-ma, đóng một vai trò rất quan trọng. Một trong các vị quan trọng nhất là Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa), »Nhà cải cách«, là người thiết lập và tổ chức lại toàn bộ các tông phái. Sư cũng là người xây dựng tu viện Gan-den (1409) và thành lập tông Cách-lỗ (t: gelugpa).|Các tông phái và giáo lí khác như Ðoạn giáo (chod), tuy có một hệ thống kinh sách mạch lạc, nhưng lại không xây dựng tu viện nên cuối cùng hoà vào các dòng khác. Các dòng tu quan trọng của Tây Tạng thường hay có một hệ thống các tu viện, đồng thời cũng bắt nguồn từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Về mặt lí thuyết, ngoài A-tì-đạt-ma, Phật giáo Tây Tạng còn dựa vào các giáo pháp Ðại thừa của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga), xem đó là hai lí thuyết căn bản mà đặc biệt là triết lí Trung quán cụ duyên (mādhyamika-prāsaṅ-gika) được xem trọng hơn hết. Ngoài ra Nhân minh học (s: hetuvidyā; có thể gọi là logic, luận lí học) cũng được đưa vào để luận giải các vấn đề có tính giáo khoa. Ðặc biệt, các phép tu Tan-tra hay được dùng để biến các kiến thức lí thuyết thành kinh nghiệm bản thân.|Năm chủ đề (s: pañcavacanagrantha) quan trọng phải được học hỏi, nghiên cứu trong một thiền viện tại Tây Tạng trước khi đạt được danh hiệu Ge-she (tương ưng với Hoà thượng tại Ðông, Ðông nam á, có thể so sánh với bằng cấp Tiến sĩ của Tây phương): 1. Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: pra-jñāpāramitā); 2. Trung quán (mādhyamika); 3. Nhân minh hoặc Lượng học (pramāṇavāda); 4. A-tì-đạt-ma (abhidharma); 5. Luật (Tì-nại-da; vina-ya).
phật giáo từ điển
2712佛經旨微趣深,事廣寄遠,故解說佛教術語與佛教文化之辭典的編纂,乃事屬必要。作為佛教辭典之先驅,計有:(一)將名相分門別類配列者,如長阿含卷八之眾集經、卷九之「十上經」、法集名數經、大明三藏法數、教乘法數。(二)記事抄錄諸經論之相關者,如梁代寶唱之經律異相、唐代道世之法苑珠林等。(三)逐項加以組織並附解說者,如唐代李師政之法門名義集、唐代義淨之南海寄歸內法傳、宋代贊寧之大宋僧史略等。(四)以語言為中心者,如一切經音義、寶唱之翻梵語、唐代禮言之梵語雜名、梵藏對譯之翻譯名義大集(梵 Mahāvyutpatti)、宋代法雲加註梵語之翻譯名義集、日本慧晃之枳橘易土集等。(五)將大藏經或某一經中難解難讀之名詞加以解說者,如唐代玄應之一切經音義、慧琳之一切經音義、日本觀靜之孔雀經音義等。 本世紀以降,現代佛教辭典與時俱增,計有: <一>一般性:(一)中國方面:(1)以丁福保之佛學小辭典(1919)為最早,該書以日本織田得能之辭典為藍本,僅可謂為織田本之漢譯。(2)丁福保之佛學大辭典(1921),為中國佛教有史以來第一部大辭典,草創於民國元年(1912),至十年始克印竣,以筆劃多少為次第,共分三十三劃,約三百萬言,共三萬餘條,模仿康熙字典檢字通例。全書大抵先以簡單數語,表明各條專名之意旨,次引經論或古德著述、通人筆錄、詩歌以博證之,各類別名亦悉數備載;凡與佛教有關之俗語,或世人訛傳與佛教有關者,概一一標明出處。(3)實用佛學辭典(1934),上海佛學書局出版,高觀廬、何子培主編,係將前人所編之辭書刪繁去蕪,取其實用而簡明者以成書。(4)佛學辭典(1984),全一冊,左秀靈編,以現代口語文解釋名相,並於每一名詞與解說文字附加國語注音符號為該書二大特點。(二)日本方面:(1)佛教大辭典(織田得能,1917),多引漢譯經典,為現代化佛教辭典之嚆矢,對爾後各類佛教辭典之編纂頗具影響力。(2)佛教大辭彙(龍谷大學編,1935)六卷,採中、小項目條例,較偏重真宗。(3)佛教大辭典(望月信亨,1936)十卷,採大項目主義,內容廣博、引據豐富、解說周全、年表詳盡為其特色。(4)佛教辭典(宇井伯壽,1938)介乎專門辭書與大眾化小部之間,解說簡潔是其特色。(5)佛教學辭典(多屋賴俊、橫超慧日、舟橋一哉,1955),以初學者為對象,以明白簡易之現代語解說為其宗旨,並將有關項目約集為一大項目是其另一特色,共收三千七百餘條目。(6)新‧佛教辭典(中村元,1962),取材廣泛,較重佛教文化意義之探究及其與人生關係之考察,用語亦平易明快。(7)佛教語大辭典(中村元,1975),以佛教術語之現代化為主旨,所錄名相頗多為望月、龍谷本所無者。(8)綜合佛教大辭典(法藏館印行,1987),廣泛收錄有關印度、中國、日本等地之佛教教理、文化、歷史等資料。(9)此外尚有:佛教辭林(藤井宣正,1912)、模範佛教辭典(東方書院,1932)。(三)其他國家:艾提爾(E.J. Eitel)之中國佛教便覽(Handbook of Chinese Buddhism, 1870)、戴密微(P.Demieville)編之法寶義林(Hobogirin, 1929)、蘇錫爾(W.A. Soothill)與賀德士(L. Hodous)之中國佛教語辭典(A Dictionary of Chinese Buddhist Terms, 1937)、哈克曼(H. Hackmann)與諾貝爾(J. Nobel)合編之中國佛教解說辭典(Erklärendes Wörterbuch zum ChinesischenBuddhismus, 1951)、尼耶南提羅卡(Nyanatiloka)之佛教語彙(Buddhistisches Wörterbuch, 1954)、馬拉拉西克拉(G.P. Malalasekera)之佛教百科全書(Encyclopaedia of Buddhism, 1963. G.P. Malalasekera)。 <二>特殊性;(一)中國方面:(1)中國佛教人名大辭典(震華,1942)。(2)中國佛學人名辭典(明復,1974),共收五三二六則,以我國人士為主,起自秦漢,終於當代,前後亙二千餘年,為初機佛學研究者之實用工具書。(3)大藏會閱(會性,1978),分經、律、論三藏來解說佛典內容,廣集自東漢至民國之佛典及中國高僧大德之著述。(4)中國禪學(俞梅隱,1984),為禪門公案之解說書,書後附有惟明所編之中國禪林語粹。(二)日本方面:(1)佛書解說大辭典(小野玄妙,1931),計收九萬餘部佛書,內含各種偽經、抄本、闕本,每一項目依序列題名(或書名、具名)、卷數、著者(或譯者)及生存年代、著譯年代、內容解說、注釋書、刊行年代、現所藏處等,乃理解漢譯經典所不可或缺者。(2)印度佛教固有名詞辭典(赤沼智善,1931),網羅有關原始佛教巴利語、梵語,解說並註明出處。(3)漢譯對照梵和大辭典(荻原雲來,1940),以現存梵語佛典為本,彌補一向梵語辭典所缺之佛教語彙,並增添其相應之漢譯語,為現行有關梵語辭典中最具實用價值者。(4)此外尚有:布教百科大辭典(三井晶史等,1933~1935)、佛教文化辭典(東方佛教協會,1934)、佛典解題事典(中村元、平川彰、水野弘元等數十位合編,1966)、日本名僧辭典(中尾堯、今井雅晴合編,1976)、日本佛教史辭典(大野達之助,1979)、佛教文學辭典(武石彰夫、菅沼晃合編,1980)、現代佛教大事典(塚本善隆等,1980)、中國佛教史辭典(鎌田茂雄,1981)、佛教人物辭典(大法輪閣刊行,1982)、現代哲學大辭典(聖教新聞社刊行,1987)等。(三)其他國家:漢梵英泰佛學辭典(鑾真摩利迦,1976)、梵語辭典(德國之 Ottovon Böhtlingk 與英國之 Sir Monier Williams 合編)、巴利語辭典(英國之大衛斯、高達斯合編)、藏英辭典(H.A. Jäschke)、藏語文法(Alexander Csoma de körös)、巴利固有名詞辭典(馬拉拉錫克拉,1937)等。 <三>有關各宗派:(一)中國方面:法相辭典(朱芾煌,1937),以玄奘所譯諸經論為依據,編集唯識學名相,凡二百六十餘萬言。本書特色為不雜己意,亦不引證中土諸師解說,全係原文之摘錄。(二)日本方面:(1)密教大辭典(松永昇道,1932~1933)為現行密教辭典中最完備者。(2)淨土宗辭典(惠谷隆戒,1943)。(3)新淨土宗辭典(1974),為前書之增補本,採用多項目主義,解說平易,乃初學者之入門書。(4)禪學大辭典(櫻井秀雄,1973),乃改訂禪學辭典(神保如天,1915)與禪宗辭典(山田孝道)之不合時宜者,並增補之,歷二十餘年始成書。(5)禪林名句辭典(飯田利行,1975),輯錄景德傳燈錄、五燈會元、人天眼目、參同契、信心銘,乃至全唐詩、寒山詩及禪林各語錄中之名句,加以語譯、解說,並附上每一句之首字索引。 <四>其他:近代日本為因應時代所須,陸續出版以現代人生活形態為中心,圖使佛教生活化、社會化、學術化之手冊,如:佛教聖典(佛教傳道協會,1977)、佛具辭典(清水乞,1978)、佛教常識小百科(鎌田茂雄,1978)等,此類手冊具辭典功能,而以佛教實踐者為對象,偏重佛事基本常識(如葬儀、年中行事、寺院組織、一般佛教用語等)之引介。佛教之現代化與普遍化,此類手冊厥功甚偉。
; (佛教辭典) Kinh Phật nghĩa lí sâu xa vi diệu, cho nên biên soạn từ điển để giải thích những thuật ngữ Phật giáo và văn hóa Phật giáo là việc làm cần thiết. Có thể nói, những việc đầu tiên phải làm để biên soạn thành bộ từ điển Phật giáo là: 1. Sắp xếp các danh tướng, phân loại các môn, như kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9, kinh Pháp tập danh số, Đại minh tam tạng pháp số, Giáo thừa pháp số…... 2. Ghi chép sự tương quan giữa các kinh luận, như Kinh luật dị tướng của ngài Bảo xướng đời Lương, Pháp uyển châu lâm của ngài Đạo thế đời Đường…... 3. Tổ chức và giải thích từng hạng mục, như Pháp môn danh nghĩa tập của Lí sư chính đời Đường, Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đời Đường, Đại Tống tăng sử lược của ngài Tán ninh đời Tống…... 4. Lấy ngôn ngữ làm trung tâm, như Nhất thiết kinh âm nghĩa, Phiên Phạm ngữ của ngài Bảo xướng đời Lương, Phạm ngữ tạp danh của ngài Lễ ngôn đời Đường, Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) là dịch phẩm do đối chiếu giữa bản Phạm và bản Tây tạng; Phiên dịch danh nghĩa tập có thêm phần chú giải tiếng Phạm của ngài Pháp vân đời Tống, Chỉ quất dịch thổ tập của ngài Tuệ hoảng người Nhật bản…... 5. Giải thích rõ những danh từ khó hiểu, khó đọc trong Đại tạng kinh hay trong 1 bộ kinh nào đó, như Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Huyền ứng và Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Tuệ lâm đời Đường, Khổng tước kinh âm nghĩa của ngài Quán tĩnh người Nhật. Từ đầu thế kỉ XX trở đi, các bộ từ điển Phật giáo hiện đại được biên soạn công phu và tăng thêm với thời gian, như: -Trung quốc có: Phật Học Tiểu Từ Điển (Đinh phúc bảo, 1919); Phật Học Đại Từ Điển (Đinh phúc bảo, 1921); Thực Dụng Phật Học Từ Điển (các ông Cao quán lư, Hà tử bồi chủ biên, Thượng hải Phật học thư cục xuất bản, 1934); Pháp Tướng Từ Điển (do ông Chu phất hoàng biên soạn, 1937); Trung Quốc Phật Giáo Nhân Danh Đại Từ Điển (Chấn hoa biên soạn, 1942); Trung Quốc Phật Học Nhân Danh Từ Điển (Minh phục biên soạn, 1974); Đại Tạng Hội Duyệt (Hội tính biên soạn, 1978); Trung Quốc Thiền Học (Du mai ẩn biên soạn, 1984); Phật Học Từ Điển (có 1 tập, do Tả tú linh biên soạn, 1984). - Nhật bản có: Phật Giáo Từ Lâm (Đẳng tỉnh Tuyên chính biên soạn, 1912); Phật Giáo Đại Từ Điển (Chức điền Đắc năng biên soạn, 1917); Mô Phạm Phật Giáo Từ Điển (Thư viện Đông phương biên soạn, 1932); Phật Giáo Đại Từ Vựng (Đại học Long cốc biên soạn, 1935); Phật Giáo Đại Từ Điển (Vọng nguyệt Tín hanh biên soạn, 1936); Phật Giáo Từ Điển (Vũ tỉnh Bá thọ biên soạn, 1938); Phật Giáo Học Từ Điển (Đa ốc Lại tuấn, Hoành siêu Tuệ nhật và Chu kiều Nhất tai cùng biên soạn, 1955); Tân Phật Giáo Từ Điển (Trung thôn nguyên biên soạn, 1962); Phật Giáo Ngữ Đại Từ Điển (Trung thôn nguyên, 1975); Tông Hợp Phật Giáo Từ Điển (Pháp tạng ấn hành, 1987).
Phật giáo Việt Nam
越南佛教|Lịch sử Phật giáo tại Việt Nam được trình bày khá rõ trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang. Theo tác phẩm này, trong thế kỉ thứ nhất, thứ hai sau Công nguyên, ngoài hai trung tâm Phật giáo tại Trung Quốc là Lạc Dương và Bành Thành, một trung tâm thứ ba xuất hiện tại Luy Lâu, thuộc xứ Giao Chỉ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Có người cho rằng, Luy Lâu hình thành trong đầu thế kỉ thứ nhất, sớm hơn cả Lạc Dương và Bành Thành, làm bàn đạp cho sự thành lập hai nơi đó. Ðiều chắc chắn là trung tâm Luy Lâu được hình thành do các tăng sĩ Ấn Ðộ trực tiếp mang lại, chứ không phải từ Trung Quốc truyền xuống. Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật được Mâu Tử (sinh khoảng năm 165) viết tại Giao Châu. Khang Tăng Hội (康僧會; cuối thế kỉ thứ hai) được xem là tăng sĩ đầu tiên của Việt Nam. Qua thế kỉ thứ ba thì tại Giao Châu đã có khoảng năm trăm vị tăng sĩ và lưu hành ít nhất 15 bộ kinh, trong đó bộ Tứ thập nhị chương (四十二章經; s: dvācat-vāriṃśat-khanda-sūtra) là kinh chủ yếu dành cho người xuất gia. Sau đó Thiền tông vào Việt Nam rất sớm, Khang Tăng Hội được xem là Khai tổ của Thiền học Việt Nam. Sư là tác giả của tập Nê-hoàn phạm bối (泥洹梵唄), một tập thi ca về Niết-bàn dịch từ văn hệ Pā-li. Sư cũng viết tựa cho tập kinh An-ban thủ ý (安般守意; p: ānāpānasati), soạn bộ Lục độ tập kinh (六度集經) và dịch một kinh bản của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Như thế, trong đầu thế kỉ thứ ba, Phật giáo Việt Nam đã là Phật giáo Ðại thừa.|Khoảng thế kỉ thứ năm, người ta nhắc đến hai vị Thiền sư ở Giao Châu là Pháp Thiên (法天; s: dharmadeva) và Huệ Thắng (慧勝), theo thiền pháp Ðại thừa. Người ta biết rằng Sơ tổ Thiền tông Trung Quốc là Bồ-đề Ðạt-ma đến nước này năm 520, nhưng có truyền thuyết cho rằng, Ngài có thể đã cùng Pháp Thiên đến Giao Châu cuối đời nhà Tống (khoảng năm 470).|Cuối thế kỉ thứ sáu, Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi (毘尼多流支; s: vinītaruci; cũng gọi là Diệt Hỉ) – học trò của vị Tổ thứ ba của Thiền Trung Quốc là Tăng Xán (僧璨) – đến Giao Châu khai sáng dòng thiền cùng tên. Sau đó còn có phái thiền Vô Ngôn Thông (無言通) và Thảo Ðường cũng xuất phát từ Trung Quốc lưu hành tại Việt Nam. Phái Thiền của Tì-ni-đa Lưu-chi truyền được 19 đời (đến năm 1213), bắt đầu bằng kinh Tượng đầu tinh xá (象頭精舍經), một bộ kinh thuộc hệ thống Bát-nhã, tạo sự lớn mạnh của Phật giáo Ðại thừa và cả Mật tông tại Việt Nam. Phái Thiền Vô Ngôn Thông truyền được bốn thế kỉ, sử dụng chủ yếu các kinh Viên giác (圓覺), Pháp hoa (法華), chủ trương »Ðốn ngộ« (頓悟) và »Vô sở đắc« (無所得), rất gần với Thiền phương nam của Trung Quốc. Phái thiền Thảo Ðường (草堂) bắt đầu từ cuối thế kỉ thứ mười một, do Thiền sư Thảo Ðường sáng lập, vốn là một tù nhân của vua Lí Thánh Tông bị bắt năm 1096. Sách Thiền uyển tập anh (禪苑集英) cho rằng Thảo Ðường là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (雪竇重顯), là phái chủ trương dung hợp giữa Phật và Nho giáo tại Trung Quốc. Phái Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ trong đó có những người nổi tiếng như Không Lộ (空露) và Giác Hải (覺海; hai vị cũng được xếp vào thiền phái Vô Ngôn Thông).|Khoảng thế kỉ thứ mười, Việt Nam giành được quyền độc lập và Phật giáo bắt đầu có ảnh hưởng trong giới vua quan. Năm 971 Ðinh Tiên Hoàng ban chức »Tăng thống« đầu tiên cho Thiền sư Khuông Việt (匡越; Ngô Chân Lưu; 吳真流). Vua Lê Ðại Hành mời Thiền sư Pháp Thuận (法順) và Vạn Hạnh (萬行) làm cố vấn chính trị. Về sau Vạn Hạnh phò Lí Công Uẩn (李公蘊) lên ngôi (1010), nhà vua cho dựng nhiều chùa chiền, sùng bái đạo Phật. Năm 1036, Lí Thái Tông (李太宗) lên ngôi, cũng là một nhà vua quý trọng đạo Phật. Năm 1049, chùa Một Cột (延祐; Diên Hựu) được xây dựng. Các nhà vua đời Lí về sau đều tôn sùng đạo Phật và lấy đạo từ bi làm phương pháp trị nước. Trong thời gian này, Phật giáo Ðại thừa với các bộ kinh như Kim cương, Dược sư, Pháp hoa, Viên giác… được truyền tụng. |Ðầu thế kỉ thứ 13, nhà Trần lên ngôi, đồng thời ba thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại một. Ðây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo Việt Nam. Các nhà vua đời Trần cũng đều là những Thiền sư uyên bác, mà một trong những người xuất sắc nhất phải kể đến là vua Trần Thái Tông (陳太宗; 1218-1277). Thiền phái duy nhất Việt Nam thời này, được xem là sự tổng hợp của ba thiền phái kia là thiền Yên Tử hay Trúc Lâm. Trần Thái Tông đã để lại một loạt tác phẩm thiền học rất quan trọng. Một nhân vật quan trọng của Phật giáo đời Trần là Huệ Trung Thượng sĩ (慧忠上士), tức là Trần Quốc Tung, anh cả của Trần Hưng Ðạo, anh vợ của Trần Thánh Tông. Sau Thái Tông là Trần Nhân Tông (陳仁宗), cũng là một ông vua xuất gia, trở thành tổ thứ sáu của trường phái Yên Tử và Ðệ nhất tổ của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong thời nhà Trần, các bộ kinh Kim cương, Pháp hoa, Bát-nhã, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm được lưu truyền rất rộng rãi. Hai nhà sư đóng góp lớn nhất vào việc học Phật thời đó là Pháp Loa (法螺) và Huyền Quang (玄光).|Ðến cuối thế kỉ 14, Phật giáo bắt đầu suy đồi, nhà Trần đã nằm trong tay Hồ Quý Li. Trong đời nhà Lê, vua quan coi trọng Nho giáo với kết quả là năm 1464, Lê Thánh Tông cấm xây dựng chùa mới.|Khoảng giữa thế kỉ 17, lúc Nam Bắc phân tranh, Phật giáo lại phục hưng, trong đó Thiền sư Chân Nguyên và Hương Hải hoạt động ở Ðàng ngoài. Ở Ðàng trong, chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) là người tôn trọng đạo Phật, cho xây chùa Thiên Mụ năm 1601. Tại đây, môn phái của Thiền sư Liễu Quán (了觀) có công phục hưng Phật giáo. Ðầu thế kỉ thứ 19, Gia Long thắng Tây Sơn, chấm dứt những năm chinh chiến, trong đó đạo Phật cũng bị thương tổn. Các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Ðức cũng có để tâm phục hưng lại đạo Phật. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nói chung Phật giáo chưa bao giờ mất ảnh hưởng trong dân tộc Việt Nam.
phật giáo văn học
2673指帶文學色彩之佛教典籍。部分學者將所有佛教聖典皆由文學方面加以考察,如此固有失於廣泛之嫌,然觀初期之經典,如簡潔金言集之法句經,故事性濃厚之譬喻經、本生經,或構想雄偉瑰麗之維摩、法華、華嚴等諸大乘經,無疑均屬富於文學色彩之聖典。 以梵文寫成的原典,堪稱文學佳作者,有二世紀馬鳴(梵 Aśvaghoṣa)之讚歎釋迦佛的「佛所行讚」(梵 Buddha-carita),為印度古典文學之先驅;以舍利弗與目連為主題而編成之戲曲「舍利弗之所說」(梵 Śāriputra-prakaraṇa);以佛陀異母弟難陀之故事為題材所作之美麗詩篇「孫陀利難陀詩」(梵 Saundarananda-kāvya)。此外有七世紀戒日王(梵 Śīlāditya)之佛劇「龍王之喜」(梵 Nāgānanda)等。又六世紀文法家坎德拉哥明(梵 Candragomin)之文典為佛教國家最普及之梵語文典,西元七、八世紀頃,有佛教徒阿摩拉新哈(梵 Amarasiṃha)所著之梵語辭典,其解說書達五十部之多。在巴利文方面之原典有五世紀大學僧佛音之「法句經注」、「本生經」等。 漢譯經典中,如鳩摩羅什之譯本,文筆優雅流暢,堪稱翻譯文學之傑作。文學家描述有關佛教之作品,舉凡僧徒禮讚、懺儀之類,優秀之作頗多。同時以文筆知名之師僧輩出,如隋代之法周,唐代之慧淨、皎然,五代之齊己、貫休、希覺,北宋之思悅,元代之曇噩、大圭,明代之德言,清代之智朴、聖通、照常、讀徹等。唐代以降,禪僧每將自己之悟境假托偈頌表達之。俗講使用的變文則成為我國通俗文學淵源之一。此外,伴隨佛教傳入之梵文學知識,並於我國發展成反切法與韻圖。(參閱「佛教詩人」2694、「敦煌變文」4971)
; (佛教文學) Văn học của Phật giáo. Chỉ cho những bộ kinh điển của Phật giáo mang sắc thái văn học. Chẳng hạn những bộ kinh như: Pháp cú, Thí dụ, Bản sinh, Duy ma, Pháp hoa, Hoa nghiêm...… là những Thánh điển đậm đà sắc thái văn học. Vào thế kỉ II, Phật sở hành tán (Phạm: Buddha-carita) của ngài Mã minh (Phạm:Azvaghowa), có thể nói, là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên ở Ấn độ. Kế đến, lấy các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên làm chủ đề mà soạn thành vở kịch Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputra-prakaraịa) và lấy sự tích ngài Nan đà – người em cùng cha khác mẹ của Phật– làm đề tài mà soạn thành 1 thiên ca mĩ lệ: Tôn đà lợi Nan đà (Phạm: Saundarananda-kàvya)…... Đây là những kiệt tác về văn học tiếng Phạm của ngài Mã minh. Ngoài ra, vào thế kỉ VII, vua Giới nhật (Phạm: Zìlàditya) đã soạn vở kịch Phật giáo nhan đề: Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda) cũng là 1 tác phẩm văn học giá trị ở đương thời. Về văn họcPàli thì vào thế kỉ V có tác phẩm Pháp cú kinh chú và Bản sinh kinh của ngài Phật âm. Còn về các kinh điển Hán dịch thì như các bản dịch của ngài Cưu ma la thập, văn bút rất thanh nhã, lưu loát, có thể gọi là những kiệt tác của nền văn học phiên dịch. Cũng có rất nhiều các vị tăng nổi tiếng về văn học như: Ngài Pháp chu đời Tùy, các ngài Tuệ tịnh, Kiểu nhiên đời Đường, các ngài Tề kỉ, Quán hưu, Hi giác đời Ngũ đại, ngài Tư duyệt đời Bắc Tống, các ngài Đàm ngạc, Đại khuê đời Nguyên, ngài Đức ngôn đời Minh, các ngài Trí phúc, Thánh tông, Chiếu thường, Độc triệt đời Thanh…...
phật giáo văn khố
2673又作佛教叢書。係十九世紀末葉至二十世紀前半,在蘇俄所刊行之佛教原典、圖版及翻譯等之叢書,原名 Bibliotheca Buddhica。 自西元一八二六年,英國學者荷吉森(Brian Houghton Hodgson)在尼泊爾等地發現佛教梵文原典以來,梵文佛教教典之研究日益盛行。英國牛津大學之牛津逸書(Anecdota Oxoniensia)、印度之印度文庫(Bibliotheca Indica)、印度佛教聖典及人類學會(Buddhist Text and Anthropological Society of India)等均於此際創立、刊行。此佛教文庫為聖彼得堡(St. Petersburg)學士院之附屬事業,其特色即在於校訂佛教梵文原典。已陸續出版者甚多。〔Emeneau:A Union List of Printed India Texts and Translations in American Libraries,American Oriental Series vol. 7, 1935〕
; (佛教文庫) Cũng gọi Phật giáo tùng thư. Nguyên tác của bộ sách này có tên là Bibliotheca Buddhica, được ấn hành ở nước Nga vào cuối thế kỉ XIX đến nửa trước của thế kỉ XX. Bộ Phật giáo tùng thư này là sự nghiệp phụ thuộc viện học sĩ ở St. Petersburg, chuyên nghiên cứu, hiệu đính và phiên dịch các nguyên điển của Phật giáo, đã tiếp tục xuất bản được nhiều tập trong thời gian còn hoạt động. [X. A Union List of Printed India Text and Translations in American Libraries, American Oriental Series vol.7, 1935].
phật giáo văn vật trần liệt quán
2671設於臺灣省高雄縣大樹鄉佛光山內。星雲大師創建於民國七十年(1981),其內陳列佛教珍貴佛像、文物、法具、畫冊等凡數千件,均分類陳列,並附上說明文字,以令信徒遊客從認識佛教之文物法典而了解佛教之具體內涵。此館之作用不僅有弘法度眾之功;亦具保存佛教文物,勿令流失之效。館內所陳列之文物,除佛光山二十餘年來所蒐集古今中外各國之珍藏外,更有各名書畫家及善心緇素大德之樂捐奉獻者。館內除陳列各項文物法器外,並設有華藏世界、佛教史幻燈片介紹室、佛教五大名山模型、佛教重要掌故教示臘像等。華藏世界旨在表詮華嚴世界之重重無盡、重重無礙,場面殊勝感人。
phật giáo vũ đạo
2695印度自古已見舞蹈之記錄,如梨俱吠陀中所述。今由佛傳文學中描寫之宮廷歌舞,可知在佛陀時代業已普遍,然佛教教團禁止僧侶行歌舞音樂或觀聽,此規定見之於沙彌十戒中,在家佛教信徒則不在此限。由馬鳴所編之佛劇「舍利弗之所說」(梵 Śāriputraprakaraṅa),戒日王(梵 Śrīharṣa)編的「龍王之喜」(梵 Nāgānanda),或從本生譚(梵 Jātaka)文學之記載與描述,乃至山琦(梵 Sānti)遺蹟之雕刻、阿旃多石窟(梵 Ajantā)之壁畫等,皆可了解佛教徒舞蹈之情形。然在印度,舞蹈之傳統係以印度教寺院為中心而發展,並無特別獨立專屬佛教之舞蹈。 有關舞蹈最古之文獻為婆囉多劇論(梵 Bhāratīya Nāṭyaśāstra,三至四世紀),其內容記載印度傳統舞蹈之起源與發展。印度舞蹈與宗教之結合,始於作為主神濕婆(梵 Śiva)之獻禮。現今印度舉行傳統古典舞蹈以如下四處為代表:(一)巴拉德納泰姆(Bhārata Nāṭyam),(二)迦達迦利(Kathāl勹),(三)迦塔庫(Kathak),(四)摩尼普里(Maṇipur勹)。此類傳統舞蹈皆取材自大史、羅摩耶那敘事詩,與吉栗瑟拏(梵 Kṛṣṇa)神話之宗教文學等。至今緬甸、泰國、印尼等地之舞蹈亦繼承其傳統,然尚未發展成佛教舞蹈。 另於西藏喇嘛教,有專門用於祭禮之舞蹈,俗稱跳鬼,亦用於祈病延壽之時。行祭儀時,舞者至少有一人,至多可達十六或二十人。舞者頭戴鬼、獸等面具,身著華麗之服飾,舞姿亦有優美如天女者。其種類有供養舞、地鎮舞(奠基儀式之舞)、拂惡鬼舞等,乃起源於九世紀頃,西藏惡王朗達磨(836~841 在位)欲滅絕佛教,而大肆毀寺殺僧,時有喇嘛吉祥金剛(藏 Dpal-gyi rdo-rje)佯裝以奇妙舞蹈獻王,且舞且行,漸逼近後,趁王不意,將之射殺。惡王死後變為精靈,常出入寺中作祟,故後世多行此舞以驅王之惡靈;久之,成為喇嘛教特殊祭儀之一。 韓國佛教,於李朝時代(1392~1897),梵唄極為盛行,佛教舞蹈「僧舞」亦隨之大為流行。僧舞之起源極早,至少在高麗時代(936~1391)即有此一佛教舞蹈存在。李朝時代最值得矚目之佛教舞蹈,即世祖時之「蓮花臺舞」。此蓮花臺舞乃世祖五年(1460)時與「靈上會上曲」同時製作者,據「慵齋叢話」一書記載,可窺知其梗概。即先於舞臺佈置香山、池塘等,復於周圍繪上彩花圖樣,懸掛燈籠,東西二邊並安置兩對蓮花,舞妓即於其中翩翩而舞,其間並有吟唱南無阿彌陀佛或觀音讚等佛偈以應和者。李朝末年,佛教界更大力推廣梵唄與「施風舞」,然至西元一九一○年日本侵佔韓國後,發布「朝鮮總督府寺剎令」,制定各本山之管理條文,同時亦禁止僧侶之梵唄、舞蹈等活動。 在日本,經印度、西域、中國、韓國而傳入之舞蹈,常被用為佛教儀式、供養、布教之具,而發展為一套獨特之佛教舞蹈。例如伎樂乃推古朝從百濟傳入之無言假面舞樂,聖德太子以之為佛教舞樂加以獎勵。舞樂係傳自中國之雅樂,改作於平安時代。聖武朝,印度婆羅門僧菩提仙那(梵 Bodhisena)與林邑僧佛哲(Fattriet)至日本,傳授源於印度之「林邑八樂」,由是日本佛教舞樂隆盛。林邑八樂即:菩薩、迦陵頻、陵王、安摩與二舞、倍臚、拔頭、胡飲酒、萬秋樂等,皆取自佛教之材料。此外,唐樂之「散手破陣樂」亦屬佛教舞樂之一種。猿樂(散樂)係源自印度、西域之舞樂,於奈良時代由中國傳入。平安時代則有咒師藝、田樂等,其時佛教行事逐漸藝能化,乃至成為專門之演藝活動。咒師藝包含龍天手、毘沙門手、鬼手等。又咒師藝、今樣、白拍子等皆衍生於猿樂,久之相互融合產生歌舞劇之「能」;「能」復與滑稽藝之「狂言」合併為「能樂」,成為日本獨特之舞臺藝術。此外,佛教僧侶為教化民眾而發展出特殊之布教舞蹈,即一面念佛一面詠唱和讚,復敲叩鐘鼓,舞之蹈之,此類布教舞蹈統稱為念佛踊、念佛躍、踊念佛、踊躍念佛、歡喜念佛。如天台宗之空也所創之空也念佛(又稱鉢叩念佛)、時宗開祖一遍(1239~1289)之踊念佛、唱詠法華經經題而舞踊之題目踊、京都修學院之大日踊、盂蘭盆會時之盆踊等,皆為佛教舞蹈結合日本鄉土藝術所呈現之民俗舞蹈,亦為今日日本文化極為特殊之一環。
; (佛教舞蹈) Nghệ thuật nhảy múa trong Phật giáo. Ấn độ từ nghìn xưa đã thấy có ghi chép về nghệ thuật nhảy múa, như được tường thuật trong Lê câu phệ đà. Nay trong văn học Phật truyện cũng thấy miêu tả vũ đạo trong cung đình, như vậy đủ biết ở thời đại đức Phật vũ đạo đã được phổ biến. Nhưng, trong Phật giáo, tăng chúng bị cấm chỉ không được xem nghe ca vũ nhạc kịch, qui định này đã thấy trong mười giới Sa di; song tín đồ Phật giáo tại gia thì không bị chi phối bởi qui định này. Qua các tác phẩm kịchnghệ như Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa –Những điều ngài Xá lợi phất nói) của bồ tát Mã minh, Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda –Niềm vui mừng của rồng chúa) của vua Giới nhật, hoặc theo sự miêu tả trong các tác phẩm văn học truyện Bản sinh (Phạm: Jàtaka), cho đến các di tích điêu khắc ở Sơn kì (Phạm: Sànchi), các bức bích họa trong chùa hang A chiên đa (Phạm: Ajantà)…... người ta có thể hiểu rõ tình hình vũ đạo của tín đồ Phật giáo tại gia. Tuy nhiên, nghệ thuật Vũ đạo ở Ấn độ cổ đại lấy các đền thờ của Ấn độ giáo (Bà la môn giáo) làm trung tâm phát triển, chứ không có vũ đạo đặc biệt của Phật giáo.Văn hiến xưa nhất liên quan đến vũ đạo là luận Bà ra đa (Phạm: Bhàratìya Nàỉyazàtra–khoảng thế kỉ III, IV), nội dung nói về nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật vũ đạo truyền thống Ấn độ. Vũ đạo được kết hợp với tông giáo bắt đầu từ việc tế lễ thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Đến nay, các nước như Miến điện, Thái lan, Indonesia...… cũng kế thừa truyền thống vũ đạo này, nhưng vẫn chưa phát triển thành vũ đạo Phật giáo. Ở Tây tạng, vũ đạo khởi đầu vào khoảng thế kỉ IX, từ đó, Lạt ma giáo chuyên dùng vũ đạo trong việc cúng tế, thông thường gọi là Khiêu quỉ (nhảy múa xua đuổi quỉ ma). Có các chủng loại như: Cúng dường vũ, Địa trấn vũ, Phất ác quỉ vũ…... Về sau, vũ đạo trở thành 1 trong những nghi thức đặc thù của Lạt ma giáo. Tại Hàn quốc, vào thời đại nhà Lí (1392-1897), Phạm bái rất thịnh hành, điệu Tăng vũ của vũ đạo Phật giáo cũng theo đó mà phát triển mạnh. Tăng vũ khởi nguồn rất sớm, ít nhất cũng đã tồn tại từ thời đại Cao li (936-1391). Đến thời đại nhà Lí, vũ đạo Phật giáo rất được chú trọng. Tức vào thời Lí thế tổ năm thứ 5 (1460), vũ điệu Liên hoa đài và nhạc khúc Linh thượng hội thượng được sáng chế cùng lúc. Khi trình diễn, trước hết, bài trí núi Hương sơn, ao hồ, chung quanh vẽ hoa nhiều màu, treo lồng đèn, 2 bên đông, tây vũ đài đều bày hoa sen, sau đó, các vũ công bắt đầu nhảy múa, đồng thời, ngâm xướng Phật kệ như Nam mô A di đà Phật hoặc Quan âm tán để hòa theo nhạc khúc và vũ điệu. Tại Nhật bản, vũ đạo được truyền vào từ các nước Ấn độ, Tây vực, Trung quốc, Hàn quốc...… thường được dùng trong các nghi thức Phật giáo như cúng dường, lễ hội…... sau phát triển thành vũ đạo đặc biệt của Phật giáo, được triều đình tán trợ, nhờ đó vũ đạo Phật giáo hưng thịnh qua nhiều thời đại. Ngoài ra, chư tăng Nhật bản cũng phát triển 1 điệu múa đặc thù để giáo hóa dân chúng, gọi là Bố giáo vũ đạo(điệu múa truyền giáo). Nghĩa là vừa niệm Phật, vừa ngâm vịnh, xướng họa, lại đánh chuông trống để hòa theo nhịp bước nhảy múa. Loại Bố giáo vũ đạo này được gọi chung là Niệm Phật dũng, Niệm Phật dược, Dũng niệm Phật, Dũng dược niệm Phật, Hoan hỉ niệm Phật...… Như Không dã niệm Phật (cũng gọi Bát khấu niệm Phật) do ngài Nhất không dã thuộc tông Thiên thai sáng chế; Dũng niệm Phật do ngài Nhất biến –Tổ khai sáng Thời tông– thành lập, Đề mục dũng, Đại nhật dũng, Vu lan bồn dũng…... đều là các điệu múa của Phật giáo Nhật bản kết hợp với nghệ thuật múa địa phương mà phát triển thành vũ đạo dân gian, và cũng là 1 trong những sắc thái rất đặc thù của nền văn hóa Nhật bản ngày nay.
phật giáo y thuật
2711印度稱醫學為醫方明(梵 cikitsā-vidyā),乃五明之一。佛典中提及之醫術,亦屬此一系統,增一阿含經卷十二、金光明經卷三除病品等,皆載有三大患三良藥(三種妙藥)之說。另從法華經卷五之良醫喻亦可見印度醫術之大端。此外,有關僧尼受戒、安居等行持規定之「二十犍度」中,其第七項「藥犍度」(又稱醫藥法)即詳載比丘患病之種類、對治諸病之處方、病中飲食等種種規定。南海寄歸內法傳亦舉出「八分醫方」,歸納印度古來各種診察投藥之法。 大藏經所收有關醫療治病之典籍有佛醫經、療痔病經、咒齒經、咒目經、咒小兒經、除一切疾病陀羅尼經、迦葉仙人說醫女人經、治禪病祕要經等。釋尊時代之耆婆(梵 Jīvaka)即為諸經所舉之名醫代表,釋尊及其弟子皆曾接受耆婆之治療,傳說耆婆亦曾自死婦腹中救活胎兒。北本涅槃經卷八載有切開盲人眼膜用之醫學器材「金篦」,其後成為密教修法之用器。西藏大藏經丹珠爾中之醫方明部(藏 Gso-rig-pa)亦收有龍樹百治療法等數部醫書,西藏、蒙古等之學問寺中,大多設有醫學部。 相傳後漢譯經家安世高亦精通醫術,曾將印度醫學與佛教同時引入中國;在隋書經籍志中,亦收錄龍樹菩薩藥方、婆羅門諸仙藥方等。唐代醫書千金方中,亦揭櫫上述之三大患等說法,明代本草綱目亦多參照佛典中之植物名。〔修行道地經卷六、四分律卷三十九、摩訶僧祇律卷十、大唐西域記卷二、佛教醫學(日本大日向大乘著)〕(參閱「醫方明」6628)
phật giáo âm nhạc
2677印度佛教音樂,約起源於西元前二千年至一千五百年左右,記述梨俱吠陀歌詠方法之娑摩吠陀(梵 Sāma-veda)即為其肇始,依此而奠定聲明、梵唄之基礎。佛教繼承此方法而產生伽陀(梵 gāthā,意譯孤起頌)之方式,釋尊即以此方式傳予跋提比丘、優婆利尊者、目連、阿難、難陀、婆耆舍等。其後,馬鳴則作釋尊一代事蹟之歌(賴吒和羅伎)。此外,據傳龍樹開啟南天鐵塔,受金剛薩埵之灌頂,誦持祕密最上漫荼羅時,亦作金剛歌詠之讚。 至阿育王時代,佛教音樂之種類已甚豐富。至二世紀中葉迦膩色迦王之際,印度之佛教音樂隆盛異常,並盛傳到中亞細亞之于闐、疏勒等地。六、七世紀戒日王(梵 Śīlāditya)治世之時,印度佛教音樂發展至全盛期,越過葱嶺、中亞細亞,一支通過天山南麓,以龜茲(庫車)為中心;一支經過天山北麓,以高昌(吐魯番)為中心而昌盛發達。其後,印度佛教音樂經過西域諸國,大舉流傳於唐室宮廷,促成唐朝舞樂之高度發展。 佛教音樂所用之樂器有:弦樂器(梵 vīṇā)、管樂器(梵 vaṃśī)、打樂器(梵 dundubhi)。二世紀以後亦使用在下部雕有舟形共鳴胴之五弦琵琶。傳云,釋尊在靈鷲山說法時,因憐憫盲目之弟子巖窟尊者,而用弦樂器伴奏,唱頌地神陀羅尼經。此種盲僧琵琶,直至阿育王之子鳩那羅(梵 Kuṇāla)失明之際,始被推廣使用,後亦隨佛教傳至中、日等地。 部派佛教在嚴格之戒律中,音樂、歌舞、演劇乃被禁絕,故於僧侶之間,佛教音樂並不發達。然至大乘佛教興起後,每於盛大之供養會上採用歌舞以莊嚴之,佛教音樂至此遂急遽發展。大規模之佛教歌劇,始於七世紀戒日王所作之「龍王之喜」(梵 Nāgānanda)。 七世紀末因佛教沒落,佛教音樂亦隨之衰微,故佛教音樂轉移至緬甸、泰國、柬埔寨(高棉)、印尼等東南亞地區。在緬甸,與印度同樣使用七音階之法,佛教之聲明在此盛行。樂器方面則使用印度二世紀頃所用之舟形胴付弓形之莊恩(tsaun,古代為七弦,後來改為十三弦),此外則是該國之傳統樂器鰐琴(magyun)與傳自泰國之打樂器基旺(kyiwain)。在泰國,傳統音樂並非印度式之音樂,係以東南半島南部吉蔑族之獨特民族音樂為基調,再使用由我國傳入之樂器,而形成其特殊之佛教音樂。然以佛教立場而言,除梵唄外,並無其他大規模之佛教音樂出現。在柬埔寨林邑國地方,盛行印度佛教舞樂,例如西元七三六年於日本傳播印度舞樂之林邑國僧佛哲(Fattriet),為極負盛名之舞樂研究者。此外,從十二世紀之安哥寺雕刻觀之,古印度樂器較少,反而主要使用南洋系統之樂器,由是可知,泰國、柬埔寨之佛教音樂乃異於印度之獨自型態。 於印尼,隨著佛教王國之建立,佛教音樂亦行傳入,然因以南傳佛教為中心,故甚少舉行大規模之佛教歌舞,而爪哇島東面之巴黎島則遺存印度教舞蹈遺蹟,其舞姿具有強烈之印度色彩。 在西藏方面,喇嘛左手持鈴、右手執錫杖以作為禮拜音樂之主體,其他作為儀式音樂者,有單旋律之齊唱與樂器之伴奏。較為常用之樂器有長型喇叭、屬於敲打樂器之鈴、鈸等,另外有遺自棒教以人頭骨作成二面鼓及以人類之大腿骨所作成之縱笛。 在我國,雖自東漢以來即開始有漢譯經典,然卻無法採用由佛教傳來之梵唄唱法來歌誦之。此一情形,自梁高僧傳中可見一二。至三國時代,康居(Samarkand)之僧來蜀,因而傳來伊朗式之歌唱法。直至魏武帝第四子曹植(陳思王),素有音樂天才之美稱,對梵曲饒有興趣,傳說曾於山東省東阿縣之魚山,創製中國所獨有之梵唄法,中國之聲明於是時始奠定基礎。與印度式七音階之歌唱法對照,中國係採用五音階之法。 至唐代八世紀頃,中印度之佛教學者善無畏、金剛智、不空等來我國朝覲,印度式之梵唄始漸流行。據專家考證,我國之梵唄與民間歌曲共通之點甚多,與近代日本聲明之性質則迥然不同。〔宗教音樂(田邊尚龍)、佛教音樂と聲明(大山公淳)、佛教音樂之研究(日本東洋音樂學會編)〕
phật giáo đại hệ
2669請參閱 釋教三字經 凡六十四冊。日本佛教大系刊行會刊行。自大正六年(1917)十二月始,至昭和十三年(1938)止,歷二十餘年始刊行完畢。係集有關佛教主要論疏之本文及代表性注釋之大成者。內容包含俱舍論、七十五法、略述法相義、成唯識論、三論大義鈔、三論玄義、華嚴法界義鏡、金獅子章、大乘起信論、華嚴五教章、淨土三部經、選擇本願念佛集、教行信證、四帖疏、法華玄義、天台四教儀、摩訶止觀、觀心本尊鈔、大日經疏、開目鈔、正法眼藏等之本文及其注釋,共約一三○部。
phật giáo đại học
2670民國以來,倡導新式教育之佛學院日增,其中較著名者有支那內學院、閩南佛學院、武昌佛學院等,惟此等佛學院並非相當於大學學制,而多係普通中學程度。以大學為名者,僅有杭州華嚴大學、揚州長生寺華嚴大學院等。政府遷臺後,佛學院亦紛紛建立,相當於大學學制者,有佛光山中國佛教研究院,設有研究部和專修部。此外,中國文化大學設有佛教文化研究所、佛學研究所、印度文化研究所,均為專門研究佛學之機構。然迄今為止(1987),尚未有政府允許立案之正式佛教大學,惟多年來,中國佛教會、佛光山,及社會上一般有力之信眾早已多次呈請籌設私立佛教大學,蘊釀時機一旦成熟,我國第一所正式佛教大學之成立,應可指日而待。 日本方面,自大正(1912~1925)年間以來,各宗派紛紛創立綜合或專科大學,如真宗本願寺派之龍谷大學、大谷派之大谷大學、日蓮宗之立正大學、真言宗之高野山大學、曹洞宗之駒澤大學、淨土宗之佛教大學,及天台、真言宗豐山派等聯合創辦之大正大學,此外另有種智院等十餘所大學,而一般公私立大學亦大多設有佛學課程。於歐美,如宣化法師於美國加州萬佛城創辦之法界大學、越南天恩法師創立之東方大學等,皆為十餘年來促進歐美佛教發展之重鎮。於一般著名大學,如美國柏克萊、哈佛、耶魯、哥倫比亞、威斯康辛、法國巴黎大學、加拿大曼尼托巴、多倫多大學、英屬哥倫比亞大學等,亦皆設有佛學科系,或長期之佛學講座。此外,如印度之梵文大學、那爛陀大學、維濕瓦巴拉迪大學(Viśva Bharati)、韓國之東國大學、泰國之皇冕佛教大學、朱拉隆功佛教大學,及高棉在淪亡以前之佛教大學(Preah Sihanu Raja)、佛教研究院(Buddhist Institute)等,均為推動當代佛學研究、培養僧伽人才之重要學府。
phật giáo đại từ vị
2670凡七冊。日本龍谷大學編。係為紀念淨土真宗宗祖親鸞六百五十周年忌日而編纂者。真宗本派本願寺之佛教大學(今龍谷大學),於明治四十一年(1908)著手編纂,至大正三年(1914)發刊(凡三卷),昭和十年(1935)再刊。其內容搜羅詳備,除真宗之有關項目外,廣泛記述各宗教義制度之內容、變遷,及佛、菩薩、鬼神等之器具與伎樂、動植物、人名、寺廟等。共收辭目二萬三千項、圖片一千五百餘幀。昭和四十七年加項目索引一卷復刊之。
phật giáo đồ thư quán
2698根據文獻之記錄及遺蹟之考證,可知早期印度佛教寺院中,如那爛陀寺(梵 Nālanda)等,並無書庫之設施。五世紀時,佛音(梵 Buddhaghoṣa)曾於錫蘭大寺(梵 Mahā-Vihāra,巴同)注釋該寺所傳之三藏。至十三世紀,伊斯蘭教徒侵入印度,大舉破壞超戒寺(梵 Vikramaśilā)等之藏書。此外,據隋代闍那崛多之記載,西域斫句迦王宮寺藏有豐富之大乘經籍。 於我國,自南北朝開始即有「經藏」之造立。經藏,即收藏一切佛教典籍之書庫,又稱經樓、經庫、經堂、經閣、法寶殿、轉輪藏、毘盧殿等。一般寺院中,收藏佛典之方式通常有兩種,一種為「輪藏」,即於經棚中設置機軸,以供迴轉;另一種為普通排排並列之書架。經堂內之正面多安置梁朝善慧大士傅翕之像或文殊菩薩像,此蓋因輪藏之設立,係始於傅大士之故。 據廣弘明集卷二十二所錄之「周經藏願文」及隋煬帝之寶臺經藏願文,可知在六朝之時,經藏早已普遍流行。另據唐代樓穎所編撰「善慧大士錄」之記載,則傅翕造立輪藏之事緣了然可見:傅翕以經目繁多,非尋常之人所可遍讀,乃於山中建立大層龕,每一柱皆有八面,內中收存諸經,以機軸轉動之,運行無礙,稱為輪藏,並發願言:「願登藏門之人,生生世世不失人身;或有發菩提心者,竭盡志誠以推動輪藏,則其所得功德亦無異於持誦諸經。」以此因緣,後世凡有造立輪藏,皆設傅大士之像。又所造立傅大士之像,多為頭戴道冠、肩披釋服、足躡儒鞋之像,此蓋傅翕生前顯現儒釋道三家和會之真實風貌。傅大士像左右兩側之童子像乃傅大士之二子,即左邊之普建,右邊之普成。除上記外,另亦有列置運轉輪藏之八大神將,表示天龍八部;或其他四天王、梵天、帝釋天、金剛,乃至手持刀劍之天魔鬼神等像,皆用表護持經法、不令其輪停轉之義。 自南北朝以降,輪藏、經藏既已普遍流行,全國各大寺院漸於諸堂伽藍增建經樓,是為總集一山一寺歷代相承法寶經典之館庫。據十不二門指要鈔卷上載,五代之時,由於吳越王錢氏之篤信佛教,曾敕令天台之德韶國師建立經藏,不數年,僅於杭州一州即有十所經藏,當世經藏普遍之情形,由此可以想見。至宋代以後,又因大藏經之開版,各地珍藏藏經之經樓更屬必要之建築。通常規模較大之經樓,其內所珍藏者並不限於大藏經或佛教典籍,舉凡資益於研習內學之傳統世典,皆為藏納之列。尤以現代各大佛教道場中之圖書館,除藏經、一般佛典、佛教叢書、期刊雜誌、辭典類書,及傳統世典外,更蒐集大量當代有關思想、哲學、宗教、語文等之中外名著。 在日本,自佛教傳入後,寫經之風鼎盛,故多模仿我國造立經藏,如法隆寺經藏、東大寺勸學院經庫、東大寺法華堂經庫、唐招提寺經藏。據藥師寺緣起載,寺內所置經樓,長三丈七尺,寬二丈五尺,柱高三丈,可以想見其構築之巨大。日本經藏之型態,有單層者,如醍醐寺經藏、中尊寺經藏;有「校倉造」者,如東大寺、唐招提寺;然大多數為重層之建構,形制較複雜,有方五間、方三間、三間三面、三間二面等不一而足。日本經藏亦多模仿我國於堂內安置傅大士之像,間亦有奉置釋迦坐像及脅侍二菩薩像、傳教大師(日本天台宗之祖最澄)像等。〔佛祖統紀卷三十四、護法錄卷四、卷五、釋門正統塔廟志、考信錄卷四〕
phật giáo đồ tượng học
2700佛教諸尊像之形態並非依據製作者之自由意志,而係以一定之規則為基準而造成。此一規則之基本即是經典與儀軌。所謂儀軌,即密教經典所說之念誦佛菩薩與天部等之供養儀式與軌則;將此類儀式與軌則以圖示解說之,通稱為儀軌。儀軌最初盛行於印度、中國,直至日僧最澄、空海、常曉、圓行、圓仁、惠運、圓珍、宗叡等所謂「入唐八大家」之留學僧始將儀軌傳入日本。其後,由安然集其大成,成立諸阿闍梨真言密教部類總錄(八家祕錄),共計二十部一七五五卷。於日本密教,儀軌之整理極為發達、繁雜。由平安末期至鎌倉時代,成立諸種儀軌,此等儀軌詳載佛像諸尊之形像、色彩、種子、持物、供養法等,凡欲雕塑諸尊佛像時,均須一一依照儀軌所示。 諸儀軌之分類方法有多種,或分灌頂部、胎藏界部等,總為二十部;或分七部、九部;或依修法之事、形像之事等而順次分類。以下參照此等分類,大別佛教諸尊像為如來、觀音、菩薩、明王、天部等五大部。 (一)如來部:如來諸尊皆以釋迦如來之形像為基本,故採出家形態,身著法衣,而無瓔珞等嚴身之具。著法衣之樣式,有通肩及偏袒右肩之區別。髮形為螺髮,頭頂高出之部分為肉髻,額有象徵智慧之白毫(白色旋毛)。各如來之區分主要依手之印相,印相係如來內在之覺悟表現於外之形式。(1)釋迦如來(梵 Śākya-muni-tathāgata),為究竟真理之體現者,為歷史上之佛陀,為佛教之教主,故具有超越之性格。釋迦如來像有八種,即:誕生像、樹下思惟像、苦行像、出山像、降魔成道像、說法像、涅槃像、金棺出現像。伴隨脅侍之釋迦三尊,原則上左方為文殊菩薩,右方為普賢菩薩。於禪、律系統中亦有配以迦葉、阿難,或觀自在、金剛藏等。法華經見寶塔品亦載有與多寶如來並坐之情況。(2)藥師如來(梵 Bhaiṣajyaguru-vaiḍūryaprabhā-rāja-tathāgata),為東方琉璃光世界之教主。古來皆作施無畏、與願印之通佛相,與釋迦如來無異,唯依銘文以分別。後於其左手上持藥壺,亦有持鐵鉢、錫杖或琉璃珠者。伴隨脅侍之藥師三尊,左方為日光菩薩,右方為月光菩薩,皆立像,另有十二神將之眷屬。於密教二部曼荼羅並未列出藥師如來,故另有與東方阿閦如來同體之說。(3)阿彌陀如來(梵 Amitāyus-amitābha-tathāgata,意譯無量壽如來、無量光如來),淨土三部經及無數大乘經典中屢次論及此尊,乃佛教淨土信仰之最主要信仰對象,於我國,常與長生不老之信仰相結合而廣被接受。其印相大致有三種:說法印相、定印相、來迎印相。就觀無量壽經所載九品往生,而有九種來迎之造型。阿彌陀如來三尊之情形,左方為觀世音菩薩,右方為大勢至菩薩。另基於觀無量壽經之記載,而有淨土曼荼羅、觀經曼荼羅等極樂淨土變相圖之繪製。此外,善導之往生禮贊以十往生阿彌陀佛國經為本據,而舉出二十五菩薩隨從彌陀來迎往生者之說,然此等二十五菩薩之名並未見於觀無量壽經。(4)毘盧遮那如來(梵 Vairocana-tathāgata),又稱盧舍那佛,為太陽神之神格佛格化。毘盧遮那之梵名 Vairocana 即「光明遍照」之意,蓋此尊係以釋迦如來為假像,其本身乃遍滿全宇宙者,故稱為毘盧遮那如來。其印相為於千葉蓮花臺座上結跏趺坐,左手置於膝上,右手向前,顯示說法印之姿。日本唐招提寺金堂毘盧遮那佛,即為此一造型。(5)大日如來(梵 Mahāvairocana-tathāgata),又稱摩訶毘盧遮那如來。乃由毘盧遮那如來開展出來,為密教內部至上之佛格。於如來部諸尊中,此尊為唯一之菩薩形像者。其印相,於密教金剛界為智拳印,於胎藏界為法界定印。於金胎二曼荼羅,皆以大日如來為中心,配置象徵大日智德之四如來,五佛一組,稱五智如來。 (二)觀音部:觀音諸像中有六觀音、七觀音、三十三觀音等變化身。以六觀音而言,通常係指:(1)聖觀音(梵 Āryāvalokiteśvara),於圖像學上,為區別各種變化觀音,而特稱本然之觀音時,冠以「聖」字以表示之。其造像之表現極為自由,並無特定規定。(2)十一面觀音(梵 Ekādaśa-mukha Āvalokiteśvara),變化觀音之一,具有十一面。一般以正面之三面為慈悲相,左三面為瞋怒相,右三面為狗牙上出相,後一面為大笑相,頂上為阿彌陀佛化佛之一面。(3)不空羂索觀音(梵 Amoghapāśa Āvalokiteśvara),隨菩提流支所譯「不空羂索神變真言經」之流布,其造像為數不少。羂索,為捕鳥之網,象徵投於大千世界以救度一切眾生之義;以其心願不空之故,稱為不空。形像大多為一面三目八臂。(4)千手觀音(梵 Sahasra-bhuja Āryāvalokiteśvara),具有千手、千眼以救度眾生,於我國最早係以「大悲觀音」之名而深受信奉。千手乃象徵此菩薩之救度範圍、方法之廣大無量。大部分之造像,非實際刻有千手,而以中央二手合掌,左右各有二十手,並以每一手救度二十五有界眾生,故總為千手;又每一手各有一眼,故為千眼。千手觀音,伴隨有婆藪仙人、風神、雷神及其他二十八部眾。(5)馬頭觀音(梵 Hayagrīva),一般各於三面之頂上戴著馬頭,為忿怒形相。於各種觀音變化身中,此尊較具明王之性格,故又被列於八大明王中。此尊之性格,頗受印度敘事詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)所載毘濕奴神之故事所影響。又此觀音因大悲,故不住涅槃,而住於無明諸境界中以斷盡諸惡趣。其形像有三面二臂、三面八臂等多種。(6)如意輪觀音(梵 Cintāmaṇicakra Āvalokiteśvara),乃住於如意寶珠三昧而轉法輪,以拔六道眾生苦之菩薩。其形像多為六臂,各臂或作思惟狀,或持如意寶、持念珠、按光明山、持蓮、持輪等。亦有以准胝觀音代替不空羂索而為六觀音,或於原先之六觀音另加准胝而為七觀音。 上舉之外,密教胎藏界曼荼羅蓮華部院中亦列有甚多觀音,持修法之觀音有三尊:(1)披葉衣觀音(梵 Palāśāmbarī),有二臂及四臂二種,二臂之造型多以左手執羂索,右手執開敷蓮花。(2)白衣觀音(梵 Pāṇḍura-vāsinī),其頭部披白衣之造型,原非經典所載,而係唐代以後所成立者。通常有二種,或為列於蓮華部院之一尊;或為阿彌陀如來之眷屬,為諸觀音之母。其形像有一面二臂、三面六臂。多為育兒、求子者之祈願對象。(3)多羅觀音(梵 Tārā),由觀自在菩薩眼中放大光明而生者,為二臂之像。 持成就法之觀音有四尊:(1)青頸觀音(梵 Nīlakaṇṭhī),乃基於濕婆神之古傳說而來,念此尊可解脫一切之怖畏、厄難,有四臂像、二臂像等形像。(2)阿摩
phật giới
2642<一>指諸佛之境界。係十界之一。與眾生界、魔界對稱。往生要集卷中(大八四‧六六中):「眾生不知,迷於佛界,橫起魔界,於菩提中而生煩惱。」梵網經卷上(大二四‧一○○二下):「能轉魔界入佛界,佛界入魔界。」(參閱「十界」457) <二>指佛國土。光讚經卷十(大八‧二一二上):「不當住東、西、南、北、四維、上、下,及一佛土,不當住十方佛界為一土。」
; 2627<一>乃開發眾生本有佛性至佛果之戒。此戒以眾生本具之佛性為體。又稱佛性戒、佛乘戒、一心戒、金剛寶戒、菩薩戒。係大乘戒之總稱。蓋一切意、識、色、心皆攝入此佛性戒中,故眾生受持佛戒即入諸佛位。〔梵網經卷下〕 <二>指諸佛所住一實相之淨戒。諸佛離一切相而住於戒,此戒即是佛戒。〔大日經疏卷十七〕 <三>密教中,特指三昧耶戒。又稱佛性三昧耶戒。〔大日經疏卷十七〕(參閱「三昧耶戒」583) <四>指佛陀所說一般之戒法。
; Xem Phật độ.
; The moral commandements of the Buddha; the laws of reality observed by all Buddhas; Buddhist rules.
; (佛界) I. Phật Giới. Chỉ cho cảnh giới của chư Phật, là 1 trong 10 giới. Đối lại: Chúng sinh giới, Ma giới. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 66 trung) nói: Vì chúng sinh không biết nên mê mất Phật giới mà chấp trước ma giới, ở trong bồ đề mà sinh khởi phiền não. (xt. Thập Giới). II. Phật Giới. Chỉ cho cõi nước của Phật. Kinh Quang tán quyển 10 (Đại 8, 212 thượng) nói: Không nên trụ vào đông, tây, nam, bắc, 4 duy, trên, dưới và 1 cõi Phật nào, cũng không nên trụ vào 1 Phật giới trong 10 phương.
; (佛戒) I. Phật Giới. Cũng gọi Phật tính giới, Phật thừa giới, Nhất tâm giới, Kim cương bảo giới, Bồ tát giới.Giới để khai phát tính Phật sẵn có của chúng sinh, khiến chúng sinh tu hành đạt đến quả vị Phật. Giới này là tên gọi chung của các giới Đại thừa. Bởi vì tất cả ý, thức, sắc, tâm đều được nhiếp vào trong giới Phật tính này, cho nên khi chúng sinh thụ trì Phật giới tức là đã ở vào địa vị của chư Phật rồi vậy. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. II. Phật Giới. Chỉ cho tịnh giới 1 thực tướng trong đó chư Phật an trụ. Chư Phật xa lìa tất cả tướng mà an trụ nơi giới, giới ấy chính là Phật giới. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. III. Phật Giới. Cũng gọi Phật tính tam muội da giới. Đặc biệt chỉ cho giới Tam muội da trong Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. (xt. Tam Muội Da Giới). IV. Phật Giới. Chỉ chung các giới pháp do đức Phật nói.
phật gô-ta-ma
Buddha Gautama (S).
phật hiền thiện thủ
Buddha of Worthy and Excellent Leader Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hiện
2718為棲止於我國峨眉山之鳥名。相傳此鳥每每鳴叫「佛現」之音,隨其所鳴,則佛像於朦朧中現形,傳為奇譚。〔月令廣義〕
; (佛現) Tên 1 loài chim ở núi Nga mi bên Trung quốc. [X. Nguyệt linh quảng nghĩa].
Phật hiệu
(佛號): có hai nghĩa. (1) Danh hiệu đức Phật, như Thế Tôn (世尊), Như Lai (如來), Cù Đàm (瞿曇), v.v. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 2, phần Đệ Thập Bát Tổ Già Da Xá Đa (第十八祖伽耶舍多), có đoạn: “Bỉ văn Phật hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ (彼聞佛號、心神竦然、卽時閉戶, kia nghe hiệu Phật, tâm thần kính sợ, tức thời đóng cửa).” (2) Đặc biệt chỉ cho các hành giả Tịnh Độ Tông thường xuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 41, phần Đường Thể Như (唐體如), có đoạn: “Thọ Niệm Phật Tam Muội, toại lực hành chi, duyệt thập tam niên như nhất nhật. Niên lục thập, đương Trọng Đông chi đán, vị chư tử viết: 'Tân xuân thập hữu nhất nhật ngô hành hĩ.' Chí kỳ, quán thấu chỉnh y, đoan tọa thủ kết ấn, khẩu xưng Phật hiệu, vi tiếu nhi thệ (受念佛三昧、遂力行之、閱十三年如一日、年六十、當仲冬之旦、謂諸子曰、新春十有一日吾行矣、至期、盥漱整衣、端坐手結印、口稱佛號、微笑而逝, ông thọ pháp môn Niệm Phật Tam Muội, bèn dốc lực hành trì, trãi qua mười ba năm giống như một ngày. Đến năm sáu mươi tuổi, vào sáng sớm giữa Đông, ông bảo các con rằng: 'Vào ngày mười một năm mới, ta sẽ đi.' Khi đến ngày, ông rửa mặt súc miệng, chỉnh tề y phục, ngồi ngay ngắn, tay bắt ấn, miệng niệm danh hiệu Phật, mĩm cười mà ra đi).” Hay trong Cư Sĩ Truyện quyển 48, phần Ngô Chiêm Lâu (吳瞻樓), cũng có đoạn rằng: “Tảo tu tịnh nghiệp, vãn dĩ gia sự phó nhị tử, nhất ý Tây mại, nhật trì Phật hiệu vạn thanh, kiêm tác Tây phương quán (早修淨業、晚以家事付二子、一意西邁、日持佛號萬聲、兼作西方觀, sớm tu tịnh nghiệp, cuối đời ông giao phó việc nhà lại cho hai con, một lòng về Tây phương, hằng ngày trì danh hiệu Phật vạn tiếng, còn quán cảnh giới Tây phương nữa).”
phật hoa
2727即佛花,指供於佛前之花。又稱供花。即以草、花或樹枝插入瓶中供於佛前。亦有以紙、木等作成蓮花、荷葉,再押以金箔,稱為常花。印度多以散華(散花)、華鬘(花鬘)之類,或取花輪並列於座床之前。關於佛前供香花而獲無量功德之事,諸經記載甚多,如以華鬘奉迦葉塔,依其功德可生於天道、得金色身;又釋迦牟尼佛於前世修菩薩行時,嘗求五莖青蓮花供燃燈佛,而受來世成道之記。〔百緣經卷六、蘇悉地羯囉經卷上、雜寶藏經卷四、大品般若經卷二十一、陀羅尼集經卷一、法苑珠林卷三十六〕
; (佛華) Cũng gọi Họa tượng, Hội tượng. Đem vẽ hình tượng Phật, Bồ tát trên mặt tường vách, trên giấy, hoặc thêu trên vải lụa...… để làm đối tượng lễ bái, cúng dường, hoặc để lưu truyền, gọi là Phật họa. Ở Ấn độ, nguồn gốc Phật họa đã có từ thời đức Phật. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 17 thì đức Phật từng cho phép vẽ các loại biến tướng trong các điện đường của tinh xá Kì viên, đồng thời, vẽ hình tướng Như lai đích thân săn sóc người bệnh trong nhà dưỡng bệnh. Cao tăng Pháp hiển truyện, Đại đường tây vực kí quyển 2 và quyển 8 đều ghi trong các hang đá ở nước Na kiệt thuộc miền Bắc Ấn độ và núi Chính giác thuộc miền Trung Ấn độ có tượng Phật giống như đức Phật (Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 7 cho rằng tượng Phật ở nước Na kiệt được tạo từ thời đức Phật còn tại thế để lưu truyền). Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, 30) thì nói rằng Quốc vương Tích lan là Duỉỉhagàmanì kiến thiết nhà thờ xá lợi và sai người vẽ tượng truyện Bản sinh của đức Phật. Hiện nay ngoài những di phẩm tượng Phật, Bồ tát vẽ trong các bộ kinh bằng tiếng Phạm được lưu truyền ở Tây tạng và Nepal ra, còn có các họa phẩm được vẽ trên vách các hang đá ở A chiên đa (Phạm: Ajantà), Tất kì lợi da (Pàli: Sìgiriya)…... được chế tác vào triều đại Cấp đa (Phạm: Gupta– thế kỉ VII, VIII), nhưng đến nay chỉ còn dấu tích tàn dư. Phật họa ở Tây vực cũng hưng thịnh, những năm gần đây, rất nhiều hang đá và di chỉ được phát hiện, như Bàmyanở miền Trung nước Afghanistan, Tumsuq ở Turkistan, Chotscho, Miran...… đặc biệt là những bức bích họa của 6 vị tỉ khưu (đã rách) đào được tại Miran, là những tác phẩm ở khoảng thế kỉ III, những di phẩm xưa nhất hiện còn. Sau khi Mật giáo hưng khởi ở Ấn độ thì các bức họa Mạn đồ la, Phật, Bồ tát và chư thiên được lưu hành, như phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật có ghi phương pháp lập đàn, vẽ tượng của Đại bi mạn đồ la Thai tạng giới; kinh Kim cương đính thì nói về cách vẽ tượng Mạn đồ la Kim cương giới.Tại Trung quốc, Phật họa đã được lưu hành từ thời xưa, như Phật tổ thống kỉ quyển 23 ghi rằng, niên hiện Thái ninh năm đầu (323) đời Đông Tấn, vua Minh đế đã sai người vẽ tượng Phật Thích ca ở nhà Lạc hiền trong nội cung. Đạo an truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 5 thì nói, vua Phù kiên sai sứ đem tượng Phật thêu trên lụa ra nước ngoài để tặng, từ sau các đời Tống, Tề thì tượng khắcvà tượng thêu đều thịnh hành. Trong các bích họa đào được ở Đôn hoàng hiện còn bức tranh Tịnh độ biến tướng. Tại Nhật bản, vào niên hiệu Sùng tuấn năm đầu (588), nhóm họa công từ Bách tế (Triều tiên) đến cống hiến tranh Phật, thì từ đó Phật họa mới bắt đầu lưu hành ở Nhật bản. Đến thời đại Bình an, ngài Không hải đến Trung quốc tham học, khi về nước, đem Mật giáo truyền vào Nhật thì tranh Mạn đồ la của 2 bộ Kim, Thai bắt đầu được lưu hành. Về sau, lại có tranh Cửu phẩm lai nghinh. Về đề tài của Phật họa thì có nhiều loại, như tranh 1 hình tượng, tranh 3 hình tượng, tranh nhiều hình tượng, tranh biến tướng, tranh Mạn đồ la…... [X. phẩm Tứ sự trong kinh Bát chu tam muội; kinh Tín lực nhập ấn pháp môn Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.43; kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.hạ; Từ thị bồ tát lược tu dũ nga niệm tụng pháp Q.hạ; luật Thập tụng Q.56; điều Quán mộc tôn nghi trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien, vol. II, by Le Coq].
phật hoa nghiêm nhập như lai trí bất tư nghị cảnh giới kinh
Fo-hua-yen ju ju-lai te-chih pu-ssu-i ching-chieh ching (C).
phật hoan hỉ nhật
The Buddhist joy-day.
phật hoan hỷ tạng ma ni bảo tích
Buddha of Joyous Treasury of the Mani-Jewel Heap Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hoá
2611(1834~1913)清末臨濟宗僧。福建泉州人,俗姓林。法名如幻。少時操舟為業,年二十四,師事昇虛居士,茹素學佛。咸豐十年(1860)赴漳浦,住於大帽山頂天湖庵十一年。光緒四年(1878),至海澄華圃龍池岩,聚徒講學,道譽漸聞四方,自知以居士身不能住持佛法,遂於光緒十二年欲禮佛乘為師,佛乘以其年齒已尊,且苦學潛修有年,德高望重,乃就其先師像前代為剃落,結為法門昆季。是年,師赴福州鼓山受具足戒。未久,住持南安楊梅山雪峰寺,效百丈家風,倡導農禪制度,求法問道者相望於途,盛時,住眾恆逾千人。近代閩南宗門之成器者,多受師之接化。民國二年示寂,世壽八十。遺有密契真源一書。
; (佛化) (1834-1913) Danh tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Thanh, người Tuyền châu, Phúc kiến, họ Lâm, pháp danh Như huyễn. Năm 24 tuổi, sư thờ cư sĩ Thăng hư làm thầy, ăn chay học Phật. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), sư đến Chương phố, trụ ở am Thiên hồ trên đỉnh núi Đại mạo suốt 11 năm. Năm Quang tự thứ 4 (1878), sư đến núi Long trì vườn hoa Hải trừng nhóm họp đồ chúng dạy học, tiếng tăm của sư truyền xa. Sư tự biết với thân phận cư sĩ không thể trụ trì Phật pháp, nên vào năm Quang tự 12 (1886), sư muốn lễ ngài Phật thừa làm thầy, nhưng ngài Phật thừa thấy sư lớn tuổi hơn mình, lại là người khổ học chuyên tu nhiều năm, đức cao đạo trọng, liền đến trước tượng Tổ sư thay mặt Tổ sư làm lễ cạo tóc xuất gia cho sư, rồi kết làm huynh đệ đồng môn. Năm ấy, sư đến núi Cổ sơn ở Phúc châu thụ giới Cụ túc. Ít lâu sau, sự trụ trì chùa Tuyết phong ở núi Dương mai tại Nam an, phỏng theo gia phong của Tổ Bách trượng, chủ trương chế độ nông thiền, người từ khắp nơi về cầu pháp học đạo có tới hơn 1.000 vị. Những vị tăng tài trong tông môn tại Mân nam thời cận đại phần nhiều đã được sư giáo hóa. Năm Dân quốc thứ 2 (1913), sư thị tịch, thọ 80 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Mật khế chân nguyên.
phật hoá thân tam
2611據觀佛三昧海經卷四載,佛之化身有大、小、不定等三種,即:(一)大化身千丈,如來為應十地以前諸菩薩,乃演說妙法,令其進修,向於佛果,故化現千丈之身。(二)小化身丈六,如來為應二乘、凡夫之人,乃宣說四諦法,令其捨妄歸真而得開悟,故現丈六之身。(三)隨類不定,如來誓願弘深,慈悲普覆,隨諸種類,有感即應,或現大身,滿虛空中;或現小身,丈六、八尺、七尺、三尺、七寸等不定之身。
; (佛化身三) Ba loại hóa thân của đức Phật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 4 thì hóa thân của Phật có 3 loại: Đại, Tiểu, Bất định. 1. Đại hóa thân: Đức Phật hóa hiện thân cao nghìn trượng để hóa độ hàng Bồ tát từ Thập địa trở xuống. 2. Tiểu hóa thân: Đức Phật hóa hiện thân cao 1 trượng 6 để độ hàng Nhị thừa và phàm phu. 3. Hóa thân bất định: Đức Phật tùy theo các chủng loại, hoặc hóa hiện thân to lớn đầy khắp hư không; hoặc hiện thân nhỏ bé trượng 6, 8 thước, 7 thước, 3 thước, 7 tấc...… không nhất định để hóa độ chúng sinh.
phật hoá tân thanh niên
2612佛教雜誌。月刊。民國六年(1917),陳獨秀在北京大學發刊「新青年」,太虛大師之門人張宗載、寧達蘊二人,緣此新青年之構想,於十二年在北平成立新佛教青年會,後改稱佛化新青年會,並發行佛化新青年月刊。 張氏深受社會主義影響,主張改革教團,認為佛教徒應參與社會大眾,實踐大慈大悲之願行。其說廣受一般居士之支持,卻遭到教團長老反對,令太虛大師不得不介入兩者間作仲裁人。在太虛大師之佛教運動中,張氏之改革論,屬激進之左派。
phật hoạch
2727又稱畫像、繪像。即將佛及菩薩等形像繪於壁面、紙絹上,或刺繡於岁布之上。可作為本尊以供養禮拜,或作為傳說、教義之圖解。佛畫與佛像之起源被視為同時,經典之記載亦不少。大寶積經卷八十九(大一一‧五一二下):「爾時有一比丘,於白岁上畫如來像,眾彩莊嚴悉皆具足。」 據有部毘奈耶雜事卷十七載,佛陀嘗允許於祇洹精舍之諸堂畫諸種變相,並於瞻病堂畫如來親自看病之相。又高僧法顯傳、大唐西域記卷二、卷八等載,謂北印度那竭國之南及中印度前正覺山之石窟有佛之肖像(觀佛三昧海經卷七謂那竭國之佛肖像為佛所留)。巴利文大史(Mahāvaṃsa, 30)謂,錫蘭國王木扠伽摩尼(Duṭṭhagāmanī)於其所建之遺骨堂,命人描繪佛傳及本生譚。 現存遺品除傳於西藏、尼泊爾等梵夾佛菩薩像之外,另於阿旃多(梵 Ajanta)、悉耆利耶(巴 Sīgiriya)等石窟所繪之壁畫,係笈多王朝所製作,然迄今僅剩餘殘蹟。西域之佛畫製作亦興盛,近年從阿富汗之巴米羊(Bamian)、土耳其斯坦之吐木斯庫(Tumsuq)、高昌(Chotscho)、米瑞(Miran)等石窟及廢址發現甚多,尤以米瑞出土之六比丘壁畫斷片,係三世紀頃之作品,為現存之最古遺品。 密教興起後,曼荼羅及諸佛、菩薩、諸天等圖畫流行,如大日經具緣品載有大悲胎藏曼荼羅畫像壇法、金剛頂經載有金剛界曼荼羅畫像法等。又尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷上(大一九‧三七五下):「先須畫像,擇取吉善好月時日,晨朝起畫。好月者,正、二、三、四、五、六、七、十二月等,此為最上好月;好日者,日月蝕時及地動時、鬼宿日,此為上好勝日,或取白月十五日,或取二十三日等。已擇取日月時節,喚畫師沐浴,與三昧耶戒,或與三昧耶灌頂,每出入洗浴換衣,食三白食,不雜穢食等,亦不還價,其畫物白氈,或好細布、絹等物中,如法畫之。」由此可知畫法之一斑。 我國佛畫於古時已流行,如佛祖統紀卷三十六載,東晉太寧元年(323),明帝於大內樂賢堂繪釋迦佛像,梁高僧傳卷五道安傳載,苻堅遣使至外國,送金縷繡像及織成像各一張。至宋、齊以後,彫像盛行,織刺繡像亦流行。洛陽伽藍記卷一永寧寺條(大五一‧一○○○上):「繡珠像三軀,織成五軀,作功奇巧,冠於當世。」北齊以後阿彌陀五十菩薩像之繪像甚流行,現敦煌出土之壁畫,存有淨土變相之圖。 日本於崇峻元年(588),百濟之畫工白加等前往朝貢,佛畫始流行。至平安朝,空海等傳入密教,金胎兩部曼荼羅之圖畫流行,其後復有九品來迎圖之流行。 佛畫以所畫之材料分類,可分為壁畫、扉繪、柱繪、天井繪、紙絹畫、繡像、織成像、結珠像、錦像、障子畫等;以畫題之分類有一尊像、三尊像、群像、變相及曼荼羅等,種類繁多。〔般舟三昧經卷上四事品、信力入印法門經卷五、正法念處經卷四十三、大乘造像功德經卷下、慈氏菩薩略修愈誐念誦法卷下、十誦律卷五十六、南海寄歸內法傳卷四灌沐尊儀、Le Coq: Die Buddhistische Spätantike in Mittelasien,vol. Ⅱ〕
Phật huệ
佛慧; C: fóhuì; J: butsue, butte.|Trí huệ của Phật, trí giác ngộ.
phật huệ
2747請參閱大通禪師語錄 <一>梵語 tathāgata-jñāna-darśana。即佛之智慧。乃最高無上之聖智,指諸佛所證之平等大慧。又作佛智、佛知見、佛智慧。如來出現於世,即為說此佛慧。法華經卷一(大九‧八上):「眾苦所惱亂,為是說涅槃;我設是方便,令得入佛慧。」同經又謂(大九‧二上)「以慈修身,善入佛慧」者,常為諸佛之所稱歎,以其為通達大智,具大慈悲功德故。〔無量壽經卷下〕 <二>宋代雲門宗僧法泉之禪師號。隨州(湖北隨縣南)人,俗姓時。自幼才敏,依龍居山智門院之信挥出家,受具足戒後,參謁雲居曉舜,並嗣其法。初住大明寺,復歷住千頃、靈巖、蔣山等名山;又奉詔住於大相國寺智海禪院,諡號「佛慧禪師」。又以師一生遍覽群籍,所讀之書無以計量,故世人多美稱為「泉萬卷」。〔建中靖國續燈錄卷十一、聯燈會要卷二十八、嘉泰普燈錄卷三、五燈會元卷十六、釋氏稽古略卷四、續傳燈錄卷十一〕 <三>(1255~1325)即元代臨濟宗楊岐派靈山道隱禪師。「佛慧禪師」為其諡號。仁宗延祐六年(1319),師東渡日本弘法,其門流稱佛慧派,為日本禪宗二十四流之一。(參閱「道隱」5662) <四>(1538~1628)明代臨濟宗僧。會稽(浙江紹興)人,俗姓史。號幻也。自幼即立志出家,十四歲時,參禮天台之松谷禪師。後從松谷之勸勉而遊歷諸方,投燕都(北平)之笑巖德寶門下,並嗣其法。是後,歷住燕山(河北玉田西北)之天寧寺、浙江嘉興之天寧寺。崇禎元年八月示寂,世壽九十一。〔五燈全書卷六十四、續燈存槀卷十〕
; Tathāgata-jāna-darśana (S)Như Lai trí.
; (佛慧) Phạm: Tathàgata- jĩàna-darzana. Cũng gọi Phật trí, Phật tri kiến, Phật trí tuệ.Trí tuệ của Phật, tức chỉ cho trí tuệ bình đẳng, tối cao mà Phật đã chứng được. Như lai xuất hiện ở đời, cũng vì muốn truyền trí tuệ này cho mọi người. Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 thượng) nói: Vì chúng sinh bị các khổ làm não loạn nên ta nói Niết bàn, ta đặt ra phương tiện ấy là vì múôn khiến chúng sinh được vào Phật tuệ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
phật huệ cự chiếu
Buddha of Ten-direction Wisdom Torch Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật huệ oai đăng vương
Buddha of Awesome Lamp of Wisdom King.
phật huệ tràng thắng vương
Buddha of the King of the Victorious-Banner Wisdom.
Phật huệ 佛慧
[ja] ブツエ, ブッテ butsue, butte ||| The buddha's wisdom; the wisdom of enlightenment. 〔法華經, T 262.9.26a21〕 => Trí tuệ Phật, trí giác ngộ.
phật hàng phục chúng ma vương
Buddha of of the King Who Causes All Demons to Submit Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hàng sinh tượng
2642即指釋尊誕生時,右手指天,左手指地之像。據敕修百丈清規卷二佛降誕條載,於每年佛誕生會(陰曆四月八日),監管內外事務之「庫司」須嚴設花亭,其內安置一座佛降生像,另於其下備辦香湯盆,盆內安放二小杓,大眾於禮拜供養後,可用香湯澆沐佛降生像。沿襲至今,成為佛教每年重要行事之一。〔浴佛功德經、大宋僧史略卷上、釋氏要覽卷中、禪林象器箋報禱門〕(參閱「浴佛」4162)
phật hành li địa tam ý
2627佛陀行走時,足不著地有三種意義,即:(一)地有蟲,謂地上有蟲,或伏或走,佛陀以護生之心,恐傷其命,故行時足去地四指。(二)地有生草,謂地上有草,依之生長,佛陀欲全其生意,故行時足不著地。(三)現神通力,謂佛陀示現神通之力,飛行自在,履空如地,故行時足不著地。〔處處經〕
; (佛行離地三意) Đức Phật bước đi, chân không bén đất, có 3 lí do: 1. Vì bảo vệ côn trùng: Trên mặt đất có côn trùng đi lại hay nằm yên 1 chỗ, vì lòng từ bi, sợ giẫm lên chúng sẽ chết, nên lúc đi, đức Phật không để chân chạm sát đất. 2. Vì bảo vệ cây cỏ: Trên mặc đất có cỏ mọc, vì muốn bảo vệ cỏ nên khi đi, đức Phật không đặt chân sát đất. 3. Vì muốn hiển hiện sức thần thông: Đức Phật thị hiện sức thần thông, bay đi tự tại trong hư không cũng như trên mặt đất, nên khi Phật đi chân không bén đất. [X. kinh Xứ xứ].
phật hư không bảo hoa quang
Buddha of Precious-Flower Light of the Void Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hương các
2643位於北京頤和園萬壽山之前山。八面三層四重檐,高四十一公尺,下有二十公尺高之石臺基。氣勢宏偉,為頤和園之中心建築與標誌。清乾隆時,於此築九層延壽塔,至第八層時,奉旨停修,改建佛香閣,咸豐十年(1860)毀於英法聯軍之役。光緒年間依原樣重建,供奉佛像,遂復舊觀,成為當地名勝之一,每逢假日,遊客如織,如登佛香閣四周之遊廊,可飽覽園內外景色。
; (佛香閣) Gác Phật hương, một kiến trúc nổi tiếng ở vườn Di hòa, phía trước núi Vạn thọ, ở Bắc kinh, được xây dựng vào thờivuaCàn long, nhà Thanh. Kiến trúc này nguyên là tháp Diên thọ, dự trù xây 9 tầng, nhưng mới làm đến tầng thứ 8 thì Hoàng đế ban lệnh ngưng lại và đổi thành Phật hương các. Kiến trúc gác này gồm 3 tầng, 8 mặt, 4 lớp mái, cao 41m, xây trên nền đá cao 20 mét, trông rất hoành tráng. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), kiến trúc này bị liên quân Anh, Pháp phá hủy khi họ tiến đánh Bắc kinh. Đến khoảng năm Quang tự, Phật hương các được kiến thiết lại đúng như cũ, nhờ có tượng Phật, nênlà 1 trong những thắng cảnh nổi tiếng ở Bắc kinh. Vào những ngày nhàn rỗi, du khách đến thưởng ngoạn rất đông.
phật hướng thượng sự
2625略稱「佛向上」。謂成佛雖為修行之理想,然真正之修行並不執著於此,而應超越此一境界。此語出自曹洞宗之祖洞山良价之示眾法語。景德傳燈錄卷十五洞山良价章(大五一‧三二二下):「體得佛向上事,方有些子語話分。」日本曹洞宗之祖永平道元所著「正法眼藏」一書,其中之卷二十八即題為「佛向上事」,係基於洞山良价之示眾語,藉以闡明諸佛諸祖向上一路無窮修證之要旨。 此外,一般形容超佛越祖、解脫佛縛法縛而真正得證之人,稱為「佛向上人」。又修持佛向上之道者,稱為「佛向上機」。機,根機之意。〔洞山良价禪師語錄、趙州和尚語錄〕
; (佛向上事) Gọi tắt: Phật hướng thượng. Cảnh giới lí tưởng siêu Phật việt Tổ. Đây là lời pháp dạy chúng của ngài Động sơn Lương giới – Tổ của tông Tào động. Chương Động sơn Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 322 hạ) nói: Thể nhận được Phật hướng thượng sự mới có đôi điều đáng nói. Ngoài ra, hình dung người đã vượt Phật vượt Tổ, thoát khỏimọisự ràng buộc mà chứng được giải thoát chân chính, gọi là Phật hướng thượng nhân. Còn người tu trì đạo Phật hướng thượng thì gọi là Phật hướng thượng cơ. [X. Động sơn lương giới thiền sư ngữ lục; Triệu châu hòa thượng ngữ lục].
phật hải
Buddha's ocean, the realm of Buddha boundless as the sea.
phật hải đức quang minh
Buddha of Sea-Vast Virtue Radiance Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật hậu phổ hiền
2642已成佛後,更修利他教化之菩薩行。又證得佛果後,遵普賢菩薩之德,而修化益眾生之行,亦稱為佛後普賢。
; (佛後普賢) Sau khi tu hành đã chứng được quả Phật, hành giả lại noi theo đức hạnh của bồ tát Phổ hiền mà tu hành giáo hóa chúng sinh, mang lại lợi ích cho họ, cũng gọi là Phật hậu Phổ hiền (sau khi thành Phật, lại tu hạnh Phổ hiền).
phật học
2749即佛法之學。自其探討方向而言,通常側重於思想體系、源流、發展之闡述等;自其內容範圍而言,除佛陀所宣說之教法外,亦包括其以後之弟子、後世宗師、歷代學者,以佛陀之教法為依據,加以解說、抉擇、闡論之佛教各種宗要學說。又若就教法內容之類別而言,佛學統括理論與實踐二方面,包攝教、理、行、證四法。至於現代所稱之佛學,則是為將佛法流行人間,化度新學根器眾生,或為因應時代學術潮流,而強調以新方法加以整理,並作有條理、有系統之說明,而使之學術化者。 佛陀將教法授予弟子,弟子們輾轉傳至後世,所結集之經、律、論三藏內容,不外剖釋宇宙現象、人生真相,示導如何解脫以達究竟安樂之法門。故佛學所探討之主題,係以人生解脫為中心,兼論及宇宙之問題二大部分。 印度佛學體系之發展,按印順法師歷史法則之進展而分,可分為五期: (一)聲聞為本之解脫同歸期:從佛陀立教至佛陀入滅之期間,此係佛陀住世說法時期,此期教法之重點,以宣示個人解脫為主。(1)緣起觀,此乃佛教之根本立場,亦為佛陀正覺之內容。即以十二因緣為具體形式,來超脫決斷一切苦惱。(2)八正道,此乃遠離快樂與苦行兩邊之中道思想。即:正見、正思惟、正語、正業、正命、正精進、正念、正定。(3)四聖諦,此乃有關社會人生之四項真理。即:苦諦(說明社會人生生活之真相是充滿苦惱不安)、集諦(說明引起苦之理由與煩惱根源和渴愛之真相)、滅諦(說明滅卻煩惱去除苦惱不安,方能達於絕對安穩涅槃境地之真相)、道諦(說明有關到達涅槃之方法)。 (二)傾向菩薩之聲聞分流期:從上座、大眾兩大根本部派之分裂開始,至初期大乘佛教之興起,亦即佛陀入滅後至四百年(約當西元前四世紀至前一世紀),此期相當於部派佛教時期。自兩大部派之根本思想與根本精神觀之,此期呈現實行主義(保守派)和理想主義(理想派)對立之狀態。佛陀入滅百年頃,其所說之法已集成雜(相應)、中、長、增一(增支)等四阿含經(於南傳,另加雜部而為五部)。約於西元前一百年,根本二部已分裂成二十部派,亦即小乘二十部。各部派為強調、證明自派之權威、正統,乃由各種立場重新編纂聖典,由是而逐漸成立經藏與律藏。由於各部派所傳承、整編的經典內容之出入,致使彼此間生起爭執,部分有心學僧乃致力於教法之說明注釋,整理分類,而出現許多論書(梵 abhidharma,巴 abhidhamma,音譯阿毘達磨)。於二十部派中,上座部系統以說一切有部、經量部、犢子部等較為重要。其中,說一切有部主張一切法為實有(梵 dravyataḥsat),都在「自相上存在」(梵 svalakṣaṇatā),諸法可不依存任何事物而獨立存在,眾生依有執受之蘊、處、界和合相續,施設有情,以之建立業果前後之移轉,此稱「法體恆有」或「三世實有」,認為自然界係由原子(極微)所構成。經量部則認為色法僅有四大和心之實有,同時主張「現在實有」、「過未無體」,否認心所有法、心不相應行法以及無為法之實有, 雖不承認人格主體補特伽羅(梵 pudgala)之實在性,卻設定五蘊為輪迴之假有主體。犢子部以補特伽羅為輪迴之主體,與五蘊不一不異。另於大眾部系統,一方面強調佛之超越性、絕對性以及菩薩之美德,認為「菩薩為了饒益有情,志願往生惡趣」,又主張「心性本淨」、「過去未來是無,現在是有」、「十二處非實」等思想。 (三)菩薩為本之大小兼暢期:此乃大乘佛教開始公開流行之時期。時在佛曆四百年至七百年間(約當西元前一世紀至西元三世紀),此時期之佛法雖以菩薩思想為主流,然並未輕視小乘,或否定小乘。此期之代表人物為龍樹,於其所揭示「中論」思想中,一一批判所有設定實體法有之哲學思想,而認為現實經驗世界皆有生滅去來之變化,故強調諸法應非實有,而是空、無自性。觀諸法本性為空之絕對立場,稱為「真諦」;承認世人所執著之相對立場,稱為「俗諦」。此種空之理法,即為「緣起」;不執於任何一端之概念,故稱中道。其佛身論乃「以觀緣起即觀法,觀法則見如來」之大乘實相妙諦、緣起妙有之學說。 (四)傾向如來之菩薩分流期:時在佛陀入滅七百年至一千年間(約當西元三世紀至六世紀),此為大乘佛教分裂並行之時期。此時期對「成佛問題」分衍為二說:(1)佛種從緣起,係於無漏聞薰中逐漸薰習而成者。(2)佛性本有,即一切眾生本具如來德性,故人人皆可成佛。佛陀入滅後八百年左右,印度佛教出現兩大思想家,即無著和世親兄弟二人,反對前期龍樹中觀派對於「空」之觀點,依唯識說而構成現實人間之一切存在並非實有之觀念論,立幻想虛妄之「遍計所執性」、相對真實之「依他起性」,和絕對真實之「圓成實性」三種,主張萬有皆由吾人之識體所顯現。此種識體之轉變有三種:即阿賴耶識、末那識、六識(眼、耳、鼻、舌、身、意)。 (五)如來為本之梵佛一體期:此一時期亦為佛教漸趨滅亡之時期。傾向如來本具之學者由於融攝世俗之神祕咒術,思想漸與婆羅門教之梵我論相結合,遂進入「如來為本,梵佛一體」之時代。復因大乘佛教之興盛,仰望聖者功德之崇高,及佛力無量、菩薩願大、他力加持等各種思想勃興,導致大乘佛教演化為密教。此期學者偏重追求即心即身成佛,偏失於大乘之利他精神。佛曆八世紀以來之佛教,外以婆羅門教之復興,內以唯心、真常、圓融、他力、神祕、欲樂、頓證等思想之泛濫,日與梵神同化,至佛曆十六世紀,佛教終滅迹於印度。 佛學自漢朝傳入中國,即有許多不同之派別,不一致之說法,為了消弭衝突、避免矛盾,中國佛學家即以判教方式,將各種說法融合消化。中國之派別有八宗、十宗、十三宗之說,若依大乘舊傳八宗之說而言,其中禪、淨、律、密屬於行持,三論、天台、華嚴、唯識則以義學見長,此四宗學說略述如下: (一)三論宗:三論原屬印度大乘佛學之中觀一系,北齊(550~577)末年,由遼東僧朗傳入江南,至唐初嘉祥吉藏集其大成。此宗所依之基本典籍為:(1)中論,駁斥婆羅門教、小乘佛教,和其他大乘諸宗派之錯誤見解,而皈依中道教義。(2)十二門論,矯正大乘佛教徒自身之錯誤見解。(3)百論,駁斥婆羅門教之外道思想。其學說主要有三方面:(1)破邪顯正。即總破一切有所得、有所見:破斥外道對於「實我」之邪見、遮遣毘曇宗「實有」之執見、駁斥成實宗「偏空」之情見、摧破大乘之一切有所得、有所見。如是內外盡破,大小遍斥,而以「都無所得」為旨歸。(2)真諦和俗諦之差別,即以俗諦之故,不動真際而建立諸法;以真諦之故,不壞假名而說實相。故依此二諦之說,有是空之有,空是有之空,由是乃顯無得之正觀 。(3)八不中道,即揭示諸法不生不滅、不斷不常、不一不異、不來不去之理,來破除生滅、斷常、一異、去來等「四雙八計」之偏頗,而說明宇宙萬事萬物皆無固定不變之自性。要之,此宗以「破而不立」來遣除一切偏執情見;以「無所得」為本旨,認為一切諸法本來無相,本自寂滅;故所謂之迷悟及成佛不成佛皆為假名,惟以「覺」為本體,染淨諸法本來寂滅,而以「無得正觀」為至極妙道。 (二)天台宗:陳宣帝建德七年(575),智顗大師入天台山而初創此宗。追溯傳承,上承龍樹,經過北齊慧文禪師之閱讀中論、大智度論,得一心三觀之妙旨後,傳南嶽慧思禪師因悟證法華三昧,著述大乘止觀,再授智顗大師而修得法華三昧前方便,盛弘教觀,並依法華經融攝性空論義,而大成天台宗學。其著作有法華玄義、法華文句、摩訶止觀,世稱天台三大部。此宗之教義說一心具十法界,靜觀此心,可悟「煩惱即菩提、生死即涅槃」之道理。其綱義要旨有三:即一念三千之世界觀、一心三觀、三諦圓融之哲理。指出諸法之相互融攝,整個宇宙之究竟合一,每一現象(物或心)所表現之原理是圓融三諦(空、假、中),意指事物或生命本身即是實相,即是如如;主張一切法平等,此乃天台止觀之中心思想。要之,天台一宗以法華經為典據,直顯諸法實相之哲理,自「理」方面而言,以即空、即假、即中之圓融三諦彰顯諸法之當體;自「事」方面言之,則揭示百界千如、一念三千之「性具」思想(性德本具);而所謂理事之互相融即,即是諸法之實相、法界之本然(法爾自然)。 (三)華嚴宗:又稱賢首宗、法界宗,依華嚴經而得名。杜順(557~640)為華嚴宗之開祖。此宗創始之前,中國已有地論宗,地論宗奠基於世親之「十地經論」,華嚴宗一方面吸收地論宗之教義,而進入中國佛教之繁盛期;另一方面則統一當時各宗派新舊異說,立足於唯識緣起之理論基礎。而在構成判教、觀行理論方面,表面上雖批評天台、唯識之學說,實際又擷取兩家之說。然大抵而言,華嚴宗依照華嚴經建立宗義,其無礙緣起之義理,乃從「般若」思想展開來,根據「般若」之「法性本空」,進一步闡明法界諸法由於「性空」而形成平等,乃至等同一體,而得入於一與多「相即相入」之無盡無礙概念,此即所謂「法界之普遍緣起」。此宗重要教義另有:因門六義、六相、十玄門等,以顯示其圓融無礙之法界緣起思想。 (四)唯識宗:此宗遠尊印度彌勒菩薩為宗主,彌勒出世說瑜伽師地論,無著稟承教法而著莊嚴論、攝大乘論。世親繼而著唯識二十論、三十論頌等。玄奘於唐貞觀年間,至印度求法,從戒賢、智光諸論師習受瑜伽、唯識等論。歸國後其弟子窺基依玄奘大師口述,撰成唯識論述記,發暢奧義,又撰成唯識論掌中樞要以釋之,而蔚成唯識宗學。此宗之名相繁眾,義理深邃,側重分析,立有五位百法(八心法、五十一心所法、十一色法、二十四不相應行法、六無為法)、三自性(遍計所執性、依他起性、圓成實性)、五種性(聲聞種性、緣覺種性、菩薩種性、不定種性、無性有情)。以「阿賴耶識」為基礎,闡明「萬法唯識、識外無物」之理。其根源是在於阿賴耶識有含藏種子。種子又稱「習氣」,分為名言種子與業種子二種。在實證上以識為中心,轉變有漏之心識,而成為無漏之實智,轉第八識為大圓鏡智,轉第七識為平等性智,轉第六識為妙觀察智,轉前五識為成所作智,最後將能觀之識亦歸諸於空,證入「能所一體」之世界。 佛學研究之分類,可由幾個不同角度加以觀察。從歷史之觀點看,可分原始佛教和發展佛教之佛教思想;從地理之觀點看,分為南傳和北傳佛教思想兩系;從教義之內容看,則有大小二乘、權實二教、聖淨二門、顯密二教、教禪二宗等各種之二分法。而於現代之佛學發展,中外學者亦皆致力於佛學之重新分類,作為新研究之先決條件,成為一股現代佛教學術思潮。例如日本學者高楠順次郎所歸納之研究體系為:(一)研究之佛教,如俱舍、成實、唯識等各宗之教義。(二)思索之佛教,如般若、華嚴、天台等宗之教義。(三)觀想之佛教,如禪宗、真言宗之教義。(四)信念之佛教,如淨土宗之教義。(五)實行之佛教,如律宗之教義。美國學者邁格文博士(Megovorn)則把佛學分為超越哲學(本體論)與相對哲學(宇宙論)二門。 近代學者多把全部佛學分為以說明萬法真相為目的,以理論為中心之「宇宙論」,與詮示解脫之真義、方法,以實踐為旨趣之「解脫論」二大門。佛學之宇宙論包容廣闊,有就現象事物之因果連續來說明萬有由多元生起之學派;有主張物質現象為精神原理所開展之唯心一元論之學派;有肯定超越現象之實在本體論之學派;有不辨本體與現象,以現象歸於本體活動,提倡現象即本體之學派。 概括而言,宇宙論可分為二大系統,即緣起論和實相論。(一)緣起論乃解釋宇宙萬法之生起,根據萬法自身間之因果律,及各學派考察和說明之不同,遂產生種種之緣起說:(1)把萬法生起之因由歸諸於吾人之作業力,稱為業感緣起論(俱舍學說)。(2)從主觀方面考察,認為一切萬有皆由吾人之第八阿賴耶識所變現,稱為賴耶緣起論(唯識學說)。(3)建立實在之本體,以之說明一切現象由此顯現,稱為真如緣起論(真常學說)。(4)從本體即現象,現象即本體之理論出發,稱為法界緣起論(華嚴學說)。(5)舉出地、水、火、風、空、識等六大,以宇宙萬法為一大日法身之靈動,稱為六大緣起論(真言學說)。緣起論係從縱之時間方面,說明萬法之生滅變化情形,是為「宇宙現象論」;實相論則從橫之空間方面,來說明萬法本身之究極真理,是為「宇宙本體論」。(二)實相論,在佛教各學派中,亦有多種實相論之教系學說:(1)否定主觀我體之存在,但對於現象諸法卻肯定其法體實有者,稱為法有論。(2)倡說我體、法體俱空者,稱為法空論(小乘二十部及成實學說)。(3)基於實體之見地,主張現象屬空或假有,但實體是真有者,稱為有空中道論(唯識學說)。(4)否斥相對的有空之考察,以絕對不可得為究竟理想者,稱為無相皆空論(中觀學說)。(5)積極之寫象實體,觀作為本體即現象,舉宇宙萬有為一如之實在者,稱為諸法實相論(天台學說)。 解脫論乃是將解脫之原理應用於實踐上,循向上之路徑,以達究竟之目的。此解脫部門可分為解脫實質論、解脫形式論和解脫次第論三大系統。(一)解脫實質論,即解脫之真境,故涅槃、如來、佛土、佛身,皆為解脫實質之表明。(二)解脫形式論,係為開顯實質之各類實踐,如律宗之持戒求解脫(戒律論)、各宗之修觀求解脫(修觀論)、各宗之斷惑求解脫(斷惑論)、淨土宗之往生求解脫(往生論),皆屬解脫之形式。(三)解脫次第論,凡夫欲藉修行功力,自凡至聖,達至理想之彼岸,其修行因功力深淺,而有逐漸進升之次第,乃至究竟成佛;此類修行證果之次第論(行位論)、一切眾生是否平等、超凡入聖之成佛可能性之解脫問題(種姓論)等,皆屬解脫次第論。
; Buddhist studies.
; (佛學) Môn học nghiên cứu về hệ thống, nguồn gốc và sự phát triển tư tưởng của Phật giáo. Nội dung của nền Phật học là những giáo pháp do đức Phật nói ra, sau được các vị đệ tử trực tiếp của Phật kết tập lại, rồi do các bậc Tổ sư các đời, căn cứ vào giáo pháp ấy, nghiên cứu, phân tích, giải thích, thuyết minh một cách có hệ thống mà thành lập các loại học thuyết về 2 chủ đề trọng đại là vũ trụ và con người. Phật học gồm 2 phương diện lí luận và thực tiễn, bao quát 4 phạm trù: Giáo, lí, hành, chứng, là pháp môn hướng dẫn con người đạt đến cảnh giới giải thoát, yên vui chân thực. Sự phát triển của hệ thống Phật học ở Ấn độ, theo Pháp sư Ấn thuận, có thể chia làm 5 thời kì để khảo sát như sau: 1. Thời kì cùng đạt được giải thoát, lấy Thanh văn làm gốc: Thời kì này bắt đầu từ lúc đức Phật lập giáo đến khi Ngài nhập diệt. Giáo pháp chủ yếu mà đức Phật đã nói ở thời kì này là 12 nhân duyên, 8 chính đạo và 4 Thánh đế, chỉ dạy cá nhân diệt trừ phiền não khổ đau để đạt đến Niết bàn an lạc. 2. Thời kì Thanh văn chia ra dòng phái có khuynh hướng Bồ tát: Thời kì này bắt đầu từ khi đức Phật nhập diệt đến 400 năm sau (khoảng thế kỉ IV đến thế kỉ I trước Tây lịch), tức tương đương với thời kì Phật giáo Bộ phái. Đứng về phương diện tinh thần căn bản mà nhận xét thì thời kì này có sự đối lập giữa 2 khuynh hướng tư tưởng: Chủ nghĩa thực tiễn (Thượng tọa bộ bảo thủ)và chủ nghĩa lí tưởng (Đại chúng bộ cấp tiến). Khoảng 100 năm trước Tây lịch, từ 2 bộ phái căn bản Thượng tọa và Đại chúng, đã chia thành 20 bộ phái(gọi chung là 20 bộ phái Tiểu thừa).Trong 20 bộ phái này, thuộc hệ thống Thượng tọa bộ, có những bộ phái quan trọng như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ, Độc tử bộ v.v...… Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tất cả pháp đều có thực (Phạm: Dravyata#sat), đều tồn tại về mặt tự tướng (Phạm: Svalakwaịatà), các pháp tồn tại độc lập…..., tức chủ trương Pháp thể hằng hữu, Tam thế thực hữu và thế giới tự nhiên do nguyên tử (cực vi) cấu tạo thành. Kinh lượng bộ thì cho rằng sắc pháp chỉ có 4 đại và tâm là có thực, đồng thời chủ trương hiện tại có thực, quá khứ, vị lai không có. Còn Độc tử bộ thì cho rằng Bổ đặc già la (Phạm: Pudgala) là chủ thể của luân hồi, 5 uẩn chẳng phải một chẳng phải khác. Hệ thống thuộc Đại chúng bộ thì chú trọng tính chất siêu việt tuyệt đối của đức Phật, hạnh nguyện vị tha của Bồ tát và chủ trương tâm tính vốn thanh tịnh, quá khứ, vị lai không có thực…... 3. Thời kì có đủ cả Đại thừa và Tiểu thừa nhưng lấy Bồ tát làm gốc: Thời kì này Phật giáo Đại thừa bắt đầu lưu hành (từ khoảng thế kỉ I tr.TL. đến thế kỉ III TL.). Phật giáo ở thời kì này lấy tư tưởng Bồ tát làm chính, nhưng không coi nhẹ hoặc phủ nhận Tiểu thừa. Nhân vật tiêu biểu của thời kì này là ngài Long thụ. Ngài soạn bộ Trung luận chủ trương thế giới kinh nghiệm hiện thực đều sinh diệt biến hóa, nên tất cả các pháp đều không có thực thể. Căn cứ vào lí duyên sinh, đứng trên lập trường tuyệt đối mà quán xét thì bản tính các pháp là không, đó là Chân đế; đứng trên lập trường tương đối mà thừa nhận các pháp thế gian là có giả, đó là Tục đế; không cố chấp bất cứ khái niệm cực đoan nào, đó là Trung đạo. 4. Thời kì phân chia dòng phái Bồ tát có khuynh hướng Như lai: Thời kì này là khoảng thời gian sau đức Phật nhập diệt 700 năm đến 1.000 năm (tức khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VI Tây lịch). Thời kì này, vấn đề thành Phật được chia ra 2 thuyết: Phật chủng tòng duyên khởi(hạt giống Phật được huân tập dần dần mà thành)và Phật tính bản hữu (tất cả chúng sinh đều đã có sẵn tính Phật, cho nên đều có khả năng thành Phật). Hai nhân vật tiêu biểu cho thời kì này là các ngài Vô trước và Thế thân, phản đối quan điểm Không của ngài Long thụ ở thời kì trước, dựa vào thuyết Duy thức mà lập ra 3 tính: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính, chủ trương vạn hữu đều do thể của thức người ta biến hiện. Thức biến hiện có 3 loại: Thức A lại da, thức Mạt na và 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). 5. Thời kì Phạm và Phật cùng 1 thể, lấy Phật làm gốc: Đây cũng là thời kì Phật giáo dần dần diệt vong. Khuynh hướng Như lai vốncósẵn dung nhiếp với chú thuật thần bí của thế tục, tư tưởng Phật giáo dần dần kết hợp với Phạm ngã luận của Bà la môn giáo, để rồi tiến vào thời đại Như lai là gốc, Phạm Phật nhất thể. Lại vì Phật giáo Đại thừa hưng thịnh, những tư tưởng như Phật lực vô lượng, Bồ tát đại nguyện, tha lực gia trì…... bột phát mạnh mẽ, khiến cho Phật giáo Đại thừa biến thành Mật giáo. Thời kì này hành giả mãi mê truy cầu tức thân thành Phật, đánh mất tinh thần lợi tha cố hữu của Đại thừa, bên ngoài thì Bà la môn giáo hưng thịnh, bên trong thì các tư tưởng như duy tâm, chân thường, viên dung, tha lực, thần bí, đốn chứng...… dần dần đồng hóa với Phạm thần, nên đến thế kỉ XII thì Phật giáo đã mất hết dấu tích ở Ấn độ. Còn ở Trung quốc thì Phật họcđược truyền vào từ đời Hán, chia thành nhiều tông phái khác nhau, sản sinh ra nhiều học thuyết bất đồng. Để tránh xung đột và mâu thuẫn, các nhà Phật học Trung quốc đã dùng phương thức phán giáo để dung hòa các khuynh hướng dị biệt. Phật học Trung quốc sau thời kì du nhập, dần dần chia ra 8 tông, 10 tông, 13 tông. Nếu nói theo 8 tông thì Thiền, Tịnh, Luật, Mật thuộc về hành trì, còn Tam luận, Thiên thai, Hoa nghiêm, Duy thức thì chuyên về nghĩa học. Nếu phân loại để nghiên cứu Phật học thì có thể quan sát theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu khảo sát Phật học về phương diện tư tưởng sử thì có thể chia làm Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo phát triển; nếu theo quan điểm địa lí thì có thể chia ra 2 hệ thống tư tưởng là Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền. Còn nếu nhận xét theo nội dung giáo nghĩa thì có các loại nhị phần pháp như: Nhị thừa Đại-Tiểu, nhị giáo Quyền - Thực, nhị môn Thánh - Tịnh, nhị giáo Hiển-Mật, nhị tông Giáo-Thiền…... Các học giả hiện đại cũng có khuynh hướng phân loại Phật học làm 2 môn lớn theo tư trào học thuật mới như Vũ trụ luận, lấy việc nghiên cứu và thuyết minh chân tướng của vạn hữu làm mục đích, lấy lí luận làm trung tâm và Giải thoát luận, lấy việc trình bày rõ phương pháp và ý nghĩa chân thực của sự giải thoát, lấy thực tiễn làm mục đích...… Ông Megovorn người Mĩ thì chia Phật học làm 2 môn: Siêu việt triết học (Bản thể luận) và Tương đối triết học (Vũ trụ luận). Phạm vị Vũ trụ luận của Phật học rất rộng. Có học phái căn cứ vào nhân quả liên tục của các hiện tượng để thuyết minh vạn vật do đa nguyên sinh khởi; có học phái chủ trương Duy tâm nhất nguyên luận cho rằng các hiện tượng vật chất là do nguyên lí tinh thần khai triển; có học phái khẳng định Thực tại bản thể luận siêu việt hiện tượng; lại có học phái không phân biệt bản thể và hiện tượng, đem các hoạt động của hiện tượng qui vào bản thể mà chủ trương hiện tượng tức bản thể. Nói một cách khái quát thì Vũ trụ luận của Phật học có thể chia làm 2 hệ thống lớn là Duyên khởi luận và Thực tướng luận. 1. Duyên khởi luận: Giải thích sự sinh khởi của vũ trụ vạn pháp, có các luận thuyết sau đây: a) Nguyên nhân sinh khởi của vạn pháp là nghiệp lực tạo tác của con người, gọi là Nghiệp cảm duyên khởi luận. b) Hết thảy muôn pháp đều do thức A lại da thứ 8 của con người biến hiện ra, gọi là A lại da nguyên khởi luận (học thuyết Duy thức). c) Hết thảy mọi hiện tượng đều từ bản thể chân như sinh khởi, gọi là Chân như duyên khởi luận (học thuyết Chân thường). d) Xuất phát từ lí luận bản thể tức hiện tượng, hiện tượng tức bản thể, gọi là Pháp giới duyên khởi luận (học thuyết Hoa nghiêm). e) Vũ trụ vạn hữu sinh khởi từ 6 nguyên tố lớn: Đất, nước, lửa, gió, không, thức là tổng thể linh động của pháp thân Đại nhật Như lai, gọi là Lục đại duyên khởi(học thuyết Chân ngôn). 2. Thực tướng luận: Giữa các học phái Phật giáo chủ trương các luận thuyết sau đây: a) Phủ định sự tồn tại của cái ta chủ quan, nhưng đối với các hiện tượng khách quan thì khẳng định có thực thể, gọi là Pháp hữu luận. b) Chủ trương thuyết ngã thể chủ quan và pháp thể khách quan đều là không, gọi là Pháp không luận(học thuyết của 20 bộ phái Tiểu thừa và luận Thành thực). c) Chủ trương hiện tượng là không hoặc là có giả, còn bản thể thì có thực, gọi là Hữu không trung đạo luận (học thuyết Duy thức). d) Phủ định hữu không tương đối, lấy tuyệt đối bất khả đắc làm lí tưởng rốt ráo, gọi là Vô tướng giai không luận (học thuyết Trung quán). e) Quán sát hiện tượng tức bản thể, toàn thể vũ trụ vạn hữu đều là thực thể nhất như, gọi là Chư pháp thực tướng luận(học thuyết Thiên thai). Duyên khởi luận thuyết minh tình hình sinh diệt biến hóa của vạn hữu theo phương diện thời gian, đó là Vũ trụ hiện tượng luận; còn Thực tướng luận thì thuyết minh chân lí rốt ráo của vạn hữu theo phương diện không gian, đó là Vũ trụ bản thể luận. Giải thoát luận thì đem nguyên lí giải thoát ứng dụng vào thực tiễn, theo con đường hướng thượng để đạt đến mục địch cứu cánh; có thể chia ra 3 hệ thống lớn: Giải thoát thực chất luận, Giải thoát hình thức luận và Giải thoát thứ đệ luận. 1. Giải thoát thực chất luận: Cảnh giới giải thoát chân thực, tức là Niết bàn, Như lai, Phật độ, Phật thân…... đều là biểu thị giải thoát thực chất. 2. Giải thoát hình thức luận: Các phương pháp thực hành để hiển bày thực chất như trì giới cầu giải thoát (Giới luật luận), vãng sinh cầu giải thoát (Vãng sinh luận), tu quán cầu giải thoát (Tu quán luận), đoạn hoặc cầu giải thoát (Đoạn hoặc luận)…... đều thuộc hình thức giải thoát. 3. Giải thoát thứ đệ luận: Hàng phàm phu có thể nhờ công sức tu hành mà được giải thoát. Nhưng vì sự tu hành của họ có cạn sau khác nhau nên phải tuần tự theo thứ lớp tiến dần từ phàm đến thánh, cho đến rốt ráo thành Phật, giải thoát vĩnh viễn. Đó là Giải thoát thứ tự luận.
phật học tùng báo
2755佛教雜誌季刊。民國元年(1912),狄葆賢(楚卿)、濮一乘發行。狄氏與康有為、梁啟超等皆為主張變法維新之急進派,於變法失敗後,至上海刊行時報。因轉向研究佛教,而發行佛學叢報;雖至十二期即停刊,仍為我國佛教刊物之先驅,其後始陸續出現佛教月報、覺社叢書、海潮音等刊物。狄氏修持淨土,並習禪法,著有平等閣筆記。
; (佛學叢報) Tạp chí Phật giáo do các ông Địch bảo hiền và Bộc nhất thừa phát hành tại Thượng hải, Trung quốc vào năm 1912. Trước đó, họ Địch cùng với các ông Khang hữu vi, Lương khải siêu mưu đồ làm cách mạng lật đổ nhà Thanh để canh tân Trung quốc, âm mưu thất bại, bèn đến Thượng hải làm nhà báo. Vì chuyển hướng nghiên cứu Phật học nên xuất bản tờ báo này. Tuy đến 12 số thì phải đình bản, nhưng đây vẫn là tờ tạp chí Phật giáo đầu tiên ấn hành tại Trung quốc. Về sau mới có các tờ nguyệt san Phật giáo xuất hiện như Giác xã tùng thư, Hải triều âm...… Địch bảo hiền tu Tịnh độ và tập Thiền pháp. Ông có tác phẩm: Bình đẳng các bút kí.
phật học viện
2749民國以來,佛教界所興辦之新式佛教教育機構。其教育方式異於傳統叢林。大體與新式學堂之教育方式類似,唯所授之科目內容則以佛學為主,以世學為輔。民初以來之著名佛學院,有華嚴大學(哈同夫人羅迦陵創辦,月霞籌辦)、觀宗學社(諦閑)、法界學苑(月霞)、支那內學院(歐陽漸)、武昌佛學院(太虛)、閩南佛學院(常惺、太虛)、漢藏教理院(太虛)、焦山佛學院(智光)等校。其中以支那內學院、武昌佛學院、閩南佛學院及漢藏教理院等較為著名。政府遷臺以來,在臺灣創辦之佛學院先後亦有數十所。其中,佛光山星雲之中國佛教研究院及東方佛教學院、聖印之中華佛教學院、成一之華嚴專宗學院、曉雲之蓮華學佛園,以及聖嚴、成一合辦之中華佛學研究所等較為著名。
; (佛學院) Cơ sở giáo dục Phật giáo theo hình thức mới. Phương pháp giáo dục của Phật học viện khác với các tùng lâm truyền thống. Đại khái về hình thức thì giống với phương pháp giáo dục của các trường học hiện đại, nhưng về nội dung các môn dạy thì lấy Phật học làm nòng cốt, thế học là phụ. Từ đầu đời Dân quốc (1912) đến nay, ở Trung hoa đã có các Phật học viện nổi tiếng như: Đại học Hoa nghiêm, Quán tông học xã (Đế nhàn), Pháp giới học uyển (Nguyệt hà), Chi na nội học viện(Âu dương tiệm), Phật học viện Vũ xương (Thái hư), Phật học viện Mân nam(Thường tỉnh, Thái hư), Phật học viện Tiêu sơn (Trí quang), Hán Tạng giáo lí viện…... Tại Đài loan, từ sau năm 1949 đến nay, đã có vài mươi viện Phật học được sáng lập. Trong đó, nổi tiếng hơn cả là viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, học viện Phật giáo Đông phương (Tinh vân), học viện Phật giáo Trung hoa (Thánh ấn), học viện chuyên tông Hoa nghiêm (Thành nhất), Phật học viện Liên hoa (Hiểu vân) và Sở nghiên cứu Phật học Trung hoa (Thánh nghiêm + Thành nhất)…...
phật hống
Buddha's nàda, or roar, Buddha's preaching compared to a lion's roar, i.e. authoritative.
Phật Hộ
佛護; C: fóhù; J: butsugo; S: buddhapālita;|Là Luận sư kiệt xuất của Trung quán tông của Đại thừa Ấn Độ. Sư nổi tiếng với sự phát triển pháp biện chứng phủ định để chứng minh khái niệm về Tính không, và cách biện chứng này đã dẫn đến những điểm bất đồng với các Đại luận sư Trung quán như Thanh Biện (清辯; s: bhāvaviveka, 490-570), nhưng lại có những điểm hoà đồng với những hàng hậu bối như Nguyệt Xứng (月稱; s: candrakīrti, ~ 650). Một vài quan điểm đối lập quan trọng trong truyền thống rộng rãi của Trung Quán tông có thể được thấy qua những quan điểm bất đồng giữa Thanh Biện và Phật Hộ: trong khi Thanh Biện dùng luận lí học để khẳng định chân lí Tính không theo lập trường xác định, Phật Hộ từ chối giá trị của việc dùng tiền đề luận lí học, và quan điểm này của sư dẫn đến một sự từ khước mọi quan điểm tích cực, mọi lập trường có tính chất khẳng định nói chung. Lập trường của hai vị Phật Hộ và Nguyệt Xứng sau này kết thúc ở sự phân phái Trung luận ra một nhánh mới gọi là Quy mậu biện chứng phái (歸謬論證派; s: prāsaṅgika). Sư có để lại một bài luận quan trọng về Trung quán luận của Long Thụ với tên Phật Hộ căn bản trung sớ (buddhapālita-mūlama-dhyamaka-vṛtti), còn được giữ lại trong Tạng ngữ.
phật hộ
2757梵名 Buddhapālita,西藏名 Saṅs-rgyas bskyaṅs。印度中觀佛教之論師,為中觀具緣派(梵 Mādhyamika-Prāsaṅgika)之始祖。其活躍年代推定約為西元四七○至五四○年間。據多羅那他之佛教史載,佛護出身於南方坦婆羅國(梵 Taṃ bara)之汎沙苦利陀(梵 Haṃsakṛḍa),乃龍友(梵 Nāgamitra)之弟子,並師事僧伽羅苦什達(梵 Saṃgharakṣita,意譯僧護),學習龍樹之中觀思想,得最上智。又禮拜文殊菩薩之聖容,住於南方檀多弗利(梵 Dantapuri)伽藍說法,並為龍樹、提婆等之論書作注釋,遂得梨盧部(梵 Rilbu)之悉地。故被視為根本中論八大注釋家之一,而尊稱為「長老佛護」,在印度中觀思想史上佔有重要地位,曾與清辨論師彼此立於批判之立場。至月稱論師出現時,佛護之地位復被肯定,而成為中論之佼佼者。宗喀巴即稱龍樹、提婆為「根本中觀師」,而將佛護以下稱「隨持中觀師」。 佛護之弟子甚多,其所著中論註,除第一、二、三品以外,均為簡明易解之注釋。〔般若燈論、T.R.V. Mūrti: The Central philosophy of Buddhism; Th. Stcherbatsky:The Conception of Buddist Nirvāṇa、印度哲學研究第五(宇井伯壽)、西藏佛教研究(長尾雅人)〕
; Buddhapālita (S)Đệ tử ngài Tăng Hộ, sáng lập phái Trung quán (470 - 540).
; Buddhapàlita (S). Name
; (佛護) Phạm: Buddhapàlita. Tạng: Saís-rgyas bskyaís. Luận sư của học phái Trung quán ở Ấn độ, là Tổ khai sáng của phái Trung quán cụ duyên (Phạm: Màdhyamika- Pràsaígika), sống và hoạt động ở khoảng năm 470 đến năm 540 Tây lịch. Cứ theo Phật giáo sử của ngài Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩií-po– Cổn cát ninh ba) thì ngài Phật hộ sinh ra ở Phiếm sa khổ lợi đà (Phạm: Haôsakfđa) thuộc nước Thản bà la (Phạm: Taôbara), Nam Ấn độ. Sư vốn là đệ tử của ngài Long hữu (Phạm: Nàgamitra), nhưng đồng thời cũng thờ ngài Tăng già la khổ thập đạt (Phạm: Saôgharakwita, Hán dịch: Tăng hộ) làm thầy, học tập tư tưởng Trung quán của ngài Long thụ, chứng được trí tối thượng. Sư lễ bái thánh dung bồ tát Văn thù, trụ ở già lam tại Đàn đa phất lợi (Phạm: Dantapuri) để giảng pháp, đồng thời chú thích các bộ luận của các ngài Long thụ và Đề bà, nhờ đó nên thành tựu Lê lư bộ (Phạm: Rilbu). Vì thế mà sư được xếp vào 1 trong 8 nhà chú thích bộ Trung luận căn bản và được tôn xưng là Trưởng lão Phật hộ. Trong lịch sử tư tưởng Trung quán ở Ấn độ, sư có 1 địa vị quan trọng và từng đứng trên lập trường của mình mà phê phán lập trường của Luận sư Thanh biện. Đến khi Luận sư Nguyệt xứng xuất hiện thì địa vị của sư lại càng được khẳng định mà trở thành nhà học giả Trung luận ưu việt. Còn ngài Tông khách ba thì gọi các ngài Long thụ, Đề bà là Căn Bản Trung Quán Sư mà gọi những nhà sau ngài Phật hộ là Tùy Trì Trung Quán Sư.Bộ Trung luận chú do sư soạn, trừ 3 phẩm đầu,còn lại đều là ngắn gọn, sáng sủa, dễ hiểu. Đệ tử của sư rất đông. [X. luận Bát nhã đăng; The Central Philosophy of Buddhism by T.R.V. Mùrti; The Conception of Buddhist Nirvàịa by Th. Stcherbatsky; Ấn độ triết học nghiên cứu đệ ngũ (Vũ tỉnh Bá thọ); Tây tạng Phật giáo nghiên cứu (Trường vĩ Nhã nhân)].
Phật Hộ 佛護
[ja] ブツゴ Butsugo ||| Buddhapālita (ca.470-540) a major scholar of the Indian Mādhyamika school 中觀派. He was known for the the development of a negative dialectic in the proof of the concept of emptiness, which put his way of thinking at odds with such Mādhyamika masters as Bhāvaviveka (清辯, c. 490-570), but in agreement with later figures such as Candrakīrti (月稱, c. 650). Some of the most important basic antagonistic positions within the broad Mādhyamika tradition can be seen in the disagreement between Bhāvaviveka and Buddhapālita: while Bhāvaviveka used one form of logical argumentation to establish the truth of emptiness in a positive manner, Buddhapālita denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. The position taken by Buddhapālita and Candrakīrti would later end up in the creation of a distinct branch of Mādhyamika called Prāsaṇgika (guimiulunzhengpai 歸謬論證派). => (s: Buddhapālita, 470-540). Là Luận sư kiệt xuất Trung Quán tông của Đại thừa Ấn Độ. Sư nổi tiếng với sự phát triển pháp biện chứng phủ định để chứng minh khái niệm về Tính không, Sư đứng trên lạp trường của mình để tranh luận với các Luận sư Đại thừa như Thanh Biện (s: Bhāvaviveka, 490-570), nhưng đến Luận sư Nguyệt Xứng (s: Candrakīrti (月稱, khoảng năm 650). Một vài quan điểm đối lập quan trọng trong việc khoáng trương Trung Quán tông có thể thấy được qua sự bất đồng giữaThanh Biện (s: Bhāvaviveka) và Phật Hộ: trong khi Thanh Biện dùng luận lý học để khẳng định chân lý Tính không theo lập trường xác định, Phật Hộ từ chối giá trị khi dùng tiền đề luận lý học mà chấm dứt sự khẳng định về mọi quan điểm tích cực. Lập trường của hai vị Phật Hộ và Nguyệt Xứng sau này kết thúc ở sự phân phái Trung Luận ra một nhánh mới gọi là Quy Mậu Biện Chứng Phái (歸謬論證派s: Prāsaṇgika ; c: guimiulunzhengpai).
phật hội
2733<一>梵語 parṣad-maṇḍala。指佛說法之會座。 <二>指佛、菩薩等聖眾集會之處。即指淨土。善導般舟讚(大四七‧四四九上):「一念之間入佛會。」 <三>指祭祀、佛事等法會。
; Parsad-maṇdala (S).
; Buddhist association.
; (佛會) 1. Phật Hội. Phạm: Parwad-maịđala. Chỉ cho pháp hội thuyết pháp của đức Phật. II. Phật Hội. Chỉ cho nơi Phật, Bồ tát và Thánh chúng tập họp, tức chỉ cho Tịnh độ. Bát chu tán của ngài Thiện đạo (Đại 47, 449thượng) nói: Trong khoảng một niệm tiến vào Phật hội. III. Phật Hội. Chỉ cho pháp hội cúng tế, Phật sự…...
phật hữu ngũ sự
2626據增一阿含經卷二十八聽法品載,五事即:(一)當轉法輪,謂佛陀既已成道,當轉法輪,度脫有情,饒益一切。如轉四諦法輪,度五比丘等。(二)與父說法,謂佛陀既已成道,念父恩最重,當與說法,令其享壽無窮,及得遠離塵垢,故還於本國,與父說法。(三)與母說法,謂佛陀既已成道,惟念母恩,育養情深,況有誓願,還度父母,故昇忉利天宮,為母說法。(四)當與凡夫立菩薩行,謂佛陀既已成道,當度一切有情,故說六度萬行之法,與諸凡夫成立菩薩大乘之行,轉度一切,同成正覺。(五)當授菩薩記,謂佛陀既已成道,觀諸大乘根器,若行菩薩道而成熟者,即為說法授記,令彼當來皆得作佛。
; (佛有五事) Phật có năm việc để làm. Theo phẩm Thính pháp trong kinh Tăng nhất A hàm quyển 28 thì năm việc ấy là: 1. Quay bánh xe pháp: Đức Phật khi đã thành đạo, quay bánh xe pháp độ thoát hữu tình, làm lợi ích cho tất cả. Như quay bánh xe pháp Tứ đế độ 5 vị tỉ khưu. 2. Nói pháp cho vua cha nghe: Đức Phật khi đã thành đạo, nhớ đến ơn của cha rất nặng, nên phải nói pháp làm cho cha hưởng niềm vui của tuổi già, được sống lâu và xa lìa mọi phiền muộn của trần thế, nên Phật trở về cố quốc nói pháp cho cha nghe. 3. Nói pháp cho thân mẫu nghe: Đức Phật khi đã thành đạo, nhớ tới ơn mẹ, dưỡng dục tình thâm, vả lại, có thệ nguyện cứu độ cha mẹ, nên Phật lên cung trời Đao lợi, nói pháp cho mẹ nghe. 4. Lập hạnh Bồ tát cho phàm phu: Đức Phật khi đã thành đạo, cứu độ hết thảy hữu tình, cho nên nói pháp Lục độ vạn hạnh, thành lập hạnh Bồ tát Đại thừa cho các phàm phu, chuyển độ tất cả, cùng thành chính giác. 5. Thụ kí cho hàng Bồ tát: Đức Phật khi đã thành đạo, xem các căn cơ Đại thừa, nếu người nhờ tu đạo Bồ tát mà được thành thục, thì nói pháp và thụ kí khiến trong tương lai họ đều được thành Phật.
phật khám
2757請參閱 拈八方珠玉集 請參閱無準師範禪師語錄 請參閱 無準師範禪師語錄 安置佛像,外形如廚櫃之器具,多以石、木材製成。又據雞林志所載,佛寺亦稱佛龕。此外,於岩壁掘室以安置佛像之處,亦稱為龕,雲岡、龍門石窟可為代表。(參閱「廚子」5984、「龕」6910)
; (佛龕) Cái khám để thờ Phật, phần nhiều làm bằng đá hoặc gỗ. Cứ theo Kê lâm chí thì chùa Phật cũng gọi là Phật khám. Ngoài ra, trong các hang động, những chỗ được đục sâu vào vách đá để thờ tượng Phật cũng gọi là Phật khám, như các khám ở hang đá Vân cương, Long môn…... (xt. Trù Tử, Khám).
phật khí
2749佛事所用之器具。一般多指盛供佛飯之器具,其形如菌類,多以青銅等金屬類製之,罕有陶器,外部彫以蓮花或蔓草花紋。
; (佛器) Chỉ cho cái bát đựng cơm cúng dường đức Phật. Hình dáng giống cái nấm, phần nhiều làm bằng kim loại như sắt, đồng, cũng có khi được làm bằng sành, sứ…...; bên ngoài khắc hình hoa sen, hoặc cỏ…...
phật khúc
2626請參閱佛地經論 以樂曲旋律配以佛經偈頌譜成之歌曲;或描述佛教精神之樂曲。據毛奇齡所著西河詩話載,佛曲在隋、唐即有,非始於金、元,如唐樂府有普光佛曲、日光明佛曲等八曲,入婆陀調;釋迦文佛曲、妙華佛曲等九曲,入乞食調;大妙至極曲、解曲,入越調;摩尼佛曲,入雙調;蘇蜜七具佛曲、日騰光佛曲,入商調;邪勒佛曲,入徵調;婆羅樹佛曲等四曲,入羽調;遷星佛曲,入般涉調;提梵,入移風調。清代吳中佛寺,猶能作梵樂,每唱佛曲,以笙笛逐之,稱為清樂,即其遺意。敦煌雜曲中尚存有部分佛曲作品。(參閱「樂」6096)
; (佛曲) Những ca khúc trong Phật giáo được phổ nhạc bằng những câu kệ trong kinh. Cứ theo Tây hà thi thoại của ông Mao kì linh thì ở các đời Tùy, Đường của Trung quốc đã có Phật khúc rồi, chứ không phải mới bắt đầu từ thời Kim, Nguyên, như Đường nhạc phủ có Phổ quang Phật khúc, Nhật quang minh Phật khúc, Thích ca văn Phật khúc, Diệu hoa Phật khúc, Ma ni Phật khúc, Nhật đằng quang Phật khúc…... được soạn theo nhiều thanh điệu khác nhau như Song, Thương, Chủy, Vũ…... Các chùa Phật ở vùng Ngô Việt vào đời Thanh cũng soạn Phạm nhạc, mỗi khi xướng Phật khúc thường dùng sênh, sáo đệm theo gọi là Thanh nhạc. Trong Tạp khúc ở Đôn hoàng còn có bộ phận tác phẩm Phật khúc. (xt. Nhạc).
phật khẩu
2609又作佛說。指從佛口所出之言語;或指佛之尊貴金口。又形容從佛口所說之經文為「佛口金言」。金言,因尊重佛說而稱。此外,若形容口是心非,謂口出之言如佛之慈愛言語,然其內心卻猶如蛇蠍之惡毒,則稱為「佛口蛇心」。同義語另有「外面如菩薩,內心如夜叉」。
; (佛口) Cũng gọi Phật thuyết. Những lời nói được phát ra từ miệng của Phật, hoặc chỉ cho kim khẩu (miệng vàng) tôn quí của đức Phật. Như Phật khẩu kim ngôn, tức hình dung những câu văn trong các kinh là từ miệng vàng của Phật nói ra.
phật kim cang lao cương phổ tán kim quang
Buddha of Universally Radiated Golden Light of Adamantine Firm Strength Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật kim hoa quang
Buddha of Golden-Flower Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật kim hải quang
Buddha of Golden-Sea Light.
Phật kinh
佛經; C: fó jīng; J: bukkyō.|Giáo lí đạo Phật. Kinh Phật.
phật kinh
2735梵語 buddha-vacana。<一>指三藏中之經藏部分,即佛陀所說之經典。包括相傳為釋迦牟尼佛所說而於後世結集之經典,亦有歷代陸續以「如是我聞」形式創制之經籍。按文字分,有梵文、巴利文、漢文、藏文等佛經。漢文佛經一般分大乘經、小乘經兩種。唐代智昇之開元釋教錄,始將大乘經分為般若部、寶積部、大集部、華嚴部、涅槃部等五大部,及五部以外諸經;明代智旭之閱藏知津,按天台宗五時判教學說,將大乘經分為華嚴部、方等部、般若部、法華部、涅槃部,我國之頻伽藏及日本之縮刷藏經因之。宋藏收大乘經五二八部,二一七五卷;元藏收五二八部,二一七四卷;高麗藏收五二一部,二一六四卷縮刷藏經與頻伽藏收四五○部,二二九○卷。小乘經主要指阿含經及其單品,宋、元二藏各收二四二部,六二一卷;高麗藏收二四○部,六一四卷;縮刷藏經和頻伽藏各收三二一部,七七八卷。大正藏則將一切佛經分為阿含、本緣、般若、法華、華嚴、寶積、涅槃、大集、經集、密教等十部,共收一四六○部,四二二五卷。(參閱「佛教教典」2679) <二>泛指佛教全部經典。包括經、律、論等。如古代所謂之眾經、一切經等。
; Buddha-vacana (S).
; Buddhist canonical literature.
; (佛經) Phạm: Buddha-vacana. I. Phật Kinh. Chỉ cho tạng Kinh trong 3 tạng do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra và được đời sau kết tập lại, cũng chỉ cho kinh điển do các vị Tổ sư các đời biên soạn theo hình thức Như thị ngã văn. Phật kinh được viết bằng nhiều thứ văn tự như: Phạm,Pàli, Hán, Tây tạng...… Phật kinh Hán văn thông thường chia làm 2 loại: Kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa. Trong Khai nguyên thích giáo lục, ngài Trí thăng đời Đường mới chia kinh Đại thừa làm 5 bộ lớn: Bát nhã bộ, Bảo tích bộ, Đại tập bộ, Hoa nghiêm bộ và Niết bàn bộ, rồi đến các kinh ngoài 5 bộ. Đại chính tạng thì chia tất cả kinh làm 10 bộ: A hàm, Bản duyên, Bát nhã, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Bảo tích, Niết bàn, Đại tập, Kinh tập và Mật bộ. (xt. Phật Giáo Giáo Điển). II. Phật Kinh. Chỉ chung cho toàn bộ kinh điển của Phật giáo. Bao gồm kinh, luật, luận. Xưa gọi là Chúng kinh, Nhất thiết kinh…...
Phật kinh 佛經
[ja] ブッキョウ bukkyō ||| The Buddha's teachings, Buddhist sutras; a Buddhist sutra. 〔二障義HPC 1.805c〕 => Giáo lý đạo Phật. Kinh Phật.
phật kiến
2628<一>指佛之真正知見。即照見諸法實相之真實知見。又作佛知見。梵網經卷上(大二四‧一○○二下):「復轉一切見入佛見,佛見入一切見。」(參閱「佛知見」2637) <二>指執著於對佛之見解。禪宗之立場,乃否定一切之執著,即使對佛、對法抱持一定之看法,亦屬偏執,皆應排斥之。又對佛之執見與對法之執見,亦並稱為佛見法見。
; The correct views, or doctrines, of the Buddha.
; (佛見) I. Phật Kiến. Cũng gọi Phật tri kiến. Chỉ cho sự thấy biết chân chính của đức Phật. Tức là tri kiến chân thực, thấu suốt thực tướng của các pháp. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 1002 hạ) nói: Chuyển hết thảy tri kiến vào Phật kiến và Phật kiến vào hết thảy tri kiến. (xt. Phật Tri Kiến). II. Phật Kiến. Chỉ cho kiến giải chấp trước Phật pháp. Lập trường của Thiền tông là chối bỏ tất cả mọi chấp trước, dù có 1 quan điểm nhất định nào đó đối với Phật pháp, cũng là thiên chấp. Bởi vì dùng xiềng xích bằng vàng để trói buộc thì vẫn mất tự do giải thoát.
phật kí
2655佛之懸記。又指佛之記莂。佛預言當來之事,稱為懸記。佛就弟子身上,分別未來之果報,稱為記莂。(參閱「授記」4587)
; (佛記) Huyền kí của đức Phật, cũng chỉ cho Kí biệt của Phật. Những lời đức Phật nói trước về các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, gọi là Huyền kí. Còn những lời Phật nói trước về quả báo khác nhau của các đệ tử Ngài trong vị lai thì gọi là Kí biệt. (xt. Thụ Kí).
phật ký
Buddha's prediction, his foretelling of the future of his disciples
phật li tổ thất
2758祖,指禪宗之達磨祖師。佛籬,即佛門;祖室,即禪門。佛籬祖室,即泛指佛教、佛道、佛門。〔猿蓑集幻住庵記〕
; (佛籬祖室) Bờ rào của Phật, nhà ở của tổ. Tổ chỉ cho tổ Đạt ma của Thiền tông. Phật li là cửa Phật; Tổ thất là cửa Thiền. Phật li tổ thất là chỉ chung cho Phật giáo, Phật đạo, Phật môn. [X. Viênthoa tập huyễn trụ am kí].
phật long chủng thượng tôn vương
Buddha of Honoured King of the Supreme-Insight Nagas.
Phật lâm niết-bàn kí pháp trú kinh
佛臨涅槃記法住經; C: fó lín nièpán jì fǎzhù jīng; J: butsu rin nehan kihōjū kyō.|Kinh, 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 652.
Phật Lâm Niết-Bàn Ký Pháp Trú Kinh 佛臨涅槃記法住經
[ja] ブツリンネハンキホウジュウキョウ Butsu rin nehan kihōjū kyō ||| The Fo lin niepan ji fazhu jing; (Sutra of the Abiding Dharma Recorded Just Prior to Buddha's Nirvana). One fascicle, T 390.12.1112-1114, translated by Xuanzang in 652. => Kinh, 1 quyển. Ngài Huyền Trang dịch năm 652.
phật lưu ly trang nghiêm vương
Buddha of the King Gloriously Adorned with Lapis Lazuli Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật lạp nhật
2756指陰曆七月十五夏安居圓滿日。臘者,歲末之義。佛家以一夏九旬安居之終為歲末,故七月十五日稱佛臘日。〔大宋僧史略卷下〕
; The Buddhist last day of the old year, i.e. of the summer retreat.
; (佛臘日) Chỉ cho ngày kết thúc hạ an cư. Lạp nghĩa là cuối năm. Phật giáo lấy ngày kết thúc an cư trong 9 tuần mùa hạ làm cuối năm, vì thế ngày 15 tháng 7 âm lịch gọi là Phật lạp nhật. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].
Phật lực
佛力; C: fólì; J: butsuriki; |Có các nghĩa sau: 1. Năng lực của Đức Phật; 2. Năng lực của chư Phật và Bồ Tát bảo hộ cho chúng sinh tu tập.
phật lực
2605請參閱密?金剛力士哀戀經 請參閱 密?金剛力士哀戀經 佛之力用。佛具有二智,故亦稱智力;以方便智能攝化眾生,故亦稱方便力;顯示由佛果而起之力,故又稱願力。法華經方便品(大九‧五下):「佛力無所畏,解脫諸三昧,及佛諸餘法,無能測量者。」〔大智度論卷二、十住毘婆沙論卷五易行品〕
; Buddhavisaya (P), Buddha's power.
; (佛力) Lực dụng của Phật. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ) nói: Phật lực không có chỗ sợ hãi, các tam muội giải thoát và các pháp khác của Phật không ai đo lường được. [X. luận Đại trí độ Q.2; phẩm Dị hành luận Thập trụ tì bà sa Q.5].
Phật lực 佛力
[ja] ブツリキ butsuriki ||| (1) The ability or power of a buddha. (2) The power of buddhas and bodhisattvas to protect practitioners. => Có các nghĩa sau: 1. Năng lực của Đức Phật. 2. Năng lực của chư Phật và Bồ-tát bảo hộ cho chúng sinh tu tập.
phật ma nhất như
2757最善之佛陀與最惡之惡魔,於表相而言,形成兩個極端,然就實體本性言之,則佛中並無佛性,魔中亦無魔性;蓋諸法本無自性而了不可得,故善佛與惡魔、順相與逆相,皆屬表相世界,實則佛與魔之本性始終一體不二,故稱佛魔一如。
; (佛魔一如) Phật và ma về mặt tướng dụng tuy có khác nhau, nhưng về mặt thể tính thì chỉ là một. Bởi vì các pháp vốn không có tự tính, cho nên Phật thiện và ma ác, tướng thuận và tướng nghịch đều thuộc thế giới hình tướng bề ngoài, thực thì bản tính Phật và ma vốn chẳng hai, vì thế gọi là Phật ma nhất như.
phật ma ni tràng
Buddha of Mani Banner Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật ma ni tràng đăng quang
Buddha of Man- Banner Shining Lamp Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật minh
Xem Phật Âm.
phật môn
2637佛之法門、佛教之門。又作釋門、法門、緇門、玄門、真門、道門、空門、諦門、祖門、宗門。依三論玄義,知菩薩之造論,即為開顯諸佛之教門,此教門即法門之意。後代「佛門」一語,主要為佛教對於儒、道二教之自稱。如信仰佛教者,稱為佛門弟子;捨離世事而修行佛道,即稱為入佛門。〔六十華嚴經卷一、注維摩詰經卷八、華嚴經探玄記卷二、大乘法苑義林章卷七、寶林傳卷八、佛祖通載序、八宗綱要〕(參閱「法門」3363)
; Buddha-gate, the religion of Buddha.
; (佛門) Cũng gọi Thích môn, Pháp môn, Truy môn, Huyền môn, Chân môn, Đạo môn, Không môn, Đế môn, Tổ môn, Tông môn. Cửa để đi vào Phật giáo, tức pháp môn tu hành đạo Phật. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì Bồ tát tạo luận là nhằm mở bày giáo môn của chư Phật. Giáo môn ở đây hàm ý là pháp môn. Đời sau, danh từ Phật môn chủ yếu là Phật giáo tự xưng để phân biệt với Đạo giáo và Nho giáo. Như người tin theo Phật giáo, gọi là Đệ tử Phật môn. Lìa bỏ việc đời mà tu hành đạo Phật thì gọi là Nhập Phật môn (vào cửa Phật)... [X. kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển); Chú Duy ma cật kinh Q.8; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7; Bảo lâm truyện Q.8; Phật tổ thống tải tự; Bát tông cương yếu]. (xt. Pháp Môn).
phật mẫu
2619梵名 Buddha-mātri,巴利名 Buddha-mātar。<一>指釋尊之生母摩耶夫人(梵 Mahā-māyā)而言:或指摩耶夫人死後,代彼養育釋尊之姨母摩訶波闍波提(梵 Mahā-prajāpatī)。〔大愛道般泥洹經、菩薩處胎經卷一、觀佛三昧海經卷六〕 <二>指般若波羅蜜。即能生出一切佛者。故禪家稱摩訶般若波羅蜜為摩訶佛母。〔大品般若經卷十六、大智度論卷三十四〕 <三>指法。佛以法為師,由法而成佛,故謂法為佛母。〔大方便佛報恩經卷六、楞嚴經卷六〕 <四>指佛眼尊。在密教,能產生諸佛、諸菩薩者,將之神格化,稱為佛母、佛母尊。如般若波羅蜜能生諸佛,並給予諸佛一切智,有示現世間相之作用,故將之神格化,稱為佛眼佛母,乃金胎兩部之總母。又西藏迦爾居派稱上師之妻為佛母。此外,在胎藏曼荼羅之遍知院中,列有佛眼、准胝等佛母之尊,故遍知院又稱為佛母院。〔大品般若經卷十四佛母品、密勒日巴尊者傳(張澄基譯)〕
; Buddhamatṛ (S), Butsumo (J), Butsumo (J) Xem Buddhamatṛ.
; Buddhamàtr (S), Butsomo (J). 1- The mother of the Buddha, Mahà-Màyà; 2-His aunt who was his foster-mother. 3-The Dharma or Law which produces him. 4-The prajnà-pàramità, mother or begetter ođ all Buddhas
; (佛母) Phạm: Buddha-màtri. Pàli: Buddha-màtar. I. Phật Mẫu. Chỉ cho phu nhân Ma da (Phạm: Mahà-màyà), mẹ đẻ của đức Phật Thích ca, hoặc chỉ cho bà Ma ha ba xà ba đề (Phạm: Mahà-prajàpatì) dì của đức Phật, người đã thay thế phu nhân Ma da nuôi dưỡng Ngài sau khi phu nhân tạ thế. [X. kinh Đại ái đạo ban nê hoàn; kinh Bồ tát xử thai Q.1; kinh Quán Phật tam muội hải Q.6]. II. Phật Mẫu. Chỉ cho Bát nhã ba la mật, vì Bát nhã có năng lực sinh ra hết thảy các đức Phật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.16; luận Đại trí độ Q.34]. III. Phật Mẫu. Chỉ cho pháp. Phật lấy pháp làm thầy, nhờ pháp mà thành Phật, vì thế gọi pháp là Phật mẫu. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6; kinh Lăng nghiêm Q.6]. IV. Phật Mẫu. Chỉ cho Phật nhãn tôn. Trong Mật giáo, pháp nào có năng lực sinh ra chư Phật, chư Bồ tát thì được thần cách hóa mà gọi là Phật mẫu, Phật mẫu tôn.Chẳng hạn như Bát nhã ba la mật có công năng sinh ra các đức Phật, mang lại Nhất thiết trí cho các Ngài, có tác dụng thị hiện tướng thế gian, cho nên Bát nhã được Mật giáo thần cách hóa mà gọi là Phật nhãn Phật mẫu. Phật nhãn Phật mẫu này là mẹ của cả 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới. Ngoài ra, trong viện Biến tri của Mạn đồ la Thai tạng giới có bài trí các vị Phật mẫu như Phật nhãn, Chuẩn đề…... cho nên viện Biến tri còn được gọi là viện Phật mẫu.[X. phẩm Phật mẫu kinh Đại phẩm bát nhã Q.14].
phật mẫu bát nê hoàn kinh
2619全一卷。劉宋慧簡譯。收於大正藏第二冊。述佛母大愛道比丘尼入滅送終等有關之事蹟。西晉白法祖譯之大愛道般泥洹經為本經異譯,較本經詳細。
; (佛母般泥洹經) Kinh, 1 quyển, do ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này thuật lại sự tích liên quan đến việc nhập diệt và chôn cất của Phật mẫu Đại ái đạo tỉ khưu ni. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại ái đạo nê hoàn, do ngài Bạch pháp tổ dịch vào đời Tây Tấn.
Phật mẫu bảo đức tạng bát-nhã ba-la-mật kinh
佛母寶悳藏般若波羅蜜經; C: fómǔ băo-dézàng bānruò bōluómì jīng; J: butsumo hō-tokuzō hannya haramitsu kyō; S: prajñāpārami-tāratnaguṇa-saṃcayagāthā. |Kinh, gồm 3 quyển. Tên gọi tắt là Bảo Đức tạng kinh (寶悳藏經); Pháp Hiền (法賢) dịch. Về tiếng Phạn, xem bản của Yuyama biên tập năm 1976.
Phật Mẫu Bảo Đức Tạng Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh 佛母寶悳藏般若波羅蜜經
[ja] ブツモホウトクゾウハンニャクヒラミツキョウ Butsumo hōtokuzō hannya haramitsu kyō ||| The Fomu baodezang banruo boluomi jing (Prajñāpāramitā ratnaguṇa saṃcayagāthā); 3 fasc. T 229.8.676, Abbr. Baodezang jing 寶悳藏經, tr. Faxian 法賢. For a Skt. ed. see Yuyama (1976). => (j: Butsumo hōtokuzō hannya haramitsu kyō ); s:Prajñāpāramitāratnaguṇa saṃcayagāthā) Gồm 3 quyển. Tên gọi tắt là Bảo Đức Tạng Kinh; Pháp Hiền dịch. Về tiếng Phạn, xem bản của Yuyama biên tập năm 1976.
phật mẫu chân tam muội
The samàdhi, meditation or trance by means of which the Buddhas, past, present, and future, become incarnate.
phật mẫu gia trì
2619請參閱孔雀明王經 請參閱 孔雀明王經 為密教修法中,結誦佛眼尊根本印言之加持作法。又作佛部母加持。佛部母,即佛眼尊。密教修行者以加持念誦之功德奉獻佛眼尊,其功德悉納於金剛寶藏中而不壞失,由是則可成就現證菩提之勝因。其加持之法,係於結誦佛眼尊根本印言之時,加持於行者身之五處(額、左肩、右肩、心、喉),使自身成為佛眼尊;另加持於面上之五處(右眼、左眼、右眉、左眉、眉間),以開啟行者之五眼(肉眼、天眼、慧眼、法眼、佛眼),其時並於行者面上順旋三遍,令一切見者皆悉歡喜。〔瑜祇經金剛吉祥大成就品〕
; (佛母加持) Cũng gọi Phật bộ mẫu gia trì. Tác pháp gia trì kết ấn, tụng chân ngôn căn bản của Phật nhãn tôn trong pháp tu Mật giáo. Người tu hành Mật giáo đem công đức gia trì niệm tụng dâng cúng Phật nhãn tôn, công đức ấy đều được cất vào kho báu Kim cương, không bị hoại mất, nhờ thế mà có thể chứng được bồ đề trong hiện tại. Cách gia trì là: Hành giả kết ấn và tụng chân ngôn căn bản của Phật nhãn tôn, gia trì ở 5 chỗ trên thân thể(trán, vai trái, vai phải, tim, yết hầu)khiến cho thân của chính mình thành Phật nhãn tôn. Còn khi gia trì ở 5 chỗ trên mặt của hành giả (mắt bên phải, mắt bên trái, vai phải, vai trái, giữa 2 đầu chân mày)để khởi mở 5 mắt (mắt thịt, mắt trời, mắt trí, mắt pháp, mắt Phật)thì lúc đó gia trì trên mặt hành giả theo chiều thuận 3 lần, khiến mọi người thấy đều vui mừng. [X. phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì].
phật mẫu mạn đồ la
2619又作虛空眼曼荼羅、佛母別壇。密教中,虛空眼一般雖指佛眼,然據瑜祇經等所述,則謂佛母曼荼羅並非指佛眼曼荼羅。另據大日經祕密漫荼羅品、大日經供養持誦不同卷七等所載,此曼荼羅為真金色,其圖像呈方正之形,四方以金剛印為界而圍繞之,曼荼羅中有大蓮花,上有黃色暉焰,蓮花上有佛頂印,其印如佛頂髻形,令頂高隆,旁畫兩眼形(即如來眼),住於光焰之中,而壇中則遍布種子。於諸壇之中,此佛母曼荼羅乃最上最勝之曼荼羅。
; (佛母曼荼羅) Cũng gọi Hư không nhãn mạn đồ la, Phật mẫu biệt đàn. Mạn đồ la tối thượng tối thắng trong các đàn tu của Mật giáo. Trong Mật giáo, Hư không nhãn thường chỉ cho Phật nhãn, nhưng Phật mẫu mạn đồ la, theo kinh Du kì, thì không phải chỉ cho Phật nhãn mạn đồ la. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh cúng dường trì tụng bất đồng quyển 7, thì Mạn đồ la này có màu vàng ròng, bức tranh hình vuông, 4 phía dùng ấn Kim cương làm ranh giới bao quanh, ở giữa Mạn đồ la có đóa hoa sen lớn, trên có ngọn lửa sáng rực, trên hoa sen có ấn Phật đính, ấn ấy giống như hình búi tóc trên đỉnh đầu Phật khiến đỉnh đầu nổi cao lên, bên cạnh vẽ hình 2 mắt (tức mắt Như lai) ở trong ánh lửa sáng, còn trong đàn thì các chủng tử được bày ở khắp nơi.
phật mẫu đại khổng tước vương kinh
MahāmāyŪrī vidyuārājini (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
phật nguyện
The vow of Buddha to save all beeings.
phật nguyệt
2614請參閱楚石梵琦禪師語錄 有二義,即:(一)謂佛之光明猶如清澈瑩明之月光。(二)比喻佛之法身。謂人之心若清淨,則佛亦隨即應現,猶如水中之月,無有障礙。金光明經卷二(大一六‧三四四中):「佛真法身,猶如虛空,應物現形,如水中月,無有障礙,如焰如化,是故我今稽首佛月。」〔大集經卷五十八〕
; The Buddha-moon, Buddha being mirrored in the human heart like the moon in pure water.
; (佛月) Mặt trăng Phật. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho hào quang của Phật trong suốt, sáng rỡ, giống như ánh sáng của mặt trăng. 2. Ví dụ pháp thân của Phật, nếu tâm chúng sinh thanh tịnh thì Phật cũng theo đó mà ứng hiện, giống như mặt trăng ánh hiện dưới đáy nước, không bị chướng ngại. Kinh Kim quang minh quyển 2 (Đại 16, 344 trung) nói: Pháp thân chân thực của Phật giống như hư không, tùy vật hiện hình, giống như bóng trăng dưới nước, không có gì trở ngại, như ánh lửa, như huyễn hóa, vì thế nay con cúi đầu kính lễ Phật nguyệt. [X. kinhĐại tập Q.58].
phật ngũ tính
2611佛陀出家前之俗姓有五,即瞿曇、甘蔗、日種、舍夷、釋迦。據佛本行集經卷五載,淨飯王六代之祖被射殺,從血塊生二莖甘蔗,後更由甘蔗生一男一女,姓為甘蔗,別稱為日種,其四子移於北,倡釋迦姓,復別稱為舍夷。佛陀為甘蔗王(梵 Ikṣvāku)之後代,瞿曇乃其姓。(參閱「甘蔗王」2051)
; The five surnames of Buddha before he became enlightened: Gautama, a branch of Sàkya; Iksvàku, one of Buddha's ancestor; Sùryavamsa, of the sun race; Sàka; Sàkya.
; (佛五姓) Năm họ của đức Phật trước khi xuất gia.Trước khi xuất gia, đức Phật có 5 họ là: Cù đàm, Cam giá,Nhật chủng, Xá di và Thích ca. (xt. Cam Giá Vương).
phật ngữ
2745請參閱梵志阿
; The words or sayings of Buddha
; (佛語) Đồng nghĩa: Phật thuyết,Kim khẩu. Những lời nói của đức Phật. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 35 (bản Bắc) thì những lời do Phật nói có 3 loại: Tùy tự ý ngữ (nói theo ý mình), Tùy tha ý ngữ (nói theo ý người) và Tùy tự tha ý ngữ (nói theo ý mình, người). Kinh Phật ngữ pháp môn cho rằngvô thân vô thân hành, vô khẩu vô khẩu hành, vô ý vô ý hành, phi hành phi phi hành, phi báng phi bất báng, bất sinh bất khởi, vô tưởng vô xứ, vô vãng vô một, phi tịch phi hành...… là Phật ngữ. [X. kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm Q.12; Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
phật ngữ pháp môn kinh
2746全一卷。北魏菩提流支譯。又作佛語經。收於大正藏第十七冊。本經係佛陀對龍威德上王菩薩宣說「佛語」之義,謂「非語」即「佛語」。因真理無法以言語解釋,若予肯定、否定,或予相對之言詞,如身口意、地水火風空、有漏無漏等,已非真正之佛語。由本經可徹見大乘空觀思想,故本經堪稱為般若經之縮影。〔歷代三寶紀卷九、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷六、貞元新定釋教目錄卷九、古今譯經圖紀卷四〕
; (佛語法門經) Cũng gọi Phật ngữ kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật nói về nghĩa Phật ngữ cho bồ tát Long uy đức thượng vương nghe. Theo lời Phật dạy thì chân lí không thể giải thích thuyết minh bằng ngôn ngữ, bởi thế nếu dùng lời nói để khẳng định, phủ định, hoặc dùng những ngôn từ tương đối như thân khẩu ý, địa thủy hỏa phong không, hữu lậu vô lậu…... để diễn đạt chân lí thì đó chẳng phải là Phật ngữ chân chính. Cho nên đức Phật bảo phi ngữ tức Phật ngữ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].
phật nha
2614即釋迦牟尼佛之牙齒。據傳,世尊荼毘後,全身悉化為細粒之舍利,唯其部分牙齒未損,稱為佛牙舍利(梵 Dantadhātu,巴同)。據大般涅槃經後分卷下所載,世尊荼毘之時,以大悲力之故,碎金剛體為細末舍利,唯留四牙不沮壞。帝釋天於佛口上頷取牙舍利,即還天上,起塔供養。另據觀虛空藏菩薩經所載,忉利天城之北駕御園中有佛牙塔。高僧法顯傳師子國(錫蘭,今斯里蘭卡)條亦載,王城中有佛牙精舍。此外,另有一枚佛牙傳至烏纏國(即烏萇國,位於今印度北部)。據梁高僧傳卷十三、法苑珠林卷十二等載,南朝僧法獻於劉宋元徽三年(475)往西域取經,至于闐,得烏纏國所傳來之佛牙一枚及舍利十五粒。回國後住於南齊王都建業(南京),乃密藏佛牙,自行供養禮拜。永明七年(489),文宣王因感夢,始將此事傳諸道俗。其後佛牙供奉於上定林寺。梁武帝普通三年(522),佛牙一度遭竊,下落不明。 至隋代,佛牙出現,供奉於大興(陝西長安)。唐末五代時,戰亂頻仍,遂將佛牙輾轉送至北方遼之燕京(北京)。據遼史道宗紀所載,道宗咸雍七年(1071,即北宋神宗熙寧四年),將佛牙安奉於靈光寺招仙塔。清光緒二十六年(1900),八國聯軍進犯北京,寺、塔毀於戰火。後經僧眾發掘清理、在塔基中尋獲藏有佛牙之石函,函內復有一沈香木盒,盒上刻有「釋迦牟尼佛靈牙舍利。天會七年四月二十二日記,善慧書」等字。「天會」係五代十國北漢(951~979)之年號。西元一九六四年,當地佛教團體於寺塔舊址重建佛牙舍利塔,以供奉佛牙。 另於宋高僧傳亦載有道宣感得佛牙舍利之經過,宋高僧傳卷十四(大五○‧七九一上):「於西明寺夜行道,足跌前階,有物扶持,履空無害,熟顧視之,乃少年也,宣遽問:『何人中夜在此?』少年曰:『某非常人,即毘沙門天王之子那吒也,護法之故,擁護和尚,時之久矣!』宣曰:『貧道修行,無事煩太子,太子威神自在,西域有可作佛事者,願為致之。』太子曰:『某有佛牙,寶掌雖久,頭目猶捨,敢不奉獻?』俄授於宣。」 道宣所感得之佛牙,與上記所說之佛牙,兩者是否同一,或具有何等關係,資料所示不詳。此枚佛牙其後奉置於河南開封之相國寺灌頂院,宋太宗嘗幸臨禮拜,並以烈火煆試之,光彩益顯,太宗乃製佛牙讚,並改灌頂院為法華院。其後宋真宗將此佛牙舍利迎至開寶寺塔下供養,亦製一佛牙讚。治平二年(1065),英宗造立佛牙讚碑。崇寧三年(1104),徽宗迎佛牙至宮中供養,亦復製讚,此後亦為歷朝所崇信。 此外,錫蘭坎底市(Kandy)之馬拉葛瓦寺(Malagawa)所珍藏之佛牙舍利,被視為錫蘭之國寶,故該寺又稱佛牙寺。錫蘭佛教界每年八月一日舉行歷時十二天之佛牙節,於每日晚間八時至十一時舉辦場面盛大的佛牙遊行。據佛牙史(巴 Dāṭhāvaṃsa)載,此枚佛牙係於四世紀頃,由印度羯陵伽國(巴 Kaliṅga)傳入錫蘭,並受到最高之禮敬。十四世紀初,南印度塔米爾人(Tamils)入侵,並劫取佛牙。波洛卡摩婆訶王三世(巴 Parakkamabāhu Ⅲ, 1302~1310 在位)時,以和平方式迎回佛牙。其後,錫蘭仍戰亂不止,佛牙亦隨之不斷遷地密藏。 一五○五年,葡萄牙人登陸,極力迫害佛教信仰,王都又輾轉遷至坎底市,於此建佛牙寺以供奉佛牙。一五六○年,葡人將佛牙送至印度果阿地方(Goa)燒毀,然數年之後佛牙再度出現,或謂燒毀之佛牙乃係澚品。 據義淨之西域求法高僧傳卷上載,明遠法師嘗至師子洲(錫蘭),欲密攜佛牙歸國,終為錫蘭人發覺,致遭凌辱,錫蘭人對佛牙之防守益加嚴密。又據明本大唐西域記僧伽羅國附記及錫蘭佛教史(C. Dipayaksorn 之泰文著作)等所載,明使鄭和嘗至錫蘭取得佛牙。又古代錫蘭人稱佛牙為 Dāṭhā-dhātu,現今則稱為 Dalada。〔出三藏記集卷二、卷三、法苑雜錄原始集目錄卷九〕(參閱「佛牙史」2616、「佛牙節」2617)
; (佛牙) Răng của đức Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo truyền thuyết, sau khi trà tì (thiêu = đốt), toàn thân đức Thế tôn hóa thành những hạt xá lợi nhỏ, chỉ còn lại một số răng không bị hư tổn, gọi là Phật nha xá lợi (Phạm,Pàli: Dantadhàtu). Cứ theo Đại niết bàn kinh hậu phần quyển hạ, khi trà tì, do sức đại bi, thể kim cương của đức Thế tôn nát ra thành những không hư hoại. Trời Đế thích liền nhận lãnh xá lợi răng trên miệng đức Phật rồi trở lên cõi trời, xây tháp cúng dường. Còn theo kinh Quán hư không tạng bồ tát thì trong vườn Giá ngự ở mạn bắc thành Đao lợi thiên có ngôi tháp Răng Phật. Điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện thì cho biết trong Vương thành ở Tích lan có tinh xá Phật nha. Ngoài ra, còn có 1 chiếc răng của Phật được truyền đến nước Ô trành ở miền Bắc Ấn độ. Cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 13 và Pháp uyển châu lâm quyển 12, thì vào năm Nguyên huy thứ 3 (475) đời Lưu Tống, ngài Pháp hiến thời Nam triều qua Tây vực thỉnh kinh, đến nước Vu điền được 1 chiếc răng Phật và 15 viên xá lợi vốn từ nước Ô trành truyền đến. Sau khi về nước, sư trụ ở Kiến nghiệp (nay là Nam kinh) –Vương đô của nhà Tề – giữ kín răng Phật để cúng dường lễ bái một mình. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), vua Văn tuyên nhân cảm mộng mới đem việc này nói cho mọi người biết. Về sau, răng Phật được đưa về thờ ở chùa Định lâm thượng. Năm Phổ thông thứ 3 (522) đời Lương vũ đế, răng bị lấy mất, về sau không rõ. Đến đời Tùy, răng Phật lại xuất hiện, được thờ ở Đại hưng (Trường an, Thiểm tây). Đến cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại, chiến loạn nổi lên liên miên, răng Phật lần hồi được đưa về Yên kinh (Bắc kinh) thuộc nước Liêu ở phương bắc. Theo Liêu sử Đạo tông kỉ thì vào năm Hàm ung thứ 7 (1071), vua Đạo tông rước răng Phật về thờ ở tháp Chiêu tiên chùa Linh quang. Năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh, liên quân 8 nước tiến đánh Bắc kinh, chùa và tháp đều bị phá hủy. Sau, tăng chúng đào bới nền tháp, tìm được 1 cái tráp bằng đá, bên trong cất giữ răng Phật; trong tráp lại có 1 chiếc hộp bằng gỗ trầm hương, trên hộp có khắc dòng chữ: Thích ca mâu ni Phật linh nha xá lợi. Thiên hội thất niên Tứ nguyệt nhị thập nhị nhật kí, Thiện tuệ thư (Xá lợi răng của Phật Thích ca mâu ni. Ghi ngày 22 tháng 4 năm Thiên hội thứ 7, Thiện tuệ viết). Thiên hội là niên hiệu của nhà Bắc Hán (951-979) trong 10 nước thời Ngũ đại. Năm 1964, đoàn thể Phật giáo địa phương đã xây dựng lại tháp xá lợi Răng Phật trên nền chùa cũ để thờ răng Phật. Ngoài ra, xá lợi răng Phật được cất giữ ở chùa Mã lạp cát ngõa (Malagawa) ở thành phố Khảm để (Kandy) tại miền Trung nước Tích lan, được xem là quốc bảo của Tích lan, vì thế chùa này còn có tên là Phật nha tự (chùa Răng Phật). Hằng năm, vào ngày mồng 1 tháng 8, giới Phật giáoTích lan tổ chức lễ hội Phật nha suốt 12 ngày, mỗi ngày từ 8 giờ đến 11 giờ tối cử hành rước răng Phật rất trọng thể. Cứ theo Phật nha sử (Pàli: Dàỉhàvaôsa) thì chiếc răng Phật này từ nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) bên Ấn độ được truyền đến Tích lan vào khoảng thế kỉ IV Tây lịch và rất được tôn sùng lễ kính. Đầu thế kỉ XIV, người Tamils từ Nam Ấn độ xâm nhập Tích lan và cướp lấy răng Phật. Sau, vua Parakkhamabàhu III (trị vì 1302-1320), dùng phương thức hòa bình rước được răng Phật trở về. Sau, Tích lan cũng rơi vào tình trạng loạn lạc liên miên, nên răng Phật cũng bị liên tục di dời và được cất giữ rất cẩn mật. Năm 1505, người Bồ đào nha đổ bộ xâm chiếm đảo Tích lan, bức hại tín ngưỡng Phật giáo, vua Tích lan phải dời đô đến thành phố Kandy và xây dựng chùa Phật nha để thờ răng Phật. Năm 1560, người Bồđào nha đưa răng Phật về Goa bên Ấn độ để đốt bỏ, nhưng chỉ vài năm sau răng Phật lại xuất hiện. Có thuyết cho rằng răng Phật mà người Bồ đào nha đốt bỏ là răng Phật giả. Cứ theo Tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng của ngài Nghĩa tịnh thì pháp sư Minh viễn từng đến châu Sư tử (Tích lan) định lén đưa răng Phật về Trung quốc, nhưng người Tích lan phát giác và Pháp sư Minh viễn bị lăng nhục nặng nề. Từ đó, sự bảo vệ của người Tích lan đốivớirăng Phật càng thêm nghiêm mật. Cứ theo điều Tăng già la quốc phụ kí trong Đại đường tây vực kí bản đời Minh và Tích lan Phật giáo sử (tác phẩm của C. Dipayaksorn bằng tiếng Thái lan) thì sứ thần nhà Minh của Trung quốc là Trịnh hòa từng đến Tích lan lấy được răng Phật. Người Tích lan đời xưa gọi răng Phật là Dàỉhà-dhàtu, hiện nay thì gọi làDalada. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2,3; Pháp uyển tạp lục nguyên thủy tập mục lục Q.9]. (xt. Phật Nha Sử, Phật Nha Tiết).
phật nha sử
2614巴利名 Dāṭhāvaṃsa, Dantadhātuvaṃsa。凡五章。錫蘭(即今斯里蘭卡)僧達摩揭諦(巴 Dhammakitti)著於十二世紀頃。為南傳上座部佛教三藏經典外之著作。係揭諦受波洛卡摩婆訶王一世(巴 Parakkamabāhu Ⅰ)之請,根據錫蘭文之編年史「大史」(巴 Mahāvaṃsa)及佛教傳說編寫而成。記載印度羯陵伽國(巴 Kaliṅga)佛牙城(巴 Dantapura)王子陀多(巴 Dantakumāra)偕王妃稀摩梨(巴 Hammālī)密藏一枚佛陀左邊聖牙逃難至錫蘭之經過,及與佛牙有關之史事。為優秀之巴利文史詩。佛牙送至錫蘭島時,正逢吉祥雲色王之世(巴 Siri-Meghavaṇṇa, 362~389 在位),佛牙受到最高之禮敬,成為國之至寶。其後歷代國王即位之前,皆須先取得供養佛牙之權,始得人民之擁護,故常引起政治糾紛。此前,印度即有多位王子因爭奪佛牙而導致戰爭。
; Dathavaṃsa (S)Tên một bộ luận kinh.
; (佛牙史) Pàli: Dàỉhàvaôsa, Danta= dhàtuvaôsa. Tác phẩm Lịch sử răng Phật, gồm 5 chương, do vị tăng người Tích lan là Đạt ma yết đế (Pàli: Dhammakitti) biên soạn vào khoảng thế kỉ XII. Đáp lời thỉnh cầu của vua Parakkhamabàhuđời thứ nhất, ngài Yết đế căn cứ vào bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa) trong Biên niên sử bằng tiếng Tích lan và các truyền thuyết Phật giáo mà biên soạn thành sách này. Nội dung nói về cuộc hành trình của Vương tử Đà đa (Pàli: Dantakumàra) ở thành Phật nha (Pàli: Dantapura), nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) thuộc nam Ấn độ, cùng với Vương phi Hi ma lê (Pàli: Hammàli) kín đáo mang 1 chiếc răng hàm bên trái của đức Phật đến Tích lan lánh nạn, đồng thời, kể lại lai lịch của chiếc răng này. Đây là tập sử thi rất có giá trị bằng tiếngPàli. Răng Phật được đưa đến Tích lan đúng vào thời vua Cát tường vân sắc (Pàli: Siri- Meghavaịịa, tại vị 362-389) trị nước. Răng Phật được nhà vua và toàn dân lễ kính tôn sùng và coi như của báu của quốc gia. Từ đó về sau, quốc vương các triều đại, trước khi lên ngôi, đều phải giành được quyền cúng dường răng Phật mới được nhân dân ủng hộ.
phật nha tiết
2617錫蘭(今斯里蘭卡)之佛教盛會。每年八月於坎底市(Kandy),由佛牙寺與印度教寺院聯合舉辦佛牙遊行,每晚八時始,至十一時歸寺,自八月一日至十二日,歷時十二天,故又稱坎底遊行盛會(Kandian Perahera)。據佛牙史(巴 Dāṭhāvaṃsa)載,這顆被視為第一國寶與佛陀代表之佛牙,乃四世紀頃,由南印度羯陵伽國(巴 Kaliṅga)密傳至師子國(錫蘭之古名)者。初置於王都阿㝹羅陀補羅城之塔園寺,每年三月舉行一次佛牙遊行儀式,將佛牙送往無畏山寺供養,滿九十日後,還置塔園寺,與目前所行略有不同。十四世紀時王都遷至坎底,佛牙亦移至新建之佛牙寺供奉。 現行之儀式始自西元一七七五年,其時為吉祥稱王獅子王(梵 Kīrti śri Rāja Siṅha)在位期間,遊行隊伍包括聖佛牙隊、保護神像隊(梵 Nāthadevālaya)、毘濕奴神像隊(梵 Viṣṇudevālaya)、戰爭神像隊(梵 Katragamadevālaya)、女神像隊(梵 Patānīdevālaya,即大梵天神之妻)等,最後一日有兩項較特殊之儀式,一為護送戰爭神至佛牙寺附近之摩訶吠利恒河(梵 Mahāveligangā)洗劍;一為遊行隊伍至印度教之伽那提婆拘婆羅神廟(梵 Gaṇadevīkovila),為世界人類祈求和平。信徒於節慶期間,則盡力施捨財物予寺院、僧眾,以求取功德。〔佛國記、大唐西域記卷十一僧伽羅國條、南傳佛教史(淨海)〕
; (佛牙節) Lễ hội rước răng Phật thịnh hành ở Tích lan. Hằng năm, cứ vào tháng 8 thì chùa Phật nha và các đền thờ của Ấn độ giáo ở thành phố Khảm để (Kandy) tại miền Trung Tích lan lại liên kết tổ chức lễ rước răng Phật qua các đường phố, bắt đầu từ 8 giờ tối đến 11 giời khuya, suốt trong 12 ngày từ mồng 1 đến ngày 12 tháng 8, cho nên cũng gọi là Khảm để du hành thịnh hội (Kandian Perahera). Cứ theo Phật nha sử (Pàli: Dàỉhàvaôsa) thì răng Phật được coi là của báu bậc nhất của quốc gia và là đại biểu cho đức Phật, được tôn trí ở chùa Tháp viên tại kinh đô A nâu la đà bổ la; vào tháng 3 hằng năm, tổ chức rước răng Phật từ chùa Tháp viên đến chùa Vô úy sơn để cúng dường, sau 90 ngày răng Phật lại được rước về chùa Tháp viên. Vào thế kỉ XIV, vương đô được dời đến Kandy, răng Phật cũng được dời đến thờ ở chùa Phật nha mới xây cất(tức chùa răng Phật hiện nay). Nghi thức rước răng Phật được cử hành hiện nay bắt đầu từ năm 1775, bấy giờ là thời vua Cát tường xứng vương sư tử (Phạm: Kìrti Zri Ràja Siíha). Các dội được tuyển chọn để đi rước gồm có: Đội Thánh Phật nha, đội Bảo hộ thần tượng (Phạm: Nàthadevàlaya), đội Chiến tranh thần tượng (Phạm: Katragamadevàlaya), đội Nữ thần tượng (Phạm: Patànìdevàlaya, tức vợ của thần Đại phạm thiên), đội Tì thấp nô thần tượng (Phạm: Viwịudevàlaya). Ngày cuối cùng có 2 nghi thức đặc biệt hơn: Một là hộ tống thần chiến tranh đến rửa kiếm ở sông Ma ha phệ lợi hằng (Phạm: Mahàveliganga) gần chùa Phật nha; hai là các đội ngũ tham dự lễ rước đến miếu thờ thần Già na đề bà câu bà la (Phạm: Gaịadevìkovila) của Ấn độ giáo để cầu nguyện hòa bình cho nhân loại trên thế giới. [X. Phật quốc kí; điều Tăng già la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.11; Nam truyền Phật giáo sử (Tịnh hải)].
phật nha tự
2616巴利名 Daḷadā Māligāva。即錫蘭(今之斯里蘭卡)坎底市(Kandy)之馬拉葛瓦寺(Malagawa),整個建築規模宏偉,寺院建在一座高約六公尺餘之臺基上,周圍有護寺河。分上下兩層,廳堂套廳堂,結構複雜,主要有佛殿、鼓殿、長廳、大寶庫、誦經廳等,核心乃兩層之內宮,其中,黃金蓮臺之上供奉有佛陀之牙齒,故稱佛牙寺。此佛牙原為印度羯陵伽國(巴 Kaliṅga)所有,四世紀頃傳至錫蘭,初置於王都阿㝹羅陀補羅城(梵 Anurādhapura,巴同)之塔園寺,十四世紀時移至本寺。或謂四世紀在位之吉祥雲色王(巴 Siri-Meghavaṇṇa)於王宮之側新建一佛牙精舍,供養聖牙。此外,現今廣受重視之佛牙節,即以本寺為中心,舉行盛大之遊行儀式。
; Dalada-maligava (S)Tên một ngôi chùa.
; (佛牙寺) Pàli: Daơadà Màligàva. Chùa Răng Phật ở thành phố Khảm để (Kandy) tại Tích lan. Chùa được kiến trúc rất qui mô hoành vĩ, nằm trên 1 cái nền cao khoảng hơn 6m, chung quanh có sông bao bọc. Chùa được chia ra 2 tầng trên và dưới, điện đường san sát, kết cấu phức tạp, chủ yếu là điện Phật, rồi lầu trống, nhà giảng, nhà tụng kinh, kho đại bảo…... chính giữa nội cung có 2 tầng, trong đó, trên đài sen bằng vàng ròng có thờ răng Phật, vì thế gọi là chùa Phật nha. Chiếc răng Phật này vốn là của nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) thuộc Ấn độ, vào khoảng thế kỉ IV được truyền đến Tích lan; đầu tiên được thờ ở chùa Tháp viên tại kinh đô A nâu la đà bổ la (Phạm, Pàli: Anuràdhapura), đến thế kỉ XIV mới được dời tới chùa này. Ngoài ra, Phật nha tiết (lễ hội từ xưa đến nay rất được coi trọng ở Tích lan) lấy chùa này làm trung tâm, cử hành nghi thức rước răng Phật hằng năm rất trọng thể.
phật nha xá lợi tháp
2616位於北京西山八大處之第二處靈光寺舊址。釋迦牟尼佛入滅後之二顆聖牙,一顆傳到師子國(錫蘭,今之斯里蘭卡);一顆傳到烏萇國(約在印度北部蘇瓦特河流域),後又傳至于闐。至五世紀南朝僧人法獻西遊至于闐時,將之帶回齊都建業(南京),隋統一天下,佛牙又被送至長安,五代時中原戰亂,又輾轉到達遼之燕京(北京),遼道宗咸雍七年(1071)將佛牙舍利供奉於北京靈光寺招仙塔(建於西元八世紀)之舍利塔中。然此塔於清德宗光緒二十六年(1900)義和團事件時,因八國聯軍砲擊而告荒廢,後經修建,恢復舊觀。由舊塔基臺中挖出之沈香木盒內藏有佛牙,遂移至新建之舍利塔內,供奉於七寶金塔之蓮座上。佛牙舍利塔,為金碧輝煌之八角形十三層密檐磚塔,塔高五十一公尺,矗立於西山山麓,為北京郊外名勝之一。塔內第一層,有「金剛般若經」之銅版刻文,相傳為元代書法家趙孟頫之手筆。
; (佛牙舍利塔) Tháp thờ xá lợi răng của đức Phật được xây trên nền cũ chùa Linh quang, núi Tây sơn, gần thành Bắc kinh, Trung quốc. Tháp được kiến trúc bằng gạch, mái dày, hình bát giác, 13 tầng, cao 51m, đứng sừng sững dưới chân núi Tây sơn, màu vàng chói lọi, rực rỡ huy hoàng, là 1 trong những thắng cảnh nổi tiếng ở vùng ngoại ô Bắc kinh. Trong tầng thứ nhất có tấm bản đồng khắc văn kinh Kim cương bát nhã, tương truyền là thủ bút của Triệu mạnh phủ, nhà thư pháp đời Nguyên.
phật nham sơn
2757位於四川成都仁壽縣之東約十四公里之處。又稱佛龕山。山中有石像,石像面巖而造,其背臨虛挺立,故俗稱倒座寺。相傳此山有唐代歐陽詢之磨崖碑。〔大明一統志卷六十七〕
phật nhân
Buddha-cause.
Phật nhãn
佛眼; C: fóyăn; J: butsugen; S: buddha-cakṣus.|Mắt Phật. Cái nhìn của nhất thiết trí viên mãn, đạt được sau khi chứng Phật quả. Cao nhất trong Ngũ nhãn (五眼).
phật nhãn
2721梵語 buddha-cakṣus。指諸佛照破諸法實相,而慈心觀眾生之眼。係五眼之一。謂諸佛具有肉、天、慧、法四眼之用,乃至無事不見、無事不知、無事不聞,聞見互用,無所思惟,一切皆見。無量壽經卷下(大一二‧二七四上):「佛眼具足,覺了法性。」法華文句卷四下(大三四‧六○上):「佛眼圓通,舉勝兼劣;又四眼入佛眼,皆名佛眼。」法華經方便品(大九‧九中):「舍利弗當知,我以佛眼觀,見六道眾生,貧窮無福慧。」〔大般若波羅蜜多經卷四○四、瑜伽師地論卷十四、大智度論卷三十三、大乘義章卷二十末、無量壽經鈔卷六〕
; The eye of Buddha, the enlightened one who sees all and is omniscient.
; (佛眼) Phạm: Buddha-cakwus. Chỉ cho mắt Phật, có năng lực thấy rõ thựctướng các pháp, 1 trong 5 loại mắt. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Mắt Phật trọn đủ, thấy rõ pháp tính. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 9 trung) nói: Xá lợi phất nên biết, Ta dùng Phật nhãn quan sát, thấy chúng sinh trong 6 đường nghèo cùng, không có trí tuệ.[X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.404; luận Du già sư địa Q.14; luận Đại trí độ Q.33; Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối; Vô lượng thọ kinh sao Q.6].
phật nhãn chân ngôn
2722為密教佛眼尊之陀羅尼。有大咒、小咒之別。又作佛眼咒、佛眼明。密教修法之時,於「散念誦」之最初,必誦此真言。或密教修行者於讀經之時,亦應結誦佛眼尊之印契、真言。若常持誦此真言,金剛薩埵及諸菩薩常隨衛護,得大神通,所作事業皆得成就。另據菩提場所說一字頂輪王經卷一載,於持誦一字真言後,必誦此佛眼真言七遍,則其身寂靜;反之,其威德無能堪忍。
; (佛眼真言) Cũng gọi Phật nhãn chú, Phật nhãn minh. Đà la ni của Phật nhãn tôn trong Mật giáo. Có 2 loại Đại đà la ni và Tiểu đà la ni khác nhau. Khi tu pháp Mật giáo, phải tụng chân ngôn này trước khi tán niệm tụng. Hoặc khi hành giả đọc kinh, cũng nên kết ấn khế và tụng chân ngôn của Phật nhãn tôn.Nếu thường trì tụng chân ngôn này thì Kim cương tát đỏa và các Bồ tát luôn theo hộ vệ, chứng được đại thần thông và làm việc gì cũng được thành tựu.
phật nhãn mạn đồ la
2722為密教以佛眼佛母為中尊而建立三會八葉蓮華之曼荼羅。瑜祇經卷下金剛吉祥大成就品詳載有關此一曼荼羅之畫法:共畫三層八葉蓮華,中央畫佛眼佛母,第一華院畫一切佛頂輪王及七曜使者;第二華院畫八大菩薩,各執其本標幟;第三華院畫八大金剛明王。華院外之四方四隅,畫有八大供養及四攝等使者,皆戴師子冠。
; (佛眼曼荼羅) Mạn đồ la Mật giáo lấy Phật nhãn Phật mẫu làm bậc Trung tôn mà kiến lập hoa sen 8 cánh 3 lớp. Theo phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì quyển hạ thì cách vẽ Mạn đồ la này là: Vẽ toàn bộ hoa sen 8 cánh 3 lớp, ở chính giữa vẽ Phật nhãn Phật mẫu, trên lớp thứ nhất vẽ Nhất thiết Phật đính luân vương và Thất diệu sứ giả; trên lớp thứ 2 vẽ 8 vị Đại bồ tát, mỗi vị đều cầm cờ xí của mình; trên lớp thứ 3 vẽ 8 vị Đại kim cương minh vương. Ở 4 góc 4 phương tường hoa phía ngoài, vẽ 8 vị bồ tát Đại cúng dường và 4 vị Nhiếp bồ tát, đều đội mũ sư tử.
phật nhãn phái
2721屬臨濟宗楊岐派,為五祖山法演之法嗣佛眼清遠派下之總稱。佛眼清遠得法後,住於舒州(安徽懷寧)龍門山,鼓吹禪風;門下有烏巨道行、竹庵士珪、牧庵法忠、高庵善悟等輩出;道行門下有晦庵慧光;士珪門下有僧挺守賾,編有古尊宿語要一書;法忠門下有普庵印肅等。
; Butsugen-ha (J)Tên một tông phái.
; (佛眼派) Chỉ chung cho môn phái của ngài Phật nhãn Thanh viễn –đệ tử nối pháp của Thiền sư Pháp diễn núi Ngũ tổ, thuộc phái Dương kì tông Lâm tế. Sau khi đắc pháp, ngài Phật nhãn Thanh viễn trụ ở núi Long môn tại Thư châu (nay là huyện Hoài ninh, tỉnh An huy) xiển dương Thiền phong. Ngài có nhiều đệ tử ưu tú như các vị: Ô cự Đạo hành, Trúc am Sĩ khuê, Mục am Pháp trung, Cao am Thiện ngộ…... Môn nhân của sư Đạo hành có Hối am Tuệ quang, môn nhân của sư Sĩ khuê có Tăng đĩnh Thủ trách, môn nhân của sư Pháp trung có Phổ am Ấn túc…...
phật nhãn phật mẫu
2721梵名 Buddha-locanī。又作佛眼部母、佛眼明妃、佛眼尊、虛空眼明妃、能寂母、金剛吉祥眼、一切如來佛眼大金剛吉祥一切佛母、一切如來寶、佛母尊、佛母身。為密教胎藏界曼荼羅遍知院及釋迦院之一尊。此尊乃般若中道妙智之神格化,係出生金胎兩部諸佛、菩薩之總母。以其為生佛部功德之母,故稱佛母;又具五眼,故稱佛眼。 遍知院之佛眼佛母,位列中央一切如來智印之北方。密號殊勝金剛。身呈肉色,頭戴寶冠,耳掛金環,臂著釧環,以紅錦為衣,手結定印,結跏趺坐於赤蓮花上。釋迦院之佛眼佛母又稱遍知眼、能寂母、一切如來寶,位列中央釋迦牟尼佛之北方下列第一位。密號實相金剛。身呈金色,右手豎掌,屈中指、無名指,小指稍屈,伸拇指與食指,左手屈臂,持蓮花上如意寶,面向左方,微仰視。一般以此尊為大日如來所變,然瑜祇經中則說為金剛薩埵所變。其修法為息災或降伏,最大特色是以星宿為其眷屬。又以佛眼佛母為中尊建立之曼荼羅,稱為佛眼曼荼羅。〔大日經卷一具緣品、卷二普通真言藏品、大品般若經卷十四佛母品、金剛峰樓閣一切瑜伽瑜祇經卷下金剛吉祥大成就品、菩提場所說一字頂輪經卷二畫像儀軌品、大智度論卷六十九、大日經疏卷五、祕藏記卷末〕
; Buddha-locani (S).
; (佛眼佛母) Phạm: Buddhaa-locanì. Cũng gọi Phật nhãn bộ mẫu, Phật nhãn minh phi, Phật nhãn tôn, Hư không nhãn minh phi, Năng tịch mẫu, Kim cương cát tường nhãn, Nhất thiết Như lai Phật nhãn đại kim cương cát tường nhất thiết Phật mẫu, Nhất thiết Như bảo, Phật mẫu tôn, Phật mẫu thân. Một trong những vị tôn của viện Thích ca và viện Biến tri thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này là thần cách hóa của diệu trí Bát nhã trung đạo, là mẹ chung sinh ra chư Phật, Bồ tát của 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Vì là mẹ sinh ra công đức của Phật bộ nên gọi là Phật mẫu, lại có đủ 5 mắt nên cũng gọi là Phật nhãn. Phật nhãn Phật mẫu của viện Biến tri ngồi ở phía bắc Nhất thiết Như lai trí ấn ở trung ương, mật hiệu là Thù thắng kim cương. Hình tượng là mình màu da người, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, đầu đội mũ báu, tai đeo khoen bằng vàng, tay mang vòng xuyến, mặc áo gấm đỏ, tay kết định ấn. Phật nhãn Phật mẫu của viện Thích ca cũng gọi là Biến tri nhãn, Năng tịch mẫu, Nhất thiết Như lai bảo, ngồi ở vị trí thứ nhất hàng dưới, phía bắc Phật Thích ca mâu ni ở trung ương, mật hiệu là Thực tướng kim cương. Hình tượng là mình màu vàng ròng, bàn tay phải dựng đứng, ngón giữa, ngón áp út co lại, ngón út hơi co, ngón cái và ngón trỏ duỗi thẳng, cánh tay trái co lại, cầm hoa sen trên có ngọc như ý, mặt hướng về phía trái, hơi ngước nhìn. Thông thường cho rằng vị tôn này là do đức Đại nhật Như lai biến hóa ra, nhưng kinh Du kì thì cho là do Kim cương tát đỏa biến hóa ra. Pháp tu của vị tôn này là pháp Tức tai hoặc là pháp Hàng phục. Đặc sắc của Phật nhãn Phật mẫu là lấy các vì tinh tú làm quyến thuộc. Còn Mạn đồ la lấy vị tôn này làm vị Trung tôn để kiến lập thì gọi là Phật nhãn mạn đồ la. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Phổ thông chân ngôn tạng kinh Đại nhật Q.2; phẩm Phật mẫu kinh Đại phẩm bát nhã Q.14; phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì Q.hạ; phẩm Họa tượng nghi quĩ trong kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân Q.2; luận Đại trí độ Q.69; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí Q.cuối].
Phật Nhãn Thanh Viễn
(佛眼清遠, Butsugen Seion, 1067-1120): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Huyện Lâm Cung (臨卬), họ là Lý (李). Ông xuất gia rồi năm lên 14 tuổi thì thọ Cụ Túc giới. Ông chuyên học về Luật và Kinh Pháp Hoa, bên cạnh đó cũng có tham Thiền biện đạo. Ông đã từng tham học với Giang Hoài (江淮), rồi đến tham bái Ngũ Tổ Pháp Diễn (法演) ở Thái Bình Tự (太平寺) vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông khai đường ở Thiên Ninh Vạn Thọ Tự (天寧萬壽寺) vùng Thư Châu, sau chuyển đến sống tại Long Môn Tự (龍門寺), rồi Bảo Sơn Tự (褒山寺) ở Hòa Châu (和州, Tỉnh An Huy). Nhờ Đặng Tuân Võ (鄧洵武) tấu trình lên vua, ông được ban cho Tử Y và hiệu là Phật Nhãn Thiền Sư (佛眼禪師). Ông cùng với Phật Giám Huệ Cần (佛鑑慧懃), Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤) được xưng tụng như là Tam Phật, hay Nhị Cần Nhất Viễn của Đông Sơn. Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), hưởng thọ 54 tuổi đời và 40 hạ lạp. Thiện Ngộ (善悟) biên tập nên bộ Phật Nhãn Thiền Sư Ngữ Lục (佛眼禪師語錄) 6 quyển.
phật nhãn thanh viễn
Fo yen cheng yuan (C)Tên một vị sư.
phật nhãn thanh viễn thiền sư ngữ lục
2722凡八卷。又作舒州佛眼和尚語錄。宋代僧清遠(1067~1120)撰,高庵善悟編。收於卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷二十七至卷三十四。收錄住舒州天寧寺之開堂語,以及住龍門山、褒禪寺等地之上堂語要、偈頌、真贊、小參、普說、頌古、室中垂示、垂代、示禪人心要、三自省察、誡問話等,卷末附錄李彌遜所撰之宋故和州褒山佛眼禪師塔銘一篇。
; (佛眼清遠禪師語錄) Cũng gọi Thư châu Phật nhãn hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Thanh viễn (1067-1120) soạn vào đời Tống, ngài Cao am Thiện ngộ biên tập, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 27 đến quyển 34 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung bộ ngữ lục này thu chép Khai đường ngữ của ngài Phật nhãn Thanh liễu khi ngài trụ ở chùa Thiên ninh tại Thư châu và những phần Thướng đường ngữ yếu, kệ tụng, chân tán, tiểu tham, phổ thuyết, tụng cổ, thất trung thùy thị, thùy đại, thị thiền nhân tâm yếu, Tam tự tỉnh sát, giới vấn thoại…... khi ngài trụ ở núi Long môn, chùa Bao thiền…... Cuối quyển có chép thêm bài Tống cố hòa châu bao sơn Phật nhãn thiền sư tháp minh do ông Lí di tốn soạn.
phật nhãn thiền sư
Butsugen zenji (J)Tên một vị sư.
phật nhãn tướng khán
2722佛眼,指諸佛照破諸法實相,而慈心觀眾生之眼。俗諺「佛眼相看」,係套用「佛眼」二字,用以比喻以友善、仁慈之心待人。
; (佛眼相看) Nhìn nhau bằng ánh mắt của Phật. Nghĩa là người ta nên đối đãi với nhau bằng tấm lòng từ bi, hỉ xả và vị tha của đức Phật.
phật nhãn ấn
2721密教手印之一。此印具足五眼,印相為兩手虛心合掌,屈兩食指,兩食指端下垂並立,置於拇指上,中、無名指互立,如獨鈷,二小指指頭開立。
; (佛眼印) Ấn Phật nhãn, 1 trong những thủ ấn của Mật giáo. Ấn này có đủ 5 mắt (mắt thịt, mắt trời, mắt tuệ, mắt pháp, mắt Phật), ấn tướng là chắp tay để rỗng bên trong, 2 ngón trỏ co lại, 2 đầu ngón trỏ để lên ngón cái, ngón giữa và ngón vô danh đều đứng thẳng như chày 1 chĩa, đầu2ngón út xòe ra.
Phật nhãn 佛眼
[ja] ブツゲン butsugen ||| The Buddha-eye. The eye of perfect omniscience, gained upon the attainment of Buddhahood. The highest of the five levels of vision 五眼 (buddha-cakṣus). => (s: buddha-cakṣus) Mắt Phật. Cái nhìn của nhất thiết trí viên mãn, có được sau khi chứng được Phật quả. Cao nhất trong Ngũ nhãn五眼 (buddha-cakṣus).
Phật Như Lai
佛如來; C: fó rúlái; J: butsu nyorai.|Chỉ đức Phật.
Phật Như Lai 佛如來
[ja] ブツニョライ butsu nyorai ||| 'Buddha-tathāgata.' The Buddha. => Đức Phật Như Lai.
phật nhất thiết pháp tràng mãn vương
Buddha of King of Eternal Completion of All Things.
phật nhất thiết thế gian nhạo kiến thượng đại tinh tiến
Buddha of Supreme in the Great Striving, Whom All the World Takes Joy in Seeing Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật nhật
(佛日): từ dùng để ví dụ đức Phật là mặt trời. Giống như mặt trời thường chiếu sáng phá tan đi sự tăm tối, đức Phật là người chiếu phá mê vọng của chúng sanh và làm cho họ được chứng ngộ.
phật nhật
2613梵語 buddha-sūrya。係大乘佛教諸經典中所常用之譬喻。因佛陀之睿智、德行、慈悲,可破眾生之迷妄,如日輪破夜之闇,故喻佛陀如日。使用「佛日」一語最多者為金光明經,如卷三懺悔品(大一六‧三三七下):「佛日大悲,滅一切闇。(中略)無上佛日,大光普照。」同經卷四讚歎品(大一六‧三三九中):「佛光巍巍,明焰熾盛,悉能隱蔽,無量日月。佛日燈炬,照無量界,皆令眾生,尋光見佛。」 亦有將佛陀擬為太陽之光輝者,故於大日經稱為「大日如來」(梵 Mahā-vairocana-tathāgata),而在淨土三部經稱為「阿彌陀如來」(梵 Amitābha-tathāgata,意譯作無量光如來),均取其光輝之意。〔北本大般涅槃經卷八梵行品、金光明經卷六「四天王品」、卷十九囑累品〕
; The Buddha-sun; the day of Buddha.
; (佛日) Phạm: Buddha-sùrya. Mặt trời Phật. Nghĩa là trí tuệ của Phật có năng lực chiếu phá vô minh, mê vọng của chúng sinh, giống như mặt trời có công năng phá tan bóng tối, cho nên ví dụ Phật như mặt trời mà gọi là Phật nhật. Bộ kinh Kim quang minh sử dụng từ ngữ Phật nhật nhiều nhất, như phẩm Sám hối trong quyển 3 (Đại 16, 337 hạ) nói: Phật nhật đại bi, diệt tất cả bóng tối. (...…) Phật nhật vô thượng, ánh sáng chiếu rọi khắp nơi. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.6; phẩm Chúc lụy kinh Kim quang minh Q.19].
Phật Nhật Khế Tung
(佛日契嵩, Butsunichi Kaisū, 1007-1072): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Đàm Tân (鐔津) thuộc Đằng Châu (藤州, Tỉnh Quảng Tây), họ là Lý (李), tự là Trọng Linh (仲靈), tự xưng hiệu là Tiềm Tử (潛子). Vào năm thứ 6 (1013) niên hiệu Đại Trung Tường Phù (大中祥符), ông xuất gia lúc mới 7 tuổi, và đến năm lên 13 tuổi thì xuống tóc thọ giới. Năm 19 tuổi, ông đi hành cước khắp nơi, tham yết Thần Đỉnh Hồng Nhân (神鼎洪諲) ở Nam Nhạc, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Động Sơn Hiểu Thông (洞山曉聰) ở Quân Châu (筠州, Tỉnh Giang Tây). Trong khoảng niên hiệu Khánh Lịch (慶曆, 1041-1048), ông đến Tiền Đường (錢塘) và sống tại Hồ Sơn (湖山), rồi theo tham học với Vĩnh An Lan Nhã (永安蘭若) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺). Ông viết cuốn Nguyên Giáo Hiếu Luận (原敎孝論) để nói về sự nhất quán của Nho và Thích và phản bác luận thuyết bài Phật của Hàn Thối Chi (韓退之). Bên cạnh đó ông còn trước tác Thiền Môn Định Tổ Đồ (禪門定祖圖), Truyền Pháp Chánh Tông Luận (傳法正宗論) và Phụ Giáo Biên (輔敎編) để làm rõ hệ thống truyền thừa của Thiền Tông. Ngoài ra ông còn một số các trước tác khác như Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記), Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集), Trị Bình Tập (治平集), v.v. Vào năm thứ 6 (1061) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐), ông trình những trước tác của mình lên vua Nhân Tông; nhà vua xem xong hạ chiếu chỉ ban thưởng và năm sau ban cho ông hiệu Minh Giáo Đại Sư (明敎大師). Về sau ông đến sống tại Phật Nhật Sơn (佛日山) và thị tịch vào ngày mồng 4 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Hy Ninh (熙寧), hưởng thọ 66 tuổi.
phật nhật nguyệt châu quang
Buddha of the Sun and Moon Gems.
phật nhật nguyệt quang
Buddha of the Sun and Moon Light.
phật nhật trà lam
2614請參閱雪江和尚語錄 請參閱雪江和尚語錄 禪宗公案名。佛日,為唐末曹洞宗雲居道膺禪師之法嗣佛日本空。此公案即佛日本空與夾山善會禪師(805~881)之機緣問答。五燈會元卷十三佛日本空章(卍續一三八‧二五○下):「乃將茶去作務處,搖茶甌作聲,山回顧。師曰:『釅茶三五弐,意在钁頭邊。』山曰:『瓶有傾茶勢,籃中幾個甌?』師曰:『瓶有傾茶勢,籃中無一甌。』便行茶。」整則公案乃藉茶瓶以表示泯絕生佛對待關係之靈活機法。〔禪苑蒙求卷中〕
phật nhật đậu bạo
2613禪宗公案名。佛日,為唐末曹洞宗雲居道膺禪師(?~902)之法嗣佛日本空。此公案即佛日本空參謁夾山善會禪師(805~881),引發之機緣問答。據景德傳燈錄卷二十佛日本空章載,佛日參謁夾山時,佛日將一拄杖擲於夾山面前,夾山問(大五一‧三六一下):「莫從天台得來否?」佛日答:「非五嶽之所生。」夾山再問:「莫從須彌山得來否?」佛日則答:「月宮亦不逢。」夾山即謂:「恁麼即從他人得也。」佛日乃駁道:「自己尚是冤家,從人得,堪作什麼?」夾山歎道:「冷灰裏有一粒豆子爆。」遂喚維那來,令安排住下。 此則公案中,夾山所問「從天台得來」、「從須彌山得來」,概藉詢問佛日投擲拄杖之力量從何處來,而欲勘驗佛日所表現之機法究竟從何處學來,亦即暗諷佛日之所言所行恐非出自其自家之悟境;佛日深解其意,乃答以「從人得,堪作什麼」,針鋒相對而峻機穎脫,是以夾山乃歎之為「豆爆」。〔禪苑蒙求卷中〕
; (佛日豆爆) Tên công án trong Thiền tông. Phật nhật đậu nổ. Phật nhật là ngài Phật nhật Bản không, đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân cư Đạo ưng, thuộc tông Tào động cuối đời Đường. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Phật nhật Bản không và Thiền sư Giáp sơn Thiện hội (805-881). Cứ theo chương Phật nhật Bản không trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 20 thì khi ngài Phật nhật đến tham yết Thiền sư Giáp sơn, ngài Phật nhật ném cây gậy trước mặt ngài Giáp sơn, ngài Giáp sơn hỏi (Đại 51, 361 hạ): -Chẳng phải từ Thiên thai mà được đấy chứ? Ngài Phật nhật đáp: -Chẳng phải từ Ngũ nhạc sinh ra. Ngài Giáp sơn lại hỏi: -Không phải từ núi Tu di mà được đấy chứ? Ngài Phật nhật trả lời: -Cung trăng cũng chẳng gặp. Ngài Giáp sơn liền bảo: -Vậy thì từ người khác mà được! Ngài Phật nhật liền bác, nói: -Chính mình còn là oan gia thì người khác được phỏng có ích gì? Ngài Giáp sơn khen rằng: -Trong tro lạnh có 1 hạt đậu nổ. Nói xong, ngài gọi vị Duy na đến bảo sắp xếp chỗ ở. [X. Thiền uyển mông cầu Q.trung].
phật oan thiền sư ngữ lục
2644凡十二卷。清代佛冤徹綱撰,性純等編。康熙三十六年(1697)刊行。內容包括佛冤住持內江古字山諸古禪院、成都府威鳳山昭覺禪院、雙流洛伽山潮音禪院、內江天池山般若禪院等之語錄,及於昭覺寺首座寮之秉拂、機緣、拈古等法語。此外另有東土歷傳祖師像贊、源流拈頌、頌古、分燈、行繇、雜著、佛事、書信問答、詩偈、歌等。
; (佛冤禪師語錄) Ngữ lục, 12 quyển, do ngài Phật oan Triệt cương soạn vào đời Thanh, ngài Tính thuần biên tập, ấn hành vào năm Khang hi 36 (1697). Nội dung gồm các ngữ lục của ngài Phật oan soạn khi trụ trì các Thiền viện sau đây: -Thiền viện Chư cổ, núi Cổ tự ở Nội giang. -Thiền viện Chiêu giác, núi Phụng sơn ở Phủ uy, Thành đô. -Thiền viện Triều âm, núi Lạc già, Song lưu. -Thiền viện Bát nhã, núi Thiên trì ở Nội giang và cácPháp ngữ: -Bỉnh phất, Cơ duyên, Niêm cổ…...của Thủ tọa liêu ở chùa Chiêu giác. Ngoài ra còn có: Đông độ lịch truyền tổ sư tượng tán, Nguyên lưu niêm tụng, Tụng cổ, Phần đăng, Hành diêu, Tạp trứ, Phật sự, Thư tín vấn đáp, Thi kệ, Ca v.v...…
phật oánh
2748(1908~1970)廣東惠陽人,俗姓梁。家族顯貴,書香門第,獲醫科大學藥物細菌檢驗學士位。初服務醫界數載,常為慈善機構義診。因讀華嚴、大寶積等經而決心披剃,遂禮虛雲和尚受具足戒於廣東韶州南華寺。先後住南華寺、無盡菴、雲門寺等處。大陸淪陷後赴港,棲止幻跡山林佛堂。除自精修外,兼為四眾義診。施僧濟貧,受惠者良多。著有毘尼日用要解、四分比丘尼戒本註解、八識規矩頌注解、素食營養之研究等書。其中四分比丘尼戒本註解一書,註解詳備,至便初學。
phật phàm nhất thể
2609又作生佛不二、生佛一如、生佛平等、凡聖不二。謂佛心與凡心為一。即眾生本具之真如法性與諸佛之法身平等無二。(參閱「生佛一如」2063)
; (佛凡一體) Cũng gọi Sinh Phật bất nhị, Sinh Phật nhất như, Sinh Phật bình đẳng, Phàm thánh bất nhị. Phật và phàm phu cùng một thể, nghĩa là chúng sinh và Phật là một, là bình đẳng, tâm Phật và tâm chúng sinh chẳng phải là hai, chân như pháp tính sẵn có của chúng sinh cùng với pháp thân của Phật vốn bình đẳng. (xt. Sinh Phật Nhất Như).
Phật pháp
佛法; S: buddha-dharma; P: buddha-dhamma; |Chỉ lời dạy, giáo lí của đức Phật, Phật giáo.
phật pháp
2635請參閱 摩訶摩耶經 佛所說之教法,包括各種教義及教義所表達之佛教真理。成實論卷一舉出六種「佛法」之同義語,稱為佛法六名,即:(一)善說,如實而說。(二)現報,使人於現世得果報。(三)無時,不待星宿吉凶而隨時得修道。(四)能將,以正行教化眾生至菩提。(五)來嘗,應當自身證悟。(六)智者自知,智慧者自能信解。又佛法為佛教導眾生之教法,亦即出世間之法;對此,世間國王統治人民所定之國法,則稱為「王法」。印度及中日佛教史中,有關佛法與王法之關係,因時因地而異,有以王法而護持佛法、推動佛法者,如阿育王、迦膩色迦王、梁武帝等;有以王法而抗衡佛法,乃至摧毀佛法者,如我國歷史上著名的三武一宗之禍。此外,佛所得之法,即緣起之道理及法界之真理等;又佛所知之法,即一切法;以及佛所具足之種種功德(十八不共法),均稱佛法。故知,廣義而言,「佛法」一詞,包含極廣,上記之外,舉凡諸法本性、一切世間之微妙善語,乃至於其他真實與正確之事理等,皆屬佛法。然狹義而言,則一般所說之佛法多指佛所說之教法。〔雜阿含經卷二十、法華經序品、金剛般若經、大寶積經卷四〕
; Buddha dharma (S), Buddhism Butsudo (J), Buppō (J), Buppō daimeiroku (J), Giáo pháp của Phật.
; Buddha-Dharma (S). The Law or body of doctrine attributed to the Buddha; the Buddha's teachings; the Buddha's power.
; (佛法) Giáo pháp do đức Phật nói ra, bao gồm các thứ giáo nghĩa và chân lí Phật giáo mà giáo nghĩa ấy biểu đạt. Luận Thành thực quyển 1 nêu ra 6 từ ngữ đồng nghĩa với danh từ Phật pháp gọi là Phật pháp lục danh (6 tên gọi của từ Phật pháp). Đó là: 1. Thiện thuyết: Nói đúng như thực. 2. Hiện báo: Làm cho người ta được quả báo ngayởđời hiện tại. 3. Vô thời: Không chờ đợi sao tốt sao xấu mà tùy thời tu đạo. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính giáo hóa chúng sinh đến giác ngộ. 5. Lai thường: Phải tự mình chứng ngộ. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự tin hiểu. Ngoài ra, Phật pháp là pháp xuất thế gian, đối lại với Vương pháp là pháp tắc do các vua chúa đặt ra để thống trị nhân dân. Sự quan hệ giữa Phật pháp và Vương pháp tùy thời tùy nơi mà có khác: Có lúc có nơi dùng Vương pháp để hộ trì Phật pháp, truyền bá Phật pháp, như các vua A dục, A nị sắc ca…... của Ấn độ, vua Lương vũ của Trung quốc...… Nhưng cũng có nơi có thời dùng Vương pháp để chống phá Phật pháp, thậm chí tiêu diệt Phật pháp, như cái họa Tam Vũ Nhất Tôn (Ba vua Vũ một vua Tôn) trứ danh trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Lại nữa, Pháp mà đức Phật chứng ngộ được chính là đạo lí duyên khởi, chân lí của pháp giới. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả lời nói chân thiện mĩ, cho đến các sự lí chân thực, chính xác…... đều là Phật pháp. Còn nói theo nghĩa hẹp thì Phật pháp thông thường chuyên chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra. [X. kinh Tạp a hàm Q.20; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Kim cương bát nhã; kinh Đại bảo tích Q.4].
phật pháp chân như
2637佛法,指佛所具足之五智、三十七智等智,此智係識大(第六大)之智德;真如,指佛所證之理,此理係地水火風空等前五大之理德。合此理、智二德,即為眾生本來色心實相之體性。
; (佛法真如) Phật pháp chỉ cho 5 trí, 37 trí...… mà đức Phật có đầy đủ, trí này là trí đức của Thức đại (đại thứ 6); còn Chân như là chỉ cho cái lí mà đức Phật chứng được, lí này là lí đức của 5 đại trước (đất, nước, gió, lửa, không). Hợp chung 2 đức lí và trí lại thì đó là thể tính của thực tướng sắc tâm sẵn có trong chúng sinh.
phật pháp kim thang biên
2636凡十六卷。明代僧岱宗心泰(1327~1415)編。收於卍續藏第一四八冊。係編述自西周昭王至元順帝約一七○○年間,與佛教有關之帝王、名家之傳記及語要,凡三九八人,各傳之終皆明載典據。心泰之時,佛教衰退,而儒道之排佛論盛行,故著此佛教外護者史傳,欲促使排佛論者之反省,及佛教界之覺醒。洪武二十六年(1393),本書刊行時有十卷,至明萬曆二十八年(1600)如惺重刊時為十六卷,時亦編入明續藏。
; (佛法金湯編) Tác phẩm, 16 quyển, do ngài Đại tông Tâm thái (1327-1415) soạn vào đời Minh, được đưa vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này biên chép truyện kí và ngữ yếu của các bậc đế vương, danh gia có liên quan đến Phật giáo trong khoảng thời gian 1.700 năm, từ Chiêu vương nhà Chu đến Thuận đế nhà Nguyên, gồm 139 người, cuối mỗi truyện đều có ghi rõ điển tích.Thời đại của ngài Tâm thái, Phật giáo suy đồi và luận điệu bài xích Phật giáo của Nho gia, Đạo gia rất thịnh hành, cho nên ngài Tâm thái soạn bộ sử truyện của những người ngoại hộ Phật giáo qua các triều đại này là muốn khiến cho những người bài xích Phật giáo phản tỉnh, không những thế mà còn muốn giới Phật giáo cũng phải tự bừng tỉnh để vãn cứu tình thế. Năm Hồng vũ 26 (1393), bộ sách được ấn hành có 10 quyển, đến năm Vạn lịch 28 (1600), ngài Như tỉnh in lại là 16 quyển, bấy giờ cũng được biên vào Tục tạng nhà Minh.
phật pháp kim thang lục
2636凡三卷。明代鴻苞居士屠龍著。成書於神宗萬曆三十年(1602)。卷上,引宋代儒者排佛論語句,而予以駁斥。中、下兩卷,以平易之言詞解說難解之禪、淨、律、天台等佛教用語,欲令佛教之流傳通俗化。
; (佛法金湯錄) Tác phẩm, 3 quyển, do cư sĩ Hồng bao hiệu Đồ long soạn vào đời Minh, sách được hoàn thành vào năm Vạn lịch 30 (1602). Quyển thượng, tác giả trưng dẫn luận điệu bài Phật của các Nho gia đời Tống để bác bỏ. Trong 2 quyển trung, hạ tác giả dùng những lời giản dị để giải thích những danh từ Phật giáo khó hiểu trong các tông Thiên thai, Tịnh độ, Luật, Thiền...… nhằm làm cho sự truyền bá Phật giáo được phổ cập trong nhân gian….
Phật Pháp Kim Thang Thiên
(佛法金湯篇, Buppōkintōhen): 16 quyển, do Đại Tông Tâm Thái (岱宗心泰) nhà Minh biên, trùng khắc vào năm thứ 24 (1596) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đây là thư tịch lịch sử hộ trì Phật pháp do Đại Tông Tâm Thái―vị tăng ở Đông Sơn Thiền Tự (東山禪寺) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Sơn Đông)―thâu tập 398 mẫu truyện của những người đã từng quy y và hộ trì Phật pháp như các đấng quân chủ, Tể Quan, danh Nho, v.v., trải qua các đời từ vua Chiêu Vương (昭王) nhà Chu cho đến Thuận Tông (順宗) nhà Nguyên. Đầu sách có lời tựa của Tông Lặc (宗泐), Thanh Tuấn (清濬), Thủ Nhân (守仁), Tô Bá Hành (蘇伯衡), v.v., và lời tựa trùng san của Du Nhữ Vi (俞汝爲).
phật pháp lục danh
2636尊重佛陀所說法門而立之六種別名。(一)善說,以諸法之實相說諸法。如以不善法說不善相,善法說善相。(二)現報,於現世得果報。如朝受教,夕得道;或夕聞法,次晨得益。(三)無時,不待日月星辰之吉凶,隨時即得修道。(四)能將,以正行故,能將眾生引至解脫境界。(五)來嘗,係應自身證悟,非隨他物。(六)智者自知,有智慧之人自能信解。〔成實論卷一〕
; (佛法六名) Sáu tên gọi khác của Phật pháp. Đó là: 1. Thiện thuyết: Dùng thực tướng của các pháp để nói các pháp, như dùng tướng bất thiện để nói pháp bất thiện. 2. Hiện báo: Được quả báo ngay trong đời hiện tại. Như sáng thụ giáo, chiều đắc đạo; hoặc chiều nghe pháp, sáng hôm sau được lợi ích. 3. Vô thời: Tùy thời mà tu tập, chứ không đợi sự lành dữ của các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính nên có công năng dẫn dắt chúng sinh đến cảnh giới giải thoát yên vui. 5. Lai thường: Tự mình phải chứng ngộ chứ không theo ai khác. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự mình tin và hiểu. [X. luận Thành thực Q.1].
phật pháp thân
Buddhadharmakāya (S).
phật pháp thắng vương
Buddha of Dharma-King Victory.
phật pháp thọ mệnh
2637即指戒律。戒律乃佛陀為防患佛弟子違犯身、口、意等三業之過失所設立之禁戒,佛弟子若能依之修行,可獲得清淨,開發智慧,入於各種禪定境界,故知戒律為佛教徒追求正順解脫之根本。戒律若能久行於世,為代代所奉行,則佛法亦流傳久遠而不滅,故佛陀曾稱戒律為佛法壽命。(參閱「戒律」2909)
; (佛法壽命) Sự sống lâu dài của Phật pháp. Chỉ cho giới luật. Giới luật là những điều giới cấm do đức Phật chế định để phòng ngừa đệ tử Phật vi phạm những lầm lỗi của 3 nghiệp (thân, khẩu, ý). Nếu các đệ tử Phật nương theo đó mà tu hành thì được thanh tịnh, khai phát trí tuệ, vào được các cảnh giới thiền định. Vì thế nên biết giới luật là gốc của sự giải thoát. Nếu giới luật được giữ gìn nghiêm túc, đời đời được tuân hành thì Phật pháp cũng được lưu truyền lâu dài, mãi mãi không diệt. Cho nên đức Phật từng gọi giới luật là Phật pháp thọ mệnh. (xt. Giới Luật).
phật pháp tăng
Buddha dharma shanga (S).
phật pháp tạng
Buddha thesaurus, the sùtras of the Buddha's preaching.
phật pháp tử nhân
2636指違犯小乘戒律所嚴加禁制之殺人、淫亂、竊盜、妄語等四種重罪之人。為天台宗智顗大師所說。於小乘戒律中,僧眾若觸犯上述四重罪之一,於佛法中,即猶如死罪,稱為斷頭罪,不得以懺悔法補救去罪。然於大乘戒律中,若犯此重罪,尚得以持咒懺悔,消除罪業,而復生清淨戒體。摩訶止觀卷四上(大四六‧三九下):「若犯重者,佛法死人,小乘無懺法;若依大乘,許其懺悔。」〔止觀輔行傳弘決卷二之二〕
; (佛法死人) Xác chết trong Phật pháp, tức chỉ cho người vi phạm 4 tội nặng: Giết người, dâm loạn, ăn cướp và nói dối mà giới luật Tiểu thừa cấm ngặt. Trong giới luật Tiểu thừa, chúng tăng nếu vi phạm 1 trong 4 tội nêu trên thì giống như kẻ tử tội trong Phật pháp, gọi là tội chặt đầu, không thể sám hối được nữa. Nhưng trong giới luật Đại thừa, nếu phạm tội này thì vẫn có thể nhờ trì chú sám hối, tiêu trừ tội nghiệp để phát sinh giới thể thanh tịnh trở lại. Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng (Đại 46 39 hạ) nói: Nếu người phạm tội nặng thì là người đã chết trong Phật pháp, đối với Tiểu thừa thì không còn cách nào để sám hối, nhưng theo Đại thừa thì cho được sám hối. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].
phật pháp vô biên
2637佛法,指佛所說之教法,包括各種教義,及其所表達之佛教真理。謂佛教之真理廣大無邊,非任何世間之道法、典籍所可比擬、局囿者。大乘起信論因緣分(大三二‧五七五下):「為欲總攝如來廣大,深法無邊義故,應說此論。」今之俗語多套用「佛法無邊」一語,比喻神通廣大,無所不能。
; (佛法無邊) Giáo pháp của đức Phật rộng lớn như biển cả không có bờ bến. Phần Nhân duyên trong luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 575 hạ) nói: Vì muốn thu tóm giáo pháp rộng lớn sâu xa và nghĩa lí vô biên của đức Như lai nên nói ra luận này.Về sau, từ ngữ Phật pháp vô biên thường được dùng theo như 1 tục ngữ để ví dụ thần thông rộng lớn, không việc gì không làm được.
Phật Pháp Đại Minh Lục
(佛法大明錄, Buppōdaimeiroku, năm 1229): 20 quyển, trước tác của Khuê Đường Cư Sĩ (圭堂居士) vào cuối thời nhà Tống, có lời tựa của Không Ẩn Đạo Nhân (空隱道人) ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (紹定), lời tựa của tác giả, lời tựa của cư sĩ họ Lý vào năm thứ 2 (1235) niên hiệu Đoan Bình (端平). Ngoài ra, Khuê Đường còn viết lời hậu tựa, Đạo Lâm (道琳) và Chơn Chiếu (眞照) ở Xuân Trừng Am (春澄庵) ghi lời bạt vào năm thứ 2 (1226) niên hiệu Bảo Khánh (寳慶). Nội dung bộ này ghi rõ những điều cần phải dụng tâm về Thiền pháp tu hành như minh tâm, tịnh hạnh, phá mê, nhập lý, công phu, gặp cơ duyên, đại ngộ, đại dụng, chơn không, độ người, diệt độ, hóa thân, và phần tạp ký, dẫn chứng hơn 80 loại Ngữ Lục Thiền, làm sáng tỏ tư tưởng cũng như lập trường của chính Khuê Đường, và từ lập trường của Thiền khẳng định rõ sự nhất trí của Tam Giáo. Khi Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ (聖一國師圓爾) từ Trung Quốc trở về, ông có mang vào Nhật thư tịch này. Trong Thánh Nhất Quốc Sư Niên Phổ (聖一國師年譜) có thuật lại sự việc thầy ông là Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) đã lấy pháp y của Dương Kì (楊岐) và bộ sách này phó chúc cho Viên Nhĩ rồi dạy rằng: “Việc lớn của tông môn vốn ở trong bộ sách này, khi trở về nước thì hãy lấy đây làm chuẩn”. Tuy nhiên, trong phần Thánh Nhất Quốc Sư Truyện (聖一國師傳) của bộ Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書), Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬)―pháp hệ của Quốc Sư―lại cho tác phẩm này là giả truyền, không có thật. Thế nhưng, sự thật là trong số thư tịch Quốc Sư mang về Nhật có bộ này, việc này ngay cả Hổ Quan cũng công nhận. Hiện tại, bản nhà Tống ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (紹定) được tàng trữ tại Linh Vân Viện (靈雲院) của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), bản nhà Nguyên ghi năm thứ 16 (1356) niên hiệu Chí Chánh (至正) ở Thiên Lý Đại Học (天理大學), bản nhà Minh ghi năm đầu (1399) niên hiệu Kiến Văn (建文) ở Đại Đông Cấp Kỷ Niệm Văn Khố (大東及記念文庫), v.v.
phật pháp đại minh lục
2635凡二十卷。宋末圭堂居士撰。內容包括明心、淨行、破迷、入理、工夫、入機、見師、大悟、的意、大用、真空、度人、入寂、化身、篇外雜記等十餘項,皆為著者修行禪法之心得,書中引用八十餘種禪錄作傍證,以「圭堂曰」來闡明自己之立場、思想,並從禪宗立場來解說「三教合一」之思潮等。
; (佛法大明錄) Tác phẩm, 20 quyển, do cư sĩ Khuê đường, soạn vào cuối đời Tống. Nội dung sách này bao gồm hơn 10 hạng mục như: Minh tâm, Tịnh hành, Phá mê, Nhập lí, Công phu, Nhập cơ, Kiến sư, Đại ngộ, Đích ý, Đại dụng, Chân không, Độ nhân, Nhập tịch, Hóa thân, Thiên ngoại tạp kí...… đều là những mục tu hành Thiền pháp tâm đắc của tác giả. Trong sách, tác giả cũng trích dẫn hơn 80 thứ Thiền lục để chứng minh, đồng thời, làm sáng tỏ tư tưởng của mình đối với tư trào Tam giáo hợp nhất theo lập trường Thiền tông.
phật phát
Buddhakesa (S), Buddha's hair Tóc của Phật.
phật phạt
2745指佛所下之責罰。此語起於何時已不可考。世間之苦惱及疫難,皆係前世、今世之惡業所招感,亦即由自己所造之罪業而招致苦厄報應。然佛乃慈悲之父母,不忍眾生長久受苦,遂藉種種因緣與方便弘布教法,施與樂法,來產生正面接引之效;另又藉責罰之力來作為止惡防過之權宜方法,使眾生早日脫離輪迴之苦。然自古以來,佛並未直接責罰眾生,而由擁護佛法之善神、鬼神代為責罰,故一般又有所謂神罰、冥罰之語。
phật phật
2627諸佛之意。有關之用語極多,例如佛佛祖祖,即指過現未之十方諸佛及歷來諸祖;佛佛大道,指諸佛諸祖之德業行履;佛佛要機,指諸佛諸祖成佛的樞要之機;佛佛授手,指佛親自授手,表示向其他諸佛囑累之意。 宏智禪師廣錄卷八(大四八‧九八上):「佛佛要機,祖祖機要,不觸事而知,不對緣而照。」祖庭事苑卷七(卍續一一三‧九八下):「佛將入滅,命羅漢十萬比丘授手,又將左手伸向阿難、羅云,又將阿難、羅云手授與它方化佛,表囑累故。」
; (佛佛) Hàm ý là chư Phật. Chẳng hạn như từ Phật phật tổ tổ là chỉ cho chư Phật ba đời mười phương và lịch đại chư tổ. Hoành trí thiền sưquảng lục quyển 8 (Đại 48, 98 quyển) nói: Cái then máy chủ chốt của Phật phật tổ tổ chẳng chạm việc mà biết, không đối duyên mà chiếu.
phật phọc pháp phọc
2755與「佛見法見」同義。指為佛見與法見所束縛而無法解脫。即對佛之教誨執著不捨,未能解脫之意。蓋佛、法原為最高最尊之真理,然若心起執著,粘縛滯礙於其中,則亦必妨礙修行,猶如惡魔現前繫縛人,故又稱佛魔法魔。
; (佛縛法縛) Đồng nghĩa: Phật kiến pháp kiến. Phậtbuộc pháp buộc, nghĩa là tâm bị kiến chấp đối với Phật pháp trói buộc không thể giải thoát. Phật pháp tuy là chân lí cao siêu tôn quí, nhưng nếu người ta khởi tâm chấp trước thì cũng sẽ bị mắc kẹt trong đó mà chướng ngại cho việc tu hành, cho nên gọi là Phật phược pháp phược
phật phổ hiện sắc thân quang
Buddha of the Light of Universally Manifested Form Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật phổ kiến như lai
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
phật phổ minh
Buddha of Universal Brilliance Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật phổ quang
Buddha of Universal Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật phổ tịnh
Buddha of Tranquility Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật quan thế đăng
Buddha of Lamp that Observes the World.
phật quang
2620佛之光明。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一上):「佛光照耀最第一,故佛又號光炎王。」
; Bukkho (J), Fokuang (C), Bukkho (J), Buddha ransi (S)Quang minh của Phật, ánh sáng trong người Phật toát raTên một vị sư.
; Buddharansi (S) The light of Buddha, spiritual enlightenment; aura, halo, glory.
; (佛光) Ánh sáng của Phật. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Phật quang chiếu diệu tối đệ nhất Cố Phật hựu hiệu Quang viêm vương. (Ánh sáng Phật chiếu soi bậc nhất Vì thế có hiệu Quang viêm vương).
phật quang phái
Bukkō-ha (J)Tên một tông phái.
phật quang quốc sư
Bukko Kokushi (J)Tên một vị sư.
phật quang quốc sư ngữ lục
2623請參閱 佛光國師語錄 請參閱 佛光國師語錄 凡十卷。全稱敕諡佛光圓滿常照國師三會語錄。又作佛光圓滿常照國師語錄、圓滿常照國師語錄、佛光和尚語錄、佛光禪師語錄。宋代臨濟宗僧無學祖元(1226~1286)撰,一真、一愚等編。日本享保十一年(1726)刊行。收於大正藏第八十冊。祖元於元世祖至元十七年(1280)赴日宏法,故其語錄包括大宋台州真如寺語、日本建長寺及興聖寺語、普說、小佛事、請益問答心要、偈頌、拾遺雜錄、年表雜錄等。
; (佛光國師語錄) Gọi đủ: Sắc thụy Phật quang viên mãn thường chiếu quốc sư tam hội ngữ lục. Cũng gọi Phật quang viên mãn thường chiếu quốc sư ngữ lục, Viên mãn thường chiếu quốc sư ngữ lục, Phật quang hòa thượng ngữ lục, Phật quang thiền sư ngữ lục.Ngữ lục, 10 quyển, do ngài Vô học Tổ nguyên (1226-1286) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, các ngài Nhất chân, Nhất ngu biên tập, ấn hành vào năm 1726, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung bộ sách này bao gồm các ngữ lục nói ở chùa Chân như tại Thai châu, Trung quốc, ngữ lục nói ở chùa Kiến trường, chùa Hưng thánh tại Nhật bản (ngài Tổ nguyên sang Nhật hoằng pháp vào năm 1280) và các phần Phổ thuyết, Tiểu Phật sự, Thỉnh ích vấn đáp tâm yếu, Kệ tụng, Thập di tạp lục, Niên biểu tạp lục v.v…...
phật quang sơn tự
2620臺灣佛教名剎。位於高雄縣大樹鄉境內,佔地五十餘公頃。民國五十六年(1967),由星雲大師開山創建。為綜合教育、慈善、文化、朝聖等並行發展之現代新興道場。以推動人生佛教、建設人間淨土為宗旨。 (一)建築:本寺之殿堂多而莊嚴。 (1)殿堂建築物:1.大雄寶殿,係中國宮殿式建築,包括東禪樓、西淨樓等兩邊廂房,及四周長廊,佔地三千餘坪。殿內供奉釋迦牟尼佛、藥師如來、阿彌陀佛等三寶佛,四周牆壁有一萬四千八百尊大中小型之佛像。2.大悲殿,佔地兩百三十餘坪,殿內中央供奉白衣觀音大士,四周牆壁供奉萬尊觀音聖像。3.大智殿,西式建築,二樓佛堂供奉文殊菩薩,樓下設革命僧人宗仰上人紀念館。4.大願殿,位於東山大佛城下,供奉地藏菩薩。5.大行殿,位於西山之頂,供奉普賢菩薩。6.傳燈樓,男眾職事寮房,係三層樓西式建築。7.東禪樓,位於大雄寶殿東側,樓上簡報室兼講堂,樓下辦公室。8.西淨樓,位於大雄寶殿西側,樓上國際會議廳,樓下法務辦事處。9.朝山會館,乃佛光山對外之客堂,專供信徒回山住宿之用。外觀為中印相糅之形式,內部為現代化設備,一樓為齋堂(餐廳)、會議室、二樓為客房,可供五百人住宿。 (2)教育建築物:1.中國佛教研究院及東方佛教學院,分為女眾學部與男眾學部。女眾學部包括教室、圖書館、齋堂、學生及教職員宿舍。男眾學部位於大智殿兩側,包括教室、齋堂。樓上為學生及教職員寮房。2.普門高級中學,學生及教職員約千人,全部住校。3.信徒講習會,為西式五層樓建築,除設有講堂、齋堂之外,可供一千五百人住宿。 (3)文化建築物:1.佛教文物陳列館,陳列不同年代、質料之佛像、法器、法物、字畫。2.淨土洞窟,將一卷阿彌陀經之內容,以雕塑、美術、燈光、音響等表達,係利用山谷地形建築而成。3.大佛城,與大智殿相毗鄰,塑有金身接引佛像一尊,高二十六點四公尺,係遠東最高之佛像,四周圍有四百八十尊約一點五公尺高之接引佛。大佛蓮座下內外所雕塑之佛像,極為精緻莊嚴,造型及色彩均依敦煌佛像繪畫之格調。 (4)慈善建築物:1.佛光精舍,位於西嶺大行殿之下,現有三幢西式建築物。2.大慈育幼院,位於普門中學校門左側。3.萬壽堂,位於大佛城左側,供奉靈骨牌位。4.佛光診所,位於山門入口處。另有觀音放生池。 綜合以上之建築物,可以看出星雲大師之開山構想:(1)架構:中國四大名山之縮影。(2)用途:發展教育、文化、慈善等事業。(3)功能:解決人之生老病死。 (二)組織:佛光山寺設宗務委員會,為最高機構,其宗長即總本山之住持,下設都監院、中國佛教研究院、佛光山文教基金會、長老院、傳燈會。 (1)都監院:包括有寺務、典制、人事、財務、信眾、弘法、教育、文化、慈善、福利等十監院,普門寺、普賢寺、西來寺等三別院,二十三個分院─雷音寺、福山寺、圓福寺、慧慈寺、海天佛剎、極樂寺、福國寺、無量壽圖書館、佛香精舍、白塔寺、壽山寺、圓明寺、夏威夷佛教文教協會、三藩市佛教文教協會、聖地牙哥佛教會(西方寺)、關島佛教會、舊金山三寶寺(美國文化協會)、北海道場、信願寺、明崇寺、佛寶寺、大覺寺、大慈庵,及會議、書記室。 (2)中國佛教研究院:包括有國際學部─分設梵藏語文、英文佛學、日文佛學等專修班,男眾學部─分設專修科、先修科、沙彌學園,女眾學部─分設本山專修科、臺北女子佛學院、東方佛教學院、福山佛學院、尼眾學園,研究學部─分設僧伽教育、義理儀制、弘法教化、法務行政、佛教藝術等研究班及專業講習會。 (3)佛光山文教基金會:包括有佛教學術會議組、委託資助研究組、僧伽道學研究組、弘法訪問講學組、書刊專著出版組及教育事業獎助組。 (4)長老院。 (5)傳燈會。 (三)人事:佛光山寺係七眾弟子之道場,依其組織章程規定,凡該寺派下徒眾,不論比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷等,得依戒臘年資、學歷等序列等級。其階位等級名稱如下: (1)清淨士,共六級,每級一年。 (2)學士,共三級,每級三年。 (3)修士,共三級,每級四年。 (4)開士,共三級,每級五年。 (5)大師。 此人事制度之制定,係星雲大師依據菩薩道五十一階位,即十信、十住、十行、十回向、十地等,糅和現代人事行政等級而產生者。其階位等級之晉升核定標準,需依學業、事業、道業等,為主要考核根據,如經論研究報告、著作、學歷晉升、演講技巧、弘法度眾、發心寺務、法務、修道精進等。 (四)派下:佛光山之發展極其迅速,信徒遍佈海內外,因此二十年中,基於信徒之需要,又在國內外開創十多所別院與分院,國內計有:(1)臺北普門寺,(2)高雄普賢寺,(3)宜蘭雷音寺,(4)基隆極樂寺,(5)新竹無量壽圖書館,(6)彰化福山寺,(7)嘉義圓福寺,(8)臺南福國寺,(9)善化慧慈寺,(10)高雄壽山寺,(11)澎湖信願寺。目前(1988)正在興建的有石門北海道場。國外計有:美國西來寺、白塔寺,香港佛香精舍,及關島布教所等。
; (佛光山寺) Ngôi chùa ở làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài loan, do Đại sư Tinh vân sáng lập vào năm Dân quốc 56 (1967), trên 1 khoảng đất hơn 50 mẫu Tây. Đây là 1 đạo tràng hiện đại nổi tiếng của Phật giáo ở Đài loan, phát triển tổng hợp về mọi mặt giáo dục, từ thiện, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng tông giáo...… lấy việc xây dựng nền Phật giáo nhân sinh làm tông chỉ.A. Về Kiến Trúc. 1. Kiến trúc điện đường: -Điện Đại hùng: Kiến trúc theo kiểu cung điện của Trung quốc, bao gồm lầu Đông thiền, lầu Tây tịnh, nằm trên thửa đất hơn 3 nghìn mét vuông, thờ Phật Thích ca mâu ni, Phật Dược sư và Phật A di đà. -Điện Đại bi: Nằm trên thửa đất hơn 230 mét vuông, thờ tượng bồ tát Bạch y Quan âm. -Điện Đại trí: Kiến trúc theo kiểu Tây phương 2 tầng lầu, lầu trên thờ tượng bồ tát Văn thù, lầu dưới là nhà kỉ niệm thờ Tông ngưỡng thượng nhân. -Điện Đại nguyện: Thờ bồ tát Địa tạng. -Điện Đại hạnh: Thờ bồ tát Phổ hiền. -Lầu Truyền đăng: Kiến trúc theo kiểu Tây phương 3 tầng lầu, là phòng ở của các chức sự thuộc năm giới. -Lầu Đông thiền: Hai tầng lầu, lầu trên làm nhà giảng, lầu dưới là văn phòng làm việc. -Lầu Tây tịnh: Lầu trên là phòng họp hội nghị quốc tế, lầu dưới là nơi làm việc liên quan đến hoằng pháp. -Hội quán Triều sơn: Nhà khách đối ngoại của Phật quang sơn. Bề ngoài kiến trúc pha kiểu Trung quốc và Ấn độ, bên trong là thiết bị hiện đại hóa, lầu 1 là nhà trai, nhà hội họp; lầu 2 là phòng khách, có thể chứa 500 người. 2. Kiến trúc giáo dục: -Viện nghiên cứu Phật giáo Trung quốc và Học viện Phật giáo Đông phương. -Trường Trung học cao cấp Phổ môn. -Hội giảng tập tín đồ. 3. Kiến trúc văn hóa: -Nhà trưng bày các văn vật Phật giáo. -Hang động Tịnh độ. -Thành Đại Phật. 4. Kiến trúc từ thiện: -Tinhxá Phật quang. -Viện dục anh đại từ. -Nhà vạn thọ. -Sở khám bệnh và phát thuốc Phật quang miễn phí. B. Về Tổ Chức. Chùa Phật quang sơn có thiết lập Ủy hội giáo vụ là cơ cấu cao nhất, vị Trụ trì Tổng bản sơn là Hội trưởng. Sau đó có các viện như: Viện Đô giám, viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, viện Trưởng lão, hội Truyền đăng, hội Học bổng Phật quang sơn…... C. Về Nhân Sự. Chùa Phật quang sơn là đạo tràng của 7 chúng đệ tử: Tỉ khưu, tỉ khưu ni, sa di, sa di ni, thức xoa ma na, ưu bà tắc và ưu bà di…... Phật quang sơn phát triển rất mau chóng, số tín chúng mỗi ngày một tăng, trong vòng 20 năm đã phải mở thêm 11 đạo tràng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng. Đó là: Chùa Phổ môn ở Đài bắc, chùa Phổ hiền ở Cao hùng, chùa Lôi âm ở Nghi lan, chùa Cực lạc ở Cơ long, thư viện Vô lượng thọ ở Tân trúc, chùa Phúc quốc ở Đài nam, chùa Tuệ từ ở Thiện hóa, chùa Thọ sơn ở Cao hùng và chùa Tín nguyện ở Bành hồ. Ngoài ra, ở Hoa kì có chùa Tây lai và chùa Bạch pháp, ở Hương cảng có tinh xá Phật hương và ở Quan đảo thì có sở truyền giáo…...
phật quang thiền sư
Bukkō Zenji (J)Tên một vị sư.
phật quang tinh xá
2624佛光山創辦之社會福利事業之一。設於臺灣高雄縣大樹鄉佛光山西麓,峨眉金頂之下方,普門中學之後方。此精舍乃佛光山響應復興中華文化之號召,為發揚敬老孝道之精神、增進家庭倫理之和諧、安排老人安樂之生活、提供老人自費安單、頤養天年而創建者。民國六十三年(1974)十月興工,六十五年十一月一日落成,並舉行進單儀式。精舍為現代化之套房建築,有六坪、十二坪兩種,公共設施包括齋堂、念佛堂、康樂室、福利社、醫務室、花園等。安單者之資格,限年滿五十五歲以上之正信佛教徒,僧俗男女不拘。精舍佔地三千餘坪,共分三棟建築,可供一二○戶安單。
; (佛光精舍) Một trong những cơ sở phúc lợi xã hội do Phật quang sơn sáng lập.Tinh xá được xây dựng ở chân núi phía tây Phật quang sơn trong làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài loan, phía dưới ngọn Nga mi, phía sau trường Trung học Phổ môn. Sự ra đời của tinh xá này là do Phật quang sơn hưởng ứng lời kêu gọi phục hưng nền văn hóa Trung hoa, phát huy tinh thần kính già hiếu thảo, tăng tiến sự hài hòa của luân lí gia đình, giúp đỡ người già tổ chức sinh hoạt về mọi mặt để họ có được đời sống yên vui thanh thản. Tinh xá được khởi công kiến thiết vào tháng 10 năm Dân quốc 63 (1974), đến ngày mồng 1 tháng 11 năm Dân quốc 65 (1976) thì hoàn thành. Tinh xá nằm trên thửa đất hơn 3 nghìn mét vuông. Ngoài các phòng cá nhân còn có những kiến trúc công cộng như: Nhà ăn, nhà niệm Phật, phòng y tế, vườn hoa…... Điều kiện được nhậnchovào ở trong tinh xá này phải là những tín đồ Phật giáo chính tín, tuổi từ 55 trở lên, không phân biệt tăng tục, năm nữ.
Phật Quang Tổ Nguyên
(佛光祖元, Bukkō Sogen, 1226-1286): vị Thiền tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ khai sơn Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ của Phái Phật Quang (佛光派), tự là Tử Nguyên (子元), hiệu Vô Học (無學), người Phủ Khánh Nguyên (慶元府, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Hứa (滸). Theo lời chỉ thị của anh là Trọng Cử Hoài Đức (仲擧懷德), ông đến tham bái Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang) và xuất gia theo vị nầy. Sau đó, ông đến làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được vị nầy ấn khả cho và kế thừa dòng pháp. Sau khi thầy ông qua đời, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Thạch Khê Tâm Nguyệt (石溪心月) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở Dục Vương Sơn (育王山), Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚), v.v. Sau đó, ông trở về quê cũ, theo làm môn đệ của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) ở Đại Từ Tự (大慈寺) mà tu hành tọa Thiền suốt hai năm ròng. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị ấp chủ La Quý Trang (羅季莊), ông đến trú tại Bạch Vân Am (白雲庵) ở Đông Hồ (東湖). Khi ấy ông 37 tuổi, ông sống nơi đây trong vòng 7 năm, rồi sau khi thân mẫu ông qua đời, ông đến phụ giúp với pháp huynh Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) ở Linh Ẩn Tự. Kế tiếp ông lại được Đại Truyền Cống Thu Hác (大傳賈秋壑) cung thỉnh đến trú tại Chơn Như Tự (眞如寺), vùng Đài Châu (台州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay) trong vòng 7 năm. Đến năm đầu (1275) niên hiệu Đức Hựu (德祐), để lánh nạn đao binh của quân nhà Nguyên, ông đến trú tại Năng Nhân Tự (能仁寺) vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay). Sau đó, ông lại trở về Tứ Vương Sơn (四王山), đến tham viếng pháp huynh ở Thiên Đồng Sơn (天童山) là Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一), dừng chân lưu lại đây và thuyết giáo cho đại chúng. Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安), nhân việc Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) triệu thỉnh những vị Thiền tăng cao đức sang Nhật làm trú trì Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ Nguyên được suy cử, nên vào tháng 5 cùng năm nầy ông rời khỏi Thái Bạch Sơn (太白山), rồi ngày 30 tháng 6 thì đến Thái Tể Phủ (太宰府), và tháng 8 thì đến Liêm Thương. Khi ấy Thời Tông nghênh đón ông rất trọng thể, và cử ông làm trú trì Kiến Trường Tự sau khi Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) qua đời. Vào mùa đông năm 1282, Thời Tông kiến lập nên Viên Giác Tự, rồi thỉnh Tổ Nguyên đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Về sau, ông kiêm quản cả hai chùa Kiến Trường và Viên Giác, bố giáo Thiền phong khắp vùng Liêm Thương, và trong vòng 8 năm lưu trú tại Nhật, ông đã xác lập cơ sở Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào tháng 8 năm thứ 9 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông phát bệnh, và đến ngày mồng 3 tháng 9 thì viên tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 49 pháp lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phật Quang Quốc Sư (佛光國師) và hiệu là Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư (圓滿常照國師). Bộ Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục (佛光國師語錄) của ông gồm 10 quyển hiện còn lưu hành.
Phật Quang Tự
(佛光寺, Bukkō-ji): ngôi bản sơn chính của Phái Phật Quang Tự (佛光寺派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông; sơn hiệu là Sáp Cốc Sơn (澀谷山) hay Trấp Cốc Sơn (汁谷山); gọi cho đủ là Sáp Cốc Sơn A Di Đà Phật Quang Tự (澀谷山阿彌陀佛光寺); hiện tọa lạc tại số 397 Shingai-chō (新開町), Bukkōjishita (佛光寺下), Takakura-dōri (高倉通), Shimogyō-ku (下京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1212 (Kiến Lịch [建曆] 2), sau khi Thân Loan được miễn xá tội lưu đày ở vùng Việt Hậu, ông trở về Kinh Đô, lập nên một thảo am ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) và lấy tên là Hưng Long Chánh Pháp Tự (興隆正法寺, gọi tắt là Hưng Chánh Tự [興正寺, Kōshō-ji]). Đến năm 1327 (Gia Lịch [嘉曆] 2), xảy ra vụ mất cắp pho tượng A Di Đà do hai vị Thánh Nhân Pháp Nhiên và Thân Loan truyền lại, người lấy cắp khi cầm đến pho tượng này thì tay chân trở nên đau nhứt khó chịu không tài nào chịu được, cuối cùng anh ta mới đem vất pho tượng vào trong đám cỏ. Bức tượng tự nhiên phóng ra hào quang sáng rực trong lùm cỏ, nên người ta mới phát hiện ra nó, và cũng do từ câu chuyện này mà chùa lại được đổi tên là thành Phật Quang Tự. Vào năm 1586 (Thiên Chánh [天正] 14), nhân việc tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) muốn xây dựng một ngôi điện Đại Phật ở vùng Sáp Cốc (澀谷, Shibuya), nên mới yêu cầu chùa dời về vị trí hiện tại vậy. Vào thời ấy, phần lớn tín đồ đều quay về với Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), nên chùa này không được hưng thạnh bao nhiêu. Hiện tại những ngôi đường vũ của chùa phần lớn là kiến trúc dưới thời Minh Trị. Pho tượng đứng A Di Đà Như Lai được an trí tại ngôi điện chính, tương truyền là tác phẩm do tự tay Từ Giác Đại Sư (慈覺大師) tạc nên. Nơi Đại Sư Đường có bức tượng ngồi của Thân Loan Thượng Nhân do chính tay ông làm ra. Ngoài ra chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật quý giá khác như tượng Thánh Đức Thái Tử bằng gỗ do Trạm Hạnh (湛幸) tạc năm 1320 (Nguyên Ứng [元應] 2); tượng A Di Đà Như Lai đứng, bằng gỗ, v.v.
phật quang tự
2622<一>位於山西五臺山。建於北魏孝文帝,歷史悠久,世稱「先有佛光,後有五臺。」中唐時,該寺規模宏偉,彩塑精妙,聞名於世。至武宗詔令毀佛,寺內一座三層七間,高三十點四公尺之彌勒大閣被毀。唐大中十一年(857),願城和尚重振佛光寺,弟子寧公遇出資重建正殿,大量採用月樑形式之斗栱結構。殿身寬七間、深四間,單檐廡殿頂,位居最後,稱東大殿,冠於全寺,係現存唐代木構建築中之最古者。殿內有唐代彩塑佛菩薩像三十五尊,及願城、寧公遇真容塑像、墨書題記等。配殿文殊殿建於金朝天會十五年(1137),亦是不可多得之古建築。正殿外有雕刻精美之石幢一座,上刻「唐大中十一年」數字。其他尚有精美石雕、墓塔、石經幢等珍貴文物。殿內佛像為唐代作品,雖經歷代修飾,色澤已非原來面目,然造型仍保存唐代風格,可與敦煌之唐代塑像媲美。此寺長期隱沒無聞,民國二十六年(1937)為建築學家梁思成(1901~1972)所發現。該寺東大殿與唐代鑑真於日本奈良所建之唐招提寺金堂,建築結構與風格頗相類似。 <二>位於安徽潛山縣西北天柱山。又稱馬祖庵。為唐代禪門高僧馬祖道一修行之所。明萬曆年間,神宗賜名「佛光禪寺」。清咸豐時圮毀,同治年間重修。寺由群山環抱,綠竹掩映,石橋流水,雅麗非常。附近有馬祖洞,為馬祖靜修之所。 <三>位於臺灣南投埔里觀音山。樂果法師創建於民國五十八年(1969),首建觀音殿。寺地乃王連科居士所布施。翌年元月自香港請來丈六金身千手千眼觀世音菩薩聖像,安奉於觀音殿中。六十八年二月樂老示寂於香港,信眾發心創建舍利塔,迎奉其舍利。塔共三層,全部為大理石構造,於七十年二月落成。是年冬重建觀音殿。翌年九月舉行落成及佛像開光法會。 <四>日本真宗佛光寺派之本山。位於京都市下京區高倉通新開町。號澀谷山。建曆二年(1212)由親鸞開創,建保六年(1218)順德天皇敕賜「興隆正法寺」之號,數傳至七世了源時,寺基遷徙至洛東竹中庄澀谷。嘉曆二年(1327)供奉之本尊阿彌陀佛放光,奇瑞照鳳闕,醍醐天皇遂敕改今名,宗風大振。寺域凡四千餘坪,有支院明顯寺、照流寺、米蘭院、大善院、長性院、久遠院、昌藏院、教音院、高林庵、西德寺、大行寺、常行寺等。
; (佛光寺) I. Phật Quang Tự. Chùa ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào thời Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy, người đời gọi là Tiền Phật quang, hậu Ngũ đài. Vào thời đại Trung đường, qui mô chùa này rất hoành tráng, đắp vẽ tinh xảo, nhưng tất cả đã bị hủy hoại trong pháp nạn Hội xương. Năm Đại trung 11 (857) đời Đường, chùa này đã được Hòa thượng Nguyện thành xây dựng lại, chính điện rộng 7 gian, sâu 4 gian, hiện là kiến trúc bằng gỗ kiểu đời Đường xưa nhất còn lại. Trong điện có 35 pho tượng Phật và Bồ tát được đắp vào đời Đường, cùng với tượng chân dung của Hòa thượng Nguyện thành và đệ tử Ninh công ngộ(người đã góp côngcủavào việc làm lại tòa chính điện). Song song với chính điện là điện Văn thù, được xây cất vào năm Thiên hội 15 (1137) đời Kim, cũng là 1 kiến trúc rất xưa. Bên ngoài chính điện có 1 cột đá được khắc chạm rất tinh vi, trên khắc mấy chữ Đường Đại trung thập nhất niên (Năm Đại trung 11 đời Đường). Ngoài ra còn có những di vật văn hóa quí giá chạm trỗ trên đá rất đẹp đẽtỉ mỉ như tháp mộ, thạch kinh chàng…... Tượng Phật trong chính điện là tác phẩm đời Đường, tuy đã trải qua nhiều đời được sửa sang lại, màu sắc không còn được như cũ, nhưng tạo hình thì vẫn còn giữ được phong cách đời Đường, có thể sánh ngang với những tượng được đắp vào đời Đường ở Đôn hoàng. II. Phật Quang Tự. Chùa ở thành phố Kinh đô (Kyoto), hiệu là Sáp cốc sơn, thuộc phái Phật quang tự của Chân tông, Nhật bản, do ngài Thân loan sáng lập vào năm 1212. Năm Kiến bảo thứ 6 (1218), Thiên hoàng Thuận đức ban hiệu là Hưng Long Chính Pháp Tự, truyền đến đời thứ 7 là ngài Liễu nguyên thì chùa được dời đến Trang sáp cốc trong Lạc đông trúc. Vào năm Gia lịch thứ 2 (1327), tượng Phật bản tôn A di đà thờ trong chùa bỗng phóng quang, điềm lạ chiếu đến cung vua, Thiên hoàng Đề hồ liền ban sắc đổi tên chùa là Phật Quang Tự. Chùa có các tự viện phụ như chùa Minh hiển, chùa Chiếu lưu, viện Mễ lan, viện Đại thiện, viện Trường tính, viện Cửu viễn, viện Xương tạng, viện Giáo âm, am Cao lâm, chùa Tây đức, chùa Đại hạnh, chùa Thường hành..….
phật quang xuất bản xã
2620為佛光山文化出版事業之一,前身為佛教文化服務處。星雲大師鑑於欲維繫佛教命脈於不墜,有待佛教文化之推展,故於民國四十八年(1959)八月一日,創辦佛教文化服務處。初設址於臺北縣三重市,五十三年遷至高雄市,五十六年遷至佛光山,佛光山之創建,與佛教文化服務處之拓展關係至為密切。其主要業務為出版一般性佛教書籍、經典,流通各種法物,並設有每月印經會、中英佛學叢書編輯委員會,出版之佛教書籍、唱片、錄音帶達數百種。民國六十七年,為擴大業務,特將文化服務處更名為佛光出版社,並於臺北市成立門市分社─佛光書局,加強臺北地區佛教文物法器之流通,同時設立編輯部,有計劃地進行藏經之編纂工作。編輯部初設於臺北市,民國六十九年遷至彰化福山寺,設有佛光大藏經編修委員會以及佛學辭典編輯委員會,成員皆為國內外著名佛教學者。其主要任務有五:(一)編印各種現代人適用之佛學辭典。(二)將經典各種版本重新予以考訂、校正,並加新式標點、註解、題解,編纂一部人人適用之現代佛教大藏經。(三)編印自佛陀入滅至今日,有關佛教活動之佛教史年表。(四)編纂一般性之佛教叢書。(五)設計各種佛教法器,以廣流通。
; (佛光出版社) Nhà xuất bản Phật quang, 1 trong những cơ sở xuất bản văn hóa của Phật quang sơn. Ngày mùng 1 tháng 8 năm Dân quốc 48 (1959), Đại sư Tinh vân sáng lập Phật giáo văn hóa phục vụ xứ. Ban đầu đặt ở thành phố Tam trọng, huyện Đài bắc, năm Dân quốc 53 (1964) dời đến thành phố Cao hùng, đến năm Dân quốc 56 (1967) dời đến Phật quang sơn. Giữa sự sáng lập Phật quang sơn và sự phát triền của Phật giáo văn hóa phục vụ xứ có mối quan hệ mật thiết. Nghiệp vụ chủ yếu của Phật giáo văn hóa phục vụ xứ là xuất bản những kinh sách phổ thông của Phật giáo. Năm Dân quốc 67 (1978), để mở rộng nghiệp vụ, Phật giáo văn hóa phục vụ xứ được đổi tên là Phật Quang Xuất Bản Xã và đặt chi nhánh ở Đài bắc Phật quang thư cục. Đồng thời, thành lập bộ Biên tập, hoạch định tiến hành công việc biên soạn Đại tạng kinh.Ban đầu, ban biên tập đặt ở Đài bắc, năm Dân quốc 69 (1980) được dời đến chùa Phúc sơn Chương hóa và thiết lập Phật quang Đại tạng kinh biên tu ủy viên hội và Phật học từ điển biên tậpủy viên hội. Thành viên của 2 ủy viên hội này đều là các học giả của Phật giáo nổi tiếng của Trung quốc và các nước khác. Họ có 5 nhiệm vụ chủ yếu: 1. Biên soạn và ấn hành các bộ từ điển học thích hợp cho người hiện đại sử dụng. 2. Khảo đính, chú giải các loại bản kinh điển cũ để biên soạn thành 1 bộ Đại tạng kinh hiện đại thích hợp với sự sử dụng của mọi người. 3. Biên soạn và ấn hành bộ niên biểu Phật giáo sử về các hoạt động của Phật giáo kể từ sau khi đức Phật nhập diệt cho đến nay. 4. Biên soạn bộ Phật giáo tùng thư phổ thông. 5. Thiết kế các loại pháp khí của Phật giáo để lưu thông rộng rãi.
phật quán ngũ sự hàng sinh
2758據過去現在因果經卷一載,佛陀於兜率天宮,將欲降生,乃先觀五事而後託胎,五事即:(一)觀諸眾生熟與未熟,謂觀眾生根機成熟可度,故現降生。(二)觀時至未至,謂觀眾生可度之時已至,故現降生。(三)觀諸國土何國處中,謂先觀世界以迦毘羅國居大千世界之中,故於此國示現降生。(四)觀諸種族何族最盛,謂觀諸種族,以剎帝利種族極貴最盛,故於此族示現降生。(五)觀過去因緣誰最真正應為父母,謂觀過去因緣,以淨飯王、摩耶夫人真正無邪,宿有因緣,可為父母,故於此王宮示現降生。
; (佛觀五事降生) Đức Phật quán xét năm việc giáng sinh. Ở trên cung trời Đâu suất, sắp sinh xuống cõi Sa bà, đức Phật bèn quán xét 5 việc trước khi đầu thai. Năm việc ấy là: 1. Quán xét chúng sinh đã thành thục hay chưa: Đức Phật quán xét căn cơ chúng sinh đã thành thục và hóa độ được, nên Ngài thị hiện giáng sinh. 2. Quán xét thời cơ đã đến hay chưa: Đức Phật quán xét thời cơ hóa độ chúng sinh đã đến, nên Ngài thị hiện giáng sinh. 3. Quán xét cõi nước nào giáng sinh được: Đức Phật quán xét khắp ba nghìn đại thiên thế giới, thấy nước Ca tì la vệ là được, nên Ngài chọn nước ấy để thị hiện giáng sinh. 4. Quán xét chủng tộc: Đức Phật quán xét các chủng tộc, thấy dòng Sát đế lợi là chủng tộc tôn quí và hưng thịnh nhất nên Ngài chọn để thị hiện giáng sinh. 5. Quán xét nhân duyên xem ai đáng làm cha mẹ: Đức Phật quán xét nhân duyên quá khứ, thấy vua Tịnh phạn và Hoàng hậu Ma da là những người chân thật thẳng thắn, có nhân duyên kiếp trước, cho đến làm cha mẹ, nên Ngài chọn để thị hiện giáng sinh. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1].
Phật quả
佛果; C: fóguǒ; J: bukka; S: buddhaphala.|1. Quả vị Phật. Kết quả của việc tu tập Phật đạo. Giác ngộ, tỉnh giác. Đối lại là Phật nhân (佛因); 2. Hiệu của Thiền sư Viên Ngộ, Viên Ngộ Khắc Cần.|Phật quả chỉ trạng thái Giác ngộ hoàn toàn của một đức Phật. Ðạt Phật quả là mục đích cao nhất của mọi chúng sinh. Theo các kinh điển thượng thừa Phật giáo thì mỗi một chúng sinh đều có Phật tính, đã là một đức Phật nên Phật quả không cần phải »đạt« và tu hành chính là chứng ngộ Phật tính đó, biến thành đời sống hàng ngày.
phật quả
2637<一>指成佛。又作佛位、佛果位、佛果菩提。佛為萬行之所成,故稱佛果,即能成之萬行為因,而所成之萬德為果。亦即從修行之因到達佛果之位,又指從聲聞、菩薩之位至無上正等正覺之位。證得佛果之因,稱為佛因,即指一切萬行之善根、功德。〔佛母出生三法藏般若經卷十五、正法眼藏諸惡莫作〕 <二>(1063~1135)宋代僧。四川崇寧人,俗姓駱。參謁五祖山法演禪師而受其印證。宋徽宗敕賜「佛果禪師」之號。(參閱「克勤」2785)
; Buddhaphala (S).
; Buddha-phala (S). The Buddha-fruit, the state of Buddhahood.
; (佛果) I. Phật Quả. Cũng gọi Phật vị, Phật quả vị, Phật quả bồ đề. Phật là do tu hành muôn hạnh mà thành nên gọi là Phật quả, tức muôn hạnh năng thành là nhân, muôn đức sở thành là quả. Cũng tức là từ nhân tu hành mà đạt đến quả Phật vậy. [X. kinh Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng bát nhã Q.15; Chính pháp nhãn tạng chư ác mạc tác]. II. Phật Quả (1063-1135). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Sùng ninh, tỉnh Tứ xuyên, họ Lạc, hiệu Phật quả thiền sư. Sư tham yết ngài Pháp diễn ở núi Ngũ tổ và được ngài ấn chứng. Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu là Phật Quả Thiền Sư.(xt. Khắc Cần).
Phật quả 佛果
[ja] ブッカ bukka ||| The 'Buddha-fruit.' As opposed to foyin (佛因)--the Buddha-cause. The result of following the practices of the Buddha-path; the stage of buddhahood. Awakening, enlightenment. => Quả vị Phật. Kết quả của việc tu tập Phật đạo. Giác ngộ, tỉnh giác. Đối lại là Phật nhân 佛因.
phật quảng trang nghiêm vương
Buddha of King Adorned by Vast Glory Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật Quật Duy Tắc
(佛窟惟則, Bukkutsu Isoku, 751-830): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, còn gọi là Di Tắc (遺則), xuất thân vùng Kinh Triệu (京兆, Trường An), họ Trường Tôn (長孫). Ông xuất gia khoảng năm 22 tuổi, theo làm môn hạ của Huệ Trung (慧忠) thuộc Ngưu Đầu Tông. Sau khi đại ngộ, ông vào trong hang núi Phật Quật (佛窟) trên Thiên Thai Sơn (天台山) kiến lập tinh xá và trở thành vị tổ của Học Phái Phật Quật. Vào ngày 15 mùa hè năm thứ 4 niên hiệu Thái Hòa (太和), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông để lại cho hậu thế có Dung Tổ Sư Văn (融祖師文) 3 quyển, Bảo Chí Thích Đề (寳誌釋題), Nam Du Phó Đại Sĩ Tự (南遊傅大士序), Vô Sanh Đẳng Nghĩa (無生等義) và thi ca hơn 10 thiên. Đến năm thứ 6 (865) niên hiệu Hàm Thông (咸通), bia tháp của ông được dựng lên, Duẫn Hàn Nghệ (尹韓乂) ở Hà Nam (河南) soạn văn bia tháp.
phật quật tự
2735位於江蘇江寧縣南。山號牛頭山,有兩峰對立,因名天闕,劉宋大明年間,設郊壇於此。又有巖穴,世稱辟支佛窟。永初、景平年間,劉司空依窟立寺,號佛窟寺(一說梁天監年間司空徐度所建)。復傾巨資訪寫七藏經書,收之於寺,修禪之士,四遠來棲,隋末唐初,法融大師亦嘗駐此,並為其閱藏、開教之地。貞觀十九年(645)夏,燬於林火。後得再興,其後累易其名,唐時有長樂寺、資善院、福昌院之名,宋初改稱崇敬寺,明洪武時敕復舊稱佛窟寺,正統年間又易名宏覺寺,至清代復改稱普覺寺。咸豐年間,燬於太平軍火。今僅存大小二磚塔,大者八角七層,小者四角五層。皇祐二年(1050)長干圓照大師普莊撰文誌寺之由來。
; (佛窟寺) Chùa ở núi Ngưu đầu, phía nam huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Trong núi này có hang động, đời gọi là động Bích chi phật. Khoảng những năm Vĩnh sơ, Cảnh bình, quan Tư không họ Lưu dựa theo hang núi mà lập chùa, gọi là Phật quật tự(chùa Hang Phật). (Hoặc có thuyết cho rằng chùa này do quan Tư không Từ độ sáng lập vào khoảng năm Thiên giám đời Lương). Quan Tư không họ Lưu cũng chép 7 tạng kinh sách cất giữ trong chùa, người tu thiền từ khắp nơi đến chùa này. Vào cuối đời Tùy đầu đời Đường, Đại sư Pháp dung cũng từng chú tích tại đây, chùa trở thành nơi đọc Đại tạng và mở đạo của ngài.Năm Trinh quán 19 (645) chùa bị cháy, sau được xây dựng lại và luôn đổi tên. Đời Đường chùa có tên là Trường lạc, viện Tư thiện, viện Phúc xương. Đầu đời Tống, đổi tên là chùa Sùng kính, đến năm Hồng vũ đời Minh vua ban sắc lấy lại tên cũ là chùa Phật Quật;khoảng năm Chính thống lại đổi là chùa Hoành giác. Khoảng năm Hàm phong đời Thanh, chùa bị quân Thái bình thiêu hủy. Hiện nay chỉ còn hai ngôi tháp gạch, ngôi lớn 7 tầng hình bát giác và ngôi nhỏ 5 tầng hình tứ giác. Năm Hoàng hựu thứ 2 (1050), Đại sư Trường can Viên chiếu hiệu Phổ trang soạn Văn chí nói rõ nguồn gốc chùa này.
phật quốc
Buddha-bhŪmi (S)Xem Phật độ.
; Buddhaksetra (S). The country of the Buddha's birth, India. A country being transformed by a Buddha.
Phật Quốc Duy Bạch
(佛國惟白, Bukkoku Ihaku, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống vào cuối thời Bắc Tống, pháp từ của Pháp Vân Pháp Tú (法雲法秀). Ông đã từng trú trì ở Pháp Vân Tự (法雲寺) thuộc Biện Kinh (汴京). Ông được vua Triết Tông và Huy Tông quy y theo, được ban cho thụy hiệu là Phật Quốc Thiền Sư (佛國禪師). Vào tháng 8 năm đầu (1101) niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國), ông soạn bộ Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄) 30 quyển, được nhà vua ban ngự chế lời tựa và cho nhập vào Đại Tạng. Đến cuối đời ông chuyển đến Thiên Đồng Sơn (天童山). Ngoài ra ông còn viết bộ Đại Tạng Cương Mục Chỉ Yếu Lục (大藏綱目指要錄) 8 quyển.
phật quốc kí địa lí khảo chứng
2656請參閱法顯傳 全一卷。清代丁謙撰。東晉高僧法顯曾撰佛國記一卷,詳述其西遊求法之見聞;即自長安出發,歷經鄯善、于闐、葱嶺等地,到達天竺。丁謙則將佛國記一書中之地理狀況,細分為揆地望、度情形、審方向、察遠近、核時日、考道途、辨同異、闕疑似等八項,一一加以考證,由是,歷來諸史中有關西域方面地理狀況之記載,因而得以銜接。
; (佛國記地理考證) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Đinh khiêm đời Thanh soạn. Ngài Pháp hiển, vị Cao tăng đời Đông Tấn, có soạn 1 quyển Phật quốc kí, trong đó, ngài thuật lại những điều ngài thấy nghe trong chuyến Tây du cầu pháp của ngài. Cuộc hành trình phát xuất từ thành Trường an, trải qua các xứ Thiện thiện, Vu điền, Thông lãnh... đến Thiên trúc. Đinh khiêm đem tình hình địa lí trong quyển Phật quốc kí chia làm 8 hạng mục: Nhìn thế đất, dò tình hình xem phương hướng,xét gần xa, tính ngày giờ, tra xét đường lối, phân biệt sự giống nhau và khác nhau và khảo chứng những chỗ còn nghi ngờ..., do đó mà tình hình địa lí vùng Tây vực ghi chép trong sử sách xưa nay được rõ ràng.
phật quốc lịch tượng biên
2657凡五卷。日本天台宗無外子圓通(1754~1834)撰。彼研鑽佛典中之天文曆象三十年之久,於文化七年(1810)始公諸於世。係基於佛教之立場,針對當時荷蘭天文學而表示佛教天文曆象之優越。全編分五科,初論曆原,二辯天體,三判地形,四評曆法,五示眼智。論述極為詳盡,佛教天文學中無出其右者。
; (佛國曆象編) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Vô ngoại tử, Viên thông (1745-1834) thuộc tông Thiên thai Nhật bản biên soạn. Soạn giả đã nghiên cứu về ngày tháng và đồ dùng để nghiên cứu thiên văn ghi trong các kinh điển Phật giáo suốt 30 năm, cho mãi đến năm Văn minh thứ 7 (1810) mới công bố. Trong sách này, soạn giả đứng trên lập trường Phật giáo cho rằng so với Thiên văn học của Hà lan thời bấy giờ thì lịch tượng Thiên văn Phật giáo có điểm ưu việt hơn. Nội dung sách này chia làm 5 khoa: 1. Bàn về nguồn gốc củalịch. 2. Luận về thiên thể. 3. Phán định địa hình. 4. Bàn về lịch pháp. 5. Chỉ bày rõ về nhãn trí (trí của con mắt). Đây là tác phẩm trình bày vấn đề hữu quan một cách cực kỳ tỉ mỉ, rõ ràng, không một tác phẩm nào thuộc loại Thiên văn học Phật giáo có thể sánh được.
phật quốc thiền sư ngữ lục
2657凡二卷。日僧高峰顯日(1241~1316)撰,侍者妙環等編。收於大正藏第八十冊。收錄東山雲巖禪寺語錄、稻荷山淨妙禪寺語錄、巨福山建長禪寺語錄、普說、法語、佛祖讚、頌古偈頌、佛國應供廣濟國師行錄,並有元泰定三年(1326)間之靈石如芝、古林清茂諸人之序等。
; (佛國禪師語錄) Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Cao phong Hiển nhật (12411316) người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này ghi chép các ngữ lục như: -Đông sơn Vân nham thiền tự ngữ lục. -Đạo hà sơn Tịnh diệu thiền tự ngữ lục. -Cự phúc sơn Kiến trường thiền tự ngữ lục-Phật quốc ứng cúng quảng tế quốc sư hành lục và các phần: -Phổ thuyết, Pháp ngữ, Phật tổ tán, Tụng cổ, Kệ tụng. Ngoài ra còn có các lời tựa của các vị Linh thạch Như chi và Cổ lâm Thanh mậu được viết vào khoảng năm 1326.
phật quốc tự
2656又稱華嚴佛國寺、華嚴法流寺。位於韓國慶尚北道慶州市吐含山麓。新羅十九代訥祇王在位時(417~457),沙門我道自高句麗來弘傳佛法,遭受迫害,結菴於該地。法興王十五年(528)頃,王之夫人為法流尼師而敕建本寺。景德王十年(751),宰相金大城為追悼雙親而重建,另又造立石窟菴,延請神琳表訓住持。該寺為慶州極著名之伽藍,惜其後毀於兵火。李朝孝宗十年(1659)至英祖四十七年(1771)間再建,遂成為首屈一指之寺院。再建當時尚存有部分石造建築,多為唐代式樣,其中尤以釋迦塔(無影塔)最足以代表新羅特有之三層式石塔。此外,大雄殿前之多寶塔(有影塔)、白雲橋、青雲橋、堂前之石壇、七寶橋、蓮華橋等亦以奇拔變幻馳名,石燈、石床、石塔等均極殊勝。〔東國輿地勝覽卷二十一、三國遺事卷五、佛國寺事蹟〕
phật sinh hội
2619又作灌佛會、降誕會、浴化齋。於佛陀誕生日(四月八日)舉行之法會,灌水洗浴右手指天、左手指地之誕生佛。一般多舉行灌佛之儀式,然於印度、中亞地方則盛行以車載誕生佛巡行。(參閱「灌佛會」6852)
; (佛生會) Cũng gọi Quán Pháp hội, Giáng đản hội, Dục hóa trai. Pháp hội tắm Phật (quán Phật) được cử hành vào ngày Phật đản sinh (mồng 8 tháng 4–nay là ngày 15 tháng 4 âm lịch). Vào ngày này, ở Ấn độ và các nước vùng Trung á, tượng đức Phật Đản sinh được đặt trên xe hoa để diễu hành. (xt. Quán Phật Hội).
phật sát
2641其義有二,即:(一)指佛所住之國土。又作佛國土、淨土。(二)泛指一般寺院之堂宇。即佛塔、佛閣、佛龕、僧剎、伽藍等,專供修行辦道之處所。〔無量壽經卷上〕(參閱「淨土」4679)
; Xem Phật độ.
; Buddha-ksetra (S). Buddha realm, land, country.
; (佛刹) I. Phật Sát. Cũng gọi Phật quốc độ, Tịnh độ. Chỉ cho cõi nước của chư Phật an trụ. II. Phật Sát. Từ ngữ chỉ chung cho các chùa viện, già lam là những nơi tôn nghiêm để thờ Phật và tu đạo. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng] (xt. Tịnh Độ).
phật sơn
2611位於廣東南海縣,距廣州市約十六公里,為廣州之衛星都市。於清代,稱為佛山鎮,與湖北漢口、河南朱仙、江西景德並稱我國歷史上之四大重鎮,全區充滿藝術氣氛。東晉時,印度高僧達毘耶舍尊者渡海而來,登陸廣州,於佛山講經。後人紀念其事,遂於經堂遺址建寺,命名為佛山。此區向以絲織品著名。
; (佛山) Núi ở huyện Hải nam, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, cách thành phố Quảng châu khoảng 16 cây số. Vào đời nhà Thanh, núi này được gọi là Phật sơn trấn, cùng với Hán khẩu ở Hà bắc, Chu tiên ở tỉnh Hà nam và Cảnh đức ở tỉnh Giang tây được gọi chung là Tứ đại trọng trấn, toàn thể khu vực này tràn đầy không khí nghệ thuật và nổi tiếng về những sản phẩm dệt bằng tơ lụa. Vào đời Đông Tấn, vị cao tăng người Ấn độ là tôn giả Đạt tì da xá vượt biển đến Quảng châu, trụ ở Phật sơn giảng kinh. Để ghi nhớ việc này, người đời sau bèn xây chùa trên nền cũ của nhà giảng kinh đặt tên là Phật sơn.
phật sơn hải huệ tự tại thông vương
Buddha of Sovereign and Universal King of Mountains and Seas Wisdom.
phật sư
2644又作造佛師、造佛工、佛工。指造佛像之工匠。有木佛師、繪佛師之別,造木像之工匠,稱為木佛師;描像者,稱為繪佛師。一般稱前者為佛師,後者為繪師。 印度及西域等地,自古即有佛像、佛畫之造立,經論中記載頗多,大乘造像功德經卷上即記毘首羯磨天應優填王所請,造立佛像之事。我國新疆龜茲(Kizil)千佛洞之壁畫繪有畫師像,其形相皆右手執毛筆,左手持丹具壺,腰佩短劍,容貌及服裝酷似睹貨邏人。我國以東晉時代之戴逵父子最為著名,歷代巧匠亦多。〔集神州三寶感通錄卷中、法苑珠林卷十三、卷十四、卷二十九、長安志卷十、卷十五〕
; (佛師) Cũng gọi Tạo Phật sư, Tạo Phật công, Phật công. Chỉ cho người thợ chuyên tạo tượng Phật. Có Mộc Phật sư và Hội Phật sư khác nhau. Người khắc tượng Phật bằng gỗ, gọi là Mộc Phật sư; người vẽ tranh tượng Phật, gọi là Hội Phật sư. Thông thường, gọi Mộc Phật sư là Phật sư; Hội Phật sư là Hội sư. Ở Ấn độ và các nước vùng Tây vực từ xưa đã có rất nhiều ghi chép trong các kinh luận nói về việc chạm trổ hoặc đắp vẽ hình tượng đức Phật, như kinh Đại thừa tạo tượng công đức quyển thượng có ghi việc Tì thủ yết ma thiên nhận lời thỉnh của vua Ưu điền đã tạo lập hình tượng đức Phật. Ở Trung quốc, thời đại nào cũng có những Phật sư rất giỏi, như đời Đông Tấn có cha con Đới quì là những Phật sư nổi tiếng nhất. [X. Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung; Pháp uyển châu lâm Q.13,14,29; Trường an chí Q.10,15].
phật sư tử hống tự tại thắng vương
Buddha of King of the Sovereign Force of Lion Roar.
phật sở hành
Buddha-carita (S)Một trong những tác phẩm lừng danh của Bồ tát Mã Minh soạn theo lối thi ca chép rõ lịch sử đức Phật cho đến khi toàn giác.
phật sở hành tán kinh
Buddha-carita sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; Buddhacarita (S) Poem which recounted the life and work of the Buddha.
Phật sở hành tán truyện 佛所行讚傳
Phật sở hành tán kinh 佛所行讚經 Phật sở hành tán kinh truyện 佛所行讚經傳[ja]ブツショギョウサンデン butsu shogyō san den ||| the buddhacarita. see 佛所行讚. => Xem Phật sở hành tán佛所行讚.
Phật sở hành tán 佛所行讚
[ja]ブツショギョウサン Butsu shogyō san ||| The Buddhacarita (Acts of the Buddha); Tib. Saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po. Twenty-eight chapters in five fascicles, T 192.4.1-54. by Aśvaghoṣa 馬鳴, trans. by Dharmakṣema 曇無讖. Also known by the titles 佛本行讚, 佛所行讚經, 佛所行讚傳, 佛所行讚經傳, 馬鳴菩薩讚, 馬鳴讚. Translated into English in Cowell (1969), and Johnston (1936). => (j:Butsu shogyō san; e: The Buddhacarita (Acts of the Buddha); t: Saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po). Ngài Mã Minh (s: Aśvaghoṣa) soạn, gồm 28 chương trong năm quyển. Ngài Đàm Vô Sấm dịch (s: Dharmakṣema). Còn được gọi các tên: Phật Bổn Hành Tán, Phật sở Hành Tán Kinh, Phật sở Hành Tán Truyện, Phật sở Hành Tán Kinh Truyện, Mã Minh Bồ-tát Tán, Mã Minh Tán. Cowell dịch sang tiếng Anh năm 1969, Johnston dịch năm 1936.
Phật sở hạnh tán
佛所行囋; C: fó suǒxíng zàn; J: butsu shogyō san; T: saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po; S: buddha-carita;|Là tác phẩm văn vần của Mã Minh (馬鳴; s: aśvaghoṣa), tác phẩm bằng thơ đầu tiên nói về toàn bộ cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni từ ngày sinh ra tới lúc nhập Niết-bàn. Tác phẩm này gồm có 28 bài thơ, ngày nay chỉ còn 13 bài viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit). Tác phẩm này cũng được dịch ra tiếng Tây Tạng.|Theo các du kí của người Trung Quốc qua Ấn Ðộ khoảng thế kỉ thứ 7, người ta biết là Phật sở hạnh tán rất được ưa chuộng trong dân gian thời đó. Sách này nghe qua như các bài truyền tụng về các vị anh hùng, đầy tính chất thơ nhạc. Kinh này giúp truyền bá đạo Phật rất rộng rãi. Luận này được Đàm-vô-sấm dịch (曇無讖; s: dharmakṣema). Còn được gọi các tên: Phật bản hạnh tán (佛本行讚), Phật sở hạnh tán kinh (佛所行讚經), Phật sở hạnh tán truyện (佛所行讚傳), Phật sở hạnh tán kinh truyện (佛所行讚經傳), Mã Minh Bồ Tát tán (馬鳴菩薩讚), Mã Minh tán (馬鳴讚). Cowell dịch sang tiếng Anh năm 1969, Johnston dịch năm 1936.
phật sở hạnh tán
2634梵名 Buddhacarita,西藏名 Saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po。凡五卷,二十八品。印度馬鳴菩薩造,北涼曇無讖譯。又稱佛本行讚、佛所行讚經、佛所行讚傳、佛所行讚經傳、馬鳴菩薩讚、馬鳴讚。收於大正藏第四冊。係以五言偈頌讚述佛陀一生由誕生至八分舍利之事蹟。劉宋寶雲所譯之佛本行經,共七卷,三十一品,其第四至第三十一品,順序略同本書,二者或係同本異譯。 本書為馬鳴之代表作,其內容取材自吠陀、奧義書及敘事詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)、羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)者頗多,乃古典梵文學美文體之先驅,佛傳文學無出其右者,曾廣泛流傳於古印度。在思想上,本書並無大乘佛教思想之成分,而頗受說一切有部之影響。 現存梵本共十七章,僅述釋尊誕生至歸國等事,其中第十四章後半至第十七章,為後世尼波羅國(今尼泊爾)阿姆利達難陀(梵 Amṛtānanda)所附加者。西元一八九三年,英人喀畏爾(E.B. Cowell)校訂梵本,題為 The Buddha-Carita of Aśvaghosha,次年出版其英譯本 The Buddhacarita of Aśvaghosha(S.B.E. XLⅡ)。 西藏譯本與漢譯本相同,亦分二十八品,偈數則稍異,為八世紀前期薩溫贊孛(藏 Sa-dbaṅ bzaṅ-po)、洛得卡兒孛(藏 Bol-gros rgyal-po)二人共同譯出,有日人寺本婉雅於大正十三年(1924)之日譯本,其後亦有韋勒(F. Weller)前十七品之德譯本刊行。此外,一八八三年英人比爾(S. Beal)將漢譯本英譯出版,題為 The Fo-sho-hing-tsan-king(S.B.E. XIX)。〔出三藏記集卷二、法經錄卷六、歷代三寶紀卷九、卷十、開元釋教錄卷四、大唐內典錄卷七、大周刊定眾經目錄卷十、馬鳴菩薩論、梵文佛傳文學の研究、M. Winternitz: Geschichte der indische Literatur, Bd. Ⅱ〕
; (佛所行贊) Phạm: Buddhacarita. Tạng: Saís-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-ba#i sĩan-íag chen-po. Cũng gọi Phật bản hành tán, Phật sở hành tán kinh, Phật sở hành tán truyện, Phật sở hành tán kinh truyện, Mã minh bồ tát tán, Mã minh tán. Tác phẩm, 5 quyển, 28 phẩm, do bồ tát Mã minh soạn, ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung sách này dùng văn vần theo thể 5 chữ kể lại sự tích cuộc đời đức Phật từ giáng sinh đến nhập Niết bàn và phân Chia xá lợi. Kinh Phật bản hành do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống gồm 7 quyển, 31 phẩm, trong đó, từ phẩm 4 đến phẩm 31, thứ tự đại khái giống với sách này. Có thể Phật sở hành tán và Phật bản hành kinh là cùng 1 tác phẩm mà dịch khác. Phật sở hành tán là tác phẩm tiêu biểu của bồ tát Mã minh, nội dung phần nhiều dùng tài liệu trong Phệ đà, Áo nghĩa thư và 2 thi phẩm anh hùng ca Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa). Đây là tác phẩm văn học đầu tiên về Phật truyện bằng tiếng Phạm cổ điển mà không 1 tác phẩm Phật truyện nào sánh kịp về mặt văn chương mĩ lệ. Tác phẩm này đã được lưu truyền rất rộng ở Ấn độ đời xưa. Về mặt tư tưởng thì sách này hoàn toàn không có thành phần tư tưởng Phật giáo Đại thừa, mà trái lại, chịu rất nhiều ảnh hưởng của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Nguyên bảntiếng Phạmcủa sách này hiện còn gồm 17 chương, chỉ thuật lại những việc đức Thế tôn đản sinh đến khi trở lại cố quốc..., trong đó, từ nửa sau của chương 14 đến chương 17 là do ngài A mỗ lợi đạtnan đà (Phạm: Amftànanda), người Nepal, thêm vào sau này). Năm 1893 Tây lịch, ông E.B Cowell người Anh hiệu đính bản tiếng Phạm, đề là: The Buddha-Carita of Azvaghosha, năm sau ông ấn hành bản dịch tiếng Anh dưới nhan đề: The Buddhacarita of Azvaghsoha (S.B.E. XLII). Bản dịchTây Tạng giống với bản dịch chữ Hán, cũng chia làm 28 phẩm, nhưng số kệ tụng thì hơi khác, do 2 ngài Tát ôn tán bột (Tạng:Sa-dbaí bzaí-po) và Lạc đắc ca nhi bột (Tạng: Blo-gros rgyal-po) cùng dịch vào đầu thế kỉ thứ VIII. Bản dịch tiếng Nhật thì do ông Tự bản Uyển nhã dịch và xuất bản vào năm Đại chính 13 (1924). Về sau cũng có bản dịch tiếng Đức (17 phẩm trước) do ông F. Weller dịch và ấn hành. Ngoài ra, năm 1883, ông S. Beal – người Anh – dịch từ bản chữ Hán sang tiếng Anh nhan đề: The Fo-sho-hing-tsan-king (S.B.E. XIX). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, 10, Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Đại đường nội điển Q.7; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.10, Mã minh bồ tát luận; Phạm văn Phật truyện văn học đích nghiên cứu; Geschichte der indische Literatur, Bd. II by M. Winternitz].
Phật sở hạnh tán kinh
佛所行讚經; C: fó suǒxíng zànjīng; J: butsu shogyō san kyō.|Phật sở hạnh tán.
Phật sở hạnh tán kinh truyện
佛所行讚經傳; C: fó suǒxíng zànjīng chuán; J: butsu shogyō sangyō den.|Phật sở hạnh tán.
Phật sở hạnh tán truyện
佛所行讚傳; C: fó suǒxíng zàn chuán; J: butsu shogyō san den.|Phật sở hạnh tán.
phật sứ
Như Lai sứ. A messenger of the Tathàgata.
phật sử
Buddha-vaṃsa (S).
Phật sự
佛事; C: fóshì; J: butsuji; S: buddha-kārya;|Có các nghĩa: 1. Công hạnh Đức Phật thể hiện. Hoằng truyền Phật pháp. Công hạnh cứu độ chúng sinh; 2. Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là Phật sự.
phật sự
2629凡發揚佛德之事,稱為佛事。又作立地。據維摩經卷下載,佛陀將一切事均視為佛事,以此表示佛之德性。於禪宗,用以指舉揚佛法之行事,如開眼、安座(安置佛像於堂內)、拈香、上堂、入室、普說、垂示等,均為佛事。後世泛稱於佛前舉行之儀式為佛事,又稱法事、法會,或指超度亡靈之誦經。 此外,在葬儀中擔任導師之人,稱為佛事師。於禪林中之三佛事(奠茶、奠湯、秉炬)、五佛事(起龕、鎖龕、奠茶、奠湯、秉炬)、九佛事(入龕、移龕、鎖龕、掛真、對真小參、起龕、奠茶、奠湯、秉炬)等,分別由三人之佛事師、五人之佛事師、九人之佛事師負責。又在葬儀、法會中所得之金錢,稱為佛事錢。敕修百丈清規卷七板帳式之夾注(大四八‧一一五○上):「仍量唱衣錢多寡,則排日、俵䞋、諷經、看經、添奠茶湯、轉龕骨等佛事。」又導入佛法之方便,稱為佛事門或莊嚴門。〔禪苑清規卷四殿主鐘頭、行持軌範卷三喪儀法、臨濟錄示眾〕(參閱「法會」3411)
; Buddhakiccaṁ (P), Buddha's duty.
; Buddha's affairs, the work of transforming all beings;
; (佛事) Cũng gọi Lập địa. Việc Phật. Phàm các việc làm nhằm phát huy đức của Phật, gọi là Phật sự. Theo kinh Duy ma quyển hạ thì đức Phật đối với tất cả mọi việc đều xem là Phật sự, đó là biểu thị đức tính của Phật. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho những việc làm nêu cao Phật pháp, như khai nhãn, an tọa (an vị tượng Phật), niêm hương, thướng đường (tức thuyết pháp), nhập thất, phổ thuyết, dạy chúng...đều là Phật sự. Đời sau thì gọi chung những nghi thức được cử hành trước bàn thờ Phật là Phật sự. [X. Điện chủ chung đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4; Lâm tế lục thị chúng]. (xt. Pháp Hội).
Phật sự 佛事
[ja] ブツジ butsuji ||| (buddha-kārya). (1) The work that a buddha does. To deliver the Buddha's teachings. The activity of saving sentient beings. (2) Anything done after attaining enlightenment would be "Buddha-work." => (s: buddha-kārya) Có các nghĩa: 1. Công hạnh Đức Phật thể hiện. Hoằng truyền Phật giáo. Công hạnh cứu độ chúng sinh. 2. Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là "Phật sự".
phật tam ngữ
2608指隨自意語、隨他意語、隨自他意語等三種佛語。又作三佛語、三意語。(一)佛陀隨自意宣說內證真實明了之法,稱為隨自意語;如「一切眾生悉有佛性」即隨情而說者。(二)隨眾生根機而方便說法者,稱為隨他意語;如「十住之菩薩少見佛性」即隨情智而說。(三)半隨自證半隨對機之意而說者,稱為隨自他意語;如佛陀說「一切眾生悉有佛性,但以煩惱覆之,故不能見。」以上三種意語即如來說十二部經,為度有情所用者。〔南本涅槃經卷三十二、法華玄義卷二下、摩訶止觀(會本)卷三之二、華嚴大疏鈔卷六〕
; (佛三語) Cũng gọi Tam Phật ngữ, Tam ý ngữ. Ba cách nói của đức Phật: Tùy tự ý ngữ (Nói theo ý mình), Tùy tha ý ngữ (Nói theo ý người khác) và Tùy tự tha ý ngữ (Nói theo ý mình và ý người). 1. Tùy tự ý ngữ: Đức Phật tùy theo ý mình mà giảng nói pháp nội chứng chân thật, như nói Tất cả chúng sinh đều có tính Phật. 2. Tùy tha ý ngữ: Đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà phương tiện nói pháp, như nói Bồ tát giai vị Thập trụ thấy được 1 phần tính Phật. 3. Tùy tự tha ý ngữ: Đức Phật vừa theo chỗ tự chứng vừa theo ý của đối cơ mà nói pháp, như Ngài nói Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy được. Đức Phật dùng 3 cách nói trên mà giảng thuyết về 12 thể tài kinh để cứu độ hữu tình chúng sinh. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, hạ; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.3, phần 2, Hoa nghiêm đại sớ sao Q.6].
phật tam sự nhập thành
2608據金剛經疏載,佛陀入城有三種因緣,即:(一)為女人入城,一切女人皆為父母及夫主所拘,不得自由出入,思仰如來,無由得見。故如來入城,令女人皆得瞻仰禮敬,獲福無量。(二)為病人入城,如來常興救濟病人之心,故入城乞食,使病苦者瞻仰禮敬,令病得痊癒,並發菩提心。(三)欲令人見相好入城,如來福慧莊嚴,具足三十二相、八十種好,微妙難思,若得瞻仰,則罪滅福生,故入城令人普見。
; (佛三事入城) Đức Phật vì 3 lí do mà đi vào thành. Cứ theo Kim cương kinh sớ thì có 3 nhân duyên khiến Phật đi vào thành. 1. Vì độ người nữ: Tất cả người nữ đều bị cha mẹ và chồng bó buộc, không được tự do ra vào, lòng rất ngưỡng mộ đức Như lai mà không làm cách nào thấy được, cho nên Như lai vào thành khiến cho mọi người nữ đều được chiêm ngưỡng lễ kính, nhờ thế được phúc vô lượng. 2. Vì những người bệnh: Đức Như lai thường quan tâm cứu giúp người bệnh, cho nên Ngài vào thành khất thực, để cho người bệnh khổ có cơ hội lễ kính chiêm ngưỡng, nhờ thế được khỏi bệnh và phát tâm bồ đề. 3. Vì muốn khiến cho mọi người được thấy tướng hảo: Đức Như lai phúc trí trang nghiêm, đầy đủ 32 tướng, 80 vẻ đẹp, vi diệu khó thể tưởng tượng, nếu được trông thấy thì tội diệt phúc sinh, cho nên Phật vào thành để mọi người được chiêm ngưỡng.
phật tam thân tán
2607全一卷。宋代法賢(?~1001)譯。又作三身讚。收於大正藏第三十二冊。乃為對佛之法、報、化等三身讚歎之偈文,並說明佛之三身。三身各有一偈,每偈各以七字八行而成,復加迴向偈,亦為七字八行。
; (佛三身贊) Cũng gọi Tam thân tán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này gồm những bài kệ thuyết minh và khen ngợi Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của đức Phật. Mỗi thân có 1 bài kệ, mỗi bài kệ đều có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ. Cuối cùng là bài kệ hồi hướng, cũng có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ.
Phật Thi-khí
xem bảy vị Phật.
phật thiên
Buddha as Heaven; Buddha and the devas.
phật thiện tịch nguyệt âm diệu tôn trí vương
Buddha of the King of Sublime and Honoured Insight, and Excellence Quiescent Lunar Sound Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật thiện ý
Buddha of Excellent Mind Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật thuyết
2746佛以金口自宣說法。為顯金口之法,以別於三乘、天、人之說,諸經卷首多置此二字,藉以證明佛所說法乃真實之教。又菩薩之法,若受佛之印可,亦視同佛說。〔大智度論卷二、金剛般若疏卷一〕
; (佛說) Phật nói: Đức Phật dùng kim khẩu (miệng vàng) tự giảng nói các pháp.Vì để nêu rõ pháp do chính kim khẩu của Phật nói ra và để phân biệt với các pháp do Tam thừa, trời, người nói ra nên ở đầu các kinh thường đặt 2 chữ Phật thuyết để chứng minh pháp do Phật nói là giáo pháp chân thực. Còn pháp do Bồ tát nói nếu được đức Phật ấn khả thì cũng được coi như Phật thuyết. [X. luận Đại trí độ Q.2; Kim cương bát nhã sớ Q.1].
Phật thuyết A-di-đà kinh
佛説阿彌陀經; C: fóshuō āmítuójīng; J: bus-setsu amidakyō; S: amitābha-sūtra.|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什) dịch. Xem chi tiết ở mục A-di-đà kinh.
Phật thuyết A-di-đà kinh 佛説阿彌陀經
[ja] ブッセツアミタキョウ Bussetsu amidakyō ||| The Foshuo Amituo jing; trans. Kumārajīva 鳩摩羅什; (Amitābha-sūtra). T 366.12.346b-348 . See 阿彌陀經 for details. (s: Amitābha-sūtra) => Kinh, Ngài Cưu-ma-la-thập dịch. Xem chi tiết ở mục A-di-đà kinh阿彌陀經.
Phật thuyết A-nan phân biệt kinh
佛説阿難分別經; C: fóshuō ānán fēnbié jīng; J: bussetsu anan funbetsu kyō.|Kinh; 1 quyển, Pháp Kiên (法堅) dịch. Thường gọi tắt là A-nan phân biệt kinh (阿難分別經) và Phân biệt kinh (分別經). Nói về lời dạy của đức Phật cho Tôn giả A-nan.
Phật thuyết A-nan phân biệt kinh 佛説阿難分別經
[ja] ブツセツアナンブンベツキョウ Bussetsu anan funbetsu kyō ||| The Foshuo anan fenbie jing; one fascicle, T 495.14.758-760, translated by Fajian 法堅, also commonly abbreviated as the 阿難分別經 and 分別經. A discussion of the Buddhist teachings between the Buddha and Ānanda. => Kinh; 1 quyển . Pháp Kiên dịch. Thường gọi tắt là A-nan phân biệt kinh阿難. Và Phân biệt kinh分別經. Kinh ghi lại những lời dạy của Đức Phật cho Ngài A Nan.
phật thuyết bát đại cát tường chú vương kinh
Fo-shuo pa-chi-hsiang shen-chou ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh
佛説不増不減經; C: fóshuō bùzēngbùjiǎn jīng; J: bussetsu fuzoufukan kyō.|Kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支) dịch.
Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh 佛説不増不減經
[ja] ブッセツフソウフゲンキョウ Bussetsu fuzoufukan kyō ||| The Foshuo buzeng bujian jing; 1 fasc., trans. Bodhiruci 菩提流支; T 668.16.466-468. => Kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch.
Phật thuyết Bồ Tát bản nghiệp kinh
佛説菩薩本業經; C: fóshuō púsà běnyè jīng; J: bussetsu bosatsu hongyō kyō.|Kinh. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.
Phật thuyết Bồ Tát nội tập lục ba-la-mật kinh
佛説菩薩内習六波羅蜜經; C: fóshuō púsà nèixí liùbōluómì jīng; J: bussetsu bosatsu naishū rokuharamitsukyō.|Kinh. Nghiêm Phật Điều (嚴佛調) dịch.
Phật thuyết Bồ-tát nội tập lục ba-la-mâṭ kinh 佛説菩薩内習六波羅蜜經
[ja] ブッセツボサツナイシュウロクハラミツキョウ Bussetsu bosatsu naishū rokuharamitsukyō ||| The Foshuo pusa neixi liuboluomi jing; trans. Yanfodiao 嚴佛調T 778.17.714b-715a. => Kinh. Nghiêm Phật Điều 嚴佛調dịch.
Phật thuyết Di-lặc Bồ-tát hạ sinh Đâu-suất thiên kinh 佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經
[ja] ブツセツカンミロクボサツジョウショウトシュツテンキョウ Bussetsu kan mirokubosatsu jōshō tosotsuten kyō ||| The Foshuo guan milepusa shangsheng doushuotian jing; one fasc. 452.14.418-421; usually abbreviated as 彌勒上生經. One of the principal texts of the Maitreya sect. It teaches regarding Maitreya's ascent to to Tuṣita Heaven 兜率天, with the Buddha predicting that Maitreya will enter this heaven in twelve years. Juqu jingsheng 沮渠京聲. => Kinh; 1 quyển. Thường gọi tắt là Di-lặc Hạ Sinh Kinh. Một trong những kinh văn chính của tông Di-lặc. Kinh nói về việc thị hiện của Bồ-tát Di-lặc ở cung trời Đâu suất (s: Tuṣita), với lời Đức Phật thọ ký Bồ-tát Di-lặc sẽ trụ ở cung trời này 12 năm.
phật thuyết duy ma cật kinh
Fo-shuo Wei-mo-chieh ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết dược vương dược thượng nhị bồ tát kinh
Fo-shuo kuan Yao-wang Yao-shang erh-p'u-sa ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết giải tiết kinh
佛説解節經; C: fóshuō jiějié jīng; J: bussetsu gesekkyō.|Kinh, 1 quyển. Chân Đế (眞諦; s: para-mārtha) dịch. Là một chương trong kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), tương đương với phẩm Thắng nghĩa đế tướng (勝義諦相品, xem Đại chính 675).
Phật Thuyết Giải Tiết Kinh 佛説解節經
[ja] ブッセツゲセッキョウ Bussetsu gesekkyō ||| The Foshuo jiejie jing, T 677.16.711-714; 1 fascicle, trans. Paramārtha 眞諦. A chapter of the Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經, equivalent to the Chapter on the Marks of the Ultimate Truth . See also T 675. => Kinh. Một quyển. Chân Đế (s: Paramārtha) dịch. Là một chương trong Kinh Giải Thâm Mật (s: Saṃdhinirmocana-sūtra), tương đương với phẩm Thắng Nghĩa Đế Tướng勝義諦相品. Xem T 675.
phật thuyết hoa thủ kinh
Fo-shuo hua-shou ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết huệ ấn tam-muội kinh
佛説慧印三昧經; C: fóshuō huìyìn sānmèi jīng; J: bussetsu kaiinsanmai kyō.|Kinh; 1 quyển. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.
Phật thuyết Như Lai hưng hiển kinh
佛説如來興顯經; C: fóshuō rúlái xīngxiǎn jīng; J: utsusetsujoraikougankyō.|Kinh; 4 quyển, Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.
Phật thuyết Như Lai hưng hiển kinh 佛説如來興顯經
[ja] ブッセツニョライコウガンキョウ butsusetsujoraikougankyō ||| The Foshuo rulai xingxian jing; 4 fasc., trans. Dharmarakṣa . T 291.10.592c-617 => Kinh; bốn quyển. Trúc Pháp Hộ 竺法護dịch.
phật thuyết như vậy
Xem Như thị ngữ.
Phật thuyết pháp tập kinh
佛説法集經; C: fóshuō fǎjí jīng; J: bussetsu hōshūkyō; S: dharmasangiti-sūtra.|Kinh; Bồ-đề Lưu Chi (菩提流支; s: bodhiruci) dịch.
Phật thuyết pháp tập kinh 佛説法集經
[ja] ブッセツホウシュウキョウ Bussetsu hōshūkyō ||| The Foshuo faji jing; (Dharmasangiti-sūtra) T 761.17.609-649. Trans. Bodhiruci 菩提流支. (s:Dharmasangiti-sūtra) => Kinh; Bồ-đề Lưu Chi dịch.
Phật thuyết phân biệt thiện ác sở khởi kinh
佛説分別善惡所起經; C: fóshuō fēnbié shànè suǒqǐ jīng; J: bussetsu funbetsu zen'aku shokikyō.|Kinh; An Thế Cao dịch.
Phật thuyết phân biệt thiện ác sở khởi kinh 佛説分別善惡所起經
[ja] ブッセツフンベツゼンアクショキキョウ Bussetsu funbetsu zen'aku shokikyō ||| The Foshuo fenbie shane suoqi jing;. T 729.27.526c-523b. Trans. An Shigao. => Kinh; An Thế Cao dịch.
phật thuyết phật danh kinh
Fo-shuo fo-ming ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết Phật địa kinh
佛説佛地經; C: fóshuō fódì jīng; J: bus-setsubutsuchikyō.|Kinh; 1 quyển. Huyền Trang dịch. Thường gọi là Phật địa kinh. Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật thuyết Phật địa kinh 佛説佛地經
[ja] ブッセツフツチキョウ Bussetsubutsuchikyō ||| One fascicle, trans. by Xuanzang 玄奘 . T 680.16.720-723. Commonly referred to as the Fodi jing 佛地經. An explanation of the five aspects of the Buddha-stage, including the pure dharmadhātu and the four transformed wisdoms of Consciousness-only. Explains the details of the tenth bhūmi and the Buddha-stage. => Kinh; một quyển. Huyền Trang dịch. Thường gọi là Phật Địa Kinh (c: Fodi jing). Kinh giảng giải về năm khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
phật thuyết quán di lặc bồ tát thượng sanh đâu suất thiên kinh
Fo-shuo kuan Mi-lo p'u-sa shang-sheng Tu-shi-t'ien ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết quán Di-lặc Bồ Tát thượng sinh Đâu-suất thiên kinh
佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經; C: fóshuō guān mílèpúsà shàngshēng dōushuòtiān jīng; J: bussetsu kan mirokubosatsu jōshō tosotsuten kyō.|Kinh, 1 quyển. Thường gọi tắt là Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經). Một trong những kinh văn chính của trường phái tôn xưng Bồ Tát Di-lặc. Kinh nói về việc thị hiện của Bồ Tát Di-lặc ở cung trời Đâu-suất (兜率天; s: tuṣita), với lời Đức Phật thụ kí Bồ Tát Di-lặc sẽ trụ ở cung trời này 12 năm.
phật thuyết quán phật tam mui hải kinh
Fo-shuo kuan-fo san-mei-hai ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết quán phổ hiền bồ tát hạnh pháp kinh
Fo-shuo kuan Pu'-sien p'u-sa hsing-fa ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết quán vô lượng thọ kinh. 佛説觀無量壽佛經
[ja] ブツセツカンムリョウジュブツキョウ Bussetsu kan muryōju butsu kyō ||| The full catalog title (T 365) of the Guan wuliangshou jing. => Kinh. Tên gọi đầy đủ của Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經c:Guan wuliangshou jing).
Phật thuyết quán Vô Lượng Thọ Phật kinh
佛説觀無量壽佛經; C: fóshuō guān wú-liángshòu fó jīng; J: bussetsu kan muryōju butsu kyō.|Kinh. Tên gọi đầy đủ của Quán Vô Lượng Thọ kinh (觀無量壽經).
phật thuyết quán đảnh kinh
Fo-shuo kuan-t'ing ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết thiết thành nê lê kinh
2747全一卷。東晉竺曇無蘭譯。今收於大正藏第一冊。記佛陀說生、老、病、死、王法、牢獄等五天使及地獄之苦狀。本經相當於中阿含六十四經天使經、巴利中部一三○經等。又相似之經典,有閻羅王五天使者經、增一阿含善聚品之第四經及巴利增支部三‧三五經等。
; (佛說鐵城泥犁經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm Vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này ghi lại lời đức Phật nói về 5 sứ giả nhà trời(sinh, già, bệnh, chết, lao ngục của phép nước) và trạng huống thống khổ ở địa ngục.Kinh này tương đương với kinh Thiên sứ trong 64 kinh của Trung a hàm và với kinh 130 trong Trung bộ Pàli. Còn về những kinh tương tự như kinh này thì có: Kinh Diêm la vương ngũ thiên sứ giả, kinh thứ 4 trong phẩm Thiện tụ của Tăng nhất a hàm và các kinh thứ 3, 35 trong Tăng chi bộ Pàli...
phật thuyết thiền môn kinh
2746請參閱 大方廣曼殊室利經 請參閱 孔雀王雜神咒經 或 大金色孔雀王咒經 請參閱 光明童子因緣經 請參閱 過度人道經 請參閱 阿彌陀經義疏 請參閱 鬼子母經 請參閱懈怠耕者經 請參閱 閻羅王五天使經 全一卷。唐代所作偽經之一。記載佛陀入涅槃之際,應棄諸蓋菩薩之所問,而教示修觀祕要,以解脫生死苦縛。智昇開元錄卷十八偽妄真條下,錄有「禪門經一卷五紙」。大珠慧海之頓悟要門亦引用其文。此外,永明延壽之宗鏡錄卷二、卷十九、卷二十七等,亦引用此經之名,可見其於當時相當流行。 本經曾一度湮沒,直至近世,始於敦煌寫經中得見全文,現則為大英博物館所藏(史坦因第五五三二號),全本首尾極為完備。卷首有沙門慧光序(沙門慧光恐與大乘開心顯性頓悟真宗論之作者為同一人)。由本經之被引用而推測,本經大約成立於七世紀末年,或即武則天時代之禪徒所完成者。〔疑偽仏典及び燉煌出土疑偽古仏典に就いて(矢吹慶輝,鳴沙餘韻解說第二部)、禪宗史研究(宇井伯壽)、禪思想史研究第二(鈴木大拙)〕
; (佛說禪門經) Kinh, 1 quyển, 1 trong các bộ kinh giả được soạn vào đời Đường. Nội dung kinh này tường thuật việc lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, đáp lời thưa hỏi của bồ tát Khí chư cái, Ngài chỉ dạy bí quyết tu quán để cởi bỏ sự trói buộc của khổ sinh tử. Điều Ngụy vọng chân trong Khai nguyên lục quyển 10 của ngài Trí thăng có ghi: Thiền môn kinh nhất quyển ngũ chỉ (Kinh Thiền môn 1 quyển 5 tờ). Đốn ngộ yếu môn của ngài Đại châu Tuệ hải cũng có dẫn dụng văn kinh này. Ngoài ra, Tông kính lục quyển 2, 19, 27 của ngài Vĩnh minh Diên thọ cũng dẫn dụng tên của kinh này, như vậy đủ thấy sự lưu hành tương đối của kinh này ở thời bấy giờ như thế nào. Đã một thời gian kinh này bị thất lạc, mãi tới gần đây mới được thấy toàn văn trong số các kinh chép tay ở Đôn hoàng, hiện được cất giữ ở Bảo tàng nước Anh (mang hiệu số: A. Stein 5532), toàn bản từ đầu đến cuối rất đầy đủ. Ở đầu quyển có lời tựa của sa môn Tuệ quang (có lẽ sa môn Tuệ quang và tác giả của luận Đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông cùng là 1 người). Căn cứ vào những lời được dẫn dụng từ kinh này mà suy đoán thì có lẽ kinh này đã được thành lập vào những năm cuối thế kỉ VII hoặc do những người tu thiền ở thời đại Vũ tắc thiên hoàn thành. [X. Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Thiền tư tưởng sử nghiên cứu đệ nhị (Linh mộc Đại chuyết)].
Phật thuyết thất Phật kinh
佛説七佛經; C: fóshuō qīfó jīng; J: bussetsu shichibutsu kyō.|Tên gọi đầy đủ của Thất Phật kinh.
Phật Thuyết Thất Phật Kinh 佛説七佛經
[ja] ブツセツシチブツキョウ Bussetsu shichibutsu kyō ||| The full title of the . => Tên gọi đầy đủ của Thất Phật Kinh七佛經.
phật thuyết tác phật hình tượng kinh
Fo-shuo tso fo-hsing-hsiang ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết tôn thắng đà ra ni kinh
Po-ting tsun-sheng t'o-lo-ni ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh
佛説淨業障經; C: fóshuō jìngyèzhàng jīng; J: bussetsu jōgyōshou kyō.|Tên đầy đủ của Tịnh nghiệp chướng kinh (淨業障經).
phật thuyết vô lượng môn phá ma đà la ni kinh
Buddha-bhāṣita-amita-mukha-mārajid-dhāraṇī-sŪtra (S)Vô lượng môn phá ma Đà la ni kinhMột trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
phật thuyết vô lượng môn vi mật trì kinh
Buddha-bhāṣita-amitamukha-guhyadhara-sŪtra (S)Vô lượng môn vi mật trì kinhMột trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
phật thuyết vị tằng hữu kinh
Fo-shuo wei-tseng yu ching (C)Tên một bộ kinh.
phật thuyết xuất sinh vô biên môn đà la ni kinh
Buddha-bhāṣita-jātānantamukha-dhārāṇi sŪtra (S)Xuất sinh vô biên môn Đà la ni kinhMột trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
phật thuyết đại tập hi chánh pháp kinh
Fo-shuo to-chi-hui cheng-fa ching (C)Tên một bộ kinh.
Phật thuỳ niết-bàn lược thuyết giáo giới kinh
佛垂般涅槃略説教誡經; C: fóchuí boniè-pán lüèshuō jiāojiè jīng; J: bussui hannehan ryakusetsu kyōkaikyō;|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch.
phật thành đạo nhật
2628指釋迦佛成道之日。又稱成道會、成道節、臘八。對此,經論有數說,長阿含經卷四及過去現在因果經卷三謂二月八日,灌佛經及方等般泥洹經謂四月八日,大唐西域記作三月八日或三月十五日,俱舍法寶疏、佛祖統紀等皆取二月八日之說。宋代贊寧於大宋僧史略卷上亦主二月八日,謂臘月乃周之二月。周曆以建子立正,其二月即夏曆(陰曆)建寅立正之十二月,我國用十二月八日,即據此。 我國佛教徒為紀念佛陀成道事,乃於此日以米及果物煮粥供佛,稱臘八粥,嗣後遂演變成為我國民間習俗。敕修百丈清規卷二(大四八‧一一一六上):「臘月八日,恭遇本師釋迦如來大和尚成道之辰,率比丘眾,嚴備香花、燈燭、茶果、珍饈,以伸供養。」
; (佛成道日) Cũng gọi Thành đạo hội, Thành đạo tiết, Lạp bát. Ngày đức Phật Thích ca thành đạo. Về vấn đề này, trong các kinh luận có nhiều thuyết, như kinh Trường a hàm quyển 4 và kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 cho là ngày mùng 8 tháng 2, kinh Quán Phật và kinh Phương đẳng bát nê hòan cho là ngày mùng 8 tháng 4, Đại đường tây vực kí cho là ngày mồng 8 tháng 3 hoặc ngày 15 tháng 3; Câu xá pháp bảo sớ và Phật tổ thống kỉ đều công nhận thuyết mùng 8 tháng 2. Đại tống tăng sử lược quyển thượng của ngài Tán ninh đời Tống cũng chủ trương ngày mùng 8 tháng 2, cho rằng tháng 12 tức là tháng 2 của nhà Chu. Lịch nhà Chu lấy Kiến tí lập tháng giêng, còn lịch nhà Hạ (âm lịch) thì lấy Kiến dần lập tháng giêng, cho nên tháng 2 theo lịch nhà Chu tức là tháng 12 theo lịch nhà Hạ. Trung quốc lấy ngày 8 tháng 12 làm ngày đức Phật thành đạo chính là căn cứ vào đó.
phật tháp
2729安置佛舍利之處所。佛國記即有釋迦牟尼佛入滅後,舍利分八處,各設塔廟以供奉之記載。(參閱「塔」5421)
Phật thân
佛身; C: fóshēn; J: busshin; S, P: buddhakāya; nghĩa là thân của Phật; |Sắc thân (thân vật chất của đức Phật). Do từ sự lưu tâm của Phật tử nên phát sinh lí thuyết về một »sắc thân Phật«. Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra quan niệm tin vào Pháp, rằng chính ngài cũng tịch diệt nhưng Pháp thì không thể nào hoại diệt, do vậy nên dạy rằng sau sự tịch diệt của ngài thì Pháp vẫn thường còn. Tuy nhiên, nhiều đệ tử vẫn giữ quan niệm về con người của Đức Phật, xem như chính thân của ngài là biểu hiện của Phật pháp. Do vậy, ngay cả khi Phật còn tại thế, sắc thân của ngài đã được xem là siêu việt. Vì điểm nầy nên, sau khi Phật nhập diệt, Pháp mà ngài đã giảng được xem như bất hoại, và được đưa ra như một đối lập với thân tự nhiên, và cũng từ đó mà phát sinh ra lí thuyết »hai thân«.
phật thân
2628梵語 buddha-kāya,巴利語同。指佛之身。有關佛陀生身之殊勝及其實身之種種考察,稱為佛身論。溯自釋尊在世或滅後不久,世以釋尊非為常人,其身超越常人而圓滿、清淨(三十二相、八十種好),並具有殊勝之能力(十力、四無所畏)。此後至部派佛教時代,分別論者與大眾部主張佛身無漏之說,其壽量、威力皆具有無限性;此或指佛之肉身(即生身)而言。然有部提出異論,主張佛之生身亦為煩惱之果,故仍屬有漏;但承認佛所成就之十力、四無所畏等功德法,或佛之教法盡屬無漏,此稱為法身(梵 dharma-kāya)。法身者,乃佛之所以為佛之根據,即非肉眼所能見之理佛,如此之法身與生身合稱為二身。有部等稱戒、定、慧、解脫、解脫知見等五者為五分法身,如此之功德法亦稱作法身。 大乘佛教興起後,佛身論隨之急速開展。先是法身內容之變化,謂法性真如為法身。據無著之金剛般若論卷上載,經典即言說法身;對此,依修行證得始示現之法身,稱證得法身。故大乘佛教興起後,始稱真如理體為法身,更進而稱生身為應身(梵 nirmāṇa-kāya),並在兩者之間別立報身(梵 saṃbhoga-kāya),故在十地經論卷三、梁譯攝大乘論卷下等成立法、報、應三身說:(一)法身,又作法佛、法身佛、法性身、自性身、如如佛、如如身、實佛、第一身、真身。大乘佛教雖完全承受有部之法身說,但其特色在以常住真實普遍平等理體之真如法性為法身,指佛陀之本身,或立如來藏為法身。(二)報身,又作報佛、報身佛、受用身、受法樂佛、受樂報佛、食身、應身、第二身。指悟真理而有功德(因行果德)之具體普遍之身。此身既非永遠的真理之身,亦非無常的人格之身。在菩薩因位時所立之願與修行,其結果顯現受樂之佛,即為報身,如阿彌陀佛。報身以大慧、大定、大悲為體,具足無量之色相、功德與樂相,佛之淨土係以此報身為因而成立,菩薩在淨土受法樂,亦以報身為因。大智度論稱之為法性身、真身、法性生身,而梁譯攝大乘論卷上則稱此為應身。(三)應身,又作應佛、應身佛、應身如來、應化身、應化法身。即佛陀之現身,乃為救濟眾生,應眾生之根機(受教者先天之能力與性格)所顯現之人格身,如釋迦牟尼佛,通常其身長為一丈六尺(即丈六)。此三身之關係,如月之體、光、影,稱為一月三身。具體言之,法身之理體是唯一、常住不變,故以月之體為喻;報身之智慧由法身之理體所生,能照明一切,故以月光為喻;應身具變化之作用,從機緣而現,故以月影映現水面為喻。 梁譯攝大乘論釋卷十三謂(大三一‧二四九下):「如來身亦有二種得:一、自性得,是法身;二、人功得,是應化兩身。為顯異人功所得,故立自性身。依止自性身,起福德智慧二行。二行所得之果,謂淨土清淨及大法樂。能受用二果,故名受用身。於他修行地中,由佛本願自在力故,彼識似眾生變異顯現,故名變化身。」佛地經論卷七分受用身為自受用身與他受用身二種,合前之法身、應身,共稱四身。大乘入楞伽經卷六偈頌品,分法(自性)、報(受用)、化(變化)、變化(等流)之四身說。又楞伽阿跋多羅寶經卷一,分化佛、報佛及如如平等智慧佛等三佛,其他合部金光明經卷一、解深密經卷五等亦各有三身之說。 佛身論之問題,起於佛滅後,至部派時代乃生起論議,上座部基於現實立場而反對,大眾部則尚理想。後大乘佛教興起,更盛行菩薩成佛之說,對佛陀之考察漸次進展,以般若為始,維摩、首楞嚴、法華、涅槃、華嚴、大日等諸大乘經典皆發表深遠之佛陀觀,隨而促進有關佛陀所說法及所住國土之理論,構成佛教教義之重要部分。〔雜阿含經卷二十六、長阿含卷一大本經、增一阿含經卷二、大毘婆沙論卷三十、卷一七三、異部宗輪論、大智度論卷三十四、卷九十三、成唯識論卷十、佛性論卷四、般若燈論釋卷十三〕(參閱「二身」199、「三身」555、「化身」1324、「四身」1699、「生身」2063)
; Buddha-kāya (S), Busshin (J).
; Buddhakàya (S). The body of the Buddha.
; (佛身) Phạm, Pàli: Buddha-kàya. Thân của đức Phật. Khi đức Thế tôn còn tại thế hoặc sau khi Ngài nhập diệt chưa bao lâu, người đời đã quan niệm rằng Ngài không phải là người thường, sinh thân của ngài viên mãn, thanh tịnh (32 tướng, 80 vẻ đẹp) và có năng lực thù thắng (10 lực, 4 vô sở úy). Từ đó về sau, đến thời đại Phật giáo bộ phái thì các nhà Phân biệt luận và Đại chúng bộ chủ trương thuyết thân Phật là vô lậu, về tuổi thọ cũng như uy lực của Ngài đều không có hạn định. Nhưng Hữu bộ chủ trương hoàn toàn khác, cho rằng sinh thân của Phật cũng là kết quả của phiền não, cho nên vẫnthuộc hữu lậu. Tuy nhiên, Hữu bộ cũng thừa nhận đức Phật đã thành tựu những công đức như 10 lực, 4 vô sở úy... và tất cả giáo pháp của Ngài đều thuộc vô lậu, những công đức và giáo pháp ấy gọi là Pháp thân (Phạm: Dharma-kàya), thân này không thể dùng mắt thường mà thấy được. Pháp thân hợp với sinh thân gọi chung là hai thân. Hữu bộ còn gọi các pháp công đức như: Giới, định,tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến là pháp thân hoặc Ngũ phần pháp thân. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, Phật thân luận được khai triển rất nhanh chóng. Trước hết là sự biến hóa của nội dung Pháp thân, tức chân như pháp tính là pháp thân. Theo ngài Vô trước trong luận Kim cương bát nhã quyển thượng thì kinh điển tức làNgôn thuyết pháp thân; trái lại, Pháp thân nhờ tu hành mà chứng được thì gọi là Chứng đắc pháp thân. Do đó, sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, lí thể chân như mới được gọi là Pháp thân; lại tiến thêm 1 bước, gọisinh thân là Ứng thân (Phạm: Nirmàịa-kàya), đồng thời giữa Sinh thân và Ứng thân là Báo thân (Phạm: Saôbhoga-kàya). Bởi vậy, Thập địa kinh luận quyển 3 và Nhiếp đại thừa luận quyển hạ (bản dịch đời Lương) mới thành lập thuyết Tam thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Vấn đề Phật thân luận được nêu ra từ sau khi đức Phật nhập diệt, đến thời đại Phật giáo bộ phái nó đã trở thành tiêu điểm tranh luận. Thượng bộ đứng trên lập trường hiện thực để phản đối, còn Đại chúng bộ thì chuộng lí tưởng. Sau khi Phật giáoĐại thừa hưng khởi, lại thịnh hành thuyết Bồ tát thành Phật, sự khảo sát về đức Phật dần dần tiến triển, bắt đầu là Bát nhã, rồi lần lượt đến các kinh đại thừa như: Duy ma, Thủ lăng nghiêm, Pháp hoa, Niết bàn, Hoa nghiêm, Đại nhật...đều bày tỏ những quan niệm sâu xa về đức Phật, theo đó mà đẩy mạnh lí luận về giáo pháp do đức Phật nói và về cõi nước mà đức Phật an trú, tất cả điều này đã cấu thành bộ phận trọng yếu trong giáo nghĩa của Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luận Đại tì bà sa Q.30, 173; luận Dị bộ tông luân; luận Đại trí độ Q.34, 93; luận Thành duy thức Q.10; luận Phật tính Q.4; Bát nhã đăng luận thích Q.13]. (xt. Nhị Thân, Tam Thân, Hóa Thân, Tứ Thân, Sinh Thân].
Phật thân 佛身
[ja] ブッシン busshin ||| (buddha-rūpa; buddha-kāya). The Buddha's (physical) body. As a result of the questions of Buddhist followers, inquiries were made resulting in "buddha-body theory." Śākyamuni himself established the position of believing in the true principle (dharma): that he himself would die but the dharma was indestructible and therefore said that after his death the dharma was to be depended upon. However, many disciples held to their concept of the Buddha's person and believed in it as the Buddha-dharma, and therefore, even while Śākyamuni was still in the world his body had come to be seen as transcendent. Because of this, after he died, the dharma that he had explained was regarded as indestructible, and was set up in contrast with his natural body, bringing about a 'two body' theory. => Sắc thân (thân vật chất của Đức Phật). Do từ sự thưa hỏi của các đệ tử, nên có lý thuyết về "sắc thân Phật". Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra quan niệm tin vào Pháp; rằng chính Ngài cũng tịch diệt nhưng Pháp thì không thể nào hoại diệt, do vậy nên dạy rằng sau sự tịch diệt của Ngài thì Pháp vẫn thường còn. Tuy nhiên, nhiều đệ tử vẫn giữ quan niệm về con người của Đức Phật, do vậy, ngay cả khi Đức Phật còn tại thế, sắc thân của Ngài đã được xem là siêu việt. Vì điểm nầy, nên sau khi Đức Phật nhập diệt, Pháp mà Ngài đã giảng được xem như bất hoại, và được đưa ra như một đối lập với thân tự nhiên, từ đó phát sinh ra lý thuyết "hai thân".
Phật thùy bát niết-bàn lược thuyết giáo giới kinh 佛垂般涅槃略説教誡經
[ja] ブッスイハンネハンリャクセツキョウカイキョウ Bussui hannehan ryakusetsu kyōkaikyō ||| The Fochui boniepan lueshuo jiaojie jing; T 389.12.1110c-1112b. Trans. Kumārajīva 鳩摩羅什. => Kinh do Ngài Cưu-ma-la-thập dịch. .
phật thư
2645指與佛教有關之典籍。又作佛典、內典、妙典。反之,佛教以外之典籍稱外典、世典、外道書、外俗書。妙典係尊稱,尤指一宗所依之經論。隨著佛教史之展開與傳播地域之擴展,佛書漸次擴大其內容。通常指所有有關佛陀教說之經論典籍,廣義之佛書則包括經、律、論三藏及其注疏、各宗之典籍、史傳類、大藏經目錄、辭彙、行事、寺誌及地誌等,乃至於依據佛教所寫之故事、小說、戲曲、隨筆、歌謠等之佛教文學。故知佛書一語涵蓋極廣,然嚴格言之,應以大藏經聖典為中心,即以經、律、論三藏為主幹之印度佛教聖典,及我國、日本所撰述而次第增廣之一切經。 若以經典流傳之地域別之,則北傳方面,自印度經由西域,或經南海而傳入我國、朝鮮、日本,或自印度傳至西藏、蒙古;南傳方面,則自印度傳至錫蘭、緬甸、暹羅(泰國)、柬埔寨(高棉)等東南亞諸國。由於地域之不同,遂形成各自獨特的佛教思想與文化。又因各種語言文字之翻譯流傳,及歷代祖師之種種著作,佛教典籍因而內容分歧、數量龐大。被收入大藏經中之佛典各有其特色,其中傳承於我國、日本之漢文佛典,其質、量最大。其次,能與之抗衡者為流傳於西藏、蒙古之藏譯佛典及喇嘛教聖典。錫蘭、緬甸、泰國、高棉等地所傳承之巴利語三藏,則具有聖典之一貫性與純粹性。至於梵語佛典,其量遠不及前三者(漢藏、藏文佛典、巴利藏),然因收入大乘經典及各種重要論書,故對佛教研究甚為重要。梵語佛典主要自尼泊爾傳來,其他從喀什米爾、西藏之古僧院、古塔,及西域發掘之窟院中所發現者亦不少。 據傳,佛陀入滅後,以摩訶迦葉為首之五百弟子,於王舍城召開第一次經典結集,編纂佛陀之言教。此次結集恐係聚集多數佛弟子合誦佛陀之聖句,而非在此時成立聖典。據現存資料推定,在阿育王時代,即有聖典之單行本出現。雜阿含經卷四十九中記載牟尼偈(梵 Munigāthā)之名,又阿育王碑文中亦發現牟尼偈之文,由此可見西元前三世紀已有單行本存在。然其時非以編纂經典為目的,乃為便於諷誦佛語之故。此由西晉白法祖所譯之佛般泥洹經所載,及阿含經中隨處有佛弟子晨朝誦經之記錄可以得知。今日所謂之巴利語三藏乃後世所編纂者。經、律、論三藏成立以前,曾將佛典分為九分教、十二分教。 三藏之中,律藏成立最早,時代約在阿育王之時,其次為經藏。從第一次結集至部派佛教時代之間,分成四階段,隨後次第附加,以至於現存之型式。論藏為三者中成立最晚者,此因部派佛教時代盛行對佛陀教說之研究,致力於說明、注釋、整理分類、除去教說中相互之矛盾,由此遂產生諸種論書。 早期佛教並無記錄之經典,雖稱結集,然不用筆錄,僅合誦而擇其義而已。此因當時之印度認為筆寫有瀆經典之神聖,故以口授相傳。至阿育王時代漸次出現筆錄之佛典。現今之佛典,從語文之流傳上可分為: (一)巴利文佛典:為南方各地區所傳持之佛教聖典,有經、律、論三藏及藏外典籍。三藏之中,經藏稱為尼柯耶(部),相當於漢譯之阿含,共有五部,即長部、中部、相應部、增支部、小部。律藏分為經分別、犍度部、附錄三部,為研究原始佛教教團之重要資料。論藏有法聚論等七論。藏外典籍大凡可分三期:第一期有指導論(Nettipakaraṇa)、藏釋(Peṭakopadesa)、彌蘭王問經(Milindapañhā)、島史(Dīpavaṃsa)等。其中彌蘭王問經為說明印度與希臘文化交流情形之典籍,極為重要。第二期有三藏注釋書(Aṭṭhakathā)與大史(Mahāvaṃsa)。第三期有三藏注釋書之注及小史(Cūḷavaṃsa)等。此外尚有文典、辭典、史書、教理史等大量文獻。 (二)梵文佛典:貴霜王朝之迦膩色迦王於喀什米爾召開第四次結集之際,決定其後以梵語為聖典語。初期之梵語佛典並非採用古典梵語,乃是用佛典特有之佛教混淆梵語。佛教徒以古典梵語著作或始於笈多王朝,即四至五世紀以後。梵語佛典大多屬於大乘,極少數為小乘,不若巴利語佛典之系統化,內容亦無秩序而多歧異,大部分在十九世紀初以後才由西歐探險家所發現。 日本學者山田龍城將各種梵語佛典分類為:(1)原始─阿含類、毘奈耶(律)類、譬喻文學、佛傳文學、讚佛文學。(2)大乘─般若經類、華嚴經類、法華經類、涅槃經類、寶積經類、大集經類、諸經集類。(3)諸論─毘曇類、中觀論書、瑜伽諸論、後期諸論。(4)祕密─所作經疏、行瑜伽類、無上瑜伽、祕密拾遺。其中,阿含類僅殘留斷片,毘奈耶類近年來次第刊行戒本及根本說一切有部所傳之律典,這些律典與佛傳、譬喻文學有密切關係。名之為阿波陀那(Avadāna)的譬喻文學,係由印度通俗文學中尋求主題,再穿插佛教教理,以教化民眾為目的之佛教文學。其梵文寫本之數量僅次於祕密部,內容亦極重要;譬喻百集(Avadānaśataka,漢譯撰集百緣經)、天譬喻(Divyāvadāna)、寶鬘譬喻(Ratnamālāvadāna)為其主要者。佛傳文學有大事(Mahāvastu)、方廣大莊嚴經(Lalitavistara)、馬鳴之佛所行讚(Buddhacarita)等。讚佛文學有馬鳴所作歌詠難陀出家與成就之孫陀羅難陀詩(Saundarananda-Kāvya)、摩咥里制吒(Mātṛceṭa)之四百讚,及克歇門德拉(Kṣemendra)之作品等。 大乘經典有十萬頌般若、二萬五千頌般若、八千頌般若、金剛般若、七百頌般若、十地經、入法界品、法華經、極樂莊嚴(無量壽經、阿彌陀經)、普明菩薩會、悲華經、金光明經、月燈三昧經、入楞伽經等。另有大般涅槃經、大集經等諸種之斷片等。諸論有俱舍論,龍樹之中論、迴諍論、寶行王正論,及提婆之四百觀論等之中觀論書。瑜伽論書有瑜伽師地論、大乘莊嚴經論、中邊分別論、現觀莊嚴論、究竟一乘寶性論、唯識二十頌、唯識三十頌等。後期論書有月稱之中論註淨明句、寂天之大乘集菩薩學論、入菩提行經、寂護之攝真實論、法稱之量評釋、正理一滴等。屬祕密部之梵文寫本現存三百多部,包括各種陀羅尼、儀軌、成就法、怛特羅等。 (三)西域佛典:佛教由印度傳入我國之際,途經西域、中亞等地,遂有下列各種語言所寫經典之流傳,即:和闐語、龜茲語、回鶻語、吐火羅語(Tukhāra)、粟特語(Sogdh)等,此等經典直至二十世紀才被探險家發現,其現存者皆為斷片,翻譯及書寫年代均很早,為研究佛典、佛典史之重要資料。 (四)西藏、蒙古文佛典:藏語佛典包括大藏經及藏外文獻,前者大多譯自梵語佛典。西藏大藏經分成甘珠爾(Bkaḥ-ḥgyur)與丹珠爾(Bstan-ḥgyur)兩部分,前者為經部與律部,後者為論部與經律之注疏、讚歌、儀軌,及與歷史、論理、語言、醫學、工藝等有關之著作。藏外文獻有喇嘛教之新舊諸宗派聖典,及喇嘛傳記、寺誌、史書、文法書、曆法書、醫學書、讚歌、儀軌、誓願文、信等。 蒙古民族自十三世紀信仰佛教以來,除由藏文大藏經翻譯成蒙古語大藏經之外,用蒙古語所著作之書、注釋書等,數量亦很龐大。 (五)漢文佛典:分為印度傳來的佛典之漢譯及我國所撰述者二種。前者之原本除梵語佛典外,另有西域等地之方言及混淆俗語之典籍。後者為經律論之注釋書、講義書,及我國祖師之撰述,與對此等之注釋書及研究書等。其數量隨時代而增加,為其他佛書所不能比擬者。大正新修大藏經所收錄之印度撰述與中國撰述兩部分,印度撰述部分包括阿含、本緣、般若、法華、華嚴、寶積、涅槃、大集、經集、密教、律、釋經論、毘曇、中觀、瑜伽、論集等十六部分;中國撰述部分則分為經疏、律疏、論疏、諸宗、史傳、事彙、外教、目錄等(史傳、外教兩部包含若干印度撰述,目錄部則包含部分日本撰述),總計二二三六部,九○○六卷。我國祖師撰述之典籍中,最具代表性或對後世影響較大者,經疏有僧肇之注維摩經十卷、智顗之法華玄義、法華文句各二十卷、法藏之華嚴探玄記二十卷、一行之大日經疏二十卷、善導之觀經疏四卷等,律疏有道宣之四分律行事鈔十二卷等,論疏有普光之俱舍論記三十卷、法寶之俱舍論疏三十卷、吉藏之中觀論疏二十卷、窺基之成唯識論述記二十卷、法藏之起信論義記五卷等。其次,有關各宗特色者為僧肇之肇論一卷、慧遠之大乘義章二十六卷、吉藏之三論玄義一卷、大乘玄論五卷、窺基之大乘法苑義林章七卷、法藏之華嚴五教章四卷、宗密之原人論一卷、智顗之摩訶止觀二十卷、道綽之安樂集二卷、德輝重編之敕修百丈清規十卷,及宋代禪僧之各種語錄等。 史傳部自印度翻譯者有異部宗輪論,為部派歷史、教義之概說,其他如阿育王、龍樹、馬鳴、提婆、世親之各傳記等。我國所撰述者為梁代慧皎之高僧傳十四卷及唐、宋、明各代之高僧傳及高僧之別傳、往生傳、寺誌、地誌之類,法顯傳、西域記等。齊梁以後,抄寫大藏經要旨之風盛行,現存者有梁代寶唱等之經律異相五十卷、唐代道世之法苑珠林一百卷、諸經要集二十卷等。又入藏諸經之解題有宋代惟白之大藏經綱目指要錄八卷。為研究大藏經而作之音義有唐代玄應之一切經音義二十五卷、唐代慧琳之一切經音義一百卷等。此外,有關解說梵語字義者有宋代法雲之翻譯名義集七卷,有關大藏經名數事項之編集者有明代寂照之大藏經法數七十卷等。外教部中則有真諦所譯之金七十論三卷,係數論學派之論書;玄奘所譯之勝宗十句義論一卷,係屬勝論學派之論數;此外,尚有道教之老子化胡經等。 (六)日本之佛典:可大別為五種:(1)有關經律論之注釋。(2)各宗派之典籍。(3)史傳、目錄等。(4)法語、御詞、聞書、語錄等宣揚宗義信仰之文書。(5)用於教化民眾之唱導、讚歌、和讚、講式及通俗文學等。其中,較具日本佛教特色之代表作為聖德太子之三經義疏、最澄之守護國界章九卷及顯戒論三卷、空海之十住心論十卷、即身成佛義一卷及辨顯密二教論二卷、淳和天皇敕撰之天長六本宗書、源為憲之三寶繪詞三卷、源信之往生要集三卷、慶滋保胤之日本往生傳一卷、源空之選擇本願念佛集一卷、高辨之摧邪輪三卷、榮西之興禪護國論三卷、道元之正法眼藏九十五卷、瑩山之瑩山清規二卷、親鸞之教行信證六卷、唯圓編之歎異抄一卷、日蓮之立正安國論一卷、凝然之八宗綱要二卷、師鍊之元亨釋書三十卷、蓮如上人御文五卷、師蠻之本朝高僧傳七十五卷、良遍之觀心覺夢鈔三卷、白隱之夜船閑話一卷等。又屬於說話集者有西行之撰集抄九卷、鴨長明之發心集三卷、住信之私聚百因緣集六卷、無住之沙石集十卷等,皆收入大正藏第五十六卷以下,或大日本佛教全書一百五十卷中,及各宗派聖典全書之中。另有昭和七年(1932)小野玄妙所編佛書解說大辭典,其書網羅和語、漢語佛書共六萬五千五百餘部,共分:(1)藏經,(2)全書,(3)古寫本、古刊本之單行本,(4)現在之單行本,(5)古逸書類。又自大正六年(1917),日本陸續有國譯大藏經三十卷、國譯大藏經四十八卷、國譯一切經一五六卷、國譯禪學大成二十五卷等,以和文翻譯大部漢文經典之佛書問世。此外,昭和十年至十六年所刊之南傳大藏經七十卷為巴利語三藏之全譯。又各宗派所出版之全書亦為日本佛書近數十年來之特色,有天台宗全書二十五卷、真言宗全書四十二卷、淨土宗全書二十卷、真宗大系三十七卷、日蓮宗全書二十六卷等。(參閱「大藏經」893、「中文大藏經」1001、「西藏大藏經」2588、「南傳大藏經」3748、「南傳佛教」3750)
; (佛書) Cũng gọi Phật điển, Nội điển, Diệu điển. Đối lại: Ngoại điển, Thế điển, Ngoại đạo thư, Ngoại tục thư. Chỉ chung những kinh sách của Phật giáo.Cùng với đà triển khai của lịch sử Phật giáo cũng như sự khoáng trương phạm vi của khu vực truyền bá mà Phật thư dần dần mở rộng về nội dung. Thông thường Phật thư là chỉ cho những kinh luận, sách vở, có liên quan đến giáo thuyết của đức Phật. Phật thư theo nghĩa rộng thì bao gồm 3 tạng kinh, luật, luận và các chú sớ của 3 tạng, sách vở của các tông, các loại sử truyện, mục lục Đại tạng kinh, từ vựng, hành sự, tự chí, địa chí... cho đến các tác phẩm văn học có liên quan đến Phật giáo như tiểu thuyết, hí khúc, tùy bút, ca dao, truyện cổ Phật giáo...Vì thế nên biết phạm vi của từ Phật thư bao hàm rất rộng, nhưng nói một cách chặt chẽ thì phải lấy Thánh điển Đại tạng kinh làm trung tâm, tức lấy 3 tạng Thánh điển kinh luật luận làm nòng cốt, rồi lần lượt lấy tất cả kinh sách do các bậc tổ sư các đời của Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản soạn thuật làm phụ trợ để phát huy và mở rộng thêm phạm vi giáo pháp của đức Phật.
phật thư giải thuyết đại từ điển
2650凡十四卷。為日本大東出版社所刊行解說佛書之辭典,詳細解說經、律、論及和(日)漢語各宗典籍。初版十二卷,自昭和七年(1932)十二月至十年十月陸續刊行,小野玄妙任編纂主任。其中前十一卷為解說部,解說昭和七年十月以前書寫、刊行之佛教典籍;第十二卷為小野玄妙所編「佛教經典總論」。昭和三十九年解說部十一卷再版,第十二卷未再刊行。昭和五十年六月刊行第十二卷增補一,五十二年九月刊行第十三卷增補二,解說七年十一月至四十年十二月間,在日本書寫、刊行之佛教典籍。又於增補完成之際,以「佛教經典總論」為別卷刊行。 本辭典收集和漢語佛書九萬餘冊,共分:(一)藏經,(二)全書,(三)古寫本、古刊本之單行本,(四)現在之單行本,(五)古逸書等五類。前十一卷解說內容之形式分為十項,即:(一)包括題名、書名、具名、略名、異名,採羅馬拼音法,附記日本、中國音之讀法,並記梵名、西藏名、巴利名。(二)卷數,記典籍之卷數。(三)存欠,存,謂目前仍流通者,記所收入之藏經名稱及於該藏中之卷數、冊數、種類別,全書類則記其所載卷號。各種藏經及目錄使用簡略符號,如「大正」指大正新修大藏經,「縮」指縮刷大藏經,「北」指北宋版等。其數字編號依據大正新修大藏經「昭和法寶總目錄」。(四)著者或譯者,及其生卒年代。(五)著作年代,記著作或譯出之年號。(六)內容解說,以藏經、全書類為主,於名義、大綱、分科、判釋、傳通等詳記之。(七)注釋書及參考書,大致依著作年代之先後列舉。(八)寫本與刊本之年代。(九)記現在所藏之個人、圖書館名及書目函號、書庫名。(十)發行所名稱。此外,各條下並附記執筆者之姓名。又增補部分之解說,亦依前述十一卷之形態,唯各項之內容略有不同。
; (佛書解說大辭典) Từ điển, 14 quyển, do học giả Tiểu dã Huyền diệu chủ biên, Nhật bản Đại đông xuất bản ấn hành. Nội dung từ điểnnày giải thích một cách tỉ mỉ, rõ ràng kinh, luật, luận và sách vở của các tông phái Phật giáo Trung quốc, Nhật bản. Trong 14 quyển thì 11 quyển trước là Giải thuyết bộ, giải nói về hình thức nội dung chia làm 10 hạng mục như sau: 1. Bao gồm tên tác phẩm: Tên sách, tên đầy đủ, tên vắn tắt, tên khác, dùng mẫu tự La tinh để phiên, ghi thêm cách đọc âm Trung quốc, âm Nhật bản, ghi tên Phạm, tên Tây tạng, tên Pàli... 2. Số quyển: Ghi rõ số quyển của sách. 3. Còn hay khuyết: Nếu hiện vẫn còn được lưu thông thì được xếp vào tạng nào, số quyển, số tập, chủng loại. Các loại tạng kinh và mục lục sử dụng phù hiệu giản lược, như Đại chính thì chỉ rõ ra là Đại chính tân tu đại tạng kinh, Súc thì chỉ rõ Súc loát đại tạng kinh, Bắc thì chỉ rõ bản Bắc Tống... 4. Tác giả hay dịch giả: Nói rõ họ tên và năm sinh năm mất. 5. Trứ tác niên đại: Ghi năm sáng tác hoặc phiên dịch. 6. Giải thuyết nội dung: Lấy Đại tạng kinh toàn thư làm chủ yếu, ghi rõ về danh nghĩa, đại cương, chia khoa, phán thích, truyền thông... 7. Sách chú thích và sách tham khảo: Theo niên đại soạn thuật để sắp xếp thứ tự tác phẩm. 8. Niên đại ấn hành: Niên đại bản chép tay và bản in. 9. Nơi cất giữ: Nói rõ tên thư viện và hàm hiệu thư mục, tên thư khố hoặc cá nhân đang cất giữ. 10. Nơi phát hành: Nơi khắc bản, in ấn và phát hành.
phật thư xuất bản giới
2645二十世紀以來,由於印刷技術進步,世界各國在佛書出版方面之蓬勃發展,有一日千里之勢。不論舊書之重印或新書之出版,質、量方面均顯著提高。目前我國與日本之佛書出版界,大略如次: (一)中國:目前中文佛典之出版中心係在臺灣。臺灣之重要佛書出版機構,約如下列:(1)新文豐出版公司,主持人為高本釗。地址在臺北市。曾先後出版大正藏、卍續藏、宋藏遺珍、大藏遺珍等數百種佛書。(2)佛教書局,主持人為廣定法師。地址在臺北市。曾先後出版佛教大藏經(頻伽藏之再增補)等數百種佛書。(3)佛光出版社,主持人為星雲法師。地址在高雄縣佛光山。該社之前身即佛教文化服務處。先後出版釋迦牟尼佛傳、佛光大藏經、佛教史年表、佛光大辭典等數百種佛書。(4)大乘文化出版社,創辦人為張曼濤。地址在臺北市。主要出版物為現代佛教學術叢刊一百冊。(5)天華出版公司,主持人為李雲鵬。地址在臺北市。主要出版物有大藏會閱、寒山子研究等數十種。(6)彌勒出版社,主持人為藍吉富。地址在臺北縣。主要出版物有現代佛學大系等數十種。(7)臺灣印經處:為臺灣佛教界所組成之團體,專印佛書。曾發行淨土叢書等數百種。 此外,另有華藏法施會、大乘精舍印經會等贈送佛書之團體,以及菩提樹、慧炬、原泉等佛教雜誌社及文殊中心、宏法寺等附設之出版單位。 (二)日本:二十世紀以來,在全世界各種語文之佛書中,由日本所出版的約佔百分之七十。因此,日本是世界上佛書出版業最興盛之國家。其佛書出版社及專營佛書之書店,在東京及京都亦為數不少。近六十年來,該國佛教工具書約出版近百種。大部頭叢書如大正藏、卍續藏、南傳大藏經、國譯一切經等,規模之大,編印之精審,皆為世界各國所不及。目前該國有「佛教書出版販賣連盟」之組織,由各佛書書店、出版社聯合組成。加入此一「連盟」之書店,在東京有山喜房佛書林、大東出版社、大藏出版社、世界聖典刊行協會、青山書院、鴻盟社、在家佛教協會、大法輪閣、佛教書林中山書房、日本佛書刊行會、隆文館等十餘家。在京都則有永田文昌堂、百華苑、文榮堂、法藏館等四家。此外,日本尚有為數不少的各佛教大學之出版單位,以及曾出佛書之書店,並未加入上述連盟,玆不一一枚舉。 其他各國之佛書出版業,為數亦不少。例如錫蘭之佛教出版協會(Buddhist Publication Society),專門以佛教出版物向世界各國宣揚佛法。錫蘭政府出版佛教百科全書(Encyclopedia of Buddhism),迄今尚未出齊。英國倫敦之巴利聖典協會(Pali Text Society),專門出版南傳巴利文之佛典(採用羅馬拼音之巴利語)。此外,印度之佛書出版社亦有聞名於世界者,如 Motilal Banarsidss 所出版之英文佛書,即行銷世界各地。
; (佛書出版界) Các nhà xuất bản kinh sách Phật giáo. Tứ đầu thế kỉ XX đến nay, nhờ kĩ thuật ấn loát tiến bộ, các nhà xuất bản kinh sách Phật giáo ở các nước phát triển mạnh mẽ. Các sách cũ được in lại hoặc sách mới xuất bản, về mặt chất và lượng đều cao. Hiện nay, trung tâm xuất bản kinh sách Phật giáo bằng Trung văn là Đài loan. Ở đây có nhiều nhà xuất bản kinh sách Phật giáo nổi tiếng như: 1. Tân văn phong xuất bản công ti: Đặt tại Đài bắc, đã lần lượt xuất bản hằng trăm loại kinh sách Phật giáo quan trọng như: Đại chính tạng, Vạn tục tạng, Tống tạng di trân, Đại tạng di trân... 2. Phật giáo thư cục: Đặt ở Đài bắc, đã xuất bản nhiều loại sách Phật, trong đó có Đại tạng kinh Tần già (bản tăng bổ)... 3. Phật quang xuất bản xã: Đặt tại Phật quang sơn, huyện Cao hùng, đã xuất bản nhiều loại thư tịch Phật giáo như: Thích ca mâu ni Phật truyện, Phật quang Đại tạng kinh, Phật giáo sử niên biểu, Phật quang Đại từ điển... 4. Đại thừa văn hóa xuất bản xã: Đặt ở Đài bắc, đã xuất bản Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san gồm 100 tập. 5. Thiền hoa xuất bản công ti: Địa chỉ ở Đài bắc, đã xuất bản Đại tạng hội duyệt, Hàn sơn tử nghiên cứu... 6. Di lặc xuất bản xã: Địa chỉ ở Đài bắc, đã xuất bản Hiện đại Phật giáo đại hệ...7. Đài loan ấn kinh xứ: Tổ chức của đoàn thể Phật giáo Đài loan, chuyên in ấn và phát hành kinh sách Phật, trong đó có Tịnh độ tùng thư... Ngoài ra còn có các đoàn thể Phật giáo chuyên ấn tống kinh sách như: Hoa tạng pháp thí hội, Đại thừa tinh xá ấn kinh hội... và các cơ cấu xuất bản tạp chí Phật giáo như: Bồ đề thụ, Tuệ cự, Nguyên truyền... cho đến các đơn vị xuất bản phụ như trung tâm Văn thù, chùa Hoằng pháp... Về phía Nhật bản, từ đầu thế kỉ XX đến nay, trong số kinh sách Phật giáo bằng các loại ngữ văn trên tất cả thế giới thì Nhật bản đã xuất bản khoảng 70%. Do đó, Nhật bản là quốc gia hưng thịnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực xuất bản kinh sách Phật giáo. Những nhà xuất bản và các hiệu sách chuyên kinh doanh sách vở Phật giáo tại Tokyo và Kyoto cũng rất nhiều. Trong vòng 60 năm trở lại đây, Nhật bản đã in ấn và phát hành gần 100 loại kinh sách Phật giáo. Những bộ lớn có tính chất tùng thư như: Đại chính tạng, Vạn tục tạng, Nam truyền Đại tạng kinh, Quốc dịch Nhất thiết kinh v.v... mà về các mặt qui mô, phương pháp biên soạn, kĩ thuật in ấn...đều đứng vào hàng đầu trên thế giới. Hiện tại, Nhật bản có tổ chức gọi là Phật giáo thư xuất bản phiến mại liên minh (Liên minh mua bán và xuất bản kinh sách Phật giáo). Đây là 1 tổ hợp của các hiệu sách và nhà xuất bản chuyên kinh doanh sách vở liênquan đến Phật giáo. Những thành phần tham gia liên minh này gồm có (ở Tokyo): Sơn hỉ phòng Phật thư lâm, Đại đông xuất bản xã, Đại tạng xuất bản xã, Thế giới Thánh điển san hành hiệp hội, Đại pháp luân các, Phật giáo thư lâm trung sơn thư phòng, Thanh sơn thư viện, Hồng minh xã, Tại gia Phật giáo hiệp hội, Nhật bản Phật thư san hành hội, Long văn quán (ở Kyoto): Điền văn xương đường, Bách hoa uyển, Văn vinh đường và Pháp tạng quán. Ngoài ra, Nhật bản còn có không ít các đơn vị xuất bản trực thuộc các Viện đại học Phật giáo, cũng như các hiệusách Phật chưa gia nhập liên minh nói trên, không kể hết được. Còn tại các nước khác trên thế giới thì như Tích lan có Phật giáo xuất bản hiệp hội (Buddhist Publication Society) chuyên xuất bản kinh sách Phật giáo với mục đích truyền bá Phật pháp trên thế giới. Chính phủ Tích lan xuất bản Phật giáo bách khoa toàn thư (Encyclopedia of Buddhism) đến nay vẫn còn đang tiếp tục. Nước Anh thì có Pàli Thánh điển hiệp hội (Pàli Text Society) chuyên môn xuất bản kinh điển Phật giáo Nam truyền bằng tiếngPàli(tiếngPàlisử dụng mẫu tự La tinh). Ngoài ra, Phật thư xuất bản xã của Ấn độ cũng nổi tiếng trên thế giới, như kinh sách Phật bằng tiếng Anh do Motilal Banarsidss xuất bản được phổ biến tại nhiều nước trên thế giới.
phật thường quang tràng
Buddha of Eternal-Light Banner.
phật thất
2642請參閱 遺教經 指密教於白檀九位曼荼羅中,阿闍梨修供養瑜伽之座位。其席位位於大日如來之西方,不動明王、降三世明王之中間。行者進入曼荼羅中,由受持三昧耶戒,以達於究竟佛位,故稱阿闍梨之座位為佛室。阿闍梨住此佛室,以???(a)等五字嚴身,觀想與毘盧遮那之無二無別,則可住於大空三昧中。〔大日經卷一具緣品〕
; (佛室) Chỉ cho tòa ngồi của vị A xà lê tu chúng sinh Du già trong 9 vị trí Bạch đàn mạn đồ la trong Mật giáo. Tòa ngồi này được đặt ở phía tây đức Đại nhật Như lai, ở khoảng giữa minh vương Bất động và minh vương Hàng tam thế. Hành giả tiến vào trong Mạn đồ la, do thụ trì Tam muội da để đạt đến quả vị Phật cùng tột, nên tòa ngồi của vị A xà lê được gọi là Phật thất (nhà ở của Phật). Vị A xà lê trụ trong Phật thất này, dùng 5 chữ, bắt đầu là chữ (a)...để trang nghiêm thân mình, quán tưởng mình cùng với đức Tì lô giá na là một thể, không hai không khác. Quán tưởng như vậy thì có thể trụ trong tam muội Đại không. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1].
phật thần thông
2655即佛所具備之神通力。神通,乃超人類、超自然之力;然於禪門中,非指超人之奇特能力,而謂於尋常生活之中,無拘無礙,無所繫縛,不喪失自己之能力。又佛所具有六種不為六塵所繫縛之自在力量,稱為佛六通。臨濟錄示眾(大四七‧五○○上):「夫如佛六通者不然,入色界不被色惑,入聲界不被聲惑,入香界不被香惑,入味界不被味惑,入觸界不被觸惑,入法界不被法惑,所以達六種色聲香味觸法皆是空相,不能繫縛此無依道人,雖是五蘊漏質,便是地行神通。」
; (佛神通) Thần thông của đức Phật. Thần thông là năng lực siêu nhân loại, siêu tự nhiên; nhưng đối với Thiền gia thì thần thông chẳng phải là năng lực đặc biệt kì lạ và siêu nhân gì cả, mà chính là những năng lực như: Không cố chấp, không dính mắc, không bị trói buộc, luôn thức tỉnh, không đánh mất chính mình ngay trong những sinh hoạt ngày thường. Đức Phật có 6 thứ năng lực tự tại không bị 6 trần trói buộc, gọi là Phật lục thông. Theo Lâm tế lục thị chúng thì 6 thứ năng lực ấy là (Đại 47, 500 thượng): Vào thế giới màu sắc chẳng bị màu sắc mê hoặc, vào thế giới âm thanh không bị âm thanh mê hoặc, vào thế giới mùi hương chẳng bị mùi hương mê hoặc, vào thế giới vị giác không bị vị giác mê hoặc,vào thế giớixúc giác chẳng bị xúc giác mê hoặc,vào thế giới pháp trần chẳngbị pháp trần mê hoặc. Sở dĩ được như vậy là vì đứcPhậtđã thấu suốt 6 thứ sắc thanh hương vị xúc pháp đều là không tướng, cho nên Ngài không bị chúng trói buộc.
phật thập nhất trì
2606據華嚴經疏卷五十二、大方廣佛華嚴經隨疏演義鈔卷二十三載,佛以十一種持住於世間,以利益眾生,十一持即:(一)佛持,謂如來色相之身住持世間,能令眾生佛種不斷,稱為佛持。(二)法持,謂如來法性之法住持世間,能令眾生法種不斷,稱為法持。(三)僧持,謂如來應化菩薩聖僧住持世間,能令眾生僧種不斷,稱為僧持。(四)業持,謂如來見諸眾生造作惡業,故示現威猛勢力,逼令修善,如無厭足王,假現惡業之行,化諸眾生,稱為業持。(五)煩惱持,謂如來見諸眾生行於邪行,貪著煩惱,故隨彼類,示行貪欲,如對婆須蜜多女假行欲事,令之入於三昧而斷煩惱,稱為煩惱持。(六)時持,謂如來最初發心之時,以菩提大願為體,時時潤澤,無有間斷,稱為時持。(七)願持,謂如來往昔於「因位」之中,發大誓願,修諸功德,持令不失,稱為願持。(八)供養持,謂如來往昔修行之時,以諸供具持奉十方如來而為供養,稱為供養持。(九)行持,謂如來往昔勤修一切殊勝妙行,無量無邊,恆不厭足,稱為行持。(十)劫持,謂如來於無量劫中,具修梵行功德而證道果,住持經劫,化諸眾生,稱為劫持。(十一)智持,謂如來行滿功圓,證得一切種智,復以智慧辯才說種種法,調伏眾生,不令退失,稱為智持。
; (佛十一持) Mười một phưong thức trụ trì của đức Phật: 1. Phật trì: Thân sắc tướng của Như lai trụ trì nơi thế gian có năng lực làm cho hạt giống Phật trong chúng sinh không bị dứt mất. 2. Pháp trì: Pháp pháp tính của Như lai trụ trì nơi thế gian có năng lực làm cho hạt giống pháp của chúng sinh không dứt mất. 3. Tăng trì: Như lai ứng hóa Bồ tát Thánh tăng trụ trì nơi thế gian, có năng lực làm cho hạt giống tăng của chúng sinh không bị đoạn diệt. 4. Nghiệp trì: Như lai thấy các chúng sinh tạo tác ác nghiệp, cho nên thị hiện thế lực mạnh mẽ buộc phải tu thiện, như vua Vô yếm túc giả hiện tạo ác nghiệp để giáo hóa các chúng sinh. 5. Phiền não trì: Như lai thấy các chúng sinh làm các hạnh tà, tham đắm phiền não, nên tùy theo loài ấy mà thị hiện tham dục, như đối với người con gái Bà tu mật đa giả làm việc dâm dục, khiến cô ta nhập thiền định mà diệt trừ phiền não. 6. Thời trì: Khi Như lai mới phát tâm, lấy đại nguyện Bồ đề làm thể, luôn luôn tưới tẩm, không lúc nào gián đoạn. 7. Nguyện trì: Thủa xưa, lúc Như lai còn ở địa vị tu nhân, phát thệ nguyện rộng lớn, tu các công đức, giữ gìn không để mất. 8. Cúng dường trì: Thủa quá khứ, lúc Như lai trong giai đoạn tu hành, đã đem các vật cúng dâng lên các đức Như lai trong 10 phương để cúng dường. 9. Hành trì:Thủa xưa, Như lai siêng tu hết thảy diệu hạnh thù thắng, vô lượng vô biên không hề nhàm chán. 10. Kiếp trì: Trong vô lượng kiếp, Như lai đã tu đầy đủ các công đức phạm hạnh mà chứng được quả, trụ trì qua nhiều kiếp, giáo hóa chúng sinh. 11. Trí trì: Như lai tròn đủ công hạnh, chứng được Nhất thiết chủng trí, rồi dùng trí tuệ biệntài nói tất cả pháp, điều phục chúng sinh, không để lui mất. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.52; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.23].
phật thập túc duyên
2606請參閱大乘同性經 據佛說興起行經卷上、卷下載,如來眾惡皆盡,萬善普備,然因往劫造眾惡因,無數千歲,無量苦報猶殘餘未盡,於成道後,復償宿報,故說此十宿緣,以示人凡造惡業,果報難逃。 十宿緣即:(一)孫陀利謗佛緣。往昔波羅奈城有博戲人,名為淨眼,時有婬女,名為鹿相。淨眼誘引鹿相,至樹園中共相娛樂,並殺鹿相,埋於辟支佛廬中,累辟支佛因此將至死地。後淨眼乃自說其罪,因此被國王所殺。時彼淨眼即釋迦佛,鹿相即孫陀利。以是罪緣,無數千歲,受無量苦,今雖得佛,由此餘殃,故受孫陀利女之毀謗。(二)奢彌跋謗佛緣。過去遠劫有婆羅門,名為延如達,常教五百童子。復有一梵天婆羅門之婦,名為淨音,供養延如達。後有辟支佛入城乞食,淨音乃日具美食而供養之。延如達便興嫉妒,令童子謗此道士與淨音私通。後辟支佛現神變入滅,眾人乃知延如達虛妄。延如達即今釋迦佛,淨音即奢彌跋,五百童子即五百羅漢。因過去之嫉妒心,受諸苦報,今雖得佛,由此餘殃,故受奢彌跋之謗。(三)佛患頭痛緣。久遠過去世,羅閱祇城東,有〖⿰日 支〗越村,人民眾多,村東有多魚池,以饑饉之故,彼村人各攜妻子詣止池邊,捕魚食之。時捕魚人取魚,魚跳落地上,小兒以杖打彼魚頭。時池中有兩種魚,一為䴸魚,一為多舌魚。〖⿰日 支〗越村人即今之釋種,小兒即今釋迦佛,䴸魚即今流離王,多舌魚即今婆羅門惡舌。小兒打彼魚頭,因此受諸苦報,世尊今雖得佛,由此殘緣,流離王伐釋種時,即受頭痛之報。(四)佛患骨節煩疼緣。往昔羅閱祇城有長者子,得病甚困,即呼城中大醫子治之,允與錢財。病癒之後,不報其功。其後復病,又治之,如此治癒三次,而不報,後復得病,醫子即與非藥,病遂增遽而死。醫子即今釋迦佛,病子即今地婆達兜(提婆達多)。世尊以是因緣受諸苦報,今雖得佛,由此殘緣,故骨節煩疼。(五)佛患背痛緣。往昔羅閱祇國節日聚會,有兩力士,一為剎帝利種,一為婆羅門種,時共相撲。婆羅門語剎帝利言,卿莫撲我,當與卿財。後婆羅門不報所許,到後節會,復聚相撲,婆羅門復求如前,如此三次,皆不報所許。剎帝利力士遂挫折其脊,令婆羅門撲地而死,王大歡喜,賜金錢十萬。時剎帝利即今釋迦佛,婆羅門即地婆達兜。曩昔因貪財瞋恚,撲殺力士,以是罪緣,受諸苦報,今雖得佛,由此殘緣,故受背痛之報。(六)佛被木槍刺腳緣。往昔有兩部主賈客,入海取寶,後遇水漲爭船,第二部主與第一部主格戰,第二部主以缬刺第一部主腳,第一部主即便命終。第二部主即今釋迦佛,第一部主即地婆達兜。以是因緣,受諸苦報,今雖得佛,由此殘緣,故受木槍刺腳。(七)佛被擲石出血緣。往昔羅閱祇城有須檀長者,其子名為須摩提,父命終後,有異母弟,名為修耶舍。須摩提不欲與弟齊分家財,乃誘弟共往耆闍崛山,至高崖上,推置崖底,並落石殺之,其弟遂即命終。須摩提即今釋迦佛,修耶舍即地婆達兜。以是因緣,世尊受諸苦報,今雖得佛,由此殘緣,於耆闍崛山經行,為地婆達兜舉崖石擲頭,山神以手接石,石邊小片迸墮,擊中腳趾而出血。(八)佛被旃沙繫盂謗緣。往昔有佛,名為盡勝如來,會中有兩比丘,一名無勝,一名常歡。時波羅奈城有大愛長者婦,名為善幻,兩比丘往來其家。無勝比丘,已斷煩惱,故受供無缺;常歡比丘,煩惱未盡,受供微薄。常歡比丘遂生妒嫉心,誹謗無勝與善幻私通。常歡比丘即今釋迦佛,善幻婦者即旃沙。世尊以是因緣,受諸苦報,今雖得佛,由此餘殃,為外道比丘王臣說法時,多舌童女繫盂於腹,謂世尊使我有身,今當臨產,事須酥油,養於小兒,盡當給付。爾時會中釋提桓因乃化作一鼠,入多舌童女衣中,咬斷繫盂之繩,盂遂落地。(九)佛食馬麥緣。過去世時,有比婆葉如來,在槃頭摩跋城中受供畢,為病比丘請食而歸,過婆羅門所時,婆羅門見食香美,便起妒意,謂髠頭沙門,應食馬麥,不應食甘饌,亦教五百童子言。婆羅門即今釋迦佛,五百童子即五百羅漢。以是因緣,受諸苦報,今雖得佛,由此殘緣,世尊及五百羅漢於毘蘭邑食馬麥九十日。(十)佛經苦行緣。往昔波羅奈城邊,有婆羅門子,名為火鬘,復有瓦師子,名為護喜。護喜欲同火鬘共見迦葉如來,火鬘謂何用見此髠頭道人。如此三次,後日護喜再求,火鬘復謂何用見此髠頭道人,佛道難得,髠頭道人何有道哉!後火鬘隨護喜禮迦葉如來,睹佛相好,心生歡喜乃出家學道。火鬘即今釋迦佛,護喜即太子欲出家時,夜半來告時至之作瓶天子。昔時曾惡言對迦葉佛,以是因緣,世尊遂受諸苦報,臨成佛時,由此餘殃,復受六年苦行,以償餘業。
; (佛十宿緣) Mười duyên xấu ở kiếp trước của đức Phật mà sau khi tu hành thành đạo, Phật vẫn còn phải trả quả báo. Cứ theo kinh Phật thuyết hưng khởi hạnh thì 10 túc duyên ấy là: 1. Tôn đà lợi báng Phật duyên (bị Tôn đà lợi chê cười nói xấu): Trong 1 kiếp quá khứ, ở thành Ba la nại có 1 người chơi bời tên Tịnh nhãn và 1 dâm nữ tên Lộc tướng. Tịnh nhãn dụ dỗ Lộc tướng đưa vào rừng cây cùng nhau hành lạc, xong việc, Tịnh nhãn giết chết Lộc tướng và đem xác chôn bên cạnh ngôi am của vị Bích chiphật, làm cho vị này bị tội chết. Sau, Tịnh nhãn tự thú tội và bị nhà vua giết chết. Tịnh nhãn lúc bấy giờ nay chính là Phật Thích ca và Lộc tướng tức là Tôn đà lợi. Do tội duyên ấy mà đã trải qua trăm nghìn kiếp, chịu vô lượng khổ, đến nay tuy đã thành Phật nhưng ảnh hưởng của hành động tội ác ấy vẫn còn dây dưa sót lại, cho nên Phật bị nàng Tôn đà hủy báng. 2. Xa di bạt Phật duyên (bị Xa di bạt hủy báng): Trong 1 kiếp quá khứ xa xưa, có 1 người Bà la môn tên Diên như đạt, dạy dỗ 500 đứa trẻ. Bấy giờ người vợ của 1 Bà la môn Phạm thiên tên là Tịnh âm, thường cúng dường Diên như đạt. Sau có 1 vị Bích chi phật vào thành phố khất thực, Tịnh âm liền đem thức ăn ngon cúng dường vị Bích chi phật, Diên như đạt thấy thế khởi tâm ghen ghét và sai bọn trẻ con vu khống Bích chi phật tư thông với Tịnh âm. Sau, vị Bích chi phật hiện thần biến nhập diệt, lúc đó mọi người mới biết âm mưu dối trá của Diên như đạt. Diên như đạt nay chính là Phật Thích ca, Tịnh âm tức là Xa di bạt và 500 trẻ con nay chính là 500 vị La hán vậy. Do tâm ghen ghét, mưu toan hại người, đã phải chịu khổ báo trong nhiều kiếp, đến nay tuy đã thành Phật, nhưng Phật vẫn còn bị Xa di bạt hủy báng. 3. Phật hoạn đầu thống duyên (bị nhức đầu): Trong đời quá khứ lâu xa, ở phía đông thành La duyệt kì có thôn Chi việt, nhân dân đông đúc. Phía đông thôn này có nhiều ao cá, vì nạn đói kém nên dân trong thôn đưa vợ con đến các ao bắt cá để ăn, cá nhảy lên bờ ao, trẻ con lấy gậy đập đầu cá. Dân chúng thôn Chi việt bắt cá nay chính là dòng họ Thích, trẻ con đập đầu cá nay là Phật Thích ca, con cá trạch trong ao nay là vua Lưu li. Vì túc nghiệp đập đầu cá nên nay dầu đã thành Phật nhưng đức Thế tôn vẫn còn chịu khổ báo nhức đầu khi vua Lưu li đánh giết những người dòng họ Thích. 4. Phật hoạn cốt tiết phiền đống duyên (bị đau từng đốt xương): Trong kiếp quá khứ, tại thành La duyệt kì, có người con của 1 trưởng giả bị bệnh nặng, mời 1 thầy thuốc giỏi trong thành đến chữa trị, hứa trả công hậu. Nhưng sau khi hết bệnh, không trả chi cả. Sau bệnh tái phát, lại mời thầy cũ, cũng hứa trả tiền, nhưng rồi không trả. Cứ như thế đến 3 lần chữa lành bệnh mà thầy thuốc không được báo đền. Ít lâu, người con trưởng giả lại đau, lần này ông thầy cho uống thuốc độc, bệnh thêm trầm trọng và người bệnh chết liền. Thầy thuốc nay chính là Phật Thích ca, còn người bệnh thì nay là Đề bà đạt đa. Đức Thế tôn vì túc duyên ấy mà phải chịu khổ báo trong nhiều kiếp, nay tuythành Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên Ngài luôn bị đau khớp xương. 5. Phật hoạn bối thống duyên(bị đau lưng): Trong kiếp quá khứ xa xưa, vào dịp lễ tết, có 2 lực sĩ, 1 thuộc dòng Sát đế lợi, 1 thuộc dòng Bà la môn, thi đấu với nhau. Lực sĩ Bà la môn bảo lực sĩ Sát đế lợi đừng đánh mình thua và hứa sẽ trả nhiều tiền. Nhưng sau lực sĩ Bà la môn không trả, cứ thế 3 lần đều nuốt lời hứa. Đến hội tết sau lại đọ sức nữa, lực sĩ Sát đế lợi bèn đánh lực sĩ Bà la môn chết ngay trên đấu trường, nhà vua cả mừng, ban cho lực sĩ Sát đế lợi 10 vạn đồng tiền vàng. Lực sĩ Sát đế lợi lúc bấy giờ nay chính là Phật Thích ca, còn lực sĩ dòng Bà la môn thì nay chính là Đề bà đạt đa. Kiếp trước vì tham tiền nổi nóng, đánh chết lực sĩ, phải chịu nhiều khổ báo, nay tuy đã thành Phật nhưng túc duyên vẫn còn, nên Phật bị khổ báo đau lưng. 6. Phật bị mộc thương thích cước duyên (bị cây cọc gỗ nhọn đâm vào chân): Trong kiếp quá khứ xa xưa, có 2 thuyền trưởng vượt biển tìm của báu, bỗng gặp sóng gió bèn tranh giành thuyền của nhau nên 2 bên kịch chiến, thuyền trưởng Ất dùng cây giáo đâm vào chân của thuyền trưởng Giáp và người này chết liền tại chỗ. Thuyền trưởng Ất nay chính là Phật Thích ca, còn thuyền trưởng Giáp thì nay là Đề bà đạt đa. Vì nhân duyên ấy, chịu các khổ báo, nay tuy đã thành Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên Phật bị cọc gỗ nhọn đâm vào chân. 7. Phật bị trịch thạch xuất huyết duyên(bị ném đá chảy máu): Trong kiếp quá khứ, ở thành La duyệt kì có người con trưởng giả tên là Tu ma đề. Tu ma đề có người em cùng cha khác mẹ tên là Tu da xá. Sau khi người cha là Tu đàn chết, Tu ma đề không muốn chia gia tài cho em, bèn rủ em cùng vào núi Kì xà quật, khi lên đến chỗ sườn núi cao, Tu ma đề liền đẩy em xuống núi và người em chết ngay tại chỗ. Tu ma đề nay chính là Phật Thích ca, còn Tu da xá thì nay chính là Đề bà đạt đa. Vì nhân duyên này, đức Thế tôn đã phải chịu khổ quả trong nhiều kiếp, nay tuy đã được làm Phật nhưng dư báo vẫn còn, cho nên Ngài bị ném đá chảy máu. 8. Phật bị Chiên sa hê vu báng duyên (bị Chiên sa buộc bát nơi bụng vu khống): Trong 1 kiếp quá khứ lâu xa, có đức Phật hiệu là Tận thắng Như lai, trong hội của Ngài có2 vị tỉ khưu, 1 vị tên là Vô thắng, 1 vị tên là Thường hoan. Bấy giờ trong thành Ba la nại có người vợ của trưởng giả Đại ái tên là Thiện huyễn. Hai vị tỉ khưu Vô thắng và Thường hoan hay đến nhà Thiện huyễn khất thực. Tỉ khưu Vô thắng đã dứt hết phiền não nên được cúng dường nhiều hơn, còn tỉ khưu Thường hoan thì chưa đoạn hết phiền não, nên được cúng dường ít hơn. Tỉ khưu Thường hoan bèn sinh tâm ghen ghét, nên vu khống Vô thắng là tư thông với Thiện huyễn. Tỉ khưu Thường hoan nay chính là Phật Thích ca, còn Thiện huyễn thì nay chính là Chiên sa. Vì nhân duyên này mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều quả báo khổ não, nay tuy đã được làm Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên khi đức Phật đang nói pháp cho các ngoại đạo và vua quan nghe thì bị 1 cô gái chanh chua độn bụng chửa đến vu oan cho Ngài. 9. Phật thực mã mạch duyên (phải ăn thóc dành để nuôi ngựa): Trong kiếp quá khứ, có đức Như lai Tì bà diệp, khi Ngài nhận sự cúng dường ở trong thành Bàn đầu ma bạt xong, Ngài lấy 1 ít thức ăn mang về cho vị tỉ khưu bị bệnh ở tinh xá, khi đi ngang qua chỗ 1 người Bà la môn, người này thấy thức ăn Ngài đang mang theo rất thơm ngon, liền có ý ghen tức và nói với Ngài rằng: Ông sa môn đầu trọc chỉ đáng ăn lúa dành để nuôi ngựa, chứ không đáng ăn của ngon lành như thế này. Rồi người Bà la môn lại bảo 500 đứa trẻ cùng nói như vậy. Người Bà la môn nay chính là Phật Thích ca, 500 đứa trẻ tức là 500 vị La hán. Vì nhân duyên này mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều khổ não, nay tuy đã thành Phật nhưng dư báo vẫn còn, cho nên đức Như lai và 500 vị La hán phải ăn thóc dành để nuôi ngựa ở ấp Tì lan suốt 90 ngày. 10. Phật kinh khổ hạnh duyên (chịu 6 năm khổ hạnh): Trong 1 kiếp quá khứ, ở gần thành Ba la nại có người con Bà la môn, tên Hỏa man và con của 1 người thợ gốm, tên Hộ hỉ. Một hôm, Hộ hỉ rủ Hỏa man cùng đến yết kiến đức Ca diếp Như lai, nhưng Hỏa man bảo đến gặp lão trọc đầu ấy làm gì? Ba lần Hộ hỉ rủ Hỏa man, 3 lần Hỏa man đều trả lời như thế. Mấy ngày sau, Hộ hỉ lại rủ Hỏa man lần nữa, Hỏa man đành phải chiều lòng bạn mà đi. Khi đến nơi, Hỏa man thấy tướng hảo của đức Như lai, sinh tâm vui mừng, bèn xuất gia học đạo. Hỏa man nay chính là Phật Thích ca, còn Hộ hỉ tức thiên tử Tác bình – người lúc nửa đêm đến báo giờ cho Thái tử Tất đạt đa vượt thành xuất gia. Do túc duyên nói những lời xấu ác đối với đức Phật Ca diếp mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều khổ báo, nay tuy sắp thành Phật, nhưng dư báo vẫn còn, cho nên phải chịu khổ hạnh trong 6 năm để trả nghiệp.
phật thế
2617指佛陀在世教化之時代。然欲值佛世甚難,此係眾生八難之一。(參閱「八難」318)
; Buddha-age; especially the age when Buddha was on earth.
; (佛世) Chỉ cho thời đại đức Phật đang còn tại thế giáo hóa chúng sinh. Nhưng muốn gặp được Phật tại thế rất khó, đó là 1 trong 8 nạn của chúng sinh. (xt.Bát Nạn).
Phật Thế Tôn
佛世尊; C: fóshìzūn; J: butsuseson;|Đức Phật được tôn quý ở thế gian. Một trong Mười danh hiệu của đức Phật, phiên âm là Bạc-già-phạm (蒲伽梵; s: bhagavān).
phật thế tôn
Buddha Bhagavat (S)Một trong 10 Phật hiệu.
; Buddha, the world honoured.
Phật Thế Tôn 佛世尊
[ja] ブツセソン butsuseson ||| The world-honored Buddha; world honored tathāgata. One of the ten epithets 十號 of the Buddha, transcribed as (bhagavān) . (e: The world-honored Buddha) => Đức Như Lai được tôn quý ở thế gian. Một trong 10 danh hiệu của Đức Phật, phiên âm là Bạc-già-phạm (蒲伽梵s: bhagavān). Phật thị tạp biện 佛氏雜辨 [ja] ブツシゾウベン Busshi zōben ||| The Pulssi chappyŏn (Arguments Against the Buddhists), a late 14th century Korean Neo-Confucian polemical critique of Buddhism by Chŏng Tojŏn (鄭道傳 pen name: Sambong 三峰 1342-1398). In this work he carried out his most comprehensive refutation of Buddhism, singling out Buddhist doctrines and practices for detailed criticism. Chŏng stated that this book was written with the objective of refuting Buddhism once and for all "lest it destroy morality and eventually humanity itself." The charges leveled against Buddhism in the Pulsshi chappyŏn constitute a full inventory of the various arguments made by Confucians and Neo-Confucians from the time of the introduction of Buddhism into East Asia during the second century C.E. These arguments are arranged in eighteen sections, each of which is a critique on a particular aspect of Buddhist doctrine or practice. => (k: Pulsshi chappyŏn ) (j: Busshi zōben); (e: Arguments Against the Buddhists) Luận chiến phê phán đạo Phật vào thế kỷ thứ 14 từ phía Nho giáo của Quách Đạo Truyền (k: Chŏng Tojŏn ), bút danh là Tam Phong (k: Sambong 三峰 , 1342-1398). Trong tác phẩm nầy, ông đưa ra những vấn đề bao quát nhất để bài xích Phật giáo, tách riêng ra phần giáo lý và thực hành để phê bình chi tiết. Ông Quách cho rằng tác phẩm nầy được viết ra một cách khách quan để bài bác Phật giáo, tất cả là "để khỏi bị phá hoại nền đạo đức và cuối cùng là nhân tính". Mức độ cuộc tấn công vào Phật giáo của Phật thị tạp biện 佛氏雜辨 (k: Pulsshi chappyŏn ) bao gồm một tóm tắt đầy đủ về những lý lẽ khác nhau của các nhà Khổng học và Tân Khổng học từ thời kỳ Phật giáo du nhập vào Á Đông thế kỷ thứ hai. Các lý lẽ được trình bày thành 18 chương, mỗi chương phê phán mỗi khía cạnh riêng biệt về giáo lý hay thực hành của đạo Phật.
phật thế tịnh quang
Buddha of Light Which Makes the World Serene Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật thị
佛氏; C: fóshì; J: busshi.|Những nhà tư tưởng Phật giáo, triết gia Phật giáo, những người tu tập theo đạo Phật.
Phật thị tạp biện
佛氏雜辨; C: fóshì zábiàn; J: busshi zōben; K: pulsshi chappyǒn.|Luận chiến phê phán đạo Phật vào thế kỉ thứ 14 từ phía Nho giáo của Trịnh Đạo Truyền (鄭道傳; k: chǒng tojǒn, bút danh là Tam Phong 三峰; k: sambong, 1342-1398). Trong tác phẩm nầy, ông đưa ra những vấn đề bao quát nhất để bài xích Phật giáo, tách riêng ra phần giáo lí và thực hành để phê bình chi tiết. Ông Trịnh cho rằng tác phẩm nầy được viết ra một cách khách quan để bài bác Phật giáo, tất cả là »để khỏi bị phá hoại nền đạo đức và cuối cùng là nhân tính.« Mức độ cuộc tấn công Phật giáo của Phật thị tạp biện bao gồm một tóm tắt đầy đủ về những lí lẽ khác nhau của các nhà Nho giáo và Tân Nho giáo từ thời kì Phật giáo du nhập vào Đông Á thế kỉ thứ 2. Các lí lẽ được trình bày thành 18 chương, mỗi chương phê phán mỗi khía cạnh riêng biệt về giáo lí hay thực hành của đạo Phật.
Phật thị 佛氏
[ja] ブッシ busshi ||| Buddhists; Buddhist thinkers; Buddhist philosophers; Buddhist practitioners. [佛家] => Những nhà tư tưởng Phật giáo, triết gia Phật giáo, những người tu tập theo đạo Phật.
phật thọ
2744其義有二,即:(一)指釋尊一期生命之歲壽。(二)久遠實成之釋尊與後之釋迦牟尼佛之壽量。
; Buddha-dattha (S), Buddha-datta (S)Ngài Phật Thọ, thế kỷ thứ V.
; Buddha's life, or age.
; (佛壽) Chỉ cho tuổi thọ 1 đời của đức Thế tôn, hoặc chỉ cho thọ lượng của đức Thế tôn đã thành Phật từ lâu xa hoặc thọ lượng của đức Phật Thích ca sau này.
phật thọ luận sư
Buddhatta (S)Tên một vị sư.
phật thọ tứ dụ
2744據金光明經卷一載,佛陀之壽命有四種譬喻,即:(一)海滴喻,一切諸水若以滴計,可知其數,而佛陀之壽命不能數之。(二)山斤喻,諸須彌山以斤量之,可知其重量,而釋尊之壽命不能量。(三)地塵喻,一切之大地可知其塵數,而釋尊之壽命不能算之。(四)虛空界喻,虛空之分界尚可盡邊,而釋尊之壽命不能計之。〔金光明最勝王經卷一〕
; (佛壽四喻) Bốn thí dụ về tuổi thọ của đức Phật nói trong kinh Kim quang minh quyển 1. 1. Hải trích dụ (dụ giọt nước biển): Nếu đếm giọt nước của tất cả các sông thì ta có thể biết được, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không biết được. 2. Sơn cân dụ (dụ cân núi): Dùng cân mà cân các núi Tu di thì có thể biết được trọng lượng của chúng, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không thể lường được. 3. Địa trần dụ (dụ bụi của đất): Ta có thể biết được số bụi nhỏ của tất cả đại địa, nhưng tuổi thọ của đức Thế tôn thì không thể tính được. 4. Hư không giới dụ(dụ cõi hư không): Cõi hư không còn có thể có giới hạn, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không thể tính toán được. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1].
phật thời
Buddhataraṁ (S), Period of a Buddha.
phật thụ
2657巴利名 Buddhadatta。為五世紀之巴利學僧。南印度朱羅國(The Kingdom of Cola)優羅伽城(巴 Uragapura)人。曾入錫蘭大寺(巴 Mahāvihāra)研究佛學,後歸印度,住於某一毘紐教派(梵 Vaiṣṇava)之改革者克利西那陀沙(梵 Kiṣṇadāsa)所建之僧院中,專事著述工作。據律決定(巴 Vinaya-vinicchaya,又稱毘奈耶決擇論)載,師自錫蘭歸國途中遇佛音,曾請求佛音送一部三藏之注釋書,師既得其書,乃摘要而編成「律決定」及「入阿毘達磨論」(巴 Abhidhammāvatāra),頗受當時著名學僧之敬重。其年壽不詳。著作除上述二書外,另有上勝決定(巴 Uttara-vinicchaya)、色非色分別(巴 Rūpārūpa-vibhāga)及妙義悅意(巴 Madhurattha-vilāsinī,為「佛種姓」之注)等,以入阿毘達磨論最為殊勝。〔B.C. Law: A History of Pāli Literature; G.P. Malalasekera:Dictionary of Pāli Proper Names〕
; Bodhidruma (S). The Bodhi-tree under which Sàkyamuni obtained enlightenment.
; (佛授) Pàli: Buddhadatta. Cao tăng Ấn độ, người nước Chu la (The Kingdom of Cola), thành Ưu la già (Pàli: Uragapura), Nam Ấn độ, sống vào thế kỉ V. Sư từng đến Tích lan trụ ở Đại tự (Pàli: Mahàvihàra), nghiên cứu Phật học, sau đó, sư về Ấn độ ở trong 1 tăng viện của giáo phái Tì nữu (Phạm: Vaiwịava) do Kiwịadàsa – nhà cải cách tông giáo – xây dựng, chuyên việc soạn thuật. Cứ theo Luật quyết định (Pàli: Vinaya - vinicchaya, cũng gọi Tì nại da quyết trạch luận) thì lúc trên đường từ Tích lan trở về Ấn độ, sư đã gặp ngài Phật âm; sư có xin ngài 1 bộ sách chú thích Tam tạng và ngài đã tặng sư bộ sách ấy. Sư bèn trích lấy những phần cốt yếu trong bộ sách của ngài Phật âm mà biên soạn thành Luật quyết định và Nhập a tì đạt ma luận (Pàli: Abhidhammàvatàra), rất được các học giả đương thời kính trọng. Ngoài 2 tác phẩm trên, sư còn có: Thượng thắng quyết định (Pàli: Uttaravinicchaya), Sắc phi sắc phân biệt (Pàli: Rùpàrùpa-vibhàga), Diệu nghĩa duyệt ý (Pàli: Madhurattha-vilàsinì, sách chú thích Phật chủng tính. [X. A History ofPàliLiterature, by B.C. Law; Dictionary of PàliProper Names, by G.P.Malalasekera].
phật thụ kí tự
2657位於河南洛陽。唐代則天武后時,白馬寺主懷義所建,來華之三藏多住於此譯經。長壽二年(693),菩提流志於本寺翻譯寶雨等經。證聖元年(695)五月,實叉難陀來華,時義淨自西域歸,帶回梵本經文四百餘部及金剛座真容、舍利三百粒,受命奉入本寺;難陀本入大遍空寺譯華嚴經,後移入本寺從事譯經。太后嘗親幸於此,躬任筆削,並施供食饌。聖曆二年(699)十月,完成新譯華嚴經八十卷,法藏遂奉命於此講八十華嚴。明佺等亦於此寺撰錄武周刊定眾經目錄十五卷。乃當時洛陽最負盛名之寺。〔大周刊定眾經目錄卷十五、華嚴經傳記卷一、大方廣佛華嚴經感應傳、開元釋教錄卷七、卷九、宋高僧傳卷一至卷六、舊唐書列傳第一三三懷義傳〕
; (佛授記寺) Chùa ở thành Lạc dương, do ngài Hoài nghĩa xây dựng vào đời Đường. Các vị cao tăng từ Ấn độ đến Trung quốc, phần nhiều trụ ở chùa này để dịch kinh. Năm Trường thọ thứ 2 (693), ngài Bồ đề lưu chí dịch kinh Bảo vũ ở chùa này. Tháng 5 niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695), ngài Thực xoa nan đà đến Trung quốc, lúc đầu ngài trụ ở chùa Đại biến không, ít lâu sau cũng dời về chùa này để dịch kinh Hoa nghiêm. Lúc ngài Nghĩa tịnh từ Ấn độ về nước, mang theo nhiều kinh điển tiếng Phạm, tranh tượng và xá lợi Phật... đều được cất giữ ở chùa này. Nữ hoàng Vũ hậu Tắc thiên từng đến đây lễ Phật và cúng dường trai soạn chư tăng, đồng thời quan sát việc dịch kinh. Năm Thánh lịch thứ 2 (699), bộ kinh Hoa nghiêm 80 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch, được hoàn thành, ngài Pháp tạng liền vâng sắc giảng bộ kinh này. Các ngài Minh thuyên... cũng soạn Vũ chu san định chúng kinh mục lục 15 quyển tại chùa này. Đây là ngôi chùa nổi tiếng nhất ở thành Lạc dương thời bấy giờ. [X. Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.15; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.7,9;Tống cao tăng truyện Q.1–6; Hoài nghĩa truyện trong Cựu đường thư liệt truyện 133].
phật thụ nha
2755為密教所說初地淨菩提心之修行位。又稱佛樹王牙。牙,即芽。蓋眾生皆有佛性,故未經修行之前即有菩提心,是為本有之菩提心,可視為「種子」;與之相對者,經由修行之功而漸萌之菩提心,則為修生之菩提心,可視為「芽」。故密教多以「佛樹牙」稱初地淨菩提心之修行位。大日經疏卷一(大三九‧五九二上):「行者最初開發金剛寶藏時,見是心性如淨虛空,超諸數量,爾時離因業生,佛樹牙生。」
; (佛樹牙) Cũng gọi Phật thụ vương nha. Giai vị tu hành của Sơ địa tịnh bồ đề tâm trong Mật giáo. Nha là mầm non của cây. Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, cho nên khi chưa tu hành thì cũng đã có tâm bồ đề, đó tức là tâm bồ đề sẵn có, có thể được xem như hạt giống (chủng tử). Trái lại, tâm bồ đề nhờ đã trải qua công phu tu hành mà dần dần nảy mầm thì là tâm bồ đề tu sinh (do tu mà nảy sinh), có thể được xem là mầm (nha). Bởi thế, Mật giáo thường dùng từ Phật thụ nha (mầm cây Phật) để gọi giai vi tu hành Sơ địa tịnh bồ đề tâm. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 592 thượng) nói: Khi hành giả bắt đầu mở toang kho báu kim cương thì thấy tâm tính này như hư không thanh tịnh, vượt ngoài các số lượng, lúc bấy giờ tâm ấy lìa nghiệp nhân mà sinh, là mầm cây Phật nảy sinh (Phật thụ nha sinh).
phật thủ nham
2613<一>位於江西星子縣廬山昇仙臺之東北。崖石參差,狀如佛手,故得此名。巖下有石窟,深約十公尺,巖北有竹林寺,唐末五代鹿門處真之法嗣行因及谷隱蘊聰之法嗣修己皆曾住此。此外,亦常有文人騷客遊此詠詩。〔廬山志卷二〕 <二>即唐末五代曹洞宗僧行因。鴈門(山西)人,俗姓、生卒年均不詳。參謁曹山本寂下之鹿門處真,得處真之印可;其後宴居於廬山北之佛手巖,故世稱「佛手巖和尚」。南唐之李主曾三度召喚,師皆不應。後於廬山棲賢寺開堂說法,逾月後歸巖室。又師平居之時,左右常有異鹿、錦囊鳥各一隻及鄰庵之僧隨侍在側。於南唐保大(943~957)年間示寂,世壽約七十。門人於巖背建塔供奉。〔宋高僧傳卷十三佛手行因章、景德傳燈錄卷二十三、五燈會元卷四〕
Phật thừa
xem Ba thừa.
; 佛乘; S: buddhayāna; cũng còn được gọi là Nhất thừa (s: ekayāna);|»Cỗ xe duy nhất«, giáo pháp cao tột đưa đến Giác ngộ và Phật quả.
phật thừa
2643<一>梵語 buddha-yāna。又作菩薩乘、大乘、如來乘。此係相對於聲聞、緣覺二乘,而指菩薩乘;蓋菩薩乃居於「真實成佛」之出發點以求佛道,故稱為佛乘。〔增一阿含經卷四十五、法華經卷二譬喻品〕(參閱「菩薩乘」5220) <二>華嚴、法華說一切眾生悉可成佛之教法,稱為佛乘。此法不分二乘、三乘等,而說唯一成佛之法,故又稱一乘。法華經方便品(大九‧一四○上):「如來但以一佛乘故,為眾生說法。」〔法華玄義卷一、法華玄義釋籤卷一、三藏法數卷三十二〕
; Buddhayāna (S), Buddha Vehicle Phật thừa là giáo pháp đức Thế tôn dạy trước khi nhập diệt. Lúc đầu đức Thế tôn dạy Thanh văn thừa để đệ tử đắc quả A la hán. Kế đó Ngài dạy Duyên giác thừa để đua đệ tử đến cảnh Niết bàn của bậc Duyên giác. Sau đó Ngài dạy Bồ tát thừa cho những vị tu trì quả vị Bồ tát. Cuối cùng ấy nấy đều thuần thục nên Ngài gom lại thành Nhứt thừa hay Phật thừa để dạy đệ tử tu thành Phật trong vị lai.
; The Buddha-vehicle.
; (佛乘) I. Phật Thừa. Phạm: Buddha-yàna. Cũng gọi Bồ tát thừa, Đại thừa, Như lai thừa. Chỉ cho Bồ tát thừa. Vì Bồ tát tu đạo mục đích là cầu thành Phật, cho nên đối lại với 2 thừa Thanh văn và Duyên giác mà gọi Bồ tát thừa là Phật thừa. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.45; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2]. (xt. Bồ Tát Thừa). II. Phật Thừa. Chỉ cho các kinh Hoa nghiêm và Pháp hoa. Vì giáo pháp của các kinh này nói hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên gọi 2 kinh này là Phật thừa. Lại vì pháp này không chia Nhị thừa, Tam thừa mà chỉ nói 1 pháp thành Phật duy nhất, cho nên cũng gọi Nhất thừa. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 140) ghi: Như lai chỉ dùng Nhất Phật thừa để nói pháp cho chúng sinh. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Tam tạng pháp số Q.32].
phật thừa giới
2644志求佛果者所受之戒律。即梵網經所說之戒律。〔大日經學處品〕(參閱「戒」2896)
; (佛乘戒) Giới luật của người dốc chí cầu quả vị Phật thụ trì. Tức giới luật được nói trong kinh Phạm võng. [X. phẩm Học xứ kinh Đại nhật]. (xt. Giới).
phật tiền
2755請參閱遺教經 寺院中,屬佛、屬法、屬僧之物,不得隨意互用,如佛錢乃專供修繕佛像等所用之錢。
; (佛錢) Tiền thuộc về Phật. Trong các chùa viện, những vật của Phật, của pháp, của tăng không được tùy tiện dùng lẫn lộn. Chẳng hạn như tiền thập phương dâng cúng Phật, chỉ được dùng để sửa sang tượng Phật, chứ tuyệt đối không được sử dụng vào việc khác.
Phật toạ
佛座|Nơi Phật ngồi, cái nền Phật ngồi. Phật toạ được trình bày trong tranh tượng phần lớn dưới ba dạng: 1. Sư tử toạ, 2. Liên hoa toạ và 3. Tu-di toạ.|Sư tử là chúa tể của loài thú, biểu hiện của Thế giới vương và năng lực chinh phục được tất cả của Phật pháp. Hoa sen là biểu hiện của sự tinh khiết, vô cấu nhưng đôi lúc cũng được xem là biểu tượng của vũ trụ và vị Phật ngồi trên đó được hiểu như một Vũ trụ vương, hiện thân của thể tính tuyệt đối, của Chân như. Dạng liên hoa toạ được tìm thấy lần đầu trong nghệ thuật Càn-đà-la (gan-dhāra) ở thế kỉ 3-4. Dạng ngồi thứ ba được tìm thấy trong nghệ thuật Trung Quốc và Nhật Bản. Phật ngồi trên núi Tu-di và núi này có dạng như một đồng hồ cát, tức là ở chính giữa hẹp hơn ở hai đầu.|Thỉnh thoảng người ta cũng trình bày đức Phật ngồi trên thân xoắn lại của một con rắn chín đầu và chín đầu này vươn qua khỏi đầu của đức Phật để bảo vệ Ngài. Một cách trình bày khác là hai con nai quì đối nhau trước chỗ Phật ngồi, ở giữa có một bánh xe pháp (Pháp luân). Cách trình bày này nhắc lại lần Phật chuyển pháp luân tại Lộc uyển, thuyết giảng Phật pháp cho năm vị Tỉ-khâu.
phật trang nghiêm cảnh giới tam muội
2722請參閱 無門慧開禪師語錄 即指住於諸佛自證真實之體之三昧。與「法界體性三昧」異名同體。佛境界,係指諸佛自證之真實境界;莊嚴,即指此如來自證之體乃以無量之德而為莊嚴之意。據大日經卷二普通真言藏品載,普賢菩薩曾住於此三昧中,宣說無礙力之真言。〔大日經疏卷十〕
; (佛莊嚴境界三昧) Chỉ cho Tam muội trụ trong thể tự chứng chân thực của chư Phật. Phật cảnh giới là cảnh giới chân thực mà chư Phật tự chứng được. Trang nghiêm nghĩa là cái thể Như lai tự chứng được trang nghiêm bằng vô lượng công đức. Cứ theo phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật quyển 2 thì Bồ tát Phổ hiền từng trụ trong Tam muội này mà tuyên thuyết chân ngôn Vô ngại lực. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].
phật tri kiến
2637梵語 tathāgatajñāna-darśana。指諸佛如來照見諸法實相妙理之知見慧解。此係二智中「一切種智」之用,故就智體而言「知」;亦為五眼中「佛眼」之用,故就眼而言「見」。蓋所謂「佛之知見」,乃透徹了達諸法實相之真知真見。而如來出世之一大事因緣,即在為眾生而「開啟」佛之知見,「示導」佛之知見,欲令眾生「了悟」佛之知見,並令「證入」佛之知見,還其本來清淨面目而不復迷失。 法華文句卷四上次第就開、示、悟、入等四字,特立四位、四智、四門、觀心四釋等名目而闡明「佛知見」之旨義。其中,就四位而言,若以「開」配於十住位,此位斷除一分無明,得少分知見,此即「開」佛知見;準此,則「示」配於十行大白位,「悟」配於十迴向小赤位,乃至於「入」配於十地大赤位,此位斷盡一切無明,證得知見圓明,此即「入」佛知見。其次,若就四智而言,則以道慧、道種慧、一切智、一切種智等四智次第配於開、示、悟、入。若就四門而言,則以空、有、亦有亦空、非有非空等四門分別配於開、示、悟、入。若就觀心四釋而言,則以空假中三諦諦理之不可思議為「開」;以分別空假中之心為「示」;以空假中之「三一相即」為「悟」;以空假中之心非存於空假中三者任何一者之中,然又齊照空假中三者為「入」。 法華經(大九‧七上):「諸佛世尊,唯以一大事因緣故,出現於世:諸佛世尊,欲令眾生『開』佛知見使得清淨故,出現於世;欲『示』眾生佛之知見故,出現於世;欲令眾生『悟』佛知見故,出現於世;欲令眾生『入』佛知見道故,出現於世。」〔法華經玄義卷二上、卷九、摩訶止觀卷三、法華文句記卷四下、四教義卷十二〕
; The penetrative power of Buddha's wisdom.
; (佛知見) Phạm: Tathàgatajĩàna-darzana. Chỉ cho sự thấy biết của chư Phật Như lai, thấu suốt lí mầu nhiệm của thực tướng các pháp. Kinh Pháp hoa (Đại 9, 7 thượng) nói: Chư Phật Thế tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời: Chư Phật Thế tôn muốn làm cho chúng sinh khơi mở tri kiến Phật để được thanh tịnh nên xuất hiện nơi đời; muốn chỉ bày cho chúng sinh thấy được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời, muốn khiến cho chúng sinh tỏ ngộ được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời; muốn làm cho chúng sinh nhập vào tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2,9; Ma ha chỉ quán Q.3; Pháp hoa văn cú kí Q.4, hạ; Tứ giáo nghĩa Q.12].
Phật Triết
(佛哲, Buttetsu, ?-?): còn gọi là Phật Triệt (佛徹, Buttetsu), vị tăng sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam, Huế). Ông đến miền Nam Ấn Độ, theo học với Bồ Đề Tiên Na (菩提僊那) và sở trường về chú thuật. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng (多治比廣), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji), chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp, các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v. Nhạc Lâm Ấp là một bộ môn trong Nhã Nhạc khúc; và tương truyền 7 khúc ngoại trừ Vạn Thu Nhạc (萬秋樂) trong Lâm Ấp Bát Nhạc (林邑八樂, gồm Bồ Tát [菩薩], Lăng Vương [陵王], Ca Lăng Tần [迦陵頻], An Ma [安摩], Bội Lư [倍臚], Bạt Đầu [拔頭], Hồ Ẩm Tửu [胡飲酒] và Vạn Thu Nhạc [萬秋樂]) đều do Phật Triết truyền vào. Nhạc Lâm Ấp từng được diễn tấu trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼會, năm thứ 4 [752] niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寶]), Đại Hội Cúng Dường Tu Sửa Đầu Tượng Đại Phật (大佛佛頭修理供養無遮大會) tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), buổi khánh yến của triều đình hay những trai hội ở các tự viện, v.v. Đặc biệt trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật, ông là vị thầy dạy các điệu múa cúng dường. Vào năm thứ 4 (809) niên hiệu Đại Đồng (大同), các nhạc sư Lâm Ấp thuộc Ban Nhã Nhạc được quy định 2 người; đến năm thứ 7 (883) niên hiệu Nguyên Khánh (元慶), họ chọn ra 107 người nhạc công Lâm Ấp, cho tiến hành diễn tập tại Đại An Tự và hong phơi các nhạc cụ Lâm Ấp vào tháng 6 hằng năm. Bản dật văn Chí Ma Quốc Phong Thổ Ký (志摩國風土記) ghi lại việc Phật Triết có phục vụ trong tế điển ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) vào năm thứ 9 (737) niên hiệu Thiên Bình. Tuy nhiên, có nghi vấn cho rằng có thể đây không phải là loại hình ghi chép về phong thổ dưới thời Nại Lương mà thuộc loại ký lục khác.
phật triết
2644八世紀頃之林邑國僧。又稱佛徹。遊歷天竺,師事菩提僊那,通達密咒。開元年間,隨菩提僊那來我國。開元二十四年(736)相與至日本,住於大安寺,教授梵語,受朝野之崇敬。天平勝寶四年(752)東大寺大佛修開眼供養,師為奏舞樂,傳菩薩舞、拔頭舞、林邑樂等。著有悉曇章一卷。其生卒年不詳。
; (佛哲) Cũng gọi Phật triệt. Danh tăng người nước Lâm ấp, sống vào khoảng thế kỉ VIII. Sư sang Thiên trúc (Ấn độ), thờ ngài Bồ đề Tiên na làm thầy, thông suốt mật chú. Sau, sư theo ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc. Năm Khai nguyên 24 (736), 2 người cùng đến Nhật bản, trụ ở chùa Đại an, dạy tiếng Phạm, rất được triều đình và dân chúng kính trọng. Năm Thiên bình thắng bảo thứ 4 (752), chùa Đông đại cử hành nghi thức Khai nhãn cúng dường Đại Phật, sư tấu vũ nhạc, truyền Bồ tát vũ, Bạt đầu vũ, Lâm ấp vũ... Sư có tác phẩm: Tất đàm chương 1 quyển.
phật truyện điển tịch
2729請參閱梵志阿
; (佛傳典籍) Chỉ cho những kinh sách nói về sự tích 1 đời đức Phật, hoặc các bộ luận đứng trên lập trường giá trị tư tưởng nhân loại mà nghiên cứu, phân tích, phê bình, đánh giá các sự tích, tinh thần, giáo thuyết của đức Phật. Ngoài ra, cũng bao gồm những trứ tác với nôi dung phân loại, chỉnh lí, khảo chứng và phê phán các kinh điển, các bộ luận nói trên. Sự biên soạn những điển tịch Phật truyện cũng chịu ảnh hưởng của phương hướng truyền bá Phật giáo mà hình thành 2 hệ thống là hệ thống Phật truyện Bắc truyền Phạm ngữ, hệ thống Phật truyện Nam truyền Pàli ngữ và Phật truyện của 2 hệ thống này cũng có đôi chút khác nhau. Thông thường nội dung của Phật truyện Bắc truyền được chia làm 8 hạng mục lớn, gọi là Bát tướng thành đạo, đó là: Từ cung trời Đâu suất xuống, gá thai, đản sinh, xuất gia, hàng phục quân ma, thành đạo, quay bánh xe pháp và vào Niết bàn. Còn nội dung của Phật truyện Nam truyền thì chỉ có 4 hạng mục, gọi là Tứ đại Phật sự, đó là: Đản sinh, thành đạo, quay bánh xe pháp lần đầu tiên và vào Niết bàn. Đặc điểm của Phật truyện Bắc truyền là nóimột cách chi tiết về những sự tích của đức Phật như: Bản sinh đàm, xuất gia, thành đạo...Về những kinh điển Phật truyện trong kho tàng Hán dịch đồ sộ thì có: 1. Kinh tu hành bản khởi, 2 quyển, do 2 Ngài Trúc đại lực và Khang mạnh tường cùng dịch vào đời Đông Hán, nói về sự tích đức Phật từ đời quá khứ đến lúc hàng ma, thành đạo. 2. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, 2 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch ở nước Ngô đời Tam quốc, nói về Bản sinh đàm của đức Thích tôn ở đời quá khứ được đức Phật Định quang thụ kí cho đến khi thành đạo và độ cho 3 anh em Ca diếp. 3. Kinh Phổ diệu (Phạm:Lalitavistara), 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, nói về đức Phật từ khi giáng sinh đến lúc quay bánh xe pháp lần đầu. 4. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm, 12 quyển, do ngài Nhật chiếu dịch vào đời Đường, là bản dịch khác của kinh Phổ diệu. 5. Kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, 1 quyển, do cư sĩ Nhiếp đạo chân dịch vào đời Tây Tấn, nói từ khi đức Thích tôn trải tóc và được thụ kí ở quá khứ cho đến khi 3 anh em nhà Ca diếp qui y. 6. Kinh Trung bản khởi, 2 quyển, do ngài Đàm quả và cư sĩ Khang mạnh tường cùng dịch vào đời Đông Hán, nói về các sự tích từ sau khi đức Phật quay bánh xe pháp. 7. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, 4 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu tống, nói về sự tích đức Phật từ đời quá khứ làm tiên Thiện tuệ (nhân) đến khi thành đạo và giáo hóa Đại ca diếp (quả). 8. Kinh Hưng khởi hành, 2 quyển, do cư sĩ Khang mạnh tường dịch vào đời Đông Hán, nói về 10 truyện Bản sinh đàm của đức Phật. 9. Kinh Phật bản hành tập, 60 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, Phật truyện do Pháp tạng bộ truyền. Nội dung bao gồm Bản sinh đàm, xuất gia, thành đạo, giáo hóa đệ tử của đức Phật và các truyện kí của các đệ tử... 10. Kinh Chúng hứa ma ha đế, 13 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, nói về đức Phật từ khi đản sinh đến khi cácVương tử dòng Thích ca xuất gia. 11. Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), 5 quyển, do Bồ tát Mã minh soạn, ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. Nói về sự tích đức Phật từ khi đản sinh đến khi 8 nước phân chia xá lợi. 12.KinhPhật bản hành, 7 quyển, do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống, là bản dịch khác của Phật sở hành tán. 13. Kinh Lăng già la sát sở tập, 3 quyển, do ngài Tăng già Bạt trừng dịch vào đời Tiền Tấn, nói về sự tu hành của đức Phật ở đời trước và sự hóa độ chúng sinh của Ngài ở đời này. 14. Hữu bộ tì nại da phá tăng sự, 20 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Từ quyển 1 đến quyển 9 là bản dịch khác của kinh Chúng hứa ma ha đế. 15. LuậtTứ phần từ quyển 31 đến quyển 35, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch. Những kinh điển Phật truyện về phía Phật giáo Nam truyền thì có: 1. Luật tạng đại phẩm (Pàli: Mahàvagga). 2. Kinh Đại thừa niết bàn (Pàli: Mahàparinibhàna-sutta). 3. Bản sinh kinh Phật truyện (Pàli: Nidàna-kathà), do ngài Phật âm soạn. 4. Hoa man trang nghiêm sự (Pàli: Màlà-alaôkàra), nguyên văn đã bị thất lạc, chỉ còn các bản dịch tiếng Miến điện và tiếng Anh. Bản tiếng Anh do ông P. Bigandet dịch, nhan đề là: The Life or Legend of Gaudama, the Buddha of the Burmese. Về Phật truyện bằng tiếng Phạm thì có: 1. Mahàvastu (Đại sự) thiên thứ 2. 2. Saundarananda (Tôn đà la nan đà thi) dobồ tát Mã minh soạn. 3. Zatapaĩcazatikà-stotra (Một trăm năm mươi bài tán, do ngàiMàtfcetasoạn). 4. Catu#zataka-stotra (Bốn trăm bài tán, do ngài Màtfceta soạn). 5. Avadànakalpalatà (Như ý mạn dụ, do ngài Kwemendra soạn). Về Phật truyện tiếng Tây tạng thì có: 1. Bde-gsegs-gstan-pa#i-chos-byuí (Thiện thệ giáo pháp sử), tức là Lịch sử Phật giáo do ngài Bố đốn (Tạng: Bu-ston) soạn. 2. Vai-dù-rya-dkar-po#i gya#-sel (Bạch lưu li trừ tiêu). 3. Dpag-bsam ljon-bzaí (Như ý bảo thụ). 4. Lam-rim rgyud-pa#i bla-ma#i rnam-thar íag-pa (Đạo thuận truyền đăng sử truyện). 5. Dam-pa#i chos-kyi #kor-los bsgyur-ba (Chuyển chính pháp luân). Về Phật truyện do người Trung quốc soạn thì có: 1. Thích ca phổ, 5 quyển, do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương. 2. Kinh luật di tướng (quyển 4), do ngài Bảo xướng soạn vào đời Lương. 3. Lịch đại tam bảo kỉ (quyển 1), do cư sĩ Phí trường phòng soạn vào đời Tùy. 4. Thích ca thị phổ, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường. 5. Pháp uyển châu lâm (quyển 8 đến quyển 11), do ngài Đạo thế soạn vào đời Đường. 6. Thích ca Như lai thành đạo kí, 1 quyển, do cư sĩ Vương bột soạn vào đời Đường. 7. Thích ca Như lai thành đạo kí chú, 2 quyển, do ngài Đạo thành soạn vào đời Tống. 8. Cảnh đức truyền đăng lục (quyển 1) do ngài Đạo nguyên soạn vào đời Tống. 9. Truyền pháp chính tông kí ( quyển 1), do ngài Khế tung soạn vào đời Tống. 10. Thích môn chính thống (quyển 1), do ngài Tông giám sưu tập vào đời Tống. 11. Phật tổ thống kỉ (quyển 1 đến quyển 4), do ngài Chí bàn soạn vào đời Tống. 12. Thích thị thông giám (quyển 1), do ngài Bản giác biên tập vào đời Tống. 13. Ngũ đăng hội nguyên (quyển 1), do ngài Phổtế biên tập vào đời Tống. 14. Tông môn thống yếu tục tập (quyển 1), do ngài Thanh mậu soạn vào đời Nguyên. 15. Phật tổ lịch đại thông tải (quyển 4), do ngài Niệm thường soạn vào đời Nguyên. 16. Thích thị kê cổ lược (quyển 1), do ngài Giác ngạn biên tập vào đời Nguyên. 17. Thích thị tư giám (quyển 1), do ngài Hi trọng biên tập vào đời Nguyên. 18. Thích ca Như lai hành tích, 2 quyển, do ngài Hi trọng soạn vào đời Nguyên. 19. Thích ca Như lai ứng hóa lục, 6 quyển, do ngài Bảo thành soạn vào đời Minh. 20. Ngũ đăng nghiêm thống (quyển 1), do ngài Thông dung soạn vào đời Minh. 21. Phật tổ cương mục (quyển 1), do cư sĩ Chu thời ân soạn vào đời Minh. 22. Tông thống biên niên (quyển 1,2), do ông Kỉ ấm soạn vào đời Thanh. Về những luận văn nghiên cứu Phật truyện gần đây tại Trung quốc thì có: 1. Phật truyện nghiên cứu đích văn hiến tư liệu, đăng trong Bảo giác đồng học phục san kì 1. 2. Thích ca nhất đại giáo hóa thời địa khảo, do Lữ trừng soạn, đăng trong tạp chí Đông phương tập 21, kì 2. 3. Thích ca mâu ni chi niên đại, do Doãn tán huân dịch, đăng trong tạp chí Triết học kì 1. 4. Phật đà cập kì giáo pháp, do Phổ tín sinh soạn, đăng trong Nam doanh Phật giáo tập 8, kì 4. 5. Thích ca mâu ni đích giáo dục, do ngài Thái hư soạn, đăng trong Hải triều âm tập 12, kì 8. 6. Phật truyện khảo, do Dũng kiện dịch, đăng trong Hải triều âm tập 14, kì 6. 7. Phật đà thời đại cập Nguyên thủy Phật giáo giáo lí cương yếu do Lương khải siêu soạn. 8. Phật đà đích căn bản tư tưởng, do Như bích soạn. 9. Phật bátniết bàn niên nguyệt khảo, do ngài Pháp chu soạn. 10. Đàm Phật diệt niên đại, do Lữ trừng soạn. 11. Quan ư Phật đà đích đản nhật, do Nhất đinh soạn. 12. Phật đà niên đại luận, do Lí thế kiệt soạn. 13. Lược luận Phật tổ kỉ niên dữ Vệ tắc tiết, do Vương trọng hậu soạn. (Những bài từ 7 đến 13 đều được in trong Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san). 14. Thích ca mâu ni Phật truyện, do Tịnh vân soạn. Về những tác phẩm Phật truyện hoặc nghiêncứu tại Nhật bản thì có: 1. Tam bảo hội từ (quyển 1). 2. Kim tích vật ngữ (quyển 1). 3. Phật pháp do lai tập. 4. Thích ca nhất đại truyện kí, 8 quyển, do Huyền trinh soạn. 5. Thích ca mâu ni truyện, do Tỉnh thượng Triết thứ lang soạn. 6. Thích tôn chi nghiên cứu, do Vũ khê Liễu đế soạn. 7. Phật đà truyện, do Trường tỉnh Chân cầm soạn. 8. Thích tôn chi nhân dữ tư tưởng, do Tăng cốc Văn hùng và Trung thôn nguyên biên soạn. 9. Phạm văn Phật truyện văn học chỉ nghiên cứu, do Mộc thôn Thái hiền và Bình đẳng thông chiêu soạn. 10. Thích tôn chi tân nghiên cứu, do Phan trủng Triết anh soạn. 11. Thích tôn nghiên cứu tùng thư, 7 quyển, do Sơn biên Tập học soạn. 12. Khảo chứng Thích tôn truyện, do Lập hoa Tuấn đạo soạn. 13. Phật truyện khảo, do Cao nam Thuận thứ lang soạn. 14. Phật đà sinh nhai dữ tư tưởng, do Tăng cốc Văn hùng soạn. 15. Thích ca thực truyện kí, do Y đằng Tuấn đạo soạn. 16. Nhân gian Thích tôn, do Giang bộ Áp thôn soạn. 17. Phật thân tam thập nhị tướng thuyết giáo, do Quan lại Triệt chiếu soạn. 18. Thích ca luận, do Cao kiều Ngũ lang soạn. 19. Thích ca hiện đại khảo, do Tang nguyên Chất tạo soạn thuật. 20. Phật truyện quan hệ sử liệu, do Bản nguyên Xiển giáo soạn. 21. Phật truyện tập thành, do Thường bàn Đại định soạn. 22. Thích tôn chi xuất thế dữ hiện tại, do Truy vĩ Biện khuông soạn. 23. Thích tôn dữ Nhật bản văn minh, do Cao nam Thuận thứ lang soạn. 24. Thánh giả xuất hiện chi ý nghĩa, do Kỉ niên Chính mĩ soạn. 25. Hiện đại chi tư tưởng giới dữ Thích tôn, do Tiền điền Tuệ vân soạn. 26. Đại thánh thế tôn, do Gia đằng Đốt đường soạn. 27. Thế tôn xuất thế chi bản hoài, do Quật vĩ Quán vụ soạn. Về các luận văn nghiên cứu Phật truyện của các học giả Âu Mĩ cận đại thì có: 1. Essai sur la légende du Buddha (Luận về Phật truyện) của Émile Senart (1847- 1928). Trong sách, tác giả cho rằng sự tích đức Phật có những yếu tố chân thực mà cũng có phần truyền thuyết. 2. Buddha, Sein Leben, seine Lehre, seine Gemeinde, Anh dịch: Buddha; His Life, His Doctrine, His Order (Đức Phật, cuộc đời, giáo pháp và tăng đoàn của Ngài) của Hermann Oldenberg (1854-1920). 3. La vie du Bouddha, Anh dịch: Life of the Buddha (Cuộc đời Đức Phật) của Alfred Foucher (1865-1952). 4.Màraund Buddha (Đức Phật và Ác ma) của Ernst Windish (1844-1918). 5. Buddha s Geburt und die Lehre von der Seelenwanderung (Khảo sát về niên đại đản sinh của đức Phật) của Ernst Windish. 6. Die Überlieferung von Lebensende des Buddha Gôttingen- Anh dịch: The Tradition of the Life end of the Buddha (Truyền thuyết về sự nhập diệt của đức Phật) của Ernst Waldschmidt. 7. Recherches sur la biographie du Buddha dans les Sutrapiỉaka et les Vinayapiỉakaanciens (Nghiên cứu về Phật truyện trong các tạng kinh, luật cổ) của André Bareau. 8. Histoire du bouddhisme indien, I, Louvain, 1958 (Lịch sử Phật giáo Ấn độ) của Étienne Lamotte. 9. On the first canto of Azvaghowa’s Buddhacarita (Nghiên cứu chương thứ nhứt trong Phật sở hành tán của ngài Mã minh) của Claus Vogel. 10. Gotama the Man (Bậc người Cù đàm) của bà C.A.F. Rhys Davids (1858-1942). 11. Sakya or Buddhist Origins (Thích ca hoặc nguồn gốc Phật giáo) của bà C.A.F. Rhys Davids. 12. The Light of Asia (Ánh sáng Á đông) của Edwin Arnold (1832-1904). 13. The Buddha’s Way (Giáo pháp của đức Phật) của ngài Hammalava Sadhatissa. 14. Life and Doctrine of the Buddha (Cuộc đời và những lời dạy của đức Phật) của Richard Pischel (18491908). 15. The Life and Teachings of the Buddha (Cuộc đời và những lời dạy của đức Phật) của Csoma de Kôrôs. 16. The Buddha (Đức Phật) của Joseph Victor Widmann. 17. Le Prince Siddhartha (Thái tử Tất đạt đa) của Obolonsky. 18. Buddha and Christ (Đức Phật và Chúa Jesus)của Bruno Fvieyetank. 19. The Life of the Buddha của W.W.Rockhitl. 20. The Life of the Buddha as Legend and History(Cuộc đời đức Phật như truyền thuyết và lịch sử) của E.J.Thomas. 21. Gautama the Buddha (Đức Phật Cù đàm) của Sarvenpalli Radhakrishnan. [X. Phật giáo nghiên cứu pháp đệ nhị thiên Phật truyện (Lữ trừng)].(xt. Thích Ca Mâu Ni).
Phật trí
佛智; C: fózhì; J: butchi.|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna). Đồng nghĩa Nhất thiết trí (一切智).
phật trí
2725梵語 buddha-jñāna,巴利語 buddha-ñāṇa。佛特有之智慧。為最勝無上之智見,相當於一切種智。唯識法相以佛智有大圓鏡智、平等性智、妙觀察智、成所作智等四智,密教則加法界體性智而成五智。〔大智度論卷四十六、卷八十五、十住毘娑沙論卷十五、宗鏡錄卷三十三〕(參閱「五智」1161、「四智」1769)
; Xem nhất thiết chủng trí.
; Anuttara-samyak-sambodhi (S). Buddha-wisdom.
; (佛智) Phạm: Buddha-Jĩàna. Pàli: Buddha-ĩàịa. Trí tuệ của Phật, là tri kiến tối thắng vô thượng, tương đương với Nhất thiết chủng trí. Theo tông Pháp tướng Duy thức thì trí tuệ Phật có đủ 4 trí: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí. [X. luận Đại trí độ Q.46, 85; luận Thập trụ tì bà sa Q.15; Tông kính lục Q.33]. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí).
phật trí hoằng tế thiền sư
Butchi kōsai zenji (J)Tên một vị sư.
Phật trí huệ
佛智慧; C: fózhìhuì; J: butchie;|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna); người có trí huệ Phật. Người giác ngộ.
phật trí huệ thắng
Buddha of Victorious Insight and Wisdom Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
Phật trí tuệ 佛智慧
[ja] ブッチエ butchie ||| The buddha's wisdom (buddha-jñāna); one who has the wisdom of the buddha. An enlightened being. 〔法華經, T 262.9.32a17〕 => Trí tuệ Phật (s: buddha-jñāna); người có trí tuệ Phật. Người giác ngộ.
Phật trí 佛智
[ja] ブッチ butchi ||| The Buddha's wisdom (buddha-jñāna).〔法華經,T .9.6a15〕Same as omniscience => Trí tuệ Phật (s: buddha-jñāna). Đồng nghĩa Nhất thiết trí 一切智.
phật tu di quang
Buddha of Mt Sumeru's Light.
phật tu ma na hoa quang
Buddha of Jasmine-Blossom Light.
phật tuệ
Buddha-wisdom.
phật tài quang
Buddha of Adept Light.
phật tài quang minh
Buddha of Radiance of Adept Talent Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật tán
2758讚唄之一。乃讚歎、歌誦佛寶之偈頌。若於法會之後唱誦,則稱後讚。
; (佛贊) Những bài kệ tán thán, ca tụng đức Phật. Nếu xướng tụng sau pháp hội thì gọi là Hậu tán.
phật táng hoa
2724即指素花。禪林中,於亡僧之靈位前,以素花、香、燈明等供養之。素花即白色之花,象徵釋尊入滅時娑羅雙樹慘然變白,猶如白鶴,故稱佛喪花。〔禪苑清規卷七亡僧條〕
; (佛喪花) Chỉ cho hoa trắng. Hoa trắng tượng trưng cho hoa của 2 cây Sa la biến thành màu trắng khi đức Thế tôn nhập diệt, giống như màu trắng của chim hạc, cho nên gọi là Phật tang hoa. Trong Thiền lâm, khi có vị tăng qua đời cũng dùng hoa trắng đặt cúng dường trước linh vị. [X. điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7].
phật tánh
Buddhatā (P), Buddhahood, Busshō (J), Tathāgatagarbha (S), de shin shek pay nying po (T), de shin shek pay nying po (T), Buddha nature
phật tánh hiểu
Busshō-u (J).
phật tánh không
Busshō-kŪ (J).
phật tánh luận
Buddhagotra śāstra (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
phật tánh vô
Busshō-mu (J).
Phật tâm
佛心; C: fóxīn; J: busshin;|Có các nghĩa: 1. Tâm Phật, tâm đại từ bi; 2. Tâm Phật mà mọi chúng sinh đều vốn có; cũng như Phật tính (佛性).
phật tâm
2612其義有三:(一)指如來充滿慈愛(大慈悲)之心。觀無量壽經(大一二‧三四三下):「以觀佛身故,亦見佛心。諸佛心者,大慈悲是;以無緣慈攝諸眾生。」(二)指不執著於任何事、理之心。頓悟入道要門論(卍續一一○‧四二二上):「不住一切處心者,即是佛心,亦名解脫心,亦名菩提心,亦名無生心。」(三)指人人心中本來具足之清淨真如心。
; Buddha-mind.
; The mind of Buddha, the spiritually enlightened heart; charity, love; the human faculty of enlightenment.
; (佛心) Tâm Phật. Có 3 nghĩa: 1. Tâm Như lai tràn đầy từ ái (đại từ bi). Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ) nói: Nhờ quán xét thân Phật mà thấy được tâm Phật. Tâm của chư Phật là tâm đại từ bi, dùng vô duyên từ mà nhiếp hóa chúng sinh. 2. Tâm không dính mắc vào bất cứ sự, lí nào. Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn (Vạn tục 110, 422 thượng) nói: Tâm không trụ tất cả chỗ chính là tâm Phật, cũng gọi tâm Giải thoát, cũng gọi là tâm Bồ đề, cũng gọi tâm Vô sinh. 3. Tâm chân như thanh tịnh xưa nay vốn có sẵn trong mọi người.
phật tâm kinh phẩm diệc thông đại tuỳ cầu đà la ni
2613凡二卷。唐代菩提流志譯。略稱佛心經。收於大正藏第十九冊。本經屬密教之隨求咒法,主要闡釋大隨求陀羅尼之「心中心咒」之功力廣大,並揭示此咒及諸印契所具之不可思議力。上卷敘述一切佛心中心大陀羅尼、菩提心成就、如來語之諸印契等,下卷則敘述如來之大通力、隨心陀羅尼、咒法及功能等。
; (佛心經品亦通大隨求陀羅尼) Gọi tắt: Phật tâm kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này chủ yếu giải thích rõ về năng lực rộng lớn của Tâm chú trong tâm thuộc Đại tùy cầu đà la ni, đồng thời, nêu rõ năng lực bất khả tư nghị của thần chú này và các ấn khế. Quyển thượng: Trình bày về các ấn khế: Nhất thiết Phật tâm trung tâm đại đà la ni, Bồ đề tâm thành tựu, Như lai ngữ... Quyển hạ: Trình bày về sức thần thông rộng lớn của Như lai, về Tùy tâm đà la ni, về chú pháp và công năng của chú pháp...
phật tâm pháp
Busshin-hō (J).
phật tâm thiên tử
2612南朝梁武帝嘗披袈裟,自講放光般若經,人稱為佛心天子。〔碧巖錄第一則〕
; (佛心天子) Chỉ cho vua Lương vũ đế thời Nam triều. Nhà vua từng mặc ca sa giảng kinh Phóng quang bát nhã, cho nên người đời gọi ông là Phật tâm thiên tử. [X. Tắc 1, Bích nham lục].
Phật tâm tông
佛心宗; C: fúxīn-zōng; J: busshin-shū;|Một tên gọi khác của Thiền tông vì tông này chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm« và tâm này chính là tâm (ấn) của đức Phật truyền cho Ðại Ca-diếp (s: mahākāśyapa).
phật tâm tông
2612請參閱天台傳佛心印記 禪宗之別稱。係出自楞伽經之「佛語心為宗」而來。禪宗以不立文字、不依經典,直傳佛之心印為宗旨,故又稱佛心宗。碧巖錄第十三則之評唱(大四八‧一五三下):「第十五祖提婆尊者,(中略)因見第十四祖龍樹尊者,以針投鉢,龍樹深器之,傳佛心宗。」然於日本,曹洞宗之祖道元稱其所倡導之禪法乃正傳之佛法,舉凡習禪悟道,皆應以坐禪為宗旨正門,故不應以狹隘之禪宗、佛心宗、達磨宗等名稱來稱謂。〔六祖壇經機緣品、正法眼藏佛道章、曹洞禪の思想(水野弘元)〕
; Busshin-shŪ (J).
; Chan Buddhism or Zen.
; (佛心宗) Tên gọi khác của Thiền tông. Danh từ này có xuất xứ từ câu Phật ngữ tâm vi tông trong kinh Lăng già. Thiền tông lấy việc không lập văn tự, không y theo kinh điển, truyền thẳng tâm ấn của Phật làm tông chỉ, vì thế nên cũng gọi là Phật tâm tông.Phần Bình xướng trong tắc 13 của Bích nham lục (Đại 48, 153 hạ) nói: Tổ thứ 15 là tôn giả Đề bà (...) Một hôm yết kiến tổ thứ 14 là tôn giả Long thụ, tổ Đề bà ném cây kim vào bát, tổ Long thụ biết ngài là pháp khí, nên truyền Phật tâm tông cho. Nhưng ngài Đạo nguyên –Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản– thìcho rằng Thiền pháp do ngài đề xướng là Phật pháp chính truyền, việc tập thiền ngộ đạo đều phải lấy ngồi thiền làm tông chỉ chân chính, vì thế không nên dùng những danh xưng hẹp hòi như Thiền tông, Phật tâm tông, Đạt ma tông v.v... để gọi Thiền pháp.
phật tâm ấn
2612佛心即眾生本具之真心,為大覺之妙體;此心決定不改,如世間之印契,故稱為印。禪宗之旨在顯現佛心印,開覺佛凡不二之理,故又稱佛心宗。〔六祖壇經機緣品、碧巖錄第一則〕
; The seal of the Buddha heart, or mind.
; (佛心印) Ấn tâm Phật. Tâm Phật tức là chân tâm sẵn có của chúng sinh, là thể mầu nhiệm của tính đại giác, tâm này nhất định không biến đổi, như dấu ấn của thế gian, vì thế gọi là Ấn. [X. phẩm Cơ duyên trong Lục tổ đàn kinh; tắc 1 Bích nham lục].
Phật tâm 佛心
[ja] ブッシン busshin ||| (1) The buddha-mind; great compassion. (2) The innate mind of buddha possessed by sentient beings; same as 佛性. => Có các nghĩa: 1. Tâm Phật, tâm đại từ bi. 2.Tâm Phật mà mọi chúng sinh đều vốn có; cũng như Phật tính.
phật tích
2756又作佛跡、佛迹。指釋尊之遺蹟。即釋尊誕生至入滅期間,遺留足迹之場所。據傳,釋尊入滅前有四個聖地,即:(一)佛誕生地,指藍毘尼園(梵 Lumbinī)。(二)佛成道地,指伽耶城(梵 Buddhagayā)菩提樹。(三)佛初轉法輪地,指波羅㮈斯仙人鹿野苑(梵 Mṛgad⑩va)。(四)佛涅槃地,指拘尸那揭羅城(梵 Kuśinagara)雙樹林。阿育王即位灌頂第二十一年,曾走訪四聖地,並建塔及石柱,四聖地後即稱為四塔,為佛蹟中之最著稱者。 佛典中另舉舍衛城(梵 Śrāvastī)、僧伽施(梵 Saṅkāśya)、王舍城(梵 Rājagṛha)、毘舍離(梵 Vaiśālī)等釋尊教化因緣最深之四地,與四聖地合稱為八大處(梵 aṭṭha-mahāṭṭhānāni)。此外,祇園、竹林、大林重閣等精舍為釋尊時代教團之中心地。又佛陀入滅後,其舍利分葬於八處,其地亦均被視為聖地。〔大唐西域記卷四至卷七、高僧法顯傳、釋迦譜卷三、釋迦氏譜卷五、釋迦方志遺跡篇第四〕
; Buddha relics; any trace of Buddha, e.g. the imprint of his foot in stone before he entered nirvàna.
; (佛迹) Những dấu tích của đức Phật từ đản sinh đến nhập diệt còn lưu lại. Tương truyền, trước khi đức Phật nhập diệt, có 4 nơi liên quan đến Ngài được gọi là Thánh địa, đó là: 1. Nơi Phật đản sinh: Chỉ cho vườn Lam tì ni (Phạm: Lumbinì). 2. Nơi Phật thành đạo: Chỉ cho cây Bồ đề thành Già đa (Phạm: Buddhagayà). 3. Nơi chuyển pháp luân đầu tiên: Chỉ cho vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva). 4. Nơi Phật nhập niết bàn: Chỉ cho rừng Song thụ gần thành Câu thi na yết la (Phạm: Kuzinagara). Sau khi lên ngôi, vua A dục từng đến chiêm bái 4 Thánh địa này, đồng thời, xây tháp và dựng trụ đá đánh ghi những nơi ấy, cho đến 4 Thánh địa, về sau được gọi là Tứ tháp. Trong các Phật tích, 4 nơi này là quan trọng nhất. Trong kinh Phật còn kể đến 4 nơi có nhân duyên sâu đậm nhất đối với việc giáo hóa của đức Phật là thành Xá vệ (Phạm: Zràvastì), Tăng già thi (Phạm:Saíkàzya), thành Vương xá (Phạm: Ràjagfha) và Tì xá li (Phạm: Vaizàlì), 4 nơi này và 4 Thánh địa được gọi chung là Bát đại xứ (Phạm: Aỉỉha-mahàỉỉhànàni). Ngoài ra, các tinh xá Kì viên, Trúc lâm, Đại lâm trùng các... là những nơi trung tâm của giáo đoàn trong thời đại đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, xá lợi Ngài được chia ra để thờ cúng ở 8 nơi, 8 nơi ấy cũng được coi là Thánh địa. [X. Đại đường tây vực kí Q.4-7; Cao tăng Pháp hiển truyện; Thích ca phổ Q.3; Thích ca thị phổ Q.5; Thích ca phương chí di tích thiên thứ 4].
Phật tính
佛性; C: fóxìng; J: busshō; S: buddhatā, bud-dha-svabhāva;|Theo quan điểm Ðại thừa, Phật tính là thể bất sinh bất diệt của mọi loài. Vì thế, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế. Có nhiều quan điểm khác nhau về Phật tính, người ta tranh cãi liệu tất cả mọi loài đều có Phật tính, liệu thiên nhiên vô sinh vô tri như đất đá có Phật tính hay không.|Giữa Tiểu thừa và Ðại thừa có sự khác biệt, liệu Phật tính có thường hằng trong mọi loài hay không. Tiểu thừa hầu như không nhắc đến Phật tính, cho rằng không phải chúng sinh nào cũng có thể thành Phật. Ðại thừa xem đạt Phật quả là mục đích cao nhất, đó là thể hiện Phật tính nằm sẵn trong mọi chúng sinh, thông qua những phép tu học nhất định.|Theo Thiền tông thì mỗi chúng sinh đều có Phật tính (j: busshō), nhưng nói chung thì không tự biết và cũng không sống với sự tự hiểu biết này như một bậc giác ngộ, một vị Phật. Sự thức tỉnh này và sự sinh diệt – một biểu hiện từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc nọ của sự đồng nhất với Phật tính – chính là mục đích của Thiền.|Như vị Thiền sư hiện đại người Nhật Bạch Vân An Cốc viết thì Phật tính – cũng đồng nghĩa với Pháp tính (s: dharmatā; j: hosshō) – chính là cái mà người ta gọi trong Ðại thừa là tính Không (s: śūnyatā; j: ku). Sư dạy: »Qua kinh nghiệm giác ngộ – nguồn gốc của tất cả những giáo lí đạo Phật – người ta ngộ được thế giới của tính Không. Thế giới này – chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể – vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của vạn vật, cái Phật tính, pháp tính của chúng. Vì tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra được đều phải có màu sắc nên tất cả những gì chúng ta tưởng tượng về Phật tính tất nhiên là sai. Cái người ta có thể tưởng tượng được chỉ là sự phản chiếu của Phật tính – nhưng không phải Phật tính. Nhưng, mặc dù Phật tính không thể diễn bày (Bất khả thuyết), không thể nghĩ bàn (Bất khả tư nghị), chúng ta vẫn có thể tỉnh thức, chứng ngộ được nó bởi vì chúng ta bản lai là Phật tính.«
phật tính
2632梵語 buddha-dhātu 或 buddha-gotra。又作如來性、覺性。即佛陀之本性,或指成佛之可能性、因性、種子、佛之菩提之本來性質。為如來藏之異名。據北本涅槃經卷七載,一切眾生悉有佛性,凡夫以煩惱覆而無顯,若斷煩惱即顯佛性。 原始、部派佛教等,不說佛、菩薩以外者之成佛,故亦不說一切眾生悉有佛性之旨。但據世親之佛性論卷一,有部等部派主張眾生無先天之「性得佛性」,但有後天依修行而得之「修得佛性」,依此,分決定無佛性、有無不定、決定有佛性三類眾生。對此,分別說部以空為佛性,一切眾生悉以空為本,從空所生,故主張本性皆具佛性。同書卷二復將佛性分為三位(稱三位佛性、三佛性),即:(一)住自性佛性,眾生先天具有之佛性。(二)引出佛性,通過佛教修行所引發之佛性。(三)至得果佛性,至佛果始圓滿顯發者。 中、日諸宗派於此亦有諸說而互相論難。(一)天台宗立正、了、緣之三因佛性之說,即:(1)正因佛性,一切眾生本具之三諦三千之理。(2)了因佛性,觀悟佛理所得之智慧。(3)緣因佛性,能起智慧之緣的所有善行。其中,前者屬性(先天),後二者屬修(後天),但本來性修不二、圓融無礙,三佛性是非縱非橫(非前後繼起,亦非同時並列)。又三因佛性加上果性(菩提之智德)、果果性(涅槃之斷德),即稱為五佛性。以其因果不離,故為因位、果位互具。(二)據華嚴宗,眾生之佛性圓滿具足一切因果性相,有情具足成佛之可能性為佛性、覺性,以此與非情具有之真如之理稱為法性加以區別,故主張成佛唯限於有情。(三)據密宗,森羅萬象悉是大日如來之法身,故立悉有佛性之說。(四)三論宗廢有關佛性之種種議論,以為別說因果即是迷執,故稱非因非果之無所得中道為佛性。(五)法相宗說二種佛性,即:(1)理佛性,所有存在本體之真如理。(2)行佛性,含藏於各人阿賴耶識中成佛之因之無漏種子。具理佛性,而不具行佛性者,亦不得成佛。又立五種姓說,即菩薩、聲聞、緣覺證悟所得之三種定姓、不定姓及永不能成佛之無姓;主張唯菩薩定姓與不定姓者具有行佛性。(六)禪宗雖言證悟眾生本來之面目,但卻否定執迷佛性有無等問題,故有「狗子佛性」等公案。(七)淨土宗承認理佛性之說,然亦有加以否定者。日本淨土真宗主張成佛係依阿彌陀佛之本願力,謂如來給予眾生之信心為佛性,此即信心佛性說。 此外,諸經典亦見佛種、佛種性等語,意謂成佛之因,但其內容依經各異,通常多指眾生本具之佛性,或指煩惱、菩提心、菩薩之修行、稱名等。〔大般泥洹經卷四分別邪正品、北本涅槃經卷二十八、菩薩善戒經卷一、入楞伽經卷二、卷七、解深密經卷二、瑜伽師地論卷六十七、究竟一乘寶性論卷四、梁譯攝大乘論釋卷七、大乘玄論卷三、大般涅槃經疏卷二十五、華嚴經疏鈔卷三十、華嚴經探玄記卷十六、大乘義章卷一佛性義、法華經玄贊卷一、法華玄義卷五下、金光明經玄義卷上、中觀論疏卷一末〕(參閱「五姓」1107、「佛種」2744)
; Xem Pháp tính.
; Buddhatà (S). The Buddha-nature
; (佛性) Phạm: Buddha-dhàtu, Buddhagotra. Cũng gọi Như lai tính, Giác tính. Chỉ cho bản tính của Phật, hoặc chỉ cho khả năng tính thành Phật, nhân tính ... , chủng tử, là tính chất bồ đề sẵn có, tên khác của Như lai tạng. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 7 (bản Bắc) thì tất thảy chúng sinh đều có Phật tính, phàm phu vì phiền não che khuất không lộ ra được, nếu dứt hết phiền não thì tính Phật tự nhiên hiển bày. Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái chủ trương ngoài đức Phật và Bồ tát ra không ai được thành Phật, cho nên cũng không nói đến ý chỉ hết thảy chúng sinh đều có Phật tính. Nhưng theo luận Phật tính quyển 1 của Ngài Thế thân thì các bộ phái như Hữu bộ... tuy chủ trương chúng sinh không có Phật tính bẩm sinh (Tính đắc Phật tính), nhưng sau nhờ tu hành mà được Phật tính(Tu đắc Phật tính). Rồi dựa vào đó mà chia ra 3 loại chúng sinh như sau: -Nhất định không có Phật tính. -Không nhất định có Phật tính hay không cóvà -Nhất định có Phật tính. Đối với vần đề này, Phân biệt thuyết bộ lấy không làm Phật tính, tất cả chúng sinh đều lấy không làm gốc, từ không mà sinh ra, vì thế bộ này chủ trương bản tính đều có Phật tính. Luận Phật tính quyển 2 lại chia Phật tính làm 3 ngôi vị: 1. Trụ tự tính Phật tính: Chúng sinh bẩm sinh có đủ Phật tính. 2. Dẫn xuất Phật tính: Thông qua lời Phật dạy mà tu hành dẫn đến chỗ phát hiện Phật tính. 3. Chí đắc quả Phật tính: Đến quả vị Phật thì sự hiển phát Phật tính mới hoàn toàn viên mãn. Về vấn đề này, các tông phái ở Trung quốc và Nhật bản cũng có các thuyết khác nhau. 1. Tông Thiên thai lập thuyết Tam nhân Phật tính: Chính, Liễu, Duyên. a) Chính nhân Phật tính: Hết thảy chúng sinh vốn có đầy đủ Tam đế, Tam thiên. b) Liễu nhân Phật tính: Trí tuệ đạt được nhờ quán ngộ Phật lí. c) Duyên nhân Phật tính: Những hạnh lành thường làm duyên giúp cho sự phát khởi trí tuệ. Trong 3 loại nhân trên, loại thứ nhất thuộc về Tính (tiên thiên–Tính đắc) 2 loại sau thuộc về Tu (hậu thiên–Tu đắc). Nhưng xưa nay Tính và Tu vốn chẳng hai, viên dung vô ngại. Tam nhân Phật tính nếu thêm Thượng quả tính(Trí đức Bồ đề) và Quả quả tính (đoạn đức Niết bàn) vào nữa thì gọi là Ngũ Phật tính. Vì nhân quả chẳng lìa nên nhân vị và quả vị bổ túc lẫn nhau. 2. Theo tông Hoa nghiêm: Tính Phật của chúng sinh đầy đủ tất cả nhân quả, tính tướng, khả năng tính thành Phật sẵn có của các loài hữu tình là Phật tính, giác tính, khác với loài vô tình chỉ có lí chân như gọi là pháp tính chứ không phải Phật tính, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương chỉ có các loài hữu tình mới thành Phật được. 3. Theo Mật tông: Muôn tượng la liệt đều là pháp thân của Đại nhật Như lai, vì thế tông này lập thuyết Tất cả Phật tính (Hết thảy đều có tính Phật). 4. Tông Tam luận: Bác bỏ mọi luận thuyết có liên quan đến Phật tính, vì tông này chủ trương nói phân biệt về nhân quả tức là mê chấp, cho nên gọi Trung đạo vô sở đắc phi nhân phi quả là Phật tính. 5. Tông Pháp tướng đề xuất 2 thứ Phật tính: a) Lí Phật tính: Chỉ cho lí chân như bản thể của muôn vật. b) Hành Phật tính: Chủng tử vô lậu là nhân thành Phật hàm chứa trong thức A lại da của mọi người. Có Lí Phật tính mà không có Hành Phật tính thì cũng không thể thành Phật. Ngoài ra, tông Pháp tướng còn lập thuyết Ngũ chủng tính, tức là ngoài 3 loại Định tính của Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác ra, còn có Bất định tính và Vô tính; chủ trương chỉ có Bồ tát định tính và bất định tính mới có Hành Phật tính. 6. Thiền tông: Tuy nói chứng ngộ mày mặt thật xưa nay của chúng sinh, nhưng lại phủ định các vấn đề mê chấp Phật tính có,không, cho nên có công án Cẩu tử Phật tính (Tính Phật của con chó). 7. Tông Tịnh độ thừa nhận thuyết lí Phật tính, tuy nhiên cũng có người phủ định. Tịnh độ Chân tông của Phật giáo Nhật bản chủ trương thành Phật là nương vào sức bản nguyện của đức Phật A di đà, nghĩa là lòng tin mà Phật ban cho chúng sinh là Phật tính, đây tức là thuyết Tín tâm Phật tính. Ngoài ra, trong các kinh điển cũng thấy các từ ngữ như Phật chủng, Phật chủng tính..., ý nói đó là cái nhân để thành Phật, nhưng nội dung của các từ ngữ ấy còn tùy theo các kinh mà có khác, thông thường là chỉ cho Phật tính sẵn có của chúng sinh; hoặc chỉ cho phiền não, tâm bồ đề, sự tu hành của Bồ tát, sự xưng danh... [X. phẩm Phân biệt tà chính trong kinh Đại bát nê hoàn Q.4; kinh Niết bàn Q.28 (bản Bắc); kinh Bồ tát thiện giới Q.1; kinh Nhập lăng già Q.2,7; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Du già sư địa Q.67; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.4; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (bản dịch đời Lương); Đại thừa huyền luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.25; Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.30; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Phật tính nghĩa trong đại thừa nghĩa chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần cuối; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần cuối]. (xt. Ngũ Tính, Phật Chủng).
phật tính dữ bát nhã
2633牟宗三著。臺灣學生書店印行。全書以佛性與般若兩種觀念為綱領,且以天台圓教為發揮中國佛教哲學最極致之思想。全書雖亦述及般若,涅槃,及龍樹菩薩諸論之義理,然重點則在中國南北朝及隋唐佛教之義學思想,而尤重天台宗。對天台智顗大師之思想,該書更予大力推崇。
; (佛性與般若) Tác phẩm, 1 quyển, do Mâu tông tam soạn, Đài loan học sinh thư điếm ấn hành. Nội dung sách này lấy 2 quan niệm Phật tính và Bát nhã làm nòng cốt, rồi dùng tư tưởng viên giáo của tông Thiên thai để phát huy triết học Phật giáo Trung quốc đến cực điểm. Tuy tác giả có trình bày về Bát nhã, Niết bàn và nghĩa lí trong các bộ luận của Bồ tát Long thụ, nhưng trọng điểm vẫn là tư tưởng nghĩa học của Phật giáo Trung quốc các đời Nam Bắc triều và Tùy Đường, đặc biệt nhấn mạnh tông Thiên thai.
phật tính giới
The moral law which arises out of the Buddha-nature in all beings.
Phật tính luận
佛性論; C: fóxìng lùn; J: busshōron.|Luận, gồm 4 quyển. Được xem là của Thế Thân (世親; s: vasubandhu). Chân Đế (眞諦; s: paramārtha) dịch sang Hán ngữ. Luận giải nầy trình bày rất chi tiết lí thuyết Phật tính trong 16 chương, qua 4 phương diện: 1. Nhân duyên sinh; 2. Phá chấp; 3. Hiển thể; 4. Biện tướng.|Luận giải thích như thế nào mà chúng sinh có được Phật tính, bác bỏ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa. Tác giả trích dẫn rộng rãi kinh Thắng Man, Pháp Hoa và luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācāra-bhūmi-śāstra).
phật tính luận
2634凡四卷。世親(梵 Vasubandhu,四世紀)著,陳‧真諦譯。收於大正藏第三十一冊。本論詳釋究竟一乘寶性論中第五至第七等三品,闡明一切眾生悉有佛性之義。內容由緣起分、破執分、顯體分、辨相分等四分十六品組成,詳論佛性之體相,以明一切眾生本具之佛性,認為佛性有三種:(一)凡夫生來本具之佛性(住自性性),(二)經過修行顯現之佛性(引出性),(三)達到佛果所具之佛性(至得性)。並論破小乘、外道與大乘偏見者之否認悉有佛性說。〔法經錄卷五、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷七〕
; (佛性論) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thế thân soạn, ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung luận này giải thích rõ ràng nghĩa Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính trong 3 phẩm (từ thứ 5 đến thứ 7) của luận Cứu cánhNhất thừa bảo tính. Toàn sách chia làm 4 phần: Duyên khởi, Phá chấp, Hiển thể, Biện tướng, gồm 16 phẩm, bàn về thể tướng của Phật tính, cho rằng Phật tính có 3 thứ: 1. Trụ tự tính tính: Chúng sinh phàm phu vốn có sẵn Phật tính. 2. Dẫn xuất tính: Trải qua sự tu hành mà hiển hiện Phật tính. 3. Chí đắc tính: Đạt đến quả vị Phật là viên mãn Phật tính. Lập trường của luận này nhằm làm sáng tỏ nghĩa Phật tính để đả phá chủ trương của Tiểu thừa, ngoại đạo và những người Đại thừa thiên kiến phủ nhận thuyết Tất hữu Phật tính. [X. Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
Phật tính luận 佛性論
[ja] ブッショウロン Busshōron ||| The Foxing lun, Buddha-nature Treatise, written in four fascicles. T 1610.31.787a-813a. Attributed to Vasubandhu 世親, translated by Paramārtha 眞諦. This treatise discusses the theory of the Buddha-nature in great detail in sixteen chapters, from the four aspects of: (1) dependent arising; (2) breaking attachment; (3) manifestation of essence; and (4) discriminated aspects. In the course of explaining how it is that all sentient beings have the buddha-nature, the mistaken views of non-Buddhists 外道 and lesser-vehicle practitioners 小乘 are refuted. The author cites extensively from the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經, the Lotus Sutra 法華經 and the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽師地論. => (j: Busshōron), (e: Buddha-nature Treatise) Luận; gồm 4 quyển. Được xem là của Ngài Thế Thân. Ngài Chân Đế (s: Paramārtha) dịch. Luận giải nầy trình bày rất chi tiết lý thuyết Phật tính trong 16 chương, qua bốn phương diện: 1. Nhân duyên sinh. 2. Phá chấp. 3. Hiển thể. 4. Biện tướng. Giải thích như thế nào mà chúng sinh có được Phật tính, bác bỏ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa. Tác giả trích dẫn rộng rãi Kinh Thắng Man, Kinh Pháp Hoa và Du-già sư địa luận (s: Yogācārabhūmi-śāstra).
Phật tính Phật
佛性佛; C: fóxìng fó; J: busshō butsu.|»Phật như là Phật tính.« Khía cạnh thứ nhì của Tam giai giáo (三階教), đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (普佛; Phổ Phật), chỉ rõ Phật tính là Chính nhân (Chính nhân Phật tính 正因佛性) của tất cả chúng sinh hữu tình (ngoại trừ chúng sinh vô tình).
Phật tính Phật 佛性佛
[ja] ブツショウブツ busshō butsu ||| The "Buddha as Buddha-nature," the second aspect of the Sanjie jiao 三階教 teaching of the "universal Buddha," pufo 普佛, denoting that Buddha-nature is the true cause 正因佛性 of awakening for all sentient beings (but excluding the non-sentient). => Phật chính là Phật tính". Khía cạnh thứ nhì của Tam giai giáo 三階教, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (phổ Phật 普佛), chỉ rõ Phật tính là Chính nhân (chính nhân Phật tính) của tất cả chúng sinh hữu tình (ngoại trừ chúng sinh vô tình).
Phật tính 佛性
[ja] ブッショウ busshō ||| The buddha-nature. The possession by sentient beings of the innate buddha-mind, which is, prior to the full attainment of buddhahood, not fully actualized. The belief in this concept was not universally accepted in Indian Buddhism, but did become a cornerstone of East Asian Buddhist soteriological thought in terms of the essence-function 體用 paradigm, as explained in texts such as the Buddha-nature Treatise. A synonym for tathāgatagarbha 如來藏. => Tính Phật hằng hữu mà mọi chúng sinh đều có, nghĩa là trước khi được giác ngộ hoàn toàn thì Phật tính nầy chưa được hiển lộ viên mãn. Niềm tin vào tư tưởng nầy không rộng rãi lắm, ngoại trừ trong Phật giáo Ấn Độ, nhưng đã trở thành nền tảng tư tưởng Phật giáo Đông Nam Á trong mô hình Thể-dụng (e: essence-function ), như được giải thích trong các luận giải như Phật Tính Luận佛性論. Đồng nghĩa với Như Lai Tạng (s: tathāgatagarbha).
phật tông
Buddhism; principles of the Buddha Law.
phật túc thạch
2628又作佛足跡、佛腳石。即雕有佛陀足蹠,以表千輻輪等妙相之石。見佛之足蹠而參拜,如同參拜生身之佛,可滅除無量之罪障。印度、中國、日本,古來即有佛足石,崇敬佛足石之風亦甚普遍。初期印度之佛教,不敢直接模擬佛像,故多以法輪、菩提樹、塔、高座及佛足石,象徵佛陀或其所在之標幟,其後傳來我國、日本,佛足石遂成為禮拜對象。 據大唐西域記卷八摩揭陀國華氏城條記載,佛陀入滅前,於摩揭陀國遺留足跡,其長一尺八寸,寬六寸,各有輪相,十指皆帶花紋。又現今印度巴赫特(梵 Bharhūt)塔門浮雕之三道寶階圖,刻有佛足跡,其中印一法輪;阿摩羅婆提(梵 Ama-rāvatī)出土之遺品中,於足中央刻輪形,又另有輪、卍字、三寶章等之圖樣。其中,前者屬最古制,後者則近似現今傳於我國及日本者,圖示於後。在我國,唐使王玄策曾圖寫華氏城之佛足石歸國,流行於各地。此外亦有玄奘請來之佛足圖。〔別譯雜阿含經卷十三、分別功德論卷二、法苑珠林卷十四、卷二十九、洛陽伽藍記卷五、大唐西域記卷二、卷三〕(參閱「千輻輪相」743)
; (佛足石) Cũng gọi Phật túc tích, Phật cước thạch. Phiến đá có khắc dấu bàn chân của đức Phật trong đó biểu thị diệu tướng bánh xe nghìn nan hoa. Trông thấy dấu bàn chân của đức Phật mà tham bái thì cũng giống như tham bái sinh thân thân của đức Phật, có thể trừ diệt vô lượng tội chướng. Ở Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản từ xưa đã có Phật túc thạch và phong tục sùng kính Phật túc thạch cũng rất phổ biến. Phật giáo Ấn độ thời kì đầu, vì tôn kính nên không dám trực tiếp đắp vẽ tượng Phật mà chỉ khắc những hình ảnh gián tiếp tượng trưng đức Phật như bánh xe pháp, cây Bồ đề, tháp, tòa cao và Phật túc thạch...Về sau được truyền đến Trung quốc, Nhật bản thì Phật túc thạch cũng trở thành đối tượng lễ bái. Cứ theo Điều hoa thị thành Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 8, thì đức Phật có lưu lại dấu chân ở nước Ma yết đà, bề dài bàn chân khoảng 54 cm, bề ngang khoảng 22 cm, mỗi bàn chân đều có tướng bánh xe, 10 ngón chân đều có hoa văn. Hiện nay, ở cửa tháp Ba hách đặc (Phạm: Bharhùt) tại Ấn độ có bức phù điêu Tam đạo bảo giai đồ khắc dấu chân Phật có hình bánh xe pháp. Trong Phật túc thạch đào được ở A ma la bà đề (Phạm: Ama-ràvatì), thì thấy chính giữa bàn chân khắc hình bánh xe. Ngoài ra, còn có hình Tam bảo chương, hình chữ...(Vạn). Trong đó, loại hình bàn chân Phật có hình bánh xe là kiểu xưa nhất, còn loại hình chữ Vạn, hình Tam bảo chương là những kiểu vẽ sau này, gần giống như loại được truyền ở Trung quốc và Nhật bản hiện nay. Tại Trung quốc, vào đời Đường, Vương huyền sách từng đi sứ Ấn độ, khi về nước có mang theo Phật túc thạch mà ông đã vẽ ở thành Hoa thị về lưu truyền ở các nơi. Ngoài ra, còn có Phật túc đồ do ngài Huyền trang mang về. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.13; luận Phân biệt công đức Q.2, Pháp uyển châu lâm Q.14, 29; Lạc dương già lam kí Q.5, Đại đường tây vực kí Q.2, 3]. (xt. Thiên Bức Luân Tướng).
phật tăng
Bussō (J).
Phật tưởng Phật
佛想佛; C: fóxiǎng fó; J: bussō butsu|Khía cạnh thứ tư và là phương diện cụ thể nhất của Tam giai giáo, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (Phổ Phật 普佛), chỉ rõ tất cả chúng sinh nên tưởng đến thể tính tối thượng của mình, đó là, như chư Phật giác ngộ viên mãn.
Phật tưởng Phật 佛想佛
[ja] ブツソウブツ bussō butsu ||| the "Buddha perceived as a Buddha," the fourth and most concrete aspect of the Sanjie jiao 三階教 teaching of the "universal Buddha," pufo 普佛, denoting that all sentient beings should be perceived in terms of their ultimate nature, that is, as fully awakened Buddhas => Khía cạnh thứ tư và là phương diện cụ thể nhất của Tam giai giáo, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (phổ Phật 普佛), chỉ rõ tất cả chúng sinh nên tưởng đến thể tính tối thượng của mình, đó là, như chư Phật giác ngộ viên mãn.
Phật tượng
佛像; C: fóxiàng; J: butsuzō;|Hình ảnh của đức Phật.
phật tượng
2739佛之形像。廣含菩薩、羅漢、明王、諸天等像。其像雖有彫塑像、畫像(繪像)二種,然僅彫塑像稱佛像,畫像則稱圖像。印度古代認為彫畫佛像乃是冒瀆神聖之事,故山琦(梵 Sānchī)等之古彫刻,僅止於以法輪、菩提樹、佛足跡等標記象徵佛。其後,隨大乘佛教之興起,佛像之彫刻始盛行,故諸大乘經典中有甚多關於造像因緣及其功德之記載。 彫塑像有鑄像(金佛)、鎚鍱像(押出像,用金屬板模型壓成之像)、木像(木佛)、石像、塑像(泥像)、夾紵像(乾漆像,以漆固定麻布)、紙泥像、甎像、蠟像等。圖像有絹本、紙本等。其他尚有壁畫、刺繡(繡佛像)、編織等之佛像。鑄像依材料有金像、銀像、金銅像、鮱石像、鐵像等類。木像依其造法而有一木造與寄木造之別,材料以旃檀(香木之一種)為貴。至於石像,有利用崖壁彫成之磨崖佛,以及用寶石彫成之寶石像;其彫刻手法有圓彫、半圓彫(半肉彫)、浮彫、毛彫(筋彫)等多種。有時尚為佛像鍍金,或貼金箔,或著金泥、彩色等。 以上各類佛像傳於後世者,以石像為最多,印度犍陀羅、摩菟羅、波羅奈之故址皆有石像出土。在我國,東晉戴逵以彫畫佛像著稱。至南北朝時代,造像風氣已大為盛行,梁代僧祐即於弘律之外,並大力造立佛像,北朝在平城武州山、洛陽龍門山等地皆有石像之形態。現今敦煌千佛洞中,猶存有六朝以下歷代之彫像與壁畫。又六朝佛像除石像外,亦有銅像及鐵像,多遺有銘記。唐代則流行甎磚佛,遺品亦不少。 依佛像之形態,可分為立像、坐像、倚像、臥像、飛行像等。依其高度而有丈六像(佛之高度為常人之倍,故像長一丈六尺)、半丈六像(丈六之半,即八尺之像)、大佛像(丈六以上之大像)、等身像(與願主同等身長之像)、胎內等身像(在各種大型佛像,如丈六像之內安置一磔手半之小佛像,亦即一尺二、三寸之像)等。 如來像,一般多為比丘形,著袈裟,不戴寶冠、瓔珞等物。誕生佛(佛降誕時,右手指天,左手指地之佛像)則為裸形像。菩薩像多為高大之丈夫形或溫和之女形,頭戴寶冠、瓔珞等物,而為在家居士形。羅漢像則呈出家形,為老比丘修練之相。明王像為忿怒形,諸天像為武裝形、女形、神形、鬼形、天人形、童子形等。佛、菩薩像等之印契、持物、身色、衣色等均各不相同。在西藏,佛、菩薩等,其面孔之尺寸均有一定比例,故有佛滿月面、菩薩雞子面(蛋形、為慈愛相之面)、佛母芝泽面、明王四方面等名稱。 用銅板面打出之佛像,稱為板佛;於圓板中央所貼之半肉像,可懸吊者,稱為懸佛;而屋外之露佛,稱為濡佛;有微笑相之佛,則稱笑佛。以嚴密多重之布帛包裹之佛,稱為祕佛。造無數個同形小佛像以供參拜,稱為千體佛。而置於佛像胎內之小佛像,則稱胎內佛。安置佛像之床座,稱為臺座。臺座有所謂師子座(佛乃人中師子,佛之座即為師子座)、蓮花座、荷葉座(蓮葉臺座)、須彌座(須彌山形之臺座)等。 又在我國,隨佛教之傳布發展,佛像造形亦顯現出時代性之嬗變,玆分七時期概述之:(1)五胡十六國造像(三至四世紀間),當時大多供奉容易搬動、堅固而小型之金銅佛像,與印度西北犍陀羅或中印度摩菟羅地方出土之石造佛像頗相似。典型遺物為「古式金銅菩薩立像」,乃我國最早之佛像,其造形係藉犍陀羅彫刻樣式表現出古樸粗獷之風格,代表北方游牧民族之審美觀。(2)雲岡期造像(460~493),以「曇曜五窟」為中心而彫造數十萬座佛像,其本尊雖仍保有犍陀羅與摩菟羅之風格,然由極單純化的線與面,構成豐滿臉形、長而銳利的眼睛、端正的鼻樑與鼻翼、微笑的厚唇、巨耳、寬肩、粗頸等,顯現偉岸剛毅而渾厚之大丈夫相貌及表情,充分表現拓跋游牧民族粗獷健碩之氣魄。但至末期,其表現形式已異於西域、印度,衣飾變為寬袖長裾,裝飾華麗,刻劃均勻整齊。(3)龍門期造像(494~550),由於石質精細,造形細膩巧緻,臉部、身體均細長窈窕,殆由於社會之審美觀改變,瘦長造形乃時風之所趨;佛像服裝傾向中國風格,為印度、西域所未見。(4)齊、周期造像(551~580),以天龍山與響堂山之「天響樣式」為代表。最大特色即是像容由瘦身長臉再度變為圓臉,然不及雲岡期明顯。又受印度笈多王朝以薄衲衣表現肉體之造形影響,表現出豐滿柔軟感覺,佛身之裝飾及寶冠之刻劃均極精細。(5)隋代造像(581~617),造形輕快而富於流動性,其風格一方面沿襲齊、周期造像,另一方面則在頸劃三道線條,目鼻與口唇構成曲面,例如龍門石窟之藥方洞、天龍山之第八窟。造形大致依照人體本來形態加以寫實刻畫,此外在寶冠及身上之裝飾頗為豪華絢爛。(6)唐代造像(618~750),初唐吸收、消化笈多樣式之後,出現圓滿具足之造像。其中,以龍門奉先寺之盧舍那大佛及其脅侍菩薩、羅漢、神王、力士等九巨大尊像最具代表性。大佛之理想美乃立足於中國人之審美意識上而構成,脅侍菩薩立像與羅漢立像已脫初唐造形,而為東方古典彫刻之典型作品。盛唐則為佛教造像最興盛時期。主要有龍門石窟極南洞、淨土洞、擂鼓臺三洞。其中極南洞之脅侍菩薩不同於奉先寺造像,軀體苗條細長,此時期之佛像雖充滿親切感,但已失至尊之表現,且漸呈現現實傾向之人體美。及至晚唐,極端豐滿艷麗之頹廢美代替了昔時比例均勻之理想美,天龍山晚唐期即為典型代表,其中之佛陀、菩薩像之理想造形,已從追求優美而墮入官能頹廢美。(7)五代以後,佛教造形藝術已不復振作,佛像所具有之超自然想像力已很稀薄;及至宋代,菩薩像顯示人間母性美而更加平民化;元代之後,則更無重要之作品出現。玆列我國歷代佛像樣式變遷圖於下。〔般舟三昧經卷上四事品、道行般若經卷十曇無竭菩薩品、法華經卷一方便品、大乘造像功德經卷下、不空羂索神變真言經卷八、造像量度經、有部毘奈耶雜事卷十一、有部苾芻尼毘奈耶卷二、薩婆多毘尼毘婆沙卷九、大唐西域記卷七婆羅痆斯國條、佛祖統紀卷五十三、集神州三寶感通錄卷中、南海寄歸內法傳卷四、古今圖書集成神異典第九十至九十四、支那美術史彫塑篇、從佛像彫刻所見的造形活動系譜(杉山二郎)〕(參閱「佛畫」2727、「座」4100)
; BuddharŪpa (S).
; Buddha's image; Buddha's statute.
; (佛像) Chỉ chung cho các tượng Phật, Bồ tát, La hán, Minh vương,chư thiên... được điêu khắc, nặn đắp hoặc vẽ. Thông thường, chỉ có các tượng được điêu khắc, nặn đắp mới gọi là Phật tượng, còn các tượng vẽ gọi là Đồ tượng. Ở Ấn độ đời xưa, việc điêu khắc hoặc đắp vẽ tượng Phật bị xem là nhạobáng thần thánh, nên chỉ vẽ hoặc điêu khắc bánh xe pháp, cây Bồ đề,dấu chân Phật... để tượng trưng cho đức Phật mà thôi. Về sau, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi thì việc điêu khắc, đắp vẽ tượng Phật mới thịnh hành, bởi vậy, các kinh điển Đại thừa mới nói nhiều về nhân duyên và công đức tạo tượng. Phật tượng có nhiều loại, được tạo bằng nhiều tài liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ, đá, đất, vải, lụa... kiểu mẫu cũng rất đa dạng. Các loại tượng Phật từ xưa còn được truyền đến ngày nay thì tượng khắc bằng gỗ là nhiều nhất, như ở các di chỉ tại Kiện đà la, Mạt thố la, Ba la nại... của Ấn độ đều đào được những tượng Phật khắc bằng đá. Tại Trung quốc, vào thời Đông Tấn đến thời đại Nam Bắc triều, phong trào khắc tạo tượng Phật rất thịnh hành. Vào thời Bắc triều, ở núi Vũ châu tại Bình thành và núi Long môn ở Lạc dương đều có khắc tượng đá. Vào thời Lục triều thì ngoài tượng đá ra còn có tượng đồng, tượng sắt; đến đời Đường thì có tượng được đắp bằng đất, khắc bằng gỗ... Về hình thái tượng thì có tượng đứng, tượng ngồi, tượng dựa lưng, tượng nằm, tượng bay đi... Về chiều cao thì có tượng 1 trượng 6 thước (thân hình của đức Phật cao hơn người thường gấp bội), tượng nữa trượng 6 (tức tượng 8 thước), tượng Đại Phật (tức tượng cao trên 1 trượng 6 thước), tượng nhỏ bằng 1 gang tay rưỡi (khoảng 33 cm) tượng trưng lúc còn ở trong thai mẹ... Tượng Như lai phần nhiều là hình tỉ khưu, mặc ca sa, không đội mũ, không đeo chuỗi anh lạc... Tượng Bồ tát thì phần nhiều có thân hình trượng phu cao lớn hoặc hình nữ tính dịu dàng, đầu đội mũ báu, cổ đeo chuỗi anh lạc, là hình cư sĩ tại gia; tượng La hán là hình xuất gia, tượng Minh vương mang hình tướng phẫn nộ, còn tượng chư thiên thì có các hình tướng như: Hình vũ trang, hình người nữ, hình thần, hình quỉ, hình người trời, hình đồng tử... Theo với đà phát triển của sự truyền bá Phật giáo, nghệ thuật tạo hình tượng Phật ở Trung quốc cũng cho thấy rõ sự thay đổi có tính thời đại, nay trình bày 1 cách khái quát theo những thời kì sau đây: 1. Thời kì Ngũ hồ (16 nước-khoảng thế kỉ III, IV): Thời kì này phần nhiều tạo tượng Phật bằng đồng vàng, hình nhỏ mà chắc chắn, dễ dàng di chuyển, rất giống tượng Phật bằng gỗ đá phát hiện ở Kiện đà la thuộc Tây Bắc Ấn độ hoặc ở Ma thố la. Di vật điển hình là tượng Bồ tát đứng đúc bằng đồng mạ vàng kiểu cổ, là tượng Phật xưa nhất ở Trung quốc. Sự tạo hình là theo kiểu điêu khắc ở Kiện đà la, biểu hiện phong cách quê mùa mộc mạc, pha vẻ dữ tợn, tiêu biểu cho thẩm mĩ quan của các dân tộc du mục phương Bắc. 2. Thời kì Vân cương (460-493): Lấy 5 hang Đàm diệu làm trung tâm mà khắc tạo vài mươi vạn tượng Phật, trong đó, tượng Bản tôn (đức Phật Thích ca) tuy vẫn giữ được phong cách Kiện đà la và Ma thố la, nhưng do sự đơn thuần hóa những đường nét và bộ diện mà tạo thành đôi má đầy đặn, cặp mắt dài và sắc, sống mũi thẳng, đôi môi dày và mỉm cười, tai to, vai rộng, cổ thô... hiển bày cái tướng mạo Đại trượng phu cương nghị mà hồn hậu, biểu hiện đầy đủ khí phách mạnh bạo của dân du mục. Nhưng đến cuối thời kì thì hình thức biểu hiện đã khác với Tây vực và Ấn độ; áo mặc đã đổi ra tay rộng, vạt dài, trang sức đẹp đẽ, nét khắc cân đối chỉnh tề. 3. Thời kì Long môn (494-550): Nhờ chất đá nhẵn mịn, sự tạo hình khéo léo, đôi má và thân hình đều mịn màng yểu điệu; có lẽ do quan niệm về thẩm mĩ của xã hội đã thay đổi, tạo hình thon gầy là xu hướng thời thượng, phục trang của tượng Phật cũng hướng tới phong cách Trung quốc, là cái mà Ấn độ và Tây vực chưa thấy. 4. Thời kì Tề Chu (551-580): Lấy kiểu dáng Thiên hưởng của núi Thiên long và núi Hưởng đường làm đại biểu. Đặc sắc lớn nhất của thời kì này là dáng tượng thân gầy má dài lại đổi làm má tròn, nhưng không được rõ ràng như Tượng Vân cương Bắc Ngụy (460-493) Tượng Vân cương Bắc ngụy (460-493) Tượng Long môn Bắc Ngụy (494-550) Tượng Tề Chu (551-580) thời kì Vân cương. Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của tượng Vương triều Cấp đa Ấn độ, áo mỏng lộ rõ nhục thể, biểu hiện cảm giác mềm mại, những nét khắc trang sức và mũ báu trên thân Phật cực kì tinh vi. 5. Thời kì nhà Tùy (581-617): Tạo hình nhẹ nhàng, về phong cách thì một mặt vẫn theo nghệ thuật tạo tượng của thời kì Tề, Chu, mặt khác lại khắc 3 đường nét ở cổ(cổ cao 3 ngấn), mắt mũi và môi miệng tạo thành bộ diện gãy cong, chẳng hạn như tượng ở động Dược phương của núi Long môn và hang thứ 8 ở núi Thiên long. Tạo hình đại khái chiếu theo thân thể loài người với những nét tả thực. Ngoài ra, mũ báu và phục sức trên thân tượng rất sặc sỡ. 6. Thời kì nhà Đường (618-750): Đầu đời Đường, sau khi hấp thu và tiêu hóa kiểu dáng Cấp đa, xuất hiện nghệ thuật tạo tượng hoàn toàn viên mãn. Trong đó, 9 pho tượng lớn như Đại Phật Lô xá na và 2 vị Bồ tát đứnghầu 2 bên ngài, La hán, Thần vương, Lực sĩ... ở chùa Phụng tiên tại Long môn là đầy đủ tính đại biểu nhất. Vẻ đẹp lí tưởng của Đại Phật là đứng về mặt ý thức thẩm mĩ của người Trung quốc mà được tạo thành. Tượng 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên và tượng La hán đứng đều đã trút bỏ nét tạo hình đầu đời Đường, là những tác phẩm điển hình của nền điêu khắc cổ điển phương Đông. Thời thịnh Đường là thời kì tạo tượng phát đạt nhất của Phật giáo. Chủ yếu có 3 động là động Cực nam, động Tịnh độ và đài Lụy cổ ở hang động Vân môn. Trong đó, tượng Bồ tát đứng hầu 2 bên ở động Cực nam khác với nghệ thuật tạo tượng ở chùa Phụng tiên, thân thể thon dài mảnh dẻ, tuy đầy cảm giác thân thiết, nhưng đã mất đi cái vẻ chí tôn của tạo hình tượng Phật ở các thời kì trước. 7. Thời kì Ngũ đại về sau: Nghệ thuật tạo hình tượng Phật ở thời kì này chẳng những không vãn cứu được tình hình suy đồi của thời kì vãn Đường, trái lại, cái sức tưởng tượng siêu tự nhiên mà pho tượng Phật phải có cũng đã rất yếu ớt mong manh, cho đến đời Tống thì tượng Bồ tát đã biểu hiện vẻ đẹp mẫu tính thế gian và bình dân hóa, từ đời Nguyên về sau, không còn tác phẩm trọng yếu nào xuất hiện. [X. phẩm Tứ sự trong kinh Bát chu tam muội Q.thượng; phẩm Đàm vô kiệt Bồ tát kinh đạo hành Bát nhã Q.10; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.hạ; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8; kinhTạo tượng lượng đạc; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.11; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.2; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.9; điều Bà la ni tư quốc trong Đại đường tây vực kí Q.7; Phật tổ thống kí Q.53; Tập Tượng đời Đường (618-780) thần châu tam bảo Tượng đời Tùy (581-617) Tượng Phật bằng các lớp vải sơn ở đời Tống Tượng đá Thích ca bằng gỗ cỡi chim công ở đời Minh cảm thông lục Q.trung; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển 90-94; Điêu tố thiên trong Chi na mĩ thuật sử, Tòng Phật tượng điêu khắc sở kiến đích tạo hình hoạt động hệ phổ (Sam sơn nhị lang)]. (xt. Phật Họa, Tòa).
Phật tượng 佛像
[ja] ブツゾウ butsuzō ||| An image of the Buddha. => Hình ảnh của Đức Phật.
phật tạng kinh
2756請參閱遺教經 請參閱 摩訶摩耶經 凡三卷。鳩摩羅什(344~413)譯於姚秦弘始七年(405)。又稱奉入龍華經、選擇諸法經。收於大正藏第十五冊。屬於大乘律之經典。內分十品:諸法實相品、念佛品、念法品、念僧品、淨戒品、淨法品、往古品、淨見品、了戒品、囑累品,論述諸法之無生、無滅、無相、無為,及諸法實相;並謂破戒比丘有十憂惱箭,而訶責其種種罪相;又告誡「不淨說法」之大罪報。 本經未特別論說菩薩律儀,此為異於其他戒本之處。然強調若不理解諸法實相、無生、無滅等,則雖受持二百五十戒,亦形同破戒,並主張遠離「戲論分別」始得稱持戒。又以本經闡釋菩薩僧團必得由聲聞僧團別立之種種原因,故列為大乘律之典籍。〔出三藏記集卷二、大唐內典錄卷三、開元釋教錄卷四、卷十二、卷十九〕
; (佛藏經) Cũng gọi Phụng nhập long hoa kinh, Tuyển trạch chư pháp kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này chia àm 10 phẩm: Phẩm Chư pháp thực tướng, phẩm Niệm Phật, phẩm Niệm pháp, phẩm Niệm tăng, phẩm Tịnh giới, phẩm Tịnh pháp, phẩm Vãng cổ, phẩm Tịnh kiến, phẩm Liễu giới và phẩm Chúc lụy, bàn về thực tướng các pháp vốn vô sinh, vô diệt, vô tướng, vô vi..., đồng thời cho rằng tỉ khưu phá giới có 10 mũi tên lo sầu, quở trách các thứ tội tướng và răn dạy về tội báo Bất tịnh thuyết pháp. Kinh này không bàn đến luật nghi của Bồ tát, đó là điểm đặc biệt không giống với các kinh giới bản khác. Nhưng lại có chủ trương nếu không lí giải được thực tướng các pháp vô sinh, vô diệt... thì dẫu có thụ trì 250 giới cũng đồng như phá giới, đồng thời cũng chủ trương có xa lìa hí luận phân biệt thì mới gọi được là trì giới. Lại vì giải thích rõ những lí do tại sao tăng đoàn Bồ tát phải biệt lập với tăng đoàn Thanh văn, cho nên kinh này được xếp vào luật điển của Đại thừa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4,12,19].
phật tổ
2651佛與祖師。然禪宗以佛即祖師,祖師即古佛,兩者並無差別;一般多用於指大悟徹底、達佛分際之祖師,如碧巖錄第二十五則評唱(大四八‧一六五下)「垂一轉語,且要報佛祖恩,傳佛心印」之語。
; Bosso (J)Phật và những vị tổ, Đức Phật.
; The Buddha and other founders cults; Buddhist patriarchs.
; (佛祖) Phật và Tổ sư. Nhưng Thiền tông thì cho rằng Phật tức Tổ sư, Tổ sư tức cổ Phật, cả 2 đều không sai khác. Thông thường từ ngữ Phật tổ được sử dụng để chỉ cho các bậc Tổ sư đại ngộ triệt để, đã đạt đến địa vị Phật. Phần Bình xướng trong Bích nham lục tắc 25 (Đại 48, 165 hạ) nói: Hạ một chuyển ngữ, mong báo ân Phật tổ, truyền tâm ấn Phật.
phật tổ chính pháp trực truyện
2653全一卷。峰翁祖一編。日本康曆三年(1381)刊行。內容係始自過去七佛、西天諸祖、東土諸師之列傳。東土諸師乃從達磨以下至密庵咸傑共五十三人,與西天諸祖共計八十七人;六祖以下所揭之順序為曹洞、雲門、法眼,並及南嶽下,以至臨濟之密庵咸傑。列傳則以機緣語句為主,並有傳燈錄之史傳事蹟。編者峰翁祖一國籍不詳,或謂係中國人,或謂係日本人。
; (佛祖正法直傳) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Phong ông Tổ nhất (quốc tịch không rõ, có thuyết cho là người Trung quốc, cũng có thuyết cho là người Nhật bản) biên soạn, được ấn hành vào năm Khang lịch (Nhật bản) thứ 3 (1381). Nội dung sách này nói về các sự tích tứ 7 đức Phật quá khứ đến chư tổ Ấn độ, Trung quốc. Về chư tổ Trung quốc thì từ ngài Đạt ma trở xuống đến ngài Mật am Hàm kiệt có 53 vị, cùng với chư tổ Ấn độ tổng cộng 87 vị. Thứ tự kể từ ngài Lục tổ trở xuống là Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, rồi từ ngài Nam nhạc trở xuống đến ngài Mật am Hàm kiệt của tông Lâm tế. Phần truyện kí trong sách này, lấy cơ duyên vấn đáp làm chính yếu, đồng thời, có thêm sự tích sử truyện của Truyền đăng lục.
phật tổ chính truyền cổ kim tiệp lục
2653全一卷。又作古今捷錄。清代僧雪兆果性(1666~?)撰。收於卍續藏第一四六冊。係果性廣閱藏典,編集宋代僧密庵咸傑以下,諸傳燈錄未載之元、明時代十七、八世之臨濟宗傳燈祖師之事蹟、朝代、法臘、諡號、法嗣等,並略述自達磨至密庵諸師之機緣、語要等,以明其法系。各傳之後附拈頌一首。卷末附錄曹洞、溈仰、雲門、法眼四家之簡要傳承,以及汝州風穴延沼禪師塔銘並序一篇。
; (佛祖正傳古今捷錄) Cũng gọi Cổ kim tiệp lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuyết triệu Quả tính soạn vào đời Thanh được thu Vạn tục tạng tập 146. Nội dung sách này biên tập sự tích, triều đại, pháp lạp, thụy hiệu, đệ tử nối pháp... của chư tổ truyền đăng thuộc tông Lâm tế đời thứ 17, 18 ở thời đại Nguyên, Minh từ ngài Mật am Hàm kiệt đời Tống trở xuống mà các bộ Truyền đăng lục chưa ghi chép. Đồng thời, tác giả còn lược thuật cơ duyên, yếu ngữ...của chư tổ, từ ngài Đạt ma đến ngài Mật am để nói rõ về pháp hệ của các ngài. Sau mỗi truyện có phụ thêm 1 bài niêm tụng, cuối quyển có ghi chép 1 cách vắn tắt về sự truyền thừa của 4 tông Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn. Ngoài ra cũng chép thêm 1 bài minh tháp và 1 bài tựa của Thiền sư Phong nguyệt Diên chiểu ở Nhữ châu.
phật tổ chính tông đạo ảnh
2653凡四卷。守一空成重編。光緒六年(1880)刊行。明代洪武年間(1368~1398)畫諸祖之道影(畫像)一百餘尊,收藏於牛頭山,萬曆十七年(1589)由紫柏老人作序刊行。至崇禎十一年(1638),真寂院之元賢追補一三○尊,刻印行世。康熙十五年(1676),靜熙啟公收錄一六六尊,編成「宗門正脈道影」,其後,幾經整理統計,共收二四○尊,分為四卷,重刊翻刻。卷一收佛祖正宗三十九人,並附錄旁支、牛頭支。卷二收南嶽正宗六十八人,列舉臨濟宗、溈仰脈。卷三收青原正宗八十五人,曹洞脈、雲門脈、法眼脈。卷四收教律連宗四十八人。
; (佛祖正宗道影) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thủ nhất Không thành chép lại, ấn hành vào năm Quang tự thứ 6 (1880) đời Thanh. Đây là bộ sưu tập các bức tượng vẽ đa số là của các vị tổ Thiền tông. Khoảng năm Hồng vũ (1368-1398) đời Minh, hơn 100 bức tượng của chư tổ đã được vẽ và cất giữ ở núi Ngưu đầu. Năm Vạn lịch 17 (1589), Tử bá Lão nhân viết lời tựa và ấn hành. Đến năm Sùng trinh 11 (1638), ngài Nguyên hiền ở viện Chân tịch bổ sung thêm 130 bức tượng vẽ nữa, rồi khắc in. Năm Khang hi 15 (1676) đời Thanh, ngài Tĩnh hi Khải công thu chép 166 bức, biến thành Tông Môn Chính Mạch Đạo Ảnh. Về sau, qua mấy lần chỉnh lí, thống kê thì tổng cộng có 240 bức, chia làm 4 quyển, khắc in lại. Nội dung 4 quyển như sau: - Quyển 1: Phật tổ chính tông có 39 vị. - Quyển 2: Nam nhạc chính tông có 68 vị, liệt kê tông Lâm tế, tông Qui ngưỡng. - Quyển 3: Thanh nguyên chính tông có 85 vị, liệt kê tông Tào động, tông Vân môn, tông Pháp nhãn. - Quyển 4: Giáo luật liên tông có 48 vị.
Phật Tổ Cương Mục
(佛祖綱目, Bussokōmoku): 41 quyển, do Chu Thời Ân (朱時恩) nhà Minh biên soạn, san hành vào năm thứ 7 (1634) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎) nhà Minh. Đây là bộ sách biên tập thứ tự lịch đại niên hiệu hành nghiệp và cương mục của chư Phật tổ từ khi đức Thế Tôn thị hiện đản sanh cho đến khi Vạn Phong Thời Úy (萬峰時蔚) nhà Minh qua đời, mất hết 21 năm trường từ năm thứ 38 (1610) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đầu quyển có lời tựa của Đổng Kỳ Xương (董其昌), lời tựa của tác giả, phàm lệ, tổng mục lục, v.v.; quyển cuối có lời bạt của tác giả.
phật tổ cương mục
2655凡四十二卷(包括卷首)。明代朱時恩編。崇禎七年(1634)刊行。收於卍續藏第一四六冊。本書從萬曆三十八年(1610)開始編纂,歷時二十一年完成。內容從釋尊之示現受生至明代萬峰時蔚示寂為止,以諸佛及歷代祖師之化導、行誼等事蹟為綱目,依照歷代年號之順序編錄,同年代之各種佛教重要事蹟皆可一目了然。
; (佛祖綱目) Tác phẩm, 42 quyển, do Chu thời an biên soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), được thu vào Vạn tục tạng tập 140. Sách này bắt đầu được biên soạn vào năm Vạn lịch 38 (1610), mãi đến 21 năm sau mới được hoàn thành. Nội dung sách này lấy sự tích hóa đạo, hành nghị của chư Phật vàlịch đại tổ sư từ khi đức Thế tôn thị hiện thụ sinh đến khi ngài Vạn phong Thời úy thị tịch vào đời Minh làm cương mục, rồi y chiếu theo thứ tự niên hiệu các đời mà biên chép các loại sự tích trọng yếu của Phật giáo suốt dòng lịch sử lâu dài ấy. Những sự kiện Phật giáo lớn lao cùng niên đại nhìn qua đây đều thấy rõ ràng.
phật tổ hội
2654其義有二,即:(一)略稱佛會。佛祖會下之意;亦即諸佛或祖師說法之會座。(二)指三佛忌,即佛誕生會(四月八日)、佛成道會(十二月八日)、佛涅槃會(二月十五日)。
; (佛祖會) I. Phật Tổ Hội. Gọi tắt: Phật hội. Hội thuyết pháp của Phật hoặc Tổ sư. II. Phật Tổ Hội. Chỉ cho 3 ngày giỗ Phật: - Hội Phật đản sinh (mồng 8 tháng 4). - Hội Phật thành đạo (mồng 8 tháng 12). - Hội Phật niết bàn (15 tháng 2).
phật tổ khất mệnh
2652意謂佛祖於優秀根機者面前,亦有無從下手之難。無門關第四十三則首山竹篦(卍續一一九‧一六六下):「拈起竹篦,行殺活令,背觸交馳,佛祖乞命。」
; (佛祖乞命) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Phật tổ xin tha mạng. Ý nói đối với những người có căn cơ sắc bén, vượt trội, Phật tổ cũng thấy khó xử. Điều thủ Sơn trúc bề trong Vô môn quan tắc 43 (Vạn tục 119, 166 hạ) nói: Dựng đứng cây trúc bề, hạ lịnh giết hay tha, quay lưng đối mặt, Phật tổ xin tha mạng.
phật tổ kị cửu bái
2653請參閱 景德傳燈錄 禪林中,二祖忌(達磨忌及百丈忌)及三佛忌(釋尊涅槃忌、降誕會、成道會)之時,住持行九拜之儀。據敕修百丈清規卷二佛降誕條載,於佛誕日,住持上香三拜,不收坐具,進前上湯進食,請客侍者遞上,燒香侍者則捧置於几上,復位三拜,再上香,下䞋點茶,又三拜收坐具。於整個儀法中,住持上香三拜,復位三拜,又三拜收坐具,前後共九拜,故稱佛祖忌九拜。
; (佛祖忌九拜) Nghi thức vị Trụ trì lạy 9 lạy trong ngày giỗ Phật và giỗ Tổ sư. Trong Thiền lâm có 2 ngày giỗ tổ (giỗ tổ Đạt ma, giỗ tổ Bách trượng) và 3 ngày giỗ Phật (giỗ Phật nhập Niết bàn, hội Phật đản sinh và hội Phật thành đạo). Cứ theo điều Phật giáng đản trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2, vào ngày Phật đản, vịTrụ trì dâng hương lạy 3 lạy, không thu tọa cụ, bước lên phía trước dâng nước nóng và thức ăn do thị giả Thỉnh khách đưa đến và thị giả Thiêu hương bưng đặt lên bàn. Sau đó, vị Trụ trì trở lại vị trí cũ lạy 3 lạy, dâng hưong lần nữa, đặt thức ăn xuống, châm trà rồi lạy 3 lạy và thu tọa cụ. Trong toàn bộ nghi thức trên, đầu tiên vịTrụ trì dâng hương lạy 3 lạy, rồi trở về chỗ cũ lạy 3 lạy, sau cùng lạy 3 lạy và thu tọa cụ, trước sau 3 lần, tổng cộng 9 lạy, vì thế gọi là Phật tổ kị cửu bái (Giỗ Phật tổ 9 lạy).
Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải
(佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai): còn gọi là Phật Tổ Thông Tải (佛祖通載, Bussotsūsai), Thông Tải (通載, Tsūsai), 22 quyển, do Mai Ốc Niệm Thường (梅屋念常) nhà Nguyên biên tập, san hành vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Niệm Thường ở Đại Trung Tường Tự (大中祥寺), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), theo niên kỷ các đời vua từ thời 7 vị Phật ở quá khứ cho đến năm đầu (1333) niên hiệu Nguyên Thống (元統) nhà Nguyên, ghi lại dưới hình thức biên niên các sự tích của Phật Giáo cũng như truyền ký của chư vị cao tăng để hình thành nên tác phẩm lớn này. Trải qua những điển tịch nội ngoại, có dẫn chứng uyên bác, bộ này đã làm sáng tỏ các điển cứ cố sự và đính chính những dị luận. Bản này có lời tựa của Vi Tiếu Am Đạo Nhân Ngu Tập (微笑庵道人虞集) ghi năm đầu (1341) niên hiệu Chí Chánh (至正) và lời tựa của Giác Ngạn (覺岸) vào năm thứ 4 (1344) cùng niên hiệu trên.
Phật Tổ lịch đại thông tải
佛祖歴代通載; C: fózǔ lìdài tōngzài; J: busso rekitai tsūsai; |Tác phẩm ghi chép toàn bộ về sự truyền thừa của chư Phật và Tổ sư của sư Niệm Thường (念常, 1282-1323); gồm 22 quyển, hoàn tất vào năm 1341.
phật tổ lịch đại thông tải
2655凡二十二卷(或三十六卷)。元代念常(禪宗分支臨濟宗楊岐派僧)著。略稱通載、佛祖通載。收於大正藏第四十九冊。規格上係以志磐之佛祖統紀法運通塞志為藍本,內容則以禪宗為佛教正統,上起七佛,下至元順帝元統元年(1333),廣載佛教史實,對歷代皇室臣僚興廢佛教事蹟及有關撰述文書,儒、道、佛之關聯,佛僧譯經、撰述及佛教之活動等,皆按年記述。以干支紀年,並附注帝紀年號,屬編年體。前數卷關於二十八祖之內容源自宋代道原之景德傳燈錄;東漢明帝至五代之十餘卷,則抄自南宋祖琇之隆興佛教編年通論,主要著述對象為宋、元二代。對正流與傍流之異及正確說法因緣、譯經、弘教師等異論,頗具參考價值。〔釋鑑稽古略續集卷一、閱藏知津卷四十三〕
; (佛祖歷代通載) Gọi tắt: Thông tải, Phật tổ thông tải. Tác phẩm, 22 quyển (hoặc 36 quyển), do ngài Niệm thường (thuộc phái Dương kì tông Lâm tế) soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Trên phương diện qui cách, sách này lấy pháp vận thông tắc chí trong Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn làm bản mẫu; về nội dung thì lấy Thiền tông làm Phật giáo chính thống để trình bày lịch sử Phật giáo theo thể biên niên, khởi đầu từ 7 đức Phật quá khứ, cho đến niên hiệu Nguyên thống năm đấu (1333) đời vua Thuận đế nhà Nguyên. Mấy quyển đầu nói về 28 vị tổ dựa theo tác phẩm Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên đời Tống. Hơn 10 quyển tường thuật từ đời vua Minh đế nhà Đông Hán đến thời Ngũ đại thì sao chép từtác phẩm Long hưng Phật giáo biên niên thông luận của ngài Tổ tú đời Nam Tống; đối tượng chủ yếu của việc soạn thuật sách này là ở 2 đời Tống và Nguyên. Muốn rõ về sự khác nhau giữa dòng chính và dòng phụ, những dị luận về nhân duyên thuyết pháp, dịch kinh, các nhà hoằng giáo...thì bộ sách này rất có giá trị tham khảo.
Phật tổ lịch đại thông tải 佛祖歴代通載
[ja] ブツソレキダイツウサイ Busso rekitai tsūsai ||| The Fozu lidai tongzai; (A Comprehensive Registry of the Successive Ages of the Buddhas and the Patriarchs), 22 chüan. By Nianchang 念常 (1282-1323); completed in 1341. T 2036.49.477-73 => (j: Busso rekitai tsūsai), (c: Fozu lidai tongzai) Tác phẩm ghi chép toàn bộ về sự truyền thừa của Chư Phật và Tổ sư của Ngài Niệm Thường (c: Nianchang 念常 1282-1323); gồm 22 quyển, hoàn tất năm1341.
phật tổ tam kinh
2652禪家指四十二章經、佛遺教經、溈山警策等三部。此名目起於何時已不可考。蓋北宋仁宗時代,守遂禪師為三經作註時即已有之。守遂之佛祖三經註即四十二章經註、遺教經補註、溈山警策註。元代靜山慧刊行佛祖三經註,附有至元二十三年(1286)絕牧叟德異之敘,謂叢林之中,以四十二章經、遺教經、溈山警策為佛祖三經,能一覽直前者,歷多生便成佛作祖。其後朝鮮及日本亦刊行守遂之佛祖三經註。註書另有明代為霖道霈之佛祖三經指南、蕅益智旭之三經解(收載四十二章經解、遺教經解及八大人覺經略解各一卷)。 三經之中,四十二章經與署名「後漢迦葉摩騰共法蘭譯」之同一經(收載在大正藏第十七冊)相較,則其本文略有不同,且禪之色彩濃厚。又溈山警策係溈山靈祐住溈山時,因見住眾懈怠而垂示者,合文、銘而成,說身之無常與實踐出家入道之要。其註釋除守遂三經註中之溈山警策註外,另有溈山警策句釋記二卷(明代弘贊註,開䛛記)、溈山警策註一卷(明代大香)、溈山警策講義一卷(日人山田孝道)等。〔禪籍志、佛教思想研究(宇井伯壽)〕(參閱「遺教」6320)
; Busso sankyō (J).
; (佛祖三經) Ba bộ kinh sách của Phật và Tổ, tức Thiền tông chỉ cho 2 kinh Tứ thập nhị chương, Phật di giáo do đức Phật tuyên giảng và cuốn Qui sơn cảnh sách của ngài Linh hựu soạn. Danh mục Phật Tổ Tam Kinh có từ thời nào, đến nay chưa khảo được. Chỉ biết rằng vào thời vua Nhân tông nhà Bắc Tống, khi Thiền sư Thủ toại soạn chú sớ Tam kinh thì đã có danh mục này rồi. Trong 3 bộ trên, kinh Tứ thập nhị chương so với bản dịch của 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan cùng dịch vào đời Hậu Hán (được thu vào Đại chính tạng tập 17), thì văn kinh này hơi khác, vả lại rất đậm sắc thái Thiền. Kinh Phật di giáo do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Còn Qui sơn cảnh sách thì do ngài Linh hựu soạn vào đời Đường khi ngài trụ ở núi Qui sơn. Về các sách chú thích Phật tổ Tam kinh thì có: - Phật tổ tam kinh chú của Thiền sư Thủ toại đời Bắc Tống. - Phật tổ tam kinh chỉ nam của ngài Lâm đạo bái đời Minh. -Tam kinh giải của ngài Ngẫu ích Trí húc đời Minh. [X. Thiền tịch chí; Phật giáo tư tưởng nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Di Giáo).
phật tổ tam kinh chỉ nam
2652凡三卷。明代為霖道霈著。收於卍續藏第五十九冊。佛祖之道,至高無上,甚深難測,欲行佛道,有其順序。歷來禪門中特重四十二章經、佛遺教經、溈山警策等三書,總稱為佛祖三經。其中,四十二章經、佛遺教經為學佛之初門、啟蒙之寶訓,為禪林僧徒所必習之基本典籍;溈山警策則為近代僧徒之警策,乃禪徒須銘記遵守之教訓書。古來有關此三書之注疏不少,然皆無法滿足學人,故鼓山永覺元賢之法嗣為霖道霈於順治二年(1645)著此指南書,以為學人修習佛道之津梁。(參閱「佛祖三經」2652)
; (佛祖三經指南) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Lâm đạo bái soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 59. Nội dung sách này chú giải 3 bộ Tứ thập nhị chương kinh, Phật di giáo kinh và Qui sơn cảnh sách. Tác giả cho 3 bộ kinh sách này là bước đầu cơ bản của những người tu học Phật đạo và khuyên mọi người nên lấy đó làm kim chỉ nam. (xt. Phật Tổ Tam Kinh).
Phật Tổ Thông Tải
(佛祖通載, Bussotsūsai): Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai) ở trên.
Phật tổ thống ký 佛祖統紀
[ja] ブツソトウキ Busso touki ||| The Fozu tongji; (A Chronicle of the Buddhas and the Patriarchs), 54 chüan. By Zhipan 志磐 (1220-1275); completed in 1269. T 2035.49.129a-475c.ZGD1089 => (j: Busso touki ) Biên niên sử về Đức Phật và chư Tổ; gồm 54 quyển. Chí Bàn (c: Zhipan 志磐 1220-1275). Hoàn tất năm 1269.
Phật Tổ thống kỉ
佛祖統紀; C: fózǔ tǒngjì; J: busso touki.|Biên niên sử về Đức Phật và chư Tổ; gồm 54 quyển. Chí Bàn (志磐, 1220-1275). Hoàn tất năm 1269.
phật tổ thống kỉ
2654凡五十四卷。南宋志磐著。略稱統紀。收於大正藏第四十九冊。全書主要闡明天台教學之傳統,以南宋景遷之宗源錄、宗鑑之釋門正統二書為基礎,仿史書紀傳體及編年體增編而成。分為本紀八卷、世家二卷、列傳十二卷、表二卷、志三十卷。 本紀記載釋迦成道、益物與天台宗所奉西土二十四祖、東土九祖、興道以下八祖之傳。世家收錄南岳、天台等一九八人之傳記。列傳收錄慈雲至廣智、神照、南屏等三七八人之傳記(十九、二十兩卷五十五人之傳已佚)。表有二:<一>列出梁武帝天監元年(502)至宋仁宗明道二年(1033),五百三十餘年間之歷代傳教表。<二>圖示西土與東土之佛祖系譜。志則有九種:山家教典志一卷,錄天台宗著作;淨土立教志三卷,記述淨土宗僧俗傳;諸家立教志一卷,記述禪、華嚴、法相、密教、律諸宗創教簡史;三世出興志一卷,略說過去、現在、未來諸佛大小三災;世界名體志二卷,記述世界八方諸天通論;法門光顯志一卷,列記有關像塔、佛事諸錄;法運通塞志十五卷,篇幅最大,編年記載歷代佛教史蹟;歷代會要志四卷,輯歷代興廢佛教事例;名文光教志二卷,載贊頌天台宗之志記碑文等。 本書奉天台宗為正統,雖編述偏重天台宗,但因採擇史料豐富,編選精審,不失為研究中國佛教史之重要參考資料。其中第十九、二十兩卷僅存目錄而缺傳文, 然卍續藏本法運通塞志之末段有所補錄,此或為後人所增補。此外,繼本書之後,另有續佛祖統紀一書之刊行,計二卷。收於卍續藏第一三一冊。其內僅增補列傳部分,所增補者為三十人之傳記,然編者、編時不詳。〔閱藏知津卷四十三〕
; (佛祖統紀) Gọi tắt: Thống kỉ. Tác phẩm, 54 quyển, do ngài Chí bàn soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Toàn sách chủ yếu nói rõ về truyền thống của giáo học Thiên thai, lấy 2 tác phẩm Tông nguyên lục của ngài Cảnh thiên và Thích môn chính thống của ngài Tông giám đời Tống làm nền tảng, rồi theo thể kỉ truyện và biên niên mà soạn thành. Nội dung gồm: Bản kỉ, Thế gia, Liệt truyện, Biểu và Chí. -Bản kỉ (8 quyển): Ghi chép truyện đức Thích ca thành đạo, giáo hóa và truyện của 24 vị tổ Ấn độ, 9 vị tổ Trung quốc và truyện 8 vị tổ từ tổ Hưng đạo trở xuống mà tông Thiên thai tôn thờ. -Thế gia (2 quyển): Thu chép truyện kí của 198 vị cao tăng thuộc tông Thiên thai, Nam nhạc. -Liệt truyện (12 quyển): Thu chép truyện kí của 378 vị, từ ngài Từ vân đến các ngài Quảng trí, Thần chiếu, Nam bình... -Biểu (2 quyển) gồm 2 phần: 1. Trình bày biểu truyền giáo qua các đời trong khoảng thời gian hơn 530 năm, kể từ niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời vua Vũ đế nhà Lương đến năm Minh đạo thứ 2 (1033) đời vua Nhân tông nhà Tống (1 quyển). 2. Đồ biểu chỉ rõ hệ thống truyền thừa của Phật tổ ở Ấn độ và Trung quốc (1 quyển). -Chí, có 9 loại: a) Sơn gia giáo điển chí, 1 quyển, ghi chép các trứ tác của tông Thiên thai. b) Tịnh độ lập giáo chí, 3 quyển, ghi chép truyện kí của tăng tục tông Tịnh độ. c) Chư gia lập giáo chí, 1 quyển, trình bày lịch sử vắn tắt về việc sáng lập các tông: Thiền, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Luật, Mật giáo... d) Tam thế xuất hưng chí, 1 quyển, nói sơ lược về chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. e) Thế giới danh thể chí, 2 quyển, bàn chung về chư thiên ở 8 phương trong thế giới. g) Pháp môn quang hiển chí, 1 quyển, nói về các Phật sự, tượng tháp... h) Pháp vận thông tắc chí, 15 quyển, nói về sự tích Phật giáo qua các thời đại. i) Lịch đại hội yếu chí, 4 quyển, ghi chép những sự kiện Phật giáo hưng phế qua các thời đại. k) Danh văn quang giáo chí, 2 quyển, chép những văn bia tán tụng tông Thiên thai.Sách này tôn tông Thiên thai là chính thống, việc biên chép, trình bày tuy có thiên về tông Thiên thai, nhưng vì sự lựa chọn sử liệu phong phú, biên soạn kĩ lưỡng nên xứng đáng là tư liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc. Trong số 54 quyển thì 2 quyển 19 và 20 chỉ còn mục lục, không còn văn truyện, tức thiếu mất truyện kí của 55 vị. Nhưng ở đoạn cuối của Pháp vận thông tắc chí trong Vạn tục tạng đã có chép bổ sung, đây có lẽ do người đời sau thêm vào. Ngoài ra, tiếp sau sách này, còn có Tục Phật tổ thống kỉ, 2 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 131. Nội dung chỉ bổ sung phần Liệt Truyện, tức thêm truyện kí của 30 vị, nhưng không rõ ai đã thêm và thêm vào thời nào? [X. Duyệt tạng tri tân Q.43].
phật tổ tâm đăng
2653全一卷。著者、刊行年均不詳。收於卍續藏第一五○冊。內容包括七佛偈之毘婆尸佛至釋迦牟尼佛、三十三祖傳法偈之摩訶迦葉至慧能大師、佛祖源流訣、五宗次序譜等四項。本書所列西天諸祖之名與景德傳燈錄所列者相同,然異於付法藏因緣傳、圓覺經大疏鈔、內證佛法血脈譜等書所列之西天二十八祖之名。清光緒十六年(1890),守一空成將所編之諸家宗派一卷,與佛祖心燈合併刊行,題名宗教律諸家演派。
; (佛祖心燈) Tác phẩm, 1 quyển (không rõ tác giả), được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này gồm 4 hạng mục: -Kệ của 7 đức Phật Tì bà thi đến Phật Thích ca mâu ni. -Kệ truyền pháp của 33 vị tổ từ tổ Ma ha ca diếp đến Đại sư Tuệ năng. -Phật tổ nguyên lưu quyết (Nguyên dòng của Phật và Tổ). -Ngũ tông thứ tự phổ (thứ tự hệ thống của 5 tông phái). Tên các vị tổ Ấn độ ghi trong sách này cũng phù hợp với Cảnh đức truyền đăng lục, nhưng khác với 28 vị tổ Ấn độ trong các sách: Phó pháp tạng nhân duyên truyện, Viên giác kinh đại sớ sao và Nội chứng Phật pháp huyết mạch phổ. Năm Quang tự 16 (1890), ngài Thủ nhất Không thành đem sách Chư gia tông phái, 1 quyển, của mình in chung với sách này, lấy tên là Tông giáo luật chư gia diễn phái.
phật tổ tông phái thế phả
2654凡八卷。清代介庵悟進編。順治十一年(1654)刊行。收於卍續藏第一四七冊。本書係無準師範法系下第十五世之介庵悟進所編之法系圖;列舉西天、東土諸祖法系下臨濟、雲門等五宗及旁出之傳燈世譜。〔禪燈世譜卷六、徑石滴乳集卷五〕
; (佛祖宗派世譜) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Giới am Ngộ tiến biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Thuận trị 11 (1654), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này liệt kê pháp hệ của các tổ Ấn độ, Trung quốc, 5 tông: Lâm tế, Vân môn, Tào động, Qui ngưỡng và Pháp nhãn... [X. Thiền đăng thế phổ Q.6; Kính thạch trích nhũ tập Q.5].
phật tổ tông phái đồ
2654泛稱各類宗派系譜之圖表,一般多從過去七佛、釋尊以來、西天、東土,乃至日本諸祖之傳法相承之次第,繪成圖表,明示各宗法系之脈絡,此類系譜圖表,總稱為佛祖宗派圖,如佛祖宗派世譜、佛祖宗派綱要、佛祖正傳宗派圖、佛祖宗派圖、正誤佛祖正傳宗派圖等,均屬此類著作。
; (佛祖宗派圖) Chỉ chung các loại đồ biểu trình bày hệ thống các tông phái. Thông thường đem thứ tự truyền pháp thừa kế nhau từ 7 đức Phật quá khứ, đức Thích tôn cho đến các tổ Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, vẽ thành đồ biểu, chỉ rõ pháp hệ của các tông, loại đồ biểu này được gọi chung là Phật tổ tông phái đồ. Chẳng hạn như Phật tổ tông phái thế phổ, Phật tổ tông phái cương yếu, Phật tổ chính truyền tông phái đồ, Chính ngộ Phật tổ chính truyền tông phái đồ...đều là những trứ tác thuộc loại này.
phật tổ vấn tấn
2654禪林中,面對諸佛或歷代祖師像前,行合掌、曲躬低頭之禮,稱為佛祖問訊。又禮拜佛祖,稱為佛祖禮。
; (佛祖問訊) Trong Thiền lâm, chắp tay, cúi đầu lễ bái trước tượng chư Phật và lịch đại Tồ sư, gọi là Phật tổ vấn tấn.
phật từ hộ ấn
2744為密教有關消災除難所結印契之一種。又作如來慈護印、佛大慈護印。若結此印、誦真言,即能增廣諸天之威光,袪除行者之災難。其印言載於藥師消災儀軌中。結印之法,或作內縛,或作外縛,豎二拇指及二小指而合之,據藥師消災儀軌載,一切災難多因水火風而起,故欲避災難,須縛水火風(無名指、中指、食指)三指,故此印具有「能空水火風三災」之義。其真言為:唵(oṃ,歸命)沒馱 昧怛哩 縛日囉(buddhā maitṛi vajra,佛慈金剛)洛乞叉 唅(rakṣa haṃ,護我)。
; (佛慈護印) Cũng gọi Như lai từ hộ ấn, Phật đại từ hộ ấn. Ấn khế tiêu trừ tai nạn, 1 trong những loại ấn khế của Mật giáo. Về cách kết ấn, hoặc dùng nội phược, hoặc dùng ngoại phược, dựng thẳng 2 ngón cái và 2 ngón út rồi hợp lại với nhau. Cứ theo Dược sư tiêu tai nghi quĩ thì tất cả tai nạn phần nhiều khởi lên từ nước, lửa và gió, vì thế muốn tránh tai nạn thì phải buộc 3 ngón tay thuộc nước, lửa, gió (tức ngón út, ngón giữa và ngón trỏ) lại. Ấn này có khả năng tiêu trừ 3 tai nạn nước, lửa, gió. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) một đà muội đát lí phạ nhật ra (buddhà maitfi vajra, Phật từ Kim cương) lạc khất xoa hàm (rakwô haô, hộ ngã).
phật từ lực vương
Buddha of King of Merciful Force Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật từ tạng
Buddha of Mercy Treasury Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật tử
2610梵語 buddha-putra,巴利語 buddha-putta。<一>指信順佛之教法,而承其家業者,即欲成佛而使佛種不斷絕者。乃大乘用為菩薩之美稱。〔法華經卷一方便品、梵網經卷下〕 <二>指佛教徒受大乘菩薩戒者。〔菩薩瓔珞本業經卷上〕 <三>指佛弟子、佛教信者。 <四>指一切眾生。眾生常依順佛,佛之憶念眾生,亦猶如父母之於子女;且眾生本具成佛之性,故稱眾生為佛子。〔法華文句卷九〕
; Buddhist.
; Son of Buddha, a bodhisattva; a believer in Buddhism; Buddhist.
; (佛子) Phạm: Buddha-putra. Pàli: Buddha-putta. I. Phật Tử. Người tin và nhận theo giáo pháp của Phật, thừa kế gia nghiệp của Ngài, tức là người mong cầu thành Phật để làm cho hạt giống Phật không dứt mất. Đại thừa dùng từ Phật tử để chỉ cho Bồ tát. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Phạm võng Q.hạ]. II. Phật Tử. Chỉ cho những người tín đồ Phật giáo thụ giới Bồ tát Đại thừa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng]. III. Phật Tử. Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Chúng sinh thuận theo Phật, sự nhớ nghĩ của Phật đối với chúng sinh cũng giống như cha mẹ thương nhớ con cái; vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, vì thế gọi chúng sinh là Phật tử. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].
phật tử tịnh độ chơn tông
Shin Buddhist.
phật tự
Buddhist temple, pagoda.
phật tự thuyết kinh
Xem Vô vấn tự thuyết.
; Udàna (S). Sùtra Buddha said without any invitation.
phật tỳ lô giá na
Mahā-vairocana-buddha (S).
Phật Tỳ-bà-thi
(Vipaśyin): một vị Phật quá khứ, đã ra đời trong kiếp Trang nghiêm. Sau kiếp Trang nghiêm mới đến kiếp Hiền (Hiền kiếp). Đức Phật Thích-ca-Mâu-ni ra đời trong Hiền kiếp này. Xem bảy vị Phật.
Phật Tỳ-xá-phù
xem bảy vị Phật.
phật vô lượng âm thanh quang
Buddha of Limitless-Sound King.
phật vô ngại tuệ
Unhindered, infinite Buddha-wisdom.
Phật Vô Động
xem Phật A-súc.
phật vật
2637請參閱圓悟心要 請參閱 圓悟心要 請參閱 碧巖集 請參閱圓悟佛果禪師語錄 請參閱 擊節錄 屬佛之物。與法物、僧物同為三寶物之一。三寶物嚴禁互相混同使用。四分律刪繁補闕行事鈔卷中之一載列四種佛物:(一)佛受用物,指佛受用之殿堂、衣服、床帳等。(二)施屬佛物,指施予佛之錢寶、田園、人畜等。(三)供養佛物,指供養佛之香燈、華幡、供具等。(四)獻佛物,指供獻於佛之醫藥、飲食等。(參閱「三寶物」703)
; (佛物) Những vật dụng thuộc về Phật. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung liệt kê 4 loại Phật vật như sau: 1. Phật thụ dụng vật: Những vật do đức Phật sử dụng như nhà điện, áo bát, giường màn... 2. Thí thuộc Phật vật: Những vật do người bố thí cho Phật như tiền bạc, bảo vật, ruộng vườn, người, súc vật... 3. Cúng dường Phật vật: Những vật dâng cúng đức Phật như hương hoa, đèn nến, phan phướn, cờ lọng... 4. Hiến Phật vật: Những vật hiến cúng đức Phật như thuốc men, thức ăn uống... (xt. Tam Bảo Vật).
phật vị
The state of Buddhahood.
phật vị a chi la ca diếp thuyết kinh
2725請參閱 佛為年少比丘說經 請參閱佛為阿支羅迦葉說經 全一卷。譯者佚名。又作自化作苦經、佛為阿支羅迦葉自化作苦經。收於大正藏第十四冊。本經內容為阿支羅迦葉問佛陀「苦」係自作、他作、自他作,或無因作,佛陀以十二因緣法答之,謂諸法乃至「苦」之生起,皆由「此有故彼有,此起故彼起」而來,既了知緣「無明」而有「行」,即知滅除「無明」則可滅除「行」,若離此諸邊,即為中道。阿支羅迦葉聞法後遂得道,然不久觸牛而死。於命終時,諸根清淨,顏色鮮白,佛陀說此乃因其已見法、知法而般涅槃之故。又本經雖稱自化作苦經,然由其內容視之,可稱為自他作苦經。於雜阿含經卷十二亦載有本經內容所記之事。〔歷代三寶紀卷四、古今譯經圖紀卷一、大唐內典錄卷一〕
; (佛爲阿支羅迦葉說經) Cũng gọi Tự hóa tác khổ kinh, Phật vị A chi la ca diếp tự hóa tác khổ kinh. Kinh, 1 quyển, (khuyết dịch), được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc ngài A chi la ca diếp hỏi đức Phật về nguyên nhân của khổ là mình tự làm, do người khác làm, mình người cùng làm hay không có nguyên nhân nào cả? Đức Phật bèn giảng cho ngài A chi la ca diếp về 12 nhân duyên, bảo rằng khổ là do nhân duyên sinh chứ chẳng phải do mình tự tạo, do người tạo hoặc mình người cùng tạo, hay không có nguyên nhân nào cả. Sau khi nghe pháp, ngài A chi la ca diếp liền đắc đạo, các căn đều thanh tịnh, vì đã thấy pháp. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Đại đường nội điển lục Q.1].
phật vị hoàng trúc viên lão thuyết kinh
2726全一卷。南朝劉宋時代譯。譯者佚名。又作佛為黃竹園老婆羅門說學經。收於大正藏第一冊。本經敘說於鞞蘭若有一婆羅門非難佛陀之不尊敬老婆羅門,指責佛陀為無味、無受用、無作為論者、斷見論者、嫌離者、調順者、苦行者、不入胎者等。佛陀答以若受佛之禮敬,將致頭破為七分;並對婆羅門之非難一一辯正,且宣說四禪三明之正義。婆羅門遂歸依佛。 又本經與中阿含經之第一五七經黃蘆園經及 A. VIII. 11 Verañja 為同本單行經。其中,後者較其他兩本之文為長。〔出三藏記集卷四、法經錄卷四、開元釋教錄卷五、貞元新定釋教目錄卷八〕
; (佛爲黃竹園老說經) Cũng gọi Phật vị Hoàng trúc viên lão Bà la môn thuyết học kinh. Kinh, 1 quyển (khuyết tên dịch giả), được dịch vào thời Lưu Tống Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc người Bà la môn ở Tì lan nhã chỉ trích đức Phật là ngài không tôn kính những trưởng lão Bà la môn, đức Phật liền trả lời sự chỉ trích ấy rồi tuyên thuyết về Tứ thiền và Tam minh để giác ngộ người Bà la môn. Nghe xong, người Bà la môn bèn qui y đức Phật. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.4, Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.8].
phật vị hải long vương thuyết pháp ấn kinh
2726請參閱佛為娑伽羅龍王所說大乘經 全一卷。唐代義淨(635~713)譯。收於大正藏第十五冊。本經篇幅極短,內容為海龍王問佛陀,如何能受持少法而獲得多福,佛陀告以「諸行無常、一切皆苦、諸法無我、寂滅為樂」之四法印功德殊勝,應時常念誦。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十三〕
; (佛爲海龍王說法印經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc Hải long vương thưa hỏi đức Phật làm thế nào có thể thụ trì ít pháp mà được nhiều phúc, do đó, đức Phật dạy Hải long vương là phải thường trì niệm 4 pháp ấn có công đức thù thắng thì sẽ được nhiều phúc. Bốn pháp ấn ấy là: Các hành vô thường, tất cả đều khổ; các pháp vô ngã, Niết bàn an vui. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
phật vị niên thiếu tỉ khâu thuyết kinh
2725全一卷。晉代法炬譯。又作正事經、佛為年少比丘說正事經。收於大正藏第十四冊。本經旨在敘述攝受比丘為正事及其功德。初敘佛陀住於祇樹給孤獨園,逢夏安居或十五日布薩之時,讚歎諸長老比丘攝受年少比丘及遊化四方之比丘為正事。次敘諸長老比丘藉修行所得之福報功德。〔歷代三寶紀卷六、大唐內典錄卷二、古今譯經圖紀卷二、開元釋教錄卷二〕
; (佛爲年少比丘說經) Cũng gọi Chính sự kinh, Phật vị thiếu niên tỉ khưu thuyết chính sự kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp cự dịch vào đời Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này trước hết tường thuật việc đức Phật ở tinh xá Kì hoàn, vườn Cấp cô độc, nhân dịp an cư, vào ngày Bố tát, đức Phật khen ngợi các vị trưởng lão tỉ khưu nhiếp thụ những tỉ khưu trẻ tuổi và các tỉ khưu hành hóa 4 phương, đó làviệc làm chân chính. Kế đến nói về việc các vị trưởng lão tỉ khưu nhờ tu hành mà được công đức phúc báo. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
phật vị sa già la long vương sở thuyết đại thừa kinh
2726請參閱 佛為娑伽羅龍王所說大乘經 全一卷。宋代施護譯。又作佛為娑伽羅龍經、佛為娑伽羅龍王所說大乘法經。收於大正藏第十五冊。本經係佛陀於龍宮為娑伽羅龍王所說,謂諸法之自性為幻化、不可思議、無所生、無主宰、無有我、無礙、無生、無滅、無色、無相,世間惡業皆妄心所化現。欲斷惡業即須依止善法,善法即十善道:離殺生、離偷盜、離邪婬、離妄語、離綺語、離惡口、離兩舌、離貪毒、離瞋毒、離邪見等,而修十善道即為行菩薩道。又本經與實叉難陀譯之十善業道經為同本異譯。(參閱「十善業道經」469)
; (佛爲娑伽羅龍王所說大乘經) Cũng gọi Phật vị Sa già la long kinh, Phật vị Sa già la long vương sở thuyết Đại thừa pháp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 15.Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật giảng cho Long vương Sa già la nghe về tự tính của pháp huyễn hóa, chẳng thể nghĩ bàn, không chỗ sinh, không chủ tể, không có ta, không chướng ngại, không sinh, không diệt, không màu sắc, không hình tướng, tất cả ác nghiệp ở thế gian đều do vọng tâm hóa hiện. Muốn dứt ác nghiệp thì phải nương nhờ thiện pháp; thiện pháp tức là 10 điều lành: Không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lời ác, không nói hai lưỡi, không tham, không sân và không si. Tu theo 10 điều thiện này tức là hành đạo Bồ tát. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thập thiện nghiệp đạo do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. (xt. Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh).
phật vị thắng quang thiên tử thuyết kinh
2726請參閱 佛為勝光天子說經 全一卷。唐代義淨(635~713)譯。又作佛為勝光天子說王法經。收於大正藏第十五冊。本經係佛陀應憍薩羅國王勝光天子之願,為其說國主之法,謂國主應遠離惡法,勤修善法,並恭敬三寶等。又闡釋一切諸法之體性空虛,無常壞滅,若能了知無常,則萌生厭離之心;厭離心即為智慧之生起,由此智慧則可證得妙涅槃。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十三〕
; (佛爲勝光天子說經) Cũng gọi Phật vị Thắng quang thiên tử thuyết vương pháp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật thể theo thỉnh nguyện của Thắng quang Thiên tử –Vua nước Kiêu tát la– mà nói về phép nước cho vua nghe. Phật dạy: Bậc quốc chủ phải xa lìa các pháp xấu ác, siêng tu các pháp tốt lành và cung kính Tam bảo... Ngoài ra, kinh này cũng giải thích rõ thể tính của tất cả các pháp là không hư, vô thường hoại diệt. Nếu hiểu rõ lí vô thường thì sẽ sinh tâm nhàm chán. Mà tâm nhàm chán thì trí tuệ sinh khởi, nhờ trí tuệ ấy mà có thể chứng được Niết bàn diệu lạc. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
phật vị thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt kinh
2725全一卷。隋代法智譯。又作分別善惡報應經、業報差別經。收於大正藏第一冊。本經係佛陀對婆羅門童子首迦(梵 Śuka)宣說善惡業報之差別。梵語 śuka 譯作鸚鵡。本經另有同本異譯(漢譯本)之鸚鵡經等五本。(參閱「鸚鵡經」6979)
; (佛爲首迦長者說業報差別經) Cũng gọi Phân biệt thiện ác báo ứng kinh, Nghiệp báo sai biệt kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp trí dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật nói về sự sai biệt của nghiệp báo thiện ác cho đồng tử Bà la môn là Thủ ca (Phạm: Zuka) nghe. Tiếng Phạm Zukadịch là Anh vũ. Kinh này còn có 5 bản dịch khác, như kinh Anh vũ... (xt. Anh Vũ Kinh).
Phật vị Tâm Vương Bồ Tát thuyết đầu-đà kinh
佛爲心王菩薩説投陀經; C: fó wéi xīnwáng púsà shuō tóutuó jīng; J: butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō.|Kinh.
Phật vị Tâm vương Bồ-tát thuyết đầu-đà kinh 佛爲心王菩薩説投陀經
[ja] ツイシンオウボサツセツトウタキョウ Butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō ||| Fo wei xinwang pusa shuo toutuo jing. T 2886.85.1401c-1403b => Kinh. (j:) Butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō);(c: Fo wei xinwang pusa shuo toutuo jing). T 2886.85.1401c-1403b
phật vị ưu điền vương thuyết kinh
2726請參閱佛為黃竹園老說經 請參閱佛為優填王說經 全一卷。唐代不空譯。又作佛為優填王說王法正論經、王法正論經、政論經。收於大正藏第十四冊。本經係佛陀為優填王開示帝王之過失及功德。內容包括:(一)帝王之十種過失,(二)帝王之十種功德,(三)帝王之衰損有五種劣行,(四)令人敬愛之帝王有五種,(五)成為令人敬愛之帝王有五法。若將本經朝夕讀誦修行,則可得諸佛、菩薩、天龍八部之加持護念,使國土安寧,壽命長遠。本經含有重要教示,可視為佛教之王法學。本經之同本異譯有玄奘所譯之王法正理論。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕
; (佛爲優填王說經) Cũng gọi Phật vị Ưu điềnvươngthuyết vương pháp chính luận kinh, Vương pháp chính luận kinh, Chính luận kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật khai thị 5 điều lỗi lầm và công đức của vị Đế vương cho vua Ưu điền nghe. Nội dung bao gồm: 1. Mười điều lỗi lầm của vị Đế vương. 2. Mười điều công đức của vị Đế vương. 3. Có 5 hành vi xấu mang lại suy tổn cho vị Đế vương. 4. Có 5 điều khiến cho vị Đế vương được thần dân yêu kính. 5. Có 5 pháp làm cho thần dân yêu kính Đế vương. Nếu sớm tối đọc tụng tu hành kinh này thì sẽ được chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ gia trì hộ niệm, khiến đất nước an vui, thọ mệnh lâu dài. Kinh này bao hàm giáo chỉ quan trọng của đức Phật, có thể xem là Vương pháp học của Phật giáo. Kinh này có bản dịch khác là Vương pháp chính lí luận do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
phật xá
A Buddhist temple.
phật xá lợi
Buddha's sarira, relics left after Buddha's cremation.
Phật xá-lợi
佛舍利; C: fóshèlì; J: butsushari.|Phần còn lưu lại của nhục thân Phật sau khi trà tì, chính là Phật cốt (佛骨; s: buddha-dhātu, jina-dhātu). Xem Xá-lợi (舎利).
Phật xá-lợi 佛舎利
[ja] ブツシャリ butsushari ||| The remains of the Buddha's body after cremation--primarily, his bones (buddha-dhātu, jina-dhātu) . Also see 舎利=> Phần còn lưu lại của nhục thân Phật sau khi trà tỳ, chính là Phật cốt (佛骨s: buddha-dhātu, jina-dhātu). Xem mục Xá-lợi.舎利.
phật áo
2755唐代僧。屬南嶽懷讓法系,為馬祖道一之法嗣。住溫州(浙江永嘉)之佛嶴,常以「花奴」一語接化學人,顯現把住放行之靈活機法,禪林傳稱為「佛嶴花奴」。花奴,與「花郎」同,即乞食之意。景德傳燈錄卷八佛嶴章(大五一‧二五九下):「僧問:『如何是異類?』師敲碗云:『花奴!花奴!喫飯來!』」〔禪苑蒙求卷中、五燈會元卷三〕
Phật Âm
(s: Buddhaghoṣa, p: Buddhaghosa, 佛音, thế kỷ thứ 5 Tây lịch): còn gọi là Phật Minh (佛鳴), Giác Âm (覺音), âm dịch là Phật Đà Cù Sa (佛陀瞿沙), xuất thân vùng Phật Đà Già Da (s: Buddha-gayā, 佛陀伽耶, tức Bồ Đề Đạo Tràng [菩提道塲]), nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), sanh ra trong gia đình Bà La Môn. Ban đầu ông học các thánh điển Phệ Đà (s: Veda, 吠陀), tinh thông Du Già (s: Yoga, 瑜伽), Số Luận, v.v. Sau ông quy y theo Phật Giáo, thông hiểu các kinh điển, soạn ra Phát Trí Luận (p: Ñāṇodaya, 發智論), Thù Thắng Nghĩa Luận (p: Atthasālinī, 殊勝義論, bản chú giải của Pháp Tụ Luận [法聚論]). Vào năm 432 Tây lịch, ông sang Tích Lan, trú tại Đại Tự (p: Mahāvihāra, 大寺), cùng với Trưởng Lão Tăng Già Ba La (p: Saṅghapāla, 僧伽波羅) nghiên cứu các thánh điển và giáo nghĩa hiện lưu trữ tại chùa này, chuyển dịch sang tiếng Pāli, rồi soạn ra Thanh Tịnh Đạo Luận (p: Visuddhimagga, 清淨道論), Thiện Kiến Luật Chú Tự (p: Samantapāsādikā, 善見律注序), v.v., để xiển dương giáo nghĩa của Phật Giáo Thượng Tọa Bộ. Trong đó, có thể nói rằng Thanh Tịnh Đạo Luận là trước tác cương yếu bao quát Tam Tạng kinh điển cũng như các luận sớ. Sau đó, tại tu viện Granthakara parivena thuộc Anurādhapura, ông dịch 4 bộ Kinh A Hàm, Luận Tạng sang tiếng Pāli, soạn bản chú sớ cho các bộ này. Bản giải thích Trường Bộ Kinh (p: Dīghanikāya, 長部經) là Cát Tường Duyệt Ý Luận (p: Sumaṅgalavilāsinī, 吉祥悅意論), bản chú sớ của Trung Bộ Kinh (p: Majjhimanikāya, 中部經) là Phá Trừ Nghi Chướng Luận (p: Papañcasūdanī, 破除疑障論), bản cho Tương Ưng Bộ Kinh (p: Saṁyuttanikāya, 相應部經) là Hiển Dương Tâm Nghĩa Luận (p: Sāratthappakāsinī, 顯揚心義論), cho Tăng Chi Bộ Kinh (p: Aṅguttaranikāya, 增支部經) là Mãn Túc Hy Cầu Luận (p: Manorathapūraṇī, 滿足希求論), v.v. Nhờ vậy, lần đầu tiên Tam Tạng Tiếng Pāli được hoàn bị. Người dân Tích Lan sùng ngưỡng ông như là Bồ Tát Di Lặc tái sanh. Đến cuối đời, ông trở về Ấn Độ và qua đời tại đó. Tuy nhiên, theo truyền thuyết của Phật Giáo Miến Điện, ông là người của nước này, từ Kim Địa Quốc (金地國) sang Tích Lan vào năm 400 Tây lịch.
; 佛音; C: fóyīn; J: button; S: buddhaghoṣa; P: buddhagosa; tk. 4;|Một Ðại luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda). Sư sinh trong một gia đình Bà-la-môn tại Ma-kiệt-đà (magadha), gần Giác Thành (bodh-gayā). Sau khi đọc kinh sách đạo Phật, Sư theo Phật giáo, đi Tích Lan học giáo lí của Thượng toạ bộ dưới sự hướng dẫn của Tăng-già Ba-la (p: saṅghapāla thera). Sư viết 19 bài luận văn về Luật tạng (s, p: vinayapiṭaka) và về các Bộ kinh (p: nikāya). Tác phẩm chính của Sư là Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga), trình bày toàn vẹn quan điểm của phái Ðại tự (p: mahāvihāra) trong Thượng toạ bộ.
phật âm
2642梵名 Buddhaghoṣa,巴利名 Buddhaghosa。又作佛鳴、覺音、佛陀瞿沙。五世紀中印度摩揭陀國佛陀伽耶人。出身婆羅門家庭,初學吠陀,精通瑜伽、數論等。其後皈依佛教,精通諸經典,為傳弘佛教作獅子吼,撰著發智論(巴 夊āṇodaya)、殊勝義論(巴 Atthasālinī,法聚論之注)。 西元四三二年,渡海至錫蘭,住於大寺(巴 Mahāvihāra),從僧伽波羅長老(巴 Saṅghapāla Thera)研究該寺所藏之聖典與教義,將之譯為巴利語,撰著清淨道論(巴 Visuddhi-magga)、善見律注序(巴 Samantapāsādikā,律藏之注)等,將上座部佛教教義作較系統之闡述;其中,清淨道論可謂包括三藏經典及論疏之綱要著作。後在阿努拉達普拉(Anurādhapura)之犍陀羅寺(Granthakara parivena),將四阿含經、論藏譯為巴利語,並撰注疏;其解釋長部經者為吉祥悅意論(巴 Sumaṅgalavilāsinī),解釋中部經者為破除疑障論(巴 Papañcasūdanī),解釋相應部經者為顯揚心義論(巴 Sāratthappakāsinī),解釋增支部經者為滿足希求論(巴 Manorathapūraṇī)。至是,巴利三藏始臻於完備。 所作注釋不僅限於本文之語義,實包括歷史、地理、天文、音樂、動植物等各類解說,特別對印度古代之風俗習慣等加以記述,係有關印度研究之重要文獻。錫蘭人讚其學德,崇為彌勒菩薩再來。晚年歸故國終老。然於緬甸佛傳中,謂師乃緬甸人,西元四○○年由金地國入錫蘭,三年後齎還經典,復興緬甸佛教。〔根本佛典の研究、巴利文 Mahāvaṃsa, xxx vii、巴利文 Buddhaghosuppatti; P. Biga-ndet:The Life or Legend of Gaudama; B.C. Law: The Life and Work of Buddhaghosa〕
; Buddhaghoṣa (P)Phật Minh, Phật Đà Cồ SaNgài Phật Âm, thế kỷ thứ V.
; Buddhaghosa (S). Name.
; (佛音) Phạm: Buddhaghowa. Pàli: Buddhaghosa. Cũng gọi Phật minh, Giác âm, Phật đà cù sa. Cao tăng Trung Ấn độ, người ở Phật đà già da, nước Ma yết đà, sống vào thế kỉ V Tây lịch. Sư sinh trưởng trong 1 gia đình Bà la môn, lúc đầu, học Phệ đà, tinh thông Du già, Số luận... Về sau, sư qui y Phật giáo, làu thông các kinh điển, sư soạn luận Phát trí (Pàli:Ĩàịodaya), luận Thù thắng nghĩa (Pàli: Atthasàlinì, là sách chú thích luận Pháp tụ). Năm 432, sư vượt biển đến Tích lan, trụ ở chùa Đại tự (Pàli:Mahàvihàra), dưới sự chỉ dẫn của trưởng lão Tăng già ba la (Pàli: Saíghapàla Thera), sư nghiên cứu Thánh điển và giáo nghĩa được cất giữ ở chùa này, dịch ra tiếngPàli, soạn luận Thanh tịnh đạo (Pàli:Visuddhi-magga), bài Tựa chú thích luật Thiện kiến (Pàli: Samantapàsàdikà, chú thích tạng Luật)..., trình bày giáo nghĩa Phật giáo Thượng tọa bộ tương đối có hệ thống và rõ ràng. Trong đó, bộ luận Thanh tịnh đạo là tác phẩm cương yếu, có thể nói đã bao quát các kinh điển và luận sớ trong Tam tạng. Sau, ở chùa Kiện đà la (Granthakara parivena) tại kinh đô Anuràdhapura, sư dịch 4 bộ kinh A hàm cùng với tạng Luận ra tiếngPàli, đồng thời, soạn chú sớ. Như: Luận Cát tường duyệt ý (Pàli: Sumaígalavilasinì) của sư, là chú sớ Trường bộ kinh, luận Phá trừ nghi chướng (Pàli:Papaĩcasùdanì) là chú sớ Trung bộ kinh, luận Hiển dương tâm nghĩa (Pàli: Sàratthappakàsinì) là chú sớ Tương ứng bộ kinh và luận Mãn túc hi cầu (Pàli: Manorathapuràịì) là chú sớ Tăng chi bộ kinh. Đến đây, Tam tạng Pàli mới được hoàn bị. Những tác phẩm chú sớ của sư không phải chỉ đơn thuần là những lời giải thích văn nghĩa của kinh, mà thực ra còn là sự thuyết minh về các lãnh vực lịch sử, địa lí, thiên văn, âm nhạc, thực và động vật v.v... đặc biệt đối với phong tục tập quán của Ấn độ cổ đại, sư ghi chép và trình bày khá rõ ràng. Cho nên những tác phẩm của sư cũng là văn hiến quan trọng cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn độ nói chung. Người Tích lan rất kính ngưỡng đức hạnh và học vấn của sư, họ tôn sùng sư là bồ tát Di lặc tái thế. Lúc tuổi già, sư trở về Ấn độ và viên tịch tại đó. Nhưng truyền thống Phật giáo Miến điện thì cho rằng sư là người Miến điện. Vào 400 Tây lịch, sư từ nước Kim địa (tức Miến điện ngày nay) sang Tích lan, 3 năm sau, sư mang theo nhiều kinh điển trở về nước và phục hưng Phật giáo Miến điện. [X. Căn bản Phật điển chi nghiên cứu; Mahàvaôsa XXXVII; Buddhaghosuppatti; The Life or Legend of Gaudama by P. Bigandet; The Life and Work of Buddhaghosa by B. C. Law]. PHẬT ẤN I. Phật Ấn. Ấn khế của Phật. II. Phật Ấn. Khắc hình tượng nhỏ của Phật để in lên giấy, gọi là Phật ấn. Thông thường, in tượng Bản tôn của chùa lên miếng giấy để tặng cho những người đến lễ bái, hoặc in trên lá sớ cầu đảo, hoặc in lên trang đầu và trang cuối của quyển kinh. Ngoài ra, trong các bản kinh Phật danh xưa, dưới mỗi danh hiệu Phật đều có in 1 hình Phật nhỏ. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.39]. III. Phật Ấn (1032-1098). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Phù lương, tỉnh Giang tây, họ Lâm, pháp danh Liễu nguyên. Vua Tống thần tông rất kính ngưỡng đạo hạnh của sư, nên tặng sư danh hiệu Phật Ấn Thiền Sư. (xt. Liễu Nguyên).
Phật Âm 佛音
[ja] ブツオン Button ||| Buddhaghoṣa. A renowned Indian Buddhist scholar from Magadha in Central India. Translated a number of Buddhist texts from Singhalese into Pali and explicated them. => (s: Buddhaghoṣa) Cao Tăng Ấn Độ, người xứ Ma-kiệt-đà (s: Magadha) ở Trung Ấn. Sư dịch nhiều Kinh điển Phật giáo từ tiếng Singhalese sang Pali và chú giải.
Phật Ðồ Trừng
佛圖澄|C: fó túchéng; J: buttochō; S: buddhasiṃha; 232-348; |Cao tăng Ấn Ðộ. Năm 310, Sư đến Lạc Dương để thành lập một trung tâm Phật giáo tại đây. Nhờ trổ tài thần thông (tiên tri, gọi mưa), Sư được Tấn Hoài Ðế kính ngưỡng và trở thành cố vấn của ông hai mươi năm.|Thời niên thiếu, sư tu học ở nước Ô-trượng-na (烏仗那國; s: udyāna), đạt được thần thông. Những phép lạ mà sư thi triển đã tác động rất lớn đến vua chúa thời đó như Thạch Lặc, đã tôn sư làm Quốc sư. Phật-đồ-trừng cũng là một trong những vị thầy của sư Đạo An (道安). Sư nổi tiếng đã lập rất nhiều ngôi chùa trong sự nghiệp truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa. |Sư truyền bá Phật pháp rất chú trọng đến các việc làm nhân đạo, không sát hại, không đàn áp bức bách và điểm cuối có ảnh hưởng tốt đến vương triều bấy giờ. Nhờ sự hỗ trợ của Sư, lần đầu tiên dân Trung Quốc được công khai gia nhập Tăng-già và thụ giới. Tương truyền rằng, Sư cũng có công thành lập Tăng-già cho các Tỉ-khâu-ni.
phật đa ma la bạt chiên đàn hương
Buddha of Tamala Leaves and SandalWood Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật điền
2620比喻佛為植福之田,供養佛能獲得一切福,消滅一切罪。於一切福田中,以佛之福田最勝。〔大智度論卷三十〕(參閱「八福田」305)
; Buddha-field.
; (佛田) Ruộng Phật. Trong Phật giáo, đức được ví dụ như thửa ruộng để chúng sinh gieo trồng hạt giống phúc thiện, vì thế gọi là ruộng phúc. Cúng dường Phật sẽ được tất cả phúc, tiêu diệt hết thảy tội. Trong tất cả ruộng phúc thì Phật là ruộng phúc hơn hết.[X. luận Đại trí độ Q.30]. (xt. Bát Phúc Điền).
phật điển thích lệ
2631一般作經論之解釋,先說明題號、大意(稱為玄談、玄義),其次用逐文解釋(稱為入文解釋、隨文作釋)之方式。以智顗大師所著為例,法華玄義係解法華經之玄義,而法華文句則為入文解釋。智顗論玄義有名(名稱)、體(本質)、宗(目的)、用(作用)、教(佛教全體之組織)等五重玄義,其解釋採取七次共解之方式。七次共解即:(一)標章,提示名體等所論之一切問題。(二)引證,引用經典為證據。(三)生起,論名體等之順序。(四)開合,分析綜合。(五)料簡,作問答體談論問題。(六)觀心,以名體等為對象,而觀心修行。(七)會異,評價他人之異說,令眾生趨入理解。 關於解釋語句,各宗均有其固有之釋法,玆舉三論宗、天台宗、密宗等之四釋法分述如下: (一)三論宗所採四種釋義為依名釋義(又作隨名釋義)、因緣釋義(又作互相釋義)、顯道釋義(又作理教釋義、見道釋義)、無方釋義。吉藏在其所著之二諦義、三論玄義等即採用上述釋義法。如真意謂「真實」,此即依一般意義而解,是為依名釋義;真非離俗而獨立之真,乃與俗之因緣具有相依之關係,依此故解真是俗、俗是真,是為因緣釋義;但真與俗並非固定一成不變,而本具無相之性質,故此解謂顯道釋義;無相之作用不定,故真、俗無非包含一切法,此解謂無方釋義。 (二)天台四釋例(又作四大釋例、四種消釋、四種消文)為因緣釋、約教釋、本迹釋、觀心釋。智顗之法華文句即採用此種釋例。如說教法興起之因緣,依四悉檀而作四種解釋,此即因緣釋;基於化法四判教,而作四種解釋者,係為約教釋;由本迹二門立場作二種解釋,即為本迹釋;攝教說之內容於自心,而觀實相理之解釋,是為觀心釋。 (三)密宗四重祕釋即淺略釋、祕密釋(又作深祕釋)、祕密中祕釋(又作祕中深祕釋)、祕祕中祕釋(又作祕祕中深祕釋)等四者,即綜合一行之大日經疏與不可思議之大日經供養次第法疏所成之解釋法。如說阿字是梵王,是為淺略釋,顯教中處處說之;解大日如來說阿字本不生,是為深祕釋;解阿字自說本不生,是為祕中深祕釋;解本不生之理,自有理與智,自覺本不生之理,此解謂祕祕中深祕釋。又密宗解釋梵字、真言等,尚有所謂十六玄門釋。〔二諦義卷中、法華文句卷一上、法華文句記卷一上、卷一中、大日經供養次第法疏卷下、菩提心義卷一〕(參閱「十六玄門」386)
; (佛典釋例) Thông lệ giải thích kinh điển Phật giáo. Về phương thức cũng như văn cú giải thích, tùy theo các tông phái mà có khác nhau. Nay lấy 3 tông: Tam luận, Thiên thai và Chân ngôn làm tiêu biểu để trình bày như sau: 1. Tông Tam luận có 4 phương thức giải thích: a) Y danh thích nghĩa (cũng gọi Tùy văn thích nghĩa). b) Nhân duyên thích nghĩa(cũng gọi Hỗ tương thích nghĩa). c) Hiển đạo thích nghĩa (cũng gọi Lí giáo thích nghĩa, Kiến đạo thích nghĩa). d) Vô phương thích nghĩa. Trong các tác phẩm Nhị đế nghĩa, Tam luận huyền nghĩa... của mình, ngài Cát tạng đã sử dụng phương thức giải thích này. Như chữ Chân giải nghĩa là chân thực, đây là y theo ý nghĩa phổ thông mà giải thích, đó làY danh thích nghĩa. Chân chẳng lìa tục mà có chân. Chân và tục có quan hệ nhân duyên nương vào nhau, vì thế nên giải thích chân là tục, tục là chân, đó là Nhân duyên thích nghĩa. Nhưng chân và tục chẳng phải một mực cố định, không thay đổi, mà vốn có tính chất vô tướng, cho nên đây gọi là Hiển đạo thích nghĩa. Tác dụng của vô tướng là bất định, cho nên chân và tục bao hàm tất cả pháp, đây gọi là Vô phương thích nghĩa. 2. Tông Thiên thai có 4 thông lệ giải thích(cũng gọi Tứ đại thích lệ, Tứ chủng tiêu thích, Tứ chủng tiêu văn). Đó là Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tính thích và Quán tâm thích. Trong phẩm Pháp hoa văn cú của mình, ngài Trí khải đã ứng dụng phương thức giải thích này. Như nói về nhân duyên của sự hưng khởi giáo pháp, thì căn cứ vào 4 tất đàn mà giải thích theo 4 cách, đó là Nhân duyên thích. Dựa theo 4 phán giáo về Hóa pháp mà giải thích theo 4 cách, là Ước giáo thích. Đứng trên lập trường 2 môn Bản Tích mà giải thích theo 2 cách, tức là Bản tích thích. Thu nhiếp nội dung giáo thuyết về tự tâm mà giải thích quán lí thực tướng, tức là Quán tâm thích. Ngoài 4 thông lệ giải thích trên đây, ngài Trí khải còn lập Ngũ trùng huyền nghĩa(năm lớp nghĩa mầu nhiệm) là: Danh (tên gọi), Thể (bản chất), Tông (mục đích), Dụng (tác dụng)và Giáo (toàn thể giáo thuyết), sử dụng 7 phương thức để giải thích. Đó là: 1. Tiêu chương: Nêu lên tất cả vấn đề như Danh, Thể... để luận giải. 2. Dẫn chứng: Trích dẫn các kinh điển để làm chứng cứ. 3. Sinh khởi: Bàn về thứ tự của Danh, Thể... 4. Khai hợp: Phân tích, tổng hợp. 5. Liệu giản: Theo thể hỏi, đáp để bàn luận các vấn đề. 6. Quán tâm: Lấy Danh, Thể... làm đối tượng để quán tâm tu hành. 7. Hội dị: Đánh giá học thuyết của các phái khác để mọi người hiểu rõ ưu khuyết điểm. 3. Chân ngôn tông có 4 lớp giải thích bí mật: Thiển lược thích, Bí mật thích (cũng gọi Thâm bí thích), Bí mật trung bí thích (cũng gọi Bí trung thâm bí thích) và Bí bí trung bí thích (cũng gọi Bí bí trung thâm bí thích). Như giải thích chữ A là Phạm vương, đó là Thiển lược thích. Giải thích Đại nhật Như lai nói chữ A vốn chẳng sinh, đó làThâm bí thích. Giải thích chữ A tự nói vốn chẳng sinh, đó là Bí trung thâm bí thích. Giải thích cái lí vốn chẳng sinh, tự có lí và trí, tự biết cái lí vốn chẳng sinh, đó là Bí bí trung thâm bí thích. Ngoài ra còn có Thập lục huyền môn thích giải thích về chữ Phạm, Chân ngôn... [X. Nhị đế nghĩa Q.trung; Pháp hoa văn cú Q.1 phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.1 phần đầu; Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ; Bồ đề tâm nghĩa Q.1]. (xt. Thập Lục Huyền Môn).
phật điện
2734安置佛、菩薩像之殿堂,或安置本尊佛而成為伽藍中心之殿堂。又稱佛堂。在我國通稱為大雄寶殿,印度則稱香殿(梵 gandhakuṭī)。據毘奈耶雜事卷十載,僧寺佛殿應作七層,尼寺應作五層。〔有部目得迦卷八、洛陽伽藍記卷一永寧寺條〕(參閱「佛堂」2657)
; Buddha hall, Butsuden (J).
; (佛殿) Cũng gọi Phật đường. Điện thờ tượng Phật, Bồ tát hoặc bản tôn, là kiến trúc trung tâm của mỗi ngôi chùa. Trung quốc gọi là Đại hùng bảo điện, Ấn độ thì gọi là Hương điện (Phạm: Gandhakuỉì). Cứ theo Tì nại da tạp sự quyển 10 thì Phật điện của chùa tăng nên xây 7 tầng, còn chùa ni thì nên xây 5 tầng. [X. Hữu bộ mục đắc ca Q.8; điều Vĩnh ninh tự trong Lạc dương già lam kí Q.1]. (xt. Phật Đường).
phật đà
2638梵名 Buddha,巴利名同。又作佛馱、浮陀、浮頭、沒馱、步他、馞陀、復豆、浮屠、浮圖。意為覺者、知者。佛陀本指釋迦牟尼,後演為覺悟真理者之總稱。 <一>指釋迦牟尼。(參閱「釋迦牟尼」6824) <二>覺知三世一切諸法者,即自覺、覺他、覺行圓滿者。示現於人類歷史上之佛陀,唯有釋迦牟尼。但依經典所載,則有十方(東、西、南、北、東南、西南、東北、西北、上、下)三世(過去、現在、未來)諸佛。如過去有燃燈佛等諸佛,未來則有彌勒佛等諸佛示現。十方,例如著名之東方阿閦佛、西方之阿彌陀佛等。又攝大乘論釋卷十五有諸佛同一法身,三世十方諸佛亦即一大法身佛之說。又以眾生皆具佛性之故,遂有「心佛及眾生,是三無差別」、「即身成佛」或「即心即佛」等說,進而有「草木國土,悉皆成佛」之說。 <三>五世紀天竺禪僧。初結友六人,同修定業。五僧證果,唯師未獲,後遊歷至平城,受北魏孝文帝禮敬,終於恆安城內證得道果。未久隨帝南遷,於洛陽設靜院以居之。屢往嵩山,高謝人世。太和二十年(496),帝敕就少室山為之立寺,此即著名之少林寺。四海聞風響會者,常達數百。自此嵩山少室,更以禪法馳譽。〔續高僧傳卷十六、魏書釋老志〕(參閱「佛陀禪師」2641)
; Butsuda (J).
; Buddha (S)
; Người giác ngộ cùng tột đã chứng Diệu giác như Phật Thích Ca.
; (佛陀) Phạm: Pàli: Buddha. Cũng gọi Phù đà, Phù đầu, Một đà, Bộ tha, Bột đà, Phục đậu, Phù đồ Hán dịch: Giác giả, Tri giả. I. Phật Đà. Chỉ cho đức Thích ca mâu ni. (xt. Thích ca mâu ni). II. Phật Đà. Chỉ chung cho chư Phật 3 đời trong 10 phương, như hiện tại có đức Thích ca mâu ni, quá khứ có đức Phật Nhiên đăng..., vị lai có đức Phật Di lặc... trong 10 phương thì có đức Phật A súc ở phương Đông, đức Phật A di đà ở phương Tây... III. Phật Đà. Thiền sư người Thiên trúc sống vào thế kỉ thứ V. (xt. Phật Đà Thiền Sư).
phật đà ba lợi
2639梵名 Buddha-pāla。意譯覺護。唐代譯經家。北印度罽賓國人。忘身徇道,遍拜靈蹟。聞文殊菩薩在清涼山,遠涉流沙,躬來禮謁,於唐高宗儀鳳元年(676)杖錫五臺山,虔誠禮拜,逢一神異之老翁,蒙其示教,重返本國,取梵本尊勝陀羅尼經復來京師;儀鳳四年,高宗敕令日照及杜行顗譯之,譯成之後,置於宮中,未流布於世,後應波利之請,還其梵本,以供流布。波利遂持此梵本往西明寺,得精通梵語之僧順貞共譯之,是為佛頂尊勝陀羅尼經;經中所載之佛頂尊勝陀羅尼,為古來密教行者朝夕勤行、迴向亡者所必誦讀者,且自古有關此陀羅尼之靈驗甚多。又此經除上記二譯本外,另有七種譯本,其中以波利所譯,流通最廣。此經譯成後,波利持梵本入於五臺山,莫知所終。又譯有長壽滅罪護諸童子陀羅尼經一卷。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷五、宋高僧傳卷二〕
; Xem Giác Hộ.
; (佛陀波利) Phạm: Buddha-Pàla. Hán dịch: Giác hộ. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời nhà Đường. Sư đi tham bái khắp các linh tích, vì đạo quên mình, nghe nói bồ tát Văn thù ở núi Thanh hương, sư vượt qua sa mạc đến chiêm lễ. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, sư lên núi Ngũ đài chí thành lễ bái, gặp 1 ông già thần dị chỉ giáo, sư trở về nước Kế tân, thỉnh kinh Tôn thắng Đà la ni bản tiếng Phạm, rồi lại đến kinh đô nhà Đường. Năm Nghi phụng thứ 4 (679), vua Cao tông ban sắc cho các vị Nhật chiếu và Đỗ hành khải phiên dịch bản kinh ấy. Nhưng khi dịch xong, vua giữ lại trong cung, sư tâu vua xin trả lại bản tiếng Phạm, rồi sư đem đến chùa Tây minh, cùng với 1 tăng thông hiểu tiếng Phạm là ngài Thuận trinh, dịch ra chữ Hán, với tựa đề là: Kinh Phật đính tôn thắng đà la ni. Kinh này, ngoài 2 bản dịch ghi trên còn có 7 bản dịch khác, trong đó, bản dịch của sư lưu hành rất rộng. Sau khi dịch xong, sư đem bản tiếng Phạm vào núi Ngũ đài. Sư còn dịch kinh Trường thọ diệt tội hộ chư đồng tử đà la ni, 1 quyển. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5; Tống cao tăng truyện Q.2]. PHẬT ĐÀ BẠT ĐÀ LA (359-429 ) Phạm: Buddhabhadra. Cũng gọi Phật độ bạt đà la, Phật đại bạt đà, Phật đà bạt đà. Hán dịch: Giác hiền, Phật hiền. Cao tăng người Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ V, ở thành Na ha lợi, họ Thích, là con cháu của vua Cam lộ phạn, thành Ca tì la vệ. Sư xuất gia năm 13 tuổi, siêng năng tu tập, học rộng các kinh, đặc biệt tinh thông Thiền, Luật. Sau, cùng với bạn đồng học là Tăng già đạt đa, sư đến nước Kế tân, theo ngài Phật đại tiên học Thiền pháp. Ở đây, sư gặp ngài Trí nghiêm và nhận lời mời đi Trung quốc. Khoảng năm Hoằng thủy thứ 10 (408) đời Hậu Tần, sư đến Trường an, hoằng truyền pháp Thiền, nhưng vì không quen với nếp sống ở Trường an, lại không hợp với các đệ tử củangàiLa thập, nên sư cùng với hơn 40 đệ tử như ngài Tuệ quán rời Trường an, lưu lại mấy năm chỗ ngài Tuệ viễn, núi Lô sơn, dịch kinh Đạt ma đa la thiền. Năm Nghĩa hi 11 (415), sư đến Kiến khang (nay là Nam kinh), dừng lại ở chùa Đạo tràng, chuyên việc dịch kinh. Sư dịch chung với ngài Pháp hiển luật Ma ha tăng kì và kinh Đại bát nê hoàn. Sau, sư một mình dịch kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm 60 quyển. Các kinh do sư dịch gồm 13 bộ, 125 quyển. Năm Nguyên gia thứ 6 (429) đời Lưu Tống, sư thị tịch, thọ 71 tuổi người đời gọi sư là Thiên trúc thiền sư, là 1 trong 18 bậc Cao hiền ở núi Lô sơn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Lương cao tăng truyện Q.2, 3; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.26, 36; Tùy thư kinh tịch chí 4].
Phật Đà Bạt Đà La
(s: Buddhabhadra, j: Buddabadara, 佛陀[駄]跋陀羅, 359-429): tiếng Phạn có âm dịch là Phật Đà Bạt Đà La (佛駄跋陀羅), Phật Độ Bạt Đà La (佛度跋陀羅), Phật Đại Bạt Đà (佛大跋陀), Bạt Đà Bà La (跋陀婆羅); dịch nghĩa là Giác Hiền (覺賢), Phật Hiền (佛賢). Theo Phật Đà Bạt Đà La Truyện (佛駄跋陀羅傳) trong Cao Tăng Truyện (高僧傳), tổ tiên ông là người Trung Ấn Độ, con cháu của Cam Lộ Phạn Vương (甘露飯王) thuộc dòng thích ca, ông nội làm nghề buôn nên dời đến vùng Bắc Ấn, và Giác Hiền sinh ra ở Thành Na Ha Lợi (那呵利城) trong vùng. Mới còn nhỏ mà ông đã sớm mất song thân, sau đó ông xuất gia lúc 17 tuổi, tinh tấn tu hành, học hết các kinh điển và có nhiều chỗ thông đạt nghĩa lý. Ông tinh trì giới hạnh, rất nhiệt tâm với Thiền định, nên về sau thỉnh thoảng có thể hiện vài điều thần dị. Sau ông cùng với Tăng Già Đạt Đa (僧伽達多) ngao du vùng Kế Tân (罽賓), theo học Thiền pháp với Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên (佛大先, tức Phật Đà Tư Na [佛駄斯那]). Khi vị Sa Môn người Trung Quốc là Trí Nghiêm (智嚴) sang Ấn Độ cầu pháp, gặp Phật Đại Tiên, được vị này cho biết rằng chỉ có Phật Đà Bạt Đà La mới có thể xứng dáng để giáo hóa đồ chúng và dạy Thiền pháp. Thể theo lời thỉnh cầu của Trí Nghiêm, Phật Đà Bạt Đà La sang Trung Quốc bằng đường biển phía nam. Vào năm thứ 8 (406) niên hiệu Hoằng Thỉ (弘始), nghe tiếng có La Thập (羅什) đang ở Trường An (長安), ông thân chinh đến địa phương này để gặp; nhưng vì không quen phong tục Trường An và chẳng hợp với môn hạ của La Thập, bị hiểu lầm, nên ông cùng với nhóm Huệ Quán (慧觀) hơn 40 người rời khỏi nơi đây, đến Huệ Quán Tự (慧觀寺) và Lô Sơn (廬山). Tại đây, ông được Huệ Viễn (慧遠) rất tôn kính và chỉ đạo cho đại chúng về phương pháp Tọa Thiền. Từ đó, ông được liệt vào trong Lô Sơn Thập Bát Hiền (廬山十八賢). Vào năm thứ 11 (415) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙), ông đến Kiến Khang (建康, hiện tại là Nam Kinh [南京]), dừng chân tại Đạo Tràng Tự (道塲寺), chuyên tâm phiên dịch một số kinh điển như Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達摩多羅禪經), Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經), Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴), Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經), Như Lai Tạng Kinh (如來藏經), v.v., và là dịch giả nổi danh đương thời. Ông được gọi là Phật Đà Thiền Sư (佛陀禪師), Đấu Trường Thiền Sư (闘塲禪師, hay Đạo Tràng Thiền Sư [道塲禪師]), Thiên Trúc Thiền Sư (天竺禪師), v.v.; nhưng Thiền pháp của ông thì thuộc về Thiền pháp của Tiểu Thừa trước thời kỳ Thiền Tông ra đời. Vào năm thứ 6 (429) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Lưu Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi.
phật đà bạt đà la
2739(359~429)梵名 Buddhabhadra。又作佛陀跋陀羅、佛度跋陀羅、佛大跋陀、佛陀跋陀。意譯作覺賢、佛賢。五世紀之譯經僧。北印度那呵利城人,姓釋,為迦維羅衛城甘露飯王之後裔。十七歲出家,修業精勤,博學群經,特精禪、律,後與同參僧伽達多遊罽賓,依從佛大先受禪法。後應智嚴之請,於後秦弘始十年(408)頃入長安,弘傳禪術之學,以不習長安世俗,又與羅什門下不合,故與弟子慧觀等四十餘人離長安,滯留廬山慧遠處數年,譯出達摩多羅禪經;義熙十一年(415)至建康(今南京),止住道場寺,從事翻譯,與法顯合譯摩訶僧祇律、大般泥洹經,又獨譯出大方廣佛華嚴經六十卷等,凡十三部,一二五卷。劉宋元嘉六年示寂,世壽七十一。世稱天竺禪師,為廬山十八高賢之一。〔出三藏記集卷二、卷三、梁高僧傳卷二、卷三、歷代三寶紀卷七、華嚴經傳記卷一、佛祖統紀卷二十六、卷三十六、隋書經籍志第四〕
; Xem Giác Hiền.
; Xem Giác Hiền.
phật đà cù hý da
Buddhaguhya (S)Tên một vị sư.
phật đà cù hứ da
2641梵名 Buddhaguhya。為第八世紀時之印度密教學僧。約和唐代不空三藏同時,乃佛智足(梵 Buddha-jñāna-pāda)之大弟子。從金剛手直接受教,精通事業、修行、瑜伽之三儀軌,並依瑜伽儀軌而得成就。曾與法兄覺寂(梵 Buddha-śānti)共登南天竺之補陀洛山,感見觀自在菩薩,從其指授在開拉沙山(Kailāsa)修行,而得神通力,又歸波羅那斯(今之 Varanasi,即瓦拉那西),宣揚法門。其時,西藏英主吃㗚雙提贊(藏 Khri-sron-Ideḥu-ḥtsan, 728~786)遣使迎請佛陀瞿呬耶入藏,然據西藏大藏經經釋部九十四函載,其乃因年邁之故,而未應請入藏,僅將毘盧遮那經之義、疏二種及祕經義入門交使者帶回。其著作有毘盧遮那成道經集義(梵 Vairocanābhisaṃbodhi-tantra-piṇḍārtha)、毘盧遮那成道經疏(梵 Vairocanābhisaṃ-bodhi-tantra-vṛtti)、說曼荼羅法經(梵 Dharma-maṇḍala-sūtra)、祕經義入門(梵 Tantrārthāvatāra)等。〔多羅那他印度佛教史〕
; (佛陀瞿呬耶) Phạm: Buddhaguhya. Cao tăng Ấn độ, sống vào thế kỉ VIII, đồng thời với Tam tạng Bất không đời Đường, là đệ tử lớn của ngài Phật trí tiên, (Phạm: Buddhajĩàna-pàda). Sư thụ Mật giáo trực tiếp nơi ngài Kim cương thủ, thông hiểu tinh tường 3 bộ Nghi quĩ: Sự nghiệp, Tu hành và Du già. Sư từng cùng với pháp huynh là sư Giác tịnh (Phạm: Buddha-zànti) lên núi Bổ đà lạc ở Nam thiên trúc, chí thành lễ bái Bồ tát Quán tự tại và cảm được Ngài chỉ dạy, nên sư đến núi Khai lạp sa (Kailàsa) tu tập và chứng được thần thông. Sau đó, sư về Ba la na tư (nayVaranasi) tuyên dương Phật pháp. Cứ theo kinh thích bộ 94 trong Đại tạng kinh Tây tạng thì vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sron-lde#u-#tsan, 728-786) sai sứ đến thỉnh sư sang Tây tạng, nhưng vì tuổi già sư không đi được, chỉ giao cho sứ giả 2 bộ Nghĩa sớ của kinh Tì lô giá na và Bí kinh nghĩa nhập môn mang về. Sư để lại các tác phẩm: Tì lô giá na thành đạo kinh tập nghĩa (Phạm: Vairocanàbhisaôbodhi-tantrapiịđàrtha), Tì lô giá na thành đạo kinh sớ (Phạm: Vairocanàbhisaô-bodhi-tantravftti), kinh Thuyết mạn đồ la pháp (Phạm: Dharma-maịđala-sùtra), Bí kinh nghĩa nhập môn (Phạm: Tantrarthàvatàra). [X. Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử].
phật đà cồ sa
Xem Phật Âm.
phật đà da xá
2639梵名 Buddhayaśas。又稱佛馱耶舍。意譯覺明、覺名、覺稱。東晉譯經家。北印度罽賓國人。十三歲出家,至十五歲日誦經二三萬言,二十七歲始受具足戒。常以讀誦為務,專精不怠,博通大小乘。鳩摩羅什遊學時,曾師事之。後應羅什之請,於姚秦弘始十年(408)至長安,協助羅什譯出十住經,其後譯出四分僧戒本、四分律,並譯長阿含經,由竺佛念傳譯,道含筆受。後返罽賓,得虛空藏經一卷,托賈客致之涼州諸僧,其後不知所終。其所出者凡四部,八十四卷。師為赤髭,又善解毘婆沙,故時人稱「赤髭毘婆沙」,又為羅什之師,故有「大毘婆沙」之稱。〔梁高僧傳卷二、出三藏記集卷十四、歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷四〕
; Buddhayaśas (S)Giác Danh, Giác MinhTên một vị sư.
; (佛陀耶舍) Phạm: Buddhayazas. Hán dịch: Giác minh,Giác danh, Giác xưng. Cao tăng người nước Kế tân thuộc Bắc Ân độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn, là thầy của ngài Cưu ma la thập. Sư xuất gia năm 13 tuổi, năm 27 tuổi mới thọ giới Cụ túc. Sư chuyên cần tu tập, đọc tụng kinh điển, thông suốt cả Đại thừa và Tiểu thừa. Năm Hoằng thủy thứ 10 (408), đời vua Diêu Tần, theo lời thỉnh cầu của ngài La thập, sư đến Trường an, hỗ trợ ngài La thập dịch kinh Thập trụ, Tứ phần tăng giới bản, Tứ phần luật, rồi cùng với ngài Trúc Phật niệm, dịch kinh Trường a hàm, ngài Đạo hàm làm bút thụ. Sau, sư trở về nước Kế tân, thỉnh được kinh Hư không tạng 1 quyển, gửi người khách buôn đưa đến cho chư tăng ở Lương châu. Những kinh sư dịch gồm 4 bộ, 84 quyển. Vì sư hàm râu đỏ, lại khéo dịch luận Tì bà sa, nên người đời gọi sư là Xích Tì Tì Bà Sa. Lại vì sư là thầy của ngài La thập, nên cũng gọi là Đại Tì Bà Sa. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.14; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo Q.4].
phật đà lí
2639三國時代,孫權為西域僧康僧會造「建初寺」之所在地。該寺為吳地塔寺之濫觴,吳地佛法因之大興。〔梁高僧傳卷一康僧會傳〕(參閱「康僧會」4538)
; (佛陀裏) Làng Phật, là nơi vua Tôn quyền nước Ngô, thời Tam quốc, xây dựng chùa Kiến sơ cho ngài Khang tăng hội ở. Đây là chùa tháp đầu tiên tại đất Ngô và cũng từ đó Phật pháp khá thịnh hành ở xứ này. [X. Khang tăng hội truyện trong Lương cao tăng truyện Q.1]. (xt. Khang Tăng Hội).
phật đà mật đa
2640梵名 Buddhamitra。資料上載為付法藏第八祖或九祖,後世定為第九祖。又作伏馱蜜多、佛陀蜜多羅、佛陀蜜。意譯覺親。印度提伽國人,姓毘舍羅。師德厚而具大智慧,受佛陀難提(付法藏第八祖)付囑,善巧方便度化眾生,摧滅異學。其時,國王崇信外道,輕毀佛法;師自持赤旛,行於王前,經歷多時,王始召之,師至王所,求與外道對論,以無方論屈服對方;復與王論議,挫其邪心,令信正法;尋又教化尼乾子,令其弟子五百人歸佛。後付法予脅比丘而示寂。又婆藪槃豆法師傳載,佛陀蜜多羅為世親之師。〔付法藏因緣傳卷五、景德傳燈錄卷一、傳法正宗記卷二、佛祖統紀卷五〕
; (佛陀蜜多) Phạm: Buddhamitra. Cũng gọi Phục đà mật đa, Phật đà mật đa la, Phật đà mật. Hán dịch: Giác thân. Tổ phó pháp thứ 9 của Thiền tông Ấn độ, người nước Đề già, họ Tì xá la. Sư là người có trí tuệ cao siêu và đạo hạnh sáng chói. Sư được ngài Phật đà nan đề, Tổ thứ 8, phó pháp cho. Sư khéo dùng các phương tiện để giáo hóa chúng sinh, phá dẹp các học phái khác. Lúc bấy giờ, nhà vua sùng tín ngoại đạo, khinh hủy Phật pháp, tà tâm vô đạo, sư tự cầm lá phướn (1 loại cờ của Phật giáo) đi thẳng đến trước cung vua, qua nhiều lần vua mới triệu vào. Sư xin đượcbiện luận với ngoại đạo, dùng Vô phương luận để khuất phục đối phương. Rồi sư lại luận nghị với nhà vua, cảm hóa được tà tâm của vua, khiến tin chính pháp. Sau đó, sư tìm đến giáo hóa Ni kiền tử, làm cho 500 đệ tử của ông này quay về với Phật pháp. Về sau, sư truyền pháp cho Hiếp tôn giả rồi thị tịch. Lại theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì sư là thầy của ngài Thế thân. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; truyền pháp chính tông kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.5].
phật đà mật đa tổ sư
Buddha-mitra (S)Giác Thân, Phúc-đà-mật-đaTổ thứ chín trong 28 vị tổ sư Phật giáo tại Ấn, ngưởi chủ trì đại hội kết tập năm 150 tại xứ Tra lan đức cáp (Jalandhara) cùng ngài Hiếp Tôn giả (tổ thứ mười) làm phó chủ tọa.
phật đà nan đề
2641梵名 Buddhanandi。古代印度迦摩羅國人。繼承釋尊教法(付法藏)之第八祖。尊者頭頂有肉髻,辯才無礙。據付法藏因緣傳卷五載,彌遮迦以正法付尊者佛陀難提,令其流布勝甘露味,佛陀難提轉大法輪,摧伏魔怨,然後付法予佛陀蜜多。另寶林傳載,佛陀難提從婆須蜜受法,婆須蜜從彌遮迦受法,佛陀蜜多從佛陀難提受法。〔祖堂集卷一、景德傳燈錄卷一〕
; Xem Nan đề Tổ sư.
; Buddhanandi (S)Tổ Nan đềTổ thứ 8 Phật giáo ỡ Ấn độ.
; (佛陀難提) Phạm: Buddhanandi. Thiền sư Ấn độ, người nước Ca ma la thời xưa, là Tổ thứ 8 được phó pháp tạng. Sư có tướng mạo khác thường, trên đỉnh đầu có nhục kế, trí tuệ hơn người, biện tài vô ngại. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 thì tổ Di già ca truyền chính pháp cho tôn giả Phật đà nan đề. Tôn giả chuyển Đại pháp luân, phá dẹp ma oán, sau đó, trao pháp cho ngài Phật đà mật đa. Ngoài ra, theo Bảo lâm truyện thì ngài Phật đà nan đề nhận pháp từ ngài Bà tu mật, ngài Bà tu mật nhận pháp từ ngài Di già ca, ngài Phật đà mật đa nhận pháp từ ngài Phật đà nan đề. [X. Tổ đường tập Q.1; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1].
phật đà phiến đa
2640梵名 Buddhaśānta。意譯覺定。北魏譯經僧。北天竺人。神悟聰敏,博通內外。北魏宣武帝永平元年(508),奉敕與菩提流支、勒那摩提於洛陽殿內翻譯世親之十地經論,四年始成。未久,往白馬寺,於孝明帝正光六年(525)譯出如來獅子吼經。後移居鄴都金華寺。東魏元象二年(539)譯出十法經等。所譯之經,凡十部,十一卷。後不知所終。〔十地經論序、歷代三寶紀卷九、華嚴經傳記卷二、開元釋教錄卷六、釋氏稽古略卷二〕
; Buddhasānta (S)Giác ĐịnhTên một vị sư.
; (佛陀扇多) Phạm: Buddhazànta. Hán dịch: Giác định. Cao tăng người Bắc thiên trúc, đến Trung quốc dịch kinh vào thời Bắc Ngụy. Sư thần ngộ sáng suốt, bén nhạy, tinh thông nội ngoại điển. Niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508) đời vua Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, vâng sắc chỉ cùng với các ngài Bồ đề lưu chi và Lặc na ma đề phiên dịch Thập địa kinh luận của bồ tát Thế thân trong cung vua tại Lạc dương, 4 năm sau mới dịch xong. Sau đó không lâu, sư đến chùa Bạch mã, dịch kinh Như lai Sư tử hống vào niên hiệu Chính quang thứ 6 (525). Sau, sư dời đến chùa Kim hoa tại Nghiệp đô. Vào năm Nguyên tượng thứ 2 (539), sư dịch kinh Thập pháp... Tất cả kinh do sư dịch gồm 10 bộ, 11 quyển. [X. bài Tựa trong Thập địa kinh luận; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Thích thị kê cổ lược Q.2].
phật đà tam khuyến
2638指佛陀和尚之三種稱名。據景德傳燈錄卷十四法門佛陀章載,鳳翔府法門寺之佛陀和尚,常持一串念珠,稱念三種名號:一釋迦、二元和、三佛陀,終而復始,事蹟異常,時人不可測,惟稱其稱念為「佛陀三勸」。〔禪苑蒙求卷下〕
; (佛陀三勸) Chỉ cho 3 thứ danh hiệu mà Hòa thượng Phật đà thường xưng niệm. Cứ theo chương pháp môn Phật đà trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, thì Hòa thượng Phật đà ở chùa pháp môn tại phủ Phượng tường, thường cầm tràng hạt, xưng niệm 3 thứ danh hiệu: Thích ca, Nguyên hòa, Phật đà, lần hết 1 vòng thì trở lại từ đầu. Hành trạng của ngài rất khác thường, người đời không thể hiểu được chỉ gọi sự xưng niệm của ngài là Phật đà tam khuyến(ba cách khuyên người của Hòa thượng Phật đà). [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].
phật đà thiền sư
2640北魏禪師。天竺人。又稱拔陀、覺者。生卒年不詳。歷遊西域諸國,後至北魏北臺之恆安(位於山西)。師勤習印度古來之禪觀,孝文帝(471~499)崇仰師德,為師設禪林;帝遷都洛陽後,又為師設靜院。太和年間,於少室山創建禪院(即今之少林寺),並建翻經堂,由師住持,從事譯經工作。弟子慧光為地論宗南道派之祖。另有弟子道房,道房又傳僧稠。師與十地經論之譯者佛陀扇多,常為世人誤指為同一人。〔續高僧傳卷十六、卷二十一慧光傳〕(參閱「佛陀」2638)
; (佛陀禪師) Cũng gọi Bạt đà, Giác giả. Thiền sư người Thiên trúc, sống vào thời Bắc Ngụy, Trung quốc. Sư du hành khắp các nước Tây vực, sau đến Hằng an, (thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc), Bắc đài. Sư tinh cần tu tập Thiền quán. Vua Hiếu văn đế (467-499) rất tín ngưỡng đạo hạnh của sư, nên vua thiết lập Thiền viện cho sư. Sau khi dời đô đến thành Lạc dương, vua lại xây dựng Tĩnh viện để sư ở. Vào năm Thái hòa 20 (496) vua sáng lập Thiền viện ở núi Thiếu thất (tức nay là chùa Thiếu lâm), đồng thời xây Phiên kinh đường do sư trụ trì để chuyên việc dịch kinh. Đệ tử của sư –ngài Tuệ quang– là Tổ khai sáng phái Nam đạo thuộc tông Địa luận. Ngoài ra, sư thường bị người đời nhầm lẫn là ngài Phật đà Phiến đa – người dịch Thập địa kinh luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.16; Tuệ quang truyện trong Tục cao tăng truyện Q.21]. (xt. Phật Đà).
phật đà thập
2639梵名 Buddhajīva。五世紀北印度罽賓國人。又作佛馱什、佛大什。意譯為覺壽。幼受業於彌沙塞部之僧,專究律部,兼達禪法。劉宋景平元年(423)始來我國揚州,十一月應瑯琊王練及道生等之請,於建康龍光寺譯彌沙塞律;時師主講梵文,由于闐沙門智勝傳譯,道生、慧嚴等任筆受之職,譯出彌沙塞律三十四卷(現行本僅有三十卷),此即現行之五分律。未久,師又抄戒本及羯磨文各一卷。後不知所終。〔出三藏記集卷二、卷三、歷代三寶紀卷十、梁高僧傳卷三、開元釋教錄卷五〕
; Buddhājīva (S)Giác ThọTên một vị sư.
; (佛陀什) Phạm: Buddhajìva. Cũng gọi: Phật đại thập. Hán dịch: Giác thọ. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ thứ V. Thủa nhỏ, sư theo học 1 vị tăng thuộc Di sa tắc bộ, chuyên về Luật học và Thiền pháp. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, sư đặt chân lên đất Dương châu, Trung quốc. Tháng 11 năm ấy, nhận lời thỉnh cầu của Vương luyện ở Lang gia và các vị Đạo sinh..., sư phiên dịch bộ luật Di sa tắc ở chùa Long quang tại Kiến khang. Bấy giờ, sư chủ giảng Phạm văn, sa môn Trí thắng người nước Vu điền truyền dịch, các ngài Đạo sinh và Tuệ nghiêm làm bút thụ (viết chép) phiên dịch bộ luật Sa di tắc gồm 34 quyển (bản lưu hành hiện nay có 30 quyển) tức là luật Ngũ phần hiện hành. Sau đó, sư lại sao Giới bản 1 quyển và văn yết ma 1 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10, Lương cao tăng truyện Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
phật đà tăng ha
Buddhasiṃha (S)Sư tử GiácTên một vị sư. Em ruột của Bồ tát Vô Trước.
; Buddhasimha (S). Name. Also Sư tử giác.
phật đà tự
Budda-ji (J)Tên một ngôi chùa.
phật đà đa la
Buddhatrāta (S)Giác CứuTên một vị sư.
phật đà đề bà
Buddhavaca (S)Giác ThiênTên một vị sư.
phật đài
The Buddha's altar.
phật đàn
2749安置佛像之壇。指佛堂內為供奉佛像所築之高基壇而言。 依其材料而有石壇、土壇、木壇等;依其形狀則有方壇、八角壇、圓壇等。印度原有將本尊安置於佛堂正面石壇上之風氣。中世以後,佛堂內則多用木壇,其形式最初模仿石壇,後則模仿須彌山形狀,而作須彌壇。此外,在寺院之內佛堂或在家信徒供奉佛像時,所設安置佛像之龕,亦稱為佛壇。〔敕修百丈清規卷一報恩章、大唐西域記卷八摩揭陀國條、南海寄歸內法傳卷三臥息方法〕
; Buddha-dāna (S)Sự bố thí như hạnh Phật. Nơi thuyết pháp độ chúng.
; Buddha-dàna (S). Buddha-giving contrasted with Màra giving.
; (佛壇) Đàn tôn trí tượng Phật. Chỉ cho cái đàn (đài, nền cao) trong Phật đường (điện) để thờ Phật. Về nguyên liệu thì đàn có thể được làm bằng đá, gỗ hoặc đất; về hình dáng của đàn cũng có nhiều kiểu như hình vuông, hình bát giác, hình tròn... Tại Ấn độ, tượng Bản tôn vốn được an vị trên đàn bằng đá ở mặt chính củaPhật đường. Nhưng, từ thời Trung cổ về sau, trong Phật đường phần nhiều dùng đàn gỗ; về hình dáng thì phỏng theo đàn đá lúc ban đầu, còn về sau thì mô phỏng hình dạng núi Tu di mà kiến trúc đàn Tu di. Ngoài ra, cỗ khám để an vị tượng Phật trong các chùa viện hay ở nhà của các tín đồ tại gia thờ Phật, cũng được gọi là Phật đàn. [X. chương Báo ân trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.8; Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].
phật đăng thủ tuân
Fo feng Sho hsun (C), Fo chien, Hui chin, Fo chien Fo kuo, Ke chin Fo kuo (C)Khắc Cần Phật Quả.
; Fo chien (C)Tên một vị sư.
; Fo chien Fo kuo (C), Hui chin (J)Tên một vị sư.
phật đường
2657安置佛、菩薩像之堂宇。又作佛殿、大雄寶殿、大殿等。印度稱佛堂為健陀俱胝(梵 gandhakuṭī),意即香室、香臺、香殿,乃為尊佛,故但稱其住處,此與我國尊皇帝為陛下之理同。故知我國不稱香堂而直稱佛堂、佛殿,蓋有別於印度。此外,我國古代禪門中多不建佛殿,此係禪宗特殊用意,如百丈懷海於禪門規式中,不立佛殿,唯樹法堂,表佛祖親囑授,為當代之尊之意。又德山見性禪師凡住寺院,則拆除佛殿,獨存法堂。日本禪宗建築多仿我國宋代樣式,於法堂前方正面建立佛殿,再以廊連接二堂。〔一字頂輪王經卷一、毘奈耶雜事卷二十六、善見律毘婆沙卷八、翻譯名義集卷七、景德傳燈錄卷六、禪林象器箋殿堂門、日本建築史〕
; The Buddha hall.
phật đại bi quang
Buddha of Great Compassion Light Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật đại cường tinh tấn dõng mãnh
Buddha of Great Strength in Striving and Courage Tên một trong 53 vị cổ Phật được nói đến trong kinh Dược Sư Bản nguyện Công đức Kinh.
phật đại huệ lực vương
Buddha of King with Great-Wisdom Force.
phật đại thông quang
Buddha of Great Universal Light.
phật đại tiên
2609梵名 Buddhasena。又作佛馱先、佛陀斯那。五世紀北印度罽賓國人。乃說一切有部之師,後為禪法之傳持者。師行化罽賓,為第三訓首,曾就婆陀羅稟承法要,傳於我國。蒙其教化者甚多,入道之徒有七百。佛陀跋陀羅幼即從其學;我國智巖當年西遊時,亦至罽賓,入摩天陀羅精舍,從師學禪法,三年功成後,與佛陀跋陀羅相偕歸國,佛陀跋陀羅所譯達摩多羅禪經二卷,恐係師之所誦。又依出三藏記集卷九所載禪要祕密治病經記、卷十四沮渠安陽侯傳,謂劉宋文帝元嘉(424~453)初年,河西王蒙遜之弟沮渠安陽侯至于闐國,於衢摩帝大寺與佛陀斯那相遇,乃從彼學大乘法,並得禪要祕密治病法。師天才秀出,其禪法獨步諸國,西方之人皆號之為人中師子。〔出三藏記集卷九修行地不淨觀經序、開元釋教錄卷四、達摩多羅禪經序、傳法正宗論卷上、翻譯名義集卷三〕
; Buddhaṣena (S).
; (佛大先) Phạm: Buddhasena. Cũng gọi Phật đà tiên, Phật đà tư na. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, là Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, sau là người truyền trì Thiền pháp. Sư hành hóa ở nước Kế tân, từng kế thừa pháp yếu nơi ngài Bà đà la, rồi sau đó sư đem truyền đến Trung quốc. Rất nhiều người được sư giáo hóa, người vào đạo có hơn 700. Ngài Phật đà bạt đà la thủa nhỏ có theo học sư. Ngài Trí nghiêm người Trung quốc, trong thời gian du học Tây trúc, cũng đến nước Kế tân, vào tinh xá Ma thiên đà la theo sư học Thiền pháp. Ba năm sau, khi học xong, ngài Trí nghiêm trở về Trung quốc, mời ngài Phật đà bạt đà la cùng đi. Sau khi về đến Trung quốc, ngài Phật đà bạt đà la có dịch Đạt ma đa la thiền kinh, 2 quyển, có lẽ là bộ kinh đã do sư Phật đại tiên tụng ra. Ngoài ra, theo Thiền yếu bí mật trị bệnh kinh kí chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 9 và Thư cừ An dương hầu truyện trong Xuất tam tạng kí tập quyển 14, thì vào đầu năm Nguyên gia (424-453) đời vua Văn đế nhà Lưu Tống, em của Hà tây vương Mông tốn là Thư cừ An dương hầu đến nước Vu điền được gặp sư Phật đà tiên tại chùa Cù ma đế, theo sư học pháp Đại thừa, đồng thời học được pháp bí mật để trị các bệnh về Thiền. Sư là bậc thiên tài kiệt xuất, Thiền pháp của sư đứng vào bậc nhất ở các nước, ngườiphương Tây đều gọi sư là Nhân trung sư tử(Sư tử trong loài người). [X. bàiTựa kinh Tu hành địa bất tịnh quán trong Xuất tam tạng kí tậpQ.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; bài tựa Đạt ma đa la thiền kinh; luận Truyền pháp chính tông Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].
Phật Đại Tiên 佛大先
[ja] ブツダイセン Butsudaisen ||| Buddhasena (5th c. CE); an Indian Sarvāstivādin 有部 master from Kashmir 罽賓國. Also written 佛駄先 and 佛陀斯那. (j: Butsudaisen ),(s:Buddhasena ) => Luận sư của phái Hữu bộ, sống vào thế kỷ thứ 5, ở nước Kế Tân (s: Kashmir 罽賓國). Còn gọi là Phật-đà-tiên 佛駄先, Phật-đà-tư-na 佛陀斯那.
Phật Đạo
(佛道, Butsudō): quyển thứ 49 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō, 95 quyển), là phần Thị Chúng (示眾) tại Cát Phong Tự (吉峰寺) vùng Việt Tiền (越前, Echizen), vào ngày 16 tháng 9 năm 1243. Đây là thiên chỉ rõ nhận thức cho rằng Chánh Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn Diệu Tâm (正法眼藏涅槃妙心) do chánh truyền từ chư Phật Tổ, là đại đạo của chư Phật Tổ và tông chỉ của Thiền Tông cũng như của Ngũ Gia (五家, năm tông phái lớn của Thiền Tông), là sai lầm.
Phật đạo
(佛道): có mấy nghĩa. (1) Con đường của Phật pháp. Đạo, Phạn ngữ bodhi, ý dịch là Bồ Đề (菩提); tân dịch là giác (覺), cựu dịch là đạo (道). Đạo (con đường) nghĩa là thông suốt; Phật trí tròn đầy thông suốt, không bị ngưng trệ, nên gọi là đạo. Đạo có 3 loại: (a) đạo do Thanh Văn chứng đắc, (b) đạo do Duyên Giác chứng đắc, (c) đạo do Phật chứng đắc. Đạo do Phật chứng đắc là Vô Thượng Bồ Đề (無上菩提), nên gọi là Phật đạo. Trong phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1 có đoạn: “Ngã kiến bỉ độ, hằng sa Bồ Tát, chủng chủng nhân duyên, nhi cầu Phật đạo (我見彼土、恆沙菩薩、種種因緣、而求佛道, ta thấy cõi kia, hằng sa Bồ Tát, các loại nhân duyên, mà cầu Phật đạo).” Cũng trong phẩm Tựa của kinh trên lại có đoạn: “Hựu kiến Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, nhập ư thâm sơn, tư duy Phật đạo (又見菩薩、勇猛精進、入於深山、思惟佛道, lại thấy Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, vào trong rừng sâu, suy nghĩ Phật đạo).” (2) Chỉ con đường thành Phật, tức con đường đạt đến quả vị Phật vô thượng bồ đề. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 22, phần Tông Giáo Đáp Hưởng (宗敎答響) 2, Phẩm Nguyện Lực (願力品) thứ 6, có đoạn: “Phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, vị chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (發四弘誓願、謂眾生無邊誓願度、煩惱無盡誓願斷、法門無量誓願學、佛道無上誓願成, phát khởi Bốn Thệ Nguyện Rộng, nghĩa là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện dứt, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành).” Hay trong Phật Thuyết Kim Quang Vương Đồng Tử Kinh (佛說金光王童子經, Taishō Vol. 14, No. 548) lại có đoạn: “Thế Tôn vãng tích, vi kiến Tam Giới luân hồi khổ não, xả Luân Vương vị, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo viên mãn (世尊往昔、爲見三界輪迴苦惱、捨輪王位、出家苦行、佛道圓滿, đức Thế Tôn xưa kia, vì thấy Ba Cõi luân hồi khổ não, bèn bỏ ngôi vị chuyển luân thánh vương, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo tròn đầy).” (3) Tên gọi chung của Phật Giáo và Đạo Giáo. Như trong tập bút ký Xuân Chử Kỷ Văn (春渚紀聞) quyển 2, phần Nhị Phú Thất Sớ Tài (二富室疏財) của Hà Vĩ (何薳, 1077-1145) nhà Bắc Tống, có đoạn: “Tán thí bần dân cập trợ tu Phật Đạo quán vũ, nhất tiền bất lưu ư gia (散施貧民及助修佛道觀宇、一錢不留於家, bố thí cùng khắp dân nghèo và giúp tu sửa các đền thờ Phật Giáo, Đạo Giáo, một tiền cũng không giữ ở nhà).”
; 佛道; C: fódào; J: butsudō;|1. Giáo pháp của đức Phật, Phật giáo. Phật đạo thường được dùng đồng nghĩa với Phật pháp nhưng trong trường hợp này thì khía cạnh thực hành để thấu triệt chân lí được nhấn mạnh hơn; 2. Con đường dẫn đến Phật quả, Niết-bàn, Giải thoát; 3. Vô thượng chính đẳng chính giác, Phật quả tối thượng. Trong Thiền tông, người ta thường hiểu Phật đạo dưới nghĩa này.
phật đạo
2735<一>「道」乃梵語 bodhi(音譯菩提)之意譯,義謂果德圓通。佛道即指佛果之無上菩提。法華經序品(大九‧三上):「我見彼土恒沙菩薩,種種因緣,而求佛道。」〔大乘義章卷十八〕 <二>指佛陀教化眾生之道。即佛教。 <三>道,謂因行。指成佛之道,即至佛果無上菩提之道。大乘義章卷十八(大四四‧八二八下):「能通行人至涅槃處,因之為通,通故名道。故地論言,道者是因,修行此道能到聖處,名為聖道。」(參閱「佛教」2658)
; Buddhist path, lam (T), Butsu-dō (J)
; The way of Buddha, leading to Buddhahood. Buddhism.
; (佛道) I. Phật Đạo. Đạo là dịch nghĩa của chữ Phạm bodhi (Hán âm: Bồ đề). Phật đạo là chỉ cho quả Vô thượng bồ đề. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Ta thấy hằng sa Bồ tát ở cõi ấy, có nhiều nhân duyên để cầu Phật đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.18]. II. Phật Đạo. Chỉ cho nền đạo mà đức Phật giáo hóa chúng sinh, tức là Phật giáo. III. Phật Đạo. Chỉ cho đường thành Phật, tức là con đường dẫn đến quả Phật Vô thượng. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 (Đại 44, 828 hạ) nói: Đạo có khả năng đưa hành giả đến nơi Niết bàn, vì thế là thông suốt, bởi thông suốt nên gọi là Đạo. (xt. Phật Giáo).
phật đạo chi tranh
2736自道教初興,佛教東來,初期頗有互相利用之處,因兩者所標義旨,間有相同。佛教傳入之初,譯天竺文為漢字,嘗襲用道家字義,後道家亦有襲用佛教教義者。惟道家對於佛教之輸入中土,因信奉者日多,遂與之發生衝突,歷漢、魏、晉、南北朝迄於隋唐而未衰。 佛教傳入中土,傳統文化之衛道者一則以佛教來自印度,乃夷狄之教,以為夷狄文化低落,不及華夏,故不當信從。二則以華夷地域不同,益證老子序中以東為木,屬陽,為道之所出;西為金,屬陰,為佛之所生。陽尊陰卑,故道教優於佛教。三則以華夷之間,種族不同,夷人始信佛教,華人不當信。四則以佛教之流入中土,每致國家之衰亂,故不應信。 佛道之爭,雖屬宗教衝突,然二者之興替,皆不離帝王之愛惡親仇,結果有力者較易獲勝,失敗者,每遭毀滅之厄運。佛道之爭最早見於東漢,迦攝摩騰與諸道士論難;三國時代,曹植作「辯道論」批難神仙說之詐妄;西晉時,帛遠與道士王浮間亦有佛道之爭,王浮乃作「老子化胡經」,為後世論爭重要材料;然爭論之白熱化則在南北朝以後,北魏太武帝時寇謙之開創新天師道,並使之國教化,確立道教之宗教教團;南朝宋之陸修靜、梁之陶弘景對教學整備及道教經典整理予以體系化,對社會之影響亦相對增加,而足以與佛教相抗衡,其論爭焦點係以「夷夏論」為中心,爭論捨華夏固有宗教而信奉夷狄之教(佛教)之是非;南朝宋明帝泰始三年(467),道士顧歡著「夷夏論」,引致明僧紹著「正二教論」、慧通著「駁顧道士夷夏論」以闢之,又有張融著「門律」,主張道佛一致,而以道教為本,佛教為迹,提倡本迹說,然就二者優劣而言,主張道教居優位。 於北朝,孝明帝正光元年(520),宮中亦有佛道二教之論爭,即清道觀之道士姜斌與融覺寺之沙門曇無最,以老子與佛陀二人之出世先後為對論主題,論爭結果,姜斌被論破,流放至馬邑。其前,甄鸞之「笑道論」與道安之「二教論」二書為當時有關佛道優劣論爭之重要論著,此二書皆以強烈之論點大力論難道教之低劣。然於北朝,佛道之抗爭不僅為雙方之論爭而已,更加上當權者之政策壓迫,此即歷史上著名的「三武滅佛」中,北魏太武帝與北周武帝之摧殘佛教。 三武滅佛即指:(一)北魏太武帝得道士寇謙之清靜仙化之道,及司徒崔浩之慫恿,乃下詔諸州,坑沙門,毀諸佛像。(二)北周武帝欲以符命曜於天下,聽信道士張賓與元嵩之言,決心滅佛。(三)唐武宗寵信道士趙歸真,拆佛寺四千六百餘所,迫僧尼二十六萬五百人還俗,收充兩稅戶。為歷史上佛教徒之大浩劫。 隋代統一南北,唐祚代興,以老子與唐室皆李姓,予道教以特殊禮遇,太宗更明詔道教居於佛教之上,定道先佛後之席次,成為唐朝一貫方針,道教乃得蓬勃發展。武德四年(621),道士傅奕上奏沙汰僧尼十一條,濟法寺法琳撰「破邪論」論道教之虛妄,道教方面李仲卿著「十異九迷論」、劉進喜著「顯正論」,批論佛教,激烈爭論佛道席次之先後問題。八年,定道、儒、佛之順位。高宗顯慶三年(658)三次召集僧道於內殿論議;五年,僧靜泰與道士李榮又就老子化胡經引發論爭;至龍朔二、三年(662~663),論爭猶未止。此等佛道論爭之結果,道教方面攝取佛教經典之教理,製作種種經典以對抗佛教。宋代道教活躍,王重陽創全真教;元時,其第五代教主邱處機之弟子李志常佔有佛寺,破壞佛像,並將「太上混元上德皇帝明威化胡成佛經」及「老子八十一化圖」,刻板刊行,少林寺福裕斥其偽妄,憲宗五年(1255)令二人對論,志常敗論,帝遂勒令燒毀道德經以外老子化胡經、老子八十一化圖等一切偽經;以後二教明爭暗鬥相續不絕;元世祖至元十八年(1281),下詔彈壓全真教,魏晉以來之佛道之爭遂平息。 佛道二教各有其特色與信眾,對立結果往往意氣用事,各成派系,排斥異己,或互相詆毀,如佛徒著笑道論,道流亦作笑佛論以敵之,各揭彼短,以揚己善,極盡對罵之能事。然佛道二教經魏晉南北朝、隋、唐數代之發展而更深入民間,牢不可拔,影響後世學術思想甚巨。如新字體、詞彙之廣及學術領域,儒、釋、道三教融合而產生宋代理學等,可謂思想文藝上之重大刺激。 有關收錄佛道論爭之文獻不少,較重要者有弘明集、廣弘明集、道宣之集古今佛道論衡、法琳之破邪論、神清之北山錄、智昇之續集古今佛道論衡等。
; (佛道之爭) Sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo (Lão) giáo. Khi Đạo giáo bắt đầu hưng thịnh thì Phật giáo cũng từ Ấn độ được truyền đến Trung quốc. Ở thời kì đầu, 2 tông giáo này có rất nhiều chỗ lợi dụng lẫn nhau, bởi vì giáo nghĩa, tông chỉ của cả 2 thỉnh thoảng cũng có điểm giống nhau, khi Phật giáo mới du nhập Trung quốc, việc phiên dịch kinh sách từ tiếng Phạm sang tiếng Hán thường phải mượn các từ ngữ của Đạo gia, sau thì Đạo gia cũng sử dụng giáo nghĩa của Phật giáo. Về sau, số tín đồ của Phật giáo mỗi ngày 1 đông thêm, do đó, Đạo gia đối với Phật giáo phát sinh xung đột, qua suốt các thời đại Hán, Ngụy, Tấn, Nam, Bắc triều cho đến Tùy, Đường vẫn không chấm dứt. Khi Phật giáo truyền vào Trung quốc và phát triển mạnh, những người bảo vệ Đạo giáo theo văn hóa truyền thống, nêu ra 4 lí do không nên theo Phật giáo: 1. Phật giáo từ Ấn độ truyền đến: Là tông giáo của giống Di, Địch (tức dã man, mọi rợ), văn hóa lạc hậu, thấp kém, không bằng Hoa hạ(tức Trung quốc, là nơi văn hóa phát triển), vì thế không nên tin theo. 2. Trung quốc và Ấn độ phong tục khác nhau: Theo thuyết của Đạo giáo, phương Đông là mộc, thuộc dương, là nơi sinh ra Đạo; phương Tây là kim, thuộc âm, là nơi sinh ra Phật. Dương là cao quí, âm là thấp hèn, vì thế Đạo giáo ưu việt hơn Phật giáo. 3. Trung quốc và Ấn độ chủng tộc không giống nhau: Người mọi rợ mới tin Phật giáo, chứ người văn minh không nên tin. 4. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc: Thường làm cho đất nước suy loạn, vì thế không nên tin theo. Sự tranh chấp giữa Đạo giáo và Phật giáo tuy là sự xung đột về tông giáo nhưng sự thịnh suy của cả 2 đều do lòng yêu ghét, thân sơ của nhà vua mà được quyết định. Kết quả là tông giáo nào có thế lực thì tương đối dễ thu được thắng lợi, còn tông giáo nào yếu, thất bại thì thường gặp nguy cơ bị hủy diệt. Sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo giáo đã nảy sinh ngay từ thời Đông Hán, khi ấy, ngài Ca diếp ma đằng (Phạm: Kàzyapa-màtaíga) đã phải tranh luận với các Đạo sĩ rồi. Qua thời Tam quốc, Tào thực soạn Biện đạo luận phê phán thuyết Thần tiên. Đến đời Tây Tấn, cuộc tranh luận về Phật giáo và Đạo giáo đã diễn ra giữa sa môn Bạch viễn và Đạo sĩ Vương phù. Vương phù là tác giả của kinh Lão tử hóa hồ, là tài liệu trọng yếu cho các cuộc tranh luận ở đời sau. Nhưng, những cuộc tranh luận kịch liệt nhất là từ thời Nam Bắc triều trở về sau. Thời Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy, đạo sĩ Khấu khiêm chi sáng lập Thiên sư đạo, đồng thời, xúc tiến việc truyền bá đạo mới này trong khắp nước, xác lập giáo đoàn tông giáo của Đạo giáo. Các đạo sĩ Lục tu tĩnh thời Tống thuộc Nam triều và Đào hoằng cảnh đời Lương ra sức chỉnh lí các kinh điển Đạo giáo và hệ thống hóa nền giáo học, ảnh hưởng đối với xã hội tương đối cũng tăng thêm, đủ để đọ sức với Phật giáo, lấy Di hạ luận(luận về mọi rợ và văn minh) làm trung tâm tranh luận, tức tranh luận về việc bỏ tông giáo văn minh sẵn có để tin thờ tông giáo mọi rợ ngoại lai (Phật giáo) là đúng hay sai. Năm Thái thủy thứ 3 (467) đời vua Minh đế nhà Tống thuộc Nam triều, đạo sĩ Cố hoan viết Di hạ luận dẫn đến việc ngài Minh tăng thiệu soạn Chính nhị giáo luận, ngài Tuệ thông trứ tác Bác cố đạo sĩ Di hạ luận để bác bỏ. Ngoài ra, ông Trương dung soạnMôn luật chủ trương Đạo Phật nhất trí(Đạo giáo và Phật giáo là một), Đạo giáo là Bản, Phật giáo là Tích, đề xướng thuyết Bản Tích, nhưng lại cho đạo giáo cao hơn. Niên hiệu Chính quang năm đầu (520) đời vua Hiếu minh đế của Bắc triều, trong cung cũng có cuộc tranh luận về Đạo giáo và Phật giáo, giữa đạo sĩ Khương bân ở quán Thanh đạo và sa môn Đàm vô tối ở chùa Dung giác, với chủ đề: Lão tử ra đời trước hay Phật Thích ca ra đời trước?. Kết quả, Khương bân thất bại và bị lưu đày đến Mã ấp. Trước đó, tác phẩm Tiếu đạo luận của ngài Chân loan và Nhị giáo luận của ngài Đạo an là 2 bộ luận quan trọng tranh luận về sự hơn, kém của Phật giáo và Đạo giáo đương thời. Nhưng thời Bắc triều, sự tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo không phải chỉ đơn thuần là cuộc tranh luận song phương, mà thêm vào đó còn là chính sách bách hại của chính quyền, đó chính là cuộc hủy diệt Phật giáo của Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy và của Vũ đế nhà Bắc chu rất nổi tiếng mà lịch sử gọi là Tam Vũ Diệt Phật. Đó là: 1. Vua Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy: Theo đạo Thanh tĩnh tiên hóa của đạo sĩ Khấu khiêm chi và theo lời xúi dục của quan Tư đồ Thôi hạo mà ra lệnh cho các nơi chôn sống tăng ni, phá hủy tượng Phật. 2. Vua Vũ đế nhà Bắc chu: Muốn ngôi sao hộ mệnh của mình chiếu sáng khắp thiên hạ, nên nghe theo lời của các đạo sĩ Trương tân và Nguyên tung quyết tâm diệt Phật. 3. Vua Vũ tôn nhà Đường: Nghe lời xúi dục của Đạo sĩ Triệu qui chân, hạ lệnh phá hủy hơn 4.600 ngôi chùa, bắt buộc 260.500 tăng ni hoàn tục, tịch thu hết tài sản của các chùa. Đây là những pháp nạn to lớn trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nhà Tùy thống nhất Bắc Nam, nhà Đường nổi lên thay thế và hưng thịnh, vì Lão tử và nhà Đường đều mang họ Lí, cho nên Đạo giáo được đãi ngộ đặc biệt, vua Thái tông còn ban sắc chỉ rõ ràng xếp Đạo giáo trên Phật giáo, xác định thứ bậc: Đạo giáo trước, Phật giáo sau, đó là chính sách nhất quán của triều đại nhà Đường, nhờ đó Đạo giáo phát triền rất mạnh. Năm Vũ đức thứ 4 (621), đạo sĩ Phó dịch dâng 11 điều tâu xin sa thải tăng ni ngài Pháp lâm ở chùa Tế pháp soạn Phá tà luận nói lên sự hư dối của Đạo giáo. Về phía Đạo giáo thì có Lí trọng khanh soạn Thập dị cửu mê luận và Lưu tiến hỉ soạn Hiển chính luận phê bình và bài bác Phật giáo, tranh luận kịch liệt về vấn đề thứ bậc trước sau của Đạo giáo và Phật giáo. Năm Vũ đức thứ 8 (625), thứ tự địa vị chính thức được qui định là: Đạo – Nho – Phật. Năm Hiển khánh thứ 3 (658) đời vua Cao tông, 3 lần triệu tập chư tăng và đạo sĩ vào cung vua để nghị luận. Năm Hiển khánh thứ 5 (600), sa môn Tĩnh thái và đạo sĩ Lí vinh lại dựa vào Lão tử hóa Hồ kinh mà khơi dậy cuộc tranh luận. Đến năm Long sóc thứ 2, 3 (662-663), cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc. Kết quả của những cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo này, phía Đạo giáo đã lấy giáo lí trong các kinh điển Phật giáo để viết ra nhiều kinh sách mà chống lại Phật giáo. Sang đời Tống, Đạo giáo hoạt động tích cực, Vương trùng dương sáng lập Toàn chân giáo. Đến đời Nguyên, Lí chí thường – đệ tử của Khâu xử cơ, giáo chủ thứ 5 của Toàn chân giáo – chiếm đọat chùa chiền phá hủy tượng Phật, đồng thời, cho khắc bản và ấn hành kinh Thái thượng hỗn nguyên thượng đức hoàng đế minh uy hóa hồ thành Phật và bức tranh Tám mươi mốt hóa thân của Lão tử. Hai tài liệu ngụy tạo này bị ngài Phúc dụ ở chùa Thiếu lâm bác bỏ cho là dối trá, lừa gạt. Năm Hiến tông thứ 5 (1255), vua ban sắc cho 2 vị Phúc dụ và Lí chí thường biện luận với nhau, Lí chí thường thua cuộc, vua hạ lệnh đốt hết kinh sách của Đạo giáo, chỉ trừ Đạo đức kinh(tác phẩm của chính ngài Lão tử). Về sau, cuộc tranh luận của 2 tông giáo, lúc công khai, lúc âm thầm, vẫn tiếp tục không dứt. Mãi đến năm Chí nguyên thứ 18, (1281), vua Thế tổ nhà Nguyên hạ chiếu chỉ dẹp bỏ Toàn chân giáo, từ đó, sự tranh chấp giữa Đạo giáo và Phật giáo, bắt đầu từ thời Ngụy Tấn, mới thực sự chấm dứt hoàn toàn. Cuộc tranh luận kéo dài giữa Đạo giáo và Phật giáo này được nhiều sách ghi chép lại, nhưng quan trọng hơn hết thì có: Hoằng minh tập, Quảng hoằng minh tập, Tập cổ kim Phật đạo luận hành (Đạo tuyên) Phá tà luận (Pháp lâm), Bắc sơn lục (Thần thanh), Tục tập cổ Kim Phật đạo luận hành (Trí thăng) v.v...
phật đạo nhân nhân cước cân hạ
2736謂佛道非理想主義,亦非觀念論,乃真實而活生生,為人人日常生活所奉行。學道用心集(大八二‧四下):「所謂向道者,了佛道之涯際也,明佛道之樣子也;佛道人人腳跟下也,被道礙兮當處明了,被悟礙兮當人圓成矣!」
; (佛道人人脚跟下) Phật đạo dưới gót chân của mọi người. Nghĩa là đạo Phật chẳng phải là chủ nghĩa lí tưởng, cũng chẳng phải là Quan niệm luận, nhưng thực ra là cái mà mọi người vẫn làm trong các sinh họat hàng ngày. Học đạo dụng tâm tập (Đại 82,4 hạ) nói: Người hướng về đạo là người phải biết rõ bờ mé của Phật đạo, phải rõ hình dạng của Phật đạo. Phật đạo ở ngay dưới gót chân của mọi người: Nếu bị đạo trở ngại thì phải ngay đó mà biết trở ngại ở chỗ nào; còn nếu bị ngộ trở ngại thì phải ngay đó mà viên thành.
phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
2736為菩薩四弘誓願之一。即堅心誓願必證得無上佛果。又作無上菩提誓願證。又古敦煌本六祖壇經作「無上佛道誓願成」。(參閱「四弘誓願」1677)
; (佛道無上誓願成) Cũng gọi Vô thượng Bồ đề thệ nguyện chứng. Vững tâm thệ nguyện chắc chắn sẽ chứng được quả Phật vô thượng, là 1 trong 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát. Lục tổ đàn kinh bản Đôn hoàng thì ghi: Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện).
Phật đạo 佛道
[ja] ブツドウ butsudou ||| Literally, the "buddha-way," which means the path to the buddhahood, but also often refers the Buddha's enlightenment in itself; buddhahood. The terms seems to have developed in East Asia without a Sanskrit equivalent (although it can be equated with the Indian concept of bodhi), often used to indicate the enlightenment which is the original endowment of all sentient beings. See, for example T 842.17.913c (圓覺經). => Đạo Phật, nghĩa là con đường đưa đến Phật quả, và tự nó cũng có nghĩa là tính giác ngộ sáng suốt của chư Phật. Thuật ngữ nầy được phát triển ở Đông Á mà không có một thuật ngữ Sanskrit nào tương đương (mặc dù nó có thể xem như ý niệm tỉnh giác - s: bodhi của Ấn Độ), thường dùng để chỉ tính giác mà mọi chúng sinh dều vốn có. Cụ thể, xem Kinh Viên Giác.
phật đản
Vesak (S), Vesākha (P).
; Vesak (S), Vesàkha (P). The Buddha's birthday.
Phật đản hội
佛誕會; C: fódànhuì; J: buttan'e.|Nghi lễ cử hành để kỉ niệm ngày sinh của đức Phật.
Phật đản hội 佛誕會
[ja] ブツタンエ buttan'e ||| The ceremony held to commemorate the Buddha's birthday. => Nghi lễ cử hành để kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật.
phật đản nhật
2746又作佛生日。即釋迦佛誕生之日。經論中或云二月八日,或云四月八日。長阿含經卷四謂二月八日佛出生,薩婆多論亦同,太子瑞應本起經卷上謂四月八日生,灌佛經謂十方諸佛皆於四月八日生。俱舍論法寶疏卷一融合上記二說謂(大四一‧四五三上):「以立正異故,婆羅門國以建子立正,此方先時以建寅立正,建子四月 ,即建寅二月。故存梵本者而言四月,依此方者,即云二月。」故知以夏曆(陰曆)四月八日為佛生日實誤。 又佛誕日所行之法會,稱為佛誕會。而佛誕之日,住持上堂說法,稱為佛誕上堂,又稱浴佛上堂、佛生日上堂。〔敕修百丈清規卷二佛降誕條、僧堂清規卷四佛祖會行法〕
; (佛誕日) Cũng gọi Phật sinh nhật. Ngày đản sinh của đức Phật Thích ca. Trong các kinh luận, có chỗ nói đức Phật sinh ngày mồng 8 tháng 2, hoặc có chỗ nói Phật sinh vào ngày mồng 8 tháng 4. Theo kinh Trường a hàm và luận Tát bà đa thì đức Phật sinh vào ngày mồng 8 tháng 2. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng nói Phật sinh ngày mồng 8 tháng 4; kinh Quán Phật cho rằng chư Phật trong 10 phương đều sinh vào ngày mồng 8 tháng 4. Câu xá luận Pháp bảo sớ quyển 1 dung hợp 2 thuyết trên đây và giải thích lí do sai khác nhau như sau: (Đại 41, 453 thượng): Ấn độ lập tháng Tí làm tháng giêng, còn Trung quốc thì lập tháng Dần làm tháng giêng. Như vậy tháng 4 ở Ấn độ tức là tháng 2 ở Trung quốc. Vì thế, giữ theo Phạm bản (Ấn độ) thì nói là tháng 4, còn theo Trung quốc thì nói là tháng 2. Do đó nên biết, nếu lấy ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch làm ngày Phật đản sinh là lầm vậy. Ngoài ra, pháp hội được cử hành vào ngày Phật đản, gọi là Phật đản hội. Ngày Phật đản, vị Trụ trì lên giảng đường nói pháp thì gọi là Thướng đường thuyết pháp, cũng gọi Dục Phật thướng đường(nói pháp vào ngày tắm Phật), Phật sinh nhật thướng đường. [X. điều Phật giáng đản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Phật tổ hội hành pháp trong Tăng đường thanh qui Q.4].
phật đảnh
Uṣnīṣa (S), Uṇhīsa (P)Cục thịt trên đỉnh đầu đức Phật hình như bới tóc. Tướng ấy do lòng kính ngưỡng sư trưởng mà mọc ra.
Phật đảnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni kinh. 佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經
[ja] ブッチョウホウムクコウミョウニュウフモンカンサツイチサイニョライシンダラニキョウ Bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō ||| Skt. Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī; Tib. kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs [To.599/983, P.206/608]; (Dhāraṇī of the [Immaculate Buddha-Corona's Emitted Light Beaming Through Ubiquitous Portals Contemplated as the] Essence of the Tathāgatas). 2 fasc. (T 1025.19.721-726), abbr. Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī 如來心經, tr. Dānapāla 施護. Source text for a maṇḍala revolving around Vimaloṣṇīṣa [Ngor.10]. This dhāraṇī is inscribed on the archway at Juyong Guan 居庸關, near Beijing, in Sanskrit, Tibetan, Chinese, Uighur, Mongol, and Tangut. BGBT4/105 => (s: Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī); (t: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs). Hai quyển, tên gọi tắt là Như Lai Tâm Kinh (s:Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thi Hộ (Dānapāla) dịch. Phát xuất của Kinh văn làvề một mạn-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai) [Ngor.10]. Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Sanskrit, Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông cổ, và tiếng Tangut.
Phật đảnh tôn thắng đà-la-ni kinh 佛頂尊勝陀羅尼經
[ja] ブツチョウソンショウタラニキョウ Bucchō sonshō daranikyō ||| The Foding zunsheng tuoluoni jing; Skt. Uṣṇīṣavijayādhāraṇī; Tib. de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa [To.594, P.199; To. 595, P.197; To.596, P.201]; (Dhāraṇī of the Jubilant Corona). An evocation of the Jubilant Buddha-Corona, Uṣṇīṣavijayā 尊勝佛頂, whose powers can prolong life and destroy the hardships of saṃsāra; fourth text of the Saptavāra corpus. Translations exist in Khotanese, Uighur, Tangut and Mongolian ('Phags pa script) in addition to the many Tibetan and Chinese versions. The translations used in Shingon are those of Buddhapāli (T 967), Fatian (T 978) and Wuche 武徹 (T 974c). Among the Chinese translations, Fatian's version corresponds to four Tibetan versions [To.598, P.200], while the earlier versions (1-5) match another Tibetan translation [To.597/984, P.198/609]. The extant Chinese translations are: (1) 1 fasc. (T 967.19.349-353), Dhāraṇī of the Jubilant Buddha-Corona 佛頂尊勝陀羅尼經 tr. Buddhapāli 佛陀波利. Chinese commentary: Fachong's 法崇 Meanings of the Doctrinal Traces 教跡義記 (T 1803). (2) 1 fasc. (T 968.19.353-355), Dhāraṇī of the Jubilant Buddha-Corona 佛頂尊勝陀羅尼經 tr. Du Xingkai 杜行顗. Chinese commentary: Xufa's 讀法 Commentary 佛頂尊勝陀羅尼經釋 [Z.92.146-163]. (3) 1 fasc. (T 969.19.355-357), Triumphant Dhāraṇī 最勝陀羅尼經 tr. Divākara 地婆訶羅. The dhāraṇī of this recension appears in various Tang-era ritual manuals: Amoghavajra's 不空 Ritual Procedure for Recitation 佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌法 (T 972) and Ritual Procedures from the Yoga Collection for Feeding the Searing Mouths 瑜伽集要焔口施食儀軌, and Śubhākarasiṃha's 善無畏 Ritual Procedure of Yoga 尊勝佛頂修瑜伽法儀軌 (T 973) (T 1320). (4) 1 fasc. (T 970.19.357-361), Sutra of the Dhāraṇī Spell of the Jubilant Buddha-Corona which Cleanses and Abolishes Karmic Burdens 最勝佛頂陀羅尼淨除業障呪經 tr. Divākara 地婆訶羅. (5) 1 fasc. (T 971.19.361-364), Dhāraṇī of the Jubilant Buddha-Corona 佛頂尊勝陀羅尼經 tr. Yijing 義淨. (6) 1 fasc. (T 974a.19.383-384), Dhāraṇī of Buddha-Corona the Triumphant 最勝佛頂陀羅尼經 tr. Fatian 法天. (7) 1 fasc. (T 978.19.407-410), Sarvatathāgatoṣṇīṣavijayā-dhāraṇī (de bzhin gshegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ma'i gzungs shes bya) 一切如來烏瑟膩沙最勝總持經 tr. Fatian 法天. A phonetic transcription which corresponds to Dhyānabhadra's version. (8) 1 fasc. (T 979.19.410) Uṣṇīṣavijayā-dhāraṇī 于瑟沙毘左野陀囉尼 tr. Dhyānabhadra 指空. BGBT4/102-5. Sanskrit Edition: F. Max Müller and Bunyu Nanjio. Anecdota Oxonensiāryan Series vol.1 part III, Oxford, 1884. => (s:Uṣṇīṣavijayādhāraṇī); (t: de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa ); (e: Dhāraṇī of the Jubilant Corona). Kinh nói về sự thù thắng vi diệu của Phật đảnh (tôn thắng Phật đảnh; s: Uṣṇīṣavijayā), có năng lực làm tăng tuổi thọ và tiều trừ khổ nạn sinh tử luân hồi. Bản văn thứ tư trong tập sao lục Saptavāra. Các bản dich của kinh nầy còn lưu truyền ở các nước Khotan, Uighur, Tangut, Mông Cổ ('Phags pa script), cùng với rất nhiều bản dịch tiếng Tây Tạng vã chữ Hán. Bản dịch dùng trong Chân Ngôn tông là của Phật Đà Ba Lị (Buddhapāli) (T 967), Fatian (T 978) và Vũ Triệt (c:Wuche 武徹) (T 974c). Trong số các bản dịch chữ Hán, bản dịch của Fatian tương ưng với bốn bản dịch tiếng Tây Tạng [To.598, P.200], trong khi các bản dịch trước đó, lại tương ưng với một bản dịch khác [To.597/984, P.198/609]. Các bản dịch chữ Hán hiện còn là: 1.Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển ; Phật Đà Ba Lị (s: Buddhapāli ) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Giáo Tích Nghĩa Ký của Pháp Sùng (c: Fachong's). 2.Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Đỗ Hành Khải (c:杜行顗) dịch Luận giải bằng tiếng Hán có Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh Thích của Độc Pháp (c: Xufa) 3. Tối Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Địa Bà Ha La (Divākara). Bản Đà La Ni được duyệt lại này xuất hiện trong nhiều nghi quỹ đời Đường như Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp và Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi Quỹ của Bất Không (s:Amoghavajra) và Tôn Thắng Phật Đảnh Tu Du Già Pháp Nghi Quỹ của Thiện Vô Úy (s: Śubhākarasiṃha). 4.Tối Thắng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Địa Bà Ha La (Divākara) dịch 5. Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Nghĩa Tịnh dịch. 6. Tối Thắng Phật Đảnh Đà La Ni Kinh; 1 quyển; Pháp Thiên (s: Fatian) dịch. 7. Nhất Thiết Như Lai Ô Sắc Ni Sa Tối Thắng Tổng Trì Kinh; Pháp Thiên (s: Fatian) dịch; là bản phiên âm tương ưng với bản dịch của Chỉ Không (Dhyānabhadra). 8. Ô Sắc Sa Tỳ Tả Lý Đà La Ni; 1 quyển ; Chỉ Không (Dhyānabhadra) dịch.Ấn bản tiếng Sanskrit: Anecdota Oxonensiāryan Series, quyển 1, phần III của F. Max Müller và Bunyu Nanjio, Oxford xuất bản năm 1884. Phật Đảnh Phóng Vô Cấu Quang Minh Nhập Phổ Môn Quán Sát Nhất Thiết Như Lai Tâm Đà La Ni. 佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經 [ja] ブッチョウホウムクコウミョウニュウフモンカンサツイチサイニョライシンダラニキョウ Bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō ||| Skt. Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī; Tib. kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs [To.599/983, P.206/608]; (Dhāraṇī of the [Immaculate Buddha-Corona's Emitted Light Beaming Through Ubiquitous Portals Contemplated as the] Essence of the Tathāgatas). 2 fasc. (T 1025.19.721-726), abbr. Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī 如來心經, tr. Dānapāla 施護. Source text for a maṇḍala revolving around Vimaloṣṇīṣa [Ngor.10]. This dhāraṇī is inscribed on the archway at Juyong Guan 居庸關, near Beijing, in Sanskrit, Tibetan, Chinese, Uighur, Mongol, and Tangut. BGBT4/105 => (s:Samantamukha-praveśara-śmivimaloṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamāvalokita-dharaṇī); (t: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs). 2 quyển, tên gọi tắt là Như Lai Tâm Kinh (s:Tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thi Hộ (Dānapāla) dịch. Phát xuất của Kinh văn là về một mạn-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai) [Ngor.10]. Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan, ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Sanskrit, Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông cổ, và tiếng Tangut.
Phật đảnh đại bạch tán cái đà-la-ni kinh 佛頂大白傘蓋陀羅尼經
[ja] ブツチョウダイビャクサンカイタラニキョウ Butchō dai byakusankai darani kyō ||| The Foding da baisangai tuoluoni jing; see Da foding rulai fangguang xidaduoboda tuoluoni 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼. => (c: Foding da baisangai tuoluoni jing). Xem Đại Phật đảnh Như Lai phóng quang tất đát đa bát đát đà-la-ni (c: Da foding rulai fangguang xidaduoboda tuoluoni 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼).
phật đầu trước phẫn
2756禪林用語。於佛頭上附著糞便,轉指本質善,而附著不善者。此一用語係出自景德傳燈錄卷七如會禪師(744~823)章所載,一日,相國崔公前往湖南東寺,見鳥雀於佛頭上拉屎,乃問如會(大五一‧二五五中):「鳥雀還有佛性也無?」如會答道:「有。」崔相國遂謂:「為什麼向佛頭上放糞?」師乃答以:「是伊為什麼不向鷂子頭上放?」其後,禪林中多以「佛頭著糞」一語形容本質善而附著不善之事物,一般世人亦常援引此語形容類似情況。如典籍便覽所載:「歐公修五代史,或作序冠其上,王荊公曰:『佛頭上豈可著糞乎?』」
; (佛頭著糞) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trên đầu Phật dính phẩn nhơ. Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ cho bản chất thiện mà dính thêm cả cái bất thiện. Chương Như hội thiền sư trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 255 trung nói: Một hôm, Tướng quốc Thôi công đến chùa Đông tại Hồ nam, thấy con chim sẻ ỉa trên đầu tượng Phật, liền hỏi ngài Như hội: Con chim sẻ có tính Phật hay không? Ngài Như hội trả lời: Có! Thôi tướng quốc hỏi: Vậy tại sao nói ỉa trên đầu Phật? Sư đáp: Con chim ấy tại sao không ỉa trên đầu con chim cắt?
Phật đệ tử
佛弟子; C: fódìzǐ; J: butsudeshi.|Đệ tử của đức Phật. Nghĩa chính xác nhất là 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, như Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa), Xá-lợi-phất (舎利弗; s: śāriputra), Mục-liên (目連; s: maudgalyāyana), A-nan (阿難; s: ānanda)…, nhưng cũng được dùng để gọi chung cả hàng Phật tử tại gia và xuất gia.
phật đệ tử
2627佛陀之弟子。如摩訶迦葉、舍利弗、目犍連、阿難等十大弟子,以及其他佛陀在世時之諸弟子。其後則廣指信仰佛陀之教法者。(參閱「十大弟子」369、「師弟」4095、「釋」6817)
; Disciple of Buddha, Buddhist.
; (佛弟子) Đệ tử của đức Phật, như 10 vị đại đệ tử là Ma ha ca diếp, Xá lợi phất, Mục kiền liên, A nan v.v... cho đến nhiều đệ tử khác lúc đức Phật còn tại thế. Về sau, danh từ đệ tử được dùng để chỉ chung cho những ai tín ngưỡng giáo pháp của đức Phật. (xt. Thập Đại Đệ Tử, Sư Đệ, Thích).
Phật đệ tử 佛弟子
[ja] ブツデシ butsudeshi ||| Disciple(s) of the Buddha. In the strictest sense, refers to the ten primary disciples of Śākyamuni, such as Mahākāśyapa 摩訶迦葉, Śāriputra 舎利弗, Maudgalyāyana 目連, Ānanda 阿難, etc., but can also be used in a general sense to refer to both lay and monastic Buddhist practitioners. => Đệ tử của Đức Phật. Nghĩa chính xác nhất là 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Ma-ha Ca-diếp(s: Mahākāśyapa), Xá-lợi-phất (s: Śāriputra), Mục Liên (s: Maudgalyāyana), A-nan (s: Ānanda)..., nhưng cũng được dùng để gọi chung cả hàng Phật tử tại gia và xuất gia.
phật đỉnh
2723梵語 buddhośṇīṣa,或 uṣṇīṣa(音譯作嗢瑟尼沙、烏瑟尼沙、鬱瑟尼沙)。意譯髻、頂髻、肉髻相、無見頂相。為佛三十二相之一。佛之頂骨,自然隆起,呈一髻形,故有肉髻之稱。佛之頂相乃常人所無法見到之殊勝相,表示此種功德之佛像,即稱佛頂尊。在密教,佛頂尊依其表示內容,可分三佛頂(表如來胎藏界三部之德)、五佛頂(表如來之五智)、八佛頂(三佛頂與五佛頂之合稱)、九佛頂、十佛頂等。〔大日經卷一具緣品、一字奇特佛頂經卷上曼荼羅儀軌品、大日經疏卷十、慧琳音義卷四〕(參閱「諸佛頂」6301)
; Butchō (J).
; (佛頂) Phạm: Buddhozịìza, Uwịìwa. Hán âm: Ốt sắt ni sa, Ô sắt ni sa, Uất sắt ni sa. Hán dịch: Kế, Đính kế, Nhục kế tướng, Vô kiến đính tướng. Xương đỉnh đầu của đức Phật tự nhiên nổi cao lên giống như hình búi tóc, là 1 trong 32 tướng của Phật. Đính tướng của Phật là tướng thù thắng mà người thường không có cách nào thấy được, tượng Phật biểu trưng cho công đức ấy, gọi là Phật đính tôn. Trong Mật giáo, căn cứ vào nội dung biểu thị mà Phật đính được chia làm các loại như: Tam Phật đính (biểu thị cho đức của 3 bộ thuộc Như lai Thai tạng giới), Ngũ Phật đính (biểu thị cho 5 trí của Như lai), Bát Phật đính (gọi chung Tam Phật đính và Ngũ Phật đính), Cửu Phật đính, Thập Phật đính... [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Mạn đồ la nghi quĩ trong kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.4]. (xt. Chư Phật đính).
phật đỉnh phá ma kết giới hàng phục ấn
2724請參閱如來心經 或佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經 又作佛頂破魔降伏印。其印契為二無名指及二小指向內反叉,豎二食指,指頭相捻,二中指越二食指上節之背側相拄,二拇指並屈入掌內。此印與大金剛輪印甚為相似。其真言為;唵室唎夜婆醯莎訶。於密教大金真法中,行者以此印契及真言在七處加持,此外,亦常用於護身結界之時,其功德詳載於陀羅尼集經中。昔時釋迦牟尼初成道時,坐於菩提樹下,即先結誦此印言以護身結界、降伏諸魔而成正覺。〔陀羅尼集經卷一〕
; (佛頂破魔結界降伏印) Cũng gọi Phật đính phá ma hàng phục ấn. Ấn kết giới hộ thân, hàng phục các ma ác. Ấn tướng là: Hai ngón vô danh và 2 ngón út hướng vào trong, tréo nhau, 2 ngón trỏ dựng đứng, đầu ngón bấm vào nhau, 2 ngón giữa áp vào lưng đốt (lóng) trên của 2 ngón trỏ, 2 ngón cái đều co vào trong lòng bàn tay. Ấn này rất giống với ấn Đại kim cương luân. Chân ngôn là: Án thất lị dạ bà hê sa ha. Trong Đại kim chân pháp của Mật giáo, hành giả dùng ấn khế và chân ngôn này gia trì ở 7 chỗ trên thân. Ngoài ra, ấn khế này cũng thường được dùng khi kết giới hộ thân. Công đức của ấn này được ghi rõ trong kinh Đà la ni tập. Thủa xưa, khi đức Phật Thích ca mâu ni mới thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, Ngài cũng kết tụng ấn ngôn này để kết giới hộ thân, hàng phục các ma. [X. kinh Đà la ni tập Q.1]. PHẬT ĐÍNH PHÓNG VÔ CẤU QUANG MINH NHẬP PHỔ MÔN QUÁN SÁT NHẤT THIẾT NHƯ LAI TÂM ĐÀ LA NI KINH Gọi tắt: Phật đính phóng quang đà la ni kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Kinh này là Thành tựu pháp thuộc về các kinh quĩ Tạp mật của Mật giáo, nội dung thuật lại việc khi đức Phật ở trên cung trời Đâu suất, tuyên thuyết Đà la ni và pháp Thành tựu cho các Thiên tử nghe, để giải cứu khổ não cho Thiên tử Ma ni tạng vô cấu ở cõi trời Đao lợi. PHẬT ĐÍNH QUỐC SƯ NGỮ LỤC Gọi đủ: Định tuệ minh quang Phật đính quốc sư ngữ lục. Cũng gọi: Nhất ti hòa thượng ngữ lục, Phật đính quốc sư ngữ lục niên phổ tháp minh. Ngữ lục, 5 quyển, do ngài Nhất ti Văn thủ (1608-1646), người Nhật soạn, ngài Văn quang biên tập lại, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung bộ Ngữ lục thu chép các phần: Sắc tự, thị chúng, pháp ngữ, tụng cổ, tán, Phật sự, bảng, biện, cảnh sách, tế văn, thi kệ, niên phổ, phát tháp minh..…. PHẬT ĐÍNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI CHÂN NGÔN Kinh quĩ, 1 quyển, thuộc về pháp Tôn thắng đà la ni trong Mật giáo, do ngài Nhã na người nước Cưu tư dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này trước hết nói về Đà la ni và Chân ngôn, kế đến nói về cách niệm âm Phạm, vẽ tượng, tụng niệm, ấn pháp…... Ngoài ra, những kinh quĩ đồng loại với kinh này còn có: Phật đính tôn thắng đà la ni chú nghĩa và Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ, mỗi thứ 1 quyển, đều do Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường; Phật đính tôn thắng đà la ni biệt pháp, 1 quyển, do ngài Nhã na dịch, cũng đều được thu vào Đại chính tạng tập 19. PHẬT ĐÍNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI KINH SỚ Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Pháp sùng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là sách chú giải kinh Phật đính tôn thắng đà la ni bản dịch của ngài Phật đà ba lợi. Trang trong đầu sách này đề là: Phật đính tôn thắng đà la ni giáo tích nghĩa kí. Nội dung chia làm 10 môn: Giải thích giáo chủ, Dĩ xứ biểu sự, Hiển giáo bị cơ, Kiến thân đồng dị, Xuất kinh tông thể, Thính pháp quĩ nghi, Kiến văn đắc lợi, Thích kinh đề mục, Phiên dịch thời tiết và Y văn phán thích. PHẬT ĐỒ HỘ Phật đồ hộ là cơ sở kinh tế của các chùa viện, do Sa môn thống (Tăng thống)Đàm diệu thời Bắc Ngụy, tâu vua xin thành lập song song với Tăng kì hộ. Tức là cơ sở thu nhận những người phạm trọng tội hoặc đầy tớ nhà các quan đến ở trongcácchùa, cho quét dọn chùa viện hoặc cày cấy ruộng đất. Về sau, tùy theo sự gia tăng ruộng chùa mà tài sản các tự viện cũng dần dần thêm lên, làm mất đi ý nghĩa lúc ban đầu. Năm Kiến đức thứ 3 (574), vì Chu vũ đế diệt Phật nên Phật đồ hộ cũng bị dẹp bỏ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38; Ngụy thư thích lão chí]. PHẬT ĐỒ TRỪNG (232-348) Vị cao tăng người nước Thiên trúc, có thuyết nói là người nước Cưu tư, họ Bạch. Sư có những năng lực rất linh dị, kì bí, như thần thông, chú thuật, tiên tri…... Năm Vĩnh gia thứ 4 (310), đời vua Hoài đế nhà Tây Tấn, sư đến Lạc dương, lúc ấy sư đã 79 tuổi; bấy giờ loạn Vĩnh gia nổi lên, sư không nỡ nhìn cảnh sinh linh đồ thán, nên chống gậy đi thẳng vào đoàn quân của Thạch lặc, thuyết pháp và hiện các thần biến, Thạch lặc rất tin phục, sát khí trong ông tan dần, rồi cho phép người Hán xuất gia làm tăng. Sau khi Thạch lặc qua đời, Thạch hổ lên nối ngôi, càng kính tin sư, tôn là Đại hòa thượng, làm bất cứ việc gì cũng thỉnh ý sư trước rồi mới thực hành. Trong 38 năm, sư xây cất gần 900 ngôi chùa viện, đệ tử xuất gia có tới 1 vạn người, lúc nào cũng có vài trăm người theo hầu sư, trong số đó có những vị Cao tăng tiêu biểu cho đời Tấn như: Đạo an, Trúc pháp thủ, Trúc pháp thải, Trúc pháp nhã, Tăng lãng, Pháp thường, ni An lệnh thủ v.v…... Năm Vĩnh hòa thứ 4 (348), ngày mồng 8 tháng 12, sư thị tịch ở chùa Nghiệp cung, hưởng thọ 117 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.9; Pháp uyển châu lâm Q.31, 63, 76; Phật tổ thống kỉ Q.36; Phật tổ lịch đại thông tải Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.2]. PHẬT ĐỘ Cũng gọi Phật quốc, Phật quốc độ, Phật giới, Phật sát. Chỉ cho cõi Phật ở hoặc thế giới do Phật giáo hóa. Phật độ là cõi Phật giáo hóa, chẳng những chỉ cho Tịnh độ mà còn bao gồm cả uế độ (thế giới hiện thực) của phàm phu. Theo ý nghĩa đó thì cung trời Đâu suất của bồ tát Di lặc và núi Phổ đà lạc ca (Phạm: Potalaka) của bồ tát Quan thế âm, tuy là Tịnh độ nhưng chẳng phải là Phật độ. Vào thời kì đầu của Phật giáo, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Phật độ là chỉ cho thế giới Sa bà nơi đức Phật Thích ca đản sinh. Nhưng về sau, Phật thân quan khai triển nên thân Phật diễn biến thành lí thể của chân như là Pháp thân, còn đức Phật lịch sử là Ứng thân và Hóa thân mà thành thuyết Tam thân. Do quan niệm Ứng thân, Hóa thân mà có thuyết Chân Phật độ và Ứng Phật độ (cũng gọi là Phương tiện hóa thân độ), đồng thời, do thuyết Báo thân mà nảy sinh tư tưởng Báo độ. Bởi sự giải thích về thân Phật có khác nhau, nên có các thuyết 2 Phật độ, 3 Phật độ, 5 Phật độ…... không giống nhau. Trong Đại thừa huyền luận quyển 5, ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận có nêu ra 5 loại Độ là: Bất tịnh, Bất tịnh tịnh, Tịnh bất tịnh, Tạp và Tịnh. Năm loại độ này là do nghiệp của chúng sinh mà có, cho nên gọi là Chúng sinh độ. Lại vì chúng là những cõi nước do đức Phật giáo hóa, nên cũng gọi là Phật độ. Phật độ này được chia làm 4 loại: 1. Phàm thánh đồng cư độ:Phàm phu và thánh nhân ở chung với nhau. 2. Đại tiểu đồng trụ độ: Những người chứng ngộ của Đại thừa và Tiểu thừa (A la hán, Độc giác, Bồ tát đại lực) cùng ở chung. 3. Độc Bồ tát cư độ: Chỉ riêng Bồ tát ở. 4. Chư Phật độc cư độ: Chỉ cho chư Phật ở. Tông Thiên thai lập thuyết 4 độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô ngại độ (cũng gọi Thực báo độ) và Thường tịch quang tịnh độ (cũng gọi Tịch quang độ). Tông Hoa nghiêm lập thuyết 3 độ: Thế giới hải, Quốc độ giới và Liên hoa tạng thế giới. Tông Pháp tướng lập thuyết 3 độ: Pháp tính độ, Thụ dụng độ và Biến hóa độ. Thụ dụng độ lại được chia ra 2 loại là Tự thụ dụng độ và Tha thụ dụng độ, vì thế cũng lập thuyết 4 độ, là cõi nương ở của Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân.Tông Tịnh độ chủ trương đức Phật A di đà có 3 thân(Pháp, Báo, Ứng),cho nên lập thuyết 3 độ: Pháp thân độ (cũng gọi Pháp độ),Báo thân độ (cũng gọi Báo độ)và Ứng thân độ (cũng gọi Ứng độ). Thông thường, Báo độ là nơi đức Phật A di đà cư trụ, được gọi là Cực lạc tịnh độ. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng đây là Chân thực báo độ và thiết lập Phương tiện hóa độ để giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh về Chân thực báo độ. [X. luận Thành duy thức Q.10; Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ; Duy ma kinh lược sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.10 phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối]. (xt. Tứ Độ). PHẬT ĐỨC Phạm: Buddha-guịa. Công đức viên mãn của thân Phật, có 3 thứ:1. Nhân viên đức:Gồm 4 loại: Vô dư tu, Trường thời tu, Vô gián tu và Tôn trọng tu. 2. Quả viên đức: Gồm 4 loại: Trí viên, Đoạn viên, Uy thế viên, Sắc thân viên. 3. Ân viên đức: Có năng lực khiến chúng sinh lìa hẳn 3 đường ác và sinh tử, hoặc đặt chúng sinh vào đường thiện và 3 thừa.Ngoài ra, Phật còn đầy đủ các đức khác như 10 lực, 4 vô úy, 18 pháp bất cộng…... Lại nữa, chư Phật Như lai có vô lượng vô biên công đức như đại từ đại bi, đại hỉ đại xả, Tùy tâm tam ma địa, 4 trí 2 trí, dứt hết các tập khí, hoặc xa hoặc gần đều có thể đến, đi, dừng ở 1 cách tự tại không chướng ngại, trong1 hạt cải có khả năng chứa đựng vô lượng núi Tu di…... [X. kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1; kinh Bồ tát anh lạc Q.11; luận Câu xá Q.27; luận Đại trí độ Q.2]. PHẬT ĐƯỜNG Cũng gọi Phật điện, Đạihùng bảo điện, Đại điện. Điện đường thờ tượng Phật, Bồ tát. Tại Ấn độ, Phật đường được gọi là Kiện đà câu chi (Phạm: Gandhakuỉì), nghĩa là hương thất, hương đài, hương điện. Ở Trung quốc thời xưa trong Thiền môn phần nhiều không xây Phật điện, như trong Thiền môn qui thức của ngài Bách trượng đã qui định, không lập Phật điện, chỉ xây Pháp đường. Tại Nhật bản, các kiến trúc của Thiền tông phần nhiều phỏng theo kiểu mẫu của đời Tống, Trung quốc, tức là xây Phật điện ở trước Pháp đường rồi nối 2 điện đường này với nhau bằng 1 nhà hành lang. [X. kinh Nhất tự đính luân vương Q.1; Tì nại da tạp sự Q.26; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Điện đường môn Thiền lâm tượng khí tiên; Nhật bản kiến trúc sử]. PHẬT GIA Chỉ cho tăng sĩ. Tất cả đạo tràng tu hành trong Phật giáo, trụ xứ của đức Phật, các cảnh giới từ Sơ địa trở lên...… cũng gọi là Phật gia. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Quán Vô lượng thọ kinh sớ Q.cuối (Tuệ viễn)]. PHẬT GIÁC TAM MUỘI Tam muội (Thiền định) nhờ sự gia bị của Phật mà có năng lực giác ngộ như Phật. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1, phần đầu, thì tôn giả A nan từng được Tam muội này. PHẬT GIÁNG SINH TƯỢNG Chỉ cho tượng của đức Phật lúc đản sinh, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất. Cứ theo điều Phật giáng đản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2, thì hằng năm vào ngày đức Phật đản sinh (ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch), 1 cỗ đình kết bằng hoa được thiết trí, ở trong đặt tượng Phật giáng sinh, phía dưới tượng, chuẩn bị 1 chậu nước thơm, sau khi đại chúng bái lễ xong, dùng nước thơm tắm tượng Phật. Phong tục này, cho đến nay, vẫn còn là 1 trong những Phật sự quan trọng hằng năm của Phật giáo. [X. kinh Dục Phật công đức; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Dục Phật). PHẬT GIÁO Phạm: Buddha-zàsana, Buddhà= nuzàsana. Pàli:Buddha-sàsana. Tông giáo do đức Phật Thích ca mâu ni sáng lập tại Ấn độ vào khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, thịnh hành khắp các vùng Nam á, Đông á và Trung á. Nay chia ra những hạng mục sau đây để tiện khảo sát: 1. Về tên gọi: Thời xưa, Phật giáo được gọi là Phật pháp, Đại pháp, Thánh pháp, Thích giáo, Đại giáo, Phật đạo, Chính pháp, Giáo thuyết…... 2. Diễntiến: Vào khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, đức Phật tuyên dương giáo pháp: Khổ, vô thường, vô ngã, duyên khởi, giải thoát…... dọc theo lưu vực sông Hằng ở Ấn độ, đồng thời, nhấn mạnh bất luận người thuộc giai cấp nào cũng có khả năng thực hành giáo pháp của Ngài. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài được các đệ tử kết tập và truyền trì. Khoảng thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục qui y Phật giáo và hết sức truyền bá giáo pháp của Phật ra toàn cõi Ấn độ và các nước lân cận, mà phát triển thành 1 tông giáo có tính chất thế giới, hình thành các giáo phái đặc sắc của các dân tộc. Khoảng thế kỉ I trước Tây lịch ở Ấn độ và Tích lan đã phânlập các bộ phái như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đại chúng bộ, Tích lan thượng tọa bộ…... và Phật giáo Đại thừa, tất cả đều được truyền đến các nước Tây vực và Trung quốc. Khoảng từ thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ VII sau Tây lịch, Phật giáo Đại thừa phát triển rất mạnh, ở Ấn độ chia thành 2 học phái lớn là Trung quán và Du già, rồi dần dần được truyền đến Miến điện, Thái lan, Cao miên, Sumatra, Java, Nepal, Tây tạng, Việt nam, Hàn quốc, Nhật bản v.v… Tại Trung quốc, thuộc hệ thống Bộ phái thì có các tông Tì đàm, Câu xá (chính hệ) và Thành thực (bàng hệ); thuộc hệ thống Trung quán thì có tông Tam luận, thuộc hệ thống Du già thì có các tông Địa luận, Nhiếp luận và Pháp tướng. Ngoài ra còn có các tông Niết bàn, Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ, Thiền tông...… đều rất thịnh. Những tông phái trên, về sau, đều được truyền sang Nhật bản, gọi là Nam đô lục tông. Khoảng từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII Tây lịch, Mật giáo Ấn độ được thành lập và hưng thịnh, trong thời gian ấy có các ngài Tịch hộ, Liên hoa sinh, A đề sa…... kế tiếp nhau truyền Mật giáo vào Tây tạng và Mông cổ. Tại Trung quốc, Mật giáo đã từng hưng thịnh 1 thời, có thể sánh ngang với Thiền tông, Tịnh độ tông...… Ở Nhật bản, vào thời gian này, các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ, Thiền, Nhật liên...… cũng phát triển rất mạnh. Đến đây, Phật giáo đã bành trướngthành1 tông giáo lớn nhất tại châu Á. Nhưng, từ thế kỉ XIV về sau, do sự truyền bá của Hồi giáo nên tình thế đã thay đổi lớn lao. Nghĩa là bắt đầu từ thế kỉ XI, XII, Hồi giáo xâm lăng Ấn độ và đã hoàn toàn tiêu diệt Phật giáo, không những giết hại các sư, đốt phá kinh tượng, chùa tháp, mà cả đến cây Bồ đề (chỗ đức Phật thành đạo) cũng bị tín đồ Hồi giáo đào tận gốc! Vào thế kỉ XV, Hồi giáo từ Ấn độ truyền đến bán đảo Mã lai; rồi sau đó truyền sang Nam dương, kết quả, Phật giáo ở các nơi này cũng bị tiêu diệt. Mặt khác, Hồi giáo từ nước Iran truyền vào các nước Tây vực và Tây bộ Trung quốc, ở đây, Phật giáo cũng chịu chung 1 số phận như tại các nơi khác. Đến thế kỉ XIX, Âu châu khởi xướng phong trào nghiên cứu Á châu (Đông phương học và Ấn độ học), từ đó Phật giáo mới dần hồi phục. Đến nay, Phật giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo đều được coi là các tông giáo lớn trên thế giới. 3. Giáo nghĩa: Qua hơn 2.500 năm truyền bá và phát triển, trong Phật giáo đã phát sinh nhiều học phái và tông phái, cho nên về mặt giáo nghĩa cũng có khuynh hướng đa dạng và phức tạp. Nói 1 cách đại thể thì các thuyết nói về sự cấu thành và khởi diệt của thế giới như: Núi Tu di, địa ngục, cõi trời, kiếp mạt...… đều là kế thừa tư tưởng Ấn độ cổ đại, cũng như các thuyết nói về nghiệp, khổ, luân hồi, giải thoát...… thì là mở rộng thêm tư tưởng Ấn độ đã có sẵn từ xưa. Còn các giáo pháp căn bản và đặc thù của Phật giáo thì có: Tam pháp ấn: Vô thường, vô ngã, Niết bàn; Tứ đế: Khổ, tập, diệt, đạo (tứcBát thánh đạo), Thập nhị nhân duyên (Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử)…... Đây là tiêu chuẩn phân biệt Phật giáo với các tông giáo khác, vì những giáo pháp này chỉ có trong Phật giáo mà thôi. 4. Văn hóa: Ngoài việc truyền bá nội dung tư tưởng giáo lí vốn đã rất phong phú, đối với lịch sử văn hóa – người Ấn độ từ nghìn xưa rất thờ ơ với quan niệm lịch sử – Phật giáo đã là môi giới truyền đến Trung quốc những ngành học thuật của Ấn độ như: Thiên văn, Lịch pháp, Âm vận, Âm nhạc, Y học...… Về phương diện mĩ thuật thì đặc biệt điêu khắc, hội họa, kiến trúc…... của Phật giáo đã có ảnh hưởng rất sâu xa ở nhiều vùng trên thế giới, điều đó thiết tưởng không cần phải nói. 5. Hiện tình: Hiện nay, các nước Phật giáo phần nhiều đã từ khuynh hướng tĩnh tu tự độ, chuyển sang lãnh vực hoằng pháp độ tha, tích cực tham gia các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, từ thiện, xã hội…... tạo môi trường cho tín đồ dễ thân cận Phật giáo hơn. Ngoài ra còn chú trọng đến mối liên hệ quốc tế, như tổ chức hội nghị Học thuật Phật giáo quốc tế, hội Hữu nghị Phật giáo đồ thế giới, hội Thanh niên Phật giáo thế giới, Giáo hội Tăng già thế giới, để xúc tiến công cuộc dung hợp các nước Phật giáo trên thế giới. (xt. Phật Giáo Giáo Lí). PHẬT GIÁO ÂM NHẠC Âm nhạc Phật giáo. Bộ Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) xuất hiện vào khoảng từ 2.000 năm đến 1.500 năm trước Tây lịch, trong đó, phương pháp ca vịnh trong bộ Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) được ghi chép và trình bày, từ đó đặt ra nền tảng cho Thanh minh và Phạm bái. Nền âm nhạc Phật giáo kế thừa phương pháp này mà đặt ra Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Cô khởi tụng). Phương pháp này được các ngài Bạt đề, Ưu bà lợi, Mục liên, A nan, Nan đà, Bà kì xá...… sử dụng. Về sau, ngài Mã minh cũng dùng thể Già đà để soạn vở kịch thơ Lại tra hòa la ca ngợi tôn giả Lại tra hòa la (Phạm: Rawỉrapàla, Pàli: Raỉỉhapàla). Ngoài ra, theo truyền thuyết, khi ngài Long thụ mở tháp sắt Nam thiên để nhận lãnh pháp Quán đính từ bồ tát Kim cương tát đóa, lúc tụng trì mạn đồ la bí mật tối thượng, cũng làm bài ca khen ngợi Kim cương. Đến thời đại vua A dục, thể loại âm nhạc Phật giáo đã rất phong phú. Đến giữa thế kỉ II Tây lịch, thời vua Ca nị sắc ca, âm nhạc Phật giáo Ấn độ hưng thịnh lạ thường, đồng thời được truyền đến các nước vùng Trung á như: Vu điền, Cưu tư, Sớ lặc…... Đến thế kỉ VI, VII, thời vua Giới nhật (Phạm:Sìlàditya) tại vị, âm nhạc Phật giáo Ấn độ phát triển đến thời kì toàn thịnh, rồi 1 nhánh vượt dãy Thông lãnh, qua phía nam núi Thiên sơn, lấy nước Cao xương (Thổ lỗ phiên)làm trung tâm mà phát đạt. Về sau, âm nhạc Phật giáo Ấn độ được truyền đến cung đình nhà Đường, Trung quốc, phát triển thành vũ nhạc của triều Đường đạt đến cao độ. Thời Phật giáo bộ phái, vì giới luật nghiêm khắc nên âm nhạc và ca vũ hoàn toàn bị cấm, do đó âm nhạc Phật giáo không thể phát đạt. Nhưng sau thời Phật giáo Đại thừa hưng khởi, trong các pháp hội quan trọng, thì ca vũ, nhạc kịch thường được biểu diễn để trang nghiêm, cúng dường, nhờ thế mà âm nhạc Phật giáo phát triển nhanh chóng. Vở ca kịch đại qui mô đầu tiên của Phật giáo là Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda, Niềm vui mừng của vua rồng), do vua Giới nhật soạn vào thế kỉ VII. Đến cuối thế kỉ VII, vì Phật giáo rơi vào tình cảnh suy đồi, cho nên âm nhạc Phật giáo Ấn độ cũng tàn tạ ngay trên mảnh đất mẹ để dời đến các nước vùng Đông nam á như: Miến điện, Thái lan, Cao miên, Nam dương…... Riêng ở Trung quốc, tuy kinh điển Phật giáo đã bắt đầu được phiên dịch từ thời Đông Hán, nhưng đã không thể sử dụng được Phạm bái do Phật giáo truyền đến để ca tụng. Đến thời đại Tam quốc, có vị tăng người Khang cư đến đất Thục và truyền cách ca xướng của người Iran. Mãi đếnthời Vũ đế nhà Ngụy, Trần tư vương Tào thực, 1 thiên tài về âm nhạc, vốn rất say mê Phạm khúc, ông từng sáng chế pháp thức Phạm bái riêng của Trung quốc ở Ngư sơn, huyện Đông a, tỉnh Sơn tây. Nền tảng Thanh minh của Trung quốc từ đó mới được thiết lập, thay vì dùng cách ca xướng Thất âm giai như Ấn độ thì Trung quốc dùng Ngũ âm giai(Cung, Thương, Dốc, Chủy, Vũ. Thêm vào 2 âm Phục cung và Phản chủy, thì thành Thất âm). Đến thế kỉ VIII, các ngài Thiện vô úy, Kim cương trí, Bất không...… lần lượt đến Trung quốc truyền bá Mật giáo, từ đó, phương thức Phạm bái Ấn độ mới dần dần lưu hành ở Trung quốc. Theo sự khảo chứng của các nhà chuyên môn, thì Phạm bái của Trung quốc có rất nhiều điểm giống với khúc dân gian và khác xa với tính chất Thanh minh của Nhật bản cận đại.Về những nhạc khí được sử dụng trong âm nhạc Phật giáo thì thông thường có 3 loại: Huyền (Phạm: Vìịà,đàn), Quản (Phạm: Vaôzì, ống sáo) và Đả (Phạm: Dundibhi, trống, chiêng, mõ…...). Từ thế kỉ II trở đi, đàn Tì bà 5 dây cũng được sử dụng, hoặc đàn Trang ân (Tsuan, xưa có 7 dây, sau đổi thành 13 dây) như ở Miến điện; hoặc đàn Ngạc cầm (Magyun) và đàn Cơ vượng (Kyiwain) ở Thái lan v.v...…; hoặc như thanh la, não bạt, chuông, khánh, mõ…... ở Tây tạng, Trung quốc, Việt nam…... Tóm lại, âm nhạc Phật giáo phát sinh từ Ấn độ, nhưng khi truyền đến các nước khác thì lại tùy theo nền văn hóa, cũng như phong tục, tập quán, tính tình của mỗi dân tộc mà mang sắc thái đặc thù của mỗi nước. Và, khác với âm nhạc thế gian, âm nhạc Phật giáo nhằm thăng hoa đời sống tâm linh, đưa tâm hồn con người đến cảnh giới thanh tịnh, siêu thoát và hướng thiện, chứ không nhằm kích động lòng tham dục và đưa tinh thần con người vào cảnh say mê, cuồng loạn. [X. Tông giáo âm nhạc (Điền biên Thượng long); Phật giáo âm nhạc dữ Thanh minh (Đại sơn Công thuần); Phật giáo âm nhạc chi nghiên cứu (Nhật bản Đông dương âm nhạc học hội biên)]. PHẬT GIÁO BÁC VẬT QUÁN Nơi bảo tồn những vật quí báu của Phật giáo. Ở Ấn độ từ xưa đã có tập quán bảo tồn các tượng Phật, bích họa...… trong các chùa viện để giúp cho việc tu đạo, cũng tương tự như các viện Bảo tàng cất giữ các tác phẩm nghệ thuật quí giá, có tác dụng giáo dục dân chúng vậy. Ở Trung quốc và Nhật bản, tín đồ thường đem những di vật quí báu cúng dường các chùa viện. Những bảo vật được tàng trữ ở các chùa viện, ngoài những di phẩm của Phật giáo ra, còn có tác phẩm nghệ thuật phổ thông có tính cách quốc tế, nổi tiếng hơn cả là viện Chính thương của chùa Đông đại tại Nhật bản. Còn ở Trung quốc, những năm gần đây, giới Phật giáo thiết lập Bảo vật quán trong các chùa viện ngày một nhiều, trong đó, nổi tiếng nhất cả trong nước lẫn ngoài nước là cơ sở Phật giáo Văn Vật Trần Liệt Quán do Phật quang sơn thiết lập tại Cao hùng. PHẬT GIÁO BÁCH KHOA TOÀN THƯ Encyclopedia of Buddhism. Bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo bằng tiếng Anh, do Tiến sĩ G.P. Malalasekera làm chủ biên và chính phủ Tích lan xuất bản. Tập thứ nhất của bộ sách này được ấn hành vào năm 1961, sau khi Tiến sĩ Malalasekera qua đời, bộ sách vẫn được tiếp tục. Nhà xuất bản mời các học giả nổi tiếng trên thế giới của thế kỉ XX hợp tác biên soạn bản thảo. Trong đó có các học giả Trung quốc như: Pháp tôn, Lữ trừng, Chu thúc ca, Lí chứng cương, Cao quán như, Hoàng sám hoa v.v…... PHẬT GIÁO BÍCH HỌA Tranh tường của Phật giáo. Người Ấn độ thời xưa thường dùng bích họa để trang nghiêm Phật đường, hoặc ở Giảng đường, Trai đường, nhà tắm...… Nội dung các bức tranh này đều có liên quan đến Phật giáo, như vẽ các cảnh hiện thần thông, bánh xe luân hồi sinh tử trong 5 đường, tích truyện tiền thân của đức Phật, cảnh địa ngục v.v…... Trong các tác phẩm điêu khắc, kiến trúc, các di chỉ của chùa viện đời xưa ở Bắc Ấn độ còn sót lại đến nay, như trong chùa viện hang đá ở vùng A chiên đa (Phạm: Àjantà) phía đông Bombay, người ta đã phát hiện những bộ phận của các bức bích họa đã phai màu và tróc lở, phần lớn được hoàn thành từ thế kỉ IV đến thế kỉ XI. Trong các ngôi chùa viện kiến trúc bằng gỗ, thì phần nhiều người ta tô 1 lớp keo trắng trên vách gỗ, rồi trực tiếp vẽ các bức tranh nhiều màu trên đó. Nhưng các bức họa trong động đá thì hơi khác, tức là tô 1 lớp sơn mỏng màu xám lên các chỗ như tường vách, trần nhà, đầu cột...… rồi sau đó mới vẽ; những họa phẩm này trải qua cả nghìn năm mà màu sắc vẫn tươi đẹp, tuy có nhiều chỗ bị tróc lở. Tại Trung quốc, các bức bích họa xưa nhất có thể khảo chứng được là các bích họa đời Hán, lúc bấy giờ Phật giáo mới được truyền vào nên việc tạo tượng, vẽ tranh rất được chú trọng, nhất là các chùa viện ở miền Nam, bích họa được coi là chủ yếu, còn ở miền Bắc thì phần nhiều chú trọng việc tạo tượng trong hang đá, như các chùa hang đá ở Vân cương, Long môn, núi Mạch tích, núi Thiên long, huyện Củng…... đều là những nơi nổi tiếng về nghệ thuật tạc tượng đá của Phật giáo Trung quốc. Người tiên phong về nghệ thuật vẽ tranh Phật ở phương Nam là cha con ông Đới quì, Đớingung đời Tấn, các bức họa của 2 cha con ông đều đã đạt đến trình độ nghệ thuật viên mãn. Ông Cố khải chi vẽ tượng ngài Duy ma cật, ánhsáng chiếu khắp nhà, trở thành khuôn mẫu cho muôn đời. Những bích họa cổ được bảo tồn trong nội địa Trung quốc hiện không có bao nhiêu, nhưng trong hang Mạc cao núi Minh sa ở phía nam huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc thì vẫn còn nhiều bích họa từ thời Lục triều trở về sau. Đến đời Đường thì có Ngô đạo tử xuất hiện và được tôn là Bách Đại Họa Thánh (ông Thánh hội họa của trăm đời). Đến đời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), bích họa trong các chùa viện vẫn còn thịnh. Nhưng qua thời Ngũ đại sang đến đời Tống, vì bích họa chịu ảnh hưởng của hội họa phát triển, nên nội dung Phật giáo đã dần dần suy thoái. Đến các đời Liêu, Kim và Nguyên, tuy không còn được như xưa, nhưng bích họa trong các chùa viện vẫn còn giữ được nội dung Phật giáo. Song, từ các đời Minh, Thanh trở đi thì tác phẩm hội họa của các sĩ đại phu đã thấy xuất hiện trên tường vách của chùa viện, thường miêu tả các truyền thuyết dân gian mà người đời ưa thích. Như ngoài Phật Thích ca, bồ tát Quan âm, La hán, Dược vương…... còn đắp vẽ các tích truyện và nhân vật nổi tiếng trong các tiểu thuyết như: Quan vũ, Trương phi, Tây du kí, Phong thần bảng, Thi công án v.v…... Tại Nhật bản, thì sớm nhất là vào thời đại Bạch phượng bích hoạ đã thịnh hành. [X. The Cave Temples of India, 1880, by J.Burgess; The Paintings of The Buddhist Cave Temples of Ajanta, 2 vols., 1896- 1900, by J.Griffiths; Buddhist Cave Temples of India, by Wauchope; Buddhist Wall-paintings, 1932, by L.Warner; Misson Archéologique dans la Chine Septentrionale, Tome 5, 1909-1915, par E.Chavannes]. PHẬT GIÁO CÁC TÔNG CƯƠNG YẾU Tác phẩm 12 quyển, 5 tập, do Hiệp hội các tông phái Nhật bản biên soạn. Nội dung sách này trình bày về sử truyện và đại cương tông nghĩa của 12 tông phái trong Phật giáo Nhật bản. Dưới phần sử truyện của mỗi tông đều có nêu 2 đoạn lịch sử và Kỉ truyện, phần đại cương tông nghĩa thì chia làm 4 đoạn: Chính y kinh điển, Tông danh, Phán thích và Tông ý. Trong quyển đầu tập 1 có bài tựa,phàm lệ, tổng luận, cuối quyển 5 có lời bạt của ngài Mặc lôi. PHẬT GIÁO CẢI CÁCH Sự cải cách trong Phật giáo qua thời gian và không gian. 1. Phật giáo Ấn độ: Cuộc cải cách lần đầu tiên diễn ra khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, bấy giờ các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì (Phạm: Vajji) ở Tì xá li (Phạm: Vaizàlì) đặt ra thuyết mới gồm 10 điều, gọi là Thập sự để giải thích về Luật. Để xem thuyết mới Thập sự này có đúng với Luật hay không, 1 Đại hội kết tập được tổ chức tại Tì xá li với sự tham dự của 700 vị tỉ khưu đem ra thảo luận biểu quyết và cuối cùng quyết định Thập sự là phi pháp. Trong Đại hội, đa số tỉ khưu không chấp nhận quyết định này, do đó, giáo đoàn nguyên thủy đã chia làm 2 phái: Phái Cách tân đa số chấp nhận Thập sự và phái Bảo thủ thiểu số phủ định Thập sự. Phái đa số được gọilàĐại chúng bộ và phái thiểu số được gọi là Thượng tọa bộ. Từ đó về sau lại tiếp tục cải cách và kết quả đã đưa đến việc thành lập Phật giáo Đại thừa. Trong thời đại Phật giáo bộ phái, Bồ tát đoàn lấy tháp Phật làm trung tâm, tồn tại song song với giáo đoàn tỉ khưu. Bồ tát đoàn kết hợp những tỉ khưu có đầu óc đổi mới, rồi vào khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch đã phát triển thành giáo đoàn Phật giáo Đại thừa. Giáo đoàn này không phân biệt xuất gia, tại gia, biên tập kinh điển mới, tin tưởng vững chắc rằng tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Sự thành lập Phật giáo Đại thừa đã tạo thành cuộc cải cách lịch sử của Phật giáo Ấn độ mà trước đó chưa xảy ra. 2. Phật giáo Trung quốc: Do những nhân tố chính trị, tăng sĩ thối nát, hoặc do sức épcủa Đạo giáo, Nho giáo, nên thường nảy sinh những sự kiện phá Phật, phế Phật, nhưng nhờ nội bộ giáo đoàn Phật giáo tự giác vận động cải cách, nên không đến nỗi bị tiêu diệt. Sau khithời Dân quốc được kiến lập, Phật giáo từng gánh chịu các cuộc phá hoại đại qui mô, bấy giờ nhờ các ngài Thái hư, Thường tỉnh, Đại tỉnh...… đề xướng công cuộc đổi mới tăng đoàn, thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới, nên mệnh mạch Phật pháp được hồi phục. Phỏng theo chuẩn tắc của chủ nghĩa Tam dân, các ngài đề xướng chủ nghĩa Tam Phật: Phật tăng, Phật hóa và Phật quốc. Chủ nghĩa Phật tăng nhằm xúc tiến việc đổi mới Tăng đoàn; chủ nghĩa Phật hóa thì vận động tăng tục toàn quốc đoàn kết 1 lòng đạt đến nhất thể hóa, mưu cầu Phật giáo hóa xã hội; chủ nghĩa Phật quốc nhằm đẩy mạnh công cuộc Tịnh độ hóa Trung quốc, mọi người đều thực hành hạnh Bồ tát. Song song với chủ trương canh tân cấp tiến này, có các ngài Viên anh...… vận động đổi mới theo chủ nghĩa bảo thủ, tiệm tiến. Trong 1 thời gian, Phật giáo từ tình trạng suy đồi kéo dài, đã dần dần tiến tới phục hưng. 3. Phật giáo Tây tạng: Sau khi được truyền thừa giới luật, ngài Tông khách ba (Tạng: Tsoí-kha-pa, 1355-1415) sáng lập phái Hoàng mạo (phái đội mũ màu vàng), chỉnh lí lại nội dung giáo học, đổi mới tổ chức giáo đoàn, chủ trương nghiêm trì giới luật, xóa sạch các tập tục hủ lậu đã tồn tại trong Lạt ma giáo suốt 1 thời kì lâu dài như: Rơi vào chú thuật, có vợ, ăn thịt uống rượu, tranh giành quyền lợi...…Đây cũng là cuộc vận động cải cách Phật giáo lớn lao. 4. Phật giáo Nhật bản: Vào thời đại Liêm thương, ngài Thân loan thành lập Tịnh độ chân tông, ngài Đạo nguyên khai sáng tông Tào động, ngài Nhật liên mở ra tông Nhật liên. Có thể nói, 3 biến cố trên là cuộc cải cách lớn nhất của Phật giáo Nhật bản. Ba vị Tông tổ trên đây đều đã từng học tập giáo nghĩa của nền Phật giáo cũ ở núi Tỉ duệ, các ngài cho rằng các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tam luận, Pháp tướng...… đã xa lìa đại chúng, không khỏi rơi vào nền Phật giáo trừu tượng và học vấn hóa, cho nên các ngài lần lượt đề cao các pháp môn niệm Phật, ngồi thiền, xướng tụng đề kinh…..., làm sống lại niềm tin của quảng đại dân chúng tín đồ, hầu mở ra 1 kỉ nguyên mới cho sự phát triển của Phật giáo Nhật bản. PHẬT GIÁO DI TÍCH Những di tích Phật giáo. Tức là những dấu vết có liên quan đến Phật, Bồ tát và các bậc Tổ sư nhiều đời còn để lại cho người sau. 1. Ấn độ: Vua A dục xây tháp ở những nơi như Phật đản sinh (vườn Lâm tì ni), thành đạo (Bồ đề tràng),chuyển pháp lần đầu tiên (vườn Lộc dã) và Niết-bàn (thành Câu thi na); sau vua lại xây tháp ở 4 nơi mà đức Phật đã thuyết pháp là: Vườn Kì thụ Cấp cô độc, thành Khúc nữ, thành Vương xá và thành Quảng nghiêm, gọi chung là Bát đại linh tháp. 2. Trung quốc: Về di tích của các bậc Tổ sư cao tăng thì có: Lô sơn của ngài Tuệ viễn, núi Thiếu thất của ngài Bồ đề đạt ma, chùa Huyền trung của ngài Đàm loan, núi Thiên thai của ngài Trí khải, chùa Nam hoa ở Tào khê của ngài Tuệ năng...… Về di tích mà Bồ tát hiển hiện thì có: Núi Ngũ đài của bồ tát Văn thù, núi Phổ đà của bồ tát Quan âm, núi Nga mi của bồ tát Phổ hiền, núi Cửu hoa của bồ tát Địa tạng…... 3. Nhật bản: Có nhiều di tích như chùa Pháp long của Thái tử Thánh đức, núi Tỉ duệ của ngài Tối trừng, 88 cơ sở của ngài Không hải, 25 đạo tràng của ngài Pháp nhiên, 24 bối của ngài Thân loan…... [X. Asoka, the Buddhist Emperor, 1901, by Vincent Smith; The Bhilsa Topes, 1854, by Sir Alaxander Cunningham; Nouvelles Recherches Archéologiques à Bàmiyàn, 1933, par J.Hackin]. PHẬT GIÁO ĐẠI HỆ Tác phẩm, 64 tập, do Hội Phật giáo đại hệ san hành của Phật giáo Nhật bản ấn hành, bắt đầu từ năm Đại chính thứ 6 (1917) đến năm Chiêu hòa 13 (1938) mới hoàn tất. Đây là tác phẩm tập đại thành chính văn và các sách chú thích, tiêu biểu của khoảng 130 bộ luận sớ chủ yếu trong Phật giáo như: Câu xá luận, Thất thập ngũ pháp, Lược thuật pháp tướng nghĩa, Thành duy thức luận, Tam luận đại nghĩa sao, Tam luận huyền nghĩa, Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính, Kim sư tử chương, Đại thừa khởi tín luận, Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Tịnh độ tam bộ kinh, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, Giáo hành tín chứng, Tứ thiếp sớ, Pháp hoa huyền nghĩa, Thiên thai tứ giáo nghi, Ma ha chỉ quán, Quán tâm bản tôn sao, Đại nhật kinh sớ, Khai mục sao, Chính pháp nhãn tạngv.v…... PHẬT GIÁO ĐẠI TỪ VỰNG Tác phẩm gồm 7 tập, do Đại học Phật giáo (Đại học Long cốc hiện nay)của phái Bản nguyện tự thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản soạn. Bộ sách này bắt đầu được biên soạn vào năm Minh trị 41 (1908) để kỉ niệm ngày giỗ thứ 650 của ngài Thân loan, Tổ khai sáng Tịnh độ chân tông Nhật bản. Nội dung biên tập các hạng mục có liên quan đến Tịnh độ chân tông, rất đầy đủ và rõ ràng. Ngoài ra còn nói rộng về sự biến thiên, chế độ, giáo nghĩa của các tông phái khác, về Phật, Bồ tát, quỉ thần và về động thực vật, nhân danh, kĩ nhạc, chùa miếu…... tổng cộng 23.000 hạng mục, cùng với 1.500 tranh ảnh minh họa. Năm Chiêu hòa 47 (1972) có thêm mục sách dẫn 1 quyển và ấn hành. PHẬT GIÁO ĐỒ THƯ QUÁN Thư viện Phật giáo. Căn cứ vào sự ghi chép trong các văn hiến cũng như sự khảo chứng về di tích, thì trong các chùa lớn ở Ấn độ thời xưa như chùa Na lan đà (Phạm: Nàlanda)...… không thấy có thiết lập thư viện riêng để tàng trữ kinh điển. Nhưng ở Trung quốc, bắt đầu từ thời Nam Bắc triều đã kiến thiết Kinhtàng, cũng gọi Kinh lâu, Kinh khố, Kinh đường, Kinh các, Pháp bảo điện, Chuyển luân tạng, Tì lô điện…... tức là nơi để tàng trữ kinh điển. Từ đó về sau, dần dần các chùa viện lớn trên khắp nước Trung quốc đều có tạo lập Kinh tàng và được truyền nối từ đời này qua đời khác. Thời Ngũ đại, vua Ngô Việt họ Tiền yêu cầuQuốc sư Đức thiều thuộc tông Thiên thai xây dựng Kinh tàng, trong vài năm, chỉ ở Hàng châu không thôi, đã có 10 Kinh tàng. Như vậy đủ biết việc kiến thiết Kinh tàng ở đương thời đã phổ cập đến mức nào. Đến đời Tống, sau khi Đại tạng kinh đã được khắc bản và ấn hành, thì việc xây dựng Kinh tàng để cất giữ Đại tạng lại cần thiết hơn nữa. Thông thường, trong các Kinh tàng với qui mô tương đối lớn, không những chỉ tàng trữ Đại tạng kinh hoặc những sách vở của Phật giáo không thôi, mà những điển tịch truyền thống ngoài đời, nếu có thể giúp ích cho việc nghiên cứu, học tập Phật pháp thì cũng được trân trọng cất giữ. Nhất là trong các thư viện của Phật giáo hiện đại, ngoài Đại tạng kinh và nội ngoại điển nói chung, như Phật giáo tùng thư, các tạp chí định kì, các loại sách từ điển...…, những tác phẩm nổi tiếng thuộc lãnh vực tư tưởng, triết học, tông giáo, văn
phật đỉnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quan sát nhất thiết như lai tâm đà la ni kinh
2724請參閱佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經 或 如來心經凡二卷。宋代施護譯。略稱為佛頂放光陀羅尼經。收於大正藏第十九冊。屬於密教雜密經軌之成就法。本經之緣起,係佛於睹史多天宮時,為救濟忉利天摩尼藏無垢天子之苦惱,乃為諸天子宣說二則陀羅尼及其成就法。
Phật đỉnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni kinh
佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經; C: fódǐng fàngwúgòu guāngmíng rù pǔmén guānchá yīqiè rúláixīn tuóluóní jīng; J: bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō; S: samantamukha-praveśara-śmivimalo-ṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamā-valokita-dharaṇī; T: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs.|2 quyển, tên gọi tắt là Như Lai tâm kinh (如來心經; s: tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch. Kinh văn gốc về một man-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai). Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan (居庸關), ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Phạn (sanskrit), Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông Cổ, và tiếng Tangut.
phật đỉnh quốc sư ngữ lục
2724凡五卷。全稱定慧明光佛頂國師語錄。又作一絲和尚語錄、佛頂國師語錄年譜塔銘。日僧一絲文守(1608~1646)撰,文光重編。收於大正藏第八十一冊。集錄敕序、示眾、法語、頌古、贊、佛事、榜、辨、警策、祭文、詩偈、年譜、髮塔銘等。
phật đỉnh tôn thắng đà la ni chân ngôn
2724請參閱 佛頂國師語錄 全一卷。唐代龜茲國僧若那譯。收於大正藏第十九冊。屬密教尊勝陀羅尼法之經軌。其內容,初述陀羅尼和真言,次則宣說學念梵音法、畫像法、念誦法、印法等。此外,與本經同類之儀軌尚有佛頂尊勝陀羅尼注義及佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌,均為唐代不空所譯,亦各為一卷。佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌,略稱尊勝陀羅尼儀軌,內容詳載塗壇法、胎之護身法、辟除結界等,並有息災、增長、降伏、敬愛等四種法。另有若那譯之佛頂尊勝陀羅尼別法,全一卷。最初敘說畫像法,次乃說明三十八種之成就法。以上均收於大正藏第十九冊。
phật đỉnh tôn thắng đà la ni kinh sớ
2724請參閱尊勝陀羅尼經 凡二卷。唐代法崇撰。為佛頂尊勝陀羅尼經(佛陀波利譯)之注疏。收於大正藏第三十九冊。內題為佛頂尊勝陀羅尼教跡義記。內容共分十門:(一)釋其教主,(二)以處表事,(三)顯教被機,(四)見身同異,(五)出經宗體,(六)聽法軌儀,(七)見聞得利,(八)釋經題目,(九)翻譯時節,(十)依文判釋。
Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh
佛頂尊勝陀羅尼經; C: fódǐng zūnshèng tuóluóní jīng; J: bucchō sonshō daranikyō; S: uṣṇīṣavijayādhāraṇī; T: de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa;|Kinh nói về sự thù thắng vi diệu của Phật đỉnh (Tôn thắng Phật đỉnh 尊勝佛頂; s: uṣṇīṣavijayā), có năng lực làm tăng tuổi thọ và tiêu trừ khổ nạn sinh tử luân hồi. Bản văn thứ tư trong Bảy bộ sao lục (s: saptavāra). Các bản dịch của kinh nầy còn lưu truyền ở các nước Khotan, Uighur, Tangut, Mông Cổ, cùng với rất nhiều bản dịch tiếng Tây Tạng và chữ Hán. Bản dịch dùng trong Chân Ngôn tông là của Phật-đà Ba-lị (s: buddhapāli, Đại chính 967), Pháp Thiên (法天, Đại chính 978) và Vũ Triệt (武徹, Đại chính 974c). Trong số các bản dịch chữ Hán, bản dịch của Pháp Thiên tương ưng với 4 bản dịch tiếng Tây Tạng (To.598, P.200), trong khi các bản dịch trước đó lại tương ưng với một bản dịch khác (To.597/984, P.198/609).|Các bản dịch chữ Hán hiện còn là: 1. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Phật-đà Ba-lị (佛陀波利; s: buddhapāli) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Giáo tích nghĩa kí (教跡義記) của Pháp Sùng (法崇); 2. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Đỗ Hành Khải (杜行顗) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh thích (佛頂尊勝陀羅尼經釋) của Độc Pháp (讀法); 3. Tối thắng đà-la-ni kinh (最勝陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara). Bản đà-la-ni được duyệt lại này xuất hiện trong nhiều nghi quỹ đời Đường như Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni niệm tụng nghi quỹ pháp (佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌法) và Du-già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi quỹ (瑜伽集要焔口施食儀軌) của Bất Không (不空; s: amoghavajra) và Tôn thắng Phật đỉnh tu du-già pháp nghi quỹ (尊勝佛頂修瑜伽法儀軌) của Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṃha); 4. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni tịnh trừ nghiệp chướng chú kinh (最勝佛頂陀羅尼淨除業障呪經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 5. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch; 6. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni kinh (最勝佛頂陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch; 7. Nhất thiết Như Lai Ô-sắt-nị-sa tối thắng tổng trì kinh (一切如來烏瑟膩沙最勝總持經), Pháp Thiên dịch, là bản phiên âm tương ưng với bản dịch của Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra); 8. Vu-sắt-sa Tì-tả-dã đà-la-ni (于瑟沙毘左野陀囉尼), 1 quyển, Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra) dịch. Ấn bản tiếng Phạn (sanskrit): Anecdota Oxonensiāryan Series, quyển 1, phần III của F. Max Müller và Bunyu Nanjio, Oxford xuất bản năm 1884.
phật đỉnh đại bạch tản cái đà la ni kinh
2723全一卷。元代沙囉巴譯。乃屬密教白傘蓋佛頂法之經典。又稱白傘蓋陀羅尼經、白傘蓋經。收於大正藏第十九冊。本經敘說白傘蓋佛頂之陀羅尼及其功德。又本經之類本有真智等譯之佛說大白傘蓋總持陀羅尼經。
; (佛頂大白傘蓋陀羅尼經) Cũng gọi: Bạch tản cái đà la ni kinh, Bạch tản cái kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Sa la ba dịch vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về Đà la ni và công đức của Bạch tản cái Phật đính. Bản cùng loại với kinh này có kinh Phật thuyết đại bạch tản cái tổng trì đà la ni, do ngài Chân trí…... dịch.
Phật đỉnh đại bạch tản cái đà-la-ni kinh
佛頂大白傘蓋陀羅尼經; C: fódǐng dà báisăngài tuóluóní jīng; J: butchō dai byakusankai darani kyō.|Đại Phật đỉnh Như Lai phóng quang Tất-đát-đa bát-đát đà-la-ni (大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼).
Phật địa
佛地; C: fódì; J: butsuji;|Có các nghĩa sau: 1. Quả vị Phật; đòng nghĩa với Phật vị (佛位), Phật quả (佛果). Giai vị cuối cùng của hàng Bồ Tát, chứng đạt được nhờ chuyển hoá toàn vẹn Nhị chướng (二障, theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Giai vị thứ 11 của Thập nhất địa trong kinh Giải Thâm Mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).
phật địa
Xem Phật độ.
; Buddha-bhùmi (S). The Buddha-stage.
Phật địa kinh
佛地經; C: fódì jīng; J: butsujikyō.|1 quyển, Huyền Trang dịch, hoàn chỉnh năm 645 tại chùa Hoằng Phúc. Tên đầy đủ là Phật thuyết Phật địa kinh (佛説佛地經). Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí, giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật địa kinh luận
佛地經論; C: fódìjīng lùn; J: butsujikyōron.|Luận; gồm 7 quyển do Thân Quang (親光) cùng một số các vị khác trứ tác. Huyền Trang dịch năm 650. Còn gọi là Phật địa luận (佛地論). Tác giả giải thích 5 pháp đề cập trong kinh Phật địa. Kết hợp với những luận giải về Phật địa. Vì có một số đoạn xuất hiện trong Thành duy thức luận (成唯識論), nên có người suy đoán những đoạn văn trùng lặp nầy là của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) mặc dù hiển nhiên là cả Phật địa kinh luận lẫn Thành duy thức luận đều không phải của Hộ Pháp. Bản dịch Phật địa kinh luận bằng tiếng Tây Tạng cũng có đoạn văn trùng lặp nầy. Người Tây Tạng cho luận giải nầy là của Giới Hiền (戒賢; s: śīlabhadra), viện chủ Học viện Na-lan-đà (s: nālandā) trong thời đoạn Huyền Trang còn lưu lại tại đây. Có bản dịch Anh ngữ luận giải nầy của Tiến sĩ John Keenan, nhưng chưa phổ biến (luận án Tiến sĩ).
phật địa kinh luận
2626梵名 Buddhabhūmi-sūtra-śāstra。凡七卷。親光等菩薩造。唐代玄奘譯。略稱佛地論。收於大正藏第二十六冊。為佛地經之論釋。作者將佛地經科判為教起因緣分、聖教所說分、依教奉行分等三分以釋之,並敘述佛地經所說之清淨法界、大圓鏡智、平等性智、妙觀察智、成所作智等五種法,攝大覺地。親光論師本身為中印度摩揭陀國那爛陀寺之學者,又為護法(梵 Dharmapāla, 530~561)之門人,因此佛地經論之思想,多以護法系統之唯識思想釋之。其中對四智心品之說,以五性各別等說作釋特別有名。注疏有唐代靖邁之佛地經論疏六卷、新羅智仁之佛地論疏四卷等。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八、至元法寶勘同總錄卷八〕
; BuddhabhŪmi-sŪtra śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; (佛地經論) Phạm: Buddhabhùmi-sùtra-zàstra. Gọi tắt: Phật địa luận. Luận, 7 quyển, do các bồ tát Thân quang... soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 26. Nội dung luận này giải thích bộ kinh Phật địa mà tác giả chia làm 3 phần để trình bày, đó là: Giáo khởi nhân duyên, Thánh giáo sở thuyết và Y giáo phụng hành. Đồngthờigiải thích về 5 thứ pháp nói trong bộ kinh là: Thanh tịnh pháp giới, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quán sát trí và Thành sở tác trí. Năm pháp này thu nhiếp toàn bộ cảnh địa Đại giác của kinh. Luận sư Thân quang là học giả của chùa Na lan đà, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ và là học trò của ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla, 530-561), do đó, tư tưởng trong kinh Phật địa phần nhiều đã được tác giả giải thích bằng tư tưởng Duy thức thuộc hệ thống ngài Hộ pháp. Trong đó, đặc biệt nổi bật là thuyết Ngũ tính các biệt đã được sử dụng để giải thích thuyết Tứ trí tâm phẩm. Về sách chú sớ luận này thì có: -Phật địa kinh luận sớ, 6 quyển, do ngài Tĩnh mại soạn vào đời Đường. -Phật địa luận sớ, 4 quyển, do ngài Trí nhân người Tân la soạn. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].
Phật địa kinh luận 佛地經論
[ja] ブツジキョウロン Butsujikyōron ||| Seven fascicles, by Bandhuprabha 親光 et.al., translated by Xuanzang 玄奘 in 650. Also called the Fodilun 佛地論. The author explains the five kinds of dharma taught in the Buddha-bhūmi 佛地經. Contains combined commentaries on the Buddha-bhūmi. Since some of the passages reappear in the Cheng weishi lun 成唯識論, some speculate that these parallel passages should be attributed to Dharmapāla 護法 (though neither this text nor the Cheng weishi lun explicitly does so). A Tibetan translation of a commentary to the Buddha-bhūmi also parallels passages in this text; Tibetans attribute that commentary to Śīlabhadra 戒賢, the head of Nālandā while Xuanzang was there. Translated by John Keenan (unpub. PhD Diss).T 1530.26.291-328. => (j: Butsujikyōron ) Luận; gồm 7 quyển do Thân Quang cùng một số các vị khác trứ tác. Huyền Trang dịch năm 650. Còn gọi là Phật Địa Luận (c: Fodilun 佛地論). Tác giả giải thích 5 pháp đề cập trong Kinh Phật Địa. Kết hợp với những luận giải về Phật Địa. Vì có một số đoạn xuất hiện trong Thành Duy Thức Luận (c: Cheng weishi lun 成唯識論), nên có người suy đoán những đoạn văn trùng lặp nầy là của Hộ Pháp (s: Dharmapāla )(mặc dù hiển nhiên cả Phật Địa Kinh Luận lẫn Thành Duy Thức Luận đều không phải của Hộ Pháp ). Bản dịch Phật Địa Kinh Luận bằng tiếng Tây Tạng cũng có đoạn văn trùng lặp nầy. Người Tây Tạng cho luận giải nầy là của Giới Hiền, viện chủ Học viện Na-lan-đà (s: Nālandā), nơi Ngài Huyền Trang du học. Có bản dịch Anh ngữ luận giải nầy của Tiến sĩ John Keenan, nhưng chưa phổ biến.
Phật địa kinh 佛地經
[ja] ブツジキョウ Butsujikyō ||| The Fo-ti-ching, "Sutra of the Buddha-stage." One fascicle, trans. by Xuanzang, completed in 645 at Hongfu Monastery. T 680.16.720-723. Full title is 佛説佛地經Foshuo fodijing. An explanation of the five aspects of the Buddha-stage, including the pure dharmadhātu and the four transformed wisdoms of Consciousness-only. Explains the details of the tenth bhūmi and the Buddha-stage. => (j: Butsujikyō ); (e: Sutra of the Buddha-stage). Kinh Phật Địa; 1 quyển , Huyền Trang dịch, hoàn chỉnh năm 645 tại chùa Hoằng Phước (c: Hongfu ). Tên đầy đủ là Phật Thuyết Phật Địa Kinh 佛説佛地經. Kinh giảng giải về năm khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật địa luận
佛地論; C: fódìlùn; J: butsujiron;|Phật địa kinh luận (佛地經論).
Phật Địa Luận 佛地論
[ja] ブツジロン Butsujiron ||| See Fodijing lun 佛地經論. => Xem Phật Địa Kinh Luận.
Phật địa 佛地
[ja] ブツジ butsuji ||| (1) The buddha-stage, level, or rank of buddhahood; syn. with 佛位 and 佛果. The final stage of the bodhisattvas, attained upon the final removal of the two hindrances 二障. 〔瑜伽論T 1579.30.730a6〕(2) The eleventh of the eleven stages 十一地 taught in the Saṃdhinirmocana-sūtra解深密經. Dictionary References] Naka1192d [Credit] cmuller(entry) => Có các nghĩa sau: 1. Quả vị Phật; đòng nghĩa với Phật vị, Phật quả. Giai vị cuối cùng của hàng Bồ-tát, chứng đạt được nhờ chuyển hóa toàn bộ Nhị chướng. 2. Giai vị thứ 11 của Thập nhất địa trong Kinh Giải Thâm Mật (s: Saṃdhinirmocana-sūtra解深密經)
phật đồ hộ
2739即寺戶。北魏寺院所轄之人戶。為沙門統(佛教統制官)曇曜上奏文所立之一種社會事業。與僧祇戶同時設置,為寺院經濟之基礎。即集重罪犯人或官婢於寺,從事寺院清掃或田地耕作。後隨寺田之增加,寺院財產亦逐漸增加,遂失其原意。周武帝建德三年(574)因滅佛,遂廢之。〔佛祖統紀卷三十八、魏書釋老志〕
phật đồ tràng
Buddhacinga (S).
Phật Đồ Trừng
(佛圖澄, Buttochō, 232-348): người Thiên Trúc (天竺), hay Quy Tư (龜兹), họ Bạch (帛). Ông có nhiều thần thông, chú thuật, năng lực tiên đoán linh dị. Vào năm thứ 4 (310) niên hiệu Vĩnh Gia (永嘉) đời vua Hoài Đế (懷帝) nhà Tây Tấn, ông đến Lạc Dương (洛陽), lúc đó đã 79 tuổi, gặp phải vụ loạn Vĩnh Gia, trong lòng rất đau xót trước cảnh lầm than của dân tình, bèn mang tích trượng vào trong quân binh của Thạch Lặc (石勒) thuyết pháp, hiện các thần biến, nhờ vậy Thạch Lặc tin phục, cho phép người Hán được xuất gia. Sau khi Thạch Lặc qua đời, Thạch Hổ (石虎) lên kế vị, lại càng tín phụng thêm, tôn ông làm Đại Hòa Thượng. Trong suốt 38 năm trường, ông đã xây dưng gần 900 cơ sở tự viện, độ cho chúng đệ tử hơn 10.000 người, người thường đi theo hầu có đến mấy trăm. Trong số đó, các cao tăng tiêu biểu đệ tử của ông dưới thời nhà Tấn có Đạo An (道安), Trúc Pháp Thủ (竺法首), Trúc Pháp Thải (竺法汰), Trúc Pháp Nhã (竺法雅), Tăng Lãng (僧朗), Pháp Hòa (法和), Pháp Thường (法常), v.v. Vào ngày mồng 8 tháng 12 năm thứ 4 niên hiệu Vĩnh Hòa (永和), ông thị tịch ở Nghiệp Cung Tự (鄴宮寺), hưởng thọ 117 tuổi. Ông tuy không để lại trước tác nào cho hậu thế nhưng giữ gìn giới luật rất nghiêm minh và tạo ảnh hưởng lớn cho việc cải cách giới luật đương thời.
phật đồ trừng
2743(232~348)天竺人,或謂龜玆人,俗姓帛。具有神通力、咒術、預言等靈異能力。西晉懷帝永嘉四年(310)至洛陽,年已七十九,時值永嘉亂起,師不忍生靈塗炭,策杖入石勒軍中,為說佛法,並現神變,石勒大為信服,稍歛其燄,並允許漢人出家為僧。石勒死後,石虎繼位,尤加信重,奉為大和尚,凡事必先咨詢而後行。三十八年間,建設寺院近九百所,受業之弟子幾達一萬,追隨者常有數百,其中堪以代表晉代之高僧者,有道安、竺法首、竺法汰、竺法雅、僧朗、法和、法常、安令首尼等。永和四年十二月八日,示寂於鄴宮寺,世壽一一七歲。師雖無述作傳世,然持律嚴謹,一般推測,其對當時之戒律,應有相當之改革。又對我國佛教先覺者道安之指導,於佛教思想史而言,實具極大之意義。〔梁高僧傳卷九、法苑珠林卷三十一、卷六十三、卷七十六、佛祖統紀卷三十六、佛祖歷代通載卷七、釋氏稽古略卷二〕
; Buddha-janga (S)Một vị A la hán gốc Thiên trúc, năm 310 ngài sang Tàu ở thành Lạc dương để hoá độ vua chúa và triều đình. Ngài chuyên hoằng hóa bằng phép thần thông.
; Fo-t'u-teng (C)Tên một vị sư.
Phật Đồ Trừng 佛圖澄
[ja] ブットチョウ Buttochō ||| Fotucheng (?-348); a monk of Central Asian origin who came to Loyang in 310 for the purpose of establishing a center for the dissemination of Buddhism. He had studied in his youth in Udyāna 烏仗那國 and was a thaumaturge, and the miracles he performed are thought to have made a significant impact on the ruler of the time, Shīe, who took him in as an advisor. Fotucheng was also one of the teachers of Daoan 道安, and is known to have established many temples during his career in China. => (j: Buttochō ); (c: Fotucheng), (?-348) Tăng sĩ Phật giáo người Trung Á, đến Lạc Dương (c: Loyang ), Trung Hoa năm 310 với mục đích thành lập một trung tâm truyến bá Phật học. Thời niên thiếu, Ngài tu học ở nước Ô Trượng Na (烏仗那國s: Udyāna ), có được thần thông, những phép lạ mà Ngài thi triển đã tác động rất lớn đến vua chúa thời đó như Thạch Lặc (c: Shīe), người đã tôn Ngài làm Quốc sư. Phật Đồ Trừng cũng là một trong những vị thầy của Ngài Đạo An, Ngài nổi tiếng đã lập rất nhiều ngôi chùa trong sự nghiệp truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa.
phật đồ tự
2743位於安徽太湖縣。相傳晉代佛圖澄建寺於此,故有此名。寺前有兩巨石對峙,上覆大石以為門,為出入必經之路。寺後有五大巨石,疊成三十餘公尺高之石塔,立於萬丈懸崖之頂,險絕天工。寺右石壁高聳,飛瀑傾注,如銀河天落。
phật độ
2609又作佛國、佛國土、佛界、佛剎。指佛所住之處,或佛教化之國土。即不僅指淨土,甚且凡夫居住之現實世界(穢土),以其為佛教化之世界,亦稱佛土。因此,自淨土之意義言,彌勒菩薩之兜率天、觀音菩薩之普陀洛伽山等,雖為淨土,但均非佛土。在初期佛教,小乘說一切有部主張佛土意指釋迦佛陀誕生之娑婆世界而言,但其後佛身演變成真如之理體為法身,歷史性之佛陀為應身、化身等。故因應化身觀,而有真佛土、應佛土(又作方便化身土)之說,並由報身說,產生報土思想。由於對佛身解釋之異,佛土遂有二種、三種、五種等說。 三論宗吉藏之大乘玄論卷五謂,土有不淨、不淨淨、淨不淨、雜、淨等五種,此五土係依眾生之業而感受者,故稱眾生土;又因其為佛所教化之國土,故亦稱佛土。其中有凡夫與聖者共住之凡聖同居土、大乘與小乘之證悟者(阿羅漢、獨覺、大力菩薩)共住之大小同住土、僅菩薩住之獨菩薩居土、僅諸佛獨住之諸佛獨居土等四種。 天台宗立凡聖同居土、方便有餘土、實報無礙土(又作實報土)、常寂光土(又作寂光土)等四土說。其中,凡聖同居土即凡聖共住之國土,有淨穢之別,淨者如西方極樂世界等。方便有餘土係修方便道之空觀與假觀,而斷除見惑與思惑(生於三界之因),出分段生死,但尚未斷除無明惑,故更於界外受變易生死之藏教二乘、通教三乘、別教三十心之菩薩等所生之土。而修真實法之中觀,斷除無明之別教初地、圓教初住以上之菩薩所生之土,即為實報土。寂光土即指成佛者所住之國土。 華嚴宗從相待之差別而言(別教一乘之立場),應人類能知之機緣所說之世界(因分可說之土)為世界海;悟佛果者能知之真如世界(果分不可說之土)為國土界;全宇宙名為蓮華藏世界,乃十身具足之毘盧遮那如來所教化之國土。 法相宗立法性土、受用土、變化土等三土。受用土復分為自受用土、他受用土,故亦立四土,而為自性身、受用身、變化身所依之土。其中,法性土乃以法界真如之理名為土,與身無別;自受用土為佛果無漏之第八識上所顯現之無漏純淨之佛土,乃除佛以外所無法測知者;他受用土,則為教化十地菩薩所變現之土;變化土為教化地前菩薩、二乘及凡夫所變現之土。 真言宗以真言行者觀心所顯之境地,分為三階成就妙果(三品悉地),上品安住於密嚴佛國,中品安住於十方淨土,下品安住於諸天修羅宮,依次為法性身、報身、應身分出之等流身之居所。即得三品悉地之人所感之土,其體不可得。若依於父母所生之身立即證得大覺位,則凡夫所見穢土之當體即是密嚴佛國。 淨土宗以阿彌陀佛有法、報、應三身,故有法身土(又作法土)、報身土(又作報土)、應身土(又作應土)等三土。一般以阿彌陀佛之報身所居之報土為極樂淨土。日本淨土真宗謂此為真實報土,並立引導、教化眾生之方便化土。〔成唯識論卷十、觀無量壽佛經疏、維摩經略疏卷一、法華經玄義卷六下、卷七上、成唯識論述記卷十末、大乘法苑義林章卷七末〕(參閱「四土」1647)
; Buddha-land, Buddha-kṣetra (S)Phật quốc, Phật địa, Phật sá, Phật giới, cõi Tịnh độ của PhậtCõi đất Phật, cõi nơi Phật giáo hóa chúng sanhQuốc độ chư Phật, gồm có: Tịnh độ, Uế độ (cõi người), Báo độ và Pháp tính độ. Xem Brahma-kshaXem Phạm sát.
; Buddha-ksetra (S) The land or realm of a Buddha.
Phật đức
佛德; C: fódé; J: buttoku;|Dịch từ chữ Jñānagupta tiếng Phạn (sanskrit), thường được phiên âm là Xà-na-quật-đa (闍那崛多).
phật đức
2747梵語 buddha-guṇa。佛身所具之圓滿功德。其圓德有三:(一)因圓德,包括無餘修、長時修、無間修、尊重修四種。(二)果圓德,有智圓、斷圓、威勢圓、色身圓四德。(三)恩圓德,即能令眾生永離三惡趣與生死,或安置眾生於善趣與三乘。此外,佛亦具足十力、四無所畏、十八不共法等別德。復次,大慈大悲、大喜大捨、隨心三摩地、四智二智、離諸習氣、若遠若近遊止自在無有障礙、於一芥子能納無量諸妙高山,如是無量無邊功德,諸佛如來悉皆具足。〔大乘理趣六波羅蜜多經卷一、菩薩瓔珞經卷十一、俱舍論卷二十七、大智度論卷二〕
; Buddhaguṇa (S).
; Buddha-virtue.
phật đức tỳ kheo
Xem Xà na quật đa tỳ kheo.
Phật Đức 佛德
[ja] ブットク buttoku ||| Translation of Jñānagupta, commonly known by the transcription of 闍那崛多. => Dịch từ chữ Jñānagupta, (tiếng Sanskrit), thường được phiên âm là Xà-na-quật-đa.
phật ưu đàm bát la hoa thù thắng vương
Buddha of King of Extraordinary-Udumbara Blossom.
phật ảnh
Buddha-chāyā (S).
phật ảnh quật
2747梵名 Buddha-chāyā-guhā。又作瞿波羅窟。位於北印度那揭羅曷國,阿那斯山巖之南。係古印度著名聖地。據觀佛三昧經卷七載,佛陀嘗於此石窟度化龍王眷屬,因龍王至誠勸請留止於此,佛陀遂於窟中作十八變,踊身入石,猶如明鏡,在於石內,復映現於外。距十餘步遠望,則如見佛金色相好、光明炳然之真形;近觀,則冥然不見,以手觸之,唯餘四壁。諸天眾等聞佛還入窟中,皆來供養佛影,影亦為其說法。此窟高一丈八尺,深二十四步,石清白色。其西有高約七八丈之塔及七百餘僧所止之寺。窟北一里有目連窟,北面尚有一山,山下有高達十丈之浮圖。東晉法顯、道整、慧景等皆曾至此。唐朝玄奘來時,此地已荒廢,通路劫賊甚多,往返極為困難。〔釋迦譜卷三、洛陽伽藍記卷五、慈恩寺三藏法師傳卷二〕
; (佛影窟) Phạm: Buddha- chàyà-guhà. Cũng gọi Cù ba la quật. Hang động bóng Phật. Hang động này nằm về phía nam núi A na tư, ở nước Na yết la hạt thuộc Bắc Ấn độ là Thánh địa nổi tiếng của Ấn độ thời xưa. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội quyển 7, đức Phật từng có lần hóa độ Long vương và quyến thuộc ở hang động này, vì Long vương chí thành cầu thỉnh đức Phật lưu lại, nên Ngài hiện 18 thần biến như ẩn thân trong đá, hiện bóng ra ngoài, giống như hình tượng hiện trong tấm gương; đứng xa hơn 10 bước mà nhìn thì thấy thân Phật màu vàng ròng, ánh sáng chói lọi. Nhưng nhìn gần thì chỉ thấy lờ mờ, không rõ, đưa tay sờ thì chỉ là vách đá. Các người trời nghe tin đức Phật vào trong động đều đến cúng dường bóng Phậtvà bóng Phật cũng nói pháp cho họ nghe. Hang động này cao 1 trượng 8 thước, sâu 24 bước, đá màu trắng trong. Ở phía tây hang động này có 1 tòa tháp cao khoảng 7 trượng và 1 ngôi chùa với hơn 100 vị tăng. Cách động 1 dặm về phía bắc có động Mục liên. Mặt phía bắc còn có 1 ngọn núi, dưới núi có ngôi tháp cao tới 10 trượng. Các ngài Pháp hiển, Đạo chỉnh, Tuệ cảnh... đời Đông Tấn đều đã đến đây. Khi ngài Huyền trang đời Đường đến đây thì vùng này đã hoang tàn, đường đi có nhiều giặc cướp, sự qua lại rất khó khăn. [X. Thích ca phổ Q.3; Lạc dương già lam kí Q.5; Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2].
phật ấn
2624請參閱 佛光國師語錄 <一>佛之印契。 <二>雕小形之佛像,而印於紙上,稱為佛印。一般印一寺之本尊於紙片上,分贈參拜者,或印於祈禱文及納經帳上。又古寫之佛名經,於佛名下均加佛印。〔南海寄歸內法傳卷四、法苑珠林卷三十九〕 <三>(1032~1098)宋代僧。江西浮梁人,俗姓林。法名了元。宋神宗欽仰其道風,贈號「佛印禪師」。(參閱「了元」163)
; Buddha-seal, the sign of assurance.
Phật Ấn Liễu Nguyên
(佛印了元, Butsuin Ryōgen, 1032-1098): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, tự là Giác Lão (覺老), người Phù Lương (浮梁), Nhiêu Châu (饒州, Tỉnh Giang Nam), họ là Lâm (林). Từ lúc còn 2 tuổi, ông đã bắt đầu học Luận Ngữ. Sau ông đến lễ bái Nhật Dụng (日用) ở Bảo Tích Tự (寳積寺) làm thầy và xuất gia, thọ Cụ Túc giới. Ông lên Lô Sơn (廬山), tham yết Khai Tiên Thiện Xiêm (開先善暹), rồi đến Viên Thông Cư Nột (圓通居訥). Vào năm 28 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Thiện Xiêm và bắt đầu hoạt động bố giáo ở Thừa Thiên Tự (承天寺) vùng Giang Châu (江州, Tỉnh Giang Tây). Về sau, ông sống qua một số nơi như Đẩu Phương Tự (斗方寺) ở Thôi Sơn (淮山), Khai Tiên Tự (開先寺) và Quy Tông Tự (歸宗寺) ở Lô Sơn, Kim Sơn (金山) ở Đơn Dương (丹陽, Tỉnh Giang Tô), Đại Quy Sơn (大潙山) ở Giang Tây (江西), v.v., và trãi qua 4 lần sống tại Vân Cư Tự (雲居寺). Ông rất thâm giao với Tô Đông Pha (蘇東坡), còn làm Xã Chủ của Thanh Tùng Xã (青松社), dòng kế thừa của Bạch Liên Xã (白蓮社), và có quan tâm đến tư tưởng Tịnh Độ. Vào ngày mồng 4 tháng giêng năm đầu niên hiệu Nguyên Phù (元符), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 52 hạ lạp, được ban cho hiệu là Phật Ấn Thiền Sư (佛印禪師).
Phật 佛
[ja] ブツ ほとけ butsu hotoke ||| (1) The most basic meaning of the Sanskrit/Pali term buddha is that of "awakened," in the special sense of one who has awakened to the true nature of existence. In this sense, the meaning is often translated as "enlightened" 覺. (2) One who has completely extinguished all afflictive states of mind 煩惱 --who utterly lacks all the mixed manifestations of ignorance 無明, desire 貪, and dislike 瞋. (3) The historical Buddha, Śākyamuni, who lived in India during the 6th century BCE, who had a major enlightenment experience, who subsequently taught others the way to achieve libertion, and following whose death, the religious movement called Buddhism, was formed. (4) Any one of a number the Buddhas who are said to exist in the world. In the early Pali tradition, six are name, but in the later developing Mahāyāna tradition, Buddhas are understood to be infinite in number. In this sense, anyone who attains release (mokṣa 解脱, nirvāṇa 涅槃) from this world of recurring rebirths (saṃsāra 流轉) can be called, in the appropriate contexts, a Buddha. (4) Buddha as an eternal principle of enlightenment/reality, expressed in the notion of the dharmakāya 法身 of the Buddha. (5) Buddha as buddhahood 佛地, the final stage one attains as the result of practices. => Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa căn bản nhất của thuật ngữ Buddha trong tiếng Sanskrit và Pali là "tỉnh thức", trong ý nghĩa đặc biệt là người đã giác ngộ ra chân tánh của hiện hữu. Trong ý nghĩa nầy, thuật ngữ thường được dịch là "giác". 2. Người đã hoàn toàn chuyển hóa được mọi phiền não trong tâm - người tuyệt đối không còn mọi biểu hiện của vô minh, tham muốn và sân hận. 3. Đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: Śākyamuni), sống ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước CN., người đã đạt được sự giác ngộ tối thượng, sau đó dạy cho chúng sinh phương pháp tu tập để giải thoát, và sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, một tôn giáo được hình thành, gọi là Phật giáo. 4. Bất kỳ Đức Phật nào trong vô số Đức Phật đang thường trụ ở thế gian. Hệ kinh văn Pali của Phật giáo Nguyên thủy có ghi danh hiệu sáu Đức Phật, nhưng theo truyền thống Đại thừa Phật giáo phát triển, thì có vô số chư Phật. Trong ý nghĩa nầy, bất kỳ chúng sinh nào đạt được giải thoát (s: mokṣa), chứng được niết-bàn (s: nirvāṇa ) từ trong cõi luân hồi sinh tử (s: saṃsāra) nầy, theo thuật ngữ tương ứng, có thể gọi là Đức Phật.
phật, pháp, tăng
The three Jewels: the Buddha, the Buddha Law or the Dharma, and the Buddhist Monastic Order or the Sangha.
Phật-đà
佛陀; C: fótuó; J: budda; S: buddha.|Có các nghĩa sau: 1. Tiếng Hán phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Phạn (sanskrit), có nghĩa là »tỉnh thức, giác ngộ« hoặc »người tỉnh thức, người giác ngộ«. Hầu hết những tác giả và nhà phiên dịch gọi gọn lại bằng một đầu là Phật; 2. Hai chữ nầy cũng là phần đầu pháp danh của nhiều vị ở Ấn Độ và vùng Trung Á.
Phật-đà Bạt-đà-la
佛陀跋陀羅; C: fótuóbátuóluó; J: budda-baddara; S: buddhabhadra.|Có các nghĩa sau: 1. Cao tăng, sinh ở thành Ca-tì-la-vệ (s: Kapilavastu), đến Trung Hoa năm 408. Sư là người phiên dịch đầu tiên kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) và kinh Quán Phật Tam-muội hải (觀佛三昧海經); Giác Hiền; 2. Tên vị đệ tử của Dharmakoṣa, người mà Huyền Trang gặp ở Ấn Độ năm 630-640.
Phật-đà Già-da
佛陀伽耶; C: fótuóqiéyé; S: buddhagayā.|Địa danh, được ghi nhận là nơi Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo. Phát âm theo tiếng Hindi mới là Bodhgayā. Ở vào khoảng 10km về hướng Nam của thành phố Gaya hiện đại ngày nay trong vùng Biharu.
Phật-đà Phiến-đa
佛陀扇多; C: fótuóshànduō; J: buddasenta; S: buddhaśānta.|Tên người, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác Định (覺定). Người miền Bắc Ấn Độ, sang Trung Hoa năm 511 thời Bắc Nguỵ, ở đây sư cùng với Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) và Lặc-na Ma-đề (勒那摩提; s: ratnamati) dịch Thập địa kinh luận (十地經論; s: daśabhūmika-śāstra). Sau sư trú tại chùa Bạch Mã, dịch Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論; s: mahāyāna-saṃgraha) và một số kinh luận khác. Ngày sinh, ngày mất của sư không rõ.
Phật-đà Tư-na
佛陀斯那; C: fótuósīnà; J: buttashina; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).
Phật-đà Ðạt-đa
佛陀達多; P: buddhadatta; dịch nghĩa là Phật Thọ;|Luận sư của Thượng toạ bộ (p: theravāda), sống trong thế kỉ thứ 4-5. Sư sinh tại Tích Lan và viết các tác phẩm của mình tại A-nu-ra-đa-pu-ra (anurādhapura). Sư viết nhiều bài luận về Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya) và tác phẩm quan trọng nhất là Nhập a-tì-đạt-ma luận (p: abhidhammāvatāra), luận giải A-tì-đạt-ma (p: abhidhamma), trình bày quan điểm của Thượng toạ bộ một cách ngắn gọn, rõ ràng.
Phật-đà Đa-la
佛陀多羅; C: fótuóduōluó; J: buddatara, S: buddhatrāta.|Tên được ghi ở cuối kinh Viên Giác (圓覺經), như là dịch giả của kinh nầy. Thực tế vấn đề nầy còn đáng ngờ, vì dường như khá rõ ràng là kinh được soạn ở Trung Hoa. Tên Phật-đà Đa-la cũng dường như không thấy có sự tương quan với những bộ kinh khác.
Phật-đà-bạt-đà-la 佛陀跋陀羅
[ja] ブッダバッダララ Buddabaddara ||| Buddhabhadra: (1) Of Kapilavastu, who came to China in 408. He was the translator of the first (60 fascicle) version of the Huayan jing 華嚴經 and the Guanfo sanmei hai jing 觀佛三昧海經. (2) The name of a disciple of Dharmakoṣa, whom Xuanzang 玄奘 met in India, 630-640. => (s: Buddhabhadra) Có các nghĩa sau: 1. Cao Tăng, sinh ở thành Ca-tỳ-la-vệ (s: Kapilavastu), đến Trung Hoa năm 408. Ngài là người phiên dịch đầu tiên Kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) và Kinh Quán Phật tam Muội Hải (c: Guanfo sanmei hai jing). 2. Tên vị đệ tử của Dharmakoṣa, Ngài Huyền Trang gặp ở Ấn Độ năm 630-640.
Phật-đà-già-da佛陀伽耶
[ja] フツタカヤ buchitakaya ||| Buddhagayā, the name of the place where Śākyamuni is recorded as having attained his enlightenment. Pronounced in modern Hindi as Bodhgayā. Located about 10 km. south of the modern day city of Gaya in Biharu. (s: Buddhagayā), địa danh, được ghi nhận là nơi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni Thành đạo. => Phát âm theo tiếng Hindi mới là Bodhgayā . Ở vào khoảng 10 cây số về hướng Nam của thành phố Gaya hiện đại ngày nay trong vùng Biharu.
Phật-đà-phiến-đa佛陀扇多
[ja] ブッダセンタ Buddasenta ||| Buddhaśānta, whose name is translated into Chinese according to its meaning as Jueding 覺定. Originally from northern India, he came in 511 to the Northern Wei, where he cooperated with Bodhiruci 菩提流支 and Ratnamati 勒那摩提 in the translation of the Daśabhūmika-śāstra 十地經論. He later resided at White Horse Temple, where he translated the Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論 and other texts. His dates of birth and death are unclear. => (s: Buddhaśānta) Tên người, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác Định. Người miền Bắc Ấn Độ, sang Trung Hoa năm 511 thời Bắc Ngụy, ở đây sư cùng với Ngài Bồ-đề Lưu-chi(s: Bodhiruci) và Lặc-na Ma-đề (s:Ratnamati ) dịch Thập Địa Kinh Luận (s: Daśabhūmika-śāstra ). Sau sư trú chùa Bạch Mã dịch Nhiếp Đại Thừa Luận (s: Mahāyāna-saṃgraha). Ngày sinh, ngày mất của sư không rõ. .
Phật-đà-tiên
佛駄先; C: fótuóxiān; J: buddasen; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).
Phật-đà-tiên 佛駄先
Phật-đà-tư-na 佛陀斯那 [ja] ブッダセン Buddasen ||| Buddhasena; see 佛大先. => (s:Buddhasena); Xem Phật-đại-tiên 佛大先.
Phật-đà-đa-la佛陀多羅
[ja] ブッダタラ Buddatara ||| Buddhatrāta, the name given in the colophon of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經 as its "translator." The facticity of this is questionable, since it seems fairly certain that the sutra was composed in China. Buddhatrāta's name also does not seem to be found in connection with any other texts. => (j: Buddatara ), (s: Buddhatrāta) Tên được ghi ở cuối Kinh Viên Giác, nhưlà dịch giả của kinh nầy. Thực tế vấn đề nầy còn đáng ngờ, vì dường như khá rõ ràng là kinh được soạn ở Trung Hoa. Tên Phật-đà-đa-la cũng dường như không thấy có sự tương quan với những bộ kinh khác.
Phật-đà佛陀
[ja] ブッダ budda ||| (1) Chinese transcription of the Sanskrit buddha, meaning "awakened," or the "awakened one." Most East Asian writers and translators shortened this to the first character 佛. (2) These two characters also form the first part of the names of many monks from India and Central Asia. => Có các nghĩa sau: 1.Tiếng Hán phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Sanskrit, có nghĩa là "tỉnh thức, giác ngộ" hoặc "người tỉnh thức, người giác ngộ ". Hầu hết những tác gia và nhà phiên dịch gọi gọn lại bằng một đầu là Phật佛. 2. Hai chữ nầy cũng là phần đầu pháp danh của nhiều vị ở Ấn Độ và vùng Trung Á.
Phật-đại-tiên
佛大先; C: fódàxiān; J: butsudaisen; S: buddhasena.|Luận sư của phái Hữu bộ, sống vào thế kỉ thứ 5, ở nước Kế Tân (罽賓國; kashmir). Còn gọi là Phật-đà-tiên (佛駄先), Phật-đà Tư-na (佛陀斯那).
phế
To dethrone—To depose.
phế bãi
To abolish—To suppress—To nullify.
phế bỏ
See Phế Bãi.
phế lập
5982係廢與立之並稱。廢,即捨棄;立,即存立。於天台宗謂之廢權立實,亦即廢假(權)立真(實)之意。權意謂導入實的前方便,一旦至實則捨棄不用乃是當然。天台宗論權教與實教之關係,主張自教體而言,權即實,實即權,二者無別;然自引導眾生之作用言,主張廢權立實。以法華經二十八品論之,於前十四品廢捨「爾前」權教,存立一乘真實,稱爲廢權立實,係就法而言廢立;於後十四品廢伽耶始成之迹,顯久遠實成之本,稱爲廢迹顯本,係就人而言廢立。淨土宗則主張廢難行之諸善,而立易行之念佛一門。〔解深密經卷二無自性相品、俱舍論卷十七、法華玄義卷一上序王、選擇本願念佛集〕(參閱「開廢會」5311)
; (廢立) Bỏ đi và lập nên, như chủ trương Phế quyền lập thực của tông Thiên thai hoặc Phế giả (quyền) lập chân (thực). Quyền là phương tiện tạm thời để đưa vào thực, khi đạt được thực rồi thì đương nhiên không cần dùng đến Quyền nữa mà phải bỏ đi. Luận về sự quan hệ giữa Quyền giáo và Thực giáo, tông Thiên thai cho rằng nói về mặt giáo thể thì Quyền tức là Thực, Thực tức là Quyền, không hai không khác. Nhưng, đứng về phương diện tác dụng dắt dẫn chúng sinh mà nói, thì tông Thiên thai chủ trương Phế quyền lập thực. Vì trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa thì 14 phẩm trước là phế bỏ Quyền giáo, lập nên Nhất thừa chân thực, gọi là Phế quyền lập thực. Đây là căn cứ vào pháp mà nói về Phế lập. Còn 14 phẩm sau này phế bỏ Tích mới thành Phật ở Già da, hiển bày Bản đã thành Phật từ lâu xa. Đây là căn cứ vào người mà nói về Phế lập. Tông Tịnh độ thì chủ trương phế bỏ những điều thiện khó làm mà lập nên pháp môn niệm Phật dễ làm. [X. phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2. luận Câu xá Q.17; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Khai Phế Hội).
Phế lập 廢立
[ja] ハイリュウ hairyū ||| To discard a (worn-out, lesser) teaching from the standpoint of a (new, more correct, deeper) teaching. See also 廢權立實. 〔二障義HPC 1.790a〕 => Loại trừ một giáo lý (đã cũ mòn, cạn cợt) theo quan điểm giáo lý (tiến bộ, mới, chân chính, sâu sắc hơn).
phế phật huỷ thích
5982爲一種廢止佛教之運動,指日本明治(1868~1912)維新時,爲鞏固天皇爲首之中央政權而採取之神佛分離、神道國教化之政策。其排佛運動極爲激烈,曾在各地燒毀佛像、經卷、佛具、勅令僧尼還俗等,寺院或廢去,或合併,史稱廢佛毀釋。姑不論神佛分離是否正確,其意圖乃是基於神道之復古,以實行祭政一致,亦即王政復古,遂發展爲排擠佛教之運動。(參閱「法難」3431、「神佛分離」4246)
; (廢佛毀釋) Cuộc vận động hủy bỏ Phật giáo trong thời kì Minh trị duy tân (1868-1912) ở Nhật bản, chính sách này nhằm củng cố quyền lực tuyệt đối của Thiên hoàng. Cuộc vận động bài Phật rất kịch liệt, thiêu hủy tượng Phật, kinh Phật, pháp khí ở khắp nơi, ra lệnh cho tăng ni phải hoàn tục, các chùa viện hoặc bị phá bỏ hoặc bị sáp nhập. Ý đồ của cuộc vận động này là nhằm phục cổ và quốc giáo hóa Thần đạo để thực hiện đường lối Tế chính nhất trí (Thần và Thiên hoàng là một). (xt. Pháp Nạn, Thần Phật Phân Li).
phế quyền lập thật
5983即廢捨法華經以前之權教,樹立法華一乘。又作廢三顯一。係天台宗所立。天台宗判釋佛陀一代之教法爲五時八教,廢權立實即謂佛陀於說法華之前四時中隨機演說大、小、頓、漸諸教,係因眾生根性不相融契,故將「一佛乘」分別爲三乘,故此時之教法僅係從宜施設之權門化用。至說法華時,所化之根性融合爲一,得永廢前四時之三乘權門,會歸於一佛乘之真實。此即法華經卷一方便品所謂(大九‧一○上):「正直捨方便,但說無上道。」 諦觀之天台四教儀謂,「廢權立實」與「開權顯實」或「會三歸一」等名目之義同,皆明示法華迹門之開顯;開權顯實乃就「教體」而說,廢權立實係就「教用」而說,會三歸一則就「行門」而說。各名目所詮雖有區別,然明示開顯之相則皆一致。又上記之法華迹門一語,指法華經二十八品中之前十四品。 又蓮花三喻中,以花落比喻廢權,蓮成比喻立實;謂一乘之實教既顯,則三乘之權教自廢。〔法華玄義卷一序、卷七下、卷九下、法華玄義釋籤卷一、法華玄義釋籤講義卷一、卷七、天台四教儀集註卷上、天台四教儀集註講述卷上(大寶)〕(參閱「本迹二門」1965、「蓮華三喻」6148)
; (廢權立實) Cũng gọi Phế tam hiển nhất. Phế bỏ các giáo giả tạm trước thời Pháp hoa để thiết lập Pháp hoa Nhất thừa. Tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 45 năm làm 5 thời, 8 giáo. Phế Quyền lậpThực tức là trong 4 thời trước khi Phật nói kinh Pháp hoa, đức Phật đã tùy cơ diễn nói các giáo Đại, Tiểu, Đốn, Tiệm, đó là vì căn tính chúng sinh không đồng đều, chưa khế hợp, nên Ngài chia Nhất Phật thừa làm 3 thừa. Bởi vậy, các giáo trong 4 thời ấy chỉ là pháp môn phương tiện tạm thời, tùy nghi tạm đặt ra để giáo hóa mà thôi. Đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì căn tính của những đối cơ được Ngài giáo hóa đã khế hợp và dung thông làm một, có thể bỏ hẳn giáo pháp 3 thừa giả tạm của 4 thời trước mà hội về Nhất thừa chân thực. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 10 thượng) nói: Bỏ hẳn các phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Trong Thiên thai tứ giáo nghi, ngài Đế quán cho rằng Phế quyền lập thực là đồng nghĩa với Khai quyền hiển thực hoặc Hội tam qui nhất, cả 3 đều nói rõ về khai hiển của Tích môn Pháp hoa (tức 14 phẩm trước trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa). Khai quyền hiển thực là nói về giáo thể, Phế quyền lập thực là nói về giáo dụng, còn Hội tam qui nhất thì nói về hành môn. Ngoài ra, trong Liên hoa tam dụ(3 ví dụ về hoa sen), thì hoa rụng ví dụ cho Phế quyền, sen thành dụ cho Lập thực. Nghĩa là Thực giáo Nhất thừa đã hiển bày thì Quyền giáo Tam thừa tự nhiên phế bỏ. [X. Bài tựa Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Liên Hoa Tam Dụ).
Phế quyền lập thực 廢權立實
[ja] ハイゴンリュウジツ haigonryūjitsu ||| To discard relative truths in favor of the ultimate truth. => Phế bỏ chân lý tương đối, tán đồng chân lý tuyệt đối.
phế tam hiển nhất
5981係天台宗所立。謂佛陀說法華經以前之諸經教法皆屬權施化用,乃將一佛乘分別爲三乘說;至說法華經時,則廢捨權教之三乘,開顯實教之一乘。與「廢權立實」同義。法華玄義卷七下(大三三‧七七三上):「華落蓮成,即喻廢三顯一。」(參閱「開顯」5316、「廢權立實」5984)
; (廢三顯一) Đồng nghĩa: Phế quyền lập thực. Bỏ ba hiển một, do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai cho rằng giáo pháp đức Phật nói trong các kinh trước kinh Pháp hoa đều là những giáo pháp tạm thời từ một Phật thừa mà chia ra nói làm 3 thừa; đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì Ngài xóa bỏ giáo pháp 3 thừa ấy mà mở ra giáo pháp một thừa chân thực. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7, hạ (Đại 33, 773 thượng) nói: Hoa rụng sen thành, tức dụ cho bỏ ba hiển một. (xt. Khai Hiển, Phế Quyền Lập Thực).
phế thuyên đàm chỉ
5983謂廢捨言詮而直指其理。係法相宗所立。又作廢詮辨實。與「依詮談旨」相對。即廢言詮之分別,直辨其實;所謂一真法界非言慮所能及,唯有聖智得以明其內證。於大乘起信論,則稱之爲離言真如。〔成唯識論述記卷九末、大乘法苑義林章卷二末、卷六本〕(參閱「依詮談旨」3058)
; (廢詮談旨) Đối lại: Y thuyên đàm chỉ. Cũng gọi Phế thuyên biện thực. Xóa bỏ lời nói mà chỉ thẳng vào lí, chủ trương của tông Pháp tướng. Nghĩa là bỏ lời nói phân biệt mà xét thẳng vào lí lẽ chân thực. Lí Nhất chân pháp giới không phải do nói năng, suy nghĩ mà đạt được, chỉ có bậc Thánh trí mới có thể hiểu rõ bằng sự nội chứng của mình. Luận Đại thừa khởi tín thì gọi là Li ngôn chân như (Chân như lìa lời nói). [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối, Q.6, phần đầu]. (xt. Y Thuyên Đàm Chỉ).
phế tiền giáo
5983指佛陀說涅槃經時廢除以前所制定之部分戒律。如以前比丘許吃三淨肉,至涅槃經時則一切禁斷之。行事鈔卷下二(大四○‧一一八上):「諸律並明魚肉爲時食,此是廢前教。涅槃云:『從今日後,不聽弟子食肉,觀察如子肉想。』」
; (廢前教) Xóa bỏ những điều đã dạy bảo trước. Nghĩa là khi đức Phật nói kinh Niết bàn, Ngài đã hủy bỏ bộ phận giới luật mà Ngài đã chế định từ trước. Như trước kia các vị tỉ khưu được phép ăn 3 thứ thịt thanh tịnh (không thấy con vật khi nó bị giết, không nghe thấytiếngcon vật kêu khi bị giết, không nghi ngờ con vật bị giết là vì mình), nhưng đến khi Phật nói kinh Niết bàn thì hoàn toàn bị nghiêm cấm. Hành sự sao quyển hạ, phần 2 (Đại 40, 118 thượng) nói: Các luật đều nói thịt cá là thời thực, ở đây thìphế tiền giáo. Kinh Niết bàn nói: Từ nay về sau, các đệ tử không được ăn thịt.Phải quán tưởng rằng ăn thịt giống như ăn thịt con mình.
phế tích hiển bản
5983又作廢迹立本。乃天台宗本門三喻之一,法華十重顯本之第二。謂廢伽耶始成之迹,顯久遠實成之本;此乃爲破眾生近執,使其生遠智而立。依天台宗之說,佛陀於「爾前」及「法華迹門」時,未言壽量久遠之義,故眾生皆以佛陀爲伽耶始成之新佛。至說法華經壽量品時,始說成佛已無量無邊百千萬億那由他阿僧祇劫,猶如花落蓮成,令眾生伽耶始成之近執醒悟,永顯久遠實成之本佛。又所謂爾前,指佛說法華經以前。法華迹門指法華經二十八品中,以方便品爲主的前十四品;而以壽量品爲主的後十四品,則稱爲法華本門。 法華玄義卷九下(大三三‧七九八下):「廢迹顯本者,亦就說法。昔爲五濁障重,不得遠說本地,但示迹中近成;今障除機動,須廢道樹王城迹中之說,皆是方便。執近之心既斷,封近之教亦息。」 如來常於此娑婆世界說法教化,亦於餘處百千萬億那由他阿僧祇國導利眾生,即是廢一期之迹教,顯久遠之本說。〔法華玄義釋籤講義卷七、天台四教儀集註卷上〕(參閱「本迹二門」1965、「開權顯實」5315、「蓮華三喻」6148)
; (廢迹顯本) Cũng gọi Phế tích lập bản. Xóa bỏ Tích môn, hiển bày Bản môn, 1 trong 3 ví dụ thuộc Bản môn của tông Thiên thai, lớp thứ 2 trong 10 lớp Hiển bản của kinh Pháp hoa. Theo thuyết của tông Thiên thai thì trong 4 thời trước kinh Pháp hoa, đức Phật chưa nói gì về ý nghĩa thọ lượng lâu xa, cho nên chúng sinh đều tin rằng đức Phật chỉ mới thành Phật ở Bồ đề già la; đến khi nói phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa, đức Phật mới cho biết là Ngài đã thành Phật từ vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì kiếp trước rồi, giống như hoa rụng sen thành. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 9 hạ (Đại 33, 798 hạ) nói: Phế tíchhiển bảncũng là nói pháp.Ngày trước vì chúng sinh trong đời 5 trược ác, nghiệp chướng còn sâu nặng nên chưa thể nói về Bản địa thành Phật đã từ lâu xa, mà chỉ hiển bày sự thành Phật gần trong Tích môn. Nay nghiệp chướng đã trừ,cơ duyên đã đến, nên phải xóa bỏ giáo pháp phương tiện Tích môn nói mới thành Phật dưới gốc cây Bồ đề. Giờ thì tâm chấp gần đã đoạn, giáo phương tiện cũng dứt.Đức Như laithườngthuyết pháp giáo hóa ở thế giới Sa bà này và dắt dẫn làm lợi ích chúng sinh trong trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì cõi nước khác, tức là xóa bỏ tích giáo trong 1 thời kì, hiển bày bản thuyết lâu xa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.7; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Quyền Hiển Thực, Liên Hoa Tam Dụ).
Phế 廢
[ja] ハイ hai ||| (1) Fall into disuse; become obsolete; die out, decline, be outmoded. (2) Get rid of; discard. => 1. Bỏ, không dùng đến; trở nên lỗi thời, lụi tàn, suy tàn, lỗi thời. 2. Tống khứ, rủ sạch; loại bỏ.
phệ
Sủa (như chó)—To bark (as a dog).
phệ lam
Xem Tì lam.
; Vairam (skt)—Một loại gió—A kind of wind.
phệ lam bà
Vairambha (skt)—Một loại mãnh phong—A kind of fierce wind.
phệ lô già na
Vairocana (skt)—Phệ Lô Giả Na—Tỳ Lô Giá Na—Tỳ Lư Xá Na—Tên tiếng Phạn của Pháp thân Phật Đại Nhựt Như Lai—The Sanskrit name for the dharmakaya of Vairocana Buddha.
Phệ lưu li
吠琉璃; C: fèiliúlí; J: bairuri; S: vaiḍūrya; E: lapiz lazuli.|Một loại đá quý màu xanh da trời. Thường gọi tắt là Lưu li (瑠璃).
phệ lưu ly
vaidurya (skt)—Tỳ Lưu Ly—Lưu Ly Tỳ Đầu Lê—Tỳ Trù Lê Dạ—Ngọc bích (màu xanh da trời)—Lapis lazuli.
Phệ lưu ly 吠琉璃
[ja]バイルリ bairuri ||| Lapiz lazuli; a blue-green gem (vaiḍūrya). Usually written more briefly as 瑠璃. (s: vaiḍūrya; e: Lapiz lazuli) => Một loại đá quý màu xanh da trời. Thương gọi tắt là Lưu ly.
Phệ Quy
(筮龜) hay Phệ Bốc (筮卜): bói toán bằng thẻ tre (một bó có 50 thẻ) và bằng cách đốt mu rùa. Từ đó nó có nghĩa là bói toán nói chung. Trong Chu Dịch Chánh Nghĩa (周易正義), phần Nhĩ Nhã (爾雅) có giải thích về 10 loại thẻ rùa để bói toán, quyết đoán mọi nghi nan rằng: “Thập bằng chi quy giả, nhất viết Thần Quy, nhị viết Linh Quy, tam viết Nhiếp Quy, tứ viết Bảo Quy, ngũ viết Văn Quy, lục viết Phệ Quy, thất viết Sơn Quy, bát viết Trạch Quy, cửu viết Thủy Quy, thập viết Hỏa Quy (十朋之龜者、一曰神龜、二曰靈龜、三曰攝龜、四曰寶龜、五曰文龜、六曰筮龜、七曰山龜、八曰澤龜、九曰水龜、十曰火龜, mười loại thẻ bói rùa, một là Thần Quy, hai là Linh Quy, ba là Nhiếp Quy, bốn là Bảo Quy, năm là Văn Quy, sáu là Phệ Quy, bảy là Sơn Quy, tám là Trạch Quy, chín là Thủy Quy, mười là Hỏa Quy).”
phệ thất la mạt nã
Vaisravana or Dhananda, or Vessanvana (skt)—Tỳ Thất La Mãn Nang—Tỳ Xá La Bà Nô—Tỳ Sa Môn hay Đa Văn Thiên Vương, một trong Tứ Thiên Vương—A form of Kuvera, a god of wealth. A deva who hears much and is well-versed. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương.
phệ thế sư
Vaisesika (skt)—Phế Thế Sư Ca—Phệ Thế Sử Ca Xa Tát Đát La—Phái Thắng Luận dựa theo trước tác của Ngài Thế Thân—Paramartha-satya-sastra, a philosophical work by Vasubandhu.
phệ thế sử ca
Vaisesika CS). A non-buddhist sect. Also Thắng luận, Đa nguyên thực tại luận.
phệ thế sử ca phái
Xem Thắng Luận phái.
phệ xá
Vaiśya (S), Drha-pati (S), Vessa (P)Tỳ xá daGiai cấp thứ ba ở Ấn độ, gồm: nông dân, công nhân, thương gia.
; Vaisya (skt)—Phệ Xa—Tỳ Xá—Giai cấp buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn giai cấp Ấn Độ—The third of the four Indian castes.
phệ xá (chủng)
Vaisya (S). A cast.
phệ xá già
Vaisakha (skt)—Tháng thứ hai của Ấn Độ, từ 15 tháng hai đến 16 tháng ba âm lịch—The second Indian month, from 15th of the second to 16th of the third Chinese months. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.
phệ xá khư
2819梵名 Vaiśākha,巴利名 Vesākha。印度梵曆第二月。又作薜舍佉、蘇舍佉。譯作季春、善格。係佛陀之生月,即夏曆(陰曆)二月十六日至三月十五日間,西曆四、五月間。此月相當於印度六期中之漸熱時、冬春雨終長等五時中之春時、熱雨寒三時中之熱時(梵 grīṣma)。又吠舍佉節為南傳佛教將釋尊之誕生、成道與涅槃併在一起紀念之節日,約在西曆四、五月間之月圓日。一九五四年底,於緬甸仰光召開之世界佛教徒聯誼會第三屆大會上,議定此日為世界佛陀日,在錫蘭(今斯里蘭卡)與東南亞佛教盛行之國家,此為傳統之國家節日。〔十二緣生祥瑞經卷上、寶星陀羅尼經卷四、大孔雀咒王經卷下、宿曜經卷上、大唐西域記卷二〕
; (吠舍佉) Phạm:Vaizàkha. Pàli:Vesàkha. Cũng gọi Bệ xá khư, Tô xá khư, Thiện cách. Hán dịch: Quí xuân. Tháng thứ 2 của lịch Ấn độ, là khoảng thời gian đức Phật đản sinh, tức khoảng từ ngày 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 âm lịch (khoảng tháng 4 đến tháng 5 Tây lịch). Tháng này tương đương với thời gian nóng dần trong 6 thời của Ấn độ. Ngoài ra, tiết Phật xá khư theo Phật giáo Nam truyền là lễ kỉ niệm đức Phật đản sinh, thành đạo và Niết bàn, nhằm ngày trăng tròn trong khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 Tây lịch. Năm 1954, Đại hội Phật giáo thế giới lần thứ 3 được tổ chức tại thủ đô Rangoon của Miến điện, đã quyết định ngày này là ngày đức Phật của thế giới. Tại Tích lan và các nước vùng Đông nam á theo Phật giáo cũng lấy ngày này làm ngày truyền thống của quốc gia. [X. kinh Thập nhị nhân duyên tường thụy Q.thượng; kinh Bảo tinh đà la ni Q.4; kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ; kinh Tú diệu Q.thượng, Đại đường tây vực kí Q.2].
phệ xá li
2819梵名 Vaiśāli。古代中印度國名。又為都城之稱。係古印度十六大國之一,六大城之一。又作吠舍離、毘耶離、毘舍離、薜舍離、鞞奢缵夜、鞞貫羅、維耶、維邪。意譯作廣博、廣嚴。係離車子族(梵 Licchavi)所居之地。據長阿含卷三遊行經載,此國住離車民眾,佛陀在世時頗為繁榮,佛陀屢次遊行說法,人民皆信樂佛教。 又大唐西域記卷七載,此國周圍五千餘里,土地沃壤,風俗淳質,有天祠數十,異道雜居。城西北五六里有一伽藍,住少數僧徒,學習正量部法,東有舍利子等證果之故蹟塔,東北三里有維摩大士故宅塔,其附近即維摩現疾說法處及菴沒羅女故宅塔等,城西北係佛陀最後所行之故趾塔,佛陀曾於此城說維摩經、藥師經。又佛陀入滅百年後,七百賢聖於此作第二次結集。關於其位置,約當今印度恆河北岸、干達克河(Gandak)東岸之毘薩爾(Besārh)。〔方廣大莊嚴經卷一勝族品、北本大般涅槃經卷一、仁王護國般若波羅蜜多經卷下奉持品、佛母大孔雀明王經卷中、五分律卷二、善見律毘婆沙卷十、十誦律卷四十、有部毘奈耶藥事卷二、玄應音義卷四、翻譯名義集卷七〕
; (吠舍厘) Phạm: Vaizàli. Cũng gọi Tì già li, Tì xá li, Bệ xá li, Tì quán la, Duy da, Duy tà. Hán dịch: Quảng bác, Quảng nghiêm. Tên 1 nước ở Trung Ấn độ đời xưa, 1 trong 16 nước lớn, cũng là 1 trong 6 đại đô thành ở thời bấy giờ, là chỗ ở của chủng tộc Li xa tử (Phạm: Licchavi). Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 thì khi đức Phật còn tại thế, dân chúng Li xa ở nước này rất phồn vinh, đức Phật đã nhiều lần đến đây thuyết pháp, dân chúng đều kính tin Phật giáo. Ngoài ra, theo Đại đường tây vực kí quyển 7, nước này chu vi hơn 5 nghìn dặm, đất đai màu mỡ, phong tục thuần hậu, có vài mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở xen lẫn. Cách phíatây bắc đô thành chừng 5, 6 dặm có 1 ngôi già lam, chư tăng ở đây học pháp của Chính lượng bộ, phía đông thành có di tích chứng quả của ngài Xá lợi phất; cách đô thành về phía đông bắc khoảng 3 dặm, có tháp ghi chỗ nhà cũ của Đại sĩ Duy ma, ở gần đó cũng có các tháp kỉ niệm chỗ ngài Duy ma thị hiện có bệnh để nói pháp và ghi chỗ nhà cũ của bà Am một la; phía tây bắc thành có nền cũ của tòa tháp kỉ niệm nơi đức Phật đến đây lần cuối cùng. Đức Phật từng nói kinh Duy ma và kinh Dược sư ở thành này. Sau đức Phật nhập diệt 100 năm, có 700 vị A la hán cử hành Đại hội kết tập lần thứ 2 ở thành này. Vị trí của thành này hiện nay tương đương với vùngBesàrhở đông ngạn sông Gandak, bắc ngạn sông Hằng của Ấn độ. [X. phẩm Thắng tộc kinh Phương quảng trang nghiêm Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); phẩm Phụng trì kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ; kinh Phật mẫu đại Khổng tước minh vương Q.trung; luật Ngũ phần Q.2; Thiện kiến luật tì bà sa Q.10; luật Thập tụng Q. 40; Hữu bộ tì nại da dược sự Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].
phệ xá ly
Xem Quảng nghiêm thành.
; Vaisali (S).
phệ đà
2820梵名 Veda,巴利名同。又作吠馱、韋陀、圍陀、毘陀、薜陀、鞞陀、比陀、皮陀。意譯智、明、明智、明解、分。又稱圍陀論、毘陀論經、薜陀咒、智論、明論。古印度婆羅門教根本聖典之總稱。原義為知識,即婆羅門教基本文獻之神聖知識寶庫。為與祭祀儀式有密切關聯之宗教文獻。關於其成書年代,有諸異說,一般推斷,應始於雅利安人自西北入侵,定居印度河流域之五河地方(梵 Pañjab,即今旁遮普),完成於其後移居恆河流域時。原有三種,即梨俱吠陀(梵 ^g-veda)、沙摩吠陀(梵 Sāma-veda)、夜柔吠陀(梵 Yajur-veda),此三者稱為三明、三吠陀、三韋陀論、三部舊典。加上阿闥婆吠陀(梵 Atharva-veda),即成四吠陀。 四吠陀中:(一)梨俱吠陀,又作荷力吠陀、頡力薜陀、一力毘陀、信力毘陀。意譯讚誦明論、作明實說。即有關讚歌(梵 ṛc)之吠陀。太古之時,雅利安人移居印度五河地方,崇拜自然神,集輯其讚歌,為梨俱吠陀,乃四吠陀之根本,其後成為勸請僧(梵 hotṛ)之祭典書。此吠陀為世界最古之聖典,約成於西元前一千四百年至前一千年。凡十卷,讚歌共一○一七篇(加補遺歌十一篇則為一○二八篇),一○五八○首頌。(二)沙摩吠陀,又作娑摩薜陀、三磨吠陀。意譯平、等、歌詠明論、作明美言、禮儀美言智論。即有關歌詠及旋律(梵 sāman)之吠陀。係蘇摩祭等祭祀中,歌詠僧(梵 udgātṛ)所唱讚歌及其歌曲之集成,乃祭祀用之聖典。凡二卷,一八一○頌(除去重複者則為一五四九頌)。多抄自梨俱吠陀書中,新頌僅七十八。(三)夜柔吠陀,又作冶受吠陀、耶樹薜陀、耶受毘陀、夜殊鞞陀。意譯祠、祭祠、作明供施、祭祀智論、祭祀明論。即有關祭祠之吠陀。係行祭僧(梵 adhvaryu,司供犧行祭)所唱之咒文及其注釋之集成,編纂於梨俱吠陀之後。所傳有二:(1)黑夜柔吠陀(梵 Kṛṣṇa-yajur-veda),此乃合糅吠陀之本文(讚歌、祭祀、咒詞等)及梵書(吠陀之注書)所成。凡四種(或五種、七種、八種)十三卷。(2)白夜柔吠陀(梵 Śukla-yajur-veda),乃分離本文與梵書,整理黑夜柔,並彙集咒文之解說而成。(四)阿闥婆吠陀,又作阿健薜陀、阿他毘陀、阿陀婆毘陀、阿為闥婆。意譯咒、術、咒術、禳災、作明護有、異能護方智論、禳災明論。為招福、咒咀禳災等咒詞之集成。其中,招福之咒詞由祭火僧(梵 atharvan)司之,咒咀禳災之咒詞由央耆羅僧(梵 aṅgiras)司之。凡二十卷,七三一篇,六千首頌。內有一千二百頌係由梨俱吠陀中抄出者。 四吠陀各有副吠陀(梵 upa-veda),如梨俱吠陀之副吠陀為阿輪論(梵 Āyar-veda),意譯壽命論,即醫書。沙摩吠陀之副吠陀為揵闥婆論(梵 Gāndharva-veda),即音樂論。夜柔吠陀之副吠陀為陀菟論(梵 Dhanu-veda),即射法論。阿闥婆吠陀之副吠陀為武器論(梵 Śastra-śāstra),即軍學。 四吠陀之內容,廣泛而言,包括四吠陀本集(梵 Saṃhitā)、梵書(梵 Brāhmaṇa,狹義之梵書)、森林書(梵 Āraṇyaka)、奧義書(梵 Upaniṣad)等。其後梵書、奧義書等多被獨立研究。本集係集錄讚歌、咒句、祭詞等。梵書(狹義)分儀軌、釋義二部。儀軌規定祭祀之順序方法、讚歌之用途;釋義則解說讚歌之意義、語源,及祭祀之起源與意義。森林書及奧義書(又稱吠檀多)旨在考察人生之意義。又廣義之梵書,包括梵書(狹義)、森林書、奧義書等三部。故就吠陀而言,狹義之吠陀單指本集,廣義則指本集與梵書(廣義)。由於傳承與解釋相異,後世遂有諸學派與異本之產生,構成複雜之文獻組織。今所傳之吠陀文獻,雖僅為既存之小部分,然已堪稱浩瀚博大。 吠陀為天啟文學(梵 śruti),相傳係太古諸大仙依神之啟示所誦出,為毘耶娑仙人(梵 Vyāsa,意譯廣博)所整理編成。「吠陀」本身即意味「天啟之神智」,故與梵書同稱為天啟,以此區別於經(梵 sūtra)等由人類知識、智慧所作之傳承。後世彌曼蹉派(梵 Mīmāṃsā)、吠檀多派(梵 Vedānta)等倡導吠陀之先天常住、絕對真實,主張「聲常住論」,即承襲天啟之說。此天啟聖典發展到後代,又產生不少輔助典籍,此即吠陀六支分(梵 Vedāṅga)。此支分與摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)、羅摩耶那(梵 Rāmāyana)二大敘事詩,及摩奴法典(梵 Mānava Dharma Śāstra)等,相傳皆為聖賢所著述,故稱為聖傳文學(梵 Smṛti)。內容包含語音學(梵 Śikṣā)、韻律學(梵 Chandas)、文法學(梵 Vyākaraṇa)、語源學(梵 Nirukta)、天文曆學(梵 Jyotiṣa)、祭儀綱要學(梵 Kalpa-sūtra)等。其中祭儀綱要學,為了解吠陀不可欠缺之典籍。 吠陀所用之語言稱吠陀語(梵 Vedic Sanskrit),因時代不同,而有新古各層之分。以韻文(讚歌)與散文(敘述)觀之,在文體及語法上均有顯著之差異。至於奧義書,則幾近古典梵文。吠陀乃集古印度文化之精髓,為正統婆羅門教思想之淵源,其特色為神話、宗教、哲學三者混融不分。觀其內容,含哲學與宗教思想者為智品(梵 jñānakāṇḍa),含祭祀部門者為業品(梵 karmakāṇḍa);前者即奧義書,後者相當於梵書。又吠陀之哲學思想係以梨俱吠陀創造讚歌之宇宙論為始,開展為豐富之多神教神話教理,終至達到奧義書「梵我一如」之根本原理,即「不二一元論」哲學。 近世關於吠陀之研究頗受重視,對其神格及神話研究方面,產生出宗教學與比較神話學等。又吠陀語之研究結果,對比較語言學貢獻甚大。現有吠陀之原典出版,及英、德語譯本。〔毘耶娑問經卷上、大寶積經卷一二○廣博仙人會、大乘理趣六波羅蜜多經卷十、大乘密嚴經卷上、十誦律卷三十八、有部苾芻尼毘奈耶卷一、大毘婆沙論卷十四、大智度論卷二、百論疏卷上之下、四分律疏飾宗義記卷十本、大唐西域記卷二、南海寄歸內法傳卷四、印度三大聖典第一篇(糜文開)、印度哲學史略第一章(湯用彤)、印度哲學史綱第一篇第一章(黃懺華)〕(參閱「四吠陀」1695、「奧義書」5439)
; Xem Vệ đà.
; Vedas (S). Brahmanic canon. Also Vệ đà.
; Kinh Vệ Đà—Veda (skt).
; (吠陀) Phạm, Pàli: Veda. Hán âm: Phệ đà, Vi đà, Tì đà, Bệ đà, Tỉ đà, Bì đà. Hán dịch: Trí, Minh, Minh trí, Minh giải, Phân. Cũng gọi Vi đà luận, Tì đà luận kinh, Bệ đà chú, Trí luận, Minh luận. Danh từ gọi chung cácthánh điển của Bà la môn giáo Ấn độ. Nguyênnghĩalà tri thức, tức là kho báu tri thức thần thánh, là văn hiến cơ bản của Bà la môn giáo. Là văn hiến tông giáo có quan hệ mật thiết với nghi thức cúng tế. Về niên đại thành lập sách Phệ đà có nhiều thuyết khác nhau. Thông thường, người ta suy đoán rằng nó được hoàn thành vào thời gian người Aryan từ Tây bắc xâm nhập và định cư ở vùng Ngũ hà (Phạm: Paĩjab) thuộc lưu vực sông Ấn độ (Indus). Kinh Phệ đà nguyên có 3 loại: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) và Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajur-veda). Ba bộ này gọi là Tam minh, Tam phệ đà, Tam vi đà luận, Tam bộ cửu điển. Sau thêm A thát bà phệ đà (Phạm: Atharva-veda) nữa thành 4 bộ Phệ đà. 1. Lê câu phệ đà (cũng gọi Hà lực phệ đà, Hiệt lực bệ đà, Tín lực tì đà). Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh thực thuyết. TứcPhệ đà có liên quan đến Tán ca (Phạm: Fc). Thời thái cổ, người Aryan di cư đến vùng Ngũ hà của Ấn độ, họ sùng bái thần tự nhiên, làm những bài ca để tán tụng thần, rồi gom góp lại mà thành sách Lê câu phệ đà, là gốc của 4 bộ Phệ đà, về sau trở thành kinh điển tế tự của Khuyến thỉnh tăng (Phạm: Hotf). Bộ Phệ đà này là Thánh điển xưa nhất của thế giới, hình thành vào khoảng từ 1400 năm đến 1000 năm trước Tây lịch, gồm 10 quyển, tổng cộng có 1.017 thiên Tán ca (bổ sung 11 thiên nữa thành 1.028 thiên), 10.580 bài tụng. 2. Sa ma phệ đà (cũng gọi Sa ma bệ đà, Tam ma phệ đà). Hán dịch: Bình, Đẳng, Ca vịnh minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Là Phệ đà có liên quan đến việc ca vịnh và Toàn luật (Phạm: Sàman). Là Thánh điển dùng trong việc cúng tế, gồm những bài tán ca và những ca khúc do Ca vịnh tăng (Phạm: Udgàtf) ngâm vịnh trong các nghi thức tế lễ như Tô ma tế..., có 2 quyển, 1.810 bài tụng (bỏ những bài trùng lắp thì có 1.549 bài tụng, phần nhiều được sao chép từ bộ Lê câu phệ đà, chỉ có 78 bài tụng mới). 3. Dạ nhu phệ đà (cũng gọi Dã thụ phệ đà, Da thụ bệ đà, Da thụ tì đà, Dạ thù tì đà). Hán dịch: Từ, Tế từ, Tác minh cúng thí, Tế tựtrí luận, Tế tự minh luận. Tức Phệ đà có liên quan đến việc tế tự, gồm những văn chú và chú thích văn chú mà Hành tế tăng (Phạm: Adhvaryu) xướng tụng, được biên soạn sau Lê câu phệ đà. Có 2 loại: a) Hắc dạ nhu phệ đà (Phạm: Kfwịayajur-veda): Do chính vănPhệ đà (tán ca, tế tự, chú từ...) và Phạm thư (sách chú thích Phệ đà) hợp thành, có 4 thứ (hoặc 5 thứ, 7 thứ, 8 thứ), gồm 13 quyển. b) Bạch dạ nhu phệ đà (Phạm: Zuklayajur-veda): Do tách rời chính văn với Phạm thư, chỉnh đốn lại Hắc dạ nhu và sắp xếp lại những lời giải thích về văn chú mà thành. 4. Athát bà phệ đà (cũng gọi A kiện bệ đà, A tha tì đà, A đà bà tì đà, A vi thát bà). Hán dịch: Chú, Thuật, Chú thuật, Nhương tai, Tác minh hộ hữu, Dị năng hộ phương trí luận, Nhương tai minh luận. Là Phệ đà do thu tập những lời thần chú cầu phúc do Hỏa tế tăng (Phạm: Atharvan) chủ trì; còn những lời thần chú trừ tai họa, nguyền rủa thì do Ương kì la tăng (Phạm: Aígiras) tụng đọc. Bộ Phệ đà này gồm 20 quyển, 731 thiên, 6.000 bài tụng, trong đó có 1.200 bài được sao chép ra từ bộ Lê câu phệ đà. Bốn bộ Phệ đà trên đây, mỗi bộ đều có Phó phệ đà (Phạm: Upa-veda), như Phó phệ đà của Lê câu phệ đà là A luân luận (Phạm: Àyar-veda), Hán dịch Thọ mệnh luận, tức là sách thuốc. Phó phệ đà của Sa ma phệ đà là Kiện thát bà luận (Phạm: Gàndharva-veda), tức là Âm nhạc luận. Phó phệ đà của Dạ nhu phệ đà là Đà nâu luận (Phạm: Dhanuveda), tức là Xạ pháp luận (sách dạy cách bắn cung). Phó phệ đà của A thát bà phệ đà là Vũ khí luận (Phạm: Zastra-zàstra), tức là Quân học.Nội dung của 4 bộ Phệ đà, nói chung, bao gồm Bản tập (Phạm: Saôhità) của 4 Phệ đà, Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, Phạm thư nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Về sau, Phạm thư và Áo nghĩa thư phần nhiều được nghiên cứu riêng biệt. Bản tập củabốn Phệ đà: Thu chép những bài Tán ca, Câu chú, lời tế... Phạm thư (nghĩa hẹp) chia ra làm 2 bộ: Nghi quĩ, Thích nghĩa. Nghi quĩ qui định phương thức và thứ tự tế lễ, cách sử dụng tán ca. Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa, nguồn gốc của tán ca và nguồn gốc, ý nghĩa của tế tự. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư (cũng gọi Phệ đàn đa) thì nhằm khảo sát và giải thích ý nghĩa đời sống con người. Còn phạm thư theo nghĩa rộng thì bao gồm cả 3 bộ: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư. Bởi thế, khi nói đến Phệ đà, thì Phệ đà nghĩa hẹp chỉ đơn thuần chỉ cho Bản tập, cònPhệ đà nghĩa rộng thì chỉ cho cả Bản tập và Phạm thư (nghĩa rộng). Do sự truyền thừa và giải thích khác nhau, nên đời sau phát sinh nhiều học phái và bản văn bất đồng, tạo thành tổ chức văn hiến phức tạp. Văn hiến Phệ đà được truyền đến ngày nay, tuy chỉ có 1 phần nhỏ, nhưng cũng rất đồ sộ. Phệ đà là văn học thiên khải (Phạm: Zruti, do thiên thần hiển hiện mở bày), tương truyền do các vị đại tiên thời thái cổ y cứ theo sự mở bày của thần linh mà tụng ra, rồi do vị tiên Tì da sa (Phạm: Vyàsa, Hán dịch Quảng bác) sửa chữa lại mà biên tập thành. Bản thân Phệ đà cũng đã là ý nghĩa thần trí thiên khải rồi, cho nên cùng với Phạm thư đều được gọi là Thiên khải, để phân biệt với Kinh (Phạm: Sùtra) do trí thức, trí tuệ của loài người tạo tác và truyền thừa. Đến đời sau, các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta)... cho rằng Phệ đà là tiên thiên thường trụ, là tuyệt đối chân thực và chủ trương Thanh thường trụ luận, chính là thừa kế thuyết Thiên khải vậy. Thánh điển thiên khải này phát triển đến đời sau, lại sinh ra nhiều sách vở phụ trợ, đó chính là 6 chi phần Phệ đà (Phạm: Vedàíga). Những chi phần này cùng với 2 bộ Đại tự sự thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyana) và bộ Pháp điển Ma nô (Phạm: Mànava Dharma Zàtra)... đều là do Thánh hiền trứ tác, vì thế được gọi là Thánh truyền văn học (Phạm: Smfti). Nội dung của 6 chi phần Phệ đà bao gồm: Ngữ âm học (Phạm: Zikwà), Vận luật học (Phạm: Chandas), Văn pháp học (Phạm: Vyàkasaịa), Ngữ nguyên học (Phạm: Nirukta), Thiên văn lịch học (Phạm: Jyotiwa), Tế nghi cương yếu học (Phạm: Kalpa-sùtra)...Trong đó, Tế nghi cương yếu học là sách vở không thể thiếu để hiểu rõPhệ đà. Ngôn ngữ được sử dụng trong Phệ đà gọi là Phệ đà ngữ (Phạm: Vedic Sanskrit), do thời đại bất đồng mà có các tầng bậc mới cũ. Nhận xét về mặt văn vần (tán ca) và văn xuôi (tự thuật) thì trên văn thể và ngữ pháp đều có sai khác. Đến Áo nghĩa thư thì đã gần với văn Phạm cổ điển. Phệ đà là bộ sách tập hợp tinh túy của văn học Ấn độ cổ đại, là nguồn gốc của tư tưởng Bà la môn chính thống, đặc sắc của Phệ đà là dung hợp 3 yếu tố thần thoại, tông giáo và triết học. Xét về nội dung, phần chứa đựng những tư tưởng tông giáo và triết học là phẩm Trí (Phạm:Jĩànakàịđa), tức Áo nghĩa thư; phần chứa đựng bộ môn tế tự là phẩm Nghiệp (Phạm: Karmakàịđa), tương đương với Phạm thư. Tư tưởng triết học của Phệ đà bắt đầu từ Vũ trụ luận của các bài tán ca được sáng tạo trong Lê câu phệ đà, rồi phát triển thành giáo lí thần thoại phong phú của Đa thần giáo, cuối cùng đạt đến nguyên lí căn bản Phạm Ngã Nhất Như của Áo nghĩa thư, tức là triết học Nhất nguyên luận bất nhị. Thời gần đây, việc nghiên cứuPhệ đà rất được xem trọng. Sự nghiên cứu về phương diện thần cách và thần thoại của Phệ đà đã sản sinh ra tông giáo học và Thần thoại tỉ giảo học... Còn kết quả của việc nghiên cứu Phệ đà ngữ thì đã đóng góp rất lớn cho nềnNgôn ngữ tỉ giảo học. Hiện nay, nguyên điển Phệ đà đã được xuất bản và dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Đức... [X. kinh Tì da sa vấn Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.120, hộiQuảng bác tiên nhân; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.10; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.thượng; luật Thập tụng Q.38; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.1; luận Đại tì bà sa Q.14; luận Đại trí độ Q.2; Bách luận sớ Q.thượng, phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10, phần đầu; Đại đường tây vực kí Q.2; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Ấn độ tam đại thánh điển thiên 1 (Mi văn khai); Ấn độ triết học sử lược, chương 1 (Thang dụng đồng); Ấn độ triết học sử cương thiên 1, chương 1 (Hoàng sám hoa)]. (xt. Tứ Phệ Đà, Áo Nghĩa Thư).
phệ đà giáo
2820古印度宗教之一。西元前二千年頃,由古印度西北部雅利安遊牧部落之信仰演化而成。屬多神教。崇拜種種神化之自然力與祖先、英雄人物等。如天界之天神伐樓拿、太陽神蘇利耶;空界之雷神因陀羅、風神伐由;地界之火神阿耆尼、酒神蘇摩等。上記天、空、地等三界之諸神,大多為雅利安人從波斯所引入者。至後期,漸趨一神教之發展,而有抽象神之出現,如造一切神(梵 Viśva-karman)、祈禱主神(梵 Brahmaṇaspati)、原人(梵 Puruṣa)等。已有靈魂之觀念,雖尚無靈魂輪迴之思想信仰,然對後世婆羅門教與印度教之形成實有重大影響。
; (吠陀教) Một trong những tông giáo cổ đại diễn biến từ tín ngưỡng của bộ lạc du mục Aryan ở vùng Tây bắc Ấn độ vào khoảng 2000 năm trước Tây lịch mà thành, thuộc về Đa thần giáo. Tông giáo này sùng bái những năng lực tự nhiên được thần thánh hóa, sùng bái tổ tiên và những nhân vật anh hùng... như Thiên thần Phạt lâu nã, thần Thái dương Tô lợi da, thần sấm Nhân đà la, thần gió Phạt do, thần lửa A kì ni, thần rượu Tô ma...Các thần trên đây thuộc 3 cõi trời, hư không và mặt đất phần nhiều đã do người Aryan du nhập từ Ba tư. Về sau, tông giáo này dần dần phát triển thành Nhất thần giáo, do đó đã xuất hiện các vị thần trừu tượng như Tạo nhất thiết thần (Phạm: Vizva-karman), Kì đảo chủ thần (Phạm: Brahmaịaspati), Nguyên nhân (Phạm: Puruwa)... Quan niệm về linh hồn cũng đã manh nha, tuy vẫn chưa có tư tưởng linh hồn chuyển sinh, nhưng Phệ đà giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo sau này.
phệ đà thánh điển cương yếu
2823梵名 Vedārtha-saṃgraha。印度吠檀多派哲學家羅摩拏遮(梵 Rāmānuja, 1017~1137)撰,旨在闡述奧義書精義。內容包括:(一)簡述自己之立場與敵對派之立場。(二)駁斥吠檀多派中其他學者之主張,如商羯羅之「不二一元論」、巴斯加羅(梵 Bhāskara)與耶達伐婆羅迦夏(梵 Yadavapra Kaśa)之「不一不異說」。(三)詳論純粹精神、根本原質等諸原理。(四)明示對神之虔誠信仰。羅摩拏遮以「制限一元論」為其哲學基礎,強調虔誠信仰為得到解脫之必要條件,其說未出正統婆羅門學說之理論範疇。其重要著作多為經典之注釋書,本書為表明其思想之獨立作品。〔J.B. Carman: The Theology of Rāmānuja, New Haven 1974〕
; Vedartha-saṃgraha (S)Kinh điển Bà la môn.
; (吠陀聖典綱要) Phạm: Vedartha-saôgraha. Tác phẩm, do nhà triết học phái Phệ đàn đa của Ấn độ làLa ma noa già (Phạm: Ràmànuja, 1017-1137) soạn, chủ yếu nói rõ nghĩa tinh túy của Áo nghĩa thư. Nội dung gồm các điểm: 1. Trình bày sơ lược về lập trường của tác giả và lập trường của các phái đối lập.2. Bác bỏ luận thuyết của các học giả khác trong phái Phệ đàn đa, như Bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Zaíkara) Bất nhất bất dị thuyết của Ba tư gia la (Phạm: Bhàskara) và của Da đạt phạt bà la ca hạ (Phạm: Yadavapra Kaza). 3. Bàn rõ về các nguyên lí tinh thần thuần túy, nguyên chất căn bản... 4. Chỉ rõ tín ngưỡng thành kính đối với thần (Thượng đế). La ma noa già lấy Chế hạn nhất nguyên luận làm nền tảng cho triết học của ông, chủ trương tín ngưỡng kiền thành là điều kiện tất yếu để được giải thoát. Những tác phẩm trọng yếu của ông phần nhiều là những sách chú thích các kinh điển. Tác phẩm này cho thấy rõ tư tưởng độc lập của ông. [X. The Theolory of Ràmànuja, New Haven 1974, by J. B. Carman].
phệ đàn đa học phái
2823吠檀多,梵名 Vedānta,其意為吠陀之終(梵 Veda-anta),原指奧義書(梵 Upanisad),乃解說吠陀之奧義,以闡述其終極意義為旨,後漸次廣解其義,而為研究祖述奧義書教理之總稱,其後發展為一派之名稱,倡導梵(梵 Brahman)之最高實在,為印度六派哲學中,最正統有力之學派。又稱後彌曼差派(梵 Uttara-mīmāṃsā)、智彌曼蹉派(梵 Jñāna-mīmāṃsā)。此派約成立於西元一世紀頃,始祖為跋多羅衍那(梵 Bādarāyaṇa),其思想內容係根據古奧義書,調和組織古來諸說而成者,故被稱為奧義書之學徒(梵 Aupaniṣada)。所依典籍,約編纂於五世紀頃。 本派以梵經(梵 Brahma-sūtra)為根本聖典,發揚奧義書中之梵、我(梵 ātman)思想。其後,亦稱吠檀多經(梵 Vedānta-sūtra)或根本思惟經(梵 Śārīraka-mīmaṃsa-sūtra)。其說以「梵」為純精神性之最高我,亦為宇宙生成之根元,萬物皆由其轉變幻現;又身體之存在,皆由梵而來,「我」雖為梵之一部分,但絕不會從梵所生,故「我」不能為梵之果,此乃梵亦住於一部分我之故,此兩者之關係,猶如宇宙萬物與宇宙精神所形成之不一不異關係,故倡「梵我不一不異說」(梵 Bhedābheda)。正統婆羅門係以奧義書為絕對之存在(奧義書是吠陀中的東西),本派雖認為,存於奧義書裡面的吠陀,始有較高價值。然此派之根本精神乃在發揮奧義書中之梵我思想,故大抵而言,仍屬正統婆羅門思想。 吠檀多經因文章簡潔,故注解頗多,諸派學者林立,例如高達怕達(梵 Gauḍapāda)之滿都佉耶頌(梵 Māṇḍūkya-kārikā)、商羯羅阿闍梨(梵 Śaṅkarācārya)之根本思惟經註、羅摩拏遮(梵 Rāmānuja)之梵經註、沙達難多(梵 Sadānanda)之吠檀多精要(梵 Vedāntasāra)等。後商羯羅受佛教中觀思想及瑜伽學派之影響,將高達怕達之滿都佉耶頌思想,發展為「不二一元論」(梵 Advaitavāda),倡梵我一元乃不生不滅、常住之真實,謂現象界一切皆唯識所變。巴斯加羅(梵 Bhāskara)反對商羯羅之說,另創不一不異說,以梵為最高實在,亦承認世界及有情之實有。十一世紀時,羅摩拏遮反對之,乃創「制限一元論」(梵 Viśiṣṭādvaita ),主張梵即毘瑟笯神,於其身中包含物質與個人我,當梵起轉變時,物質成為器世界及有情之身,個人我成為其靈魂,即謂物質及個人我僅為梵之屬性,與梵並非全然相同。此兩派與「不二一元論」同時流傳至今,且匯為一強大學派。 此外,毘瑟笯派之寧巴爾迦(梵 Nimbārka)受羅摩拏遮影響,倡不一不異說。十二世紀時,摩陀婆(梵 Madhva)作吠檀多經之注書,提倡二元說(梵 Dvaita),主張最高我之毘瑟笯神與個人我及物質為不同。十三世紀中葉,阿難陀吉利(梵 Ānandagiri)對吠檀多經之注及商羯羅之注書等更加以複注。十四世紀,維都亞拉尼雅(梵 Vidyāraṇya)撰 Pañcadaśī,提倡絕對不二說。十五、六世紀頃,婆爾羅巴(梵 Vallabha)主張清淨不二說(梵 Śuddhādvaita),謂個人我及物質,與梵為不二。 概言之,吠檀多派之理論皆以梵我一如為絕對之原理,現盛行於印度,而為印度思潮之主流。〔印度哲學概論(梁漱溟)、印度六派哲學綱要(李世傑)、印度哲學研究卷一(宇井伯壽)、G. Thibauṭ: The Vedānta-sūtra; P. Deussen:Das System des Vedānta; M. Walleser: Derältere Vedānta〕
; (吠檀多學派) Phệ đàn đa, Phạm: Vedànta. Cũng gọi Hậu di mạn sai phái (Phạm: Uttara-mìmàôsà), Trí di mạn sai phái (Phạm: Jĩàna-mìmàôsà). Nguyên chỉ cho Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad), chuyên nghiên cứu và giải thuyết nghĩa thâm áo (sâu kín) của Phệ đà, về sau phát triển dần dần thành 1 phái lấy tên Phệ đàn đa học phái. Học phái này chủ trương Phạm (Phạm: Brahman) là thực tại tối cao, 1 học phái chính thống có thế lực nhất trong 6 phái triết học Ấn độ đời xưa. Phái này được thành lập vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, thủy tổ là Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa). Nội dung tư tưởng phái này căn cứ vào Áo nghĩa thư cổ đại, rồi điều hòa tổ chức các học thuyết từ xưa mà thành, vì thế mà phái này được coi như học đồ của Áo nghĩa thư (Phạm: Aupaniwada). Những sách vở y cứ của phái này được biên soạn vào khoảng thế kỉ V.Phái này lấy Phạm kinh (Phạm: Brahma-Sùtra) làm Thánh điển căn bản, phát huy tư tưởng Phạm, Ngã (Phạm: Àtman) trong Áo nghĩa thư. Về sau, Phạm kinh còn được gọi là Phệ đàn đa kinh (Phạm: Vedànta-sùtra), hoặc Căn bản tư duy kinh (Phạm: Sàrìraka-mìmàôsàsùtra). Thuyết của kinh này chủ trương Phạm là Ngã tối cao, Phạm cũng là căn nguyên sinh thành vũ trụ, muôn vật đều do Phạm chuyển biến huyễn hiện, sự tồn tại của thân thể đều từ Phạm mà ra, Ngã tuy là 1 phần của Phạm, nhưng chẳng phải từ Phạm sinh ra, cho nên Ngã không thể là quả của Phạm, đây chính là lí do cắt nghĩa Phạm cũng ở nơi 1 phần Ngã, sự quan hệ giữa Phạm và Ngã cũng giống như sự quan hệ giữa vũ trụ muôn vật được tạo thành và vũ trụ tinh thần là chẳng phải một chẳng phải khác, cho nên mới đề xướng thuyết Phạm Ngã bất nhất bất dị (Phạm: Bhedàbheda). Bà la môn chính thống cho rằng Áo nghĩa thư là sự tồn tại tuyệt đối (Áo nghĩa thư là 1 thứ trong Phệ đà), phái này tuy công nhận điều đó nhưng lại chủ trương Phệ đà tồn tại trong Áo nghĩa thư thì mới có giá trị cao hơn. Tuy nhiên, tinh thần căn bản của phái này vẫn lấy sự phát huy tư tưởng Phạm-Ngã trong Áo nghĩa thư làm mục đích, cho nên, nói một cách đại thể thì phái này vẫn thuộc về tư tưởng Bà la môn chính thống. Do văn chương kinh Phệ đà giản dị, trong sáng nên rất nhiều học giả các phái chú giải kinh này, chẳng hạn như Mãn đô khư da tụng (Phạm: Màịđùkya-kàrikà) của Cao đạt phạ đạt (Phạm: Gauđapàda), Căn bản tư duy kinh chú của Thương yết la a xà lê (Phạm: Zaíkaràcàrya), Phạm kinh chú của La ma noa già (Phạm: Ràmànuja), Phệ đàn đa tinh yếu (Phạm: Vedàntasàra) của Sa đạt nan đà (Phạm: Sadànanda)... Về sau, Thương yết la a xà lê chịu ảnh hưởng của học phái Du già và tư tưởng Trung quán của Phật giáo, đem tư tưởng trong Mãn khư đô khư da tụng của Cao đạt phạ đạt phát triển thành Bất nhị Nhất nguyên luận (Phạm: Advaitavàda), chủ trương Phạm ngã nhất nguyên là thường trụ chân thực, chẳng sinh chẳng diệt và cho rằng tất cả hiện tượng giới đều do thức biến hiện. Ba tư gia la (Phạm: Bhàskara) phản đối thuyết trên đây của Thương yết la a xà lê mà lập riêng thuyết bất nhất bất dị, chủ trương Phạm là thực tại tối cao, cũng thừa nhận thế giới và các loài hữu tình là thực có. Vào thế kỉ XI, La ma noa già phản đối thuyết này mà đề xướng Chế hạn nhất nguyên luận (Phạm: Viziwỉàdvaita) chủ trương Phạm tức là thần Tì sắt nô (Phạm: Viwịu), trong thân Tì sắt nô bao gồm vật chất và Ngã cá nhân, đương lúc Phạm khởi động chuyển biến thì vật chất trở thành khí thế giới và thân hữu tình, còn Ngã cá nhân thì trở thành linh hồn của loài hữu tình, tức chủ trương vật chất và Ngã cá nhân chỉ là thuộc tính của Phạm, chẳng phải hoàn toàn tương đồng với Phạm. Cả hai phái này (Ba tư gia la và La ma noa già) cùng với Bất nhị Nhất nguyên luận đồng thời lưu truyền đến ngày nay, hợp thành 1 học phái lớn mạnh. Ngoài ra, Ninh ba nhĩ ca (Phạm: Nimbarka) thuộc phái Tì sắt nô chịu ảnh hưởng của La ma noa già, đề xướng thuyết Bất nhất bất dị. Vào thế kỉ XII, Ma đà ba (Phạm: Madhva), soạn sách chú thích kinh Phệ đàn đa đề xướng thuyết Nhị nguyên (Phạm: Dvaita), chủ trương Ngã tối cao (Thần Tì sắt nô) cùng với Ngã cá nhân và vật chất không giống nhau. Giữa thế kỉ XIII, A nan đà cát lợi (Phạm: Ànandagiri), chú thích lại các sách chú sớ của kinh Phệ đàn đa, kể cả chú thích của Thương yết la a xà lê. Vào thế kỉ XIV, Duy đô á lạp ni nhã (Phạm: Vidyàraịya), soạn sáchPaĩdazì, chủ trươngthuyết Tuyệt đối bất nhị. Khoảng thế kỉ XV, XVI, Bà nhĩ la ba (Phạm: Vallabha) chủ trương thuyết Thanh tịnh bất nhị (Phạm: Zuddhàdvaita), nghĩa là Ngã cá nhân và vật chất cùng với Phạm chẳng phải là hai. Nói tóm lại, lí luận của phái Phệ đàn đa đều cho rằng Phạm Ngã nhất như là nguyên lí tuyệt đối, hiện đang thịnh hành và là dòng phái chính của trào lưu tư tưởng Ấn độ. [X. Ấn độ triết học khái luận (Lương thấu minh); Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1 (Vũ tỉnh Bá thọ); The Vedàntasùtra, by Thibaut; Das system des Vedànta, by Deussen; Der ltereVedànta, by Walleser].
phệ đàn đa phái
Vedanta (S)Hậu Di Man Sai phái, Trí Di Man Sai pháiHọc phái Phệ đàn đa, chủ trương phạm ngã nhất nguyên luận, khai tổ là Badarayana (Bà đạt la da na), kinh căn bản là Phệ đàn đa.
phệ đàn đa tinh yếu
2823請參閱明論 請參閱梵經 梵名 Vedānta-sāra。十五世紀末,沙達難多(梵 Sadānanda)著,共計十二篇,二○四頌。係綜合商羯羅(梵 Śaṅkarā)之「梵我不二一元論」與羅摩拏遮(梵 Rāmānuja)之「制限一元論」而成。書中指出:(一)祭祀有其內在意義,故應行祭儀。(二)現世與來世之果報皆為暫時者,故應厭離。(三)無明隱遁於梵之中,而每於適當時機顯現出來。梵為「四位」中之第四位(覺位),是無差別之本體。以「我即梵」(梵 A ham Brahma asmi)、「祂即你」(梵 Tat tvam asi)二句格說明梵之唯一、絕對之實在。無明則包含前三位(慧位、光位、萬人位),而以純質、激質、翳質等三者為構成要素。沙達難多又以世界(總相)與個人(別相)之相對關係,來說明無明從幽微至具體現象之間,所展開之各階段狀況。(四)若要求解脫,必須實踐思惟、了解、入禪定三昧,及念梵我不二。本書受數論派之影響極多。〔Jacob: A Manual of Hindu Pantheism, 1881、吠檀多哲學の研究(金倉圓照)〕
; (吠檀多精要) Phạm: Vedànta-sàra. Tác phẩm, gồm 12 thiên, 204 bài tụng, do Sa đạt nan da (Phạm: Sadànanda) soạn vào cuối thế kỉ XV, do tổng hợp 2 luận thuyết Phạm Ngã bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Saíkarà) và Chế hạn nhất nguyên luận của La ma noa già (Phạm:Ràmànuja) mà thành. Nội dung sách này chủ trương 4 luận điểm sau đây: 1. Sự cúng tế có ý nghĩa nội tại của nó, do đó phải thực hành nghi lễ cúng tế. 2. Quả báo đời nay và đời sau đều là tạm thời, vì thế cần phải chán lìa. 3. Vô minh ẩn kín trong Phạm, khi gặp thời cơ thích đáng thì xuất hiện. Phạm là vị thứ 4 (Giác vị) trong Bốn vị, là bản thể không sai khác. Hai câu cách ngôn Ngã tức Phạm (Phạm: A ham Brahma asmi – Ta là Phạm), Đà tức nhĩ (Phạm: Tat tvam asi – Cái ấy tức là ngươi) được dùng để thuyết minh bản thể tuyệt đối duy nhất của Phạm. Còn Vô minh thì bao gồm 3 vị trước (Tuệ vị, Quang vị, Vạn nhân vị) được cấu thành bởi 3 yếu tố: Thuần chất, Kích chất và Ế chất. Sa đạt noa đa lại dựa vào sự quan hệ tương đối của thế giới(tướng chung) và cá nhân(tướng riêng) để nói rõ trạng huống các giai đoạn phát triển của Vô minh từ chỗ sâu kín tối tăm khó thấy đến hiện tượng cụ thể. 4. Nếu muốn cầu giải thoát thì cần phải tư duy một cách thực tiễn, hiểu rõ và vào tam muội thiền định, chuyên niệm Phạm Ngã bất nhị. Sách này chịu ảnh hưởng sâu đậm của học phái Số luận. [X. A Manual of Hindu Pantheism, 1881, by Jacob; Phệ đàn đa triết học chi nghiên cứu (Kim thương Viên chiếu)].
Phệ-thế-sử
xem Vệ-thế-sư.
Phệ-đà
吠陀; C: fèituó; J: haita;|Phiên âm chữ Veda từ tiếng Phạn, là kinh văn căn bản của Bà-la-môn Ấn Độ giáo.
Phệ-đà 吠陀
[ja] ハイタ haita ||| Transcription of the Sanskrit veda, the basic texts of Brahmanistic Indian religion. => Phiên âm chữ Veda từ tiếng Sanskrit, là kinh văn căn bản của Bà-la-môn Ấn Độ giáo.
phỉ
Piti (p)—Zest—Hân hoan hay hứng thú—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), từ “Phỉ” được rút ra từ động từ “panayati” của Phạn ngữ có nghĩa là hoan hỷ hay thích thú. Danh từ “Piti” thường được dịch là Phỉ hay Hỷ, đóng đúng vai trò của nó như là một yếu tố trong thiền na. Phỉ tạm thời khắc phục triền cái “oán ghét sân hận.” Có năm loại “Phỉ.”—According to the Abhidharma, “Piti” derived from the verb “panayati” meaning “to refresh,” may be explained as delight or pleasurable interest in the object. The term is often translated as rapture, a rendering which fits its role as a jhana factor. “Piti” inhibits the hindrance of ill-will (vyapada). There are five grades of “piti.” 1) Khuddaka Piti (p): Cái vui làm mình rùng mình, rởn óc (nổi da gà)—Minor zest which is able to raise the hair on the body. 2) Khanika Piti (p): Cái vui thoáng qua mau lẹ như trời chớp—Momentary zest which is like flashes of lightning. 3) Okkantika Piti (p): Cái vui tràn ngập như sóng biển trườn lên bãi—Showering zest which breaks over the body again and again like waves on the sea shore. 4) Ubbega Piti (p): Cái vui thanh thoát đem lại cho hành giả cảm giác nhẹ nhàng như bông gòn lững lơ bay theo chiều gió—Uplifting zest which can cause the body to levitate. 5) Pharana Piti (p): Cái vui thấm nhuần toàn thể châu thân như bong bóng được thổi phồng hay trận lụt tràn lan làm ngập cả ao hồ—Pervading zest which pervades the whole body as a full-air balloon or as an inundation fills a cavern.
phỉ báng
Apavada (skt). (I) Nghĩa của Phỉ Báng—The meanings of Apavada: 1) Nói xấu—To speak ill of—To defame—To slander—To dispraise—To calumniate—To refute—To deny—To vilify. 2) Sự phỉ báng xãy ra khi bản chất bất khả hữu của một mệnh đề được đặt căn bản trên những kiến giải sai lầm không được hiểu rõ ràng: A refutation takes place when the impossible nature of a proposition based on wrong views is not clear comprehended. (II) Cổ Đức dạy: “Thí như nhơn thóa thiên, hoàn tùng kỷ thân trụy.” Nghĩa là người phun nước miếng lên trời, nước miếng rơi trở xuống ngay nơi mặt chính họ. Hoặc là “Ngậm máu phun người nhơ miệng mình.”—Ancient virtues taught: “Those who spit at the sky, immediately the spit will fall back on their face.” Or To harbor blood to spit at someone, the mouth is the first to suffer from filth. (I) Lời Phật dạy về Phỉ Báng trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Apavada: Chớ nên phỉ báng, đừng làm não hại, giữ giới luật tinh nghiêm, uống ăn có chừng mực, riêng ở chỗ tịch tịnh, siêng tu tập thiền định; ấy lời chư Phật dạy—Not to slander, not to harm, but to restrain oneself in accordance with the fundamental moral codes, to be moderate in eating, to dwell in secluded abode, to meditate on higher thoughts, this is the teaching of the Buddhas (Dharmapada 185).
phỉ báng chánh pháp
Saddharma-pratiksepa (S).
; Phỉ báng Phật pháp (tội nầy nặng nhất vĩnh viễn đọa vào địa ngục)—To speak ill of the Buddhist doctrines—To slander or deny the truth, i.e. Buddhism.
phỉ báng chính pháp
6166梵語 saddharma-pratikṣepa。略稱謗法、破法、斷法。謂破壞佛說之正法,主要係指誹謗大乘經典非為佛所說。謂不信般若、法華、無量壽等大乘經典,且加以毀呰誹謗者,斷盡一切善根,墮入大地獄。據無量壽經卷上載,阿彌陀佛發願救度念佛眾生,唯除犯五逆罪與誹謗正法者。又菩薩善戒經以誹謗正法為菩薩八波羅夷(八重戒)之一;梵網經卷下以誹謗三寶為菩薩十波羅夷之一。蓋誹謗正法,汎論之有兩種:(一)不信大、小二乘之法,遂疑惑誹謗。(二)不信大乘經典為佛所說而誹謗之;或見人讀誦、書寫、受持大乘經典而懷輕賤、憎嫉之心。 據智顗之菩薩戒經義疏卷下載,誹謗三寶係由四種邪見所致,即:(一)上邪見,對於一切均撥無因果。(二)中邪見,不說一切無因果,僅說三寶不及外道。(三)下邪見,不說三寶不及外道,僅心中計執二乘之法殊勝,即捨棄大乘而取小乘。(四)雜邪見,於諸種邪見中,有偏執、雜信、暫念小乘、思義僻謬等四種。 據法藏之梵網經菩薩戒本疏卷四載,謗三寶戒之制意,略有十義,即:(一)業道尤重,無過此故。(二)燒滅善根,悉無餘故。(三)背恩德,惡中極故。(四)破壞信心,滅法眼故。(五)於善行中,若小若大悉不成故。(六)入於外道邪見網故。(七)為大邪見,斷善根故。(八)作諸眾生惡知識故。(九)斷三寶種,由此見故。(十)令自他成阿鼻業故。然誹謗正法之說於阿含等經中極為罕見,惟多散見於大乘經典中,主要係因教誡小乘聲聞之徒誹謗大乘之故。〔法華經卷二譬喻品、道行般若經卷三泥梨品、卷六阿惟越致品、大品般若經卷十一信毀品、卷十六不退品、般舟三昧經譬喻品、北本大般涅槃經卷七、卷十六、大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經卷中、菩薩地持經卷五、菩薩瓔珞本業經卷上、瑜伽師地論卷四十、釋淨土群疑論卷六、法苑珠林卷五十八〕
; (誹謗正法) Phạm: Saddharma-pratikwepa. Cũng gọi: Báng pháp, Phá pháp, Đoạn pháp. Dèm chê chính pháp của đức Phật. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ những chúng sinh niệm Phật, chỉ trừ những người phạm tội Ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. Kinh Bồ tát thiện giới cho tội phỉ báng chính pháp là 1 trong 8 Ba la di (8 giới nặng) của Bồ tát. Còn kinh Phạm võng quyển hạ thì cho tội phỉ báng Tam bảo là 1 trong 10 Ba la di của Bồ tát. Nói chung, phỉ báng chính pháp có 2 loại: 1. Không tin pháp Đại, Tiểu thừa mà nghi ngờ phỉ báng. 2. Không tin các kinh Đại thừa là do chính đức Phật nói mà dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thụ trì các kinh Đại thừa mà sinh lòng khinh dễ, ghen ghét. Theo Bồ tát giới kinh nghĩa sớ quyển hạ của ngài Trí khải thì dèm chê Tam bảo là do 4 loại tà kiến: 1. Thượng tà kiến: Chủ trương tất cả đều không có nhân quả. 2.Trung tà kiến: Chẳng cho tất cả không có nhân quả mà chỉ nói Tam bảo không bằng ngoại đạo. 3. Hạ tà kiến: Chẳng nói Tam bảo không bằng ngoại đạo, mà trong tâm chấp trước pháp Nhị thừa là thù thắng, rồi bỏ Đại thừa mà giữ Tiểu thừa. 4. Tạp tà kiến: Có 4 loại: Chấp trước thiên lệch, tin tưởng tạp nhạp, tạm nhớ Tiểu thừa và suy nghĩ hẹp hòi lầm lẫn. Nhưng thuyết phỉ báng chính pháp rất ít thấy trong các kinh A hàm mà phần nhiều chỉ thấy rải rác trong các kinh điển Đại thừa, mục đích là để răn dạy hàng Thanh văn Tiểu thừa dèm chê Đại thừa. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; phẩm Nê lê kinh Đạo hành bát nhã Q.3; phẩm A duy việt trí kinh Đạo hành bát nhã Q.6; phẩm Tín hủy kinh Đại phẩm bát nhã Q.11; phẩm Bất thoái Q.16; phẩm Thí dụ kinh Bát chu tam muội; kinh Đại bát niết bàn Q.7, 16 (bản Bắc); kinh Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.trung; kinh Bồ tát địa trì Q.5; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Du già sư địa Q.40; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.58].
phỉ báng và cố chấp
Makkha thambha (S).
phỉ luật tân phật giáo
5258菲律賓位於太平洋西南,隔巴士海峽與臺灣相遙望,全國由七千以上之大小島嶼組成,面積三十萬平方公里,約爲臺灣八倍強,人口約爲臺灣二點五倍,全國人口百分之九十信仰天主教,爲遠東唯一之天主教國家,佛教即在天主教之隙縫中艱苦發展。 早在古代,約於西元八至十三世紀間,建都於今蘇門答臘之佛教大帝國室利佛逝(Sri-vishaya)曾擴張其勢力至菲律賓群島,佛教亦隨之傳入。今菲律賓土語中仍保留有若干梵語成分,地下發掘物更有佛像、蓮花等雕刻品,皆可爲古代菲律賓確曾有過佛教之資證,惜未及生根,回教旋即東來。十六世紀開始,由於西班牙長期殖民,挾其強權武力,逼迫土民放棄原有信仰,皈依羅馬天主教,直至一九四六年,於美國支持下,始成立獨立政府。故近代菲律賓佛教與古代毫無關涉,係由華僑自我國傳入,如首都馬尼拉之中路觀音堂、圓通寺,三寶顏市之福泉寺等,均爲適應僑胞消災祈福之需要而創立者。然此類堂寺,大多由在家人主持,亦缺乏積極籌劃之弘法活動,僅能視爲菲律賓初期之華僑弘布道場。 民國二十年(1931),僑界組織「旅菲中華佛學研究會」,翌年,發行「海國伽音」一期,並於二十五年奠基啟建寺宇,即今之大乘信願寺,乃菲律賓爲弘揚正法而以公共名義興建之第一座寺宇。寺成之次年,由國內迎請性願法師主持,繼續擘劃經營,增建堂舍,購置經藏法器,舉辦講經、念佛共修等活動,未久即成爲僑眾雲集之信仰中心。 除信願寺外,陸續又有華藏、普陀、寶藏、隱秀、宿燕、靈鷲、蓮花精舍等,亦皆莊嚴堂皇。其中,華藏寺在馬尼拉近郊,山林清淨,具有叢林之風,該寺爲性願法師所創,今由瑞今法師接任上座(菲律賓佛教習稱一寺之「住持」爲「上座」)。普陀寺亦在馬尼拉市區,創於三十八年,由如意、如滿二法師推動法務。寶藏寺位於馬尼拉旁之仙范鎮,創於三十七年,多年來由女信士修因主持。隱秀寺位於馬尼拉市郊,爲聞名海外之高齡女信士清和姑所創,清和姑乃太虛大師之在俗弟子,早年隻身渡洋至菲律賓,艱苦護法,幾經輾轉,興建隱秀寺,其後自我國禮請自立法師前往駐錫,今亦成爲馬尼拉佛教之重要道場。宿燕寺爲泉州宿燕寺之分院,靈鷲寺由比丘尼瑞妙法師主事。此外另有劉梅生(後出家,法名覺生)及施性儀等人所召集創設之佛教居士林、瑞今法師創辦之能仁學校、劉梅生創辦之普賢學校、自立法師創辦之慈航季刊等,皆成爲弘傳佛法、推動佛教文化、教育青年之重要基石。同時,世界佛教徒聯誼會亦在菲律賓設立分會,該會所附設之歲暮慈贈會,於社會慈濟工作亦頗多貢獻。 大抵觀之,由於固有之天主教信仰、語言隔閡等實際阻力,菲律賓佛教迄今爲止之發展型態,大多限於華僑圈內,難以打入各階層之菲律賓人中。全國佛教徒約十餘萬人,佔菲律賓各宗教人數之最少數。華僑多爲閩南籍,前往菲律賓弘化之出家人亦多爲閩南籍。就初期之弘傳情形而言,性願法師居於公認之領導地位,長期以來,慘澹弘布,居功至偉,成爲當地佛教界人士仰重之精神領袖。繼性願法師之後,領導菲國佛教發展者,爲閩南佛學院出身之瑞今法師,法師渡洋至菲之前,弘化大江南北多年,投入菲國弘傳行列後,極力興辦教育機構,並推展佛教對外之聯誼,除兼任信願、華藏兩大寺之上座外,又任世界佛教徒聯誼會菲律賓分會主席,於今在教內外皆負有極大之聲望。此外,如善契、如滿、如意、妙欽、自立、唯慈、廣範、正宗、妙門等諸師之致力教化,及高文顯、蔡梅邨、姚迺崑、蘇行三等無數僑胞之鼎力護持,皆有助於菲律賓佛教傳布之大業。
; (菲律賓佛教) Phật giáo Phi luật tân. Nước Phi luật tân nằm về phía Tây nam Thái bình dương, khoảng giữa eo biển Ba sĩ và Đài loan, do hơn 7.000 hòn đảo lớn nhỏ hợp thành, diện tích 30 vạn cây số vuông, dân số khoảng hơn 40 triệu, 90% tin theo Thiên chúa giáo, là quốc gia Thiên chúa giáo duy nhất ở Viễn đông, vì thế Phật giáo rất khó phát triển được ở xứ này.Từ rất sớm, khoảng thế kỉ VIII đến XIII Tây lịch, Đế quốc Phật giáo Thất lợi phật thệ (Sri-vishaya), đặt thủ đô ở Sumatra hiện nay, từng đã mở rộng thế lực đến quần đảo Phi luật tân, Phật giáo cũng theo đó mà được truyền vào xứ này. Trong thổ ngữ Phi luật tân ngày nay vẫn còn giữ được một số thành phần tiếng Phạm, những di vật đào được cũng có tượng Phật và những tác phẩmchạm trổ hoa sen... đều là những cứ liệu chứng minh sự có mặt của Phật giáo tại Phi luật tân thời xưa, rất tiếc là chưa kịp bén rễ thì làn sóng Hồi giáo tràn sang phương đông. Bắt đầu từ thế kỉ XVI, người Tây ban nha thi hành chính sách thực dân, dùng vũ lực cưỡng bức thổ dân bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo Thiên chúa giáo La mã, cho mãi đến năm 1946, dưới sự bảo hộ của nước Mĩ, người Phi luật tân mới bắt đầu thành lập chính phủ độc lập. Từ đó Phật giáo Phi luật tân cận đại cũng bắt đầu hoạt động, nhưng hoàn toàn không có quan hệ gì với quá khứ xa xưa, mà chỉ do người Hoa kiều đưa từ Trung quốc truyền vào, như Quan âm đường, chùa Viên thông... ở thủ đô Ma ni la đều do người Hoa kiều sáng lập và do người tại gia chủ trì chứ chưa có các sư. Do đó những hoạt động hoằng pháp chưa được hoạch định, nên những cơ sở trên chỉ có thể được coi là những đạo tràng đáp ứng nhu yếu cầu phúc của người Hoa tại Phi luật tân ở giai đoạn đầu. Năm Dân quốc 20 (1931), giới Hoa kiều thành lập Hội nghiên cứu Phật học Trung hoa tại Phi, năm sau ấn hành tạp chí Hải quốc già âm và năm Dân quốc 25 (1936) xây chùa Đại thừa tín nguyện, là ngôi chùa hoằng dương chánh pháp đầu tiên ở Phi luật tân. Pháp sư Tính nguyện được cung thỉnh từ Trung quốc đến giữ chức Trụ trì, bắt đầu giảng kinh, thuyết pháp và mở các khóa tu niệm cho tín chúng, không bao lâu, chùa Tín nguyện trở thành trung tâm tín ngưỡng của đông đảo người Hoa tại thủ đô Ma ni la. Ngoài chùa Tín nguyện, tiếp tục có các tinh xá và các chùa khác như: Hoa tạng, Phổ đà, Bảo tạng, Ẩn tú, Túc yến, Linh thứu, Liên hoa... được xây dựng và đều trang nghiêm đẹp đẽ, có thêm các vị tăng ni từ Trung quốc được thỉnh sang để trụ trì. Đồng thời, các trường học Phật giáo như trường Năng nhân, trường Phổ đà được thành lập để giáo dục thanh thiếu niên và tờ quí san Từ hàng được phát hành, là cơ quan trọng yếu hoằng dương Phật pháp và phát triển văn hóa Phật giáo. Ngoài ra, 1 phân hội của hội Phật giáo thế giới cũng được đặt tại Phi luật tân và đóng góp rất nhiều vào các hoạt động từ thiện xã hội. Nhận xét chung, do những trở ngại thực tế về ngôn ngữ và tín ngưỡng Thiên chúa giáo cố hữu, nên sự phát triển Phật giáo phần nhiều chỉ hạn trong giới người Hoa kiều, chứ khó đến được các tầng lớp người Phi luật tân. Tín đồ Phật giáo trên toàn cõi Phi luật tân có khoảng 100.000 người, so với các tông giáo khác thì Phật giáo chỉ là thiểu số.
phỉ nguyền
Satisfied.
phỉnh nịnh
To flatter.
phọc
6652悉曇字???(va)。又作婆、縛、和、啝、惒。悉曇體文遍口聲之第四,五十字門之一,四十二字門之一。綜合諸經論,此字之義有多重:(一)言說之義,此係緣於字相上之淺略闡釋。(二)言說不可得之義,此係緣於字義上之深祕闡釋。上記深淺二釋皆係出自梵語 vākya, vac 或 vāda 等字之字首。(三)最上乘聲之義,此係出自梵語 vara-yāna 或 variṣṇha-yāna。(最勝乘)等字之字首。(四)雨大法雨之義,此係出自梵語 varṣaṇa(下雨)之字首。(五)普生安住之義。此外,古來為區別此嚩字與縛???(ba)字,遂常稱此字為「言說之???(va)字」;復因此二字字形頗為近似,易於混淆,故又稱前者為半月形,後者為蓮實形。又於密教中,論及地、水、火、風、空、識等六大之種子時,係以此表示水大之種子。 金剛頂經釋字母品(大一八‧三三九上):「???嚩 字門,一切法語言道斷故。」南本大般涅槃經卷八文字品(大一二‧六五四下):「和者,如來世尊為諸眾生雨大法雨,所謂世間咒術經書,是故名和。」〔光讚般若經卷七、新華嚴經卷七十六、文殊師利問經卷上字母品、大日經卷二、大智度論卷四十八、大日經疏卷七〕
; 6277梵語 bandhana。拘束之義。為煩惱之異名。有下列各種分類:(一)相應縛與所緣縛。部派佛教說一切有部教義之一。有部主張苦、集、滅道四諦及修道所斷之有漏法,自見苦所斷法至修所斷法等五部之隨眠所隨增,彼隨眠束縛與之同時相應之心、心所法,令不得自在,稱為相應縛;隨眠束縛所緣之法,稱為所緣縛。所緣縛又分四種,合稱五縛。然譬喻者則認為隨眠於所緣、相應二者無隨增之義。 (二)相縛與粗重縛。唯識宗教義之一。前者又作相惑,即分別性,妄執遍計所執之自性;此分別性之惑唯為惑之緣,即所緣之相分繫縛見分之義,故稱相縛。後者又作粗重惑,即依他性,妄執依他起之自性;此依他性之惑為惑之體,能繫縛眾生而感後果,故稱粗重縛。 (三)子縛與果縛。受煩惱所縛者,稱為子縛;受苦果所縛者,稱為果縛。 (四)貪、瞋、癡等三縛。貪、瞋、癡束縛眾生之心,使其不自在,故稱為三縛。 (五)四縛,即:(1)欲界眾生於五欲順情等境,心生貪愛,起諸惑業,束縛於身而不得解脫,稱為貪欲身縛。(2)若於逆情等境,起瞋恚煩惱而不得解脫,稱為瞋恚身縛。(3)本非是戒,強以為戒,稱為戒盜;又取以修行,故稱戒取,如外道之雞、狗等戒。由此邪戒而增長惑業,束縛於身,稱為戒盜身縛。(4)於非涅槃法中,妄自分別以為涅槃,心生取著,稱為見取,亦即我見;由此我見增長惑業,束縛於身,稱為我見身縛。〔品類足論卷一、大毘婆沙論卷二十二、卷八十六、鞞婆沙論卷二、順正理論卷五十四、顯揚聖教論卷十六、三無性論卷上、法華經玄義卷三〕(參閱「三縛」683、「子縛果縛」921、「五縛」1204、「四縛」1839)。
; (縛) Phạm: Bandhana. Trói buộc. Tên khác của phiền não. Có nhiều loại: 1. Hai loại phược: a) Tương ứng phược và Sở duyên phược: Phiền não Kiến hoặc, Tư hoặc trói buộc tâm, tâm sở, đồng thời tương ứng với tâm, tâm sở làm cho không được tự tại, gọi là Tương ứng hoặc. Phiền não trói buộc các pháp sở duyên, gọi là Sở duyên phược. b) Tướng phược và Thô trọng phược: -Tướng phược (cũng gọi là Tướng hoặc): Tướng phần sở duyên (đối tượng bị nhận thức) trói buộc Kiến phần (chủ thể nhận thức). Tức là tính phân biệt vọng chấp tự tính của Biến kế sở chấp; hoặc của tính phân biệt này chỉ là duyên của hoặc. Vì tính phân biệt (Kiến phần) bị duyên của hoặc (Tướng phần) trói buộc, cho nên gọi là Tướng phược. -Thô trọng phược (cũng gọi là Thô trọng hoặc): Tính y tha vọng chấp tự tính của Y tha khởi; hoặc của tính Y tha này là thể của hoặc, có năng lực trói buộc chúng sinh và chiêu cảm quả báo đời sau, vì thế gọi là Thô trọng hoặc. c) Tử phược và Quả phược: -Bị phiền não trói buộc, gọi là Tử phược. -Bị quả khổ trói buộc, gọi là Quả phược. 2. Ba loại phược: Tham, sân si, tức tham, sân, si trói buộc tâm chúng sinh làm cho mất tự do, tự tại, vì thế gọi 3 loại phược. 3. Bốn loại phược: a) Tham dục thân phược: Năm dục (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) trói buộc thân làm mất tự do, giải thoát. b) Sân khuể thân phược: Tức giận trói buộc chúng sinh khiến cho không được tự tại. c) Giới đạo thân phược: Các hoặc do chấp tà giới làm tăng trưởng trói buộc thân chúng sinh, khiến không được giải thoát. d) Ngã kiến thân phược: Các hoặc nghiệp do ngã kiến làm tăng trưởng trói buộc thân chúng sinh khiến không được tự tại. Như đối với pháp chẳng phải là Niết bàn mà vọng phân biệt là Niết bàn, rồi sinh tâm chấp trước. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.22, 86; luận Tì bà sa Q.2; luận Thuận chính lí Q.54; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Tam vô tính Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3]. (xt. Tam Phược, Tử Phược Quả Phược, Ngũ Phược, Tứ Phược).
; (縛) Cũng gọi Bà, Phược, Hòa. Chữ Tất đàm (va). Biến khẩu thanh thứ 4 trong những biến khẩu thanh của phụ âm trong Tất đàm, 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Tổng hợp sự giải thích trong các kinh luận thì chữ này có nhiều nghĩa. 1. Nghĩa ngôn thuyết: Giải thích trên bề mặt theo hình tướng của chữ. 2. Nghĩa ngôn thuyết bất khả đắc: Giải thích sâu kín theo nghĩa chữ. Hai cách giải thích sâu cạn trên đây đều theo chữ đầu của tiếng Phạm:Vàkya, Vac hoặcVàda. 3. Nghĩa âm thanh tối thượng thừa: Giải thích theo các chữ đầu của tiếng Phạm: Vara-yàna hoặc Variwỉha-yàna (tối thượng thừa). 4. Nghĩa vũ đại pháp vũ: Tưới trận mưa pháp lớn. Giải thích theo chữ đầu trong tiếng Phạm:Varwaịa(mưa trút xuống). 5. Nghĩa phổ sinh an trụ. Ngoài ra để phân biệt chữ Phạ (va) này với chữ Phạ (ba), xưa nay thường gọi chữ Phạ này là chữ (va) ngôn thuyết. Lại vì hình chữ của 2 chữ này gần giống nhau, rất dễ lẫn lộn, cho nên cũng gọi chữ trước là chữ Phạ (va) hình bán nguyệt, chữ sau là chữ Phạ (ba) hình hoa sen. Trong Mật giáo, khi nói về chủng tử của 6 đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức)thì dùng chữ Phạ (va) này làm chủng tử của nước (thủy đại). Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính (Đại 18, 339 thượng) nói: Chữ Phạ (va) nghĩa là hết thảy các pháp dứt bặt nói năng(Nhất thiết pháp ngữ ngôn đạo đoạn). Phẩm Văn tự trong kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 8 (Đại 12, 654 hạ) nói: Hòa(Phạ) nghĩa là đứcNhư lai Thế tôn vì chúng sinh mà tưới xuống trận mưa pháp lớn, nên gọi là Hòa. [X. kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản dịch mới); phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng, kinh Đại nhật Q.2; luận Đại trí độ Q.48; Đại nhật kinh sớ Q.7].
phọc ca
6278梵語 vākya。又作薄迦。含有章、部、品、言等義,與跋渠(梵 varga)之義同。俱舍論疏卷五(大四一‧五五二上):「梵云縛迦,此云章,是詮辨終竟義,如說諸行無常等章。」
; (縛迦) Phạm:Vàkya. Cũng gọi Bạc ca. Đồng nghĩa: Bạt cừ (Phạm:Varga). Nghĩa chương, bộ, phẩm, lời... Câu xá luận sớ quyển 5 (Đại 41, 552 thượng) nói:Tiếng Phạm Phạ ca, Hán dịch: Chương, là giải thích về nghĩa rốt ráo, như chương nói về các hành vô thường....
phọc dã phệ
6278梵名 Vāyave。為風神,乃一種無縛之風天乘。吠,表無言三昧,義謂畢竟空。大日經義釋卷七載,此一本來無縛,得真解脫之風天乘,於畢竟空中,旋轉無礙,往復迅捷,而能普度眾生。
; Vāyave (S)Tên vị thần gió.
; (縛野吠) Phạm:Vàyave. Một loại xe của thần gió không bị trói buộc. Phệ biểu thị Tam muội không lời, là nghĩa rốt ráo không. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 7 nói rằng: Loại xe của thần gió xưa nay vốn không bị ràng buộc, thực sự được giải thoát, trong chỗ rốt ráo không, xoay chuyển vô ngại, đi lại nhanh chóng, có khả năng chuyên chở hết thảy chúng sinh.
phọc hạt quốc
6278縛喝,梵名 Bokhara。又作捕喝國、薄佉羅國。西域諸國之一。或即今奧克薩斯河(Oxus)南方之巴爾克市(Balkh)。紀元前四世紀末,亞歷山大大帝東征以後,奧克薩斯河流域成為希臘殖民地,稱為巴克托利亞王國(Bactria),我國稱之為大夏,即印度人所謂之臾那世界(Yavana)。西漢頃,月支西進,佔據此地而稱大月氏,或稱睹貨邏;其首都藍子城疑即縛喝國。唐代初,玄奘大師西行求法,經過此地,當時該國佛教猶盛,後漸次衰微。〔大唐西域記卷一〕
phọc mã đáp
6278比喻不得要領之回答。又作順環答。俱舍論卷八(大二九‧四一下):「今此所言同縛馬答,猶如有問:『縛馬者誰?』答言:『馬主。』即彼復問:『馬主是誰?』答言:『縛者。』如是二答,皆不令解。」〔俱舍論光記卷八〕
; (縛馬答) Cũng gọi Thuận hoàn đáp. Lời đáp buộc ngựa, ví dụ câu trả lời vòng vo không đúng ý người hỏi. Luận Câu xá quyển 8 (Đại 29, 41 hạ) nói: Những lời này giống với phược mã đáp. Như có người hỏi: Người buộc ngựa là ai? Đáp: Chủ ngựa! Người kia lại hỏi: Chủ ngựa là ai? Đáp: Người buộc! Hai câu trả lời này đều không làm cho người hỏi hiểu được. [X. Câu xá luận quang kí Q.8].
phọc nhật la
6277梵語 vajra 之音譯。又作跋折羅、伐折羅、斫迦羅。意譯作金剛、金剛杵。金剛為金中最剛者。金剛杵原係古代印度所用之武器,形如三股鎗,亦有五股、九股者。密教取其摧滅敵者之意,故以金剛杵為諸尊之持物,亦為真言行者修法之道具。(參閱「金剛」3532、「金剛杵」3543)
; (縛日羅) Phạm:Vajra. Cũng gọi Bạt chiết la, Phạt chiết la, Chước ca la. Hán dịch: Kim cương, Kim cương chử. Kim cương chử(chày kim cương)là 1 thứ vũ khí của người Ấn độ đời xưa, dùng để diệt quân địch khi xung trận. Trong Mật giáo, Kim cương chử được dùng làm vật cầm tay của các vị tôn, cũng là đạo cụ tu pháp của hành giả Chân ngôn. (xt. Kim Cương, Kim Cương Chử).
phọc sô hà
6278梵名 Vakṣu 或 Vaṅkṣu。又作博叉河、婆叉河、婆槎河、婆輸河。乃閻浮提四大河之一。我國舊稱媯水、烏滸河,發源於興都庫什山,由西北流經中亞細亞,注入鹹海(Aral Sea)。若據大智度論等經論所載,此河發源於阿耨達池之西,流入西北海。另據大唐西域記卷一所載,則睹貨邏(吐火羅)等西域二十七國皆屬此河之流域,乃為中亞細亞數大河流之一。考其位置與歷代之記載,應為今之奧克薩斯河(Oxus),即阿母河(Amu Daria River)。〔起世經卷一閻浮洲品、阿毘曇毘婆沙論卷二〕
; (縛芻河) Phạm: Vakwu hoặc Vaíkwu. Cũng gọi Bác xoa hà, Bà xoa hà, Bà sai hà, Bà du hà. Tên sông, thời xưa Trung quốc gọi là Qui thủy(sông Qui)hoặc sông Ô hử, bắt nguồn từ dãy núi Hindu Kush, từ phía tây bắc chảy qua vùng Trung á rồi đổ vào Hàm hải (Aral sea). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1, thì 27 nước như Đổ hóa la v.v... đều thuộc lưu vực sông này, đây là 1 trong vài con sông lớn ở vùng Trung á. Xét về vị trí của sông này trong tư liệu qua các đời thì hiện nay là sông Oxus (Amu Daria River). [X. phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế; luận A tì đàm tì bà sa Q.2].
phọc thoát
6278謂解脫煩惱之繫縛。楞嚴經卷五(大一九‧一二四下):「佛告阿難:『根塵同源,縛脫無二;識性虛妄,猶如空花。』」
; (縛脫) Trói buộc và giải thoát, hoặc giải thoát khỏi sự trói buộc của phiền não. Kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 124 hạ) nói: Đức Phật bảo ngài A nan: Căn và trần cùng nguồn, trói buộc và giải thoát không hai; thức tính hư dối, như hoa đốm trong hư không.
phọc tát đát la
6279梵語 vastra。又作婆參。意譯為衣。或特指上衣、上服。於有部律中,亦以此語為僧衣之稱。〔法華經卷五分別功德品、根本說一切有部毘奈耶破僧事卷六、瑜伽論記卷六下〕
; (縛薩怛羅) Phạm: Vastra. Cũng gọi Bà tham. Hán dịch: Y(áo). Loại áo mặc tốt. Luật của Hữu bộ cũng dùng từ Phạ tát đát la để gọi áo chư tăng. [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5; Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.6; Du già luận kí Q.6, phần cuối].
phọc tư tiên
6278縛斯,梵名 Vasiṣṭha,巴利名 Vāseṭṭha。又作婆藪仙。六火天之一,二十八部眾之一。原係印度吠陀時代之仙人。於密教位列胎藏界曼荼羅外金剛部之東方,為裸身仙人,右手執蓮華,左手持數珠,盤右足、抬左膝而坐,三昧耶形為數珠鬘。另有住於虛空藏院之縛斯仙,乃為裸身之苦行仙人,右手作彈指形,左手持杖而立,三昧耶形為仙杖。〔中阿含卷三十八鸚鵡經、大日經疏卷六、卷十六、大日經疏演義鈔卷五十三〕
; (縛斯仙) Phạ tư, Phạm: Vasiwỉha. Pàli: Vaseỉỉha. Cũng gọi Bà tẩu tiên. Vị tôn ngồi ở phía đông Ngoại kim cương bộ, trên Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, là 1 trong 6 Hỏa thiên, 1 trong 28 bộ chúng, nguyên là vị tiên ở thời đại Phệ đà của Ấn độ. Hình tượng vị tôn này ở trần, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm chuỗi hạt, chân phải xếp bằng, đầu gối chân trái dựng đứng, hình Tam muội da là chuỗi hạt. Ở viện Hư không tạng, vị tôn này là người tiên khổ hạnh ở trần, tay trái cầm gậy và đứng, tay phải dáng như búng ngón tay, hình Tam muội da là gậy tiên. [X. kinh Anh vũ trong Trung a hàm Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.6, 16; Đại nhật kinh sớ diễn nghĩa sao Q.53].
phọc để
6278梵語 patnī 之音譯。又作波帝。意譯為妻女、女。〔性靈集卷八、祕藏記〕
; (縛底) Phạm: Patnì. Cũng gọi Ba đế. Hán dịch: Thê nữ, Nữ. [X. Tính linh tập Q.8; Bí tạng kí].
phỏng
1) To copy—To imitate. 2) Burnt.
phỏng vấn
To interview.
phỏng đoán
To guess—To presume.
phỏng độ
To estimate—To value.
phối hợp
To combine—To Coordinate.
phối trí
See Phối hợp.
phồn hoa
Prosperous.
phồn thịnh
See Phồn hoa.
Phổ
普; C: pŭ; J: fu;|Rộng rãi, nói chung, toàn thể.
phổ
Samanta (S), Immense Rộng lớn.
; Visva (S). Universal, all; pervasive, ubiquitous.
; Visva (skt). 1) Phổ biến—Universal—All—Pervasive. 2) Phổ cập: Popular.
phổ am
4991(1115~1169)南宋臨濟宗僧。又作普菴。宜春(江西袁州宜春)人,俗姓余。諱印肅。年二十禮壽隆院賢公為師,二十七歲落髮,翌年五月受具足戒。師容貌魁奇,智性巧慧,頗得賢公器重,勉讀法華經,然師以了悟諸佛玄旨惟在一心,而窮研紙墨經文無益於事,遂出遊湖湘,參謁牧庵法忠,有所省悟,再還壽隆院。紹興二十三年(1153),入住慈化寺,禪定之餘,閱讀華嚴經論,一日大悟,親契華嚴境界。爾後慕名而求訪者甚眾,師隨宜說法,或書偈,或折草治病,或伐怪木、祈雨、毀淫祠等,靈應甚多。乾道二年(1166)正月,營建梵宇,四年十二月落成,翌年七月二十一日出示遺偈而示寂,世壽五十五。敕諡「普庵寂感妙濟真覺昭貺禪師」,元成宗重諡「大德慧慶」,明成祖永樂十八年(1420)更加諡「普庵至善弘仁圓通智慧寂感妙應慈濟真覺昭貺慧慶護國宣教大德菩薩」。有語錄三卷行世。因普庵生前袪災除病之靈驗頗多,元仁宗延祐(1314~1320)初年,宗
; (普庵) (1115-1169) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, người Nghi xuân (Nghi xuân, Viên châu, Giang tây), họ Dư, húy Ấn túc. Năm 20 tuổi, sư thờ ngài Hiền công ở viện Thọ long làm thầy, năm 27 tuổi cạo tóc, tháng 5 năm sau thụ giới Cụ túc. Sư có dung mạo khôi ngô, trí tuệ sáng suốt, rất được ngài Hiền công quí trọng và thường khuyên sư đọc kinh Pháp hoa. Nhưng sư cho rằng tỏ ngộ ý chỉ sâu xa của chư Phật chỉ ở chỗ nhất tâm, chứ nghiên cứu kinh văn trên giấy mực chẳng có ích gì, vì thế sư mới đến vùng Hồ Tương (Hồ nam,Tương giang) tham yết ngài Mục am Pháp trung, có chỗtỉnh ngộ, rồi trở về viện Thọ long. Năm Thiệu hưng 23 (1153), sư vào trụ ở chùa Từ hóa, ngoài giờ thiền định, sư xem Hoa nghiêm kinh luận, 1 hôm, sư hoát nhiên đại ngộ, thân chứng cảnh giới Hoa nghiêm. Từ đó về sau, người nghe danh sư tìm đến cầu học rất đông, sư tùy nghi nói pháp, hoặc viết kệ, hoặc dùng cỏ chữa bệnh, cầu mưa, phá hủy các miếu thờ dâm thần, rất linh nghiệm. Ngày 21 tháng 7 năm Càn đạo 25 (1169), sau khi làm kệ để lại, sư an nhiên thị tịch, thọ 55 tuổi. Vua ban thụy hiệu Phổ Am Tịch Cảm Diệu Tế Chân Giác Chiêu Huống Thiền Sư. Đến đời Nguyên, vua Thành tông truy tặng thụy hiệu Đại Đức Tuệ Khánh. Đời minh, vua Thành tổ lại ban thụy hiệu Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Tuệ Tịch Cảm Diệu Ứng Từ Tế Chân Giác Chiêu Huống Tuệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát. Vì lúc sống sư diệt trừ tai nạn, tật bệnh cho mọi người rất linh nghiệm, nên vào năm Diên hựu (1314-1320) đời Nguyên, ngài Tông hốt sáng lập chùa Tuệ khánh, phía sau chùa xây điện Phổ quang minh để thờ tượng của sư, quan dân đều kính tin. Tông Lâm tế Nhật bản cũng chịu ảnh hưởng của phong tục này, nên sau điện Phật cũng thờ bài vị của sư. Sư để lại tác phẩm: Phổ am Ấn túc thiền sư ngữ lục, 3 quyển. [X. Phổ am Ấn túc thiền sư ngữ lục tự; Thiên như duy tắc thiền sư ngữ lục Q.6, 8; Phật tổ lịch đại thông tải Q.30, 36; Thích thị kê cổ lược Q.4; Linh tượng môn Thiền lâm tượng khí tiên].
Phổ Am Ấn Túc
(普庵印肅, 1115-1169), còn gọi là Phổ Am Thiền Sư (普庵[菴]禪師), Phổ Am Tổ Sư (普庵祖師); trong dân gian vẫn thường gọi là Phổ Án (普唵). Ngài là bậc cao tăng của Lâm Tế Tông, pháp từ của Mục Am Pháp Trung (牧庵法忠), sanh vào năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa (政和) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống; xuất thân Nghi Xuân (宜春), Viên Châu (袁州); họ là Dư (余), dung mạo rất kỳ khôi, thiên tánh mẫn tuệ. Khi hạ sanh ông, mẫu thân mộng thấy ánh sáng tỏa khắp bầu trời, hoa sen sanh trên lối đi. Lúc còn nhỏ, Phổ Am mộng thấy một vị dị tăng chỉ vào ngực ông mà bảo rằng: “Ngươi ngày kia sẽ tỉnh ngộ.” Tỉnh dậy, ông đem câu chuyện ấy kể cho mẹ nghe, người mẹ bèn vạch ngực ông ra xem thì quả nhiên có một điểm màu hồng như trái đào. Vào năm 1134 (Thiệu Hưng [紹興] 4), lúc 20 tuổi, ông xuất gia với Thiền Sư Thọ Long Hiền (壽隆賢); rồi đến năm 1141 (Thiệu Hưng 11) mới được xuống tóc và năm sau thì thọ giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺), Viên Châu (袁州). Vào năm 1143 (Thiệu Hưng 13), ông đến dạo chơi Hồ Tương (湖湘), tham yết Thiền Sư Yết Mục Am Pháp Trung (牧庵法忠), được vị này khai thị cho nên tỉnh ngộ. Sau ông trở về Thọ Long Viện (壽隆院). Đến năm 1153 (Thiệu Hưng 23), năm lên 39 tuổi, ông được thỉnh làm Trú Trì Từ Hóa Tự (慈化寺) ở Nghi Xuân, Giang Tây (江西). Ông thường mặc áo vải thô sơ, lưng chưa hề chấm chiếu, chuyên tâm Thiền định, nhân một hôm đọc đến đoạn “đạt bổn tình vong, tri tâm thể hợp (達本情忘、知心體合, đạt gốc tình quên, biết tâm thể hợp)” trong Kinh Hoa Nghiêm thì hoát nhiên tỉnh ngộ. Vào năm 1169 (Càn Đạo [乾道] 5, đời vua Hiếu Tông [孝宗, tại vị 1162-1189] nhà Nam Tống), ông tắm rửa, viết bài kệ, ngồi xếp bằng viên tịch. Bộ Phổ Am Ấn Túc Thiền Sư Ngữ Lục (普菴印肅禪師語錄), 3 quyển, của ông hiện được thâu lục trong bộ Vạn Tân Toản Tục Tạng Kinh (卍新纂續藏經, Vol. 69, No. 1356). Do vì khi còn tại thế, có rất nhiều truyền thuyết linh nghiệm về ông, sau khi qua đời, Thiền Sư Phổ Am được mọi người tín ngưỡng, trở thành một vị thần thánh của Phật Giáo chuyên tiêu tai, giải ách. Như vào năm 1156 (Thiệu Hưng 26), một hôm nọ Thiền Sư mở pháp hội, mọi người đến tham dự rất đông; vì vậy quan phủ cho người đến điều tra xem thử hư thực thế nào, nhưng đột nhiên cuồng phong, mưa lớn, trên trời hiện ra một con rồng lớn, nên quan phủ không dám điều tra, bèn quay trở về. Lại có hôm nọ, đáp ứng lời mời của người tín đồ tên Trần Thiên Chương (陳天章), cử hành pháp sự tại tư gia của người này, nhưng chỉ sai chúng tăng tụng một bộ Kinh Kim Cang. Nhân đó, Trần Thiên Chương không vui lòng, vì vậy Thiền Sư Phổ Am phải tụng thêm một bộ Kinh Kim Cang nữa. Về sau, Trần Thiên Chương bị chết sấp giữa đường, rồi ba ngày sau thì tái sanh lại, tự cho là ông bị dẫn xuống Địa Phủ, Phán Quan quở trách ông rằng: “Sao nhà ngươi lại bất kính với Thiền Sư Phổ Am, rồi bắt tụng thêm biến Kinh Kim Cang.” Sau đó, Trần Thiên Chương lại mang một xâu tiền đèn dầu cúng cho Thiền Sư và nhân đó Thiền Sư viết lên lên lưng ông bốn chữ “thí tài công cứ (施財功據, công đức bố thí tiền tài)”. Sau khi Trần Thiên Chương qua đời, trong một gia đình họ Cam (甘) hạ sanh một đứa bé, trên lưng đứa bé ấy xuất hiện dấu tích bốn chữ như vậy. Tương truyền Thiền Sư rất sùng kính Kinh Kim Cang, từng dùng máu mình viết bộ kinh này trong vòng 5 năm trường và sau đó được tôn thờ tại Từ Hóa Tự. Bộ kinh này cùng với bài văn bia Kim Cang Kinh của thi hào Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) ở Huệ Lực Tự (慧力寺), Lâm Giang (臨江), được xem như là hai bảo vật vô giá về Kinh Kim Cang của Giang Tây. Vào năm 1300 (Đại Đức [大德] 4, đời vua Thành Tông [成宗, tại vị 1294-1307] nhà Nguyên), ông được ban cho thụy hiệu là Đại Đức Huệ Khánh (大德慧慶); rồi đến năm 1420 (Vĩnh Lạc [永樂] 18, đời vua Thành Tổ [成祖, tại vị 1402-1424] nhà Minh), ông lại được phong thêm hiệu là Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Tuệ Tịch Cảm Ứng Từ Tế Chơn Giác Chiêu Huống Huệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát (普庵至善弘仁圓通智慧寂感妙應慈濟眞覺昭貺慧慶護國宣敎大德菩薩). Tại các tự viện của Lâm Tế Tông, thường có thờ Thần Vị của Thiền Sư Phổ Am để hàng phục yêu ma. Do vì ông có tính thần dị, có các đạo sĩ không thuộc Phật Giáo lại tôn sùng ông là Tổ Sư, xưng hiệu là Phổ Án Giáo Chủ (普唵敎主) của Phổ Am Phái (普庵派) hay Phổ Án Phái (普唵派). Tượng của ông có nhiều loại khác nhau như tượng Tỳ Kheo, Đạo Sĩ, Tướng Quân, Đế Vương, v.v. Thậm chí như những người chuyên về ngư nghiệp, thuyền hải cũng thường tôn thờ Thần Vị của Thiền Sư Phổ Am trên thuyền của họ để cầu bình an trên sông nước; nên ông còn được xem như là người có công năng như Hải Thần vậy. Theo truyền thuyết của dân gian, nếu lấy giấy màu hồng, vàng viết lên 8 chữ “Phổ Am đáo thử bách vô cấm kỵ (普庵到此百無禁忌, Phổ Am đến đây, trăm điều không còn cấm kỵ nữa)”, rồi dán trong nhà thì có thể cải thiện được vấn đề phong thủy; hay mang nơi thân mình thì có thể xua đuổi điều xấu và mang lại điều lành. Trong lúc sinh tiền, ông thường làm những điều linh nghiệm như bẻ cây trị bệnh, chặt cây ma quái, cầu mưa, v.v. Hơn nữa, ông lại rất tinh thông Phạn văn, từng lấy Phạn văn phiên âm thành chú, người đời gọi đó là Phổ Am Chú (普庵咒). Thần chú này có thần lực làm cho an định mười phương và tòng lâm, nên thường được tụng tại các tự viện vào mỗi dịp đầu và giữa tháng. Thậm chí thần chú này còn có công năng xua đuổi các loài muỗi, trùng, rắn rít, v.v. Trong khoảng niên hiệu Vạn Lịch (萬曆, 1573-1620) nhà Minh, Thiền Sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) mới đưa thần chú này vào bản Chư Kinh Nhật Tụng (諸經日誦).
phổ bi quan âm
4995為三十三觀音之一。相當於法華經觀世音菩薩普門品所載(大九‧五七中)「應以大自在天身得度者,即現大自在天身而為說法」之觀音化身。其形像為兩手隱藏於法衣而向前下垂,立於山上。大自在天乃三界之最高神,以其威德殊勝,而配以觀音平等普遍之慈悲,故稱普悲觀音。〔佛像圖彙卷二〕(參閱「三十三觀音」514)
; (普悲觀音) Một trong 33 hóa nhân của bồ tát Quán thế âm, tương đương với hóa thân nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 57 trung): Người cần đến thân trời Đại tự tại để được độ, liền hiện thân trời Đại tự tại mà nói pháp cho họ nghe. Hình tượng của Ngài 2 tay buông thõng xuống giấu trong áo pháp, đứng trên núi. Trời Đại tự tại là vị thần cao nhất trong 3 cõi. Vì uy đức thù thắng của vị thần này được phối hợp với lòng từ bi bình đẳng trùm khắp của bồ tát Quan âm, cho nên gọi là Phổ bi Quan âm. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).
Phổ biến
普徧 (遍); C: pŭbian; J: fuhen; |Thâm nhập khắp nơi. Phổ biến, truyền bá khắp nơi.
phổ biến
Là chẳng nơi nào không có, chẳng lúc nào không có.
; To disseminate—To spread—To distribute—To universalize—Universal—Everywhere—On all sides.
phổ biến kim cang bồ tát
Xem Bất không kiến Bồ tát.
Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh
普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經; C: pŭbiàn guāngmíng qīngjìng chìchéng rúyìbăo yìnxīn wúnéngshèng dàmíngwáng dàsuíqiú tuóluóní jīng; J: fuhen kōmyō shōjō shijō nyoishō inshin munōshō daimyōō daizuigu daranikyō; S: mahā-pratisarā-vidyārājñī; T: phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo;|Là kinh văn đầu tiên trong Ngũ vị lục (s: pañcarakṣā), dâng lên cho Đại tuỳ cầu (大隨求, s: mahāpratisarā), vị bảo hộ thoát khỏi điều xấu ác, tội lỗi và bệnh tật. Có 2 bản dịch tiếng Hán đang lưu hành:|1. Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經), viết tắt là Đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (大隨求陀羅尼), 2 quyển, Bất Không dịch. Luận giải tiêng Nhật của Minh Giác (明覺, j: myōkaku) nhan đề Đại tuỳ cầu đà-la-ni khám chú (大隨求陀羅尼勘註) .|2. Đại tuỳ cầu ấn đắc đại tự tại đà-la-ni thần chú kinh (隨求即得大自在陀羅尼神呪經), 1 quyển; Bảo Tư Duy (寶思惟, s: maṇicintana) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ bản kinh tương ứng xin xem Lewis (1995).
Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經
[ja] フヘンコウミョウショウジョウシジョウニョイホウインシンムノウショウダイミョウオウダイズイグダラニキョウ Fuhen kōmyō shōjō shijō nyoishō inshin munōshō daimyōō daizuigu daranikyō ||| The Pubian guangming qingjing chicheng ruyibao yinxin wunengsheng damingwang dasuiqiu tuoluoni jing; Skt. Mahāpratisarā-vidyārājñī; Tib. phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo [To. 561, P.179] ; (Dhāraṇī of the Great Protectress, Queen of Mantras). The first text of the Pañcarakṣā corpus, devoted to Mahāpratisarā 大隨求, who protects against evil, sin and illness. Two Chinese translations are extant: (1) 2 fasc. (T 1153.20.616-637), Dhāraṇī of the Great Protectress who is Universally Radiant, Pure, Incandescent, a Wish-granting Gem, and the Sealed Essence of the Invincible King of Mantras 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經, abbr. Dhāraṇī of the Great Guardress 大隨求陀羅尼經, trans. Amoghavajra 不空. Japanese commentary: Myōkaku's 明覺 Intuitive Notes 大隨求陀羅尼勘註 (T 2242). (2) 1 fasc. (T 1154.20.637-644), Dhāraṇī Incantation of the Protectress who Grants Great Freedom 隨求即得大自在陀羅尼神呪經 trans. Maṇicintana 寶思惟. For an English translation of a related text see Lewis (1995)). => (c: Pubian guangming qingjing chicheng ruyibao yinxin wunengsheng damingwang dasuiqiu tuoluoni jing; s: Mahāpratisarā-vidyārājñī; t: phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo ; e: Dhāraṇī of the Great Protectress, Queen of Mantras). Là kinh văn đầu tiên trong Ngũ vị lục (s: Pañcarakṣā corpus), dâng lên cho Đại tuỳ cầu (Mahāpratisarā 大隨求), vị bảo hộ thoát khỏi điều xấu ác, tội lỗi và bệnh tật. Có 2 bản dịch tiếng Hán đang lưu hành: 1. Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經 . Viết tắt là Đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (大隨求陀羅尼; e: Dhāraṇī of the Great Guardress ); 2 quyển; Bất Không dịch. Luận giải tiêng Nhật của Minh Giác (j: Myōkaku's 明覺 ), nhan đề Đại tuỳ cầu đà-la-ni khám chú (大隨求陀羅尼勘註e: Intuitive Notes) . 2. Đại tuỳ cầu ấn đắc đại tự tại đà-la-ni thần chú kinh ( 隨求即得大自在陀羅尼神呪經 e: Dhāraṇī Incantation of the Protectress who Grants Great Freedom); 1 quyển; Bảo Tư Duy (s: Maṇicintana 寶思惟) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ bản kinh tương ứng, xin xem Lewis (1995).
Phổ biến 普徧
[ja] フヘン fuhen ||| To pervade universally. => Thâm nhập khắp nơi.
Phổ chiếu
普照; C: pŭzhào; J: fushō;|1. Chiếu sáng rộng khắp (s: spharaṇa; t: khyab pa); 2. (k: pojo); thuỵ hiệu của Thiền sư Hàn Quốc Tri Nột (知訥, k: chinul); 3. (j: fushō); thuỵ hiệu của Thiền sư Ẩn Nguyên (隱元), người sáng lập Hoàng Bá tông (黄檗, j: ōbaku) ở Nhật Bản.
phổ chiếu
4997<一>日本法相宗僧。籍貫不詳。初住奈良興褔寺(一說大安寺)。因日本戒壇未完整,天平五年(733,即開元二十一年),奉敕與榮睿等一同跟隨遣唐使丹墀真人廣成入唐。來華後,依洛陽福先寺之定賓受具足戒,深究律部。且受唐玄宗之禮遇與供養。其後,至揚州,於大明寺參謁鑑真,懇請鑑真東渡開化。乃於天平十五年(即天寶二年),與鑑真同返日本,途中倍經艱辛,於天平勝寶六年(754)始歸日本。曾講律於東大寺,聲名遠播。寂年、世壽均不詳。〔佛祖統紀卷四十、佛祖歷代通載卷十六、隆興佛教編年通論卷十五、釋氏稽古略卷三〕 <二>朝鮮曹溪宗中興之祖。諱知訥,號牧牛子,諡號「佛日普照禪師」。今韓國三大寺中之曹溪山松廣寺即師所創立。(參閱「知訥」3464)
; Pu chao (C).
; 1) Chiếu khắp các nơi: Universal shining. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc tại làng Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng. Chùa được xây dựng vào năm 1953—Name of a famous temple, located in Du Hàng Kênh village, An Hải district, Hải Phòng province. It was built in 1953.
phổ chiếu kiết tường tam ma địa
Trạng thái đại thiền định có khả năng phá vở và chấm dứt mọi khổ đau phiền não cho chúng sanh. Chư Phật vào trạng thái đại định nầy trước khi giảng chú vì chư Phật muốn mang lại cho chúng sanh trí huệ, an tịnh, cũng như chấm dứt khổ đau hầu đạt tới trạng thái giác ngộ hoàn toàn—Universal Shining Svastika Samadhi—A great meditative state that has the potential to destroy and end all suffering for all sentient beings. The Buddhas entered this samadhi before preaching the mantra because they wanted to bring all sentient beings wisdom, peace, tranquility, and to end their suffering and bring about the state of enlightenment.
phổ chiếu nhứt thiết thế gian trí
The perfect understanding of universal enlightenment.
phổ chiếu quốc sư ngữ lục
4997凡三卷。明末清初僧隱元隆琦(1592~1673)撰,性瑫編。又作隱元和尚語錄。收於大正藏第八十二冊。隆琦於清順治十一年(1645),赴日弘法,創立黃檗宗。故其語錄乃編集住日本時之興褔寺語錄、崇福寺語錄、普門寺語錄、萬福寺語錄等。大正藏又收錄性杲所編之普照國師法語二卷,刊於本書之後。另有普照國師廣錄三十卷,附年譜二卷,又作隱元大師廣錄,收於日本之禪學大系祖錄卷四。
; Fushō kokushi goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
; (普照國師語錄) Cũng gọi Ẩn nguyên hòa thượng ngữ lục.Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Ẩn nguyên Long kì soạn, ngài Tính thao biên tập vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Năm Thuận trị 11 (1645) đời Thanh, ngài Long kì sang Nhật bản hoằng pháp, sáng lập tông Hoàng bá, bởi thế, nội dung bộ ngữ lục này là thu chép các pháp ngữ dạy chúng khi ngài trụ ở các chùa: Hưng phúc, Sùng phúc, Phổ môn và Vạn phúc tại Nhật bản. Đại chính tạng cũng thu Phổ chiếu quốc sư pháp ngữ, 2 quyển, do ngài Tính cảo biên tập, được in ở sau bộ ngữ lục này. Ngoài ra còn có Phổ chiếu quốc sư quảng lục, 30 quyển, phụ thêm 2 quyển Niên phổ, cũng gọi Ẩn nguyên đại sư quảng lục, được thu vào Thiền học đại hệ tổ lục quyển 4 của Nhật bản.
phổ chiếu quốc sư pháp ngữ
Fushō kokushi hōgo (J).
phổ chiếu tự
4997位於山東泰山南麓。傳創建於六朝,唐代擴建,明代重建。寺內有六朝古松,枝椏參差有致,月光掩映,蔚成奇觀。古松旁有亭,取「古松篩月」之意,命名「篩月亭」。明宣德年間(1426~1434),朝鮮僧滿空曾駐錫於此,寺中今猶存有正德十六年(1521)為紀念滿空而立之紀念碑。
Phổ chiếu 普照
[ja] フショウ fushō ||| (1) Illuminating universally (Skt. spharaṇa; Tib. khyab pa). (2) Pojo; the posthumous title of the Korean master Chinul 知訥. (3) Fushō; the posthumous title of the founder of the Ōbaku 黄檗 school in Japan, Yinyuan 隱元. => 1. Chiếu sáng rộng khắp (s: spharaṇa; t: khyab pa). 2. (k: Pojo); thuỵ hiệu của Thiền sư Cao Ly Trí Nột (k: Chinul 知訥). 3. (j: Fushō); thuỵ hiệu của Thiền sư Ẩn Nguyên (c: Yinyuan 隱元), người sáng lập Hoàng Bá tông (j: Ōbaku 黄檗) ở Nhật Bản.
phổ cúng dường chân ngôn
Universal Offering True Words.
phổ cập
To popularize.
phổ cứu tự
4992位於山西永濟縣黃河、汾河之間。寺內建築極壯麗,全院有大佛殿三十六間。據寺中碑記所載,本寺創建於唐朝,明代重修,又因嘉靖三十四年(1555)之大地震,建築被摧毀無遺。清康熙四十九年(1710)再度整修,抗戰時又毀於砲火,僅存寺門一對石獅與一座金塔。金塔又稱鶯鶯塔,呈四方形,共十三級,周圍四十步,古來行駛黃河之船隻,以此塔為航行標誌。
; (普救寺) Chùa tọa lạc giữa khoảng Hoàng hà và Phần hà, thuộc huyện Vĩnh tế, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Cứ theo bia ghi chùa, thì chùa này được sáng lập vào đời Đường, kiến trúc rất nguy nga tráng lệ, gồm có 36 gian Đại Phật điện. Đến đời Minh, chùa được trùng tu. Năm Gia tĩnh 34 (1555), vùng này bị 1 trận động đất lớn nên các kiến trúc trong chùa bị sụp đổ hoàn toàn. Năm Khang hi 49 (1710) đời Thanh, chùa được kiến thiết lại, nhưng thời kháng chiến lại bị hủy hoại bởi đạn pháo, chỉ còn 1 đôi sư tử bằng đá ở trước cổng chùa và tòa tháp vàng, cũng gọi là tháp Oanh oanh, hình vuông, 13 tầng, chu vi 40 bộ, xưa nay những con thuyền qua lại trên sông Hoàng hà đều lấy tháp này làm tiêu điểm.
Phổ diệu kinh
普曜經; S: lalitavistara; C: pŭyàojīng; J: fuyō kyō; còn được gọi là Thần thông du hí kinh (神通遊戲經), nguyên nghĩa là »Trình bày chi tiết cuộc đời đức Phật«;|Được xem là bản dịch sớm nhất của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經, s: lalitavistara). Pháp Hộ (法護, s: dharmarakṣa) dịch vào thời Tây Tấn, năm 308; gồm 8 quyển, 33 phẩm. Đó là tác phẩm đề cập đến cuộc đời Đức Phật theo tinh thần Đại thừa.|Kinh bao gồm nhiều đoạn văn trình bày hai đời cuối cùng của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kinh mang tính chất tiếp nối giữa Tiểu thừa (s: hīnayāna) và Ðại thừa (s: mahāyāna), được soạn giữa thế kỉ thứ hai trước và sau Công nguyên, chịu ảnh hưởng của phái Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) và về sau được Ðại thừa hoàn chỉnh.
phổ diệu kinh
5004梵名 Lalitavistara。凡八卷。西晉永嘉二年(308)竺法護譯於天水寺,康殊、帛法炬筆受。又稱方等本起經。收於大正藏第三冊。為大乘之佛傳,係記載釋尊降生至初轉法輪之事蹟。異譯本有唐代日照(梵 Divākara,地婆訶羅)所譯之方廣大莊嚴經(又稱神通遊戲經),凡十二卷,二十七品,亦收於大正藏第三冊。〔出三藏記集卷七〕
; Lalitavistara sŪtra (S)Thần Thông Du Hý Kinh, Phương đẳng Bản khởi Kinh.
; (普曜經) Phạm: Lalitavistara. Cũng gọi Phương đẳng bản khởi kinh. Kinh, 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch ở chùa Thiên thủy vào năm Vĩnh gia thứ 2 (308) đời Tây Tấn, các ngài Khang thù và Bạch pháp cự bút thụ, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Đây là bộ Phật truyện thuộc hệ thống Đại thừa, nội dung ghi thuật về sự tích của đức Phật từ giáng sinh đến chuyển pháp luân lần đầu tiên. Kinh này còn có bản dịch khác là kinh Phương quảng đại trang nghiêm (còn gọi kinh Thần thông du hí), do ngài Địa bà ha la (Phạm: Divàkasa– Nhật chiếu) dịch vào đời Đường, gồm 12 quyển, 27 phẩm, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 3. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.7].
Phổ diệu kinh 普曜經
[ja] フヨウキョウ Fuyō kyō ||| The Puyaojing, which is considered to be an earlier translation of the Fangguang da zhuangyan jing 方廣大莊嚴經 (Lalitavistara). Trans. by Dharmarakṣa 法護 of the Western Qin in 308, in eight fascicles and thirty-three chapters. It is a treatment of the Buddha's life according to Mahayana accounts. T 186.3.483-539. => (c: Puyaojing) , được xem là bản dịch sớm nhất của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經c: Fangguang da zhuangyan jing; s: Lalitavistara). Pháp Hộ (s: Dharmarakṣa 法護) dịch vào thời Tây Tấn, năm 308; gồm 8 quyển, 33 phẩm. Đó là tác phẩm đề cập đến cuộc đời Đức Phật theo tinh thần Đại thừa.
phổ giai hồi hướng
Universally transfer all merits and virtues—Đây là hạnh nguyện thứ mười trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Phổ giai hồi hướng là từ sự lễ kính ban đầu nhẫn đến tùy thuận chúng sanh, có bao nhiêu công đức thảy đều đem hồi hướng cho tất cả chúng sanh mọi loài thường được an lạc, không bịnh khổ, dứt trừ ác nghiệp, thành tựu nghiệp lành. Chúng sanh vì tạo tác quá nhiều ác nghiệp, chúng ta xin chịu thế để họ được an vui giải thoát—This is the last of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Universally transfer all merits and virtues means we will take all merits and virtues from the first vow, to worship and respect, up to and including the vow to constantly accord, we universally transfer to all living beings throughout the dharma realm, we vow that all living beings are constantly peaceful and happy without sickness or suffering, we vow that no one will succeed in doing any evil, we vow that everyone will accomplish all good deeds. We vow to stand in for beings and receive all the extremely severe fruits of suffering which they bring on with their evil karma, we vow to liberate all beings and ultimately bring them to accomplish unsurpassed Bodhi.
Phổ Giác
普覺; C: pŭjué; J: fukaku; |»Giác ngộ rộng khắp«. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác (圓覺經).
Phổ Giác 普覺
[ja] フカク fukaku ||| 'Pervasive (Universal) Enlightenment'; one of the twelve bodhisattvas of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經 (Yuanjue jing). => Một trong 12 vị Bồ-tát đương cơ trong kinh Viên Giác (圓覺經e: Sutra of Perfect Enlightenment ; c: Yuanjue jing).
Phổ Hiền
普賢; S: samantabhadra; C: pǔxián; J: fugen; |Một trong những Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa. Ngài được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho »Bình đẳng tính trí« tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī). Ngài ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Ðại Nhật (s: vai-rocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Ngài. Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Ðại Bồ Tát, trú xứ của Ngài là núi Nga Mi. Ðó là nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Ðộ sang Trung Quốc.|Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Bản sơ Phật (s: ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Phổ Hiền này (không phải vị Ðại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trung cho tính Không. Tranh tượng cũng vẽ Ngài hợp nhất (Yab-Yum) với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (s: saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.
phổ hiền
5000華嚴宗將斷絕一切言語思慮之佛境界,稱為性海果分,即毘盧遮那佛之法門;相對於此,應眾生機緣而說教之緣起因分,即普賢菩薩之法門。普賢菩薩在人格上乃等覺位之菩薩,由理而言,則象徵理、定、行,為諸佛之本源,亦為一切諸法之體性,若入果位,稱為性海。故信、解、行、證一切普法者,不問凡聖,皆稱為普賢,體悟此種一乘普賢之大機境界,稱為普賢境界。 華嚴孔目章卷四舉有三乘普賢、一乘普賢二種,每種復各有人、解、行三重,故稱六種普賢。於三乘普賢中,人乃法華經所說之普賢菩薩;解乃法華經所說之會三歸一等趣入一乘之正解者;行乃法華經普賢品所闡明之普賢行。於一乘普賢中,人係見於華嚴經入法界品之普賢菩薩;解係指華嚴經普賢品六十行門中所說普遍與深入乃互相融合不可思議之境界;行係指華嚴經離世間品之十種普賢心及十種普賢願行法。 又普賢行願,指十大願,即:(一)禮敬諸佛,常禮敬一切佛。(二)稱讚如來,常稱讚如來之德。(三)廣修供養,常侍奉一切佛,並予最上之供養。(四)懺悔業障,常懺悔無始以來之惡業,並遵守淨戒。(五)隨喜功德,常隨喜一切佛、菩薩乃至六趣、四生所有之功德。(六)請轉法輪,常禮請一切佛宣說教法。(七)請佛住世,請求佛、菩薩不入涅槃,而能住於世間說法。(八)常隨佛學,常隨毘盧遮那佛,而學佛之教法。(九)恆順眾生,應眾生種別,而作種種供養。(十)普皆迴向,將以上功德,迴向於一切眾生,以完成佛果之願。 若能將以上十種行願相續不斷實踐力行,則可完成普賢菩薩之諸行願海。又人若能以深信之心,受持大願,或讀誦或書寫,亦可得種種功德。〔華嚴經普賢行願品〕(參閱「三聖圓融觀」643)
; Samantabhadra (S), Fouguen (J)
; Samantabhadra or Visva bhadra (skt)—Universal Virtue.
; (普賢) Tông Hoa nghiêm gọi cảnh giới Phật đoạn tuyệt tất cả lời nói, ý nghĩ, là Tính hải quả phần, tức là pháp môn của đức Phật Tì lô giá na. Trái lại, ứng với cơ duyên của chúng sinh mà thuyết pháp, giáo hóa thì gọi là Duyên khởi nhân phần, tức là pháp môn của bồ tát Phổ hiền. Bồ tát Phổ hiền về mặt nhân cách là bồ tát Đẳng giác. Về mặt lí thì bồ tát Phổ hiền tượng trưng cho lí, định, hành, là nguồn gốc của chư Phật, cũng là thể tính của tất cả các pháp, nếu khi nhập vào quả vị thì gọi là Tính hải; cho nên tất cả phổ pháp tín, giải, hành, chứng chẳng kể phàm thánh, đều gọi là Phổ hiền. Thể ngộ được cảnh giới đại cơ của Nhất thừa Phổ hiền này, gọi là cảnh giới Phổ hiền. Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 4 nêu ra 2 loại: Tam thừa phổ hiền và Nhất thừa phổ hiền, mỗi loại lại có 3 lớp Nhân, Giải, Hành nên gọi là Lục chủng Phổ hiền. Trong Tam thừa Phổ hiền thì Nhân (người) là bồ tát Phổ hiền; Giải (hiểu) là hiểu rõ được lí họp ba về một... hướng tới Nhất thừa; Hành (tu hành) là hạnh nguyện Phổ hiền, tất cả đều được nói rõ trong phẩm Phổ hiền kinh Pháp hoa. Trong Nhất thừa Phổ hiền thì Nhân là bồ tát Phổ hiền nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Giải là chỉ cho Phổ biến và Thâm nhập được nói trong 60 hành môn trong phẩm Phổ hiền kinh Hoa nghiêm, là cảnh giới hỗ tương dung hợp bất khả tư nghị; Hành là chỉ cho 10 tâm Phổ hiền và 10 hạnh nguyện Phổ hiền nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. Hạnh nguyện Phổ hiền chỉ cho 10 đại nguyện: 1. Lễ kính chư Phật: Thường lễ kính tất cả Phật. 2. Xưng tán Như lai: Thường khen ngợi công đức Như lai. 3. Quảng tu cúng dường: Thường phụng sự và cúng dường tất cả Phật. 4. Sám hối nghiệp chướng: Thường sám hối những nghiệp ác đã tạo tác từ vô thủy đến nay và luôn giữ gìn giới pháp thanh tịnh. 5. Tùy hỉ công đức: Thường vui theo công đức của tất cả Phật, Bồ tát cho đến của tất cả chúng sinh trong 6 đường và 4 loài. 6. Thỉnh chuyển pháp luân: Thường lễ thỉnh tất cả Phật tuyên nói giáo pháp. 7. Thỉnh Phật tại thế: Thỉnh cầu Phật, Bồ tát không vào Niết bàn mà trụ nơi thế gian để thuyết pháp, giáo hóa. 8. Thường tùy Phật học: Thường theo đức Phật Tì lô giá na để học giáo pháp của Ngài. 9. Hằng thuận chúng sinh: Tùy thuận sự khác biệt của các loài chúng sinh mà làm các việc cúng dường. 10. Phổ giai hồi hướng: Đem những công đức trên hồi hướng cho tất cả chúng sinh để thành tựu nguyện thành quả Phật. Nếu người nào gắng sức thực hành 10 hạnh nguyện trên đây một cách liên tục thì có thể hoàn thành được hạnh nguyện của bồ tát Phổ hiền. Hoặc người nào có lòng tin sâu xa thụ trì đại nguyện, hoặc đọc tụng hay biên chép thì cũng có thể được nhiều công đức. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm]. (xt. Tam Thánh Viên Dung Quán).
phổ hiền bồ tát
5001普賢,梵名 Samantabhadra,或 Viśvabhadra。音譯三曼多跋陀羅菩薩、三曼陀舍
; P'u-hsien (C), Kuntuzangpo (T), Fugen (J), Samantabhadrā (S), Samanta-bhadrā Bodhisattva (S), Fugen (J); P'u-hsien (C), Kuntu-zangpo (T), Viśvabhadrā Bodhisattva (S), All-over Beneficience Bodhisattva Biến cái Bồ tát, Tam mạn đa bạt đà la, Biến Cái Bồ tát Theo Kim Cang thừa, Phổ Hiền Bồ tát biểu tượng bằng hình một Bồ tát loã thể, da xanh tượng trưng tánh không, ôm nữ thần da trắng tượng trưng sự hợp nhất. Ngài có 10 hạnh nguyện: Kính lễ chư Phật, Ca tụng Như Lai, Rộng tu cúng dường, Sám hối nghiệp chướng, Tùy hỉ công đức, Thỉnh chuyển pháp luân, Luôn thuận chúng sanh, Hồi hướng cho tất cả chúng sanh Tên một vị Bồ tát. Xem Samantabhadra.
; Samantabhadra or Visvabhadra (skt)—A Bodhisattva called Samantabhadra Bodhisattva—See Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (普賢菩薩) Phổ hiền, Phạm: Samanatabhadra, hoặc Vizvabhadra. Hán âm: Tam mạn đa bạt đà la bồ tát, Tam mạn đà bạt đà bồ tát, Bật thâu bạt đà bồ tát. Cũng gọi Biến cát bồ tát. Vị Bồ tát cỡi voi trắng hầu bên phải đức Phật Thích ca, 1 trong 4 vị đại Bồ tát. Bồ tát Phổ hiền biểu thị Lí, Định, Hành, cùng hiển bày sự viên mãn về lí trí, định tuệ và hành chứng của Như lai, thường trợ giúp đức Như lai tuyên dương giáo pháp để hoàn thành việc lợi ích chúng sinh. Vì thân tướng và công đức của vị Bồ tát này trùm khắp tất cả, thuần 1 vị diệu thiện, cho nên gọi là Phổ hiền. Danh hiệu Phổ hiền xuất hiện đầu tiên trong kinh Tam mạn đà la bồ tát, sau thấy có rộng rãi trong các kinh và trở thành tín ngưỡng phổ biến. Theo phẩm Phổ hiền khuyến phát trong kinh Pháp hoa thì bồ tát Phổ hiền cỡi con voi trắng 6 ngà, hộ vệ hành giả thụ trì kinh Pháp hoa. Thai tông nhị bách đề 10 quyển lập Hữu tướng Phổ hiền luận đề, cho rằng nếu nương theo các hạnh hữu tướng như lễ sám, tụng kinh... thì có thể cảm ứng được thấy bồ tát Phổ hiền. Còn phẩm Phổ hiền hành nguyện phẩm kinh Hoa nghiêm quyển 40 thì nói về 10 hạnh nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền. Mười đại nguyện này tiêu biểu cho hạnh nguyện của tất cả Bồ tát, cho nên cũng gọi là Phổ hiền nguyện hải. Vì hạnh nguyện rộng lớn của Ngài nên vị Bồ tát này thường được gọi là Đại hạnh Phổ hiền bồ tát. Trong Mật giáo, Phổ hiền đồng thể với Kim cương tát đỏa, được tôn trí trong Mạn đồ la của 2 bộ Kim cương và Thai tạng, đó là Phổ hiền của Mật giáo nói chung. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới thì Ngài là 1 trong 16 vị tôn của Hiền kiếp, được an trí ở vị thấp nhất trong 4 vị Bồ tát ở phương bắc, mật hiệu là Phổ nhiếp kim cương, chủng tử là (a#), hình Tam muội da là hình thanh kiếm. Về hình tượng của vị tôn này thì tùy theo các hội mà có khác nhau. Trong hội Vi tế thì tay trái nắm lại, để ở chỗ cạnh sườn, tay phải cầm thanh kiếm sắc; trong hội Cúng dường thì 2 tay cầm hoa sen đưa lên trước ngực, trên hoa sen có kiếm sắc. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới thì vị tôn này được đặt ở góc đông nam của viện Trung đài bát diệp, thân màu trắng, đội mũ báu Ngũ Phật, ngón cái và ngón trỏ của tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có kiếm sắc với những ngọn lửa bao quanh; cánh tay phải duỗi thẳng và bàn tay ngửa ra, co ngón vô danh và ngón út. Chủng tử là (aô), hình Tam muội da là thanh kiếm trên hoa sen, mật hiệu là Chân như kim cương. Ngoài ra còn có pháp tu thờ bồ tát Phổ hiền diên mệnh làm bản tôn gọi là Phổ hiền diên mệnh pháp. Núi Nga mi thuộc tỉnh Tứ xuyên của Trung quốc xưa kia là đạo tràng của bồ tát Phổ hiền, tương truyền do Bồ ông khai sáng vào đời Tấn, thờ tượng Phổ hiền ở chùa Thánh thọ vạn niên. Đến đời Tống, vua Thái tông ban sắc tạo pho tượng bằng đồng pha vàng cao 2 trượng và xây lầu lớn để an vị. Từ đó về sau, người đến lễ bái rất đông. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.9; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Đại nhật kinh sớ Q.1, 9]. (xt. Phổ Hiền).
Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán
普賢菩薩行願讚; C: pŭxián púsà xíngyuàn zàn; J: fugen bosatsu gyōgan san; S: bhadra-caryā-praṇidhānarāja; T: bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa;|Gọi tắt là Phổ Hiền hạnh nguyện tán (普賢行願讚), Bất Không (不空, s: amogha-vajra) dịch.
phổ hiền bồ tát hạnh nguyện tán
5002梵名 Bhadra-carī-praṇidhāna,或 Samantabhadra-caryā-praṇidhāna-rāja。全一卷。唐代不空譯。略稱普賢行願讚。收於大正藏第十冊。以偈頌讚歎普賢菩薩十大願。總計七言四句六十二頌一七三六字。蓋此讚為四十華嚴經最末之普賢廣大願王清淨偈所揭出,原有別行本,即相當於東晉佛陀跋陀羅譯之文殊師利發願經。〔開元釋教錄卷二十、大唐貞元續開元釋教錄卷上、閱藏知津卷一〕
; Bhadrā-cari-praṇidhāna-samantabhadrā-caryā-pranidhara-rāja (S), Bhadrā-caripraṇidhāna (S)Phổ Hiền Hạnh nguyện TánMột bộ trong Hoa Nghiêm bộ.
; (普賢菩薩行願贊) Phạm: Bhadra-carì-praịi dhàna, hoặc Samantabhadra-caryàpraịidhàna-ràja. Gọi tắt: Phổ hiền hành nguyện tán. Kệ tán, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 10. Nội dung gồm 62 bài kệ tụng tán thán 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền. Sáu mươi hai bài kệ tán này chính là Phổ hiền quảng đại nguyện vương thanh tịnh kệ nêu ở cuối kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển), vốn có một bản được lưu hành riêng, tức tương đương với kinh Văn thù sư lợi phát vấn, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Duyệt tạng tri tân Q.1].
Phổ Hiền Bồ Tát đà-la-ni kinh
普賢菩薩陀羅尼經; C: pŭxián púsà tuóluóníjīng; J: fugen bosatsu daranikyō; S: samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; t: kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa |1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch.
Phổ Hiền Bồ-tát hạnh nguyện tán 普賢菩薩行願讚
[ja] フゲンボサツギョウガンサン Fugen bosatsu gyōgan san ||| The Puxian pusa xingyuan zan; (King of Aspirations to Good Conduct) Skt. Bhadracaryā-praṇidhānarāja; Tib. bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa; [To.44 pt.4/1095/4377, P.761] 1 fasc. [T 297.10.880-883], abbr. Aspirations to Good Conduct 普賢行願讚, tr. Amoghavajra 不空. => (c: Puxian pusa xingyuan zan; e : King of Aspirations to Good Conduct; s: Bhadracaryā-praṇidhānarāja; t: bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa); Gọi tắt là Phổ Hiền hạnh nguyện tán普賢行願讚. Bất Không (Amoghavajra 不空) dịch.
Phổ Hiền Bồ-tát đà-la-ni kinh 普賢菩薩陀羅尼經
[ja] フゲンボサツダラニキョウ Fugen bosatsu daranikyō ||| Skt. Samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; Tib. kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa [To.637/877]; (Dhāraṇī of Samantabhadra) 1 fasc. (T 1127.20.541-542), trans. Fatian 法天. => (s: Samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; t: kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa ; e: Dhāraṇī of Samantabhadra); 1 quyển; Pháp Thiên ( Fatian 法天) dịch.
Phổ Hiền cảnh giới
普賢境界; C: pŭxián jìngjiè; J: fugenkyōkai; |Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, đó là cảnh giới chứng nhập bởi các căn cơ bậc thượng của nhất thừa Bồ Tát Phổ Hiền. Là phương diện thực tại của cảnh giới mà chúng sinh chưa thành Phật có thể nhận biết, được diễn tả là cảnh giới Phổ Hiền. Vì Phổ Hiền là Bồ Tát tượng trưng cho tu tập thiền định, là điều có thể giải thích được; khác với cảnh giới trí tuệ giải thoát của Bồ Tát Văn-thù Sư-lợi là không thể nghĩ bàn.
Phổ Hiền cảnh giới 普賢境界
[ja] フゲンキョウカイ fugenkyōkai ||| The 'Realm of Samantabhadra.' In Huayan teaching, the realm known by the great faculties of the Single Vehicle bodhisattva Samantabhadra. The aspect of the reality realm that is perceived by people who are not yet buddhas is expressed as the realm of Samantabhadra. This is because Samantabhadra is the bodhisattva of meditation and practice, which can be explained, as opposed to the realm of wisdom of Mañjuśrī 文殊 which is inexplicable. => Theo giáo lý kinh Hoa Nghiêm, đó là cảnh giới chứng nhập bởi các căn cơ bậc thượng của Phổ Hiền Nhất thừa Bồ-tá . Là phương diện thực tại của cảnh giới mà chúng sinh chưa thành Phật có thể nhận biết, được diễn tả là cảnh giới Phổ Hiền. Vì Phổ Hiền là Bồ-tát tượng trưng cho tu tập thiền định, là điều có thể giải thích được; khác với cảnh giới trí tuệ giải thoát của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi là không thể nghĩ bàn.
phổ hiền diên mệnh pháp
5001謂以普賢延命菩薩為本尊,為除障延命所修之法。其修法之儀則為:安置普賢延命像,正面為大壇,左側為聖天壇,右側甲冑形之火爐為護摩壇,四隅為四天王壇,東方天壇之左側設十二天壇,本尊前七層上各燃七輪燈,道場之周圍懸掛雜色幡,以大幕隔內外,幕外設伴僧之座,行法中不斷讀誦金剛壽命陀羅尼經,結願時於大壇上更置二十一小壇。本尊普賢延命有二十臂,左十臂持蓮花、劍、輪、舌、羯磨杵、甲冑、牙、金剛拳、鎖、鈴;右十臂執五鈷杵、鉤、箭、拳、寶珠、日輪、寶幢、三鈷杵、三鈷鉤、羂索,趺坐於白象上之蓮華座。所乘之象,有一身三頭、三身三頭、四身四頭等不同。 此修法係基於金剛壽命陀羅尼念誦法而來,該儀軌謂,若人每日受持念誦金剛壽命真言各三時,每時各千遍,則過去所有惡業因緣、短命夭壽,皆轉而信心清淨,業障消滅,更增壽命。〔一切諸如來心光明加持普賢菩薩延命金剛最勝陀羅尼經、阿娑縛抄卷二一五諸法要略抄〕
; (普賢延命法) Pháp tu thờ bồ tát Phổ hiền diên mệnh làm Bản tôn, cầu tiêu trừ tai nạn và kéo dài mệnh sống (diên mệnh). Nghi thức của pháp tu này là: An vị tượng Phổ hiền diên mệnh, chínhdiện là Đại đàn, bên trái là đàn Thánh thiên, bên phải là đàn Hộ ma với lò lửa hình giáp trụ, 4 góc là bốn đàn Thiên vương; bên trái đàn Thiên vương về phía đông thiết lập đàn Thập nhị thiên. Trước Bản tôn thắp 7 lớp đèn, chung quanh đàn tràng treo phan phướn nhiều màu, dùng 1 bức màn lớn ngăn cách trong với ngoài; ngoài màn đặt tòa ngồi của chư tăng. Trong khi tu pháp phải liên tục tụng kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni, lúc kết nguyện lại thiết lập 21 Tiểu đàn trên Đại đàn. Bản tôn Phổ hiền diên mệnh có 20 tay, 10 tay trái cầm hoa sen, kiếm, bánh xe, lưỡi, chày yết mà, giáp trụ (áo và mũ sắt), răng nanh, nắm tay kim cương, khóa và chuông nhỏ. Mười tay phải cầm chày 5 chĩa, móc câu, mũi tên, nắm tay, bảo châu, mặt trời, cờ báu, chày 3 chĩa, móc câu 3 chạc và vòng dây, ngồi xếp bằng trên tòa sen đặt trên lưng voi trắng. Voi Ngài cỡi có 1 thân 3 đầu, hoặc 3 thân 3 đầu, hay 4 thân 4 đầu... khác nhau. Pháp tu này được căn cứ vào pháp Kim cương thọ mệnh đà la ni niệm tụng mà lập ra. Pháp Kim cương ấy nói: Nếu người nào mỗi ngày 3 thời thụ trì tụng niệm chân ngôn Kim cương thọ mệnh, mỗi thời tụng 1.000 biến, thì nhân duyên ác nghiệp ở quá khứ, đoản mệnh chết yểu... đều được chuyển hóa và lòng tin thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ, tăng thêm tuổi thọ. [X. kinh Nhất thiết chư Như lai tâm quang minh gia trì Phổ hiền bồ tát diên mệnh kim cương tối thắng đà la ni; Chư pháp yếu lược sao trong A sa phược sao Q.215].
phổ hiền hạnh nguyện
Phổ Hiền Thập Nguyện (mười hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền)—Bodhisattva Samantabhadra's ten vows—Phổ Hiền Thập Giả Kính: 1) Nhứt giả lễ kính chư Phật: First is to worship and respect all Buddhas—Lời nguyện đảnh lễ hết thảy chư Phật có nghĩa là đảnh lễ vô số chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là niềm tin sâu xa của vị Bồ Tát và ngài cảm thấy như lúc nào ngài cũng đang ở trước mặt chư Phật và đảnh lễ bằng cả thân, khẩu và ý của ngài. Ngài sẽ đảnh lễ từng Đức Phật không mệt mỏi cho đến khi tận cùng vũ trụ—By the vow to pay reverence to all the Buddhas is meant that a Bodhisattva will pay reverence to an inconceivable number of Buddhas in the past, present and future with his pure body, speech and mind. He will salute every one of them without feeling fatigue until the end of the universe. 2) Nhị giả xưng tán Như Lai: Second is to make praise to The Thus Come Ones—Lời nguyện tán thán chư Như Lai có nghĩa là một vị Bồ Tát sẽ luôn luôn tán thán chư Như Lai trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngài sẽ trình diện trước mặt từng Đức Như Lai với sự hiểu biết thâm sâu và một nhận thức sáng suốt. Bấy giờ cái biển công đức của Như Lai sẽ được tán thán bằng giọng điệu nhuần nhuyễn và hùng biện; mỗi giọng điệu biểu hiện một tiếng nói vô tận và mỗi tiếng nói phát ra một biển ngôn từ trong mọi hình thức có thể có được. Vị Bồ Tát sẽ tiếp tục sự tán thán nầy sẽ tiếp tục không ngừng nghỉ cho đến khi thế giới tận cùng mà không cảm thấy mệt mỏi—By the vow to praise all the Tathagatas is meant that a Bodhisattva will always praise an innumerable number of Tathagatas in the past, present and future. A Bodhisattva will present himself before each one of these Buddhas with a deep understanding and a clear perception. The ocean of merits of the Tathagata will then be praised with an exquisite and eloquent tongue, each tongue expressing a sea of inexhaustible voices, and each voice articulating a sea of words in every form possible. A Bodhisattva will go on to praise the Buddhas without feeling fatigue and without cessation until the end of the world. 3) Tam giả quảng tu cúng dường: Third is to practice profoundly (vastly) the giving offerings—To cultivate the giving of offerings—Lời nguyện quảng tu cúng dường cho chư Phật, có nghĩa là một vị Bồ Tát sẽ luôn quảng tu cúng dường đến từng Đức Phật trong vô số Đức Phật ba đời, quá khứ, hiện tại và vị lai. Sự cúng dường bao gồm những thứ hoa, tràng hoa, âm nhạc, lọng, y, áo và tất cả những loại hương liệu, dầu thơm và nhiều thứ khác, và cúng dường bằng một số lượng lớn như mây hay núi. Vị Bồ Tát sẽ đốt lên mọi thứ dầu với một số lượng sánh như biển trước mỗi Đức Phật trong vô số các Đức Phật nầy. Nhưng trong tất cả những thứ cúng dường mà người ta có thể thực hiện như thế đối với một Đức Phật thì sự cúng dường tốt nhất là cúng dường Pháp, tức là tự mình tu tập theo giáo lý, gây lợi lạc cho chúng sanh, chịu khổ đau cho chúng sanh mọi loài, nuôi dưỡng thiện căn, thực hiện mọi công việc của một vị Bồ Tát, và đồng thời không xa rời lý tưởng chứng ngộ. Cúng dường vật chất không bằng một lượng vô cùng nhỏ của cúng dường Pháp, vì hết thảy chư Phật đều được sinh ra do sự cúng dường Pháp, vì đây là sự cúng dường thật sự, vì thực hành pháp là thành tựu cao tột mà người ta có thể dâng lên một Đức Phật. Một vị Bồ Tát sẽ thực hiện liên tục những cúng dường nầy đối với từng Đức Phật, không mệt mỏi, không ngừng nghỉ cho đến khi tận cùng thế giới—By the vow to make all kinds of offerings to the Buddhas is meant that a Bodhisattva will always make offerings to an inconceivable number of Buddhas in the past, present, and future. The offering consists of flowers, wreaths, music, umbrellas, garments, and all kinds of incense and ointment, and many other things, and all these offerings in such a large quantity as is equal to clouds or to a mountain. A Bodhisattva will also burn before every one of the innumerable Buddhas all sorts of oil in such a measure as compares to an ocean. But of all the offerings one could thus make to a Buddha the best is that of the Dharma, which is to say, disciplining oneself according to the teaching, benfitting all beings, accepting all beings, suffering pains for all beings, maturing every root of goodness, carrying out all the works of a Bodhisattva, and at the same time not keeping himself away from the thought of enlightenment. The material offerings, no matter how big, are not equal even to an infinitesimal fraction of the moral offerings (dharmapuja), because all Buddhas are born of moral offerings, because these are the true offerings, because the practicing of the Dharma means the perfection of an offering one could make to a Buddha. A Bodhisattva will continuously make offerings to every one of the innumerable Buddhas without feeling fatigue. 4) Tứ giả sám hối nghiệp chướng: Fourth is to repent and reform all karmic hindrances (faults)—Lời nguyện sám hối mọi tội lỗi mà chính mình đã phạm từ vô thỉ và từ đó loại trừ mọi nghiệp chướng của mình là cần thiết trong tu tập vì mọi tội lỗi đều do bởi tham, sân, si từ thân, khẩu, ý của chính mình. Nay thú nhận và sám hối những tội lỗi nầy. Theo Đức Phật, nếu thực sự những tội lỗi nầy là vật chất thì chúng có thể trải đầy khắp đến tận cùng bờ mé vũ trụ mà vẫn chưa hết. Bây giờ một vị Bồ Tát sám hối sạch tận đáy lòng mà nguyện rằng sẽ không bao giờ tái phạm như thế nữa, vì từ đây ngài sẽ luôn an trụ trong giới luật thanh tịnh mà tích tập đủ mọi thứ công đức. Và ngài sẽ không bao giờ mệt mỏi với điều nầy cho đến khi nào thế giới cùng tận—The vow to repent all one's own sins (committed by oneself) and thereby to get rid of one's karma-hindrance is necessary because whatever sins committed by us are due to our greed, anger, and ignorance done by the body, speech, and mind. Now we make full confession and repent. According to the Buddha, all these sins, if they were really substantial, are thought to have filled the universe to its utmost ends and even over-flowing. Now a Bodhisattva vows to repent without reserve from the depth of his heart, vowing that such sins will never be committed again by him, for from now on, he will always abide in the pure precepts amass every sort of merit. And of this he will never get tired even to the end of the world. 5) Ngũ giả tùy hỷ công đức: Fifth is to rejoice and follow in merit and virtue—Compliantly rejoice in merit and virtue—Về lời nguyện tùy hỷ công đức, có nghĩa là một vị Bồ Tát phải luôn thống thiết với mọi chúng sanh về bất cứ mọi điều thiện mà họ suy nghĩ, cảm nhận và thực hành. Tất cả chư Phật đều đã trải qua những khó khăn vô cùng trước khi các ngài đạt được toàn giác. Từ sự phát khởi đầu tiên về ý tưởng chứng ngộ, chư Phật không bao giờ ngần ngại tích tập mọi công đức hướng đến sự đạt thành quả vị Phật, các ngài không bao giờ khởi lên một ý nghĩ về vị kỷ ngay cả phải hy sinh thân mạng và những gì thuộc về thân mạng ấy. Giờ đây một vị Bồ Tát cảm thấy một niềm hỷ lạc thâm thiết đối với những hạnh nguyện của chư Phật, không những các ngài chỉ cảm thấy như thế đối với chư Phật mà thôi, mà đối với bất cứ hành động công đức nào của chúng sanh, dù không quan trọng, các ngài thảy đều hoan hỷ. Với lời nguyện nầy vị Bồ Tát sẽ không bao giờ mệt mỏi khi đem chúng ra thực hành cho đến khi thế giới cùng tận—By the vow to rejoice and follow the merit and virtue is meant that a Bodhisattva should always be in sympathy with all beings for whatever good things they think, or feel, or do. All the Buddhas had gone through untold hardships before they attained full enlightenment. Since their first awakening of the thought of enlightenment, they never hesitated to accumulate all the merit that tended towards the attainment of the goal of their life, they never raised a thought of egotism even when they had to sacrifice their life and all that belonged to them. Now a Bodhisattva vows to feel a sympathetic joy for all these doings of the Buddhas. He does this not only with the Buddhas, but for every possible deed of merit, however significant, executed by any being in the path of existence, of any class of truth-seekers. A Bodhisattva with this vow will never be tired of putting it into practice till the end of the world. 6) Lục giả thỉnh chuyển pháp luân: Sixth is to request that the Dharma wheel be turned—request the turning of the Dharma Wheel—Lời nguyện thỉnh cầu của một vị Bồ Tát đến từng Đức Phật trong vô số Đức Phật chuyển bánh xe Pháp, không mệt mỏi, không ngừng nghỉ đến tận cùng thế giới—By the vow that a Bodhisattva will ask every one of the inconceivable number of Buddhas to revolve the Wheel of the Dharma, without feeling tired and without cease until the end of the world. 7) Thất giả thỉnh Phật trụ thế: Seventh is to request that the Buddha remain in the world—Request the Buddhas dwell in the world—Lời nguyện của một vị Bồ Tát đến từng Đức Phật trong vô số các Đức Phật đừng nhập Niết Bàn. Ngài sẽ thỉnh cầu điều nầy ngay cả với các vị Bồ Tát, A La Hán, Thanh Văn hay Bích Chi, vì ngài muốn chư vị thượng đẳng nầy tiếp tục sống đời và tiếp tục gây lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Ngài sẽ tiếp tục thỉnh cầu không mệt mỏi cho đến tận cùng thế giới—A Bodhisattva vows to ask every one of the inconceivable number of Buddhas not to enter into Nirvana if any is so disposed. He will ask this even of any Bodhisattvas, Arhats, Sravakas, or Pratyekabuddhas; for he wishes these superior beings to continue to live in the world and keep on benefitting all beings. He will keep requesting this until the end of the world. 8) Bát giả thường tùy học Phật: Eighth is to follow the Buddha's teaching always—Follow the Buddhas in study—Vị Bồ Tát nguyện học hỏi từ một đời của một Đức Phật ở trong cõi Ta Bà nầy ngay chính lúc ngài phát khởi ý tưởng về giác ngộ, đã sẵn lòng không bao giờ ngưng việc thực hành, dù cho phải hy sinh thân mạng của chính mình vì việc phổ độ chúng sanh. Thái độ cung kính đối với pháp đã thể hiện qua cách như lấy da mình làm giấy, lấy xương mình làm bút, lấy máu mình làm mực mà chép nên kinh điển Phật chất cao bằng núi Tu Di, ngay cả đến thân mạng mà các ngài cũng không màng, huống là cung vàng điện ngọc, vườn cây, làng mạc và các thứ bên ngoài. Do tu tập mọi hình thức nhẫn nhục, cuối cùng ngài đạt được giác ngộ tối thượng dưới cội Bồ Đề. Sau đó ngài thể hiện mọi loại thần thông hay khả năng tâm linh, mọi loại biến hóa, mọi khía cạnh của Phật thân, và đôi khi đặt mình trong Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi; đôi khi trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, gia chủ, cư sĩ; đôi khi trong hàng Thiên, Long, và phi nhân. Hễ chỗ nào ngài xuất hiện, ngài đều thuyết giảng hết sức biện tài bằng một giọng nói như sấm để đưa tất cả chúng sanh đến chỗ thành thục theo sự ước muốn của họ. Cuối cùng ngài tự tỏ ra là nhập Niết Bàn. Tất cả các giai đoạn nầy của cuộc sống của một Đức Phật, vị Bồ Tát quyết phải học tập như là những mẫu mực cho chính cuộc đời mình. Vị Bồ Tát phải luôn thường tùy học Phật, không mệt mỏi, cho đến khi tận cùng thế giới—A Bodhisattva vows to learn from the life of a Buddha who in this Saha World ever since his awakening of the thought of enlightenment have never ceased from exercising himself ungrudgingly, not even sparing his own life, for the sake of universal salvation. His reverential attitude towards the Dharma had been such as to make paper of his skin, a brush of his bones, and ink of his blood wherewith he copied the Buddhist sutras to the amount of Mount Sumeru. He cared not even for his life, how much less much less for the throne, for the palaces, gardens, villages, and other external things! By practicing every form of mortification he finally attained supreme enlightenment under the Bodhi-tree. After this, he manifested all kinds of psychical powers, all kinds of transformations, all aspects of the Buddha-body, and placed himself sometimes among Bodhisattvas, sometimes among Sravakas, and Pratyekabuddhas, sometimes among Kshatriyas, among Brahmans, householders, lay-disciples, and sometimes among Devas, Nagas, human beings, and non-human-beings. Whenever he has found, he preached with perfect eloquence, with a voice like thunder, in order to bring all beings into maturity according to their aspirations. Finally, he showed himself as entering into Nirvana. All these phases of the life of a Buddha, the Bodhisattva is determined to learn as models for his own life. A Bodhisattva should always follow the Buddha's teaching without feeling tired, until the end of the world. 9) Cửu giả hàm thuận chúng sanh: Ninth is to constantly accord with all living beings—To forever accord with living beings—Trong vũ trụ nầy, đời sống thể hiện ra trong vô số hình thức, người nầy khác với người kia trong cách sinh ra, hình tướng, thọ mạng, xưng danh, khuynh hướng tâm linh, trí tuệ, ước vọng, xu hướng, cách cư xử, y phục, thức ăn, đời sống xã hội, thể cách cư trú, vân vân. Tuy người ta khác nhau như thế, vị Bồ Tát vẫn nguyện sống phù hợp với từng chúng sanh để giúp đở họ, để chăm lo đến các nhu cầu của họ, cung kính họ như cha mẹ mình, hay như chư A La hán, chư Như Lai mà không phân biệt ai là ai trong sự kính trọng nầy. Nếu họ bị bệnh, ngài sẽ là một thầy thuốc đối với họ. Nếu họ đi lạc đường, ngài sẽ chỉ cho họ con đường đúng. Nếu họ bị rơi vào cảnh nghèo khó, ngài sẽ cấp cho họ một kho tàng. Ngài cứ như thế mà cung cấp lợi lạc cho chúng sanh, tùy theo các nhu cầu của họ, vì vị Bồ Tát tin rằng bằng cách phục vụ tất cả chúng sanh, ngài phục vụ tất cả chư Phật; bằng cách cung kính tất cả chúng sanh, làm cho họ hoan hỷ, ngài đã cung kính và làm cho chư Phật hoan hỷ. Một trái tim đại từ bi là bản thể của Như Lai, chính do bởi các chúng sanh mà trái tim từ bi nầy phát khởi, và do bởi trái tim từ bi nầy mà ý tưởng về sự chứng ngộ được phát khởi, và do bởi sự phát khởi nầy mà sự chứng ngộ tối thượng được đạt thành. Vị Bồ Tát nguyện sẽ hàm thuận chúng sanh, không mệt mỏi, cho đến khi tận cùng thế giới—In this universe, life manifests itself in innumerable forms, each one differing from another in the way of its birth, in form, in the duration of life, in name, in mental disposition, in intelligence, in aspiration, in inclination, in demeanor, in garment, in food, in social life, in the mode of dwelling, etc. However, no matter different they are, the Bodhisattva vows to live in accordance with the laws that govern everyone of these beings in order to serve them, to minister to their needs, to revere them as his parents, as his teachers, or Arahts, or as Tathagatas, making no distinction among them in this respect. If they are sick, he will be a good physician for them; if they go astray, he will show them the right path; if they are sunk in poverty, he will supply them with a treasure; thus uniformly giving benefits to all beings according to their needs, because a Bodhisattva is convinced that by serving all beings, he is serving all the Buddhas, that by revering all beings, by making them glad, he is revering and gladdening all the Buddhas. A great compassion heart is the substance of Tathagatahood and it is because of all beings that this compassionate heart is awakened, and because of this compassionate heart the thought of enlightenment is awakened, and because of this awakening supreme enlightenment is attained. A Bodhisattva vows to forever accord with all beings without feeling tired until the end of the world. 10) Thập giả phổ giai hồi hướng: Tenth is to transfer all merit and virtue universally—To universally transfer all merit and virtue—Bất cứ công đức nào mà vị Bồ Tát thu thập được bằng cách chân thành đảnh lễ chư Phật và bằng cách thực hành mọi thứ công hạnh trên, các công hạnh nầy sẽ được chuyển giáo cho lợi lạc của hết thảy chúng sanh đầy khắp trong vũ trụ nầy. Ngài sẽ hồi hướng tất cả mọi công đức của ngài như thế vào việc làm cho chúng sanh cảm thấy an ổn, không bị bệnh tật, tránh xa các hành động xấu ác, thực hành mọi hành động tốt, sao cho nếu có sự ác nào thì đều bị ngăn chận và con đường đúng dẫn đến Niết Bàn được mở ra cho Trời và người. Nếu có chúng sanh nào đang chịu khổ vì các kết quả của ác nghiệp mà họ đã phạm trong quá khứ thì vị Bồ Tát sẽ sẵn sàng hy sinh gánh lấy mọi đau thương cho họ để họ được giải thoát khỏi nghiệp và cuối cùng làm cho họ thể chứng sự giác ngộ tối thượng. Vị Bồ Tát nguyện sẽ hồi hướng mọi công đức nầy cho kẻ khác, không mệt mỏi cho đến tận cùng thế giới—Whatever merits the Bodhisattva acquires by paying sincere respect to all the Buddhas and also by practicing all kinds of meritorious deeds as above mentioned, they will all be turned over to the benefits of all beings in the entire universe. He will thus turn all his merits towards making beings feel at ease, free from diseases, turn away from evil doings, practice all deeds of goodness, so that every possible evil may be suppressed and the right road to Nirvana be opened for the gods and men. If there be any beings who are suffering the results of their evil karma committed in the past, the Bodhisattva will be ready to sacrifice himself and bear the pains for the miserable creatures in order to release them from karma and finally make them realize supreme enlightenment. A Bodhisattva vows to transfer all merit and virtue universally without feeling tired until the end of the world. ** For more information, please see Samantabhadra in Sanskrit/Pali- Vietnamese Section.
Phổ Hiền hạnh nguyện tán
普賢菩薩行願讚; C: pŭxián xíngyuàn zàn; J: fugen gyōgan san; |Tên ngắn của Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán.
phổ hiền như lai
Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
Phổ Hiền quán kinh
普賢觀經; C: pŭxián guān jīng; J: fugen kan kyō; |Tên gọi đầy đủ là (Phật thuyết) quán Phổ Hiền Bồ Tát hạnh pháp kinh ([佛説] 觀普賢菩薩行法經).
Phổ Hiền quán kinh 普賢觀經
[ja] フゲンカンキョウ Fugen kan kyō ||| Puxian guan jing; Full title: (佛説) 觀普賢菩薩行法經. => (c: Puxian guan jing); Tên gọi đầy đủ là (Phật thuyết) quán Phổ Hiền Bồ-tát hạnh pháp kinh (佛説) 觀普賢菩薩行法經.
phổ hiền tam muội
5000為普賢菩薩之修法,有顯密二法。(一)就顯教而言,即依觀普賢菩薩行法經及法華經所說,以普賢菩薩為本尊,諦觀諸法實相中道之理,懺悔六根之罪障。若成就此三昧,則普賢菩薩乘六牙白象,示現於道場。(二)就密教而言,即依普賢金剛薩埵念誦儀軌所說,若身口意之三密與佛相應,則現成普賢之身,稱為普賢三昧。諸佛境界攝真實經卷上(大一八‧二七二上):「依普賢三昧體,及金剛三昧微妙堅牢和合力故,出現普賢大菩薩身。」 又普賢、文殊二大士為一雙之法門,普賢菩薩主司一切三昧,文殊菩薩主司一切般若,助佛教化,故相對於文殊般若而稱普賢三昧。華嚴經探玄記卷十八(大三五‧四四一下):「普賢三昧自在,文殊般若自在。」〔法華三昧懺儀、摩訶止觀卷二下〕(參閱「法華三昧」3396)
; (普賢三昧) Pháp tu của bồ tát Phổ hiền, tùy theo Hiển Mật mà có 2 pháp: 1. Theo Hiển giáo: Căn cứ vào lời dạy trong kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp và kinh Pháp hoa, thờ bồ tát Phổ hiền làm Bản tôn, quán xét lí thực tướng trung đạo của các pháp, sám hối tội chướng của 6 căn. Nếu Tam muội này thành tựu thì bồ tát Phổ hiền cỡi voi trắng 6 ngà thị hiện ở trong đạo tràng. 2. Theo Mật giáo: Căn cứ vào lời dạy trong Phổ hiền kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ, nếu tam mật (thân khẩu ý) của hành giả tương ứng với tam mật của Phật, thì thân hành giả hiện thành thân Phổ hiền, gọi là Phổ hiền tam muội. Kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển thượng (Đại 18, 272 thượng) nói: Nương vào thể Phổ hiền tam muội và sức hòa hợp bền chắc màu nhiệm của Kim cương tam muội mà xuất hiện thân Đại bồ tát Phổ hiền. Lại nữa, 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù chủ quản 2 pháp môn, bồ tát Phổ hiền chủ về Tam muội, bồ tát Văn thù chủ về Bát nhã, giúp đức Phật trong việc giáo hóa, vì thế, đối lại với Văn thù bát nhã mà gọi là Phổ hiền tam muội. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 (Đại 35, 441 hạ) nói: Phổ hiền tam muội tự tại, Văn thù bát nhã tự tại. [X. Pháp hoa tam muội sám nghi; Ma ha chỉ quán Q.2, phần cuối]. (xt. Pháp Hoa Tam Muội).
phổ hiền tam mạn
See Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
phổ hiền tát đỏa bồ tát
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
phổ hiền tự
5001位於臺灣高雄市。為佛光山高雄別院。於民國七十二年(1983)十二月二十五日安座佛像,正式啟用。早於五十二年,星雲大師於高雄市壽山公園內創建壽山寺,之後又於佛光山開山,壽山寺即負起接引高雄市信徒之責,並成為對外聯繫之中心,地位愈形重要。二十多年來,致力弘法利生之工作,信眾日漸增多,頗有場地不敷容納、度眾不克週全之苦,幾經籌措,遂創建本寺。以實踐普賢菩薩之大行精神為標的,弘揚人間佛教之理想,故命名普賢寺。 本寺經常舉辦各種弘法活動,如都市佛學院之設置,每週定期上課三天,敦聘法師說法,信眾就學者甚為踴躍。慈惠法師為首任住持,七十四年,由依日法師繼任。
phổ hiền và văn thù
Samantabhadra and Manjusri—Bồ Tát Phổ Hiền là hiện thân của đức trầm tĩnh, lòng xót thương và trí huệ sâu xa. Ngài thường được vẽ cưỡi trên lưng một con voi trắng (biểu thị đức tính trầm tĩnh và trí tuệ) ngồi hầu bên tay phải của Đức Phật; trong khi ngài Văn Thù Bồ Tát, một tay cầm kiếm kim cang đoạn diệt mê hoặc, ngồi trên lưng sư tử ở phía tay trái của Đức Phật. Văn Thù biểu thị sự giác ngộ tức là hốt nhiên mà nhận ra nhất thể của tất cả cuộc tồn sinh và năng lực phát sanh từ đó mà sức mạnh của sư tử là biểu tượng. Khi tri kiến nhờ có ngộ mà thành tựu được xử dụng làm lợi ích cho loài người, tâm xót thương của Phổ Hiền tự hiện thân. Do đó, các Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù, mỗi người một bên tay của Đức Phật, biểu thị cái “Một” hay tính bình đẳng và cái nhiều—Samantabhadra embodies calm action, compassion, and deep-seated wisdom. He is usually depicted astride a white elephant (the elephant is being noted for its tranquility and wisdom), sitting in attendance on the right of the Buddha; while Manjusri Bodhisattva, with his delusion-cutting vajra sword in one hand, sits on the back of a lion on the Buddha's left side. Manjusri represents awakening, that is, the sudden realization of the lion's vigor is symbolic. When the knowledge acquired through 'awakening' is employed for the benefit of mankind, Samantabhadra's compassion is manifesting itself. Accordingly, each of the Bodhisattvas is an arm of the Buddha, representing respectively, Oneness or Equality and manyness.
Phổ Hiền 普賢
[ja] フゲン Fugen ||| "Universal Goodness;" The bodhisattva Samantabhadra. He represents the practice and meditation of all the Buddhas, as contrasted to Mañjuśrī (文殊) who represents wisdom and realization. He is the right-hand attendant of Śākyamuni Buddha, and is often portrayed mounted on a white elephant. He serves as an interlocutor to the Buddha in many Mahāyāna sutras. (2) The interlocutor bodhisattva who speaks in the second chapter of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. => (k: Samantabhadra). 1. Vị Bồ-tát biểu tượng cho hạnh tu tập thiền định củ chư Phật, khác với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi biểu tượng cho trí tuệ giác ngộ. Ngài trợ thủ bên phải cho Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , và thường được trình bày bằng hình tượng ngồi trên voi trắng. Ngài thường xuất hiện qua nhiều đương cơ thưa hỏi Phật pháp với Đức Phật trong nhiều kinh Đại thừa. 2. Là Bồ-tát đương cơ được nói trong phẩm thứ hai của kinh Viên Giác.
phổ hiện
Universal manifestation, especially the manifestation of a Buddha or Bodhisattva in any shape at will.
; Chư Phật và chư Bồ Tát tùy ý thị hiện các loại thân ở khắp mọi nơi, tùy thuận theo căn cơ của chúng sanh mà tế độ cho họ (như Đức Quán Thế Âm có 33 thân tầm thinh cứu khổ trong Kinh Pháp Hoa)—Universal manifestation, especially the manifestation of Buddhas or Bodhisattvas in any shape at will.
phổ hiện sắc thân
4993謂諸佛菩薩為方便攝化眾生,故順應眾生之根機而示現種種色身。如法華經所載觀世音菩薩示現三十三身,尋聲救苦,以及妙音菩薩之現身攝化;又密教大日如來於胎藏界曼荼羅中所流出之諸尊皆是其例。此外,可顯出力用之根源者,稱為普現色身三昧,入於此三昧即可現出佛、菩薩之種種色身。此與「等流法身」之異同,有甚多論諍。〔法華經妙音菩薩品、大日經疏卷二、法華經科註卷八〕
; (普現色身) Chư Phật, Bồ tát vì phương tiện hóa độ chúng sinh, nên ứng theo căn cơ của chúng sinh mà thị hiện các loại sắc thân. Như bồ tát Quan thế âm thị hiện 33 thân, nghe thấy tiếng kêu cầu mà đến cứu khổ; bồ tát Diệu âm hiện thân nhiếp hóa, Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Thai tạng giới lưu xuất ra các vị tôn... đều là phổ hiện sắc thân. Ngoài ra, cái nguồn gốc hiển xuất lực dụng này, gọi là Phổ hiện sắc thân tam muội, nhập vào Tam muội này thì có năng lực hiện ra các loại sắc thân Phật, Bồ tát... [X. phẩm Diệu âm bồ tát trong kinh Pháp hoa; Đại nhật kinh sớ Q.2; Pháp hoa kinh Khoa chú Q.8].
phổ hiện sắc thân tam muội
4993<一>謂諸佛菩薩為方便攝化眾生,示現種種色身時所入之三昧。又作現一切色身三昧、普現三昧。如法華經中妙音、觀音之現身,即依此三昧之力用。法華經妙音菩薩品(大九‧五六中):「華德菩薩白佛言:『世尊!是妙音菩薩深種善根。世尊!是菩薩住何三昧,而能如是在所顯現度脫眾生?』佛告華德菩薩:『善男子!其三昧名現一切色身,妙音菩薩住是三昧中,能如是饒益無量眾生。』」 <二>謂密教真言行者中「普門」之大機,觀曼荼羅海會之諸尊於一心不亂之三昧。又作普眼三昧。大日經疏卷六(大三九‧六四五中):「若於大悲藏雲海中一心不亂,名普眼三昧,亦名普現色身三昧。」〔法華經藥王品〕
; (普現色身三昧) I. Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, Phổ hiện tam muội. Tam muội mà chư Phật, Bồ tát thể nhập khi cần thị hiện các sắc thân. Phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 trung) ghi: Bồ tát hoa đức bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Bồ tát Diệu âm trụ trong tam muội nào mà có thể hiển hiện độ thoát chúng sinh như vậy? Phật bảo bồ tát Hoa đức: Thiện nam tử! Tam muội này gọi là Hiện nhất thiết sắc thân, bồ tát Diệu âm trụ trong Tam muội này nên mới có năng lực lợi ích vô lượng chúng sinh như thế. II. Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Phổ nhãn tam muội. Tam muội mà trong đó hàng đại cơ Phổ môn của hành giả Chân ngôn quán tưởng chư tôn trong hải hội Mạn đồ la được nhất tâm bất loạn. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 trung) nói: Nếu ở trong Đại bi tạng vân hải mà được nhất tâm bất loạn, thì gọi là Phổ nhãn tam muội, cũng gọi là Phổ hiện sắc thân tam muội. [X. phẩm Dược vương kinh Pháp hoa].
phổ hiệp
5506(1346~1426)明代僧。會稽山陰人,俗姓陸,爲放翁之後。字南洲。出家於普濟寺,禮雪庭爲師,貫串經範,旁通儒典,禪定之餘,肆力於詞章。洪武(1368~1397)年中,召爲僧錄司右講經,累遷至左善世,被誣左遷,未久復爲右善世。仁宗即位,數被召問。乞居南京報恩寺養老,仁宗遣中官護送之。明宣德元年示寂,世壽八十一。著有雨軒集。〔補續高僧傳卷二十五、國朝獻徵錄卷一一八、明人小傳卷五〕
; (溥洽) (1346-1426) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Minh, người Sơn âm, Cối kê, họ Lục, tự Nam châu, là hậu duệ của Phóng ông. Sư xuất gia ở chùa Phổ tế, thờ ngài Tuyết đình làm thầy. Sư thông suốt các kinh, giỏi cả Nho học, ngoài việc tu định, sư còn nghiên cứu văn chương. Trong năm Hồng vũ (1368-1397), sư được cử làm tăng lục ti hữu giảng kinh, rồi làm đến Tả thiện thế, không bao lâu bị vu khống và giáng chức. Sau sư lại được phục chức làm Hữu thiện thế. Khi vua Nhân tông lên ngôi, sư nhiều lần được triệu vào kinh đô hỏi ý kiến. Sau sư xin về dưỡng lão ở chùa Báo ân tại Nam kinh, vua Nhân tông sai Trung quang hộ tống sư. Niên hiệu Tuyên đức năm đầu (1426), sư thị tịch, thọ 81 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Vũ hiên tập. [X. Bổ tục cao tăng truyện Q.25; Quốc triều hiến trưng lục Q.118; Minh nhân tiểu truyện Q.5].
Phổ Hoá
普化; C: pǔhuà; J: fuke; ?-860; cũng được gọi là Trấn Châu Phổ Hoá;|Thiền sư Trung Quốc dòng Mã Tổ, môn đệ của Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích. Sư nổi danh vì những hành động quái dị và những hành động này còn được ghi lại trong Lâm Tế lục.|Sau khi Bàn Sơn tịch, Sư đến trợ giúp Lâm Tế hoằng hoá trong thời gian đầu. Khi việc đã xong, toàn thân biến mất không để lại dấu vết. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm truyền sang Nhật với tên Phổ Hoá tông (j: fukeshū)|Bàn Sơn sắp tịch, gọi đệ tử đến bảo: »Có người vẽ được chân dung ta chăng?« Tất cả môn đệ đều trình đã vẽ đến nhưng chẳng hợp ý Bàn Sơn. Sư liền ra thưa: »Con vẽ được.« Bàn Sơn bảo: »Sao chẳng trình Lão tăng?« Sư liền lộn nhào rồi ra. Bàn Sơn liền bảo: »Gã này sau chụp gió chạy loạn đây.«|Như Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch tiên đoán trước, Sư là người phụ giúp Lâm Tế Nghĩa Huyền hoằng hoá trong thời gian đầu tại Trấn Châu. Lâm Tế lục có ghi lại nhiều giai thoại của Sư với Lâm Tế. Một trong những câu chuyện thường được nhắc đến nhất là việc thiên hoá của Sư. Một hôm Sư ra giữa chợ hô hào xin người qua lại một cái áo dài. Ai cũng cho nhưng Sư không vừa lòng. Lâm Tế nghe vậy liền khiến một vị đệ tử mua một chiếc quan tài. Sư đến viện, Lâm Tế bảo: »Ta có cho ông cái áo dài rồi!« Sư bèn tự vác đi quanh chợ kêu lên rằng: »Lâm Tế làm cho tôi một cái áo dài rồi. Tôi qua cửa Ðông Thiên hoá đây!« Mọi người đua nhau theo xem, Sư bèn nói: »Hôm nay chưa, ngày mai ra cửa Nam thiên hoá!« Cứ như thế ba ngày thì không ai đi theo và đến ngày thứ tư, một mình Sư ra ngoài thành, tự đặt mình vào quan tài, nhờ người đóng nắp lại. Tin đồn ra thì mọi người đổ xô lại, mở quan tài ra xem thì không thấy xác đâu, chỉ nghe trên không tiếng chuông văng vẳng xa dần.
phổ hoá
4979(?~860)唐代禪僧,日本禪宗支派普化宗之祖。籍貫、世壽均不詳。資性異人,師事馬祖道一之門人盤山寶積,密受真訣,深入堂奧。寶積示寂後,師即遊化北地鎮州。出言佯狂,行為簡放,居處不定,凡見人無分高下,皆振鐸一聲,而唱(卍續一三八‧七一下)「明頭來明頭打,暗頭來暗頭打,四方八面來旋風打,虛空來連架打」一偈,此偈盛傳於禪林,被稱為普化四打活、普化鈴鐸偈。師又常出入城市或塚間,時而歌舞,時而悲號,時人稱之為「普化和尚」。 一日,師入臨濟院喫飯,臨濟義玄謂其大似一頭驢,師乃以驢鳴對之,並謂(大五一‧二八○中):「臨濟小廝兒,只具一隻眼。」咸通(860~873)初年,將示寂時,擎挾棺木,巡街徇戶告辭云:「普化明日去東門死也。」郡人相率送出城門,師厲聲揚言:「今日葬不合青烏。」經二日出南門,人亦隨送,又謂:「明日出西門方吉。」如是出而還返,人煩意怠,送者漸少。第四日自擎棺木出北門外,振鐸入棺而示寂。宋代時,日本心地覺心來我國習禪,仰慕師振鐸狂歌以寓禪意之遺風,數年後歸返日本,建立普化庵,久之從習者漸多,遂成普化宗一派。〔宋高僧傳卷二十、景德傳燈錄卷十、聯燈會要卷七、五燈會元卷四、釋氏稽古略卷三〕(參閱「普化宗」4981)
; (普化) (?-860) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, Sơ tổ của tông Phổ hóa, Thiền tông Nhật bản. Sư có tư chất và tính tình khác người, thờ ngài Bàn sơn Bảo tích làm thầy, được mật truyền áo nghĩa, thâm nhập huyền chỉ. Sau khi ngài Bảo tích thị tịch, sư du hóa đến Trấn châu tại miền Bắc, nói năng tựa như điên khùng, hành vi phóng túng, nơi ở không nhất định, hễ gặp người, không phân cao thấp, đều đánh 1 tiếng mõ rồi nói (Vạn tục 138, 71 hạ): Sáng đến đánh sáng, tối đến đánh tối, 4 phương 8 hướng đến thì xoáy như gió mà đánh, hư không đến cũng đánh tất. Những câu nói này được truyền tụng rộng rãi trong Thiền lâm và được mệnh danh là Phổ hóa tứ đả hoạt, Phổ hóa linh đạc kệ. Sư cũng thường ra vào những nơi phố chợ hoặc nghĩa trang, có lúc múa hát, có khi buồn khóc, người đời gọi sư là Phổ hóa Hòa thượng. Một hôm, sư vào viện Lâm tế ăn cơm, ngài Lâm tế bảo sư rất giống con lừa, sư liền kêu như lừa và nói (Đại 51, 280 trung): Lâm tế là đứa ở đợ, chỉ có 1 con mắt. Vào đầu năm Hàm thông (860-873), khi sắp thị tịch, sư vác quan tài đi ngoài phố chợ, đến từng nhà cáo từ rằng: Ngày mai Phổ hóa ra cửa Đông chết, người trong quận bảo nhau đưa sư ra cửa thành, sư nói to: Hôm nay chôn không tốt. Qua ngày thứ 2, sư đi ra cửa Nam, mọi người cũng đi theo để đưa, sư lại nói: Ngày mai cửa Tây mới tốt. Cứ như thế ra rồi về, người ta chán và người đi đưa dần dần ít đi. Ngày thứ 4, sư tự vác quan tài ra cửa Bắc, đánh mõ, rồi nằm vào quan tài mà tịch. Đến đời Tống, có sư Tâm địa Giác tâm từ Nhật bản đến Trung quốc học thiền, ngưỡng mộ di phong đánh mõ hát cuồng để gửi gắm ý thiền của sư, nên sau khi trở về nước, ngài Giác tâm kiến lập am Phổ hóa để truyền bá tông phong này, dần dần người đến theo học đông bèn trở thành tông Phổ hóa. [X. Tống cao tăng truyện Q.20; Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Liên đăng hội yếu Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Phổ Hóa Tông).
Phổ Hoá tông
普化宗; C: pǔhuà-zōng; J: fuke-shū; |Một nhánh thiền nhỏ không quan trọng tại Trung Quốc, được Thiền sư Phổ Hoá khai sáng trong thế kỉ thứ 9. Trong tông này, người ta thay thế việc tụng kinh niệm Phật bằng cách thổi sáo – cây sáo này được gọi là Xích bát (尺八; j: shakuhachi).|Phổ Hoá tông được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kakushin, 1207-1298) truyền sang Nhật trong thời đại Liêm Thương (kamakura). Các người theo tông này – phần lớn thuộc giới Cư sĩ – chu du khắp nơi, lúc nào cũng mang một cái nón tre che cả khuôn mặt và thổi sáo. Họ được gọi là »Hư vô tăng« (虛無僧; j: komusō). Tông này sau bị cấm vì có nhiều hiệp sĩ (侍; j: samurai) vô chủ, lợi dụng chiếc nón tre che mặt che đậy tông tích, hành vi bất thiện.
phổ hoá tông
4980為日本臨濟宗之一派,以我國唐代普化禪師為鼻祖。又稱普化禪宗、虛無宗。在日本則以心地覺心(無本覺心)為始祖,以「明暗雙打,虛無吹簫」為宗旨。此宗徒眾稱為普化僧、虛無僧、薦僧、暮露(襤褸之意);蓄髮,未制戒行,胸前佩掛袈裟,頭戴深編笠,吹奏尺八以乞討米錢。 普化為盤山寶積之法嗣,後赴鎮州,言行佯狂,悲號歌舞,常往來於城市、塚間,手振一鐸,口中誦偈,時人稱奇。其時,河南府有張伯者,因傾慕普化之風範,遂以竹管仿鐸音,稱之為「虛鐸」。其後又有張金、張範、張雄、張參等人傳承其風。張雄曾入舒州靈洞護國寺修禪。時值日本心地覺心於宋理宗淳祐九年(1249,日本建長元年)來華,至護國寺禮謁無門慧開,而與張參為同門,一日聞張參吹奏虛鐸,歎賞其清調妙曲,乃就其教,盡稟祕奧。 建長六年,覺心攜張參之徒寶伏(法普)、僧恕(宗恕)、國作(國佐)、理正等四位居士返日。在紀州由良創建興國寺(原稱西方寺),於山內建普化庵,又稱廣化庵,是為日本普化宗之濫觴,現今該地仍稱為普化谷,或風化谷。其後,該宗以金先派、寄竹派為主流,各以一月寺、明暗寺為主。其中,寄竹派盛唱「尺八吹簫禪」,其托鉢僧行腳全國,弘揚「 明暗尺八」。 至鎌倉末期,浮浪之徒多能吹尺八,漸混入寄竹派。江戶時代,此宗已呈現浪人集團之型態;其時,幕府常以彼等作密偵,給予種種特權,並為之建立鈴法寺,由是權勢日張,弊端迭起。德川中期以後復衍生諸多流派,弊害更甚。 弘化四年(1847),幕府禁斷特權優遇,至明治四年(1871)該宗更被廢止,宗徒多被編入民籍。後於明治二十一年,該宗宗徒會合,致力復興,遂獲准再興伽藍,而於東福寺山內善慧院成立明暗教會,於由良興國寺成立普化教會,於京都妙光寺成立法燈教會,並恢復虛無僧之行腳。 普化宗並無依據之經典,僅以「虛無吹_」為禪那至上之法,亦即藉吹奏方式而斷盡煩惱,了悟虛無之境地。〔宋高僧傳卷二十、景德傳燈錄卷十、普化宗雜記卷上、卷下、虛鐸傳記卷上〕
phổ hoá tự
4980位於山西五臺山臺懷鎮東隅山麓。創建年代不詳,明清時重修,民國初年增建玉皇閣,故又稱玉皇廟。寺區林蔭蔽日,風景優美。寺內有天王殿、大雄寶殿、三大士殿、玉皇閣及兩廂廊廡,左右還有禪堂、僧舍、呂祖閣等建築。天王殿四周鑲鏤花卉、人物及佛傳故事,殿內供奉彌勒、韋陀及四大天王;大雄寶殿正面為釋迦、文殊、普賢華嚴三聖,前側有護法金剛,後方則為彌陀、觀音、大勢至西方三聖,兩側塑有十八羅漢;殿後檐明間設板門一道,兩側各塑菩薩一尊,左為文殊,右為觀音,各像皆衣飾柔麗,神態自然,其中,文殊菩薩塑為男性老者,甚為罕見。
Phổ Hoá 普化
[ja] フケ Fuke ||| Puhua; a Chinese Chan master of the Tang period, who was a of the lineage of Mazu Daoyi 馬祖 道一 as well as a contemporary and good friend of Linji Yixuan 臨濟義玄. A lineage of Chan was founded upon his influence. He was a bit of an iconoclastic and playful character, known for exhibiting strange behavor and feats of magic. He was famous for walking and singing while ringing a small bell. Shortly after his death, the sound of this bell was to be heard in the vicinity of his coffin. => (j: Fuke ; c: Puhua) Thiền sư Trung Hoa đời Đường, thuộc dòng Mã Tổ Đạo Nhất, cùng thời và là bạn thân của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Có một dòng Thiền được thành lập dưới sự ảnh hưởng của sư. Sư có chút tinh thần phá đổ việc tôn sùng ngẫu tượng và cá tính khôi hài, nổi tiếng với việc thường hay thể hiện những phong cách kỳ đặc và thần thông kỳ diệu. Sư nổi tiếng với việc vừa đi bộ vừa hát vừa lắc một cái chuông nhỏ. Ngay sau khi sư viên tịch, âm thanh của tiếng chuông nầy vẫn còn vang vọng bên quan tài của sư.
phổ hoằng
4981(1924~ )高雄楠梓人,俗姓張。幼隨祖父學佛,蒙虛雲老和尚開示,乃禮妙本法師為師,賜名義靖。後修學法師自福州鼓山湧泉寺來臺,師乃從之研習經藏,賜名梵齡。十四歲受戒於鼓山湧泉寺。返臺後再禮德融法師為師,授字探源,法名普弘。十六歲負笈日本,入駒澤大學,三十五歲學成返臺,遊化四方,弘揚大乘佛法。民國五十五年(1966)晉任高雄禪海佛寺住持。 禪海佛寺位於楠梓區,原為在家居士陳普織自建之茅堂,民國十六年改建瓦舍,名為百善堂。二十二年改名禪海佛堂,二十六年再更名為禪海佛寺。由道光法師任住持,辦有佛教講習會等,以弘揚正法。四十八年重建,寺內有七層靈塔一座。
Phổ Huyễn
普幻; C: pŭhuàn; J: fugen; K: pohwan, 1245-1278;|Tăng sĩ học giả thuộc Thiền tông Hàn Quốc thế kỉ thứ 13, nổi tiếng là chuyên gia về kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sư viết 2 cuốn luận giải về kinh nầy: Lăng Nghiêm kinh tân khoa (楞嚴經新科, k: nŭngŏmgyŏng singwa), 2 quyển, có khả năng hiện còn lưu hành, và Thủ Lăng Nghiêm kinh hoàn giải bổ kí (首楞嚴經環解補記, k: surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi), 2 quyển, hiện đang lưu hành.
Phổ Huyễn 普幻
[ja] フゲン Fugen ||| Pohwan (fl. 1245-1278), a 13th century Koryŏ Sŏn scholar monk, known as a specialist in the Śūraṃgama-sūtra 首楞嚴經. He wrote two commentaries on that scripture, the Nŭngŏmgyŏng singwa 楞嚴經新科 (2 fasc. possibly extant) and the Surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi 首楞嚴經環解補記 (2 fasc. extant). => k: Pohwan (1245-1278), tăng sĩ học giả thuộc Thiền tông Cao Ly thế kỷ thứ 13, nổi tiếng là chuyên gia về kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sư viết hai cuốn luận giải về kinh nầy: Lăng Nghiêm kinh tân khoa (k: Nŭngŏmgyŏng singwa 楞嚴經新科), gồm hai quyển, có khả năng hiện còn lưu hành; và Thủ Lăng Nghiêm kinh hoàn giải bổ ký (k: Surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi 首楞嚴經環解補記); gồm hai quyển, hiện đang lưu hành.
phổ hóa
P'u-k'o (C), Fuke (J), Puhua (C)(?-860) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Bàn Sơn Bảo Tích.
; Universal change, or transformation.
; Giáo hóa khắp nơi—Universal change, or transformation.
phổ hóa phái
Puke School Do ngài Phổ Hóa sáng lập vào thế kỷ thứ 9 và được Shinchi truyền vào nước Nhật vào thời Kamakura.
phổ hóa tông
P'u-hua tsung (C), P'u-hua ch'an (C), Puhuachan (C), Fuke- shŪ (J)Một trong những chi phái của dòng thei62n Trung quốcPhổ Hóa tôngTên một tông phái.
Phổ Hương
普香; C: pŭxiāng; J: fukō; S: samantagan-dha;|Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
phổ hương thiên
Samantagandha-deva (S)Một vị tiên trong cõi lục dục thiên.
Phổ Hương 普香
[ja] フコウ fukō ||| Samantagandha--Universal Fragrance, the name of a god in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.2a16〕 => (s: Samantagandha; e: Universal Fragrance), tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
phổ hội tự
4996位於綏遠百靈廟附近。蒙古語稱為錫拉木倫召。始建於清康熙四十二年(1703),曾經多次修葺,現存有正殿、山門、東西配房等建築。本寺原為歸綏市席力圖召之分院,由該寺四世活佛阿旺羅布桑拉布敦所主持建造。此地於清朝時為歸綏往蒙古商旅必經之地,其南之大青山復為農牧產品之集散地,本寺亦因此而負盛名。
Phổ khuyến toạ thiền nghi
普勸坐禪儀; J: fukan zazengi;|Một tác phẩm của vị Tổ tông Tào Ðộng Nhật Bản là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư biên soạn quyển sách này sau khi từ Trung Quốc trở về nhằm khuyến khích các môn đệ tinh tiến Toạ thiền. Sư nhấn mạnh là toạ thiền không phải là »Phương tiện đạt giác ngộ« bởi vì ngay khi ngộ đạo, người ta cũng phải tiếp tục toạ thiền bởi vì toạ thiền là việc thực hành căn bản của chư Phật. Toạ thiền là một cách tu tập vô cùng tận.
phổ khuyến toạ thiền nghi
5004全一卷。日本曹洞宗開祖永平道元撰。略稱坐禪儀。收於大正藏第八十二冊。本書普勸行者坐禪,並略示趺坐及調身法。全篇由七五六字所成,以坐禪為佛道之正門,非思量乃坐禪之要素。主張坐禪非為手段,乃是目的,無論大悟與否,或開悟後之修行,坐禪均極重要。此書實為日本曹洞宗之根柢所在。
; (普勸坐禪儀) Gọi tắt: Tọa thiền nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh bình Đạo nguyên –Khai tổ tông Tào động Nhật bản– soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung sách này khuyên tất cả người tu hành nên ngồi thiền, chỉ bày sơ lược cách ngồi và phương pháp điều hòa thân thể. Toàn văn gồm có 756 chữ, cho tọa thiền là môn chính yếu của đạo Phật, không suy tư, lo toan là căn bản của việc tọa thiền. Chủ trương tọa thiền không phải phương tiện mà là cứu cánh, dù ngộ hay không, hoặc tu hành sau khi khai ngộ, tọa thiền đều rất quan trọng. Sách này là chỗ y cứ của tông Tào động Nhật bản.
Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi
(普勸坐禪儀): 1 quyển, thư tịch khuyên dạy mọi người cách thức cũng như ý nghĩa đúng đắn của Tọa Thiền, do Đạo Nguyên (道元, Dōgen) trước tác, được soạn thuật vào năm 1227, ngay sau khi ông từ bên nhà Tống trở về nước. Có hai loại là bản lưu bố và bản tự bút. Bản tự bút được chép vào ngày Trung Nguyên năm 1233, được lưu giữ tại Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), và xem như là quốc bảo. Còn bản chép tay là nguyên văn của Đạo Nguyên lúc mới về lại Nhật; còn bản lưu bố là bản cũng do tự tay ông đính chính lại sau này. Về lý do soạn thuật sách này, có cuốn Tọa Thiền Nghi Soạn Thuật Do Lai Thư (坐禪儀撰述由來書) do Đạo Nguyên viết. Nếu căn cứ vào bản này, ta thấy rằng lý do soạn thuật ra Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi là nhằm đính chính lại sự sai lầm của tác phẩm Tọa Thiền Nghi (坐禪儀) do Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆) của nhà Nam Tống Trung Quốc viết ra, và nêu rõ phương pháp Tọa Thiền được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca cũng như Đạt Ma trở đi. Nội dung của Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi được phân làm 3 đoạn: Thượng, Trung và Hạ. Đoạn Trung nói về cách thức cũng như công đức của Tọa Thiền. Tính đặc dị của bộ này là có cái nhìn về việc Tọa Thiền rất khác lạ của Đạo Nguyên thông qua hai đoạn Thượng và Hạ. Yếu chỉ của sách là Phật pháp vốn được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca cũng như Đạt Ma, chính là Tọa Thiền. Hơn nữa, Tọa Thiền không phải là thủ đoạn tu tập để đạt ngộ, mà chính Tọa Thiền là sự tu chứng nhất đẳng, lập cước trên sự chứng ngộ. Tác phẩm này được thâu lục vào trong Đạo Nguyên Thiền Sư Toàn Tập (道元禪師全集) quyển Hạ, Tào Động Tông Toàn Thư (曹洞宗全書).
phổ khánh tự thạch tháp
4999位於浙江臨安徑山南麓。塔係六面七層,每面皆有佛龕。腰檐仿木構建築形式,有相輪七重,塔上有元至治三年(1323)題記。
phổ khử
xem a-già-đà.
phổ lâm tây phố
4984(Prinsep, James; 1800~1840)英國之東方學學者。初為東印度公司職員,然精通考古學、碑銘、古錢之研究,發現阿育王之法敕碑文,並致力於考定其年代與解讀。古錢學提供了希臘語與巴利語對照之詳實資料。其主要著作有:Essay on Indian Antiquities, Histories, Numismatics and Paleography, 1858.
phổ lạc tự
4999位於熱河承德附近,為清代承德離宮八廟之一。俗稱圓亭寺。建於乾隆三十一年(1766),當時作為西域諸侯部族首領來朝之用。寺與承德離宮相對,形式獨特。寺內之宗印殿後有一巨大經壇,其上之旭光閣呈圓頂傘形,係仿北京天壇祈年殿形式而建者。
phổ lễ
5004謂密教行者於道場普遍禮拜本尊及曼荼羅諸尊。即禮拜一切佛之意。可分為壇前普禮、著座普禮、本尊普禮等。其印相多用金剛合掌,即稱為禮拜印,此印表示無上堅固之信心。又結普禮之印時,當誦「普禮真言」,即:唵(oṃ,歸命)薩縛怛他蘗多(sarva tathāgata,一切如來)幡那(pāda,足)滿娜曩(vandanāṃ,禮)迦魯弭(karomi,我作);意即「我禮奉一切如來之足」。倘結誦此印言,則普遍十方,敬禮曼荼羅海會之一切如來。〔略出念誦經卷一〕
; Lễ bái tất cả chư Phật (chỉ việc hành giả Mật giáo lễ bái bổn tôn và tất cả các vị tôn trong Mạn Đồ La, có nghĩa là lễ bái hết thảy chư Phật)—To worship all the Buddhas.
; (普禮) Lễ khắp cả, nghĩa là hành giả Mật giáo ở trong đạo tràng lễ bái Bản tôn, cùng tất cả các vị tôn trên Mạn đồ la. Phổ lễ có thể chia làm Đàn tiền phổ lễ, Trước tòa phổ lễ và Bản tôn phổ lễ. Ấn tướng của Phổ lễ phần nhiều dùng ấn Kim cương hợp chưởng (chắp tay), gọi là Lễ bái ấn. Ấn này biểu thị ý nghĩa niềmtin bền chắc không gì lay chuyển được. Khi kết ấn, nên tụng chân ngôn Phổ lễ: Án (oô, qui mệnh) tát phạ đát tha nghiệt đa (sarva tathàgata, nhất thiết Như lai) bá na (pàda, túc) mãn na nẵng (vandanàô, lễ) ca lỗ nhị (karomi, ngã tác). Nghĩa là Con lễ chân của tất cả Như lai. Khi kết ấn và tụng chân ngôn này thì tức là lễ kính tất cả các đức Như lai của hải hội Mạn đồ la trong khắp 10 phương. [X. kinh Lược xuất niệm tụng Q.1].
phổ lợi tự tháp
4983位於河北臨城縣關東北部。又稱萬佛塔。始建於北宋皇祐三年(1051),宋徽宗曾到此遊歷。塔為方形實心,九層八檐,檐下有大型斗栱,高三十公尺,塔頂有鐵製塔剎。第一層較高,四壁刻有佛像九七四尊,形態各異。塔檐四角層層掛有鐵製風鐸。舊普利寺有鐘,傍晚風起鐘鳴,故有「普利晚鐘」之稱。
phổ lợi viện
4984位於江西宜豐東北太平鄉之洞山。以山多巖洞,富鐘乳奇幻之美,故稱洞山。唐咸通(860~873)年中,曹洞宗祖良价禪師由新豐山遷此,大弘祖道,而創立本院。其後賞賜匾額,頒定今名。宋太平興國(976~983)年間,改稱「廣利寺」俗則稱為洞山寺。
Phổ Minh
普明; C: pŭmíng; J: fumyō; |Ánh sáng chói lọi chiếu khắp. Tự điển Phật Quang Sơn liệt kê 8 nhân vật mang tên nầy.
phổ minh
4984<一>東晉交州刺史張牧之女。於隆安(397~401)年中,見曇摩耶舍來朝,即往廣州白沙寺請問佛法。耶舍為其講說佛陀誕生之緣起,又為之譯出差摩經一卷。〔梁高僧傳卷一、出三藏記集卷五〕 <二>南朝僧。山東臨淄人。少即出家,善誦法華、維摩二經,而以懺誦為業。每誦法華經至勸發品,則必見普賢菩薩乘象立於其前;誦維摩經時,則聞空中之唱樂聲。又因師善於以神咒救人,故於高僧傳中,列屬誦經篇之神人。劉宋孝建(454~456)年中示寂,世壽八十五。〔梁高僧傳卷十二、法苑珠林卷十七、感通錄卷三、法華持驗記卷上〕 <三>南朝僧。浙江會稽道紹興縣人,俗姓朱。生卒年不詳。初名法京,後改普明,又稱國清普明禪師,屬天台宗。陳太建十四年(582),入天台山,值智者大師講經,即禮拜為師,作其弟子。專習禪法,行方等、般若等諸三昧,並持誦法華經。禎明元年(587),跟隨在光宅寺宣講法華經之智者前往金陵,以禪思為業。後又與智者共赴廬山東林寺,行觀音懺法。終其一生,計造金銅像十尊,閱讀藏經二遍,又書寫其他經論,修造殿宇。八十六歲時示寂於國清寺。〔續高僧傳卷十九、佛祖統紀卷九、法華經持驗記卷上、觀音慈林集卷下〕 <四>唐初僧。蒲州安邑(山西河東郡)人,俗姓衛。年十三出家,事外兄道慧法師。並為延興寺童真之弟子。曾周遊講習,住無定所。十八歲即能講說勝鬘經、大乘起信論。受具足戒後,即專研涅槃經、四分律、攝大乘論。大業六年(610),奉召入大禪定道場,居住十八年,聲望、地位頗高。武德元年(618),住於蒲州仁壽寺弘道,講說涅槃經八十餘次。並造刻檀像數十龕。八十六歲時示寂。〔續高僧傳卷二十、釋氏六帖卷二十一〕 <五>唐代滑州龍興寺僧。籍貫不詳,或謂為西域僧。唐代宗大曆(766~779)初年,師受胙縣人之請,居於阿蘭若。貞元八年(792)十二月,囑咐門徒後,奄然坐滅,世壽百歲,或說三百歲。火葬後,計得舍利二十七粒,信者即在禪庭建塔供養。〔宋高僧傳卷十八、六學僧傳卷十六、神僧傳卷五〕 <六>五代僧。籍貫、生卒年均不詳。屬青原行思之法系,為雪峰義存之法嗣。住於益州(四川)普通山,舉揚宗風。師與學人之間有「佛性與珠」之機緣問答遺留後世。〔景德傳燈錄卷十九、五燈會元卷七〕 <七>宋代臨濟宗黃龍派僧。籍貫、生卒年均不詳。為薦福道英之法嗣。住於福州(福建)等覺寺,舉揚宗風。〔續傳燈錄卷二十六、建中靖國續燈錄卷二十四〕 <八>元代僧。籍貫、生卒年不詳。字雪窓,擅於畫蘭,為晦機元照(1238~1319)之弟子,與笑隱大訢同門。英宗至治二年(1322),江南能書之僧儒皆集於北京,帝命師書寫金字藏經之際,當代之名德楚石梵琦亦參與。順帝至元四年(1338),住持平江(江蘇)雲巖寺,至正四年(1344),住持承天寺,並重興遭火災之承天寺。
; Samantaprabhàsa (S). Pervading light.
; Samantaprabhasa (skt). 1) Ánh sáng chói lòa, tên của 500 vị A La Hán thành Phật—Pervading light, name of 500 arhats on their attaining Buddhahood. 2) Tên một ngôi chùa mới xây khoảng năm 1972 tại thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang: Name of a temple, just built recently in Rạch Giá town, Kiên Giang province.
phổ minh bồ tát hội
Pu-ming p'u-sa hui (C).
phổ minh như lai
Samantaprabhāsa (S)- Danh hiệu Phật mà Phật Thích ca thọ ký cho Ngài A nậu lâu đà, Kiều trần Như và 500 A la hán. - Phổ Quang hoàng tử: con vua Đăng Chiếu, tiền thân đức Phật, vào núi tu lấy hiệu là Thiện Huệ. (Xem Soumedha).
phổ minh vương
Phổ Minh Vương là tên của vị vua bị Ban Túc Vương bắt giữ—Pervading Light King, name of the king captured by Kalmasapada—See Ban Túc Vương.
Phổ Minh 普明
[ja] フミョウ fumyō ||| Universal radiance. The Fokuang Shan dictionary lists eight persons who had this as their name. => Ánh sáng chói lọi chiếu khắp. Tự điển Phật Quang Sơn liệt kê 8 nhân vật mang tên nầy.
Phổ Môn
(s: samanta-mukha, 普門): còn gọi là Vô Lượng Môn (無量門), ý chỉ cho cánh cửa rộng mở dung chứa hết thảy. Thiên Thai Tông cho rằng đây là lý của Trung Đạo, thật tướng, tức biến khắp tất cả; cho nên chư Phật, Bồ Tát nương lý này mà có thể khai mở cửa vô lượng, thị hiện các loại thân hình để cứu độ nỗi khổ của chúng sanh và thành tựu Bồ Đề. Căn cứ trên lý này, Thiên Thai Tông nêu ra thuyết Thập Phổ Môn (十普門), gồm: Từ Bi Phổ (慈悲普), Hoằng Thệ Phổ (弘誓普), Tu Hành Phổ (修行普), Đoạn Cảm Phổ (斷感普), Nhập Pháp Môn Phổ (入法門普), Thần Thông Phổ (神通普), Phương Tiện Phổ (方便普), Thuyết Pháp Phổ (說法普), Thành Tựu Chúng Sanh Phổ (成就眾生普), Cúng Dường Chư Phật Phổ (供養諸佛普). Hành giả có thể nương vào các pháp môn này theo thứ tự tu hành thì sẽ hoàn thành đức tự hành hóa tha. Riêng Hoa Nghiêm Tông thì nhận thức Phổ Môn là lý của chủ bạn đầy đủ trùng trùng vô tận do Viên Giáo thuyết ra; có nghĩa là trong một mà nhiếp hết thảy các pháp, cũng như kinh hoa nghiêm dạy rằng một của giáo pháp có thể thâu nhiếp cả toàn bộ các cửa. Hơn nữa, chư Phật, bồ tát nương vào các duyên, hiện đủ loại hình tướng để đến cứu độ chúng sanh; nên được gọi là Phổ Môn Thị Hiện (普門示現). Các kinh điển thuyết về Phổ Môn như Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經, Taishō No. 262), Phật Thuyết Phổ Môn Phẩm Kinh (佛說普門品經, Taishō No. 315), Quán Âm Kinh Phổ Môn Phẩm Phu Thuyết (觀音經普門品膚說), v.v. Tại Quan Âm Điện (觀音殿) của Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Thiên Đài Sơn (天臺山), Tỉnh Triết Giang (浙江省), Trung Quốc có câu đối: “Pháp pháp viên thông cố danh Tự Tại, đầu đầu hợp đạo nhân hiệu Phổ Môn (法法圓通故名自在、頭頭合道因號普門, pháp pháp viên thông gọi tên Tự Tại, người người hợp đạo mới hiệu Phổ Môn).”
phổ môn
4986梵語 samanta-mukha。又作無量門。意指普及於一切之門。天台宗認為,法華經所說之中道、實相之理,即遍通於一切,無所壅塞,故諸佛菩薩乘此理,能開無量之門,示現種種身,以拔眾生苦,成就菩提。又以此為根據而有「十普門」之說,即:慈悲普、弘誓普、修行普、斷惑普、入法門普、神通普、方便普、說法普、成就眾生普、供養諸佛普等十普門。依此可順序完成自行化他之德。 華嚴宗認為,圓教所說重重無盡主伴具足之理,即於一之中攝一切法,亦即華嚴經所說之一門教法,實包含一切門,故稱為普門、普法。又密教認為,總該諸尊之德用,而包含一切總智總德之大日如來,稱為普門;對此,彌陀及藥師等諸尊僅現一智一德,此種佛、菩薩則稱為一門。以大日如來為中心,而諸佛、菩薩、諸天等群聚會合之胎藏、金剛兩部大曼荼羅,稱為普門曼荼羅、都會曼荼羅;又建立此曼荼羅、稱為普門壇;悉誦持此等海會諸尊之真言,稱為普門持誦尊。此外,由「一即一切」之立場而言,修行一門法,可得普門法之萬德。然於此亦有持異說者。 又佛、菩薩依種種緣,顯示其種種形相,而來救度眾生,稱為普門示現。〔大日經疏卷一、卷四、卷八、觀音經玄義卷下(智顗)、法華玄論卷十、法華文句卷十下、華嚴經探玄記卷二(法藏)、法華經科註卷八〕(參閱「一門普門」54、「十普門」471)
; Samanta-mukha (S)Vô lượng mônPháp môn phổ cập tất cả.
; Samanta mukuha (S). Universal door, the opening into all things, or universality; the universe in anything; the unlimited doors open to a Buddha, or Bodhisattva, and the forms in which he can reveal himself. Phổ môn thị hiện.
; Samanta-mukuha (skt)—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phổ Môn là cửa phổ biến, hay qua cửa nầy người ta có thể thống nhiếp tất cả các pháp, hay là một môn có nhất thiết môn. Qua cửa nầy, không có cái gì giới hạn Phật và Bồ Tát, thị hiện dưới mọi hình thức để cứu độ chúng sanh—According to The Flower Adornment Scripture, universal door, the opening into all things, or universality; the universe in anything; the unlimited door s open to a Buddha, or Bodhisattva, and the forms in which he can reveal himself.
; (普門) Phạm: Samanta-mukha. Cũng gọi Vô lượng môn. Chỉ cho pháp môn phổ cập hết thảy. Tông Thiên thai cho rằng lí thực tướng, trung đạo nói trong kinh Pháp hoa bao trùm khắp tất cả, không bị ngăn ngại, cho nên chư Phật, Bồ tát nương theo lí này mà mở ra vô lượng môn, thị hiện các loại thân để cứu vớt chúng sinh trong biển khổ, thành tựu bồ đề. Chính từ đây mà 10 Phổ môn đã được mở ra: Từ bi phổ, Hoằng thệ phổ,Tu hành phổ, Đoạn hoặc phổ, Nhập pháp môn phổ, Thần thông phổ, Phương tiện phổ, Thuyết pháp phổ, Thành tựu chúng sinh phổ và Cúng dường chư Phật phổ. Nương theo 10 Phổ môn này mà tu thì có thể lần lượt thành tựu các công đức tự hành, hóa tha. Tông Hoa nghiêm cho rằng lí Trùng trùng vô tận chủ bạn cụ túc mà Viên giáo nói tức là trong 1 pháp bao hàm tất cả pháp, chính là giáo pháp Nhất môn của kinh Hoa nghiêm, chứa đựng tất cả môn, cho nên gọi là Phổ môn, Phổ pháp. Còn Mật giáo thì chủ trương Đại nhật Như lai toàn nhiếp đức dụng của chư tôn, bao gồm tất cả tổng trí tổng đức, gọi là Phổ môn; trái lại, Phật Di đà và Phật Dược sư chỉ hiện 1 trí, 1 đức thì gọi là Nhất môn. Đại mạn đồ la của Thai tạng giới và Kim cương giới lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm mà hội hợp, qui tụ chư Phật, Bồ tát, chư thiên... gọi là Phổ môn mạn đồ la, Đô hội mạn đồ la. Kiến lập Mạn đồ la này, gọi là Phổ môn đàn; tụng trì tất cả chân ngôn của hải hội chư tôn này, gọi là Phổ môn trì tụng tôn. Ngoài ra, nói theo nguyên lí Nhất tức nhất thiết thì tu hành Nhất môn pháp có thể được muôn đức của Phổ môn pháp. Tuy nhiên, về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Lại nữa, chư Phật, Bồ tát tùy theo các duyên mà hiển thị các loại hình tướng để cứu độ chúng sinh, gọi là Phổ môn thị hiện.[X. Đại nhật kinh sớ Q.1, 4, 8; Quan âm kinh huyền nghĩa Q.hạ (Trí khải); Pháp hoa huyền nghĩa luận Q.10; Pháp hoa văn cú,Q.10 phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2 (Pháp tạng); Pháp hoa kinh khoa chú Q.8]. (xt. Nhất Môn, Phổ Môn, Thập Phổ Môn).
phổ môn phẩm
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
phổ môn thiên
Vaisramāna (S)Tỳ sa môn, Tỳ sa môn thiên vương được tôn xưng là Đa văn Chủ, Đa văn ThiênVị thiên vương quản trị phương Bắc trong hàng Tứ thiên vương.
phổ môn thị hiện
4986謂佛菩薩神通自在,示現種種身,開無量法門,使眾生得證圓通。法華經普門品詳說觀世音菩薩之化導,觀世音以三十三相、十九說法為其普門示現之用。 摩訶止觀卷一之五載,若人應以佛身得度者,即示以八相成道;應以九法界身得度者,則以普門示現。此皆顯示感應十界,現身攝化之旨。此普門示現相當於十普門中之「入法門普」。〔往生論註卷下、大日經疏卷六〕「參閱「十普門」471)
; (普門示現) Chư Phật, Bồ tát vận dụng năng lực thần thông tự tại thị hiện các loại thân tướng, mở ra vô lượng pháp môn làm cho chúng sinh chứng được viên thông. Như phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa đã nói rõ về sự hóa đạo của bồ tát Quan thế âm, Ngài thị hiện 33 tướng, 19 thân thuyết pháp, đó là đức dụng Phổ môn thị hiện của Ngài. Ma ha chỉ quán quyển 1, phần 5 ghi: Nếu người cần đến thânPhật để được độ thì liền hiện 8 tướng thành đạo; người cần đến thân trong 9 pháp giới để được độ thì dùng Phổ môn thị hiện. Đây là ý chỉ hiển bày sự cảm ứng trong 10 cõi và hiện thân nhiếp thụ, hóa độ. Phổ môn thị hiện ở đây tương đương với Nhập pháp môn phổ trong Thập phổ môn. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6]. (xt. Thập Phổ Môn).
phổ môn tạp chí
4987請參閱 觀世音菩薩普門品 請參閱 觀音義疏 請參閱 觀世音菩薩普門品為臺灣所出版佛教月刊之一。發行地點為高雄大樹鄉佛光山。每月一日出版。民國六十六年(1977)四月「覺世旬刊」創刊二十週年紀念,佛光山宗長星雲大師為應教內外人士之要求,增闢雜誌版「覺世月刊」,至六十八年十月改為「普門雜誌」,發行迄今。現任發行人為慈容法師。普門,意為無量門,取觀世音菩薩普門示現,普遍為一切眾生開啟慈悲方便之門,使入佛法大海之意;而以普遍化、大眾化、生活化、文藝化、通俗化、趣味化等六大理想為創刊宗旨。發行範圍遍及歐美、東南亞等五十多國,與「覺世旬刊」同為最受歡迎之佛教刊物。
phổ môn tự
4986<一>位於韓國漢城北區普門洞。為高麗朝睿宗王十年(1115)曇真國師所建比丘尼最早之修行道場。後經數次整修,而於李朝肅宗王十八年(1692)大規模擴建。今為大韓佛教普門宗總務院。內有極樂殿、觀音殿、山靈閣、三聖閣、八角九層石塔等。 <二>位於臺北市民權東路。為佛光山之臺北別院。民國六十九年(1980)六月破土興建,七十一年元月正式啟用。普門寺原名普門精舍,係佛光山宗長星雲大師四十六年於北投靜修之所,後遷至三重,再遷往高雄,六十三年復於臺北溪洲街租屋,作臺北之聯絡處。六十六年遷至松江路鼎基大廈十二樓,更名為佛光山臺北別院。後因信眾遽增,遂於現址另建道場接引信眾,並更名為普門寺。 普門,乃觀音大士之名,取其普開佛門,歡迎一切有緣人之意。普門寺佛堂佔地一八○坪,中央供奉五方如來,供臺三面供奉六千多尊觀音菩薩,莊嚴雅靜,可同時容納千人念佛共修,為現今臺北市佛堂最大,弘法布教活動最多之道場。附設有電視弘法委員會,先後籌劃推出甘露、信心門、星雲大師佛學講座等電視節目。七十二年秋天,於舊址鼎基大廈創辦臺北女子佛學院,配合佛光山之教育體系,於北部專做培養佛教人材之工作。歷任住持有慈莊、慈容等法師。七十七年,由慧明法師繼任。
; Fumon-ji (J)Tên một ngôi chùa.
phổ môn viện
Fumon'in (J)Tên một ngôi chùa.
Phổ Ngu
普愚; C: pŭyú; J: fugu; K: pou, 1301-1382; |Thiền sư Hàn Quốc xuất thân từ Hồng Châu (洪州), thường được gọi với pháp danh Thái Cổ (太古, k: t'aego). Sư xuất gia vào năm 13 tuổi, được biết năm 19 tuổi, sư quyết chí giải trừ mối nghi sinh tử của mình, xúc tiến tham công án Vô và thấu suốt công án nầy năm 30 tuổi. Năm 1341, sư trú tại Trùng Hưng tự (重興寺, k: chunghŭngsa) ở Tam giác sơn, nơi sư bắt đầu thâu nhận đồ chúng. Sư lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ (t'aego), ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (歌一篇, k: kailp'yŏn). Sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (山中自樂歌, k: sanjungjallakka). Sau, sư được mời làm Vương sư và Quốc sư. Sư là truyền nhân thuộc dòng thiền Lâm Tế (臨濟, k: imje), dòng thiền theo tinh thần của Đại Huệ (大慧); chú trọng vào việc tham thoại đầu. Sư nổi tiếng qua thi ca, các tác phẩm đã được môn đệ sưu tập lại.
phổ ngu
4996(1301~1382)高麗時代禪僧。洪州(忠清南道洪城郡)人,俗姓洪。初名普虛,號太古。年十三,依檜巖寺之廣智出家,求諸方叢林之道。忠肅王復位六年(1337),寓於松都(開城)栴檀園,參究無字話,而於翌年正月豁然大悟。忠惠王復位二年(1341),住於漢陽三角山之重興寺,學徒雲集,並於寺東結太古庵。忠穆王二年(1346,即元至正六年),由我國之燕都遊轉至湖洲霞霧山天湖庵,參訪臨濟十八世之法孫石屋清珙有省,故得清珙之器重,付以袈裟,以表信徵。因此普愚即為高麗傳臨濟宗嫡流之第一人。後歸國住小雪山,恭愍王元年(1352)迎師入宮中;五年,受王之請,於奉恩寺說法,封為王師,住廣明寺。辛缮八年示寂於小雪山,世壽八十二。〔高麗史卷三十八、卷三十九、朝鮮佛教通史卷中、朝鮮禪教史〕
Phổ Ngu 普愚
[ja] フグ Fugu ||| Pou (1301-1382); a Koryŏ Sŏn monk from 洪州, commonly known by his Buddhist name of T'aego 太古. He entered the sangha at age 13, is said to have become determined to resolve his doubt-mass at the age of 19, and succeeded to penetrate the mu kong'an 無公安 and experience deep enlightenment at the age of 30. In 1341 he took up residence at Chunghŭngsa 重興寺 of Mt. Samgak 三角山, where he gathered many students. He constructed a hermitage to the east of the temple, which he called T'aego, and there he wrote the Kailp'yŏn 歌一篇. He later wrote the Sanjungjallakka 山中自樂歌. He was subsequently invited to be royal teacher 王師 and national teacher 國師. He was a transmitter of the Imje (Linji 臨濟) style of Sŏn in the tradition of Ta-hui 大慧, emphasizing reflection on the hwadu 話頭. He was famous for his poetry, which was collected by his students. => k: Pou ; (1301-1382); Thiền sư Cao Ly xuất thân từ Hồng Châu 洪州thường được gọi với pháp danh Thái Cổ (k: T'aego 太古). Sư xuất gia vào năm 13 tuổi, được biết năm 19 tuổi, sư quyết chí giải trừ mối nghi sinh tử của mình, xúc tiến tham công án Vô và thấu suốt công án nầy năm 30 tuổi. Năm 1341, sư trú tại Trùng Hưng tự ở Tam giác sơn, nơi sư bắt đầu thâu nhận đồ chúng. Sư lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ (T'aego), ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (k: Kailp'yŏn 歌一篇) . Sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (k: Sanjungjallakka 山中自樂歌). Sau đó sư được mời làm Vương sư và Quốc sư. Sư là truyền nhân thuộc dòng thiền Lâm Tế (k: Imje ; c: Linji 臨濟), dòng thiền theo tinh thần của Đại Huệ (c: Ta-hui 大慧); chú trongh vào việc tham thoại đầu. Sư nổi tiếng qua thi ca, các tác phẩm đã được môn đệ sưu tập lại.
phổ nguyện
5004(748~834)唐代僧。鄭州新鄭(河南開封新鄭)人,俗姓王。十歲,受業於大隗山大慧,苦節篤勵,勤勉奮發。大曆七年(772),就嵩山會善寺暠律師受具足戒,研習法礪律師所唱創之相部律宗。未久,遊諸講肆,聽楞伽、華嚴等經,又通達中論、百論、十二門論等之玄義。後參謁江西馬祖道一,有所省悟。貞元十一年(795),於池陽南泉山建禪宇,三十餘年不出山。太和(827~835)初年,應眾請出山。由是,學徒雲集,法道大揚。一日,東西兩堂爭貓兒,師乃對大眾說(大五一‧二五八上):「道得即救取貓兒,道不得即斬卻也。」眾中無有能應對者。師乃斬貓,以截斷學徒之妄想。故有「南泉斬貓」之語,膾炙人口。太和八年十二月二十五日示寂,世壽八十七。世稱南泉普願。有語錄一卷。法嗣有從諗、曇照、師祖等十七人。〔宋高僧傳卷十一、景德傳燈錄卷八、聯燈會要卷四、五燈會元卷四、佛祖歷代通載卷二十二、禪宗正脈卷三〕(參閱「南泉斬貓」3742)
; (普願) (748-834) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Tân trịnh thuộc Trịnh châu (Tân trịnh, huyện Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Vương. Năm 10 tuổi, sư theo ngài Hoài nhượng xuất gia ở núi Đại ngỗi, khổ công học tập, tinh tiến chuyên cần. Năm Đại lịch thứ 7 (772), sư đến chùa Hội thiện ở Tung sơn lễ Luật sư Cảo cầu thụ giới Cụ túc. Sư học tập Tướng bộ Luật tông do ngài Pháp lệ khởi xướng. Không bao lâu, sư đến các đạo tràng nghe giảng kinh Lăng già, kinh Hoa nghiêm..., sư thông suốt huyền chỉ của Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận... Sau, sư đến tham yết Thiền sư Mã tổ Đạo nhất ở Giang tây, có chỗ tỉnh ngộ. Năm Trinh nguyên 11 (795), sư lập Thiền viện ở núi Nam tuyền tại Trì dương, hơn 30 năm không ra khỏi núi. Đầu năm Thái hòa (827-835), theo lời thỉnh cầu của mọi người, sư xuống núi, khai đường giảng pháp, người đến tham học rất đông, đạo pháp hưng thịnh. Ngày 25 tháng 12 năm Thái hòa thứ 8 (834), sư thị tịch, thọ 87 tuổi, người đời gọi sư là Nam tuyền Phổ nguyện. Đệ tử nối pháp có 17 vị như: Tùng thẩm, Đàm chiếu, Sư tổ... Sư để lại tác phẩm: Ngữ lục, 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.8; Liên đăng hội yếu Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.22; Thiền tông chính mạch Q.3]. (xt. Nam tuyền Trảm Miêu).
phổ nguyện nam tuyền thiền sư
Zen master Pu-Yuan-Nan-Quan—See Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư.
Phổ Nhãn
普眼; C: pŭ yăn; J: fugen; |»Cái nhìn suốt khắp«, »mắt vũ trụ«. 1. Con mắt từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn toàn thể chúng sinh; 2. Nhận ra rằng các pháp đều bao hàm trong một pháp; 3. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác; nhan đề của phẩm thứ 3 trong kinh Viên Giác.
phổ nhãn
Universal eye.
phổ nhãn tam muội môn
4994又稱普門世界三昧門。大日如來普門示現之大眾,稱為普門大眾;而觀此普門大眾於一心,即稱為普眼三昧門。普眼,乃斷除煩惱惑業之平等眼。大日經疏卷六(大三九‧六四五上):「如漫荼羅海會佛剎微塵數一一善知識,皆一種入法界三昧門。若總觀如是普門大眾,一心住緣而不馳散,即是普眼三昧門,亦名普門世界三昧門。」
; (普眼三昧門) Cũng gọi Phổ môn thế giới tam muội môn.Môn Tam muội quán tưởng đại chúng Phổ môn trong nhất tâm. Đại chúng Phổ môn tức là Phổ môn của Đại nhật Như lai thị hiện. Phổ nhãn là mắt bình đẳng đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 thượng) nói: Hết thảy thiện tri thức nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật trong Hải hội mạn đồ la đều nhập vào Pháp giới tam muội môn. Nếu quán tưởng chung đại chúng phổ môn như thế, mà nhất tâm trụ duyên không tán loạn, thì gọi là Phổ nhãn tam muội môn, cũng gọi là Phổ môn thế giới tam muội môn.
Phổ Nhãn 普眼
[ja] フゲン fugen ||| 'Pervasive vision,' 'universal eyes.' (1) The compassionate eyes of Avalokiteśvara that see all sentient beings. (2) The perception that all things are contained in one thing. (3) One of the twelve bodhisattvas that serves as an interlocutor in the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經); the title of the third chapter of the same sutra. => Cái nhìn suốt khắp'. Con mắt từ bi của Bồ-tát Quán Thế Âm nhìn toàn thể chúng sinh. Nhận ra rằng các pháp đều bao hàm trong một pháp. Một trong 12 vị Bồ-tát đương cơ trong kinh Viên Giác; nhan đề của phẩm thứ 3 trong kinh Viên Giác.
phổ ninh tự
4998位於熱河承德東北方之獅子山東端。俗稱大佛寺。清乾隆二十年(1755),平定新疆準喀爾、天山北路,乃下令修普寧寺,以示天下普遍寧靜之意。寺有殿宇十三進,中心為大乘閣,其次為方閣、大雄殿,再次為妙岩堂、講經堂、天王殿、金剛殿等,巍峨堂皇,各具特色。寺內之大佛,高二十三公尺餘,為世界最大之木刻佛像,普寧寺因此聞名於世。大乘閣高約三十公尺,建於高約十七公尺之臺基上,為一幢五層無柱之奇異建築,堪稱我國建築史上之一大奇觀。
Phổ pháp
普法; C: pŭfă; J: fuhō; |Theo giáo lí Tam giai giáo, Phổ pháp là giáo lí phổ biến thích nghi với mọi chúng sinh có căn cơ chậm lụt và vô minh, được xêp vào hàng thứ ba; khác với biệt pháp (別法), thích ứng với chúng sinh căn cơ bậc thượng của Nhất thừa (一乘, s: ekayāna) và Tam thừa (三乘, s: triyāna).
phổ pháp
Samantadharma (S). Universal dharmas, or things; all things.
; Theo Kinh Hoa Nghiêm, đây là chư pháp trong pháp giới (một pháp có đủ tất cả pháp, phổ biến viên dung)—According to The Flower Ornament Scripture, universal dharmas, or things; all things.
phổ pháp biệt pháp
4985為普法與別法之並稱。又作普別二法。普遍圓融之法門,即普及一切眾生,圓滿融合,毫無差別之教法,稱為普法,與「一即一切」同義。對此而言,隔別不融之法門,即限定於特定對象之教法,則稱為別法。在華嚴宗,華嚴一乘之教法係普遍圓融之法,稱為普法,而小乘、三乘之教法係隔別不融之法,稱為別法。至於受此二種教法之對象,則稱為普機、別機。 又隋代信行所唱導三階教中,第一階、第二階之教法,稱為別真別正法、別法;第三階之教法,稱為普真普正法、普法;末法眾生則須以普法得救。〔華嚴經疏卷二、華嚴五教章卷一、華嚴經探玄記卷一、五教章通路記卷二、卷十七、華嚴經探玄記南紀錄卷一之二、卷一之六〕
; (普法別法) Cũng gọi Phổ biệt nhị pháp. Phổ pháp và Biệt pháp. Phổ pháp là pháp môn phổ biến viên dung, tức là giáo pháp phổ cập tất cả chúng sinh, viên mãn dung hợp, không mảy may sai khác. Đồng nghĩa với Một tức tất cả. Trái lại, Biệt pháp là pháp môn các biệt không viên dung, tức là giáo pháp được hạn định cho từng đối tượng riêng biệt. Tông Hoa nghiêm cho giáo pháp Hoa nghiêm Nhất thừa là pháp phổ biến viên dung, gọi là Phổ pháp; còn Tiểu thừa, Tam thừa là giáo pháp cách biệt không viên dung, gọi là Biệt pháp. Các đối tượng mà năng lực thích hợp với 2 loại giáo pháp này gọi là Phổ cơ, Biệt cơ. Ngài Tín hành đời Tùy đề xướng Tam giai giáo (giáo pháp 3 bậc), trong đó, giáo pháp bậc 1 và giáo pháp bậc 2 gọi là pháp Biệt chân, Biệt chính, Biệt pháp; giáo pháp bậc 3 gọi là Phổ chân, Phổ chính, Phổ pháp. Chúng sinh thời mạt pháp cần Phổ pháp để cứu độ. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.2, 17; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Nam kỉ lục, phần 2, phần 6].
Phổ pháp 普法
[ja] フホウ fuhō ||| In the Sanjie jiao 三階教 doctrine pufa refers to the universal teachings that are appropriate for the blind and ignorant beings of the third level 三階 capacity, distinguished from the 別法 biefa appropriate for the superior beings with the capacity for the ekayāna 一乘 and triyāna 三乘. => Theo giáo lý Tam giai giáo, Phổ pháp là giáo lý phổ biến thích nghi với mọi chúng sinh có căn cơ chậm lụt và vô minh, được xêp vào hàng thứ ba; khác với biệt pháp (別法 k: biefa ), thích ứng với chúng sinh căn cơ bậc thượng của Nhất thừa ( s: ekayāna 一乘) và Tam thừa (s: triyāna 三乘).
Phổ Phật
普佛; C: pŭfó; J: fubutsu;|Theo giáo lí Tam giai giáo; Phổ Phật thích ứng cho chúng sinh mù quáng vô minh, thuộc loại có căn cơ xếp hạng thứ 3 (tam giai 三階); được trình bày chi tiết bằng 4 phương diện Như Lai Tạng Phật (如來藏佛), Phật tính Phật (佛性佛), Đương lai Phật (當來佛), và Phật tưởng Phật (佛想佛).
Phổ Phật 普佛
[ja] フブツ fubutsu ||| The "universal Buddha;" according to the Sanjie 三階 doctrine the appropriate refuge for blind and ignorant beings of the third level 三階 capacity; detailed as four aspects of the Buddha: 如來藏佛, 佛性佛, 當來佛, and 佛想佛. => Theo giáo lý Tam giai giáo; Phổ Phật thích ứng cho chúng sinh mù quáng vô minh, thuộc loại có căn cơ xếp hạng thứ ba (tam giai 三階); được trình bày chi tiết bằng bốn phương diện Như Lai tạng Phật如來藏佛, Phật tính Phật佛性佛, Đương lai Phật當來佛, và Phật tưởng Phật佛想佛.
phổ quang
5506元代僧。又稱普光。生卒年不詳。山西大同人,俗姓李。中峰普應國師七世之法孫。字玄暉(元暉)。號雪庵(雪窗)。工詩畫,山水學關同,墨竹學文同,俱成妙趣。爲詩沖澹粹美,善真、行、草書,尤工大字,凡宮禁中之匾額皆爲其所書。趙孟頫嘗薦之於朝,蒙封昭文館大學士,賜號「玄悟大師」。〔畫史會要、雪庵羅漢畫冊跋〕
; 4981唐代僧。籍貫、世壽均不詳。資性明敏,師事玄奘三藏於慈恩寺,精苦恪勤,聞少證多,玄奘默許之。人稱大乘光。自貞觀十九年(645),玄奘首創譯場,至麟德元年(664)終於玉華宮,凡二十載,出經七十五部,一三三五卷,大多為普光筆受。永徽五年(654),玄奘譯出俱舍論,首先密授普光。普光因撰俱舍論記三十卷以詳解之,為俱舍論三大疏之一;後由弟子圓暉為之略作十卷,俱舍宗奉為要典。另著有俱舍論法宗原一卷、百法明門論疏等。普光之俱舍學實總集玄奘所傳,故後世公認普光為得玄奘正傳者。〔宋高僧傳卷四、開元釋教錄卷八、東域傳燈目錄〕
; Universal light, to shine everywhere.
; Ánh sáng tỏa khắp nơi nơi—Universal light—To shine everywhere.
; (普光) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư có tư chất thông minh, mẫn tiệp, thờ Tam tạng Huyền trang ở chùa Từ ân làm thầy. Sư siêng năng cần khổ học tập, nghe ít hiểu nhiều, được ngài Huyền trang thầm nhận, người đời gọi sư là Đại thừa quang. Ngài Huyền trang sáng lập Đạo tràng phiên dịch trong 20 năm (645-664), dịch 75 bộ kinh, 1335 quyển, phần lớn do sư Phổ quang bút thụ. Năm Vĩnh huy thứ 5 (654), ngài Huyền trang dịch luận Câu xá, trước hết thầm trao cho sư Phổ quang, sư bèn soạn bộ Câu xá luận kí, 30 quyển, để giải thích. Đời sau cho sư là người được chân truyền về Câu xá học của ngài Huyền trang. Sư có các tác phẩm: Câu xá luận kí 30 quyển, Câu xá luận pháp tông nguyên 1 quyển, Bách pháp minh môn luận sớ. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Đông vực truyền đăng mục lục ].
phổ quang minh điện
4983位於古代印度摩竭提國菩提道場之側。又稱普光法堂。佛陀曾於此殿宣說八十華嚴經九會中之第二會、第七會、第八會等。若依六十華嚴經之八會,則為第二會與第七會之二會。八十華嚴經如來名號品(大一○‧五七下):「爾時,世尊在摩竭提國阿蘭若法菩提場中,始成正覺,於普光明殿,坐蓮華藏師子之座。」〔八十華嚴經十定品、離世間品〕
; (普光明殿) Cũng gọi Phổ quang pháp đường. Tòa điện đường nằm cạnh Bồ đề đạo tràng, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Thủa xưa, điện này là nơi đức Phật từng giảng hội thứ 2, thứ 7, thứ 8 trong 9 hội của kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) hoặc là hội thứ 2 và hội thứ 7 trong 8 hội kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển). Phẩm Như lai danh hiệu kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) (Đại 10, 57 hạ) nói: Lúc bấy giờ đức Thế tôn mới thành chính giác ở A lan nhã Bồ đề đạo tràng tại nước Ma yết đà, Ngài ngồi trên tòa sư tử Liên hoa tạng ở điện Phổ quang minh. [X. phẩm Thập định, phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)].
phổ quang tam muội
4982坐禪觀想如來身,證得五神通、四無量、四無礙解,而至具足大光明之三昧。大寶積經卷八十九(大一一‧五一三中):「大精進菩薩持畫疊像,(中略)觀於如來,諦觀察已,作如是念:如來如是希有微妙(中略)。菩薩如是觀如來身,結加趺坐,經於日夜,成就五通,具足無量,得無礙辯,得普光三昧,具大光明。」又據八十華嚴十定品所說「十大三昧」中,第一即指普光三昧。
; Universal light samàdhi.
; (普光三昧) Tam muội phát ra ánh sáng do tọa thiền quán tưởng thân Như lai, chứng được 5 thần thông,4 Vô lượng tâm,4 Vô ngại giải, cho đến đầy đủ ánh sáng rực rỡ. Kinh Đại bảo tích quyển 89 (Đại 11, 513 trung) nói: Bồ tát Đại tinh tiến cầm bức tượng vẽ (...) quán tưởng thân Như lai, rồi nghĩ như thế này: Như lai vi diệu hiếm có (...). Bồ tát quán thân Như lai như thế, trải qua ngày đêm, thành tựu 5 thần thông, đầy đủ vô lượng, được Vô ngại biện, được Phổ quang tam muội, đầy đủ ánh sáng rực rỡ. Ngoài ra, theo phẩm Thập định trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) thì Tam muội thứ nhất trong 10 Tam muội lớn chính là Phổ quang tam muội.
phổ quang tự
4982<一>位於湖南大庸縣永定鎮。明代永樂十一年(1413)創建,清代重修。現存建築有大佛殿、二佛殿、觀音殿、高貞觀與兩座山門。大佛殿面闊五間,深三間,重檐達於山頂,康熙四十七年(1708)重建,雍正十一年(1733)復重修。二佛殿所呈現斗栱、枋之形制應為明永樂十一年之原建築。大佛殿與二佛殿間以過亭相連,成「工」字形,為元代建築常用手法。高貞觀位於觀音殿左側,分前後兩段,前殿為明代建築,然梁枋、駝峰又具元代建築特點。普光寺在整體佈局和建築技術上,反映出元、明、清各代之風格,為湘西地區重要古建築群。 <二>位於臺灣苗栗頭屋鄉。民國三十二年(1943),智心法師來此開山,初建草庵。三十六年,道宗法師至此改建竹庵,繼由二師合力改建土磚房舍。四十八年,道宗退休,由弟子海明接任住持。五十一年重建大殿,五十六年,海明之弟子明賢繼任住持。本寺位於山中,層巒聳翠,景色優美,又可遠眺苗栗著名風景區─明德水庫,山靈水秀,自六十五年登山汽車道完成後,香客與遊客日漸增多。
phổ quang vương tự
4982位於安徽泗縣東南之信義坊。係西域僧僧伽於唐龍朔(661~663)初年來華乞地所建立,其塔院稱為泗州塔、僧伽塔或靈瑞塔,頗為著名。於唐貞元年間(785~804)遇災,清涼澄觀重建。宋太平興國七年(982,一說五年),太宗敕令高品白承睿重修泗州塔,改稱為「太平興國寺」。迄清乾隆年間(1736~1795),普光王寺及僧伽塔院幾經破壞與變賣,遂告湮滅。僧伽之信仰盛行於唐宋時代,除泗州普光王寺之外,僧伽和尚堂或泗州大師堂普遍存在全國各地。如日僧圓仁之入唐求法巡禮行記卷二載有登州開元寺僧伽和尚堂,日僧成尋之參天台五台山記卷一載有東茄山泗州大師堂等。〔宋高僧傳卷十八、大中祥符法寶錄卷十四、金石錄卷六、佛祖統紀卷四十三、佛祖歷代通載卷二十、釋氏稽古略卷四、重修泗江合志卷二、東坡全集卷九十九、中國近世佛教史研究(牧田諦亮)〕
; (普光王寺) Chùa ở phương Tín nghĩa, phía đông nam huyện Tứ, tỉnh An huy, Trung quốc, do ngài Tăng già, người Tây vực, sáng lập vào đầu năm Long sóc (661-663) đời Đường. Khoảng năm Trinh nguyên (785- 804), chùa bị cháy, sau đó được ngài Thanh lương Trừng quán kiến thiết lại. Đến đời Tống, năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982, có thuyết nói năm thứ 5, 980), vua Thái tông sai ông Cao phẩm Bạch thừa duệ trùng tu tháp Tứ châu và đổi tên chùa là Thái bình hưng quốc. Đến khoảng năm Càn long (1736-1795) đời Thanh, chùa, tháp nhiều lần bị phá hoại nên đã hủy diệt. Tháp Tứ châu và tháp Tăng già là những kiến trúc rất nổi tiếng. Tháp Tăng già hoặc là tháp Linh thụy là nơi thờ ngài Tăng già. Tín ngưỡng Tăng già thịnh hành vào thời đại Đường, Tống. Ngoài chùa Phổ quang vương ở huyện Tứ ra, các nơi trên toàn cõi Trung quốc còn có Tăng già hòa thượng đường hoặc Tứ châu đại sư đường. Như trong Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2 của ngài Viên nhân –vị tăng Nhật bản– có ghi Tăng già hòa thượng đường ở chùa Khai nguyên tại Đăng châu; trong Tham thiên thai ngũ đài sơn kí quyển 1 của ngài Thành tầm –vị tăng Nhật bản– cũng có ghi Tứ châu đại sư đường ở núi Đông giá... [X. Tống cao tăng truyện Q.18; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.14; Kim thạch lục Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.43; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thích thị kê cổ lược Q.4; Trùng tu tứ giang hợp chí Q.2; Đông pha toàn tập Q.99; Trung quốc cận đại Phật giáo sử nghiên cứu (Mục điền Đế lượng)].
phổ quang điện
4983位於四川峨眉金頂。為峨眉山古寺之一,山多雷火,雖經歷代修葺,仍屢建屢廢。正殿永明華藏寺,殿後原有銅造佛殿一幢,俗稱金殿。中央奉祀普賢菩薩,殿旁設列萬佛,門陰刻全蜀山川程途。殿內有明成化年間(1465~1487)所雕鑄之銅碑,今華藏寺及銅殿均已毀於火,然銅碑猶存於殿側臥雲庵。庵左數十步為睹光臺,乃觀日出、雲海、佛光之地。
phổ quán kim cang
See Bất Không Kiến.
phổ quán quán tưởng
5005乃願生西方之人,所須具備十六觀行之一;出於觀無量壽經。又作自往生觀、普往生觀、普觀想、普觀。行此觀法時,觀想自生於極樂世界,結跏趺坐於蓮花上,蓮花開時,有五百色光來照身,乃至觀想佛菩薩等充滿於虛空之中。〔觀無量壽經義疏、觀經玄義分〕(參閱「十六觀」396)
; (普觀觀想) Cũng gọi Tự vãng sinh quán, Phổ vãng sinh quán, Phổ quán tưởng, Phổ quán. Pháp quán tưởng của người nguyện sinh Tịnh độ phương tây, có xuất xứ từ kinh Quán Vô lượng thọ, 1 trong 16 pháp quán. Lúc thực hành pháp quán này, quán tưởng tự mình sinh về thế giới Cực lạc, ngồi kết già trên hoa sen, khi hoa sen nở, có ánh sáng 500 màu chiếu soi trên thân mình, cho đến quán tưởng chư Phật, Bồ tát đầy khắp hư không. [X. Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ; Quán kinh huyền nghĩa phần]. (xt. Thập Lục Quán).
phổ sa
1) Kiết tường: Auspicious. 2) Sao Tisya: Pusya (skt)—The asterism Tisya. 3) Tháng Pausa: Pausa (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (10).
phổ san
4990(Poussin, Louis de la Vallée; 1869~1937)比利時之佛教學學者。早年曾從法國學者萊維研究東方學。一八九三年以後,任干得大學(Gand)教授,講授希臘語、拉丁語,後專攻印度學、大乘佛教之研究。通梵藏漢語,陸續發表無數著作,成果斐然,儼然成為歐洲佛學界之推進者。一九二一年組織東方學研究會,校訂、翻譯佛教經典,為宗教與倫理百科全書撰寫佛教論文,並製作劍橋大學收藏之耆那教文獻目錄、史坦因攜自中亞之出土本、西藏佛典目錄等。重要著作如下:Bouddhisme(含有 Ādikarmapradīpa, Bodhicaryāvatāraṭ丿kā 的梵本), 1898; Madhyamakavṛtti, 1903~1918; Mādhyamakāvatāra, 1900~1918; Opinions sur I'Histoire de la dogmatique, 1909; La morale bouddhique, 1929; L'Abhidharmakośa de Vasubandhu, 6 vols., 1923~1931; L'Inde aux temps des Mauryas et des Barbares, Grecs, Scythes, Parthes et Yue-tchi, 1930。
; (普珊) Poussin, Louis de la Vallée (1869-1937) Học giả Phật giáo người Bỉ. Lúc trẻ, ông từng theo học giả người Pháp là Lévi, Sylvain nghiên cứu Đông phương học. Từ năm 1893 về sau, ông làm Giáo sư Đại học Grand dạy tiếng Hi lạp, tiếng La tinh, sau ông chuyên nghiên cứu về Ấn độ học và Phật giáo Đại thừa. Ông tinh thông tiếng Phạm, Hán, Tây tạng, trứ tác rất nhiều, thành quả rực rỡ, nghiễm nhiên trở thành người xúc tiến phong trào nghiên cứu Phật học ở châu Âu. Năm 1921, ông tổ chức hội nghiên cứu Đông phương học, hiệu đính phiên dịch kinh điển Phật giáo, soạn Bách khoa toàn thư về tông giáo và luân lí, viết các luận văn phát biểu về Phật giáo, làm mục lục về văn hiến Kì na giáo được tàng trữ tại Đại học Cambridge, mục lục các kinh điển đào được do ông A. Stein mang từ Trung á về và mục lục kinh điển Phật tiếng Tây tạng. Ông có các tác phẩm: Bouddhisme (gồm có: Adikarmapradìpa, Boddhicar= yàvatàraỉìka), 1898; Madhyamakvftti, 1903-1918; Màdhyamakàvatàra, 1900- 1918; Opinions sur l’Histoire de la dogmatique, 1909; La morale bouddhique, 1929; L’Abhidharmakoza de Vasubandhu, 6 vols., 1923-1931; L’ Inde aux temps des Mauryas et des Barbares, Grees, Scythes, Parthes et Yue-tchi, 1930.
phổ tang tiết
4991普桑,錫蘭語 Poson 之音譯。乃錫蘭與東南亞上座部佛教國家之節日,以紀念阿育王之子摩哂陀至錫蘭傳播佛教。每年六月月圓日於錫蘭之密興多列(Mihintale)地方舉行隆重之紀念活動。據說摩哂陀曾在此會見錫蘭王天愛帝須(巴 Devānampiya Tissa, 250~210 B.C. 在位),首先對其講經說法。
; (普桑節) Phổ tang, âm của tiếng Tích lan: Poson. Ngày lễ lớn của Tích lan và các nước Phật giáo Thượng tọa bộ vùng Đông nam á, kỉ niệm ngài Ma hi đà, concủa vua A dục, đến Tích lan truyền bá Phật giáo. Vào ngày trăng tròn tháng 6 hàng năm, vùng Mahintale của Tích lan tổ chức các hoạt động kỉ niệm ngài rất long trọng. Theo truyền thuyết, ngài Ma hi đà từng hội kiến với Quốc vương của Tích lan là Thiên ái đế tu (Pàli: Devànampiya Tissa, ở ngôi 250- 210 trước Tây lịch) và giảng kinh thuyết pháp cho vua nghe lần đầu tiên ở nơi này.
phổ thiện thần
4995普善,梵名 Pūṣan。又作布咸神。意謂養育者、繁榮者。為印度古代吠陀經典中之神名。其形像為口中無牙,頭披髮辮,手持金槍刺鉻,乘山羊所拉之車,往來於天地之間。主管道路與保護牲畜,謂能除去道路之猛獸及盜賊,使迷途牲畜返回,並能使死者靈魂升天。又婆羅門教所行火葬或馬祭時燒羊之習慣,與此神以山羊引車有關。
; (普善神) Phổ thiện, Phạm:Pùwan. Cũng gọi Bố hàm thần. Hàm ý làvị thần nuôi dưỡng, phồn vinh, là thần trong kinh điển Phệ đà của Ấn độ đời xưa. Về hình tượng, thần này trong miệng không có răng, đầu bện tóc, tay cầm cây giáo vàng mũi nhọn hoắt, ngồi trên xe do sơn dương kéo, thường qua lại giữa khoảng trời đất. Chức vụ vị thần này chuyên cai quản đường sá, bảo hộ súc vật, tức có thể trừ diệt mãnh thú và trộm cướp trên đường đi, khiến súc vật lạc đường trở về, đồng thời, có khả năng làmcho linh hồn người chết được lên trời.
phổ thuyết
4999謂於禪剎中,普集大眾說法。即師家為一般學人開示宗乘。乃入室、獨參、小參之對稱。一般係於寢堂(大方丈)或法堂舉行。在特別之說法時,則學人燒香請求普說,此稱為告香普說。為通知大眾普說所掛之牌,稱為普說牌。〔敕修百丈清規卷二普說條、禪林象器箋垂說門〕
; Universal preaching.
; Giảng thuyết tổng quát—Giảng thuyết hằng ngày (không nhất thiết phải tại Giảng đường hay được sắp đặt trước)—General preaching—General day-to-day lectures (not necessarily in the Dharma Hall or scheduled in advance).
; (普說) Đối lại: Nhập thất, Độc tham, Tiểu tham. Thuyết pháp cho toàn thể đại chúng cùng nghe, tức sư gia mở bày tông thừa cho người học. Thông thường, Phổ thuyết được khai diễn ở Tẩm đường (Đại phương trượng) hoặc Pháp đường. Trong trường hợp thuyết pháp đặc biệt thì người học đốt hương thỉnh cầu phổ thuyết, gọi là Cáo hương phổ thuyết. Tấm bảng treo để thông báo cho đại chúng biết có phổ thuyết, gọi là Phổ thuyết bài. [X. điều Phổ thuyết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phổ thuỵ
4997 請參閱 天童正覺禪師廣錄 【普瑞】元代僧。榆城(雲南)人。俗姓與生卒年均不詳。字雪庭,號妙觀。年少出家,讀華嚴經開悟。後從皎淵禪師參究,受其法。段氏統理大理國時,師住於水目山。至元代統一天下,師住持再光寺。著有華嚴懸談會玄記四十卷、楞嚴纂要十卷、華嚴心鏡、玄談輔翼等。
; (普瑞) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Du thành (tỉnh Vân nam), tự Tuyết đình, hiệu Diệu quán. Sư xuất gia từ nhỏ, đọc kinh Hoa nghiêm mà khai ngộ, sau theo Thiền sư Kiểu uyên tham cứu và thụ pháp của ngài.Khi họ Đoàn cai trị nước Đại lí thì sư trụ ở Thủy mục. Đến đời Nguyên, sư trụ trì chùa Tái quang. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm đàm huyền hội kí, 40 quyển, Lăng nghiêm toản yếu, 10 quyển, Hoa nghiêm tâm kính, Huyền đàm phụ dực.
phổ thông
Universal—Common to all—General—Reaching everywhere.
phổ thông hợp chưởng
4994又稱普通印。為密教所結印契之一。其印相在金剛、胎藏兩界修法中有所區別,即在金剛界法中為金剛合掌,在胎藏界法中則為蓮華合掌。如胎藏現圖曼荼羅釋迦院中之如來捨菩薩、如來喜菩薩、如來悲菩薩等之印契皆作普通合掌。
; (普通合掌) Cũng gọi Phổ thông ấn. Chỉ cho ấn khế chung, 1 trong các loại ấn khế của Mật giáo. Về ấn tướng thì trong pháp tu của Kim cương giới và Thai tạng giới có khác nhau, tức trong pháp tu Kim cương giới là Kim cương hợp chưởng, còn trong pháp Thai tạng giới thì là Liên hoa hợp chưởng. Như ấn khế của các vị Bồ tát: Như lai xả, Như lai hỉ, Như lai bi... trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới đều là Phổ thông hợp chưởng.
phổ thông viện
4994唐代以降,為參詣五臺山者,在其沿道建有夜宿、飲食之設施,稱為普通院。大宋僧史略卷上創造伽藍條舉出六種伽藍之名,第六即為普通。日僧圓仁之入唐求法巡禮行記卷二開成五年(840) 四月二十三日條,對於上房之普通院有如下記載,普通院常供有飯粥,不論僧俗來集便宿,有飯即與,無飯不與。以其不妨僧俗之赴宿,故稱普通院。除五臺山施設普通院外,至僧伽和尚之遺蹟泗州(安徽)普光王寺之巡禮路亦有類似之設施。據咸淳臨安志載,普陀山(浙江)等聖蹟之巡禮路存有接待寺、接待院等類似之施設,且房山(河北)雲居寺有義飯廳。更有長安之光宅寺、保壽寺等以充當科試者之宿舍為著稱。〔唐會要卷七十六科舉、長安志卷八、唐代佛教史の研究(道端良秀)〕
; (普通院) Nhà nghỉ được xây dựng ven đường dành cho những người hành hương chiêm bái Thánh tích núi Ngũ đài, Trung quốc, bắt đầu từ đời Đường về sau. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2 của ngài Viên nhân –vị tăng Nhật bản– nói: Viện Phổ thông thường cung cấp cơm cháo, bất luận tăng hay tục, hễ đến đều có thể nghỉ ngơi, vì thế gọi là viện Phổ thông. Ngoài viện Phổ thông ở núi Ngũ đài ra, trên đường đến chiêm bái di tích của Hòa thượng Tăng già ở chùa Phổ quang vương tại Tứ châu (An huy) cũng có thiết bị tương tự. Ngoài ra, cứ theo Hàm thuần lâm an chí, thì dọc đường đến lễ bái Thánh tích núi Phổ đà (tỉnh Chiết giang) có các nơi tạm trú như: Chùa Tiếp đãi, viện Tiếp đãi... Còn chùa Vân cư ở Phòng sơn (tỉnh Hà bắc) thì có nhà ăn miễn phí và các chùa Quang trạch, Bảo thọ... ở Trường an có các kí túc xá dành cho những sĩ tử về kinh đô dự các khoa thi... [X. điều Khoa cử trong Đường hội yếu Q.76; Trường an chí Q.8; Đường đại Phật giáo sử chi nghiên cứu (Đạo đoan Lương tú)].
phổ thỉnh
4999於禪林從事作務勞役時,普請大眾,上下合力,稱為普請。今俗稱出坡。據入唐求法巡禮行記卷二載,此制於唐代即行於各地,當收穫蔓菁蘿蔔時,院中上座等盡出揀葉;如庫頭無柴時,院中僧等盡出擔柴。蓋此制原係倡導農禪,凡耕作摘茶等作務皆以普請為之。後世普請僅限於輕微勞動,如四月佛誕摘花、六月曬藏、曬薦,平時園中摘菜、溪邊搬柴及節前寺舍掃除等,皆偶一為之而已。又建造房屋,亦稱普請,以需多數人之協力勞作之故。〔僧堂清規卷三普請法、大宋僧史略卷上、敕修百丈清規卷六普請條、景德傳燈錄卷七百丈懷海條、卷九溈山靈祐條、卷十二黃檗希運條、卷十七華嚴休靜條、碧巖錄第五則、聯燈會要卷四、卷七、禪林象器箋叢軌門〕
; (普請) Cũng gọi Xuất pha. Mời tất cả mọi người. Trong Thiền lâm, khilàm các việc nặng nhọc thì mời tất cả đại chúng chung sức để thực hiện, gọi là Phổ thỉnh. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2, chế độ Phổ thỉnh được thực hành ở khắp các tùng lâm vào đời Đường. Đến mùa thu hoạch nho táo, rau đậu, thì các bậc Thượng tọa trong Thiền viện cũng tham gia hái quả, nhặt lá; lúc nhà bếp hết củi thì chúng tăng đi lấy củi. Vì các Thiền viện thời xưa hầu hết đều làm ruộng, nên các việc cày cấy, hái chè... đều phải phổ thỉnh. Ngoài ra, việc xây dựng nhà cửa cũng gọi là Phổ thỉnh, vì phải cần nhiều người hợp lực tham gia. [X. Phổ thỉnh pháp trong Tăng đường thanh qui Q.3; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; điều Phổ thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; điều Bách trượng Hoài hải trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; điều Qui sơn Linh hựu Q.9; điều Hoàng bá hi vận Q.12 và điều Hoa nghiêm Hưu tĩnh Q.17; Bích nham lục tắc 5; Liên đăng hội yếu Q.4, 7; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phổ thủ
Một tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Văn Thù Sư Lợi.
phổ thủ bồ tát
Parigudha (S)Tên một vị Bồ tát. Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.
phổ trang
4994(1347~1403)明初臨濟宗楊岐派禪僧。台州(淅江)仙居人,俗姓袁。號呆菴。又稱敬中。於天童山出家,後參謁天寧寺了堂惟一,為其法嗣。洪武十二年(1379),住於江西北禪寺,次移居江西雲居山真如寺。二十六年春,奉詔入內庭說法;秋,於廬山修法,帝賜衣一襲;冬,敕住徑山興萬聖壽寺。永樂元年示寂,世壽五十七,法臘四十五。有呆菴莊禪師語錄八卷行世。〔五燈會元續略卷七、南宋元明僧寶傳卷十三、增續傳燈錄卷六、續稽古略卷三〕
; (普莊) (1347-1403) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Dương kì tông Lâm tế, sống vào đầu đời Minh, người Tiên cư, Thai châu (Chiết giang), họ Viên, hiệu Ngốc am, cũng gọi Kính trung. Sư xuất gia ở núi Thiên đồng, sau tham yết ngài Liễu đường Duy nhất ở chùa Thiên ninh và được nối pháp. Năm Hồng vũ 12 (1379), sư trụ ở chùa Bắc thiền tại Giang tây, sau dời đến chùa Chân như, núi Vân cư, Giang tây. Mùa Xuân năm Hồng vũ 26 (1393), sư vâng sắc chỉ vào triều thuyết pháp; mùa Thu, sư vào Lô sơn tĩnh tu, vua ban 1 bộ áo; mùa Đông, sư vâng sắc trụ trì chùa Hưng Thánh Vạn Thọ tại Kính sơn. Niên hiệu Vĩnh lạc năm đầu (1403), sư thị tịch, thọ 57 tuổi, 45 tuổi hạ. Sư có tác phẩm: Ngốc am Trang thiền sư ngữ lục, 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.7; Nam Tống Nguyên Minh tăng bảo truyện Q.13; Tăng tục truyền đăng lục Q.6; Tục kê cổ lược Q.3].
phổ trang nghiêm đồng tử
4994指華嚴經中以四勝身成佛之童子。新譯作大威光太子。係過去愛見善慧王之第二子,釋迦牟尼佛之前身,以三生中解行生之勝身,於解行生之終心入果海,究竟成佛。〔舊華嚴經盧舍那佛品、新華嚴經毘盧遮那品、華嚴經探玄記卷三〕
; (普莊嚴童子) Dịch mới: Đại uy quang thái tử. Chỉ cho vị đồng tử dùng 4 thắng thân thành Phật trong kinh Hoa nghiêm, con thứ 2 của vua Ái kiến Thiện tuệ ở đời quá khứ, là tiền thân của Phật Thích ca mâu ni. Ngài dùng thân thù thắng của giải hành sinh trong 3 sinh, dùng tâm cuối cùng của giải hành sinh vào biển quả, rốt ráo thành Phật.
phổ tri
Omniscience. Phổ tri giả: the Omniscient, i.e. Buddha.
phổ tri giả
Đức Phật là bậc phổ trí, vì ngài thông suốt tất cả—The omniscient, i.e. the Buddha.
phổ tri trí
siêu việt, thông suốt vạn pháp—Omniscience.
phổ tri tôn
See Phổ Tri Giả.
phổ trà
4991供茶給大眾飲用,稱為普茶。對此而言,為特定之人所供之茶,則稱特為茶。〔黃檗清規住持章〕
; (普茶) Đối lại: Đặc vị trà. Pha trà cho toàn thể đại chúng dùng, gọi là Phổ trà. Trái lại, chỉ pha trà mời những vị đặc biệt, thì gọi là Đặc vị trà. [X. chương Trụ trì trong Hoàng bá thanh qui].
phổ trí thiên nhân tôn
4995為佛之尊號。佛之智德普照事理,為人、天中之最尊者,故稱普智天人尊。法華經化城喻品(大九‧二四下):「普智天人尊,哀愍群萌類,能開甘露門,廣度於一切。」
; (普智天人尊) Tôn hiệu của đức Phật, vì trí tuệ của Phật chiếu soi khắp sự lí, là bậc tôn quí nhất trong trời, người, nên có tôn hiệu này. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 27 hạ) nói: Phổ trí thiên nhân tôn Thương xót loài mê mờ Hay mở cửa cam lộ Rộng độ khắp quần sinh.
phổ tế
5003 請參閱 觀普賢菩薩行法經 請參閱 觀普賢菩薩行法經(1179~1253)宋代僧。四明奉化人,俗姓張。號大川。少即沈厚,探繹佛書。年十九,就香林院文憲剃度受戒,修持戒律。未久,赴赤城,學天台性具之理,覺其非超生死之捷徑,乃志於禪,參見天童無用,一意打坐,不出僧堂。後往參浙翁如琰,言下相契,遂依止之。後如琰移居四明天童山,師亦隨住,主管經藏。時丞相史忠獻王,欽仰師之德風,延請住大慈報國寺,後移住臨安淨慈光孝寺,更住景德靈隱寺。居二年,乃撰五燈會元二十卷。後得疾,請退而不獲允許。臨終,誡厚葬,命遺骨投江。南宋理宗寶祐元年正月十八日示寂,世壽七十五。弟子七十餘人。有大川普濟禪師語錄一卷行世。〔靈隱大川禪師行狀、續傳燈錄卷三十五、五燈嚴統卷二十二〕
; (普濟) (1179-1253) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Phụng hóa, Tứ minh, họ Trương, hiệu Đại xuyên. Sư có tính trầm mặc từ nhỏ, thích tìm đọc sách Phật. Năm 19 tuổi, sư lễ ngài Văn Hiến ở việnHương lâm xin cạo tóc xuất gia, tu trì giới luật. Sau đó không lâu, sư đến Xích thành học lí Tính cụ của tông Thiên thai, nhận ra đó chẳng phải con đường thẳng tắt vượt qua sinh tử, nên lập chí tham thiền. Sư yết kiến ngài Thiên đồng Vô dụng, chuyên tâm tọa thiền, không ra khỏi Tăng đường. Sau, sư đến tham vấn ngài Triết ông Như diễm, ngay câu nói liền khế hợp, bèn y chỉ nơi đây. Khi ngài Như diễm dời đến núi Thiên đồng ở Tứ minh, sư cũng theo hầu và được giao công việc trông coi tạngKinh. Bấy giờ, Thừa tướng Sử trung Hiến vương kính trọng đức độ của sư, thỉnh sư trụ ở chùa Đại từ Báo quốc, sau dời đến ở chùa Tịnh từ Quang hiếu tại Lâm an, sau lại đến ở chùa Cảnh đức Linh ẩn. Sau, sư lâm bệnh, xin nghỉ nhưng không được chấp thuận. Lúc lâm chung, sư dặn không được chôn cất linh đình mà phải ném di cốt xuống sông. Ngày 18 tháng giêng niên hiệu Bảo hựu nămđầu (1253) đời vua Lí tông nhà Nam Tống, sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngũ đăng hội nguyên, 20 quyển, Đại xuyên Phổ tế thiền sư ngữ lục, 1 quyển. [X. Linh ẩn Đại xuyên thiền sư hành trạng; Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22].
phổ tế thiền tự
5003位於臺灣臺中西屯。民國三十年(1941),由達善和尚開山創建。後因年久失修,牆垣傾圮,幾成廢寺,達善命弟子真得法師接管此寺,經其苦心籌劃,寺宇漸復舊觀。五十九年得各方信眾之助,重加興建,寺觀一新。
phổ tế tự
5003<一>位於江蘇鎮江東五公里大江中,為焦山名剎。焦山,又稱樵山、譙山、浮玉山。傳說後漢處士焦光隱居於此,現有焦仙嶺,故一般皆稱焦山。山中巉巖叢樹,峭枝鬱結,風景之佳,為江上之冠。寺建於後漢興平年間(194~195),初稱普濟寺,宋代重建,改稱焦山寺,清康熙二十五年(1686),賜名「定慧寺」。歷代增飾,而成為全國著名道場之一。〔大明一統志卷十一、大清一統志卷六十三、焦山志卷一〕(參閱「定慧寺」3184) <二>位於臺灣嘉義。創建於清康熙五十年(1711)。清光緒三十三年(1907),嘉義大地震,寺宇傾圮,宣統二年(1910)重建竣工。自民國六十四年(1975)開始,由慧純法師任住持,至七十年慧純入寂後,改由委員會管理。
Phổ Tịch
(普寂, Fujaku, 651-739): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hà Đông (河東), Bồ Châu (蒲州, Vĩnh Tế, Sơn Tây), họ Phùng (馮), cốt khí cao nhã, thông hiểu các điển tịch Nho gia, nhưng cuối cùng cũng bỏ thế tục mà cầu đạo giải thoát, thường nghe Đại Lương Bích Thượng Nhân (大梁璧上人) giảng về Kinh Pháp Hoa, Thành Duy Thức Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v.v. Năm 38 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Đoan (端和上) ở Lạc Dương (洛陽), rồi theo Nam Tuyền Hoằng Cảnh (南泉弘景) học Luật. Ông cũng từng đến tham yết Đại Thông Thần Tú (大通神秀) ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州), theo thầy 7 năm (có thuyết cho là 6 năm), tinh tấn tham Thiền, cuối cùng ngộ được huyền chỉ. Khi Thần Tú vâng sắc chỉ của Võ Hậu vào kinh, chúng tăng đều quy y theo ông. Đến năm thứ 2 (706) niên hiệu Thần Long (神龍), khi Thần Tú qua đời, ông kế thừa thầy lãnh đạo đồ chúng. Vào năm thứ 13 (725) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông, ông vâng chiếu chỉ đến trú tại Kính Ái Tự (敬愛寺, có thuyết cho là Hoa Nghiêm Tự) ở Lạc Dương. Đến năm thứ 15 (có thuyết cho là năm thứ 13 hay 23) cùng niên hiệu trên, ông vào Trường An (長安), trú tại Hưng Đường Tự (興唐寺), được hàng vương công sĩ thứ thường xuyên đến tham vấn. Chính ông là người đầu tiên giáo hóa Thiền phong rộng rãi ở chốn kinh đô hơn cả thầy mình. Tánh tình ông rất cẩn trọng, ít nói, trì giới trong sạch. Vào năm thứ 27 (có thuyết cho là 28) niên hiệu Khai Nguyên, ông thị tịch tại Hưng Đường Tự, hưởng thọ 89 tuổi, được sắc phong hiệu Đại Chiếu Thiền Sư (大照禪師), người đời thường gọi ông là Hoa Nghiêm Hòa Thượng (華嚴和上), Hoa Nghiêm Tôn Giả (華嚴尊者) và ông được tôn sùng như là vị tổ thứ 7 của Bắc Tông Thiền.
phổ tịch
4991(651~739)唐代禪僧。蒲州河東(山西永濟)人,俗姓馮。骨氣倜儻,通曉儒典,後棄俗求道,就大梁璧上人聞法華經、成唯識論、大乘起信論等。年三十八,從洛陽端和上受具足戒,復從南泉弘景習律,然深覺為文字所縛,乃至荊州玉泉寺參謁大通神秀,依住七年(一說六年),精苦參禪,盡得其道。神秀奉則天武后之召入京,眾皆歸師。神龍二年(706)神秀示寂,師遂繼承神秀之後領眾。玄宗開元十三年(725),依詔入住洛陽敬愛寺(一說華嚴寺),十五年(一說十三年或二十三年),從駕入長安,留居興唐寺,於是王公士庶競來禮謁,法化頗振。神秀雖受帝王器重,然未嘗聚眾開堂演法,師始至都城弘化,禪風大盛。其性凝重寡言,持戒清慎,從不張伐其德,世以是稱之。開元二十七年(一說二十八年),示寂於興唐寺,世壽八十九。敕賜「大照禪師」,世稱華嚴和尚、華嚴尊者。亦有尊其為北宗禪第七祖。〔宋高僧傳卷九、景德傳燈錄卷四、佛祖歷代通載卷十七、釋氏稽古略卷三、大照禪師塔銘(全唐文卷二六二所收)〕
; (普寂) (651-739) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Hà đông, Bồ châu (Vĩnh tế, tỉnh Sơn tây), họ Phùng. Sư có cốt cách lỗi lạc, thông hiểu Nho học, bỏ tục cầu đạo, đến Thượng nhân Đại lương Bích nghe kinh Pháp hoa, luận Thành duy thức, luận Đại thừa khởi tín... Năm 38 tuổi, sư y vào Hòa thượng Đoan ở Lạc dương thụ giới Cụ túc, rồi theo ngài Hoằng cảnh ở Nam tuyền học Luật, nhưng cảm thấy bị văn tự trói buộc, nên sư đến chùa Ngọc tuyền tại Kinh châu tham yết ngài Đại thông Thần tú, y chỉ 7 năm (có thuyết nói 6 năm), khổ công tham thiền, thấu suốt lẽ đạo. Năm Thần long thứ 2 (706), ngài Thần tú thị tịch, sư thừa kế lãnh chúng. Năm Khai nguyên 13 (725), vua Huyền tông thỉnh sư vào trụ chùa Kính ái ở Lạc dương (có thuyết nói chùa Hoa nghiêm). Năm Khai nguyên 15 (727, có thuyết nói 725, hoặc 735), sư theo vua về Trường an ở chùa Hưng đường, Vương công, sĩ thứ cùng nhau đến tham lễ, hóa đạo rất thịnh. Ngài Thần tú tuy được Đế vương kính trọng, nhưng chưa từng nhóm chúng khai đường thuyết pháp, còn sư thì mới đến đô thành hoằng hóa mà Thiền phong đã hưng thịnh. Tính sư trầm lặng ít nói, giữ giới nghiêm cẩn, không khoe khoang đức hạnh, vì thế người đời rất ca tụng. Năm Khai nguyên 27 (739, có thuyết nói 740), sư thị tịch ở chùa Hưng đường, thọ 89 tuổi. Vua ban hiệu Đại Chiếu Thiền Sư, người đời tôn xưng là Hoa nghiêm hòa thượng, Hoa nghiêm tôn giả, cũng có người tôn sư là Tổ thứ 7 của Thiền Bắc tông. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.3; Đại chiếu thiền sư tháp minh].
phổ tịnh
4992(1902~1986)廣東揭陽人,俗姓黃。年二十許,赴泰國。從北標府清水寺華僧隆源出家。民國二十三年(1934),回國赴江蘇寶華山慧居寺受具足戒,於該地學律三年後,復往泰國。以感於泰國華僧佛教之式微,乃起振興之志。其後,曾再返國參訪,並遠赴西康、西藏一帶,受諾那活佛之灌頂。且得律宗千華派十八代祖師妙公上座授記為弘律傳人。師以戒律精嚴,度生有方,故弘化成效頗著,成為泰國華僧之精神領袖。我國佛教界亦咸以「普淨上座」尊稱之。師在泰國,極受朝野佛徒所重,泰國國王蒲美蓬曾對師敕封六次之多,其第五、六次被封為華宗大尊長與仙級大尊長,地位至高,為我國當代出家人在泰國之最獲殊榮者。曾任華宗僧務委員會主席,及曼谷普門報恩寺、北碧府洛梗普仁寺、春府是拉差普德寺等開山住持。民國七十五年九月示寂,世壽八十五。
; Thiền sư Phổ Tịnh, quê ở Thượng Phước, Bắc Việt. Khi còn rất nhỏ, ngài xuất gia với Thiền sư Phúc Điền, nhưng về sau thọ giới với Thiền sư Tường Quang và trở thành Pháp tử đời thứ 43 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài hoằng pháp tại miền Bắc Việt Nam. Ngài đi đâu và thị tịch hồi nào không ai biết—Zen Master Phổ Tịnh, a Vietnamese monk from Thượng Phước, North Vietnam. He left home to follow Most Venerable Phúc Điền when he was very young. Later, he received precepts with Zen Master Tường Quang and became the Dharma heir of the forty-third generation of the Linn Chih Zen Sect. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. His whereabout and when he passed away were unknown.
phổ tịnh tự
4993位於山西臨汾西南。規模敞朗,建築巍峨。創建年代不詳,現存者係元明遺物。山門內有明代所塑二金剛峙立,剛勁雄壯,威嚴肅穆。天王殿中四大天王威坐其中,王冠冑甲,分持劍、琵琶、傘、蛇,象徵風調雨順。菩薩殿內以扇面墻分為二進,墻前為觀音菩薩及善財童子,兩隅十八羅漢各具神態;墻後地藏、道明、閔公端容肅穆,十殿閻君分坐兩側。最後為大雄寶殿,採用元代建築之結構,龕內供奉釋迦、文殊、普賢華嚴三聖,二菩薩身式修長,衣飾合體,面方下圓,神態嫻靜慈祥,塑工尤為精巧。
phổ từ
4998(1355~1450)明代臨濟宗僧。蘇州(江蘇)常熟人,俗姓錢。號海舟。出家於破山,研習楞嚴經,誦至(卍續三八‧四九一下)「但有言說,都無實義」而有所疑,遂往參萬峰時蔚,受其付法。築廬洞庭山塢,居二十九年。後往參萬峰之法孫東明虛白慧旵,獲得大悟。迨東明示寂,師欲歸洞庭,應眾之請,承繼法席,住於杭州東明寺。景泰元年示寂,世壽九十六,法臘七十四。〔五燈會元續略卷六、續燈正統卷二十七〕
phổ từ bồ tát
Xem Thường Đề Bồ tát.
phổ uyển
5506清代僧。生卒年不詳。崑山人,俗姓顧。字蘭谷。世祖順治(1644~1661)初年,漸行入滇,屢經變亂,遂隱居潛修。至康熙年間,德譽廣被,四眾皈服,乃於昆明造法界、報國二寺,聚徒講說。其學淵博,淹貫佛儒,撰有金剛經心印疏、楞嚴經寶鏡疏等。復擅長詩書,有詩集、墨寶傳世。
; (溥畹) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người Côn sơn, họ Cố, tự Lan cốc. Đầu năm Thuận trị (1644) đời vua Thế tổ, sư đến Vân nam, thường gặp nhiều biến loạn nên ẩn cư tu hành. Đến khoảng năm Khang hi, đức hạnh của sư được truyền rộng, 4 chúng đều qui phục. Sư xây dựng chùa Pháp giới và chùa Báo quốc ở Côn minh, qui tụ đồ chúng giảng dạy. Sư có kiến thức uyên bác, thông suốt Phật giáo, Nho học, giỏi thi thư. Sư có các tác phẩm: Kim cương kinh tâm ấn sớ, Lăng nghiêm kinh bảo kính sớ, Thi tập.
Phổ vi thừa giáo
普爲乘教; C: pŭwéi shèngjiāo; J: fuijōkyō;|»Giáo lí bao gồm hết tất cả các thừa«. Gọi như thế vì giáo lí nầy chứa đựng hết thảy 5 thừa. Là tên gọi khác của Pháp tướng tông. Đây là một thuật ngữ Pháp tướng tông thường dùng để gọi tên tông của mình xuất phát từ ngài Khuy Cơ (窺基).
phổ vi thừa giáo tông
4995為法相宗之別稱。此宗認為其所依據之解深密經係普為人、天、聲聞、緣覺、菩薩等五乘之機類而說,故稱普為乘教宗。全稱普為一切乘教宗。而其餘經典或為人天,或為菩薩,或為二乘而說,乃僅局限一部之教義,非為普應全機之教。(參閱「法相宗」3373)
; (普爲乘教宗) Gọi đủ: Phổ vị nhất thiết thừa giáotông. Tên gọi khác của tông Pháp tướng. Tông này cho rằng kinh Giải thâm mật là giáo pháp vì(vị)5 thừa (Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) mà nói, cho nên gọi là tông Phổ vị thừa giáo. Còn các kinh điển khác thì hoặc vì Nhân Thiên, hoặc vì Bồ tát, hoặc vì Nhị nhừa mà nói, chỉ là giáo pháp hạn cuộc ở 1 bộ, không phải là giáo nghĩa ứng hợp với tất cả các căn cơ. (xt. Pháp Tướng Tông).
Phổ vi thừa giáo 普爲乘教
[ja] フイジョウキョウ fuijōkyō ||| The "teaching that encompasses all vehicles." So called because it includes the five vehicles. Another name for the Faxiang sect. This is a term that is often used by the Faxiang school to refer to itself and was originated by Kuiji (窺基). => Giáo lý bao gồm hết tất cả các thừa. Gọi như thế vì giáo lý nầy chứa đựng hết thảy năm thừa. Là tên gọi khác của Pháp tướng tông. Đây là một thuật ngữ Pháp tướng tông thường dùng để gọi tên tông của mình xuất phát từ ngài Khuy Cơ (窺基c: Kuiji ).
phổ văn
4998唐代臨濟宗僧。生卒年不詳。為唐僖宗之太子。自幼茹素,不沾葷腥,生性恬淡,不喜經世攬權之事。黃巢亂起,僖宗出奔蜀地,師遂落髮出家,四處逸遊。後得參謁石霜楚圓,於言談間得省。復至褔建邵武,喜其山鬱蓊秀,乃棲止其地。相傳一日龍求避雷殛,師將之納入袖中,龍甚感師之德,遂穴於山巖之下而為泉。後邑人建寺,乃因之命名為龍湖寺。師居此三十餘年,弘揚佛法。世壽不詳。諡號「圓覺禪師」。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
phổ văn thiên
Xem Dư Thiên vương.
Phổ Vũ
普雨; C: pŭyŭ; J: fu-u; K: pou,1515-1565; |Thiền sư Hàn Quốc vào thời Chosŏn. Sư sống vào thời kì có chút nới lỏng của sự đàn áp Phật giáo nhờ sự thừa kế của Hoàng hậu thừa kế Văn Định Vương Hậu (文定王后, k: munjŏng), là một Phật tử thuần thành, nắm vương quyền từ con của mình là Minh Tông (明宗, k: myŏngjong; trị vì từ 1545-1567), bà liền bãi bỏ nhiều biện pháp cấm ngăn Phật giáo.
phổ vũ
4989李氏朝鮮時代僧。號虛應堂、懶庵。住江原道麟蹄郡雪岳山百潭寺。明宗即位(1546)後,攝政之文貞王后再興佛教,敬信普雨。明宗六年,基於其言復興禪、教兩科,倣效祖宗之大典,依禪、教兩宗之制,以奉恩寺為禪宗,奉先寺為教宗。翌年起舉試,發給僧徒度牒,延請普雨擔任判禪宗寺都大禪師奉恩寺住持,時普雨於朝野中之聲望、權勢頗高。然有尊奉朱子學之儒臣李珥等謂其為妖僧,乞求誅殺,後被流放濟州,為牧使所殺,禪、教兩宗之科亦被廢除。著書有虛應堂集、詩、文、懶庵雜著各一卷。〔李朝實錄、朝鮮佛教通史、李朝佛教、朝鮮禪教史〕
Phổ Vũ 普雨
[ja] フウ Fu-u ||| Pou (1515-1565); a Sŏn monk of the Chosŏn period. He lived during a period where there was a bit of relaxation of the suppression of Buddhism due to the influence of the queen dowager Munjŏng (文定王后), who, as a devout Buddhist, took control of the government in the stead of her young son Myŏngjong (明宗 r. 1545-67), and immediately repealed many anti-Buddhist measures. => k: Pou (1515-1565); Thiền sư Cao Ly vào thời Chosŏn. Sư sống vào thời kỳ có chút nới lỏng của sự đàn áp Phật giáo nhờ sự thừa kế của Hoàng hậu thừa kế Văn Định Vương Hậu ( k: Munjŏng 文定王后), là một Phật tử thuần thành, nắm vương quyền từ con của mình là Minh Tông (k: Myŏngjong 明宗; trị vì từ 1545-1567), bà liền bãi bỏ nhiều biện pháp cấm ngăn Phật giáo.
phổ vương
Phổ Vương là danh hiệu của Diêm Vương khi ông ta diệt tận những tội chướng của chính mình—Universal king, title of Yama when he has expiated (extinguished) all his sins.
phổ đà
Potala (S)
; Potala, Pottala, or Potalaka (skt)—Còn gọi là Bổ Đát Lạc Già Sơn. 1) Cửa khẩu cổ gần cửa sông Ấn Hà: An ancient port near the mouth of the Indus. 2) Điện Phổ Đà trong thủ đô La Sa của Tây Tạng: The Potala in Lhasa. 3) Hải đảo linh thiêng ngoài khơi Ningpo (người ta nói chính nơi đây Thiện Tài Đồng Tử đã nghe Đức Quán Thế Âm thuyết pháp lần thứ 28): The sacred island of Pootoo, off Ningpo.
phổ đà liệt tổ lục
4988全一卷。清代僧潮音通旭(1649~1698)編,康熙三十五年(1696)刊行。收於卍續藏第一四七冊。輯錄宋、元、明、清歷代於普陀山闡法住持者之機緣略傳,自真歇清了、自得慧暉,至潮音通旭、古心明胧,計四十三人。然多數禪師僅列名號而已。卷末並附錄天嶽晝等五位,由他山至普陀山弘法者之略傳。
; (普陀列祖錄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Triều âm Thông húc (1649-1698) biên soạn vào đời Thanh, ấn hành năm Khang hi 35 (1686), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này thu chép lược truyện và cơ duyên của 43 vị Trụ trì hoằng pháp ở núi Phổ đà qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh từ ngài Chân yết Thanh liễu, Tự đắc Tuệ huy, đến các ngài Triều âm Thông húc và Cổ tâm Minh hỗ. Nhưng đa số chỉ được nêu tên mà thôi. Phần phụ lục ở cuối quyển có ghi thêm lược truyện của 5 vị từ các núi khác đến Phổ đà hoằng pháp như Thiên nhạc trú...
phổ đà lạc ca tân chí
4989凡十二卷。民國王亨彥撰。現收於中國佛寺史志彙刊第一輯。 普陀山之山志,自明代周應賓重修以來,有清一代,新志疊出,可考者計有四本:(一)康熙三十七年(1698)裘璉所編之十五卷本,(二)康熙四十四年朱謹、陳璿增修之十五卷本,(三)乾隆四年(1739)許琰重修之二十卷本,(四)道光十二年(1832)秦耀曾修二十卷本。乾隆之許志為法雨寺所延修,道光之秦志為普濟寺所延修,二志各有所偏袒,其比事屬辭,往往詳述主寺而疏略他寺,以秦志尤甚。民國初年,舊志流通不廣,十二年(1923)王亨彥乃重修新志,一除舊志之流弊,凡關於普陀者,應有盡有,不存偏私之見。王志蓋側重佛教史事,表現觀音大士往劫本跡事理,以及此方感應因緣。志分為十二門:本跡、形勝、靈異、檀施、梵剎、禪德、營建、規制、流寓、藝文、志餘、敘錄,與舊志互補短長,亦足供對照參考之用。
phổ đà lạc già sơn
Xem Quang minh sơn.
; Tên một tự viện trên đảo Phổ Đà (P'u-T'o)—Potalaka monastery on the island of Pootoo—See Phổ Đà (3).
phổ đà sơn
4987位於浙江定海縣東海中之舟山群島。又稱補陀山、補陀洛迦山、梅岑山、小白花山。為觀世音菩薩之聖地。與五臺山、峨眉山、九華山並稱我國佛教四大名山。唐以前傳有梅福、葛洪寄隱修道,故又稱梅岑山。唐大中年間(847~860),有一印度僧至此自焚十指,而親睹觀世音菩薩現身說法,授以七色寶石,遂傳此地為觀音顯聖地。五代後梁貞明二年(916),日僧慧鍔從五臺山持觀音像歸國時,船行至該地,輾轉不前,乃就地建寶陀寺供養,而仿印度觀音住地之補陀落迦(梵 Potalaka)取名。南宋以降,歷朝布施財物頗多,寶寺林立,僧徒日眾,遂成大道場。古來祈求航海安全之例頻繁,朝拜亦甚盛行。 南宋紹興元年(1131),將普陀山佛教各宗統一歸於禪宗。嘉定七年(1214),又規定該山以供奉觀音為主。歷朝相繼興建寺院,一度有寺院、庵堂、茅蓬二一八所,僧尼二千餘人。其中著名者有三大寺、七十二小寺。佛寺始立於五代後梁貞明年間(915~920),全山縱橫十八公里左右。三大寺為普濟寺(前寺)、法雨寺(後寺)、慧濟寺。每年春夏之交,由各地前來普陀進香避暑之善男信女絡繹於途,成為江南諸省香火最盛之佛寺。 普濟寺僧侶之眾,範圍之廣,居全山之冠。該寺建於北宋元豐三年(1080),稱為寶陀觀音寺。清康熙三十八年(1699),重建大殿,並賜寺額「普濟群靈」,寺因以名。寺中大殿供有金身釋迦塑像,寺門外有石橋荷池、鐘樓、盤陀石、御碑亭等名勝。法雨寺依山建築,位居普陀後山,寺中觀音殿內供奉一尊大理石雕之觀世音像,體態曼妙,神情凝重,予人以親切之感,為一傑出之藝術作品。慧濟寺昔稱「不肯去庵」,建於宋神宗時,歷代屢加修築始成巨剎。普濟寺、法雨寺、慧濟寺等屬臨濟宗、曹洞宗。 普陀山絕頂之白華山俗稱佛頂山,由山麓至白華頂有二千餘石級,山腰有雲拂石,上刻「海天佛國」四字。慧濟寺即在白華頂下,與前後寺並稱為普陀三大叢林。普陀山四面環海,山中巖峰洞窟天然形成,玲瓏聳峭,奇險詭幻,不一而足。海潮聲與山上寺觀梵音交相合鳴,構成一幅海天佛國之奇境。
; P'u-t'o shan (C), Putoshan (C)Một ngọn núi ngoài đảo ở tỉnh Chiết giang, một trong những trung tâm Phật giáo nổi tiếng nhất của Trung quốcXem Quang minh sơn.
; Phổ Đà Sơn là tên của một ngọn núi nổi tiếng về phía nam bờ biển Ấn Độ. Theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện tại núi nầy để phổ độ chúng sanh. Phổ Đà Sơn là nơi có nhiều loại bông trắng nhỏ biểu hiện cho lòng khiêm tốn và đức tính từ bi của Bồ Tát Quán Âm—Potalaka Mountain, name of a famous mountain located on the southern coast of India. According to the Avatamsaka Sutra, Avalokitesvara Bodhisattva manifested herself there to save sentient beings. There are many small white flowers grow; this represents the modesty and compassionate behavior of Avalokitesvara Bodhisattva.
; (普陀山) Cũng gọi Bổ đà sơn, Bổ đà lặc ca sơn, Mai sầm sơn, Tiểu bạch hoa sơn. Núi nằm ở quần đảo Chu sơn, ngoài biển Đông, thuộc huyện Định hải, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, là Thánh địa của bồ tát Quan thế âm. Núi này cùng với các núi Ngũ đài, Nga mi và Cửu hoa là 4 núi nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Trước đời Đường, tương truyền có các ẩn sĩ như Mai phúc, Cát hồng tu đạo tại đây, vì thế núi này còn được gọi là Mai sầm sơn. Vào khoảng năm Đại trung (847- 860), có 1 vị tăng Ấn độ đến đây, tự đốt 10 ngón tay, được thấy bồ tát Quan thế âm hiện thân thuyết pháp và trao cho vị này viên đá quí 7 màu, nên nơi này được truyền tụng là đất hiển thánh của bồ tát Quan âm. Vào năm Trinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương thời Ngũ đại, khi ngài Tuệ ngạc –vị tăng người Nhật bản– thỉnh tượng Quan âm từ núi Ngũ đài về nước, thuyền đi đến đảo này cứ xoay vòng không chịu tiến lên, ngài Tuệ ngạc liền dừng lại đây xây dựng chùa để cúng dường và phỏng theo tên Bổ đà lặc ca (Phạm: Potakala), trụ xứ của bồ tát Quan thế âm ở Ấn độ mà đặt tên là Bảo đà. Từ thời Nam Tống về sau, các triều đại cúng dường rất nhiều tài vật, các chùa viện được kiến thiết trên khắp núi, tăng chúng mỗi ngày đông thêm, Phổ đà sơn bèn trở thành 1 đạo tràng lớn và khách thập phương về chiêm bái rất đông. Những người đi biển, khi qua đây cũng thường lên đảo để lễ bái cầu an. Niên hiệu Thiệu hưng năm đầu (1131), các tông phái Phật giáo ở núi Phổ đà thống nhất về Thiền tông. Năm Gia định thứ 7 (1214), lại qui định lấy việc thờ phụng bồ tát Quan thế âm làm chủ yếu. Các triều đại sau kế tiếp tạo lập chùa viện, am thất... trong đó có 3 ngôi chùa lớn nổi tiếng và 72 ngôi chùa nhỏ. Ba chùa lớn là các chùa: Phổ tế, Pháp vũ và Tuệ tế. Ngoài ra, các chùa viện nhỏ và am thất tổng cộng 218 ngôi và tăng ni hơn 2.000 vị. Chiều dài và chiều rộng của toàn núi khoảng 18 km. Mỗi năm khoảng giao mùa Xuân và Hạ, thiện nam tín nữ từ khắp nơi lũ lượt về núi Phổ đà hành hương, nghỉ mát, khiến nơi này trở thành 1 tùng lâm phồn thịnh nhất trong các tỉnh thuộc vùng Giang nam.Chùa Phổ tế chúng tăng đông, phạm vi rộng, đứng đầu toàn núi. Chùa này được xây dựng vào năm Nguyên phong thứ 3 (1080) đời Bắc Tống, gọi là chùa Bảo Đà Quan Âm. Năm Khang hi 38 (1699) đời Thanh, đại điện được xây lại và vua ban bảng hiệu Phổ Tế Quần Linh, nhân đó chùa lấy tên là Phổ tế. Trong đại điện thờ tượng kim thân đức Thích ca mâu ni, phía ngoài cổng chùa có cầu đá, ao sen, lầu chuông... Chùa Pháp vũ được kiến trúc dựa vào núi. Trong điện Quan âm thờ pho tượng Quan âm khắc bằng đá hoa, là 1 kiệt tác của nghệ thuật. Chùa Tuệ tế được sáng lập vào thời vua Thần tông nhà Tống, qua các đời đều được tu bổ. Ba chùa Phổ tế, Pháp vũ và Tuệ tế thuộc tông Lâm tế và Tào động. Ngọn Bạch hoa là đỉnh cao nhất của núi Phổ đà, thường được gọi là núi Phật đính, từ chân núi đến đỉnh có hơn 2.000 bậc đá, sườn núi có tảng đá Vân phất (phủi, quét mây), trên khắc 4 chữ Hải Thiên Phật Quốc (Biển trời nước Phật). Núi Phổ đà 4 mặt là biển bao bọc, có nhiều ngọn lởm chởm và hang động tự nhiên, lung linh mờ ảo, chót vót hiểm hóc. Tiếng sóng triều hòa lẫn với tiếng chuông chùa âm vang giao hưởng, tạo thành 1 cảnh biển trời nước Phật kì tuyệt mênh mang.
Phổ Đăng Lục
(普燈錄, Futōroku): xem Gia Thái Phổ Đăng Lục(嘉泰普燈錄, Kataifutōroku) ở trên.
phổ đẳng
Everywhere alike, universal equality, all equally.
; Tất cả mọi nơi đều giống nhau và bằng nhau (chỉ chúng sanh mọi loài)—Everywhere alike, universal equality, all equally.
phổ đẳng tam muội
4996指同時普見一切諸佛之三昧。普,普遍之意;等,齊等之意。無量壽經卷上(大一二‧二六九上):「設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得普等三昧,住是三昧,至于成佛,常見無量不可思議一切如來。」別譯本之無量壽如來會稱為平等三摩地門,無量壽莊嚴經稱普遍菩薩三摩地,悲華經卷六稱為遍至三昧,大悲分陀利經卷三稱為普至三昧。
; (普等三昧) Chỉ cho Tam muội mà trong đó hành giả đồng thời được thấy tất cả chư Phật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu ta thành Phật, các chúng Bồ tát ở cõi nước phương khác, nếu được nghe tên của ta thì đều mau chóng chứng đắc Phổ đẳng tam muội. Trụ trong Tam muội này, cho đến khi thành Phật, thường thấy vô lượng bất khả tư nghị hết thảy Như lai. Về tên của Tam muội này, các kinh gọi có khác nhau, như bản Biệt dịch của hội Vô lượng thọ Như lai gọi là Bình đẳng tam ma địa môn, kinh Vô lượng thọ trang nghiêm gọi là Phổ biến bồ tát tam ma địa, kinhBi hoa quyển 6 gọi là Biến chí tam muội và kinh Đại bi phân đà lợi quyển 3 gọi là Phổ chí tam muội.
phổ đồng tự tháp
4984位於河北南宮之舊城。為南宮故城普彤寺內建築,始建於東漢永平十年(67)。明成化十四年(1478)洪水泛濫,縣城始遷於今址,寺亦被毀,僅餘此塔。塔為鐵剎八角實心磚砌,高三十三公尺,共有八層,每層檐下置斗栱,第八層斗栱外出翹頭上不施令栱,而置小斗一枚托住塔檐,使每面略呈弧形,兩角翹起,形制奇特。塔身自下而上遞減,輪廓柔和,結構清秀。
phổ đồng vấn tấn
4983即普向大眾問訊,或大眾一齊問訊。又作普通問訊、普問訊、十問訊。敕修百丈清規卷二迎待尊宿條(大四八‧一一二二下):「尊宿往住持前問訊,歸中普問訊登座,侍者兩序出班問訊,住持問訊說法畢下座,住持前問訊,普與大眾問訊。」同書卷六大夜念誦條(大四八‧一一四八中):「受請人出班燒香退身問訊,次住持前問訊,轉東序前問訊,巡至班末問訊,次西序前問訊,然後與大眾普同問訊。」〔釋氏要覽卷中、禪林象器箋禮則門〕(參閱「問訊」4412)
; (普同問訊) Cũng gọi Phổ thông vấn tấn, Phổ vấn tấn, Thập vấn tấn. Thăm hỏi vấn an toàn thể đại chúng, hoặc toàn thể đại chúng cùng thăm hỏi vấn an vị Trụ trì hoặc các bậc tôn túc. Điều Đại dạ niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1148 trung) nói: Người thụ thỉnh bước ra đốt hương, lui về chỗ cũ; đầu tiên, đến trước vị Trụ trì vấn tấn, chuyển sang trước Đông tự vấn tấn, lần lượt từ vị đầu đến vị cuối; rồi đến trước Tây tự vấn tấn, cuối cùng mới vấn tấn toàn thể đại chúng (Phổ đồng vấn tấn). [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phổ độ
4990<一>謂廣行剃度。宋史孔承恭傳載:「請於征戰地修寺,及普度僧尼。」 <二>謂廣施法力以救眾生。又作普度眾生。即佛菩薩憐憫眾生營營擾擾沈浮於生死大海中,故廣施大法力以普救群生,使脫離生死與煩惱之苦海。如觀世音菩薩之尋聲救苦,為各種靈驗錄所常記載之普度實例。又我國民間信仰每以陰曆七月廣設宴食,普濟亡靈,亦稱為普度。佛教亦有「普度大齋」之記載,如明成祖永樂五年(1407)春,喇嘛教高僧噶里麻烏斯(藏 Chos-dpal-bzaṅ-po)曾於鍾山靈谷寺啟建為期七日之普度大齋,成祖並親自前往行香。(參閱「尋聲救苦」4937) <三>(1196~1277)南宋僧。江都人,俗姓史。字虛舟。生於宋慶元二年(1196,一說五年)。早歲雖習世書,然有出塵之志,母識其志,遂允於天寧寺出家。後參見靈隱寺之鐵牛印,未久遊方歷參諸德,謁薦福寺之無得。又曾依制府趙信庵之請,開法於金陵之半山寺。後歷住金山寺、鹿苑寺、疏山寺、中天竺寺、靈隱寺、徑山寺。至元十四年(一說十七年)四月示寂,世壽八十二。〔增集續傳燈錄卷四、五燈嚴統卷二十一〕(參閱「虛舟」5261) <四>(?~1330)元代僧。丹陽(江蘇鎮江)人,俗姓蔣。弱冠即於廬山東林寺出家,曾歷叩諸方,後住丹陽妙果寺、東林寺善法堂,專修念佛三昧。時有稱蓮宗卻大行邪法之輩續出,師深以為憂,遂於大德九年(1305)撰蓮宗寶鑑十卷,以闡明慈照子元之正宗。武宗至大元年(1308)五月,下詔禁斷蓮宗,師乃決計復興,十月,至京師法王寺與灌頂國師商議,遂持所撰蓮宗寶鑑奉進。仁宗即位,復上書乞請再興。皇慶元年(1312)正月,仁宗敕令頒行蓮宗寶鑑於天下,以師為蓮宗之教主,賜號「虎溪尊者」。至順元年示寂,世壽不詳。世稱「優曇宗主」,一時號稱蓮宗中興之祖。〔廬山蓮宗寶鑑序、淨土晨鐘卷十、淨土全書卷下、淨土聖賢錄卷四〕
; Universally to ferry across. Phổ độ chúng sinh: to deliver, or save, all beings.
; Mở rộng việc tế độ chúng sanh đáo bỉ ngạn, bao gồm cả việc thế phát độ Tăng—To relieve—Universally to ferry across, including helping people to leave home to become monks.
; (普度) I. Phổ Độ. Độ cho nhiều người cạo tóc xuất gia. Truyện Khổng thừa cung trong Tống sử ghi: Xin sửa chữa những ngôi chùa ở nơi bị chiến tranh tàn phá và độ cho nhiều người làm tăng ni. II. Phổ Độ. Cũng gọi Phổ độ chúng sinh. Ban bố pháp lực rộng rãi để cứu độ chúng sinh. Tức là Phật, Bồ tát thương xót chúng sinh trôi giạt, nổi chìm trong biển lớn sống chết, nên ban bố rộng rãi pháp lực để cứu độ khắp quần sinh, khiến cho họ thoát khỏi biển khổ sinh tử phiền não. Tín ngưỡng dân gian Trung quốc, hàng năm đến tháng 7 âm lịch, dân chúng sắm sửa thức ăn để cúng tế các vong linh, cũng gọi là Phổ độ. Phật giáo cũng có nghi thức Phổ độ đại trai. III. Phổ Độ (1196-1277). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, họ Sử, tự Hư chu. (xt. Hư Chu). IV. Phổ Độ (?-1330). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Đơn dương (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Tưởng. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đông lâm tại Lô sơn, tham học nhiều nơi, sau trụ ở chùa Diệu quả tại Đơn dương và Thiện pháp đường chùa Đông lâm, chuyên tu Tam muội niệm Phật. Bấy giờ xuất hiện bọn người tự xưng là Liên tông mà chuyên hành tà pháp, sư thâm cảm niềm lo âu. Cho nên, vào năm Đại đức thứ 9 (1305), sư biên soạn Liên tông bảo giám, 10 quyển, để làm sáng tỏ chính tông của ngài Từ chiếu Tử nguyên. Tháng 5, niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Nguyên, vua Vũ tông hạ chiếu chỉ nghiêm cấm Liên tông hoạt động, sư liền quyết định đặt kế hoạch phục hưng. Tháng 10, sư đến chùa Pháp vương tại Kinh đô để cùng bàn bạc với Quốc sư Quán đính, rồi đem bộ Liên tông bảo giám do sư soạn dâng lên vua. Sau khi vua Nhân tông lên ngôi, sư lại dâng biểu xin được phục hưng Liên tông. Tháng giêng, niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), Nhân tông sắc lệnh ban hành Liên tông bảo giám trong nước, đề cử sư làm Giáo chủ Liên tông và ban hiệu cho sư là Hổ Khê Tôn Giả. Niên hiệu Chí thịnh năm đầu (1330) sư thị tịch. Người đời tôn là Ưu đàm tông chủ, tổ Trung hưng Liên tông. [X. bài Tựa trong Lô sơn Liên tông bảo giám; Tịnh độ thần chung Q.10; Tịnh độ toàn thư Q.hạ; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4].
phổ độ chúng sanh
Cứu độ tất cả chúng sanh—To deliver, or save all beings.
phổ độ tự
4995為北平名剎之一,位於東安門內。俗稱馬嘎拉廟。本為清初攝政王多爾袞之府第,府基甚高,後有大殿,與一般王侯邸第不同。因為多爾袞曾經追尊讓皇帝,故其府第亦改為廟,成為喇嘛誦經祈福之所。乾隆十四年(1775)重修,次年改稱今名。大殿建築宏偉,臺基高大,採須彌座式,檐有三層飛椽,為建築法式中所少見。因此處為明之翔鳳殿遺址,所以泰半為大明遺物。舊傳廟內有多爾袞死後以魚皮所造之肖像及五塔寺金剛寶座模型,今已無存。
Phổ Đức
普徳; C: pŭdé; J: futoku; K: podŏk|Tăng sĩ thuộc Cao cú lệ (k: koguryŏ), bị lưu đày sang Tân La vào thời Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo). Là người nổi tiếng tinh thông về kinh Niết-bàn.
phổ đức bồ tát
Bodhisattva Universal Virtue.
Phổ Đức 普徳
[ja] フトク Futoku ||| Podŏk A Koguryŏ monk who was exiled to Silla during the time of Wŏnhyo 元曉. A reputed expert on the Nirvāna Sutra 涅槃經. (k: Podŏk) => Tăng sĩ thuộc Cao cú lệ (k: Koguryŏ), bị lưu đày sang Tân La (Silla) vào thời Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉). Là người nổi tiếng tinh thông về Kinh Niết-bàn.
Phổ 普
[ja] フ fu ||| Widely, generally, universally. => Rộng rãi, nói chung, toàn thể.
Phổ-đà sơn
普陀山; C: pǔtuó-shān; S: potalaka; cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn;|Một ngọn núi trên đảo Phổ-đà, một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc. Núi này là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng tại đây và được xem là trú xứ của Bồ Tát Quán Thế Âm.|Một vài truyền thuyết kể lại việc Phổ-đà sơn trở thành trú xứ của Quán Thế Âm. Tên Phổ-đà vốn xuất phát từ chữ »Potalaka« của Phạn ngữ, tên của một hòn đảo tại Ấn Ðộ dương. Hòn đảo này cũng được biết là trú xứ của Quán Thế Âm. Năm 847, một vị tăng người Ấn Ðộ bỗng nhiên thấy Quán Thế Âm xuất hiện trong một hang động trên một ngọn núi. Sau đó, vị này đặt tên cho núi này là Potalaka, dịch âm là Phổ-đà.|Một truyền thuyết khác kể rằng, vào khoảng năm 850, một vị tăng đốt hết những ngón tay của mình để cúng dường. Nghe ông than thở, đức Quán Thế Âm hiện ra cứu giúp, vì ông thuyết pháp.|Một truyền thuyết rất nổi tiếng khác bảo rằng, một vị tăng người Nhật muốn thỉnh một tượng Quan Âm từ Ngũ Ðài sơn sang Nhật. Trên đường trở về nước thì thuyền của ông không may gặp bão. Ông nguyện trước bức tượng Quan Âm rằng, nếu thoát khỏi nạn này ông sẽ xây dựng một ngôi chùa để cúng dường. Ngay sau đó thì thuyền của ông – như được một bàn tay vô hình – được dẫn ngay đến núi Phổ-đà. Ðể báo ân, ông bèn lập một ngôi chùa tại đây và từ đó, Quan Âm cũng được xem là vị Bồ Tát chuyên giúp những người đi biển.
phụ cận
Adjacent—Near—Neighboring.
Phụ Giáo Biên
(輔敎編, Hokyōhen): trước tác của Phật Nhật Khế Tung (佛日契嵩), gồm 3 quyển, được thâu lục vào trong Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集). Quyển thượng có phần Nguyên Giáo (原敎), Khuyến Thư (勸書); quyển trung có Quảng Nguyên Giáo (廣原敎) và quyển hạ có Hiếu Luận (孝論), Đàn Kinh Tán (壇經賛) và Chơn Đế Vô Thánh Luận (眞帝無聖論). Nó thuyết về sự nhất trí xưa nay về Ngũ Giới Thập Thiện của Phật Giáo với Ngũ Thường của Nho Giáo; Nho thì trị đời còn Phật thì trị tâm và nhờ có trị tâm mới làm cho việc trị thế được hoàn thành. Hơn nữa, tác phẩm này còn chủ trương rằng với vấn đề ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật Giáo hơn hẳn Nho Giáo; mặt khác chính nhờ các vị vương thần mà Phật Giáo tồn tại, cho nên Phật Giáo thể hiện tư thế khẳng định toàn diện đối với quyền lực quốc gia. Vào năm 1061, bộ này được trình lên cho vua Nhân Tông (仁宗), được nhóm Âu Dương Tu (歐陽脩) khen ngợi, rồi năm sau bản Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記) cũng được chấp nhận đưa vào kinh tạng, và Khế Tung được ban cho hiệu là Minh Giáo Đại Sư (明敎大師). Bộ này được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc cũng như Nhật Bản, và thỉnh thoảng được khai bản ấn hành. Đặc biệt, phần Nguyên Giáo và Hiếu Luận có ảnh hưởng rất lớn. Chính Trầm Sĩ Vinh (沉士榮) nhà Minh sau này đã kế thừa tư tưởng của Nguyên Giáo để viết ra cuốn Tục Nguyên Giáo Luận (續原敎論, Zokugenkyōron, năm 1385); còn ảnh hưởng của Hiếu Luận thì có thể tìm thấy ở Trung Phong Minh Bổn (中峰明本, 1263-1323) và Hàm Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) nhà Nguyên. Còn tại Nhật Bản thì Hiếu Luận cũng được lưu truyền rộng rãi đến nổi người ta đã cho in riêng phần này thành một bản. Ngoài ra ta có thể tìm thấy chủ trương giống như tác phẩm này qua cuốn Nhàn Cư Biên (閑居編, năm 1016) của vị tăng Thiên Thai Tông là Cô Sơn Trí Viên (孤山智圓).
phụ giáo biên
5938凡三卷。北宋契嵩撰。收於大正藏第五十二冊鐔津文集卷一至卷三。闡說佛教要義,以調和儒釋二教。契嵩對北宋當時儒家排佛之論力加反駁,而提倡儒佛一致之說。以佛家之五戒(不殺、不盜、不淫、不飲酒、不妄語)配於儒家之五常(仁、義、禮、智、信),並加以說明。計分原教、勸書、廣原教、孝論、檀經贊等五篇。宋濂、李之全爲作序,子柔爲作後序。嘉祐七年(1062),與所著傳法正宗定祖圖、傳法正宗記、傳法正宗論等,同時獲准入藏。
; (輔教編) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Khế tung soạn vào đời Bắc Tống, được thu vào Đàm tân văn tập quyển 1-3 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung nói rộng về yếu nghĩa của Phật giáo để dung hòa 2 đạo Nho và Phật. Ngài Khế tung bác bỏ luận điệu bài Phật của Nho gia đương thời và đề xướng thuyết Nho Phật nhất trí (Nho và Phật là một). Ngài phối hợp 5 giới (sát, đạo, dâm, vọng, ẩm tửu) của Phật giáo với 5 thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) của nhà Nho và giải thích rõ ràng. Toàn sách gồm 5 thiên: Nguyên giáo, Khuyến thư, Quảng nguyên giáo, Hiếu luận và Đàn kinh tán. Các ông Tống liêm, Lí chi toàn viết lời tựa và ông Tử nhu soạn bài bạt.
phụ giúp
To help—To assist.
phụ họa
To repeat someone's opinion.
phụ khuyết
To be alternate.
phụ liêu
Deputy in a monastery.
phụ lục
Xem Truyền giới.
phụ lục thân
1503三藏法數卷二十七引律典載,佛陀為使比丘避於譏嫌,規定比丘不得使非親之女、非親之比丘尼浣洗故衣,故有父六親、母六親之說。父六親指:(一)伯,即父之伯,於己為伯祖。(二)叔,即父之叔,於己為叔祖。(三)兄,即父之兄,於己為伯。(四)弟,即父之弟,於己為叔。(五)兒,即父之子,於己為兄弟。(六)孫,即父之孫,乃兄弟之子,於己為姪男。
; (父六親) Sáu hàng thân thuộc với cha. Tam tạng pháp số quyển 27 dẫn qui định trong luật có ghi rằng: Để tránh sự hiềm nghi của người đời, đức Phật cấm các tỉ khưu không được nhờ người nữ, hoặc tỉ khưu ni không phải là bà con họ hàng giặt giũ quần áo cho mình, vì thế mà có thuyết Phụ lục thân, Mẫu lục thân. Phụ lục thân là: 1. Bá: Bác của cha, đối với mình là ông bác. 2. Thúc: Chú của cha, đối với mình là ông chú. 3. Huynh: Anh của cha, đối với mình là bác. 4. Đệ: Em của cha, đối với mình là chú. 5. Nhi: Con của cha, đối với mình là anh em. 6. Tôn: Cháu của cha, tức là con của anh emruột, cũng là cháu trai, cháu gái thúc bá của mình.
phụ môn
Bị thua trong cuộc tranh luận—Positions that have been withdrawn from in argument—Defeated.
phụ mẫu
Cha mẹ—Father and mother—Parents. (A) Vô minh và tham ái được coi như là cha mẹ của phiền não và nghiệp chướng—The two 'ignorance and concupiscence' being the parents of all delusion and karma. 1) Phụ Vô Minh: Ignorance is referred to as father. 2) Mẫu Tham Ái: Desire or concupiscence as mother. (B) Tam Ma Địa cũng được coi như cha, và Bát Nhã được coi như mẹ của tất cả trí tuệ và công đức—Samadhi is also referred to as father, and prajna (wisdom) as mother, the parents of all knowledge and virtue. 1) Cha Tam Ma Địa: Samadhi is referred to as father. 2) Mẹ Bát Nhã: Prajna as mother. (C) Trong chập chùng sanh tử luân hồi, tất cả người nam đã từng là cha ta, và tất cả người nữ đã từng là mẹ ta (Nhứt thiết nam nữ ngã phụ mẫu trong kinh Tâm Địa Quán)—In the vast interchanges of rebirth all have been or are my parents, therefore all males are my father and all females my mother.
phụ mẫu phu thê tử tôn thân bằng quyến thuộc
Parents-Husbands and Wives-Children-Friends-Relatives—Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Tám, Cư Sĩ Duy Ma Cật đã nói về phụ mẫu, phu thê, tử tôn, thân bằng, quyến thuộc như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Eighth, trong chúng hội có Bồ Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người trí thức là ai? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu?”—A Bodhisattva called Universal Manifestation, who was present asked Vimalakirti: “Who are your parents, wife and children, relatives and kinsmen, official and private friends, and where are your pages and maids, elephants and horse carts?” Duy Ma Cật dùng bài kệ đáp rằng—In reply Vimalakirti chanted the following: 1) Trí độ mẹ Bồ Tát, phương tiện ấy là cha, Đạo sư tất cả chúng, đều do đấy sinh ra—Wisdom-perfection is a Bodhisattva's Mother, his father is expedient method, For the teachers of all living beings come, Only from these two (upaya and prajna). 2) Pháp hỷ chính là vợ, tâm từ bi là gái, tâm thành thực là trai, rốt ráo vắng lặng nhà—His wife is joy in Dharma's law; Kindness and pity are his daughters; His sons morality and truthfulness; Absolute voidness his quiet abode. 3) Trần lao là đệ tử, tùy ý mà sai xử, đạo phẩm vốn bạn lành, do đấy thành Chánh giác—Passions are his disciples Whom he transforms at will. Bodhipaksita dharma are his friends. Helping him to win supreme enlightenment.
phụ mẫu ân trọng kinh
1503全一卷。版本有數種,敦煌出土本現收於大正藏第八十五冊。內容敘說父母恩之深重,為報其恩,必於七月十五日行盂蘭盆供養,並應經常書寫、讀誦本經。惟開元釋教錄則以本經為我國所作之偽經,一般亦謂係唐代以前或初唐之時所偽撰者。 父母恩重經流通於我國及日本,有關其註釋之書甚多,日本文學作品中亦常引用本經經文,故本經堪稱為儒教化的佛典之一。於今在日本、朝鮮所流通之「大報父母恩重經」一書,與本經(敦煌本)內容出入甚大。此外,本經之圖畫本普及於歷代。〔開元釋教錄卷十八偽妄亂真錄、朝鮮佛教通史卷上〕
; (父母恩重經) Kinh 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Kinh này gồm có nhiều loại bản in, bản này là bản đào đượcở động Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, Trung quốc, nội dung nói về ân đức sâu dày của cha mẹ và khuyên mọi người vào ngày 15 tháng 7 hàng năm, nên thực hành pháp Vu lan bồn và thường viết chép, đọc tụng kinh này để đền đáp thâm ân của cha mẹ. Nhưng Khai nguyên thích giáo lục thì cho kinh này là do người Trung quốc ngụy tạo. Nhiều người cũng cho rằng đây là kinh giả được soạn vào khoảng trước hoặc đầu đời Đường. Kinh Phụ mẫu ân trọng được lưu thông ở Trung quốc, Nhật bản và có rất nhiều sách chú thích. Trong các tác phẩm văn học của Nhật bản, lời kinh này cũng thường được dẫn dụng, bởi thế có thể nói đây là một bộ kinh Phật bị Nho giáo hóa. Kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân được lưu hành ở Nhật bản và Triều tiên có nội dung rất khác với kinh này. Ngoài ra còn có các bức vẽ về kinh Phụ mẫu ân trọng được lưu truyền phổ biến qua nhiều đời. [X. Ngụy vọng loạn chân lục trong Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.thượng].
phụ mẫu ân trọng kinh giảng kinh văn
1503為基於父母恩重經所作之講經文。父母恩重經乃初唐成於我國之作,有偽經之說。據此而傳者有諸多異本,道教亦有「太上老君說報父母恩重經」。此種勸孝之經典在我國不僅廣為讀誦,更常被譯為平易之文字,或冠以曲調而歌之,其中以「定格聯章」之形式所作之「十恩德」,乃基於父母恩重經及其講經文而成。
phụ nghi
6521指贈予死者家人之財貨,以資助其成喪。敕修百丈清規卷三(大四八‧一一二八中):「然後上祭所有賻儀,用餘當歸常住,補犒諸山人從支費。」
; (賻儀) Tiền bạc và phẩm vật tặng thân nhân của người chết để giúp vào việc làm đám tang.Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1128 trung) nói: ... Sau đó dâng tất cả tài vật (phụ nghi) lên để cúng tế, dùng không hết phải trả về thường trụ để thù lao cho những người giúp việc từ các chùa khác đến.
phụ nhân
1) See Phụ (6). 2) Vợ: A wife.
phụ nhân ngộ cô kinh
4473全一卷。西秦聖堅譯。又作佛遇對經。收於大正藏第十四冊。本經內容敘述一婦人突遇丈夫、兒子、娘家父母、夫家親人,短時內相繼死亡,因遭此不幸,內心愁憂怖懼,以致發狂,後至祇樹給孤獨園,佛為其說(大一四‧九四四中):「人命無常,合會有別,生者有死,無生不終,一切本空。」婦人遂發無上正真道意。
; (婦人遇辜經) Cũng gọi Phật ngộ đối kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thánh kiên dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh thuật lại chuyện của 1 người đàn bà chỉ trong thời gian ngắn mà chồng, con, cha mẹ đẻ, thân nhân nhà chồng... cứ theo nhau mà chết. Vì gặp nỗi bất hạnh ấy, nên trong lòng người quả phụ lo sầu, sợ hãi quá đến nỗi phát khùng. Sau, bà đến tinh xá Kì viên trong vườn Cấp cô độc, đức Phật nói pháp cho nghe (Đại 14, 944 trung): Mệnh người vô thường, có hợp thì có tan, có sống ắt có chết, tất cả đều như thế, không ai tránh khỏi. Nghe xong, người bà tỉnh ngộ và phát đạo tâm.
phụ nữ
Itthī (P), Strī (S), Woman.
phụ phàng
To put away (betray—desert) one's wife or husband.
phụ phật pháp ngoại đạo
3698爲摩訶止觀所舉三種外道之一。指依附於佛法而立錯誤思想者。如華嚴宗指小乘之犢子部爲附佛法外道。摩訶止觀卷十上(大四六‧一三二中):「邪人不同又爲三:一、佛法外外道,二、附佛法外道,三、學佛法成外道。」上引之中,佛法外外道指佛法以外之教,或其信奉者。又雖學佛之教,然其見解與佛法相違背者,稱爲學佛法成外道。
; Ngoại đạo nằm ngay trong lòng Phật Giáo (chỉ những người mang danh Phật tử mà luôn bị tà vạy mê hoặc)—Heretics within Buddhism.
; (附佛法外道) Chỉ cho những kẻ nương nhờ Phật giáo, sống trong Phật giáo mà lập ra học thuyết sai lầm, phản lại chính nghĩa của Phật giáo. Là 1 trong 3 loại ngoại đạo được đề cập đến trong Ma ha chỉ quán. Như tông Hoa nghiêm cho Độc tử bộ của Tiểu thừa là Phụ Phật pháp ngoại đạo. Ma ha chỉ quán quyển 10, phần đầu (Đại 46, 132 trung) nói: Có ba hạng người sai lầm: 1. Ngoại đạo ngoài Phật pháp. 2. Ngoại đạo nhờ vào Phật pháp. 3. Học Phật pháp trở thành ngoại đạo. Trong 3 trường hợp nêu trên, ngoại đạo ngoài Phật pháp là chỉ cho giáo pháp ngoài Phật pháp, hoặc người mà họ tin thờ. Còn những người tuy học giáo pháp của Phật, nhưng sự hiểu biết của họ lại trái ngược với Phật pháp, nên gọi là học Phật pháp mà trở thành ngoại đạo.
phụ thuộc
Xem Hữu vi.
phụ thuộc lẫn nhau
Interdependent
phụ thành
1503指迦毘羅城。為釋尊之父淨飯王之城,故稱父城。亦即釋尊之出生地。
; Thành của phụ vương của Đức Phật hay thành Ca Tỳ La vệ—The paternal or native city, especially Sakyamuni, Kapilavastu.
; (父城) Thành của phụ vương đức Phật, tức là thành Ca tì la, nơi vua Tịnh phạn đóng đô, nên gọi là Phụ thành, cũng là nơi sinh của đức Phật.
phụ thân
Cha—Father—Daddy.
phụ trách
To undertake—To assume the responsibility.
phụ trọng (núi)
Vebhara (P).
phụ tuỳ
3698巴利名 Parivāra。又作附錄。爲巴利文律藏三大部之一。係律藏之附錄部分,其內容主要爲對於戒條之解釋,共分十九章,即大分別、比丘尼分別、等起之攝頌、無閑省略與滅諍分解、問犍度章、增一法、布薩初解答章與制戒之義利論、伽陀集、諍事分解、別的伽陀集、呵責品、小諍、大諍、迦絺那衣分解、優婆離問五法、等起、第二伽陀集、發汗偈、五品。
; (附隨) Pàli: Purivàra. Cũng gọi Phụ lục. Phần phụ lục củatạng Luật, 1 trong 3 bộtạng Luật bằng tiếng Pàli. Nội dung của phần này chủ yếu là giải thích các giới điều, gồm 19 chương: Đại phân biệt, Tỉ khưu ni phân biệt, Nhiếp tụng đẳng khởi, Vô nhàn tỉnh lược và Diệt tránh phân giải, Vấn kiền độ, Tăng nhất pháp, Bố tát sơ giải đáp và Chế giới nghĩa lợi luận, Già đà tập, Tránh sự phân giải, Biệt đích già đà tập, Ha trách phẩm, Tiểu tránh, Đại tránh, Ca hi na y phân giải, Ưu bà li vấn ngũ pháp, Đẳng khởi, Đệ nhị già đà tập, Phát hãn kệ, Ngũ phẩm.
phụ tá
To assist—To help.
phụ tâm
Ungratefulness.
phụ tình
See Phụ Phàng.
phụ tùy
Parivāra (S)Phụ lục, Hậu Thiên; Quyến thuộcMột nội dung trong Luật tạng, gồm 19 phẩm và 19 chương.
; Parivàra (S). Appendix of Vinaya.
Phục
伏; C: fú; J: buku;|Có các nghĩa: 1. Chinh phục, hàng phục, ngăn chặn, đánh bại (s: abhibhava, nigraha). Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ sự hàng phục phiền não. Khi đi cùng với thuật ngữ Đoạn (斷) thì nó có nghĩa là sự khởi đầu, giai đoạn đầu của việc chuyển hoá phiền não, vì thuật ngữ đi sau là Đoạn (斷) liên quan đến sự chuyển hoá rốt ráo toàn bộ phiền não, khác với việc đè nén, đối trị. Trong ý nghĩa nầy, nó đồng nghĩa với Trị (治), xem Phục đoạn (伏斷); 2. Ẩn nấp, che đậy, náu mình, tiềm ẩn.
; 服; C: fú; J: fuku; |1. Mặc; 2. Áo quần; 3. Theo, lắng nghe, cùng đi với. Đáp ứng, phục vụ.
phục
1) Y phục: Clothes. 2) Phúc đáp: To reply. 3) Phục hồi: To revert—Again. 4) Phục: To admire—To esteem. 5) Tang phục: Mourning clothes. 6) Nuốt: To swallow.
phục bái
Bái phục—To prostrate oneself.
phục bát
2164又作覆鉢。乃指塔頂上如倒覆之鉢的部分,係由印度半球狀塔身之建築演變而來。(參閱「相輪」3911)
; (伏鉢) Chỉ cho hình dáng cái bát úp, 1 kiểu kiến trúc tháp Phật ở Ấn độ. Tức phần trên của thân tháp Phật có hình dáng tròn như cái bát úp, thường được gọi là Đẩu hình (hình cái đấu). Trong các kiểu tháp Phật thì hình bát úp là xưa nhất và được cấu thành bởi các bộ phận: Lan can, nền tháp, thân tháp, bát úp, đầu bằng, luân can (cột đỡ bánh xe), tướng luân (những bánh xe), bảo bình (bình báu)... Theo phương pháp xây tháp Phật thời xưa ở Ấn độ thì bát úp là phần nền của Cửu luân (9 bánh xe), trên Cửu luân có đặt Lộ bàn (vật hình tròn giống như cái mâm), nhưng nay thì Lộ bàn được dùng làm phần nền của tướng luân, trên tướng luân đặt bát úp, khác hẳn với kiểu cổ. (xt. Cửu Luân, Thừa Lộ Bàn, Tướng Luân, Tháp).
phục chức
To reinstate someone—To restore someone to his former position.
Phục diệt
伏滅; C: fúmiè; J: bukumetsu;|Có các nghĩa: 1. Phá huỷ, cắt đứt, trừ diệt, làm tiêu tan (s: vinivartate; t: ldog pa); 2. Hàng phục và làm tiêu tan hết sạch phiền não. Đồng nghĩa với Phục đoạn (伏斷; theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Phục diệt 伏滅
[ja] ブクメツ bukumetsu ||| (1) To destroy, cut off, exterminate, extinguish (Skt. vinivartate Tib. ldog pa). (2) To subdue and then extinguish defilements. Synonymous with 伏斷.〔成唯識論T 1585.31.48b〕 => Có các nghĩa: 1. Phá hủy, cắt đứt, trừ diệt, làm tiêu tan (s: vinivartate; t: ldog pa ) 2. Hàng phục và làm tiêu tan hết sạch phiền não. Đồng nghĩa với Phục đoạn. Theo Thành Duy Thức Luận.
phục dâm kinh
2164全一卷。西晉法炬譯。此即中阿含行欲經。內容記述給孤獨長者分別說明求財與受用之勝劣不同。此處之「婬」,非指色欲,而指非法求財,蕩然無禮者。
; (伏淫經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn, tức là kinh Hành dục trong Trung a hàm. Nội dung kinh này thuật lại việc trưởng giả Cấp cô độc phân biệt rõ ràng về sự tốt xấu của việc mưu cầu và thụ dụng của cải. Chữ dâm ở đây không phải chỉ cho dâm dục mà là chỉ cho việc tìm cầu của cải một cách phi pháp, buông thả không có lễ phép.
phục dược
To take the medicine.
phục dịch
To serve (attend) someone.
phục hoạt
Sống trở lại—To return to life—To live again—To resurrect.
phục hoặc
To tame binding karmas—Phục hoặc có nghĩa là hành giả đã đạt được thành tựu tâm linh nào đó có thể hàng phục được các hoặc nghiệp trói buộc—To tame binding karmas means the cultivator has reached certain spiritual achievements to remain somewhat free from his or her karmic afflictions.
phục hy
Fu-Hsi (C)Tên một vị sư. Cai trị từ 2952-2836 hoặc 2852-2737 BC, thời Tam Hoàng, chồng bà Nữ Oa,.
phục hình
To suffer a punishment.
phục hưng
To rise again—To revive.
phục hồi
To restore.
phục hồi sức khỏe
To restore one's health.
phục hồn
To call (raise) a spirit.
Phục hổ
伏虎; C: fúhǔ; J: fukko;|Có các nghĩa sau: 1. Người hàng phục hổ (Phục hổ nhân), tên ám chỉ Đức Phật và các vị Tổ sư kiệt xuất đã dùng giáo pháp để hàng phục mọi oán nghịch; 2. Tên của một bậc cổ đức, được thêm vào trong bản gốc 16 vị A-la-hán để thành 18 vị (Thập bát A-la-hán 十八羅漢, vị kia là Hàng Long A-la-hán).
phục hổ thiền sư
2163<一>梁代僧。佚名。梁武帝時,居於拾寶岩,每隔十日則坐禪入定,身心寂靜。間或絕糧半月,然精神反顯怡然安適。夜行山中,虎皆逃避。武帝聞之,賜號伏虎禪師。後莫知所終。 <二>宋初僧。名志逢,號大扇和尚。宋乾德五年(967),居於雲棲山。山中有虎,僧至,虎則馴伏,世稱伏虎禪師。〔雲棲山房雜錄(袾宏)〕
phục hổ tự
2163位於四川西南峨嵋山之伏虎山麓。距報國寺西一公里處。宋紹興年間,由行腳僧心安開建。初名神龍堂,後因附近常有虎患,而建尊勝幢以鎮壓,遂更名伏虎寺(一說因寺之後山,山形似蹲虎而得名)。明末毀於兵火。清順治八年(1651)又建虎溪精舍,經十餘年始成,前後共十三進,為入山第二大叢林。寺旁有張三豐所書「虎溪禪林」四字,寺內有康熙御賜之詩篇、藏經等。
Phục hổ 伏虎
[ja] フッコ fukko ||| (1) A "subduer of lions"--a name applied to Śākyamuni or other eminent Buddhist teacher whose preaching of the dharma overcomes all opposition. (2) The name of an ancient worthy whose name was added to the list of the original sixteen arhats to make eighteen arhats 十八羅漢. => Có các nghĩa sau: 1. Người hàng phục hổ (Phục hổ nhân)- tên ám chỉ Đức Phật và các vị Tổ sư kiệt xuất đã dùng giáo pháp để hàng phục mọi oán nghịch. 2. Tên của một bậc cổ đức, được thêm vào trong bản gốc 16 vị A-la-hán để thành 18 vị (vị kia là Hàng Long A-la-hán).
Phục Kiến Thiên Hoàng
(伏見天皇, Fushimi Tennō, tại vị 1287-1298): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử thứ 2 của Hậu Thâm Thảo Thiên Hoàng (後深草天皇, Gofukakusa Tennō, tại vị 1246-1259), tên là Hy Nhân (熙仁, Hirohito), còn gọi là Trì Minh Viện Điện (持明院殿). Sau khi nhường ngôi, ông làm Viện Chính.
phục ma pháp sư
Abhicāraka (S)Người hàng phục ma quái.
phục mệnh
To carry out an order.
phục nguyện
To make a vow.
Phục Ngưu Tự Tại
(伏牛自在, Fukugyū Jizai, 741-821): người Ngô Hưng (呉興, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Lý (李). Ông xuất gia ở Kính Sơn (徑山), rồi đăng đàn thọ giới tại Tân Định (新定). Sau ông đi tham vấn khắp các nơi, và cuối cùng đạt ngộ với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) ở Nam Khang (南康, Tỉnh Giang Tây). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), ông thâm giao với Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然) ở Hương Sơn (香山) và còn giao hảo thư từ qua lại với Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠). Ông đã từng đi ngao du khắp các nơi như Long Môn (龍門), Ngọc Ốc Sơn (玉屋山), Tung Sơn (嵩山), v.v., và cuối cùng đến trú tại Phục Ngưu Sơn (伏牛山), Lạc Dương (洛陽, thuộc Tỉnh Hà Nam). Vào năm đầu niên hiệu Trường Khánh (長慶), ông thị tịch tại Khai Nguyên Tự (開元寺), Tùy Châu (隨州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), hưởng thọ 81 tuổi.
Phục nhẫn
伏忍; C: fúrěn; J: bukunin;|Điều nhẫn nhục thứ nhất được dạy trong Nhân vương kinh (仁王經). Phục nhẫn là giữ cho phiền não không sinh khởi.
phục nhẫn
2163乃五忍之第一。伏,隱伏之義;忍,安忍、忍可之義。即地前三賢之人未得無漏智,不能證果,但修習觀解,以有漏之勝智制伏煩惱,稱為伏忍。可分為上、中、下三品:(一)下品,十住位。先起十信,超過二乘地,而起少分化地之事。(二)中品,十行位。行十波羅蜜,觀身、受、心、法之不淨、苦、無常、無我等,以對治貪、瞋、癡三不善根而生起施、慈、慧三善根;另觀三世,得過去因忍、現在因果忍、未來果忍,廣利眾生。(三)上品,十回向位。此位得十忍,即:觀五蘊,得戒忍、定忍、慧忍、解脫忍、解脫知見忍;觀三界因果,得空忍、無相忍、無願忍;觀二諦之諸法無常,得無常忍;觀一切法空,得無生忍。(參閱「五忍」1097)
; Nhẫn thứ nhất trong ngũ nhẫn—The first of the five forms of submission—See Ngũ Nhẫn.
; (伏忍) Áp phục phiền não không cho hiện hành, là nhẫn đầu tiên trong 5 nhẫn. Bậc Tam hiền trước Thập địa chưa được trí vô lậu, không thể chứng quả, chỉ tu tập quán xét, dùng thắng trí hữu lậu chế ngự phiền não, nên gọi là Phục nhẫn. Có thể chia làm 3 phẩm Thượng, Trung, Hạ. 1. Hạ phẩm: Tức giai vị Thập trụ. Trước hết, khởi Thập tín, vượt Tiểu thừa, khởi ít phần của việc hóa tha. 2. Trung phẩm: Tức giai vị Thập hành. Tu hành 10 Ba la mật, quán thân, thụ, tâm, pháp đều bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã để đối trị 3 căn bất thiện: Tham, sân, si và sinh khởi 3 căn thiện: Thí, từ, tuệ. Ngoài ra còn quán xét 3 đời mà được Quá khứ nhân nhẫn, Hiện tại nhân quả nhẫn, Vị lai quả nhẫn làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh. 3. Thượng phẩm: Tức giai vị Thập hồi hướng. Ở giai vị này hành giả có được 10 nhẫn, tức quán xét 5 uẩn thì được: Giới nhẫn, định nhẫn, tuệ nhẫn, giải thoát nhẫn, giải thoát tri kiến nhẫn; quán xét nhân quả trong 3 cõi thì được: Không nhẫn, vô tướng nhẫn, vô nguyện nhẫn; quán xét các pháp Nhị đế là vô thường thì được vô thường nhẫn và, cuối cùng, quán xét tất cả pháp là không, thì được Vô sinh nhẫn. (xt. Ngũ Nhẫn).
Phục nhẫn 伏忍
[ja] ブクニン bukunin ||| The first of the five forbearances taught in the Ren wang jing 仁王經. The "subduing forbearance," where the afflictions are kept from arising. => Điều nhẫn nhục thứ nhất được dạy trong Kinh Nhân Vương (c: Ren wang jing 仁王經). Phục nhẫn là giữ cho phiền não không sinh khởi.
phục pháp
See Phục hình.
phục phịch
Fat and clumsy.
phục sinh
Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Sống lại”—Externalists believe that there exists a so-called Resurection (come to life again or return from the dead).
phục sức
Hoàn tục (người đã một lần tháo bỏ đồ trang sức để xuất gia, nay lại để tóc dài mặc đồ thế tục nên gọi là phục sức)—To return to ordinary garments, i.e. to doff the robes for lay life—Clothes and adornments.
Phục thi
(伏屍・伏尸): thây chết nằm trên mặt đất, như trong Chiến Quốc Sách (戰國策), phần Ngụy Sách (魏策) thứ 4 có câu: “Nhược sĩ tất nỗ, phục thi nhị nhân, lưu huyết ngũ bộ (若士必怒、伏屍二人、流血五步, nếu là kẻ sĩ tất uy thế, xác chết hai người, máu chảy dài năm bước).” Hay trong Văn Tuyển (文選), phần Cổ Nghi (賈誼), Quá Tần Luận (過秦論) lại có câu: “Truy vong trục bắc, phục thi bách vạn, lưu huyết phiêu lỗ (追亡逐北、伏尸百萬、流血漂櫓, đuổi giặc về phướng bắc, thấy chết cả trăm vạn, máu chảy đầy khắp).” Hoặc trong Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 317 có đoạn: “Trung hữu phục thi, Trúc dạ văn kỳ khấp thanh, hốt kiến nhất phụ nhân, đản bối nhi lai (中有伏尸、竺夜聞其泣聲、忽見一婦人、袒背而來, bên trong có thấy chết; ban đêm Trúc nghe tiếng khóc của thây ma đó, lại chợt thấy một phụ nữ, mặc áo để lộ vai đi đến).” Trong Phật Thuyết Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương Kinh (佛說地藏菩薩發心因緣十王經, CBETA No. 20) cũng có đoạn như sau: “Như kim chúng sanh, y ngã tu thiện, linh đắc Phật đạo; nhất thiết chúng sanh, diệc phục như thị, thất chủng phách thức; nhất danh Tước Âm Phách Thần Thức, nhị danh Thiên Tặc Phách Thần Thức, tam danh Phi Độc Phách Thần Thức, tứ danh Thi Cấu Phách Thần Thức, ngũ danh Xú Phế Phách Thần Thức, lục danh Trừ Uế Phách Thần Thức, thất danh Phục Thi Phách Thần Thức (如今眾生、依我修善、令得佛道、一切眾生、亦復如是、七種魄識、一名雀陰魄神識、二名天賊魄神識、三名非毒魄神識、四名尸垢魄神識、五名臭肺魄神識、六名除穢魄神識、七名伏尸魄神識, như nay chúng sanh, theo ta tu thiện, khiến được Phật đạo; hết thảy chúng sanh, cũng lại như vậy, bảy loại phách thức; một là Tước Âm Phách Thần Thức, hai là Thiên Tặc Phách Thần Thức, ba là Phi Độc Phách Thần Thức, bốn là Thi Cấu Phách Thần Thức, năm là Xú Phế Phách Thần Thức, sáu là Trừ Uế Phách Thần Thức, bảy là Phục Thi Phách Thần Thức).”
phục thiện
Làm lành lánh ác—To yield to reason—To do good and get rid of evil.
phục thuỷ luận sư
3291印度古代二十種外道之一,彼等以水爲萬物之生因。此外道以水爲萬物之根本,能生天地、有情無情等一切物,下至阿鼻地獄,上至阿迦尼吒天皆以水爲主;又水能生物,亦能壞物,故稱涅槃。據大日經卷一住心品、大日經疏卷一載,於三十種外道中之第二地等變化外道,計執地、水、火、風、空等五大爲真實,且各爲眾生萬物之生因,若供養承事,乃得解脫。其中,計執水之外道,恐係相當於服水論師。〔中觀論疏卷三本、外道哲學〕
; (服水論師) Phái ngoại đạo chủ trương nước là nguyên nhân sinh ra muôn vật, là một trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Phái ngoại đạo này cho rằng nước là gốc của muôn vật. Nước sinh ra trời đất và hết thảy hữu tình, vô tình; dưới đến địa ngục A tị, trên đến cõi trời A ca ni tra, tất cả đều lấy nước làm chính. Lại vì nước sinh ra vạn vật, mà cũng hủy hoại vạn vật, nên gọi là Niết bàn. Cứ theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 và Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì Địa đẳng biến hóa ngoại đạo trong 30 loại ngoại đạo chấp rằng 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không là chân thực, vả lại, mỗi đại đều là nhân sinh ra chúng sinh vạn vật, nếu cúng dường 5 đại thì được giải thoát. Trong đó, ngoại đạo chấp nước có lẽ tương đương với Phục thủy luận sư này. [X. Trung quán luận sớ Q.3, phần đầu; Ngoại đạo triết học].
phục thù
To take revenge.
phục thủy luận sư
Một trong 20 thứ ngoại đạo. Phục Thủy Luận Sư cho rằng nước là căn bản của vạn vật. Nước có khả năng sanh ra trời đất; nước cũng có bản năng hủy hoại vạn hữu. Ngoại đạo nầy lấy nước làm cứu cánh Niết Bàn—The sect of non-Buddhist philosophers (one of the twenty heretic sects) who considered water the beginning and end of all things.
phục tòng
To obey—To yield—To submit.
phục tạng
2164<一>指埋藏於地中之寶物。自古以來,印度、日本之大寺院均設有伏藏,內藏有金銀珍寶及經典。在西藏亦曾掘得古代佛教之經籍,傳聞此乃八、九世紀時,蓮華生等將寫好之佛教經典埋藏地下或山洞中,僧人娘尼瑪俄色(1124~?)與古如卻吉旺秋(1212~1273)先後掘得,稱為上下兩大伏藏。十五世紀時,熱特那林巴匯集刻印,稱 南部伏藏;十六世紀時,仁增郭吉登曲堅發掘、刻印之典籍,稱北部伏藏。其中包括五部遺教、蓮華生遺教和醫明要籍等。 此外,彌勒下生成佛經載,彌勒當來下生之時,有乾陀羅國伊勒鉢大藏、彌緹羅國般軸迦大藏、須羅吒國賓伽羅大藏、波羅捺國蠰佉大藏等四大藏自然踊出。〔增一阿含經卷四十九非常品、修行本起經卷上、佛本行經卷一、不動使者陀羅尼祕密法、四分律卷一、釋迦方志卷上迦畢試國條〕 <二>指伏藏之譬喻。即以貧女不知自家有伏藏,待智者教之始發掘。此即比喻眾生不知自身具有佛性,待佛說法開示始能覺悟。〔北本大般涅槃經卷七、大寶積經無量壽如來會〕
; (伏藏) I. Phục Tạng. Nơi chôn giấu báu vật trong lòng đất. Từ xưa, các chùa viện lớn ở Ấn độ, Nhật bản đều có thiết trí Phục tạng để cất giữ vàng bạc, trân bảo và kinh điển. Ở Tây tạng, người ta cũng từng đào được kinh sách của Phật giáo đời xưa. Tương truyền, vào thế kỉ VIII, IX, các ngài Liên hoa sinh... đem những kinh điển Phật giáo viết tay rất đẹp chôn xuống đất, hoặc cất giấu trong hang núi. Sau, các vị tăng như: Nương ni mã nga sắc (1124-?) và Cổ như khước cát vượng thu (1212-1237) đã lần lượt đào tìm được, gọi là Thượng hạ lưỡng đại phục tạng(Hai kho tàng lớn trong núi và dưới đất). Thế kỉ XV, ngài Nhiệt đặc na lâm ba hối khắc bảnnhữngkinh điển đào được này và ấn hành, đặt tên là Nam bộ phục tạng. Thế kỉ XVI, ngài Nhân tăng quách cát đăng khúc kiên lại đào được những kinh điển khác và khắc in, gọi là Bắc bộ phục tạng. Trong đó gồm có: Ngũ bộ di giáo, Liên hoa sinh di giáo và một số sách thuộc y học. Ngoài ra, kinh Di lặc hạ sinh thành Phật ghi: Trong vị lai, khi Phật Di lặc hạ sinh có 4 Đại tạng từ lòng đất tự nhiên vọt lên, đó là: Đại tạng Đại Y lặc bát ở nước Kiền đà la, Đại tạng Ban trục ca ở nước Di đề la, Đại tạng Tân già la ở nước Tu la tra và Đại tạng Nhương khư ở nước Ba la nại. [X. phẩm Phi thường trong kinh Tăng nhất a hàm Q.49; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.1; Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; luật Tứ phần Q.1; điều Ca tất thí quốc trong Thích ca phương chí Q.thượng]. II. Phục Tạng. Thí dụ phục tạng. Tức chuyện cô gái nghèo không biết trong nhà mình có kho cất giấu của báu dưới đất, đến khi bậc trí chỉ bảo cho mới biết và đào được. Đây là ví dụ chúng sinh không biết trong tự thân có tính Phật, đợi đến khi Phật thuyết pháp chỉ bày mới giác ngộ được. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.7 (bản Bắc); Vô lượng thọ Như lai hội trong kinh Đại bảo tích].
phục vụ
To serve.
Phục đoạn
伏斷; C: fúduàn; J: fukudan;|Có các nghĩa: 1. Sự hàng phục và đoạn trừ phiền não. Phục ám chỉ việc giải trừ sức mạnh và ảnh hưởng của phiền não và Đoạn chỉ cho sự tiêu diệt phiền não vĩnh viễn. Đồng nghĩa với Phục diệt (伏滅); 2. Giải trừ phiền não với ý nghĩa đè nén, phản nghĩa với sự diệt trừ vĩnh hằng (vĩnh đoạn 永斷; theo Du-già luận 瑜伽論).
phục đoạn
2164指伏惑與斷惑。制伏所起之惑,而使之一時不起,稱為伏惑;斷絕惑種,而使之畢竟不生,稱為斷惑。有漏道之對治僅能伏惑,依無漏道方得斷惑。(參閱「伏道」2164)
; (伏斷) Tức phục hoặc và đoạn hoặc. Áp phục phiền não không cho sinh khởi trong nhất thời, gọi là Phục hoặc; dứt hẳn hạt giống của phiền não, làm cho vĩnh viễn không sinh khởi được nữa, gọi là Đoạn hoặc. Dùng đạo hữu lậu để đối trị chỉ có thể phục hoặc; phải nhờ vào đạo vô lậu mới có thể đoạn hoặc. (xt. Phục Đạo).
Phục đoạn 伏斷
[ja] フクダン fukudan ||| (1) The suppression 伏 and severing 斷 of defilements. Suppression implies removing their power and effectiveness and severing implies their permanent extinction. Synonymous with 伏滅. (2) The removal of defilements in the category of suppression. As contrasted to permanent removal of defilements 永斷. 〔瑜伽論T 1579.30.675b6〕 => Có các nghĩa: 1. Sự hàng (phục) và (đoạn) trừ phiền não. Hàng (Phục) ám chỉ giải trừ sức mạnh và ảnh hưởng của phiền não và Đoạn ám chỉ sự tiêu diệt phiền não vĩnh viễn. Đồng nghĩa với Phục diệt伏滅.2. Sự chuyển hoá phiền não chỉ trong dạng đè nén nhất thời. Ngược với sự chuyển hoá phiền não vĩnh viễn (vĩnh đoạn 永斷)
phục đà mật đa
Buddhamitra (skt)—Vị tổ thứ chín trong hai mươi tám tổ Ấn Độ, tác giả của bộ Ngũ Môn Thiền Kinh Yếu Dụng Pháp—Buddhamitra, the eighth patriarch of the twenty-eight patriarchs in India, author of the Pancadvara-dhyana-sutra-mahartha-dharma.
phục đạo
2164又作能伏道。指制伏惑障現行之有漏、無漏道力。此伏道通有漏、無漏二道,及加行、根本、後得三智。其中,有漏道由修習欣上厭下之六行觀以伏惑;無漏道以無分別智斷除與定、法、愛俱起之所知障時,因其勢力,能令煩惱障不起現行;加行智能漸伏二障之隨眠;根本、後得二智則能頓伏惑障。簡言之,加行智與有漏道能伏道而不能斷道,根本智、後得智與無漏道則既能伏道又能斷道。然說一切有部以伏道唯通世俗有漏道,而不通無漏道,且唯在見道以前方能伏道。〔成唯識論卷十、大毘婆沙論卷一六六、俱舍論卷二十二、成唯識論述記卷十末、大乘義章卷九斷結義〕(參閱「斷道」6565)
; (伏道) Cũng gọi Năng phục đạo. Đạo lực hữu lậu và vô lậu áp phục sự hiện hành của phiền não nghiệp chướng. Phục đạo này thông cả 2 đạo hữu lậu, vô lậu và 3 trí gia hạnh, căn bản, hậu đắc. Trong đó, đạo hữu lậu do tu tập 6 hành quán thích cảnh giới trên, chán cảnh giới dưới để áp phục hoặc chướng; đạo vô lậu dùng trí vô phân biệt đoạn trừ sở tri chướng cùng khởi với định, pháp, ái, nhờ thế lực đó khiến cho phiền não chướng không khởi hiện hành được. Trí gia hành thì dần dần chế phục tùy miên của 2 chướng; còn trí căn bản và trí hậu đắc thì có năng lực đè bẹp hoặc chướng ngay tức khắc. Nói gọn lại, trí gia hạnh và đạo hữu lậu có thể phục đạo chứ không thể đoạn đạo; còn trí căn bản, trí hậu đắc và đạo vô lậu thì vừa phục đạo lại vừa đoạn đạo. Nhưng Thuyết nhất thiết hữu bộ thì cho rằng phục đạo chỉ thông với đạo hữu lậu thế tục, chứ không thông với đạo vô lậu, hơn nữa, chỉ ở trước giai vị Kiến đạo mới có thể phục đạo. [X. luận Thành duy thức Q.10; Đại tì bà sa Q.166; luận Câu xá Q.22; Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần cuối; Đoạn kết nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Đoạn Đạo).
Phục ưng
服鷹; C: fú yīng; J: fukuyō; |Giữ trong tâm, ghi nhớ kĩ. Nhớ một cách trọn vẹn.
Phục ưng 服鷹
[ja] フクヨウ fukuyō ||| To keep in one's heart. To keep in one's mind. To remember perfectly. => Giữ trong tâm, ghi nhớ kỹ. Nhớ một cách trọn vẹn.
Phục 伏
[ja] ブク buku ||| (1) To subdue, overcome, suppress, defeat (abhibhava, nigraha). This term is often used in reference to the subduing of afflictions. When it is paired with the term 斷 it indicates a preliminary, or partial degree of elimination, as the latter term refers to the complete and final eradication of the afflictions, as opposed to their mere suppression. In this technical sense, it is synonymous with 治. See also 伏斷. (2) To cover, conceal, hide, submerge. [隱] => Có các nghĩa: 1. Chinh phục, hàng phục, ngăn chặn, đánh bại (s: abhibhava, nigraha). Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ sự hàng phục phiền não. Khi nó đi cùng với thuật ngữ Đoạn 斷, thì nó có nghĩa là sự khởi đầu, giai đoạn đầu của việc chuyển hóa phiền não, vì thuật ngữ sau (Phục) liên quan đến sự chuyển hóa rốt ráo toàn bộ phiền não, khác với việc đè nén, đối trị. Trong ý nghĩa nầy, nó đồng nghĩa với Trị 治. Xem Phục đoạn. 2. Ẩn nấp, che đậy, náu mình, tiềm ẩn.
Phục 服
[ja] フク fuku ||| (1) To wear. (2) Clothing. (3) Follow, listen, go along with. To serve. => 1. Mặc. 2. Áo quần. 3. Theo, lắng nghe, cùng đi với. Đáp ứng, phục vụ.
phụng
1) Phụng tế: To serve—To worship. 2) Phụng sự: To serve someone respectfully. 3) Chim Phượng (chim trống): Một loài chim biểu trưng cho sự cát tường—A male phoenix—An auspicious bird.
phụng dưỡng mẹ cha
To support one's parents
phụng gia
3133日本佛教用語。即於造立佛像、堂塔之際,奉獻捐助金、物品等。亦即奉加財力於佛法事業之意。又稱御奉加。古稱「知識」。勸進奉加,依賴募化有緣人來參加,此稱募緣、勸進。乞請奉加之文書,稱作奉加狀。記載奉加者之人名、供養金額、物品名稱等帳簿,稱作奉加帳、奉加簿,或稱緣簿。
; See Phụng Nạp.
Phụng giáo 奉教
[ja] ブキョウ bukyō ||| To do real practice according to the teachings. To receive (and revere) the teachings. => Chân thực tu tập theo giáo pháp. Tin nhận và tôn trọng giáo pháp.
phụng hiến
Hiến tặng quà cho bề trên—To offer gifts to one's superiors.
phụng hoàng
5951自東漢開始,鳳凰漸成爲裝飾品之圖樣,其形狀類似極樂鳥(南洋產),實則爲假想中之禽鳥。「鳳」爲雄鳥,「凰」爲雌鳥,乃是象徵吉瑞之禽鳥。依西域之傳說,鳳凰係由繪畫而產生者。在佛教美術,如繪畫、雕刻、刺繡中,均有以鳳凰圖樣表示祥瑞者。
; Cặp chim Phụng Hoàng. 1) Phụng: A male phoenix. 2) Hoàng: A female phoenix.
; (鳳凰) Tức chim Phượng hoàng, hình dáng giống như chim Cực lạc sống ở Nam dương. Phượng là chim trống, hoàng là chim mái, là loài chim tượng trưng điềm tốt lành, nhưng thực ra chỉ là loài chim trong giả tưởng. Theo truyền thuyết Tây vực, phượng hoàng do hội họa mà tưởng tượng ra. Trong mĩ thuật Phật giáo, như hội họa, điêu khắc, thêu đan... đều dùng chim phượng hoàng để biểu thị điềm lành.
phụng hoàng sơn thánh quả tự chí
5951全一卷。清代僧超乾撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。杭州鳳凰山聖果寺建於隋文帝開皇二年(582),至唐朝,無著文喜禪師復興開法,始稱聖果寺。宋高宗南渡,曾改爲苑。明嘉靖三十五年(1556)被焚,三十七年僧正因復建。此後,歷經更變。清康熙初年,超乾因該寺無有記錄,乃修鳳凰山聖果寺志一卷,收詩、舊蹟、記、疏、高僧人物等文獻。吉光片羽,彌足珍貴。
phụng hành
3133奉持佛陀教法而修行之,稱爲奉行。經文末尾均有「歡喜奉行」、「信受奉行」等字樣。往生論註卷下(大四○‧八四四上):「經始稱『如是』,彰信爲能入;末言『奉行』,表服膺事已。」
; 1) Làm theo mệnh lệnh: To execute an order. 2) Tuân theo và thực hành chỉ giáo của Đức Phật: Devout practicing—To obey and practise the Buddha's teaching.
; (奉行) Vâng theo giáo pháp của đức Phậtdạy mà tu hành. Từ ngữ này thường thấy được đặt ở cuối các bộ kinh trong các nhóm chữ như Hoan hỉ phụng hành, Tín thụ phụng hành... Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 844 thượng) ghi: Đầu kinh nói Như thị là tỏ ý có lòng tin mới thâm nhập được; cuối kinh nói phụng hành là biểu thị nghĩa việc vâng nhận đã xong.
Phụng hành 奉行
[ja] ブギョウ bugyō ||| To practice with sincerity and reverence for the Buddha, for the teachings, etc. Bona fide practice. => Thành kính tu tập theo Đức Phật, theo chính pháp,v.v... Chân thật tu hành.
phụng lâm tự
5951<一>位於浙江杭縣秦亭山(又稱葛嶺)之西。俗稱喜鵲寺。創建年代不詳,爲唐代元和年間(806~820)牛頭宗徑山法欽之弟子鳥窠道林棲居松樹上與白居易問答之故地。明宣德年間(1426~1435)如月重建,勅額鳳林寺。寺後有鳥窠禪師之墓。〔大清一統志卷二一七〕 <二>位於韓國慶尚南道昌原郡。爲朝鮮佛教禪門九山鳳林山派之中心。新羅孝恭王時(898~912)審希所開創。憲德王十六年(824),審希之師玄昱來唐,師事章敬懷暉,歸國後居於慧目山麓,大揚宗風,示寂後審希嗣其法流,開創本寺,蔚成鳳林山一派。〔東國輿地勝覽卷三十二、朝鮮金石總覽上〕
Phụng mao tế mỹ
(鳳毛濟美): lông con chim phụng ngay thẳng, xinh đẹp. Câu này có xuất xứ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng hoạn hữu hiền lang, viết phụng mao tế mỹ (稱宦有賢郎、曰鳳毛濟美, chúc mừng quan có con trai hiền gọi là phụng mao tế mỹ).” Hay trong hồi thứ 34 của Quan Trường Hiện Hình Ký (官塲現形記) của Lý Bảo Gia (李寶嘉) nhà Thanh có đoạn: “Nhĩ bất thính kiến thuyết tha môn thế huynh tức nhật dã yếu bảo đạo đài, chơn chánh thị phụng mao tế mỹ, khả khâm khả kính (你不聽見說他們世兄卽日也要保道台、眞正是鳳毛濟美、可欽可敬, Người chẳng nghe thấy anh em nhà kia hôm ấy cũng cần phải giữ gìn đạo nghĩa chăng ? Quả đúng là con hiền nối nghiệp cha. Thật đáng phục, đáng kính !).” Cho nên, ngày xưa câu này thường dùng để ví cho người cha đi làm quan, con có thể kế thừa sự nghiệp cha. Về sau, nó được dùng để chúc tụng sinh con trai nhân hậu.
phụng nguyên tự
3132請參閱 佛藏經 位於韓國漢城特別市西大門區延禧洞。爲道詵國師於新羅真聖女王三年(890),就延禧宮址所創建,李朝英祖王二十四年(1748),贊什大師及證庵國師得國家之補助及信徒之大力支持,而移築於今址。翌年,英祖王御賜「奉元寺」額,時人稱之爲新寺。該寺爲太古宗之總本山,號稱轄有寺院一千八百餘所,僧侶約六千。 太古宗之僧侶原爲曹溪宗之僧侶,在李承晚大統領時代,產生妻帶僧與比丘(清僧)之論爭,遂分裂爲二;妻帶僧別立爲太古宗,強調佛教之現代化與大眾化,力促「妻帶」之合理化。太古宗之僧侶雖食肉破戒,然於如何使佛教廣爲流布則不遺餘力。可由太古宗之佛教學者輩出得到明證,故一般大眾對其評價頗高。
phụng nham tự
5952位於韓國慶尚北道聞慶郡曦陽山。又稱陽山寺。爲朝鮮佛教禪門九山曦陽山派之中心。智證大師道憲知詵所開創。高麗朝末年,圓證國師太古普愚住於此。世宗(1419~1450)之時,排佛之風鼎盛,然無學自超之法嗣得通已和住持本寺時,仍大揚禪旨。〔東國輿地勝覽卷二十九、朝鮮金石總覽上〕
phụng nạp
To make offerings—See Cúng Dường.
phụng pháp yếu
3135全一卷。東晉郗超(336~377)撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷十三。郗超爲大司馬桓溫之參軍,桓溫曾予以生殺大權,故當時高官名士皆對其戒慎恐懼。至晚年,深自悔罪,故整理在家佛教徒所應信仰、實踐之要義以成書。內容旨在說明三自歸、五戒、十善、五陰、六情等基本佛教教理,並論及報應問題、涅槃意義等。全書強調日常生活實踐,爲研究當時在家佛教徒之珍貴資料。
; (奉法要) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Hi siêu (336- 377) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 13 trong Đại chính tạng tập 52. Hi siêu là Tham quân của Đại tư mã Hoàn ôn, Hoàn ôn từng giao cho ông ta quyền sinh sát trong tay, cho nên các quan và danh sĩ đương thời đều e dè và sợ hãi. Về già, ông ta rất ăn năntội lỗi của mình, cho nên mới chỉnh lí những nghĩa cốt yếu mà tín đồ Phật giáo tại gia tín ngưỡng và thực hành mà soạn thành sách này. Nội dung thuyết minh về những giáo lí nền tảng của Phật giáo như: Tam tự qui, Ngũ giới, Thập thiện, Ngũ ấm, Lục tình..., đồng thời nói về ý nghĩa của những vấn đề báo ứng, Niết bàn... Toàn sách nhấn mạnh việc thực hành Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày. Đây là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu những sinh hoạt của tín đồ Phật giáo tại gia thời bấy giờ.
phụng quốc tự
3135位於遼寧義縣。俗稱七佛寺、大佛寺。原名感熙寺。開寺事蹟不詳。據元代大德七年(1303)所立之石碑載,此寺爲處士焦希贇開創於遼開泰九年(1020),然據寰宇訪碑錄引述「奉國寺石幢記」之記載,創寺應在開泰九年以前。據金明昌三年(1192)之碑銘載,遼乾統七年(1107)清慧捷公於佛殿前東西相對之兩廡鑿洞,內置一百二十尊彩色塗金之聖賢像。三十餘年後,金天眷三年(1140),沙門義擢集資,繼續初時所未完成之四十二尊聖像。 元代至元二十七年(1290)因地震受損,由普顏可里美思公主與駙馬寧昌郡王斥資重修。其後陸續重修十餘次。 寺內之建築,據元代至正十五年(1355)大奉國寺莊田之記碑碑陰所載,寺中有七佛殿、法堂、觀音閣、彌陀閣、四賢洞、伽藍堂、萬佛堂等。現今之配置構造已非草創時之形式,且除大雄寶殿外,其餘眾多屋宇均爲清代之建築。又大雄寶殿內立有七座大佛及其脅侍菩薩。〔遼金時代の建築と其佛像(竹島草一)、滿州の史蹟(村田治郎)〕
phụng sát
5951佛寺之美稱。寺院之稱爲「剎」,係梵語 lakṣatā(幡竿)之訛譯,蓋於佛堂之前一般均有立剎之風俗,故稱寺院爲剎;又鳳爲瑞鳥,故取其祥瑞之意以爲寺院之美稱。(參閱「寺院」2414)
; Một từ dùng để chỉ tự viện Phật giáo—Phoenix ksetra, a term for a Buddhist temple.
; (鳳刹) Chỉ cho chùa Phật. Phượng là loài chim tượng trưng cho điềm lành, nên căn cứ vào ý nghĩa ấy mà gọi chùa Phật là Phượng sát. [X. Tự Viện, Phật Sát)
phụng sơn
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận 11 thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa còn có tên là Chùa Gò, được Hòa Thượng Liễu Thông xây vào đầu thế kỷ thứ 19. Đến năm 1904, chùa được Hòa Thượng Minh Tuệ trùng tu. Bên cạnh chùa có cây bạch mai cao 5 thước, được trồng từ năm 1909. Chùa khi xưa nổi tiếng là một thắng cảnh của tỉnh Gia Định. Gần đây một nhóm các nhà khảo cổ ở thành phố Sài Gòn đã tìm thấy dấu vết của một ngôi đền cổ Bà La Môn, đã chìm sâu dưới đất, được xây cách nay hơn 1.500 năm, với kiểu kiến trúc của vương quốc Phù Nam. Những tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ vẫn còn được lưu giữ trong chùa, đặc biệt là các tượng Phật tròn, như bộ tượng tam thế, Ngũ Hiền, vân vân, được chạm trổ từ khoảng năm 1904 đến năm 1915 trong giai đoạn trùng tu chùa. Trong Chánh điện có bộ tượng Ngũ Hiền, gồm năm tượng. Tượng Đức Phật Thích Ca cưỡi sư tử; tượng Văn Thù cưỡi sư tử; tượng Thế Chí cưỡi voi chín ngà; tượng Quán Âm cưỡi cọp; và tượng Phổ Hiền cưỡi lân. Các pho tượng được đặt trên đá chạm lởm chởm—Name of a famous ancient pagoda located in the Eleventh district, Saigon City, South Vietnam. It is also called Gò Pagoda. The pagoda was established by Most Venerable Liễu Thông in the early nineteenth century. The Most Venerable Minh Tuệ rebuilt it in 1904. Next to the pagoda is a five-meter white apricot raised in 1909. At one time, Gò Pagoda was a beauty spot of Gia Định province. Recently, a group of archaeologists of Saigon City have found the remnants of a Hinduist ancient temple built 1,500 years ago, and buried deep underground. The temple symbolized the architecture of Founan Kingdom. The artistic wooden masterpieces conserved in the pagoda primarily are round statues such as those of the Buddhas of the Three Periods, the Five Sages, etc., cast from 1904 to 1915 during the reconstruction of the pagoda. In the Main Hall, there are five statues of the Five sages. The statue of Sakyamuni Buddha was cast riding a lion; that of Majusri Bodhisattva riding a lion; Mahasthama statue sitting on a nine-tusk elephant; Avalokitesvara Bodhisattva statue riding a tiger; and Samantabhadra Bodhisattva riding a unicorn. These statues are placed on a ruggedly carved stone pedestal.
phụng sơn phật giáo liên xã
5951位於臺灣高雄鳳山市。創立於民國四十一年(1952)。初由地方善信集資購屋,成立佛學研究社,至四十二年春,迎請煮雲法師任住持,改稱鳳山佛教蓮社,並創辦佛學講習會、鳳蓮幼稚園、佛教青年會、佛教婦女會等。每年定期舉辦報恩精進佛七及大專學生精進佛七等活動。
phụng sự
To serve—To carry out an order.
phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư phật
To serve (perform) good deeds for sentient beings, you have also made offerings to the Buddhas.
phụng thỉnh
3136佛教寺院於舉行法會時,首先須請佛、菩薩、諸神等降臨道場,稱爲奉請。據善導之淨土法事讚卷上「召請」項載,行法之際,先奉請釋迦佛及諸佛入道場;其次,奉請十方法界之諸佛所說之八萬四千修多羅,及全身、散身之舍利;其次,奉請十方之聲聞、緣覺、得道聖人;再次,奉請普賢、文殊、觀音、勢至等菩薩眾入道場。又於「奉請觀世音」項中述及請觀音讚,並奉請十方法界之人天、凡聖,及水陸虛空一切之香花、音樂、光明、寶藏、香山、香衣、香樹、香林、香地、香水等皆入道場。此奉請作法傳入日本後,對日本各宗派皆影響極大,尤以念佛之法會更大事施行。〔五會念佛略法事讚、往生淨土懺願儀〕
; (奉請) Kính thỉnh chư Phật, Bồ tát, thiên thần... giáng lâm đạo tràng. Cứ theo mục Triệu thỉnh trong Tịnh độ pháp sự tán quyển thượng của ngài Thiện đạo, khi hành pháp, trước hết phải phụng thỉnh Phật Thích ca và chư Phật vào đạo tràng, kế đến, phụng thỉnh 84.000 Tu đa la (kinh) do chư Phật trong pháp giới ở 10 phương tuyên thuyết và xá lợi toàn thân, tán thân của các Ngài, sau đó phụng thỉnh các vị Thanh văn, Duyên giác, các bậc thánh đắc đạo trong 10 phương, rồi phụng thỉnh các vị bồ tát Phổ hiền, Văn thù, Thế chí...vào đạo tràng. Ngoài ra, theo phần nói về Thỉnh Quan âm tán trong mục Phụng thỉnh Quan thế âm, thì đồng thời còn phụng thỉnh người, trời, phàm, thánh trong pháp giới ở 10 phương và thủy lục hư không tất cả hương hoa, âm nhạc, quang minh, bảo tạng, núi hương, áo hương, cây hương, rừng hương, đất hương, nước hương... tất cả đều vào đạo tràng. Sau khi được truyền vào Nhật bản, pháp Phụng thỉnh này có ảnh hưởng rất lớn đối với các tông phái Phật giáo Nhật bản, nhất là đối với pháp hội Niệm Phật. [X. Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự tán; Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi].
phụng thờ
To worship.
phụng thừa
To follow blindly.
phụng tiên tự
3133<一>位於河南洛陽龍門山南端伊水之旁,爲龍門石窟之第十九窟。創建於唐咸亨三年(672),竣工於上元二年(675),乃龍門石窟中規模最大之露天大龕,南北寬三十六公尺,東西深四十一公尺。彫有盧舍那佛及迦葉、阿難、兩脅侍菩薩、天王、金剛力士等十一尊像,氣宇雄渾,造型優美。本尊盧舍那佛坐像,臺座有三重並列之蓮花,每瓣刻有小佛,象徵蓮華藏世界;身高十七點一四公尺,相好莊嚴,軀幹雄偉,頭髮呈波浪狀,衣褶流麗,惜兩手已失,雙足亦破損;其面容豐腴,長目修眉,嘴角微翹,流露著慈悲之意境,與智慧之光芒,爲龍門石窟中最大、最莊嚴之佛像。 本寺原有之屋蓋早已傾圮不存,窟內三面多作佛龕。據開元十年(722)之「河洛上都龍門之陽大盧舍那像龕記」(刻於臺座北面)載,皇后武氏曾捐助脂粉錢兩萬貫,勅令實際寺之善道、法界寺之惠暕等營造之,並率朝臣參加盧舍那佛之開光法會。又於調露元年(679),在大佛像之南設大奉先寺,請高僧二十七人住寺。今伊水東岸有擂鼓石,相傳武氏禮佛時在此擊鼓作樂。(參閱「龍門石窟」6381) <二>位於金陵(南京)城內飲虹橋南之保寧寺,在南唐保大年間至北宋太平興國年間(943~984),稱爲奉先寺。奉先慧同、保寧仁勇等禪師,曾住於本寺。(參閱「保寧寺」3724) <三>位於韓國京畿道楊州郡。山號注葉山,或雲岳山。爲韓國三十一本山之一。法印坦文創於高麗光宗二十年(969),稱爲雲岳寺。睿宗二年(1107),賜額奉先寺。成宗排佛,罷禪、教兩宗之僧試,本寺與奉恩寺以同爲奉持王室陵墓之寺剎,故得倖存。後明宗即以本寺爲教宗本寺,成爲教宗僧科試所之首剎。宣祖二十五年(1591)、仁祖十四年(1636),兩次燬於兵燹,沙門戒敏重修之,其後又經數次重修。今有大雄殿、御室閣、爐殿、山神閣等,並管轄興國寺、佛巖寺、檜巖寺等二十六寺。〔朝鮮佛教通史卷上奉先寺記、東國輿地勝覽卷十一〕(參閱「奉恩寺」3135)
Phụng trì 奉持
[ja] ブジ buji ||| (1) To put into practice. (2) To memorize; to preserve, maintain. To uphold and embrace. 〔法華經 T 262.9.46a4〕(3) Holding to the precepts etc., with a reverent mind. => 1. Đưa vào thực hành. 2. Ghi nhớ, giữ gìn, duy trì. Thực hành và hộ trì.
phụng ân tự
3135位於韓國漢城特別市江南區三成洞。山號爲修道山。乃韓國三十一本山之一。有關該寺之開創,諸說有異,如:(一)由高句麗之阿度所創,(二)由新羅元聖王時(785~798)之緣會所創,(三)由高麗之法鏡所創。李氏朝鮮之仁粹太后崇信佛法,於燕山君元年(1495),再建(或謂創建)該寺於廣州宣陵之東麓。 明宗十七年(1562),移建今址。未久,勅令奉先寺爲教宗之本寺,奉恩寺爲禪宗之本寺,恢復禪、教兩宗之僧試制度,並訂立度僧給牒之制;以守真住持奉先寺,擔任判教宗事都大師,普雨住持奉恩寺,擔任判禪宗事都大禪師。自此奉恩寺即成爲禪宗僧科試所之首剎。 光海君七年(1614),碧巖覺性住寺,擔任判禪宗都總攝之職。哲宗六年(1855),南湖律師永奇住寺,刻印華嚴經疏演義鈔八十卷、別行一卷、準提千手合璧一卷等,並興建經藏殿。仁祖十四年(1636)曾因兵亂焚毀,重建後更見宏偉,今有大雄寶殿、大香閣、華嚴經板殿、雲霞堂、山神閣、禪院等,又統領開運寺、白蓮寺、津寬寺等九寺,及六十八所分別院。〔朝鮮寺剎史料卷上、朝鮮佛教通史卷上奉恩寺事蹟〕
phụng đàm
5951(1654~1738)日本華嚴宗學僧。又作芳潭。攝津(大阪府)人(一說越中富山縣人),俗姓喜多。法名僧濬。號幻虎道人、華嶺山人、華嶺道人。十六歲出家,曾學禪於鐵眼,並在長崎研學外典。一度欲往印度,未果。而於南都、比叡山研究諸宗,立志復興華嚴學。在江戶時代以革新之論議,與諸宗學者有所論爭。晚年棲止於京都華嚴寺,而於元文三年示寂,世壽八十五(一說八十歲)。著作極多,有華嚴五教章匡真鈔十卷、俱舍論冠註十四卷、因明論疏瑞源記八卷、法華文句會抄五十卷、四教儀集註增暉記七卷等數十種,迄今仍爲各宗學者所推重。師一生性格剛峻,時人每有異說,師即排撻論難,乃至製書漫罵痛擊,成爲當代論爭之中心,亦爲日本華嚴宗之中興祖師。
; (鳳潭) (1654-1738) Cũng gọi Phương đàm. Cao tăng kiêm học giả thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản, người Nhiếp tân (phủ Đại phản, có thuyết nói người huyện Phú sơn, Việt trung), họ Hỉ đa, pháp danh Tăng tuấn, hiệu Huyễn hổ đạo nhân, Hoa lãnh sơn nhân, Hoa lãnh đạo nhân. Sư xuất gia năm 16 tuổi, từng theo ngài Thiết nhãn học thiền, đồng thời, nghiên cứu ngoại điển ở Trường kì. Có lần sư định đi Ấn độ nhưng chưa thực hiện được. Sư lại đến Nam đô và núi Tỉ duệ nghiên cứu giáo học của các tông, lập chí phục hưng Hoa nghiêm học, về sau trở thành Tổ trung hưng của tông Hoa nghiêm. Sư có tính cứng rắn, hễ mỗi khi người đương thời đưa ra dị thuyết, sư liền công kích, bác bỏ, thậm chí viết sách lên án kịch liệt, sư trở thành trung tâm tranh luận ở thời bấy giờ. Về già, sư trụ ở chùa Hoa nghiêm tại Kyoto và thị tịch vào năm 1738, thọ 85 tuổi (có thuyết nói thọ 80 tuổi). Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chương chân sao 10 quyển, Câu xá luận quán chú 14 quyển, Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí 8 quyển, Pháp hoa văn cú hội sao 50 quyển, Tứ giáo nghi tập chú tăng huy kí 7 quyển.
Phụng 奉
[ja] ブ bu ||| (1) To receive with both hands. (2) to offer, to serve. To present. (3) Respectfully; to have the honor to. (4) Receive, hear, listen. Worship, admire. => 1. Nhận với cả hai tay. 2. Dâng cúng, phụng sự. Trao tặng. 3. Bày tỏ sự kính trọng, tỏ lòng tôn kính. 4. Thọ nhận, lắng nghe. Thờ phụng, ngưỡng mộ.
phụt
1) Phụt lên: To spring up (water). 2) Bất chợt: Suddenly.
phụt tắt
Chợt tắt—Suddenly went out.
phủ châu tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục
(撫州曹山元證禪師語錄) Cũng gọi Tào sơn đại sư ngữ lục, Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục, Tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục, Tào sơn lục.Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Tào sơn Bản tịch soạn vào đời Đường, ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn –vị cao tăng Nhật bản– hiệu đính, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép hành nghiệp, vấn đáp, ngữ yếu dạy chúng của ngài Bản tịch và các mục: Giải thích Động sơn ngũ vi hiển quyết, Trục vị tụng tịnh chú biệt giản, Ngũ vị chỉ quyết, Tứ chủng dị loại, Tam nhiên đăng... của tác giả, do đệ tử nối pháp của ngài Tuệ ấn là sư Hạt đạo Bản quang biên chép lại. Trong Đại chính tạng tập 47, sau ngữ lục này, còn có Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục 2 quyển. Quyển thượng do ngài Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, nội dung tức là Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục trong Ngũ gia ngữ lục. Còn quyển hạ thì do vị tăng Nhật bản là ngài Nghi mặc Huyền khế biên tập những ngữ lục còn sót lại của ngài Bản tịch.
phủ quyết
To veto.
phủ sơn huyền chuyết
Fuzan Genshutsu (J)Tên một vị sư.
phủi
To dust off.
phức
1) Gấp hai: Double. 2) Lập lại: Repeated. 3) Loại áo kép—Double garments.
phức lễ
4940<一>又稱回禮、還禮。禪林中,受他山、他寺之禮請時,相對而回其禮,稱為復禮。今多指回信。〔敕修百丈清規卷五遊方參請條〕(參閱「回禮」2306) <二>唐代僧。京兆(陝西)人,俗姓皇甫。生卒年不詳。年少出家,住於大興善寺。曾隨地婆訶羅、實叉難陀等譯出經典。高宗永隆二年(681),太子文學(唐代管理經籍之官吏)權無二對佛教提出二十條質疑,師就此撰著十門辯惑論以答之,權無二遂折服,而為其弟子。另著有真妄頌,論真心與妄心之關係,並徵請當代諸師作解答,現存者有澄觀及宗密之答覆。據傳師反對法藏所說假名菩薩之教義,並上書奏請將法藏擯出江南。 <三>唐代僧。德行高潔,望重當時。曾奉敕參與賢首大師法藏之譯場,與法藏、道成等共同翻譯華嚴經入法界品。其餘事蹟及生卒年均不詳。
; (複禮) I. Phục Lễ. Cũng gọi Hồi lễ, Hoàn lễ. Đáp lễ lại. Tức đối diện đáp lại lễ thỉnh của các chùa khác. Hiện nay, phần nhiều chỉ cho việc hồi tín. [X. điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5]. (xt. Hồi Lễ). II. Phục Lễ (?-?). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Kinh triệu (Thiểm tây), họ Hoàng phủ. Sư xuất gia từ nhỏ, trụ ở chùa Đại hưng thiện. Sư từng theo các ngài Địa bà ha la, Thực xoa nan đà phiên dịch kinh điển. Năm Vĩnh long thứ 2 (681) đời Đường Cao tông, quan Thái tử văn học (chức quan quản lí kinh sách ở đời Đường) là Quyền vô nhị nêu ra 20 nghi vấn đối với Phật giáo, sư soạn Thập môn biện hoặc luận để giải đáp,Quyền vô nhị chịu khuất và lễ sư làm thầy.Sư còn soạn Chân vọng tụng, bàn về mối quan hệ giữa chân tâm và vọng tâm, đồng thời thỉnh các sư đương đại giải đáp, hiện còn lời phúc đáp của các ngài Trừng quán và Tông mật. Tương truyền, sư phản đối giáo nghĩa Giả danh bồ tát do ngài Pháp tạng chủ xướng và dâng biểu tâu xin trục xuất ngài Pháp tạng ra khỏi Giang nam. III. Phục Lễ (?-?). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư có đức hạnh cao khiết, được người đương thời quí trọng. Sư từng vâng sắc chỉ của vua tham dự đạo tràng dịch kinh của Đại sư Hiền thủ Pháp tạng. Sư cùng với các ngài Pháp tạng và Đạo thành cùng dịch phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm.
phức nhân
4939(1889~1973)廣東大埔人,俗姓王。早年往泰國經商。年三十三,投曼谷甘露寺禮盧慶和尚出家。後返國於寧波天童寺受具足戒,並朝禮普陀、五臺諸山。嘗參學於五臺、高旻、長生、金山、焦山、湧泉等諸大叢林,受教於戒乘、慧明、來果、印光等諸師。民國二十年(1931),至福建湧泉寺親近虛雲老和尚。二十一年,奉虛雲之命,前往廣東募化道糧。後又赴曼谷募化,得當地信眾之擁戴,薦請僧王聘任為龍華寺住持;十年間,宗風大振。二十七年,年五十,回華南嗣虛雲和尚之法,為曹洞宗四十八世。後常往來弘化於曼谷、華南之間。三十七年遷居香港,創建法林禪院於大嶼山,每年均啟建禪七道場。五十五年任芙蓉山虛雲和尚紀念堂首任住持。六十二年示寂於香港,世壽八十五。生前囑弟子將其骨灰糅和糖麵為丸,布施水族。〔香港佛教第一五九期〕
phức sư
5913爲華嚴宗之僧職。乃重複論述講師之言說而使義理更明之僧。
; (複師) Vị tăng có nhiệm vụ thuật lại(phức) những lời của Giảng sư để làm cho nghĩa lí sáng tỏ hơn, là một chức vị trong tông Hoa nghiêm.
phức sức
4939請參閱 華嚴五教章復古記指還俗。一度落飾而出家者,再蓄髮為俗人,稱為復飾。
; (複飾) Trang sức lại, tức chỉ cho sự hoàn tục. Người đã một lần trút bỏ đồ trang sức để xuất gia, nay lại nuôi tóc làm người thế tục, gọi là Phục sức.
phức tạp
Complicated.
phức tử
5913又作複包、複帕。爲包物所用之巾。或即指包袱。佛果克勤禪師心要卷下示圓上人條(卍續一二○‧三八○下):「刻意息心,擇真正具頂門宗眼知識,放下複子,靠取成辦。」禪林象器箋器物門載,「複」應作「袱」,二字音同,故複乃袱之訛誤。〔勅修百丈清規卷下大眾章裝包條、碧巖錄第四則、鎮州臨濟慧照禪師語錄〕
; (複子) Cũng gọi Phức bao, Phức phạ. Chiếc khăn dùng để gói, bọc đồ vật. Điều Thị viên thượng nhân trong Phật quả Khắc cần thiền sư tâm yếu quyển hạ (Vạn tục 120, 380 hạ) nói: Chú ý, lắng tâm, chọn lựa thiện tri thức chân chính có con mắt thấy suốt tông môn, rồi bỏ phức tử xuống, nương tựa vào đó mà thành biện sự nghiệp. Theo môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên thì chữ Phức...có nghĩa cái áo kép, nhiều lớp chồng chéo) ở đây phải là chữ Phục (cái khăn gói), vì 2 âm giống nhau (theo người Tàu) nên đã lầm lẫn. Bởi thế, Phức là viết lầm từ chữ Phục. [X. điều Trang bao, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Bích nham lục tắc 4; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục].
phừng
To burst into.
piyadassi
Piyadassi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
pomodrupa
PomodrŪpa (S), phag mo grub pa (T)Đệ tử Gampopa, khai tổ trường phái Kagyu ở Tây tạng.
Pu-ta-li-pa
S: putalipa; »Khất sĩ với bức tranh«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người Ban-ga-la (s: baṅgala), thuộc giới thương nhân. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đến, ông phục vụ tận tình và phát lòng muốn học hỏi. Vị này truyền cho ông năng lực của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và dạy phép quán tưởng. Ngoài ra vị này còn cho ông một cuộn hình của Hộ Thần Hô Kim cương. Ông đeo cuộn hình vào cổ và thiền quán 12 năm. Sau đó ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) mà không ai biết cả.|Lần nọ, ông đi ngang lâu đài một nhà vua, vị này thờ các thần của Ấn Ðộ giáo. Vua thấy bức hình ông mang vẽ thần Hô Kim cương ngồi trên toà được các vị thần của mình nâng, rất giận. Pu-ta-li-pa nói Hô Kim cương là thần của các vị kia. Cuối cùng nhà vua cho vẽ lại bức hình, nhưng Pu-ta-li-pa dùng thần lực hoán chuyển ngôi thứ. Vua chịu thua và xin ông giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Phật tính trong mọi loài.|Hãy bỏ con đường sai,|do tư duy xây cất.|Theo con đường tất yếu,|của trái tim vạch rõ,|rồi ngươi sẽ chứng đạt.|Ai được truyền năng lực,|của Ðạo sư đích thật,|là kẻ được chân như,|xuyên chiếu khắp tất cả,|kẻ ấy nếm được mùi,|Tuyệt đối vô sinh tử,|của Kim cương bất hoại.
Pāṇini
(520-460 trước công nguyên): âm dịch là Ba Nhĩ Ni (波爾尼), Ba Nị Ni (波膩尼), Ba Ni Ni (波尼尼), nhà văn pháp trứ danh của Ấn Độ ngày xưa, xuất thân vùng Ta La Đỗ La (s: Śalātura, 娑羅覩邏), nước Kiền Đà La (s, p: Gandhāra, 健駄邏), thuộc Quận Attock, Tỉnh Punjab, Pakistan ngày nay, nằm giữa Rawalpindi và Peshawar. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 1, phần Kiền Đà La Quốc (健駄邏國), Ba Nhĩ Ni sanh ra đã thông hiểu tất cả, nhạy bén, lanh lợi, có chí muốn viết sách, được trời Tự Tại Thiên (自在天) chỉ giáo cho, nhờ vậy ông nghiên cứu sâu sắc hơn, lấy các ngôn ngữ mà viết thành sách. Sách này thông cả xưa nay, bao quát hết văn từ, ý ngữ; nhà vua thấy vậy rất kinh ngạc, bèn truyền khắp trong nước nếu có ai tụng thuộc sách này thì sẽ được ban thưởng tiền vàng; cho nên sách này được lưu truyền rất thịnh hành. Tương truyền sách này là văn điển Vyākaraṇa (毘伽羅論, Tỳ Già La Luận) gồm 1.000 bài tụng và 32.000 từ. Văn điển do ông trước tác vốn không có tiêu đề và ông rất nổi tiếng về văn pháp tiếng Sanskrit, đặc biệt là hệ thống 3.959 nguyên tắc của hình thái học tiếng Sanskrit về văn phạm, thường được gọi là Aṣṭādhyāyī (nghĩa là “Tám Chương”). Đây là văn bản cơ sở thuộc trường phái văn pháp của Vedāṅga. Aṣṭādhyāyī là sách văn phạm tiếng Sanskrit cổ xưa nhất (mặc dầu một số học giả cho rằng nó lập cước trên các tác phẩm xưa hơn), là tác phẩm sớm nhất về ngôn ngữ học miêu tả và về ngôn ngữ học nói chung. Thông thường lý thuyết dễ hiểu và rất khoa học về văn pháp của Pāṇini được xem như đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn tiếng Sanskrit Phệ Đà (Vedic Sanskrit), bằng dịnh nghĩa giới thiệu tiếng Sanskrit Cổ Điển (Classical Sanskrit). Mặc dầu tác phẩm của ông thuần túy mang tính văn pháp và từ điển, chúng ta có thể rút ra vài luận cứ về văn hóa cũng như địa lý qua từ ngữ do ông dùng trong các ví dụ và từ những thư từ ông gởi cho bạn bè văn pháp học của ông.
qua
1) Cái Giáo: (mác—thương)—A spear. 2) Dưa: Gourd—Melon.
qua bích
1411蒙古語 gobi,意為難生草木之沙漠。又稱戈壁灘、戈壁沙漠。東至大興安嶺,西接帕米爾高原,可分為哈密以東之戈壁沙漠本部與哈密以西之塔克拉馬干(Takla Makan)沙漠兩部分,縱約二百餘公里,寬約千餘公里。此地遍布積沙,且多鹽分,春夏之交,常起狂風,致令沙阜一夕數遷,故又稱為流沙。其土性乾燥,禽獸不繁,杳無人跡,是為不毛之地,法顯之佛國記曾描述自敦煌至羅布泊湖畔之鄯善國(樓蘭)間之行程(大五一‧八五七上):「沙河中,多有惡鬼熱風,遇則皆死,無一全者。上無飛鳥,下無走獸。(中略)唯以死人枯骨為標幟耳。」然亦有低濕之區,水草萌生,宜於畜牧,或湖澤滿布,有魚鹽之利,西域諸國即依此維生。概言之,新疆沙漠較蒙古沙漠尤為荒涼。 敦煌以西之東土耳其斯坦古國,即橫臥於塔克拉馬干沙漠,西接帕米爾高原,南臨崑崙山,北鄰天山,為自印度、西域諸國至我國的傳法、傳經必經之地。東行而入我國之譯經家,如安息之安世高、曇無讖、月支之支婁迦讖、龜茲之佛圖澄等;或我國西行求法之高僧大德,如魏之朱子行、東晉之法顯、北魏之惠生、宋雲、唐之玄奘等,莫不緣此沙漠之北道、南道。北道係經塔里木盆地北側,沿天山山脈蜿蜒而行之路線,即抵疏勒後復經龜玆、焉耆、高昌諸國而東進;南道沿塔里木盆地南側,由疏勒經莎車、于闐而東進。另如法顯則穿越塔里木盆地中央之塔克拉馬干,至南道之于闐再西行,後世稱為中道。南北二道均橫越帕米爾高原,而於羅布泊湖畔之樓蘭會合,即可經由敦煌、酒泉、張掖、武威而直抵長安、洛陽,使間接傳至我國之佛教,得以經此而有直接之交流。〔中國佛教發展史第一篇第一章(中村元)〕(參閱「西域佛教」2581、「佛教入傳路線」2669)
; (戈壁) Mông cổ: Gobi. Cũng gọi Qua Bích than, Qua bích sa mạc. Sa mạc Gobi ở Mông cổ. Sa mạc này phía đông chạy dài đến dãy núi Đại Hưng An, phía tây tiếp giáp cao nguyên Pamir, có thể chia làm 2 phần: Sa mạc Gobi ở phía đông Hami và sa mạc Takla Makan ở phía tây Hami, dài hơn 200 km vào rộng hơn 1.000 km2.Vùng này toàn cát có lẫn muối; vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ thường có cuồng phong, đến nổi khiến gò cát trong 1 đêm dời đổi mấy lần, vì thế gọi là Lưu sa. Vùng này khô ráo, ít cầm thú, không có dấu chân người, mặt đất cỏ mọc không được. Trong Phật quốc kí, ngài Pháp hiển miêu tả cuộc hành trình từ Đôn Hoàng đến nước Thiện thiện(Lâu lan) bên bờ hồ La bố bạc như sau (Đại 51, 857 thượng): Sa mạc có gió nóng quái ác, hễ gặp phải là chết, không ai toàn mạng. Trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, (...) chỉ biết lấy xương khô người chết làm dấu mà đi. Tuy nhiên, cũng có những vùng ẩm thấp, có nước và cỏ mọc tốt, thích hợp cho việc chăn nuôi, hoặc có nhiều ao hồ, tiên lợi cho việc làm muối và thả cá. Các nước Tây vực nhờ vào đó mà duy trì sự sống. Các nhà truyền pháp, dịch kinh từ các nước Ấn Độ, Tây vực đến Trung quốc đều phải đi qua sa mạc này; hoặc các vị Cao tăng đại đức từ Trung Quốc đến Ấn Độ cầu pháp, cũng đều phải qua con đường này.[X. Chương thứ 1 trong thiên thứ 1 Trung Quốc Phật giáo phát triển sử của Trung thôn nguyên]. (xt. Tây Vực Phật Giáo, Phật Giáo Nhập Truyền Lộ Tuyến).
qua bản tiệp
1411(1913~ )河北人。國立北洋大學畢業。民國四十二年(1953)皈依三寶,六十四年於士林報恩小築依印順導師受在家菩薩戒。歷任臺灣节業公司總經理、美國佛教會駐臺譯經院副院長、東海大學、成功大學教授,譯有「佛陀之教義」。晚年退休後,與其夫人周騰同住於佛光山佛光精舍,勤修佛法不已,並參與佛光大辭典之編審。
Qua miên
(瓜綿): xem phần chú thích qua điệt miên miên (瓜瓞綿綿) bên trên, có nghĩa là con cháu hưng thịnh, đông đúc. Câu “vĩnh thùy diễn tiêu qua miên (永垂衍椒瓜綿)” có nghĩa là mãi mãi được hưởng ân đức của tổ tông để con cháu đông đúc, hưng thịnh.
Qua Nguyệt
(瓜月): tên gọi khác của tháng Bảy Âm Lịch. Do vì trái dưa thường chín, ngát hương vào tháng Bảy Âm Lịch, nên tháng này được gọi như vậy. Như trong Thi Kinh (詩經), Chương Bân Phong (豳風), Thất Nguyệt (七月) có giải thích rằng: “Thất nguyệt thực qua, bát nguyệt đoạn hồ (七月食瓜、八月斷壺, tháng Bảy ăn quả dưa, tháng Tám bửa trái bầu).”
Qua điệt miên miên
(瓜瓞綿綿): còn gọi là miên miên qua điệt (綿綿瓜瓞). Qua (瓜) là loại dưa lớn, điệt (瓞) là loại dưa nhỏ; như Thi Kinh (詩經) có câu: “Đại giả viết qua, tiểu giả viết điệt (大者曰瓜、小者曰瓞, loại lớn gọi là qua, loại nhỏ là điệt).” Miên miên (綿綿) có nghĩa là dài lâu, bền vững, như nhiều trái dưa lớn, dưa nhỏ treo lủng lẳng liên tiếp trên dây leo; cho nên câu này dùng để chúc tụng các đời con cháu hưng thịnh, truyền thế lâu dài. Nó vốn phát xuất từ phần Đại Nhã (大雅) của Thi Kinh: “Miên miên qua điệt, dân chi sơ sinh (綿綿瓜瓞、民之初生, dài lâu con cháu, dân lúc mới sanh).” Trong Mao Truyện (毛傳) lại có câu rằng: “Miên miên bất tuyệt mạo, qua thiệu dã, điệt chước dã (綿綿不絕貌、瓜紹也、瓞瓝也, dài lâu không dứt bóng dáng; dưa lớn nối tiếp, dưa nhỏ kế thừa).”
Quai
乖; C: guāi; J: ke;|Xung đột; mâu thuẫn; đặc biệt là trái nghịch với đạo lí Phật pháp chân chính, chẳng hạn trái với tinh thần Vô ngã hoặc luật nhân quả (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
quai ly sở sanh khổ
xem ba loại khổ.
quan
1) Áo quan: A coffin. 2) Đóng lại: To shut—To include. 3) Nơi bị đóng kín: A closed place. 4) Quan ải: Frontier—Barrier. 5) Quan hệ: To involve. 6) Quan chức: Official—Public. 7) Quan ngại: To concern.
Quan Bình Thái Tử
(關平太子): nhân vật trung hiếu vẹn toàn, còn gọi là Linh Hầu Thái Tử (靈候太子), sanh ngày 13 tháng 5 thuộc năm đầu (178) đời vua Linh Đế nhà Hán, là con nuôi của Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), có kể chuyện khi Quan Công muốn đến tại Ngọa Ngưu Sơn (臥牛山) để chiêu binh mãi mã, giữa đường gặp một trang viện; vị trang chủ Quan Định (關定) có hai con trai, người con đầu tên là Quan Ninh (關定), chuyên học về văn; người con kế tên là Quan Bình (關平), chuyên học về võ. Người này vâng lời cha theo hầu Tướng Quân Quan Vũ (關羽) và tôn thờ vị này làm cha nuôi. Tánh tình ông khiêm hậu, ôn hòa, được chúng bộ hạ thương kính; hơn nữa võ nghệ của ông lại siêu phàm. Vào năm thứ 19 (214) niên hiệu Kiến An (建安), Quan Công trấn thủ Kinh Châu (荆州), phía Bắc thì đối cự với Tào Tháo (曹操), phía Đông thì hòa hoãn với Tôn Quyền (孫權). Đến năm thứ 24 (219) cùng niên hiệu trên, cha ông bị trúng kế của Lữ Mông (呂蒙), bị quân Đông Ngô bắt giam; Quan Bình thân chinh đến cứu, bị quân địch bao vây và đến tháng 12 cùng năm này, cả hai cha con đều bị hại. Mọi người cảm phục sự trung hiếu vô song của ông, tôn thờ ông cùng với Châu Thương Tướng Quân (周倉將軍) trong Miếu Quan Thánh như là vị thần hai bên tả hữu của Quan Thánh Đế Quân. Thông thường Quan Bình Thái Tử đứng hầu sau Quan Thánh Đế Quân, tay bắt Hán Thọ Đình Hầu Ấn (漢壽亭候印); Châu Thương Tướng Quân đứng bên phải Đế Quân, tay cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Như trong Đào Viên Minh Thánh Kinh (桃園明聖經) của Đạo Giáo có xưng tán rằng: “Chí tâm quy mạng lễ: Linh Hầu Thái Tử, văn kinh võ vĩ, khuôn vương hộ quốc, đức nghĩa nguy nguy, trung hiếu tiết nghĩa, toàn thọ toàn quy, kỳ huân tảo kiến ư Tây Thục, dị lược tố trứ ư Bắc Ngụy, đại trung đại hiếu, chí nhân chí dũng, bổ tạo hóa chi bất túc, tá Thánh Đế dĩ lập công, hộ triều hộ quốc, tận hiếu tận trung, Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa Đại Thiên Tôn (志心皈命禮、靈侯太子、文經武緯、匡王護國、德義巍巍、忠孝節義、全受全歸、奇勳早建於西蜀、異略素著於北魏、大忠大孝、至仁至勇、補造化之不足、佐聖帝以立功、護朝護國、盡孝盡忠、九天威靈顯化大天尊, Một lòng quy mạng lễ: Linh Hầu Thái Tử, văn võ song toàn, phò vua giúp nước, đức nghĩa vời vợi, trung hiếu tiết nghĩa, thảy đều vẹn toàn, mới lập kỳ tích nơi Tây Thục, kinh lược lừng lẫy chốn Bắc Ngụy, đại trung đại hiếu, trọn nhân trọn dũng, thêm tạo hóa còn chưa đủ, phò Thánh Đế để lập công, giúp vua giúp nước, tận hiếu tận trung, Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa Đại Thiên Tôn).”
Quan Bạch
(關白, Kampaku): tên gọi một chức quan trọng yếu nhằm bổ tá cho Thiên Hoàng và chấp hành các công việc chính trị, được dùng vào cuối thời Bình An trở đi. Vào năm 884, dưới thời Quang Hiếu Thiên Hoàng (光孝天皇, Kōkō Tennō, tại vị 884-887) thì hết thảy văn thư trước khi đưa cho nhà vua ngự lãm thì thường giao qua cho vị Quan Bạch tên Đằng Nguyên Cơ Kinh (藤原基經, Fujiwara Mototsune, 1218-1256) xem trước, và từ đó chức quan này ra đời. Chức quan này thường ngồi cao hơn Thái Chính Đại Thần.
quan bất dung châm tư thông xa mã
3185禪林用語。此乃表裏互用而相對稱之二語。官不容針,原謂於公而言,必得森嚴整肅,即連細針一般之差錯,亦絲毫不予寬宥;在禪林中,轉指佛法第一義諦之究竟透徹,不允許以絲毫偏差之言說滲和、取代、詮解之;由是,則「官不容針」一語亦引申爲「於表相視之,乃爲不可輕易歪曲之法」。私通車馬,即相對於「官不容針」,意謂原本細針般之差錯皆不予寬宥之情形,於私而言,則全面改觀,連車馬一般龐大之偏差亦可通融而行;在禪林中,轉指第二義諦之權巧方便,師家爲指導學人,往往採取權宜放行之法;由是,「私通車馬」一語亦引申爲「自裏層視之,實爲融通無礙之方便法門」,故禪林每以此語形容師家接引學人時自在方便之機法。續高僧傳卷二十二福勝寺道興傳(大五○‧六二三中):「寺主曰:『依官制不許,何得停之?』興曰:『官不許容針,私容車馬。』」或謂「官不容針,私通車馬」二語原係唐人之俗諺,後爲禪林所引用,二語合之,即謂表裏互用而並行無礙。
; (官不容針私通車馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quan bất dung châm, đứng về phương diện công (lí) mà nói thì luật pháp nghiêm minh, dù sai lầm nhỏ như cây kim (châm) cũng không mảy may dung thứ. Trong Thiền lâm, nhóm từ Quan bất dung châm được chuyển dụng để chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế của Phật pháp siêu tuyệt, triệt để, không dung chấp mảy may ngôn ngữ, suy tư. Trái lại, Tư thông xa mã là nói về mặt tư (tình), dù sự sai lầm to bằng xe, ngựa cũng có thể dung thông được. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho quyền xảo phương tiện của Đệ nhị nghĩa đế. Khi dẫn dắt người học, Thiền sư có thể tùy nghi sử dụng mọi phương pháp để giúp họ khai ngộ.Tóm lại, có thuyết cho rằng Quan bất dung châm tư thông xa mã là một ngạn ngữ ở đời Đường được Thiền tông sử dụng để chỉ cho cơ pháp phương tiện tự tại vô ngại mà Thiền sư dùng để tiếp hóa người học.
quan hữu vô đảng
Kuan yu Wu tang (C).
quan khẩu chân đại
6711(1907~1986)日本佛教學學者。畢業於大正大學文學部佛教學科,後任大正大學教授。著有天台小止觀の研究、昭和校訂天台四教儀等書,及敦煌出土最妙勝定經考、雙峰道信與天台止觀法門、證心論について等諸論文。
quan liệt tử
6712禪林用語。又作關肁子。關,關要、關卡;棙,鍵、鈕。原為門鎖、門閂、機軸等意。引申為關鍵;在禪宗,轉指參悟奧祕玄機之要訣。景德傳燈錄卷九(大五一‧二六六下):「且如四祖下牛頭融大師橫說堅(疑作豎)說,猶未知向上關棙子,(中略)且當人事實。能體會得,但知學言語,念向皮袋裏安著,到處稱我會禪。」〔大慧書卷髐下、雲門匡真禪師廣錄卷上、五燈會元卷四、卷十五、祖庭事苑卷上〕
quan môn tiết
6712為我國雲南瀾滄江下游及德宏等地傣族地區小乘佛教最大之淨居持齋節日。傣語原稱「奧瓦薩」。關門節始自俸曆九月十五日,至十二月十五日結束。於此期間,寺院僧眾停止外出,淨居念經;一般信徒則以食物、鮮花、銀幣等獻佛;信仰較虔篤之老年信眾則多住於寺院,聽僧眾誦經。節日期間各項社會活動皆帶有濃厚之宗教色彩。關門節結束,則稱「開門」。(參閱「開門節」5307)
quan nan
Bị rắc rối với pháp luật—In danger from the law—Official oppression.
quan ngại
To obstruct—To hinder.
quan niệm
Concept.
quan niệm không hữu lý
Irrational views .
quan nội tứ thánh
6711請參閱 淨名經集關中疏 [1]請參閱 淨名經集關中疏 [1]又稱關中四傑。後秦時,譯經大家鳩摩羅什(344~413)門下約有三千弟子,其中道融、僧叡、僧肇、道生、曇影、慧觀、道恆、慧嚴等八人,學行俱佳,世稱什門八俊,或什門八宿。其中道融、僧叡、僧肇、道生等四人尤受推崇,特稱關內四聖。
; (關內四聖) Cũng gọi Quan trung tứ kiệt. Chỉ cho 4 môn đệ của ngài Cưu Ma La Thập ở đời Hậu Tần, Trung Quốc, học thức uyên bác, đạo hạnh cao thâm, được người đương thời tôn là Quan nội tứ thánh, đó là: Đạo Dung, Tăng Duệ, Tăng Triệu và Đạo Sinh.
quan quách
5050安置屍體之箱分內外箱,其內箱盛放屍體者稱棺,套在棺外之外箱名槨。依長阿含經卷四所載,世尊入涅槃時,其弟子依準轉輪聖王之葬法,先以香湯洗浴其身,後以新劫具及五百帳岁纏繞之,納於金棺,灌入麻油,並置棺於鐵槨之中,再以栴檀香槨圍之,積聚各種名香而行荼毘。又據灌頂經卷六塚墓因緣四方神咒經所載,轉輪王命終時,以紫磨黃金、鐵、栴壇雜香等三種棺盛置其身。但印度之葬禮,一般不用棺槨,而直接焚燒,或棄屍於林中、水中等處。 我國因有厚葬之俗,故有棺槨之制。據四分律行事鈔所載,僧唯用一重棺,不用外槨,一般在家眾亦同,貴人則必用外槨。日本古代貴人之棺,常用二重或三重之外槨,亦有造石槨以保存者。〔淨飯王般涅槃經、佛般泥洹經卷下、迦葉赴佛涅槃經、四分律刪繁補闕行事鈔卷下四瞻病送終篇、四分律行事鈔資持記卷下四、佛祖統紀卷四、釋氏要覽卷下、淮南子第十三氾論訓、後漢書列傳第二十九周磐傳、第三十九王符傳、日本書紀第九、第二十七〕
; (棺椁) Chỉ cho cái quan tài có 2 lớp: Quan là cái hòm bên trong đặt xác chết, Quách là cái hòm bọc bên ngoài cái quan. Theo kinh Trường a hàm quyển 4, lúc đức Thế Tôn nhập Niết bàn, các vị đệ tử chiếu theo phép chôn cất vua Chuyển Luân Thánh Vương, trước dùng nước hương nóng tắm gội thân Ngài, sau mặc áo mới rồi dùng 500 tấm dạ mỏng bọc thân đặt vào kim quan, rưới dầu mè vào và đặt kim quan vào trong quách bằng sắt, lại dùng các cái quách bằng gỗ chiên đàn thơm xếp chung quanh, chất đống các thứ gỗ hương làm lễ trà tì. Theo kinh Trủng mộ nhân duyên tứ phương thần chú trong kinh Quán đính quyển 6, khi vua Chuyển luân mệnh chung, 3 loại quan tài được dùng để đặt thân của vua, đó là: Tử ma hoàng kim, sắt và chiên đàn tạp hương. Nhưng, nghi lễ chôn cất của Ấn Độ nói chung, không dùng quan quách, mà trực tiếp đốt xác chết, hoặc để ở trong rừng, hoặc thả xuống sông... Còn ở Trung quốc vì có tục hậu táng nên có chế độ quan quách. Cứ theo Tứ phần luật hành sự sao thì chư tăng chỉ dùng quan chứ không dùng quách, chúng tại gia phổ thông cũng vậy, chỉ những người sang trọng mới dùng quách. Tại Nhật Bản đời xưa, quan tài của những người giàu sang, thường dùng 2 lớp hoặc 3 lớp quách bọc bên ngoài, đôi khi làm quách bằng đá để bảo tồn thi thể lâu dài. [X. kinh Tịnh phạn vương bát niết bàn; kinh Phật bát nê hoàn Q.hạ; kinh Ca Diếp phó Phật niết bàn; thiên Chiêm bệnh tống chung trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phật tổ thống kỉ Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Hoài nam tử đệ thập tam phiếm luận huấn; Chu bàn truyện trong Hậu Hán thứ 29; Nhật bản thư kỉ 9, 27].
Quan Sát
(關煞): là dụng ngữ thuật số, ngày xưa nhà Tinh Số (chiêm tinh gia bói toán về số mạng con người) cho rằng con người gặp tai nạn do vận mạng quyết định, đó là “Quan Sát”. Con người cho rằng các em nhỏ khi chưa đến tuổi thành niên, thường gặp 36 Quan Sát và 72 sao Thiên Cương (天罡), dễ sanh nhiều bệnh tật, tai họa và chết yểu. 36 Quan Sát gồm: (1) Thiên Nhật Quan (千日關), người sanh ở tuổi Dần, Thân, Tỵ thuộc năm Ngọ, sự tai họa rơi từ trên cao xuống, sanh ra trong vòng 1.000 ngày không nên đến nhà thờ thần linh của bà ngoại, không nên ngồi xe đi phương xa, chủ yếu bị bệnh kinh phong, nôn ọe sữa, không phạm những điều trên thì sẽ bảo đảm bình an; (2) Lôi Công Quan (雷公關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Ngọ; ngày Ất, Mậu gặp giờ Tuất; ngày Bính, Đinh, Nhâm, Quý gặp giờ Tý; ngày Canh, Tân gặp giờ Dần, khi nghe tiếng sấm sét, tiếng trống đánh, chớ đến gần giếng nước, hay đồ vật bằng sắt, đề phòng ngồi cao té ngã, em bé vui đùa bò lên cao, như vậy sẽ nguy hiểm, chớ ẵm bé lên chỗ cao đùa giỡn, vậy mới bảo đảm bình an; (3) Lạc Tỉnh Quan (落井關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Tỵ; sanh ngày Ất, Canh gặp giờ Tý; sanh ngày Bính, Tân gặp giờ Thân; sanh ngày Đinh, Nhâm gặp giờ Tuất, chớ đến gần bên giếng, bên sông, nước, đi thuyền bè, đến chơi nơi chỗ nào có huyệt động sâu đều nguy hiểm, có tai họa về nước, chủ yếu chớ nên gần; (4) Kê Phi Quan (雞飛關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Tỵ, Dậu, Sửu; sanh ngày Ất, Bính, Đinh, Tuất gặp giờ Tý; ngày Canh gặp giờ Hợi, Mão, Mùi; ngày Tân, Nhâm, Quý gặp giờ Dần, Ngọ, Tuất, tránh nhìn thấy sát sanh, giết hại gà, vịt, cá thì sợ, đề phòng bệnh kinh phong khi gà bay qua quá đầu và mổ lên đầu, cần phải thận trọng thì sẽ tránh được chuyện không hay; (5) Thủ Mạng Quan (取命關), là những người sanh ngày Giáp, Ất, Bính, Đinh gặp giờ Thân, Tý, Thìn; ngày Mậu, Kỷ, Canh gặp giờ Hợi, Mão, Mùi; ngày Tân, Nhâm, Quý gặp giờ Dần, Ngọ, Tuất, đề phòng chỗ cao nguy hiểm, chớ nhìn người mất hung dữ, không nên đến gần nơi tang lễ, những đền miếu mới xây, đàn tràng Giải Oan Bạt Độ vào dịp Trung Nguyên; (6) Bạch Hổ Quan (白虎關), là những người sanh năm Kim gặp giờ Mão, Tuất; năm Mộc gặp giờ Thìn, Dậu; năm Hỏa gặp giờ Tý, Mùi, Thân; năm Thủy, Thổ gặp giờ Sửu, Dần, Ngọ, suốt đời nhiều tai hoạn máu me, đề phòng mất chân, phải nên thận trọng ở những chỗ cao nguy hiểm, đối với mạng người nữ cần phải rất thận trọng khi sinh đẻ, để tránh mất mác cả mẹ lẫn con, coi chừng bị bệnh sởi, đậu mùa; (7) Thiết Xà Quan (鐵蛇關), là những người sanh năm Kim gặp giờ Mão, Tuất; năm Mộc gặp giờ Dậu, Thìn; năm Hỏa gặp giờ Sửu, Dần, Ngọ, ngựa đi trên đường cần phải thận trọng, chớ đến gần để tránh nguy hiểm, coi chừng phát sinh bệnh sởi, đậu mùa, dễ bị động vật cắn; (8) Đoạn Trường Quan (斷膓關), là những người sanh ngày Giáp, Ất gặp giờ Ngọ, Mùi; ngày Bính, Đinh gặp giờ Thìn, Tỵ; ngày Mậu gặp giờ Ngọ; ngày Kỷ gặp giờ Mùi; ngày Canh, Tân gặp giờ Dần; ngày Nhâm, Quý gặp giờ Sửu, kỵ nhìn thấy giết heo, dê, chớ vào chỗ đồ tể; (9) Đoản Mạng Quan (短命關), là những người sanh năm Thân, Tý, Thìn gặp giờ Tỵ; năm Tỵ, Dậu, Sửu gặp giờ Dần; năm Dần, Ngọ, Tuất gặp giờ Thìn; năm Hợi, Mão, Mùi gặp giờ Mùi, đề phòng nói lảm nhảm buổi tối, hay kinh sợ; (10) Hòa Thượng Quan (和尚關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu; năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi gặp giờ Dần, Thân, Tỵ, Hợi, chớ vào các đàn tràng cúng chay (trai đàn), không nên vào nhà đám ma, chớ vào chùa gặp Hòa Thượng, tăng ni, nếu không lưu tâm sẽ bị tai ương một đời, nên tránh không nên theo mẹ vào đền miếu dâng hương; (11) Thiên Điếu Quan (天吊關), là những người sanh năm Thân, Tý, Thìn gặp giờ Tỵ, Ngọ; năm Tỵ, Dậu, Sửu gặp giờ Tý, Mão; năm Dần, Ngọ, Tuất gặp giờ Thìn, Ngọ; năm Hợi, Mão, Mùi gặp giờ Ngọ, Thân, qua núi qua sông bất lợi, đi đêm trên đường bất an, đồng thời có nhiều tai nạn cấp bách, họa hoạn; (12) Dạ Đề Quan (夜啼關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Ngọ; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Dậu; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Tý; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Mão, ban đêm không nên ra ngoài du ngoạn, nhìn mặt trời lặn hướng Tây cũng không tốt, buổi tối không nên nhìn ánh sáng đèn để tránh con nít khóc nhè đêm; (13) Mai Nhi Quan (埋兒關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Sửu; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp giờ Mão; năm Dần, Thân, Tỵ Hợi gặp giờ Thân, kỵ nhìn thấy nhập liệm, tống táng, khi nhỏ đã khó nuôi, nên lạy thần minh để xin làm con nuôi mới bảo toàn tánh mạng; (14) Ngũ Quỷ Quan (五鬼關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Thìn; năm Sửu gặp giờ Mão; năm Dần gặp giờ Dần; năm Mão gặp giờ Sửu; năm Thìn gặp giờ Tý; năm Tỵ gặp giờ Hợi; năm Ngọ gặp giờ Tuất; năm Mùi gặp giờ Dậu; năm Thân gặp giờ Thân; năm Dậu gặp giờ Mùi; năm Tuất gặp giờ Ngọ, năm Hợi gặp giờ Tỵ, không nên đến gần đàn tràng Giải Oan Bạt Độ, nếu đến gần sẽ sanh tai tật, kỵ nhìn thấy gỗ làm quan tài, mộ địa; (15) Thiên Cẩu Quan (天狗關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Tuất; năm Sửu gặp giờ Hợi; năm Dần gặp giờ Tý; năm Mão gặp giờ Sửu; năm Thìn gặp giờ Dần; năm Tỵ gặp giờ Mão; năm Ngọ gặp giờ Thìn; năm Mùi gặp giờ Tỵ; năm Thân gặp giờ Ngọ; năm Dậu gặp giờ Mùi; năm Tuất gặp giờ Thân; năm Hợi gặp giờ Dậu, Thiên Cẩu ăn mặt trời, không nên nhìn, sợ nghe tiếng chó sủa, em bé thường có khuôn mặt phá tướng, bị thương tích, sanh ra trong vòng 40 ngày, xuất hành đi xa không lợi, cũng không nên đi đêm, để bảo đảm một năm bốn mùa được bình an; (16) Quỷ Môn Quan (鬼門關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Dậu; năm Sửu gặp giờ Ngọ; năm Dần gặp giờ Mùi; năm Mão gặp giờ Thân; năm Thìn gặp giờ Hợi; năm Tỵ gặp giờ Tuất; năm Ngọ gặp giờ Sửu; năm Mùi gặp giờ Dần; năm Thân gặp giờ Mão; năm Dậu gặp giờ Tý; năm Tuất gặp giờ Tỵ; năm Hợi gặp giờ Thìn, không thể đi xa, suốt đời nơi nào có miếu âm cung thì chớ nên vào, đồng thời cũng không nên vào nhà hung dữ; (17) Chàng Mạng Quan (撞命關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Sửu; năm Sửu gặp giờ Mùi; năm Dần gặp giờ Tý; năm Mão gặp giờ Tỵ; năm Thìn gặp giờ Thìn; năm Tỵ gặp giờ Ngọ; năm Ngọ gặp giờ Ngọ; năm Mùi gặp giờ Sửu; năm Thân gặp giờ Ngọ; năm Dậu gặp giờ Dậu; năm Tuất gặp giờ Mùi; năm Hợi gặp giờ Hợi, khó nuôi con, thân thể suy nhược, nhiều bệnh, có hiện tượng chết yểu; (18) Thang Hỏa Quan (湯火關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Ngọ; năm Sửu, Thân, Hợi gặp giờ Mùi; năm Dần gặp giờ Tỵ; năm Mão gặp giờ Tý; năm Ngọ, Dậu gặp giờ Dần, chủ yếu chú ý về lửa, nước nóng, dầu, không nên đến gần nhà bếp, rất dễ bị thương tích; (19) Trực Nạn Quan (直難關), là những người sanh tháng Mão, Dần (1, 2) gặp giờ Ngọ; tháng Thìn, Tỵ (3, 4) gặp giờ Mùi; tháng Ngọ, Mùi (5, 6) gặp giờ Mão, Tuất; tháng Thân, Dậu (7, 8) gặp giờ Tỵ, Thân; tháng Tuất, Hợi (9, 10) gặp giờ Dần, Mão; tháng Tý, Sửu (11, 12) gặp giờ Thìn, Dậu, thận trọng đề phòng đao khí, vật bén nhọn làm tổn thương; (20) Thâm Thủy Quan (深水關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Dần, Thân, chớ đến gần bên sông, hồ nước, đề phòng tai họa về nước, phạm cha mẹ đời trước, không lạy vào dịp Thanh Minh (清明, khoảng đầu tháng 3 Âm Lịch), Đoan Ngọ (端午, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch), Thất Tịch (七夕, mồng 7 tháng 7 Âm Lịch), Trung Thu (中秋, rằm tháng 8 Âm Lịch); (21) Đoạn Kiều Quan (斷橋關), là những người sanh tháng 1, 2 gặp giờ Dần, Mão, chớ qua cầu dài, thuyền nông, chớ đi thuyền qua cầu tre; (22) Tứ Trụ Quan (四柱關), là những người sanh năm Tỵ, Hợi, tháng 1, 2 gặp giờ Thìn, Tỵ, chớ đến gần trước mặt công trình xây dựng, Động Thổ, kỵ ngồi xe con nít; (23) Kim Tỏa Quan (金鎖關), là những người sanh tháng 1, 2 gặp giờ Thân, Mão; tháng 1, 7 gặp giờ Thân; tháng 2, 8 gặp giờ Dậu; tháng 3, 9 gặp giờ Tuất; tháng 4, 10 gặp giờ Hợi; tháng 5, 11 gặp giờ Tý; tháng 6, 12 gặp giờ Sửu, coi chừng dây tiền, mảnh sắt, vàng, đồng rơi vào miệng, hoặc sinh tật bệnh chết yểu; (24) Bách Nhật Quan (百日關), là những người sanh tháng 1, 4, 7, 10 gặp giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; tháng 2, 5, 8, 11 gặp giờ Dần, Thân, Tỵ, Hợi; tháng 3, 6, 9, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu, sanh ra trong vòng 100 ngày, không nên đến nhà bà ngoại, sợ gặp tai họa, không nên ra khỏi nhà, kỵ đi xa, sợ trúng kinh phong; (25) Vô Tình Quan (無情關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Tý, Dần, Dậu; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Tỵ, Tuất, Hợi; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Sửu, Thân; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, trong thời gian còn nhỏ ít nên đến nhà bà ngoại, tránh cho em nhỏ nhìn thấy người mài dao, nên lạy thần thánh làm cha nuôi, gọi cha mẹ là chú, cô, dì; (26) Cấp Cước Quan (急腳關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Tý, Hợi; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Mão, Mùi; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Dần, Tuất; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Sửu, Thìn, chớ nên đi xa, chớ xem lễ Thượng Lương, Động Thổ, xây dựng; (27) Dục Bồn Quan (浴盆關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Thân, ba buổi sáng kỵ tắm rửa thân thể, khi tắm rửa nên thận trọng; (28) Tướng Quân Tiễn (將軍箭), là những người sanh năm Thìn, Dậu, Tuất gặp giờ Mùi, tất sẽ làm tổn thương người thân ruột thịt, không bắn người khác cũng như chính mình, chớ vào miếu thờ Tướng Quân; (29) Huyết Quang Quan (血光關), là những người sanh vào giờ Sửu tháng 1, giờ Mùi tháng 2, giờ Dần tháng 3, giờ Thân tháng 4, giờ Mão tháng 5, giờ Dậu tháng 6, giờ Thìn tháng 7, giờ Tuất tháng 8, giờ Tỵ tháng 9, giờ Hợi tháng 10, giờ Ngọ tháng 11, giờ Tý tháng 12, dễ bị tai họa chảy máu, hay họa về xe và trúng thương tích, nên dùng tiền bổn mạng và tiền trị nguy hại về xe để khắc chế; (30) Thủy Hỏa Quan (水火關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Mùi, Tuất; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Sửu, Thìn; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Dậu; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Sửu, chủ yếu chú ý về nước nóng, lửa, không nên đến gần nhà bếp, gần nước, lửa; (31) Diêm Vương Quan (閻王關), là những người sanh tháng 7, 8, 9, 10, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, Dần, Mão; tháng 1, 2, 3 gặp giờ Sửu, Mùi; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Thìn, Tuất; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Tý, Ngọ; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Dần, Mão, không nên đến gần miếu âm cung, đền Thành Hoàng (城隍); (32) Tứ Quý Quan (四季關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Sửu, Tỵ; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Thìn, Thân; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Hợi, Mùi; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Dần, Tuất, một đời nhiều bệnh, trước khí tiết của bốn mùa, chớ nên đi xa để đề phòng tai ương; (33) Tứ Trụ Quan (四柱關), là những người sanh giờ Thìn, Tỵ, tháng 1, 2 thuộc năm Tỵ, Hợi, em nhỏ nếu phạm quan sát này, cha mẹ không sống lâu với mình, kỵ ngồi xe ngựa, lan can, ghế tre; (34) Đa Ách Quan (多厄關), người nam sinh năm thuộc Kim, gặp tháng 5, 6; sinh năm thuộc Mộc, tháng 2, 3; sinh năm thuộc Thủy, tháng 8, 9; sinh năm thuộc Hỏa, tháng 11, 12; sinh năm thuộc Thổ, tháng 1, 4, phạm loại Quan Sát này; nữ sinh năm thuộc Kim, tháng 8, 9; sinh năm thuộc Mộc, tháng 11, 12; sinh năm thuộc Thủy, tháng 2, 3; sinh năm thuộc Hỏa, tháng 5, 6; sinh năm thuộc Thổ, tháng 1, 4, phạm loại Quan Sát này tai ách liên tục hằng năm; (35) Kiếp Sát Quan (劫煞關), là những người sinh năm Thân, Tý Thìn, thuộc tháng 4; năm Tỵ Dậu, Sửu thuộc tháng 1; năm Dần, Ngọ, Tuất thuộc tháng 10; năm Hợi, Mão Mùi thuộc tháng 7, nên thận trọng đề phòng tiền tài hao tổn; (36) Cơ Bại Quan (基敗關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 thuộc giờ Mùi, Tuất, Hợi; tháng 4, 5, 6 thuộc giờ Tý, Thìn, Tỵ; tháng 7, 8, 9 thuộc giờ Sửu, Thân, Dậu; tháng 10, 11, 12 thuộc giờ Dần, Mão, Ngọ, sau khi sinh ra, trạng huống thân thể khác lạ, khó nuôi, kỵ đào đất, nên lạy thần minh xin làm con nuôi, chú ý trị liệu về ruột, mới có thể chuyển nguy thành an. Trong tác phẩm Dụ Thế Minh Ngôn (喻世明言) của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) quyển 28 Lý Tú Khanh Nghĩa Kết Hoàng Trinh Nữ (李秀卿義結黃貞女) có câu: “Ấu niên gian đa nương dữ ngã toán mạng, thuyết hữu Quan Sát nan dưỡng, vi thử xuyên phá lưỡng nhĩ (幼年間爹娘與我算命、說有關煞難養、爲此穿破兩耳, lúc còn nhỏ cha mẹ xem mạng số cho tôi, bảo rằng bị Quan Sát khó nuôi, vì đó mà phá lũng hai tai).”
quan sát
6970請參閱 觀無量壽佛經圖頌對境之繫念,以智慧照察,正念觀彼,如實修行,稱為觀察。與「觀」之義同。往生論註卷下解釋觀察之字義(大四○‧八三六上):「心緣其事曰觀,觀心分明曰察。」華嚴經探玄記卷十謂,觀察有內心照察與舉目眄視二義。
; Observation.
; (觀察) Đồng nghĩa: Quán. Buộc ý niệm nơi đối tượng, dùng trí tuệ soi xét, chính quán đối tượng, như thực tu hành gọi là Quán sát. Vãng sinh luận chú quyển hạ giải thích về tự nghĩa của từ Quán sát như sau (Đại 40, 836 thượng): Tâm theo dõi đối tượng gọi là Quán; tâm xem xét đối tượng rõ ràng gọi là Sát. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 nói rằng Quán sát có 2 nghĩa: Tâm soi xét bên trong và mắt nhìn kĩ bên ngoài.
quan sát chính hành
6970請參閱 如來心經 或 佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經係淨土門所立往生極樂五種正行之一。與五種雜行之「觀察雜行」相對。謂以一心專念觀想彌陀淨土之依正二報莊嚴,即稱觀察正行。若不僅觀想彌陀淨土之依正二報莊嚴,尚於大小乘顯密事理悉作觀行,則稱為觀察雜行。〔參閱「五正行」1074)
; (觀察正行) Đối lại: Quán sát tạp hành. Một lòng chuyên niệm quán tưởng Y báo và Chính báo trang nghiêm ở cõi Cực lạc của đức Phật A di đà, gọi là Quán sát chính hành, 1 trong 5 Chính hành vãng sinh Cực lạc do tông Tịnh độ lập ra. Nếu chẳng những chỉ quán tưởng Y báo và Chính báo trang nghiêm của Tịnh độ Di đà, mà còn quán tưởng tất cả sự lí, hiển mật của Đại thừa và Tiểu thừa, thì gọi là Quán sát tạp hành. (xt. Ngũ Chính Hành).
quan sát chư pháp hành kinh
6971凡四卷。隋代闍那崛多譯。收於大正藏第十五冊。內容分為三品,即無邊善方便行品、先世勤相應品、授記品。乃敘述佛為喜王菩薩說決定觀察諸法行之三摩地。又以經文中已出現不羨小乘等語,而被視作大乘佛教發展初期之作。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷七〕
; (觀察諸法行經) Kinh, 4 quyển, do ngài Xà Na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này chia làm 3 phẩm: Phẩm Vô biên thiện phương tiện hành, phẩm Tiên thế cần tương ứng và phẩm Thụ kí, nói về việc đức Phật vì bồ tát Hỉ vương mà tuyên thuyết Tam ma địa Quyết định quán sát chư pháp hành. Ngoài ra, trong kinh có những câu như Không hâm mộ Tiểu thừa, cho nên kinh này được xem là tác phẩm của Phật giáo Đại thừa phát triển ở thời kì đầu. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
quan sát khách quan
Objective observation.
quan sát môn
6971五念門之一。淨土門以憶念觀察阿彌陀佛及其淨土,成就自利利他之功德,立五種修行門,其中之觀察門即謂以智慧觀察淨土、阿彌陀佛及彼土諸菩薩等之莊嚴功德,成就自利利他之功德。(參閱「五念門」1109)
; (觀察門) Pháp môn dùng trí tuệ quán sát công đức trang nghiêm của cõi Tịnh độ, công đức thành tựu sự nghiệp tự lợi lợi tha của đức Phật A di đà và công đức trang nghiêm của các Bồ tát ở cõi ấy, 1 trong 5 Niệm môn do tông Tịnh độ lập ra. (xt. Ngũ Niệm Môn).
quan sát nghĩa thiền
6971大乘入楞伽經卷三集一切法品廣說禪有如下四種:愚夫所行禪、觀察義禪、攀緣真如禪、諸如來禪等。其中,觀察義禪謂既知自共相的「人無我」之理,亦遠離自他各種造作,而隨順觀察「法無我」之義。(參閱「四種禪」1822)
; (觀察義禪) Thiền định biết rõ lí Nhân vô ngã, xa lìa mọi sự tạo tác và ý niệm phân biệt mình và người, tùy thuận quán sát nghĩa Pháp vô ngã, là 1 trong 4 loại Thiền được nêu trong phẩm Tập nhất thiết pháp của kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3. (xt. Tứ Chủng Thiền).
quan sát pháp nhẫn
6971與「安受苦忍」同為菩薩所修二種忍之一。觀察一切法不生不滅之深理,而安然忍可,其心寂靜不動,稱為觀察法忍。〔菩薩地持經卷五、大明三藏法數卷五〕(參閱「二忍」196)
; (觀察法忍) Quán xét lí sâu xa của tất cả pháp không sinh không diệt, an nhiên nhẫn chịu, trong tâm vắng lặng chẳng động, là 1 trong 2 loại nhẫn của Bồ tát tu hành. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5; Đại minh tam tạng pháp số Q.5]. (xt. Nhị Nhẫn).
Quan Sơn Huệ Huyền
(關山慧玄, Kanzan Egen, 1277-1360): vị tăng của Tông Lâm Tế Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Nam Bắc Triều, vị tổ khai sáng Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Huệ Nhãn (慧眼), Huệ Huyền (慧玄), đạo hiệu Quan Sơn (關山), nhụ hiệu Bổn Hữu Viên Thành (本有圓成), Phật Tâm Giác Tánh (佛心覺性), Đại Định Thánh Ứng (大定聖應), Quang Đức Thắng Diệu (光德勝妙), Tự Tánh Thiên Chơn (自性天眞), Phóng Vô Lượng Quang (放無量光), Vô Tướng Đại Sư (無相大師), xuất thân vùng Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Ông là người con thứ 2, sanh ra trong gia đình Thủ Cao Gia (守高家) của Mỹ Nùng, lúc còn nhỏ được gọi là Tào Tử Triêu Minh Lữ (曹子朝明麿), theo học với chú là Nguyệt Cốc Tông Trung (月谷宗忠). Ban đầu ông theo xuất gia với Đông Truyền Sĩ Khải (東傳士啓) ở Quảng Nghiêm Am (廣嚴庵), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Đến năm 1307 (năm thứ 2 niên hiệu Đức Trị [德治]), ông gặp Đại Ứng Quốc Sư Nam Phố Thiệu Minh (大應國師南浦紹明) ở Kiến Trường Tự, được ban cho tên là Huệ Nhãn (慧眼) và theo hầu vị này tu tập. Nhưng vì không có chỗ sở ngộ nên sau đó vào năm 1327 (năm thứ 2 niên hiệu Gia Lịch [嘉曆]) ông lại đến kế thừa dòng pháp của Đại Đăng Quốc Sư Tông Phong Diệu Siêu (大燈國師宗峰妙超) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Năm 1328, ông đến ẩn cư ở vùng Y Thâm (伊深), Mỹ Nùng (美濃, Mino), đến năm 1330 (năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Đức [元德]), ông được ấn chứng cho là đã ngộ được công án chữ Quan (關) của Vân Môn (雲門), nên được ban cho hiệu là Quan Sơn (關山), hiệu là Huệ Huyền (慧玄). Vào năm 1342, Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇, Hanazono Jōkō) biến Hoa Viên Ly Cung thành Diệu Tâm Tự và cung thỉnh ông đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Sau đó, ông lại đến dựng am sống ở vùng Viễn Giang (遠江), nhưng đến năm 1351 ông trở về lại Diệu Tâm Tự và cử xướng Thiền phong uy nghiêm của ông. Dòng pháp từ của ông có Thọ Ông Tông Bật (授翁宗弼). Chính dòng pháp hệ nối tiếp Thiệu Minh (紹明), Diệu Siêu (妙超), Huệ Huyền (慧玄) đã chiếm vai trò lãnh đạo Thiền Lâm Tế về sau. Vào năm 1360 (năm thứ 5 niên hiệu Diên Văn [延文]), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Trước tác của ông có Quan Sơn Hòa Thượng Bách Tắc Công Án (關山和尚百則公案) 1 quyển.
Quan Sơn Huệ Huyền
關山慧玄; J: kanzan egen; 1277-1360;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, nối pháp của Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō). Sư kế thừa và trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji), sau lại trụ trì Diệu Tâm tự (myōshin-ji). Cả hai đều là những thiền viện danh tiếng nhất của tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư sinh tại Shinano (phủ Nagano), sớm đã được cha gửi đến một người chú tại Liêm Thương (kamakura) để học Phật pháp. Nơi đây, Sư may mắn được học với Thiền sư Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō, 1235-1309). Sau khi Nam Phố tịch, Sư trở về quê nhà tu học khổ hạnh. Khi nghe danh tiếng của Thiền sư Tông Phong tại Liêm Thương, Sư liền đến Ðại Ðức tự tại Kinh Ðô đến tham học. Tông Phong giao cho Sư Công án »Quan« (Bích nham lục, công án 8) của Thiền sư Vân Môn Văn Yển để tham cứu. Sau hai năm quán công án này – một thời gian tu tập cực kì khắc khe với một công án nổi danh là khó giải – Sư ngộ được yếu chỉ của Thiền tông. Tông Phong liền làm một bài kệ ấn chứng cho môn đệ của mình, năm đó Sư đã vượt ngoài năm mươi (1329).|Sau đó, theo lời khuyên của thầy, Sư lên núi ẩn cư tám năm để tiếp tục tu luyện và trong thời gian này, Sư làm việc hằng ngày trên đồng ruộng, đêm thì Toạ thiền trên những tảng đá. Sau thời gian này, Sư nhận lời trụ trì chùa Diệu Tâm. Phong cách giảng dạy của Sư rất nghiêm khắc và cũng vì thế mà Lâm Tế chính mạch được truyền đến những đời sau qua dòng thiền này. Sư chẳng chú trọng đến đồ vật trang trí trong thiền viện và cũng không thích những nghi lễ rườm rà. Sư đòi hỏi nơi đệ tử một ý chí, một tâm trạng tinh tiến tuyệt đối. Một trong những công án Sư thường đưa ra để tham quán là »Ðối với Huệ Huyền, nơi đây không có sinh tử.« Chỉ những thiền sinh đầy ý chí quyết định mới dám ở lại đây, phần lớn đều rời Sư sau một thời gian. Dưới sự hoằng hoá của Sư, Diệu Tâm tự cũng được gọi là »Ðịa ngục tột cùng của Phật pháp.« Sư cũng được gọi là »Tổ sư với những đức tính thầm kín« (Ẩn đức tổ sư; 隱德 [の] 祖師; j: intoku [no] soshi).|Trước khi tịch, Sư trao pháp y lại cho vị kế thừa duy nhất là Thụ Ông Tông Bật (授翁宗弼; j: jūo sōhitsu, 1296-1380), chuẩn bị hành lí và đứng mà tịch. Dòng thiền của Sư sau trở thành dòng chính của tông Lâm Tế Nhật Bản.
quan sơn huệ huyền
6711(1277~1360)日本臨濟宗僧。妙心寺之開山。信濃(長野縣)人。早年於建長寺參禪三十餘年。後投大德寺宗峰妙超,為其法嗣,隱於美濃伊吹山之草庵。花園天皇以其洛西花園離宮之地創建妙心寺,迎請為開山。慕其高風而至之僧眾雲集,久之蔚成日本臨濟宗最大宗派之妙心寺派。正平十五年示寂,世壽八十四。敕諡無相大師、光德勝妙國師、自性天真國師等。
; Kanzan Egen (J)Hàn Sơn Huệ Huyền Xem Hoa Sơn.
Quan Thánh
(關聖): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝). Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, nhưng đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn này bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong một vài thư tịch của Thiền Tông, có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397)—người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩). Hằng năm, người dân vẫn tưởng niệm ngày khánh đản của ông vào ngày 24 tháng 6 âm lịch. Đạo Giáo Trung Quốc vẫn lưu hành Quan Thánh Đế Quân Giác Thế Chơn Kinh (關聖帝君覺世眞經), trong đó có dạy rằng: “Nhân sanh tại thế, quý tận trung hiếu tiết nghĩa đẳng sự, phương ư nhân đạo vô quý, khả lập ư thiên địa chi gian (人生在世、貴盡忠孝節義等事、方於人道無愧、可立於天地之間, con người ở đời, quý nhất các việc tận trung, hiếu, tiết nghĩa, mới không xấu hổ với mọi người, có thể đứng vững giữa trời đất).”
Quan Thánh Đế Quân
(關聖帝君): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽, ?-219), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝), v.v. Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, nhưng đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn này bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong thư tịch của Thiền Tông như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀), có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397)—người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩).
Quan thư
(關雎): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Là tên của một thiên trong Thi Kinh (詩經), chương Chu Nam (周南); là chương đầu tiên của toàn thư tịch, cũng là thiên đầu tiên trong 15 thiên ca dao Quốc Phong (國風), là tác phẩm biểu hiện tình yêu nam nữ, được xem như là tổ của những bài thơ tình của Trung Quốc. (2) Từ đó, từ này được mượn để chỉ cho sự hiền thục của hậu phi, hay đức độ của nàng hậu phi. Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), chương Hoàng Hậu Kỷ Thượng (皇后紀上), phần Quang Liệt Âm Hoàng Hậu (光烈陰皇后) có câu: “Ký vô quan thư chi đức, nhi hữu Lữ Hoắc chi phong (旣無關雎之德、而有呂霍之風, đã không có đức độ của hậu phi, lại thêm thói quen [tật đố hung tàn] của Lữ Hoắc).” (3) Mượn dùng để chỉ cho vợ chồng. Như trong tác phẩm Bão Trang Hạp (抱妝盒) của tác giả vô danh, chương thứ 4 có câu: “Đa tắc thị thiên sanh phần phước, hựu ngộ trước nhân duyên đối phó, thành tựu liễu lân chỉ quan thư (多則是天生分福、又遇著姻緣對付、成就了麟趾關雎, phần lớn ắt là trời sanh phước phần, lại gặp duyên kết hôn giao phó, thành tựu vợ chồng cao đẹp).” (4) Mượn chỉ cho thục nữ, người con gái hiền thục. Như trong hồi thứ 19 của tác phẩm Ngọc Kiều Lê (玉嬌梨) của Trương Quân (張勻, ?-?) nhà Thanh, có đoạn: “Cửu văn lão tiên sinh lịnh ái hiền thục, hữu quan thư chi mỹ, cố thác vãn sinh kính chấp phủ kha, dục cầu lão tiên sinh khúc tứ chu trần chi hảo (久聞老先生令愛賢淑、有關雎之美、故託晚生敬執斧柯、欲求老先生曲賜朱陳之好, từ lâu đã nghe lịnh ái của ông rất hiền thục, có vẻ đẹp của thục nữ, cho nên xin hãy giao cho hậu sinh được làm mai mối, muốn xin ông thương xót ban cho hai họ tốt lành).” (5) Là tên của một loài chim sống dưới nước, chim ưng bắt cá. Trong Hy Tẩu Thiệu Đàm Thiền Sư Quảng Lục (希叟紹曇禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1390) quyển 3 có câu: “Cù mộc thùy âm, quan thư vịnh đức, huyên thọ bắc đường, tinh chiêu nam cực, xuân dương hu ẩu dục lê nguyên, đại địa thùy nhân bất cảm ân (樛木垂陰、關雎詠德、萱樹北堂、星昭南極、春陽姁嘔育黎元、大地誰人不感恩, cây si rũ bóng râm, chồng vợ ngợi ca đức, cây huyên nơi nhà bắc, sao tỏ sáng cực nam, mùa xuân đem vui nuôi bá tánh, đất trời ai nào chẳng cảm ơn).”
quan thế khiêm
6711(1930~ )遼寧安東人。法名能靖。皈依倓虛法師,並於外雙溪報恩小築依印順導師受菩薩戒,親炙導師受學中觀多年。先後任教於蓮華學佛園、菩提佛學院、福嚴佛學院、華梵佛學研究所等。譯有中國佛教與社會福利事業、佛教聖典、中國佛教史等書。
quan thế âm
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm.
Quan Thế Âm Tự
(觀世音寺, Kanzeon-ji): ngôi tự viện của Thiên Thai Tông, tọa lạc tại Dazaifu-shi (大宰府市), Fukuoka-ken (福岡縣). Chùa do Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) phát nguyện xây dựng để cầu nguyện hồi hướng công đức cho mẹ ông là Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō) qua đời ở vùng Khủng Tử (筑紫, Chikushi); tuy nhiên đến năm 746 (niên hiệu Thiên Bình [天平] thứ 18) mới hoàn thành. Chùa tọa lạc về phìa Đông của Thái Tể Phủ (大宰府, Daizaifu). Giới Đàn Viện của chùa là một trong 3 giới đàn nổi tiếng trong thiên hạ, cùng sánh ngang hàng với hai Giới Đàn Viện ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji). Tăng ni ở vùng tây nam Nhật Bản đều phải đến đây thọ giới. Chùa đã trãi qua một thời rất hưng thịnh, nhưng đến cuối thời Bình An (平安, Heian) thì suy tàn và trở thành chùa phụ thuộc của Đông Đại Tự. Chùa hiện vẫn còn lưu giữ Phạn Chung thuộc Thời Đại Bạch Phụng (白鳳時代, Hakuhō-jidai), các tượng Thập Nhất Diện Quan Âm (十一面觀音), Mã Đầu Quan Âm (馬頭觀音), Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), v.v., thuộc Thời Đại Bình An. Trong thời gian bị lưu đày, Quản Nguyên Đạo Chơn (菅原道眞, Sugawara-no-Michizane, 845-903) có vịnh hai câu thơ rất nổi tiếng về chùa này: “Lầu Đô Phủ mới nhìn màu ngói, Chùa Quan Âm vẳng nghe tiếng chuông” (Quản Gia Hậu Tập [菅原後集]).
quan tinh
Guanxing (C).
Quan trưởng 官長
[ja] カンチョウ kanchō ||| Office head; bureau chief; high minister. 〔法華經 T 262.9.37a22〕 => Người đứng đầu cơ quan, trưởng phòng, viên chức cao cấp.
quan trọng nhứt
Most importantly.
quan tâm
To pay attention to.
quan tăng
3186指由朝廷頒給度牒,證明其出家身分之出家人。相對者爲私度之出家人。或指被任命爲僧正、僧都、律師等僧官之出家人。此外,受勅許而著袍、裳、素絹等官服或穿錦襴袈裟者亦稱爲官僧,相對者爲按照戒律規定著法衣之律僧。
; (官僧) Chỉ cho những người xuất gia được triều đình chứng nhận và cấp cho độ điệp, hoặc chỉ cho những người xuất gia được bổ nhiệm giữ các chức quan tăng như Tăng chính, Tăng đô, Luật sư... Ngoài ra, những người nhận sắc chỉ được phép mặc quan phục như áo bào, xiêm, lụa trắng hoặc ca sa gấm... cũng được gọi là Quan tăng.
quan tự
3185政府封賜食祿,並加以管理之寺院。我國宋代所設之禪院五山十剎即屬官寺。五山指興聖萬壽禪寺、景福靈隱寺、淨慈寺、景德寺、廣利寺。十剎指中天竺山天寧萬壽永祚寺、道場山護聖萬壽寺、蔣山太平興國寺、萬壽山報恩光孝寺、雪竇山資聖寺、江心山龍翔寺、雪峰山崇聖寺、雲黃山寶林寺、虎丘山雲巖寺、天台山國清忠寺。日本之官寺乃於天武天皇七年(679)制定,有勅願寺、定額寺、御願寺、御祈願寺等多種,中世紀以後則指由幕府特加保護之寺院而言。
; (官寺) Chùa quan, tức các chùa viện được ban bổng lộc và chịu sự quản lí của triều đình. Tại Trung Quốc, những Thiền viện như Ngũ sơn, Thập sát được đặt ra ở đời Tống là thuộc Quan tự. Ngũ sơn gồm: Hưng thánh vạn thọ thiền tự, Cảnh phúc linh ẩn tự, Tịnh từ tự, Cảnh đức tự và Quảng lợi tự. Thập sát thì có: Trung thiên trúc sơn Thiên ninh vạn thọ vĩnh tộ tự, Đạo tràng sơn Hộ thánh vạn thọ tự, Tưởng sơn Thái bình hưng quốc tự, Vạn thọ sơn Báo ân quang hiếu tự, Tuyết đậu sơn Tư thánh tự, Giang tâm sơn Long tường tự, Tuyết phong sơn Sùng thánh tự, Vân hoàng sơn Bảo lâm tự, Hổ khâu sơn Vân nham tự và Thiên thai sơn Quốc thanh trung tự. Ở Nhật Bản, năm Thiên vũ thiên hoàng thứ 7 (679), Quan tự được chế định, có nhiều loại như Sắc nguyện tự, Định ngạch tự, Ngự nguyện tự, Ngự kì nguyện tự... Từ đời Trung cổ về sau, Quan tự chỉ cho những chùa viện được Mạc phủ đặc biệt bảo hộ.
quan văn
5050即禪家書寫於棺上之文句。據諸回向清規式卷四棺文條所載,一般所用之棺文為(大八一‧六六○上):「出離生死,入住涅槃,寂靜無畏,究竟安樂。」又用「迷故三界城,悟故十方空,本來無東西,何處有南北」。另據小叢林略清規卷中在家送亡條所載,棺外畫大圓相,於棺蓋或其傍書(大八一‧七一○上):「出離生死,入住涅槃,寂靜無為,究竟安樂。」此四句各配於東、西、南、北四方而書之。
; (棺文) Chỉ cho những câu văn mà Thiền gia viết trên quan tài. Cứ theo điều Quan văn trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 4 thì Quan văn phổ thông được dùng là (Đại 81, 660 thượng): Xuất li sinh tử/Nhập trụ Niết bàn/ Tịch tĩnh vô vi/ Cứu cánh an lạc/(Xa lìa sống chết /Vào trụ Niết bàn/Vắng lặng vô vi /Yên vui tuyệt đối). Hoặc: Mê cố tam giới thành/Ngộ cố thập phương không/Bản lai vô Đông Tây/Hà xứ hữu Nam Bắc?/(Mê nên thành ba cõi/Ngộ nên mười phương không/Xưa nay không Đông Tây/Ở đâu có Nam Bắc?). Còn theo điều Tại gia tống vong trong Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển trung thì ngoài quan tài vẽ vòng tròn lớn, trên nắp quan tài hoặc ở bên cạnh viết (Đại 81, 710 thượng): Xuất li sinh tử/Nhập trụ Niết bàn/Tịch tĩnh vô vi/Cứu cánh an lạc. Bốn câu này phối hợp với 4 phương Đông Tây Nam Bắc mà viết.
quan vũ
Kuan Yu (C)Là một đại tướng
Quan Âm
觀音; J: kannon; nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh tên nhà vua Ðường là Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm.|Tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara) tại Trung Quốc và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (普賢; s: samantabhadra), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha) và Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī). Ðó là bốn vị Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Trong kinh Ðại thừa vô lượng thọ (s: sukhāvatīvyūha), Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (s: amitābha). Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.|Tranh trượng hay trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi có một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện lên trong mây, hoặc cỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm hay cầm hoa sen hay bình nước Cam lộ.|Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Ðông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn – bốn trú xứ của bốn Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Tại Trung Quốc – đến thế kỉ 10 – Quan Âm còn được giữ dưới dạng Nam giới, thậm chí trong hang động ở Ðôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Ðến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tan-tra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (s: maitrī-karuṇā) và Trí huệ (s: prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một »quyến thuộc« nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Ða-la (s: tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.|Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Ðông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Ðến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.
quan âm
Kannon (J), Kanzeon (J), Kwannon (J), Avalokitesvara (S), Kuan-yin (C), Guanyin (C), Tên một vị Phật hay Như LaiXem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Avalokitesvara Bodhisattva—Bodhisattva of mercy—Goddess of mercy.
quan âm cấm
Avalokitavrata (S)Đệ từ của Thanh Biện Bồ tát.
quan âm huyền nghĩa
6962 請參閱 觀音玄義凡二卷。隋代天台智顗述,門人灌頂記。又稱別行玄義、別行玄、觀音玄、觀音經玄義。收於大正藏第三十四冊。為天台五小部之一。 本書內容闡釋法華經卷七觀世音菩薩普門品之玄義,依準智顗於法華經玄義所立釋名、出體、明宗、辨用、教相等五重玄義之分科,設通、別二釋,就普門品之大綱及「觀世音普門」五字作精細之解釋。為現存普門品注釋書中最古之著述,後世學者疑係智顗講述「摩訶止觀」前所作。 本書雖與觀音義疏同為開示天台性惡法門之重要典籍,然於智者大師別傳、大唐內典錄,及續高僧傳中,皆未言及此書為智顗所述。此外,宋代四明知禮就本書而作觀音玄義記四卷,乃集性惡說之大成者。〔佛祖統紀卷二十五、新編諸宗教藏總錄卷一〕
; (觀音玄義) Cũng gọi Biệt hành huyền nghĩa, Biệt hành huyền, Quán âm huyền, Quán âm kinh huyền nghĩa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy, học trò là Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34, là 1 trong 5 tiểu bộ của tông Thiên thai. Nội dung sách này giải thích nghĩa sâu xa của phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7, y theo cách chia khoa Ngũ trùng huyền nghĩa: Thích Danh, Xuất Thể, Minh Thị, Biện Dụng và Giáo Tướng mà ngài Trí Khải đã lập ra trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa. Phần Thông thích và Biệt thích giảng giải một cách tỉ mỉ đại cương của phẩm Phổ môn và 5 chữ cái Quán thế âm phổ môn. Đây là tác phẩm xưa nhất trong những sách chú thích phẩm Phổ môn hiện còn mà các học giả đời sau phỏng đoán là ngài Trí Khải đã giảng thuật trước bộ Ma ha chỉ quán. Sách này và Quán âm nghĩa sớ tuy đều là những tác phẩm quan trọng trình bày về thuyết Tính ác của tông Thiên thai, nhưng trong Trí giả đại sư biệt truyện, Đại đường nội điển lục và Tục cao tăng truyện đều không thấy nói sách này là do ngài Trí khải soạn. Ngoài ra, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống đã dựa theo sách này mà soạn Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển là tập đại thành về thuyết Tính ác. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
quan âm huyền nghĩa kí
6962凡四卷。宋代四明知禮述。又稱觀世音菩薩普門品玄義記、觀音經玄義記、觀音別行玄記、別行玄義記、別行玄記。收於大正藏第三十四冊。乃觀音玄義之注釋書。 依自序所載,係知禮六十二歲時所撰。知禮初投寶雲義通,適逢義通講觀音普門品,經數番諮疑,遂得奧義,於宋天禧五年(1021)抄錄之。以唐宋訓詁主義之學風解釋玄義之文句,強調性惡法門。天聖二年(1024),由遵式奏請收入大藏經。〔佛祖統紀卷八、卷二十五〕
; (觀音玄義記) Cũng gọi Quán thế âm bồ tát phổ môn phẩm huyền nghĩa kí, Quán âm biệt hành huyền kí, Biệt hành huyền nghĩa kí, Biệt hành huyền kí, Quán âm kinh huyền nghĩa kí. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là sách chú thích bộ Quán âm huyền nghĩa. Theo lời tựa của tác giả thì sách này ngài Tri Lễ soạn lúc ngài 62 tuổi. Ngài Tri Lễ mới đầu tham học ngài Bảo Vân Nghĩa Thông, đúng lúc ngài Nghĩa Thông đang giảng phẩm Quán âm phổ môn, qua nhiều lần thưa hỏi những chỗ còn nghi mới hiểu được nghĩa sâu xa kín nhiệm. Năm Thiên hi thứ 5 (1021) đời Tống ngài sao chép lại và giải thích ý nghĩa sâu xa theo cái học huấn hỗ của đời Đường, Tống. Năm Thiên thánh thứ 2 (1024), ngài Tuân Thức tâu xin cho sách này được đưa vào Đại tạng kinh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 25].
quan âm kinh phổ môn phẩm
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
quan âm kinh trì nghiệm kí
6964凡二卷。清代周克復作於順治十六年(1659)。又稱觀世音持驗記、觀音持驗記、觀世音經咒持驗記。收於卍續藏第一三四冊。作者廣搜諸書,採擷自晉代至清順治時,所有僧俗有關觀音信仰之靈驗一一八件,彙集編纂而成。範圍包括高僧傳、法苑珠林、辨正論、法華感通、觀音感應等,及冥詳記、宣驗記、太平廣記、談藪、玉堂閑話、朝野僉載等內外典籍,並於每件之下記其出典,乃研究觀世音信仰之重要資料。卷末並附有不空所譯之觀世音大悲心陀羅尼、白衣大悲五印心陀羅尼經、禮觀音文、辨訛語三則等。
; (觀音經持驗記) Cũng gọi Quán thế âm trì nghiệm kí, Quán âm trì nghiệm kí, Quán thế âm kinh chú trì nghiệm kí. Tác phẩm, 2 quyển, do ông Chu Khắc Phục soạn vào năm Thuận Trị 16 (1659) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 134. Nội dung sách này do tác giả sưu tầm các sách, thu tập 118 sự kiện linh nghiệm về tín ngưỡng Quán âm của tất cả tăng tục từ đời Tấn đến thời Thuận Trị nhà Thanh rồi biên soạn thành. Phạm vi các thư tịch mà tác giả sưu tầm bao gồm những nội, ngoại điển như: Cao tăng truyện, Pháp uyển châu lâm, Biện chính luận, Pháp hoa cảm thông, Quán âm cảm ứng, Minh tường kí, Tuyên nghiệm kí, Thái bình quảng kí, Đàm tẩu, Ngọc đường nhàn thoại, Triều dã thiêm tải..., dưới mỗi sự kiện đều có ghi rõ xuất xứ từ sách nào, đây là tư liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu về tín ngưỡng Quán thế âm. Cuối quyển có phụ lục: Quán thế âm đại bi tâm đà la ni, kinh Bạch y đại bi ngũ ấn tâm đà la ni, Lễ Quán âm văn, Biện ngoa ngữ tam tắc...
quan âm mạn đồ la bát đại bồ tát
6963為千光眼觀自在菩薩祕密法經所說之八大觀自在菩薩。即:(一)金剛觀自在菩薩,(二)與願觀自在菩薩,(三)數珠觀自在菩薩,(四)鉤召觀自在菩薩,(五)除障觀自在菩薩(又稱施無畏觀自在菩薩),(六)寶劍觀自在菩薩,(七)寶印觀自在菩薩,(八)不退轉金輪觀自在菩薩。有關此八大觀自在菩薩之形像、手執之物、印契等,乃至以各菩薩為本尊之修法方式及其事緣,皆詳載於該經中。
; (觀音曼荼羅八大菩薩) Tám vị bồ tát Đại quán tự tại nói trong kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp. Đó là: 1. Bồ tát Kim cương Quán tự tại. 2. Bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. 3. Bồ tát Sổ châu Quán tự tại. 4. Bồ tát Câu triệu Quán tự tại. 5. Bồ tát Trừ chướng Quán tự tại (cũng gọi bồ tát Thí vô úy Quán tự tại). 6. Bồ tát Bảo kiếm Quán tự tại. 7. Bồ tát Bảo ấn Quán tự tại. 8. Bồ tát Bất thoái chuyển kim luân Quán tự tại. Về hình tượng, vật cầm, ấn khế... của 8 vị Đại quán tự tại này cho đến các pháp tu thờ những Bồ tát này làm Bản tôn và những sự duyên... đều được ghi chép tường tận trong kinh này.
quan âm nghĩa sớ
6964凡二卷。隋代天台智顗述,門人灌頂記。又稱普門品疏、別行義疏、觀音經疏。收於大正藏第三十四冊。為天台五小部之一。內容解釋法華經卷七觀世音菩薩普門品之文句。初設時節、標人、敬儀、正問等四問,而答以口機感應、意機感應、身機感應等,明示觀音樹王之冥益;次就身、口、意等三業設問,而以別答、總答、勸供養等作答,明示普門珠王之顯益。 書中巧用四教、三觀之教法,以破斥他師、舊解等諸說,於觀世音信仰闡明其理論與觀行,為後世解釋普門品之指南。又本書與觀音玄義一書皆舉揚天台之性惡法門。此外,宋代知禮就本書而作觀音義疏記四卷。〔佛祖統紀卷二十五〕
; (觀音義疏) Cũng gọi Phổ môn phẩm sớ, Biệt hành nghĩa sớ, Quán âm kinh sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Thiên Thai Trí Khải giảng vào đời Tùy, đệ tử Quán Đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34, là 1 trong 5 tiểu bộ của tông Thiên thai. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Trước hết, đặt 4 câu hỏi vềThời tiết, Tiêu nhân, Kính nghi và Chính vấn, rồi đáp bằng Khẩu cơ cảm ứng, Ý cơ cảm ứng, Thân cơ cảm ứng, chỉ rõ sự lợi ích ngấm ngầm của Quán âm thụ vương. Kế đến, đặt câu hỏi về 3 nghiệp thân, khẩu, ý và trả lời bằng Biệt đáp, Tổng đáp, khuyên cúng dường... chỉ rõ sự lợi ích công khai của Phổ môn châu vương. Trong sách, tác giả khéo dùng các giáo pháp Tứ giáo, Tam quán để bác bỏ các thuyết của những nhà chú sớ khác và lối giải thích xưa cũ, làm sáng tỏ lí luận và quán hạnh đối với tín ngưỡng Quán thế âm, là kim chỉ nam cho đời sau giải thích phẩm Phổ môn. Sách này và Quán âm huyền nghĩa đều nêu cao pháp môn Tính ác của tông Thiên thai. Ngoài ra, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống đã dựa theo sách này mà soạn bộ Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25].
quan âm nghĩa sớ kí
6964凡四卷。宋代知禮撰。又稱觀音經義疏記、觀音別行疏記、別行義疏記、別行疏記。收於大正藏第三十四冊。內容注解智顗之觀音義疏。與「觀音玄義記」同為闡揚天台性惡法門之要書。其注釋書有觀音經義疏記科一卷等。〔佛祖統紀卷八、卷二十五〕
; (觀音義疏記) Cũng gọi Quán âm kinh nghĩa sớ kí, Quán âm biệt hành sớ kí, Biệt hành nghĩa sớ kí, Biệt hành sớ kí. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Nội dung sách này chú thích Quán âm nghĩa sớ của ngài Trí Khải. Sách này và Quán âm huyền nghĩa kí đều là những thư tịch quan trọng xiển minh pháp môn Tính ác của tông Thiên thai. Về sách chú thích bộ Sớ kí này thì có Quán âm kinh nghĩa sớ kí khoa 1 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 25].
quan âm phật
Kouan Yin (C)Tên một vị Phật hay Như Lai. Xem Avalokitecvara.
quan âm phổ hiền đà la ni kinh
6963全一卷。唐代智通譯。又稱清淨觀世音菩薩普賢陀羅尼經、清淨觀世音普賢經。收於大正藏第二十冊。內容敘述觀世音菩薩為利益眾生,而說普賢陀羅尼、結界陀羅尼、奉請陀羅尼,並說誦持普賢陀羅尼者,永不墮諸惡趣;及見觀世音菩薩現身,得勝地陀羅尼三摩地等功德。異譯本有唐代不空所譯之觀自在菩薩說普賢陀羅尼經,其與本經相異之處,除敘述順序不同外,不空之譯本亦無畫像、入壇、供養法等。〔開元釋教錄卷八〕
; (觀音普賢陀羅尼經) Cũng gọi Thanh tịnh Quán thế âm bồ tát Phổ hiền đà la ni kinh, Thanh tịnh Quán thế âm Phổ hiền kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về việc bồ tát Quán thế âm vì lợi ích chúng sinh mà tuyên thuyết các Đà la ni: Phổ hiền, Kết giới, Phụng thỉnh... và bảo rằng nếu ai tụng trì đà la ni Phổ hiền thì sẽ không bao giờ bị rơi vào các đường ác, thấy được bồ tát Quán thế âm hiện thân và được các công đức của Tam ma địa đà la ni thù thắng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Quán tự tại bồ tát thuyết Phổ hiền đà la ni, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. So với kinh này thì bản dịch của ngài Bất không, chẳng những thứ tự trình bày khác nhau, mà còn thiếu cả các phần vẽ tượng, vàođàn, pháp cúng dường... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
quan âm sám pháp
6964以觀世音菩薩為本尊而修之懺悔供養法。又稱請觀世音懺法、請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼三昧儀。觀世音菩薩又稱圓通大士,故此懺法亦稱圓通懺法。修法之次第,先莊嚴道場,以香泥塗地,懸掛幡蓋,置楊枝淨水,燒香散花,向南安奉佛像,觀世音像向東,行者向西五體投地,一心頂禮釋迦佛、無量壽佛等,稱三寶及觀世音之名;次誦消伏毒害咒、破業障陀羅尼咒、六字章句咒等,披陳懺悔惡業眾罪,禮畢如法行道,之後,一人登高座唱誦請觀音經。於三七日或七七日之中修法。〔請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼咒經、請觀音經疏、請觀音經闡義鈔、國清百錄卷一、請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼三昧儀〕
; (觀音懺法) Cũng gọi Thỉnh quán thế âm sám pháp, Thỉnh quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi. Pháp tu sám hối cúng dường thờ bồ tát Quán thế âm làm Bản tôn. Bồ tát Quán thế âm còn gọi là Viên Thông Đại sĩ, vì thế pháp sám này cũng gọi Viên Thông sám pháp. Thứ tự của pháp tu này như sau: Trước hết, trang nghiêm đạo tràng, dùng bùn thơm trát lên mặt đất, treo cờ phướn, tàn lọng, chuẩn bị cành dương nước sạch, đốt hương, rải hoa; tôn trí tượng Phật nhìn hướng nam, tượng bồ tát Quán thế âm nhìn hướng đông, hành giả gieo 5 vóc sát đất hướng về tây, dốc lòng đính lễ Phật Thích ca, Phật A di đà; xưng niệm danh hiệu Tam bảo và Quán thế âm. Kế đến, tụng chú Tiêu phục độc hại, chú Phá nghiệp chướng đà la ni, chú Lục tự chương cú... giải bày sám hối nghiệp ác tội lỗi, lễ xong rồi hành đạo đúng như pháp; sau đó, một người lên tòa cao xướng tụng kinh Thỉnh quán thế âm. Tu pháp trong 21 ngày hoặc 49 ngày. [X. kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; Thỉnh Quán thế âm kinh sớ; Thỉnh Quán âm kinh xiển nghĩa sao; Quốc thanh bách lục Q.1; Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi].
quan âm sắc tứ tự
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chùa còn gọi là chùa Phật Tổ, được Hòa Thượng Tô Quang Xuân dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 19. Nguyên thủy chùa chỉ là một cái am nhỏ làm nơi tu hành và phát thuốc cho nhân dân trong vùng. Sau đó Hòa Thượng lên thành Gia Định, tu ở chùa Kim Chương và thị tịch ở đó. Năm 1842, vua Thiệu Trị đã sắc phong cho Hòa Thượng và sắc tứ chùa Quan Âm. Ngôi chùa hiện tại đã được hai vị Hòa Thượng Thiện Tường và Thiện Đức xây dựng vào năm 1936—Name of a temple located in Cà Mau town, Cà Mau province. It is also called Phật Tổ Temple. It was built in the middle of the nineteenth centur by Most Venerable Tô Quang Xuân. At first it was only a small temple where he stayed and worshipped Buddhism, and made prescription to cure the local people. Later, he moved to Gia Định and stayed at Kim Chương Temple, with Buddhist name “Trí Tâm” and passed away there. In 1842, King Thiệu Trị proclaimed him Most Venerable, and offered the Royal Recognization to the temple. The present temple was rebuilt by Most Venerable Thiện Tường and Most Venerable Thiện Đức in 1936.
quan âm thiêm
6965即置於觀音像前,用以占卜吉凶之竹籤。依釋門正統卷三所載,有一百籤與一百三十籤二種。一百籤係源自天竺寺之觀音院,一百三十籤則源自越之圓通寺。
; (觀音簽) Những cái thẻ bằng tre đặt ở trước tượng Quán âm dùng để bói lành dữ. Theo Thích môn chính thống quyển 3 thì có 2 loại thẻ: 100 thẻ và 130 thẻ. Loại 100 thẻ bắt nguồn từ viện Quán âm chùa Thiên trúc, còn loại 130 thẻ thì bắt nguồn từ chùa Viên Thông ở đất Việt.
quan âm tố
6962 請參閱 觀音玄義記 請參閱 觀音義疏記請參閱 觀音經持驗記 為江蘇吳縣地方之習俗。即自農曆二月一日開始持齋,至十九日觀世音菩薩生日為止,稱為觀音素。又自農曆六月九日至十九日(觀世音菩薩成道日)間之持齋,亦稱為觀音素。
; (觀音素) Trì trai Quán âm. Tập tục địa phương ở huyện Ngô tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, từ ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch bắt đầu trì trai, đến ngày 19 là ngày đản sinh của bồ tát Quán âm thì chấm dứt, gọi là Quán âm tố. Lại trì trai trong thời gian từ ngày mồng 9 tháng 6 âm lịch đến ngày 19 là ngày bồ tát Quán thế âm thành đạo, cũng gọi là Quán âm tố.
quan âm từ lâm tập
6964凡三卷。清代弘贊編於康熙七年(1668)。收於卍續藏第一四九冊。本書彙集有關觀世音信仰之經典,及有關信仰者之事蹟、感應等而成。卷上為諸經篇,包括悲華經、觀世音大勢至菩薩授記經、大乘莊嚴寶王經、請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼咒經等十經;卷中、卷下為感應篇,抄錄印度及我國自晉至清初之僧俗關於觀世音信仰之事蹟與感應,計一五四件,並一一記其出處。本書乃研究觀世音信仰史之重要參考書。
; (觀音慈林集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Hoằng Tán biên tập vào năm Khang Hi 7 (1668) đời Thanh, được thu vào Vạn Tục tạng tập 149. Nội dung sách này do biên tập những kinh điển và sự tích cảm ứng có liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm mà thành. -Quyển thượng là thiên Chư kinh, gồm 10 kinh: Kinh Bi hoa, kinh Quán thế âm Đại thế chí bồ tát thụ kí, kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương, kinh Thỉnh quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú... -Quyển trung và hạ là thiên Cảm ứng, ghi chép những sự tích và cảm ứng liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm của tất cả tăng tục Ấn Độ và Trung Quốc từ đời Tấn đến đầu đời Thanh, gồm 154 sự kiện, mỗi sự kiện đều có ghi rõ xuất xứ. Đây là sách tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng Quán thế âm.
quan âm tự
6962<一>位於湖南梁山(舊名陽山)下。五代曹洞宗禪師同安觀志之弟子緣觀住錫於此,世稱梁山緣觀。其創立情形與沿革均不詳。〔景德傳燈錄卷二十四、五燈會元卷十四〕 <二>據劉枝萬之「清代臺灣之寺廟」所載,有清一代,臺灣境內所建之寺院約一○二座,其中以「觀音」為名之寺院,至少有五十五座,或稱觀音寺、觀音亭,或稱觀音宮、觀音廟等,甚能顯現當時本省之觀音信仰。其後,此等寺院或更改名稱,或因天災、兵火毀廢,或經幾度重修而現存。 <三>位於日本近江蒲生郡。屬天台宗道場。據傳為聖德太子創建。現今寺內有本堂、奧院、元三大師堂、觀音堂、地藏堂、護摩堂、繪馬堂等。 <四>位於日本讚岐三豐郡。屬真言宗道場。創於大寶三年(703),初稱神宮寺,原為法相宗寺院。後以弘法大師安置觀世音坐像於此,遂成為真言宗之道場。寺寶中之木造涅槃佛一尊及不動明王像、琴彈宮本地佛、琴彈宮繪緣起各一幅,已被指定為日本國寶。 <五>位於日本近江栗太郡。屬天台宗道場。據傳為聖德太子所創建。現存諸堂中之阿彌陀堂、書院被指定為保護建造物。此外,寺內之木造阿彌陀如來、地藏菩薩、藥師三尊、山王本地佛、黃不動尊、聖德太子像、十六羅漢像、四大尊明王像等,均被指定為日本國寶。 <六>位於韓國京畿道開豐郡。高麗光宗時創建。因寺後巖洞有二尊觀音石像,故有此稱。巖上原有正慈、實相、首頂、菩提、觀佛等諸菴,其後廢頹,今僅存大雄殿、七重石塔及僧房二棟。七重石塔在大雄殿之前,係創寺時之作品,高約二點三公尺,基壇刻有蓮瓣,結構頗為優雅。又巖洞內二石像,為光宗時之作品,一為坐像,戴有寶冠,胸、腕、腰皆戴有寶石之佩釧,面相溫和優美,頗具唐代雕像之風格,另一尊為立像。〔中京誌、韓國建築調查報告〕
quan âm viên thông tam chân thật
6963請參閱 觀世音菩薩普門品 請參閱 觀音玄義 請參閱 觀音玄義記 請參閱 觀音義疏 請參閱 觀世音菩薩普門品 請參閱 觀音義疏記即觀世音菩薩耳根圓通所具有之三種真實。於楞嚴會上,大小二十五聖眾各自宣說所證之圓通方便,其中觀世音菩薩以耳根圓通被文殊菩薩譽為最上、最殊勝,文殊大士並舉出三種真實而稱讚耳根之圓通,即:(一)通真實,謂眼、鼻、舌、身、意等諸根皆不如耳根,蓋眼不見障外,乃至心意有紛雜不定之時;而耳根則能隔牆聽音響,遠近俱可聞。(二)圓真實,謂十方俱擊鼓,亦可同時聞聲。(三)常真實,謂聲有止息、動靜之時,亦不失聞性,有聲則有聞,無聲則不聞,然不論聲之有無,其聞性皆湛然常住而了無生滅。〔大佛頂首楞嚴經卷六〕
; (觀音圓通三真實) Ba thứ chân thực về Nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm. Trên hội Lăng nghiêm, 25 vị Thánh Đại Tiểu thừa đều tự nói về phương tiện viên thông mà mình đã chứng được, trong đó, Nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm được ngài Văn thù khen là tối thượng, tối thù thắng. Đồng thời, ngài Văn thù nêu ra 3 thứ chân thực để khen ngợi tính chất viên thông của Nhĩ căn, đó là: 1. Thông chân thực: Cac căn mắt, mũi, lưỡi, thân, ý đều không bằng nhĩ căn (căn tai), vì mắt không thấy vật ngoài bức tường, cho đến tâm ý có lúc bị lăng xăng bất định; còn nhĩ căn thì nghe được âm thanh ngoài bức tường và nghe được cả gần lẫn xa. 2. Viên chân thực: Mười phía cùng đánh trống 1 lúc thì nhĩ căn cũng nghe được âm thanh từ 10 phía. 3. Thường chân thực: Âm thanh khi có khi không, lúc động lúc tĩnh, nhưng tính nghe thì không mất, có âm thanh thì có nghe, không âm thanh thì không nghe, nhưng dù có âm thanh hay không, tính nghe ấy vẫn vắng lặng thường trụ và không sinh diệt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6].
quan âm đường
Pavilion of Bodhisattva Avalokitesvara—Bodhisattva Avalokitesvara's Hall—Pavilion of Regarder of the Sounds.
Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự
(觀音導利院興聖寶林寺): còn gọi là Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji), đạo tràng sơ khai của Tào Động Tông Nhật Bản, hiện tọa lạc tại số 27 Yamada (山田), Uji-shi (宇治市), Kyoto-fu (京都府); hiệu núi là Phật Đức Sơn (佛德山); gọi đủ là Phật Đức Sơn Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (佛德山觀音導利院興聖寶林寺). Tượng thờ chính là Thích Ca Tam Tôn. Vị Khai Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản là Đạo Nguyên (道元, Dōgen) đã từng sang Trung Quốc cầu pháp, rồi trở về nước vào năm 1232 (Trinh Vĩnh [貞永] nguyên niên), lúc ông 33 tuổi. Năm sau 1233 (Thiên Phước [天福] nguyên niên), ông kiến lập một ngôi chùa trên nền đất cũ của Cực Lạc Tự (極樂寺, Gokuraku-ji), ở vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Quận Vũ Trị (宇治郡, Uji-gun); và ban đầu chùa có tên là Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (興聖寶林寺). Khi ấy Chánh Giác Thiền Ni (正覺禪尼) cúng dường tiền xây dựng Pháp Đường, rồi tiếp theo Đằng Nguyên Giáo Gia (藤原敎家) cũng phát tâm cúng dường Đàn Tu Di để phụng nạp trong Pháp Đường này. Trong suốt 11 năm trường cho đến khí dời về Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Fukui-ken (福井懸), chính Đạo Nguyên đã từng thuyết giáo, cao xướng chánh pháp tại đây. Phần lớn các đệ tử nổi danh của ông đều đã từng tu tập tại Thánh địa này. Tuy nhiên, sau khi Đạo Nguyên dời về Vĩnh Bình Tự, cũng như sau khi ông qua đời, ngôi chùa đã bị đốt cháy tan tành, dần lụi tàn theo năm tháng và không còn thấy bóng dáng nữa. Kiến trúc hiện tại của chùa nằm ở vị trí khác với vị trí chùa trước. Vào năm 1648 (Khánh An [慶安] nguyên niên) dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), thể theo lời nguyện ước của vị Thành chủ Thủy Tỉnh Thượng Chính (水井尚政, Nagai Naomasa), ngôi chùa được tái kiến lại. Trong Khai Sơn Đường có thờ tôn tượng của Thiền Sư Đạo Nguyên, và nơi ngôi tháp khai sơn có hài cốt của Thiền Sư.
quan điểm
Concepts—Opinions—Outlook—Point of view—Viewpoint.
quan điểm chính
Central concept.
quan điểm thuần lý
A rational outlook.
quan đại thần
Minister.
quan đế
6712原名羽,字雲長。三國時蜀漢河東郡解縣人。勇猛過人,為一代虎將。因素重情義,秉性忠直,故名垂青史。明神宗時,敕封為「三界伏魔大帝神威遠震天尊關聖帝君」。因此,後代民間多尊稱為「關聖帝君」,或略稱為「關帝」。 據佛祖統紀卷六智者傳所載,隋代智者大師曾在玉泉山入定,定中見關帝顯靈,化玉泉山崎嶇之地為平址,以供大師建寺弘法。之後,又向大師求受五戒,而成為正式之佛弟子。後世佛教亦有將關帝列為伽藍神者。 依道教所傳,關帝經常飛鸞降筆,屢顯靈異。其神力在民間信仰上極受推崇。我國各地立廟奉祀者亦多。後世有假託其名之通俗勸善文多種,如關帝覺世真經、關帝明聖經、戒士子文等。
; Kuan-Ti (C)Được dân chúng sùng bái gọi là Phục Ma Đại Đế.
; 1) Quan Đế hay Quan Vân Trường: Kuan-Ti, the god of War, adeified hero of the Three Kingdoms. 2) Vị Hộ Pháp: A protector of Buddhism.
; (關帝) Danh tướng Trung Quốc sống vào đời Tam quốc, tên là Vũ, tự Vân Trường, người huyện Giải, quận Hà Đông, nước Thục Hán.Ông có sức mạnh mẽ hơn người, là hổ tướng một đời. Ông vốn trọng tình nghĩa, bẩm tính trung trực nên lưu danh sử xanh. Thời vua Thần Tông nhà Minh, ông được sắc phong Tam giới phục ma đại đế thần uy viễn chân thiên tôn quan thánh đế quân. Do đó, dân gian đời sau tôn xưng ông là Quan thánh đế quân, hoặc gọi tắt là Quan Đế. Cứ theo Trí Giả truyện trong Phật tổ thống kỉ quyển 6, Đại sư Trí Giả đời Tùy có lần nhập định tại núi Ngọc Tuyền, trong định ngài thấy Quan Đế hiển linh, biến khu đất gồ ghề ở núi Ngọc Tuyền thành nền bằng phẳng để cúng Đại sư xây chùa hoằng pháp. Sau đó, Quan đế còn xin Đại sư truyền 5 giới, chính thức trở thành đệ tử Phật. Phật giáo đời sau cũng có nơi xếp Quan Đế vào hàng thần thủ hộ già lam. Theo truyền thuyết của Đạo giáo thì Quan Đế thường hiển hiện các việc linh dị. Thần lực của ông rất được sùng kính trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, có nhiều nơi lập miếu thờ Quan Đế. Đời sau phần nhiều mượn tên ông để lồng vào trong những bài văn khuyến thiện phổ thông, như: Quan đế giác thế chân kinh, Quan đế minh thánh kinh, Giới sĩ tử văn...
Quan 官
[ja] カン kan ||| (1) An officer; a government clerk, official. (2) Government office. (3) Prince, ruler. (4) The sensory faculties (根): eyes, ears, nose, tongue, skin. => 1. Viên chức; quan chức nhà nước, chính khách. 2. Cơ quan nhà nước. 3. Hoàng thân, người cai trị. 4. Các giác quan (căn 根): mắt, tai, mũi, lưỡi, da.
quan, quán
Vipasyanà, vidarsanà (S). To look into, study, examine, contemplate; contemplation, insight; a study, a Taoist monastery; to consider illusion and discern illusion, or discern the seeming from the real; to contemplate and mentally enter into truth. Giác is defined as awakening or awareness, quá n as examination or study.
Quang
光; C: guāng; J: kō;|Có các nghĩa sau: 1. Ánh sáng, sự rực rỡ, sự chói lọi; 2. Ánh sáng mặt trời; 3. Sự biểu hiện, sự hiển hiện (s: ābhāsa); 4. Phản nghĩa của tối tăm, u ám, sự hiểu biết, thông thái, trí huệ; 5. Vầng hào quang, sự phát tiết.
quang
Prabhāsa (S), Ray Suffix, e.g-Tu di quang Phật = Meruprabhasa-Buddha Xem Vô phiền thiên.
; Prabhà (S). Light, brightness, splendour; to illuminate.
; Prabha—Light—Brightness—There are two kinds: 1) Phật quang: The true light of the Buddha. 2) Ma quang: Mara's delusive light.
quang bạn
2171禪林用語。光榮隨伴之義。又作光膺、光據。於法會之際,伴隨首座而列席者。禪苑清規卷三(卍續一一一‧四四七下):「特為新請首座,(中略)聊表賀謝之儀,兼請知事大眾,同垂光伴。」此光伴者之座位,位於住持座位之右邊(或斜對面處),稱為光伴位。又為感謝光伴者所燒之香,特稱為光伴香。敕修百丈清規卷上(大四八‧一一二三中):「往住持前,問訊、下䞋、俵眾人䞋,燒火伴香,歸位伴食。」〔敕修百丈清規卷上住持章、卷下兩序章、禪林象器箋座位門〕
; (光伴) Cũng gọi Quang ưng, Quang cứ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là làm bạn với sự vẻ vang, rạng rỡ. Trong Thiền lâm, giữa pháp hội, người ngồi gần sát với vị Thủ tọa được gọi là Quang bạn. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 447 hạ) nói: Đặc biệt đối với vị Thủ tọa tân thỉnh tác lễ bày tỏ lòng cảm tạ, mời cả tri sự đại chúng cùng là Quang bạn. Chỗ ngồi của vị Quang bạn được đặt ở bên phải chỗ ngồi của vị Trụ trì (hoặc đối diện nhưng hơi chếch đi một chút), gọi là Quang bạn vị. Hương đốt để cảm tạ quang bạn gọi là Quang bạn hương. [X.chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quang bảo
2185<一>指唐代玄奘門下之普光與法寶二僧。二僧皆曾注釋俱舍論,普光先作俱舍論記三十卷,法寶後著俱舍論疏三十卷,稱為光寶二記,世人每以二僧並稱光寶。宋高僧傳卷四(大五○‧七二七上):「時光寶二法師,若什門之融叡焉。」(參閱「法寶」3432、「普光」4982) <二>(?~1239)日本真言宗僧。京都人。初受勸修寺成寶之灌頂,次受醍醐寺成賢之兩部大法,後又受法於忍辱山定豪。以其學解俊逸,故門下頗盛。弟子有定憲、守海、顯成、定辨等。延應元年四月示寂。世稱鳥羽法印、式部律師、左衙門督法印。其所傳承之法流,稱光寶方,為三寶院流之支流、東密三十六流之一。〔密宗血脈鈔卷下、血脈類聚記卷八、卷九〕
; 1) Sư Phổ Quang ở chùa Đại Từ Ân bên Trung Quốc thời nhà Đường, tác giả của bộ 30 quyển Câu Xá Luận Ký—A noted monk named Pu-Kuang of Ta-Tzu-Ên monastery under the T'ang dynasty, who was the author of the Record of Kosa Sastra, 30 books. 2) Sư Pháp Bảo cũng tại Đại Từ Ân Tự đời Đường, cùng thời với sư Phổ Quang—A noted monk named Fa-Pao who lived in the same monastery and under the same period with monk Pu-Kuang.
; (光寶) Tức Phổ quang và Pháp bảo, 2 vị tăng, học trò ngài Huyền Trang đời Đường. Hai vị này đều có chú thích luận Câu xá. Sư Phổ quang soạn trước Câu xá luận kí 30 quyển, sư Pháp bảo soạn sau Câu xá luận sớ 39 quyển, gọi là QuangBảo nhị kí, nên người đời thường ghép chung tên 2 vị tăng này mà gọi là Quang Bảo. Tống cao tăng truyện quyển 4 (Đại 50, 727 thượng) nói: Bấy giờ, 2 pháp sư Quang Bảo (Phổ quang và Pháp bảo) cũng đều nổi tiếng như 2 pháp sư Dung Duệ (Đạo dung và Tăng duệ)học trò ngài La Thập vậy.(xt. Pháp Bảo, Phổ Quang).
quang bối
Circle of light behind the Buddha.
quang bội
2179又作後光、光焰、光。指佛、菩薩像背後之光相,象徵佛、菩薩之智慧。光背可分為頭光與舉身光二種:(一)頭光,本指發自眉間之白毫光,故又稱眉間光。東方繪畫之象徵畫法,每於側面圖中畫一圓形光圈。基督教之寫實雕刻,則以一圓形薄板,置於頭部後面。在印度,為表現佛像線條之美,則立一圓形細輪之頭光,而於圓輪周圍,附有定形上昇之寶珠光、火焰,及以纖細之線條表現之放射光(稱為線光、筋光)與傘後光(如傘形之線光)。佛教中之守護神則大都以輪寶與火焰為光背。(二)舉身光,又作身光。即佛像全身之光相。其種類繁多,或為頭光與身光上下重疊之大小兩重光,或為舟形、蓮瓣形等光。此外,火焰樣式分為水紋、唐草、千體佛等,火焰上常有天人、迦陵頻伽、梵字等莊嚴形式。不動明王之火焰光係屬於迦樓羅(金翅鳥)狀,其上並畫有儀軌。 要之,光背乃繪畫或雕刻於佛像背後之光相,以表示佛身為光焰圍繞之義,故「光背」一詞,多用於畫像或雕像上。〔觀無量壽經、陀羅尼集經卷十二、廣弘明集卷十七、佛像圖彙卷五〕(參閱「光相」2178)
; (光背) Cũng gọi Hậu quang, Quang diệm, Quang. Chỉ cho ánh sáng phía sau lưng của Phật, Bồ tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Quang bối được chia làm 2 thứ là Đầu quang và Cử thân quang. 1. Đầu quang: Vốn chỉ cho ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng khoảng giữa hai đầu chân mày, vì thế còn gọi là Mi gian quang. Theo họa pháp tượng trưng của hội họa Đông phương thì trong các bức họa, xung quanh diện mạo của nhân vật (Phật, Bồ tát) thường vẽ 1 vòng sáng. Còn nghệ thuật điêu khắc tả chân của Cơ đốc giáo thì thường dùng 1 tấm ván mỏng đặt ở phía sau đỉnh đầu của pho tượng. Ở Ân Độ, để biểu hiện những đường nét đẹp của tượng Phật, các họa sĩthườngtạo 1 vòng ánh sáng trên đầu (Đầu quang) pho tượng, với những vầng sáng như châu quang, hỏa diệm và những đường nét nhỏ nhuyễn biểu hiện như dáng phóng ra ánh sang (được gọi là Tuyến quang, Cân quang) ở phía sau giống như hình cái tàn, lọng... các vị thần Thủ hộ trong Phật giáo đều có luân bảo (bánh xe báu)hay hỏa diệm (những ánh lửa) làm quang bối. 2. Cử thân quang (cũng gọi Thân quang): Tức là ánh sáng phát ra từ toàn thân tượng Phật. Có nhiều loại, hoặc là Đầu quang, và Thân quang trên dưới chồng lên nhau làm thành 2 lớp ánh sáng lớn và nhỏ; hoặc là ánh sáng hình chiếc thuyền, hoặc ánh sáng hình cánh sen... Ngoài ra còn có kiểu ánh sáng hừng lên chia thành nhữnggợn sóng, nghìn thể Phật... Trên ánh lửa thường có người trời, chim Ca lăng tần già, chữ Phạm... để làm hình thức trang nghiêm. Ánh lửa của Minh vương Bất động mang hình dáng chim Ca lâu la (chim cánh vàng), ở trên có vẽ nghi quĩ. Tóm lại, Quang bối là vầng ánh sáng được vẽ hay chạm trổ ở phía sau lưng của tượng Phật, biểu thị ý nghĩa thân Phật có ánh sáng bao chung quanh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Đà la ni tập 12; Quảng hoằng minh tập Q.17; Phật tượng đồ vựng Q.5]. (xt. Quang Tướng).
quang chiếu như lai tướng
Vairocana-rasmi-pratimandita-dhvaja—Một vị Bồ Tát đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà tiền thân là Tịnh Đức Phu Nhân—A Bodhisattva, disciple of Sakyamuni, who was in a former life Vimaladatta.
quang cảnh
2181光,為能照之主體;境,為所照之對象。若能所(主客)合一,稱為光境一如;若照物之心與所照之境不相對立,相涉互融,而達解脫之境,則稱光境俱亡、光境泯絕。景德傳燈錄卷七盤山寶積章(大五一‧二五三中):「夫心月孤圓,光吞萬象。光非照境,境亦非存;光境俱亡,復是何物?」
; Spectacle—View—Aspect—Outlook.
; (光境) Quang là chủ thể năng chiếu; Cảnh là đối tượng sở chiếu. Nếu năng sở (chủ khách) hợp làm một thì gọi là Quang cảnh nhất như. Nếu tâm chiếu vật và cảnh sở chiếu không đối lập nhau mà dung hợp nhau để đạt đến cảnh giải thoát, thì gọi là Quang cảnh câu vong (quang và cảnh đều mất), Quang cảnh mẫn tuyệt (quang và cảnh dứt bặt). Chương Bàn sơn bảo tích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 253 trung) nói: Tâm trăng một tròn; sáng (quang) nuốt muôn tượng. Quang chẳng soi cảnh, cảnh cũng chẳng còn, quang cảnh đều mất, lại là vật gì?.
quang diệm vương phật
1) Đức Phật có danh hiệu Quang Diệm Vương vì ánh sáng của Đức Phật ấy soi sáng nhất: The royal Buddha of shining flames, or flaming brightness. 2) Đức danh của Đức Phật A Di Đà: Amitabha with his virtues.
quang dung
2184指光大明融。即謂佛法之光輝能夠融和一切,闡揚正法,而將邪見者融和攝取於其光明之中。無量壽經卷上(大一二‧二六六上):「光融佛法,宣流正化。」
; (光融) Ánh sáng và sự dung hòa. Nghĩa là ánh sáng của Phật pháp có năng lực dung hòa tất cả. Hoằng dương chính pháp để dung hòa và thu nhiếp những người tà kiến vào Phật pháp. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Quang dung Phật pháp, tuyên lưu chính hóa.
quang dũng
2181(850~938)又稱光涌。五代僧。江西豐城人,俗姓章。少學儒典經論,十三歲時即能講解經義。及長,遊開元寺遇異僧,授以維摩經旨決。後歸依仰山慧寂禪師,十九歲受具足戒。曾參訪臨濟,依其指示,復還仰山座下,後於仰山處得心印。仰山示寂後,光湧燃指以報之,並居於仰山南塔,發揚宗風。於昇元二年夏示寂,世壽八十九。〔禪林僧寶傳卷八、景德傳燈錄卷十二、五燈會元卷九、聯燈會要卷十、全唐文卷八七○〕
quang dũng thiền sư
Zen Master Kuang-Yong in Nan-Ta 850-938—Thiền sư Quang Dũng Nam Tháp sanh năm 850 tại Phong Thành (bây giờ thuộc tỉnh Giang Tây). Sư rất thông minh và tinh thông Tứ Thư Ngũ Kinh lúc 13 tuổi. Ông là đệ tử của Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, và là thầy của thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh. Vào năm 19 tuổi sư thọ cụ túc giới—Zen Master Nan-Ta-Kuang-Yong was born in 850 in Feng-Cheng (now in Jiang-Xi Province). He was clever, mastering the Confucian classics at the age of thirteen. He was a disciple of Yang-Shan-Hui-Chi, and master of Pa-Chiao-Hui-Ch'ing. At ninetieen, he underwent ordination. • Sư sang miền Bắc yết kiến Lâm Tế, lại trở về hầu Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi: “Ngươi đến làm gì?” Sư thưa: “Đảnh lễ ra mắt Hòa Thượng.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Thấy Hòa Thượng chăng?” Sư thưa: “Dạ thấy.” Ngưỡng Sơn nói: “Hòa Thượng sao giống in lừa.” Sư thưa: “Con thấy Hòa Thượng cũng chẳng giống Phật.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?” Sư thưa: “Nếu con phải so sánh Hòa Thượng với cái gì đó, thì Hòa Thượng nào có khác lừa?” Ngưỡng Sơn ngạc nhiên nói: “Phàm Thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét người, hai mươi năm không ngờ vực. Con nên gìn giữ đó.” Ngưỡng Sơn thường chỉ sư bảo với người: “Kẻ nầy là nhục thân Phật.”—When Kuang-Yong return from a trip to visit Lin-Ji, Yang-Shan said: “Why have you come?” Kuang-Yong said: “To pay respects to the master.” Yang-Shan said: “Do you still see me?” Kuang-Yong said: “Yes.” Yang-Shan said: “When I observe the master, you don't look like a Buddha.” Yang-Shan said: “If I don't look like a Buddha, then what do I look like?” Kuang-Yong said: “If I must compare you to something, then how do you differ from a donkey?” Yang-Shan cried out excitedly: “He's forgotten both ordinary and sacred! The passions are exhausted and the body is revealed. For twenty years I've tested them in this way and no one has gotten it. Now this disciple has done it!” Yang-Shan would always point Kuang-Yong and say to people: “This disciple is a living Buddha.” • Có vị Tăng hỏi: “Văn Thù là thầy bảy Đức Phật, Văn Thù có thầy chăng?” Sư đáp: “Gặp duyên liền có.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là thầy Văn Thù?” Sư dựng đứng cây phất tử chỉ đó. Tăng thưa: “Cái ấy là phải sao?” Sư ném cây phất tử khoanh tay—A monk asked Zen master Kuang-Yong: “Manjushri was the teacher of seven Buddhas. Did Manjushri have a teacher or not?” Kuang-Yong said: “Manjushri was subject to conditions, and therefore had a teacher.” The monk said: “Who was manjushri' teacher?” Kuang-Yong help up his whisk. The monk said: “Is that all?” Kuang-Yong put down the whisk and clasped his hands. • Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là diệu dụng một câu?” Sư đáp: “Nước đến thành hồ.” Vị Tăng hỏi: Chơn Phật ở tại chỗ nào?” Nói ra không tướng, cũng chẳng tại nơi khác—A monk asked: What is a sentence of mystic function?” Kuang-Yong said: “The water comes and the ditch fills up.” The monk asked: Where does the real Buddha reside?” Kuang-Yong said: “It doesn't appear in words, nor anywhere else, either.” • Không rõ sư thị tịch năm nào—His date of death was unknown.
quang giáng
The honoured one descends, i.e. the Buddha or bodhisattva who is worshipped, descends.
; Thế Tôn giáng thế, thí dụ như Phật hay Bồ Tát được thờ phượng giáng trần—The honoured one descends, i.e. the Buddha or Bodhisattva who is worshipped descends.
Quang Hiếu Thiên Hoàng
(光孝天皇, Kōkō Tennō, tại vị 884-887): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 4 của Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō), tên là Thời Khang (時康, Tokiyasu), còn gọi là Tiểu Tùng Đế (小松帝).
quang hiếu tự
2172位於廣東廣州西北部。據光孝寺志載,初為南越王建德之故宅。三國時代,吳‧虞翻被謫居於此地,稱虞苑。東晉哀帝隆和~間,罽賓國三藏來此,始創佛寺,稱為制旨寺,又稱王園寺。劉宋文帝元嘉年間,梵僧求那跋陀羅來寺,創建戒壇,稱制止道場。梁天監元年(502),智藥三藏自西印度攜來菩提樹;普通八年(527),達摩初祖來住。唐貞觀年間,改制止、王園為乾明法性寺。高宗儀鳳元年(676),禪宗六祖慧能與僧論風幡,薙髮於菩提樹下,後建風幡堂、大鑑殿、內鑑殿。神龍元年(705),西域般剌密帝三藏於此翻譯首楞嚴經十卷,宰相房融筆受。會昌五年(845),改乾明法性寺為西雲道宮。寶曆年間(825~826),建大悲幢。北宋之初,改稱乾明禪院。南宋高宗紹興二十年(1150),又改稱報恩廣孝寺。至明憲宗成化二年(1466),始稱光孝寺。明紹武年間,為清兵所毀,康熙初年,原志禪師重興之,遂為南海第一禪林。以上諸記事,或係將廣州與佛教有關之事蹟統集於該寺,是否屬實,甚難辨明。此外,關於本寺沿革之記載,尚有諸多異說。 現今所遺珍貴之建築有華南特殊建築風格之六祖殿、建於南宋淳祐年間之大雄寶殿、南漢大寶六年(963)龔澄樞鑄造之西鐵塔等。至於大寶十年南漢帝劉鋹鑄造之東鐵塔,有四角七層,每層表面鑄有佛像、雲、天人、鳥等,手法頗為巧妙,現已遭破壞,今僅存羅漢、護法神、信士、供養人像等十七尊。〔歷代三寶紀卷九、廣東通志卷二一三、卷二二九、廣州府志卷八十八、金石續編卷十九、廣州光孝寺古代木彫像圖錄(商承祚)〕(參閱「法性寺」3359)
; (光孝寺) Chùa ở phía tây bắc Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Cứ theo Quang hiếu tự chí thì lúc đầu chùa vốn là nhà cũ của Nam việt vương Kiến đức. Vào thời Tam quốc, vùng đất này thuộc nước Ngô, Ngu phiên bị giáng chức và đày ra ở đây, gọi là Ngu uyển. Khoảng năm Long hòa đời vua Ai đế nhà Đông Tấn, có vị Tam tạng người nước Kế tân đến đây mới sáng lập chùa Phật, gọi là chùa Chế Chỉ, cũng gọi là chùa Vương Viên. Khoảng năm Nguyên gia đời vua Văn đế nhà Lưu Tống, vị Cao tăng Ấn độ là ngài Cầu na bạt đà la đến chùa này sáng lập giới đàn, gọi là Đạo tràng Chế chỉ. Niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương, ngài Tam tạng Trí Dược từ miền Tây Ấn Độ mang cây Bồ đề đến trồng ở đây. Năm Phổ thông thứ 8 (527), Sơ tổ Đạt Ma đến trụ ở đây. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, chùa được đổi tên Chế chỉ, Vương viên thành chùa Càn Minh Pháp Tính. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, Lục tổ Tuệ năng luận về gió động phướn động với 2 vị tăng và xuống tóc dưới gốc cây Bồ đề ở chùa này, sau thiết lập Phong phan đường, Đại giám điện, Nội giám điện. Niên hiệu Thần Long năm đầu (705), ngài Tam tạng Bát lạt mật đế người Tây Vực dịch kinh Thủ lăng nghiêm 10 quyển tại chùa này, do Tể tướng Phòng dung bút thụ. Năm Hội xương thứ 5 (845) chùa được đổi tên Càn Minh Pháp Tính thành Tây vân đạo cung. Khoảng năm Bảo Lịch (825- 826) chùa dựng Đại bi chàng. Đầu đời Bắc Tống, chùa được đổi tên là Thiền viện Càn Minh. Năm Thiệu hưng 20 (1150) đời vua Cao Tông nhà Nam Tống, chùa lại được đổi tên là Báo Ân Quảng Hiếu. Đến năm Thành Hóa thứ 2 (1466) đời vua Hiến Tông nhà Minh mới gọi là chùa Quang Hiếu. Khoảng năm Thiệu Vũ đời Minh, chùa bị quân binh nhà Thanh phá hủy. Đầu năm Khang Hi nhà Thanh, Thiền sư Nguyên Chí kiến thiết lại thành 1 tòa Thiền lâm bậc nhất miền Nam hải. Những điều ghi chép trên đây có lẽ là những sự tích có liên quan đến Phật giáo ở chùa này với vùng Quảng Châu có đúng sự thật hay không thì rất khó biện minh. Ngoài ra còn có nhiều thuyết khác nói về sự thay đổi của chùa này. Hiện nay, chùa còn những kiến trúc quí giá với phong cách kiến trúc đặc thù của vùng Hoa nam như điện Lục tổ, Đại hùng bảo điện được xây dựng vào khoảng năm Thuần hựu đời Nam Tống, tòa tháp bằng sắt ở phía tây, do ông Cung Trừng Xu đúc vào năm Thiên bảo thứ 6 (963) đời Nam Hán. Đến năm Đại Bảo thứ 10 (967) vua Nam Hán là Lưu Sưởng đúc tháp sắt phía đông, gồm 7 tầng, hình 4 góc, mặt ngoài mỗi tầng có tượng Phật, mây, người trời, chim..., kĩ thuật rất tinh xảo, nay đã bị phá hoại, chỉ còn 17 pho tượng gồm La hán, thần Hộ pháp, tín sĩ, người cúng dường... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Quảng đông thông chí Q.213, 229; Quảng châu phủ chí Q.88; Kim thạch tục biên Q.19; Quảng châu Quang hiếu tự cổ đại mộc điêu tượng đồ lục (Thương thừatộ) ]. (xt. Pháp Tính Tự).
quang hiển
2185指顯明光耀。摩訶止觀卷五下(大四六‧五九下):「法不自顯,弘之在人。人能行行,法門光顯。」
; (光顯) Rõ ràng, rạng rỡ. Ma ha chỉ quán quyển 5 hạ (Đại 46, 59 hạ) nói: Pháp chẳng tự hiển mà do người hoằng truyền. Người thực tu được các hạnh thì pháp môn quang hiển.
quang hiểu
2184比喻佛之智慧光明,能摧破眾生之無明煩惱;猶如曉天能照亮昏闇之夜。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二○下):「有量諸相蒙光曉。」
; (光曉) Ánh sáng ban mai, ví dụ ánh sáng trí tuệ của Phật có công năng phá dẹp phiền não vô minh, giống như ánh sáng ban mai xua tan bóng đêm dày đặc. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 430 hạ) nói: Các tướng có lượng được soi sáng (quang hiểu).
quang hoa
Glorious.
quang huy
bright light.
quang hào
The ùrnà or curl between the Buddha's eyebrows whence streams light that reveals all worlds.
; Sợi lông mày trắng tỏa ánh hào quang, giữa chỗ giao nhau của hai lông mày Đức Phật, có sợi lông trắng dài xoắn lại thành một búi nhỏ luôn tỏa ra ánh sáng. Đây là một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật—The urna or curl between the Buddha's eyebrows whence streams light that reveals all worlds, one of the thirty-two characteristics of a Buddha.
quang ký
Trước tác của Phổ Quang Pháp Sư đời Đường—A work of Pu-Kuang in the T'ang dynasty—See Quang Bảo (1).
quang luân
2184比喻佛光如輪般之圓滿。六十華嚴經卷三(大九‧四一二下):「莊嚴光明輪,充滿諸法界,十方靡不遍。」又佛之光明,具有摧碾眾生煩惱,照破無明之作用;而轉輪聖王之輪寶能輾摧山岳巖石,故以輪喻之。此外,佛之圓光其形如輪,故以光輪表示之。〔讚阿彌陀佛偈、淨土和讚〕(參閱「法輪」3423)
; (光輪) Vầng hào quang của Phật tròn trịa như bánh xe. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 3, (Đại 9, 412 hạ) nói: Quang minh luân sáng đẹp, tràn ngập các pháp giới, trùm khắp cả mười phương. Hào quang của Phật có tác dụng chiếu phá vô minh và dẹp tan phiền não của chúng sinh, giống như bánh xe báu của Chuyển luân thánh vương có công năng nghiền nát sỏi đá của núi non, cho nên dùng bánh xe (luân) để dụ cho hào quang của Phật mà gọi là Quang luân. [X. Tán A di đà Phật kệ; Tịnh độ hòa tán]. (xt. Pháp Luân).
quang lãng
Light wave.
quang man thiên tử
2185為密教五淨居天(自在天子、普華天子、光鬘天子、意生天子、遍音天子)之一。大日經卷一載有此尊之名稱及其印言。然於胎藏現圖曼荼羅、胎藏舊圖樣、胎藏圖像等皆未描繪其像。其形像,據大日經疏卷十六載,屈左、右手之無名指、小指,其餘三指作三奇杖之狀,置於胸前,三指向上。印契為:右手拇指橫於掌中,其餘四指則呈舒散狀。據玄法寺、青龍寺二儀軌載,其真言為:歸命 惹睹鄔姹寫難 娑縛賀。
; (光鬘天子) Một trong 5 vị Thiên Tử (Tự tại thiên tử, Phổ hoa thiên tử, Quang man thiên tử, Ý sinh thiên tử, Biến âm thiên tử) ở cõi trời Ngũ tịnh cư của Mật giáo. Kinh Đại nhật quyển 1 chép tên gọi và ấn ngôn của vị tôn này. Nhưng trong Thai tạng Hiện đồ mạn đồ la, Thai tạng cựu đồ.Đại Hùng Bảo Điện của chùa Quang Hiếu dạng và Thai tạng đồ tượng thì đều không thấy vẽ tượng của vị tôn này. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 16 thì hình tượng của vị tôn này là ngón vô danh, ngón út của hai tay trái và phải co lại, còn 3 ngón kia thì làm dáng như 3 cây gậy hướng lên để ở trước ngực. Ân khế là: Ngón cái của tay phải đặt ngang trong lòng bàn tay, 4 ngón còn lại thì duỗi thẳng và xòe ra. Theo Huyền Pháp tự nghi quĩ và Thanh Long tự nghi quì thì chân ngôn là: Qui mệnh nhạ đổ ô sá tả nan sa phạ hạ.
Quang minh
光明; C: guāngmíng; J: kōmyō; S: āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā.|Ánh sáng rực rỡ, hào quang. Biểu tượng của trí tụê của đức Phật hay của Bồ Tát. Là biểu tượng chỉ cho sự phá huỷ sự tối tăm của vô minh và sự hiển bày đạo lí chân thật. Là từ ngữ tán thán ánh sáng vô biên, vô ngại của Đức Phật A-di-đà, trong đó »Quang« đặc biệt là ánh sáng trí huệ và ánh sáng từ thân tướng của Ngài. »Minh« là biểu tượng cho cái Dụng từ trí huệ của Ngài toả ra.
quang minh
2173<一>指光(梵 ātapa)與明(梵 āloka)為十二顯色中之二色。據俱舍論卷一載,太陽所發之焰,稱為光;月、星、火藥、電等所發之焰,稱為明。光有黃、赤二色,明有青、黃、赤、白四色。〔大毘婆沙論卷十三、順正理論卷一〕(參閱「顯色」6922) <二>指佛菩薩之發光。梵語 prabhā。又作光。若由佛菩薩自身發出之光輝,稱為光;而照射物體之光,則稱為明。光明具有破除黑暗、彰顯真理之作用。此由佛菩薩身上所發出之光,又稱色光、身光、外光;對此而言,智慧具有照見事物真相之作用,故稱為心光、智光、智慧光或內光。佛之光明可分為常光(圓光)與現起光(神通光、放光)二種,前者指恆常發自佛身,永不磨滅之光;後者指應機教化而發之光。常光一般為一尋或一丈之圓光。 此外,依發光處之不同,復分為二種。一種為發自全身之舉身光;另一種為發自某一處之隨一相光,如由白毫相(眉間)發出之光,稱白毫光、毫光、眉間光,由毛孔發出之光,稱毛孔光等。色光與心光,或常光與現起光,合稱二種光明。除上述外,魔光與佛光之分別,乃在於魔光導致人心浮動、恍惚,而佛光令人心鎮靜、清淨,此二種光有時亦合稱二種光明。另據瑜伽師地論卷十一所舉,外光明(日月等之光)、法光明(智慧光等)、身光明,合稱三種光明。 佛之光明能遍照一切處而無所障礙,故亦稱無礙光明。無量壽經卷上以無量光等十二種光形容阿彌陀佛之光明。大寶積經卷三十則載釋迦牟尼佛有決定光明等四十一種光明。曇鸞於讚阿彌陀佛偈中,列舉出光輪、光曉、光觸、光雲、光澤等名稱,以讚歎光明之功德。就佛光之作用而論,佛之光明具有不可思議之作用,故稱神光;佛光富於恩惠,故稱慈光;同時佛光代表智慧之相貌,故稱光明智相。此外,從佛之光明而受到利益者,稱光益;由光明而帶來之幸福,稱光瑞;光明能普遍照耀全世界,廣大如海,故稱光明廣海。〔法華經卷一、觀佛三昧海經卷三、大智度論卷七、卷八、卷三十四、卷四十七、往生論註卷上、華嚴經探玄記卷三、觀念法門、往生要集卷中本、無量壽經鈔卷五〕(參閱「三種光明」651)
; Prabhāsvara (S), Pabhasa (P), Jvāla (S), Halo (S, P)Xà phạ la, Quang minh.prabha: ánh sáng, svara: chói lọi.Xem Quang minh.
; Jvàla (S). The halo.
; Prabha (skt)—Light (bright and clear)—Illumination—To illuminate—T here are two kinds: 1) Sắc quang minh: Physical light. 2) Trí huệ quang minh (tâm quang minh): Wisdom or mental light.
; (光明) I. Quang Minh. Quang, Phạm: Àtapa; Minh, Phạm: Àloka. Quang là ánh sáng của mặt trời, Minh là ánh sáng của mặt trăng, của các ngôi sao, và của các vật khác. Quang và Minh là 2 sắc trong 12 hiển sắc. Quang có 2 màu vàng và đỏ; Minh có 4 màu xanh, đỏ, vàng, trắng. [X. luậnĐại tì bà sa Q.13; luận Thuận chính lí Q.1]. (xt. Hiển Sắc). II. Quang Minh. Phạm: Prabhà. Cũng gọi Quang. Chỉ cho sự phát sáng của Phật, Bồ tát. Ánh sáng phát ra từ thân Phật, Bồ tát gọi là Quang; ánh sáng chiếu rọi vào vật thể thì gọi là Minh. Tác dụng của quang minh là phá trừ bóng tối, soi tỏ chân lí. Đó là ánh sáng phát ra từ thân Phật và Bồ tát, nên gọi là Sắc quang, Thân quang, Ngoại quang. Trái lại, tác dụng của trí tuệ là soi thấy chân tướng của sự vật, nên gọi là Tâm quang, Trí quang, Trí tuệ quang hay là Nội quang. Quang minh của Phật chia làm hai thứ: Thường quang (Viên quang) và Hiện khởi Quang (Thần thông quang, Phóng quang). Thường quang là ánh sáng tròn, rộng độ 1 tầm hoặc 1 trượng, từ thân Phật tỏa ra, vĩnh viễn không diệt. Còn Hiện khởi quang là ánh sáng chỉ ứng theo cơ duyên giáo hóa mà phát ra. Ngoài ra, tùy theo chỗ phát sáng khác nhau, nên Quang minh, lại được chia ra 2 thứ: -Ánh sáng phát ra từ toàn thân, gọi là Cử thân quang. -Ánh sáng phát ra từ 1 chỗ nào đócủa thânthì gọi là Tùy nhất tướng quang. Như ánh sáng phát ra từ tướng Bạch hào (giữa 2 đầu chân mày) thì gọi là Bạch hào quang, Hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phát ra từ lỗ chân lông thì gọi là Mao khổng quang... Sắc quang và Tâm quang, hoặc Thường quang và Hiện khởi quang được gọi chung là Nhị chủng quang minh. Ngoài ra còn có sự phân biệt giữa Ma quang và Phật quang. Ma quang thì làm cho tâm người dao động, hoảng hốt; còn Phật quang thì khiến cho người trấn tĩnh, an tịnh; 2 thứ quang này đôi khi cũng được gọi chung là Nhị chủng quang minh. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 11 thì Ngoại quang minh (ánh sáng mặt trời, mặt trăng....) Pháp quang minh (ánh sáng trí tuệ) và Thân quang minh được gọi chung là Tam chủng quang minh. Ánh sáng của Phật có khả năng soi rọi khắp nơi, không bị ngăn ngại, vì thế cũng gọi là Vô ngại quang minh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng dùng 12 thứ quang để hình dung quang minh của đức Phật A di đà. Kinh Đại bảo tích quyển 30 thì cho rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni có 41 thứ quang minh. Trong kệ tán A di đà Phật, Ngài Đàm loan nêu các loại quang như: Quang luân, Quang hiểu, Quang xúc, Quang vân, Quang trạch... để tán thán công đức của quang minh. Nói về tác dụng của Phật quang thí ánh sáng phát ra từ thân Phật có những tác dụng không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần quang; Phật quang rất dồi dào ân huệ, cho nên gọi là Từ quang; đồng thời, Phật quang tiêu biểu cho tướng mạo của trí tuệ, cho nên gọi là Quang minh trí tướng. Lại nữa, nhờ quang minh của Phật mà được lợí ích, gọi là Quang ích; nhờ quang minh mà có được hạnh phúc, gọi là Quang thụy; quang minh có thể soi rọi toàn thế giới, rộng lớn như biển, cho nên gọi là Quang minh quảng hải. [X. kinh Pháp hoa Q.1; kinh Quán Phật tam muội hải Q.3; luận Đại trí độ Q.7, 8, 34, 47; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần đầu; Vô lượng thọ kinh sao Q.5]. (xt. Tam Chủng Quang Minh).
Quang Minh Biến Chiếu
光明遍照; C: guāngmíngbiànzhào; J: kōmyō-henshō;|Tiếng Hán dịch từ Mahāvairocana Tathā-gata. Đại Nhật Như Lai (大日如來).
Quang minh biến chiếu 光明遍照
[ja] コウミョウヘンショウ kōmyōhenshō ||| A Chinese translation of the name of Mahāvairocana Tathatagata. See => Tiếng Hán dịch từ Mahāvairocana Tathatagata. Xem Đại Nhật Như Lai大日如來.
quang minh bản tôn
2174請參閱 金光明經文句 又作光明本、繪系圖。即於阿彌陀佛之光明中,以阿彌陀佛之名號為中心,周圍描繪佛菩薩,或淨土宗之祖師像的一種曼荼羅式繪圖,以此表示淨土教之傳承。繪系圖,原指繪入信徒系譜之系譜書,後或係受名簿與光明本尊之影響,而成一種代表傳承之繪圖。日僧覺如嘗訓誡眾人勿用此異義之繪系圖,然日本佛光寺系仍使用至今。 繪系圖為中央書寫南無不可思議光如來(即阿彌陀佛之尊稱),其各字皆放光明;左側下半書寫南無阿彌陀佛,右側下半書寫歸命盡十方無礙光如來;中央左側下方之彌陀像,與右側下方之釋迦像,均係立像;外左側為大勢至菩薩及天竺龍樹、天親、菩提流支等先德,外右側為中國之曇鸞、道綽、善導、懷感、少康、法照,及日本之聖德太子、惠心僧都、源空、親鸞、信空、聖覺法印等先德之像。此外,尚有多種繪系圖之式樣。〔辨述名體抄、古本叢林集卷四、改邪鈔卷上、實悟記拾遺、異義集卷七、淨土真宗本尊考〕
; (光明本尊) Cũng gọi Quang minh bản, Hội hệ đồ. Bức tranh vẽ theo Mạn đồ la: Trong ánh sáng của Phật A di đà (Bản tôn), lấy danh hiệu Di đà làm trung tâm, chung quanh vẽ Phật, Bồ tát hoặc tượng các vị Tổ sư của tông Tịnh độ để biểu thị sự truyền thừa của Tịnh độ giáo. Hội hệ đồ vốn là loại sách phổ hệ dùng để vẽ hệ phái của tín đồ, về sau, hoặc chịu ảnh hưởng của sổ danh bộ và Quang minh bản tôn mà trở thành loại tranh vẽ đại biểu cho sự truyền thừa. Vị tăng Nhật bản là ngài Giác Như thường răn dạy tín đồ không nên dùng loại Hệ hội đồ dị nghĩa này, nhưng hệ phái thuộc Phật Quang tự tại Nhật Bản cho đến nay vẫn sử dụng. Chính giữa Hội hệ đồ viết: Nam mô Bất khả tư nghị quang Như lai (tức tôn xưng đức Phật A di đà, mỗi chữ đều phóng ra ánh sáng. Nửa dưới phía bên trái viết: Nam mô A di đà Phật; nửa dưới phía bên phải viết: Qui mệnh tận thập phương vô ngại Quang Như lai; ở chính giữa phía dưới bên trái vẽ tượng Phật Di đà, phía dưới bên phải vẽ tượng Phật Thích Ca, đều là tượng đứng. Bên ngoài phía trái vẽ tượng bồ tát Đại thế chí và các bậc tiên đức Ấn Độ như: Long thụ, Thiên thân, Bồ đề lưu chi... Bên ngoài phía trái vẽ tượng các bậc tiên đức Trung Quốc như: Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm, Thiếu khang, Pháp chiếu... và các tiên đức Nhật bản như: Thái tử Thánh Đức, Tăng Đô Huệ Tâm, Nguyên Không, Thân Loan, Tín Không, Thánh Giác Pháp Ấn... Ngoài ra còn có nhiều kiểu Hội hệ đồ khác. [X. Biện thuật danh thể sao; Cổ bản tùng lâm tập Q.4; Cải tà sao Q.thượng; Thực ngộ kí thập di; Dị nghĩa tập Q.7; Tịnh độ chân tông bản tôn khảo].
quang minh chiếu
Xem Địa tạng Phật.
quang minh chánh đại
Clear and upright.
quang minh chân ngôn
2176全稱不空大灌頂光真言。略稱光言。指大日如來之真言、一切諸佛菩薩之總咒。根據不空羂索毘盧遮那佛大灌頂光明真言經所舉,光明真言如下:唵(oṃ,歸命、三身具足、供養)阿謨伽(amogha,不空)尾盧左曩(vairucana,光明遍照)摩訶母捺囉(mahāmudrā,大印)麼抳(maṇi,如意寶)鉢頭麼(padme,蓮華)入嚩攞(jvala,光明)鉢囉曢哆野(pravardaya,發生、轉)吽(hūṃ,菩提心、能破、恐怖)。詳釋之,即由大日如來之不空真實的大印,產生寶珠、蓮華、光明等功德,以大威神力照破無明煩惱,轉地獄之苦而令生於淨土之意。 受持真言者,可以滅生死重罪,除宿業病障,而獲得智慧辯才、長壽福樂。若以加持過真言之砂土散於死者身上,死者即可離苦得解脫。日本天台、真言,及其他各宗派,常用於日常之法會或施餓鬼會等儀式。此外,光明真言亦被刻記於塔婆上。〔不空羂索神變真言經卷二十八、金剛頂經光明真言儀軌、覺禪鈔光明真言、大灌頂真言經鈔〕
; Đà La Ni mà một khi trì niệm, hành giả sẽ có được sự sáng suốt và huy hoàng của chư Phật, và mọi tội lỗi đều phải quay đi—A dharani by whose repetition the brightness or glory of Buddha may be obtained, and all retribution of sin be averted.
; (光明真言) Gọi đủ: Bất không đại quán đính quang chân ngôn. Gọi tắt: Quang ngôn. Chỉ cho chân ngôn của đức Đại nhật Như lai, cũng là thần chú chung của tất cả Phật, Bồ tát. Cứ theo kinh Bất không quyên sách Tì lô giá na Phật đại quán đính quang minh chân ngôn chép, thì Quang minh chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh, Tam thân cụ túc, cúng dường) a mô già (amogha, bất không) vĩ lô tả nẵng (Vairucana, quang minh biến chiếu) ma ha mẫu nại ra (mahàmudrà, đại ấn) ma ni (maịi, như ý bảo) bát đầu ma (padme, liên hoa) nhập phạ la (Jvala, quang minh) bát ra miệt đá dã (pravardaya, phát sinh, chuyển) hồng (hàô, bồ đề tâm, năng phá, khủng bố). Nghĩa là từ nơi Đại Ấn của đức Đại Nhật Như Lai sinh ra công đức của ngọc báu, hoa sen, ánh sáng... dùng đại uy thần lực chiếu phá phiền não vô minh, chuyển biến cái khổ của địa ngục thành cái vui của Tịnh độ. Người thụ trì chân ngôn này sẽ diệt được trọng tội sinh tử, trừ được các bệnh chướng do nghiệp đời trước chiêu cảm, phát sinh trí tuệ biện tài, trường thọ phúc lạc. Các tông phái ở Nhật Bản như Thiên Thai, Chân Ngôn... thường trì tụng chân ngôn này hằng ngày, nhất là trong nghi thức thí thực. Ngoài ra, chân ngôn này cũng được khắc trên tháp. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Kim cương đính chân quang minh chân ngôn nghi quĩ; Giác thiền sao quang minh chân ngôn; Đại quán đính chân ngôn kinh sao].
quang minh chân ngôn mạn đồ la
2177又作光明真言破地獄曼荼羅。即指將光明真言二十三字順時針書寫成圓形之字輪,中間書寫僧名等之曼荼羅。此係取光明真言一一字所放之光明,遍照眾生界,破除無明煩惱黑暗之意。此曼荼羅為生死出離之大祕法與重罪頓滅之大神咒,由其功德可破地獄門,開菩提道。修此真言之字輪觀時,須於心內畫此曼荼羅,並順逆旋轉觀其字義。此曼荼羅法,出家、在家二者皆可傳授,出家者先結誦三昧耶戒印言,次結誦五色光印言而授之;在家者則結金剛合掌而授之。 又曼荼羅之中間,除僧名等外,尚書有胎藏界大日之五字真言,此五字為大日如來之心咒,圓形字輪之光明真言,則為大日如來之大咒。另有阿字(大日如來之心中咒),及金剛界大日、隨求、滅惡趣、一字金輪等之種子,書寫於字輪中間。〔不空羂索光真言經、不空羂索神變真言經卷二十八、光明真言觀誦要門〕
; (光明真言曼荼羅) Cũng gọi Quang minh chân ngôn phá địa ngục mạn đồ la. Mạn đồ la lấy 23 chữ của Quang minh chân ngôn viết thành hình vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, ở giữa viết tên vị tăng truyền thụ chân ngôn. Đây có hàm ý mỗi chữ của Quang minh chân ngôn đều phóng ra ánh sáng, chiếu khắp cõi chúng sinh, phá trừ phiền não vô minh hắc ám. Mạn đồ la này là đại bí pháp ra khỏi sinh tử khổ não vì có năng lực mở toang cửa địa ngục và là đại thần chú mau chóng tiêu trừ các trọng tội nhờ có công đức mở đường Bồ đề. Khi tu pháp quán vòng chữ chân ngôn thì ở trong tâm phải vẽ Mạn đồ la này và quán tưởng nghĩa các chữ theo chiều thuận và nghịch. Người xuất gia hay tại gia đều có thể truyền thụ pháp Mạn đồ la này. Người xuất gia thì trước hết kết tụng ấn ngôn Tam muội da giới, kế đến kết tụng ấn ngôn Ngũ sắc quang mà truyền thụ; còn người tại gia thì kết Kim cương hợp chưởng mà truyền thụ. Thêm nữa, ở giữa Mạn đồ la, ngoài tên vị tăng, còn viết 5 chữ chân ngôn của đức Đại nhật Thai tạng giới, 5 chữ này là Tâm chú của Đại nhật Như lai, còn vòng chữ hình tròn của Quang minh chân ngôn thì là Đại chú của Đại nhật Như lai. Riêng chữ A (chú trong tâm của Đại nhật Như lai) và chủng tử của Đại nhật Kim cương giới, Tùy cầu, Diệt ác thú, Nhất tự kim luân... thì viết ở khoảng giữa vòng chữ. [X. kinh Bất không quyên sách quang chân ngôn; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Quang minh chân ngôn quán tụng yếu môn].
quang minh chân ngôn pháp
2176指密教中,誦持光明真言,為滅罪、除病、息災等所修之祕法。此法尤以滅罪為主。又稱光明供、光言法。一般之土沙加持法,亦以修持此法為主。 不空羂索光真言經(大一九‧六○六中):「若有眾生隨處得聞此大灌頂光真言二三七遍,經耳根者,即得除滅一切罪障。(中略)以是真言加持土沙一百八遍,尸陀林中散亡者屍骸上,或散墓上,遇皆散之,(中略)應時即得光明及身,除諸罪報,捨所苦身,往於西方極樂國土,蓮華化生,乃至菩提,更不墮落。」 關於此法之本尊,諸家傳習不一。據覺禪鈔光明真言之說,或以不空羂索為本尊,或以阿彌陀佛為本尊。然深祕之傳習,則以胎藏大日如來為本尊。〔不空羂索神變真言經卷二十八、光明真言土沙勸信記、薄草紙〕
; (光明真言法) Cũng gọi Quang minh cúng, Quang ngôn pháp. Pháp tu trong Mật giáo, trì tụng chân ngôn Quang minh để diệt tội, trừ bệnh, tiêu tai... đặc biệt lấy việc diệt tội làm chủ yếu. Ngoài ra, pháp tu gia trì đất cát cũng lấy pháp này làm chính. Kinh Bất không quyên sách quang chân ngôn (Đại 19, 606 trung) nói: Nếu có chúng sinh nào được nghe chân ngôn Đại quán đính quang này tới 237 biến thì trừ diệt tất cả tội chướng (...) Gia trì chân ngôn này vào đất cát 108 biến, rồi đem vào rừng Thi đà rắc trên thi hài người chết, hoặc rải trên mộ, (...) tức thời liền được ánh sáng chiếu thân, tiêu trừ các tội báo, xả bỏ thân khốn khổ, sinh về cõi nước Cực lạc phương Tây, hóa sinh từ hoa sen, chứng được Bồ đề, vĩnh viễn không còn đọa lạc. Mạn đồ la Quang Minh Chân Ngôn. Về vị Bản tôn của pháp tu này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Giác thiền sao quang minh chân ngôn, thì hoặc lấy Bất không quyên sách làm Bản tôn, hoặc lấy Phật A di đà làm Bản tôn. Nhưng theo sự truyền tập bí mật thì lấy Đại nhật Như lai của Thai tạng giới làm Bản tôn. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Quang minh chân ngôn thổ sa khuyến tín kí; Bạc thảo chỉ].
quang minh cõi
Avabhāṣā (S)Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca thọ ký cho ngài Ca Diếp thành Phật trong vị lai hiệu là Quang Minh Như Lai, thế giới của ngài là Quang đức, kỳ kiếp là Đại Trang nghiêm.
quang minh danh hiệu nhân duyên
2175請參閱金光明經玄義 請參閱 金光明經玄義捨遺記 請參閱金光明經玄義 請參閱金光明經玄義捨遺記 指眾生以阿彌陀佛之名號為因,光明為緣,則可往生極樂世界。略稱光號因緣。據善導「往生禮讚」之說,眾生欲往生阿彌陀佛淨土,當以阿彌陀佛之名號為因,以其光明為緣,始可達成往生之願望。此因阿彌陀佛之名號圓具萬德,為能生之因(如父);其光明照耀十方世界,為所生之緣(如母),故能接引眾生至極樂淨土。然阿彌陀佛之名號與光明,係為眾生往生淨土之他力因緣,眾生之信心,則為內因,為眾生心內所發之涅槃真因,必須外緣與內因具備,方可往生淨土。
; (光明名號因緣) Gọi tắt: Quang hiệu nhân duyên. Chúng sinh lấy danh hiệu Phật A di đà làm nhân, lấy quang minh làm duyên thì được sinh về thế giới Cực lạc. Cứ theo Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo, nếu chúng sinh nào muốn sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, thì nên lấy danh hiệu của đức Phật A di đà làm nhân, lấy quang minh của Ngài làm duyên, mới có thể đạt được nguyện vọng vãng sinh. Vì danh hiệu Phật A di đà tròn đầy muôn đức, là nhân năng sinh (như cha); còn quang minh của Ngài chiếu sáng các thế giới trong 10 phương, là duyên sở sinh (như mẹ), cho nên có năng lực tiếp dẫn chúng sinh đến Tịnh độ cực lạc. Nhưng danh hiệu và quang minh của Phật A di đà chỉ là nhân duyên tha lực bên ngoài, hỗ trợ chúng sinh vãng sinh Tịnh độ mà thôi; còn lòng tin của chúng sinh mới là nhân Niết bàn chân thực phát từ trong tâm chúng sinh. Như vậy, cần phải có đầy đủ duyên ngoài và nhân trong mới có thể vãng sinh Tịnh độ.
quang minh giáo
Mithraism Mật đặc la giáoHệ phái của Hiên giáo (Zaroastrianism).
quang minh như lai
Ramiprabhāsa Tathāgatha (S)Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca thọ ký cho ngài Ca Diếp thành Phật trong vị lai hiệu là Quang Minh Như Lai, thế giới của ngài là Quang đức, kỳ kiếp là Đại Trang nghiêm.
quang minh niệm tụng
2175乃五種念誦之一。指行者念想心之月輪內外清淨,以此而發氣息,出聲或不出聲均口出光明,而持誦佛名或真言。祕藏記卷末(大八六‧八下):「光者,念想口出光明,持誦而已,其出聲不出,常作是念耳。」(參閱「五種念誦」1178)
; (光明念誦) Một trong 5 cách thức niệm tụng. Hành giả niệm tưởng vừng trăng tâm của mình trong ngoài đều thanh tịnh, nhờ đó mà phát ra hơi thở, dù thành tiếng hay không thành tiếng, miệng đều có quang minh mà trì tụng danh hiệu Phật hoặc chân ngôn. Bí tạng kí quyển cuối (Đại 86, 8 hạ) nói: Quang là nghĩ tưởng từ miệng phóng ra ánh sáng mà trì tụng, dù thành tiếng hay không thành tiếng thì vẫn trì tụng như thế. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).
quang minh phật
See Quang Đức quốc.
quang minh sơn
Potalaka (S)Hải đảo sơn, Tiểu hoa thụ sơn, Phổ đà sơn, Phổ đà lạc già sơn.
; Xem Quán âm tịnh độ.
; Trụ xứ hay nơi trụ của Đức Quán Âm, là tên gọi khác của Potala—The shining hill, or monastery, a name for the abode of Kuan-Yin, said to be in India, and called Potala.
quang minh tâm điện
2173全稱「本有金剛界自在大三昧耶自覺本初大菩提心普賢滿月不壞金剛光明心殿」。略稱不壞金剛光明心殿。指大日如來智法身修證至極之依住處。不壞金剛,指諸尊之常恆堅固身(外在);光明心,指諸尊心內之悟境(內在),由光明心一語以表示讚歎敬仰之意;殿,表示依處,即外之身(所住)與內之心(能住)互為相依相待,而為大日如來安住之處。 此外,前述光明心殿之全稱,可分為五句,分別表示五智與五佛之祕號妙德。若將五句配於五智、五佛,則依次如下:本有金剛界,表示法界體性智,可配於大日如來;自在大三昧耶,表示妙觀察智,可配於阿彌陀佛;自覺本初,表示平等性智,可配於寶生如來;大菩提心普賢滿月,表示大圓鏡智,可配於阿閦如來;不壞金剛光明心殿,表示成所作智,可配於釋迦牟尼佛。〔辨顯密二教論卷下、十住心論卷十、真言付法傳卷一、瑜祇經拾古鈔卷上、瑜祇經義述卷一〕
; Chỗ trụ xứ của Đức Đại Nhật Như Lai ở Kim Cang Giới (Trí môn hay Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện)—The temple of the bright or shining heart; the seat of Vairocana, the sun Buddha, in the Vajradhatu mandala.
; (光明心殿) Gọi đủ: Bản hữu Kim cương giới tự tại đại tam muội da tự giác bản sơ đại bồ đề tâm phổ hiền mãn nguyện bất hoại kim cương quang minh tâm điện. Gọi tắt: Bất hoạikim cương quang minh tâm điện. Chỉ cho nơi nương ở cùng tột mà Trí pháp thân của đức Đại nhật Như lai tu chứng được. Bất hoại kim cương chỉ cho thân bền chắc thường hằng của chư tôn (ở bên ngoài); Quang minh tâm, chỉ cho cảnh giới giác ngộ trong tâm của chư tôn (ở bên trong). Quang minh tâm biểu thị ý nghĩa tán thán tín ngưỡng. Điện biểu thị nơi nương ở, tức thân bên ngoài (sở trụ) và tâm bên trong (năng trụ) nương tựa đối đãi lẫn nhau, là nơi an trụ của đức Đại nhật Như lai. Ngoài ra, từ gọi đủ của Quang minh tâm điện ở trên có thể chia được thành 5 đoạn để biểu thị đức hiệu sâu kín mầu nhiệm của 5 trí và 5 Phật. Nếu phối hợp 5 đoạn với 5 trí, 5 Phật thì thứ tự như sau: 1. Bản hữu kim cương giới: Biểu thị Pháp giới thể tính trí, phối hợp với Đại nhật Như lai. 2. Tự tại đại tam muội da: Biểu thị Diệu quán sát trí, phối hợp với A di đà Như lai. 3. Tự giác bản sơ: Biểu thị Bình đẳng tính trí, phối hợp với Bảo sinh Như lai. 4. Đại bồ đề tâm phổ hiền mãn nguyệt: Biểu thị Đại viên kính trí, phối hợp với A súc Như lai. 5. Bất hoại kim cương quang minh tâm điện: Biểu thịThành sở tác trí, phối hợp với Thích ca Như lai. [X. luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.hạ; luận Thập trụ tâm Q.10; Chân ngôn phó pháp truyện Q.1; Du kì kinh thập cổ sao Q.thượng; Du kì kinh nghĩa thuật Q.1].
Quang Minh Tạng
(光明藏): tức nói về diệu tâm vốn có của bản thân mình. Bản tâm mình phá tan vô minh, là nơi tàng trữ ánh sáng trí tuệ, làm tỏa ra ánh áng của chân như.
; (光明藏): nơi tàng chứa ánh sáng, tức chỉ cho thân của đức Như Lai. Như trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經, Taishō Vol. 20, No. 1060) có đoạn: “Đương tri kỳ nhân tức thị Quang Minh Tạng, nhất thiết Như Lai quang minh sở chiếu cố (當知其人卽是光明藏、一切如來光明所照故, phải biết người ấy tức là Quang Minh Tạng, vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu tỏa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 21 cũng có đoạn: “Ư Quang Minh Tạng trung diệc vị chi độc dược, diệc vị chi Đề Hồ, Đề Hồ độc dược bổn vô tự tánh (於光明藏中亦謂之毒藥、亦謂之醍醐、醍醐毒藥本無自性, ở trong Quang Minh Tạng cũng gọi đó là thuốc độc, cũng gọi đó là Đề Hồ, Đề Hồ thuốc độc vốn không tự tánh).” Hoặc trong bài Mai Lãnh Sơn Cư Thi Dẫn (梅嶺山居詩引) của Trương Hoàng Ngôn (張煌言, 1620-1664) nhà Minh lại có đoạn: “Thiền duyệt chi dư, toại thành Mai Lãnh tân vịnh. Tao da ? Kệ da ? Độc chi như tọa Quang Minh Tạng hĩ (禪悅之餘、遂成梅嶺新詠、騷耶、偈耶、讀之如坐光明藏矣, Vui Thiền nhàn rỗi, bèn thành xướng vịnh Mai Lãnh. Thơ Tao ư ? Kệ ư ? Đọc rồi như ngồi Quang Minh Tạng vậy).”
quang minh tạng
2178請參閱 光明童子因緣經 即光明之寶庫。亦即指如來之身。思益經卷一(大一五‧三四上):「如來身者,即是無量光明之藏。」又自己之本心,破除無知,發揮真如之光,吸光明於其中,亦稱光明藏。千手陀羅尼經(大二○‧一○九中):「當知其人即是光明身,一切如來光明照故。」
; (光明藏) Kho báu ánh sáng, tức chỉ cho thân Như lai. Kinh Tư ích quyển 1 (Đại 15, 34 thượng) nói: Thân Như lai là kho tàng của vô lượng ánh sáng. Ngoài ra, bản tâm của mình phá trừ vô tri, phát huy ánh sáng chân như và thu hút ánh sáng ấy vào trong tâm, cũng gọi là Quang minh tạng. Kinh Thiên thủ đà la ni (Đại 20, 109 trung) nói: Nên biết, thân người ấy chính là thânquang minh, vì ánh sáng của tất cả Như lai đều chiếu rọi thân ấy.
Quang Minh Tự
(光明寺, Kōmyō-ji): ngôi chùa trung tâm bổn sơn của Tịnh Độ Tông, hiệu là Thiên Chiếu Sơn Liên Hoa Viện (天照山蓮華院); tên chính thức là Thiên Chiếu Sơn Liên Hoa Viện Quang Minh Tự (天照山蓮華院光明寺); hiện tọa lạc tại số 6-17-19 Zaimokuza (材木座), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1240 (Nhân Trị [仁治] nguyên niên), vị chấp quyền đương thời là Bắc Điều Kinh Thời (北條經時, Hōjō Tsunetoki) đã kiến lập Liên Hoa Tự (蓮華寺) cho Thiền sư Nhiên A Lương Trung (然阿良忠); sau đó ông dời chùa về vị trí hiện tại, và đổi tên chùa là Quang Minh Tự. Có ký lục ghi rằng chùa được di chuyển vào năm 1243 (Khoan Nguyên [寛元] nguyên niên), nhưng vẫn chưa có xác chứng rõ ràng. Ngoài ra còn có thuyết cho rằng Liên Hoa Tự chính là Ngộ Chơn Tự (悟眞寺). Đến năm 1495, vào đời Quán Dự Hựu Sùng (觀譽祐崇), vị Tổ đời thứ 8 của chùa, ông được Hậu Thổ Ngự Thiên Hoàng (後土御門天皇) quy y theo, nên chùa được sắc phong thành ngôi Tổng Bản Sơn của Tịnh Độ Tông vùng Quan Đông, và từ đó trở đi chùa trở thành nơi bố giáo trung tâm Tông phái vùng Quan Đông. Ngoài ra chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật như tượng ngồi Ký Chủ Thiền Sư (記主禪師), tượng ngồi Địa Tạng Bồ Tát bằng đá, Đương Ma Mạn Trà La Duyên Khởi (當麻曼荼羅緣起) 2 bức, truyện tranh Tịnh Độ Ngũ Tổ, tranh vẽ Quang Minh Đại Sư (光明大師), v.v.
; (光明寺, Kōmyō-ji): ngôi tự viện trung tâm của Trấn Tây Nghĩa Lục Phái (鎭西義六派) thuộc Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 6-17-19 Zaimokuza (材木座), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); hiệu núi là Thiên Chiếu Sơn (天照山), Viện hiệu là Liên Hoa Viện (蓮華院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1243 (Khoan Nguyên [寛元] nguyên niên), Nhiên A Lương Trung (然阿良忠) của Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義) được người chấp quyền chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương lúc bấy giờ là Bắc Điều Kinh Thời (北條經時, Hōjō Tsunetoki) quy y theo; ông kiến lập ngôi Liên Hoa Tự (蓮華寺) ở Tá Giới Cốc (佐介谷) thuộc Liêm Thương, về sau đổi thành Quang Minh Tự. Bên cạnh đó, Lương Trung còn được sự hỗ trợ của Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori), lấy chùa này làm trung tâm bố giáo. Về sau, vị Tổ đời thứ 2, đệ tử của ông là Tịch Huệ Lương Hiểu (寂慧良曉), Tổ khai sáng Dòng Bạch Kỳ (白旗流), đã tạo cơ sở hạt nhân cho Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義). Vào năm 1495 (Minh Ứng [明應] 4), vị Tổ đời thứ 8 là Trường Liên Xã Quán Dự Hựu Sùng (長蓮社觀譽祐崇) tiến hành trì tụng Tịnh Độ Tam Bộ Kinh và Dẫn Thanh Niệm Phật trong cung nội; nhờ vậy chùa được ban cho hiệu là ngôi chùa trung tâm của 6 phái vùng Quan Đông (關東, Kantō). Nhờ vậy, Quang Minh Tự hưng thịnh cao độ với tư cách là ngôi chùa Đàn Lâm của Tịnh Độ Tông; vào năm 1532 (Thiên Văn [天文] nguyên niên), dòng họ Bắc Điều ở Tiểu Điền Nguyên (小田原, Odawara) đã hạ lệnh cho chúng Nhất Hướng Môn Đồ (一向門徒) ở tiểu quốc Tương Mô (相模, Sagami) đến sát nhập làm tín đồ của chùa. Đến năm 1591 (Thiên Chánh [天正] 9), Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cúng dường thêm đất đai và sau này đã xếp hạng chùa trở thành bậc nhất trong số 18 ngôi chùa Đàn Lâm vùng Quan Đông. Dưới thời đại Giang Hộ, vị thành chủ của vùng Diên Cương (延岡, Nobeoka) thuộc tiểu quốc Nhật Hướng (日向, Hyūga) là Nội Đằng Nghĩa Khái (內藤義概, Naitō Yoshimune) đã dời nhà thờ bài vị cũng như tháp bằng đá từ Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Giang Hộ đến chùa này. Hiện vẫn không xác định được niên đại chùa được di chuyển về vị trí hiện tại lúc nào. Chùa hiện còn lưu giữ một số bảo vật được xếp hạng quốc bảo có Đương Ma Mạn Trà La Duyên Khởi (當麻曼茶羅緣起); các bảo vật khác thuộc Tài Sản Văn Hóa Trọng Yếu như Tịnh Độ Ngũ Tổ Hội Truyện (淨土五祖繪傳), Đương Ma Mạn Trà La Đồ (當麻曼茶羅圖), Thập Bát La Hán Cập Tăng Tượng (十八羅漢及僧像), Tịnh Độ Ngũ Tổ Hội (淨土五祖繪), v.v.
; (光明寺, Kōmyō-ji): ngôi chùa trung tâm của Tây Sơn Tịnh Độ Tông, tên chính thức là Báo Quốc Sơn Niệm Phật Tam Muội Viện (報國山念佛三昧院光明寺), tên gọi riêng là Túc Sanh Quang Minh Tự (粟生光明寺); hiệu núi là Báo Quốc Sơn (報國山); hiện tọa lạc tại Aō (粟生), Nagaokakyō-shi (長岡京市), Kyōto-fu (京都府); được xem như là nơi phát xuất của Tịnh Độ Tông Nhật Bản. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1198, Hùng Cốc Trực Thật (熊谷直實, tức Liên Sanh Phòng [蓮生房]), kiến lập nên đường vũ ở vùng đất Túc Sanh (粟生, Aō) này, và mời Pháp Nhiên đến làm Tổ khai sơn chùa. Vào năm 1227, do vì đồ chúng của Duệ Sơn rắp tâm định phá hoại ngôi mộ của Pháp Nhiên được an táng trên đó, nên hài cốt của ông được dời về chùa này, rồi hành lễ trà tỳ, và tạo nên chỗ thờ mới ở đây. Sau đó, đến thời vị Tổ đời thứ 4 của chùa là Chứng Không (証空), thì trong quan tài bằng đá của Pháp Nhiên bỗng có ánh sáng kỳ lạ phát ra; nhân đó Tứ Điều Thiên Hoàng (四條天皇, Shijō Tennō) mới đặt tên chùa là Quang Minh Tự. Chứng Không vốn là cao đệ của Pháp Nhiên, là người có công lao trong việc đã lập ra được một dòng phái riêng gọi là Tây Sơn Phái (西山派) và lấy chùa này làm đạo tràng căn bản để truyền đạo. Đồng thời ông cũng là vị học Tăng của Thiên Thai Tông, nên đương thời cho dầu nơi đây là ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, nhưng vẫn có làm lễ cầu đảo nguyện cầu tật bệnh tiêu trừ. Các ngôi đường xá của chùa đã trãi qua mấy lần bị hỏa hoạn cháy rụi, nhưng rồi cũng được phục hưng lại như cũ. Và các kiến trúc hiện tại là thuộc khoảng niên hiệu Khoan Diên (寛延, 1748-1751). Hiện chùa là nơi linh nghiệm thứ 16 của Pháp Nhiên trong số 25 khu vực trên toàn quốc.
Quang Minh tự
光明寺; C: guāngmíng sì; J: kōmyō-ji;|1. Ngôi chùa của phong trào Tam giai giáo (三階教) toạ lạc ở Trường An; 2. Ngôi chùa nơi Thiện Đạo (善導) làm công việc giáo hoá nhiều nhất.
quang minh tự
2175<一>位於陝西西安(長安)。關於本寺之創建,由各僧傳與方志所記載,有下列四說:(一)據續高僧傳卷八曇延傳載,初由曇延於廣恩坊之賜地(後之長壽坊)創建延眾寺,至隋文帝開皇四年(584),改稱延興寺。當時因文帝所敕賜之蠟燭未曾點燃即自放光焰,帝聞之稱奇,遂更名為光明寺,並由曇延之奏請而另立一寺,亦稱光明寺。(二)據長安志卷十載,光明寺位於廣恩坊南邊之懷遠坊,係隋開皇四年,為沙門法經所建。(三)據酉陽雜俎續集卷五寺塔記長安長樂坊安國寺條中載,此寺位於懷遠坊,寺中之當陽彌勒像常常放光,故稱光明寺。(四)據新修往生傳載,唐代淨土教高僧善導曾住於此寺,因常念佛而口中放出光明,唐高宗感之,遂賜以「光明寺」之額。至武則天時,改稱「大雲經寺」,並在其寺境內建設三階院,成為三階教在京師的五所道場之一,與化度、慈門、慧日、弘善等四寺同為三階教弘布之道場。又依唐代張彥遠所撰歷代名畫記卷三光明寺條之記載,可知初唐以後,光明寺中形成淨土與三階兩宗對峙之勢。此外,據長安志卷七之說,長安開明坊中亦有一光明寺。〔續高僧傳卷十六、卷二十六、卷二十七、金石續編卷五、淨土往生傳卷中、宋高僧傳卷二十五、善導大師別傳纂註卷上、卷下〕 <二>位於日本丹波國何鹿郡奧上林村大字睦寄。為日本之古寺。相傳為推古天皇七年(599),聖德太子所創建。至大永七年(1527)遭回祿之災,後漸衰微。於明治三十七年(1904)二月,被指定為日本國寶之一。 <三>位於日本伊勢國宇治山田市岩淵町前田。屬於日本臨濟宗。別稱金鼓山。係於天平年間(729~749)依聖武天皇之敕願而建。曾遷移寺址,後寺運漸衰,至元應年間(1319~1321)住持惠觀修築伽藍,改為禪宗道場。寬文年間(1661~1673)又遷至今址。寺內之古鐘,原本禁止叩撞,後經寺僧訴之於豐臣秀吉,遂得以撞之,世稱光明寺之一鐘。 <四>位於日本京都府長岡京市粟生。屬於日本淨土宗西山派之本山。別稱報國山念佛三昧院。日本淨土宗宗祖法然(1133~1212)之廟所本在東山大谷(知恩院之地),由於比叡山(日本天台宗大本山)徒眾之襲燒,遂告荒廢,故移至西山,此地係一風景勝地。法然荼毘後,其遺骨納於廟所內。 <五>位於日本鎌倉市材木座。屬於日本淨土宗。本稱蓮華寺。為北條經時所創,開山初祖為然阿良忠。該寺為淨土宗關東十八檀林之一。寺內之當麻曼荼羅繪卷二卷為鎌倉期之作品,為日本國寶之一。
Quang Minh tự 光明寺
[ja] コウミョウジ Kōmyō ji ||| The Guangming si. (1)A temple of the Sanjie jiao 三階教 movement located in Changan. (2) The temple where Shandao 善導 did much of his teaching. => 1. Ngôi chùa của phong trào Tam giai giáo (c: Sanjie jiao) tọa lạc ở Tràng An (c: Changan). 2. Ngôi chùa nơi Thiện Đạo (c: Shandao 善導) làm công việc giáo hóa nhiều nhất.
quang minh vô lượng nguyện
2177為阿彌陀佛四十八願中之第十二願。又作得勝光明願、自身光無限願、佛光無限量願、光色願。魏譯無量壽經所載之願文為(大一二‧二六八上):「設我得佛,光明有能限量,下至不照百千億那由他諸佛國者,不取正覺。」唐譯無量壽如來會則載(大一一‧九三下):「若我成佛,光明有限,下至不照億那由他百千及算數佛剎者,不取菩提。」此係阿彌陀佛於因位為法藏菩薩時所發之願,即願於成就正等正覺時,光明無有限量,遍照十方世界之國土。此願與壽命無量願,共成就彌陀報身之果體。〔阿彌陀經、無量壽經義疏卷上〕
; (光明無量願) Cũng gọi Đắc thắng quang minh nguyện, Tự thân quang vô hạn nguyện, Phật quang vô hạn lượng nguyện, Quang sắc nguyện. Cầu mong được vô lượng ánh sáng, là nguyện thứ 12 trong 48 nguyện của Phật A di đà. Văn nguyện trong kinh Vô lượng thọ bản dịch đời Ngụy như sau (Đại 12, 268 thượng): Nếu tôi được thành Phật mà ánh sáng còn hạn lượng, cho đến ít nhất không chiếu soi được trăm nghìn ức na do tha các cõi nước của chư Phật thì tôi không ở ngôi Chính giác. Trong hội Vô lượng thọ Như lai bản dịch đời Đường thì ghi như sau (Đại 11, 93 hạ): Nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn, cho đến ít nhất không chiếu soi ức na do tha trăm nghìn cõi Phật thì tôi không giữ lấy bồ đề. Đây là nguyện của Phật A di đà đã phát khi còn làbồ tát Pháp tạng ở địa vị tu nhân, tức là nguyện khi thànhtựuChính đẳng chính giác, ánh sáng không có hạn lượng, chiếu khắp các cõi nước trong thế giới 10 phương. Nguyện này cùng với nguyện Thọ mệnh vô lượng tạo thành quả thể của Báo thân đức Phật A di đà. [X. kinh A di đà; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng].
quang minh vô tế
Imeasurable illumination.
quang minh vương
Một trong 25 vị Bồ Tát cùng với Phật A Di Đà tiếp dẫn những người lâm chung mà niệm hồng danh Phật—Shining heart bodhisattva, one of the twenty five Boshidattvas who, with Amitabha, welcomes to the Western Paradise the dying who call on Buddha.
quang minh đàn
The fire altar.
quang minh đại phạm
Djyotichprabhā-Brahma (S)Bậc Đại tiên ở cõi trời sắc giới (sơ thiền thiên).
; Jyotisprabha (skt)—The great illustrious Brahman.
quang minh đại sư
Tên của tự viện và cũng là danh hiệu vua Đường Cao Tông ban cho sư Thiện Đạo: Kuang-Ming Tzu, temple and title of Shan-T'ao, a noted monk of the T'ang dynasty (under T'ang Kao-Tsung).
quang minh đồng tử nhân duyên kinh
2178凡四卷。宋代施護譯。收於大正藏第十四冊。又稱佛說光明童子因緣經、光明童子經。內容述說王舍城善賢長者之子光明童子,出家證果之因緣。
; (光明童子因緣經) Cũng gọi Phật thuyết Quang minh đồng tử nhân duyên kinh, Quang minh đồng tử kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Thí Hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật về nhân duyên xuất giachứng quảcủa đồng tử Quang minh, con của trưởng giả Thiện hiền ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn Độ.
quang minh độ
Tên gọi tắt của Vô Lượng Quang Minh Độ, là đức danh của cõi Tây Phương Cực Lạc—The glory land or the Paradise of Amitabha.
Quang minh 光明
[ja] コウミョウ kōmyō ||| (āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā). 'Bright light', 'radiance.' A symbol of the wisdom of a Buddha or bodhisattva. It is an expression indicating the destruction of the darkness of delusion and the manifestation of the reality-principle. It is an expression of praise of the unlimited and unimpeded light of Amitābha Buddha, where 光 is distinguished into the light of his wisdom and the light of his form. 明 is the external manifest functioning expression of this wisdom. => (s: āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā) Ánh sáng rực rỡ, hào quang. Biểu tượng cho trí tụê của Đức Phật hay của Bồ-tát. Là biểu tượng chỉ cho sự tối tăm của vô minh và sự hiển bày đạo lý chân thực. Là từ ngữ tán thán ánh sáng vô biên, vô ngại của Đức Phật A Di Đà, trong đó Quang đặc biệt là ánh sáng trí huệ và ánh sáng từ thân tướng của Ngài. Minh là biểu tượng cho dụng từ trí tuệ của Ngài tỏa ra bên ngoài.
quang mục
2184唐末五代溈仰宗僧。仰山慧寂禪師之法嗣。居於袁州(江西宜春)仰山西塔,生平不詳。景德傳燈錄卷十二記載其與某僧之問答(大五一‧二九三下):「仰山西塔光穆禪師,僧問:『如何是正聞?』師曰:『不從耳入。』曰:『作麼生?』師曰:『還聞麼?』問:『祖意與教意同別?』師曰:『同別且置,汝道瓶嘴裏什麼物出來入去?』問:『如何是西來意?』師曰:『汝無佛性。』問:『如何是頓?』師作圓相示之。曰:『如何是漸?』師以手空中撥三下。」〔五燈會元卷九〕
quang mục nữ
2171為地藏菩薩過去世之身。地藏菩薩於往昔曾為女子,名為光目,因知其母墮在惡趣,乃發願救拔一切眾生,待一切眾生盡成佛道後,方證菩提,以此大誓願,得救拔其母脫離惡道。〔地藏菩薩本願經卷上〕(參閱「地藏菩薩」2318)
; Người con gái mắt to và sáng, tiền thân của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát—The bright-eyed (wide-eyed) daughter, a former incarnation of Ksitigarbha (Địa Tạng).
; (光目女) Tiền thân của bồ tát Địa tạng. Trong đời quá khứ xa xưa, bồ tát Địa tạng từng là người nữ tên Quang mục, nhân biết mẹ mình bị đọa vào đường ác, nên phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh, đến khi nào tất cả chúng sinh đều thành Phật rồi thì Ngài mới chứng bồ đề. Nhờ đại thệ nguyện ấy mà mẹ Ngài thoát khỏi ác đạo. [X. kinh Địa tạngbồ tát bản nguyện Q.thượng]. (xt. Địa Tạng Bồ Tát).
quang nghiêm bồ tát
PrabhāvyŪha (S)Tên một vị Bồ tát.
Quang Nghiêm tự
光嚴寺; C: guāngyán sì; J: kōgon-ji;|Ngôi chùa ở Tương Châu (湘州), nơi Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo tập trung vào việc thực hành 16 hạnh Vô tận tạng (無盡藏).
Quang Nghiêm tự 光嚴寺
[ja] コウゴンジ Kōgon ji ||| The Guanyan si; temple in Xiangzhou where Xinxing 信行, founder of the Sanjie jiao 三階教 movement, abandoned himself to the practice of the "sixteen practices" of the Wujinzang 無盡藏 (Inexhaustible Storehouse). => Ngôi chùa ở Xiangzhou, nơi Ngài Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo, bị cấm thực hành "16 hạnh Vô tận tạng" (c: Wujinzang 無盡藏).
quang ngoa
2181禪林用語。意指清苦參禪,修治完美。景德傳燈錄卷十一徑山洪諲條(大五一‧二八四下):「『一毫穿眾穴時如何?』師曰:『光靴任汝光靴,結果任汝結果。』」依據景德傳燈錄鈔卷三之解釋,光靴者,修治完美之義。〔五燈會元卷九、葛藤語箋卷二〕
; (光靴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giầy sáng bóng, hàm ý chỉ cho sự tham thiền thanh đạm, kham khổ,sự sửa đổi hoàn toàn tốt đẹp. Điều Kính sơn Hồng nhân trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 284 hạ) chép: Khi một sợi lông xỏ qua các lỗ thì thế nào? Sư nói: Quang ngoa mặc ông quang ngoa, kết quả mặc ông kết quả. Theo sự giải thích trong Cảnh đức truyền đăng lục sao quyển 3, thì quang ngoa nghĩa là sửa đổi cho được hoàn mĩ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Cát đằng ngữ tiên Q.2].
quang nguyên
Light source.
Quang Nhân Thiên Hoàng
(光仁天皇, Kōnin Tennō, tại vị 770-781): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời kỳ Nại Lương, hoàng tôn của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō), con thứ 6 của Thân Vương Thí Cơ (施基, Shiki), tên là Bạch Bích (石壁, Shirakabe). Ông được nhóm Đằng Nguyên Bách Xuyên (藤原百川, Fujiwara-no-Momokawa) đưa lên cầm quyền, cho mời Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro) về để thực hiện chính sách cải cách.
quang phổ
Spetrum.
quang phục
To restore.
quang thai hiện độ
2182謂金臺中現出淨土。光臺,即佛光所化現之金臺。據觀無量壽經序分載,韋提希夫人厭離眾苦,而欣求往生淨土,世尊應其要求,白眉間放光,其光金色,遍照十方無量世界,後於佛頂上化為金臺,金臺中復現十方諸佛之淨土,韋提希夫人見諸淨土中,以西方極樂世界最為清淨,遂求往生阿彌陀佛之淨土。 蓋世尊所示現之十方淨土本無優劣,諸佛之斷惑證理、行滿果圓亦無二致,然世尊為隨機隱顯,應機度化,故隱其他諸淨土之優,而獨顯西方阿彌陀佛淨土之勝,以此接引韋提希夫人。〔觀無量壽佛經疏序分義(善導)〕
quang thái
Bright.
quang thắng
2180請參閱放光般若經 請參閱 俱舍論記 <一>(903?~972)又稱空也上人。日本平安中期之淨土教布教僧。(參閱「空也」3470) <二>(1817~1894)日本大谷派本願寺達如之第二子。號嚴如。十二歲任大通寺、本德寺之主事。天保十二年(1841)入本願寺,改名光勝。翌年,任正僧正。天保十四年,進任大僧正。三十歲時,繼任本願寺第二十一代之法統。明治維新,奉詔從事蝦夷開拓。明治二十二年(1889)退隱,自號真無量院。明治二十七年一月示寂,世壽七十八。光勝於治山之四十四年中,善處真俗之間,舉措得宜,對教界貢獻至鉅。〔嚴如上人御詳傳、東西本願寺御歷代記〕
Quang Thế Âm
光世音; C: guāngshìyīn; J: kōseion;|Một trong nhiều cách phiên dịch từ Avalokiteśvara (Quán Thế Âm 觀世音) sang tiếng Hán, được Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmapāla) sử dụng.
quang thế âm
See Quán Thế Âm Bồ Tát.
quang thế âm ứng nghiệm kí
2171全一卷。南朝劉宋傅亮撰。本書在我國已散軼,日本京都之青蓮院猶存有鎌倉中期之古寫本。傅亮(374~426)乃南朝宋時著名的文人政治家。本書主要之根據,係竺法護於西晉太康七年(286)所譯「正法華經」中之光世音普門品,為我國所傳最古老觀音信仰之貴重史料。依本書序文所載,作者乃就其所閱讀過的東晉謝敷所撰之「光世音應驗」(今不存),憑其記憶所及而擷取部分記載於本書中。劉宋張演所著「續光世音應驗記」,及蕭齊陸杲所著「繫觀世音應驗記」等,皆為本書之續編。
; (光世音應驗記) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Phó Lượng soạn vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều. Hiện nay, tại Trung Quốc, sách đã thất lạc, nhưng viện Thanh Liên ở Kyoto, Nhật Bản, còn giữ được bản chép tay vào giữa thời kì Liêm Thương. Ông Phó Lượng là nhà văn và chính trị gia nổi tiếng ở đời Tống thuộc Nam triều. Nội dung sách nàychủ yếulà căn cứ vào phẩm Quang thế âm phổ môn trong kinh Chính pháp hoa do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào năm Thái Khang thứ 7 (286) đời Tây Tấn. Đây là sử liệu rất quí giá, xưa nhất về tín ngưỡng Quán thế âm được truyền vào Trung quốc. Theo lời tựa sách này thì tác giả nhân đọc sách Quang thế âm ứng nghiệm do ông Tạ Phu soạn vào đời Đông Tấn (sách này hiện nay không còn) và trích theo chỗ nhớ được mà viết thành tác phẩm này.Tục quang thế âm ứng nghiệm kí do ông Trương Diễn soạn vào đời Lưu Tống và Hệ quán thế âm ứng nghiệm kí do ông Lục Cảo soạn vào đời Tiêu Tề, đều là Tục biên của sách này.
Quang Thế Âm 光世音
[ja] コウセイオン Kōseion ||| One of the ways of translating the term Avalokiteśvara 觀世音 into Chinese, used by Dharmapāla 竺法護. => Một trong nhiều tiếng phiên dịch từ Avalokiteśvara 觀世音 sang tiếng Hán, do Ngài Trúc Pháp Hộ sứ dụng.
quang thống
Luật sư Tuệ Quang vào thế kỷ thứ sáu, người đã từ chức quan “Thống” của triều đình để xuất gia—A Vinaya-monk named Hui-Kuang, the sixth century, who resigned the high office of the general supervisor and left home to become a monk.
quang toà
2180指佛之後光與臺座。又作光趺。陀羅尼集經卷十(大一八‧八七六上):「其像身長一肘一尺三寸五分,除其光座。」
; (光座) Cũng gọi Quang phu. Chỉ cho hào quang và tòa ngồi của Phật. Kinh Đà la ni tập quyển 10 (Đại 18, 876 thượng) nói: Thân của tượng ấy cao 1 khuỷu tay 1 thước 3 tấc 5 phân, không kể quang tọa (khoảng 53 cm).
Quang Trí
光智; C: guāngzhì; J: kōchi;|Tiếng Hán dịch ý tên Prabhākaramitra, thường được phiên âm là Ba-la-ca-phả Mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).
Quang Trí 光智
[ja] コウチ kōchi ||| A Chinese translation of the name Prabhākaramitra, usually transcribed as => Tiếng Hán dịch tên Ngài Prabhākaramitra, thường được phiên âm là Ba-la-ca-phả-mật-đa-la波羅迦頗蜜多羅.
Quang Trạch
光宅; C: guāngzhái; J: kōtaku;|Tên khác của Pháp Vân (法雲), vị trú trì chùa Quang Trạch.
quang trạch
2171(467~529)南朝僧。義興陽羨(江蘇宜興)人。七歲出家,法號法雲。與僧旻、智藏被譽為梁代三大法師。嘗住持光宅寺(江蘇),故世稱光宅。師善說法華經,所撰之法華經義記(又稱法華經義疏),又稱為光宅疏。〔續高僧傳卷五、法華經玄義卷一下〕(參閱「光宅寺」2171、「法雲」3410)
; Quang Trạch là tên của một tự viện bên Trung Quốc nơi mà ngài Pháp Vân đã viết bộ luận về Kinh Pháp Hoa hồi đầu thế kỷ thứ sáu—Kuang-Zhai, name of the temple in China where where Fa-Yun wrote his commentary on the Lotus Sutra early in the sixth century.
; (光宅) (467-529) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Nam Triều, người Dương Tiện, Nghĩa Hưng (Nghi hưng, Giang tô). Sư xuất gia năm 7 tuổi, pháp hiệu là Pháp Vân, từng trụ trì chùa Quang Trạch, cho nên người đời gọi sư là Quang Trạch. Sư chuyên nghiên cứu về thuyết giảng kinh Pháp hoa. Sư cùng với 2 ngài Tăng Mân và Trí Tạng được tôn là Tam Đại Pháp Sư đời Lương. Sư có tác phẩm: Pháp hoa kinh nghĩa kí (Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Quang trạch sớ).[X. Tục cao tăng truyện Q.5; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, phần cuối].(xt. Quang Trạch Tự, Pháp Vân).
quang trạch tứ giáo
See Tứ Giáo.
Quang Trạch tứ thừa
光宅四乘; C: guāngzhái sìshèng; J: kōtaku-shijō;|Đề cập đến sự lập ra giáo lí Nhất thừa (tứ thừa, cỗ xe thứ tư) do Quang Trạch dựa rên kiến giải của mình về ví dụ Nhà bắt lửa cháy trong kinh Pháp Hoa. Đây là đặc điểm quan trọng của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm.
quang trạch tứ thừa
2171光宅,即南朝梁光宅寺之法雲法師。師依法華經譬喻品所說之四車,判釋佛陀一代之教說為四乘教,故稱光宅四乘。據華嚴五教章卷一、華嚴經探玄記卷一等載,即:(一)以羊車比喻聲聞乘,(二)以鹿車比喻緣覺乘,(三)以牛車比喻菩薩乘,(四)以大白牛車比喻佛果一乘。此乃光宅於三乘教之外,別立圓融之一乘教;以三乘教為說法華以前之權教,一乘教為法華一乘之實教,開啟天台、華嚴諸宗之基礎。〔法華義經記卷四、法華經玄義卷十上、五教章通路記卷十三〕(參閱「火宅喻」1495、「四教」1759)
; Ngài Quang Trạch chia Nhà Lửa Tam Giới ra làm Tứ Thừa, được trường phái Thiên Thai thừa nhận—Kuang-Zhai made a division of four yanas from the Burning House parable, which adopted by the T'ien-T'ai: 1) Xe Dê chỉ Thanh Văn Thừa: The goat cart representing the Sravaska. 2) Xe Hươu chỉ Duyên Giác Thừa: The deer cart representing the Pratyeka-buddha. 3) Xe Trâu chỉ Bồ Tát Tiểu Thừa: The ox-cart representing Hinayana Bodhisattva. 4) Xe Trâu Trắng lớn chỉ Bồ Tát Đại Thừa: The great white ox-cart representing the Mahayana Bodhisattva. ** For more information, please see Tứ Giáo.
; (光宅四乘) Nghĩa Tứ thừa của ngài Quang Trạch. Quang Trạch tức là Pháp sư Pháp Vân, trụ trì chùa Quang Trạch vào đời Lương thuộc Nam Triều. Sư căn cứ vào thuyết Tứ xa (4 cỗ xe) trong phẩmThí dụ kinh Pháp hoa mà chia giáo thuyết của đức Phật nói trong 1 đời làm 4 thừa giáo, cho nên gọi là Quang Trạch tứ thừa. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 và Hoa nghiêm thám huyền kí quyển 1 thì 4 xe là: 1. Xe dê: Ví dụ Thanh văn thừa. 2. Xe nai:Ví dụ Duyên giác thừa. 3. Xe trâu: Ví dụ Bồ tát thừa. 4. Xe trâu trắng lớn: Ví dụ Phật quả Nhất thừa. Như vậy, ngoài Tam thừa giáo, ngài Quang Trạch còn lập thêm Nhất thừa giáo, chủ trương Tam thừa giáo là Quyền giáo (giáo pháp tạm thời) nói trước kinh Pháp hoa; còn Nhất thừa giáo là Thực giáo (giáo pháp chân thực) của Nhất thừa Pháp hoa, là nền tảng mở ra các tông Thiên thai, Hoa nghiêm... [X. Pháp hoa nghĩa kinh kí Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.13]. (xt. Hỏa Trạch Dụ, Tứ Giáo).
Quang Trạch tứ thừa 光宅四乘
[ja] コウタクシジョウ kōtakushijō ||| A reference to the establishment of the doctrine of one vehicle (fourth vehicle) by Guangzhai based on his interpretation of the parable of the burning house in the Lotus Sutra 法華經. This is an important special characteristic of the Tiantai and Huayan schools. => Đề cập đến sự lập ra giáo lý nhất thừa (tứ thừa) do Ngài Quang Trạch dựa trên kiến giải của mình về ví dụ Nhà lửa trong Kinh Pháp Hoa. Đây là đặc điểm quan trọng của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm.
Quang Trạch Tự
(光宅寺, Kōtaku-ji): hiện tọa lạc ở phía Đông Nam Huyện Giang Nam (江南縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省, Nam Kinh), còn gọi là Huệ Trạch Tự (慧宅寺). Vào năm đầu (502) niên hiệu Giám Nguyên (監元), có thuyết cho là năm thứ 3 cùng niên hiệu, vua Lương Võ Đế (梁武帝) cải đổi tư gia cũ của mình thành chùa, cho đúc tượng đại Phật bằng đồng vàng an trí tại đây, thỉnh Pháp Vân (法雲)―một trong 3 vị đại Pháp Sư nhà Lương―làm trú trì và định ra quy chế tăng sĩ. Kể từ khi Pháp Vân giảng Pháp Hoa Kinh (法華經), tên gọi Quang Trạch Tự được mọi người trong khắp thiên hạ biết đến; chính Thiên Thai Trí Khải (天台智顗) cũng đã từng giảng Pháp Hoa Kinh, Nhân Vương Kinh (仁王經) tại chùa này vào năm thứ 3 (583) niên hiệu Khai Hoàng (開皇). Đây là ngôi danh lam bảo sát của Giang Nam vào thế kỷ thứ 6.
quang trạch tự
2171<一>位於江蘇(南京)。梁武帝天監元年(502),一說天監三年,由武帝捐捨舊宅所建,時以觀音之像放光七日,故稱光宅寺。寺中安置金銅大佛。敕以法雲為住持,並制定僧制。由於法雲於寺中講說法華經,該寺因此而名聞天下。天台大師智顗於陳至德元年(583),亦居於此講說仁王經、法華經。於南朝梁、陳之時為江南首屈一指之名剎。其後沿革不詳。〔梁高僧傳卷十三、隋天台智者大師別傳、釋氏稽古略卷二〕 <二>位於長安(陝西西安)朱雀街西之光宅坊。唐代儀鳳二年(677)建立。至武后長安二年(702),一說長安三年,於寺中置七寶臺,故又稱七寶臺寺。寺中佛像雕刻精妙,有數尊為日本東京博物館所收藏。〔唐會要卷四十八〕
; (光宅寺) I. Quang Trạch Tự. Chùa ở Giang Tô (Nam Kinh), Trung quốc, do vua Vũ Đế sáng lập vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương (có thuyết nói là năm Thiên giám thứ 3), bấy giờ, tượng Quán âm trong chùa phóng quang trong 7 ngày nên gọi là Quang Trạch tự. Trong chùa có thờ tượng Đại Phật bằng kim đồng, vua ban sắc cho ngài Pháp vân trụ trì và định ra Tăng chế. Nhờ ngài Pháp Vân giảng kinh Pháp hoa ở đây mà chùa nổi tiếng khắp trong nước. Vào niên hiệu Chí Đức năm đầu (583) đời Trần, Đại sư Thiên Thai Trí Khải cũng thuyết giảng các kinh Nhân vương, Pháp hoa ở chùa này. Vào đời Lương, Trần, Quang Trạch là ngôi chùa đứng vào bậc nhất ởvùngGiang nam. [X. Lương cao tăng truyện Q.13; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Thích thị kê cổ lược Q.2]. II. Quang Trạch Tự. Chùa ở phường Quang Trạch, phía tây đường Chu Tước ở Trường An (Tây An, Thiểm Tây), được xây dựng vào năm Nghi phụng thứ 2 (677) đời Đường. Đến năm Trường an thứ 2 (702) triều Vũ Hậu (có thuyết nói là năm Trường an thứ 3), trong chùa có đặt đài Thất bảo, nên chùa cũng được gọi là Thất bảo đài tự. Tượng Phật trong chùa được chạm trổ rất tinh vi, có nhiều pho tượng ở đâyhiệnđược cất giữ tại viện bảo tàng Tokyo, Nhật bản. [X. Đường hội yếu Q.48].
Quang Trạch 光宅
[ja] コウタク Kōtaku ||| Another name for Fayun 法雲 of Guangzhai temple. => Tên khác của Ngài Pháp Vân, trú trì chùa Quang Trạch.
quang tuyến
Ray.
quang tán bát nhã ba la mật kinh
2185凡十卷。西晉竺法護譯。又稱光讚摩訶般若經、光讚經、光讚般若經。相對於小品般若經之初譯本道行般若經,本經乃大品般若經之初譯本。收於大正藏第八冊。本經相當於梵本二萬五千頌般若波羅蜜多經(玄奘譯大般若經)第二會八十五品中之最 初二十七品。亦相當於無叉羅所譯之放光般若經二十卷九十品中之最初三十品,及鳩摩羅什所譯之摩訶般若波羅蜜經二十七卷九十品中之最初二十九品。 本經之梵本,於西晉太康七年(286)由于闐沙門祇多羅持來,而於同年十一月二十五日譯出。本經共分二十七品,始自光讚品,終於雨法寶品。 關於本經之經名,乃佛自舌根放光,普照三千大千世界,光中生出蓮華,蓮華上復出現諸佛,稱揚讚歎此般若,故稱光讚般若波羅蜜經。〔大品經遊意(吉藏)、出三藏記集卷二、卷七、開元釋教錄卷二、卷十一、大唐內典錄卷二〕
; (光贊般若波羅蜜經) Cũng gọi Quang tán ma ha bát nhã kinh, Quang tán kinh, Quang tán bát nhã kinh. Kinh, 10 quyển, do Ngài Trúc pháp hộ dịch vào đờiTây Tấn, là bản dịch đầu tiên của kinh Đại phẩm bát nhã, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này tương đương với 25.000 bài tụng của 27 phẩm đầu trong 85 phẩm thuộc hội thứ 2 của kinh Bát nhã Ba la mật đa (kinh Đại bát nhã dongài Huyền trang dịch) bản tiếng Phạm. Kinh này cũng tương đương với 30 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Phóng quang bát nhã 20 quyển do ngài Vô xoa la dịch và tương đương với 29 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Ma ha bát nhã ba la mật 27 quyển do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Bản tiếng Phạm của kinh này là do ngài sa môn Kì Đa La người nước Vu Điền đem đến nước Trung Quốc vào năm Thái Khang thứ 7 ( 286) đời Tây Tấn và đã được dịch ra vào ngày 25 tháng 11 cùng năm. Nội dung gồm 27 phẩm, bắt đầu từ phẩm Quang tán và kết thúc với phẩm Vũ pháp bảo.Về tên kinh của kinh này là do đứcPhật từ nơi lưỡi của Ngài phóng ra ánh sáng (quang) chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới, trong ánh sáng sinh ra hoa sen, trên hoa sen lại có chư Phật xuất hiện và tán thánBát nhã này, vì thế nên đặt tên kinh là Quang tán bát nhã ba la mật. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát tạng); Xuất tam tạng kí tập Q.2, 7; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 11; Đại đường nội điển lục Q.2].
Quang tán kinh
光讃經; C: guāngzàn jīng; J: kōsan kyō;|Kinh, 10 quyển. Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.
Quang tán kinh 光讃經
[ja] コウサンキョウ Kousan kyou ||| Guangzan jing; 10 fasc., trans. Dharmarakṣa 竺法護; T 222.8.147a-216b. cf. T 220, 221, 223. => (c: Guangzan jing) Kinh, 10 quyển. Trúc Pháp Hộ dịch (s: Dharmarakṣa).
quang tĩnh
2184(?~442)劉宋比丘尼。吳興人,俗姓胡,名道婢。幼小即出家,居於廣陵中寺。及長,修習禪思,不食美味,於受大戒之前,便斷絕穀糧,而以松果為食,如此之食,共計十五年。其心識雖澄淨明朗,然體力卻逐漸衰弱,常感疲勞乏力,比丘法成以「服食非佛盛事」勸告之,遂還食穀糧。從其學習禪思者,常有百餘人。元嘉十九年四月示寂,世壽七十餘。〔比丘尼傳卷二〕
quang tương tự
2178位於四川峨眉縣西南,大峨山之絕頂。據方輿勝覽載,自白水歷八十四盤,山徑如綿,登躋六十里方至本寺,此即普賢菩薩示現之處,寺宇皆以板建造之。相傳本寺草創於漢明帝之世,初稱普光殿,其後改稱光相寺。明洪武年間重修,明末時更大加營繕,有天王殿、祖師殿、龍神殿等諸殿,以及藏經閣等建築,為大峨山中之勝地,山川景緻,皆在其下而一覽無遺。〔佛祖統紀卷四十三、古今圖書集成職方典第六二七、山川典第一七三、第一七四〕
; (光相寺) Chùa ở trên chót đỉnh núi Đại nga, phía tây nam huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Cứ theo Phương dư thắng lãm thì từ Bạch thủy trải qua 84 vòng đường núi quanh co, leo lên tới 60 dặm mới đến chùa này, đây chính là nơi thị hiện của bồ tát Phổ hiền. Tương truyền, chùa này được sáng lập vào đời vua Minh Đế nhà Đông Hán và đặt tên là điện Phổ Quang, về sau được đổi là Quang Tướng tự. Khoảng năm Hồng vũ đời Minh, chùa được trùng tu, cuối đời Minh lại mở rộng thêm, xây điện Thiên vương, điện Tổ sư, điện Long thần, lầu Tàng kinh. Đây là thắng địa của núi Đại Nga. Đứng trên chùa nhìn xuống, núi sông cảnh trí phía dưới đều thu vào tầm mắt. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 627; Sơn xuyên điển thứ 173, 174].
quang tướng
2178又作光明相。指佛、菩薩等諸尊身體發出光明之相,象徵佛、菩薩之智慧。繪畫、彫刻等所表現之光相多係圓形,故又稱圓相、圓光。光相可分二種:(一)頭光,又作眉間光。即於頭面之周圍發圓光之光明相。(二)身光,又作舉身光。即全身周圍發光明之相。身光通常為舟形(船形)、蓮瓣形。 光相之光輪,樣式頗多,如:(一)於輪上附加圖案。(二)於輪內畫蓮華形。(三)於輪緣加光焰。(四)以光焰形成圓輪。(五)於輪緣之光上,作寶珠形。(六)於輪內放射數道金線。現今所見之曼荼羅以第三種較多,此乃以圓輪表示自性之智,以光焰表示燒除煩惱之義。顯教之佛像,則以第六種居多。又金剛界曼荼羅之諸尊有內外兩重圓相,胎藏界則僅有內層圓相。 此光相非佛教所特有。蓋視光明為神聖,而對之加以崇拜者,為世界諸宗教共通之現象,故亦有用作神聖、偉人等之表徵。〔觀無量壽經、大智度論卷八、廣弘明集卷十七〕(參閱「光背」2179)
; (光相) Cũng gọi Quang minh tướng. Chỉ cho tướng ánh sáng phóng ra từ thân của Phật, Bồ tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Trong hội họa, điêu khắc... quang tướng phần nhiều được biểu hiện bằng hình tròn, nên cũng gọi là Viên tướng, Viên quang. Quang tướng được chia làm 2 loại: 1. Đầu quang (cũng gọi Mi gian quang – ánh sáng phóng ra từ giữa đầu chân mày):Tức là chung quanh đầu và mặt phát ra tướng ánh sáng hình tròn. 2. Thân quang (cũng gọi Cử thân quang): Tức là tướng ánh sáng phát ra từ chung quanh toàn thân. Thân quang thường là hình chiếc thuyền, hình cánh hoa sen. Vòng sáng của các Quang tướng có các kiểu như: 1. Ở trên vòng sáng có thêm đồ án. 2. Ở trong vòng sáng có hình hoa sen. 3. Ở riềm của vòng sáng có thêm những tia lửa. 4. Dùng hình những tia lửa làm vòng tròn. 5. Ở trên ánh sáng của riềm vòng tròn làm hình bảo châu. 6. Ở trong vòng sáng có những đường kim tuyến phóng ra. Các Mạn đồ la được thấy hiện nay phần nhiều là thuộc loại hình thứ 3, loại này dùng vòng tròn để biểu thị trí của tự tính, dùng các tia lửa để biểu thị nghĩa đốt cháy các phiền não. Tượng Phật của Hiển giáo thì phần nhiều dùng loại hình thứ 6. Các tượng của chư tôn Mạn đồ la Kim cương giới thì có 2 lớp tướng tròn trong và ngoài, còn Thai tạng giới thì chỉ có 1 lớp tướng tròn bên trong. Quang tướng này không phải chỉ riêng Phật giáo mới có, mà các tông giáo trên thế giới nói chung đều xem ánh sáng là thiêng liêng và dùng làm đối tượng để sùng bái. Bởi thế, Quang tướng cũng cótác dụng biểu trưng thần thánh hay vĩ nhân. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.8; Quảng hoằng minh tập Q.17]. (xt. Quang Bối).
quang tướng bồ tát
Prabhāketu (S)Minh Tướng Bồ tátTên một vị Bồ tát.
quang tướng tự
Tự viện nằm trên đỉnh núi Nga Mi, thuộc huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, nơi mà Phổ Hiền Bồ Tát đã đạt đạo vô thượng—The monastery at the top of O-Mei-Shan, in Omei district, Szech-Wan province, where P'u-Hsien (Samantabhadra) is supreme.
quang tọa
Prabha-mandala (skt)—Hào quang và bảo tọa của một vị Phật—The halo and throne of a Buddha, or the halo behind the throne of an image (a halo throne).
quang tộ
2180宋代雲門宗僧。浙江人。生卒年不詳。曾參訪益州(四川成都)青城山香林院澄遠,得其心印,並嗣其法。初住隨州雙泉,復徙於智門寺,大振宗風,世稱智門光祚禪師。其弟子有雪竇重顯等三十餘人。著有智門祚禪師語錄一卷行世。〔天聖廣燈錄卷二十二、聯燈會要卷二十七、五燈會元卷二十五〕
; Kuang-tsu (C), Guangzi (C)Tên một vị sư.
; (光祚) Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân môn, sống vào đời Tống, người tỉnh Chiết Giang. Sư từng tham vấn ngài Trừng Viễn ở viện Hương Lâm tại núi Thanh Thành, thuộc Ích Châu (Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên) được tâm ấn và nối pháp của ngài. Lúc đầu, sư trụ ở Song tuyền, Tùy châu, sau dời về chùa Trí Môn mở rộng tông phong, người đời gọi là Trí Môn Quang Tộ thiền sư. Đệ tử của sư có hơn 30 người, nổi tiếng nhất là Tuyết đậu Trùng hiển. Sư có tác phẩm: Trí Môn Tộ Thiền sư ngữ lục 1quyển. [X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.22; Liên đăng hội yếu Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.25].
quang tộ trí môn thiền sư
Zen master Kuang-Zuo-Zhi-Men—Thiền sư Quang Tộ Trí Môn, quê ở Triết Giang, là đệ tử và người nối Pháp của Hương Lâm Trừng Viễn, và là thầy của Tuyết Đậu Trùng Hiển. Ông là một trong những thiền sư đầu tiên dùng thơ ca ngợi những câu châm ngôn hay lời dạy của các thầy thời xưa, đây là một nghệ thuật mà sau nầy học trò của ông là Tuyết Đậu còn vượt trội hơn ông nữa—Zen master Kuang-Zuo Zhi-Men was from Zhe-Jiang Province, was a disciple and dharma successor of Xiang-Lin-Chen-Yuan, and the master of Hsueh-T'ou-Ch'ung-Hsien. He was one of the first masters of Ch'an tradition to celebrate the words of the old masters in poetic form, and art at which his disciple Hsueh-T'ou was even better than his teacher. • Sư thượng đường dạy chúng: “Một pháp nếu có, pháp thân rơi tại phàm phu; muôn pháp nếu không, Phổ Hiền mất cảnh giới ấy. Chính khi ấy Văn Thù nhằm chỗ nào xuất đầu? Nếu đã xuất đầu chẳng được thì con sư tử lông vàng lưng bị gãy. Hân hạnh được một bàn cơm, chớ đợi gạo gừng tiêu.”—Kuang-Zuo entered the hall and addressed the monks, saying: “If there is one Dharma, then Vairocana becomes a commoner. If the ten thousand dharmas are lacking, then Samantabhadra loses his realm. Just when it is like this, Majushri has nowhere to show his head, and if he can't show his head, then the golden-haired lion is cut in two. If you enjoy a bowl of food, don't eat the spicy meat cakes.” • Tên tuổi của Trí Môn được nhắc đến trong những thí dụ 21 và 90 của Bích Nham Lục—Chih-Men appears in examples 21 and 90 of the Pi-Yen-Lu. • Thí dụ thứ 90 của Bích Nham Lục cho chúng ta thấy Trí Môn và lối vấn đáp của ông với đệ tử. Một nhà sư hỏi Trí Môn: “Vật thể của sự khôn ngoan là gì?” Trí Môn đáp: “Có sao Kim mang trong mình nó trăng sáng.” Nhà sư hỏi: “Hiệu quả của sự khôn ngoan là gì?” Trí Môn đáp: “Con thỏ cái chờ lũ thỏ con.”—Example 90 of the Pi-Yen-Lu shows us Master Chih-Men in a conversation with his disciples as followed: A monk asked Chih-Men, “What is the wisdom body?” Chi-Men said, “The Venus mussel bears the bright moon in it.” The monk asked, “And what is the effect of wisdom?” Chih-Men said, “The female hare gets pregnant.” • Trí Môn có đến ba mươi đệ tử kế thừa Pháp. Ông thị tịch năm 1031—Chih-Men had 30 dharma successors. He passed away in 1031.
quang tụ phật đảnh
Tejorāśi (S), Uṣnīṣatejorasi (S)Đề Thù La Thí, Hỏa tụ Phật đảnh, Phóng quang Phật đảnh, Hỏa quang Phật đảnh Hỏa Tụ Phật Đảnh.
; Một trong năm vị Phật Đảnh—One of the five dhyani-Buddhas.
quang tụ phật đảnh luân vương
Xem Quang Tụ Phật đảnh Bồ tát.
quang tụ phật đỉnh
2182梵名 Tejorāśyuṣṇīṣaḥ 或 Uṣṇīṣa-tejorāśi。音譯帝儒囉施鄔瑟抳灑。為密教五佛頂之一,八佛頂之一。又作火聚佛頂、火光佛頂、放光佛頂、光聚佛頂輪王。位於胎藏界曼荼羅釋迦院中,中尊釋迦牟尼佛右側下端之第四位。蓋以佛之光明聚集眾生,故稱光聚。密號為神通金剛。其形像為身呈金色,坐赤蓮華上,右掌側豎,屈無名指、小指,左手置腰間,持蓮華,蓮上有佛頂形。有關其身色、蓮座等,在其他諸經軌另有異說。三昧耶形為蓮上佛頂形(或黃蓮華上之寶形)。在大日經卷四、四部儀軌中載,其印契為:虛心合掌(手印的印母之一),二無名指、二小指等之指甲相合入掌中,二食指附著二中指之背,並豎二拇指,即成為佛頂之形。又常念誦此尊之功能,為能破壞世間、出世間真言之威力,驅除難伏之鬼魅,可成一切之大佛事。其真言,據廣大、玄法寺、青龍寺等三儀軌載,為:歸命怛陵(trīṃ,種子)帝儒囉施(tejorāśi,光聚)鄔瑟抳灑(uṣṇīṣa,佛頂)娑縛賀(svāhā)。〔菩提道場所說一字頂輪王經卷一、一字奇特佛頂經卷上、大日經疏卷五、卷六〕(參閱「八佛頂」283、「五佛頂」1094)
; (光聚佛頂) Phạm: Tejoràzyuwịìwa # hoặcUwịìwatejoràzi. Hán âm: Đế nho ra thi u sắt ni sái. Cũng gọi Hỏa tụ Phật đính, Hỏa quang Phật đính, Phóng quang Phật đính, Quang tụ Phật đính luân vương. Vị tôn ngồi ở vị trí thứ 4 đầu hàng dưới bên phải đức Trung tôn Thích Ca Mâu Ni trong viện Thích ca của Mạn đồ la thai tạng giới Mật giáo, là 1 trong 5 và 1 trong 8 vị Phật đính. Vì vị tôn này dùng quang minh của Phật để tụ họp chúng sinh nên gọi là Quang tụ, mật hiệu là Thần thông kim cương. Hình tượng của vị tôn này thân có màu vàng ròng, ngồi trên hoa sen đỏ, bàn tay phải dựng nghiêng, co ngón vô danh, ngón út, tay trái để ở ngang eo, cầm hoa sen, trên hoa có hình Phật đính. Về thân sắc và tòa sen của vị tôn này, trong các kinh quĩ còn có những thuyết khác nhau. Hình Tam muội da là hình Phật đính trên hoa sen(hoặc là hình vật báu trên hoa sen màu vàng). Theo kinh Đại nhật quyển 4 và Tứ bộ nghi quĩ, ấn khế của vị tôn này là chắp tay để rỗng ở giữa (1 trong các ấn mẹ của thủ ấn), đầu ngón của 2 ngón vô danh và 2 ngón út hợp nhau để vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ để dính vào lưng 2 ngón giữa và dựng đứng 2 ngón cái, tức là thành hình Phật đính. Nếu thường niệm công năng của vị tôn này thì có năng lực phá hoại được sức mạnh của các chân ngôn thế gian và xuất thế gian, xua đuổi được quỉ mị khó điều phục mà thành tựu tất cả đại Phật sự. Cứ theo Quảng đại nghi quĩ, Huyền pháp tự nghi quĩ và Thanh long tự nghi quĩ, thì chân ngôn của vị tôn này là: Qui mệnh đát lăng (trìm, chủng tử) đế nho ra thi (tejoràzi, quang tụ) u sắc ni sái (uwịìwa, Phật đính) sa phạ hạ (svàhà). [X. kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.1; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5, 6]. (xt. Bát Phật Đính, Ngũ Phật Đính).
quang tụ tán cái phật đảnh bồ tát
Tejorāśyusnisaḥ (S), Usnisatejorasi (S)Hoả tụ Phật đảnh, Quang tụ Phật đảnh luân vươngTên một vị Bồ tát.
quang vinh
Glorious.
quang viễn
2183(1149~1241)南宋僧。四明定海(浙江鎮海)人,俗姓方。名善月。號柏庭。幼習六經,博覽強記,十二歲通曉春秋大義。後依正覺寺道并出家。十五歲受具足戒。隆興二年(1164),道并示寂,乃往南湖依草菴道因。未久,參謁梓菴有倫,聞受世相常住之旨,益有省發。後參禮月堂慧詢,聽聞如來不斷性惡之說,豁然達悟。繼往南湖壽聖寺,禮侍竹菴可觀,受命分講,以風儀清溫,談論雅正,甚為可觀賞識。 淳熙七年(1180)住持東湖辯利寺,後遷慈溪寶嚴寺。未幾,依太師史真隱之請,居月波寺,學徒雲集,道譽高隆。紹熙二年(1191),應郡率何公澹之請,遷至壽聖寺,致力天台學說之講演,共十三年。嘉泰四年(1204),退隱衍慶寺專心著述。嘉定六年(1213)再住持壽聖寺,未逾月,奉敕入主上天竺寺,時年六十五。嘉定八年夏,大旱不雨,奉詔祈雨於明慶寺,帝親臨道場,以顯驗而悅,特補左街僧錄。嘉定十二年秋請辭,退隱城南祖關。翌年秋,移西山資教。紹定五年(1232)再奉敕住上天竺寺;居四年,辭老,退居東庵。淳祐元年示寂,世壽九十三。其塔立於寺東。 所著有金剛般若經會解二卷、楞伽經通義六卷、台宗十類因革論四卷、三部格言四卷、金剛錍論義解三卷、仁王疏記三卷、山家緒餘集三卷、楞嚴玄覽、圓覺略說、簡境十策、宗教玄述、附鈔箋要等各若干卷。門人有香林清賜、伊堂了圓、石田妙慧、半雲行儒、此室大方、虛中元真、石門士雲等。〔佛祖統紀卷十八、卷二十五、補續高僧傳卷三〕
; (光遠) ( 1149-1241) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tống, người Định Hải, Tứ minh (Trấn hải, Chiết giang) họ Phương, tên Thiện nguyệt, hiệu Bá đình. Thuở nhỏ, Sư học 6 kinh, (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân thu), đọc rộng nhớ dai, năm 12 tuổi đã thông hiểu nghĩa Xuân thu. Sau, sư lễ Ngài Đạo tinh chùa Chính giác cầu xuất gia. Năm 15 tuổi, sư được thụ giới Cụ túc. Năm Long Hưng thứ 2 (1164), ngài Đạo Tinh thị tịch, sư đến Nam Hồ nương tựa ngài Thảo Am Đạo Nhân. Ít lâu sau, Sư đến tham yết ngài Tử Am Hữu Luân, nghe nhận yếu chỉ Tướng thế gian thường trụ, sư có chỗ tỉnh ngộ. Sau, sư tham lễ ngài Nguyệt đường Tuệ tuân, nghe thuyết Như lai bất đoạn tính ác, sư hoát nhiên đạt ngộ. Sau đó, sư đến chùa Thọ thánh ở Nam Hồ lễ hầu ngài Trúc Am Khả Quan và được ngài giao cho việc giảng dạy đồ chúng. Sư có phong nghi thanh nhã ôn hòa, đàm luận mẫu mực, rất được ngài Khả Quan khen ngợi.Năm Thuần Hi thứ 7 (1180) sư trụ trì chùa Biện Lợi ở Đông Hồ, sau dời về chùa Bảo Nghiêm ở Từ Khê. Không bao lâu, nhận lời mời của quan Thái sư là Sử chân ẩn, sư về trụ ở chùa Nguyệt Ba, người về theo học rất đông, đạo hạnh của sư được truyền xa. Năm Thiện Hi thứ 2 (1191), nhận lời thỉnh của quan Quận là Hà công đạm, sư dời đến chùa Thọ thánh, tận lực diễn giảng học thuyết tông Thiên thai suốt 13 năm. Năm Gia thái thứ 4 (1204), sư lui về ẩn ở chùa Diễn khanh chuyên tâm vào việc soạn thuật. Niên hiện Thuần hựu năm đầu (1241), sư thị tịch, thọ 93 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ sư ở phía đông của chùa. Sư để lại các tác phẩm: -Kim cươngbát nhã kinh hội giải, 2 quyển. -Lăng già kinh thông nghĩa, 6 quyển. -Thai tông thập loại nhân cách luận, 4 quyển. -Tam bộ cách ngôn, 4 quyển. -Kim cương ti luận nghĩa giải, 3 quyển. -Nhân vương sớ kí, 3 quyển. -Sơn gia tự dư tập, 3 quyển. -Lăng nghiêm huyền lãm. -Viên giác lược thuyết. -Giản cảnh thậpsách. -Tông giáo huyền thuật. -Phụ sao tiên yếu... Đệ tử của sư có các vị: Hương lâm Thanh tứ, Y đường Liễu viên, Thạch đường Diệu tuệ, Bán vân Hành nho, Thử thất Đại phương, Hư trung Nguyên chân, Thạch môn Sĩ vân... [X. Phật tổ thống kỉ Q.18, 25; Bổ tục cao tăng truyện Q.3].
quang vân
2181比喻佛光如雲般之廣被一切。此因雲可潤益萬物,光明則可助益眾生,故有此喻。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一上):「光雲無礙如虛空,故佛又號無礙光,一切有礙蒙光澤。」六十華嚴經卷四(大九‧四一七上):「觀察佛光明,如雲難思議。」
; (光雲) Mây ánh sáng. Ví dụ quang minh của Phật. Mây có khả năng tưới mưa thấm nhuần giúp ích cho vạn vật, giống như ánh sáng làm lợi cho muôn loài, bởi thế dùng mây ví dụ cho quang minh của Phật. Kệ tán A di đà Phật (Đại 47, 421 thượng) nói: Quang vân vô ngại như hư không. Cho nên Phật hiệu Vô ngại quang Tất cả chướng ngại được chiếu sáng. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 4 (Đại 9, 417 thượng) nói: Quán sát ánh sáng Phật Như mây khó nghĩ bàn.
quang võng bồ tát
Jaliniprabhākumarā (S)Quang Võng đồng tửMột trong 25 vị trong Viện Văn thù, cũng là một trong tám vị đại đồng tử của Ngài Văn thùXem Minh Võng Bồ tát.
quang võng đồng tử
2182光網,梵名 Jālinī-prabha(音譯作制利抳波羅婆)或 Prabha-jāla(音譯作波羅婆闍邏)。又作光網菩薩。乃密教胎藏界曼荼羅文殊院二十五尊之一,文殊八大童子之一。位居中尊右方第一位。其稱號乃表示文殊之智光如網般周遍法界,以種種瓔珞莊嚴教網,張於十方以利益眾生之義。其形像為黃色童子形,左手持青蓮華,右手執罥索,坐赤蓮華座。密號為色相金剛,即妙慧莊嚴相之義。種子為???(jaṃ),即生不可得之義。與金剛界曼荼羅賢劫十六尊中之網明菩薩同體,網明菩薩示現外用之相,光網童子則表示內證之德。〔大日經卷一具緣品、大日經疏卷五、諸說不同記卷五、兩部曼荼羅義記卷三〕(參閱「網明菩薩」5888)
; Jàlìniprabhakumàra (S). Name of a Bodhisattva.
; Jaliniprabhakumara (skt)—Một trong tám đồng tử có lưới chiếu sáng, theo hầu cạnh Ngài Văn Thù—The youth with the shining net, one of the eight attendants on Manjusri.
; (光網童子) Quang võng, Phạm: Jàlinì-prabha (Hán âm: Chế lị ni ba la bà), hoặcPrabhajàla (Hán âm: Ba ra bà xà la). Cũng gọi Quang võng bồ tát. Vị Đồng tử ngồi ở vị trí thứ nhất bên phải của đức Trung tôn, là 1 trong 8 Đại đồng tử Văn thù, 1 trong 25 vị tôn của viện Văn thù thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Danh hiệu của vị tôn này là biểu thị ánh sáng trí tuệ củabồ tát Văn thù như những tấm lưới trùm khắp pháp giới, dùng các chuỗi ngọc anh lạc trang nghiêm lưới giáo pháp, giăng bủa khắp 10 phương để làm lợi ích cho chúng sinh. Mật hiệu là Sắc tướngkim cương, nghĩa là trí tuệ vi diệu làm đẹp thân tướng. Về hình tượng là hình đồng tử có thân màu vàng, tay trái cầm hoa sen xanh, tay phải cầm vòng dây lụa, ngồi trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (jaô) có nghĩa là Sinh bất khả đắc. Đồng tử này và bồ tát Võng minh trong 16 vị tôn Hiền kiếp của Mạn đồ la Kim cương giới là đồng thể. Bồ tát Võng minh thị hiện tướng ngoại dụng, còn đồng tử Quang võng thì biểu thị đức nội chứng. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3]. (xt. Võng Minh Bồ Tát ).
quang vận tự
2181位於廣東曲江縣西。隋朝時所建。據韶州府志載,仁壽光運寺,在府城西河,隋朝稱仁壽臺。唐天寶二年(743),道廣和尚於此坐化,因建廣界寺,南漢時改稱「仁壽」。宋寶元年間重建,余襄公撰塔銘。本寺相傳為晉朝內史王導之故宅,俗又稱五祖寺,然此五祖非指黃梅五祖。宋代孫時敏亦有碑記。
quang xúc
2185指光明觸照之意。即佛之光明照被,觸及行者之身。六十華嚴經卷三十四(大九‧六一七中):「如來有光,名寶身智,若有眾生觸斯光者,皆悉得與佛身同色。」讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一上):「蒙光觸者離有無。」〔無量壽經卷上、往生禮讚〕
; (光觸) Ánh sáng của Phật tiếp xúc và chiếu rọi thân hành giả. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 34 (Đại 9, 617 trung) nói: Đức Phật có ánh sángtên là Bảo thân trí, nếu có chúng sinh nào được tiếp xúc với ánh sáng ấy thì thân chúng sinh đó có màu sắc giống với màu sắc của thân Phật. Kệ tán A di đà Phật (Đại 47, 421 thượng) nói: Người được quang xúc thì lìa hữu vô. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Vãng sinh lễ tán].
quang âm
Light and shadow—Passing time.
quang âm cung
Ābhāsvara-vimāna (S)Cực quang tịnh thiên cungTên một cõi giới.
quang âm thiên
2179光音,梵名 ābhāsvara,巴利名 ābhassara。音譯阿波會提婆。又作阿波會天、阿會互修天、阿波互羞天、阿波羅天、阿波嘬羅遮天。意譯光陰天、水無量天、無量水天、極光淨天、極光天、光淨天、遍勝光天、晃昱天、光曜天。新譯極光淨天、遍勝光天。乃色界天之一。即第二禪之第三天,位於無量光天之上,少淨天之下。此界眾生無有音聲,而由定心所發之光明,以替代語言傳達彼此之意,故稱光音天。上品二禪天相應業之眾生投生此界,得最勝之色,身長八由旬,壽八大劫,以喜悅為食,住於安樂,自然光明,具有神通,可乘空而行。俱舍論卷十二(大二九‧六三上):「初一有情極光淨歿,生大梵處,為大梵王。後諸有情亦從彼歿,有生梵輔,(中略)漸漸下生,乃至人趣。(中略)後生餓鬼、傍生、地獄。」此謂娑婆世界之有情係自極光淨天(光音天)輾轉而來。增一阿含經卷三十四載,劫初之時,光音天子至此世間食地肥,食少者,其體不重,且不失神足,故亦能於虛空飛行;然食多者,其體遂重,終失神足,而致不能重返天上。此外,密教胎藏界曼陀羅外金剛院之一眾,亦出自此天。〔長阿含經卷二十、起世經卷七、大樓炭經卷四、祕藏記〕
; Abhassara (P)Xem Cực quang tịnh thiên.
; Abhàsvara (S). Light-sound heavens. The heavens of utmost light and purity.
; Abhasvara (skt)—Quang Âm Thiên hay Cực Quang Tịnh Thiên, là cõi trời thứ ba trong đệ nhị thiền thiên thuộc sắc giới. Tại cõi trời nầy dứt mọi âm thanh, lúc muốn nói thì dùng tịnh quang làm ngôn ngữ, nên gọi là Quang Âm. Thời đại hỏa tai hủy diệt cõi sơ thiền thiên của sắc giới thì chúng sanh ở hạ giới đều tập hợp tất cả vào cõi trời nầy. Chờ tới sau khi thế giới tái thành, buổi ban đầu của thành kiếp, từ cõi trời nầy nổi lên những áng mây vàng, trút mưa lũ xuống để tạo ra thế giới từ sơ thiền thiên xuống tới địa ngục. Khi thế giới đã thành rồi thì chúng sanh ở cảnh trời nầy phúc bạc, dần dần phải đi xuống cõi dưới, thậm chí cho tới địa ngục đều thấy chúng sanh—Light and sound or Light-sound heavens, also styled the heaven of utmost light and purity, the third of the second dhyana heavens, in which inhabitants converse by light instead of words; they recreate the universe from the hells up to and including the first dhyana heavens after it has been destroyed by fire during the final series of cataclysms; but they gradually diminish in power and are reborn in lower states. The three heavens of the second dhyana are: 1) Thiểu Quang Thiên: Minor-Light Heaven. 2) Vô Lượng Quang Thiên: Infinite-Light Heaven. 3) Quang Âm Thiên: Light and Sound Heaven.
; (光音天) Quang âm, Phạm: Àbhàsvara, Pàli: Àbhassara. Hán âm: A ba hội đề bà. Cũng gọi A ba hội thiên, A hội hỗ tu thiên, A ba hỗ tu thiên, A ba la thiên, A ba tối la già thiên. Hán dịch: Quang âm thiên, Thủy vô lượng thiên, Vô lượng thủy thiên, Cực quang tịnh thiên, Cực quang thiên, Quang tịnh thiên, Biến thắng quang thiên, Hoảng dục thiên, Quang diệu thiên. Dịch mới: Cực quang tịnh thiên. Một trongcác tầng trời cõi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của đệ nhị thiền; tầng trời này ở trênVô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu tịnh thiên. Chúng sinh ở cõi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ý nghĩa, vì thế nên gọi Quang âm thiên. Chúng sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cõi Nhị thiền được sinh về cõi trời này, được sắc tối thắng, thân cao 8 do tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong an lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ thần thông, có thể bay đi trong hư không. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 63 thượng) nói: Ban đầu có 1 hữu tình ở cõi trời Cực quang tịnh, chết đi, sinh xuống cõi trời Đại phạm làm Đại phạm vương. Sau, các hữu tình khác cũng từ cõi trời kia chết đi, sinh xuống cõi trời Phạm phụ, (...) dần dần sinh xuống nữa, cho mãi đến cõi người (...)Sau, sinh xuống ngã quỉ, bàng sinh, địa ngục. Đây có ý nói chúng sinh hữu tình của thế giới Sa bà này chính đã từ cõi trời Cực quang tịnh (Quang âm thiên) và lần lần sinh xuống. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 34 thì nói rằng: Lúc kiếp sơ, các Thiên tử từ cõi trời Quang âm đến thế gian này nếm thử mùi ngon của đất, người ăn ít thì thân thể không nặng nề, không mất thần túc nên vẫn bay về được; còn người ăn nhiều thì thân thể nặng nề, mất hết thần túc nên không bay trở về cõi trời được nữa. Ngoài ra, 1 bộ chúng của Ngoại kim cương viện thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo cũng đã xuất thân từ cõi trời Quang âm này. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.7; kinh Đại lâu thán Q.4; Bí tạng kí].
quang âm thiên cõi
Ābhassaraloka (P), Realm of the Radiant Gods Tên một cõi giới.
quang điệu
Shinning.
quang đoan
Tia sáng cát tường được Phật phóng ra từ giữa hai bộ lông mày của Ngài trước khi Ngài khai pháp—The auspicious ray sent from between the Buddha's eyebrows before a revelation (khai pháp).
quang đài hiện độ
(光臺見土) Trong đài vàng hiện ra Tịnh độ. Quang đài là đài vàng do hào quang của Phật hóa hiện ra. Cứ theo phần Tựa kinh Quán Vô lượng thọ thì phu nhân Vi đề hi chán ngán các nổi khổ, mong cầu được vãng sinh Tịnh độ. Để đáp ứng sự mong cầu của bà, đức Thế Tôn liền từ chỗ giữa 2 đầu chân mày phóng ra 1 luồng ánh sáng màu vàng ròng, soi khắp vô lượng thế giới ở 10 phương, sau đó, đức Phật hóa ra 1 đài vàng trên đỉnh đầu của Ngài, trong đài vàng lại hiện ra các Tịnh độ của chư Phật ở 10 phương, bà Vi Đề Hi thấy trong các Tịnh độ ấy có thế giới Cực lạc ở phương Tây là thanh tịnh trang nghiêm hơn cả, nên bà mong cầu được sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. Các Tịnh độ trong 10 phương do đức Thế Tôn thị hiện ra vốn không có hơn kém khác nhau, sự đoạn hoặc chứng lí và hạnh mãn quả viên của chư Phật cũng như nhau, nhưng vì tùy cơ ẩn hiện và hóa độ theo căn tính, nên đức Thế Tôn ẩn giấu sự ưu thắng của các Tịnh độ khác mà chỉ hiển bày sự ưu thắng của Tịnh độ Phật A di đà phương Tây để tiếp dẫn phu nhân Vi Đề Hi. [X. Tự phần nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Thiện đạo )].
quang đãng
Clear.
quang đế bộc đầu
2178禪宗公案名。指後唐莊宗(同光帝)對興化存獎禪師引幞頭腳,而得禪師示悟之一段對話。幞頭,係頭巾一類物。景德傳燈錄卷十二(大五一‧二九五中):「莊宗一日謂師曰:『朕收大梁,得一顆無價明珠,未有人酬價。』師曰:『請陛下珠看。」帝以手舒開幞頭腳。師曰:『君王之寶,誰敢酬價?』」宏智禪師嘗作頌曰:「君王底意語智音,天下傾城葵蕾心,掇出中原無價寶,不同趙璧與燕金。中原之寶呈興化,一段光明難定價,帝業堪為萬世師,金輪景耀四天下。」〔宗門統要續集卷十、禪宗正脈卷十一〕(參閱「存獎」2385)
; (光帝襆頭) Tên công án trong Thiền tông. Quang Đế giở khăn chít đầu ra. Đây là đoạn đối thoại nói về việc vua Trang Tông (Đồng Quang Đế) nhà hậu Đường giở khăn chít đầu ra mà được Thiền sư Hưng Hóa Tồn Tưởng khai thị. Cảnh đức truyền đăng lụcquyển 12 (Đại 51, 295trung) ghi: Một hôm, vua Trang Tông nói với sư rằng: Lúc thu phục nước Đại Lương, Trẫm lấy một hạt minh châu quí vô giá, mà chưa có người nào trả giá. Sư nói: Xin Bệ hạ cho xem hạt châu. Nhà vua đưa tay giở khăn chít đầu, Sư nói: Báu vật của nhà vua ai dám trả giá!. Thiền sư Hoành Trí làm bài tụng rằng: Quân vương để ý ngữ trí âm Thiên hạ khuynh thành quì lôi tâm Xuyết xuất Trung nguyên vô giá bảo Bất đồng Triệu bích dữ Yên kim. Trung nguyên chi bảo trình Hưng hóa Nhất đoạn quang minh nan định giá Đế nghiệp kham vi vạn thế sư Kim luân cảnh diệu tứ thiên hạ. (Dịch sát: Nhà vua thực ý bảo trí âm Thiên hạ khuynh thành quì hướng tâm. Trung nguyên lấy được của vô giá Chẳng như ngọc Triệu và vàng Yên Của báu Trung nguyên trình Hưng hóa Minh châu lấp lánh khó định giá. Nghiệp vua đáng bậc thầy muôn đời Mặt trời chiếu sáng khắp thiên hạ). [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.10; Thiền tông chính mạch Q.11]. (xt. Tồn Tưởng).
Quang Định
(光定, Kōjō, 779-858): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, xuất thân vùng Y Dư (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]), họ là Chí (贄). Ông sớm mất cha mẹ, sau vào trong núi sâu tự tu trai giới một mình. Theo lời khuyên của vị tăng Cần Giác (勤覺), ông lên kinh đô Kyoto, và năm 808 thì làm đệ tử của Tối Trừng. Năm 810, ông xuất gia và 2 năm sau thì thọ giới Cụ Túc ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Vào năm 814, ông ngao du vùng Nam Đô, luận tranh với Nghĩa Diên (義延, Gien) của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) và nêu cao tông nghĩa của mình. Ông đóng vai trò rất lớn trong việc lãnh đạo giáo đoàn sau khi Tối Trừng qua đời. Vào năm 838, ông được giao cho làm chức Truyền Đăng Pháp Sư và đến năm 854 thì được cử làm chức Biệt Đương (別當, Bettō, chức Tăng Quan thống lãnh tăng chúng và quản lý mọi việc ở các chùa lớn) của Diên Lịch Tự, cho nên ông thông xưng là Biệt Đương Đại Sư (別當大師). Trước tác của ông có Truyền Thuật Nhất Tâm Giới Văn (傳述一心戒文).
quang định
2172(779~858)日本天台宗僧。伊予(愛媛縣)人。師事最澄、義真,研學精深之義理。弘仁六年(815)被召於宮中修法。致力於叡山戒壇院之建立。最澄入寂後,即奉敕興建大乘戒壇。後任延曆寺別當之職。世稱別當大師。天安二年示寂,享年八十。此外,本朝高僧傳謂師與空海之弟子泰範為同一人,然於高雄山寺之灌頂記與空海之傳記中,同時列出光定與泰範二人之名。〔文德實錄卷十、叡岳要記、性靈集卷下〕
Quang Đức
光德; C: guāngdé; J: kōtoku; K: kwangdǒk, 1927-;|Cao tăng Hàn Quốc thuộc dòng Tào Khê (k: chogye). Sư học ở Đại học Dongguk, sau đó trở thành người đứng đầu tông Tào Khê. Sư dịch nhiều kinh luận Phật giáo sang tiếng Hàn Quốc (han'gul), trong đó có Vô môn quan (無門關).
quang đức
2183(1927~ )韓國濟州人。一九五○年於梵魚寺依止東山法師出家,翌年受具足戒。歷任元曉、東國學院理事、大韓佛教曹溪宗總務院總務部長、佛光會法主、佛光月刊發行人、松岩保育院、大覺會理事等,現任佛光寺住持。韓文之譯著有無門關譯註、法寶壇經譯註、禪門要典、菩薩聖典、心經演義、蓮村童話、佛教儀典等。
quang đức quốc
Avabhasa (skt)—Vương quốc ánh sáng (của đức hạnh) nơi Đức Ma Ha Ca Diếp tái sanh như một vị Phật dưới tên Quang Minh Phật—The kingdom of light and virtue (glorious virtue), in which Mahakasyapa (Ma ha ca diếp) is to be reborn as a Buddha, under the name of Rasmiprabhasa (Quang Minh Phật).
Quang Đức 光德
[ja] コウトク kōtoku ||| Kwangdŏk (1927-). Korean monk of the Chogye order. He attended Dongguk university, and later become head of the Chogye sect. He translated a number of Buddhist works into han'gul, including the Wumen guan 無門關. => (k: Kwangdŏk (1927-). Cao tăng Cao Ly thuộc dòng Tào Khê (k: Chogye). Sư học ở Đại học Dongguk, sau đó trở thành người đứng đầu tông Tào Khê (k: Chogye). Sư dịch nhiều kinh luận Phật giáo sang tiếng Han'gul, trong đó có Vô Môn Quan (c: Wumen guan 無門關).
Quang 光
[ja] コウ kō ||| (kirana). (1) Light, brightness, splendor. (2) Sunlight. (3) Manifestation, appearance (ābhāsa). (4) The opposite of dullness; wisdom. (5) Halo, aura. => (s: kirana) Có các nghĩa sau: 1. Ánh sáng, sự rực rỡ, sự chói lọi. 2. Ánh sáng mặt trời. 3. Sự biểu hiện, sự xuất hiện (s: ābhāsa). 4. Phản nghĩa của tối tăm, u ám. Sự hiểu biết, thông thái, trí tuệ. 5. Vầng hào quang, sự phát tiết.
quanh co
Winding.
quanh năm
Throughout the year.
quanh quẩn
To beat about the bush.
quay cuồng
To turn round and round—To be in a whirl.
quay gót
To turn back.
quay trở lại
See Quay Về.
quay về
To return—To go back.
Quán Thủ
(貫首, Kansu hay Kanzu): tiếng kính xưng các vị trú trì các ngôi chùa tổ hay đại tự của các tông phái.
Quản Nguyên Đạo Chơn
(菅原道眞, Sugawara Michizane, 845-903): còn gọi là Quản Công (菅公, Kankō) hay Quản Thừa Tướng, nhà quý tộc, học giả sống đầu thời Bình An, con của Thị Thiện (是善). Ông đã từng làm việc cho Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇), được tín nhiệm, và trải qua các chức như Văn Chương Bác Sĩ, Tạng Nhân Đầu, Tham Nghị, v.v. Vào năm 894, ông được cử làm sứ thần sang nhà Đường, nhưng ông lại kiến nghị phế bỏ việc ấy. Đến thời Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇), ông làm chức Hữu Đại Thần, nhưng vào năm 901 ông bị lưu đày đến Thái Tể Phủ do lời sàm ngôn của Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平), và qua đời tại đó. Chính ông biên tập ra bộ Loại Tụ Quốc Sử (類聚國史), cùng tham gia soạn bộ Tam Đại Thật Lục (三代實錄). Thi văn của ông được thâu tập vào trong Quản Gia Văn Thảo (菅家文草), Quản Gia Hậu Tập (菅家後集). Chính vì sau khi ông qua đời có nảy sinh ra nhiều chuyện quái dị, nên vong linh của ông được tế nơi Bắc Dã Thiên Mãn Cung (北野天滿宮), về sau ông được tôn sùng như là vị thần của học vấn.
quen
To be acquainted with—To be accustomed to—To be used to.
quen biết
To know—To be acquainted with someone.
quen chịu
To be (get—become) accustomed to.
quen cực khổ
To be accustomed to.
quen làm
To be (get) accustomed to doing something.
quen sơ
To be slightly acquainted with.
quen thuộc
To be familiar (acquainted with).
quen thân
To know well.
quen việc
To be accustomed to and familiar (well acquainted) with the work.
qui
Return to, give oneself up to; commit oneself to, surrender.
qui chân
Xem qui nguyên.
qui chính
To return to the right path. Cải tà qui chính, to leave the wrong path for the right one.
qui căn
To revert to type; to trace sth to its origin.
qui kính
To turn to in reverence, put one's trust to and worship.
qui mao
The hair of the turtle.
qui mạng
Xem Nam mô.
qui mạng hiệp chưởng
Prāṇama (S)Ấn thứ 7 trong 12 hiệp chưởng. 10 đầu ngón phải và trái đan chéo nhau, ngón phải để trên ngón trái. Biểu thị tín tâm kiên cố, tâm cung kính cúng dường.
qui mệnh
Namas, namah, namo (S). To devote one's life (to the Buddha, etc); to entrust one's life, to obey Buddha's teaching. Veneration, homage.
qui mệnh bình đẳng chư phật
Namaḥ Samanta Buddhānām (P)Nẵng mồ Tam mãn đà một đà nẫm.
; Namah Samanta Buddhanàm (S).
qui mệnh tam bảo
Xem Quy mạng tam bảo.
qui nguyên
To return to one's origin, enter nirvàna, i.e. to die. Also qui hóa, qui túc, qui bản, qui chân.
qui nguyên trực chỉ
Direct instruction to return to one's origin.
qui ngưỡng
Bhakti (S), Surrender to.
; To turn to in expectancy or adoration, put trust in.
qui ngưỡng du già
Bhakti-yogā (S).
qui ngưỡng luận
Bhakti-śāstras (S).
qui ngưỡng tông
Xem Qui sơn tông.
qui ngưỡng đạo
Bhakti mārga (S), The path of Bhakta.
qui nhất
To unify.
qui nhập
To turn to and enter, e.g. a religion, church, society, etc.
qui phật
To become converted to Buddhism.
qui sơn linh hựu
Kuei-shan Ling-yu (C), Guishan Lingyu (C), Wei-shan Lingyu (C), Isan Reiyu (J)(771-853) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Bách Trượng Hoài Hải. Ngài là một nhà sư Phật giáo nổi tiếng ở Nam Trung quốc vào thời ấy.
qui sơn tông
Igyō-shŪ (J), Kuei-yang tsung (C), Igyo-shu (J)Qui ngưỡng tôngQui là chữ đầu của tên Qui Sơn (Linh Hựu), Ngưỡng là chữ đầu trong tên Ngưỡng sơn Huệ Tịch (đệ tử của ngài Qui Sơn). Từ giữa thế kỳ thứ 10, trường phái này kết hợp với Lâm tế tông và từ đó không còn được xem là một trường phái riêng nữa.
qui tiên
To return to the fairyland.
qui tâm
To turn one's heart toward.
qui tính
To turn from the world (phenomena) to that of eternal reality, to devote oneself to the spiritual rather than the material.
qui tông trí thường
Kishō Chijō (J), Kisu Chijo (J), Wei tsung Chih Chang (C)Tên một vị sư.
qui tỉnh thiền sư
Zen master Kui-Xing—Thiền sư Qui Tỉnh, quê ở Quí Châu, là đệ tử của Thiền sư Thủ Sơn—Zen master Kui-Xing was born in Ji-Chou, was a disciple of Zen master Shou-Shan. • Một hôm Thủ Sơn đưa cái lược tre lên hỏi: “Gọi là lược tre thì xúc chạm, chẳng gọi lược tre thì trái mất, gọi là cái gì?” Sư bèn chụp cái lược ném xuống đất nói: “Là cái gì?” Thủ Sơn bảo: “Mù.” Sư nhơn lời này hoát nhiên đốn ngộ—One day Shou-Shan held up a bamboo comb and asked: “If you call it a bamboo comb, you commit an offense. If you don't call it a bamboo comb, then you have turned away from what you see. What do you call it?” Shou-Shan said: “Blind.” At these words Kui-Xing suddenly experienced unsurpassed awakening. • Sư khai đường, có vị Tăng hỏi: “Tổ Tổ tương truyền Tổ ấn, nay thầy được pháp nối người nào?” Sư đáp: “Cõi trong thiên tử, bờ ngoài tướng quân.”—When Kui-Xing began teaching, a monk asked him: “All the Patriarchs have one after the other passed on the ancestral seal. Whose heritage have you now attained?” Kui-Xing said: “At the center of the realm, an emperor. Beyond the frontier, a general.” • Sư thượng đường dạy chúng: “Tông sư huyết mạch hoặc phàm hoặc Thánh, Long Thọ, Mã Minh, thiên đường, địa ngục, vạc dầu sôi, lò than đỏ, ngưu đầu, ngục tốt, sum la vạn tượng, nhật nguyệt tinh thần, phương khác, cõi nầy, hữu tình vô tình.”—Zen master Kui-Xing entered the hall and addressed the monks, saying: “The blood and marrow of the teachers of our school; what is mundane and holy; Long-Su and Ma-Ming (names of famous Buddhists of earlier times); heaven and hell; the scalding cauldron and furnace embers (tortures of hell); the ox-headed jailers (demons in hell); the myriad phenomena of the universe; heavenly bodies; all things of the earth; animate and inanimate…” • Sư lấy tay vẽ một lằn rồi nói: “Đều vào tông nầy. Trong tông nầy cũng hay giết người, cũng hay tha người. Giết người phải được đao giết người; tha người phải được câu tha người. Cái gì là đao giết người, câu tha người? Ai nói được bước ra đối chúng nói xem? Nếu nói không được là cô phụ bình sanh. Trân trọng!”—Kui-Xing drew a circle in the air with his hand and then continued: “All of them enter this essential teaching. Within this teaching people can be killed and they can be given life. Those who die endure the killing knife. Those who live must attain the life-giving phrase. What are the killing knife and the life-giving phrase? Can you answer me? Come out of the congregation and we'll test you. If you can't speak, then you've betrayed your life! Take care! • Có vị Tăng thưa hỏi về cây bá của Triệu Châu. Sư bảo: “Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?” Tăng thưa: “Lời nói của Hòa Thượng quý trọng con đâu dám chẳng tin.” Sư bảo: “Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?” Vị Tăng ấy hoát nhiên ngộ, thốt ra tiếng: “Chao!” Sư hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?” Vị Tăng làm bài tụng đáp: “Thiềm đầu thủy đích Phân minh lịch lịch Đả phá càn khôn Đương hạ tâm tức.” (Giọt mưa trước thềm, rành rẽ rõ ràng Đập nát càn khôn, Liền đó tâm dứt). A monk asked: “What is the meaning of Zhao-Chou's cypress tree in the garden?” Kui-Xing said: “I won't refuse to tell you, but will you believe me or not?” The monk said: “How could I not believe the master's weighty words? Kui-Xing said: “Can you hear the water dripping from the eaves?” The monk was suddenly enlightened. He unconsciously exclaimed: “Oh!” Kui-Xing said: “What principle have you observed?” The monk then composed a verse: “Water drips from the eaves, So clearly, Splitting open the Universe, Here the mind is extingushed.”
qui tịch
(Of Bonze) to die, to pass away.
qui tục
To return to lay life.
qui vị
To regain one's position.
qui y
Xem Nam mô, Xem Quy y.
; To turn to and rely on; to take refuge with.
qui y tam bảo
To commit oneself to the Triratna, to take refuge with the Triratna, i.e. Buddha, Dharma, Sangha; Buddha, his Truth and his church.
qui ước
Xem Thế tục.
; Samvrti (S). Convention, common cosent. Also ước định, thế tục.
quy
1) Con rùa: Turtle—Tortoise. 2) Quy hàng: To give oneself up to—To surrender. 3) Quy phục: To commit oneself to. 4) Trở về: To return.
quy am tổ viên
4789(1261~1313)日本臨濟宗僧。信濃(長野縣)人。初時,師事鎌倉圓覺寺無學祖元、京都東福寺之無關普元。後入南禪寺,師事心地覺心,且成為該寺第二世祖師,確立此寺發展之基礎。正和二年示寂,世壽五十三。
quy bất thận ngôn
6399謂龜以不慎言而遭禍,比喻警戒慎言之要。蓋凡夫愚頑,常以不慎言而遭口舌之禍。據法苑珠林卷八十二載,過去世時,於阿練若池水邊有二雁與一龜為友。後池水乾涸,二雁議言(大五三‧八九五上):「今此池水涸竭,親友必受大苦。」議已,便語龜言:「此池水涸竭,汝無濟理,可銜一木,我等各銜一頭,將汝著大水處,銜木之時,慎不可語。」便銜之而去。經過聚落,諸小兒見之,皆言:「雁銜龜去。」龜即瞋言:「何預汝事!」因開口而失木,遂墮地死亡。
; (龜不慎言) Rùa không giữ gìn lời nói, ví dụ phàm phu ngu si thường vì không thận trọng lời nói nên gặp tai họa. Pháp uyển châu lâm quyển 82 nói: (Đại 53, 895 thượng): Thuả xưa, bên ao nước gần A Luyện Nhã có 2 con ngỗng trời làm bạn với 1 con rùa. Sau, nước ao cạn khô, 2 con ngỗng bàn nhau: Nay nước ao cạn khô chắc là bạn ta khổ lắm. Bàn bạc xong liền bảo rùa: Nước ao này khô cạn, bạn không zống được, bạn hãy ngậm lấy 1 cành cây, chúng tôi mỗi đứa ngậm 1 đầu, đưa bạn đến chỗ có nhiều nước; lúc ngậm cành cây, bạn cẩn thận không được nói chuyện. Dặn dò xong, 2 con ngỗng ngậm cành cây bay đi. Khi bay qua làng xóm, lũ trẻ trông thấy bảo nhau: Ô! Chúng mày ơi! Hai con ngỗng trời ngậm 1 con rùa kìa! Rùa nổi giận liền nói: Vậy thì có can dự gì đến chúng bay! Vừa mở miệng, rùa rơi ngay xuống đất và chết.
Quy chơn
(歸眞): quay trở về với chân như bản tánh, trả lại trạng thái xưa nay, tức Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃); cho nên đức Phật cũng như chư Tổ sư viên tịch cũng gọi là quy chơn. Về sau, từ này cũng được dùng phổ cập cho các cao tăng, tu sĩ Phật Giáo khi qua đời; đồng nghĩa với quy tịch (歸寂). Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ, phần Tống Chung (送終), giải thích rõ rằng: “Thích thị tử, vị Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, giai nhất nghĩa dã; tùy tiện xưng chi, cái dị tục dã (釋氏死、謂涅槃、圓寂、歸眞、歸寂、滅度、遷化、順世、皆一義也、隨便稱之、蓋異俗也, dòng họ Thích [tu sĩ] qua đời, gọi là Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, đều cùng một nghĩa cả; tùy tiện mà gọi, vì khác với thế tục vậy).” Trong Tứ Giáo Nghi (四敎義, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 1 cũng cho biết rằng: “Phù đạo tuyệt nhị đồ, tất cánh giả thường lạc, pháp duy nhất vị, tịch diệt giả quy chơn (夫道絕二途、畢竟者常樂、法唯一味、寂滅者歸眞, phàm đạo dứt hai đường, rốt cùng là thường lạc, pháp chỉ một vị, vắng lặng là về chơn).” Trong bài Đông Đô Phú (東都賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có câu: “Toại linh hải nội khí mạt nhi phản bổn, bối ngụy nhi quy chơn (遂令海內棄末而反本、背僞而歸眞, bèn khiến cho trong nước bỏ ngọn mà tìm nguồn, dứt dối mà về chơn).” Hay trong Nam Nhạc Tổng Thắng Tập (南嶽總勝集, Taishō Vol. 51, No. 2097) quyển Hạ, phần Lương Song Tập Tổ (梁雙襲祖), lại có đoạn: “Hốt nhất nhật vị môn nhân viết: 'Ngô tương nhập thất chi hậu, nhược hữu thiên khí dị thường, tốc lai báo ngô.' Lạp nhật trung ngọ tứ khí trừng thanh, đệ tử báo chi, nhi sách mộc dục phần hương, tịch nhiên quy chơn (忽一日謂門人曰、吾將入室之後、若有天氣異常、速來報吾、翌日中午四氣澄清、弟子報之、而索沐浴焚香、寂然歸眞, Một hôm nọ, Tổ chợt bảo với môn nhân rằng: 'Sau khi vào trong thất rồi, nếu có khí trời khác thường, mau đến báo cho ta biết.' Vào giữa trưa hôm sau, bốn khí lắng trong, đệ tử báo cho ngài biết, Tổ bèn nhờ tắm rửa, xông hương, rồi lẳng lặng ra đi).” Trong bài Bảo Nguyệt Đại Sư Tháp Minh (寶月大師塔銘) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Oánh nhiên Ma Ni, quy chơn thử độ (瑩然摩尼、歸眞於土, suốt trong Ma Ni, quy chơn cõi này).”
quy chế
Rule—Status.
quy củ
Norm—Method—Standard.
Quy Dữ
(歸嶼) (862-936) Cao tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, người ở Thọ Xuân, (huyện Thọ, tỉnh An huy), họ Mi. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, tinh thông cả Đại thừa và Tiểu thừa, đối với các bộ luận như Câu xá, Duy thức, Nhân minh... sư có các kiến giải rất đặc biệt. Sư từng tham học ngài Ngạn huy ở Nam yên, sau trụ trì chùa Đại Tướng Quốc ở Đông Kinh (tức Biện kinh, nay là huyện Khai phong, tỉnh Hà nam). Cuối đời Hậu Lương, sư được vua ban cho áo đỏ và danh hiệu Diễn Pháp Đại Sư, đồng thời, ban tấm biển Trường Giảng Viện ở viện Ngự dung, Đông tháp. Năm Thanh thái thứ 3 (936) đời Hậu Đường, sư thị tịch thọ 75 tuổi, tăng lạp 55. Phật tổ thống kỉ quyển 42, 51 ghi tên của sư là Qui tự (......) và hiệu ban là Diễn Giáo Đại Sư. Sư có tác phẩm: Kinh Luận hội yếu 20 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.7].
quy dữ
6572請參閱 釋門歸敬儀(862~936)唐末五代僧。壽春(安徽壽縣)人,俗姓湄。年二十受具足戒。精通大小乘,尤於俱舍、唯識、因明等有特殊之見解。曾入南燕彥暉門下參學,後住東京(即汴京,係今河南開封)大相國寺。梁代末,帝賜師紫服及「演法大師」之號,並敕頒「長講院」匾額於東塔御容院。貞明元年(915),作「經論會要」二十卷。後唐清泰三年示寂,世壽七十五,僧臘五十五。又佛祖統紀卷四十二、卷五十一所載師之名為「歸序」,並謂帝所賜之號為「演教大師」。〔宋高僧傳卷七〕
quy gia ổn toạ
6572禪林用語。以歸家有安穩著落之感,比喻遠離迷妄生活,一念發心,修行佛道,徹求心證。碧巖錄第一則(大四八‧一四○中):「五祖先師嘗說:『只這廓然無聖,若人透得,歸家穩坐,一等是打葛藤,不妨與他打破漆桶。』」
; (歸家穩坐) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Về nhà ngồi yên ổn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ cuộc sống xa lìa mê vọng, 1 niệm phát tâm tu hành Phật đạo, triệt đề cầu tâm chứng thấu suốt. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 trung) ghi: Ngũ tổ tiên sư từng nói: Chỉ cần 1 câu khuếch nhiên vô thánh này, nếu người thấu suốt được, thì về nhà ngồi yên ổn, dẹp sạch đám dây bìm dây sắn (ví dụ văn tự ngữ ngôn), chẳng cản trở gì cho việc đập bể thùng sơn.
quy hàng
To yield—To give in---To surrender.
quy hồi
To return—To come back.
quy kính
Trở về quy mệnh và kỉnh lễ Đức Như Lai—To turn to reverence, put one's trust in and worship the Buddha.
quy kính tự
6572又稱歸敬文、歸敬偈。即在經、律、論三藏之首,先述歸依禮敬佛菩薩及三寶等之文詞。一般為「歸命大智海毘盧遮那佛」、「南無釋迦牟尼佛」、「南無阿彌陀佛」等短句,亦有由數句偈組成者。順正理論卷一(大二九‧三二九上):「諸欲造論,必有宗承,於所奉尊,理先歸敬。」 在梵文、巴利文、西藏譯之經、律、論中,泰半皆附歸敬序,如梵文無量壽經之經首有下列之歸敬文:o? namo ratnatrayāya, o? namaḥ śrīsarvabuddhabodhisattvebhyaḥ, namo daśadiganaṃtāparyaṃtalokadhātupratiṣṭhitebhyaḥ sarvabuddhabodhisattvāya śrāvakapratyekabuddhebhyo 'tītānāgatapratyutpannebhyaḥ, namo'mitābhāya, namo 'ciṃtyaguṇāṃtarātmane.(唵歸命三寶。唵歸命吉祥一切佛菩薩。歸命安住十方無邊無量世界之過去未來現在一切佛菩薩、聖者聲聞獨覺。歸命阿彌陀婆。歸命不可思議功德之具足者),另如巴利語各經典之首大多記有 Namo tassa bhagevato arahato sammāsambuddhassa(南無婆伽婆阿羅訶三藐三佛陀)之文。然漢譯經典中,除宋以後譯出之密部經軌外,殊少見之;此究竟係譯者予以省略,或於原本即無,則已不可考。 論書置歸敬序之用意,俱舍論光記卷一舉出三說:(一)恐有魔事而禮請佛菩薩加被之故。(二)了知世尊具有殊勝功德而對佛所說之法生信尊重。(三)猶如孝子,凡有所作,皆稟告父母。大乘起信論義記卷上亦列舉六項原因:(一)為荷恩之故,即表示對佛法僧三寶恩之感念致敬。(二)請加護之故,即懇請三寶之威力以助益弘傳大法。(三)為生信之故,蓋造論者自慚為不足之人,故歸敬三寶以助他人之信受。(四)為敬儀之故,如世間之忠臣孝子,凡有所作,必啟白君父。(五)為表勝之故,蓋以三寶為吉祥,故標之於首,以示殊勝。(六)為益物之故,為令眾生於三寶之中,發心趣求,信解觀察,供養歸依,是故以歸敬之文表示頂禮。〔四分律卷一、大乘法苑義林章卷四、法苑珠林卷十三至卷二十〕
; (歸敬序) Cũng gọi Qui kính văn, Qui kính kệ. Chỉ cho phần văn từ bày tỏ lòng qui y kính lễ Tam bảo thường đặt ở đầu Kinh, Luật, Luận trong 3 tạng. Văn qui kính thường là những câu ngắn như: - Qui mệnh Đại trí hải Tì lô giá na Phật. - Nam mô Thích ca mâu ni Phật. - Nam mô A di đà Phật... Cũng có trường hợp văn qui kính được cấu thành bằng những câu kệ, như luận Thuận chính lí (Đại 29, 329 thượng) ghi: Nếu muốn tạo luận Phải có tông thừa Đối với Bản tôn Trước phải qui kính. Trong các Kinh, Luật, Luận bằng tiếng Phạm, Pàli, Tây tạng thì quá phân nửa đều có phụ thêm văn qui kính, như ở đầu kinhVô lượng thọ bản tiếng Phạm có văn quikính như sau: O namo ratnatrayàya, o nama # zrìsarvabuddhabodhisattvebhya #, namo dazadiganaôtàparyaôtaloka = dhàtupratiwỉhitebhya # sarvabuddha = bodhisattvàya zràvakapratyeka = buddhebhyo ’tìtànàgatapratyut = pannebhya #, namo ’mitàbhàya, namo ’cìôtyaguịaôtaràtmane (Án qui mệnh Tam bảo. Án qui mệnh cát tường nhất thiết Phật Bồ tát. Qui mệnh an trụ thập phương vô biên vô lượng thế giới chi qúa khứ vị lai hiện tại nhất thiết Phật Bồ tát, Thánh giả Thanh văn Độc giác. Qui mệnh A di đà bà. Qui mệnh bất khả tư nghị công đức chi cụ túc giả). Còn ở đầu các kinh tiếng Pàli thì phần nhiều có văn qui kinh như sau: Namo tassa bhagevato arahato sammàsam = buddhassa (Nam mô bà già bà a ra ha tam miệu tam Phật đà). Nhưng trong các kinh điển Hán dịch, trừ những kinh quĩ Mật giáo được dịch từ đời Tống về sau, còn ngoài ra rất ít thấy văn qui kính. Đây là do dịch giả bỏ bớt đi, hay là trong nguyên bản không có? Vấn đề này không khảo chứng được. Về dụng ý của tác giả viết văn qui kính ở đầu các bộ luận thì Câu xá luận quang kí quyển 1 nêu ra 3 lí do như sau: 1. Vì sợ có ma sự gây trở ngại nên lễ thỉnh Phật, Bồ tát gia bị. 2. Biết rõ đức Thế tôn có đầy đủ công đức thù thắng nên đối với chính pháp của Ngài nói ra sinh lòng kính tin tôn trọng. 3. Giống như người con có hiếu, bất cứ làm việc gì cũng đều thưa trước với cha mẹ. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng cũng nêu 6 nguyên nhân sau đây: 1. Vì mang ơn nên bày tỏ lòng tôn kính đối với ơn Tam bảo: Phật pháp tăng. 2. Vì xin gia hộ nên khẩn cầu uy lực Tam bảo giúp ích cho việc hoằng truyền đại pháp. 3. Vì phát sinh lòng tin, bởi người tạo luận tự thẹn mình thiếu khả năng nên qui kính Tam bảo để cầu sự giúp sức cho người khác tin nhận. 4. Vì lễ phép cung kính, như bầy tôi trung, người con hiếu ở thế gian, hễ làm việc gì đều tâu vua và trình cha trước. 5. Biểu thị sự thù thắng, bởi vì Tam bảo là tốt lành, hơn hẳn thế gian, cho nên ở đầu để nói tính vượt trội hơn hết. 6. Vì lợí ich chúng sinh, khiến chúng sinh đối với Tam bảo phát tâm tin hiểu quán xét, cúng dường qui y, cho nên dùng văn qui kính biểu thị đính lễ. [X.luật Tứ phần Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.13-20].
Quy kính tự 歸敬序
[ja] キキョウジョ kikyōjo ||| An invocation, dedication. A prefatory statement found in sūtras and śāstras, wherein the author expresses his reverence for and faith in the Buddha, or in the Three Treasures. => Lời cầu khẩn, lời dâng tặng. Lời tựa ở đầu kinh hoặc luận, trong đó tác giả bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật hay Tam bảo.
Quy kính 歸敬
[ja] キキョウ kikyō ||| To turn in reverence. To put one's trust in and revere. => Quay về với lòng tôn kính. Đặt mình trong sự tin tưởng và kính trọng.
Quy linh
(龜齡): tuổi rùa. Rùa là loại động vật có tuổi thọ rất lâu, cho nên để ví cho người có tuổi thọ, người ta thường dùng từ quy linh. Hạc là loài chim sống thành đàn, có số lượng rất nhiều không thể đếm được; vì vậy có từ hạc toán (鶴算). Cụm từ “quy linh hạc toán (龜齡鶴算)” này thường được dùng chung để dụ cho người trường thọ cũng như để chúc thọ, đồng nghĩa với quy niên hạc thọ (龜年鶴壽). Nó vốn xuất xứ từ bài từ Thủy Điệu Ca Đầu (水調歌頭, phần Vi Trịnh Tử Lễ Đề Hình Thọ [爲鄭子禮提刑壽]) của Ninh Hầu Trí (甯侯寘): “Tọa hưởng quy linh hạc toán, ổn bội kim ngư ngọc đới, thường cận giả hoàng bào (坐享龜齡鶴算、穩佩金魚玉帶、常近赭黃袍, ngồi hưởng tuổi thọ lâu dài, đeo mãi cá vàng dây ngọc, thường gần áo hoàng bào đỏ)”; cũng như từ bài thơ Du Tiên Thi (遊仙詩) của Quách Cảnh Thuần (郭景純) nhà Tấn: “Tá vấn phù du bối, ninh tri quy hạc niên (借問蜉蝣輩、寧知龜鶴年, mượn hỏi hàng nhện nước, mới biết tuổi sống lâu).”
quy luật
Regulation—Statute and law.
Quy mao
(龜毛): lông rùa. Cũng như sừng thỏ, lông rùa là vật không có thật, vì trời sinh con rùa không bao giờ mọc lông. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 12 khẳng định rằng: “Hựu như thố giác, quy mao, diệc đản hữu danh nhi vô thật (又如兔角、龜毛、亦但有名而無實, lại như sừng thỏ, lông rùa, cũng chỉ có tên mà không thật).” Trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 10 dạy rằng: “Nhân ngã như quy mao thố giác bất khả đắc (人我如龜毛兔角不可得, ta và người cũng như lông rùa sừng thỏ, không thể có được).” Hay trong Sở Thạch Phạn Kì Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) lại có câu: “Thiết ngưu bối thượng quát quy mao, thạch nữ yêu biên tài thố giác (鐵牛背上括龜毛、石女腰邊裁兔角, trên lưng trâu sắt tìm lông rùa, bên hông gái đá cắt sừng thỏ).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 12, phần Thượng Thư Huyễn Am Hồ Cư Sĩ (尚書幻菴胡居士), cũng có câu: “Thố giác trượng thiêu Hương Thủy hải, quy mao thằng phược Nga Mi sơn (兔角杖挑香水海、龜毛繩縛蛾眉山, gậy sừng thỏ khuấy biển Hương Thủy, thừng lông rùa cột núi Nga Mi).”
quy mao
Lông rùa (hay sừng thỏ), được ví với những chuyện không thể xãy ra được—The hair on a tortoise, i.e. the non-existent.
Quy mao thố giác
龜毛兔角; J: kimō-tokaku;|Lông rùa sừng thỏ
quy mao thố giác
6400龜本無毛,兔亦無角,然龜游水中,身沾水藻,人視之則誤認水藻為龜毛,又如誤認直豎之兔耳為兔角;故諸經論每以「龜毛兔角」比喻有名無實,或現實中全然不存在之事物;亦即凡夫對實我實法之妄執。成實論卷二(大三二‧二五六上):「世間事中,兔角、龜毛、蛇足、鹽香、風色等,是名無。」〔楞伽經卷二、大智度論卷一、宗鏡錄卷四十六〕
; Lông rùa sừng thỏ, ví với những việc không thể xãy ra được—The hair on a tortoise and the horn of a rabbit, i.e. the non-existent.
; (龜毛兔角) Lông rùa sừng thỏ. Rùa vốn không có lông, thỏ cũng chẳng có sừng, nhưng vì rùa bơi trong nước, rong rêu bám vào mình rùa, người đời nhìn vào nhận lầm rong rêu là lông rùa, cũng như nhận lầm 2 cái tai thỏ dỏng lên là sừng thỏ. Bởi thế các kinh luận thường dùng từ ngữ lông rùa sừng thỏ để ví dụ những sự vật chỉ có tên chứ không có thực, hoặc vật hoàn toàn không có trong thực tế; cũng tức là phàm phu, vì vọng chấp mà nhận lầm có thực ngã, thực pháp. Luận Thành thực quyển 2 (Đại 32, 256 thượng) nói: Trong các việc thế gian, sừng thỏ, lông rùa, chân rắn, mùi muối, màu sắc gió... đều là không. [X. kinh Lăng già Q.2; luận Đại trí độ Q.1; Tông kính lục Q.46].
quy mạng
Xem Nam mô.
; Namas, Namah, or Namo (skt)—Nam Mô—Quy mệnh hay về nương—Devotion-of-life bow. 1) Thân mệnh nương theo Đức Phật: To entrust one's life, or to devote one's life to the Buddha, etc. 2) Quy thuận theo giáo mệnh hay lời dạy của Phật: To obey Buddha's teaching. 3) Căn mệnh quy nguyên như Đức Phật đã từng quy nguyên vậy: To cultivate the Buddha's way, hoping one day we can enter nirvana as did the Buddha.
quy mạng tam bảo
Namo-Ratna-trayāya (S), Namo Ratnatrayaya (S)Nam mô hát ra đá la dạ da.
quy mạng thập phương kim cang phật
Take refuge in the Diamond Buddha of the ten directions.
quy mạng tỳ lô xá na phật
Take refuge in Vairocana Buddha.
Quy mạng 歸命
[ja] キミョウ kimyō ||| A translation of the Sanskrit namas, also transliterated as 南無. To devote one's life (to the Buddha, etc.); to entrust one's life; to obey the Buddha's teaching. For an extensive definition of this term see 's Commentary on the Awakening of Faith 起信論疏, T44.1844.203b.11ff. => Dịch chữ Namas từ tiếng Sanskrit, còn Phiên âm là Nam-mô 南無. Hiến dâng hết đời mình (cho Đức Phật,v.v...), giao phó hết sinh mạng mình; sống theo Phật pháp. Về định nghĩa rộng hơn về thuật ngữ nầy, xin xem luận giải về Khởi tín luận sớ (起信論疏e: Commentary on the Awakening of Faith) của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo).
Quy mậu luận chứng phái 歸謬論證派
[ja] キビュウロンショウハ Kibyūronshōha ||| Prāsaṇgika, a later branch of Indian Mādhyamika 中觀派, the name of which literally means "making use of the consequences." This school was developed based on the work of Buddhapālita (佛護, c.470-540) and Candrakīrti (月稱, c. 650), who, in working out the argumentation of the concept of śūnyatā, denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. The other competing school which took instead an approach of positive dialectic was called Svātrantika (dulilunzhengpai) 獨立論證派). (s: Prāsaṇgika) => Nguyên là một nhánh của phái Trung quán Ấn Độ, tên gọi có nghĩa là “sử dụng những hệ quả (của đối phương)”. Tông phái nầy phát triển dựa các trên tác phẩm luận giải của Phật Hộ (c: Buddhapālita 佛護, c.470-540) và Nguyệt Xứng (c: Candrakīrti 月稱, c. 650), trình bày những luận chứng khái niệm về Không (s: śūnyatā), khước từ sự hợp lý khi dùng tiền đề luận lý học để kết thúc sự khẳng định dưới bất kỳ dạng nào của các quan điểm tích cực. Phái đối lập thay vì vận dụng phép biện chứng tích cực được gọi là Độc lập luận chứng phái (s: Svātrantika; 獨立論證派).
quy mệnh hợp chưởng
6570梵語 praṇāma。音譯作鉢囉拏摩。略稱歸合掌。為密教各種手印中之基本印母「十二合掌」之第七印。此合掌之印相,係左右十指尖相叉,右手指置於左手指上。據大日經疏卷十三之說,謂此印之印相如金剛合掌;青龍軌卷上則直接將此印稱為金剛合掌;金剛頂部之經軌則謂此印與金剛合掌同印。要之,此印乃真言行者表示對本尊恭敬供養,信心堅固之印;亦即眾生歸入佛界之意,故右掌即表示佛界,左掌表示眾生界。(參閱「十二合掌」336)
; (歸命合掌) Phạm: Praịàma. Hán âm: Bát ra noa ma. Gọi tắt: Qui hợp chưởng. Ân thứ 7 trong 12Hợp chưởng, là ấn mẹ trong các loại thủ ấn của Mật giáo. Hợp chưởng là chắp tay, tướng ấn này như sau: Mười đầu ngón tay phải và tay trái đan vào nhau, ngón tay phải đặt ở trên ngón tay trái. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 13, thì tướng ấn này giống như ấn Kim cương hợp chưởng. Thanh long quĩ quyển thượng thìgọi ấn này là Kim cương hợp chưởng. Kinh và Nghi quĩ của Kim cương đính bộ thì cho rằng ấn nàyvà ấn Kim cương hợp chưởng là giống nhau. Tóm lại, ấn này là ấn tín tâm kiên cố, biểu thị tâm cung kính cúng dường Bản tôn của hành giả Mật giáo. Ngoài ra còn biểu thị ý nghĩa chúng sinh quay về với Phật giới, cho nên trong ấn này, bàn tay phải biểu thị Phậtgiới, bàn tay trái biểu thị Chúng sinh giới. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).
quy mệnh tận thập phương vô ngại quang như lai
6571阿彌陀佛德號之一。日本淨土真宗稱作十字名號。此乃因阿彌陀佛之光明能遍照十方國土而無所障礙,故以其光明之德而稱為盡十方無礙光;蓋無礙光乃讚歎阿彌陀佛光明之十二種名稱之一,意謂彌陀之光非人、法所能障礙。又眾生歸依、歸順如來之敕命,稱為歸命。即此如來有成就眾生安心歸命之德,故稱其名號為歸命盡十方無礙光如來。〔無量壽經優婆提舍願生偈、讚阿彌陀佛偈〕(參閱「十二光」334、「十二光佛」334)
; (歸命盡十方無礙光如來) Tận thập phương vô ngại quang Như lai là 1 trong các đức hiệu của Phật A di đà. Vì ánh sáng của Phật A di đà chiếu soi khắp các quốc độ trong 10 phương mà không bị ngăn ngại, nên đức ánh sáng ấy của Ngài được gọi là Tận thập phương vô ngại quang. Ý nói ánh sáng của đức Phật A di đà không bị người và pháp làm chướng ngại. Chúng sinh qui y, quy thuận sắc mệnh của Như lai, gọi là Qui mệnh. Mặt khác, Phật A di đà còn thành tựu công đức làm cho chúng sinh an tâm qui mệnh nên tôn xưng danh hiệu của ngài là Qui mệnh tận thập phương vô ngại quang Như lai. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản gọi danh hiệu này là Thập tự danh hiệu (Danh hiệu 10 chữ). [X. Vô lượng thọ kinh Ưu bà đề xá nguyện sinh kệ; Tán A di đà Phật kệ]. (xt. Thập Nhị Quang, Thập Nhị Quang Phật).
quy mệnh đỉnh lễ
6571又作皈命頂禮、歸命禮。謂以至誠恭敬之身心頂禮三寶。歸命,即將身心歸投佛、法、僧三寶,是屬意業之禮拜;頂禮,乃以頭觸地接承佛足之禮,是屬身業之禮拜,亦為禮拜中之最敬禮。〔大日經疏卷十二、往生禮讚偈〕(參閱「南無」3746、「禮」6582)
; (歸命頂禮) Cũng gọi Qui mệnh lễ. Thân tâm chí thành cung kính đính lễ Tam bảo. Qui mệnh là đem cả thân tâm qui y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, đó là thuộc về ý nghiệp lễ bái. Đính lễ là đầu đặt sát đất, chạm vào chân Phật, đó là thuộc về thân nghiệp lễ bái. Cách lễ bái này được xem là cách cung kính nhất trong các cách lễ bái. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12; Vãng sinh lễ tán kệ]. (xt. Nam Mô, Lễ).
quy nguyên
6569即指人之死亡,或特指僧侶之示寂。又作歸化、歸真、歸寂、歸本、歸空、歸去。歸元一語,原謂出離生滅無常之此世,而還歸真寂本元(即涅槃)之悟界,故轉指僧侶或一般證道者之死亡,而與圓寂、入寂、示寂等用語同義,如稱佛陀入滅之日為歸寂日。至後世,亦用來作為常人死亡之稱詞。〔大佛頂首楞嚴經卷四、楞嚴經義疏注經卷八、敕修百丈清規卷上住持章、諸回向清規卷四僧俗男女位牌之上頭文字〕
; Quy Bổn—Quy Chân—Quy Hóa—Quy Tịch—Ra khỏi cõi sanh diệt để trở về cội nguồn chân như tịch tĩnh (nhập niết bàn)—To return to one's origin, enter nirvana, i.e. to die.
; (歸元) Cũng gọi Qui hóa, Qui chân, Qui tịch, Qui bản, Qui không, Qui khứ. Đồng nghĩa: Viên tịch, Nhập tịch, Thị tịch.Chỉ cho cái chết của người đời hoặc sự thị tịch của giới tăng sĩ. Qui nguyên nghĩa là lìa khỏi cõi đời vô thường sinh diệt để trở về cảnh giới bản nguyên chân tịch (nguồn gốc chân thực vắng lặng, tức Niết bàn), vì thế từ ngữ này thường được dùng để chỉ cho cái chết của tăng sĩ hoặc người chứng đạo. Đến đời sau, nó cũng được dùng chỉ cho cái chết của người thường. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăngnghiêm Q.4; Lăng nghiêm kinh nghĩa sớ chú kinh Q.8; chương Trụ trì trongSắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; Tăng tục nam nữ vị bài chi thượng đầu văn tự trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].
Quy Nguyên Trực Chỉ Tập
(歸元直指集, Kigenjikishishū): 4 quyển, trước tác của Thiên Y Tông Bổn (天衣宗本, ?-?) nhà Minh, san hành vào năm thứ 32 (1553) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), trùng san vào năm thứ 4 (1570) niên hiệu Càn Long (乾隆) bản 2 quyển có lời tựa của Lộc Viên Cư Sĩ Vạn Biểu (鹿園居士萬表), là tập thâu lục 97 thiên gồm những thuyết xưa nay liên quan đến tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí. Cuối quyển 2 có Tây Phương Bách Vịnh (西方百詠), cuối quyển 4 có Sơn Cư Bách Vịnh (山居百詠).
quy nguyên tự
6569位於湖北漢陽之西,為漢陽第一古剎。於清世祖順治年中(1644~1661)建立。乃昔時王章甫葵園之故址,與太平興國寺、觀音泉寺並稱三大寺。 該寺於太平天國之亂時一度被焚,近世乃重建堂宇。寺內之門茔壁間留有曹洞宗第三十一世所刻之碑,另有敕賜之龍藏、五百羅漢堂(內供五百羅漢)及石刻之觀音大士像,藏經樓內並藏有宋版與明版之大藏經。〔大清一統志卷二六一、支那佛教史蹟踏查記第一回踏查記七(常盤大定)〕
quy nguỡng tông
Một dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Bách Trượng Hoài Hải—A Zen sect established by Pai-Ch'ang-Huai-Hai—See Bách Trượng Hoài Hải.
quy ngưỡng
6570梵語 adhigamanīya。表示歸命敬仰之意。亦即對諸佛菩薩之歸依禮敬。法苑義林章卷四歸敬章(大四五‧三一六中):「又起殷淨心,策殊勝業,申誠歸仰,故名敬禮。」〔無量壽經卷上〕
; Adhigamāniya (S).
; Kính ngưỡng và tin tưởng vào—To turn to in expectancy or adoration, put trust in.
; (歸仰) Phạm: Adhigamanìya. Biểu thị ý nghĩa qui mệnh kính ngưỡng, tức là qui y kính lễ chư Phật, Bồ tát. Chương Qui kính trong Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4 (Đại 45, 316 trung) nói: Lại khởi tâm trong sạch/Gắng tu nghiệp thù thắng/Tỏ lòng thành qui ngưỡng/Vì thế gọi kính lễ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
Quy Ngưỡng Tông
(潙仰宗, Igyō-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc; Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) và pháp từ của ông là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), được xem như là tổ khai sáng tông phái này. Quy Ngưỡng (潙仰) là sự kết hợp tên đầu của hai ngọn núi Quy Sơn (潙山) và Ngưỡng Sơn (仰山), nơi hai vị tổ sư an trú, để đặt thành tên của tông phái. Vào đầu niên hiệu Nguyên Hòa (, 806-820) nhà Đường, Quy Sơn Linh Hựu, người kế thừa dòng pháp của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), đến Đại Quy Sơn (大潙山) ở phía Tây của Huyện Ninh Hương (寧郷縣, Tỉnh Hồ Nam), kiến lập Đồng Khánh Tự (同慶寺) và tiếp độ cho hơn ngàn đồ chúng. Vào năm thứ 6 (879) niên hiệu Càn Phù (乾符), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đệ tử của ông, cũng đến Viên Châu Ngưỡng Sơn (袁州仰山) ở Huyện Nghi Xuân (宜春), Tỉnh Giang Tây (江西省), cử xướng tông phong và hính thành một tông phái riêng. Vào khoảng thời Ngũ Đại (五代, 907-959), tông phái nhất thời huưg thịnh, nhưng đến thời nhà Tống thì suy tàn; cuối cùng hợp dòng với Lâm Tế Tông và tuyệt tích luôn. Mạng mạch của tông môn kéo dài trong khoảng 150 năm mà thôi. Về Tông phong của phái này, Quy Sơn thì có phong cách cơ dụng hùng dũng; Ngưỡng Sơn thì nhờ vừa kế thừa gia phong của Quy Sơn, rồi kết hợp với gia phong của Đam Nguyên Ứng Chơn (耽源應眞, pháp từ của Nam Dương Huệ Trung [南陽慧忠]), nên khi dạy dỗ, hướng dẫn cho học chúng thì một mặt nghiêm khắc, sử dụng 96 loại viên tướng, v.v., của tông phong Nam Dương, và mặt khác làm cho dễ lãnh ngộ hơn. Tông phong này hoàn toàn khác với sự cay đắng của Lâm Tế, sự nghiêm mật của Tào Động; và hình thành tông phong độc đáo, riêng biệt gọi là im lặng khế ngộ trong vấn đáp đối ứng.
Quy Ngưỡng tông
潙仰宗; C: guī-yǎng-zōng; J: igyō-shū;|Một dòng thiền do Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và đệ tử là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch sáng lập, được xếp vào Ngũ gia thất tông – Thiền chính phái của Trung Quốc. Dòng thiền này sau được tông Lâm Tế hấp thụ và thất truyền trong thế kỉ thứ 10/11.|Một nét đặc biệt của tông này là phương pháp giáo hoá, »đánh thức« môn đệ bằng những biểu tượng được vẽ trong 97 vòng tròn (viên tướng). Hệ thống giáo hoá này được Lục tổ Huệ Năng sử dụng, truyền cho Quốc sư Nam Dương Huệ Trung đến Ðam Nguyên Ứng Chân và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Ngày nay cách sử dụng viên tướng này đã thất truyền nhưng có lẽ đã gây ảnh hưởng lớn đến sự hình thành của Thập mục ngưu đồ (mười bức tranh chăn trâu) và Ðộng Sơn ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. 97 viên tướng được sử dụng như mật ngữ, và các vị Thiền sư có kinh nghiệm Giác ngộ thâm sâu sử dụng nó để trau dồi kinh nghiệm với nhau. Vì biết được khả năng tiêu hoại khi truyền hệ thống này bừa bãi – nếu bị lạm dụng trở thành một trò chơi – nên các vị giữ kín bí mật này, chỉ truyền cho những môn đệ hạng thượng căn.|Thiền sư Ngưỡng Sơn trả lời như sau khi được hỏi vì sao Sư thấy người đến liền vẽ một vòng tròn trong đó viết chữ »Ngưu« (牛) (Ðịnh Huệ dịch):|»Cái ấy cũng là việc không đâu. Nếu chợt hội được thì cũng chẳng phải từ bên ngoài đến, nếu không hội thì quyết chắc là không biết. Ta hỏi lại ông: Bậc lão túc các nơi – ngay trên thân các ông – chỉ cái gì là Phật tính? Nói là phải hay nín là phải, hay chẳng nói chẳng nín là phải, hay lại đều là không phải? Nếu ông nhận nói là phải thì như là người sờ đuôi voi. Nếu ông nhận nín là phải thì như người mù sờ tai voi. Nếu ông nhận chẳng nói chẳng nín là phải thì như người mù sờ vòi voi. Nói vật vật đều phải thì như người mù sờ nhằm bốn chân voi. Nếu bảo đều chẳng phải tức là ném bỏ con voi ấy, rơi vào không kiến. Chỗ thấy của các người mù kia chỉ ở nơi danh mạo sai biệt trên con voi… Lại nói: ›Ðạo vốn không hình tướng, trí huệ tức là đạo. Người có kiến giải này gọi là chân Bát-nhã.‹ Người có mắt sáng thấy được toàn thể con voi thì thật tính cũng như vậy.«
quy ngưỡng tông
6109我國禪宗五家七宗之一。屬南宗南嶽法系。以溈山靈祐(771~853)與仰山慧寂(803~887)二師為宗祖,取溈、仰二字而為宗名。唐元和年間,靈祐住潭州(今湖南長沙)之溈山,宣揚宗風,門人慧寂繼之集大成。唐末五代時,本宗頗為繁興,及宋,漸絕其跡,終至與臨濟宗合併,其間僅一百五十年。 初祖靈祐得法於百丈懷海,住溈山,孤居七年,其後以懶安自百丈處來,學者漸集,常逾千五百人,凌駕黃檗之門庭。弟子慧寂承之,住袁州仰山,大振法道,其下分西塔、南塔二派,西塔傳仰山另一師耽源應真之法脈,南塔則正屬溈山法系。西塔派始自光穆,傳資福如寶,再傳吉州貞邃與潭州鹿苑;南塔派始自光涌,傳芭蕉慧清與清化全怤等。慧清下有逞州繼徹、興陽清讓、幽谷法滿等。此外,仰山門下尚有霍山景通、無著文喜等人。本宗在五家法脈中,最早衰微,法系再傳僅四、五世,宋以後即湮沒不傳。 據人天眼目卷四載,本宗將主觀與客觀世界分為三種生,即想生、相生、流注生,並一一加以否定。想生指主觀思惟,謂所有能思之心皆為雜亂之塵垢;必須遠離,方得解脫。相生指所緣之境,即客觀世界,亦予以否定,故書中頌云(卍續一一三‧四三七上):「回光一擊便歸去,幽夢一開雙眼明。」流注生乃謂主觀與客觀世界變化無常,微細流注,從無間斷;若能直視而伏斷之,則能證得圓明之智而達自在之境。其修行理論上承道一、懷海「理事如如」之旨,認為萬物、有情,皆具佛性,人若明心見性,即可成佛。 本宗禪風為方圓默契,接機多用明似爭奪而實默契之交談。如人天眼目卷四溈仰門庭所評(大四八‧三二三中):「溈仰宗者,父慈子孝,上令下從。爾欲喫飯,我便捧羹;爾欲渡江,我便撐船;隔山見煙,便知是火;隔牆見角,便知是牛。」以故,本宗常用九十六種圓相接引後學。〔五燈會元卷九、釋氏稽古略卷三、五家宗旨纂要卷下〕
; Xem Qui sơn tông
; (潙仰宗) Tên của Thiền phái thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc, tôn các ngài Qui Sơn Linh Hựu và Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch làm Tông tổ, lấy 2 chữ Qui ngưỡng làm tên tông, 1 trong 5 nhà 7 tông (Ngũ gia thất tông) của Thiền Nam tông Trung Quốc. Khoảng năm Nguyên hòa đời Đường, ngài Linh Hựu trụ ở Qui sơn (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam), tuyên dương tông phong, đệ tử là Tuệ Tịch kế tiếp tập đại thành. Vào cuối đời Đường và đầu thời Ngũ đại, tông Qui ngưỡng rất hưng thịnh, sang đời Tống thì dần dần suy vi và cuối cùng được sáp nhập với tông Lâm Tế, thế là tuyệt tích sau khi tồn tại 150 năm. Sơ tổ Linh Hựu đắc pháp nơi ngài Bách Trượng Hoài Hải, một mình ở Qui sơn 7 năm. Về sau, nhân có ngài Lại An từ nơi ngài Bách Trượng đến mà người học dần dần qui tụ về đây, thường hơn 1.500 người, lấn lướt cả môn đình ngài Hoàng Bá. Đệ tử là ngài Tuệ Tịch thừa kế, trụ ở Ngưỡng Sơn tại Viên Châu, phát triển tông phong, về sau chia làm 2 phái Tây tháp và Nam tháp. Tây tháp do ngài Ngưỡng Sơn truyền còn chịu ảnh hưởng dòng pháp của ngài Đàm Nguyên Ứng Chân; Nam tháp thì chính thức thuộc pháp hệ Qui sơn. Phái Tây tháp bắt đầu từ ngài Quang Mục, truyền cho ngài Tư Phúc Như Bảo, lại truyền cho ngài Cát Châu Trinh Thúy và Đàm Châu Như Uyển. Phái Nam tháp bắt đầu từ ngài Quang Dũng, rồi truyền cho ngài Ba Tiêu Tuệ Thanh và Thanh hóa Toàn phó. Dưới ngài Tuệ Thanh, có các ngài Trình Châu Kế Triệt, Hưng Dương Thanh Nhượng, U Cốc Pháp Nhãn... Ngoài ra, đệ tử của ngài Ngưỡng Sơn còn có các sư: Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ... Trong pháp mạch ngũ gia, tông này suy vi sớm nhất. Pháp hệ truyền thừa chỉ có 4, 5 đời, từ đời Tống về sau thì chấm dứt. Cứ theo Nhân thiên nhãn mục quyển 4 thì tông Qui ngưỡng chia thế giới chủ quan và khách quan ra làm 3 thứ sinh: Tưởng sinh, Tướng sinh, và Lưu chú sinh, mỗi thứ đều có sự phủ định. - Tưởng sinh: Chỉ cho những suy tư chủ quan, cho rằnghễcó tâm tư duy thì đều là nhơ nhớp tạp loạn, cần phải xa lìa mớiđượcgiải thoát. -Tướng sinh: Chỉ cho cảnh sở duyên, tức thế giới khách quan, cũng cần phải phủ định. Cho nên trong sách có câu kệ (Vạn tục 113, 437 thượng): Ánh sáng chiếu vào rõ đường về. Mộng tối tan rồi hai mắt sáng. -Lưu chú sinh: Chỉ cho thế giới chủ quan, khách quan biến hóa vô thường, âm thầm trôi chảy, theo nhau không dứt. Nếu có thể nhìn thẳng vào dòng thác tư duy ấy mà cắt đứt được thì chứng đắc trí viên minh, đạt đến cảnh giới tự tại. Về lí luận tu hành thì tông này theo yếu chỉ Lí sự như như của các Thiền sư Đạo Nhất, Hoài Hải, cho rằng vạn vật hữu tình đều có đủ tính Phật, nếu minh tâm kiến tính thì có thể thành Phật. Thiền phong của tông này là Phương viên mặc khế (lặng lẽ khế hợp tất cả), cơ pháp tiếp hóa người học phần nhiều dùng cách đối đáp để đưa đến chỗ thầm hợp (ngộ). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ gia tông chỉ toàn yếu Q.hạ].
quy nhất đạo
6569清朝同治、光緒(1862~1887)年間興起之祕密宗教。盛傳於河北、山東之農村。據傳該教源自清初之先天道。其歷代祖師依序為趙萬秩、李連苑、陳希曾、張書林等人。基本教義大致與一貫道相同,但儀節較為嚴格,例如茹素放生,為教徒須信守之教條。 該教宗旨在提倡儒釋道三教合一,奉無生老母慈命,返回原性,脫離浩劫。此外,並奉祀復陽帝君(即初祖趙萬秩,又名趙純一,亦稱普渡佛、復陽子),達摩老祖、觀音菩薩、釋迦佛、孔子、老子、彌勒古佛等。修持法則包括儒釋道之行法,亦倡往生西方極樂世界之說。重要經典有登仙梯(中含許多訓文)、傳家寶訓、三教正宗、救急文、歸一寶訓、高王觀世音菩薩真經等。 該教信徒生活皆刻苦、不慕榮利,持嚴戒,守白齋,重放生,一律在家修行。該教雖沿襲不少佛教教義及儀節,然基本上仍與佛教不同。
quy nhập
Quay lại để đi vào đường đạo—To turn to and enter, e.g. a religion.
quy nông
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Châu Thành tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ lâu, nhưng không ai biết được xây vào năm nào. Chùa được trùng tu vào năm 1900—Name of and ancient temple, located in Châu Thành district, Trà Vinh province, South Vietnam. It was built a long time ago, but no one knows the time. It was rebuilt in 1900.
quy nội cung dưỡng
6569又作入內供養。即於宮廷內奉請供養佛菩薩。如唐朝中宗、肅宗、代宗等帝王即常於宮內奉請供養佛菩薩,於奉請、奉送儀式中,皆遣敕使持詔書以行。〔大宋僧史略卷中內道場、正法眼藏卷十二、卷十三〕
; (歸內供養) Cũng gọi Nhập nội cúng dường. Phụng thỉnh cúng dường Phật, Bồ tát trong cung đình. Vào đời Đường, các vua Trung Tông, Túc Tông, Đại Tông... thường phụng thỉnh cúng dường chư Phật, Bồ Tát ở trong cung. Trong các nghi thức phụng thỉnh, phụng tống đều có sai sứ cầm chiếu thư để thi hành. [X. Nội đạo tràng trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; Chính pháp nhãn tạng Q.12, 13].
Quy phạm
(規範): nghĩa là điển phạm, quy mô, quy cách. Như trong tác phẩm Di Kiên Chi Chí Quý (夷堅支志癸), phần Tuyết Phong Tông Nhất (雪峰宗一), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống, có đoạn: “Tuyết Phong Trưởng Lão Tông Nhất, dĩ Thuần Hy cửu niên lai trú trì, chú tích lưỡng tuế, ưu tự kiến Tỳ Lô Các, an trữ tạng kinh, quy phạm hùng vĩ (雪峰長老宗一、以淳熙九年來住持、駐錫兩歲、於寺建毗盧閣、安貯藏經、規範雄偉, Trưởng Lão Tuyết Phong Tông Nhất, vào năm thứ 9 [1182] niên hiệu Thuần Hy thì đến trú trì, sống được hai năm, ngài dựng Tỳ Lô Các tại chùa này, để an trí kinh tạng, quy mô rất hùng vĩ).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) lại có đoạn: “Cố ưng tuân thủ quy phạm, bất đắc tại trú trì tiền tụng nhân chi đoản, bất đắc tại đồng liêu trung hí tiếu (故應遵守規範、不得在住持前訟人之短、不得在同寮中戲笑, vì vậy nên tuân thủ quy phạm, không được bàn cãi lỗi sai của người khác trước mặt trú trì, không được ở trong cùng liêu cười giỡn).”
quy phật
1) Trở thành Phật tử: To become a Buddhist. 2) Vãng sanh Cực Lạc: To go to the Pure Land after passing away.
quy phục
To submit—To yield—To give in—To surrender.
quy sơn
6569山,意指寺院。謂僧侶外出後再歸返原住之寺院。又作歸寺、歸院。
; 6107<一>位於湖南長沙寧鄉縣西。為衡山山脈之分支、溈水之發源地。又稱大溈山。山多平地,水道便利,故古來出家人每多耕作於此,而有「羅漢田」之稱。唐僧靈祐居於此,世稱「溈山禪師」。大中年頃,裴休上奏為建密印寺。另有同慶寺、花果園、觀音堂、蓮花庵等名勝。〔古今圖書集成職方典第一二○二、第一二一○〕 <二>位於湖南東部醴陵縣東。又稱小溈山。山上有小溈山寺,為唐代大緣禪師所建。 <三>即溈仰宗初祖溈山靈祐。(參閱「溈山靈祐」6109)
; (歸山) I. Qui Sơn. Cũng gọi Đại qui sơn. Tên núi ở phía Tây huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam, Trung quốc, là 1 nhánh của dãy Hành sơn, nơi đầu nguồn của dòng sông Qui. Núi này phần nhiều là đất bằng, nước nôi rất tiện lợi, vì thế người xuất gia từ xưa phần nhiều trồng trọt ở nơi này nên có tên là La hán điền (ruộng La hán). Ngài Linh Hựu đời Đường đã sống ở đây, người đời gọi ngài là Qui Sơn Thiền sư. Khoảng năm Đại trung, ông Bùi Hưu tâu vua xin xây chùa Mật Ấn. Ngoài ra còn có các thắng cảnh như: Chùa Đồng Khánh, vườn Hoa quả, am Liên hoa, nhà Quán âm...[X. Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển thứ 1202, 1210]. II. Qui Sơn. Cũng gọi Tiểu qui sơn. Núi ở phía đông huyện Lễ Lăng, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Trên núi có ngôi chùa Tiểu qui sơn do Thiền sư Đại Duyên xây dựng vào đời Đường. III. Qui Sơn. Chỉ cho Thiền sư Qui sơn Linh Hựu, Sơ tổ của tông Qui ngưỡng. (xt. Qui Sơn Linh Hựu).
; (潙山) Cũng gọi Qui tự, Qui viện. Sơn ở đây hàm ý là chùa, viện. Nghĩa là chư tăng khi có việc phải ra khỏi chùa, sau khi xong việc trở về, gọi là Qui sơn.
quy sơn cảnh sách
6108全一卷。唐代溈山靈祐撰。為靈祐之語錄。全稱溈山大圓禪師警策。靈祐鑑於當時修行者逐漸懈怠,威儀不守,遂作本書警策彼等歸於正道。本書以散文、韻語組成,初以散文詳述警策之意旨,分五節:(一)示色身之大患,(二)懲出家之流弊,(三)明出家之正目,(四)示入道之由徑,(五)結勸叮嚀。次用韻語,四言三十六句,文簡而意切。禪宗將本書與四十二章經、佛遺教經等,合稱「佛祖三經」,為初學者所必讀。注釋書有宋代守遂之溈山警策註一卷、明代道霈之溈山警策指南一卷、明代弘贊之溈山警策句釋記二卷、明代大香之溈山警策句釋記註一卷。
; (潙山警策) Gọi đủ: Qui sơn Đại viên thiền sư cảnh sách. Tác phẩm, 1 quyển, là Ngữ lục của ngài Qui Sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường. Ngài Linh Hựu xét thấy những người tu hành lúc bấy giờ dần dần trở nên biếng nhác, cẩu thả, không giữ gìn uy nghi, nên ngài soạn sách này để nhắc nhở họ quay về chính đạo. Sách này được viết theo thể văn xuôi và văn vần. Trước hết, dùng văn xuôi để nói rõ ý chỉ cảnh sách, chia làm 5 đoạn: 1. Nói về cái tai họa sắc thân. 2. Trưng bày thói tệ hại của giới xuất gia. 3. Nói rõ mục đích chân chính của việc xuất gia. 4. Chỉ bày con đường tắt vào đạo. 5. Dặn dò khuyên bảo. Kế đó là văn vần gồm 36 câu, mỗi câu 4 chữ, lời lẽ ngắn gọn, ý tứ thâm thiết. Thiền tông hợp chung sách này với kinh Tứ thập nhị chương và kinh Di giáo, gọi là Phật tổ Tam kinh mà người tu hành cần phải học. Về sách chú Qui sơn cảnh sách thì có: Qui sơn cảnh sách chú, 1 quyển, do ngài Thủ Toại soạn vào đời Tống, Qui sơn cảnh sách chỉ nam, 1 quyển, do ngài Đạo Bái soạn vào đời Minh, Qui sơn cảnh sách chú thích kí, 2 quyển, do ngài Hoằng Tán soạn vào đời Minh, Qui sơn cảnh sách cú thích kí chú, 1 quyển, do ngài Đại Hương soạn vào đời Minh.
Quy Sơn Linh Hựu
(潙山靈祐, Izan Reiyū, 771-853): họ là Triệu (趙), xuất thân vùng Trường Khê (長溪), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), vì ông sống ở Quy Sơn (潙山) nên được gọi là Quy Sơn Linh Hựu. Ông cùng với đệ tử Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂) cử xướng Thiền phong rộng rãi, pháp hệ của họ được gọi là Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗) và Linh Hựu là vị tổ của tông này. Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, học kinh luật ở Long Hưng Tự (龍興寺) vùng Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang), rồi đến nhập môn với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Cùng đến tham học với ông lúc bấy giờ có Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), cả hai đã làm chấn động Thiền giới thời nhà Đường. Sau Linh Hựu đến dừng chân trú tại Đại Quy Sơn (大潙山), nỗ lực cử xướng tông phong của mình và tạo được nhiều bậc long tượng xuất chúng. Đệ tử đắc pháp của ông có đến 41 người, đặc biệt trong đó Ngưỡng Sơn Huệ Tịch là nhân vật xuất sắc nhất. Bên cạnh đó còn có Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑), Diên Khánh Pháp Đoan (延慶法端), Kính Sơn Hồng Nhân (徑山洪諲), Linh Vân Chí Cần (靈雲志勤), Vương Kính Sơ Thường Thị (王敬初常侍), v.v. Ông thị tịch vào ngày mồng 9 tháng giêng năm thứ 7 niên hiệu Đại Trung (大中), hưởng thọ 83 tuổi đời và 64 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Viên Thiền Sư (大圓禪師). Trước tác của ông có Quy Sơn Cảnh Sách (潙山警策) 1 quyển, Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục (潭州潙山靈祐禪師語錄) 1 quyển.
quy sơn linh hữu
6108(771~853)唐代僧。為溈仰宗初祖。福州長溪(福建霞浦縣南)人,俗姓趙。法名靈祐。十五歲隨建善寺法常(又稱法恆)律師出家,於杭州龍興寺受具足戒。曾先後遇寒山、拾得。二十三歲至江西參謁百丈懷海,為上首弟子,於此頓悟諸佛本懷,遂承百丈之法。憲宗元和末年,棲止潭州大溈山,山民感德,群集共營梵宇,由李景讓之奏請,敕號「同慶寺」。其後(一說大中初年)相國裴休亦來諮問玄旨,聲譽更隆,禪侶輻輳,海眾雲集。會昌法難之際,師隱於市井之間,至大中元年(847)復教之命下,眾迎返故寺,巾服說法,不復剃染。裴休聞之,親臨勸請,始歸緇流。師住山凡四十年,大揚宗風,世稱溈山靈祐。大中七年正月示寂,世壽八十三,法臘六十四。諡號「大圓禪師」。有語錄、警策各一卷傳世。嗣法弟子有慧寂、洪諲、智閑等四十一人。其中,仰山慧寂承其後而集大成,世稱溈仰宗。〔宋高僧傳卷十一、景德傳燈錄卷九、五燈會元卷九、宗門統要續集卷七、佛祖歷代通載卷二十三、釋氏稽古略卷三、禪宗正脈卷五〕
; (潙山靈祐) ( 771- 853) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, là Sơ tổ của tông Qui ngưỡng, người Trường Khê, Phúc Châu (phía nam huyện Hà phố, tỉnh Phúc kiến), họ Triệu, pháp danh Linh Hựu. Năm 15 tuổi, sư lễ Luật sư Pháp Thường (cũng gọi Pháp hằng) ở chùa Kiến thiện cầu xuất gia, sauthụ giới Cụ túc ở chùa Long hưng tại Hàng châu. Sư từng gặp 2 ngài Hàn Sơn và Thập đắc. Năm 23 tuổi, sư đến Giang Tây tham học ngài Bách Trượng Hoài Hải, trở thành đệ tử thượng thủ, sau được nối pháp của ngài. Cuối năm Nguyên hòa đời vua Hiến Tông, sư đến trụ ở núi Đại qui tại Đàm Châu. Dân chúng trong vùng cảm mến đức độ của sư, chung nhau xây cất 1 ngôi chùa để sư trụ trì, do ông Lí cảnh nhượng tâu xin, chùa được vua ban hiệu là chùa Đồng Khánh. Về sau (có thuyết nói là đầu năm Đại trung), Tướng quốc Bùi Hưu đến hỏi đạo và từ đó tiếng tăm của sư càng vang xa, các thiền sinh và đồ chúng về tham học rất đông. Trong thời pháp nạn Hội xương (846), sư ẩn mình nơi phố phường. Đến niên hiệu Đại trung năm đầu (847), vua ra lệnh khôi phục Phật giáo, đồ chúng đón sư về chùa cũ, sư vẫn để tóc mặc áo thế gian mà nói pháp, chứ không cạo tóc, mặc ca sa. Tướng quốc Bùi Hưu nghe tin này, đích thân đến khuyến thỉnh, sư mới chịu cạo tóc và mặc pháp phục. Sư ở núi Qui sơn 40 năm, mở mang tông phong, người đời gọi sư là Qui sơn Linh Hựu. Năm Đại trung thứ 7 (853), sư thị tịch, thọ 83 tuổi, pháp lạp 64, thụy hiệu là Đại Viên Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 1 quyển, Cảnh sách 1 quyển. Đệ tử nối pháp của sư có 41 vị như: Tuệ Tịch, Hồng Nhân, Trí Nhàn... Trong đó, ngài Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch kế thừa môn phong của sư, tập đại thành mà lập nên tông Qui ngưỡng. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Tông môn thống yếu tục tập Q.7; Phật tổ lịch đại thông tải Q.23; Thích thị kê cổ lược Q.3; Thiền tông chính mạch Q.9].
quy sơn linh hữu thiền sư ngữ lục
6109全一卷。為溈山靈祐之語錄。詳稱潭州溈山靈祐禪師語錄。又作大圓禪師語錄。唐代靈祐(771~853)撰,明代語風圓信、郭凝之編。收於大正藏第四十七冊。輯錄靈祐之行實、示眾、法門論究等,以及與百丈懷海、司馬頭陀、鄧隱峰、雲巖、道吾、德山、石霜、仰山、香嚴等人之宗乘對話,計約六十條,並略記靈祐之示寂。
; (潙山靈祐禪師語錄) Gọi đủ: Đàm Châu Qui Sơn Linh Hựu thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Đại Viên thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Qui sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường, Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép những lời dạy chúng, luận cứu về pháp môn... của ngài Linh Hựu, cho đến những cuộc đối thoại về tông thừa giữa ngài và các vị: Bách trượng Hoài Hải, Tư Mã Đầu Đà, Đặng Ẩn Phong, Vân Nham, Đạo Ngô, Đức Sơn, Thạch Sương, Ngưỡng Sơn, Hương Nghiêm... tất cả chừng 60 điều và phần ghi vắn tắt về việc ngài Linh Hựu thị tịch.
Quy Sơn Linh Hựu
潙山靈祐; C: guīshān língyòu; J: isan reiyū; 771-853;|Thiền sư Trung Quốc trứ danh, môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải và thầy của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Cùng với Ngưỡng Sơn, Sư khai sáng tông Quy Ngưỡng. Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất trong thời đó và môn đệ của Sư trên dưới không dưới 1500. Sư có trứ tác Quy Sơn cảnh sách văn, được phổ biến rộng rãi trong giới Thiền cho đến ngày nay.|Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Sư xuất gia năm mười lăm tuổi và chăm học kinh luật Ðại thừa, Tiểu thừa. Ban đầu, Sư đến núi Thiên Thai, chú tâm nghiên cứu các bài luận của hai vị Ðại luận sư Ấn Ðộ Vô Trước và Thế Thân với giáo lí Duy thức. Tương truyền Sư cũng có gặp hai dị nhân trong giới Thiền tại đây là Hàn Sơn và Thập Ðắc. Không rõ là những bài luận nói trên có gây ấn tượng nào trong Sư không, nhưng chỉ ba năm sau đó (khoảng 796), Sư rời Thiên Thai và quyết định tham học với một vị Thiền sư. Sư đến Giang Tây yết kiến Thiền sư Bách Trượng. Bách Trượng thấy Sư liền cho nhập hội, nơi đây Sư đứng hàng đầu.|Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: »Ngươi đem được lửa đến chăng?« Sư thưa: »Ðem được.« Bách Trượng hỏi tiếp: »Lửa đâu?« Sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa. Bách Trượng gạt qua và bảo: »Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!« Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con, Linh Hựu!« Bách Trượng bảo: »Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?« Sư vạch ra thưa: »Không có lửa.« Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: »Ngươi bảo không, cái này là cái gì!« Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ. Bách Trượng bảo: »Ðây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói ›Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.‹ Cho nên Tổ sư bảo ›Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.‹ Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.« Sư ở lại hầu Bách Trượng khoảng hai mươi năm rồi vâng lời thầy đến núi Quy khai sơn. Nơi đây thú dữ nhiều, Sư bảo chúng: »Nếu ta có duyên nơi đây thì các ngươi đi chỗ khác, còn không duyên thì cứ ăn thịt ta đi.« Sư nói xong, thú dữ đi hết. Dần dần chúng hay tin Sư ở đây rủ nhau đến tham học và thành lập một ngôi chùa, vua đặt tên là Ðồng Khánh. Sư bắt đầu hoằng hoá và cùng với Hoàng Bá Hi Vận, môn phong của Bách Trượng cao vút từ đây.|Có vị tăng hỏi: »Người được Ðốn ngộ có tu chăng?« Sư trả lời: »Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lí nơi mình, nhưng vẫn còn Tập khí nhiều kiếp từ vô thuỷ chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trút sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không có nói một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lí nghe và lí sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại ›Chỗ lí chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp.‹ Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lí sự không hai, tức Phật như như.«|Sư thượng đường bảo chúng: »Sau khi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ ›Quy Sơn Tăng Linh Hựu.‹ Khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?«|Ðời Ðường niên hiệu Ðại Trung năm thứ bảy (853), ngày mùng 9 tháng giêng, Sư tắm gội xong ngồi kết già viên tịch, thọ 83 tuổi, 64 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Ðại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh. Những lời dạy của Sư còn được ghi lại trong Ðàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền sư ngữ lục.
quy sơn linh hựu
Xem Qui Sơn Linh Hựu.
quy sơn tam chủng sinh
6108溈山靈祐為接引學人證得大圓鏡智(佛智),達自由無礙之境地而設之三種機法,即想生、相生、流注生。(一)想生,指主觀思惟,意謂能思之心散亂。(二)相生,相,指所緣之境。(三)流注生,意謂微細之煩惱塵垢不斷生起。對此三種生,若能遠離、否定,乃至直視而伏斷之,則能證得圓明之鏡智,達到自在之境地。 人天眼目卷四(卍續一一三‧四三六下):「吾以鏡智為宗要,出三種生,所謂想生、相生、流注生。楞嚴經云:『想相為塵,識情為垢。』二俱遠離,則汝法眼應時清明,云何不成無上知覺?想生即能思之心雜亂,相生即所思之境歷然,微細流注,俱為塵垢,若能淨盡,方得自在。」該書並就此三種生一一作頌,以詮釋其中之意趣。
; (潙山三種生) Ba thứ cơ pháp do ngài Qui sơn Linh Hựu đặt ra để dắt dẫn người học chứng được Đại viên kính trí mà đạt đến cảnh giới tự tại vô ngại. Ba thứ cơ pháp ấy là. 1. Tưởng sinh: Chỉ cho sự suy nghĩ chủ quan, nghĩa là hay suy tư tán loạn. 2. Tướng sinh: Tướng chỉ cho cảnh sở duyên, tức là đối tượng khách quan mà tâm suy nghĩ duyên theo. 3. Lưu chú sinh: Bụi bặm phiền não nhơ nhớp rất nhỏ nhiệm, nối nhau sinh khởi không dứt. Đối với 3 thứ sinh trên, nếu xa lìa, chối bỏ, hoặc nhìn thẳng vào chúng mà dứt khoát đoạn trừ thì có thể chứng được gương trí tròn sáng, đạt đến cảnh giới tự tại. Nhân thiên nhãn mục quyển 4 (Vạn tục 113, 436 hạ) ghi: Ta lấy trí gương làm tông yếu, nêu ra 3 thứ sinh: Tưởng sinh, Tướng sinh và Lưu chú sinh. Kinh Lăng nghiêm nói: Tưởng tướng là bụi bặm, thức tình là cáu bẩn, cả 2 đều xa lìa thì mắt pháp của ngươi tức thời trong sáng, làm sao mà chẳng thành trí giác vô thượng? Tưởng sinh tức là tâm chủ quan tạp loạn; Tướng sinh tức là đối tượng khách quan rõ ràng; còn Lưu chú sinh thì nhỏ nhiệm, đều là bụi bẩn, phải trừ sạch hết mới được tự tại.
Quy Sơn Thiên Hoàng
(龜山天皇, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử của Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246), tên là Hằng Nhân (恒仁, Tsunehito), vị Thiên Hoàng tại vị trong thời gian đại quân Mông Cổ xâm chiếm Nhật.
quy sương
Kuśana (S)Một triều đại tồn tại khoảng đầu công nguyên.
Quy thú 歸趣
[ja] キシュ kishu ||| Conclusion, destination, refuge, way (mārga). => Chỗ kết thúc, nơi đến, nơi nương tựa, đường đi (s: mārga).
quy tiên
To pass away—To die—To go to the paradise.
quy trình tường tham
6572又作歸程詳參。即回光返照以參究自己本來之面目。乃謂大徹大悟後之精進修行,以保任佛道之要機。普勸坐禪儀(大八二‧二上):「雖謂千差萬別,但喜歸程祥參;何忘卻自家之坐床,謾去來他國之塵境?」
; (歸程祥參) Xoay ánh sáng chiếu rọi trở vào để tham cứu mày mặt xưa nay của chính mình. Đây là yếu cơ của sự tu hành tinh tiến sau khi đã triệt ngộ để giữ gìn Phật đạo. Phổ khuyến tọa thiền nghi (Đại 82, 2 thượng) ghi: Tuy nói là muôn nghìn sai khác, nhưng chỉ cần xoay ánh sáng chiếu rọi trở vào tham cứu cho rõ (qui trình tường tham); tại sao lại bỏ chỗ ngồi của mình để lăng xăng đi lại theo các cảnh trần bên ngoài?.
quy tàng lục
Chuyện ví dụ về con rùa dấu sáu chi trong mai khi thấy cáo vì sợ cáo vồ lấy ăn thịt, trong khi con cáo thấy rùa bèn rú lên, nên cuối cùng rùa thụt vào mai, cáo không ăn được nên phải chết đói—The parable of the tortoise and the jackal, the tortoise hiding its six vulnerable parts, symbolizing the six senses, the jackal wailing and starving to death.
quy tính
6572謂攝一切有為之事相,歸之於真如實性 。在法相宗,判一切諸法之體性為「四重出體」,即攝相歸性體、攝境從識體、攝假隨實體、性用別論體。其中,攝相歸性體,謂攝一切有為之事相,使歸於唯一無為之真如實性;亦即揭櫫一切法皆為真如如來藏,除一真如外別無他法。此是舉其真性而為實體之故。〔成唯識論述記卷一本、大乘法苑義林章卷一本〕(參閱「四重出體」1738)
; 1) Thu nhiếp sự tướng hữu vi để trở về với thực tướng chân như—To turn from the world of phenomena to that of eternal reality. 2) Từ bỏ đời sống vật chất để trở về đới sống tâm linh (vốn là bổn tính của vạn hữu): to devote oneself to the spiritual rather than the material.
; (歸性) Trở về chân tính, nghĩa là thu nhiếp tất cả sự tướng hữu vi đưa về chân như thực tính.Tông Pháp tướng chia thể tính của tất cả các pháp làm 4 lớp xuất thể: Nhiếp tướng qui tính thể, Nhiếp cảnh tông thức thể, Nhiếp giả tùy thực thể và Tính dụng biệt luận thể. Trong đó, Nhiếp tướng qui tính thể nghĩa là thu nhiếp tất cả sự tướng hữu vi mà đưa về chân như thực tính vô vi duy nhất; cũng tức là nói rõ tất cả pháp đều là chân như Như lai tạng, ngoài chân như không có pháp nào khác. Đây là nêu chân tính để làm thực thể.
Quy tính 歸性
[ja] キショウ kishō ||| Returning from conditioned appearances to the original nature of true thusness. => Trở về với nhân duyên hiển lộ thể tính chân như.
quy tông chí chi
Kuei tsung Chih chieh (C)Tên một vị sư.
Quy Tông Nghĩa Nhu
(歸宗義柔, Kisu Gijū, khoảng giữa thế kỷ thứ 10): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, pháp từ của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Ông làm trú trì đời thứ 13 của Quy Tông Tự (歸宗寺) ở Lô Sơn (廬山, Huyện Cửu Giang) thuộc Tỉnh Giang Tây (江西省).
Quy Tông Trí Thường
(歸宗智常, Kiso Chijō, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, ông theo tham học với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này, sau đó đến trú tại Quy Tông Tự (歸宗寺) trên Lô Sơn (廬山) và chuyên tâm giáo hóa chúng đạo tục. Sau khi viên tịch, ông được ban cho thụy hiệu là Chí Chơn Thiền Sư (至眞禪師).
Quy Tông Trí Thường
歸宗智常; C: guīzōng zhìcháng; J: kishū chijō; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất và là thầy của Thiền sư Cao An Ðại Ngu, người đã làm cho cho Lâm Tế ngộ được pháp của Hoàng Bá.|Sử sách không ghi rõ Sư quê quán ở đâu, chỉ biết rằng Sư đại ngộ nơi Mã Tổ và cùng rời Tổ với các vị Nam Tuyền, Trí Kiên… Sau, Sư trụ tại chùa Quy Tông ở Lô Sơn.|Sư dạy chúng: »Các bậc cổ đức từ trước không phải chẳng hiểu biết, các Ngài là bậc cao thượng chẳng đồng hạng thường. Người thời nay không thể tự thành tự lập, để tháng ngày qua suông. Các ngươi chớ lầm dụng tâm, không ai thế được ngươi, cũng không có chỗ ngươi dụng tâm. Chớ đến người khác tìm, từ trước chỉ nương người khác mà hiểu, nói ra đều kẹt, ánh sáng không thấy suốt, chỉ vì trước mắt có vật.«|Ðại Ngu đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ðại Ngu trả lời: »Ði các nơi học Ngũ vị thiền.« Sư bảo: »Các nơi có Ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có Nhất vị thiền.« Ðại Ngu hỏi: »Thế nào là Nhất vị thiền« Sư cầm gậy đánh, Ðại Ngu hoát nhiên đại ngộ, thưa: »Ngưng, con hội rồi.« Sư quát: »Nói! Nói!« Ðại Ngu vừa suy nghĩ trả lời Sư liền đánh đuổi ra. Ðại Ngu sau thuật lại lời này với Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Hoàng Bá thán phục, nói với chúng: »Mã Ðại sư sinh ra tám mươi bốn vị thiện tri thức, hỏi đến thì cả thảy đều chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút.«|Sư vào vườn hái rau, sẵn tay vẽ một vòng tròn quanh một bụi rau và bảo chúng: »Không được động đến cái này!« Tất cả chúng đều không dám động. Sau đó, Sư trở lại bụi rau, thấy bụi rau còn nguyên, Sư bèn cầm gậy đuổi chúng, bảo: »Cả bọn mà chẳng có một người trí huệ.«|Một vị quan tên Lí Bột đến hỏi: »Kinh sách nói ›Hạt cải để trong núi Tu-di‹, Bột không nghi, lại nói ›Núi Tu-di để trong hạt cỏ‹, phải là nói dối chăng?« Sư hỏi lại: »Người ta đồn Sử quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng?« Lí Bột đáp: »Ðúng vậy«. Sư hỏi tiếp: »Rờ từ đầu đến chân bằng cây dừa lớn, muôn quyển sách dể chỗ nào?« Lí Bột nghe rồi lặng thinh.|Sư có một vị đệ tử – vị này sau nổi danh với tên Ðại Thiền Phật Trí Thông – với một cơ duyên giác ngộ rất kì đặc. Một đêm, Ðại Thiền la lớn: »Tôi đại ngộ rồi!« Chúng nghe như vậy đều giật mình. Sáng hôm sau, Sư hỏi: »Ðêm qua ai đại ngộ hãy bước ra?« Ðại Thiền bước ra, nói: »Chính con.« Sư hỏi: »Ông thấy đạo lí gì mà nói đại ngộ?« Ðại Thiền thưa: »Sư cô vốn là phụ nữ.« Sư im lặng chấp nhận.|Không biết Sư tịch năm nào. Sau khi tịch, Sư được sắc phong là Chí Chân Thiền sư.
quy tông trảm xà nhân duyên
6571禪宗公案名。為唐代歸宗智常禪師藉斬蛇因緣,顯示自在無礙機法之故事。智常為馬祖道一之法嗣,籍貫與生卒年皆不詳,住於盧山歸宗寺弘揚宗風,示寂後諡號「至真禪師」。 五燈會元卷三歸宗智常章(卍續一三八‧四九上):「師剗草次,有講僧來參,忽有一蛇過,師以鉏斷之。僧曰:『久嚮歸宗,元來是箇麤行沙門。』師曰:『你麤?我麤?』曰:『如何是麤?』師豎起鉏頭。曰:『如何是細?』師作斬蛇勢。曰:『與麼則依而行之。』師曰:『依而行之且置,你甚麼處見我斬蛇?』僧無對。」 於此公案中,前來參學之講僧乃「教宗」之學人,習於經典文義之教學,久之陷於學理探究、依文解義等義解習性之束縛而猶不自知,遂以此分別粗細、是非等之對立見解詰問智常;智常則藉斬蛇、豎鋤頭、作斬蛇勢,乃至否認先前言行之「你甚麼處見我斬蛇」等,而表現出佛道之行乃超越是非、善惡、粗細等相對見解之絕對境地。〔祖堂集卷十五、景德傳燈錄卷七〕
; (歸宗斬蛇因緣) Tên công án trong Thiền tông. Nhân duyên Qui tông chém rắn. Công án này thuật lại câu chuyện Thiền sư Trí Thường ở chùa Qui tông vào đời Đường, muợn nhân duyên chém rắn để nói lên cái cơ pháp tự tại vô ngại. Chương Qui tông Trí thường trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 49 thượng) ghi: Một hôm, sư đang giẫy cỏ, có vị tăng chuyên giảng kinh luận đến hỏi đạo, bỗng có con rắn bò qua, sư liền dùng cuốc chặt đứt. Vị tăng nói: Nghe tiếng Qui tông đã lâu, thì ra chỉ là 1 sa môn hạnh thô! Sư nói: Ông thô hay ta thô? Vị tăng hỏi: Thế nào là thô? Sư dựng đứng cái cuốc. Vị tăng hỏi: Thế nào là tế? Sư làm tư thế chém rắn. Vị tăng lại hỏi: Dựa vào đâu mà làm như thế? Sư nói: Việc đó hãy tạm gác đã, nhưng ông do đâu mà thấyta chém rắn? Vị tăng không đáp được. [X. Tổ đường tập Q.15; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].
quy tông tự
6571位於江西星子縣,廬山南麓。係東晉咸康六年(340),右將軍王羲之捨其故宅,為三藏佛陀耶舍所建。唐元和(806~820)年中,智常再事興建,白樂天、李渤等文人亦常來訪道。爾後成為禪院。宋太平興國九年(984)道詮住寺,為第十二世。道俗雲集,門風大振。後迭經克文、正賢、曇華、慧南諸師住持,遂為禪家大道場。今有大雄寶殿、天王殿、毘盧殿等,諸堂完備,為廬山第一。寺庭有宋式香爐臺,寺後山頂傳有為佛陀耶舍所造之舍利塔,頗富景趣。〔梁高僧傳卷二、宋高僧傳卷十七、景德傳燈錄卷七、卷二十、卷二十三至卷二十六、古今圖書集成職方典第八七○、山川典第一三八〕
; (歸宗寺) Chùa ở chân núi nam Lô Sơn, huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Ngôi chùa này do Hữu tướng quân Vương Hi chi phá bỏ nhà cũ của mình để xây cất chùa vào năm Hàm khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn, cúng dường Tam tạng Phật đà da xá. Khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời Đường, Thiền sư Trí Thường lại xây dựng thêm. Các văn nhân như Bạch lạc thiên, Vương bột... cũng thường đến hỏi đạo. Về sau, chùa trở thành Thiền viện. Năm Thái bình hưng quốc thứ 9 (984) đời Tống, ngài Đạo Thuyên làm Trụ trì, đạo, tục qui tụ rất đông, môn phong phát đạt. Sau, các ngài Khắc văn, Chính hiền, Đàm hoa, Tuệ nam... nối nhau trụ trì, chùa trở thành một đại đạo tràng của Thiền gia. Hiện nay, các kiến trúc trong chùa như Đại hùng Bảo điện, Tì lô điện, Thiên vương điện... vẫn còn đầy đủ. Sân chùa có đài lư hương kiểu đời Tống, trên đỉnh núi phía sau chùa tương truyền có tháp Xá lợi do ngài Phật đà da xá kiến tạo, cảnh trí rất thanh thoát. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7, 20, 23, 26; Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển thứ 870;Sơn xuyên điển thứ 138].
quy tông đạo thuyên
Kuei tsung Tao chuan (C)Tên một vị sư.
quy tư
6400梵名 Kucīna。為漢代西域(今中央亞細亞)古國。又作丘茲、歸茲、屈支、俱支曩、拘夷、曲先、苦叉。今名庫車(Kucha),乃位於新疆天山南路之重要都城。於三世紀起,當地佛教盛行,居民屬於雅利安人種。王室以「白」為名,勢力強大,文化進步。唐置龜茲為都督府,安西都護亦曾駐治於此。自南北朝以迄唐朝,活躍於外國之出家人中,姓「白」及「帛」者,多為該國出身,其中最著名者為鳩摩羅什。 大唐西域記謂該國盛行小乘教,然由該國東來之三藏所譯出之經典包括大乘與密教典籍,故知該國亦弘傳大乘教。十世紀左右以後,成為土耳其族領地。 近年,曾發掘出許多龜茲語(Kuchean)經典及古代遺物。一八九○年,英籍之包爾(Bower)上尉在此地發現貝葉形樺皮梵文佛典古寫本,韋伯(F. Weber)亦發現有關醫藥之龜茲文寫本,依次稱為包爾文書、韋伯文書。其後,日本、蘇俄、德國等學者即多次發掘,出土之龜茲語佛典斷片如大般涅槃經、法句經、古城比喻經、悲華經、十誦比丘戒本等。又西方諸學者對龜茲語之名稱互有異議,或稱吐貨羅語(Tokhārī),或稱吐魯番語(Turfanisch),亦常為與于闐語區別而稱之為 Sprach I。 於漢譯佛典之音譯中,若干梵語之音譯語,毋寧係龜茲語之音譯,如沙門一語,梵語為 śramaṇa,龜茲語為 samāne;波逸提,梵語為 pāyattika,龜茲語為 pāyti等。又就意譯而言,如外道一語,梵語為 mithyādṛṣṭi,意為謬見;龜茲語為 parnaññe,意為外。故知佛典中若干漢譯並非由梵語原本直譯而來,乃經由譯自梵語原本之龜茲語等中亞之土語轉譯而來,或直接由此類土語譯出。〔大方等大集經卷五十五、十力經序、法華經序、梁高僧傳卷一、宋高僧傳卷三、出三藏記集卷七首楞嚴後記、卷八正法華經記、卷十三安玄付傳、卷十四鳩摩羅什傳、貞元新定釋教目錄卷十四、大唐西域記卷一、玄應音義卷四、梵語雜名、後漢書班超傳、唐書西域列傳第一四六、明史列傳第二二○、欽定新疆識略、龜茲于闐の研究(羽田亨,史林第二之三)、T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. I〕(參閱「包爾文書」1579)
; Kucha (skt)—Câu Chi—Khưu Tư—Một vương quốc và thành phố cổ nằm về mạn đông của Trukestan. Được ghi nhận là sinh quán của Ngài Cưu Ma La Thập—An ancient kingdom and city in eastern Turkestan. It is recorded as the native place of Kumarajiva.
; (龜茲) Phạm: Kucìna. Cũng gọi Khưu tư, Khuất chi, Câu chi nang, Câu di, Khúc tiên, Khổ xoa. Tên một nước xưa ở Tây vực (nay thuộc vùng Trung á). Tên gọi hiện nay là Khố xa (Kucha), là đô thành trọng yếu ở phía nam Thiên sơn thuộc Tân cương. Bắt đầu từ thế kỉ thứ III, Qui tư là nơi Phật giáo thịnh hành, dân cư thuộc chủng tộc Aryan. Vương thất lấy chữ Bạch làm họ, thế lực rất mạnh, văn hóa tiến bộ. Đời Đường, Trung quốc đặt Qui tư làm phủ Đô hộ. Từ đời Nam Bắc triều đến đời Đường, những người xuất gia nước ngoài sống tại Trung Quốc phần nhiều xuất thân từ Qui tư, trong đó có ngài Cưu ma la thập rất nổi tiếng. Cứ theo Đại đườngtây vực kí thì Qui tư thịnh hành Phật giáo Tiểu thừa, nhưng căn cứ vào những kinh điển do các vị Tam tạng của nước này đưa đến Trung quốc để dịch thì bao gồm cả kinh điển Đại thừa và Mật giáo, vì thế nên biết Qui tư cũng hoằng truyền Phật giáo Đại thừa. Khoảng thế kỉ thứ X về sau, nước này trở thành lãnh địa của người Thổ nhĩ kì. Thời gần đây, người ta đào được nhiều kinh điển bằng chữ Qui tư (Kuchean) và các cổ vật. Năm 1890, Thượng úy Bower, người Anh, đã phát hiện tại đây những kinh điển Phật bằng tiếng Phạm chép tay rất xưa, viết trênvỏ cây Hoa theo hình lá bối; ông F. Weber cũng tìm được những bản sách thuốc chép tay bằng chữ Qui tư, theo thứ tự gọi là Văn thư Bower (Bao nhĩ), Văn thư Weber (Vi bá). Về sau, các học giả Nhật, Nga, Đức... nhiều lần đào được những mảnh kinh điển Phật bằng chữ Qui tư như kinh Đại bát niết bàn, kinh Pháp cú, kinh Cổ thành tỉ dụ, kinh Bi hoa, Thập tụng tỉ khưu giới bản... Về cách gọi tiếng Qui tư, giữa các học giả phương Tây cũng có những ý kiến khác nhau, hoặc gọi là tiếng Thổ hóa la (Tokhàrì), hoặc gọi là tiếng Thổ lỗ phiên (Turfanisch), hoặc được gọi là Sprach I để phân biệt với tiếng Vu điền. Còn trong dịch âm của kinh Phật Hán dịch thì có 1 số dịch âm của chữ Phạm có lẽ dịch âm từ tiếng Qui tư, như chữ Sa môn tiếng Phạm là Zramaịa, tiếng Qui tư là samane; Ba dật đề tiếng Phạm là Pàyatika, tiếng Qui tư làpàyti... Về dịch ý thì như từ Ngoại đạo tiếng Phạm là mithyàdfwỉi, hàm ý là cái thấy sai lầm; tiếng Qui tư làparnaĩĩe, hàm ý là ngoài. Cho nên biết, trong kinh điển Phật, có 1 số kinh Hán dịch không phải đã dịch thẳng từ nguyên bản tiềng Phạm mà là dịch từ các bản dịch tiếng Phạm của những Thổ ngữ vùng Trung á như tiếng Qui tư, Vu điền... [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55; bài tựa kinh Thập lực; bài tựa kinh Pháp hoa; Lương cao tăng truyện Q.1; Tống cao tăng truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.7; Thủ lăng nghiêm hậu kí Q.8; Chính pháp hoa kinh kí Q.13; An huyền phó truyện Q.14; Cưu ma la thập truyện; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Đại đường tây vực kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phạm ngữ tạp danh; Hậu hán thư Ban siêu truyện; Đường thư Tây vực liệt truyện thứ 146; Minh sử liệt truyện thứ 220; Khâm định tân cương thức lược; Qui tư Vu điền đích nghiên cứu (Vũ điền hanh, Sử lâm thứ 2, phầm 3); On yuan Chwang, vol. I, by T. Watters; Buddhist Records of the Western World, vol. I by S. Beal]. (xt. Bao Nhĩ Văn Thư).
quy tạng lục
6400據法句譬喻經卷一載,昔時,有一道人在河邊樹下學道,然十二年中妄念不除,六根貪染不止,難以入道,佛遂化作沙門以度之,並以龜為護命而縮藏頭尾四足於甲殼中之行動,比喻眾生收攝眼、耳等六根而不為外界六塵所危害。又於大明三藏法數卷二十八詳加闡釋,即:(一)龜以頭藏於甲殼中,比喻眾生收攝眼根,不令觀色,則不為一切色塵所危害。(二)龜以前左足藏於甲殼中,比喻眾生收攝耳根,不令聞聲,則不為一切聲塵所危害。(三)龜以前右足藏於甲殼中,比喻眾生收攝鼻根,不令聞香,則不為一切香塵所危害。(四)龜以後左足藏於甲殼中,比喻眾生收攝舌根,不令嘗味,則不為一切味塵所危害。(五)龜以後右足藏於甲殼中,比喻眾生收攝身根,不令覺觸,則不為一切觸塵所危害。(六)龜以尾藏於甲殼中,比喻眾生收攝意根,不令知法,則不為一切法塵所危害。 上記之外,阿含經、涅槃經等亦有此類譬喻,皆用以警戒修行者應自行攝心,密藏妄想,不令敵害魔障等所侵。雜阿含經卷四十三(大二‧三一一下):「『過去世時,有河中草,有龜於中住止。時有野干,飢行覓食,遙見龜蟲,疾來捉取,龜蟲見來,即便藏六,野干守伺,腻出頭足,欲取食之。久守,龜蟲永不出頭,亦不出足,野干飢乏,瞋恚而去。諸比丘!汝等今日亦復如是知,魔波旬常伺汝便,腻汝眼著於色,耳聞聲,鼻嗅香,舌嘗味,身覺觸,意念法,欲令出生,染著六境。是故,比丘!汝等今日常當執持眼律儀住,執持眼根律儀住,惡魔波旬不得其便,隨出隨緣;耳、鼻、舌、身、意,亦復如是,於其六根,若出若緣,不得其便,猶如龜蟲,野干不得其便。』爾時,世尊即說偈言:『龜蟲畏野干,藏六於殼內,比丘善攝心,密藏諸覺想,不依不怖彼,覆心勿言說。』」
; (龜藏六) Rùa giấu 6 chi (đầu, đuôi và 4 chân) vào trong mai. Cứ theo kinh Pháp cú thí dụ quyển 1: Thuở xưa, có 1 đạo nhân tu đạo dưới gốc cây bên sông, nhưng trong 12 năm mà vẫn chưa trừ được vọng niệm, 6 căn tham nhiễm không dừng, khó có thể vào đạo, đức Phật liền hóa làm vị sa môn đến độ cho đạo nhân này, Ngài dùng hình ảnh con rùa thu rút đầu, đuôi và 4 chân giấu vào trong mai để bảo vệ mệnh sống, ví dụ cho chúng sinh thu nhiếp 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý không để cho 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài làm nguy hại. Đại minh tam tạng pháp số quyển 28 giải thích về Qui tàng lục như sau: 1. Rùa rút đầu vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn mắt, không cho thấy sắc thì không bị tất cả sắc trần làm nguy hại. 2. Rùa rút chân trái đàng trước vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn tai, không cho nghe tiếng thì không bị tất cả thanh trần làm nguy hại. 3. Rùa rút chân phải đàng trước vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn mũi không cho ngửi mùi thì không bị tất cả hương trần làm nguy hại. 4. Rùa rút chân trái đàng sau vào trong mai, ví dụ cho chúng sinh thu nhiếp căn lưỡi, không cho nếm vị thì không bị tất cả trần làm nguy hại. 5. Rùa rút chân phải đàng sau vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn thân, không cho giác xúc thì không bị tất cả xúc trầnlàm nguy hại. 6. Rùa rút đuôi vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn ý, không cho biết pháp thì không bị tất cả các pháp trần làm nguy hại.Ngoài ra, trong các kinh A hàm, Niết bàn... cũng có thí dụ này, đều dùng để răn dạy người tu hành nên tự thu nhiếp tâm mình, dứt bặt vọng tưởng, không để cho ma chướng oán địch làm hại. Kinh Tạp a hàm quyển 43 (Đại 2, 311 hạ) nói: Thuả xưa, có một con rùa ở trong một bãi cỏ ven sông, một con dã can đói bụng đi tìm thức ăn, từ xa trông thấy con rùa liền chạy đến bắt, thấy vậy, lập tức rùa rút đầu, đuôi và 4 chân vào trong mai, dã can ngồi rình, chờ cho rùa ló đầu và chân ra để ăn thịt. Dã can ngồi đợi rất lâu mà rùa chẳng thèm ló đầu, cũng không thò chân, dã can đói quá, bực mình bỏ đi. Này các Tỉ Khưu! Hôm nay các ông cũng cần biết như thế, ma Ba tuần thường chờ cơ hội thuận tiện để hại các ông, đợi lúc các ông mắt đắm nhìn sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân giác xúc, ý nhớ nghĩ các pháp, muốn cho 6 căn của các ông đắm nhiễm 6 cảnh. Bởi thế, các Tỉ Khưu! Hôm nay các ông thường phải chấp trì an trụ trong nhãn luật nghi, chấp trì an trụ trong nhãn căn luật nghi thì ác ma Ba tuần chẳng có cơ hội làm hại, lúc đó tùy ý xuất, duyên, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế; đối với 6 căn của các ông, dù xuất dù duyên, ma Ba tuần đều không có dịp làm hại, giống như con rùa không để cho dã can có được cơ hội. Bấy giờ đức Thế tôn liền nói kệ rằng: Con rùa sợ dã can/Rút sáu chi vào mai/Tỉ khưu khéo nhiếp tâm/Giấu kín các giác tưởng/Không theo, không sợ chúng Giữ tâm, chớ nói năng.
quy tắc
Regulation—Rule.
quy tội
To shift away the blame upon someone.
quy tục
6572出家眾無罪而自願返回俗世生活者,稱為歸俗。有罪斥令而歸,則稱還俗。或亦以歸俗混同於還俗。〔禪林象器箋罪責門〕(參閱「還俗」6522)
; Hoàn tục—To return to lay life.
; (歸俗) Người xuất gia không phạm tội lỗi mà tự nguyện trở về với đời sống thế tục, gọi là Qui tục, còn người vì phạm giới cấm mà bị đuổi về đời thì gọi Hoàn tục. Tuy nhiên, qui tục và hoàn tục cũng có khi bị dùng lẫn lộn.[X. môn Tội trách trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hoàn Tục).
Quy y
歸依; T: kyabdro; Quy y trong Phật giáo Tây Tạng.|Trong mỗi tông phái của Phật giáo Tây Tạng, lễ quy y rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết của mọi tu học về Pháp (s: dharma). Quy y của Phật giáo Tây Tạng có khác biệt so với Quy y Tam bảo trong Tiểu thừa hoặc Ðại thừa. Ba đối tượng quy y thông thường là: 1. Phật, 2. Pháp (dharma), 3. Tăng (saṅgha). Trong Kim cương thừa được lưu hành tại Tây Tạng thì ngoài Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), còn thêm một đối tượng nữa là Lạt-ma, vị đạo sư. Trong một số trường phái, người ta có thể có đến sáu đối tượng quy y, tức là ngoài Tam bảo còn có thêm: 4. Lạt ma, 5. Hộ Thần (t: yidam) và 6. Không hành nữ (s: ḍākinī).|Tầm quan trọng của Phật như là đạo sư và Tăng là giáo hội do Ngài xây dựng lên để truyền bá giáo pháp đã được xác lập rất sớm và xem như nhãn quan Phật giáo. Với sự thành hình của Ðại thừa, tính chất quan trọng của đức Phật lịch sử giảm đi và thay vào đó là »Phật quả« có tính chất bao trùm, vượt thời gian. Ðến Kim cương thừa, thì vị đạo sư lại trở nên quan trọng, đó là vị hoá thân của »Phật quả«.|Trong giáo pháp Tan-tra, người ta luôn luôn nhấn mạnh tính chất quan trọng của đạo sư, là người giúp hành giả trong các phép tu khó khăn. Kim cương thừa xem vai trò của đạo sư như là đối tượng quy y thứ tư và quan điểm cho rằng vị đó là hiện thân của Tam bảo bắt nguồn trực tiếp từ các phép tu của trường phái này. Thời gian Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng cũng là thời điểm người ta bắt đầu thiết lập việc quy y đạo sư. Tiểu sử của Na-rô-pa (t: nāropa) và Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) còn ghi lại rất rõ điều này. Ngay cả A-đề-sa cũng nhấn mạnh đến việc quy y Lạt-ma và vị vậy ông được tặng danh hiệu »Quy y học giả« (kyabdro paṇḍita). |Trong các tông phái Tây Tạng, khi hành giả chuẩn bị thiền quán phải để ý đến phần quy y và phát Bồ-đề tâm. Tương truyền rằng Na-rô-pa quy y như sau: »Tâm ta là Phật hoàn toàn, Khẩu ta là Pháp hoàn toàn, Thân ta là Tăng hoàn toàn.«
quy y
6570梵語 śaraṇa,巴利語 saraṇa。又作皈依。指歸敬依投於佛、法、僧三寶。歸依之梵語含有救濟、救護之義,即依三寶之功德威力,能加持、攝導歸依者,使能止息無邊之生死苦輪大怖畏,而得解脫一切之苦。又法界次第初門卷上之下載,歸,反還之義,即反邪師而還事正師;依,憑依、依靠之義,即憑心之靈覺而得出離三塗及三界之生死。 阿毘達磨大毘婆沙論卷三十四載(大二七‧一七七上):「眾人怖所逼,多歸依諸山,園苑及叢林,孤樹制多等。此歸依非勝,此歸依非尊,不因此歸依,能解脫眾苦。諸有歸依佛,及歸依法僧,於四聖諦中,恆以慧觀察。知苦知苦集,知永超眾苦,知八支聖道,趣安隱涅槃。此歸依最勝,此歸依最尊,必因此歸依,能解脫眾苦。」蓋歸依即由深切之信心,信佛、法、僧三寶確為真正之歸依處,能因之而得種種功德;既知三寶有此等功德,乃立願為一佛弟子,信受奉行,懇求三寶之威德加持攝受,將一己之身心歸屬於三寶,而不再屬天魔外道。 有關能歸依之體,據大毘婆沙論卷三十四所舉,有以名等為能歸依者,有以語業為能歸依者,有以身業為能歸依者,亦有以信為能歸依者。總括上述諸說,即以身語業及能起彼之心、心所法、諸隨行等善之五蘊為能歸依之體。此外,大乘法苑義林章卷四舉出歸依之異於敬禮者有七種,即:(一)歸依唯局於身、語二業。(二)必具歸三寶而成業,故歸依之境廣。(三)歸依必「盡未來際」。(四)歸依情懇,通於表業與無表業。(五)歸依必合於身、語二業,其義較重。(六)歸依帶相,故唯於欲、色二界有之。(七)歸依乃觀真理而成,故義較勝。 一般而言,歸依是信仰、希願領受外來之助力,從他力而得救濟。然以歸依之至深意義而言,其最終仍是歸向自己之自心、自性。即佛於涅槃會上所教誡弟子之「自依止,法依止,莫異依止」。此乃明示弟子應依仗自力,依正法修學。蓋自己有佛性,自己能成佛,故自己身心之當體,即為正法涅槃。〔北本大般涅槃經卷五、俱舍論卷十四、顯宗論卷二十〕(參閱「三歸依」688)
; Skyabs (T), Saraṇagāmāna (P), Kyabdro (T), Saraṇa (P), Take a refuge in.
; To turn to and rely on, or believe in Buddhism. (I) Nghĩa của Quy-Y—The meanings of Taking Refuge: Tin vào Phật giáo và về nương nơi ba ngôi Tam Bảo. Được nhận làm đệ tử tại gia sau nghi thức sám hối và lập lại những lời một vị Tăng về quy y—To take refuge in the Triratna—An admission of a lay disciple, after recantation of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the Three Refuges. ** For more information, please see Tam Quy-Y in Vietnamese-English Section. (II) Những lời Phật dạy về Quy-Y trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Taking Refuge in the Dharmapada Sutra: 1) Vì sợ hãi bất an mà đến quy-y thần núi, quy-y rừng cây, quy-y miễu thờ thọ thần—Men were driven by fear to go to take refuge in the mountains, in the forests, and in sacred trees (Dharmapada 188). 2) Nhưng đó chẳng phải là chỗ nương dựa yên ổn, là chỗ quy-y tối thượng, ai quy-y như thế khổ não vẫn còn nguyên—But that is not a safe refuge or no such refuge is supreme. A man who has gone to such refuge, is not delivered from all pain and afflictions (Dharmapada 189). 3) Trái lại, quy-y Phật, Pháp, Tăng, phát trí huệ chơn chánh—On the contrary, he who take refuge in the Buddhas, the Dharma and the angha, sees with right knowledge (Dharmapada 190). 4) Hiểu thấu bốn lẽ mầu: biết khổ, biết khổ nhân, biết khổ diệt và biết tám chi Thánh đạo, diệt trừ hết khổ não—With clear understanding of the four noble truths: suffering, the cause of suffering, the destruction of suffering, and the eighfold noble path which leads to the cessation of suffering (Dharmapada 191). 5) Đó là chỗ quy-y an ổn, là chỗ quy-y tối thượng. Ai quy-y được như vậy mới giải thoát khổ đau—That is the secure refuge, the supreme refuge. He who has gone to that refuge, is released from all suffering (Dharmapada 192).
; (歸依) Phạm: Zaraịa . Pàli: Saraịa. Quay về nương tựa 3 ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng. Qui y trong tiếng Phạm hàm nghĩa là cứu giúp, cứu hộ, tức là uy lực của công đức qui y Tam bảo có năng lực giữ gìn, che chở, dắt dẫn người qui y, làm cho họ dứt nỗi sợ hãi lớn lao về sinh tử luân hồi vô tận mà trút bỏ được tất cả khổ não. Theo pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, phần cuối thì Qui nghĩa là quay trở về, tức từ bỏ thầy tà mà quay trở về vớithầy chân chính; Y nghĩa là nương tựa, nhờ vào, tức nương tựa vào linh giác của tâm mà ra khỏi được 3 đường ác và thoát ly vòng sinh tử trong 3 cõi. Luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 34 (Đại 27, 177 thượng) nói: Mọi người vì bị nỗi sợ hãi bức bách nên quay về nương tựa vào các núi non, vườn rừng, lùm cây, gò đất...Sự qui y này không hay, không quí, vì nó không giúp người ta thoát đượccác nỗi khổ não. Trái lại, những người qui y Phật, quiy Pháp, qui yTăng, đối với Tứ thánh đế thường dùng trí tuệ quán xét, biết khổ, biết nguyên nhân của khổ, biết xa lìa các khổ, biết Bát thánh đạo đưa tới Niết bàn an lạc. Sự qui y này là thù thắng nhất, tôn quí nhất, nhờ sự qui y này mà trút bỏ được các thống khổ. Bởi vì qui y là do lòng tin sâu xa tha thiết, tin chắc rằng 3 ngôi báu Phật, Pháp, Tăng là nơi chân chính để quay về nương tựa, nhờ vào đó mà có được các công đức. Đã biết Tam bảo có các công đức như thế mới lập nguyện làm 1 đệ tử của Phật, tin nhận vâng làm, khẩn cầu uy đức Tam bảo gia trì nhiếp thụ, đem cả thân tâm mình qui thuộc về Tam bảo và không còn thuộc về thiên ma ngoại đạo nữa. Nói một cách phổ thông thì qui y là lòng tin tưởng, mong cầu sức giúp đỡ từ bên ngoài, nhờ tha lực mà được cứu độ. Nhưng nói theo ý nghĩa sâu xa nhất của việc qui y thì cuối cùng vẫn là quay về với tâm tính của chính mình. Như trên hội Niết bàn, đức Phật đã răn dạy các đệ tử: Hãy nương tựa vào chính mình, nương tựa vào chính pháp, chứ đừng nương tựa vào bất cứ ai hoặc nơi nào khác. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc); luận Câu xá Q.14; luận Hiển tông Q.20]. (xt. Tam Qui Y).
quy y ngũ giới
Nghi thức để trở thành một Phật tử tại gia—The ceremony which makes the recipient an upasaka (Ưu bà tắc—Male disciple) or upasika (Ưu bà di—Female disciple).
quy y pháp
Quy-y thọ pháp—Harman-saranam-gacchami (skt)—Về nương với Phật Pháp—To take refuge in the Dharma or to take refuge in the Dharma and receiving the law.
quy y phật
Buddham-saranam (skt)— Về nương với Phật— To take refuge in the Buddha.
quy y tam bảo
(I) Ý nghĩa của quy-y—The meanings of Taking Refuge: 1) Về nương với Phật, Pháp, Tăng. Người thành tâm quy y Tam Bảo sẽ không còn sa vào các đường dữ nữa. Hết kiếp người sẽ được sanh vào các cõi trời—To take refuge in the Triratna, or to commit oneself to the Triratna, i.e. Buddha, Dharma, Sangha (Buddha, his Truth, and his Order)—To trust the Triratna (Buddha—Dharma—Sangha)—Those who sincerely take refuge in Buddha, Dharma and Sangha shall not go to the woeful realm. After casting human life away, they will fill the world of heaven. 2) Đãõ là Phật tử thì phải quy-y ba ngôi Tam Bảo Phật Pháp Tăng, nghĩa là cung kính nương về với Phật, tu theo giáo pháp của Ngài, cũng như tôn kính Tăng Già. Phật tử thệ nguyện không quy y thiên thần quỷ vật, không thờ tà giáo, không theo tổn hữu, ác đảng. Quy y là trở về nương tựa. Có nhiều loại nương tựa. Khi con người cảm thấy bất hạnh, họ tìm đến bạn bè; khi âu lo kinh sợ họ tìm về nương nơi những niềm hy vọng ảo huyền, những niềm tin vô căn cứ; khi lâm chung họ tìm nương tựa trong sự tin tưởng vào cảnh trời vĩnh cửu. Đức Phật dạy, không chỗ nào trong những nơi ấy là những nơi nương tựa thật sự cung ứng cho ta trạng thái thoải mái và châu toàn thật sự. Đối với người Phật tử thì chuyện quy-y Tam Bảo là chuyện cần thiết. Lễ quy-y tuy là một hình thức tổ chức đơn giản, nhưng rất quan trọng đối với Phật tử, vì đây chính là bước đầu tiên trên đường tu học để tiến về hướng giải thoát và giác ngộ. Đây cũng là cơ hội đầu tiên cho Phật tử nguyện tinh tấn giữ ngũ giới, ăn chay, tụng kinh niệm Phật, tu tâm, dưỡng tánh, quyết tâm theo dấu chân Phật để tự giúp mình ra khỏi sanh tử luân hồi—Any Buddhist follower must attend an initiation ceremony with the Three Gems, Buddha, Dharma, and Sangha, i.e., he or she must venerate the Buddha, follow his teachings, and respect all his ordained disciples. Buddhists swear to avoid deities and demons, pagans, and evil religious groups. A refuge is a place where people go when they are distressed or when they need safety and security. There are many types of refuge. When people are unhappy, they take refuge with their friends; when they are worried and frightened they might take refuge in false hope and beliefs. As they approach death, they might take refuge in the belief of an eternal heaven. But, as the Buddha says, none of these are true refuges because they do not give comfort and security based on reality. Taking refuge in the Three Gems is necessary for any Buddhists. It should be noted that the initiation ceremony, though simple, is the most important event for any Buddhist disciple, since it is his first step on the way toward liberation and illumination. This is also the first opportunity for a disciple to vow to diligently observe the five precepts, to become a vegetarian, to recite Buddhist sutras, to cultivate his own mind, to nurture himself with good deeds, and to follow the Buddha's footsteps toward his own enlightenment. i) Quy-y Phật là về nương tựa nơi Phật Bảo, là vững lòng tu tập, tin tưởng để có thể trở nên giác ngộ như Đức Phật: To take refuge in the Buddha is a confident acceptance of the fact that one can become fully enlightened just as the Buddha. ii) Quy-y Pháp là về nương tựa nơi Pháp bảo, là học hiểu Tứ Diệu Đế, là đặt trọn cuộc sống của mình trên con đường Bát Chánh Đạo: To take refuge in the Dharma means understanding the Four Noble Truths and basing one's life on the Noble Eight fold Path. iii) Quy-y Tăng là về nương nơi Tăng bảo, là tìm sự hỗ trợ, hướng dẫn tu học Bát Chánh Đạo từ các vị chân tu: To take refuge in the Sangha means looking for support, inspiration and guidance from all who walk the Noble eight fold Path. (II) Nghi thức quy-y—The Buddhist Initiation Ceremony: 1) Khung cảnh lễ quy-y—The place for the Buddhist Initiation Ceremony: Nghi thức quy-y nên tổ chức đơn giản, tùy theo hoàn cảnh mỗi nơi. Tuy nhiên, khung cảnh lễ cần phải trang nghiêm, trên là điện Phật, dưới có Thầy chứng tri, chung quanh có sự hộ niệm của chư Tăng ni, các Phật tử khác, và thân bằng quyến thuộc: The initiation ceremony must be simple, depend on the situation of each place. However, it must be solemn. It is led by Buddhist Master who would grace it by standing before the altar decorated with the Buddha's portrait, with the assistance of other monks and nuns, relatives, and friends. 2) Về phần bản thân của vị Phật tử quy-y cần phải trong sạch, quần áo chỉnh tề mà giản dị: As for the initiated, he must be clean and correctly dressed. 3) Lễ quy-y—The Buddhist Initiation Ceremony: Đến giờ quy-y, theo sự hướng dẫn của Thầy truyền trao quy-giới, phát nguyện tâm thành, ba lần sám hối cho ba nghiệp được thanh tịnh—Under the guidance of the Master, he must recite three times the penance verses in order to cleanse his karmas. i) Đệ tử xin suốt đời quy-y Phật, nguyện không quy-y Thiên thần, quỷ vật: As a Buddhist disciple, I swear to follow in Buddha's footsteps during my lifetime, not in any god, deity or demon. ii) Đệ tử xin suốt đời quy-y Pháp, nguyện không quy-y ngoại đạo tà giáo: As a Buddhist disciple, I swear to perform Buddhist Dharma during my lifetime, not pagan, heretic beliefs or practices. iii) Đệ tử xin quy-y Tăng, nguyện không quy-y tổn hữu ác đảng: As a Buddhist disciple, I swear to listen to the Sangha during my lifetime, not evil religious groups. 4) Đức Phật đã nói, “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành.” Ý nói trong chính chúng ta tiềm ẩn Phật tánh chưa được xuất hiện, nên khi ta đã quy-y Tam Bảo bên ngoài, chúng ta cũng phải quy-y Tam Bảo trong tâm của chúng ta, vì vậy chúng ta phải nguyện: The Buddha had said: “I am a realized Buddha, you will be the Buddha to be realized,” meaning that we all have a Buddha-nature from within. Therefore, after having taken the initiation with the Three Gems, we must repeat the above vows, addressing this time the inner Buddha, Dharma, and Sangha. i) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Phật (nghĩa là Phật trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Buddha ii) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Pháp (nghĩa là Pháp trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Dharma. iii) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Tăng (nghĩa là Tăng trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Sangha. ** For more information, please see Tam Quy-Y in Vietnamese-English Section.
quy y thọ pháp
See Quy Y Pháp.
quy y tăng
Sangham-saranam-gacchami—Take refuge in the Sangha.
Quy y 歸依
[ja] キエ kie ||| Same as 歸命. To trust in absolutely; to rely upon without any trace of doubt. To have full and perfect trust in the Buddha's teaching. To "turn to and rely upon." (śaraṇa). (2) To venerate the Three Treasures of Buddhism (the Buddha, the dharma and the sangha). => Đồng nghĩa với Quy mạng 歸命. Tin tưởng một cách tuyệt đối; tin tưởng không một chút nghi ngờ. Có niềm tin đầy đủ và trọn vẹn vào Phật pháp. 'Quay về nương tựa'. Tôn quý tam bảo của Phật pháp (Phật, pháp, tăng).
quy định
To define—To stipulate.
quy ước
Xem Thế tục.
Quy 歸
[ja] キ ki ||| (1) To return (to one's original place). (2) To return something, to give it back. To come again. (3) To go home. (4) To lean on, to follow, accord with. To depend upon, rely on, count on, trust in. (5) That which can or should be trusted in, such as Buddha's teachings. => 1. Quay về (nơi xuất phát). 2. Trả lại điều gì, giao lại cái gì. Đến một lần nữa. 3. Trở về nhà. 4. Nương tựa vào, đi theo, hòa hợp với. Tin vào, nhờ vào, được quan tâm đến, tin tưởng vào. 5. Điều mà người ta có thể hoặc nên tin vào, như Phật pháp.
quyên
To subscribe to a charity—To collect money for a charity purpose.
Quyên cát
(蠲吉): tắm rửa sạch sẽ, thọ trì trai giới, chọn ngày tốt lành. Như trong tác phẩm Kim Liên Ký (金蓮記), phần Trùng Biếm (重貶), của Trần Nhữ Nguyên (陳汝元, ?-?) nhà Minh có câu: “Mông chỉ an trí, quyên cát khởi trình (蒙旨安置、蠲吉起程, mong chiếu chỉ yên trí, chọn ngày tốt khởi hành).” Hay trong Dạ Đàm Tùy Lục (夜譚隨錄), phần A Trĩ (阿稚), của Hòa Bang Ngạch (和邦額, 1736-?) nhà Thanh lại có câu: “Bất tất quyên cát, kim nhật tiện giai, tức khả hoán tế lai bái đưỡng dã (不必蠲吉、今日便佳、卽可喚婿來拜堂也, không cần chọn ngày tốt, hôm nay cũng tốt rồi, tức có thể gọi chàng rễ đến bái đường được).”
quyên góp
Fund raising.
quyên hội
4430禪林用語。又作捲繢、棬羀、綣繢、圈圚。原指圈套、一定格式(定格)、術計等;於禪林中,特指師家以言語、動作來試練、接引學人。從容錄第十六則(大四八‧二三七中):「是與不是,好看棬羀,似抑似揚,難兄難弟。」碧巖錄第五則(大四八‧一四五中):「得失是非,一時放下,洒洒落落,自然透得他圈繢,方見他用處。」
quyên luyến
4430禪林用語。又作棬攣、捲攣。喻指禪林師家接引伶俐衲僧時,用以釣引、把持之餌。圈攣,原指捲絞鉤繩之轆轤,或以「圈」為豢養禽獸之檻,「攣」指用繩綁物或垂釣之具;於禪林中,轉指師家接引根機高、悟性強之禪徒時,所使用之特別機法,以為釣引、把持之用,猶如垂釣者以善餌釣引大魚,又如獵戶以堅實之檻豢養猛獸,是皆防範禪徒習性或狂或狷,飄忽無定而錯失良才。於此類情形,師家最常用之機法為「圓相」,即以手或拂子、如意、拄杖等在空中或地上畫一圓形,表示真如、佛性、實相、法性等之絕對真理,以之為接引之餌,而引發學人開悟之機。碧巖錄第三十三則(大四八‧一七二下):「釣鼇時下一圈攣。」從容錄第二十五則(大四八‧二四三下):「扇子破,索犀牛,棬攣中字有來由。」〔碧巖鈔、碧巖錄方語解〕
; (圈攣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quyển là chuồng để nuôi thú; Luyến là dây buộc hoặc dây câu. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để ví dụ bậc thầy tiếp hóa những người học có căn cơ linh lợi, nhạy bén, cần phải dùng phương pháp đặc biệt khéo léo để dắt dẫn, bắt giữ, giống như người đời thả câu dùng mồi ngon để nhử bắt cá lớn, hoặc dùng cái chuồng chắc chắn để giữ những con mãnh thú săn bắt được, đề phòng chúng sổng chuồng, ví như giữ cho người học khỏi trở thành ngông cuồng. Trong trường hợp này, cái cơ pháp mà bậc thầy hay dùng nhất là Viên tướng (tướng tròn), tức dùng tay hoặc phất trần, như ý, gậy...vẽ trong hư không hoặc trên mặt đất 1 hình tròn, biểu thị chân lí tuyệt đối, chân như, Phật tính, thực tướng, pháp tính...để làm phương tiện dẫn phát cơ khai ngộ của người học. Bích nham lục tắc 33 (Đại 48, 172 hạ) nói: Khi câu được con ba ba thì phải dùng 1 sợi dây (luyến) để buộc nó lại. [X. Bích nham sao; Bích nham lục Phương ngữ giải].
quyên phi nhu động
5597指形體細微渺小之生物。又作〖⿰豕/
; (蜎飛蠕動) Chỉ cho loài sinh vật rất nhỏ bé. Quyên phi: Chỉ cho loài trùng nhỏ bay đi trên không như ruồi muỗi; Nhu động: Chỉ cho loài trùng nhỏ có dáng ngọ ngoạy như dòi bọ... Theo Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 3 thì tất cả loài hữu tình, dù nhỏ bé như loài dòibọbay đi, ngọ ngoạy, đức Phật cũng đều hóa độ. [X.phẩm Phát ý thụ tuệ trong kinh A súc Phật quốc Q.thượng; kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác Q.1].
quyên tiền
To subscribe money—To take up a collection.
quyên trợ
To subscribe money.
quyến dụ
To lure—To attract—To seduce—To entice.
quyến luyến
To attach—To love.
quyến rũ
To Allure—To lure—To enchant—To seduce—To attract.
quyến sách
6588梵語 pāśa,巴利語 pāsa。音譯播捨、皤賒、波捨。又稱金剛索、罥索、羂網、寶索、珠索。略稱索。為戰鬥或狩獵之用具。據慧琳音義卷六十一載,羂索,係於戰鬥之時用以羂取人,或羂取馬頭、馬腳之繩索,俗稱搭索。通常以五色線搓成,一端附鐶,另一端附半獨股杵(獨股杵之半形);或兩端均附半獨股杵。 於密教中,用以化度剛強眾生及降伏四魔之具,象徵四攝方便,為不動明王、不空羂索觀音、千手觀音、金剛索菩薩等手中之持物。如不動明王右手持利劍,左手持羂索,即表示先以真淨菩提心中四攝之索,繫縛一切眾生而鉤召攝引之,復以菩提心中之智劍斷滅眾生之根本無明種子。大日經疏卷五(大三九‧六三三中):「所以持利刃以羂索者,承如來忿怒之命,盡欲殺害一切眾生也。羂索是菩提心中四攝方便,以此執繫不降伏者,以利慧刃斷其業壽無窮之命,令得大空生也。」 四攝菩薩中之金剛索菩薩亦以右手持羂索,表示羂取一切眾生,令解脫二乘實際三摩地智之淤泥,而安置於覺王之法界宮殿中。又千手觀音用以持羂索之手,稱為羂索手。此外,羂索亦有結護之意,故將之繫於頸項間,即可得福滅罪。〔大日經卷二具緣品、不空羂索陀羅尼自在王咒經卷下、底哩三昧耶經卷上、慧琳音義卷十七、卷二十九、卷六十九〕
; (罥索) Phạm: pāśa. Pàli: pāsa. Hán âm: Bá xả, Bá xa, Ba xá. Cũng gọi Kim cương tác, Quyên tác, Quyên võng, Quyên sách, Bảo tác, Châu tác.Gọi tắt: Tác. Một loại dây dùng để chiến đấu hay săn bắt. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 61, thì quyên tác (sách) là sợi dây thừng, khi chiến đấu, dùng để tròng bắt người, hoặc tròng vào đầu ngựa, chân ngựa để bắt nó, tục gọi là dây treo, thòng lọng. Thông thường được se bằng những sợi chỉ 5 màu, 1 đầu thêm cái vòng, đầu kia thêm nửa cái chày 1 chĩa (tức là hình nửa cái chày 1 chĩa); hoặc cả 2 đầu đều thêm nửa chày 1 chĩa. Trong Mật giáo, Quyên tác là1dụng cụ dùng để giáo hóa những kẻ cứng đầu ương bướng và hàng phục 4 loài ma, tượng trưng cho 4 nhiếp phương tiện, là vật cầm trong tay của Bất động Minh vương, Bất không quyên sách Quán âm, Thiên thủ Quán âm và Kim cương tác bồ tát. Như Bất động Minh vương tay phải cầm gươm sắc, tay trái cầm quyên tác là tượng trưng ý nghĩa trước dùng dâyTứ nhiếp trong tâm bồ đề thanh tịnh trói buộc chúng sinh để dắt dẫn, sau dùng gươm trí tuệ trong tâm bồ đề để đoạn diệt chủng tử vô minh căn bản của chúng sinh. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 633 trung) nói: Sở dĩ cầm dao sắc, dùng dây buộc (quyên tác) là vâng mệnh phẫn nộ của Như lai, muốn giết hết tất cả chúng sinh. Dây buộc là 4 nhiếp phương tiện trong tâm bồ đề, dùng dây này để trói những kẻ không hàng phục, dùng dao trí tuệ sắc bén chặt đứt mệnh nghiệp thọ vô cùng, khiến cho được đại vô sinh. Bồ tát Kim cương tác trong Tứ nhiếp bồ tát cũng dùng tay phải cầm dây buộc, biểu thị nghĩa bắt trói tất cả chúng sinh, khiến ra khỏi chỗ bùn lầy ứ đọng của trí Tam ma địa thực tế Nhị thừa, mà đặt trong cung điện pháp giới của Giác vương. Tay của Thiên thủ Quán âm cầm dây buộc, gọi là Quyên tác thủ (tay dây buộc). Ngoài ra, Quyên tác cũng có nghĩa là giữ gìn, che chở, cho nên nếu đeo ở cổ thì được phúc diệt tội. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú Q.hạ; kinh Để lí tam muội da Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.17, 29, 69].
quyến thuộc
4744梵語 parivāra,巴利語同。眷為親愛,屬為隸屬,指親近、順從者。大智度論卷三十三謂佛陀有大眷屬與內眷屬;內眷屬指其出家以前車匿、瞿毘耶等人,以及苦行時之五人給侍、得道時之阿難等;大眷屬則指舍利弗、目犍連等諸聖,及彌勒、文殊師利等諸菩薩。 善導將佛陀之眷屬分為在家、出家二種,佛陀有伯、叔四人為在家者稱為外眷屬,佛弟子為出家者稱為內眷屬。惟若廣義言之,則凡聞道受教者均為佛之眷屬。又隨附無漏淨慧必起之心所及四相,亦稱為眷屬。巴利律藏分為五部分,其中最後部分,亦稱為眷屬;意即律藏之補遺。〔觀無量壽佛經疏卷二、法華經玄義卷六下、法華玄義釋籤卷十三、大日經疏卷一〕
; Xem Phụ tùy.
; Bà con dòng họ, đặc biệt nói về quyến thuộc của chư Thiên hay chư Phật—Relatives—Family—Retinue, retainers, especially the rtinue of a god, Buddha, etc.
; (眷屬) Phạm, Pàli: Parivàra. Chỉ cho người gần gũi, thuận theo. Quyến là thân ái, Thuộc là lệ thuộc. Theo luận Đại trí độ quyển 33 thì đức Phật có Đại quyến thuộc và Nội quyến thuộc. Nội quyến thuộc chỉ cho những người như: Xa nặc, Cù tì da ... lúc Phật chưa xuất gia, 5 người theo hầu khi Ngài xuất gia tu khổ hạnh và tôn giả A nan...sau khi Ngài đắc đạo. Còn Đại quyến thuộc thì chỉ cho các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên...và các vị bồ tát Di lặc, Văn thù sư lợi...Ngài Thiện Đạo chia quyến thuộc của đức Phật làm 2 loại: Tại gia và xuất gia. Đức Phậtcó 4 người chú, bác là tại gia, gọi là Ngoại quyến thuộc, còn các đệ tử Phật là người xuất gia thì gọi là Nội quyến thuộc. Nếu nói theo nghĩa rộng thì phàm là người nghe pháp thụ giáo đều là quyến thuộc của Phật. Lại nữa, tâm sở và 4 tướng kèm theo trí tuệ thanh tịnh vô lậu mà khởi, cũng gọi là quyến thuộc. Luật tụngPàli chia làm 5 bộ phận, trong đó, bộ phận cuối cùng, cũng gọi là Quyến thuộc, tức là bộ phận bổ túc của Luật tụng. [X. Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6, hạ; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.13; Đại nhật kinh sớ Q.1].
quyến thuộc bát nhã
4747即六度萬行,與妙慧相應,助發觀照般若者。五種般若之一。無相之真智為觀照般若,亦即能照見一切皆空乃至體相平等之清淨無漏智慧,此乃般若之自性;助發此觀照般若,從此般若所流出之煖、頂、忍、世第一法及戒、定、慧、解脫、解脫知見等諸法皆是觀照慧性之眷屬,故稱為眷屬般若。〔般若心經幽贊卷上、金剛經纂要刊定記卷二、大明三藏法數卷二十〕(參閱「五種般若」1183)
; (眷屬般若) Lục độ vạn hạnh tương ứng với diệu tuệ, trợ lực phát ra quán chiếu Bát nhã, 1 trong 5 loại Bát nhã. Chân trí vô tướng là quán chiếu Bát nhã, cũng chính là trí tuệ vô lậu thanh tịnh có năng lực soi thấy tất cả đều không, cho đến thể tướng bình đẳng, đây là tự tính của Bát nhã, giúp làm phát ra Bát nhã quán chiếu. Từ Bát nhã này lưu xuất ra các pháp Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp cho đến Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến, đều là quyến thuộc của tuệ tính quán chiếu, vì thế gọi là Quyến thuộc bát nhã. [X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Kim cương toản yếu san định kí Q.2, Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).
quyến thuộc công đức
4745極樂淨土二十九種莊嚴中,國土十七種莊嚴之一。往生極樂淨土為彌陀眷屬之諸聖眾,皆由彌陀之正覺華化生,一味平等,無優劣不同;具有此等功德莊嚴之國土,稱為眷屬功德。往生論註卷上(大四○‧八三○中):「使我國土悉於如來淨華中生,眷屬平等,與奪無路。」起此淨土之原因,係吾人之世界,由千差萬別之雜染業所感,故託生之處不淨,優劣不同,悲喜苦樂依之而起。阿彌陀佛憐愍之,乃成就此莊嚴,令往生者皆由清淨無漏之蓮花中化生,更無優劣不同。〔往生論註卷下、淨土論(天親)〕
; (眷屬功德) Một trong 17 thứ làm đẹp cõi nước thuộc 29 loại trang nghiêm Tịnh độ cực lạc. Các Thánh chúng vãng sinh Tịnh độ Cực lạc là quyến thuộc của đức Phật A di đà, đều từ hoa Chính giác của Ngài hóa sinh, bình đẳng như nhau, không có hơn kém; cõi nước có đầy đủ những công đức trang nghiêm này, gọi là Quyến thuộc công đức.Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 830 trung) nói: Khiến cho tất cả người trong cõi nước tôi đều sinh ra từ hoa thanh tịnh của Như lai, quyến thuộc bình đẳng, không có sai khác. Nguyên nhân khởi Tịnh độ này là vì thấy thế giới của chúng sinh do các nghiệp tạp nhiễm chiêu cảm, muôn nghìn sai khác, nên chỗ thác sinh nhơ nhớp, hơn kém không đồng, buồn vui sướng khổ theo đó mà khởi. Đức Phật A di đà thương xót chúng sinh mới thành tựu loại trang nghiêm này, khiến những người vãng sinh đều từ trong hoa sen thanh tịnh vô lậu hóa sinh, tất cả đều như nhau, không hơn kém.[X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; luận Tịnh độ (Thiên thân)].
quyến thuộc diệu
4745為天台宗所立法華「迹門十妙」之第九妙。指昔時曾受教於如來之法,而今前來輔助如來之教化者;此等如來之眷屬共分為五類,一一類皆為不可思議,故稱眷屬妙。即:(一)理性眷屬,指一切眾生;蓋眾生與佛,體性一如,平等無別,故無論結緣不結緣,皆為佛子。(二)業生眷屬,指由宿昔聞法之善業,而今世值佛受教得度者;此等眾生係於昔時與大通佛結緣,故於今來此受化。(三)願生眷屬,指曾發宿願,願生於此佛出世時之眾生;此等眾生,依此宿願而今來此,無論為親或為怨,皆得見佛聞法。(四)神通眷屬,指先世曾值佛而發真見諦之眾生;然此眾生,猶未斷盡煩惱,仍須再度受生,故或在上界,或在他方,而今聞佛出世,或以願力,或以神通力來生此界,無論為親或為怨,皆以輔助佛之行化,斷除餘惑而出三界。(五)應生眷屬,指已斷除無明惑而得法身根本,復以應化身入於娑婆,導引眾生,使向佛道者;如佛母摩耶夫人、佛子羅睺羅,乃至諸聲聞等,悉是內祕外現,皆為法身之菩薩應緣而來此世者。〔法華玄義卷六下〕
; (眷屬妙) Diệu thứ 9 trong Tích môn thập diệu của kinh Pháp hoa do tông Thiên thai lập ra. Tức chỉ cho những người trong các kiếp quá khứ từng đã thụ trì giáo pháp của Như lai, nay đến hỗ trợ Như lai trong việc giáo hóa. Những quyến thuộc này của Như lai được chia làm 5 loại đều chẳng thể nghĩ bàn, nên gọi là Quyến thuộc diệu: 1. Lí tính quyến thuộc: Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Vì chúng sinh và Phật thể tính như nhau, bình đẳng không khác, nên dù có kết duyên hay không, đều là Phật tử. 2. Nghiệp sinh quyến thuộc: Chỉ cho những người kiếp trước nhờ thiện nghiệp nghe pháp, mà đời này gặp Phật nghe pháp và được độ. Những chúng sinh này kiếp trước kết duyên với đức Phật Đại thông, nên đời này đều được hóa độ. 3. Nguyện sinh quyến thuộc: Chỉ cho những chúng sinh ở các kiếp trước từng đã phát nguyện, nguyện được sinh vào thời đại đức Phật ấy ra đời. Những chúng sinh này, theo nguyện kiếp trước mà đời nay sinh đến đây, bất luận là thân hay oán, đều được thấy Phật nghe pháp. 4. Thần thông quyến thuộc: Chỉ cho chúng sinh đời trước từng được gặp Phật mà phát chân trí, nhưng vẫn chưa dứt hết phiền não, còn phải thụ sinh lần nữa, cho nên, hoặc đang ở cõi trời, hay đang ở các phương khác, nay nghe Phật xuất thế, hoặc do nguyện lực, hoặc nhờ sức thần thông mà sinh đến cõi này, bất luận là thân hay oán, đều nhờ sự giúp Phật giáo hóa mà đoạn trừ những hoặc chướng còn lại, để ra khỏi 3 cõi. 5. Ứng sinh quyến thuộc: Chỉ cho những người đã dứt trừ hoặc vô minh mà được pháp thân căn bản, lại dùng thân ứng hóa đến cõi Sa bà, dắt dẫn chúng sinh, khiến họ hướng về Phật đạo. Như Phật mẫu là phu nhân Ma da, con Phật là La hầu la, cho đến các vị Thanh văn...tất cả đều là các Bồ tát pháp thân nội bí ngoại hiện (pháp chứng ngộ bên trong là Bồ tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn), ứng duyên mà đến cõi này. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 hạ].
quyến thuộc như lai
Tathāgatas' Family.
quyến thuộc vô minh trụ địa
4747即枝末煩惱,為釋摩訶衍論卷四所用之名稱。大乘起信論將無明(即煩惱)概分為根本煩惱與枝末煩惱兩種,根本煩惱為吾人心識之真如海中最初一念起動的微細心相,枝末煩惱則為自根本煩惱中所生起之枝葉染心,今稱眷屬,係相對於「根本」而稱。蓋根本無明,其力最大,能固持枝末煩惱,且為枝末煩惱所依住,故稱「根本無明住地」。然枝末無明亦稱為「住地」者,凡有三因:(一)於枝末無明中,有微細惑與粗強惑相望之惑品,以微細惑甚能固持粗強惑,且為其所依住,故稱住地。(二)又微細與粗強二惑亦能彼此固持,相互依住。(三)枝末無明乃依住於根本無明之法,故就所住地而言,亦得立住地之名。
; (眷屬無明住地) Chỉ cho các phiền não ngành ngọn (chi mạt). Nhóm từ này được sử dụng trong luận Ma ha diễn quyển 4. Luận Đại thừa khởi tín chia Vô minh (tức phiền não)làm 2 loại là Căn bản phiền não và Chi mạt phiền não. Căn bản phiền não là tâm tướng nhỏ nhiệm do 1 niệm đầu tiên khởi động trong biển chân như của tâm thức chúng ta. Còn Chi mạt phiền não là những tâm nhiễm cành lá nảy sinh từ trong căn bản phiền não. Ở đây gọi quyến thuộc là đối lại với căn bản. Căn bản vô minh có năng lực rất lớn, có thể giữ chặt các Chi mạt phiền não, hơn nữa, là chỗ nương ở của Chi mạt phiền não cho nên gọi là Căn bản vô minh trụ địa. Nhưng Chi mạt vô minh cũng được gọi là Trụ địa, do 3 nguyên nhân. 1. Trong Chi mạt vô minh có 2 thứ vọng hoặc là Vi tế và Thô cường nương vào nhau. Vì hoặc Vi tế thường giữ chặt hoặc Thô cường, vả lại, làm chỗ nương dựa cho hoặc Thô cường, nên gọi là Trụ địa. 2. Hai hoặc Vi tế và Thô cường cũng thường nắm giữ nhau, nương tựa lẫn nhau. 3. Vì Chi mạt vô minh là pháp bám chặt vào Căn bản vô minh, cho nên nói theo chỗ bám víu thì Chi mạt vô minh cũng có thể được gọi là Trụ địa.
quyến thuộc địa ngục
4745指八熱地獄各有十六處附屬小地獄。眾生受畢根本地獄之苦後,引餘罪而至眷屬地獄。計一二八處眷屬地獄,若加根本地獄(八熱地獄),則為一三六處地獄(一三六捺落迦)。至於十六處眷屬地獄,各經論說法不同。<一>正法念處經卷五以下所說,各根本地獄具有不相同之十六處眷屬地獄,稱為十六別處地獄。(一)等活地獄,包括屎泥處、刀輪處、甕熱處、多苦處、闇冥處、不喜處、極苦處、眾病處、兩鐵處、惡杖處、黑色鼠狼處、異異迴轉處、苦逼處、鉢頭摩鬚處、陂池處、空中受苦處等。(二)黑繩地獄,所附屬之十六別處,名稱同前。(三)眾合地獄,包括大量受苦惱處、割刳處、 蒍葺 _處、惡見處、團處、多苦惱處、忍苦處、朱誅朱誅處、何何奚處、淚火出處、一切根滅處、無彼岸受苦處、鉢頭摩處、大鉢頭摩處、火瓮處、鐵火末處。(四)叫喚地獄,有大吼處、普聲處、髮火流處、火末蟲處、熱鐵火杵處、雨炎火石處、殺殺處、鐵林曠野處、普闇處、闇魔羅遮約曠野處、劍林處、大劍林處,芭蕉煙林處、有煙火林處、火雲霧處、分別苦處。(五)大叫喚地獄,有吼吼處、愛苦無有數量處、受堅苦惱不可忍耐處,隨意壓處、一切闇處、人闇煙處、如飛蟲墮處、死活等處、異異轉處、唐怖望處、雙逼惱處、迭相壓處,金剛觜鳥處、火鬘處、受鋒苦處、受無邊苦處、血髓食處、十一炎處,計十八處(比其他多二所)。(六)焦熱地獄,有大燒處、分荼梨迦處、龍旋處、赤銅彌泥魚旋處、鐵鑊處、血河漂處、饒骨髓蟲處、一切熟處、無終沒入處、大鉢頭摩處、惡嶮岸處、金剛骨處、黑鐵繩刃解受苦處、那迦蟲柱惡火受苦處、闇火風處、金剛〖⿱唯/乃〗蜂處。(七)大焦熱地獄,有一切大焦熱處、大身惡吼可畏處、火髻處、雨沙火處、內沸熱處、吒吒吒嚌處、普受一切資生苦惱處、鞞多羅尼河處、無間闇處、苦鬘處、雨縷鬘抖擻處,鬘塊烏處、悲苦吼處、大悲處、無悲闇處、木轉地獄處。(八)阿鼻地獄,有鳥口處、一切向地處、無彼岸長受苦惱處、野干吼處、鐵野干食處、黑肚處、身洋處、夢見畏處、身洋受苦處、兩山聚處、吼生閻婆巨度處、星鬘處、苦惱急處、臭氣覆處、鑛鍱處、十一炎處。 <二>每一根本地獄所附屬之十六處皆同,稱為十六小地獄。然各經論所載名稱不同:(一)據長阿含經卷十九載,小地獄縱廣五百由旬,即黑沙、沸屎、五百釘、飢、渴、一銅釜、多銅釜、石磨、膿血、量火、灰河、鐵丸、釿斧、豺狼、劍樹、寒冰。(二)增一阿含經卷三十六則稱之為十六隔子。即優鉢、鉢頭、拘牟頭、分陀利、未曾有、永無、愚惑、縮聚、刀山、湯火、火山、灰河、荊棘、沸屎、劍樹、熱鐵丸等。(三)大智度論卷十六分熱、寒兩種;即八炎火地獄:炭坑、沸屎、燒林、劍林、刀道、鐵刺林、鹹河、銅橛;八寒冰地獄:額浮陀、尼羅浮陀、阿羅羅、阿婆婆、睺睺、漚波羅、波頭摩、摩訶波頭摩。 <三>根本地獄各有四門,每一門有四處(四增),故每一根本地獄有十六增附屬地獄,稱為十六遊增地獄。如煻煨增、屍糞增、鋒刃增、烈河增等。「增」之意,係相對於本地獄中以一種苦具治罰有情,而眷屬地獄中則有種種苦具以治罰有情,故稱為增。此外,有關眷屬地獄之位置,隨著八熱地獄之位置有兩種說法,亦有二說:(一)長阿含等經,以為在大鐵圍山外。(二)大毘婆沙論,則認為在閻浮提之下。〔觀佛三昧經卷五,大毘婆沙論卷一七二、俱舍論卷十一、瑜伽師地論卷四〕(參閱「十六小地獄」383、「地獄」2311)
; (眷屬地獄) Tám địa ngục nóng căn bản, mỗi địa ngục có 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc. Sau khi chúng sinh chịu các khổ báo ở địa ngục căn bản xong, được đưa đến các địa ngục quyến thuộc để chịu hết những khổ báo còn lại. Có 128 địa ngục quyến thuộc, nếu thêm các địa ngục căn bản (8 địa ngục nóng) nữa thì tất cả có 136 địa ngục (136 nại lạc ca). Về nơi chỗ của 16 địa ngục phụ thuộc, các kinh luận nói có khác nhau. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyền 5, mỗi địa ngục căn bản đều có 16 địa ngục quyến thuộc khác nhau, gọi là Thập lục biệt xứ địa ngục (16 chỗ địa ngục riêng biệt). Đó là: 1. Địa ngục Đẳng hoạt: Gồm 16 chỗ là: Thỉ nê xứ (chỗ phân và bùn), Đao luân xứ (chỗ dao và bánh xe), Ung nhiệt xứ (nơi những cái vò được nung nóng), Đa khổ xứ (chỗ nhiều khổ), Ám minh xứ (chỗ tối tăm), Bất hỉ xứ (chỗ không vui), Cực khổ xứ, Chúng bệnh xứ (nơi nhiều bệnh), Lưỡng thiết xứ (nơi cặp sắt), Ác trượng xứ (nơi gậy ác), Hắc sắc thử lang xứ (nơi những con chuột và chó sói màu đen), Dị dị hồi chuyển xứ (nơi luôn luôn quay chuyển), Khổ bức xứ (nơi khổ làm ngặt), Bát đầu ma tu xứ, Pha trì xứ (nơi chứa nước)và Không trung thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trong hư không). 2. Địa ngụcHắc thằng: Gồm 16 chỗ, tên gọi cũng giống như trên. 3. Địa ngục Chúng hợp: Gồm 16 nơi là: Đại lượng thụ khổ não xứ, Cát khố xứ (chỗ cắt, mổ), Mạch mạch đoạn xứ (nơi cắt đứt các gân máu)Ác kiến xứ, Đoàn xứ (chỗ tụ họp), Đa khổ não xứ, Nhẫn độ xứ, Chu tru chu tru xứ (nơi giết chóc), Hà hà hề xứ (nơi tra hỏi), Lệ hỏa xuất xứ (nơi chảy nước mắt nóng), Nhất thiết căn diệt xứ (tất cả các căn đều bị diệt), Vô bỉ ngạn thụ khổ xứ (nơi chịu khổ không có bờ bến), Bát đầu ma xứ (nơi da nổi những mụt màu đỏ), Đại bát đầu ma xứ, Hỏa ông xứ (nơi ngập lửa), Thiết hỏa mạt xứ (nơi mạt sắt nóng). 4. Địa ngục khiếu hoán: Gồm 16 chỗ là: Đại hồng xứ (nơi gào to), Phổ thanh xứ (tiếng kêu khắp nơi), Phát hỏa lưu xứ(nơi chảy ra những sợi tóc lửa), Hỏa mạt trùng xứ (nơi những con trùng bằng lửa nhỏ li ti), Nhiệt thiết hỏa chử xứ (nơi những cái chày sắt nóng),Vũ viêm hỏa thạch xứ(nơi mưa đá lửa), Sát sát xứ (nơi giết chóc), Thiết lâm khoáng dã xứ (nơi đồng hoang rừng sắt), Phổ ám xứ (nơi tối tăm), Ám ma la già ước khoáng dã xứ (nơi đồng hoang Ám ma la già), Kiếm lâm xứ (nơi rừng gươm), Đại kiếm lâm xứ, Ba tiêu yên lâm xứ (nơi rừng chuối bốc lửa), Hữu yên hỏa lâm xứ (nơi có rừng bốc lửa), Hỏa vân vụ xứ (nơi mây, sương lửa) và Phân biệt khổ xứ. 5. Địa ngục Đại khiếu hoán: Gồm có 18 chỗ là: Hống hống xứ (nơi gào rống), Thụ khổ vô hữu số lượng xứ (nơi chịu khổ không có số lượng), Thụ kiên khổ não bất khả nhẫn nại xứ (nơi chịu những khổ não không thể nhẫn nại),Tùy ý áp xứ (nơi tùy ý đè ép), Nhất thiết ám xứ (nơi tối tăm tràn lan), Nhân ám yên xứ (nơi người bị khói ám), Như phi trùng đọa xứ (nơi như trùng bay rơi xuống), Tử hoạt đẳng xứ (nơi sống cũng như chết), Dị dị chuyển xứ (nơi di chuyển luôn luôn), Đường bố vọng xứ (nơi trông chờ sợ hãi), Song bức não xứ (nơi bức bách khổ não), Điệt tương áp xứ nơi thay phiên đè nhau), Kim cương tủy điểu xứ (nơi chim mỏ kim cương), Hỏa man xứ (nơi vòng hoa lửa), Thụ phong khổ xứ (chịu khổ mũi nhọn đâm), Thụ vô biên khổ xứ, Huyết tủy thực xứ (nơi ăn tủy máu)và Thập nhất viêm xứ. Tất cả có 18 chỗ (nhiều hơn các địa ngục khác 2 chỗ). 6. Địa ngục Tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Đại thiêu xứ (nơi cháy lớn), Phân đồ lê ca xứ (nơi Phân đồ lê ca), Long toàn xứ (chỗ rồng xoáy), Xích đồng di nê ngư toàn xứ (chỗ cá Di nê đồng đỏ xoáy), Thiết hoặch xứ (chỗ vạc sắt), Huyết hà phiêu xứ(chỗ sông máu trôi), Nhiêu cốt tủy trùng xứ (chỗ xương tủy nhiều trùng), Nhất thiết thục xứ (chỗ nấu chín tất cả), Vô chung một nhập xứ (nơi chìm xuống hun hút), Đại bát đầu ma xứ (nơi Đại bát đầu ma), Ác hiểm ngạn xứ (nơi bờ hiểm ác), Kim cương cốt xứ(nơi xương kim cương), Hắc thiết thằng nhận giải thụ khổ xứ (nơi chịu khổ bị dây sắt nóng quấn), Na ca trùng trụ ác hỏa thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trói vào cột lửa bị trùng ca na rỉa rúc), Ám hỏa phong xứ (nơi gió lửa tối tăm) và Kim cương thích phong xứ (nơi mũi nhọn kim cương đâm). 7. Địa ngục Đại tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Nhất thiếtđại tiêu nhiệt xứ (nơi tất cả lửa đốt), Đại thân ác hống khả úy xứ (nơi thân ác to lớn gào thét đáng sợ), Hỏa kế xứ (nơi búi tóc lửa), Vũ sa hỏa xứ (nơi mưa cát lửa), Nội phí nhiệt xứ (nơi nóng sôi bên trong trào lên), Tra tra tra tê xứ (nơi kêu tra tra tra), Phổ thụ nhất thiết tư sinh khổ não xứ (nơi chịu tất cả khổ não của cuộc sống), Tì đa la ni hà xứ (nơi sông Tì đa la ni), Vô gián ám xứ (nơi không bao giờ có chút ánh sáng), Khổ man xứ (nơi chịu các nổi khổ triền miên), Vũ lũ man đẩu tẩu xứ (nơi mưa lửa liên miên), Man khối ô xứ, Bi khổ hống xứ (nơi kêu gào khổ thảm), Đại bi xứ, Vô bi ám xứ, Mộc chuyển địa ngục xứ. 8. Địa ngục A tị: Gồm 16 chỗ là: Điểu khẩu xứ (nơi miệng chim), Nhất thiết hướng địa xứ (nơi tất cả hướng xuống đất), Vô bỉ ngạn thường trụ khổ não xứ (nơi chịu khổ não triền miên không bờ bến), Dã can hống xứ (nơi dã can kêu rống), Thiết dã can thực xứ (nơi dã can sắt ăn thịt), Hắc đỗ xứ (nơi bụng đen), Thân dương xứ, Mộng kiến uý xứ (nơi ác mộng), Thân dương thụ khổ xứ, Lưỡng sơn tụ xứ (nơi 2 quả núi ép lại), Hống sinh diêm bà cự độ xứ, Tinh man xứ,Khổ não cấp xứ, Xú khí phú xứ, Khoáng diệp và Thập nhất viêm xứ. Mười sáu địa ngục phụ thuộc của mỗi địa ngục căn bản đều giống nhau, gọi là Thập lục tiểu địa ngục, nhưng tên gọi được ghi trong các kinh luận thì có khác nhau. Như kinh Trường a hàm quyền 19 ghi: Hắc sa (cát đen), Phí thỉ (Phân sôi), Ngũ bách đinh (500 đinh), Cơ (đói), Khát, Nhất đồng phũ (1 chõ đồng), Đa đồng phủ (nhiều chõ đồng), Thạch ma (đá mài), Nùng huyết (máu mủ), Lượng hỏa (lượng lửa), Hôi hà (sông tro), Thiết hoàn (viên sắt), Cân phủ (búa rìu), Sài lang, Kiếm thụ (cây gươm) và Hàn băng (giá lạnh). Kinh Tăng nhất a hàm thì gọi là Thập lục cách tử. Tức là: Ưu bát, Bát đầu, Câu mâu đầu, Phân đà lợi, Vị tằng hữu, Vĩnh vô, Ngu hoặc, Súc tụ, Đao sơn, Thang hỏa, Hỏa sơn, Hôi hà, Kinh cức, Phí thỉ, Kiếm thụ và Nhiệt thiết hoàn. Luận Đại trí độ quyển 16 thì chia 16 địa ngục làm 2 loại: Nhiệt và Hàn. Tám nhiệt là: Khôi khanh (hầm than), Phí thỉ (phân sôi), Thiêu lâm (rừng cháy), Kiếm lâm (rừng gươm), Đao đạo (đường dao), Thiết thích lâm (rừng gai sắt), Hàm hà (sông mặn) và Đồngquyết (cọc đồng). Tám hàn là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà, Hầu hầu, Âu ba ba, Ba đầu ma và Ma ha ba đầu ma. Mỗi địa ngục căn bản đều có 4 cửa, mỗi cửa có 4 chỗ (Tứ tăng), cho nên mỗi địa ngục căn bản lại có thêm 16 địa ngục phụ thuộc, gọi là Thập lục du tăng địa. Như Đường ổi tăng (tăng nướng cháy), Thi phẩn tăng (tăng cứt đái), Phong nhận tăng (tăng dao nhọn), Liệt hà tăng (tăng sông lửa)...Chữ tăng (thêm) hàm ý là địa ngục căn bản dùng 1 khổ cụ(đồ tra tấn)để trừng trị tội nhân, nhưng địa ngục phụ thuộc (quyến thuộc) thì dùng nhiều khổ cụ, cho nên gọi là Tăng. Ngoài ra, về vị trí của 8 địa ngục nóng căn bản có 2 thuyết, cho nên về vị trí của các địa ngục quyến thuộc cũng có 2 thuyết: Các kinh Trường a hàm...cho rằng các địa ngục quyến thuộc ở ngoài núi Thiết vi, còn luận Đại tì bà sa thì cho rằng chúng ở dưới cõi Diêm phù đề. [X. kinh Quán Phật tam muội Q.5; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.11, luận Du già sư địa Q.4]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).
Quyến thuộc 眷屬
[ja] ケンゾク kenzoku ||| (1) Followers, adherents; one's entourage. Close attendants, retinue (parivāra, kalatra-bhāva; Tib. ḥkhor). (2) A company, a party, a crowd, a bunch. (mātr-grāma) A category. To be included in a category. To be related to a certain category. 〔二障義、 HPC 1.790a〕 (3) Followers of a buddha or bodhisattva (vibuddha). (4) One of a family. (bāndhava) => 1. Môn đệ, người ủng hộ; người tuỳ tùng. Người tận tuỵ phục dịch, tuỳ tùng (s: parivāra, kalatra-bhāva; t: ḥkhor). 2. Một đoàn nhóm, một hội, một nhóm, một bọn (s: mātr-grāma). Một loại. Bao gồm trong một loại. Liên hệ với nhau cùng trong một loại. 3. Đệ tử của Đức Phật hay của Bồ-tát (s: vibuddha). 4. Người trong cùng một gia đình (bāndhava).
Quyết
決; C: jué; J: ketsu;|Quyết định, ấn định, phán đoán, đồng ý chọn, giải quyết, sắp đặt, xác định.
quyết
Nirnaya (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
quyết bản kinh
6633又作缺本經。為原已譯成之經典,歷經長年之輾轉流傳,遂散逸而成缺本者。 歷代經錄,如南朝梁代僧祐之出三藏記集,隋代開皇十七年(597)費長房之歷代三寶紀、唐代麟德元年(664)道宣編之大唐內典錄,均未集合闕本經而另立一類。其中,出三藏記集並未將失譯經、抄經與闕本經明白分類,而僅將譯者佚名之經,總列為失譯雜經。 至隋代仁壽二年(602)彥琮等眾經目錄以下,歷代諸經錄已有將失譯經、抄經等個別予以分類後,而將確屬闕本者集錄而成闕本經目錄。如彥琮等勘定之眾經目錄,列出闕本經四○二部。唐代靜泰編於龍朔三年(663)至麟德二年之眾經目錄,所列闕本經並無增減。唐代天冊萬歲元年(695)明佺等編武周刊定眾經目錄,列出四五○部。至唐代開元十八年(730)智昇編開元釋教錄,闕本經遽然增為一一五三部。唐代貞元十六年(800)圓照編貞元新定釋教目錄,列舉一一四八部。 由上述資料窺出,隋彥琮之眾經目錄列出四○二部闕本經;至唐代開元錄,闕本經忽增至一一五三部,約三倍之多,考證其真實性,則頗為可疑,蓋於經錄上作為闕本之經典,爾後復被發現,乃常有之事。故依理闕本之數量只應減少,不應增加。然開元錄卻大增其數,此乃因隋代費長房編歷代三寶紀時,將失譯經、抄經等任意附以譯人之名,而登錄為某人所譯,作成偽目錄;雖隋代彥琮勘定眾經目錄時,曾將其中抄經等類之不純者刪除大部分,然開元錄卻援用歷代三寶紀之不實目錄,並將之一一附與闕本之名,故闕本經之數乃大增。〔佛書解說大辭典佛典總論第二部第四章(小野玄妙)〕
quyết chí
To resolve—To determine.
quyết chí tu hành
To determine to cultivate the dharma.
quyết di dụ y
6634因明用語。為因明論式中,闕遺「異喻依」之情形。屬於古因明所說闕過中「無體闕」之一;新因明則未說此闕過。凡闕異喻依者,有二種情形:(一)闕宗異品,故闕異喻依。(二)具有宗異品而闕異喻依。蓋宗異品之範圍寬於異喻依,故若無宗異品時,已足以證明「異品遍無」之規定,此一情形,闕異喻依原屬必然,故不為過失。反之,若有宗異品,不得闕異喻依,闕之則成過失。〔因明大疏蠡測〕
Quyết liễu
決了; C: juéliăo; J: ketsuryō;|1. Quyết định dứt khoát; 2. Hiểu rõ tường tận.
quyết liễu
Decided.
Quyết liễu 決了
[ja] ケツリョウ ketsuryō ||| (1) To decide resolutely. (2) To apprehend perfectly. => 1. Quyết định dứt khoát. 2. Hiểu rõ tường tận.
quyết lòng
See Quyết Chí.
quyết nghi
Giải quyết những nghi hoặc—To resolve doubts—Doubts solved.
Quyết Ngưng
決凝; C: juéníng; J: ketsugyō; K: kyŏrŭng, 964-1053;|Học giả tông Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ).
Quyết Ngưng 決凝
[ja] ケツギョウ Ketsugyō ||| Kyŏrŭng (964-1053); a major Hwaŏm scholar of the Koryŏ period. => k: Kyŏrŭng (964-1053); Học giả tông Hoa Nghiêm trong thời kỳ Koryŏ
quyết quá
6635因明用語。闕遺不周之過失。為「支過」之對稱。又作闕減過、闕減。即因明論式中,或無言陳,或雖有言陳而義理闕漏不周密之過失。可分為兩種:(一)無體闕,乃陳述宗(命題),而未說因(理由)、同異喻(同喻與異喻)二者,即在言陳上有所不足,他人無從知其論旨。此係古因明家之說。(二)有體闕,以因之三相為能立時,雖說因三相,而或缺初相,或缺後二相,或三相俱缺,稱為相少闕;又或以因一、喻二(同喻、異喻)等三者為能立時,雖陳其體,而或缺其一,或缺二、三,稱為義少闕。此係新因明家之說。 因明入正理論疏卷上(大四四‧一○六中):「無體闕者,謂不陳言,但在三支,非在三相。若陳因言,必有體闕;三相既義,故非無體。(中略)有體闕者,復有二種:一者以因三相而為能立,雖說因三相,少相名闕;二者因一、喻二,三為能立,雖陳其體,義少名闕。」
quyết thắng
To resolve to win.
Quyết trạch
決擇; C: juézé; J: ketchaku;|»Quyết định dứt khoát«, »Quyết định và chọn lựa«. 1. Cắt đứt sạch các nghi ngờ và thông suốt nội dung Tứ diệu đế tìm thấy trong Thánh đạo (聖道, s: viniścaya). Đạt được kết quả Tứ thiện căn (四善根); 2. Chọn lấy điều ưu tú nhất; 3. Rút ra một luận lí, một luận đề; Nói chung là sự thông đạt thực tại và hoá giải vô minh thông qua sự vận dụng trí huệ. Xem Quyết trạch phần (決擇分) và Thuận quyết trạch phần (順決擇分); Tên một phẩm trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra).
quyết trạch
2970請參閱淨土群疑論 梵語 nairvedhika。意謂決斷簡擇。即以無漏聖智決斷諸疑,分別簡擇四諦之相等。大乘阿毘達磨雜集論卷六列舉諦決擇、法決擇、得決擇、論義決擇等四種;顯揚聖教論卷十九以下則列舉界事決擇、諦事決擇、依止決擇、諸靜慮決擇、覺分決擇、補特伽羅決擇、果事決擇、功德決擇、依止大乘決擇等。後世轉用其義,凡簡別宗義等之正邪或斷定疑問,稱為宗意決擇等。〔瑜伽師地論卷十二、俱舍論卷二十三、大乘阿毘達磨雜集論卷十六、成唯識論述記卷九末〕
; Quyết đoán và lựa chọn (chỉ có Thánh đạo mới giúp được ta quyết đoán hoài nghi và biện biệt Tứ Đế)—Deciding and choosing (only Holy Way or Buddhism can help us decide doubts and distinguish the Four Noble Truths).
; (决擇) Phạm: Nairvedhika. Quyết đoán chọn lựa. Tức là dùng Thánh trí vô lậu quyết đoán các mối ngờ vực và phân biệt chọn lựa tướng Tứ đế. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 nêu 4 loại: Đế quyết trạch, Pháp quyết trạch, Đắc quyết trạch và Luận nghĩa quyết trạch. Luận Hiển dương Thánh giáo quyển 19 trở xuống thì liệt kê: Giới sự quyết trạch, Đế sự quyết trạch, Y chỉ quyết trạch, Chư tĩnh lự quyết trạch, Giác phần quyết trạch, Bổ đặc già la quyết trạch, Quả sự quyết trạch, Công đức quyết trạch và Y chỉ Đại thừa quyết trạch. Đời sau chuyển dùng nghĩa này, khi lựa chọn, phân biệt chính tà, hoặc đoán định các nghi vấn về tông nghĩa thì gọi là Tông ý quyết trạch. [X. luận Du già sư địa Q.12, luận Câu xá Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.16; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối
Quyết trạch phần
決擇分; C: juézéfēn; J: kechakubun;|Nguyên nhân của việc lựa chọn. Trí huệ vô lậu xuất sinh trong giai vị Kiến đạo, vận hành trong giai vị Tu đạo (修道) và ở quả vị Vô học (無學果). Xem Thuận quyết trạch phần (順決擇分).
Quyết trạch phần 決擇分
[ja] ケッチャクブン kechakubun ||| The causes of selection. The undefiled wisdom that is produced at the stage of the Path of Seeing 見道, and which is active in the Path of Cultivation 修道 and the stage of no more learning 無學果. See also 順決擇分 => Nguyên nhân của việc lựa chọn. Trí huệ vô lậu xuất sinh trong giai vị Kiến đạo, vận hành trong giai vị Tu đạo và ở quả vị Vô học. Xem Thuận quyết trạch phần順決擇分.
Quyết trạch 決擇
[ja] ケッチャク ketchaku ||| "Firm Decision," "decision and selection." (1) The cutting off of doubt and discernment of the marks of the four noble truths that occurs in the stage of the sagely path (聖道) (viniścaya). Attained as a result of the four preparatory practices (四善根). (2) To select the most excellent thing. (3) To conclude an argument. (4) In general, the discernment of reality and dissolution of ignorance through the use of wisdom. See 決擇分 and 順決擇分. (5) The title of a section of the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論. => 'Quyết định dứt khoát', 'Quyết định và chọn lựa'. 1. Cắt đứt sạch các nghi ngờ và thông suốt nội dung Tứ diệu đế tìm thấy trong Thánh đạo (聖道s: viniścaya). Đạt được kết quả Tứ thiện căn (四善根). 2. Chọn lấy điều ưu tú nhất. 3. Giải quyết cuộc tranh luận. 4. Nói chung là sự thông đạt thực tại và hoá giải vô minh thông qua sự vận dụng trí huệ. Xem Quyết trạch phần 決擇分và Thuận quyết trạch phần順決擇分. Tên một phẩm trong Du-già sư địa luận (s: Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論).
quyết tâm
Resolute mind.
quyết tâm sắt đá
Adamantine determination.
quyết tình
To be determined to.
quyết tử vì lý tưởng
To decide to die for a good cause.
quyết tử vì sự tồn vong của đạo pháp
To decide to die for the survival of the (one's) religion.
quyết vô
6634因明用語。又作闕無過。此乃就因明論式中之宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)等三支而言。三支中闕無任何一支,都成闕無過。又「闕無」與「闕減」(即闕過)不同,闕減僅是簡略不周密,而闕無則根本闕而不存,於因明規定中,比闕減所犯之過失更為嚴重。〔因明入正理論悟他門淺釋〕
quyết ý
See Quyết Chí.
quyết ý ba la mật
Aditthana pāramitā (S).
Quyết định
決定; C: juédìng; J: ketsujō;|1. Nhất thiết, tất nhiên. Kiên quyết, chắc chắn (s: bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam); 2. Phán xét, giải quyết, xác định. Sự phán xét, sự giải quyết, sự xác định; 3. Bản tính tiên quyết (về phía thiện hay ác); 4. Các pháp thật sự hiện hữu.
quyết định
2968梵語 niścaya。意指一定不變。為「不定」之對稱。又作一定。略作定。有決定信、決定業、決定性等語。據大乘莊嚴經論卷十二載,修行六波羅蜜可得六決定,即:布施可得財成決定、持戒可得生勝決定、忍辱可得不退決定、精進可得修習決定、禪定可得定業決定、智慧可得無功用決定。〔俱舍論卷二十三、往生論註卷下〕(參閱「六決定」1267)
; Niscaya (S), Samcetana (S), Decision.
; Adhimoksa (S). Determination; firm resolve. Also quyết tâm.
; To be determined—To make up one's mind—Fixed and settled—To decide.
; (决定) Phạm: Nizcaya. Đối lại: Bất định. Cũng gọi Nhất định. Gọi tắt: Định. Nhất định không thay đổi. Cứ theo Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12, tu hành 6 Ba la mật thì được 6 quyết định, đó là: Bố thí quyết định làm nên nhiều của cải, trì giới quyết định được sinh nơi yên vui, nhẫn nhục thì quyết định không lùi bước, tinh tiến thì quyết định tu tập, thiền định quyết định được định nghiệp và trí tuệ thì quyết định được vô công dụng. [X. luận Câu xá Q.23; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Lục Quyết Định).
quyết định nghiệp
2969梵語 viniścita-karman。受異熟果決定,及受異熟果之時分決定之業。略稱定業。為「不定業」之對稱。俱舍論卷十五舉出四業,除不定業外,決定業分為順現法受業、順次生受業、順後次受業等三種。順現法受業略稱順現業,即於此生造作增長,於此生受異熟果之業。順次生受業又稱順次業、順生業,即於此生造作增長,於第二生受異熟果之業。順後次受業又稱順後業,即於此生造作增長,而於第三生、第四生或以後多生中受異熟果之業。 據大毘婆沙論卷一一四載,譬喻者說一切業皆可轉,乃至無間業亦可令轉,即以上舉順現等三業皆為不定;但阿毘達磨論師則主張順現等三業皆不可轉,唯有順不定受業為可轉。同論又謂有餘師立五業、八業等說,前者即除三種定業之外,將不定業分為異熟決定、異熟不決定二種業,合為五業,其中僅異熟不決定業為可轉。八業即順現、順生、順後、順不定之四業各分為異熟決定、異熟不決定二種業,其中,異熟決定業皆不可轉,異熟不決定業皆可轉;此八業復可分別為「時分決定異熟不定、異熟決定時分不定、時分決定異熟亦定、時分不定異熟亦不定」等四句。〔瑜伽師地論卷九、卷六十、顯揚聖教論卷十九、大乘阿毘達磨雜集論卷四、卷七、阿毘達磨順正理論卷四十、俱舍論光記卷十五、俱舍論寶疏卷十五、成唯識論了義燈卷五末〕(參閱「四業」1782)
; (决定業) Phạm: Vinizcit-Karman. Gọi tắt: Định nghiệp Dối lại: Bất định nghiệp Nghiệp quyết định chịu quả dị thục và quyết định thời phần chịu quả dị thục. Luận Câu xá quyển 15 chia nghiệp Quyết định làm 3 loại là Thuận hiện pháp thụ nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp. 1.Thuận hiện pháp thụ nghiệp (gọi tắt: Thuận thiện nghiệp): Nghiệp được tạo tác ở đời này tăng trưởng thì ở đời này chịu quả báo dị thục. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (cũng gọi Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp): Nghiệp tạo tác ở đời này tăng trưởng, qua đời thứ 2 mới chịu quả báo dị thục. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (cũng gọi Thuận hậu nghiệp): Nghiệp đời này tạo tác tăng trưởng, đến đời thứ 3, đời thứ 4 hoặc trong nhiều đời sau nữa mới chịu quả báo dị thục. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114 thì các nhà Thí dụ cho rằng tất cả nghiệp đều có thể chuyển, kể cả nghiệp vô gián, tức 3 loại nghiệp Thuận hiện nói trên đều là nghiệp bất định. Tuy nhiên, A tì đạt ma luận sư thì chủ trương 3 nghiệp Thuận bất định thụ là có thể chuyển. Luận Đại tì bà sa còn cho biết có các Luận sư khác lập các thuyết Ngũ nghiệp (5 nghiệp), Bát nghiệp (8 nghiệp)... Ngũ nghiệp là ngoài 3 loại Định nghiệp ra, Bất định nghiệp được chia làm 2 thứ là nghiệp Dị thục quyết định và nghiệp Dị thục bất quyết định, cộng chung thành 5 thứ nghiệp, trong đó chỉ có nghiệp Dị thục bất quyết định là có thể chuyển. Còn thuyết Bát nghiệp là 4 nghiệp Thuận hiện, Thuận sinh, Thuận hậu, Thuận bất định, mỗi nghiệp được chia làm 2 thứ là Di thục quyết định và Dị thục bất quyết định, trong đó, các nghiệp Dị thục quyết định đều không thể chuyển, còn các Dị thục bất quyết định thì đều có thể chuyển được. Tám thứ nghiệp này lại được phân biệt làm 4 câu: Thời phần quyết định dị thục bất định, Dị thục quyết định thời phần bất định, Thời phần quyết định dị thục diệc định và Thời phần bất định dị thục diệc bất định. [X. luận Du già sư địa Q.9, 60; luận Hiển dương thánh giáo Q.19; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4, 7; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.40; Câu xá luận quang kí Q.15; Câu xá luận bảo sớ Q.15; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5, phần cuối]. (xt. Tứ Nghiệp).
quyết định thành phật tập
2968凡四卷。日本淨土宗僧遊樂撰。日本正德二年(1712)刊行。其內容包括關於六道、日本淨土宗「安心」義等之闡論,又收錄不少我國與日本往生者之傳記,可作為研究淨土往生之文獻資料。
; (决定成佛集) Tác phẩm, 4 quyển, do sư Du lạc thuộc tông Tịnh độ Nhật bản soạn, ấn hành vào năm Chính đức thứ 2 (1712). Nội dung sách này nói rộng về lục đạo, giải thích nghĩa an tâm của tông Tịnh độ Nhật Bản; đồng thời, thu chép nhiều truyện kí của những người Trung quốc và Nhật bản được vãng sinh, có thể dùng làm tư liệu văn hiến để nghiên cứu về Vãng sinh Tịnh độ.
quyết định thành tựu chân ngôn
2968即密教用以表示決定成就諸事之真言。通常用於加持妊者。其真言為:唵(oṃ,歸命)縛日羅野(vajrāya,金剛)娑縛賀(svāhā,成就)。
; (决定成就真言) Chỉ cho Chân ngôn trong Mật giáo được sử dụng để biểu thị sự quyết định thành tựu các việc. Chân ngôn ấy là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la dã (Vajràya,kim cương) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu).
Quyết định tâm
決定心; C: juédìngxīn; J: ketsujōshin;|1. Sự quyết tâm; sự cam kết bền vững; tâm không bối rối; 2. Hết sức quyết tâm đạt đến giác ngộ; 3. Theo Du-già sư địa luận thì đây là điều kiện để ổn định tư tưởng xảy ra qua tiến trình nhận thức là theo sau »Tầm cầu tâm« (尋求心).
quyết định tâm
2968指決斷安定而不動搖之心。綜結諸經論所說,略有如下四義:(一)據大日經卷一住心品之說,安於教命而不動搖之心,稱為決定心。(二)十住毘婆沙論卷一以「所願不倦」稱為決定心;即謂其心不動,則倦怠之心不生,是為「決定」之義。(三)法華論卷下謂,已生恐怖者,令斷其恐怖,即是決定心;此係就決定心之作用而言。(四)日本淨土真宗主張信仰彌陀本願之信心即是決定心。往生論註卷下(大四○‧八三五中):「信心不一,是無決定之故。」反之,信心專一,則係由於有決定心之故。
; (决定心) Chỉ cho tâm quyết đoán, an định, không lay động. Tổng kết các kinh luận, đại khái có 4 nghĩa sau đây: 1. Theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 thì tâm an trụ trong giáo mệnh mà không lay động, gọi là Quyết định tâm. 2. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 gọi Sở nguyện bất quyện (không thấy mỏi mệt đối với những điều mình đã thệ nguyện tu hành) là Quyết định tâm; tức là tâm mình bất động thì tâm mỏi mệt không sinh, đó là nghĩa quyết định. 3. Theo luận Pháp hoa quyển hạ, nếu đã sinh tâm sợ hãi mà có thể dứt trừ được sự sợ hãi ấythìchính là quyết định tâm. Đấy là nói theo tác dụng của Quyết định tâm. 4. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương tín tâm tin tưởng mạnh mẽ nơi bản nguyện của đức Phật A di đà chính là Quyết định tâm. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 835 trung nói: Lòng tin không chuyên nhất, đó là do không quyết định, trái lại, lòng tin chuyên nhất thì đó là vì có quyết định tâm.
Quyết định tâm 決定心
[ja] ケツジョウシン ketsujōshin ||| (1) Firm resolution; stable commitment; imperturbable mind. (2) The deep resolution to attain enlightenment. (3) In the Yogācārabhūmi-śāstra, a condition of settling into thought that occurs in the process of perpeption, subsequent to the "seeking mind 尋求心." 〔瑜伽論T 1579.30.280a24〕 => 1. Sự quyết tâm; sự cam kết bền vững; tâm không bối rối. 2. Hết sức quyết tâm đạt đến giác ngộ. 3. Trong Du-già sư địa luận, điều kiện để ổn định tư tưởng xảy ra qua tiến trình nhận thức là theo sau 'Tầm cầu tâm 尋求心'
Quyết định tín
決定信; C: juédìng xìn; J: ketsujōshin;|Niềm tin bền vững, đức tin kiên cố.
Quyết định tín 決定信
[ja] ケツジョウシン ketsujōshin ||| Unshakable faith, firm faith. => Niềm tin bền vững, đức tin kiên cố.
quyết định tính
2969「不定性」、「無性」之對稱。眾生所具五種天性中之菩薩定性、緣覺定性、聲聞定性等三性,決定成佛果、辟支佛果、阿羅漢果,故稱決定性。(參閱「五姓」1107)
quyết định tạng luận
2969梵名 Vinirṇīta-piṭaka-śāstra。凡三卷。陳‧真諦譯。收於大正藏第三十冊。本論唯有心地品一品,屬大乘論部,係瑜伽師地論決擇分中五識身相應地意地品之異譯,相當其第五十一卷以下四卷,二者譯語相異處不少。本論並無注疏,若將瑜伽師地論略纂卷十三(乃瑜伽師地論意地品之注疏)方便視為本論之解說,依之,本論上中二卷分十門揭明陰、入、界、四諦、因緣、二十二根等六種勝智,下卷廣釋之。〔大周刊定眾經目錄卷六、開元釋教錄卷六、瑜伽論記卷二十五〕
; Vinirnita-piṭāka śāstra (S).
; (决定藏論) Phạm: Vinirịìta - piỉaka - zàstra. Luận, 3 quyển, do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Luận này chỉ có 1 phẩm tâm địa, thuộc Đại thừa luận bộ, là bản dịch khác của phẩm Ngũ thức thân tương ứng địa ý địa trong phần Quyết trạch của luận Du già sư địa, tương đương với 4 quyển từ quyển 51 trở xuống của luận này, lời dịch giữa 2 bản dịch này có nhiều chỗ khác nhau. Luận này hoàn toàn không có chú thích, nếu tạm coi Du già sư địa luận lược toản quyển 13 (là chú thích phẩm Ý địa của luận Du già sư địa) là sách sớ giải luận này, thì theo đó, 2 quyển thượng, trung của luận này được chia ra 10 môn để nêu rõ 6 thứ trí thù thắng: Ấm, Nhập, Giới, Tứ đế, Nhân duyên, 22 căn; còn quyển hạ là giải thích rộng về 6 thứ trí thù thắng này. [X. Đại chu san định chúng sinh mục lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Du già luận kí Q.25].
Quyết định tạng luận 決定藏論
[ja] ケツジョウゾウロン Ketsujō zō ron ||| The Juedingzang lun; T 1584.30.1018b-1035b. => (j: Kyŏljŏngjang non; c: Juedingzang lun).
Quyết Định Vãng Sanh Tập
(決定徃生集, Kejjōōjōshū): 2 quyển, do vị Tăng Tam Luận Tông Trân Hải (珍海, Chinkai, 1091-1152) soạn; là thư tịch trích dẫn những đoạn văn xưng tán các kinh điển Tịnh Độ như Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) cũng như Khởi Tín Luận (起信論), v.v., tất quyết định vãng sanh.
quyết định vãng sinh tập
2968凡二卷。日本三論宗珍海撰。述念佛行者決定往生之義。分為教文、道理、信心等三大綱。收於大正藏第八十四冊。教文部分,引觀無量壽經、稱讚淨土經、起信論之說,謂既已決定,勿復猶豫,已云即生,則非別時意。道理部分,謂眾生有出離之分,諸佛有引召之功,凡愚願生者,即得往生,此乃因小而果大,內外緣起之常理。信心部分,於信心決定中,開立果決定、因決定、緣決定三種。後更分此三決定為十門,即依報決定、正果決定、昇道決定、種子決定、修因決定、除障決定、事緣決定、弘誓決定、攝取決定、圓滿決定;此十門中,初三為果,次三為因,再次三為緣,後一為釋。此書並引用慧遠、吉藏、窺基、道綽、善導、懷感等諸師之疏釋。〔圓光大師行狀畫圖翼贊卷六十、蓮門類聚經籍錄卷下〕
; (决定往生集) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trân hải, vị tăng thuộc tông Tam luận Nhật bản soạn; được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này trình bày ý nghĩa hành giả niệm Phật quyết định vãng sinh, gồm 3 đại cương: Giáo văn, Đạo lí và Tín tâm. Phần Giáo văn dẫn thuyết trong kinh Quán Vô lượng thọ, kinh Xưng tán tịnh độ và luận Khởi tín, cho rằng đã quyết định thì không do dự nữa, đã nói tức sinh thì chẳngphảibiệt thời ý. Phần Đạo lí thì cho rằng chúng sinh có phần xuất li, chư Phật có công dắt dẫn; người phàm phu nếu nguyện vãng sinh thì được vãng sinh, đó là lẽ thường nhân nhỏ quả lớn, trong ngoài duyên khởi. PhầnTín tâm thì trong Tín tâm quyết định có mở ra 3 thứ: Quả quyết định, Nhân quyết định và Duyên quyết định. Sau đó lại chia 3 quyết định này làm 10 môn là: Y báo quyết định,Chính quả quyết định, Thăng đạo quyết định, Chủng tử quyết định, Tu nhân quyết định, Trừ chướng quyết định, Sự duyên quyết định, Hoằng thệ quyết định, Nhiếp thủ quyết định và Viên mãn quyết định.Trong 10 môn này, thì 3 môn đầu là quả, 3 môn kế là nhân, 3 môn kế nữa là duyên, môn sau cùng là thích. Tác phẩm này có dẫn dụng sớ thích của các ngài: Tuệ viễn, Cát tạng, Khuy cơ, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm... [X. Viên quang đại sư hành trạng họa đồ dực tán Q.60; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.ha].
Quyết định 決定
[ja] ケツジョウ ketsujō ||| (1) Necessarily, naturally. Decidedly, undoubtedly. (bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam). (2) To judge, settle, determine. Judgment, settlement, determination. (3) Predetermined nature (toward goodness or evil). (4) Something truly existing. => 1. Nhất thiết, tất nhiên. Kiên quyết, chắc chắn (s: bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam). 2. Phán xét, giải quyết, xác định. Sự phán xét, sự giải quyết, sự xác định. 3. Bản tính tiên quyết (về phía thiện hay ác). 4. Các pháp thực sự hiện hữu.
Quyết 決
[ja] ケツ ketsu ||| To decide, settle, judge, fix agree upon, resolve, arrange, determine. => Quyết định, ấn định, phán đoán, đồng ý chọn, giải quyết, sắp đặt, xác định.
Quyền
權; C: quán; J: gon; |1. Quyền lực, ảnh hưởng; 2. Phương tiện. Giáo lí tạm thời; 3. Quả cân trong cân đứng; 4. Cân, đo; 5. Ngang bằng, làm cho bằng nhau.
quyền
Weight, authority, power; to balance, adjudge; bias, expediency, partial, provisional, temporary, positional; in Buddhist scriptures, it is used like phương tiện expediency, or temporary; itis the adversative of thực.
; 1) Quyền hạn: Authority—Power. 2) Quyền (tạm): Conditional—Diferential—Temporary—Functional. 3) Trong kinh điển Phật, quyền được dùng như phương tiện tạm thời, đối lại với thực: In Buddhist scriptures, it is used like expediency or temporary; it is adversative of “true” or “permanent.”
quyền bi
Pity in regard to beings in time and sense, arising from the Buddhas.
; Lòng đại bi của chư Phật khởi lên đối với chúng sanh—Pity in regard to beings in time and sense, arising from the Buddhas.
quyền biến
To adapt (adjust) oneself to.
quyền biểu quyết
Deliberation voice.
quyền bất khả xâm phạm
Freedom from arrest.
quyền cao
Supreme authority.
quyền cơ
6898即指權假之機根。為「實機」之對稱。當佛說法,正聽受其法之對機不現時,則對於非正所被之機根而說法。亦即佛於說法時,能如實理解真理之「當機眾」未出現,故權假以「非當機眾」為對象而說法。此對告眾為權假之機根,故稱權機。
; (權機) Đối lại: Thực cơ. Chỉ cho căn cơ thay thế tạm thời. Trong khi đức Phật thuyết pháp, nếu đối cơ chính nghe nhận pháp ấy không xuất hiện, thì Phật nói cho căn cơ tạm thời thay thế một cách không chính thức nghe. Nghĩa là khi Phật thuyết pháp mà chúng đương cơ có khả năng lãnh hội chân lí một cách như thực chưa xuất hiện, thì Phật tạm thời dùng chúng đương cơ không chính thức làm đối tượng để thuyết pháp, gọi là Quyền cơ.
quyền giáo
Temporary, expedient, or functional teaching, preparatory to the perfect teaching, a distinguishing term of the Thiên Thai and Hoa Nghiêm sects, i.e. the teachings of the three previous periods tạng, thông, biệt which were regarded as preparatory to their own viên giáo.
; Còn gọi là Thiên Giáo hay giáo pháp phương tiện tạm thời, chuẩn bị cho thực giáo. Một từ phân biệt của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm, coi ba giáo Tạng, Thông và Biệt là quyền giáo, chuẩn bị cho Viên giáo hay Thực giáo—Knowledge of the realtive—Temporal, expedient, or functional teaching, preparatory to the perfect teaching, a distinguishing term of the T'ien-T'ai and Hua-Yen, i.e. the teachings of the three previous periods of pitaka, general, and different, teachings which were regarded as preparatory to their own. ** For more information, please see Thiên Giáo in Vietnmaese-English Section.
quyền giả
6893權謀暫用還廢之義。為「真實」之對稱。係佛為引導眾生入於真實法而暫用之方便法,成就後即還廢此方便法門。譬如假藉船筏而渡河,或假藉階梯而登樓,終須捨離此權設之工具。權法、權教即此權假之教法。 依天台宗之觀點,法華經乃佛所說之真實教法;相對者,於法華經以前所說之諸經則為權假法門。又據日本淨土真宗之觀點,謂阿彌陀佛之弘願為真實究竟之法義;相對者,其餘之真門、要門,乃至聖道門,皆屬於權假方便之法門。〔摩訶止觀卷三下、淨土和讚〕(參閱「權實二教」6895)
; A Buddha or bodhisattva who has assumed a temporary form in order to aid beings.
; Một vị Phật hay Bồ Tát mang tạm thân trần tục để cứu độ chúng sanh—A Buddha or a Bodhisattva who has assumed a temporary form in order to aid beings—See Quyền Hóa.
; (權假) Đối lại: Chân thực. Tạm thời dùng, xong thì bỏ. Nghĩa là giáo pháp phương tiện mà đức Phật tạm thời sử dụng để dắt dẫn chúng sinh vào giáo pháp chân thực, sau khi thành tựu thì bỏ pháp phương tiện này. Ví như thuyền bè để qua sông, nhờ các bậc thang để lên lầu; cuối cùng khi đến đích rồi, thì phải rời bỏ những công cụ tạm thời đặt ra này. Quyền pháp, Quyền giáo tức là những giáo pháp quyền giả ấy. Theo quan điểm của tông Thiên thai thì kinh Pháp hoa là giáo pháp chân thực, còn các kinh đức Phật nói trước kinh Pháp hoa thì đều là pháp môn quyền giả. Cũng thế, theo quan điểm của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản thì hoằng nguyện của đức Phật A di đà là pháp nghĩa chân thực tột cùng; trái lại, những chân môn, yếu môn, cho đến Thánh đạo môn khác... đều thuộc pháp môn phương tiện quyền giả. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, hạ; Tịnh độ hòa tán]. (xt. Quyền Thực Nhị Giáo).
Quyền hiện
(權現, gongen): quyền (權) nghĩa là quyền nghi, ứng cơ; hiện (現) là hóa hiện; tức chỉ chư phật bồ tát vì độ khắp chúng sanh mà quyền xảo hóa hiện các loại hình tướng; đồng nghĩa với quyền hóa (權化), quyền tích (權迹), ứng hiện (應現), thị hiện (示現), hóa hiện (化現), v.v. Như trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665), Phẩm Như Lai Thọ Lượng (如來壽量品) thứ 2, quyển 1 có câu: “Thế Tôn Kim Cang thể, quyền hiện ư Hóa Thân (世尊金剛體、權現於化身, Thế Tôn thể Kim Cang, quyền hiện nơi Hóa Thân).” Hay trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 3, phần Thiệu Hưng Phủ Đông Sơn Giác Thiền Sư (紹興府東山覺禪師), lại có đoạn: “Kim thời tùng lâm, tương vị Quảng Ngạch quá khứ thị nhất Phật, quyền hiện đồ nhi (今時叢林、將謂廣額過去是一佛、權現屠兒, tùng lâm ngày nay cho rằng Quảng Ngạch quá khứ là một vị Phật, hóa hiện làm đồ tể).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ (法華經指掌疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 631) cũng có đoạn: “Nhiên Đạt Đa tuy xưng quyền hiện, nhân hại Phật cố, bất miễn Địa Ngục chi khổ (然達多雖稱權現。因害佛故。不免地獄之苦, tuy nhiên, Đề Bà Đạt Đa tuy gọi là quyền hiện, nhưng vì hại Phật, nên không thoát khỏi cái khổ của Địa Ngục).” Quyền hiện cũng là một trong những tư tưởng đặc trưng của Phật Giáo Nhật Bản. Sau khi Phật Giáo được vào xứ sở Phù Tang này, Thần Đạo trở thành địa vị phụ thuộc, và đến cuối thời kỳ Bình An (平安, Heian, 794-1185), thuyết gọi là Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹, honjisuijaku) bắt đầu thịnh hành. Từ thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794) trở đi, việc tiếp cận với chư thần của Phật Giáo dần dần được tiến hành. Với tư cách là chúng sanh phàm phu đầy phiền não, chư thần linh cũng tôn kính Phật Giáo; cho nên việc đọc kinh trước thần linh, các Thần Cung Tự (神宮寺), Trấn Thủ Tự (鎭守寺) cũng được kiến lập. Vào khoảng đầu thời Bình An, các thần dần dần khai ngộ và địa vị của họ cũng được nâng cao. Tỷ dụ như trường hợp Thạch Thanh Thủy Bát Phan Thần (石清水八幡神) đã đạt đến danh hiệu Bồ Tát. Sau đó, trong văn thư của Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu) gởi cho đền thờ Cừ Khi Bát Phan Cung (筥崎八幡宮, Hakozakihachimangū) vào năm 937 (Thừa Bình [承平] thứ 7), có đoạn văn gọi Bát Phan Thần là quyền hiện. Hay trong tác phẩm Tẩu Thang Duyên Khởi (走湯緣起, Sōtōengi) có các văn thư ghi năm 812 (Hoằng Nhân [弘仁] thứ 3) cũng như 904 (Diên Hỷ [延喜] thứ 4), có thể thấy từ quyền hiện. Đến giữa thời Bình An, chư thần tiến đến rất gần với địa vị của Phật. Trong bức Cúng Dường Nguyện Văn (供養願文) do ca nhân Đại Giang Khuông Hành (大江匡衡, Ōe-no-Masahira, 952-1012) viết khi đến tham bái đền thờ Nhiệt Điền Thần Xã (熱田神社, Atsuta Jingū) ở tiểu quốc Vĩ Trương (尾張, Owari) vào năm 1004 (Khoan Hoằng [寬弘] nguyên niên), ông viết là thùy tích của Nhiệt Điền Quyền Hiện (熱田權現, Atsutagongen). Cũng vào năm thứ 4 (1007) cùng niên hiệu trên, trong ống kinh do Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027) đem thờ trên Kim Phong Sơn (金峯山) có ghi dòng chữ “Tạng Vương Quyền Hiện (藏王權現).” Trong bộ Kim Tích Vật Ngữ Tập (今昔物語集, Konjakumonogatarishū) cũng có xuất hiện từ Hùng Dã Quyền Hiện (熊野權現, Kumanogongen). Việc phổ cập hóa tư tưởng quyền hiện như vậy là đồng thể hóa Phật với Thần; và cho biết rằng đã đến thời kỳ hoàn thành thuyết Bản Địa Thùy Tích. Đến thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333), các đền thờ Thần Xã gọi tên quyền hiện bắt đầu xuất hiện như Địa Chủ (地主), Bạch Sơn (白山), Ái Đãng (愛宕), Xuân Nhật (春日), v.v. Trong tác phẩm Chư Thần Bản Hoài Tập (諸神本懷集, Shojinhongaishū) do Tồn Giác (存覺, Zonkaku, 1290-1373) viết vào cuối thời kỳ Liêm Thương, chia thần thành hai loại là Quyền Xã (權社) và Thật Xã (實社), cho rằng Thần của Quyền Xã là “đức Như Lai xưa kia, vì để mang lại lợi ích cho Bồ Tát, chúng sanh thâm vị, nên giả hiện thân hình thần minh”; song tất cả đều là quay về với sự giáng tích của Phật Di Đà; và cho rằng chư thần của Thật Xã thì cần phải bài xích như là tà thần. Thần Đạo mang tính thần Phật tập hợp vào thời Trung Đại, lấy tư tưởng quyền hiện làm luận cứ quan trọng. Tuy nhiên, sau khi Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu, 1542-1616) qua đời, vị tăng của Thiên Thai Tông là Thiên Hải (天海, Tenkai, 1536-1643) chủ trương thờ phụng đấng quyền hiện và xem đó như là thần hiệu của Gia Khang. Ngoài ra, các Thiên Hoàng Nhật Bản đã từng lấy danh hiệu quyền hiện để ban hiệu sắc hứa cho cấp dưới. Tỷ dụ như Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930) đã ban cho Đằng Nguyên Liêm Túc (藤原鎌足, Fujiwara-no-Kamatari, 614-669) hiệu là Đàm Sơn Quyền Hiện (談山權現); hay Hậu Thủy Vĩ Thiên Hoàng (後水尾天皇, Gomizunō Tennō, tại vị 1611-1629) ban cho Đức Xuyên Gia Khang hiệu là Đông Chiếu Đại Quyền Hiện (東照大權現), v.v.
quyền hiện
6893<一> 權,權宜、應機;現,化現。指佛菩薩為普度眾生而權巧化現各種形相。與權化、權迹、權者、應現、示現、化現等同義。金光明最勝王經卷一(大一六‧四○六下):「世尊金剛體,權現於化身。」又占察善惡業報經卷上(大一七‧九○二上):「權巧現化,影應十方。」〔盂蘭盆經、大日經疏住心鈔第三〕(參閱「權化」6891) <二>指垂迹之化身。屬於日本佛教之轉稱語。佛教在日本廣泛傳揚後,神道處於附庸之地位,平安朝末期「本地垂迹」之說盛行。係將日本固有之諸神,視為佛菩薩之垂迹,而於諸神附以「權現」之稱;亦即於諸神名號之下附加「權現」,以顯示其為佛菩薩之隨機應化,異於普通之神祇,例如「熊野權現」、「春日權現」。奉祀權現之神社,稱為權社;奉祀生靈、死靈等邪神者,稱為實社。此說影響日本之神道思想頗深。 日本著名之權現,除上述之外,另有:愛宕、熱田、伊豆山、石清水、清瀧、金毘羅、藏王、地主、鈴鹿、日光、白山、箱根、走湯山、日吉等。此外,日本天皇曾以「權現」為敕許之號,例如醍醐天皇賜予藤原鎌足「談山權現」,後水尾天皇賜予德川家康「東照大權現」之號。〔法然上人行狀畫圖卷二十、諸神本懷集〕
; Temporary, or ad hoc manifestations, similar to quyền hóa.
; Tạm thời phương tiện hiện ra để cứu độ chúng sanh—Temporary manifestation for saving beings—See Quyền Hóa.
; (權現) I. Quyền Hiện. Đồng nghĩa: Quyền hóa, Quyền tích, Quyền giả, Ứng hiện, Thị hiện, Hóa hiện. Phật và bồ tát dùng phương tiện khéo léo, tạm thời hóa hiện ra các loại hình tướng thích hợp để cứu độ tất cả chúng sinh. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 (Đại 17, 406 hạ) nói: Thể kim cương của Thế tôn, quyền hiện trong hóa thân. Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng (Đại 17, 902 thượng) nói: Tạm thời hóa hiện, ứng hợp 10 phương. [X. kinh Vu lan bồn; Đại nhật kinh sớ trụ tâm sao thứ 3]. (xt. Quyền Hóa). II. Quyền Hiện. Chỉ cho hóa thân thùy tích, tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Sau khi Phật giáo được truyền bá rộng rãi ở Nhật Bản thì Thần đạo ở vào địa vị phụ thuộc. Vào cuối triều đại Bình An, thuyết Bản địa thùy tích đã rất thịnh hành. Đến đây, các vị thần vốn có từ trước ở Nhật bản đều được coi là thùy tích của Phật và Bồ tát mà gọi các thần là Quyền hiện, tức là sau danh hiệu của các vị thần, thêm vào 2 chữ Quyền hiện để tỏ rằng các vị thần này là do Phật và Bồ tát tùy cơ ứng hóa, khác với các thần thông thường, chẳng hạn như Hùng dã quyền hiện Xuân nhật quyền hiện. Đền thờ các Quyền hiện gọi là Quyền xã, thờ các tà thần như sinh linh, tử linh...gọi là Thực xã. Thuyết này ảnh hưởng rất sâu tư tưởng Thần đạo của Nhật Bản. Ngoài ra, các Thiên hoàng của Nhật Bản cũng dùng từ ngữ Quyền hiện làm danh hiệu sắc ban, như Thiên hoàng Đề hồ ban hiệu Đàm Sơn Quyền Hiện cho Đằng nguyên Liêm túc, Thiên hoàng Thủy vĩ thì ban hiệu Đông Chiếu Đại Quyền Hiện cho Đức xuyên Gia khang... [X.Pháp nhiên thượng nhân hành trạng họa đồ Q.20; Chư thần bản hoài tập].
quyền hiện tạo
6893又作石間造。為日本神社建築樣式之一。此類建築多取自佛寺建築之形式;以單純為其特色之社殿,於本殿與拜殿兩建築間,以「石間」(舖石塊之處)連接之,具有工字形平面之複雜造型。屋頂亦有採用「千鳥破風」等形式之「八棟造」。桃山時代至江戶初期之東照宮廟等建築,皆採此種形式。一般權現造具有裝飾過度之特色。
; (權現造) Cũng gọi Thạch gian tạo. Một trong những kiểu kiến trúc Thần xã ở Nhật Bản; loại kiến trúc này phần nhiều lấy kiểu từ các kiến trúc chùa Phật, mà đặc sắc của nó là nét đơn giản. Thông thường điện của Thần xã có 2 phần là Bản điện và Bái điện. Giữa Bản điện và Bái điện có 1 khoảng trống để xếp những phiến đá, gọi là thạch gian, nối liền 2 điện đường tạo thành hình chữ Công.... Nóc nhà thì dùng kiểu Bát đống tạo theo hình thức Thiên điểu phá phong. Các kiến trúc như Đông chiếu cung miếu, từ thời đại Đào sơn đến đầu thời Giang hộ, đều dùng hình thức kiến trúc này. Nói một cách tổng quát thì đặc sắc của Quyền hiện tạo là ở chỗ trang sức đơn thuần.
quyền hoá
6891<一>梵語 avatāra。化現、應現之意。謂佛菩薩為濟度眾生,以神通力權示化現種種之身或種種之物。如觀世音菩薩以三十三身之化現攝受眾生,又密教大日如來示現明王之忿怒相以驚覺難化之眾生;甚至變現化城等物,利導眾生,如法華經化城之喻。 權化之思想,印度自古有之,於印度教信仰中,神每為實現人類之希望,拯救世間之苦,守護正義,而化現其身。該教所謂之權化,自信仰上言,即令眾生獲得解脫;自哲學觀點而言,為神憑其自身之意向,以一種遊戲之姿態化現於世。於印度教諸神中,毘濕奴神為示現於世間最具代表者,約有十種權化之相,前三種為動物形,第四種為半獸半人形,其餘六種為人類形。除印度教之外,耆那教亦具有權化思想,此思想為一神教與多種信仰型態之調和,根本上乃在說明唯一而絕對之神以各種形態化現於世間。 大乘佛教興起後,產生「法身為絕對之本質」之信仰,相信法身以佛、菩薩或其他各種形態出現人間,從而救度眾生。最顯著之例為觀世音菩薩信仰。在中國、日本、西藏等地,皆相信觀世音菩薩顯現各種形相,如三十三身應化,因能除眾苦,而廣為民眾信仰。如西藏人相信其國土為觀世音菩薩之住地,達賴喇嘛即觀世音菩薩之化身。 在日本,所謂權化,與應現、權現、權者、化現、示現等同義。此一思想係日本民族信仰之諸神格與佛教之信仰對象相結合,稱為「本地垂迹說」,如天照大神、八幡大神,即為大日如來與觀世音菩薩之垂迹。〔法華經卷三化城喻品、大乘法苑義林章卷七、教行信證文類序〕(參閱「化身」1324、「本地垂迹」1956、「權現」6893) <二>權巧教化之意。就教化而言,佛分一乘而說三乘之教化,稱為權化。
; (權化) I. Quyền Hóa. Phạm: Avatàra. Hóa hiện, ứng hiện. Nghĩa là chư Phật và Bồ tát dùng sức thần thông tạm thời hóa hiện các loại thân hình, hoặc các loại vật thể, tùy theo nhu cầu, để cứu độ chúng sinh. Như bồ tát Quán thế âm hóa hiện 32 thân tướng để thu nhiếp chúng sinh, đức Đại nhật Như lai của Mật giáo thì hóa hiện tướng Minh vương phẫn nộ để thức tỉnh những chúng sinh ương ngạnh, khó giáo hóa, cho đến biến hiện các vật như hóa thành...để làm lợi ích và dẫn dắt chúng sinh, như thí dụ Hóa thành trong kinh Pháp hoa. Tư tưởng Quyền hóa đã có ở Ấn Độ từ xưa. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, vị thần thường hóa hiện thân hình để thực hiện những mong cầu của nhân loại, cứu vớt người đời qua các nỗi thống khổ và bảo vệ chính nghĩa cho thế gian. Đứng về phương tiện tín ngưỡng mà nói thì Quyền hóa, theo Ấn Độ giáo, là làm cho chúng sinh được giải thoát; còn nói theo quan điểm triết học thì vị thần theo ý hướng của tự thân, dùng tư thái du hí mà hóa hiện ra đời. Trong các thần của Ấn Độ giáo thì thần Ti thấp nô (Phạm: Viwịu) có tính đại biểu đầy đủ nhất của việc thị hiện ở thế gian, thần này có khoảng 10 loại tướng quyền hóa, 3 tướng đầu là hình động vật, tướng thứ 4 là hình nửa người nửa thú, 6 tướng còn lại là hình nhân loại. Ngoài ra, Kì na giáo cũng có tư tưởng quyền hóa, tư tưởng này là sự điều hòa giữa Nhất thần giáo và nhiều hình thái tín ngưỡng khác, chủ yếu là thuyết minh 1 vị thần duy nhất, tuyệt đối dùng các loại hình thái để hóa hiện ở thế gian. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, đã nảy sinh tín ngưỡng Pháp thân là bản chất tuyệt đối, tin tưởng rằng Pháp thân dùng Phật, Bồ tát hoặc các loại hình thái khác mà xuất hiện ra thế gian để cứu độ chúng sinh. Trường hợp nổi bật nhất là tín ngưỡng bồ tát Quán thế âm. Trung Quốc, Nhật Bản, Tây tạng và các nước Phật giáo Bắc truyền nói chung, đều tin rằng bồ tát Quán thế âm hóa hiện các loại hình tướng, như 32 thân ứng hóa, để cứu khổ chúng sinh. Đây là tín ngưỡng phổ cập nhất trong dân gian. Chẳng hạn như dân tộc Tây Tạng tin rằng đất nước Tây tạng là trú xứ của bồ tát Quán thế âm và các vị Đạt Lai Lạt Ma tức là hóa thân của Ngài. Ở Nhật Bản, Quyền hóa được xem là đồng nghĩa với ứng hiện, quyền hiện, quyền giả, hóa hiện, thị hiện...Tư tưởng này là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thần cách của dân tộc Nhật bản và đối tượng tín ngưỡng của Phật giáo, gọi là thuyết Bản địa thùy tích, như Đại thần Thiên chiếu, Đại thần Bát phan chính là Thùy tích của Như lai Đại nhật và Bồ tát Quán thế âm. [X.phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7; lời tựa Giáo hành tín chứng văn loại]. (xt. Hóa Thân, Bản Địa Thùy Tích, Quyền Hiện). II. Quyền Hóa. Quyền xảo giáo hóa. Đứng về phương diện giáo hóa mà nói thì đức Phật đem Nhất thừa chia ra làm Tam thừa để giáo hóa, gọi là Quyền giáo, nghĩa là giáo hóa một cách khéo léo.
quyền hoá thật hoá
6891權化,權假方便之教化;實化,一乘真實之教化。謂佛之教化有權法與實法之區別。隋代吉藏之法華玄論卷一載,釋尊一代教化之始終有七門;其中,第四為「實化不得門」,謂佛初成道時,以大慈悲心,擬教導眾生真實之理,但凡夫無能力納受;第五為「權化得門」,即權誘門,謂分一乘而說三乘之教化;第六為「實化得門」,謂漸化將成,故會三乘而歸入一乘之教化。 此外,智顗之法華玄義卷三下另有「化他權實」之說(大三三‧七一二上):「若析法權實二智者,照森羅分別為權智,盡森羅分別為實智;說此二智逗種種緣,作種種說,隨種種欲、種種宜、種種治、種種悟,各隨堪任當緣分別。雖復種種,悉為析法權實所攝,故有化他二智。」此亦可視為權化與實化之一說。
; (權化實化) Quyền hóa là sự giáo hóa bằng phương tiện giả tạm; Thực hóa là sự giáo hóa bằng Nhất thừa chân thực. Nghĩa là sự giáo hóa của đức Phật có Quyền pháp và Thực pháp khác nhau. Cứ theo Pháp hoa huyền luận quyển 1 của ngài Cát tạng đời Tùy thì sự giáo hóa trong 1 đời của đức Thích tôn trước sau có 7 môn, trong đó, môn thứ 4 là Thực hóa bất đắc môn, nghĩa là khi đức Phật mới thành đạo, do tâm đại từ bi, Ngài nghĩ phải giáo hóa dắt dẫn chúng sinh bằng lí chân thực, nhưng hàng phàm phu không có năng lực tiếp nhận. Môn thứ 5 là Quyền hóa đắc môn, tức Quyền dụ môn, nghĩa là sự giáo hóa bằng cách chia Nhất thừa ra làm Tam thừa. Môn thứ 6 là Thực hóa đắc môn, nghĩa là sự giáo hóa dần dần theo thứ lớp Tam thừa sắp hoàn thành, cho nên gom Tam thừa lại mà đưa về Nhất thừa. Ngoài ra, trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hạ của ngài Trí khải còn có thuyết Hóa tha quyền thực cho rằng (Đại 33, 712 thượng): Nếu phân tích các pháp theo 2 trí Quyền và Thực, thì phân biệt vạn tượng là Quyền trí, dứt hết phân biệt vạn tượng là Thực trí, bảo rằng 2 trí này hòa hợp với các duyên, nói theo nhiều cách, tùy theo các thứ ưa muốn, thích nghi, đối trị, rõ biết...mà phân biệt. Tuy nói nhiều thứ, nhiều cách, nhưng đều thuộc về Tích pháp quyền thực (dùng Quyền trí và Thực trí phân tích các pháp), vì thế có 2 trí hóa tha. Đây cũng có thể được xem là một thuyết Quyền hóa và Thực hóa.
quyền hóa
The power of Buddhas and bodhisattvas to transform themselves into any kind of temporal body.
; Quyền Giả—Hóa Giả—Phật lực hay Bồ Tát lực có thể tự hóa thành bất cứ thân trần tục nào để cứu độ chúng sanh—The power of Buddhas and Bodhisattvas to transform themselves into any kind of temporal body in order to aid beings.
quyền hạn
Within competence (authority).
quyền lý
Partial, or incomplete truth.
; Partial or incomplete truth.
quyền lợi
Right—Interest.
quyền lực
Power and influence.
quyền môn
The sects which emphasize phương quảng, i.e. expediency, or expedients; the undeveloped shool.
; Những tông phái nhấn mạnh đến việc dùng phương tiện để cứu độ chúng sanh—The sects which emphasize temporary methods or expedients for saving beings.
quyền mưu
Những phương tiện tạm thời thích hợp với nhu cầu cứu độ chúng sanh—Temporary plans, methods suited to immediate needs—See Quyền Phương Tiện.
quyền năng
Power and capacity.
quyền phương tiện
Expedients of Buddha and bodhisattva for saving all beings.
; Quyền mưu nhất thời của chư Phật và chư Bồ Tát, dùng phương tiện để cứu độ chúng sanh—Expedients of Buddhas and bodhisattvas for saving all beings.
quyền quý
Noble.
quyền tam cương
6891指上座(梵 sthavira)、寺主(梵 vihāra-svāmin)、都維那(梵 karma-dāna,又作維那)等三僧職。為「正三綱」之對稱。此三職始於印度僧團為自治而設,然是否為寺中必設之職則不詳。據佛祖統紀卷三十九載,唐顯慶二年(657),敕令在長安建西明寺,當時以道宣為上座,神泰為寺主,懷素為維那。
; (權三綱) Đối lại: Chính tam cương. Chỉ cho 3 chức vị trong chúng tăng là: 1. Thượng tọa (Phạm:Sthavira). 2. Tự chủ (Phạm:Vihàra-svàmin). 3. Đô duy na (Phạm: Karma-dàna, cũng gọi Duy na). Ba chức vị này đầu tiên được đặt ra để tự trị trong tăng đoàn ở Ấn độ nhưng không rõ trong chùa có cần phải đặt ra các chức vị này hay không. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 39, vào năm Hiển thánh thứ 2 (675) đời Đường, vua ban sắc xây dựng chùa Tây Minh tại Trường An, bấy giờ, ngài Đạo Tuyên được cử làm Thượng tọa, ngài Thần Thái làm Tự chủ và ngài Hoài Tố làm Duy na.
quyền thiết đại thế
6894為臨濟宗八大勢之第七。即假設種種方便譬喻,以接化學人。五家宗旨纂要卷上(卍續一一四‧二六○上):「權設大勢,如六靵譬喻,指樹吹毛,曲垂方便,妙合機宜。」(參閱「濟宗八大勢」6445)
Quyền thật
(權寔): quyền nghĩa là quyền nghi, chỉ cho phương tiện cần thiết nhất thời; thật là chân thật không dối, sự chân thật tột cùng vĩnh viễn không thay đổi. Quyền thật còn gọi là chân giả. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 25 có câu: “Đốn tiệm thiên viên, quyền thật không hữu, đinh tủy thiết thiệt, hà mục hải khẩu (頓漸偏圓、權寔空有、釘觜鐵舌、河目海口, đốn tiệm méo tròn, quyền thật không có, mỏ đinh lưỡi sắt, mắt sông miệng biển).” Hay như trong Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Thiển Chú (大乘本生心地觀經淺註, CBETA No. 367) cũng có câu: “Dĩ thuyết pháp chi công, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, cố tôn vi vương (以說法之功、莊嚴自性、權寔自在、故尊爲王, lấy công đức thuyết pháp, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, nên tôn xưng là vua).”
; 權實; C: quán shí; J: gonjitsu; |»Phương tiện và chân thật«.
quyền thật
6894權,權謀、權宜之義,指為一時之需所設之方便;實,真實不虛之義,係指永久不變之究極真實。權,又作善權、權方便、善權方便、假、權假;實,又作真、真實。兩者合稱權實、真假等。權教與實教、權智與實智、權因與實因、權果與實果、權人與實人、權化與實化等為對稱用語。實教,乃據實述出佛陀自內證之法,係為究極根本之教;權教,乃為導人入於實教所設之方便教法,至實教境地後則當廢權教。實智,又作真實智、如實智,乃如實明白之智;權智,又作方便智,為導度他人而起之智慧。實因,指圓頓之行;權因,指藏、通、別三教之行。實果,指三德祕藏之大涅槃;權果,指丈六金身等化現。實人,即實在之人;權人,即權化之人,乃佛菩薩等為引導眾生,荌眷{人或天之相貌。實化,即佛開三乘而歸一乘之教化;權化,即佛分一乘而說三乘之教化。 天台宗認為法華經所說之圓教為實教,其餘諸經所說之藏、通、別三教均屬權教,故稱三權一實。其關係若以蓮華三喻來表示,即:為實施權(為蓮故華)、開權顯實(華開蓮現)、廢權立實(華落蓮成)。其中唯法華經能明權之為權之理,而彰顯真實究竟。就佛證悟之本體而言,權、實二教均為平等,稱為權實同體。就佛教化眾生之作用言,權、實二教所說之修行方法與覺悟之程度有所差異,故謂權實異體。 法華文句卷三上載,所有事物存在狀態可以權實四句表示,即:一切法皆權、一切法皆實、一切法亦權亦實、一切法非權非實。又法華玄義卷七之十不二門中,立有權實不二門,謂自人之立場而言,菩薩乃至地獄等九界為權,而佛界為實,稱為九權一實;自教之立場而言,雖有「三權一實」之區分,然當觀權實為圓融無差別。 法華文句卷三下舉十種相對事物以表示權實,稱為十雙權實。即:(1)事理,由眾生本具之真如無相平等之理(實),能產生心意識等各種差別現象之事(權)。(2)理教,綜合事理而用言語來表現之理(實),能立其理而說明之教(權)。(3)教行,由其教理(實),產生實踐之行(權)。(4)縛脫,由行而分為受迷妄束縛之縛(權),與脫離迷妄之脫(實)。(5)因果,隨順真理之脫為趣入菩提之因(權),因此能得開悟之果(實)。(6)體用,由其果遂有真如之本體(實),以及真如之作用,即能顯現教化眾生之用(權)。(7)漸頓,依教化之作用,有逐次引導眾生之漸(權)與立即令眾生開悟之頓(實)。(8)開合,漸是由頓開展出之差別教法(權),終遂與頓合一(實)。(9)通別,依開合之差別,所得教法之利益有普通(權)與特別(實)。(10)悉檀,因利益有差別,則分為四種悉檀。前三者屬世間門(權),後一屬出世間門(實)。 藏、通、別、圓四教各具足上列之十雙,共有四十種權實。要約而言,可歸納為自行、化他、自他三種權實。自行權實,為自內證之法,有權有實。化他權實,為教化、教導眾生之方法,有權實之區別。自他權實,謂自證與化導兩法並用。〔正法華經卷一、法華玄論卷四、摩訶止觀卷三下、止觀輔行傳弘決卷三之四、四教義卷十二、出三藏記集卷八〕(參閱「五時八教」1132、「開會」5310)
; Temporal and real; quyền referring to the conditional, functional, differential, or temporary, thật to the fundamental, absolute, or real.
; (權實) Quyền cũng gọi Thiện quyền, Quyền phương tiện, Thiện quyền phương tiện, Giả, Quyền giả, nghĩa là cái phương tiện tạm bợ được đặt ra trong nhất thời, dùng xong thì bỏ; Thực cũng gọi là Chân, Chân thực, nghĩa là cái chân thực rốt ráo không hư dối, vĩnh viễn không thay đổi. Cả 2 được ghép chung gọi là Quyền thực, Chân giả. Từ đó có những cặp dụng ngữ đối nhau như Quyền giáo và Thực giáo, Quyền trí và Thực trí, Quyền nhân và Thực nhân, Quyền quả và Thực quả, Quyền hóa và Thực hóa. Thực giáo là giáo pháp được nói ra đúng thực như pháp tự nội chứng của đức Phật, là giáo pháp căn bản tột cùng; Quyền giáo là giáo pháp phương tiện được đặt ra để dắt dẫn người vào Thực giáo, khi đã đến được cảnh giới của Thực giáo rồi thì phải bỏ Quyền giáo. Thực trí cũng gọi là Chân thực trí, Như thực trí, là trí sáng suốt như thực; Quyền trí cũng gọi là Phương tiện trí, là trí tuệ phát khởi để dắt dẫn hóa độ người khác; Thực nhân chỉ cho hạnh viên đốn; Quyền nhân chỉ cho các hạnh của Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo. Thực quả chỉ cho Đại niết bàn ngầm chứa 3 đức (pháp thân, giải thoát, bát nhã); Quyền quả chỉ cho sự hóa hiện thân vàng cao 1 trượng 6 thước. Thực nhân chỉ cho người thật, còn Quyền nhân là chỉ cho người được biến hóa ra, là do Phật, Bồ tát vì dắt dẫn, cứu độ chúng sinh mà giả hiện tướng mạo người hoặc chư thiên. Thực hóa tức là Phật giáo hóa bằng cách gom Tam thừa đưa về Nhất thừa; Quyền hóa tức là Phật giáo hóa bằng cách chia Nhất thừa ra làm Tam thừa. Tông Thiên thai cho rằng Viên giáo được nói trong kinh Pháp hoa là Thực giáo, còn Thông giáo, Tạng giáo và Biệt giáo được nói trong các kinh khác thì đều thuộc Quyền giáo, cho nên gọi là Tam quyền nhất thực(3 Quyền 1 Thực). Đứng về phương diện bản thể chứng ngộ của Phật mà nói thì Quyền giáo và Thực giáo đều bình đẳng, gọi là Quyềnthực đồng thể. Còn nói theo tác dụng giáo hóa chúng sinh của Phật thì phương pháp tu hành và trình độ giác ngộ của Quyền giáo và Thực giáo có khác nhau, cho nên gọi là uyền thực dị thể. Pháp hoa văn cú quyển 3, thượng, cho rằng có thể dùng 4 câu về quyền, thực để biểu thị trạng thái tồn tại của tất cả sự vật sư sau: -Tất cả các pháp đều là quyền; -Tất cả các pháp đều là thực. -Tất cả các pháp vừa là quyền vừa là thực, -Tất cả các pháp không phải quyền không phải thực. Thập bất nhị môn trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 có lập Quyền thực bất nhị môn, nghĩa là đứng trên lập trường của người mà nói thì 9 cõi từ Bồ tát trở xuống đến địa ngục là Quyền, còn cõi Phật là Thực, gọi là Cửu quyền nhất thực (9 quyền 1 thực); còn nói theo lập trường của giáo pháp thì tuy có chia ra Tam quyền nhất thực(3 quyền 1 thực), nhưng nên quán xét quyền thực viên dung không sai khác. [X. kinh Chính pháp hoa Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.4, Ma ha chỉ quán Q.3, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 4, Tứ giáo nghĩa Q.12; Xuất tam tạng kí tập Q.8]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo, Khai Hội).
quyền thật bất nhị môn
6896為天台宗「十不二門」之一。天台宗謂權實諸法相融、平等無二,稱為權實不二。「權實」指權假與真實。就人而言,九界為權,佛界為實。就法而言,法華經以前之四時三教為權,純圓獨妙之法華教法為實。「不二」一詞,旨在泯除權實之相對性,而彰顯其絕待究竟之理。蓋於天台所判五時之中,於前四時,尚須藉權實教法之相對性以攝引眾生;至第五法華會時,則權實相融而平等絕待,無差別相。 法華玄義釋籤卷十四(大三三‧九一九下):「權實不二門者,平等大慧常鑑法界,亦由理性九權一實,實復九界,權亦復然。權實相冥,百界一念,不可分別,任運常然。」此謂理性之凡心本圓具九權一實;即佛界之「實」具足九界之「權」,而九界之「權」亦具足佛界之「實」。由是,則權實平等,百界融泯,全在此近要之一念中,故觀一念而照三千之妙境時,即能成就初心之修觀,此乃天台宗「觀心」法門之要旨。〔法華玄義卷七、十不二門指要鈔卷下〕(參閱「十不二門」374)
; The two divisions, the provisional and the perfect are not two but complementary.
; (權實不二門) Tông Thiên thai cho rằng các pháp quyền và thực dung thông nhau, bình đẳng không hai, là 1 trong Thập bất nhị môn. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 (Đại 33, 919 hạ) nói: Quyền thực bất nhị môn, nghĩa là trí tuệ rộng lớn bình đẳng, thường chiếu rọi khắp pháp giới, cũng do lí tính 9 quyền 1 thực (tức 9 cõi từ Bồ tát đến địa ngục là quyền, chỉ có 1 cõi Phật là thực), thực ở trong 9 cõi, quyền cũng lại như thế. Quyền thực thầm hợp nhau, trăm cõi một niệm không thể tách rời, nhậm vận thường nhiên. Nghĩa là về mặt lí tính thì tâm phàm phu vốn đầy đủ 9 quyền 1 thực, tức là thực của cõi Phật có đầy đủ quyền của 9 cõi mà quyền của 9 cõi cũng đầy đủ thực của cõi Phật.Do đó, quyền và thực bình đẳng, trăm cõi dung nhiếp, hòa nhập vào nhau, hoàn toàn trong 1 niệm cần yếu này, cho nên, khi quán xét một niệm mà chiếu soi cảnh nhiệm mầu của 3 nghìn thế giới thì có thể thành tựu tu quán sơ tâm, đây là yếu chỉ của pháp môn Quán tâm của tông Thiên thai. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ]. (xt. Thập Bất Nhị Môn).
quyền thật chỉ quán
6897指天台宗之三權止觀與一實止觀。三權止觀,即佛於法華時之前所說之四時三教之三藏觀、通觀、別觀等之偏止觀;一實止觀,即佛於法華時所說之圓頓止觀。就三權止觀與一實止觀之關係而言,前者為「開」,後者為「顯」;蓋依天台宗之意,佛為顯圓頓一實止觀,故開三權止觀。 摩訶止觀卷三下(大四六‧三四上):「諸佛即一大事出世,元為圓頓一實止觀,而施三權止觀也。權非本意,意亦不在權外,祇開三權止觀而顯圓頓一實止觀也。」 佛知眾生之種種本性欲望,故以「四悉檀」而應順化度。四悉檀中,例如以「世界悉檀」隨順眾生樂欲而說三權一實之止觀:若人欲聞正因緣,即為宣說三藏觀;欲聞因緣即空之理,即為宣說通觀;欲聞歷劫修行之道,即為宣說別觀;欲聞即中之妙理,即為說圓觀。
; (權實止觀) Chỉ cho Tam quyền chỉ quán và Nhất thực chỉ quán của tông Thiên thai. Tam quyền chỉ quán là Chỉ quán thiên lệch như Tam tạng quán, Thông quán và Biệt quán trong 4 thời (Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã) 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) do đức Phật nói trước thời Pháp hoa; còn Nhất thực chỉ quán tức là Chỉ quán viên đốn mà đức Phật đã nói trong thời Pháp hoa. Đứng về phương diện quan hệ giữa Tam quyền chỉ quán và Nhất thực chỉ quán mà nói, thìpháp quán đầu là khai, pháp quán sau là hiển, theo ý tông Thiên thai, vì muốn hiển bày (hiển) Nhất thực chỉ quán nên đức Phật mở ra (khai) Tam quyền chỉ quán. Ma ha chỉ quán quyển 3, hạ (Đại 46, 34 thượng) nói: Chư Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, đó là vì hiển bày Nhất thực chỉ quán mà mở ra Tam quyền chỉ quán. Quyền chẳng phải là bản ý của Phật, mà ý cũng khôngởngoài quyền, cốt mở ra Tam quyền chỉ quán để hiển bày Nhất thực chỉ quán. Đức Phật biết bản tính ưa thích của chúng sinh, cho nên dùng Tứ tất đàn để tùy thuận hóa độ. Trong Tứ tất đàn, đức Phật dùngThế giới tất đàn thuận theo ý muốn của chúng sinh mà nói Tam quyền nhất thực chỉ quán: Nếu người muốn nghe Chính nhân duyên thì nói Tam tạng quán; nếu muốn nghe lí nhân duyên tức không thì nói Thông quán; nếu muốnnghe đạo tu hành trong nhiều kiếp thì nói Biệt quán; nếu muốn nghe diệu lí Tức trung thì nói Viên quán.
quyền thật nhị giáo
6894權教、實教之並稱。權教,又作方便教,意為權謀之教,即佛隨順眾生意,以方便權謀所施設之教門;實教,又作真實教,意為真實究竟之教,即佛隨自意內證之實義而發揮之教法。蓋總括佛教各宗各派之教說,雖皆為真實不虛之聖言,然於其中,有主張一切眾生悉有佛性,而認為眾生皆可成佛;另有主張「五性各別」,而否認定性二乘及無性有情之成佛等兩大系統。另於各經論中,法華、涅槃等經屬於前者,此即「一乘真實,三乘方便」之說;深密、瑜伽等經論屬於後者,即「三乘真實,一乘方便」之說。 天台宗依法華經立「一乘真實,三乘方便」之說,稱法華經為實教,其餘之諸經為權教;又就「部」與「教」而論其權實之別。就「教」而言,藏、通、別等三教為權,圓教為實;就「部」而言,前四時之兼、但、對、帶為權,法華時之「一實開權」為實。 三論宗認為「一性皆成」,雖亦立「一乘真實,三乘方便」之說,然不認為三乘之外別有一乘,故與天台之說相異。 法相唯識宗依深密等說主張「三乘真實,一乘方便」之說,認為法華經「唯有一乘」之說,係為引攝不定性(一類)之聲聞而方便施設者,實則眾生既有五性之別,而三乘之「教、理、行、果」亦非無別,故主張「唯有一乘」之說為方便教,而分別三乘之說乃為真實教。 華嚴宗同於天台宗,亦說三乘之外別有一佛乘之法,而喻稱門內三車為方便虛指,門外之大白牛車為真實。又於所判小、始、終、頓、圓等五教中,認為小乘為愚法二乘教,大乘始教為三乘教,此均屬於權教;而終、頓二教由於揭示「一乘一性」之故,有時雖亦稱實教,然因未說一切眾生皆具佛知見,故僅有「理性因車」而無「果性果車」,猶屬於三乘,故稱為權教;雖獨華嚴別教一乘為真實教。〔法華經卷一方便品、解深密經卷二無自性相品、法華玄義卷七上、華嚴經探玄記卷一、大乘法苑義林章卷一末、愚禿鈔卷上〕
; (權實二教) Từ gọi chung Quyền giáo và Thực giáo được ghép lại. Quyền giáo cũng gọi là Phương tiện giáo, tức là giáo môn tùy theo ý muốn của chúng sinh mà tạm thời giả đặt (quyền giả) ra để làm phương tiện giáo hóa. Thực giáo cũng gọi là Chân thực giáo, là giáo môn rốt ráo chân thực, vĩnh viễn không thay đổi, tức là giáo pháp được nói ra từ nghĩa chân thực nội chứng của Phật và theo ý của Phật. Nói một cách đại thể thì giáo thuyết của các tông, các phái trong Phật giáo tuy đều là Thánh ngôn chân thực không hư dối, nhưng trong đó có hai hệ thống lớn với chủ trương không giống nhau. Một là hệ thống chủ trương tất cả chúng sinh đều có tính Phật và thừa nhận chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Hai là hệ thống chủ trương chúng sinh có 5 loại căn tính khác nhau và phủ nhận sự thành Phật của Nhị thừa định tính và Hữu tình vô tính trong 5 loại căn tính. Nếu nói theo các kinh luận thì hệ thống 1 thuộc kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn... tức là thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện; còn hệ thống 2 thì thuộc kinh Giải thâm mật, luận Du già... tức là thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. Tông Thiên thai căn cứ theo kinh Pháp hoa mà lập thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện, gọi kinh Pháp hoa là Thực giáo, các kinh còn lại là Quyền giáo. Ngoài ra còn căn cứ vào Bộ và Giáo mà nói về sự khác nhau giữa Quyền và Thực. Tức là nói theo Giáo thì Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo là Quyền, Viên giáo là Thực; nói theoBộ thì Kiêm, Đãn, Đối, Đới thuộc 4 thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã là Quyền; Nhất thực khai quyền thuộc thời Pháp hoa là Thực. Tông Tam luận chủ trương Nhất tính giai thành, tuy cũng lập thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện, nhưng chủ trương ngoài Tam thừa không có Nhất thừa, cho nên khác với thuyết của tông Thiên thai. Tông Pháp tướng duy thức y cứ vào kinh Giải thâm mật mà chủ trương thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện, cho rằng thuyết Duy hữu nhất thừa của kinh Pháp hoa chẳng qua là phương tiện được đặt ra để dẫn dắt hàng Thanh văn bất định tính chứ thực ra thì chúng sinh vốn có 5 tính khác nhau, mà giáo, lí, hành, quả của Tam thừa cũng khác, bởi thế tông Pháp tướng duy thức chủ trương thuyết Duy hữu nhất thừa là giáo pháp phương tiện, còn thuyết Tam thừa mới là giáo pháp chân thực. Tông Hoa nghiêm thì cũng giống như tông Thiên thai, cũng chủ trương ngoài Tam thừa còn có pháp Nhất Phật thừa và cho rằng 3 xe ở trong cửa mới là phương tiện, chỉ cho các hư giả, còn xe trâu trắng lớn ở ngoài cửa mới là chân thực. Trong Ngũ giáo (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo) mà tông Hoa nghiêm phân định thì cho rằng Tiểu thừa là Ngu pháp nhị thừa giáo, Đại thừa thủy giáo là Tam thừa giáo, đều thuộc Quyền giáo; còn Đại thừa chung giáo và Đốn giáo thì vì chủ trương Nhất thừa nhất tính nên tuy có lúc cũng gọi là Thực giáo, nhưng vì không chủ trương Tất cả chúng sinh đều có tri kiến Phật, cho nên chỉ có Lí tính nhân xa chứ không có Quả tính quả xa, do đó vẫn thuộc Tam thừa, cũng là Quyền giáo; chỉ có Biệt giáo Nhất thừa của kinh Hoa nghiêm mới là Thực giáo. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Vô tự tính tướng kinh Giải thâm mật Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Ngu thốc sao Q.thượng].
Quyền thật nhị trí
權實二智; C: quánshí èrzhì; J: gonjitsu nichi; |Hai loại trí huệ chư Phật vận dụng. Thật trí (實智), hàm ý nhận thức trực tiếp thực tại như chúng đang là; quyền trí (權智), dùng chân lí tương đối và phương tiện để dẫn dắt mọi người đến chân lí.
quyền thật nhị trí
6895為「權智」與「實智」之並稱。又作權實二慧。權智,謂了知三乘權化之法,又作方便智;實智,謂了知一乘真實之法,又作真實智、如實智。「實智」屬於「體」,「權智」屬於「用」。據大乘義章卷十九載,依「對權明實」而論,了知一乘真實之法,稱為實智;了知三乘權化之法,稱為方便智。又論方便智,謂依「權巧方便」而論,實無其事,而權巧施設,故稱為方便,其中,佛有三業方便之法:(一)身巧,為化度眾生,而權現佛、獼猴、鹿、馬等各類身形。(二)口巧,實無三乘之差異,隨順眾生根機,而權說三乘之法。(三)意巧,尋念過去諸佛之善巧方便行化,我今所得道,亦應宣說三乘之法。 法華玄義卷二上(大三三‧六九三上):「佛法不出權實,是法甚深妙,難見難可了,一切眾生類,無能知佛者,即實智妙也。及佛諸餘法,亦無能測者,即佛權智妙也。如是二法,唯佛與佛,乃能究盡諸法實相。」又據同書卷三下載,權實二智可區分為七類:析法權實、體法權實、體法含中權實、體法顯中權實、別權實、別含圓權實、圓權實,而此七類權實,各開自行權實、化他權實、自行化他權實等三種,總合有二十一種權實。 此外,密教以胎藏曼荼羅之心蓮花臺為實智,八葉花瓣之開敷為權智。〔法華玄論卷四、法華玄贊卷三、大日經疏卷六、摩訶止觀卷三下〕(參閱「權實」6894)
; (權實二智) Cũng gọi Quyền thực nhị tuệ. Quyền trí và Thực trí ghép chung lại. Quyền trí cũng gọi Phương tiện trí, là trí biết rõ pháp Tam thừa quyền hóa; Thực trí, cũng gọi Chân thực trí, Như thực trí, là trí thấu suốt pháp Nhất thừa chân thực. Thực trí thuộc về thể, Quyền trí thuộc về dụng. Đại thừa nghĩa chương quyển 19 cho rằng, dựa theo Đối quyền minh thực (đối với quyền mà rõ được thực) mà luận thì trí rõ biết pháp Nhất thừa chân thực, gọi là Thực trí; còn trí thấu suốt pháp Tam thừa quyền hóa thì gọi là Phương tiện trí. Nói về Phương tiện trí cho rằng, dựa theo Quyền xảo phương tiện (Phương tiện tạm thời khéo léo) mà bàn, thực ra không có việc ấy, nhưng giả đặt một cách khéo léo, cho nên gọi là Phương tiện. Trong đó, Phật có pháp Tam nghiệp phương tiện là: 1. Thân xảo: Vì hóa độ chúng sinh mà tạm thời giả hiện các thân hình một cách khéo léo như Phật, vượn, nai, ngựa... 2. Khẩu xảo: Thực không có Tam thừa sai khác, nhưng tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà tạm nói pháp Tam thừa. 3. Ý xảo: Nghĩ về sự hành hóa phương tiện khéo léo của chư Phật quá khứ, ta nay đã đượcđạo, cũng nên tuyên thuyết pháp Tam thừa. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2, thượng (Đại 33, 693 thượng) nói: Phật pháp không ngoài quyền thực, pháp ấy rất sâu xa mầu nhiệm, khó thấy khó thấu suốt, tất cả loài chúng sinh, không thể nào biết rõ Phật, vì thực trí của Phật rất sâu xa vi diệu. Còn các pháp khác của Phật cũng không thể suy lường mà biết được, vì quyền trí của Phật rất vi diệu. Hai pháp ấy duy Phật với Phật mới có thể cùng suốt được thực tướng của chúng. Cũng Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hạ, cho rằng hai trí quyền thực có thể được chia làm 7 loại: Tích pháp quyền thực, Thể pháp quyền thực, Thể pháp hàm trung quyền thực, Thể pháp hiển trung quyền thực, Biệt quyền thực, Biệt hàm viên quyền thực và Viên quyền thực. Bảy loại quyền thực trí này mỗi loại chia ra 3 thứ: Tự hành quyền thực, Hóa tha quyền thực và Tự hành hóa tha quyền thực, tổng hợp lại có 21 loại quyền thực. Ngoài ra, Mật giáo lấy đài hoa sen ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới làm Thực trí và lấy 8 cánh sen nở rộ làm Quyền trí. [X. Pháp hoa huyền luận Q.4; Pháp hoa huyền tán Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.6; Ma ha chỉ quán Q.3 hạ]. (xt. Quyền Thực).
Quyền thật nhị trí 權實二智
[ja] ゴンジツニチ gonjitsu nichi ||| The two kinds of wisdom employed by the buddhas: The true wisdom 實智, which implies the direct perception of reality as it is, and expedient wisdom 權智, which uses relative truths and expedient means to lead people to the real truth. => Hai loại trí huệ chư Phật vận dụng. Thật trí, hàm ý nhận thức trực tiếp thực tại như chúng đang là; quyền trí 權智, dùng chân lý tương đối và phương tiện để dẫn dắt mọi người đến chân lý.
quyền thật tứ cú
6897乃天台宗為闡明權實而立之四句分別。即:(一)一切法皆權,指一切法皆有言說,而其言說乃能詮之機關;以之對所詮之實理而言,即稱權假。(二)一切法皆實,所謂真實乃在於入證,而一切言說無不以此入證之真實為本,故稱一切法皆實。(三)一切法亦權亦實,乃合前面兩句,即能詮之邊是權,所詮之邊是實;如法華經方便品說諸法實相,謂諸法為權,實相為實,而諸法即實相,其體非二,故稱亦權亦實。(四)一切法非權非實,謂一切法之體即中道妙理,乃言亡慮絕,故稱非權非實。以上分別權實四句,是為正顯法華一經破立之意。〔法華文句卷三〕
; (權實四句) Bốn câu phân biệt do tông Thiên thai lập ra để nói rõ về quyền thực. 1. Tất cả pháp đều quyền: Chỉ cho tất cả pháp đều có ngôn thuyết, mà ngôn thuyết ấy là cái cơ quan năng thuyên; đối với thực lí sở thuyên mà nói, thì đó gọi là Quyền giả. 2. Tất cả pháp đều thực: Cái chân thực chính là ở sự chứng nhập, mà tất cả ngôn thuyết đều lấy sự chân thực chứng nhập ấy làm gốc, cho nên gọi tất cả pháp đều thực. 3. Tất cả pháp vừa quyền vừa thực: Hợp 2 câu nói ở trên lại thì bên năng thuyên là Quyền; bên sở thuyên là Thực. Như phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, khi nói về thực tướng các pháp, cho rằng các pháp là Quyền, thực tướng là Thực, mà các pháp tức Thực tướng, thể của chúng chẳng phải là 2, cho nên gọi là vừa quyền vừa thực. 4. Tất cả pháp chẳng phải quyền chẳng phải thực: Thể của tất cả pháp chính là lí Trung đạo nhiệm mầu, lí này dứt bặt nói năng, cho nên gọi là chẳng phải Quyền chẳng phải Thực. Bốn câu phân biệt quyền thực trên đây chính là hiển bày yếu chỉ phá lập của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa văn cú Q.3].
quyền thật đồng thể di thể
6898天台宗謂權教與實教平等無二,稱為權實同體;反之,權教與實教各別者,稱為權實異體。其中,「權實同體」係就佛意而言,即於一佛乘分別說三乘,謂藏、通、別等前三教之權與圓教之實,乃平等無二,同為一體。「權實異體」係就隨順有情之教化作用而言,謂前三教之權與圓教之實,修證各異。〔法華文句記卷十七、四教儀集註卷上、法華玄義講述卷一〕
; (權實同體异體) Tông Thiên thai cho rằng Quyền giáo và Thực giáo là bình đẳng không hai, gọi là Quyền thực đồng thể, trái lại, Quyền giáo và Thực giáo khác nhau thì gọi là Quyền thực dị thể. Trong đó, Quyền thực đồng thể là nói theo ý của Phật, tức là từ Nhất Phật thừa mà chia ra nói thành Tam thừa, bảo rằng Quyền của Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Thực của Viên giáo là bình đẳng không hai, cùng là một thể. Còn Quyền thực dị thể là nói theo tác dụng giáo hóa tùy thuận của Phật đối với hữu tình, nghĩa là quá trình tu chứng của Tạng, Thông, Biệt, Viên đều khác nhau. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.17; Tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.1].
Quyền thật 權實
[ja] ゴンジツ gonjitsu ||| 'Expedient and True.' => Phương tiện và chân thật'.
quyền thế
Power and influence—Authority.
quyền thừa thật quả
6893為日本真言宗所說。真言宗立「十住心」之說,以前九住心為權乘,第十住心為實果。蓋真言宗以唯識、三論、華嚴、天台等諸宗為權乘(方便教)之法,其佛皆為因位之權佛,並非真佛;而以真實之佛果為第十住心之法身佛。
; (權乘實果) Thừa phương tiện và quả chân thực, do tông Chân ngôn Nhật bản chủ trương. Tông Chân ngôn lập ra thuyết Thập trụ tâm, 9 trụ tâm đầu là Quyền thừa, trụ tâm thứ 10 là Thực quả. Tông Chân ngôn cho rằng các tông Duy thức, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai...là Quyền thừa (giáo pháp phương tiện), Phật của các tông này đều là Quyền Phật của nhân vị (còn ở địa vị tu nhân), chứ chưa phải là Chân Phật, chỉ có Pháp thân Phật của Trụ tâm thứ 10 mới là Phật quả chân thực.
quyền thực
Quyền pháp và thực pháp—Temporal and real. 1) Quyền: Pháp tạm thời thích ứng với nghi cơ—Conditional—Functional—Temporary—Provisional. 2) Thực: Pháp cứu cánh bất biến—Fundamental—Absolute—Real—Perfect.
quyền thực bất nhị môn
Quyền và thực không hai, mà là bổ khuyết cho nhau—The two divisions of provisional and the perfect, are not two but complementary.
quyền thực nhị trí
Thực trí và quyền trí (Phật pháp chẳng ra khỏi quyền thực nhị trí)—The knowledge or wisdom of reality and that of relative—See Thực Trí, and Quyền Trí.
Quyền trí
權智; C: quánzhì; J: gonchi; |Trí phương tiện căn cứ trên chân lí tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lí tuyệt đối. Tương đương với nghĩa »phương tiện«.
quyền trí
Buddha-wisdom of the phenomenal, in contrast with thật trí knowledge of the fundamental or absolute.
; Phật trí hiện tượng, ngược với Phật trí tuyệt đối hay thực trí (thông đạt về thực tướng của chư pháp)—Buddha-wisdom of the phenomenal, in contrast with knowledge of the fundamental or absolute. ** For more information, please see Thực Trí.
Quyền trí 權智
[ja] ゴンチ gonchi ||| Expedient wisdom based on relative truths, which is used to guide sentient beings to the real wisdom 實智 that is based on the ultimate truth. Similar in connotation to "expedient means" 方便. 1. Trí phương tiện căn cứ trên chân lý tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lý tuyệt đối. Tương đương với nghĩa “phương tiện.”
quyền tuyệt đối
Absolute power.
quyền tích
6893乃諸佛所現之權化垂迹身。又作權跡。謂諸佛久遠劫前已成佛,為度化眾生而假迹示現,例如八相成道之釋迦如來。「權」為「實」之對稱;「迹」為「本」之對稱。法華玄義卷十上(大三三‧八○○中):「拂之以權迹,顯之以實本。」(參閱「本迹二門」1965)
; Temporary traces, evidences of the incarnation of a Buddha in human form.
; (權迹) Thân quyền hóa thùy tích do chư Phật thị hiện. Nghĩa là chư Phật vốn đã thành Phật từ rất nhiều kiếp lâu xa về trước, nhưng muốn hóa độ chúng sinh mà thị hiện thân thùy tích; như 8 tướng thành đạo của đức Phật Thích ca. Quyền là đối với Thực, Tích là đối với Bản. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, thượng (Đại 33, 800 trung) nói: Xóa hết quyền tích, hiển bày thực bản. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
quyền tự quyết
Right of self-determination.
quyền uy
Authority.
quyền điền lôi phủ
6892(1846~1934)日本真言宗僧。新潟縣人。初於豐山研習俱舍、唯識、因明,後修學密教、華嚴、天台,其後又轉修曹洞宗,復於福田行誡處受淨土教。三十二歲歸返豐山。歷任新義大學林教授、豐山派管長、豐山大學校長、大正大學校長。七十九歲至我國弘法,廣傳密教。著有密教綱要、我觀密教發達志、佛像新集、曼荼羅通解、續絃祕曲等。
; (權田雷斧) (1846-1934) Cao tăng Nhật Bản, thuộc tông Chân ngôn, người huyện Tân Tích. Ban đầu, sư nghiên cứu học tập các luận Câu xá, Duy thức, Nhân minh ở Phong sơn; sau học Mật giáo, Hoa nghiêm, Thiên thai, sau chuyển sang tu Thiền theo tông Tào động, rồi sau lại theo ngài Phúc điền Hành giớihọcTịnh độ giáo. Năm 32 tuổi, sư trở về Phong sơn, lần lượt giữ các chức Giáo sư Đại học Tân nghĩa, Quản trưởng phái Phong sơn, Hiệu trưởng Đại học Phong sơn, Đại học Đại chính. Năm 79 tuổi, sư đến Trung quốc hoằng pháp, mở rộng Mật giáo. Sư có các tác phẩm: Mật giáo cương yếu, Ngã quán Mật giáo phát đạt chí, Phật tượng tân tập, Mạn đồ la thông giải, Tục huyền bí khúc.
quyền đại thừa
6891指大乘教中權巧方便之教法。為「實大乘」之對稱。又作權教大乘、大乘權教。略稱權大。即為順機應情而方便宣說不了義、未真實之大乘教。於諸大乘宗派中,多稱本宗之教理為實法,他宗為權法。例如自天台、華嚴等一乘家之觀點而言,法相、三論等三乘家為權大乘;反之,以三乘家之觀點而言,天台、華嚴等一乘家為權大乘。〔大乘義章卷九、守護國界章卷中之上、卷下之中、選擇傳弘決疑鈔卷一〕(參閱「實大乘」5785)
; The temporary, or partial schools of Mah...y...na, the th"ng and biệt, in contrast with thật đại thừa schools which taught universal Buddhahood, e.g, Hoa nghiêm and Thiên Thai schools.
; Những trường phái “Thông” và “Biệt” giáo trong Đại thừa (Pháp Tướng và Tam Luận), đối lại với Thực Đại Thừa như những tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai, chủ trương hết thảy chúng sanh đều có khả năng thành Phật—The temporal or partial schools of Mahayana, in contrast with the schools which taught universal Buddhahood, e.g. Hua-Yen and T'ien-T'ai schools.
; (權大乘) Đối lại: Thực đại thừa. Cũng gọi Quyền giáo đại thừa, Đại thừa quyền giáo. Gọi tắt: Quyền đại. Chỉ cho giáo pháp phương tiện tạm thời trong Đại thừa giáo. Tức là vì tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà phương tiện nói Đại thừa bất liễu nghĩa, chứ chưa phải là giáo nghĩa Đại thừa chân thực. Trong các tông Đại thừa, phần nhiều tự cho giáo lí của tông mình là thực pháp, còn các tông khác là quyền pháp. Chẳng hạn, nói theo quan điểm của các tông chủ trương Nhất thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm, thì các tông chủ trương Tam thừa như Pháp tướng, Tam luận là Quyền đại thừa. Ngược lại, nói theo quan điểm của các tông chủ trương Tam thừa như Pháp tướng, Tam luận, thì các tông chủ trương Nhất thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm là Quyền đại thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.9; Thủ hộ quốc giới chương Q.trung, thượng, Q.hạ trung; Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1]. (xt. ThựcĐạiThừa).
quyền ưu tiên
Priority.
Quyền 權
[ja] ゴン gon ||| (1) Power, influence. (2) Expedient. Provisional teaching(s). (3) A weight used in steelyards. (4) To weigh, measure. (5) Equal, to equalize. => 1. Quyền lực, ảnh hưởng. 2. Phương tiện. Giáo lý tạm thời. 3. Quả cân trong cân đứng. 4. Cân, đo. 5. Ngang bằng, làm cho bằng nhau.
Quyển
[ja] カン kan ||| [Also written 卷.] (1) Roll, a roll of something. (2) An examination paper. (3) a rolled volume, scroll, fascicle. (4) To roll (up). 巻[còn viết 卷.] => 1. Cuốn, cuộn một vật. 2. Bài thi. 3. Cuộn sách, bảng danh sách, tập. 4. Cuốn lại.
quyển môn
3082爲古代建築樣式之一,佛教建築亦採用之。將牆上之門洞砌成半圓形或弧形,稱爲券門。若將橋洞砌成半圓形或弧形,稱爲拱橋,該洞則稱爲券孔或拱券。
quyển thư
3091禪林中,師家接引學人的兩種機法。卷,意即收,與「把住」同義,屬於「打破否定」之接化方法;舒,意即放,與「放行」同義,屬於「攝受肯定」之接化方法。師家依學人之根器,施設不同之教法,或收或放,予奪自在,靈活運用。若師家同時運用把住與放行兩種機法來接引學人,則稱卷舒齊唱。〔碧巖錄第三則、第五則〕
; (卷舒) Trong Thiền lâm, quyển và thư là 2 cơ pháp mà bậc thầy dùng để dẫn dắt người học. Quyển nghĩa là thu lại, nắm giữ lấy, thuộc phương pháp tiếp hóa đả phá, phủ định; Thư nghĩa là giãn ra, buông ra, thuộc phương pháp tiếp hóa nhiếp thụ, khẳng định. Bậc thầy dựa theo căn cơ, trình độ của người học mà sử dụng những phương pháp giáo hóa khác nhau, hoặc nắm giữ, hoặc buông thả, vận dụng một cách linh hoạt, tự tại để giúp người học đạt được khai ngộ.[X. Bích nham lục tắc 3, 5].
quyển tử bản
3090爲古代書籍形式之一,係將長條書頁捲起,呈圓筒狀。西方國家在極早時,已有紙草板或獸皮製成之卷子本。我國則因紙之發明,故自東漢以降,一千多年中,包括佛典在內,卷子本成爲所有書籍之標準形式。在中亞發現之卷子本,幾乎全爲中國文化熏陶下之產物,除漢文外,尚有粟特文、西藏文、回紇文、西夏文等,皆以紙張爲材料,集中於敦煌、高昌、黑水城等地,漢文卷子本占絕大部分,且許多紙張係由中國內陸運達者,書寫工具有兔毛筆、木筆、葦桿筆等。敦煌出土之抄本中,多爲漢文佛典卷子本,而於高昌一帶所發現之摩尼教、景教經典,亦爲卷子本,然似與中國卷子本不同系統。 漢文佛典卷子本,通常以漿糊連接二十至三十張紙,書籍專用之紙,長約一尺,寬約一、二尺,一尺約二十五、六公分。書寫時依一尺寬之短邊平行縱寫,亦有依長邊平行而橫寫者,以視線可及之適當長度結束一行。又各種文字之書寫方向不同,閱讀卷子本時之放置方向隨之有異,如漢文、西夏文等由右而左直寫,卷末在左邊;粟特文、回紇文等由右而左橫寫,西藏文則由左而右橫寫,卷末皆在下方。因紙張貴重,亦有以書寫過之紙的空白背面,再寫經文者。此外,卷子本間或以絲綢、布、樺皮製成。樺皮卷子本目前僅於和闐發現一卷,上書法句經,約成於二世紀頃,以流行於犍馱羅之卡羅書地文抄寫,係將若干張樺皮之左右兩端以線縫合,經文與短邊平行,由右而左橫寫,卷末在下方。推測其源流似與中國文化無關。
; (卷子本) Bản sách cuốn tròn, tức là viết chữ trên 1tờ giấy dài rồi cuốn lại thành hình ống tròn, 1 trong những hình thức đóng sách ở đời xưa. Từ rất sớm, các quốc gia phương Tây đã có Quyển tử bản bằng giấy hoặc bằng da thú. Trung quốc nhờ đã phát minh ra giấy, nên từ đời Đông Hán về sau, trong khoảng 1.000 năm, Quyển tử bản đã trở thành hình thức tiêu chuẩn cho tất cả các loại sách vở, trong đó có cả kinh điển Phật giáo. Những Quyển tử bản phát hiện được ở vùng Trung á hầu như đều là những sản phẩm dưới ảnh hưởng nền văn hóa của Trung quốc. Ngoài chữ Hán ra còn có chữ Túc đặc, chữ Tây tạng, chữ Hồi hột, chữ Tây hạ...đều được viết trên giấy, tập trung ở các khu vực Đôn hoàng, Cao xương, thành Hắc thủy...Trong đó, Quyển tử bản chữ Hán chiếm phần lớn, vả lại, giấy viết phần nhiều cũng được vận chuyển từ Trung quốc đến. Các dụng cụ để viết thì có bút lông thỏ, bút gỗ, cọng lau...Trong những bản sao đào được ở Đôn hoàng phần nhiều là Quyển tử bản kinh Phật bằng chữ Hán, còn các kinh điển của Ma ni giáo, kinh điển của Cảnh giáo tìm thấy ở Cao xương cũng là Quyển tử bản, nhưng có vẻ khác với Quyển tử bản của Trung quốc. Quyển tử bản chép kinh điển Phật bằng chữ Hán thông thường từ 20 đến 30 trang giấy được dán dính lại với nhau bằng hồ, chiều dài trang giấy khoảng 40 cm, rộng từ 40 đến 80 cm. Về chiều hướng viết và đọc thì tùy theo các loại văn tự mà có khác nhau. Như chữ Hán và chữ Tây hạ thì viết theo hàng dọc từ bên phải sang bên trái, hàng cuối cùng ở bên trái; chữ Túc đặc và chữ Hồi hột thì viết theo hàng ngang, cũng từ phải sang trái; còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải, hàng cuối cùng ở phía dưới. Vì ngày xưa giấy rất quí nên có khi người ta viết chữ vào những chỗ trắng ở mặt sau của trang giấy, giữa khoảng các dòng chữ đã viết ở mặt trước. Ngoài ra, có khi Quyển tử bản được làm bằng tơ lụa, vải thô hoặc vỏ cây Hoa. Quyển tử bản bằng vỏ cây Hoa hiện nay chỉ tìm thấy 1 quyển ở Hòa điền, đó là quyền kinh Pháp cú được sao chép vào khoảng thế kỉ II từ văn tự địa phương Ca la thuộc Kiện đà la. Hình thức quyển kinh này là 2 đầu phải và trái của những trang vỏ cây Hoa được đính lại với nhau bằng chỉ; văn kinh được viết theo chiều rộng của trang vỏ cây và viết ngang từ phải sang trái, hàng cuối cùng ở phía dưới. Qua suy đoán, nguồn gốc của Quyển tử bản này có vẻ như không dính dáng gì đến nến văn hóa của Trung Quốc.
quàn
To leave the corpse in a temporary shelter prior to burial.
quàng cổ
To wear around the neck.
quàng vai
To wear around the shoulders.
quàng xiên
To talk nonsense
quá
To pass; past; gone; transgression. error.
; 1) Lỗi: Error—Transgression. 2) Quá khứ: Past—Passed. 3) Vượt qua: To pass.
quá chừng
Exceeding—Beyond measure.
quá cố
Deceased.
quá diệt tịnh địa
Xem Càn Huệ Địa.
quá dư
Exuberant.
quá hiện vị
Quá khứ, hiện tại và vị lai—Past, present, future.
quá hiện vị lai nghiệp báo trí lực
5683如來十力之一。又作業異熟智力。謂如來對一切眾生之過去、未來、現在三世之業緣、果報、生處等,悉遍知之。(參閱「十力」361)
; (過現未來業報智力) Cũng gọi Nghiệp dị thục trí lực. Trí lực của Như lai biết rõ tất cả nghiệp duyên, quả báo, nơi sinh đến... của hết thảy chúng sinh trong 3 đời quá khứ, vị lai và hiện tại, 1 trong 10 lực của Như lai. (xt. Thập Lực).
quá hoạn đoạn
5683謂斷除煩惱之過患。又作情有斷。「功德斷」之對稱。即依始覺之智,斷除情有妄染之差別心等諸過。密教主張本無煩惱,證知之時,自成斷義,故依本覺門而行功德斷;對此,顯教依始覺門,就情有而言,以煩惱爲過患而斷除之。〔釋摩訶衍論卷三、釋摩訶衍論贊玄疏卷三〕
; (過患斷) Cũng gọi: Tình hữu đoạn. Đối lại: Công đức đoạn. Đoạn trừ quá hoạn phiền não. Tức nương vào trí Thủy giác mà đoạn trừ các lỗi lầm do tâm vọng chấp sai biệt của tình hữu tạo ra. Mật giáo chủ trương vốn không có phiền não, khi chứng biết thì tự thành nghĩa đoạn, vì thế nương vào môn Bản giác mà thực hành công đức đoạn. Trái lại, Hiển giáo thì nương vào môn Thủy giác, vì theo tình hữu thì phiền não là quá hoạn nên phải đoạn trừ. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ Q.3].
quá hạ
Cách gọi khác của an cư kiết hạ—To pass the summer, or the summer retreat—See An Cư Kiết Hạ.
quá hạn
To exceed the limit.
quá hải hoà thượng
5683即唐代僧鑑真。據唐國史補載,天寶末年,揚州僧鑑真前往日本大演教化,經黑海、蛇山,其門人稱之爲過海和尚。(參閱「鑑真」6907)
; (過海和尚) Tức là ngài Giám Chân, vị Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Đường. Cứ theo Đường quốc sử bổ, vào những năm cuối niên hiệu Thiên Bảo, Hòa thượng Giám chân ở Dương Châu, vượt qua Hắc Hải, Xà sơn đến Nhật bản để truyền bá Luật học, vì vậy, học trò của ngài tôn xưng ngài là Quá Hải Hòa thượng (Hòa thượng vượt biển). (xt. Giám Chân).
quá khích
Extremist.
quá khứ
5680梵語 atikrānta,巴利語 atikkanta。指有爲之事物作用終滅之位,即法之作用已滅之位。三世之一。又作過去世。略稱過。集異門足論卷三(大二六‧三七八下):「『過去世云何?』答:『諸行已起、已等起,已生、已等生,已轉、已現轉,已聚集,已出現,落謝過去,盡滅離變過去性、過去類、過去世攝,是謂過去世。』」此外,薩婆多部立「三世實有」,主張過去之法恆有法體;經量部與唯識大乘等則立「過(去)未(來)無體」之說,而主張過去及未來均無實體。〔雜阿含經卷三、大毘婆沙論卷七十六、瑜伽師地論卷三〕
; Attita (P), Atikkanta (P), Atikranta (S), Atita (S)đã qua.
; Passed, past.
; See Quá (2).
; (過去) Phạm: Atikrànta. Pàli:Atikkanta. Cũng gọi Quá khứ thế. Gọi tắt: Quá. Chỉ cho thời điểm mà tác dụng của sự vật hữu vi đã chấm dứt, nói cách khác, tác dụng của các pháp không còn tiếp diễn đến hiện tại, 1 trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Luận Tập dị môn túc quyển 3 (Đại 26, 378 hạ) nói: Đời quá khứ là gì? Đáp: Các hành đã khởi, đã cùng khởi, đã sinh, đã cùng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, đã tụ tập, đã xuất hiện, đã rơi vào quá khứ, đã diệt hết và biến thành tính quá khứ, loại quá khứ, thuộc về đời quá khứ, đó là đời quá khứ. Ngoài ra, Tát bà đa bộ lập thuyết Tam thế thực hữu nên chủ trương pháp quá khứ có thực thể. Còn Kinh lượng bộ và Duy thức đại thừa thì lập thuyết Quá (khứ) vị (lai) vô thể nên cho rằng quá khứ và vị lai đều không có thực thể. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; luận Đại tì bà sa Q.76; luận Du già sư địa Q.3].
quá khứ hiện tại nhân quả kinh
5681凡四卷(或五卷)。又稱過現因果經、因果經。爲劉宋求那跋陀羅所譯。收於大正藏第三冊。係採釋迦自傳之形式,說其過去世爲善慧仙人修行者,曾師事普光如來,至成佛後所說的本生之事蹟,由於此一因緣,故於現世能成就一切種智。爲漢譯經典中,極具文學價值之佛傳。此經另有繪卷形式之繪因果經(迄今流行於日本)。另有兩種同本異譯本:後漢竺大力與康孟詳所譯之修行本起經、吳‧支謙所譯之太子瑞應本起經兩卷,此二本亦收於大正藏第三冊。然開元釋教錄則謂,除上記之外,另有三種異譯本,即:後漢支曜所譯之小本起經二卷、後漢康孟詳所譯之太子本起瑞應經二卷、東晉佛陀跋陀羅所譯之過去因果經四卷,惟此三本今皆不存。〔歷代三寶紀卷四、卷七、卷十、開元釋教錄卷一、卷二、卷三、卷五〕
; (過去現在因果經) Cũng gọi Quá hiện tại nhân quả kinh, 4 quyển (hoặc 5 quyển), do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này trình bày dưới hình thức tự truyện Phật Thích ca; đời quá khứ Phật là vị tiên Thiện tuệ tu hành, thờ đức Phổ quang Như lai làm thầy, đến sau khi thành Phật, Ngài thuật lại sự tích tiền thân, nhờ nhân duyên ấy mà Ngài thành tựu được Nhất thiết chủng trí. Trong các kinh điển Hán dịch, bộ kinh này rất có giá trị về mặt văn học, còn có tên là kinh Hội nhân quả (dưới hình thức truyện tranh) hiện đang lưu hành ở Nhật bản. Ngoài ra, về các bản dịch khác của kinh này còn có: -Kinh Tu hành bản khởi, do các ngài Trúc Đại Lực và Khang Mạnh Tường cùng dịch vào đời Hậu Hán. -Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô. Cả 2 bản dịch trên cũng đều được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nhưng, theo Khai nguyên thích giáo lục thì ngoài các bản dịch ghi trên, còn có 3 bản sau: Kinh Tiểu bản khởi 2 quyển, do ngài Chi Diệu dịch vào đời Hậu Hán; kinh Thái tử bản khởi thụy ứng 2 quyển, do ngài Khang Mạnh Tường dịch vào đời Hậu Hán; kinh Quá khứ nhân quả 4 quyển, do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch vào đời Đông Tấn. Điều đáng tiếc là cả 3 bản dịch này hiện nay đều đã mất. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4, 7, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 2, 3, 5].
quá khứ hiện tại nhân quả kinh hội quyển
5681凡八卷。又作繪因果經。經卷分上、下兩段,上段爲繪圖,下段爲以每八字一行書寫之經文。流布本爲四卷,各卷又分上、下兩卷,合爲八卷。爲日本天平時期所作之繪卷遺品(稱古因果經),今已殘闕不全,其卷二前半(卷三),即使將上品蓮臺寺本,以及由此所出之久原文庫、安田家、久邇家等名收藏家所珍藏之殘闕合集仍爲不足。卷三前半(卷五)即醍醐報恩院本,爲一完備本。卷四前半(卷七)之半卷爲益田家所藏。由其寫經筆調而知彼等殘闕片斷係屬同一組;另一組即卷四後半(卷八)之藝術大學本,亦爲一完備本,另有報恩院本與內容相同之益田家本。報恩院本之近軸處有「……月七日寫書生從八位」之墨書,故知其爲天平時期之作品,而圖樣可能抄描自我國之原本。以圖繪或雕刻之形式來表示佛傳,爲印度以來佛教美術之主要題材。 此繪卷係以單純鮮明之色彩、古拙樸素之繪法所描寫成者,且將經文內容由右至左,逐漸展開,爲日本「繪卷」形式之嚆矢。近世有新因果經之稱的繪卷,乃建長六年(1254)住吉慶忍及其子聖眾丸所繪,其內容由良盛所書寫。有根津美術館藏卷二後半,益田家藏卷三後半,以及燒毀於大正年間關東大震災之內田家卷二前半、卷四後半。其形式與古因果經相同,準此推知,可能係模仿古因果經而成,然其所仿造並不忠實,類似佛教圖像式,已自創出一新格調。
; (過去現在因果經繪卷) Cũng gọi Hội nhân quả kinh. Truyện Phật bằng tranh, 8 quyển, được chia làm 2 phần thượng, hạ; phần thượng là tranh vẽ, phần hạ là văn kinh viết mỗi hàng 8 chữ. Bản được lưu hành gồm 4 quyển, mỗi quyển lại chia làm 2 quyển thượng, hạ, hợp chung lại thành 8 quyển. Kinh được vẽ vào thời kì Thiên Bình của Nhật bản (gọi là Cổ nhân quả kinh), đến nay không còn đủ bộ. Dùng hình thức hội họa hoặc điêu khắc để miêu tả truyện Phật là đề tài chủ yếu của mĩ thuật Phật giáo Ấn Độ từ xưa đến nay.
quá khứ thánh linh
Thần thức của người quá vãng—The spirit of the departed.
quá khứ thất phật
5680指出現於過去世之七佛,即:(一)毘婆尸佛(梵 Vipaśyin),(二)尸棄佛(梵 Śikhin),(三)毘舍浮佛(梵 Viśvabhū),(四)拘留孫佛(梵 Krakucchanda),(五)拘那含牟尼佛(梵 Kanakamuni),(六)迦葉佛(梵 Kāśyapa),(七)釋迦牟尼佛(梵 Sākyamuni)。於雜阿含經卷三十四、長阿含卷一大本經、增一阿含經卷四十五、賢劫經卷七、七佛父母姓字經、七佛經等諸經中,皆詳載有關此七佛之出世、族姓、父母、生子、弟子、侍者、所居之城、道場樹、初會說法眾等。〔灌頂經卷八、佛名經卷一、法苑珠林卷八〕
; The seven past Buddhas: Tỳ bà thi Vipasyin, Thi khí Sikkin,Tỳ xá phù Visvabhù, Câu lưu tôn Krakucchanda, Câu na hàm mâu ni Kanakamuni, Ca Diếp Kasyapa and Thích ca mâu ni Sakyamuni.
; The seven past Buddhas—See Thất Phật.
; (過去七佛) Chỉ cho 7 đức Phật xuất hiện ở đời quá khứ, đó là: 1. Tì bà thi Phật (Phạm:Vipazyin). 2. Thi khí Phật (Phạm:Zikhin). 3. Tì xá phù Phật (Phạm:Vizvabhù). 4. Câu lưu tôn Phật (Phạm: Krakucchanda). 5. Câu na hàm mâu ni Phật (Phạm: Kanakamuni). 6. Ca diếp Phật (Phạm:Kàzyapa). 7. Thích ca mâu ni Phật (Phạm: Sàkyamuni). Trong các kinh như: Tạp a hàm quyển 34, kinh Đại bản Trường a hàm quyển 1, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, kinh Hiền kiếp quyển 7, kinh Thất Phật phụ mẫu tự tính, kinh Thất Phật... đều có ghi rõ về sự ra đời, dòng họ, cha mẹ, con cái, đệ tử, thị giả, chỗ ở, đạo tràng, chúng hội thuyết pháp đầu tiên... của 7 Đức Phật trên. [X. kinh Quán đính Q.8; kinh Phật danh Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.8].
quá khứ thế
1) Kiếp quá khứ: The past age, or world. 2) Thời quá khứ—The past—The past time
quá khứ trang nghiêm kiếp
5681劫有大、中、小三種,現在之大劫稱賢劫,過去之大劫稱莊嚴劫,未來之大劫稱星宿劫。每一劫中,各有千佛出現。〔長阿含經卷一、大乘本生心地觀經卷一、起世因本經卷九〕
; (過去莊嚴劫) Kiếp có 3 loại: Đại kiếp, Trung kiếp, Tiểu kiếp. Đại kiếp của hiện tại gọi là Hiền kiếp; Đại kiếp của quá khứ gọi là Trang nghiêm kiếp và Đại kiếp của vị lai gọi là Tinh tú kiếp. Trong mỗi kiếp đều có 1.000 vị Phật ra đời. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Khởi nhân bản Q.9].
quá khứ trang nghiêm kiếp thiên phật danh kinh
5682全一卷。又作集諸佛大功德山經、莊嚴劫千佛名經。譯者不詳,僅知譯於南朝梁代(502~557)。收於大正藏第十四冊。於明藏中,本經與賢劫千佛名經及星宿劫千佛名經合併,以配合三世,讚歎三千佛。從本經之形式及思想觀之,概以「三世合一」來解說三世三千佛。全經羅列諸佛佛名,旨在勸教懺悔,並揭示誦讀本經者,能得如阿彌陀佛無量壽命之功德。此外,就「名詮自性」之觀點而言,一一佛名之自體乃在開陳教示其個個之理想。除一般性質之持誦外,本經亦常被用於儀禮之時。
; (過去莊嚴劫千佛名經) Cũng gọi Tập chư Phật công đức sơn kinh, Trang nghiêm kiếp thiên Phật danh kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều (không rõ dịch giả), thu trong Đại chính tạng tập 14. Trong Đại tạng đời Minh, kinh này được nhập chung với kinh Hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Tinh tú kiếp thiên Phật danh để phối hợp với 3 đời, tán thán 3.000 đức Phật. Nhận xét theo hình thức và tư tưởng của kinh này, thì đại khái dùng hình thức hợp nhất 3 đời để giải thích Tam thế tam thiên Phật. Toàn kinh liệt kê rất nhiều danh hiệu chư Phật, mục đích là để khuyên dạy sám hối và nói rõ nếu đọc tụng kinh này sẽ được công đức sống lâu vô lượng như Phật A di đà. Ngoài ra, nói theo quan điểm Danh thuyên tự tính thì tự thể Phật đã được hiển bày trong mỗi danh hiệu Phật. Ngoài việc trì tụng có tính chất phổ thông ra, kinh này cũng thường được sử dụng mỗi khi có nghi lễ, như cầu siêu độ, sám hối diệt tội...
quá khứ trướng
5681日本佛教用語。又作靈簿、點鬼簿。即死者名簿。其上載有死者之法名、生卒年月日、歲壽等,安置於寺院中。各家庭佛堂中,亦置有已逝親屬關係者之各項記載。推測其起源,或與日本鎌倉時代之墓標、位牌等不無關連。日本時宗稱之爲「往古之過去帳」,自第二祖真教(1237~1319)以來,代代祖師皆將教團中已逝僧俗信徒之法名名冊攜於身邊,每日迴向。一般而言,過去帳爲研究當時日本佛教之重要資料。
; (過去帳) Cũng gọi Linh bạ, Điểm quỉ bạ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Chỉ cho quyển sổ ghi tên người chết, tức ghi pháp danh, ngày, tháng, năm sinh và mất của người quá cố để lưu giữ trong chùa viện. Trong Phật đường của mỗi gia đình cũng có đặt bài vị ghi tên, tuổi của những người thân thuộc đã qua đời. Thời tông của Nhật Bản gọi loại sổ này là Vãng cổ quá khứ trướng, từ vị Tổ thứ 2 là ngài Chân Giáo (1237-1319) cho đến nay, các Tổ sư nhiều đời đều mang bên mình danh sách pháp danh của tín đồ tăng tục đã qua đời trong giáo đoàn để hồi hướng hàng ngày. Nói chung, Quá khứ trướng là tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản đương thời.
quá khứ trần điểm kiếp
5682喻示過去之久遠。如法華經化城喻品有「三千塵點劫」之語,即磨一三千大千世界爲墨,每經一千國土,方下一微塵,竟盡其墨,而其所經過之世界悉碎爲微塵,如是之一微塵爲一劫。此係顯示大通智勝佛滅度已來甚爲久遠。(參閱「塵點劫」5765)
; (過去塵點劫) Kiếp chấm (điểm) bụi (trần) quá khứ, ví dụ sự lâu xa đã qua. Trong phẩm Hóa thành dụ của kinh Pháp hoa có nhóm từ Tam thiên trần điểm kiếp (Kiếp chấm bụi 3 nghìn), nghĩa là đem 3 nghìn đại thiên thế giới mài thành mực, rồi cứ đi qua 1.000 quốc độ lại rỏ xuống 1 chấm mực nhỏ như hạt bụi, cho đến khi hết số mực đó; lại nghiền nát tất cả quốc độ đã trải qua thành bụi nhỏ, cứ 1 hạt bụi nhỏ như thế tính là 1 kiếp. Đó là ví dụ nói lên thời gian từ khi đức Phật Đại thông trí thắng nhập diệt đến nay cũng lâu xa như thế.
quá khứ tạng
Atita kośa (S).
quá kỳ
Vượt quá thời hạn quy định—Beyond the time.
quá lố
Excessive.
quá mạn
5683請參閱 過去現在因果經 [1]爲七慢之一。與人相等時,則謂我勝於人;若他人勝於我時,則謂我與之齊等。此等恃己凌他、貢高自大之心,稱爲過慢。(參閱「慢」5812)
; Atimāna (S)Tự cho mình hơn người hay bằng mình.
; The pride which among equals regards self as superior and among superiors as equal; one of the seven arrogances.
; Một trong thất mạn—One of the seven arrogances—See Thất Mạn (2).
; (過慢) Tâm kiêu căng tự đại, cậy mình lấn người, 1 trong 7 thứ mạn. Khi mình bằng người thì cho là mình hơn người; khi người hơn mình thì cho rằng mình bằng người. (xt. Mạn).
quá mộc kiều
5680禪宗公案名。係神山僧密與洞山良价過獨木橋時所拈提之故事。表示不固執依倚一事一物,不墮有、無二見之對待。五燈會元卷五神山僧密條(卍續一三八‧九三下):「與洞山過獨木橋,洞先過了,拈起木橋曰:『過來!』師喚:『价闍黎!』洞乃放下橋木。」蓋僧密既不執著於木橋,亦不墮於渡、不渡等對立之見解,而顯現其生動活潑之機法。〔景德傳燈錄卷十五僧密條、洞山良价禪師語錄〕
; Vượt qua độc mộc kiều (thần thức của người quá vãng phải vượt qua để tái sanh)—To cross over the single log bridge, i.e. only one string to the bow.
; (過木橋) Tên công án trong Thiền tông. Qua cây cầu độc mộc, sự tích ngài Thần sơn Tăng mật và ngài Động sơn Lương giới qua cầu. Điều Thần sơn Tăng mật trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 93 hạ) nói: Ngài Tăng mật và ngài Động sơn qua cầu độc mộc. Ngài Động sơn qua trước rồi nhấc bỗng cây cầu lên và nói: Qua đây! Ngài Tăng mật gọi: Giới xà lê! Ngài Động Sơn liền buông cây cầu xuống. [X. điều Tăng mật trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Động Sơn Lương giới thiền sư ngữ lục].
quá mức
See Quá lố.
quá ngọ bất thực
5680又作持午。佛教戒律規定出家人必須在規定之時間內進食。此段時間即從早晨以迄中午。凡超過中午之時限而進食者、稱爲非時食,爲戒律所不許。此等習慣,稱爲過午不食。其制戒之因緣,據四分律卷十四、五分律卷八等所載,迦留陀夷比丘於傍晚時入羅閱城乞食,由於光線不明,一孕婦疑爲鬼魅,驚嚇墮娠,佛陀乃制此戒。〔薩婆多毘尼毘婆沙卷七、十誦律卷十三、摩訶僧祇律卷十七〕(參閱「持齋」3821、「迦留陀夷」3964)
; (過午不食) Cũng gọi Trì ngọ. Không được ăn khi đã qua ngọ (giữa trưa). Giới luật Phật chế qui định người xuất gia không được ăn phi thời, nghĩa là không được ăn quá giữa trưa. Về lí do chế giới này, theo luật Tứ phần quyển 14 và luật Ngũ phần quyển 8, thì lúc trời chạng vạng, tỉ khưu Ca lưu đà di vào thành La duyệt khất thực, trong bóng tối nhá nhem, 1 người đàn bà có thai thấy ông, tưởng là quỉ hiện, vì bà ta sợ quá nên đã sa thai. Do đó Phật mới chế giới này. [X. Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.7; luật Thập tụng Q.13; luận Ma ha tăng kì Q.17]. (xt. Trì Trai, Ca Lưu Đà Di).
quá sức
Beyond one's strength.
quá thất
Fault, error, mistake.
quá tin
To be over confident on oneself.
quá tinh tế
Exceedingly subtle.
quá trớn
To overstep a limit.
quá tệ
Worse.
quá vãng
To pass away—To die.
quá vị vô thể
5683謂過去、未來之法,非實有之體,唯現在之法,其體實有。係大乘唯識之主張。小乘薩婆多部(即說一切有部)立「三世實有」之說,謂過去、現在、未來等三世之法體爲實有、恆有;對此,大乘唯識則立「過未無體」以破薩婆多部之說。異部宗論諭疏述記(卍續八三‧二二六上):「現有體用,可名實有。去來體用無故,並非實有;曾有當有,名去來故。」〔俱舍論卷二十、成唯識論了義燈卷四、成唯識論述記卷三末〕
; (過未無體) Pháp quá khứ, vị lai đều không có thực thể, chỉ có pháp hiện tại mới có thực thể. Đây là chủ trương của Duy thức Đại thừa. Còn Tát bà đa bộ (tức Thuyết nhất thiết hữu bộ) của Tiểu thừa thì lập thuyết Tam thế thực hữu, cho rằng 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai là có thực, là hằng hữu; đối lại, Duy thức Đại thừa lập thuyết Quá vị vô thể để phá thuyết của Tát bà đa bộ. Dị bộ tông luân luận sớ thuật kí (Vạn tục 83, 226 thượng) nói: Hiện tại có thể và dụng, được gọi là thực có; quá khứ, vị lai không có thể và dụng, nên chẳng phải thực có; đã có, sẽ có là quá khứ, vị lai. [X. luận Câu xá Q.20; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần cuối].
quá ác
Dausthalva (S). Surpassing evil; extremely evil.
; Dausthulya (skt)—Cùng hung cực ác, khuynh hướng xấu, hay sự sai lầm—Surpassing evil; extremely evil, evil tendency, or error.
quá đáng
Unduly—Excessive—Exaggerated.
quá đường
5683僧眾上齋堂用食之意。又作上當、赴堂。備用清規卷六送鉢位(卍續一一二‧五一下):「維那從前門而出,首座、都寺挂鉢過堂。」又僧眾入齋堂進食,不著不貪,是爲過堂。〔禪林象器箋叢軌門〕
; (過堂) Cũng gọi Thướng đường, Phó đường. Chư tăng lên nhà trai dùng cơm. Điều Tống bát vị trong Bị dụng thanh qui quyển 6 (Vạn tục 112, 51 hạ) nói: Duy Na đi ra cửa trước, Thủ tọa, Đô tự mang bát quá đường. Ngoài ra, chúng tăng vào nhà trai thụ thực, tâm không được tham đắm, đó là ý nghĩa quá đường. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quá độ
1) Không điều độ: Immoderate. 2) Vượt ra khỏi cảnh sanh tử: To pass from mortal life.
quá độ nhân đạo kinh
5683凡二卷。吳‧支謙譯。全稱佛說阿彌陀三耶三佛薩樓佛檀過度人道經。略稱阿彌陀經。收於大正藏第十二冊。爲與鳩摩羅什譯之小阿彌陀經區別故,又稱大阿彌陀經。係無量壽經五種現存異譯本之一。(參閱「無量壽經」5119)
; (過度人道經) Gọi đủ: Phật thuyết A di đà tam da tam. Phật tát lâu Phật đàn quá độ nhân đạo kinh. Gọi tắt: A di đà kinh. Kinh, 2 quyển, do cư sĩ Chi Khiêm dịch ở nước Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Để phân biệt với kinh Tiểu A di đà do ngài Cưu Ma La Thập dịch, kinh này còn được gọi là kinh Đại A di đà. Đây là 1 trong 5 loại bản dịch khác của kinh Vô lượng thọ hiện còn. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
Quách Am Sư Viễn
(郭庵師遠, Kakuan Shion, khoảng thế kỷ 11-12): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Quách Am (郭庵), xuất thân Hợp Xuyên (合川, Tỉnh Cam Túc), họ Lỗ (魯). Ông kế thừa dòng pháp của Đại Tùy Nguyên Tĩnh (大隨元靜) và trú tại Lương Sơn (梁山) thuộc Phủ Thường Đức (常德府, Tỉnh Hồ Nam). Tác phẩm Thập Ngưu Đồ Tụng (十牛圖頌) do ông thêm vào 10 bài tụng cho bản Mục Ngưu Đồ (牧牛圖) của Thanh Cư Hạo Thăng (清居晧昇), rất thịnh hành trong Thiền lâm Trung Quốc, Nhật Bản, v.v.
quách khánh văn
4816(1923~ )臺灣雲林人。法名山妙。畢業於佛教專修道場。民國二十八年(1939)皈依臺南竹溪寺一淨法師。氏出身於佛教家庭,樸實忠厚,獻身佛教事業,更熱心社會公益慈善事業,曾榮獲臺灣省首屆孝行特別獎之表揚。歷任北港朝天宮第三屆董事長、雲林縣佛教支會第十一至第十四屆理事長、臺灣省佛教分會第十三至第十五屆常務理事、中國佛教會第十屆監事、雲林地方法院榮譽觀護人等職。
Quách Lịnh Công
(郭令公, 697-781): tên của vị danh tướng dưới thời vua Túc Tông nhà Đường, hiệu là Trung Võ (忠武), người đã từng dẹp yên vụ loạn An Sử (安史). Do vì ông được phong làm Phần Dương Công (汾陽公) nên được gọi là Quách Phần Dương (郭汾陽), bên cạnh đó ông còn làm chức Trung Thư Lịnh (中書令) nên cũng được gọi là Quách Lịnh Công.
quách ma
Kakuan (J), Kuoan (C), Kakuan (J).
quách thị song phu
6094釋尊於拘尸那揭羅城外之娑羅林入滅後七日,迦葉方至,悲念而右繞釋尊金棺,一心敬慕,讚歎佛德。時,千輻輪相(三十二相之一)之佛足示現金棺外。後世遂以槨示雙趺表佛身出現棺外之意。〔祖庭事苑卷一、雲門錄卷上〕
; (椁示雙趺) Hai chân Phật thị hiện thò ra ngoài kim quan. Sau khi đức Phật nhập diệt ở rừng cây Sa la bên ngoài thành Câu thi na yết la được 7 ngày thì ngài Ca diếp mới đến nơi, Ngài thương nhớ đi quanh kim quan đức Thế tôn, nhất tâm kính ngưỡng, tán thán Phật đức. Lúc đó, 2 chân Phật có tướng thiên bức luân (1 trong 32 tướng) bỗng thò ra khỏi kim quan. Do sự tích này, người đời sau dùng nhóm từ Quách thị song phu để biểu thị ý nghĩa đức Phật hiện thân ra ngoài kim quan. [X. Tổ đình sự uyển Q.1; Vân môn lục Q.thượng].
quách trát phái
4816西藏佛教派別之一。索南堅參(1182~1261)於西藏江孜建郭扎寺,創立此派,以傳授密宗大手印法及除障法著稱一時。索南堅參死後,此派遂絕。
quách tượng
4816(252?~312)西晉時代之思想家。河南人,字子玄。早歲即精通老莊,結交王衍等清談之士。辯才無礙,人稱魏之王弼再世。歷任司徒掾、司空掾、太學博士、黃門侍郎等職。晉惠帝永安元年(304)之後,專致於政治而權勢大振。著有莊子注三十三卷,該書雖非完全忠實於莊子之本文,然歷來被視為各種莊子注釋書中之重要者,予我國佛教亦有極大影響。
; Guo Xiang (C)Tên một vị sư.
quái
1) Khiếm khuyết: Impediment. 2) Nguyên nhân của lo âu: Cause of anxiety. 3) Treo: To hang—To suspend.
quái chân
Treo chân dung của một vị tôn quý như Đức Phật—To hang up a picture of a Buddha.
quái dị
Strange—Peculiar.
quái kiệt
Man of exceptional talent.
quái lạ
How strange.
quái lạc
Còn gọi là Quái La, tên một loại áo cà sa ngắn (do các thiền Tăng Trung Quốc chế ra)—A short garment, or cover; a waistcoat.
quái ngại
A hindrance—An impediment.
quái niệm
Lo lắng—To be anxious about.
quái ti
(罣罳) Cũng gọi Phù ti. Vốn chỉ cho bức bình phong khắc bằng gỗ có thông ánh sáng, hoặc chỉ cho tấm lưới giăng để bắt chim; về sau được chuyển dụng để chỉ cho tấm gỗ che sau lưng chiếc ghế ngồi, hoặc chỉ cho bức màn che. Chiếc ghế sau lưng có phụ thêm tấm gỗ che, gọi là Quái ti ỷ tử. Trong Thiền lâm, quái ti thường được dùng khi thuyết pháp, phổ thuyết. Điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1120 thượng) nói: Đến ngày ấn định, thị giả nhờ vị Khách đầu bày Quái ti ỷ tử ở Phương trượng hoặc ở Pháp đường. Điều Bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1153 hạ) nói: Hành giả Đường ti bày biện pháp tòa, phía tay trái đặt Quái ti, chuẩn bị chỗ ngồi cho vị Trụ trì.
quái tích
Treo tích trượng (khi các vị sư dừng lại nơi nào nghỉ chân)—To hang up one's staff.
quái tử
Tên một loại áo cà sa—A peg for a garment.
quái đáp
Chỉ việc các vị sư dừng lại một nơi nào đó để nghỉ ngơi—To dwell in a place.
quái đơn
Vị du Tăng ghé lại chùa nghỉ qua đêm—One who hangs up all his possessions, i.e. a wandering monk who stays for the night in a monastery.
Quái 怪
[ja] カイ kai ||| (1) Strange, weird, extraordinary. (2) To regard as strange or extraordinary. => 1. Kỳ lạ, khác thường, lạ thường. 2. Nhìn như điều kỳ lạ, khác thường.
Quán
觀; S: vipaśyanā; P: vipassanā; |Nghĩa là quán sát bằng trí huệ, minh sát; có thể hiểu hai cách, đó là: 1. Phương pháp tu tập quán sát song song với tu Chỉ và 2. Kết quả, mục đích, sự trực chứng Ba tính chất của vạn sự (s: trilakṣaṇa) là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Trong Ðại thừa, quán cũng được xem là sự phân tích sự vật để tự trực nghiệm tính Không (s: śūnyatā). Kiến giải này giúp ngăn ngừa tham Ái khởi sinh. Quán là một trong hai yếu tố giúp đạt Giác ngộ, yếu tố kia là Chỉ (s: śamatha).
quán
瑜伽十三卷二十頁云:云何觀?謂或三事觀,或四行觀,或六事差別所緣觀。三事觀者:一、有相觀,二、尋求觀,三、伺察觀。四行觀者:謂於諸法中,簡擇行觀、極簡擇行觀、遍尋思行觀、遍伺察行觀。六事差別所緣觀者:一、義所緣觀,二、事所緣觀,三、相所緣觀,四、品所緣觀,五、時所緣觀,六道理所緣觀。二解瑜伽三十一卷八頁云:云何為觀?謂四行三門六事差別所緣觀行。三解瑜伽九十五卷五頁云:云何名觀?謂於內外諸大種色、及所餘蘊,正決擇慧;說名為觀。四解顯揚二卷十八頁云:觀者:謂於如所聞思法中、正修行時,由緣三摩地影像境作意故;得安三摩地故;簡擇諸法。
; Ayāna (S), Vipaśyanā (S), Vipassanā (P), Vīmaṃsā (S), Visualization(1) Quan (trong Quán chiếu, Quán đạo, Quán đạo) (2) Nhập, chứng hội Tỳ bà xá na, Quán chiếu, Minh sát tuệCòn dùng chỉ pháp thiền Nội quán.
; Vipasyana or Vidarsana (skt). I. 1) Đi xuyên qua: To pass through. 2) Rửa: To wash—To sprinkle. 3) Xỏ xâu: To thread—To string. 4) Ngẫm nghĩ cẩn thận (tế tư): Contemplation—Examination—To look into—To study—To contemplate—To contemplate and mentally enter into truth—Contemplation can be used to dispel distractions and defilements. To consider illusion and discern illusion or discerning the seeming from the real: a) Quán tình thương triệt tiêu lòng sân hận: Contemplation on love to dispel anger. b) Quán sự biết ơn và tâm hỷ triệt tiêu lòng ganh ghét: Contemplation on appreciation and rejoicing in the good qualities of others can dispel the problem of jealousy. c) Quán vô thường và niệm chết giúp giảm bớt sự tham ái: Contemplation on impermanence and death awareness can reduce covetousness. d) Quán bất tịnh giúp giảm thiểu chấp thủ: Contemplation on the impurity can help reduce attachment. e) Quán vô ngã và tánh không giúp triệt tiêu những tư tưởng xấu xa: Contemplation on non-ego (non-self) and emptiness can help eliminate (eradicate) completely all negative thoughts. II. Two kinds of contemplation: 1) Quán sự: Contemplation or meditation on the external forms of the phenomenal. 2) Quán lý: Contemplation or meditation on the real or underlying nature.
Quán (xuyến) tập
串習; C: guànxí; J: genshū;|Tập thành thói quen; phát triển thông qua hành động thường xuyên, đều đặn. Thực hành thường xuyên, thường dùng ý thức chuyên cần tu tập nhắm đến việc gieo trồng thiện căn (善根).
quán bản
6957民國僧。生卒年不詳。廣東中山人,俗姓張。法號明一。早歲專致於儒學,光緒年間中舉人,講求維新,東渡日本。中年時,深研佛典,捨家宅為功德林。年六十三,其母去世,遂出家,赴鼓山依虛雲和尚受具足戒。曾為鼓山增補各祖師傳記。世壽七十八,僧臘十六。著有香光閣集二十卷。
quán bất tư nghị cảnh
6948不思議境,指所觀之境。觀不思議境,謂觀吾人現前之一念妄心即具足三千諸法,此陰妄之心即空、即假、即中,為三諦不思議之妙境。即天台宗所立十乘觀法之第一。又作觀不可思議境、分別不思議境、善識不思議境。或作信解正因緣、信正因緣、善識不思議因緣。凡欲修觀行,必先定所觀之境,然萬法盡具三千三諦,互為融攝,無因果、迷悟之別,一一皆為不思議之妙諦。故雖悉以為所觀之境,而因萬法唯心,故特以現前之一念妄心為所觀之境。上根之人修此一法,自具十境十觀,得登初住真因之位。而中、下根之人猶不能進其行,故更令修十乘觀法中第二以下之觀行。〔摩訶止觀卷五上、四教義卷十一〕(參閱「十乘觀法」463)
; (觀不思議境) Cũng gọi Quán bất khả tưnghị cảnh, Phân biệt bất tư nghị cảnh, Thiện thức bất tư nghịch cảnh, Tín giải chính nhân duyên, Tín chính nhân duyên, Thiện thức bất tư nghịnhân duyên. Bất tư nghị cảnh là cảnh sở quán (đối tượng bị quán xét). Quán bất tư nghị cảnh nghĩa là quán xét 1 niệm vọng tâm hiện tiền của chúng ta có đủ 3 nghìn các pháp, tâm ấm vọng này tức không, tức giả, tức trung, là cảnh Tam đế mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. Đây là pháp quán thứ 1 trong 10 pháp quán do tông Thiên thai lập ra. Muốn tu quán hạnh, trước phải quyết định cảnh sở quán, nhưng muôn pháp đều có đủ 3 nghìn 3 đế, dung nhiếp lẫn nhau, không phân biệt nhân quả, mê ngộ, mỗi mỗi đều là diệu đế bất tư nghị. Bởi vậy, tuy tất cả đều là cảnh sở quán, nhưng vì vạn pháp duy tâm nên đặc biệt lấy một niệm vọng tâm hiện tiền làm cảnh sở quán. Bậc thượng căn tu 1 pháp quán này tức đầy đủ 10 pháp quán, được bước lên địa vị Sơ trụ chân nhân ...... Còn các hàng trung căn, hạ căn thì chưa thể tiến tu hạnh này nên phải tu từ quán hạnh thứ 2 trong 10 quán hạnh trở xuống. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Tứ giáo nghĩa Q.11]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
Quán bất tịnh
Bất tịnh quán (不淨觀)|Là phép quán tử thi được gọi theo kinh điển Nam truyền (Thanh tịnh đạo). Bất tịnh tưởng (nghĩ đến) cũng là quán 32 thân phần. Phép quán này là cách đối trị cái tham dục và sự thấy đảo ngược của tâm, cho là sạch đẹp những gì vốn không sạch (Ðảo kiến).
quán chiếu
6969即以智慧觀事、理諸法,而照見明了之意。又「觀照般若」則指能觀照事、理等諸法實相之理之智慧,為五種般若之一。肇論(大四五‧二一三上):「觀照般若,照事照理故。」(參閱「五種般若」1183)
; Xem Quán. Xem Minh sát tuệ.
; To be enlightened as the result of insight, or intelligent contemplation.
; Lấy trí tuệ mà soi sáng hay chiếu kiến sự lý—To reflect—To be enlightened or to enlighten as a result of insight (intelligent) contemplation. ** For more information, please see Bát Bát Nhã and Tam Bát Nhã.
; (觀照) Dùng trí tuệ quán xét các pháp sự và lí, soi thấy rõ ràng, gọi là Quán chiếu. Còn trí tuệ soi rọi rõ lí thực tướng của các pháp sự và lí, thì gọi là Quán chiếu bát nhã. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).
quán chiếu bát nhã
The prajnà or wisdom of meditative enlightenment on reality.
; Một trong ba loại Bát Nhã, lấy trí tuệ quán chiếu cái lý thực tướng hay nhờ thiền quán mà giác ngộ được chân lý—One of the three kinds of Prajna, the prajna or wisdom of meditative enlightenment on reality. ** For more information, please see Bát Nhã and Tam Bát Nhã.
quán chiếu “khổ”
1) To reflect on suffering. 2) Quán chiếu “khổ” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta mới có khả năng chấm dứt mọi chấp trước, ham muốn và dục vọng—Reflection on suffering is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we are able to end all attachments, aspirations and desires.
quán chiếu “tỉnh lặng”
1) Reflection on calmness or tranquility. 2) Quán chiếu “Tỉnh Lặng” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không khuấy rối tâm mình—Reflection on calmness is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not disturb our mind.
quán chiếu “vô ngã”
1) Reflection on No-Self. 2) Quán chiếu “Vô Ngã” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không lầm chấp vào cái ngã ảo huyền—Reflection on “No-self” is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not mistakenly attach to an illusive self.
quán chiếu “vô thường”
1) To reflect on impermanence. 2) Quán chiếu vô thường là một trong những cửa ngõ đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta mới có khả năng thấy được bộ mặt thật của những dục vọng trong nhà lửa tam giới—Reflection on impermanence is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we are able to reflect and see the real face of all the desires of the triple world burning house.
quán chí
6959五代曹洞宗僧。生卒年不詳。洪州(江西南昌)出身。幼年出家,從學於同安道丕,並嗣其法。後住建昌府(江西)同安院,大弘宗風。弟子有梁山緣觀。〔聯燈會要卷二十六、五燈會元卷十四〕
quán chúc tự
6856位於韓國忠清南道恩津郡般若山。境內有高麗光宗時(950~975),僧慧明所造之彌勒巨石像,為韓國最大之彌勒石像。彌勒像前有一石燈,係高麗期遺物中之最大者。〔東國輿地勝覽卷十八〕
quán chúng sanh
To contemplate a living beings—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh Phật đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật—According to the Vimalakiriti Sutra, Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health: • Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật: “Bồ Tát quán sát chúng sanh phải như thế nào?”—Manjusri asked Vimalakirti: “How should a Bodhisattva look at living beings?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Ví nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như âm vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt nước, như bóng nổi, như lõi cây chuối, như ánh điển chớp, như đại thứ năm, như ấm thứ sáu, như căn thứ bảy, như nhập thứ mười ba, như giới thứ mười chín. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc chất cõi vô sắc, như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu Đà Hoàn, như sự nhập thai của A Na Hàm, như tam độc của A la hán, như tham giận phá giới của Bồ Tát chứng vô sanh pháp nhẫn, như tập khí phiền não của Phật, như mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định, như dấu chim giữa hư không, như con của thạch nữ (đàn bà không sanh đẻ), như phiền não của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đã thức, như người diệt độ thọ lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.”—Vimalakirti replied: “ A Bodhisattva should look at living beings like an illusionist does at the illusory men (he has created); and like a wise man looking at the moon's reflection in water; at his own face in a mirror; at the flame of a burning fire; at the echo of a calling voice; at flying clouds in the sky; at foam in a liquid; at bubbles on water; at the (empty) core of a banana tree; at a flash of lightning; at the (non-existent) fifth element (beside the four that make the human body); at the sixth aggregate (beside the five that make a sentient being); at the seventh sense datum (beside the six objects of sense); at the thirteenth entrance (ayatana-beside the twelve involving the six organs and six sense date); at the nineteenth realm of sense (beside the eighteen dhatus or fields of sense); at form in the formless world; at the (non-existent) sprout of a charred grain of rice; at a body seen by a srota-apanna (who has wiped out the illusory body to enter the holy stream); at the entry of an Anagamin (or a non-returning Sravaka) into the womb of a woman (for rebirth); at an arhat still preserving the three poisons (of desire, anger and stupidity which he has eliminated for ever); at a Bodhisattva realizing the patient endurance of the uncreate who is still greedy, resentful and breaking the prohibitions; at a Buddha still suffering from klesa (troubles); at a blind man seeing things; at an adept who still breathes air in and out while in the state of nirvanic imperturbability; at the tracks of birds flying in the air; at the progeny of a barren woman; at the suffering of an illusory man; at a sleeping man seeing he is awake in a dream; at a devout man realizing nirvana who takes a bodily form for (another) reincarnation; and at a smokeless fire. This is how a Bodhisattva should look at living beings.”
quán cơ
Quán xét căn cơ trình độ của người học để theo đó mà dạy bảo.
quán cốt tam muội
Contemplating bone samàdhi.
quán di lặc thượng sanh đâu suất thiên kinh
Xem Di Lặc thượng sanh Kinh.
quán Duyên khởi
xem quán Mười hai nhân duyên.
quán dược vương dược thượng nhị bồ tát kinh
6972請參閱 彌勒下生經請參閱 彌勒上生經疏請參閱 彌勒上生經請參閱 彌勒上生經疏 請參閱 彌勒下生經請參閱 彌勒上生經請參閱 彌勒上生經梵名 Bhaiṣajya-rāja bhaiṣajya samudgata bodhisattva sūtra。全一卷。劉宋畺良耶舍譯。又稱觀藥王藥上菩薩經、藥王藥上經。收於大正藏第二十冊。本經內容乃敘述佛在毘耶離國青蓮華池精舍,說藥王、藥上二菩薩之功德、觀法,及過去本生等。二菩薩過去為星宿光、電光二兄弟,曾以呵梨勒醍醐良藥供養日藏比丘;以此因緣,二菩薩得以上妙法藥廣施一切眾生,滅除一切煩惱。〔出三藏記集卷四〕
; (觀藥王藥上二菩薩經) Phạm: Bhaiwajya-ràja Bhaiwajya samudgata bodhisattva sùtra. Cũng gọi Quán dược vương dược thượng bồ tát kinh, Dược vương dược thượng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương Lương Da Xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật trụ ở tinh xá Thanh liên hoa trì tại nước Tì da li nói về công đức, quán pháp và tiền thân ở quá khứcủa hai vị bồ tát Dược vương, Dược thượng. Hai vị Bồ tát này ở đời quá khứ là 2 anh em Tinh Tú Quang và Điện Quang, từng đem thuốc tốt Ha lê lặc đề hồ cúng dường tỉ khưu Nhật Tạng. Nhờ nhân duyên ấy mà 2 Bồ tát có được pháp dược thượng diệu đem bố thí rộng khắp cho hết thảy chúng sinh, diệt trừ tất cả phiền não của họ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].
quán giác
Awakening—Awareness. 1) Quán: Examination or study. 2) Giác: Awakening or awareness.
quán giải
To contemplate ultimate reality and unravel or expound it.
; Quán niệm và giải lý được chân lý—To contemplate and expound the ultimate reality.
Quán Hiền
(觀賢, Kangen, 854-925): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 9 của Đông Tự, Tọa Chủ đời thứ 4 của Cao Dã Sơn, húy là Quán Hiền (觀賢), tên lúc nhỏ là A Cổ Ma Lữ (阿古麻呂); thường gọi là Bát Nhã Tự Tăng Chánh (般若寺僧正). Ông theo Thánh Bảo (聖寶) lên kinh đô, rồi năm 872 thì xuất gia thọ giới với Chơn Nhã (眞雅), đến năm 895 thì thọ phép Quán Đảnh với Thánh Bảo ở Đông Tự. Năm 900, ông làm chức Biệt Đương của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi sáng lập ra Bát Nhã Tự (般若寺, Hannya-ji) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Đến năm 909, ông làm Tự Trưởng của Đông Tự, rồi năm sau thì làm Quyền Thiếu Tăng Đô, năm 916 thì làm Quyền Đại Tăng Đô, năm 918 làm Kiểm Hiệu của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), năm 919 làm Tọa Chủ của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), và sau được bổ nhiệm làm Tọa Chủ của Cao Dã Sơn. Cũng vào năm 919, ông thâu hồi lại được bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子) của Không Hải và đem nạp vào Tàng Kinh Các của Đông Tự. Ông được xem như là vị Tổ đời thứ 12 của Chơn Ngôn Tông. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Đại Nhật Kinh Sớ Sao (大日經疏抄) 4 quyển, Tam Thập Thiếp Sách Tử Khám Văn (三十帖册子勘文), v.v.
quán hoa
Chuỗi hoa, lời kệ tụng trong kinh gọi là “Quán Hoa” hay chuỗi hoa (lời văn trong kinh gọi là “Tán Hoa” hay hoa rời)—A string of flowers, a term for the gathas in sutras, i.e. the prose recapitulated in verse.
quán hoành
6971(1578~1645)明末僧。霸州(河北霸縣)人,俗姓趙。字顓愚。師性端凝,常念觀世音菩薩名號,求度於惠仁,止棲沙村(河北冀縣西南)。復參叩空印鎮澄、雪浪洪恩、雲棲袾宏等師。結庵於天台山華頂峰,讀楞嚴經而豁然融徹。後移住廬山、阿育王山、南嶽等地。崇禎十七年(1644),住持石城山清涼寺,遇明思宗崩,為追薦帝后諸臣,遂建道場,在金陵城北紫竹林建禪堂、殿寮、靜室等。隆武元年(1645),弘戒於天界寺。同年五月,付囑後事予弟子音乘等,隨即端坐入寂,世壽六十八。 師之著作甚豐,如心經小談、集律常軌、禮佛發願儀、首楞嚴經懸談、金剛般若略談等,門人集刻時,師自題名為閉門語,另有紫竹林顓愚和尚語錄三十卷。〔靈峰蕅益大師宗論卷八、新續高僧傳卷八〕
quán huệ
Trí tuệ quán sát thấu hiểu được chân lý—The wisdom which penetrates to ultimate reality.
quán hành
6957請參閱 如意輪菩薩念誦法 請參閱 如意心陀羅尼咒經 請參閱 如意輪菩薩念誦法觀心之行法。即觀心修行,鑒照自心以明了本性。或指觀法之行相。梵網經卷下(大二四‧一○○八下):「若不解大乘經律,若輕、若重,是非之相,不解第一義諦:習種性、長養性、不可壞性、道種性、正性,其中多少觀行,出入十禪支,一切行法,一一不得此法中意。」此外,天台圓教之行位「六即位」中之第三位即是「觀行即」。
; 1) Quán lý ở tâm rồi đích thân thực hành đúng theo lý đó—Contemplation and accordant action. 2) Pháp Quán Sát Hành Pháp của Tâm: Method of contemplating.
; (觀行) Hành pháp quán tâm. Tức là tu hành quán tâm, soi rọi tâm mình để rõ suốt bản tính; hoặc chỉ cho hành tướng của pháp quán. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1008 hạ) nói: Nếu không hiểu rõ kinh luật Đại thừa, không hiểu được các tướng khinh, trọng, thị, phi; không hiểu được các pháp tập chủng tính, trưởng dưỡng tính, bất khả hoại tính, đạo chủng tính, chính tính... trong Đệ nhất nghĩa đế, trong đó, quán hành nhiều hay ít, ra vào 10 thiền chi, tất cả hành pháp ấy đều không hiểu thì chẳng hiểu gì về ý nghĩa trong pháp này. Ngoài ra, giai vị thứ 3 trong Lục tức vị thuộc hành vị của Viên giáo trong tông Thiên thai chính là Quán hành vị.
quán hành (hạnh) phật
See Quán Hành Tức Phật and Lục Tức Phật.
quán hành giả hữu nhị chủng tịnh
瑜伽十三卷二十四頁云:又觀行者有二種淨。謂作意淨,及所依淨。於三世中,遠離愚癡,智清淨故;名作意淨。遠離三界諸煩惱品麁重法故;名所依淨。
quán hành ngũ phẩm vị
6957即天台宗所立圓教菩薩六行位(六即)中之「觀行即」。此位乃既知名字而起觀行,心觀明了,理慧相應之位,能成就五品功德:(一)隨喜品,(二)讀誦品,(三)說法品,(四)兼行六度,(五)正行六度。觀行即與八位中之五品弟子位相當,故併稱觀行五品位。(參閱「六即」1275)
; The T'ien-T'ai five stages of meditation and action.
; (觀行五品位) Chỉ cho Quán hành tức trong sáu hành vị (Lục tức) của bồ tát Viên giáo do tông Thiên Thai lập ra. Đây là giai vị đã biết danh tự mà khởi quán hành, tâm quán sáng láng, lí và tuệ ứng hợp nhau, có khả năng thành tựu 5 phẩm công đức: Tùy hỉ phẩm, Độc tụng phẩm, Thuyết pháp phẩm, Kiêm hành lục độ và Chính hành lục độ. Quán hành tức tương đương với Ngũ phẩm đệ tử vị trong 8 vị, nên được ghép chung lại mà gọi là Quán hành ngũ phẩm vị. (xt. Lục Tức).
quán hành tức phật
Quán và hành như Phật. Đây là giai đoạn thứ ba của Lục Tức Phật. Vị Bồ Tát đã đạt được ngũ phẩm Phật Địa—To contemplate and act as a Buddha. The third of the six stages of Bodhisattva developments. Any Bodhisattva or disciples who have attained to the fifth stage of Bodhisattvahood. ** For more information, please see Lục Tức Phật.
quán hơi thở
Anàprànasmrti (S), Anàpànasati (P). Mindfulness on the in-and-out breathing. Also sổ tức quán, nhập tức xuất tức niệm.
quán hư không tạng bồ tát kinh
Kuan Hsu-k'ung-tsang p'u-sa hui (C)Tên một bộ kinh.
quán hưu
4791(832~912)唐末五代僧。以詩、畫著稱於世。婺州蘭谿(浙江金華)人,俗姓姜。字德隱,一字德遠。七歲出家於金華縣和安寺圓貞座下,日誦法華經一千字,皆不忘。受具足戒後,即入浙東五洩山,修禪十年,曾參謁無相禪師;後往洪州開元寺聽講法華經及大乘起信論,皆能通達奧義。 師善繪佛像,尤工水墨羅漢。所畫羅漢相貌古野,凡濃眉大目、隆鼻突頤、顎長額闊、頸項枯槁等胡貌梵相,皆為其作品特徵,惟均託為夢中所見。又擅篆隸草書,獨具風格,時稱姜體,世人喻為唐之懷素,其詩亦頗為士林所稱譽。年少時,與同時剃染而居於鄰院之處默常隔籬論詩,互相唱和,十五、六歲時詩名已聞於遠近。唐乾寧初,嘗參謁吳越王錢鏐,並獻詩章,頗見禮重。昭宗天復(901~904)年間入蜀,前蜀蜀主王建,其子王衍均優遇之,因賜紫衣,署號「禪月大師」。嘗有句云:「一瓶一鉢垂垂老,萬水千山得得來。」故又稱「得得來和尚」。乾化二年示寂,世壽八十一。著有西嶽集,弟子曇域更其名為禪月集。〔宋高僧傳卷三十、釋氏稽古略卷三〕
; (貫休) (832-912) Cao tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ Đại, người Lan Khê, Vụ Châu (Kim Hoa, Chiết Giang), họ Khương, tự Đức Ẩn, Đức Viễn. Năm 7 tuổi, sư lễ ngài Viên Trinh xin xuất gia ở chùa Hòa An, huyện Kim Hoa. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư vào núi Ngũ Duệ ở Chiết Đông tu thiền 10 năm, từng tham yết Thiền sư Vô Tướng. Sau, sư đến chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu nghe giảng kinh Pháp hoa và luận Đại thừa khởi tín, thông hiểu hết nghĩa sâu xa. Sư nổi tiếng về thi ca và hội họa. Sư giỏi vẽ tượng Phật, nhất là tượng La hán thủy mặc. Sư vẽ tượng La hán với tướng mạo cổ lỗ, quê mùa, mi rậm, mắt to, mũi cao, má lộ, quai hàm dài, trán rộng, cổ gầy, thể hiện phong mạo người Ấn Độ, là đặc trưng tác phẩm của sư dựa vào chỗ thấy trong mộng. Sư cũng chuyên về cách viết các kiểu chữ triện, lệ, thảo với 1 phong cách độc đáo, người đời gọi lối viết chữ của sư là Khương thể và ví sư với ngài Hoài tố đời Đường; thơ của sư cũng rất được giới sĩ phu khen ngợi. Khoảng năm Thiên Phục (901-904) đời vua Chiêu Tông, sư vào đất Thục, rất được vua Thục là Vương Kiến kính trọng, ban
quán hạnh
Contemplation and (accordant) action; method of contemplating .
quán khê
Kuan chi (C).
Quán Khê Chí Nhàn
(灌溪志閑, Kankei Shikan, ?-895): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Quán Đào (館陶), Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hà Bắc), họ là Sử (史). Hồi nhỏ ông theo xuất gia với Bá Nham (柏巖), sau kế thừa dòng pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄). Ông đã từng sống tại vùng Quán Khê (灌溪), Trường Sa (長沙, Tỉnh Hồ Nam). Ông thị tịch vào ngày 29 tháng 5 năm thứ 2 niên hiệu Càn Ninh (乾寧) nhà Đường.
quán không
To regard all things as unreal, or as having no fundamental reality.
; Quán chiếu vạn hữu giai không hay không tướng của các pháp—To contemplate (regard) all things as unreal (no fundamental reality.
quán kinh
Xem Kinh Quán Vô lượng thọ Phật.
quán kinh lục duyên
6970佛陀演說觀無量壽經之六種因緣。此說乃根據善導之觀經疏序分義而定,即:(一)禁父緣,謂阿闍世太子禁錮父王,此為觀經興起之因緣。(二)禁母緣,為太子幽閉其母韋提希於七重深宮,乃佛陀為之說法之因緣。(三)厭苦緣,謂韋提希遭幽閉,厭世間苦,佛遂為說此經之緣起。(四)欣淨緣,謂韋提希遭苦惱,因而欣求安樂清淨處,得佛為說此經之因緣。(五)散善顯行緣,謂佛為說修十六觀之後三觀的三福、九品等散善(顯行),得以往生淨土之緣。(六)定善示觀緣,謂佛為說以十六觀之前十三觀之定善(觀門),得以往生極樂世界之緣。
; (觀經六緣) Sáu nhân duyên đức Phật nói kinh Quán Vô lượng thọ. Thuyết này được căn cứ vào Tự phần nghĩa trong Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo mà lập ra. Sáu nhân duyên ấy là: 1. Cấm phụ duyên: Thái tử A Xà Thế giam cấm vua cha, đó là nhân duyên Quán kinh hưng khởi. 2. Cấm mẫu duyên: Thái tử cấm cố mẫu hậu là Vi Đề Hi trong thâm cung 7 lớp cửa, đó là nhân duyên Phật nói pháp cho bà nghe. 3. Yếm khổ duyên: Bà Vi Đề Hi bị giam cầm, chán ngán nỗi khổ của thế gian, đó là nhân duyên đức Phật nói pháp cho bà nghe. 4. Hậu tịnh duyên: Bà Vi Đề Hi bị khổ não dày vò nên thích cầu về nơi an lạc thanh tịnh, đó là nhân duyên đức Phật nói kinh này.5. Tán thiện hiển hành duyên: Đức Phật nói về các pháp tán thiện (hiển hành) như Tam phúc, Cửu phẩm... trong 3 pháp quán sau cùng của Thập lục quán để được vãng sinh Tịnh độ, đó cũng là nhân duyên Phật nói kinh này. 6. Định thiện thị quán duyên: Đức Phật nói về định thiện (quán môn) do tu 13 pháp quán trước trong 16 quán để được sinh về thế giới Cực lạc, đó là nhân duyên Phật nói kinh này.
quán kinh mạn đồ la
6970請參閱 觀無量壽經疏 請參閱 觀無量壽經疏 請參閱 觀無量壽經疏 據觀無量壽經所說而描繪之淨土變相。於日本淨土教,則指當麻曼荼羅、智光曼荼羅(以上奈良期)、清海曼荼羅(平安中期),並稱為淨土三曼荼羅,為日本淨土教美術著名的淨土變相圖。
; (觀經曼荼羅) Biến tướng Tịnh độ được vẽ theo nội dung của kinh Quán Vô lượng thọ. Trong Tịnh độ giáo của Nhật bản thì Quán kinh mạn đồ la là chỉ cho Đương ma mạn đồ la, Trí quang mạn đồ la (thời đại Nại lương) và Thanh hải mạn đồ la (giữa thời kì Bình An) được gọi chung là Tịnh độ tam mạn đồ la, là tranh vẽ biến tướng Tịnh độ nổi tiếng về mĩ thuật của Tịnh độ giáo Nhật Bản.
quán kinh nghĩa sớ
Commentary on the Contemplation sŪtra Tên một bộ luận kinh.
quán kinh nghĩa sớ chính quán kí
6970請參閱 觀無量壽經疏 請參閱 觀無量壽經疏 [1]請參閱 觀無量壽經疏 凡三卷。南宋戒度撰。又稱觀無量壽經義疏正觀記、靈芝觀無量壽經義疏正觀記。略稱正觀記。收於卍續藏第三十三冊。內容係注釋宋代元照之觀無量壽經義疏,揭示(卍續三三‧一○下)「勉修正觀,頓了是心是佛」之旨趣。戒度初擬破斥道因「輔正解」之謬說,而著觀無量壽經扶新論,後又撰此記以補其不足。
; (觀經義疏正觀記) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí, Linh chiquán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí. Gọi tắt: Chính quán kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Giới Độ soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Nội dung sách này chú thích bộ Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Nguyên Chiếu đời Tống, có nêu ra ý chỉ (Vạn tục 33, 10 hạ): Gắng tu chính quán, mau rõ tâm này là Phật. Lúc đầu, ngài Giới độ định bác bỏ thuyết sai lầm Phụ chính giải của ngài Đạo nhân, nên soạn luận Quán Vô lượng thọ kinh phù tân, sau lại soạn bộ Sớ kí này để bổ túc những điểm còn thiếu sót.
quán kinh ngũ phần
6970請參閱 觀無量壽經 或 觀普賢菩薩行法經 [1]指唐代善導為解釋觀無量壽經所分列之五段科節,即:(一)序分,(二)正宗分,(三)得益分,(四)流通分,(五)耆闍會分。乃善導於解釋觀經時,除序、正、流通三分說外,所另特設之科判。〔觀經疏序分義〕
; (觀經五分) Chỉ cho 5 đoạn khoa tiết do ngài Thiện đạo đời Đường chia ra để giải thích kinh Quán Vô lượng thọ. Năm khoa tiết ấy là: Tự phần, Chính tông phần, Đắc ích phần, Lưu thông phần và Kì xà hội phần. Ngoài thuyết 3 phần Tự, Chính, Lưu thông ra, ngài Thiện đạo còn lập thêm các khoa tiết đặc biệt để giải thích Quán kinh. [X. Tự phần nghĩa trong Quán kinh sớ].
Quán Kinh Sớ
(觀經疏, Kangyōsho): tên gọi tắt của Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ (觀無量壽經疏, Kammuryōjukyōsho), 4 quyển, là bộ sách của Thiện Đạo (善導, 613-681) Trung Quốc, chú thích về Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經), một trong ba bộ kinh trọng yếu của Tịnh Độ Giáo. Nó được phân làm 4 thiếp, nên được gọi là Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ (觀經四帖疏), gọi tắt là Tứ Thiếp Sớ (四帖疏). Tại Trung Quốc, sách chú thích này không được quảng bá rộng rãi cho lắm; tuy nhiên, tại Nhật Bản, Pháp Nhiên (法然, Hōnen), Tổ khai sáng Tịnh Độ Tông, là người đầu tiên có duyên với bộ Sớ này; xem nó như là bậc thầy với quan niệm “thiên y Thiện Đạo (偏依善導, nương hẳn về phía Thiện Đạo)”. Sau này, Thân Loan (親鸞, Shinran), Tổ sư khai sáng Tịnh Độ Chơn Tông, cũng xem như là “Thiện Đạo độc minh Phật chánh ý (善導獨明佛正意, chỉ một mình Thiện Đạo làm sáng tỏ chánh ý của Phật)” và đã ca tụng bộ Sớ này trong bài Chánh Tín Niệm Phật Kệ (正信念佛偈) của ông. Như vậy, thư tịch này đã tạo ảnh hưởng rất to lớn trong việc hình thành tư tưởng Tịnh Độ của Nhật Bản. Bộ này chia làm 4 quyển: (1) Quyển 1: Quán Kinh Huyền Nghĩa Phần (觀經玄義分), thuật rõ ý nghĩa của Quán Vô Lượng Thọ Kinh, đầu tiên có bài kệ tụng Quy Tam Bảo Kệ (歸三寶偈), rồi chia thành 7 phần để giải thích rõ cách nhìn đối với kinh điển. (2) Quyển 2: Quán Kinh Tự Phần Nghĩa (觀經序分義), chú thích về phần tựa của kinh. (3) Quyển 3: Quán Kinh Chánh Tông Phần Định Thiện Nghĩa (觀經正宗分定善義), chú thích về Định Thiện Thập Tam Quán (定善十三觀) trong phần Chánh Tông. (4) Quyển 4: Quán Kinh Chánh Tông Phần Tán Thiện Nghĩa (觀經正宗分散善義), chú thích các phần Đắc Ích (得益), Lưu Thông (流通), Kì Xà (耆闍) trong phần Chánh Tông và thêm phần Bạt Hậu.
quán long tự
6972位於韓國慶尚南道昌寧郡昌樂面玉泉里火旺山中。創立年代不詳。李氏朝鮮宣祖四十一年(1607),沙門靈雲再建大雄殿,性允造佛像。其後,歷代迭行修葺。今存大雄殿、小門、圓音閣、僧室、冥府殿、山靈閣、藥師殿、石塔、石墻等。 據寺傳所載,本寺之藥師殿為六朝時代之建築,然推斷應係新羅末期至高麗初期間所建,此可由其與大雄殿同具朝鮮初期佛寺建築之特徵得知。〔東國輿地勝覽、火王山觀龍寺事蹟、朝鮮禪宗伽藍(藤島亥治郎,建築雜誌卷五三五)〕
quán luyện huân tu
6971為觀禪、練禪、薰禪、修禪之總稱。禪(身心統一、平靜之狀態)有世間禪、出世間禪與出世間上上禪等三種,其中出世間禪有觀、練、薰、修等四種階段之禪。(一)觀禪,指明白觀照對象之禪,即觀不淨等境以破淫欲等念;如九想、八背捨、八勝處、十一切處等。(二)練禪,指將觀禪境界再作進一步之鍛練淨化之禪,即以無漏禪練諸有漏禪,猶如練金;如九次第定。(三)薰禪,指將前一境界更作進一步薰習純熟,而開拓自在之境地,即能徧薰熟諸禪,悉皆通利,轉變自在;如獅子奮迅三昧。(四)修禪,即將前面之境界再作進一步之修治,而增長其功德,即超入超出順逆自在之禪;如超越三昧。修禪為出世間禪之最高境界,故亦稱頂禪。〔釋禪波羅蜜次第法門卷十、法華玄義卷四上〕
; (觀練熏修) Từ ngữ gọi chung Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền và Tu thiền. Thiền có 3 loại: Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền. Trong đó, Xuất thế gian thiền là thiền có 4 giai đoạn: Quán, Luyện, Huân, Tu. 1. Quán thiền: Chỉ cho thiền có đối tượng quán chiếu rõ ràng, tức quán tưởng những cảnh bất tịnh để phá trừ ý nghĩa dâm dục; như Cửu tưởng, Bát bội xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... 2. Luyện thiền: Chỉ cho loại thiền đem cảnh giới thiền quán tiến lên bước nữa tôi luyện làm cho trong sạch, tức dùng thiền vô lậu tôi luyện các thiền hữu lậu, giống như luyện vàng; như Cửu thứ đệ định (9 định thứ đệ). 3. Huân thiền: Chỉ cho thiền lại đem 1 cảnh giới trước tiến lên bước nữa huân tập (xông ướp) cho thuần thục để mở ra cảnh địa tự tại, tức có khả năng huân tập khắp các thiền làm cho đều thuần thục, đều thông lợi, chuyển biến tự tại; như tam muội Sư tử phấn tấn. 4. Tu thiền: Chỉ cho thiền lại đem cảnh giới ở trước tiến lên bước nữa mà tu trị để tăng trưởng công đức, tức là thiền xuất nhập, thuận nghịch đều siêu việt tự tại; như tam muội Siêu việt. Tu thiền là cảnh giới thiền xuất thế gian cao nhất, nên cũng được gọi là Đính thiền. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.10; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 thượng].
quán lạp
6856灌,謂浴佛;臘,指夏安居期滿之日。每年七月十五夏滿之日舉行灌佛之儀式,稱為灌臘。
; Hàng năm cứ đến ngày Hạ Mãn, tức rằm tháng bảy âm lịch, các tự viện đều cử hành nghi thức “quán lạp” hay tắm Phật—The washing of the Buddha's image at the end of the monastic year, or the end of summer, usually the 15th of the seventh lunar month.
; (灌臘) Quán là tắm Phật; Lạp chỉ cho ngày mãn hạ an cư. Ngày mãn hạ 15 tháng 7 âm lịch hàng năm cử hành nghi thức tắm Phật, gọi là Quán lạp.
quán lặc
6965請參閱 觀心食法七世紀之百濟僧。生卒年不詳。推古天皇十年(602)至日本,居於元興寺。長於天文、曆數、地理、方術之學。當檢校僧尼之制度初行時,被任為最高位之僧正。〔本朝高僧傳卷一〕
quán môn
Contemplation or meditation as one of the two methods of entry into truth, i.e. instruction and meditation; also one of the lục diệu môn
; 1) Thiền quán là một trong hai môn giáo quán để thấu triệt chân lý: Contemplation or meditation as one of the two methods of entry into the truth. 2) Thiền quán cũng còn là một trong sáu “Diệu Môn” cho người tu Phật: Contemplation or meditation is also one of the six wonderful strategies or doors for Buddhist cultivators. ** For more information, please see Lục Diệu Môn.
quán môn thập pháp giới
To contemplate on the ten dharma realms—See Thập Pháp Giới.
quán Mười hai nhân duyên
(Thập nhị nhân duyên quán): còn gọi là quán Duyên khởi (Duyên khởi quán), nghĩa là hành giả quán chiếu sự sanh khởi của tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà có, thảy đều không có thật tướng, thật tánh.
quán nhân duyên
To penetrate the concept of Nidanic causation.
quán nhân nhi xả
瑜伽五十七卷十八頁云:當知觀人、二時差別。一、攝受時,二、處置時。於攝受時,應以五相、觀察其人,然後攝受。一、由歸誠,二、由技能,三、由智慧,四、由行迹,五、由廉儉。於處置時,亦以五相觀察其人,然後處置。一、堪處事業,置事業中。二、堪處思業,置思業中。三、堪處和業,置和業中。四、堪處護身財業,置護身財業中。五、堪處法業,置法業中。捨略有五。一、田地捨,二、財物捨,三、隨宜捨,四、飲食捨,五、最勝捨。此中捨相、捨具、名捨。
quán nhân nhị thời sai biệt
如觀人而捨中說。
quán niệm
To look into and think over, contemplate and ponder.
; Nhìn vào sự vật để quán tưởng—To look into (things) and think over—To contemplate and ponder.
quán niệm hơi thở
Ānāprānasmṛti (S), Ānāpānasati (P), Mindfullness of In- and Out-breathing, Mindfulness of breathing.
quán niệm luận
6960佛教諸宗派,如唯識、華嚴等宗,認為宇宙係由心所變現,若離心則一切萬法亦不復存在,故有所謂「三界唯一心,心外無別法」、「唯識無境」等語。由於強調唯心或唯識之說,故佛教往往被西方哲學界評為既是觀念論亦是唯心論。然佛教之所以強調唯心,係站在主體之實踐方面而言,非如一般之唯心存在論者認為「心為唯一實在」之論點;同時佛教經典更常論及心與外在之事物皆無自性,皆為空。天台大師智顗於摩訶止觀闡述「一念三千」之教義時曾強調,若認為此際之一念為實在,或三千世界為實在,皆是偏頗之見解,而應從「一念即三千,三千即一念」相互依存之關係來體悟中道之理。(參閱「唯心」4420)
; (觀念論) Trong Phật giáo có các tông như tông Duy thức, tông Hoa nghiêm... chủ trương vũ trụ là do tâm biến hiện, nếu lìa tâm thì tất cả muôn pháp cũng không tồn tại, cho nên có các câu nói như: Ba cõi duy nhất tâm, ngoài tâm không pháp khác, Chỉ có thức không có cảnh... Do nhấn mạnh thuyết Duy tâm hoặc Duy thức nên Phật giáo thường được giới triết học phương Tây xem là Quan niệm luận hoặc Duy tâm luận. Nhưng, Phật giáo nhấn mạnh duy tâm là nói về phương diện chủ thể thực tiễn, chứ không giống như luận điểm của các nhà Duy tâm tồn tại luận chủ trương tâm là thực tại duy nhất. Vả lại, Phật giáo cũng thường nói tâm và sự vật ngoài tâm đều không có tự tính, đều là không. Trong Ma ha chỉ quán, Đại sư Trí khải tông Thiên thai, khi giải thích về giáo nghĩa Nhất niệm tam thiên (Một niệm ba nghìn), từng nhấn mạnh, nếu cho rằng một niệm lúc này là thực tại, hoặc 3 nghìn thế giới là thực tại, thì đều là kiến giải thiên lệch; mà phải nhận xét từ quan hệ hỗ tương y tồn (nương vào nhau mà tồn tại) của Một niệm tức ba nghìn, ba nghìn tức một niệm để thể ngộ lí Trung đạo. (xt. Duy Tâm).
quán niệm niệm phật
6959凝神專意念佛之意。即觀察憶念佛身相好光明及法身實相等,而以口稱名念佛。此種念佛須止心之散亂,拂除妄念,觀念佛之相好等,故稱觀念念佛。通常指憶念阿彌陀佛而言。六念、十念中所舉之念佛,均屬觀念念佛。廬山慧遠、天台智顗、四明知禮等諸師亦皆唱導觀念念佛,或觀佛之相好、觀佛之功德法、觀佛之法身、實相等;主張不堪修觀者修口稱念佛,口稱念佛又分為觀與無觀兩種,觀念念佛係相對於無觀之口稱念佛而言。而念佛主要仍以觀念為主、為勝。(參閱「念佛」3208)
; See Quán Tưởng Niệm Phật.
; (觀念念佛) Chuyên tâm lắng ý niệm Phật. Tức quán xét tưởng niệm tướng hảo, ánh sáng của thân Phật và thực tướng pháp thân, dùng miệng xưng danh niệm Phật. Cách niệm Phật này phải dứt tâm tán loạn, đoạn trừ vọng niệm, quán niệm tướng hảo của Phật... nên gọi là Quán niệm niệm Phật, thông thường chỉ cho tưởng niệm Phật A di đà. Niệm Phật nói trong 6 niệm, 10 niệm đều thuộc Quán niệm niệm Phật. Các ngài Lô sơn Tuệ viễn, Thiên thai Trí khải, Tứ minh Tri lễ... cũng đều đề xướng quán niệm niệm Phật, hoặc quán xét tướng hảo của Phật, quán công đức, quán pháp thân của Phật, quán thực tướng của Phật... và chủ trương nếu người không thể tu quán thì nên tu khẩu xưng niệm Phật. Khẩu xưng niệm Phật cũng chia làm 2 thứ: Quán và Vô quán. Quán niệm niệm Phật là đối lại với Khẩu xưng niệm Phật của Vô quán. Nhưng niệm Phật chủ yếu vẫn lấy quán niệm làm chính. (xt. Niệm Phật).
quán niệm pháp môn
6959請參閱 觀念法門 請參閱 觀念法門全一卷。唐代善導著。又稱觀念阿彌陀佛相海三昧功德法門、觀念阿彌陀集。收於大正藏第四十七冊。本書敘述觀、念阿彌陀佛之行相作法及功德。其內容分為三段,先示三昧行相,次示五緣功德,後勸人修行。注釋書有證空之觀念法門觀門要義鈔三卷、良忠之觀念法門私記二卷、聖聰之觀念法門見聞二卷等。
; (觀念法門) Cũng gọi Quán niệm A di đà Phật tướng hải tam muội công đức pháp môn, Quán niệm A di đà tập. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Sách này trình bày về quán niệm, hành tướng tác pháp và công đức của Phật A di đà. Nội dung chia làm 3 đoạn: Trước nói rõ hành tướng tam muội, kế đến nói về công đức của 5 duyên, sau cùng khuyên người tu hành. Sách chú thích có: Quán niệm pháp môn quán môn yếu nghĩa sao 3 quyển của ngài Không Chứng, Quán niệm pháp môn Kiến văn 2 quyển của ngài Thánh Thông, Quán niệm pháp môn tư kí 2 quyển của ngài Lương Trung.
quán pháp
6960請參閱 觀所緣緣論釋 [1]請參閱 觀所緣緣論釋 觀想真理之方法,為佛教一般之實踐法門。類似用語有觀、修觀、觀念、觀想、觀行、觀察、觀門等,總稱觀法。觀,梵語 vipaśyanā,音譯毘鉢舍那,意即以智慧專心觀想佛或法等特定對象,而致力於證悟。例如日想觀、月輪觀、九想觀等,皆是心中有一具體之對象來作觀,為初步之觀法。後更進一步透過此類具象而觀想深奧之教義或佛教哲理。 諸經論對於觀之論述甚多,如大安般守意經、陰持入經、修行道地經、禪要經、內身觀章句經、法觀經、身觀經、禪祕要法經、坐禪三昧經、菩薩訶色欲法經、禪法要解、思惟略要法、達摩多羅禪經、五門禪經要用法等,皆闡釋觀法。觀之種類繁多,方法、目的亦各異,茲列舉較具代表性之觀法於下:(一)原始佛教所強調有關四諦、十二因緣等之觀法,如觀四諦,稱四諦觀;觀十二因緣,稱十二因緣觀;觀入出息,稱數息觀;觀身不淨,稱不淨觀;觀諸行無常,稱無常觀;觀諸法無我,稱無我觀;觀四非常,稱非常觀;觀五停心,稱五停心觀;觀四念處,稱四念處觀。(二)分析色、心諸法為空之觀法,於小乘方面,如觀空,稱空觀;觀生空,稱生空觀;觀法空,稱法空觀;析色為空,稱析空觀。於大乘方面,如體達諸法當體即空,稱體空觀;觀勝義皆空,稱勝義皆空觀。(三)天台宗關於空、假、中三諦之觀法,如觀假,稱假觀;觀由假入空,稱二諦觀;觀由空入假,稱平等觀;觀中道第一義諦,稱中道觀;次第修三觀,稱次第觀;於一心觀三諦,稱一心三觀。(四)華嚴宗有關諸法實相之觀法,如觀實相,稱實相觀;觀四法界,稱四法界觀。(五)法相宗有關三界唯心之觀法,如觀五重唯識,稱五重唯識觀。(六)三論宗之重要觀法,如觀八不中道,稱八不中道觀。(七)真言宗之重要觀法,如觀淨菩提心之五相,稱五相成身觀;觀阿字,稱阿字觀。(八)淨土宗之重要觀法,如觀月輪,稱月輪觀;觀水,稱水想觀;觀淨土之地,稱地觀;觀華座,稱華座觀;觀像,稱像觀;觀佛之真身,稱真身觀;觀應身,稱應身觀;觀身之總相,稱總相觀;觀別相,稱別相觀。 又觀與止(梵 śamatha,奢摩他,即心凝定於一對境,並屏息想念之功夫)相對,唯中道觀雖亦稱為觀,然其為止觀雙運,即合於捨(梵 upekṣā,優畢叉)之義;故上述諸觀雖概稱為毘鉢舍那,然中道觀則有不同之義。 又被觀之對境,稱觀境;作觀之智慧,稱觀智或觀慧;思惟真理而解了其意,謂之觀解;觀諸法無礙而達其三諦圓融不思議之妙理,謂之觀達。此外,天台宗所說之觀,有「一念三千」、「一心三觀」等,即觀自心之本性,故又稱觀心;華嚴宗以觀為通入悟境之道,故稱觀道。〔北本大般涅槃經卷三十一、往生論、俱舍論卷二十八、瑜伽師地論卷四十五、往生論註卷下、華嚴經探玄記卷十、摩訶止觀卷三上、大乘義章卷十〕
; Methods of contemplation, or obtaining of insight into truth.
; Contemplation of mind-objects. (A) Phép quán niệm chân lý ở tâm—Methods of contemplation (obtaining of insight into truth). (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán pháp' như sau—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about 'contemplation of mind-objects' as follows: 1) Năm Triền Cái—The Five Hindrance: Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái (năm món ngăn che). Và nầy các Tỳ Kheo, thế nào là các Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects? Here a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances? A Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects both internally and externally. Or else he abides contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there are mind-objects' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. a) Nầy các Tỳ Kheo, ở đây nội tâm Tỳ Kheo có ái dục, vị ấy ý thức rằng nội tâm của mình đang có ái dục. Khi nội tâm không có ái dục, vị ấy ý thức rằng nội tâm của mình không có ái dục. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã sanh, vị ấy ý thức được sự đã sanh khởi ấy. Khi ái dục đang được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức như vậy—Here, there being sensual desire in him, a Bhikkhu understands: “There is sensual desire in me;” or there being no sensual desire in him, he understands: “There is no sensual desire in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen sensual desire, and how there comes to be the abandoning of arisen sensual desire, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sensual desire. b) Khi nội tâm có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang có sân hận. Khi nội tâm không có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang không có sân hận. Khi một niệm sân hận chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự bắt đầu sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã sanh khởi, nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được đoạn diệt và tương lai không còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being ill-will in him, a Bhikkhu understands: “There is ill-will in me;” or there being no ill-will in him, he understands: “There is no ill-will in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen ill-will, and how there comes to be the abandoning of arisen ill-will, and how there comes to be the future non-arising of abandoned ill-will. c) Khi nội tâm có hôn trầm thụy miên (mê muội và buồn ngủ), vị ấy ý thức được sự hôn trầm thụy miên ấy. Khi nội tâm không có hôn trầm thụy miên, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang không có hôn trầm thụy miên. Khi hôn trầm và thụy miên chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đang đoạn diệt ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã được đoạn diệt và tương lai không thể sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được điều đó—There being sloth and torpor in him, a Bhikkhu understands: “There are sloth and torpor in me;” or there being no sloth and torpor in him, he understands: “There are no sloth and torpor in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen sloth and torpor, and how there comes to be the abandoning of arisen sloth and torpor, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sloth and torpor. d) Khi nội tâm có trạo hối (sự dao động bất an và hối hận), vị ấy ý thức rằng mình đang có dao động bất an và hối hận. Khi nội tâm không có dao động bất an và hối hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang không có sự dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận sanh khởi, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang sanh khởi dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với dao động bất an và hối hận đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being restlessness and remorse in him, a Bhikkhu understands: “There are restlessness and remorse in me;” or there being no restlessness and remorse in him, he understands: “There are no restlessness and remorse in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen restlessness and remorse, and how there comes to be the abandoning of arisen restlessness and remorse, and how there comes to be the future non-arising of abandoned restlessness and remorse. e) Khi nội tâm có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang có nghi. Khi nội tâm không có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm mình đang không có nghi. Khi nội tâm với nghi chưa sanh nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being doubt in him, a Bhikkhu understands: “There is doubt in me;” or there being no doubt in him, he understands: “There is no doubt in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen doubt, and how there comes to be the abandoning of arisen doubt, and how there comes to be the future non-arising of abandoned doubt. 2) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với ngũ uẩn. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán chiếu như sau: Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging? Here a Bhikkhu understands: a) Đây là sắc (hình thể), đây là sắc tập (sự phát sinh ra hình thể), đây là sắc diệt—Such is material form, such its origin, such its disappearance. b) Đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt—Such is feeling, such its origin, such its disappearance. c) Đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt—Such is perception, such its origin, such its disappearance. d) Đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt—Such are the formations, such their origin, such their disappearance. e) Đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt—Such is consciousness, such its origin, such its disappearance. 3) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal and external bases. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal and external bases? a) Vị ấy ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc và về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh nay được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the eye, he understands forms, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. b) Vị ấy ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh và về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh, nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the ear, he understands sounds, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. c) Vị ấy ý thức về lổ mũi và đối tượng của mũi là mùi hương và những ràng buộc tạo nên do lổ mũi và mùi hương. Vị nầy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh và đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the nose, he understands odours, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. • Vị ấy ý thức về cái lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm và những ràng buộc tạo nên do cái lưỡi và vị nếm. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa— Here a Bhikkhu understands the tongue, he understands flavours, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. d) Vị ấy ý thức về thân và đối tượng của thân là sự xúc chạm. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang được sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn tận. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the body, he understands tangibles, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. e) Vị ấy ý thức về đối tượng của ý là tư tưởng và về những ràng buộc tạo nên do ý là tư tưởng. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the mind, he understands mind-objects, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. 4) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên pháp đối với thất giác chi. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên pháp đối với thất giác chi?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment factors. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment factors? a) Khi nội tâm có niệm giác chi (yếu tố chánh niệm), vị ấy ý thức là mình có chánh niệm. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có chánh niệm. Vị ấy ý thức về chánh niệm chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn—Here, there being the mindfulness enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the mindfulness enlightenment factor in me;” or there being no mindfulness enlightenment factor in him, he understands: “There is no mindfulness enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen mindfulness enlightenment factor, and how the arisen mindfulness enlightenment factor comes to fulfilment by development. b) Khi nội tâm có trạch giác chi (giám định đúng sai thiện ác). Vị ấy ý thức là mình đang có sự phân định đúng sai thiện ác. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự giám định đúng sai thiện ác. Khi không có sự giám định, vị ấy ý thức là mình đang không có sự giám định. Vị ấy ý thức về một sự giám định chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về một sự giám định đã sanh khởi nay đang thành tựu viên mãn—Here, there being the investigation-of-states enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the investigation-of-states enlightenment factor in me;” or there being no investigation-of-states enlightenment factor in him, he understands: “There is no investigation-of-states enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen investigation-of-states enlightenment factor, and how the arisen investigation-of-states enlightenment factor comes to fulfilment by development. c) Khi nội tâm có tinh tấn giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có sự tinh chuyên. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự tinh chuyên. Khi nội tâm không có sự tinh chuyên, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có sự tinh chuyên. Vị ấy ý thức về một sự tinh chuyên chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự tinh chuyên đã sanh khởi nay đang đi đến thành tựu viên mãn— Here, there being the energy enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the energy enlightenment factor in me;” or there being no energy enlightenment factor in him, he understands: “There is no enegy enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen energy enlightenment factor, and how the arisen energy enlightenment factor comes to fulfilment by development. d) Khi nội tâm có hỷ giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có an vui. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang an vui. Khi nội tâm không có an vui, vị ấy ý thức là mình đang không có an vui. Vị ấy ý thức về niềm an vui chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về niềm an vui đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the rapture enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the rapture enlightenment factor in me;” or there being no rapture enlightenment factor in him, he understands: “There is no rapture enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen rapture enlightenment factor, and how the arisen rapture enlightenment factor comes to fulfilment by development. e) Khi nội tâm có khinh an giác chi, vị ấy ý thức tâm mình đang có khinh an (nhẹ nhõm). Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có khinh an. Khi nội tâm không có khinh an, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình không có sự khinh an. Vị ấy ý thức về sự khinh an chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự khinh an đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the tranquility enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the tranquility enlightenment factor in me;” or there being no tranquility enlightenment factor in him, he understands: “There is no tranquility enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen tranquility enlightenment factor, and how the arisen tranquility enlightenment factor comes to fulfilment by development. f) Khi nội tâm có định giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có định. Khi nội tâm không có định, vị ấy ý thức là mình đang không có định. Khi định chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức như vậy. Khi định đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn, vị ấy cũng ý thức như vậy—Here, there being the concentration enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the concentration enlightenment factor in me;” or there being no concentration enlightenment factor in him, he understands: “There is no concentration enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen concentration enlightenment factor, and how the arisen concentration enlightenment factor comes to fulfilment by development. g) Khi nội tâm có xả giác chi, vị ấy ý thức là mình đang buông xả. Vị ấy quán chiếu là tâm mình có buông xả. Khi nội tâm không có sự buông xả, vị ấy ý thức là tâm mình đang không có sự buông xả. Vị ấy ý thức về sự buông xả chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự buông xả đã sanh khởi, nay đang đi đế sự thành tựu viên mãn—Here, there being the equanimity enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the equanimity enlightenment factor in me;” or there being no equanimity enlightenment factor in him, he understands: “There is no equamity enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen equanimity enlightenment factor, and how the arisen equanimity enlightenment factor comes to fulfilment by development. 5) Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với Tứ Diệu Đế. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao quý? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo ý thức: “Khi sự kiện là đau khổ, vị ấy quán niệm đây là đau khổ. Khi sự kiện là nguyên nhân tạo thành đau khổ, vị ấy quán niệm đây là nguyên nhân tạo thành sự đau khổ. Khi sự kiện là sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán chiếu đây là sự chấm dứt khổ đau. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán niệm đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths? Here a Bhikkhu understands as it actually is: “This is suffering;” he understands as it actually is: “This is the origin of suffering;” he understands as it actually is: “This is the cessation of suffering;” he understands as it actually is: “This is the way leading to the cessation of suffering.” *** For more information, please see Quán Tâm, Lục Quán Pháp, and Chỉ Quán.
; (觀法) Phương pháp quán tưởng chân lí, là pháp môn thực hành phổ thông của Phật giáo. Những dụng ngữ đồng loại có: Quán, tu quán, quán niệm, quán tưởng, quán hành, quán sát, quán môn... gọi chung là Quán pháp. Quán (Phạm: Vipazyanà; Hán âm: Tì bát xá na), nghĩa là dùng trí tuệ chuyên tâm quán tưởng một đối tượng đặc biệt nhất định như Phật hoặc pháp... và dốc toàn lực vào việc chứng ngộ. Chẳng hạn như Nhật tưởng quán (quán tưởng mặt trời), Nguyệt luân quán (quán tưởng mặt trăng), Cửu tưởng quán... đều là quán tưởng 1 đối tượng cụ thể trong tâm, đây là pháp quán bước đầu. Sau đó lại tiến thêm bước nữa là thông qua đối tượng cụ thể ấy để quán tưởng giáo nghĩa sâu xa hoặc triết lí của Phật giáo. Các kinh luận có bàn nói rất nhiều về Quán, như kinh Đại an ban thủ ý, kinh Ấm trì nhập, kinh Tu hành đạo địa, kinh Thiền yếu, kinh Nội thân quán chương cú, kinh Pháp quán, kinh Thân quán, kinh Thiền bí yếu pháp, kinh Tọa thiền tam muội, kinh Bồ tát ha sắc dục pháp, Thiền pháp yếu giải, Tư duy lược yếu pháp, kinh Đạt ma đa la thiền, Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp... tất cả đều giải thích rõ về quán pháp. Quán có rất nhiều loại, mà phương pháp và mục đích cũng đều khác. Nay liệt kê các uán pháp tương đối có tính cách đại biểu như sau: 1. Quán pháp về Tứ đế, Thập nhị nhân duyên mà Phật giáo nguyên thủy nhấn mạnh: Như quán 4 đế gọi là Tứ đế quán; quán 12 nhân duyên gọi là Thập nhi nhân duyên quán; quán hơi thở ra vào gọi là Sổ tức quán; quán thân bất tịnh gọi là Bất tịnh quán; quán các hành vô thường gọi là Vô thường quán; quán các pháp vô ngã gọi là Vô ngã quán; quán 4 cái chẳng thường (vô thường, khổ, không, vô ngã) gọi là Phi thường quán; quán 5 cách dừng vọng tâm gọi là Ngũ đình tâm quán; quán 4 niệm xứ gọi là Tứ niệm xứ quán. 2. Quán pháp phân tích các pháp sắc, tâm là không: Đối với Tiểu thừa, như quán không gọi là Không quán; quán sinh không gọi là Sinh không quán; quán pháp không gọi là Pháp không quán; phân tích sắc là không gọi là Tích không quán. Đối với Đại thừa, như thấu suốt đương thể của các pháp tức không gọi là Thể không quán; quán thắng nghĩa đều không gọi là Thắng nghĩa giai không quán. 3. Quán pháp về Tam đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai: Như quán giả gọi là Giả quán; quán từ giả vào không gọi là Nhị đế quán; quán từ không vào giả gọi là Bình đẳng quán; quán trung đạo đệ nhất nghĩa đế gọi là Trung đạo quán; tu 3 quán theo thứ tự gọi là Thứ đệ quán; trong 1 tâm quán 3 đế gọi là Nhất tâm tam quán. 4. Quán pháp của tông Hoa nghiêm quán xét về thực tướng các pháp: Như quán thực tướng gọi là Thực tướng quán; quán 4 pháp giới gọi là Tứ pháp giới quán. 5. Tông Pháp tướng có quán pháp quán 3 cõi duy tâm: Như quán 5 lớp duy thức gọi là Ngũ trùng duy thức quán. 6. Quán pháp trọng yếu của tông Tam luận: Như quán bát bất trung đạo gọi là Bát bất trung đạo quán. 7. Quán pháp quan trọng của tông Chân ngôn: Như quán 5 tướng của tâm bồ đề thanh tịnh gọi là Ngũ tướng thành thân quán. 8. Quán pháp trọng yếu của tông Tịnh độ: Như quán mặt trăng gọi là Nguyệt luân quán; quán nước gọi là Thủy tưởng quán; quán đất ở cõi Tịnh độ gọi là Địa quán; quán tòa hoa sen gọi là Hoa tòa quán; quán hình tượng gọi là Tượng quán; quán chân thân của Phật gọi là Chân thân quán; quán ứng thân của Phật gọi là Ứng thân quán; quán tướng chung của thân Phật gọi là Tổng tướng quán; quán tướng riêng gọi là Biệt tướng quán. Quán đối lại với Chỉ (Phạm:Zamatha, Hán âm: Xa ma tha, tức là công phu chú tâm vào 1 đối tượng, ngăn dứt vọng niệm), Trung đạo quán tuy cũng gọi là Quán nhưng là Chỉ Quán song tu, nghĩa là Quán hợp với Xả (Phạm:Upekwà, Hán âm: Ưu tất xoa). Cho nên, các loại Quán được trình bày ở trên tuy gọi chung là Tì bát xá na, nhưng Trung đạo quán thì có nghĩa khác. Đối cảnh bị quán gọi là Quán cảnh; trí tuệ tác quán gọi là Quán trí hoặc Quán tuệ; tư duy về chân lí và hiểu rõ về chân lí gọi là Quán giải; quán các pháp vô ngại mà đạt được diệu lí tam đế viên dung chẳng thể nghĩ bàn gọi là Quán đạt. Ngoài ra, trong các quán pháp của tông Thiên thai, có Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán là quán về bản tính của tâm mình, vì thế nên cũng gọi là Quán tâm. Còn tông Hoa nghiêm thì lấy quán pháp làm con đường thông vào cảnh giới giác ngộ, nên gọi là Quán đạo. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.31 (bản Bắc); luận Vãng sinh; luận Câu xá Q.28; luận Du già sư địa Q.45; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.10; Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10].
quán pháp vô ngã
xem Bốn niệm xứ.
quán phẩm thiện pháp sinh khởi
瑜伽九十五卷五頁云:云何生起觀品善法?若有從初無倒修習分析聚想,於外大種,由觀劫盡、修無常想;於內大種所合成身,由觀唯食漸漸不淨,修不淨想。由觀從愛所生長性、及於後際老死法性,修無常想、及與苦想。若於此身、一切愚夫不能如實了知體是無常苦故;或執為我,或執我所。卽於此身、具足多聞諸聖弟子、如實知故;無有所執。是故能修苦無我想。此無我想、由於其身,唯有界想。有此想故;若復由他愛與非愛增語有對諸觸現行;(言非愛者,卽是手足杖塊等觸。)彼則於此、及此為緣所有受等無色諸行,正觀無常;離愛,離恚;唯觀有界。心緣此身、正安住故;如是亦名遠離愚癡。如是所有分析聚想、於外大種,修無常想;於內大種,修不淨想、若無常想、無常苦想、苦無我想;於所生起受等諸法,依大種身,修無常想;離貪瞋癡。如是觀品無量善法、始修業地、由正修習循身念故;皆得生起。
quán phật
To contemplate, or meditate upon Buddha.
; 1) Tắm Phật: Dục Phật—Lễ tắm Phật trong ngày Phật Đản. Đây là một công việc có nhiều phước đức và được thực hiện với nhiều nghi thức—To wash the image or statue of the Buddha during the Buddha's Birthday, usually with scented water, which is a work of great merit and done with much ceremony. 2) Quán niệm hồng danh của Phật: To meditate or contemplate upon Buddha. 3) Theo Kinh Duy Ma Cật, chương mười hai, phẩm Thấy Phật A Súc, Đức Thế Tôn hỏi Duy Ma Cật rằng: “Ông nói ông muốn đến đây để thấy Như Lai thì lấy chi quán sát?”—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Twelve, Seeing Aksobhya Buddha, the Buddha asked Vimalakirti: “You spoke of coming here to see the Tathagata, but how do you see Him impartially?” • Duy Ma Cật thưa: “Như con quán thực tướng của thân, thân Phật cũng thế. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không ở; không quán sắc, không quán sắc như, không quán sắc tánh; không quán thọ, tưởng, hành, thức, không quán thức như, không quán thức tánh; không phải tứ đại sinh, cũng không như hư không; sáu nhập không tích tập, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm đã vượt qua; không ở ba cõi, đã lìa ba cấu; thuận ba môn giải thoát; có đủ ba minh, cùng ngang vô minh, không một tướng, không khác tướng, không có tự tướng, không có tha tướng, không phải không tướng, không phải chấp tướng; không bờ bên nầy, không bờ bên kia, không giữa dòng mà hóa độ chúng sanh; quán tịch diệt cũng không diệt hẳn; không đây, không kia, không nương nơi đây, không nương nơi kia; không thể dùng trí mà hiểu được, không thể dùng thức mà biết được; không tối không sáng; không danh không tướng; không mạnh không yếu; không phải sạch không phải nhơ; không ở phương sở, không lìa phương sở; không phải hữu vi, không phải vô vi; không bày không nói; không bố thí, không bỏn xẻn; không giữ giới, không phạm giới; không nhẫn không giận; không tinh tấn không giải đãi; không định không loạn; không trí không ngu; không thực không dối; không đến không đi; không ra không vào; bặt đường nói năng; không phải phước điền, không phải không phước điền; không phải xứng cúng dường, không phải không xứng cúng dường; không phải thủ, không phải xả; không phải có tướng, không phải không tướng; đồng với chân tế bình đẳng như pháp tánh; không thể cân, không thể lường, qua các sự cân lường, không lớn không nhỏ; không phải thấy, không phải nghe, không phải giác, không phải tri; lìa các kiết phược, bình đẳng các trí, đồng với chúng sanh; đối các pháp không phân biệt; tất cả không tổn thất, không trược không não, không tác không khởi, không sanh không diệt, không sợ không lo, không mừng không chán, không đã có, không sẽ có, không hiện có, không thể lấy tất cả lời nói phân biệt chỉ bày được. Bạch Thế Tôn! Thân Như Lai như thế, con quán cũng thế, nếu người nào quán theo đây gọi là chánh quán, quán khác gọi là tà quán.”—Vimalakirti replied: “Seeing reality in one's body is how to see the Buddha. I see the Tathagata did not come in the past, will not go in the future, and does not stay in the present. The Tathagata is seen neither in form (rupa, the first aggregate) nor in the extinction of form nor in the underlying nature of form. Neither is He seen in responsiveness (vedana), conception (sanjna), discrimination (samskara) and consciousness (vijnana) (i.e. the four other aggregates), their extinction and their underlying natures. The Tathagata is not created by the four elements (earth, water, fire and air), for He is (immaterial) like space. He does not come from the union of the six entrances (i.e. the six sense organs) for He is beyond eye, ear, nose, tongue, body and intellect. He is beyond the three worlds (of desire, form and formlessness) for He is free from the three defilements (desire, hate and stupidity). He is in line with the three gates to nirvana and has achieved the three states of enlightenment (or three insights) which do not differ from (the underlying nature of ) unenlightenment. He is neither unity nor diversity, neither selfness nor otherness, neither form nor formlessness, neither on this shore (of enlightenment) nor in mid-stream when converting living beings. He looks into the nirvanic condition (of stillness and extinction of worldly existence) but does not dwell in its permanent extinction. He is neither this nor that and cannot be revealed by these two extremes. He cannot be known by intellect or perceived by consciousness. He is neither bright nor obscure. He is nameless and formless, being neither strong nor weak, neither clean nor unclean, neither in a given place nor outside of it, and neither mundane nor supramundane. He can neither be pointed out nor spoken of. He is neither charitable nor selfish; he neither keeps nor breaks the precepts; is beyond patience and anger, diligence and remissness, stillness and disturbance. He is neither intelligent nor stupid, and neither honest nor deceitful. He neither comes nor goes and neither enters nor leaves. He is beyond the paths of word and speech. He is neither the field of blessedness nor its opposite, neither worthy nor unworthy of worship and offerings. He can be neither seized nor released and is beyond 'is' and 'is not'. He is equal to reality and to the nature of Dharma (Dharmata) and cannot be designated and estimated, for he is beyond figuring and measuring. He is neither large nor small, is neither visible nor audible, can neither be felt nor known, is free from all ties and bondage, is equal to the All-knowledge and to the (underlying) nature of all living beings, and cannot be differentiated from all things. He is beyond gain and loss, free from defilement and troubles (klesa), beyond creating and giving rise (to anything), beyond birth and death, beyond fear and worry, beyond like and dislike, and beyond existence in the past, future and present. He cannot be revealed by word, speech, discerning and pointing. “World Honoured One, the body of the Tathagata being such, seeing Him as above-mentioned is correct whereas seeing Him otherwise is wrong.”
quán phật hương thang
6852灌浴佛像所用之香湯。據浴像功德經載,香湯可用牛頭旃檀、紫檀、多摩羅香、甘松、芎藭、白檀、鬱金、龍腦、沈香、麝香、丁香等,隨所得者製成。然禪宗之一法,則用沈香、白檀、甘松、丁子、熏陸、鬱金等七種香製香湯。〔禪林象器箋報禱門〕
; (灌佛香湯) Nước thơm hơi nóng dùng để tắm tượng Phật. Cứ theo kinh Dục tượng công đức thì Hương thang được nấu bằng các hương liệu như: Chiên đàn ngưu đầu, Tử đàn, hương Đa ma la, Cam tùng, Khung cùng, Bạch đàn, Đinh hương, Uất kim, Long não, Trầm hương. Xạ hương... hễ có được thứ nào thì nấu bằng thứ đó. Nhưng theo Thiền tông thì Hương thang được nấu bằng 6 loại hương: Trầm hương, Bạch đàn, Cam tùng, Đinh tử, Huân lục và Uất kim. [X. môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quán phật hội
6852指每年四月八日(釋迦牟尼佛誕生日)舉行灌浴佛像之行事。依摩訶剎頭經等諸經典及印度鹿野苑古石刻圖等,釋尊降誕時,天帝釋梵及龍王以香湯為之洗浴,故每年佛誕日,信徒遂以香湯、五色水、甘茶等自頂灌沐誕生佛像,稱為灌佛會。誕生佛為右手指天,左手指地之立像,多半高約二十公分,係依據佛誕生時宣言「天上天下,唯我獨尊」之傳說而具像化者,一般置於花亭中而行灌浴。此種浴佛法會,盛行於印度及西域,我國則始於四世紀頃,至唐宋時代廣為風行。日本九世紀時行於宮中,其後普及一般寺院神社。〔普曜經卷二、灌洗佛形像經、浴佛功德經、修行本起經卷上、法苑珠林卷三十三、佛祖統紀卷三十三〕(參閱「浴佛」4162)
; (灌佛會) Hội tắm Phật. Tức là pháp hội tắm gội tượng Phật được cử hành vào ngày mồng 8 tháng 4 hàng năm (ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh). Theo các kinh điển như kinh Ma ha sát đầu... và bức điêu khắc bằng đá ở vườn Lộc Dã (vườn Nai) bên Ấn Độ, lúc đức Phật đản sinh thì Phạm thiên, Đế thích và Long vương dùng nước thơm tắm gội thân Phật. Vì thế, hàng năm đến ngày Phật đản, tín đồ dùng nước hương cam trà tắm gội tượng Phật sơ sinh từ đầu trở xuống, gọi là Quán Phật hội. Tượng Phật sơ sinh là tượng đứng, cao khoảng 20 cm, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, thông thường được tôn trí trong cái đình có treo hoa để tắm gội. Quán Phật hội thịnh hành ở Ấn độ và các nước vùng Trung á; ở Trung quốc thì bắt đầu vào khoảng thế kỉ IV, đến thời đại Đường Tống thì trở thành phong tục phổ biến. Tại Nhật bản, vào thế kỉ IX, Quán Phật hội bắt đầu được cử hành trong cung vua, về sau mới phổ cập các chùa và thần xã. [X. kinh Phổ diệu Q.2; kinh Quán tẩy Phật hình tượng; kinh Dục Phật công đức; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; Pháp uyển châu lâm Q.33; Phật tổ thống kỉ Q.33]. (xt. Dục Phật).
quán phật kệ
6852又稱浴佛偈。即浴佛時所唱之偈頌。據敕修百丈清規卷上報本章佛降誕條所載,偈為(大四八‧一一六上):「我今灌沐諸如來,淨智莊嚴功德聚;五濁眾生令離垢,同證如來淨法身。」日本瑩山清規卷下之浴佛偈則為(大八二‧四三九下):「稽首大聖薄伽梵,天上天下兩足尊;我等今以功德水,灌浴如來淨法身。」〔浴像功德經〕(參閱「浴佛」4162)
; (灌佛偈) Cũng gọi Dục Phật kệ. Bài kệ đọc khi tắm tượng Phật. Điều Phật giáng đản, chương Báo bản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng có ghi bài kệ tắm Phật như sau (Đại 48, 1116 thượng): Nay con tắm gội đấng Như lai/Trang nghiêm trí tịnh công đức tụ/Chúng sinh năm trược lìa cáu bẩn/Cùng chứng được pháp thân Như lai. Nhật bản Oánh sơn thanh qui quyển hạ thì ghi bài kệ tắm Phật như sau (Đại 82, 43 hạ):Cúi đầu lạy đức Bạc già phạm/Đấng tôn quí của cả trời người /Nay chúng con dùng nước công đức /Tắm gội tịnh pháp thân Như lai. [X. kinh Dục tượng công đức]. (xt. Dục Phật).
quán phật tam muội
6957三昧,即將心定於一處(或一境)之安定狀態。觀佛三昧,即一心觀想釋迦、彌陀等佛身之相好及功德等。略作觀佛。觀佛三昧海經卷一(大一五‧六四六下):「若能至心繫念在內,端坐正受觀佛色身,當知是人心如佛心,與佛無異,雖在煩惱,不為諸惡之所覆蔽。」觀佛除一般觀想佛身之相好外,並有法身、實相等諸觀。 大智度論卷二十一記載修習觀佛之次第,謂初念佛之十號,次念佛三十二相、八十隨形好及神通功德力,復念佛之戒、定、慧、解脫、解脫知見之五分法身,更念佛之一切智、一切智見、大慈、大悲、十力、四無所畏、四無礙智、十八不共法等。鳩摩羅什之思惟略要法載,觀佛三昧之法,應先觀佛之相好,次觀法身之十力、四無所畏、大慈、大悲之善業,後復修諸法實相觀。 淨影之觀無量壽經義疏卷上載,觀佛有真身、應身二觀,真身觀即觀如來遍法界平等之身,為法身實相觀;應身觀即觀如來之色身相好,為色身觀。吉藏之觀無量壽經義疏亦謂念佛有二種,一念佛法身,二念佛生身;亦為色身、法身二觀之意。 善導之觀念法門中,依觀無量壽經及觀佛三昧海經,闡明觀佛三昧之法,謂觀阿彌陀佛真金色身,圓光徹照,端正無比。日僧源信之往生要集卷上末分為別相(分別觀佛每一相好)、總相(總觀佛之相好光明)、雜略(簡單作部分之觀法)等三觀。一般以觀像作為觀佛之方便,往生要集卷中本亦主張初發心者先修色身觀,復入法身觀、實相觀。宋代知禮唱導約心觀佛之義,謂彌陀之依正二報不離自心,託之觀佛以顯其理。宋代以後,此說頗為盛行。〔觀無量壽經、往生論、十住毘婆沙論卷九、安樂集卷上、觀無量壽佛經疏卷三(善導)〕
; A samàdhi on the characteristic marks of a Buddha.
; Nhứt tâm quán tưởng tướng mạo hình sắc của Phật (thành tựu được tam muội nầy thì thấy Phật hiện đến)—A samadhi on the characteristic marks of a Buddha.
; (觀佛三昧) Gọi tắt: Quán Phật. Nhất tâm quán tưởng tướng hảo và công đức của thân Phật. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1 (Đại 15, 646 thượng) nói: Nếu người nào một lòng buộc niệm bên trong, ngồi ngay thẳng chính quán sắc thân Phật, thì nên biết tâm người ấy hệt như tâm Phật, không khác với Phật, tuy sống trong phiền não, nhưng không bị các điều xấu ác che lấp.Ngoài việc quán tưởng tướng tốt đẹp của thân Phật ra, quán Phật còn có các pháp quán như: Pháp thân, Thực tướng... Theo luận Đại trí độ quyển 21 thì thứ tự tu tập quán Phật như sau: Trước hết niệm 10 hiệu của Phật, kế đến niệm 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và năng lực thần thông công đức của Phật; tiếp sau niệm 5 phần pháp thân giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến của Phật, cuối cùng niệm Nhất thiết trí, Nhất thiết trí kiến, Đại từ, Đại bi, Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại trí, Thập bát bất cộng pháp... của Phật. Trong Tư duy lược yếu pháp của ngài Cưu ma la thập thì nói: Về pháp Quán Phật tam muội thì trước nên quán tướng tốt đẹp của Phật, kế đến quán các thiện nghiệp như: Thập lực, Tứ vô sở úy, Đại từ, Đại bi của pháp thân, sau cùng lại tu quán thực tướng các pháp. Trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, ngài Tịnh ảnh cho rằng quán Phật có 2 pháp: Quán Chân thân và quán Ứng thân. Quán Chân thân tức là quán thân bình đẳng của Như lai trùm khắp pháp giới, thuộc về quán thực tướng pháp thân; còn quán Ứng thân là quán sắc thân tướng hảo của Như lai, thuộc về quán sắc thân.Trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng cũng nói niệm Phật có 2 cách: Niệm pháp thân Phật và Niệm sinh thân Phật; điều này cũng có nghĩa là quán sắc thân và quán pháp thân. Trong Quán niệm pháp môn của mình, ngài Thiện đạo đã y cứ vào kinh Quán Vô lượng thọ và kinh Quán Phật tam muội hải mà nói rõ về pháp Quán Phật tam muội như sau: Quán sắc thân màu vàng ròng của đức Phật A di đà, hào quang tròn sáng soi suốt, tướng hảo trang nghiêm đoan chính không gì sánh bằng. Trong Vãng sinh yếu tập quyển thượng, phần cuối, ngài Nguyên tín của Nhật Bản chia quán Phật làm 3 loại: Biệt tướng quán (quán riêng từng tướng hảo một của Phật), Tổng tướng quán (quán chung 1 lúc tất cả tướng hảo quang minh của Phật) và Tạp lược quán(quán đơn giản từng phần). Thông thường lấy quán tượng Phật để làm phương tiện quán Phật. Vãng sinh yếu tập quyển trung, phần đầu, cũng chủ trương người mới phát tâm trước nên tu tập pháp quán sắc thân, sau mới dần dần tiến đến quán pháp thân và quán thực tướng. Đời Tống, ngài Tri Lễ đề xướng nghĩa Ước tâm quán Phật, tức là Y báo và Chính báo của Phật A di đà không ngoài tâm mình, nương vào đó mà quán Phật để hiển bày lí ấy. Từ đời Tống về sau thuyết này khá thịnh hành. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; luận Vãng sinh; luận Thập trụ tì bà sa Q.9; An lạc tập Q.thượng; Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.3 (Thiện đạo)].
quán phật tam muội hải kinh
6958梵名 Buddha-dhyāna-samādhisāgara-sūtra。凡十卷十二品。東晉佛陀跋陀羅譯。又稱觀佛三昧經、觀佛經。收於大正藏第十五冊。此經係佛於迦毘羅城尼拘樓陀林中,為父王閱頭檀、姨母憍曇彌等所說,教以住觀佛三昧,並謂此三昧功德深廣,能得解脫。此經凡十二品:(一)六譬品,(二)序觀地品,(三)觀相品,(四)觀佛心品,(五)觀四無量心品,(六)觀四威儀品,(七)觀馬王藏品,(八)本行品,(九)觀像品,(十)念七佛品,(十一)念十方佛品,(十二)觀佛密行品。 又開元釋教錄卷十四單譯闕本錄舉出鳩摩羅什譯之觀佛三昧經一卷,然其與此經之異同則不詳。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷七、開元釋教錄卷三〕
; (觀佛三昧海經) Phạm: Buddha-dhyànasamàdhisàgara-sùtra. Cũng gọi Quán Phật tam muội kinh, Quán Phật kinh. Kinh, 10 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật ở rừng Ni Câu Lâu Đà, gần thành Ca Tì La, thuyết pháp độ cho phụ vương là Duyệt Đầu Đàn và Di mẫu là Kiều Đàm Di, Ngài dạy trụ trong tam muội Quán Phật, vì Tam muội này có công đức sâu rộng, có năng lực đưa đến giải thoát. Kinh này gồm 12 phẩm: Phẩm Lục thí, phẩm Tự quán địa, phẩm Quán tướng, phẩm Quán Phật tâm, phẩm Quán tứ vô lượng tâm, phẩm Quán tứ uy nghi, phẩm Quán mã vương tàng, phẩm Bản hạnh,phẩm Quán tượng, phẩm Niệm thất Phật, phẩm Niệm thập phương Phật và phẩm Quán Phật mật hạnh. Phần Đơn dịch khuyết bản lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 14 có nêu kinh Quán Phật tam muội 1 quyển do ngài Cưu ma la thập dịch, nhưng không cho biết sự dị đồng giữa kinh ấy và kinh này như thế nào. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
quán phật tam muội hải kinh lục thí
6958觀佛三昧海經中以六喻譬念佛三昧之殊勝功德,即:(一)譬長者閻浮檀那紫金之喻,(二)譬王寶印之喻,(三)譬長者如意珠之喻,(四)譬仙人善況之喻,(五)譬力士髻珠之喻,(六)譬劫末金剛山之喻。〔往生要集卷下〕
; (觀佛三昧海經六譬) Sáu thí dụ để ví dụ cho công đức thù thắng của tam muội Niệm Phật nói trong kinh quán Phật tam muội hải. Sáu thí dụ ấy là:1. Ví dụ cho vàng Diêm phùđàn màu đỏ tươi của trưởng giả. 2. Ví dụ cho ấn báu của vua. 3. Ví dụ cho ngọc Như ý của trưởng giả.4. Ví dụ cho thần chú tốt lành của người tiên.5. Ví dụ cho hạt châu trên búi tóc của lực sĩ. 6. Ví dụ cho núi Kim cương ở mạt kiếp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ].
quán phật tam muội kinh
Buddha-dhyāna-samādhiśāgāra sŪtra (S)Quán Phật kinhTên một bộ kinh.
quán phật vi tông
6959請參閱 觀佛三昧海經 淨土教論定其所依之無量壽經有念佛三昧與觀佛三昧兩宗,其中,以觀想彌陀為主要念佛法門之宗,稱為觀佛為宗。此係唐代淨土教高僧善導所判立者。觀經玄義分(大三七‧二四七上):「今此觀經,即以觀佛三昧為宗,亦以念佛三昧為宗,一心迴願往生淨土為體。」〔安樂集卷上、選擇本願念佛集〕(參閱「念觀兩宗」3222)
; (觀佛爲宗) Pháp môn quán Phật do ngài Thiện Đạo đời Đường phán lập. Tịnh độ giáo luận định kinh Vô lượng thọ của 2 tông: Niệm Phật tam muội và Quán Phật tam muội. Trong đó, tông lấy quán tưởng Di đà làm pháp môn niệm Phật chủ yếu gọi là Quán Phật vi tông. Phần Huyền nghĩa trong Quán kinh (Đại 37, 247 thượng) nói: Nay, Quán kinh này lấy Quán Phật tam muội làm tông, cũng lấy Niệm Phật tam muội làm tông và lấy nhất tâm hồi hướng nguyện vãng sinhTịnh độ làm thể. [X. An lạc tập Q.thượng; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. NiệmQuán Lưỡng Tông).
quán phổ hiền bồ tát hành pháp kinh
6965全一卷。劉宋曇摩密多(梵 Dharmamitra)譯。又稱出深功德經。略稱觀普賢經、普賢觀經、普賢經、觀經。收於大正藏第九冊。本經係佛陀於說法華經之後,在毘舍離國大林精舍所說。因佛宣告三個月後將般涅槃,阿難等隨即請問佛入滅後弟子應如何修行及大乘法要,佛遂為說普賢觀門、六根罪之懺悔及懺悔後之功德。 本經旨在闡明法華經之普賢菩薩勸發品,故與法華經普賢勸發品互為表裏;而與妙法蓮華經、無量義經合稱法華三部經。又無量義經稱為法華經之開經,相對於此,天台大師謂本經為法華經之結經。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷七、卷八、卷十、開元釋教錄卷三至卷五〕
; (觀普賢菩薩行法經) Cũng gọi Xuất thâm công đức kinh. Gọi tắt: Quán phổ hiền kinh, Phổ hiền quán kinh, Phổ hiền kinh, Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa (Phạm: Dharmamitra) dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Kinh này đức Phật nói ở tinh xá Đại Lâm tại nước Tì Xá Li, sau khi nói kinh Pháp hoa. Vì đức Phật tuyên bố sau 3 tháng nữa Ngài sẽ vào Niết bàn nên tôn giả A nan liền thỉnh vấn rằng sau khi Phật nhập diệt thì các đệ tử nên tu hành như thế nào; đồng thời thỉnh vấn Phật về pháp yếu Đại thừa. Do đó, đức Phật nói về Phổ hiền quán môn, về pháp sám hối tội lỗi của 6 căn và các công đức sau khi sám hối. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 8, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.3-5].
quán phức
6965宋代僧。生卒年、籍貫、傳記等皆不詳。號笑庵。住於毘陵華嚴寺。與道亭、師會、希迪合稱華嚴四大家。從宗宇受學華嚴五教章,著五教章折薪記五卷,解釋五教章之別教一乘說;其觀點承襲澄觀、宗密之說,而以對立之立場,駁斥師會所著之五教章焚薪,二人於此交相論難。師另有紹興十六年(1146)所著之圓覺經鈔辨疑悞,及演義鈔會解記、金剛別記、遺教經論記等四部十八卷傳世。
; (觀複) Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Tống, hiệu Tiếu Am. Sư trụ ở chùa Hoa Nghiêm tại Tì Lăng. Sư cùng với các vị Đạo Đình, Sư Hội, Hi Địch được gọi chung là Hoa Nghiêm tứ đại gia. Sư theo ngài Tông Vũ học Hoa nghiêm ngũ giáo chương, soạn Ngũ giáo chương chiết tân kí 5 quyển để giải thích thuyết Biệt giáo nhất thừa trong Ngũ giáo chương. Quan điểm của sư thừa kế thuyết của các ngài Trừng quán, Tông mật, đứng trên lập trường đối kháng, bác bỏ Ngũ giáo chương phần tân của ngài Sư hội, do đó, 2 vị bắt đầu cuộc luận nạn bắt bẻ lẫn nhau. Ngoài ra, sư còn soạn Viên giác kinh sao biện nghi ngộ, Diễn nghĩa sao hội giải kí, Kim cương biệt kí, Di giáo kinh luận kí... tất cả 4 bộ 18 quyển lưu hành ở đời.
quán sanh diệt
Knowledge of comtemplation of rise and fall. (A) Theo Thanh Tịnh Đạo, các đặc tính không thể hiện rõ khi một vật không được chú ý đến, bởi thế, có cái gì khuất lấp chúng. Trước hết, đặc tính vô thường không trở nên rõ rệt bởi vì khi sanh và diệt không được chú ý, thì đặc tính ấy bị che lấp bởi tính tương tục. Đặc tính khổ không hiện rõ vì khi sự bức bách liên tục không được chú ý, thì đặc tính nầy bị che lấp bởi các dáng điệu uy nghi. Đặc tính vô ngã không hiện rõ, vì khi sự phân tích thành các giới không được tác ý, thì đặc tính nầy bị che lấp bởi tính nguyên vẹn. Nhưng khi sự tương tục bị gián đoạn do phân biệt sinh diệt, thì đặc tính vô thường trở nên rõ rệt trong thực chất của nó. Khi các dáng điệu được tác ý là bị áp bức liên tục, thì đặc tính khổ hiện rõ trong thực chất của nó. Khi sự phân biệt thành các giới được thực hiện đối với cái vẻ nguyên vẹn, thì đặc tính vô ngã hiện rõ trong thực chất nó: According to the Path of Purification, the characteristics fail to become apparent when something is not given attention and so something conceals them. Firstly, the characteristic of impermanence does not become apparent because, when rise and fall are not given attention, it is concealed by continuity. The characteristic of pain does not become apparent because, when continuous oppression is not given attention, it is concealed by the postures. The characteristic of not self does not become apparent because, when resolution into the various elements is not given attention, it is concealed by compactness. However, when continuity is disrupted by discerning rise and fall, the characteristic of impermanence becomes apparent in its true nature. When the postures are exposed by attention to continuous oppression, the characteristic of pain becomes apparent in its true nature. When the resolution of the compact is effected by resolution into elements, the characteristic of not-self becomes apparent in its true nature. (B) Trong Phân Biệt Xứ nói tóm tắt như sau: “Đặc tính vô thường rõ rệt khi một cái đĩa rớt xuống vỡ toang; đặc tính khổ rõ rệt khi một ung nhọt xuất hiện trên cơ thể. Nhưng đặc tính vô ngã không rõ rệt. Dù chư Phật có xuất hiện hay không, các đặc tính vô thường và khổ vẫn được biết đến, nhưng nếu không có chư Phật ra đời thì không có lý vô ngã được công bố. Trong Luận về Kinh Trung Bộ 22: In the commentary to the Ayatana-Vibhanga we find: “Impermanence is obvious, as when a saucer falls and breaks; pain is obvious, as when a boil appears in the body; the characteristic of not-self is not obvious; whether Perfect Ones arise or do not arise the characteristics of impermanence and pain are made known but unless there is the arising of a Buddha, the characteristic of not-self is not is not made known. Again, in the commentary to Majjima Nikaya Sutta 22: 1) Sau khi hiện hữu nó trở thành không, bởi thế nó là vô thường. Nó vô thường vì bốn lý do: vì sinh diệt, vì biến dị, vì tính chất tạm thời, và vì không có chuyện trường cửu. Theo Thanh Tịnh Đạo, khi sự tương tục bị gián đoạn, nghĩa là khi sự tương tục bị phơi bày ra do quán sát sự đổi khác của các pháp, khi chúng nối nhau sanh khởi. Vì không phải qua sự liên kết của các pháp mà đặc tính vô thường trở nên rõ rệt cho một người chánh quán sinh diệt, mà chính là qua sự gián đoạn của chúng: Having been, it is not, therefore it is impermanent; it is impermanent for four reasons, that is, in the sense of the state of rise and fall, of change, of temporariness, and of denying permanence. According to the Path of Purification, when continuity is disrupted means when continuity is exposed by observing the perpetual otherness of state as they go on occuring in succession. For it is not through the connectedness of state that the characteristic of impermanence becomes apparent to one who rightly observes rise and fall, but rather the characteristic becomes more thoroughly evident through their disconnectedness, as if they were iron darts. 2) Nó là khổ vì sự bức bách theo bốn ý nghĩa: thiêu đốt, khó chịu nổi, là căn đế của khổ, và ngược với lạc. Khi các uy nghi được phơi bày, có nghĩa là khi nỗi khổ nội tại ẩn nấp trong các uy nghi lộ ra. Vì khi cơn đau khởi lên nơi một uy nghi, thì uy nghi khác đã được áp dụng, làm cho hết đau. Và như vậy, dường như khuất lấp sự khổ. Nhưng khi đã biết chân chánh rằng, nỗi khổ trong mỗi uy nghi được di chuyển bằng cách thay thế uy nghi khác, thì sự khuất lấp cái khổ tiềm ẩn trong các uy nghi được lộ rõ, vì rõ ràng các hành liên tục bị tràn ngập bởi đau khổ: It is painful on account of the mode of oppression; it is painful for four reasons, that is, in the sense of burning, of being hard to bear, of being the basis for pain, and of opposing pleasure. According to the Path of Purification, when the postures are xposed, means when the concealment of the pain that is actually inherent in the postures is exposed. For when pain arises in a posture, the next posture adopted removes the pain, as it were, concealing it. But once it is correctly known how the pain in any posture is shifted by substituting another posture for that one, then the concealment of the pain that is in them is exposed because it has become evident that formations are being incessantly overwhelmed by pain. 3) Nó vô ngã vì không chịu được một năng lực nào tác động lên nó, và vì bốn lý do: trống rỗng, không sở hữu chủ, không sáng tạo chủ, và vì đối lại với ngã. Sự phân tích cái khối nguyên vẹn là phân thành đất, nước, lửa, gió; hoặc xúc, thọ, vân vân. Khi phân tích thành các giới đã được thực hiện là khi cái có vẻ nguyên vẹn như một khối hay như một nhiệm vụ duy nhất, đã được phân tích ra. Vì khi các pháp sắc, vô sắc sinh khởi củng cố cho nhau, như danh và sắc, thì khi ấy ta hiểu lầm có một khối nguyên vẹn do không thể nhận ra các hành bị bức bách. Cũng thế ta nhận lầm có một nhiệm vụ duy nhất trong khi thực sự các pháp có nhiệm vụ khác nhau. Cũng vậy, ta lầm cho rằng có một đối tượng duy nhất, trong khi mỗi tâm pháp đều có đối tượng riêng của nó. Khi phân tích thành các giới như vậy, chúng phân tán như bọt dưới bàn tay nén lại. Chúng chỉ là pháp sinh khởi do nhiều duyên, trống rỗng. Với cách ấy, đặc tính vô ngã trở nên rõ rệt: It is not-self on account of the mode of insusceptibility to the exercise of power; it is not-self for four reasons, that is, in the sense of voidness, of having no owner-master, of having no Overlord, and of opposing self: Resolution of the compact is effected by resolving what appears compact in this way. The earth element is one, the water element is another, etc., distinguishing each one; and in this way, contact is one, feeling is another, etc, distinguishing each one. When the resolution of the compact is effected, means that what is compact as a mass and what is compact as a function or as an object has been analyzed. For when material and immaterial states have arisen mutually steadying each other, mentality and materiality, for example, then, owing to misinterpreting that as a unity, compactness of mass is assumed through failure to subject formations to pressure. And likewise compactness of function is assumed when, although definite differences exist in such and such states' functions, they are taken as one. And likewise compactness of object is assumed when, although differences exist in the ways in which states that take objects make them their objects, those objects are taken as one. But when they are seen after resolving them by means of knowledge into these elements, they disintegrate like froth subjected to compression by the hand. They are mere states occuring due to conditions and void. In this way the characteristic of the not-self becomes more evident.
quán sát
瑜伽八十三卷三頁云:言觀察者,謂由無倒觀察作意,審諦觀察已斷、未斷、有餘、無餘。
; Prvicaya (S). Investigation; meditation on and inquiry into; vibhàvana, clear perception.
; Pravicaya or Vibhavana (skt)—Investigation—Meditation on and inquiry into—Clear perception. ** For more information, please see Ngũ Niệm Môn.
quán sát chánh hạnh
Quán sát về Tây Phương Tịnh Độ, một trong năm chánh hạnh đảm bảo vãng sanh Tây Phương Cực Lạc—Meditation on the Pure Land, one of the five proper courses to ensure the bliss of the Pure Land. ** For more information, please see Ngũ Chánh Hạnh.
quán sát không
如四種空性中說。
quán sát môn
Contemplation of the joys of Amitàbha's Pure Land, one of ngũ niệm môn.
; Một trong ngũ niệm môn của Tịnh Độ tông, là pháp môn quán tưởng về tướng trang nghiêm của cõi Tịnh Độ Cực Lạc—Contemplation of the joys of Amitabha's Pure Land, one of the five devotional gates of the Pure Land sect. ** For more information, please see Ngũ Niệm Môn.
quán sát phi diệu chư hành dĩ chi vi khổ
瑜伽十七卷十三頁云:云何觀察非妙諸行以之為苦?謂如有一、作是思惟;見少盛色應可愛樂諸母邑已,所生貪愛受用悕望,卽是集諦,為眾苦因。由此故生;生已,老死愁歎憂苦種種擾惱、從此而生。
quán sát phi diệu chư hành dĩ vi vô ngã
瑜伽十七卷十四頁云:云何觀察非妙諸行以為無我?謂如有一、作是思惟:於我身形、女身形中,都無有我、及有情等,誰能受用?誰所受用?唯是諸行,唯是諸法,從眾緣生。
quán sát pháp nhẫn
Một trong nhị nhẫn, quán pháp chư pháp thể tính chẳng sinh chẳng diệt, an nhiên nhẫn chịu và tâm chẳng động—Physical and mental patience or endurance—One of the two kinds of patience, imperturbable examination of or meditation in the law of all things.
quán sát sai biệt
如受蘊差別五種中說。二解大毗婆沙論一百九十一卷十六頁云:問:汝應觀我,汝應察我,有何差別?答:汝應觀我者:謂以眼識。汝應察我者:謂以意識。復次應觀我者:謂以無分別心。應察我者:謂以有分別心。復次應觀我者:謂於現在。應察我者:謂於未來。復次應觀我者:謂於生身。應察我者:謂於法身。復次觀我者:謂觀所集。察我者:謂察所證。復次觀我者:謂觀所厭。察我者:謂察所欣。復次觀我者:謂觀相好。察我者:謂察功德。是謂觀察差別。
quán sát sự
瑜伽八十六卷十頁云:觀察事者:謂四念念住。為欲對治四顛倒故;如實徧知一切境故。
quán sát sự đạo
雜集論九卷十四頁云:觀察事道者:謂四念住。由此最初以不淨等行、觀察一切身受心法事故。
quán sát tha tâm thần túc
Xem Chiên niệm thị hiện.
quán sát thiện xảo cập bất thiện xảo
如論出離中說。
quán sát thí vật
瑜伽七十四卷二十一頁云:觀察施物者:謂觀察受用、勝於積聚;觀察惠施、勝於受用。何以故?若唯積聚;不能自益,不能益他;非現法利,非後法利。若諸菩薩、唯自受用;名自饒益,非饒益他;名現法利,非後法利。若諸菩薩、能行惠施,便自發生廣大歡喜;名自饒益,名饒益他;名現法利,名後法利。
quán sát thập nhị xứ pháp bất ưng dữ tha cộng hưng tránh luận
集論八卷十三頁云:復次若欲自求利益安樂;於諸論軌,應善通達;不應與他而興諍論。如薄伽梵於大乘中,說如是言:若諸菩薩、欲勤精進修諸善品,欲行真實法隨法行,欲善攝益一切有情,欲得速證阿耨多羅三藐三菩提者;當正觀察十二處法,不應與他共興諍論。何等十二?一者、宣說證無上義微妙法時,其信解者、甚為難得。二者、作受教心而請問者,甚為難得。三者、時眾賢善,觀察德失,甚為難得。四者、凡所興論,能離六失,甚為難得。何等為六?謂執著邪宗失,矯亂語失,所作語言不應時失,言退屈失,麁惡語失,心恚怒失。五者、凡興論時,不懷獷毒,甚為難得。六者、凡興論時,善護他心,甚為難得。七者、凡興論時,善護定心,甚為難得。八者、凡興論時,欲令己劣他得勝心,甚為難得。九者、己劣他勝,心不煩惱,甚為難得。十者、心已煩惱,得安隱住,甚為難得。十一者、既不安住,常修善法,甚為難得。十二者、於諸善法,既不恒修;心未得定;能速得定;心已得定,能速解脫;甚為難得。
quán sát thời chúng
如論出離中說。
quán sát trí
Pravicàyabuddhi (S). Observing-mind.
; Pravicayabuddhi (skt)—Cái trí thấy suốt vào tự tính của hiện hữu là cái trí vượt khỏi tứ cú hay bốn mệnh đề của sự phân biệt—The intellect that sees into the self-nature of existence which is beyond the fourfold proposition of discrimination—For more information, please see Tứ Cú Phân Biệt in Vietnamese-English Section.
quán sát tác ý
瑜伽三十三卷六頁雲;彼由如是樂斷樂修正修加行善品任持,欲界所繫諸煩惱纏、若行若住、不復現行。便作是念:我今為有於諸欲中貪欲煩惱、不覺知耶?為無有耶?為審觀察如是事故;隨於一種可愛淨相,作意思惟。猶未永斷諸隨眠故;思惟如是淨妙相時,便復發起隨習近心、趣習近心、臨習近心。不能住捨,不能厭毀、制伏、違逆。彼作是念:我於諸欲,猶未解脫。其心猶未正能解脫。我心仍為諸行制伏,如水被持;未為法性之所制伏。我今復應為欲永斷餘隨眠故;心勤安住樂斷樂修。如是名為觀察作意。二解此出世間道所攝七作意中之觀察作意也。瑜伽三十四卷二十一頁云:復從此後,為欲進斷修所斷惑;如所得道,更數修習。永斷欲界上品中品諸煩惱已;得一來果。如預流果所有諸相,今於此中,當知亦爾。然少差別。謂若行境界,於能隨順上品猛利煩惱纏處,由失念故,暫起微劣諸煩惱纏,尋能作意,速疾除遣。唯一度來生此世間,便能究竟作苦邊際。得不還果及不還相,如前已說。當知此中由觀察作意,於一切修道,數數觀察已斷未斷;如所得道,而正修習。三解瑜伽九十二卷四頁雲;復次有諸苾芻、為離欲貪,勤修方便。由正修習加行道故;伏諸煩惱。作是思惟:我於諸欲,為有欲貪而不覺了?為無有耶?乃以淨相、作意思惟;於斷未斷,方得決定。觀察作意為依止故;尋求貪欲生起處所,如實了知憶念分別;是諸煩惱勝安足處。由彼煩惱、未永斷故;若為煩惱漂漾心時,了知能趣下劣分故;便卽制伏。若不制伏;於先所得少三摩地,尚還退失;況能進趣勝品功德。由整攝故;能不退失。亦能進趣勝品功德。若不觀察、復還發起增上慢故;亦有退失。由觀察故;能證決定。若心漂漾;能正了知,還復整攝。是故不退。如修方便為離欲貪;於餘上位,隨其所應,當知亦爾。若猛利見、審觀察時,而不生起;彼便獲得決定勝解。我於諸處,已能勝伏。謂此所緣,應生煩惱;我於是處,已勝伏故;令不生起。超過學地;猶如大王、能隨己心,自在而轉;降伏一切魔羅聚落;證得究竟盡無生智、梵行圓滿。四解顯揚七卷十二頁云:觀察作意者:謂如是正修樂斷樂修已;善品方便之所扶持,令欲界繫諸煩惱纏、若行若住、不復現行。如是行者、復自思惟:我此身中,為有貪欲?為無貪欲。而於諸欲境不執受耶?為自觀察故;隨於一境,思惟勝妙清淨之相。而彼行者、由未盡斷諸隨眠故;思惟如是淨妙相時,隨順染習,趣向染習,臨至染習;不住於捨,亦不厭毀遮止違逆。行者爾時、如是自知,我於諸欲,未正遠離;心未解脫。故諸欲行、繫攝我心,猶如持水、法爾攝伏。我今定當倍修治道,令餘隨眠,無餘斷故;倍復欣樂勝斷勝修。是名觀察作意。
quán sát tướng
瑜伽十一卷二十二頁云:云何觀察相?謂有苾芻、慇懃懇到、善取其相,而觀察之。住觀於坐者,謂以現在能取,觀未來所取法。坐觀於臥者:謂以現在能取,觀過去所取。或法在後行觀察前行者:謂以後後能取,觀前前能取法。此則略顯二種所取能取法觀。
quán sát ý lạc
瑜伽七十四卷二十一頁云:觀察意樂者:當知意樂、略有四種。一、於因中無倒意樂,二、於果中無著意樂,三、於有情悲愍意樂,四、於一切智智圓滿意樂。由如是等諸意樂故,而行惠施。
quán sát điền
瑜伽七十四卷二十一頁云:觀察田者:當知略由五相。一、於是處,乞求可得。二、於是處,已有乞求,復加貧匱。三、於是處,已有貧匱;復無依怙。四、於是處,有無依怙;復行惡行。是名為田。五、於是處,雖無此等;而有修行善行可得。由七種相,當知非田。一、乞求者,極大暴惡,曾為怨害;歸依怨害而有所求。二、勸為善事,終不能得。三、心懷染污,為染污事而有乞求。四、為損惱而有乞求。五、乞求者,或自是魔,或魔所魅,非處乞求。六、乞求父母;或復隨一非所施物。七、能為無義。由此等相,當知是名觀察非田。
quán sát đắc thất
如論出離中說。
quán sắc nãi chí thức phi hữu hiển hiện cập hư nguỵ bất thật hiển hiện
瑜伽七十三卷十一頁云:問:世尊依何密意,說色乃至識、如理觀故,審思慮故,乃至觀彼非有顯現?答:依相無自性性,說如是言。問:世尊依何密意,說彼虛偽不實顯現?答:依生無自性性、及勝義無自性性,說如是言。二十六畫
quán sắc thiếu
如勝處中說。
quán sắc đa
如勝處中說。
quán sổ tức
Ana or Anapana (skt). (A) Breathing meditation—Ana có nghĩa là thở ra—Ana means exhaling; pana (skt) có nghĩa là thở vào—Pana means inhaling. Theo Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, thế nào là tu tập Nhập Tức Xuất Tức Niệm để được công đức lớn?—According to the Anapanasatisutta, how is mindfulness of breathing developed and cultivated, so that it is of great fruit and great benefit?—Đây là phương pháp Thiền Quán căn bản cho những người sơ cơ. Nếu chúng ta không thể thực hành những hình thức thiền cao cấp, chúng ta nên thử quán sổ tức. Thiền Sổ Tức hay tập trung vào hơi thở vào thở ra qua mũi. Chỉ tập trung tâm vào một việc là hơi thở, chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ vượt qua sự lo ra và khổ não của tâm—This is the basic meditation method for beginners. If we are unable to engage in higher forms of meditation, we should try this basic breathing meditation—Meditation or concentration on normal inhalations and exhalations of breath through our nostrils. Just focus our mind on one thing: breathing, we will soon overcome a lot of distractions and unhappy states of mind. Try to calm the body and mind for contemplation by counting the breathing. Ở đây, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm vị ấy thở ra—Here a Bhikkhu, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, sits down; having folded his legs crosswise, set his body erect, and established mindfulness in front of him, ever mindful he breathes in, mindful he breathes out. 1) Thở vô dài, vị ấy biết mình đang thở vô dài. Hay thở ra dài, vị ấy biết mình đang thở ra dài. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết mình đang thở vô ngắn. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết mình đang thở ra ngắn. Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh toàn thân tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra.”—Breathing in long, he understands: “I breathe in long;” or breathing out long, he understands: “I breathe out long.” Breathing in short, he understands: “I breathe in short;” or breathing out short, he understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath.” He trains thus: “I shall breathe in traqilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” 2) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác an tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác an tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing rapture;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing rapture.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing pleasure;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing pleasure.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mental formation;” he trains this: “I shall breathe out experiencing the mental formation.” He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the mental formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the mental formation.” 3) Vị ấy tập: “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mind;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the mind.” He trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind;” he trains thus: “I shall breathe out gladdening the mind.” He trains thus: “I shall breathe in concentrating the mind;” he trains thus: “I shall breathe out concentrating the mind.” He trains thus: “I shall breathe in liberating the mind;” he trains thus: “I shall breathe out liberating the mind.” 4) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating impermanence;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating impermanence.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating fading away;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating fading away.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating cessation;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating cessation.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating relinquishment;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating relinquishment.” (B) Và như thế nào, nầy các Tỳ Kheo, là nhập tức xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào làm cho sung mãn, khiến bốn niệm xứ được viên mãn?—And how, Bhikkhus, does mindfulness of breathing, developed and cultivated, fulfil the four foundations of mindfulness? 1) Khi nào, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo thở vô dài, vị ấy biết là mình đang thở vô dài. Hay khi thở ra dài, vị ấy biết là mình đang thở ra dài. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết là mình đang thở vô ngắn. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết là mình đang thở ra ngắn. Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra.” Trong khi tùy quán thân thể trên thân thể, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, đối với các thân, Ta đây nói là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thân thể trên thân thể, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—Bhikkhus, on whatever occasion a Bhikkhu, breathing in long, understands: “I breathe in long;” or breathe out long, understands: “I breathe out long;” breathing in short, understands: “I breathe in short;” breathing out short, understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” On that occasion, a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I say that this is a certain body among the bodies, namely, in-breathing and out-breathing. That is why on that occasion a Bhikku abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 2) Khi nào, nầy các vị Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo nghĩ về cảm giác hỷ thọ: Bhikkhus! On whatever occasion a Bhikkhu thinks about 'experiencing rapture': a) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing rapture.” b) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out experiencing rapture.” c) Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing pleasure.” d) Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out experiencing pleasure.” e) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mental formation.” f) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out experiencing the mental formation.” g) Vị ấy tập: “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the mental formation.” h) Vị ấy tập: “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the mental formation.” Trong khi tùy quán thọ trên các thọ, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, đối với các thọ, Ta đây nói là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thọ trên các thọ, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion, a Bhikhu abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I say that this is a this is a certain feeling among the feelings, namely, giving close attention to in-breathing and out-breathing. This is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 3) Khi nào, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nghĩ về cảm giác tâm: Bhikkhus, on whatever occasion, thinks of the 'experiencing the mind.' a) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô.” A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in experiencing the mind.” b) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out experiencing the mind.” c) Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind.” d) Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out gladdening the mind.” e) Vị ấy tập: “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở vô.”— A Bhikkhu trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind.” f) Vị ấy tập: “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở ra.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out concentrating the mind.” g) Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in liberating the mind.” h) Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out liberating the mind.” Trong khi tùy quán tâm trên tâm, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán tâm trên tâm, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I do not say that there is the development of mindfulness of breathing for one who is forgetful, who is not fully aware. That is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 4) Khi nào nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nghĩ về 'quán vô thường': Bhikkhu, on whatever occasion, a Bhikkhu thinks about 'contemplation of impermanence': a) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating impermanence.” b) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out contemplating impermanence.” c) Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating fading away.” d) Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out contemplating fading away.” e) Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating cessation.” f) Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out contemplating cessation.” g) Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating relinquishment.” h) Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out contemplating relinquishment.” 5) Trong khi tùy quán pháp trên pháp, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn sự vật với niệm xả ly. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. Having seen the wisdom the abandoning of covetousness and grief, he closely looks on with equanimity. That is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 6) Nhập tức xuất tức niệm, nầy các Tỳ Kheo, được tu tập như vậy làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn—Bhikkhus, that is how mindfulness of breathing, developed and cultivated, fulfils the four foundations of mindfulness. (C) Và Bốn niệm xứ, nầy các Tỳ Kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho thất giác chi được viên mãn?—An how, Bhikkhus, do the four foundations of mindfulness, developed and cultivated, fulfil the seven enlightenment factors? 1) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vị ấy cũng được an trú, nầy các Tỳ Kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo, trong khi ấy, Tỳ Kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—Bhikkhus, on whatever occasion a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world, on that occasion unremitting mindfulness is established in him. On whatever occasion unremitting mindfulness is established in a Bhikkhu, on that occasion the mindfulness enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, and by development, it comes to fulfilment in him. 2) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo. Trong khi ấy, Tỳ Kheo tu tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy trạch pháp giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—Abiding thus mindful, he investigates and examines that state with wisdom and embarks upon a full inquiry into it. On whatever occasion, abiding thus mindful, a Bhikkhu investigates and examines that state with wisdom embarks upon a full inquiry into it. On that occasion, the investigation-of-states enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 3) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị Tỳ Kheo. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—In one who investigates and examines that state with wisdom and embarks upon a full inquiry into it, tireless energy is aroused. On whatever occasion, tireless energy is aroused in a Bhikkhu who investigates and examines that state with wisdom embarks upon a full inquiry into it. On that occasion, the energy enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 4) Hỷ không liên hệ đến vật chất được khởi lên nơi vị tinh tấn tinh cần. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên nơi Tỳ Kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên trong vị Tỳ Kheo. Trong khi ấy hỷ giác chi được vị Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—In one who arouses energy, worldly rapture arises. On whatever occasion, unworldly rapture arises in a Bhikkhu who has aroused energy, on that occasion, the rapture enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 5) Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỳ Kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ Kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—In one who is rapturous, the body and mind becometranquil. On whatever occasion, the body and mind become tranquil in a Bhikkhu who is rapturous, on that occasion, the tranquility enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 6) Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi vị Tỳ Kheo nầy. Trong khi ấy định giác chi được Tỳ Kheo tu tập. trong khi ấy định giác chi được Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—In one whose body is tranquil and who feels pleasure, the mind becomes concentrated. On whatever occasion, the mind become concentrated in a Bhikkhu who is tranquil and feels pleasure, on that occasion, the concentration enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 7) Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ Kheo làm với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi được Tỳ Kheo tu tập. trong khi ấy xả giác chi được vị Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—He closely looks on with equanimity at the mind thus. On whatever occasion, a Bhikkhu closely looks on with equanimity at the mind thus, on that occasion, the equanimity enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him.
quán sở duyên duyên luận
6960請參閱 十往生阿彌陀佛國經全一卷。陳那作,唐代玄奘譯。收於大正藏第三十一冊。本論有諸譯本,如漢譯藏經中陳代真諦所譯之無相思塵論一卷、西藏藏經丹珠爾經疏部第九十五函之第四觀所緣(偈)與第五之觀所緣注等。如西藏譯、玄奘譯本所示,本論之偈文為四句一行,共有三十二句。本書旨在依因明三支之法,明示心外之所緣緣非有,而心內之所緣緣非無。〔大唐內典錄卷五、古今譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷八、貞元新定釋教目錄卷十一〕
; Āamba-naparīkśā śāstra (S), Ālambanaprtyaya dhyāna śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Trần Na biên soạn.
; Alambanapratyàya-dhyàna-sàstra (S).
; (觀所緣緣論) Luận, 1 quyển, do ngài Trần Na soạn, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này có nhiều bản dịch, như luận Vô Tướng tư trần 1 quyển do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần trong tạng kinh Hán dịch; Quán sở duyên (kệ)và Quán sở duyên chú, thuộc hòm 95 Kinh sớ bộ trong Đan châu nhĩ của tạng kinh Tây tạng... Như bản dịch Tây tạng và bản dịch của ngài Huyền Trang cho thấy thì văn kệ của luận này là 4 câu 1 hàng, tất cả có 32 câu. Mục đích của luận này là y cứ vào pháp Tam chi nhân minh (Tông, Nhân, Dụ) để nói rõ rằng sở duyên duyên ngoài tâm chẳng phải có, còn sở duyên duyên trong tâm thì chẳng phải không. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo lục Q.11].
quán sở duyên duyên luận thích
6960全一卷。又稱觀所緣論釋、觀所緣釋。護法造,唐代義淨譯。收於大正藏第三十一冊。本書為觀所緣緣論之注釋書。內容闡釋觀所緣緣論中所說破外執之與、奪之意,而明自宗之內境,然未論及其差別。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十三〕
; (觀所緣緣論釋) Cũng gọi Quán sở duyên luận thích, Quán sở duyên thích. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hộ Pháp soạn, ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích luận Quán sở duyên duyên. Nội dung sách này giải thích rõ ý nghĩa cho và đoạt để phá ngoại chấp được nói trong luận Quán sở duyên duyên, đồng thời trình bày rõ về nội cảnh của tự tông, nhưng không đề cập đến sự sai biệt. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
quán sứ
Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Xưa kia thuộc địa phận thôn An Tập, huyện Thọ Xương, Thăng Long thành. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vào thời nhà Lê, các nước Chiêm Thành, Siêm, và Ai Lao thường gửi sứ thần đến triều cống. Nhà vua cho xây một ngôi chùa dùng làm nơi trú ngụ cho các sứ thần nầy vỉ các nước nầy rất sùng đạo Phật, vì thế mà chùa có tên là chùa Quán Sứ. Chùa đã trải qua nhiều thay đổi. Năm 1934, Tổng Hội Phật Giáo Bắc Phần ra đời, đặt trụ sở tại chùa. Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyên Xuân Tùng do Tổ Sư Vĩnh Nghiêm duyệt xét bào năm 1941. Chánh Điện trong chùa được trang trí trang nghiêm. Các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên được treo tại Việt Nam tại chùa Quán Sứ nhân ngày lễ Phật Đản năm 1951 (Phật lịch 2495)—Name of an ancient temple, located in Hoàn Kiếm district, Hanoi City, North Vietnam. At first, it belonged to An Tập village, Thọ Xương district, Thăng Long ancient citadel. According to Đại Nam Nhất Thống Chí, in the Lê dynasty (1428-1788), Champa, Siam, Laos, all sent their envoys to Vietnam to offer the tributes. The King had a temple built as the residence for the envoys, because these above countries are devout Buddhists. The temple, therfore, was named Quán Sứ to distinguish it from other temples. Quán Sứ Temple has been changed many times. In 1934, the North Vietnam Buddhist Sangha Association was founded and the temple was chosen its headquarter. It was rebuilt, following a plan drawn out by the two architects Nguyễn Ngọc Ngoạn and Nguyễn Xuân Tùng, with the acceptance of Patriarch Vĩnh Nghiêm in 1941. The Main Hall is solemnly decorated. The statues are pretty big and splendidly lacquered in red and gild colours. For the first time in Vietnam, the flag of the World Buddhist Association was hung at Quán Sứ Temple in 1951for celebrating the Buddha's Holy Birthday.
quán tam ma địa
瑜伽二十九卷五頁云:由觀增上力所得三摩地、名觀三摩地。又云:若於能順惡不善法,作意思惟為不如理。復於能順所有善法,作意思惟以為如理。如是遠離彼諸纏故,及能生起諸纏對治定為上首諸善法故;能令所有惡不善法、皆不現行。便自思惟:我今為有現有惡不善法、不覺知耶?為無現無惡不善法、不覺知耶?我令應當遍審觀察。彼由觀察作意增上力故;自正觀察斷與未斷;正審思察,住一境念。卽由如是多安住故;能正觸證心一境性。由是因緣,離增上慢,如實自知我唯於纏心得解脫;未於一切一切隨眠心得解脫。我唯獲得及已修習諸纏對治定為上首所有善法,而未獲得及未修習隨眠對治。是名觀增上力所得三摩地。
quán tam ma địa thắng hạnh thành tựu thần hành
法蘊足論四卷四頁云:觀三摩地勝行成就神足者:云何觀,云何三摩地,云何勝,云何勝行,而名觀三摩地勝行成就神足耶?此中觀者:謂依出家遠離所生善法所起於法簡擇、極簡擇、最極簡擇、解了、等了、近了、機黠、通達、審察、聰叡、覺、明、慧、行、毘鉢舍那,是名觀。三摩地者:謂觀增上所起心住等住近住安住不散不亂攝止等持心一境性,是名三摩地。勝者:謂觀增上所起八支聖道,是名勝。勝行者:謂有苾芻、依過去觀,得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行、及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。如依過去觀,依未來現在、善不善無記、欲界繫色界繫無色界繫、學無學非學非無學、見所斷脩所斷非所斷觀,廣說亦爾。復有苾芻、於諸善法,住不審觀。彼作是念:我今不應於諸善法住不審觀;然我理應於諸善法,安住審觀。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、生起惡觀。彼作是念:我今不應生起惡觀;然我理應斷除惡觀,脩集善法。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、生起貪瞋癡俱行惡觀。彼作是念:我今不應生起貪瞋癡俱行惡觀;然我理應斷除貪瞋癡俱行惡觀,修集無貪無瞋無癡俱行善觀。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、生起不離貪瞋癡惡觀。彼作是念:我今不應生起不離貪瞋癡惡觀;然我理應斷除不離貪瞋癡惡觀,脩集離貪瞋癡善觀。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、於諸善法,安住審觀。彼作是念:我於善法安住審觀,甚為應理。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨、是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地、總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、生起善觀。彼作是念:我今生起如是善觀,甚為應理。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、生起無貪無瞋無癡俱行善觀。彼作是念:我今生起無貪無瞋無癡俱行善觀,甚為應理。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨、是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地,總名觀三摩地勝行成就神足。復有苾芻、生起離貪瞋癡善觀。彼作是念:我今生起離貪瞋癡善觀,甚為應理。彼由此觀增上力故;得三摩地。是謂觀三摩地。彼成就觀三摩地已;為令已生惡不善法斷故;起欲。廣說乃至為令已生善法堅住乃至持心。彼所有欲若勤若信乃至若捨,是名勝行。卽此勝行及前所說觀三摩地、總名觀三摩地勝行成就神足。一切觀三摩地、皆從觀起,是觀所集,是觀種類,是觀所生;故名觀三摩地勝行成就神足。
quán tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc
Xem Quán định.
quán tha tâm
Xem Chiên niệm thị hiện.
quán tha tông giáo
如教導有十二種中說。
quán tha tăng thượng tự tính công đức tướng
如戒蘊略義有三種相中說。
quán thiền
Contemplation and meditation, to sit in abstract trance.
; Quán sát và thiền định—Contemplation and meditation—To sit in abstract trance.
Quán thân
Thân quán (身觀); P: kāyagata-sati;|Chỉ sự tỉnh giác, chú tâm vào thân thể. Một phần tu tập được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna), bao gồm: tỉnh giác trong lúc thở ra, thở vào cũng như trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm (Hành, trụ, toạ, ngọa); tỉnh giác trong mọi hành động; quán 32 thân phần; Phân tích thân phần (p: dhātu-vavatthāna); Quán tử thi.|Tuy nhiên, danh từ »Quán thân« thường được sử dụng để chỉ riêng cách quán 32 thân phần.
quán thân
Kāyanupassana (S).
quán thân bất tịnh
xem Bốn niệm xứ.
; To be penetrated with the concept of the essential impurity of self.
; Contemplation on the impure body—Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught: 1) Này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.” Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hạt như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi.” Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, một Tỳ Kheo quan sát thân nầy dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.”—Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body up from the soles of the feet and down from the top of the hair, bounded by skin, as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs, body-hairs, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone-marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, large intestines, small intestines, contents of the stomach, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, spittle, snot, oil of the joints, and urine.” Just as though there were a bag with an opening at both ends full of many sorts of grain, such as hill rice, red rice, beans, peas, millet, and white rice, and a man with good eyes were to open it and review it thus: “This is hill rice, this is red rice, these are beans, these are peas, this is millet, this is white rice;” so too, a Bhikkhu reviews this same body… as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs… and urine.” 2) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.” Nầy các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán sát thấy thân nầy về vị trí các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại và phong đại.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body, however it is placed, however disposed, as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” Just as though a skilled butcher or his apprentice had killed a cow and was seated at the crossroads with it cut up into pieces; so too, a Bhikkhu reviews this same body… as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” 3) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỳ Kheo quán niệm- thân thể ấy như sau: 'Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, one, two, or three days dead, bloated, livid, and oozing matter, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 4) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, ỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài dòi bọ rúc rỉa. Tỳ Kheo quán chiếu sự thực ấy vào thân thể của chính mình: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, being devoured by crows, hawks, vultures, dogs, jackals, or various kinds of worms, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 5) Nầy các Tỳ Kheo, lại nữa, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được nối liền bởi các đường gân…, với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại với nhau…, với các bộ xương không còn dính thịt, không còn dính máu, không còn được các đường gân cột lại với nhau, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rãi rác chỗ nầy chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, a skeleton with flesh and blood, held together with sinews… a fleshless skeleton smeared with blood, held together with sinews… a skeleton without flesh and blood, held together with sinews.. disconnected bones scattered in all directions, here a hand-bone, there a foot-bone, here a shin-bone, there a thigh-bone, here a hip-bone, there a back-bone, here a rib-bone, there a breast-bone, here an arm-bone, there a shoulder-bone, here a neck-bone, there a jaw-bone, here a tooth, there the skull, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 6) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc…, chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm…, chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, bones bleached white, the color of shells… bones heaped up, more than a year old… bones rotted and crumbled to dust, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 7) Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body both internally and externally. Or else he abides contemplating in the body its arising factors, or he abides contemplating in the body its vanishing factors, or he abides contemplating in the body both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is a body' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body. *** For more information, please see Seven types of contemplation on the impure body.
quán thây sình thối
Asubhà-bhàvanà (S). Meditation having as object a corpse in decomposition. Also cửu tưởng quán.
quán thông
To understand (penetrate) thoroughly.
quán thất
6852設祕密壇場,以特定道具而行灌頂儀式之處所。主要指日本台密行傳法灌頂之道場。
; Căn phòng làm lễ quán đảnh của Mật Giáo—The building in which the esoterics practice the rite of baptism.
; (灌室) Nơi thiết lập đàn tràng bí mật, dùng những đạo cụ đặc biệt để cử hành nghi thức quán đính, chủ yếu chỉ cho đạo tràng quán đính Truyền pháp của Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền) Nhật Bản.
quán thần túc
Vīmaṃsā-samādhi (S), (S, P).
; Vìmamsà-samàdhi (S). Concentration on investigation.
quán thập thắng lợi chế lập học xứ
瑜伽九十九卷一頁雲;如來觀見十種勝利,於毘柰耶中,為諸弟子,制立學處。謂攝受僧伽,令僧精懇,乃至廣說。如攝釋分,應知其相。若能攝受四大姓等、正信出家、趣非家眾;當知說名攝受僧伽。如是出家趣非家已;為其宣說有因緣、有出離、有所依、有勇猛、有神變等、甚深法教;當知說名令僧精懇。有因緣等諸句差別、如菩薩地,已辯其相。由五種相,應知說名令僧安樂。一者、令順道具、無所匱乏。二者、令擯異法補特伽羅。三者、令善除遣所生惡作。四者、令善降伏諸煩惱纏。五者、令善永滅隨眠煩惱。應知此中、最初安樂增上力故;未淨信者,令生淨信,已淨信者,令其增長。第二安樂增上力故;調攝鄙惡補特伽羅。第三安樂增上力故;令慚愧者,得安樂住。第四安樂增上力故;令善防護現法諸漏。第五安樂增上力故;能令永滅當來諸漏。如是獲得安樂住已;未得入者,令易入故;欲令多人,梵行久住;乃至廣說。皆應了知。又此一切、以要言之;謂正顯示最初攝受;次正攝受;既攝受已、令安樂住;及顯未來未攝受者、易入方便。如是名為第二差別。
quán thế
To be the ace during the lifetime.
quán thế tự tại
Sovereign Regarder (not associated with sounds or cries)—See Quán Thế Âm.
Quán Thế Âm
(s: Avalokiteśvara, 觀世音): âm dịch là A Phược Lô Chỉ Để Thấp Phiệt Ra (阿縛盧枳低濕伐邏), cựu ý dịch là Quang Thế Âm (光世音), tân ý dịch là Quán Tự Tại (觀自在), Quán Thế Tự Tại (觀世自在), tên gọi vị Bồ Tát lấy hạnh nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh với lòng từ bi của mình. Do vì ngài thường xuyên ban bố sự không sợ hãi cho mọi người nên được gọi là Thí Vô Úy (施無畏). Theo Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (八華嚴經), ngài hiện trú tại Bổ Đà Lạc Sơn (s: Potalaka, 補陀洛山) thuộc miền Nam Ấn Độ. Trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), v.v., ngài thường hầu bên đức Phật A Di Đà với Thế Chí Bồ Tát (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至). Hơn nữa, trong Đại Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền Đà La Ni Kinh (大清淨觀世音普賢陀羅尼經), ngài thưòng hầu hạ bên đức Phật cùng với Phổ Hiền Bồ Tát (s: Samantabhadra, 普賢). Trong số các vị Bồ Tát của Đại Thừa, cùng với đức Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) có trí tuệ, Phổ Hiền hạnh nguyện rộng khắp, đức Quán Thế Âm là nổi tiếng nhất, thông qua Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, tín ngưỡng Quan Âm phổ biến rất rộng rãi và các hình tượng điêu khắc cũng như tranh vẽ có rất nhiều. Ngài được xem như là vị Phật có thân biến hóa rộng khắp, cho nên trong Quán Âm Kinh (觀音經) có dạy rằng ngài biến hóa thành 33 thân để cứu độ hết thảy chúng sanh; vì vậy ngài có nhiều tên gọi khác nhau như Thiên Thủ Thiên Nhãn (千手千眼, ngàn tay ngàn mắt), Thập Nhất Diện (十一面, 11 mặt), Chuẩn Đề (准胝), Như Ý Luân (如意輪), Bất Không Quyên Sách (不空羂索), Thanh Cảnh (青頸, cổ xanh), Hương Vương (香王), v.v. Ngoài ra còn có một số tên gọi khác như Thánh Quán Âm (聖觀音), Mã Đầu (馬頭, đầu ngựa), Bạch Y (白衣), Thủy Nguyệt (水月), Dương Liễu (楊柳), Đa La (多羅), Ngư Lam (魚籃), v.v.
; 觀世音; S: avalokiteśvara; J: kanzeon; T: chen-resi [sPzan-ras-gzigs]; cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm;|Một trong những vị Bồ Tát (s: bodhisattva) quan trọng nhất trong Ðại thừa (s: mahāyā-na). Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu »īśvara« là một »người nam« quán chiếu thế giới, có người hiểu »svara« là »Âm«, tức là vị Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng thế gian.|Nhìn chung, Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi (s, p: karuṇā), một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, có khi người ta đặt tên cho Ngài là bậc Ðại Bi (s: mahākaruṇika). Dạng kia của Phật tính là Trí huệ (Bát-nhã; s: prajñā), là đặc tính được Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī) thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thể hiện nguyện lực của Phật A-di-đà (s: amitābha) và được xem như quyến thuộc của Ngài (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài lúc gặp hiểm nguy. Trong nhân gian, Ngài là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và hay được phụ nữ không con cầu tự.|Trong các loại tranh tượng về Ngài, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Ngài có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có khi có tượng của A-di-đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Ngài cầm hoa sen hồng, vì vậy Ngài cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen; s: padmapāṇi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (s: amṛta). Số tay của Ngài biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống.|Trong tranh tượng với 11 đầu, thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-di-đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.|Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Ngài đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Ngài mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là kẻ cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, là kẻ có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, là kẻ có 11 đầu.||H 47: Quán Thế Âm Bồ Tát được trình bày trong hình này dưới một dạng ít thấy, đó là »Sư Tử Hống Quán Tự Tại« (獅子吼觀自在; s: siṃhanāda-lokeśvara). Dưới dạng này, Ngài là một dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi (e: lepra). Mắt Ngài đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Ngài và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Ngài cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Ðau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Ngài (»giọng sư tử«) với nghề nghiệp của một dược sĩ »gọi người sống lại«.|Tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật, Quán Thế Âm có tên là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng »Phật Bà« Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm (t: chenresi [spzan-ras-gzigs]) là »người bảo vệ xứ tuyết« và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Ngài là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo, 620-649), được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Ðạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba (t: karmapa) cũng được xem là hiện thân của Ngài. Câu Man-tra OṂ MA-NI PAD-ME HŪṂ được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Ngài được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen.
quán thế âm
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Avalokitesvara (skt)—Quán Âm—Quan Âm—Quán Thế Tự Tại—Quán Tự Tại. (A) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào năm 1922 và được trùng tu lại từ năm 1964 đến 1969. Chùa là di tích cuối cùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức (vị Pháp thiêu thân)—Name of a famous pagoda located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1922 and rebuilt from 1964 to 1969. It is the last memento of Thích Quảng Đức Bodhisattva (burnt himself for the sake of Buddhism). (B) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, chúng sanh khổ não mà nhất tâm xưng danh ngài, tức thời ngài quán sát âm thanh của họ (tầm thanh) và độ cho họ được giải thoát. Khởi thủy tượng của ngài là tượng nam, nhưng bây giờ thì thường là tượng nữ. Nghĩa xác thực của Quán Âm chưa được xác định. Quán Âm là bộ Tam Thánh với Phật A Di Đà, thường đứng bên trái của Phật Di Đà, nhưng có đến ba mươi ba hình thức khác nhau của ngài Quán Thế Âm, có thể là một con chim, một tịnh bình, một nhành liễu, một viên ngọc ma ni, hay ngàn mắt ngàn tai, vân vân; khi làm người trợ giúp những em bé thì ngài bồng trên tay một đức trẻ. Đảo Phổ Đà là trung tâm chính thờ phượng Đức Quán Âm bên Tàu, nơi đó ngài là người bảo hộ những kẻ khổ đau hoạn nạn, đặc biệt là những người đi biển. Phẩm 25 trong Kinh Pháp Hoa là phẩm Phổ Môn nói về công hạnh của Đức Quán Thế Âm. Thỉnh thoảng người ta lầm ngài Quán Âm với Phật A Di Đà hay Phật Di Lặc—Regarder of the world's sounds or cries—Goddess of Mercy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Avalokitesvara is one who contemplates the world's sounds, originally represented as a male, the images are now generally those of a female figure. The meaning of the term is in doubt. Kuan-Yin is one of the triad of Amitabha, is represented on his left, and is also represented as crowned with Amida; but there are as many as thirty-three different forms of Kuan-Yin, sometimes with a bird, a vase, a willow wand, a pearl, a thousand eyes and hands, etc. and when as bestower of children, carrying a child. The island of P'u-T'o (Potala) is the chief center of Kuan-Yin worship, where she is the protector of all in distress, especially of those who go to sea. Chapter 25 of the Lotus Sutras devoted to Kuan-Yin, and is the principal scriptures of the cult. Kuan-Yin is sometimes confounded (bị lầm lẫn) with Amitabha and Maitreya. (C) Những danh hiệu của Ngài Quán Thế Âm—Various titles of Avalokitesvara Bodhisattva: 1) Quán Âm: See Quán Thế Âm. 2) Quán Tại Tát Đỏa: Kuan-Yin Bodhisattva. 3) Quán Thế Âm: Regarder or Observer of the world's sounds, or cries (sounds that enlighten the world). 4) Quán Thế Tự Tại: See Quán Tự Tại. 5) Quán Tự Tại: The Sovereign Beholder, not associated with sounds or cries. 6) Quang Thế Âm: See Quán Thế Âm. ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
quán thế âm bồ tát
6951請參閱 觀音經持驗記 觀世音,梵名 Avalokiteśvara,音譯阿縛盧枳低濕伐羅。以慈悲救濟眾生為本願之菩薩。又作光世音菩薩、觀自在菩薩、觀世自在菩薩、觀世音自在菩薩、現音聲菩薩、闚音菩薩。略稱觀音菩薩。別稱救世菩薩、蓮華手菩薩、圓通大士。另一梵名為 Āryāvalokiteśvara,音譯阿唎耶跋盧枳羝鑠筏囉,為聖觀世音之義。與大勢至菩薩同為西方極樂世界阿彌陀佛之脅侍,世稱西方三聖。凡遇難眾生誦念其名號,菩薩即時觀其音聲前往拯救,故稱觀世音菩薩。又因其於理事無礙之境,觀達自在,故稱觀自在菩薩。 法華經卷七觀世音菩薩普門品詳說此菩薩於娑婆世界利益眾生之事,謂受苦眾生一心稱名,觀世音菩薩即時觀其音聲,令得解脫;若有所求,亦皆令得;又能示現佛身、比丘身、優婆塞身、天身、夜叉身等,以攝化眾生。 關於觀世音菩薩之住處,據新華嚴經卷六十八載,此菩薩住南海補陀落山。故其住處即在此娑婆世界。而在大阿彌陀經卷上、無量壽經卷下、觀世音受記經中,以此菩薩為阿彌陀佛之脅侍,常住西方極樂世界輔施教化,即以西方淨土為此菩薩之本住處。密教亦以此菩薩為阿彌陀佛之脅侍,並謂此菩薩與阿彌陀佛原為因果之異,尋其本覺即為無量壽佛,但由本誓故示現大悲菩薩形。密教復安立此菩薩於胎藏界曼荼羅、中臺八葉院、觀音院、遍知院、釋迦院、文殊院、虛空藏院、蘇悉地院等諸院中,其形像、持物等各異。然一切功德莊嚴王經、清淨觀世音普賢陀羅尼經等,則以觀世音為釋迦之脅侍。 關於觀世音菩薩之形像,因其應化無方,故相狀亦頗多,而以二臂之正觀音為其本形,餘者皆其示現神變自在之力用,有一首、三首、五首,乃至千首、萬首、八萬四千爍迦囉首;有二臂、四臂,乃至萬臂、八萬四千母陀羅臂;有二目、三目,乃至八萬四千清淨寶目。其化相有千手千眼、十一面、准提、如意輪、不空羂索、青頸、香王、阿麼
; Tchenrezig (T), Guan Shr Yin (C), Avalokiteshvara (S), Avalokitecvara (S), Avaloki-teśvara (S), Chenrezi (T), Chenresi (T), Kwan Seum Bosal (K), Great Compassionate One, Mahākaruna (S); Kouan Yin (C); Kouan-non (J); Lokecvara (S), Avalokitesvara (S); Guan Yin, Guan Shr Yin (C), Byakue-Kannon (J), Kwan Um (K), Quán Tự Tại, Từ tâm bất sát, Quán Tự Tại Bồ tát, Quan Âm, Quán thế Âm, Quan Thế Kwan Seum Bosal (K) Âm; A na bà lâu cát để du, A lê gia bà lâu cát, A phạ lư tích để thấp phạt la, A bà lư cát dế xá bà la, A phạ lư tích đế thấp phạt la1- Quán Thế Âm Phật: Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 6, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật Thích Ca rằng:"Thế tôn,! Tôi nhớ lại thuở xưa, cách nay hằng hà sa số kiếp có một đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm. Tối đối trước đức Phật ấy, phát Bồ đề tâm, Ngài dạy cho tôi ba phép: Văn, Tu, Tư mà vào cảnh Tam ma địa..." 2- Quán Thế Âm Bồ Tát: Có 32 hoá thân khác. Trong Kinh Bát nhã Ba la mật thì Ngài hiện thân là Quán Tự tại Bồ tát, ở Mật giáo thì hiện thân là Đức Phật mẫu Chuẩn đề thiên thủ thiên nhãn, có khi hiện thân là Quán thế âm tứ thủ, Mã đầu Quán thế âm để trừ tà ma,... Là một trong ba vị Phật quan trọng của tông Tịnh độ. Phật Quán thế âm được giới thiệu vào Trung quốc ở thế kỷ thứ 5, đầu tiên là hình tượng Bồ tát ngàn tay ngàn mắt, sau là Phật mẫu. Có rất nhiều huyền thoại về xuất xứ của Phật mẫu. Đền thờ Phật mẫu được xây dựng khắp nơi ở Trung quốc cũng như những nơi khác tại Châu á. Tại Tây tạng Phật Quan thế âm cón gọi là Phật Tara. Chenrezi là một hình tượng khác của Phật Quán thế âm ở Tây tạng. Ngài có đồng một từ tâm với Như Lai cho nên Ngài ứng hiện 32 thân vào các quốc độ khác nhau mà độ thoát chúng sanh, cùnh với 14 công đức thí vô úy để độ chúng sanh khỏi nạn tai.
; Avalokitesvara Bodhisattva (S). Regarder of the world's sounds, or cries, the so called Goddess of Mercy. Originally represented as a male, the images are now generally those of a female figure. One of the triad Amitàbha, represented on his left. Chapter 25 of the Lotus S-tra is devoted to Qu n thế âm.
; Avalokitesvara (skt)—Vị Bồ Tát được Phật tử Bắc tông thờ phượng—Kuan Shi Yin Bodhisattva—A Bodhisattva worshipped by the northern Buddhists. ** For more information, please see Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (觀世音菩薩) Quán thế âm, Phạm: Avalokitezvara. Hán âm: A phược lô chỉ đê thấp phạt la. Cũng gọi Quan thế âmbồ tát, Quán tự tại bồ tát, Quán thế tự tại bồ tát, Quán thế âm tự tại bồ tát, Hiện âm thanh bồ tát, Khuy âm bồ tát. Gọi tắt: Quán âm bồ tát. Tên gọi khác: Cứu thế bồ tát, Liên hoa thủ bồ tát, Viên thông đại sĩ. Vị bồ tát lấy lòng thương xót cứu giúp chúng sinh làm bản nguyện. Ngài còn có danh hiệu tiếng Phạm khác là Àryàvalokitezvara (Hán âm: A rị da bạt lô chỉ đê thước phược ra), nghĩa là Thánh Quán thế âm. Bồ tát này và bồ tát Đại thế chí là 2 vị Bồ tát đứnghầu đức Phật A Di đà ở thế giới Cực lạc phương Tây mà người đời gọi là Tây phương tam thánh. Nếu chúng sinh nào gặp nạn mà tụng niệm danh hiệu của Ngài thì Ngài liền quán sát tiếng cầu cứu ấy mà đến cứu giúp, cho nên gọi là Quán thế âm bồ tát. Lại vì đối với cảnh lí sự Ngài quán sát một cách thông suốt, tự tại vô ngại, cho nên cũng gọi là Quán tự tại bồ tát. Phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 có nói rõ về việc làm lợí ích cho chúng sinh ở thế giới Sa bà của vị Bồ tát này như sau: Chúng sinh đang bị nạn khổ, một lòng xưng danh, bồ tát Quán thế âm tức thời quán sát âm thanh ấy, làm cho được giải thoát; nếu có mong cầu điều gì cũng đều khiến cho được như ý Bồ tát Quán thế âm có năng lực thị hiện các loại thân như thân Phật, thân tỉ khưu, than ưu bà tắc, thân trời, thân Dạ xoa... tùy theo nhu cầu mà cứu độ. Về chỗ ở của bồ tát Quán thế âm thì kinh Hoa nghiêm quyển 68 (bản dịch mới) nói là Ngài ở núi Bổ đà lạc tại Nam hải, cho nên chỗ ở của Ngài chính là tại thế giới Sa bà. Nhưng kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Vô lượng thọ quyển hạ và kinh Quán thế âm thụ kí thì cho rằng bồ tát này theo hầu đức Phật A di đà, thường ở thế giới Cực lạc phương Tây để giúp đức Phật A di đà trong việc giáo hóa, tức chỗ ở chính của vị Bồ tát này là Tịnh độ phương Tây. Mật giáo cũng cho rằng vị Bồ tát này là thị giả của Phật A di đà và bảo Bồ tát này và Phật A di đà vốn khác nhau về nhân quả, tức tìm về bản giác thì Bồ tát này chính là Phật Vô lượng thọ, nhưng vì bản thệ nên thị hiện hình tướng Bồ tát đại bi. Mật giáo còn an lập Bồ tát này ở Mạn đà la Thai tạng giới và trong các viện như viện Trung đài bát diệp, viện Quán âm, viện Biến tri, viện Thích ca, viện Văn thù, viện Hư không tạng, viện Tô tất địa... hình tượng, vật cầm đều khác. Nhưng kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm vương và kinh Thanh tịnh Quán thế âm phổ hiền đà la ni thì cho rằng Bồ tát Quán thế âm là thị giả của đức Phật Thích ca. Về hình tượng của bồ tát Quán thế âm thì vì sự ứng hóa của Ngài không có nơi chốn nhất định và dưới nhiều hình thức, cho nên tướng trạng cũng rất sai khác, nhưng lấy Quán âm có 2 tay làm hình tướng chính, còn ngoài ra đều là do lực dụng thần biến của Ngài thị hiện một cách tự tại vô ngại. Chẳng hạn như ngài thị hiện các loại hình tượng có 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, cho đến nghìn đầu, vạn đầu, 8 vạn 4 nghìn đầu thước ca ra; hình tượng có 2 tay, 4 tay cho đến 1 vạn tay, 8 vạn 4 nghìn tay mẫu đà la; hình tượng có 2 mắt, 3 mắt cho đến 8 vạn 4 nghìn mắt báu thanh tịnh. Hóa thân của Ngài có: Thiên thủ thiên nhãn, Thập nhất diện, Chuẩn đề, Như ý luân, Bất không quyên sách, Thanh cảnh, Hương vương, A ma lai..., cũng đều có nghi quĩ riêng. Còn kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn thì nêu: Tứ diện đại bi Quán âm, Trừ bát nạn tiên Quán âm, Bá noa mục khư Quán âm, Đại phạm thân tướng Quán âm, Căn bản liên hoa đính Quán âm, Quảng đại minh vương ương câu xả Quán âm... Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 2, phần đầu nêu 6 loại Quán âm; Chư tôn chân ngôn cú nghĩa sao nêu 15 loại Quán âm, còn có 25 loại Quán âm, 33 loại Quán âm... Trong đó, có 1 số không phải căn cứ vào kinh quĩ mà có, mà là do sự hỗn hợp tín ngưỡng, phong tục dân gian của Trung Quốc và Nhật bản ở đời sau mà sinh ra. Tín ngưỡng Quán Thế Âm bắt đầu từ Ấn Độ, Tây Vực, sau được truyền đến nội địa Trung Quốc, Tây Tạng, Nam Hải, Nhật Bản... cho nên có rất nhiều thuyết về Quán thế âm. Tín ngưỡng Quán thế âm ở Tây tạng rất đặc biệt hưng thịnh, các vị Đạt lai lạt ma các đời đều được tôn xưng là Hóa thân của bồ tát Quán thế âm và chân ngôn của Ngài (Lục tự đại minh chú, tức là Án ma ni bát di hồng) đến nay vẫn còn được lưu truyền khắp cõi Tây Tạng. Từ sau khi kinh Chính pháp hoa được ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn thì tín ngưỡng Quán thế âm cũng bộc phát tại nội địa .Trung Quốc và các trứ tác hữu quan cũng rất nhiều. Từ đời Bắc Ngụy về sau, phong khí tạo tượng Quán âm càng thịnh, hiện nay ở các nơi như Đại đồng, Long môn, Đà sơn... còn rất nhiều di phẩm. Từ các đời Tùy, Đường về sau, theo đà truyền nhập của Mật giáo, các loại tượng Quán thế âm cũng được tạo lập rất nhiều, như trong số tượng Bồ tát ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì tượng Quán thế âm chiếm quá phân nửa. Rồi bắt đầu từ kinh Cao vương Quán âm của Tôn kính đức đời Nguyên Ngụy, các loại kinh Quán âm như: Kinh Quán thế âm bồ tát cứu khổ, kinh Quán thế âm thập đại nguyện, kinh Quán thế âm tam muội... cũng nối nhau xuất hiện. Tương truyền, đạo tràng bồ tát Quán thế âm thị hiện thuyết pháp là ở núi Phổ đà tại tỉnh Chiết Hiang, Trung Quốc. Cũng theo truyền thuyết thì Ngài đản sinh vào ngày 19 tháng 2 âm lịch, xuất gia ngày 19 tháng 9 và thành đạo vào ngày 19 tháng 6.
quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú kinh
6955全一卷。唐代實叉難陀譯。略稱觀世音菩薩祕密藏神咒經、如意輪陀羅尼神咒經。收於大正藏第二十冊。本經分為六品:(一)除破一切惡業陀羅尼品,(二)一切愛樂法品,(三)和阿伽陀藥法令人愛樂品,(四)含藥品,(五)眼藥品,(六)火唵陀羅尼藥品。本經與菩提流志所譯之如意輪陀羅尼經為同本異譯。
; (觀世音菩薩秘密藏如意輪陀羅尼神咒經) Gọi tắt: Quán thế âm Bồ tát bí mật tạng thần chú kinh, Như ý luân đà la ni thần chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này chia làm 6 phẩm: 1. Phẩm trừ phá nhất thiết ác nghiệp đà la ni. 2. Phẩm nhất thiết ái nhạo pháp. 3. Phẩm Hòa a già đà dược pháp linh nhân ái nhạo. 4. Phẩm Hàm dược. 5. Phẩm Nhãn dược. 6. Phẩm Hỏa án đà la ni dược. Kinh Như ý luân đà la ni do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch là bản dịch khác của kinh này.
quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh
6953梵名 Padmacintāmaṇidhāraṇī-sūtra。全一卷。唐代寶思惟譯於神龍二年(706)。略稱如意摩尼陀羅尼經。收於大正藏第二十冊。內容敘述根本咒、心咒、隨心咒等咒之功能,並列舉治療諸病之法。 本經之同本異譯或類本經典有:菩提流志譯之如意輪陀羅尼經、義淨譯之觀自在菩薩如意心陀羅尼咒經、實叉難陀譯之觀世音菩薩祕密藏如意輪陀羅尼神咒經。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十三〕
; Xem Như ý ma ni Đà la ni kinh.
; (觀世音菩薩如意摩尼陀羅尼經) Phạm: Padmacintàmaịidhàraịìsùtra. Gọi tắt: Như ý ma ni đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bảo tư duy dịch vào năm Thần long thứ 2 (706) đời đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về công năng của các thần chú: Căn bản chú, Tâm chú, Tùy tâm chú..., đồng thời nêu ra phương pháp trị liệu các bịnh. Các kinh: Như ý luân đà la ni do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch, kinh Quán tự tạibồ tát như ý tâm đà la ni chú do ngài Nghĩa tịnh dịch, kinh Quán thế âmbồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú do ngài Thực xoa nan đà dịchlànhững bản dịch khác hoặc là kinh đồng loại của kinh này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3].
quán thế âm bồ tát phổ môn phẩm
6956梵名 Samantamukhaparivarto nāmāvalokiteśvara-vikurvaṇa-nirdeśa。全一卷。又稱觀音經普門品、觀世音經、觀音經、普門品經、普門品。收於大正藏第九冊。為法華經卷七觀世音菩薩普門品之別行。內容宣說觀世音菩薩普門示現之妙用。由長行與偈頌所成,唯偈頌在漢譯諸本中之存廢頗有出入。 漢譯本共有三種,一為竺法護所譯之正法華經第二十三光世音菩薩品,二為鳩摩羅什譯之妙法蓮華經第二十五觀世音菩薩普門品,三為隋代闍那崛多、達摩笈多共譯之添品法華經第二十四觀世音菩薩普門品。其中正法華經全缺偈頌;妙法蓮華經在羅什譯之初亦無偈頌,至隋闍那崛多時始作增補,故與添品法華經之偈頌完全相同。 普門品甚早即有別行,由出三藏記集卷四列舉之光世音經一卷(出於正法華經,或稱光世音普門品)、觀世音經一卷(出自添品法華經)等可知。又觀世音之信仰,古來在印度、中亞、中國、西藏地區、日本等地均廣為流布,近代尚發現用回鶻語、蒙古語、土耳其語所寫的普門品之斷片。 據專家之研究,本經經文中有二、三處引用吠陀經之說,故本經與婆羅門信仰關係甚深,因此多數學者對觀世音菩薩之起源,每與婆羅門教之濕婆神相提並論。此外,注釋書有隋代智顗之觀音玄義二卷、觀音義疏二卷,宋代知禮所著之觀音玄義記四卷、觀音義疏記四卷。〔法經錄卷二、大唐內典錄卷二、回鶻文法華經普門品の斷片(羽田亨,東洋學報第五之三)〕
; (觀世音菩薩普門品) Phạm: Samantamukhaparivarto nàmàvalokitezvara-vikurvaịa-nirdeza Cũng gọi Quán âm kinh phổ môn phẩm, Quán thế âm kinh, Quán âm kinh, Phổ môn phẩm kinh, Phổ môn phẩm. Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 9, là bản lưu hành riêng của phẩm Quán thế âmbồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Nội dung phẩm này nói về sự diệu dụng thị hiện rộng khắp của bồ tát Quán thế âm, được trình bày bằng thể văn trường hàng (văn xuôi)và kệ tụng (văn vần), nhưng phần kệ tụng trong các bản Hán dịch thì bản có bản không rất khác nhau. Phẩm kinh này có 3 loại bản Hán dịch: 1. Quang thế âm bồ tát phẩm thứ 23 kinh Chính pháp hoa, do Ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 2. Quán Thế âm bồ tát Phổ môn phẩm thứ 25 kinh Diệu pháp liên hoa, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 3. Quán thế âmbồ tát Phổ môn phẩm thứ 24 kinh Thiêm phẩm pháp hoa, do ngài Xà na quật đa và Đạt ma cấp đa cùng dịch vào đời Tùy. Trong 3 loại bản dịch trên, kinh Chính pháp hoa hoàn toàn thiếu phần kệ tụng, kinh Diệu pháp liên hoa do ngài Cưu ma la thập dịch lúc đầu cũng không có kệ tụng, đến đời Tùy, ngài Xà na quật đa mới thêm vào, cho nên hoàn toàn giống với phần kệ tụng của kinh Thiêm phẩm pháp hoa. Phẩm Phổ môn đã được rút ra làm bản kinh lưu hành riêng rất sớm, như kinh Quang thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Chính pháp hoa, hoặc gọi là Quang thế âm phổ môn phẩm), kinh Quán thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Thiêm phẩm pháp hoa). Hai kinh này được nêu trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4, nhờ đó ta mới biết được. Xưa nay ở Ấn Độ, Trung Á, Trung Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản... tín ngưỡng Quán âm được lưu truyền rất rộng. Thời gần đây người ta còn phát hiện những mẩu vụn của phẩm Phổ môn viết bằng các thứ tiếng Hồi Hột, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ... Theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, trong bản văn củaphẩm kinh này có vài ba chỗ dẫn dụng thuyết của kinh Phệ đà, cho nên giữa kinh này và tín ngưỡng Bà la môn có sự quan hệ rất sâu đậm, bởi thế, đa số học giả khi bàn về nguồn gốc của bồ tát Quán thế âm thường nói đến Thần Thấp bà của Bà la môn giáo. Ngoài ra, về các sách chú thích của phẩm kinh này thì có: Quán âm huyền nghĩa 2 quyển của ngài Trí Khải đời Tùy, Quán âm nghĩa sớ 2 quyển cũng của ngài Trí Khải. Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển, Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển của ngài Trí Lễ đời Tống. [X. Pháp kinh lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.2; Hồi hột văn Pháp hoa kinh Phổ môn phẩm chi đoạn phiến (Vũ điền hanh, Đông dương học báo)].
quán thế âm bồ tát thọ ký kinh
Avalokiteśvara-bodhisattva-mahāsthama-prāpta-bodhisattva-vyākaraṅa sŪtra (S)Xem Quán Thế Âm Bồ tát đắc đại thế chí thọ ký kinh.
quán thế âm bồ tát thụ kí kinh
6956請參閱 觀世音菩薩祕密藏如意陀羅尼神咒經梵名 Avalokiteśvara-bodhisattva-mahāsthāma-prāpta-bodhisattva-vyākaraṇa-sūtra。全一卷。劉宋曇無竭譯。收於大正藏第十二冊。與觀世音菩薩得大勢至菩薩授記經(竺法護譯)、觀世音授記經(聶道真譯)、如幻三摩地無量印法門經(施護譯)為同本異譯。 本經初敘佛在波羅奈國鹿苑中,為華德藏菩薩說以無依止一法得如幻三昧,彌勒、文殊等諸正士及安樂國土之觀音、勢至二大士皆得此三昧。次明觀音、勢至發心正道之因緣,而說觀世音在阿彌陀佛滅度後,成等正覺,號普光功德山王如來。 又於大阿彌陀經卷上、無量清淨平等覺經卷三、悲華經卷三、大乘悲分陀利經卷三等,亦說及觀音、勢至成道之事,與本經意趣相同。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷六、卷十、開元釋教錄卷二、卷五、卷十二、卷十四〕
; (觀世音菩薩授記經) Phạm: Avalokiteśvara-bod-hisattva-mahāsthāma-prāpta-bodhisattva-vyā-karaṇa-sūtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Kiệt dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này trước hết thuật lại việc Phật trụ ở vườn Nai tại nước Ba la nại nói về cách dùng pháp vô y chỉ được tam muội Như huyễn chobồ tát Hoa đức tạng nghe, các bồ tát Di Lặc, Văn thù và 2 Đại sĩ Quán âm, Thế chí ở cõi nước An lạc đều được Tam muội này. Kế đến nói về nhân duyên phát tâm chính đạo củabồ tát Quán âm, Thế chí và cho biết sau khi đức Phật A di đà diệt độ, bồ tát Quán thế âm sẽ thành Đẳng chính giác, hiệu là Phổ quang công đức vương Như lai. Ngoài ra, kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác quyển 3, kinh Bi hoa quyển 3, kinh Đại thừa bi phân đà lợi quyển 3... cũng có nói về việc cácbồ tát Quán âm Thế chí thành đạo, giống như ý thú của kinh này. Kinh Quán thế âm bồ tát Đắc đại thế chí bồ tát thụ kí (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch), kinh Quán thế âm thụ kí (do ngài Nhiếp Đạo Chân dịch) và kinh Như huyễn tam ma địa vô lượng ấn pháp môn ( do ngài Thí Hộ dịch) là các bản dịch khác của kinh này.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6. 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.2,5,12,14].
quán thế âm bồ tát đắc đại thế chí thọ ký kinh
Avalokiteśvara-bodhisattva-mahā-sthāma-prāpta-bodhisattva-vyākaraṅa-sŪtra (S)Quán Thế Âm Bồ tát thọ ký kinh.
quán thế âm kinh
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
quán thế âm mẫu
Tàrà (S). The sakti, or female energy of the masculine Avalokitesvara.
; Tara (skt)—The sakti, or female energy of the masculine Avalokitesvara.
quán thế âm phổ môn phẩm
Samantamukhaparivarto-nāmavalokiteśvara-vikurvana-nirdeśa (S)Quán Thế Âm kinh, Quán Âm kinh, Phổ môn phẩm, Phẩm Phổ Môn, Quan Âm kinh Phổ môn phẩm.
quán thế âm quán kinh
Kuan-shih-yin kuan ching (C)Tên một bộ kinh.
quán thế âm tín ngưỡng
6951指以觀世音菩薩為崇奉對象之宗教信仰。據法華經普門品之記述,當眾生遭遇困難之時,只要誦念其名號,觀世音菩薩即時觀其音聲,前往拯救。觀世音菩薩於二十五聖眾之中耳根圓通最為殊勝,於我國觀世音信仰亦極普及。我國最早有關觀世音信仰之譯經,始於三國吳五鳳二年(255)支疆梁接譯法華三昧經六卷(已佚);西晉竺法護亦於太康七年(286)譯正法華經光世音普門品;鳩摩羅什於姚秦弘始八年(406)譯出妙法蓮華經觀世音菩薩普門品;隋代仁壽元年(601),闍那崛多、達摩笈多共譯添品法華經普門品之偈頌;劉宋時曇無竭譯觀世音菩薩授記經。隨著廣說觀世音菩薩功德之法華經信仰的普及,觀世音信仰亦深入民間。 除法華經以外,曹魏嘉平四年(252)康僧鎧譯無量壽經;畺良耶舍譯觀無量壽經;佛馱跋陀羅譯華嚴經入法界品,皆闡說觀世音之利益。東晉竺難提譯請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼咒經;北周耶舍崛多譯十一面觀世音神咒經,闡說唱念觀世音菩薩名號之福德與靈驗。此外尚有般若波羅蜜多心經之廣傳民間。因此等經典之翻譯,致使觀世音信仰廣為發展,又順應此風潮,鼓吹觀世音信仰之疑偽經典遂大量產生。如高王觀世音經、觀世音十大願經、觀世音詠託生經、觀世音菩薩往生淨土本緣經、觀世音懺悔除罪咒經、觀世音菩薩救苦經、觀世音所說行法經、觀世音三昧經等。其中高王觀世音經又稱為小觀音經。 宋代傅亮(374~426)依據東晉謝敷所著之觀世音應驗傳,撰光世音應驗記;宋張演(五世紀前半)撰續光世音應驗記;齊之陸杲(459~532)撰繫觀世音應驗記。由此可知西晉末期至六朝時代,觀世音信仰在我國社會盛行之狀況。 隋代智顗針對法華經普門品,著觀音玄義二卷、觀音義疏二卷;又針對請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼咒經,撰請觀音經疏一卷、請觀音懺法一編。智顗另一方面積極的引用觀音三昧經等偽經之說,明示觀音信仰之觀解,而為後世解釋普門品之典範。知禮著觀音玄義記四卷、觀音義疏記四卷,為智顗之疏添加偈頌,並予以注釋。唐代寶思惟譯有觀世音菩薩如意摩尼陀羅尼經一卷、陀羅尼念誦法一卷,實叉難陀亦譯有觀世音菩薩祕密藏如意輪陀羅尼神咒經一卷。唐中期以後密教盛行,觀世音信仰亦有不同的發展。唐末五代時,日僧慧萼自五臺山得觀音像,安置於舟山群島潮音洞,創建觀音院,稱之為補陀落山,為觀世音菩薩之聖地。 據傳篇幅不長之高王觀世音經,為增加篇幅,而有雜咒間雜於其中,於佛祖統紀成立時,已成為猥雜之文流行於民間,然其誦經之靈驗,該書作者志磐則深信不疑;明代雲棲袾宏曾極力非難高王觀世音經,然而明清以來,由於受此經之影響,觀世音信仰於民間愈形深入。清代以後,觀世音菩薩更以送子觀音之形像出現,致信仰之範圍愈形擴展。清代弘贊著觀音慈林集三卷;順治十六年(1659)周克復著觀音經持驗記二卷,內載靈驗事蹟一一八則,卷末並附有觀世音大悲心陀羅尼、白衣大悲五印心陀羅尼經、禮觀音文、辨訛語三則。 由於觀世音信仰普及,非但譯經及論著極多,關於觀世音之造像亦多不勝數,尤於北魏之後,造像之風益盛,今大同、龍門、駝山石窟等尚存有遺品甚多。隋唐以來,受密教盛行之影響,遂造有十一面、千手、如意輪、不空羂索、准提等諸種觀世音像,又基於篤信者之感應,復現蛤蜊、馬郎婦、水月、魚籃等像。今敦煌千佛洞內之菩薩像泰半皆係觀世音像。除經論、造像之外,以觀世音為主要崇奉對象,或冠上「觀音」名稱之寺院亦不勝枚舉,以本省為例,據劉枝萬之論文「清代臺灣之寺廟」所載,清代臺灣境內所建佛教寺院約一○二座,其中以「觀音」為寺、宮、廟、亭之名稱者,約五十五座以上,由此可見當時臺灣觀世音信仰之盛行。 又日本古來亦盛行觀世音信仰,據扶桑略記卷三載,推古天皇(592~628 在位)敕刻沈水香木之觀世音像;聖德太子亦於法隆寺夢殿及四天王寺金堂安置救世觀世音像;奈良朝之聖武天皇及光明皇后亦篤信佛教,於諸國建立國分尼寺,安置觀世音像,且為皇太子之病祈願,造觀世音像一七七尊,寫觀音經一七七卷,又於各地陸續造不空羂索觀音、千手觀音、十一面觀音等;平安朝之觀世音信仰亦極普及。歷代觀世音像之雕刻、繪畫珍品極多,現今列為國寶者,達四百五十種之多。此外,關於觀世音靈驗之述作亦多,有:觀音感通傳、觀音新驗錄、長谷寺緣起、觀音妙應集、準提觀音念誦靈驗記圖會、準提菩薩念誦靈驗記、洛陽觀音靈驗真鈔等。 由此可見觀世音信仰於中國及日本之盛行,然中國觀世音信仰由於混入密教而益形複雜,後更與道教結合,發展出「娘娘廟」之信仰;民間信仰素以觀世音為女神,加以崇拜,日久遂與道教之「娘娘神」信仰混合,而有「觀音娘娘」之稱。〔大智度論卷二十六、卷三十、卷三十四、瑜伽師地論卷七、大日經義釋卷四、法經錄卷三、翻譯名義集卷二、諸說不同記卷二、卷三、卷五、卷七〕
; (觀世音信仰) Chỉ cho tín ngưỡng tông giáo lấy Bồ tát Quán thế âm làm đối tượng thờ phụng. Theo phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa thì khi chúng sinh gặp tai ách khổ nạn, chỉ cần tụng niệm danh hiệu của bồ tát Quán thế âm thì tức thời Ngài quán sát âm thanh ấy mà đến cứu giúp. Trong các viên thông của 25 vị Thánh thì nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm là thù thắng nhất. Ở Trung quốc, tín ngưỡng Quán thế âm cũng rất phổ cập. Việc dịch kinh có liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc cũng rất sớm, đầu tiên là năm Ngũ phụng thứ 2 (255) đời Ngô thời Tam quốc, ngài Chi Cương Lương tiếp đã dịch kinh Pháp hoa Tam muội (nay đã thất lạc). Kế đến, ngài Trúc Pháp Hộ dịch phẩm Quang thế âm phổ môn kinh Pháp hoa vào năm Thái khang thứ 7 (286) đời Tây Tấn; rồi lần lượt đến các ngài Cưu Ma La Thập dịch phẩm Quán thế âm bồ tát Phổ môn kinh Diệu pháp liên hoa vào năm Hoằng thủy thứ 8 (406) đời Diêu Tần; các ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa cùng dịch phần kệ tụng của phẩm Phổ môn kinh Thiêm phẩm pháp hoa vào niên hiệuNhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, ngài Đàm vô kiệt dịch kinh Quán thế âmbồ tát thụ kí vào đời Lưu Tống ...Theo với đà tín ngưỡng kinh Pháp hoa nói nhiều về công đức của Bồ tát Quán thế âm được mở rộng và phổ cập, tín ngưỡng Quán thế âm cũng đi sâu vào nhân gian. Ngoài kinh Pháp hoa, kinh Vô lượng thọ do ngài Khang tăng khải dịch vào năm Gia bình thứ 4 (252) đời Tào Ngụy, kinh Quán Vô lượng thọ do ngài Cương Lương Da Xá dịch, phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch... cũng đều nói rộng về sự lợi ích mà bồ tát Quán thế âm ban bố cho chúng sinh. Kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú do ngài Trúc nan đề dịch vào đời Đông Tấn, kinh Thập nhất diện Quán thế âm thần chú do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào thời Bắc Chu thì nói rõ về công đức và sự linh nghiệm của việc xướng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm. Ngoài ra cũng có sự truyền bá rộng rãi Bát nhã ba la mật đa tâm kinh trong dân gian. Sự phiên dịch các kinh điển nói trên đã làm cho tín ngưỡng Quán thế âm phát triển sâu rộng. Cùng với phong trào này cũng đã xuất hiện một số lớn kinh điển phổ biến tín ngưỡng Quán thế âm bị ngờ là các kinh giả tạo, như kinh Cao vương Quán thế âm, kinh Quán thế âm thập đại nguyện, kinh Quán thế âm vịnh thác sinh, kinh Quán thế âmbồ tát vãng sinh tịnh độ bản duyên, kinh Quán thế âm sám hối trừ tội chú, kinh Quán thế âmbồ tát cứu khổ, kinh Quán thế âm sở thuyết hành pháp, kinh Quán thế âm Tam muội... Trong đó, kinh Cao vương Quán thế âm còn được gọi là kinh Tiểu Quán âm. Ông Phó lượng (374- 426) đời Tống căn cứ vào Quán thế âm ứng nghiệm truyện của ông Tạ phu soạn vào đời Đông Tấn mà viết thành Quang thế âm ứng nghiệm kí. Ông Trương diễn (tiền bán thế kỉ V) đời Tống soạn Tục quang thế âm ứng nghiệm kí. Ông Lục cảo (459-532) đời Tề soạn Hệ Quán thế âm ứng nghiệm kí... Căn cứ vào đó ta cóthể biết cái tình hình hưng thịnh của tín ngưỡng Quán thế âm trong xã hội Trung Quốc vào cuối đời Đông Tấn đến thời Lục triều. Sang đời Tùy, ngài Trí Khải y cứ vào phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa mà soạn Quán âm huyền nghĩa 2 quyển, Quán âm nghĩa sớ 2 quyển; rồi lại dựa theo kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú mà soạn Thỉnh Quán thế âm kinh sớ 1 quyển, Thỉnh Quán âm sám pháp 1 quyển. Mặt khác, Ngài Trí Khải còn tích cực dẫn dụng thuyết trong các kinhgiả như kinh Quán âm tam muội... để chỉ rõ cách nhìn và hiểu về tín ngưỡng Quán âm, làm khuôn mẫu cho việc giải thích phẩm Phổ môn của người sau. Ngài Tri Lễ soạn Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển, Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển là thêm phần kệ tụng, đồng thời chú thích 2 bộSớ của ngài Trí Khải. Đến đời Đường, ngài Bảo Tư Duy dịch kinh Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni 1 quyển, Đà la ni niệm tụng pháp 1 quyển. Ngài Thực Xoa Nan Đà cũng dịch kinh Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú 1 quyển. Thời kì giữa đời Đường về sau, Mật giáo hưng thịnh, tín ngưỡng Quán âm cũng có sự phát triển khác nhau. Vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, Ngài Tuệ Ngạc, vị tăng Nhật Bản, thỉnh được tượng Quán âm từ núi Ngũ Đài để thờ ở động Triều âm tại quần đảo Chu sơn, sáng lập viện Quán âm, gọi Chu sơn là núi Bổ đà lạc, là Thánh địa của bồ tát Quán thế âm.Cứ theo truyền thuyết, kinh Cao vương Quán thế âm vốn ngắn, vì số trang có ít, người ta muốn cho dài nên tăng thêm số trang, do đó mới có tạp chú xen kẽ trong đó. Khi tác phẩm Phật tổ thống kỉ được thành lập vào đời Nam Tống thì kinh Cao vương Quán thế âm đã trở thành 1 áng văn tạp nhạp lưu hành trong dân gian; tuy nhiên, tác giả của Phật tổ thống kỉ là ngài Chí bàn vẫn tin sâu và không nghi ngờ gì về sự không linh nghiệm của việc trì tụng kinh này. Trái lại, ngài Vân Thê Châu Hoành đời Minh thì cực lực bài bác kinh Cao vương Quán thế âm, nhưng từ Minh, Thanh, đến nay do chịu ảnh hưởng của kinh này, tín ngưỡng Quán âm lại càng tiến sâu hơn vào nhân gian. Từ đời Thanh về sau lại xuất hiện hình tượng Quán âm tống tử làm cho phạm vi tín ngưỡng Quán âm càng rộng thêm. Ngài Hoằng tán đời Thanh soạn Quán âm từ lâm tập 3 quyển. Năm Thuận trị 16 (1659) cư sĩ Chu khắc phục soạn Quán âm kinh trì nghiệm kí 2 quyển, nội dung ghi thuật 118 sự tích linh nghiệm, cuối quyển có phụ thêm Quán thế âm đại bi tâm đà la ni, kinh Bạch y đại bi ngũ ấn tâm đà la ni, Lễ Quán âm văn, Biện ngoa ngữ... Do tín ngưỡng Quán thế âm phổ cập nên chẳng những việc dịch kinh, soạn luận đã nhiều, mà ngay cả việc tạo tượng Quán thế âm cũng nhiều không thể kể xiết, nhất là sau đời Bắc Ngụy, phong trào tạo tượng càng hưng thịnh, cho đến nay, các nơi như Đại đồng, Long môn, Đà sơn... vẫn còn rất nhiều di phẩm. Từ các đời Tùy, Đường trở đi, do ảnh hưởng của Mật giáo hưng thịnh nên đã có các loại hình tượng Quán âm như: Thập nhất diện Quán âm, Thiên thủ Quán âm, Như ý luân Quán âm, Bất không quyên sách Quán âm, Chuẩn đề Quán âm... Rồi căn cứ vào sự cảm ứng của những người có tín tâm nên lại có các loại tượng như: Cáp lợi Quán âm (Quán âm ngồi trên con sò), Mã long phụ Quán âm (Quán âm vợ chàng họ Mã), Thủy nguyệt Quán âm (Quán âm ngồi trên sườn núi trong biển cả), Ngư lam Quán âm (Quán âm xách giỏ cá)... Trong số tượng Bồ tát ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, thì tượng Quán thế âm chiếm hơn phân nửa. Ngoài kinh, luận, tạo tượng ra, các chùa viện lấy Quán thế âm làm đối tượng thờ phụng chủ yếu, hoặc tên các chùa viện đứng đầu bằng 2 chữ Quán Âm cũng không thể kể xiết.Ở Nhật Bản, xưa nay tín ngưỡng Quán thế âm cũng hưng thịnh. Cứ theo Phú tang lược kí quyển 3 thì Thiên hoàng Suy cổ (trị vì 592- 628) từng ban sắc khắc tượng Quán thế âm bằng gỗ thơm trầm thủy. Thái tử Thánh đức cũng tôn trí tượng Cứu thế Quán thế âm tại Mộng điện chùa Pháp Long và ở Kim Đường chùa Tứ Thiên Vương. Thiên hoàng Thánh vũ và Hoàng hậu Quang Minh triều Nại lương rất sùng tín Phật giáo, vua cho xây chùa Quốc Phần ni tự tại các nơi và an vị tượng Quán thế âm, tạo 177 pho tượng Quán thế âm, viết chép 177 quyển kinh Quán âm; đồng thời, ở các nơi tạo tượng Bất không quyên sách Quán âm, Thiên Thủ Quán âm, Thập nhất diện Quán âm... Tín ngưỡng Quán âm ở triều Bình an cũng rất phổ cập. Có rất nhiều tác phẩm quí giá điêu khắc, hội họa tượng Quán thế âm qua các triều đại, hiện nay có tới 450 tượng được xếp vào hàng quốc bảo. Ngoài ra, các trứ tác nói về sự linh nghiệm của Quán thế âm cũng nhiều như: Quán âm cảm thông truyện, Quán âm tân nghiệm lục, Trường cốc tự duyên khởi, Quán âm diệu ứng tập, Chuẩn đề Quán âm niệm tụng linh nghiệm kí đồ hội, Chuẩn đề bồ tát niệm tụng linh nghiệm kí, Lạc dương Quán âm linh nghiệm chân sao... Qua những điều trình bày trên đây, ta thấy được sự thịnh hành của tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc và Nhật bản, nhưng vì hòa nhập với Mật giáo nên tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc trở nên phức tạp. Sau lại kềt hợp với Đạo giáo mà phát triển thành tín ngưỡng Nương nương miếu. Tín ngưỡng nhân gian vốn sùng bái Quán thế âm như vị nữ thần, nên lâu ngày bèn hỗn hợp với tín ngưỡng Nương nương thần của Đạo giáo mà có danh xưng là Quán âm nương nương. [X. luận Đại trí độ Q.26, 30, 34; luận Du già sư địa Q.7; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4; Pháp kinh lục Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Chư thuyết bất đồng kí Q.2, 3, 5, 7].
quán thế âm viên thông
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Phật hỏi ngài Quán Thế Âm về viên thông và ngài Quán Thế Âm đã bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tôi từ căn tai tu tam muội viên chiếu, duyên tâm, tự tại, bởi tu để tiếng động vào căn tai, vào rồi mất…, để được tam ma địa, thành tựu Bồ Đề. Bạch Thế Tôn! Đức Phật kia khen tôi khéo được pháp môn viên thông. Trong đại hội của Ngài, tôi được thọ ký là Quán Thế Âm. Bởi tôi quán nghe cả mười phương đều viên minh, nên tên Quán Thế Âm khắp cả mười phương thế giới—In th Surangama Sutra, book Six, the Buddha asked Avalokitesvara Bodhisattva about perfect penetration, and Avalokitesvara Bodhisattva reported to the Buddha as follows: “World Honored One! From the gateway of ear, I obtained perfect and illumining samadhi. The conditioned mind was at ease, and therefore I entered the appearance of the flow, and obtaining samadhi, I accomplished Bodhi. World Honored One! That Buddha, the Thus Come One, praised me as having obtained well the Dharma-door of perfect penetration. In the great assembly he bestowed a prediction upon me and the name, Kuan-Shih-Yin.
quán thế âm ứng nghiệm kí
6956請參閱 觀音玄義記請參閱 觀世音菩薩普門品 請參閱 觀音經持驗記 [1] 全一卷。收於牧田諦亮著「六朝古逸觀世音應驗記の研究」。乃校訂傅亮(374~426)之光世音應驗記七則、張演(五世紀前半)之續光世音應驗記十則、陸杲(459~532)之繫觀世音應驗記六十九則而成。據傅亮序文所載,東晉時謝敷曾撰觀世音應驗傳十餘則,贈予傅亮之父傅瑗。然於隆安三年(399)遭孫恩之亂,此應驗傳散軼,傅亮遂憑記憶所及而作應驗記七則。
; (觀世音應驗記) Tác phẩm, 1 quyển, được thu vào Lục cổ dật Quán thế âm ứng nghiệm kí đích nghiên cứu do ông Mục Điền Đế Lượng soạn. Sách này do hiệu đính Quang thế âm ứng nghiệm kí 7 bài của Phó lượng (374- 426), Tục Quang thế âm ứng nghiệm kí 10 bài của Trương diễn (sống vào tiền bán thế kỉ V) và Hệ Quán thế âm ứng nghiệm kí 69 bài của Lục cảo (459- 532) mà thành. Cứ theo lời tựa của ông Phó lượng thì ông Tạ phu đời Đông Tấn có soạn Quán thế âm ứng nghiệm truyện hơn 10 bài đem tặng cho thân phụ Phó lượng là ông Phó viện. Nhưng vào năm Long an thứ 3 (399) xảy ra loạn Tôn ân, bộ ứng nghiệm truyện này bị thất lạc, Phó lượng bèn dựa vào trí nhớ mà soạn Ứng nghiệm truyện kí 7 bài.
quán thể
Nature of visualization.
quán thọ thị khổ
xem Bốn niệm xứ.
quán thời
瑜伽三十一卷九頁云:云何觀時?謂心沈沒時,或恐沈沒時;是修觀時。又依奢摩他所熏習心,先應於彼所知事境如實覺了;故於爾時,是修觀時。
quán thụ
6971世尊成道已,起金剛座而觀菩提樹。法華玄贊卷四末(大三四‧七二九上):「佛成道已,樹下經行。觀樹喜自道圓,經行思惟利物;又觀樹心凝妙理,經行想化群生;又觀樹想蔭四生,經行思施福慧。」〔法華經方便品〕
; Contemplating the tree (of knowledge as Sakyamuni is said to have done after his enlightenment.)
; (觀樹) Quán cây Bồ đề. Đức Thế Tôn sau khi thành đạo, rời tòa Kim cương mà quán cây Bồ đề. Pháp hoa huyền tán quyển 4 phần cuối (Đại 34, 729 thượng) nói: Đức Phật thành đạo rồi, đi dạo dưới gốc cây, nhìn cây mà vui mừng vì đạo quả của mình đã viên thành, đi dạo mà nghĩ đến việc làm lợi ích cho chúng sinh; lại nhìn cây mà tâm lắng vào diệu lí, đi dạo mà nghĩ đến việc giáo hóa quần sinh; lại nhìn cây mà nghĩ đến bóng mát che bốn loài, đi dạo mà nghĩ việc ban phát phúc tuệ. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].
quán thụ (thọ)
(A) Quán cây Trí Tuệ như Đức Phật Thích Ca khi thành đạo rồi thì từ tòa Kim Cương trở dậy quán cây Bồ Đề (Ngài nói rằng ta mới ngồi ở đạo tràng cũng đã từng quán thụ hay quán cây Bồ Đề)—To contemplate the tree of knowledge, as Sakyamuni is said to have after his enlightenment. (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán cảm thọ' như sau—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about the 'contemplation of feeling' as follows: 1) Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo khi cảm giác lạc thọ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc.” Mỗi khi có một cảm thọ đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ đau khổ.” Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất.” Khi có một cảm thọ khoái lạc tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc tinh thần.” Khi có một cảm thọ khổ đau vật chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau vật chất.” Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau tinh thần.” Khi có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau.”—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating feelings as feelings? Here, when feeling a pleasant feeling, a Bhikkhu understands: “I feel a pleasant feeling;” when feeling a painful feeling, he understands: “I feel a painful feling;” when feeling a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel a neither-painful-nor-pleasant feeling.” When feeling a worldly pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly pleasant feling;” when feeling an unworldly pleasant feling, he understands: “I feel an unworldly pleasant feeling;” when feeling a worldly painful feeling, he understands: “I feel a worldly painful feeling;” when feeling an unworldly painful feeling, he understands: “I feel an unworldly painful feeling;” when feeling a worldly neither-painful-nor pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly neither-painful-nor-pleasant feeling;” when feeling an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling.” 2) Như vậy vị ấy sống quán niệm cảm thọ trên các nội thọ; hay sống quán niệm cảm thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán cảm thọ thể trên cả nội thọ lẫn ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các thọ. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ—In this way he abides contemplating feelings as feelings internally, or he abides contemplating feelings as feelings externally, or he abides contemplating feelings as feelings both internally and externally. Or else he abides contemplating in feelings their arising factors, or he abides contemplating in feelings their vanishing factors, or he abides contemplating in feelings both their arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is feeling' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings.
quán thủ
4791日本佛教用語。又作貫主、管主。貫,籍貫之意;首,乃初之意。貫首本指戶籍簿上第一位列名者,其後引申為一宗一派之領袖。日本天台宗座主最早使用此稱,今則廣指對各宗大本山及諸大寺住持之尊稱。〔孝經(孔安國)序、類聚名物考卷一二四〕
; (貫首) Cũng gọi Quán chủ, Quản chủ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Quán là quê quán; Thủ là đầu, trước hết. Quán thủ vốn chỉ cho người mà tên được ghi ngay ở đầu cuốn sổ hộ tịch, về sau được dùng để chỉ cho lãnh tụ của 1 tông 1 phái. Tông Thiên Thai Nhật Bản sử dụng cách gọi này sớm nhất để chỉ cho vị Tọa chủ. Nay thì từ ngữ này được dùng một cách rộng rãi để tôn xưng các vị Trụ trì của các Đại bản sơn và các chùa lớn của mỗi tông. [X.bài tựa Hiếu kinh (Khổng an quốc); Loại tụ danh vật khảo Q.124].
quán triệt
Parinna (S), Full understanding Xem Liễu tri.
; To penetrate thoroughly
quán trí
Wisdom obtained from contemplation.
; Trí tuệ đạt được qua thiền định—Wisdom obtained from contemplation.
Quán tuế
(丱歲): thưở bé, tuổi nhỏ. Quán (丱) có nghĩa là bện tóc làm hai múi hai bên, nên quán tuế (丱歲) là tuổi bện tóc thành hai múi, tuổi để tóc chỏm. Như vậy, tuổi đồng sấn (童齔) còn trẻ nhỏ hơn quán tuế vài tuổi. Như trong bài Hậu Chu Minh Uy Tướng Quân Lương Công Thần Đạo Bi (後周明威將軍梁公神道碑) của thi sĩ Dương Quýnh (楊炯, 650-695) nhà Đường có câu: “Quán tuế đằng phương, thiều niên siêu ái (丱歲騰芳、髫年超靄, tuổi nhỏ hiển đạt, lớn lên siêu quần).” Trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) có đoạn rằng: “Sư, Vĩnh Gia nhân, tánh Đới thị; quán tuế xuất gia, biến thám Tam Tạng, tinh Thiên Thai Chỉ Quán viên diệu pháp môn (師、永嘉人也、姓戴氏、丱歲出家、遍探三藏、精天台止觀圓妙法門, sư người vùng Vĩnh Gia, họ là Đới; tuổi nhỏ xuất gia, tìm khắp Tam Tạng, tinh thông pháp môn mầu nhiệm tròn đầy của Thiên Thai Chỉ Quán).” Hơn nữa, trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 32 cũng có đoạn: “Trường Sa Phủ Quy Sơn Ngũ Phong Như Học Thiền Sư, Lâm Đồng Nhậm thị tử, quán tuế thất hỗ, tùng Ngũ Đài Thiên Tề trĩ phát, viên cụ ư Trừng Luật Sư (長沙府溈山五峰如學禪師、臨潼任氏子、丱歲失怙、從五臺天齊薙髮、圓具於澄律師, Thiền Sư Như Học ở Quy Sơn Ngũ Phong, Phủ Trường Sa, con nhà họ Nhậm ở Lâm Đồng, tuổi nhỏ đã mất cha, xuống tóc xuất gia với Thiên Tề ở Ngũ Đài Sơn, thọ Cụ Túc giới với Trừng Luật Sư).”
quán tuệ
The wisdom which penetrates to ultimate reality.
; Đem trí tuệ quán chân lý, hay lấy trí tuệ quán sát thấu hiểu được chân lý—The wisdom which penetrates to ultimate reality.
quán tác
6959請參閱 觀佛三昧海經 又作內壇、心壇。密教將曼荼羅之作法分為畫作與觀作兩種,內心觀想曼荼羅,稱為觀作。大日經義釋卷十二(卍續三六‧四五一下):「若行者,或內或外,敷列彼本尊等曼荼羅座位。」其中,內敷列即觀作;其作觀之法,觀種子之字門而成三昧耶形,其三昧耶形即為本尊。〔大日經卷七供養儀式品〕(參閱「內外曼荼羅」1234)
; (觀作) Cũng gọi Nội đàn, Tâm đàn. Trong Mật giáo, tác pháp Mạn đồ la được chia làm 2 loại: Họa tác (vẽ) và Quán tác (quán tưởng). Mạn đồ la được quán tưởng ở trong tâm, gọi là Quán tác. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 12 (Vạn tục 36, 451 hạ) nói: Nếu hành giả trải tòa ngồi Mạn đồ la của Bản tôn ở trong nội tâm hoặc ở bên ngoài. Trong đó, trải ở trong nội tâm tức là Quán tác. Pháp quán tác là quán tưởng chữ chủng tử thành hình Tam muội da, hình Tam muội da này tức là Bản tôn. [X. phẩm Cúng dường nghi thức trong kinh Đại nhật Q.7]. (xt. Nội Ngoại Mạn Đồ La).
quán tâm
6949謂觀照己心以明心之本性。天台宗特別常用「觀心」一詞,如一心三觀、一念三千等皆是有關用語。修一心三觀即於自己一念妄心之上,觀其為假、為空、為中。觀察之對象有心、佛、眾生,其中,自觀己心為最容易,且為最要,因心為一切事物之根本,亦為迷妄之根本,故強調應觀自心之本性。妙法蓮華經玄義卷二上(大三三‧六九六上):「前所明法,豈得異心?但眾生法太廣,佛法太高,於初學為難。然心、佛及眾生,是三無差別者,但自觀己心則為易。」〔法華玄義釋籤卷七上、摩訶止觀卷五上、止觀輔行傳弘決卷五之三〕
; Contemplation of the mind, mental contemplation, contemplation of all things as mind.
; Citta-nupassana (p). (A) Quán sát tâm tính. Tâm là chủ muôn pháp, không có một sự nào ở ngoài tâm cả—Contemplation of the mind—Mental contemplation, contemplation of all things as mind. (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán tâm' như sau—Accroding to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about 'contemplation of mind' as follows: 1) Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức nơi tâm thức? Nầy các Tỳ Kheo, mội khi nơi tâm thức có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có tham dục. Mỗi khi tâm thức không có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình không có tham dục. Mỗi khi trong tâm thức mình có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có sân hận. Mỗi khi tâm thức của mình không có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có sân hận. Mỗi khi tâm thức mình có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang si mê. Mỗi khi tâm thức của mình không có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có si mê. Mỗi khi tâm thức mình có thu nhiếp, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có thu nhiếp. Mỗi khi tâm thức mình tán loạn, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang tán loạn. Mỗi khi tâm thức mình trở thành khoáng đạt, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức mình trở nên hạn hẹp, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có định. Mỗi khi tâm thức mình không có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có định. Mỗi khi tâm thức mình giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang giải thoát. Mỗi khi tâm thức mình không có giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có giải thoát—And how, Bhikkhus, doeas a Bhikhu abide contemplating mind as mind? Here a Bhikhu understands mind affected by lust as mind affected by lust, and mind unaffected by lust as mind unaffected by lust. He understands mind affected by hate as mind affected by hate, and mind unaffected by hate as mind unaffected by hate. He understands mind affected by delusion as mind affected by delusion, and mind unaffected by delusion as mind unaffected by delusion. He understands contracted mind as contracted mind, and distracted mind as distracted mind. He understands exalted mind as exalted mind, and unexalted mind as unexalted mind. He understands surpassed mind as surpassed mind, and unsurpassed mind as unsurpassed mind. He understands concentrated mind as concentrated mind, and unconcentrated mind as unconcentrated mind. He understands liberated mind as liberated mind, and unliberated mind as unliberated mind. 2) Như vậy vị ấy sống quán niệm tâm thức trên nội tâm; hay sống quán niệm tâm thức trên cả nội tâm lẫn ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên tâm thức; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên tâm thức. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên tâm thức. “Có tâm đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức trên các tâm thức—In this way he abides contemplating mind as mind internally, or he abides contemplating mind as mind externally, or he abides contemplating mind as mind both internally and externally. Or else he abides contemplating in mind its arising factors, or he abides contemplating in mind its vanishing factors, or he abides contemplating in mind both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is mind' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind as mind.
; (觀心) Quán chiếu tâm mình để thấy rõ bản tính của tâm. Đặc biệt tông Thiên thai hay dùng từ Quán tâm, như Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên... đều là những dụng ngữ có liên quan đến quán tâm. Tu Nhất tâm tam quán tức là đối với một niệm vọng tâm của chính mình, cùng lúc phải quán nó là Giả, là Không, là Trung. Đối tượng của sự quán sát là Tâm, Phật và Chúng sinh, trong đó, tự quán tâm mình là dễ dàng nhất và cũng là quan trọng nhất. Bởi vì Tâm là gốc rễ của muôn vật, mà cũng là cội nguồn của mê vọng, cho nên cần phải quán xét bản tính của tâm mình. Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu (Đại 33, 696 thượng) nói: ... Những pháp được trình bày ở trên đâu có khác với tâm? Nhưng vì pháp chúng sinh thì quá rộng, mà Phật pháp thì lại quá cao siêu, cho nên đối với những người mới học là rất khó. Còn tâm, Phật và chúng sinh thì cả 3 đều không sai khác, thế nên chỉ cần tự quán tâm mình thì dễ dàng hơn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.7, phần đầu; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].
quán tâm bản tôn sao
6949全一卷。全稱如來滅後五五百歲始觀心本尊抄。略稱本尊鈔、觀心鈔。日僧日蓮作(1273)。收於大正藏第八十四冊。日本日蓮宗最重要之聖典,為其三大部、五大部中最要者。本書重要之論點有如下數說:十界互具之本體論之說明、信心成佛之宗教體驗之提示、主客絕待之本佛本尊之奠定、法華經之末法為正論、開顯統一一切宗教之本法三段之教判論、本因下種論、一閻浮提之正中基本大日本國之提倡。其注釋書有日常之本尊抄見聞、日輝之本尊抄略要等多種。
; (觀心本尊抄) Gọi đủ: Như lai diệt hậu ngũ ngũ bách tuế thủy quán tâm bản tôn sao. Gọi tắt: Bản tôn sao, Quán tâm sao. Tác phẩm, 1 quyển, do sư Nhật liên người Nhật bản soạn vào năm 1273, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Đây là Thánh điển tối quan trọng của tông Nhật liên Nhật bản, cũng là bộ sách trọng yếu nhất trong Tam đại bộ, Ngũ đại bộ. Luận điểm trong sách này có các thuyết như sau: -Thuyết minh về Bản thể luận, tức sự tương quan của Thập pháp giới. -Nêu rõ sự thể nghiệm tông giáo của thuyết Tín tâm thành Phật. -Định vững sự tuyệt đối của đức Phật bản tôn. -Luận về thuyết Mạt pháp trong kinh Pháp hoa là chính đáng. -Giáo phán luận nêu rõ sự thống nhất tất cả các tông giáo qua 3 giai đoạn. -Đề xướng nước Đại nhật bản là trung tâm của cõi Diêm phù đề. Sách chú thích tác phẩm này có: Bản tôn sao kiến văn của Nhật thường, Bản tôn sao lược yếu của Nhật huy...
quán tâm giác mộng sao
6950凡三卷。略稱覺夢鈔。日本良遍著。收於大正藏第七十一冊。唯識之入門書。所謂觀心,即觀一切外在事物與心分離之後,即不存在,基於此唯識之觀心,可使人自迷夢中覺悟真理,故稱覺夢。本書內容分為十三章,論釋法相教義,亦即詳論心與外界事物間之關係,並闡明因唯識之理而獲得開悟。此書乃良遍融合唯識與其他大乘教理所寫成者。
; (觀心覺夢鈔) Gọi tắt: Giác mộng sao. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Lương Biến người Nhật Bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 71.Đây là sách nhập môn của Duy thức học. Quán tâm có nghĩa là quán xét tất cả sự vật bên ngoài sau khi đã chia lìa với tâm thì không còn tồn tại; nhờ sự quán tâm duy thức này mà người ta có thể từ trong mê mộng giác ngộ chân lí, cho nên gọi là Giác mộng. Nội dung sách này chia làm 13 chương, giải thích về giáo nghĩa pháp tướng và bàn rõ về sự quan hệ giữa tâm và sự vật ngoài tâm, đồng thời, thuyết minh nhờ lí duy thức mà đạt được khai ngộ. Tác giả Lương Biến đã dung hợp Duy thức với các giáo nghĩa khác của Đại thừa mà soạn thành sách này.
quán tâm huyền xu
6949全一卷。宋代僧永明延壽(904~975)著。收於卍續藏第一一四冊。係延壽由禪宗之立場論述佛教之觀心玄旨,謂吾人若欲脫境縛、息分別、具足行施與持戒等之六波羅蜜、護持正法、明法相、了四諦、明三藏、降四魔、辨淨染等,皆須由觀心之法而得成就;若不觀心,則一切錯亂顛倒,如九十六種外道。卷末附四六俳偶之偈,抒發願生唯心淨土之念。本書繼承天台等觀心系之思想,援引諸經典中有關觀心之文,闡明「心即大乘」、「心即佛性」、「心攝諸教」等觀心之要義。
; (觀心玄樞) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Trong sách này, ngài Diên Thọ đã đứng trên lập trường của Thiền tông mà bàn về huyền chỉ quán tâm của Phật giáo, cho rằng nếu người ta muốn thoát khỏi sự trói buộc của các trần cảnh, chấm dứt phân biệt, thực hành đầy đủ 6 Ba la mật: Bố thí, trì giới..., hộ trì chính pháp, hiểu rõ pháp tướng, thấu suốt 4 đế, làu thông Tam tạng, hàng phục 4 ma, biện biệt nhơ sạch...thì tất cả đều phải do pháp quán tâm mới thành tựu được. Nếu không quán tâm thì hết thảy đều hỗn loạn điên đảo, như 96 thứ ngoại đạo sai lầm. Cuối quyển có phụ thêm bài kệ biền ngẫu theo thể văn tứ lục(4 chữ, 6 chữ), nguyện sinh Duy tâm tịnh độ. Sách này kế thừa tư tưởng thuộc hệ quán tâm của tông Thiên thai... viện dẫn các đoạn văn có liên quan đến quán tâm trong các kinh điển, nói rõ các yếu nghĩa quán tâm như: Tâm tức Đại thừa, Tâm tức Phật tính, Tâm nhiếp chư giáo.
quán tâm luận
6950請參閱 觀心誦經法記 <一>全一卷。又作破相論。傳係梁代菩提達摩撰,亦有唐代神秀撰之說。收於大正藏第八十五冊。內容說觀心之法;以觀心一法總攝諸法,最為簡要。本書為禪門撮要卷上觀心論(達磨大師觀心論)、少室六門集破相論之異本。 <二>全一卷。隋代智顗述。又稱煎乳論。收於大正藏第四十六冊。係以觀心為旨,闡論四種三昧。本書凡三十六偈,分為十章:(一)明教理圓妙不可說,(二)明不可墮理教而迷見、思二惑,(三)明由悟理之淺深而分四教,(四)明四種三昧之方軌而尋教理,(五)明二十五方便,(六)明諸境雜發不同,(七)觀一境而隨順十乘觀法,(八)明十法觀成即能證諸地住位,(九)明化他起用之不同,(十)明自行化他之法門。
; (觀心論) I. Quán Tâm Luận. Cũng gọi Phá tướng luận. Tác phẩm, 1 quyển, tương truyền do Tổ Bồ Đề Đạt Ma soạn vào đời Lương, cũng có thuyết nói do ngài Thần Tú soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung luận này nói về pháp quán tâm, dùng 1 pháp quán tâm bao nhiếp hết các pháp, rất đơn giản khái quát. Sách này là bản khác của Quán tâm luận (Đạt ma Đại sư Quán tâm luận) trong Thiền môn toát yếu quyển thượng, Phá tướng luận trong Thiếu thất lục môn tập. II. Quán Tâm Luận. Cũng gọi Tiễn nhũ luận. Tác phẩm, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46.Nội dung lấy quán tâm làm chính, bàn rõ về 4 loại Tam muội. Toàn sách gồm 36 bài kệ, chia làm 10 chương: 1. Nói rõ vềgiáolí viên diệu bất khả thuyết. 2. Nói rõ việc không thể rơi vào lí giáo mà mê lầm về Kiến hoặc và Tư hoặc. 3. Thuyết minh do trình độ giác ngộ chân lí có cạn, sâu khác nhau mà chia làm 4 giáo. 4. Nói rõ về phạm vi của 4 loại Tam muội để tìm hiểu giáo lí. 5. Thuyết minh về 25 phương tiện. 6. Thuyết minh về các cảnh hỗn tạp phát khởi khác nhau. 7. Quán xét 1 cảnh mà thuật theo Thập thừa quán pháp. 8. Nói rõ nếu thành tựu 10 pháp quán thì liền chứng được trụ vị của các Địa. 9. Nói về sự khác nhau của việc khởi tác dụng hóa độ chúng sinh. 10. Nói rõ về pháp môn Tự độ độ tha (độ mình và độ người khác).
quán tâm luận sớ
6950凡五卷。隋代灌頂述,智越集纂。收於大正藏第四十六冊。為天台大師智顗觀心論之注釋書,亦係依據摩訶止觀思想而顯發觀心論主旨之名著。內容先作觀心論序、正、流通之分科,序文之說明即佔卷一及卷二之一半,以下全部為正說分之說明,計十章,闡述四種三昧、二十五方便、十種境界、一心三智、十法成乘、破法遍、不起順道法愛等,最後以解釋六即義作結。
; (觀心論疏) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Quán Đính giảng vào đời Tùy, ngài Trí Việt soạn tập, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là sách chú thích bộ luận Quán tâm của Đại sư Thiên thai Trí Khải, đồng thời cũng là trứ tác nổi tiếng y cứ vào tư tưởng Ma ha chỉ quán để phát huy ý chỉ của luận Quán tâm. Nội dung trước hết chia khoa luận Quán tâm làm ba phần Tựa, Chính tông và Lưu thông. Phần tựa chiếm hết quyển 1 và nửa quyển 2, còn toàn bộ từ đó trở xuống là phần Chính tông, gồm 10 chương, trình bày bốn loại Tam muội, 25 phương tiện, 10 loại cảnh giới, 1 tâm 3 trí, 10 pháp thánh thừa, phá khắp các pháp, không khởi đạo thuận ái pháp..., sau cùng kết thúc bằng việc giải thích nghĩa Lục tức.
quán tâm nhị bách vấn
6949全一卷。全稱法智遺編觀心二百問。宋代知禮述,繼忠所集。收於大正藏第四十六冊。趙宋時代,因天台智顗金光明經玄義廣略二本之真偽問題,引發山家、山外兩派長達七年之論戰。至景德三年(1006),知禮集前後十度往返之文書而撰「十義書」。翌年,慶昭亦撰「答十義書」以對抗之,知禮遂撰此書,以十義書之十科為基礎,設一九八條之詰難而反詰之,使此一論戰告一終結。前後七年之論叢,現僅存十義書及本書二部,故成為研究宋代天台宗之重要著作。
; (觀心二百問) Gọi đủ: Pháp trí di biên quán tâm nhị bách vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tri Lễ giảng vào đời Tống, ngài Kế Trung biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Vào thời Triệu Tống, nhân vấn đề thật, giả liên quan đến hai bản Kim quang minh kinh huyền nghĩa Quảng và Lược của ngài Thiên thai Trí Khải mà gây ra cuộc tranh luận kéo dài suốt 7 năm giữa hai phái Sơn gia và Sơn ngoại. Đến năm Cảnh đức thứ 3 (1006), ngài Tri lễ gom góp văn thư qua lại trước sau 10 lần giữa 2 phái mà soạn thành Thập nghĩa thư.Năm sau, ngài Khánh Chiêu cũng soạn Đáp thập nghĩa thư để đối khángThập nghĩa thư.Ngài Tri Lễ bèn soạn sách này (Quán tâm nhị bách vấn), dùng 10 khoa của Thập nghĩa thư làm cơ sở, đặt ra 198 câu hỏi để vặn lại, từ đó, cuộc luận chiến được kết thúc. Tất cả sách vở được soạn trong 7 năm tranh luận, hiện nay chỉ còn Thập nghĩa thư và Quán tâm nhị bách vấn, cho nên hai sách này đã trở thành những tư liệu quan trọng để nghiên cứu về tông Thiên thai đời Tống.
quán tâm thích
6951係天台智顗釋法華經之文句所用四種釋例之一。即以如來所說之法義,為觀心之對境,由觀己心之深廣而入實相之妙理。稱為觀心釋。法華經文句卷一上(大三四‧三下):「觀心釋者,觀前悉檀教迹等諸如是義,悉是因緣生法,即通觀也;因緣即空即假者,別觀也;二觀為方便道,得入中道第一義。」〔法華經科註卷一〕(參閱「四種釋義」1824)
; (觀心釋) Một trong 4 phương thức giải thích mà Đại sư Trí Khải tông Thiên thai sử dụng để giải thích câu văn kinh Pháp hoa. Tức là lấy pháp nghĩa do đức Như lai nói làm đối cảnh để quán tâm, nhờ quán xét tâm mình một cách sâu rộng mà vào được diệu lí thực tướng, gọi là Quán tâm thích. Pháp hoa kinh văn cú quyển 1, phần đầu (Đại 34, 3 hạ) nói: Quán tâm thích nghĩa là quán xét tất cả giáo nghĩa chân thực do đức Như lai nói trong Thế giới đàn đều là pháp nhân duyên sinh, đó là quán chung; nhân duyên tức Không, tức Giả, đó là quán riêng; hai quán này thuộc về hai đạo phương tiện để vào Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế. [X. Pháp hoa kinh khoa chú Q.1]. (xt. Tứ Chủng Thích Nghĩa).
quán tâm thích hoa nghiêm kinh đề
6951華嚴經之全名為「大方廣佛華嚴經」,據華嚴經疏卷三載,以一心法界分別解釋華嚴經題七字,列舉如下:(一)大是心體,大,即常、徧之義;體,即心體。謂此心體含容法界,稱性周徧,平等廣博,無有變遷,且無邊際,故稱大是心體。(二)方是心相,方,即方法;相,即軌持。謂無邊法相,恆沙性德,皆由一心軌持含攝,故稱方是心相。(三)廣是心用,廣,即廣博;用,即業用。謂心之業用,廣博無際,能生出萬法而應用無盡,故稱廣是心用。(四)佛是心果,佛,即覺者;果,即菩提果。謂離諸煩惱,覺了萬法,具一切智,而得無上菩提,乃證得自心之菩提果,此果非從外得,故稱佛是心果。(五)華是心因,華,即譬喻功德萬行;因,即行。謂種種萬行之因華,皆為心之開覺,故稱華是心因。(六)嚴是心功,嚴,即莊嚴;功,即功用。謂以萬行因華,莊嚴法身果體,皆為一心運用之功,故稱嚴是心功。(七)經是心教,經,即能詮之言教;教,即言量。謂於一文一句、諸法眾理,能行布圓融,皆為心之詮量該通,故稱經是心教。
; (觀心釋華嚴經題) Dùng Nhất tâm pháp giới để giải thích đề kinh Hoa nghiêm. Tên đầy đủ của kinh Hoa nghiêm là: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Hoa Nghiêm kinh sớ dùng Nhất tâm pháp giới để giải thích từng chữ trong 7 chữ của đề kinh Hoa nghiêm. Cách giải thích như sau: 1. Đại là thể của tâm: Đại nghĩa là thường hằng, trúm khắp; Thể là thể của tâm. Thể của tâm chứa đựng pháp giới, xứng tính chu biến, bình đẳngrộng lớn, không có đổi dời, cũng không có ngằn mé, cho nên gọi ‘Đại là thể của tâm. 2. Phương là tướng của tâm: Phương tức là phương pháp; Tướng tức là quĩ trì. Nghĩa là vô biên pháp tướng, hằng sa tính đứcđều do1 tâm duy trì dung nhiếp, vì thế gọi Phương là tướng của tâm. 3. Quảng là dụng của tâm: Quảng là rộng lớn, dụng là nghiệp dụng. Nghĩa là nghiệp dụng của tâm rộng lớn vô biên, có năng lực sinh ra muôn pháp và ứng dụng vô tận, vì thế gọi Quảng là dụng của tâm. 4. Phật là quả của tâm: Phật tức bậc giác ngộ; Quả tức là quảbồ đề.Nghĩa là bậc lìa các phiền não, rõ biết muôn pháp, đầy đủ tất cả trí, đượcbồ đề vô thượng,bậc chứng đắc quả bồ đề của tâm mình, quả này chẳng phải được từ bên ngoài, cho nên gọi Phật là quả của tâm. 5. Hoa là nhân của tâm: Hoa tức ví dụ cho muôn hạnh công đức; Nhân tức là hạnh. Nghĩa là nhân hoa của muôn hạnh đều là sự khơi mở giác ngộ của tâm, vì thế gọi Hoa là nhân của tâm. 6. Nghiêm là công của tâm: Nghiêm tức trang nghiêm; Công tức công dụng. Nghĩa là dùng nhân hoa muôn hạnh để tô điểm cho quả thể pháp thân, đều là công vận dụng nhất tâm, cho nên gọi Nghiêm là công của tâm. 7. Kinh là giáo của tâm: Kinh tức ngôn giáo năng thuyên; Giáo tức ngôn thượng. Nghĩa là 1 câu 1 lời, các pháp các lí, đều có thể hoằng hóa tất cả, đều là thuyên lượng bao quát của tâm, vì thế gọi Kinh là giáo của tâm.
quán tâm thực pháp
6950全一卷。又稱觀食法。隋代智顗述。收於卍續藏第九十九冊。本書教人以觀法受食,成為般若食,顯明空、假、中三觀中道之旨趣,並引淨名所言(卍續九九‧五五上)「非有煩惱,非離煩惱,非入定意,非起定意,是名食法」為旨趣。〔天台教學史第四章(慧嶽)〕
; (觀心食法) Cũng gọi Quán thực pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí Khải giảng vào đời Tùy, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Sách này dạy người dùng pháp quán mà thụ thực (tức dùng pháp quán làm thức ăn), trở thành Bát nhã thực, hiển bày chỉ thú của Tam quán trung đạo, đồng thời, dẫn lời trong kinh Tịnh danh (Vạn tục 99, 55 thượng): Chẳng phải có phiền não, chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải nhập định tâm, chẳng phải khởi định tâm, đó gọi là Thực pháp. [X.chương 4 trong Thiên thai giáo học sử (Tuệ nhạc)].
quán tâm tụng kinh pháp kí
6950 請參閱 觀心本尊抄全一卷。又稱觀心誦經記。隋代智顗說,唐代湛然述。收於卍續藏第九十九冊。本書乃宣說誦經須身、口、意三業清淨,配合空、假、中三觀而運慈、悲二法,以趨入第一義空為旨趣。〔天台教學史第三章(慧嶽)〕
; (觀心誦經法記) Cũng gọi Quán tâm tụng kinh kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí Khải giảng vào đời Tùy, ngài Trạm Nhiên ghi thuật vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Sách này dạy người khi giảng nói, đọc tụng kinh điển, phải thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, phối hợp với 3 quán Không Giả Trung, vận dụng 2 pháp Từ bi và lấy hướng tới Đệ nhất nghĩa không làm chỉ thú.[X.chương 3 trong Thiên thai giáo học sử (Tuệ nhạc)].
quán tâm vô thường
xem Bốn niệm xứ.
quán tăng thượng lực sở đắc tam ma địa
如觀三摩地中說。
quán tăng thượng tam ma địa
瑜伽九十八卷六頁云:復有苾芻、如所聞法,如所得法,獨處空閑,思惟籌量審諦觀察。由此因緣,漸次生起勝三摩地。當知是名觀增上三摩地。
quán tương thuộc luận
Saṃbandha-pariksa (S)Tên một bộ luận kinh.
quán tướng
瑜伽十一卷二十二頁云:云何觀相?謂聞思修慧所思惟諸法相。二解瑜伽三十一卷八頁云:云何觀相?謂有二種。一、所緣相,二、因緣相。所緣相者:謂毘鉢舍那品所知事同分影像。由此所緣,令慧觀察。因緣相者:謂依毘鉢舍那所熏習心,為令後時毘鉢舍那、皆清淨故;修習內心奢摩他定所有加行。
quán tướng thuộc luận
6960梵名 Sambandha-parīkṣā。全一卷。又稱相屬觀察論。六、七世紀頃,印度法稱論師著。為因明七論之一。內容闡述建立論式各概念間之相屬關係。書末附有法稱自作之注釋。西藏佛教格魯派三大寺之學制規定,於學習因明之初步課程中,有關概念間關係之基本原則,必以此書為本。
; (觀相屬論) Phạm: Sambandha- parìkwa. Cũng gọi Tương thuộc quán sát luận. Luận, 1 quyển, do Luận sư Pháp xứng người Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ thứ VI, VII, là 1 trong 7 bộ luận về Nhân minh. Nội dung luận này nói rõ về sự quan hệ tương thuộc giữa các khái niệm kiến lập luận thức. Cuối sách có phụ thêm phần chú thích do chính tác giả tự soạn. Chế độ học tập tại 3 ngôi chùa lớn của phái Cách lỗ thuộc Phật giáo Tây tạng qui định: Trong chương trình bước đầu học tập Nhân minh phải lấy sách này làm gốc để tìm hiểu nguyên tắc cơ bản về mối quan hệ giữa các khái niệm.
quán tưởng
6969請參閱 觀經義疏正觀記 請參閱 觀無量壽經疏 [1]略作想。即集中心念於某一對象,以對治貪欲等妄念。或為進入正觀而修之一種方便觀。坐禪三昧經卷下(大一五‧二八一中):「行菩薩道者,於三毒中若婬欲偏多,先自觀身,骨、肉、皮、膚、筋、脈、流、血、肝、肺、腸、胃、屎、尿、涕、唾,三十六物,九想不淨,專心內觀,不令外念,外念諸緣,攝之令還。」此謂修「九想觀」能斷淫慾。又觀無量壽經謂,修「日觀」等,能方便入極樂依正之真觀。密教於初發菩提心之行者,亦屢設種種方便之觀想,如觀想諸尊之形像、三摩耶形等,藉此觀想而去除妄念,信樂倍增,進而以有相入無相,泯除一切能所差別之見,體證萬法平等,而與本尊相應。〔安像三昧儀軌經、大日經疏卷十一、卷十四、大毘盧遮那經供養次第法疏卷下持誦法則品〕
; Bhàvanà (S). To meditate and think. Meditation, mental development.
; Dùng cái tâm năng quán để quán cái cảnh sở quán, khi quán thành thì niệm khởi, cảnh liền hiện, như quán mặt trời thì niệm khởi thấy ban đêm như ban ngày.
; Contemplation—See Thiền. (I) Ý nghĩa của quán tưởng—The meanings of contemplation. 1) Quán tưởng là phương pháp Phật tử áp dụng hằng ngày, luyện cả thân tâm, đem lại sự hòa hợp giữa tinh thần và vật chất, giữa con người và thiên nhiên: Contemplation is the daily practice of Buddhist adepts for training the body and mind in order to develop a balance between Matter and Mind, between man and the universe. 2) Quán tưởng và niệm hồng danh một vị Phật trong tâm, đặc biệt là Phật A Di Đà—To contemplate—To focus—To visualze—To meditate and think—To contemplate Buddha, especially Amitabha, in the mind and repeat his name. 3) Quán tưởng là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích và suy nghiệm một vấn đề, giúp cho thân an và tâm không loạn động, cũng như được chánh niệm. Quán tưởng không phải là chuyện đơn giản. Thật vậy, trong thế giới máy móc hiện đại hôm nay, cuộc sống cuồng loạn làm tâm trí chúng ta luôn bị loạn động với biết bao công chuyện hằng ngày khiến cho chúng ta mệt mỏi về thể xác lẫn tinh thần, nên việc làm chủ thân mình đã khó, mà làm chủ được tâm mình lại càng khó hơn: Contemplation can fundamentall be defined as the concentration of the mind on a certain subject, aiming at realizing a tranquil body, and an undisturbed mind as a way to perform right mindfulness. Contemplation is not a simple matter. In the world today, based on mechanical and technological advances, our life is totally distrubed by those daily activities that are very tiresome and distressing for mastering; thus, the body is already difficult and if we want to master the mind, it is even more difficult. (II) Trước khi quán tưởng—Before contemplation: See Thiền Định (IV). (III) Những phương pháp quán tưởng—Methods of contemplation: 1) Ngũ đình tâm quán: Five-fold procedures for quieting the mind—See Ngũ Đình Tâm Quán. 2) Tứ Niệm Xứ: Four types of Buddhist meditation for eradicating illusions and attaining enlightenment—See Tứ Niệm Xứ. (IV) Những lời Phật dạy về “Quán Tưởng” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Contemplation” in the Dharmapada Sutra: 1) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Phật Đà—The disciples of Gotama are always well awake. Those who always contemplate the Enlightened One by day and night (Dharmapada 296). 2) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Đạt Ma—The disciples of Gotama are always well awake. Those who always contemplate the Dharma by day and night (Dharmapada 297). 3) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Tăng già—The disciples of Gotama are always awake. Those who always contemplate the Sangha by day and night (Dharmapada 298). 4) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng sắc thân—The disciples of Gotama are always awake. Those who always contemplate the body by day and night (Dharmapada 299). 5) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường vui điều bất sát—The disciples of Gotama are always awaken. Those who always contemplate delight in harmlessness or compassion by day and night (Dharmapada 300). 6) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường ưa tu thiền quán—The disciples of Gotama are always awaken. Those who always contemplate delight in meditation by day and night (Dharmapada 301). 7) Không có trí huệ thì không có thiền định, không có thiền định thì không có trí tuệ. Người nào gồm đủ thiền định và trí tuệ thì gần đến Niết bàn—There is no concentration in one who lacks wisdom, nor is there wisdom in him who lacks concentration. He who has both concentration and wisdom is near Nirvana (Dharmapada 372).
; (觀想) Gọi tắt: Tưởng. Tập trung tưởng niệm vào 1 đối tượng duy nhất nào đó để áp phục những vọng tưởng như tham dục..., hoặc là 1 loại quán tưởng phương tiện cần phải thực hành để đi vào chính quán. Kinh Tọa thiền tam muội quyển hạ (Đại 15, 281 trung) nói: Người tu hành đạo Bồ tát, trong 3 độc nếu thấy nghiêng nặng về dâm dục thì trước phải quán thân, xương, thịt, da dày, da mỏng, gân, mạch, mồ hôi, máu, gan, phổi, ruột, dạ dày, phân, nước tiểu, nước mắt, nước miếng, đờm, dãi, 36 vật, 9 thứ quán tưởng bất tịnh, chuyên tâm quán xét bên trong, không nhớ nghĩ bên ngoài, nếu nhớ nghĩ đến các duyên bên ngoài thì lập tức thu nhiếp các duyên trở về. Đây nói tu, Cửu tưởng quán có công năng đoạn trừ dâm dục. Theo kinh Quán Vô lượng thọ thì tu quán mặt trời... là phương tiện để đi vào chân quán chính báo, y báo của thế giới Cực Lạc. Mật giáo đối với những hành giả mới phát tâm bồ đề cũng thường đặt ra các loại quán tưởng phương tiện, như quán tưởng hình tượng, hình Tam muội da... của các vị tôn, nhờ sự quán tưởng ấy để diệt trừ vọng niệm, dần dần từ hữu tướng tiến vào vô tướng, dứt bặt tất cả cái thấy chủ quan, khách quan sai biệt, thể chứng muôn pháp bình đẳng mà ứng hợp với Bản tôn.[X. kinh An tượng tam muội nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.11, 14; phẩmTrì tụng pháp tắc trong Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ].
quán tưởng danh hiệu phật
Buddha remembrance.
quán tưởng hình ảnh
utpattikrama (S), Visualization stage.
quán tưởng niệm phật
6969出自宗密之普賢行願品疏鈔四種念佛之一。端正身心,觀想佛身相好莊嚴,稱為觀想念佛。據觀佛三昧海經卷九、卷十、坐禪三昧經卷上載,若於佛之三十二相,專觀其中一相,能滅九十億那由他恆河沙微塵數劫之生死重罪;若觀其全身相好,須端坐正受,繫念佛身,莫念地、水、火、風等諸餘法,常念佛身,見十方三世諸佛悉在目前,可滅除無量劫之罪。此外,觀想念佛又有一相觀、多相觀、全相觀之別。(參閱「四種念佛」1804)
; To contemplate Buddha (especially Amitàbha) in the mind and repeat his name.
; Quán tưởng Đức Phật A Di Đà mà niệm thầm hồng danh ngài, đối lại với niệm ra bằng lời—To contemplate Buddha, especially Amitabha, in the mind and repeat his name silently, in contrast with repeating his name loudly .
; (觀想念佛) Ngồi ngay thẳng, chuyên tâm chính niệm quán tưởng tướng hảo trang nghiêm của thân Phật, là 1 trong 4 cách niệm Phật được nói trong Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ sao của ngài Tông mật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 9, 10 và kinh Tọa thiền tam muội quyển thượng, nếu chuyên quán1 trong 32 tướng của Phật thì diệt được tội nặng sinh tử trong 90 ức na do tha hằng hà sa vi trần số kiếp; nếu quán tưởng hảo của toàn thân Phật thì phải ngồi ngay thẳng và chính thụ buộc niệm nơi thân Phật, không nghĩ đến các pháp khác như đất, nước, lửa, gió... thường chỉ nhớ nghĩ thân Phật, thấy chư Phật ở 3 đời 10 phương đều ở ngay trước mắt, thì diệt trừ được tội chướng của vô lượng kiếp. Ngoài ra, quán tưởng niệm Phật còn có Nhất tướng quán, Đa tướng quán, Toàn tướng quán khác nhau. (xt. Tứ Chủng Niệm Phật).
quán tượng
Diễn tả voi bằng cách cảm biết thay vì nhìn thấy, như trường hợp một nguời mù rờ voi (chỉ đúng ngay lúc đó mà thôi, chứ không phải là chân lý)—To describe an elephant from feeling rather than seeing it, as a blind man does (from feeling it, i.e. immediate and correct knowledge).
quán tượng niệm phật
To contemplate the image of (Amitàbha) Buddha and repeat his name.
; Một trong bốn loại niệm Phật, niệm hình tượng hóa thân của Đức Phật A Di Đà trong tâm mình, hoặc nhìn hình tượng mà niệm hồng danh ngài—One of the four kinds of contemplation of the Buddha, to contemplate the image of Amitabha Buddha and repeat his name.
quán tại tát đỏa
Kuan-Yin Bodhisattva—See Quán Thế Âm and Avalokitesvara.
quán tẩy
Tắm rửa tượng Phật, thường được tổ chức trong ngày Khánh Đản—To wash a Buddha's image, usually done during the Buddha's Birthday.
quán tổng tướng luận tụng
Sarva-lakṣaṇadhyāna-śāstra-kārikā (S)Do ngài Trần Na biên soạn.
quán tứ niệm xứ
To meditate upon the Body, Feelings, Mind and Dharma—To contemplate the four contemplations: 1) Quán thân bất tịnh—To contemplate that the body is not sanitary: Vì điên đảo mộng tưởng mà đa số chúng ta đều cho rằng thân nầy quý báu hơn hết. Nên thân nầy cần phải được ăn ngon mặc đẹp. Chính vì vậy mà chúng ta vật lộn với cuộc sống hằng ngày. Đời sống hằng ngày không còn là nơi an ổn nữa, mà trở thành đấu trường của tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng, tỵ hiềm, ganh ghét và vô minh. Từ đó ác nghiệp được từ từ kết tạo. Người tu chân thuần phải quán thân từ mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, hậu môn, vân vân đều là bất tịnh. Khi ngồi chúng ta nên quán tưởng thân nầy là bất tịnh, được bao phủ bởi một cái túi da nhơ nhớp, bên trong như thịt, mỡ, xương, máu, đàm, và những chất thừa thải mà không một ai dám đụng tới. Thân nầy, nếu không được tắm rữa bằng nước thơm dầu thơm và xà bông thơm, thì chắc chắn không ai dám tới gần. Hơn nữa, thân nầy đang hoại diệt từng phút từng giây. Khi ta ngừng thở thì thân nầy là cái gì nếu không phải là cái thây ma? Ngày đầu thì thây ma bắt đầu đổi màu. Vài ngày sau đó thây thảy ra mùi hôi thúi khó chịu. Lúc nầy, dù là thây của một nữ tú hay nam thanh lúc còn sanh thời, cũng không ai dám đến gần. Người tu Phật nên quán thân bất tịnh để đối trị với tham ái, ích kỷ, và kiêu ngạo, vân vân. Một khi ai trong chúng ta cũng đều hiểu rằng thân nầy đều giống nhau cho mọi loài thì chúng ta sẽ dễ thông hiểu, kham nhẫn và từ bi hơn với mình và với người. Sự phân biệt giữa người già, người phế tật, và các chủng tộc khác sẽ không còn nữa—Due to illusions, most of us think that our body is more valuable than any thing else. So it needs be provided with better foods and expensive clothes. Therefore, the 'struggle for life' has come into play. Life is no longer a peaceful place, but a battle field with greed, hatred, envy, arrogance, doubt, wrong views, killing, stealing, sexual misconduct, lying. Evil karma is gradually formed as a result. Earnest Buddhists should view the body (eye, ear, skin, hair, nose, tongue, mouth, anus, etc) is unclean (Quán thân bất tịnh) which covered with a bag of skin, inside are flesh, fat, bone, blood, mucus and waste matters of which no one wishes to touch. The body itself, if not being washed frequently with fragrant water and soap, no one wants to stay close to it. In addition, it is prone to decay minute after minute, second after second. If we stop breathing, what is the body called if not a corpse? During the first day, its color is changing. A few days later, it becomes bluish and produces offensive odor. At this time, even if that disintegrated body once was the most beautiful woman or a handsome man, no one wants to be close to it. Earnest Buddhist should always contemplate that the body is unclean. This contemplation is designed to cure greed, attachment, selfishness, and arrogance. Also, when people realize that they are physically and biologically the same, they would easily understand, tolerate and compassionate among themselves and others. The discrimination against the aging, people with disabilities, and the other race would be diminished. 2) Quán rằng cảm thọ là đau khổ—To view all the feelings are painful: Có ba loại cảm thọ là vui sướng, khổ đau và trung tính; tuy nhiên, Phật dạy mọi cảm thọ đều đau khổ vì chúng vô thường, ngắn ngủi, không nắm bắt được, và do đó chúng là không thật, ảo tưởng. Hơn nữa, khi chúng ta nhận của ai cái gì thì lẽ đương nhiên là chúng ta phải làm cái gì đó để đền trả lại. Rất có thể chúng ta phải trả giá cao hơn cho những gì mà chúng ta đã nhận. Tuy nhiên, sự nhận về phần vật chất vẫn còn dễ nhận ra để đề phòng hơn là sự cảm thọ tinh thần, vì cảm thọ là một hình thức thọ nhận mà phần đông chúng ta đều vướng bẫy. Nó rất vi tế, nhưng hậu quả tàn phá của nó thật là khốc liệt. Thường thì chúng ta cảm thọ qua sáu căn. Thí dụ như khi nghe ai nói xấu mình điều gì thì mình lập tức nổi trận lôi đình. Thấy cái gì có lợi thì mình bèn ham muốn. Tham sân là hai thứ thống trị những sinh hoạt hằng ngày của chúng ta mà chúng ta không tài nào kiểm soát chúng được nếu chúng ta không có tu. Quán thọ thị khổ dần dần giúp chúng ta kiểm soát được những cảm thọ cũng như thanh tịnh tâm của chúng ta, kết quả sẽ làm cho chúng ta có được an lạc và tự tại—There are three kinds of feelings: pleasures, pain and neutral ones; however, according to Buddha's teaching, all feelings are painful because they are impermanent, transcient, ungraspable, and therefore, they are unreal, illusive and deceptive. (Quán thọ thị khổ). Furthermore, when you accept something from others, naturally, you have to do something else for them in return. It might cost you more than what you have accepted. However, we can easily refuse material things, but the hardest thing to escape is our own feelings. Feeling is a form of acceptance that most of us could easily be trapped. It is very subtle, but its effect is so destructible. We usually feel whatever conveyed to us by the six senses. For example, hearing someone bad-mouth on us, we feel angry at once. Seeing something profitable, we readily feel greedy. After all, if we don't cultivate, greed and angry are two uncontrollable agents which dominate and overwhelm our daily activities. To contemplate all the feelings are painful will gradually assist us to keep the feelings under control as well as to purify our mind; and as a result, provide us the joy and peace. 3) Quán thấy tâm ngắn ngủi vô thường—To view the mind is transcient or impermanent: Nhiều người cho rằng tâm họ không thay đổi vì thế cho nên họ luôn chấp vào những gì họ nghĩ và tin rằng đó là chân lý. Rất có thể một số cũng thấy tâm mình luôn thay đổi, nhưng họ không chấp nhận mà cứ lờ đi. Người tu Phật nên quán sát tâm thiện, tâm ác của ta đều là tướng sanh diệt vô thường không có thực thể. Tất cả các loại tâm sở tướng nó chợt có chợt không, chợt còn chợt mất thì làm gì có thật mà chấp là tâm mình. Trong khi ngồi thiền định, người ta sẽ có cơ hội nhận ra rằng tâm nầy cứ tiếp tục nhẩy nhót còn nhanh hơn cả những hình ảnh trên màn ảnh xi nê. Cũng chính vì vậy mà thân không an vì phải luôn phản ứng theo những nhịp đập của dòng suy tưởng. Cũng chính vì vậy mà con người ta ít khi được tĩnh lặng và chiêm nghiệm được hạnh phúc thật sự. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng tâm không phải là một thực thể của chính nó. Nó thay đổi từng giây. Chính vì thế mà Phật đã dạy rằng tâm của phàm phu như con vượn chuyền cây, như gió, như điển chớp hay như giọt sương mai trên đầu cỏ. Pháp quán nầy giúp cho hành giả thấy được mọi sự mọi vật đều thay đổi từ đó có khả năng dứt trừ được bệnh chấp tâm sở là thật của ta—Most people think that their mind is not changed; therefore, they attach to whatever they think. They believe that what they think reflects the truth. Probably some of them would discover that their mind is changing, but they refuse to accept it. Buddhist practitioners should always contemplate their wholesome and unwholesome minds, they are all subject to rising and destroying. They have no real entity. In sitting meditation, one will have the chance to recognize the facts that the mind keeps jumping in a fast speed as pictures on a movie screen. The body, therefore, always feels restless and eager to react on the thinking pulses. That is why people are rarely calm down or experiencing true happiness. Earnest Buddhists should always remember that the mind does not have any “real entity” to itself. It changes from second to second. That's why the Buddha viewed the mind of an ordinary person is like a swinging monkey, the wind, lightning or a drop of morning dew (Quán tâm vô thường). This contemplation helps the practitioners see that everything is changed so that the practitioners will have the ability to eliminate attachment to what they think. 4) Quán pháp vô ngã—To view the Dharma is without-self: Quán pháp không có tự tánh. Mọi vật trên đời, vật chất hay tinh thần, đều tùy thuộc lẫn nhau để hoạt động hay sinh tồn. Chúng không tự hoạt động. Chúng không có tự tánh. Chúng không thể tự tồn tại được. Thân thể con người gồm hàng tỷ tế bào nương tựa vào nhau, một tế bào chết sẽ ảnh hưởng đến nhiều tế bào khác. Cũng như vậy, nhà cửa, xe cộ, đường xá, núi non, sông ngòi đều được kết hợp bởi nhiều thứ chứ không tự tồn. Do vậy, mọi vật trên đời nầy đều là sự kết hợp của nhiều vật khác. Chẳng hạn như nếu không có chất bổ dưỡng, nước, và không khí thì thân thể nầy chắc chắn sẽ ốm o gầy mòn và cuối cùng sẽ bị hoại diệt. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy rằng vạn pháp vô ngã, không, và vô thường. Hành giả nào thường quán pháp vô ngã thì những vị ấy sẽ trở nên khiêm nhường và đáng mến hơn—Everything in the world, either physical or mental, is depend upon each other to function or survive. They are not free from one another or free to act on their owns, on their own will. They do not have a "self.” They are not capable of being self-existed. A human body is composed of billions of cells that depend on one another; one cell dies will effect so many other cells. Similarly, a house, a car, a road, a mountain, or a river all are compounded, not being self-existed. Everything, therefore, is a combination of other things. For instance, without nutritious foods, water, and fresh air, this body will certainly be reduced to a skeleton and eventually disintegrated. Thus the Buddha taught: “All existents are selfless, empty, and impermanent.” Practitioners who always contemplate 'the dharma is without-self,' they should become more humble and likable.
quán từ bi
(từ bi quán): phép quán tưởng trong đó hành giả khởi tâm từ bi hướng đến tất cả chúng sanh.
Quán tử thi
觀死屍; P: sīvathikā;|Một phần trong phép quán thân, được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta).
quán tử thi
Sīvathikā (S), Aśubha-bhāvanā (S), Meditation on dead body.
quán tự tâm sở hiện cố
Do bởi sự thông hiểu rằng thế giới là biểu hiện của chính cái tâm mình—By thoroughly comprehending that the world is the manifestation of one's own mind.
quán tự tông giáo
如教導有十二種中說。
quán tự tăng thượng tự tính công đức tướng
如戒蘊略義有三種相中說
Quán Tự Tại
觀自在|Quán Thế Âm
quán tự tại
Xem Bồ tát Quán thế âm.
; Sovereign Regarder (not associated with sounds or cries)
; Sarvayogavasavartin (skt)—Ở cảnh sự lý vô ngại, đạt quán tự tại (không có quan hệ với tầm thanh cứu khổ). Đức Phật được xem như là bậc “Quán Tự Tại.”—One who contemplates at ease—Reality Observant Bodhisattva—Sovereign Regarder (beholder), not associated with sounds or cries. The Buddha is regarded as Sarvayogavasavartin. ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section.
quán tự tại bồ tát
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Bodhisattva of Free Reflection—Bodhisattva Avalokitesvara—See Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
quán tự tại bồ tát như ý luân du già
Avalokiteśvara-cintamāṇi-bodhisattva-yogādharma-mahārtha (S)Quán Tự Tại Bồ tát như ý luân du già niệm tụng phápTên một bộ kinh.
quán tự tại bồ tát như ý luân du già niệm tụng pháp
Xem Quán Tự Tại Bồ tát như ý luân du già.
quán tự tại vương như lai
6957即西方阿彌陀佛之異名。為密教五佛之一。密號清淨金剛。其身赤色,住於三摩地印,三昧耶形為蓮花。其四方有四菩薩,即:前為金剛法菩薩,右為金剛利菩薩,左為金剛因菩薩,後為金剛語菩薩。密教以之為阿彌陀佛之本名。胎藏界八葉院西北角之觀音,即示此佛之因位。〔略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門〕
; (觀自在王如來) Tên gọi khác của đức Phật A di đà ở phương Tây, là 1 trong 5 đức Phật của Mật giáo, mật hiệu là Thanh tịnh kim cương. Thân hình Ngài màu đỏ, trụ trong ấn Tam ma địa, hình Tam muội da là hoa sen. Bốn phía quanh Ngài có 4 vị Bồ tát: Phía trước là bồ tát Kim cương pháp, bên phải là bồ tát Kim cương lợi, bên trái là bồ tát Kim cương nhân, phía sau là bồ tát Kim cương ngữ. Mật giáo dùng danh hiệu Như lai này làm tên gốc của Phật A di đà. Bồ tát Quán âm ngồỉ ở góc Tây bắc trong viện Bát diệp của Thai tạng giới tức là nhân vị thị hiện của đức Phật này. [X. Lược thuật kim cương đính Du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn].
Quán vô lượng thọ kinh
觀無量壽經; S: amitayurdhyāna-sūtra;|Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh độ tông. Kinh mô tả thế giới Phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì: bằng cách sống thanh tịnh, giữ Giới luật (s: śīla) và niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hành giả giải thoát các nghiệp bất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ của Ngài.|Kinh này chỉ rõ quá trình phát sinh giáo pháp của Tịnh độ tông và thật ra đã được đức Phật lịch sử Thích-ca trình bày. Tương truyền rằng, hoàng hậu Vaidehi, mẹ của vua A-xà-thế, bị con mình bắt hạ ngục cùng với chồng là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra). Bà nhất tâm cầu nguyện Phật và khi Phật hiện đến, Bà xin tái sinh nơi một cõi yên lành hạnh phúc. Phật dùng thần lực cho bà thấy mọi thế giới tịnh độ, cuối cùng bà chọn cõi Cực lạc của A-di-đà. Phật dạy cho bà phép thiền định để được tái sinh nơi cõi đó. Phép thiền định này gồm 16 phép quán tưởng, và tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của Tịnh độ. Mười sáu phép quán tưởng đó là: quán mặt trời lặn; quán nước; quán đáy sông; quán cây cối; quán nước cam lộ; quán thế giới thực vật; quán nước và đáy nước; quán toà sen; quán ba báo thân của ba vị thánh A-di-đà, Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí; quán ba ứng thân của Phật A-di-đà; của Quán Thế Âm; của Ðại Thế Chí; quán A-di-đà trong cõi Tịnh độ; quán ba vị thánh trong cõi Tịnh độ; quán cấp thượng căn trong cõi Tịnh độ; quán cấp trung căn và hạ căn trong cõi Tịnh độ. Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A-di-đà và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắn hành giả sẽ được tái sinh về Tịnh độ.
quán vô lượng thọ kinh
6967全一卷。劉宋畺良耶舍譯。又稱觀無量壽佛經、無量壽佛觀經、無量壽觀經、十六觀經。略稱觀經。收於大正藏第十二冊。淨土正依三部經之一。內容敘述佛陀應韋提希夫人所請,示現西方極樂淨土,並說修三福、十六觀為往生法。 唐代善導謂此經以觀佛三昧為宗,又以念佛三昧為宗。相對於淨影慧遠、嘉祥吉藏等諸師所立十六觀皆定善之說,而立十六觀之後三觀為九品之散善。又謂佛雖廣說定、散兩門之益,然佛意唯在專稱阿彌陀佛名號。又據下品下生之文(大一二‧三四六上):「如是至心令聲不絕,具足十念,稱南無阿彌陀佛。」解釋無量壽經第十八願之「乃至十念」即指十聲稱佛,遂以散心稱名為一切善、惡凡夫得往生之正定業;日僧源空即依其所說,創立日本淨土宗。 蓋此經屬於觀經之一,與觀佛三昧海經、觀普賢菩薩行法經、觀彌勒上生兜率天經、觀世音觀經等皆為同類型者,乃說觀彌陀、觀音、勢至等三聖及極樂淨土莊嚴之法。又於十六觀中,以第九阿彌陀佛真身觀為最重要之觀行,經題亦依之而立。 有關此經之翻譯,諸經錄、僧傳說法不一。於出三藏記集卷四謂,此經之譯者不詳。梁高僧傳卷三,以此經於劉宋時由畺良耶舍譯出,僧含筆受;法經錄以下之諸經錄皆沿用其說。又歷代三寶紀卷四、卷七,於畺良耶舍之譯本外,另列舉東漢、東晉兩種譯者不詳之譯本。 注釋本經之著作頗多,重要者有觀無量壽經義疏二卷(慧遠)、觀無量壽佛經疏一卷(智顗)、觀無量壽經義疏一卷(吉藏)、觀無量壽經疏四卷(善導)、觀無量壽佛經圖頌一卷(傳燈)、觀無量壽佛經約論一卷(彭際清)、觀無量壽經扶新論一卷(戒度)等,其中以唐代善導之觀無量壽經疏四卷,流通較廣。〔開元釋教錄卷一、卷五、新編諸宗教藏總錄卷一〕
; Amitāyurdhyāna-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; Amitàyurdhyàna-sùtra (S). Sùtra of the meditation on Amitàyus.
; Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh—Quán Kinh—Một Kinh Đại Thừa quan trọng, liên hệ tới Phật A Di Đà và trường phái Tịnh Độ (có nhiều luận cho bộ kinh nầy)—The Sutra of Contemplation of Infinite Life. An important Mahayana sutra relating to Amitabha Buddha and the Pure Land (there are numerous commentaries on it).
; (觀無量壽經) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh, Vô lượng thọ Phật quán kinh, Vô lượng thọ quán kinh, Thập lục quán kinh. Gọi tắt: Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạngtập 12. Đây là 1 trong 3 bộ kinh của Tịnh độ giáo nói về y báo, chính báo của thế giới Cựclạc phương Tây. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nhận lời thỉnh cầu của phu nhân Vi đề hi thịh iện ra cõi Tịnh độ Cực lạc ở phương Tây, đồng thời nói tu 3 phúc và 16 pháp quán tưởng để được vãng sinh. Ngài Thiện Đ ạo đời Đường cho rằng kinh này lấy Quán Phật tam muội và Niệm Phật tam muội làm tông chỉ. Trái với các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn và Gia tường Cát tạng chủ trương 16 pháp quán đều là Định thiện; ngài Thiện Đạo lại cho 3 quán sau (Thượng bối quán, Trung bối quán, Hạ bối quán) trong 16 pháp quán thuộc về 9 phẩm, là Tán thiện. Ngài Thiện Đạo còn cho rằng tuy đức Phật nói rộng về sự lợi ích của Định môn và Tán môn, nhưng trong thâm ý đức Phật chỉ muốn chúng sinh chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà mà thôi. Như những câu văn trong Hạ phẩm hạ sinh nói (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Nam mô A di đà Phật. Ngài Thiện đạo dựa vào những câu văn trên mà giải thích từ ngữ nãi chí thập niệm (cho đến 10 niệm) của nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ là chỉ cho 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật, nên ngài chủ trương tán tâm xưng danh là chính định nghiệp được vãng sinh của tất cả phàm phu thiện ác. Sư Nguyên Không của Nhật Bản đã căn cứ vào những điều ngài Thiện đạo nói mà sáng lập tông Tịnh độ Nhật Bản. Vì kinh này thuộc 1 trong những Quán kinh, nên là cùng loại với các kinh như kinh Quán Phật tam muội hải, kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp, kinh Quán Di lặc thướng sinh Đâu suất thiên, kinh Quán thế âm quán... kinh này nói về 3 bậc Thánh: A di đà, Quán thế âm, Đại thế chí và về pháp trang nghiêm Tịnh độ cực lạc. Lại trong 16 pháp quán thìA di đà Phật chân thân quán (thứ 9) là pháp quán trọng yếu nhất, tên kinh cũng theo đó mà đặt. Về việc phiên dịch kinh này thì các bộ kinh lục cũng như Tăng truyện nói đều khác nhau. Xuất Tam tạng kí tập quyển 4 cho rằng kinh này không rõ dịch giả. Lương cao tăng truyện quyển 3 thì bảo kinh này do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống, Tăng hàm ghi chép.Các bộ kinh lục khác từ Pháp kinh lục trở xuống đều theo thuyết này. Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4, 7, thì ngoài bản dịch của ngài Cương Lương Da Xá ra, còn liệt kê 2 bản không rõ dịch giả được dịch vào đời Đông Hán và Đông Tấn. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, trọng yếu nhất là các bộ sau đây: -Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 2 quyển, của ngàiTuệ Viễn. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, 1 quyển, của ngài Trí Khải. -Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 1 quyển, của ngài Cát Tạng. -Quán Vô lượng thọ kinh sớ, 4 quyển, của ngài Thiện đạo. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh đồ tụng, 1 quyển, của ngài Truyền đăng. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh ước luận, 1 quyển, của ông Bành Tế Thanh. -Quán Vô lượng thọ kinh phù tân luận, 1 quyển, của ngài Giới Độ. Trong các sách chú thích trên đây, bộ Quán Vô lượng thọ kinh sớ 4 quyển của ngài Thiện Đạo đời Đường được lưu thông rộng rãi hơn cả. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.1,5; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ
6968請參閱 觀無量壽經義疏 [1] <一>凡二卷。隋代慧遠撰。又稱觀無量壽經義記,或稱淨影觀經疏。收於大正藏第三十七册。係由地論宗之立場解釋觀無量壽經,為現存最早之觀經注疏。本疏判定阿彌陀佛之身土為應身應土,往生其淨土之九品人,乃大、小之聖人,以其修證與自力修行之通規無別,而不論彌陀本願之勝力,所說大違淨土教之義趣,故善導作觀無量壽經疏破斥之。於隋唐之際,淨土教義之了解,可自本疏窺其鱗爪,為研究善導觀經疏不可或缺之作。〔續高僧傳卷八、新編諸宗教藏總錄卷一〕 <二>全一卷。隋代吉藏撰。又稱嘉祥觀經疏。收於大正藏第三十七冊。係由三論宗之立場解釋觀無量壽經。其說與慧遠所撰之觀無量壽經義疏同,亦以聖道門自力修行之意判定往生彌陀淨土之因果,故道綽斥為謬解,善導於觀經四帖疏中亦加以駁斥。
; (觀無量壽經義疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ.Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa kí, Tịnh ảnh Quán kinh sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập37. Ngài Tuệ Viễn đứng trên lập trường của tông Địa luận để giải thích kinh Quán Vô lượng thọ, đây là bộ chú sớ đầu tiên về Quán kinh hiện còn. Bộ sớ này phán định thân độ của đức Phật A di đà là Ứng thân ứng độ, người sinh về 9 phẩm ở Tịnh độ của Ngài là các vị Thánh lớn, nhỏ và qui tắc chung về sự tu chứng cũng như tự lực tu hành của các vị Thánh này không khác nhau, không bàn về năng lực thù thắng của bản nguyện Di đà và những điều được nói đến trong bộ sớ này rất trái với nghĩa thú của Tịnh độ giáo, vì thế ngài Thiện Đạo đời Đường đã soạn Quán Vô lượng thọ kinh sớ để bác bỏ. Qua bộ sớ này của ngài Tuệ Viễn, người ta có thể thấy được phần nào kiến giải ở thời Tùy, Đường về Tịnh độ giáo. Đây là tác phẩm rất cần thiết cho việc nghiên cứu Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1]. Tranh 16 pháp quán tưởng trong Quán kinh. II. Quán Vô lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ. Cũng gọi Gia tường Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Trong bộ sớ này, ngài Cát tạng đã đứng trên lập trường của Tam luận mà giải thích kinh Quán Vô lượng thọ. Thuyết của ngài Cát Tạng cũng giống như thuyết của ngài Tuệ Viễn trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, cũng dùng ý nghĩa tu hành tự lực của Thánh đạo môn để phán định nhân quả vãng sinh Tịnh độ Di đà, cho nên bị ngài Đạo Xước chê là giải thích sai lầm. Trong Quán kinh tứ thiếp sớ, ngài Thiện Đạo cũng bác bỏ lập trường tư tưởng của bộ sớ này.
Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ
(觀無量壽經疏, Kammuryōjukyōsho): xem Quán Kinh Sớ (觀經疏, Kangyōsho) bên trên.
quán vô lượng thọ kinh sớ
6967<一>全一卷。又稱觀無量壽經疏、觀經天台疏、觀經疏。本書為隋代智顗就觀無量壽經所作之注釋書。(參閱「觀無量壽佛經疏」6966) <二>凡四卷。唐代善導著。又稱觀無量壽佛經疏、觀經疏、觀經御書、觀經御疏、觀經義書、觀疏義、觀經要義。通稱觀經四帖疏、四帖疏。若自本書之內容而言,又稱楷定疏、證誠疏、證定疏。收於大正藏第三十七冊。為觀無量壽經之注釋書。善導著作中較著名者有五部九卷,本書四卷即其中之一部,其餘四部為法事讚二卷、觀念法門一卷、往生禮讚偈一卷、般舟讚一卷。 內容分為玄義分、序分義、定善義、散善義等四帖,解釋他力信仰之要義,可謂善導思想體系之核心。玄義分係說明觀經之旨義,序分義解釋觀經序文,定善義解釋十六觀中前十三雜想觀,散善義則解釋最後三觀。 本書主張一切善惡凡夫,皆可依阿彌陀佛之願力,往生極樂淨土。以稱名念佛為正業,以讀經、禮拜、讚歎、觀察為助業,並強調如能一心專念阿彌陀佛名號,於行住坐臥間不問時節久暫,皆念念不捨者,即可往生淨土;此說對後世之影響很大。 此外,一般以本書為淨土教相、教義之根本典籍。因淨影慧遠、嘉祥吉藏、迦才等諸師雖在善導之前即就觀經作疏,然皆未顯超世本願之妙用,唯獨善導能明示佛之正意,故古今皆以本書為諸說之楷定,而稱之為楷定疏。〔樂邦文類卷二、往生要集義記卷五〕
; (觀無量壽經疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ. Cũng gọi Quán kinh thiên thai sớ, Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Nội dung sách này là giải thích về kinh Quán Vô lượng thọ. (xt. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ). II. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ. Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, Quán kinh sớ, Quán kinh ngự thư, Quán kinh ngự sớ, Quán kinh nghĩa thư, Quán sớ nghĩa, Quán kinh yếu nghĩa, Quán kinh tứ thiếp sớ, Tứ thiếp sớ. Kinh sớ, 4 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường. Nếu nói theo nội dung thì sách này còn được gọi là Khải định sớ, Chứng thành sớ,Chứng định sớ, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ. Nội dung sách này chia làm 4 thiếp: Huyền nghĩa phần, Tự phần nghĩa, Định thiện nghĩa và Tán thiện nghĩa, giải thích nghĩa trọng yếu của tín ngưỡng tha lực, có thể nói đây là trung tâm hệ thống tư tưởng của ngài Thiện Đạo. Huyền nghĩa phần thuyết minh ý nghĩa tông chỉ của Quán kinh, Tự phần nghĩa giải thích bài tựa của Quán kinh, Định thiện nghĩa giải thích 13 pháp quán tạp tưởng trước trong 16 pháp quán, Tán thiện nghĩa thì giải thích 3 pháp quán sau cùng. Sách này chủ trương tất cả phàm phu thiện, ác đều có thể nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà vãng sinh Tịnh độ Cực lạc, lấy xưng danh niệm Phật là chính nghiệp, lấy tụng kinh, lễ bái, tán thán, quán sát là trợ nghiệp, đồng thời nhấn mạnh rằng nếu người nào nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà, trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm đều niệm niệm không bỏ thì có thể vãng sinh Tịnh độ. Thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Ngoài ra, sách này thông thường được dùng làm sách căn bản về giáo nghĩa và giáo tướng của Tịnh độ giáo. Vì tuy các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn, Gia Tường Cát Tạng, Ca Tài...đã chú sớ Quán kinh trước ngài Thiện Đạo, nhưng đều chưa hiện bày được cái diệu dụng của bản nguyện siêu việt thế gian, chỉ một mình ngài Thiện đạo là đã chỉ rõ được ý chính của đức Phật, bởi thế xưa nay đều lấy bộ sách này làm khuôn mẫu nhất định cho các thuyết mà gọi là Khải định sớ. [X. Lạc bang văn loại Q.2; Vãngsinh yếu tập nghĩa kí Q.5].
quán vô lượng thọ phật kinh
Kuan Wu-liang-shou-fo ching (C)Tên một bộ kinh.
quán vô lượng thọ phật kinh nghĩa sớ
6966凡三卷。宋代靈芝元照撰。又稱觀無量壽經義疏。略稱新疏。收於大正藏第三十七冊。本書為觀無量壽佛經之注釋書。上卷闡述玄義,內分教興來致、攝教分齊、辨定宗旨、料簡異同等四門,中卷、下卷則依文解釋。 此書廣究諸家之要義,其解說採取天台智顗及善導之釋義,如十六觀之解釋取智顗之說,九品之解釋則採善導之論,然其於十六觀之看法不同於智顗之觀心說。又於辨定宗旨一門中有關事理及觀法之解釋,與料簡異同門所說,皆為本書之特點。 本書之注釋書有:觀無量壽經扶新論一卷、觀無量壽經義疏正觀記三卷,宋代戒度撰;觀無量壽經白蓮記四卷,宋代用欽述。
; (觀無量壽佛經義疏) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ. Gọi tắt: Tân sớ. Kinh sớ, 3 quyển, do ngài Linh Chi Nguyên Chiếu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Sách này chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. Quyển thượng nói về huyền nghĩa, chia làm 4 môn: Giáo hưng lai trí, Nhiếp giáo phân tề, Biện định tông chỉ và Liệu giản dị đồng. Quyển trung vàquyển hạ thì theo văn giải nghĩa. Sách này nghiên cứu rộng về nghĩa trọng yếu của các nhà, phần giải thuyết thì sử dụng lối thích nghĩa của các ngài Trí Khải và Thiện Đạo, như giải thích 16 pháp quán thì sử dụng thuyết của ngài Trí Khải, giải thích 9 phẩm thì dùng luận của ngài Thiện Đạo, nhưng cách nhìn 16 pháp quán của sách này khác với thuyết quán tâm của ngài Trí Khải. Còn cách giải thích về sự lí và quán pháp trong môn Biện định tông chỉ và những điều trình bày trong môn Liệu giản dị đồng thì đều là những đặc điểm của sách này. Về các sách chú thích của bộ sớ này thì có: Quán Vô lượng thọ kinh phù tân luận 1 quyển, Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí 3 quyển, do ngài Giới độ soạn vào đời Tống; Quán Vô lượng thọ kinh bạch liên kí 3 quyển, do ngài Dụng khâm soạn vào đời Tống.
quán vô lượng thọ phật kinh sớ
6966<一>全一卷。隋代天台智顗述。又稱觀經疏、觀無量壽經疏、觀經天台疏、天台觀經疏。收於大正藏第三十七冊。為觀無量壽佛經之注釋書。內容初立五重玄義,以闡釋經名。次判觀無量壽佛經係以心觀為宗旨,以實相為體,以生善滅惡為用,為菩薩藏之頓教所攝。復次隨文作釋,且以十六觀悉為定善。 自宋代四明知禮就本書而著觀無量壽佛經疏妙宗鈔以舉揚其旨趣以來,本書成為天台五小部之一,亦被視作天台教學之要書。然據近代學者從內容上考定,疑其為後人之偽作,指出書中所列五重玄義之文,引載自智顗之金光明經疏卷一;而於隨文解釋中,又摘錄淨影慧遠之觀無量壽經義疏所說,故推斷為偽作。 本書之注釋書有:觀無量壽佛經記一卷,唐代法聰述;觀無量壽佛經融心解一卷,宋代知禮述。〔新編諸宗教藏總錄卷一、佛祖統紀卷二十五〕 <二>凡四卷。又稱觀無量壽經疏。乃唐代善導就觀無量壽佛經所作之注釋書。(參閱「觀無量壽經疏」6968)
; (觀無量壽佛經疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Cũng gọi Quán kinh sớ, Quán Vô lượng thọ kinh sớ, Quán kinh Thiên thai sớ, Thiên thai Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. Nội dung sách này trước hết lập 5 lớp nghĩa huyền để giải thích tên kinh, kế đến phán định kinh Quán Vô lượng thọ lấy quán tâm làm tông chỉ, lấy thực tướng làm thể, lấy sinh thiện diệt ác làm dụng, thuộc về Đốn giáo của tạng Bồ tát. Sau hết theo văn giải nghĩa và cho tất cả 16 pháp quán đều là Định thiện. Từ khi ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống soạn Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao để phát huy chỉ thú của bộ sớ này thì nó đã trở thành là 1 trong 5 Tiểu bộ của tông Thiên thai và cũng được xem là điển tịch trọng yếu của giáo học Thiên thai. Nhưng theo sự xét định của các học giả cận đại về nội dung của sách này chỉ ra rằng văn trong phần Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa huyền) đã được trích ra từ Kim quang minh kinh sớ quyển 1 của ngài Trí khải, cho nên họ ngờ đây là sách ngụy tác của người đời sau. Còn trong phần Tùy văn giải thích thì lại được chép ra từ Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn, bởi thế họ suy đoán đây là sách giả. Về sách chú thích của bộ kinh sớ này thì có: -Quán Vô lượng thọ Phật kinh kí, 1 quyển, do ngài Pháp thông soạn vào đời Đường. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh dung tâm giải, 1 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào đời Tống. [X. Tân biênchưtông giáo tạng tổng lục Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.25]. II. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. (xt. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ).
quán vô lượng thọ phật kinh sớ diệu tông sao
6966凡六卷。宋代四明知禮述。又稱觀無量壽經疏妙宗鈔、觀經疏妙宗鈔、觀經妙宗鈔、妙宗鈔。收於大正藏第三十七冊。知禮的時代,受唐末五代戰禍之影響,佛教教學萎頓不振,天台宗分裂為山家、山外二派。屬於山家派之知禮於本書隨文解釋天台智顗之觀經疏,針對山外派之異議,倡導即心念佛之義,並倡色、心雙具之說。本書刊行後,引起山家、山外派之論諍。
; (觀無量壽佛經疏妙宗鈔) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao, Quán kinh sớ diệu tông sao, Quán kinh diệu tông sao, Diệu tông sao. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tứ Minh Tri Lễ soạn vào đời Tống, được đưa vào Đại chính tạng tập 37. Thời đại ngài Tri Lễ chịu ảnh hưởng tai họa chiến tranh ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, giáo học Phật giáo suy đồi, nội bộ tông Thiên thai thì chia thành 2 phái Sơn gia vàSơn ngoại. Trong tác phẩm này, ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia đã theo văn giải thích bộ Quán kinh sớ của Đại sư Thiên thai Trí Giả, nhằm phê phán những ý kiến khác của các pháiSơn ngoại, đề xướng nghĩa Tức tâm niệm Phật, đồng thời lập thuyết Sắc tâm song cụ. Sau khi bộ sách này được ấn hành đã dẫn đến cuộc tranh luận giữa phái Sơn gia và Sơn ngoại.
quán vô lượng thọ phật kinh đồ tụng
6967全一卷。明代傳燈撰。又稱觀無量壽佛經附圖頌。略稱觀經圖頌。收於卍續藏第三十三冊。全書分節列舉觀無量壽經之經文,而以圖繪示其文義,共三十五圖,圖旁更附七律頌,惟少有經文之注釋。 撰述本書之目的,可見於最後之頌文(卍續三三‧五五下):「見佛、見土及見圖,三見同用此一見;見佛即見真法身,見土即見常寂光。豈不見圖同此二?圖圖見佛妙依正;我願見此圖經者,應當志心如是觀。」
; (觀無量壽佛經圖頌) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh phụ đồ tụng. Gọi tắt: Quán kinh đồ tụng. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Truyền Đăng soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Toàn sách chia từng đoạn, nêu văn kinh của kinh Quán Vô lượng thọ và hiển bày ý nghĩa của văn kinh bằng các bức tranh vẽ, tất cả có 35 bức, cạnh mỗi bức tranh lại phụ thêm bài kệ tụng thất luật, nhưng ít có chú thích văn kinh. Mục đích của việc soạn thuật sách này được thấy trong bài kệ tụng cuối cùng, đại ý như sau (Vạn tục 33, 55 hạ): Thấy Phật, thấy cõi nước và thấy tranh (đồ) Ba cái thấy ấy đều dùng một cái thấy này. Thấy Phật tức thấy Chân pháp thân, Thấy cõi nước tức thấy Thường tịch quang. Há chẳng thấy tranh cùng hai cái thấy ấy? Trong mỗi bức tranh thấy Y báo, Chính báo nhiệm mầu của Phật, Con mong những người thấy kinh tranh này . Đều nên một lòng quán tưởng như thế.
quán vô lượng thọ phật kinh ước luận
6965請參閱 觀普賢菩薩行法經請參閱 觀無量壽經請參閱 觀無量壽佛經圖頌全一卷。清代彭際清述。收於卍續藏第三十三冊。本書可視作觀無量壽經之概論,內分四科:(一)題名,(二)敘分、(三)正宗分,(四)流通分。就中,作者雖常引天台教學之用語,然於天台智顗對九品之解釋,及四明知禮以十三觀配於九品之說法,則表示反對。
; (觀無量壽佛經約論) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Bành Tế Thanh soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Sách này có thể được xem là bộ khái luận về kinh Quán Vô lượng thọ. Nội dung chia làm 4 khoa: Đề danh, Tự phần,Chính tông phầnvà Lưu thông phần. Trong đó, tuy tác giả thường dẫn những dụng ngữ của giáo học Thiên thai, nhưng lại biểu lộ ý phản đối sự giải thích của ngài Trí Khải về 9 phẩm và cách phối hợp 13 pháp quán với 9 phẩm của ngài Tứ Minh Tri Lễ.
quán vô ngã
các pháp do nhân duyên mà sanh, cũng do nhân duyên mà diệt, nên vốn thật không có người làm (tác giả), người chịu (thọ giả). Y theo phép quán vô ngã thì đạt được chỗ thấy biết chân thật như vậy.
; To penetrate the concept of unreality of self.
quán xuyến
Have a good grasp of worldly affairs.
quán xương trắng
(bạch cốt quán): phép quán tưởng trong đó hành giả hình dung bộ xương trắng để thấy thân người là không thật, đầy những sự nhơ nhớp và không bao lâu sẽ tan hoại.
quán âm
Xem Quán thế âm.
; See Quán Thế Âm.
quán âm kinh
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
quán âm tịnh độ
Potalaka (S). Heavenly palace of Avalokiteshvara. Also Bổ đà lạc ca, Quang minh sơn.
quán đãi bất tịnh
瑜伽二十六卷二十頁雲;云何名為觀待不淨?謂如有一劣清淨事,觀待其餘勝清淨事,便似不淨。如待無色勝清淨事,色界諸法、便似不淨。待薩迦耶寂滅涅槃,乃至有頂、皆似不淨。如是等類、一切名為觀待不淨。
quán đãi cấp tác
如能作因二十種中說。
quán đãi giả hữu
瑜伽一百卷十三頁云:觀待假有者:謂虛空非擇滅等虛空無為,待諸色趣而假建立。若於是處、色趣非有;假說虛空。非離色無所顯法外,別有虛空實體可得。非無所顯、得名實有。觀待諸行不俱生起,於未來世不生法中,立非擇滅。無生所顯,假說為有。非無生所顯,可說為真有。
quán đãi nhân
瑜伽五卷十頁云:依領受因依處,施設觀待因。所以者何?由諸有情,諸有欲求欲繫樂者,彼觀待此,於諸欲具,或為求得;或為積集;或為受用。諸有欲求色無色繫樂者,彼觀待此,於彼諸緣;或為求得;或為受用。諸有欲求不繫樂者,彼觀待此,於彼諸緣,或為求得;或為受用。諸有不欲苦者,彼觀待此,於彼生緣,於彼斷緣,或為遠離,或為求得;或為受用;是故依領受依處,施設觀待因。二解瑜伽三十八卷九頁云:觀待此故,此為因故;於彼彼事,若求若取。此名彼觀待因。如觀待手故,手為因故;有執持業。觀待足故,足為因故;有往來業。觀待節故,節為因故;有屈申業。觀待飢渴故,飢渴為因故;於諸飲食,若求若取。隨如是等無量道理,應當了知觀待因相。又無記中云:觀待飢渴羸劣身住,觀待段食所有愛味;於彼追求執取受用。卽說彼法為觀待因。又雜染中云:觀待境界所有愛味,於諸有支,相續流轉。卽彼望此諸雜染法,為觀待因。又清淨中云:觀待諸行多過患故;樂求清淨,攝受清淨,成滿清淨。彼望於此,為觀待因。三解成唯識論八卷一頁云:二、領受依處。謂所觀待能所受性。卽依此處,立觀待因。謂觀待此令彼諸事或生或住或成或得。此是彼觀待因。
quán đãi đạo lí
瑜伽二十五卷九頁云:云何名為觀待道理?謂略說有二種觀待。一、生起觀待,二、施設觀待。生起觀待者:謂由諸因諸緣勢力,生起諸蘊。此蘊生起、要當觀待諸因諸緣。施設觀待者;謂由名身句身文身、施設諸蘊。此蘊施設、要當觀待名句文身。是名於蘊生起觀待施設觀待。卽此生起觀待施設觀待,生起諸蘊施設諸蘊,說名道理瑜伽方便。是故說為觀待道理。二解瑜伽七十八卷二十頁雲;觀待道理者:謂若因、若緣、能生諸行;及起隨說。如是名為觀待道理。三解顯揚二十卷十五頁云:若由諸因諸緣故,諸行生起;及隨顯說;是名觀待道理。四解雜集論十一卷八頁云:觀待道理者:謂諸行生時,要待眾緣。如芽生時,要待種子時節水田等緣;諸識生時,要待根境作意等緣;如是等。
quán đĩnh
Xem quán đảnh.
quán đạo
1) Thấu triệt giáo pháp: To know the doctrine thoroughly. 2) Thiền Quán: Contemplation—Meditation—Insight.
quán đạt
Đạt được chân lý qua thiền quán—To penetrate to reality through contemplation.
quán đảnh
(của đạo Bà-la-môn): nghi lễ do một vị thầy bà-la-môn thực hiện, bao gồm việc đọc kinh cầu nguyện và rưới nước bốn biển lên đầu cho vua. Khi một vị vua lên ngôi, cần phải làm lễ quán đảnh như một nghi lễ chính thức để được nhân dân thừa nhận sự cai trị của vị vua ấy.
; MŪrdhajata (S), Abhisluka (S)Lễ rưới nước lên đầu truyền giới, truyền Pháp, truyền quả Phậật gọi là quán đảnh. Từ khi thọ quán đảnh, giới tử chính thức vào trong Phật pháp. Phật cũng ban lễ quán đảnh cho Bồ tát nhất là để trao truyền đạo pháp hoặc để thọ ký quả Phật.
; See Abhisheka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; 1) Điểm đạo: Abhisekana or Murdhabhisikta (skt). a) Quán đảnh đệ tử bằng cách đặt tay hay rưới nước lên đầu đệ tử. Chư Phật quán đảnh đệ tử bằng cách đặt tay lên đỉnh đầu của đệ tử. Tục lệ Ấn Độ nầy thường thấy trong lễ phong vương, bằng cách rưới lên đầu tân vương nước từ bốn bể, và nước từ những con sông trong lãnh địa của ông ta. Bên Trung Quốc, người ta thường dùng nghi thức Phật Giáo cho các vị đại quan, cũng như lễ thọ cụ túc giới cho chư Tăng Ni. Các thầy Mật Giáo dùng nghi thức quán đảnh để điểm đạo cho đệ tử của mình, cho các cấp lãnh đạo, cũng như trong các buổi đàn tràng siêu độ (cầu nguyện sau khi xãy ra tai ương hay chuẩn bị cho sự tái sanh)—Baptism—Initiation—Head—Superintendent—Empowerment—Inauguration or consecration by placing the hand on or sprinkling or pouring water on the head. Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head. An Indian custom on the investiture of a king, whose head was baptized with water from the four seas and from the rivers in his domain. In China, it is administered as a Buddhist rite chiefly to high personages and for ordination purpose. Among the esoterics it is a rite especially administered to their disciples; and they have several categories of baptism, e.g. that of ordinary disciples, of teacher or preacher, of leader, of office-bearer; also for special causes such as relief from calamity, preparation for the next life, etc. b) Quán Đảnh Chân Ngôn—The ritual of anointment of the Shingon School: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: • Chân Ngôn tông có nghi quỹ quán đảnh (Abhiseka) cũng như nghi quỹ đàn tràng. Nơi sửa soạn lễ quán đảnh phải được trang hoàng bằng mạn đà la của cả hai giới; và tất cả những nhu cầu lễ tiết phải được thực hiện đầy đủ. Đôi khi các mạn đà la được nới rộng ra để thành lập môi trường hành lễ. Do đó mà nơi đây được gọi là mạn đà la. Chỉ khi nào nghi thức được triệt để tuân hành mới có thể đạt được linh nghiệm từ năng lực gia trì của Phật. Theo truyền thuyết, Thiện Vô Úy và đồ đệ là Nhất Hành, truyền thừa Thai Tạng giới, trong lúc Kim Cương Trí và đệ tử là Bất Không giảng thuyết về Kim Cang giới. Thế nên ta phải nhận định rằng có đến hai dòng truyền thừa, mà mỗi dòng chỉ là một phần hay phiến diện: The Shingon School has the ritual of anointment (Abhikesa) as well as the ordination ceremony. The area of anointment must be decided with the Circles of the two realms; all ritual requirements must be fulfilled. Sometimes the Circles are spread out and thereby the ritual area is formed. So the area is called “Circle.” Only the adequate performance of the ritual can make the evoking of any enfolding power of Buddha effective. According to tradition, Subhakarasimha and his pupil, I-Hsing, transmitted the Matrix doctrine, while Vajrabodhi and his pupil, Amoghavajra, taught the Diamond doctrine. Thus we must presume that there were two traditions of transmission, both being only partial or one-sided. • Tuy nhiên, sự khám phá mới đây của giáo sư Tucci về Tattvasamgraha ở Tây Tạng, và của giáo sư Ono về cuốn Vajra-Sekhara ở Nhật đã khiến cho những truyền thuyết cũ không còn đứng vững nữa, bởi vì quyển Vajra-sekhara trình bày trong Ngũ Bộ Tâm Quán được giữ bí mật tại tự viện Mii ở Ômi và Shorenin, Kyoto. Ngũ Bộ là Phật, Liên Hoa, Đa Bảo, Kim Cương, và Kiết Ma. Đây nguyên là các bộ phận của Kim Cang giới; rõ ràng là ngay từ đầu chúng ta đã có bản kinh về Kim Cương giáo thuyết do Thiện Vô Úy mang đến. Thực sự chúng là dòng truyền thừa của Thiện Vô Úy. Từ đó, chúng ta nhận thấy rằng vào thời của Thiện Vô Úy, cả hai giáo thuyết về Kim Cương và Thai Tạng đã có mặt ở Trung Quốc. Bản của Tucci bằng Phạn ngữ và của Ono là bản giải thích bằng tranh ảnh, nếu không có nó thì khó mà theo dõi nguyên bản Sanskrit. Những người nghiên cứu Mật giáo có thể hy vọng được hỗ trợ thực tế nhờ khảo cứu các bản văn nầy: However, the recent discovery of the Tattva-sangraha in Tibet by Professor Tucci and the Vajra-sekhara in Japan by Professor Ono make the old traditions entirely untenable, because the Vajra-sekhara represented in the Five Assemblies was kept in secret in the Mii Monastery in Ômi and Shorenin in Kyoto. The Five Assemblies are Buddha, Padma, Ratna, Vajra and Karma. These being originally the divisions of the Diamond Realm, it is clear that we had from the beginning the text of the 'Diamond' doctrine brought by Subhakarasimha. They were actually the transmission by Subhakarasimha. From this it will be seen that at the time of Subhakarasimha both the 'Diamond' and 'Matrix' doctrines were existing in China. Tucci's text is Sanskrit and Ono's is pictorial explanation without which a perusal of Sanskrit original often becomes impossible. Students of mysticism may expect a real contribution from the study of these texts. 2) Quán Đảnh Bồ Tát: Một nghi thức rưới nước lên đầu một vị Bồ Tát, khi vị ấy sắp bước vào giai đoạn cuối cùng đến Phật quả—Ceremonial sprinkling of water on a bodhisattva's head, is said to be done when a bodhisattva is about to enter the ultimate state and become Buddha. 3) Quán Đảnh Đại Sư (561-632)—Kuan-Ting Great Master (561-632): Quán Đảnh là vị tổ thứ năm của tông Thiên Thai. Ba tác phẩm lớn của ngài Trí khải đều do Quán Đảnh tập thành toàn vẹn—Kuan-Ting is the fifth patriarch of the T'ien-T'ai School. The three great works of Chih-I are all compilations of Kuan-Ting.
quán đảnh bồ tát
Xem Quán đảnh.
quán đảnh tam muội
Vilokita-murdha-samādhi (S).
; Tam muội đạt được trong thiền quán—The samadhi of the summit of contemplation (the peak whence all the samadhis may be surveyed).
quán đảnh trụ
Thập trụ của một vị Bồ Tát khi vị nầy đã được Phật thọ ký (xức dầu quán đảnh) thành Phật—The tenth stage of a Bodhisattva when he is anointed by the Buddha as a Buddha.
Quán đỉnh
灌 (潅) 頂; S: abhiṣeka; C: guàndĭng; J: kanchō; nghĩa là rưới nước lên đầu; |Một nghi thức tôn giáo trong những buổi lễ long trọng. Trong Kim cương thừa, danh từ quán đỉnh được dùng chỉ những nghi lễ, trong đó vị Ðạo sư (s: guru; t: lama) cho phép đệ tử tu tập một Tan-tra. Vì vậy trong Phật giáo Tây Tạng, người ta hay sử dụng danh từ »Truyền lực« (t: dbang-bskur).|Trong Vô thượng du-già (s: anuttarayoga-tantra), người ta kể bốn cấp quán đỉnh từ dưới lên trên: 1. Quán đỉnh bình (s: ka-lābhiṣeka; bình ở đây là tịnh bình); 2. Quán đỉnh bí mật (s: guhyābhiṣeka); 3. Quán đỉnh trí huệ (s: prajñābhiṣeka); 4. Quán đỉnh thứ tư (s: caturthābhiṣeka).|Quán đỉnh bình bao gồm sự khai giảng về năm khía cạnh của Phật gia (s: buddhaku-la).|Thông thường, vị Ðạo sư đọc Nghi quỹ (s: sā-dhana) qua một lần và lần đọc này có giá trị cho phép người đệ tử tu học Nghi quỹ này. Sau đó, Ðạo sư bình giảng những điểm khúc mắc, khó hiểu, những bí truyền trong Nghi quỹ để bảo đảm sự tu tập chính tông, đúng đắn của đệ tử.
quán đỉnh
6853<一>梵語 abhiṣecana 或 abhiṣeka。即以水灌於頭頂,受灌者即獲晉陞一定地位之儀式。原為古代印度帝王即位及立太子之一種儀式,國師以四大海之水灌其頭頂,表示祝福。 據舊華嚴經卷二十七「十地品」載,菩薩於十地中之第九地入第十法雲地時,諸佛以智水灌其頂,以為受法王職之證明,此稱受職灌頂,或稱授職灌頂。又據舊華嚴經卷八菩薩十住品、菩薩瓔珞本業經卷上賢聖名字品等,十住之第十位,稱為灌頂住。或據大事(梵 Mahāvastu,記述釋尊之事蹟及本生等)所說,菩薩十地之第十地,名為灌頂地,灌頂位則特指十地以上之等覺階位而言。 密教所行之灌頂,總稱為祕密灌頂(略稱密灌)。佛教諸宗中,以密教特重灌頂,其作法係由上師以五瓶水(象徵如來五智)灌弟子頂,顯示繼承佛位之意義。灌頂作法之種類繁多,主要為結緣灌頂、學法灌頂、傳法灌頂三種。即:(一)結緣灌頂,不論僧俗、機根等,為廣結佛緣之灌頂。受者投花於壇上諸尊佛像,選定有緣之佛(投華得佛)為本尊,而後唱佛名號,由上師三度灌以瓶水,授一印(印契)、一明(陀羅尼)。(二)學法灌頂,又稱受明灌頂、弟子灌頂、許可灌頂。對於欲學密教之弟子,先選定人、時、處,並準備作法,再授以有緣一尊之儀軌明法。(三)傳法灌頂,又稱傳教灌頂、付法灌頂、阿闍梨灌頂。如法修行之人,欲為人師,或欲得阿闍梨位者,則授以大日如來之儀軌明法。此種灌頂為傳真言之最極奧祕,又可分印法灌頂、事業灌頂、以心灌頂三種。(1)印法灌頂,又作祕印灌頂、手印灌頂、離作業灌頂。弟子誠心求真言行,但以資財短缺,無法整備一切所需,此時師以慈心觀其心行,可略去諸作業,授以本尊祕印,行灌頂儀式。(2)事業灌頂,又作作業灌頂、具支灌頂。弟子於灌頂七日前誠心禮拜懺悔,師亦於七日間持誦,然後設壇、供諸種香花果物,授以祕印。此種灌頂須財力豐足者方能行之。(3)以心灌頂,又稱心授灌頂、秘密灌頂、瑜祇灌頂。用於師與弟子俱成就三昧耶戒之情況。即不於心外另設壇場,而在阿闍梨內心建立曼荼羅,入其心壇而授以灌頂。 又行灌頂所在之室,稱為灌室。接受灌頂,稱為受灌。設曼陀羅之道場以行灌頂儀式,則稱密壇灌頂。灌頂之際所授之印契與陀羅尼,即稱灌頂印明。 密教之受戒,皆須行灌頂,故受真言三昧耶戒,稱為授戒灌頂。又於灌頂之際,若受者欲由灌頂消除災障、成就悉地,則燒香花、乳木等種種供物,修護摩法,此即灌頂護摩。其修法之次數或供物種類有種種不同,今日本東密在金剛界修法終了後,於初夜、後夜中間同行此修法,稱為中間護摩。此外,為利益水中之魚類,密教以灌頂幡或塔婆流入河海,此種行事稱流灌頂,或稱流水灌頂。〔賢愚經卷十三頂生王品、大日經卷一具緣品、卷五祕密漫荼羅品、卷七持誦法則品、蕤呬耶經卷下分別護摩品、蘇悉地羯囉經卷下本尊灌頂品、大日經疏卷三、卷十五、卷十六、華嚴經探玄記卷五〕 <二>為灌頂幡之略稱。(參閱「灌頂幡」6855) <三>(561~632)隋代僧。臨海章安人,俗姓吳。世稱章安大師。(參閱「章安」4835)
; Abhiseka (S). Anointing.
; (灌頂) I. Quán Đính. Phạm: Abhiwecana, hoặc Abhiweka. Nghi thức rưới nước lên đỉnh đầu. Ở Ấn Độ thời xưa, khi vua lên ngôi hoặc lập Thái tử, thì vị Quốc sư đem nước lấy từ 4 biển rưới lên đầu để bày tỏ sự chúc phúc. Cứ theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 27 (bản dịch cũ), khi Bồ tát địa thứ 9 tiến vào địa thứ 10 là Pháp vân địa, thì chư Phật dùng nước trí rưới lên đầu vị ấy để chứng minh vị ấy đã nhận chức Pháp vương, gọi là Thụ chức quán đính (nhận chức Quán đính) hoặc Thụ chức quán đính (trao chức Quán đính). Còn theo phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm quyển 8 (bản dịch cũ) và phẩm Hiền thánh danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng thì giai vị thứ 10 của Thập trụ được gọi là Quán đính trụ. Hoặc theo thuyết trong Đại sự (Phạm: Mahàvastu) thì địa thứ 10 của Bồ tát thập địa, gọi là Quán đính địa, còn Quán đính vị thì đặc biệt chỉ cho giai vị Đẳng giác trên Thập địa. Quán đính được thực hành trong Mật giáo gọi chung là Bí mật quán đính (gọi tắt: Mật quán). Trong các tông phái Phật giáo thì Mật giáo đặc biệt coi trọng pháp Quán đính. Tác pháp này do vị Thượng sư lấy nước từ 5 cái bình (tượng trưng cho 5 trí Như lai) rưới lên đầu đệ tử, biểu thị ý nghĩa kế thừa địa vị Phật. Tác pháp Quán đính có rất nhiều loại, nhưng chủ yếu thì có 3 loại: 1. Kết duyên quán đính: Pháp quán đính kết duyên rộng rãi với Phật, không kể tăng hay tục, thượng căn hay hạ căn, tất cả đều được quán đính. Người nhận quán đính tung hoa lên các tôn tượng của chư Phật ở trên đàn để chọn vị Phật có duyên với mình (vị Phật mình tung hoa dính trúng) làm vị Bản tôn, sau đó xướng danh hiệu Phật, vị Thượng sư 3 lần lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu, rồi trao cho 1 ấn (ấn khế)và 1 minh (đà la ni). 2. Học pháp quán đính (cũng gọi Thụ minh quán đính, Đệ tử quán đính, Hứa khả quán đính): Đối với đệ tử muốn học Mật giáo, trước hết chọn người, thời gian, địa điểm nhất định, đồng thời chuẩn bị tác pháp, rồi trao nghi quĩ pháp minh của 1 vị tôn cho đệ tử ấy. 3. Truyền pháp quán đính (cũng gọi Truyền giáo quán đính, Phó pháp quán đính, A xà lê quán đính): Người tu hành đúng pháp, muốn làm bậc thầy hoặc làm A xà lê, thì trao cho họ nghi quĩ pháp minh của Đại nhật Như lai. Đây là pháp quán đính truyền chân ngôn sâu xa bí mật nhất, có thể chia ra 3 loại: a) Ấn pháp quán đính (cũng gọi Bí ấn quán đính, Thủ ấn quán đính, Li tác nghiệp quán đính): Đệ tử thành tâm muốn tu hành chân ngôn, nhưng vì không đủ khả năng chu toàn tất cả nhu cầu cần thiết; trong trường hợp này, vị thầy nên xem xét tâm hạnh của đệ tử ấy mà cử hành nghi thức quán đính bằng cách bỏ bớt các tác nghiệp, chỉ trao ấn bí mật của Bản tôn cho họ thôi. b) Sự nghiệp quán đính(cũng gọi Tác nghiệp quán đính, Cụ chi quán đính): Bảy ngày trước khi nhận quán đính, đệ tử phải thành tâm sám hối, vị thầy cũng phải hành trì trong thời gian 7 ngày, sau đó mới thiết lập đàn tràng, sắm sửa các thứ hương đèn hoa quả cúng dường. Đây là pháp quán đính truyền trao ấn bí mật và người nhận phải có điều kiện tài chính dồi dào mới có thể thực hành. c) Dĩ tâm quán đính (cũng gọi Tâm thụ quán đính, Bí mật quán đính, Du kì quán đính): Pháp quán đính này được ứng dụng trong trường hợp cả vị thầy và đệ tử đều thành tựu Tam muội da giới. Tức không cần bày đàn tràng ở ngoài tâm mà kiến lập Mạn đồ la trong tâm vị A xà lê, tâm đệ tử nhập vào đàn tâm của thầy, rồi trong đó thầy trò trao truyền và tiếp nhận quán đính. Nơi cử hành pháp quán đính gọi là Quán thất. Tiếp nhận quán đính gọi là Thụ quán. Thiết lập đạo tràng Mạn đồ la để cử hành nghi thức quán đính thì gọi là Mật đàn quán đính. Ấn khế và Đà la ni được truyền trao trong lúc quán đính, gọi là Quán đính ấn minh. Trong Mật giáo, khi thụ giới đều phải cử hành quán đính, thế nên thụ giới Chân ngôn tam muội da gọi là Thụ giới quán đính. Lại trong lúc quán đính, nếu người nhận quán đính muốn nhờ đó mà tiêu trừ tai chướng, thì tu pháp Hộ ma, đốt các vật cúng dường như hương hoa, nhũ mộc... Đây gọi là Quán đính hộ ma. Về số lần tu pháp này hoặc về các phẩm vật cúng dường thì có nhiều loại khác nhau. Hiện nay, Đông Mật (Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật Bản truyền) của Nhật Bản sau khi tu pháp Kim cương giới xong, trong khoảng từ đầu hôm đến cuối đêm đều thực hành pháp tu hộ ma, gọi là Trung gian hộ ma. Ngoài ra, để lợi ích cho các loài thủy tộc, Mật giáo dùng phướn quán đính hoặc cái tháp thả vào sông, biển, gọi là Lưu quán đính, hoặc Lưu thủy quán đính. [X. phẩm Đính sinh vương trong kinh Hiền ngu Q.13; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; phẩm Trì tụng pháp tắc kinh Đại nhật Q.7; phẩm Phân biệt hộ ma kinh Nhuy hi da Q.hạ; phẩm Bản tôn quán đính kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.3, 15, 16; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5]. II. Quán Đính. Gọi đủ: Quán đính phan. (xt. Quán Đính Phan). III. Quán Đính (561-632). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Chương an, Lâm hải, họ Ngô, người đời gọi ngài là Chương an đại sư. (xt. Chương An).
quán đỉnh bộ
6854<一>為密教金剛界五部中寶部之別名。寶部即功德之寶,係授福德予一切眾生之內證,以是眾生昇於覺王之位,取授予灌頂之義,故稱寶部為灌頂部。 <二>有關傳法灌頂、結緣灌頂,及三昧耶戒之聖教,統稱灌頂部。 <三>謂密教之經典。密教行灌頂儀式,傳授經典奧義,故泛稱其經典為灌頂部。釋氏稽古略卷三(大四九‧八二二下):「於灌頂部中,誦出一品,名楞嚴經。」
; (灌頂部) I. Quán Đính Bộ. Tên khác của Bảo bộ, 1 trong 5 bộ thuộc Kim cương giới, Mật giáo. Bảo bộ tứccủabáu công đức, là nội chứng trao phúc đức cho hết thảy chúng sinh, nhờ đó mà chúng sinh bước lên ngôi vị của bậc Giác vương. Vì lấy nghĩa trao quán đính cho, nên gọi Bảo bộ là Quán đính bộ. II. Quán Đính Bộ. Thánh giáocóliên quan đến Truyền pháp quán đính, Kết duyên quán đính và Tam muội da giới, gọi chung là Quán đính bộ.III. Quán Đính Bộ. Kinh điển của Mật giáo. Mật giáo cử hành nghi thức quán đính, truyền trao nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm của kinh điển, nên gọi chung kinh điển của Mật giáo là Quán đính bộ. Thích thị kê cổ lược quyển 3 (Đại 49, 822 hạ) nói: Trong Quán đính bộ, tụng ra 1 phẩm, gọi là kinh Lăng nghiêm.
quán đỉnh gia hành
6854又稱入壇加行。指密教傳法灌頂入壇前所修之前行。四度加行雖為傳法灌頂入壇之加行,然四度成滿後而未能立即入壇者,特修前行,以此為通軌。然於其期間、所作等,諸流各有異說。攝真實經卷下護摩品(大一八‧二八二下〕:「若阿闍梨與授灌頂時,先須三月觀察其心,然後授與灌頂之法。」
; (灌頂加行) Cũng gọi Nhập đàn gia hạnh. Chỉ cho gia hạnh (chuẩn bị) được tu trước khi vào đàn quán đính Truyền pháp của Mật giáo. Theo nguyên tắc, Tứ độ gia hạnh (tu chuẩn bị 4 lần) tuy là chuẩn bị để vào đàn quán đính Truyền pháp, nhưng sau khi hành giảđã thành tựu đầy đủ Tứ độ gia hạnh rồi mà vẫn chưa thể vào ngay được thì đặc biệt phải tu gia hạnh thêm, đó là điều thông thường. Nhưng về thời gian gia hạnh và cách hành trì, thì các phái đều nói khác nhau. Phẩm Hộ ma trong kinh Nhiếp chân thực quyển hạ (Đại 18, 282 hạ) nói: Nếu khi vị A xà lê trao pháp quán đính cho đệ tử, thì trước đó 3 tháng phải quán xét tâm của người ấy như thế nào rồi sau mới trao pháp cho.
quán đỉnh hộ ma
6855密教修法中,於灌頂過程,為滅除受法弟子之災障,令能悉地成就,乃焚燒香花、乳木等種種供養物而修之護摩法。依經軌之本說,灌頂護摩通常由大阿闍梨修之,然近世多由教授師等代修。以其行於一座之中間,故又稱中間護摩。然現今日本東密於金剛界修法終了時,於初夜與後夜之間所修之護摩法,特稱為中間護摩。〔大日經卷二具緣品、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四、瞿醯經卷下、阿娑縛抄卷一胎灌記本〕
; (灌頂護摩) Pháp tu đốt các phẩm vật cúng dường như hương hoa, nhũ mộc... để cầu tiêu trừ tai họa, chướng nạn của hành giả thụ pháp Quán đính trong Mật giáo. Theo thuyết của các kinh quĩ căn bản thì Quán đính hộ ma thông thường do vị Đại a xà lê thực hành, nhưng thời gần đây phần nhiều do vị Giáo thụ sư làm thay. Bởi vì pháp này được cử hành ở khoảng giữacủa1 tòa, cho nên cũng gọi là Trung gian hộ ma. Nhưng hiện nay, Đông Mật của Nhật Bản, sau khi tu pháp Kim cương giới xong thì tu pháp Hộ ma trong khoảng từ đầu hôm đến cuối đêm, đặc biệt gọi là Trung gian hộ ma. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Cù hi Q.hạ; Thai quán kí trong A sa phược sao Q.1].
quán đỉnh kinh
6855梵名 Mahābhiṣeka-mantra。凡十二卷。全稱大灌頂神咒經。又作大灌頂經。東晉帛尸梨蜜多羅譯。收於大正藏第二十一冊。本經由灌頂三歸五戒帶佩護身咒經乃至灌頂拔除過罪生死得度經等十二部小經所成,此十二經各就其功德而有「佛說灌頂」四字,故稱灌頂經。其中,拔除過罪生死得度經與達摩笈多所譯之藥師如來本願經、玄奘所譯之藥師琉璃光如來本願功德經為同本異譯。本經被疑為我國梁代以前所作之偽經。〔佛名經卷一、出三藏記集卷五疑經偽撰雜錄、大唐內典錄卷三、開元釋教錄卷三、卷十九〕
; (灌頂經) Phạm: Mahàbhiweka-mantra. Gọi đủ: Đại quán đính thần chú kinh. Cũng gọi Đại quán đính kinh. Kinh, 12 quyển, do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này được tạo thành bởi 12 bộ kinh nhỏ, từ kinh Quán đính Tam qui ngũ giới đới bội hộ thân chú cho đến kinh Quán đính bạt trừ quá tội sinh tử đắc độ; 12 bộ kinh này đều căn cứ vào công đức của mỗi kinh mà có 4 chữ Phật thuyết quán đính, vì thế nên gọi Quán đính kinh. Trong đó, kinh Bạt trừ quá tội sinh tử đắc độ và kinh Dược sư Như lai bản nguyện do ngài Đạt ma cấp đa dịch, kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyệncông đứcdo ngài Huyền trang dịch là cùng bản Phạm mà khác tên người dịch. Kinh này bị ngờ là kinh giả được soạn vào trước đời Lương, Trung quốc. [X. kinh Phật danh Q.1; Nghi kinh ngụy soạn tạp lục trong Xuất tam tạng kí tập Q.5; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3, 19].
Quán đỉnh kinh 灌頂經
[ja] カンジョウキョウ Kanjō kyō ||| Guanding jing (Sutra of Consecration); An abbreviation of the title Guanding shiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing 灌頂七萬二千神王護比丘呪經. 12 fasc. (T 1331), trans. Śrīmitra 帛戸梨蜜多羅 in the early fourth century. For a study and English translation see Strickmann (1990). Partly corresponds to Tibetan translations [To.503, 504]. => (c: Guanding jing; e: Sutra of Consecration). Tên gọi tắt của kinh Quán đỉnh thất vạn nhị thiên thần vương hộ tỷ-khưu chú kinh (c: Guanding shiwanerjian 灌頂七萬二千神王護比丘呪經 (c: Guanding jing; e: Sutra of Consecration). Tên gọi tắt của kinh Quán đỉnh thất vạn nhị thiên thần vương hộ tỷ-khưu chú kinh Guanding shiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing 灌頂七萬二千神王護比丘呪經. 12 quyển. Bạch-hộ-lê-mật-đa-la (s: Śrīmitra 帛戸梨蜜多羅) dịch vào đầu thế kỷ thứ 4. Để nghiên cứu bản dịch tiếng Anh, xem Strickmann (1990). Có phần nào tương ứng với bản dịch tiếng Tây Tạng.
quán đỉnh phan
6855又作觀頂幡。略稱灌頂。幡具有灌頂之功德,故稱灌頂幡。或謂高懸其幡而使其端觸人之頭頂,類於灌頂,故附以灌頂之名。起於印度轉輪聖王太子灌頂即位時,以幢幡莊嚴其儀式,佛教仿此作為法具。古代多以銅板鏤刻作之。舊華嚴經卷二十七十地品(大九‧五七二中):「譬如轉輪聖王太子成就王相,轉輪聖王令子在白象寶閻浮檀金座,取四大海水,上張羅幔,種種莊嚴幢幡妓樂,執金鐘香水灌子頂上,即名為灌頂大王。」又祕藏記載,諸佛之大悲是灌之義,世人皆以幡號灌頂,是以幡之功德,先為輪王,後終成佛,以致佛果,稱為灌頂,是故以果名因。
; (灌頂幡) Gọi tắt: Quán đính. Lá phan có công đức quán đính, nên gọi là Quán đính phan. Có thuyết cho rằng phan này treo thật cao, sao cho đuôi phan chạm vào đỉnh đầu của người, giống như quán đính (rưới đầu), vì thế phụ thêm 2 chữ quán đính làm tên gọi. Ở Ấn Độ đời xưa, khi Thái tử của Chuyển luân thánh vương làm lễ quán đính lên ngôi, thì cờ phan được treo lên để tô điểm cho nghi thức ấy. Về sau, Phật giáo phỏng theo nghi thức này nên dùng phan làm pháp cụ. Thời xưa phan này thường được làm bằng lá đồng mỏng trên đó có chạm trổ. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 27 (Đại 9, 572 trung) nói: Ví như Thái tử của Chuyển luân thánh vương đến tuổi đăng quang thì Chuyển luân thánh vương bảo Thái tử ngồi vào tòa làm bằng vàng Diêm phù đàn đặt trên lưng voi trắng báu, phía trên giăng màn, trang nghiêm bằng các thứ cờ phan, kĩ nhạc, dùng nước lấy từ 4 biển lớn đựng trong chung vàng rưới lên đỉnh đầu của Thái tử, gọi là Quán đính đại vương. Theo Bí tạng kí thì tâm đại bi của chư Phật nghĩa là quán, người đời gọi phan là quán đính, cho nên công đức của phan, trước làm Luân vương, sau cùng thành Phật, cho đếnquảPhật gọi là Quán đính, vì vậy lấy quả gọi nhân.
quán đỉnh tam muội
6965係百八三昧之一。三昧(梵 samādhi),即心安住於一境之寂靜狀態。謂入此三昧者,能一一遍見諸三昧,如住山頂,悉見眾物。〔大品般若經卷二十七、大智度論卷四十七〕
; (觀頂三昧) Một trong 108 tam muội. Tam muội (Phạm:Samàdhi) là trạng thái vắng lặng khi tâm an trụ ở 1 cảnh. Ngườivàođược tam muội này thì thấy khắp tất cả các tam muội khác, như đứng trên đỉnh núi thấy toàn thể cảnh vật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; luận Đại trí độ Q.47].
quán đỉnh tam muội da
6853三昧耶,為要誓之義。密教行灌頂時宜發堅固之要誓,稱為三昧耶。即就其作法稱為灌頂,就受灌頂者之心稱為三昧耶,名雖不同,其體則一。大日經卷五祕密漫荼羅品說三種灌頂與五種三昧耶,即依作法之差別,有結緣、傳法、以心等三種灌頂;依灌頂之深淺,有初見、入睹、具壇、傳教、祕密等五種三昧耶。〔大日經疏卷十五〕
; (灌頂三昧耶) Tam muội da nghĩa là thệ nguyện trọng yếu. Trong Mật giáo, khi cử hành pháp Quán đính, hành giả phát thệ nguyện trọng yếu, kiên cố, gọi là Tam muội da. Tức căn cứ vào tác pháp gọi là Quán đính; còn căn cứ vào tâm người nhận quán đính thì gọi là Tam muội da, tên gọi tuy khác, nhưng thể tính thì là một. Phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5 nói về 3 thứ Quán đính và 5 thứ Tam muội da, tức tùy theo sự sai khác về tác pháp mà có 3 thứ quán đính: Kết duyên, Truyền pháp, Dĩ tâm; còn tùy theo sự sâu cạn của quán đính mà có 5 thứ tam muội da: Sơ kiến, Nhậpđổ, Cụ đàn, Truyền giáo, Bí mật. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15].
Quán đỉnh thất vạn nhị thiên thần vương hộ tỷ-khưu chú kinh 灌頂七萬二千神王護比丘呪經
[ja] カンジョウシチマンニセンジンノウゴビクジュキョウ Kanjō shichiuman nisen jinnou gobikuju kyō ||| The Guanding qiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing; an apocryphal text written on the topic of popular faith; 4 fasc., T 1331.21.495a-536b. Usually abbreviated as Guanding jing 灌頂經. => (c: Guanding qiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing); là kinh nguỵ tác, nội dung ngắm vào tín ngưỡng của giới bình dân; bốn quyển. Thường được gọi tắt là Quán đỉnh kinh (c: Guanding jing 灌頂經).
Quán đỉnh trú 灌頂住
[ja] カンジョウジュウ kanjōjū ||| The tenth of the Ten Abidings 十住. The "abiding of sprinkling water on the head." The stage of being able to view the principle of emptiness and no-aspects without producing wisdom. => Giai vị thứ 10 trong Thập trú. Giai vị thấy được nguyên lý tính Không và Vô tướng chẳng phải bên ngoài sự lưu xuất của trí tuệ.Quán đỉnh 潅頂 , 灌頂 [ja] カンジョウ kanjō ||| (1) 'Sprinkling water on the head' (abhiseka); a ceremony in esoteric Buddhism for conferring the precepts, a certain mystic teaching, etc., on a person. (2) (561-632) The name of Zhiyi's 智顗 disciple who was the second patriarch of the Tiantai sect 天台宗. => Rưới nước trên đầu'(s: abhiseka); một nghi thức của Phật giáo Mật tông khi truyền giới, hoặc khi truyền dạy một giáo pháp bí mật v.v... cho một người. 2. Quán Đỉnh (561-632); tên một đệ tử của ngài Trí Khải (c: Zhiyi's 智顗), là Tổ thứ nhì của tông Thiên Thai.
quán đỉnh đàn
6855即密教修灌頂法之壇場。又稱密壇。灌頂需要三昧耶戒壇、大壇、正覺壇、祖師壇、護摩壇等。由於在正覺壇舉行灌五智瓶水於受者頭頂之儀式,故有時特稱之為灌頂壇。又灌頂壇授予弟子之道具,在灌頂前先授楊枝、金剛線二種,灌頂後復授予金錍、明鏡、寶輪、法螺等四種法物。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四〕
; (灌頂壇) Cũng gọi Mật đàn. Chỉ cho đàn tràng tu pháp Quán đính của Mật giáo. Quán đính cần phải có các đàn như: Đàn Tam muội da giới, đàn Đại, đàn Chính giác, đàn Tổ sư, đàn Hộ ma... Vì nghi thức rưới nước trong bình Ngũ trí lên đầu người nhận pháp Quán đính được cử hành ở đàn Chính giác, nên có khi đàn Chính giác đặc biệt được gọi là đàn Quán đính. Còn các đạo cụ của đệ tử thì được trao cho tại đàn Quán đính, như trước khi quán đính thì trao cho 2 thứ là cành dương và dây kim cương; sau khi quán đính thì trao cho 4 vật: Mũi tên vàng, gương sáng, bánh xe báu và pháp loa (tù và pháp). [X. kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.4].
quán đỉnh đàn mạn đồ la
6855即密教正覺壇所用之十二大聖曼荼羅。正覺壇,係指行者登正覺位時,行灌頂作法之修法壇,故又稱灌頂壇。行者受灌頂後,以自身成中臺大日如來,勸請十二尊,使之圍繞,其後乃修護摩供而供養自身大日如來。又此曼荼羅係於灌頂壇之四維畫四執金剛,壇中央畫八葉蓮華,八葉之中,四方之葉畫有四菩薩,四角之葉畫有四奉教者,共成十二尊,故為十二大聖曼荼羅。〔大日經卷二具緣品、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四、大日經疏卷八〕
; (灌頂壇曼荼羅) Tức Mạn đồ la 12 Đại thánh được dùng trong đàn Chính giác của Mật giáo. Đàn Chính giác là chỉ cho đàn tu pháp thực hành tác pháp quán đính khi hành giả đã bước lên địa vị Chính giác, nên cũng gọi là đàn Quán đính. Sau khi hành giả tiếp nhận pháp Quán đính thì tự thân thành Đại nhật Như lai ở Trung đài, khuyến thỉnh 12 vị tôn đi vòng chung quanh, sau đó là tu Hộ ma cúng dường tự thân Đại nhật Như lai. Trong Mạn đồ la này, ở 4 góc của đàn Quán đính vẽ 4 vị Chấp kim cương, ở chính giữa đàn vẽ hoa sen 8 cánh. Trong 8 cánh thì 4 cánh ở 4 phương vẽ 4 vị Bồ tát, cánh ở 4 góc vẽ 4 vị sứ giả phụng giáo, tất cả là 12 vị tôn, nên gọi là Mạn đồ la 12 Đại thánh. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.8].
quán đỉnh ấn minh
6854日本真言宗行傳法、結緣、瑜祇等灌頂時,由阿闍梨授予行者之印契與真言。其中,傳法灌頂之印一般多用無所不至印及五股印。無所不至印有開閉之別,五股印有內外之分,真言亦有五字明、一字明等多種。又金剛、胎藏兩部之印明,有二印二明、一印二明、一印一明等。〔祕密莊嚴傳法灌頂一異義、灌頂傳受祕錄卷上〕
; (灌頂印明) Chỉ cho ấn khế (ấn) và chân ngôn (minh) mà vị A xà lê trao cho hành giả khi cử hành các pháp quán đính: Truyền pháp, Kết duyên, Du kì... trong tông Chân ngôn Nhật bản. Trong đó, ấn của quán đính Truyền pháp thông thường dùng ấn Vô sở bất chí và ấn Ngũ cổ. Ấn Vô sở bất chí có mở, đóng khác nhau; ấn Ngũ cổ thì có trong, ngoài bất đồng. Chân ngôn cũng có nhiều loại: Ngũ tự minh (chân ngôn 5 chữ), Nhất tự minh... Còn ấn minh của 2 bộ Kim cương và Thai tạng thì có các loại: Hai ấn 2 minh; 1 ấn 2 minh; 1 ấn 1 minh... [X. Bí mật trang nghiêm truyền pháp quán đính nhất dị nghĩa; Quán đính truyền thụ bí lục Q.thượng].
quán định
6959巴利語 vīmaṃsā-samādhi。為增大「四神足」中之第四「觀三摩地斷行成就神足」而得之禪定。〔清淨道論三〕(參閱「四神足」1751)
; Vismamsa-samādhi (S)Quán Tam ma địa Đoạn hành thành tựu thần túcĐịnh thứ tư trong Tứ Thần túc.
; (觀定) Pàli: Vìmaôsà-samàdhi. Thiền định Quán tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc, là định thứ 4 trong Tứ thần túc. [X. luận Thanh tịnh đạo 3]. (xt. Tứ Thần Túc).
Quán 慣
[ja] カン kan ||| (1) To become accustomed to, get used to. Become habituated. (2) Habits, customs. (3) To learn. => 1. Trở nên quen, quen thuộc với. 2. Thói qun, tập quán. 3. Tập, học.
quáng
Blinded.
quát
To shout (scold) loudly.
quát cốt chi ngôn
3088禪林用語。指師家所用來徹底打破學人之執著迷妄之精闢語句。祖堂集卷六洞山良价章:「師示眾云:『諸方雖有驚人之句,我這裏有刮骨之言。』」此外,師家接化學人之方法,綿密又辛辣,絲毫不予放過,稱爲刮皮見骨。又禪徒若已頓悟禪機,得以滅絕語言,焚毀典籍,則稱爲刮語燒書。〔虛堂和尚語錄卷二〕
; (刮骨之言) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói đẽo xương. Tức là bậc thầy dùng lời sắc bén, sâu xa để đả phá các chấp trước mê vọng của người học một cách triệt để. Chương Động sơn Lương giới trong Tổ đường tập quyển 6 chép: Sư dạy chúng rằng Các nơi có Kinh nhân chi cú (câu nói khiến người ta sợ hãi) thì ở đây ta có Quát cốt chi ngôn. Ngoài ra, cái phương pháp mà thầy sử dụng để tiếp dẫn người học kín kẽ mạnh bạo, không sơ hở chút nào, gọi là Quát bì kiến cốt (cạo da thấy xương); nếu thiền sinh đã đốn ngộ được cơ thiền, đạt đến chỗ dứt bặt lời nói, đốt bỏ sách dở thì gọi là Quát ngữ thiêu thư (nạo lời đốt sách). [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục Q.2].
quát thiệt
3088即清洗舌面。比丘於洗面時,口中含水,以楊枝刮除舌面之污垢。刮舌之際有五事須注意,即:(一)刮洗三次,(二)若舌上出血即止,(三)不得染污法衣與雙足,(四)所使用之楊枝不可隨意拋棄,(五)刮舌時不得爲人所見。〔大比丘三千威儀經卷上〕
; (刮舌) Nạo lưỡi.Tức khi vị tỉ khưu súc miệng, rửa mặt, dùng cành dương để nạo chất dơ trên mặt lưỡi gọi là Quát thiệt. Lúc nạo lưỡi, có 5 việc cần chú ý: 1. Nạo rửa 3 lần. 2. Nếu trên lưỡi chảy máu thì phải ngưng ngay. 3. Không được vấy bẩn y áo và 2 chân. 4. Cành dương đã dùng rồi, không được vứt bỏ bừa bãi. 5. Lúc nạo lưỡi, không được để người khác thấy. [X. kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng].
quát đốc thành gia
3088禪林用語。謂以嚴謹篤實之精神爲家風。即以篤實之態度處理日常諸事,行住坐臥亦中規中矩者,必能有所證悟而自成一家。於禪林中,轉指學人雖處於穢濁之世俗間,卻能潛心精進不爲所染,卓然自成一格。從容錄第九十八則(大四八‧二九一上):「不入世(物外橫身),未循緣(刮篤成家)。」
; (刮篤成家) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Nghĩa là lấy tinh thần nghiêm túc, rất mực chân thành làm gia phong. Tức là nếu dùng thái độ chân thành để xử lí mọi việc hằng ngày, đi đứng ngồi nằm đều hợp qui củ, thì chắc chắn có chỗ chứng ngộ mà tự tạo thành 1 gia phong riêng. Trong Thiền Lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho người học tuy sống giữa cuộc đời ô trọc, nhưng vẫn chuyên tâm tinh tấn không bị đắm nhiễm, tự tạo cho mình 1 phong cách riêng. Thung dung lục tắc 98 (Đại 48, 291 thượng) nói: Không vào đời (thân để ngoài vật), chẳng theo duyên (tự có gia phong riêng – Quát đốc thành gia).
quân
1) Quân bình: Balance—Equal. 2) Anh (nói theo kiểu quý phái): Prince—Noble—Ideal man. 3) Quân Đội: An army—Military—Martial.
quân bình
To balance
quân danh
2818日本佛教用語。又作卿名。對入佛門而未得度之兒童,往往取其生父之官職名稱為其稱呼,稱為君名。此一習俗流行於日本比叡山。如公卿子弟皈依佛教,則稱呼此子弟為兵部卿、少納言卿,即使此一子弟日後成為正式之出家人,亦稱呼其為兵部卿法印。
; (君名) Cũng gọi Khanh danh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cách xưng hô con em những nhà quan chức khi chúng mới vào cửa Phật, chưa được chính thức xuất gia. Như con em bậc công khanh qui y cửa Phật thì được gọi là Binh bộ khanh, Thiếu nạp ngôn khanh. Nếu sau này các con em ấy trở thành người xuất gia chính thức,thì cũng được gọi là Binh bộ khanh pháp ấn.
quân na
Kunda (skt). 1) See Quân Đồ. 2) Một loại hoa, có lẽ là hoa lài: a kind of flower, perhaps jasmine.
quân na hoa
3957軍那,梵語 kunda。又作君陀花、裙那花。產於印度之植物,開白色花,稱白茉莉花,每爲密教供養之用。大日經疏卷五(大三九‧六三二上)﹕「如軍那花,其花出西方,亦甚鮮白。」
; (軍那花) Quân na, Phạm: Kunda. Cũng gọi Quân đà hoa, Quần đà hoa. Tên một loài hoa ở Ấn Độ, màu trắng gọi là Bạch mạt lị hoa, thường được Mật giáo dùng để cúng dường. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 632 thượng) nói: Như hoa quân na, gốc ở phương Tây, màu cũng trắng tươi.
Quân nhiên 灼然
[ja] シャクネン shakunen ||| Clear, obvious; to clarify, illuminate, disclose. 〔二障義HPC 1.811a19〕 => Trong sáng, rõ ràng; làm sáng sủa, làm rạng rỡ, phơi bày.
Quân Như
均如; C: jūnrú; J: kinnyo; K: kyunyŏ, 923-973.|Học giả Hàn Quốc có uy tín về kinh Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ). Ông viết nhiều luận giải về tác phẩm của các vị tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa và thiết lập nền tảng cho việc lập lại mối tương quan của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông trong tương lai qua thái độ cởi mở theo quan điểm của lớp người sau. Các tác phẩm của ông là một nguồn rất quan trọng cho tri thức hiện đại để nhận ra bản chất đặc biệt của Hoa Nghiêm tông Triều Tiên. Một trong những tài liệu có liên quan đến Quân Như là Quân Như truyện (均如傳, k: kyunyŏ-jŏn), đã được Adrian Buzo và Tony Prince dịch sang tiếng Anh.
quân như
2833(923~973)高麗華嚴宗僧。黃州荊岳人,俗姓邊。少孤,貌醜而聰穎。十五歲,隨堂兄釋善均至復興寺出家,禮識賢和尚修習佛法。後詣靈通寺,親近義順公,刻苦力學,潛心佛典。 師與首座仁裕皆好遊名山,且以佛法相往來,並大鳴法鼓,建主法幢,一時青年僧眾趨之若鶩。又師為新羅末期僧希朗所創立華嚴宗派之北岳法孫,因感於南岳、北岳分歧之弊,乃立義定宗,引用佛經或菩薩之論以正謬誤,以謀各派之和合。當時,朝廷曾於王輪寺設席選拔佛門龍象,均以師之義行為正行,以其他為旁系。 師在世時,曾有諸多感通神異之事。生平除精於華嚴學外,尤擅詞章歌行,嘗依「普賢十種願王」撰歌十一章以化世。其詞句清麗,在韓國文學上頗有成就。光宗二十四年(宋開寶六年),入寂於歸法寺,世壽五十一,僧臘三十六。著有華嚴搜玄方軌記十卷、華嚴孔目章記八卷、華嚴五十要問答四卷、入法界品抄記一卷、釋探玄記圓通鈔二十八卷(以上皆佚失)、華嚴經三寶章圓通鈔、釋華嚴旨歸章圓通鈔、十句章圓通記、一乘法界圖圓通記各二卷,及釋華嚴教分記圓通鈔十卷等,今皆由金知見編入「均如大師華嚴學全書」。
; (均如) ( 923-973) Cao tăng người nước Cao Li, thuộc tông Hoa Nghiêm, người ở Kinh Nhạc, Hoàng Châu, họ Biên. Sư mồ côi từ nhỏ, dáng người xấu xí nhưng thông minh. Năm 15 tuổi, sư theo người anh họ là Thích thiện quân đến chùa Phục Hưng xuất gia, lễ Hòa thượng Thức hiền tu học Phật pháp. Sau, sư đến chùa Linh Thông, gần gũi Ngài Nghĩa Thuận, chịu khó học tập, chuyên tâm tìm hiểu kinh Phật. Sư và Thủ tọa Nhân dụ đều thích du ngoạn các danh sơn, qua lại với nhau để trao dồi Phật pháp, đồng thời mở lớp giảng dạy Phật pháp, chư tăng trẻ tuổi về theo học rất đông. Sư là pháp tôn của ngài Hi Lãng, Tổ khai sáng phái Bắc nhạc thuộc tông Hoa nghiêm cuối thời kì Tân La. Vì cảm nhận mối tệ của sự chia rẽ giữa Nam nhạc và Bắc nhạc, nên sư lập định lại tông nghĩa, dẫn dụng kinh Phật hoặc luận của các vị Bồ tát để sửa lại những sai lầm ngõ hầu hòa hợp các phái. Lúc bấy giờ, triều đình có mở hội ở chùa Vương luân để tuyển chọn bậc long tượng trong Phật giáo, đều công nhận nghĩa hạnh của sư là chính thống, ngoài ra là bàng hệ. Lúc còn sinh tiền, sư từng có nhiều việc cảm thông thần dị. Ngoài việc tinh thông học thuyết Hoa nghiêm, sư còn giỏi văn chương thi ca, từng dựa vào 10 nguyện vương củabồ tát Phổ Hiền mà soạn ra 11 bài ca để giáo hóa người đời. Văn từ của sư thanh nhã, diễm lệ, rất có giá trị về mặt văn học ở Hàn Quốc. Năm Quang tông 24 (973), sư thị tịch ở chùa Pháp qui, hưởng dương 51 tuổi, tăng lạp 26. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm sưu huyền phương quĩ kí 10 quyển, Hoa nghiêm khổng mục chương kí 8 quyển, Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp 4 quyển, Nhập pháp giới phẩm sao kí 1 quyển, Thích giám huyền kí viên thông sao 28 quyển (các tác phẩm trên đây đều đã thất lạc), Hoa nghiêm kinh Tam bảo chương viên thông sao, Thích hoa nghiêm chỉ qui chương viên thông sao, Thập cú chương viên thông kí, Nhất thừa pháp giới đồ viên thông kí (mỗi loại đều 2 quyển), Thích hoa nghiêm giáo phần kí viên thông sao 10 quyển... hiện nay đều được ông Kim tri kiến biên vào Quân Như Đại Sư Hoa Nghiêm Học Toàn Thư.
quân như đại sư hoa nghiêm học toàn thư
2833高麗僧均如著,金知見編註。一九七七年,大韓傳統佛教研究院出版委員會印行。內容包括華嚴經三寶章圓通鈔、釋華嚴旨歸章圓通鈔、十句章圓通記、一乘法界圖圓通記各二卷,以及釋華嚴教分記圓通鈔十卷,為均如研究華嚴學之總集。本書並附有「大華嚴首座圓通兩重大師均如傳」,為進士赫連挺於高麗文宗二十九年(1075)所撰。係於韓國海印寺藏經閣所發現。編者金知見認為該書具有下列之價值:(一)彰顯均如大師之成就,為中、日、韓三國研究華嚴學者之重要資料。(二)其教分記中,有關五教章之研究,可藉以解決日本初期華嚴典籍和本、宋本傳來之背景問題。(三)書中有中國北宗禪神秀大師所著「妙理圓成觀」之內容。
; (均如大師華嚴學全書) Toàn thư, do Đại sư Quân như người Cao Li soạn, ông Kim Tri Kiến biên tập và chú thích, do Hội Xuất Bản thuộc viện Nghiên Cứu Phật Giáo Truyền Thống Đại Hàn ấn hành vào năm 1977. Nội dung sách này gồm có: Hoa nghiêm Tam bảo chương viên thông sao, Thích hoa nghiêm chỉ qui chương viên thông sao, Thập cú chương viên thông kí, Nhất thừa pháp giới đồ viên thông kí (mỗi thứ 2 quyển), Thích hoa nghiêm giáo phần kí viên thông sao 10 quyển. Đây là tổng tập nghiên cứu Hoa nghiêm học do ngài Quân Như soạn. Sách này còn phụ thêm Đại hoa nghiêm thủ tọa viên thông lưỡng trùng đại sư Quân như truyện do Tiến sĩ Hách liên đĩnh soạn vào năm Cao Li Văn tông 29 (1075). Bộ sách này được tìm thấy ở lầu chứa kinh của chùa Hải ấn tại Hàn quốc. Theo sự nhận xét của người biên tập là Kim tri kiến thì sách này có các giá trị sau đây: 1. Cho thấy sự thành tựu của Đại sư Quân Như, là tư liệu quan trọng để nghiên cứu Hoa nghiêm học của 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. 2. Có thể dựa vào sự nghiên cứu của Đại sư về Ngũ giáo chương trong Giáo phần kí của ngài để giải quyết vấn đề bối cảnh truyền nhập kinh sách Hoa nghiêm bản tiếng Nhật, bản đời Tống ở thời kì đầu tại Nhật bản. 3. Trong bộ Toàn thư này có nội dung của Diệu lí viên thành quán của Đại sư Thần Tú thuộc Thiền Bắc tông của Trung Quốc soạn.
Quân Như 均如
[ja] キンニョ Kinnyo ||| Kyunyŏ (923-973), an influential Hwaŏm 華嚴 scholar of the Koryŏ period. He commented prolifically on the works of the Chinese Huayan patriarchs, and lay the ground for the future rapprochement of Hwaŏm and Sŏn by his accommodating attitude stance toward the latter. His works are an important source for modern scholarship in terms of identifying the distinctive nature of Korean Hwaŏm. One of the documents related to Kyunyŏ, the Kyunyŏ-jŏn 均如傳), has been translated into English by Adrian Buzo and Tony Prince. => k: Kyunyŏ (923-973) Học giả có uy tín về kinh Hoa Nghiêm trong thời kỳ Cao Lệ (k: Koryŏ). Ông viết nhiều luận giải về tác phẩm của các vị tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa, Và thiết lập nền tảng cho việc lập lại mối tương quan của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông trong tương lai qua thái độ cởi mở theo quan điểm của lớp người sau. Các tác phẩm của ông là một nguồn rất quan trọng cho tri thức hiện đại để nhận ra bản chất đặc biệt của Hoa Nghiêm tông Triều Tiên. Một trong những tài liệu có liên quan đến Quân Như là Quân Như truyện (Kyunyŏ-jŏn 均如傳), đã được Adrian Buzo và Tony Prince dịch sang tiếng Anh.
quân noa lợi
Xem Quân Đồ Lợi Minh Vương.
quân sư phụ
King master and father.
quân thần ngũ vị
2818曹洞宗開祖洞山良价禪師以真理立為正位,以事物立為偏位,依偏正回互之理,立五位(正中偏、偏中正、正中來、偏中至、兼中到)之說。曹山本寂禪師復承洞山之本意而發明之,假託君臣之例而說明五位之旨訣,稱為君臣五位。即:(一)君位,指本來無物之空界,為正位,即五位中之正中來。(二)臣位,指萬象有形之色界,為偏位,即五位中之偏中至。(三)臣向君,為捨事入理之意,即向上還滅之偏中正。(四)君視臣,為背理就事之意,即向下緣起之正中偏。(五)君臣道合,為冥應眾緣而不墮諸有之意,即兼中到,指動靜合一、事理不二、非正非偏之究竟大覺之道位。〔景德傳燈錄卷十七曹山本寂章、曹山元證禪師語錄〕(參閱「洞山五位」3869)
; (君臣五位) Năm vị vua tôi, do Thiền sư Tào Sơn Bản tịch dựa theo thuyết Ngũ vị của ngài Động Sơn Lương Giới mà lập ra. Thiền sư Động Sơn Lương Giới – Tổ khai sáng của Tông Tào động – lấy chân lí lập làm Chính vị ., lấy sự vật lập làm Thiên vị ,rồi dựa vào lí Thiên và Chính xoay trở lẫn nhau mà lập thành thuyết Ngũ vị (Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo). Thiền sư Tào Sơn Bản tịch lại nương theo bản ý của ngài Động Sơn mà phát minh thêm, mượn ví dụ vua tôi để nói rõ yếu chỉ của Ngũ vị, gọi là Quân thần ngũ vị. Tức là: 1. Quân vị (địa vị vua): Chỉ cho cõi hư không xưa nay vốn chẳng có 1 vật gì, là Chính vị, tức Chính trung lai trong Ngũ vị. 2. Thần vị (địa vị bầy tôi): Chỉ cho cõi sắc, muôn tượng có hình, là Thiên vị, tức là Thiên trung chí trong Ngũ vị. 3. Thần hướng quân (bầy tôi hướng lên vua): Bỏ sự về lí, tức là Thiên trung chính hướng lên, trở về trạng thái vắng lặng. 4. Quân thị thần (vua nhìn xuống bầy tôi): Bỏ lí theo sự, tức là Chính trung thiên hướng xuống, theo duyên sinh khởi muôn pháp. 5. Quân thần đạo hợp(đạo vua tôi hợp nhau): Ngầm ứng các duyên mà không rời vào hữu vi, tức là Kiêm trung đáo, chỉ cho địa vị đạo Đại giác cùng tột, chẳng phải Chính, chẳng phải Thiên, động tĩnh hợp nhất, sự lí không hai. [X. Chương Tào sơn bản tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục]. (xt. Động Sơn Ngũ Vị).
quân trà lợi
Xem Quân Đồ Lợi Minh Vương.
quân trà lợi minh vương
Kundali-raja (skt)—See Quân Đồ Lợi Minh Vương.
quân trì
3957梵語 kuṇḍikā。又作君持、君遲、軍遲、軍挺、捃稚迦等。意譯爲瓶、澡瓶、水瓶。此乃梵天、千手觀音等之持物,亦爲大乘比丘常持十八物之一。爲盛水以便攜帶之容器。亦用以盛裝油、鹽、石蜜等種種物。以用途不同,稱法自亦有別,如洗足瓶、澡水瓶、淨瓶(盛飲水之用)、不淨瓶(裝便之用)等,其構造質材,有陶土、銅、鐵等。今用爲法具,多以青銅製成者。南海寄歸內法傳卷一詳載軍持之形狀與用途。〔陀羅尼集經卷三、千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼、四分律卷一、玄應音義卷九〕
; Xem Thủy bình.
; Kundi or Kundika (skt)—Quân Trì Ca—Vận Trì. 1) Chiếc bình trong tay của Đức Quán Âm: The vase in Kuan-Yin's hand—An asecetic' water bottle. 2) Một trong 18 vật dụng của Tỳ Kheo: One of the eighteen utensils of Bhikkhus.
; (軍持) Phạm: Kuịđikà. Cũng gọi Quân đĩnh, Quấn trĩ ca. Hán dịch: Bình, Tháo bình, Thủy bình. Vật cầm của Phạm thiên, Thiên thủ Quán âm, cũng là 1 trong 18 vật dụng của các vị tỉ khưu. Quân trì là đồ đựng nước mang theo bên mình, cũng dùng để đựng các vật như dầu xoa, muối, đường phèn... Vì công dụng khác nhau nên cách gọi cũng khác, như bình rửa chân, bình rửa tay, bình sạch (bình đựng nước uống), bình dơ (bình dùng đi đại tiện)... Về chất liệu thì bình được làm bằng đất nung, đồng, sắt... [X. kinh Đà la ni tập Q.3; Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; luật Tứ phần Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.9].
Quân tử
君子; C: jūnzí; J: kunshi; |Người tốt, người tài, người đức hạnh theo giáo lí nhà Nho, được lập trong sự tương phản với Tiểu nhân (小人).
Quân tử 君子
[ja] クンシ kunshi ||| The superior man, noble man, gentleman of the Confucian teachings, who is established in contrast to the 小人, or "petty man." => Người tốt, người tài, người đức hạnh theo giáo lý Khổng Nho, được lập trong sự tương phản với Tiểu nhân 小人.
quân vương tí lạc
2818為禪宗系譜西天第二十四祖師子尊者遇害之故事。師子尊者得法後遊方至北印度罽賓國弘化,將法傳予婆舍斯多。未久遇當地破佛,該國國王蔑視佛法,一日對尊者謂(大五一‧二一五上):「離生死否?(中略)即離生死,可施我頭。」尊者答以:「身非我有,何吝於頭?」王聞言即揮刀砍下尊者之頭,刀落之處噴出白乳數尺,而於其時,王之手臂亦自然斷落;此係因罽賓國王輕視佛法,又罔顧尊者之自覺功德力,乃於現前受此果報。〔付法藏因緣傳卷六、景德傳燈錄卷二師子尊者章、寶林傳卷五〕
; (君王臂落) Cánh tay nhà vua rơi. Đây là sự tích về ông vua bức hại tôn giả Sư tử, vị Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Độ. Sau khi đắc pháp, Tôn giả Sư tử đến nước Kế tân thuộc Bắc Ấn Độ hoằng hóa và truyền pháp cho Ngài Bà Xá Tư Đa. Không bao lâu, nước này bị pháp nạn, nhà vua miệt thị Phật giáo. Một hôm, vua nói với Tôn giả Sư tử (Đại 51, 215 thượng): Đã lìa sinh tử chưa? (...) Nếu đã lìa sinh tử thì hãy bố thí cho ta cái đầu. Tôn giả đáp: Thân chẳng phải của ta, đâu có tiếc cái đầu? Nhà vua nghe xong liền vung gươm chém đầu tôn giả, chỗ vết chém sữa trắng phun lên vài thước, lúc ấy cánh tay nhà vua cũng tự nhiên đứt lìa. Đây là vì vua nước Kế tân xem khinh Phật pháp, cũng chẳng để ý đến sức công đức tự giác của Tôn giả Sư tử nên hiện tại phải chịu quả báo. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; chương Sư tử tôn giả trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.5].
quân đề
2834梵名 Kunti。<一>指均提沙彌。印度婆羅門之子,七歲出家,舍利弗攜之至祇洹,漸為說法,使證得阿羅漢。彼既得道,為感師恩,終身作沙彌,以供給所需。〔賢愚經卷十三沙彌均提品、經律異相卷二十二〕 <二>指均提童子。為文殊之侍者。五燈會元卷九記載杭州無著文喜禪師,往五臺山,遇均提童子一事。
; Kun-Ti (Ch). a) Người ta nói đây là một đệ tử thuần thành của Ngài Xá Lợi Phất: Said to be a devoted disciple of Sariputra. b) Một trong những thị giả của Ngài Văn Thù: One of the attendants on Manjusri.
; (均提) Phạm: Kunti. I. Quân Đề. Chỉ cho sa di Quân Đề, con của một nhà Bà la môn ở Ấn Độ, 7 tuổi xuất gia, ngài Xá Lợi Phất đưa đến Tịnh xá Kì Hoàn, dần dần nói pháp cho nghe, sau Quân Đề chứng được quả A la hán. Sau khi đắc đạo, vì cảm niệm ân đức của thầy nên Quân Đề nguyện suốt đời làm sa di để thị giả và cung phụng những gì thầy cần. [X. phẩm Sa di Quân Đề trong kinh Hiền ngu Q.13; Kinh luật dị tướng Q.22]. II. Quân Đề. Chỉ cho đồng tử Quân Đề, là thị giả của bồ tát Văn Thù. Theo Ngũ đăng hội nguyên Q.9 thì Thiền sư Vô Trước Văn Hỉ ở Hàng Châu, khi đến núi Ngũ Đài có gặp đồng tử Quân Đề.
quân đề đồng tử
See Quân Đề (b).
quân đồ
3957梵語 kuṇḍa,或 agni-kuṇḍa 之音譯。又作君荼。意譯作火爐。原來指作爲宗教用途之瓶、壺類,密教特用以指修護摩法時所用之火爐,故又稱爲護摩爐、護摩火爐。依修法之種類,其形狀亦異。修息災法之爐爲正圓,修增益法爲正方形,修降伏法爲三角形,修鉤召法爲金剛形,修敬愛法爲蓮華形等五種。依慧琳音義卷三十六(大五四‧五四八上):「君荼,梵語,唐云地火鑪,即護魔爐。」又同書卷四十二(大五四‧五八四中):「其鑪形狀而有多種,方、圓、三角、金剛杵、蓮花等形,所用各別。」〔瑜伽大教王經卷五護摩品、蘇悉地羯囉經卷中、金剛頂瑜伽護摩儀軌〕
; Kunda (skt)—Lò lửa, dùng làm phép Hộ Ma trong Mật Giáo—A hole in the ground, or a brazier, or a fire-pot, for the fire at the fire altar; the homa or fire altar in the esoteric sects in fire-worship.
; (軍荼) Phạm: Kuịđa, hoặc Agnìkuịđa. Hán dịch: Hỏa lô. Vốn chỉ cho các loại bình, lọ được dùng trong tông giáo, Mật giáo đặc biệt chỉ cho cái lò lửa (hỏa lô) được sử dụng khi tu pháp Hộ ma (pháp cúng tế lửa), cho nên cũng gọi Hộ ma lô, Hộ ma hỏa lô. Tùy theo các loại pháp tu mà hình dáng của quân đồ có khác nhau. Như cái lò lửa của pháp tu Tức tai có hình tròn, của pháp tu Tăng ích có hình vuông, của pháp tu Hàng phục có hình tam giác, của pháp tu Câu triệu có hình chày kim cương, của pháp tu Kính ái có hình hoa sen... Tuệ lâm âm nghĩa quyển 36 (Đại 54, 584 trung) nói: Quân đồ là tiếng Phạm Trung quốc dịch là Địa hỏa lô, tức là cái lò Hộ ma. [X. phẩm Hộ ma trong kinh Du già đại giáo vương Q.5; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].
quân đồ bát thán
2818梵名 Kundapadhaṇiyaka。乃護法住世四大聲聞之一。又作軍頭婆漢。其名於經論中少見。據舍利弗問經載,阿育王之孫弗沙彌多羅在位時,毀壞諸寺塔,五百羅漢登南山而免於迫害,其時君徒?歎出而護持經典,卒使經典得傳於後世。〔增一阿含經卷三弟子品、彌勒下生經、分別功德論〕
; Kundapadhaniyaka (P)Một trong bốn vị đại Thanh văn hộ pháp trụ thế.
; (君徒鉢嘆) Phạm: Kundapadhaịiyaka . Cũng gọi Quân đầu bà hán. Một trong 4 vị Đại thanh văn hộ pháp ở đời. Tên gọi này ít thấy trong kinh luận. Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn thì khi cháu của vua A dục là Phất sa di đa la làm vua, phá hủy các chùa, tháp 500 vị La hán phải lên núi Nam sơn lánh nạn, lúc ấy Quân đồ bát thán ra đời giữ gìn kinh điển, nhờ đó mới còn truyền đến đời sau. [X.phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Di lặc hạ sinh; luận Phân biệt công đức].
quân đồ lị
Xem Thủy bình.
quân đồ lộ
Kunda (S). Nectar jug. Also thủy bình, quân trì, tịnh bình.
quân đồ lợi
Kundalin (skt)—Thủy bình hình tròn như chiếc nhẫn—A ring-shaped vase or bottle.
quân đồ lợi minh vương
Kuṇdali-rāja (S)Quân Trà Lợi, Quân Noa LợiTên một vị thiên.
; Amrta (skt). 1) Một trong ngũ đại minh vương, Cam Lộ Minh Vương—One of the five Ming-Wang, the ambrosia king. 2) Dạ Xoa trong hình thức trừ ma: Also known as Yaksa in his firece form of queller of demons.
quân đồ lợi minh vương pháp
3957軍荼利,梵名 Kuṇḍalī。於密教修法之中,以軍荼利明王爲本尊,爲祈請調伏、息災,或增益之修法。修此法時,行者須面南或面東而修。其曼荼羅(修法壇)一般爲方形或圓形。然古來獨修此法者甚少,多奉於五大尊供之內而修。
; (軍荼利明王法) Quân đồi lợi, Phạm: Kuịđalì. Pháp tu lấy Minh vương Quân đồ lợi làm Bản tôn để tu các pháp Điều phục, Tức tai hoặc Tăng ích trong Mật giáo. Khi tu pháp này, hành giả phải xoay mặt về hướng nam hoặc hướng đông. Mạn đồ la (đàn tu pháp) của pháp này thông thường là hình vuông hay hình tròn. Nhưng xưa nay rất ít người tu riêng 1 pháp này mà phần nhiều nhập chung trong Ngũ đại tôn cúng để tu.
quây quần
To gather together (around) —To cluster.
quãng đơn
Là giường rộng dài của Thiền đường, mỗi giường có thể nằm mấy chục người. Đơn vị mỗi người nằm rộng cỡ 0,8m.
quét sạch
To brush aside.
quê nhà
Birthplace—Homeland.
quên dĩ vãng
Let bygones be bygones—To forget the past.
quên lãng
Bị Quên lãng—Buried and forgetten.
quên mình
To sacrifice oneself—To forget oneself for the sake of others.
quên mất bồ đề tâm mà tu hành các thiện pháp đó là ma nghiệp
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật đã dạy rằng: “Quên mất Bồ đề tâm trong khi tu hành các thiện pháp, đó là ma nghiệp.” Một thí dụ cụ thể là nếu chúng ta không vì Bồ đề tâm mà bố thí thì cái bố thí ấy có thể vì danh vì lợi hay vì muốn được khen tặng, vân vân, đó là cách cách hành xử của loài ma—In Avatamsaka Sutra, the Buddha taught: “To neglect the Bodhi Mind when practicing good deeds is the action of demons.” A concrete example is that if we neglect our Bodhi mind suring we give charity; the charity may be made for fame, benefits or praise, and so on; such conduct is the conduct of the demons.
quí
Thấy mắc cở cho người—Shame for others.
quý
5463梵語 apatrāpya。心所之名。「無愧」之對稱。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。怖畏己過,且引以爲恥之精神作用。俱舍宗以之爲十大善地法之一,法相宗以之爲善法之一。〔北本大般涅槃經卷十九、俱舍論卷四、成唯識論卷六〕(參閱「無愧」5125、「慚愧」5810)
; Apatrapya (S)Sợ quả báo tội lỗi, biết xấu hỗ với người khác. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp.
; 1) Đắc giá: Dear—Precious. 2) Hổ thẹn: Hổ thẹn vì việc làm xấu của người (đối với việc xấu mình làm mà không ai biết, tuy nhiên bản thân mình cảm thấy xấu hổ thì gọi là “Tàm.” Đối với việc xấu mình làm mà người khác thấy, mình thấy xấu hổ thì gọi là “Quý” hay hổ thẹn)—Ashamed for the misdeeds of others. 3) Quý trọng: To esteem—To reverence. 4) Tôn quý: Honourable.
; (愧) Phạm: Apatràpya. Đối lại: Vô quí. Thẹn, tự thẹn. Nghĩa là mình làm điều xấu, mặc dù người khác không thấy, không biết, nhưng mình cảm thấy tự hổ thẹn, gọi là Quí, là tên của tâm sở, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá cho Quí là 1 trong 10Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì cho là 1 trong các pháp thiện. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.19; (bản Bắc); luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Vô Quí, Tàm Quí).
quý báu
Precious—Valuable.
quý khách
Honoured guests.
quý kỉ đẳng phật
5277請參閱 何耶揭唎婆像法 [1]乃斥責空談心性者之語,謂其由生佛一如之見而生高慢心,以己爲貴。就理言之,雖生佛一如,然迷悟因果懸隔,若心生起與佛同等之見,必至傲慢而疏於實修。
; (貴己等佛) Cho mình quí bằng Phật, lời quở trách kẻ bàn suông về tâm tính, vì hiểu câu Sinh Phật nhất như là chúng sinh và Phật như nhau, nên kẻ ấy sinh tâm cao mạn, cho mình là quí. Đứng về phương diện lí mà nói tuy chúng sinh và Phật nhất như, nhưng đứng về mặt nhân quả mê ngộ mà nhìn, thì giữa chúng sinh và Phật còn cách xa nhau lắm. Nghĩa là Phật đã giác ngộ mà chúng sinh vẫn còn mê muội, vậy nếu một mực cho mình đã bằng với Phật thì sẽ sinh tâm kiêu ngạo và lơ là với việc thực tu.
quý mến
To esteem.
quý ngự độc kinh
3143日本佛教用語。又作年御讀經。日本宮中每逢春秋(二月、八月)二季,各擇吉日四日,依例召請一百僧人,誦讀大般若經,以祈求國家安泰、天皇健康。屬日本教界每年的重大行事之一。
; (季禦讀經) Cũng gọi Niên ngự độc kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Ở Nhật Bản, vào 2 mùa Xuân, Thu (tháng 2 và tháng 8) hàng năm, mỗi mùa chọn lấy ngày tốt lành, thỉnh 100 vị tăng theo lệ đã qui định, vào cung vua tụng kinh Đại bát nhã để cầu cho quốc gia an vui, Thiên hoàng mạnh khỏe. Đây là 1trong những việc làm trọng đại hàng năm của giới Phật giáo Nhật Bản.
quý nhân
Noble person—Distinguished person.
quý phái
Aristocracy—Nobility.
quý sơ lễ
3143禪林於正月一日、四月一日、七月一日、十月一日等每季之初,住持巡堂,於坐禪堂觸禮三拜,並繞堂一匝,是爲季初禮。〔椙樹林清規卷下年中行事〕
; (季初禮) Lễ đầu mùa. Trong Thiền lâm, vào ngày đầu của mỗi mùa như: Mồng 1 tháng 1, mồng 1 tháng 4, mồng 1 tháng 7 và mồng 1 tháng 10, vị Trụ trì đi tuần xem xét các nhà, khi đến nhà tọa thiền thì lạy 3 lạy sát đất, rồi đi quanh nhà 1 vòng, gọi là Quí sơ lễ. [X.Niên trung hành sự trong Xương thụ lâm thanh qui Q.hạ].
quý sương vương triều
5277梵名 Kṣāṇa。爲興盛於一世紀末至三世紀中葉之西北印度統一王朝。早期由中亞遊牧民族月氏族族長丘就卻(Kujula, Kadphises Ⅰ.)所統率。至其子閻膏珍(Wema Kadphises)大拓疆土。第三代爲迦膩色迦王,統治印度北部,勢力伸展至中亞、伊朗,創建自阿育王以來之最大強國。與中國、羅馬等亦互有往來。其時,東西文化之交流極盛,該朝因而甚受希臘文化之影響,如醫學、天文學、論理學、佛教藝術等皆受希臘、羅馬之影響。又由於黃金之流入,促進經濟繁榮。學術、文藝亦極興盛。宗教則包容攝取希臘之諸神與波斯之宗教,因而亦融和外來異族文化。時值佛教說一切有部教義大成時代,馬鳴即當時活躍於佛教文學界之不朽人物。並有中亞之學僧陸續至中國從事佛典漢譯。其時,犍馱羅、秣菟羅之佛教美術亦大放異彩。後被興起於三世紀後期之薩珊王朝(Sasan)所滅。
; (貴霜王朝) Phạm: Kwàịa. Vương triều thống nhất ở vùng tây bắc Ấn Độ hưng thịnh từ cuối thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ III. Thời kì đầu do Tộc trưởng Khưu tựu khước (Kujula, Kadphises I) của bộ lạc du mục Nguyệt thị ở vùng Trung Á thống lãnh. Đến con ông là Diêm cao trân (Wema Kadphises) mở rộng lãnh thổ. Đời thứ 3 là vua Ca nị sắc ca thống trị miền Bắc Ấn Độ, thế lực bành trướng đến tận Trung á, Iran, mở ra 1 đại cường quốc kể từ sau vua A Dục. Vương triều này cũng có quan hệ với Trung quốc, La mã... Thời ấy, sự giao lưu văn hóa Đông Tây rất thịnh, Vương triều Quí sương nhân đó đã chịu ảnh hưởng văn hóa Hi lạp sâu đậm, như y học, thiên văn học, luận lí học, nghệ thuật Phật giáo... đều chịu ảnh hưởng Hi lạp, La mã... Lại nhờ vàng được lưu hành trong nước khiến nền kinh tế rất phát đạt, học thuật, văn nghệ cũng hưng thịnh. Tín ngưỡng thì bao gồm các vị thần trong tín ngưỡng của Hi lạp và trong tông giáo Ba tư, do đó, đã dung hòa cả văn hóa dị tộc ngoại lai. Thời này, giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ rất thịnh hành và ngài Mã minh là nhân vật xuất chúng hoạt động trong giới văn học Phật giáo. Đồng thời, chư tăng trong miền Trung á nối nhau đến Trung quốc dịch kinh. Mĩ thuật Phật giáo Kiện đà la, Mạt thố la cũng phát triển rực rỡ. Về sau, Vương triều Quí sương bị Vương triều Tát san (Sasan) nổi lên vào cuối thế kỉ III tiêu diệt.
quý tiện
Dear and cheap—Noble and vile—Noble and base—Your and my.
quý trọng
To esteem—To Admire and respect. .
quý tướng
Appearance (face) of a noble person.
quý tộc
5277印度之貴族制度溯自西元前一千年頃,印度雅利安人自旁遮普漸向東遷移,直至朱木那河、恆河中間,佔據土地最肥沃之中國地方(指印度之政經中心)。戰爭結束後,遂確立一社會制度,雅利安人以婆羅門自稱,即最高階級,而稱被征服之先住民爲奴隸。然西元前五百年頃,印度文化形成一大轉換期。文化中心逐漸東移,新興都市、新興階級次第勃興,婆羅門之權威亦漸被具有實力之王族、武士(梵 Kṣatriya,剎帝利)等所取代。佛陀即出生於此一時期。然出生貴族之佛陀始終以法(梵 dharma)之實現爲其宗旨,嘗謂:不問出生,只問修行。即不以裝束、姓氏、出生爲貴族,而以其人是否能悟真理與依法而行爲貴。因此,入教團者,不分貴賤,亦不問階級,悉稱釋子。諸經典中每每昭示,佛陀不問貧富貴賤之別,而視強調貴族、渺視他人者爲非真正完美之人。印度至今仍有複雜多歧之階級分別存在。
; Nobility—Aristocracy.
; (貴族) Chế độ Quí tộc của Ấn độ bắt đầu khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, khi giống dân Aryan từ vùng Ngũ hà (Punjab) dần dần di chuyển về hướng đông, đến mãi sông Jumna và khoảng giữa sông Hằng, chiếm lấy vùng đất đồng bằng và mầu mỡ (tức vùng trung tâm kinh tế, chính trị của Ấn Độ). Sau khi cuộc tiến chiếm kết thúc, người Aryan thiết lập 1 chế độ xã hội, tự xưng mình là Bà la môn, tức giai cấp cao nhất, còn dân địa phương bị chinh phục thì phải làm nô lệ. Đến khoảng 500 năm trước Tây lịch, nền văn hóa Ấn độ đã xảy ra 1 cuộc thay đổi lớn. Trung tâm văn hóa dần dần di chuyển về phía đông; các đô thị mới mọc lên, các giai cấp mới cũng lần lượt quật khởi, uy quyền của giái cấp Bà la môn dần dần bị giai cấp Vũ sĩ (Phạm: Kwatriya, Sát đế lợi) thay thế.Đức Phật đã ra đời vào thờikì này. Tuy xuất thân từ dòng quí tộc, nhưng đức Phật vẫn lấy việc thực hiện Pháp (Phạm: Dharma) làm tông chỉ, Ngài thường nói: Không kể dòng dõi, chỉ kể sự tu hành. Tức không nhìn vào trang phục, dòng dõi, gốc tích mà cho là quí tộc, chỉ xem người ấy có khả năng giác ngộ chân lí và theo đúng pháp tu hành mà cho là quí. Do đó, những người vào tăng đoàn, không kể sang hèn, bất luận thuộc giai cấp nào đều gọi là Thích tử.
quý tử
Precious son.
quý vật
Valuable things.
Quý Đàm Tông Lặc
(季潭宗泐, Kitan Sōroku, 1318-1391): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Quý Đàm (季潭), còn gọi là Toàn Thất (全室), xuất thân Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ Châu (周). Năm 8 tuổi, ông đến tham học với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đến khoảng cuối thời nhà Nguyên, ông vào ẩn cư trong Kính Sơn (徑山). Cho đến năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông làm trú trì Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) ở Hàng Châu (杭州). Sau đó, vâng chiếu nhà vua, ông đến trú tại Thiên Giới Tự (天界寺) ở Kim Lăng (金陵), rồi đến năm thứ 10 (1377) cùng niên hiệu trên, ông đi sứ sang Tây Vức (西域). Vào ngày mồng 10 tháng 9 năm thứ 24 niên hiệu Hồng Võ, ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi. Trước tác của ông có Toàn Thất Ngoại Tập (全室外集) 9 quyển. Ông cũng có mối quan hệ với Nhật Bản như đã từng soạn lời tựa cho bản Không Hoa Tập (空華集) của Nghĩa Đường Châu Tín (義堂周信, 1325-1388) hay Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư Ngữ Lục (圓通大應國師語錄) của Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明, 1235-1308).
Quý Đông
(季冬): tên gọi tháng cuối cùng của tiết Đông, tức là tháng 12 Âm Lịch. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) có ghi rằng: “Quý Đông chi nguyệt, nhật tại Vụ Nữ, Hôn Lâu trung, Đán Đê trung (季冬之月、日在婺女、昏婁中、旦氐中, vào tháng cuối năm, mặt trời ở sao Vụ Nữ, buổi tối thì ở trong sao Lâu, buổi sáng sớm thì ở trong sao Đê).” Hay trong bài thơ Đầu Thánh Du (投聖俞) của Tư Mã Quang (司馬光, 1019-1086) nhà Tống có câu: “Cửu cù Quý Đông nguyệt, phong sa chánh thảm độc (九衢季冬月、風沙正慘黷, khắp nẻo đường tháng Chạp, gió cát thật nhơ nhớp).” Trong Kính Sơn Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 có câu: “Quý Đông cực hàn, vạn mộc đoản tàn, duy hữu Mai hoa, thập phần thanh vận (季冬極寒、萬木短殘、惟有梅花、十分清韻, tháng Chạp băng hàn, cây cỏ điêu tàn, chỉ có hoa Mai, mười phần tươi xanh).” Trong bài Tặng Tường Cảnh Hưu Từ Chánh (贈祥景休嗣正) của Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1449) quyển 2 có đoạn: “Hy Ninh Quý Đông tiết, dạ tọa canh dĩ cửu, nguyệt sắc xạ song hộ, tùng phong minh cốc khẩu (熙寧季冬節、夜坐更已久、月色射窗戶、松風鳴谷口, Hy Ninh tiết tháng Chạp, đêm ngồi canh đã lâu, ánh trăng xuyên song cửa, gió tùng vang miệng khe).” Hoặc trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9 lại có đoạn: “Quý Đông hàn tiết, khứ lai vô biệt, thiên sơn vạn sơn, duy tích tàn tuyết, Thiền khách tương phùng, tương hà diễn thuyết, các thỉnh quy đường, tùy duyên điềm yết (季冬寒節、去來無別、千山萬山、唯積殘雪、禪客相逢、將何演說、各請歸堂、隨緣憩歇, cuối Đông lạnh tiết, đến đi chẳng khác, ngàn núi vạn núi, chỉ chất trắng tuyết, khách Thiền gặp nhau, lấy gì diễn thuyết, đều mời về phòng, tùy duyên nghỉ mệt).”
Quý 愧
[ja] キ gi ||| (apatrāpya). 'shame,' 'embarrassment.' One of the ten 'virtue-producing' mental function elements listed in the Abhidharmakośabhāsya, one of the eleven good mental function elements in the doctrine of the Yogācāra school. The mental function of feeling shame expressed towards others for one's own misdeeds. => (s: apatrāpya). Sự xấu hổ, sự ngượng ngùng. Là một trong nhóm Thập thiện địa pháp trong Tâm sở pháp theo liệt kê của A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, là một trong 11 Tâm sở thiện theo Du-già hành tông. Tâm hành xấu hổ biểu lộ do hành động xấu của mình gây ra cho người khác.
quýnh
To be overjoyed—To be excited with joy.
quăng bỏ
To throw away.
quăng xuống
To throw down.
quơû
To reprimand—To rebuke—To scold—To blame.
quạ và chim cú
chim quạ đi ăn ban ngày, chim cú đi ăn ban đêm, hai loài trái ngược nhau không thể cùng chung sống. Ví dụ dùng để chỉ việc vô lý, không thể xảy ra.
Quả
果; C: guŏ; J: ka;|1. Trái cây, kết quả; 2. Sinh ra quả, một kết quả, sự tất yếu, sự kết luận; 3. Sự khai hoa kết trái. Kết quả của một hành vi hay tu tập, phương diện quả của nghiệp (s: karma, phala, kārya); 4. Kết quả của việc tu tập, chứng ngộ, giác ngộ, giải thoát, – là Phật quả; 5. Một trong Bốn quả vị của hàng Thanh văn; 6. Một trong Mười như thị được đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是)
quả
3320梵語 phala 之意譯。音譯頗羅。原指草木之果實;轉指由「因」所生出之結果。蓋一切有爲法,乃前後相續,故相對於前因,則後生之法,稱爲果。又「擇滅」雖係無爲法,然以由道力所證得之故,亦稱爲果。虛空與非擇滅二者,皆無相對之前因,亦無所謂後生之法,故皆屬於非果法。 有關果之種類,有五果、九果等異說。小乘有部與大乘唯識宗分爲五果:(一)等流果,一切由善因所生之善果,或從惡因所生之惡果,均與因同一性質,稱爲等流果。又作習果、習氣果。(二)異熟果,由善、不善之業因,即由異熟因所生之無記(非善,亦非不善)果,稱爲異熟果。係與因之性質不同而生之果報,故又稱爲報果。於天台宗,將上記之習果與報果合稱爲二果。(三)士用果,指俱有因、相應因所生之果,即由因之力用所成之果,如同由士夫(男子)之力用,而成就之種種事業;亦即由士夫所作之因而生之果,乃同時之因果。(四)增上果,即無有障礙,而又加與助力所生之果;亦即除本身外,其他一切有爲法均稱爲能作因,能作因之果即爲增上果。「能作」係指能夠給予力量而使果發生。以上四果係屬有爲法之範圍,故稱爲有爲果。對此,(五)離繫果,則稱無爲果。離繫,即指離開煩惱之束縛。離繫果,係指擇滅及涅槃而言。如上記所說,擇滅雖係無爲法,本是不生不滅,且離繫果雖亦非由修道之因而生,然道力乃證得擇滅之因(稱爲離繫得),如是,擇滅即是由道力而證得者,故擇滅稱爲離繫果。或亦指果果;所謂果果,係指從修行之果(菩提)所證之涅槃而言。 上記五果之說詳載於大毘婆沙論卷一二一、俱舍論卷六、成唯識論卷八等。又據大毘婆沙論卷一二一載,健馱邏國諸論師立有九果之說,即上記之五果,加上下列四果:(一)安立果,指依住於他法而安立之果,如依住於風輪而有水輪,依住於水輪而有金輪,依住於金輪而有大地,依住於大地而有有情、非情等。(二)加行果,指由修行所得之果,如依不淨觀等加行之力,遂生無漏智。(三)和合果,指由諸因和合而生之果,如眼根與色和合而生眼識,意與法和合而生意識。(四)修習果,指由修習聖道所生之果;又佛陀之十力、四無所畏、十八不共法、自在神力等佛力皆係修行而得之結果,故又稱果力。 此外,於佛教因果論中,迦濕彌羅國之諸論師立有五因五果之說,其所謂之五果,即是將上記安立果以下之四果攝入於五果中之士用果或增上果,此乃排斥健馱邏諸論師所立之九果說。 於佛典中,果有各種含義與用例。例如就相應相報之義而言,由善因可產生善果,由惡因則產生惡果;苦之果報稱爲苦果,樂之果報稱爲樂果。就現在、未來之相對性關係而言,識、名色、六入、觸、受等,屬於現在之五果;與之相對者,生、老死則爲未來之二果。另外,須陀洹、斯陀含、阿那含、阿羅漢等,稱爲四沙門果;獨覺之果,稱爲獨覺果;佛之果,稱爲佛果、妙果、無上果。佛之果德圓滿無缺,稱爲果滿、果極;佛所證得之智慧,稱爲果智;佛果所具之功德,稱爲果德;若以海比喻果德之深廣,稱爲果海;大乘佛教之佛果與小乘佛教之阿羅漢果均爲至高無上之果,稱爲極果。又果之體性,稱爲果體;果之相狀,稱爲果相;果之力用,稱爲果用。此外,佛教教義又常就果與因之相對意義,以相對於因分者,有果分之稱;相對於因地者,有果地之稱等。〔菩薩地持經卷三、品類足論卷六、大乘義章卷三本、成唯識論述記卷八本〕
; Phala (P), Fruits of kammaChủng quả, kết quả.
; Phala (S). Fruit; offspring; result, consequence, effect; reward, retribution; it contrasts with nhân cause, i.e. nhân quả cause and effect.
; Phala (skt). 1) Trái cây: Fruit. 2) Hậu quả: Effect—Consequence. 3) Quả báo: reward—Retribution—See Quả Báo. 4) Từ “Quả” đối lại với “Nhân”: The term “consequence” or “effect” contrasts with “cause,” or “Fruit” contrasts with “seed.” 5) Hết thảy các pháp hữu vi là trước sau nối tiếp, cho nên đối với nguyên nhân trước mà nói thì các pháp sinh ra về sau là quả: The effect by causing a further effect becomes also a cause—See Ngũ Quả.
; (果) Phạm: Phala. Hán âm: Phả la. Vốn chỉ cho trái cây, sau được chuyển dụng để chỉ cho kết quả do nhân sinh ra. Bởi vì tất cả pháp hữu vi là trước sau nối nhau, cho nên đối lại với nhân ở trước thì pháp sinh ra sau gọi là quả. Lại như Trạch diệt tuy là pháp vô vi, nhưng do đạo lực là nhân chứng đắc, nên cũng gọi là quả. Còn hư không và Phi trạch diệt đều không có nhân đối đãi ở trước, mà cũng chẳng có pháp sinh ra ở sau, cho nên đều thuộc pháp phi quả. Về chủng loại của quả thì Hữu bộ Tiểu thừa (luận Đại tì bà sa quyển 21, luận Câu xá quyển 6) và tông Duy thức Đại thừa (luận Thành duy thức quyển 8) chia làm 5 loại như sau: 1. Đẳng lưu quả: Tất cả quả thiện do nhân thiện sinh ra, hoặc tất cả quả ác từ nhân ác sinh, đều có cùng 1 tính chất với nhân, cho nên gọi là Đẳng lưu quả. Cũng gọi là Tập quả, Tập khí quả. 2. Dị thục quả: Quả do nhân nghiệp thiện, bất thiện, tức quả vô kí (chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện) do nhân dị thục sinh ra, gọi là Dị thục quả. Là quả báo do tính chất khác nhau của nhân sinh ra, cũng gọi là Báo quả. 3. Sĩ dụng quả: Quả do nhân Câu hữu và nhân Tương ứng sinh ra. Tức là quả do lực dụng của nhân tạo thành, như những sự nghiệp (quả) được thành tựu nhờ sức (nhân) của cùng một nhóm người (sĩ phu), là nhân quả đồng thời. 4. Tăng thượng quả: Quả không bị chướng ngại mà còn được sức trợ giúp thêm cho sinh ra. Tức ngoài nhân Năng tác chính ra, còn nhờ tất cả pháp hữu vi khác làm nhân Năng tác trợ giúp để thành tựu quả. Quả của nhân Năng tác tức là quả Tăng thượng. Bốn quả trên gọi là quả Hữu vi, vì đều thuộc phạm vi pháp hữu vi. 5. Li hệ quả: Quả vô vi. Li hệ là lìa khỏi sự trói buộc của phiền não. Li hệ quả là chỉ cho Trạch diệt và Niết bàn. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 121 thì các Luận sư nước Kiện đà la lập thuyết 9 quả, tức ngoài 5 quả nêu trên còn thêm 4 quả sau đây: 1. An lập quả: Chỉ cho quả dựa vào pháp khác mà được an lập, như dựa vào phong luân mà có thủy luân, dựa vào thủy luân mà có kim luân, dựa vào kim luân mà có đại địa (đất liền), dựa vào đại địa mà có hữu tình, phi tình... 2. Gia hạnh quả: Chỉ cho quả nhờ tu hành mà được, như nhờ sức gia hạnh quán các pháp bất tịnh... mà phát sinh trí vô lậu. 3. Hòa hợp quả: Chỉ cho quả do các nhân hòa hợp mà sinh ra, như nhãn căn và sắc hòa hợp mà sinh ra nhãn thức, ý và pháp hòa hợp mà sinh ra ý thức... 4. Tu tập quả: Chỉ cho quả do tu tập Thánh đạo mà sinh ra. Lại như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp, Tự tại thần lực... của đức Phật đều là kết quả nhờ tu hành mà được, nên cũng gọi là Quả lực.Trong kinh điển Phật, chữ quả có nhiều hàm nghĩa và cách dùng, chẳng hạn nói theo nghĩa tương ứng tương báo thì nhân thiện sinh ra quả thiện, nhân ác sinh ra quả ác; quả báo khổ gọi là quả khổ, quả báo vui gọi là quả vui. Nói theo sự quan hệ hiện tại, vị lai đối đãi, thì thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ... là 5 quả thuộc hiện tại; trái lại, sinh, lão tử là 2 quả thuộc vị lai. Ngoài ra, Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, gọi là 4 quả Sa môn; quả Độc giác gọi là Độc giác quả; quả Phật gọi là Phật quả, Diệu quả, Vô thượng quả; quả đức của Phật tròn đủ không khuyết, gọi là quả Mãn, quả Cực; trí tuệ của Phật chứng được, gọi là quả Trí; quả Phật có đầy đủ công đức gọi là quả Đức; nếu dùng sự sâu rộng của biển cả để ví dụ cho quả đức thì gọi là quả Hải; quả Phật của Đại thừa và quả A la hán của Tiểu thừa đều là quả cao tột, gọi là Cực quả. Thể tính của quả, gọi là quả Thể; tướng trạng của quả, gọi là quả Tướng; lực dụng của quả, gọi là quả Dụng; đối lại với Nhân phần gọi là Quả phần; đối lại với Nhân địa gọi là Quả địa... [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Phẩm loại túc Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu].
Quả báo
果報; C: guŏbào; J: kahō; S, P: vipāka;|Kết quả, hiệu quả của các hành vi trước đây; kết quả của nghiệp (s: karma, phala). Là sự chín muồi của một »quả« (dị thục quả) trong nguyên lí Nhân quả (Nghiệp). Một khi quả chín, nó sẽ tác động lên người gieo quả đó theo một cách nhất định. Sự chín muồi một quả có thể xảy ra trong đời này, cũng có thể trong đời sau. Người ta cho rằng một quả xấu mà chín ngay trong đời này vẫn tốt hơn là đợi đến đời sau.
quả báo
3323梵語 vipāka。即由過去業因所招感之結果。又作異熟、果熟、報果、應報、異熟果。有二種:(一)總報,即由引業(總報業)而來之果報,如人之生存即由前生引業而來。(二)別報,即人人個別之果報,係由滿業(別報業)而來,又稱滿果,如同生而爲人,則有男、女、貧、富之分,此即爲別報。 就時間而言,則有三時業之三時報:(一)順現報,即今生造業,今生報應之果報。又作現報。(二)順生報,即今生造業,來生報應之果報。(三) 順後報,即今生造業,再來生報應之果報。六道中,人、天二道係由持五戒、行十善而得之果報,故稱爲善果。然此善果仍有迷惘煩惱,故又稱爲顛倒善果。 又嚴格言之,果與報之意義亦有差別,凡由同類因而生之等流果,稱爲果;凡由異熟因而生之異熟果,稱爲報。據法華經玄義卷二上載,習果爲果,報果爲報。又後生之煩惱稱爲習果,苦痛則稱爲報果;故貧富苦樂等皆爲果報。〔仁王護國般若波羅蜜多經疏卷中二、俱舍釋論卷三、卷五、法苑珠林卷六十九、金剛般若波羅蜜多經註解、摩訶止觀卷八下〕
; Karmic retribution.
; Retribution—Những hệ quả của tiền kiếp. Những vui sướng hay đau khổ trong kiếp nầy là ảnh hưởng hay quả báo của tiền kiếp. Thế cho nên cổ đức có nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.” Có nghĩa là muốn biết nhân kiếp trước của ta như thế nào, thì hãy nhìn xem quả báo mà chúng ta đang thọ lãnh trong kiếp nầy. Muốn biết quả báo kế tiếp của ta ra sao, thì hãy nhìn vào những nhân mà chúng ta đã và đang gây tạo ra trong kiếp hiện tại. Một khi hiểu rõ được nguyên lý nầy rồi, thì trong cuộc sống hằng ngày của người con Phật chơn thuần, chúng ta sẽ luôn có khả năng tránh các điều dữ, làm các điều lành—Consequences (requitals) of one's previous life—The pain or pleasure resulting in this life from the practices or causes and retributions of a previous life. Therefore, ancient virtues said: “If we wish to know what our lives were like in the past, just look at the retributions we are experiencing currently in this life. If we wish to know what retributions will happen to us in the future, just look and examine the actions we have created or are creating in this life.” If we understand clearly this theory, then in our daily activities, sincere Buddhists are able to avoid unwholesome deeds and practice wholesome deeds. 1) Quả báo của ăn cắp vặt là nghèo nàn khốn khó: The retributions of robber and petty thieves are poverty and accute suffering. 2) Quả báo của bỏn xẻn là cầu bất đắc: The retributions of being stingy are frustrated desires. 3) Quả báo của của việc phỉ báng là không lưỡi hay thối miệng: The retributions of being slandering and harsh speech are tongueless and cankerous mouth. 4) Quả báo của bần tiện tham lam là nghèo nàn: The retribution of mean and greedy is poverty. 5) Quả báo của việc gây thù chuốc oán là bản thân bị hại: The retribution of being creating hatred with others is to live an endangered life. 6) Quả báo của việc mắng chưỡi kẻ ăn xin là chết đói giữa đường: The retribution of being laughing at or scolding the beggar is to starve to death at the road side. 7) Quả báo của vị kỷ hại người là suốt đời canh cô (không ai muốn gần gủi mình): The retribution of being benefitting oneself by bringing harmness to others is to be life-long friendless. 8) Quả báo của việc loan tin thất thiệt hại nguời là không còn ai tin mình về sau nầy nữa: The retribution of bringing harm to others by spreading rumours is to become distrust (mistrustful) forever. 9) Quả báo của việc phỉ báng Tam Bảo là vĩnh viễn đi vào địa ngục vô gián: The retribution of being slandering the Triratna (Buddha, Dharma and Sangha) is to enter Avici forever.
; (果報) Phạm:Vipàka. Cũng gọi Dị thục, Quả thục, Báo quả, Ứng quả, Dị thục quả. Tức là cái kết quả do nghiệp nhân từ quá khứ mang lại. Có 2 loại: 1. Tổng báo: Quả báo do dẫn nghiệp (nghiệp báo chung) đưa đến, như sự sống còn của con người là do dẫn nghiệp từ đời trước mang lại. 2. Biệt báo: Quả báo riêng của mỗi người do mãn nghiệp (nghiệp báo riêng) đưa đến, cũng gọi Mãn quả, như cùng sinh làm người nhưng có nam, nữ, nghèo, giàu... khác nhau. Nói về thời gian thì có quả báo 3 thời của nghiệp 3 thời: 1. Thuận hiện báo (cũng gọi Hiện báo): Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ngay.2. Thuận sinh báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng trong đời sau. 3. Thuận hậu báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ở đời sau nữa. Trong 6 đường thì trời và người là quả báo do giữ 5 giới, tạo 10 nghiệp thiện mà được, cho nên gọi là Thiện quả; nhưng thiện quả này vẫn còn phiền não mê vọng, vì thế cũng gọi là Điên đảo thiện quả. Tuy nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ, thì ý nghĩa quả và báo cũng có khác nhau, như quả Đẳng lưu là do nhân cùng loại sinh ra gọi là Quả; còn quả Dị thục là do nhân khác loại sinh ra, thì gọi là Báo. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu, thì Tập quả là quả, còn báo quả là báo. Phiền não đời sau là Tập quả, đau khổ thì gọi là Báo quả; cho nên nghèo, giàu, khổ, vui... đều là Quả báo. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.trung, phần 2; Câu xá thích luận Q.3, 5; Pháp uyển châu lâm Q.69; Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh chú giải; Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].
quả báo ba đời
See Tam Quả Tứ Nhân.
Quả báo thức
果報識; C: guŏbàoshì; J: kahōshiki; |Thành thục thức; một cách diễn tả thức A-lại-da.
quả báo tứ tướng
The four forms of retribution - birth, age, sickness, death.
; Quả báo tiền kiếp trong tứ tướng sanh trụ dị diệt (sanh, già, bịnh, chết)—Consequences of one's previous life in four forms of the present life: 1) Sanh: Birth. 2) Già: Old age. 3) Bịnh: Disease. 4) Chết: Death. ** For more information, please see Tứ Tướng
quả báo độ
The realm of reward, where Bodhisattvas attain the full reward of their deeds, also called thực báo vô chướng ngại độ, one of the tứ độ of Thiên Thai.
; Tên khác của Thực Báo Vô Chướng Ngại Độ, một trong Tứ Độ trong tông Thiên Thai—The realm of reward, where bodhisattvas attain the full reward of their deeds, one of the four realms according to the T'ien-T'ai Sect. ** For more information, please see Tứ Độ.
Quả báo 果報
[ja] カホウ kahō ||| The results, or effects of prior actions; the fruits of karma (phala). The maturation of karma. 〔法華經 T 262.9.56a8〕 => Kết quả, hiệu quả của các hành vi trước đây; kết quả của nghiệp (karma, phala). Sự thành thục, chín muồi của nghiệp.
quả báo, dị thục
Retribution for good or evil deeds, implying that different conditions in this (or any) life are the variant ripenings, or fruit, of seed sown in previous life or lives.
quả báu
Xem Dị thục.
quả chứng
3324即依因位之修行而得果地之證悟。蓋就果與因之相對關係而言,於因位之修行稱爲因修;依因修而證得果地稱爲果證,如佛果及小乘四果等。慈恩寺三藏法師傳序(大五○‧二二○下):「示之以因修,明之以果證。」據四十二章經註載,佛陀初出家,於雪山修道時,淨飯王命阿濕婆、摩訶男、憍陳如等五人隨行侍衛,世尊成正覺後,五人皆獲果證。
; Fruition.
; Retribution, reward.
; (果證) Quả vị chứng ngộ được do tu hành nhân vị. Bài tựa trong Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Đại 50, 220hạ) nói: Chỉ bày việc đó bằng nhân tu, làm sáng tỏ việc đó bằng quả chứng. Tứ thập nhị chương kinh chú nói: Lúc đức Phật mới xuất gia, tu đạo ở núi Tuyết, vua Tịnh phạn sai 5 người như A Thấp Bà, Ma Ha Nam, Kiều Trần Như... đi theo hầu và bảo vệ Ngài. Sau khi đức Thế Tôn thành Chính giác, 5 vị này đều được quả chứng.
Quả câu hữu
果倶有; C: guŏjùyŏu; J: kaguu; |Tính chất đồng thời của các chủng tử và sự hiện hành của chúng. Một trong 6 đặc tính của chủng tử trong tàng thức (chủng tử lục nghĩa 種子六義).
Quả câu hữu 果倶有
[ja] カグウ kaguu ||| Simultaneity of seeds and their manifestations. One of the six characteristics of the seeds in the store consciousness 種子六義. => Tính chất đồng thời của các chủng tử và sự hiện hành của chúng. Một trong 6 đặc tính của chủng tử trong tàng thức (chủng tử lục nghĩa 種子六義).
quả cảm
Courageous—Daring.
quả cực
Fruition perfect, the perfect virtue or merit of Buddha enlightenment.
; Quả mãn cực thành—Fruition perfect, the perfect virtue or merit of Buddha-enlightenment.
quả cực pháp thân
3323爲「應化法身」之對稱。指滿果極成之法身,亦即證得法性真理之身。與「法性身」同義。〔瓔珞經卷下因果品〕(參閱「應化法身」6430)
; The dharmakàya of complete enlightenment.
; Pháp thân quả mãn cực thành—The dharmakaya of complete enlightenment.
; (果極法身) Đồng nghĩa: Pháp tính thân. Đối lại: Ứng hóa pháp thân. Chỉ cho pháp thân cực thành mãn quả, cũng là thân chứng được chân lí pháp tính. [X. phẩm Nhân quả trong kinh Anh lạc Q.hạ].
quả danh
Quả Hiệu—Danh hiệu của mỗi vị Phật chỉ sự giác ngộ của vị Phật ấy—Attainment-name, or reward-name or title, i.e. of every Buddha, indicating his enlightenment.
quả danh, quả hiệu
Attainment-name, or reward-name or title, i.e. of every Buddha, indicating his enlightenment.
quả duy thức
The wisdom attained from investigating and thinking about philosophy, or Buddha-truth, i.e, of the sùtras and abhidharma; this includes the first four under ngũ chủng duy thức.
; Trí tuệ đạt được do tư duy và quán sát cái lý của duy thức (tầm và tứ), bao gồm bốn thức đầu trong bát thức—The wisdom attained from investigating and thinking about philosophy, or Buddha-truth, i.e. of the sutras and Abhidharmas; this includes the first four kinds of “only-consciousness.”
quả giới viên hiện
In the Buddha-realm, i.e. of complete bodhi-enlightenment, all things are perfectly manifest.
; Trong Phật Giới, hay giới của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mọi việc đều hiện lên một cách viên dung—In the Buddha-realm, i.e. of complete bodhi-enlightenment, all things are perfectly manifest.
quả hải
3323比喻佛之智慧、功德深廣如海。華嚴經疏卷五(大三五‧五三四下):「皆徹因門,並該果海。」
; The ocean of bodhi or enlightenment.
; Biển Bồ Đề hay giác ngộ—The ocean of bodhi or enlightenment.
; (果海) Biển quả, ví dụ trí tuệ, công đức của Phật sâu rộng như biển. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5 (Đại 35, 534 hạ) nói: Suốt cả nguồn nhân và bao trùm biển quả.
quả hậu phương tiện
3323謂已證果之佛,爲濟度眾生,更顯現修因感果之相,以爲方便法門。〔法華文句卷九〕
; (果後方便) Phương tiện độ sinh sau khi chứng quả. Chư Phật đã chứng quả rồi, nhưng vì mục đích cứu độ chúng sinh, nên lại thị hiện tướng tu nhân cảm quả để làm pháp môn phương tiện. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].
quả ly
To cut off the fruit, or results, of former karma. The arhat who has a "remnants of karma" though he has cut off the seed of misery, has not yet cut off its fruits.
quả lực
3322指佛果之力用。諸佛所通之十力、四無畏、十八不共法等均屬果力。於因,有殊勝之願行,故果亦有勝妙之力用。若加區別,則因之願行超異於其他時,果之力用亦隨之超異。往生論註卷下(大四○‧八四○上):「今日阿彌陀如來自在神力,願以成力,力以就願,願不徒然,力不虛設。力願相符,畢竟不差,故曰成就。」即說明諸佛超異之果力。
; (果力) Chỉ cho lực dụng của quả vị Phật. Như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp... đều thuộc về Quả lực. Ở nhân vị có hạnh nguyện thù thắng, nên ở quả vị cũng có lực dụng vi diệu. Nếu hạnh nguyện siêu việt thì lực dụng cũng theo đó mà siêu việt. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 840 thượng) nói: Nay thần lực tự tại của đức A di đà Như lai là do nguyện phát ra lực, nhờ lực mà nguyện thành tựu, nguyện chẳng phải nguyện suông, lực không là lực rỗng, lực và nguyện phù hợp nhau, quyếtkhông sai chệch, cho nên nói là thành tựu.
quả mãn
The full or complete fruition of merit; perfect reward.
; Công đức tròn đầy của bậc quả thượng hay nhân tròn đầy thành bậc chánh giác—The full or complete fruition of merit—Perfect reward.
quả mãn chuyển
3324爲唯識宗所說六種轉位之一。又作果圓滿轉、圓滿轉。即究竟之佛果位。於此位,坐於金剛定,得金剛智慧,斷滅一切粗重煩惱,頓證佛果圓滿,故稱爲果滿轉。〔林間錄卷下〕(參閱「六種轉位」1307)
; (果滿轉) Cũng gọi Quả viên mãn chuyển, Viên mãn chuyển. Quả vị Phật cùng tột, 1 trong 6 chuyển vị do tông Duy thức lập ra. Hành giả ở giai vị này nhập định Kim cương, được trí tuệ kim cương, đoạn diệt tất cả phiền não thô trọng, chứng được quả Phật viên mãn, vì thế gọi là Quả mãn chuyển. [X. Lâm gian lục Q.hạ]. (xt. Lục Chủng Chuyển Vị).
quả môn
3323即諸佛自內證之法門。亦即如來果位之法門。此係菩薩以下之因位行者所無法窺見了解之境界,係已證得正覺者乃能了知,唯佛與佛方能究盡之法。〔大日經疏卷一〕
; (果門) Pháp môn tự nội chứng của chư Phật, cũng tức là pháp môn của quả vị Như lai. Đây là cảnh giới mà hàng Bồ tát ở địa vị tu nhân không thể thấy và hiểu được, chỉ có những bậc đã chứng chính giác mới có thể rõ biết. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
quả mạn đà la
Kim Cang Mạn Đà La, đối lại với Thai Tạng Giới Mạn Đà La—Vajradhatu mandala, in contrast with Garbhadhatu mandala (nhân mạn đà la).
quả ngịch lưu
Xem Tu đà hườn.
quả nhân
3320指經過「因位」之修行階段而到達「果位」之人。例如佛、辟支佛、阿羅漢。辨顯密二教論卷上(大七七‧三七五上):「如是絕離,並約因位談,非謂果人也。」
; Những bậc tu hành đã chứng đắc quả thượng, thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, gồm có ba bậc—Those who have obtained the fruit, i.e. escaped the chain of transmigration: 1) Phật: Buddha. 2) Bích Chi Phật: Pratyeka-buddha. 3) A La Hán: Arhat.
quả nhập lưu
Xem Tu đà hườn.
quả năng biến
3323梵語 phalapariṇāma。略稱果變。爲「因能變」之對稱。唯識宗就諸識變現諸法,分別爲因能變與果能變二種,果能變係指由第八識中等流習氣的能變之力,引生全部八識的三性(善、惡、無記)之果;由異熟習氣的能變之力,引生除第七識外其餘七識的無記之果。如此生起之現行八識能由其自體而變現出見分與相分二分,稱爲果能變。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷二〕(參閱「因能變」2299)
; Phala-pariṇāma (S).
; Phalaparinàma (S). Fruiting.
; (果能變) Phạm: Phalapariịàma. Gọi tắt: Quả biến. Đối lại: Nhân năng biến. Một trong 2 thứ năng biến do tông Duy thức lập ra. Quả năng biến là chỉ cho sức năng biến của tập khí đẳng lưu trong thức thứ 8, dẫn sinh ra quả 3 tính (thiện, ác, vô kí) của 8 thức; còn sức năng biến của tập khí dị thục thì dẫn sinh ra quả vô kí của 6 thức trước và thức thứ 8. Như vậy, sự hiện hành của 8 thức từ nơi tự thể của chúng có khả năng biến hiện ra Kiến phần và Tướng phần; gọi là Quả năng biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2]. (xt. Nhân Năng Biến).
quả phược
Retribution-bond; the bitter fruit or transmigration binds the individual so that he cannot attain release. This fruit produces tử phược or further seeds of bondage.
; Khổ quả sinh tử trói buộc không cho chúng ta giải thoát. Nghiệp nhân dẫn đến khổ quả đã trói buộc ta, là tử phược—Retribution bond—The bitter fruit of transmigration binds the individual so that he cannot attain release. This fruit produces further seeds of bondage.
quả phược đoạn
Cutting off the ties of retribution, i.e. entering nirvàna, e.g. entering salvation.
; Cắt bỏ mọi trói buộc tức là nhập vào Niết Bàn—Cutting off the ties of retribution, entering nirvana, entering salvation.
Quả phần
果分; C: guŏfēn; J: kabun; |Phương diện kết quả của công phu tu tập – Phật quả, khác với phương diện nhân (nhân phần 因分) – là chúng sinh. Tính hải quả phần (性海果分).
Quả phần bất khả thuyết
果分不可説; C: guŏfēn bùkě shuō; J: kabunfu-kasetsu; |Ngược với Nhân phần khả thuyết (因分可説). Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, niềm tin vào quả vị Phật (giác ngộ) không phải là điều có thể giải thích bằng ngôn từ.
Quả phần bất khả thuyết 果分不可説
[ja] カブンフカセツ kabunfukasetsu ||| As contrasted to the concept of yinfenkeshuo 因分可説. In Huayan teaching, the belief that the content of the Buddha-fruit (enlightenment) is not something that can be explained in words. => Ngược với Nhân phần khả thuyết 因分可説. Theo giáo lý kinh Hoa Nghiêm, niềm tin vào quả vị Phật (giác ngộ) không phải là điều có thể giải thích bằng lời.
Quả phần khả thuyết
果分可説; C: guŏfēn kěshuō; J: kabun kasetsu; |Theo giáo lí Mật tông, đực tin vào sự hoàn hảo của »quả phần« (nghĩa là cảnh giới Phật là »quả«) là điều có thể giảng giải được. Điều nầy ngược với giáo lí chỉ có nhân phần của Phật quả mới có thể giải thích được – giai đoạn tu tập có thể được xem là nguyên nhân của sự giác ngộ là có thể giải thích được, nhưng cảnh giới tối thượng, lĩnh vực tu đạo thì không thể giảng giải được.
Quả phần khả thuyết 果分可説
[ja] カブンカセツ kabun kasetsu ||| In the Esoteric Teaching, the belief that the perfection of the 'effect aspect' (i.e., the Buddha-realm as the "effect") is something that can be explained. This is in contrast to the theory that only the causal aspects of Buddhahood can be explained--the stages of practice that are regarded as the causes of awakening can be explained, but the ultimate realm that is the aspect of practice cannot be explained. => Theo giáo lý Mật tông, đực tin vào sự hoàn hảo của 'quả phần'(nghĩa là cảnh giới Phật là 'quả') là điều có thể giảng giải được. Điều nầy ngược với giáo lý chỉ có nhân phần của Phật quả mới có thể giải thích được—giai đoạn tu tập có thể được xem là nguyên nhân của sự giác ngộ là có thể giải thích được, nhưng cảnh giới tối thượng, lĩnh vực tu đạo thì không thể giảng giải được.
Quả phần 果分
[ja] カブン kabun ||| The fruition aspect of practice--buddhahood, as opposed to the causal aspect of practice 因分--sentient being. Also see 性海果分 (xinghai guofen). => Phương diện kết quả của công phu tu tập--Phật quả, khác với phương diện nhân (nhân phần 因分)--là chúng sinh. Xem Tính hải quả phần 性海果分.
quả phận
The reward, e.g. of ineffable nirvàna, or dharmakàya.
; The reward, e.g. of ineffable nirvana, or dharmakaya.
quả phật tánh
Quả Phật Toàn Giác, một trong năm Phật tánh—The fruition of the Buddha-enlightenment, its perfection, one of the five forms of the Buddha-nature—See Ngũ Phật Tánh (B) (4).
quả phật tính
Fruition of the Buddha-enlightenment, its perfection, one of the five forms of the Buddha-nature.
quả quyết
Determined—Decided—Resolute.
quả quả
3323指果位之果。據南本涅槃經卷二十五師子吼品、法華玄義釋籤(會本)卷五上載,如無明爲因,諸行爲果;諸行爲因,識爲果;相對無明之因因,識則爲果果。佛性亦然,有因,有因因,有果,有果果,十二因緣(理性之三因)爲因,菩提(佛果之智德)爲果;菩提爲因,涅槃(佛果之斷德)爲果;相對於智慧(觀因緣之智慧)之因因,涅槃即爲果果。又法華經玄義卷五上(大三三‧七三六上):「等覺望妙覺爲因,望菩薩爲果,自下已去,亦因亦因因,亦果亦果果。」謂由菩薩修行之諸位乃至妙覺位,彼此對望,有重重因果,此稱爲因因果果。〔維摩經玄疏卷三、四教義卷十〕
; The fruit of fruit, i.e. nirvàna, the fruition of bodhi.
; The fruit of fruit. 1) Niết Bàn: Nirvana. 2) Bồ Đề là quả, mà cũng là kết quả của việc tu hành nên gọi là quả quả: the fruition of bodhi. Bodhi itself is a fruit; however, it is also the fruit of a life-long cultivation.
; (果果) Chỉ cho quả của Quả vị. Cứ theo phẩm Sư tử hống trong kinh Niết bàn quyển 25 (bản Nam) và Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm (hội bản) quyển 5 phần đầu, như vô minh là nhân, các hành là quả; các hành là nhân, thức là quả. Đối lại với vô minh là nhân của nhân (nhân nhân) thì thức là quả của quả (quả quả). Phật tính cũng thế, nhân thì có nhân của nhân, quả thì có quả của quả; 12 nhân duyên (3 nhân của lí tính) là nhân, bồ đề (trí đức của quả Phật) là quả; Bồ đề là nhân, Niết bàn(đoạn đức của quả Phật) là quả. Trí tuệ là nhân của nhân thì Niết bàn là quả của quả. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Tứ giáo nghĩa Q.10].
quả quả phật tánh
The fruition of that fruition, or the revelation of parinirvana—See Ngũ Phật Tánh (B) (5).
quả quả phật tính
The fruit of the fruit of Buddhahood, i.e. parinirvàna, one of the ngũ Phật tính.
quả sanh y
Upādhi-vepakka (P).
quả tang
Flagrant—To be caught in the act or fact (red-handed).
quả thượng
In the stage when the individual receives the consequences of deeds done.
; Nhờ công đức tu hành mà chứng đắc được quả địa (quả địa nầy ở trên nhân vị trong lúc đang tu) gọi là quả thượng—In the stage when the individual receives the consequences of deeds done.
quả thần
Môi của Phật đỏ như trái của cây Bimba—Fruit lips, Buddha's were “red like the fruit of the Bimba tree.”
quả thật
Indeed—Truly—As a matter of fact.
quả thục thức
The Alaya-vjnàna, i.e. storehouse or source of consciousness, from which both subject and object are derived.
; The Alaya-vijnana (skt)—A Lại Da Thức hay Tàng Thức—The storehouse or source of consciousness, from which both subject and object are derived.
quả tiểu thừa
Hai quả vị Thanh văn và Duyên giác—Fruit of the two vehicles of Sravakayana and Pratyeka-buddha.
quả trung thuyết nhân
3322梵語 kāraṇe kāryopacāra。即於「果」之中說「因」之意。爲「因中說果」之對稱。如見一幅「好畫」(果),即言該畫家必爲此中「好手」(因);又如言「諸佛即是眾生」、「牛即是水草」等,諸如此類,皆稱爲果中說因。蓋一幅好畫,必出自好手之筆,故言「好手」;證得果位之諸佛,乃由眾生精進修行而成果者,故言「諸佛即是眾生」,其中「諸佛」爲「果」,「眾生」爲「因」;而牛雖非水草,然食水草以活命,故言「牛即是水草」,其中「牛」爲「果」,「水草」爲「因」。凡此種種,皆係於結果之上假立原因之名,故稱果中說因。〔北本涅槃經卷三十七、大智度論卷三、卷三十、卷四十三、俱舍論卷四、往生論註卷上〕(參閱「因中說果」2272)
; (果中說因) Phạm: Kàraịe kàryopacàra. Đối lại: Nhân trung thuyết quả. Trong quả nói nhân. Như thấy 1 bức họa đẹp (quả)liền nói trong đó ắt có bàn tay khéo (nhân) của họa sĩ. Cũng như nói chư Phật tức là chúng sinh, trâu bò tức là cỏ nước... Những cách nói như thế đều gọi là Quả trung thuyết nhân. [X. kinh Niết bàn Q.37 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.3, 30, 43; luận Câu xá Q.4; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. (xt. Nhân Trung Thuyết Quả).
quả trục
Quả đi theo (quả đi theo nhân như hình với bóng)—The fruit follows (the fruit follows the cause as the image and its shadow).
quả trục nguyện
Sự chắc chắn của việc phổ cứu, nguyện thứ hai mươi trong Tứ Thập Bát Nguyện của Phật A Di Đà—The assurance of universal salvation, the twentieth of Amitabha's forty-eight vows. ** For more information, please see Tứ Thập Bát Nguyện (20).
quả tình
See Quả Thật.
Quả tính
果性; C: guŏxìng; J: kashō; |1. Sự giác ngộ như kết quả của việc tu tập, khác với Lí tính (理性); nguyên lí không thay đổi hay là bản tính như là nguyên nhân của giác ngộ.
Quả tính 果性
[ja] カショウ kashō ||| The "result nature;" awakening as the result of practice as distinguished from lixing 理性, the unchanging principle or original nature as the cause of awakening. => Sự giác ngộ như là kết quả của việc tu tập, khác với Lý tính 理性, Nguyên lý không thay đổi hay là bản tính như là nguyên nhân của giác ngộ.
quả tướng
Reward, retribution or effect; especially as one of the three forms of the àlaya-vijnàna.
; Quả thể tổng báo của giới hữu tình, là một trong ba hình thức của A Lại Da Thức—Reward—Retribution—Effect—One of the three forms of the alaya-vijnana. ** For more information, please see A Lại Da Thức and Alaya-vijnana.
quả tử
1) Quả và Nhân—Fruit and Seed. 2) Quả sanh Nhân: Fruit produced seeds.
quả viên
Fruit complete, i.e. perfect enlightenment, one of the eight ThiênThai perfections.
; Quả vị viên mãn, một trong tám quả viên mãn của tông Thiên Thai—Fruit complete, i.e. perfect enlightenment, one of the eight T'ien-T'ai perfection.
quả vô sanh
The stage of non-birth.
quả vị
The stage of attainment, or reward as contrasted with the cause-stage, i.e. the deeds.
; Vị của quả Phật, đối lại với nhân vị—The stage of attainment, or reward as contrasted with the cause-stage, i.e. deed. ** For more information, please see Nhân Vị.
quả đoán
Decided—Determined.
quả đoạn
3324二種解脫法之一。斷除惑業,稱爲子斷;斷離生死束縳之苦果,即稱爲果斷。有餘涅槃之阿羅漢斷除子縛而未斷除果縛。北本涅槃經卷二十九(大一二‧五三六上):「解脫二種:一者子斷,二者果斷。言子斷者,名斷煩惱,阿羅漢等已斷煩惱,眾結爛壞。」
; 1) Dứt bỏ hoặc nghiệp: To cut off the fruit or results of former karma. 2) Bậc A La Hán ở Hữu Dư Niết Bàn, tuy đã dứt bỏ được nhân đau khổ (tử phược), nhưng chưa dứt bỏ được quả phược: The Arhat who has a “remnant of karma,” though he has cut off the seed of misery, has not yet cut off its fruits.
; (果斷) Đoạn trừ quả khổ sinh tử, 1 trong 2 loại giải thoát. Bậc A lán hữu dư Niết bàn đã đoạn trừ Tử phược, nhưng chưa đoạn trừ Quả phược. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 29, phần đầu (Đại 12, 536 thượng) nói: Giải thoát có 2 loại: Tử đoạn và Quả đoạn. Tử đoạn là dứt trừ phiền não; bậc A la hán đã dứt trừ phiền não, mọi nội kết đều đã tan rã hết.
quả đầu
Quả Thượng—Tu nhân được quả, đặc biệt là quả vị Giác Ngộ Bồ Đề—The condition of retribution, especially the reward of bodhi or enlightenment. ** For more information, please see Quả Thượng.
quả đầu phật
Bậc đã đạt được quả vị Phật, một thuật ngữ của tông Thiên Thai—He who has attained the Buddha-condition, a T'ien-T'ai term.
quả đầu vô nhân
3324與「有教無人」同義。天台宗判立之藏、通、別、圓四教中,前三教無實際證得佛果之人,稱爲果頭無人。果頭,即指果上、果地、佛果。四教之中,藏、通二教,就「行人稟教」之「因」位而言,雖有教法與行證教法之人;然就「因成果滿」之「果」位而言,則僅有教法,而無行證教法之人。至於別教,則亦爲有教法而無行證教法之人;此係因別教之初地位以上,定入圓教,恰如圓教之初住位,故自初地以上僅有教法而無行證之人。綜此,藏、通、別三教稱爲果頭無人、有教無人,唯圓教具足教法與行證之人,稱爲有教有人。 摩訶止觀卷三下(大四六‧三三上):「前兩觀,因中有教行證人,果上但有其教,無行證人。何以故?因中之人,灰身入寂,沈空盡滅,不得成於果頭之佛,直是方便之說,故有其教,無行證人。別教因中有教行證人,若就果者,但有其教,無行證人。何以故?若破無明,登初地時,即是圓家初住位,非復別家初地位也。初地尚爾,何況後地後果?故知因人不到於果,故云果頭無人。」
; (果頭無人) Đồng nghĩa: Hữu giáo vô nhân. Có quả vị mà không có người chứng, chỉ cho 3 giáo Tạng, Thông, Biệt do tông Thiên Thai phán lập. Quả đầu là chỉ cho quả Phật. Trong 4 giáo Tạng Thông Biệt Viên, thì 2 giáo Tạng, Thông, đứng về phương diện nhân vị mà nói thì tuy có đủ cả giáo pháp và người hành chứng giáo pháp; nhưng về mặt quả vị thì chỉ có giáo pháp chứ không có người hành chứng giáo pháp. Vì Tạng giáo và Thông giáo cho quả do khôi thân diệt trí mà được chứ thực không có người chứng. Còn Biệt giáo cũng thế, khi đến quả vị từ Sơ địa trở lên thì người của Biệt giáo đã trở thành người Viên giáo, hệt như Sơ trụ của Viên giáo, vì thế từ Sơ địa trở lên chỉ có giáo pháp chứ không có người hành chứng. Tóm lại, 3 giáo Tạng, Thông, Biệt gọi là Quả đầu vô nhân, có giáo pháp mà không có người chứng; chỉ có Viên giáo là đủ cả giáo pháp và người hành chứng mà thôi. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, phần cuối].
quả địa
3322相對於「因位」、「因地」而言。即依因位之修行而得妙覺果滿之極位。又作果位、果極。又聲聞、緣覺、菩薩三乘果地各異,而聲聞乘之中又有四果之別等。楞嚴經卷四(大一九‧一二二上):「應當審觀,因地發心與果地覺,爲同爲異。」
; Quả vị Phật, đối lại với nhân địa hay nhân tu hành—Resulting Buddhahood, in contrast with the causal ground or fundamental cause, the state of practicing the Buddha-religion—The stage of attainment of the goal of any disciplinary course.
; (果地) Cũng gọi Quả vị, Quả cực. Đối lại: Nhân vị, Nhân địa. Do tu hành nhân vị mà chứng được cực vị của quả mãn Diệu giác. Kinh Lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 122 thượng) nói: Phải nên quán xét cho thấu đáo, nhân địa phát tâm và quả địa giác giống nhau hay khác nhau.
Quả địa vạn đức
果地萬徳; C: guŏdì wàndé; J: kaji mantoku; |Công đức vô lượng của Đức Phật. Khác với Nhân vị vạn hạnh (因位萬行).
quả địa vạn đức
3322爲「因位萬行」之對稱。謂因應於「因位」之萬行,以達至佛果之地位,而無量妙德悉無不成。就因、果之相對關係而言,相對於因地而有果地,相對於萬行而有萬德。故就因果相應相報之意義而言,佛果之無量功德,即相應於因位之萬行而來,故稱果地萬德。(參閱「果」3320)
; (果地萬德) Đối lại: Nhân vị vạn hạnh. Do ứng với muôn hạnh của nhân vị để đạt đến địa vị của quả Phật mà thành tựu được vô lượng diệu đức. Do sự quan hệ đối đãi giữa nhân và quả, nên đối lại với nhân địa mà có quả địa; đối lại với vạn hạnh mà có vạn đức. Bởi thế, nói theo ý nghĩa tương báo tương ứng của nhân quả thì vô lượng công đức của quả Phật là do tương ứng với muôn hạnh của nhân vị mà có, cho nên gọi là đức Quả địa vạn đức. (xt. Quả).
Quả địa vạn đức 果地萬徳
[ja] カジマントク kaji mantoku ||| The infinite merit possessed by the Buddha. In contrast to 因位萬行. => Công đức vô lượng của Đức Phật. Khác với Nhân vị vạn hạnh因位萬行.
quả đọa
The stage of attainment of the goal of any disciplinary course.
Quả đức
果徳; C: guŏ dé; J: katoku;|1. Công đức nằm trong kết quả; 2. Công đức nằm bên sau sự giác ngộ.
quả đức
3324指因修行所證得果位之功德。亦即佛果所具之無量功德,如涅槃有常、樂、我、淨等四德。〔安樂集卷上〕
; The merits of nirvàna, e.g. thường eternal, lạc blissful, ngã personal (or autonomous), tịnh pure, all transcendental.
; Quả đức của Niết bàn hay công đức của bậc quả thượng là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh—The merits of nirvana (Thường: Eternal, Lạc: Blissful, Ngã: Personal or Autonomous, Tịnh: Pure). ** For more information, please see Tứ Đức (A).
; (果德) Chỉ cho công đức của quả vị nhờ tu hành mà chứng được, cũng chỉ cho vô lượng công đức mà quả Phật có đủ, như Niết bàn có 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. [X. An lạc tập Q.thượng].
Quả đức 果徳
[ja] カトク katoku ||| (1) The merit contained in the result. (2) Merit beyond awakening. => 1. Công đức đạt được từ kết quả. 2. Công đức đạt được do giác ngộ.
Quả 果
[ja] カ ka ||| (1) Fruit. (2) To bear fruit; a result; a necessary; conclusion. (3) To come to fruition. The effects of an action or practice; the result aspect of karma (phala, kārya). (4) As the result of practice, enightenment, awakening, liberation--the fruit of buddhahood 佛果. (5) One of the four accomplishments ("fruits") 四果 of the śrāvaka path. (6) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. => 1. Trái cây, kết quả. 2. Sinh ra quả, một kết quả, sự tất yếu, sự kết luận. 3. Sự khai hoa kết trái. Kết quả của một hành vi hay tu tập, phương diện quả của nghiệp (s: karma, phala, kārya). 4. Kết quả của việc tu tập, chứng ngộ, giác ngộ, giải thoát,--là Phật quả. 5. Một trong Bốn quả vị của hàng Thanh văn. 6. Một trong Mười như thị được đề cập trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị十如是.
quải bát
4584禪林用語。即於禪林粥飯畢,掛自用之鉢於單後之鉤。引申為寄住禪林,與「掛搭」、「掛單」同義。禪苑清規卷一赴粥飯(卍續一一一‧四四一下):「念食訖偈(中略),住持人出,起身掛鉢,令掛搭單齊整。」〔禪林象器箋叢軌門〕(參閱「掛搭」4584)
; (掛鉢) Cũng gọi Quải đơn, Quải đáp đơn, Quải tích, Quải bát. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vị tăng du phương, khivào Tăng đường, đem áo, mền... mình mang theo treo lên cái móc ởtrongTăng đường, ngụ ý muốn ở lại tùng lâm. Bài tựa Cổ thanh qui của ông Dương ức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 8 (Đại 48, 1158 thượng) nói: Học chúng không kể nhiều ít, không chia cao thấp, vào hết trong Tăng đường, sắp xếp theo thứ tự tuổi hạ, đặt những cái giường nối liền nhau, có những giá mắc áo (quải đáp) để treo đạo cụ.Theo điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, theo qui chế xưa, người cầu quải đáp (xin trú ngụ), trước hết đến ra mắt vị Khách ti (người có nhiệm vụ tiếp khách), kế đến vị Đường ti quải đáp(người trông nom việc khách tăng đến tạm trú) để ghi tên chờ xét định; sau đó, đến vị Thị ti (thị giả) thông báo và nhờ đưa đến bái yết vị Trụ trì. Cuối cùng được đưa đến Đán quá (nhà nghỉ tạm) để chờ đợi. (xt. Quải Tích).
; (掛鉢) Đồng nghĩa: Quải đáp, Quải đơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo bát lên. Trong Thiền lâm, sau khi ăn xong thì rửa và treo bát của mình lên cái móc ở sau chỗ mình ngồi. Từ đó dẫn đến nghĩa tạm trú trong tùng lâm. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) nói: Ăn xong, niệm kệ (...) vị Trụ trì đứng dậy treo bát (quải bát), khiến chúng tăng đều làm theo. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Quải Đáp).
quải bát nang
4584禪林用語。謂禪僧行腳遊方時,攜帶鉢囊及拄杖遍歷諸方,於終了時,便掛鉢囊。引申指結束遍歷諸方之參學。從容錄第二十則( 大四八‧二四○上):「舉步踏著,便可高掛鉢囊,拗折拄杖。」
; (掛挂鉢囊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo cái túi đựng bát. Sau khi chấm dứt cuộc du phương, vị tăng hành cước liền treo túi bát. Trong Thiền lâm, Quải bát nang được dùng để chỉ cho việc tham học các nơi đã kết thúc. Thung dung lục tắc 20 (Đại 48, 240 thượng) nói: Khi đã đặt được chân lên thực địa (tức khai ngộ)thì có thể treo cao túi bát, bẻ gãy tích trượng.
quải chân
4583指懸掛遷化尊宿之像於真亭。據禪林象器箋喪薦門載,真,真儀之意,即遷化尊宿之肖像;遇尊宿遷化,有兩處可懸掛其肖像,一為法堂,二爲山門之首真亭。舉行掛真之儀式,稱為掛真佛事、掛照佛事。〔無門開和尚語錄卷下告香普說、敕修百丈清規卷三遷化條〕
; (掛真) Chỉ cho nơi treo bức tượng của vị tôn túc đã thị tịch. Theo môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên thì Chân là chân nghi, tức là bức tượng giống hệt vị tôn túc quá cố. Khi bậc tôn túc thị tịch có 2 nơi có thể treo bức tượng đó, một là Pháp đường, hai là Chân đình ở đầu cửa chùa. Nghi thức cử hành Quải chân, gọi là Quải chân Phật sự, Quải chiếu Phật sự. [X. điều Cáo hương phổ thuyết trong Vô môn khai hòa thượng ngữ lục Q.hạ; điều Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].
quải giác linh dương bất kiến tung
4583禪林用語。意指於言行上絲毫不留染污之痕跡。又作挂角羺羊不見蹤。嘉泰普燈錄卷二十九國清簡堂機禪師送僧造普同塔偈頌一首(卍續一三七‧二一一下):「珊珊玉骨本玲瓏,挂角羺羊不見蹤;特地作亭圖甚麼?為憐松竹引清風。」蓋羚羊夜晚角掛樹上而眠,腳不觸地,故不留痕跡。禪林中,此語係用以表示徹底大悟者自由無礙之境地。
; (掛角羚羊不見蹤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho ngôn ngữ hành vi không để lại mảy may dấu vết nhiễm ô nào. Giathái phổ đăng lục quyển 29 có chép bài kệ tụng của Quốc thanh giản đường Cơ thiền sư gởi cho vị tăng xây tháp Phổ đồng như sau (Vạn tục 137, 211 hạ): San san ngọc cốt bản linh lung Quải giác linh dương bất kiến tung. Đặc địa tác đình đồ thậm mạ? Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong. Tạm dịch: Sáng ngời xương ngọc vốn linh lung Dê núi sừng treo biến mất tung Dựng đình muốn vẽ chi nơi đó? Làn gió thoảng qua ngọn trúc tùng. Bởi vì con dê rừng ban đêm treo sừng lên cây mà ngủ, chân không chạm đất, cho nên không lưu lại dấu vết. Trong Thiền lâm, hình ảnh này được dùng để miêu tả cảnh giới tự tại vô ngại của bậc đại ngộ triệt để.
quải lạc
4583又作掛子、掛落、掛羅、挂子、挂絡、絡子。即通兩肩懸於胸間之小袈裟,乃安陀會之變形。禪僧作務、行步時,為方便而著服之。 據景德傳燈錄卷十一(大五一‧二八七上):「不披袈裟,不受具戒,唯以雜綵為卦子。」其中「雜綵」一語乃指五條衣,挂子即五條衣之別稱。可知宋初已盛行。然於諸律中不見挂子或絡子等名。釋氏要覽卷上法衣條(大五四‧二七○下):「絡子或呼掛子,蓋此先輩僧創之,後僧效之。又亡衣名,見掛絡在身,故因之稱也。今南方禪僧,一切作務皆服。以相不如法,諸律無名,幾為講流非之。」〔禪林象器箋服章門〕(參閱「安陀會」2401)
; (掛絡) Cũng gọi Quải tử, Quải la, Lạc tử. Áo ca sa nhỏ choàng trên 2 vai thòng xuống ngực, là biến hình của áo An đà hội. Các thiền tăng thường mặc áo này lúc làm việc, hoặc đi đường cho tiện. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 287 thượng) nói: Không mặc ca sa, chẳng thụ giới đủ, chỉ dùng tấm lụa 5 màu làm quải tử. Trong đó, tấm lụa 5 màulà chỉ cho ca sa 5 nẹp, Quải tử là tên khác của ca sa 5 nẹp. Loại ca sa này thịnh hành vào đầu đời Tống, nhưng trong các luật không thấy tên gọi Quải tử, Lạc tử. Điều Pháp y trong Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 45, 270 hạ) nói: Lạc tử hoặc Quải tử là do các vị tăng tiền bối sáng chế, những vị tăng sau bắt chước. Vì không có tên gọi, chỉ thấy dây treo (quải lạc) trên mình nên gọi như thế. Nay thiền tăng phương Nam đều mặc lúc làm việc. Vì điều tướng không đúng pháp, các luật không ghi tên, nên bị các dòng phái chê trách. [X. môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. An Đà Hội).
quải tháp
4584又作掛單、掛搭單、掛錫、掛褡、掛。鉢。僧人遊方行腳,入僧堂掛其所携之衣被等於堂內之鈎,有依住叢林之意味。又住持允許行腳人依住,稱為許掛搭。敕修百丈清規卷八楊億之古清規序(大四八‧一一五八上):「學眾無多少、無高下,盡入僧堂依夏次安排,設長連床,施椸架掛塔(疑作搭)道具。」依敕修百丈清規卷五遊方參請條記載,求掛搭,依古規首到客司相看,次往堂司掛搭,送單位經案定,然後到侍司通覆,詣方丈禮拜之。現初到旦過,至客司,具威儀,知客接入,揖坐、燒香、喫茶、略詢來歷。復歸旦過,知客不久即往回禮。又載(大四八‧一一四○中):「如求掛搭,參頭領眾回身,進住持前,稟云:『某等生死事大,無常迅速,久聞道風,特來依附,伏望慈悲收錄。』稟訖不伺允否,即普觸禮一拜云:『謝和尚掛搭。』」大抵較嚴厲之師家,均嚴格實行掛搭法,以試驗新入之客僧。掛搭之時限,為八月一日開旦過,翌年之四月一日鎖之;由四月至七月,此期間稱為止掛搭,即不允許雲衲之掛搭。(參閱「掛錫」4585)
quải thần xỉ
4583禪林用語。又作挂唇齒。原謂脣夾於齒間,則不能吞物;禪林中用以比喻若拘泥於他人之言語,則不能理解其真意。從容錄第八十七則(大四八‧二八三中):「疎山到溈山便問:『承師有言,有句無句,如藤倚樹(挂入唇齒)。』」
; (掛挂唇齒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là môi bị kẹp (treo) ở giữa răng thì không thể nuốt được vật gì. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để ví dụ nếu cứ chấp chặt vào lời nói của người khác thì không thể hiểu được ý nghĩa chân chính. Thung dung lục tắc 87 (Đại 48, 283 trung) ghi: Sơ sơn đến, Qui sơn liền hỏi: Nghe sư nói rằng câu Có câu Không như bìm leo cây (Quải thần xỉ).
Quải tích
掛錫; J: kashaku;|Nghĩa là »treo Tích trượng«; chỉ bước nhập môn của một thiền tăng sau một cuộc Hành cước, khi đã tìm được vị Thiền sư thích hợp với căn cơ của mình.|Thiền sinh có thể tự chọn Thiền viện để gia nhập. Quan trọng nhất cho sự tu tập của thiền sinh là việc chọn đúng vị thầy thích hợp mà mình tin tưởng tuyệt đối. Vì vậy mà các thiền sinh thường đến viếng nhiều thiền viện, tham vấn nhiều vị Thiền sư khác nhau trước khi chọn được vị »chân sư« của mình. Nhưng – như thiền sinh chọn thầy – các vị Thiền sư cũng lựa chọn kĩ các vị mới đến trước khi cho phép nhập môn. Nếu Thiền sư thấy rõ mình không phải là thầy thích hợp cho một thiền sinh nào đó thì sẽ gửi vị này đến một vị khác thích hợp hơn.|Khi đến cổng (sơn môn) của một thiền viện sau một cuộc hành cước, thiền sinh sẽ thấy hai tấm bản gỗ nằm hai bên của cửa cổng: Một bản ghi tên của thiền viện và bản khác ghi tên của vấn đề mà vị Thiền sư trụ trì đang Ðề xướng. Những bước chân vào cổng của thiền sinh – cửa cổng thường được xây dựng rất kiên cố, cách biệt với bên ngoài – với lòng mong mỏi được thâu nhận làm đệ tử chính là những biểu hiện của sự quyết chí bước vào con đường tu học vô cùng tận để chứng ngộ Phật pháp.
quải tích
4584禪林用語。與「掛搭」同義。又稱留錫。即懸掛錫杖之意。昔雲水僧行腳時必攜帶錫杖,若入叢林,得允許安居時,則掛錫杖於壁上之鉤,以表示止住寺內。掛錫一語,現特指禪僧至修行道場之住宿。祖庭事苑卷八載,西域比丘,行必持錫,有二十五威儀,凡至室中,不得著地,必掛於壁牙上。又任一寺之住持,亦稱掛錫。
; Kashaku (J).
; (掛錫) Cũng gọi Lưu tích. Đồng nghĩa: Quải đáp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo tích trượng. Ngày xưa, mỗi khi vị tăng đi du phương (tham học các nơi) đều có mang theo tích trượng. Lúc vào tùng lâm nàonếu được phép ở lại thì vị ấy treo tích trượng vào cái móc ở trên vách, ngụ ý đã được ở trong chùa. Nay từ ngữ Quải tích đặc biệt được dùng để chỉ cho vị Thiền tăng đến ở trong tùng lâm để tu học. Tổ đình sự uyển quyển 8 nói rằng: Tỉ Khưu ở Tây Vực, đi đâu ắt cầm tích trượng, có 25 uy nghi, khi vào trong nhà, không được để tích trượng trên đất, mà phải treo lên cái móc ở trên vách. Ngoài ra, vị tăng đảm nhiệm việc trụ trì 1 ngôi chùa cũng gọi là Quải tích.
quải tư
4770原指鏤木、透明疏通之屏風,亦指為捕鳥雀所架之網,後轉指遮掩椅子背後之板屏,或帷幕。背後附有板屏之椅子,稱罣罳椅子,禪林中常用於說法、普說之場合。又作罘罳。敕修百丈清規卷二告香條(大四八‧一一二○上):「至日,侍者令客頭於寢堂或法堂鋪設罣罳椅子。」同書卷七之四節秉拂條(大四八‧一一五三下):「堂司行者排辦法座,左手敷罣罳,設住持位。」
quải đơn
Quải là ở đậu, đơn là đơn vị. Tất cả Tu sĩ sống trong Tòng lâm như một ông Tăng là một đơn vị, ở đậu một ngày thì làm chủ (như một công dân) Tòng lâm một ngày, ở đậu mười năm thì làm chủ mười năm.
quản
1) Ống: A pipe—A tube. 2) Quản ngại: To mind. 3) Quản trị: To control—To rule.
quản chủ bát
5878元代僧。生卒年、籍貫俱不詳。曾任松江府(江蘇松江)僧錄,受「廣福大師」之號。據磧砂延聖院板大藏經之大宗地玄文本論卷三之刊記所載,師有流通正教之志,歷年印施五十餘部漢本大藏經、四大部經三十餘部、華嚴大經一千餘部、經律論疏鈔五百餘部等,及無數諸雜經典。並書寫金銀字大華嚴、法華等經,凡百卷。又供奉金彩佛像,刊施佛像圖本,設齋供養十萬餘僧,開建傳法之講席,自課日誦大華嚴經一百部,致力弘法不遺餘力。 大德六年(1302),奉勅於江南浙西道杭州路大萬壽寺刊印三十餘部河西(西夏)字大藏經及華嚴大經、梁皇寶懺、華嚴道場懺儀各百餘部,散施於甘肅地方諸寺院。又以西蕃(西藏)字之乾陀、般若、白傘蓋等三十餘種經咒各千餘部,散施西藏地區。大德十年,補刻磧砂藏一千餘卷,其間,將直北教藏(大都弘法寺板)與江南閩浙之諸教藏板相互比對,發現諸教藏板短缺祕密經律論數百卷,即於杭州路成立印經局,依弘法寺板刊雕補足之。〔彰所知論後序、影印宋磧砂藏經首冊之二、元代松江府僧錄管主八大師之刻藏事蹟(小野玄妙,佛典研究第二之十三)〕
; (管主八) Danh tăng Trung Quốc sống vào đời Nguyên. Sư từng giữ chức Tăng lục phủ Tùng giang, tỉnh Giang tô, được ban hiệu Quảng Phúc Đại Sư. Cứ theo mục San kí của Đại tông địa huyền văn bản luận quyển 3 trong Đại tạng kinh bản Tích sa Diên thánh viện, thì sư có chí hoằng dương chính giáo, nên trong nhiều năm đã ấn tống hơn 50 bộ Đại tạng kinh bản Hán, hơn 30 bộ kinh Đại niết bàn, hơn 1 ngàn bộ kinh Hoa nghiêm, hơn 500 bộ Kinh Luật Luận sớ sao cùng với vô số các kinh điển khác. Đồng thời, sư còn biên chép các kinh Đại Hoa nghiêm và Pháp hoa... bằng chữ kim nhũ, gồm 100 quyển; cúng dường tượng Phật màu bằng vàng ròng, ấn tống các bức tranh tượng Phật, thiết trai cúng dường hơn 10 vạn vị tăng, mở các lớp giảng truyền pháp, tự đặt thời khoá mỗi ngày tụng kinh Hoa nghiêm cho đến 100 bộ, hoằng pháp với tất cả sức lực của mình. Năm Đại đức thứ 6 (1302), sư vâng mệnh vua in hơn 30 bộ Đại tạng kinh bằng chữ Hà tây (Tây hạ) và Đại kinh Hoa nghiêm, Lương hoàng bảo sám, Hoa nghiêm đạo tràng sám nghi, mỗi thứ hơn 100 bộ ở chùa Đại vạn thọ; đường Hàng châu, đạo Triết tây, Giang nam, để tặng cho các chùa viện ở vùng Cam túc. Sư cũng in hơn 30 loại kinh chú như Càn đà, Bát nhã, Bạch tản cái... mỗi thứ hơn 1000 bộ bằng chữ Tây phiên (Tây Tạng) để ấn tống cho địa khu Tây tạng. Năm Đại đức thứ 10 (1306), sư khắc bổ túc tạng Tích sa hơn 1.000 quyển, bấy giờ, đem so sánh đối chiếu giáo tạng miền Bắc (bản chùa Hoằng pháp) với các bản giáo tạng miền Nam (Giang nam) thì thấy các bản giáo tạng miền Nam bị thiếu mất vài trăm quyển kinh luật luận thuộc tạng Bí mật, sư liền thành lập sở in kinh ở đường Hàng châu, rồi căn cứ theo bản chùa Hoằng pháp khắc in để bổ túc. [X. lời Bạt trong luận Chương sở tri; Anh ấn tốngTích sa tạng kinh tập đầu, phần 2; Nguyên đại Tùng giang phủ tăng lục Quản chủ bát Đại sư chi khắc tạng sự tích (Tiểu dã huyền diệu, Phật điển nghiên cứu 2, 13)].
quản chủ tăng ni
5880指我國古代朝廷管理僧尼之制度。據大宋僧史略卷中管屬僧尼條載,佛教傳入初期,由朝廷之鴻臚寺兼管之,至後秦始設僧官,但尚無完備機構。南北朝時始設立官署,專管佛教事務。北魏立監福曹,統轄全國僧尼,後改稱昭玄寺(亦稱昭玄曹),置大統、統各一人,都維那三人,下置功曹主簿員。大統或統,一般稱沙門大統、昭玄大統,或沙門統、昭玄統。隋代改置崇玄署,唐初屬鴻臚寺,後復歸崇玄署。武則天延載元年(694)勅令全國僧尼隸屬祠部,天寶六年(747)勅令僧尼隸屬兩街功德使,後復屬祠部。憲宗時,於兩街功德使之下分設僧錄,五代及宋代大體沿用之。元代設宣政院掌佛教僧徒及吐蕃事務,正使以下,必以僧侶爲副使。明代於京城中央政府置僧錄司,掌全國佛教,於地方各府設僧綱司,各州設僧正司,縣設僧會司,管地方佛教事務。清代仍因襲此制。
quản giáo
To look after—To instruct—To take care of.
quản huyền giảng
5879謂於佛前吹奏管絃以營供養。古代印度即有此風俗,據長阿含經卷十載,帝釋天之執樂神般遮翼(梵 Pañcaśikha),至摩揭陀國帝釋窟彈奏琉璃琴讚歎如來之功德。日本在平安時代亦十分盛行。〔十訓抄卷三〕
; Ống, dây, và giảng là ba thứ đi cùng với nhau trong nghi lễ bên Ấn Độ—Pipes, strings, and preaching, and accompanied service in India.
; (管弦講) Thổi sáo (quản), gảy đàn (huyền) để cúng dường Phật. Phong tục này đã có từ xưa ở Ấn Độ. Cứ theo kinh Trườnga hàm quyển 10 thì thần Chấp nhạc của trời Đế Thích là Ban già dực (Phạm:Paĩcazikha) đã đến động Đế thích ở Ma yết đà tấu đàn lưu li khen ngợi công đức của Như lai. Tại Nhật Bản, vào thời đại Bình An, Quản huyền giảng rất thịnh hành. [X. Thập huấn sao Q.3].
Quản Lãnh
(管領, Kanrei): tên gọi một chức quan dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), bổ tá cho Tướng Quân và tổng quản toàn bộ chính vụ của chính quyền Mạc Phủ, tương đương với người chấp quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương. Ban đầu chức quan này được gọi là Chấp Sự (執事).
quản lý
To administer.
quản pháp thành
5879西藏之宗教學者、譯經家。世代爲後藏達那(日喀則地區)地方之吐蕃貴族。生卒年不詳。唐代太和七年(833)至沙州(敦煌)永康寺從事譯經工作。歷住甘州(甘肅張掖)修多寺、沙州開元寺。一生所譯漢、藏典籍可考者有二十三種。其中,由漢文譯爲藏文者有金光明最勝王經、解深密經疏等十四種,由藏文譯爲漢文者有般若波羅蜜多心經、諸星母陀羅尼經等五種,此外,由其抄錄、講述之經籍有「大乘四法經論及廣釋開決記」等四種。(參閱「法成」3352)
; (管法成) Nhà tông giáo học và dịch kinh người Tây Tạng, sống vào đời Đường. Sư xuất thân trong gia đình quí tộc ở vùng Đạt Na (địa khu Nhật khách tắc) thuộc Hậu Tạng. Năm Thái hòa thứ 7 (833), sư đến chùa Vĩnh Khang ở Sa châu (Đôn Hoàng) chuyên việc dịch kinh. Sư lần lượt trụ các chùa Tu đa ở Cam châu (Trương dịch, Cam túc), chùa Khai nguyên ở Sa châu... Những kinh sách do sư dịch có 23 loại. Trong đó, từ chữ Hán dịch sang chữ Tây tạng có 14 loại, như kinh Kim quang tối thắng vương, Giải thâm mật kinh sớ... Từ tiếng Tây tạng dịch ra chữ Hán thì có 5 loại, như Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, Chư tinh mẫu đà la ni kinh... Ngoài ra, các kinh sách do sư sao chép, giảng nói có 4 loại, như Đại thừa tứ pháp kinh luận cập Quảng thích khai quyết kí]. (xt. Pháp Thành).
quản thuộc tăng ni
(管屬僧尼) Chế độ quản lí tăng ni của triều đình Trung Quốc đời xưa. Cứ theo điều Quản thuộc tăng ni trong Đại tống tăng sử lược quyển trung, trong thời kì đầu Phật giáo truyền vào Trung Quốc, thì tăng ni đều do Hồng Lô tự của triều đình quản lí, đến đời Hậu Tần mới đặt ra Tăng quan, nhưng vẫn chưa có cơ cấu hoàn bị. Thời Nam Bắc triều bắt đầu thiết lập Quan thự, chuyên trông coi các công việc của Phật giáo. Thời Bắc Ngụy lập Giám phúc tào cai quản tăng ni trên khắp nước, sau đổi tên là Chiêu huyền tự (cũng gọi Chiêu huyền tào), đặt ra 1 vị Đại thống, 1 vị Thống, 3 vị Đô duy na, dưới đặt Công tào chủ bạ viên. Đại thống hoặc Thống thông thường gọi là Sa môn Đại thống, Chiêu huyền Đại thống, hoặc là Sa môn Thống, Chiêu huyền Thống. Đời Tùy đổi là Sùng huyền thự, đầu đời Đường trực thuộc Hồng Lô tự, sau lại đưa về Sùng huyền thự. Niên hiệu Diên tải năm đầu (694), Vũ tắc thiên ban sắc lệnh tăng ni toàn bộ trực thuộc Từ bộ. Đến năm Thiên bảo thứ 6 (747) lại ban lệnh cho tăng ni trực thuộc Lưỡng nhai công đức sứ, sau lại cho trực thuộc Từ bộ. Thời vua Hiếu tông, dưới Lưỡng nhai công đức sứ có thiết lập Tăng lục. Đến đời Ngũ đại và đời Tống, đại khái các cơ cấu và chức năng ấy vẫn tiếp tục được sử dụng. Đời Nguyên lập ra viện Tuyên chính để cai quản Tăng đồ và công việc Phật giáo ở Tây tạng, dưới Chánh sứ phải dùng tăng lữ làm Phó sứ. Đời Minh đặt ti Tăng lục bên cạnh chính phủ Trung ương tại kinh đô để thống lãnh Phật giáo trên toàn quốc, dưới đó, đặt ti Tăng cương ở các phủ, ti Tăng chính ở các châu và ti Tăng hội ở các huyện để trông coi công việc Phật giáo ở địa phương. Đời Thanh vẫn noi theo chế độ này.
quản thúc
To confine.
quản trưởng
5879指近代日本佛教等各宗派之行政首腦,始置於明治五年(1872)。其職權主要爲制定宗寺法規、任免所屬寺院住持、升降本派教師、管理宗寺財產等。對政府之監督官廳負一切責任,其待遇與政府勅任官相同。選任方法各宗不一,一般採選舉制,自末寺選出,如天台、真言、淨土、臨濟、日蓮宗等;或採輪流交替制,如曹洞、法相宗;或採世襲制,如淨土真宗之父子相承。其下一般設宗務所,由宗務總長主持日常工作。此外,亦有宗派依慣例對此職另有稱號,如天台宗稱之爲座主、淨土真宗西本願寺派稱之爲門主、大谷派稱之爲法主等。又神道教各派在第二次世界大戰後亦多採行此制度。
quản đắc
Being able to control.
Quản đắc 管得
[ja] カントク kantoku ||| To experience (reality) for oneself. => Kinh nghiệm thực tế của chính mình.
quản độc mộc
5879乃常瞿梨童女所持物之一。或謂係四角形之木;或謂以毒木作成管狀;或謂非一木之名,乃紮束諸毒木而成。常瞿梨爲觀自在菩薩之化身,住於香醉山,以銷伏諸種毒害爲本誓,不使諸毒龍蛇侵害眾生。(參閱「蘘麌哩童女」6863)
; (管毒木) Ống sáo bằng thứ gỗ độc hại, là 1 trong những vật cầm tay của đồng nữ Thường Cù Lê. Có thuyết cho rằng Quản độc mộc là khúc gỗ hình 4 góc; có thuyết nói dùng thứ gỗ làm thành vật có hình dạng cái ống sáo; có thuyết cho rằng Quản độc mộc không phải là 1 khúc gỗ mà do nhiều khúc gỗ có chất độc hại bó lại thành một. Thướng cù lê là hóa thân củabồ tát Quán tự tại, trụ ở núi Hương túy; Ngài lấy việc tiêu phục các thứ độc hại làm bản thệ, không để cho các loài rồng độc, rắn độc xâm hại chúng sinh. (xt. Nhương Ngu Lí Đồng Nữ).
quảng
Vipula (S). Broad, wide, extensive, spacious; extended, enlarged, expanded.
; 1) Rộng rãi: Vipula (skt)—Broad—Wide—Extensive—Spacious—Extended—Enlarged—Expanded. 2) Vaipulya (skt)—See Phương Quảng.
quảng bá
To spread—To broadcast.
quảng bác
Wide and spacious, extensively read, very learned.
; Đọc nhiều học rộng—Wide and spacious, extensively read, very learned.
quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển luân kinh
5998 【廣博嚴淨不退轉經→】請參閱 廣博嚴淨不退轉輪經凡六卷。劉宋智嚴譯。又稱廣博嚴淨經、廣博嚴淨不退轉經、不退轉法輪經、不退轉經。收於大正藏第九冊。內容記敘文殊師利以神通力與舍利弗同到十方世界供養諸佛,並聚集一切菩薩還至祇園,請佛轉不退之法輪。佛因說羅漢成就五逆、滿足五欲、遠離正見等之密語,眾會驚疑,文殊乃闡釋之。此外,另有菩薩之密語、佛之解釋、菩薩之讚偈等。又本經與阿惟越致遮經、不退轉法輪經等爲同本異譯。〔出三藏記集卷二、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷五〕
; (廣博嚴淨不退轉輪經) Cũng gọi Quảng bác Nghiêm tịnh kinh, Quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển kinh, Bất thoái chuyển pháp luân kinh, Bất thoái chuyển kinh. Kinh, 6 quyển, do Ngài Trí nghiêm dịch vào đờiLưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung kinh này tường thuật việc bồ tát Văn Thù Sư Lợi và tôn giả Xá Lợi Phất dùng sức thần thông đi đến các thế giới trong 10 phương cúng dường chư Phật, đồng thời, nhóm họp tất cả Bồ tát trở về Kì Viên thỉnh Phật chuyển pháp luân bất thoái. Đức Phật nhân dịp này nói những lời bí mật như La hán thành tựu ngũ nghịch, mãn túc ngũ dục, xa lìa chính kiến... đại chúng trong pháp hội đều kinh ngạc, hoài nghi, ngài Văn thù mới giải thích rõ chođại chúng được hiểu. Ngoài ra còn có những lời nói bí mật của các Bồ tát, lời Phật giải thích, kệ tán thán của Bồ tát...Kinh này có các bản dịch khác là: Kinh A duy việt trí già, kinh Bất thoái chuyển pháp luân. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
Quảng bác nghiêm tịnh bất thối chuyển luân kinh 廣博嚴淨不退轉輪經
[ja] コウハクゴンジョウフタイテンリンキョウ kōhaku genjō futaitenrin kyō ||| Guangbo yanjing butuizhuanlun jing; 6 fasc., trans. Zhiyan 智嚴; T 268.9.254b-285c. cf. T 266, 267. => (c: Guangbo yanjing butuizhuanlun jing); 6 quyển. Trí Nghiêm (c: Zhiyan 智嚴) dịch.
quảng bác thân
The one whose body fills space, Vairocana.
; Một thân của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na bao trùm khắp cả hư không—The one body fills space, Vairocana.
quảng bác thân như lai
5997梵名 Vipulakāya-tathāgata。乃大日如來之異名。以佛身廣大完具法界之事物,故有此稱。係五如來中之中央毘盧遮那佛。據救拔焰口餓鬼陀羅尼經載,若聞廣博身如來之名號,能令諸餓鬼針咽業火停燒,清涼通達,所受飲食得甘露味,恣意充飽。〔瑜伽集要焰口施食儀、祕藏記本〕
; Vipulakāya-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Đức Phật Tỳ Lô Giá Na—Vairocana Buddha.
; (廣博身如來) Phạm:Vipulakàya-tathàgata. Tên gọi khác của đức Đại nhật Như lai. Vì thân Phật rộng lớn trùm khắp pháp giới nên gọi là Quảng bác thân, tức chỉ cho đức Phật Tì lô Giá Na ở chính giữa trong 5 đức Như lai. Cứ theo kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni, nếu được nghe danh hiệu của đức Như lai Quảng bác thân thì có năng lực khiến cho nghiệp lửa trong cuống họng nhỏ như cây kim của các quỉ đói ngừng đốt, được mát mẻ thông suốt, có ăn uống thứ gì cũng đều được vị cam lộ ngon ngọt và no đủ như ý. [X. Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi; Bí tạng kí bản].
quảng bác tiên nhân
5996廣博,梵名 Vyāsa。爲印度六派哲學中吠檀多學派(梵 Vedānta)之祖跋多羅衍那(梵 Bādarāyaṇa)之別號。又稱毘耶娑仙人、婆耶娑仙人、毘阿沙仙人。vyāsa 一語本有編者、整頓者之義,係印度太古時代對述作者或編纂者之通稱,今則特以廣博仙人爲吠陀經典之編者。因其著作不朽,故又稱爲常住(梵 śāśvata)。 據印度古傳說,廣博仙人係帕拉夏拉仙(梵 Parāśara)與薩都亞哇帝妃(梵 Satyavatī)之私生子,因其生於閻牟那河(梵 Yamunā)一島中,故取名島生(梵 Dvīpāyana);又以其身色暗黑,故有黑闇(梵 Kṛṣṇa)之稱。後廣博欲出家,依國法須經其母同意始可,遂斷出家之念而娶二寡婦。 另依富蘭那書(梵 Purāṇa)記載,廣博仙人係毘紐天或梵天爲編纂吠陀而化現者,並記有二十八位廣博仙人之事蹟。蓋於印度二大史詩之一的摩訶婆羅多,及富蘭那書,或法論一書(梵 Dharma-śāstra)之作者中,皆有 śāśvata 之署名,與上記所述之廣博仙人是否同一人,今則不詳。〔大寶積經卷四十九、法華經文句卷九上、涅槃經義記卷六、大日經疏演奧鈔卷二十一、J. Dowson: A Classical dictionary of Hindu mythology〕
; Vyaśa (S).
; (廣博仙人) Quảng bác, Phạm: Vyaøsa. Cũng gọi Tì da sa tiên nhân, Bà da sa tiên nhân, Tì a sa tiên nhân. Biệt hiệu của ông Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa), Tổ của phái Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta) trong 6 pháiTriết học ở Ấn Độ. Vyàsavốn có nghĩa là người biên tập, người chỉnh đốn, là từ gọi chung các nhà soạn thuật, biên tập ở Ấn Độ vào thời thái cổ, nay thì đặc biệt chỉ cho Quảng bác tiên nhân là người biên tập kinh điển Phệ đà, vì tác phẩm của ông là bất hủ nên ông còn được gọi là Thường trụ (Phạm: Sàzvata). Cứ theo truyền thuyết xưa của Ấn Độ thì Quảng Bác tiên nhân là con riêng của tiên Parasara do tư thông với vợ vua Satyavatìmà sinh ra. Vì ông được sinh ra trên1 hòn đảo nhỏ ở sông Yamunà nên đặt tên là Dvìpàyana (Đảo sinh); lại vì màu da ông đen kịt nên còn có tên là Kfwịa (Hắc ám). Sau, Quảng bác muốn xuất gia, nhưng theo phép nước, việc ấy phải do mẹ ông đồng ý mới được, bởi vậy, Quảng bác bỏ ý định xuất gia và cưới 2 góa phụ làm vợ. Còn theo sách Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Quảng bác tiên nhân là do Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu) hoặc Phạm thiên (Phạm: Brahmà) hóa hiện ra để biên soạn kinh Phệ đà, đồng thời, Phú lan na có ghi sự tích của 28 vị Quảng bác tiên nhân. Lại vì tác giả của Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), 1 trong 2 Đại sử thi của Ấn độ, của sách Phú lan na (Phạm: Puràịa) và của Pháp luận (Phạm: Dharma-sàstra) đều kí tên làSàzvata. Như vậy, Sàzvata, tức là Quảng bác tiên nhân – người biên tập kinh điển Phệ đà ở trên–vàSàsvata, tác giả của Ma ha bà la đa, Phú lan na và Pháp luận, là cùng 1 người hay khác nhau? Vấn đề này, cho đến nay, vẫn không được rõ. [X. kinh Đại bảo tích Q.49; Pháp hoa kinh văn cú Q.9, thượng; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.21; A Classical dictionary of Hindu mythology byJ. Dowson].
quảng bách luận
Śata-ṣāstra vaipulya (S)Tên một bộ luận kinh.
quảng bách luận bản
5991請參閱 攝大乘論 請參閱 廣百論本全一卷。又稱四百論頌、廣百論。聖天(提婆)造,唐代玄奘譯。約成書於三世紀頃。收於大正藏第三十冊。本書由五言之二百偈頌組成,內容分八品,即破常品、破我品、破時品、破見品、破根境品、破邊執品、破有爲相品、教誡弟子品等。主要在破斥外道、小乘所說諸法實有之妄執,闡明真空無我之理。 聖天另著有百論、百字論。百論由鳩摩羅什譯出,爲廣百論本之綱要書;百字論由菩提流支譯出,爲百論之綱要書。本論梵文本稱爲四百論頌,漢譯本應爲原文四百頌十六品之後半,乃相對於百論而稱廣百論。護法就本論作注釋,成爲廣百論釋論。又於月稱所作梵文中論注(Prasannapadā),及漢譯之中論、順中論、佛性論、般若燈論、入大乘論、大乘中觀釋論、成實論等,皆引用四百論之說,可知四百論流傳之廣。〔大唐西域記卷五、大唐內典錄卷五、古今譯經圖紀卷四〕
; Śataśāstravaipulya (S)Tên một bộ luận kinh.
; Satasàstravaipulya (S).
; (廣百論本) Cũng gọi Tứ bách luận tụng, Quảng bách luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thánh Thiên (Đề Bà) soạn vào thế kỉ thứ III, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Luận này gồm có 200 bài kệ tụng theo thể 5 chữ. Nội dung chia làm 8 phẩm: Phá thường, Phá ngã, Phá thời, Phá kiến, Phá căn cảnh, Phá biên chấp, Phá hữu vi tướng và Giáo giới đệ tử. Lập trường chủ yếu của luận này là phá trừ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa cho rằng các pháp là có thật, đồng thời, thuyết minh lí chân không vô ngã. Ngài Thánh Thiên còn soạn Bách luận và Bách tự luận. Bộ Bách luận do ngài Cưu Ma La Thập dịch, là sách cương yếu của Quảng bách luận bản. Còn Bách tự luận thì do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch, là sách cương yếu của bộ Bách luận. Bản tiếng Phạm của luận này gọi là Tứ bách luận tụng, bản Hán dịch là nữa sau của nguyên văn 400 bài tụng, 16 phẩm, vì so sánh với Bách luận nên gọi luận này là Quảng Bách luận. Ngài Hộ pháp chú thích luận này thành là Quảng bách luận thích luận.Ngoài ra, Trung luận chú (Prasannapadà) bằng tiếng Phạm của ngài Nguyệt xứng (Phạm: Chandrakìrti) và các bản Hán dịch Trung luận, luận Thuận trung, luận Phật thích, luận Bát nhã đăng, luận Nhập đại thừa, luận Thành thực, Đại thừa trung quán thích luận... đều có dẫn dụng thuyết của Tứ bách luận, do đó mà biết Tứ bách luận đã lưu truyền rất rộng. [X. Đại đường tây vực kí Q.5; Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].
quảng bách luận bổn
Catuḥśataka (S)Bách Luận, Tứ Bách tánTức quyển Bách Luận do Bồ tát Thánh Thiên sáng tác.
Quảng bách luận bổn 廣百論本
[ja] コウヒャクロンホン kōhyaku ron bon ||| Guangbailun ben; 1 fasc., by Āryadeva 聖天, trans. Xuanzang 玄奘T 1570.29.182a-187a. See above 廣百論. => (c: Guangbailun ben); 1 quyển; của Thánh Thiên (s: Āryadeva 聖天), Huyền Trang (c: Xuanzang 玄奘 dịch.
quảng bách luận thích luận
5992凡十卷。又稱大乘廣百論釋論、廣百論、廣百論釋。護法造,唐代玄奘譯。收於大正藏第三十冊。本書係對聖天所造廣百論本之注釋書。內容分八品,各品有偈頌二十五首,合爲二百偈頌。專爲破斥外道、小乘所說諸法實有之迷執,證我、法皆空,開顯真空無我之中道義。聖天爲中觀派大師,護法則爲唯識派大師,廣百論釋論之形成,顯示出後世一般以中觀與瑜伽兩系之教法乃空、有相對之看法,在本質上有欠允當,本論即證明兩系之教法係相輔相成;論中,護法既說中觀之真諦空,亦說唯識之俗諦有,故此書乃融和二學派而成。本論之注釋書亦有多種,然僅存唐代文軌所撰之廣百論疏(十卷)卷一。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八〕
; (廣百論釋論) Cũng gọi Đại thừa quảng bách luận thích luận, Quảng bách luận, Quảng bách luận thích. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là sách chú thích Quảng bách luận bản của ngài Thánh Thiên. Nội dung chia làm 8 phẩm, mỗi phẩm có 25 bài kệ tụng, tổng cộng gồm 200 bài kệ tụng, chủ yếu là phá sự mê chấp của ngoại đạo, Tiểu thừa cho các pháp là có thật, khiến chứng ngã, pháp đều không và hiển bày nghĩa Trung đạo chân không vô ngã. Ngài Thánh thiên (Phạm: Kàịa- deva) là Đại sư của phái Trung quán, còn ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) là Đại sư của phái Duy thức. Thông thường, người đời sau đều cho rằng giáo pháp của 2 hệ thống Trung quán và Du già là Không và Hữu đối lập nhau, như vậy, về mặt bản chất có cái gì đó không ổn. Nhưng, sự xuất hiện của bộ Quảng bách luận thích luận này đã chứng minh rằng giáo pháp của 2 hệ đã giúp nhau và bổ sung cho nhau. Trong luận này, ngài Hộ pháp chẳng những nói Chân Đế không của Trung quán, mà còn nói Tục đế hữu của Duy thức, cho nên sách này đã do dung hòa 2 học phái mà hình thành. Sách chú thích luận này có nhiều, nhưng hiện chỉ còn quyển 1 của Quảng bách luận sớ (vốn 10 quyển) do ngài Văn Quĩ soạn vào đời Đường. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
Quảng bách luận 廣百論
[ja] コウヒャクロン Kōhyaku ron ||| Guangbai lun; the Catuhśataka-śāstra-kārikā. An expanded version of the Bai lun 百論 (T 1569), for which there are two entries in Taishō. One is the 大乘廣百論本, 1 fasc. by Āryadeva 聖天, trans. by Xuanzang 玄奘, T 1570.29.182a-187a. The other, Dasheng guangbai lun shīun 大乘廣百論釋論 is an explication of the same text by Dharmapāla 護法 , 10 fasc., trans. Xuanzang 玄奘 , T 1571.30.187a-250b. => (c: Guangbai lun; s: Catuhśataka-śāstra-kārikā). Bản khai triển của Bách luận (c: Bai lun 百論). Có hai bản trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh; một là Đại thừa quảng bách luận bổn; một quyển, của Thánh Thiên, Huyền Trang dịch. Bản kia là Đại thừa quảng bách luận thích luận, là bản giải thích luận trên của Hộ Pháp; gồm 10 quyển; Huyền Trang dịch.
quảng chiếu
5999北宋僧。西洛人。名慧覺。弱冠時,父爲衡陽太守,因疾而歿於任地,師扶靈柩自衡陽歸洛,過澧州藥山古寺,宛若宿居於此,遂緣此出家。復遊方參學,得法於汾陽善昭禪師,後住滁州瑯琊山,大振臨濟宗風,世稱瑯琊慧覺。同時,明州雪竇重顯禪師則唱雲門之法道,時人稱「二甘露門」,及今淮南地區猶蒙其遺化。其餘事蹟與生卒年均不詳。〔釋氏稽古略卷四、續傳燈錄卷三、五燈嚴統卷十二、禪宗正脈卷十二〕
quảng chiếu huệ giác thiền sư
Zen Master Kuang-Zhao-Hui-Jue—Thiền sư Quảng Chiếu, quê ở Tây Lạc, là đệ tử của Thiền sư Phần Dương. Cha làm Thái Thú Hoành Dương (nay là một thành phố thuộc miền nam tỉnh Hồ Nam), rồi mất ở đó, sư phò linh cửu cha về xứ. Sau khi mai táng cha xong, ông đã xuất gia tại chùa Dược Sơn—Zen master Kuang-Zhao-Hui-Jue, came from Xi-Luo, was a disciple of Fan-Yang. His father was a governor of Heng-Yang (a city in southern Hunan Province) . His father died there, and Kuang-Zhao, fulfilling his filial obligation, carried his father's casket back to their native home. After burying his father, he left home to become a monk at Yueh-Shan Temple. • Một vị Tăng hỏi sư: “Cái gì là Phật?” Sư đáp: “Đầu đồng, trán sắt.” Vị Tăng hỏi: “Là nghĩa gì?” Sư đáp: “Chim mỗ, cá vẫy vùng.”—A monk asked Kuang-Zhao: “What is Buddha?” Kuang-Zhao said: “Copper head, iron forehead.” The monk said: “What does that mean?” Kuang-Zhao said: “Bird beak, fish gills.” • Vị Tăng hỏi: “Sen là cái gì trước khi trồi lên mặt nước?” Sư đáp: “Mèo đội nón giấy.” Một người lại hỏi: “Sau khi sen trồi khỏi nước là cái gì?” Sư đáp: “Chó thấy roi là chạy.”—A monk asked: “How is it before the lotus comes out of the water?” Kuang-Zhao said: “The cat wears a paper hat.” The person asked: “How about after the lotus comes out of the water?” Kuang-Zhao said: “The dog runs when it sees the whip.” • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Thấy, nghe, hiểu biết đều là nhơn sanh tử. Thấy nghe hiểu biết chính là gốc giải thoát. Thí như sư tử nhào lộn không nhất định đứng ở Nam Bắc Đông Tây. Cả thảy các ngươi nếu là chẳng biết, đâu những cô phụ ông già Thích Ca—One day, Kuang-Zhao entered the hall and addressed the monks, saying: “Hearing about enlightenment and wisdom, these are the cause of life and death. Hearing about enlightenment and wisdom, that itself is the root of liberation. It's as if a lion were staggering around in every direction with no place to live. If you don't understand, don't let yourself forsake old Sakyamuni! Hey!”
quảng chiếu tự
5999位於韓國黃海道海州郡首陽山。山號須彌山。爲朝鮮佛教禪門九山須彌山派之中心。新羅真聖女王七年(894),利嚴來唐,師事洞山良价之弟子雲居道膺,孝恭王十四年(911)歸國,奉高麗太祖之命,開創本寺,廣度四方,久之蔚成須彌山派。〔朝鮮金石總覽上〕
quảng cáo
To advertise—To make something public.
quảng dư
6000(1920~ )福建惠安人,俗姓郭。別號照有。年十八,於廈門金雞亭寺出家。年二十二,於福州鼓山湧泉寺受具足戒。曾就學於廈門南普陀佛教養正院,後任金雞亭寺住持。 一九五○年至馬來西亞後,接掌檳城妙香林寺監院之職。隨即展開募化工作,大興土木,擴建寺宇。一九六三年,與熱心人士共同創辦佛教義學,提供清寒子弟免費求學之機會。其後,又開辦會泉幼稚園,以紀念妙香林寺之開山會泉法師。師目前擔任馬來西亞佛教總會慈善主任之職,一秉樂善好施之熱誠,不斷贊助有關佛教弘法事業。
quảng giám anh
Kuang chien Ying (C).
quảng giáo
5995佛教戒律有廣略二教。佛成道之十二年間,大眾清淨,無犯過者,故未曾立戒,唯說「諸惡莫作」等教,制誡弟子之行法,稱爲略教,亦作略戒。十二年後,弟子中違法者漸多,遂廣說戒律,一一指出其過,稱爲廣教,亦作廣戒。四分律含注戒本疏行宗記卷二(卍續六二‧一九五上):「言廣教者,由略名含,未曉前相,雖造諸非,不謂有犯,故須廣張綱目,收攝罪聚;鈍根之流,聞便得解。因廣說故,名爲廣教。」
; Full or detailed teaching by the Buddha about the duties of the order, in contrast with lược gi o general or summerized teaching; the detailed teaching resulting from errors which had crept in among his disciples.
; Quảng Giáo là giai đoạn mà Đức Phật nói rộng về giới luật cho giáo đoàn của Ngài, Ngài dạy bảo nhất nhất đều phải tuân theo giới luật, đối lại với “Lược Giáo” hay giai đoạn 12 năm đầu sau khi Phật thành đạo, Ngài chỉ nói một cách tóm lược về giáo pháp của Ngài như “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo,” cũng như những phép tu hành cho đệ tử. Tuy nhiên, có quá nhiều người làm sai trái, nên Đức Phật bèn nói “Quảng Giáo”—Full or detailed teaching by the Buddha about the duties of the order, in contrast with general or summarized teaching; the detailed teaching resulting from errors which had crept in among his disciples.
; (廣教) Giáo pháp rộng rãi đầy đủ. Lời dạy của đức Phật về giới luật được chia làm Quảng giáo và Lược giáo. Khoảng 12 năm đầu, sau khi đức Phật thành đạo, đại chúng đều thanh tịnh, không có ai phạm lỗi, nên đức Phật chưa chế giới, Ngài chỉ dạy: Chớ làm các điều ác... Hành pháp răn dạy các đệ tử như vậy, gọi là Lược giáo, cũng gọi là Lược giới. Sau 12 năm, trong hàng ngũ đệ tử số người trái phạm giới dần dần thêm nhiều, nên Phật phải nói rộng về giới luật, chỉ ra những lỗi lầm của từng giới một, gọi là Quảng giáo hay là Quảng giới.
quảng hiệp
5994福建人。曾於馬來西亞創建彌陀寺。其後任新加坡龍山寺住持、新加坡佛教會副主席等職。
; Rộng và hẹp—Broad and narrow.
quảng hiệp tự tại vô ngại môn
5994華嚴宗新十玄門之第二。此門乃就空間而言。又作諸藏純雜具德門(古十玄門所稱)。廣,指一塵一法之力用普遍於一切而無有界限;狹,指一能含攝一切而不失其本位,顯現差別之相。故狹能容廣,自在無礙,如一尺之鏡見千里之影,鏡爲狹,千里爲廣,又眼爲狹,可見之遙遠外境爲廣。呈現事事無礙之境界,以破眾生執六度等法、不能於一念中廣狹無礙之疑。華嚴宗二祖智儼於所撰華嚴一乘十玄門中,立諸藏純雜具德門爲第六門,係就施門而言,以諸度皆不含攝施門,謂之純;於施門具足諸度,則謂之雜。此即純雜互入而不相妨礙。其後華嚴三祖法藏於華嚴經探玄記卷一,將諸藏純雜具德門改爲廣狹自在無礙門,其次序亦由第六位移至第二位。〔八十華嚴經十定品、入法界品、華嚴玄談卷六〕(參閱「十玄門」416)
; (廣狹自在無礙門) Cũng gọi: Chư tạng thuần tạp cụ đức môn (cách gọi của Cổ thập huyền môn). Môn thứ 2 trong Tân thập huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này là nói theo không gian. Quảng (rộng) là chỉ cho lực dụng của 1 hạt bụi, 1 pháp lan tràn tất cả không có giới hạn. Hiệp (hẹp) chỉ cho 1 có khả năng bao nhiếp tất cả mà không mất bản vị của nó, biểu hiện tướng sai biệt. Bởi thế hiệp có khả năng bao chứa quảng một cách tự tại vô ngại, như tấm gương 1 thước hiện bóng nghìn dặm, gương là hiệp, nghìn dặm là quảng; lại như mắt là hiệp, có thể thấy ngoại cảnh từ xa là quảng. Mục đích của môn Quảnghiệptự tại vô ngại này là hiển bày cảnh giới sự sự vô ngại để phá trừ sự chấp trước của chúng sinh đối với các pháp như Lục độ... và trừ diệt sự ngờ vực của chúng sinh về sự rộng hẹp vô ngại của các pháp trong 1 niệm. Trong Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn do ngàiTrí Nghiễm, Tổ thứ 2 của tong Hoa nghiêm soạn có lập môn thứ 6 là Chư tạng thuần tạp cụ đức môn, đây là nói theo Thí môn, vì các độ đều không bao nhiếp Thí môn, nên gọi là Thuần; trong Thí môn có đầy đủ các độ thì gọi là Tạp, đó là thuần và tạp dung hòa vào nhau mà không ngăn ngại nhau. Về sau, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 do ngài Pháp tạng, Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm,thì Chư tạng thuần tạp cụ đức môn được đổi thành Quảng hiệp tự tại vô ngại môn, về thứ tự cũng đổi từ vị thứ 6 thành vị thứ 2. [X. phẩm Thập định kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển); phẩm Nhập pháp giới; Hoa nghiêm huyền đàm Q.6]. (xt. Thập Huyền Môn).
quảng hoá tự
5989<一>位於北平德勝門大街內。爲北平名剎之一。寺內有崇禎皇帝賜曹化淳御筆草書碑。清朝時曾借此寺設編書局。殿宇屢經重葺,均完整無缺。 <二>位於綏遠鐙口以北之大青山(本名布當圖山)上。蒙語謂之「沙爾沁招」,爲內蒙四大招之一。寺內之建築物宏偉壯麗,與現代化之立體建築相似。 <三>位於福建莆田之鳳凰山。又稱南山廣化寺。始建於南朝陳永定二年(558),初名金仙院。隋開皇九年(589)擴建爲金仙寺。唐景雲二年(711)因僧志彥奉召進宮講四分律,賜名靈巖寺,並由柳公權書匾。北宋太平興國(976~983)初年,更名廣化寺,在宋明兩朝時爲最盛。現存建築爲清光緒(1875~1908)年間依舊制所重建,規模宏偉,有大雄寶殿、天王殿、法堂、藏經樓、鐘鼓樓、禪房、方丈室、客房、齋堂等。大雄寶殿高約二十公尺。殿前有石經幢二座,高三公尺,八角七層,上彫「佛頂尊勝陀羅尼經咒」。
quảng hoằng minh tập
5990凡三十卷。唐代律僧道宣(596~667)撰於麟德元年(644)。收於大正藏第五十二冊。道宣著作極多,被譽爲梁代律師僧祐之再生。本集與集古今佛道論衡四卷同爲佛教護法家之要典。梁之弘明集(僧祐著)係集錄東晉至宋齊梁之護法集;廣弘明集則自六朝至唐代,集錄一百三十餘人之撰著。本書雖爲弘明集之續編,然因體制稍異,故不稱「續」而稱「廣」。記述佛教自傳入我國至唐初歷朝之興廢、佛道間之論爭及佛教義理之討論等,每多涉及外典,舉凡論說、文書、詩賦、詔錄等資料無所不包,共集有歸正、辨惑、佛德、法義、僧行、慈濟、戒功、啟福、悔罪、統歸等十種,計二九六篇。古來易於散軼之孤文片記,幸由本書集錄,方得傳於後世,成爲極珍貴之資料。〔開元釋教錄卷二十、宋高僧傳卷十四〕
; (廣弘明集) Tác phẩm, 30 quyển, do Luật sư Đạo Tuyên (596-667) soạn vào niên hiệu Lân đức năm đầu (644) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Ngài Đạo Tuyên trứ tác rất nhiều, được khen là Luật sư Tăng hựu đời Lương tái sinh. Tác phẩm này và Tập cổ kim Phật đạo luận hành 4 quyển đều là những điển tịch quan trọng của Phật giáo. Bộ Hoằng minh tập đời Lương (do ngài Tăng Hựu soạn) thu chép những nhà hộ pháp từ đời Đông Tấn đến Tống, Tề, Lương; còn Quảng hoằng minh tập là tác phẩm thu chép hơn 130 vị từ thời Lục triều đến đời Đường. Sách này tuy là Tục biên của Hoằng minh tập, nhưng vì nội dung trình bày hơi khác nên không gọi Tục mà gọi Quảng, ghi chép sự hưng phế của Phật giáo qua các triều đại từ khi truyền vào Trung quốc cho đến đầu đời Đường; các cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo, sự bàn thảo về nghĩa lí của Phật giáo... Mỗi khi gặp các vấn đề liên quan đến ngoại điển thì tác giả thường nêu ra những luận thuyết, văn thư, thi phú, chiếu lục... tư liệu rất phong phú để so sánh. Toàn sách gồm 296 thiên chia làm 10 loại; Qui chính, Biện hoặc, Phật đức, Pháp nghĩa, Tăng hạnh, Từ tế, Giới công, Khải phúc, Hối tội và Thống qui. Những bản văn đơn lẻ, truyện kí rời rạc rất dễ bị thất lạc xưa nay, may mắn được sách này gom chép lại mới còn truyền đến đời sau. Đây là tư liệu cực kì quí giá. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Tống cao tăng truyện Q.14].
Quảng hoằng minh tập 廣弘明集
[ja] コウグミョウシュウ kō gumyō shū ||| Guang hongming ji; 30 fasc., by Daoxuan 道宣. T 2103.52.97-363. => (c: Guang hongming ji); 30 quyển, của Đạo Tuyên (c: Daoxuan 道宣).
quảng huệ
Vipulaprajna (skt)—See Quảng Tuệ.
Quảng Huệ Nguyên Liên
(廣慧元漣[蓮 hay 璉], Kōe Genren, 951-1036): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Tấn Giang (晋江縣), Phủ Tuyền Châu (泉州府), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), họ là Trần (陳). Năm lên 15 tuổi, ông đến xuất gia tại Báo Cúc Viện (報劬院), sau đi khắp nơi tham vấn hơn 50 vị lão túc, và cuối cùng đại ngộ với Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念). Vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đến trú tại Quảng Huệ Viện (廣慧院) thuộc vùng Nhữ Châu (汝州). Chính trong thời gian này, Vương Tham Chính Thư (王參政書), Hứa Lang Trung Thức (許郎中式), Thị Lang Dương Ức (侍郎楊億), v.v., có đến tham học với ông. Vào ngày 26 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Hựu (景祐), ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Chơn Tuệ Thiền Sư (眞慧禪師).
quảng huệ thanh văn
6000又作廣惠聲聞。指遠離煩惱障與解脫障,獲得定、慧自在之阿羅漢,如舍利弗、目犍連等。瑜伽師地論卷六十五(大三○‧六六三上):「若毘鉢舍那行菩薩未得自在,及有廣慧聲聞乘等,若諸有學,若阿羅漢。」成唯識論述記卷七本(大四三‧四八一上):「實十地菩薩,廣惠聲聞,獨覺亦得。」
; (廣慧聲聞) Cũng gọi Quảng huệ thanh văn. Chỉ cho bậc A la hán xa lìa phiền não chướng và giải thoát chướng, được định, tuệ tự tại, như các tôn giả Xá lợi phất, Mục kiền liên... Luận Du già sư địa quyển 65 (Đại 30, 663 thượng) nói: Hoặc Bồ tát tu hành Tì bát xá na chưa đượctự tạivà hàng Quảng tuệ thanh văn, hoặc các bậc Hữu học, hoặc A la hán, các bậc ấy tác ý thiện đối với cõi Vô sắc thì cũng duyên với tất cả pháp ở cõi dưới. Thànhduy thức luận thuật kí quyển 7 phần đầu (Đại 43, 481 thượng) nói: Các bồ tát Thập địa, Quảng huệ thanh văn, cùng với Độc giác cũng đều được vô lậu thuần tịnh.
Quảng Hàn Cung
(廣寒宮): trong tác phẩm Long Thành Lục (龍城錄), phần Minh Hoàng Mộng Du Quảng Hàn Cung (明皇夢游廣寒宮), của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường cho biết rằng tương truyền vào ngày Rằm tháng 8, khi vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường ngao du trên mặt trăng, chợt thấy một cung phủ lớn, có tấm bảng ghi là: “quảng hàn thanh hư chi phủ (廣寒清虛之府, phủ lạnh lẽo trống không).” Về sau, người ta gọi cung tiên trên mặt trăng là Quảng Hàn Cung. Như trong bài thơ Túc Thủy Đình (宿水亭) của Bảo Dung (鮑溶, ?-?) nhà Đường có câu: “Dạ thâm tinh nguyệt bạn Phù Dung, như tại Quảng Hàn Cung lí túc (夜深星月伴芙蓉、如在廣寒宮裏宿, trăng sao đêm nữa bạn hoa sen, như ở Cung Quảng Hàn tá túc).” Hay trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋志异), chương Bạch Vu Ngọc (白于玉), của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh, lại có đoạn: “Đồng đạo nhập Quảng Hàn Cung, nội dĩ thủy tinh vi giai, hành nhân như tại kính trung (童導入廣寒宮、內以水晶爲階、行人如在鏡中, đồng đạo vào Cung Quảng Hàn, bên trong lấy thủy tinh làm bực thềm, người đi như ở trong kính).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Hải Độc (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, phần Sơn Cư (山居), lại có bài thơ rằng: “Thảo đường thu tợ Quảng Hàn Cung, kim sắc hoa khai bích ngọc tùng, tọa cửu bất tri phàm cốt hoán, thiên hương thanh tán nguyệt minh trung (草堂秋似廣寒宮、金色花開碧玉叢、坐久不知凡骨換、天香清散月明中, nhà tranh thu tựa Quảng Hàn Cung, hoa nở sắc vàng ngọc biếc tùng, chẳng biết ngồi lâu phàm cốt đổi, hương trời tỏa ngát trăng sáng trong).”
quảng hương
Tên một ngôi già lam nổi tiếng trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Thủ xây năm 1958. Đây là chi nhánh của Phật Học Viện Nha Trang. Bên phải Chánh điện có đại hồng chung nặng 330 kí lô, đúc tại Phật Học Viện Nha Trang năm 1966. Trên chuông có khắc bài văn ghi lại lịch sử của chùa mà Hòa Thượng Trí Thủ đã ghi lại vào ngày 31 tháng 3 năm 1966—Name of a famous pagoda in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1958 by Most venerable Trí Thủ. It has been the school of basic Buddhist Studies for Monk students. A 330 kilogram great bell cast at Nha Trang Institute of Buddhist Studies in 1966 is hung on the right of the Main Hall. On the bell there is a text written by Most Venerable Trí Thủ on March 31, 1966, telling us the history of the monastery. On the right, in the back of the monastery, stands a stupa and stele commemorating Most Venerable Trí Thủ.
quảng hạnh
Great deed—Vast deed—Extensive deed.
Quảng Học Thụ Nghĩa
(廣學竪義, Kōgakuryūgi): gọi chung là Thụ Nghĩa (竪義, ryūgi), còn gọi là Lập Nghĩa (立義), từ dùng cho các vị tăng nêu ra những kiến giải của mình về kinh điển trong các pháp hội thuyết giảng. Những vị tăng học thức trãi qua một thời gian lâu dài nghiên cứu giáo lý Phật Giáo, được gọi là Thụ Giả (竪者, người đứng trên kiến giải của mình để đối đáp những chất vấn của người khác). Thông qua mấy lần đối đáp thông suốt các chất vấn của những bậc học tượng nổi danh trong pháp hội, hội đồng sẽ quyết đinh chọn ra người có kiến thức uyên bác về Phật Giáo để làm học tượng sau này. Ở vùng Nam Đô thì nó được gọi là Nghiên Học Thụ Nghĩa (研學竪義, Kengakuryūgi) và Bắc Lãnh là Quảng Học Thụ Nghĩa; cả hai đều là các tổ chức học vấn nổi tiếng đương thời.
quảng hữu tự
5994位於遼寧遼陽城西門外。俗稱白塔寺。建於金代(1115~1234)。清太宗天聰九年(1635)重修,供奉自來佛一尊,相傳爲前代鄉民往廣寧貿易途中,逢一童子求鄉民載赴廣祐寺,至則童子化爲一金身佛像。康熙二十一年(1682),皇帝至此,遂賜袈裟。此寺境域頗廣,門對千山,以勝景聞名。後因敷設鐵道,遂成爲鐵路附屬地。今僅存八角十三簷白塔一座與佛像二尊。
; (廣祐寺) Cũng gọi Bạch tháp tự. Chùa ở phía ngoài cửa Tây, thành Liêu Dương, Liêu ninh, được sáng lập vào đời Kim (1115-1234). Vào năm Thiên thông thứ 9 ( 1635), vua Thái tông nhà Thanh trùng tu, thờ pho tượng Phật mà tương truyền do đời trước dân làng đến Quảng ninh buôn bán, giữa đường gặp 1 đồng tử nhờ họ đưa đến chùa Quảng hựu, khi đến nơi thì đồng tử ấy hóa thành 1 tượng Phật bằng vàng. Khu vực chùa này rất rộng, phía trước chùa núi non trùng điệp, phong cảnh rất đẹp, nhờ đó mà chùa nổi tiếng. Sau vì mở đường sắt nên chùa bị phá hủy. Nay chỉ còn 1 ngôi tháp trắng 8 góc 13 mái và 2 pho tượng Phật.
quảng khánh tự
6000位於廣東清遠東北。本名飛來寺,於宋代改爲今名。地處崇山峻嶺之間,門前有道書十九福地坊,附近有歸猿洞、金芝巖、凝碧灣、金鎖澤、釣里潭、獅子石等名勝。
quảng khâm
5998請參閱 笑隱大訢禪師語錄(1892~1986)福建惠安人。本姓黃,因家貧,至晉江李姓家中爲養子。生稟夙慧,隨母奉佛茹素,未久,皈依福建泉州承天寺瑞芳法師。其後,師曾遠遊南洋多年,返鄉後刻意苦行,歷十餘寒暑。三十三歲,投禮瑞芳法師披剃,法名照敬,字廣欽。民國二十二年(1933),四十二歲,受戒於福建莆田囊山慈壽禪寺。後遂決志至泉州城北清源山潛修,自是斷棄五穀,僅食菓類。師曾於山中入定,歷四月,往來農樵皆以爲物化,承天寺方丈轉塵老和尚乃偕同弘一大師前往勘驗,始知師深入禪定,歎爲希有。 民國三十六年來臺,初時棲止於臺北新店寒林曠野之間;三十七年,於山壁間開鑿石洞,命名廣明岩(今稱廣明寺);四十年,移錫於臺北土城日月洞,鮮爲人知。三度禪定之後,始名聞於世。四十四年至四十九年間,於土城火山興建承天禪寺,火山則稱清源山,係爲紀念祖庭而命名者。各地善信前往參禮者絡繹不絕。七十五年二月於高雄六龜妙通寺示寂,世壽九十五。〔廣欽老和尚事略、廣欽老和尚雲水記〕
quảng không
5992(1887~1970)福建晉江人,俗姓鄭。名照皆,號都了。年二十三,於廈門南普陀寺剃髮,二年後,於南安小雪峰寺受具足戒。曾三次朝禮普陀山,後又往九華山及五臺山。師棲心淨土,以念佛法門爲自行化他之準則。曾承事供養弘一大師。後住持晉江靈鷲寺,重修西天寺,並建四眾海會塔。閩南諸叢林,無論講經、傳戒、佛七等,皆悉力襄助。民國五十九年示寂,世壽八十四。
quảng kết thiện duyên
To strengthen affinity with others.
Quảng Long Tự
(廣隆寺, Kōryū-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Ngự Thất (御室派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (右京區), Kyōto-to (京都市), Kyōto-fu (京都府); còn gọi là Phong Cang Tự (蜂岡寺), Thái Tần Tự (太秦寺), Tần Tự (秦寺), Tần Công Tự (秦公寺), Cát Dã Tự (葛野寺); hiệu núi là Phong Cang Sơn (蜂岡山). Ở vùng này, vào thời đại Ứng Thần Thiên Hoàng (應神天皇), con cháu của vua Tần Thủy Hoàng cũng như những người di dân từ Vương Quốc Bách Tế (百濟, Kudara) bên Triều Tiên sang đã làm cho hưng thạnh sản nghiệp, và đây cũng là nơi di thực nền văn minh từ vùng Đại Lục Trung Hoa vậy. Trong số những người dân đến đây có người hậu duệ của nhà họ Tần là Tần Hà Thắng (秦河勝). Tương truyền vị này nhân để an trí tượng Phật mà được Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtōku Taishi) ban tặng vào năm 604, cũng như các tượng Phật do hai nước Tân La (新羅) và Nhậm Na (任那) ban tặng, đã tạo lập nên ngôi chùa này nơi vùng đất nhà họ Tần. Sau đó, vào năm 810 và 1150 thì chùa bị cháy tan tành, nhưng cũng đã được tái kiến lại mấy lần. Chùa này vốn là chùa của dòng họ Tần, là ngôi chùa tối cổ ở vùng Kinh Đô Kyoto, là một trong bảy ngôi chùa có liên quan đến hành trạng của Thái Tử, bên cạnh Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), Tứ Thiên Vương Tự (四天王寺, Shitennō-ji). Quần thể kiến trúc hiện tại có Giảng Đường là kiến trúc được tái kiến dưới thời Bình An. Trong tòa nhà này ở chính giữa thờ tượng ngồi A Di Đà Phật bằng gỗ, bên phải có tượng Địa Tạng Bồ Tát, bên trái có tượng Hư Không Tạng Bồ Tát (虛空藏菩薩), phía đằng sau hai bên phải trái lại có an trí hai tượng Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音). Còn Chánh Điện Quế Cung Viện (桂宮院) là kiến trúc ảnh hưởng phong trào tín ngưỡng Thái Tử vào thời Liêm Thương, được xây dựng dưới hình thức Mộng Điện, nhà hình tròn bát giác. Trong điện thờ tượng ngồi bán già Như Ý Luân Quan Âm (如意輪觀音) bằng gỗ. Thượng Cung Vương Viện Thái Tử Điện (上宮王院太子殿) lại là Chánh Điện chính của chùa, thờ tượng Thánh Đức Thái Tử ngồi bán già. Linh Bảo Điện (靈寶殿) là nơi tàng trữ những vật báu của chùa ngang tầm cỡ quốc bảo. Bảo vật của chùa có tượng Bồ Tát Di Lặc ngồi bán già, bằng gỗ; tượng ngồi A Di Đà Như Lai, bằng gỗ; tượng đứng Bất Không Quyên Sách Quan Âm, bằng gỗ; tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm, bằng gỗ; tượng đứng Thập Nhị Thần Tướng, bằng gỗ; Chánh Điện Quế Cung Viện, v.v.
quảng long tự
5998爲日本真言宗別格本山。位於京都右京區太秦。乃古時歸化日本之秦族所住之地,在紙屋川上流,屬山城國。山號蜂岡山。又稱蜂岡寺、秦公寺、桂林寺、三槻寺、香楓寺、葛野寺。推古天皇十一年(603),族長秦河(川)勝承聖德太子賜予佛像,遂造廣隆寺,爲山城最古之名剎。屋宇曾數度遭遇大火,亦屢次復建。其中,如本堂,又稱上宮王院,供奉聖德太子之等身木像,堂宇重建於享保五年(1720)。桂宮院,由聖德太子創建,又稱奧院、八角堂、楓野別宮,供奉如意輪觀音及隋代之阿彌陀佛像等。講堂,由秦河勝創建,堂宇係永萬元年(1165)所重建。至明治維新,諸院堂多廢絕,幸於明治三十三年(1900),政府下令修繕,講堂與桂宮院列爲特別保護建築物,寺中諸佛像多列爲國寶。
Quảng luận 廣論
[ja] コウロン Kōron ||| Guanglun; see 廣百論. => (c: Guanglun); Xem Quảng bách luận廣百論.
quảng luật
5993請參閱 顯揚聖教論 請參閱 大唐開元釋教廣品歷章 指內容詳備之律儀,即比丘、比丘尼之生活規矩。佛成道十二年後,弟子中犯過者漸多,佛就所應受持之戒律一一廣說;此一一記其事緣,詳說戒律之律藏,即稱爲廣律,亦稱廣教。漢譯者有五種,即四分律、十誦律、摩訶僧祇律、五分律、根本說一切有部律。一般包括三部分:(一)防範僧尼爲非作惡之禁戒,即禁止某些言行之事項及違犯後所採之處罰規則,並詳說各種禁戒形成之緣由等。此即五篇七聚。(二)有關修法、行儀及日常生活禮儀之具體規定。此爲犍度部分。(三)附屬事項。又僅具其中第一項所說戒律條文者,稱爲戒本(梵 prātimokṣa,音譯波羅提木叉),而與廣律相對。律藏五部中,迦葉維部僅傳戒本,廣律之傳譯則闕如。南傳佛教則傳巴利語之廣律。〔八宗綱要卷上律宗〕
; (廣律) Cũng gọi Quảng giáo. Chỉ cho luật nghi có nội dung rõ ràng đầy đủ, là những khuôn phép sinh hoạt của Tỉ Khưu và Tỉ Khưu Ni. Sau khi đức Phật thành đạo 12 năm thì trong hàng ngũ đệ tử số người phạm lỗi dần dần thêm nhiều, nên Phật đã căn cứ vào những giới luật cần phải giữ gìn mà nói rộng từng giới một, tạng Luật ghi chép duyên do của mỗi giới và nói rõ các giới một cách chi tiết này, gọi là Quảng luật. Các bản Hán dịch có 5 loại là luật Tứ phần, luật Thập tụng, luật Ma ha tăng kì, luật Ngũ phần và luật Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Quảng luật nói chung bao gồm 3 bộ phận: 1. Ngũ thiên nhất tụ: Nói rõ nguyên do hình thành các giới cấm và những qui tắc xử phạt. 2. Kiền độ: Những qui định cụ thể về những lễ nghi sinh hoạt hằng ngày của tăng ni. 3. Những điều mục phụ thuộc: Trong đó, những giới điều được nói trong phần 1, gọi là Giới bản (Phạm: Pràtimokwa, Hán âm: Ba la đề mộc xoa). Trong 5 bộ Luật tạng, Ca diếp di bộ chỉ truyền Giới bản, chứ không truyền dịch Quảng luật. Phật giáo Nam truyền thì truyền Quảng luật bằng tiếngPàli. [X. Luật tông trong Bát tông cương yếu].
quảng lược bản tôn
5995指日本日蓮宗供奉之本尊形式。該宗之本尊有木像雕刻之曼荼羅及文字圖顯之曼荼羅二種,合稱木畫本尊,各有廣略二型。文字曼荼羅之本尊,廣型即「十界勸請大曼荼羅」,略型則指妙法蓮華經之經題。木像曼荼羅之本尊,廣型乃就十界勸請大曼荼羅所述各尊,逐一作木刻像;略型以釋迦一佛,或釋迦佛與上行、無邊行、淨行、安立行等本化四菩薩(一尊四士),或釋迦、多寶二佛與本化四菩薩(二尊四士)的木像等爲本尊。廣略之別,係應機緣而有形容之殊異,實皆爲唯一之本門本尊。(參閱「本尊」1969)
; (廣略本尊) Chỉ cho hình thức thờ phụng Bản tôn của tông Nhật Liên, Nhật Bản. Hình thức Bản tôn của tông này có 2 loại: Mạn đồ la khắc tượng gỗ và Mạn đồ la vẽ chữ, hợp lại gọi chung là Mộc họa bản tôn. Mỗi loại Mộc đồ la bản tôn lại có 2 hình thức Quảng và Lược. Hình thức Quảng của Mạn đồ la bản tôn vẽ chữ tức là Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la, còn hình thức Lược thì chỉ cho đề kinh của kinh Diệu pháp liên hoa. Về Bản tôn của Mạn đồ la khắc tượng gỗ thì hình thức Quảng là các vị tôn đã nói trong Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la, mỗi vị tôn đều khắc tượng gỗ. Còn hình thức Lược thì khắc tượng gỗ 1 đức Phật Thích ca, hoặc Phật Thích ca và 4 vị Bản hóa bồ tát:Thượng hành, Vô biên hành, Tịnh hành, An lập hành (Nhất tôn tứ sĩ), hoặc Phật Thích ca, Phật Đa bảo, và 4 Bồ tát bản hóa (Nhị tôn tứ sĩ) làm Bản tôn. Phân biệt Quảng và Lược là ứng theo cơ duyên mà có hình dung sai khác, chứ thực ra thì chỉ có Bản tôn của Bản môn duy nhất mà thôi. (xt. Bản Tôn).
quảng lược tương nhập
5995謂廣門與略門二者相即相入。廣聚八萬四千佛法,示諸法種種差別相者,謂之廣門;而顯示此差別相之平等理者,謂之略門。兩門互相融通,則謂之相入。如極樂世界之種種莊嚴事相與無形相之真如理體,乃成爲一體互相容納者。又據大品般若經卷二十一載,菩薩於廣略修學六波羅蜜,當知一切法之廣略相。 往生論註卷下(大四○‧八四一中):「何故示現廣略相入?諸佛菩薩有二種法身,一者法性法身,二者方便法身。由法性法身生方便法身,由方便法身出法性法身,此二法身異而不可分,一而不可同;是故廣略相入,統以法名。菩薩若不知廣略相入,則不能自利利他。」〔月燈三昧經卷八、往生論、大智度論卷八十二、往生論註記卷五〕
; (廣略相入) Môn Quảng và môn lược tức là nhau, hòa vào nhau. Gom hết 84 nghìn pháp môn của đức Phật dạy, rồi chỉ rõ các tướng sai khác của các pháp, như thế gọi là môn Quảng (nói rộng ra). Còn hiển bày cái lí bình đẳng của tướng sai biệt này, thì gọi là môn Lược (nói vắn tắt lại). Hai môn dung thông nhau thì gọi là Tướng nhập, như các sự tướng trang nghiêm của thế giới Cực lạc và lí thể chân như không hình tướng là 1 thể dung nạp lẫn nhau. Cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 21, Bồ tát tu học Lục ba la mật theo 2 tướng Quảng và Lược thì phải biết tướng Quảng và Lược của tất cả pháp. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 841 trung) nói: Vì sao thị hiện quảng lược tương nhập? Vì chư Phật, Bồ tát có 2 loại pháp thân: Một là Pháp tính pháp thân, hai là Phương tiện pháp thân. Từ pháp tính pháp thân sinh ra Phương tiện pháp thân; từ phương tiện pháp thân sinh ra Pháp tính pháp thân; 2 pháp thân này tuy khác nhưng không thể tách rời nhau, 1 mà chẳng đồng nhau; vì thế nên quảng lược tương nhập, tên thống nhất của các pháp. Nếu Bồ tát không biết quảng lược tương nhập thì không thể tự lợi lợi tha. [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.8; luận Vãng sinh; luận Đại trí độ Q.82; Vãng sinh luận chú kí Q.5].
quảng lược yếu
5996係廣、略、要之並稱。乃詮顯經論眼目的方法之一。涉及全部者謂之廣,省略一部分者謂之略,摘出重要者謂之要。 <一>日本源空在「往生要集略料簡」中,以廣略要三例解釋源信之「往生要集」。其中,廣例即以文章全體之意說明觀佛;略例即以念佛爲正業,以其他修行爲助行而並修;要例則勸修念佛一行。 <二>日本日蓮宗對經文、修行之說明亦立廣略要之別。在經文方面,法華經八卷,全部謂之廣,方便品、壽量品等爲略,經題爲要,其中僅取要而捨廣略。在修行方面,指出經文之廣略要三者均須兼顧。〔法華取要鈔、祖書綱要刪略卷二〕
; (廣略要) Từ gọi chung Quảng, Lược,Yếu, 1 trong những phương pháp giải thích rõ các điểm cốt yếu của kinh luận. Đề cập đến toàn bộ gọi là Quảng, rút gọn 1 phần gọi là Lược, trích ra những chỗ chủ chốt gọi là Yếu. 1. Trong Vãng sinh yếu tập lược liệu giản của mình, ngài Nguyên Không, vị tăng người Nhật Bản, đã dùng phương pháp Quảng lược yếu để giải thích Vãng sinh yếu tập của ngài Nguyên Tín. Trong đó, Quảng tức là dùng ý của toàn bộ văn chương để nói rõ việc quán tưởng Phật; Lược tức là lấy việc niệm Phật làm chính nghiệp và lấy các hạnh tu khác làm trợ duyên kiêm tu; còn Yếu tức là khuyên tu 1 hạnh niệm Phật. 2. Tông Nhật liên của Nhật bản, khi thuyết minh văn kinh và tu hành cũng lập Quảng lược yếu khác nhau. Về văn kinh thì toàn thể 8 quyển kinh Pháp hoa là Quảng, phẩm Phương tiện và phẩm Thọ lượng là Lược, còn tên kinh là Yếu, trong đó chỉ lấy yếu mà bỏ quảng và lược. Còn về tu hành thì phải chú ý cả 3mặt quảng lược yếu của văn kinh. [X. Pháp hoa thủ yếu sao; Tổ thư cương yếu san lược Q.2].
quảng lượng
Generosity.
quảng lợi tự
Kōri-ji (J)Tên một ngôi chùa.
quảng lục độ hành
5988又作六德行。謂菩薩應廣修六度行,方能大弘法義。據成具光明定意經所載,即:(一)廣施,菩薩懷廣大心,深知此身及一切財物皆無我、無常,故能盡施一切而了無罣礙;復能廣弘法施,以開化愚蒙眾生。(二)廣戒,菩薩堅守諸戒律,以保身、口、意三業之清淨,復輾轉化他,廣弘戒法。(三)廣忍,菩薩於一切違逆之境皆行忍耐,視惡境爲空無所有,而不生瞋恚之心;復輾轉化他,令受教眾生亦行忍。(四)廣精進,菩薩精進修持,善調飲食、睡眠,無有怠惰;且不辭辛勞廣說法要以開教愚頑,令其亦精進無怠。(五)廣一心,菩薩修行禪定時,能一心寂靜,離諸散亂,於一切時處,亦能專一其心而無所動搖;復化眾生,令其一心不亂。(六)廣智慧,菩薩以智慧照了一切,雖處五濁之塵境,然道心堅固不失,滅絕三界妄想而證涅槃;復化眾生,令其亦修智慧。
; (廣六度行) Cũng gọi Lục đức hạnh. Rộng tu hạnh Lục độ. Bồ tát phải rộng tu hạnh Lục độ mới có thể hoằng dương pháp nghĩa. Cứ theo kinh Thành cụ quang minh định ý thì Quảng lục độ hạnh gồm: 1. Quảng thí: Bồ tát có tâm rộng lớn, biết rõ thân này và tất cả của cải đều vô ngã, vô thường, cho nên sẵn sàng bố thí hết thảy mà không luyến tiếc, vướng mắc; lại có thể mở rộng pháp thí để khai hóa chúng sinh mê muội. 2. Quảng giới: Bồ tát kiên trì tuân thủ các giới luật để giữ cho 3 nghiệp thân, khẩu ý, được thanh tịnh, lại khuyến hóa người khác để mở rộng giới pháp. 3. Quảng nhẫn: Đối với tất cả cảnh trái ý, Bồ tát đều có thể chịu đựng, xem các cảnh ác như không có nên không sinh tâm giận tức; đồng thời, cũng giáo hóa chúng sinh cũng tu hạnh nhẫn nại. 4. Quảng tinh tiến: Bồ tát tinh tiến tu trì, không biếng nhác, ăn uống ngủ nghỉ đều có điều độ, không thái quá, không bất cập, không ngại khó nhọc nói các pháp yếu để mở mang sự tối tăm của mọi người và khuyến hóa tất cả đều tinh tiến. 5. Quảng nhất tâm: Lúc Bồ tát tu thiền định, thường nhất tâm tịch lặng, không tán loạn, trong tất cả thời gian nơi chốn đều có khả năng chuyên chú 1 lòng, không lay động và giáo hóa chúng sinh cũng tu hạnh như thế. 6. Quảng trí tuệ: Bồ tát dùng trí tuệ soi rõ tất cả, tuy ở trong cảnh 5 trược ác nhưng tâm kiên cố không mất, dứt hẳn vọng tưởng trong 3 cõi mà chứng Niết bàn; cũng giáo hóa chúng sinh cùng tu trí tuệ.
Quảng Mục Thiên
(s: Virūpākṣa, p: Virūpakkha, 廣目天): âm dịch là Tỷ Lựu Ba A Xoa (鼻溜波阿叉), Bễ Lộ Ba Ha Ngật Xoa (髀路波呵迄叉), Tỳ Lâu Bà Xoa (毘樓婆叉), Tỳ Rô Bác Xoa (毘嚕博叉); còn gọi là Ác Nhãn Thiên (惡眼天), Xú Mục Thiên (醜目天), Tạp Ngữ Chủ Thiên (雜語主天), Phi Hảo Báo Thiên (非好報天); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 12 vị trời, một trong 16 vị thiện thần. Vị này trú tại lưng chừng phía Tây Tu Di Sơn; thường lấy con mắt trời thanh tịnh để quán sát chúng sanh cõi Diêm Phù Đề, là vị thiện thần hộ pháp ở phương Tây; nên có tên là Tây Phương Thiên (西方天); chuyên xét xử trừng phạt người ác, khiến cho họ sanh khởi đạo tâm. Vị trời này cũng là chủ của các loài rồng. Trong Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經, Taishō Vol. 19, No. 982) quyển Thượng cho biết rằng: “Thử Tây phương hữu đại Thiên Vương, danh viết Quảng Mục, thị đại long chủ; dĩ vô lượng bách thiên chư long nhi vi quyến thuộc, thủ hộ Tây phương (此西方有大天王、名曰廣目、是大龍主、以無量百千諸龍而爲眷屬、守護西方, phương Tây này có vị Thiên Vương lớn, tên là Quảng Mục, là chủ của con rồng lớn; lấy vô lượng trăm ngàn các loài rồng làm quyến thuôc, giữ gìn phương Tây).” Về hình tượng của vị trời này, các thuyết không giống nhau. Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng thân của Tỳ Rô Bác Xoa dài một khuỷu tay, mang các loại y khác nhau, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái duỗi ra cầm cây giáo, tay phải cầm dây thừng màu đỏ. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: “Tây phương Quảng Mục Đại Thiên Vương, kỳ thân hồng sắc chấp quyến sách, thủ hộ bát Phật Tây phương môn (西方廣目大天王、其身紅色執罥索、守護八佛西方門, Quảng Mục Đại Thiên Vương ở phương Tây, thân màu hồng cầm cây roi, giữ gìn tám Phật cửa phía Tây).” Trong đồ hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới Mật Giáo, vị này ngự ở Tây môn của Kim Cang Bộ Viện. Tại Trung Quốc, có nhiều loại tạo hình về Quảng Mục Thiên; như tượng khắc trên tường phía Tây Nam Cư Dung Quan (居庸關) ở Hà Bắc thì tay phải cầm con rắn, tay trái đặt trước ngực; chân trái đạp lên lưng con ác quỷ, có vị đứng hầu bên trái lõa thể, cầm cây Chày Kim Cang. Bên cạnh đó, bức tượng phát hiện tại Thiên Phật Động ở Đôn Hoàng (敦煌) mặc áo lụa màu, hình tượng mang áo giáp da theo thể thức chế tạo của Trung Quốc; lấy áo trời, đồ vàng để trang sức thân thể, tay phải và trái cầm kiếm, hai chân đạp lên con quỷ Dạ Xoa (s: yakṣa, p: yakkha, 夜叉). Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 còn cho biết rằng: “Tây phương Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, lãnh chư Cưu Bàn Trà quỷ, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, diệc tự Nhân Đà La, hữu đại thần lực (西方毗樓博叉天王、領諸鳩槃茶鬼、有大威德、有九十一子、亦字因陀羅、有大神力, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương ở phương Tây, thống lãnh quỷ Cưu Bàn Trà, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, cũng tên Nhân Đà La, có thần lực lớn).”
quảng mục thiên
5990廣目,梵名 Virūpākṣa,巴利名 Virūpakkha,音譯鼻溜波阿叉、髀路波呵迄叉、毘樓婆叉、毘嚕博叉。又作惡眼天、醜目天、雜語主天,或非好報天。爲四天王之一,十二天之一,十六善神之一。住於須彌山西面半腹,常以淨天眼觀察閻浮提之眾生,乃守護西方之護法善神,又稱西方天。司掌處罰惡人,令起道心。 此天王亦爲諸龍之主,據佛母大孔雀明王經卷上所說(大一九‧四二二上):「此西方有大天王,名曰廣目,是大龍王,以無量百千諸龍而爲眷屬,守護西方。」關於其形像,諸說不同,據陀羅尼集經卷十一載,毘嚕博叉天王像法,其像身長作一肘,著種種天衣,嚴飾極令精妙,與身相稱,左手申臂執矟,右手持赤索。據藥師琉璃光王七佛本願功德念誦儀軌供養法載,西方廣目大天王,其身紅色,執羂索,守護八佛之西方門。又於密教胎藏界曼荼羅中,此尊位列外金剛院西門之側。 在中國,廣目天之造型有多種,如河北居庸關西南壁上所刻者,右手執蛇,屈左手按於胸前,左腳踏於惡鬼背上;左側立有裸體脅侍,持金剛杵。又於敦煌千佛洞所發現者爲著色絹本,形像爲身披中國式革製甲胄,以天衣、金具飾體,右手持劍,左手支持劍中央,兩足踏於夜叉之上。〔長阿含經卷十九、起世經卷六「四天王品」、大方等大集經卷五十二、般若守護十六善神形體、青龍寺儀軌卷二、慧苑音義卷上〕
; Virùpàksa (S). The wide-eyed deva, diversely-eyed, having deformed eyes, an epithet of Siva, as represented with three eyes; name of one of the four Mahàràjas, he who guards the west.
; (廣目天) Phạm: Virùpàkwa. Pàli: Virùpakkha. Hán âm: Tị lựu ba a xoa, Tì lô ba ha hất xoa, Tì lâu bà xoa, Tì rô bác xoa. Cũng gọi Ác nhãn thiên, Xú mục thiên, Tạp ngữ chủ thiên, Phi hảo báo thiên. Tây phương thiên. Một trong 4 vịThiên vương, 1 trong 12 vị trời, 1 trong 16 vị thiện thần, trụ ở lưng chừng núi Tu di về phía tây, thường dùng mắt trời trong sáng quan sát chúng sinh ở cõi Diêm phù đề, là vị thiện thần hộ pháp giữ gìn phương tây, coi việc xử phạt người ác, khiến họ phát khởi đạo tâm. Vị Thiên vương này cũng là chúa các rồng. Kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng (Đại19,422 thượng) nói: Ở phương Tây, có Đại thiên vương tên là Quảng mục, cũng là vua loài rồng, có vô lượng trăm nghìn các rồng là quyến thuộc, giữ gìn phương tây. Về hình tượng của vị Thiên vương này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 11 và Tì rô bác xoa thiên vương tượng pháp, thì tượng của vị Thiên vương này cao 1 khuỷu tay, mặc các loại áo trời, trang sức cực kì lộng lẫy, tương xứng với thân, tay trái duỗi thẳng cầm giáo, tay phải cầm vòng dây đỏ. Cứ theo Dược sư Lưu ly quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩcúng dường pháp, thì Đại thiên vương Quảng mục phương tây, thân màu hồng, cầm vòng dây lụa, giữ gìn cửa phía tây của 8 vị Phật. Còn trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì vị tôn này được an vị ở cạnh cửa Tây của viện Ngoại kim cương. Tại Trung Quốc, hình tượng của Quảng mục thiên có nhiều loại, như tượng khắc trên vách tây nam của ải Cư dung thuộc tỉnh Hà bắc, tay phải cầm rắn, tay trái co lại để trước ngực, chân trái đạp lên lưng ác quỉ; bên trái có người lõa thể đứng hầu, cầm chày kim cương. Còn tượng Quảng mục thiên phát hiện được ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt kiểu Trung quốc, trang sức bằng vàng bạc, tay phải cầm kiếm, tay trái đỡ ở đoạn giữa của thanh kiếm, 2 chân đạp trên mình Dạ xoa. [X. kinh Trường a hàm Q.19; phẩm Tứ thiên vương kinh Khởi thế Q.6; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.52; Bát nhã thủ hộ thập lục thiện thần hình thể; Thanh long tự nghi quĩ Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
Quảng Mục Thiên Vương
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
quảng mục thiên vương
VirŪpakśa (S), Virupakkha (P)Một trong 4 cõi dục giới của Tứ thiên vương thiên: Trì quốc thiên vương (đông), Tăng trưởng thiên vương (nam), Quảng mục thiên vương (bắc), Đa văn thiên vương( bắc).
; Virupaksa (skt)—Tiếng Phạn là Tỳ Lưu Bát Xoa, vị thiên vương có ba mắt xấu xa. Tên của một trong bốn vị Thiên Vương, vị nầy là vị trời thủ hộ phương tây (Ngài trụ về phương tây của núi Tu Di, và dùng tịnh nhãn để quan sát chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề)—The wide ugly-eyed (diversely eyed) Maharaja, with three eyes, one who has deformed eyes. Name of one of the four Maharajas, he who guards the west.
Quảng mục thiên 廣目天
[ja] コウモクテン Kōmokuten ||| Virūpākṣa. One of the four heavenly kings 四天王. He lives in the sky on the western part of Mt. Sumeru, and rules over the nāgas 龍 and pūtanas 富單那, protecting the western continent. He possesses the pure divine eye, which allows him to see everywhere. He is usually depicted as having a red body and wearing a helmet. => s: Virūpākṣa Một trong Tứ vương thiên. Cư ngụ trong cõi trời phía Tây núi Tu-di, cai quản loài rồng (s: nāgas 龍) và Phú-đơn-na (s: pūtanas 富單那), hộ trì cõi giới phía Tây. Vị vua trời nầy có thiên nhãn thanh tịnh để nhìn được suốt khắp nơi. Thường được miêu tả có sắc thân màu đỏ và đội mũ sắt.
Quảng Nghiêm
xem Tỳ-da-li.
; 廣嚴; 1121-1190|Thiền sư Việt nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Trí Thiền. Môn đệ nổi danh của Sư là Thường Chiếu.|Sư họ Nguyễn, quê ở Ðan Phượng, mồ côi từ thuở bé. Ban đầu, Sư theo học Phật pháp với người cậu là Bảo Nhạc. Sau khi Bảo Nhạc qua đời, Sư Hành cước, viếng thăm nhiều pháp hội. Nghe Thiền sư Trí Thiền giảng pháp ở chùa Phúc Thánh, hạt Ðiển Lãnh, Sư liền đến tham vấn.|Một hôm, khi nghe Trí Thiền giảng Ngữ lục của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, đến chỗ Ðạo Ngô Viên Trí và Tiệm Nguyên Trọng Hưng đối đáp về vấn đề sinh tử ở nhà đàn việt, Sư bỗng có tỉnh, liền hỏi: »Một câu Thoại đầu ấy, người xưa nói ở trong sinh tử, lại có lí hay không?« Trí Thiền đáp: »Ngươi nhận được lí này chăng?« Sư hỏi lại: »Thế nào là lí không sinh tử?« Trí Thiền bảo: »Chỉ ở trong sinh tử nhận lấy.« Sư thưa: »Ðạt vô sinh rồi.« Thiền bảo: »Vậy thì tự liễu.« Ngay câu này, Sư thấu suốt, hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Thiền đáp: »Ðã liễu ngộ lại đồng chưa liễu.« Sư quì xuống lạy.|Sư trước đến chùa Thánh Ân trụ trì, sau lại đến chùa Tịnh Quả giáo hoá. Một vị tăng hỏi: »Thế nào là Pháp thân?« Sư đáp: »Pháp thân vốn không tướng.« Hỏi: »Thế nào là Bát-nhã?« Sư đáp: »Bát-nhã không hình.« Hỏi: »Thế nào là cảnh Tịnh Quả?« Sư đáp: »Cây thông, cây thu bên ngôi mộ xưa.« Hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư đáp: »Một mình ngồi bịt miệng bình.« Hỏi: »Chợt gặp tri âm làm sao tiếp?« Sư đáp: »Tuỳ duyên nhướng đôi mày.« Hỏi: »Thế ấy là cháu chắt Kiến Sơ, là con Âu Tông?« Sư đáp: »Người ngu nước Sở.« Tăng không đáp được.|Ngày 15 tháng 2 năm Canh Tuất, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5, Sư biết sắp tịch bèn nói kệ:|離寂方言寂滅去。生無生後說無生|男兒自有衝天志。休向如來行處行|Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ|Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh|Nam nhi tự hữu xung thiên chí|Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.|*Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt|Ðược vô sinh sau nói vô sinh|Làm trai có chí xông trời thẳm|Chớ dẫm Như Lai vết đã qua.|Nói kệ xong, Sư chắp tay thị tịch, thọ 69 tuổi.
quảng nghiêm thiền sư
Zen Master Quảng Nghiêm (1121-1190)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Đan Phượng, Bắc Việt. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc nhỏ. Sau khi cha mẹ mất, ngài theo học Phật pháp với cậu là thầy Bảo Nhạc. Khi thầy Bảo Nhạc thị tịch, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Trí Thiền. Ngài là pháp tử đời thứ 11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thị tịch năm 1190, thọ 69 tuổi— A Vietnamese Zen master from Đan Phượng, North Vietnam. He lost his parents when he was very young. After his parents passed away, he studied Buddha Dharma with master Bảo Nhạc, his uncle on the mother side. After his master passed away, he met and became a disciple of Zen master Trí Thiền. He was the dharma heir of the eleventh generation of the Wu-Yun- T'ung Zen Sect. He passed away in 1190, at the age of 69.
quảng nghiêm thành
Vaiśālī (S), Vesāli (P)Tỳ xá ly, Tỳ ly, Phệ xá ly, Duy da ly, Xá lyMột đô thị lớn ở xứ Vrji hồi Phật sanh tiền. Nơi tổ chức đại hội kết tập 100 năm sau khi Phật nhập Niết bàn, triều vua Ca la A Dục (Calasoka). Nay là Basarh, cách Patna 40km về phía Tây bắc, giữa sông Hằng và Hi mã lạp sơn.
; Vaisàli (S). Also Tì xá li, tì da li.
; Vaisali (skt)—Tỳ Xá Ly, một thành rộng rãi trang nghiêm tại vùng trung Ấn Độ—Broad ornate city, in Central India.
quảng nghĩa
6000(1915~ )福建南安人,俗姓李。幼年出家,民國二十年(1931),於泉州開元寺受具足戒。曾求學於閩南佛學院。隨侍會泉法師七年,棒喝交加,深得其旨。又親近太虛、弘一等諸師。後赴南洋弘法,於新加坡創辦華嚴精舍。又於檳城鍾靈中學、新加坡南洋大學等,倡組佛學會,攝受青年學子。
quảng nguyên
5988(1926~ )安徽太和人,俗姓宋。別號竹雲、頤禪。臺灣佛學院研究班畢業。民國四十一年(1952)禮律航法師爲師,出家於臺灣汐止彌勒內院。四十三年受具足戒於新竹獅頭山元光寺。先後出任中國佛教會理事、中韓佛教關係促進會副主任委員、中日文化交流書道展協贊員及鑑查員等職。五十年,於臺北縣樹林鎮開創淨律寺,並自任住持。師工書法,擅四君子畫,尤精墨竹,作品曾多次參加國內外之書畫展覽會。平素亦雅好文學,作品散見各報刊雜誌。著有中國書法概述、釋廣元藝文集等書。
quảng nguyên thiên phật nhai ma nhai tạo tượng
5988位於四川廣元縣北四公里處。爲四川境內最宏偉之石窟群。窟龕密集,最多處疊至十三層,高達四十公尺,綿亙約三百公尺。今存龕洞四百多個,造像七千餘尊,其中以大佛洞最古、最大,內鑿一佛二弟子二菩薩,高四公尺。窟龕始建於南北朝,唐朝時刻鑿最盛,五代、宋、元、明等歷代續有增建。其規模之宏大,堪與洛陽龍門石窟匹敵。
quảng nhân tự
5988位於陝西西安。又稱喇嘛寺。始建於清康熙四十四年(1705),爲西安地區唯一之藏密黃教寺院。寺前有六角攢尖御碑亭。寺境有大殿、藏經殿、講經堂等殿宇,東西兩側之配殿、廂房、跨院等皆相互對稱。每年農曆十月二十四、二十五兩天,於寺中舉行黃教教祖宗喀巴大師成道日燈會,皆極具盛況。昔時,西北、康藏地區之喇嘛進京,路過陝西時多住宿於此。
quảng phá kinh
Vaidalya-sŪtra (S)Phương đẳng kinh, Kinh Phương đẳngTên một bộ kinh.
quảng phá luận
Vaidalyaprakaraṇa (S)Tên một bộ luận kinh.
quảng phúc đàm chương
Kuang fu Tan chang (C)Tên một vị sư.
quảng phổ
, núi Vepulla (P).
quảng quả thiên
5992廣果,梵名 Bṛhatphala,巴利名 Vehapphala,音譯鞞疑呵破羅、惟于頗羅、惟于幡、比伊波羅、維阿鉢。又作果實天、嚴飾果實天、密果天、大果天、廣天、極妙天。爲色界十八天之一,位於第四禪天之第三,即福生天之上,無煩天之下。 據長阿含經卷二十一所載,風災劫之時,世間人修第四禪道,身壞命終後得生廣果天;地獄以至遍淨天之眾生,亦來生人間,皆修第四禪道,至身壞命終時,即生廣果天,而後起風災,世界於是壞盡。此天爲凡聖雜居之處,關於其壽量,據長阿含經卷二十謂,壽量有四劫;另據立世阿毘曇論卷七則謂,壽量有五百大劫。其身長,依法苑珠林卷三所載,長達五百由延。此天之中有一高處,名爲無想天,上座部視之爲另一天;然說一切有部及經量部將之併於廣果天中,因同在廣果天之故。〔起世經卷八、起世因本經卷八、菩薩本業經、道行般若經卷三、大般若波羅蜜多經卷四○二〕
; Vṛhatphala (S), Bṛhatphala (S), Vehapphala (P)Cực Diệu Thiên, Đại Quả thiên, Mật quả thiênMột trong các cõi thuộc Tứ thiền thiên: Vô vân thiên, Phước sanh thiên, Quảng quả thiên. Quả báo của chư thiên vô cùng rộng lớn, không đâu bằng.
; Brhatphala (S). The twelfth Brahmaloka, the third of the eight heavens of the fourth dhyàna in the realm of form.
; Brhatphala (skt)—Tên cõi trời thứ ba trong tám cõi trời đệ tứ thiền sắc giới (Đệ Tứ Thiền Thiên là cõi trời tối thắng mà phàm phu được sanh vào. Từ cõi trời nầy trở lên năm cõi trời thì gọi là Ngũ Tịnh Cư Thiên mà chỉ riêng bậc Thánh mới được sanh vào)—The twelfth Brahmaloka, the realm of form; name of the third heaven of the eight heavens of the fourth dhyana realm of form where there are great fruit, or abundant merits.
; (廣果天) Quảng quả, Phạm: Bhatphala, Pàli: Vehapphala. Hán âm: Tì nghi ha phá la, Duy vu phả la, Duy vu phan, Tỉyba la, Duy a bát. Cũng gọi Quả thực thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Mật quả thiên, Đại quả thiên, Quảng thiên, Cực diệu thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, ở tầng thứ 3 trong 9 tầng trời Tứ thiền, tức ở trên cõi trời Phúc sinh và ở dưới cõi trời Vô phiền. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 21 thì vào kiếp phong tai (tai nạn vì gió), người thế gian tu đạo Tứ thiền, sau khi chết được sinh lên cõi trời Quảng quả. Sau khi phong tai xảy ra thì thế giới hoại diệt hết, cõi trời này là nơi phàm thánh ở xen lẫn nhau. Về tuổi thọ ở cõi trời này, theo kinh Trường a hàm quyển 20, người ở đây sống lâu đến 4 kiếp, còn luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì cho rằng họ sống đến 500 đại kiếp. Về thân lượng, theo Pháp uyển châu lâm quyển 3, người ở cõi trời này cao đến 500 do tuần. Trong cõi trời Quảng quả có 1 chỗ cao, gọi là Vô tưởng thiên mà Thượng tọa bộ coi là 1 cõi trời khác, nhưng Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ thì xếp cõi ấy vào trong cõi trời Quảng quả, vì nó ở trong phạm vi của Quảng quả thiên. [X. kinh Khởi thếQ.8; kinh Khởi thế nhân bản Q.8; kinh Bồ tát bản nghiệp; kinh Đạo hành bát nhã Q.3; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.402].
Quảng quả thiên 廣果天
[ja]コウカテン kōka ten ||| The heaven of extensive rewards (bṛhat-phalāḥ), which is the third of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. [Dictionary References]Naka399d FKS5992 DFB BCS0430 [Credit] cmuller(entry) => (s: bṛhat-phalāḥ) Cõi trời thứ 3 trong 8 tầng trời Tứ thiền thiên. Còn được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền của cõi Sắc.
quảng sanh phật đảnh
Xem Đại Chuyển Luân Phật Đảnh. Xem Cao Phật đảnh.
quảng tham
5995爲「獨參」之對稱。於禪林,眾僧齊集參堂,一同參問宗師家,研討宗趣,稱爲廣參。相對於此,學人單獨進入師家之室,呈上自己對公案之見解,則稱爲獨參。又宗師家普爲眾僧說法,稱爲普說。〔禪林象器箋卷十一垂說門〕
; (廣參) Đối lại: Độc tham. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, chúng tăng tập họp ở Tham đường (nhà học tập, hỏi đạo) để cùng tham hỏi Thiền sư, nghiên cứu thảo luận về tông thú, gọi là Quảng tham. Trái lại, học trò một mình vào thất của thầy để trình kiến giải của mình về công án mà mình đã nghiên cứu, thì gọi là Độc tham. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.11].
Quảng Thanh Lương truỵên 廣清涼傳
[ja] コウショウリョウデン Kō Shouryō den ||| Guang Qingliang zhuan; 3 fasc., by Yanyi 延一; T 2099.51.1101-1127. => (c:Guang Qingliang zhuan); 3 quyển, của Diên Nhất (c: Yanyi 延一)
Quảng thuyết 廣説
[ja] コウセツ kōsetsu ||| (1) To explain in detail; to explain in full, or exactly. (2) The mark of the end of a quote. (3) A detailed commentary (毘婆沙). => 1. Giảng giải chi tiết, giảng giải đầy đủ, chính xá. 2. Chú thích ở cuối mỗi đoạn trích dẫn. 3. Luận giải chi tiết (Theo Luận Tỳ-bà-sa 毘婆沙).
Quảng thích Bồ-đề tâm luận 廣釋菩提心論
[ja] コウシャクボダイシンロン kōshaku bodaishinron ||| The Guangshi putixin lun; Skt. Bhāvanākrama; Tib. bsgom pa'i rim pa [To.3915]; (Extensive Explanation of the Treatise on Bodhi-mind.). 4 fasc. (T 1664.32.563), composed by Kamalaśīla 蓮華戒 in the 8th century CE, trans. Dānapāla 施護 in 1009 CE. => (c: Guangshi putixin lun; s: Bhāvanākrama; t: bsgom pa'i rim pa; e: Extensive Explanation of the Treatise on Bodhi-mind.). bốn quyển. Liên Hoa Giới (s: Kamalaśīla 蓮華戒) soạn vào thế kỷ thứ tám. Thi Hộ dịch năm 1009.
quảng thắng tự
5996位於山西趙城縣霍山之南。相傳該寺創建於後漢建和(147~149)年間,但無確證。據唐道宣集神州三寶感通錄卷上周晉州霍山南塔緣中謂,其塔屬阿育王塔之一。據唐大曆四年(769)勅建廣勝寺牒載,五原郡王李光瓚奏請在此阿育王塔院置一寺,帝賜號「大曆廣勝之寺」,此爲該寺之創始。 後經數次重修,至元代已有殿廊齋舍百楹。至明代,寺運衰落,塔亦傾圮,達連募資修葺,重修之塔,採用琉璃瓦,雕飾頗爲綺麗,號稱第二塔(第一爲南京報恩寺琉璃塔)。該塔爲八角十三層甎塔,高三十六丈,鋪設琉璃瓦,有天龍、象、馬、梵剎、窣堵波等浮雕,塔內安奉銅佛、舍利小塔等,塔基周繞廊宇,原係供奉諸尊,惜今唯存臺座。寺內藏金代刊刻之大藏經,爲極珍貴之資料,另有元太宗時之弘法寺補刻版,及明清所補充者與藏外之章疏類。距本寺不遠處,在前山麓別有廣勝下寺。下寺附近有霍泉,泉上有明應王廟,亦稱水神廟,正殿建於元仁宗延祐六年(1319)。元至元(1264~1294)初年,廣勝寺戒師道開遷明應王廟於今之寺基,並於其旁構建僧舍,明代以來,稱爲廣勝下寺。南山門安有四天王像,毘盧殿供奉如來像,兩壁配有諸天像數十尊,正殿供奉三佛像及關帝小像等,南壁繪有無著、世親之畫像。今多剝裂,餘痕猶存。〔宋藏遺珍敘目、平陽府志卷三十三、大清一統志卷九十九、卷一一六、支那文化史蹟解說卷八〕
; (廣勝寺) Chùa ở phía nam Hoắc Sơn, huyện Triệu Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tương truyền được sáng lập vào khoảng năm Kiến Hòa (147-149) đời Hậu Hán, nhưng không có bằng chứng xác thực. Cứ theo điều Chu tấn châu Hoắc Sơn Nam tháp duyên trong Tập thần châu tam bảo cảm thông lục quyển thượng của ngài Đạo Tuyên đời Đường, thì ngôi tháp ở phía nam Hoắc Sơn là 1 trong các tháp của vua A dục. Cứ theo Sắc lệnh năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường cho xây chùa Quảng Thắng, thì Ngũ nguyên Quận vương là Lí quang toản tâu vua xin xây 1 ngôi chùa ở tháp viện vua A dục, nhà vua cho phép bằng Sắc lệnh trên và ban hiệu là Đại Lịch Quảng Thắng Chi Tự. Đây chính là thời gian sáng lập chùa này, tức năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường. Về sau, trải qua nhiều lần trùng tu, đến đời Nguyên đã có trên trăm gian điện đường. Đến đời Minh, vận chùa suy sụp, tháp cũng đổ nát, ngài Đạt liên quyên tiền sửa chữa, ngói lưu li được dùng để trùng tu tòa tháp, chạm trổ trang sức khá lộng lẫy, được liệt vào hàng đệ nhị tháp (Đệ nhất tháp là tháp lưu li chùa Báo ân ở Nam kinh). Tháp này xây bằng gạch hình bát giác, gồm 13 tầng, cao 36 trượng, lợp bằng ngói lưu li, có nhiều hình chạm nổi như rồng, voi, ngựa, chùa tháp....; bên trong tháp thờ tượng Phật bằng đồng, tháp xá lợi nhỏ... Nền tháp có nhà lang bao quanh, vốn để thờ các tôn tượng, rất tiếc nay chỉ còn đài tòa mà thôi. Trong chùa có cất giữ Đại tạng kinh được khắc in vào đời Kim, là tư liệu cực kì quí giá. Ngoài ra còn có bản bổ sung của chùa Hoằng pháp được khắc vào đời vua Thái tông nhà Nguyên, các bản bổsung ở đời Minh, Thanh và các loại chương sớ nằm ngoài Đại tạng. Cách chùa này không xa, ở chân núi phía trước còn có chùa Quảng thắng hạ. Gần chùa hạ có suối Hoắc, trên suối có miếu thờ Minh ứng vương, cũng gọi là miếu Thủy thần, chính điện được xây cất vào năm Diên hựu thứ 6 (1319) đời vua Nhân tông nhà Nguyên. Đầu năm Chí nguyên (1264-1294) đời Nguyên, Giới sư Đạo khai ở chùa Quảng thắng dời miếu Minh ứng vương về nền chùa này, bên cạnh đó cất tăng xá, từ đời Minh đến nay, miếu này được gọi là chùaQuảng thắng hạ. Cửa phía nam, an vị tượng Tứ thiên vương, điện Tì lô thờ tượng Như lai, 2 bên vách có vài mươi tượng chư thiên, chính điện thờ 3 tượng Phật (Phật tam thế) và tượng Quan đế nhỏ..., vách phía nam có vẽ tượng các ngài Vô trước, Thế thân... Nay phần nhiều đã bị tróc, chỉ còn lại dấu vết. [X. Tống tạng di trân tự mục; Bình dương phủ chí Q.33; Đại thanh nhất thống chí Q.99, 116; Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.8].
quảng trung thuyết lược
5987係如來應機說法方式之一。將範圍廣泛之事,用簡略要語作總括之說明,稱爲廣中說略。反之,將簡略之事,以範圍廣泛之言語說明,稱爲略中說廣。即以眾生之作爲無量無邊,如來爲應機開導而運用種種不同方法講解佛法。據北本涅槃經卷三十三載,所謂廣中說略,如爲比丘宣講十二因緣時,謂十二因緣即因果;此種說法乃將廣泛之十二法濃縮爲二法。又所謂略中廣說,如爲比丘宣講苦集滅道四諦,謂苦即指無量之諸苦,集即無量之煩惱,滅即無量之解脫,道即無量之方便;此種說法即將簡略之四法廣爲擴充。
; (廣中說略) Đối lại: Lược trung thuyết quảng. Dùng những lời giản lược, hàm súc để thuyết minh 1 cách tổng quát các việc có phạm vi rộng lớn, gọi là Quảng trung thuyết lược (trong rộng nói vắn tắt). Trái lại, dùng những lời có phạm vi rộng rãi để thuyết minh các việc giản lược, thì gọi là Lược trung thuyết quảng. Đây là 1 trong những cách nói pháp tùy theo căn cơ mà đức Phật ứng dụng. Vì hành nghiệp của chúng sinh vô lượng vô biên, nên đức Phật ứng cơ hóa đạo mà vận dụng những phương pháp khác nhau để giảng giải chính pháp giúp chúng sinh lãnh ngộ. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 33 (bản Bắc) thì khi giảng nói 12 nhân duyên cho các tỉ khưu nghe, đức Phật dạy rằng 12 nhân duyên là nhân quả; cách thuyết pháp này là đem 12 pháp rộng lớn rút lại thành 2 pháp nhân và quả, đó là Quảng trung thuyết lược. Còn khi tuyên giảng pháp Tứ đế cho các tỉ khưu nghe thì đức Phật dạy rằng: Khổ là vô lượng nổi khổ, tập là vô lượng phiền não, diệt là vô lượng giải thoát, đạo là vô lượng phương tiện. Cách thuyết này là mở rộng 4 pháp giản lược, gọi là Lược trung thuyết quảng.
Quảng Trí
廣智; ?-1091 (?)|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 7. Sư nối pháp Thiền sư Thiền Lão. Hai vị đệ tử nổi danh của Sư là Mãn Giác và Ngộ Ấn.|Sư họ Nhan, người ở kinh đô. Năm đầu niên hiệu Chương Khánh Gia Khánh (1059), Sư xuất gia, đến tham vấn Thiền Lão. Chỉ qua một câu nói của Thiền Lão mà Sư ngộ được yếu chỉ và từ đây, Sư chú tâm vào thiền học.|Sau, Sư trụ chùa Quán Ðỉnh núi Không Lộ ở Từ Sơn, sống rất đạm bạc. Sư cùng với một vị tăng tên Minh Huệ kết bạn đồng tu và người thường nói rằng, đó là Hàn Sơn và Thập Ðắc tái sinh.|Khoảng niên hiệu Quảng Hựu (1085-91), Sư viên tịch.
quảng trí
5998請參閱 廣博嚴淨不退轉輪經北宋僧。四明(浙江)人。法名尚賢,廣智爲賜號。依四明尊者知禮學天台教觀,聞講淨名經遂頓悟性相之旨,從學既久,遂居高第。天聖六年(1028)繼法智之席主持延慶寺,道化盛行。其時雪竇重顯禪師亦出山來訪,時人傳爲盛事。日本國比叡山紹良等,依其座下請學三年,後還歸日本,大弘其道。嘗著闡幽志、釋金光明玄義。生卒年及世壽均不詳。〔佛祖統紀卷八、卷十二、續傳燈錄卷十一〕
; Extensive knowledge—Immense learning.
; (廣智) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Bắc Tống, người Tứ Minh (Chiết Giang), pháp danh Thượng Hiền, vua ban hiệu là Quảng Trí. Sư theo tôn giả Tứ Minh Tri Lễ học giáo quán của tông Thiên thai, nghe giảng kinh Tịnh danh liền đốn ngộ diệu chỉ tính tướng, vì theo học đã lâu nên được xếp vào hàng cao đệ. Năm Thiên thánh thứ 6 (1028) sư kế thừa ngài Pháp Trí trụ trì chùa Diên Khánh, hóa đạo rất thịnh. Bấy giờ, Thiền sư Trùng hiển ở chùa Tuyết đậu cũng đến hỏi đạo, người đương thời truyền tụng là việc rất có ý nghĩa.Nhóm các vị Thiệu lương ở núi Tỉ Duệ tại Nhật bản theo học sư 3 năm, sau khi trở về nước cũng mở rộng pháp môn của sư. Sư có các tác phẩm: Xiển u chí, Thích kim quang huyền nghĩa. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 12; Tục truyền đăng lục Q.11].
quảng trí bất không
Amoghavajro (S)Bất không kim cangHọc trò Ngài Kim Cang Trí Tam Tạng cùng thầy sang trung quốc truyền Mật pháp, dịch (10) bộ kinh gồm 143 quyển. Ngài là một đại dịch sư sau Ngài Huyền Trang.
quảng trí thiền sư
Zen master Quảng Trí—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Băc Việt. Năm 1059, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Thiền Lão tại núi Tiên Du. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ bảy dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Chẳng bao lâu sau tiếng tăm của ngài lan rộng và nhiều đệ tử đến với ngài. Về sau ngài trụ tại chùa Quán Đảnh trên núi Không Lộ. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1091—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. He left home in 1059 to become a disciple of Zen master Thiền Lão in Tiên Du. He became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. His reputation soon spread all over North Vietnam and he had a lot of followers. Later, he stayed at Quán Đỉnh Temple on Mount Không Lộ. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1091.
quảng trường thiệt
Lưỡi to và dài, một trong 32 tướng hảo của Như Lai, có thể che kín mặt, tới chân tóc nơi trán (theo Đại Trí Độ Luận, có người hỏi Phật:”Như Đức Thế Tôn, là bậc Đại Đức đáng kính trọng, nhưng vì sao lưỡi lại to dài như tướng khinh tiện?” Phật đáp: “Tướng lưỡi như vậy thì lời nói ắt chân thực, như xưa Phật thè chiếc lưỡi to dài, che kín mặt cho tới tận chân tóc nơi trán, và nói với vị Bà La Môn rằng: 'Nhà ngươi xem trong kinh sách có người nào lưỡi như vậy lại nói lời tà vọng không?'” Vị Bà La Môn nói: “Người nào mà lưỡi thè ra che kín mũi đã không nói lời hư vọng, huống hồ là người mà lưỡi che kín cả mặt tới tận chân tóc nơi trán. Lòng ta tin rằng Đức Phật tất không nói lời hư vọng.”—A broad and long tongue, one of the thirty-two marks of a Buddha, big enough to cover his face; it is also one of the marvels in the Lotus Sutra. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.
quảng trường thiệt tướng
5993梵語 prabhūta-jihvatā,或 prabhūta-tanu-jihvatā,巴利語 pahūtā-jivha。爲佛三十二大人相之一。又作廣長輪相。略稱長舌相、廣長舌、舌相。諸佛之舌廣而長,柔軟紅薄,能覆面至髮際,如赤銅色。此相具有兩種表徵:(一)語必真實。(二)辯說無窮,非餘人所能超越者。大智度論卷八(大二五‧一一五中):「若人舌能覆鼻,言無虛妄,何況乃至髮際?我心信佛必不妄語。」 又觀佛三昧海經卷三記載佛之廣長舌相甚詳,謂此相係由十波羅蜜、十善報所感得,其舌根下及舌之兩邊有二寶珠,流注甘露,滴潤舌根。諸天、世人、十地菩薩皆無此舌相,亦無此味。又諸佛舌上有五畫,猶如寶印之紋,此味入於印紋中則流注上下,入琉璃筒。諸佛笑時,動其舌根,以此味力之故,舌出五光,五色分明,遶佛七匝,還從頂入。佛出舌時,如蓮花葉,上至髮際,遍覆佛面。舌下亦有眾雜色脈,此味流入脈中,以其味力之故,變成眾光,有十四色,一一光上照無量世界。 法華經神力品(大九‧五一下):「現大神力,出廣長舌,上至梵世。」阿彌陀經(大一二‧三四七中):「恆河沙數諸佛各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言。」又據中阿含卷四十一梵摩經、增一阿含經卷八、太子瑞應本起經卷上等之記載,除諸佛之外,轉輪聖王亦具有此相。〔中阿含經卷十一、大般若波羅蜜多經卷五、菩薩地持經卷十、三十二相顯要鈔卷中〕
; A broad and long tongue, one of the thirty two marks of a Buddha, big enough to cover his face; it is also one of the "marvels" in the Lotus sùtra.
; (廣長舌相) Phạm: Prabhùta-jihvatà, hoặc Prabhùta-tanu-jihvatà. Pàli: Pahùtà-jivha. Cũng gọi: Quảng trường luân tướng. Gọi tắt: Trường thiệt tướng, Quảng trường thiệt, Thiệt tướng. Tướng lưỡi rộng dài, 1 trong 32 tướng Lưỡi của chư Phật rộng dài, mềm mại, có màu hồng và mỏng; khi thè ra thì trùm cả mặt cho đến lằn tóc ở trán. Tướng này có 2 đặc trưng: 1. Lời nói chân thật. 2. Biện thuyết vô cùng, người khác không thể hơn được. Luận Đại trí độ quyển 8 (Đại 25, 115 trung) nói: Nếu người có lưỡi trùm được mũi thì lời nói không hư dối, huống chi dài chấm lằn tóc. Tâm ta tin Phật chắc chắn không nói dối. Theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 3 thì tướng lưỡi rộng dài của Phật là do quả báo tu 10 Ba la mật, 10 điều thiện mà cảm được; phía dưới và 2 bên lưỡi có 2 viên bảo châu, tiết ra mùi vị cam lộ thấm đượm thiệt căn. Các người trời, người thế gian, bồ tát Thập địa đều không có tướng lưỡi và vị cam lộ này. Lại trên lưỡi của đức Phật có 5 nét vạch, giống như những hoa văn của bảo ấn, khi vị cam lộ chảy vào 5 nét vạch thì thấm ra trên dưới rồi chảy vào cuống lưu li. Khi Phật thè lưỡi thì lưỡi như cánh hoa sen, lên đến lằn tóc, che kín mặt Phật. Phẩm Thần lực kinh Pháp hoa (Đại 9, 51 hạ) nói: Hiện ra sức thần lớn Thè lưỡi tướng rộng dài Lên đến trời Phạm thế. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) ghi: Chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, đều ở cõi nước của mình, thè lưỡi rộng dài, che kín 3 nghìn thế giới đại thiên, nói lời chân thật. Theo kinh Phạm ma trong Trung a hàm quyển 41, kinh Tăng nhất a hàm quyển 8 và kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng thì ngoài chư Phật ra, Chuyển luân Thánh vương cũng có đủ tướng lưỡi này. [X. kinh Trung a hàm Q.11; kinh Bát nhã ba la mật đa Q.5; kinh Bồ tát địa trì Q.10; Tam thập nhị tướng hiển yếu sao Q.trung].
quảng tu
5994(771~843)天台宗第十一祖(一說第十祖)。世稱至行尊者。唐代東陽夏昆(浙江)人,俗姓留。早年即入道邃之室,研究天台教觀。住於禪林寺,日誦法華、維摩、金光明、梵網諸經及四分戒本爲常課,且六時行懺法不懈,至晚年彌篤,每年隨自意行三昧。開成五年(840),日僧圓載來唐,以「台教疑問三十科」向師及門人維蠲請益,歷五年答釋始成,得傳回日本。 台州刺史韋珩,素重教門,請師入郡堂講摩訶止觀,聽者莫不欣慶。會昌三年於禪林寺示寂,世壽七十三,法臘五十二,葬於金地道場。門人除維蠲外,另有良諝、敬文、物外、光韶等。師示寂數年後,門人良諝開塔火化,得舍利千餘粒,遂重建塔藏之。〔宋高僧傳卷三十、佛祖統紀卷八、釋門正統卷二〕
; (廣修) (771-843) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Hạ Côn, Đông Dương (Chiết Giang), họ Lưu, là Tổ thứ 11, (có thuyết nói thứ 10) của tông Thiên thai, người đời gọi là Chí hành tôn giả. Sư theo ngài Đạo Thúy từ lúc nhỏ tuổi, học tập giáo quán của tông Thiên thai. Sư trụ ở chùa Thiền Lâm, hằng ngày tụng các kinh Pháp hoa, Duy ma, Kim quang minh, Phạm võng và Tứ phần giới bản làm thường khóa, rồi trong 6 thời còn tu các pháp sám hối không hề biếng nhác, cho đến tuổi già vẫn còn tinh tiến tu Tam muội mỗi ngày. Năm Khai thành thứ 5 (840), vị tăng người Nhật bản là Viên tải đến Trung quốc, đem Thai giáo nghi vấn tam thập khoa (Ba mươi nghi vấn về giáo học của tông Thiên thai) để xin sư giải đáp. Trải qua 5 năm, sư và đệ tử là Duy Quyên mới giảng giải xong. Sau, sư Viên tải đưa tác phẩm này truyền về Nhật bản.Quan Thứ sử Thai châu là Vi hành, vốn quí trọng giáo môn, thỉnh sư vào quận đường tuyên giảng Ma ha chỉ quán, người nghe đều vui mừng. Năm Hội xương thứ 3 (843), sư thị tịch ở chùa Thiền Lâm, thọ 73 tuổi, pháp lạp 52, an táng ở đạo tràng Kim địa. [X. Tống cao tăng truyện Q.30; Phật tổ thống kỉ Q.8; Thích môn chính thống Q.2].
quảng tu cúng dường
Broad cultivation and making abundant offerings—Đây là hạnh nguyện thứ ba trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Quảng tu cúng dường là khởi lòng tín giải rất sâu, đem đồ cúng dường thượng diệu mà cúng dường pháp hội của chư Phật. Tuy nhiên, trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là quý hơn cả. Pháp cúng dường là tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không thối chuyển Bồ Tát hạnh để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ đề để cúng dường—This is the third of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Broad cultivation and making abundant offerings means to have deep belief and understanding in the Buddha teachings and to make offerings of superb and wonderful gifts. However, of all offerings, the gift of dharma is supreme. Dharma offerings mean offering of cultivation according to the teachings, the offering of benefitting all living beings, the offering which gathers in all living beings, the offering of standing in for all beings to undergo their suffering, the offering of diligently cultivating good roots, the offering of not forsaking the deeds of Bodhisattvas, and the offering of not renouncing the Bodhi-mind.
quảng tuệ
Vipulaprajnà, vipulamati (S). Vast wisdom, an epithet of a Buddha, one able to transform all beings.
; Vipulaprajna or Vipulamati (skt)—Trí tuệ rộng lớn, danh hiệu của Đức Phật, có trí tuệ rộng lớn có thể chuyển hóa được chúng sanh mọi loài—Vast wisdom, an epithet of a Buddha, one able to transform all beings.
quảng tâm
5989(1547~1627)明代臨濟宗僧。上饒(位於江西)人,俗姓朱(一說姓鄭)。曾遊太平、焦山等地,其後,任靈山住持。繼住鵞湖(位於江西),曾置無門鎖於丈室壁上,以勘驗諸方,偈語爲(卍續一三八‧四七一上):「上古留傳鎖,憑君智鑰開;若無開鎖法,相見不須來。」熹宗天啟七年示寂,世壽八十一。世稱鵞湖養庵廣心。〔五燈會元續略卷二下、續燈正統卷三十〕
quảng tế
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại phía đông triền đồi Quảng Tế, về phía tây bắc Đàn Nam Giao. Năm 1807, vị Tiền Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự tước phong Lương Tài Hầu Trần Văn Năng dựng lên một thảo am, lấy địa danh gọi tên chùa là Quảng Tế. Sau khi xây chùa một thời gian, đại sư Tánh Linh Quang Hiển đã được cử trông coi chùa. Năm 1844, Hòa Thượng Hải Nhu, tăng cang chùa Thiên Mụ, cùng với thí chủ Bùi Tín Tại đã kiến thiết chùa, mở rộng qui mô, đổi tranh lợp ngói. Năm 1894, Hòa Thượng Thanh Trí, với sự hỗ trợ của bà Thánh Cung, vợ vua Đồng Khánh, tiến hành trùng tu chùa, đúc một đại hồng chung nặng 230 cân. Năm 1989, Thầy Chơn Hương đã xây cổng Tam Quan làm cho cảnh chùa thêm vẻ uy nghi—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is situated on the east side of Quảng Tế hill, which is northwest of the Altar to Heaven. In 1807, Lương Tài Hầu Trần Văn Năng built a thatched temple on the east side of Quảng Tế hill and named it after the land. Sometime after the temple was built, the senior monk named Tánh Linh Quang Hiển took charge of the temple. In 1844, Most Venerable Hải Nhu, the royal-recognized monk of Thiên Mụ temple with lay person named Bùi Tín Tại rebuilt the temple, enlarged the structure and replaced thatched with tiles for the roof. In 1894, Most Venerable Thanh trí, with the help from Thánh Cung, wife of king Đồng Khánh, undertook the reconstruction. A great-sized bell, 230 pounds was contributed to the temple by the royal family. In 1989, Venerable Chơn Hương constructed an old-style three-entrance gate giving the temple a more impressive appearance.
quảng tế tự
6000請參閱 興化存獎禪師語錄<一>位於安徽蕪湖之赭山西南麓。始建於唐乾寧年間(894~897),北宋大中祥符年間(1008~1016)改爲今名。清乾隆(1736~1795)、嘉慶年間(1796~1820)均曾修葺。咸豐年間(1851~1861)毀於兵火,光緒(1875~1908)時重建。殿宇依山而建,計分三重,層層高出,世傳寺內藏有金印,價值連城。昔時香火鼎盛,凡朝九華山者,必先於此進香,故有「小九華」之稱。寺後赭塔規模宏大,「赭塔晴嵐」爲蕪湖八景之一。 <二>位於北平市。初創於宋末,僧且住之皈依弟子劉望雲於故宅建立西劉村寺,元代改稱報恩洪濟寺。太祖十六年(1221)萬松行秀入主本寺,十九年,行秀應耶律楚材之請,於寺中著「從容錄」,弟子林泉從倫繼住於此。後遭兵火,寺宇盡毀。 明景泰年間(1450~1456)喜雲普慧於故址得佛像、石龜、石柱等,遂於天順年間(1457~1464)復建,賜額「弘慈廣濟」。萬曆十一年(1583)恆明性美與張守忠、張元善重修。清順治十三年(1656)世祖幸此,建立戒壇,後改爲律院,以宏律法。民國二十一年(1932)元月復遭火災,焚燒殆盡,寺中所藏明本大藏經亦焚毀。二十四年吳佩孚等人重建,恢復舊觀。 寺宇占地二十五畝,坐北朝南,主要建築有山門、天王殿、大雄寶殿、觀音殿、藏經閣、舍利閣等。西路院內有三層白玉石築成之戒壇,乃清順治皇帝幸此時所建。〔新續高僧傳卷九、卷二十九、卷三十五、卷三十八、卷四十五、卷五十三、勅建弘慈廣濟律院新志、日下舊聞考卷五十一、舊都文物略〕 <三>位於山西五臺縣城內。俗稱西寺。創建於元代至正年間(1341~1370),明清時曾局部修葺。殿前有八角形石幢,高四公尺,座上鏤有石獅,幢身雕有佛像,頂部覆以寶蓋。
quảng văn
6000(1189~1263)南宋僧。禪宗南嶽門下第十八世。福州(福建)侯官縣人,俗姓林。號偃溪。十八歲,隨光孝寺智隆和尚剃度。後從徑山浙翁如琰修學,由「趙州洗鉢話」得悟。紹定元年(1228),初於慶元府(浙江)淨慈寺弘法。復住於同府之香山智度寺、萬壽寺。淳祐五年(1245)勅住雪竇資聖寺,其後歷住阿育王山廣利寺、臨安之淨慈寺等。寶祐二年(1254)住靈隱寺,賜號佛智禪師。景定四年示寂,世壽七十五,法臘五十八。著有偃溪和尚語錄二卷。〔續傳燈錄卷三十五、五燈全書卷五十三、揞黑豆集卷一〕
; (廣聞) (1189-1263) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Nam Tống, người huyện Hầu Quan, Phúc Châu (Phúc kiến), họ Lâm, hiệu là Yết khê, đệ tử đời thứ 18 của phái Thiền Nam Nhạc. Năm 18 tuổi, sư lễ Hòa thượng Trí Long chùa Quang Hiếu cầu xuất gia, sau theo ngài Chiết ông Như diễm tu học ở Kính Sơn, nhờ tham cứu công án Triệu châu rửa bát mà sư được tỏ ngộ. Niên hiệu Thiệu Định năm đầu (1228), sư hoằng pháp ở chùa Tịnh Từ tại phủ Khánh Nguyên (tỉnh Chiết Giang). Sau lại trụ ở các chùa Trí Độ, Vạn thọ ở cùng phủ. Năm Thuần Hựu thứ 5 ( 1245), vua ban sắc cho sư trụ trì chùa Tư Thánh ở núi Tuyết Đậu. Về sau, sư lần lượt trụ các chùa Quảng Lợi ở núi A dục vương, chùa Tịnh từ ở phủ Lâm An. Năm Bảo Hựu thứ 2 (1254), sư trụ trì chùa Linh ẩn, được vua ban hiệu Phật Trí Thiền Sư. Năm Cảnh định thứ 4 (1263), sư thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 58. Sư có tác phẩm: Yếu khê hòa thượng ngữ lục 2 quyển.
Quảng Đăng Lục
(廣燈錄, Kōtōroku): xem Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku) bên dưới.
quảng đăng lục
6000凡三十卷。又稱天聖廣燈錄、禪宗廣燈錄。收於卍續藏第一三五冊。北宋仁宗(1022~1063 在位)之時,駙馬都尉李遵勗撰。於天聖七年(1029)編成,仁宗皇帝並爲製序。此書載自釋迦牟尼佛、摩訶迦葉以下二十七祖及中國禪宗各祖師等三三六人之機緣語句及略傳。編者歿後,其小傳及有關之機緣語句亦收錄於本書第十八卷之末。〔佛祖統紀卷四十五、佛祖歷代通載卷二十七、釋氏稽古略卷四〕
; (廣燈錄) Cũng gọi Thiên thánh quảng đăng lục, Thiền tông quảng đăng lục. Ngữ lục, 31 quyển, do Phó mã Đô uý là Lí tuân úc soạn vào đời Bắc Tống, hoàn thành vào năm Thiên Thánh thứ 7 (1029), Hoàng đế Nhân tông (trị vì 1022-1063) viết lời tựa, được thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung sách này ghi chép cơ duyên ngữ cú và lược truyện của 336 vị từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến 27 vị Tổ Ấn Độ bắt đầu từ vị Ca Diếp và các vị Tổ sư Thiền tông Trung Quốc. Sau khi soạn giả mất, tiểu truyện và các cơ duyên ngữ cú của ông cũng được thu chép vào cuối quyển 18 của bộ sách này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Thích thị kê cổ lược Q.4].
quảng đại
Broad and great.
; Rộng lớn—Broad and great.
quảng đại bao dung
Generosity.
quảng đại chuyển
5987係六種轉位之第六,表示大乘極位之用語。謂證得泯絕迷悟、對待,入於圓轉自在的真如之境。唯識宗將「轉依」之果,隨其所得之位,分爲六種,稱爲六種轉位;轉依,即轉捨下劣之所依而證得勝淨者。林間錄卷下(卍續一四八‧三○八下):「第六廣大轉,謂大乘位,俱無欣厭,通達二空,雙斷二障,頓證無上菩提,有勝堪能故。」
; (廣大轉) Chuyển vị thứ 6 trong 6 thứ chuyển vị, là tiếng dùng biểu thị quả vị tột cùng của Đại thừa. Nghĩa là chứng được cảnh giới chân như, dứt bặt mê ngộ đối đãi, đi vào viên chuyển tự tại. Tông Duy thức tùy theo giai vị chứng được mà chia quả chuyển y làm 6 thứ, gọi là Lục chủng chuyển y. Chuyển y nghĩa là chuyển bỏ chỗ y chỉ thấp để chứng được quả vị cao. Lâm gian lục quyểnhạ (Vạn tục 148, 308 hạ) nói: Quảng đại chuyển thứ 6 là quả vị Đại thừa, thông suốt nhị không, dứt hết 2 chướng, mau chứng bồ đề, có năng lực rất thù thắng.
quảng đại hành
5987西藏語 rgya-chen-spyod-pa。即於西藏佛教中對瑜伽行之稱呼。廣大行,在一般大乘佛教論書中謂之「甚深廣大」(梵 gambhīrodāra, gambhīrya-udārya),後世則分離爲甚深與廣大,並分別用於觀與行中,故有甚深觀、廣大行二說,由此再演變爲中觀與瑜伽行。(參閱「甚深觀」3889)
; (廣大行) Tạng: Rgya-chen-spyod-pa. Từ ngữ được dùng để gọi Du già hành trong Phật giáo Tây Tạng. Trong các bộ luận của Phật giáo Đạithừa nói chung, Quảng đại hành được gọi là Thậm thâm quảng đại (Phạm: Gambhìrodàra, gambhìrya-udàrya). Người đời sau đem chia ra làm 2 phần là Thậm thâm và Quảng đại; rồi dùng Thậm thâm cho quán và dùng Quảng đại cho hành, vì thế mà có 2 thuyết Thậm thâm quán và Quảng đại hành; từ đó lại diễn biến thành Trung quán và Du già hành. (xt. Thậm Thâm Quán).
quảng đại hội
5987阿彌陀佛三十七號之一。謂十方眾生得以往生極樂,皆因彌陀具足廣大集會之德,故稱彌陀爲廣大會。此會甚大,自彼佛初會乃至未來,無量無邊不可勝計之眾生願參與此盛大法會,皆是彌陀在座之故。讚阿彌陀偈即有「稽首廣大會」一語。〔無量壽經〕
; The centre where vast virtues meet, a term for Amitàbha.
; Trung tâm nơi hội họp của những con người quảng đại bao dung, một từ ngữ đặc biệt nói về cõi nước A Di Đà—The centre where vast virtues meet, a term for Amitabha.
; (廣大會) Một trong 17 danh hiệu của đức Phật A di đà. Tất cả chúng sinh trong 10 phương được sinh về Cực lạc đều nhờ đức Phật A di đà có đầy đủ công đức tập hội rộng lớn, vì thế nên gọi Phật A di đà là Quảng đại hội. Hội này rất lớn, từ hội đầu tiên của Phật A di đà cho đến đời vị lai, vô lượng vô biênchúng sinhkhông thể kể hết nguyện tham dự pháp hội rộng lớn này, đều do đức Phật a di đà chủ tọa. Kệ tán Phật A di đà có câu: Cúi đầu đính lễ Quảng đại hội.
quảng đại phát nguyện tụng
Mahāprani-dhānotpāda gāthā (S)Tên một bộ luận kinh.
quảng đại trí
5987佛之智慧廣大而不可思量,爲最勝無上之智見,故稱佛智爲廣大智。大日經卷三(大一八‧一八中):「奇哉真言行,能具廣大智。」大日經義釋卷八(卍續三六‧三九○下):「此廣大梵音名?????????毘富攞,以真言聲普遍一切法界,與慿空等,無所不至;當知佛心亦然,故云廣大智。」又八十華嚴經卷四十九載有知一切眾生心行、知一切佛法、知一切文字辯才、於一切受生處中具一切智等十種廣大智。(參閱「十種廣大智」495)
; The vast wisdom of Buddha beyond measure.
; Trí huệ rộng lớn của Như Lai là không thể đo lường, không thể nghĩ bàn—The vast wisdom of Buddha beyond measure.
; (廣大智) Trí tuệ của Phật rộng lớn không thể tính lường, là trí kiến tối thắng vô thượng, cho nên gọi trí của Phật là Quảng đại trí. Kinh Đại nhật quyển 3, (Đại 18, 18 trung) nói: Lành thay chân ngôn hành, đầy đủ Quảng đại trí. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 8 (Vạn tục 36, 390 hạ): nói: Tiếng Phạm của từ Quảng đại này là tì phú la, vì âm thanh chân ngôn vang rền khắp tất cả pháp giới, đồng như hư không, chẳng nơi nào không đến, nên biết tâm Phật cũng vậy, vì thế gọi là Quảng đại trí. Kinh Hoa nghiêm quyển 49 (bản 80 quyển) nói rằng: Biết tâm hành của tất cả chúng sinh, biết tất cả pháp, biết hết thảy văn tự biện tài, dù sinh trong bất cứ nơi nào cũng có đầy đủ 10 loại Quảng đại trí, như Nhất thiết trí. (xt. Thập Chủng Quảng Đại Trí).
Quảng đại trí huệ 廣大智慧
[ja] コウダイチエ kōdai chie ||| Vast wisdom; extensive wisdom; incalculable wisdom. A synonym for the wisdom of the Buddha 佛智. 〔法華經、T 262.9.58a18〕 => Trí tuệ rộng lớn; trí tuệ không thể nghĩ bàn. Đồng nghĩa với Phật trí (佛智).
Quảng đại trí 廣大智
[ja] コウダイチ kōdaichi ||| Vast wisdom; extensive wisdom; incalculable wisdom. A synonym for the wisdom of the Buddha 佛智. => Trí tuệ rộng lớn; trí tuệ không thể nghĩ bàn. Đồng nghĩa với Phật trí (佛智).
Quảng đại tâm 廣大心
[ja] コウダイシン kōdaishin ||| Vast mind; excellent mind (udāra-citta). A reference to the possession of the four boundless minds 四無量心.〔二障義 HPC 1.808b〕 => Tâm bao dung; tâm ưu việt (s: udāra-citta). Nói đến sự hiện hữu của Tứ vô lượng tâm (四無量心).
Quảng đại 廣大
[ja] コウダイ kōdai ||| (1) Excellent, magnificent, (udāra, atyudāra). (2) Bright, brilliant, beautiful, calm (visada). (3) Broad, rich, vast, abundant (vipula). => 1. Ưu tú, cao thượng (s: udāra, atyudāra). 2. Sáng ngời, rực rỡ, tốt đẹp, trầm tĩnh (s: visada). 3. Phóng khoáng, giàu có, menh mông, phong phú (s:vipula).
quảng định
5992(1939~ )臺灣臺北人,俗姓呂。民國五十一年(1962),禮仁達法師出家,翌年受具足戒於大覺寺。五十五年親近甘珠活佛學密,復於六十五年親近丹吉仁波切,專修密法,受無上大灌頂,金剛法號名「大福藏智慧劍」,簡稱「智慧劍」。主持佛教出版社、佛教書局,編印佛教大藏經,並刊行印光大師全集、蕅益大師全集、寶靜大師全集等。於佛教文化事業之推動,不遺餘力。
quảng đức
Great favour.
quảng ấn
5991(1566~1636)明代臨濟宗僧。檇李嘉善(浙江嘉興縣)人,俗姓周。字聞谷。別號掌石。十三歲,於杭州開元寺出家,曾參禮西蜀之儀峰及無幻等。後從雲棲袾宏受菩薩戒,朝夕請益問道。其後,遊五臺山,至徑山,感嘆吳越禪界之不振,乃住於真寂寺以圖復興。復遷住淨慈寺,接化弟子甚多。崇禎九年示寂,世壽七十一。著有宗門警語二卷、語錄四卷。永覺元賢、錢謙益爲撰塔銘。〔永覺廣錄卷十八真寂聞谷大師塔銘、五燈全書卷一二○〕
; (廣印) (1566-1636) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người ở Gia Thiện, Tuy lí (huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang), họ Chu, tự Văn Cốc, biệt hiệu Chưởng Thạch. Năm 13 tuổi, sư xuất gia ở chùa Khai Nguyên tại Hàng Châu, từng tham lễ các ngài Nghi phong, Vô huyễn... ở Tây thục. Sau, sư theo ngài Vân Thê Chu Hoành thụ giới Bồ tát, sớm chiều thỉnh ích hỏi đạo. Về sau, sư đến núi Ngũ Đài và Kính sơn, than thở Thiền giới đất Ngô việt suy thoái, sư bèn ở lại chùa Chân tịch tìm cách phục hưng. Sư lại dời đến trụ ở chùa Tịnh Từ, tiếp hóa đệ tử rất đông. Năm Sùng Trinh thứ 9 (1636), sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư có tác phẩm: Tông môn cảnh ngữ 2 quyển, Ngữ lục 4 quyển. [X. Chân tịch Văn cốc đại sư tháp minh trong Vĩnh giác quảng lục Q.18; Ngũ đăng toàn thư Q.120].
Quảng 廣
[ja] コウ kō ||| (1) Width, breadth, range. (2) Wide width. (3) Wide, broad, extensive, vast, magnificent. (4) Full, detailed, accurate. (5) Explained in full, explained in detail. => 1. Rộng rãi, phóng khoáng, dãy, hàng. 2. Rộng khắp, 3. Rộng, bao la, bao quát, menh mông, nguy nga. 4. Đầy đủ, chi tiết, chính xác. 5. Giải thích đầy đủ, giảng giải chi tiết.
quấn quít
To hang about (around).
quấn thập giáo
4115即拾取落穗之教。為天台宗對涅槃經教之稱呼。於涅槃經教之前,有法華經會之開顯一乘,或有眾生未堪聞法華,或自甘退席,或移置他方,更待涅槃經教之捃拾,使具真常佛性,以入大涅槃。涅槃經捃拾法華經會所遺洩之根機,故以秋收後之拾取落穗為喻,而謂法華為大收,涅槃為捃拾。〔法華經文句卷十上、觀音玄義記卷一、天台四教儀〕
; (捃拾教) Từ ngữ do tông Thiên thai sử dụng để chỉcho giáo pháp của kinh Niết bàn. Quấn thập nghĩa là lượm lặt những bông lúa rơi rớt trong lúc gặt hái. Tông thiên thai dùng việc này để ví dụ cho giáo pháp kinh Niết bàn là giáo pháp nhặt nhạnh, thu gom những căn cơ mà hội Pháp hoa còn bỏ sót. Vì trong hội Pháp hoa đức Phật tuyên giảng giáo pháp Nhất thừa, lúc ấy có những chúng sinh chưa đủ năng lực lãnh nhận nên tự rút lui khỏi pháp hội, hoặc dời đến phương khác để chờ đến hội Niết bàn. Vì hội kinh Niết bàn lượm lặt những căn cơ mà hội kinh Pháp hoa bỏ sót lại, giống như thu gom những bông lúa rơi rớt sau mùa thu hoạch, nên ví dụ kinh Pháp hoa là Đại thu (mùa thu hoạch chính), mà ví dụ kinh Niết bàn là Quấn thập. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10, thượng; Quán âm huyền nghĩa kí Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi].
quấn đa
4115梵語 kunta,巴利語 kuntha。原意指小蟲、昆蟲。意譯作捃多蟻、蟻子、折腳蟻等。為蟻類之一種。此外,亦指一般之蟻卵。〔法蘊足論卷一、瑜伽師地論卷八、瑜伽論記卷二下(遁倫)〕
; (捃多) Phạm: Kunta. Pàli:Kuntha. Hán dịch: Quấn đa nghị, Nghị tử, Chiết cước nghị. Một trong các loài kiến. Vốn chỉ cho loài trùng nhỏ, côn trùng. Ngoài ra còn chỉ cho trứng kiến. [X. luận Pháp uẩn túc Q.1; luận Du già sư địa Q.8; Du già luận kí Q.2, phần cuối].
quất
To whip.
quất phu nhân niệm trì phật
6244為日本光明皇后之母橘夫人所造之念持佛像。指安置於法隆寺金堂之橘夫人念持佛櫥子內的阿彌陀三尊像。該櫥子高二點六三公尺。框座上部與該寺金堂之天蓋同形。四面之扉附有圖繪。念持佛即金銅阿彌陀三尊,臺盤為浮雕蓮池。佛像背後置有三折屏風,上為天人浮雕,其瓔珞之線條極為柔美。此三尊像口端浮現笑意,此即著名的「古拙之微笑」。其鑄造技術極優秀,為日本天平前期(白鳳)之作表作。本尊像高三十三點三公分,脅侍高二十六點九公分。〔日本國寶全集第四十七輯、日本工藝史概論〕
; (橘夫人念持佛) Tượng Phật trì niệm do Quất phu nhân, mẹ của Hoàng hậu Quang Minh, người Nhật Bản tạo. Tức chỉ cho tượng A di đà Tam tôn thờ trong Niệm trì Phật trù tử (khám thờ Phật) đặt tại Kim đường chùa Pháp Long. Trù tử này cao 2,63m, cửa ở 4 mặt có vẽ các bức tranh. Niệm trì Phật tức là tượng A di đà Tam tôn bằng đồng giát vàng, tòa ngồi là ao sen khắc nổi. Sau lưng tượng Phật có bức bình phong do 3 mảnh ghép lại, phía trên là người trời được khắc nổi, các chuỗi anh lạc rất đẹp. Trên miệng 3 pho tượng như mỉm cười, kĩ thuật đúc tạo cực kì tinh vi, là tác phẩm tiêu biểu cho thời kì đầu Thiên Bình (Bạch Phượng) ở Nhật Bản. Tượng Bản tôn cao 33,3cm, tượng 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên cao 26,9cm. [X. Nhật Bản quốc bảo toàn tập 47; Nhật Bản công nghệ sử khái luận].
quất tự
6244位於日本奈良縣高市郡明日香村。本名佛頭山上宮院菩提寺。以其地多橘樹,故俗稱橘寺。屬日本天台宗寺。又稱橘尼寺、橘樹寺。為聖德太子所建七寺之一。亦為太子之誕生地,相傳太子於此講說勝鬘經時,天降蓮花,因感此奇瑞,故造此寺,歷代以來極受尊崇。另一說則稱太子講經之際,山上出現千個佛頭,後世遂號之為佛頭山。惟屢遭火災。寺內藏有國寶級之佛像數尊。
quấy
To be wrong.
quấy nhiễu
To bother—To disturb—To trouble—To discommode—To annoy.
quấy rầy
See Quấy Nhiễu.
quấy rối
To harass—To trouble—To disturb.
quần
Gaṇa (P), Flock Tứ 4 người trở lên gọi là tăng già, từ ba người trở xuống gọi là "quần".
; A flock of sheep, herd, multitude, the flock, crowd, all.
; 1) Cái quần: Nivasana (skt)—A skirt, a kind of garment, especially an under garment. 2) Một đàn—A flock (of sheep)—A crowd—A herd.
quần chúng
The public.
quần hữu
All that exists
; Các cõi hiện hữu (có quả báo và chúng sanh thụ quả báo), một trong tam hữu hay cửu hữu—All that exists, one of the three stages of mortal existence or nine stages or conditions in which sentient beings enjoy to dwell. ** For more information, please see Tam Hữu, and Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
Quần hữu 群有
[ja] グンウ gun'u ||| (1) All existence; all realms of existence; all phenomena. (2) All living beings 衆生. => 1. Mọi hiện hữu; moim cõi giới hiện hữu; tất cả mọi hiện tượng. 2. Chúng sinh 衆生.
quần loại
All classes of living beings, especially the sentient.
; Tất cả chủng loại chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh hữu tình—All classes of living beings, especially the sentient.
quần manh
5565梵語 bahu-jana。意謂多數之生類。又作群生。即眾生之異名。萌者,即草木始發芽而猶冥昧之貌,或種子未剖之相。眾生道心初發,然尚爲無明所覆,猶如眾草木萌芽,故以群萌喻稱眾生。無量壽經卷上(大一二‧二六六下):「如來以無盡大悲,矜哀三界,(中略)普令群萌獲真法利。」法華經化城喻品(大九‧二四下):「普智天人尊,哀愍群萌類,能開甘露門,廣度於一切。」〔增一阿含經卷四十、玄應音義卷六、慧苑音義卷上、阿彌陀經義疏聞持記卷上(戒度)〕
; Xem Quần sanh.
; Bahu-jana (S). All the shoots, sprouts, or immature things, i.e. all the living as ignorant and undeveloped. A mass of people. a crowd. Also quần sinh, quần chúng.
; Những gì mới lú mầm chưa thành thục, ví với những chúng sanh mới phát tâm đạo, chưa phát triển, hãy còn bị vô minh che lấp minh tâm—All the shoots, sprouts, or immature things, i.e. all the living as ignorant and undeveloped.
; (群萌) Phạm: Bahu-jana. Cũng gọi Quần sinh. Chỉ cho chúng sinh. Manh là cái mầm của câycỏ mới nhú ra, hãy còn lờ mờ chưa rõ, hoặc cái tướng của hạt giống chưa nứt. Đạo tâm của chúng sinh mới phát, nhưng còn bị vô minh che khuất, giống như cái mầm của cỏ cây, thế nên dùng từ quần manh đểví dụ cho chúng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Đức Như lai đem tâm đại bi vô lượng, thương xót khắp 3 cõi, (...) khiến tất cả quần manh được lợi ích chính pháp. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 24 hạ) nói: Thiên nhân tôn trí khắp. Thương xót loài quần manh Hay mở cửa cam lộ Rộng độ hết tất cả. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.40; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí Q.thượng (Giới độ)].
Quần manh 群盲
[ja] グンモウ gunmō ||| Blind masses; blind populace, who need religious instruction. => Những người đui mù; chúng sinh đang bị mê mờ, cần được giáo hoá.
quần mê
All the deluded; all delusions.
; Chỉ chung những chúng sanh hãy còn mê mờ điên đảo—All the deluded; all delusions.
quần nghi luận
Answers to Doubts and Skepticism Commentary—Đây là quyển luận giải tỏa các mối nghi ngờ của Phật tử về pháp môn niệm Phật, được viết bởi một vị Tổ Tịnh Độ—A commentary which provides explanations and clarifications to Buddhists' doubts and skepticism of the Pureland Buddhism, written by a Pureland Patriarch.
Quần phẩm 群品
[ja] グンボン gunbon ||| All kinds of sentient beings (群生). => Mọi loại chúng sinh (quần sinh 群生)
quần quật
To work hard all day long without rest.
quần sanh
Bahu-jana (S)Quần manhManh là cây cỏ mới nhú, chưa rõ hình dáng. Chỉ chúng sanh mới phát đạo tâm, giống như hạt giống chưa nứt.
quần sinh
All the living, especially all living, conscious beings.
; Tất cả chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh hữu tình—All the living , especially all living, conscious beings.
quần thoa
Woman.
quần tắc
5565西藏佛教格魯派寺院中之一種特殊僧官。出家人在寺中化錢捐納,可得此官階,有此資格者,不必經過考試手續即可擔任寺內之各種職務。
Quần 群
[ja] グン gun ||| A group, a bunch, a flock. => Nhóm, bầy, đàn.
quầng (hào quang)
Halo.
quẩn bách
To be in financial difficulties
quẩn trí
To become senseless
quẫ nhân
Those who have obtained the fruit, i.e. escaped the chain of transmigration, e.g. Buddha, Pratyeka-Buddha, Arhat.
quẫn trí
To get stuck in something that the mind becomes senseless—To become senseless.
quật
1) Cái hang: Guha (skt)—A cave. 2) Đào lên: To dig. 3) Nổi bật—Distinguished—Sừng sửng—Lofty.
quật cư bộ
Xem Kê Dẫn bộ.
quật cường
To refuse to submit or yield to.
quật cụ la
Nhang của phương tây (An Tức hương)—A kind of western incense.
quật luân
Đảo Côn Luân (có lẽ là Côn Sơn) thuộc Việt Nam ở biển Đông—Polo Condre of Vietnam in the South China Sea.
quật ngoại
See Quật Nội.
quật nội
Phái Trong Hang. Trong xứ Ma Kiệt Đà có ngọn núi Nam Sơn, cách ngọn Nam Sơn về phía bắc có một hang đá lớn. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Ca Diếp chủ trì cuộc kết tập Tam tạng kinh điển trong hang đá nầy. Đồng thời bên ngoài cách hang đá chừng 20 dậm, lại có một số khác tập hợp lại để kết tập Ngũ Tạng. Do đó mà có hai phái trong hang và ngoài hang. Trong hang là Thượng Tọa Bộ, ngoài hang gọi là Đại chúng bộ—“Within the cave,” the assembly of the elder disciples, after Sakyamuni's'death, in the cave near Magadha, when, according to tradition, Kasyapa presided over the compiling of the Tripitaka; while at the same time, the disciples “outside the cave" compiled another canonknown as Pancapitaka. To this separation is ascribed, without evidence, the formation of the two schools of the Mahasthavirah and Mahasanghika.
quật nội quật ngoại
5547據大唐西域記卷九、宗輪論述記等記載,摩揭陀國迦蘭陀竹園西南,行五六里,南山之北,有大石窟、如來入滅後,迦葉於此結集經、律、論三藏,稱爲窟內結集。同時,距石窟二十餘里之處,以婆師婆爲首的其餘大眾結集五藏(三藏再加上雜集藏、禁咒藏),稱爲窟外結集。(參閱「結集」5187)
; (窟內窟外) Trong hang động ngoài hang động. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 và Tông luân luận thuật kí, thì từ phía tây nam vườn trúc Ca lan đà tại nước Ma yết đà, đi về phía bắc núi Nam sơn 5 đến 6 dặm, có 1 hang động lớn, là nơi mà, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Đại Ca Diếp đã kết tập 3 tạngKinh, Luật, Luận, gọi là Quật nội kết tập (cuộc kết tập trong hang). Cùng lúc đó, cách nơi hang động này hơn 20 dặm, ngài Bà sư bà đứng đầu số đại chúng còn lại kết tập 5 tạng (3tạng Kinh, Luật, Luận cộng thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng), gọi là Quật ngoại kết tập (cuộc kết tập ngoài hang). (xt.. Kết Tập).
quật sơn
Núi Kỳ Xà Quật hay núi Linh Thứu—Vulture Peak—See Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
quật sơn tự
4519位於韓國江原道江陵郡闍崛山。為朝鮮佛教禪門九山闍崛山派之中心。新羅文聖王時(839~856),通曉大師梵日所創。梵日於興德王六年(831)來唐,得馬祖道一之門人鹽官齊安之印可。文聖王八年( 846)頃歸國,應溟州都督金公之請,開創本寺。得景文王、憲康王、定康王之皈依,住持四十餘年,大揚宗風,蔚成闍崛山派,為禪門九山中門庭最盛之一派。〔祖堂集卷十七、景德傳燈錄卷十〕
quật đa
Xem Cúc đa.
; Chữ viết tắt của Ưu Ba Cúc Đa—An abbreviation for Upagupta—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4).
quắc thước
Vigorous.
quẳng gánh lo âu
To throw away the burden of anxiety.
quế am huyền thụ
4140(1427~1508)日本臨濟宗僧。長門(山口縣)人,號島陰。早歲於京都五山研習內外典,長於宋學。應仁元年(1467)奉敕來華。曾入燕京,謁明憲宗,為帝賦詩,深受嘉賞。隨後遊學蘇杭之間,師事碩德,潛心於詩書經釋及朱子之學。七年後歸日本,遍遊九州。文明十年(1478),應島津忠昌之請而至薩摩,任國守侍讀之職。另又刊刻四書新注(為日本四書注本之最早者),形成江戶時代朱子學勃興之基礎。永正五年示寂,享年八十二。著有島陰漁唱、島陰雜著。〔漢學紀源卷二、卷五、五山歷代〕
quế lâm đoạn nhai thạch phật
4139位於廣西北境之桂林,歷來即有「山水甲天下」之盛名,於境內之峻峰奇洞中有龐大斷崖石佛群。灕江流經市區,西岸有疊綵山、洑波山、獨秀峰、灕山;西北部之西北山區有觀音峰、石魚峰、西峰、老君山;灕江東岸則有月牙山、七星山等。由上舉諸峰中,近來陸續發現刻有唐高宗調露元年(679)銘文之阿閦如來坐像、唐宋時代之石佛像與造像記、經碑記、劃刻石,及騷人墨客留下之題辭和詩文遺蹟。佛教傳至桂林之年代已不可考,而現存最古老之開元寺係建於隋代,西山之延齡寺建於唐高宗前期,然由於唐武宗之廢佛,寺宇石佛大多遭受破壞,其後佛寺之建築遂移至月牙山。故灕江西岸地區及西山之石佛,皆足以說明唐代盛期以迄後期石佛之演變過程。 石佛群中,最引人注目者為位於西山觀音峰,於調露元年雕成之佛像,像高一點四公尺,佛像左手安於大腿,右手伸向膝下,呈觸地印手勢。像旁有同年十二月昭州李寔所書之造像記,故廣受重視。由偏重北方佛教和雕佛技巧之唐代雕刻史而言,此座佛像可謂別具風格。 此一時期,乃北方龍門奉先寺大佛雕刻完成之時,雖同為唐代作品,然奉先寺之大佛雕像宏偉、厚重;而南方佛像則著重於表現官能性和柔軟性,穿著貼身之薄裳,兩肩寬闊,露出豐腴之胸部。大體言之,唐代不但輸入中印度之笈多樣式,且將此樣式融入唐代雕刻藝術之寫實風格中。南方雕刻之作品,可以此為代表。 除上記外,洑波山還珠洞中之諸佛像,亦保存良好。刻於還珠洞側壁之菩薩立像,尚存唐宣宗大中六年(852)之造像銘,因右手持淨瓶,而被認為是觀世音菩薩像。由此種密宗雕像之完成,可將桂林佛像雕刻史追溯至中唐時代。
; (桂林斷崖石佛) Quần thể hang đá khắc tượng Phật ở Quế Lâm, phía bắc tỉnh Quảng Tây, xưa nay nổi tiếng là nơi núi sông đẹp nhất Trung Quốc. Vùng này núi non chót vót, trùng điệp, hang động liên tiếp, rộn lớn. Bờ tây sông Li có núi Điệp thái, núi Phục ba, ngọn Độc tú, núi Li sơn; vùng núi tây bắc có ngọn Quán âm, ngọn Thạch ngư, ngọn Tây phong, núi Lão quân; bờ đông sông Li thì có núi Nguyệt nha, núi Thất tinh... Trong các núi nói trên, gần đây người ta đã phát hiện tượng Phật A súc ngồi, được khắc vào niên hiệu Điều Lộ năm đầu (679) đời vua Cao Tông nhà Đường; những tượng Phật, bia ghi việc khắc tạo tượng Phật, bia ghi các kinh, những di tích bằng đá khắc và những thơ văn, đề từ của tao nhân mặc khách lưu niệm... được khắc vào thời Đường, Tống. Niên đại Phật giáo truyền đến Quế Lâm nay không thể khảo chứng, chỉ biết ngôi chùa xưa nhất ở đây hiện còn là chùa Khai nguyên được xây dựng vào đời Tùy và chùa Diên linh ở núi Tây được kiến thiết vào trước thời vua Cao Tông nhà Đường, nhưng vì Vũ Tông nhà Đường huỷ Phật nên phần lớn chùa và tượng Phật ở đây đã bị phá huỷ. Trong những tượng khắc bằng đá, đáng chú ý nhất là pho tượng ở ngọn Quán Âm thuộc núi Tây, được khắc vào niên hiệu Điều Lộ năm đầu (679); tượng cao 1,4 m, tay trái để trên bắp vế, tay phải duỗi thẳng thõng xuống đầu gối trong tư thế bắt ấn Xúc địa (chạm đất), bên cạnh có ghi việc tạo tượng, chữ do Lí thực ở Chiêu Châu viết cùng năm đó, cho nên rất được xem trọng. Pho tượng này làm nổi bật phong cách cũng như kĩ xảo điêu khắc của đời Đường. Nói một cách đại thể, cùng là tượng Phật đời Đường, nhưng nghệ thuật điêu khắc ở miền Bắc, như Long môn, phần nhiều còn du nhập phong cách triều đại Cấp đa (Phạm: Gupta), Trung Ấn độ, còn ở miền Nam, như Quế lâm, đã dung hòa với phong cách tả thực của Trung quốc. Ngoài ra, các tượng Phật được khắc trong hang động Hoàn châu ở núi Phục ba cũng được bảo tồn rất tốt. Tượng 2 vị Bồ tát đứng được khắc ở vách bên cạnh động vẫn còn, bài minh ghi lại việc tạo tượng khắc vào năm Đại trung thứ 6 (852) đời vua Tuyên tông nhà Đường, vì tay phải của tượng cầm tịnh bình nên được cho rằng đây là tượng bồ tát Quán thế âm. Do loại tượng của Mật tông này mà có thể suy định rằng quần thể tượng Phật trong các hang động ở Quế Lâm đã được khắc tạo vào thời đại Trung Đường.
Quế Nguyệt
(桂月): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ mặt trăng; vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có cây quế, nên có tên như vậy. Như trong bài Đông Phi Bá Lao Ca (東飛伯勞歌) thuộc Tạp Khúc Ca Từ Bát (雜曲歌辭八) của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) có câu: “Nam song Bắc dũ quế nguyệt quang, la duy ỷ trướng chỉ phấn hương (南窗北牖桂月光、羅帷綺帳脂粉香, cửa Nam song Bắc tỏa sáng trăng, rèm the màn lưới phấn sáp thơm).” Hay trong bài Chung Nam Sơn Nghĩa Cốc Minh (終南山義谷銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Quế nguyệt nguy huyền, phong tuyền hư vận (桂月危懸、風泉虛韻, mặt trăng treo cao, suối reo tiếng lắng).” Hoặc trong bài Đối Nguyệt Liễu Tàn Kinh (對月了殘經) của Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 4 lại có đoạn: “Thiên biên quế nguyệt quyên quyên, lô thượng đàn yên kiêu kiêu, khoáng kiếp tằng khan để kinh, vị triển quyển thời đô liễu (天邊桂月娟娟、爐上檀煙梟梟、曠劫曾看底經、未展卷時都了, bên trời trăng tỏ xinh xinh, trên lò khói bốc nghi ngút, muôn kiếp từng đọc bao kinh, khi chưa mở ra đã ngộ).” (2) Chỉ cho tháng Tám Âm Lịch, vì vào tháng này hoa quế nở rộ, nên có tên như vậy. Như trong bài Tăng Chi Kim Lăng (僧之金陵, Tăng Đi Kim Lăng) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, q.7, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Lương tiêu quế nguyệt cảnh trung đình, củng tại thanh sa diệp để minh, biệt ngã thốn tâm như thốn thiết, bất tri Nam quốc kỉ đa trình (良宵桂月耿中庭、蛩在青莎葉底鳴、別我寸心如寸鐵、不知南國幾多程, đêm nay trăng tỏ rạng mái đình, dế mèn dưới cỏ kêu ỏi inh, mình ta tấc lòng như nặng trĩu, chẳng hay nước Nam mấy dặm trình).”
Quế Sâm
桂琛|La-hán Quế Sâm
quế sâm
4141(867~928)五代禪僧。乃青原行思系統下之第七世。常山(位於浙江)人,俗姓李。夙有出塵之志,依萬歲寺無相大師剃髮受戒,專學毘尼。然以持戒束身非解脫之道,乃轉志遊方,參訪南宗諸師。先謁雪峰義存,參訊禪要,惜無所見。至福州玄沙師備座下,得一言啟發,廓爾脫落眾惑。時漳州州牧於閩城西方石山建地藏院,請師演法,駐錫十八年,學徒集者二百餘人。師不輕易示法,然於密學懇請者則開演之。後住漳州羅漢院,大闡玄要,南北參徒臻湊,契機開悟者不知其數,世人尊以「羅漢桂琛」之號。唐天成三年秋,至閩州之舊址,遍遊近城之梵宇。已俄示疾,安坐數日告終,享年六十二,僧臘四十。諡號「真應禪師」。弟子有清涼文益、清溪洪進、清涼休復、龍濟紹修、延慶傳殷、南臺守安、天禪院秀等。〔五燈會元卷八、宋高僧傳卷十三〕
quế sâm thiền sư
Thiền Sư Quế Lâm ở Viện La Hán sanh năm 867, quê ở Thường Sơn. Từ thuở nhỏ đã ăn chay và nói những lời hay ho lạ thường. Sư xuất gia và thọ cụ túc giới với đại sư Vô Tướng tại chùa Vạn Tuế—Zen master Kui-chen was born in 867 from an ancient Chang-Shan. It is said that from early childhood he could speak very well and would not eat meat. He left home to become a monk and received full ordination at Wan–Sui Temple, under a teacher named Wu-Xiang. • Lúc đầu sư học Luật rất nghiêm, nhưng về sau sư tuyên bố rằng nếu chỉ giữ không phá luật không thôi, không phải thật sự xuất gia, nên sư ra đi tìm học với thiền tông—At first he closely followed the teachings of the Vinaya, but later declared that just guarding against breaking the vows and adhering to the precepts did not equal true renunciation. He then set off to explore the teachings of the Zen school. • Sau sư đến Huyền Sa yết kiến Đại Sư Tông Nhất, vừa nghe một câu khai phát liền rỗng suốt không ngờ—He arrived at Hsuan-Sha's place. Hsuan-Sha, who is said to have brought Kui-Chen erase all his doubts and to attain full awakening. • Một hôm Huyền Sa hỏi sư: “Tam giới duy tâm, ngươi biết thế nào?” Sư chỉ cái ghế dựa hỏi lại Huyền Sa: “Hòa Thượng kêu cái ấy là gì?” Huyền Sa đáp: “Ghế dựa.” Sư thưa: “Hòa Thượng không biết tam giới duy tâm.” Huyền Sa bảo: “Ta bảo cái ấy là tre gỗ, ngươi kêu là gì?” Sư thưa: “Con cũng gọi là tre gỗ.” Huyền Sa lại bảo: “Tận đại địa tìm một người hiểu Phật pháp cũng không có.” Sư do đây càng được khích lệ thêm—One day, Hsuan-Sha questioned Kui-Chen, saying: “In the three realms, there is only mind. How do you understand this?"”Kui-Chen pointed to a chair and said: “What does the master call that?” Hsuan-Sha said: “A chair.” Kui-Chen said: “Then the master can't say that in the three worlds there is only mind.” Hsuan-Sha said: “I say that it is made from bamboo and wood. What do you say it's made from?” Kui-Chen said: “I also say it's made from bamboo and wood.” Hsuan-Sha said: “I've searched across the great earth for a person who understands the Buddhadharma, but I haven't found one.” • Huyền Sa bảo chúng: “Mặc dù Quế Sâm tàng ẩn trong chúng, nhưng tiếng tăm vang xa—Hsuan-Sha told the monks: “Although Kui-Chen did not aspire to a leading position in the Buddhist community, his reputation as an adept nevertheless spread widely. • Một vị Tăng hỏi: “Thế nào là một câu của La Hán?” Sư đáp: “Ta nói với ngươi, liền thành hai câu.”—A monk asked: “What is Luo-Han's single phrase?” Kui-Chen said: “If I tell you it will turn into two phrases.” • Sư thượng đượng dạy chúng: “Tông môn huyền diệu chỉ là thế ấy sao? Hay riêng có chỗ kỳ đặc? Nếu riêng có chỗ kỳ đặc, các ông hãy nên xem cái gì? Nếu không, chẳng nên đem hai chữ bèn cho là Tông Thừa. Thế nào là hai chữ? Nghĩa là Tông Thừa và Giáo Thừa. Các ông vừa nói đến Tông thừa liền thành Tông thừa, nói đến Giáo thừa liền thành Giáo thừa. Chư Thiền đức! Phật pháp tông thừa nguyên lai do miệng các ông an lập danh tự, làm lấy nói lấy bèn thành. Lẽ ấy cần phải nhằm trong đó nói bình nói thật, nói viên nói thường. Thiền đức! Các ông gọi cái gì là bình thật? Nắm cái gì làm viên thường? Kẻ hành khất nhà bên cần phải biện rành, chớ để chôn vùi; được một ít thanh sắc danh tự chứa trong đầu tâm, nói ta hội giải khéo hay giản biện. Các ông biết cái gì? Ghi nhớ được danh tự ấy, giản biện được thanh sắc ấy. Nếu chẳng phải thanh sắc danh tự, các ông làm sao ghi nhớ giản biện? Gió thổi thông reo cũng là thanh, tiếng ếch nhái, chim, quạ, kêu cũng là thanh, sao chẳng trong ấy lắng nghe để giản trạch đi. Nếu trong ấy có hình thức ý tứ cùng các Thượng Tọa. Chớ lầm! Hiện nay thanh sắc dẫy đầy, là đến nhau hay chẳng đến nhau? Nếu đến nhau, thì linh tánh kim cang bí mật của ông nên có hoại diệt. Vì sao có như thế? Vì thanh xỏ lủng lỗ tai ông, sắc đâm đui con mắt ông, duyên thì lấp mất huyễn vọng của ông, càng chẳng dễ dàng vậy. Nếu chẳng đến nhau, thì chỗ nào được thanh sắc? Biết chăng? Đến nhau, chẳng đến nhau thử biện rành xem?—Kui-Chen entered the hall and addressed the monks, saying: “If you want to come face-to-face with the essential mystery of our order, here it is! There's no other special thing. If it is something else, then bring it forth and let's see it. If you can't show it, then forget about it. You can't just recite a couple of words and then say that they are the vehicle of our school. How could that be? What two words are they? They are known as the 'essential vehicle.' They are the 'teaching vehicle.' Just when you say 'essential vehicle,' that is the essential vehicle. Speaking the words 'teaching vehicle' is itself the teaching vehicle. Worthy practitioners of Zen, our school's essential vehicle, the Buddhadharma, comes from and is realized through nothing other than the names and words from your own mouths! It is just what you say and do. You come here and use words like 'tranquility,' 'reality,' 'perfection,' or 'constancy.' Worthy practitioners! What is this that you call 'tranquil' or 'real'?What is that's 'perfect' or 'constant'? Those of you here on a pilgrimage, you must test the principle of what I'm saying. Let's be open about it. You've stored up a bunch of sounds, forms, names, and words inside your minds. You prattle that 'I can do this' or 'I'm good at figuring out that,' but actually what can I do? What can you figure out? All that you're remembering and holding on to is just sounds and forms. If it weren't all sounds and forms, names and words, then how would you remember them or figure them out? The wind blows and the pine makes a sound. A frog or a duck makes a sound. Why don't you go and listen to those things and figure them out? If everywhere there are meaningful sounds and forms, then how much meaning can be ascribed to this old monk? There's no doubt about it. Sounds and forms assault us every moment. Do you directly face them or not? If you face them directly then your diamond-solid concept of self will melt away. How can this be? Because these sounds penetrate your ears and these forms pierce your eyes, you are overwhelmed by conditions. You are killed by delusion. There isn't enough room inside of you for all of these sounds and forms. If you don't face them directly then how will you manage all of these sounds and forms? Do you understand? Face them or not face them. See yourself. • Sư dừng giây phút, lại nói: “Viên thường bình thật ấy là người gì? Nói thế nào? Chưa phải là kẻ ở trong thôn Hoàng Di thì biết nói thế nào? Đó là các vị Thánh xưa bày chút ít giúp đỡ hiển phát. Thời nay không hiểu phải quấy, liền cho là toàn thật, nói ta riêng có tông phong huyền diệu. Phật Thích Ca không chót lưỡi, chẳng giống với các ông có chút ít bèn chỉ hông chỉ ngực. Nếu luận về tội sát, đạo, dâm, tuy nặng mà vẫn còn nhẹ, vì có khi hết. Kẻ nầy chê bai Bát Nhã làm mù mắt chúng sanh, vào địa ngục A Tỳ, nuốt hoàn sắt nóng chớ bảo là thong thả. Do đó, cổ nhơn nói: 'Lỗi tại hóa chủ, chẳng can hệ việc ông.' Trân trọng!”—After a pause, Kui-Chen continued: “'Perfection.' 'Constancy.' 'Tranquility.' 'Reality.' Who talks like this? Normal people in the village don't talk like this. Its just some old sages that talk this way and a few of their wicked disciples that spread it around. So now, you don't know good from bad, and you are absorbed in 'perfection' and 'reality.' Some say I don't possess the mysterious excellence of our order's style. Sakyamuni didn't have a tongue! Not like you disciples here who are always pointing at your own chests. To speak about killing, stealing, and lewdness is to speak of grave crimes, but they are light by comparison. It's unending, this vilification of nirvana, this blinding the eyes of beings, this falling in the Avici Hell and swallowing hot iron balls without relief. Therefore the ancients said: 'When the transgression is transformed into the host, it no longer offends.' Take care!” • Sư thị tịch năm 928, được vua ban hiệu “Chơn Ứng Đại Sư.”—He died in 928. After death, he received the posthumous title “Zen Master True Response.”
quế thâm
Kuei-Ch'en (C)Tên một vị sư.
Quế điện
(桂殿): có ba nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng các ngôi điện vũ của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo. Như trong bài Túc Diệu Đình Quán Thứ Đông Pha Cựu Vận (宿妙庭觀次東坡舊韻) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Quế điện xuy sanh dạ bất quy, Tô tiên thi bảng quải không bi (桂殿吹笙夜不歸、蘇仙詩板掛空悲, điện quế kèn vang đêm chẳng về, Đông Pha thơ bảng vọng không buồn).” (2) Chỉ cho chốn thâm cung, nơi ở của các Hậu Phi. Như trong bài Thượng Lại Bộ Thị Lang Đế Kinh Thiên (上吏部侍郎帝京篇) của Lạc Tân Vương (駱賓王, 640-684) nhà Đường có câu: “Quế điện âm sầm đối ngọc lâu, tiêu phòng yểu điệu liên kim ốc (桂殿陰岑對玉樓、椒房窈窕連金屋, điện quế thâm u đối ngọc lầu, Hậu Phi yểu điệu bao nhà vắng).” Hay trong bài Trường Môn Oán (長門怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà nhà Đường lại có câu: “Quế điện trường sầu bất ký xuân, hoàng kim tứ ốc khởi thu trần (桂殿長愁不記春、黃金四屋起秋塵, điện quế mãi sầu chẳng biết xuân, vàng ròng nhà cửa dậy bụi trần).” (3) Chỉ cho Nguyệt Cung (月宮), tức cung trăng. Như trong bài Hòa Mã Bá Dung Trừ Nam Đài Trung Thừa Dĩ Thi Tặng Biệt (和馬伯庸除南台中丞以詩贈別) của Tát Đô Thích (薩都剌, khoảng 1272-1355) nhà Nguyên có câu: “Quế điện thả lưu tu nguyệt phủ, Ngân Hà vị hứa độ tinh diêu (桂殿且留修月斧、銀河未許度星軺, cung Quảng còn lưu búa sửa trăng, Ngân Hà chưa hẹn xe chở sao).” Từ đó, có thuật ngữ quế điện lan cung (桂殿蘭宮, điện quế cung lan) để chỉ cho những cung điện quý phái, hoa mỹ, tráng lệ. Trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 7, bài Ngoại Đạo Vấn Phật (外道問佛), có đoạn: “Hạo nguyệt đương không tợ giám viên, trần mao sát hải chiếu vô thiên, mê vân tán tận bác tang hiểu, quế điện Thường Nga oán vị miên (皓月當空似鑑圓、塵毛剎海照無偏、迷雲散盡搏桑曉、桂殿嫦娥怨未眠, trăng tỏ trên không tợ gương soi, chiếu soi muôn vật khắp mọi nơi, mây mù bủa khắp trời mờ sáng, cung Quảng Hằng Nga oán mãi hoài).”
Quế ảnh
(桂影): chỉ bóng mặt trăng, ánh trăng. Theo Dậu Dương Tạp Trở (酉陽雜俎) quyển 1, chương Thiên Chỉ (天咫) của tiểu thuyết gia Đoàn Thành Thức (段成式, 803-863) nhà Đường cho biết rằng tương truyền trên mặt trăng có một cây Nguyệt Quế (月桂) cao 500 trượng. Dưới thời nhà Hán có một người tên là Ngô Cương (吳剛), say mê về tiên đạo mà không lo chuyên tâm học tập; vì vậy Thiên Đế nổi giận, đem chàng ta giam tại cung trăng, bắt chàng phải chặt cây quế và bảo rằng nếu như chặt đỗ cây quế đó thì có thể lấy được thuốc tiên. Ngô Cương bắt đầu chặt cây quế, nhưng sau khi chặt xong một nhát đao thì vết chặt tự nhiên liền lại. Ngày qua ngày, chàng trai tận lực đốn cây quế, nhưng không thành. Cho nên, Ngô Cương vẫn còn làm công việc này, vì cây quế vẫn chưa ngã và người đời sau thấy hình tượng chàng thanh niên kia chặt cây quế không ngừng nghỉ. Vì vậy, hình ảnh cây quế luôn gắn liền với mặt trăng qua một số từ ngữ như quế phách (桂魄), quế điện (桂殿), quế nguyệt (桂月), v.v. Như trong bài thơ Sơn Trung Dạ Tọa Ký Cố Lí Hữu Sinh (山中夜坐寄故里友生) của Lý Hàm Dụng (李咸用, ?-?) nhà Đường có câu: “Trùng thanh xúc xúc thôi hương mộng, quế ảnh cao cao quải lữ tình (蟲聲促促催鄉夢、桂影高高掛旅情, tiếng trùng thúc giục cố hương mộng, ánh trăng cao vút chở tình xa).” Trong bài từ Chúc Anh Đài Cận (祝英台近) của Lưu Cơ (劉基, 1311-1375) nhà Minh có đoạn: “Thúy yên thu, châu lộ hạ, tinh Hán cọng tiêu sái, quế ảnh bồi hồi, bạch tuyết xán diêm ngõa (翠煙收、珠露下、星漢共瀟灑、桂影徘徊、白雪粲簷瓦, khói biếc thu, sương châu rụng, ông sao cùng thong thả, bóng trăng bồi hồi, tuyết trắng cười ngói mái nhà).” Trong Sách Pháp Hiệu Nghĩa Biện Phúng Tụng Văn (索法號義辯諷誦文, Taishō Vol. 85, No. 2857) có câu: “Liên hoa ái nhi quế ảnh trầm huy, phương thọ điêu nhi lan tư bãi úc (蓮花靉而桂影沈暉、芳樹彫而蘭姿罷郁, hoa sen tối mà ánh trăng thầm sáng, cây thơm tàn mà dáng lan rực rỡ).”
quỉ
Preta (S). A disembodied spirit, dead person, ghost; a demon, evil being, devil; spectre, goblin, boggy; apparition. Xem Cửu quỉ
quỉ bệnh
Sickness caused by demon, or ghost.
quỉ giới
The region or realm of demon.
quỉ khốc thần sầu
Terrible, terrific, dreadful, terrifying, awe-inspiring.
quỉ kiến
Demon views, i.e. heterodox teaching.
quỉ lục
The iron record containing the sins of men in Yama's office in Hades.
quỉ môn
The north-east corner of a house, or of a city-gate, through which the spirits can come and go.
quỉ mị
Imps or demons who cause sickness, especially malaria in certsin regions.
quỉ nhập tràng
Chamanda (S).
quỉ sứ
Hell-envoy; infernal emissary; demon.
quỉ sử thần sai
To be led beyond one's control.
quỉ thành
The demon-city, that of the Gandharvas.
quỉ thần
Ghosts and spirits, a general term which includes the spirits of the dead, together with the demon and the eight classes of spirits such as devas, etc. Quỉ is intp as oai causing fear, Thần as năng potent, powerful. Devils and gods Xin quỉ thần chứng minh, to call gods to witness; to swear by all the gods.
quỉ thực thời
The time when the demons feed, i.e. night.
quỉ tử mẫu
Xem Ha lỵ đế.
; Hàritì (S). A woman who having vowed to devour all the babies at Ràjagriha was reborn as a ràkshasi, and gave birth to 500 chidren, one of which she was to devour everyday. Converted by Sàkyamuni, she entered a convent. Her image is to be seen in all nunneries. Another account is that she is the mother of 500 demons, andthat from being an evil goddess or spirit she was converted to become a protectress of Buddhism.
quỉ vương
The King of the demons.
quỉ đạo, quỉ thú
The way or destiny of yaksa, ràksasas, and hungry ghosts. Quỉ đạo also means in league with demons, or following devilish ways.
quốc
A country, a nation; national.
; Xứ sở—A country—A nation.
quốc bảo
4441即指解行具備,可為人師,其受尊崇有如國之珍寶。景德傳燈錄卷五「六祖慧能章」(大五一‧二三六下):「至永泰元年五月五日,代宗夢六祖大師請衣鉢,(中略)今遣鎮國大將軍劉崇景頂戴而送,朕謂之國寶。」〔摩訶止觀卷五上、止觀輔行傳弘決卷五之一〕
; (國寶) Của báu của đất nước. Chỉ cho người có đầy đủ học thức, đức hạnh, có khả năng làm thầy và được mọi người tôn sùng, giống như quốc bảo vậy. Chương Lục tổ Tuệ năng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 236 hạ) nói: Đến ngày mồng 5 tháng 5 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu, Đại tông mộng thấy Lục tổ Đại sư thỉnh y bát (...), nay sai Trấn quốc Đại tướng quân Lưu sùng cảnh cung kính đưa về, trẫm cho rằng đó là Quốc bảo. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1].
quốc dịch nhất thiết kinh
4441指以日本語文翻譯或撰述之佛典叢書。凡二五五卷。大東出版社刊行。主要乃收集流通於印度、中國、日本之佛教經律論及注釋書中重要漢文典籍,譯為日本語文,依照大正新修大藏經之分類、附科題,並加注解、解題。 內容大別為二部:(一)印度撰述部,係收集撰述於印度之漢譯經律論,加以日譯。凡一五五卷,昭和十一年(1936)初版。昭和五十三年(1978)校訂再版。內分阿含部、本緣部、般若部、法華部、華嚴部,乃至論集部。(二)和漢撰述部,則以收集中國、日本、朝鮮所撰述經律論之疏釋、史傳、各宗著作等為中心。凡一○○卷。二次大戰結束前,出版至六十六卷而中止,昭和三十三年(1958)繼續出版,至今完成九十五卷。此和漢部依書之類別,分諸宗部、律疏部、事彙部、史傳部、經疏部、論疏部、護教部。又印度部、和漢部各有一冊索引,內列有總目錄及內容索引。 本書之特色,除正文之日譯外,每一部經皆附有題解,介紹作者、成立過程、本經特色、內容概要,以及考證心得。文內加有注解,並就不詳之處,列出其與巴利本及北傳異譯本之差異。對初學者頗有助益,為一重要佛學典籍入門書。
; (國譯一切經) Chỉ cho bộ Phật điển tùng thư gồm 255 quyển được soạn thuật hoặc phiên dịch thành tiếng Nhật bản, do nhà xuất bản Đại đông ấn hành. Nội dung bộ sách này được chia làm 2 phần: 1. Ấn Độ soạn thuật bộ: Thu tập những kinh, luật, luận do các vị Tổ sư Ấn Độ soạn thuật đã được dịch ra chữ Hán, rồi dịch sang tiếng Nhật. Có tất cả 155 quyển, xuất bản lần đầu vào năm Chiêu hòa11(1936); hiệu đính tái bản vào năm Chiêu hòa 53 (1978). Trong phần này gồm có A hàm bộ, Bản duyên bộ, Bát nhã bộ, Pháp hoa bộ, Hoa nghiêm bộ và Luận tập bộ. 2. Hòa Hán soạn thuật bộ: Thu tập các chú sớ kinh, luật, luận, sử truyện và trứ tác của chư Tổ các tông phái ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, có tất cả 100 quyền. Trước khi Đại chiến lần II kết thúc, xuất bản được 66 quyểnrồi tạm đình chỉ, năm Chiêu hòa 33 (1958) tiếp tục xuất bản, đến nay đã hoàn thành được 95 quyển. Căn cứ vào sự phân loại trong sách thì bộ Hòa Hán này gồm Chư tông bộ, Luật sớ bộ, Sự vựng bộ, Sử truyện bộ, Kinh sớ bộ, Luận sớ bộ và Hộ giáo bộ. Trong 2 bộ trên đây, mỗi bộ còn có thêm 1 quyển Sách dẫn, ghi Tổng mục lục và nội dung Sách dẫn. Nét nổi bật của bộ tùng thư này là ngoài phần chính văn Nhật dịch ra, mỗi bộ kinh đều có phần giải thích tên kinh, giới thiệu tác giả, quá trình thành lập, đặc sắc của bộ kinh, nội dung cương yếu và những khảo chứng tâm đắc. Trong văn có thêm chú giải, đối với những chỗ không rõ ràng thì nêu ra sự sai khác giữa bộ kinh với bản Pàli và bản dịch khác thuộc Bắc truyền. Đây là bộ sách Phật học nhập môn trọng yếu, giúp ích rất nhiều cho những người bắt đầu học Phật.
quốc gia
4433佛教成立之初,即具有出世間之性質,比丘一旦進入教團,即必須捨離家、家族、國家;故無論身為國王、大臣,或乞丐、賤民,只要出家,皆為一介沙門。所謂出世間之性質,即超越一切世俗之束縛愛執,遠離國家權力之支配,及國家之界限,以慈悲心愛護一切眾生,救度一切有情之痛苦,此乃比丘不可缺少之條件。 印度佛教,在孔雀王朝阿育王時代(梵 Aśoka, 約 268 B.C.~232 B.C.),以佛法為國家之指導理念,故以法(梵 dharma)為政治理想之思想乃普及全印,甚至遠及海外。原始佛教之超越國家的態度,傳至南方之泰國、緬甸、錫蘭等國家中,佛教通常被視為國教或相當於國教之宗教,而佛教力量亦隨之凌駕於國家權力之上。上記諸國之中,尤以泰國為然,其憲法第一章第四條即有「皇帝為佛教信徒,且為宗教之擁護者」之明文記載。 然傳至北方之大乘佛教,在我國雖有「沙門不敬王者」之精神上的優遇,實際上仍被置於國家權力保護支配之下,且經常在國君命令下,慘遭廢佛、破佛之厄運。 在日本,自最早開始,佛教即與國家權力相結合而發達起來,具有強烈的國家佛教、貴族佛教之性質,即使是為脫離這種性質而進入山林之天台宗、真言宗亦不例外。以下就印度、東南亞、中國、日本等各地之歷史發展,概述佛教與國家之關係。 (一)印度佛教與國家之關係:印度佛教之興起、衰落,和王族之護持與否有密切關係。阿育王統一印度後,一心歸信佛教,不僅使用以佛教為基礎之政治理想治理其帝國,尚派遣眾多使節到達各地,弘揚所信奉之佛教。據近代在各地所發現的阿育王法敕碑文之記載,可確知阿育王曾遣使至敘利亞、埃及、馬其頓、塞利尼等各地希臘城邦,及印度河流域西北方、德干高原、中印度,佛教因之得到廣泛傳播與信仰,其後則逐漸衰落。後又得大夏王彌蘭陀(Milinda)及月支王迦膩色迦(Kaniska)之護持,佛教乃再度興盛。 彌蘭陀王曾支配阿富汗之喀布爾地方,並曾統治西北印度。據那先比丘經載,王曾與佛教大德那先於現今巴基斯坦夏科特附近,展開宗教論爭,王於舌戰中敗陣後,即改信佛教,成為大力保存佛典之第一位異邦人。 迦膩色迦王為貴霜王朝之第三代,乃次於阿育王之護法王,屬於月支族,掌握西北印度之主權。於佛典中甚為著名。於其治世中曾建造許多佛寺、佛塔,傳於後世。據佛教傳說中,王之另一偉蹟,為三藏之結集,即召集波栗溼縛(梵 Pārśva,脅尊者)及婆須蜜(梵 Vasumitra,世友)等高僧多人至罽賓,從事佛典大規模編輯。 其後佛教又逐漸衰落,直至帝日王、佛陀笈多王和戒日王統治印度,佛教又得到復興之機;至波羅王朝,亦曾一度振興,以後即一蹶不振,遂消失於原來誕生之國度中。這些盛衰之史實,說明佛教之發展為一文化運動之發展,而非由國家支持深入群眾之宗教運動,故無法在原本信奉印度教之廣大群眾中打下牢固根基,故當君王們撤去護持後,即在國家中失去地位,僅剩一群具有學問之隱士集團而已。 (二)東南亞諸國佛教與國家之關係:(1)錫蘭:阿育王曾派傳教師到印度國內外各地弘傳佛教。遣其子(一說為兄弟)摩哂陀長老帶領四位僧人前往錫蘭,向當時錫蘭國王提婆南毘耶帝沙及其侍臣宣講佛法,王及人民皆受感化,信受佛教,全國成千上萬男女皈依佛教,數以千計人加入僧團,並於各處建立寺廟,且有豐富資財維持僧眾生活。當時王后及許多女眾亦發心受戒,加入僧團。故於短期內錫蘭即成為南傳上座部佛教主要根據地。伐陀迦摩尼王時代,將摩哂陀長老所傳承以口相授之佛教經典,用文字記錄下來,產生「巴利文三藏經典」;而印度之原始典籍卻早已散失無餘。故就保存經典之意義而言,此舉極具重要性,影響其他國家之佛教發展。概言之,於錫蘭一地,由於歷代國王之熱心護法,佛教乃深入民間信仰,產生與國家歷史、文化有不可或分之關係;因而亦隨國勢之強弱、國家之政治環境、人民生活之安定與否等因素而興盛或衰頹。 (2)泰國:泰國為君主立憲國,一向以佛曆為紀元,並無自創之紀元。憲法中規定,泰國皇帝必須為佛教徒及佛教護持者,才可登基。國內每年有三次佛教紀念日,人民除每日早晨供養托鉢僧外,亦喜修築寺廟、造立佛像、聞法,以及舉行佛教法會、行事。就泰國歷史而言,歷代國家之統治者大多虔誠信仰佛教,並致力於修建寺廟、造立佛像、整理經藏、傳揚佛法。於素可泰王朝,第三代王崑羅康恆(1275~1317 在位)從錫蘭請來上座部大德傳戒,從此泰國人民成為南傳上座部佛教徒,泰國佛教文化亦由此建立。第五代王利太王(1347~1370 在位)從錫蘭上座出家,為泰國帝王出家之始,直至今日,每一位帝王仍必須出家一短時期,已成定例。至阿廋他耶王朝,上座佛教遍及全國,頗為興隆。每一男子一生中均須出家一次,以為報父母恩之最好方法,久之乃成為泰國特殊風習之一。又泰國僧制之最高職權係由僧皇(佛教法皇)掌管,攝管全國僧人。在宗教方面,凡屬僧皇所有之統治權,即使貴為天子之泰皇亦須服從奉命。然通常僧皇不過問政治,故僧皇仍屬精神上之法皇。 (3)緬甸:緬甸於一○四四年阿諾羅多王在蒲甘即位,尊奉來自打端地方之阿羅漢為國師,建立佛陀之正教,由是,南方上座部巴利文佛教遂在蒲甘生根萌芽。蒲甘王朝結束後,佛教於南緬之勃固王朝,由達磨悉提王加以整理、復興,遂消除原存於各僧眾間之對立,全體僧伽一味和合,並依照律文清淨修行。十六世紀以後,緬甸復歸統一。東牛王朝莽瑞體王至莽應龍王統治時代,皆極崇奉佛教,對論藏之研究風氣甚盛。至明頓王時,召集國內比丘會誦經律,為次於錫蘭之第四結集而稱第五結集。一八八六年緬甸淪為英國殖民地,對佛教雖採取不干涉之政策,然僧人地位卻大為降低。早在英國對緬甸增加壓力時,施泊王曾公佈:「英人意圖侵略緬甸,也僅是為要毀滅佛教。」自此,僧人即常過問時政,希望政治與宗教合作,而僧王卻反禁止僧人過份干涉政治。當緬甸受印度之影響而爭取獨立運動時,僧人參加領導民族獨立運動者以宇烏多摩(U. Ottama)及宇毘沙羅(U. Visāra)二位高僧最著名。另外亦有教外人士利用佛教團體組織之名義,以增加對廣大民眾之號召力。獨立後,佛教在政府協助下設立僧伽法庭、宗教部、佛教評議會。佛教雖為緬甸之主要宗教,然因眾多複雜之民族問題、社會問題,致令自一九四七年即產生之佛教國教化問題,遲至一九五八年方才演為政爭。其後之尼溫執政,採取政教分離政策,遂招致部分緬甸人批評,認為違背緬甸之傳統習俗及眾多人民之意願。 (三)我國佛教與國家之關係:東漢明帝時,佛教初入中土,不許本國人為僧,至魏之曹丕時乃解除此禁令,流傳方能益廣。前秦苻堅、後趙石勒皆尊信佛教,南北朝時梁武帝亦曾多次捨身同泰寺。然由於我國固有的道教、儒家思想,以及漢民族之本位意識,遂產生對佛教之排斥與抵抗,於我國歷史上佛教遭受北魏太武帝、北周武帝、唐武宗、後周世宗(三武一宗)之嚴重破壞,此乃以國家力量大規模摧毀佛教之重大事件。 於隋唐時代,佛教帶有不少國家色彩,如各州設置官寺,即由國家中央集權機構統一佛教;內道場之設置,為皇室之私人佛堂;設置僧官,係由國家任命,以統轄佛教界和僧尼,具有避免國家權力直接支配之意義;設置度僧制度,則由國家規定成為合法出家人之方法。 發源於印度之佛教,其教團被稱為僧伽,係為一獨立而依戒律之自治團體,雖曾有君王之皈依,然其時國家政治上之干涉極少,可謂屬於一種治外法權之存在。傳來我國後,佛教與國家間之聯繫極為密切。此一現象,可自兩方面衡量其意義。一方面,佛教東傳後,為使國人易於接受,故須配合固有之倫理,亦因此有不少偽經出自國人之手;又由於認為出家者乃屬於國家體制之外,故可不禮拜君王,然採取此類主張之人士於歷代亦飽受批評,東晉以來即有沙門禮拜君王與否之論爭。另一方面,歷代高僧常受皇帝恩賜以國師號、禪師號,或紫袈裟、銀龜袋等物,甚而於唐代受封為銀青光祿大夫、鴻臚卿、肅國王等之官號,凡此,皆可視為佛教完全被納入國家體制中,或籠罩於國家權威下之含意。 (四)日本佛教與國家之關係:佛教由我國傳入日本,早期與國家權力相結合而發達,具有濃厚之國家佛教、貴族佛教之色彩。至日本鎌倉時代,曹洞宗、淨土真宗、日蓮宗等相繼興起,逐漸產生一種介於國家與宗教間之新關係。曹洞宗之開祖道元,學習中國之禪法,徹底堅持超越國家主義,不接受朝廷授予之特權,亦不與當時之政權妥協。遂進入福井之深山,專心致志於優秀禪者之培育。另如日本淨土真宗之開祖親鸞,在其流放關東之二十餘年間,為庶民而徹底推行庶民佛教,亦主張佛教不隸屬於國家,然並非不關心國家,而係「為報國家之恩,為報萬民之恩而念佛」,故常以國家之憂而憂。日蓮宗之祖日蓮雖被稱為國家主義者、民族主義者,然亦絕不與當權者妥協,甚至不顧生命,不惜扮演與國家當權者抗衡之叛逆角色,又為實現「理想國家」之遠景,而常對執政者提出忠諫。除上記外,如戰國時代與織田信長對抗之石山本願寺教團,以及對抗德川家康之一向一揆,及為堅持信仰而抵抗幕府政令因而被流放之日蓮宗不受不施派之行動等,皆可視為超國家性之表現。反觀之,當一切教團皆服從幕府之權力後,其原有之宗教性亦往往隨之衰微。
quốc giáo
National religion.
quốc họa
National disaster (calamity).
quốc hồn
National soul (spirit).
quốc kế dân sinh
National economy and the livelihood of the people.
quốc kị
4432即天子、皇后等崩殂之忌日。乃我國古制,依佛祖統紀卷四十之記載,可知唐代已於國中各郡舉行國忌。唐開元二十六年(738),玄宗敕令天下諸郡建立開元、龍興二寺。翌年,敕天下僧道,凡遇國忌,即於龍興寺行道散齋;若遇千秋節,則於開元寺舉行祝壽。文宗曾一度停罷,宣宗即位又恢復其制。宋太宗淳化三年(992),李宗訥奏請於國忌時宰臣以下須行香,後禁酒食以表追思。日本持統天皇二年(688),亦已制定於國忌之日必設齋。又於國忌日所設之齋會,稱為國忌齋。〔大宋僧史略卷中、資治通鑑卷二五一、日本書紀卷三十〕
quốc kị trai
4433即古代於帝王忌日所設之齋會。據佛祖統紀卷四十載,唐開元二十六年(738),玄宗敕令天下諸郡建立龍興、開元二寺。翌年,敕令僧道遇國忌就龍興寺行道散齋,於千秋節就開元寺祝壽。據資治通鑑卷二五一唐記第六十七載,唐朝自中世以後,每遇國忌日,敕令天下州府於佛寺及道觀設齋焚香。開成初年(836~840),禮部侍郎崔蠡以其事並無明文之典據,遂奏議罷之,然未久又恢復此一行事。
quốc nạn
See Quốc họa.
quốc phần tự
4431指日本聖武天皇(724~749)敕願於全國六十九處設置之寺院。僧寺號金光明四天王護國之寺,尼寺號法華滅罪之寺。前者通稱國分寺,後者通稱國分尼寺。此等寺院蓋為政教一致之理想,祈佛加祐,以除災禍,增進福祉而造立。國分寺係仿自唐玄宗開元二十六年(738)之下詔天下諸郡造立開元寺,以東大寺為總國分寺,奈良法華寺為總國分尼寺。此類寺院多位於首府所在地,今被發掘之遺址頗多,或僅存地名或被視為史蹟者,幾達半數。
; (國分寺) Những chùa viện do Thiên hoàng Thánh Vũ (724-749) của Nhật Bản ban sắc xây dựng ở 69 nơi trên toàn quốc. Các chùa tăng đặt tên là Kim quang minh Tứ thiên vương hộ quốc, còn các chùa ni thì có hiệu là Pháp hoa diệt tội. Chùa tăng gọi chung là Quốc phân tự, chùa ni gọi chung là Quốc phân ni tự. Các chùa viện này đều chung 1 lí tưởng là Chính giáo nhất trí (Chính trị và tông giáo là một), cầu nguyện chư Phật gia hộ để tiêu trừ tai họa, tăng trưởng phúc đức. Quốc phân tự là phỏng theo Khai nguyên tự của Trung quốc do vua Huyền tông thiết lập vào đời Đường. Trong các Quốc phân tự thì lấy Đông đại tự làm Tổng quốc phân tự, còn Pháp hoa tự ở Nại lương là Tổng quốc phân ni tự. Loại chùa viện này phần nhiều được xây dựng tại các thành thị lớn của địa phương, ngày nay rất nhiều nền cũ đã được phát hiện, cũng có nhiều chỗ chỉ còn là địa danh hoặc được xem là sử tích mà thôi.
quốc sư
4436<一>為我國各朝代帝王對學德兼備而可為一國師表之高僧所加之封號。含有一國民眾之師、帝王之師等意。據出三藏記集卷十一、卷十四、大慈恩寺三藏法師傳卷四等載,鳩摩炎、勝軍曾受封為國師;蓋此號夙行於印度、西域。如訶梨跋摩於印度摩竭陀國折服外道論師,而受王封為國師。佛教東傳以後,西域亦有國師封號,如前秦建元十八年(382) 時,西域東師前部王彌第來訪長安,其國師鳩摩跋提同來。又如前記鳩摩羅什之父鳩摩炎捨相位出家,東渡葱嶺,龜茲王聞名敬慕,請為國師。而漢地高僧亦有為西域國師者,如隴西高僧法愛。又我國國師名稱原非專封高僧,如王莽封劉歆為國師,以為太子之師;另或為太師、國子祭酒之異稱。 一般認為封高僧為國師,係於北齊文宣帝天保元年(550),敕高僧法常入宮宣講涅槃經 ,尊為國師,是為嚆矢。其後,唐代有法藏為康藏國師,澄觀為清涼國師,慧忠為南陽國師,無業為大達國師等。宋代是禪宗全盛期,禪僧獲賜號者甚多,然未見有國師之稱號。元、明、清各代對西藏佛教領袖人物亦有此封號,元、明兩代封之者甚多。元代國師兼有政教權力,由於朝廷過份寵信喇嘛,造成許多流弊。明代初時,朝廷為加強和西藏等民族聯繫,雖仍沿用元制,封喇嘛為「帝師」、「國師」之號,然聲勢已不如元代。清代僅在康熙四十五年(1706)封章嘉呼圖克圖為國師,掌管內蒙古喇嘛教事務。又漢族僧人受元朝尊為國師者有九人,其中世祖時之海雲國師最為著名。 此外,韓國之義天號大覺國師亦甚著名。日本則以花園天皇賜封圓爾辨圓「聖一國師」之諡號為始(1308),惟此異於前者,乃示寂後追諡之號,其後亦有生前賜號者。〔梁高僧傳卷一、續高僧傳卷十六、大宋僧史略卷中、元亨釋書卷七、卷八、禪林象器箋稱呼門〕 <二>日本駐於諸國(國分寺創立之後,即駐於國分寺),以監督寺院,檢校寺產,兼理誦經法務之官僧。始置於大寶二年(702)。(參閱「國分寺」4432)
; Kokushi (J).
; Imperial preceptor, a title conferred on certain Buddhist monks.
; Ông thầy của cả nước, thường là một vị Tăng (trong các quốc gia Phật giáo)—Imperial Teacher—Imperial preceptor or preceptor of the State, usually a Buddhist monk.
; (國師) I. Quốc Sư. Phong hiệu mà các triều đại đế vương Trung quốc phong cho vị Cao tăng có học vấn và đức hạnh, có thể làm bậc thầy tiêu biểu chomột nước. Quốc sư có nghĩa là thầy của dân chúng trong nước và thầy của vua. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 11, 14 và Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 thì các ngài Cưu ma viêm và Thắng quân từng được phong làm Quốc sư. Như vậy, tước hiệu này vốn đã lưu hành ở Ấn Độ, Tây vực từ trước rồi. Như ngài Ha Lê Bạt Ma, vì đã chiết phục được các luận sư ngoại đạo ở nước Ma yết đà, Trung Ấn Độ, nên được vua phong làm Quốc sư. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung quốc thì ở Tây vực cũng đã có phong hiệu Quốc sư rồi, như vào năm Kiến nguyên 18 (382) đời Tiền Tần, Đông sư Tiền bộ vương di đệ của Tây vực đến thăm Trường an, Quốc sư của ông là ngài Cưu Ma Bạt Đề cũng đi cùng. Rồi như phụ thân của ngài Cưu ma la thập là Cưu ma viêm đã nói ở trên, từ bỏ địa vị Tể tướng để đi xuất gia, đi về phía đông, vượt qua dãy núi Thông lãnh, vua nước Cưu tư nghe danh kính mộ, thỉnh ngài làm Quốc sư. Còn cao tăng Trung quốc cũng có vị làm Quốc sư ở Tây vực, như ngài Pháp ái ở Lũng tây. Chức Quốc sư ở Trung quốc vốn không phải để phong riêng cho các bậc Cao tăng, mà được phong chung cho cả người ngoài đời, như Vương mãng đã phong Lưu hâm làm Quốc sư để dạy Thái tử, hoặc dùng chức Quốc sư để gọi thay cho Thái sư, Quốc tử tế tửu (chức quan dạy Thái tử). Phổ thông cho rằng người đầu tiên phong cao tăng làm Quốc sư là vua Văn tuyên đời Bắc Tề: Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (550), vua ban sắc triệu thỉnh cao tăng Pháp thường vào cung tuyên giảng kinh Niết bàn rồi tôn ngài làm Quốc sư. Về sau, vào đời Đường, có các ngài Pháp tạng được phong là Khang tạng Quốc sư, ngài Trừng quán là Thanh lương Quốc sư, ngài Tuệ Trung là Nam Dương Quốc sư, ngài Vô nghiệp là Đại đạt Quốc sư... Đến đời Tống, lúc Thiền tông toàn thịnh thì có rất nhiều thiền sư được ban hiệu nhưng không thấy có danh hiệu Quốc sư. Đến các đời Nguyên, Minh, Thanh, đối với các vị lãnh tụ của Phật giáo Tây tạng cũng có phong hiệu Quốc sư. Nhất là triều đình nhà Nguyên vì quá tôn sùng và ưu đãi Lạt ma giáo, Quốc sư thường nắm giữ cả quyền lực tông giáo và chính trị nên đã tạo ra nhiều cái thối nát. Đến đầu đời Minh, triều đình tăng cường quan hệ với dân tộc Tây tạng, tuy vẫn theo chế độ nhà Nguyên, phong Lạt ma làm Đế sư, Quốc sư, nhưng quyền hành đã giảm bớt nhiều, không còn được như ở đời Nguyên. Đến đời Thanh thì chỉ có năm Khang Hi 45 (1706), Chương gia Hô đồ khắc đồ được phong Quốc sư, trông coi các việc Lạt ma giáo ở Nội mông cổ. Còn về phía Cao tăng người Hán được triều Nguyên phong làm Quốc sư thì có 9 vị, trong đó có Quốc sư Hải Vân đời vua Thế tổ là nổi tiếng hơn cả. Ngoài ra, ở Triều tiên ngài Nghĩa Thiên hiệu Đại Giác Quốc sư cũng rất nổi tiếng. Còn ở Nhật Bản thì Thiên Hoàng Hoa Viên ban thụy hiệu Thánh Nhất Quốc Sư đầu tiên cho ngài Viên Nhĩ Biện Viên vào năm 1308, nhưng khác với Trung Quốc ở chỗ đây là thụy hiệu được phong sau khi thị tịch. Về sau, ở Nhật Bản, cũng có người được phong Quốc sư lúc còn sống. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Tục cao tăng truyện Q.16; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Nguyên hanh thích thư Q.7, 8; Xưng hô môn trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Quốc Sư. Chức quan tăng của Nhật Bản trụ ở các Quốc phân tự (chùa nhà nước), trông nom mọi việc trong chùa, quản lí tài sản, kiêm việc tụng kinh giảng đạo. Chức quan này được đặt ra vào năm Đại bảo thứ 2 (702). (xt. Quốc Phân Tự).
quốc sư tam hoán
4437禪宗公案名。指南陽慧忠國師三次召喚侍者,侍者三次應諾之故事。景德傳燈錄卷五南陽慧忠章(大五一‧二四四上):「一日喚侍者,侍者應諾;如是三召皆應諾。師曰:『將謂吾孤負汝,卻是汝孤負吾。』」蓋國師三喚,侍者不該應諾而應之,乃眩惑於會得與否之歧路,而忽略國師之殷勤指示佛心,故慧忠訶斥侍者為「辜負」。無門關第十七則即評之曰(大四八‧二九五上):「國師三喚,舌頭墮地。侍者三應,和光吐出。國師年老心孤,按牛頭喫草,侍者未肯承當,美食不中飽人餐。且道那裏是他辜負處?國淨才子貴,家富小兒嬌。」〔宗門統要續集卷三、禪宗頌古聯珠通集卷八、宗門葛藤集卷上〕
; (國師三喚) Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư gọi 3 lần. Chỉ cho câu chuyện Quốc sư Tuệ Trung 3 lần gọi thị giả, 3 lần thị giả dạ!. Chương Nam dương Tuệ Trung trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 244 thượng) ghi: Một hôm sư gọi thị giả, thị giả thưa dạ!, cứ thế 3 lần sư gọi, 3 lần thị giả đều dạ!. Sư nói: Tưởng rằng ta phụ ngươi, nào ngờ ngươi phụ ta. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.3; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.8; Tông môn cát đằng tập Q.thượng].
quốc sư thuỷ oản
4438禪宗公案名。此公案係南陽慧忠禪師以一碗水加進七粒米,上置一隻筷子,以測紫璘供奉是否解得佛意。碧巖錄第四十八則(大四八‧一八四上):「忠國師問紫璘供奉:『聞說供奉解註思益經,是否?』奉云:『是!』師云:『凡當註經,須解佛意始得。』奉云:『若不會意,爭敢言註經?』師遂令侍者將一椀水、七粒米,一隻筯在椀上,送與供奉。問云:『是什麼義?』奉云:『不會!』師云:『老師意尚不會,更說甚佛意?』」蓋表示會佛經者,不一定會得佛意,須離相對之分別見解,始可稱是會得佛意。〔聯燈會要卷三南陽慧忠章〕
; (國師水碗) Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư và bát nước. Công án này nói về việc Thiền sư Nam Dương Tuệ Trung lấy 1 bát nước, bỏ vào đó 7 hạt gạo, rồi đặt một chiếc đũa ở trên bát để trắc nghiệm xem Tử Lân Cung Phụng có hiểu được ý Phật không. Bích Nham lục tắc 48 (Đại 48, 184 thượng) chép: Trung Quốc sư hỏi Tử Lân Cung Phụng: -Ta nghe nói Cung phụng chú giải kinh Tư ích đúng không? Phụng đáp: Dạ đúng! Sư nói: Hễ chú giải kinh thì cần phải hiểu rõ ý của Phật mới được. Phụng thưa: Nếu không hiểu ý thì làm sao dám nói là chú giải kinh. Sư liền sai thị giả lấy bát nước, 7 hạt gạo và chiếc đũa để trên bát đưa đến cho Cung phụng. Sư hỏi: Đây là nghĩa gì? Phụng đáp: Không hiểu! Sư nói: Ý của lão tăng mà ngươi còn không hiểu thì làm sao mà hiểu được ý của Phật? [X. chương Nam dương Tuệ trung trong Liên đăng hội yếu Q.3].
quốc sư tháp dạng
4439禪宗公案名。係唐肅宗與南陽慧忠國師間,有關「無縫塔」之機緣語句。又稱忠國師無縫塔、肅宗請塔樣。碧巖錄第十八則(大四八‧一五七下):「肅宗皇帝問忠國師:『百年後所須何物?』國師云:『與老僧作箇無縫塔。』帝曰:『請師塔樣。』國師良久云:『會麼?』帝云:『不會。』國師云:『吾有付法弟子耽源,卻諳此事,請詔問之。』國師遷化後,帝詔耽源,問此意如何。源云:『湘之南,潭之北。』」或謂此公案係唐代宗與南陽慧忠之機緣語句。於公案中,慧忠國師所示之無縫塔,非死後所立之塔,乃指坐定時遍界不藏之無縫塔,亦即宇宙森羅萬象間原本存立之無縫塔。〔從容錄第八十五則、禪苑蒙求卷中〕
; (國師塔樣) Cũng gọi Trung quốc sư vô phùng tháp, Túc tông thỉnh tháp dạng. Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư và kiểu tháp. Cơ duyên vấn đáp giữa vua Đường túc tông và Quốc sư Nam Dương Tuệ Trung về kiểu tháp không có tầng bậc. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 157 hạ) ghi: Hoàng đế Túc tông hỏi Quốc sư Tuệ Trung: -Sau khi Thầy viên tịch, đệ tử phải làm gì để tưởng niệm thầy? Quốc sư đáp: Làm cho lão tăng một cái tháp không có tầng bậc. Vua nói: Xin thầy cho kiểu tháp. Quốc sư im lặng giây lâu rồi hỏi: Hiểu không? Vua đáp: Không hiểu. Quốc sư nói: Tôi có đệ tử phó pháp là Đam Nguyên, am hiểu việc này, xin vua hỏi ông ta. Sau khi Quốc sư thị tịch, vua hạ chiếu hỏi ngài Đam Nguyên ý đó là thế nào? Ngài Đam nguyên đáp: Sông Tương ở phía nam, cái đầm ở phương bắc. Có thuyết cho rằng công án này là cơ duyên vấn đáp giữa vua Đường đại tông và Quốc sư Nam dương Tuệ Trung. [X. Thung dung lục tắc 85; Thiền uyển mông cầu Q.trung].
quốc sử
National history.
quốc sự
National affair.
quốc thanh bách lục
4439凡四卷。隋代灌頂編纂。今收於大正藏第四十六冊。此書初由沙門智寂纂集天台智顗之遺文及碑文等,書未成而逝,灌頂繼續增撰。自立制法至智者遺書與臨海鎮將解拔國述放生池,凡一○四條,為了解天台智顗一生行業最方便之資料。原有廣略二本,廣本已散佚,今書為略本。因智顗住天台山國清寺,故有此名。〔佛祖統紀卷二十五、大明三藏聖教目錄、諸宗章疏錄卷一〕
; (國清百錄) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Quán Đính biên soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này ban đầu do Sa môn Trí Tịch biên tập các văn cảo và văn bia của Đại sư Trí Khải, nhưng sách chưa được hoàn thành thì ngài Trí Tịch đã thị tịch, ngài Quán Đính nối tiếp soạn thêm, tất cả có 104 điều. Đây là tư liệurấtcần thiết để hiểu rõ cuộc đời và sự nghiệp của Đại sư Trí Khải tông Thiên thai. Sách này vốn có 2 loại bản, 1 đầy đủ và tóm tắt; bản đầy đủ đã bị thất lạc, bản hiện còn là bản tóm tắt. Vì Đại sư Trí Khải trụ ở chùa Quốc thanh núi Thiên thai nên sách mang tên này. [X. Phật tổ thống kí Q.25; Đại minh tam tạng pháp số mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1].
Quốc Thanh Tự
(國清寺, Kokusei-ji): ngôi chùa tọa lạc tại sườn núi phía nam của ngọn Phật Lũng Phong (佛隴峰), thuộc Thiên Thai Sơn (天台山), Huyện Thiên Thai (天台縣), Tỉnh Triết Giang (浙江省), là nơi phát xuất của Thiên Thai Tông Trung Quốc. Vào năm 596 (niên hiệu Khai Hoàng [開皇] thứ 18 nhà Tùy), vua nhà Tấn là Dương Quảng (揚廣, tức Dương Đế [煬帝]) sáng lập ngôi chùa này cho Đại Sư Trí Khải (智顗). Lúc đầu tiên, Thiền Sư Định Quang (定光) đến trú tại núi này, thường dạy chúng đệ tử rằng không bao lâu nữa sẽ có bậc thiện tri thức lỗi lạc đến đây. Sau đó, quả nhiên có Trí Khải đến quảng bố giáo pháp, nhưng chưa thành tựu bao nhiêu thì đã thị tịch ở Nam Kiến Tự (南建寺), Phật Lũng (佛隴). Nhà vua rất thương tiếc, bèn cúng dường trai tăng cho ngàn vị tăng để hồi hướng cho Trí Khải, và tiến hành trùng kiến các ngôi đường vũ. Ban đầu chùa có tên là Thiên Thai Sơn Tự (天台山寺), sau nhân lần đầu tiên khi Trí Khải đến núi, Định Quang mộng báo cho biết 3 nước (Bắc Chu, Bắc Tề và Trần) hợp thành một, có một người rất có thế lực mới có thể làm cho chùa thành tựu được, chùa thành tựu thì nước mới thanh bình; cho nên chùa được đặt tên là Quốc Thanh Tự. Vào năm 605 (niên hiệu Đại Nghiệp [大業] nguyên niên nhà Tùy), chùa được ban sắc ngạch với tên gọi như vậy. Không bao lâu sau, Quán Đảnh (灌頂) đến trú trì chùa và nơi đây trở thành đạo tràng căn bản của Thiên Thai Tông. Từ niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) 9 nhà Đường trở về sau, các lưu học tăng Nhật Bản đến chùa tham học càng đông, như Tối Trừng (最澄), Nghĩa Chơn (義眞), Viên Giới (圓戒), Viên Tu (圓修), Thành Tầm (成尋), Tuấn Nhưng (俊芿), Trùng Nguyên (重源), Vinh Tây (榮西), v.v. Mọi người đều đến đảnh lễ miếu tháp của Trí Khải, sau đó mang về nước các tượng Phật, kinh luận, v.v., và khai sáng Thiên Thai Tông Nhật Bản. Theo cuốn Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của Viên Nhân (圓仁), đương thời chùa thường có khoảng150 vị tăng lưu trú, đến mùa An Cư kiết hạ thì có hơn 300 người; cho nên lúc bấy giờ chùa đang hồi cực thịnh. Đến lúc nạn Hủy Phật Hội Xương (會昌), chùa bị binh hỏa thiêu rụi. Vào năm 851 (niên hiệu Đại Trung [大中] thứ 5), chùa được trùng kiến lại và đến năm 1005 (niên hiệu Cảnh Đức [景德] thứ 2 nhà Tống), chùa đổi tên thành Cảnh Đức Quốc Thanh Tự (景德國清寺). Sau đó, chùa lại bị binh hỏa thiêu cháy, mấy trăm quyển sách của ba triều đại đều mất sạch, chỉ còn lại Liên Kinh (蓮經) do Trí Khải đề bút, 1 quyển kinh lá bối của Tây Vức và tượng Phật bằng gỗ Chiên Đàn thời nhà Tùy cũng như răng Phật mà thôi. Vào năm 1128 (niên hiệu Kiến Viêm [建炎] thứ 2 nhà Nam Tống), triều đình ban sắc lệnh trùng tu chùa, cho nên cảnh trí chùa đẹp hơn ngày xưa. Hai năm sau, triều đình hạ chiếu chuyển chùa sang Thiền Tông, vì vậy nơi đây trở thành Thiền tự. Về sau, chùa đã trải qua bao lần tái tạo và khuôn viên chùa được gọi là một trong 4 thắng cảnh trong thiên hạ. Nơi đây có cầu tên Phong Can Kiều (豐干橋), tương truyền dưới thời nhà Đường, Phong Can (豐干), Hàn Sơn (寒山) và Thập Đắc (拾得) đã từng đến chơi ở đây. Cũng phát xuất từ nhân duyên Của Thiền Sư Phong Can với chùa, nên từ đó về sau chùa được đội thành Thiền tự. Trước chùa có tháp 9 tầng bằng ngói. Bảo vật của chùa có tháp Xá Lợi bằng đồng do Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thục (錢弘淑) tạo.
quốc thanh tự
4439位於浙江天台縣北天台山佛隴峰南麓,乃天台宗之發源地。隋開皇十八年(596),晉王楊廣(即煬帝)為智顗所創建。初,定光禪師住此峰,嘗謂弟子曰,不久將有勝善知識,領徒眾集居此山。之後,果有智顗渡江至此,大布教法,並欲於佛隴之南建寺,未成而示寂。晉王楊廣深悼之,乃為智顗設千僧齋,興工建殿宇;初名天台山寺,後因智顗初入此山時,定光曾夢告,三國(指北周、北齊、陳)合而為一,有大勢力人能為此寺,寺若成,國即清,當稱為國清寺。隋大業元年(605)遂賜額「國清寺」。未久,灌頂住之。後成為天台宗根本道場。 唐貞元以後,日本留學僧參詣該寺者甚眾,如最澄、義真、圓載、圓珍、成尋、俊芿、重源、榮西等,皆曾來禮智顗之廟塔,或興建佛事,或攜回佛像經論,因而開創日本佛教天台宗。據圓仁入唐求法巡禮行記卷一載,該寺常有一百五十僧久住,夏季住三百人以上,可見當時法運之盛。唐會昌毀佛時,為兵火所焚。大中五年(851)重建,宋景德二年(1005)改稱景德國清寺。後又遭兵火,三朝御書數百卷盡失,獨存智顗所題蓮經、西域貝葉經一卷,及隋栴檀佛像、佛牙。南宋建炎二年(1128),敕令重修,輪奐之美倍於舊日。建炎四年下詔易教為禪,此後國清寺成為禪寺。後經數度增建,寺域號稱古來天下四絕之一。 寺之左右有五峰(八柱、靈禽、祥雲、靈芝、暎霞)環擁,雙澗環流合於前。有橋名豐干橋,傳為唐代豐干與寒山、拾得嬉遊之地。又從豐干禪師與此寺之因緣,可知雖宋代以後方改為禪寺,然早於唐初已漸禪化。今諸堂完備。寺前九層磚塔,相傳係隋煬帝命司馬王弘為智顗所建,高約二十三丈,平面六角,規模甚宏,惟現存者,似宋代重建之物。所藏寺寶有吳越王錢弘俶造之銅製舍利塔,乃所謂八萬四千塔之一,係從該寺域中所掘得,高十九公分,底部內有銘文。 寺境有二處一行(673~727)之遺蹟。一行為唐代高僧,著名之天文學家,嘗為修訂「大衍曆」,到國清寺居留,從寺僧習數學。後人在寺前七佛塔後建 茈葚O,上題「唐一行禪師之塔」。又傳一行抵此時,北山大雨,寺前東山澗水位暴漲,向西山澗倒灌,今寺外豐干橋側有石碑一方,上書「一行到此水西流」七字。〔國清百錄序、隋天台智者大師別傳、天台山全志、古今圖書集成山川典第一二三〕
; (國清寺) Chùa ở chân núi phía nam ngọn Phật Lũng, núi Thiên Thai, phía bắc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc là nơi phát tích của tông Thiên thai. Vào năm Khai Hoàng 18 (596) đời Tùy, Tấn vương Dương Quảng (sau là Dạng Đế) đã sáng lập chùa này để cúng dường Đại sư Trí khải. Đầu tiên, Thiền sư Định Quang trụ ở ngọn núi này, ngài từng bảo đệ tử rằng không bao lâu nữa sẽ có bậc đại thiện tri thức thống lãnh đồ chúng đến ở núi này. Sau, quả nhiên có ngài Trí Khải đến đây truyền bá giáo pháp, ngài muốn xây chùa ở phía nam ngọn núi Phật lũng, nhưng ý định chưa được thực hiện thì ngài đã viên tịch. Tấn vương Dương Quảng vô cùng thương tiếc và vì ngài mà thiết trai cúng dường 1.000 vị tăng, sau đó, lại xây cất thêm điện đường ở chùa. Lúc đầu, Tấn Vương đã đặt tên chùa là Thiên thai sơn tự, sau nhân lúc ngài Trí Khải mới vào núi này, Thiền sư Định Quang từng báo mộng rằng: 3 nước (chỉ cho Bắc Chu, Bắc Tề và Trần) hợp làm một thì sẽ có người nhiều thế lực có thể làm được chùa này, nếu chùa được hoàn thành thì quốc gia sẽ thanh bình, nên đặt tên là Quốc thanh tự. Niên hiệu Đại Nghiệp năm đầu (605) đời Tùy, vua ban biển ngạch Quốc Thanh Tự. Ít lâu sau, ngài Quán Đính trụ trì, từ đó, chùa trở thành đạo tràng căn bản của tông Thiên thai. Từ năm Trinh nguyên đời Đường về sau, rất nhiều vị tăng Nhật bản du học Trung quốc đã đến tham bái chùa Quốc thanh, như các sư Tối Trừng, Nghĩa Chân, Viên Tải, Viên Trân, Thành Tầm, Tuấn Nhưng, Trọng Nguyên, Vinh Tây...đều đã đến lễ tháp thờ ngài Trí Khải, hoặc có vị làm việc Phật, hoặc có vị đem tượng Phật và kinh luận về nước, nhân đó mà sáng lập tông Thiên thai của Phật giáo Nhật Bản. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 1 của ngài Viên Nhân, trong chùa Quốc Thanh lúc nào cũng có 150 vị tăng thường trú, hạ an cư thì có từ 300 vị trở lên, như vậy ta có thể thấy pháp vận của chùa thời đó hưng thịnh đến mức nào. Trong Pháp nạn Hội xương (846) đời Đường, chùa đã bị đốt, năm Đại trung thứ 5 (851) được xây dựng lại. Năm Cảnh đức thứ 2 (1005) đời Tống, chùa được đổi tên là Cảnh Đức Quốc Thanh Tự. Sau lại bị lửa chiến tranh hủy hoại, mấy trăm quyển sách của các vua 3 triều cháy hết, chỉ còn Liên kinh của ngài Trí khải, 1 quyển kinh lá bối từ Tây vực, tượng Phật bằng gỗ chiên đàn tạc vào đời Tùy và răng Phật. Năm Kiến viêm thứ 2 (1128) đời Nam Tống, vua ban sắc trùng tu, chùa trở nên đẹp đẽ gấp bội so với ngày trước. Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), vua hạ lệnh đổi Giáo thành Thiền, từ đó về sau chùa Quốc thanh trở thành Thiền tự. Sau, trải qua nhiều lần xây cất thêm, chùa trở thành 1 trong Tứ tuyệt trong thiên hạ từ xưa đến nay. Hai bên chùa có 5 ngọn núi (Bát trụ, Linh cầm, Tường vân, Linh chi và Ánh hà) bao vòng chung quanh chùa, có 2 dòng suối chảy vòng hợp lại ở trước chùa. Chùa có cây cầu tên là Phong can, tương truyền đó là nơi mà Thiền sư Phong can đời Đường thường dạo chơi với các ngài Hàn sơn và Thập đắc. Lại do nhân duyên của Thiền sư Phong can với chùa này mà biết được rằng tuy đến đời Tống chùa mới được đổi thành Thiền tự, nhưng ngay từ đầu đời Đường chùa đã dần dần được Thiền hóa rồi. Hiện nay các kiến trúc trong chùa còn nguyên vẹn, phía trước chùa có ngôi tháp gạch 9 tầng, tương truyền do Tùy dạng đế (Tấn vương Dương quảng) sai Tư Mã Vương hoằng kiến thiết để thờ ngài Trí Khải; tháp cao khoảng 23 trượng, mặt bằng, 6 góc, qui mô rộng lớn, nhưng có vẻ là kiến trúc đời Tống. Bảo vật còn được cất giữ trong chùa có tháp xá lợi bằng đồng do Ngô việt vương Tiền hoằng thục tạo, tháp này là 1 trong 8 vạn 4 nghìn tháp, là vật đã đào được trong khu vực chùa, cao 19 cm, phần dưới cùng của tháp bên trong có khắc chữ. Cảnh chùa có 2 nơi di tích của ngài Nhất Hạnh (673-727). Ngài Nhất Hạnh là vị cao tăng đời Đường,1 nhà Thiên văn học nổi tiếng, từng sửa lại lịch Đại diễn. Ngài đến chùa Quốc Thanh, cùng với vị tăng trong chùa nghiên cứu về số học. Người đời sau xây mộ dựng bia ở phía sau thápThất Phật trước chùa để tưởng niệm ngài, trên đề dòng chữ: Đường Nhất Hạnh Thiền Sư Chi Tháp (Tháp thiền sư Nhất Hạnh đời Đường). Lại truyền rằng khi ngài Nhất Hạnh đến đây thì núi Bắc mưa lớn, dòng suối ở núi Đông trước chùa chảy mạnh, tràn ngược về phía Tây. Nay, bên cầu Phong can có tấm bia đá vuông, trên đó viết 7chữ: Nhất Hạnh Đảo Thử Thủy Tây Lưu (Ngài Nhất hạnh đến đây nước chảy về tây). [X. Bài tựa Quốc thanh bách lục; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, Thiên thai sơn toàn chí; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 123].
quốc thống
4440北朝東魏之僧官名稱。此僧官係依據僧制,治理殺人罪以外,觸犯他罪之僧尼。原稱昭玄統。其下設有國都(原稱昭玄都維那)。僧官制始於魏晉南北朝,初立者為後秦姚興,北魏道武帝於皇始年間(396~397)設立道人統,以治理僧徒,至興安元年(452)以師賢擔任道人統,師賢示寂之後,曇曜繼之,改稱沙門統。 北魏文成帝和平元年(460),將以前所設之中央僧官機構監福曹改為昭玄寺(一說孝文帝時改為昭玄寺);昭玄寺之沙門統,稱為昭玄統。沙門法上曾擔任昭玄統一職,由北魏末年至北齊,歷時四十年。北魏分裂為東、西魏後,東魏遂以昭玄統稱為國統。(參閱「僧官」5731)
; (國統) Tên 1 chức quan tăng ở thời Đông Ngụy thuộc Bắc triều, Trung Quốc. Theo Tăng chế qui định, chức quan này có thẩm quyền xử trị các tăng ni phạm tội giết người và các tội khác. Lúc đầu, chức này được gọi là Chiêu huyền thống. Dưới chức này có chức Quốc đô (nguyên gọi là Chiêu huyền đô Duy na). Chế độ quan tăng bắt đầu được đặt ra vào thời Ngụy thuộc Nam Bắc triều. Người đầu tiên lập chức Quốc thống là vua Diêu hưng đời Hậu Tần; đến khoảng năm Hoằng thủy (396-397) thì Đạo vũ đế nhà Bắc Ngụy thiết lập chức Đạo nhân thống để quản lí tông đồ. Đến niên hiệu Hưng an năm đầu (452), ngài Sư hiền đảm nhiệm chức Đạo nhân thống, sau khi ngài Sư Hiền thị tịch thì ngài Đàm Diệu kế vị, đổi tên gọi là Sa môn thống. Niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), vua Văn thành nhà Bắc Ngụy đổi Giám phúc tào (cơ cấu quan tăng Trung ương được thiết lập từ trước) làm Chiêu huyền tự (có thuyết nói do Hiếu văn đổi); Sa môn thống của Chiêu huyền tự được gọi là Chiêu huyền thống. Ngài Pháp thượng thời đó từng giữ chức Chiêu huyền thống suốt 40 năm, từ thời Bắc Ngụy đến thời Bắc Tề. Sau khi Bắc Ngụy bị chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy thì chức Chiêu huyền thống ở Đông Ngụy được gọi là Quốc thống. (xt. Tăng Quan)
quốc túy
National characteristics or spirit.
quốc tăng chính
Văn phòng Tăng Thống—National superintendent of the clergy, an office which at one time existed.
quốc tương tự
4433位於河南開封。又稱繁塔寺。創建於後周顯德元年(954),時稱天清寺、白雲寺。北宋太平興國二年(977)加以修建,明洪武十七年(1384)重建,並改今名;其後,又屢經修葺。寺內有三層六角塼塔,稱為繁臺塔,略稱繁塔。據塔南所存萬曆四十五年(1617)重修碑可知,該塔係建於太平興國年間,元末遭兵火而荒廢,明洪武年間嘗重修之。明末復有流寇之患,遭受破壞,至清順治六年(1649),始由桂山和尚募資建塔及諸堂。民國十七年(1928),馮玉祥毀像驅僧,改為農林實驗場。
quốc tế phật giáo học thuật hội nghị
4441由中、日、韓三國學者共同發起之國際性佛教學術會議,自一九七八年起,每年擇期舉行。第一屆於漢城世宗文化會議館舉行,以「均如大師的華嚴思想」為主題,由是,被埋藏的均如大師之華嚴思想才被發掘整理出來。第二屆亦於世宗文化會議館召開,主題為「新羅元曉大師的思想」,因而喚起學界對其思想、著作之關心。第三屆於日本京都龍谷大學召開,研討「新羅義湘的華嚴思想」。第四屆於漢城新羅大飯店召開,以「華嚴思想和禪門形成─關連於崔致遠」為主題。第五屆於一九八二年十一月,在我國之佛教聖地佛光山舉行,主題為「亞洲佛教源流」,以期在價值觀多元化分岐之時代,探討追溯亞洲共同文化─佛教之源流,而促進三國文化之交流,與佛教教法之傳播。與會者有中村元、趙明基、金知見等十餘位國際知名佛教學者。第六屆於一九八四年七月在韓國漢城春川國立江原大學柏嶺會議館舉行。歷屆會議所發表之論文均輯錄成論文集行世。 美國威斯康辛州另有一同類性質之國際佛教學會(The International Associationof Buddhist Studies),創始人為印度學者納賴博士(Prof. A.K. Narain),約成立於十年前,設址於威斯康辛大學(University of Wisconsin)。該學會歷屆會議皆嘗函邀我國佛教界學者。
quốc vương
4432指統治一國之王。又稱國主、人王。就因果而言,以前世受持十善戒,故今生能統領國土,為人中王。又因得諸天之保護,故又稱天子。〔金光明最勝王經卷三、仁王般若波羅蜜經卷上〕
; Quốc vương hay Thái tử, người được phước báo cao trong hiện tại nhờ tiền kiếp tu trì thập thiện—A king or a prince—One who has attained to his present high estate consequent on keeping all the ten commandments in a previous incarnation.
; (國王) Cũng gọi Quốc chủ, Nhân vương. Chỉ cho ông vua cai trị một nước. Nói theo nhân quả thì người kiếp trước thụ trì giới thập thiện, nhờ thế mà đời này được làm vua thống lãnh đất nước, làm chủ nhân dân. Lại nhân được chư thiên bảo hộ nên cũng gọi là Thiên tử. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng].
quốc vương bất lê tiên nê thập mộng kinh
4432全一卷。東晉曇無蘭譯。又稱國王不犁先尼十夢經、國王不黎先泥十夢經、十夢經。收於大正藏第二冊。係增一阿含大愛道般涅槃分品第九經之異譯單行經。另有二異譯本,即舍衛國王夢見十事經及舍衛國王十夢經。不梨先泥,為梵名 Prasenajit 之音譯,巴利名 Pasenadi,音譯波斯匿。內容敘述波斯匿王所做十個奇怪之夢,外道以為不吉,勸王殺愛妻、近臣等以祀天;後蒙佛陀以正智解夢,遂得安心。
; (國王不梨先泥十夢經) Bất lê tiên nê, Phạm: Prasenajit. Pàli: Prasennadi, Hán âm: Ba tư nặc. Gọi tắt: Thập mộng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Đây là bản lưu hành riêng của kinh thứ 9, phẩm ĐạiÁi đạo bát niết bàn phần trong kinh Tăng nhất a hàm. Nội dung kinh này nói về việc vua Ba tư nặc nằm mộng thấy 10 điều kì lạ, ngoại đạo cho là điềm xấu, khuyên vua nên giết vợ và cận thần để tế trời, cầu bình an, cát khánh. Sau nhờ đức Phật dùng trí tuệ chân chính giải mộng, vua mới được yên lòng. Kinh này có 2 bản dịch khác, đó là kinh Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự và kinh Xá vệ quốc vương thập mộng.
quốc vương ngũ chủng khả ái lạc pháp
4432請參閱 國王不梨先泥十夢經 請參閱 國王不梨先泥十夢經 據佛為優填王說王法政論經載,一國之王有下列五種令人民尊敬、愛樂之法,即:(一)恩養蒼生,謂國王能布德施仁,利濟群生,故人民咸被恩澤而無不愛樂。(二)英勇具足,謂國王英武神授,智勇雙全,德覆萬邦,威加四海,故人民畏威懷德而無不愛樂。(三)善權方便,謂國王智謀機變,神用莫測,於柔順者保護之,於強戾者則以方便制伏之,故人民畏威懷德而無不愛樂。(四)正受境界,謂國王善能籌量府庫之積蓄,而以仁愛之心賑濟疾病、貧乏者,故人民咸被恩澤而無不愛樂。(五)勤修善法,謂國王具足正信,深知果報而修習正因,以證聖果,故人民尊仰效慕而無不愛樂。
; (國王五種可愛樂法) Năm pháp đáng ưa thích của ông vua một nước. Cứ theo kinh Phật vị Ưu Điền Vương thuyết vương pháp chính luận thì ông vua 1 nước có5 điều làm cho nhân dân trong nước tôn kính và yêu thích như sau: 1. Ân dưỡng thương sinh: Quốc vương thường ban bố nhân nghĩa, làm việc lợi ích cứu giúp mọi người, vì thế nhân dân đều được thấm nhuần ân đức và hết lòng yêu quí Quốc vương. 2. Anh dũng cụ túc: Quốc vương trí dũng song toàn, đức trùm muôn cõi, uy vang 4 biển, vì thế nhân dân sợ uy cảm đức của vua và đều quí mến. 3. Thiện quyền phương tiện: Quốc vương tài trí mưu lược, quyền biến khó lường, che chở những người nhu thuận, dùng phương tiện khéo léo chế ngự những kẻ ương ngạnh, hung bạo, vì thế nhân dân sợ uy cảm đức và đều yêu kính vua. 4. Chính thụ cảnh giới: Quốc vương thường khéo trù tính, lo toan, dự trữ đầy đủ kho tàng, đem lòng yêu thương cứu giúp những người bệnh hoạn, nghèo túng, vì thế nhân dân được thấm nhuần ân huệ, không ai không yêu kính quốc vương. 5. Khuyến tu thiện pháp: Quốc vương có đủ lòng tin chân chính, hiểu rõ quả báo mà tu tập chính nhân để chứng chính quả, vì thế nhân dân tôn kính, học tập theo vua và hết lòng yêu mến.
quốc ân
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế. Chùa tọa lạc tại phía tây bắc núi Ngự Bình, trong thôn Phước Quả, phường Trường An. Nguyên chùa có tên là Vĩnh Ân do Hòa Thượng Siêu Bạch Nguyên Thiều, một du tăng Trung Hoa khai sơn vào khoảng năm 1683. Năm năm sau, chúa Nguyễn Phước Thái công nhận là quốc tự và đặt tên lại là Quốc Ân. Năm 1805, công chúa Long Thành hiến 300 lạng bạc để trùng tu. Năm 1842, vua Thiệu Trị lại cấp cho chùa 500 lạng bạc để hoàn chỉnh như chúng ta thấy ngày nay—Name of an old temple in Huế. It is located at northwest of Ngự Bình Hill, in Phước Quả hamlet, Trường An precint. Its original name was Vĩnh An. The temple was built in 1683 by Most Venerable Siêu Bạch Nguyên Thiều, a wandering Chinese monk. Five years later, Lord Nguyễn Phước Thái recognized it as a national temple and renamed it Quốc Ân. In 1805, Princess Long Thành, an elder sister of king Gia Long, had it rebuilt with 300 ounces of silver. In 1842, king Thiệu Trị granted 500 ounces of silver to accomplish its reconstruction as we can see it today.
quốc độ
4430梵語 kṣetra。即指土地、領域或眾生之住所。音譯為剎多羅,簡稱為剎。意譯為土,復又加一「剎」字,故稱剎土。國土有淨土、穢土等區別。
; Kṣetra (S), Khetta (P).
; A country, land, native land, abode of a race or races.
; Nơi ở của các chúng hữu tình—A country—Native land—Abode of a race, or races.
; (國土) Phạm: Kwetra. Hán âm: Sát đa la. Gọi tắt: Sát. Hán dịch: Độ, Sát độ. Chỉ cho đất đai, lãnh thổ hoặc chỗ ở của chúng sinh. Quốc độ có Tịnh độ và Uế độ khác nhau.
quốc độ a du đà
Ayodhyā (S).
quốc độ hải thế giới hải
4431華嚴經把佛土分為國土海與世界海二種。(一)國土海,指不可思議之佛剎,即佛果自體所居之依報,為圓融自在而無法形容之佛境地。此境地既係佛本身在內心所悟證之國土,故僅為佛所了解,因位之眾生既無法窺知,亦無法用語言表達,即使能夠勉強表達,亦僅能以妙極難思、不可言說等反面性言詞表達之。又日本凝然之五教章通路記卷二十六,將六十華嚴如來名號品中文殊師利菩薩所讚歎十句不思議之佛剎、佛國、剎淨、剎起,列為果分依報,即指國土海。 (二)世界海,指因位菩薩所依止之國土,或指佛所教化之場所而言。可分為三類,即:(1)蓮華藏莊嚴世界海,又稱蓮華藏世界、華藏界,雖是果分不可說之境界,但為三生中最後生之依所(即「證入生」之世界),故為可說之世界海,雖然與不可說之境界相同,但非一相一寂之分別世界,而是相互無限之主伴具足,如同帝網(似帝釋天宮殿之天網)之境界。(2)十重世界海,在三千世界之外,別有十世界,即世界性、世界海、世界輪、世界圓滿、世界分別、世界旋、世界轉、世界蓮華、世界須彌、世界相等十世界,此乃對菩薩之十地而現示之「解行生」國土。(3)無量雜類世界海,又稱雜類世界,為「見聞生」之所依,指須彌山形之世界或河形、轉形、旋流形、輪形、樹形、樓觀形、雲形,乃至眾生形之世界,遍滿於一一法界而無障無礙。 總言之,三生所見均不相同,故分三類。然皆相互融合而不相妨礙,故成為一種華嚴世界,而為毘盧遮那佛教化之所。上記之外,「世界海」一語,亦泛指一般之世界,特別是指十重世界中之第二(世界海)而言。〔舊華嚴經卷四、華嚴經孔目章卷一、華嚴經探玄記卷三、卷四、華嚴五教章卷三、五教章通路記卷二十六〕
; (國土海世界海) Chỉ cho cõi nước của Phật. Kinh Hoa nghiêm chia cõi nước Phật làm 2 loại là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Cõi Phật không thể nghĩ bàn, là y báo của tự thể Phật quả, là cảnh giới Phật viên dung tự tại, không thể hình dung được. Đây là cõi nước do chính đức Phật chứng ngộ trong nội tâm, bởi thế chi có Phật hiểu rõ, còn chúng sinh ở giai vị tu nhân không thể nào xét biết được, cũng không thể dùng lời nói để biểu đạt, mà dù có miễn cưỡng biểu đạt bằng lời nói thì cũng chỉ có thể dùng những ngôn từ có tính cách phản diện như: Diệu cực nan tư, bất khả ngôn thuyết... Trong Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 26, ngài Ngưng Nhiên, người Nhật Bản đem Phật sát, Phật quốc, Sát tịnh, Sát khởi trong Thập cú bất tư nghị mà bồ tát Văn thù sư lợi tán thán trong phẩm Như lai danh hiệu của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) xếp vào Quả phần y báo, chính là chỉ cho Quốc độ hải. 2. Thế giới hải: Chỉ cho quốc độ mà Bồ tát đang trong giai đoạn tu nhân nương ở, hoặc chỉ cho cõi nước do đức Phật giáo hóa, có thể chia làm 3 loại: a) Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải (cũng gọi Liên hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới): Tuy là cảnh giới thuộc về Quả phần không thể nói bàn, nhưng là chỗ nương ở của Chứng nhập sinh cuối cùng trong 3 sinh (Kiến văn sinh, Giải hành sinh và Chứng nhập sinh), cho nên là thế giới hải có thể nói bàn. Tuy có tướng đồng với cảnh giới không thể nói bàn, nhưng chẳng phải luận thế giới phân biệt nhất tướng nhất tịch, mà là cảnh giới hỗ tương chủ bạn đầy đủ, không giới hạn, giống như tấm lưới của cung điện trời Đế thích. b) Thập trùng thế giới hải: Ngoài 3.000 thế giới còn có 10 thế giới: Thế giới tính, Thế giới hải, Thế giới luân, Thế giới viên mãn, Thế giới phân biệt, Thế giới toàn, Thế giới chuyển, Thế giới liên hoa, Thế giới tu di và Thế giới tướng. Đây là cõi nước Giải hành sinh được thị hiện cho hàng bồ tát Thập địa. c) Vô lượng tạp loại thế giới hải (cũng gọi Tạp loại thế giới): Nơi nương ở của Kiến văn sinh, chỉ cho thế giới có hình núi Tu di hoặc hình sông, hình quay tròn, hình vòng xoáy, hình bánh xe, hình cây, hình lầu gác, hình áng mây, cho thế giới hình chúng sinh đầy khắp các pháp giới mà không bị ngăn ngại. Tóm lại, chỗ thấy của 3 sinh đều không giống nhau, cho nên mới chia làm 3 loại, nhưng 3 loại đều dung hợp nhau chứ không ngăn ngại nhau, vì thế trở thành 1 loại thế giới Hoa nghiêm và là nơi do đức Phật Tì lô giá na giáo hóa. Ngoài những điểm ghi trên, từ Thế giới hải cũng chỉ chung cho thế giới phổ thông, đặc biệt là chỉ cho thế giới hải thứ 2 trong 10 lớp thế giới. [X. kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3, 4, Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3, Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.26].
quốc độ thân
4431梵語 kṣetra-kāya。華嚴宗所說融三世間十身之一,即器世間。於華嚴宗認為有情眾生所依之國土,乃毘盧遮那如來正覺之體依眾生之機所化現者,故稱為國土身。〔舊華嚴經卷二十六、華嚴經探玄記卷十四〕(參閱「十身」440)
; The Buddha as Buddhaksetra or abode of the living; the world as the body of Vairocana.
; Đức Tỳ Lô Giá Na ứng theo căn cơ của chúng sanh mà hiện ra quốc độ cho họ nương vào—The Buddha as Buddhaksetra, or abode of the living; the world as the body of Vairocana.
; (國土身) Phạm: Kwetra-kàya. Tức là khí thế gian, 1 trong 10 thân dung 3 thế gian do tông Hoa nghiêm lập ra. Theo tông Hoa nghiêm thì cõi nước mà hữu tình chúng sinhnươngở là do thể chính giác của Tì lô giá na Như lai tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa hiện ra, cho nên gọi là Quốc độ thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14]. (xt. Thập Thân).
Quốc độ thân 國土身
[ja] コクトシン kokudoshin ||| In Huayan teaching, one of the ten Buddhas of the Realm of Understanding. The land of mountains, rivers, the great earth, grass and trees, just as they are--the body of the Buddha. Seeing the land itself as the body of the Buddha. => Theo giáo lý Hoa Nghiêm, là một trong 10 Phật giới. Núi, sông, đất liền, cỏ cây, tất cả chỉ là thân Phật. Nhìn quốc độ như chính là thân Phật.
quốc độ thế gian
4431三世間之一。又作器世間、住處世間。謂十法界眾生各據依報,所居之十種不同處所。眾生能依之身有十種不同,故所依之國土,亦各有差別,故稱為國土世間。〔大智度論卷四十七、摩訶止觀卷五上〕(參閱「三世間」539)
; The world of countries on which people depend for existence.
; Theo Kinh Hoa Nghiêm thì đây là cảnh giới mà chúng sanh dựa vào để sinh tồn, một trong ba loại thế gian—According to the Flower Adornment Sutra, one of the three worlds, the world of countries on which people depend on for existence—See Tam Thế Gian (2).
; (國土世間) Cũng gọi Khí thế gian, Trụ xứ thế gian. Một trong 3 loại thế gian. Chúng sinh trong 10 pháp giới đều tùy y báo của mình mà có 10 chỗ cư trú khác nhau. Thân năng y của chúng sinh có 10 loại bất đồng, nên quốc độ sở y cũng đều khác nhau, vì thế gọi là Quốc độ thế gian. [X. luận Đại trí độ Q.47; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng]. (xt. Tam Thế Gian).
quốc độ tuyệt đối
Sáng tỏ của thể dụng của tự tánh tuyệt đối bất nhị. Khắp thời gian chẳng sanh diệt gọi là Niết bàn; khắp không gian chẳng khứ lai gọi là Như lai; chẳng thị phi phân biệt gọi là Bát nhã; chẳng trụ chẳng đi gọi là thể dụng Bất nhị; chẳng trụ thì phi tịnh, chẳng đi thì phi động, gọi là Như Như Bất Động.
Quốc 國
[ja] コク koku ||| A country, a state. To establish a country. => Quốc gia, nhà nước. Kiến lập quốc gia.
quở mắng
See Quở.
quở phạt
To reprimand with punishment.
quở trách
To rebuke—To scold.
quỳ
To go down on one's knees—To kneel.
quỳ bái
Quỳ lạy hay kỉnh lễ—To kneel and worship, or pay respect.
quỳ hương
Một hình thức phạt mà người bị phạt phải quỳ cho đến khi tàn một cây hương. Một vài loại nhang cháy hết phải mất mấy giờ đồng hồ—A form of punishment where on has to kneel until the incense burned out. Some incense takes several hours before it burned out completely.
quỳ lô
Quỳ để dâng hương—To kneel and offer incense.
Quỳ tâm
(葵心): tấm lòng trong sạch hướng về ánh sáng mặt trời, tâm tận trung và cung kính đối với nhà vua hay người bề trên. Quỳ (葵) là một loại rau hướng về bốn phương mà nở hoa; như Sở Quỳ (楚葵) là loại rau cần, Phù Quỳ (鳬葵) là rau nhút, Nhật Hướng Quỳ (日向葵) là hoa hướng dương, v.v. Cho nên quỳ tâm còn có nghĩa là tâm chí thành, chí kính hướng về đấng tối cao. Trong bài thơ Hữu Tửu (有酒) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Quỳ tâm khuynh hề hà hướng, tùng ảnh trực nhi thục minh (葵心傾兮何向、松影直而孰明, Lòng thành nghiêng chừ nào hướng, tùng bóng thẳng mà sáng đâu ?).” Hay trong bài Phụng Hòa Trần Hiền Lương (奉和陳賢良) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống cũng có câu: “Vọng cùng hải biểu thiên hoàn viễn, khuynh tận quỳ tâm nhật du cao, thân ngoại phù danh hưu tỏa tỏa, mộng trung quy tư dĩ thao thao (望窮海表天還遠、傾盡葵心日愈高、身外浮名休琐琐,梦中归思已滔滔。身外浮名休瑣瑣、夢中歸思已滔滔, Trông cùng biển cả trời xa thẳm, nghiêng tận lòng thành trời lên cao, thân thoát huyễn danh thôi bôn tẩu, mộng trong về ngẫm thôi lao đao).” Hoặc trong bài Đào Hoa Phiến (桃花扇) của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh có câu: “Bồ kiếm hà tu thức, quỳ tâm vị khẳng sai (蒲劍何須試、葵心未肯差, Kiếm cỏ làm sao thử, lòng thành đâu biết sai).”
quỳnh ba nam giao
6668(1086~?)西藏佛教迦爾居派分支香巴迦爾居之創始者。「瓊波」乃家族姓氏,「南交」意譯瑜伽師,故又稱瓊波瑜伽師。幼習棒教,復學寧瑪派大圓滿法,曾七度赴印學法,回藏後從迦當派高僧朗日塘巴受比丘戒。住盆域覺波山,建寺弘法。復於後藏香地(西藏南木林縣)建寺傳法,攝受弟子八萬餘人,因稱香巴迦爾居。其所教授之法皆從印度傳來,故別成一派。
quỳnh chi ngọc diệp
Jade branches and leaves (talk of imperial descendants).
quỵ
1) Quỳ gối: To kneel. 2) Té quỵ: To fall on one's knees.
quỵ bái
5612印度禮法之一。佛在世時,國人遇婆羅門則跪拜,遇沙門則敬禮之。毘奈耶雜事卷一(大二四‧二○七下):「六眾報曰:『汝等愚人,不閑(嫻)禮式,誰合跪拜?誰當敬禮?』彼人答曰:『我等但知見老婆羅門即云跪拜,若見苾芻(比丘)便云敬禮。』」
; (跪拜) Một trong các cách lễ bái ở Ấn Độ. Lúc đức Phật còn tại thế, người trong nước gặp Bà la môn thì quì lạy, gặp sa môn thì kính lễ. Tì nại da tạp sự quyển 1 (Đại 24, 207 hạ) nói: Lục chúng bảo rằng: Các ngươi đồ ngu không biết cách lễ bái, ai là người quì lạy, ai là người nên kính lễ? Những người ấy trả lời: Chúng tôi chỉ biết rằng hễ gặp người Bà la môn già thì quị bái, nếu thấy Tỉ khưu thì kính lễ.
quỵ lô
5612跪於爐前拈香之謂,通常行之於聖節、國忌,或祖師之忌日。於勅修百丈清規卷上祝釐章聖節條載有跪爐行儀之作法,於法會進行時,兩序分班對立,住持乃就跪,其後知客跪進手爐,侍者跪進香盒。至維那白佛宣疏畢,知客復跪接爐,住持始收坐具。此一儀禮,昔時於我國叢林中頗爲盛行。〔大宋僧史略卷中行香唱導條、禪林象器箋報禱門〕
; (跪爐) Quì trước lư hương để niệm hương, thông thường được thực hành vào các dịp Thánh tiết, quốc kị, hoặc ngày kị Tổ sư. Trong điều Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng có ghi rõ tác pháp Quị lô, tức lúc cử hành pháp hội thì Lưỡng tự chia ra 2 ban đứng đối diện nhau, vị Trụ trì liền đến quì, phía sau vị Trụ trì là vị Tri khách quì dâng cái lư hương cầm tay (tức lư hương có cán), rồi đến vị Thị giả quì dâng hộp hương. Đợi đến khi vị Duy na bạch Phật tuyên sớ xong, thì vị Tri khách lại quì để tiếp lấy lư hương, sau đó vị Trụ trì mới thu tọa cụ. Nghi thức lễ bái này rất thịnh hành trong các tùng lâm Trung quốc thời xưa. [X.điều Hành hương xướng đạo trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quỵt
To refuse to pay.
quỵt nợ
To refuse to pay a debt.
quỷ
4365梵語 preta,巴利語 peta。即具有恐怖形相、令人惱害之怪物。為五道之一,六道之一。通常指逝者、死人之精魂而言。大乘佛教經典於六道中所立之餓鬼道,為遭諸天驅使而常苦飢渴者。另有弊鬼、有威德鬼、無威德鬼、多財餓鬼、無財餓鬼等,皆住於閻魔王界。古代印度,人死後不被供養,則被推測為鬼,而收集此類餓鬼之事蹟,稱為餓鬼事經(巴 Petavatthu),為南傳大藏經小部經之一。佛經中所言之阿傍、羅剎、山精、雜魅等,皆為鬼神。另兇暴之精靈、地獄之獄卒,亦為鬼之一種。 此外,據俱舍論卷八載,鬼有胎生、化生二種。另據阿毘達磨順正理論卷三十一舉出炬口鬼、鍼口鬼、臭口鬼、鍼鐵毛鬼、臭毛鬼、癭鬼、希祀鬼、希棄鬼、大勢鬼等九種鬼。又佛典中,冠以「鬼」字之名相極多,如鬼類世界,稱為鬼趣;閻羅王之使者,稱為鬼使;陷於種種邪見,稱為鬼家、鬼家活計、鬼窟裡;鬼魅所造成之災難,稱為鬼難;受鬼魅附著而生病,稱為鬼病;缺乏見識,所知未徹,稱為鬼解;若畜生道與餓鬼道合稱之,則稱鬼畜。〔賢愚經卷十三、佛本行集經卷四十九〕(參閱「九類鬼」161、「鬼神」4366)
; (I) Nghĩa của quỷ—The meanings of preta: 1) Ma quỷ: Preta (skt)—Tiếng Phạn là Lệ Tiết Đa, trước kia dịch là quỷ đói, nay chỉ dịch là quỷ—Demon—Evil being—Disembodied spirit—Dead person—Ghost—Devil—Departed—See Ngạ Quỷ. 2) Trục: An axle. 3) Luật lệ: A rule. (II) Phân loại quỷ (theo nghĩa #1)—Categories of pretas (according to the meaning of #1): A1) Tam Chủng Quỷ—Three kinds of demons: 1) Cự Khẩu Quỷ: Quỷ có miệng bốc lửa như ngọn đuốc—Ghosts with mouths like burning torches. 2) Châm Hầu Quỷ: Quỷ có cuống họng nhỏ như cây kim—Demons with throats no bigger than needles. 3) Xú Quỷ: Quỷ có hơi thở hôi thối—Demons with vile breath. A2) Tam chủng quỷ—Other three classifications of demons: 1) Châm Mao Quỷ: See Quỷ (4). 2) Xú Mao Quỷ: See Quỷ (5). 3) Anh Quỷ: See Quỷ (6). A3) Tam chủng quỷ khác—Other three classifications of demons: 1) Hy Từ Quỷ: See Quỷ (7). 2) Hy Thí Quỷ: See Quỷ (8). 3) Đại Thế Quỷ: See Quỷ (9). B) Cửu Quỷ: Chín loại quỷ—Nine classes of demons—See Cửu Quỷ.
; (鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Quái vật có hình tướng rất đáng sợ, làm não hại người, là 1 trong 5 đường, 1 trong 6 đường, thông thường chỉ cho tinh linh người chết. Trong kinh điển Đại thừa có lập Ngã quỉ đạo trong Lục đạo. Ngã quỉ đạo do chư thiên sai khiến và thường chịu khổ đói khát. Ngoài ra còn có các loài quỉ như: Tệ quỉ, Hữu uy đức quỉ (quỉ có uy đức), Vô uy đức quỉ, Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của), Vô tài ngã quỉ...đều ở trong cõi Diêm ma.Ở Ấn độ đời xưa, người chết rồi mà không được cúng dường thì bị coi là quỉ. Ngã quỉ sự kinh (Pàli: Petavatthu) là 1 kinh của Tiểu bộ kinh thuộc Đại tạng kinh Nam truyền, chuyên thu tập sự tích của loài quỉ đói này. Trong kinh Phật nói A bàng, La sát, Sơn tinh, Tạp mị ... đều là quỉ thần. Còn những tinh linh hung bạo, ngục tốt ở địa ngục cũng là 1 loại quỉ. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì quỉ có 2 loại là Thai sinh và Hóa sinh. Còn luận A tì đạt ma thuận chính lí, quyển 31 thì nêu 9 loại quỉ là: Cự khẩu quỉ (quỉ miệng lửa), Châm khẩu quỉ (quỉ miệng kim), Xú khẩu quỉ(quỉ miệng hôi), Châm mao quỉ (quỉ lông nhọn như kim), Xú mao quỉ (quỉ lông hôi), Anh quỉ (quỉ bướu cổ), Hi tự quỉ (quỉ mong được cúng tế), Hi khí quỉ (quỉ mong được đồ vứt bỏ) và Đại thế quỉ (quỉ có thế lớn).[X. kinh Hiền ngu Q.13; kinh Phật bản hạnh tập Q.49]. (xt. Cửu Loại Quỉ, Quỉ Thần).
quỷ biện
5608以巧妙靈活之技巧、似是而非之推論所發表之虛偽議論。在紀元前五世紀左右被稱爲詭辯學(Sophist),專門從事詭辯之爭論術。從正面意義而言,詭辯可以養成批判精神;自負面意義觀之,則能陷人於巧言善辯、強詞奪理。印度六師外道中之珊闍耶(梵 Sañjaya,巴同)即是詭辯論(巴 amarā-vikkhepika)者。其議論「猶如鰻魚,狡滑巧妙,莫測高深」,然因其自身缺乏確定之知識價值,故又稱爲不可知論(巴 ajñāna-vāda)。另據入楞伽經卷六盧迦耶陀品、巴利文長部經註(Sumaṅgala-vilāsinī)載,古代印度外道中之順世外道(梵 Lokāyata,巴同,音譯作盧迦耶陀、路伽耶他)乃爲一著名之詭辯學派,彼輩擅長詭辯話法(巴 vitaṇḍa-vāda-satthā),能以種種辯才、巧妙之詞句迷惑世間,否定婆羅門傳統之神格,於四大種之外,別立「靈的個我」,而主張唯物論之快樂主義。在印度論理學中,詭辯論被視爲論理學中之一大要素,然佛教則視之爲不正當而且無益之議論,故斥之爲戲論(梵 prapañca)。〔大乘廣百論釋論卷二、成唯識論卷一、金七十論〕
; (詭辯) Biện luận một cách kỳ quái. Ở khoảng thế kỷ V trước Tây lịch, lối biện luận này được gọi là Quỉ biện học (Sophist) chuyên về thuật tranh luận kì quái. Ở một phương diện thì quỉ biện mang lại cái tinh thần phê phán, nhưng ở một mặt khác, nó lại hãm người ta vào cái thế biện luận quỉ quyệt, đoạt lời cướp lí. San xà da (Phạm, Pàli: Saĩjaya) trong 6 phái ngoại đạo ở Ấn Độ tức là người chủ trương Quỉ biện luận (Pàli:Amara-ikkepika). Sự biện luận của họ nhiều mưu gian. khéo léo trơn tru, giống như cá chạch, khó nắm bắt được, hơn nữa, vì nó thiếu giá trị tri thức chính xác nên còn được gọi là Bất khả tri luận (Pàli: Ajĩàna - vàda). Cứ theo phẩm Lô ca da đà và Trường bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì) tiếng Pàli, ngoại đạo Thuận thế (Phạm, Pàli: Lokàyata, Hán âm: Lô ca da đà, Lộ già da tha) trong các ngoại đạo Ấn độ thời xưa là 1 học phái quỉ biện nổi tiếng; họ rất giỏi thuật biện luận kì quặc (Pàli: Vitaịđa-vàda-satthà), thường dùng những lời nói quanh co, khéo léo để mê hoặc người đời, bác bỏ thần cách truyền thống của Bà la môn, ngoài 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió) còn lập thêm linh ngã và chủ trương chủ nghĩa khoái lạc của Duy vật luận. TrongLuận lí học của Ấn Độ, Quỉ biện luận được xem là 1 yếu tố lớn của Luận lí học, nhưng Phật giáo thì cho đó là hí luận (Phạm:Prapaĩca). [X. Đại thừa quảng bách luận thích luận Q.2; luận Thành duy thức Q.1; luận Kim thất thập].
quỷ biện bà la môn
4368印度古代一婆羅門外道名。善長辯論,後為馬鳴所降伏。大唐西域記卷八(大五一‧九一三上):「建擊揵稚窣堵波北,有故基,昔鬼辯婆羅門所居處也。初,此城中有婆羅門,茸宇荒藪,不交世路,祠鬼求福,魍魎相依,高論劇談,雅辭響應,人或激難,垂帷以對,舊學高才,無出其右,士庶翕然,仰之猶聖。」
; (鬼辯婆羅門) Tên của 1 Bà la môn ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, có tài biện luận khéo léo, sau bị ngài Mã minh hàng phục. Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51, 913 thượng) nói: Phía bắc tháp Kiến kích kiền trĩ có một nền cũ, xưa là chỗ ở của Quỉ biện Bà la môn. Ngày trước, trong thành có 1 người Bà la môn sống trong căn nhà hoang vắng tồi tàn, không giao thiệp với đời, thờ cúng quỉ để cầu phúc, yêu quái nương cậy, thường cao giọng bàn luận suông, lời lẽ văn nhã, có người đến hỏi vặn thì buông màn đối đáp, học rộng tài cao không ai sánh bằng, mọi người đều ngưỡng mộ như thánh.
quỷ bịnh
Bị ma quỷ ám vào người mà thành bệnh—Sickness caused by demons or ghosts.
quỷ bố mộc
4366即指柳木。灌頂經卷九載,昔有世尊住世時,維耶離國多以殺獵為業,故招致癘氣疾疫。時有禪提比丘往該國,以如來所說召龍無上神咒化導人民,救治人民諸疾病,一時百姓無憂,毒氣不行。然禪提比丘命終後,毒氣復興,疫病眾多,病亡無數;諸人民憶起禪提比丘,遂往奔其住所,見其所嚼楊枝,擲地成樹,樹下有清泉水,人民遂禮拜彼樹,並折楊枝,取回泉水,以楊柳枝拂除病者,以水灑諸病人,病者悉得身體清涼,百病除癒。後世遂以柳木稱為鬼怖木。
; (鬼怖木) Loại cây làm cho quỉ phải sợ hãi, tức chỉ cho cây liễu. Theo kinh Quán đính quyển 9, thuả xưa, khi có đức Thế tôn trụ thế, dân nước Duy da li phần nhiều làm nghề săn bắn, giết chóc, cho nên mang lại bệnh dịch. Bấy giờ, có tỉ khưu Thiền đề đến nước này, dùng thần chú Triệu long vô thượng của Như lai giáo hóa nhân dân, chữa trị các bệnh, trong 1 thời gian, trăm họ hết lo âu, khí độc không hoành hành. Nhưng sau khi tỉ khưu Thiền đề mệnh chung, khí độc lại nổi lên, dịch bệnh càng nhiều, người chết vô số. Nhân dân nhớ đến tỉ khưu Thiền đề, liền đến chỗ ở của ngài, thấy cành dương mà lúc còn sống, ngài dùng để xỉa răng, rồi vứt xuống đất, nay đã mọc thành cây, dưới gốc cây có dòng suối nước trong, họ bảo nhau lễ bái cây ấy, rồi bẻ lấy cành dương và múc nước suối đem về, nhúng cành dương vào nước và rảy lên thân người bệnh, tất cả đều mát mẻ, trăm bệnh khỏi hết. Người đời sau căn cứ vào sự tích này mà gọi cây liễu là Quỉ bố mộc.
quỷ dục
The evil demon of lust.
quỷ hiệu thần khấp
4367禪林用語。形容喜怒哀樂至為激烈之貌,猶如鬼神亦因受驚動而號泣。碧巖錄第五十九則(大四八‧一九二上):「水灑不著,風吹不入,虎步龍行,鬼號神泣。(中略)非但這僧,直得鬼也號、神也泣,風行草偃相似。」
; (鬼號神泣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quỉ gào thần khóc, miêu tả cái dáng vẻ mừng giận, buồn vui cực kì mãnh liệt, giống như quỉ thần cũng bị xúc động mà gào khóc. Bích nham lục tắc 59 (Đại 48, 192 thượng) nói: Nước rưới không dính, gió thổi chẳng vào, hổ (cọp) bước rồng lượn, quỉ gào thần khóc (...) chẳng những chỉ ông tăng này mà cả đến quỉ cũng gào, thần cũng khóc, giống như gió lướt cỏ rạp vậy.
quỷ hỏa
Lửa của loài quỷ—Spirit lights.
quỷ kiến
4366即邪見。以無因果之妄見,認為世間無可招結果之原因,亦無由原因而生之結果,故惡不足恐,善亦不足好。此種謬見,乃邪見中之最邪者。〔成唯識論卷六、俱舍論卷十九〕(參閱「五見」1099)
; Cái thấy biết của loài quỷ, ví với tà giáo—Demon views, i.e. heterodox teaching.
; (鬼見) Cái thấy của quỉ, tức chỉ cho tà kiến. Vọng kiến cho rằng không có nhân quả, ở đời chẳng có nguyên nhân nào mang lại kết quả, mà cũng chẳng có kết quả nào từ nguyên nhân sinh ra, bởi thế cái ác không đáng sợ, mà điều thiện cũng chẳng đáng ham. Kiến chấp sai lầm này là loại kiến chấp tà khúc nhất trong các tà kiến, cho nên gọi làQuỉ kiến. [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Câu xá Q.19]. (xt. Ngũ Kiến).
quỷ kế
Wicked (evil) scheme.
Quỷ Lý Tử Đan
(鬼理死丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.
quỷ lục
4367據灌頂經卷十二載,閻羅殿內有一記錄世人所犯罪過之籍冊,此籍冊係由地下鬼神依照世人所造諸惡而奏上,最後由閻羅王據之而判定其人之輕重刑罰。
; Tờ trát bằng sắt ghi tội ở phủ Diêm Vương—The iron records, containing the sins of men in Yama's office in Hades.
; (鬼錄) Quyển sách do quỉ thần ghi chép. Theo kinh Kim cương đính quyển 12, trong điện của vua Diêm la có 1 quyển sách để ghi chép những tội lỗi mà người đời đã phạm phải. Quyển sách này là do quỉ thần ở dưới đất chiếu theo những tội ác mà người đời đã tạo để ghi chép rồi tâu lên, cuối cùng, vua Diêm la căn cứ vào đó để quyết định các hình phạt nặng hay nhẹ đối với các tội nhân.
quỷ miếu
4367為祭祀鬼子母神之堂塔。鬼子母神即訶利帝母,乃安產及幼兒之保護神,故自印度即有專門立其堂塔以奉祀之風習,然今已罕見。釋氏要覽卷下(大五四‧三○三中):「傳云:中國僧寺立鬼廟。(增輝記云:即鬼子母廟也)」。
; (鬼廟) Miếu thờ thần Quỉ Tử mẫu. Thần Quỉ tử mẫu tức là Ha Lợi đế mẫu, là thần bảo hộ sự sinh nở và trẻ thơ được bình an, cho nên ở Ấn Độ từ xưa đã có tập tục lập miếu cúng thần này, nhưng ngày nay ít thấy. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 303 trung) nói: Tương truyền, các chùa ở Trung quốc có lập Quỉ miếu (Tăng huy kí ghi chú rằng: Tức là miếu thờ Quỉ tử mẫu).
quỷ môn
4366鬼出入之門,稱為鬼門。古來民間相傳鬼門位於家宅或城廓之東北角,故東北角向為一般人所忌諱。〔法苑珠林卷六、類聚名物考卷三三八〕
; Cửa quỷ, cửa Đông Bắc của nhà ở và thành quách, là nơi mà quỷ có thể đến và đi—The northeast corner of the house, through which the spirits can come and go.
; (鬼門) Cửa quỉ ra vào. Xưa nay trong dân gian tương truyền rằng cửa quỉ ra vào là ở góc đông bắc của nhà ở hay thành quách, cho nên dân gian thường kiêng cữ hướng góc đông bắc. [X. Pháp uyển châu lâm Q.6; Loại tụ danh vật khảo Q.338].
quỷ nan
4368由鬼神所招致之災難。法華經卷七普門品(大九‧五七下):「假使興害意,推落大火坑。(中略)或漂流巨海,龍魚諸鬼難;念彼觀音力,波浪不能沒。」
; (鬼難) Tai nạn do quỉ thần gây ra. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 hạ) nói: Giả sử có ý hại/Đẩy xuống hầm lửa lớn (...)/Hoặc trôi giạt giữa biển/Các quỉ nạn rồng cá/Niệm sức Quán âm kia/Sóng nước chẳng nhận chìm.
quỷ nhãn tình
4367禪林用語。鬼怪之眼睛。比喻不正見,或毫無價值之見解。碧巖錄第五則之夾注(大四八‧一四四下):「山僧從來不弄鬼眼睛。」
; (鬼眼睛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con mắt quỉ quái. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để ví dụ cái thấy không chân chính, hoặc kiến giải không chút giá trị gì. Phần giáp chú (chú thích bên cạnh) trong Bích nham lục tắc 5 (Đại 48, 144hạ) ghi: Sơn tăng này xưa nay không dám đùa giỡn với con mắt quỉ quái.
quỷ niêm ngũ xứ
4367謂鬼能黏著人之四肢與頭,然終不能折伏人之精進力。此為大智度論卷十六所載之故事。釋迦文佛前世曾為賈客主,一日遇羅剎鬼,賈客主以右拳擊之,拳即著鬼,挽不可離,復以左拳擊之,亦不可離,以右足蹴之,足亦黏著,復以左足蹴之,亦復如是,以頭衝之,頭即復著。鬼問(大二五‧一七四中):「『汝今如是,欲作何等?心首伏未?』答言:『雖復五事被繫,我心終不為汝伏也,當以精進力,與汝相擊,要不懈退。』」鬼思其言,喜於賈客主之精進力,乃放之令去。
; (鬼粘五處) Quỉ dính vào 5 chỗ. Nghĩa là quỉ có thể dính chặt vào tứ chi và đầu của người, nhưng cuối cùng không thể tiêu diệt được sức tinh tiến của người. Luận Đại trí độ quyển 16 kể rằng: Tiền thân của đức Phật Thích ca từng là một thương gia, một hôm gặp quỉ La sát. Thương gia dùng nắm tay phải đánh quỉ, nắm tay liền dính vào quỉ, kéo mãi không ra; lại dùng nắm tay trái đánh nữa và cũng bị dính như nắm tay phải, kéo cũng không ra; thương gia dùng chân phải đá nó, chân cũng bị dính, lại dùng chân trái cũng bị như vậy, cuối cùng dùngđầuhúc nó, đầu cũng dính luôn. Lúc đó, quỉ hỏi (Đại 25, 174 trung): Bây giờ ông đã như thế, muốn làm gì nữa không? Chịu khuất phục chưa? Đáp: Tuy 5 chỗ của ta bị dính vào ngươi, nhưng cuối cùng tâm ta không bị ngươi hàng phục, ta sẽ dùng sức tinh tiến đối địch với ngươi, quyết không lùi bước. Quỉ suy nghĩ về sức tinh tiến liền thả thương gia ra và cho đi.
quỷ pháp giới
Một trong mười pháp giới chúng sanh, thế giới của loài quỷ—The region or realm of demons, one of the ten regions of existence—See Thập Giới (2).
quỷ phạm
Rule—Mode.
quỷ phạm sư
Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo thọ—A teacher of rules, disciplines, morals.
quỷ quyệt
Cunning—Crafty—Foxy—Clever.
quỷ quật lí
4367禪林用語。又作假解脫坑。幽鬼所棲之處,即闇黑之處;比喻拘泥於情識,盲昧無所見之境界。或指習禪求悟之過程,陷入空之一端而執之為悟,滯礙不通,反成邪見。碧巖錄第一則(大四八‧一四一上):「休相憶(道什麼?向鬼窟裏作活計!)」〔碧巖錄第九十七則〕
; (鬼窟裏) Cũng gọi Giả giải thoát khanh. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hang quỉ ở, tức chỗ tối tăm. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ cho cảnh giới câu nê vào tình thức nên mờ mịt không thấy được chân lí. Hoặc chỉ cho quá trình tu thiền cầu ngộ,Thiền giả bị rơi vào 1 bên không mà chấp đó là ngộ, thành ra bị kẹt không thông, trở thành tà kiến. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 141 thượng) nói: Thôi đừng nhớ!( Nói cái gì? Tìm kế sống trong hang quỉ à!). [X.Bích nham lục tắc 97].
quỷ thuật
Magic.
quỷ thành
4366乾闥婆城之異稱。乾闥婆為八部眾之一。屬鬼神之類,故稱其所居之城為鬼城。(參閱「乾闥婆城」4372)
; Tên khác của thành Càn Thát Bà (lầu do hơi nước biến thành)—The demon-city, that of Gandharvas.
; (鬼城) Tên gọi khác của thành Càn thát bà. Càn thát bà là 1 trong 8 bộ chúng, thuộc loại quỉ thần, cho nên thành của thần này ở gọi là Quỉ thành. (xt. Càn Thát Bà Thành).
Quỷ thần
(鬼神): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho quái vật có đủ uy lực khủng khiếp, có thể biến hóa tự tại; được chia thành hai loại thiện và ác. Trường hợp bảo vệ thế gian hoặc hộ trì Phật pháp như Đại Phạm Thiên Vương (大梵天王), Tam Thập Tam Thiên Vương (三十三天王), Tứ Thiên Vương (四天王), Viêm Ma Vương (炎魔王), Nan Đà Long Vương (難陀龍王), Bạt Nan Đà Long Vương (跋難陀龍王), v.v., đều là quỷ thần thiện. Trường hợp như La Sát (s: rākṣasa, 羅剎), v.v., thuộc về quỷ thần ác. Còn Dạ Xoa (s: yakṣa,p: yakkha, 夜叉) thì thuộc về cả hai thiện và ác. Tuy nhiên, quỷ thần được đề cập trong Phật Giáo là chỉ cho 6 bộ quỷ thần, gồm Càn Thác Bà (s: gandharva, p: gandhabba, 乾闥婆), Dạ Xoa, A Tu La (s, p: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garuḍa, 迦樓羅), Khẩn Na La (s: kiṃnara, p: kinnara, 緊那羅), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽). Vào thời cổ đại Ấn Độ, từ thời đại Veda trở về sau, trong dân gian rất thịnh hành tín ngưỡng quỷ thần; về sau một bộ phận tín ngưỡng này thâm nhập vào Phật Giáo, nổi bậc nhất là Mật Giáo; tỷ dụ như các Minh Vương có hình giận dữ vốn hiển hiện pháp thân của Phật Tỳ Lô Giá Na, cũng thuộc loại quỷ thần. Ngoài ra, trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) thuật lại rất rõ chư thiên quỷ thần, và quý vị này được Thiên Thai Tông tôn sùng cao độ. Trong bộ Trùng Biên Chư Thiên Truyện (重編諸天傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1658), 2 quyển, do Thích Hành Đình (釋行霆) ở Ô Thú (烏戍) nhà Tống biên soạn, thâu lục đầy đủ các quỷ thần được đề cập trong kinh điển. Trong bài Nguyên Quỷ (原鬼) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) có giải thích rằng: “Vô thanh dữ hình giả, quỷ thần thị dã (無聲與形者、鬼神是也, cái không có tiếng và hình chính là quỷ thần vậy).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh có câu rằng: “Mai sau dầu đến thế nào, kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần.” (2) Chỉ chung cho các thần linh, tinh khí. Như trong Sử Ký (史記), phần Ngũ Đế Bổn Kỷ (五帝本紀), có câu: “Lịch nhật nguyệt nhi nghênh tống chi, minh quỷ thần nhi kính sự chi (曆日月而迎送之、明鬼神而敬事之, trãi tháng năm mà đón đưa ấy, rõ quỷ thần mà kính thờ ấy).” (3) Chỉ cho hình thể và linh hồn. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Lễ Vận (禮運), có đoạn: “Cố nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, Ngũ Hành chi tú khí dã (故人者、其天地之德、陰陽之交、鬼神之會、五行之秀氣也, cho nên con người là đức của trời đất, giao tiếp của âm dương, tụ hội của quỷ thần, khí tốt của Ngũ Hành vậy).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) giải thích rõ rằng: “Quỷ vị hình thể, thần vị tinh linh (鬼謂形體、神謂精靈, quỷ là hình thể, thần là linh hồn).”
quỷ thần
4366具有恐怖威力,能夠變化自在之怪物。分為善惡二種,若守護世間,或護持佛法者,如大梵天王、三十三天王、四天王、炎魔王、難陀龍王、跋難陀龍王等,盡為善鬼神;若羅剎等為惡鬼神。至於夜叉則通屬善惡兩方。然佛教一般所謂之鬼神,通常係指乾達婆、夜叉、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽等六部鬼神。於印度古代,自吠陀時代以降,一般人甚為流行鬼神信仰,其後部分為佛教所承襲,尤以密教為然,例如由毘盧遮那法身所顯現之忿怒形諸明王即屬之。此外,金光明經中所述之諸天鬼神甚詳,此等鬼神甚受天台宗之尊崇。宋代之行霆曾編著諸天傳二卷,以收錄諸經中所列舉之鬼神記載。〔長阿含卷十二大會經、大方等大集經卷四十九、守護大千國土經卷上、經律異相卷四十六〕
; 1) Quỷ và thần, từ dùng để gọi chung những người chết, cùng với quỷ, vá bát bộ Thần như Thiên, Long, vân vân—Ghosts and spirits, a general term which includes the spirits of the dead, together with demons, and the eight classes of spirits, such as devas, nagas, etc—See Thiên Long Bát Bộ. 2) a) Quỷ diễn dịch cái gây nên sự ghê sợ: Preta is interpreted as “Causing fear.” b) Thần diễn dịch sự uy nghi mạnh mẽ: Spirits are interpreted as “Potent and powerful.”
; (鬼神) Loại chúng sinh có uy lực đáng sợ, thường biến hóa một cách tự tại, được chia làm 2 loại thiện và ác. Nếu che chở cho thế gian, hoặc giữ gìn, bảo vệ Phật pháp, như Đại phạm thiên vương, Tam thập tam thiên vương, Tứ thiên vương, Viêm ma vương, Nan đà long vương, Bạt nan đà long vương ... thì đều là quỉ thần thiện; nếu như La sát... thì là quỉ thần ác. Còn Dạ xoa thì thuộc cả 2 loại thiện và ác. Trong Phật giáo thì quỉ thần thông thường là chỉ cho 6 bộ quỉ thần: Càn thát bà, Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la và Ma hầu la già. Ở Ấn Độ đời xưa, từ thời đại Phệ đà về sau, tín ngưỡng quỉ thần lưu hành rất rộng, sau này, một bộ phận được du nhập Phật giáo, nhất là Mật giáo, chẳng hạn như hình tướng phẫn nộ của các vị Minh vương là do pháp thân Tì lô giá na hiển hiện, đều thuộc loại này. Ngoài ra, kinh Kim quang minh nói rất rõ về chưthiên, quỉ thần; loại quỉ thần này rất được tông Thiên thai tôn sùng. Ngài Hành Đình đời Tống có biên soạn Chư thiên truyện 2 quyển, thu chép các kí lục về quỉ thần trong các kinh. [X. kinh Đại hội trong Trường a hàm Q.12; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.49; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ quyển thượng; Kinh luật dị tướng Q.46].
quỷ thần thực thời
Giờ ăn của quỷ thần, thường về ban đêm hay chạng vạng tối—The time when the spirits and ghosts feed, i.e. at night.
quỷ thực thời
See Quỷ Thần Thực Thời.
quỷ tiên
Pretas or malevolent rsis—Ghost genii.
quỷ tiên cố thi
4367經律異相卷四十六載,昔有一人死,魂還,自鞭其屍。旁人問曰(大五三‧二四四上):「是人已死,何以復鞭?」報言:「此是我故身,為我作惡,見經戒不讚,偷盜欺詐,犯人婦女,不孝父母兄弟,惜財不肯布施。今死,令我墮惡道中,勤苦毒痛,不可復言,是故來鞭之耳!」
; (鬼鞭故尸) Quỉ đánh vào xác chết. Kinh luật dị tướng quyển 46 chép: Xưa có 1 người chết, hồn trở lại tự đánh vào xác chết, người bên cạnh hỏi (Đại 53, 244 thượng): Người này đã chết, vì sao còn đánh? Đáp: Đây là thân cũ (cố) của tôi, làm nhiều điều ác, không tán thán giới kinh, trộm cắp lừa gạt, xâm phạm phụ nữ, bất hiếu với cha mẹ, không thương yêu anh em, tiếc của không chịu bố thí. Nay chết rồi khiến tôi phải đọa vào đường ác, đau đớn khổ sở không thể nói hết, nên tôi trở lại đánh nó!.
quỷ tiễn mao
loài quỷ có lông cứng tua tủa trên thân như mũi tên.
quỷ trì
Biết luật và giữ luật không sai chạy—A rule and its observance, to know the rule and hold it without confusion with other rules or doctrines.
quỷ tử mẫu
Hariti (skt)—Tiếng Phạn gọi là Ha Lê Đế, là người đàn bà thề ăn hết con nít trong thành Vương Xá, đã tái sanh làm Nữ La Sát, và sanh ra 500 con, rồi sau đó bà tuần tự mỗi ngày ăn mỗi đứa. Tuy nhiên sau nầy bà quy-y với Đức Phật và đắc lực hộ trì chư Tăng Ni cũng như tứ chúng, nhất là những người đàn bà trong thời kỳ sanh đẻ. Người ta thường thấy hình của bà trong các ni viện—A woman who has vowed to devour all the babies at Radjagriha, was reborn as Rakshasi, and gave birth to 500 children, one of which she was to devour every day. However, she was converted by Sakyamuni Buddha, she entered a convent and became a protectress of Buddhism. Her image is to be seen in all nunneries.
quỷ tử mẫu kinh
4365全一卷。全稱佛說鬼子母經。譯者佚名。收於大正藏第二十一冊。內容敘述鬼子母食人之子,佛藏其愛子以度化之,使擁護三寶。然此經所述較有部毘奈耶雜事卷三十一所說疏略。
; (鬼子母經) Gọi đủ: Phật thuyết quỉ tử mẫu kinh. Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về việc Quỉ tử mẫu ăn thịt con trẻ của người ta, đức Phật bèn giấu đứa con mà nó yêu thương để hóa độ nó. Nhờ đó, Quỉ tử mẫu tỉnh ngộ, không cònăn thịt trẻ con nữa và dốc lòng hộ trì Phật pháp.
quỷ tử mẫu thần
4365梵名 Hārītī。音譯作訶利底、迦利帝、訶利帝母。為青色、青衣之意。意譯為愛子母、天母、功德天等。以其為五百鬼子之母,故稱鬼子母。本為惡神之妻,生子五百,因前生發願,食王舍城所有兒子,由其邪願,命終遂生為藥叉,故至王舍城,專門竊食他人幼兒。佛陀欲訓誡之,遂藏其愛子,鬼子母神因而悲嘆痛傷。佛遂謂(大五四‧二○九中):「汝有子五百,今僅取汝一子,汝已悲痛若是,然汝食他人之子,其父母之悲又將如何慟乎!」鬼子母神聞而皈佛,立誓為安產與幼兒之保護神。據南海寄歸內法傳卷一受齋軌則載,西方諸寺祭鬼子母,於門屋處或食廚邊,塑畫母形抱一兒子,於其膝下,或五或三,以表其像,每日於前盛陳供食。若有疾病無兒息者,饗食薦之,咸皆遂願。其狀為手持吉祥果之天女形。〔摩訶摩耶經卷上〕
; Nữ Dạ Xoa ăn thịt người—A Raksasi who devours men.
; (鬼子母神) Phạm: Hàrìtì. Hán âm: Ha lợi để, Ha lợi đế, Ha lợi đế mẫu.Hán dịch: Ái tử mẫu, Thiên mẫu, Công đức thiên. Mẹ của 500 quỉ con, vốn là vợ của ác thần. Vì kiếp trước phát tà nguyện ăn thịt trẻ con trong thành Vương xá, nên chết rồi sinh ra làm Dược xoa, đến thành Vương xá chuyên trộm trẻ thơ của người ta để ăn thịt. Vì muốn răn dạy nên đức Phật đem giấu đứa con thương yếu nhất của nó, do đó, Quỉ tử mẫu buồn thương thảm thiết. Đức Phật liền dạy (Đại 54,209 trung): Ngươi có tới 500 đứa con, nay ta chỉ lấy của ngươi có 1 đứa mà ngươi đã đau đớn thảm thương như thế, vậy ngươi ăn thịt bao nhiêu đứa con của những người khác thì họ đau đớn đến chừng nào?. Quỉ tử mẫu nghe đức Phật dạy liền ăn năn sám hối, xin qui y Phật, lập thệ nguyện làm thần hộ trì sự sinh sản được bình an và bảo vệ những trẻ thơ. Theo điều Thụ trai quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì các chùa ở Ấn độ đều có thờ Quỉ tử mẫu. Ở cửa nhà hoặc bên cạnh bếp, đắp vẽ hình người mẹ ôm 1 đứa con, dưới gối thì 5 đứa hoặc 3 đứa để tượng trưng cho Quỉ tử mẫu. Hàng ngày thức ăn ở trước hình tượng để cúng. Nếu người bị bịnh hoặc không có con, xin thức ăn ấy về ăn thì đều toại nguyện. Hình tượng Quỉ tử mẫu là hình Thiên nữ, tay cầm quả cát tường. [X. kinh Ma ha ma da Q.thượng].
quỷ vương bạch hổ
The White Tiger Ghost King.
quỷ vương chủ cầm
The Lord of Birds Ghost King.
quỷ vương chủ hao
The Bad News Ghost King.
quỷ vương chủ hiểm
The Lord of Danger Ghost King.
quỷ vương chủ họa
The Lord of Calamities Ghost King.
quỷ vương chủ mạng
The Lord of Life Ghost King.
quỷ vương chủ mị
The Lord of Mountain Spirit Ghost King.
quỷ vương chủ súc
The Lord of Domestic Animals Ghost King.
quỷ vương chủ sản
The Lord of Birth Ghost King.
quỷ vương chủ thú
The Lord of Beasts Ghost King.
quỷ vương chủ thực
The Lord of Food Ghost King.
quỷ vương chủ tài
The Lord of Wealth Ghost King.
quỷ vương chủ tật
The Lord of Sickness Ghost King.
quỷ vương huyết-hổ
The Blood Tiger Ghost King.
quỷ vương lang nha
The Wolf-Tooth Ghost King.
quỷ vương ngũ mục
The Five-Eye Ghost King.
quỷ vương phi thân
Flying Body Ghost King.
quỷ vương phúc lợi
Thần Tài, nhưng trong Phật giáo, ông được liệt vào quỷ vương—The Blessings and Profit Ghost King—Who is actually the spirit of wealth, but in Buddhism, he is classified as a ghost king.
quỷ vương phụ thạch
The Rock Bearer Ghost King.
quỷ vương tam mục
The Three-Eye Ghost King.
quỷ vương thiên nhãn
The Ghost King Thousand Eyes.
quỷ vương thực noãn
The Womb and Egg-Eating Ghost King—The one who is responsible for miscarriages and premature stillbirths.
quỷ vương truyền bịnh
The Sickness-Spreading Ghost King—Quỷ vương chạy vòng vòng truyền bịnh và dịch tật cho chúng sanh—The one who runs about spreading diseases and encouraging epidemics.
quỷ vương tán-ương
The Ghost King who Brings Disasters.
quỷ vương tụ độc
The Poison-Gathering Ghost King—Người là hóa thân của Bồ Tát, người đã cứu chúng sanh bằng cách gom góp hết tất cả những độc hại của phàm nhân—The beneficial ghost king, he is really a transformation body of a Bodhisattva. He rescues living beings by gathering the poison which they have contracted.
quỷ vương tứ mục
The Four-Eye Ghost King.
quỷ vương từ tâm
The Kindhearted Ghost King—One who leads other ghosts to resolve their thoughts on enlightenment.
quỷ vương tỳ xá da
Pisaca (skt)—A type of evil god that sucks blood and eats phlegm—Loài quỷ dữ chuyên hút máu và ăn tinh khí—See Quỷ vương Đạm Tinh Khí in Vietnamese-English Section.
quỷ vương vô độc
The Poisonless Ghost King.
quỷ vương xích hổ
The Crimson Tiger Ghost King.
quỷ vương ác mục
Evil-Eyed Ghost King.
quỷ vương ác độc
The Ghost King Evil Poison.
quỷ vương đa ác
The Many-Evils Ghost King.
quỷ vương điển quang
The Lightning Flash Ghost King.
quỷ vương đại tranh
The Great Argument Ghost King.
quỷ vương đạm (dã) thú
The Ghost King Animal Eater—The one who eats tigers and other large beasts.
quỷ vương đạm huyết
Blood-eating Ghost King.
quỷ vương đạm tinh khí
Pisaci (skt)— Essence-and-Energy-Eating Ghost King— Ghost King who eats the essential energies of both people and plants—Đạm Tinh Khí Quỷ Vương là vua quỷ người ăn tất cả tinh khí của người và cây cỏ. Người đã giết nhưng không nhường những thịt kiếm được cho vợ mình, không cho ngay cả máu để uống. Đã đối đãi với vợ con như vậy, chúng ta có thể tưởng tượng nó đối xử với người khác như thế nào. Nó cực kỳ bỏn xẻn và kết quả là nó ăn tất cả những bất tịnh nhục—The Ghost king who got his position because he liked to kill but would not give the flesh of any animals he killed to his wife. He would not even give her the blood to drink. Since he treated his own wife this way, you can imagine how he treated other people. He extremely stingy, and as a result, he has to eat the most unclean things.
quỷ vấn mục liên kinh
4366全一卷。後漢安世高譯。收於大正藏第十七冊。內容述說諸餓鬼問惡報業因於目連,目連乃一一答之。
; (鬼問目連經) Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này thuật lại việc các ngã quỉ hỏi ngài Mục liên về nghiệp nhân của các quả báo ác, ngài Mục liên giải đáp rõ từng điều một.
quỷ ám
Bị quỷ ám—To be possessed by the devil.
quỷ đạo
Đường quỷ, còn gọi là Quỷ Thú. Trong lục đạo có hai loại quỷ—The way or destiny of yaksas, raksasas and hungry ghosts, to follow devilish ways. There are two ways of ghosts in the six ways: 1) Ngạ quỷ: Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ. 2) A Tu La: Asuras—See A Tu La.
quỹ
1) Cái tủ: A cupboard—A bureau. 2) Ngân quỹ: Funds—Treasure.
quỹ đầu
Người giữ cửa tiệm—A storekeeper.
ra
To come (go—get) out—To exit—To leave. 1) Ra Công: To invest by offering labor—To take pains to do something. 2) Ra Dấu: To sign (signal). 3) Ra Đi: To depart—To start (away—off—out) one's way—To leave. 4) Ra Đi Nhẹ Tợ Lông Hồng: To leave the secular world as lightly as a feather at the end of one's life. 5) Ra Điều: To appear as if (one knew everything). 6) Ra Đời: To be born—To come into this world. 7) Ra Gì: To be worth something. 8) Ra Hiệu: See Ra Dấu. 9) Ra Hồn: See Ra Gì. 10) Ra Khỏi: See Ra. 11) Ra Lệnh: To command—To order. 12) Ra Mắt: To report oneself to—To appear before—To present. 13) Ra Mặt: To appear—To show oneself. 14) Ra Ngoài: See Ra. 15) Ra Người: To be worth of being a man. 16) Ra Oai: To put on airs. 17) Ra Rả: Without interruption—Incessantly—Ceaselessly. 18) Ra Sức: To make every effort to do something. 19) Ra Tài: To show one's talent. 20) Ra Tay: To set about—To begin to do something. 21) Ra Uy: See Ra Oai. 22) Ra Về: To return—To go back.
ra hạ
Pavàranà (S). Ceremony of the end of the rainy retreat. Also giải hạ, tự tứ, Phật lạp nhật.
ra hầu la
Xem La hầu la.
ra đát nẵng mô nại ra hạ đát đa
Xem Bảo ấn thủ Bồ tát.
Ra-ma-na Ma-ha-ri-shi
S: ramana mahāṛṣi [mahārishi]; 1879-1950, »Ma-ha-ri-shi« là một danh hiệu, dịch nghĩa là Ðại Thấu Thị (大透視), một vị đã nhìn thấu suốt vạn sự;|Một trong những Bậc giác ngộ Ấn Ðộ vĩ đại nhất của thế kỉ này. Năm lên 17 tuổi, Sư tự ngộ được bản tính thanh tịnh – không có sự hướng dẫn của một vị thầy nào – và từ đó luôn luôn sống với sự trực nhận rằng, bản thể và tuyệt đối là một không hai. Sau nhiều năm ẩn cư, tịnh khẩu tại núi A-ru-na-cha-la (arunācala) miền Nam ấn, Sư chấm dứt sự im lặng và trả lời những câu hỏi của những người mộ Ðạo từ bốn phương.|Sư không theo một hệ thống tôn giáo, triết lí nào, chỉ an nhiên trả lời theo kinh nghiệm Bất nhị (s: advaita) đã tự ngộ nhập được. Sư chẳng lưu lại bút tích gì; »Giáo lí« của Sư chỉ là những buổi vấn đáp với những người tầm đạo, được các môn đệ ghi lại và những bài dạy, những bài kệ ngắn gọn. Phương pháp giảng dạy của Sư rất đơn giản: Không đi vòng quanh, rườm rà mà chỉ thẳng vào tự tính thanh tịnh và hướng dẫn người tham vấn trên con đường đến nơi ấy bằng cách tự vấn rằng, »Ta là ai?«|Hỏi: »Thưa Ngài, con là ai? Làm sao con đạt giải thoát?«. M.: »Bằng cách tự nghiên cứu liên tục ›Ta là ai?‹ Ông sẽ tự nhận ra chính mình và đạt giải thoát.«|Hỏi: »Con là ai?« M.: »Cái Chân ngã hoặc Tự tính không phải là thân này, cũng chẳng phải năm giác quan thông thường hoặc cơ quan hoạt động. Thần thức hoặc chân khí (s: prāṇa) không phải là nó, cũng như trạng thái ngủ say không mộng, khi người ta không còn nhận thức được gì.«|Hỏi: »Nếu con không phải là tất cả những gì nêu trên, vậy con là gì?« M.: »Nếu ông đã loại bỏ được tất cả chúng nó và có thể tự bảo rằng ›Chúng không phải là ta‹ thì cái duy nhất còn sót lại là Chân ngã và đó là Thức (s: vijñāna).«|Hỏi: »Ðặc tính của Thức này là gì?« M.: »Nó là ›Sat-Cit-Ānanda‹ [nghĩa là Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà]; trong đó, khái niệm tự ngã biệt tích, không còn một dấu vết. Nó được gọi là ›Tịch tịnh‹ (s: mouna) hoặc ›Ðại ngã‹ (s: ātman) hay Tự tính. Nó là cái duy nhất có thật. Nếu bộ ba ›Thế giới-Ngã-Thượng đế‹ còn được xem là ba thành phần cá biệt thì đó vẫn chỉ là Ảo ảnh (s: māyā).«|Các lời dạy của Sư được những người mộ đạo trên thế giới hâm mộ, quý trọng bởi vì chúng vượt qua mọi giới hạn tôn giáo thông thường, gây nguồn cảm hứng vô tận cho người đọc.|Sư sinh tại Ti-ru-chu-li (tiruculi), Ta-mil Na-đu (tamil nadu), miền Nam Ấn Ðộ, được cha mẹ đặt tên là Ven-ka-ta-rā-man – gọi tắt là Ra-ma-na. Năm lên 17, Sư bỗng dưng trực cảm được kinh nghiệm »chết« (Tử) và ngay lúc đó, Sư tự nhận được: »Thân của ta chết, nhưng Thức không bị vướng mắc bởi tử thần. Như vậy là: ›Ngã‹ chính là Thức bất tử. – Tất cả những kinh nghiệm này không phải là kết quả của tư duy: Chúng đến với ta như một sự thật mãnh liệt, một sự thật mà ta đã tự trực nhận, hầu như không dùng đến tư duy. ›Ngã‹ là một sự thật, là sự thật duy nhất của trạng thái bấy giờ. Tất cả những hoạt động tự giác liên quan đến thân của ta đều được dẫn vào cái ›Ngã‹ này. Từ giờ phút đó, cái ›Ngã‹ hoặc ›Tự tính‹ này đòi hỏi với một sức thu hút lạ kì sự chú tâm tuyệt đối của ta. Cái tâm sợ chết của ta đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Từ lúc này trở đi, ta hoàn toàn chìm lắng trong ›Tự tính.‹«|Sau kinh nghiệm này Sư chẳng còn chú tâm đến những việc thế tục và sau đó rời nhà để đến núi A-ru-na-cha-la, một ngọn núi mà Sư đã nghe qua danh. Nơi đây, Sư ban đầu ẩn cư trong một góc tối tăm tại một ngôi đình dưới chân A-ru-na-cha-la, sau đó trong nhiều hang động trên núi. Trong thời gian hoà nhập mình vào tự tính, Sư quên lãng chính mình, để côn trùng tuỳ tiện huỷ hại thân thể. Khi bà mẹ đến khuyên Sư trở về, Sư cũng không mở miệng nói gì, làm ra vẻ như không thấy sự hiện diện của bà. Khi các người hâm mộ xung quanh khẩn thiết yêu cầu Sư trả lời bà mẹ tuyệt vọng, Sư chỉ viết vài chữ trên giấy: »Ðịnh mệnh tương ưng với Nghiệp quả đang chín trong đời này (s: prārab-dha-karma). Sự việc nào không nên xảy ra, sẽ không xảy ra, dù mẹ muốn thế nào đi nữa. Việc nào nên xảy ra, nó sẽ xảy ra, cho dù mẹ muốn ngăn cản nó xảy ra thế nào đi nữa. Ðó là một sự việc chắc chắn. Hành động hay nhất là sự im lặng.«|Sau một thời gian, Sư phá vỡ bức tường im lặng, bắt đầu trả lời những người đang trên đường tìm về tự tính. Học chúng sau đến rất đông, trong đó có những học giả, triết gia, Du-già sư nổi danh như Yo-ga-nan-đa (s: yogānanda), P. Brunton và W. Y. Ewans-Wentz. Học chúng sau thành lập một Già-lam (s: āśrama) tại Ti-ru-van-nā-ma-lai ở chân núi A-ru-na-cha-la, và đây, vào năm 1950, Sư nhập Ðại định (s: mahāsamādhi). Trước khi nhập diệt, Sư bảo các môn đệ rằng: »Người ta bảo rằng, ta sẽ chết. Nhưng ta chẳng đi. Ta nên đi đâu? Ta ở đây!«
rakkhita
Rakkhita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
ramakrishna
Ramakriṣna (1936-1886) Shri Ramakrishna, nhà lãnh đạo tinh thần người Bengal được rất nhiều người Ấn độ giáo tôn thờ.
ramanamaharshi
Ramanamahārshi (1879-1950) Shri Ramanamaharshi, một trong những nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại của Ấn độ ngày nay. Ngày sanh ngày 29-12-1879 ở Tiruchuli, Tamil Nadu (miền nam Ấn độ).
ramanuja
Ramanuja (Vào khoảng 1055-1137) Một vị thánh và cũng là một triết gia miền nam Ấn độ, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếngnhư: Shribhashya, Bhagavad Gita, Vedantasara, Vedartha-Samgraha, Vedantadipa,...
rangjung dorje
Rangjung Dorje (S), 1284-1339 C.E..
rangton phái
Rangton School.
ranh giới
Frontier—Boundary—Bound.
ranh mãnh
Cunning.
reo
1) Reo vui: To cheer—To shout. 2) Làm reo (đình công): To be on strike—To strike (làm reo).
reo mừng
To shout with joy.
Ri-mê
T: rime [ris-med]; nguyên nghĩa là »Bất thiên vị«;|Danh từ dùng để chỉ một phong trào trong Phật giáo Tây Tạng, bắt nguồn từ miền Ðông Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mục đích chính của phong trào này là phá vỡ những thành kiến, sự chê bai, tranh chấp lí luận giữa những các tông phái và chấp nhận sự độc lập, sắc thái riêng biệt của chúng. Phong trào này được một Lạt-ma dòng Tát-ca (t: sakya-pa) là Jam-yang Khyen-tse Wang-po (1820-1892) khai sáng. Hai môn đệ kế thừa quan trọng nhất của Sư là Chog-yur De-chen Ling-pa (1829-1870) và Jam-gon Kong-trul (1811-1899). Tư tưởng Ri-mê được biểu lộ rõ nhất trong các tác phẩm của Lạt-ma Jam-gon Kong-trul và vẫn còn sống động trong các tông Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và Ninh-mã (t: nyingmapa).
Rin-chen Sang-po
T: rinchen sangpo [rin-chen bzaṅ-po]; 958-1055, dịch âm Hán Việt là Lâm-thân Tăng-pha;|Một trong những tăng sĩ quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng, đã bắt đầu truyền giáo từ miền Tây của nước này. Sư là người xây dựng khoảng 108 ngôi chùa, trong đó có chùa To-ling nổi tiếng. Các tác phẩm thuộc giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ) được Sư dịch ra và khác với các bản dịch của giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa). Người ta còn nhắc lại truyền thuyết cuộc gặp giữa Sư và A-đề-sa (s: atīśa), cuối cùng Sư chấp nhận A-đề-sa làm thầy.
riết
Without intermission—Continuously
rong
1) Đi rong: To go about from place to place. 2) Rong rêu: Moss.
rong chơi
To wander.
roõ
Clear.
ru ngủ
To lull to sleep.
ru rú
To stay at home at all time.
run sợ
To tremble.
rung rinh
To shake—To vibrate.
rung động
To thrill.
ruồng bỏ
To abandon—To desert.
ruồng rẫy
See Ruồng Bỏ.
ruộng phước
xem phước điền.
rà rẫm
To feel one's way.
ràn rụa
Floods of tears.
ràng buộc
A fetter
ràng buộc và giải thoát
Bondage and freedom from bondage—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh Phật đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, Duy Ma Cật đã nhắn nhủ các vị Bồ Tát là không nên khởi những sự ràng buộc—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health, Vimalakiriti reminded that a Bodhisattva should not tie himself up (with wrong views). • Sao gọi là ràng buộc? Sao gọi là giải thoát? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có phương tiện huệ thì buộc, có phương tiện huệ thì giải thoát, không huệ phương tiện thì buộc, có huệ phương tiện thì giải—What is tying and what is untying? Clinging to serenity (dhyana) is a Bodhisattva's bondage, but his expedient rebirth (for the salvation of others) is freedom from bondage. Further, he is held in bondage by wisdom which lacks expedient methods (upaya), but is liberated by wisdom supported by expedient device; he is (also) held in bondage by expedient methods which are not upheld by wisdom but is liberated by expedient methods backed by wisdom. • Sao gọi là không có phương tiện thì buộc? Bồ Tát dùng ái kiên trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh ở trong pháp Không, vô tướng, vô tác mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ thì buộc—What is bondage by wisdom unsupported by expedient methods? It is bondage caused by the Bodhisattva's desire to embellish the Buddha land (with merits) in order to bring living beings to perfection while practicing for his self-control (the three gates to nirvana, namely,) voidness, formlessness and inactivity. This is called bondage by wisdom unsupported by expedient methods (upaya). • Sao gọi là có phương tiện huệ thì giải? Bồ Tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp 'không,' 'vô tướng,' 'vô tác' điều phục lấy mình, không nhàm chán mỏi mệt, đó là có phương tiện huệ thì giải—What is liberation by wisdom backed by expedient methods? It is liberation achieved in the absence of desire to embellish the Buddha land (with merits) in order to bring living beings to perfection, while practicing unremittingly for his self-control (the three gates to nirvana, namely) voidness, formlessness and inactivity. This is called liberation by wisdom supported by expedient methods (upaya). • Sao gọi là không có phương tiện huệ thì buộc? Bồ Tát trụ nơi các món phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, vân vân mà trồng các cội công đức, đó là không có huệ phương tiện thì buộc—What is bondage by expedient methods unsupported by wisdom? It is bondage caused by a Bodhisattva's lack of determination to keep from desire, anger, perverse views and other troubles (klesa) while planting all wisdom roots. This is called bondage by expedient methods which lack wisdom. • Sao gọi là có huệ phương tiện thì giải? Là xa lìa các thứ phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, vân vân mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đó là có huệ phương tiện thì giải—What is liberation by expedient methods sustained by wisdom? It is liberation won by a Bodhisattva who keeps from desire, anger, perverse views and other troubles (klesa) while planting all virtuous roots which he dedicates to his realization of supreme enlightenment. This is called liberation by expedient methods sustained by wisdom.
ràng buộc vừa phát sinh
A fetter has arisen.
ràng buộc, gắn bó
Bhanda (S). Bond, fetter.
ràng ràng
Very clearly (evidently).
rành
To master—To know perfectly.
rành mạch
Explicit—Clear.
rành rành
See Ràng Ràng.
rào
Fence—To enclose—To fence—To shut in.
rác
Garbage—Litter—Rubbish.
rách
Torn.
rách bươm
In rags.
rán sức
To endeavor—To strive—To make efforts
ráo
Dry.
ráo hoảnh
To be completely dry.
ráo riết
Keen—Hard.
rã mắt
Very tired eyes—Weary eyes.
rã ruột
To be very hungry.
rã rời
Exhausted—Worn out—To be very tired.
rèn
To forge.
rèn luyện
To cultivate—To form one's will.
rèn luyện đạo đức và tinh thần
Cultivation of moral and spiritual growth
rén
Rón rén—To walk on tiptoe.
réo gọi
To shout (call out) to.
rét
Very cold.
rên siết
To groan—To moan.
rêu rao
To speak ill of someone.
rì rào
To rustle.
rình
To watch—To be on the watch (on the look-out) for someone—To spy on.
rình mò
See Rình.
ròng
1) Nước ròng: To ebb—To flow back to the sea. 2) Thuần kim: Pure (metal). 3) Suốt: Throughout (the year).
rón rén
To walk on tiptoe.
rõ mồn một
Absolutely clear.
rõ ràng
Obvious—Clear—Evident.
rù quến
To allure—To lure—To entice.
rùa
Turtle—Tortoise.
rùa mù
See Manh Quy.
rùa mù gặp bộng cây nổi
ví dụ để chỉ những điều rất khó xảy ra. Theo ví dụ này thì có con rùa mù ở giữa biển, cứ 100 năm mới nổi lên một lần, lại có khúc cây có lỗ bộng, cứ 100 năm mới trôi ngang qua chỗ con rùa một lần. Nếu có khi nào con rùa tình cờ nổi lên đúng vào lúc khúc cây trôi qua, lại đúng vào chỗ bộng cây để chui vào (vì rùa mù không nhìn thấy) thì thật là chuyện cực kỳ hiếm có.
rùng mình
To shiver (tremble) with cold or fear.
rùng rợn
Terrifying—Dreadful—Horrifying.
rú
To yell—To scream.
rút bớt
To reduce—To diminish.
rút cuộc
See Rốt Cuộc.
rút lại
To withdraw—To take back.
rút ngắn
To cut short.
rút rỉa
To extract.
rút êm
To run away secretly.
răm rắp
To obey absolutely (completely).
răn
1) Vết nhăn: Cracked. 2) Khuyên răn: To counsel—To advise—To warn.
răn bảo
See Răn (2).
răn rắt
See Răm rắp.
răng long
Răng lung lay—Our teeth fall out—Loose teeth.
rũ rượi
To be worn (tired) out—To be exhausted.
rơi
To drop—To fall—To come down.
rơi lệ
To shed tears.
rơi vào đoạn kiến
To fall into “Nihilism.”
rơm
Pala (S), Straw.
rơm rác
Things of no value.
rơï
Barbarian.
rơù
To touch.
rước
To greet—To welcome—To receive.
rưới
To spirnkle.
rười rượi
Gloomy—Sad.
rườm rà
Wordy—Formal—Lengthy.
rường cột
Supports and columns—Keystones.
rượt
To run after—To chase—To pursue.
rượu nếp
Chang (S).
rạn nứt
To crack.
rạng danh
To become famous.
rạng rỡ
Brilliant—Radiant.
rạo rực
To feel excited—To have sensation or excitement.
rả rích
To be continuous.
rải
To distribute—To scatter—To spread.
rải hoa
Offering flowers.
rảnh
To be free (at leisure—at liberty—available).
rảnh mắt
Not to see.
rảnh rang
See Rảnh.
rảnh rổi muôn duyên
To be free of all conditions and entanglements.
rảo bước
To walk at a rapid pace
rảy nước thánh
Ngoại đạo cho rằng mọi tội lỗi có thể được rữa sạch hoặc họ có thể được ban phúc nếu để cho một vị chủ chăn rưới nước lên thân mình—Externalists believe that sins can be washed away or they can be blessed by letting a religious person to sprinkle holy water on their body.
rất
Very much—Most—Badly.
rất hữu lý
To be very rational.
rất tinh vi
To be very sophisticated.
rất tiến bộ
To be very advanced.
rất đỗi
Excessively—Extremely.
rầm rì
To whisper.
rầm rập
Noisy—Loudly.
rầm rộ
See Rầm Rập.
rầy la
To scold—To reprimand—To chide
rầy lộn
To quarrel.
rầy rà
To be troublesome.
rập khuông
To copy (imitate) closely.
rắc rối
Complicated (question)—Complex (charater)—Intricate (problem).
rắn
1) Con rắn: Snake. 2) Cứng rắn: Hard and solid.
rắn mãng xà
Python.
rắn như đá
Cứng như đá—As hard as rock—Admonished.
rắn độc
Poisonous snake—Lòng tham như rắn độc—Greed is similar as a poisonous snake.
rắp tâm
To attempt seriously—To intend—To mean.
rẻ
1) Rẻ tiền: Inexpensive—Low in price—Cheap. 2) Khinh rẻ: To despite—To disregard—To despite.
rẻ rúng
To disregard—To scorn—To contemn.
rẽ hướng
To deviate—To change direction.
rọi
To light.
rọi sáng
To illuminate.
rối loạn
Confused and agitated.
rối ren
Confusion—Disorder.
rống
To roar (of lion).
rốt cuộc
Finally.
rốt ráo
Eventual.
rồi
Already.
rồng
Xem long.
Rồng thật
(眞龍, shinryū, chơn long): nghĩa là con rồng thật sự chứ không phải rồng được vẽ trên giấy hay điêu khắc. Tích sợ rồng này căn cứ vào câu chuyện Diệp Công Hiếu Long (葉公好龍, Diệp Công Thích Rồng) được thuật lại trong tác phẩm Tân Tự (新序), phần Tạp Sự (雜事) 5 của Lưu Hướng (劉向, 77-5 ttl.) nhà Hán như sau: “Diệp Công Tử Cao hiếu long, câu dĩ tả long, tạc dĩ tả long, ốc thất điêu văn dĩ tả long; ư thị thiên long văn nhi hạ chi, khuy đầu ư dũ, thi vĩ ư đường; Diệp Công kiến chi, khí nhi hoàn tẩu, thất kỳ hồn phách, ngũ sắc vô chủ; thị Diệp Công phi hiếu long dã (葉公子高好龍、鉤以寫龍、鑿以寫龍、屋室雕文以寫龍、於是天龍聞而下之、窺頭於牖、施尾於堂、葉公見之、棄而還走、失其魂魄、五色無主、是葉公非好龍也, Diệp Công Tử Cao rất thích rồng, trên móc câu vẽ hình rồng, nơi cái đục vẽ hình rồng, các điêu trong phòng nhà đều vẽ hình rồng; nhân đó rồng trên trời nghe mà giáng xuống, thò đầu vào cửa sổ, vòng đuôi quanh nhà; Diệp Công thấy vậy, bỏ mà chạy trốn, mất cả hồn phách, chẳng còn tự chủ; đó chẳng phải là Diệp Công thích rồng).” Diệp Công tức là vị quan Đại Phu nước Sở dưới thời Tam Quốc, tên là Tử Cao (子高); ông được phong làm quan xứ Diệp, nay thuộc Diệp Huyện (葉縣), Hà Nam (河南); nên có tên là Diệp Công. Đây là câu chuyện nói về người thấy rồng thật thì sợ, mà lại yêu thích rồng giả.
rồng độc
Độc long—Ferocious dragons.
rồng, rắn
Nàga (S) Dragon, snake.
rỗi
To be free.
rỗi việc
To be unoccupied.
rỗng tuếch
Absolutely empty.
rộng
Broad—Wide—Extensive.
rộng bụng
Generous—Tolerant.
rộng lượng
See Rộng Bụng.
rộng rãi
Roomy—Spacious.
rộng rãi trang nghiêm
Spacious and beautiful adorned.
rớt lại
To drop back—To fall behind.
rờ rẫm
To feel—To grope.
Rờ voi
(摸象, mozō, mô tượng): thí dụ nói về việc câu nệ vào ngôn ngữ văn tự của kinh điển, luận thư Phật Giáo mà không biết được toàn thể của Phật đạo. Câu chuyện “hạt tử mô tượng (瞎子摸象, người mù rờ voi)” này được thuật lại rất rõ trong các kinh như Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) 32, Thú Điểu Phẩm (獸鳥品) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經) 19, Nghĩa Túc Kinh (義足經) quyển Hạ, v.v. Như trong Lăng Nghiêm Kinh Chứng Sớ Quảng Giải (楞嚴經證疏廣解, CBETA No. 288) có đoạn rằng: “Hữu chư manh nhân, quần thủ mô tượng, kỳ mô tỷ giả vân tượng như ky; kỳ mô dịch giả vân tượng như trụ; kỳ mô vĩ giả vân tượng như trửu, kỳ mô phục giả vân tượng như thạch, nãi chí mô nhãn tắc vân như cổ phong thác, mô nhĩ tắc vân như đảo thùy diệp, mô đề tắc vân như phú địa bôi (有諸盲人、群手摸象、其摸鼻者云象如箕、其摸股者云象如柱、其摸尾者云象如帚、其摸腹者云象如石、乃至摸眼則云如鼓風橐、摸耳則云如倒垂葉、摸蹄則云如覆地杯, có các người mù lấy tay rờ voi, người rờ lỗ mũi thì bảo con voi giống như cái nia; người rờ bắp đùi thì bảo con voi giống như cột nhà; người rờ đuôi thì bảo con voi giống như cái chổi; người rờ bụng thì bảo con voi giống như tảng đá; cho đến người rờ con mắt thì bảo giống như ông bễ thổi gió; rờ lỗ tai thì bảo giống như lá rũ xuống; rờ móng chân thì bảo giống như cái bát úp xuống).” Hay như trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, CBETA No. 1297) quyển 33, có câu: “Mô tượng manh nhân thuyết dị đoan, hô ngưu hoán mã các ban ban (摸象盲人說異端。呼牛喚馬各般般, rờ voi người mù nói khác nhau, bảo trâu luận ngựa thảy oang oang).”
rời
To come loose—To become detached—To separate.
rời rã
To be exhausted.
rỡ ràng
Brilliant.
rỡn
To jest—To joke.
rục rịch
To be ready.
rụng
To drop—To fall.
rụng rời
Panic-stricken
rụt
To take back—To withdraw.
rụt rè
Shy—Timid.
rủ
1) Mời: To invite. 2) Rủ xuống: To hang down.
rủa
To call down—To curse.
rủi ro
Unlucky—Unfortunate.
rứt ra
To pull off.
rừng
Forest—Jungle—Woods.
rừng chư thiên
Devavana (P).
rừng hạnh phúc
Subhaga (P)Tên một bộ kinh.
rừng Khổ hạnh
(Khổ hạnh lâm): tên Phạn ngữ là Tapovana, thuộc địa phận xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvel), ngày nay nằm về phía đông của thôn Mục-chi-lân-đà (Mucilinda). Trong thời gian tu khổ hạnh, Phật từng sống trong khu rừng này. Cho đến thời gian gần đây vẫn còn tồn tại một vùng cây cối rậm rạp ở đó.
rừng kiếm
Forest of knives—Rừng mà trong đó tất cả cây cối, từ thân lá, đến bông trái đều bén như gươm đao. Người có tội bị các loài thú dữ rượt bắt, hoảng sợ chạy leo lên cây trốn, bị gió mạnh thổi tới, nhánh lá cây đều khua động, chém người đó nát như tương. Rừng kiếm nầy dành trị tội kẻ săn bắn thú vật, hay thiêu đốt các loại chúng sanh—A forest in which everything is sharp as knives and daggers. The offenders are chased by vicious predators; to overcome with terror, they climb onto trees to escape. A great cold wind gusts the leaves on the trees to move rapidly, shredding the prisoners to a thick bloody syrup. This hell is reserved for those who find pleasure in hunting and burning sentient beings.
rừng Kỳ-đà
nguyên khu vườn rừng này trước là sở hữu của ông trưởng giả Kỳ-đà, sau cúng dường đức Phật và chư tăng làm chỗ tu tập nên gọi tên là rừng Kỳ-đà. Tên Phạn ngữ là Jetavana Anthapindada-rma.
rừng phiền não
(phiền não tòng lâm) phiền não nhiều vô số, ví như cây cối mọc xen nhau trong rừng rậm, nên gọi là rừng cây rậm rạp phiền não.
rừng sa la song thụ
Sālavana (S)Sa la lâm, rừng cây salaRừng cây sa la nơi Phật nhập diệt.
rừng sâu núi thẳm
Deep forest and high mountain.
rừng tha ma
khu rừng ở ngoài thành Vương-xá được dùng làm bãi tha ma vất xác người chết. Bản Hán văn dùng hàn lâm (寒林), nghĩa là khu rừng lạnh lẽo, dịch ý từ Phạn ngữ là Śitavana, thường phiên âm là Thi-đà hay Thi-đa-bà-na.
rừng trúc
Venuvana (S). Bamboo grove. Also Trúc lâm.
rửa
To wash—To clean.
rửa nhục
To take vengeance for an insult—To wash out an insult.
rực rỡ
Radiant—Bright—Brilliant.
sa
4075悉曇字???(sa)。又作薩、縒、颯、拶、三、參、散。為悉曇體文遍口聲之第七,五十字門之一,四十二字門之一。密教常稱「娑」字為諦。字相淺略釋作諦之義,字義深祕釋作諦不可得之義。金剛頂經釋字母品稱「娑」字門為一切法一切諦不可得故;文殊問經釋為現證一切智聲(梵 sarvajñānābhisambodhana);北本大般涅槃經卷八謂娑者為眾生演說正法,令心歡喜之義。〔大品般若經卷五、大日經卷二具緣品〕
; Bàlukà. (S). Sand; sands, e.g. of Ganges, hà sa implying countless.
; 1) Bất cẩn: Careless. 2) Cát: Baluka (skt)—Gravel—Sand or sands, e.g. of Ganges. 3) Dễ dàng: Easy-going. 4) Hằng sa: Vô số kể—Countless.
; (娑) Cũng gọi Tát, Táp, Tạt, Tam, Tham, Tán. Chỉ cho chữ (sa), 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Mật giáo thường gọi chữ Sa là Đế. Nếu giải thích một cách nông cạn theo tướng chữ thì Đế là xét kĩ, là chắc thật; còn nếu giải thích một cách sâu xa theo nghĩa chữ thì Đế là bất khả đắc. Vì thế, phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính gọi chữ Sa là tất cả pháp, tất cả đế bất khả đắc. Kinh Văn thù vấn giải thích Sa là tiếng hiện chứng Nhất thiết trí (Phạn: Sarvajĩànàbhisambodhana). Còn kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải thích Sa là nghĩa vì chúng sinh mà diễn nói chính pháp khiến cho tâm của chúng vui mừng. [X. kinh Đại phẩm Bát nhã Q.5; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2].
sa bà
4077梵語 sahā。又譯沙訶、娑呵、索訶。意譯忍、堪忍、能忍、忍土。指娑婆世界(梵 Sahā-lokadhātu),即釋迦牟尼進行教化之現實世界。此界眾生安於十惡,忍受諸煩惱,不肯出離,故名為忍。又有諸佛菩薩行利樂時,堪受諸苦惱之義,表其無畏與慈悲。又譯作雜惡、雜會。謂娑婆國土為三惡五趣雜會之所。此外,娑婆一詞原指我人所住之閻浮提,後世遂成為一釋迦佛所教化之三千大千世界,而總稱百億須彌山世界為娑婆,並以釋尊為娑婆世界之本師。〔法華文句卷二下、法華玄贊卷二、大唐西域記卷一〕
; Saha (skt)—Còn gọi là Sa Ha Lâu Đà, hay Sách Ha, nghĩa là chịu đựng hay nhẫn độ; nơi có đầy đủ thiện ác, cũng là nơi mà chúng sanh luôn chịu cảnh luân hồi sanh tử, được chia làm tam giới—That which bears, the earth, interpreted as bearing, enduring; the place of good and evil; a universe, or great chiliocosm, where all are subject to transmigration and which a Buddha transforms; it is divided into three regions and Mahabrahma Sahampati is its lord.
; (娑婆) Phạn: Sahà. Cũng gọi Sa ha, Sách ha. Hán dịch: Nhẫn, Kham nhẫn, Năng nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà (Phạm:Sahàlokadhàtu), tức là thế giới hiện thực do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa. Chúng sinh trong thế giới này làm 10 điều ác, chịu đựng các phiền não mà không muốn lìa bỏ, vì thế gọi là Nhẫn. Lại khi chư Phật, Bồ tát làm việc lợi lạc ở thế gian này, các Ngài phải chịu mọi thứ phiền não để biểu thị lòng vô úy và từ bi của cácNgài, cũng gọi là Nhẫn. Sa bà còn được dịch là Tạp ác, Tạp hội, nghĩa là cõi Sa bà là chỗ Tam ác, Ngũ thú tụ hội phức tạp. Ngoài ra, danh từ Sa bà vốn chỉ cho cõi Diêm phù đề, nơi cư trú của chúng sinh, đời sau, Sa bà trở thành 1 thế giới Tam thiên đại thiên do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa, cho nên gọi chung thế giới có trăm ức núi Tu di là Sa bà. [X. Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.2; Đại đường tây vực kí Q.1].
sa bà bà
4077巴 Sahassākkha。為忉利天之主「帝釋天」之別稱。又作婆婆、婆娑婆、婆蹉婆、婆娑妥。帝釋天有眾多之異稱,較常見者有釋提桓因、憍尸迦、因陀羅等,而每一名稱之由來均有其緣起。據雜阿含卷四十載,一比丘曾請問佛陀,釋提桓因何以有釋提桓因、富蘭陀羅、摩伽婆、娑婆婆、憍尸迦、千眼等異名,佛乃為之解說帝釋天各種異稱之由來,其中謂,帝釋天本為人時,常以婆詵私衣(梵 vāsava,又作婆詵和衣)布施供養沙門、婆羅門等,故有娑婆婆之稱。又其他經論亦多處載有帝釋天之各種異稱。〔法苑珠林卷二〕(參閱「帝釋天」3776)
; Sahassakkha (S)Tên khác của trời Đế Thích, đứng đầu cõi trời Đao lợi.
; (娑婆婆) Pàli: Sahassàkkha. Cũng gọi Bà bà, Bà sa bà, Bà sa thỏa. Tên khác của trời Đế Thích, đứng đầu cõi trời Đao lợi. Trời Đế thích có rất nhiều tên, trong đó, những tên thường thấy hơn thì có: Thích đề hoàn nhân, Kiếu thi ca, Nhân đà la... mà tên nào cũng có nguyên do cả. Cứ theo Kinh Tạp A Hàm quyển 40 thì có vị Tỳ Khưu đã từng thỉnh vấn đức Phật rằng: Tại sao Thích đề hoàn nhân còn có các tên gọi khác như: Phú lan đà la, Ma già bà, Kiều thi ca, Thiên... Đức Phật liền giải thích nguyên do các tên của trời Đế thích, trong đó, về Sa bà bà, Phật nói như sau: Khi trời Đế thích còn làm người ở thế gian, thường đem áo Bà sân tư (Phạm: Vàsava, cũng gọi áo Bà sân hòa) cúng dường sa môn, bà la môn, nên có tên là Sa bà bà. [X. Pháp uyển châu lâm Q.2]. (xt. Đế Thích Thiên).
sa bà ha
Svàha (S). Hail! So be it. Ritual term pronounced at the end of the prayer. Also Tát bà ha.
; Svaha (skt)—Chữ cuối trong mỗi bài chú—Hail!—The last word in any mantra—A Brahminical salutation at the end of a sacrifice.
sa bà thế giới
Saha-loka-dhatu (skt)—Saha World—The world of human beings—The world.
sa bà tức tịch quang
4077謂充滿瓦礫荊棘之娑婆世界即真常究竟之寂光土。凡寂光土之體,具法身、般若、解脫三德,若以眾生之見,則為惑、業、苦之三道。因此,雖為真常究竟之淨土,然非謂離此充滿瓦礫荊棘之娑婆世界而有一別體存在,故以果佛之眼觀之,此娑婆世界即寂光淨土。
; (娑婆即寂光) Thế giới Sa bà đầy dẫy gạch ngói gai gốc này chính là cõi Tịch quang chân thường cứu cánh. Thể của cõi Tịch quang có đầy đủ 3 đức: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát. Nếu nhìn bằng cái nhìn của chúng sinh đầy nghiệp chướng, thì 3 đức trên đây trở thành 3 đạo: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Do đó, tuy nói là Tịnh độTịch quang chân thường cứu cánh, nhưng thể của nó không phải tách rời thế giới Sa bà này mà tồn tại riêng biệt, cho nên, nếu nhìn bằng con mắt Phật thì thế giới Sa bà này chính là Tịnh độTịch quang vậy.
sa bố long
2971蒙古語 shaboloung。又作沙布倫。西藏喇嘛之階位,其位次於呼圖克圖。據聖武記卷五所載,清末之初,理藩院所登錄之沙布隆共有十二位。
sa ca bà la sơn
4077娑迦婆羅,梵名 Cakravāḍa-parvata。又作斫迦羅山。譯為鐵圍山。佛教之世界說中,以須彌山為中心,而有八山八海圍繞之,最外側為鐵圍山,如此構成一小世界。(參閱「鐵圍山」6878)
; (娑迦婆羅山) Sa ca bà la, Phạn: Cakravàđa-parvata. Cũng gọi Chước ca la sơn. Hán dịch: Thiết vi sơn. Tên dãy núi ngoài cùng trong 8 dãy núi bao quanh núi Tu di theo thế giới quan của Phật giáo. (xt. Thiết Vi Sơn).
sa chỉ đa thành
4077娑枳多,梵名 Sāketa,巴利名 Sāketa。又作沙祇太城、娑雞多城、娑祇多城。或作婆枳多城、婆翅多城、婆祇城;「婆」為「娑」之誤。位於中印度舍衛城之南,與憍薩羅國南方之阿踰闍城隔河相望。附近有安繕林,佛屢於其地說法。城南有大伽藍,為提婆設摩阿羅漢著識身足論之所,亦是瞿婆阿羅漢著聖教要實論之所,亦為護法菩薩破小乘論師之所,如來曾於此地化導六年。其地在今聯合州地方之費渣巴德市(Fyzabad)附近。〔長阿含經卷三、高僧法顯傳、大唐西域記卷五鞞索迦國、大慈恩寺三藏法師傳卷三〕
; (娑枳多城) Sa chỉ đa, Phạn; Pàli: Sàketa. Cũng gọi Sa chỉ thái thành, Bà sí đa thành, Sa kê đa thành, Bà chỉ đa thành (chữ Bà này do lầm từ chữ Sa mà ra). Tên 1 đô thành ở phía nam thành Xá vệ, trung Ấn độ, cách thành A du xà ở phía nam nước Kiêu tát la bằng con sông. Gần thành này có khu rừng An thiện, đức Phật thường thuyết pháp ở đây. Về phía nam thành có ngôigià lam to lớn, là nơi A la hán Đề bà thiết ma soạn luận Thức thân túc, cũng là nơi A la hán Cù bà soạn luận Thánh giáo yếu thực và cũng là nơi mà bồ tát Hộ pháp đã phản bác học thuyết của các Luận sư Tiểu thừa. Đức Phật từng giáo hóa ở đây trong 6 năm. Vùng đất của thành này ngày xưa hiện nay là vùng phụ cận thành phố Fyzabad thuộc tiểu bang Liên hợp. [X. kinh Trường a hàm Q.3; Cao tăng Pháp Hiển truyện; điều Tì sách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.5; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3].
sa côn đát la
4773梵名 Śakuntalā,全名 Abhijñānaśakuntalam。印度古代之戲曲。凡七幕。西元五世紀頃印度大文豪加里陀莎(梵 Kālidāsa)之代表作,亦為古典梵文學最傑出之作品。一七八九年,經瓊斯爵士(Sir William Jones)介紹至歐洲,引起歐洲知識分子之震撼與讚歎,加里陀莎遂被冠以「印度之莎士比亞」之美譽。 此戲曲之梗概如下:一日,國王杜史揚多於森林狩獵,邂逅隱士甘華之養女莎昆妲蘿。未久,國王為莎昆妲蘿之美貌與愛情所動,遂以戒指互誓婚姻。然因命運乖舛,於焉展開曲折之悲劇。其後,國王再度見到戒指,始如夢初醒,憬悟今是昨非,兩人因而團圓,並以喜劇收場。此故事可於印度史詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata,又作大戰詩)及古代文獻帕朵瑪富蘭那(梵 Padmapurāṇa)中見其雛形。可想而知者,此戲曲係以上述兩古籍之故事為底本,再另以新文體、新構想,重新創作,成為一大文學作品。迄今為止,本書各種語言之譯本極多。於我國,先後有曼殊大師所譯之「沙昆多邏」、盧前之「沙恭達邏」,及糜文開之「莎昆妲羅」。
; (莎昆妲蘿) Phạn: Zakuntalà. Gọi đủ:Abhijĩànazakuntalam. Tên một hí khúc của Ấn độ cổ đại, gồm 7 màn, do nhà Đại văn hào Gia lí đà sa (Phạn: Kàlidàsa) soạn vào khoảng thế kỉ V. Đây là tác phẩm văn học bằng tiếng Phạn cổ điển kiệt xuất nhất. Năm 1789, Sir William Jones giới thiệu tác phẩm này đến châu Âu, gây chấn động trong giới trí thức châu Âu, văn hào Kàlidàsa từ đó bèn được tặng cho mĩ danh là Shakespeare của Ấn độ. Nội dung của hí khúc này đại khái như sau: Một hôm, quốc vương Đỗ sử dương đa vào săn bắn trong rừng sâu, tình cờ gặp cô con gái nuôi của ẩn sĩ Cam hoa là Sa tì đát la. Không bao lâu, nhà vua vì rung động trước sắc đẹp và tình yêu của Sa tì đát la nên trao nhẫn đính hôn, nhưng do vận mệnh ngang trái dẫn đến bi kịch. Về sau, nhà vua thấy lại chiếc nhẫn, như vừa tỉnh mộng, hiểu rõ việc sai lầm ngày trước, do đó, 2 người lại được sum hợp và kết thúc bằng kịch vui. Câu chuyện này có lẽ đã thoát thai từ Sử thi Mahàbhàrata (cũng gọi là Đại chiến thi) và Padmapuràịacủa Ấn độ, do đó, có thể nói, hí khúc Zakuntala đã lấy cảm hứng từ 2 tác phẩm văn học cổ trên đây, rồi dùng thể văn mới, cấu tưởng mới, sáng tác theo lối mới mà thành 1 tác phẩm văn học lớn. Cho đến nay, hí khúc này được dịch ra nhiều thứ tiếng. Riêng tại Trung quốc, trước sau đã có Sa côn đa la dođại sư Mạn thù dịch; Sa cung đạt la của Lư tiên và Sa côn đát la của Mi văn khai.
sa cơ
Bị hoạn nạn—To meet with an accident—To have misfortune.
Sa Di
(s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌): cách xưng hô của Phật Giáo đối với người xuất gia trên 7 tuổi và chưa đủ 20 tuổi, là một trong 5 chúng đệ tử của đức Phật, chỉ cho những người đã thọ 10 giới, chưa thọ giới Cụ Túc. Âm dịch Phạn ngữ là Thất La Ma Noa Lạc Ca (室羅摩拏洛迦), Thất La Mạt Ni La (室羅末尼羅), Thất La Ma Noa (室羅摩拏); ý dịch là Cầu Tịch (求寂), Pháp Công (法公), Tức Ác (息惡), Tức Từ (息慈), Cần Sách (勤策); tức có nghĩa là dừng lại các điều ác, thực hành từ bi, tìm cầu sự yên vui, vắng lặng. Người nữ xuất gia thì gọi là Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼). Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律) quyển 29 dựa vào tuổi tác mà phân biệt Sa Di thành 3 hạng khác nhau: (1) Khu Ô Sa Di (驅烏沙彌, Sa Di Đuổi Quạ), tuổi trong phạm vi từ 7 đến 13, nghĩa là người có năng lực đuổi chim quạ ngoài đồng. (2) Ứng Pháp Sa Di (應法沙彌), tuổi từ 14 đến 19, tức là những vị Sa Di không bao lâu nữa có thể tham dự sinh hoạt xuất gia. (3) Danh Tự Sa Di (名字沙彌), tuổi đã quá 20 trở lên mà vẫn chưa thọ giới Cụ Túc, nhưng vẫn còn hình thức Sa Di. Giới điều vị Sa Di lãnh thọ được gọi là Cần Sách Luật Nghi (勤策律儀), gồm 10 giới: (1) Không sát sanh; (2) Không trộm cắp; (3) Không tà dâm; (4) Không vọng ngữ; (5) Không uống rượu; (6) Không nằm ngồi giường cao rộng lớn; (7) Không mang vong hoa thơm hay dùng hương thơm xoa mình; (8) Không ca múa, hòa tấu, đi xem nghe; (9) Không ăn phi thời; (10) Không nắm giữ vàng bạc, báu vật. Như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, CBETA No. 1118) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phạn ngữ Sa Di, thử vân Tức Từ, vị tức ác hành từ, tức thế nhiễm nhi từ tế chúng sanh dã; diệc vân Cần Sách, diệc vân Cầu Tịch (梵語沙彌、此云息慈、謂息惡行慈、息世染而慈濟眾生也、亦云勤策、亦云求寂, tiếng Phạn Sa Di, Tàu dịch là Tức Từ, nghĩa là chấm dứt điều ác và thực hành từ bi, chấm dứt sự ô nhiễm thế tục và thương xót cứu độ chúng sanh; còn gọi là Cần Sách, còn gọi là Cầu Tịch).”
sa di
2976梵語 śrāmaṇeraka 或 śrāmaṇera,巴利語 sāmaṇera。全稱室羅摩拏洛迦、室羅末尼羅。又作室羅那拏。意譯求寂、法公、息惡、息慈、勤策、勞之少者。即止惡行慈、覓求圓寂之意。為五眾之一,七眾之一。指佛教僧團(即僧伽)中,已受十戒,未受具足戒,年齡在七歲以上、未滿二十歲之出家男子。同此,出家女子稱沙彌尼(梵 śrāmaṇerikā,巴 sāmaṇerī)。以其勤於策勵成為比丘、比丘尼者,故前者譯為勤策(勤策男),後者譯稱勤策女。 摩訶僧祇律卷二十九以年齡區別沙彌為三種:(一)驅烏沙彌,年在七歲至十三歲之間,已有驅走曬穀場上烏鳥之能力。(二)應法沙彌,年在十四歲至十九歲之間,不久即可參與出家生活之沙彌。(三)名字沙彌,年齡已超過二十歲,然尚未受具足戒,仍為沙彌者。以上三者合稱三沙彌。 沙彌所受之戒稱勤策律儀,又稱沙彌戒,凡十戒,即:(一)不殺戒,(二)不盜戒,(三)不婬戒,(四)不妄語戒,(五)不飲酒戒,(六)離高廣大床戒,(七)離花鬘等戒,(八)離歌舞等戒,(九)離金寶物戒,(十)離非食時戒。 又據沙彌十戒法並威儀法載,沙彌日常須守十四事、七十二威儀。在佛教僧團中,首位沙彌為羅睺羅。至後世,對受持十戒之沙彌,稱為法同沙彌,剃髮而未持戒者,則稱形同沙彌。此外,日本有所謂在家沙彌,係指剃髮而有妻子之修行者。〔四分律卷三十四、五分律卷十七、十誦律卷二十一、善見律毘婆沙卷十六、四分律行事鈔資持記卷下四、俱舍論光記卷十四、釋氏要覽卷上、玄應音義卷二十三、翻譯名義集卷三〕(參閱「七眾」105)
; Śrāmaṇera (S), Shami (J), Sami(K), Sāmaṇera (P), pabbajja (P), Novice monk Cần sáchPhái nam xuất gia đã thọ 10 giới. Khi thọ giới Sa di (10 giới), Tăng Ni phải ở chùa được 5 năm.
; Sràmanera (S). Novice-monk.
; Sramanera (s&p)—Thất La Ma Na Lạc Ca—Thất Ma Na Y Lạc Ca—Thất La Ma Ni La—Người nam mới tu, còn đang tập giữ những giới khinh và mười giới sa Di—A male observer of the minor commandments (các giới khinh)—Sramanera is the lowest rank of a person cultivating the way. He must keep properly ten precepts. 1) Cần Sách Nam: Người nam cần cù chăm gắng tuân theo lời chỉ dạy của các bậc đại Tăng—A Zealoues Man who zealously listen to the instructions of great monks. 2) Thất La Ma Ni La: a) Người tu hành cầu tịch tịnh viên mãn—One who seek rest. b) Cầu Niết Bàn Tịch: One who seeks the peace of nirvana. ** For more information, please see Tam Chủng Sa Di.
; (沙彌) Phạn: Zràmaịesaka, Zràmaịera. Pàli: Sàmaịera. Cũng gọi: Thất la na noa. Gọi đủ: Thất la ma noa lạc ca, Thất la mạt ni la. Hán dịch: Cầu tịch, Pháp công, Tức ác, Tức từ, Cần sách. Chỉ cho người nam xuất gia trong tăng đoàn của Phật giáo, tuổi từ 7 đến 19, đã thụ 10 giới, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 5 chúng, 1 trong 7 chúng. Sa di hàm ý là tìm cầu sự vắng lặng trong tâm hồn, chấm dứt các việc ác, tu hành tất cả điều thiện. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 29, tùy theo tuổi tác, Sa di được chia làm 3 loại: 1. Khu ô Sa di: Khoảng từ 7 tuổi đến 13 tuổi,đã có thể xua đuổi được chim quạ (khuô) trên sân khi phơi thóc gạo. 2. Ứng pháp Sa di: Từ 14 tuổi đến 19 tuổi, đã có năng lực làm các việc nặng nhọc, thị giả thầy, tham thiền, tụng kinh... nghĩa là Sa di đã có đủ khả năng tham dự các sinh hoạt xuất gia hằng ngày. 3. Danh tự Sa di: Người đã trên 20 tuổi mà chưa thụ giới Cụ túc, thì vẫn là Sa di. Ba loại Sa di trên đây gọi chung là Tam Sa di.Trong tăng đoàn Phật giáo, vị Sa di đầu tiên là La hầu la. Đến đời sau, vị Sa di thụ trì giới, gọi là Pháp đồng Sa di, người đã cạo tóc mà chưa thụ giới thì gọi là Hình đồng Sa di. Ngoài ra, ở Nhật bản có loại Tại gia Sa di, tức là người xuất gia tu hành mà có vợ con. [X. luật Tứ phần Q.34; luật Ngũ phần Q.17, luật Thập tụng Q.21; Thiện kiến luật tì bà sa Q.16; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Câu xá luận quang kí Q.14; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Thất Chúng).
sa di giới
2977又作勤策律儀。沙彌受持十戒:不殺戒、不盜戒、不婬戒、不妄語戒、不飲酒戒、離高廣大床戒、離花鬘等戒、離歌舞等戒、離金寶物戒、離非時食戒。若進受具足戒,則稱大僧。(參閱「戒」2896、「沙彌」2976)
; The ten commandments, or precepts taken by the novice-monk.
; Mười giới Sa Di—The ten commandments (precepts) taken by a sramanera 1) Không sát sanh: Not to kill living beings. 2) Không trộm đạo: Not to steal. 3) Không dâm dục: Not to have sexual intercourse. 4) Không láo xược: Not to lie or speak evil. 5) Không uống rượu: Not to drink wine. 6) Không ghim hoa trên đầu, không dồi phấn, không xức dầu: Not to decorate oneself with flowers, nor utilize cosmetologic powder, nor use perfumes. 7) Không ca hát, không khiêu vũ như kỷ nữ dâm nữ: Not to sing or dance. 8) Không ngồi ghế cao, không nằm giường rộng: Not to occupy high chairs high beds. 9) Không ăn quá ngọ: Not to eat out of regulation hours. 10) Không cất giữ tiền, vàng bạc, của cải: Not to possess money, gold, silver, and wealth.
; (沙彌戒) Cũng gọi Cần sách luật nghi. Chỉ cho 10 giới của vị Sa di thụ trì: 1. Không giết hại. 2. Không trộm cắp. 3. Không dâm dục. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu. 6. Không ngồi giường cao. 7. Không đeo tràng hoa, bôi nước hoa lên mình. 8. Không xem nghe múa hát. 9. Không cất giữ vàng bạc, vật quí báu. 10. Không ăn phi thời (không ăn quá ngọ). (xt. Giới, Sa Di).
sa di hạt thực
2977略稱沙喝。禪林中,大眾食齋時,立於食堂一側,作就食之呼號與呼報食物之名者,稱為喝食行者;一般以未得度之童子任此職。在日本,剃髮沙彌而著喝食之服者,特稱為沙喝。〔禪林象器箋職位門〕
; (沙彌喝食) Gọi tắt: Sa hát. Trong Thiền lâm, khi đại chúng thụ trai, người đứng một bên trong Trai đường hô hiệu lệnh mời đại chúng thụ trai, gọi là Hát thực hành giả (người thỉnh trai); thông thường 1 đồng tử chưa xuống tóc, thụ giới (chú điệu) làm việc này. Tại Nhật bản, vị Sa di mặc áo hát thực đặc biệt gọi là Sa hát. [X.môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên).
sa di ni
2976請參閱 十慧章句 梵語 śrāmaṇerikā,巴利語 sāmaṇerī。全稱室羅摩拏理迦。意譯勤策女、息慈女。五眾之一,七眾之一。指初出家受持十戒而未受具足戒之女子,與沙彌、式叉摩那合稱三小眾。其受持之十戒與沙彌相同。據四分律卷四十八比丘尼犍度所載,十八歲之未嫁女出家,受沙彌尼十戒,復受兩年式叉摩那階段,年滿二十方受比丘尼戒;若是十歲之曾嫁少婦(印度婦女早婚),亦應受二年式叉摩那階段方可受比丘尼戒。此法係為防範不知有孕之婦人出家受戒而制者,在此之前,可能無年齡之限制,沙彌尼唯受持十戒,其後直接受具足戒。〔沙彌尼戒經、曇無德律部雜羯磨、俱舍論卷十四、俱舍論光記卷十四、四分比丘尼鈔卷一、四分律行事鈔資持記卷下四、翻譯名義集卷三、釋氏要覽卷上〕(參閱「式叉摩那」2421、「沙彌」2976)
; Sramaṇerika (S), Novice nun, Sāmaṇeri (P)Sa di nữPhái nữ xuât gia đã thọ 10 giới.
; Sràmanerika. Novice-nun.
; Sramanerika (s&p)—Thất La Ma Na Lí Ca—Nữ tu mới gia nhập giáo đoàn Phật giáo, nguời trì giữ mười giới khinh—A female observer of the minor commandments (các giới khinh)—A female religious novice who has taken a vow to obey the ten commandments. • Cần Sách Nữ: A zealous woman, devoted. ** For more information, please see Sa Di.
; (沙彌尼) Phạn: Zràmaịerikà. Pàli: Sàmaịerì. Gọi đủ: Thất la ma noa lí ca. Hán dịch: Cần sách nữ, Tức từ nữ. Chỉ cho người nữ mới xuất gia thụ trì 10 giới, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 5 chúng, 1 trong 7 chúng. Mười giới mà Sa di ni thụ trì cũng giống như 10 giới của Sa di. Theo kiền độ Tỳ khưu ni trong luật Tứ phần quyển 48, người nữ 18 tuổi chưa lập gia đình mà đi xuất gia, thì thụ 10 giới Sa di ni rồi, lại phải thụ Thức xoa ma na trong 2 năm, đủ 20 tuổi mới được thụ giới Tỳ khưu ni; nếu là thiếu phụ 10 tuổi từng đã lấy chồng (Ấn độ có tục tảo hôn), thì cũng phải thụ Thức xoa ma na trong 2 năm mới được thụ giới Tỉ khưu ni. [X. kinh Sa di ni giới; Đàm vô đức luật bộ tạp yết ma; luận Câu xá Q.14; Câu xá luận quang kí Q.14; Tứ phần tỉ khưu ni sao Q.1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Thức Xoa Ma Na, Sa Di).
sa di ni giới
The ten precepts taken by the novice-nun.
; Mười giói Sa Di Ni—The ten commandments taken by the sramanerika—See Sa Di Giới.
sa di thập giới
Ten precepts of Sramanera—See Sa Di Giới.
sa di đạo hầu
Một người mới tu, chưa đủ tuổi để thọ giới đàn—A novice monk who is not old enough to be ordained.
sa duy đức lợi
4078<一>梵名 Savitṛ。吠陀中顯現太陽功能方面之神,或即指太陽。意為鼓舞者、生殖者、創造者。其形像,全身金色,乘金色車,馳騁於上下界,能將人由睡眠中喚醒,夜間則能使人入睡,並能令神、人不死,引導死者靈魂升天,極受婆羅門教之崇拜。 <二>原為吠陀中贊美娑維德利贊歌之名稱,一般稱為伽耶德利(梵 Gāyatrī)。後來成為女神名,又或為梵天之妻、女,或為火神阿耆尼之妻,亦有說為獨立之神,具三頭,手持念珠、拂塵與書。 <三>為印度兩大史詩之一摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)插話「娑維德利」中女主角之名字。
; (娑維德利) I. Sa Duy Đức Lợi. Phạn: Savitf. Chỉ cho vị thần trong Phệ đà hiển hiện công năng của mặt trời, hoặc chỉ cho mặt trời, hàm ý là người cổ vũ, người sinh sản, người sáng tạo. Hình tượng của vị thần này là toàn thân màu vàng ròng, ngồi xe màu vàng đi khắp cõi trời và nhân gian, thường thức tỉnh người ngủ say, ban đêm thì giúp người vào giấc ngủ; đồng thời có năng lực làm cho người sống mãi, nếu người chết thì đưa linh hồn họ lên cõi trời. Vị thần này rất được Bà la môn giáo sùng bái. II. Sa Duy Đức Lợi. Vốn là tên 1 bài tán ca ca tụng thần Sa duy đức lợi trong kinh Phệ đà, thường gọi là Già da đức lợi (Phạn: Gàyatrì). Về sau trở thành tên của nữ thần; hoặc là vợ hay con gái của Phạm thiên, hoặc là vợ của thần lửa A kì ni. Cũng có thuyết cho là thần độc lập. Thần này có 3 đầu, tay cầm chuỗi tràng, phất trần và sách. III. Sa Duy Đức Lợi. Tên của Nữ chủ giác trong câu chuyện Sa duy đức lợi trong bộ Đại sử thi Ma ha bà la đa (Phạn:Mahàbhàrata) của Ấn Độ.
sa già đà
4076梵名 Svāgata,巴利名 Sāgata。又作修伽陀。意譯為善來。為佛陀弟子之一。初生之時,容貌可愛,儀表莊嚴,其父見之,內心歡喜,乃言善來,因以為名。其後證得聲聞果,具火界神通。〔有部毘奈耶卷四十二飲酒學處〕
; (娑伽陀) Phạn: Svàgata. Pàli: Sàgata. Cũng gọi Tu già đà. Hán dịch: Thiện Lai. Một trong các vị đệ tử của đức Phật. Lúc mới sinh ra, ngài có dung mạo rất dễ thương, dáng vẻ trang nghiêm, thân phụ của ngài trông thấy, trong lòng vui mừng liền nói: Thiện lai!(Lành thay! Hãy lại đây!), do đó mà ngài có tên là Thiện lai. Sau, Ngài chứng được quả Thanh văn, có thần thông Hỏa giới. [X. điều Ẩm tửu học xứ ghi trong Hữu bộ tì nại da Q.42].
Sa giới
(沙界): hằng hà sa số thế giới, tức vô lượng vố số thế giới của Phật nhiều như cát sông Hằng (s, p: Gaṅgā, 恆河) ở Ấn Độ. Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經) có đoạn rằng: “Chư Hằng Hà sở hữu sa số Phật thế giới, như thị ninh vi đa phủ (諸恆河所有沙數佛世界、如是寧爲多不, vô số các thế giới Phật có ở sông Hằng, như vậy liệu có nhiều chăng ?).”
; (沙界): chỉ cho Hằng hà sa số thế giới, cõi nước nhiều giống như cát sông Hằng. Như trong bản Đầu Đà Tự Bi Văn (頭陀寺碑文) của của Vương Triệt (王屮, ?-?) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Diễn vật chiếu chi minh, nhi giám cùng sa giới (演勿照之明、而鑒窮沙界, diễn bày ánh sáng không chiếu, mà soi tỏ cùng khắp sa giới).” Hay trong bài thơ Quán Hồ (觀湖) của thi sĩ Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống lại có câu: “Hồi thủ bất tri sa giới thiểu, phiêu y do giác sắc trần cao (回首不知沙界小、飄衣猶覺色塵高, hồi đầu nào hay sa giới nhỏ, áo bay mới biết bụi trần cao).” Trong Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca (永嘉證道歌, Taishō Vol. 48, No. 2014) cũng có câu: “Đại thiên sa giới hải trung âu, nhất thiết thánh phàm như điện phất (大千沙界海中漚、一切聖賢如電拂, cõi nước cùng khắp trong bọt biển, hết thảy thánh phàm như điện chớp).” Hoặc trong Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết (永明智覺禪師唯心訣, Taishō Vol. 48, No. 2018) có đoạn: “Bất động vi hào chi công, phỉ di ty phát chi bộ, ưu du sa giới, biến lịch đạo tràng, hà Phật sát nhi bất đăng, vô nhất tướng nhi phi thật tướng, vô nhất nhân nhi phi viên nhân (不動微毫之功、匪移絲髮之步、優游沙界、遍歷道塲、何佛剎而不登、何法會而不涉、無一相而非實相、無一因而非圓因, chẳng động mảy lông công lao, không dời sợi tóc bước chân, rong chơi khắp chốn, trãi cùng đạo tràng, chẳng chùa Phật nào mà không đến, không pháp hội nào mà chẳng qua, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng phải nhân tròn).”
sa giới
2974意謂恆河沙之世界,即指無量無數之佛世界。金剛般若經(大八‧七五一中):「諸恆河所有沙數佛世界,如是寧為多不?」佛教頌文中亦有(大四七‧二九○上)「心包太虛,量周沙界」之偈語。〔註華嚴經題法界觀門頌〕
; Hằng hà sa số thế giới hay thế giới nhiều như cát sông Hằng—Worlds as numerous as the sand of Ganges.
; (沙界) Hàm ý là thế giới nhiều như cát sông Hằng, tức chỉ cho thế giới Phật nhiều vô lượng vô số. Kinh Kim cương bát nhã (Đại 8, 751 trung) nói: Thế giới Phật như số cát của các sông Hằng, như thế có nhiều không? Trong kinh Phật cũng có câu kệ (Đại 47, 290 thượng): Tâm bọc thái hư, lượng trùm sa giới. [X. Chú Hoa nghiêm kinh đề pháp giới quán môn tụng].
sa giới, hằng hà sa số thế giới
Worlds as numerous as the sands of Ganges.
sa ha
4076梵語 sahā。<一>與娑婆同。為堪忍之義,故又譯作忍土。此界之眾生安忍諸煩惱,不肯出離,故稱其土為娑呵。(參閱「娑婆」4077) <二>又譯作駛流。為北本大般涅槃經卷二十五中所舉之藥名。產於雪山,人若見之,得無量壽,無有病苦。〔慧琳音義卷二十六〕
; Sahà (S). The world around us, the present world. Also Ta bà
; Saha (skt)—Còn gọi là Sa Bà hay Ta Bà, thế giới Ta bà của chúng ta hiện tại—Saha world—The world around us—The present world.
; (娑呵) Phạn: Sahà. I. Sa Ha. Hán dịch: Kham nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà. Chúng sinh ở thế giới này cam lòng chịu đựng tất cả những phiền não, khổ lụy, chứ không muốn thoát ra, cho nên gọi thế giới này là Sa ha. (xt. Sa Bà). II. Sa Ha. Hán dịch: Sử lưu. Tên một loại cỏ thuốc nói trong kinh Đại bát niết bàn quyển 25 (bản Bắc). Loại cỏ thuốc này mọc trên núi Tuyết, nếu người nào được trông thấy nó thì sẽ sống lâu vô lượng và không có bệnh khổ. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
sa hữu
Xem đường điXem Chỉ Đa Mật.
sa ka la, sa ga la
Sakala (S). Actual Siàlkot.
sa khả đế
Sakti (S)Tên một vị thiên. Bà phi cũa ngài Phẫn nộ vương.
sa kiếp
Hằng sa số kiếp---Kalpas countless as the sands of Ganges.
sa kiệt la
Xem Biển.
; Sàgara (S). Ocen of Nàgas. Also Hàm hải Sa kiệt la long.
; Sagara (skt). 1) Biển: Hàm hải—The ocean. 2) Theo Kinh Pháp Hoa, đây là biển nơi có cung điện của vua rồng, ở về phương bắc núi Tu Di, nơi có nhiều ngọc quý, có long vương vũ; nơi đây nàng Long Nữ (con của Long Vương) mới tám tuổi đã thành Phật: According to the Lotus sutra, the Naga king of the ocean palace, north of Mount Meru, possessed of priceless pearls; the dragon-king of rain; his eight-year-old daughter instantly attained Buddhahood.
sa kiệt la long vương
4078梵名 Sāgara-nāgarāja。又作娑伽羅龍王。娑竭羅,意譯為海。八大龍王之一。依其所住之海而得名。龍宮居大海底,縱廣八萬由旬,七重宮牆,七重欄楯,七重羅網,七重行樹,周匝皆以七寶嚴飾,無數眾鳥和鳴。然諸龍皆為金翅鳥所食,僅娑竭羅龍王、難陀龍王等十六龍王倖免此難。此龍為降雨龍神,古來祈雨皆以之為本尊。又此龍為千手觀音之眷屬,為觀音二十八部眾之一。身呈赤白色,左手執赤龍,右手握刀,狀甚威武。其女年八歲,智慧利根,以持法華經之功,即身成佛,現男子身,具菩薩行。海龍王經、佛為海龍王說法印經、佛為娑伽羅龍王所說大乘經等諸經,皆為佛對此龍王所說之法。〔長阿含經卷十九龍鳥品、起世經卷五、法華文句卷二下、華嚴經疏卷五〕
; Śāgāra-nāgarāja (S).
; (娑竭羅龍王) Phạn: Sàgara-nàgaràja. Cũng gọi Sa già la long vương. Vua rồng Sa kiệt la, 1 trong 8 Đại long vương. Sa kiệt la nghĩa là biển, vì vua rồng này ở dưới biển nên có tên gọi là Sa kiệt la. Cung điện của vua rồng ở dưới đáy biển cả, mỗi bề rộng 8 vạn do tuần, 7 lớp tường vách, 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây, chung quanh đều được trang sức bằng 7 thứ báu, vô số các loài chim cùng hót. Nhưng các rồng đều bị chim Kim sí (cánh vàng)ăn thịt, chỉ có 16 vị Long vương như Long vương Sa kiệt la, Long vương Nan đà... là may mắn thoát khỏi nạn này.Long vương Sa kiệt la là vị thần làm ra mưa, cho nên xưa nay thường được thờ làm Bản tôn trong các pháp tu cầu mưa. Vị Long vương này cũng là quyến thuộc của bồ tát Thiên thủQuan âm, là 1 trong 28 bộ chúng của Ngài. Thân hình Long vương này màu đỏ lợt, tay trái cầm rồng đỏ, tay phải cầm dao, dáng vẻ đầy uy vũ. Vị Long vương này có cô con gái mới 8 tuổi mà trí tuệ rất thông lợi, nhờ công đức trì kinh Pháp hoa mà được tức thân thành Phật, hiện thân nam tử, đầy đủ các hạnh Bồ tát. Các kinh như: Kinh Hải long vương, kinh Phật vị Hải long vương thuyết pháp ấn, kinh Phật vị Sa kiệt la Long vương sở thuyết đại thừa... đều là những kinh đức Phật nói cho vị Long vương này nghe. [X. phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.5; Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Hoa nghiêm kinh sớ Q.5].
sa kế
4774以莎草結髻,原為古代印度奴僕之風習。於密教中,不動明王為如來之侍者,住於奴僕之三昧,故頭髮作七結之莎髻,「七」表七菩提分,「莎髻」別表如來侍者之身分;末結為一辮髮,左垂,表悲念下惡極苦惱之眾生。〔底哩三昧經卷上、大日經疏卷五〕
; (莎髻) Sa là cỏ gấu; Kế là cả búi tóc. Nghĩa là dùng cỏ gấu để kết thành búi tóc. Đây vốn là phong tục tập quán của những người nô bộc ở Ấn độ đời xưa. Trong Mật giáo, Minh vương Bất động là thị giả của Như lai, trụ trong tam muội Nô bộc, nên tóc trên đầu kết thành 7 búi, số 7 tượng trưng cho 7 phần Bồ đề, Sa kế biểu thị thân phận 1 thị giả của Như lai. Phần đuôi của Sa kế là 1 chùm tóc, rủ xuống bên trái, biểu trưng lòng thương xót các chúng sinh cực ác khổ não. [X. kinh Để lí tam muội Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5].
sa la
Sàla (S). Sal tree.
; Sala (skt)—Cây Ta La—Sala tree—The teak tree.
sa la ba
2978(1259~1314)元初譯經僧。又作沙羅巴。相傳為河西人(一說西域積寧人)。幼時從元初帝師八思巴(藏 ⅵphags-pa)剃髮,修習諸部灌頂法;復從著栗赤上師學大小乘。更奉帝師命,從刺溫卜受焰曼德迦(梵 Yamāntaka)之法。通曉西藏語,能說諸妙法,兼解諸國文字。後蒙第五代元帝師薦謁元世祖,敕命譯出中國未傳之顯密諸經,特賜「大辯廣智」之號。 世祖憂於當時僧風之寢弊,授師為江浙等處釋教都總統,以整頓弊害最甚之江南。師赴其地後,削減煩苛,安定僧寺。次統閩粵一帶,知教徒為官事冗煩所苦,乃奏罷諸路總統,自退於陝西隴山。延祐元年十月,面佛端坐而寂,享年五十六。所譯佛典今仍存者有藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌二卷、藥師琉璃光王七佛本願功德念誦儀軌供養法、壞相金剛陀羅尼經、佛頂大白傘陀羅尼經、文殊菩薩最勝真實名義經各一卷、八思巴之彰所知論二卷。〔佛祖歷代通載卷三十六、大明高僧傳卷一、釋氏稽古略續集卷一、補續高僧傳卷一、蒙藏佛教史上冊〕
; Sha-lo-pa (C).
; (沙囉巴) (1259-1314) Cao tăng Trung quốc, sống vào đầu đời Nguyên, tương truyền sư là người Hà tây (có thuyết nói là người Tích ninh, Tây vực).Thưở nhỏ, sư theo Ngài Bát tư ba (Tạng: Fphags-pa), vị Đế sư (Quốc sư) đầu tiên của triều Nguyên, xuất gia, tu tập pháp Quán đính của các bộ và theo Thượng sư Trước lật xích học ĐạiTiểu thừa. Sư lại vâng mệnh Đế sư theo ngài Lật ôn bốc thụ pháp Diệm mạn đức ca (Phạn: Yamàntaka). Sư thông hiểu tiếng Tây tạng và có thể thuyết giảng diệu pháp bằng ngôn ngữ này, sư cũng hiểu văn tự các nước khác. Sau, sư được Đế sư triều Nguyên đời thứ 5 đưa đến ra mắt Nguyên Thế tổ, vua ban sắc cho sư dịch các kinh Hiển, Mật chưa được truyền dịch ở Trung quốc và đặc biệt ban cho sư hiệu Đại Biện Quảng Trí.Vua Thế tổ lo lắng về phong cách đồi bại của giới tăng sĩ đương thời, nên ban cho sư làm chức Thích giáo đô tổng thống vùng Giang Chiết để chỉnh đốn giới tăng sĩ ở Giang nam. Sau khi sư đến, bắt đầu giảm bớt phiền hà và an định chư tăng tại các nơi Giang Chiết, rồi sư quan tâm đến các vùng Phúc Kiến, Quảng Đông, biết tình trạng giáo đồ rất khổ vì sự nhũng nhiễu của việc quan, nên tâu xin bãi bỏ các chức quan cai quản chư tăng ở địa phương, rồi sư lui về Lũng sơn ở Thiểm tây. Tháng 10 niên hiệu Diên hựu năm đầu (1314), sư ngồi thẳng nhìn Phật mà thị tịch, thọ 56 tuổi. Các kinh do sư dịch gồm có: Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ 2 quyển, Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quỉ cúng dường pháp, kinh Hoại tướng Kim cương đà la ni, kinh Phật đính đại bạch tản đà la ni, kinh Văn thù bồ tát tối thắng chân thực danh nghĩa, luận Chương sở tri 2 quyển. X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.36; Đại minh cao tăng truyện Q.1; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Mông Tạng Phật giáo sử tập thượng].
sa la ca lân đề
4079梵語 sārasa kāraṇḍa。娑羅,為娑羅娑之略稱。乃二鳥之名。此二鳥如鴛鴦,形影不離,出雙入對。佛以此二鳥喻菩薩之一行、一切行共行。〔南本大般涅槃經卷三〕
; Sarasa-karanda (S)Sa la sa điển Ca lân đề, Sa la ca lân đểTên một loài chim.
; (娑羅迦鄰提) Phạn: Sàrasa kàraịđa. Sa la, gọi đủ là Sa la sa. Sa la sa và Ca lân đề là tên của 2 con chim. Hai con chim này như cặp uyên ương, thường quấn qúyt nhau như hình với bóng. Phật dùng chim này ví dụ Bồ tát tu hành 1 hạnh tức là tu hành tất cả hạnh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc)].
sa la ca lân để
Xem Sa la ca lân đề.
sa la cấp đa
4079梵名 Sālagupta。意譯為貞固。唐代鄭地滎川(河南長葛縣西)人,俗姓孟。生卒年不詳。十四歲,即於氾水等慈寺剃髮。經兩三載,雲遊四海,尋師訪道,往安州大猷禪師處習方等,數旬即妙相現前,復參襄州善導禪師受彌陀勝行。師一生勤學不倦,學通三藏。曾西行求法,居止三年歸國,宣揚律學,教化無數,然未及三年即示寂。〔大唐西域求法高僧傳卷下〕
; (娑羅笈多) Phạn: Sàlagupta. Hán dịch: Trinh cố. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Huỳnh xuyên, đất Trịnh (mạn tây huyện Trường cát, tỉnh Hà nam), họ Mạnh. Năm 14 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đẳng từ tại Phiếm thủy. Hai năm sau, sư đi tham học khắp nơi, như đến An châu học kinh Phương đẳng nơi Thiền sư Đại du, được vài tuần thì diệu tướng hiện tiền, rồi sư đến Tương châu theo ngài Thiện đạo học kinh Di đà. Sư suốt đời chuyên cần học tập không mệt mỏi, thông hiểu 3 tạng. Sư từng đến Ấn độ cầu pháp, sau 3 năm thì trở về nước, tuyên dương Luật học, giáo hóa vô số, nhưng chưa đầy 3 năm sư đã tịch diệt. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ].
sa la di tụ lạc
4078娑羅痍,梵名 Sārathī。意譯為調御城。為佛世時印度之聚落名。釋尊曾從周蘭那娑陀羅,經迦蘭那富羅聚落,至此聚落遊化人間,其後又經盧醯多柯蘇兜聚落,前往恆河河岸,繼續行化說法。〔佛本行集經卷三十三〕
; (娑羅洟聚落) Sa la di, Phạn: Sàrathì. Hán dịch: Điều ngự thành. Tên một khu làng xóm ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Đức Phật đã từng đến làng này thuyết pháp, rồi tại đây Ngài lại qua làng Lô hê đa kha tô nâu mà đến bờ sông Hằng để tiếp tục cuộc hành trình giáo hóa. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.33].
sa la ha
2977梵名 Saraha。西元七世紀,印度金剛乘最初之行者。東印度拉吉膩(梵 Rājñī)人。相傳其父為婆羅門種,母為拏吉儞種(梵 ⑺ākinī)。及長,通婆羅門教及佛教,於拉特納哈拉王(梵 Ratnaphala)及其婆羅門宰相前現神變,而令彼等歸信佛教。後董理那爛陀寺,並學真言乘,修行瑜伽,成就大行法(梵 mahā-mudrā)。師係最初將素來祕傳之怛特羅乘(梵 tantra-yāna)一般化而使之普及的阿闍梨之一。故多羅那他之印度佛教史第四十三章揭出將根本怛特羅介紹於世之諸悉地阿闍梨,以師列於第一,為佛頂蓋怛特羅之介紹者。著有若干孟加拉語之讚歌,並有吉祥佛頂蓋怛特羅難語釋具慧(梵 Śrī-buddhakapāla-tantra-pañjikā-jñānavatī)、吉祥佛頂蓋成就法(梵 Śrī-buddhakapāla-sādhana)、一切部多供物儀軌(梵 Sarva-bhūta-bah-vidhi)、吉祥佛頂蓋曼荼羅儀軌次第明(梵 Śrībuddhakapāla-maṇḍala-vidhi-krama-pradyotana)、道把藏歌(梵 Dohā-koṣa-gīti)、三世間征服世自在成就法(梵 Trailokya-vaśaṃkara-lokeśvara-sādhana)等著作。〔Benoytosh Bhattacaryya: An Introduction to Buddhist Esoterism;M. Walleser: The Life of Nāgārjuna from Tibetan and Chinese Sources〕
; (沙羅訶) Phạn: Saraha. Hành giả đầu tiên của Kim cương thừa ở Ấn độ, sống vào thế kỉ VII, người Lạp cát nị (Phạn: Ràjĩì) thuộc miền Đông Ấn độ. Tương truyền, thân phụ của sư thuộc dòng Bà la môn, thân mẫu thuộc dòng Noa cát nễ (Phạn: Đàkinì). Khi lớn khôn, sư thông hiểu cả Bà la môn giáo và Phật giáo, có lần sư hiện thần biến trước mặt vua Lạp Đặc Nạp Cáp Lạp (Phạn: Ratnaphala) và quan Tể tướng Bà la môn, khiến họ kính tin và qui y Phật giáo. Sau Sư trông nom chùa Na lan đà và học Chân ngôn thừa, tu hành Du già, thành tựu Đại hành pháp (Phạm:Mahàmudrà). Sư là 1 trong các vị A xà lê đầu tiên đem phổ biến hóa Đát đặc la thừa (Phạm:Tantra-yàna) mà xưa nay vốn bí truyền và làm cho tông thừa này được phổ cập. Bởi thế, chương 43 trong tác phẩm Ấn độ Phật giáo sử của mình, ngài Đa la na tha (Phạn: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩiĩ-po) đã xếp sư vào bậc nhất trong các A xà lê tất địa. Sư là người đã giới thiệu Đát đặc la căn bản và Đát đặc la Phật đính cái với mọi người. Sư có trứ tác một số tán ca bằng tiếng Bengal và nhiều tác phẩm khác. Những tác phẩm chủ yếu của sư gồm: Cát tường Phật đính cái Đát đặc la nan ngữ thích cụ tuệ (Phạn: Zrìbuddhakapàla-tantra-paĩjikàjĩànavatì), Cát tường Phật đính cái thành tựu pháp (Phạn: Zrìbuddhakapàla-sàdhana), Nhất thiết bộ đa cúng vật nghi quĩ (Phạn: Sarva-bhùtabah-vidhi), Cát tường Phật đính cái mạn đồ la nghi quĩ thứ đệ minh (Phạn: Zrìbuddhakapàla-maịđala-vidhi-kramapradyotana), Đạo bả tạng ca (Phạn: Dohà-kosa-gìti), Tam thế gian chinh phục thế tự tại thành tựu pháp (Phạn: Trailokya-vazaôkara-lokezvarasàdhana). [X. An Introduction to Buddhist Esoterism by Benoytosh Bhattacaryya; The Life ofNàgàrjunafrom Tibetan and Chinese Sources by M. Walleser].
sa la hoa
4079<一>娑羅,梵語 śāla。娑羅樹之花。其色淡黃,屬山茶花科。其果實可供食用。 <二>葬儀時,龕前所供之白紙花。釋尊涅槃時,娑羅雙樹變白,後人取其故事,以白紙作娑羅華,用於葬禮。
; (娑羅華) I. Sa La Hoa. Sa la, Phạn: Zàla. Hoa của cây Sa la, màu vàng nhạt, thuộc họ hoa Sơn trà. Quả của nó có thể ăn được. II. Sa La Hoa. Hoa bằng giấy trắng bày cúng trước khám thờ. Khi đức Phật nhập Niết bàn, cây Sa la song thụ biến thành màu trắng, người đời sau căn cứ vào sự tích này mà làm hoa Sa la bằng giấy trắng để dùng trong nghi thức lễ tang.
sa la lâm
Xem Sa la song thụ.
; Salavana (skt)—Rừng cây Ta La Song Thọ gần thành Câu Thi Na, nơi mà Đức Phật ngồi vào giữa hai hàng cây rồi thị tịch (thành Câu Thi Na còn có tên là Giác thành. Thành có ba góc nên gọi là giác, cũng gọi là ngưu giác vì có những cây Ta La mọc song đôi. Sau khi Đức Phật thị tịch thì có 4 cây khô héo, còn lại 4 cây còn tươi)—The forest of sala trees, or the grove of Sala trees near Kusinagara, the reputed place of the Buddha's death.
sa la lân
Sàlavana (S). Sal grove.
sa la lê phất
Salaribhu (skt)—Tên của một vương quốc hay một tỉnh cổ của Ấn Độ, mà vị trí chính xác không ai rõ—An ancient kingdom or province in India, exact position is unknown.
sa la sa
Sarasa (skt)—Một loài chim sếu bên Ấn Độ—The Indian crane.
sa la sa điển ca lân đề
Xem Sa la ca lân đề.
sa la sa điểu
4079娑羅娑,梵語 sārasa。慧琳音義卷二十五譯作共行鳥或白鶴。大日經疏卷三言此鳥狀似鴛鴦而稍大,聲甚清雅,我國無之,故會意而譯為雁。
; (娑羅娑鳥) Sa la sa, Phạn: Sàrasa. Tên một giống chim ở Ấn độ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì hình dáng chim này giống như chim uyên ương, nhưng hơi lớn hơn, tiếng nó hót rất thanh nhã, ở Trung quốc không có loài chim này, cho nên dịch ý là Nhạn. Tuệ lâm âm nghĩa thì dịch là Cộng hành điểu hoặc Bạch hạc.
sa la song thọ
Ta la song thọ (hai cây Ta La song đôi), nơi Phật đã nhập Niết bàn—The twine trees in the grove in which Sakyamuni entered nirvana.
sa la song thụ
Sāla (S), (S, P)Tên một loại cây có một gốc nhưng hai thân. Tương truyền Phật nhập diệt trong rừng cây sa la, giữa bốn cây sa la song thụ.
; The twin trees in the grove Sa la lâm in which Sàkyamuni entered nirvàna.
sa la thất phạt để tiết
4078梵名 Sarasvatī pūjā。印度婆羅門教、印度教節日。為紀念娑羅室伐底(梵 Sarasvatī,意譯辯才天女)所舉行者。時間在印曆之磨佉月或星月(梵 Māgha,相當於公曆一、二月)。此時不僅為娑羅室伐底造像,凡如筆、墨水、紙張、書籍等能獲得知識之工具皆受教徒之崇拜。
; (娑羅室伐底節) Phạn: Sarasvatì pùja. Ngày lễ của Bà la môn giáo và của Ấn độ giáo ở Ấn độ, được cử hành vào tháng Ma khư hay tháng Tinh (Phạn: Màgha, tương đương với tháng 1, tháng 2 Dương lịch) theo lịch Ấn độ để kỉ niệm Sa la thất phạt để (Phạn: Sarasvatì, Hán dịch: Biện tài thiênnữ). Vào dịp lễ này, chẳng những tượng của Sa la thất phạt để, mà những công cụ có liên quan đến việc mang lại tri thức như bút, mực, giấy, sách vở... đều được tín đồ sùng bái.
sa la thọ
Cây Ta La—Sala tree.
sa la thọ vương
Salendrarāja (S).
; Salendra-raja (skt)—Danh hiệu của ngài Diệu Trang Nghiêm Vương vị lai thành Phật có danh hiệu là Sa La Thụ Vương Như Lai, ngài cũng là cha của ngài Quán Âm—A title of Salendra-raja Buddha, or Subhavyuha, father of Kuan-Yin.
sa la thụ
4079娑羅,梵語 śāla,有堅固、高遠之義。又作沙羅樹、薩羅樹、蘇連樹。學名 Shorea robusta。屬龍腦香科之喬木,產於印度等熱帶地方,其高約三十二公尺,葉長橢圓形而尖,長約十六至二十五公分,寬約十至十六公分,花小呈淡黃色,材質甚堅,供建築用,其樹脂可代替瀝青,種子能搾油。傳為過去七佛中第三毘舍婆佛之道場樹,長阿含卷一大本經(大一‧二中):「毘舍婆佛坐娑羅樹下,成最正覺。」中印度拘尸那羅城外娑羅樹林亦以釋尊般涅槃之聖地而聞名。 據諸經之記載,釋尊於拘尸那揭羅城外將入涅槃時,其臥床四邊各有同根娑羅樹一雙,其樹每邊一雙中之一株,因悲傷而慘然變白,枝葉、花果、皮幹皆爆裂墮落,逐漸枯萎,另一株則尚存,故此雙樹亦稱四枯四榮樹,或非枯非榮樹。以故,遂有東方雙樹為「常與無常」,西方雙樹為「我與無我」,南方為「樂與無樂」,北方為「淨與不淨」等之譬喻。又因枯萎之娑羅樹呈白色,如鶴林貌,故亦稱鶴林。另依大般涅槃經疏卷一所載,娑羅雙樹者,一方二株,四方八株,悉高五丈,四枯四榮。下根相連,上枝相合,其葉豐蔚,華如車輪,果大若缾,味甘如蜜。故古來稱此樹林為雙樹林、堅固林、堅林。〔有部毘奈耶雜事卷三十七、大般涅槃經集解卷二、摩訶止觀卷七之上〕
; (娑羅樹) Sa la, Phạn: Zàla. Cũng gọi Tát la thụ, Tô liên thụ. Hán dịch: Kiên cố, Cao viễn. Tên khoa học: Shorea rohusta. Tên một loại cây cao, thuộc họ hương long não, mọc ở các vùng nhiệt đới như Ấn độ, Tích lan... Loại cây này thân cao khoảng 32m, lá dài khoảng 16 đến 25 cm, rộng khoảng 10 đến 16 cm, hình bầu dục, đầu lá nhọn, hoa nhỏ màu vàng lợt, gỗ rất cứng, có thể dùng làm vật liệu kiến trúc, hạt có thể ép lấy dầu. Theo truyền thuyết, cây Sa la là cây đạo tràng của đức Phật Tì Xá Bà, 1 trong 7 đức Phật quá khứ. Kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 2 trung) nói: Đức Phật Tì Xá Bà ngồi dưới gốc cây Sa la, thành Tối chính giác. Rừng cây Sa la ở ngoài thành Câu thi na yết la,Trung Ấn độ cũng là Thánh địa nổi tiếng vì đó là nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn. Theo sự ghi chép trong các kinh, khi đức Thích Tôn sắp nhập Niết bàn, ở bên ngoài thành Câu Thi Na Yết La thì 4 phía giường Ngài nằm mỗi phía đều có 1 cây Sa la, gồm 2 nhánh cùng gốc, vì đau buồn thảm thương nên một nhánh mỗi bên của cây Sa la biến thành màu trắng, cành lá, hoa quả, vỏ cây đều nứt ra và rơi xuống đất, dần dần khô héo, còn 1 nhánh thì vẫn tươi, vì thế cây song thụ này cũng được gọi là Tứ khô tứ vinh thụ (cây 4 khô 4 tươi), hoặc Phi khô phi vinh thụ (cây chẳng phải khô, chẳng phải tươi). Do đó mà có các thí dụ: Hai cây ở phía đông là thường và vô thường, hai cây ở phía tây là ngã và vô ngã, ở phía nam là lạc và vô lạc và ở phía bắc là tịnh và bất tịnh. Lại vì rừng cây Sa la khô héo có màu trắng như chim hạc nên cũng gọi là Hạc lâm. Theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1 thì Sa la song thụ, mỗi phía1 gốc 2 nhánh, 4 phía 4 gốc 8 nhánh, đều cao 5 trượng, 4 nhánh khô 4 nhánh tươi, gốc liền nhau, cành hợp nhau, lá um tùm, hoa tròn như bánh xe, quả to bằng cái bình, vị ngọt như mật, vì thế xưa nay rừng cây này được gọi là Song thụ lâm, Kiên cố lâm, Kiên lâm. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.37; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.2; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].
sa la thụ vương
4079開敷華王如來(梵 Saṃkusumitarāja-tathāgata)之異名。為密教胎藏界曼荼羅中臺八葉院南方之如來名。此如來萬德開敷,皆至金剛實際,故以娑羅樹(梵 śāla)之華菓繁茂,堅固不壞,以喻其二德。其身呈金色,通肩披袈裟,右手掌向外仰,指端垂下,左手執袈裟角,置於臍側。密號平等金剛。〔大日經卷一具緣品、大日經疏卷四〕
; (娑羅樹王) Tên khác của Khai phu hoa vương Như lai (Phạn: Saôkusumitaràja-tathàgata) ngồi ở phía nam trong viện Trung đài bát diệp của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Đức Như lai này muôn đức nở rộ, đều đã đạt đến kim cương thực tế, cho nên dùng hoa quả tốt tươi, cứng chắc, không hư nát của cây Sa la (Phạn: Zala) để ví dụ 2 đức của Ngài. Thân Ngài màu vàng ròng, ca sa phủ kín 2 vai, bàn tay phải ngửa hướng ra ngoài, các đầu ngón tay rủ xuống, tay trái cầm góc áo ca sa để ở bên rốn. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4].
sa la thụ vương phật
2977沙羅樹王,梵名 Śālendrarāja。又稱娑羅王。意譯為堅固、寂勝。為法華經中所記載之佛名。據法華經卷七妙莊嚴王菩薩本事品載,於無量阿僧祇劫過去世中,有一妙莊嚴王(梵 Śubha-vyūha),初時信奉外道,執著於婆羅門之法。王之夫人與二子皆篤信佛法。王受其子之導引,乃漸生歡喜信受之心。後於二子出家之日,往詣雲雷音宿王華智佛之處,佛乃為王說法,並為之記莂,謂王當來必成佛,號沙羅樹王。〔法華義記卷八、法華文句卷十下、慧苑音義卷上〕
; (沙羅樹王佛) Sa la thụ vương, Phạn: Zàlendraràja. Cũng gọi: Sa la vương. Hán dịch: Kiên cố, Tịch thắng. Tên một đức Phật được nói trong kinh Pháp hoa. Cứ theo phẩm Diệu trang nghiêm vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 thì trong đời quá khứ cách đây đã vô lượngA tăng kì kiếp, có một vị vua tên là Diệu trang nghiêm (Phạn: Zubha-vyùha) lúc đầu tin thờ ngoại đạo, chấp trước pháp Bà la môn. Nhưng Hoàng hậu và 2 vương tử thì đều tin Phật pháp một cách thuần thành. Do sự hướng dẫn của 2 vương tử, dần dần nhà vua sinh lòng vui mừng tin nhận Phật pháp. Sau, vào ngày 2 vương tử xuất gia, nhà vua đến chỗ đức Phật Vân lôi âm tú vương hoa trí, đức Phật nói pháp cho vua nghe và kí biệt rằng trong vị lai vua sẽ thành Phật hiệu là Sa la thụ vương. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.8; Pháp hoa văn cú Q.10, hạ; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
sa la vương
Salaraja (skt)—Danh hiệu của Phật—A title of the Buddha.
sa lạc ca
Charaka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là tên của một tịnh xá trong thành Kapisa—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, this is the name of a monastery in Kapisa.
sa lộ đa la
Srotra (skt)—Nhĩ căn—The ear.
sa ma
Samaveda (skt)—Sách thứ ba trong bộ kinh Vệ Đà—The third of the Vedas, containing the hymns.
sa ma la
Smara (skt)—Ký ức—Recollection—Remembrance.
sa ma lị ca
Sannagarika (S). A sect. Also Mật lâm sơn bộ.
sa ma phệ đà
2975梵名 Sāma-veda,巴利名同。又作三摩吠陀、娑摩薜陀、娑磨吠陀、娑磨毘陀。意譯歌頌明論、作明美言、禮儀美言智論。印度古代四吠陀經典之一。即有關歌詠及旋律(梵 sāman)之吠陀,係於蘇摩祭時,歌詠僧(梵 udgātṛ)所唱之讚歌及歌曲之集成,為祭祀用之聖典,其內容係對月天講說蘇摩供之要點。有三派傳本,分兩卷。與其他諸吠陀相同,此亦由歌頌部分(梵 saṃhitā,即本集)與作法部分(梵 brāhmaṇa,即梵書)所組成,共收歌詞一八一○頌(除去重複者則為一五四九頌),大部分由根本經典梨俱吠陀之歌頌改成,新見於本書者僅有七十頌章而已。(參閱「吠陀」2820)
; Sama-veda (S)Vệ đà phái.
; (沙摩吠陀) Phạn, Pàli: Sàma-veda. Cũng gọi Tam ma phệ đà, Sa ma bệ đà, Sa ma tì đà. Hán dịch: Ca tụng minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Một trong 4 bộ kinhPhệ đà của Ấn độ đời xưa, liên quan đến ca vịnh và Toàn luật (Phạn: Sàman), tức thu tập các bài tán ca do những Ca vịnh tăng (Phạn: Udgàtf) xướng đọc khi tế Tô Ma, tức Phệ đà dùng vào việc tế lễ. Nội dung của bộ kinh Phệ đà này gồm những điểm trọng yếu về pháp cúng tế Tô Ma được giảng thuyết cho Nguyệt Thiên nghe. Kinh này có bản do 3 phái lưu truyền, chia làm 2 quyển. Giống như các Phệ đà khác, kinh này cũng được tập thành do phần Ca tụng (Phạn: Saôhità, tức Bản tập) và phần Tác pháp (Phạn: Bràhmaịa, tức Phạm thư), tất cả gồm 1.810 bài tụng (lược bỏ những bài trùng lắp thì còn 1.549 bài tụng), phần lớn do sửa đổi những bài ca tụng trong kinh điển căn bản Lê câu Phệ đà mà thành, còn những bài hoàn toàn mới được thấy trong kinh này thì chỉ có 70 bài tụng mà thôi. (xt. Phệ Đà).
sa ma tha
Là thiền quán cực tịnh, quán các pháp đều không như gương soi các tướng.
; Là thiền quán cực tịnh, quán các pháp đều không, như gương soi các tướng.
sa ma vệ đà
Sàmaveda (S). The 3rd of four books of Veda.
sa ma đế
Xem Chánh lượng bộ.
; Sammatìya (S). A sect. Also Chính lượng bộ.
; Sammatiya (skt)—Chánh Lượng Bộ, một trong 18 tông Tiểu Thừa—One of the eighteen Hinayana sects.
Sa Môn
(s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門): âm dịch là Thất La Mạt Noa (室羅末拏), Xá Ra Ma Noa (舍囉摩拏), Thất Ma Na Noa (㗌摩那拏), Sa Ca Muộn Nang (沙迦懣囊); Sa Môn Na (沙門那), Sa Văn Na (沙聞那), Ta Môn (娑門), Tang Môn (桑門), Táng Môn (喪門); là từ chuyển âm của phương ngôn Tây Vức, như từ samāne của tiếng Quy Tư (s: Kucīna, 龜茲), hay samanā của tiếng Vu Điền (s: Kustana, 于闐, nay là Khotan); ý dịch là cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Đây là từ tổng xưng cho người xuất gia, thông cả nội và ngoại đạo; cũng dùng để chỉ việc cắt bỏ râu tóc, dừng lại và chấm dứt các điều ác, khéo điều phục thân tâm, siêng năng thực hành các điều thiện, và khát vọng đạt được mục đích xuất gia tu đạo, chứng quả Niết Bàn. Theo Du Hành Kinh (遊行經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 3, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 66, Sa Môn được phân làm 4 loại như sau: (1) Thắng Đạo Sa Môn (勝道沙門), còn gọi là hành đạo thù thắng, như Phật hay Độc Giác, vì có thể tự giác được. (2) Thị Đạo Sa Môn (示道沙門), còn gọi là Thuyết Đạo Sa Môn (說道沙門), nghĩa là khéo thuyết giảng nghĩa đạo; chỉ cho người thuyết giảng về đạo không sai lầm, như Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v., có thể thường theo đức Phật chuyển bánh xe pháp. (3) Mạng Đạo Sa Môn (命道沙門), còn gọi là Hoạt Đạo Sa Môn (活道沙門), nghĩa là nương theo đạo mà sinh hoạt; tức chỉ cho người nương theo đạo mà sống, như tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), v.v., tuy có học vị mà giống như vô học, đa văn, khéo vâng giữ, đầy đủ giới cấm thanh tịnh, truyền pháp thân huệ mạng cho cuộc đời. (4) Ô Đạo Sa Môn (污道沙門), còn gọi là Hoại Đạo Sa Môn (壞道沙門), chỉ cho những người ngụy thiện, làm nhơ nhớp Thánh đạo, như Tỳ Kheo Mạc Khát Lạc Ca (莫喝落迦), thường trộm cắp tài vật của người khác. Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 29 giải thích rằng Thắng Đạo Sa Môn là bậc Thiện Thệ (s: sugata, 善逝, đấng thật sự qua bờ bên kia mà không còn trở lui biển sanh tử nữa), Thuyết Đạo Sa Môn là người tuyên thuyết các chánh pháp, Hoạt Đạo Sa Môn là người tu các thiện pháp, và Hoại Đạo Sa Môn là thực hành các việc làm sai trái. Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 112 có nêu 4 loại Sa Môn khác là (1) Hình Phục Sa Môn (形服沙門, Sa Môn bên ngoài mặc sắc phục tu sĩ), (2) Uy Nghi Khi Cuống Sa Môn (威儀欺誑沙門, Sa Môn khinh thường oai nghi tế hạnh), (3) Tham Cầu Danh Văn Sa Môn (貪求名聞沙門, Sa Môn tham cầu tiếng tăm) và (4) Thật Hành Sa Môn (實行沙門, Sa Môn tinh tấn thực hành chánh pháp). Trong Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記) quyển 8 của Vương Sĩ Chân (王士禛, 1634-1711) nhà Thanh có câu: “Sa Môn dĩ Hòa Thượng vi tôn quý chi xưng (沙門以和尚爲尊貴之稱, Sa Môn lấy Hòa Thượng làm từ xưng hô tôn quý).” Hay trong Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 22 có câu: “Tây Kinh Tây Minh Tự Sa Môn Viên Chiếu soạn (西京西明寺沙門圓照撰, Sa Môn Viên Chiếu ở Tây Minh Tự, Tây Kinh soạn).”
sa môn
2972梵語 śramaṇa,巴利語 samaṇa。音譯室羅末拏、舍囉摩拏、㗌摩那拏、沙迦懣囊。乃西域方言(龜茲語 samāne,于闐語 samanā)之轉音。又作沙門那、沙聞那、娑門、桑門、喪門。意譯勤勞、功勞、劬勞、勤懇、靜志、淨志、息止、息心、息惡、勤息、修道、貧道、乏道。為出家者之總稱,通於內、外二道。亦即指剃除鬚髮,止息諸惡,善調身心,勤行諸善,期以行趣涅槃之出家修道者。 據長阿含卷三遊行經、大毘婆沙論卷六十六載,沙門可分類為下列四種:(一)勝道沙門,又作行道殊勝,如佛或獨覺;以能自覺之故。(二)示道沙門,又作說道沙門、善說道義,指說道無誤者,如舍利弗等;以能常隨佛轉大法輪之故。(三)命道沙門,又作活道沙門、依道生活,指依道而生者,如阿難等;以雖居「學位」然同於「無學」,多聞善持,具淨戒禁,傳法身慧命於世之故。(四)污道沙門,又作壞道沙門、為道作穢,指污染聖道而偽善者,如莫喝落迦比丘;以盜他財物之故。瑜伽師地論卷二十九亦舉出四種沙門,謂勝道沙門即「諸善逝」,說道沙門即「說諸正法」者,活道沙門即「修諸善法」者,壞道沙門即「行諸邪行」者。此外,大寶積經卷一一二普明陔譟|亦列舉形服沙門、威儀欺誑沙門、貪求名聞沙門、實行沙門等四種沙門。 沙門修持甚嚴,增一阿含經卷二十六列舉五種毀辱:髮長、爪長、衣裳垢坋、不知時宜、多有所論;大寶積經卷一一三沙門品更列沙門應遠離之三十二垢及八法覆沙門行,三十二垢者:(一)欲覺。(二)瞋覺。(三)惱覺。(四)自讚。(五)毀他。(六)邪求利養。(七)因利求利。(八)損他施福。(九)覆藏罪過。(十)親近在家人。(十一)親近出家人。(十二)樂於眾鬧。(十三)未得利養作方便求。(十四)於他利養心生悕望。(十五)自於利養心不知足。(十六)於他利養中心生嫉妒。(十七)常求他過。(十八)不見己過。(十九)於解脫戒而不堅持。(廿)不知慚愧。(廿一)無恭恪意,心慢掉動,無有羞恥。(廿二)起諸結使。(廿三)逆十二因緣。(廿四)攝取邊見。(廿五)不寂滅,不離欲。(廿六)樂於生死,不樂涅槃。(廿七)好樂外典。(廿八)五蓋覆心,起諸煩惱。(廿九)不信業報。(卅)畏三脫門。(卅一)謗深妙法,不寂滅行。(卅二)於三寶中心不尊敬。八法覆沙門行者:(一)不敬順師長。(二)不尊敬法。(三)不善思惟。(四)於所未聞法,聞已誹謗。(五)聞無眾生、無我、無命、無人法後,心生驚畏。(六)聞一切行本來無生後,解有為法,不解無為法。(七)聞說次第法後,墮於大深處。(八)聞一切法無生、無性、無出後,而心迷沒。 又沙門有四果之別,稱四沙門果,即須陀洹果(三結斷)、斯陀含果(三結斷,貪恚癡薄)、阿那含果(五下分結盡)、阿羅漢果(貪恚癡永盡,一切煩惱永盡)。〔雜阿含經卷二十九、中阿含卷八阿修羅經、大乘大集地藏十輪經卷五、佛般泥洹經卷上、佛本行集經卷三十九、北本大般涅槃經卷三十四、十誦律卷六、玄應音義卷六、慧琳音義卷二十六〕(參閱「四種僧」1817、「阿那含」3623、「斯陀含」4978、「須陀洹」5360)
; Śramaṇa (S), Monk, Shamon (J), Samaṇa (P), Samano (P), Śravana (S), Śramani (S), Sāmaṇeri (P)Bần tăng, Bần đạo, Cần tứcLà thầy tu xuất gia theo đạo Phật. Sa môn có nghĩa là người cần cù tu thiện pháp, ngưng dứt các ác pháp, người chịu thiếu nghèo không giữ của cải riêng, không có gì là riêng của mình.
; Sramana (S). (1) Ascetics of all kinds. (2) Buddhist monks who have left the family and quitted the passions. Explained by công lao toilful achievement, cần tức diligent quieting (of the mind and the passions), tịnh chí purity of mind, bần đạo poverty.
; Sramana (skt)—Ta Môn—Tang Môn—Bà Môn—Sa Môn Na—Xá La Ma Na—Thất La Ma Na—Sa Ca Mãn Nang—Thất Ma Na Nã. (I) Nghĩa của Sa Môn—The meanings of Sramana: 1) Tu hành khổ hạnh: Ascetics of all kinds. 2) Nhà tu Phật giáo, từ bỏ gia đình, từ bỏ dục vọng, cố công tu hành và thanh bần tịnh chí—Buddhist monk or Buddhist priest who have left their families, quitted the passions and have the toilful achievement (công lao tu hành). Diligent quieting (Cần tức) of the mind and the passions, Purity of mind (tịnh chí) and poverty (bần đạo). (II) Những lời Phật dạy về “Sa Môn” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Sramana” in the Dharmapada Sutra: 1) Hàng Sa-môn (Mâu Ni) đi vào xóm làng để khất thực ví như con ong đi kiếm hoa, chỉ lấy mật rồi đi chứ không làm tổn thương về hương sắc—As a bee, without harming the flower, its color or scent, flies away, collecting only the nectar, even so should the sage wander in the village (Dharmapada 49). 2) Một đàng đưa tới thế gian, một đàng đưa tới Niết bàn, hàng Tỳ Kheo đệ tửø Phật, hãy biết rõ như thế, chớ nên tham đắm lợi lạc thế gian để chuyên chú vào đạo giải thoát—One is the path that leads to worldly gain, and another is the path leads to nirvana. Once understand this, the monks and the lay disciples of the Buddha, should not rejoice in the praise and worldly favours, but cultivate detachment (Dharmapada 75). 1) Chư Phật thường dạy: “Niết bàn là quả vị tối thượng, nhẫn nhục là khổ hạnh tối cao. Xuất gia mà não hại người khác, không gọi là xuất gia Sa-môn.”—The Buddhas say: “Nirvana is supreme, forebearance is the highest austerity. He is not a recluse who harms another, nor is he an ascetic who oppresses others.” (Dharmapada 184).
; (沙門) Phạn: Zramaịa. Pàli: Samaịa. Hán âm: Thất la mạn noa, Xá ra ma noa, Sất ma na noa, Sa ca mãn nang. Cũng gọi: Sa môn na, Sa văn na, Tang môn. Hán dịch: Cần lao, Công lao, Cù lao, Cẩn khẩn, Tĩnh chí, Tịnh chí, Tức chỉ, Tức tâm, Tức ác, Cần tức, Tu đạo, Bần đạo, Phạp đạo. Là từ ngữ chuyển âm của phương ngôn Tây vực (tiếng Cưu tư:Samàne, tiếng Vu điền: Samanà), chỉ chung những người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, ngăn dứt các điều ác, siêng tu các việc thiện, điều phục thân tâm, cầu mong đạt đến Niết bàn. Từ này dùng chung cho cả nội đạo và ngoại đạo. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A Hàm quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 66 thì Sa môn có thể được chia làm 4 loại như sau: 1. Thắng đạo sa môn (cũng gọi hành đạo thù thắng): Những bậc có khả năng tự giác, như Phật, Độc giác... 2. Thị đạo sa môn (cũng gọi Thuyết đạo sa môn): Chỉ cho người khéo giảng nói đạo nghĩa, có khả năng thường theo Phật chuyển đại pháp luân, như ngài Xá lợi phất... 3. Mệnh đạo sa môn (cũng gọi Hoạt đạo sa môn, Y đạo sinh hoạt): Chỉ cho những người sống theo đạo pháp, học rộng nhớ dai, đầy đủ giới cấm, truyền pháp thân tuệ mệnh cho đời, tuy còn ở địa vị Hữu học, nhưng đồng với địa vịvô học, như ngài A nan... 4. Ô đạo sa môn (cũng gọi Hoại đạo sa môn, Vi đạo tác uế): Chỉ cho những người bề ngoài mang hình tướng Sa môn nhưng tâm thì tà vọng, dối trá, làm những việc ô uế, trộm cắp tài vật của người khác, bôi nhọ đạo pháp, như Tỳ khưu Mạc hát lạc ca...Luận Du già sư địa quyển 29 cũng nêu 4 loại Sa môn, cho rằng Thắng đạo Sa môn tức là Chư thiện thệ, Thuyết đạo Sa môn tức là Thuyết chư chính pháp, Hoạt đạo Sa môn tức là Tu chư thiện pháp và Hoại đạo Sa môn tức là Hành chư tà hạnh. Ngoài ra, hội Phổ Minh Bồ Tát trong kinh Đại Bảo Tích quyển 112 cũng liệt kê 4 loại Sa môn là: Hình phục sa môn, Uy nghi khi cuống sa môn, Tham cầu danh văn sa môn và Thực hành sa môn. Sa môn có 4 quả chứng đắc khác nhau, gọi là Tứ sa môn quả, tức là: Quả Tu đà hoàn (đoạn tam kết: Hữu thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi), quả Tư đà hàm (đoạn tam kết tham khuể si bớt dần), quả A na hàm (dứt hết 5 phiền não ở cõi Dục là: Dục tham, sân khuể, hữu thân kiến,giới cấm thủ và nghi), quả A la hán(vĩnh viễn không còn tham khuể si và tất cả phiền não). [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh A tu la trong Trung a hàm Q.8; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.5; kinh Phật nê hoàn Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.39; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); luật Thập tụng Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Tứ Chủng Tăng, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn).
sa môn (nữ)
Sramaṇī (P), Sāmaṇī (P), Samaṇī (S), Nun.
sa môn bất kính vương giả luận
2972全一卷。略稱不敬王者論。東晉慧遠(334~416)撰。論述沙門不須禮敬王侯之理由。收於大正藏第五十二冊弘明集卷五。 東晉時,鑑於太尉桓玄之壓迫佛教,佛教教團乃發表宣言,認為佛教教團應處於國家權力之外,然同時代之車騎將軍庾冰則主張佛教沙門應對王者禮敬。安帝之際,桓玄支持庾冰之論,謂佛教教團應從屬於國家權力之下。本書作者則本佛教徒之立場,主張沙門不必禮拜帝王。在印度佛教之理念中,在法(真理)之前,不論帝王或沙門一律平等;法即是不變之真理。此一觀念於佛教傳入我國後,因佛教勢力之逐漸強大,而形成國家權力與佛教理想之衝突。 作者於本書序論中敘述其撰述理由,其次再從第一「在家」、第二「出家」兩篇中論述佛教出家之本質,強調出家者之生活必然超越世俗生活。第三論「求宗不順化」,謂求佛道者,不應隨順世俗,而須否定世俗之生活。第四論「體極不兼應」,謂體得佛法者,不應再順應世俗。第五論「形盡神不滅」,謂肉體終將一死,而精神永不滅絕。於本書中,顯示佛道之追求者堅守宗教真理,對於世俗之權威絲毫不讓步,然此一思想隨時代之變遷而逐漸步上妥協迎合之道。唐朝彥悰根據本書而將歷代之不拜論集錄成「集沙門不應拜俗等事」一書,共六卷。〔梁高僧傳卷六、歷代三寶紀卷七、釋氏稽古略卷二、唐書藝文志第四十九〕
; Ordained Buddhists Do Not Have to Honor Royalty—See Luận Sa Môn Bất Kính Vương Giả.
; (沙門不敬王者論) Gọi tắt: Bất kính vương giả luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung nói về lí do tại sao giới Sa môn không cần phải lễ kính hàng vương hầu để bác lại thái độ hống hách, cửa quyển của giới quan lại đương thời buộc tăng sĩ Phật giáo phải lễ lạy họ. Trong phần Tự luận của sách này, tác giả trình bày lí do soạn luận Sa môn bất kính vương giả, kế đến là thiên thứ nhất Tại gia và thiên thứ 2 Xuất gia, nói về bản chất của người xuất gia theo Phật giáo, nhấn mạnh rằng sự sinh hoạt của người xuất gia tất nhiên là siêu việt hơn sự sinh hoạt của người thế tục. Thiên thứ 3 Cầu tông bất thuận hóa cho rằng người cầu Phật đạo không nên thuận theo thế tục, mà phải sống khác với thế tục. Thiên thứ 4 Thể cực bất kiêm ứng cho rằng người thể nhận được Phật pháp không nên tùy thuận thế tục. Thiên thứ 5 Hình tận thần bất diệt cho rằng nhục thể cuối cùng sẽ chết, nhưng tinh thần thì vĩnh viễn không diệt mất. Đến đời Đường, ngài Ngạn tông căn cứ vào luận này mà gom các luận Bất bái đã có từ trước rồi biên tập thành bộ Tập Sa môn bất ưng bái tục đẳng sự gồm 6 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.2; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
sa môn cồ đàm
Samaṇa Gotama (S)Tên một số người khác dùng để gọi đức Phật.
; Sramana Gautama (S). An epithet of the Buddha.
sa môn nhị chủng
Hai loại Sa Môn—Two kinds of Sammatiya: 1) Chánh mệnh sa môn: Monk who makes his living by mendicancy (right livelihood for a monk). 2) Tà mệnh sa môn: Monk who works for a living (improper way of living).
sa môn quả
The fruit, or rebirth, resulting from the practices of the sramana.
; The fruit, or rebirth resulting from the practices of the sramana.
sa môn quả kinh
2973請參閱 集沙門不應拜俗等事 請參閱集沙門不應拜俗等事 長阿含經之第二十七經,後秦弘始十四年(412),由佛陀耶舍與竺佛念共同譯出。收於大正藏第一冊。本經前半係以介紹六師外道之說而著名,故有關六師外道之重要資料,以本經最稱具體完備。後半部則揭示佛教之中心思想,並詳說沙門之現世果報與戒定慧三學。要之,本經係記載歷史上有名之阿闍世王(巴 Ajātasattu),向印度當時新興之思想家,包括佛教及一般傳說之六師外道等,詢問因果及業報等問題,然皆未得解答。最後參訪佛陀,由佛陀淺顯之提示,而了解因緣果報之道理。 本經之異譯本有:(一)佛說寂志果經,東晉竺曇無蘭譯,收於大正藏第一冊。(二)增一阿含經卷三十九之第七經,東晉僧伽提婆譯,收於大正藏第二冊。此外,以巴利語書寫之南方上座部經典長部之第二經 Sāmañña-phala,相當於本經。〔T.W. Rhys Davids and J.E. Carpenter: The Dīgha Nikāya vo1. Ⅰ(PTS:London, 1889); T.W. Rhys: Dialogues of the Buddha Part Ⅰ, 1913〕
; Sàmannaphalasuttanta (P).
; (沙門果經) Bản kinh thứ 27 trong kinh Trường A Hàm, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch vào năm Hoằng thủy 14 (412) đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này, nửa phần trước là giới thiệu các học thuyết của Lục sư ngoại đạo, so với các tư liệu trọng yếu liên quan đến Lục sư ngoại đạo thì có thể nói kinh này là đầy đủ nhất. Còn nửa phần sau thì chỉ ra những tư tưởng trung tâm của Phật giáo, đồng thời, nói rõ về quả báo đời hiện tại và 3 học giới, định, tuệ của sa môn. Kinh này còn có 2 bản dịch khác sau đây: 1. Phật thuyết tịch chí quả kinh, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào đại chính tạng tập 1. 2. Bản kinh thứ 7 trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 39, do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời ĐôngTấn, được thu vào đại chính tạng tập 2. Ngoài ra, kinh thứ 2 Sàmaĩĩa-phala bằng tiếng Pàlitrong Trường bộ thuộc kinh điển của Thượng tọa bộ phương Nam, tương đương với kinh này. [X. The Dìgha Nikàya vol.I (PTS: London, 1889) by Rhys Davids and J.E.Carpenter; Dialogues of the Buddha Part I, 1913 by T.W.Rhys Davids].
sa môn thống
Vị Tăng Thống các Tăng Đồ trong nước, được bổ nhậm bởi các vua đời nhà Ngụy—The national superintendent of archbishop over the Order appointed under Wei dynasty.
sa na lị ca
Samagrika (S)Mật lâm sơn bộMột trong 18 bộ Tiểu thừa.
sa na lợi ca
Sannagarika (skt)—Mật Lâm Sơn Bộ—Một trong 18 tông phái Tiểu Thừa—One of the eighteen Hinayana sects.
sa nguyên bính
2974(?~1925)江蘇如皋人。字健菴。清末躋身詞林,常以道學自任,非議佛法。嘗與眾毀邑中之廣福寺,以充議會。清亡,生厭世之想,始閱佛典,謁禮諦閑,聞說淨土法門,頓生正信。又讀印光大師文鈔,其意益堅。自此修持淨業,雖病而不廢。民國十四年冬,念佛而逝。
sa ngã
To go wrong—To fell—To be corrupted.
sa nhiệt tư bà địa
2975(Dayānanda Sarasvatī, 1824~1883)近代印度教之改革者。生於古加拉特(Gujarat)婆羅門族之富豪家。二十歲出家,遍歷各地,研究吠陀,並苦修瑜伽。一八七二年受伽夏旃吐拉聖(Keshab Chandra Sen)之影響,一八七五年創設雅利安協會(Ārya Samāj)於孟買(Bombay),痛擊印度教之形式化及舊習,排斥全盤歐化及容納基督教;調和近代西歐思想與吠陀、奧義書之傳統思想,標榜「回復吠陀」,立一神教,提倡民族精神之復古。此改革運動訴諸國民情感,故成效甚大。沙熱斯婆地逝世後,雅利安協會分為進步之大學派(College or Cultured Party)及保守之菜食派(Mahatma or Vegetarian Party)。主要著作:^gvedabhāṣya;^gvedabhāṣya Bhūmikā; Satyārth Prakāś(Eng. Tr. by Durga Prasad,1908)。
sa sút
Decadent.
sa sầm
To darken—To become dark (gloomy).
Sa Thạch Tập
(沙石集, Sasekishū hay Shasekishū): bộ sách kể chuyện Phật Giáo dưới thời đại Liêm Thương, gồm 10 quyển, do Vô Trú Đạo Hiểu (無住道曉, Mujū Dōgyō) trước tác từ năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安) cho đến năm 6 (1283) cùng niên hiệu trên thì hoàn thành. Ban đầu tác phẩm được viết suông sẻ từ quyển 1 đến 5; nhưng rồi bị gián đoạn, dừng giữa chừng, và sau đó mới hoàn thành phần còn lại. Nếu nhìn từ tư tưởng Phật Giáo, Sa Thạch Tập thể hiện quan điểm tôn trọng việc tu hành, tư tưởng Không của Phật Giáo Đại Thừa, tư tưởng Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của Thiên Thai Tông, và quan niệm phủ định sự chấp trước đối với thế tục. Tác phẩm này chủ trương tính cọng thông của các tông phái, khắp nơi đều nêu rõ thái độ giảm thiểu sự luận tranh giữa các tông phái với nhau. Vô Trú được xem như là vị tăng học cả hai tông Lâm Tế và Chơn Ngôn; nên ông thể hiện rõ lập trường độc đáo dung hợp cả hai tông ấy. Ngoài Vô Trú ra, người có được lập trường như vậy không dễ mấy ai. Trong quyển 1, phần lớn ghi lại những việc liên quan đến sự tập hợp của Thần Phật, Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹). Về danh nghĩa, Sa Thạch Tập có nghĩa là “lấy vàng ra từ cát, lấy ngọc ra từ đá” với ý nghĩa thuyết Chân Đế của phật giáo từ những sự việc mang tính thế tục; là một tác phẩm văn học trích dẫn khá nhiều kinh điển từ lập trường của vị tu sĩ, tạo sự hứng thú liên tục cho độc giả. Trước tác này có nội dung đa dạng, từ câu chuyện linh nghiệm cũng như truyện chư vị cao tăng của các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, cho đến sự tình do Vô Trú thấy nghe được ở các tiểu quốc, thực tế sinh hoạt của tầng lớp thứ dân, chuyện đàm tiếu, v.v. Chính lời văn nhẹ nhàng, thanh thoát của Sa Thạch Tập đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với Đồ Nhiên Thảo (徒然草, Tsurezuregusa), Cuồng Ngôn (狂言), Lạc Ngữ (落語) sau này.
sa thạch tập
2971凡十卷,或十二卷。日僧無住一圓著。書題沙石,乃取聚沙淘金、集石磨玉之義。集錄日本有關佛教之奇聞雜談,總計一四九項。自弘安二年(1279),歷四年餘脫稿。作者無住為導引人入於佛道,令得佛法金玉之第一義諦,將世俗雜談、教門戲論等,用平易的語言敘述之。作者雖為臨濟宗僧,然廣通佛教各宗及神道、儒家,其不偏於一宗門而非難排斥他教之態度,在日本佛教思想史上,具有重大之意義。
; Shaseki-shŪ (J).
; (沙石集) Tác phẩm, 10 hoặc 12 quyển, do ngài Vô Trụ Nhất Viên, vị tăng Nhật bản soạn từ năm Hoằng an thứ 2 đến năm Hoằng an thứ 6 (1279-1283). Sa thạch hàm ý là đãi cát tìm vàng, chọn đá mài ngọc. Sách này thu chép tất cả 149 mẩu chuyện lạ về Phật giáo của Nhật bản. Bằng những ngôn từ bình dị, tác giả đã trình bày những mẩu chuyện mà người thế tục thường bàn để đưa người ta vào Phật đạo mà nhận chân được sự cao quí của chính pháp, hệt như đãi cát được vàng, mài đá thành ngọc vậy. Vì thế tác giả đã đặt tên cho tập sách của mình là Sa thạch. Là 1 vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, nhưng tác giả thông hiểu tất cả tông phái Phật giáo, cũng như Thần đạo, Nho gia. Tuy vậy, sư không hề có thái độ thiên về 1 tông phái nào để bài xích hay bênh vực các tông phái khác. Đối với lịch sử tư tưởng của Phật giáo Nhật bản, tác phẩm này có ý nghĩa rất trọng đại.
sa thải
2971有三義,即:(一)揀別善與惡。原謂汰除米內所摻雜之沙、石等物;轉指揀別善惡而排除之。碧巖錄第十三則(大四八‧一五四上):「西天欲論議,須得奉王敕,於大寺中,聲鐘擊鼓,然後論議。於是外道於僧寺中,封禁鐘鼓,為之沙汰。」(二)議論事理而定其是非,即裁斷之義。通常多指官府對僧尼之善惡作裁斷,迫令惡僧尼還俗。(三)朝廷之命令或官府之指令。例如會昌法難時,朝廷沙汰僧尼。(參閱「沙汰僧尼」2972)
; To dismiss—To fire.
; (沙汰) Nguyên nghĩa là gạn bỏ (thải) cát (sa) bị lẫn ở trong gạo ra. Từ đó chuyển dụng để chi cho ý nghĩa phân biệt thiện ác, tốt xấu, phải trái để loại bỏ những điều ác, xấu, trái mà giữ lại những cái thiện, tốt, phải. Hoặc dùng với nghĩa khai trừ 1 người xấu xa ra khỏi 1 đoàn thể, tổ chức nào đó. (xt. Sa Thải Tăng Ni).
sa thải tăng ni
2972沙汰,即淘汰、整頓之意。指強令部分僧尼還俗。我國魏晉南北朝時,為控制僧尼人數,曾多次沙汰僧尼。梁高僧傳卷五僧朗傳(大五○‧三五四中):「堅後沙汰眾僧,乃別詔曰:『朗法師戒德冰霜,學徒清秀,崑崙一山不在搜例。』」佛祖統紀卷三十六亦載(大四九‧三四一下):「東晉安帝隆安二年(398),桓玄輔政,勸上沙汰僧尼,詔曰:『有能伸述經牒、演說義理、律行修正者,並聽依所習,餘悉令罷道,唯廬山道德所居,不在搜簡。』」 此外,宋文帝元嘉十二年(435),依丹陽尹蕭摹之之奏言,下詔限制鑄銅像及興造寺塔精舍,並沙汰僧尼數百人。孝武帝大明二年(458),由於曇標道人與羌人謀反,帝乃下詔沙汰僧道。前廢帝(464~465)時有驅僧毀寺之事,齊武帝(482~493)時曾遣僧正法獻、玄暢東往三吳沙汰僧尼。〔梁高僧傳卷八、卷十三、南齊書本紀〕
; (沙汰僧尼) Sa thải có nghĩa là đãi lọc, gạn lọc. Sa thải tăng ni nghĩa là bắt buộc 1 số tăng ni hoàn tục để chỉnh đốn lại tổ chức tăng ni trong giáo đoàn. Tại Trung quốc, vào thời NgụyTấn Nam Bắc Triều để hạn chế giới tu sĩ, triều đình đã nhiều lần sa thải tăng ni. Truyện ngài Tăng lãng trong Lương cao tăng truyện quyển 5 (Đại 50, 354 trung) ghi: Sau, vua Phù kiên sa thải chúng tăng, có hạ lệnh riêng rằng: Pháp sư Tăng lãng là người có giới đức trong sạch như băng tuyết, học trò thanh tú, riêng núi Côn lôn không nằm trong trường hợp này. Phật tổ thống kỉ quyển 36 (Đại 49, 341 hạ) cũng ghi: Năm Long an thứ 2 (398) đời vua An đế nhà Đông Tấn, Hoàn huyền giữ chức Phụ chính, khuyên vua sa thải tăng ni, lệnh rằng: Những tăng ni nào có khả năng soạn thuật kinh sớ, diễn nói nghĩa lí, luật hạnh tu chính thì đều được tiếp tục tu tập, ngoài ra đều phải hoàn tục, chỉ có Lô sơn là nơi các vị có đạo đức cư trú, không bị chi phối bởi lệnh này.Ngoài ra, vào năm Nguyên gia 12 (435) đời Tống văn đế, theo lời tâu của Doãn tiêu mô ở Đơn dương, vua hạ chiếu hạn chế việc đúc tượng đồng và kiến tạo chùa tháp, tinh xá, đồng thời sa thải mấy trăm tăng ni. Năm Đại Minh thứ 2 (458) đời Hiếu Vũ đế, do đạo nhân Đàm Tiêu và người Khương mưu phản, vua hạ lệnh sa thải tăng ni và đạo sĩ. Thời Tiền Phế đế (464-465) có xẩy ra việc đuổi tăng phá chùa, thờiTề vũ đế (482-493), vua từng sai Tăng chính Pháp hiến và Huyền sướng đến Tam ngô sa thải tăng ni. [X. Lương cao tăng truyện Q.8, 13; Nam tề thư bản kỉ].
sa thất ni hà
2971沙匹尼,梵名 Sarpinī,巴利名 Sappinī。位於古印度王舍城(巴 Rājagaha)附近之河流。此河畔有遊行僧園,如安納巴拉(巴 Annabhāra)、威拉達拉(巴 Varadhara)、塞克魯達依(巴 Sakulūdāyī)等著名之遊行僧皆曾住此。又依增支部經典三‧六四之記述,脫離釋尊教團而投身遊行僧團之舍羅步(巴 Sarabhū),曾於此僧園誇言,謂已盡知佛法,故從佛陀之法、律脫離而出。其後釋尊至此訪之,向彼三度說法。〔增支部經典四‧三○〕
; (沙匹尼河) Sa thất ni, Phạn: Sarpinì; Pàli: Sappinì. Tên con sông nằm ở vùng phụ cận thành Vương xá (Pàli: Ràjagaha), Trung Ấn độ đời xưa; bên bờ sông này có vườn tăng Du hành, các vị tăng du hành nổi tiếng như An nạp ba lạp (Pàli: Annabhàra), Uy lạp đạt lạp (Pàli:Varadhara), Tắc khắc lỗ đạt y (Pàli: Sakulùdàyì)... đều đã ở trong vườn này. Theo tăng chi bộ kinh 3.46 thì Xá la bộ (Pàli:Sarabhù) là người ra khỏi giáo đoàn của đức Thích tôn đến ở vườn tăng Du hành, từng khoe khoang rằng mình đã hiểu biết hết Phật pháp, cho nên thoát thai từ pháp luật của Phật mà ra. Về sau, đức Thích tôn đến vườn tăng này hỏi thăm Xá la bộ, 3 lần nói pháp cho Xá la bộ nghe. [X. Tăng chi bộ kinh 4.30].
sa tâm
Hằng hà sa số tâm—Mind like sand in its countless functionings.
sa tì ca la
4077梵名 Kapila。又作劫毘羅。譯為黃髮、金頭或龜種。印度古仙人名,為數論派之祖。因其鬚髮面色皆黃赤,故號為黃赤色仙人。〔成唯識論述記卷一、玄應音義卷二十三〕
; (娑毗迦羅) Phạn: Kapila. Cũng gọi Kiếp tì la. Hán dịch: Hoàng phát, Kim đầu, Qui chủng. Tên một vị tiên đời xưa ở Ấn độ, là Tổ của học phái Số luận. Vì râu tóc mặt mày của vị tiên này đều có màu vàng đỏ nên được gọi là Hoàng xích sắc tiên nhân. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
sa tỳ ca la
Kapila (skt)—Có lẽ là Tăng Kỳ Sa Tỳ Ca La, tên của vị ngoại đạo đã sáng lập ra phái Số Luận Sư—Possibly Sankhya Kapila, the founder of the sankhya philosophy.
sa uyển
2975(Emanuel Edouard Chavannes, 1865~1918)法國之東方學者。一八八九年住北京公使館,從事學術調查。後歸國,一八九三年任法國公立大學教授,一九○二年被推為學士院會員,翌年以降,獨立編輯東方學藝雜誌「通報」(Toung pao)。自一八九五年至一九○五年間,刊行「史記譯註」(Les Mⅰmoires Historiques de Se-ma-Ta'ien)五卷,一九○七年再度至我國調查雕刻碑銘,出版北中國訪古誌(Mission Archⅰologique dans la Chine Septentrionale, tome 5, 1909~1915)、泰山誌(Le T'ai Chan, 1910)、史坦因發現東部土耳其斯坦出土之漢文文書(Documents Chinois Dⅰcouvert par Aurel Stein dans les Sables du Turkestan Oriental, 1913)等。沙氏佛學造詣頗深,上記北中國訪古誌第二部佛像雕刻篇中,除收錄雲岡、龍門、鞏縣石窟寺、千佛山等之圖版解說外,並有大唐西域求法高僧傳法譯(Mⅰmoires sur les Religieux ⅰminents qui allⅰrent chercher la Loi dans les Pays d' Occident, 1849)、與萊維(S. Lⅰvi)合譯之悟空入竺記(Voyages des pⅰlerines Bouddhistes, L'Itinⅰraire d'Ou-kong, 1895)、比爾(S. Beal)英譯宋雲使西域記之法譯(Voyage de Song Yun dans l'Udyāna et le Gandhāra,1903)、漢譯五百譬喻選集之法譯(Cinq cent contes et apologues extraits du Tripiṭaka chinois, 1910~1911)、與萊維合編之護法十六羅漢(Les Seize Arhats Protecteurs de la Loi, 1916)等。有關摩尼教者,有與伯希和(P. Pelliot)合著之中國發現摩尼教遺文考釋(Traitⅰ Manichⅰenne Retrouvⅰ en Chine,1913)。〔歐米の佛教、史籍解題、T'oung Pao, 1918〕
; (沙畹) Emanuel Edouard Chavannes, 1865-1918 Học giả Đông phương học người Pháp. Năm 1889, ông ở Công sứ quán Pháp tại Bắc kinh, Trung quốc, chuyên nghiên cứu về học thuật. Sau, ông trở về Pháp. Năm 1893, ông làm Giáo sư Đại học công lập Pháp quốc, năm 1902 được suy cử làm hội viên viện Học sĩ. Từ năm 1903 về sau, ông tự lực biên tập tạp chí Đông phương học nghệ Thông báo (Toung pao). Khoảng năm 1895 đến năm 1905, ông ấn hành Sử kí dịch chú (Les Mémoires Historiques de Se-ma-Ta’ien), 5 quyển. Năm 1907, ông lại đến Trung quốc nghiên cứu các bài minh khắc trên các bia, rồi xuất bản Mission Archéologique dans la Chine Setentrionale, tome 5, 1909- 1915, Le T’ai Chan, 1910, Documents Chinois Découvert par Aurel Stien dans les Sables Turkestan Oriental, 1913... Ông có trình độ Phật học rất sâu, trong thiên Phật tượng điêu khắc trong Mission Archéologique dans la Chine Setentrionale bộ thứ 2 nói trên, ngoài việc thu chép các đồ bản giải thích về các hang động Vân cương, Long môn, chùa Thạch quật ở huyện Củng, núi Thiên quật..., ông còn dịch ra tiếng Pháp tác phẩm: Đại đường Tây vực cầu pháp cao tăng truyện (Mémoires sur les Religieux éminents qui allérent chercher la Loi dans les Pays d’Occident, 1849) và dịch chung với ông S. Lévis tác phẩm Nhập trúc kí của ngài Ngộ không (Voyages des pélerines Bouddhistes, L’Itinéraire d’Ou-kong, 1895); ông dịch ra tiếng Pháp qua bản dịch tiếng Anh của S.Beal tác phẩm Tống văn sứ Tây vực kí (Voyages de Song Yun dans l’UdyànaetleGandhàra, 1903), tác phẩm Ngũ bách thí dụ soạn tập (Cinq cent contes et apologues extraits du Tripiỉaka chinois, 1910-1911). Dịch chung với ông S.Lévis tác phẩm: Hộ pháp thập lục La hán (Les Seize Arhats Protecteurs de la Loi, 1916)... Về Ma ni giáo thì ông có soạn chung với ông P. Pelliot tác phẩm: Trung quốc phát hiện Ma ni giáo di văn khảo thích (Traité Manichéenne Retrouvé en Chine, 1913). [X. Âu mĩ Phật giáo; Sử tịch giải đề; T’oung Pao, 1918].
sa xa quốc
4773西域古王國。又稱渠沙國。即今新疆省莎車縣,位於塔里木河上流,首都為葉爾羗。南通印度,西通阿富汗,乃邊防交通重鎮,通商亦盛。於北魏時,稱為渠莎國。於唐玄奘時,南半部稱斫句迦國。大唐西域記卷十二(大五一‧九四三上):「此國中大乘經典部數尤多,佛法至處莫斯為盛也,十萬頌為部者,凡有十數。」又據梁高僧傳卷二載,鳩摩羅什與其母曾途經沙勒國,跟隨莎車王子研習大乘教。〔漢書西域傳、魏書西域傳〕
; (莎車國) Cũng gọi Cứ sa quốc. Tên một vương quốc xưa ở Tây vực, nay là huyện Sa xa, tỉnh Tân cương, nằm ở thượng lưu sông Tháp lí mộc, thủ đô là Diệp nhĩ khương; phía nam giáp Ấn độ, phía tây giáp Afghanistan. Đây là điểm giao thông quan trọng ở biên giới, việc thông thương rất thịnh. Vào thời Bắc Ngụy, nước này được gọi là nườc Cừ sa. Ngài Huyền trang đời Đường gọi nửa phần phía nam của nước này là Chước cú ca. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 943 thượng) nói: Trong nước này có số bộ kinh điển Đại thừa rất nhiều, đến đâu cũng thấy Phật pháp hưng thịnh, 10 vạn bài tụng làm thành bộ, gồm có 10 số. Ngoài ra, Lương cao tăng truyện quyển 2 cho biết, ngài Cưu ma la thập từng cùng với thân mẫu ngài đi quanước Sa lặc theo Vương tử Sa xa nghiên cứu Phật giáo Đại thừa. [X. Hán thư Tây vực truyện; Ngụy thư Tây vực truyện].
sa xuống
To fall—To drop.
sa yết đà
Xem Thiện Lai.
; Svàgata (S). Welcome. Also thiện lai.
; Svagata (skt)—Thiện lai (lời để chào hỏi)—Well-come, a term of salutation.
sa đa bà ha vương
4076娑多婆訶,梵名 Sātavāhana。又作娑多婆漢那王。意為引正王。即南印度憍薩羅國之王,歸依龍樹,以興隆佛教著名。據大唐西域記卷十載,該王深信佛法,崇敬龍樹,曾掘鑿其國之西南跋邏末羅耆釐山,以建伽藍。又招請千僧禮誦,講宣大乘方等經典,拯拔興起垂滅之法,廣令經論流傳於世。王嘗從龍樹習藥術,經壽年而形貌不衰,其太子早欲得位,聽母之教,乞龍樹請王自裁,王聞而大悲,尋亦命終。龍樹曾以偈陳述十善、七覺支、十二因緣等大旨,贈與王。南海寄歸內法傳卷四讚詠之禮(大五四‧二二七下):「龍樹菩薩以詩代書,名為蘇頡里離佉,譯為密友書,寄與舊檀越南方大國王,號娑多婆漢那,名市寅得迦。」〔大方等無想經卷五、龍樹菩薩傳、龍樹菩薩勸誡王頌、龍樹菩薩勸發諸王要偈〕
; Xem Dẫn Chánh vương.
; (娑多婆呵王) Sa đa bà ha, Phạn: Sàtavàhana. Cũng gọi Sa đa bà hán na vương. Hán dịch: Dẫn chính vương. Vua nước Kiêu tát la thuộc Nam Ấn độ, qui y ngài Long thụ, nổi tiếng là vị vua có công chấn hưng Phật pháp. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 thì vị vua này tin sâu Phật pháp, sùng kính ngài Long thụ, từng cho đục núi Bạt la mạt la kì li ở phía nam nước này để xây dựng già lam. Vua từng thỉnh 1 nghìn vị tăng lễ tụng, tuyên giảng các kinh Phương đẳng Đại thừa, lưu truyền rộng rãi, làm cho chính pháp được hồi phục. Ngài Long thụ từng dùng thi kệ trình bày đại ý về Thập thiện, Thất giác chi, Thập nhị nhân duyên... để tặng vua. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 227 hạ) nói: Bồ tát Long thụ dùng thơ kệ thay cho kinh sách gọi là Tô hiệt lí li khư, dịch là Mật hữu thư, gửi cho Đại quốc vương, vị đàn việt ở phương nam hiệu Sa đa bà hán na, tên là Thị dần đắc ca. [X. kinh Đại phương đẳng vô tưởng Q.5; Long thụ bồ tát truyện; Long Thụ Bồ Tát khuyến giới vương tụng; Long Thụ Bồ Tát khuyến giới chư vương yếu kệ].
sa đa bà na
Sadvahana, or Satavahana (skt)—Tên của một vị thí chủ hoàng tộc của ngài Long Thọ—Name of a royal patron of Nagarjuna.
sa đa cát lí
4076梵名 Śata-giri。又作娑多祁哩、莎多祁梨。乃毘沙門天之眷屬,八大藥叉將之一。於祕鈔問答中,譯為眾聽;於梁譯孔雀經中,譯作七山主;義淨則譯為平山。於阿闍梨所傳曼荼羅中,位於毘沙門東邊之第七位。〔大日經疏卷五〕
; (娑多吉裏) Phạn: Zata-giri. Cũng gọi Sa đa kì lí, Sa đa kì lê. Một trong 8 vị Đại tướng Dược xoa, quyến thuộc của trời Tì sa môn. Trong Bí sao vấn đáp, Sa đa cát lí được dịch là Chúng thính, trong kinh Khổng tước (bản dịch đời Lương) được dịch là Thất sơn chủ, còn ngài Nghĩa tịnh thì dịch là Bình sơn. Trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, vị tôn này được an bài ở vị trí thứ tư, phía đông trời Tì sa môn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
sa đa cát lý
Satakri (skt)—Tên của một trong những vị tướng của loài Dạ Xoa—Name of one of the yaksa generals.
sa đa kỳ lý
Xem Oai Thần.
sa để dã
Satya or Satyata (skt)—Dịch là “Đế” có nghĩa là chắc chắn hay đúng sự thật—True—Truth—A truth.
sa độ
4076梵語 sādhu。譯作善、善哉。為契合己意時所作之驚歎語。又為持戒作法、挨拶問答時所用之辭。〔有部百一羯磨卷一、南海寄歸內法傳卷一〕
; Sadhu (skt)—Thiện lành—Good—Virtuous—Perfect—A sage—A saint.
; (娑度) Phạn: Sàdhu. Hán dịch: Thiện, Thiện tai. Hay thay! Lành thay! Đây là lời cảm thán khi 1 việc diễn ra phù hợp với ý mình mong muốn. Đây cũng là từ được dùng để hỏi đáp giữaGiới sư vàGiới tử khi tác pháp thụ giới. [X. Hữu bộ bách nhất yết ma Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].
Sa 娑
[ja] シャ sha ||| (1) To dance, lounge around, saunter, walk around. (2) Old woman; grandma. (3) Transliteration for Sanskrit sa and sha sounds. => 1. Múa, đi thơ thẩn, đi tản bộ, đi loanh quanh. 2. Bà già, bà. 3. Phiên âm hai âm Sa và Sha trong tiếng Sanskrit.
Sa-bà thế giới
娑婆世界; S: sahalokadhātu; T: mi-jied ‘jig-rten-gyi khams; cũng được gọi là Sa-ha, Ta-bà thế giới, cũng được dịch nghĩa là Nhẫn độ (忍土), Kham nhẫn thế giới (堪忍世界);|Là cõi của con người, chịu nhiều khổ đau nên phải kham nhẫn tu học để đạt chính quả.
Sa-bà thế giới 娑婆世界
[ja] シャバセカイ shaba sekai ||| The sahā world (sahā-loka-dhātu). See 娑婆. 〔法華經 T 262.9.02a19〕 => (s: sahā-loka-dhātu). Xem Sa-bà 娑婆.
Sa-bà 娑婆
[ja] シャバ shaba ||| (sahā) The secular world; this world that we live. The corrupt world. The world in which Śākyamuni teaches. => (s: sahā) Cõi thế gian; thế giới chúng ta đang sống. Thế x đầy ô trược. Thế giới Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang giáo hoá.
Sa-bà-bà 娑婆婆
[ja]サババ Sababa ||| Sahassākkha; another name for Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. => (s: Sahassākkha); tên gọi khác của Trời Đế thích (s: Śakra Devānām-indra). Xem Đế thích thiên帝釋天.
Sa-di
沙彌; C: shāmí; J: shami; S: śrāmaṇera; P: sā-maṇera;|Là tiểu tăng, tiểu sa-môn, chú tiểu, dịch nghĩa mới là Cần sách (勤策). Chỉ tăng hoặc ni mới gia nhập Tăng-già và thụ mười Giới (s: śīla). Một nữ sa-di được gọi là Sa-di-ni (s: śrāmaṇerikā; p: sāmaṇerikā) hoặc Nữ cần sách. Phần lớn các sa-di còn là trẻ con, nhưng ít nhất bảy tuổi mới được thu nhận. La-hầu-la, con trai đức Phật là sa-di nổi tiếng nhất, gia nhập Tăng-già từ lúc bảy tuổi.|Thông thường sa-di được Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni hướng dẫn tu học và đến một tuổi nhất định, sau một cuộc khảo hạch, thụ giới cụ túc sẽ trở thành tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni.
Sa-di 沙彌
[ja] シャミ shami ||| A transcription of the Sanskrit śrāmanera. A novice monk or nun. => Phiên âm chữ śrāmanera từ tiếng Sanskrit. Vị tăng hay ni trẻ tập sự.
Sa-già-la
tên một vị long vương, phiên âm từ Phạn ngữ Sgara.
Sa-già-la 娑伽羅
[ja] サガラ Sagara ||| Sagara. The name of a dragon-king. 〔法華經 T 262.9.2a21〕 => (s: Sagara) Tên một loài rồng.
Sa-ka-ra
S: sakara; »Liên Hoa tử«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 9.|Nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) đã lâu chưa có con. Ngày nọ hoàng hậu mơ thấy điềm lành, chín tháng sau bà sinh một hoàng tử, đặt tên là Sa-ka-ra (nghĩa là người sinh ra giữa hồ nước, trong một hoa sen, vì vậy cũng được gọi là Liên Hoa đồng tử; s: sarohura kumāra). Sau đó hoàng hậu sinh thêm một con trai nữa. Về sau khi vua băng hà, Sa-ka-ra không nối ngôi, nhường ngôi cho em và trở thành một Sa-môn, lên đường đi Ðăng-da Ka-ta-ka (śrī dhānyakaṭaka). Giữa đường, Sa-ka-ra gặp hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngài dùng thần lực cho ông thấy Man-đa-la của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra). Sau khi Quán đỉnh cho ông, Quán Thế Âm biến mất.|Ông bắt đầu tu tập Nghi quỹ (s: sādhana) được giao phó. Trong thời gian đó có một người tên Ra-ma (s: rāma) đến xin hầu hạ ông và Sa-ka-ra hứa lúc đạt đạo sẽ giáo hoá cho người đó. Trong lúc đó thì nạn đói xảy ra, khắp nơi người ta chết rất nhiều. Thế nhưng Ra-ma không hề nói cho thầy biết, sợ thầy mất tập trung thiền định. Ra-ma hầu hạ đầy đủ và chỉ ăn đồ dư thừa của thầy. Ngày nọ Ra-ma đói quá ngã gục, Sa-ka-ra hỏi ra mới biết nạn đói đang hoành hành. Ông đem gạo cúng dường, thi triển thần thông gọi Long vương lên và ra lệnh trong vòng vài ngày phải có mưa, mưa lương thực, mưa gạo cơm, mưa vàng ngọc. Long vương nghe lời làm theo, dân chúng bớt khổ. Sau đó Sa-ka-ra giáo hoá cho Rā-ma và vị này cũng đạt thần thông đáng kể. Chứng đạo ca của Sa-ka-ra như sau:|Long vương Ba-sū-ka,|cho mưa cứu dân lành.|Chỉ trong cõi Chân như,|rồng chúa chịu nghe lời.|Rồng là vua tri kiến,|của Bí mật tan-tra,|sẵn lòng làm mưa trí,|cho chư vị tăng ni.
sa-la
tên một loại cây, phiên âm từ Phạn ngữ là sla, dịch nghĩa là kiên cố, bền chắc. Gần thành Câu-thi-na có rừng cây sa-la, mỗi cây thường có hai thân sóng đôi nên gọi tên là rừng Sa-la Song thọ.
Sa-la song thọ 娑羅樹林
[ja] シャラジュリン Sharajurin ||| Śāla Forest. The place where Śākyamuni passed into nirvāna, located on the outskirts of Kusinagara, along the Ajitavati river. => Rừng cây sa-la. Nơi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập niết-bàn, nằm ở ngoại ô vùng Câu-thi-na (s: Kusinagara), dọc theo sông Ajitavati.
Sa-mu-đra
S: samudra; »Người mò ngọc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, đệ tử của A-chin-ta (s: aciṅtapa), có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9, 10.|Ông sống tại Sạc-va-ti-ra (sarvaṭira), làm nghề thợ lặn mò ngọc trai. Lần nọ, không mò được ngọc, ông buồn bã đến bãi thiêu xác, ngồi rầu rỉ. Lúc đó A-chin-ta đi qua, hỏi han ông. Ông bỗng tỏ lòng kính trọng, cầu khẩn xin được học pháp. A-chin-ta cho ông nhập môn, giảng về Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú) và bốn tâm hỉ lạc:|Hãy biết cách thay thế,|tám bận tâm thế gian,|bằng tâm Từ tâm Bi,|bằng tâm Hỉ tâm Xả.|Rồi hãy quán tưởng rằng,|trong chứng thật hoàn toàn,|một luồng lạc thụ lớn,|chảy vào đỉnh đầu ngươi.|Bốn tâm hỉ lạc lớn,|nằm trong bốn trung tâm,|phát sinh Không và Lạc,|Không-Lạc không rời nhau.|Khi lạc thụ ra đời,|Khổ tự nhiên biến mất.|Người thợ lặn nghe lời, chuyên tâm thiền định. Sau ba năm, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Ngộ được lí vô sinh,|không thực hành thiền định,|ví kẻ ăn thịt người,|trên tay bồng trẻ nhỏ.|Mà không hành thiền định,|tách rời xa Tự tính,|ví như thớt voi mạnh,|bị lún sâu trong bùn.
Sa-môn
沙門; C: shāmén; J: shamon; S: śramaṇa; P: samaṇa;|Phiên âm chữ śramaṇa từ tiếng Phạn và chữ samaṇa từ tiếng Pali. Hán dịch là Tức (息), Tức tâm (息心), Tịnh chí (淨志), Tĩnh chí (靜志), Phạp đạo (乏道), Bần đạo (貧道), Cần tức (動息), v.v… Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát. Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô.|1. Đầu tiên ở Ấn Độ, chữ śramaṇa để chỉ cho những ai cạo bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm ý nỗ lực đình chỉ việc ác, siêng năng làm việc thiện. Nguyên chỉ cho những tu sĩ ngoài Phật giáo như Kì-na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ-đà (s: veda) và Áo nghĩa thư (s: upaniṣad). |2. Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo.
sa-môn
chỉ những người xuất gia tu hành nói chung, vì vào thời đức Phật danh xưng này cũng được dùng cho các tu sĩ ngoại đạo. Tuy nhiên, về sau có khuynh hướng chỉ dùng để chỉ các tu sĩ Phật giáo mà thôi. Danh từ này phiên âm từ Phạn ngữ là śramaṇa nên đôi khi cũng đọc là sa-môn-na, đồng nghĩa. Các âm đọc khác là sa-văn-na (沙聞那), tang-môn (桑門), táng-môn (喪門). Về ý nghĩa cũng có rất nhiều cách dịch khác nhau như: cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Tựu trung các danh xưng này đều mô tả tính chất của sự tu tập và mục đích hướng đến của vị sa-môn.
Sa-môn quả
沙門果; C: shāménguŏ; J: shamonka; |1. Kết quả của sự tu tập. Công đức khi xuất gia; 2. Thành tựu rốt ráo của công phu tu đạo – niết-bàn; 3. Tứ quả trong pháp tu của hàng Tiểu thừa.
Sa-môn quả 沙門果
[ja] シャモンカ shamonka ||| (1) The effects of religious practice. The merit of leaving the secular world. (2) The final accomplishment of the practitioner--nirvāna. (3) The four fruits (四果) of Hīnayāna practice. => 1. Kết quả của sự tu tập. Công đức khi xuất gia. 2. Thành tựu rốt ráo của công phu tu đạo--niết-bàn. 3. Tứ quả trong pháp tu của hàng Tiểu thừa.
Sa-môn 沙門
[ja] シャモン shamon ||| A transcription of the Pali samaṇa and the Sanskrit śramaṇa. Translated into Chinese with such terms as 息、 息心、靜志、淨志、乏道、貧道、動息、etc. A world-renunciant religious practitioner striving for liberation. A monk or nun. (1) Originally in India, śramaṇa was a general term for someone who shaved their head, renounced their worldly status and possessions and trained their mind and body in the attempt to stop evil activities and strive for the good. Originally referred to non-Buddhist practitioners such as the Jains who based their beliefs on the Vedas and Upanishads. 〔長阿含經、 T 1.107a〕(2) A Buddhist monk or nun. ( => . Phiên âm chữ śramaṇa từ tiếng Sanskrit và chữ samaṇa từ tiếng Pali. Hán dịch là Tức, Tức từ息心, Tịnh chí, Tĩnh chí靜志, Phạp đạo乏道, Bần đạo貧道, Cần tức動息, v.v...Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát. Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô. 1. Ban đầu ở Ấn Độ, chữ śramaṇa để chỉ cho những ai cạo bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm ý nỗ lực đình chỉ việc ác, siêng năng làm việc thiện. Cũng thường chỉ cho những tu sĩ ngoại đạo như Kỳ-na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ-đà (Vedas) và Áo nghĩa thư (s: Upanishads). 2. Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo.
sa-môn-na
xem sa-môn.
Sa-ra-ha
S: saraha; »Ðại Bà-la-môn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng của 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8, 9. Ông được nhiều Ðạo sư Phật giáo hướng dẫn cách tu tập Tan-tra.|Ông là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ban ngày ông hành nghề Du-già sư theo truyền thống Ấn Ðộ, nhưng ban đêm ông âm thầm tu tập Mật giáo và thỉnh thoảng uống rượu. Các vị đồng giới Bà-la-môn xin vua trục xuất ông vì tật uống rượu nhưng ông thi triển thần thông đến nỗi vua phải bái phục. Sau một thời gian, ông lấy một cô gái trẻ tuổi làm vợ và cả hai rút vào rừng sâu tu tập.|Câu chuyện nổi tiếng nhất về Sa-ra-ha là ông bảo vợ nấu món cà-ri củ cải rồi sau đó ngồi thiền định suốt 12 năm. Ðến khi xả thiền, ông hỏi về món ăn đó. Bà vợ, trong thời gian qua đã đắc đạo, khuyên ông »Ðộc cư không phải là sống một mình. Cách sống đơn độc hay nhất là thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi một tâm thức chật hẹp, cái suy nghĩ hạn chế. Nếu ông xuất định sau mười hai năm mà vẫn còn đòi ăn cà-ri củ cải thì vào núi tu tập còn ý nghĩa gì!« Ông nhân đây tỉnh ngộ và làm bài kệ sau:||H 48: Sa-ra-ha đang ngắm cái nhất thể trong đa dạng.|Hỡi bạn, đừng dại quên,|cái Tuyệt đối có sẵn|Ðừng tìm cầu gì khác,|ngoài đôi môi Ðạo sư|Hãy nhận hiểu lời ông,|về Tự tính sâu thẳm,|và tâm thì bất tử,|thân không hề già yếu.
Sa-tiệp-đồ 娑揵圖
[ja] サケント sakento ||| A transcription of the Sanskrit skandha. See 蘊. => Phiên âm chữ Skandha từ tiếng Sanskrit. Xem Uẩn蘊.
Sa-va-ri-pa
S: śavaripa; »Thợ săn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Sa-ra-ha và Long Thụ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Là thợ săn, Sa-va-ri-pa chuyên giết hại thú vật. Bồ Tát Quán Thế Âm thương hại ông, hiện hình thành thợ săn. Sa-va-ri-pa gặp vị Bồ Tát hỏi: »Ông là ai?« »Một người thợ săn như ông«, Quán Thế Âm trả lời. Sa-va-ri-pa, rất hãnh diện với tài bắn cung của mình, hỏi: »Ông bắn một mũi trúng bao nhiêu con?« »Ba trăm con«, câu trả lời của Quán Thế Âm. Sa-va-ri-pa cười to nói: »Tôi cũng muốn xem ông bắn ra sao!«|Sáng hôm sau, hai người gặp một bầy nai và với một mũi tên, Quán Thế Âm hạ được cả bầy nai. Ngài bảo Sa-va-ri-pa đến khuân một con về nhưng vì phép mầu, con nai nặng ngàn cân, ông nhấc lên không nổi. Tính kiêu mạn bất chợt tan biến và ông quì xin chỉ dạy. Quán Thế Âm buộc ông một tháng không được ăn thịt và giết hại. Tháng sau Quán Thế Âm xuất hiện và vẽ Mạn-đa-la cho ông và vợ thấy chính mình trong cảnh địa ngục đau khổ. Ông sợ hãi, xin theo học Phật pháp. Sau mười hai năm quán lòng từ bi, ông đạt thánh quả và tình nguyện ở lại thế gian cho đến khi Phật Di-lặc ra đời. Chứng đạo kệ của ông như sau:||H 49: Sa-va-ri-pa (śavaripa) đang nhận thức sự Tuyệt đối|Trong rừng sâu vô minh,|con nai đang dẫy dụa,|tên của nó: Tha hoá.|Ta là người thợ săn,|dương cây cung tri kiến|của phương tiện khéo léo,|lắp vào đó mũi tên,|của Thật tại cuối cùng:|con nai bị hạ gục|Tư duy đã rãy chết!|Ta dọn bạn bữa tiệc,|linh đình phi nhị nguyên.|Ướp đầy đủ hương vị|của lạc thú thanh tịnh,|Bạn đạt cái tuyệt vời|của phép Ðại thủ ấn!|*Xem thêm câu chuyện rất giống như trên của Thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng.
sa-văn-na
xem sa-môn.
saccanama
Saccanama (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sai
Mrsà (S). Falsehood, lie. Also không thật.
; wrong—Err.
sai biệt
4088<一>梵語 viśeṣa。別異之意。為「平等」之對稱。指個個之性類。入楞伽經卷七法身品(大一六‧五五○中):「大慧!如來法身五陰異者,則有二法,不同體相,如牛二角,相似不異,見有別體,長短似異。大慧!若如是一切諸法應無相異而有相異,如牛左角異右角,右角異左角。如是長短相待各別,如色種種彼此差別。」〔大寶積經卷八十五授幻師跋陀羅記會、大智度論卷三十五、起信論疏卷上〕 <二>梵語 viśiṣṭa。殊勝、別異之意。即諸法所有之特種異點。俱舍論卷三十(大二九‧一五九上):「即此轉變於最後時,有勝功能無間生果勝餘轉變,故名差別。」順正理論卷三十五(大二九‧五四一下):「何名轉變?何名差別?(中略)即此無間,能生果時功力勝前,說名差別。」〔顯揚聖教論卷十一、佛地經論卷六、俱舍論光記卷四、卷三十〕 <三>因明用語。(一)因明中,謂宗(主張、命題)之後陳(述詞)為差別,宗之前陳(主詞)為自性。如立一「聲為無常」之宗,「聲」即為自性,「無常」即為差別;蓋「無常」作為述詞,係用以發揮界定主詞「聲」之特殊意義。(二)指宗之前陳所隱藏之意思(意許)。
; Vivesa (S)Tính chất riêng biệt của mọi vật.
; Pariccheda (skt)—Sai biệt hay khác biệt, hay sự phân biệt, đối lại với “bình đẳng.”—Difference—Discrimination—Opposite of on the level.
; (差別) I. Sai Biệt. Phạn: Vizewa. Đối lại: Bình đẳng. Chỉ cho tính chất riêng biệt của mọi vật. Phẩm Pháp thân trong kinh Nhập lăng già quyển 7 (Đại 16, 550 trung) nói: Đại tuệ! Giữa pháp thân Như lai và 5 ấm khác nhau thì có 2 pháp, thể tướng không đồng, như 2 cái sừng của con bò, tuy giống nhau nhưng lại thấy có thể riêng, dài ngắn khác nhau. Đại tuệ! Như vậy, đáng lẽ tất cả các pháp không khác nhau mà lại có khác nhau, như cái sừng bên trái của con bò khác với sừng bênphải, sừng bên phải khác với sừng bên trái. Các pháp cũng như thế.[X.hội Thụ huyễn sư Bạt đà la kí trong kinh Đại Bảo Tích Q.85; luận Đại trí độ Q.35, Khởi tín luận sớ Q.thượng]. II. Sai Biệt. Phạn: Viziwỉa. Chỉ cho điểm đặc biệt thù thắng và sai khác của các pháp. Luận Câu xá quyển 30 (Đại 29, 159 thượng) nói: Tức sự chuyển biến này, vào giờ phút cuối cùng, có công năng Vô gián thù thắng sinh ra quả thù thắng hơn các sự chuyển biến khác, cho nên gọi là Sai biệt.Luận Thuận chính lí quyển 35 (Đại 29, 541 hạ) nói: Tại sao gọi là chuyển biến? Thế nào gọi là sai biệt? (...) Tức trong vô gián này, vào lúc sinh ra quả, có công lực thù thắng hơn trước, nên gọi là Sai biệt.[X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Phật địa kinh luận Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4, 30]. III.Sai Biệt. Tiếng dùng trong Nhân minh. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh, còn danhtừtrước (tiền trần) là Tự tính. Như lập luận: Tông: Âm thanh là vô thường thì Âm thanh là tự tính, vô thường là sai biệt, bởi vì vô thường có công dụng phát huy ý nghĩa đặc thù của âm thanh. 2. Chỉ cho ý tứ (ý hứa: hiểu ngầm với nhau) được giấu kín trong danh từ trước (tiền trần) của Tông.
Sai biệt chính hạnh 差別正行
[ja] シャベツショウギョウ shabetsu shōgyō ||| Ten layers, or levels of distinct practices that are carried out sequence, such as the ten pāramitās practiced by the bodhisattvas. Abbreviated as 別行. 〔辯中邊論 T 1600.31.474c〕 => Mười lớp hay 10 bậc công hạnh khác nhau đưa đến sự tương tục, như pháp tu Thập ba-la-mật của hàng Bồ-tát. Gọi tắt là Biệt hạnh別行.
sai biệt cực thành
4088因明用語。因明四種極成之一。極成,至極成就之意;差別,即宗(主張、命題)之後陳(述詞),又稱法、能別,為言語中之意中所許(稱為意許)。立(立論)者、敵(問難)者雙方對於宗之後陳皆意許相同而致極成無過,稱差別極成。反之,若立、敵意許互忤,則有過,稱差別不極成。〔因明大疏蠡測〕(參閱「極成」5477)
; (差別極成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Cũng gọi Xứng pháp, Năng biệt. Chỉ cho sự đồng ý ngầm (ý hứa) giữa người lập luận và người địch luận, 1 trong 4 thứ Cực thành trong Nhân minh. Cực thành nghĩa là rất mực thành tựu. Tông thì hoàn toàn không có lỗi, gọi là Sai biệt cực thành. Trái lại, cả đôi bên không chấp nhận ngầm với nhau thì có lỗi, gọi là Sai biệt bất cực thành. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc] (xt. Cực Thành).
sai biệt mê lầm
Misled or misconducted.
Sai biệt phân biệt 差別分別
[ja] シャベツフンベツ shabetsu funbetsu ||| The mistaken discrimination of distinction. Viewing of the objects of the world an discriminating them as having form, lacking form, etc. One of the eight kinds of mistaken discrimination 八種分別. 〔顯揚論, T 1602.31.558b17-18〕 => Sự sai lầm do phân biệt. Sai lầm khi nhìn về hiện tượng trong thế giới phân biệt chúng là sắc hay không phải sắc v.v... Là một trong Bát chủng phân biệt 八種分別.
sai biệt tướng
See Vọng Kế Tự Tính.
Sai biệt 差別
[ja] シャベツ shabetsu, sabetsu ||| (1) To discriminate (viśesana). (2) To differ, different (bhinna). (3) Discrimination, distinction (saṃbheda, pravibhāga). (4) The discrimination of a mode of existence. Type, kind (prakāra). (5) Distinction; distinctive quality (viśesa). (6) Synonym (paryāya). (7) Various, variation. => 1. Phân biệt (s: viśesana). 2. Bất đồng, khác, không giống (s: bhinna). 3. Sự phân biệt, sự khác nhau (s: saṃbheda, pravibhāga). 4. Sự phân biệt tình trạng hiện hữu. Loại, dạng (s: prakāra). 5. Tính khác biệt. Đặc tính khác biệt (s: viśesa). 6. Từ đồng nghĩa (paryāya). 7. Khác nhau, sự khác nhau.
sai bét
Completely wrong.
sai bảo
To send—To command—To order—To direct.
sai hẹn
To break an appointment.
sai khiến
See Sai Bảo.
sai la ba ni
4089梵語 śara-parṇi 之音譯。又作叉羅波膩、嚫羅鉢尼。意譯作灰水。乃木或草之名,以此所作之衣,則稱嚫羅鉢尼衣,為十種衣之一。〔四分律卷一、卷三十九、翻梵語卷十〕
; Ksarapaniya (skt). 1) Một loại chất lỏng có chứa chất kiềm chua ăn da tay: Alkaline water, caustic liquid. 2) Một loại y áo: A kind of garment.
; (差羅波尼) Phạn: Zara-parịì. Cũng gọi: Xoa la ba nị, Sấn la bát ni. Hán dịch: Hôi thủy. Tên một loại thảo mộc. Áo được may bằng loại thảo mộc này gọi là Sấn la bát ni y, 1 trong 10 loại áo. [X. luật Tứ phần Q.1, 39; Phiên Phạm ngữ Q.10].
sai lạc
To distort.
sai lầm
Vitatha (S)Hư ngụy.
; Mithyà (S). Untrue, wrong. Also Vọng, hư giả.
; Error.
sai lời
To dishonour one's promise—To break one's words.
sai lợi ni ca
Ksirinika (skt)—Một loại cây có mủ—A sap-bearing tree.
sai lợi ni ca thụ
4089差利尼迦,梵語 kṣiriṇika。意譯作研枝。為一種善出乳汁之樹。〔本行集經卷三十二、卷四十一〕
; (差利尼迦樹) Sai lợi ni ca, Phạn: Kwiriịika. Hán dịch: Nghiên chi. Một loại cây hay tiết ra chất nước như sữa. [X. kinh Bản hạnh tập Q.32, 41].
sai ma
4089梵名 Śamā。意譯為安隱。佛世時,羅閱城一婆羅門婦之名。原本家貧,無以為生,然勤奮不懈,作役其身,得少許財物,即施設飲食,供養佛及比丘僧。復持八關齋戒,羅剎不能害。因信心堅強,故施設大壇,奉請佛與諸賢士。其後佛為說法,令其心開意解,乃證得須陀洹果。〔賢愚經卷三差摩現報品〕
; (差摩) Phạn: Zamà. Hán dịch: An ẩn. Tên của vợ 1 người Bà la môn ở thành La duyệt lúc đức Phật còn tại thế. Nhà tuy nghèo nhưng bà rất ham làm việc bố thí cúng dường. Nhờ tín tâm kiên cố, thụ trì giới Bát quan trai nên La sát không hại được bà. Sau nhờ nghe đức Phật thuyết pháp mà tâm ý bà mở tỏ, liền chứng được quả Tu đà hoàn. [X. phẩm Sai ma hiện báo trong kinh Hiền ngu Q.3].
sai ma liên hoa tiên
4089佛世時,一比丘尼之名。善顯神通。嘗於樹下靜坐,思惟正道,有諸放逸淫亂之眾遙見之,即生惡心,伺其入水洗浴,尋前掣其衣物,持至遠處,欲牽犯之。時蓮華鮮愴然愍之,脫兩眼以示彼,復示五臟,全身化為骨血不淨,凶眾見之,稽首悔過,各受五戒。〔經律異相卷二十三〕
; (差摩蓮華鮮) Tên vị Tỳ khưu ni ở thời đại đức Phật còn tại thế. Vị Tỳ khưu ni này hay hiển hiện thần thông, thường tĩnh tọa dưới gốc cây, tư duy chính đạo. Có bọn du dãng thấy ni cô liền sinh tâm xấu, rình lúc ni cô xuống nước tắm gội, chúng xông đến níu kéo áo của Ni cô, mang đến chỗ khuất, muốn xâm phạm giới thể. Lúc đó, Liên hoa tiên động lòng xót thương bọn chúng, tự móc 2 tròng mắt mình để dạy họ, rồi hiện bày ngũ tạng và toàn thân hóa thành xương máu nhơ nhớp, bọn ác thấy vậy cúi đầu hối lỗi, xin thụ 5 giới. [X. kinh Luật dị tướng Q.23].
sai một li, đi ngàn dậm
If you are off track by a thousandth of an inch, you are a thousand miles away from your destination.
sai trái
Wrong-doing.
sai áp
To seize property—To confiscate.
sai đa la
Ksetra (skt)—Đất—Land—region—Country.
sai định
4089<一>禪林中,任命某人擔任何種職事,稱為差定。〔叢林盛事卷下〕 <二>指記載法會儀軌之簿。
; (差定) I. Sai Định. Vâng theo lệnh người nào đó để đảm nhiệm 1 chức vụ trong Thiền lâm, gọi là Sai định. [X. Tùng lâm thịnh sự Q.hạ]. II. Sai Định. Chỉ cho cuốn sổ ghi chép các nghi lễ, pháp tắc trong pháp hội.
sai ước
To break one's promise.
sakyapa
Sakyapa Sa-skya-pa (T)Trường phái SakyapaTên một trường phái Phật giáo ở Tây tạng, đặt theo tên tu viện Sakya ở Nam Tây tạng. Tu viện này được xây dựng từ năm 1073, các viện trưởng đều xuất thân từ gia đình Khon. Họ là những người dành trọn đời mình cho việc truyền dạy giáo lý Kim Cang thừa, còn được gọi là giáo lý Lamdre và được công nhận là hóa thân của Văn thù Sư lợi Bồ.
sam rông ek
Tên của một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy trong tỉnh Trà Vinh, chùa tọa lạc trong quận Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Chùa được xây lần đầu tiên vào năm 1373 và được trùng tu nhiều lần. Trong chùa hiện còn giữ được một bức tượng cổ bằng đá quý, gọi là tượng Noria—Name of one of the most famous ancient temples of Theravada Buddhism in Trà Vinh, located in Châu Thành district, Trà Vinh province, South Vietnam. It is said that the temple was first built in 1373 and has been rebuilt many times. The temple has conserved an ancient statue made of precious stone, called Noria.
Sam-ba-la
S: śambhala;|Tên của một xứ huyền bí, tương truyền ở Bắc Ấn. Xứ này được xem là gốc của giáo pháp Thời luân (s: kālacakra), đóng một vai trò quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tương truyền rằng, lúc nhân loại đứng trước hoạ nạn diệt vong thì các nhân vật của xứ này lại xuất hiện để trợ cứu nhân loại.|Vị trí xứ này là một nghi vấn, được xem nằm từ Trung á đến Bắc cực. Thật sự thì vị trí không hề quan trọng, mà người ta cho rằng xứ này có một »giá trị tinh thần« đặc biệt. Truyền thuyết Tây Tạng xem Sam-ba-la là trú xứ bí ẩn, chỉ xuất hiện trong thời đại hoạ. Tương truyền rằng Thời luân giáo sẽ được 25 vị chân truyền. Vị cuối cùng sẽ xuất hiện trong thời hoàng kim, lúc đó mọi thế lực đen tối sẽ được đối trị. Người ta cho rằng đó cũng là thời kì Gê-sar và thời kì Di-lặc hạ sinh. Vị Ban-thiền Lạt-ma thứ ba viết một tác phẩm nổi danh về con đường dẫn đến Sam-ba-la. Huyền thoại về xứ này cũng được phương Tây biết đến.
san
Desa (S).
; See San Hô.
san bằng
To flatten—To level.
san hô
Một trong thất bảo—Coral, one of the seven treasures—See Thất Bảo.
san kỳ đại tháp
Sanchi (S)Tên một tháp lớn ở Bắc Ấn.
san nhã
Sanjna (skt)—Một con số thật lớn, 10,000 tỷ (1,000,0007)—A particularly high number, 1,000 septillions.
san nhã bà
A wasting disease.
san ni la xà
Tên một con sông ở Udyana—Name of a river of Udyana.
san tham
Matsarā-rāga (S)Khan tham Bỏn xẻn, tham lam, không bố thí, tham cầu không biết đủ. Nuối tiếc vật chất không muốn bố thí: khan; bụng tham lam không chán: tham.
san xà dạ tì la chi tử
2810為古代印度六師外道之一。刪闍夜毘羅胝,梵名 Sañjaya-vairaṭī,巴利名 Sañjaya-velaṭṭhi;子,梵語 putra,巴利語 putta。又作珊闍耶毘蘭荼、散若夷毘羅梨子、先跪鳩墮羅知子、婆若野尾囉致子、婆若鞞羅遲子、先比盧持、刪闍夜、刪若、沙然。刪闍夜是其字,意譯等勝;毘羅胝是其母名。彼係佛陀時代頗有勢力之外道,舍利弗與目犍連等於歸佛前均曾師事之。其學說不詳,或係懷疑論之消極主義,主張捨一切智,專重實踐修行。又據注維摩詰經卷三載,刪闍夜毘羅胝子謂道不須求,經生死劫數,苦盡即自然得道。然此說與涅槃經中尼犍陀若提子之說相同。〔長阿含經卷十七沙門果經、北本大般涅槃經卷十九、佛本行集經卷四十八、大智度論卷四十二、維摩經義記卷二本、摩訶止觀卷十上、慧琳音義卷二十七〕
; (删闍夜毗羅胝子) San xà dạ tì la chi, Phạn: Saĩjayavairaỉì. Pàli:Sanjaya-velaỉỉhi; Tử, Phạm: Putra; Pàli: Putta. Cũng gọi San xà da tì lan đồ, Tán nhã di tì la lê tử, Tiên quì cưu đọa la tri tử, Bà nhã dã vĩ la trí tử, Bà nhã tì la trì tử, Tiên tỉ lư trì, San xà dạ, San nhã, Sa nhiên. Một trong 6 Luận sư ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. San xà dạ là tên tự của ông, Hán dịch là Đẳng thắng; Tì la chi là tên mẹ ông. San xà dạ là ngoại đạo rất có thế lực ở thời đại đức Phật, các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên, trước khi qui y Phật, đã từng thờ ông làm thầy. Học thuyết của ông không được rõ, hoặc có chỗ cho là chủ nghĩa tiêu cực Hoài nghi luận, chủ trương bỏ hết tất cả trí (sự hiểu biết), chuyên trọng tu hành thực tiễn. Theo Chú duy ma cật kinh quyển 3 thì San xà dạ tì la chi tử cho rằng đạo chẳng cần phải cầu, trải qua vô số kiếp sống chết thì khổ sẽ hết, tự nhiên đắc đạo. Thuyết này giống với thuyết của Ni kiền đà nhã đề tử nói trong kinh Niết bàn. [X. kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Đại bát niết bàn Q.19 (bản Bắc); kinh Phật bản hành tập Q.48; luận Đại trí độ Q.42, Duy ma kinh nghĩa kí Q.2, phần đầu;Ma ha chỉ quán Q.10, thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27] .
san xà dạ tỳ la chi tử
Sanjaya-Vairatiputra or Samjayin Vairadiputra (skt)—San Thệ Di Tỳ Lạt Tri Tử—Một trong lục sư ngoại đạo (sáu vị sư ngoại đạo). Vị nầy cho rằng ở lâu trong cõi sanh tử, trải hết số kiếp, sau đó sẽ tự hết vòng khổ đau phiền não, giống như cuốn cuộn chỉ, sợi hết thì thôi, không cần phải tìm đạo—One of the six founders of heretical or non-Buddhist schools, whose doctrine was that pain and suffering would end in due course, like unwinding a ball of silk, hence there was no need of seeking the “Way.”
san xà tà tỳ la để
Sanjaya-Vairati (skt). 1) Vua của một loài Dạ Xoa: A king of yaksas. 2) Thầy của Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất trước khi các vị nầy quy-y theo Phật: Name of the teacher of Maudgalyayana and Sariputra before their conversion.
san đà dạ tì la đế tử
Sanjaya Vairattìputra (S).
san đà na
3888梵語 santāna 之音譯。又作刪陀那。神話中之藥樹名。意譯作續斷、和合。該木之樹皮可作癒瘡之用,或使斷傷接合,故稱。據華嚴經探玄記卷二十(大三五‧四八八中):「刪陀那,大藥王樹者,此云續斷藥,謂此樹藥能令所傷骨肉等皆得後續故。」〔慧苑音義卷下、枳橘易土集卷十〕
; (珊陀那) Phạn: Santàna. Hán dịch: Tục đoạn, Hòa hợp. Tên 1 loại cây thuốc trong thần thoại. Vỏ của nó dùng để chữa ghẻ lở hoặc vết thương, rất mau lành và không để lại sẹo. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 20 (Đại 35, 488 trung) nói: San đà na là loại cây thuốc rất lớn, Hán dịch là Tục đoạn dược, nghĩa là loại cây thuốc này có thể làm cho các vết thương mau lành và không mang sẹo. [X. Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Chỉ quật dịch thổ tập Q.10].
san đâu xuất đà
Saṃtushita-devarāja (S)Vua cõi trời Đâu suất.
san đề lam
Được diễn tả như một thế giới xa xăm. Vào thời đó có vị Luân Vương tên là Vô Tránh Niệm có 1000 người con, (nhưng điều nầy hãy còn nhi ngờ)—Described as a fabulous world of the past whose name is given as Sandilya, and who has 1,000 children, but this is doubtful.
san đề lam quốc
2810刪提嵐,梵名 Saṇḍilya。為阿彌陀佛及釋迦佛於過去世發菩提心時之國名。據悲華經卷二載,久遠過去之世界有轉輪聖王名無諍念,王有千子;臣名寶海,有子出家成佛,號寶藏,先後度王及其千子。此世界即刪提嵐,寶海即釋迦佛,無諍念王即阿彌陀佛,千子即觀音菩薩、勢至菩薩、阿閦如來等。〔法華文句記卷二〕
; (删提嵐國) San đề lam, Phạn: Saịđilya. Tênmộtcõi nước ở đời quá khứ, nơi đức Phật A di đà và đức Phật Thích ca phát tâm bồ đề. Cứ theo kinh Bi Hoa quyển 2 thì trong 1 thế giới ở đời quá khứ lâu xa, có vị Chuyển luân thánh vương tên là Vô tránh niệm, có 1 nghìn người con, Đại thần tên là Bảo Hải, có con xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo tạng, lần lượt độ cho vua và 1 nghìn Vương tử. Thế giới ấy chính là San đề lam, Bảo hải tức là Phật Thích ca, vua Vô tránh niệm tức là Phật A di đà, 1 nghìn Vương tử chính là bồ tát Quán âm, bồ tát Thế chí, A súc Như lai. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.2].
San định kí
刊定記; C: kāndìng jì; J: kanjō ki;|Tên gọi tắt của tác phẩm Tục Hoa Nghiêm kinh lược sớ san định kí (續華嚴經略疏刊定記).
San định ký 刊定記
[ja] カンジョウキ Kanjō ki ||| An abbreviation of the title of the Xu huayanjing lueshu kandingji . => Tên gọi tắt tác phẩm Tục Hoa Nghiêm Kinh Lược Sớ San Định Ký續華嚴經略疏刊定記.
San-thệ-di Tỳ-lạt-tri tử
xem San-xà-da Tỳ-la-chi tử.
San-ti-pa
S: śāntipa; »Nhà truyền giáo tự phụ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 11, được xem là một trong những Ðạo sư của A-đề-sa. |Sư là nhà thông thái nổi danh của viện Phật học danh tiếng Siêu Giới (s: vikramaśīla) được nhà vua Tích Lan cho mời đến giảng dạy. Trên đường về lại Ấn Ðộ, Sư gặp một nông dân tên Kô-ta-li-pa (s: koṭālipa), khuyên người này nên biết »gieo trồng hạt giống của tâm thức.« Về sau, khi Sư bị bệnh gần như mù loà thì Kô-ta-li-pa đã đạt thánh quả, đến thăm thầy cũ. Sư tự nhận với đệ tử là mình ham giảng giải lí luận, xao lãng thiền định, và vì thế không đạt yếu chỉ. Kô-ta-li-pa bèn dạy lại cho thầy. Sau đó San-ti-pa đắc đạo. Cuộc đời của San-ti-pa là một bài học cho những ai quá tin vào khả năng luận lí, quá tin vào lí trí. Thành đạo ca của San-ti-pa như sau:|Như một đứa trẻ thơ,|nhờ bà mẹ nuôi nấng,|lớn thành người khỏe mạnh,|thì tâm thức non nớt,|nhờ Ðạo sư dạy dỗ,|mà vào được Ðại thừa.|Bệnh tật có thuốc men,|bệnh do »tôi«, »của tôi«,|được Ðạo sư khai thị,|chữa lành ngay tức thì.
San-xà-da Tỳ-la-chi tử
phiên âm từ Phạn ngữ là Sađjaya-vairaṭỵ putra, cũng đọc là San-thệ-di Tỳ-lạt-tri tử (刪逝移毘剌知子), là một trong sáu vị thầy ngoại đạo (lục sư ngoại đạo) vào thời đức Phật. Vì là con của bà Tỳ-la-chi nên gọi là Tỳ-la-chi tử, còn San-xà-da (刪闍耶) là tên, Hán dịch là Đẳng thắng, cũng viết là San-xà-dạ (刪闍夜).
san-địa-niết-mộ-chiết-na
Sandhinirmochana-s-tra (S). Giải thâm mật kinh. Scripture Unlocking the Mysteries.
sang
1) Mụt nhọt: A sore—Ulcer. 2) Quý phái: Noble. 3) Sang nhượng: To tranfer something in return for some money.
sang giàu
Noble and rich.
sang hay hèn
Noble or common—Noble birth or low.
sang môn
6112即人身洩漏不淨之門孔。指眼、耳、鼻、口、大小便道等六瘡門;若將耳、眼、鼻孔之數計為二,則稱九瘡門。另有特指大小便道為二瘡門者。如就六根為洩漏煩惱之門而言,六根亦可稱為六瘡門。〔俱舍論卷十三、卷二十〕
; Chín lổ trong thân thể—Ulcerating orifices, i.e. the nine orifices in the body which discharge—See Cửu Khổng Bất Tịnh.
; (瘡門) Những cái lỗ hổng rỉ ra chất nhớp nhúa trong thân người, tức chỉ cho mắt, tai, mũi, miệng, 2 đường đại tiện, tiểu tiện là 6 sang môn; nếu tính tai, mắt, mũi là 2 thì thành 9 lỗ, gọi là Cửu Sang Môn. Ngoài ra, có chỗ đặc biệt gọi riêng 2 đường đại tiện, tiểu tiện là Sang Môn. Nhưng nếu nói 6 căn là cửa rỉ chảy ra các phiền não thì 6 căn cũng có thể được gọi là 6 sang môn (sang là mụn nhọt rỉ mủ). [X. luận Câu xá Q.13, 20].
sang sảng
Sonorous.
sang trọng
Noble—Splendid and comfortable—Luxurious.
Sang 瘡
[ja] ソウ sō ||| A tumor, boil, abscess, which needs to be treated by a skillful doctor. A metaphor for the afflictions that are treated by the Buddha. 〔瑜伽論 T 1579.30.625b6〕 => Khối u, nhọt, áp-xe, cần phải được bác sĩ tài giỏi chữa trị. Dụ cho phiền não của chúng sinh phải được điều phục bởi Đức Phật.
sanh
Saṃbhāvati (P), bhava (S, P), Spring from, Becoming, Prabhāva (S)Một trong 4 hành tướng của Tập đế: Nhân, Tập, Sanh, Duyên.
; Jati (skt)—Born—See Sinh.
; (笙) Phạn: Sughwaka. Hán âm: Sách già sa ca. Cũng gọi Sanh địch. Tên 1 loại nhạc khí hình dáng giống như ống sáo, lưu hành ở các nước Đông phương thời xưa, nhưng không rõ nguồn gốc. Cứ theo Thông điển quyển 144 thì Sanh của Trung quốc cổ đại được làm bằng quả bầu, cắm 1 cái ống vào trong quả bầu, dưới đáy ống đặt cái vè (lưỡi gà) làm bằng đồng để khi thổi thì phát ra tiếng. Sanh có nhiều loại: Loại 13 vè, loại 17 vè, loại 19 vè... Trong các kinh Phật, như kinh Phật bản hạnh tập quyển 14 phẩm Thường sức nạp phi, quyển 30 phẩm Thành vô thượng đạo; kinh Đại bát niết bàn quyển 11 (bản Bắc) phẩm Hiện bệnh, kinh Đại Ai quyển 68 phẩm Bất cộng pháp, kinh Chứng khế đại thừa quyển thượng... đều có ghi tên của nhạc cụ này. Thời cận đại, trong những bức Tịnh độ biến tướng đào được ở Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, có bức tranh Thiên nữ thổi Sanh. [X. Phạm ngữ thiên tự văn; Tùy thư âm nhạc chí thứ 10, Huyền ứng âm nghĩa Q.7].
sanh báo
Next life retribution or rebirth retribution—Một trong Tam Báo và Tứ Báo—Kiếp nầy (sanh báo) gây nghiệp thiện ác thì kiếp sau sẽ chịu quả báo sướng khổ—One of the three and four retributions, life's retribution. The deeds, wholesome or unwholesome, done in this life produce their results, meritorious retributions or evil karma, in the next reincarnation.
sanh báo nghiệp
Upapadya-vedaniya-karma (S)Nghiệp đời này, đời sau thành thục.
sanh bởi tội báo
To be born as retribution for their karmic offenses.
sanh chi
See Sinh Chi.
sanh chân như
Xem Lưu chuyển chân như.
sanh chủ
Xem Đại Tiên.
sanh chủ thần
Xem Ba xà ba đề.
sanh diệt
Utpāda-nirodha (S), Uppāda-nirodha (P).
; Utpadanirodha (skt)— 1) Sanh và Diệt: Arising and extinction—Beginning and end—Production and annihilation—Appearance and disappearance—Birth and extinction. 2) Các pháp hữu vi dựa vào nhân duyên hòa hợp, từ pháp chưa có trở thành có gọi là sanh; dựa vào nhân duyên mà pháp đã có trở thành không gọi là diệt—All life or phenomena that have birth and death.
sanh diệt khứ lai
Trung Luận cho rằng sinh diệt khứ lai, chỉ là những từ ngữ tương đối và không thật (ký thật chư pháp vốn là Như Lai Tạng bất sanh bất diệt bất khứ bất lai)—The Madhyamika-Sastra believed that all things coming into existence and ceasing to exist, past and future, are merely relative terms and not true in reality. ** For more information, please see Bát Bất Trung Đạo.
sanh diệt khứ lai nhất dị đoạn thường
Coming into existence and ceasing to exist, past and future; unity and difference, impermanence and permanence. ** For more information, please see Bát Bất Trung Đạo.
sanh hóa
See Hóa Sanh.
sanh hữu
Một trong bốn hình thức của sự hiện hữu—One of the four forms of existence—See Tứ Hữu Vi Tướng.
sanh hỷ tâm
Hasituppada-citta (S), Rootless mirth-producing mind.
sanh không
Một trong hai loại không, chúng sanh do ngũ uẩn hợp lại chứ không có thực thể—One of the two kinds of void, empty at birth, or void of a permanent ego. ** For more information, please see Nhị Không.
sanh khổ
Birth is suffering.
sanh khởi
Uppāda (P), Rising, Arising, Jāta (S)Các pháp hữu vi khởi lân gọi là sanh khởi. Sanh khởi là nhân duyên thứ 11 trong Thập nhị nhân duyên.
; Utpada or Pravritti (skt)—Arising—Appearance. 1) Năng Sanh (sanh) Sở Sinh (khởi): The beginning and rise. 2) Sự sanh ra và những gì khởi lên từ sự sanh ra ấy: Birth and what arises from it. 3) Nguyên nhân của một hành động: Cause of an act.
sanh khởi chân thật
Xem Lưu chuyển chân như.
sanh khởi thức
Pravritti-vijnana (skt)—See Chuyển Thức.
sanh kinh
Những chuyện về tiền thân Đức Phật và các đệ tử của Ngài, được Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch ra năm quyển, vào khoảng thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch—Stories of the previous incarnations of the Buddha and his disciples, translated by Dharmapala, 5 books (chuan), third century A.D..
sanh linh
Tâm thức (tâm và trí thông minh) của một chúng sanh còn gọi là linh hồn—The mind or intelligence of the living—A living intelligent being—A living soul.
sanh làm người là khó
It's difficult to be born in the human realm—Cõi người sướng khổ lẫn lộn, nên dễ tiến tu để đạt thành quả vị Phật; trong khi các cõi khác như cõi trời thì quá sướng nên không màng tu tập, cõi súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục thì khổ sở ngu tối, nhơ nhớp, ăn uống lẫn nhau nên cũng không tu được—Human beings have both pleasure and suffering, thus it's easy for them to advance in cultivation and to attain Buddhahood; whereas the beings in the Deva realm enjoy all kinds of joy and spend no time for cultivation; beings in the realms of animals, hungry ghosts and hells are stupid, living in filth and killing one another for food. They are so miserable with all kinds of sufferings that no way they can cultivate.
sanh lão bịnh tử
Sanh già bệnh chết là bốn nỗi khổ đau của con người—Birth, Old Age, Sickness, Death, the four afflictions that are the lot of every man. ** For more information, please see Tứ Khổ, Ngũ Khổ, and Bát Khổ.
sanh lão bịnh tử khổ
Birth is suffering, old age or growing old is suffering, sickness is suffering, death is suffering.
sanh lực
Xem khí.
sanh manh
Mù lúc sanh—Born blind.
sanh nghi
To become doubtful.
sanh nghiệp
nghiệp lực tương tục tạo thành đời sống của chúng sanh nên gọi là sanh nghiệp.
sanh nhàm chán
To grow tired and fed up.
sanh nhàm chán nơi thân bất tịnh (nơi ta và nơi người) để giảm thiểu dục vọng
To develop a deep sense of disgust of our own body and the bodies of others to decrease the desire of lust.
sanh nhân
Janana (S)Một trong ngũ nhân.
sanh nhẫn
See Sinh Nhẫn,
sanh niệm xứ bồ tát
Xem Ức Niệm Bồ tát.
; Vị Bồ Tát thứ hai bên phải của Hư Không Tạng Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—The second bodhisattva on the right of the Bodhisattva of Space (Hư Không Tạng Bồ Tát) in the Garbhadhatu.
sanh pháp
Prasava-dharma (S), Prasavadharnim (S).
; Người và vật hay hữu tình và phi tình—The living and things—Men and things—The self and things: 1) Hữu Tình: Chúng hữu tình là những chúng sanh có tình cảm và lý trí—The living—The sentient or those with emotions and wisdom. 2) Phi Tình: Những chúng sanh không có tình cảm và lý trí—Insentient things or those without emotions nor wisdom.
sanh pháp nhị thân
Hóa thân và pháp thân—The physical body (Nirmanakaya) and the spiritual body (Dharmakaya).
sanh phạn
Xuất Phạn—Xuất Chúng Sanh Thực—Theo Kinh Niết Bàn thì đây là một phần cơm cúng cho ma quỷ và chư chúng sanh trước khi chư Tăng Ni độ cơm—According to the Nirvana Sutra, these are offerings made before a meal of a small portion of food to ghosts and all others living or souls.
sanh phạn bàn
Chén hay tô để cơm cúng ma quỷ và chư hương linh—The bowl in which the offerings of food to ghosts are contained.
sanh phạn đài
Tấm kệ để cơm cúng cho ma quỷ và chư hương linh—A board on which the offerings of food to ghosts are placed.
sanh phật
See Sinh Phật.
sanh phật nhứt như
See Sinh Phật Nhứt Như.
sanh ra lo lắng
To become more and more anxious.
sanh sanh
xem mạng mạng.
; Birth and rebirth.
sanh sanh tử tử
See Sanh Tử.
sanh sanh điểu
Xem cộng mạng điểu.
sanh sắc
Jata-rupa (skt)—See Sinh Tượng Sinh Tự (1).
sanh thiên
Những cõi trời nơi chúng sanh có thể tái sanh vào (từ Tứ Thiền Thiên đến Tứ Thiên Vương)—The heavens where those living in this world can be reborn (from the Four Dhyana Heavens to the Four Heavenly Kings)—See Tứ Thiên Vương, and Tứ Thiền Thiên.
sanh thân
1) Sanh thân của Phật và Bồ Tát, đối lại với pháp thân—The physical body )sinh thân) of a Buddha or a Bodhisattva, in contrast with his dharmakaya (pháp thân). 2) Thân (biến dịch và sinh tử) của một vị Bồ Tát khi sanh ra trong cõi luân hồi—A Bodhisattva's body when born in a mortal form.
sanh thân cúng
Pháp hội cúng dường xá lợi sinh thân của Đức Phật—The worship paid to the Buddha-relics. ** For more information, please see Nhị Chủng Xá Lợi.
sanh thân xá lợi
The Buddha-relics—See Nhị Chủng Xá Lợi.
Sanh thân xá-lợi
xem xá-lợi Phật.
sanh thú
Bốn cách sinh và sáu nẻo luân hồi—Four forms of birth and the six forms of rebirth or transmigrations—See Tứ Sanh, and Lục Đạo.
sanh thể
Birth nature.
sanh tiền
Until one's death—Life-before.
sanh tri
Innately intelligent—To realize in bodily experience.
sanh triệu dung duệ
Quan Trung Tứ Thánh—Bốn vị Thánh ở đất Quan Trung hay bốn đại đệ tử của ngài Cưu Ma La Thập—Four great disciples of Kumarajiva: 1) Đạo Sinh: Tao-Shêng—Indian Buddhajiva. 2) Tăng Triệu: Sêng-Chao (Chinese). 3) Đạo Dung: Tao-Jung (Chinese). 4) Tăng Duệ: Sêng-Jui (Chinese).
sanh trụ diệt
Utpadasthitinirodha (skt)—Birth, existence, death (birth-abiding-disappearance).
sanh trụ dị diệt
See Sinh Trụ Dị Diệt.
sanh tâm kiên cố
To develop a firm mind.
sanh tân
Bến sanh—The ford of life—Mortality.
sanh tức vô sanh, vô sanh tức sanh
To be born is not to be born, not to be born is to be born—See Sinh Tức Vô Sinh, Vô Sinh Tức Sinh.
Sanh tử
(生死): vấn đề sanh tử (sống chết) được xem như vô cùng trọng đại đối với con người. Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Biến Dị Sanh Tử, hay Vô Vi Sanh Tử (無為生死), Bất Tư Nghì Biến Dị Tử (不思議變易死), Biến Dị Tử (變易死), tức chỉ sự sanh tử của các bậc thánh trong Ba Thừa như A La Hán (阿羅漢), Bích Chi Phật (辟支佛), Bồ Tát (菩薩), v.v., do vì bi nguyện cứu độ chúng sanh mà trở lại cõi đời này. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).” Tại bảo tháp của Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người khai sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế và cũng là vị sáng lập Hội An Nam Phật Học Trung Việt, có câu đối: “Tàng bách niên sanh tử, quy nhất lộ Niết Bàn (藏百年生死、歸一路涅槃, ẩn trăm năm sống chết, về một đường Niết Bàn).” Tại Lâm Dương Tự (林陽寺) thuộc Phúc Châu (福州) có câu đối rằng: “Chúc khứ phạn lai mạc bả quang âm già diện mục, chung minh bảng hưởng thường tương sanh tử quải tâm đầu (粥去飯來莫把光陰遮面目、鐘鳴板響常將生死掛心頭, cháo đi cơm đến chớ để tháng ngày chơ mặt mũi, chuông ngân bảng vọng thường đem sanh tử mang trong tâm).” Thiền Sư Giới Không (界空, ?-?) của Việt Nam có một bài thơ về sanh tử rằng: “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc, phi thanh huỳnh xích bạch hắc, thiên hạ tại gia xuất gia, thân sanh ố tử vi tặc, bất tri sanh tử dị lộ, sanh tử chỉ thị thất đắc, nhược ngôn sanh tử dị đồ, trám khước Thích Ca Di Lặc, nhược tri sanh tử sanh tử, phương hội lão tăng xứ nặc, nhữ đẳng hậu học môn nhân, mạc nhận bàn tinh quỹ tắc (我有一事希特、非青黃赤白黑、天下在家出家、親生惡死爲賊、不知生死異路、生死衹爲失得、若言生死異塗、賺卻釋迦彌勒、若知生死生死、方會老僧處匿、汝等後學門人、莫認盤星軌則, ta có một việc kỳ đặc, chẳng xanh vàng đỏ trắng hắc, trên đời tại gia xuất gia, thích sống ghét chết là giặc, chẳng biết sống chết hai nẻo, sống chết chỉ là được mất, nếu bảo sống chết khác đường, lừa cả Thích Ca Di Lặc, nếu biết sống chết sống chết, mới biết lão tăng chốn nào, các người môn nhân hậu học, chớ lầm khuôn mẫu phép tắc).” Hay Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) cũng có nhận định về sanh tử như sau: “Tâm chi sanh hề sanh tử sanh, tâm chi diệt hề sanh tử diệt, sanh tử nguyên lai tự tánh không, thử huyễn hóa thân diệc đương diệt (心之生兮生死生、心之滅兮生死滅、生死元來自性空、此幻化身亦當滅, tâm mà sanh chừ sống chết sanh, tâm mà diệt chừ sống chết diệt, sống chết nguyên lai tự tánh không, thân huyễn hóa này cũng phải diệt).” Câu “phần đoạn sanh tử quả nhân (分斷生死果因、盡滅冤恩煩惱)” có nghĩa là đoạn trừ từng phần nhân và quả của sanh tử, nhờ vậy mới có thể diệt tận mọi oán ân, phiền não.
sanh tử
Samsara or Janma-marana (skt)—Sống chết (do hoặc nghiệp của hết thảy chúng sanh gây ra, hễ có sanh là có tử)—Life and death—Living and dying—Birth and death—Rebirth and redeath. ** For more information, please see Nhị Chủng Sanh Tử.
sanh tử dã
The wilderness of life and death.
sanh tử giải thoát
1) Thoát ra những hệ lụy của vòng luân hồi sanh tử: Release from the bonds of births and deaths. 2) Niết Bàn: Nirvana.
sanh tử hà
River of birth-and-death.
sanh tử khứ lai
Sống và chết, đi và đến—Living and dying—Going and coming.
sanh tử luân
1) Bánh xe sanh tử: The wheel of samsara (births-and-deaths). 2) Vòng sanh tử: The round of mortality.
sanh tử luân hồi
Chết đi đầu thai lại không ngừng nghỉ—Samsara or transmigrations—Deaths and Rebirths continuously.
sanh tử lưu
Dòng sanh tử (sự sanh tử khiến cho con người bị trôi dạt chìm đắm nên gọi là dòng sinh tử)—The flow of transmigrations.
sanh tử ngạn
Bờ bên nầy của biển sanh tử—The shore of mortal life—See Nhị Ngạn.
sanh tử niết bàn bình đẳng
Samsara-nirvanasamata (skt)—Sự bình đẳng của sanh tử và Niết Bàn, một trong những chứng đắc của vị Bồ Tát, và tuy vậy vị Bồ Tát thực hành các hành động “không dụng công” và các “phương tiện thiện xảo” phát xuất từ lòng đại bi—The sameness of birth-and-death and Nirvana, one of the spiritual attainments of the Bodhisattva, who, however, practices “effortless” deeds and “skillful means” born of a great compassionate heart.
sanh tử nê
Vũng lầy của luân hồi sanh tử—The quagmire of the circle of life and death.
sanh tử trường dạ
Đêm dài của luân hồi sanh tử—The long night of births and deaths.
sanh tử tế
Cõi sanh tử, đối lại với cõi Niết Bàn—The region of births-and-deaths, as compared with nirvana.
sanh tử tức niết bàn
Phiền não tức bồ đề, sinh tử tức niết bàn—Affliction is bodhi and mortality (samsara) is nirvana.
sanh tử tử sanh
To be born gain and again—See Sanh Sanh Tử Tử.
sanh tử viên
See Sinh Tử Viên.
sanh tử vân
Mây mù sanh tử—The envelopment in cloud of life and death.
sanh tử đại hải
Biển lớn sanh tử—The ocean of mortality—Mortal life.
sanh tử đại sự
The great issue of birth and death—The clarification of life and death is one great purpose of all Buddhists.
sanh về cõi nào
Where will a person be reborn?—Theo Ấn Quang Đại Sư, sau khi tắt thở rồi thì thần thức lìa ra khỏi xác thân. Nơi nào còn nóng sau rốt là thần thức xuất ra ở đó, và do đó người ta biết được người ấy sẽ tái sanh vào cõi nào—According to Great Master Yin-Kuang, when we take our last breath, our spirits or Alaya Consciousness will leave the body. Thus the area of the body that remains warm is where the spirit left the body. 1) Đảnh Thánh—Crown enlightenemt: Một người đã chết, thân thể đã giá lạnh, nhưng đỉnh đầu hơi nóng ấm cũng còn gần bằng như lúc sống. Thần thức do nơi đỉnh đầu mà xuất ra. Ở vào trường hợp nầy thì ta biết chắc chắn rằng thần thức của người chết ấy được siêu thoát về nơi Thánh cảnh, ví dụ như cõi Tây Phương Tịnh Độc của Đức Phật A Di Đà—A person who has been dead, the entire body has turned cold, yet the crown of that person's head remains warm just as if that person was still alive, the spirit or the soul of the dead has left the body by that of the crown. In this case, we are absolutely certain the spirit of the person who has just died has attained liberation to the enlightened realm, i.e., the Western Pureland of the Amitabha Buddha. 2) Mắt Sanh Trời—Eyes born in Heaven: a) Khi các phần thân thể đều lạnh hết nhưng nơi mắt và trán vẫn còn nóng thì ta biết chắc chắn rằng thần thức của người chết ấy xuất ra từ nơi mắt và như thế, người nầy được siêu thoát về cõi trời—When all other parts of the body have turned cold but the eyes and forehead remain warm, then the spirit of the person who has just died left the body through the eyes. In this case, the person will be born in Heaven. b) Người nào khi sắp lâm chung sẽ sanh lên cõi Trời thì có những dấu hiệu sau đây—When nearing death, people who will be born in Heaven will exhibit the following signs and characteristics: • Sanh lòng thương xót người khác: Having compassion for others. • Phát khởi tâm lành: Give rise to a whole some mind. • Lòng thường vui vẻ: Often happy and contented. • Chánh niệm hiện ra: Proper thoughts are apparent. • Đối với tiền của, vợ con, không còn tham luyến: No longer having greed and attachment for money, possessions, spouse, children, etc. • Đôi mắt có vẻ sáng sạch: The eyes are clear and shiny. • Ngước mắt nhìn lên không trung mỉm cười, hoặc tai nghe tiếng thiên nhạc, mắt trong thấy tiên đồng: Eyes staring into space, smiling, ears hearing heavenly music or eyes seeing heavenly landscape. • Thân không hôi hám: Body does not emit odor. • Sống mũi ngay thẳng, không xiên xẹo: Nose bridge remains straight without crookedness. • Lòng không giận dữ: Mind does not exhibit hate and resentment. 3) Ngực sanh lại cõi người—Chest born in the Human Realm: a) Khi các phần thân thể đều lạnh hết, nhưng nơi tim và ngực là chỗ nóng tối hậu thì thần thức của người chết đó sẽ được sanh trở lại cõi người—When other parts of the body have turned cold, but the chest and heart remain as the last 'warm spot,' the spirit of that dead person will return to the human realm. b) Người nào khi lâm chung sẽ đáo sanh trở lại cõi người thì có những dấu hiệu sau đây—When nearing death, those who will be reborn to the human realm will exhibit the following signs and characteristics: • Thân không bệnh nặng: Body is not burdened with major illnesses. • Khởi niệm lành, sanh lòng hòa diệu, tâm vui vẻ, vô tư, ưa việc phước đức: Give rise to good and wholesome thoughts, have peace and happiness, enjoy practicing meritorious and virtuous deeds. • Ít sự nói phô truơng, nghĩ đến cha mẹ, vợ con: There is little boasting, thinking of mother, father, spouse, and children. • Đối với các việc lành hay dữ, tâm phân biệt rõ ràng không lầm lẫn: With regard to good and evil, their minds are capable of discriminating clearly. • Sanh lòng tịnh tín, thỉnh Tam Bảo đến đối diện quy-y: Give rise to pure faith, requesting the Triple Jewels to be present to take refuge. • Con trai, con gái đều đem lòng thương mến và gần gũi xem như việc thường: Sons and daughters are near and adore them just as before without showing indifference. • Tai muốn nghe tên họ của anh chị em và bạn bè: Ears are fond of hearing the names of brothers, sisters, and friends. • Tâm chánh trực không dua nịnh: Remaining dignified and having integrity instead of being petty and sycophant. • Rõ biết bạn bè giúp đỡ mình, khi thấy bà con đến săn sóc thời sanh lòng vui mừng: Clearly recognize helping friends, when seeing family members take care of them, they are happy and contented. • Dặn dò, phó thác lại các công việc cho thân quyến rồi từ biệt mà đi: Advise and give responsibilities to loved ones before making the last goodbye. 4) Bụng sanh loài ngạ quỷ—Stomach born in the realm of hungry ghosts: Nếu bụng là chỗ nóng sau cùng thì thần thức của người chết đó sẽ bị đọa vào trong loài ngạ quỷ—If the stomach is the last warm spot, then the spirit of the dead person will be condemned to the realm of hungry ghosts. 5) Đầu gối sanh loài súc sanh—Knee born in the animal realm: Nếu đầu gối là chỗ nóng sau cùng thì thần thức của người chết đó sẽ bị đọa vào loài bàng sanh (súc sanh)—The the knee is the last warm spot, then the spirit of the dead will be condemned to the animal realm. 6) Nơi lòng bàn chân đọa vào địa ngục—The sole of the feet born in the hells: Nếu lòng bàn chân là điểm nóng sau cùng thì thần thức của người chết sẽ bị đọa vào địa ngục—If the last warm spot is at the sole of the feet when the entire body has turned cold, then, undoubtedly, the spirit of the dead person will be condemned into hells.
sanh điền
The three regions of the constant round of rebirth—See Tam Giới.
sanh được làm thân người là khó
Human birth is difficult—See Sanh Làm Người Là Khó.
sanh đắc
Upapatti-pratilambhika (S)Thọ sanh đắc, Bẩm sanhSanh ra đã có sẵn.
sanh đồ
Đường sanh tử luân hồi của chúng sanh—The way or lot of rebirth or mortality.
sao
1) Bắt giữ: To seize all. 2) Giấy bạc: A banknote—A voucher—Paper-money. 3) Ngôi sao: Star. 4) Ra sao: How. 5) Sao chép: To copy.
sao băng
Falling (shooting) star.
sao kinh
2948又作別生抄、抄本、別抄經典。即抄撮經中之章品,並前後雜糅而自成一經者,稱為抄經,與「抄譯經」不同,然極易混淆;抄譯經乃自大部梵典中別行抄出而重新翻譯之經典,屬於一種重譯本。抄譯之風氣古來即有,然其始意並非割斷文句以成一經,而係古人以廣譯為難,故撮舉義要,省文略說,縮寫梵本。如梁代僧祐所撰之出三藏記集卷二新集經論錄列舉抄經五部十一卷,即外國所抄後漢安世高所譯大道地經二卷、外國高明者所撰後漢竺朔佛譯道行經一卷、吳之支謙譯孛抄經一卷、西晉衛士度略出之摩訶般若波羅蜜道行經二卷、東晉曇摩蜱所譯摩訶鉢羅若波羅蜜經抄五卷等,均係縮寫梵本而成者。 然後人不察其意,肆意抄撮,或棋散眾品,或瓜剖正文,而將已完成漢譯之經典,任意摘出章節,另附別名流行,遂使聖言離本而學者逐末。如出三藏記集卷五新集抄經錄列舉南齊竟陵文宣王所抄之抄華嚴經十四卷、抄方等大集經十二卷、東晉慧遠抄出之般若經問論集二十卷等,凡四十六部三百五十二卷,皆屬此類,幾與偽經無異。又於新集疑經偽撰雜錄中,舉出劉宋慧簡抄撰之灌頂經、南齊法願抄集之佛法有六義第一應知一卷等,凡四部八卷,亦屬之。 抄經之經題,有於原經中即有小經之經名者,如長阿含經、中阿含經、六度集經等之別抄小經,大多直接採用原經經題;亦有原經中無小經經名,而由抄錄人另行附加者。又抄經大多照原文抄錄,然亦有任意訂正字句,或改變原本之體裁型態,而僅留其經意者。此類情形,加上抄經時多不錄署譯人之名,致使後代學人耳目混淆,每視之為一部獨立之「失譯經典」或「偽疑經典」。抄經之流行,止於隋代開皇末年。其後因經典開始編成大藏經,原經一經刊錄,自無再抄錄之必要。 於歷代之各經錄中,出三藏記集雖堪稱個中佳構,然其書並未將別抄經典作嚴密之審查以簡別之,至隋代法經編眾經目錄,始嚴加區別原經本與別行抄出之經,並加以對照檢討,另立一部門。其勘定之結果,共計有六八二部大小乘經律論之抄經目錄,後代經錄中之抄經目錄或依準之,或略加勘正刪補。 此外,諸經錄中亦各有抄經之記載,其中有將出三藏記集所列諸部抄經配屬於別生、偽妄、疑偽諸科者。大唐內典錄卷十、開元釋教錄卷十八,則不另立抄經錄,而將文宣王等之抄經,分別編入疑偽經論錄、偽妄亂真錄中。〔歷代三寶紀卷十五、法經錄卷六、彥琮錄卷三、貞元新定釋教目錄卷二十八、佛書解說大辭典佛典總論第二部第三章(小野玄妙)〕
; (抄經) Cũng gọi Biệt kinh sao, Sao bản, Biệt sao kinh điển. Trích lấy chương phẩm trong 1 bộ kinh nào đó, rồi sắp xếp lại trước sau, tạo thành 1 kinh riêng, gọi là Sao kinh. Sao kinh khác với Sao dịch kinh nhưng rất dễ lẫn lộn. Sao dịch kinh là kinh trích ra từ bộ kinh lớn bằng tiếng Phạm, được phiên dịch lại và lưu hành riêng, thuộc về loại trùng dịch bản. Phương thức sao dịch đã có từ xưa, nhưng ban đầu người dịch không có ý cắt đoạn văn kinh để tạo thành 1 bản kinh riêng mà là vì nhận thấy dịch toàn bộ là khó nên người xưa trích lấy nghĩa cốt yếu, tỉnh lược lời văn, rút gọn bản tiếng Phạn. Như Tân tập kinh luận lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương có liệt kê: Sao kinh 5 bộ 11 quyển, đó là:Kinh Đại đạo địa 2 quyển do người nước ngoài sao, ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, kinh Đạo hành 1 quyển do người nước ngoài soạn, ngài Trúc Phật sóc dịch vào đời Hậu Hán, kinh Bột sao 1 quyển do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, kinh Ma ha bát nhã ba la mật đạo hành 2 quyển do ngài Vệ sĩ độ lược dịch vào đời Tây Tấn, Ma ha bát nhã ba la mật kinh sao 5 quyển, do ngài Đàm ma ti dịch vào đời Đông Tấn... đều do rút gọn bản Phạm mà thành. Nhưng người đời sau không xét kĩ ý tứ của người xưa, cứ tự ý sao chép, có người phân tán các phẩm, có người chia cắt chính văn, tùy ý trích lấy chương tiết trong các kinh điển Hán dịch đã hoàn thành rồi đặt tên riêng để lưu hành, khiến cho Thánh ngôn mất gốc, người học thì theo ngọn. Chẳng hạn như Tân tập sao kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 5 có nêu Sao hoa nghiêm kinh 14 quyển, Sao phương đẳng đại tập kinh 12 quyển của Cánh lăng Văn tuyên vương đời Nam Tề và Bát nhã kinh vấn luận tập 20 quyển của ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn... gồm 46 bộ, 352 quyển, đều thuộc về loại này, trong đó, có 1 số không khác gì kinh giả. Lại trong Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục có nêu kinh Quán đính do ngài Tuệ giản sao soạn vào đời Lưu Tống, Phật pháp hữu lục nghĩa đệ nhất ưng tri 1 quyển, do ngài Pháp nguyện sao tập vào đời Nam Tề... gồm 4 bộ, 8 quyển, cũng thuộc về loại này. Về tựa đề của Sao kinh, có những bộ kinhvốn là tiểu kinh đã có tên trong nguyên kinh, như các tiểu kinh biệt sao của kinh Trường a hàm, kinh Trung a hàm, kinh Lục độ tập... phần nhiều trực tiếp sử dụng tựa đề của nguyên kinh, cũng có trường hợp tiểu kinh vốn không có tên trong nguyên kinh mà do người sao lục tự đặt. Lại nữa, phần lớn Sao kinh được sao chép theo y nguyên văn, nhưng cũng có khi người sao chép tự ý sửa chữa câu văn, thay đổi thể tài của nguyên bản, chỉ giữ lại ý kinh mà thôi. Hơn nữa,Sao kinh phần nhiều không ghi tên dịch giả hoặc soạn giả, khiến người đời sau mờ mịt, cứ yên trí đó là bộ kinh mất tên người dịch hoặc là Kinh ngụy soạn độc lập. Việc lưu hành của Sao kinh đến cuối năm Khai hoàng đời Tùy thì chấm dứt. Sau đó, vì kinh điển bắt đầu được biên tập thành Đại tạng kinh nên khi 1 nguyên kinh được in ấn thì không cần phải sao chép nữa. Trong các bộ kinh lục, bộ Xuất tam tạng kí tập tuy đáng được coi là hoàn chỉnh, nhưng tác phẩm này vẫn chưa xét kĩ và phân biệt rạch ròi những kinh biệt sao. Đến đời Tùy, ngài Pháp kinh biên soạn bộ Chúng kinh mục lục mới bắt đầu phân biệt một cách chặt chẽ giữa các bản nguyên kinh và sao kinh, đồng thời, kiểm tra đối chiếu mà lập riêng 1 bộ môn Sao kinh mục lục. Kết quả, trong Sao kinh mục lục có tất cả 682 bộ kinh luật luận Đại Tiểu thừa. Những Sao kinh mục lục trong các bộ kinh lục đời sau hoặc lấy đó làm chuẩn tắc, hoặc kiểm tra thêm để san bổ. Ngoài ra, trong các bộ kinh lục đều có ghi Sao kinh, trong đó có bộ đem các Sao kinh được liệt kê trong Xuất tam tạng kí tập phối hợp với các khoa: Biệt Sinh, Ngụy Vọng, Nghi Ngụy. Còn Đại đường nội điển lục quyển 10, Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 thì không lập riêng bộ môn Sao kinh mục lục mà đem các Sao kinh của Văn tuyên vương... biên vào Nghi ngụy kinh luận lục, Ngụy vọng loạn chân lục.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.15; Pháp kinh lục Q.6, Ngạn tông lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.28; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận bộ 2 chương 3 (Tiểu dã Huyền diệu)].
sao la hầu
Xem La hầu vương.
sao trấn
Xem Thổ tinh.
sao tuế
Xem Bột lợi cáp tư phạ đế.
Sao 抄
[ja] ショウ shō ||| (1) To extract and annotate from a text. (2) Notes exegesis, commentary, to a text. => 1. Phần trích dẫn và chú thích kinh văn. 2. Luận giải về kinh, chú giải kinh luận.
Sao 鈔
[ja] ショウ、ソウ shō, sō ||| (1) To copy; to transfer in writing. To extract, to excerpt. (2) To steal; to plagiarize. (3) To scoop up, to dip up. (4) A summary of the contents of a large book. Digest. Gist. => 1. Chép; Chép lại. Trích dẫn. 2. Trộm ý văn. 3. Hất lên, múc, đong. 4. Tóm tắt nội dung một tác phẩm lớn. Sắp xếp có hệ thống. Ý chính.
Sar-nath
S: sārnāth; viết tắt của chữ Sāraṅganātha, có nghĩa là »Chúa tể loài thú vật«;|Tên bây giờ của Tiên uyển (p: isipatana; s: ṛṣipatana), nơi Phật Thích-ca chuyển Pháp luân lần đầu. Ðây là một khu vườn tĩnh mịch, cách thành phố Be-na-res (benares) khoảng 8 km.
saraha
Saraha (S)Một thành tựu giả Ấn độ.
sau
After—Behind.
sau công nguyên
C.E. Christian Era.
sau khi chết
After death—Theo Phật giáo, chết không phải là hết. Sau khi chết chỉ có thân xác ngừng hoạt động, còn thần thức, có người gọi là linh hồn, chuyển theo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ mà đầu thai vào nơi thiện hoặc nơi ác, phát khởi sự tái sinh gọi là luân hồi. Thông hiểu giáo lý đạo Phật giúp cho Phật tử sắp mãn phần được bình thản, không loạn động, vững tâm tin tưởng nơi tương lai của chính mình, chỉ nương theo nghiệp đã tạo mà đi, không sợ hãi; ngược lại, người Phật tử trước khi mãn phần có thể bình tĩnh tin tưởng trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời rằng sống thế nào thì chết như thế ấy. Trong thực tế, có rất nhiều Phật tử hay không Phật tử, không hiểu giáo lý nhà Phật lại cho rằng chết là hết, suy nghĩ về cái chết làm gì cho mệt, hãy sống cho hiện tại. Đây là lối sống của những người không biết sống đúng theo hạnh phúc an vui mà Phật đã dạy. Họ không hiểu mối tương quan nhân quả giữa các thế hệ, giữa các cuộc sống tiếp nối nhau. Khi họ còn trẻ, còn mạnh, họ có thể lướt qua được những cơn đau ốm, đến khi già yếu tiền bạc hao mòn, thân thích xa rời, sự sợ hãi, nỗi âu sầu, cảnh buồn bã, lòng luyến tiếc đối với họ quá mạnh, sự xúc động trước cảnh tử biệt, làm cho họ hối hận nhưng không còn kịp nữa. Người Phật tử phải luôn nhớ câu ngạn ngữ “Phải đào giếng trước khi khát nước” để khỏi mang tâm trạng hối hận thì đã muộn—According to Buddhism, death is not end. After death, the heart ceases to beat, only consciousness generally identified as the soul follows its course determined by the dead's karmic forces to enter the embryo to be reborn. Such a process is called reincarnation. If we understand the Buddha's Teachings, before parting, we can remain as calm as possible; we will not fear, knowing that our next rebirth is dedicated by our own karma, not by any external power. They will have a strong faith on “the way you live is exactly the way you die.” In reality, there are so many Buddhists and non-Buddhists who do not thoroughly understand the Buddha's Teachings. For them, death is the end; thinking of death only makes them tired. They just live for the present. This is the way of living for those who do not know how to live a happy and joyful life in accordance with the Buddha's Teachings. They do not understand the relationship between cause and effect, linking generations to generations or successive lives. When they are young and strong, they feel comfortable with everything, but when they become sick, or aged, isolated from kinfolk or short of money, they will be agitated, but it is too late for them to regret. Buddhists should always remember the old proverb “You need to dig the well before you are thirsty” to prevent the feeling of late regret.
sau một khắc ngộ đạo
After a glympse of enlighenment.
say khướt
Dead drunk.
say đắm
Passionately fond of .
se sẽ
Softly—Lightly—Gently.
Sen
S: padma; L: nelumbo nucifera; Hán Việt: Liên hoa (蓮花);|Sen có một vị trí quan trọng trong đạo Phật. Sen tuy mọc trong bùn (tượng trưng cho Luân hồi và sự Ô nhiễm), nhưng vẫn hoa vẫn thơm tho trong sạch (tượng trưng cho thể tính của con người), nhờ đạt Giác ngộ (s, p: bodhi) mà có. Hoa sen hay được vẽ trong tranh tượng làm toà sen của đức Phật (Phật toạ). Hoa sen cũng tượng trưng cho đức Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara). Trong Tịnh độ tông, hoa sen là biểu tượng của giáo pháp.
sen báu
Jewelled Lotus Flowers.
seû
Chia sẻ—To divide—To share.
shanghata
Xem Chúng hiệp địa ngục.
Si
癡 (痴); S, P: moha;|Si ở đây có nghĩa là đặt niềm tin vào một cái gì nghịch lí, không thể có (Lông rùa sừng thỏ). Trong đạo Phật, si được sử dụng tương tự như biểu đạt Vô minh, không nhận được chân tính hoặc Phật tính nằm trong các Pháp – nói tóm lại là không biết ý nghĩa của cuộc sống.|Theo quan niệm của đạo Phật thì con người bị sáu Thức – năm giác quan thông thường và thêm vào đó là ý thức (tri thức), thức biết phân biệt – làm mê hoặc, si mê. Một tâm trạng vướng mắc vào sáu thức nêu trên dẫn dắt con người đi vào cõi mê bởi vì chúng thúc đẩy, tạo điều kiện làm cho con người dễ tin rằng, thế giới hiện hữu là sự thật tuyệt đối, mặc dù nó chỉ là một khía cạnh, một khía cạnh rất hạn chế của sự thật.|Quan niệm rằng, thế giới nằm ngoài Tâm cũng là một quan niệm cuồng si, bởi vì thế giới chính là sự phản chiếu của tâm, là những biến chuyển của tâm thức (thức biến). Như vậy không có nghĩa là thế giới hiện hữu hoàn toàn không có. Nếu các vị Ðại sư trong Phật giáo bảo rằng, các pháp hiện hữu đều không có thật thì người ta nên hiểu rằng, chư vị nói như thế để phá tà kiến, niềm tin của một phàm phu vào một thế giới nằm ngoài tâm, thế giới khách thể, cho rằng nó chính là sự thật. Mục đích của đạo Phật là tiêu diệt si mê qua kinh nghiệm Giác ngộ và trong tất cả các trường phái thì Thiền tông nổi bật lên với quan niệm Kiến tính thành Phật, trực nhận chân lí.|Theo giáo lí tối thượng của Phật giáo như Thiền, Ðại thủ ấn, Ðại cứu kính, giác ngộ và si mê, thế giới hiện hữu và sự thật tuyệt đối, sắc và Không (s: śūnyatā), Luân hồi (s: saṃsāra) và Niết-bàn (s: nirvāṇa) là một, không hai. Ðể đạt đến sự nhận thức này, người ta cũng có thể dùng phương pháp biện chứng, suy luận phân tích – như nhiều trường phái Phật giáo khác. Nhưng Thiền tông lại cho rằng, cái thức phân biệt – vốn đã bị một màn si mê bao phủ, dẫn dắt con người đến bể khổ trầm luân – chỉ có thể vượt qua bằng kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp, như »người uống nước biết mùi vị như thế nào«.
si
6668梵語 moha, mūḍha。又作痴。愚癡之意。為心所(心之作用)之名。謂愚昧無知,不明事理之精神作用。俱舍宗視為大煩惱地法之一,唯識宗則視為煩惱位心所之一。與「無明」、「無智」同。為三不善根(三種根本惡德,亦即三毒、三火)之一,六根本煩惱之一,十隨眠之一;為一切煩惱之所依,三界繫中,於四諦及修道中斷之。據瑜伽師地論卷八十六載,癡有無智、無見、非現觀、惛昧、愚癡、無明、黑闇等異名。又同論卷五十五謂隨煩惱中,覆、誑、諂、惛沈、妄念、散亂、不正知等,皆以癡之一分為體;成唯識論卷六謂諸煩惱之生起必由癡,故癡必定與其餘九根本煩惱相應。 反之,若心處於非癡之狀態,或與癡相反之精神作用,稱為無癡,乃三善根之一。俱舍宗不以其為獨立之心所,唯識宗則以為善心所之一。成唯識論卷九謂菩薩之十地以及佛地,各有其應斷之二種愚癡,合為二十二種愚癡,又稱二十二愚。〔長阿含卷一大本經、北本大般涅槃經卷五、順正理論卷十一、俱舍論卷二十一、瑜伽師地論卷五十八、大乘阿毘達磨雜集論卷六、俱舍論光記卷四〕(參閱「無明」5094)
; Moha (S), Mogha (P), Stupidty, Delusion Vô trí, Vô kiến, Vô minh, Ngu siChẳng rõ thực tướng của sự vật, vốn không thật mà chấp cho là thật. Một trong 6 Đại tuỳ phiền não địa pháp. Một trong Thập sử. Trong tam độc Gồm: tham (desire), sân (anger), si (stupidity).
; Moha (S). Unconsciousness, delusion, perplexity, ignorance, folly, infatuation, stupidity. It is intp by vô minh unenlightened, i.e. misled by appearances, taking the seeming for real; from this unenlightened condition arises every kind of klesa, i.e. affliction or defilement by the passions, etc. It is one of the tam độc three poisons tham desire, sân dislike, si delusion.
; Chẳng có thật tướng của sự vật vốn không thật mà cho là thật.
; Moha (skt)—Mudha (p). 1) Phiền não: Klesa (skt)—Phiền não hay sự uế nhiễm của tham dục—Affliction or delifement by the passions. 2) Tà kiến: Wrong views. 3) Tâm ám muội: Deluded mind. 4) Vô minh: Mê sự bỏ lý, nghi ngờ chánh pháp, từ đó tất cả mọi phiền não khởi lên. Đây là một trong tam độc tham, sân, si—Ignorance—Foolish—Delusion—Unconsciousness—Perplexity—Silly—Infatuation. Ignorance is interpreted by unenlightened, i.e. misled by appearances, taking the seeming for real; from this unenlightened condition arises every kind of klesa, i.e. affliction or defilement by the passions, etc. It is one of the three poisons, desire, dislike, delusion.
; (癡) Phạn: Moha, Mùđha. Đồng nghĩa: Vô minh, Vô trí. Ngu si, tên 1 tâm sở, là tác dụng tinh thần của sự ngu muội vô tri, không rõ sự lí. Tông Câu xá cho Si là 1 trong các Đại phiền não địa pháp, còn tông Duy thức thì coi nó là 1 trong những tâm sở phiền não, 1 trong 3 căn bất thiện, 1 trong 6 phiền não căn bản, 1 trong 10 Tùy miên, là chỗ nương tựa của hết thảy phiền não. Theo luận Du già sư địa quyển 86 thì Si còn có các tên gọi khác nữa là: Vô trí, Vô kiến, Phi hiện quán, Hôn muội, Ngu si, Vô minh, Hắc ám...Cũng luận đã dẫn quyển 55 cho rằng trong các Tùy phiền não thì Phú, Cuống, Siểm, Hôn trầm, Vọng niệm, Tán loạn, Bất chính tri... đều lấy 1 phần của Si làm thể. Theo luận Thành duy thức quyển 6 thì sự sinh khởi của các phiền não đều do Si, vì thế Si nhất định là tương ứng với 9 phiền não căn bản còn lại. [X. kinh Đại Bản trong Trường A Hàm Q.1; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.5 (bản Bắc); luận Thuận Chính Lí Q.11; luận Câu Xá Q.21; luận Du Già Sư Địa Q.58; luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp tập Q.6; Câu Xá Luận Quang Kí Q.4]. (xt. Vô Minh).
si cẩu
Deluded dogs.
; Con chó ngu si, được đem ví với chúng sanh đầy dẫy tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, vân vân—Deluded dogs, i.e. a person who is full of desire, dislike, delusion, pride, doubt, wickedness, wrong views, etc.
si hoặc
Unenlightened and deluded, ignorant of the right way of seeing life and phenomena.
; Si mê và nghi hoặc, khiến chúng sanh không thấy được chánh đạo—Unenlightened and deluded, ignorant of the right way of seeing life and phenomena (ignorance misleads sentient beings to be blind of the right way).
si hầu
Lấy hình ảnh con khỉ ngu si, chụp lấy bóng trăng trong nước để ví với một con người ám muội, lấy hư làm thực, lấy giả làm chơn—The deluded monkey seizing the reflection of the moon in the water, e.g. unenlightened men who take the seeming for the real.
si mê
Unenlightened and led astray.
; Tâm ngu si mê muội đối với sự lý, không tin nhân quả luân hồi, nghi ngờ chánh pháp—Ignorance—Illusion—Unenlightened and led astray.
si mê là nguồn gốc của tất cả mọi phiền não
Delusion (ignorance or stupidity) is the source of all afflictions.
si mê tột bực
Total ignorance.
si mạn
Ignorance and pride, or ignorant pride.
; Ngu si và ngã mạn cống cao, hay sự ngã mạn mê muội—Ignorance and pride, or ignorant pride.
si mị võng lượng
(si mị võng lượng ) Si mị và Võng lượng đều là tên quỉ thần, yêu quái. PhẩmThí dụ kinh Pháp hoa (Đại9,14 thượng) nói: Nhà ấy đáng sợ, chỗ nào cũng thấy si mị võng lượng biến hiện. Trong phẩm Đà la ni hộ trì quốc giới kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 2 và Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi cũng có ghi các tên gọi này. Trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 6, ngài Cát tạng dẫn Trương bình tử Tây kinh phú giải thích rằng (Đại 34, 535 trung): Thần ở trong núi là Si, mang hình cọp (hổ); thần ở trong nhà là Mị, mang hình người, đầu heo (lợn), có đuôi; còn loài yêu quái ở trong gỗ đá thì là Võng lượng. Xuân thu quyển 10 thì giải thích: Si là thần núi, hình thú; Mị là quái vật; Võng lượng là thần nước. Thực ra, Si mị võng lượng là tên của quỉ thần chỉ thấy trong các sách vở của Trung quốc đời xưa, kinh điển Phật giáo chỉ mượn dùng mà thôi. Trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm hoàn toàn không có nguyên ngữ tương đương của Si mị võng lượng. [X. kinh Đại bát nhã Q.501, 540; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1; kinh An trạch thầnchú; kinh Thí ngã quỉ cam lộ vị đại đà la ni; kinh Quán đính Q.12; luận Thuận chính lí Q.12, 67; Trị thiền định bí yếu pháp Q.hạ; Pháp hoa văn cú kí Q.6, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.6, phần đầu; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27; Hi lân âm nghĩa Q.1].
si ngốc đại huệ
Chigotsu Daie (J)Tên một vị sư.
si phàm
The common, unenlightened people. Also si tử.
; Phàm phu si mê ám muội—The common, unenlightened people.
si phược
Moha-bandhana (S)Một trong tam phược.
; The bond of unenlightenment.
; Sự trói buộc của si mê—The bond of unenlightenment.
si siêu
4336(336~377)東晉政治家。高平金鄉人,字景興,又名嘉賓。原信奉天師道,然與支遁、竺法汰等高僧交遊,漸對佛教起信。曾任大司馬桓溫之參軍。於喪母之後辭去司徒左長史之職,此後不再任官。著有奉法要、明感論、全生論等,然僅存奉法要一書。(參閱「奉法要」3135)
si sử
The messenger, lictor, or affliction of unenlightenment.
; Một trong thập kiết sử, vô minh sai khiến con người đến chỗ lầm lạc, khổ não, không rõ chánh kiến, không biết chánh đạo—The messenger, lictor, or affliction of unenlightenment, one of the ten bonds or fetters. ** For more information, please see Ngũ Hạ Phần Kết and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.
si thiền
6669<一>愚癡禪之意。又作癡室。乃斥禪者但事默然空坐,心地未開之禪定。禪源諸詮集都序卷上一(大四八‧三九九下):「清潭水底影像昭昭,豈比夫空守默之癡禪,但尋文之狂慧者?」 <二>南宋雲門宗僧元妙之法號。(參閱「元妙」1225)
; (癡禪) I. Si Thiền. Cũng gọi Si thất. Thiền ngu si, là thứ thiền định của người chỉ biết ngồi trơ trơ như gỗ đá, tâm địa không mở tỏ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1 (Đại 48, 399 hạ) nói: Đáy nước đầm trong, bóng hiện rõ ràng, đâu có như hạng si thiền chỉ chấp giữ sự yên lặng rỗng không, như kẻ cuồng tuệ chỉ biết tìm chương trích cú?. II. Si Thiền. Pháp hiệu của ngài Nguyên diệu, vị tăng tông Vân môn, đời Nam Tống. (xt. Nguyên Diệu).
si thuỷ
6668愚癡之煩惱,譬如濁水,故稱癡水。反之,清淨之智慧,譬如清水,稱為智水。楞嚴經卷八(大一九‧一四三下):「十方一切如來色目我慢,名飲癡水。菩薩見慢,如避巨溺。」
; (癡水) Đối lại: Trí thủy. Phiền não ngu si ví như nước đục, nên gọi làSi thủy.Trái lại, trí tuệ thanh tịnh, ví như nước trong, gọi là Trí thủy. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Hết thảy các đức Như lai trong 10 phương, hễ thấy ngã mạn thì gọi là uống nước si (si thủy); còn Bồ tát thấy ngã mạn như vũng bùn lớn, cần phải tránh xa.
si thủ
The klesa of moha, held in unenlightenment.
; Chấp vào sự mê lầm mà gây ra phiền não—The klesa of moha, held in unenlightenment.
si thủy
The turbid waters of ignorance; also to drink the water of delusion.
; 1) Nước uế trược của sự si muội: The turbid waters of ignorance. 2) Uống nước uế trược: To drink the water of delusion.
Si Tuyệt Đạo Xung
(癡絕道沖, Chizetsu Dōchū, 1169-1250): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Si Tuyệt (癡絕), xuất thân Trường Giang (長江), Võ Tín (武信, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tuân (荀, hay Cẩu [苟]). Ông đến tham học với Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳) ở Tiến Phước Tự (薦福寺) và làm Thủ Tòa, rồi sau đó khế ngộ huyền chỉ của Tào Nguyên Đạo Sanh (曹源道生). Sau một thời gian đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, vào năm thứ 12 (1219) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông bắt đầu tuyên thuyết Thiền phong của mình ở Thiên Ninh Tự (天寧寺) vùng Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), rồi lại chuyển sang Tương Sơn (蔣山). Đến năm thứ 3 (1239) niên hiệu Gia Hy (嘉熙), ông lên Tuyết Phong Sơn (雪峰山) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), rồi sau chuyển đến Thiên Đồng Sơn (天童山) vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang). Vào năm thứ 4 (1244) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến trú trì Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Đến năm thứ 9 cùng năm này, Kinh Triệu Duẫn (京兆尹) quy y theo ông, cho nên ông khai sáng ra Pháp Hoa Tự (法華寺) ở vùng Ngô Hưng (呉興, Tỉnh Triết Giang). Cùng năm đó, ông đến trú tại Kính Sơn (徑山) thuộc vùng Lâm An (臨安, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 13 tháng 5 năm thứ 10 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời và 61 hạ lạp. Ông có để lại bộ Si Tuyệt Đạo Xung Thiền Sư Ngữ Lục (癡絕道沖禪師語錄) 2 quyển.
si tâm
An unenlightened mind, ignorance darkening the mind.
; Tâm ám muội hay tối ám gây ra bởi vô minh—Deluded mind—Unenlightened mind, ignorance darkening the mind.
si tình
To be madly in love.
si tử
See Si Phàm.
si võng
The net of ignorance.
; Lưới ngu si—The net of delusion, or ignorance.
si ái
Ignorance and desire, or unenlightened desire, ignorance being father, desire mother, which produce all affliction and evil karma.
; Avidya (skt)—Si mê và ái dục hay sự tham ái mê muội, vô minh hay si mê là cha, tham ái là mẹ, hai thứ nầy sản sanh ra tất cả các phiền não và ác nghiệp—Ignorance and desire, or unenlightened desire, ignorance is being father, desire is mother, which produce all affliction and evil karma.
Si ái 癡愛
[ja] チアイ chiai ||| Folly and desire; stupidity and attachment--an abbreviation of the combination of 愚癡 and 貪愛. Two of the three poisons 三毒.〔法華經 T 262.9.08b11〕 => Si mê và ham muốn; ngu muội và chấp trước – viết tắt của ngu si 愚癡 và tham ái 貪愛. Là 2 thứ trong Tam độc三毒.
si ám
The darkness of the unenlightened condition.
si đăng
The lamp of delusion, attracting the unenlightened as a lamp does the moth.
; Si muội vô minh lôi cuốn người ám muội (không giác ngộ) như ánh đèn lôi cuốn loài thiêu thân vậy—The lamp of delusion, attracting the unenlightened as a lamp does the moth.
si đạc ta
Siddhàrta (S). Prince Siddhàrta. Also Tất đạt đa.
si định
6669據觀音玄義卷上載,僅有禪定而無智慧,稱為癡定。反之,僅有智慧而無禪定力,則稱為狂慧。癡定之行者,猶如盲兒騎瞎馬,於定中每有墮坑落塹之險。
; The samàdhi of ignorance, i.e. without mystic insight.
; Phép thiền định ám muội, chẳng những không giúp trí huệ phát triển, mà còn làm cho tâm trí thêm mờ tối không tỏ ngộ—The samadhi of ignorance, i.e. without mystic insight.
; (癡定) Chỉ cho loại thiền định không có trí tuệ. Trái lại, chỉ có trí tuệ mà không có sức thiền định thì gọi là Cuồng tuệ. Hành giả si định giống như người mù cỡi ngựa đui, ở trong thiền định rất dễ bị rơi xuống hố thẳm tà vọng. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.thượng].
si đồ
Sự tối ám của ngu si—The darkness of the unenlightened condition.
si độc
The poison of ignorance, or delusion, one of the three poisons.
; Một trong tam độc, sự độc hại của ngu si (ngu si chẳng những hại mình mà còn hại người, chẳng những não loạn mình mà còn não loạn người khác)—The poison of ignorance, or delusion, one of the three poisons.
si độn
Foolish—Stupid.
si độn không tính
Chidon KŪshō (J)Tên một vị sư.
Si 癡
[ja] チ chi ||| (moha, mūdha): 'delusion', 'ignorance.' Also written yuchi 愚癡. The modern character is 痴. The affliction of confusion regarding all relative and absolute truths. In the Abhidharmakośa-bhāsya it is listed as one of the evil producing elements; in the doctrine of the Yogācāra school, it is listed as one of the primary afflictions (六煩惱). Also, one of the three "roots of non-virtue" (三不善根) and one of the "ten secondary dullnesses" (十隨眠). A synonym for 無明. Regarded as the origin of all afflictions. (s: moha, mūdha) => 'Si mê', 'vô minh'. Còn viết là ngu si (c: yuchi 愚癡). Còn viết là 痴. Là phiền não mê mờ đối với mọi chân lý tương đối và tuyệt đối. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, nó được xem là một trong các đại phiền não địa pháp, theo giáo lý Duy thức, nó là một trong 6 căn bản phiền não. Nó còn là một trong Tam bất thiện căn (三不善根), và là một trong Thập tuỳ miên (十隨眠). Đồng nghĩa với với vô minh. Được xem như là nguồn gốc của mọi phiền não.
Si-da-li-pa
S: śyalipa; »Du-già sư dã can«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là người làm thuê, ở gần một bãi đốt xác. Mỗi đêm ông sợ nghe tiếng chó hoang tru tréo. Nhân dịp gặp một Du-già sư, ông tiếp đãi nồng hậu và cầu xin cách đối trị nỗi sợ. Vị Du-già sư dạy ông cách dĩ độc trị độc, khuyên ông quán tưởng mọi âm thanh trên thế gian đều là tiếng chó hoang và sống ngay giữa bầy chó hoang trên bãi xác chết. Sau chín năm thiền định, ông lĩnh hội được sự đồng thể của âm thanh và tính Không. Ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa, luôn luôn mang trên vai một tấm lông chó. Chứng đạo ca của ông như sau:|Hoạ sĩ vẽ sắc hình,|Nhìn qua đã kinh hoàng.|Hãy nhìn kĩ lại đi,|gạt qua lòng sợ hãi,|chúng chỉ là hình vẽ,|vô thật, là phản chiếu,|ngoài ra không gì cả.
sidari
Sidari (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sinh
4764梵語 sughoṣaka。音譯索伽沙迦。管樂器之一種。又稱笙笛。起源不詳,乃行於古代東方諸國之樂器。 據通典卷一四四載,我國之笙,古代以瓠(匏)類為之,簧管插列於瓠中,於管底裝上由響銅製成之簧片,吹之發聲。有十三、十七、十九簧片所成之笙。佛典中,佛本行集經卷十四常飾納妃品、卷三十成無上道品、北本大般涅槃經卷十一現病品、大哀經卷六十八不共法品、證契大乘經卷上等均載有此物之名稱。近世敦煌出土之淨土變相中,即有天女吹奏笙之圖像。〔梵語千字文、隋書音樂志第十、玄應音義卷七〕
; 2055請參閱四品法門經 梵語 jāta 或 jāti,巴利語 jāti。指生起,有下列之意: <一>十二緣起之第十一支。又作生支。指由過去之業力而正確結以當來果。據俱舍論卷九之說,此係指在未來世託胎結生之一剎那。然唯識宗作廣義之解釋,認為從「中有」至「本有」尚未老衰之間,皆為生支所攝。〔成唯識論卷六〕(參閱「十二因緣」337) <二>四相之一。即生相。有為法從未來位生於現在位之際,此生有一催生力,其力若由實體來理解,即是生相。(參閱「四相」1732) <三>四有之一。即生有。今生託胎受生時之剎那生存。受生者稱為結生、受生;胎生者則稱託胎、託生。(參閱「四有」1688) <四>八計(與「八不」相對)之一。為「滅」之對稱。八計,即:生、滅、常、斷、一、異、來、去。(參閱「八不中道」275) <五>指生存、生涯等意。即反覆生死,經過多次之生,稱為多生;現在之生存,稱為今生;過去、未來之生存,稱為他生。 <六>指眾生依受生之差異,而有各種分類。例如九類生,即指胎、卵、濕、化等四生,再加上有色、無色、有想、無想、非有想非無想等五者;而於此九者中,除去非有想非無想,再加上非有色、非無色、非有想、非無想等四者,則稱為十二類生。〔法蘊足論卷十、順正理論卷二十五、大毘婆沙論卷九、卷二十三、成唯識論卷六〕
; Jàti (S). Life. Utpàda means coming forth, birth, production. Sinh means beget, bear, birth, rebirth, born, begin, produce life, the living. One of the twelve nidànas
; 1) Jati (skt)—Life—Rebirth—Born—The living—See Tứ Sinh. 2) Utpada (skt)—Coming forth—Birth—Production. 3) Một trong Thập Nhị Nhân Duyên: One of the twelve nidanas—See Thập Nhị Nhân Duyên.
; (生) Phạn: Jàta,Jàti. Pàli:Jàti. I. Sinh. Cũng gọi Sinh chi. Chỉ cho chi thứ 11 trong 12 duyên khởi, do nghiệp lực quá khứ mà kết thành quả sinh ra trong vị lai. Cứ theo luận Câu xá quyển 9 thì chi Sinh là chỉ cho 1 sát na trong vị lai thác thai kết sinh trong bào thai; nhưng tông Duy thức thì giải thích rộng hơn, cho rằng từ thân Trung hữu đến lúc thác thai còn 1 khoảng thời gian chưa già suy, đều thuộc về chi Sinh. [X. luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên). II. Sinh. Chỉ cho cái sinh lực thôi thúc pháp hữu vi trong khoảng từ vị vị lai sinh vào vị hiện tại; sinh lực này nếu được hiểu như 1 thực thể, thì đó chính là tướng Sinh, 1 trong 4 tướng. (xt. Tứ Tướng). III. Sinh. Chỉ cho Sinh hữu, tức các sát na (tích tắc) có mặt lúc đầu thai thụ sinh ở đời này. Người thụ sinh gọi là Kết sinh hay Thụ sinh; người thai sinh thì gọi là Thác thai, hay Thác sinh. Là 1 trong 4 Hữu. (xt. Tứ Hữu). IV. Sinh. Đối lại: Diệt. Một trong Bát kế (đối lại với Bát bất). Bát kế là: Sinh, diệt, thường, đoạn, nhất, dị, lai, khứ. (xt. Bát Bất Trung Đạo). V. Sinh. Chỉ cho sự sinh tồn, sinh nhai..., tức sinh ra rồi chết đi,để lại sinh ra, cứ thế sinh ra nhiều lần, gọi là Đa sinh; sự sống ở hiện tại, gọi là Kim sinh; sự sống ở quá khứ, vị lai, gọi là Tha sinh. VI. Sinh. Chỉ cho các chúng sinh do cách thụ sinh khác nhau mà có sự phân loại bất đồng, như 9 loại sinh là chỉ cho 4 loại: Thai, noãn, thấp, hóa và thêm 5 thứ là hữu sắc, vô sắc, hữu tướng, vô tưởng,phi hữu tương phi vô tưởng. Trong 9 loại sinh này, lại bỏ phi hữu tưởng phi vô tưởng đi, rồi thêm vào 4 loại là phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng thì gọi là 12 loại sinh. [X. luậnPháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.25; luận Đại tì bà sa Q.9, 23; luận Thành duy thức Q.6].
sinh biến
2072轉變之義。指因能變。為「緣變」之對稱。又作轉。唯識家就諸識變現諸法,分別為「因能變」與「果能變」二種。因能變之「變」係謂由第八識中之種子轉變而產生諸法;故知「生變」之「生」字,實即為「變」之意,重疊二字,稱為生變。〔成唯識論卷一、卷二、成唯識論述記卷三本〕(參閱「因能變」2299)
; Xem Nhân năng biến.
; (生變) Đối lại: Duyên biến. Cũng gọi: Chuyển. Chuyển biến, chỉ cho Nhân năng biến. Nhà Duy thức căn cứ vào các thức biến hiện ra các pháp mà chia ra 2 loại là Nhân năng biến và Quả năng biến. Biến của Nhân năng biến là do chủng tử trong thức thứ 8 chuyển biến mà sinh ra các pháp, bởi thế biết rằng chữ sinh của Sinh biến thực ra cũng có nghĩa là biến, cho nên gọi là Sinh biến. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Nhân Năng Biến).
sinh báo
2068三報之一。指此生造作善惡之業,來生受苦樂之報。(參閱「三報」 623)
; Life's retribution, i.e. the deeds done in this life produce their results in the next reincarnation.
; Life's retribution—See Sanh Báo.
; (生報) Đời này tạo các nghiệp thiện, ác, đời sau chịu báo khổ, vui. Một trong 3 báo. (xt. Tam Báo).
sinh bát niết bàn
2066指入涅槃。 略稱生般(梵 upapadya-parinirvāyin)。為聲聞四果中第三不還果之一,即五種不還之一。謂不還果之聖者生於色界後,不久即能起聖道,斷除餘惑而入涅槃。〔俱舍論卷二十四〕(參閱「五種不還」1176、「阿那含」3624)
; (生般涅槃) Phạn: Upapadya-parinirvàyin. Gọi tắt: Sinh ban. Chỉ cho quả vị Bất hoàn thứ 3 trong 4 quả Thanh văn, 1 trong 5 thứ Bất hoàn. Bậc Thánh quả Bất hoàn, sau khi sinh vào cõi Sắc, không bao lâu có thể khởi Thánh đạo, đoạn trừ các hoặc còn lại mà vào Niết bàn, gọi là Sinh ban niết bàn. [X. luận Câu xá Q.21]. (xt. Ngũ Chủng Bất Hoàn, A Na Hàm).
sinh bình
During one's lifetime.
sinh bất nhị
All are Buddha, and of the same dharmakaya (pháp thân) or spiritual nature, and the same infinity (không).
sinh bất tăng bất diệt
The indestructibility of the living and the Buddha; neither increase, nor decrease, nor extinct.
sinh chi
2057<一>指十二緣起之一。(參閱「十二因緣」337、「生」2056) <二>梵語 liṅga 或 aṅga-jata。音譯作鴦伽社哆。意謂男根。有部百一羯磨卷六(大二四‧四八一下):「生支(梵云鴦伽社哆,譯作生支,即是根也)。」又據毘奈耶雜事卷四載,薰染欲心而生支起時,應修不淨觀以對治之。寂照堂谷響續集卷四亦載有鄔陀夷、長者子弱腰、長者子長根等有關生支所犯之事。(參閱「男根」2984)
; Linga or Anga-jata (skt)—Nam căn hay bộ phận sinh dục nam—The male organ or penis.
; (生支) I. Sinh Chi. Một trong 12 chi duyên khởi. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Sinh). II. Sinh Chi. Phạn: Liíga hoặc Aíga-jata. Hán âm: Ương già xã đá. Hàm nghĩa nam căn. Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 6 (Đại 24, 481 hạ) nói: Ương già xã đá Hán dịch là Sinh chi, tức làcăn vậy. Theo Tì nại da tạp sự quyển 4, khi tâm dục bị khơi dậy làm cho sinh chi nổi lên thì phải tu quán bất tịnh để đối trị. Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập quyển 4 cũng có nói đến các việc do sinh chi mà phạm như là Ô đà di, con trưởng giả đau lưng, con trưởng giả căn dài... (xt. Nam Căn).
sinh chuyện
To seek a quarrel with.
Sinh chân như 生眞如
[ja] ショウシンニョ shō shinnyo ||| The suchness of arising. The fact that all conditioned phenomena arise uniquely. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Tất cả các pháp hữu vi đều sinh khởi một cách khác thường. Là một trong 7 loại chân như (thất chủng chân như七種眞如 )
sinh chủ
2057梵名 Prajāpati。音譯鉢羅闍鉢底。印度神話中對創造神之稱謂。又作造物主。有各種說法:吠陀中指因陀羅(梵 Indra)、沙維德利(梵 Savitṛ)、蘇摩(梵 Soma)、金胎(梵 Hiraṇya-garbha)等神。摩奴法典指梵天。有時指摩奴(梵 Manu)。 又指梵天「心生」之十子, 即摩哩質(梵 Marīci )、阿低利(梵 Atri)、鴦耆羅斯(梵 Aṅgiras)、補羅娑底耶(梵 Pulastya)、補羅訶(梵 Pulaha)、迦羅圖(梵 Kratu)、婆私吒(梵 Vasiṣṭha)、鉢羅質多私(梵 Pracetas)或達剎、波利怙(梵 Bhṛgu)和那羅陀(梵 Nārada)。或謂生主有七個,或謂有二十一個,名稱亦不一致。
; (生主) Phạn: Prajàpati. Hán âm: Bát la xà bát để. Cũng gọi Tạo vật chủ. Từ ngữ gọi vị thần sáng tạo trong thần thoại Ấn độ. Nhưng cũng còn các cách gọi khác, như trong Phệ đà thì Sinh chủ là chỉ cho các thần Nhân đà la (Phạn: Indra), Sa duy đức lợi (Phạm:Savitf), Tô ma (Phạn: Soma), Kim thai (Phạn: Hiraịya-yarbha). Còn trong pháp điển Ma nô thì thần sáng tạo là chỉ cho Phạm thiên, cũng có khi chỉ cho Ma nô (Phạn: Manu), hoặc chỉ cho 10 người con tâm sinh của Phạm thiên, đó là: Ma lí chất (Phạn: Marìci), A để lị (Phạn: Atri), Ương kì la tư (Phạn: Aígiras), Bổ la sa để la (Phạn: Pulastya), Bổ la ha (Phạn: Pulaha), Ca la đồ Phạn: Kratu), Bà tư tra (Phạn:Vasiwỉha), Bát la chất đa tư (Phạn: Pracetas) hoặc Đạt lợi, Ba lợi hỗ (Phạn: Bhfgu) và Na la đà (Phạn: Nàrada). Cũng có thuyết cho rằng Sinh chủ có 7, hoặc 21 thần, nhưng tên gọi không nhất trí.
sinh công tứ luân
2056指東晉竺道生所立「四輪」之說。輪有摧滅之義,能摧滅眾生惑業而超出三界。據華嚴經隨疏演義鈔卷六所舉,四輪為:(一)善淨法輪,謂修五戒十善之法,摧滅四惡趣業,而得天人果報。(二)方便法輪,謂修四諦十二因緣方便之道,而證二乘之果。(三)真實法輪,謂修中道實相之觀,摧滅無明煩惱之業,而證一乘佛果。(四)無為法輪,謂修三德妙觀,摧滅五住煩惱,而證涅槃無為之果。
; (生公四輪) Chỉ cho thuyết Tứ luân do ngài Trúc đạo sinh lập vào thời Đông Tấn. Luân có nghĩa phá diệt, có năng lực phá diệt hoặc nghiệp của chúng sinh để vượt ra ngoài 3 cõi. Cứ theo Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 6 thì Tứ luân là: 1. Thiện tịnh pháp luân: Tu pháp Ngũ giới, Thập thiện, phá diệt nghiệp 4 ác thú, được quả báo trời, người. 2. Phương tiện pháp luân: Tu đạo phương tiện 4 đế, 12 nhân duyên mà chứng quả Nhị thừa. 3. Chân thực pháp luân: Tu quán thực tướng trung đạo, phá diệt nghiệp phiền não vô minh, chứng quả Phật Nhất thừa. 4. Vô vi pháp luân: Tu diệu quán tam đức, phá diệt phiền não Ngũ trụ, chứng quả Niết bàn vô vi.
sinh diệt
2069指生起與滅盡。有生必有滅之義。又作起滅。與「生死」同義。生死乃就有情而言,而生滅則廣通一切之有情與非情。由因緣和合(即一切條件滿足時)而成立之一切法(即有為法),因有變移之性質(無常),故必有生滅;若離因緣而永久不變(常住)之一切存在(即無為法),則為無生無滅(不生不滅)。以大乘中道之正見而言,有為法之生滅為假生假滅,而非實生實滅。以佛教之人生觀而言,一切萬法皆連續而往復生滅於剎那剎那者。 此外,大乘起信論義記卷中本謂如來藏心隨緣起滅,有染淨差別,稱為心生滅,亦即指有為法。又以時間之最小單位(剎那)論生滅時,亦有剎那剎那之生滅,稱為剎那生滅(剎那滅)。對此,論有情之眾生,從生到死,其一生涯(一期)中之生滅(出生與死滅),稱為一期生滅。剎那生滅與一期生滅又合稱為二種生滅。〔中阿含卷七大拘絺羅經、卷十一頻鞞娑邏王迎佛經、大智度論卷十五、法華經玄義卷二下、大乘玄論卷一、中觀論疏卷三〕
; Utpàdanirodha (S). Birth and death, production and annihilation; all life, all phenomena have birth and death, beginning and end. The Tam luận tông Màdhyamika school deny this in the Thực absolute, but recognize it in the Giả relative.
; (生滅) Cũng gọi: Khởi diệt. Đồng nghĩa: Sinh tử. Sinh ra và diệt hết, có sinh tất có diệt. Sinh tử là nói về loài hữu tình, còn sinh diệt thì dùng chung cho cả hữu tình và phi tình. Tất cả các pháp hữu vi được thành lập là do nhân duyên hòa hợp (tức đầy đủ mọi điều kiện), vì có tính chất dời đổi (vô thường) nên ắt có sinh diệt. Nếu lìa nhân duyên mà tồn tại bất biến (tức các pháp vô vi, thường trụ), thì không sinh không diệt. Nói theo chính kiến trung đạo của Đại thừa thì sự sinh diệt của các pháp hữu vi là giả sinh giả diệt, chứ chẳng phải thực sinh thực diệt. Nói theo nhân sinh quan của Phật giáo thì hết thảy muôn pháp đều liên tục sinh diệt trong từng sát na, hệt như 1 dòng nước chảy xiết vậy. Ngoài ra, Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần đầu cho rằng Như lai tạng tâm theo duyên mà khởi diệt, có nhiễm và tịnh khác nhau, gọi làTâm sinh diệt, tức chỉ cho pháp hữu vi. Nếu lấy đơn vị thời gian nhỏ nhất (sát na) để bàn về sinh diệt, thì cũng có sinh diệt trong mỗi sát na, gọi làSát na sinh diệt (Sát na diệt). Đối lại, chúng sinh hữu tình từ sinh đến tử, sinh diệt trong 1 thờikì, gọi là Nhất kì sinh diệt. Sát na sinh diệt và Nhất kì sinh diệt hợp lại, gọi chung là Nhị chủng sinh diệt. [X. kinh Đại câu hi la trong Trung A Hàm Q.7; kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung A Hàm Q.11; luận Đại trí độ Q.15; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 hạ; Đại thừa huyền luận Q.1; Trung quán luận sớ Q.3].
sinh diệt diệt tị
2070謂遠離生、滅之無常世界,而至無生亦無滅之涅槃寂靜世界。三卷本大般涅槃經卷下(大一‧二○四下):「諸行無常,是生滅法;生滅滅已,寂滅為樂。」
; (生滅滅巳) Sinh diệt diệt rồi. Nghĩa là đã xa lìa thế giới vô thường sinh diệt, đạt đến Niết bàn vắng lặng không sinh không diệt. Kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển ) quyển hạ (Đại 1, 204 hạ) nói: Chư hành vôthường; Thị sinh diệt pháp; Sinh diệt diệt dĩ; Tịch diệt vi lạc (Các hành vô thường; Là pháp sinh diệt; Sinh diệt diệt rồi; Tịch diệt là vui).
sinh diệt khứ lai
2069指如來藏。為三論宗所明「八不」中之四者。依中道之正見,即為「不生不滅,不去不來」之義;而視諸法有生滅去來者,則為偏頗之妄見。楞嚴經卷二(大一九‧一一四上):「生滅去來,本如來藏。」(參閱「八不中道」275)
; Coming into existence and ceasing to exist, past and future, are merely relative terms and not true in reality.
; (生滅去來) Sinh diệt đi đến. Chỉ cho Như Lai tạng. Đây là 4 pháp trong Bátbất do tông Tam luận thuyết minh. Đứng trên lập trường chính kiến trung đạo mà nhìn thì không có sinh diệt khứ lai (tức không sinh, không diệt, không đi, không đến). Nếu thấy các pháp có sinh diệt khứ lai thì đó là vọng kiến phân biệt, chấp trước. Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 114 thượng) nói: Sinh diệt khứ lai vốn là Như lai tạng. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
sinh diệt khứ lai nhất di đoạn thường
2069三論宗立有八不中道,以之為至極之宗旨。所謂八不者,係指「不生不滅,不去不來,不一不異,不斷不常」;反之則為「生滅,去來,一異,斷常」,稱為八迷。 若破除此等「八迷」,即可得中道。(參閱「八不中道」275)
; (生滅去來一异斷常) Tông Tam luận lập thuyết Bát bất trung đạo và cho đó là yếu chỉ tột cùng. Bát bất là: Bất sinh bất diệt, bất khứ bất lai, bất nhất bất dị, bất đoạn bất thường. Ngược lại là: Sinh diệt, khứ lai, nhất dị, đoạn thường, gọi là Bát mê. Nếu phá trừ được Bát mê này thì đạt đến trung đạo. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
sinh diệt nhị quán
2069指生觀與滅觀。生觀,即依順序觀十二因緣,從觀緣無明生行、緣行生識,乃至緣生生老死等次第生起之相;亦即由因向果,順次作觀,是為流轉門。滅觀,即逆觀十二因緣,從老死觀至無明等次第滅壞之相;亦即由果向因,順次逆觀,此為還滅門。〔天台四教儀〕
; Contemplation on birth and death.
; (生滅二觀) Chỉ cho Sinh quán và Diệt quán. Sinh quán: Y theo thứ tự thuận mà quán xét tướng sinh khởi của 12 nhân duyên, như quán từ duyên vô minh sinh hành, duyên hành sinh thức, cho đến duyên sinh sinh lão tử... cũng tức là từ nhân hướng quả, đó là Lưu chuyên môn. Diệt quán: Tức quán ngược 12 nhân duyên, từ lão tử... quán đến vô minh, các tướng hoại diệt từ quả hướng nhân, theo thứ tự quán ngược lại, đó là Hoàn diệt môn.[X. Thiên thai tứ giáo nghi].
sinh diệt quán
2070析空觀之異名。即觀有為法剎那生滅之理而破除常見。(參閱「析空觀」3315)
; (生滅觀) Tên khác của Tích không quán. Tức quán xét lí các pháp hữu vi sinh diệt từng sát na để phá trừ thường kiến (xt. Tích Không Quán).
sinh diệt tứ đế
2070為天台宗智顗所立四種四諦之一。此係三藏教之說,主張因緣生滅之實有;認為苦、集、道三諦依因緣而為實有之生滅,滅諦亦可視為實有之滅法。亦即指立於實生實滅上之四諦。即:(一)苦諦,苦,逼迫之義;有三苦、八苦等。即觀色、心等諸法之無常逼迫,而知生死實苦。(二)集諦,即觀煩惱惑業實能招集生死之苦。(三)滅諦,即觀涅槃之理,而將生死之諸苦歸於寂滅。(四)道諦,即觀戒、定、慧之道,而斷盡惑業,生起正智,以證入涅槃。〔法華經玄義卷二下、天台四教儀集註卷上、卷下〕(參閱「四諦」1840)
; (生滅四諦) Một trong 4 loại Tứ đế do Đại sư Trí Khải tông Thiên thai thành lập. Đây là nói về 3 tạng giáo, chủ trương nhân duyên sinh diệt là có thật, cho rằng 3 đế Khổ, Tập và Đạo nương nơi nhân duyên mà thực có sinh diệt. Diệt đế cũng được xem là pháp diệt có thật. Tức là Tứ đế được thành lập trên quan điểm thực sinh thực diệt.1. Khổ đế: Khổ nghĩa là bức bách;có 3 khổ, 8 khổ... tức là quán xét sự vô thường bức bách của các pháp sắc, tâm mà biết sinh tử là thực khổ. 2. Tập đế: Quán xét các phiền não hoặc nghiệp là nguyên nhân tạo ra khổ sinh tử. 3. Diệt đế: Tức quán xét lí Niết bàn, qui các khổ sinh tử về tịch diệt. 4. Đạo đế: Quán xét đạo giới, định, tuệ, dứt hết phiền não hoặc nghiệp, sinh khởi chính trí để chứng vào Niết bàn. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2,hạ; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, hạ]. (xt. Tứ Đế).
Sinh duyên 生縁
[ja] ショウエン shōen ||| (1) The various causes which contribute to a thing's coming into being. (2) Dependent co-arising → 縁起. (pratītya-samutpāda) (3) One of the "three barriers" → 三關. (4) Ina-Zgaki has "Native place; one's original state of Buddhahood." => 1. Những nguyên nhân khác nhau góp phần đưa đến sự hiện hữu của một vật. 2, Duyên khởi (縁起s: pratītya-samutpāda). 3. Một trong Tam quan 三關. 4. Chốn quê nhà; bản thể Phật tính theo Ina-Zgaki.
Sinh dĩ 生已
[ja] ショウイ shōi ||| To be fully arisen. To be completely produced. 〔瑜伽論 T 1579.30.291b2〕 => Sinh khởi rồi. Hoàn toàn được sinh ra rồi.
sinh dục
To give birth and to rear.
sinh giả tất diệt
2066表示世相無常之義。謂有生者必有死滅。此乃佛教窮究人生真理之出發點。與「盛者必衰」同義。常與「會者定離」一語連用,即相會者必離散,二者同屬必然之理。〔北本大般涅槃經卷二、無常經、未生冤經〕
; (生者必滅) Có sinh ắt có diệt, nói lên nghĩa vô thường của tướng thế gian. Đây là điểm xuất phát của chân lí nhân sinh tột cùng trong Phật giáo. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn Q.2 (bản Bắc); kinh Vô Thường; kinh Vị Sinh Oan].
sinh hoạt
Living—Life.
sinh hòa hợp tịnh
Amathitakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
sinh hóa
See Hóa Sanh.
sinh hóa nhị thân
The physical body of Buddha and his transformation body capable o any form; the Nirmàna-kàya in its two forms of ứng and hóa.
; The nirmanakaya in its two forms of physical body (ứng thân) and transformation body (hóa thân) are capable of any form.
sinh hóa, hóa sinh
Aupapàduka (S). One of the four forms of birth, i.e. by transformation, without perentage, and in full maturity; thus do bodhisattvas come from the Tusita heaven; the dhyàni-buddhas and bodhisattvas are also of such miraculous origin.
sinh hữu
One of the four forms of existence.
; See Sanh Hữu.
sinh khí
Prāṇa (S), Vital energy bindu (T), Pāṇa (P)Sanh lực, Luồng thần lựcCái sức tiềm ẩn mà nhân đó sinh vật sống được và tăng trưởng.
; Jìvitindriya (S). Breath of life; vitality, animation, liveliness.
; The breath of life—Vitality.
sinh không
2065梵語 ātma-śūnyatā。二空之一。又作我空、人空。即眾生為色、受、想、行、識等五蘊假和而成,實無常一主宰之我體,故稱生空。(參閱「我空」2941)
; Xem Nhân vô ngã.
; Empty at birth, i.e. ngã không, nhân không void of a permanent ego
; (生空) Phạn: Àtma-zùnyatà. Cũng gọi Ngã không, Nhân không. Chúng sinh do 5 uẩn, sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hòa hợp mà thành, không có ngã thể thường nhất, 1 trong 2 thứ không. (xt. Ngã Không).
sinh không tam muội
2065指觀想眾生乃五蘊之假和合而無實體之理的禪定。祕藏寶鑰論卷中(大七七‧三六六上):「生空三昧,知神我之幻影(陽)。」
; (生空三昧) Chỉ cho thiền định quán tưởng chúng sinh là do 5 uẩn giả hòa hợp mà thành, không có ngã thể cố định bất biến. Bí tạng bảo thược luận quyển trung (Đại 77, 366 thượng) nói: Sinh không tam muội biết rõ thần ngã chỉ là ảo ảnh.
sinh khổ
2066梵語 jāti-duḥkha,巴利語 jāti-dukkha。指眾生於生時所受之苦惱。四苦之一,八苦之一。據瑜伽師地論卷六十一之說,謂生苦有五種相,即:(一)為眾苦所隨,謂生於那落迦(地獄)及餓鬼道中,或於胎生、卵生之生時,為種種憂苦所隨逐,故為苦。(二)為粗重所隨,謂為煩惱所隨逐,性不調柔而不得自在,故為苦。(三)為眾苦所依,謂為衰老等眾苦之所依,故為苦。(四)為煩惱所依,謂受生之後,乃為貪、瞋、癡等煩惱之所依,身心不能安住,故為苦。(五)為不隨所欲離別法,謂有生必有死,不能如己意,故為苦。 又五王經亦載有處於母胎之內時所受之種種苦。北本大般涅槃經卷十二謂,由入胎至出生稱為生苦,凡有五種,即:初出、至終、增長、出胎、種種生。〔中阿含卷七分別聖諦經、四諦經、大乘義章卷三本〕(參閱「八苦」291、「四苦」1736)
; The suffering at birth.
; (生苦) Phạn: Jàti-du#kha. Pàli: Jàti-dukkha. Chỉ cho những khổ não mà chúng sinh phải chịu lúc vừa sinh ra, 1 trong 4 khổ, 1 trong 8 khổ. Theo luận Du già sư địa quyển 61 thì Sinh khổ có 5 tướng: 1. Bị các khổ theo đuổi: Sinh vàoNa lạc ca (địa ngục) và ngã quỉ, hoặc do thai sinh, noãn sinh, bị các ưu khổ theo đuổi, cho nên khổ. 2. Bị thô trọng theo đuổi: Bị các phiền não theo đuổi, tính không điều hòa, chẳng được tự tại, cho nên khổ. 3. Bị các khổ nương tựa: Tức làm chỗ nương tựa cho các khổ như già suy, bệnh tật... cho nên khổ. 4. Bị phiền não nương tựa: Sau khi thụ sinh, làm chỗ nương cho các phiền não tham, sân, si... thân tâm không thể an trụ, cho nên khổ. 5. Pháp li biệt không theo điều mình muốn: Có sinh ắt có chết, không được như ý muốn, cho nên khổ. Ngoài ra, kinh Ngũ vương cũng nói đến những nỗi khổ khi ở trong thai mẹ. [X. kinh Phân biệt thánh đế trong Trung A Hàm Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Bát Khổ, Tứ Khổ).
sinh khởi
2067指能生與所生。以能生為生,名之為因;以所生為起,名之為果。法華經玄義卷一上(大三三‧六八四下):「生起者,能生為生,所生為起。」
; Utpàda (S). Birth and what arises from it; cause of an act; the beginning and rise. Rising, coming into existence; birth.
; (生起) Chỉ cho Năng sinh và Sở sinh. Năng sinh làcáisinh ra, gọi là Nhân; Sở sinh là cái được sinh ra, gọi là Quả. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 1, thượng (Đại 33, 684 hạ) nói: Sinh khởi nghĩa là cái sinh ra là sinh, cái được sinh là khởi.
sinh khởi bản mạt
2067指事物生起之根本由來及演成之結果。
; (生起本末) Gốc ngọn của sự sinh khởi. Tức chỉ cho nguyên nhân căn bản và kết quả diễn thành sự vật sinh khởi.
sinh khởi nhân
2067為二因之一,十因之一。又作生因。指依現世惡、善之業因而起未來之苦、樂果報。此與「牽引因」皆指種子能生自果之作用,其中就種子於現在具有生果作用言,稱為生起因。(參閱「二因」193、「十因」418)
; (生起因) Cũng gọi Sinh nhân. Chỉ cho nghiệp nhân thiện, ác ở đời này sẽ sinh ra quả báo vui, khổ ở đời sau, là 1 trong 2 nhân, 1 trong 10 nhân. Sinh khởi nhân và Khiên dẫn nhân đều chỉ cho tác dụng năng sinh tự quả của chủng tử; chủng tử ở hiện tại có sẵn tác dụng sinh ra quả, gọi là Sinh khởi nhân. (xt. Nhị Nhân, Thập Nhân).
Sinh khởi thức 生起識
[ja] ショウキシキ shōkishiki ||| The active consciousnesses, arisen consciousnesses (pravṛtti-vijñāna). The other seven consciousnesses besides the container consciousness (藏識), also written as 轉識. 〔攝大乘論 T 1593.31.115c17〕 => Thức đang hoạt động, thức đang sinh khởi. 7 thức ngoài tàng thức, còn gọi là Chuyển thức轉識.
Sinh khởi tương vi 生起相違
[ja] ショウキソウイ shōkisōi ||| Contradictions in production, the third of the six kinds of contradictory causes taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. The conflict that appears when the necessary preconditions for the production of certain object events are not present.〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => Sự mâu thuẫn nhau trong sự sinh khởi, loại thứ ba trong sáu loại nguyên nhân mâu thuẫn được dạy trong Du-già sư địa luận. Những mâu thuẫn xuất hiện khi cần thiết những điều kiện có trước cho sự phát sinh một sự kiện khách quan nào đó không hiện hữu.
Sinh khởi 生起
[ja] ショウキ shōki ||| (1) The arising, production, coming into being of things. (utpāda, upagama) (2) A situation that is arising. => Sự phát sinh, hình thành, hiện hữu của mọi vật (s: utpāda, upagama). Trạng thái sinh khởi.
sinh kinh
2070凡五卷。西晉竺法護譯。收於大正藏第三冊。本生經之一種。係由敘說佛陀及弟子之本事、本生因緣之小經集輯而成,凡有五十五經。其中,最後一經題為譬喻經,乃敘說八種事緣;又卷二舅甥經與希臘人希羅多德(Herodotos)之歷史故事中關於埃及王雷色斯(Ramses)三世之記載,二者內容相同,或謂由此可推知二者間應有關係。
; Stories of the previous incarnations of the Buddha and his disciples
sinh linh
2072<一>為「死靈」之對稱。指生者之神識。 <二>據蒙古源流卷一載,從禪天一神變幻降世起,漸漸繁衍,依次而成色界十七天、無色界四天、欲界二十天及過去、未來、現在世界之六種生靈。此等生靈因神變而來,故其壽無由算起,雖生於世上,卻行不踐地,飛於空中,不食下界穢穀,惟食禪穀,無論男女,皆由化生。彼時,無有日月,因本身之光即能自照,又不以人稱之,概稱為生靈。 <三>指生時懷著怨怒與復仇之心者。(參閱「怨靈」3811)
; The mind or intelligence of the living; a living intelligent being. Khiến cho sinh linh phải đồ thán, to cause people's misery; to reduce the people to destitution.
; (生靈) I. Sinh Linh. Đối lại: Tử linh. Chỉ cho thần thức của người sống. II. Sinh Linh. Chỉ cho người lúc sống ôm lòng oán giận và phục thù. (xt. OánLinh).
sinh luận
2071 【生論】梵語 utpāda-vādin。指外道所說種種事物生起之議論。總稱外道一切妄計之論。以彼雖有不生不滅之言說,然皆是妄情分別生死之因,故稱生論。楞伽經卷四(大一六‧五○七中):「滅除彼生論,建立不生義。」
; (生論) Phạn: Utpàda-vàdin. Nghị luận của ngoại đạo về sự sinh khởi của các sự vật, gọi chung là Ngoại đạo nhất thiết vọng kế chí luận(tất cả các luận vọng chấp của ngoại đạo). Vì họ tuy có nói bất sinh bất diệt, nhưng đều là nhân sinh tử vọng tình phân biệt, cho nên gọi là sinh luận. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 507 trung) nói: Diệt trừ sinh luận ấy, kiến lập nghĩa bất sinh.
sinh ly
To be separated in life.
sinh lão bệnh tử
2062指眾生一期之四種相。又稱四相、四苦。眾生出生之相稱為生相,老衰之相稱為老相,病患之相稱為病相,死亡之相稱為死相。增一阿含經卷十九謂,持有、無之見者,不能脫離生老病死、愁憂苦惱。〔無常經、無量壽經卷上〕(參閱「四苦」1736)
; (生老病死) Cũng gọi Tứ tướng, Tứ khổ. Chỉ cho 4 thứ tướng trong 1 kì hạn của chúng sinh. Tướng sinh ra của chúng sinh gọi là Sinh tướng, tướng già suy gọi là Lão tướng, tướng bệnh hoạn gọi là Bệnh tướng và tướng tử vong gọi là Tử tướng. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 19 cho rằng người mang kiến chấp hữu, vô, không thể thoát li sinh già bệnh chết, lo buồn khổ não. [X. kinh Vô thường; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. Tứ Khổ).
sinh lý
Livelihood.
sinh lực
Vital force; life force; energy, vigour, strength.
; Vital force—Life force.
sinh manh
2065指生而即盲之人。地藏十輪經(大一三‧七五四中):「生五濁無佛世界,生盲生聾,瘖啞無舌。」觀無量壽經(大一二‧三四二上):「一切眾生自非生盲,有目之徒皆見日沒。」〔北本大般涅槃經卷九、順正理論卷五十〕
; Born blind.
; (生盲) Người mù bẩm sinh. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Tất cả chúng sinh, trừ kẻ sinh manh, bọn có mắt đều thấy mặt trời lặn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.9; luận Thuận chính lí Q.50].
sinh manh xiển đề
2065比喻一闡提之人為生盲。又作生盲一闡提。生盲,指生而即盲之人;闡提,指斷絕一切善根與無法成佛者。不信佛法者,如生盲懷疑世間有光明之存在;故謂一闡提之不能發心,猶如生盲之不能治癒。北本大般涅槃經卷九(大一二‧六六○下):「譬如良醫,能以妙藥治諸盲人,令見日月星宿諸明一切色像,唯不能治生盲之人。是大乘典大涅槃經亦復如是,能為聲聞緣覺之人開發慧眼,令其安住無量無邊大乘經典。未發心者,謂犯四禁、五無間罪,悉能令發菩提之心,唯除生盲一闡提輩。」善導之法事讚卷下謂,生盲闡提之輩因毀滅頓教而永遠沈淪。選擇傳弘決疑鈔卷五則特稱誹謗念佛往生之法者為生盲闡提。〔南本大般涅槃經卷九、安樂集卷上〕
; (生盲闡提) Cũng gọi Sinh manh nhất xiển đề. Ví dụ người Nhất xiển đề (Phạn: Icchantika) là sinh manh. Sinh manh chỉ cho người sinh ra đã mù;Xiển đề chỉ cho kẻ đã dứt hết tất cả căn lành và không thể thành Phật. Người không tin Phật pháp, cũng như kẻ sinh manh không tin rằng trên thế giannàycòn có ánh sáng, bởi thế Nhất xiển đề không thể phát tâm cũng giống như người sinh manh không thể chữa lành. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 9 (Đại 12, 660 hạ) nói: Ví như thầy thuốc giỏi, có khả năng chữa trị những người mù, giúp họ thấy được ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao và tất cả sắc tượng, duy đối với người sinh manh thì đành bó tay. Kinh Đại niết bàn Đại thừa này cũng lại như thế, có năng lực vì hàng Thanh văn Duyên giác mà mở con mắt tuệ, giúp họ an trú nơi vô lượng vô biên kinh điển Đại thừa. Người chưa phát tâm, dù phạm 4 trọng cấm, 5 tội vô gián, đều khiến họ phát tâm bồ đề, chỉ trừ lũ sinh manh nhất xiển đề. Pháp sự tán quyển hạ của ngài Thiện đạo nói rằng: Bọn sinh manh xiển đề vì hủy diệt đốn gíáo mà vĩnh viễn chìm đắm. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao quyển 5 thì đặc biệt gọi kẻ phỉ báng pháp Niệm Phật vãng sinh là Sinh manh xiển đề. [X. kinh ĐạibátNiết bàn Q.9 (bản Nam); An lạc tập Q.thượng].
Sinh manh 生盲
[ja] ショウモウ shōmō ||| blind from birth (Skt. jātyandha); used to indicate that ignorance is the fault of the perception not the object (as, for example, in the first chapter of the Vimalakīrti-sūtra 維摩經); it is also used to denote the icchantika 一闡提. => Sinh ra đã bị mù (s: jātyandha); để chỉ vô minh là sai lầm của nhận thức chứ không phải ở đối tượng ( ví dụ như được trình bày trong phẩm đầu kinh Duy-ma-cật Vimalakīrti-sūtra 維摩經); còn dùng để chỉ cho hạng Nhất-xiển-đề (s: icchantika 一闡提).
sinh mệnh
2064指自生至死之持續階段,而有體溫(煖)與意識(識)者。在佛教中,稱為壽命或命根。壽為梵語 āyus 之意譯,命為梵語 jīvita 之意譯。亦有將壽與命分別解說者。壽維持煖與識,反之,煖與識亦維持住壽,二者之間有相互依存之關係。臨終時,壽、煖、識即脫離肉體。此壽,由於三界六道之差別,其量有所限定,此即稱為壽量。佛之壽命無限量,因此稱為壽命無量或無量壽(梵 amitāyus,阿彌陀)。
; Ajìva (S). Life, livehood.
; (生命) Chỉ cho giai đoạn giữ liên tục từ lúc sinhđếnlúc chết mà vẫn có độ ấm (noãn) và ý thức thức). Trong Phật giáo gọi là Thọ mệnh hoặc Mệnh căn. Thọ là dịch ý từ chữ Phạn jìvita. Cũng có thể giải thích Thọ và Mệnh riêng rẽ. Thọ duy trì noãn và thức; trái lại, noãn và thức cũng duy trì sự sống còn (Thọ), hai yếu tố này có quan hệ nương vào nhau mà tồn tại. Lúc con người chết thì thọ, noãn, thức thoát ra ngoài nhục thể. Thọ này do sự sai khác của 6 đường 3 cõi mà lượng của nó có hạn định, gọi là Thọ lượng. Thọ mệnh của Phật không có hạn lượng, cho nên gọi Thọ mệnh vô lượng hay Vô lượng thọ (Phạn: Amitàyus, A di đà).
sinh nghi
To become suspicious—To be in doubt.
sinh nghiệp
Janaka-karma (S). Regenerative karma, productive karma.
Sinh nghiệp 生業
[ja] ショウゴウ shōgō ||| (1) The work that one does to make a living; one's livelihood. (karman) (2) Particularizing karma--the karma that determines precise conditions in one's rebirth, such as one's personality, level of intelligence, social status, and so forth; same as 滿業, which contrasts with directive karma 引業, which determines more general conditions, such as the species into which one is born. This karma is generally understood as being produced from desire, whereas directive karma is produced from ignorance. 〔瑜伽論T 1579.30.612b〕 => Công việc mà người ta làm để sinh sống; nghề nghiệp (s: karman). Nghiệp đặc biệt–nghiệp định đoạt chính xác điều kiện tái sinh, như tính cách, sự thông minh, hoàn cảnh xã hội v.v... Đồng nghĩa với Mãn nghiệp 滿業, khác với Dẫn nghiệp 引業, là nghiệp dẫn đến những hoàn cảnh chung, như chủng loại được sinh ra. Sinh nghiệp thường được hiểu là gây ra do tham dục, trong khi Dẫn nghiệp phát sinh do vô minh.
sinh nhai
Means of living—See Sinh lý.
sinh nhân
2058<一>因明用語。於三支作法中屬於因支。為六因之一。與「了因」對稱。生,生起、啟發之意。生因如種子,能生物,故稱生因。譬如立論者立「聲是無常」宗(命題),以「所作性故」為因(理由),證明聲為無常,非常住,令問難者聽罷,了然「聲是無常」乃正理,因而不復固執己見。此因,其啟發問難者之正智,恰如種子之生芽,故就立論者說,稱之為「生因」。生因以其功用之別復分三種:(一)言生因,指立論者所用以舉因之言語,如前述「所作性故」一語。(二)智生因,指立論者之智慧、知識而言,如前述之例,若非立論者已具「聲之無常乃因聲為所作」之知識,便不能提出「所作性故」之因,智慧知識乃立言之本,故智為生因。(三)義生因,指立論者所舉因中所涵之道理與境界。語言之所以能引發人之了悟,全靠其中所涵蘊之意義與所指之對象,故「義」亦為生因。前述三因,互有層層之因果關係。立論者有「智」,方能認識義理,並利用語言以宣達之,故智生因乃「言」、「義」二生因之因,「言」、「義」二生因是智生因之果。「言」、「義」二因間亦有因果關係,立論者先認知義理,才能用言語以宣達之,故義生因為言生因之因,言生因為義生因之果。〔因明入正理論悟他門淺釋〕(參閱「六因」1256) <二>五因之一。指惑業。以眾生依惑業而生此身,猶如草木之種子依地而生,故稱生因。(參閱「五因」1074) <三>謂地、水、火、風四大種為生起色法之原因。〔俱舍論卷七〕(參閱「四大」1649) <四>與「引因」相對稱。謂生為近果與正果之因。近果,指近因之果報;正果,指修道而有所證悟,蓋有別於外道之盲修,故謂學佛而證得之果為正果。(參閱「引因」1392)
; The primary cause of birth.
; Janmahetu (skt)—Nguyên nhân của sự sinh—Birth-cause.
; (生因) I. Sinh Nhân. Đối lại: Liễu nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 chi, Sinh nhân thuộc chi Nhân, 1 trong 6 nhân. Sinh là sinh khởi, khai phát. Sinh nhân như hạt giống nảy mầm sinh ra cây cỏ, vì thế gọi là Sinh nhân. Ví như người lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra Cái Nhân (lí do) trong luận thức trên chứng minh âm thanh là vô thường chứ không phải thường trụ, giúp đối phương (người vấn nạn) nghe rồi hiểu rõ chân lí âm thanh là vô thường, không còn hoài nghi cố chấp nữa. Như vậy, Nhân ở đây đã giúp người địch luận (đối phương) mở được chính trí, như hạt giống sinh mầm, cho nên, đứng về phương diện người Lập luận mà gọi là Sinh nhân. Do công dụng của Sinh nhân có khác nhau nên lại được chia làm 3 loại: 1. Ngôn sinh nhân: Tức là ngôn ngữ của người Lập luận sử dụng để nói rõ lí do (Nhân), như Vì nó có tính cách được tạo ra nói ở trên. 2. Trí sinh nhân: Tức tri thức, trí tuệ của người Lập luận. Như trong Luận thức nói trên, nếu người Lập luận không có tri thức về bản chất của âm thanh thì đã không thể nêu lí do Vì nó có tính cách được tạo ra, cho nên trí là Sinh nhân. 3. Nghĩa sinh nhân: Chỉ cho đạo lí bao hàm trong Nhân do người Lập luận nêu ra. Sở dĩ ngôn ngữ giúp người ta hiểu rõ vấn đề là hoàn toàn nhờ ý nghĩa bao hàm trong đó và cái đối tượng mà ngôn ngữ ám thị, do đó, nghĩa cũng là Sinh nhân. Ba loại Sinh nhân trên đây có mối quan hệ chồng chéo lẫn nhau. Tức là người Lập luận có trí mới có thể nhận thức nghĩa lí, đồng thời, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt nghĩa lí ấy, cho nên Trí sinh nhân là nhân của Ngôn sinh nhân và nghĩa sinh nhân; còn Ngôn sinh nhân và Nghĩa sinh nhân là quả của Trí sinh nhân. Lại giữa Ngôn sinh nhân và Nghĩa sinh nhân cũng có quan hệ nhân quả. Trước hết, người Lập luận nhận biết nghĩa lí mới có thể dùng ngôn ngữ diễn đạt nghĩa lí, vì thế, Nghĩa sinh nhân là nhân của Ngôn sinh nhân, Ngôn sinh nhân là quả của Nghĩa sinh nhân. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Lục Nhân). II. Sinh Nhân. Một trong 5 nhân. Chỉ cho hoặc nghiệp. Vì chúng sinh nương vào hoặc nghiệp mà sinh ra thân này, cũng như hạt giống cây cỏ nhờ vào đất mà nảy sinh, cho nên gọi là Sinh nhân. (xt. Ngũ Nhân). III. Sinh Nhân. Chỉ cho 4đại chủng đất, nước, lửa, gió là nguyên nhân sinh khởi các sắc pháp. [X. luận Câu xá Q.7]. (xt. TứĐại). IV. Sinh Nhân. Đối lại: Dẫn nhân. Sinh là nhân của quả gần và quả chính. Quả gần chỉ cho quả báo của nhân gần; quả chính chỉ cho việc tu đạo có chỗ chứng ngộ, khác với cách tu mù quáng của ngoại đạo, cho nên gọi quả chứng đắc của người tu học Phật pháp là quả chính. (xt. Dẫn Nhân).
sinh nhân bản nguyện
2058又作生因願。指阿彌陀佛於因位時誓願濟度眾生,並祈願十方眾生至心信樂,欲生淨土之本願。無量壽經卷上第十八願(大一二‧二六八上):「設我得佛,十方眾生至心信樂,欲生我國,乃至十念。若不生者,不取正覺,唯除五逆誹謗正法。」善導之觀念法門對於此願之解釋,謂阿彌陀佛誓願眾生以稱名念佛為得生淨土之因。然義寂等則以第十八、十九、二十等三願為生因本願。其中,第十八攝取至心欲生願,乃攝下下品人之願;第十九攝取修德欲生願,乃攝上品人之願;第二十攝取聞名欲生願,乃攝中品人之願。又法位、玄一、憬興等以第十八願為攝上品願,第十九願為攝中品願,第二十願為攝下品願。
; (生因本願) Cũng gọi Sinh nhân nguyện. Chỉ cho bản nguyện của đức PhậtA di đà khi còn ở địa vị tu nhân thệ nguyện cứu độ chúng sinh và cầu nguyện chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa muốn vãng sinh Tịnh độ. Điều nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi được thành Phật mà chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa, muốn sinh về cõi nước của tôi, cho đến 10 niệm, nếu không được sinh thì tôi không thành chính giác, chỉ trừ những người phạm tội Ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo giải thích nguyện này cho rằng đức Phật A di đà thệ nguyện chúng sinh lấy pháp môn Xưng danh niệm Phật làm nhân được vãng sinh Tịnh độ. Nhưng ngài Nghĩa tịch thì lấy 3 điều nguyện 18, 19 và 20 làm Bản nguyện sinh nhân. Trong đó, điều nguyện thứ 18 nhiếp lấy nguyện dốc lòng muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những người thuộc phẩm Hạ hạ; điều nguyện thứ 19 nhiếp lấy nguyện tu đức muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những ngườithuộc Thượng phẩm; điều nguyện thứ 20 thì nhiếp lấy nguyện nghe tên muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những người thuộc Trung phẩm. Còn các ngài Pháp vị, Huyền nhất, Cảnh hưng... thì cho điều nguyện 18 là nguyện nhiếp thu Thượng phẩm, điều nguyện 19 là nguyện nhiếp thu thuộc Trung phẩm, còn điều nguyện 20 thì là nguyện nhiếp thu Hạ phẩm.
sinh nhất như
The living and the Buddha are one—See Sinh Nhứt Thể.
sinh nhất thiết chi phần ấn
2056指密宗灌頂時加持弟子四肢五體之手印。支分,指手、足等四肢五體。大日經義釋卷十(卍續三六‧四一○下):「次當作生一切支分印,而於弟子頂上灌之。凡灌頂時作此印,結已取缾為灌也。若不以此印者,則法式不具。」
; (生一切支分印) Thủ ấn gia trì vào tứ chi (2 tay, 2 chân) ngũ thể (trán, 2 khuỷu tay, 2 đầu gối) của đệ tử khi tu pháp Quán đính trong Mật giáo.Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 10 (Vạn tục 36, 410 hạ) nói: Kế đến phải kết ấn Sinh nhất thiết chi phần, rồi rưới nước trên đỉnh đầu của đệ tử (...)Nếu không dùng ấn này thì pháp thức không được đầy đủ.
sinh nhẫn
Common or ordinary patience, i.e. of chúng sinh the masses.
; 1) Nhẫn bình thường: Common or ordinary patience. 2) Nhẫn của chúng sanh: The common or ordinary patience of the masses.
sinh nhật đại hội
2057指佛陀之誕生會。有部目得迦卷五(大二四‧四三五上):「長者白佛:『菩薩生時是何月日?』佛告長者:『薛舍佉月日月圓時,是我生日。』『我今欲作生日大會。』佛言:『應作。』」(參閱「吠舍佉」2819)
; (生日大會) Ngày lễ đản sinh của đức Phật. Hữu bộ mục đắc ca quyển 5 (Đại 24, 35 thượng) nói: Trưởng giả bạch Phật: Bồ tát sinh ra vào ngày tháng nào? Phật bảo Trưởng giả: Ngày trăng tròn, tháng Bệ xá khư là ngày sinh của ta. Trưởng giả bạch Phật: Con nay muốn cử hành Đại hội sinh nhật. Phật nói: Nên làm. (xt. PhệXá Khư).
sinh nhứt thể
The living and the Buddha are of the same substance—See Sinh Bất Nhị.
sinh niệm xứ bồ tát
2064生念處,梵名 Smritisajātyaḥ。指生萬法與智慧之菩薩。又作憶念生菩薩。位於密教胎藏界曼荼羅虛空藏院虛空藏菩薩之左方第二位。密號憶持金剛。三昧耶形為蓮花上羯磨杵或商佉(法螺)。司掌虛空藏之慈、悲、喜、捨等四行德。此菩薩身呈肉色,右手持蓮花,蓮花上之月輪中有法螺;左手伸食指,餘指稍屈,當胸而仰,半跏趺坐於赤蓮花上。〔玄法寺儀軌卷二、青龍寺儀軌卷中、祕藏記〕
; The second Bodhisattva on the right of the Bodhisattva of Space Hư không tạng in the Garbhadhàtu.
; See Sanh Niệm Xứ Bồ Tát.
; (生念處菩薩) Sinh niệm xứ, Phạn: Smritisajàtya#. Cũng gọi Ức niệm bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 phía trái bồ tát Hư không tạng ở viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, mật hiệu là Ức trì kim cương. Vị Bồ tát này sinh ra muôn pháp và trí tuệ, chủ về 4 hạnh đức Từ, Bi, Hỉ, Xả của bồ tát Hư không tạng. Về hình tượng của vị Bồ tát này thì thân màu da người, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có thương khư (pháp loa) đặt trong nguyệt luân; tay trái ngón trỏ duỗi thẳng, những ngón còn lại hơi co, để ngửaở ngang ngực. Hình Tam muội da là chày yết ma hoặc thương khư trên hoa sen. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Bí tạng kí]
sinh pháp
2064梵語 prasava-dharma,prasava-dharmin。又作人法、我法。具有心之作用者,稱為生,即有情;不具心之作用者,稱為法,即非情。例如眾生依因緣和合而成立,是為生;五蘊為構成眾生之要素,是為法。又或指與生(給與生)之性質。佛所行讚卷三(大四,二三下):「我觀是生法,亦為種子法。」
; The living and things, i.e. nhân pháp, ngã pháp, men and things, the self and things; the hữu tình sentient, or those with emotions, i.e. the living; and vô tình those without, i.e. insentient things.
; (生法) Phạn: Prasava-dharma, Prasavadharmìn. Cũng gọi Nhân pháp, Ngã pháp. Cái có tác dụng của tâm, gọi là Sinh, tức hữu tình; cái không có tác dụng của tâm, gọi là Pháp, tức phi tình. Chẳng hạn như chúng sinh nhờ vào sự hòa hợp của nhân duyên mà được thành lập, đó là Sinh; 5 uẩn là những yếu tố cấu tạo thành chúng sinh, đó là Pháp. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 23 hạ) nói: Ta quán sinh pháp này, cũng là pháp chủng tử.
sinh pháp nhị không
2064指生空、法空。又作我法二空、人法二空、人法二無我。略稱二空、二無我。即體達常一主宰之我與諸法之自性皆空。係大乘之觀法,謂「人」為空,「法」亦為空,以斷除我執、法執,而證我空真如、法空真如。小乘則偏修生空觀,故不易斷除法執。〔中論卷四觀邪見品、華嚴經孔目章卷三人法二空章、百法問答鈔卷七〕(參閱「人法二空」256)
; (生法二空) Cũng gọi Ngã pháp nhị không, Nhân pháp nhị không, Nhân pháp nhị vô ngã. Gọi tắt: Nhị không, Nhị vô ngã. Chỉ cho Sinh không và Pháp không, tức thấu suốt được cái ta thường nhất và tự tính các pháp đều không, dứt trừ ngã chấp, pháp chấp mà chứng Ngã không chân như và Pháp không chân như. Đây là pháp quán của Đại thừa; còn Tiểu thừa thì chỉ tu Sinh không quán thôi, nên không dễ gì đoạn trừ pháp chấp. [X. phẩm Quán tà kiến trong Trung luận Q.4; chương Nhân pháp nhị không trong Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.7]. (xt. Nhân Pháp Nhị Không).
sinh pháp nhị không quán
Contemplation on the emptiness of living and things.
sinh pháp nhị thân
2064指生身與法身。小乘謂佛陀生於王宮之身為生身,從戒定慧等所得之無漏功德為法身。大乘謂理智冥合之真身為法身,隨機現生之應化身為生身;即三身中之法、報二身合為法身,應身為生身。大智度論卷九(大二五‧一二一下):「佛有二種身,一者法性身,二者父母生身。是法性身,滿十方虛空,無量無邊,色像端正,相好莊嚴,無量光明,無量音聲,聽法眾亦滿虛空(此眾亦法性身非生死人所得見)。常出種種身、種種名號、種種生處、種種方便度眾生;常度一切,無須臾息時。如是法性身佛,能度十方眾生。受諸罪報者,是生身佛;生身佛次第說法如人法。」〔大乘義章卷十九〕
; The physical body and the spiritual body of the Buddha.
; (生法二身) Chỉ cho Sinh thân và Pháp thân. Tiểu thừa chủ trương thân đứcPhật sinh trong cung vua là Sinh thân, còn các công đức vô lậu có được từ giới định tuệ là Pháp thân. Đại thừa thì cho rằng chân thân lí và trí ngầm hợp là pháp thân, thân Ứng hóa tùy cơ hiện sinh là Sinh thân; tức trong 3 thân thì Pháp thân và Báo thân hợp chung lại là Pháp thân, còn Ứng thân là sinh thân. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 121 hạ)nói: Phật có hai thân,mộtlà thân Pháp tính, hai là thân do cha mẹ sinh. Thân Pháp tính trùm khắp hư không trong 10 phương, vô lượng vô biên, sắc tượng đoan chính, tướng hảo trang nghiêm, ánh sáng vô lượng, âm thanh vô lượng, chúng nghe pháp cũng đấy ắp hư không (chúng này cũng là thân Pháp tính, chẳng phải người sinh tử có thể thấy được); thường hiện ra các loại thân, các loại danh hiệu, các nơi sinh đến, các phương tiện hóa độ chúng sinh, thường cứu độ hết thảy, không phút chốc nào ngừng nghỉ. Như vậy, thân Pháp tính của Phật có năng lực cứu độ chúng sinh trong khắp 10 phương. Còn Sinh thân của Phật là thân nhận chịu các quả báo và cũng nói pháp theo thứ lớp như người bình thường. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19].
Sinh pháp 生法
[ja] ショウボウ shōbō ||| The dharma of life. That quality which gives life to things. (prasava-dharma) (2) The dharma of selfhood. 〔瑜伽論T 1579.30.〕 => Pháp của cuộc sống. Đức tính ban tặng sự sống cho vạn vật (s: prasava-dharma). Pháp của riêng con người.
sinh phạn
2071於食前為眾生出少許食物而供養之。因散食施予曠野鬼神,故又稱散飯。供養之對象,通常為大鵬金翅鳥、曠野鬼神眾、羅剎鬼子母。若供養三寶、不動明王與鬼子母神,則稱三飯(或三把)。又含有拿出食物施予眾生之意,故又稱出食、出生、生食、眾生食。據北本涅槃經卷十六梵行品、有部毘奈耶雜事卷三十一等所載,佛陀曾向弟子制定此法,雖然施食以飯七粒為限,但鬼神能變,能以少量成為多量而致飽食。復次,在人煙稀少安靜之所設臺,上置所供養之飯,以供鳥、獸、蟲食,此臺稱為生臺或生盤。又用以撒飯之器亦稱生盤。 出食之法,念供養咒時,侍者將食筷持於手中,挾於拇指中間合掌,復以雙手持起食筷,將食筷頭架成斜角形。先念偈,後持咒。所念之供養偈,早齋為(大八二‧七七一上):「法力不思議,大悲無障礙,七粒遍十方,普施周沙界。」咒為:「唵度利益莎訶。」午齋之偈為:「大鵬金翅鳥,曠野鬼神眾,羅剎鬼子母,甘露悉充滿。」咒為:「唵穆帝莎訶。」以上供養咒之持法,為侍者心中默念,偈各一遍,咒各七遍。〔寶雲經卷五、四分律刪繁補闕行事鈔卷下之三、敕修百丈清規卷下大眾章、禪林象器箋祭供門〕
; (生飯) Trước khi ăn, dành ra chút ít cơm (phạn) để bố thí cho chúng sinh. Vì rải cơm bố thí cho quỉ thần nơi đồng trống nên cũng gọi là Tán phạn. Đối tượng cúng thí thông thường là chim đại bàng cánh vàng, chúng quỉ thần ngoài đồng trống, mẹ con quỉ La sát... Nếu cúng dường Tam bảo, minh vương Bất động và thần Quỉ tử mẫu thì gọi là Tam phạn (hay Tam bả). Lại vì có hàm ý là bày thức ăn ra để cúng thí chúng sinh, nên cũng gọi là Xuất thực, Xuất sinh, Sinh thực, Chúng sinh thực. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết bàn quyển 16 (bản Bắc) và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 31 thì pháp cúng thí này do chính đức Phật qui định để các đệ tử thực hành, tuy chỉ cúng thí 7 hạt cơm thôi, nhưng nhờ sức chú nguyện nên chúng sinh cũng được no đầy đủ. Lại nữa, ở nơi vắngvẻ, yên tĩnh làm 1 cái đài, trên đó đặt cơm cúng thí để cho chim, thú, sâu bọ... ăn, cái đài nàygọi là Sinh đài hoặc Sinh bàn (mâm để thức ăn cho chúng sinh). Cái đồ đựng cơm cũng gọi là Sinh bàn. Phép cúng thí: Khi niệm chú cúng dường, thị giả cầm đũa trong tay chắp tay lại, đưa đũa lên. Trước tụng kệ, sau trì chú. Bài kệ niệm cúng dường bữa cơm sáng là (Đại 82, 771 thượng): Pháp lực bất tư nghị; Đại bi vô chướng ngại; Thất lạp biến thập phương; Phổ thí chu sa giới. Thần chú: Án độ lợi ích sa ha (7biến). (Sức pháp chẳng nghĩ bàn; Đại bi không ngăn ngại; Bảy hạt đến mười phương; Cúng thí khắp sa giới)¡. Bài kệ niệm cúng dường bữa trai ngọ: Đại bằng kim sí điểu; Khoáng dã quỉ thần chúng; La sát quỉ tử mẫu ;Cam lộ tất sung mãn. Thần chú: Án mục đế sa ha (7 biến). (Chim đại bàng cánh vàng; Chúng quỉ thần đồng trống; Mẹ con quỉ La sát; Cam lộ đều no đủ). [X. kinh Bảo vân Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Tế cúng trong Thiền lâm tượng khí tiên] .
sinh phật
2062<一>指生存在世之佛陀。釋門正統卷三(卍續一三○‧三九五上):「時優填王不勝戀慕,鑄金為像,(中略)以象載之。仰候世尊,猶如生佛。」又生佛或指現生佛,如高僧、名僧、善知識等,德高望重,被尊敬如佛降世者。此亦對高僧之讚美語,與「生如來」、「生菩薩」為同義用語。 <二>指眾生與佛陀。常見之「生佛不二」、「生佛一如」等語,皆指此。 <三>為日本天台宗僧。生卒年不詳。四條天皇在位時出家。又稱性佛。兩眼失明,以講說平家故事為業。聲調悲淒幽婉,聞者莫不感動。
; Buddha alive; a living Buddha.
; 1) Vị Phật sống: A living Buddha. 2) Chúng sanh và Đức Phật: All the living and the Buddha.
; (生佛) I. Sinh Phật. Đồng nghĩa: Sinh Như lai, Sinh Bồ tát. Chỉ cho đức Phật hiện còn ở đời. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 395 thượng) nói: Bấy giờ, vua Ưu điền nhớ Phật khôn xiết, liền đúc vàng làm tượng Ngài (...) Hàng ngày chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, như lúc Ngài còn sinh tiền (Sinh Phật). Sinh Phật còn chỉ cho các bậc cao tăng, danh tăng, thiện thức... được mọi người tôn kính như Phật giáng thế. II. Sinh Phật. Chỉ cho chúng sinh và Phật, như thường thấy trong các nhóm từ Sinh Phật bất nhị Sinh Phật nhất như. III. Sinh Phật (?-?). Cũng gọiTính Phật. Tên vị cao tăng thuộc tông Thiên thai, Nhật bản. Sư xuất gia vào thời đại Thiên hoàng Tứ điều đang trị vì. Sư bị mù và hay kể chuyện cổ Bình gia bằng giọng nói rất truyền cảm, khiến người nghe đều xúc động.
sinh phật bất nhị
The living and the Buddha are one—See Sinh Phật Nhứt Như.
sinh phật bất tăng bất giảm
2063指生佛一如,即法界眾生雖成佛而生界不減,佛界亦不增。或謂生、佛二界共為無量無邊,生界無邊,故眾生成佛而生界不減;佛界無邊,故眾生入佛界而佛界不增。華嚴經隨疏演義鈔卷九(大三六‧六五下):「生佛不增不減別,此但義異,名乃不殊。謂法性既同,設令一切眾生一時成佛,生界不減,佛界不增,以生佛界既是法性,不可以法性增法性;喻如東方虛空是眾生,西方虛空是佛,不可以東方虛空添西方虛空,令東減西增,故不增不減。」(參閱「生佛一如」2063)
; Tánh không hoại diệt, bất tăng bất giảm, và tuyệt đối của chúng sanh và Phật—The indestructibility of the living and the Buddha; they neither increase nor decrease, being the absolute.
; (生佛不增不减) Chỉ cho Sinh Phật nhất như, tức chúng sinh trong pháp giới tuy thành Phậtmà cõi chúng sinh không giảm, cõi Phật cũng không tăng. Hoặc bảo cõi chúng sinh và cõi Phật đều là vô lượng vô biên; vì cõi chúng sinh vô biên, nên chúng sinh thành Phật mà cõi chúng sinh không giảm; vì cõi Phật vô biên, nên chúng sinh vào cõi Phật mà cõi Phật không tăng. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 9 (Đại 36, 65 hạ), nói: Sinh Phật bất tăng bất giảm, nếu phân biệt, thì nghĩa tuy khác mà tên không khác. Nghĩa là pháp tính đã đồng, thì dù hết thảy chúng sinh cùng thành Phật 1 lượt, cõi chúng sinh cũng không giảm, cõi Phật cũng không tăng; vì cõi chúng sinh và cõi Phật đã đồng là pháp tính, thì không thể dùng pháp tính để tăng thêm pháp tính, ví như hư không phương đông là chúng sinh, hư không phương tây là Phật, không thể đem hư không phương đông thêm vào hư không phương tây, để làm cho đông giảm đi và tây tăng lên, vì thế nên nói là bất tăng bất giảm. (xt. Sinh Phật Nhất Như).
sinh phật giả danh
2063指眾生與佛陀皆為假名,即在俗諦迷情上是假名,在真諦覺悟上則真如平等,無所謂眾生與佛。始終心要注(卍續一○○‧三三二上):「真如界內絕生佛之假名,平等慧中無自他之形相。」
; Những từ ngữ chúng sanh và Phật chỉ là những giả danh tạm thời—The living and the Buddha are but temporary names, borrowed or derived for temporal indication.
; (生佛假名) Chúng sinh và Phật đều là tên giả. Tức đứng về phương diện tục đế mê tình mà nói thì là giả danh, còn đứng về phương diện chân đế giác ngộ mà nói thì là chân như bình đẳng, chẳng có chúng sinh cũng không có Phật. Thủy chung tâm yếu chú (Vạn tục 100, 332 thượng) nói: Trong cõi chân như không hề có giả danh chúng sinh và Phật, trong tuệ bình đẳng, đâucó hình tướng mình và người.
sinh phật nhất như
2062謂眾生本具之理性與諸佛之法身,乃平等無差別。又作迷悟不二、生佛不二、生佛平等、佛凡一體、凡聖一如、凡聖不二。謂眾生與佛,二者非個別之存在,乃相即不二,其間含有煩惱即菩提、生死即涅槃之意。此在天台宗依諸法實相之理,密宗則依六大一實之說,二者所據雖不一,但均不以為由後天實踐所得,乃我人本具之德。不增不減經(大一六‧四六七上):「第一義諦者,即是眾生界;眾生界者,即是如來藏;如來藏者,即是法身。(中略)是故舍利弗!不離眾生界有法身,不離法身有眾生界;眾生界即法身,法身即眾生界。舍利弗!此二法者,義一名異。」大乘止觀法門卷一(大四六‧六四三下):「若就心體平等,即無修與不修、成與不成,亦無覺與不覺,但為明如如佛,故擬對說為覺也。又復若據心體平等,亦無眾生、諸佛與此心體有異,故經偈云:『心、佛及眾生是三無差別。』然復心性緣起法界,法門法爾不壞,故常平等、常差別。常平等,故心、佛及眾生是三無差別;常差別,故流轉五道,說名眾生,反流盡源,說名為佛。」〔諸佛無行經卷下、力莊嚴三昧經卷中、究竟一乘寶性論卷三、卷四、十不二門指要鈔卷下〕
; (生佛一如) Cũng gọi Mê ngộ bất nhị, Sinh Phật bất nhị, Sinh Phật bình đẳng, Phật phàm nhất thể, Phàm thánh bất nhị. Lí tính sẵn có của chúng sinh và pháp thân của chư Phật là bình đẳng không sai khác. Nghĩa là chúng sinh và Phật chẳng phải tồn tại cá biệt, mà là tương tức bất nhị, trong đó có hàm ý phiền não tức bồ đề, sinh tử tức Niết bàn. Tông Thiên thai chủ trương Sinh Phật nhất như là y cứ vào lí thực tướng các pháp; Mật tông thì y cứ vào thuyết Lục đại nhất thực mà chủ trương Sinh Phật nhất như. Chỗ y cứ của 2 tông tuy không giống nhau, nhưng dựa vào lí tính bình đẳng sẵn có của chúng sinh thì lí tính và sự tướng không thể tách rời nhau, sự và lí là một, chỉ có tên khác mà thôi. Kinh Bất tăng bất giảm (Đại 16, 467 thượng) nói: Đệ nhất nghĩa đế tức là chúng sinh, cõi chúng sinh tức là Như lai tạng, Như lai tạng tức là Pháp thân. (...). Bởi thế, Xá lợi phất! Ngoài cõi chúng sinh không có Pháp thân, ngoài Pháp thân không có cõi chúng sinh. Cõi chúng sinh tức Pháp thân, Pháp thân tức cõi chúng sinh. Này Xá lợi phất! Hai pháp đó nghĩa như nhau, chỉ có tên khác nhau mà thôi. Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1 (Đại 46, 643 hạ) nói: Nếu đứng trên lập trường tâm thể bình đẳng mà nói thì chẳng có tu và không tu, thành và không thành, cũng không có giác và bất giác, chỉ vì muốn nêu tỏ Phật như như mà cưỡng nói là giác. Lại nữa, nếu y cứ vào tâm thể bình đẳng mà xem thì cũng không có sai khác giữa Tâm,Phật và chúng sinh, cho nên kinh nói Tâm, Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác. Tuy nhiên, tâm tính duyên khởi thành pháp giới, pháp giới tự nhiên chẳng hoại, vì thế nên thường bình đẳng, thường sai biệt. Thường bình đẳng, nênTâm, Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; thường sai biệt, nên khi xuôi dòng theo 5 đường gọi là chúng sinh, ngược dòng trở về nguồn gọi là Phật. [X. kinh Chư Phật vô hành Q.hạ; kinh Lực trang nghiêm tam muội Q. trung; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.3, 4; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ].
sinh phật nhứt như
Sinh Phật Nhứt Thể—Sinh Phật Bất Nhị—Phàm Thánh Nhứt Như—Chúng sanh và Phật đều như một, là nhất thể, là bất nhị, là không sai khác—The living and the Buddha are one, i.e., all are the one undivided whole, or absolute; they are all of the same substance; all are Buddha, and of the same dharmakaya, or spiritual nature; all are of the same infinity.
sinh phật nhứt thể
All the living and the Buddha are the one undivided whole—See Sinh Phật Nhứt Như.
Sinh Phật 生佛
[ja] ショウブツ shōbutsu ||| Sentient being and Buddha. => Chúng sinh và Phật.
sinh quá tương tự quá loại
2070因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第十三。即於因明對論中,敵者(問難者)對立者(立論者)所舉之正確同喻(由正面來說明論證之同類例喻),加以非難而要求對方再予立證時,其自身所招致之過誤。例如佛弟子立「聲是無常(宗,命題),所作性故(因,理由),譬如瓶等(喻,譬喻)」之論式,聲論師欲破斥之,詢以「瓶之無常有因否」,若佛弟子答有,聲論師則非難之:「聲上之無常不極成故,應以所作之因成立之。然瓶之無常既為雙方共許(共同認可),重以所作之因成之,是即有相符之過。」若佛弟子以「無因」答之,則聲論師即非難言:「聲之上若無所作性,不能顯無常之宗;若不於瓶之上立因,亦不能成彼無常之義,即喻中有所立不成之過。」此種論難,乃對極成共許之喻更求立證,非理附過,稱為生過相似之過失。又此一過誤相當於世親如實論道理難品中之「顯不許義難」。〔因明正理門論、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21))〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
; (生過相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, phần Đồng dụ của người lập luận vốn đã chính xác, nhưng người vấn nạn (địch luận) muốn gây khó nên cưỡng yêu cầu người lập luận viện lí do chứng minh lại để mình có cơ hội phản bác. Nhưng mục đích đã không đạt được mà mình lại tự chuốc lấy lỗi. Lỗi này gọi là Sinh quá tương tự quá loại, là lỗi thứ 13 trong 14 lỗi Tự năng phá do ông Tổ của Cổ nhân minh là ngài Mục túc lập ra. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì có tính cách được tạo ra. Dụ: Như cái bình. Thanh luận sư muốn bác bỏ lập luận trên đây, nên mới hỏi: Tính vô thường có Nhân (lí do) không? Nếu đệ tử Phật đáp là có thì Thanh luận sư sẽ bắt bẻ rằng: Tính vô thường của âm thanh bất cực thành, phải dùng Nhân được tạo ra để thành lập. Nhưng tính vô thường của cái bình đã được cả 2 bên cùng thừa nhận, lại dùng Nhân được tạo ra để thành lập, tức phạm lỗi Tương phù. Nếu đệ tử Phật đáp là Không nhân thì Thanh luận sư bắt bẻ rằng: Về âm thanh nếu không có tính cách tạo ra thì không thể hiển bày được Tông vô thường; về cái bình, nếu không lập Nhân thì cũng không thể thành nghĩa vô thường, tức phạm lỗi Sở lập bất cực thành trong Dụ. Luận nạn trên đây là căn cứ vào điều kiện cực thành và cộng hứa của Dụ để yêu cầu lập chứng, đã phi lí lại mắc lỗi, nên gọi là Sinh quá tương tự quá loại. [X. luận Nhân minh chính lí môn; nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Nhân Minh).
sinh quán
Meditation on birth.
; Birth place—Native place.
Sinh quý trụ 生貴住
[ja] ショウキジュウ shōkijū ||| The fourth of the Ten Abidings (十住) - The "abiding of producing virtues." The stage of dwelling peaceably in the principle of "no-self' where the seed natures are purified. => Giai vị thứ 4 trong Thập trụ. Giai vị an trú trong thể tính 'vô ngã', nơi bản chất của các chủng tử đề thanh tịnh.
sinh sinh
2057指生死、死生,即流轉輪迴之無窮無極。楞嚴經卷三(大一九‧一一七中):「生死、死生,生生死死,如旋火輪,未有休息。
; Birth and rebirth (without end).
; (生生) Chỉ cho sinh tử, tử sinh, lưu chuyển luân hồi vô cùng vô tận. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 117 trung) nói: Sinh tử, tử sinh, sinh sinh tử tử như vòng lửa quay, không có ngưng nghỉ.
sinh sinh thế thế
2058指無窮生死之世。又作世世生生。即重覆生死,歷經無數之生涯。意謂眾生生而死, 死而生,流轉輪迴不已之相。 大乘本生心地觀經卷三(大三‧三○二中):「有情輪迴生六道,猶如車輪無始終,或為父母、為男女,世世生生互有恩。」同經卷六離世間品(大三‧三一八下):「或有菩薩,以妄語業而為恐怖,生生世世所有言說,一切眾生不信受故。」〔淨土論卷下(迦才)、金石萃編卷十、青州舍利塔下銘〕
; (生生世世) Cũng gọi Thế thế sinh sinh. Kiếp kiếp đời đời. Chỉ cho sự sống chết ở đời không bao giờ cùng tận. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3 (Đại 3, 302 trung) nói: Loài hữu tình sống chết vòng quanh trong 6 sđường, giống như bánh xe quay tròn không đầu cuối; hoặc làm cha mẹ hoặc làm con cái, đời đời kiếp kiếp mang ơn lẫn nhau. Cùng kinh đã dẫn quyển 6 phẩm Li thế gian (Đại 3, 318 hạ) nói: Hoặc có Bồ tát vì nghiệp nói dối mà bị khủng bố, đời đời kiếp có nói điều gì, tất cả chúng sinh đều không tin nữa. [X. luận Tịnh độ Q.hạ (Ca tài); Kim thạch tụy biên Q.10; Thanh châu xá lợi tháp hạ minh].
Sinh sinh thế thế 生生世世
[ja] ショウショウセゼ shoushouseze ||| Continous life, death and rebirth through numberless eons of time. => Đời sống tương tục, sống chết qua vô số đời kiếp.
sinh sinh tướng
2058指令「生相」生起之法。為法之一種。與住住、異異、滅滅等三相並為「四相」之隨相或小相。與四相中之「生相」相對。四相,指生、住、異、滅,乃一切有為法所具有之四種相,又稱本相、大相;相對於此,生生、住住、異異、滅滅等則稱隨相、小相。(參閱「四相」1732 、「法」3336)
; (生生相) Chỉ cho pháp làm cho Tướng sinh sinh khởi, cùng với 3 tướng Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, đều là Tùy tướng hoặc Tiểu tướng của 4 tướng, đối lại với tướng sinh trong 4 tướng. Bốn tướng là: Sinh, Trụ, Dị, Diệt, cũng gọi là Bản tướng, Đại tướng, là 4 loại tướng của tất cả pháp hữu vi. Đối lại với 4 tướng này là 4 tướng: Sinh sinh, Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, gọi là Tùy tướng, Tiểu tướng. (xt. Tứ Tướng, Pháp).
sinh sinh điểu
Jivajiva (skt)—See Cộng Mệnh Điểu and Mệnh Quang Điểu.
sinh sát
Life and death.
sinh sôi nẩy nở
To multiply—To reproduce.
sinh sắc
Jàta-rùpa. Gold.
sinh sớ
2068禪林用語。指未熟與疏荒。即進退不如法,舉動粗野。敕修百丈清規卷四兩序進退之夾注(大四八‧一一三四中):「某等乍入叢林,諸事生疎(疏),過蒙使令,下情不勝恐懼之至。」〔禪林象器箋卷十五〕
; (生疏) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người chưa quen, còn bỡ ngỡ, tức tới lui không đúng phép, cử chỉ ngượng ngạo, quê kệch. Phần chú thích về Lưỡng tự tiến thoái trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1134 trung) nói: Những người mới vào tùng lâm, đối với mọi việc hãy còn bỡ ngỡ (sinh sơ), dù được chỉ dẫn nhưng lòng dạ vẫn còn lo âu khôn xiết.[X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.15].
sinh thiên
2056生於天界之意。生天之思想,非佛教所獨有,原係古印度普遍之信仰,後為佛教所沿用。於印度哲學諸派中,「彌曼差派」以為行祭祀後可得一種新的能力;此能力若屬於善,則由其力量能於未來世生天(梵 abhyudaya),享受至樂,解脫輪迴。abhyudaya,有上升、成功、繁榮等義。勝論派將其學說與實踐歸納為「法」(梵 Dharma),法又分生天及最上善(梵 niḥśreyasa)二方面,以生天乃吠陀的「權證」之結果,最上善則為研究六句義哲學之「知」,以得解脫之結果。蓋該派雖亦行吠陀之祭祀,但認為吠陀之權證惟在生天之果報,而此果報仍未能脫出輪迴,故應研究六句義哲學及實修,才能得真解脫。 於佛教而言,天乃六道之一,故仍難免於輪迴。有關因善業而生天之說,散見於諸經典。阿含經中即載有諸多生天之因,如禮敬佛蹟、父母、六方等,修習梵行、善行、持戒等,供養沙門衣食等。此外,般若經、金光明經、楞伽經等,皆有生天之說。〔長阿含經卷四、撰集百緣經卷六、法華經卷三、大乘入楞伽經卷二、大品般若經卷一〕(參閱「天」1330)
; The heavens where those living in this world can be reborn, i.e. from that the Tứ thiên vương to the Phi tưởng thiên.
; See Sanh Thiên.
; (生天) Sinh lên cõi trời. Tư tưởng sinh thiên vốn không phải của Phậtgiáomà là tín ngưỡng phổ biến của người Ấn độ đời xưa, sau được du nhập Phật giáo. Trong các phái triết học ở Ấn độ, phái Di mạn sai chủ trương sau khi tế lễ sẽ được 1thứnăng lực mới, nếu là thiện thì nhờ năng lực ấy đời sau được sinh thiên (Phạn: Abhyudaya), hưởng thụ các thú vui cùng tột, thoát khỏi vòng luân hồi. Abhyudaya có nghĩa là đi lên, thành công, phồn vinh... Phái Thắng luận qui nạp học thuyết của họ với thực tiễn là pháp (Phạn: Dharma), pháp lại được chia ra 2 phương diện: Sinh thiên và Tối thượng thiện (Phạn: Ni#zreyasa), Sinh thiên là kết quả quyền chứng của Phệ đà: Tối thượng thiện là cái tri (biết) do nghiên cứu triết học 6 cú nghĩa mà được kết quả giải thoát. Bởi vì phái này tuy cũng thực hành tế lễ Phệ đà, nhưng cho rằng quyền chứng Phệ đà chỉ là quả báo sinh thiên, nhưng quả báo này vẫn chưa thoát khỏi luân hồi, cho nên cần phải nghiên cứu triết học 6 cú nghĩa mới có thể đạt được giải thoát chân thật. Nói theo quan điểm của Phật giáo thì Thiên là 1 trong 6 đường, vì thế khó thoát khỏi luân hồi. Trong các kinh điển nói nhiều về thiện nghiệp sinh thiên, như kinh A hàm nói nhờ lễ kính Phật tích, cha mẹ, sáu phương, tu tập phạm hạnh, hành thiện, trì giới... mà được sinh thiên. Ngoài ra, kinh Bát nhã, kinh Kim quang minh, kinh Lăng già... đều có thuyết Sinh thiên. [X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Soạn tập bách duyên Q.6; kinh Pháp hoa Q.3; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; kinh Đại phẩm bát nhã Q.1]. (xt. Thiên).
sinh thiên nhân
2056指生於天界之因業。釋氏要覽卷中引業報差別經(大五四‧二九一上):「具修增上十善,得生欲界散地天;若修有漏十善,以定相應,生色界天;若離色修,遠離身、口,以定相應,生無色界。」又引正法念處經(大五四‧二九一中):「因持戒不殺、不盜、不婬,由此三善得生天。」
; (生天因) Chỉ cho nghiệp nhân sinh lên cõi trời. Thích thị yếu lãm quyển trung dẫn lời kinh Nghiệp báo sai biệt (Đại 54, 291 thượng) nói: Tu đủ 10 điều thiện tăng thượng được sinh lên tầng trời Tán địa của cõi Dục; nếu tu 10 điều thiện hữu lậu, nhờ tương ứng với định, được sinh lên trời cõi Sắc; nếu tu lìa sắc, xa lìa thân, khẩu, nhờ tương ứng với định, được sinh lên cõi Vô sắc. Ngoài ra, sách đã dẫn còn trích lời kinh Chính pháp niệm xứ (Đại 54, 291 trung) nói: Nhân giữ các giới không giết hại, không trộm cắp, không dâm dục, nhờ 3 việc thiện này mà được sinh thiên.
sinh thiện tất đàn
2068悉檀,梵語 siddhānta,意譯作成就、宗、理。又作為人悉檀、各各為人悉檀。四悉檀之一。即隨眾生之根機而說法,以增長其善根。(參閱「四悉檀」1758)
; (生善悉檀) Phạn: Siddhànta. Hán dịch: Thành tựu, Tông, Lí. Cũng gọi Vị nhân tất đàn, Các các vị nhân tất đàn. Tức tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp, khiến cho thiện căn của họ tăng trưởng, 1 trong 4 tất đàn. (xt. Tứ Tất Đàn).
sinh thành
To give birth and to raise.
sinh thân
2063二身之一。即託於父母所生而具足三十二相之佛身。與「法身」相對。又作生身佛、父母生身、肉身、隨世間身。又以神通之力一時化現之肉身,亦稱生身;大乘佛教謂方便應化之化身為生身佛,例如生身之彌陀、生身之觀音、生身之普賢、生身之彌勒等。一般生身亦可泛指凡夫及菩薩之肉身。〔中阿含卷五十八法樂比丘尼經、北本大般涅槃經卷三十四、佛地經論卷七、大智度論卷九、卷二十九〕(參閱「二身」199)
; The physical body; also that of a Buddha in contrast with his dharmakàya; also a bodhisattva's body when born into the mortal form.
; Buddha's earthly body.
; (生身) Đối lại: Pháp thân. Chỉ cho thân Phật đầu thai nơi cha mẹ mà sinh ra, có đầy đủ 32 tướng. Và nhục thân do sức thần thông nhất thời hóa hiện ra, cũng gọi là Sinh thân. Phật giáo Đại thừa cho rằng hóa thân phương tiện là Sinh thân Phật, như Di Đà, Quán Âm, Phổ Hiền, Di Lặc... đều là Sinh thân Phật. Thông thường, sinh thân cũng có thể được chỉ chung cho nhục thân của phàm phu và Bồ tát. [X. kinh Pháp lạc tỉ khưu ni trong Trung a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); Phật địa kinh luận Q.7; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Nhị Thân).
; (生身) Cũng gọi Sinh thân Phật, Phụ mẫu sinh thân, Nhục thân, Tùy thế gian thân.
sinh thân cung
2063即舉行供養釋尊肉身舍利之法會。於密教,對佛陀或祖師先德,作生身之觀想而供養,亦稱為生身供。(參閱「生身」2063)
; (生身供) Pháp hội được cử hành để cúng dường xá lợi nhục thân của đức Thế tôn. Trong Mật giáo, đối với đức Phật hoặc Tổ sư tiên đức quán tưởng sinh thân mà cúng dường, cũng gọi là Sinh thân cúng. (xt. Sinh Thân).
sinh thân cúng
The worship paid to Buddha-relics.
sinh thân xá lợi
Buddha-relics.
sinh thú
2071指四生六趣。四生,即卵、胎、溼、化;六趣,即天、人、鬼、畜、地獄、阿修羅。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八五五上):「由昔背正從邪,流蕩生趣。」
; (生趣) Chỉ cho Tứ sinh và Lục thú. Tứ sinh là noãn (đẻ từ trứng ra), thai (đẻ từ bào thai), thấp (đẻ nơi ẩm ướt)và hóa(tự nhiên sinh ra).Lục thú (6 nẻo) là trời, người, quỉ, súc, địa ngục và A tu la. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng) nói: Do kiếp trước bỏ chính theo tà, nên phải trôi nổi trong sinh thú.
Sinh thượng 生上
[ja] ショウジョウ shōjō ||| To be reborn into a higher level of existence. 〔二障義HPC 1.795b23〕 => Tái sinh trong một cảnh giới cao hơn.
sinh thời
While alive.
sinh trái
To begin to fruit.
Sinh trú dị diệt 生住異滅
[ja] ショウジュウイメツ shōjūimetsu ||| The arising, abiding, changing and extinction of all existences. Also called the four aspects (四相) of arising, abiding...etc. Also called 'four characteristics', 'four conditioned aspects.' For the Sarvāstivādins 有部, these aspects of arising, abiding, changing and ceasing are said to be the nature of real existence. For the Sautrāntikas 經量部 and so forth, these are not considered to be real, but four provisionally established characteristics. Yogācāra theory 瑜伽行派 is also opposed to the Sarvāstivādin interpretation. => Sự sinh ra, tồn tại, biến chuyển và hoại diệt của mọi hiện tượng. Còn gọi là Bốn tướng. Đối với Hữu bộ, Sinh trú dị diệt được xem là bản chất thật sự của mọi hiện hữu. Đối với Kinh lượng bộ (Sautrāntikas 經量部) v.v..., thì những yếu tố nầy không được xem là thực có, mà chỉ là các tướng giả lập. Giáo lý của Du-già hành phái cũng không đồng ý với kiến giải của phái Hữu bộ.
sinh trưởng
To be born and grow up.
sinh trưởng chi gia
2065為日本新興宗教之一。教祖谷口雅春(1893~ )原信奉大本教,曾任大本教雜誌「神靈界」編輯。於一九二九年創刊「生長之家」雜誌,後改名為「生命的實相」。以吸收佛教、神道教、基督教及西方資產階級哲學思想而建立教義,創立教派。第二次世界大戰期間,本教派轉而以國家神道解釋教義,認為一切宗教皆從天皇發源,宣稱日本皇軍為天皇創造宇宙之股肱,當永遠存在;遵照天照大神之旨意,日本應統治全世界。戰後,又吸收美國之「心身醫學」,而於教義上有所修改。並於一九六四年成立政治團體,稱為生長之家政治聯合會。
sinh trụ dị diệt
Birth, stay, change (or decay), death.
; Bốn tướng sanh già bệnh chết của pháp hữu vi—Birth, stay, change (decay), death.
sinh tân
2066津,指渡口;生津指生死之河津。南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○五下):「依行則俱昇彼岸,棄背則並溺生津。」
; (生津) Bến sông sinh tử. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 hạ) nói: Nương theo đó mà tu hành thì đều được lên bờ kia, ngược lại thì sẽ bị chìm đắm nơi bến sinh tử (sinh tân).
sinh tân, bến sông
The ford of life, or mortality.
sinh tô kinh
2072指天台宗所立五時教中方等時之諸經。智顗將佛教諸經典之內容加以分類、解釋,從釋尊說法之順序分為華嚴、鹿苑、方等、般若、法華涅槃等五時,而以乳、酪、生酥、熟酥、醍醐等五味配之。此生蘇經即指方等時之經典,例如維摩、思益、金光明、勝鬘等大乘經典皆屬之。法華玄義卷二上(大三三‧六九二下):「生蘇經(中略)則三麤一妙。」
; (生蘇經) Chỉ cho các kinh của thời Phương đẳng trong 5 thời giáo do tông Thiên thai thành lập. Ngài Trí Khải theo thứ tự thuyết pháp của đức Phật mà chia loại, giải thích nội dung các kinh điển Phật giáo làm 5 thời: Hoa Nghiêm, Lộc Uyển, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn và phối hợp 5 thời này với 5 vị: Sữa, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ. Kinh Sinh tô chỉ cho các kinh điển thuộc thời Phương đẳng như các kinh Đại thừa: Duy ma, Tư ích, Kim quang minh, Thắng man... Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng (Đại 33, 692 hạ) nói: Sinh tô kinh (...) thì 3 thô 1 diệu.
sinh tô sát nhân
2068天台宗智顗將釋尊一生說法之順序分為華嚴、鹿苑、方等、般若、法華涅槃等五時,而分別以乳、酪、生酥、熟酥、醍醐等五味配之,生酥味即配於方等時。以生酥比喻方等大乘教,蓋謂於過去曾聽聞佛法,故比喻為中毒;今值遇釋尊說教,昔日所聽聞之佛法遂產生作用,猶如毒發,致人於死。與「生酥毒發」同義。法華經玄義卷十上(大三三‧八○六中):「置毒乳中,乳即殺人,酪、蘇、醍醐亦能殺人。此謂過去佛所,嘗聞大乘實相之教,譬之以毒,今值釋迦聲教,其毒即發結惑人死。(中略)生蘇中殺人者,有諸菩薩於方等大乘教得見佛性,住大涅槃,即其義也。」
; (生酥殺人) Ngài Trí khải tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn và phối hợp 5 thời này với 5 vị: Sữa, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ. Trong đó, vị sinh tô phối hợp với thời Phương đẳng, tức sinh tô được ví dụ như giáo pháp Phương đẳng Đại thừa. Nghĩa là trong các kiếp quá khứ đã từng được nghe giáo nghĩa Đại thừa, ví như bị trúng độc; nay lại được nghe những giáo pháp Phật đã nói ngày trước mà tỉnh ngộ, ví dụ chất độc phát sinh tác dụng, đến nỗi chết người. Tức là các vị Bồ tát của thời Phương đẳng, nghe giáo pháp Đại thừa mà thấy được tính Phật, tất cả phiền não kết hoặc trong vô lượng kiếp bỗng nhiên dứt hết, vào Đại niết bàn, như người chết đi vừa sống lại (đại tử nhất phiên).
sinh tôn quý gia nguyện
2068指阿彌陀佛四十八願中之第四十三願。即聞彌陀名號之行者,壽終後得生於尊貴之家。無量壽經卷上(大一二‧二六九上):「設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,壽終之後生尊貴家;若不爾者,不取正覺。」
; (生尊貴家願) Nguyện được sinh vào nhà tôn quí. Chỉ cho nguyện thứ 43 trong 48 điều nguyện của đức PhậtA di đà. Tức hành giả niệm danh hiệu Phật A di đà, sau khi mệnh chung được sinh vào nhà tôn quí. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu tôi được thành Phật, chúng Bồ tát ở các cõi nước phương khác, nghe danh hiệu của tôi, sau khi mệnh chung sẽ được sinh vào nhà tôn quí. Nếu không như thế thì tôi không lên ngôi Chính giác.
sinh tĩnh lự
2072靜慮,梵語 dhyāna,巴利語 jhāna,音譯禪、禪那; 即統一精神,靜坐念慮,指色界定之四禪定。生靜慮,指依定靜慮之因而生色界天之靜慮地。為「定靜慮」之對稱。(參閱「四禪」1843)
; (生靜慮) Tĩnh lự, Phạm : Dhyàna. Pàli: Jhàna. Hán âm: Thiền, Thiền na. Đối lại: Định tĩnh lự. Chỉ cho thiền định thứ 4 trong 4 thiền định của cõi Sắc. Sinh tĩnh lự do nương vào Định tĩnh lự mà sinh vào Tĩnh lự địa của cõi Sắc. (xt. Tứ Thiền).
sinh tướng
2066梵語 jāti,巴利語同。指令未起之有為法由未來流入現在之勝因。 亦即未來可生法的能生之因。略稱生。四相之一,俱舍七十五法之一,唯識百法之一。此有為法之生相別無實法,僅依因緣力而生,以「本無今有」之有,而假名為生相。又就有情之一期相續而言,有情之始生於現在世,即稱為生相。〔大毘婆沙論卷三十九、俱舍論卷五、成唯識論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷二〕(參閱「四相」1732)
; (生相) Phạn: Pàli: Jàti. Gọi tắt: Sinh. Chỉ cho nhân thù thắng làm cho pháp hữu vi chuyển từ vị lai vào hiện tại, cũng chính là nhân năng sinh sinh ra pháp ở vị lai, là 1 trong 4 tướng, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Đây là sinh tướng của pháp hữu vi, chẳng phải thực pháp, chỉ nương nơi nhân duyên mà sinh ra, vì trước không mà nay có nên giả gọi là Sinh tướng. Lại nói theo sự tương tục trong 1 kì của loài hữu tình thì lúc hữu tình mới sinh ra ở đời hiện tại, tức gọi là Sinh tướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.39; luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tứ Tướng).
sinh tượng
2071指金與銀。生,梵語 jāta-rūpa,巴利語同,又作生色,謂本來之色,即金之意;像,梵語 rūpya,巴利語 rūpiya,又作似色,似生色之色,即銀之意。二者合稱為生像,又作生色似色,或生色可染。在律宗,禁止出家者手取生像(金銀)。沙彌十戒法并威儀(大二四‧九二六中):「盡形壽不捉持生像金銀寶物,持沙彌戒。」四分律行事鈔資持記卷下四(大四○‧四二一上):「生色即金,天生黃故;似色即銀,可塗染故。」〔大般若經卷三八○、摩訶僧祇律卷十、四分律卷七、卷三十四、翻譯名義集卷三〕
; (生像) Vàng và bạc. Sinh (Phạm,Pàli:Jàta-rùpa, cũng gọi: Sinh sắc) nghĩa là màu sắc xưa nay vốn như vậy, tức hàm ý là vàng. Tượng (Phạn: Rùpya, Pàli: Rùpiya, cũng gọi Tự sắc, Tự sinh sắc), nghĩa là màu sắc gần giống như sinh, tức hàm ý là bạc. Hợp chung cả 2 lại gọi là Sinh tượng, cũng gọi Sinh sắc tự sắc.Sa di thập giới pháp tinh uy nghi (Đại 24, 926 trung) nói: Giữ giới Sa di, suốt đời không cầm giữ sinh tượng(vàng bạc) vật báu.Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 4 (Đại 40, 421 thượng) nói: Sinh sắc tức là vàng, màu của nó vốn sinh ra đã vàng; Tự sắc tức là bạc, vì màu của nó có thể nhuộm được. [X. kinh Đại bát nhã Q.380; luật Ma ha tăng kì Q.10; luật Tứ phần Q.7, 34; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].
sinh tượng sinh tự
Tự nhiên và tương tự với tự nhiên, như vàng và bạc—Natural and similar, i.e. gold and silver. 1) Sinh Tượng: Vàng là loại kim khí thiên nhiên và toàn hảo từ phẩm chất lẫn màu sắc—The proper natural or unchanging (colour)—Gold being the natural and perfect metal and colour. 2) Sinh Tự: Bạc được sắp hạng kế vàng, dù có thể bị mờ nhạt đi—The tarnishable or changing (colour)—Silver being next, though it will tarnish.
sinh tượng, sinh tợ
Natural and similar, i.e. gold and silver, gold being the natural and perfect metal and colour; silver being next, though it will tarnish; the two are also called sinh sắc and khả nhiễm, i.e. the proper natural (unchanging) colour, and the tarnishable.
sinh tệ
To become bad.
sinh tịnh độ bát pháp
2067指得生淨土之八法。即維摩居士應答眾香國菩薩之請問,謂於此土成就八法而得生淨土。八法即:(一)饒益眾生不望回報,代一切眾生受諸苦惱,所作功德盡以施之。(二)以平等心待一切眾生,謙下無礙。(三)於諸菩薩視之如佛。(四)於所未聞之經文聞之不疑。(五)與聲聞不相違背。(六)不嫉他供,不高己利,而於其中調伏其心。(七)常省己過,不訟他短。(八)恆以一心求諸功德。〔維摩經香積品〕
; Eight methods, or ways to be reborn in the Pure Land.
; (生淨土八法) Tám pháp làm nhân sinh về Tịnh độ. Theo phẩm Hương tích trong kinh Duy ma cật quyển hạ, cư sĩ Duy ma cật trả lời câu hỏi của các vị Bồ tát từ nước Chúng hương rằng: Ở cõi này thành tựu 8 pháp thì sẽ được sinh về Tịnh độ. Tám pháp ấy là: 1. Làm lợi ích cho chúng sinh mà không mongđượcbáo đáp, chịu mọi khổ não thay cho tất cả chúng sinh. 2. Đem tâm bình đẳng đối đãi với hết thảy chúng sinh, nhún nhường không ngại. 3. Coi các Bồ tát như Phật. 4. Nghe những kinh chưa được nghe bao giờ mà không sinh tâm nghi ngờ. 5. Không chống trái với hàng Thanh văn. 6. Không ghen ghét lợi lộc của người khác, không khoe khoang lợi lộc của mình. 7. Thường tự xét lỗi mình, không nói khuyết điểm người khác. 8. Luôn luôn dốc lòng cầu các công đức.[X. phẩm Hương tích kinh Duy ma cật sở thuyết].
sinh tồn
Bhava (S). Process of existence, process of becoming.
; To survive—To subsist—To exist.
sinh tức vô sinh
2065指生與無生不二。乃諸部般若之所說,而為三論宗之極意。在三論宗二諦八不中道中,俗諦所說之「生」,真諦每視為「無生」。俗諦之「生」並非實生,而為因緣和合之假生,其實為「無生」。故依無生而生者,即「生即無生」;反之,真諦之無生乃依俗諦之假生而立,故同於俗諦之假生。既知真諦之無生為假無生,故依生而無生者,即「無生即生」。另於淨土門中之淨土往生,亦可依「生即無生」之意而通釋之;即往生極樂並非三有(欲有、色有、無色有)虛妄的俗諦之生,而係依真諦之義,證得無生之生。〔往生論註卷下、淨土真要鈔卷末〕
; Birth is non-birth.
; (生即無生) Sinh chính là vô sinh, không hai không khác. Đây là giáolí được nói trong các bộ Bát nhã và cũng là ý nghĩa tột cùng của tông Tam luận. Trong Nhị đế bát bất trung đạo của tông Tam luận, Sinh của Tục đế thì Chân đế coi là Vô sinh. Bởi vì Sinh của Tục đế chẳng phải thực sinh mà là giả sinh của nhân duyên hòa hợp, cho nên là vô sinh. Bởi vậy, nương vào cái vô sinh mà sinh thì chính là sinh tức vô sinh. Ngược lại, vô sinh của Chân đế là dựa vào giả sinh của Tục đế mà lập, cho nên giống với giả sinh của Tục đế. Đã biết vô sinh của Chân đế là giả vô sinh, cho nên cái nương vào sinh mà vô sinh thì chính là Vô sinh tức sinh. Ngoài ra, sự vãng sinh Tịnh độ trong Tịnh độ giáo cũng có thể giải thích theo ý nghĩa sinh tức vô sinh; nghĩa là vãng sinh Cực lạc chẳng phải sinh nơi tục đế hư vọng của 3 cõi (Dục,Sắc, Vô sắc), mà là theo ý nghĩa của Chân đế chứng được sinh của vô sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Tịnh độ chân yếu sao Q.cuối].
sinh tức vô sinh, vô sinh tức sinh
To be born is not to be born, not to be born is to be born - an instance of the identity of contraries. It is an accepted doctrine of the Bát nhã prajnà teaching and the ultimate doctrine of the Tam luận tông Màdhyamika school. Birth, creation, life each is but a giả temporary term, in common statement tục đế it is called birth, in truth chân đế it is not birth, in the relative it is birth, in the absolute non-birth.
; Sanh tứ là không sanh, không sanh tức là sanh. Đây là thuyết của các kinh Bát Nhã và là tuyệt ý của Tam Luận tông. Sanh chỉ là một từ ngữ giả tạm. Tục Đế gọi là “sanh,” nhưng Chân Đế lại là “vô sanh,” tương đối là “sanh” trong khi tuyệt đối là “vô sanh.”—To be born is not to be born, not to be born is to be born—It is an accepted doctrine of the Prajna teaching and the ultimate doctrine of the Madhyamika school. Birth, creation, life, each is but a temporary term, in common statement it is called birth, in truth it is not birth; in the relative it is birth, in the absolute non-birth.
Sinh tử
生死|Luân hồi, Vòng sinh tử
sinh tử
2059梵語 saṃsāra,或 jāti-maraṇa。音譯作繕摩末剌諵、闍提末剌諵。又作輪迴。謂依業因而於天、人、阿修羅、餓鬼、畜生、地獄等六道迷界中生死相續、永無窮盡之意。與「涅槃(菩提)」相對稱。又生死無盡,以海為喻,故稱為生死海。生死乃苦惱之世界,故亦稱生死苦海;渡越生死苦海,而到達涅槃之彼岸,此事極為困難,故又稱難渡海。以性質區別之,生死之類別如下: (一)成唯識論卷八所舉之二種生死:(1)分段生死,以有漏之善惡業為因、煩惱障為緣,將受三界內之粗報;其果報對於壽命之長短、肉體之大小等有一定限制,故稱為分段身。受此分段身而輪迴者,稱為分段生死。(2)變易生死,又稱不思議變易生死。阿羅漢、辟支佛、大力菩薩等雖不受分段生死之輪迴,但以無漏之有分別業為因、所知障為緣,於界外(即三界以外)受殊勝微妙果報之身,即受意生身,再以此身來三界內修菩薩行,以至成佛果。其所受之身,因悲願力之故,壽命、肉體皆可自由變化改易,而無一定之限制,故稱為變易身。受變易身者,稱為變易生死。 (二)四種生死:顯識論謂,分段生死依於欲界、色界、無色界等三界而有三種之別,以此三種再加上界外之變易生死,即成為四種生死。佛性論卷二、粱譯攝大乘論釋卷十等,將變易生死復分為方便、因緣、有有、無有等四種生死,又稱四怨障。勝鬘寶窟卷中末亦立有四種生死之名,即:流來生死、分段生死、中間生死、變易生死。 (三)七種生死:據顯識論、摩訶止觀卷七上之說,分段生死依於三界而有三種之別,以此三種再加上上記四種變易生死,總計為七種生死。另據止觀輔行傳弘決卷七之一、大明三藏法數卷三十之說,七種生死指:(1)分段生死。(2)流入生死,又作流來生死,謂迷於真如之理,流入生死迷界之最初一剎那。(3)反出生死,謂因發心而從生死反出之最初一剎那。(4)方便生死,謂二乘之人斷盡見、思二惑,超出三界,出生於方便等土;就其斷惑證果之時,「因移果易」而論為生死。(5)因緣生死,謂初地以上之菩薩以無漏業為因、無明為緣,而示現生死。(6)有後生死,又作有有生死,謂十地菩薩殘餘最後一品無明未斷,故尚須受一次生死。(7)無後生死,又作無有生死,謂等覺菩薩斷盡最後一品無明,究竟永盡,不受後有。〔雜阿含經卷六、卷十三、那先比丘經卷上、大乘義章卷十八、宗鏡錄卷七十三〕(參閱「七種生死」115、「四種生死」1799)
; Samsàra (S). Birth and death; rebirth and redeath; life and death.
; See Sinh Sát, Sanh Tử, and Thập Nhị Chủng Sanh Tử.
; (生死) Phạn: Saôsàra, hoặc Jàti-maraịa. Hán âm: Thiện ma mạt lạt nam, Xà đề mạt lạt nam. Cũng gọi Luân hồi. Đối lại: Niết bàn.Theo nghiệp nhân sống và chết nối nhau trong 6 đường cõi mê: Trời, người, a tu la, ngã quỉ, súc sinh, địa ngục, mãi mãi không bao giờ cùng tận. Tùy theo tính chất, sinh tử được chia loại như sau: 1. Hai thứ sinh tử: Luận Thành duy thức nêu 2 thứ sinh tử: a) Phần đoạn sinh tử: Lấy nghiệp thiện ác hữu lậu làm nhân, phiền não chướng làm duyên, sẽ chịu quả báo thô trọng trong 3 cõi, do sự dài ngắn của thọ mệnh, tướng lớn nhỏ của thân thể mà quả báo có sự hạn chế nhất định, cho nên gọi là Phần đoạn thân. Nhận Phần đoạn thân này mà luân hồi gọi là Phần đoạn sinh tử. b) Biến dịch sinh tử (cũng gọi Bất tư nghị biến dịch sinh tử): Các bậc A la hán, Bích chi phật, Đại lực bồ tát... tuy không chịu Phần đoạn sinh tử, nhưng vì có nghiệp phân biệt vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên, ở ngoài 3 cõi thụ thân thù thắng vi diệu, tức thụ thân Ý sinh, rồi dùng thân này trở lại trong 3 cõi tu hạnh Bồ tát, cho đến thành quả Phật. Vì sức bi nguyện mà thụ thân này nên thọ mệnh, nhục thân đều có thể biến hóa thay đổi một cách tự do chứ không bị hạn chế nhất định, cho nên gọi là Biến dịch thân. Thụ thân biến dịch gọi là Biến dịch sinh tử. 2. Bốn thứ sinh tử: Luận Hiển thức cho rằng Phần đoạn sinh tử nương nơi 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà có 3 thứ sinh tử, nếu lại thêm Biến dịch sinh tử ở ngoài 3 cõi thì thành 4 thứ sinh tử. Luận Phật tính quyển 2 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 10 (bản dịch đời Lương) lại chia Biến dịch sinh tử làm 4 thứ sinh tử: Phương tiện, Nhân duyên, Hữu hữu và Vô hữu (cũng gọi là 4 oán chướng). Thắng man bảo quật quyển trung, phần cuối, cũng lập 4 thứ sinh tử là Lưu lai sinh tử, Phần đoạn sinh tử, Trung gian sinh tử và Biến dịch sinh tử. 3. Bảy thứ sinh tử: Cứ theo luận Hiển thức và Ma ha chỉ quán quyển 7 thượng thì vì Phần đoạn sinh tử nương nơi 3 cõi mà có 3 thứ khác nhau, 3 thứ này lại thêm vào 4 thứ Biến dịch sinh tử nói trên, thành là 7 thứ sinh tử. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1 vàĐại minh tam tạng pháp số quyển 30 thì 7 thứ sinh tử là:a) Phần đoạn sinh tử. b)Lưu nhập sinh tử(cũng gọi Lưu lai sinh tử): Ở sát na đầu tiên, vì mê lí chân như mà bị trôi vào cõi mê sinh tử. c)Phản xuất sinh tử: Ở sát na đầu tiên, nhờ phát tâm mà từ trong sinh tử trở ra. d) Phương tiện sinh tử: HàngNhị thừa dứt hếtKiến hoặc và Tư hoặc, vượt ra 3 cõi, sinh vào các cõi nước phương tiện. Trong lúc đoạn hoặc chứng quả, vì nhân dời quả đổi nên nói là sinh tử. e) Nhân duyên sinh tử: Hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên, lấy nghiệp vô lậu làm nhân, vô minh làm duyên mà thị hiện sinh tử. f) Hữu hậu sinh tử(cũng gọi Hữu tình sinh tử): Hàng Bồ tát Thập địa còn lại 1 phẩm vô minh sau cùng chưa dứt, cho nên phải chịu 1 lần sinh tử. g) Vô hậu sinh tử (cũng gọi vô hữu sinh tử): Bồ tát Đẳng giác dứt sạch 1 phẩm vô minh cuối cùng, rốt ráo không còn thụ thân sau. [X. kinh Tạp a hàm Q.6, 13; kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.18; Tông kính lục Q.73]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử, Tứ Chủng Sinh Tử).
sinh tử chi tế
Giữa cái sống và cái chết—Between life and death.
sinh tử dã
2061野,指地域、場所。謂生死廣漠無際,故以野譬喻之。摩訶止觀卷五上(大四六‧四九上):「此牢強足,越生死野。」
; The wildness of the mortal life.
; (生死野) Cánh đồng sinh tử, ví dụ sự sống chết rộng lớn, bát ngát, bao la. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 49 thượng) nói: Đôi chân cứng chắc này sẽ vượt qua cánh đồng sinh tử.
sinh tử giải thoát
2062謂出離生死之束縛而入於涅槃之境地。巨力長者所問大乘經卷上(大一四‧八三○下):「各隨眾生根器大小,愛樂修學,遠離生死,解脫安樂。」
; Release from the bonds of births-and-deaths, nirv...na.
; (生死解脫) Cởi bỏ được sự trói buộc của sinh tử mà vào cảnh giới Niết bàn. Kinh Cự lực trưởng giả sở vấn đại thừa quyển thượng (Đại 14, 830 hạ) nói: Tùy theo căn khí lớn nhỏ của mỗi chúng sinh, ưa muốn tu học, xa lìa sinh tử, giải thoát yên vui.
sinh tử hải
2061謂眾生沈淪於生死迷界而輪迴無窮,猶如大海之無邊際,故稱為生死海。佛所行讚卷三(大四‧二二中):「當乘智慧舟,超度生死海。」大般涅槃經義記卷四(大三七‧七一五中):「如來得涅槃船,周旋往返,濟度眾生,故能於彼生死海中得作船師。」〔摩訶止觀卷一上〕
; The ocean of mortality, mortal life, luân hồi samsàra, or transmigration.
; (生死海) Biển sống chết. Chúng sinh chìm đắm trong cõi mê sinh tử, quay vòng không cùng, giống như biển cả mông mênh không bờ bến, nên gọi là Sinh tử hải. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 22 trung) nói: Nên dong thuyền trí tuệ, vượt qua biển sinh tử. Đại bát niết bànkinhnghĩa kí quyển 4 (Đại 37, 715 trung) nói: Như lai được thuyền Niết bàn, qua lại khắp nơi cứu vớt chúng sinh, cho nên có khả năng làm bậc thuyền trưởng trong biển cả sinh tử. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng].
sinh tử lao quan
2060禪林用語。指生死輪迴之牢關。禪關策進之衢州傑峰愚禪師示五臺善講主(大四八‧一一○三中):「要明己躬大事,透脫生死牢關,先須截斷一切聖凡虛妄見解。」
; (生死牢關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cửa ải sinh tử luân hồi đóng chặt, khó vượt qua. Cù châu Kiệt phong Ngu thiền sư thị Ngũ đài thiện giảng chủ Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1103 trung) nói: Phải rõ đại sự của mình, muốn thấu thoát cửa ải sống chết thì trước hết phải cắt đứt tất cả kiến giải hư vọng thánh phàm.
sinh tử luân
2062梵語 bhava-cakra。<一>謂三界六道之生死,猶如載人運轉之車輪。大智度論卷五(大二五‧一○○上):「生死輪載人,諸煩惱結使,大力自在轉,無人能禁止。」 <二>指顯示眾生輪迴生死之圖像。又稱五道輪、十二緣起圖、五趣生死輪。有部毘奈耶卷三十四(大二三‧八一一上):「我今敕諸苾芻,於寺門屋下畫生死輪。」印度阿旃多(Ajanta)第十七號窟殿中,現存有生死輪之古圖。我國亦風行畫此種圖像,據法苑珠林卷二十三所載宋代王叔達事蹟中謂(大五三‧四五九中):「又見一車輪,沙門曰:『此五道輪也。』」即指生死輪。〔有部毘奈耶雜事卷十七、釋氏要覽卷下、 L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet〕
; Bhavacakra (S). The wheel of births-and-deaths, the round of mortality.
; (生死輪) Phạn: Bhava-cakra. I. Sinh Tử Luân. Bánh xe sinh tử. Chúng sinh sống chết vòng quanh trong 3 cõi 6 đường, giống như bánh xe xoay chuyển không ngừng. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 100 thượng) nói: Bánh xe sinh tử vận chuyển người, các phiền não trói buộc sai khiến, sức của chúng mạnh mẽ, không ai ngăn cấm được. II. Sinh Tử Luân. Cũng gọi Ngũ đạo luân, Thập nhị duyên khởi đồ, Ngũ thú sinh tử luân. Chỉ cho hình vẽ cái vòng tròn hiển bày sự sinh tử luân hồi của chúng sinh. Hữu bộ tì nại da quyển 34 (Đại 23, 811 thượng) nói: Nay ta bảo các tỉ khưu vẽ cái vòng sinh tử trên vách của chùa. Trong hang điện số 17 ở A chiên đa (Phạn: Ajantà), Ấn độ, hiện còn bức tranh cổ vẽ vòng sinh tử (sinh tử luân). Ở Trung quốc cũng có phong tục vẽ hình này.[X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17, Thích thị yếu lãm Q.hạ; The Buddhism of Tibet, by L. A. Waddell].
sinh tử luân hồi
See Sanh Tử Luân Hồi.
sinh tử lưu
2061以生死能令人漂沒,故稱為生死流。無量壽經卷下(大一二‧二七三中):「設滿世界火,必過要聞法,會當成佛道,廣濟生死流。」
; Gati (S). The flow of mortal life. Course of existence. Also dòng đời.
; (生死流) Dòng sống chết. Vì sinh tử có năng lực cuốn trôi chúng sinh như dòng nước, cho nên gọi là Sinh Tử Lưu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung) nói: Giả sử lửa cháy khắp thế giới, cũng cần phải nghe pháp, sẽ được thành Phật đạo, rộng độ sinh tử lưu.
sinh tử ngạn
2060指輪迴於生死海之此岸,而涅槃則為生死海之彼岸。增一阿含經卷三十九(大二‧七六一下):「梵志不明曉,猶涉生死岸。」
; The shore of mortal life.
; See Sanh Tử Ngạn.
; (生死岸) Bờ sống chết. Chỉ cho chúng sinh còn bị chìm đắm trong biển sinh tử luân hồi. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 39 (Đại 2, 761 hạ) nói: Phạm chí không hiểu rõ, còn vào bờ sinh tử.
sinh tử nhục thân
2059為二種菩薩身之一。指三賢位(指十住、十行、十回向)之菩薩。即未證法性,仍於惑業中受三界生死輪迴之菩薩。(參閱「二種菩薩身」236)
; (生死肉身) Nhục thân sống chết, 1 trong 2 loại thân của Bồ tát. Chỉ cho Bồ tát ở giai vị Tam hiền (Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng), chưa chứng pháp tính, nên vẫn còn thụ thân sinh tử luân hồi trong 3 cõi. (xt. Nhị Chủng BồTát Thân).
sinh tử nê
2061謂眾生沈溺於生死,有如處於泥沼之境,故以泥譬喻之。俱舍論卷一(大二九‧一上):「生死泥者,由彼生死,是諸眾生沈溺處故,難可出故,所以譬泥。」
; The quagmire of mortal life.
; See Sanh Tử Nê.
; (生死泥) Vũng bùn sống chết. Nghĩa là chúng sinh chìm đắm trong sinh tử, như ở trong vũng bùn lầy nên dùng bùn để ví dụ. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 thượng) nói: Sinh tử nê, có nghĩa sinh tử là nơi chúng sinh bị chìm ngụp, khó ngoi ra được, cho nên dùng bùn (nê) để ví dụ.
sinh tử phược
The bonds of birth-and-rebirth.
sinh tử phọc
2062縛,拘束之義。貪、瞋、癡等生死煩惱拘束眾生而不得自在,猶如羂網之繫縛人,故稱為生死縛。縛為「解脫」之對稱。說無垢稱經疏卷三末(大三八‧一○四六中):「愛謂愛取,有愛正為潤生之緣,此為生死縛根本。」〔最勝王經卷二〕
; (生死縛) Sống chết trói buộc. Các thứ phiền não sinh tử như tham, sân, si... trói buộc chúng sinh không được tự tại, cũng như lưới rập trói buộc người, cho nên gọi làSinh tử phược. Thuyết vô cấu xưng kinh sớ quyển 3, phần cuối (Đại 38, 1046 trung) nói: Ái là ái thủ, hữu ái chính là duyên nhuận sinh, đó là cỗi rễ của sinh tử phược. [X. kinh Tối thắng vương Q.2].
sinh tử sự đại
2060指生死問題極為重大。即勸人儘快求得解脫。六祖大師法寶壇經行由品第一(大四八‧三四八上):「世人生死事大,汝等終日只求福田,不求出離生死苦海,自性若迷,福何可救?汝等各去自看智慧,取自本心般若之性。」同經中又舉出永嘉玄覺之語(大四八‧三五七下):「生死事大,無常迅速。」〔大慧普覺禪師語錄卷十九、敕修百丈清規卷二住持章告香條、禪林寶訓卷四〕
; (生死事大) Sống chết việc lớn. Nghĩa là vấn đề sinh tử rất là trọng đại. Phẩm Hành do trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại48,348 thượng) nói: Người đời, sống chết là việc lớn, các ông suốt ngày chỉ cầu phúc điền, không cầu ra khỏi biển sinh tử, tự tính nếu mê thì phúc nào cứu được? Các ông mỗi người xem lại trí tuệ của mình, nhận lấy tính bát nhã của chính bản tâm mình. [X. Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục Q.19; điều Cáo hương, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Thiền lâm bảo huấn Q.4].
sinh tử trường dạ
2061謂眾生沈溺於生死之苦,如長暗之夜。生死如夢,於夢中未能覺知為夢,須至覺醒時,始能追憶夢中之境為虛幻;眾生輪迴於生死亦如夢一般,故以長夜譬喻之。成唯識論卷七(大三一‧三九下):「未得真覺,恆處夢中,故佛說為生死長夜。」〔成唯識論述記卷七末〕
; The long night of births-and-deaths.
; (生死長夜) Đêm dài sống chết.Nghĩa là chúng sinh chìm đắm trong cái khổ sinh tử như đêm dài tối tăm. Sinh tử như giấc mộng, đang còn trong mộng thì không biết đó là mộng, đến khi tỉnh dậy mới nhớ lại những cảnh trong mộng là hư ảo.Chúng sinh luân hồi trong sinh tử cũng như giấc mộng, cho nên dùng đêm dài để ví dụ. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 39hạ) nói: Chưa được chân giác thì hằng ở trong mộng, cho nên đức Phật nói đêm dài sống chết.
sinh tử tế
The region of births-and deaths.
sinh tử tức niết bàn
2061指生死、涅槃二者相即不二。生死,乃迷界之苦果;涅槃,乃悟界之證果。常與「煩惱即菩提」一語連用。係直指大乘佛教教義之語。惟諸教派對「即」之義所說各異。梁譯攝大乘論卷下(大三一‧一二九中):「生死即涅槃,二無此彼故,是故於生死,非捨非非捨,於涅槃亦爾,無得無不得。」道元禪師之「生死即正法眼藏生死」,即屬此意。生死即涅槃之說,唯大乘論述之;若了達諸法、住於無我,即可得此境地。〔攝大乘論釋卷十三、往生論註卷下(曇鸞)、摩訶止觀卷一上、四教義卷六(智顗)〕(參閱「煩惱即菩提」5517)
; Mortality is Nirvàna.
; See Sanh Tử Tức Niết Bàn.
; (生死即涅槃) Sinh tử và Niết bàn tương tức không hai. Sinh tử là quả khổ của cõi mê, Niết bàn là quả chứng của cõi ngộ. Nhóm từ này thường đi đôi với nhóm từ Phiền não tức Bồ đề, trực tiếp chỉ cho giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa. Duy có điều đối với nghĩa của chữ Tức thì các giáo phái nói mỗi khác. Luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) quyển hạ (Đại 31, 129 trung) nói: Sinh tử tức Niết bàn, cả 2 không phân chia đây kia, cho nên ở trong sinh tử, chẳng phải bỏ chẳng phải chẳng bỏ, ở trong Niết bàn cũng vậy, không phải được cũng không phải không được. Thuyết Sinh tử tức Niết bàn chỉ có Đại thừa mới bàn đến. Nếu thấu suốt các pháp, trụ nơi vô ngã thì có thể đạt đến cảnh giới này.[X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.13; Vãng sinh luận chú Q. hạ (Đàm loan); Ma ha chỉ quán Q.1 thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6 (Trí khải). (xt. Phiền Não Tức Bồ Đề).
sinh tử uyên
2061以生死令人沈沒,故以淵譬喻之。增一阿含經卷六(大二‧五七五上):「渡流成無漏,以渡生死淵。」
; The abyss of the mortal life.
; (生死淵) Vực sống chết. Vì sinh tử khiến cho người ta chìm đắm nên dùng cái vực để ví dụ. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 6 (Đại 2, 575 thượng) nói: Qua dòng thành vô lậu để vượt qua vực sống chết.
sinh tử viên
2061生死界為凡夫好遊之所,亦為菩薩遊化之處,猶如園觀,故以園稱之。往生論註卷下(大四○‧八四三中):「示應化身,迴入生死園、煩惱林中,遊戲神通。」
; The garden of life and death, this mortal world in which the unenlightened find their satisfaction.
; Vườn sanh tử, hay thế giới Ta Bà nơi mà chúng sanh vừa ý hay bằng lòng một cách mê muội—The garden of life and death, this mortal world in which the unenlightened find their satisfaction.
; (生死園) Khu vườn sống chết. Cõi sinh tử là nơi phàm phu thích dạo chơi, cũng là chỗ Bồ tát du hóa, giống như 1 khu vườn, cho nên gọi là Sinh tử viên. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 843 trung) nói: Thị hiện thân ứng hóa, đi vào vườn sinh tử, trong khu rừng phiền não, hiển du hí thần thông.
sinh tử vân
2061以雲比喻生死之暗昧。佛教以惑、業、苦等三道為生死流轉之因果,此三道能遮覆本性,猶如雲能覆蓋虛空之日月。無量壽經卷下(大一二‧二七二下):「慧日照世間,消除生死雲。」〔無量壽經連義述文贊卷下〕
; (生死雲) Mây sống chết. Mây được dùng để ví dụ sự tối tăm của sinh tử. Phật giáo cho Hoặc, Nghiệp, Khổ là nhân quả của sống chết vòng quanh, 3 đường Hoặc, Nghiệp và Khổ này thường che lấp bản tính, giống như đám mây đen che khuất mặt trời, mặt trăng giữa hư không. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 hạ) nói: Mặt trời tuệ chiếu thế gian phá tan mây sinh tử. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ].
sinh tử đại hải
See Sanh Tử Đại Hải.
Sinh tử 生死
[ja] ショウシ ショウジ セイシ shōshi shōji seishi||| Skt. jarā-marana, saṃsāra, janana-marana; life-and-death. An expression of the vicissitudes of the transmigration in the world of delusion. Also, a synonym for lunhui 輪廻 'transmigration.' An allusion to suffering and delusion. => (s: jarā-marana, saṃsāra, janana-marana), Sống và chết. Biểu tượng cho sự thăng trầm của chuyển hoá trong thế giới vô minh. Đồng nghĩa với luân hồi (c: lunhui 輪廻). Ám chỉ cho đau khổ và vô minh.
Sinh vô sinh 生無性
[ja] ショウムショウ shō mushō ||| One of the 'three non-natures' (三無性) of the Faxiang school. Life, and existence have no self-nature. Life appears dependent upon causes and conditions and its existence is provisional. => Một trong Tam vô tính (三無性) theo Pháp tướng tông. Sinh mạng, và sự hiện hữu không có tự tính. Sinh mạng ra đời tuỳ thuộc vào nhân duyên và sự hiện hữu của nó chỉ là giả tạm.
sinh vô sắc
2068指生於四無色界。依此而自然生起之定心,計有空無邊處、識無邊處、無所有處、非想非非想處等四無色定。為「定無色」之對稱。四無色定(無色界之定體)各有二種,即生無色及定無色;其中,生無色為先天所得之生得定,蓋若生於四無色界,則定心現起,故得此名。或謂生無色,乃依定無色而得生無色界之果報。(參閱「定」 3171、「定無色」 3181、「無色界」 5083 )
; (生無色) Đối lại: Định vô sắc. Sinh vào 4 cõiVô sắc, là quả của định Vô sắc. Cõi Vô sắc gồm 4 tầng trời: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong 4 nơi này, mỗi nơi đều có 2 thứ định thể là Sinh vô sắc và Định vô sắc; trong đó,Sinh vô sắc là quả báo do tu định Vô sắc mà được sinh vào cõi Vô sắc, nên có tên như thế. (xt. Định, Định Vô Sắc, Vô Sắc Giới).
sinh vô tính
2068梵語 utpatti-niḥsvabhāvatā。又作無生性、諸法無生體性、生無自性性。為法相宗所立三無性之一。生,緣生之義。即依他起性之法,由因緣和合而生,為假有之法,實無自性。或謂生乃自然生之義,即外道凡夫妄執於諸法自然而生,為明示其依眾緣和合而生,實無自性,故稱為生無自性。成唯識論卷九(大三一‧四八上):「依他立生無性,此如幻事託眾緣生,無如妄執自然性,故假說無性,非性全無。」(參閱「三無性」627)
sinh xứ tháp
2068八塔之一。位於釋尊出生地迦毘羅城中龍彌儞園(梵 Lumbinī,又譯作藍毘尼園)之處。(參閱「八大靈塔」274)
; (生處塔) Ngôi tháp ở trong vườn Lâm tì ni (Phạn: Lumbinì), nơi đức Phật giáng sinh, 1 trong 8 tòa linh tháp của Ấn độ. (xt. Bát Đại Linh Tháp).
Sinh xứ 生處
[ja] ショウショ shōsho ||| (upapatti-sthāna). The locus for the arising of something. The place where something was once (formerly) produced. Place of birth. 〔二障義HPC 1.796b4〕 => (s: upapatti-sthāna). Nơi phát sinh. Nơi một vật được sinh ra. Nơi sinh.
sinh điền
2058指生死之田地。即三界流轉之地。謂眾生於三界生死輪迴,如禾穀之乍生乍穫,輾轉不息。南海寄歸內法傳卷二(大五四‧二一五上):「含生之類,衣食是先,斯為枷鎖,控制生田。」
; The three regions tam giới of the constant round of rebirth.
; (生田) Ruộng sinh tử. Chỉ cho 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc. Tức chúng sinh sống chết vòng quanh trong 3 cõi, như cây lúa cấy rồi gặt, gặt xong lại cấy, quay vòng không dứt. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 215 thượng) nói: Loài chúng sinh coi việc ăn mặc là quan trọng nhất, nó như gông cùm, khống chế cả sinh điền.
sinh đắc huệ
2067指與生俱得之智慧。為四慧之一。依大毘婆沙論卷四十二之說,首先於三藏、十二分教等受持、轉讀,即能得慧,稱為生得慧;依此慧可得聞所成慧,再順次可得思所成慧、修所成慧等二慧。然大乘法苑義林章卷六末則謂(大四五‧三五四中):「於五明教,劣闇覺慧所有善心,名生得慧。聽聞已後,差別作意,明了善心,名為聞慧。非必要先於三藏教聽聞、領受,皆生得慧。但於三藏非用功力,所生闇劣覺慧善心,名生得慧。不順出世,非功力起,性不明了,讀解文義,任運而起,名生得慧。」(參閱「四慧」1830)
; (生得慧) Đối lại: Gia hành thiện. Chỉ cho tâm thiện tự nhiên có được cùng 1 lúc khi sinh ra, là tâm thiện hữu lậu không phải do công sức mà tự nhiên thành tựu. Theo luận Đại tì bà sa quyển 144 thì thiện có 3 thứ là: Gia hành đắc, Li nhiễm đắc và Sinh đắc. Đại thừa nghĩa chương quyển 3 (Đại 44, 517 thượng) nói: Sinh đắc thiện tâm nghĩa là thiện tâm tương ứng với tín, tiến, niệm... do công tu tập từ đời quá khứ mà được thành tựu. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.11; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Thụ Sinh Đắc).
sinh đắc thiện
2067指與生俱起的自然之善。與「加行善」對稱。即非由功力而任運成就之有漏善心。大毘婆沙論卷一四四謂善有加行得、離染得、生得等三善。大乘義章卷三(大四四‧五一七上):「生得善心,謂從過去修習所成,信、進、念等相應善心。」〔俱舍論卷四、大毘婆沙論卷十一、大乘法苑義林章卷六末〕(參閱「受生得」3099)
; (生得善) Chỉ cho trí tuệ có được cùng 1 lượt khi sinh ra, là 1 trong 4 tuệ. Theo luận Đại tì bà sa quyển 42 thì trước tiên thụ trì, chuyển đọc 3 tạng 12 phần giáo... mà được trí tuệ, gọi là Sinh đắc tuệ; nương theo tuệ này có thể được tuệ do nghe mà thành, lại theo thứ tự có thể được tuệ do suy tư mà thành và tuệ do tu hành mà thành. Nhưng, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần cuối thì nói (Đại 45, 354 trung): Đối với Ngũ minh giáo, thiện tâm có được trong giác tuệ kém cỏi gọi là Sinh đắc tuệ. Sau khi nghe pháp, khởi tác ý sai biệt, thấy rõ thiện tâm, gọi là Văn tuệ. Không thuận theo pháp xuất thế, chẳng phải do công sức sinh khởi, tính không rõ ràng, đọc và hiểu văn nghĩa, tự nhiên phát khởi, gọi là Sinh đắc tuệ. (xt. Tứ Tuệ).
sinh đắc định
2067指生來即得之定心。與「修得定」對稱。謂依前世善業之力,自然所得之定地。乃指色界之初禪、第二禪、第三禪、第四禪等四定與無色界之空無邊處、識無邊處、無所有處、非想非非想處等四定,合之共為八種定地。即於欲界(散地)時經由修行之力所得之定心,至其生於四禪天、四無色天時即生起之定心。(參閱「定」3171)
; (生得定) Đối lại: Tu đắc định. Chỉ cho tâm định khi mới sinh ra đã có được, vì nhờ sức thiện nghiệp ở đời trước mà tự nhiên được định địa. Đây chỉ cho 8 thứ định địa gồm 4 định của cõi Sắc là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và 4 định của cõi Vô sắc là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trường hợp người mới sinh ra đã được định tâm (Sinh sắc định) là vì khi còn ở cõi Dục (Tán địa) nhờ sức tu hành (đã được tâm đinh, đến khi sinh lên 4 cõi Thiền Sắc giới và 4 cõi Thiền Vô sắc giới thì tâm định liền sinh khởi. (xt. Định).
Sinh đắc 生得
[ja] ショウトク shōtoku ||| Obtained in the process of being born. Those qualities which are inborn (utpatti-lābhika). The opposite of this is 作得, which means "obtained by effort." 〔二障義HPC 1.801a〕 => Đạt được trong quá trình sinh ra. Những đặc tính bẩm sinh (s: utpatti-lābhika). Ngược lại là Tác đắc作得, nghĩa là đạt được do nỗ lực mà có.
sinh đồ
2068指生死之道途。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八五九中):「迷想見則生途日增,悟形心則高軌朂起。」
; The way or lot of those born, i.e. of mortality.
; (生途) Chỉ cho đường sinh tử. Thích môn qui kínhnghi quyển thượng (Đại 45, 895 trung) nói: Mê tưởng kiến thì sinh đồ ngày càng tăng, ngộ hình tâm thì con đường cao xa ngầm khởi.
sinh động
Lively—Lifelike.
Sinh 生
[ja] ショウ shō ||| (1) To produce, to bring forth, to beget. To be born. (2) Life, living. [Buddhism] (jāti); 'arising', 'production.' Coming into existence. In Yogācāra and Abhidharmakośa theory, the arising of conditioned elements (dharmas). Also birth, or the life of sentient beings. One of the four aspects 四相 of existence (arising, abiding, changing, and extinction). Also one of the twelve limbs of conditioned origination 十二因縁. (3) One of the four basic forms of suffering 四苦. => 1. Sinh khởi, gây ra, sinh ra. Được sinh ra. 2. Đời sống, cuộc sống. [Phật học](s: jāti); sinh; khởi. Hiện hữu. Theo giáo lý Du-già hành phái và A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, là sự sinh khởi của các pháp hữu vi (dharmas). Là đời sống, sinh mạng của chúng sinh. Là một trong bốn tướng hiện hữu (sinh, già, bệnh, chết). Là một chi phần trong 12 nhân duyên十二因縁.. 3. Một trong Tứ khổ四苦.
sinh, lão, bệnh, tử
Birth, age, sickness, death.
siêng
Industrious—Hard-working—Diligent—Laborious.
siêng cần
Earnestly striving.
siêu
Vikrama (S). Leap over, surpass, excel; exempt from; to save. Super, transcendent.
; Vikrama (skt). 1) Siêu độ hay cứu độ: To save. 2) Siêu việt: Leap over—To surpass.
siêu bát
Surpassing the eight other schools, as does the teaching of the Lotus and Nirvàna Sùtras, according to Thiên Thai.
; Theo tông Thiên Thai thì giáo thuyết trong những Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn vượt hẳn giáo thuyết của tám tông phái khác—According to the T'ien-T'ai sect, the teaching of the Lotus and Nirvana sutras surpasses the eight other schools—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.
siêu bát đề hồ
5281天台宗用語。謂法華經、涅槃經之教,超越八教(化儀四教與化法四教),乃五味中最上之醍醐味,故稱超八醍醐。
; (超八醍醐) Tiếng dùng của tông Thiên thai. Giáo nghĩa kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn siêu việt tám giáo (4 giáo Hóa nghi và 4 giáo Hóa pháp), là vị đề hồ trên hết trong 5 vị, vì thế gọi là Siêu bát đề hồ.
siêu bạt
To outshine, excel, transcend.
; To surpass—To go beyond.
siêu bảo
5284(1635~1709)清代臨濟宗僧。豫章(江西)廬陵人,俗姓劉。九歲時突染病,甚危篤,其父乃許送師至祇陀寺禮慈乘落髮,十九歲從青原眉庵受具足戒,參承十餘載。後往參杭州圓照茆溪禪師,力究心旨,得契印記,繼住圓照之處三載,康熙三十六年(1697),應天目山之請,移錫說法弘化,三年後,就商諸護法乞退養靜,乃歸本山活埋庵以盡餘年。康熙四十八年示寂,世壽七十五。有語錄八卷行世。〔正源略集卷九、增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
; (超寶) (1635-1709) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Lô lăng, Dự chương (Giang tây), họ Lưu. Năm lên 9 tuổi, sư đột nhuốm bệnh, rất nguy kịch, thân phụ liền đưa sư đến chùa Kì đà, lễ ngài Từ thừa xin xuất gia. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Thanh nguyên Mi am thụ giới Cụ túc, tham học với ngài hơn 10 năm. Sau, sư đến tham học Thiền sư Viên chiếu Lữu khê ở Hàng châu, nỗ lực tham cứu tâm chỉ, được ngài ấn kí, tiếp tục ở lại chỗ ngài Viên chiếu 3 năm. Đến năm Khang hi 36 (1697), nhận lời thỉnh của chư tăng núi Thiên mục, sư đến thuyết pháp hoằng hóa. Ba năm sau, sư về am Hoạt mai ở gần chùa cũ để tĩnh dưỡng. Năm Khang hi 48 (1709), sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Ngữ lục 8quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.9; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
siêu dật
Out of the common.
siêu giới
Vikramaśīla (S)Tên một vị sư.
siêu giới tự
5281梵名 Vikramaśīla,西藏名 Vi-kra-ma-śī-laḥi gtsug-lag-khaṅ。位於印度比哈爾(Bihār)之寺院。又稱超行寺。西元八世紀末至九世紀初,波羅王朝(梵 Pāla)第二主達摩波羅(梵 Dharmapāla)創建本寺。十世紀時成爲印度密教中心,與那爛陀寺、烏丹塔普拉寺(梵 Udaṇḍapura)、婆耆羅沙納寺(梵 Vajrāsana)並稱印度四大寺。全寺共有一○七座殿堂與六座學舍,中心爲觀音大殿,周圍有五十三座大小殿,供奉密教諸神像。學僧往來頻繁,與那爛陀寺等共爲金剛乘(梵 vajrayāna)之中心。著名之密教大師阿提沙(梵 Atiśa)自小於此受戒、學習,後任住持。一二○三年本寺被毀。〔H. Kern: Manual of Indian Buddhism;V.A. Smith: Early History of India; N.L. Dey: Vikramaśilā Monastery(J.A.S.B. 1909); The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India〕
; (超戒寺) Phạn: Vikramazìla. Tạng: Vi-kra-ma-zì-la#igtsug-lagkhaí. Cũng gọi Siêu hành tự. Tên ngôi chùa ở tiểu bangBihàr (Tỉ cáp nhĩ) tại Ấn độ, do vua Đạt ma ba la đời thứ 2 (Phạm: DharmapàlaII) thuộc Vương triều Ba la (Phạn: Pàla) sáng lập vào cuối thế kỉ thứ VIII đến đầu thế kỉ thứ IX Tây lịch. Vào thế kỉ thứ X, chùa này trở thành trung tâm của Mật giáo Ấn độ. Chùa này cùng với các chùa Na lan đà (Phạn: Nàlandà), chùa Ôđan tháp phổ lạp (Phạn: Udaịđapura) và chùa Bà kì la sa nạp (Phạn: Vajrasana) được gọi chung là Ấn độ tứ đại tự (4 ngôi chùa lớn ở Ấn độ). Toàn chùa có 107 ngôi điện đường và 6 ngôi học xá, ở chính giữa là Đại điện Quán âm, chung quanh có 53 ngôi điện lớn nhỏ, thờ các tượng thần của Mật giáo. Các học tăng đến đây học tập rất đông; chùa này và chùa Na lan đà đều là trung tâm của Kim cương thừa (Phạm: Vajrayàna). Vị đại sư nổi tiếng của Mật giáo làA đề sa (Phạm:Atiza), lúc nhỏ đã thụ giới, học tập và sau giữ chức Trụ trì của chùa này. Năm 1203, chùa này bị phá hủy.[X. Manual of Indian Buddhism by H. Kern; Early History of India by V. A. Smith; VikramazìlaMonastery (J. A. S. B. 1909) by N. L. Dey; The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].
siêu hay đọa
Salvation or perdition.
siêu hình học
Metaphysics.
siêu linh
Metapsychic(al). Siêu linh học, metapsychics.
siêu linh học
Matapsychics.
siêu lên thượng giới
To attain the highest ground—See Bodhisattva's Ten Grounds.
siêu lạc
5284(1642~1702)清代臨濟宗僧。浙江海鹽人,俗姓陳。父母好禪悅,構置庵堂,延僧居之,師每聞梵唄聲,欣慕之情溢於言表。及失怙,乃就庵披剃,後得法於鐵舟行海,住持江天寺。逢聖祖南巡至此,師奏對稱旨,帝特賜紫衣。康熙四十一年示寂,世壽六十一。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
siêu nhiên
Lokottara (S), Supramandane Lokuttara (P)Xuất thế, Siêu thế.
; Supernatural, preternatural.
; Supernatural.
siêu nhân
Uttari-manussa (P), Superman Xem Đại sĩ.
; Uttari-manussa (P). Superman.
; Superman.
siêu nhất
5278民國僧。生年、籍貫均不詳。嘗隨大勇法師入藏習密,同止甘孜。東返後,任教於漢藏教理院,後至京、滬等地傳授密法,並住持無錫惠山聖覺寺。譯有宗喀巴之菩提道次第論頌掇、菩提道次第論極略頌等。
siêu nhật nguyệt quang
(Phật). Surpassing the sun and moon light Buddha.
siêu nhật vương
5281梵名 Vikramāditya。音譯訖羅摩阿迭多,馝柯羅摩袟多。又作正勤日王。爲印度崛多王朝(梵 Gupta)之大王,於佛陀入滅後一千年出世。威風遠播,諸印臣服。當時印度教(Hinduism)復興,梵文學之研習亦頗盛,佛教中有無著、世親等諸大論師輩出,鼓吹瑜伽佛教,同時王更於其間獎勵各種文藝宗教。王又賑恤貧窮,照顧臣僚,故大臣等尊之爲聖仙大王(梵 Rājādhirāja-ṛṣi)。法顯遊印時(402~411)即值超日王在位之時。〔大唐西域記卷二健馱邏國條、玄應音義卷二十一、慧琳音義卷七十六 〕(參閱「笈多王朝」4274)
; Vikramāditya (S).
; Vikramàditya (S) An Indian King.
; Vikramaditya (skt)—Còn gọi là Lực Nhật Vương, là vị vua của nước A Du Đồ, người đã chinh phục các vương quốc của dân tộc Scythians, thống trị cả một vùng bắc Ấn, là vị vua khôn ngoan nhất của vương triều Cấp Đa. Ông còn là người bảo hộ các tôn giáo (Vô Trước là người cùng thời với nhà vua)—A celebrated Hindu king, around 57 B.C., who drove out the Sakas or Scythians, ruled all northern India, was one of the wisest of Hindu kings and a great patron of literature.
; (超日王) Phạn: Vikramàditya. Hán âm: Ngật la ma a diệt đa, Tật kha la ma trật đa. Cũng gọi Chính cần nhật vương. Vị Đại vương của Vương triều Quật đa (Phạn: Gupta) ở Ấn độ, ra đời sau đức Phật nhập diệt được 1000 năm. Uy phong của vua lừng lẫy, các nước ở Ấn độ thời đó đều thần phục. Lúc bấy giờ, Ấn độ giáo (Hinduism) phục hưng, văn học tiếng Phạm cũng rất thịnh, trong Phật giáo có nhiều vị Đại luận sư xuất hiện như các ngài Vô trước, Thế thân... cổ xúy Phật giáo Du già, đồng thời nhà vua cũng khuyến khích các loại văn học, nghệ thuật của các tông giáo. Nhà vua còn thương xót cứu giúp những người nghèo khổ, chiếu cố đến các quan lại, cho nên các quan Đại thần... tôn vua là Thánh tiên đại vương (Phạn: Ràjàdhiràjs-fwi). Khi ngài Pháp hiển đến Ấn độ (402- 411) thì gặp lúc vua Siêu nhật đang còn tại vị. [X. điềuKiện đà la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.21; Tuệ lâm nghĩa Q.76]. (xt. Cấp Đa Vương Triều).
siêu phong tự
5283位於臺灣高雄阿蓮鄉大崗山上。清乾隆二十八年(1763),由紹光法師所創建,迄今二百餘年,爲臺灣著名古剎之一。其後,承定法師曾於寺左興建「龍湖庵」爲女眾道場。民國三十年(1941),以二次世界大戰日軍佔領大崗山作爲要塞地區,寺眾被迫遷移下山,於大崗山與阿蓮間之平原另立新寺,即今之新超峰寺,開山爲開參和尚。臺灣光復後,永定法師帶部分僧眾回山重建,修復原寺,即今之舊超峰寺,自六十二年後由心鉢法師住持,又大力整修興建,寺貌一新。新超峰寺則有圓慈法師繼開參之後任住持。該寺之大殿寬十丈、深八丈,可容納千人同時禮佛。
siêu phàm
Extraordinary, out of the common.
; Supermundane—Eminent—Super human.
siêu phật việt tổ
5281禪林用語。又作殺祖殺佛。意爲超越佛祖之究極境界;即不執著任何事物,達絕對自由之心境。景德傳燈錄卷十七(大五一‧三三九上):「問:『如何是超佛越祖之談?』師曰:『老僧問汝!』曰:『和尚且置。』師曰:『老僧一問尚自不會,問什麼超越佛祖之談!』」 唐代末年之祖師禪均有超越祖佛言教之說。如景德傳燈錄卷十七(大五一 ‧三三七中):「祖佛雖無謾人之心,爲時人透不得,祖佛成謾人去,不得道祖佛不謾人。若透得祖佛過,此人過卻祖佛也,始是體得祖佛意,方與向上古人同。如未透得,但學佛學祖,則萬劫無有得期。」 亦有將超佛越祖強調爲殺佛殺祖者。此即否定外在之一切權威,以表示絕對主體之自在。故臨濟錄示眾段云(大四七‧五○○中):「道流!爾欲得如法見解,但莫受人惑,向裏向外逢著便殺,逢佛殺佛,逢祖殺祖,逢羅漢殺羅漢,逢父母殺父母,逢親眷殺親眷,始得解脫,不與物拘,透脫自在。如諸方學道流,未有不依物出來底。山僧向此間從頭打,手上出來手上打,口裏出來口裏打,眼裏出來眼裏打,未有一個獨脫出來底,皆是上他古人閑機境。」 蓋超越佛祖、否定佛祖之思想,本見於大乘經典之大悲闡提之說,再融合於中華民族之生活體驗中。如德山及臨濟呵佛罵祖之家風,均發揮了唐末祖師禪之特色。然至後代則淪於形式,不過此種超佛越祖之思想,仍爲我國禪宗所獨有之主張。〔祖堂集卷六、卷八、古尊宿語錄卷九、禪門拈頌集卷二十四、宗門統要續集卷十八、禪林類聚卷十八〕
; (超佛越祖) Cũng gọi Sát tổ sát Phật. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cảnh giới tột cùng vượt qua Phật và Tổ. Tức là cảnhgiới trong đó tâm không còn chấp trước bất cứ sự vật gì, đã đạt đến sự tự do tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 (Đại 51, 339thượng chép: Hỏi: Thế nào là lời nói siêu Phật, siêu Tổ? Sư đáp: Lão tăng đang hỏi ông đấy! Vị tăng nói: Xin Hòa thượng hãy gác vấn đề này lại đã. Sư nói: Một câu hỏi củalão tăng mà ông còn chẳng tự hiểu thì còn hỏi làm gì lời siêu Phật siêu Tổ! [X. Tổ đường tập Q.6, 8; Cổ tôn túc ngữ lục Q.9; Thiền môn niêm tụng tập Q.24; Tông môn thống yếu tục tập Q.18; Thiền lâm loại tụ Q.18].
siêu quá
Samatikram (S). To go beyond, cross over, transgress.
; Samatikram (skt)—Vượt quá—To go beyond—To cross over—To transgress.
siêu quá tam giới
To cross over the threefold world.
siêu quần
Outstanding.
siêu sinh
To go beyond the cycle of death and rebirth.
siêu sinh tịnh độ
To enter the Pure Land (of Amitàbha-Buddha).
siêu sinh tử
To go beyond the cycle of death and rebirth.
siêu thiền
(hay siêu việt thiền), thường gọi là siêu việt tam-muội, chỉ cách xuất nhập thiền định tự tại của Phật và các vị Bồ Tát, không theo trình tự thông thường như hàng Thanh văn, như từ Sơ thiền lên Nhị thiền, Tam thiền... Với siêu việt tam-muội, hành giả có thể trực nhập bất cứ cảnh giới thiền định nào tùy ý, không cần phải theo trình tự. Vì thế cũng gọi là Tự tại định.
siêu thoát
Xem siêu sinh. Supramundane, unwordly; free from human bondage; lofty, exalted.
siêu thần
Atidesa (P).
siêu thế
Lokuttara (P), SupramundaneXem Siêu nhiên.
; Lokottara (S). Surpassing the world, superior to anything in the world. Transcendental. Also siêu việt.
; Vượt hơn hẳn mọi thứ trên thế gian nầy—Surpassing the world—Superior to anything in the world.
siêu thế gian trí
Jānam-laukottarataman (S).
; Jnànam-laukottara-tamam (S). Knowledge of the supreme supra world.
siêu thế gian tán
Lokatitastava (S).
siêu thế nguyện
5281指阿彌陀佛之四十八願。彌陀於因地爲法藏比丘時,歷經五劫,參考諸佛之願,熟思再三,始立四十八願。其願超乎世間一切諸佛之願,最爲殊勝,故稱之超世願。〔無量壽經卷上〕
; Thệ nguyện vượt hơn hẳn các lời nguyện khác, ý nói 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà vượt hơn hẳn các lời nguyện của Tam Thế chư Phật—Vows that are superior to any other vows, i.e. the forty-eight vows of Amitabha Buddha—See Tứ Thập Bát Nguyện.
; (超世願) Chỉ cho 48 nguyện của đức Phật A di đà. Khi đức Phật A di đà còn là tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân, Ngài tham khảo các nguyện của chư Phật, suy nghĩ rất kĩ suốt trong 5 kiếp, rồi mới lập thành 48 điều nguyện. Nguyện của Ngài thù thắng hơn hết các nguyện của chư Phật ở thế gian, cho nên gọi là Siêu thế nguyện. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
siêu thế pháp
Lokuttara dhammas (P).
siêu thế trí
Lokuttara citta (P).
siêu thế đạo
Lokuttaramagga (S).
siêu trí
5283(1610~1674)明代臨濟宗僧。四川成都人,俗姓胡。號奇然。九歲於四川中峰寺出家。曾參祝家庵印心、天童密雲圓悟、破山海明、象崖性珽等諸尊宿,後禮鹿門山之宕山行遠,並得其法。歷住寶山靈慧寺、雙池寺、白水寺、黃龍寺等。康熙十三年示寂,世壽六十五。遺有奇然智禪師語錄二卷。
siêu trần
5284(1914~ )江蘇興化人。幼依震華法師披剃。鎮江竹林佛學院畢業。民國三十三年(1944),與法宗法師等於棲霞山蒙志開和尚傳授大法。師擅長梵唄、佛學、國學造詣皆精湛。三十八年,赴香港,後前往越南弘法,於西貢堤岸創建龍華寺。六十二年,復返香港,歷任鹿野苑住持、董事長,且任教於能仁書院。
siêu tông việt cách
5282禪林用語。超宗,謂不立真如佛性之方法;越格,謂不依舊例之形式。即指能超越凡聖之形式,而存乎自在之天機者。碧巖錄普照序(大四八‧一三九上):「雪竇禪師具超宗越格正眼,提掇正令。」
; (超宗越格) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Siêu tông nghĩa là không lập phương pháp chân như Phật tính; Việt cách nghĩa là không theo hình thức ước lệ từ xưa. Tức chỉ cho người có năng lực siêu việt hình thức phàm thánh, chỉ còn thiên cơ mà thôi. Lời tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Thiền sư Tuyết đậu có chính nhãn siêu tông việt cách, nêu cao chính lệnh.
siêu việt
5283一神教認爲世界之創造神爲超越神;然在佛教真理中,並無相對於世界及人類之超越神存在。超越一語之真實含義,乃是用以突破各種二元對立之概念或價值觀。例如禪宗所說之「超凡越聖」,並非表示凡夫與聖人(亦包含佛陀)兩相對立,而係基於超越凡聖二元相對之分別見解所說者。
; Surpassing, supreme; to pass over, be exempt from.
; To be transcendental (transcending)—Supermundane—Pass over—Surpassing—Supreme.
; (超越) Việt qua lên trên những cái thông thường. Nhất thần giáo cho rằng vị thần sáng tạo thế giới là thần Siêu việt. Nhưng trong chân lí của Phật giáo thì hoàn toàn không có vị thần siêu việt tồn tại đối lập với thế giới và loài người. Hàm nghĩa đích thực của từ ngữ Siêu việt là dùng để đột phá các loại khái niệm hoặc giá trị quan nhị nguyên đối lập. Chẳng hạn như nhóm từ Siêu phàm việt thánh mà Thiền tông sử dụng, chẳng phải biểu thị sự đối lập giữa phàm phu và Thánh nhân (cũng bao hàm cả đức Phật), mà là nói về sự vượt thoát cái kiến giải phân biệt tương đối phàm thánh nhị nguyên .
siêu việt chứng
5284爲「次第證」之對稱。又作超證、超果。聲聞乘有四果,從初果順次證阿羅漢果,稱爲次第證;超越前果而直接證入後果,稱爲超越證。就超越證而論,諸說不同,俱舍論僅有從凡夫直證第二果、第三果,是謂超前二果。唯識論更許超中二果,一旦證初果後,超中間之二果、三果,直證第四果。天台宗更許超前三果,故立四種:(一)本斷超,謂原本在凡夫外道,以有漏之六行觀斷欲界思惑之六品者,入見道於第十六心斷見惑已,超預流果、一來果,直證第三不還果。(二)小超,謂聖弟子於見道之第十六心證預流果,後更修無漏道,斷三界之思惑,或斷欲界之九品,超第二果而證第三不還果;或一時斷下八地(除有頂地)之惑,超中間第二果、第三果直爲阿羅漢向;或一時斷盡上九地之惑,直證阿羅漢果。(三)大超,即超前三果,直接證入第四果。如佛世時之凡夫外道,聞佛說法,直證阿羅漢果。(四)大大超,謂三藏教之菩薩於三十四心斷一切煩惱而成佛果。此唯天台之立義,他宗未述及之。〔大毘婆沙論卷一五三、雜阿毘曇心論卷五、俱舍論卷五、卷二十三、卷二十四、唯識論述記卷十、摩訶止觀卷六上、止觀講述卷五、天台四教儀集註卷中、觀經疏玄義分〕
; (超越證) Cũng gọi Siêu chứng, Siêu quả. Đối lại: Thứ đệ chứng. Chứng vượt bậc, nghĩa là vượt qua quả vị trước mà chứng ngay vào quả vị cao hơn.Như Thanh văn thừa có 4 quả, từ Sơ quả, theo thứ tự, chứng quả Tư đà hàm, A na hàm, rồi đến quả A la hán, gọi là Thứ tự chứng; còn vượt qua quả vị trước mà chứng ngay vào quả vị sau thì gọi Siêu việt chứng. Bàn về Siêu việt chứng lại có các thuyết khác nhau. Theo luận Câu xá thì từ phàm phu chỉ có thể trực tiếp chứng quả thứ 2 và quả thứ 3, gọi là Siêu tiền nhị quả (vượt 2 quả trước). Luận Duy thức lại cho rằng một khi đã chứng được Sơ quả thì có thể vượt qua quả thứ 2 và quả thứ 3 mà chứng thẳng đến quả thứ 4. Còn tông Thiên thai thì chủ trương vượt 3quả trước, cho nên thành lập 4 loại Siêu: 1. Bản đoạn siêu: Gốc vốn là phàm phu ngoại đạo, người tu 6 hành quán hữu lậu, đoạn trừ 6 phẩm Tư hoặc của cõi Dục, vào Kiến đạo ở tâm thứ 16 dứt Kiến hoặc rồi, vượt quả Dự lưu và quả Nhất lai mà chứng thẳng đến quả Bất hoàn thứ 3. 2. Tiểu siêu: Các Thánh đệ tử ở tâm thứ 16 của Kiến đạo chứng quả Dự lưu, sau lại tuVô lậu đạo, đoạn trừ Tư hoặc của 3 cõi, hay dứt 9 phẩm hoặc của cõi Dục, vượt quả thứ 2 mà trực tiếp chứng quả Bất hoàn thứ 3; hay trong 1 lúc đoạn trừ các Hoặc của 8 địa dưới (trừ Hữu đính địa), vượt quả thứ 2 và quả thứ 3 mà chứng thẳng vào A la hán hướng; hay cùng 1 lúc dứt hết các hoặc của 9 địa trên mà chứng ngay quả A la hán. 3. Đại siêu: Tức vượt 3 quả trước, trực tiếp chứng vào quả thứ 4. Như phàm phu ngoại đạo thời đức Phật tại thế, nghe Phật nói pháp chứng ngay quảA la hán. 4. Đại đại siêu: Các Bồ tát Tam tạng giáo trong 34 tâm dứt trừ tất cả phiền não mà thành Phật quả. Trên đây chỉ là nghĩa của tông Thiên thai, còn các tông khác thì chưa bàn đến vấn đề này. [X. luận Đại tì bà sa Q.153; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.5, 23, 24; Duy thức luận Thuật kí Q.10; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng; Chỉ quán giảng thuật Q.5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần].
siêu việt tam muội
5283指佛及菩薩能超越上下諸地而隨意入出之三昧。爲天台宗所謂觀禪、練禪、薰禪、修禪中之最高境界,故又稱爲頂禪。又因於諸法門中能自在入出,故稱自在定。另有超禪、超越禪、超等至等異稱。凡禪定之淺深次第,順次爲四禪、四無色、滅盡定;出入禪定時,皆以循此次第爲法。如散心之人,不能直接入四無色定,必先入初禪定,順次而入第四禪,後入四無色之初定;又出定亦不得直出,必逆次依此次第而出,此乃聲聞之法。然佛及深位之菩薩則不必依此次第入出,而可由散心直接超入滅盡定,亦可由滅盡定直接超出散心,此超入、超出三昧之法,稱爲超越三昧。〔大智度論卷八十一〕
; (超越三昧) Chỉ cho tam muội mà Phật và Bồ tát chứng nhập, có năng lực vượt qua các cõi trên dưới và tùy ý xuất nhập. Đây là cảnh giới cao nhất trong các loại Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền và Tu thiền do tông Thiên thai nói, vì thế nên gọi là Đính thiền. Trong các pháp môn, Tam muội này có năng lực xuất nhập tự tại, cho nên được gọi là Tự tại định, hoặc gọi là Siêu thiền, Siêu việt thiền, Siêu việt đẳng chí... Về thứ lớp cạn, sâu của thiền định được sắp xếp là: Tứ thiền, Tứ vô sắc, và Diệt tận định. Phàm khi xuất, nhập thiền định đều phải tuần tự theo thứ lớp này, đó là phép tắc chung. Như người tâm tán loạn không thể trực tiếp nhập định Tứ vô sắc, mà trước phải nhập định Sơ thiền, rồi tuần tự vào Đệ tứ thiền, sau đó mới vào định đầu tiên của Tứ vô sắc. Cũng thế, khi xuất định cũng không được xuất trực tiếp, mà phải tuần tự theo thứ lớp ngược mà xuất. Đây là pháp của Thanh văn. Nhưng đối với Phật và Bồ tát đã tu chứng đến địa vị cao sâu thì không phải theo thứ tự xuất, nhập này, mà có thể từ tâm tán loạn vượt ngay vào định Diệt tận và, ngược lại, cũng có thể từ Diệt tận định vượt ngay ra tâm tán loạn. Pháp tam muội siêu nhập, siêu xuất này, gọi là Siêu việt tam muội. [X. luận Đại trí độ Q.81].
siêu việt tam-muội
xem siêu thiền.
siêu vĩnh
5281明末臨濟宗僧。生卒年不詳。浙江攜李人,俗姓姚。號霽崙。幼習儒學,及長,遇崇禎末年兵變,幾死復生,功名念澹,值一僧持金粟容語錄有感,遂堅定出俗之念。順治七年(1650)夏,禮嘉興深雲果剃髮。同年秋,謁百愚淨斯,其後歷遊天童山、徑山、報恩寺,金粟寺。順治九年春參福源之安田靜,於十二月八日佛成道日受印可。後住北京西山聖感寺,又於浙江平湖、上海、嘉興、陝西等地諸剎弘化。康熙三十二年(1693)編五燈全書百二十卷,另著有深雪草堂集三十卷、法苑英華、讀書隨記、古今僧詩六十卷等。〔五燈全書卷一○○〕
; (超永) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh,người Huề lí, tỉnh Chiết giang, họ Diêu, hiệu Tễ luân. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, lớn lên, gặp lúc binh biến vào cuối những năm Sùng trinh, mấy lần chết đi sống lại nên sư lạnh nhạt với công danh, đến khi được đọc Kim túc dung ngữ lục thì sư lập chí xuất tục. Mùa hạ năm Thuận trị thứ 7 (1650), sư lễ ngài Thâm Vân quả ở Gia Hưng xin xuất gia. Mùa thu năm ấy sư tham yết ngài Bách Ngu Tịnh Tư, sau đó, sư lần lượt đi tham bái các danh lam thắng tích như núi Thiên đồng, chùa Báo Ân, chùa Kim Túc, Kính Sơn... Mùa xuân năm Thuận trị thứ 9 (1652), sư tham vấn ngài An Điền Tĩnh ở Phúc Nguyên và được ấn khả. Sau, sư trụ ở chùa Thánh Cảm tại Tây sơn, Bắc Kinh, sau đó, sư lần lượt đi hoằng hóa tại các vùng Bình Hồ thuộc Chiết Giang Thượng Hải, Gia Hưng, Thiểm Tây...Sư có các tác phẩm: Ngũ đăng toàn thư 120 quyển; Thâm tuyết thảo đường tập 30 quyển, Pháp uyển anh hoa, Độc thư tùy kí, Cổ kim tăng thi 60 quyển.
siêu âm
Ultra-sound—Supersonic—Above the speed of sound.
siêu đẳng
Super—Above the ordinary.
siêu định
5282小乘禪定中,超越中間之一地而入之禪定。一般修禪定皆依初禪、二禪、三禪等順次而進;但經由訓練,則可超略其中一段,由初禪越進至三禪,由二禪進至四禪。一般於有漏定之時,四禪定皆屬有漏;如入無漏定之時,皆成無漏;但如已斷煩惱,得定自在之不時解脫阿羅漢,則可上下順逆超越禪定之位次,超離有漏、無漏之禪定階位而出入禪定,稱爲超定。〔大毘婆沙論卷一六五、俱舍論卷二十八、大智度論卷十七〕
; Super-meditation.
; (超定) Vượt qua giai đoạn trung gian mà vào 1 thứ thiền định cao hơn. Thông thường, tu thiền định đều y theo thứ tự Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền... mà tiến lên; nhưng nếu tu luyện được nhuần nhuyễn, thì có thể vượt qua 1 giai đoạn trong đó, từ Sơ thiền đến Tam thiền, từ Nhị thiền đến Tứ thiền. Nói chung, khi tu thiền định hữu lậu thì 4 thiền định đều thuộc hữu lậu, nhưng khi đã vào định vô lậu thì đều thành vô lậu. Như vị A la hán Bất thời giải thoát đã đoạn phiền não được định tự tại, thì có thể vượt qua thứ tự thiền định trên dưới, thuận nghịch, vượt bỏ giai vị thiền định hữu lậu, vô lậu mà ra, vào thiền định 1 cách tự do tự tại, gọi là Siêu định. [X. luận Đại tì bà sa Q.165; luận Câu xá Q.28; luận Đại trí độ Q.17].
siêu độ
5283佛教、道教中,爲救度亡靈,使其超脫苦難,請僧尼、道士爲亡者誦經拜懺,謂之超度。
; To pass across the mundane existence; to go beyond the cycle of death and rebirth; to leave for ever the life on earth, the world of becoming; to release (souls) from purgatory.
; To free souls from suffering.
; (超度) Tụng kinh, lễ sám cầu nguyện để cứu độ vong linh người chết, khiến họ siêu thoát khổ nạn.
siếc
Rên siếc—To moan—To groan.
siết
To squeeze—To press.
siểm
6166梵語 māyā 之意譯。心所(心之作用)之名。為俱舍七十五法之一,唯識百法之一。即為網取他意,而無法如實顯表自己之精神作用。亦即心曲不真,將自己本心隱藏而對他人卻故意裝出順從之心理作用。與「討好」、「阿曲」、「諂曲」同義。即大乘廣五蘊論所謂(大三一‧八五三中):「矯設方便,隱己過惡,心曲為性,謂於名利,有所計著,是貪癡分,障正教誨為業。」又以諂所生之身、口、意業,稱為曲業。 在俱舍宗,此心所與少分染污法相應,隨根本煩惱而起,故為隨煩惱之一,小煩惱地法之一,六垢之一。與「誑」同為欲界及初地所繫,與諸受中之憂喜相應,而自在生起,故僅屬於「修所斷」。在唯識宗,為小隨惑之一,與貪、癡等,同屬於假有。然與苦受不相應。〔大毘婆沙論卷四十七、雜阿毘曇心論卷四、俱舍論卷四、卷二十一、成唯識論卷六、順正理論卷十一、卷五十四、顯揚聖教論卷一〕
; Nịnh bợ hay dối gạt—Flattery—Conceit.
; (諂) Phạn: Màyà. Đồng nghĩa: Thảo hảo, A khúc, Siểm khúc. Dua nịnh, ton hót, chỉ nói theo ý của người mà giấu kín ý mình. Là tên của Tâm sở, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Luận Đại thừa quảng ngũ uẩn (Đại 31, 853 trung) nói: Bày ra các phương tiện giả dối, giấu kín điều xấu ác của mình, tâm tính quanh co, tham danh hám lợi, đó là 1 phần của si, lấy sự cản trở việc dạy dỗ chính đáng làm nghiệp. Các nghiệp thân, khẩu, ý do Siểm phát sinh, gọi là Khúc nghiệp (nghiệp quanh co). Tông Câu xá cho rằng Tâm sở này tương ứng với 1 phần nhỏ pháp nhiễm ô, theo với phiền não căn bản mà sinh khởi, vì thế nên Siểm là 1 trong các Tùy phiền não, 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong Lục cấu. Siểm và Cuống là các phiền não trói buộc của cõi Dục và Sơ địa, tương ứng với ưu, hỉ trong các thụ mà tự tại sinh khởi, cho nên chỉ thuộc về Tu sở đoạn. Còn tông Duy thức thì cho rằng Siểm là một trong các Tiểu tùy hoặc, cùng với tham, si đều thuộc giả hữu, nhưng không tương ứng với khổ thụ. [X. luận Đại tì bà sa Q.47; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Câu xá Q.4, 21; luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.11, 54; luận Hiển dương thánh giáo Q.1].
siểm khúc
6167梵語 vaṅka, kuhana。為欺瞞他人而故作嬌態,曲順人情。法華經方便品(大九‧八中):「我慢自矜高,諂曲心不實。」又對物無所執著,稱為無諂曲。金七十論卷上(大五四‧一二五一上):「尼夜摩亦五:一不殺,二不盜,三實語,四梵行,五無諂曲。」〔無量壽經卷上、菩薩地持經卷五、十住毘婆沙論卷八、十地經論卷二〕
; Vanka (S), Kuhana (S)Lừa dối quanh co để thuận theo ý người.
; Flattery and fawning.
; (諂曲) Phạn: Vaíka, Kuhana. Nịnh hót quanh co. Nghĩa là vì muốn lừa dối người khác, nên cố làm ra vẻ ngoan ngoãn đáng yêu, ra sức chiều chuộng làm vừa lòng người hòng gạt gẫm họ. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 trung) nói: Ngã mạn tự kiêu căng, siểm khúc tâm chẳng thật. Lại đối với các vật mà không chấp trước thì gọi là Vô siểm khúc. Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1251 thượng) nói: Ni dạ ma cũng có 5 giới: Không giết hại, không trộm cướp, nói lời chân thật, giữ phạm hạnh, không siểm khúc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.5; luận Thập trụ tì bà sa Q.8; Thập địa kinh luận Q.2].
so bì
To compare.
so bằng
To equalize.
so sánh
To compare.
sobhita
Sobhita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
soi
To look at—To admire oneself (in a looking glass).
soi gương
See Soi.
soi sáng
To light—To illuminate—To give light to someone—To shed light on something—Ánh từ quang Phật Pháp soi sáng thế giới khổ đau tăm tối như ngọn hải đăng chiếu sáng cho nhân loại—The radiance of Buddha's dharma goes through a world of suffering and darkness like a beacon light to guide and illuminate mankind.
soi sáng trạng thái tâm
To shed light on this state of mind.
soi xét
To investigate—To examine.
soi đèn
To light with a lamp.
son sắt
Steadfast—Constant.
song
Một cặp—A pair—A couple—Twin—Mates—Matched.
song hỷ
Doubled joys
song khê tự
6646位於韓國慶尚南道河東郡,智異山南麓。新羅興德王(826~835 在位)時,眞鑑國師慧昭(774~850)所開創。初名玉泉寺,後改今名。在新羅佛教最盛之五教九山時代,為九山名剎之一。〔朝鮮佛教通史卷上〕
song luận
6647巴利名 Yamaka。音譯耶摩迦。為南傳上座部巴利文論藏七部論之一。內容係採問答形式,以闡明諸法相互之攝不攝、起滅諸關係,凡分十品。第一根本雙論、第二蘊雙論、第三處雙論、第四界雙論、第五諦雙論、第六行雙論、第七隨眠雙論、第八心雙論、第九法雙論、第十根雙論。十品皆有施設分、轉分、遍知分等三分,其中,施設分更可二分為總說分、義釋分。惟第一根本雙論與第八心雙論無轉分與遍知分,第七隨眠雙論七分為隨增分、有隨眠分、斷分、遍知分、已斷分、生分、界分等,異於其他雙論之組織。 蓋於施設分,列舉法數;於總說分,提示有關各法之問題;於義釋分,逐一解答問題;於轉分,進一步論究各問題;於遍知分,定各法遍知之界限。要之,本論闡釋諸法相互之關係,以解說諸法之定義。其成立年代不詳。本論有英國佛教學者大衛維斯夫人(Mrs. Rhys Davids)之原文出版及日本渡邊昭宏之日譯本(收於南傳大藏經第四八、四九卷)。〔南方上座部論書解說、B.C. Law: A History of Pāli Literature; G.P. Malalasekera: Dictionary of Pāli Proper Names〕
; Yamaka (P), Book of Pairs Một tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng.
; (雙論) Pàli: Yamaka . Hán âm: Da ma ca. Một trong 7 bộ luận bằng tiếng Pàli của Thượng tọa bộ phương Nam. Luận này đượcviết theo hình thức vấn đáp, nội dung chia làm 10 phẩm: 1. Căn bản song luận. 2. Uẩn song luận. 3. Xứ song luận. 4. Giới song luận. 5. Đế song luận. 6. Hành song luận. 7. Tùy miên song luận. 8. Tâm song luận. 9. Pháp song luận. 10. Căn song luận. Trong 10 phẩm mỗi phẩm đều có 3 phần: Thi thiết phần, Chuyển phần, Biến tri phần, trong đó, phần Thi thiết lại được chia làm phần Tổng thuyết và phần Thích nghĩa. Riêng trong phẩm Căn bản song luận và phẩm Tâm song luận thì không có Chuyển phần và Biến tri phần. Phẩm Tùy miên song luận thì được chia ra 7 phần là: Tùy tăng, Hữu tùy miên, Đoạn, Biến tri, Dĩ đoạn, Sinh, Giới... khác với các song luận khác. Luận này nói về sự quan hệ hỗ tương và định nghĩa các pháp. Nguyên văn luận này đã được bà Rhys Davids, học giả Phật giáo người Anh, xuất bản và được ông Độ biên Chiêu hoành, người Nhật bản, dịch ra tiếng Nhật, thu trong Nam truyền Đại tạng kinh quyển 48, 49. [X. Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History of Pàli Literture by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by G.P. Malalasekera].
song lâm
Hàng cây Ta La (song thọ), khu rừng nơi Đức Thế Tôn nhập diệt—Twin trees, the sala-trees under which the Buddha entered nirvana.
song lâm tự
6645<一>位於浙江義烏雲橫山。南朝梁天監年間(502~519),善慧大士棲居於雲橫山頂,大同五年(539)捨宅而於山下建寺,因寺域有雙檮樹,故稱雙林寺;後改稱寶林寺。(參閱「雲橫山」5349 ) <二>北平名剎之一。位於西直門外約二公里處。明萬曆初年,太監馮保營建葬地,乃造本寺,以馮保之別號「雙林」作為寺名。其後馮敗,寺歸官有。其時印度僧足克戩古爾來京弘法,帝賜居於此,改名為「西域雙林寺」。寺內本有三大士塑西番變相,另有水池與塔。寺宇迄今全廢,唯塔尚存。 <三>位於臺灣彰化員林鎮。許普樹創建於民國六年(1917)。五十三年,慧觀法師晉任住持。五十九年購地重修擴建,耗資數百萬,於六十三年竣工。寺宇巍峨壯麗,堪稱員林第一名剎。現任住持為依空法師。 <四>位於日本京都。號金玉山,屬於天台宗。據本寺之寺傳記載,延曆二十四年(805)最澄自中國返日,攜回大批佛像及天台、密教之經疏等,上表奉進,天皇嘉許之,遂敕令臣下營建伽藍及十七僧房以賜予最澄。最澄以此地之形狀類似中國東陽郡烏傷縣之沙羅雙林寺,遂號雙林寺。後成為延曆寺之別院。建武三年(1336),罹兵災而燒毀,遂又修建。後改屬時宗,成為時宗一派之本山,稱東山道場。然因與正法寺起本末寺之爭,結果以正法寺為本山,本寺遂復歸天台宗。應仁元年(1467)再遇兵火之災,後幾經改建。本有通玄菴、長喜菴、景雲菴、妙吉菴等,明治三年(1870)以後,漸次廢絕。今有本堂及僧房等,本堂安置本尊藥師佛(相傳為最澄作)、左方置阿彌陀佛(相傳為圓仁作)、右方置國阿像。又本寺古來即以風光明媚見稱。〔京都坊目誌〕 <五>位於日本上野。號最大山,屬曹洞宗。寶德二年(1450)長尾景信創建,以月江正文為開山。元龜三年(1572)曾罹兵災而燒失。後再興寺宇。元祿年間(1688~1704),該寺於上野、信濃、越後、佐渡等四國,統轄曹洞宗約二千寺。今有佛殿、廊下、開山堂、禪堂、方丈、眾寮等,有末寺四十八所,為當地之巨剎。〔雙林寺傳記〕
song lĩnh
5596即新疆省西南帕米爾高原(Pamir Plateau)之一大山系,乃亞細亞大陸諸山脈之主軸,自古稱「世界之屋脊」。其南接北印度,東至新疆烏鎩國(Usa 或 Osh),西抵阿富汗斯坦之活國(Kunduz),北連天山,而分西域爲二。大唐西域記卷十二活國條(大五一‧九四○上):「葱嶺者,據贍部州中,南接大雪山,北至熱海千泉,西至活國,東至烏鎩國。東西南北各數千里,崖嶺數百重,幽谷險峻,恆積冰雪,寒風勁烈。以產葱爲主,故謂葱嶺;又以山崖葱翠,遂以名焉。」四大河中,縛芻、徒多等二河發源於此。我國與印度間之通道有南北二路,其北道大多須經此山系之山嶽重疊之間。東晉之法顯、隋代之闍那崛多、達摩笈多、唐代之玄奘、慧超、悟空等諸師西行或東來我國所經之路,大多屬此山系之區。〔釋迦方志卷上、大唐西域求法高僧傳卷上、解說西域記〕
song lưu
Hai dòng giáo pháp hay hai anh em song sinh, hóa đạo và quán tâm (cần phải thọ trì cả hai)—The twin streams of teaching and mystic contemplation.
song mộc
See Song Lâm.
song nhập
6644梵語 yuganaddha,西藏語 zuṅ-du ḥjug-pa。又作雙運。yuga,一對之意;naddha,結合之意。佛教(尤以怛特羅佛教)常用以表示對立之理念,不二合一之義。五次第(梵 Pañcakrama)相傳為龍樹(梵 Nāgārjuna)所作,其中之第五次第即是雙入次第(梵 Yuganaddha-krama),計說二十一種雙入,例如輪迴與涅槃、煩惱與淨、有相與無相、所執與能執等。大乘莊嚴經論(梵 Mahāyānasūtrālaṃkāra)亦說雙入,以之為十一種作意(梵 manaskāra)之第六種,通常漢譯作二相應作意,此即表示止、觀等二元之一元化。梵文本大乘莊嚴經論第十四章云,止之道,可知為其法名之統一;觀之道,可知為其義之伺察。雙入之道,更可知係兩者之統合。雙入之理念表現於造形上,遂有西藏雙身佛(藏 Yab-yum)之產生。〔理趣經の研究(栂尾祥雲)、H.V. Genther: Yuganaddha; D.L. Snellgrove: The Hevajra-tantra〕(參閱「五次第」1078)
; Yuganaddha (S).
; (雙入) Phạn: Yuganaddha. Tạng:Zuí-du-#juy-pa. Cũng gọi Song vận. Yuga nghĩa là một đôi; Naddha là kết hợp. Phật giáo (nhất là Phật giáo Đát đặc la) thường dùng từ ngữ này để biểu thị nghĩa hợp nhất bất nhị. Trong Ngũ thứ đệ (Phạn: Paĩca= krama) tương truyền do ngài Long thụ soạn, thì Thứ đệ thứ 5 là Song nhập thứ đệ (Phạn:Yuganaddha-krama), gồm 21 thứ song nhập như Luân hồi và Niết bàn, Phiền não và Tịch tịnh, Hữu tướng và Vô tướng, Sở chấp và Năng chấp... Đại thừa trang nghiêm kinh luận (Phạn: Mahàyà= nasùtràlaôkàra) cũng có nói về Song nhập, xếp Song nhập vào loại thứ 6 trong 11 thứ Tác ý (Phạn:Manaskàra) mà thông thường Hán dịch là Nhị tương ứng tác ý. Đây chính là biểu thị nhất nguyên hóa của nhị nguyên Chỉ và Quán. Chương 14 trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận (bản tiếng Phạn) nói rằng: Tu pháp Chỉ có thể biết hết tên của các pháp; tu pháp Quán có thể hiểu rõ nghĩa các pháp, còn Song nhập thì có thể hợp nhất 2 pháp Chỉ Quán trên. Lí niệm song nhập được biểu hiện qua nghệ thuật tạo hình đã sản sinh ra Song thân Phật (Tạng: Yab-yum) của Phật giáo Tây tạng.[X. Lí thú kinh chi nghiên cứu (Mai vĩ Tường vân); Yuganaddha by H. V. Genther; The Hevajra-tantra by D.L. Snellgrove]. (xt. Ngũ Thứ Đệ).
song nhập thứ đệ
Yuganaddha-krama (S).
song phong tự
6645請參閱 寶林傳 <一>位於廣東韶州乳源縣西雙峰山下。又稱興福院。宋代太平興國年間(976~984),竟欽(慧真廣悟)禪師開創。後受敕額「雙峰山興福禪寺」。元祐二年(1087),梁誠重修。明代洪武(1368~1398)初年,了揭重建。成化五年(1469),祖觀守戒重修。正德元年(1506),泰進復修。嘉靖二十二年(1543),貞愷重建。清代康熙二十二年(1683),再次重修。〔乳源縣志卷四、大清一統志卷三四一〕 <二>位於韓國全羅南道和順郡梨陽面。據崇禎三年(1630)金鍾秀所撰之有明朝鮮國全羅道綾州雙峰寺事蹟碑銘并序(收於朝鮮寺剎史料卷上)載,此寺為我國韶州雙峰寺僧哲鑑在梁天監年中(502~520)所開創。北宋紹聖年中(1094~1098)慧照國師再事興建。明代正統年中(1436~1449)全羅南道觀察使金倣再建。 該寺坐北朝南,南門址、大雄殿、一堂址、極樂殿由南向北排列。東有冥府殿址、護聖殿、僧房,西有尹氏碑閣,後山有澈鑒禪師澄昭塔及碑,其中大雄殿屬李朝末期之建築。〔朝鮮古蹟圖譜、朝鮮の石塔(杉山信三)〕
song phương
Bilateral.
song quyển kinh
6644凡二卷。曹魏時康僧鎧譯。又稱兩卷經。指無量壽經,因其有上下二卷;又因相對於一卷之觀無量壽經,故教界特稱之為雙卷經。收於大正藏第十二冊。據觀經玄義分楷定記所載,大經者,乃指無量壽經;於淨土三部經之中,此經最廣,故對餘二經言,稱為大經。天台宗將此經稱為大本,而以阿彌陀經為小本。(參閱「無量壽經」5119)
; (雙卷經) Cũng gọi Lưỡng quyển kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Khang tăng khải dịch vào đờiTào Ngụy, tức chỉ cho kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, cũng vì để phân biệt với kinh Quán vô lượng thọ 1 quyển, nên giới Phật giáo đặc biệt gọi kinh Vô lượng thọ là Song quyển kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Cứ theo Quán kinh huyền nghĩa phần khải định kí thì Đại kinh là chỉ cho kinh Vô lượng thọ. Trong 3 bộ kinh của Tịnh độ giáo, kinh này nghĩa lí rộng nhất, nên đối với 2 bộ kinh kia mà gọi là Đại kinh. Tông Thiên thai thì gọi kinh này là Đại bản, còn kinh A di đà là Tiểu bản. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
song tháp tự
6646<一>位於江蘇吳縣城內東南隅。大清一統志卷五十五蘇州府條載,雙塔寺為建於唐咸通年中(860~873)之般若寺,後改稱壽寧萬歲禪院。宋雍熙年中(984~987),文王於寺內建兩磚塔,遂稱雙塔寺。吳都法乘卷三十亦載,壽寧萬歲院位於長洲縣之東南,為舊羅漢院,寺中二塔對峙,故俗稱雙塔寺。二塔皆為八角七層之甎塔,有甎造斗栱及木造屋簷,形狀細高,上有相輪部。 <二>位於山西太原市東南。原名永祚寺。因寺內雙塔高聳,俗稱雙塔寺。明代萬曆年間(1573~1619)為高僧佛登奉敕建造。主要建築全係甎造。大殿及東西配殿皆為無量殿形制,其簷柱、斗栱、瓦簷等,皆彫工洗練,富麗精巧。
; (雙塔寺) 1. Chùa ở góc đông nam nội thành huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Theo điều Tô châu phủ trong Đại thanh nhất thống chí quyển 55 thì chùa Song tháp là chùa Bát nhã được xây dựng trong năm Hàm thông (860-873) đời Đường, sau được đổi là Thọ ninh vạn tuế thiền viện. Trong năm Ung hi (984-987) đời Tống, vua Văn vương xây 2 ngôi tháp gạch trong vườn chùa, từ đó, chùa được gọi là Song tháp tự. Theo Ngô đô pháp thừa quyển 30 thì Thiền viện Thọ ninh vạn tuế nằm về phía đông nam huyện Trường châu, là viện La hán cũ, vì chùa có 2 ngôi tháp đứng song song đối nhau nên gọi là Song tháp tự. Tháp xây bằng gạch, hình dáng cao thon, 7 tầng 8 cạnh, có đẩu củng bằng gạch, diềm mái bằng gỗ, trên chót tháp có hình bánh xe (Luân tướng). 2. Hai ngôi tháp ở chùa Song tháp tại tỉnh Giang tô. Phạn: Kwuma. Cũng gọi Trâu ma, Tu ma, Sô ma ca, Tô ma, Sám ma. Áo may bằng sợi cây gai. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 31 (Đại 54, 514 hạ) nói: Áo sô ma, cả 2 chữ đều là phiên thiết, gọi đúng âm tiếng Phạm là Trâu ma. Hán dịch là Ma y. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
song thân
1) Cả cha lẫn mẹ: Both parents. 2) Hai thân, đặc biệt là hai thân của Phật Tỳ Lô Giá Na: Twin-bodied, especially the two bodies of Vairocana.
song thần biến
6646同一器具或建築物,由中央劃一界限,使其左右兩方全然不同,此等神變奇蹟稱為雙神變。欲得此神變而修之禪定,即稱雙變定。解脫道論卷二(大三二‧四○七下):「大悲定、雙變定,是佛所得,非聲聞所得。」
song trì
Yugarjidhara (S), Yugaṃdhara (S)Du càn đà laMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 12.000 do tuầnTên một con sông.
; Yugamdhara (S). Name of a river. Also Du căn đà la.
Song Tuyền Sư Khoan
(雙泉師寛, Sōsen Shikan, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Tống, vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc. Ông kế thừa dòng pháp của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), rồi đến sống tại Song Tuyền Tự (雙泉寺) thuộc Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Ông được ban cho hiệu là Minh Giáo Thiền Sư (明敎禪師).
song tâm kinh
Dreddhàvitakka-sutta (P). Also Niệm kinh.
song vương
Từ dùng để gọi Dạ Ma Vương—A term for Yama.
sorata
Sorata (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
soát
To examine—To check—To verify.
soạn
1) Sửa soạn: To prepare. 2) Soạn nhạc: To compose. 3) Soạn sách: To compile.
soạn hiệu
Tên của người soạn giả—Compiler's name—Author's title.
; (撰 效) Tên họ của người soạn thuật được ghi ở đầu sách Phật; ngoài tên họ ra còn ghi địa danh, tên chùa. Có khi chính mình ghi, cũng có khi do người khác ghi. Nói một cách đại khái, những sách do Ấn độ thì ghi tên họ hoặc pháp danh trước chữ tạo hoặc chữ thư; các sách do Trung quốc soạn thì ghi tên họ hoặc pháp danh trước chữ thuật, chữ tập, chữ soạn. Thuật, tập, soạn là truyền thuật lại thuyết của người xưa, chứ không phải mình sáng tác, cũng không thêm ý mới. Nếu do thầy thuyết giảng, do đệ tử ghi thuật lại, cũng gọi là Soạn hiệu.
Soạn tập bách duyên kinh
撰集百緣經; S: śatāvadāna;|Tập truyện kể vừa có khuynh hướng Tiểu thừa vừa Ðại thừa, chuyên nói về các vị Bồ Tát. Bộ truyện này xuất phát từ thế kỉ thứ 2, kể lại các câu chuyện tiền thân các thánh nhân và nhấn mạnh tính chất quan trọng của Nghiệp.
soạn tập bách duyên kinh
Avadànasataka (S). Collection of a hundred avadànas.
Su-zu-ki, Dai-set-su
鈴木大拙; J: suzuki, daisetsu [daisetz]; 1870-1966; dịch nghĩa Hán Việt là Linh Mộc Ðại Chuyết;|Một học giả lừng danh người Nhật, người đã góp công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông sang Tây phương. Ông viết rất nhiền sách về thiền và nổi danh nhất có lẽ là bộ Thiền luận (Essays in Zen-Buddhism), gồm ba quyển. Ngoài ra, ông còn viết những tác phẩm quan trọng như Nghiên cứu kinh Lăng-già (Studies in the Laṅkāvatāra-Sūtra), Thiền và phân tâm học (Zen-Buddhism and Psychoanalysis).|Ông sinh trong một gia đình Hiệp sĩ (j: samurai), trong một thời kì Nhật bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá Tây phương. Mất cha sớm, ông sống cực khổ và chính cái khổ này đã thúc đẩy ông học hỏi nhiều để được dạy trong một trường phổ thông kiếm tiền nuôi mẹ.|Sau khi mẹ qua đời, ông đến Ðông Kinh (tōkyō), sau lại đến Liêm Thương (kamakura) tu học với một vị Thiền sư danh tiếng đương thời là Thích Tông Diễn (j: shaku sōen; cũng được gọi là Hồng Nhạc Tông Diễn; j: kōgaku sōen) tại Thiền viện Viên Giác (engaku-ji). Tông Diễn sớm nhận ra tài năng của ông và cho phép đi cùng đến tham dự Hội nghị tôn giáo thế giới (World’s Parliament of Religions) tại Chicago, Mĩ năm 1893. Tại hội nghị này, người Tây phương lần đầu tiên nghe được chút đỉnh về danh từ »Thiền«. Sau hội nghị này, ông ở lại Mĩ hơn mười năm để nghiên cứu, phiên dịch các tác phẩm triết học Ðông phương sang Anh ngữ, với sự giúp đỡ của Eduard Hegeler, một nhà triệu phú kiêm xuất bản, người gốc CHLB Ðức (Bremen). Trong thời gian này, ông bắt đầu học Phạn ngữ và hoàn tất tác phẩm quan trọng đầu tiên là Nghiên cứu về Ðại thừa Phật giáo (Studies in Mahāyāna-Buddhism). Hegeler cũng gửi ông sang Paris để sao lại những tác phẩm quý giá được lưu trữ tại đây. Trước khi về Nhật, ông còn sang Anh và nơi đây phiên dịch các tác phẩm của Swedenborg sang Nhật ngữ.|Năm 1908, ông trở về Nhật và 1910, lại trở lại châu Âu. Ông lập gia đình với Beatrice Lane (1911), một nữ thông thiên học (e: theosophy) xuất xứ từ New York, người đã tận lực giúp đỡ ông trong việc biên tập, phiên dịch cho đến giờ phút cuối của bà (1938). Sau, ông đảm nhận nhiều trách nhiệm như giảng dạy tại các đại học Nhật, biên soạn sách vở và đi đây đó thuyết trình Thiền học. Sự ra đời của bộ Thiền luận ba quyển của ông được ví như sự tái sinh, cải lão hoàn đồng của Thiền tông và Thiền lần đầu được trình bày, giảng giải, đưa đến châu Âu, Mĩ dưới dạng tuyệt vời nhất, thích hợp nhất. Năm 1957, ông cùng với hai nhà phân tâm học là Erich Fromm và Richard de Martino đã cho ra một quyển sách rất quan trọng là Thiền và phân tâm học và trong sách này, hai nhà phân tâm học đã xác định được sự liên hệ mật thiết giữa Thiền và Tâm lí học.|Su-zu-ki đã thực hiện được những gì mà Tông Diễn mong muốn khi ông đặt tên cho người học trò yêu quý của mình trước khi từ giã: Ðại Chuyết, nghĩa là »sự vụng về lớn.« Nhưng người ta cũng có thể hiểu »vụng về« ở đây như trong ngạn ngữ Nhật »Nghệ thuật cao siêu phớt nhìn thì trông như vụng về« (j: dai-kō wa dai-setsu no gotoshi). Ông chẳng phải là một Tỉ-khâu chính thức, chỉ là một Sa-di nhưng con đường đời đầy kinh nghiệm, học thức uyên bác đã giúp ông trở thành một nhà thuyết giảng độc nhất vô nhị của Thiền Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nhật Bản cho thế giới hiện đại. Không ít người trong giới Thiền tại Nhật đã lắc đầu e ngại vì những lời giảng tỉ mỉ của ông mà người ta cho là quá liều lĩnh, táo bạo cho một tông phái đặc biệt đề cao đến việc »Bất lập văn tự«, »Bất khả thuyết.« Ngay chính ông cũng thú nhận rằng, việc làm này của mình là »một tội lỗi lớn« của cuộc đời. Dù sao đi nữa, Thiền học nhờ ông được lan tràn khắp năm châu, ngày càng được nhiều người chú trọng và người ta có thể cảm nhận được ảnh hưởng này của ông đến ngày nay.|Ông mất ngày 12 tháng 7 năm 1966 tại Ðông Kinh (tōkyō), sau một cơn bệnh nhẹ, thọ 96 tuổi.|Các tác phẩm quan trọng của Su-zu-ki (trích): 1. Essays in Zen Buddhism (Thiền luận), First-Third Series, London 1950/1953; 2. Studies in the Lanka-vatara Sutra (Nghiên cứu kinh Lăng-già), London 1930; 3. Introduction to Zen Buddhism (Thiền pháp nhập môn), Kyoto 1931; 4. The Zen Doctrine of No-Mind (Giáo lí vô niệm), London 1949; 5. Living by Zen (Thiền sinh hoạt), London 1950; 6. Zen-Buddhism and Psychoanalysis (Thiền và Phân tâm học); 7. The Essence of Buddhism (Cốt tuỷ của đạo Phật), London 1947; 8. Zen and Japanese Culture (Thiền và văn hoá Nhật), Kyoto 1958; 9. Studies in Zen (Thiền bách đề), London 1955.
Su-zu-ki, Shun-ryu
J: suzuki, shunryū; 1905-1971;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng. Sư sang Mĩ năm 1958 và thành lập tại đây nhiều Thiền viện (San Francisco, Tassajara), những thiền viện đầu tiên tại Tây phương.
sudassan
Sudassan (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sudatha
Sudatha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sui gia
Related by marriage.
sum họp
To come (gather) together—To meet.
Sum Điền Ngộ Do
(森田悟由, Morita Goyō, 1834-1915): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Minh Trị, vị trú trì đời thứ 64 của Vĩnh Bình Tự, vị Quản Trưởng của Tào Động Tông, đạo hiệu là Đại Hưu (大休), hiệu Lục Trạm (六湛), Không Hoa (空華), nhụ là Tánh Hải Từ Thuyền Quốc Sư (性海慈船國師), xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari). Năm 1841, ông theo xuất gia với Long Sơn Thái Môn (龍山泰門) ở Long Quang Viện (龍光院) vùng Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya), Vĩ Trương, đến năm 1860 thì kế thừa dòng pháp của vị pháp huynh là Bạch Long (白龍). Ông đã từng sống qua vài nơi như Long Đức Tự (龍德寺), Thiên Long Viện (天龍院), Thiên Đức Viện (天德院) ở Kim Trạch (金澤, Kanazawa), rồi Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), và năm 1888 ông hoàn thành bản Động Thượng Hành Trì Quỹ Phạm (洞上行持軌範). Vào năm 1891, ông làm Quán Thủ Vĩnh Bình Tự. Trong khoảng thời gian nầy ông đã nổ lực giải quyết êm xuôi cuộc phân ly giữa hai chùa Vĩnh Bình Tự và Tổng Trì Tự. Đến năm 1895, ông được cử làm Quản Trưởng Tào Động Tông. Trước tác của ông có Sư Nhũ (獅乳), Động Thượng Hóa Đạo Yếu Nghĩa (洞上化道要義), Thiền Giới Pháp Thoại (禪戒法話), Phật Giới Lược Nghĩa (佛戒略義), Ngộ Do Thiền Sư Pháp Thoại Tập (悟由禪師法話集), Đại Hưu Ngộ Do Thiền Sư Quảng Lục (大休悟由禪師廣錄).
sumangala
Sumangala (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sundara
Sundara (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Sung mãn
充滿; C: chōngmăn; J: jūman;|Đầy đủ, chứa đầy, dồi dào (s: pūrna).
sung mãn
Sufficient—Abundant—Complete.
sung mãn của tuổi trẻ
At the height of youth.
sung mãn nhứt thiết trí
The understanding of ubiquity.
Sung mãn 充滿
[ja] ジュウマン jūman ||| To be filled with, to be pregnant with, teem with (pūrna). => Đầy đủ, chứa đầy, dồi dào (s: pūrna).
sung sướng
Blissful—Well-being—Happy.
Sung túc
充足; C: chōngzú; J: jūsoku;|Đầy đủ, trọn vẹn, hoàn toàn.
sung túc
Well-off—Sufficient.
Sung túc 充足
[ja] ジュウショク jūsoku ||| To be full, be whole, be complete. => Đầy đủ, trọn vẹn, hoàn toàn.
supatitthita
Supatitthita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sutava
Sutava (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
suy
1) Suy đồi: Decline—Decay—Fade—Frayed. 2) Suy nghĩ: To think.
suy công qui bản
(推功 歸本) Đưa công về gốc. Tức đưa cái đức của nghiệp dụng về cái thể căn bản của nó. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 2 (Vạn tục 37, 17 thượng) nói: Như nghi thức nói pháp của hết thảy chư Phật đều do nơi Ứng thân (...), nhưng đưa công về gốc thì chính là Pháp thân nói.
Suy Cổ Thiên Hoàng
(推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628): vị Thiên Hoàng sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7, vị nữ đế đầu tiên của Nhật, người con gái thứ 3 của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571), mẹ là Kiên Diêm Viện (堅塩媛, Kitashihime, con gái của Tô Ngã Đạo Mục [曽我稻目, Soga-no-iname]), Hoàng Hậu của Mẫn Đạt Thiên Hoàng (敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), tên là Phong Ngự Thực Xuy Ốc Cự (豐御食炊屋姫, Toyomikeka Shikiyahime), hay còn gọi là Hoàng nữ Ngạch Điền Bộ (額田部, Nukatabe). Sau khi Sùng Tuấn Thiên Hoàng (崇峻天皇, Sushun Tennō, tại vị 587-592) bị ám sát, bà lên ngôi kế vị ở Phong Phố Cung (豐浦宮) của nước Đại Hòa (大和, Yamato), về sau dời về Tiểu Khẩn Điền Cung (小墾田宮). Bà giao cho Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) làm Nhiếp Chính và cho thi hành chính sách quan vị 12 cấp và hiến pháp 17 điều.
suy cứu
to consider.
suy diễn
To deduce.
suy giảm
To decrease—To decline.
suy gẫm
To contemplate—To think over.
suy hoạn
Tai họa của suy thoái như nạn đói hay dịch bệnh—The calamities of decadence, famine, epidemics.
suy luận
To deduce—To reason.
suy lý
See Suy Luận.
suy nghĩ
Cinteti (p)—Cintayati (skt)—To have thought or idea—To ponder—To think—To think about—To think of.
suy nghĩ thế tục
The worldly way of thinking—Để phù hợp với suy nghĩ thế tục của chúng ta nên Đức Phật nói đến sinh trụ dị diệt như là những sự vật hiện hữu thật sự, kỳ thật không có gì được sanh, không có gì đang sanh và cả nhân duyên cũng không ở đâu cả; không có cái gì hiện hữu, không ở đâu có hiện hữu—In order to conform to our worldly way of thinking and expereince, the Buddha talks of birth, stay, change and disappearance as if things were really existent. In reality, nothing is produced, nothing is producing, and even causality is nowhere, there exists nothing whatever anywhere.
suy nguyên
To trace to original.
suy nhược
Weak—Feeble—Delibitated.
suy quan
(推官) Tên 1 chức quan ở đời Đường, thuộc dưới quyền Tiết độ sứ và Quan sát sứ, tức là chức Quận tá ở đời Tống, chuyên xem xét và quyết định các việc phải trái. Bích nham lục tắc 68 (Đại 48, 198 thượng) nói: Một hôm, có vị quan nhân đến tham yết ngài Ngưỡng Sơn, ngài hỏi: - Ông làm chức quan gì? Đáp: Suy quan. Ngài Ngưỡng Sơn dựng thẳng cây phất tử, hỏi: - Có suy (đánh đổ) được cái này không? Vị quan nhân không đáp được.
suy rộng
To generalize.
suy suyển
To be deminished (lessened).
suy sụp
To decline.
suy thịnh
Decadent and properous—Decadence and prosperity.
suy tàn
To decay—To decline.
suy tính
To reflect—To calculate—To ponder—To think.
suy tướng
4318天人將死時,現出衣染埃塵、花鬘萎悴、兩腋汗出、臭氣入身、不樂本座等五種衰相,稱為天人五衰。〔俱舍論卷十〕
; Dấu hiệu khi sắp chết—The indication of approaching death—See Ngũ Suy Tướng.
; (衰相) Khi người cõi trời sắp chết thì hiện ra 5 tướng suy báo trước. Đó là: Áo nhuốm bụi, tràng hoa héo úa, nách ra mồ hôi, mình có mùi hôi hám và không thích ngồi chỗ cũ, gọi là Thiên nhân Ngũ suy. [X. luận Câu xá Q.10].
suy tưởng
To think over.
suy vi
To sink into decay—To decline.
suy xét
To think out—To consider.
suy yếu
Feeble—Weak.
suy đoán
See Suy Diễn.
suy đồi
To degenerate—To decay—Downfall—See Kinh Suy Đồi in Appendix E.
suyển
1) Ước lượng—To estimate—To guess. 2) Đoàn (vo cho tròn): To roll into a ball, or roll together.
suyển thực
Đoàn Thực hay vo tròn cơm cũng như những thức ăn, đây là tập tục của người Ấn Độ là vo tròn thức ăn trong tay trước khi ăn—To roll rice, etc., into a ball in eating, the Indian way, or Hindu fashion of eating by first rolling the food into a ball in the hand.
suyễn
Ướt đẫm—Soak—Wet—Damp.
suyễn phật
An image of Vairocana in the open.
suôn
Straight and high.
suông
Empty—Hollow (rỗng)—Useless—Tasteless.
suất
1) Cái vợt có tay cầm—A net with handle. 2) Theo đuổi: To pursue—To follow after.
suất lộc cần na
Srughna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Suất Lộc Cần Na là một vương quốc và thành phố cổ nằm gần Yamuna, có lẽ là vùng giữa Saharanpur và Srinagar bây giờ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Srghna is an ancient kingdom and city near the upper course of the Yamuna, probably the region between Saharanpur and Srinagar.
Suất nhĩ 率爾
[ja] ソツニ sotsuni ||| The mind "as it is"--one of three successive stages of mind taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. 〔瑜伽論 T 1579.30.280a24〕 => Tâm khinh suất, xem thường–một trong 3 tiến trình của tâm được dạy trong Du-già sư địa luận.
suất tiền
4716即舉行祖師祭或各種佛事時,向眾僧募集香、花等供物之費用。又作率財。此外,新掛搭、新歸堂者募集香油錢,以表示謝掛搭,亦稱率錢。〔敕修百丈清規卷二告香條〕
; (率錢) Cũng gọi Suất tài. Chỉ cho tiền bạc quyên góp từ chúng tăng để chi dụng cho các vật cúng dường như hương, hoa... trong các dịp cử hành lễ giỗ Tổ sư hay các Phật sự khác. Ngoài ra, các vị tăng mới được nhận cho ở tham học trong tùng lâm, góp tiền mua dầu, hương để tỏ lòng cảm tạ, cũng gọi là Suất tiền.[X. điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
Suất Đô Bà
(s: sthūpa, p: stūpa, 率都婆): âm dịch của từ tháp (塔) hay tháp bà (塔婆). Ngoài từ Suất Đô Bà này ra, còn có những âm dịch khác như Tốt Đồ Ba (窣堵波), Tốt Đổ Bà (窣覩婆), Tẩu Đẩu Bà (藪斗婆), Đâu Bà (兜婆), Thâu Bà (偷婆), v.v. Ý dịch của từ này là Cao Hiển Xứ (高顯處), Công Đức Tụ (功德聚), Phương Phún (方墳), Viên Trũng (圓塚), Miếu (廟), Trũng (塚).
suất đô bà
4716梵語 stūpa 之音譯,又作卒都婆、窣堵波、藪斗婆。巴利語為 thūpa。略稱塔婆、兜婆、浮圖、塔。在古代印度原為形如饅頭之墓。釋尊滅後,率都婆不止為墳墓之意,已有紀念物之性質,尤以孔雀王朝建設許多由煉瓦構築之塔,埋有佛陀之遺骨、所持品、遺髮等,故漸演變為聖地之標幟及莊嚴伽藍之建築。其後,有以塔為中心,而興起新佛教運動,遂發展成為大乘佛教。 在中國、日本,塔與金堂並列為重要之建築物,用以奉納佛舍利,為寺院之象徵。其三重塔或五重塔最上方之相輪部分,保有印度之風格。又為追薦死者,有在細長板上,製成如塔形之塔婆,立於墓側之習慣。此種板塔婆,稱為率都婆、塔婆,而在建築物者,則僅稱塔,以便區別。書寫經文於率都婆木板,稱為率都婆經。於密教,特別設立五輪形之塔,以為大日如來之標幟。係基於五輪思想,即一切萬法由地、水、火、風、空五要素生成,依此而成之肉身,當下即為佛身。又密教之佛、菩薩像中有以塔為三昧耶形,或以之為持物者。(參閱「塔」5421)
; Stupa (skt)—A mound—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (率都婆) Phạn: Stùpa. Pàli: Thùpa. Cũng gọi Tốt đô bà, Tốt đổ ba, Tẩu đẩu bà. Gọi tắt: Tháp bà, Đâu bà, Phù đồ, Tháp. Suất đô bà vốn là kiểu mộ tháp ở Ấn độ đời xưa có hình dáng giống như cái bánh hỏi (bánh ú). Sau khi đức Phật nhập diệt, Suất đô bà ngoài ý nghĩa phần mộ ra còn mang tính chất là vật kỉ niệm, nhất là những ngôi tháp cấu trúc bằng gạch nung được xây dựng vào thời vương triều Khổng tước, trong đó có an trí di cốt, vật dụng, tóc... của đức Phật, thì Suất đô bà dần dần đã trở thành tiêu xí của Thánh địa và kiến trúc trang nghiêm chùa viện. Về sau, tháp được dùng làm trung tâm điểm để vận động tân hưng Phật giáo, từ đó phát triển thành Phật giáo đại thừa. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, tháp và kim đường đều được xếp vào hàng các kiến trúc quan trọng, được dùng để an trí xá lợi Phật, tượng trưng cho chùa viện. Phần tướng luân ở phía trên cùng của tháp 3 tầng hoặc 5 tầng, vẫn còn giữ nguyên phong cách Ấn độ. Còn có tập quán dùng 1 thanh gỗ nhỏ và dài làm thành hình tháp, dựng bên cạnh mộ để truy tiến người chết. Loại tháp bằng gỗ này được gọi là Suất đô bà, Tháp bà, còn tháp kiến trúc thì chỉ gọi là tháp để dễ phân biệt. Những kinh văn được viết chép trên loại tháp bằng gỗ, gọi là Suất đô bà kinh. Trong Mật Giáo, đặc biệt thiết lập ngôi tháp hình ngũ luân (5 yếu tố) để làm tiêu xí của đức Đại Nhật Như Lai. Đây là căn cứ vào tư tưởng ngũ luân, tức hết thảy muôn pháp đều do 5 yếu tố đất, nước, lửa, gió, hư không tạo thành, nhờ đó mà có nhục thân và ngay nơi nhục thân ấy là thân Phật. Ngoài ra, tượng Phật, Bồ tát trong Mật giáo, có các vị dùng tháp làm hình Tam muội da, hoặc làm vật cầm. (xt. Tháp).
suối vàng
Hell—Hades.
suốt
Throughout—Through.
suốt đời
Throughout the life.
suồng sã
To be too familiar.
sài
Củi—Firewood—Fuel—Brushwood.
sài lang
Chó sói—A wolf.
sài lang địa ngục
Một trong 16 du tầng địa ngục, nơi sói beo tới ăn thịt tội nhân—One of the sixteen hells, where sinners are devoured by wolves.
sài phị vô xu cơ
4143禪林用語。樞,為門之轉軸;機,為門閫。謂柴門簡陋,不須使用樞、機等物;引申為不拘於去來之自由境地。
; (柴扉無樞機) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xu là cái chốt để chốt cửa; Cơ (ki) là cái then để cài cửa. Sái phi vô xu cơ nghĩa là cửa làm bằng phên thì không cần đóng chốt cài then làm gì. Trong Thiền tông, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cảnh giới tự do tự tại, không chấp nhặt vào sự đến đi.
sài đầu
4143叢林中,於飯頭之下管理柴薪之職役。其主要職務為入山採薪,以供大眾使用。〔景德傳燈錄卷二十、禪林象器箋職位門〕
; Vị Tăng phụ trách về củi lửa trong tự viện—The one who looks after firewood in a monastery.
; (柴頭) Chức vụ coi việc củi đóm trong tùng lâm, chức này dưới chức Phạn đầu. Nhiệm vụ chủ yếu của vị Sài đầu là vào núi lấy củi về cho đại chúng sử dụng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.20; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
sàm siểm
To slander and flatter.
sàn đề
Xem nhẫn nhục.
sàn đề ba la mật
Xem Nhẫn nhục Ba la mật.
sàn đề la
6863梵語 ṣaṇḍhilā。又作扇提羅。意譯作石女。即不具女根者。〔勝鬘寶窟卷上本〕
; (羼提羅) Phạn: Waịđhilà. Cũng gọi Phiến đề la. Hán dịch: Thạch nữ. Chỉ cho người đàn bà không có bộ sinh dục (nữ căn). [X. kinh Thắng man bảo quật quyển thượng, phần đầu].
sàn đề tiên nhân
6863梵名 Kṣānti-vādi-ṛṣi。意譯作忍辱仙。又稱羼提波梨(梵 Kṣānti-pāla)、羼提比丘。係釋尊於因位修菩薩行,成滿忍辱行時之名。據賢愚經卷二羼提波梨品載,過去久遠劫時,印度波羅㮈國迦梨王(梵 Kāli)割截羼提波梨之手、足、耳、鼻,仙人忍辱而顏色不變,遂感化迦梨王。〔大智度論卷十四〕(參閱「忍辱仙」2894)
; (羼提仙人) Phạn: Kwànti-vàdi-fwi. Cũng gọi Sằn đề bà lê (Phạm:Kwàntipàla), Sằn đề Tỳ khưu. Hán dịch: Nhẫn nhục tiên. Tên gọi đức Thế tôn ở đời quá khứ lúc Ngài tu hạnh Bồ tát và thành tựu hạnh nhẫn nhục. Cứ theo phẩm Sằn đề bà lê trong kinh Hiền ngu quyển 2 thì trong 1 kiếp quá khứ lâu xa, vua Ca lợi (Phạn: Kàli) nước Ba la nại, Ấn độ, cắt tay, chân, tai, mũi của Sằn đề ba lê, vì tu hạnh nhẫn nhục nên vị tiên Sằn đề thản nhiên chịu đựng, nét mặt không hề thay đổi, nhờ đó mà cảm hóa được ông vua cực kì hung bạo. [X. luận Đại trí độ Q.14]. (xt. Nhẫn Nhục Tiên).
sàn đề đề bà
6863梵名 Kṣāntideva。釋尊為太子時,傳授其武技之師。〔佛本行集經卷十一習技藝品〕
; (羼提提婆) Phạn: Kwàntideva. Tên vị thầy dạy võ cho Thái tử Tất đạt đa lúc thiếu thời. [X. phẩm Tập kĩ nghệ trong kinh Phật bản hạnh tập Q.11].
sàng
3449指比丘坐臥時所用之臺座。又作床。可分爲二種,即:(一)坐床(梵 pīṭha,巴同),意譯爲繩床。又作坐禪床。即以繩、草或籐所製之折疊床,以其輕巧且攜帶方便,故爲比丘經常攜行之道具,屬十八物之一。(二)臥床(梵 mañca 或 khaṭvā),譯作木床。係以板製成之木床,多使用於屋內。 床之基腳種類甚多,五分律卷六列舉尖腳床、非尖腳床二種,四分律卷十二列舉旋腳、直腳、曲腳、入梐、廡腳等五種,十誦律卷十一亦列舉出阿珊蹄腳、波郎劬腳、羝羊角腳、尖腳、曲腳等五種。又床之製法亦有多種,十誦律卷十及卷十八舉出繩床有細梐、粗梐二種,根本薩婆多部律攝卷九舉出鏇腳小床、踞坐繩床、眠臥繩床等三種,摩訶僧祗律卷十四則列舉出烏那陀坐床、團腳臥床、團腳坐床、臥褥床、坐褥床等十種。有關床之高度,依四分律比丘戒本載,坐床與臥床,其高度皆應爲如來之八指,即高一尺六寸;又據南海寄歸內法傳卷三臥息方法條載,臥床闊二肘,長四肘半;法苑珠林卷八十八戒相部則謂,臥床闊限四尺,長限八尺(或九尺),超過此限,即屬高廣大床,應加以禁止。〔四分律卷十九、卷五十、十誦律卷十二、卷十九、四分僧戒本,解脫戒經、有部毘奈耶頌卷中、彌沙塞五分戒本、十誦比丘波羅提木叉戒本、俱舍論卷十四、大唐西域記卷二、禪林象器箋器物門〕
; (床) Cái giường, vật dụng để ngồi, nằm của vị Tỳ khưu, có thể chia làm 2 loại: 1. Tọa sàng (Phạn; Pàli:Pìtha): Giường dây, giường ngồi thiền. Tức dùng dây, cỏ hoặc mây đan lại thành cái giường (ghế) gấp, gọn nhẹ để có thể mang theo được, là 1 trong 18 vật dụng của Tỳ khưu. 2. Ngọa sàng (Phạn: Maĩca hoặc Khaỉva): Giường gỗ, phần nhiều dùng trong nội thất. Chân giường có nhiều loại: Luật Ngũ phần quyển 6 nêu 2 loại: Chân giường nhọn và không nhọn. Luật Tứ phần nêu 5 loại: Chân tròn, chân thẳng, chân cong, chân bệ, không chân. Ngoài ra, cách làm giường cũng có nhiều loại: Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 9 nêu ra 3 loại: Giường nhỏ chân tròn, giường dây để ngồi và giường dây để nằm ngủ.Luật Ma ha tăng kì quyển 14 nêu ra 10 loại giường ngồi Ô đà na, giường nằm chân tròn, giường ngồi chân tròn, giường nệm để ngồi, giường nệm để nằm... Về chiều cao của giường, theo Tỳ khưu giới bản trong luật Tứ phần, thì giường ngồi và giường nằm đều cao 8 ngón tay Như lai (tức khoảng 60 cm). Theo điều Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì giường nằm rộng 2 khuỷu tay (khoảng 80 cm), dài 4 khủy rưỡi (1, 8 m). Theo phần Giới tướng bộ trong Pháp uyển châu lâm quyển 88 thì giường nằm rộng 4 thước (1,2 m), dài 8 thước (2,4 m), vượt quá hạn định ấy thì thuộc loại giường to lớn, cao rộng không được dùng. [X. luật Tứ phần Q.19, 50; luật Thập tụng Q.12, 19, Tứ phần tăng giới bản; Giải thoát giới kinh; Hữu bộ tì nại da tụng Q.trung; Sa di tắc ngũ phần giới bản; Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc. Ghế ngồi đan bằng dây xoa giới bản; luận Câu xá Q.14; Đại đường tây vực ký Q.2; môn Khí vật trong Thiềnlâm tượng khí tiên].
sàng lịch
3449即僧籍簿。又作床曆。床,指僧堂中之床;曆,指記載僧侶履歷資料之名冊。於禪宗,僧堂中之床位多依照眾僧戒臘之深淺而排其次第,一般以首座爲首。〔勅修百丈清規卷四兩序章維那條、卷七節臘章夏前出草單條、禪苑清規卷一掛搭條、禪林象器箋簿券門〕
; (床曆) Sàng là cái giường kê trong nhà Tăng; Lịch là quyển sổ ghi chép lí lịch của chúng tăng.Trong Thiền lâm, giường nằm của chúng tăng trong nhà Tăng được xếp đặt theo thứ tự giới lạp (tuổi hạ) của chúng tăng nhiều hay ít. Thông thường, giường của vị Thủ tọa được đặt ở vị trí thứ nhất. [X. điều Duy na, chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4; điều Hạ tiền xuất thảo đơn, chương Tiết lạp trong sách dẫn thượng Q.7; điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Sàng 床
[ja] ショウ shō ||| (1) A (raised) bed, especially used by a sick person. (2) A raised platform for conducting meditation. => 1. Cái giường, đặc biệt dành cho người bệnh. 2. Cái đơn để ngồi thiền.
sành sỏi
To be expert (experienced) in.
Sào Phủ
(巢父): tên gọi của vị ẩn sĩ sống dưới thời nhà Nghiêu. Theo Cao Sĩ Truyện (高士傳), phần Sào Phủ của Hoàng Phủ Mật (皇甫謐, 215-282) nhà Tấn cho biết rằng: “Sào Phủ giả, Nghiêu thời ẩn nhân dã; sơn cư bất doanh lợi thế; niên lão, dĩ thọ vi sào nhi tẩm kỳ thượng, cố thời nhân hiệu viết Sào Phủ (巢父者、堯時隱人也、山居不營世利、年老、以樹爲巢而寢其上、故時人號曰巢父, Sào Phủ là ẩn sĩ dưới thời nhà Nghiêu; ông sống trong núi, không màng đến danh lợi trần thế; đến tuổi già ông lấy cây cao làm tổ mà ngủ trên đó, cho nên người đương thời gọi là Sào Phủ).” Ông đã từng từ chối ngôi vị Thiên tử của nhà Nghiêu. Câu chuyện ông dắt trâu lên uống nước ở dòng phía trên trong khi Hứa Do rửa tai ở dòng phía dưới đã trở thành điển cố nổi tiếng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học, thi ca, v.v. Như trong Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập (林泉老人評唱投子青和尚頌古空谷集, CBETA No. 1303) có câu: “Hứa Do tẩy nhĩ, Sào Phủ khiên ngưu, phất tích thành ngấn, dục ẩn di lộ (許由洗耳、巢父牽牛、拂跡成痕、欲隱彌露, Hứa Do rửa tai, Sào Phủ dắt trâu, chùi dấu thành vết, muốn giấu càng lộ).”
sá lạp nặc tư
1600(Kalanos)梵名 Kalyāṇa。乃西元前四世紀中葉僑居印度,歸依佛教之希臘人。僑居印度之希臘人,為求道而歸依佛門出家者,早在阿育王時代已不少,因印度社會由於婆羅門教之專橫墨守種姓制度,嚴厲排他而封閉之情況下,欲信仰宗教之希臘人,惟有選擇超越種族、國家,具有社會包容性,且主張人類平等之佛教為其信仰之對象。根據美加蘇得尼斯(Megasthenes,約 350 B.C.~290 B.C.)一書之記載,亞歷山大大王侵入印度(327 B.C.)時,有學問淵博、通曉印度哲學思想之大修行者卡拉諾斯,侍於亞歷山大大王身旁,因利慾薰心,伺機謀害王,故受當時印度人之非議。其有關之資料,記載於美加蘇得尼斯斷片第四十四號、斯特雷波(Strabon XV, I, 68)。
sá thái cách căn
1600西藏佛教格魯派寺院中康村之職稱。為雜務主管,任期二年。
sác tập lực
(數集力) Cũng gọi Quán tập lực,Tập lực. Sác nghĩa là luôn luôn, nhiều lần; Tập nghĩa là tập quen, luôn luôn tập quen, gọi là Sác tập. Lực là sức, cái sức do tập quen nhiều lần mà thành, gọi là Sác tập lực. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 13 (Đại 31, 755 trung) nói: Phiền não sinh khởi là do quán tập lực, Thánh đạo hiện tiền thì phiền não tự dứt. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; luận Câu xá Q.29;luận Thành duy thức Q.2].
sách
4279梵語 pāśa。音譯作播捨、皤賒。又稱寶索、金剛索。此索以五色線搓成,一端置鐶,另一端付半獨股杵。本為戰具或獵具,但於密教中,以其為捕縛難化者與降伏四魔之具,乃表示四攝方便之意。與金剛界之金剛索菩薩內證相應。又為不空羂索、千手觀音所持之物。〔大日經具緣品、不空羂索經卷九、慧琳音義卷六十一〕
; Quyển sách—A book—A treatise—A tablet.
; (索) Phạn: Pàza. Hán âm: Bá xả, Bá xa. Cũng gọi: Tác, Bảo tác, Kim cương tác. Sơi dây thừng se bằng những sợi chỉ 5 màu, một đầu để cái vòng, đầu kia thêm nửa cây chày 1 chẽ. Sách vốn là chiến cụ hoặc đồ dùng săn bắn. Nhưng trong Mật giáo, nó được dùng để tượng trưng cho phương tiện Tứ nhiếp, trói buộc những chúng sinh cứng đầu khó giáo hóa và hàng phục 4 thứ ma. Nó tương ứng với sự nội chứng của Bồ tát Kim cương sách thuộc Kim cương giới. Nó cũng là vật cầm tay của các vị bồ tát Bất không quyên sách và Thiên thủ Quán âm. [X. phẩm Cụ duyênkinh Đại nhật, kinh Bất không quyên sách Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.61].
sách bồ tát
4280乃金剛索菩薩(梵 Vajra-pāśaḥ)之略稱。為密教金剛界三十七尊中,四攝菩薩之一。位於曼荼羅第一重之南門。密號等引金剛、慈引金剛。乃以慈悲心平等引導眾生進入佛道之尊,亦為以禪定大菩提心引攝諸佛入於壇場之尊。若與顯教四攝事相配,為愛語之內證。其成身會之尊,身呈白黃色,左手屈拳,置於腰處,右手執蛇索;微細會、降三世會之尊,右手持羂索;供養會之尊,端坐蓮花,雙手持索。其種子為???(hūṃ),表示將一切緣生之法,引入自證大空菩提之義。〔金剛頂經卷二、教王經卷二、蓮華部心軌〕
; (索菩薩) Gọi đủ: Kim cương sách bồ tát (Phạm: Vajra-pàza#). Cũng gọi: Tác bồ tát, Kim cương tác bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở gần cửa phía nam, hàng thứ nhất trong Mạn đồ la Kim cương giới, 1 trong Tứ nhiếp, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Đẳng Dẫn Kim Cương, Từ dẫn kim cương. Vị Bồ tát này dùng tâm từ bi bình đẳng dắt dẫn chúng sinh tiến vào Phật đạo, đồng thời, cũng là vị tôn dùng tâm bồ đề thiền định dẫn nhiếp chư Phật vào đạo tràng. Nếu phối hợp với Tứ nhiếp sự của Hiển giáo thì vị tôn này là nội chứng Ái ngữ. Trong hội Thành thân, hình tượng vị tôn này màu vàng lợt, tay trái nắm co lại, để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm sợi dây rắn. Trong hội Vi tế, hội Hàng ma thì tay phải vị tôn này cầm vòng dây. Trong hội Cúng dường, vị này ngồi ngay thẳng trên hoa sen, 2 tay cầm sợi dây. Chủng tử là biểu thị ý nghĩa đem tất cả pháp duyên sinh nhập vào Bồ đề tự chứng đại không. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Giáo vương Q.2; Liên hoa bộ tâm quĩ].
sách dẫn
4279佛教經典在索引的編製之前,有標目、條目、條箇,如大智度論類聚標目、宗鏡錄要義條目、大日經疏條箇、法華玄論標條等,即將書中要目列記於上。另有堯恕之僧傳排韻,即將我國四十八種僧傳中列出之僧名,以一○八韻順序排列,並舉出其略傳及典據。類似此者,另有將歷代之僧名依生年順序排列者,如民國陳垣之釋氏疑年錄。日本有以五十音為順序的大藏經索引(大藏出版株式會社,未完)、鈴木大拙之入楞伽經梵藏漢索引、梁高僧傳人名索引(支那佛教史學雜誌連載)、山田孝雄之一切經音義索引、大正新脩大藏經索引、南傳大藏經(日譯本)索引等。
; (索引) Đem nội dung của các kinh luận biên thành mục lục để dễ kiểm tra, như Đại trí độ luận loại tụ tiêu mục, Tông kính lục yếu nghĩa điều mục, Pháp hoa huyền luận tiêu mục v.v... tức đem những mục trọng yếu nêu ở trên sách.
sách dục vấn hoà
4280戒律用語。一山之大眾將會合時,某比丘有事故欲缺席,稱為「欲法」。該比丘須將此「欲法」傳於將出席之比丘,稱為「與欲」。接受該比丘之「與欲」稱為「受欲」。直至集會之時,主事必先問:「有受欲者否?」稱為「索欲」。此時受欲之人則答:「某與欲於我。」故知既行索欲之法,無一人破和合僧。主事復就所作之羯磨事問與會大眾:「一同和否?」是謂「問和」。此索欲與問和二法,必於一切羯磨之初行之。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上之三〕
; (索欲問和) Tiếng dùng trong giới luật. Khi đại chúng trong tùng lâm sắp nhóm họp, nếu 1 vị Tỳ khưu nào đó có việc gấp, cần phải vắng mặt trong cuộc họp để giải quyết công việc, thì gọi là Dục pháp (pháp mong cầu, ở đây nghĩa là mong cầu được vắng mặt). Vị Tỳ khưu muốn được vắng mặt ấy phải đem Dục pháp truyền đạt cho vị Tỳ khưu sẽ có mặt trong cuộc họp, gọi là Dữ dục (giáo dục pháp cho). Vị Tỳ khưu tiếp nhận Dữ dục gọi là Thụ dục (người nhận Dục pháp). Đến khi đại chúng nhóm họp, vị chủ tọa trước tiên phải hỏi: -Hữu thụ Dục giả phủ (Có ai nhận Dục pháp không)? Gọi là Sách dục. Lúc đó, người thụ dục đáp: - Mỗ dữ dục ư ngã (Vị Tỳ khưu tên là... có nhờ tôi). Như vậy là biết đã có pháp sách dục, không có ai phá hòa hợp tăng. Bấy giờ, vị Chủ tọa lại hỏi: - Nhất đồng hòa phủ (Tất cả hòa hợp không)? Đây gọi là Vấn hòa. Hai pháp Sách dục và Vấn hòa phải được thực hành ngay từ lúc đầu của tất cả các loại yết ma. Nói một cách nôm na và vắn tắt cho dễ hiểu là: Theo luật của tăng, khi đại chúng hội họp, tất cả đều phải có mặt. Nhưng nếu vì 1 lí do đặc biệt nào đó, như bệnh nặng chẳng hạn, mà người ấy phải vắng mặt, không dự họp được, thì phải nhờ người khác đưa lí do vắng mặt của mình ra trình bày trước cuộc họp, mong được sự đồng ý chấp thuận để tránh việc phá hòa hợp của chúng tăng. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3].
sách ha
4280梵語 sahā。隋代以前譯作娑婆、雜會。意譯為堪忍、忍土。即此世界、人間界,乃世尊所教化之世界。此世界之眾生安於十惡,忍受諸煩惱,故稱其土為索訶。(參閱「娑婆」4077)
; (索呵) Phạn: Sahà. Hán dịch: Kham Nhẫn, Nhẫn Độ. Chỉ cho cõi nhân gian này, là thế giới do đức Thế tôn giáo hóa. Chúng sinh ở thế giới này thường làm 10 điều ác, nhẫn chịu các phiền não, vì thế gọi là Sách Ha. Từ đời Tùy trở về trước, Sách ha được dịch là Sa Bà, Tạp Hội.
sách ngạn chu lương
5175(1501~1579)日本臨濟宗僧。京都人。號謙齋。年十八於天龍寺出家。受幕府之命曾二次出使我國,廣結明代文人,以詩名著稱。受織田信長、武田信玄之信任,亦曾住甲斐(山梨縣)。日本天正七年,在天龍寺妙智院示寂,世壽七十九。著有南游集、謙齋詩集、謙齋雜稿,及入明記初渡集、入明記再渡集等書。〔明史列傳第二一○、天龍雜志〕
sách nhĩ ba thả thích ca sinh
4280(1002~1062)西藏名 Zurpo-che sakya hbyun-gnas。又作素薄且釋迦生。西藏佛教寧瑪派新派創始者之一。嘗從卻壠仰智生受學幻變與心品教授,從傑釋迦勝(藏 Lce sakya mchog)受學甘露教授,從寧拏自在稱(藏 Gnan-nag dhan grags)受學祕密灌頂與方便道等法,親近眾多善知識,為寧瑪派中心人物,並將當時寧瑪派典籍作系統性整理。曾創建鄔巴壠寺(藏 Hug-pa lun),故亦稱鄔巴壠巴。上首弟子五人,最能廣弘師業者為索爾迥喜饒札巴(1014~1074)。(參閱「寧瑪派」5783)
sách nhĩ huýnh hỉ nhiêu trát ba
4281(1014~1074)西藏名 Zur-chun ses-rab grags。又作素穹慧稱。西藏佛教寧瑪派僧,為寧瑪派新派創始者之一。係索爾波且釋迦生之養子,繼任鄔巴壠寺寺主。曾於札賈窩(藏 Brag-rgya-bo)勤修三十年得大成就,故又稱善逝賈窩瓦(藏 Bde-gsegs rgya-bo-ba)。弟子甚多,有四柱、八梁、十六棟等稱,以其子卓浦巴釋迦獅子(藏 Sgro-phug-pa sakya senge)最為著名。
sách nặc mộc gia mục thố
4281(1543~1588)西藏名 Bsod-nams rgya-mtsho。又稱瑣朗嘉穆錯。為第三世達賴喇嘛。誕生於西藏衛州(藏 Dbus)。嘉靖二十六年(1547),年四歲被認為係達賴喇嘛二世根敦嘉穆錯之轉世,迎入別蚌寺(藏 Ḥbras-spuṅs),隨大班底達(藏 Bsod-nams grags-pa)受優婆塞戒。七歲時,從索諾木達庫帕受沙彌戒,跟隨其師里庫頓(藏 Legs-don)與芭矻帖(藏 Ḥphags-sde)翻譯官等研習顯密諸經論與灌頂。十歲時任別蚌寺堪布,十一歲主持拉薩祈願大會,十六歲兼任色拉寺住持,二十二歲,依甘丹寺座主格里庫貝桑保(藏 Dge-legs dpal-bzaṅ-po)受具足戒。 當時,土默特部之俺答汗為東蒙古之有勢力者,常入寇明朝。至穆宗(1567~1572 在位)時歸服,受封為順義王。其後則迎接喇嘛僧,信仰喇嘛教,復因從甥徹辰鴻台吉之勸,招請第三世達賴喇嘛。萬曆五年(1577),達賴遂自別蚌寺出發。翌年,抵達蒙古展開教化。王賜號「法王持金剛達賴喇嘛」(藏 Dalaḥi bla-ma Vajradhara),達賴喇嘛一稱即源於此,其後,由其身轉世之喇嘛,皆稱達賴。俺答汗嘗為法王建立一仰華寺,並受西藏甘珠爾之教,宣布禁止部族之殺戮、殉葬之俗。法王又授灌頂於甘肅、寧夏、青海、蒙古諸部,凡紅教之諸法王皆俯首稱弟子,其後又受明神宗招請至內地巡錫,並赴安土、康、裏塘等地弘法。萬曆八年,在裏塘建立寺院。次年又往察木多(藏 Chabmdo)弘法。十年,俺答汗歿,王子敬格爾圖克隆(藏 Seṅ-ge tā-gu-ruṅ)繼承王位。索諾木嘉穆錯亦應新王招請,於萬曆十四年入蒙古。黃衣派之聲威,遍於蒙藏諸部,教化所及東西數萬里。十六年一月,神宗賜號「灌頂大國師」,又招請之,以病不能前往,二月即歿,享年四十六。 第三世達賴入滅之際,眾人皆感悲歎,蒙古王侯遂勸請轉生為蒙古人。次年(1589),即發現轉生者為圖克隆汗之王子,即第四世達賴喇嘛榮丹嘉穆錯。〔聖武記、蒙藏佛教史、蒙古佛教史、G. Schulemann: Die Geschichte der Dalailamas; C. Bell: The Religion of Tibet〕
sách nặc mộc tồi ma
4281(1142~1185)西藏名 Bsod-nams rtse-mo。為西藏佛教新派薩迦派之第二世孔迦寧保(藏 Kun-dgaḥsñin-po)之第二子。三歲時,禮拜文殊、大悲空智金剛、多羅等三尊,通解三祕經、勝樂根本祕經等。十六歲時,習祕密經與祕義,且得金剛大阿闍梨蓮華生(梵 Padmasambhava)之教義。其次,於法獅子(藏 Chos-kyiseṅ-ge)處學般若與量論。十八歲,承襲薩迦寺主座之位,即薩迦派之第三世,專致於講學、論儀、著述以弘法。至二十八歲,能於一時現三身。其後,從事真言及無量之教授等說法。西元一一八五年,於說法中入滅,享年四十四。「蒙古佛教史、Deb-ther sṅon-po(The Blue Annals)〕
sách phát a xà lê
5175又作策發師。係沙彌受具足戒時,策勵沙彌發心之戒師。為十師之一。弘戒法儀卷上(卍續一○六‧四九八下):「引請兩人,到十師寮,請策發師。」
; (策發阿闍梨) Cũng gọi Sách phát sư. Vị giới sư khích lệ sa di khi sa di thụ giới Cụ túc, 1 trong Thập sư. Hoằng giới pháp nghi quyển thượng (Vạn tục 106, 498 hạ) nói: Hai vị Dẫn thỉnh đến liêu Thập sư, thỉnh Sách phát sư.
sách thoại
4280禪林用語。又作索語、釣語、釣話。禪家上堂說法前,先行垂語,學人中就此有疑者起問,師家藉此既可解決學人之疑,復可試出學人之見解,猶如釣魚人垂鈎以索魚。然據禪林象器箋垂說門載,古之學人上堂有疑不決,則出眾請問,稱為索話;而後世之索語已異古意。另據禪林寶訓卷三萬菴顏和尚言(大四八‧一○三三中):「古人上堂先提大法綱要審問大眾,學者出來請益,遂形問題。今人杜撰四句落韻詩作釣話,一人突出眾前,高吟古詩一聯,喚作罵陣,俗惡俗惡!可悲可痛!」可見於後世之演變愈加不一。〔敕修百丈清規卷七之四節秉拂條〕
; (索話) Cũng gọi Sách ngữ, Điếu ngữ, Điếu thoại. Trong Thiền lâm, khi thướng đường thuyết pháp, trước hết, bậc thầy nói pháp ngữ, nếu người học có điều gì nghi ngờ thì hỏi, bậc thầy nhờ đó mà giải quyết mối ngờ của người học, đồng thời nhân đó mà thử nghiệm chỗ hiểu biết của người học, giống như người câu cá thả câu tìm cá. Nhưng theo môn Thùy Thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên thì người học thời xưa, khi thướng đường thuyết pháp, nếu có điều ngờ không giải quyết được thì đứng ra thưa hỏi, gọi là Sách thoại: Sách ngữ đời sau đã khác với ý của người xưa. Lại cứ theo Thiền lâm bảo huấn quyển 3 thì Hòa thượng Vạn Am Nhan nói (Đại 48, 1003 trung): Người xưa thướng đường, trước nêu cương yếu của đại pháp để thẩm vấn đại chúng, người học đứng ra thưa hỏi, nhờ đó mà vấn đề được sáng tỏ. Người đời nay thì hư cấu ra 4 câu thơ lạc vận để làm Điếu thoại, rồi 1 người thình lình ra trước chúng, cao giọng ngâm 1 bài thơ xưa, gọi nhau om sòm, rất thô tục! Thật đáng buồn, đáng đau xót! Qua đây, ta thấy diễn biến của đời sau lại càng phức tạp. [X.điếu Tứ tiết bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7].
sách thánh
Sacred Books.
sách tu
To stimulate—To cultivation of the good; to keep oneself up to the mark.
sách tử bản
1549我國書冊的裝訂形式之一。或起源於西方,然於宋代時在我國開始風行,敦煌等地出土之佛典冊子本幾全為此類冊子本。冊子本係筆記本形式,大多將一張四開紙對摺,再以漿糊一一黏合或以細繩裝訂成冊。又可分為蝴蝶裝及袋裝二種,蝴蝶裝與現今西式書籍相同,蝴蝶係指其對摺形式類似蝴蝶之雙翅,亦即在摺縫處裝訂,一張紙便有四面文字;而我國古代之蝴蝶裝常將開口處黏合,成為一頁兩面文字。袋裝正與蝴蝶裝相反,裝訂處在對摺紙之開口處,形成袋狀之一頁兩面文字;線裝書多以此方式裝訂。此外,冊子本亦由我國傳至中亞一帶,如敦煌、高昌、黑水城一帶,皆有冊子本佛典出土,除大部分之漢文佛典外,尚包括西藏文、回紇文、西夏文等之佛典。冊子本之書寫方向因各地文字不同而有異,漢文與西夏文均為由右向左之直寫方式,故與摺縫平行;回紇文有直寫、橫寫兩種,直寫者為由左向右之方向,而與摺縫平行,橫寫者為由右向左之方向,而與摺縫垂直;西藏文全為由左向右之橫寫方式,故與摺縫垂直。(參閱「摺本」5814)
; (册子本) Bản sách đóng, 1 trong các hình thức đóng sách ở Trung quốc thịnh hành vào đời Tống, những bản kinh Phật đào được ở Đôn hoàng hầu hết là loại Sách tử bản. Sách tử bản là hình thức bản sách thuộc thể bút kí, phần lớn là lấy 1 tờ giấy gấp làm đôi rồi dùng hồ dán từng tờ dính lại, hoặc dùng sợi dây nhỏ khâu gáy đóng thành sách. Có 2 loại: Hồ điệp trang và Đại trang. Hồ điệp trang giống như cách đóng sách ở phương Tây hiện nay, tức là hình thức gấp đôi tờ giấy giống như 2 cánh bướm (Hồ điệp) và khâu lại ở chỗ nếp gấp giấy. Một tờ gấy như thế có 4 mặt chữ. Nhưng Hồ điệp trang của Trung quốc ngày xưa thường dán dính ở chỗ mở tờ giấy, làm thành 1 tờ giấy 2 mặt chữ. Còn Đại trang chính là tương phản với Hồ điệp trang, chỗ đóng ở nơi mở ra của tờ giấy gấp đôi, hình cái túi (đại) có 2 mặt chữ. Sách đóng bằng chỉ phần nhiều theo cách đóng này. Ngoài ra, Sách tử bản cũng từ Trung quốc truyền đến vùng Trung á, như ở các nơi Đôn hoàng, Cao xương, Hắc thủy thành... đều có đào được các bản kinh Phật thuộc loại Sách tử bản, ngoài phần lớn kinh điển bằng chữ Hán ra, còn có các kinh điển bằng các thứ tiếng Tây tạng, Hồi hột, Tây hạ... Chiều hướng viết của các Sách tử bản không giống nhau vì văn tự các nơi có khác nhau, như chữ Hán và chữ Tây hạ đều viết thẳng theo hàng dọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Chữ Hồi hột thì có 2 cách: Viết thẳng dọc xuống và viết ngang. Cách viết thẳng dọc là từ trái sang phải, cách viết ngang là từ phải sang trái. Còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải. (xt. Triệp Bản).
sách đa
4279梵語 sattva,巴利語 satta。又作薩埵。意譯作有情、含識、勇猛。即指勇猛精進,堅持不捨忍樂修行之有情。〔佛性論卷二、大智度論卷三十一〕(參閱「薩埵」6602)
; (索哆) Phạn: Sattva. Pàli:Satta. Cũng gọi Tát đóa. Hán dịch: Hữu tình, hàm thức, dũng mãnh. Chỉ cho hữu tình dũng mãnh, tinh tiến, kiên trì, nhẫn nại và vui với việc tu hành. [X. luận Phật tính Q.2; luận Đại trí độ Q.31]. (xt. Tát Đóa).
sái
6902悉曇字???(ṣa)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作沙、刷、剎、殺、屣、察。一切法性鈍之義,為制伏六處,得六神通之聲。據大日經疏卷七載,般若無知自性鈍故,與此字門(沙)義合。所謂自性鈍者,即是極無分別心;不愚、不智、不慧,無識、無智、無妄、無覺,乃至一切諸法不能動搖,為一純固金剛地。如世間人尚智慧而棄愚癡、尊涅槃而賤生死。然此字門表徵一概本不生,乃至一概本性寂,故實無利鈍之區分,譬如金剛之利刃,若對不堅固之物而言,可稱為鋒利,若對金剛之物而言,則利與鈍亦無二無別。 大智度論卷四十八(大二五‧四○八中):「若聞沙字,即知人身六種相。沙,秦言六。」蓋梵語 ṣaṣ 為六之義,以灑(ṣa)字為字首,故有此說。又方廣大莊嚴經卷四舉出制伏六處得六神通之義;文殊師利問經卷上字母品及文殊問經字母品第十四列舉六處、六神通之義者亦同。〔佛本行集經卷十一、放光般若經卷四、大品般若經卷八、卷五十三、舊華嚴經卷五十七、瑜伽金剛頂經釋字母品〕
; 1) Tưới—To sprinkle. 2) Phơi nắng cho khô: To dry in the sun.
; (灑) Cũng gọi Sa, Soát, Sát, Sí. Chỉ cho chữ (wa), 1 trong 50, hoặc 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Nghĩa là tất cả pháp tính độn, là âm thanh chế phục 6 chỗ (6 căn), chứng được 6 thần thông. Tại Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì vì Bát nhã vô tri tự tính độn, cho nên hợp với chữ Sái này. Cái gọi là tự tính độn chính là cái tâm hoàn toàn không phân biệt; không ngu, không trí, không tuệ, không thức, không tri, không vọng, không giác, cho đến hết thảy các pháp không thể lay động, là 1 kim cương địa thuần tịnh, kiên cố. Như người thế gian quí chuộng trí tuệ, ghét bỏ ngu si, ưa thích Niết bàn, nhàm chán sinh tử. Nhưng chữ Sái này biểu trưng tất cả vốn chẳng sinh, cho đến tất cả vốn là tính vắng lặng, nên thực thì không có lợi (sắc bén – trí tuệ), độn (cùn lụt – ngu si) khác nhau, ví như dao kim cương sắc bén, nếu đối với vật không cứng chắc thì có thể nói là sắc bén, nhưng đối với kim cương mà nói thì sắc bén và cùn lụt cũng không 2 không khác. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 trung) nói: Nếu nghe chữWa liền biết 6 tướng của thân người. Vì chữ Phạm waw nghĩa là 6, lấy chữ wa(sái) làm chữ đầu của chữ waw, Trung quốc dịch là Lục (6) cho nên mới có thuyết Hễ nghe chữWa (sái) liền biết 6 tướng của thân người. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 nêu ra nghĩa chế phục 6 chỗ, được 6 thần thông. Về nghĩa này thì phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng và phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn cũng nói giống nhau. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Đại phẩm bát nhã Q.8, 53; kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch cũ); phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính].
sái ba ca nhĩ cư
6156西藏佛教迦爾居派支派之一。南宋淳熙二年(1175),向蔡巴於拉薩東郊貢塘地方創建蔡寺,創立該派,由寺得名。元世祖至元五年(1268),封該派桑結額朱為蔡巴萬戶長,兼掌政教,其子仁欽堅贊赴京朝貢,世祖賜誥命金印,成為前藏地區三大萬戶長之一。十四世紀後,隨蔡巴領主之失勢而衰微,後絕傳承。
sái chỗ
Out of place—Misplaced
sái hoa
6157又稱蔡花、白蓮華(花)。印度稱為芬陀利華(梵 puṇḍarīka)。有二說:(一)取千歲靈龜遊蓮華上之故事,因靈龜出自蔡地,故稱蓮華為蔡華。史記龜策傳:「龜千歲乃遊蓮華之上。」又觀經散善義楷定記曾載:「明王將出,必有白龜乘千葉白蓮來現。」由此而有蔡華之稱。然道隱之教行信證略讚卻不用此說,謂此華直接稱蔡華,是以此華之稀有,一如靈龜之稀有,故有此稱。(二)為顯其殊勝於普通之蓮華,故特稱為芬陀利華。觀經散善義(大三七‧二七八上):「言分陀利者,名人中好華,亦名希有華,亦名人中上上華,亦名人中妙好華,此華相傳名蔡華。」(參閱「芬陀利華」3507)
sái phép
Against the rules—Contrary to the rules
sái sái lạc lạc
6903禪林用語。灑灑,形容心不迷惑;落落,謂不停滯於物。即心不執著,遠離所有束縛與染污,不拘泥於物之自在境地。又表示大徹大悟者之境地。從容錄第八則(大四八‧二三二中):「若是爾灑灑落落,不妨我哆哆和和。」
; (灑灑落落) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sái sái là tâm không mê hoặc; lạc lạc là không bị mắc kẹt vào vật, tức là cảnh giới tự tại, tâm không bám dính, xa lìa tất cả sự trói buộc và nhiễm ô. Thiền tông dùng cụm từ này để biểu thị cảnh giới của người đại triệt đại ngộ. Thung dung lục tắc 8 (Đại 48, 232 trung) nói: Nếu ông đã đạt đến cảnh giới đại triệt đại ngộ (sái sái lạc lạc) thì chẳng ngại ta giống như đứa trẻ sơ sinh (khóc oa oa – đà đà hòa hòa).
sái thuỷ kị
6902據日本諸回向清規卷四追忌名數之次第所載,於亡者中陰三七日(第二十一日)作追福修善之佛事,稱為灑水忌。又作孝力忌、光喜忌。
; (灑水忌) Cũng gọi Hiếu lực kị, Quang hỉ kị. Cứ theo điều Truy kị danh số thường đệ trong Chư hồi hướng thanh qui quyển 4 thì Sái thủy kị là chỉ cho tuần thất thứ 3 (ngày thứ 21) của người chết. Vào ngày này, thân nhân của người chết thường tụng kinh lễ sám, làm phúc tu thiện, bố thí cúng dường để hồi hướng nguyện cầu cho vong linh của người quá cố được vãng sinh Tịnh độ.
sái thủy
Rảy nước—To sprinkle the water.
sái thủy quan âm
Một trong 33 vị Quan Âm, tay phải cầm bình rảy nước cam lồ—One of the thirty-three forms of Kuan-Yin, who holds a vase of sweet-dew in his right hand.
sái tịnh
6902灑香水以淨物之意。即以印言加持香水散灑之,清淨道場或供具等淨化之法,稱為灑淨。又稱洒水、灑水。據根本說一切有部毘奈耶破僧事卷二記載,劫比羅仙人為懿摩彌王之四子灑水結界,而四王子建立劫比羅城之事。 於密教,修祕法之前,必當灑水以清淨道場及供具,後盛行此法,而產生種種之灑淨儀式。據陀羅尼集經卷一載,右手執一柳枝,左手執金剛杵與數珠,面向東坐,誦佛頂心咒,以柳枝攪水,念咒一百零八遍,持咒水器進入道場中,從東北角莺莺(潑)其香水。據金剛手光明灌頂經最勝立印聖無動尊大威怒王念誦儀軌法品(大二一‧三上):「三鈷金剛印,觀空加風甲,三輪如金剛,所有諸供具,散灑作淨除。」據大日經疏卷四載,猶如香水灑地,為淨除污穢故,如來亦爾,以性淨之戒香,和合性淨之悲水,遍灑法界眾生性淨之心地,為令一切戲論皆淨除故。 當今佛教界,於授戒、佛七、拜懺等法會之前,即以淨水散灑道場,為結界清淨之儀式。〔蘇悉地羯囉經卷中、建立曼荼羅護摩儀軌、菩提場所說一字頂輪王經卷四〕
; Phép tu của tông Chân Ngôn, lấy nước cam lồ trong bình tịnh thủy mà rảy khắp đàn tràng (khi rảy nguyện cho tâm Bồ Đề thanh tịnh của hết thảy chúng sanh đều được tăng trưởng)—To purify by sprinkling.
; (灑淨) Cũng gọi Sái thủy. Rưới nước thơm để cho mọi vật được trong sạch. Tức dùng nước thơm đã được gia trì ấn chú rảy quanh đạo tràng và trên các vật cúng khiến cho tất cả được thanh tịnh. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 2, thì tiên nhân Kiếp tỉ la đã kết giới sái tịnh cho 4 vị Vương tử con vua Ý ma di, rồi 4 Vương tử xây dựng thành Kiếp tỉ la. Trong Mật giáo, trước khi tu bí pháp cần phải sái thủy đạo tràng và các vật cúng cho thanh tịnh, về sau bí pháp thịnh hành nên đã phát sinh ra nghi thức sái tịnh. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì tay phải cầm 1 cành liễu, tay trái cầm chày kim cương và xâu chuỗi, ngồi xoay mặt hướng đông, tụng Phật đính tâm chú, dùng cành liễu khuấy nước, niệm 108 biến chú, rồi cầm bình nước đã trì chú vào trong đạo tràng, bắt đầu rảy nước thơm từ góc đông bắc. Phẩm Tối thắng lập ấn Thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính (Đại 21, 3 thượng) nói: Ấn Kim cương 3 chĩa, quán không gia trì vào đầu ngón cái, tam luân nhưkim cương, trên tất cả vật cúng đều rảy nước thơm để tịnh trừ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì giống như nước thơm rảy ở trên đất, để trừ sạch dơ uế, Như lai cũng thế, dùng hương giới tính tịnh, hòa hợp với nước bi tính tịnh, rảy vào tâm địa của chúng sinh trong khắp pháp giới, làm cho tất cả hí luận đều được trừ sạch. Trong giới Phật giáo hiện nay, trước khi cử hành pháp hội như thụ giới, Phật thất, bái sám... đều có dùng nước thơm rảy khắp đạo tràng, đó là nghi thức kết giới thanh tịnh. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.trung; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4].
sái tự
6157位於西藏首府拉薩東郊。又稱蔡貢塘、蔡巴寺。南宋淳熙二年(1175)由向蔡巴興建。為西藏佛教蔡巴迦爾居之祖寺。
sái vận thần
6157(1901~ )東北安東人。字拱之,法名寬運,筆名念生。曾任中蘇會議祕書、安東省政府參議、國大代表等職。著有人生漫談、鳥獸春秋、金藏目錄校釋、禪藏目錄、三十一種藏經目錄對照表解等書。氏來臺後,除常撰寫弘法文字於各佛刊之外,並盡瘁於大藏經之刊行。除倡印大正藏之外,並出任中華大藏經總編審二十餘年,於藏經版本目錄之學至為深入。近年雖旅居美國養病,然仍常撰文發表於國內佛刊。
sái y
3515又作衩袒。謂不搭袈裟,僅著法衣。緇門警訓卷六慈受禪師示眾箴規條(大四八‧一○七○下):「衩衣登殿(或係「廁」之誤),草履遊山,莫踐法堂,回互耆宿。」勅修百丈清規卷下日用軌範條(大四八‧一一四六上):「不得衩袒歸僧堂并廊下行。」 蓋衩衣原指內衣或平常所著之衣。於禪林、轉指脫衣露肩或脫下袈裟;日本禪林,則指脫下袈裟而疊妥掛於左臂,義與「卸衣」同。〔禪林備用清規、禪苑清規卷二、禪林象器箋服章門〕
sám
Jānabhadrā (S)Trí HiềnHối hận lỗi đã làm.
; Ksamayati (S). To seek forgiveness, patience or indulgence, ksamà meaning patience, forbearance, tr. as sám quá repentance or regret for error; also as confession. It especially refers to the regular confessional service for monk and for nun.
; Ksamayati (skt)—Hối hận về lỗi lầm (hối quá) và xin được tha thứ. Sám hối là nghi thức tu tập thường xuyên trong các khóa lễ của chư Tăng Ni—To repent or regret for error and seek forgiveness, or to ask for pardon. It especially refers to the regular confessional service for monks and nuns—See Sám Hối.
sám chủ
6770敬稱杭州天竺靈山寺僧遵式。師住持靈山寺時,嘗建金光明懺堂,修金光明懺,撰金光明三昧儀等,有關懺儀之著作甚多,故世稱百本懺主、天竺懺主、慈雲懺主。
; (懺主) Từ tôn xưng ngài Tuân thức, vị cao tăng chùa Linh sơn Thiên trúc ở Hàng Châu, Trung Quốc. Khi trụ trì chùa Linh Sơn, ngài xây dựng sám đường Kim Quang Minh, tu sám Kim quang minh, soạn Kim quang minh tam muội nghi và rất nhiều tác phẩm về nghi thức sám hối, cho nên người đời gọi ngài là Bách bản sám chủ, Thiên Trúc sám chủ, Từ vân sám chủ.
Sám hối
(s: deśanā, kṣama, paṭi karoti, āpatti-pratideśanā, 懺悔): còn gọi là hối quá (悔過, ăn năn những điều sai lầm), là hành vi bộc bạch trước chư Phật và các vị tỳ kheo về những tội lỗi, sai lầm tự mình phạm phải và cầu xin được công nhận. Nguyên ngữ tiếng Sanskrit của từ này có mấy loại khác nhau. Kṣama (悔摩, hối ma) nghĩa là cầu xin tha tội và ăn năn, hối lỗi với những tội lỗi của quá khứ. Trong Luật, khi thuyết giới vào mỗi nữa tháng hay vào ngày chấm dứt kỳ An Cư (安居), có nghi thức tụng giới bổn và phát lộ những tội lỗi đã vi phạm trước đại tăng từ 1 người (Đối Thủ Sám [對首懺]) cho đến 4 người (Chúng Pháp Sám [眾法懺]); hình thức này được gọi là āpatti-pratideśanā (đối trước người khác bộc bạch). Trong A Hàm Kinh (阿含經), có nhiều trường hợp bộc bạch tội lỗi lên đức Thế Tôn và cầu xin tha tội. Trong Phật Giáo Đại Thừa, có nghi thức lễ bái mười phương chư Phật, phát lộ những tội lỗi của Ba Nghiệp thân, miệng, ý cũng như các tội lỗi khác và cầu xin sám hối. Tại Trung Quốc, sám hối đã trở thành một nghi lễ đặc biệt, cho nên nghi thức Sám Pháp (懺法) được hình thành và rất phổ cập, tỷ dụ như Lương Hoàng Sám (梁皇懺), Thủy Sám (水懺), Đại Bi Sám (大悲懺), Dược Sư Sám (藥師懺), Tịnh Độ Sám (淨土懺), Địa Tạng Sám (地藏懺), v.v. Thiên Thai Trí Khải Đại Sư (天台智顗大師) chia sám hối thành Sự Sám (事懺, thể hiện sám hối bằng hành động), Lý Sám (理懺, nhờ quán pháp về lý của thật tướng mà diệt được tội lỗi) và phân ra 3 loại: Tác Pháp (作法, sám hối theo Luật), Thủ Tướng (取相, quán pháp), Vô Sanh (無生, lý sám hối). Đạo Tuyên (道宣) của Nam Sơn Luật Tông (南山律宗) cho rằng Chế Giáo Sám (制敎懺) của giới luật là thuộc về Tiểu Thừa, còn Hóa Giáo Sám (化敎懺) với hình thức sám hối các tội của nghiệp đạo là cọng thông tất cả Phật Giáo, không giới hạn ở thừa nào cả. Y cứ vào Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論), trong giáo học của Thiên Thai Tông có nội dung của sám hối với 5 giai đoạn là Sám Hối (懺悔), Khuyến Thỉnh (勸請), Tùy Hỷ (隨喜), Hồi Hướng (廻向), Phát Nguyện (發願). Bài kệ văn sám hối rất phổ biến được lấy từ quyển 4, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (普賢行願品) của Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經, Taishō 10, 847) là: “Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thỉ tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết ngã kim giai sám hối (我昔所造諸惡業、皆無始貪瞋癡、從身語意之所生、一切我今皆懺悔, con xưa vốn tạo các nghiệp ác, đều do từ trước tham sân si, do thân miệng ý mà sanh ra, hết thảy con nay xin sám hối).”
sám hối
6770謂悔謝罪過以請求諒解。懺,為梵語 kṣama(懺摩)之略譯,乃「忍」之義,即請求他人忍罪;悔,為追悔、悔過之義,即追悔過去之罪,而於佛、菩薩、師長、大眾面前告白道歉;期達滅罪之目的。據義淨所譯根本說一切有部毘奈耶卷十五之注謂,懺與悔具有不同之意義,懺,是請求原諒(輕微);悔,是梵語 āpatti-pratideśana(阿鉢底鉢喇底提舍那)之譯,即自申罪狀(說罪)之義(嚴重)。此外亦有異說,然概以義淨之說為正確。 原始佛教教團中,當比丘犯罪時,釋尊為令其行懺悔或悔過,定期每半月行布薩,並定夏安居之最終日為自恣日。復次,戒律條文中亦舉有波逸提(懺悔罪)、提舍尼(悔過罪),由此可見懺悔在佛教教團中之重要性。依四分律羯磨疏卷四懺六聚法篇載,懺悔須具足五緣,即:(一)迎請十方之佛菩薩,(二)誦經咒,(三)自白罪名,(四)立誓,(五)明證教理。另據圓覺經略疏鈔卷十二載,小乘之懺悔須具五法:(一)偏袒右肩,便於執侍作務之義。(二)右膝著地,顯奮勉懇切之義。(三)合掌,表誠心不亂。(四)述罪名,說僧殘、波逸提等罪,發露而不覆藏。(五)禮足,表卑下至敬之禮。大乘之懺悔則採用莊嚴道場、地塗香泥、設壇等方法。其他,亦有不依律之規制,採行禮拜、誦經或觀佛菩薩之相好等;或念實相之理以行懺悔等。 懺悔之方法與性質有多種分類:(一)二種懺悔,據四分律羯磨疏卷一載,懺悔有制教懺與化教懺二種。(1)犯戒律之罪須行制教(戒律教)之懺悔,僅限於出家之五眾、小乘、現行犯等。(2)犯業道之罪須行化教(經論之教)之懺悔,此則共通於所有者。制教之懺悔復分為三種:(1)眾法懺,對四人以上之僧眾行懺悔。(2)對首懺,對師家一人行懺悔。(3)心念懺,直對本尊行懺悔。又據摩訶止觀卷二上載,懺悔分為事懺與理懺。藉禮拜、讚歎、誦經等行為所行之懺悔,稱為事懺,又稱隨事分別懺悔,一般之懺悔均屬此類;觀實相之理以達滅罪之懺悔,稱為理懺,又稱觀察實相懺悔。 (二)三種懺悔,出自金光明經文句記卷三,略稱三懺。即:(1)作法懺悔,略稱作法懺。依律之作法而行懺悔。(2)取相懺悔,略稱取相懺,又作觀相懺悔。即觀想佛之相好等,以為除罪之懺悔。以上兩懺均屬事懺。(3)無生懺悔,略作無生懺。觀實相之理,念罪體無生之懺悔。此屬理懺。 (三)五種懺悔,據觀普賢菩薩經載,在家者之懺悔法有:(1)不謗三寶,乃至修六念。(2)孝養父母,恭敬師長。(3)以正法治國,端正人心。(4)六齋日不殺生。(5)信因果,信一實道,信佛不滅。 (四)六根懺悔,即懺悔眼、耳、鼻、舌、身、意等六根之罪障。又稱法華懺法。為天台宗重要之法儀,係依智顗所著法華三昧懺法一卷而行。 此外,往生禮讚一書中列舉廣、要、略之懺悔法。(一)要懺悔,即唱頌:南無懺悔十方佛,願滅一切諸罪狀,乃至仰願神光蒙授手,乘佛本願生彼國等十句偈,以行懺悔。(二)略懺悔,修行懺悔、勸請、隨喜、迴向、發願等五悔。(三)廣懺悔,廣於佛、法、僧三寶及同修大眾之前懺悔過去或現在之罪業;並列有廣懺悔之文。然一般皆唱誦華嚴經普賢行願品卷四十所說(大一○‧八四七上):「我昔所造諸惡業,皆由無始貪瞋癡,從身語意之所生,一切我今皆懺悔」之偈文,稱為略懺悔。 同書又將懺悔之相分為三品:(一)從身體之毛孔與眼出血者,稱為上品懺悔。(二)從毛孔出熱汁,從眼出血者,稱為中品懺悔。(三)全身微熱而眼出淚者,稱為下品懺悔。復次,若懺悔之心一起,立即不取造罪之念者是為上品,隔時不取念者為中品,而隔日不取念者則為下品。以上稱為念時日三懺悔。 另於般舟讚一書中,以唱誦阿彌陀佛之名號為懺悔。又齋戒行禮以修懺悔,期望獲得諸佛菩薩降福加持者,稱為懺禮。〔雜阿含經卷四十、大寶積經卷四十、占察善惡業報經卷上、心地觀經卷一、卷三、四分律卷三十七、五分律卷十、有部毘奈耶雜事卷十三、卷二十六、法苑珠林卷八十六、慈悲水懺法卷上、慧苑音義卷下〕
; Kṣamaya (S), Pariśuddhi (S), Kṣamayati (P), Kṣama (S), Kṣamā (P), Khama (P), Khamāpanā (P), Confession (Suddha = Thanh tịnh)Sự ăn năn xưng tội trước một vị tăng, tượng Phật hay giáo hội. Sám là bày tỏ lỗi ác trước. Hối là cải bỏ những lỗi trước, tu tỉnh những việc sau. Thường thiện nam tín nữ và chư Tăng tụng Hồng Danh Sám vào tối 14 hay 29, 30 âm lịch mỗi tháng.Xem Sám ma.
; Khamàpanà (P). Repentance, confession.
; Ksama (skt)—Repentance (confession and reform)—Sám hối hay Sám ma có nghĩa là thân nên kiên trì nhẫn nại nói ra những lỗi lầm của mình, và thỉnh cầu tiền nhân tha thứ. Trong vô số kiếp luân hồi của ta kể từ vô thủy cho đến ngày nay, vì vô minh tham ái tài, sắc, danh, thực, thùy, của cải, quyền uy, vân vân phủ che khiến cho chơn tánh của chúng ta bị mê mờ, do đó thân khẩu ý gây tạo không biết bao nhiêu điều lầm lạc. Hơn nữa, do từ nơi ngã và ngã sở chấp, nghĩa là chấp lấy cái ta và cái của ta, mà chúng ta chỉ muốn giữ phần lợi cho riêng mình mà không cần quan tâm đến những tổn hại của người khác, vì thế mà chúng ta vô tình hay cố ý làm não hại vô lượng chúng sanh, tạo ra vô biên tội nghiệp, oan trái chất chồng. Ngay cả đến ngôi Tam Bảo chúng ta cũng không chừa, những tội nghiệp như vậy không sao kể xiết. Nay may mắn còn chút duyên lành dư lại từ kiếp trước nên gặp và được thiện hữu tri thức dạy dỗ, dắt dìu, khiến hiểu được đôi chút đạo lý, thấy biết sự lỗi lầm. Thế nên chúng ta phải phát tâm hổ thẹn ăn năn, đem ba nghiệp thân khẩu ý ra mà chí thành sám hối. Sám hối là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà nội tâm chúng ta luôn được gội rữa: Patience or forebearance of repentance or regret for error. From infinite reincarnations in the past to the present, we have existed in this cycle of rebirths. Because of ignorance and greediness for desires of talent, beauty, fame, food, sleep, wealth, and power, etc. which have masked and covered our true nature, causing us to lose our ways and end up committing endless karmic transgressions. Moreover, because of our egotistical nature, we only hold to the concept of self and what belong to us, we are only concerned with benefitting to ourselves but have absolutely no regards on how our actions may affect others. Thus, in this way, whether unintentionally or intentionally, we often bring pains and sufferings to countless sentient beings, committing infinite and endless unwholesome karma, consequently, creating countless enemies. Even the most precious Triple Jewels, we still make false accusations and slander. All such karmic transgressions are countless. Now we are fortunate enough, having a few good karma leftover from former lives, to be able to meet a good knowing advisor to guide and lead us, giving us the opportunity to understand the philosophy of Buddhism, begin to see clearly our former mistakes and offenses. Therefore, it is necessary to feel ashame, be remorseful, and bring forth the three karmas of body, speech and mind to repent sincerely. Repentance is one of the most entrances to the great enlightenment; for with it, the mind within is always stilled.
; (懺悔) Ăn năn tội lỗi, xin được tha thứ. Sám nói đủ là Sám ma (Phạn: Kwama), nghĩa là nhẫn, tức cầu xin người khác tha tội; Hối nghĩa là ăn năn hối hận tội lỗi mình đã gây ra trong hiện tại và quá khứ, nay đối trước Phật, Bồ tát, sư trưởng, đại chúng nói ra hết không giấu giếm, cầu mong đạt mục đích diệt tội. Theo phần chú thích trong Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 15 do ngài Nghĩa tịnh dịch thì Sám và Hối có ý nghĩa khác nhau, Sám là cầu xin được tha thứ(tội nhẹ); Hối, tiếng Phạn là Àpattipra tide- zana (Hán âm: A bát để bát lạt để đề xá na), nghĩa là tự trình bày tội trạng (tội nặng), tức thuyết tội. Trong giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy, khi 1 vị Tỳ khưu phạm tội thì đức Phật bảo vị ấy thực hành sám hối, rồi cứ mỗi nửa tháng cử hành Bồ tát và vào ngày cuối cùng của hạ an cư thì thực hành Tự tứ. Về phương pháp và tính chất của sám hối thì được chia làm nhiều loại: 1. Hai loại sám hối: Theo Tứ phần luật yết ma sớ quyển 1 thì sám hối có 2 loại là Chế giáo sám và Hóa giáo sám. a) Chế giáo sám: Người phạm tội về giới luật phải thực hành pháp sám hối này, chỉ áp dụng cho 5 chúng xuất gia, Tiểu thừa, hiện hành phạm... Chế giáo sám lại chia làm 3 loại: -Chúng pháp sám: Sám hối trước chúng tăng từ 4 người trở lên. -Đối thú sám: Sám hối trước vị sư gia. -Tâm niệm sám: Sám hối trước vị Bản tôn. b) Hóa giáo sám: Người phạm tội nghiệp đạo phải thực hành pháp sám hối này, được áp dụng chung cho tất cả. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 2, thượng, sám hối có Sự và Lí khác nhau. Sự sám là sám hối bằng các việc làm như: Lễ bái, tán thán, tụng kinh... Còn Lí sám (cũng gọi Quán sát thực tướng sám hối) là sám hối bằng cách quán xét lí thực tướng để đạt đến diệt tội. 2. Ba loại sám hối (gọi tắt: Tam sám), có xuất xứ từ Kim quang minh kinh văn cú kí quyển 3, tức là: a) Tác pháp sám hối (gọi tắt: Tác pháp sám): Sám hối được thực hành theo tác pháp của Luật. b) Thủ tướng sám hối (gọi tắt: Thủ tướng sám, cũng gọi Quán tướng sám hối): Tức sám hối bằng cách quán tưởng tướng hảo của Phật để diệt tội. Hai cách sám hối trên đều thuộc Sự sám. c) Vô sinh sám hối (gọi tắt: Vô sinh sám): Sám hối bằng cách quán xét lí thực tướng, quán tưởng thể của tội vốn vô sinh. Đây thuộc Lí sám. 3. Năm loại sám hối: Theo kinh Quán phổ hiền bồ tát thì pháp sám hối của người tại gia có 5 việc: a) Không chê baiTam bảo, cho đến tu lục niệm. b) Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sư trưởng. c) Dùng chính pháp trị nước, khiến cho lòng người chân thật, ngay thẳng. d) Vào 6 ngày trai, không giết hại. e) Tin nhân quả, tin đạo Nhất thực, tin Phật bất diệt. 4. Lục căn sám hối(cũng gọi Pháp hoa sám pháp): Sám hối tội chướng của 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thực hành theo Pháp hoa tam muội sám pháp của ngài Trí khải tông Thiên thai. Ngoài ra, trong Vãng sinh lễ tán có nêu 3 pháp sám hối Quảng, Yếu, Lược. 1. Yếu sám hối: Tức pháp sám hối bằng cách xướng tụng bài kệ 10 câu: Nam mô sám hối 10 phương Phật, nguyện diệt hết thảy tội trạng... ngưỡng nguyện thần quang trao tay, nương theo bản nguyện của Phật, được sinh về Tịnh độ cực lạc... 2. Lược sám hối: Tu hành 5 việc: Sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng, phát nguyện. 3. Quảng sám hối: Sám hối các tội nghiệp ở quá khứ hoặc hiện tại trước Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và đại chúng đồng tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Đại bảo tích Q.40; kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; kinh Tâm địa quán Q.1, 3; luật Tứ phần Q.37; luật Ngũ phần Q.10, Hữu bộ Tì nại datạpsự Q.13, 26; Pháp uyển châu lâm Q.86; Từ bi thủy sám Q.thượng; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].
sám hối nghiệp chướng
Repent misdeeds and mental hindrances—Đây là hạnh nguyện thứ tư trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Sám hối nghiệp chướng là vì từ vô thỉ tham, sân, si đã khiến thân khẩu ý tạp gây vô biên ác nghiệp, nay đem trọn cả ba nghiệp thanh tịnh thân, khẩu và ý thành tâm sám hối trước mười phương tam thế các Đức Như Lai—This is the fourth of the ten conducts and vows of Universal Worthy Bodhisattva. Repent misdeeds and mental hindrances means from beginningless kalpas in the past, we have created all measureless and boundless evil karma with our body, mouth and mind because of greed, hatred and ignorance; now we bow before all Buddhas of ten directions that we completely purify these three karmas.
sám hối tam nghiệp
To repent three (body, speech, and mind) karmas. 1) Sám hối thân nghiệp: To repent the body karma—Đức Phật dạy: “Thân là nguồn gốc của tất cả nỗi khổ, là nguyên nhân của mọi hình phạt và quả báo trong tam đồ ác đạo.” Chúng sanh vì ngu muội nên chỉ biết có thân mình chớ chẳng cần biết đến thân người khác. Chỉ biết nỗi khổ của mình chớ chẳng nghĩ đến nỗi khổ của người. Chỉ biết mình cầu được yên vui, mà không biết rằng người khác cũng mong được yên vui. Hơn nữa, cũng vì vô minh mà ta khởi tâm bỉ thử, từ đó mà sanh ra ý tưởng thân sơ, dần dần kết thành thù oán lẫn nhau, gây nghiệp oan trái tiếp nối đời đời kiếp kiếp. Thân nghiệp có ba lỗi lớn là sát sanh, trộm cắp và tà dâm (see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam). Muốn sám hối nơi thân, phải đem thân lễ kính Tam Bảo, nghĩ biết rằng sắc thân nầy vô thường, nhiều bệnh hoạn khổ đau, và hằng luôn thay đổi, chuyển biến, rốt lại chúng ta chẳng thể nào chủ trì hay chỉ huy được thân nầy. Vì thế chúng ta chớ nên quá lệ thuộc vào thân và đừng nên vì thân nầy mà tạo ra các điều ác nghiệp—The Buddha taught: “The body is the origin of all sufferings, is the root of all tortures, punishments and karmic retributions in the three domains.” Because of ignorance and stupidity, sentient beings are only concerned with our bodies and have not the slightest care of other people's bodies. We are only aware of our own sufferings, but completely oblivious of others' pains and sufferings. We only know of our hopes for peace and happiness but unaware that others, too, have hope for peace and happiness. Moreover, because of ignorance and stupidity, we give rise to the mind of self and other, which gives rise to the perception of friends and strangers. Gradually over time, this perception sometimes develops into feuds and hatred among people, who become enemies for countless aeons (life after life, one reincarnation after reincarnation). There are three kinds of body karma: killing, stealing, and sexual misconducts. To repent the body karma, we should bow and prostrate our body to the Triple Jewels, and realize that our body is inherently impermanent, filled with sicknesses, constantly changing, and transforming. Thus, in the end, we cannot control and command it. We should never be so obssessed and overly concerned with our body and let it causes so many evil deeds. 2) Sám hối Khẩu nghiệp: To repent the speech karma—Đức Phật dạy: “Miệng là cửa ngỏ của tất cả mọi oán họa.” Quả báo của khẩu nghiệp nặng nề vào bậc nhất. Khẩu nghiệp có bốn thứ là nói dối, nói lời mạ lỵ, nói lời thêu dệt, và nói lưỡi hai chiều. Do nơi bốn cái nghiệp ác khẩu nầy mà chúng sanh gây tạo ra vô lượng vô biên tội lỗi, hoặc nói lời bay bướm, ngọt ngào, giả dối, lừa gạt, ngôn hành trái nhau. Một khi ác tâm đã sanh khởi thì không nói chi đến người khác, mà ngay cả cha mẹ, sư trưởng, chúng ta cũng không chừa, không một điều nào mà ta không phỉ báng, chúng ta không từ một lời nói độc ác, trù rủa nào, hoặc nói lời ly tán khiến cho cốt nhục chia lìa, không nói có, có nói không, nói bừa bãi vô trách nhiệm. Phật tử chơn thuần phải luôn sám hối khẩu nghiệp, phải dùng cái miệng tội lỗi ngày xưa mà phát ra những lời ca tụng, tán thán công đức của chư Phật, tuyên nói những điều lành, khuyên bảo kẻ khác tu hành, ngồi thiền, niệm Phật hay tụng kinh. Sau đó, thề trọn đời không dùng miệng lưỡi đó nói ra những lời thô tục, hổn láo. Đối trước Tam Bảo phải thành kính bày tỏ tội lỗi chẳng dám che dấu. Cũng cùng cái miệng lưỡi tội lỗi ngày xưa đã từng gây tạo ra biết bao ác khẩu nghiệp, thì ngày nay tạo dựng được vô lượng công đức và phước lành—The Buddha taught: “The mouth is the gate and door to all hateful retaliations.” The karmic retribution for speech-karma is the greatest. Speech-karma gives rise to four great karmic offenses: lying, insulting, gossiping, and speaking with a double-tongue (see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam). Because of these four unwholesome speeches, sentient beings accumulate infinite and endless offenses ranging from speaking artificially, sweetly, manipulatively to speaking untruthfully, words and actions contradicting one another, etc. Once the mind of hatred arises, not mention strangers, even one's parents, religious masters, etc., there is not an insult one will not speak. No malicious words will be spared, whether saying hateful words with intention of causing separation between two people, saying something happened when it didn't or when it didn't happened saying it did; thus speaking irresponsibly and chaotically without the slightest consideration of what is being said. Sincere Buddhists should always repent the body-karma by using the “mouth of transgressions” of the past to change it into praises and glorification of the virtuous practices of the Buddhas. Use that speech often to speak of kindness, encouraging others to cultivate the Way and change for the better, i.e. sitting meditation, Buddha-Recitation, or chanting sutras, etc. Thereafter, for the remainder of this life, vow not to use one mouth and tongue to speak vulgarly, disrespectfully, and before the Triple Jewels, sincerely confess and willingly admit to all offenses without concealment. Thus, use the same mouth and tongue which has created countless offenses in the past to give birth to infinite merits, virtues, and wholesome karma at the present. 3) Sám hối Ý nghiệp: To repent the mind-karma—Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng tất cả năm thức từ nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sở dĩ gây nên vô số tội lỗi là do ở nơi ý thức. Ý thức nầy cũng ví như mệnh lệnh của vua ban xuống quần thần. Mắt ưa ngắm bậy, tai ham nghe âm thanh du dương, mũi ưa ngửi mùi hương hoa, son phấn, lưỡi ưa phát ngôn tà vạy, thân ưa thích sự xúc chạm mịn màng. Tất cả tội nghiệp gây ra từ năm thức nầy đều do chủ nhân ông là tâm hay ý thức mà phát sanh ra. Cuối cùng phải bị đọa vào tam đồ ác đạo, chịu vô lượng thống khổ nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: “Phòng ý như phòng thành, giữ tâm như giữ gìn tròng con mắt. Giặc cướp công đức, một đời hay nhiều đời, không gì hơn ý.” Nay muốn sám hối ý nghiệp, trước hết phải nghĩ rằng ba nghiệp tham sân si (see Tam Độc) của ý là mầm mống gây tạo nên vô lượng nghiệp tội, là màng vô minh che mất trí huệ, là phiền não bao phủ chơn tâm. Thật là đáng sợ. Phật tử chơn thuần phải đem hết tâm ý sám hối ăn năn, thề không tái phạm—Sincere Buddhists should always remember that the mind consciousness is the reason to give rise to infinite offenses of the other five consciousnesses, from Sight, Hearing, Scent, Taste, and Touch Consciousnesses. The mind consciousness is similar to an order passed down from the King to his magistrates and chancellors. Eyes take great pleasure in looking and observing unwholesome things, ears take great pleasure in listening to melodious sounds, nose takes great pleasure in smelling aromas and fragrance, tongue takes great pleasure in speaking vulgarly and irresponsibly as well as finding joy in tasting the various delicacies, foods, and wines, etc; body takes great pleasure in feeling various sensations of warmth, coolnes, softness, velvet clothing. Karmic offenses arise from these five consciousness come from their master, the Mind; the mind consciousness is solely responsible for all their actions. In the end, this will result in continual drowning in the three evil paths, enduring infinite pains and sufferings in hells, hungry ghosts, and animals. In the Dharmapada, the Buddha taught: “Guard one's mind much like guarding a castle; protect the mind similar to protecting the eye ball. Mind is an enemy capable of destroying and eliminating all of the virtues and merits one has worked so hard to accumulate during one's existence, or sometimes many lifetimes. To repent the mind-karma, sincere Buddhists should think that the three karmas of Greed, Hatred, and Ignorance of the mind are the roots and foundations of infinite karmic transgressions. The mind-karma is the web of ignorance which masks our wisdom and is the affliction and worry that cover our true nature. It should be feared and needs be avoided. Sincere Buddhists should use their heart and mind to sincerely confess and repent, be remorseful, and vow never again to commit such offenses—See Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.
sám hối văn
6772指懺悔滅罪時所誦唱之文。有長短多種,其中,以華嚴經普賢行願品卷四十中之(大一○‧八四七上):「我昔所造諸惡業,皆由無始貪瞋癡,從身語意之所生,一切我今皆懺悔」一偈(稱為略懺悔)最負盛名,為今一般佛教修行者所熟習。又八十八佛大懺悔文,亦為現今法會重要行法之一。
; (懺悔文) Chỉ cho bài văn được đọc khi sám hối diệt tội. Có nhiều loại dài, ngắn khác nhau, trong đó, nổi tiếng nhất là bài kệ trong phẩm Phổ hiền hành nguyện của kinh Hoa Nghiêm quyển 40 như sau (Đại 10, 847 thượng): Con xưa gây nên bao ác nghiệp- Đều bởi vô thủy tham sân si- Từ thân miệng ý phát sinh ra- Hết thảy con nayđều sám hối. Bài kệ này gọi là Lược sám hối và hiện nay rất nhiều người tu hành trong Phật giáo đều thuộc lòng. Ngoài ra, Bát thập bát Phật đại sám hối văn cũng là 1 trong những hành pháp trọng yếu trong các pháp hội hiện nay.
sám hối với mười phương chư phật
To repent to the ten directions of Buddhas.
Sám hối 懺悔
[ja] ザンゲ zange ||| To repent. Repentance. "Please forgive me for the crimes I have committed." To confess one's crimes before the Buddha. => Ăn năn. Sự ân hận.
Sám Ma
(s: kṣama, 懺摩): ý dịch là hối (悔), nhẫn thứ (忍恕), nghĩa là thỉnh cầu tha nhân tha thứ cho tội lỗi, sai lầm do mình tạo nên. Như trong Đắc Ngộ Long Hoa Tu Chứng Sám Nghi (得遇龍華修證懺儀, CBETA No. 1488) quyển 4 có câu: “Cố chư cổ đức, thỉ khai Sám Ma nhất môn, ý linh địch cựu nhiễm nhi thọ tân huân nhĩ (故諸古德、始開懺摩一門、意令滌舊染而受新薰耳, cho nên chư vị cổ đức xưa kia, bắt đầu khai mở cửa sám hối, với ý khiến cho rửa sạch ô nhiễm cũ mà thọ nhận hương thơm mới).” Hay trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ Bút Tước Ký Hội Duyệt (大乘起信論疏筆削記會閱, CBETA No. 768) quyển 9 lại có giải thích rằng: “Hối quá giả, Phạn ngữ Sám Ma, thử vân hối quá, vị trần lộ tiên tội, cải vãng tu lai (悔過者、梵語懺摩、此云悔過、謂陳露先罪、改徃修來, Hối quá, tiếng Phạn là Sám Ma, Tàu gọi là hối quá, tức bày tỏ tội lỗi trước, sửa đổi quá khứ và tu tập tương lai).”
sám ma
6774<一>梵語 kṣama。意譯悔、忍恕。謂乞請他人忍恕自己之罪過。根本說一切有部毘奈耶卷八(大二三‧六六五下):「諸人(中略)共相謂曰:『此之一人,於我等處,凡有所作,常為先首,我不相助,彼定生瞋。我等食竟,從乞歡喜。』食已,詳至其所,俱共懺摩。其少年者,即便禮足;若老大者,手撫其肩,告言:『具壽!汝可容恕?』」四分律行事鈔資持記卷中之四下(大四○‧三四九中):「梵云懺摩,此翻悔往。」〔南海寄歸內法傳卷二第十五隨意成規〕(參閱「懺悔」6772) <二>梵語 kṣauma。係以野麻作成之衣。語出四分律開宗記卷三末。另據大唐西域記卷二之說,印度人所著衣物中,以野蠶絲製成者稱為憍奢耶衣,以麻類製成者即稱為叢摩衣。
; Ksamayati (S). To have patience with, to forbear; ask for consideration or pardon.
; Ksama (skt)—Xoa Ma—Nhẫn Thứ hay kiên nhẫn thỉnh cầu được tha thứ cho những lỗi lầm—To forebear or to have patience with; ask for consideration or pardon.
; (懺摩) I. Sám Ma. Phạn: Kwama. Hán dịch: Hối, Nhẫn thứ. Cầu xin người khác tha thứ cho những tội lỗi của mình. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển trung, phần 4, hạ (Đại 40, 349 trung) nói: Tiếng Phạm Sám ma, Hán dịch là Hối Vãng. [X. điều Tùy ý thành qui trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. II. Sám Ma. Phạn: Kwauma. Áo may bằng sợi cây gai. Tiếng Sám ma có xuất xứ từ Tứ phần luật khai tông kí quyển 3 phần cuối. Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì trong các loại y phục của người Ấn Độ, loại dệt bằng tơ tằm gọi là Kiều xa da y, còn loại dệt bằng sợi cây gai thì gọi là Tùng ma y.
sám ma y
Clothing made of ksauma, i.e. wild flax.
; Y áo làm bằng một loại cây gai dại—Clothing made of ksauma, i.e. wild flax.
sám nghi
The rules for confession and pardon.
; Nghi thức của phép sám hối (Pháp Hoa Sám Pháp, Phương Đẳng Sám Pháp, Quán Âm Sám Pháp, Di Đà Sám Pháp)—The rules for confession and pardon.
sám nguyện tâm
Repentance-Vow Mind—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, sao gọi là Sám Nguyện Tâm? Chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay, do nơi chấp ngã quá nặng nên bị vô minh hành xử, thân, khẩu, ý vì thế mà tạo ra vô lượng nghiệp nhân, thậm chí đến các việc nghịch ân bội nghĩa đối với cha mẹ, Tam Bảo, vân vân chúng ta cũng không từ. Ngày nay giác ngộ, ắt phải sanh lòng hỗ thẹn ăn năn bằng cách đem ba nghiệp thân khẩu ý ấy mà chí thành sám hối. Như Đức Di Lặc Bồ Tát, đã là bậc Nhất sanh Bổ xứ thành Phật vậy mà mỗi ngày còn phải sáu thời lễ sám, cầu cho mau dứt vô minh, huống là chúng ta! Tâm Sám Nguyện phải bao gồm sám hối nghiệp chướng nơi thân khẩu ý, và nguyện hưng long ngôi Tam Bảo—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, what is a Repentance-Vow Mind? From infinite eons, because we have been drowning deeply in the concept of “Self,” ignorance has ruled and governed us. Thus, our body, speech, and mind have created infinite karmas and even great transgressions, such as being ungrateful and disloyal to our fathers, mothers, the Triple Jewels, etc, were not spared. Now that we are awakened, it is necessary to feel ashamed and be remorseful by using the same three karmas of body, speech, and mind to repent sincerely. Maitreya Bodhisattva, even as a “One-Birth Maha-Bodhisattva,” six times daily he still performs the repentance ceremony praying to eliminate binding ignorance quickly. As a Maha-Bodhisattva, his 'binding ignorance' is infinitesimal, yet He still repents to eliminate them; thus, how can we not repent given that, as unenlightened foolish mortals, we are bound by countless ignorance. Repentance-Vow Mind must include the followings: 1) Sám Hối—Repentance: a) Sám Hối Thân nghiệp—Repentance on the Body Karma: Thân nghiệp tỏ bày tội lỗi, phát lồ cầu được tiêu trừ, rồi dùng thân ấy mà hành thiện nghiệp như bố thí cúng dường, vân vân—Body karma openly confess all transgressions and pray for them to disappear, and then use that body to practice wholesome actions, such as alms givings, offerings, etc. b) Sám Hối Khẩu Nghiệp—Repentance on the Speech Karma: Khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi, phát lồ cầu được tiêu trừ, rồi dùng khẩu ấy mà niệm Phật, tụng kinh, hay ăn nói thiện lành, vân vân—Speech karma openly confess all transgressions and pray for them to disappear, and then use that speech to practice Buddha Recitation, chant sutras, speak wholesomely, etc. c) Sám Hối Ý Nghiệp—Repentance on the Mind Karma: Ý nghiệp phải thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm—Mind Karma must be genuine, remorseful, vowing not to revert back to the old ways. 2) Phát Nguyện—Vow-Developing: Phát nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, độ khắp chúng sanh để chuộc lại lỗi xưa và đáp đền bốn trọng ân Tam Bảo, cha mẹ, sư trưởng, và chúng sanh—Develop vow to make the Triple Jewels glorious, help and rescue sentient beings, in order to compensate and atone for past transgressions and repay the four-gratefuls including the Triple Jewels, parents, teachers of both life and religion, and all sentient beings.
sám pháp
6770指依諸經之說而懺悔罪過之儀則。又作懺儀。依準此類儀則而修之,稱為修懺。蓋懺悔原是將自己生活上所犯之過失,於一特定日在僧團眾僧前告白,表懺悔之意。後漸包含人類精神整體之六根懺悔,與身、口、意之三業懺悔兩類。 懺法之類別,據道宣之四分律羯磨疏卷一,有制教懺與化教懺二種。制教懺又分為眾法懺、對首懺、心念懺等三種。另據智顗之摩訶止觀卷二上、金光明文句卷三載,懺悔分為事懺與理懺兩種;又作法懺悔、取相懺悔、無生懺悔等三種,稱為三種懺法,前二者屬於事懺,後者屬於理懺。此外,於佛前舉行懺悔儀式前,須先行禮讚,稱為禮懺儀;懺悔後再行發願迴向,稱為懺願儀,至此即完成懺悔儀式。 我國佛教中之懺法,起源於晉代,漸盛於南北朝。自南朝梁代以來,採用大乘經典中懺悔與禮讚內容而成之懺法,以種種形式流行,從而產生許多禮讚文及懺悔文。據廣弘明集卷二十八悔罪篇之記載,計有梁簡文帝之涅槃懺啟、六根懺文、悔高慢文,沈約之懺悔文,梁武帝之慈悲道場懺(俗稱梁皇寶懺)、金剛般若懺文、摩訶般若懺文、陳江總文之群臣請陳武帝懺文、陳宣帝之勝天王般若懺文、陳文帝之妙法蓮華經懺文、金光明懺文、大通方廣懺文、虛空藏菩薩懺文、方等陀羅尼齋懺文、藥師齋懺文、沙羅齋懺文、無礙舍身會懺文等。 諸懺法所依據之經典,有涅槃經、般若經、法華經、金光明經等之不同,所供奉之本尊亦隨之而異。其後復有根據圓覺經、藥師經、地藏經等而修之懺儀,又有咒術色彩濃厚之水懺法,及與星宿有關之熾盛光法。此外,雜有道教思想之占察懺法、塔懺法等亦漸興盛。 隋、唐之間,佛教宗派漸起,各派依所宗經典撰成種種懺悔行法,如天台宗大師智顗撰法華三昧懺儀、請觀世音懺法、金光明懺法、方等懺法、方等三昧行法;三階教有信行撰七階佛名;淨土宗有善導撰淨土法事贊、法照撰五會念佛略法事儀贊;華嚴宗有宗密撰圓覺經道場修證儀、一行撰華嚴懺法;密宗有不空譯佛說三十五佛名禮懺文。此外,知玄抄錄宗密之圓覺經道場修證儀,述作慈悲水懺法,至今猶流行;智昇更集成「集諸經禮懺儀」,為各種懺法儀則最早之綜合刊本。 宋代為懺法之全盛時代,當時天台巨匠四明知禮、慈雲遵式、東湖志磐等,皆繼承智顗之遺法,認為禮懺乃修習止觀之重要行法,故專務懺儀。其中,知禮嘗修法華懺法、光明懺法、彌陀懺法、請觀音懺法、大悲懺法等數十遍不等,著有金光明最勝懺儀、大悲懺儀、修懺要旨;遵式又稱慈雲懺主,撰有金光明懺法補助儀;志磐撰水陸道場儀軌,盛行於世。又元照撰有蘭盆獻供儀,亦為懺法之一。 金代之王子成彙集淨土因緣,編成禮念彌陀道場懺法,略稱彌陀懺法,重刊於元代至順三年(1332),遂廣行於世。明太祖屢建法會於南京蔣山,超度元代末年死於戰亂之亡靈。其後懺法廣為流行,舉行懺法儀式遂成為僧侶重要行事之一。至明代末年,雲棲袾宏廣作懺法,重訂水陸道場儀軌,修訂瑜伽集要施食壇儀,並撰施食補注(即近代流行之「水陸」與「焰口」)。影響所及,又有許多懺法出現,如受登撰準提三昧行法、藥師三昧行法,智旭撰占察善惡業報經行法、贊禮地藏菩薩懺願儀(即地藏懺法),禪修撰依楞嚴究竟事懺(略稱楞嚴懺法),如惺撰得遇龍華修證儀(略稱龍華懺儀)。至清代,夏道人編集準提焚修悉地懺悔玄文(略稱準提懺法),又有撰者不詳之消災延壽藥師懺法、慈悲地藏菩薩懺法,及繼僧撰舍利懺法,弘贊編集供諸天科儀,建基所輯錄之金剛經科儀寶卷,智證輯錄之水懺法隨聞錄,西宗集注之水懺法科注等。 近世通行之懺法有梁皇寶懺、水懺、大悲懺、藥師懺、淨土懺、地藏懺等。茲略述之:(一)梁皇寶懺,後世於滅罪、消災、濟度亡靈時,常延僧虔修此懺,為我國流傳最久之懺法。(二)水懺,又稱慈悲三昧水懺,唐代悟達國師知玄以三昧水洗瘡而濯除累世冤業,為此懺法之典故。知玄依宗密所撰圓覺經道場修證儀,輯成慈悲水懺法,令眾生依此懺法至誠懺罪,以消釋宿世冤業。(三)大悲懺,又稱千手千眼大悲心咒行法,係根據大悲咒而作之懺法,為現今一般流行最廣之懺法。(四)藥師懺,又稱藥師三昧行法,為根據藥師如來本願功德經而作之懺法;凡消災延壽之法事,多禮拜此懺。(五)淨土懺,又稱往生淨土懺願儀,係採用大無量壽經及稱讚淨土經等諸大乘經典而立之懺法,此懺法隨淨土信仰之流行而廣行於民間。(六)地藏懺,又稱慈悲地藏懺法,為較晚出之懺法;凡報親恩或祈父母冥福之法事,多禮拜此懺。此外,另有金剛懺、八十八佛洪名寶懺、千佛洪名寶懺等,亦為一般常行之懺法。 在日本,古時所行之懺法稱為悔過,有藥師悔過、吉祥悔過、阿彌陀悔過等多種。平安朝後,盛行法華懺法、阿彌陀懺法、佛名懺法、舍利懺法等,其中以法華懺法最為普遍。〔釋氏通鑑卷五、佛祖統紀卷八、卷十、卷二十五、佛祖歷代通載卷二十七、續高僧傳卷十一、卷十七、弘贊法華傳卷三、卷六、卷七、釋氏稽古略卷二〕(參閱「懺悔」6772)
; The mode of action, or ritual, at the confessional; also the various types of confessional, e.g. of Quán Âm, Di Đà, etc.
; Nghi thức hay phương cách sám hối; có nhiều loại như Quán Âm Sám Pháp, Di Đà Sám Pháp, vân vân—The mode of action, or ritual, at the confessional; the various types of confessional, e.g. that of Kuan-Yin, Amitabha, etc.
; (懺法) Cũng gọi Sám nghi. Chỉ cho nghi thức sám hối tội lỗi theo lời dạy trong các kinh. Sám pháp trong Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đời Tấn, dần dần thịnh hành vào thời Nam Bắc Triều. Từ đời Lương thuộc Nam Triều trở về sau, Sám pháp có nội dung sám hối và lễ tán trong các kinh Đại thừa được sử dụng và lưu hành dưới nhiều hình thức thì từ đó đã có rất nhiều văn lễ tán và văn sám hối. Cứ theo thiên Hối tội trong Quảng hoằng minh tập quyển 28 thì có các văn sám hối sau đây: Niết bàn sám khải, Lục căn sám hối, Hối cao mạn văn của vua Giản văn đế đời Lương, Sám hối văn của ngài Trầm ước, Từ bi đạo tràng sám (thường gọi Lương hoàng bảo sám), Kim cương bát nhã sám văn, Ma ha bát nhã văn của vua Lương vũ đế, Quần thần thỉnh Trần vũ đế sám văn của Trần giang Tổng văn, Thắng thiên vương bát nhã sám văn của vua Tuyên đế nhà Trần, Diệu pháp liên hoa kinh sám văn, Kim quang minh sám văn, Đại thông phương quảng sám văn, Hư không tạng bồ tát sám văn, Phương đẳng đà la ni trai sám văn, Dược sư trai sám văn, Sa la trai sám văn, Vô ngại xá thân hội sám văn của vua Trần văn đế. Về các kinh điển y cứ của Sám pháp thì có: kinh Niết bàn, kinh Bát nhã, kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh... Bản tôn được thờ khi tu Sám pháp cũng tùy theo các kinh mà có khác nhau. Về sau lại có nhữngSám nghi y cứ theo các kinh Viên giác, Dược sư, Địa tạng...,đồng thời còn có Thủy sám pháp mang đậm sắc thái chú thuật và Xí thịnh quang pháp liên quan đến tinh tú... Ngoài ra, Chiêmsát sám pháp, Tháp sám pháp... có tư tưởng Đạo giáo cũng dần dần hưng thịnh. Đến khoảng Tùy, Đường, các tông phái Phật giáo dần dần hưng khởi, mỗi phái dựa theo kinh điển mà mình y cứ để soạn ra các hành pháp sám hối, như Đại sư Trí khải tông Thiên thai soạn Pháp hoa tam muội sám nghi, Thỉnh Quán thế âm sám pháp, Kim quang minh sám pháp, Phương đẳng sám pháp, Phương đẳng tam muội hành pháp; Tam giai giáo có ngài Tín hành soạn Thất giai Phật danh; Tịnh độ tông có ngài Thiện đạo soạn Tịnh độ pháp sự tán, ngài Pháp chiếu soạn Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán; tông Hoa nghiêm có ngài Tông mật soạn Viên giác kinh đạo tràng tu chứng nghi, ngài Nhất hạnh soạn Hoa nghiêm sám pháp; Mật tông có ngài Bất không dịch Phật thuyết tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn... Ngoài ra, ngài Tri huyền sao chép Viên giác kinh đạo tràng tu chứng nghi của ngài Tông mật và soạn Từ bi thủy sám pháp, đến nay vẫn còn lưu hành rộng rãi; ngài Trí thăng lại thu gom thành Tập chư kinh lễ sám nghi, đây là ấn bản sớm nhất về các loại nghi tắc sám pháp. Đời Tống là thời kì toàn thịnh của Sám pháp, các bậc đại sư của tông Thiên thai lúc bấy giờ như ngài Tứ minh Tri lễ, Từ vân Tuân thức, Đông hồ Chí bàn... đều thừa kế di pháp của ngài Trí khải, chủ trương lễ sám là hành pháp quan trọng đối với việc tu tập Chỉ quán, cho nên chuyên về Sám nghi. Trong đó, ngài Trí lễ thường tu các Sám pháp như: Pháp hoa sám, Kim quang minh sám, Di đà sám, Thỉnh Quán âm sám, Đại bi sám và soạn Kim quang minh tối thắng sám nghi; Đại bi sám nghi, Tu sám yếu chỉ; ngài Tuân thức(cũng được gọi là Từ vân sám chủ)soạn Kim quang minh sám pháp bổ trợ nghi; ngài Chí bàn soạn Thủy lục đạo tràng nghi quĩ; còn ngài Nguyên chiếu thì soạn Lan bồn hiến cúng nghi, cũng là 1 trong các sám pháp. Vương tử thành đời Kim vậng tập các nhân duyên về Tịnh độ mà soạn thành Lễ niệm Di đà đạo tràng sám pháp (gọi tắt: Di đà sám pháp), được in lại vào năm Chí thuận thứ 3 (1332) đời Nguyên, lưu hành rất rộng. Vua Thái tổ nhà Minh thường mở pháp hội ở Tưởng sơn tại Nam kinh để cầu siêu độ cho các chiến sĩ chết trong cuộc chiến vào những năm cuối đời Nguyên. Về sau, Sám pháp rất phổ biến và cử hành nghi thức sám pháp trở thành 1 trong những pháp tu hành trọng yếu của chư tăng. Đến những năm cuối đời Minh, ngài Vân thê Chu hoành soạn nhiều Sám pháp, sửa chữa lại Thủy lục đạo tràng nghi quĩ, hiệu đính Du già tập yếu thí thực đàn nghi và soạn Thí thực bổ chú (tức Thủy lục và Diện khẩu lưu hành ở thời cận đại). Ngài Thụ đăng soạn Chuẩn đề tam muội hành pháp, Dược sư tam muội hành pháp; ngài Trí húc soạn Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh hành pháp, Tán lễ địa tạng bồ tát sám nguyện nghi (tức Địa tạng sám pháp), ngài Thiền tu soạn Y lăng nghiêm cứu cánh sự sám(gọi tắt: Lăng nghiêm sám pháp); ngài Như tỉnh soạn Đắc ngộ Long hoa tu chứng nghi (gọi tắt: Long hoa sám nghi). Đến đời Thanh, Hạ đạo nhân biên tập Chuẩn đề phần tu tất địa sám hối huyền văn(gọi tắt: Chuẩn đề sám pháp), lại có Tiêu tai Diên thọ Dược sư sám pháp và Từ bi Địa tạng bồ tát sám pháp (không rõ soạn giả); ngài Kế tăng soạn Xá lợi sám pháp, ngài Hoằng tán biên tập Cúng chư thiên khoa nghi, ngài Kiến cơ thu tập Kim cương kinh khoa nghi bảo quyển, ngài Trí chứng thu tập Thủy sám pháp tùy văn lục, ngài Tây tông tập chú Thủy sám pháp khoa chú... Về sau Sám pháp phổ biến nhất ở thời cận đại thì có: Lương hoàng bảo sám, Thủy sám, Đại bi sám,Dược sư sám, Tịnh độ sám, Địa tạng sám... Ngoài ra còn có Kim cương sám, Bát thập bát Phật hồng danh bảo sám, Thiên Phật hồng danh bảo sám... cũng là những Sám pháp thường được thực hành. Tại Nhật bản, những Sám pháp được thực hành ở thời xưa được gọi là Hối quá, có nhiều loại như Dược sư hối quá, Cát tường hối quá, A di đà hối quá... Sau thời đại Bình an thì có Pháp hoa sám pháp, A di đà sám pháp, Phật danh sám pháp, Xá lợi sám pháp... trong đó, Pháp hoa sám pháp là phổ biến nhất. [X. Thích thị thông giám Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.8, 10, 25; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Tục cao tăng truyện Q.11, 17; Hoằng tán Pháp hoa truyện Q.3, 6, 7; Thích thị kê cổ lược Q.2]. (xt. Sám Hối).
sám trừ
Confession and forgiveness.
; Confession and forgiveness.
sám vân
6774(1914~ )安東人,俗姓曹。早年東渡日本,專攻美術。民國三十二年(1943)出家,旋於北平圓通寺受具足戒。曾親炙律宗大德慈舟。大陸淪陷後,渡海來臺。五十二年在南投縣創建蓮因寺,為一重視戒律之淨土道場。自五十五年起,每年在該寺開辦大專學生齋戒學會,導引大專青年體驗清淨之佛門生活。十餘年來,影響深遠,所受薰陶之青年學子數以千計。師戒行清淨,律己甚嚴。景仰弘一、慈舟諸大德之風範,且身體力行,故頗為臺灣佛教界所推崇。
sán lạn
Bright—Radiant.
sán nhã
Sanjaya (skt)—Entirely Vanquishing (hoàn toàn bị đánh bại). 1) Tên của một vị sáng lập ra một trong mười phái ngoại đạo: Name of the founder of one of the ten heretical sects. 2) Tên của vị thầy của Xá Lợi Phất và Mục Kiến Liên trước khi hai vị nầy về quy-y Phật: Name of the teacher of Maudgalyayana and Sariputra before they were converted by the Buddha. 3) Vua của loài Dạ Xoa: Name of a king of yaksas.
sáng
Brilliant—Lunimous—Bright.
sáng dạ
Intelligent.
sáng dạ thần
Nisakara (skt)—Người tạo ra ban đêm—Maker of the night.
sáng giá học hội
4857日本佛教日蓮宗系新興宗派之一。全稱日蓮正宗創價學會。一九三○年,牧口常三郎(1871~1944)與戶田城聖(1900~1958)創立,當時稱為創價教育學會,主張生活之目的乃追求幸福,而幸福必須以獲得利、善、美之價值而實現,教育之目的即在培養創造利、善、美之人才,謂信仰日蓮宗乃創造與獲得價值之方法與途徑。一九四二年,因拒絕參拜天照大神與接受神符而被禁,一九四五年,戶田被釋,後改建學會,並迅速發展,又陸續建立公明政治聯盟,組織公明會。一九六四年,發展成公明黨,六年後復宣布與公明黨政教分離。其教義乃由日蓮正宗三大秘法及牧口、戶田所著之生命哲學、價值論等組成,聲稱宇宙為一大生命體,其本質以佛法表示之即為「妙法蓮華經」五字,日蓮以手寫「南無妙法蓮華經」之「大曼荼羅」將此原理顯示出,只要信奉並唱念「南無妙法蓮華經」,即可改變宿命,獲得幸福。目前信徒約八、九百萬人,以一般民眾為基本成員。創價學會所持政治理論係由佛法民主主義、人性社會主義、地球民族主義等所構成之第三文明論。本會近年來頗活躍於政治界,發行有大白蓮華、聖教グラフ、聖教新聞等組織刊物。〔日本宗教の社會的性格(小口偉一)、日本の新興宗教(高木宏夫)〕
sáng khởi
To create.
sáng loáng
Shining—Flashing—Glittering—Sparkling.
sáng lập
To found—To establish.
sáng ngời
See Sáng Loáng.
sáng suốt
Clear-sighted—Clear-headed (minded)—Conscious—Able-minded.
sáng thế chủ
4856指被視作創造天地萬物與人類之神靈。各宗教有不同之說法,猶太教以為其自空虛混沌之「地」與「水」上造出世界,又用塵土造人;古代巴比倫宗教與埃及宗教以為創世主用原有之物質造出世界與人;基督教則以為世界係創世主自絕對之「無」中所造出;我國亦有盤古開天闢地之說,謂盤古將混凝在一起之天與地開闢出來,而後,其身軀復自行化為世界之各個部分。佛教不討論創世主及世界自何而來之問題,此因佛教雖承認有眾多之神靈、諸天,而視之為「眾生」之別型,並主張精神不滅,然否認宇宙有創造者、主宰者之存在。佛教基於「緣生(起)性空」之立場,主張無神(創世者)無我(常住不變之靈魂),認為宇宙乃眾生共同之業力所感、眾多之因緣所成;眾生之本體為「業」所薰之「識」,「識」為「業」所染成之體,「行業」係剎那增減者,本體之識亦隨之變動不已,故既無一常住不變之靈魂,亦無創造、主宰世界之神可言。
; (創世主) Chỉ cho vị thần linh được xem là đấng sáng tạo ra trời đất, muôn vật và loài người. Về vấn đề này, các tông giáo đều có quan điểm khác nhau. Như Do thái giáo cho rằng Sáng thế chủ đã từ trên đất và nước còn lẫn lộn trong hư không mà tạo ra thế giới, rồi lại dùng đất bụi tạo ra con người. Tông giáo của người Ba tỉ luân (Babylonian) và người Ai cập (Egyptian) chủ trương Sáng thế chủ dùng vật chất có sẵn để tạo ra thế giới và người; đạo Cơ đốc cho rằng Sáng thế chủ tạo ra thế giới từ trong không tuyệt đối. Trung quốc thì có thuyết Bàn cổ khai thiên lập địa, nghĩa là Bàn cổ (thủy tổ của nhân loại) mở ra trời và đất từ một khối đang ngưng kết lẫn lộn ở một chỗ, rồi sau đó lại đem thân mình hóa thành các bộ phận của thế giới. Riêng Phật giáo thì không bàn đến vấn đề Sáng thế chủ và thế giới từ đâu mà có, là vì Phật giáo tuy thừa nhận có rất nhiều thần linh, chư thiên, nhưng xem những vị này chỉ là một hình thức khác của chúng sinh, chủ trương tinh thần bất diệt, nhưng phủ nhận sự tồn tại của 1 vị thần sáng tạo ra vũ trụ, muôn vật. Phật giáo đặt nền tảng trên lập trường Duyên sinh (khởi) tính không, chủ trương vô thần (người sáng thế), vô ngã (linh hồn thường trụ ất biến), cho rằng vũ trụ là do nghiệp lực của cộng đồng chúng sinh chiêu cảm, do nhiều nhân duyên tạo thành; bản thể của chúng sinh là thức bị nghiệp xông ướp (huân tập); thức là thể bị nghiệp nhiễm thành; hành nghiệp tăng giảm từng sát na (tích tắc), bản thể của thức cũng theo đó mà biến động không ngừng, vì thế không có 1 linh hồn thường trụ bất biến, cũng không có vị thần nào sáng tạo và chủ tể thế giới.
sáng trí
Intelligent—Able-minded—Clear-headed.
sáng trưng
Brilliant—Bright—Dazzling.
sáng tác
To compose (music)—To write (a book).
sáng tạo
Creatively—To create—To invent
sáng tỏ
To clear up (explain--solve) all misunderstandings.
sáng ý
See Sáng Trí.
sáng, trưa, chiều, tối chỉ một hồng danh a di đà
Devoted cultivators should recite Amitabha's name without interruption in the morning, at noon, in the evening and at night.
sánh bước
To walk abreast (alongside of someone).
sánh bằng
To be comparable (equal) to.
sáp nhập với
To be incorporated with.
sáp đan
4963禪林用語。單,即單位,指貼有比丘名單之坐床,後引申為僧座。插,為插入之意。指比丘半途入禪堂坐禪,插在眾僧之間修行。即將自己之座位插入僧堂眾僧座席之間。插單後,始為僧堂之一員,得與眾僧共同生活。敕修百丈清規卷五新戒參堂條(大四八‧一一三八下):「然後歸堂插單,隨眾禪誦。」此外,遷移座席,亦稱為插單。敕修百丈清規卷四後堂首座條(大四八‧一一三一上):「如缺前堂,住持別日,上堂白眾,請轉前板,插單唱食。」
; (插單) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Đơn là đơn vị, chỉ cho cái giường ngồi có dán tên của tỉ khưu. Sau được dùng để chỉ cho chỗ ngồi của vị tăng. Sáp nghĩa là sáp nhập, chỉ cho vị Tỳ khưu vào Thiền đường tọa thiền, sáp nhập với chúng tăng để tu hành, tức đem cái chỗ ngồi của mình sáp nhập với chỗ ngồi của chúng tăng. Vị tăng hành cước du phương đến tùng lâm, chỉ sau khi sáp đơn mới được xem là 1 thành viên của Tăng đường, được sinh hoạt chung với chúng tăng. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 hạ) nói: Sau đó, về Tăng đường sáp sơn, theo chúng ngồi thiền. Ngoài ra, dời đổi chỗ ngồi cũng gọi là sáp sơn.
Sát
刹; C: chà; J: setsu;|1. Thế giới, đất nước, cõi (s: kṣetra); 2. Một cây cột dựng thẳng trước một Phật điện, cho biết đây là một tự viện, một ngôi chùa, và vì vậy, cũng có nghĩa là một ngôi chùa; 3. Một lối viết tắt của Sát-đế-lợi (刹帝利; s: kṣatriya), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh; 4. Một ngôi chùa, một bảo tháp.
sát
4655<一>斷絕生命之相續。大日經疏卷十載,斷除根本,稱為殺,即斷除一切眾生之命根;而命根乃無始無明之諸種煩惱,於密教,即以斷除無明煩惱,為殺之深義。〔大乘義章卷七〕 <二>悉曇字???(ṣa)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作沙、灑。瑜伽金剛頂經釋字母品以灑字門指一切法性鈍之義。(參閱「灑」6902)
; 3730<一>梵語 kṣetra 之略譯。又作紇差呾羅、剎多羅、差多羅、剎摩。 意譯爲土田、土、國、處,即指國土,或合梵漢稱爲「剎土」。一般所熟知之「佛剎」即佛土之意。 <二>梵語 lakṣatā 之略譯。全稱剌瑟胝。 意謂標誌、記號。指旗桿或塔之心柱。一般稱寺院謂寺剎、梵剎、金剎或名剎等,蓋佛堂前自古有建幡竿(即剎)之風,故得此名。僧人對語時,稱對方之寺爲寶剎。
; Kśa (S), Ksha (S)ĐộĐất, ruộng (Thí dụ: Phật sát = Phật quốc, Tịnh sát = Tịnh độ).
; Ksetra (S). Land, fields,country, place; also a universe consisting of three thousand large chiliocosms.
; 1) Cắt đứt mạng sống: To cut down, or cut off the life. 2) Chà sát: To rub—To wipe. 3) Sát sanh: To kill. 4) Đất: Land. 5) Khoảng thời gian rất ngắn (Sát na): A very short period of time. 6) Sát (rãi ra): To scatter—To set loose—To sow. 7) Vicara (p): Sustained application—Danh từ “Sát” có nghĩa là quan sát hay dò xét. Trong A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), “Sát” có nghĩa là “liên tục đặt tâm trên đối tượng.”—The word “vicara” usually means “examination,” but in Abhidharma it signifies the “sustained application” of the mind on the object. Whereas “vitakka” is the directing of the mind and its concomitants towards the object, vicara is the continued exercise of the mind on the object. a) “Tầm” tựa như con chim đang xoải cánh rộng ra để bay, còn “Sát” thì tựa như con chim đang bay lượn trên không trung với đôi cánh xoải rộng: Vitakka is like a bird's spreading out its wings to fly, vicara is like the bird's gliding through the air with outstretched wings. b) “Tầm” tựa như con ong bay hướng về cánh hoa, “Sát” tựa như con ong đang bay lượn trên hoa: “Vitakka” is like a bee's diving towards a flower, vicara is like the bee's buzzing above the flower. c) Trong thực tập thiền, thì “Sát” giúp tạm thời khắc phục hoài nghi: In practicing meditation, “vicara” serves to temporarily inhibit the hindrance of doubt.
; (殺) I. Sát. Phạn: Kwetra. Gọi đủ: Hột sai đát la, Sát đa la, Sai đa la, Sát ma. Hán dịch: Thổ điền, Độ, Quốc, Xứ. II. Sát. Phạn: Lakwatà. Gọi đủ: Lạt sắt chi. Hán dịch: Tiêu chí, Kí hiệu. Chỉ cho cái cột phướn, cột cờ. Thông thường chùa viện được gọi là Tự sát, Phạm sát, Kim sát hoặc Danh sát, bởi vì từ xưa có phong tục dựng cây cột phướn trước cửa chùa nên mới có cái tên gọi trên. Khi các vị tăng nói chuyện với nhau, thường gọi chùa của nhau là Bảo sát.
; (刹) I. Sát. Cắt đứt sự liên tục của dòng sống. Đại nhật kinh sớ quyển 10 cho rằng dứt trừ gốc rễ gọi là Sát(giết), tức dứt trừ mệnh căn (gốc sự sống) của tất cả chúng sinh. Nhưng theo Mật giáo, mệnh căn chính là các thứ phiền não vô thủy vô minh, đoạn trừ vô minh phiền não là nghĩa sâu xa của chữ Sát (tức giết chết tất cả vô minh phiền não). [X. Đại thừa nghĩa chương Q.7]. II. Sát. Cũng gọi Sa, Sái. Chỉ cho chữ (wa) trong 50 hoặc 42 chữ cáiTất đàm. Theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du Già Kim Cương đính thì chữ Sái chỉ cho độn tính của tất cả các pháp. (xt. Sái).
sát can
Yasti (skt)—Sát Trụ—Kim Sát—Biết Sát—Cây cột cờ của tự viện, dựng trên đỉnh tháp, bên trên có gắn bảo châu hay hỏa châu mạ vàng, một biểu tượng của Đạo Phật—The flagpole of a monastery, surmounted by a gilt ball or pearl, symbolical of Buddhism; inferentially a monastery with its land.
sát cánh
To be side by side (elbow to elbow).
sát giả
The murderer, a name for Màra.
; Kẻ sát nhân, một tên của ma quân—The murderer, a name for mara
sát giới
Precept on not-killing.
sát hãn
Lau mồ hôi—To wipe off sweat.
sát hạch
to examine.
sát hại
To kill.
sát hại tưởng
Vihiṃsa-saṃjā (S).
sát hải
3732全稱剎土大海。指十方世界而言。俗稱爲宇宙。剎爲梵語 kṣetra 之略譯,意爲剎土、國土;海爲大海之意。(參閱「剎」3731)
; Land and sea.
; Đất và biển—Land and sea.
; (刹海) Gọi đủ: Sát độ đại hải. Tục gọi là Vũ trụ. Chỉ cho thế giới trong 10 phương. Chữ Sát là dịch âm tắt từ chữ Phạn Kwetra, Hán dịch là Quốc độ, sát độ; Hải nghĩa là biển cả. (xt. Sát).
Sát lợi 刹利
[ja] セツリ setsuri ||| A transliteration of the Sanskrit kṣatriya (刹帝利), the warrior/political caste in ancient India. => Phiên âm chữ Kṣatriya (Sát-đế-lợi刹帝利) từ tiếng Sanskrit, thành phần chiến sĩ, vua quan trong xã hội thời cổ đại Ấn Độ.
sát lỵ
Kṣatriya (S), Khattiya (P)Sát đế lợiGiai cấp vua chúa, vương quyền, võ sĩ, giai cấp thứ hai ở Ấn ngày xưa Xem Sát đế lỵ.
sát ma
Ksema (skt)—Nơi cư ngụ—A residence, dwelling, abode, land, property.
Sát Na
(s: kṣaṇa, p: khaṇa, 刹那): âm dịch là xoa nô (叉拏), ý dịch là niệm (念), niệm khoảnh (念頃, khoảnh khắc của niệm). Ở Ấn Độ, nó được dùng như là đơn vị biểu thị thời gian ngắn nhất. Thông thường người ta cho rằng đối với một người có sức mạnh thì trong một khoảng khảy móng tay đã trải qua 65 sát na. Theo Câu Xá Luận (s: Abhidharmakośabhāṣya, 倶舍論), 120 sát na là 1 Đát Sát Na (s: tatkṣaṇa, 怛刹那), 60 Đát Sát Na là 1 Lạp Phược (s: lava, 臘縛), 30 Lạp Phược là 1 Mâu Hô Lật Na (s: muhūrta, 牟呼栗多), 30 Mâu Hô Lật Na là một ngày đêm. Theo đó, ta thấy rằng 1 Sát Na là 1/75 giây, thể hiện thời gian rất ngắn đến nỗi không thể có cảm giác biết được.
sát na
3731梵語 kṣaṇa,巴利語 khaṇa。又作叉拏。意譯須臾、念頃,即一個心念起動之間,與發意頃同義,單作念。意爲瞬間,爲表時間之最小單位。 (一)據俱舍論卷十二載, 一百二十剎那爲一怛剎那(梵 tat-kṣaṇa),六十怛剎那爲一臘縛(梵 lava,又作羅預),三十臘縛爲一牟呼栗多(梵 muhūrta,譯作須臾),三十牟呼栗多爲一晝夜。一剎那約當於今之零點零一三秒。 (二)據摩訶僧祇律卷十七載,二十念爲一瞬,二十瞬爲一彈指,二十彈指爲一羅豫(臘縛),二十羅豫爲一須臾,三十須臾爲一晝夜。一念約今之零點零一八秒。 (三)或謂一剎那與一念相異。據仁王經卷上觀空品(鳩摩羅什譯)載,九十剎那爲一念;據往生論註卷上載,六十剎那爲一念。 (四)據大智度論卷三十、卷八十三載,六十念爲一彈指;據俱舍論卷十二載,六十五剎那爲一彈指。 (五)據大般若經卷三四七所說之一日夜、一日、半日、一時、食頃、須臾、俄爾、瞬息頃等順序,一剎那大約相當於一食頃(一前食之間,即早食之前或早食之間)之時間。 (六)據仁王經卷上觀空品(鳩摩羅什譯)載,一剎那有九百生滅;又據往生論註卷上載,一剎那有一百零一生滅。 此外,一剎那之間之生滅,稱剎那生滅或剎那無常。現在之一剎那稱現在,前剎那稱過去,後剎那稱未來,此爲剎那三世。〔大毘婆沙論卷一三六、雜阿毘曇心論卷二、順正理論卷三十二、華嚴經探玄記卷十八〕(參閱「時」4121)
; Kṣaṇa (S), Khanika (P), Setsuna (J)NiệmKhoảng thời gian bằng một ý tưởng thoáng qua. 90 sát na bằng một niệm (đơn vị thời gian). Một sát na có 900 lần sinh diệt.
; Ksana (S). An indefinite space of time, a moment, an instant; the shortest measure of time, as kalpa is the longest.
; Là thời gian rất ngắn, 1/60 của giây.
; Ksana (skt)—Một khoảnh khắc được xem như một đơn vị đo lường thời gian—An instance as a measure of time. 1) Khoảnh khắc của một khoảng thời gian rất ngắn, đối lại với kiếp là một khoảng thời gian dài: The shortest period or measure of time, a moment, an instant; in contrast with kalpa, the longest period of time. 2) 65 (có chỗ nói 60) sát na tương đương với một cái khảy móng tay—Sixty-five (some says 60) ksanas are said to pass the clicking of the fingers. 3) 90 sát na được coi như một niệm: 90 ksanas are equal to a thought. 4) Một sát na tương đương với một phần bảy mươi lăm giây, hay 4.500 sát na tương đương với một phút—A ksana is equal to one seventy-fifth of a second, or 4,500 ksanas are equal to a minute.
; (刹那) Phạn: Kwaịa. Pàli:Khaịa. Cũng gọi Xoa noa. Hán dịch: Tu du, Niệm khoảnh. Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát... có các thuyết sau đây: 1. Theo luận Câu xá quyển 12 thì 120 sát na là 1 đát sát na (Phạn: Tat-kwaịa), 60 đát sát na là 1 lạp phược (Phạn: Lava, cũng gọi La dự), 30 lạp phược là 1 mâu hô lật đa (Phạn: Muhùrta, Hán dịch là tu du), 30 mâu hô lật đa tức là 1 ngày đêm. 2. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 17 thì 20 niệm là 1 chớp mắt, 20 chớp mắt là 1 cái búng móng tay, 20 cái búng móng tay là 1 la dự (lạp phược), 20 la dự là 1 tu du, 30 tu du là 1 ngày đêm. 3. Có thuyết cho rằng 1 sát na khác với 1 niệm. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng (bản dịch của ngài Cưu ma la thập) thì 90 sát na là 1 niệm. Còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì 60 sát na là 1 niệm. 4. Theo luận Đại trí độ quyển 30, 83 thì 60 niệm là 1 cái búng tay; theo luận Câu xá quyển 12 thì 65 sát na là 1 cái búng móng tay. 5. Cứ theo thứ tự 1 ngày đêm, 1 ngày, nửa ngày, 1 giờ, khoảng bữa ăn, chốc lát, giây lát, khoảng chớp mắt, hơi thở... nói trong kinh Đại bát nhã quyển 347, thì 1 sát na tương đương với khoảng bữa ăn. 6. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch thì trong 1 sát na có 900 lần sinh diệt; còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì trong 1 sát na có 101 lần sinh diệt. Ngoài ra, sự sinh diệt trong khoảng 1 sát na được gọi là Sát na sinh diệt hoặc Sát na vô thường. Một sát na hiện tại gọi là Hiện tại, sát na trước gọi là Quá khứ, sát na sau gọi là Vị lai, đó là Sát na tam thế. [X. luận Đại tì bá sa Q.136; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.32; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Thời).
sát na sinh diệt
3731生滅之一種。指於極短之時間(剎那)生起與消滅。大智度論卷十五(大二五‧一七一上):「彈指頃有六十時,一一時中心有生滅。(中略)行者觀心生滅,如流水燈焰。」(參閱「生滅」2069、「剎那」3731)
; Ksanabhanga (S). All things are in continuous flow, born and destroyed every instant. Perpetual and simultaneous transformations of thought.
; Chư pháp chuyển động liên tụ, trong khoảnh khắc một sát na có cả sinh và diệt—All things are in continuous flow, born and destroyed every instant.
; (刹那生滅) Chỉ cho sự sinh khởi và diệt vong trong 1 sát na. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 171 thượng) nói: Trong khoảng búng móng tay có 60 thời, trong mỗi thời tâm đều có sinh diệt.(...) Hành giả quán tâm sinh diệt như nước chảy, đèn cháy. (xt. Sinh Diệt, Sát Na).
sát na tam thế
The moments past, present, future.
; Ba thời khác nhau trong khoảnh khắc ba sát na, sát na quá khứ, sát na hiện tại và sát na vị lai—The moments past, present, future.
sát na vô thường
3732指於剎那之間,具生、住、異、滅之四相。即轉變無常之義。乃對「期無常」而言。(參閱「剎那」3731、「無常」5109)
; Not a moment is permanent, but passes through the stages of birth, stay, change, death.
; Không có lúc nào được gọi là thường hằng, chỉ trong khoảnh khắc một sát na mà có đầy đủ bốn tướng sanh, trụ, dị , diệt—Not a moment is permanent, but passes through stages of birth, stay, change, death.
; (刹那無常) Đối lại: Nhất kì vô thường. Sự vô thường trong 1 sát na. Chỉ cho khoảng 1 sát na có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, nghĩa là vô thường biền chuyển. (xt. Sát Na, Vô Thường).
sát na đẳng khởi
3732「因等起」之對稱。又作隨轉心、後等起、共剎那緣起。對初念之能發因(因等起)而言,第二念以後,與所發之表、無表業同時轉之心、心所法,即稱爲剎那等起。亦即作正業時,不相離心者。唯識家以此剎那等起爲審慮、決定、動發勝思等三思中之動發勝思所攝。〔俱舍論卷十三、順正理論卷三十六、成唯識論演祕卷二本〕(參閱「因等起」2300、「轉隨轉」6625)
; Tatkṣaṣa-Samutthana (S)Tâm sở và nghiệp khởi trong cùng một sát na khi tạo nghiệp.
; (刹那等起) Đối lại: Nhân đẳng khởi. Cũng gọi Tùy chuyển tâm, Hậu đẳng khởi, Cộng sát na duyên khởi. Tâm chuyển thì nghiệp cũng đồng thời phát khởi. Đối với nhân năng phát (Nhân đẳng khởi) của niệm đầu tiên mà nói, từ niệm thứ 2 trở về sau, cùng với tâm, tâm sở cùng chuyển mà phát ra Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp thì gọi là Sát na đẳng khởi. Nghĩa là chính lúc đang tạo nghiệp, nghiệp và tâm không lìa nhau. Trong 3 loại: Thẩm lự tư, Quyết định tư và Động phát thắng tư, tông Duy thức cho Sát na đẳng khởi thuộc về Động phát thắng tư. [X. luận Câu xá Q.13; luận Thuận chính lí Q.36; Thành duy thức luận diễn bí Q.2, phần đầu]. (xt. Nhân Đẳng Khởi, Chuyển Tùy Khởi).
sát na định
3732梵語 kṣaṇika-samādhi,巴利語 khaṇika-samādhi。入初禪而生樂時,所生剎那之初步欲界定。亦即指近行定、安止定之前的初步禪定。〔清淨道論四〕
; Khanika-samādhi (P), Kṣanika-samādhi (S), Kṣaṇabhaṅga (S), Khaṇabhaṅa (P), Momentary concentration.
; (刹那定) Phạn: Kwaịika-samàdhi. Pàli:Khaịika-samàdhi. Sát na đầu tiên của Thiền định ở cõi Sắc. Khi hành giả vào Sơ thiền mà sinh vui mừng là sát na đầu tiên củathiền định cõi Sắc, gọi là Sát na định, tức trước Cận hành định và An chỉ định. [X. luận Thanh tịnh đạo 4].
sát nghiệp
The karma resulting from killing.
; Một trong mười ác nghiệp, tức ác nghiệp giết hại các loài hữu tình khác—One of the ten kinds of evil karma, the karma resulting from kiling—See Thập Ác.
sát nghĩa
Exact sense.
sát nhau
Close together.
sát nhân bất triếp nhãn
4655禪林用語。比喻師家接化學人,冷酷嚴厲,絲毫不留情。碧巖錄第四則(大四八‧一四四中):「有殺人不眨眼底手腳,方可立地成佛;有立地成佛底人,自然殺人不眨眼,方有自由自在分。」又形容師家接化學人之語,另有「殺人須見血」,比喻接化之徹底,為「救人須救徹」之對句;「殺人不用刀」一語,指以言句巧妙接化學人。〔從容錄第十六則、碧巖錄第十三則〕
; (殺人不眨眼) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giết người không chớp mắt, nghĩa là giết người một cách bình tĩnh, thản nhiên, không run sợ. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ bậc thầy đã triệt ngộ, tiếp hóa người học với thái độ lạnh lùng, nghiêm khắc, không biểu lộ mảy may tình cảm nào. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 144 trung) nói: Kẻ nào giết người không chớp mắt, thản nhiên như không mới có thể thành Phật tức khắc. Người thành Phật tức khắc thì tự nhiên giết người chẳng chớp mắt, mới có phần tự do tự tại. X. Thung dung lục tắc 16, Bích nham lục tắc 13].
sát nhân đao hoạt nhân kiếm
4655禪林用語。指殺活自在之方法。即以刀劍比喻師家指導學人之自由權巧運作之方法。於禪宗,師家接化學人時,用強奪、不許之方式,喻為殺人刀;給與、允容之方式,則喻為活人劍。不偏於任何一方,而能自由運用之方法,即稱為殺人刀活人劍。碧巖錄第十二則垂示(大四八‧一五二下):「殺人刀、活人劍,乃上古之風規,亦今時之樞要。若論殺也,不傷一毫;若論活也,喪身失命。」
; (殺人刀活人劍) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dao giết người, gươm cứu người, ví dụ bậc thầy vận dụng phương pháp chỉ dẫn người họcmột cách tự do khéo léo, rất linh hoạt, vừa nghiêm khắc vừa khoan dung, không thiên chấp 1 phương pháp nào, nên ví dụ là dao giết người, gươm cứu người. Bích nham lục tắc 12 (Đại 48, 152 hạ) nói: Dao giết người và gươm cứu người là quy củ của tông phong đã có từ thời xưa và cũng là then chốt của thời nay. Nếu nói về chỗ giết người thì chẳng thương tổn mảy may; mà bàn về chỗ cứu người thì vùi thân mất mạng.
sát nhân đao, hoạt nhân kiếm
Dao giết người, kiếm làm sống. Cơ xảo của chư Tổ tiếp dẫn hậu học có cao thấp. Thấp là tiểu cơ tiểu dụng, nghĩa là chỉ biết dùng sát nhân đao mà chẳng biết dùng hoạt nhân kiếm. Cao là đủ đại cơ đại dụng, khéo dùng sát nhân đao, cũng khéo dùng hoạt nhân kiếm. Sát nhân đao chỉ có thể khiến người tiểu tử tiểu hoạt, còn đồng thời biết dùng sát nhân đao và hoạt nhân kiếm thì có thể khiến người đại tử đại hoạt.
sát niệm
A thought (90 ksana equal one finger-snap, 90th of a thought equal 4.500th a minute).
sát niệm sanh diệt
All things are in continuous flow, born and destroyed every instant.
sát niệm tam thế
The moments, past, present and future.
sát niệm vô thường
Not a moment is permanent, but passes through the stages of birth, stay, change and death.
sát phật sát tổ
4656禪林用語。指超越對佛祖之執著,達到自身即究盡十方世界之境地。殺,指破除執著;殺佛,意即打破對佛祖之執著,或指先無自身為佛之意識,始自成真佛。景德傳燈錄卷五(大五一‧二四○下):「若學坐佛,佛非定相,於無住法不應取捨。汝若坐佛,即是殺佛。」與「殺父害母」一詞同義。殺害父母原為五無間業(五逆罪)之重罪,然臨濟錄中,以父母喻無明、貪愛,殺父害母,即絕滅一切執著之意。臨濟錄示眾(大四七‧五○○中):「逢佛殺佛,逢祖殺祖,逢羅漢殺羅漢,逢父母殺父母,逢親眷殺親眷,始得解脫。」此外,所謂「殺佛機」,機,指根機、資質;即指達到超越執著諸佛列祖境界之人,亦指此種之機用。
; (殺佛殺祖) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giết Phật giết Tổ. Chỉ cho cảnh giới siêu việt, không chấp trước Phật và Tổ. Sát là phá trừ chấp trước; sát Phật là đả phá sự chấp trước Phật; hoặc trước tiên phải không có ý thức về mình là Phật thì mới có thể thành Phật chân thực. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 240 hạ) nói: Nếu học Phật ngồi, thì Phật không có tướng nhất định; đối với pháp vô trụ không nên lấy bỏ. Nếu ông học Phật ngồi tức là giết Phật.
sát quỉ
To slay demons; a ghost of the slain; a murderous demon; a metaphor for impermanence.
sát quỷ
4657即指無常猶如殺人之幽鬼。由於無常之理,令生者,不分貴賤、不擇豪賢必有一死,故以殺鬼比喻之。摩訶止觀卷七上(大四六‧九三下):「無常殺鬼,不擇豪賢。」〔法句譬喻經卷一〕
; 1) Loài quỷ giết hại chúng sanh (các chùa thường vẽ sát quỷ với hai tay ôm lấy bánh xe luân hồi): To slay demons; a ghost of the slain; a murderous demon. 2) Ám chỉ vô thường: A metaphor for impermanence.
; (殺鬼) Chỉ cho sự vô thường giống như quỉ giết người. Bởi lí vô thường khiến mọi người đã sinh ra thì không kể giàu nghèo sang hèn đều phải chết, không ai tránh khỏi.bMa ha chỉ quán quyển 7 (Đại 46, 93 hạ) nói: Vô thường sát quỉ, không chọn hiền tài. [X. kinh Pháp cú thí dụ Q.1].
sát sanh
See Sát Sinh.
sát sanh giới
Prāṇātipāta (S), Pāṇavadha (P), Pāṇatipāta (P)Sát sanh.
sát sinh
4655梵語 prāṇātipāta。即殺害人畜等一切有情之生命。乃十惡業之第一,五戒之一,八戒之一,十戒之一。大乘佛教為避免殺生,而禁止食肉,更進而以放生為其積極表徵。依大智度論卷十三之說,諸罪中殺罪最重,諸功德中不殺第一,世間惜命亦為第一。斷人畜之生命,不論親自下手殺,或教人殺,皆屬同罪。比丘殺人,犯四波羅夷,自殺則結偷蘭遮罪;自傷形體,結突吉羅罪;殺害畜生,得波逸提(懺悔罪)。凡犯殺戒者,死後將墮地獄、餓鬼、畜生等三惡道,即使生於人間,亦不免多病短命。 不殺生係依慈悲心及避免犯下殺生惡業二理由。從原始佛教至大乘佛教,皆強調之,更成為佛教徒最重要之實踐德目。於印度,多有立於佛教立場實行不殺生之國王。我國佛教,於梵網經、金光明經、涅槃經、楞伽經等諸經中,所說不殺生、不食肉之教導,影響甚鉅;又儒家亦倡說惻隱之心為「仁」之端,慈愛普及於禽獸,故古來行仁政之君主,亦敕禁殺之令,以示博愛之德,多行於齋會之時,或靈剎附近。佛祖統紀卷五十二放生禁殺條,列舉各種禁止殺生之例。如梁文帝、北魏獻文帝、隋文帝、宋真宗等曾行禁殺、放生;又如智者大師曾化導一千餘處,令捨棄漁捕;另如四明之延慶法智法師每年以放生慶祝佛誕。〔梵網經卷下、順正理論卷四十二、大毘婆沙論卷十八〕
; Pànaghàta (P). To take life, kill the living, or any conscious being; the taking of human life offends against the major commands, of animal life against the less stringent commands. Suicide also leads to severe penalties.
; Panatipata (p). (I) Nghĩa của sát sanh—The meanings of Panatipata: 1) Một trong mười ác nghiệp, giết hại mạng sống của loài hữu tình. Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, sát sanh là cố ý giết chết một chúng sanh. Trong Phạn ngữ, “Panatipata,” pana có nghĩa là đời sống tâm vật lý của một chúng sanh. Xem thường đời sống, tiêu diệt, cắt đứt, ngăn chận sức tiến của năng lực một đời sống, không cho nó tiếp tục trôi chảy là panatipata. Pana còn có nghĩa là cái gì có hơi thở. Do đó tất cả những động vật, kể cả loài thú, đều được xem là pana—One of the ten kinds of evil karma, to kill living beings, to take life, kill the living, or any conscious being. According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, killing means the intentional destruction of any living being. The Pali term pana strictly means the psycho-physical life pertaining to one's particular existence. The wanton destruction of this life-force, without allowing it to run its due course, is panatipata. Pana also means that which breathes. Hence all animate beings, including animals, are regarded as pana. 2) Cây cỏ không được xem là “sinh vật” vì chúng không có phần tinh thần. Tuy nhiên, chư Tăng Ni cũng không được phép hủy hoại đời sống của cây cỏ. Giới nầy không áp dụng cho những cư sĩ tại gia—Plants are not considered as “living beings” as they possess no mind. Monks and nuns, however, are forbidden to destroy even plant life. This rule, it may be mentioned, does not apply to lay-followers. 3) Theo giáo thuyết nhà Phật thì giết người là phạm trọng giới, giết bất cứ loài sinh vật nào cũng đều phạm khinh giới. Tự vẩn cũng đưa đến những hình phạt nặng nề trong kiếp lai sanh—According to the Buddhist laws, the taking of human life offends against the major commands, of animal life against the less stringent commands. Suicide also leads to severe penalties in the next lives. (II) Năm điều kiện cần thiết để thành lập một nghiệp sát sanh—Five conditions that are necessary to complete the evil of killing: 1) Có một chúng sanh: A living being. 2) Biết rằng đó là một chúng sanh: Knowledge that it is a living being. 3) Ý muốn giết: Intention of killing. 4) Cố gắng để giết: Effort to kill. 5) Giết chết: Consequent death. (III) Hậu quả hay quả báo của sát sanh: Nghiệp dữ gây ra do hành động sát sanh nặng hay nhẹ tùy sự quan trọng của chúng sanh bị giết—The consequences of killing. The gravity of the evil deed of killing depends on the goodness and the magnitude of the being concerned. 1) Giết một bậc vĩ nhân hiền đức hay một con thú to lớn tạo nghiệp nặng hơn là giết một tên sát nhân hung dữ hay một sinh vật bé nhỏ, vì sự cố gắng để thực hiện hành động sát sanh và tai hại gây ra quan trọng hơn: The killing of a virtuous person or a big animal is regarded as more heinous than the killing of a vicious person or a small animal, because a greater effort is needed to commit the evil and the loss involved is considerably great. 2) Quả dữ của nghiệp sát sanh bao gồm—The evil effetcs of killing include: a) Yểu mạng: Brevity of life. b) Bệnh hoạn: Ill-health. c) Buồn rầu khổ nạn vì chia ly: Constant grief due to the separation from the loved one. d) Luôn luôn lo sợ: Constant fear. (IV) Những lời Phật dạy về “Sát Sanh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Killing” in the Dharmapada Sutra: 1) Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết chớ bảo giết—All tremble at sword and rod, all fear death; comparing others with onerself, one should neither kill nor cause to kill (Dharmapada 129). 2) Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng thích được sống còn; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết chớ bảo giết—All tremble at sword and rod, all love life; comparing others with oneself; one should not kill nor cause to kill (Dharmapada 130). 3) Nếu lấy đao gậy hại người toàn thiện toàn nhân, lập tức kẻ kia phải thọ lấy đau khổ trong mười điều—He who takes the rod and harms a harmless person, will soon come to one of these ten stages (Dharmapada 137): a) Thống khổ về tiền tài bị tiêu mất, thân thể bị bại hoại, hoặc bị trọng bịnh bức bách—He will be subject to cruel suffering of infirmity, bodily injury, or serious sickness (Dharmapada 138). b) Hoặc bị tán tâm loạn ý, hoặc bị vua quan áp bách, hoặc bị vu trọng tội, hoặc bị quyến thuộc ly tán—Or loss of mind, or oppression by the king, or heavy accusation, or loss of family members or relatives (Dharmapada (139) c) Hoặc bị tài sản tan nát, hoặc phòng ốc nhà cửa bị giặc thiêu đốt, và sau khi chết bị đọa vào địa ngục—Or destruction of wealth, or lightening fire fire burn his house, and after death will go to the hell (Dharmapada 140).
; (殺生) Phạn: Pràịatipàta. Giết hại sinh mạng của tất cả loài hữu tình như người, súc vật... Theo luận Đại trí độ quyển 13 thì trong các tội, tội sát là nặng nhất, còn trong các công đức thì công đức không sát sinh là lớn nhất. Người thế gian tham tiếc mạng sống cũng là bậc nhất, dứt mất mạng sống của người và súc vật, tự tay mình giết hay sai bảo người khác giết, tội cũng như nhau. Tỳ khưu giết người phạm tội Ba la di; tự sát thì kết tội Thâu lan gia, tự làm tổn thương thân thể thì kết tội Đột cát la; giết hại súc sinh, phạm tội Ba dật đề. Người phạm giới sát, sau khi chết sẽ phải đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, khi được làm người cũng không tránh khỏi nhiều tật bệnh và chết yểu.
sát sinh giới
4655殺生,梵語 prāṇātipāta 或 prāṇātighāta。又稱斷人命學處、殺人戒、殺戒。即針對殺害人命一事,所制定之戒。為四波羅夷之一,十重禁之一,五戒之一,八戒之一,十戒之一。凡親自下手殺害人命,或持刀予人而勸人自殺,皆屬犯波羅夷(極重罪)。關於此戒之制定,據四分律卷二載,佛陀曾於毘舍離宣說不淨觀,諸比丘因而厭患身命,遂請名為勿力伽難提之人,斷絕此身命。佛陀於事後呵責此過失,遂制定犯斷人命者,即為波羅夷。然關於佛陀制戒,各律論所載之時間有異。 又殺戒於諸戒中之次第,說法不同,有置於四波羅夷中之第三位,亦有置於第一位者。據法藏之梵網經菩薩戒本疏卷一闡釋,菩薩以大悲為本,故大乘以殺戒為第一;聲聞戒不以殺戒為先,而以淫戒為第一,亦即出家人犯殺戒者甚少,且聲聞戒為隨犯隨結之戒,而淫欲易起,故諸律中以其次第為淫、盜、殺、妄。在家人多求福德,又大乘菩薩以大悲為本,且殺為體性罪,故於五戒或十波羅夷中列為首位。 殺戒之犯相,各經論所說略異,然約可分為五相,即:起殺心、有眾生、作眾生想、用方便加行、斷其命。有關殺生之情況,四分律卷二總舉自殺、教人殺、遣使殺等,共計二十種;其他律典中亦有分十五種、二十一種、三十一種等之記載。又依所殺眾生之不同,而分:殺人者為波羅夷罪,殺畜生者為波逸提罪;或大別為三品:殺害諸佛、聖人、父母等上品眾生為五逆罪,殺害人及天等中品眾生為波羅夷罪,殺害畜生等下品眾生為輕垢罪。殺生之果報,舊華嚴經卷二十四謂,殺生之罪能令眾生墮於地獄、畜生、餓鬼;若生於人中,則得二種果報,一為短命,二為多病。大智度論卷十三說十罪及其果報。大毘婆沙論卷一一三,載有三果,即墮地獄為異熟果,生人中多病短命為等流果,所感外物皆不堅住為增上果。〔摩訶僧祇律卷四、五分律卷二、十誦律卷二、成實論卷八十、瑜伽師地論卷五十九、菩薩戒經義疏卷下〕
; (殺生戒) Sát sinh, Phạn: Pràịàtipàta hoặc Pràịàtighàta. Cũng gọi Đoạn nhân mệnh học xứ, Sát nhân giới,Sát giới. Giới cấm giết hại người và súc vật, là 1 trong 4 tội Ba la di, 1 trong 10 trọng cấm, 1 trong 5 giới, 1 trong 8 giới, 1 trong 10 giới.Phàm chính tay mình giết người, hoặc sai bảo người khác, hoặc cầm dao trao cho người rồi khuyên họ tự sát, đều phạm tội Ba la di (tội nặng nhất). Theo luật Tứ phần quyển 2, đức Phật ở thành Tì xá li nói pháp Quán bất tịnh, các vị Tỳ khưu vì nhàm chán thân mệnh nên nhờ 1 người tên là Vật lực già nan đề đến giết mình dùm. Đức Phật sau khi biết được việc ấy liền chế định giới này. Về thứ tự giới Sát nằm trong các giới thì các bộ luật nói không giống nhau, có chỗ đặt ở vị trí thứ 3 trong 4 Ba la di, lại có chỗ đặt ở vị trí thứ nhất. Theo sự giải thích trong Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 1 của ngài Pháp tạng, thì Bồ tát lấy đại bi làm gốc, bởi thế Đại thừa đặt giới sát ở vị trí thứ nhất; giới Thanh văn thì không lấy giới Sát làm đầu mà đặt giới Dâm vào bậc nhất, vì rất ít người xuất gia phạm giới Sát. Vả lại, giới Thanh văn là giới căn cứ vào điều đã phạm mà kết tội, lại vì dâm dục dễ khởi nên các bộ luật xếp theo thứ tự: Dâm, Đạo, Sát, Vọng. Người tại gia phần nhiều cầu phúc đức, hàng Bồ tát Đại thừa thì lấy đại bi làm nền tảng, vả lại, Sát là tội thể tính, vì thế trong 5 giới hoặc 10 giới, Sát được xếp vào vị trí đầu. Về tướng phạm giới Sát thì các kinh luận nói hơi khác nhau, nhưng đại khái có thể chia làm 5 tướng: Khởi tâm giết, có chúng sinh để giết, có ý tưởng về chúng sinh muốn giết, dùng phương tiện để giết và cuối cùng thực hiện việc giết. Căn cứ vào chúng sinh bị giết khác nhau mà phạm tội cũng có khác nhau: Giết người thì phạm tội Ba la di, giết súc sinh phạm tội Ba dật đề; hoặc chia làm 3 phẩm: Giết hại chúng sinh thượng phẩm như chư Phật, thánh nhân, cha mẹ... thì phạm tội Ngũ nghịch; giết hại chúng sinh trung phẩm như người, trời... thì phạm tội Ba la di; giết hại chúng sinh hạ phẩm như súc sinh... thì là tội Khinh cấu (tội nhẹ). Về quả báo của hành động sát sinh, theo kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) thì tội sát sinh phải đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ; nếu được sinh làm người thì phải chịu 2 loại quả báo: Chết non và nhiều bệnh tật. [X.luật Ma ha tăng kì Q.4; luật Ngũ phần Q.2; luật Thập tụng Q.2; luận Thành thực Q.8; luận Du già sư địa Q.59; Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.hạ].
Sát sinh 殺生
[ja] サツショウ satsushō ||| (1) The taking of life; killing a living being (prāṇa-atipāta). This is one of the ten evil actions 十惡, and is prohibited as part of the basic moral conduct in Buddhism, in the five precepts 五戒. (2) A killer. Someone who takes life. => 1. Sát hại mạng sống; sát hại chúng sinh (s: prāṇa-atipāta). Đây là một điều trong Thập ác十惡, bị cấm không được vi phạm như là một phần giới luật căn bản trong đạo Phật; là một trong năm giới cấm. 2.Kẻ sát hại, người chiếm đoạt mạng sống kẻ khác.
sát sát
6440小浮屠;即泥作之小塔。置於海濱,以鎮海之災患。元史卷二○二:「有作擦擦者,以泥作小浮屠也。」又載:「作擦擦者,或十萬、二十萬,以至三十萬。」
sát thanh
4657指鳴鐘、敲鼓等即將停止時之打法。首先鐘鼓由緩而急,連續不停地敲打,於一會終止時,特別敲打一聲強聲;二會時,則打弱、強二聲;三會時,為中、弱、強三聲,皆為告示終了之作用。又鳴鐘將結束時之敲法,稱為殺鐘;停止打鼓之法,稱為殺鼓。〔禪苑清規卷六警眾〕
; (殺聲) Cách đánh chuông, trống báo hiệu sắp chấm dứt, đánh chuông, trống lúc đầu đánh chậm, rồi nhanh dần, lúc sắp đổ hồi thì đánh thật nhanh và liên tục, cuối cùng chấm dứt hồi thứ nhất, đặc biệt đánh 1 tiếng thật to để báo hiệu hồi thứ nhất đã chấm dứt. Khi chấm dứt hồi thứ 2 thì đánh 2 tiếng, 1 tiếng nhẹ, 1 tiếng mạnh; hồi thứ 3 thì đánh 3 tiếng cuối cùng, 1 tiếng vừa, 1 nhẹ và 1 tiếng mạnh để báo hiệu đã kết thúc việc đánh chuông, gọi là Sát chung. Nếu là đánh trống thì gọi là Sát cổ. [X. điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui Q.6].
sát thân
To kill oneself.
sát trần
3733無數國土之謂,或比喻數量極多。此一觀念最爲華嚴經所重視,如該經卷四世主妙嚴品(大一○‧一六中):「清淨慈門剎塵數,共生如來一妙相。」〔祕藏寶鑰卷下〕
; Lands, countless as the dust.
; Vô số những hạt bụi nhỏ hay vô số quốc độ—Lands, countless as the dust.
; (刹塵) Cõi bụi. Ví dụ số lượng cõi nước rất nhiều, không thể đếm được, như nóivô số quốc độ. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm quyển 4 (Đại 10, 16 trung) nói:Thanh tịnh từ môn sát trần số; Cộng sinh Như lai nhất diệu tướng; (Cửa từ thanh tịnh số sát trần; Cùng sinh diệu tướng của Như lai). [X. Bí tạng bảo thược Q.hạ].
sát trụ
3732又作剎竿、剎竿檫。即木造層塔之中心柱,或指支撐塔上傘蓋之竿。其形式因時而異,古代於地下深掘,或於礎石上開一空穴,使檫深植其中,上部突出,高聳雲天。立柱之時,通常以四周之四天柱爲吊曳之著力點。檫原係由下層直通九輪之頂,但也有從頂部直達下部者,未必僅用一根木材,通常由多根銜接而成。檫之基底尚有一穴,或爲二、三層,多用以安奉舍利者。檫柱上偶亦有刻檫銘者。剎而兼柱,故稱剎柱;至後世,建造塔寺每以「立剎」代之,又以剎而代塔,即由此緣由。又禪宗寺院爲示說法或法會所揭之旗竿亦稱剎竿。舊時,叢林亦有立長竿於寺前之作法,長竿上飾以金銅所製之寶珠焰形,以表示寺院之所在。我國六朝之時,寺塔建築即盛行立檫,然因係木質所造,迄今多半毀廢。今日本最古之木塔,法隆寺之五重塔,其中心柱之建構,或即傳自我國六朝之剎柱。〔覆艾克教授論六朝之塔(劉敦楨,現代佛教學術叢刊第五十九冊)〕
; (刹柱) Cũng gọi Sát can, Sát can sát. Chỉ cho cây cột để treo cờ, phướn ở trước các chùa viện. Thời xưa, trước cửa các chùa viện thường dựng 1 cây cột dài, bên trên cột có gắn bảo châu bằng đồng mạ vàng hình ngọn lửa để biểu thị nơi chùa viện.Ở Trung Quốc vào thời Lục triều, phần nhiều kiến trúc chùa viện đều có dựng Sát trụ, nhưng vì được làm bằng gỗ nên đến nay quá phân nửa đã bị mục nát. Tại Nhật bản, cây Sát trụ xưa nhất hiện còn là cây Sát trụ dựng trên ngọn ngôi tháp 5 tầng bằng gỗ ở chùa Pháp Long. [X. Phú ngải khắc giáo thụ luận Lục triều chi tháp (Lưu đôn trinh, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san tập 59].
sát tâm
To kill one's mind; murderous mind.
sát tặc
Ksìnàsrava (S). Thief-destroyer, i.e. conqueror of the passions, an arhat.
; Ksinasrava (skt)—Người tiêu diệt những tên đạo tặc (của chúng sanh), người chế ngự dục vọng, hay bậc A La Hán—Thief-destroyer, i.e. conqueror of the passions, an arhat.
Sát tặc 殺賊
[ja] セツゾク setsuzoku ||| Lit. "killer of thieves"--one of the original translations of the term arhat 阿羅漢, understood to be developed from the two components of ari (thief) and han (to kill). Tib. dgra bcom pa. => (t: dgra bcom pa). “Giết kẻ cướp”-- một trong những cách dịch sát nghĩa thuật ngữ A-la-hán (arhat 阿羅漢), được hiểu là phát triển từ hai thành tố Ari (kẻ cướp) và Han (sát hại).
sát đất
Close to the ground.
sát đế lợi
3732梵語 kṣatriya。意譯地主、王種。略作剎利。乃印度四姓階級中之第二階級,地位僅次於婆羅門,乃王族、貴族、士族所屬之階級,係從事軍事、政治者。釋尊即出身此階級。(參閱「四姓」1705)
; Śastriya (S)Giai cấp vương tộc, chiến sĩ thời Trung cổ ở Ấn độXem Sát lỵ.
; Ksatriya (S). The second, or warrior and ruling cast.
; Một trong bốn giai cấp chính ở Ấn Độ—One of the four Indian castes. 1) Ở Ấn Độ, sát Đế Lợi là giai cấp thứ nhì, dòng dõi chiến đấu hay giai cấp cai trị trong thời Phật còn tại thế—In India, it is the second or warrior and ruling caste in India during Sakyamuni's time. 2) Hoa ngữ dịch là giai cấp địa chủ và Vương chủng, giai cấp mà từ đó Đức Phật được sanh ra: Chinese render it as landowners and royal caste, the caste from which the Buddha came forth. 3) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân từ giai cấp nầy—Sakyamuni Buddha belonged to this caste (came from this caste).
; (刹帝利) Phạn: Kwatriya. Gọi tắt: Sát lợi. Hán dịch: Địa chủ, Vương chủng. Giai cấp thứ 2 trong 4 giai cấp của Ấn độ, là giai cấp thuộc hàng vương tộc, quí tộc, sĩ tộc, nắm giữ việc quân sự, chính trị trong nước. Đức Phật Thích ca xuất thân từ giai cấp này. (xt. Tứ Tính).
Sát độ
(剎土): chỉ quốc độ, cõi nước. Sát (s: kṣetra, 剎), âm dịch là Sai Đa La (差多羅), Hột Sai Đát La (紇差呾羅); ý dịch là ruộng đất. Như trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Vol. 10, No. 287) quyển 8, có câu: “Như Lai tọa nhất sát độ, nhất thiết thế giới tất hiện thân (如來安坐一剎土、一切世界悉現身, Như Lai ngồi một quốc độ, hết thảy thế giới đều hiện thân).” Hay trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) lại có đoạn: “Phụ thứ, Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Vị Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, năng đoạn Tam Chướng, tâm phiền não phược, năng ư nhất thân biến vãng thập phương ức Phật sát độ, hiện bất khả thuyết thần thông biến hóa, lợi lạc chúng sanh (復次、順忍菩薩、謂焰慧地、難勝地、現前地、能斷三障、心煩惱縛、能於一身遍往十方億佛剎土、現不可說神通變化、利樂眾生, Lại nữa, này Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Rằng Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, có thể đoạn Ba Chướng, tâm phiền não trói buộc, có thể nơi một thân mà biến qua mười phương ức cõi nước Phật, hiện thần thông biến hóa không thể bàn, làm lợi lạc chúng sanh).”
sát độ
3731指國土。剎,梵語 kṣetra,音譯差多羅、紇差呾羅。意譯土田。玄應音義卷一:「差多羅,此譯云土田。經中或云國或云土者,同其義也。或作剎土者,存二音也。」
; Ksetra (S). Land, country. Field, plot of land. Also nhất sát, sát hải.
; Ksetra (skt). 1) Đất đai hay xứ sở: Land—Field—Country—Place. 2) Vũ trụ bao gồm Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới: A universe consisting of three thousand large chiliocosms (great cosmo). 3) Tháp cờ trong tự viện: Flagstaff on a pagoda or monastery.
; (刹土) Phạn: Kwetra. Hán âm: Sai đa la, Hột sai đát la. Hán dịch: Độ điền. Chỉ cho quốc độ (cõi nước). Huyền ứng âm nghĩa quyển 1 nói: Sai đa la, Hán dịch là Độ điền (cõi đất). Trong kinh có chỗ gọi là Quốc, có chỗ gọi là Độ, cũng cùng với nghĩa này.
sát độ tự tại
3731又作淨土自在。指八地以上菩薩能自由生於種種國土之自在。(參閱「自在」2518)
; (刹土自在) Cũng gọi Tịnh độ tự tại. Chỉ cho sự tự tại tự do sinh vào các cõi nước của hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên.(xt. Tự Tại).
Sát 刹
[ja] セツ setsu ||| (1) World, country, realm (kṣetra). (2) A staff or pole erected in front of a buddha-hall as a sign of a temple--hence, a temple. (3) An abbreviation of 刹帝利, kṣatriya, a caste in India which consists of kings and warriors. (4) A temple; a stūpa. => Có các nghĩa sau: 1. Thế giới, cõi giới, quốc độ. 2. Cây trụ trượng hay cột cờ dựng trước điện Phật như là 1 biểu tượng của tự viên, do đó, có nghĩa là Chùa. 3. Viết tắt của Sát-đế-lợi (s: kṣatriya), 1 giai cấp ở Ấn Độ, gồm quân vương và chiến sĩ.
Sát 殺
[ja] サツ、セツ satsu, setsu ||| To kill, murder; to take a life (vadha). => Giết hại, giết người; chiếm đoạt mạng người (s: vadha).
Sát-lợi
刹利; C: chàlì; J: setsuri;|Cách phiên âm của chữ Phạn kṣatriya (Sát-đế-lợi 刹帝利), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh tại Ấn Độ thời cổ.
sát-lỵ
xem bốn giai cấp.
Sát-na
剎那; C: chànà; J: setsuna; S: kṣaṇa;|Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.
Sát-na diệt
刹那滅; C: chànà miè; J: setsunametsu;|Tính chất khoảnh khắc. Một trong sáu tính chất của A-lại-da thức (Chủng tử lục nghĩa 種子六義).
Sát-na diệt 刹那滅
[ja] セツナメツ setsunametsu ||| Momentariness. One of the six characteristics of the seeds in the ālaya consciousness 種子六義. => Khoảng thời gian rất ngắn. Một trong sáu đặc điểm của chủng tử trong A-lại-da thức (chủng tử lục thức).
Sát-na sát-na
刹那刹那; C: chànàchànà; J: setsunasetsu-na;|Mỗi khoảnh khắc, từng khoảnh khắc một (theo Du-già luận 瑜伽論).
Sát-na sát-na 刹那刹那
[ja] セツナセツナ setsunasetsuna ||| Every single moment. 〔瑜伽論T 1579.30.327c11〕 => Mỗi một khoảnh khắc thời gian rất nhỏ.
Sát-na 刹 那
[ja] セツナ setsuna ||| (kṣana). A moment; an instant. => Một khoảnh khắc; một chốc lát.
sát-đế-lỵ
xem bốn giai cấp.
sáu ba la mật
Gồm đàn na (bố thí), thi la (trì giới), xiển đề (nhẫn nhục) tỳ lê da (tinh tấn), thiền na (thiền định) bát nhã (trí huẹ), cũng gọi là lục độ.
; Cũng gọi là Lục độ, gồm Đàn na (bố thí), Thi la (trì giới), Sằn đề (nhẫn nhục), Tỳ lê da (tinh tấn), Thiền na (thiền định), Bát nhã (trí huệ).
sáu chánh niệm
là sáu pháp nghĩ nhớ chân chánh, cũng gọi là sáu niệm xứ (lục niệm xứ), gồm có: 1. niệm Phật (thường nghĩ nhớ đến chư Phật), 2. niệm Pháp (thường nghĩ nhớ đến Chánh pháp), 3. niệm Tăng (thường nghĩ nhớ đến chư Tăng), 4. niệm thí (thường nghĩ nhớ đến việc thực hành bố thí), 5. niệm giới (thường nghĩ nhớ đến giới luật đã thọ nhận), 6. niệm thiên (thường nghĩ nhớ đến mọi điều lành, là nhân được sanh lên cõi trời).
sáu chỗ
(lục xứ): chỉ sáu căn duyên theo sáu trần, bao gồm: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp.
sáu cung kính pháp
Garava (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu pháp cung kính—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six kinds of respect: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận bậc ĐẠO SƯ—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the TEACHER. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận PHÁP—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the DHAMMA. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận TĂNG—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the SANGHA. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo cung kính, tùy thuận HỌC PHÁP—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the TRAINING. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, không tùy thuận BẤT PHÓNG DẬT—Here a monk behaves respectfully and in respect with EARNESTNESS. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận LỄ PHÉP XÃ GIAO—Here a monk behaves respectfully and in respect of HOSPITALITY.
sáu cách chấn động
(lục chủng chấn động): Theo kinh Đại phẩm Bát-nhã, quyển 1, thì 6 cách chấn động này là: 1. Phương đông vọt lên, phương tây chìm xuống; 2. Phương tây vọt lên, phương đông chìm xuống; 3. Phương nam vọt lên, phương bắc chìm xuống; 4. Phương bắc vọt lên, phương nam chìm xuống; 5. Bốn phương vọt lên, ở giữa chìm xuống; 6. Ở giữa vọt lên, bốn phương chìm xuống.
sáu cách phung phí tài sản
Six ways of wasting one's property—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu cách phung phí tài sản—According to the Sigalaka Sutra, there are six ways of wasting one's property. 1) Đam mê các loại rượu: Addiction to strong drinks and sloth-producing drugs is one way of wasting one's substance. 2) Du hành đường phố phi thời: Haunting the streets at unfitting time. 3) La cà đình đám hý viện: Attending fairs. 4) Đam mê cờ bạc: Being addicted to gambling. 5) Giao du ác hữu: Keeping bad company. 6) Quen thói lười biếng: Habitual idleness.
sáu cõi (luân hồi)
rikdruk (T), Six realms of Samsar, Six worlds of existence, Gồm: - địa ngục (naraka-gati) - quỷ đói (preta-gati) - cõi súc sanh (tiryayoni-gati) - cõi người (mausya-gati) - cõi a-tu-la (asura-gati) - cõi trời (deva-gati)Xem Lục dục thiên.
sáu cõi luân hồi
Six realms of samsara
Sáu cõi trời thuộc Dục giới
(Dục giới Lục thiên): bao gồm: 1. Tứ thiên vương thiên (Caturmahrjika), 2. Đao-lợi thiên hay Tam thập tam thiên (Tryastriṃśa), 3. Dạ-ma thiên (Yma), 4. Đâu-suất thiên (Tuṣita), 5. Hóa lạc thiên (Nirmṇarati), 6. Tha hóa tự tại thiên (Para-nirmita-vaśa-vartin). Mỗi cõi trời này đều có một vị Thiên vương đứng đầu các vị thiên chúng.
sáu căn nhân
The six chief causes—See Lục Căn Nhân.
sáu cảnh trời
Xem Lục dục thiên.
sáu giác quan
Six sense-organs.
sáu hòa kính pháp
Six things conducive to communal living—See Lục Hòa.
sáu hạng A-la-hán
Bao gồm: 1. Thối pháp A-la-hán: khi gặp nghịch duyên có thể sanh phiền não, thối chuyển đạo tâm, đánh mất chỗ sở đắc; 2. Tư pháp A-la-hán: tuy được giải thoát nhưng thường lo sợ sự thối chuyển, thường nghĩ cách tự đoạn dứt mạng sống; 3. Hộ pháp A-la-hán: được giải thoát rồi thì hoan hỷ phòng hộ chỗ chứng đắc của mình; 4. An trụ pháp A-la-hán: đạt được giải thoát và trụ yên vững vàng, không cần phòng hộ cũng không có thối chuyển, nhưng không được tăng tiến; 5. Kham đạt pháp A-la-hán: đạt được giải thoát và đủ sức nhận lãnh giáo pháp cao siêu, tu tập tinh tấn để đạt đến quả vị rốt ráo; 6. Bất động pháp A-la-hán: đạt được giải thoát rốt ráo và vững vàng không thể xao động, không thể lay chuyển, thối thất.
sáu không cung kính pháp
Agarava (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu không cung kính pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six kinds of disrespect: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận bậc ĐẠO SƯ—Here a monk behaves disrepectfully and discourteously towards the TEACHER. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận PHÁP—Here a monk behaves disrespectfully and discourteously towards the DHAMMA. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận TĂNG—Here a monk behaves disrespectfully and discourteously towards the SANGHA. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận HỌC PHÁP—Here a monk behaves disrespectfuly and discourteously towards the TRAINING. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, BẤT PHÓNG DẬT—Appamade (p)—Here a monk behaves disrespectfully and in not respect of EARNESTNESS. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận sự LỄ PHÉP—Patisanthare (p)—Here a monk behaves disrespectfully and not in respect of HOSPITALITY.
sáu loài gia súc
Six kinds of domestic animals.
sáu loại thực phẩm
Six kinds of food—See Lục Trần.
sáu loại tâm tánh
Carita (p)—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có sáu tâm tánh hay sáu đề mục hành thiền. Carita là bản chất cố hữu của một người. Bản chất nầy lộ ra khi ở vào trạng thái bình thường, không có gì làm xao động. Bẩm tánh mỗi người khác nhau là do nơi hành động hay nghiệp trong quá khứ khác nhau. Nơi một số người thì tham ái mạnh hơn, trong khi vài người khác thì sân hận lại mạnh hơn—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teachings, there are six kinds of natures, six kinds of temperament, or six subjects of meditation. Carita signifies the intrinsic nature of a person which is revealed when one is in normal state without being preoccupied with anything. The temperaments of people differ owing to the diversity of their past actions or kamma. In some people raga or lust is predominant, while in others dosa or anger, hatred. 1) Bẩm tánh tham ái: Ragacarita (p)—Covetousness, or lustful temperament. 2) Bẩm tánh sân hận: Dosacarita (p)—Ill-will, or hateful temperament. 3) Bẩm tánh si mê: Mohacarita (p)—Ignorance, or ignorant temperament. 4) Bẩm tánh có nhiều đức tin: Saddhacarita (p)—Faith, or devout temperament. 5) Bẩm tánh thiên về tri thức: Buddhicarita (p)—Wisdom, or intellectual temperament. 6) Bẩm tánh phóng dật: Vitakkacarita (p)—Distracted—Loose—Unrestrainted, or discursive temperament.
sáu luận chứng về duy tâm
Six proofs for the “Mind-Only.”—Trong Kinh Lăng Già, có sáu luận chứng về Duy Tâm như sau—According to The Lankavatara Sutra, there are six proofs for the “Mind-Only” as follows: 1) Sự việc các sự vật không như vẻ dáng bề ngoài của chúng, được chứng tỏ từ sự so sánh với một giấc mộng và với những sáng tạo bằng huyễn thuật. Khi vua La Bà Na, vua xứ Lăng Già, nhìn thấy những hình ảnh của Đức Phật quanh khắp ông rồi sau đó những hình ảnh nầy biến mất, ông nghĩ “Có thể đây là một giấc mộng? Hay một hiện tượng huyễn ảo giống như thành của các Càn Thác Bà?” Rồi ông lại suy nghĩ “Đây chỉ là sự phóng chiếu của những sáng tạo tâm thức của chính ta.” Vì chúng ta không thực sự hiểu các sự vật đúng như các sự vật nên chúng ta tách biệt cái bị thấy với người thấy; do đó mà tạo ra một thế giới nhị biên. “Ở chỗ nào không có sự phân biệt sai lầm, ở đấy người ta thực sự nhìn thấy Đức Phât.” Hễ chừng nào chúng ta còn ở trong mộng, chúng ta vẫn không hiểu được rằng tất cả chúng ta đều đang mộng, rằng chúng ta là những nô lệ của sự phân biệt sai lầm. Vì chỉ khi nào chúng ta tỉnh mộng thì khi ấy chúng ta mới biết chúng ta ở đâu. Thí dụ về giấc mộng hoàn toàn là một luận điểm chống lại cái thực tính của một thế giới bên ngoài, nhưng thí dụ ấy không có giá trị gì đối với những ai đang thực sự nằm mộng. Những sáng tạo thuộc ảo thuật cũng như thế, người Ấn Độ đã được ghi nhận là tinh xảo trong khoa phù phép và không có dân tộc nào mà việc xử dụng các mật chú và đà la ni phổ biến như người Ấn Độ. Do đó mà trong văn học Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa thường có những ám chỉ về ảo thuật. Nhà ảo thuật hết sức thành thạo trong việc làm cho các khán giả trông thấy các sự vật ở tại nơi không có cái gì cả. Chừng nào các khán giả còn bị ảnh hưởng bởi phù phép của ông ta thì vẫn không có cách nào làm cho họ hiểu rằng họ là những nạn nhân của thuật thôi miên. Những ví dụ hay ngoài ví dụ về giấc mộng, về huyễn thuật được rút ra từ Lăng Già để chỉ vào sự không thực của các sự vật được nhìn thấy bên ngoài và bên trong như là—Things are not what they seem is proved from the analogy of a dream and magical creations. When Ravana, king of Lanka, saw images of the Buddha all around him, which later disappeared, he thought, “Could this be a dream? Or a magical phenomenon like the castle of the Gandharvas?” He reflected again, “This is no other than the projection of my own mental creations.” As we do not truly understand things as they are, we separate the seen from the seer, thus producing a world of dualities. “Where there is no false discrimination, one really sees the Buddha.” As long as we are in the dream, we do not realize that we are all dreaming, that we are slaves of false discrimination. For it is only when we are awakened from it that we know where we have been. The analogy of dream is quite a strong argument against the reality of an external world, but it is not all effective for them who are actually dreaming. So it is with magical creations. The Indians have been noted for their skill in the art of conjuration, and thee are no people among whom the use of mantrams and dharanis is so universal. Hence the frequent allusions to magic in the literature of Mahayana and Hinayana Buddhism. The magician is so wonderfully proficient in making the spectators see objects where there are none whatever. As long as they are under his spell, there is no way of making them realize that they are the victims of hypnotism. The favorite analogies besides the dream and magic that are resorted to in the Lankavatara to show the unreality of objects seen externally and internally are: a) Các bức tranh: Paintings. b) Một vòng tóc đối với người bị nhặm mắt: A hair-circle to the dim-eyed. c) Sự quay tròn của một bánh xe lửa: A revolving fire-wheel. d) Một bong bóng trông giống như mặt trời: A bubble looks like a sun. e) Cây cối phản chiếu trong nước: Reflected trees in water. f) Các hình ảnh trong một tấm kiếng: Images in a mirror. g) Một tiếng dội: An echo. h) Ảo ảnh: Fata morgana. i) Người máy: A mechanical man. j) Đám mây trôi: A floating cloud. k) Ánh chớp: Lightning. 2) Tất cả các sự vật đều tương đối và không có cái tự tính nào mãi mãi phân biệt một cách tuyệt đối sự vật nầy với sự vật khác. Các sự vật chỉ là những tương đối; hãy phân tách chúng thành những thành phần của chúng thì sẽ không còn lại gì cả. Và những cấu trúc của tâm há chẳng phải đều là những tương đối? Cái tâm nhìn thấy nó bị phản ánh là do bởi sự phản ánh hay suy nghĩ và phân biệt; đến đây thì sự việc chẳng gây hại gì, vì những cấu trúc tâm thức được nhận thức như thế và không có những phán đoán sai lầm về chúng. Sự rắc rối khởi đầu ngay khi chúng ta bị chấp như là có thực ở bên ngoài, có giá trị riêng của chúng, độc lập với chính cái tâm đánh giá. Đây là lý do khiến bộ kinh nhấn mạnh sự quan trọng của cái nhìn vào sự vật như thực, đúng thực như các sự vật khi chúng được nhìn bằng cái nhìn như thực thì chúng chỉ là cái tâm mà thôi. Nguyên lý về tương đối tạo thành một thế giới của các đặc thù, nhưng khi nguyên lý nầy bị vượt qua, thì đó chính là cái tâm mình: All things are relative and have no substance (svabhava) which would eternally and absolutely distinguish on from another. Things are nothing but relations; analyze them into their component elements and there will be nothing left. And are not all relations the constructions of the mind? Thus the citta seing itself reflected is due to reflection and discrimination; so far no harm is done, for the mental constructions are perceived as such and there are no wrong judgments about them. The trouble begins at once when they are adhered to as externally real, having their own values independent of the valuing mind itself. This is why the sutra emphasizes the importance of looking at things (yathabhutam), as they really are. When they are thus looked at things, they are no more than the mind itself. The principle of relativity creates a world of individuals, but when it is transcended, there is Mind itself. 3) Luận chứng thứ ba—The third proof: a) Các tên gọi hay danh và ác hình ảnh hay tướng chỉ là những dấu hiệu giả danh và không có thực tính nào (phi hữu) trong tự chúng, vì chúng thuộc về sự tưởng tượng hay biên kiến sở chấp. Sự tưởng tượng là một cái tên khác dùng cho sự phân biệt sai lầm vốn là tác nhân tinh quái của sự sáng tạo. Sự kiện nhất tâm do đó bị chôn vùi trong sự sai biệt của những hiện hữu đặc thù. Lại nữa, theo ngôn từ, họ phân biệt một cách sai lầm và nêu ra những khẳng định về thực tính; và vì những khẳng định nầy mà họ bị đốt trong địa ngục. Trong sự giao tiếp hằng ngày mà ta mang nợ ngôn từ biết bao nhiêu. Và tuy thế, do từ ngôn từ, không những về luận lý mà cả về mặt tâm linh nữa, ta phải chịu hậu quả trầm trọng biết bao nhiêu! Ánh sáng của tâm bị che phủ hết trong ngôn từ. Và với ngôn từ quả thực là do tâm tạo rà, và bây giờ tưởng ngôn từ là những thực tính độc lập với cái tạo ra nó, tâm trở thành vướng víu trong ngôn từ, để rồi bị nuốt chửng trong cơn sóng của luân hồi sanh tử: Names and images are mere signs (samketa) and have no reality whatever (abhava) in themselves, for they belong to the imagination (parikalpita). Imagination is another name for false discrimination, which is the mischievous agency of creation. The fact of One Mind (ekacittam) is thus buried in the differentiation of individual existence. According to words they discriminate wrongfully and make statements concerning reality; and because of these statements they are burned in hell. How much we owe in our daily intercourse to words! And yet what grave consequences, not only logically but spiritually, we suffer from words! The light of the mind is altogether beclouded in and with words. The mind has, indeed, created words, and now taking these words for realities independent of their creator, it gets entangled in them, and is swallowed up in the waves of transmigration. b) Người ngu tưởng những gì do chính cái tâm biểu hiện là những thực tính khách quan vốn không thực sự hiện hữu, và do bởi sự diễn tả sai lạc nầy mà phân biệt bị trở thành sai lầm. Tuy nhiên, trường hợp của người trí thì không như thế: The ignorant take what is presented by the mind itself for objective realities which do not really exist, and because of this wrong representation, discrimination is falsified. This, however, is not the case with the wise. c) Người trí biết rằng các tên gọi, các hình tướng và các tượng trưng phải được xem là những gì mà chúng được định từ ban đầu: The wise know that names and signs and symbols are to be taken for what they are intended from the beginning. d) Trong khi người ngu thì chấp vào chúng như chúng là những thực tính và để cho tâm họ mù quáng bám riết theo sự chấp trước nầy. Như thế họ trở thành bị ràng buộc vào nhiều hình tướng và nuôi dưỡng cái kiến giải rằng quả thực có cái “tôi” và cái “của tôi,” do bởi làm như thế, họ chấp chặt vào các tướng trong cái tính phức tạp của chúng. Do bởi những ràng buộc chấp trước nầy mà trí tuệ của họ bị ngăn ngại không vươn lên được; tham, sân, si bị quấy động lên, và mọi thứ nghiệp bị mắc phạm. Vì những chấp trước nầy cứ bị mắc phạm mãi bên người ngu thấy mình bị cuốn chặt một cách vô vọng bên trong những cái kén được dệt thành do bởi những phân biệt sai lầm của họ. Họ bị nuốt chửng trong những cơn sóng luân hồi sanh tử, không biết làm sao để tiến lên trong công việc giải thoát, vì họ cứ quay tròn giống như cái bánh xe nước. Quả thực do bởi vô minh mà họ không thể hiểu được rằng tất cả các sự vật, giống như huyễn ảo, như hạt bụi sáng, hay như ánh trăng trên nước, không có tự tánh hay ngã thể, rằng trong chúng không có gì để chấp làm “tôi” hay “của tôi;” rằng tất cả các sự vật là không thực hay hư vọng, được sinh ra do phân biệt sai lầm; rằng thực tính tối hậu vượt khỏi cái nhị biên của cái được định tính và cái định tính vượt khỏi dòng sinh, trụ, dị, diệt; rằng tất cả những gì được biểu hiện là do chính cái tâm người ta phân biệt những gì hiển lộ ra đối với nó. Tưởng rằng thế giới được sinh ra từ đấng Tự Tại, thời gian, nguyên tử hay linh hồn, vũ trụ; người ngu bị mê đắm vào các danh xưng và hình tướng, do đó mà để cho chúng thống trị: While the ignorant cling to them as if they were realities and let their minds blindly follow up this clinging. Thus, they get attached to a variety of forms and entertain the view that there are really “I” and “mine,” and by doing so, they hold fast to appearances in their multiplicity. Because of these attachments, their higher wisdom is obstructed; greed, anger, and infatuation are stirred up, and all kinds of karma are committed. As these attachments are repeatedly committed, the ignorant find themselves hopelessly enwrapped within the cocoons woven out of their wrong discriminations. They are swallowed up in the waves of transmigration, and do not know how to go ahead in the work of emancipation for they turn round and round like the water-wheel. It is owing to their ignorance, indeed, that they fail to realize that all things, like maya, the shining mote, or the moonlight on water, have no self-substance, that there is nothing in them to take hold of as “me” and “mine;” that all things are unreal (abhuta) born of wrong discrimination; that ultimate reality is above the dualism of marked and marking, and the course of birth, staying, and disappearance; that is manifested due to the discriminating by one's own mind of what is presented to it. Imagining that the world is born of Isvara, Time, Atom, or Universal Soul, the ignorant are addicted to names and forms thereby allowing themselves to be swayed by them. 4) Luận chứng thứ tư—The fourth proof: a) “Những gì không được sinh ra thì không dính dáng gì đến nhân quả, không có người tạo lập, tất cả chỉ là sự kiến lập của tâm, như ta thuyết giảng về những gì bất sinh.” Sự việc không có người tạo lập nào như đấng Tự Tại, bậc Thắng giả hay Phạm Thiên là một trong những chủ đề chính của Phật giáo Đại Thừa. Theo kinh Lăng Già, ý niệm về một đấng tạo lập là do bởi phân biệt, điều nầy luôn luôn có khuynh hướng dẫn cái tâm theo một hướng sai lầm. Khi người ta thấy rằng tất cả là duy tâm thì những gì bất sinh sẽ hiện ra thay cho ý niệm ấy: “That which is unborn has nothing to do with causation, there is no creator, all is nothing but the construction (vyavasthana) of the mind, as I teach that which is unborn." That there is no creator such as Isvara or Pradhana or Brahma is one of the principal theses of Mahayana Buddhism. According to the Lankavatara, the notion of a creator is due to discrimination, which always tends to lead the mind in a wrong direction. When it is seen that all is mind-only (cittamatra), that which is unborn will present itself instead. b) Vô sinh không phải do vì phi hiện hữu, cũng không phải do vì hiện hữu là những thứ phải được xem là tùy thuộc lẫn nhau, cũng không phải do vì một cái tên gọi cho hiện hữu, cũng không phải vì tên gọi không có thực tính đằng sau nó. Sự việc tất cả là vô sinh không thuộc lãnh vực của hàng Thanh Văn, Duyên Giác hay các triết gia, hay của chư Bồ Tát đang còn ở địa thứ bảy. Vô sinh được xây dựng trên chân lý Duy Tâm: No birth, not because of non-existence, nor because existence is to be regarded as mutually dependent, nor because there is a name for existence, nor because name has no reality behind it. That all is unborn does not belong to the realm of Sravakas, Pratyekabuddhas, or philosophers, or of those Bodhisattvas who are still on the seventh stage; no-birth is constructed on the truth of the Mind-Only. 5) Nhất Nguyên Luận Tuyệt Đối—The absolutely idealistic monism: a) Sự cần thiết về luận lý để đạt đến cái ý niệm tối hậu về nhất tính, vì thế mà Kinh Lăng Già chấp nhận học thuyết Duy Tâm thay vì Duy Sắc. Khi không có đấng tạo hóa tạo lập nào được nhận biết và tất cả các hình thức nhị biên đều bị gạt bỏ như là không phù hợp với trạng thái thực sự của các sự vật thì chỉ còn hai cách thành tựu sự thống nhất tư tưởng, đó là hiệp thực luận và lý niệm luận hay lý tưởng luận; vì Lăng Già bác bỏ cái thực tính của một thế giới bên ngoài hay cảnh giới, hay các sự vật bên ngoài (ngoại cảnh) là những thứ được định tính chủng chủng hợp thành, nên học thuyết Duy Tâm hẳn phải là kết quả tự nhiên. Do đó nhất nguyên luận tuyệt đối là luận bằng cái trí siêu việt vượt lên trên sự nhận biết đa phức của một thế giới đối tượng bởi cái trí tương đối: The logical necessity of reaching the ultimate notion of unity; thus, the Lankavatara accepts the doctrine of “Mind-Only” instead of “Matter-Only.” When no creator is recognized and all forms of dualism are set aside as not in accord with the real state of things, there remain two ways for achieving the unification of thought, realism and idealism; and the Lankavatara denies the reality of an external world (vishaya), or outside objects (bahyabhava) that are characterized with multitudinousness (vicitrata), the doctrine of “Mind-Only” seems to be the natural conclusion. Thus the absolutely idealistic monism is to use the transcendental knowledge (prajna or jnana) to take cognisance of the manifoldness of an objective world, not by the relative knowledge (vijnana). b) Lại nữa, cái trí siêu việt nầy không ở trong phạm vi của hai thừa, vì quả thực nó vượt qua khỏi cảnh giới của hữu, cái trí hiểu biết của hàng Thanh Văn vận hành bằng cách tự ràng buộc nó vào các hữu thể mà họ tưởng là các thực tính, trong khi cái trí siêu việt thanh tịnh hay lý nhất tính của Như Lai thì thấu nhập vào trong chân lý Duy Tâm. Trong khi thế giới đối tượng làm nhiễu động cái nhất tính và làm cho tâm bị nhiễu động. Thế rồi tâm nầy lại chấp vào những nhiễu động có tính cách phân biệt hóa nầy mà cho rằng đấy là thực và do đó mất hết sự tinh thuần hay nhất tính vốn có của nó trong chúng. Đây chính là nguồn gốc của những khổ đau: Again, this transcendental knowledge is not within the reach of the two Vehicles, as it, indeed, goes beyond the realm of beings; the knowledge of Sravakas moves by attaching itself to beings which they take for realities, while the pure transcendental knowledge of the Tathagata penetrates into the truth of the Mind-Only. While the objective world disturbed this unity and makes the mind, thus disturbed, perceive manifoldness within its own body. It then clings to these individualizing disturbances as real, thus losing its original purity or unity altogether in them. This is the source of spiritual tribulations. 6) Tam Giới Duy Thị Tự Tâm—The three worlds are mind itself: a) Luận chứng mạnh mẽ nhất trong tất cả các luận chứng có thể được nêu ra trước để khẳng định rằng thế giới là chính cái tâm hay tam giới duy thị tự tâm, là luận chứng về cái biết trực giác hay hiện lượng. Trong khi đây là cái biết tối hậu trong mọi hình thức xác quyết, thuộc lý thuyết hay thực tiễn thì người ta cảm thấy cái sức mạnh của nó đặc biệt mãnh liệt trong cái chân lý có tính cách tôn giáo vốn là những chân lý được xây dựng không phải trên lý luận mà là trên sự nhận thức trực tiếp. Theo Kinh Lăng Già thì nguyên lý tối hậu của cái biết không phụ thuộc vào bất cứ điều gì được lập luận bằng luận lý (điều tôi thấy và tôi tin), mà là điều được thể nghiệm bên trong chính mình, nhờ cái trí tối thượng của Đức Như Lai, hoặc đúng hơn, nó là chính cái trí tuệ tối thượng, vì sự tỉnh thức của trí tuệ nầy nghĩa là sự thủ nhiếp cái nguyên lý tối hậu vốn cùng một thứ với sự thể nghiệm bên trong cái tâm thức nội tại của người ta về cái chân lý bảo rằng không có gì trong thế giới ngoại trừ cái tâm. Chân lý nầy vượt khỏi phạm vi của cái trí lý luận. Cái trí chuyên biệt nầy vốn có thể được gọi là thuộc về trực giác—The strongest of all the proofs that can be advanced for the statement that the world is mind itself (tribhavas-vacittamatram), is that of intuitive knowledge (pratyaksha). While this is what is final in all form of conviction, speculative or practical, the force is especially strongly felt in religious truths, which are not founded upon reasoning but upon immediate perception. So with the Lankavatara, its thesis is derived from its immediacy and not from its intellectual precision. The ultimate principle of knowledge is not dependent upon anything logically reasoned: it is “I see and I believe.” It is what is realized within oneself means of the supreme wisdom (aryajnana) of the Tathagata, or rather it is the supreme wisdom of itself, for the awakening of this wisdom means the grasping of the ultimate principle, which is the same thing as the realization within one's inmost consciousness of the truth that there is nothing in the world but the Mind. This truth is beyond the realm of discursive knowledge. This special knowledge which may be called intuitive. b) Đức Phật dạy ngài Mahamati trong Kinh Lăng Già: “Cái trí thủ đắc cái tối hậu thì không thể bị đưa vào một hệ thống các phạm trù; vì nếu nói về cái tối hậu bằng một điều gì đó thì điều nầy trở thành một ý niệm về tối hậu, và cái nhân thực không còn ở đấy nữa, và kết quả là chỉ chuốc lấy lầm lẫn hay hư vọng mà thôi. Chấp vào những thực tính mà cho rằng chúng có tự tính là do không biết rằng không có gì ngoài cái được phản ánh và được nhận thức bởi cái tâm của chính mình. Kỳ thật sự tỉnh giác một cái gì đó được thức tỉnh trong tâm thức và nó được nhận ra ngay rằng tất cả đều là tâm. Sự tỉnh giác thì ở bên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu; hữu và phi hữu là do phân biệt sai lầm mà có, ngược lại tỉnh thức là sự thấy cái nguyên lý tối hậu về hiện hữu đúng như sự hiện hữu trong chính nó hoặc bằng cái khác với nó. Điều nầy gọi là thấy biết như thực: The Buddha taught Mahamati in The Lankavatara Sutra: “Oh Mahamati, if they form any notion at all about it, there will be no supreme wisdom taking hold of reality (vastu). By this we know that knowledge that takes hold of the ultimate cannot be brought into a system of categories; for if anything is to be said about it, it turns into an idea of it and the real thing is no more there, and what is left behind is nothing but confusion or delusion. Attachment to realities as having self-substance is produced from not knowing (anavabodha) that there is nothing but that which is projected and perceived by one's own mind. Avabodha is really awakening; something is awakened within the consciousness, and it is at once recognize that all is mind. The awakening is above the dualism of “to be” (sat) and “not to be,” (asat), the latter being due to false discrimination (vikalpa). The awakening is, therefore, the sight of the ultimate principle of existence as it is in itselt and not determined by any form of confusion or otherness. This is what meant by “To see yathabhutam. .”
sáu mươi hai kiến chấp
Tứ cú x ngũ uẩn = 20; 20 x tam thế = 60; 60 + hữu vô = 62. Tất cả kiến chấp đều chẳng ra ngoài 62 kiến này. Như chấp sắc là có, là không, là chẳng có chẳng không, là cũng có cũng không; hoặc quá khứ không, hiện tại có, vị lai không, hoặc quá khứ có, hiện tại có, vị lai không, hoặc tam thế đều có, hoặc tam thế đều không v.v... cng chung thành 62 thứ kiến chấp.
; Tứ cú x ngũ uẩn = 20. 20 x tam thế = 60. 60 + hữu, vô = 62. Tất cả kiến chấp đều không ra ngoài 62 kiến này. Như chấp là có, là không, là chẳng có chẳng không, là cũng có cũng không; hoặc quá khứ không, hiện tại có, vị lai không; hoặc quá khứ có, hiện tại có, tam thế đều có, hoặc tam thế đều không… Cộng chung thành 6 kiến chấp.
sáu nguy hiểm của thói quen lười biếng
Six dangers when one attaches to idleness—Theo Kinh Thi Ca La Việt, thói quen lười biếng có sáu mối nguy hiểm—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to idleness: 1) Vì nghĩ rằng trời quá lạnh, nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too cold, one does not work. 2) Vì nghĩ rằng trời quá nóng, nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too hot, one does not work. 3) Vì nghĩ rằng hãy còn quá sớm nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too early, one does not work. 4) Vì nghĩ rằng đã quá trễ để làm việc: Thinking it's too late, one does not work. 5) Vì nghĩ rằng tôi quá đói nên không thể làm việc: Thinking I'm too hungry, one does not work. 6) Vì nghĩ rằng quá no để làm việc: Thinking I'm full, one does not work.
sáu nguy hiểm khi du hành trên đường phố phi thời
Six dangers when one wanders the streets at unfitting time—Theo Kinh Thi Ca La Việt, du hành trên đường phố phi thời có sáu mối nguy hiểm —According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one wanders the streets at unfitting time: 1) Tự mình không được che chở hộ trì: One is Defenseless and without protection. 2) Vợ con không được che chở hộ trì: Wife and children are defenseless and without protection. 3) Tài sản không được che chở hộ trì: One's property is defenseless and without protection. 4) Bị tình nghi là tác nhân của ác sự: One is suspected of crimes. 5) Nạn nhân của các tin đồn thất thiệt: False reports are pinned on one. 6) Tự rước vào thân nhiều khổ não: One encounters all sorts of unpleasantness.
sáu nguy hiểm khi la cà đình đám hý viện
Six dangers when one frequents fairs and parties—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu nguy hiểm khi la cà đình đám—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one frequents fairs and parties: 1) Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa: One is always thinking, where is there dancing? 2) Chỗ nào có ca: Where is there sinning? 3) Chỗ nào có nhạc: Where are they playing music? 4) Chỗ nào có tán tụng: Where are they reciting? 5) Chỗ nào có nhạc tay: Where is there hand-clapping? 6) Chỗ nào có trống: Where are the drums?
sáu nguy hiểm khi thân cận ác hữu
Six dangers when one keeps bad company—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu mối nguy hiểm khi thân cận ác hữu (bạn xấu)—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one keeps bad company: 1) Nguy hiểm của những kẻ cờ bạc: The danger of gamblers. 2) Nguy hiểm của những kẻ loạn hành: The danger of any glutton. 3) Nguy hiểm của những kẻ nghiện rượu: The danger of the drunkard. 4) Nguy hiểm của những kẻ trá ngụy: The danger of cheaters. 5) Nguy hiểm của những kẻ lường gạt: The danger of tricksters. 6) Nguy hiểm của những kẻ bạo động: The danger of the bully.
sáu nguy hiểm khi đam mê các loại rượu và thuốc
Six dangers when one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu nguy hiểm khi đam mê các loại rượu và thuốc—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs: 1) Tài sản hiện tại bị tổn thất: Present waste of money. 2) Tăng trưởng sự gây gỗ: Increased quarrelling. 3) Bệnh tật dễ xâm nhập: Liability to sickness. 4) Thương tổn danh dự: Loss of good name. 5) Để lộ âm tàng: Indecent exposure of one's person. 6) Trí lực tổn hại: Weakening of the intellect.
sáu nguy hiểm khi đam mê cờ bạc
Six dangers when one attaches to gambling—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu mối nguy hiểm khi đam mê cờ bạc—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to gambling: 1) Kẻ thắng thì sanh thù oán: The winner makes enemies. 2) Người bại thì sanh tâm sầu muộn: The loser bewails his loss. 3) Tài sản hiện tại bị tổn thất: One wastes one's present wealth. 4) Tại hội trường hay trong đại chúng, lời nói không hiệu lực: One's word is not trusted in the assembly. 5) Bằng hữu đồng liêu khinh miệt: One is despised by one's friends and companions. 6) Vấn đề cưới gả không được tín nhiệm, vì người đam mê cờ bạc không thể quán xuyến lo lắng được vợ con: One is not in demand for marriage. Because a gambler cannot afford to maintain a wife.
sáu nguyên lý
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có sáu nguyên lý tổng quát cho các tông phái Phật Giáo Đại Thừa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there are six general principles, commonly especially to all schools of Mahayana: 1) Nguyên lý Duyên Khởi: The Principle of Causation—See Duyên Khởi. 2) Nguyên lý Vô Ngã: The Principle of Indeterminism of the Differentiated—See Vô Ngã. 3) Nguyên lý Tương Đối: The Principle of Reciprocal Identification—See Tương Đối (Nguyên Lý). 4) Nguyên lý Như Thực: The Principle of True Reality—See Như Thực Nguyên Lý. 5) Nguyên lý Viên Dung: The Principle of Totality—See Viên Dung. 6) Nguyên lý Niết Bàn hay Giải Thoát Cứu Cánh: The Principle of Perfect Freedom—See Niết Bàn Nguyên Lý.
sáu nhập
(lục nhập): xem ấm, nhập, giới.
sáu niệm xứ
xem sáu chánh niệm.
Sáu nẻo luân hồi
Lục đạo
sáu nẻo luân hồi
xem lục đạo.
; Six Realms of Existence—See Lục Đạo, and Lục Phàm Tứ Thánh.
sáu pháp vô vi trong duy thức học
The six Unconditioned Dharmas: 1) Hư không vô vi: Akasha (skt)—Unconditioned Empty Space. 2) Trạch diệt vô vi: Pratisamkhyanirodha (skt)—Unconditioned Extinction which is attained through selection. 3) Phi trạch vô vi diệt pháp: Apratisamkhyanirodha (skt)—Unconditioned Extinction which is Unselected. 4) Bất động diệt vô vi: Aninjya (skt)—Unconditioned Unmoving Extinction. 5) Tưởng thọ diệt vô vi: Samjnavedayitanirodha (skt)—Unconditioned Extinction of Feeling. 6) Chơn như vô vi: Tathata (skt)—Unconditioned True Suchness.
sáu phương pháp tu tập thần bí của ngài naropa
Gồm: - giáo lý về hoả hầu tam muội (=tummo, Tib) - giáo lý về thân giả huyễn - giáo lý về tình trạng mộng - giáo lý về tri giác - giáo lý về thân trung ấm sau khi chết - giáo lý về chuyển di tâm thức.
sáu suy tư đến hỷ
Somanassupavicara (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến hỷ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six pleasurable investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 2) Khi tai nghe tiếng, hoan hỷ khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 3) Khi mũi ngửi hương, hoan hỷ khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 4) Khi lưỡi nếm vị, hoan hỷ khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a taste-object with the tongue, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 5) Khi thân xúc chạm, hoan hỷ khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 6) Khi ý nhận pháp, hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of pleasure.
sáu suy tư đến xả
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến xả—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six indifferent investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of indiffernce. 2) Khi tai nghe tiếng, xả khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of indifference. 3) Khi mũi ngửi hương, xả khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of indifference. 4) Khi lưỡi nếm vị, xả khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a flavour with the tongue, one investigates a corresponding object productive of indifference. 5) Khi thân xúc chạm, xả khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of indifference. 6) Khi ý nhận pháp, xả khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of indifference.
sáu suy tư đến ưu
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến ưu—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six unpleasurable investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 2) Khi tai nghe tiếng, ưu khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 3) Khi mũi ngửi hương, ưu khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 4) Khi lưỡi nếm vị, ưu khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a flavour with the tongue, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 5) Khi thân xúc chạm, ưu khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 6) Khi ý nhận pháp, ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of displeasure.
sáu thầy ngoại đạo
(lục sư ngoại đạo): sáu vị thầy của sáu phái ngoại đạo lớn vào thời đức Phật ra đời: 1. Phú-lan-na, 2. Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử, 3. San-xà-da Tỳ-la-chi tử, 4. A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la, 5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, 6. Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử. Xem thêm ở các mục từ mang tên những vị này.
Sáu thắng trí
S: ṣaḍabhijñā; P: saḷabhiññā;|Lục thông
sáu thứ chấn động
Chia làm ba: l. Sáu thời chấn động: Phật nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập niết bàn. 2. Sáu phương chấn động: Đông nổi Tây chìm, Tây nổi Đông chìm, Nam nổi Bắc chìm, Bắc nổi Nam chìm, Biên nổi Trung chìm, Trung nổi Biên chìm. 3. Sáu tướng chấn động: tướng động, tướng nổi, tướng chấn, tướng kích, tướng rống, tướng nổ. Những chấn động kể trên đều tượng trưng triệu chứng tốt đẹp, nhưng người có thiên nhãn mới được thấy.
; Chia làm ba: 1. Sáu thời chấn động: Phật nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn. 2. Sáu phương chấn động: Đông nổi Tây chìm, Tây nổi Đông chìm; Nam nổi Bắc chìm, Bắc nổi Nam chìm; Biên nổi Trung chìm, Trung nổi biên chìm. 3. Sáu tướng chấn động: Tướng động, tướng nổ, tướng chấn, tướng kích, tướng rống, tướng nổ. Những chấn động kể trên đều tượng trưng triệu chứng tốt đẹp, nhưng người có thiên nhãn mới được thấy.
sáu trần
(lục trần): tức các đối tượng nhận biết của các giác quan, gồm hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp.
sáu tầng trời dục giới
Six Deva Realms of desire: 1) Tứ Thiên vương (bốn người canh giữ quanh triền núi Tu Di): The four celestial kings, who are the protectors of the four directions and live on the slope of Mount Meru. 2) Ba mươi ba vị trời trên đỉnh Tu Di: The thirty-three gods who live on the summit of Mount Meru. 3) Trời Diệm Ma: Thường xuyên sống trong trạng thái hạnh phúc—The Yamas or Suyamas who are in the state of continual happiness. 4) Trời Đâu Xuất: Những vị trời thỏa mãn—The peaceful and contented gods. 5) Trời vui sáng tạo ảo thuật: Gods who take joy in magical creations. 6) Trời Mara: The gods who attempt to dominate each other.
sáu tỳ-kheo xấu ác
tức lục quần tỳ-kheo, là nhóm tỳ-kheo xấu tánh, ngay trong khi Phật còn tại thế vẫn thường làm nhiều việc phạm vào giới luật, khiến chúng tăng phải mang tai tiếng.
sáu vị
(lục vị): là các vị ngọt, chua, mặn, đắng, cay, nhạt. Sáu vị này là sáu vị chính, được pha lẫn với tỷ lệ khác nhau tạo thành tất cả những vị mà lưỡi chúng ta có thể nếm biết.
sáu xúc
(lục xúc): Sáu sự tiếp xúc giữa sáu căn ở trong và sáu trần ở ngoài. Bao gồm: 1. Mắt tiếp xúc với hình sắc, 2. Tai tiếp xúc với âm thanh, 3. Mũi tiếp xúc với mùi hương, 4. Lưỡi tiếp xúc với vị nếm, 5. Thân tiếp xúc với các vật thể, 6. Ý tiếp xúc với các pháp.
Sáu xứ
S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|Lục xứ
sáu ýù nghĩa của chữ “thế tôn”
The six meanings of the Honoured One or Bhagava: 1) Tự tại: At ease and comfortable. 2) Rực rỡ hào quang: Radiant halo. 3) Trang nghiêm: Upright and adorned. 4) Danh xưng: Renowned. 5) Kiết tường: Auspicious. 6) Tôn quí: Honoured and noble.
sáu đường
Six paths—See Lục Đạo.
sáu đường luân hồi
xem lục đạo.
sáu đại
sáu yếu tố hình thành vũ trụ, gồm bốn đại (tứ đại) là địa, thủy, hỏa, phong, thêm vào hai đại nữa là không và thức. Tất cả các sự vật hữu tình, vô tình đều do nơi sáu đại này tạo thành. Xem thêm bốn đại.
sâm
Dầy đặc như rừng—Forest-like—Dense.
sâm bản tỉnh niệm
5054(1889~1984)日本佛教學者。大阪市人。京都大學文學部畢業,為日本哲學家西田幾多郎門下之禪者,與久松抱石並稱一時。曾以居士之身參禪於相國寺獨山,並入大耕禪師之室,得其印可而嗣法。室號孝慈室。以孝聞名,侍側老母多年。曾於數所大學執教,後入妙心寺派僧籍。在京都禪界中,以德行揚名於時。
Sâm la
森羅; C: sēn luó; J: sinra; |Nhiều vật xếp vào nhau dày đặc hoặc liên tiếp chen nhau. Tiếp diễn không giới hạn.
Sâm la vạn tượng
森羅萬像; C: sēnluó wànxiàng; J: sinraban-shō; |Vô số hiện tượng đang hiện hữu.
sâm la vạn tượng
Các loại hiện tượng tồn tại trong vũ trụ , vô số hình thể hay thiên hình vạn trạng dầy đặc và gần gụi nhau bày ra trong vũ trụ—The myriad forms dense and close, i.e. the universe.
; (森羅萬象) Muôn tượng la liệt trong vũ trụ giống như trong rừng cây cối mọc um tùm. Trong Phật giáo, Sâm la vạn tượng đặc biệt chỉ cho thế giới hiện tượng tương đối với bản thể, vì tính chất thiên sai vạn biệt của thế giới hiện tượng, cho nên sâm la vạn tượng là 1 khái niệm đối lại với vạn pháp nhất như của bản thể. Pháp cú kinh sớ (Đại 85, 1435 thượng) nói: Sâm lavàvạn tượng là dấu ấn của một pháp. Hiện nay, người đời cũng thường dùng nhóm từ Sâm la vạn tượng chính là từ ngữ bắt nguồn từ Phật giáo.
sâm la vạn tượng chi tâm
Theo Khởi Tín Luận thì đây là nguồn của mọi hiện tượng. Nguyên tâm tròn đầy, bao trùm khắp mười phương—According to the Awakening of Faith, the original mind is the source of all phenomena, the mind which is in all things—See Nguyên Tâm.
sâm la vạn tượng tức pháp thân
Theo Hiển giáo thì pháp của tam thiên đại thiên thế giới là pháp thân. Theo Mật giáo thì pháp của tam thiên thế giới đều là hình tam muội da của Đức Đại Nhật pháp thân—The universe in its vast variety is the dharmakaya, or Buddha-body; in the esoteric school it is the Vairocana-body.
Sâm la vạn tượng 森羅萬像
[ja] シンラバンショウ sinrabanshō ||| All of the numberless things in existence. => Vô số hiện tượng đang hiện hữu.
Sâm la 森羅
[ja] シンラ sinra ||| Many things arranged together, or connected together. To go on limitlessly. => Nhiều vật xếp vào nhau dày đặc hoặc liên tiếp chen nhau. Tiếp diễn không giới hạn.
sâm lâm thư
5055梵名 Āraṇyaka。音譯阿蘭耶迦、阿蘭若迦。印度婆羅門教典籍。阿蘭若迦,為森林之意,乃取「森林中遁世者所讀誦」之義為名。係供婆羅門或剎帝利等上層種姓之婆羅門教徒過隱居生活時學習之用,為梵書之附屬部分。此書與奧義書可謂梵書之續編。主要內容在闡述祭祀理論,以及人與自然、神等關係之哲學問題,其說幽微,在性質及形式上與梵書無大差別。現存之森林書有廣森林書、鷓鴣氏森林書、他氏森林書、憍尸多基森林書等四種。後一種森林書共分三章,第三章為憍尸多基奧義書。
; Xem A luyện nhã.
; (森林書) Phạn: Àraịyaka. Hán âm: A xà da ca, A lan nhã ca. Tên 1 bộ sách của Bà la môn giáo ở Ấn độ. A lan nhã ca nghĩa là rừng cây, Sâm lâm thư nghĩa là bộ sách mà Người lánh đời, ẩn cư trong nơi rừng rậm đọc tụng. Sách này là phần phụ thuộc của Phạm thư, được dành cho những tín đồ Bà la môn giáo thuộc chủng tính Bà la môn hay Sát đế lợi học tập trong thời kì ở ẩn. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư có thể được xem là Tục biên của Phạm thư. Nội dung chính yếu là trình bày về lí luận tế tự, cho đến các vấn đề quan hệ giữa người, thần linh và tự nhiên... Ý nghĩa triết học của sách này rất sâu xa. Về tính chất cũng như hình thức không sai khác mấy với Phạn thư. Sâm lâm thư hiện còn có 4 loại bản: Quảng sâm lâm thư, Chá cô thị sâm lâm thư, Tha thị sâm lâm thư và Kiêu thi đa cơ sâm lâm thư. Loại sau cùng được chia làm 3 chương, chương thứ 3 là Kiêu thi đa cơ Áo nghĩa thư.
Sâm sai 參差
[ja] サンシャ sansa ||| (1) Irregular, uneven. (2) To arrange, to collate. (3) To alternate. => Có các nghĩa sau: 1. Không đúng quy cách, không đồng dạng. 2. Sắp đặt, đối chiếu. 3. Luân phiên.
sâm thương
(參商 ) Chỉ cho sao Sâm và sao Thương (tức sao Hôm và sao Mai). Sao Sâm đứng ở vị Thân phía tây nam, sao Thương đứng ở vị Mão phía đông. Hai sao này cách xa nhau giữa 2 hướng đông và tây, không thể trông thấy cùng lúc, bởi thế, Sâm, Thương được dùng để ví dụ sự xa cách lâu không được gặp nhau, hoặc anh em không hợp ý nhau. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 401 thượng) nói: Yếu chỉ thiền môn không phải, không quấy, xoá bỏ oán thân, chẳng giận, chẳng vui. Vậy tại sao có sự hiềm khích như nước với lửa Nam Năng, Bắc Tú, như Sâm với Thương giữa Hồng châu, Hà trạch?.
Sâm thần 參辰
[ja] シンシン shinshin ||| Orion and Mercury, which never appear in the sky at the same time, hence a metaphor for two things which never meet or appear at the same time. => Sao Sâm và sao Thương, không bao giờ xuất hiện trên bầu trời cùn một lúc, nên đó là ẩn dụ cho hai sự kiện không bao giờ xuật hiện hay gặp nhau cùng một lúc.
sân
6114梵語 pratigha 或 dveṣa,巴利語 paṭigha 或 dosa 。又作瞋恚、瞋怒、恚、怒。音譯作醍鞞沙。心所(心的作用)之名。為三毒之一。係指對有情(生存之物)怨恨之精神作用。於俱舍宗屬不定地法之一,於唯識宗屬煩惱法之一。據俱舍論卷十六、成唯識論卷六所載,對違背己情之有情生起憎恚,使身心熱惱,不得平安之精神作用,名為瞋。又忿、恨、惱、嫉、害等隨煩惱,皆以瞋之部分為體,是為六根本煩惱(或十隨眠)之一。以其不屬推察尋求之性質(見),作用遲鈍,故為五鈍使之一。與貪、癡兩者,共稱為三毒(三不善根)。亦屬五蓋、十惡之一。 瞋唯屬欲界所繫之煩惱,於色界、無色界則無。貪乃從喜愛之對境所起,反之,瞋則從違逆(不順心)之對境所起。瞋,為修學佛道上最大之障害,經論中常誡之,如大智度論卷十四(大二五‧一六七中):「瞋恚其咎最深,三毒之中,無重此者;九十八使中,此為最堅;諸心病中,第一難治。」「無瞋」即對境不起害心,為對治瞋之精神作用,屬俱舍宗十大善地法之一、唯識宗善心所之一,與無貪、無癡共稱三善根,又為四無量心中之慈無量心之體。〔雜阿含經卷二十七、卷二十八、悲華經卷六、大毘婆沙論卷二十七、卷三十四、卷四十四、卷四十八、顯揚聖教論卷一、順正理論卷四十、阿毘達磨藏顯宗論卷二十五、俱舍論光記卷十六、成唯識論述記卷六末〕
; Dosa (S), Dveṣa (S), Dosa (P) Pratigha (S), Paṭigha (P), Pratigha (S), Anger, AversionSân nhuế, hận, ghét, giận dữ đối với nghịch cảnh. Một trong Thập sửNão hại; Nhuế1- sân 2- Sân kết: Mối trói buộc mà người đắc quả A na hàm dứt được là không còn bị ràng buộc vào sự giận, oán, thù, ghét nửa.
; Krodha; pratigha; dvesa (S). Anger, ire, wrath, resentment.
; Do đối cảnh hoặc ghi nhớ, kích thích sanh khởi cái tâm phẩn nộ hoặc oán hận.
; Krodha or Pratigha or Dvesa (skt)—Hất La Đà—Căn bản phiền não “Sân Khuể” hay sự nóng nảy, một trong tam độc (tham, sân, si)—Anger, ire, wrath, resentment, one of the six fundamental klesas or one of the three poisons (passion, anger, and ignorance)—See Sân Hận.
; (嗔) Phạn: Pratigha hoặc Dvewa. Pàli: Patigha hoặc Dosa. Cũng gọi Sân khuể, Sân nộ, Khuể, Nộ. Hán âm: Đề tì sa. Chỉ cho sự tức giận, 1 trong các pháp Bất định địa thuộc tông Câu xá, 1 trong các pháp phiền não của tông Duy thức. Cứ theo luận Câu xá quyển 16 và luận Thành duy thức quyển 6, đối với những người làm trái ý mình mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm mình bực bội không yên, thì gọi là sân. Các Tùy phiền não như phẫn, hận, não, tật (ghen ghét), hại... đều lấy 1 phần của Sân làm thể. Sân là 1 trong 6 phiền não căn bản (hoặc 1 trong 10 Tùy miên). Vì Sân là loại tâm sở (tác dụng của tâm) không có tính chất suy xét, tìm hiểu, tác dụng của nó lại trì độn (chậm lụt), cho nên nó thuộc 1 trong 5 Độn sử. Sân cùng với tham, si gọi là Tam độc (3 cái nọc độc hại), đồng thời cũng là 1 trong Thập ác, Ngũ cái. Sân là loại phiền não chỉ có ở cõi Dục, chứ ở cõi Sắc và cõi Vô sắc thì không có. Tham sinh khởi từ đối tượng đáng yêu; trái lại,Sân nổi lên từ đối cảnh đáng ghét. Sân là chướng ngại rất lớn đối với người tu học Phật pháp, cho nên các kinh luận thường cảnh giác. Luận Đại trí độ quyển 14 ( Đại 25, 167 trung) nói: Tai hại do Sân gây nên là sâu nặng nhất trong 3 độc; trong 98 phiền não, Sân là bền chặt nhất; còn trong các chứng bệnh của tâm thì Sân khó trị nhất. [X. kinh Tạp a hàm Q.27, 28; kinh Bi hoa Q.6; luận Đại tì bà sa Q.27, 34, 44, 48; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Thuận chính lí Q.40; luận A tì đạt ma hiển tông Q.25; Câu xá luận quang kí Q.16; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối].
sân giác
xem ba loại tư tưởng xấu ác.
sân hận
Hatred, resentment.
; Dosa (skt). (I) Nghĩa của sân hận—The meanings of dosa: 1) Sân hận là một trong tam độc, hay một trong ba ngọn lửa đang đốt cháy tâm. Sân hận là nhiên liệu đốt cháy cả rừng công đức của kẻ tu hành. Người tu phải luôn chế ngự sân hận và phát triển lòng từ bi trong tâm: Anger—Ill-will—Hatred—One of the three poisons in Buddhism (greed, anger, ignorance)—One of the three fires which burn in the mind until allowed to die for fuelling---Anger manifests itself in a very crude manner, destroying the practitioner in a most effective way. To subdue anger and resentment, we must develop a compassionate mind. 2) Theo tâm lý học Phật giáo, yếu tố tâm thức về sân hận luôn nối kết với kinh nghiệm khổ đau. Người ta có thể tham và lạc cùng một lúc, nhưng không thể nào vừa sân hận mà lại vừa vui vẻ cùng một lúc được. Bất kỳ ai vun xới oán ghét, sân hận, giận dữ, tính ác nuôi dưỡng sự trả thù hay bảo tồn lòng căm giận đều bị trói buộc vào kinh nghiệm khổ đau như thế, vì người ấy đã chấp chặt vào một nguồn cội rất mạnh của khổ đau. Những ai gieo hận thù cho người khác như giết chóc hay hành hạ hay cắt xéo thân thể, có thể sẽ tái sanh vào những cảnh giới nơi mà họ phải cảm thọ những kinh nghiệm cực kỳ đau đớn, nhức nhối, khắc nghiệt. Chỉ trong những hoàn cảnh như thế họ mới có thể kinh nghiệm những nỗi khốn khổ mà do sự bất thiện của chính họ, họ đã tự đem dến cho chính họ—According to Buddhist psychology, the mental factor of aversion is always linked to the experience of pain. One may be greedy and happy, but never angry and happy at the same time. Anyone who cultures hatred, anger, malice, nurses revenge or keeps alive a grudge is bound to experience much suffering for he has laid hold a very potent source of it. Those who exercise their hatred on others as in killing, torturing or maiming may expect birth in a state, compared in the scriptural simile to a pitfull of glowing situations, where they will experience feelings which are exclusively painful, sharp, severe. Only in such an environment will they be able to experience all the misery which they, by their own cruelty to others, have brought upon themselves. 3) Đức Phật dạy: “Giặc cướp công đức, không gì hơn sân hận. Vì khi tâm sân hận nổi lên thì chúng sanh lập tức tạo nghiệp, và do đó mà muôn ngàn chướng ngại lập tức hiện ra, ngăn che Thánh đạo, lấp mờ Phật tánh. Cho nên nói 'Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai,' nghĩa là chỉ vì một niệm giận tức mà phải lãnh chịu bao nhiêu chướng nạn” —The Buddha taught: “Bandits who steal merits are of no comparison to hatred and anger. Because when hatred and anger arise, inevitable innumerable karma will be created. Immediately thereafter, hundreds and thousands of obstructions will appear, masking the proper teachings of enlightenment, burying and dimming the Buddha Nature. Therefore, A thought of hatred and anger had just barely risen, ten thousands of karmic doors will open immediately. It is to say with just one thought of hatred, one must endure all such obstructions and obstacles.” 4) Sân hận là nguyên nhân chính của khổ đau và địa ngục: The anger or dosa is the root of suffering and the rebirth in hell. (II) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp sân hận—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, there are two conditions that are necessary to complete the evil of ill-will: 1) Một người khác: Another person. 2) Tư tưởng muốn tạo phiền não cho người đó: The thought of doing harm. (III) Cũng theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, đây là những hậu quả tất yếu của sự sân hận—Also according to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teachings, these are the inevitable consequences of ill-will: 1) Thân hình xấu xa: Ugliness. 2) Cơ thể bệnh hoạn: Manifold diseases. 3) Bẩm tánh khó thương: Detestable nature. (IV) Sám Hối Tâm Sân Hận—To repent the mind of hatred and anger: See Sám Hối Tam Nghiệp (3). (V) Những lời Phật dạy về Sân Hận trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Anger” in the Dharmapada Sutra: 1) Xa bỏ lòng giận dữ, trừ diệt tánh kiêu căng, giải thoát mọi ràng buộc, không chấp trước danh sắc; người không có một vật chi ấy, sự khổ chẳng còn theo dõi được—One should give up anger; one should abandon pride. One should overcome all fetters. No suffering befall him who calls nothing his own (Dharmapada 221). 2) Người nào ngăn được cơn giận dữ nổi lên như dừng được chiếc xe đang chạy mạnh, mới là kẻ chế ngự giỏi, ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương hờ mà thôi—He who controls his anger which arises as a rolling chariot. He is a true charioteer. Other people are only holding the rein (Dharmapada 222). 3) Lấy từ bi thắng nóng giận, lấy hiền lành thắng hung dữ, lấy bố thí thắng xan tham, lấy chơn thật thắng ngoa ngụy—Conquer anger by love; conquer evil by good; conquer stingy by giving; conquer the liar by truth (Dharmapada 223). 4) Gìn giữ thân đừng nóng giận, điều phục thân hành động, xa lìa thân làm ác, dùng thân tu hạnh lành—One should guard against the bodily anger, or physical action, and should control the body. One should give up evil conduct of the body. One should be of good bodily conduct (Dharmapada 231). 5) Gìn giữ lời nói đừng nóng giận, điều phục lời nói chánh chơn, xa lìa lời nói thô ác, dùng lời nói tu hành—One should guard against the anger of the tongue; one should control the tongue. One should give up evil conduct in speech. One should be of good conduct in speech (Dharmapada 232). 6) Gìn giữ ý đừng nóng giận, điều phục ý tinh thuần, xa lìa ý hung ác, dùng ý để tu chân—One should guard against the anger of the mind; one should control the mind. One should give up evil conduct of the mind. One should practice virtue with the mind (Dharmapada 233).
Sân hận 瞋恨
[ja] シンコン shinkon ||| Grudge, hatred, malice, bitterness. => Hận thù, căm hờn, ác tâm, gay gắt.
sân hỏa
The fire of anger.
; Lửa sân hận (sự sân hận một khi nổi lên chẳng khác nào lửa đốt cháy cả rừng công đức)—The fire of anger, once arises can burn the whole forest of merits.
sân khuể
See Sân in Vietnamese-English Section.
sân khuể cái
6115梵語 vyāpāda-nīvaraṇa,巴利語同。五蓋之一。蓋,覆蓋之義,為煩惱之異名。瞋恚能令人發激怒之情,蓋覆心性,妨礙禪定,故以蓋喻之。〔大毘婆沙論卷三十八、俱舍論卷二十一〕(參閱「五蓋」1194)
; (嗔恚蓋) Phạn: Pàli: Vyàpàda-nìrvaraịa. Sân khuể là sự nóng giận; Cái là cái lọng, cái nắp, che đậy; là tên gọi khác của phiền não. Nghĩa là sự nóng giận ví như cái lọng, cái nắp che lấp tâm tính, cản trở thiền định nên gọi là Sân khuể cái, là 1 trong Ngũ cái. [X. luận Đại tì bà sa Q.38; luận Câu xá Q.21]. (xt. Ngũ Cái).
sân khuể hoả
6115瞋恚之熱惱如火,故稱瞋恚火。又瞋恚能燒盡一切功德,故譬之以火。增一阿含經卷十四(大二‧六一九下):「諸佛般涅槃,汝竟不遭遇,皆由瞋恚火。」(參閱「瞋」6114)
; (嗔恚火) Lửa nóng giận. Sự giận tức ví như ngọn lửa, có khả năng thiêu đốt tất cả công đức. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 14 (Đại 2, 619 hạ) nói: Chư Phật đã vào Niết bàn, vì lửa nóng giận mà các ông không được gặp. (xt. Sân).
sân khuể sứ
Sứ giả sân hận (mối sai khiến do lòng sân hận gây ra), là một trong năm độn sử—The messenger or lictor of anger, one of the five envoys of stupidity. ** For more information, please see Ngũ Độn Sử.
sân khuể tam chủng phát tướng
6115據釋禪波羅蜜次第法門卷四舉出,修行者修禪定時,有如下三種瞋恚之發相,即:(一)非理瞋相,修行者修禪定時,瞋覺突然而起,不問是非道理,無故而發瞋恚,障於禪定,是為非理瞋相。(二)順理瞋相,修行者修禪定時,為外人所惱而生瞋恚,猶如持戒之人,見非法者而生瞋恚,此瞋雖順理,然亦障於禪定,是為順理瞋相。(三)諍論瞋相,修行者修禪定時,執著自己所解悟者為是,而以他人之所行所說為非,以他人所說不順於己,即起瞋恨,亦障於禪定,是為諍論瞋相。
; (嗔恚三種發相) Ba thứ tướng giận dữ phát sinh lúc hành giả tu thiền định. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4 thì 3 tướng ấy là: 1. Phi lí sân tướng: Khi hành giả tu thiền định, chẳng hiểu vì lí do gì mà cảm giác giận dữđột nhiênnổi lên, gây chướng ngại cho thiền định. 2. Thuận lí sân tướng: Khi hành giả tu thiền định, bị người quấy nhiễu mà sinh nóng giận; giống người trì giới, thấy điều phi pháp thì sinh tức giận. Sự nóng giận này tuy là thuận lí nhưng vẫn trở ngại thiền định. 3. Tranh luận sân tướng: Hành giả lúc tu thiền định, chấp trước chỗ tỏ ngộ của mình là đúng, còn những điều người khác nói và làm đều là sai, vì điều người ta nói không thuận với mình, liền sinh nóng giận làm chướng ngại thiền định.
sân khuể tâm
Sân Tâm—Tâm tức giận nóng nảy hay lòng sân nhuế, một trong tam độc—The heart of anger, one of the three poisons.
sân kết
Xem não hại.
sân nhuế
Vyāpāda (S), Ill-will Anger Giận hờn. Xem Sân.
sân nhuế cái
Pratigha-āvaraṇa (S)Một trong ngũ cái.
sân nhuế hỏa
The fire of anger.
sân nhuế sử
The messenger, or lictor of anger.
sân nhuế tưởng
Vyāpāda-saṃjā (S).
Sân nhuế 瞋恚
[ja] シンイ shin'i ||| Anger, rage, scorn (kruddhi). Also commonly expressed with either of these logographs alone. To be angry at that which is disagreeable to oneself. To become angry. Malice, hatred. The term is often written simply with the first ideograph. 〔法華經 T 262.9.16a06〕 (2) One of the 'three poisons' (三毒), along with desire and ignorance. To become wholly embroiled with malice and commit evil deeds (dvesa). => Giận dữ, thịnh nộ, coi khinh (kruddhi). Thường được diễn tả bằng một trong 2 chữ nầy. Giận dữ đối với những gì không vừa ý với mình. Trở nên giận dữ. ác tâm, căm hờn. Một trong Ba độc (三毒), cùng với tham lam và ngu si. Làm cho người ta trở nên hoàn toàn ác tâm và phạm vào ác nghiệp (s: dvesa).
sân phiền não
The passion or defilement of anger.
; Phiền não do sân hận gây ra—The passion or defilement of anger.
sân phược
Dveṣa-bandhana (S)Một trong tam phược.
; Một trong tam phược, sự trói buộc của sân hận—One of the three fetters, the fetter (bind) of anger—See Tam Phược.
sân si
Quick-tempered, irascible, choleric.
sân tâm
Dosa-mŪla-citta (P).
; A heart of anger.
; See Sân Khuể Tâm.
sân tâm bất thụ hối giới
6114十重戒中之第九戒。又稱瞋不受悔戒、瞋不受謝戒、故瞋戒。即為防止起瞋恚心而不受他人悔謝所設之戒條。梵網經卷下(大二四‧一○○五上):「若佛子自瞋、教人瞋,瞋因、瞋緣、瞋法、瞋業,而菩薩應生一切眾生中善根無諍之事,常生悲心,而反更於一切眾生中,乃至於非眾生中,以惡口罵辱,加以手打,及以刀杖,意猶不息,前人求悔,善言懺謝,猶瞋不解者,是菩薩波羅夷罪。」另於法藏之梵網經菩薩戒本疏卷四明制此戒條之十意,即:(一)瞋心於惑中為最重。(二)成惡業道、惡趣因。(三)燒滅宿世諸善根。(四)能結大怨,累劫難解。(五)由此能害諸眾生。(六)能作無間罪。(七)能障菩薩忍波羅蜜。(八)害諸菩薩大悲心。(九)令所化眾生皆捨離。(十)具足成就百千障。此外,菩薩地持經卷五、瑜伽師地論卷四十、優婆塞五戒威儀經,及曇無讖所譯菩薩戒本等,均以之為四波羅夷之一,菩薩善戒經視為八重法之一,菩薩內戒經則說為四十七戒之一。〔菩薩瓔珞本業經卷下、瑜伽師地論卷四十一、菩薩戒義疏卷下〕
; (嗔心不受悔戒) Cũng gọi Sân bất thụ hối giới, Sân bất thụtạ giới, Cố sân giới. Giới ngăn cấm tâm sân hận khi người khác có lỗi mà không nhận sự sám hối của họ, là giới thứ 9 trong 10giới trọng cấm của Bồ tát. Kinh Phạm Võng quyển hạ (Đại 24, 1005 thượng) nói: Nếu Phật tử tự mình nổi giận, bảo người khác nổi giận, đối với nhân giận, duyên giận, pháp giận, nghiệp giận, là Phật tử đáng lẽ phải làm cho tất cả chúng sinh đều sinh căn lành không tranh cãi, thường sinh tâm từ bi; đàng này, trái lại, đối với tất cả chúng sinh, cho đến loài phi chúng sinh, lại dùng lời mắng nhiếc làm nhục, thậm chí còn dùng tay, dao, gậy đánh đập, vẫn không nguôi cơn giận, rồi người ta dùng lời nhẹ nhàng xin sám hối, tạ tộicũngvẫn không hả giận, Phật tử mà hành sử như vậy là phạm tội Ba la di. Trong Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 4, ngài Pháp tạng đã trình bày rõ 10 lí do chế giới này: 1. Trong các phiền não tâm sân hận là nặng nhất. 2. Sân là nhân tạo ra ác thú và đường ác nghiệp. 3. Nó đốt cháy tiêu hết thảy căn lành của các kiếp trước. 4. Nó buộc chặt mối oán thù, nhiều đời khó cởi mở. 5. Do đó thường làm hại các chúng sinh.6. Nó hay tạo các tội vô gián. 7. Thường ngăn ngại Nhẫn ba la mật của Bồ tát. 8. Làm hại lòngđại bi của Bồ tát. 9. Khiến Bồ tát lìa bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 10. Thành tựu đầy đủ trăm nghìn chướng nạn. Ngoài ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 5, luận Du già sư địa quyển 40, kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi và Bồ tát giới bản do ngài Đàm vô sấm dịch, đều cho Sân là 1 trong 4 tội Ba la di. Kinh Bồ tát thiện giới coi nó là 1 trong 8 pháp trọng, còn kinh Bồ tát nội giới thì nói Sân là 1 trong 47 giới. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Du già sư địa Q.41; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.hạ].
sân đấu cấu địa
6114禪林用語。又作嗔斗㖃地。為宋代之俗語,意謂如烈火般之猛怒。瞋,即忿怒;斗,即獰視;㖃,即怒吼;地,為語尾助詞。大慧宗杲之正法眼藏卷一(卍續一一八‧二下):「未觸著時,自弄毛羽,可憐生,纔有人撥著,便嗔斗㖃地,有甚麼近處?」
; (瞋斗㖃地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tục ngữ thông dụng ở đời Tống, Trung quốc. Sân là giận dữ, Đẩu là vẻ dữ tợn, Hậu là gầm thét, Địa là trợ từ. Sân đẩu hậu địa, ý nói giận dữ kịch liệt. Chính pháp nhãn tạng của ngài Đại tuệ Tông cảo (Vạn tục 118, 2 hạ) nói: Khi chưa đụng chạm thì có vẻ nhẹ nhàng, trông rất dễ mến, nhưng nếu có người vừa đụng đến thì tam bành nổi lên (sân đẩu hậu địa), chẳng ai dám gần.
sân độc
The poison of anger.
Sân 瞋
[ja] シン shin ||| (pratigha, dveṣa, doṣa, kupita; Pali dosa, kupito; Tib. khoṅ khro). 'anger','antipathy.' The mental action of antipathy regarding situations or things that run counter to one's own disposition, preventing the body and mind from having stability. In the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the undetermined elements, in the doctrine of the Yogācāra school, it is counted as one of the six primary defilements 六煩惱. Also one of the three poisons (三毒). This is the most basic form of antipathy, which has several distinctive manifestations that are included in the secondary afflictions 隨煩惱. => (s: pratigha, dveṣa, doṣa, kupita; p: dosa, kupito; t: khoṅ khro). 'giận', 'ác cảm'. Tâm sở ác cảm khi tình thế hay vật chạy về phía đối lập, ngăn không cho thân tâm an định. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, đó là một trong các bất định pháp; theo giáo lý Duy thức, đó được xem là một trong 6 căn bản phiền não. Cũng là một trong ba độc (三毒). Đây là dạng căn bản nhất của giận dữ, có vài biểu hiện khác biệt bao gồm trong tuỳ phiền não 隨煩惱.
sâu rộng
Profound and extensive.
sâu xa
So deep.
sè tay
To open one's hand.
sí di la
4283袈裟之一種。以鳥之羽毛所製之法衣。〔四分律開宗記卷六〕(參閱「袈裟」4784)
; (翅夷羅) Một loại áo ca sa. Áo này được may bằng lông cánh chím. [X. Tứ phần luật khai tông kí Q.6]. (xt. Ca Sa).
sí do la
4283梵語 keyūra。又作枳由攞、吉由羅。意譯作瓔珞。以珠玉所製之頸飾。在印度,王公貴人常以瓔珞為嚴身之飾具。又古來菩薩、天人之像,多有珠玉瓔珞之嚴飾。〔可洪音義卷五下〕
; (翅由邏) Phạn: Keyùra. Cũng gọi Chỉ do la, Cát do la. Hán dịch: Anh lạc. Đồ trang sức làm bằng châu ngọc đeo ở cổ mà hàng vương công quí tộc ở Ấn độ thường dùng. Ngoài ra, tượng các vị Bồ tát và người trời phần nhiều cũng đeo chuỗi anh lạc để trang nghiêm thân tướng. [X. Khả hồ ngâm nghĩa Q.5 hạ].
sí thạnh quang mạn đồ la
6257即以熾盛光佛頂為本尊所建立之曼荼羅。依經軌而有數種形式,如據大聖妙吉祥菩薩說除災教令法輪載,於淨白偾或淨素布上畫十二輻輪,輪中心畫八葉白蓮花,花心畫金輪佛頂一字真言???(bhrū卩,悖嚕吽),字後先畫熾盛光佛頂,於熾盛光佛頂前隔真言字畫佛眼部母,次於佛右邊畫文殊師利,左邊畫金剛手菩薩,四尊相對而坐,依次再畫不思議童子、救護慧、毘俱胝、觀自在等四尊菩薩。此八尊外側畫圓界道,界道上畫熾盛光、佛眼、文殊、金剛手之真言,其外畫九執、十二尊(一說十五尊),於諸天外畫界道,其外再畫十二獨股杵為金輪之輻,輻間共置十二宮,佛背後安置虛宿,佛前安置七星宿。於此十二宮外復安置二十八宿,二十八宿外圍畫輪緣為車輞之形,輞上畫八方天,空處書熾盛光真言及緣生四句偈。輪外畫百八朵青蓮花,一一葉上書???(a,阿)字。外畫方形界道,界道上畫獨股杵,周匝為結界。方界內、輪外四角安置四大明王。 另據大妙金剛大甘露軍拏利焰鬘熾盛佛頂經所說之曼荼羅,主尊手持八輻金輪,坐於七獅子座上,身上放出無量光明,周圍繞以八佛頂。此類曼荼羅在敦煌千佛洞亦有出土。〔A. Stein: The Thousand Buddhas〕
sí thạnh quang phật đỉnh
6257 梵名 Prajvaloṣṇīṣaḥ。乃釋迦佛之教令輪身,由毛孔流出熾盛光焰,故有此稱。種子為???(bhrū卩,悖嚕吽),三昧耶形為十二輻輪或三股杵。印契為二手雙合,屈二食指入掌,以二拇指壓之。有關此尊之自性輪身有多種說法,或謂熾盛光與一字金輪同尊,或以此尊即八佛頂中之金輪佛頂,亦有以此尊與光聚佛頂同尊之說。〔大妙金剛大甘露軍拏利焰鬘熾盛佛頂經、大聖妙吉祥菩薩說除災教令法輪、消災吉祥經〕
sí thạnh quang phật đỉnh pháp
6257略稱熾盛法、熾盛光法。指依熾盛光佛頂如來之本誓,為除災所修之祕法。於日月蝕、天變地異、風雨災時得修此法。蓋熾盛光佛頂尊自其毛孔流出熾盛光焰,能教令、折伏具有日月星宿等光耀之諸天,故以之為本尊。此法之道場觀為:在前結金剛墻,內有大海,海中有寶山,山上有寶獅子座,座上有寶蓮花,花上有寶樓閣,閣內有無量之裝飾周匝懸列,閣內有大曼荼羅。本尊位上有???(bhrū卩,悖嚕吽)字,字變成金輪,輪變成本尊,毛孔飛光散,首冠五佛相,二手如釋迦,本尊放光照諸尊座位。〔大威德金輪佛頂熾盛光如來消除一切災難陀羅尼經、大聖妙吉祥菩薩說除災教令法輪〕
sí thạnh quang đại uy đức tiêu tai cát tường đà la ni kinh
6256全一卷。又稱大威德消災吉祥陀羅尼經、消災吉祥經。唐代不空譯。收於大正藏第十九冊。謂於清淨處設道場,誦持熾盛光陀羅尼,能袪除金、木、水、火、土等妖邪星宿之災患。另有譯者不詳之佛說大威德金輪佛頂熾盛光如來消除一切災難陀羅尼經,為本經之同本異譯。
sí thạnh quang đạo trường niệm tụng nghi
6257全一卷。宋代遵式撰。收於大正藏第四十六冊。係依消災吉祥經而記述熾盛光佛頂法之壇場及念誦法。詳分壇場供養、方法、揀眾清淨、咒法、三業供養、釋疑、誡勸檀越等七門。
sí xá khâm bà la
4283梵名 Keśakambala。又作繫奓欽婆羅。意譯為髮衣。十外道之第五。據四分疏飾宗記卷七末記載,此外道身著「髮衣」,故有此稱。又一般言印度之六師外道多指珊闍耶毘羅胝子、阿耆多翅舍欽婆羅、末伽梨拘舍梨、富蘭那迦葉、迦羅鳩馱迦旃延、尼乾陀若提子,然四分律、四分律疏謂此六外道,宗雖有六,而實有十人;翅舍欽婆羅即此十人之一,而上記六師中之「阿耆多翅舍欽婆羅」即相當於翅舍欽婆羅與十人中之第四人「阿耆多」之合稱。
; (翅舍欽婆羅) Phạn: Kezakambala. Cũng gọi Hệ xa khâm bà la. Hán dịch: Phát y. Phái thứ 5 trong 10 phái ngoại đạo ở Ấn độ. Cứ theo Tứ phần sớ sức tông kí quyển 7 phần cuối thì ngoại đạo này mặc áo may bằng tóc (phát y), vì vậy nên có tên này.Thông thường, Lục sư ngoại đạo ở Ấn độ là chỉ cho: San xà da tì la chi tử, A kì đa síxá khâm bà la, Mạt già câu lê xá lê, Phú lan na ca diếp, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni kiền đà nhã đề tử. Nhưng Tứ phần luật và Tứ phần luật sớ cho rằng Lục sư ngoại đạo này tuy chỉ có 6 tông phái, nhưng kì thực thì có tới 10 người và Sí xá khâm bà la là 1 trong số 10 người ấy, mà A kì đa sí xá khâm bà la trong Lục sư ghi ở trên chính là tên gộp chung của Sí xá khâm bà la và A kì đa, người thứ 4 trong số 10 người.
sòng phẳng
To be punctual in the payment of one's debts.
sóng gió
Waves and wind—Ups and downs
sóng soài
To fall in full length.
sóng sông hằng
Gaṅgālaharī (S), Wave of the Ganges.
sót
To leave (miss) out—To omit.
sô
1) Chim non: A fledgling. 2) Cỏ khô: Hay—Straw.
sô ha
Xem ta bà ha.
sô ma
5911梵語 kṣuma。又作菆摩、須摩、芻摩迦、蘇摩、讖磨。即麻衣。慧琳音義卷三十一(大五四‧五一四下):「蒭摩衣,上測俱反,梵語正言菆摩。菆音鄒,唐云麻衣也。」〔大唐西域記卷二、玄應音義卷二〕
; Ksauma or Ksaumaka (skt)—Còn gọi là Sấm Ma, Sô Ma Ca, Thủ Ma, Tô Ma, hay Tu Ma, nghĩa là thứ quần áo làm bằng gai—Flax—Linen—Linen garment.
Sô ngu
(騶虞, sūgu): (1) Tên một loài linh thú giống như hổ, lông trắng vằn đỏ, không ăn thịt, không đạp phá cỏ hoa, thể hiện cho cái đức của bậc Thánh. (2) Tên người quản lý chim thú của Thiên tử. (3) Tên gọi một thiên Chiêu Nam (召南) của Thi Kinh (詩經). (4) Tên một loại âm nhạc.
sô tăng
Vị Tăng còn non trẻ—A fledgling priest, neophyte.
sông a-trí-la-phạt-để
Aciravati (P, S).
sông diêm phù
JambŪ River.
Sông Hằng
(s, p: Gaṅgā, 恒河): là dòng sông lớn chảy vào phía Bắc Ấn Độ. Chính ngay nơi lưu vực sông này, Phật Giáo đã từng một thời hưng thịnh.
sông hằng
Ganges River.
sông ni liên thiền
Anoma River
sõi
Old but still in good health.
sùng
1) Cao ngất: Lofty—Eminent. 2) Tôn sùng: To reverence—To adore—Honourable.
sùng bái
4515即指對所信奉之對象加以尊崇與敬拜,為宗教基本要素之一。依不同之崇拜對象,可對不同之宗教進行分類,如自然宗教有自然崇拜,部落宗教有圖騰崇拜,文明社會之宗教有偶像崇拜、神靈崇拜等;其目的主要在於對所信奉之對象進行感恩、祈求,或為學習模範,因而發展出各種儀式,及主持儀式之專職人員,如祭司、僧侶等。
; Xem Lễ bái.
; Namasyà (S). Veneration, worship.
; To worship—To adore.
; (崇拜) Tôn sùng và kính bái đối với đối tượng mà mình tin tưởng, thờ phụng. Sùng bái là 1 trong những yếu tố cơ bản của tông giáo. Căn cứ vào các đối tượng sùng bái khác nhau mà có thể phân loại các tông giáo bất đồng. Như tông giáo Tự nhiên có sùng bái tự nhiên, tông giáo Bộ lạc có sùng báiđồ đằng (vật tô– Totem); tông giáo của xã hội văn minh thì có sùng bái ngẫu tượng, sùng bái thần linh... Mục đích chủ yếu của các loại tông giáo này là cảm tạ, cầu nguyện hoặc học tập khuôn mẫu của các đối tượng mà mình tin thờ, sùng kính, do đó mà phát triển ra các thứ nghi thức và chuyên chức chủ trì nghi thức như Tế tư, Tăng lữ...
sùng chiếu
4516(?~1342)元代臨濟宗僧。晉寧(雲南)人,俗姓段。年十八,禮雲峰出家。時時以生死為念,參究不懈。一日聞伐木聲,忽大悟;遂出滇,四處遊方,先後拜謁空菴等十八名善知識,後至天台山參叩中峰明本,得蒙印可,乃返雲南盤龍山,創建盤龍寺,於此說法。 相傳師之神異事蹟甚多,據虛雲大師增訂佛祖道影卷二所載,盤龍山有一黑井,為毒龍窟宅,時常為害民眾,師既建寺,乃書寫咒文沈於水中,未久害息;後又聞寧州有虎患,出沒無定,傷人至鉅,師乃噴水驅之,虎亦潛迹。元至正二年示寂,逝後身體溫軟,歷七日而如生,並有彩虹貫天等祥瑞,至今肉身仍龕於盤龍寺內。〔五燈全書卷五十八〕
sùng hiệu tự
4515位於北平。為北平名剎之一。唐代幽州節度使劉濟捨其住宅建為寺。歷代屢建屢毀,僅存殿宇數處。清初詩人王士禎稱之為棗花寺,因其寺曾植棗樹千株,但已無存。寺內牡丹、芍藥極為著名,有姚黃、魏紫、黑色諸異種。寺內又珍藏盤山僧智扑所作青松紅杏圖,自王士禎以下均有題詠。春夏之際,遊人如織。
sùng huyền thự
4514為唐初統理僧尼及道士之中央官府,掌理帳籍、齋醮等事,為僧官性質。原置於鴻臚寺之下。其後,僧官之權限漸被縮小,且不再獨立,而隸屬於俗官之下。〔唐書百官志第三十八〕
; (崇玄署) Chỉ cho cơ quan trung ương thống lãnh tăng ni, đạo sĩ ở đầu đời Đường, trách nhiệm như những tăng quan nắm giữ giấy tờ sổ sách và trông coi các việc trai đàn... Đầu tiên cơ quan này được đặt dưới quyền Hồng lô tự. Về sau, quyền hạn dần dần thu hẹp, không còn độc lập nữa mà phải chịu lệ thuộc dưới sự điều khiển của các quan thế tục. [X. Đường thư bách quan chí 38].
sùng huệ
4519<一>唐代牛頭宗禪僧。杭州人,俗姓章。生卒年不詳。徑山法欽之法嗣,禪密兼修。結庵於浙江千頃山,誦佛頂尊勝陀羅尼,又於鹽官鋏石東山小尖頭之草屋止住多年。大曆年間(約 766)出長安,住章信寺,嘗與太清宮道士史華辯論道法得勝,受號護國三藏,敕住安國寺,世稱巾子山降魔禪師。〔宋高僧傳卷十七、佛祖歷代通載卷十四、神僧傳卷八〕 <二>(?~779)唐代牛頭宗禪僧。俗姓陳。牛頭智威之法嗣。唐乾元年間(758~759)於舒州天柱山開山,永泰元年(766)敕賜「天柱山」之號。終身住此,大曆十四年示寂。〔景德傳燈錄卷四、五燈會元卷二〕
sùng hưng
Tên một ngôi chùa cổ trong quận Phú Quốc (đảo), tỉnh Kiên Giang. Không ai biết người nào đã xây dựng và chùa đã được xây vào năm nào—Name of an ancient temple, located in Phú Quốc district, Kiên Giang province. No one knows who built the temple and when it was built.
sùng khánh tự
4518位於甘肅蘭州五泉山上。始建於明洪武五年(1372)。崇慶寺保存泰和鐵鐘一口和接引寺銅佛一尊。泰和鐵鐘鑄造於金泰和二年(1202),高三公尺,直徑二公尺,重萬斤。銘文鐫有「仙聞生喜,鬼聞停凶,擊破地獄,救苦無窮」等語。接引寺銅佛鑄造於明洪武三年(1370),高五公尺餘,身圍二點七公尺,重萬斤,造型精美。五泉山海拔一千六百餘公尺,因山中有甘露、掬月、摸子、惠、蒙五泉而得名。五泉山除崇慶寺外,尚有千佛閣、嘛尼寺、地藏寺,皆為清同治、光緒年間之建築。
sùng kính
To revere—To respect—To reverence and respect.
sùng nhạc
4514(1132~1202)南宋臨濟宗楊岐派僧。處州(位於浙江)龍泉人,俗姓吳,號松源。自幼即有出家之志,二十三歲始受五戒為沙彌,先後參謁靈石妙、大慧宗杲、應庵曇華等禪林宿老。隆興二年(1163),於西湖白蓮精舍得度,參禮江淛諸師,後嗣密庵咸傑之法。歷住報恩光孝寺、實際禪院、薦福禪院、智度禪院、雲巖禪院。慶元三年(1197)住持靈隱寺,並開創顯親報慈寺。嘉泰二年示寂,世壽七十一。門人善開、光睦等為編松源和尚語錄二卷,陸游為撰塔銘。〔佛祖歷代通載卷二十、續傳燈錄卷三十五、釋氏稽古略卷四〕
Sùng Ninh Thanh Quy
(崇寧清規): xem Thiền Uyển Thanh Quy(禪苑清規, Zennenshingi) bên dưới.
sùng phúc tự
4517<一>位於陝西長安。初,唐帝室自念起自太原,為報地恩,於揚州、荊南、太原及兩京造寺五所,皆稱為太原寺。武后時重修之,改西京太原寺為魏國西寺,東京者為大福先寺,又改魏國西寺為崇福寺,神楷法師曾於寺中大宏攝大乘論、俱舍論等,遂成法相宗道場。後太原之太原寺亦改稱崇福寺,世人乃稱此寺為西崇福寺。開元年中智昇法師居此,撰開元釋教錄,大行於世。 <二>位於山西朔縣。創建於唐麟德二年(665),初名林衙院、林衙寺,金天德二年(1150)題名「崇福禪寺」,清乾隆年間改今名。寺宇宏偉,頗具規模,金代建築仍保留至今。 <三>位於江西上高縣九峰山。建於唐昭宗乾寧年間(894~897),南平王鍾傳捐房舍為寺院,昭宗賜額「宏濟」,天復年中(901~903)改名「崇福禪林」。為曹洞宗大寺院之一。 <四>位淤浙江臨安鄉。五代後晉開運三年(946),明義智厚禪師創建,為禪宗臨濟祖庭之一。(參閱「崇福寺志」4518) <五>位於福建福州。創建於北宋太平興國二年(977),原名崇福院,原寺較小,後毀廢。明末清初重建,至康熙三十八年(1699)始具規模,後逐漸發展成梵宮林立、殿宇巍峨之大寺院,至清末成為福州五大禪剎之一。寺位在象峰之麓,岡巒環抱,松柏參天,有清澗一曲繞寺而過,環境十分清幽。現存之殿宇多為光緒年間所重建。 <六>俗名小召,位於綏遠歸綏城小召街。為清康熙三十六年(1697),帝親征準喀爾,凱旋駐蹕時所建。殿之左右各有一碑亭,碑高三公尺餘,上以漢、滿、蒙、藏四種文字,記載其平定準喀爾之功勳。 <七>山號橫岳山,屬日本臨濟宗。位於福岡市千代松原。圓爾返日後,曾至此巡錫,後由南浦紹明代為開山。慶長年間,黑田氏移至現地,請春屋妙葩中興之,為代代之菩提所(陵墓)。 <八>位於日本長崎市東南,屬於黃檗宗。山號聖壽山,通稱福州寺,俗稱赤寺、支那寺。原係我國僑民所建,高僧隱元曾住此,弟子即非改築之,具宋代風格,有三門(即所謂龍宮門)、大雄寶殿等建築,與興福寺、福濟寺並稱三福寺。
; See Thiên Phúc Tự.
; (崇福寺) Chùa ở Trường an, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Lúc đầu, Hoàng thất nhà Đường tự nghĩ đã dựng nghiệp ở Thái nguyên, để báo đền ơn đất, mới xây 5 ngôi chùa ở Dương Châu, Kinh Nam, Thái Nguyên, Tây Kinh và Đông Kinh, đều đặt tên chùa là Thái Nguyên. Thời Vũ hậu, 5 ngôi chùa được trùng tu và đổi tên chùa Thái nguyên ở Tây kinh là Ngụy quốc Tây tự, chùa ở Đông Kinh là Đại phúc tiên tự, lại đổi Ngụy quốc Tây tự là Sùng phúc tự. Pháp sư Thần Khải từng hoằng truyền luận Nhiếp đại thừa, luận Câu xá... ở chùa này, do đó mà chùa trở thành đạo tràng của tông Pháp tướng. Về sau, chùa Thái nguyên ở Thái nguyên cũng đổi tên là Sùng phúc tự, người đời bèn gọi chùa Sùng phúc này là Tân sùng phúc tự để phân biệt với chùa Sùng phúc ở Thái nguyên. Trong năm Khai Nguyên, pháp sư Trí Thăng trụ ở chùa này soạn Khai nguyên thích giáo lục, nổi tiếng ở đời.
sùng phúc tự chí
4517請參閱 請來目錄 請參閱 請來目錄凡四卷。清代朱文藻撰,真源訂。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。崇福寺乃五代後晉開運三年(946),明義智厚禪師於浙江臨安開山,原稱寶壽院,宋祥符元年(1008)改稱「崇福禪寺」,大觀年間毀,紹興時重建。元末再毀,明洪武十六年(1383)復建,二十四年立為叢林。清雍正十二年(1734)整修,頗具規模,為禪宗濟祖庭之一。嘉慶六年(1801),朱文藻與釋真源創寺志,分沿革、寺宇、住持等三門。光緒七年(1881),錢塘丁丙重刻,後附「重建崇福寺碑記」,崇福寺嘉慶以前之文獻,略備於此。
Sùng Phước Tự
(崇福寺, Sūfuku-ji): ngôi tự viện cổ tọa lạc tại Ōtsu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), hiện tại là ngôi chùa hoang phế. Tương truyền năm 668, sau khi dời đô về kinh đô Đại Tân (大津, Ōtsu), Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) đã xây dựng ngôi chùa này trong ngọn núi phía Tây Bắc cung thành, tôn thờ tượng Di Lặc Bồ Tát nơi đây. Chùa rất hưng thạnh cho đến thời đại Bình An, về sau thì trải qua nhiều lần bị hỏa hoạn rồi dẫn đến tình trạng hoang phế. Vào năm 1230, chùa phụ thuộc vào Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji), rồi sau đó thì bị phế tuyệt luôn.
Sùng Phạm
崇範; 1004-1087|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Vô Ngại và truyền lại hai vị còn được nhắc đến là Ðạo Hạnh và Trì Bát.|Sư họ Mâu, dáng mạnh mẽ to lớn, hai lỗ tai dài chấm vai. Sau khi xuất gia, Sư đến Thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành tu học và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) 9 năm để tu học thêm. Trở về nước, Sư đến chùa Pháp Vân thuyết giảng Phật pháp, học chúng quy tụ rất đông.|Năm Ðinh Mão, niên hiệu Quảng Hựu thứ 3 đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, thọ 84 tuổi.
sùng phạm
Thiền Sư Sùng Phạm (1004-1087)—Thiền sư Sùng Phạm, đời thứ 11 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau khi xuất gia sư đến tham vấn với ngài Vô Ngại ở Hương Thành. Ít lau sau đó sư đi vân du khắp các miền xứ Thiên Trúc và trở về trụ tại chùa Pháp Vân làng Cổ Pháp để hoằng dương Phật Pháp. Sư thị tịch năm 1087, thọ 84 tuổi—Zen master Sùng Phạm, the Dharma heir of the eleventh lineage of the Vinitaruci Zen Sect. After leaving home to become a monk, he went to see Zen Master Vô Ngại to study meditation. Sometime later he went to India and wandered all over India to study dharmas. He went back to Vietnam and stayed at Pháp Vân Temple in Cổ Pháp to expand the Buddha Dharma. He passed away in 1087, at the age of 84.
sùng thiện tự
4515<一>位於山西太原。始建於唐初,時稱白馬寺,明代重建,改名崇善寺。原為當地最大寺院,後遭火災,大部焚毀,今僅存大悲殿,為明代所重修,殿內供千手觀音菩薩像,兩側為金色之文殊、普賢菩薩像,高二點五公尺,為明代鑄像中之傑作。觀音之手臂和衣紋,採優雅之左右對稱式。此外,尚保存有宋、元、明三代所刻之大藏經,大多有確切之年代記載,為中國佛教史上之珍貴資料。山門前鐵鑄之唐獅子像與鐘樓等,亦是重要古蹟。 <二>俗稱貝子廟。位於察哈爾阿巴哈納爾旗錫林浩特鎮。始建於清乾隆八年(1743),三十三年(1768)賜名崇善寺。後續有增建,為錫林郭勒草原上規模最大之喇嘛廟,主要建築有朗克欽殿,明千殿、卻日殿、珠敦巴殿、丁克爾殿、活佛殿及喇嘛塔等,今僅存部分殿宇,然原有布局仍依稀可辨。
sùng thọ đăng tử
4517禪宗公案名。又稱法眼識得凳子。為唐代僧法眼文益與雲門文偃藉登(凳)子以顯示禪旨機用之公案。禪苑蒙求卷下(卍續一四八‧一三○上):「法眼初住臨川崇壽院,師指登子曰:『識得登子,周匝有餘。』雲門云:『識得登子,天地懸殊。』」 登子,即凳子。本公案之重點,即法眼與雲門二師對佛性呈現禪之機用;雖是一只凳子,然以宗眼看來,則亦無非佛法妙道之顯現,若能勘透此一玄理,則如二師所謂「周匝有餘」、「天地懸殊」。〔五燈會元卷十〕
sùng truyện
4516(1569~1633)日本臨濟宗僧。京都人,俗姓一色。字以心。幼年出家。曾師事相國寺西笑承兌,其後於醍醐三寶院學密教三年。慶長十三年(1608),蒙德川家康之召赴駿府,掌外交往復文書之事。爾後往來於江戶駿府與京都之間,參與寺社統治之議。元和二年(1616),師受命開版群書治要五十卷,並以活字刊行。世稱為慶長御活字本、駿河本。寬永三年(1626)蒙賜「圓照本光國師」之號。十年正月示寂,享年六十五。師曾以緇衣之身參與國政及外交事務,故日本史家稱之為「黑衣宰相」。有銅江記一卷、語錄四卷等行世。
Sùng Tuấn Thiên Hoàng
(崇峻天皇, Sushun Tennō, tại vị 587-592): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thế kỷ thứ 6, con của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō), tên là Bạc Lại Bộ (泊瀬部), nơi vua ở là Sài Thản Cung (柴坦宮) thuộc Thương Thê (倉梯, Kurahashi) thuộc nước Đại Hòa (大和, Yamato). Ông rất phẩn uất vì sự chuyên quyền của tay Đại Thần Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako) và định tìm cách hạ bệ tên này, nhưng ngược lại cuối cùng lại bị Tô Ngã ám sát.
Sùng Tín
崇信|Long Ðàm Sùng Tín
sùng tín
4514<一>唐代禪僧。出身、生卒年皆不詳。屬青原行思法系。從天皇道悟出家,得悟玄旨。後結庵於澧州(湖南澧縣)龍潭禪院,宗風大振,世稱龍潭崇信、龍潭和尚。傳法於德山宣鑑。〔景德傳燈錄卷十四、聯燈會要卷九、五燈會元卷七〕 <二>宋代雲門宗僧。又稱淨照禪師。廬州(位於安徽)慎縣人,俗姓高。十三歲禮廬州承天寺用成上人為師,剃髮出家,二十歲受具足戒後,策錫南遊,禮謁杭州淨慈寺之圓照宗本,得其印可。先後住持秀州(浙江嘉興)資聖寺、真州(江蘇儀徵)長蘆寺等。生卒年不詳。〔建中靖國續燈錄卷十五、續傳燈錄卷十四〕 <三>(1671~1729)日本真宗本願寺派學僧。大阪天滿人,字月筌、笛峰。又號難思議弗知。九歲出家,十六歲任定惠坊住持,經營堂宇,教養門徒,傍修學業。三十歲講大乘起信論、俱舍論、華嚴五教章等,並撰各疏記。師又擅長畫圖,曾晝彌陀像百餘幅及蓮生倒騎圖四十八幅。德義超邁,屢感瑞夢。享保元年(一說三年)辭退寺務,專究宗乘,所居閣號「蓮華藏」。享保十四年十一月示寂,享年五十九。門徒有月溪,桂巖,泰巖等。著有稱讚淨土經駕說四卷、往生論註遇哉鈔等二十餘種。〔清流紀談卷一、大谷本願寺通紀卷八〕
; Tôn sùng và tin tưởng—Reverence and faith, to revere and trust.
Sùng đức 崇徳
[ja] スウトク sūtoku ||| (1) To revere virtue. (2) To elevate one's level of virtue by cultivation of it. => 1. Tôn trọng đạo đức. 2. Nâng cao phẩm đức bằng cách tu tập.
Sùng 崇
[ja] スウ sū (1) To venerate, respect, revere, adore ||| (2) Lofty, noble, high. (3) To gather, increase, improve. (4) To guide. => 1. Kính trọng, tôn trọng, tôn kính, tôn sùng. 2. Cao quý, cao thượng, lớn, trọng. 3. Hợp lại, gia tăng, phát triển. 4. Hướng dẫn.
sú
Mùi hôi thối—Stinking smell.
sú khẩu quỷ
Demons with stinking breath.
súc
To rear, feed, domesticate; restrain; cattle.
; Nuôi nấng trong nhà—To rear—To feed—To domesticate.
Súc kim ngân bảo 蓄金銀寶
[ja] チクコンギンホウ chikukonginhō ||| The accumulation of gold, silver and jewelry prohibited for members of the Buddhis clergy in the ten precepts 十戒. => Cất chứa vàng bạc, của quý. Điều cấm đối với chư tăng Phật giáo trong 10 giới.
súc sanh
Tiracchāna (P), Tiraścīna (S).
; Tiryagyoni (skt)—Để Lật Xa—Bàng Sanh—Một trong lục thú trong tam đồ ác đạo, nơi mà chúng sanh sanh vào để chịu khổ trong tay của thợ săn, đồ tể, hay bị thương buôn và nông dân bắt buộc phải làm việc cực nhọc—Domestic animals—Animals—The realm of animals—Animality—One of the sixth forms of rebirth and one of the three Evil Paths is rebirth as an animal in the human world. Beings who are reborn as animals suffer at the hands of hunters, trappers, and butchers, and by being forced to work as beast of burden for farmers and merchants.
súc sanh nhân
Nghiệp nhân khiến chúng sanh phải tái sanh vào loài súc sanh trong Thích Thị Yếu Lãm, có 5 tội phải sanh làm súc sanh: 1) Phạm giới trộm cắp, 2) Nợ nần không trả, 3) Sát sanh, 4) Không thích nghe giảng kinh pháp, 5) Thường vì nhân duyên khó đến trai hội. The cause, or karma, of rebirth as an animal.
súc sanh thú
Một trong sáu loại chúng sanh, nơi sinh sống của các loài súc sanh (do nghiệp nhân mà sau khi chết phải đọa vào súc sanh)—The way, destiny, or gati of rebirth as animals, one of the six forms of rebirth.
súc sanh đạo
Tiryayoni-gati (S).
; See Súc Sanh Thú.
súc sinh
4188梵語 tiryañc,巴利語 tiracchāna。音譯為底栗車。又作傍生、橫生、畜生道、傍生趣。五道之一,六道之一,三惡道之一。指鳥獸蟲魚等一切動物。畜生之名乃由人畜養之意而得,主要指家畜家禽。新譯稱之為傍生,乃取其形不如人之直,傍橫且傍行之義。傍生是無智闇鈍且其本處在大海中,後轉而遍於人、天及地獄等。瑜伽師地論卷四(大三○‧二九七中):「傍生趣更相殘害,如羸弱者為諸強力之所殺害,由此因緣受種種苦。以不自在,他所驅馳,多被鞭撻,與彼人、天為資生具,由此因緣,具受種種極重苦惱。」 正法念處經卷十八舉出畜生總共有三十四億種,並廣述其相貌、色類、行食之不同、群飛之相異、憎愛之違順、伴行之雙隻、同生共遊等。另據大智度論卷三十載,依畜生之住處,可分為空行、陸行、水行三種,又依晝夜可分晝行、夜行、晝夜行三類。又據大毘婆沙論卷一二○、俱舍論卷八等載,畜生、人趣共具胎、卵、濕、化等四生,其壽命或一日一夜,或如龍王等之一中劫,各有不同。〔大毘婆沙論卷一七二、立世阿毘曇論卷七、俱舍論卷十一、雜阿毘曇心論卷八、大乘義章卷八本〕
; Xem Súc vật.
; Tirascina (S). Animals, beasts. Cảnh giới súc sinh. Tirascinayoni (S). Rebirth as an animal; animal womb.
; (畜生) Phạn: Tiryaĩc. Pàli: Tiracchana. Hán âm: Để lật xa. Cũng gọi Bàng sinh, Hoạnh sinh, Súc sinh đạo, Bàng sinh thú. Chỉ chung cho các loài động vật như chim, cá, muông thú, côn trùng... là 1 trong 3 ác đạo, 1 trong 6 đường, 1 trong 5 đường. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18 thì súc sinh tổng cộngcó tới34 ức loại, về tướng mạo, màu sắc, cách ăn uống, sinh sống... đều khác nhau. Luận Đại trí độ quyển 30 cho rằng, căn cứ vào chỗ ở của súc sinh có thể chia làm 3 loại: Bay trên không, đi trên đất và bơi dưới nước. Nếu căn cứ vào ngày, đêm thì có thể chia làm 3 loại: Loài đi lúc ban ngày, loài đi lúc ban đêm và loài đi cả ban ngày lẫn ban đêm. Còn theo luận Đại tì bà sa quyển 120 và luận Câu xá quyển 8 thì súc sinh và loài người đều có 4 cách sinh: Sinh từ bào thai, từ trong trứng, sinh ở chỗ ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh. Còn thọ mệnh của súc sinh thì hoặc 1 ngày 1 đêm, hoặc như Long vương... thọ 1 trung kiếp, mỗi loài mỗi khác. [X. luận Đại tì bà saQ.172; luận Lập thế a tì đàm Q.7; luận Câu xá Q.11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần đầu].
súc sinh giới
4188天台宗所立十界之一。即畜生之世界。此界之生類乃生前造惡業之愚癡眾生所轉生者。(參閱「十界」457、「畜生」4188)
; The animal kingdom.
; (畜生界) Chỉ cho thế giới của loàisúc sinh, 1 trong 10 giới do tôngThiên thai lập ra. Các loài sinh sống trong thế giới này là những chúng sinh ngu si, do kiếp trước tạo nghiệp ác mà chuyển sinh đến. (xt. Thập Giới, Súc Sinh).
súc sinh hữu
4188為長阿含十報法經卷上所說七有之一。畜生之果報實有非無,故稱有。
; (畜生有) Quả báo của loài súc sinh là có thật, 1 trong 7 Hữu được nói đến trong Trường A Hàm thập báo pháp kinh quyển thượng.
súc sinh nhân
4188生於畜生趣之業因。釋氏要覽卷中引辯意經載,若作如下之五事即種畜生之業因:犯戒私竊、負債不還、殺生、不喜聽受經法、常以種種因緣,阻擾他人舉辦齋會。摩訶止觀卷十則謂無慚無愧即畜生界。〔法華文句卷四〕
; The cause, or karma, og rebirth as an animal.
; (畜生因) Nghiệp nhân dẫn sinh vào đường súc sinh. Thích thị yếu lãm quyển trung dẫn lời trong kinh Biện ý cho rằng: Nghiệp nhân dẫn sinh vào đường súc sinh có 5: Phạm giới ăn trộm, mắc nợ không trả, giết hại, không thích nghe nhận kinh pháp, thường tìm mọi cách để ngăn cản, quấy rối người khác cử hành trai hội.
súc sinh thú
The destiny of rebirth as an animal.
súc sinh thực thời
4188四食時之一。指畜生類用食之時間;畜生類大多於日暮之時用食。〔法苑珠林卷四十二〕
; (畜生食時) Chỉ cho thời gian ăn uống của loài súc sinh, 1 trong 4 thời ăn. Loài súc sinh phần nhiều ăn uống vào buổi chiều. [X. Pháp uyển châu lâm Q.42].
súc sinh đạo
4189六道之一。又作畜生趣。即畜生之依止處。眾生以生前所造惡業,種畜生之業因,死後即趨往畜生界,稱為畜生道。(參閱「六道」1298)
; The way of rebirth as an animal.
; (畜生道) Cũng gọi Súc sinh thú. Chỗ nương ở của súc sinh, 1 trong Lục đạo.Chúng sinh lúc còn sống tạo các nghiệp ác, gieo nhân súc sinh, sau khi chết, sinh vào cõi súc sinh, gọi là Súc sinh đạo.(xt. Lục Đạo).
Súc sinh đạo 畜生道
チクショウドウ chikushōdō ||| Rebirth as an animal. See 畜生. => Sinh trong đường súc vật. Xem Súc sinh畜生.
Súc sinh 畜生
[ja] チクショウ chikushō ||| Rebirth as an animal (tiryag-yoni). One of the six destinies 六道, one of the three evil destinies 三惡趣, one of the ten realms 十界. This rebirth occurs due to a predominance of mistaken activity in one's prior lifetime, due mostly to foolishness. 〔菩薩善戒經T 1582.30.961b2〕 => Sinh làm súc vật (tiryag-yoni). Một trong Lục đạo 六道, một trong Tam ác thú 三惡趣, một trong Thập giới 十界. Sự tái sinh nầy do những hành vi sai trái đã tạo ra trong kiếp trước quá nặng, chủ yếu là do tính ngu si.
súc tích
To collect—To accumulate.
súc vật
Paśu (S), Animals Pasu (P)Súc sinh.
; See Súc Sanh.
Súc 畜
[ja] チク chiku ||| (1) To store, stock up, save, put aside, keep, accumulate, gather. (2) That which is stored, kept, gathered, etc. (3) To restrain, stop. (4) To rear, to feed, to cultivate. (5) Cattle, domestic animals. => 1. Chứa, dự trữ, giữ lại, để dành, giữ lại, tích luỹ, gom chứa. 2. Những gì được cất chứa, tích luỹ.v.v... 3. Cản trở, dừng lại. 4. Nuôi dạy, cung cấp, nuôi dưỡng. 5. Súc vật, gia súc.
sún
Toothless.
săn sóc
To take care—To care.
săn đuổi
To chase—To pursue.
sĩ
A gentleman—Scholar.
sĩ diện
Scholar's pride.
sĩ dụng quả
Puruṣakāra phala (S)Một trong ngũ chủng quả (đẳng lưu, dị thục, ly hệ, sĩ dụng, tăng thượng quả).
; Purusakàraphala (S). Manliness, virility.
; Purusakara-phala (skt)—Quả đồng thời sanh ra bởi “câu hữu nhân,” có nghĩa là tứ đại đều là nhân câu hữu với nhau, không có cái gì bị loại bỏ; và “tương ưng nhân,” như sự tương ưng giữa những điều kiện tâm và tinh thần, chủ quan và khách quan—Simultaneous effect produced by the co-operative causes (sahabhu-hetu), as the four elements in nature, not one of which can be omitted; and the mutual responsive or associated causes (samprayukta-hetu), i.e. mind and mental conditions, subject with object.
; (士用果) Phạn: Puruwakàra-phala. Cũng gọi Sĩ phu quả, Công dụng quả. Chỉ cho quả do nhân Câu hữu và nhân Đồng loại mang lại, vì sức của nó mạnh nên gọi là Sĩ dụng quả (ví như sức người (sĩ) dùng công cụ tạo tác ra), là 1 trong 5 loại quả. LuậnThành duy thức quyển 8 (Đại31, 42 trung) nói: Sĩ dụng, nghĩa là những người làm (sĩ) mượn các công cụ để tạo ra sự nghiệp. Thành duy thức luận thuật kí quyển 8, phần đầu, dựa vào đó mà cho rằng Sĩ dụng quả có 2 nghĩa: 1. Nói về người: Lực dụng này nương vào hữu tình mà sinh, như lúa gạo của nhà nông, tiền bạc của nhà buôn... đều nhờ sức của con người(sĩ) mà làm nên sự nghiệp. 2. Nói về pháp: Các pháp sinh là do các công cụ mà có, như nhà nông do cấy lúa mà có thóc, nhà buôn do mua bán mà có lời, tác giả mượn các công cụ mà làm thành mọi việc. Kết quả này chung cho tất cả pháp hữu vi. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6 cho rằng quả do nhân Câu hữu và nhân Tương ứng mà được, cũng tương đương với quả Sĩ dụng nói ở đây. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Thuận chính lí Q.18; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Du già sư địa Q.5].
sĩ hạnh
Scholar's virtue.
sĩ khuê
(士圭) (1083-1146) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người ở Thành đô, tỉnh Tứ Xuyên, họ Sử, tự Trúc am, hiệu Lão thiền. Sư xuất gia từ tuổi niên thiếu, siêng học kinh giáo, chuyên nghiên cứu Lăng nghiêm. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến tham học ngài Phật nhãn Thanh viễn và được nối pháp ngài. Sau, sư lần lượt trụ ở các chùa: Long Tường, Thiên Ninh, Bao Thiền, Đông Lâm... Khoảng năm Thiệu hưng, sư và ngài Tông cảo soạn chung hơn 100 tắc Tụng cổ ở Vân môn, được người đời quí trọng. Về sau, sư dời đến trụtại Cổ sơn thuộc tỉnh Phúc kiến, rồi lại dời đến trụ trì các chùa Năng nhân tại Nhạn đãng và Long tường ở Ôn châu... Sư tinh thông cả ngoại điển và thư pháp. Năm 1146, Sư tịch, thọ 63 tuổi. Sư có tác phẩm: Trúc Am Khuê hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, Đông lâm hòa thượng Vân môn am chủ tụng cổ 1 quyển. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.16; Ngũ đăng hội nguyên Q.20].
sĩ khí
See Sĩ Diện.
sĩ nhân
Man of letters—Learned man.
sĩ nông công thương
Bốn giai cấp chính trong xã hội phong kiến—Four main classes in the feudal society: 1) Sĩ: Intellectuals. 2) Nông: Peasants. 3) Công: Workers. 4) Thương: Tradesmen.
sĩ phu
được dịch từ tiếng Phạn là puruṣa, phiên âm là bổ-lô-sa (補盧沙), với nghĩa chỉ phần tình thức, tinh thần, bản thể của con người, hoàn toàn không liên quan đến nghĩa của chữ “sĩ phu” thường được hiểu trong chữ Hán (người có học, nho sĩ...). Có nơi cũng dịch chữ này là linh hồn. Khái niệm này đã có từ trước thời đức Phật. Sau khi chứng ngộ và nhận biết rõ ràng về tâm thức cũng như nghiệp lực của mọi chúng sanh, đức Phật đã chỉ ra rằng quan niệm về một linh hồn thường tồn là hoàn toàn sai lầm.
; Intellectuals.
sĩ đạt đa
Xem Tất đạt đa.
; See Siddhartha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Sơ
初; C: chū; J: sho;|Có các nghĩa sau: 1. Sự bắt đầu, ban đầu, sự khai mạc, lúc đầu, sự khởi đầu (s: adaya, adi); 2. Sự phát khởi niềm tin ban đầu; 3. Giai vị đầu tiên trong Thập trú (Phát tâm trú).
sơ
Beginning, first.
; 1) Bắt đầu: Beginning—First. 2) Cắt vải: To cut cloth for clothes. 3) Đơn sơ: simple. 4) Sơ khai: Primitive.
sơ a hậu đồ
2790指梵文四十二字之首末二字,阿字為首,荼字為末。華嚴、般若經等以此四十二字作觀字義法門,每一字皆有其特殊之佛法意義。其中,阿字為???(a),即一切法初不生之義;荼字為???(ḍha),即入諸法邊竟處,不終不生之義。又南嶽慧思撰四十二字門釋二卷,將四十二字與大乘菩薩修行之四十二階位相配列,前四十字次第為十住位、十行位、十回向位、十地位,後二字則為等覺位、妙覺位。〔大品般若經卷五、舊華嚴經卷五十七、大智度論卷四十八〕
; (初阿後荼) Chữ A ở đầu, chữ Đồ ở cuối, tức chỉ cho 2 chữ đầu và cuối trong 42 chữ của tiếng Phạn. Các kinh như Hoa nghiêm, Bát nhã... đều lấy 42 chữ này làm pháp môn quán tưởng nghĩa chữ, bởi vì mỗi một chữ đều có ý nghĩa đặc thù của Phật pháp. Trong đó, chữ (a) có nghĩa tất cả các pháp vốn chẳng sinh; chữ (đha) có nghĩa vào chỗ rốt ráo các pháp chẳng diệt chẳng sinh.Ngoài ra, ngài Nam nhạc Tuệ tư soạn Tứ thập nhị tự môn thích 2 quyển, đem phối trí 42 chữ Phạm này với 42 giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa; 40 chữ trước là Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, 2 chữ sau là Đẳng giác và Diệu giác.[X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.48].
sơ canh
See Sơ Dạ.
Sơ chuyển pháp luân
初轉法輪; C: chūzhuănfǎlún; J: shotenbō-rin;|Chuyển pháp luân lần đầu. Lần giảng pháp đầu tiên của Phật Thích-ca Mâu-ni.
sơ chuyển pháp luân
2792佛陀出家成道後之首度說法。彼時,佛陀於鹿野苑為憍陳如等五比丘說四聖諦、八正道,示離愛欲及苦行之二邊,而行中道。〔雜阿含經卷十五、轉法輪經〕(參閱「八相」289、「鹿野苑」4848)
; (初轉法輪) Lần thuyết pháp đầu tiêncủa đức Phật sau khi xuất gia thành đạo. Lần này, ở vườn Lộc dã, đức Phật nói Tứ thánh đế, Bát chính đạo cho 5 vị tỉ khưu Kiều trần như... chỉ bày con đường lìa bỏ 2 cực đoan ái dục và khổ hạnh mà tu hành trung đạo. [X. Tạp a hàm Q.15; kinh Chuyển pháp luân]. (xt. Bát Tướng, Lộc Dã Uyển).
Sơ chuyển pháp luân 初轉法輪
[ja] ショテンボウリン shotenbōrin ||| The "first turning of the wheel of the dharma." Śākyamuni's first sermon. => Chuyển pháp luân lần đầu. Lần giảng pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
sơ cơ
2792機,即機根、機類。初機,意謂初學之人。碧巖錄第二則(大四八‧一四一中):「久參上士不待言之,後學初機直須究取。」此類初學佛道者,又稱為初學,或初心、初發心。
; (初機) Cũng gọi Sơ học, Sơ tâm, Sơ phát tâm. Cơ, tức căn cơ, cơ loại; Sơ cơ chỉ cho người mới học đạo. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 141 trung) nói: Bậc thượng sĩ tham cứu đã lâu thì không cần phải nói, nhưng đối với kẻ sơ cơ hậu học thì cần được chỉ dạy.
Sơ duyên
初縁; C: chūyuàn; J: shoen;|Có hai nghĩa: 1. Duyên đầu tiên; 2. Duyên gần nhất (s: samanantara-pratyaya).
Sơ duyên 初縁
[ja] ショエン shoen ||| (1) First condition. (2) Immediate condition (samanantara-pratyaya). => Có hai nghĩa: 1. Duyên đầu tiên. 2. Duyên gần nhất (s: samanantara-pratyaya).
Sơ dạ
(s: prathama-yāma, p: paṭhama-yāma, 初夜): đầu đêm, còn gọi là sơ canh (初更, canh đầu), là một trong 6 thời khắc trong một ngày đêm; tức khoảng 8 giờ tối sau buổi trưa. Trong kinh điển thường dùng thuật ngữ này. Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 53 có câu: “Ư thực trung năng tri chỉ túc, sơ dạ hậu dạ tinh tấn giác ngộ (於食中能知止足、初夜後夜精進覺悟, ngay trong khi ăn có thể biết đủ và dừng lại, đầu đêm giữa đêm tinh tấn giác ngộ).” Hay trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 lại có đoạn: “Hành giả như thị, ư thiện pháp trung, sơ dạ, trung dạ, hậu dạ, tụng kinh, tọa Thiền, cầu chư pháp thật tướng (行者如是、於善法中、初夜、中夜、後夜、誦經、坐禪、求諸法實相, hành giả như vậy, ở trong thiện pháp, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm, tụng kinh, ngồi Thiền, cầu thật tướng các pháp).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Hiển Ứng Lục (法華經顯應錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1540) quyển 1, phần Thiên Thai Tảo Thiền Sư (天台璪禪師), cũng có đoạn: “Sơ dạ tọa Thiền, nãi kiến nhất cửu đầu long tùng địa dũng xuất, thượng thăng hư không (初夜坐禪、乃見一九頭龍從地涌出、上升虛空, Thiền Sư đầu đêm ngồi Thiền, bèn thấy một con rồng chín đầu từ đất vọt ra, bay lên hư không).”
sơ dạ
2789梵語 prathama-yāma,巴利語 paṭhama-yāma。又作初更。指夜分之初,即今午後八時頃。係晝夜六時之一。經典中常有此語,如過去現在因果經卷三(大三‧六四一中):「爾時,菩薩以慈悲力,(中略)即便入定思惟真諦,(中略)而自念言:『一切眾生,無救濟者,輪迴五道,不知出津,皆悉虛偽,無有真實,而於其中,橫生苦樂。』作是思惟,至初夜盡。」十住毘婆沙論卷十五大乘品(大二六‧一○四中):「初夜、後夜隨時覺悟,觀緣取相,樂住空舍,貴於持戒。」皆為其例。又藥石(晚飯)後之坐禪,稱為初夜坐禪,又作黃昏坐禪、夜坐。〔太子瑞應本起經卷下、大乘阿毘達磨雜集論卷八、往生禮讚偈〕
; Lúc đầu hôm (phần đầu, giữ khuya và hừng sáng)—The first of the three divisions (watch) of the night.
; (初夜) Phạn: Prathama-yàma. Pàli: Paỉhama-yàma. Cũng gọi Sơ canh. Bắt đầu vào đêm, tức khoảng 8 giờ tối, 1 trong 6 thời. KinhQuá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 (Đại 3, 641 trung) nói: Lúc bấy giờ, Bồ tát dùng sức từ bi (...) tự nghĩ rằng: Tất cả chúng sinh không người cứu vớt, trôi nổi trong 5 đường, không biết bến bờ thoát ra. Tất cả đều giảdối, không chân thực, cứ ở trong đó sinh ra khổ vui. Bồ tát suy nghĩ như thế đến hết sơ dạ. Phẩm Đại thừa trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 15 (Đại 26, 104 trung) nói: Sơ dạ, hậu dạ tùy thời giác ngộ, quán tướng duyên thủ, ưa trụ chỗ không, quí ở trì giới. [X. kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.8; Vãng sinh lễ tán kệ].
sơ dạ kệ
2789初夜所誦之偈。善導往生禮讚偈載,當初夜(今午後八時頃)時,誦無量壽經中之禮讚偈,作二十四拜,且應誦(大四七‧四四○下)「煩惱深無底,生死海無邊,度苦船未立,云何樂睡眠?勇猛勤精進,攝心常在禪」之偈。〔過去現在因果經卷三、太子瑞應本起經卷下、十住毘婆沙論卷十五大乘品〕(參閱「六時」1283)
; (初夜偈) Kệ được tụng vào lúc đầu đêm. Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo ghi (Đại 47, 440 hạ): Phiền não sâu không ; Biển sinh tử không bờ; Thuyền cứu vớt chưa có; Làm sao vui ngủ yên? Hãy mạnh mẽ tinh ; Nhiếp tâm thường ngồi thiền. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Thái tửthụy ứng bản khởi Q.hạ; phẩm Đại thừa trong luận Thập trụ tì bà sa Q.15]. (xt. Lục Thời).
sơ giang vương
2789為冥界十王之第二。又稱楚江王。據預修十王生七經、地藏十王經等所舉,此王之本地為釋迦如來,係監視亡人渡河之冥官。蓋人死後,中有之身於二七日(即第二個「七日」)時至此王之大殿(廳),其間有奈河橋(津),河畔衣領樹下有奪衣婆,待亡人至時,脫取其衣,交予懸衣翁,此翁將其衣懸於樹枝,以量罪之輕重;若罪重而樹枝下垂時,則為引路之牛頭與催行之馬頭兩鬼逐向王殿審判。〔佛祖統紀卷三十三〕(參閱「閻羅十殿」6339)
; (初江王) Cũng gọi Sở giang vương. Ông vua thứ 2 trong 10 ông vua cõi U minh. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là đức Thích Ca Như lai, là ông quan coi việc người chết qua sông. Sau khi chết, thân Trung hữu trong 14 ngày đến trước đại điện vua này; trên quãng đường đến đây, có cây cầu Nại hà, bên bờ sông, dưới cây Y Lãnh, có bà già đoạt áo (Đoạt y bà), đợi khi người chết đến, lột lấy áo của họ, giao cho ông Huyền Y (Huyền y ông), ông này đem áo treo trên cành cây để xem tội nặng hay nhẹ; nếu tội nặng thì cành cây trĩu xuống và người chết bị 2 con quỉ đầu trâu, đầu ngựa lôi đến điện vua Sơ Giang để được phán quyết. [X. Phật tổ thống kỉ Q.33]. (xt. Diêm La Thập Điện).
sơ hoan hỷ địa
The first of the ten stages toward Buddhahood, that of joy.
; Địa vị thứ nhất của Thập Địa, giống như Hoan Hỷ Địa—The stage of joy, the first of the ten stages toward Buddhahood.
Sơ học
初學; C: chūxué; J: shogaku;|Mới bắt đầu tu học. Người mới học.
sơ học
Elementary.
sơ học kí
2792全一卷。宋代僧本然清覺(1043~1121)著,道安注。元仁宗皇慶二年(1313)刊行。收於卍續藏第一一二冊。清覺謂千里一步為初,故作初學記,以接引後進,開悟群迷,闡揚三乘十地之要,令初心者易於效習;久經效習,自有所見、所覺,進而起行,以達究竟。內容包括:佛道不可不學,生死不可不憂;欲得不遭欺誑,莫離十地三乘;般若悟心見性,名目稱呼內凡;初學先求因地;初從戒定慧修,須知名目般數。此外,又論及須陀洹果、斯陀含果、法雲地、妙覺地等數十項。
; (初學記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bản Nhiên Thanh Giác (1043-1121) soạn vào đời Tống, ngài Đạo An chú thích, ấn hành vào năm Hoàng Khánh thứ 2 (1313) đời vua Nhân Tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Thanh giác cho rằng muốn đi nghìn dặm thì phải bước 1 bước đầu, nên viết Sơ học kí để tiếp dẫn kẻ hậu tiến, khai ngộ quần mê, hoằng dương yếu chỉ Tam thừa Thập địa, giúp những người sơ tâm dễ học tập, lâu ngày sẽ quen, tự có chỗ thấy biết, rồi tiến lên thực hành để đạt cứu cánh. Nội dung sách này bao gồm các vấn đề như: Phật đạo không thể không học, sinh tử không thể không lo, muốn không bị lừa dối thì chớ lìa Thập địa Tam thừa. Bát nhã tỏ lòng thấy tính, danh mục nhắc nhớ nội phàm; kẻ sơ học trước cầu nhân địa, tu tập theo giới định tuệ, phải biết danh mục thứ bậc. Ngoài ra, trong sách cũng bàn đến vài mươi hạng mục như: Quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, Pháp vân địa, Diệu giác địa...
Sơ học 初學
[ja] ショガク shogaku ||| Beginning study. A beginner. => Mới bắt đầu tu học. Người mới học.
sơ hội
2791會,指說法之會座,即指佛陀說法時之集合而言。佛陀成道後最初之說法;或一部經最初說法之會合,均稱為初會。
; (初會) Chỉ cho hội thuyết pháp đầu tiên của đức Phật sau khi Ngài thành đạo, hoặc chỉ cho hội đầu tiên Phật giảng nói về 1 bộ kinh nào đó.
sơ khai
Primitive—Aboriginal—Existing from the beginning.
Sơ khởi
初起; C: chūqǐ; J: shoki;|Sự sinh khởi đầu tiên của các pháp; khởi đầu sự vận hành của các pháp; sự hoạt hoá, khởi đầu (theo Đối pháp luận 對法論).
Sơ khởi 初起
[ja] ショキ shoki ||| The first arising of something; the initial activation of something; to activate; initiate. 〔對法論 T 1606.31.737b7〕 => Sự sinh khởi đầu tiên của các pháp; khởi đầu sự vận hành của các pháp; sự hoạt hóa, khởi đầu.
sơ kim hậu thai
2790為「初胎後金」之對稱。密教中,授(或修)金、胎兩部之法時,初行金剛界法,後傳胎藏法,此一行法多用於灌頂入壇儀式,即初授金剛界灌頂,後授胎藏界灌頂。反之,初授胎藏界灌頂,後傳金剛界灌頂者,稱為初胎後金。蓋初胎後金和初金後胎皆為密法相傳之實義,若就法門之配立而言,則並無一定準則,故不可論其淺深。其中,初胎後金乃由「理」悟入「智」,係屬「本有」向「修生」之次第;初金後胎則由「智」顯「理」,係屬「修生」向「本有」之次第。然對極位之金、胎兩部,則不可論本有、修生之異同,蓋以理、智皆為本有,而非謂理、智有表裏,兩部有淺深之別。若就初金後胎或初胎後金之次第而言,概視修法之須要而擇之。又初胎後金乃金剛智傳予不空之法,初金後胎乃龍智傳予不空之法。
; (初金後胎) Đối lại: Sơ thai hậu kim. Trong Mật giáo, khi truyền (hoặc tu) pháp của 2 bộ Kim cương và Thai tạng, thì trước thực hành pháp Kim cương giới, rồi sau mới truyền pháp Thai tạng giới; trình tự này thường được áp dụng trong nghi thức nhập đàn quán đính, tức là trước truyền quán đính Kim cương giới rồi sau mới truyền quán đính Thai tạng giới, gọi là Sơ kim hậu thai. Ngược lại, nếu ban đầu thụ quán đính Thai tạng giới rồi sau mới truyền quán đính Kim cương giới, thì gọi là Sơ thai hậu kim. Sơ thai hậu kim và Sơ kim hậu thai đều là chân nghĩa của mật pháp tương truyền, nếu đứng về phương diện phối lập pháp môn mà nói thì hoàn toàn không có một chuẩn tắc nào nhất định, cho nên không thể bàn đến khía cạnh cạn sâu của nó. Trong đó, Sơ thai hậu kim là do Lí ngộ nhập Trí, thuộc thứ tự Bản hữu hướng Tu sinh; còn Sơ kim hậu thai thì do Trí hiển bày Lí, thuộc thứ tự Tu sinh hướng Bản hữu. Nhưng đối với địa vị cùng tột của 2 bộ Kim, Thai thì không thể nào bàn đến sự dị đồng giữa Bản hữu và Tu sinh, bởi vì Lí và Trí đều là bản hữu, chứ không phải Lí, Trí có trong ngoài, Kim cương, Thai tạng có cạn sâu khác nhau. Nếu nói theo thứ tự Sơ kim hậu thai hoặc Sơ thai hậu kim, thì đại khái cần lựa chọn pháp tu, nghĩa là pháp nào trọng yếu hơn. Sơ thai hậu kim là pháp do ngài Kim cương trí truyền cho ngài Bất Không; còn Sơ kim Hậu thai là pháp do ngài Long Trí truyền cho Ngài Bất Không.
sơ lược
Summary.
sơ nguyện
First vows.
sơ nhật phần
Buổi sáng sớm trong ngày—The first of the three divisions of the day—See Sơ Trung Hậu.
sơ nhị hồi hỗ
2788指「洞山五位說」中之第四位「偏中至」之境界。洞山五位乃曹洞宗之祖洞山良价為接引學人而將修行過程分為五種階段之權宜方法,即:正中偏、偏中正、正中來、偏中至、兼中到。「初二」即指正中偏與偏中正,於此兩位,正位與偏位皆全然獨立,直至第四位「偏中至」之時,正位與偏位始相互回互,表示從現象界差別之妙用體悟現象與本體相互冥合,而達無念無想之境界。〔不能語五位說〕(參閱「五位」1087、「洞山五位」3869)
; (初二回互) Cho cảnh giới Thiên trung chí trong thuyết Ngũ vị của ngài Động sơn. Ngài Động sơn Lương giới –Tổ khai sáng tông Tào động– chia quá trình tu hành làm 5 giai đoạn, gọi là Động sơn ngũ vị, gồm: Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Sơ nhị (Hai vị đầu) tức là Chính trung thiên và Thiên trung chính, ở 2 vị này, Chính vị và Thiên vị đều hoàn toàn độc lập, đến giai đoạn thứ 4, tức Thiên trung chí, thì Chính vị và Thiên vị mới hồi hỗ lẫn nhau, biểu thị từ diệu dụng sai biệt của hiện tượng giới mà thể ngộ hiện tượng và bản thể ngầm hợp với nhau, đạt đến cảnh giới vô niệm vô tưởng. [X. Bất năng ngữ ngũ vị thuyết]. (xt. Ngũ Vị, Động Sơn Ngũ Vị).
Sơ nhị quả
初二果; C: chūèrguǒ; J: shonika;|Hai quả vị đầu trong 4 quả vị của Tiểu thừa: Tu-đà-hoàn (Dự lưu) và Tư-đà-hàm. Tứ hướng tứ quả (四向四果).
Sơ nhị quả 初二果
[ja] ショニカ shonika ||| The first two fruits of the four fruits of the lesser vehicle path: 須陀 "stream-enterer" [預流] and 斯陀今 "once-returner." See also 四向四果. => Hai quả vị đầu trong bốn quả vị của Tiểu thừa: Tu-đà-hoàn (Dự lưu) và Tư-đà-hàm. Xem Tứ hướng tứ quả.
sơ năng biến
The initiator of change, or mutation, i.e. the àlaya-vijnàna, so called because the other vijnànas are derived from it.
; Alaya-vijnana (skt)—Cái tâm thứ biến hiện chư cảnh thành tám thức. A-Lại Da hay thức thứ tám được gọi là “Sơ Năng Biến” vì các thức khác đều từ đó mà ra—The initiator of change, or the first power of change, or mutation, i.e. the alaya-vijnana, so called because other vijnanas are derived from it—See A Lại Da Thức in Vietnamese-English Section.
sơ pháp minh đạo
2790西藏語 chos-snaṅ-baḥi-sgo chos-snaṅ-baḥi-tshul-daṅ-po。真言行者證淨菩提心,滅除煩惱業苦,入初地位者,稱為初法明道。又作心明道、初法明門。係行者初發心時,觀照無相之淨菩提心(藏 byaṅ-chub-sems-dpaḥi-sems-rnam-par-dag-paḥi-sgo),覺自心本不生之實相,其心淨住,生大慧光明,普照無量法性,見諸佛所行之道,便得除一切蓋障三昧,見八萬四千煩惱實相,成八萬四千寶聚門。故大日經疏卷一(大三九‧五九○上):「菩薩住此修學,不久勤苦,便得除一切蓋障三昧者,入佛智慧,有無量方便門。今此宗直以淨菩提心為門,若入此門,即是初入一切如來境界;譬如彌勒,開樓閣門內善財童子,是中具見無量不思議事,難以言宣,但入者自知耳。」 又祕藏寶鑰卷下「十住心」之第八如實一道無為心(大七七‧三七一中):「謂無相虛空相,及非青非黃等言,並是明法身真如,一道無為之真理,佛說此名初法明道,智度名入佛道初門。言佛道者,指金剛界宮大曼荼羅佛,於諸顯教,是究竟理智法身;望真言門,是則初門。」此即真言行者得除蓋障三昧,入第十祕密莊嚴住心之初地分證位。〔大日經卷一住心品、守護國界主陀羅尼經卷一、大智度論卷六、祕密漫荼羅十住心論卷八〕
; (初法明道) Tạng: Chos-snaí-ba#i-sgo chossnaí-ba#i-tshul-dan-po. Cũng gọi Tâm minh đạo, Sơ pháp minh môn.Hành giả chân ngôn chứng được tâm bồ đề thanh tịnh, diệt trừ các nghiệp khổ phiền não mà vào địa vị đầu tiên, gọi là Sơ pháp minh đạo. Hành giả lúc mới phát tâm, quán chiếu tâm bồ đề thanh tịnh vô tướng (Tạng: Byaí-chub-sems-dpa#i-sems-rnampar-dag-pa#i-sgo), tự biết thực tướng tâm mình vốn không sinh, tâm ấy thanh tịnh an trụ, phát sinh ánh sáng đại trí tuệ, chiếu khắp vô lượng pháp tính, thấy con đường chư Phật đã đi, liền được tam muội Trừ nhất thiết cái chướng, thấy rõ thực tướng của 8 vạn 4 nghìn phiền não, thành tựu 8 vạn 4 nghìn Bảo tụ môn. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 590 thượng) nói: Bồ tát trụ nơi Bảo tụ môn này, cần khổ tu học, chẳng bao lâu đã chứng được tam muội Trừ nhất thiết cái chướng, nhập vào trí tuệ Phật, có vô lượng môn phương tiện. Nay tông này lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm pháp môn, nếu vào môn này tức là bước đầu đi vào cảnh giới của Như lai, nhưbồ tát Di lặc mở cửa lầu gác, đồng tử Thiện tài liền thấy trong đó vô lượng sự việc không thể nghĩ bàn, khó dùng lời mà diễn tả được, chỉ có người bước vào tự biết mà thôi. Như thực nhất đạo vô vi tâm thứ 8 của Thập trụ tâm trong Bí tạng bảo thược quyển hạ (Đại 77, 371 trung ) nói: Tướng hư không vô tướng, chẳng phải xanh, chẳng phải vàng... đây là nói rõ về chân lí của pháp thân chân như và nhất đạo vô vi mà đức Phật gọi là Sơ pháp minh đạo, luận Đại trí độ gọi là Nhật Phật đạo sơ môn. Phật đạo là chỉ cho Đại mạn đồ la Phật ở cung Kim cương giới; đối với Hiển giáo thì đó là pháp thân Lí trí cứu cánh, trong môn Chân ngôn thì đó là Sơ môn. Đây chính là hành giả chân ngôn đã được tam muội Trừ cái chướng tiến vào giai đoạn phần chứng Sơ địa của Bí mật trang nghiêm trụ tâm thứ 10 vậy. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.1; luận Đại trí độ Q.6; luận Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm Q.8].
sơ phát tâm
The initial determination to seek enlightenment.
; Cái tâm mới phát cầu đạo Bồ Đề—The initial determination to seek enlightenment.
sơ phát tâm thời tiện thành chánh giác
Tần Hoa nghiêm Kinh nói rằng: “Vừa mới phát tâm, liền thành chánh giác, biết rõ chân tánh thật của chư pháp đầy đủ ở tuệ thân, không phải là sự giác ngộ từ những cái khác.”—The Chin dynasty Hua-Yen Ching says: “At the very moment of the initial determination, the novice enters into the status of perfect enlightenment.”
sơ quả
Śrota-apatti-phala (S), First fruit, Śrotanni (S), Sotapanna (P), Quả Nhập lưu, quả Ngịch lưu. Trong 4 quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Quả vị đầu tiên của người bước chân lần đầu vào dòng suối chảy Niết bànXem Tu đà hườn.
; Srotàpanna (S). The initial fruit, or achievement, the stage of Srotàpanna, illusion being discarded and the stream of enlightenment entered.
; Quả dự lưu thứ nhất hay Tu Đà Hoàn, nơi đây mọi phiền não bị đoạn tận đề bước vào dòng giải thoát—The initial fruit or achievement—The stage of Srota-apanna, where illusion being discarded and the stream of enlightenment entered.
sơ quả hướng
The aiming at sơ quả.
; Hướng về quả Tu Đà Hoàn hay Dự Lưu—The aiming at the fruit of Srota-apanna.
sơ quả nhị nghĩa
2789初果,即四沙門果中之須陀洹果,乃斷除欲、色、無色等三界之見惑,預入聖者流類之果位。須陀洹,為梵語 srota-āpanna 之音譯,意譯作預流、逆流。其中之「流」即有「無漏之聖道」與「生死之流」二義,前者即稱為預流,後者即稱為逆流。(1)預流,「預」即「入」之義,謂此聖人得證初果,為入於聖道之流類。(2)逆流,謂初果聖人乃背逆生死之流類。〔北本涅槃經卷三十六、大毘婆沙論卷四十六、俱舍論卷二十三〕
; (初果二義) Chỉ cho quả Tu đà hoàn trong 4 quả Sa môn, người chứng quả này đã dứt trừ kiến hoặc trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà dự vào vòng Thánh nhân. Tu đà hoàn, Phạn: Srota-àpanna, Hán dịch: Dự lưu, Nghịch lưu. Chữ lưu ...ở đây có 2 nghĩa là Dự lưu và Nghịch lưu.1. Dự lưu: Dự nghĩa là vào, tức bậc thánh chứng được Sơ quả là đã nhập vào dòng Thánh đạo. Nghịch lưu: Nghịch nghĩa là ngược, tức bậc thánh Sơ quả đi ngược lại dòng sinh tử. [X. kinh Niết bàn quyển 36 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.46; luận Câu xá Q.23].
sơ sát na thức
The initial ksana, initial consciousness, i.e. the eighth or àlaya-vijnàna, from which arises consciousness.
; Thức thứ tám là sơ thức. Trong sát na đầu tiên chỉ có a lại da thức hay thức thứ tám phát sinh mà thôi—The initial ksana, initial consciounes, i.e the eighth or alaya-vijnana, from which arises consciousness.
sơ sơ
Slightly.
Sơ Sơn Khuông Nhân
(疎山匡仁, Sozan Kyōnin, 837-909): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, còn gọi là Quang Nhân (光仁), người vùng Cam Dương (淦陽), Lô Lăng (廬陵, Tỉnh Giang Tây), họ Lý (李). Ông xuất gia lúc nhỏ, chuyên nghiên tầm kinh luật luận, đã từng tham vấn Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑), v.v., và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Sau đó, ông cũng có đến tham học với Quy Sơn Đại An (潙山大安), và đến năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (中和), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết pháp giáo hóa tại Sơ Sơn (疎山) vùng Lâm Xuyên (臨川), Phủ Châu (撫州, Tỉnh Giang Tây). Vào năm thứ 6 niên hiệu Thiên Hựu (天祐), ông thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi.
sơ sơn quang nhân
Sozan kōnin (J).
Sơ sở duyên 疎所縁
[ja] ソショエン soshoen ||| A term used in Consciousness-only theory to describe the true nature of the object that gives rise to the objective aspect of consciousness. In contrast to qinsuoyuan 親所縁. => Thuật ngữ dùng trong giáo lý Duy thức diễn tả chân tính của vật thể sinh khởi trên phương diện khách quan của thức. Đối nghịch với Thân sở duyên 親所縁.
Sơ thiền
初禪; C: chūchán; J: shozen;|Sơ thiền định (初禪定).
sơ thiền
2792梵語 prathama-dhyāna,巴利語 pathama-jjhāna。新譯作初靜慮。為四禪之一。清淨心中,諸漏不動,是為初禪。具有尋、伺、喜、樂、心一境性等五支。即得八觸、十功德,心能寂靜審慮,感受到離開欲界之惡而生喜、樂,心感喜受,身感樂受,故稱「離生喜樂」,然仍有尋與伺之心理活動,稱為初禪。尋,舊譯作「覺」,為心之粗分別作用;伺,舊譯作「觀」,為心之細分別作用。以得此禪定之人仍有尋、伺作用,故又稱「有覺有觀」。若於現世成就初禪,即得生於色界初禪天之果報。又於此禪定之中,可對治貪恚害尋、苦、憂、犯戒、散亂等五種修道之障難。此外,於初禪定中,以尋、伺之心理活動,故有見、聞、觸之活動,且能起語業;二禪以上則以遠離尋伺之故,不再起語業。〔北本大般涅槃經卷三十三、俱舍論卷二十八、顯揚聖教論卷二、卷十九〕(參閱「四禪」1843)
; Pathama-jhāna (P), Prathama-dhyāna (S)Nền tảng là tâm an trụ.
; The first stage of dhyàna meditation.
; (初禪) Phạn: Prathama-dhyàna. Pàli: Pathama-jjhàna. Dịch mới: Sơ tĩnh lự. Một trong 4 Thiền. Chỉ cho cảnh giới thiền định trong tâm thanh tịnh, các lậu không động, đó là Sơ thiền. Cảnh giới thiền này có đủ 5 chi tầm, tứ, hỉ,lạc và tâm nhất cảnh tính, đạt được 8 xúc, 10 công đức, tâm thường tĩnh lặng thẩm lự, cảm thấy lìa các áccủacõi Dục mà mừng, vui, tâm cảm nhận hỉ thụ, thân cảm nhận lạc thụ, nên gọi là Li sinh hỉ lạc, nhưng vẫn có tâm lí tầm, tứ hoạt động, gọi là Sơ thiền. Tầm, xưa dịch là Giác, là tác dụng thô phân biệt của tâm; Tứ xưa dịch là Quán, là tác dụng tế phân biệt của tâm. Vì người được thiền định này vẫn còn tác dụng tầm, tứ nên cũng gọi là Hữu quán hữu giác. Nếu đời hiện tại thành tựu Sơ thiền, thì được quả báo sinh lên tầng trời Sơ thiền đối trị được 5 loại chướng nạn của việc tu đạo là: Tầm, khổ, ưu (lo), phạm giớivà tán loạn. Ngoài ra, ở trong thiền định này vì còn tâm lí tầm (tìm), tứ (dò xét) nên có các hoạt động như thấy, nghe, xúc chạm, vả lại có thể khởi ngữ nghiệp. [X. kinh Đạibátniết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Câu xá Q.28; luận Hiển dương thánh giáo Q.2, 19]. (xt. Tứ Thiền).
sơ thiền phạm thiên
Devas in the realms of form, who have purged themselves from all sexuality.
; Chư Thiên trong cõi Trời sắc giới, do xa lìa dâm dục mà được thanh tịnh—Devas in the realms of form, who have purged themselves from all sexuality.
sơ thiền thiên
2792為色界四禪天之一。乃修初禪定之人命終後所生之處,或指居於此天之眾生。以此天之眾生已遠離欲界之惡法,而生起喜、樂之感受,故此天又稱為「離生喜樂地」。據俱舍論卷八、卷二十八、順正理論卷二十一載,此天眾生又分為三:(一)大梵天(梵 Mahā-brahman),乃初禪天之王,亦為主宰娑婆世界之大梵王。乃廣善之因緣所生,係最初生而最後歿者,得「中間定」,威德殊勝。⑵梵眾天(梵 Brahma-pāriṣadya),乃大梵所有、所化、所領之眾。⑶梵輔天(梵 Brahma-purohita),即於大梵天之前行列,而為其輔翼之侍衛。又於長阿含經卷二十忉利天品中,除上述三天外另舉出梵身天(梵 Brahma-kāyika),共計為四。此外,有關初禪諸天之依處、身量及壽量等之果報,於長阿含經卷二十、大毘婆沙論卷一三六、俱舍論卷十一、立世阿毘曇論卷三、卷七等皆詳加記載。又以此天乃大梵天所住之世界,故又稱梵界(梵 Brahma-loka),或梵世天。〔瑜伽師地論卷四、大毘婆沙論卷九十八、大智度論卷九〕(參閱「四禪天」1846、「色界」2545)
; Trời Sơ thiền có những tầng trời: - Phạm thân thiên - Phạm chúng thiên - Phạm phụ thiên - Đại Phạm thiên.
; The first of the four dhyàna heavens, corresponding to the first stage of dhyàna meditation.
; Cõi Thiền Thiên thứ nhất trong tứ thiền thiên—The first region, as large as one whole universe. The first of the four dhyana heavens, corresponding to the first stage of dhyana meditation. ** For more information, please see Tứ Thiền, and Tứ Thiền Thiên.
; (初禪天) Một trong 4 trời Thiền cõi Sắc, là nơi sinh đến của những người tu định Sơ thiền sau khi mệnh chung, hoặc chỉ cho chúng sinh sống ở cõi trời này. Vì chúng sinh ở cõi trời này đã xa lìa các pháp xấu ác ở cõi Dục, sinh khởi cảm nhận mừng, vui, nên cõi trời này còn được gọi là Li sinh hỉ lạc địa (nơi lìa ác sinh mừng vui). Cứ theo luận Câu xá quyển 8, 28 và luận Thuận chính lí quyển 21, chúng sinh cõi trời này được chia làm 3 hạng: 1. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman): Vua cõi Sơ thiền, cũng là Đại phạm vương, chúa tể thế giớiSa bà. Đại phạm thiên nhờ có duyên lành rộng lớn mà được sinh ra, là người sinh đầu tiên và chết sau cùng, được định Trung gian, uy đức thù thắng. 2. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya): Chúng trời thuộc quyền sở hữu, giáo hóa và thống lãnh của Phạm thiên. 3. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita): Chúng trời xếp hàng đi trước để phụ giúp và bảo vệ Đại phạm thiên. Trong phẩm Đao lợi thiên kinh Trường a hàm quyển 20, ngoài 3 hạng trên, còn liệt kê,Phạm thân thiên (Phạn: Brahma- kàyika), cộng chung là 4 hạng. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 11 và luận Lập thế a tì đàm quyển 3, 7... còn nói rõ về chỗ ở, thân lượng, thọ lượng... của các chúng trời cõi Sơ thiền. Lại nữa, cõi trời này là thế giới của Đại phạm thiên cư trú, cho nên cũng gọi là Phạm giới (Phạn: Brahma-loka). [X. luận Du già sư địa Q.4; luận Đại tì bà sa Q.98; luận Đại trí độ Q.9]. (xt. Tứ Thiền Thiên, Sắc Giới).
Sơ thiền định
初禪定; C: chū chándìng; J: sho zenjō;|Trạng thái đầu tiên trong Tứ thiền định (四禪定).
sơ thiền định
The first dhyàna, the first degree of dhyàna meditation, which produces rebirth in the first dhyàna heavens.
; Bậc thiền thứ nhất trong bốn bậc thiền định—The first dhyana, the first degree of dhyana, which produces rebirth in the first dhyana heaven. ** For more information, please see Tứ Thiền Định.
Sơ thiền định 初禪定
[ja] ショゼンジョウ sho zenjō ||| The first of the four meditative concentrations 四禪定. => Bậc đầu tiên trong Tứ thiền định四禪定.
Sơ thiền 初禪
[ja] ショゼン shozen ||| See . => Xem Sơ thiền định
sơ thô
Rude—Coarse.
sơ thời giáo
A term of the Pháp tướng tông Dharma-laksana school, the first of the three periods of the Buddha's teaching in which he overcame the ideas of heterodox teachers that the ego is real, and preached the four noble truths and the five skandhas, etc
; Một trong ba thời giáo mà Pháp Tướng Tông đã lập ra, trong giai đoạn nầy Đức Phật cố vượt qua những tà thuyết cho rằng có một cái ngã thực, trong giai đoạn nầy Ngài cũng dạy về Tứ Diệu Đế và Ngũ Uẩn—A term of the Dharmalaksana school, the first of the three periods of the Buddha's teaching, in which he overcame the ideas of heterodox teachers that the ego is real, and preached the four noble truths and the five skandhas, etc.
Sơ Tri
初知; C: chūzhī; J: shochi;|»Biết trước tiên«. Tiếng Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya từ tiếng Phạn. A-nhã Kiêu-trần-như (阿若憍陳如).
Sơ tri 初知
[ja] ショチ shochi ||| "The first to know." A Chinese translation of the name of Ājñāta-kaundinya. See 阿若憍陳如. => "Biết trước tiên". Tiếng Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya từ tiếng Phạn. Xem A-nhã Kiều-trần-như 阿若憍陳如.
sơ triển
2791即禮拜儀式中,展坐具行三拜時之最初一拜。於叢林中,行陳述賀詞或問候之禮時,欲對住持等尊宗師申表尊崇盛意而行三拜,乃初展坐具行第一拜,其時尊宗師往往舉右手作免禮之勢,故有時僅初展坐具而不行禮拜,即收疊坐具開始致語。〔行持軌範卷三坐具作法〕
; (初展) Trong nghi thức lễ bái, khi lễ thì trải (triển) tọa cụ ra và lễ 3 lễ. Sơ triển là trải tọa cụ lễ 1 lễ đầu tiên. Trong tùng lâm, khi làm lễ để bày tỏ lời chúc mừng hoặc xin hỏi điều gì, đối với các bậc tông sư đángtôn kính như Trụ trì... muốn biểu ý rất tôn sùng thì 3 lạy. Nhưng khi trải tọa cụ để lạy 1 lạy đầu thì tôn sư thường khoát tay phải ra dấu miễn lễ, bởi thế có khichỉtrải tọa cụ ra mà không lễ bái, rồi gấp tọa cụ lại để thưa hỏi. [X. điều Tọa cụ tác pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.3].
sơ trung hậu
Ba thời trong ngày—The three divisions of the day, beginning, middle and end.
sơ trung hậu thiện
2788為稱讚經文之詞。有三釋,即:(一)配合身語意三密,即以身密為粗,故配為初善;以意密為細,故配為後善;以語密係引自內心而顯於外者,故配為中善。(二)依戒、定、慧之順次而為初、中、後善。即依準成實論之「捉戒、縛定、殺慧」等順序而配置。(三)配合一部經軌之序分、正宗分、流通分而有此義。據理趣釋卷上所載,初善者,謂一切如來身密,指一切契印、身威儀;中善者,謂一切如來語密,指真言陀羅尼、法王教劫,不可違越;後善者,謂本尊瑜伽,指一切三摩地無量智解脫。
; The Dharma the Buddha preached is always good in the beginning, in the middle, and in the end.
; (初中後善) Từ ngữ khen ngợi kinh văn. Có 3 cách giải thích: 1. Phối hợp 3 mật thân khẩu ý: Vì thân mật là thô nên phối với Sơ thiện; vì ý mật là tế nên phối với Hậu thiện; vì ngữ mật là dẫn từ bên trong biểu hiện ra ngoài nên phối với Trung thiện. 2. Phối hợp giới định tuệ:Tức sự phối hợp y theo thứ tự tróc giới, phược định, sát tuệ nói trong luậnThành thực. 3. Phối hợp 3 phần tựa, chính tông, lưu thông của 1 bộ kinh: Phần tựa là Sơ thiện, phần chính tông là Trung thiện, phần lưu thông là Hậu thiện. Cứ theo Lí thú thích quyển thượng thì Sơ thiện là thân mật của tất cả Như lai, chỉ cho hết thảy ấn khế, thân uy nghi; Trung thiện là mật ngữ của tất cả Như lai, chỉ cho Chân ngôn đà la ni, Pháp vương giáo sắc, không được trái vượt; Hậu thiện là Du già của Bản tôn, chỉ cho tất cả Tam ma địa vô lượng trí giải thoát.
Sơ trụ
tức là Phát tâm trụ, địa vị đầu tiên trong Thập trụ của hàng Bồ Tát. Gồm có: 1. Phát tâm trụ, 2. Trì địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sanh quý trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.
sơ trụ
The first of the ten stages, or resting places, of the Bodhisattva.Trụ is the resting place, or stage for a particular course of development; địa is the position or rank attained by the spiritual characteristics achieved in this place.
; See Sơ Trụ Địa.
sơ trụ địa
Trụ thứ nhất trong thập trụ Bồ Tát—The first of the ten stages or resting places of the bodhisattva. 1) Trụ: The resting-place or stage for a particular course of development. 2) Địa: The position or rank attained by the spiritual characteristics achieved in this place.
Sơ tu quán Bồ Tát
初修觀菩薩; C: chūxiūguān púsà; J: sho-shukan bosatsu;|Bồ Tát vừa mới phát tâm (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Sơ tu quán Bồ-tát. 初修觀菩薩
[ja] ショシュカンボサツ shoshukan bosatsu ||| Novice bodhisattvas. 〔攝大乘論 T 1593.31.117a24〕 => Bồ-tát vừa mới phát tâm. Theo Nhiếp Đại thừa Luận 攝大乘論
sơ tuần
Mười ngày đầu trong tháng hay 10 năm đầu của thế kỷ—The first ten day (or decade) of the month.
sơ tâm
2789梵語 nava-yāna-saṃprasthita。全稱初發意、初發心、新發意、新發心。指初發心求菩提道而未有深行者。首楞嚴經卷一(大一九‧一○六中):「復有無量辟支無學並其初心,同來佛所。」(參閱「新發意」5468)
; Nava-yāna-samprasthita (S).
; The initial resolve or mind of the novice.
; Cái tâm mới phát của người mới tu tập (chưa qua thực hành sâu sắc)—First intention or the initial resolve or mind of the novice.
; (初心) Phạn: Nava-yàna-saôprasthita. Gọi đủ: Sơ phát tâm, Sơ phát ý. Chỉ cho người mới phát tâm cầu đạo bồ đề. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Lại có vô lượng Bích chi vô học và những sơ tâm đều đến chỗ Phật. (xt. Tâm Phát Ý).
sơ tâm ngộ đạo
Newly awakened mind.
sơ tăng kỳ
The first of the three asamkhyeya or incalculable kalpas.
; Kiếp thứ nhất trong 3 a tăng kỳ kiếp—The first of the three assamkhyeya or incalculable kalpas.
Sơ tĩnh lự
初靜慮; C: chūjìnglǜ; J: shojōryo;|Sơ thiền. Sơ thiền định (初禪定).
Sơ tĩnh lự 初靜慮
[ja] ショジョウリョ shojōryo ||| The first concentration. See chuchanding 初禪定. => Sơ thiền. Xem Sơ thiền định初禪定.
sơ tổ
First ancestor—First Patriarch.
sơ tổ am
2791位於河南登封縣北少室山北麓少林寺西北五乳峰下。現僅存一殿、兩亭及千佛閣等。大殿建於北宋宣和七年(1125),殿內石柱上彫刻武士、遊龍、舞鳳、飛天、群鶴鬧蓮、孔雀穿花等,栩栩如生。大殿東南有古柏一株,相傳為唐初禪宗六祖慧能所植。附近保存有黃庭堅、蔡卞所寫石刻四十餘品。
; (初祖庵) Am ở dưới ngọn Ngũ nhũ, phía tây bắc chùa Thiếu lâm, chân núi phía bắc núi Thiếu thất, mạn bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Hiện chỉ còn 1 điện, 2 đình và gác Thiên Phật. Đại điện được xây cất vào năm Tuyên hòa thứ 7 (1125) đời Bắc Tống, trên các trụ đá ở trong điện chạm trổ hình võ sĩ, rồng bay, phượng múa, phi thiên, đàn hạc đùa với hoa sen, chim công xuyên hoa... trông rất sống động như thật. Phía đông nam Đại điện có 1 cây bách cổ, tương truyền do Lục tổ Tuệ năng trồng. Hiện nay, ở gần am này, người ta còn bảo tồn được hơn 40 di hẩm khắc trên đá, chữ do các ông Hoàng đình kiên và Thái biện viết.
sơ vị
The initial stage on the road to enlightenment.
; Địa vị thứ nhất của hành vị tam thừa trên đường đi đến giác ngộ—The initial stage on the road to enlightenment.
sơ xuất
Careless.
sơ ý
Negligent—Careless.
sơ đàn
2791受具足戒之過程中,最初受沙彌戒,次受比丘戒,末受菩薩戒,其中,最初受沙彌戒即稱為初壇,依序為二壇、三壇。黃檗清規梵行章卷五(大八二‧七七○中):「今於(某)省(某)府(某)山(某)禪寺建壇說戒,初壇于本年本月初三日授沙彌戒,次壇于本月初六日授比丘戒,三壇于本月初八日授菩薩戒。」
; (初壇) Trong thủ tục thụ giới Cụ túc, đầu tiên thụ giới Sa di, kế đến thụ giới Tỉ khưu, sau cùng thụ giới Bồ tát. Trong đó, đầu tiên thụ giới Sa di gọi là Sơ đàn, sau đó, Tượng đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên theo thứ tự là Nhị đàn, Tam đàn. Chương Phạm hạnh Hoàng bá thanh qui quyển 5 (Đại 82, 770 trung) nói: Hôm nay ở tại chùa... thuộc núi... phủ... tỉnh... kiến đàn thuyết giới, Sơ đàn vào ngày mồng 3 tháng... năm... truyền giới Sa di, Nhị đàn vào ngày 6 tháng... năm... truyền giới Tỉ khưu, Tam đàn vào ngày mồng 8 tháng... năm... truyền giới Bồ tát.
sơ đẳng
Elementary.
Sơ địa
địa vị đầu tiên trong Thập địa, cũng gọi là Hoan hỷ địa (Pramuditbhmi). Đạt đến địa vị này, Bồ Tát được hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi, không còn nghĩ riêng đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí không cầu phước đức, chứng được tính vô ngã của tất cả các pháp. Xem Mười địa vị.
; 初地; C: chūdì; J: shoji;|Giai vị đầu tiên trong Thập địa.
sơ địa
Xem Cực hỷ địa.
; The first of the thập địa ten Bodhisattva stages to perfect enlightenment and nirvàna.
; Địa vị thứ nhất trong thập địa đi đến toàn giác và niết bàn—The first stage of the ten bodhisattva stages to perfect enlightenment and nirvana.
sơ địa dĩ thượng
The stages above the initial stage of a Bodhisatva's development.
Sơ địa 初地
[ja] ショジ shoji ||| The first of the ten bhūmis. => Giai vị đầu tiên trong Thập địa.
Sơ 初
[ja] ショ sho ||| (1) Commencement, inception; the beginning, the opening, the start, the outset (adaya, adi). (2) The inception of the arousal of the mind of faith. (3) The first of the ten abidings (十住). (4) The beginning of entry into religious practice. => Có các nghĩa sau: 1. Sự bắt đầu, ban đầu, sự khai mạc, lúc đầu, sự khởi đầu (s: adaya, adi) . 2. Sự phát khởi niềm tin ban đầu. 3. Giai vị đầu tiên trong Thập trú (Phát tâm trú.)
Sơ 疎
[ja] ソ so ||| (1) Penetrate, pierce, pass through. (2) Distant, estranged, alienated. To distance oneself from, neglect, shun. (3) Rough, wild, sparse, sporadic. => 1. Thấm vào, xuyên qua, đi qua. 2. Lạnh nhạt, làm cho xa lạ. Xa lánh, thờ ơ, lảng xa. 3. Sơ sài, hoang dại, thưa thớt, rời rạc.
sơn
A hill, mountain; a monastery.
; 1) Ngọn đồi: Hill. 2) Ngọn núi: Mountain. 3) Sơn: To paint. 4) Tịnh xá: Monastery.
sơn am tạp lục
953凡二卷。明代僧無慍編於洪武年間。收於卍續藏第一四八冊。本書內容採自羅湖野錄、雲臥紀譚、叢林公論、禪林寶訓、諸傳燈錄等,及當時江湖參學之見聞,並對若干誤傳重加考據。卷上收錄自定水寶月和尚至無象易和尚,計七十餘條;卷下收錄自湖州僧淨至檀主德顒,計六十餘條,皆為近古名德之拈提及嘉言懿行。
; (山庵雜錄) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Vô uẩn soạn vào khoảng năm Hồng vũ đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này thu chép hành trạng của các bậc tôn túc danh đức từ các sách La hồ dã lục, Vân ngọa kỉ đàm, Tùng lâm công luận, Thiền lâm bảo huấn, Chư truyền đăng lục và sự thấy nghe của các vị hành cước tham học đương thời. Đối với những truyện có sự nhầm lẫn thì soạn giả khảo xét lại những chứng cứ để sửa chữa lại cho rõ hơn. Quyển thượng thu chép từ Hòa thượng Định Thủy Bảo Nguyệt đến Hòa thượng Vô Tượng Vị, gồm hơn 70 điều. Quyển hạ thu chép từ ngài Hồ Châu Tăng Tịnh đến ngài Đàn Chủ Đức Ngung, gồm hơn 60 điều. Tất cả đều là những niêm đề và lời hay hạnh đẹp của các bậc danh đức trong Thiền lâm thời cận cổ.
sơn biên tập học
955(1882~1944)日本真宗大谷派學僧。山形縣(羽前)人。真宗大學畢業後,赴南洋視察宗教狀況,爾後四年留學印度、英國。返國後,設立佛教文化協會,作 隻繸衎銩Q普及運動與養成人才之機關。歷任真宗大谷大學教授、圖書館長、校長等職。院號稱三昧院。著有仏弟子傳、仏教に於ける地獄の新研究、仏教文學、仏教精要、日本文化と仏教,另編有聖典物語、教行信證講義三卷、英譯三帖和讚、新譯仏教聖典等。
; (山邊習學) (1882-1944) Danh tăng Nhật bản thuộc phái Đại cốc Chân tông, người huyện Sơn Hình. Sau khi tốt nghiệp Đại học Chân tông, sư đến Nam dương quan sát tình hình các tôn giáo. Sau đó, sư du học Ấn độ, Anh quốc trong 4 năm. Khi trở về nước, sư lập Hiệp hội Văn hóa Phật giáo làm cơ quan phổ biến tư tưởng Phật giáo, vận động đào tạo nhân tài. Sư lần lượt giữ các chức Giáo sư Đại học Đại cốc Chân tông, Thư viện trưởng... Sư có các tác phẩm: Phật đệ tử truyện, Phật giáo văn học, Phật giáo tinh yếu, Nhật bản văn hóa dữ Phật giáo, Thánh điển vật ngữ, Giáo hành tín chứng giảng nghĩa 3 quyển, Tân dịch Phật giáo thánh điển.
sơn bản khoái long
946(1893~1948)日本佛教學者。新潟縣人。東京大學印度哲學科畢業。歷任大正大學、智山學院、東京大學、慶應大學教授、東亞學研究室主任、印度佛教學研究室主任。享年五十六。
sơn chủ
946即一山之主,乃一寺住持之尊稱。景德傳燈錄卷二十四之撫州龍濟山主紹修禪師、天聖廣燈錄卷二十八之杭州南山資國圓進山主、續傳燈錄卷十一之真州定山惟素山主等均是其例。蓋寺院原多建於山林之間,寺稱山號,故住持稱山主。又書院之山長,亦稱山主。此外,亦稱禪林大寺院之上座為山主。〔禪林象器箋稱呼門〕
; (山主) Vị chủ của 1 sơn môn, là tiếng tôn xưng vị Trụ trì 1 ngôi chùa. Vì chùa viện phần nhiều được xây cất trong rừng núi, tên chùa lấy hiệu núi, cho nên vị Trụ trì gọi là Sơn chủ. Sơn trưởng của Thư viện cũng gọi là Sơn chủ. Ngoài ra, vị Thượng tọa của chùa viện lớn trong Thiền lâm cũng được gọi là Sơn chủ. [X. môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
sơn cân
945指測度須彌山之斤兩;用以比喻佛之壽命難量。釋門正統卷四(卍續一三○‧四○○上):「釋尊長壽,雖山斤、海滴、地塵、空界,亦不可比。」〔金光明經壽量品〕
; Cân dùng để cân núi Tu Di, dùng để ví với thọ mệnh của Đức Phật khó thể nghĩ lường (núi Tu Di còn có thể cân lạng, nhưng thọ mạng của Đức Như Lai không thể nghĩ bàn)—The weight of a mountain, or of Sumeru—May be more readily ascertained than the eternity of the Buddha.
; (山斤) Chỉ cho trọng lượng của núi Tu di, ví dụ tuổi thọ vô lượng của Phật. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 400 thượng) nói: Thọ lượng của đức Thích tôn rất lâu dài, cho dù trọng lượng của núi, giọt nước của biển, hạt bụi của đất, cõi hư không, cũng không thể sánh được. [X. phẩm Thọ lượng kinh Kim quang minh].
Sơn Danh
(山名, Yamana): tên của một dòng họ thuộc hàng Chiến Quốc Đại Danh, một trong 4 dòng họ quan chức nổi tiếng của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Con của Tân Điền Nghĩa Trọng (新田義重, Nitta Yoshishige) là Nghĩa Phạm (義範, Yoshinori) đến sống ở vùng Sơn Danh, Thượng Châu và trở thành Tổ khai công của dòng họ này.
Sơn Danh Tông Toàn
(山名宗全, Yamana Sōzen, 1404-1473): vị Võ Tướng sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh; húy là Trì Phong (持豐); Tông Toàn (宗全) là tên sau khi xuất gia; biệt danh là Tiểu Thứ Lang (小次郎), Tông Toàn Nhập Đạo (宗全入道), Xích Nhập Đạo (赤入道); giới danh là Đạt Ma Viện Điện Tối Cao Tông Phong Đại Cư Sĩ (達碧院殿最高宗峰大居士); thân phụ là Sơn Danh Thời Hy (山名時煕, Yamana Tokihiro), thân mẫu là con gái của Võ Tướng Sơn Danh Sư Nghĩa (山名師義, Yamana Moroyoshi). Trong vụ Loạn Gia Cát ông được Xích Từng Mãn Hựu (赤松滿祐, Akamatsu Mitsusuke) mến mộ, cả gia tộc đến giữ chức quan Thủ Hộ của 8 tiểu quốc. Sau đó ông kết thân với Tế Xuyên Thắng Nguyên (細川勝元, Hosokawa Katsumoto), rồi nhân việc người vợ của Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政, Ashikaga Yoshimasa) là Nhật Dã Phú Tử (日野富子, Hino Tomiko) tín nhiệm người con là Túc Lợi Nghĩa Thượng (足利義尚, Ashikaga Yoshihisa), ông sinh ra đối kháng với Tế Xuyên Thắng Nguyên và tạo nên vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂). Trong khi chiến loạn thì ông chết giữa trận mạc.
sơn gia
948即指住於山中之師主或其門徒。在我國,天台宗之智顗大師久住天台山,天台宗之四明知禮久住四明山,各於所住之山演布法義,高唱天台之學,故皆稱為山家。又如山家義苑、山家緒餘集、山家教典志等諸書中之「山家」一詞即指天台宗或天台家。 在日本,山家一詞,特指日本天台宗之開祖最澄,此外亦泛指比叡山一派之門風。例如最澄有「山家大師」之稱,天台法華宗年分學生式又稱山家學生式,合壇灌頂記又稱山家灌頂記,天台法華宗傳法偈又稱山家傳法偈,圓頓菩薩戒又稱山家律。
; Thậm phái hay hệ phái giảng sâu về tông Thiên Thai, được phát triển bởi Tứ Minh—The “mountain school,” the profounder interpretation of T'ien-T'ai doctrines developed by Shu-Ming—For more information, please see Sơn Ngoại Tông.
; (山家) Chỉ cho sư chủ hoặc môn đồ của ngài trụ ở trong núi. Tại Trung quốc, Đại sư Trí khải của tông Thiên thai trụ trong núi Thiên thai khá lâu, ngài Tứminh Tri lễ thuộc tông Thiên thai thì trụ rất lâu trong núi Tứ minh, các ngài đều ở trong núi diễn nói pháp nghĩa, đề xướng học thuyết tông Thiên thai, cho nên đều gọi là Sơn gia. Lại như trong các sách Sơn gia nghĩa uyển, Sơn gia tự dư tập, Sơn gia giáo điển chí... từ Sơn gia là chỉ cho tông Thiên thai hoặc các nhà Thiên thai. Ở Nhật bản, từ Sơn gia đặc biệt chỉ cho ngài Tối trừng – Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản, đồng thời, cũng được sử dụng để chỉ chung cho môn phái núi Tỉ duệ, như ngài Tối trừng có danh xưng Sơn gia Đại sư, các tác phẩm Thiên thai Pháp hoa tông niên phần học sinh thức gọi là Sơn gia học sinh thức, Hợp đàn quán đính kí gọi là Sơn gia quán đính kí, Thiên thai Pháp hoa tông truyền pháp kệ, gọi là Sơn gia truyền pháp kệ, Viên đốn Bồ tát giới gọi là Sơn gia luật...
sơn gia học sinh thức
951全一卷。日僧最澄撰。係培養山家(即天台宗)學生之制度法典。今收於大正藏第七十四冊。計分天台法華宗年分學生式(六條式)、勸獎天台宗年分學生式(八條式)、天台法華宗年分度者回小向大式(四條式)等三部。對日本南都舊佛教而言,本書明確地舉出天台宗之修行規定,乃依據大乘戒而宣告一宗獨立之重要宗典。
; (山家學生式) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tối trừng, vị cao tăng Nhật bản soạn, được thu vào Đại chínhtạng tập 74. Nội dung sách này chia làm 3 phần: - Thiên thai Pháp hoa tông niên phần học sinh thức (gồm 6 điều). - Khuyến tưởng Thiên thai tông niên phần học sinh thức (gồm 8 điều). - Thiên thai Pháp hoa tông niên phần độ giả hồi tiểu hướng đại thức (gồm 4 điều). Đối với Phật giáo ở Nam đô, Nhật bản, thì sách này minh xác qui địnhtu hành của tông Thiên thai và là 1 tác phẩm trọng yếu y cứ vào giới Đại thừa để quyết định chủ trương độc lập của 1 tông phái.
sơn gia nghĩa uyển
949凡二卷。宋代天台宗僧可觀(1092~1182)撰。收於卍續藏第一○一冊。本書旨在祖述天台宗山家派四明知禮門下之南屏派,並論述天台宗之要義。內容計有,卷上:雙游義、金錍義十篇、十不二門中總別義、辨岳師三千書。卷下:部教義、定教義、受戒普說、議蘭盆五章、初燄正義、料簡借別名通等。全書除闡釋天台教判之外,亦論及觀無量壽經中「五逆謗法」之義、梵網戒疏中之受戒要義,此外對宋代天台宗山家山外之爭論,就佛身常住說、佛性說、事理三千說等問題,而評述四明知禮、淨覺仁岳、孤山智圓等諸師之見解。為有關宋代天台宗之重要論典。(參閱「山家山外」949)
; (山家義苑) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Khả quán (1092-1182) tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 101. Mục đích sách này nói về phái Nam bình, môn hạ của ngàiTứ minh Tri lễ thuộc pháiSơn gia tông Thiên thai, đồng thời trình bày về nghĩa trọng yếu của tông Thiên thai. Nội dung gồm: - Quyển thượng: Song du nghĩa, Kim Ti nghĩa 10 thiên, Thập bất nhị môn trung tổng biệt nghĩa, Biện nhạc sư tam thiên thư. - Quyển hạ: Bộ giáo nghĩa, Định giáo nghĩa, Thụ giới phổ thuyết, Nghị lan bồn 5 chương, Sơ diệm chính nghĩa, Liệu giản tá biệt danh thông. Ngoài việc giải thích rõ về giáo phán của tông Thiên thai, sách này còn bàn đến nghĩa Ngũ nghịch báng pháp trong kinh QuánVô lượng thọ, yếu nghĩa thụ giới trong Phạm Võng giới sớ. Ngoài ra, đối với các cuộc tranh luận về các vấn đề như Phật thân thường trụ thuyết, Phật tính thuyết, Lí sự tam thiên thuyết... giữa phái Sơn gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai đời Tống, sách này cũng có bình luận về quan điểm của các ngài Tứ minhTri lễ, Tịnh giác Nhân nhạc, Cô sơn Trí viên... về những vấn đề trên. Đây là tư liệutrọng yếuliên quan đến tông Thiên thai đời Tống. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại).
sơn gia quán tâm dị luận quyết
951凡二卷。日本天台宗僧真迢(?~1659)撰。本書詳述宋朝天台宗山家、山外二說之異論。內容計分:事理即具、心法觀體、觀境真妄、三千總別、三諦明體等五篇。(參閱「山家山外」949)
; (山家觀心異論决) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Chân điêu (?-1659) thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Sách này trình bày về 2 luận thuyết khác nhau của pháiSơn gia và Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Tống, Trung quốc. Nội dung chia làm 5 thiên: Sự lí tức cụ, Tâm pháp quán thể, Quán cảnh chân vọng, Tam thiên tổng biệt và Tam đế minh thể.(xt. Sơn Gia Sơn Ngoại).
sơn gia sơn ngoại
948指我國天台宗之山家派與山外派。即北宋初年,以四明知禮等為主之天台正統派,是為山家派;對此,而貶稱慶昭、智圓等之錢塘派為山外派。由於唐末天下戰亂頻仍,天台宗之典籍大多散佚,其後又自朝鮮、日本逆輸回有關之天台典籍,乃造成九、十世紀天台學復興之盛況,然由於對原籍看法不一,遂導致觀點之岐異,久之乃有山家、山外之對峙。兩派之對抗,起於對天台宗智顗大師之金光明經玄義廣略二本真偽問題之論爭,廣本有「觀心釋」一章,略本則無。兩派之分裂,肇始於五代之末,其時天台宗第十一祖高論清竦之門下有螺溪義寂、浙江志因,志因之弟子為慈光晤恩。晤恩之弟子有奉先源清、靈光洪敏,源清之弟子有梵天慶昭、孤山智圓,慶昭復有永福咸潤、永嘉繼齊等弟子。此即山外派之系統。而於山家派,義寂之門下有寶雲義通、國清宗昱,義通之弟子有四明知禮、慈雲遵式、寶山善信。知禮復有廣智尚賢、神照本如、興教梵臻、廣慈慧才、淨覺仁岳等弟子。如左表所示: 兩派之筆戰波瀾,先是山外派之晤恩作「發揮記」一書,以「觀心釋」乃後人附加,而專解釋略本,其門弟源清、洪敏亦造難詞二十條,同奉此說,否定廣本之觀心釋。時有善信者,致書四明知禮,請其撰文對評二十條難詞,知禮乃作「扶宗釋難」,指摘二十條難詞之說。源清門下二傑慶昭、智圓合作「辨訛」一書,以扶助「發揮記」。知禮又撰「問疑書」以詰「辨訛」之說,慶昭亦以「答疑書」回覆之。知禮更作「詰難書」,慶昭則著「五義書」轉申其意。知禮又以「問疑書」責難之,踰年未獲答書,知禮乃以「覆問書」催促之,慶昭於是撰「釋難記」以為解說。如此返復五回,其間共歷七年。景德三年(1006),知禮綜括前後十度往返論文之文義,而作「十義書」。翌年,慶昭亦作「答十義書」以對抗之,知禮更撰「觀心二百問」反詰之,又十餘年,智圓撰「光明玄表微記」,復以「四難」,否認廣本之「觀心釋」。翌年,知禮作「光明玄拾遺記」,論破智圓之說。自晤恩否認廣本,至知禮論破「四難」,前後四十年,其間之諍議論點雖多分岐,然其主題乃在就觀心之境而諍其真妄。 山家派主張「妄心觀」,謂觀心目的在轉凡心而實現理心,應修圓觀之直接對象為日常起滅之剎那心,真性理心本非對象性之物,故不為觀察之對象,能成對象者只有無明妄心,即此妄心,方能觀三諦之妙理。山外派則主張「真心觀」,謂觀道之要點在依妙解而定妙行,妙解乃理解圓融三諦三千之圓理,妙行是實行圓妙之三觀;由妙解而得妙行,即無真妄之別,亦即依妙解而得實相三諦之理心,須視此一理心為觀法之直接對象,此理心(一心、一念)並非妄心妄念之一心,乃靈知自性,是不思議境。以上之論諍,自哲學觀點言之,可謂是「山家實相論」與「山外唯心論」之爭。 山外派唯心論顯已從天台「性具說」脫離出來,趨近華嚴,作為此媒介者,為大乘起信論。山外以起信論為唯圓之思想,山家則以之為別圓二教之思想,故知禮於十不二門指要鈔中,立華嚴為別教,主張「別理隨緣」,山外則反對此說。此外,就智顗之請觀音經疏所說「理性毒害」問題,知禮、智圓之間亦有論諍。智圓作「闡義鈔」,主張「理毒」應消伏,故理毒乃可斷而非性惡;知禮即作「釋消伏三用章」、「十九問」,提出「理毒即性惡」論,謂性惡可斷。故知智圓係僅就圓教上立論,知禮則就別圓二教而說。其後慶昭之門人咸潤撰「籤疑」駁斥知禮,知禮之門人淨覺則著「止疑」反駁之。又關於觀經疏妙宗鈔所說之「色具心具」說,兩派主張亦異。「妙宗鈔」乃知禮所撰,其內主張心法與色法同體,皆具有三千,皆為能造能具之總體;山外派之咸潤則作「指瑕」反對知禮之說,主張心法與色法互異,心法具有三千,為能造能具之總體,而色法不然,僅為所造所具之體。淨覺乃撰「抉膜」以駁斥咸潤。另就「三千之有相無相」,兩派亦各執一端,山家派主張理事一體,無論理造之三千或事造之三千,皆為「有相」,並有差別現象;山外派則認為理具之三千乃平等而無相,事造之三千始為「有相」,並有差別現象。 自五代末年,山家派計有義寂、義通、諦觀、遵式、知禮、宗昱、尚賢、本如、梵臻、慧才、仁岳等人;山外派則有志因、晤恩、源清、智圓、慶昭、咸潤、繼齊等人。然知禮門下之淨覺仁岳,與知禮之法孫神智從義等人,其後又就「觀心觀佛」之觀點,與知禮衝突,而辭其座下,另創新說,時人稱為「後山外」,又稱「雜傳派」;為別於「後山外」,乃將上記所舉之源清、慶昭等之山外派稱為「前山外」。〔四明十義書、四明尊者教行錄卷二、卷三、山家緒餘集卷下、釋門正統卷五、佛祖統紀卷八、卷十四、天台教學史第四章(慧嶽)、宋代天台教理史(李世傑)〕(參閱「後山外」3802)
; (山家山外) Chỉ cho phái Sơn Gia và phái Sơn Ngoại thuộc tông Thiên thai Trung quốc. Vào những năm đầu đời Bắc Tống, tông Thiên thai bị chia làm 2 phái, phái được xem là Thiên thai chính thống do ngài TứminhTri lễ đứng đầu, gọi là phái Sơn gia; đối lại, phái Tiền đường của các ngài Khánh chiêu, Trí viên... không được xem là chính thống thì gọi là phái Sơn ngoại. Vào cuối đờiĐường, Trung quốc rơi vào trạng huống loạn lạc liên miên, sách vở của tông Thiên thai phần nhiều bị thất lạc, về sau, những sách vở ấy được mang về từ Triều tiên, Nhật bản tạo nên tình hình phục hưng học thuyết Thiên thai ở thế kỉ IX, X. Nhưng do cách nhìn khác nhau đối với sách cũ đã dẫn đến tình trạng chia rẽ về quan điểm, lâu dần trở thành 2 phái Sơn Gia và Sơn Ngoại đối lập nhau. Nguyên nhân bắt đầu từ cuộc tranh luận về vấn đề thật giả giữa Lược bản và Quảng bản Kim quang minh kinh huyền nghĩa củaĐại sư Trí Khải, vì Quảng Bản có 1 chương Quán tâm thích, còn Lược bản thì không. Hai phái thựcsự phân hóa vào cuối đời Ngũ đại. Bấy giờ, môn hạ của ngài Cao luận Thanh tủng – Tổ thứ 11 tông Thiên thai –có các vị Nghĩa tịch ở Loa Khê, Chí Nhân ở Chiết Giang. Đệ tử ngài Chí Nhân là Ngộ Ân ở Từ quang. Đệ tử ngài Ngộ Ân có Nguyên Thanh ở Phụng Tiên, Hồng Mẫn ở Linh Quang. Đệ tử ngài Nguyên Thanh có Khánh Chiêu ở Phạm Thiên, Trí Viên ở Cô Sơn. Đệ tử ngài Khánh Chiêu có Hàm Nhuận ở Vĩnh Phúc, Kế Tề ở Vĩnh Gia... Đó là hệ thống phái Sơn ngoại. Còn về hệ thống phái Sơn gia thì đệ tử ngài Nghĩa Tịch có Nghĩa Thông ở Bảo Vân, Tông dục ở Quốc Thanh. Đệ tử ngài Nghĩa Thông có Tri Lễ ở Tứ Minh, Tuân Thức ở Từ Vân, Thiện Tín ở Bảo Sơn. Ngài Tri Lễ lại có các đệ tử là Quảng Trí Thượng Hiền, Thần chiếu Bản Như, Hưng giáo Phạm Trăn, Quảng Từ Tuệ Tài, Tịnh Giác Nhân Nhạc, như đồ biểu sau đây: Cuộc bút chiến sôi nổi diễn ra giữa 2 phái, bắt đầu là ngài Ngộ Ân phái Sơn ngoại viết Phát huy kí cho rằng Quán tâm thích là do người đời sau thêm vào và chỉ giải thích Lược bản thôi. Môn đệ của ngài Ngộ Ân là các vị Nguyên Thanh, Hồng Mẫn nêu ra 20 câu hỏi và cũng theo chủ trương của ngài Ngộ ân, phủ định Quán tâm thích trong Quảng bản. Bấy giờ, có người thiện tín viết thư đến xin ngài Tứ minh Tri lễ soạn văn đáp lại 20 câu hỏi của các vị Nguyên thanh, Hồng mẫn. Do đó, ngài Tri lễ mới soạnPhù tông thích nạn chỉ trích 20 câu hỏi. Các vị đệ tử của ngài Nguyên thanh là Khánh chiêu và Trí viên cùng nhau soạn Biện ngoa để hỗ trợ Phát huy kí của thầy mình. Ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi thư để vặn lại Biện ngoa, ngài Khánh chiêu cũng viết Đáp nghi thư để trả lời. Ngài Tri lễ lại viết Cật nạn thư, ngài Khánh chiêu thì soạn Ngũ nghĩa thư để trình bày thêm ý của mình, ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi thư gạn hỏi, qua năm vẫn chưa nhận được thư đáp nên ngàiTri lễ lại gửiPhúc vấn thư để thúc dục, ngài Khánh chiêu liền soạn Thích nạn kí trả lời. Cứ như thế hỏi qua đáp lại 5 lần, suốt thời gian 7 năm. Năm Cảnh đức thứ 3 (1006), ngài Tri lễ tổng hợp văn nghĩa các luận văn qua lại giữa 2 bên trước sau 10 lần mà soạn thành Thậpnghĩathư. Năm sau, ngài Khánh chiêu cũng soạn Đáp thập nghĩa thư, để đối kháng, ngài Trilễ lại soạn Quán tâm nhị bách vấn để gạn hỏi. Hơn 10 năm sau, ngài Trí viên soạn Quang minh huyền biểu vi kí, lại dùng Tứ nạn phủ nhận Quán tâm thích trong Quảng bản. Năm sau, ngài Tri lễ soạn Quang minh huyền thập di kí, luận phá thuyết của ngài Trí viên. Từ khi ngài Ngộ Ân phủ nhận Quảng Bản cho đến khi ngài Tri Lễ Luận Phá Tứ Nạn, tổng cộng là 40 năm. Thời gian tranh cãi tuy có nhiều luận điểm, nhưng rốt cuộc thìchủ đề chính yếu vẫn là tranh luận về sự chân, vọng của cảnh giới quán tâm. Phái Sơn Gia chủ trương Vọng tâm quán, nghĩa là mục đích quán xét tâm là nhằm chuyển phàm tâm để thực hiện lí tâm, cho nên phải lấy tâm sát na sinh diệt hằng ngày làm đối tượng trực tiếp, chứ lí tâm chân tính vốn chẳng phải là cái có tính đối tượng, do đó, nó không là đối tượng để quán xét, mà chỉ có cái vọng tâm vô minh là đối tượng, vì chính vọng tâm này mới có thể quán xét diệu lí của 3 đế.Trái lại, phái Sơn ngoại thì chủ trương Chân tâm quán, nghĩa làđiểmcốt yếu của pháp tu quán là nương vào diệu giải để định diệu hạnh; diệu giải là hiểu rõ lí tam đế tam thiên viên dung, diệu hạnh là thực hành tam quán viên diệu. Nhờ diệu giải mà được diệu hạnh, tức không còn chân vọng khác nhau, cũng tức là nương vào diệu giải mà được lí tâm của thực tướng tam đế. Do đó, phải xem lí tâm này là đối tượng trực tiếp của quán pháp, lí tâm này (nhất tâm, nhất niệm) chẳng phải là nhất tâm của vọng tâm, vọng niệm, mà là cái tự tính linh tri, là cảnh giới bất khả tư nghị.Đứng trên quan điểm triết học mà nhận xét thì có thể nói sự tranh luận trên có thể được xem là cuộc tranh luận giữa Sơn gia thực tướng luận và Sơn ngoại duy tâm luận. Duy tâm luận của phái Sơn ngoại hiển nhiên đã bắt nguồn từ thuyết Tính cụ của tông Thiên thai, xích lại gần với lập trường tư tưởng Hoa nghiêm mà môi giới là luận Đại thừa khởi tín. Phái Sơn ngoại lấy luận Khởi tín làm tư tưởng Duy viên, phái Sơn gia thì lấy đó làm tư tưởng Biệt giáo và Viên giáo, cho nên trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao, ngài Tri lễ lập Hoa nghiêm làm Biệt giáo, chủ trương Biệt lí tùy duyên, bị phái Sơn ngoại phản đối.Ngoài ra, về vấn đề Lí tính độc hại nói trong Thỉnh quan âm kinh sớ của ngài Trí khải, giữa ngài Tri lễ và ngài Trí viên cũng có tranh luận. Ngài Trí viên soạn Xiển nghĩa sao, chủ trương lí độc phải tiêu phục, cho nên lí độc là có thể đoạn chớ không phải tính ác. Ngài Tri lễ liền soạn Thích tiêu độc tam dụng chương, Thập cửu, đề ra luận thuyết Lí độc tức tính ác nghĩa là tính ác có thể đoạn. Do đó mà biết ngài Trí viên chỉ đứng trên lập trường của Viên giáo mà lập luận, còn ngài Tri lễ thì đứng trên lập trường của Biệt giáo và Viên giáo mà lập thuyết. Về sau, đệ tử của ngài Khánh chiêu là Hàm nhuận soạn Tiêm nghi bài xích ngài Tri lễ, học trò ngài Tri lễ thì soạn Chỉ nghi để phản bác.Ngoài ra, về thuyết Sắc cụ tâm cụ nói trong Quán kinh sớ diệu tông sao, 2 phái cũng chủ trương khác nhau. Diệu tông sao là tác phẩm của ngài Tri lễ, trong đó tác giả chủ trương tâm pháp và sắc pháp là đồng thể, đều có đủ tam thiên, đều là tổng thể năng tạo năng cụ. Ngài Hàm nhuận thì soạn Chỉ hà phản đối thuyết của ngài Tri lễ, chủ trương tâm pháp và sắc pháp khác nhau, tâm pháp có đủ tam thiên, là tổng thể năng tạo năng cụ, nhưng sắc pháp thì không thế, mà chỉ là thể sở tạo sở cụ mà thôi. Ngài Tịnh giác liền soạn Quyết mô để bài xích ngài Hàm nhuận. Về hữu tướng vô tướng của tam thiên 2 phái cũng đều chấp 1 mối. Phái Sơn gia chủ trương lí sự nhất thể, bất luận là tam thiên lí tạo hay tam thiên sự tạo đều là hữu tướng, đồng thời có hiện tượng sai biệt. Phái Sơn ngoại thì cho rằng tam thiên lí cụ là bình đẳng vô tướng, còn tam thiên sự tạo mới là hữu tướng và có hiện tượng sai biệt. Từ những năm cuối đời Ngũ đại, phái Sơn gia gồm có các vị: Nghĩa tịch, Nghĩa thông, Đế quán, Tuân thức, Tri lễ, Tông dục, Thượng hiền, Bản như, Phạm trăn, Tuệ tài, Nhân nhạc... Còn phái Sơn ngoại thì gồm các vị: Chí nhân, Ngộ ân, Nguyên thanh, Trí viên, Khánh chiêu, Hàm nhuận, Kế tề... Nhưng đệ tử ngài Tri lễ là ngài Tịnh giác Nhân nhạc và pháp tôn (cháu nội trong đạo) của ngài là Thần trí Tòng nghĩa, về sau lại xung đột với ngài về quan điểm quán tâm quán Phật và từ bỏ pháp tọa của ngài mà ra sáng lập riêng thuyết mới, người đương thời gọi là Hậu sơn ngoại hay Tạp truyền phái. Để phân biệt với phái Hậu sơn ngoại này, phái Sơn ngoại của các ngài Nguyên thanh, Khánh chiên... nói trên được gọi là Tiền sơn ngoại. [X. Tứ minh thập nghĩa thư; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2, 3; Sơn gia tự dư tập Q.hạ; Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.8, 14; Thiên thai giáo học sử chương 4 (Tuệ nhạc); Tống đại Thiên thai giáo lí sử (Lí thế kiệt)]. (xt. Hậu Sơn Ngoại
sơn gia tự dư tập
951凡三卷。宋代天台宗僧善月(?~1241)撰。收於卍續藏第一○一冊。宋代之天台宗分為山家、山外二學派,四明知禮之門下以正統山家派自居,而善月乃山家派中廣智系之論師,本書即其論集。全書由教、觀二篇合成,教篇內含:開權通論、聲聞化源、無量義經同異體論、性惡義等三十一論題。觀篇內含:觀境真妄論、三千總別義、十種境界義等八論題。〔佛祖統紀卷二十五〕(參閱「山家山外」949)
; (山家緒餘集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiện nguyệt (?-1241) thuộc tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 101. Nội dung sách này gồm 2 thiên Giáo và Quán. TrongthiênGiáo gồm 31 luận đề, như Khai quyền thông luận, Thanh văn hóa nguyên, Vô lượng nghĩa kinh đồng dị thể luận, Tính ác nghĩa...Trong thiênQuán gồm có 8 luận đề, như Quán cảnh chân vọng luận, Tam thiên tổng biệt nghĩa, Thập chủng cảnh giới nghĩa... [X. Phật tổ thống kỉ Q.25]. (xt. SơnGia SơnNgoại).
sơn hiệu
954古代寺院多建於山中,而稱某山某寺。近世以來,造於平地者亦常附上山之稱號,山號遂成寺院之別稱。如江州潯陽廬山東林寺、攝山棲霞寺、會稽山妙善寺、天台山國清寺、清涼山大華嚴寺、當陽山度門寺等,概皆以造於某山,即取其所在之山名冠於寺名之上。我國近代律宗名剎寶華山隆昌寺更以山號著稱,以致鮮有知其寺號者,臺灣佛光山亦是一例。此外,如日本比叡山延曆寺,亦單稱山而不稱寺,此係與三井寺之稱寺相對。
; (山號) Tên núi, thường được dùng để đặt cho tên chùa. Thời xưa,chùa việnphần nhiều được xây cất ở trong núi, vì thế thường lấy tên núi để đặt tên chùa. Cho mãi thời gần đây, dù chùa được xây dựng ở đồng bằng cũng vẫn thường phụ thêm tên núi, do đó, tên núi bèn trở thành tên riêng của ngôi chùa, như chùa Đông lâm ở Lô sơn thuộc Tầm dương, Giang châu, chùa Thê hà ở Nhiếp sơn, chùa Diệu thiện ở núi Cối kê, chùa Quốc thanh ở núi Thiên thai, chùa Đại hoa nghiêm ở núi Thanh lương, chùa Độ môn ở núi Đương Dương... đại khái đều lấy tên núi ở các nơi đó đặt trước tên chùa. Thời gần đây, ngôi chùa Luật tông nổi tiếng ở Trung Quốc là chùa Long Xương lại dùng tên núi Bảo Hoa – cũng là ngọn núi Trứ Danh – để gọi nên ít người biết đến tên chùa. Phật Quang Sơn ở Đài Loan cũng thuộc dạng này. Ngoài ra, ở Nhật bản thì chùa Diên Lịch ở núi Tỉ Duệ cũng chỉ gọi tên núi chứ không gọi tên chùa.
sơn hào
952為無量之譬喻。華嚴經入法界品謂,為顯示經之廣大,即使以等同大海之墨與聚集如須彌山之筆來書寫經典,亦未能得盡。吽字義(大七七.四○六下):「地墨四身,山毫三密。」
; Writing brushes as numerous as mountains, or as the trees on the mountains, and ink as vast as the ocean.
; (山毫) Bút núi, ví dụ số nhiều vô lượng. PhẩmNhập pháp giới kinh Hoa nghiêm nói về số lượng rộng lớn của kinh,cho rằngdù có dùng nước của các đại dương để làm mực và gom góphết số bút nhiều như núi Tu di để biên chép kinh điển thì cũng không thể hết được. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 hạ) nói: Bốn thân (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, Hóa thân) như mực đất; 3 mật (thân mật, khẩu mật,ýmật) như bút núi.
sơn hào hải vị
Những món ngon từ miền núi và miền biển—Succulent and fragrant dishes—Delicacies from the moutain and the sea.
sơn hình trụ trượng
948指從山中砍下而不加細工修飾之木杖。碧巖錄第十八則(大四八‧一五八上):「雪竇著語云:『山形拄杖子(中略),無影樹下合同船。』」
; (山形拄杖) Chỉ cho nguyên hình cây gậy được chặt từ trong núi mà không đẽo gọt gì thêm. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 158 thượng) ghi: Ngài Tuyết đậu nói rằng: Cây gậy nguyên hình được chặt từ trong núi (...) dưới cây không bóng hội họp cùng thuyền.
Sơn hải chi công
(山海之功): công ơn to lớn như núi và biển của cha mẹ. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Trong bài tán dùng khi cúng lễ phát tang cũng có câu nói lên công đức trời biển của đấng sinh thành: “Hải đức thâm nan báo, sơn công đại mạc thù, linh tiền phi tố phục, ức niệm kỉ thời hưu (海德深難報、山功大莫酬、靈前披素服、憶念幾時休, đức biển sâu khó báo, công núi lớn sao đền, linh đài mang tang áo, thương nhớ bao giờ nguôi).”
Sơn Hải Huệ Bồ-tát kinh 山海慧菩薩經
[ja] サンカイエボサツキョウ Sankaie bosatsu kyou ||| The Shanhaihui pusa jing; 1 fasc., T 2891.85.1405c-1409d. => Kinh , (c: Shanhaihui pusa jing); 1quyển.
sơn hải huệ tự tại thông vương
Xem Sơn hải huệ Tự tại thông vương Phật.
; Sàgara varadhara buddhi vikrìdità bhidjna (S) The name under which Ananda is to reappear as Buddha.
sơn hải huệ tự tại thông vương như lai
Śāgāravaradharabuddhi-vikreditabhidja (S)Sơn hải huệ Tự tại thông vương Phật, Sơn hải huệ Tự tại thông vươngĐức Thích Ca có thọ ký cho ngài A Nan vể vị lai sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, cõi của ngài là Thường lập Thắng Phan, kỳ kiếp là Diệu âm biến mãn.
; See Sơn Hải Như Lai.
Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai 山海慧自在通王如來
[ja] サンカイエジザイツウオウニョライ Sankai ejizaitsūō nyorai ||| The Tathataga-King whose Wisdom Freely Penetrates the Mountains and Seas. This is the name that Ānanda will have in his future incarnation as a buddha, according to the prediction made in the Lotus Sutra by Śākyamuni. In the 人記 chapter of the Lotus Sutra it says: "佛告, 阿難, 汝於來世當作佛. 號山海慧自在通王如來." Also see Leon Hurvitz: Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma, p. 168. Here Rāhula and Ānanda somewhat selfishly and vainly nag the Buddha to give predictions for them, since he has given predictions of Buddhahood for the others present at the assembly.〔法華經 T 262.9.29c6〕 => Là danh hiệu của A-nan sẽ thành Phật trong kiếp sau, theo sự thọ ký của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong kinh Pháp Hoa. Trong phẩm Nhân ký kinh Pháp Hoa có ghi: “Phật bảo A-nan, đời sau ông sẽ thành Phật, hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai”. Xem thêm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (e: Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma) của Leon Hurvitz, trang 168; trong đó ghi rằng La-hầu-la và A-nan hơi có chút nghĩ đến mình và nài nỉ một cách tự phụ xin Thế tôn thụ ký cho mình, vì Ngài đã thụ ký cho mọi người khác trong pháp hội.
Sơn Hải Huệ Tự Tại 山海慧自在
[ja] サンカイエジザイ Sankaiejizai ||| The name by which Ānanda 阿難 is to be called when he attains buddhahood. See 山海慧自在通王如來; also abbreviated as 山海如来. => Danh hiệu mà A-nan được thọ ký khi thành Phật. Xem Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai 山海慧自在通王如來. Còn gọi tắt là Sơn Hải Như Lai 山海如来
sơn hải không thị
952形容無常逼迫,令人無可逃遁之用語。蓋無常之於諸有情,如影隨形,其威勢遠過於暴水、猛風、掣電,縱任逃隱至山林、海底、空中、市井等處,亦無法分秒避除其緊密之追逼。據法句譬喻經卷一載,昔時有四位梵志兄弟,皆得神通,一日預知七日後皆當命終,遂共議以神通力逃遁之,一人入於大海,一人鑽入須彌山山腹,一人轉舉於空中,一人入於大市中,然七日之後,無常逼及,此四梵志終不免一死。故經論中常以「山海空市」比喻無常之逼迫。〔婆羅門避死經〕(參閱「婆羅門避死經」4469)
; Bốn nơi mà con người không thể tránh khỏi con mắt của vô thường hay sứ giả của tử thần—The four places which men cannot conceal from the eye of impermanence ( a messenger of death): 1) Sơn (núi): Mountain. 2) Hải (biển): Ocean. 3) Không (không trung): Sky or Space. 4) Thị (nơi chợ búa): Market place. ** Từ trên đây tóm tắc câu chuyện về bốn anh em cố dùng phép thần thông để trốn chạy tử thần bằng cách trốn lên non, xuống biển, vào hư không, và lẫn lộn vào nơi chợ búa. Người nơi chợ búa được báo cáo là chết trước nhất. Thế mới biết tu chợ là khó—This phrase sums up a story of four brothers who tried to use their miraculous power to escape death by hiding in the mountains, seas, sky, and market places. The one in the market place was the first to be reported as dead. It is so difficult to stay and cultivate in the market place.
; (山海空市) Núi, biển, hư không, giữa chợ. Từ ngữ này hình dung sự vô thường bức bách, khiến người ta không thể lẩn tránh. Bởi vì vô thường (cái chết) đối với loài hữu tình như bóng theo hình, sức mạnh của nó mau chóng như thác đổ, gió bão, điện xẹt, dù có trốn vào núi rừng, xuống đáy biển, lên hư không hay giữa chợ cũng không thoát, vẫn bị nó bức bách và theo đuổi bén gót. Cứ theo kinh Pháp cú thí dụ quyển 1, thời xưa có 4 anh em Phạm chí đều có thần thông, một hôm đoán biết sau 7 ngày đều sẽ bị chết, 4 người bàn nhau dùng sức thần thông để tránh tử thần. Sau đó, mỗi người tìm 1 nơi để trốn, người lặn xuống tận đáy biển, người chui vào trong lòng núi Tu di, người bay lên hư không và người ra giữa chỗ chợ đông đúc. Nhưng đúng 7 ngày sau, vô thường vụt đến, trong 4 Phạm chí không 1 ai thoát chết. [X. kinh Bà la môn tị tử]. (xt. Bà La Môn Tị Tử Kinh).
Sơn Hải Kinh
(山海經): điển tịch tối cổ của Trung Quốc, gồm 18 quyển, tương truyền do Vũ Vương (禹王) nhà Chu và triều thần của vua là Bá Ích (伯益) trước tác, nhưng đúng ra là do người đời sau viết ra. Nội dung bộ sách này gồm các ký thuật về những phương diện thần thoại, địa lý, động vật, thực vật, khoáng sản, tôn giáo, cổ sử, y dược, dân tục, dân tộc cổ đại, v.v. Đây cũng được xem như là bộ sách Địa Lý được viết dưới dạng không tưởng, cho nên trong phần ký thuật về các nước ven Trung Quốc, có rất nhiều ký sự kỳ quái. Trong đó có phần chú thích của Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đường. Nguyên lai Sơn Hải Kinh có đồ hình, gọi là Sơn Hải Đồ Kinh (山海圖經), từ thời Ngụy, Tấn thì bị thất truyền.
sơn hải như lai
952又稱山海慧自在通王如來。為阿難於當來成佛時之名。據法華經卷四授學無學人記品所載,無量過去世前,世尊與阿難同在空王佛(梵 Dharmaganābhyudgatarāja)所,發阿耨多羅三藐三菩提心,因阿難常樂多聞,並以護持釋迦佛法、護持將來諸佛法藏、教化成就諸菩薩眾等為其本願,遂得此一記莂。
; Sagara-varadhara-buddhi-vikridita-bhijna—Sơn Hải Tuệ (Huệ)—Tự Tại Thông Vương Như Lai—Theo Kinh Pháp Hoa, sau nầy A Nan Đà sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Như Lai—According to the Lotus Sutra (in Anavanamita-vaijayanta), during the kalpa Manojna-sabdabhigarjita, this is the name under which Anada is to reappear as Buddha.
; (山海如來) Cũng gọi Sơn hải tuệ tự tại thông vương Như lai. Danh hiệu của ngài A nan trong vị lai khi thành Phật. Cứ theo phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì vô lượng kiếp về trước, đức Thế tôn và ngài A nan cùng phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ở nơi đức Phật Không vương (Phạm: Dharmaganàbhyudgataràja). Vì ngài A nan thường ưa thích nghe nhiều và lấy đó làm bản nguyện hộ trì pháp tạng của đức Phật Thích ca và chư Phật đời vị lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ tát, nên mới được thụ kí như vậy.
Sơn Hải Như Lai 山海如來
[ja] サンカイニョライ sankai nyorai ||| See 山海慧自在通王如來. => Xem Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai山海慧自在通王如來.
Sơn Khi Ám Trai
(山崎闇齋, Yamazaki Ansai, 1618-1682): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Gia (嘉); tự Kính Nghĩa (敬義); thông xưng là Gia Hữu Vệ Môn (嘉右衛門); hiệu là Ám Trai (闇齋); Linh Xã hiệu là Thùy Gia Linh Xã (垂加靈社); xuất thân kinh đô Kyoto. Ông từng xuống tóc xuất gia ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), rồi chuyển đến vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), theo học với Cốc Thời Trung (谷時中) về Chu Tử Học thuộc Nam Học Phái. Sau đó, ông hoàn tục, trở về kinh đô và khai giảng giữa chợ vào năm 1655 (Minh Lịch [明曆] nguyên niên). Ông được nhóm Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki), Phiên chủ của Phiên Hội Tân (會津藩, Aizu-han), đãi ngộ trọng dụng. Rồi ông theo học Thần Đạo với Cát Xuyên Duy Túc (吉川惟足, Yoshikawa Koretari), và khai sáng ra thuyết Thùy Gia Thần Đạo (垂加神道) mang tính Thần Nho Nhất Trí (神儒一致). Môn đệ của ông có đến 6.000 người, trong đó có những nhân vật kiệt xuất như Tá Đằng Trực Phương (佐藤直方), Chánh Thân Đinh Công Thông (正親町公通), v.v., hình thành nên Khi Môn Học Phái (崎門學派). Trước tác chủ yếu của ông có Văn Hội Bút Lục (文會筆錄), Thùy Gia Văn Tập (垂加文集), Y Thế Thần Cung Nghi Thức Tự (伊勢神宮儀式序), v.v.
Sơn Khoa
(山科, Yamashina): khu vực thộc phía Đông của Phố Kyoto, nơi ấy có lăng của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō), Sơn Khoa Biệt Viện (山科別院), v.v.
sơn khẩu huệ chiếu
945(1918~ )日本佛教學者。愛知縣人。京都大學哲學科畢業。先後任教於立命館大學、大阪大學。平生致力於印度六派哲學中之數論哲學之研究,此外亦專研瑜伽哲學,且每從印度哲學之立場來考察佛教。著有古典サ|ンキヤ哲學之研究、サ|ンキヤ哲學體系序說、古代インドの宗教、サ|ンキヤ哲學體系之展開等。
sơn khẩu ích
945(1895~1976)日本佛教學者。京都人。大谷大學文學部畢業,曾留學法國。一九三三年出任大谷大學教授,其後復為同校名譽教授。歷任日本學術會議會員、大谷大學校長。一九六三年曾領受紫綬褒章;一九六五年復被選為日本學士院會員。氏精梵、藏、漢文。以廣博之語言學造詣研究印度中觀、瑜伽兩派之論書原典,甚為深入。著有般若思想史、世親之成業論、佛教思想入門、西藏語之系統、印度文化史、中邊分別論釋疏、月稱造中論釋、中觀佛教論考、世親唯識の原典解明(野澤靜證共著)、佛教經典等。〔永懷吾師山口益先生(長尾雅人,佛光學報第三期)〕
sơn kì
953(Sanchi)梵名 Śānti。位於中印度波巴勒侯國(Bhopal)貝爾沙(Belsa)附近丘陵地帶之佛教聖蹟,以阿 |王石柱與大塔而馳名宇內。此地原名迦迦那衍(Kakanaya)或迦迦那羅(Kakanara),為中印度通往西南鄔闍衍那國(梵 Ujjayini)之要衢,大史稱之為「塔山」。「山琦」一名未知起於何時,佛經亦未明確提及佛陀曾到此地或其附近,僅由大塔之高度、樣式、佛龕之形狀等,與摩訶僧祇律之記載相互吻合,而推知此塔應是印度最古之塔式。摩訶僧祇律卷三十三(大二二‧四九七下):「爾時,世尊自起迦葉佛塔,下基四方周匝欄楯,圓起二重,方牙四出,上施槃蓋長表輪相。佛言:『作塔法應如是。』」阿育王曾任摩爾瓦(Malwa)總督,並娶距山琦僅數英里之維蒂薩(巴 Vedisa,即善見律毘婆沙卷二所說之卑提寫村)一地之女子為后,此後,山琦成為一重要的佛教中心。西元十一世紀,此地開始衰頹,迄十八、九世紀方一一被發掘。 現存於山琦之古蹟文物有:(一)大塔,其基壇為圓形,直徑三十六公尺餘,高四公尺餘,其上建築約十二公尺高之覆鉢狀塔,頂上有直徑十公尺餘之平面,周圍由圈狀之石欄圍繞,中央劃成十六方格,其上建造三點五公尺之方形石龕,龕上聳立傘蓋。大塔原有之相輪已毀,近世印度政府嘗加以重建。基壇周圍以石造欄楯圍繞,四方各開一門。石欄高三點三公尺,造立年代晚於大塔。四門均由暗褐色石材所造成,形狀類似我國之牌樓。四角之大方柱,柱頭皆為動物或金剛之形像,東門、北門為象王,西門為金剛力士,南門為獅子,全高十公尺餘,其中以南門為最古,北門保存最完整。各塔門均雕上有關佛傳、本生譚,及種種禮拜供養佛蹟之浮雕,與阿旃多石窟之壁畫同為印度佛教美術之精華。又大塔係阿育王時代以石磚所造,西元前二世紀曾加以擴建。(二)舍利弗、目犍連之骨塔,位於大塔東北約六十公尺處,以藏有佛陀二大弟子之遺骨而聞名於世。塔之形式同大塔。此外,附近之小塔尚有迦葉波、末示摩等之舍利。(三)第二號塔,藏有阿育王傳教團中幾位較活躍的傳教大師之遺骨,此等遺骨係由英國學者康林罕(Cunningham)發現,再移於此。其重要性乃在裝置遺骨之白沙石匣上之刻文,其上所記載之人名與事蹟可證實大史與島史中所說阿育王派遣傳教師之正確性,遂使大史與島史之史料價值大為提高。(四)第四號塔,位於第三號塔之東北面,規模較小,屬較後期之產物,然保存不佳,近來印度政府加以整修。(五)阿育王石柱及其他石柱,共有四根較為重要,最古者為大塔南門前方之阿育王石柱,原有十二公尺餘高,由一完整石塊打造成,然今僅存殘幹與柱頂,石柱之獅頭則存放於博物館。另外三根則為薰迦王朝與笈多王朝時代之產物,高度皆遠不及阿育王石柱。(六)寺院,在大塔南面者,最早不超過西元六五○年,今僅殘存九根巨大之柱頭、一處一點二公尺高之斷垣、幾件破鉢、磚瓦。稍東之處,有一座保存完善之小廟,由石頭建成,殿前之走廊以四根石柱支柱。大塔之東面則有山琦最晚建立之寺院,約在西元十至十一世紀間,為山琦遺蹟第四十五編號,大部分建築已坍塌。〔世界美術全集卷三、卷五、A. Cunnigham: The Bhilsa topes; J. Fergusson: Tree and Serpent Worship;S.M. William: Modern India、印度佛教聖蹟簡介(方之)〕
; (山琦) Phạn: Zànti. Thánh tích của Phật giáo nằm trên 1 giải đất gò cao gần vùng Belsa thuộc Bhopal, Trung Ấn Độ, nhờ có trụ đá do vua A Dục dựng và Đại tháp mà nổi tiếng khắp thế giới. Vùng đất này vốn tên là Kakanaya hoặc Kakanara, là con đường giao thông trọng yếu giữa miềnTrung Ấn Độ và nước Ujjayini (Ô xà diễn na) mà Đại sử gọi là Tháp sơn ở phía tây nam. Tên Sơn Kì (Sanchi) không biết được đặt từ thời nào, trong kinh Phật cũng chưa xác định rõ là đức Phật đã từng đến nơi này hoặc các vùng phụ cận hay không? Chỉ do chiều cao, kiểu cách của ngôi Đại tháp và hình dáng khám thờ Phật... phù hợp với lời ghi chép trong luật Ma ha tăng kì mà suy biết tòa tháp này đúng là kiểu tháp của Ấn độ đời xưa. Luật Ma ha tăng kì quyển 33 (Đại 22, 497 hạ) nói: Bấy giờ, đức Thế tôn tự dựng tháp Phật Ca diếp, nền tháp hình tròn, chung quanh có lan can bao bọc, 4 hướng có cửa ra vào, trên chóp tháp có lọng che biểu thị Luân tướng (tướng bánh xe). Phật dạy cách thức dựng tháp phải như thế. Khi chưa lên ngôi, vua A Dục từng giữ chức Tổng đốc ở Malwa và cưới 1 người con gái ở làng Vedisa (Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 gọi là thôn Ti đề tả), cách Sơn Kì chỉ vài dặm Anh, làm vợ. Về sau, Sơn kì trở thành 1 trung tâm Phật giáo quan trọng. Vào thế kỉ XI, nơi này bắt đầu đổ nát, mãi đến thế kỉ XVIII, XIX mới lần lượt được khai quật. Những văn vật cổ tích ở Sơn kì hiện còn gồm có: 1. Đại tháp:Nền hình tròn, đường kính hơn 36 mét, cao hơn 4 mét, thân tháp có hình dạng như cái bát úp, cao khoảng 12 mét, mặt bằng trên đỉnh tháp có đường kính hơn 10 mét, xung quanh có lớp lan can bằng đá bao bọc. Ở chính giữa mặt bằng vạch thành 16 ô vuông, trên đó dựng 1 cái khám thờ Phật bằng đá, hình vuông, cao 3,5 mét, trên nóc khám dựng cây lọng. Luân tướng cũ của Đại tháp đã đổ nát, gần đây, chính phủ Ấn Độ đã xây dựng lại. Chung quanh nền tháp có lan can bằng đá bao bọc, 4 hướng đều mở 1 cửa ra vào. Lan can cao 3,3 mét, niên đại kiến tạo muộn hơn Đại tháp. Bốn cửa đều được làm bằng đá màu vàng sậm. Trên đầu mỗi trụ đá hình vuông lớn ở 4 góc đều có hình tượng động vật hoặc thần Kim cương. Cửa Đông, cửa Bắc khắc hình voi chúa, cửa Tây là Lực sĩ Kim cương, cửa Nam là sư tử, chiều cao hơn 10 mét, trong đó, cửa Nam là xưa nhất, cửa Bắc được bảo toàn hoàn chỉnh hơn cả. Các cửa tháp đều có những bức khắc nổi liên quan đến Phật truyện, Bản sinh đàm là sự tích lễ bái cúng dường Phật. Những bức khắc nổi ở đây cùng với các bức tranh vách ở động đá Ajantà (A chiên đa) đều là tinh hoa của mỹ thuật Phật giáo Ấn độ. Vào thời vua A dục, Đại tháp được kiến tạo bằng đá và gạch, đến thế kỉ II trước Tây lịch từng được mở rộng thêm. 2. Tháp thờ di cốt: Cách Đại tháp về phía đông bắc khoảng 60 mét, có ngôi tháp thờ di cốt của ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, 2 vị đệ tử lớn củađức Phật, tháp có hình thức giống như Đại tháp và cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra còn có các tháp nhỏ gần đó có xá lợi của các ngài Ca Diếp ba, Mạt thị ma... 3. Tháp số 2: Tháp này thờ di cốt của các vị Đại sư truyền giáo nổi tiếng trong đoàn truyền giáo của vua A dục. Những di cốt này do học giả Cunningham, người Anh, phát hiện và được đưa về đây. Tính cách quan trọng của tháp này là ở các bài văn khắc trên những hộp đá trắng đặt di cốt. Trên đó có ghi tên người và các sự tích có tính chính xác về các vị Đại sư truyền giáo do vua A Dục phái đi được nói đến trong các bộ Đại sử và Đảo sử. Do đó, giá trị sử liệu của 2 bộ sử trên rất được đề cao.4. Tháp số 4: Tháp nằm về phía đông bắc của tháp số 3, qui mô nhỏ hơn, là kiến trúc thuộc thời kì sau này, nhưng giữ gìn không được tốt. Gần đây đã được Chính phủ Ấn Độ sửa sang lại. 5. Trụ đá vua A Dục và các trụ đá khác: Trong số này, có 4 trụ tương đối quan trọng, xưa nhất là trụ đá vua A dục ở trước cửa Nam của Đại tháp, chiều cao khoảng 12 mét, được tạo nên bởi 1 khối đá hoàn chỉnh, nhưng nay chỉ còn đầu trụ và 1 phần thân, đầu sư tử của trụ đá thì còn được cất giữ trong viện bảo tàng. Còn 3 cây trụ kia thì là những kiến trúc thuộc cácVương triều Huân ca và Cấp đa, chiều cao đều kém xa trụ đá vua A Dục. 6. Chùa viện: Ở phía nam Đại tháp, có ngôi chùa được kiến tạo vào khoảng năm 650 Tây lịch, nay chỉ còn lại đầu cột của 9 cây cột rất lớn, 1 đoạn tường ngắn chỉ cao 1,2 mét, với mấy mảnh gạch ngói và bát vỡ. Chếch về phía đông Đại tháp 1 chút, có ngôi miếu nhỏ, được giữ gìn toàn vẹn, do các khối đá tạo thành, dọc hành lang trước điện, có 4 cây cột đá Làm trụ chống. Phía đông Đại tháp thì có một ngôi chùa được xây dựng vào khoảng thế kỉ IX, X Tây lịch, là kiến trúc muộn nhất ở Sơn kì và là di tích được xếp vào hàng thứ 45, phần lớn kiến trúc này đã sụp đổ. [X. Thế giới mỹthuật toàn tập Q.3, 5; The Bhilsa topes, by A unningham; Tree and Serpent Worship, by J. Fergusson; Modern India, by S.M. William; Ấn độ Phật giáo thánh tích giản giới (Phương chi)].
sơn kì hoằng
952(1903~ )日本佛教學者。新潟市人。一九三三年東京文理科大學東洋史學科畢業。歷任東京文理科大學、教育大學、立正大學等校教授。專攻中國佛教史。以歷史學立場治隋唐佛教史,甚為深入。著有支那中世佛教の展開、隋唐佛教史の研究等書。
Sơn Lộc Tố Hành
(山鹿素行, Yamaga Sokō, 1622-1685): Nho gia và là nhà binh pháp học, Tổ của Phái Cổ Học; sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; xuất thân vùng Hội Tân (會津, Aizu); tên là Cao Hựu (高祐), Nghĩa Củ (義矩); tự Tử Kính (子敬); thông xưng là Thậm Ngũ Hữu Vệ Môn (甚五右衛門); hiệu là Nhân Sơn (因山), Tố Hành (素行). Ông theo học Nho học với Lâm La Sơn (林羅山) và học về binh pháp học với Tiểu Phan Cảnh Hiến (小幡景憲, Obata Kagenori), Bắc Điều Thị Trường (北條氏長, Hōjō Ujinaga). Vì ông cho san hành bản Thánh Giáo Yếu Lục (聖敎要錄) với chủ trương phê phán Chu Tử Học và thay đổi theo tư tưởng của chư vị Thánh hiền cổ đại, vào năm 1666 (Khoan Văn [寛文] 6) thì bị lưu đày đến vùng Xích Tuệ (赤穗, Akō), Bá Ma (播磨, Harima). Đến năm 1675 (Diên Bảo [延寶] 3), ông được xá tội và trở về Giang Hộ. Ông là người thông hiểu về cổ điển cũng như Thần Đạo của Nhật Bản, đã lưu lại một số tác phẩm như Trung Triều Sự Thật (中朝事實) 2 quyển, Võ Gia Sự Kỷ (武家事紀) 58 quyển, v.v.
Sơn Môn
(山門): cửa núi. Các tự viện của Trung Quốc cũng như các nước Phật Giáo Đại Thừa phần lớn đều kiến lập trong núi; cho nên cổng lớn của chùa được gọi là Sơn Môn; tượng trưng cho cổng dẫn đến đường Bồ Đề, chuyển mê thành ngộ, rời ô nhiễm để nhập vào thanh tịnh, xa lìa khổ để chứng đắc an lạc. Thông thường Sơn Môn có một cổng hay 3 cổng; vì vậy có tên gọi là Bất Nhị Môn (不二門), hay Tam Môn (三門), thể hiện ba cánh cửa giải thoát, gồm: Không Môn (空門), Vô Tướng Môn (無相門) và Vô Tác Môn (無作門). Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 20 có giải thích rằng: “Thí như thành hữu tam môn, nhất nhân thân bất đắc nhất thời tùng tam môn nhập; nhược nhập tắc tùng nhất môn; chư pháp thật tướng thị Niết Bàn thành, thành hữu tam môn: Không, Vô Tướng, Vô Tác (譬如城有三門、一人身不得一時從三門入、若入則從一門、諸法實相是涅槃城、城有三門、空、無相、無作, giống như thành có ba cổng, một thân người không thể cùng một lúc vào được ba cổng; nếu muốn vào thì phải vào một cổng; thật tướng của các pháp là thành Niết Bàn, thành ấy có ba cửa: Không, Vô Tướng, Vô Tác).” Hay như trong Lăng Nghiêm Kinh (楞嚴經) quyển 4 có câu: “Linh nhữ đản ư nhất môn thâm nhập, nhập nhất vô vọng, bỉ Lục Tri Căn nhất thời thanh tịnh (令汝但於一門深入、入一無妄、彼六知根一時清淨, khiến ngươi chỉ vào trong một cửa, vào rồi không sai lầm, sáu căn biết của người ấy nhất thời trong sạch).” Tánh quy nguyên vốn không có hai, và phương tiện thì có nhiều cửa để vào. Pháp môn tu hành của Phật Giáo có 84.000 loại khác nhau, tượng trưng cho vô số hình thức, phương pháp tu hành. Trong Phật Giáo Đại Thừa có rất nhiều hình thức cũng như cửa tu hành khác nhau, nhưng tựu trung nguyên tắc cũng như mục tiêu tu học thì giống nhau. Pháp môn vốn bình đẳng, không có cao thấp, sang hèn, tốt xấu, v.v. Như tại Thạch Đầu Tự (石頭寺), Hành Sơn (衡山), Tỉnh Hồ Nam (湖南省) có câu đối rằng: “Thạch kính hữu trần phong tự tảo, Sơn Môn vô tỏa nguyệt thường quan (石徑有塵風自掃、山門無鎖月常關, lối đá bụi trần gió tự quét, cửa Thiền chẳng khóa trăng thường soi).” Hay trong Tỉnh Am Pháp Sư Ngữ Lục (省庵法師語錄) quyển Hạ của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) có câu: “Tịnh Độ nhân hà độc chỉ Tây, yếu linh tâm niệm hữu quy thê, nhất môn nhập hậu môn môn nhập, sơ bộ mê thời bộ bộ mê (淨土因何獨指西、要令心念有歸栖、一門入後門門入、初步迷時步步迷, tịnh độ vì sao chỉ riêng Tây, cần khiến tâm niệm quay trở về, một cửa nhập rồi cửa cửa nhập, bước đầu mê lạc bước bước mê).” Trong thời công phu buổi khuya của Thiền môn có câu: “Thập Địa đốn siêu vô nan sự, Tam Môn thanh tịnh tuyệt phi ngu (十地頓超無難事、三門清淨絕非虞, Mười Địa siêu thăng không việc khó, Tam Môn thanh tịnh hết âu lo).”
sơn môn
947<一>又作三門。禪剎七堂伽藍之一。指寺院正面之樓門。以寺院多居山林之處,故有此名。一般有三個門,象徵三解脫門(空門、無相門、無作門),故又稱三門。或僅有一門,亦稱之為三門。(參閱「三門」576) <二>又作山寺。乃寺院之一般稱呼。蓋古來寺院多築於山林之間,故以山門為寺院之別名,唯後世造於平地、市井中之寺院,亦得汎稱山門。又一寺住持以下之全體修行者,亦總稱山門。〔禪林象器箋殿堂門〕 <三>日本天台宗之山門派。指比叡山延曆寺派,乃相對於三井園城寺之寺門派而言。
; Sammon (J).
; The gate of a monastery; a monastery.
; Cửa chùa hay chùa chiền—The gate of a monastery—A monastery.
; (山門) I. Sơn Môn. Cũng gọi Tam môn. Chỉ cho cổng chính (cửa Tam quan) của các chùa viện. Vì chùa phần nhiều được xây cấtởchốn núi rừng nên có tên này. Thông thường Sơn môn có 3 cửa tượng trưng cho Tam giải thoát môn (Không môn, Vô tướng môn, Vô tác môn), cho nêncũng gọi là Tam môn. (xt. Tam Môn). II. Sơn Môn. Cũng gọi Sơn tự. Chỉ chung cho các chùa viện. Bởi vì các chùa viện thời xưa phần nhiều được kiến tạo trong núi rừng nên dùng Sơn Môn (cửa núi) làm tên khác của chùa viện. Nhưng đời sau, dù chùa viện được xây cất ở đồng bằng, nơi thị tứ, cũng vẫn gọi chung là Sơn Môn. Ngoài ra, toàn thể mọi người tu hành trong 1 ngôi chùa, từ vị Trụ trì trở xuống, cũng gọi chung là Sơn Môn. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. III. Sơn Môn. Chỉ cho phái Diên lịch tự ở núi Tỉ duệ thuộc phái Sơn Môn của tông Thiên Thai, Nhật bản,đối lại với phái Tự môn của chùa Viên thành ở Tam tỉnh.
sơn môn kị phật điện
948禪林用語。謂現象界之差別世界當下即平等實相,亦即悉皆成佛之意。人天眼目卷一(大四八‧三○五中):「且居門外,耐重打金剛,山門騎佛殿。」
; (山門騎佛殿) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là cổng chùa cỡi điện Phật. Nghĩa bóng là ngay cái thế giới sai biệt của hiện tượng giới là thực tướng bình đẳng, tức hàm ý tất cả đều thành Phật. Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 48, 305 trung) nói: Hãy ở ngoài cửa giữ trọng trách làm thần Kim Cương, sơn môn cỡi điện Phật.
sơn môn la hán
948安置於山門樓上之十六羅漢或五百羅漢像,以祈護持山門,令法久住。
; (山門羅漢) Tượng 16 vị hoặc 500 vị La hán thờ trên lầu sơn môn để cầu các Ngài hộ trì sơn môn và làm cho chính pháp trụ lâu nơi thế gian.
sơn môn sớ
948乃禪宗勸請新住持時,所作之文疏。敕修百丈清規卷三請新住持條(大四八‧一一二三下):「發專使:凡十方寺院住持虛席,必聞於所司。伺公命下,庫司會兩序勤舊茶,議發專使修書(頭首、知事、勤舊、蒙堂、前資、僧眾)製疏(山門、諸山、江湖)。茶湯榜(專使署名)請書記為之。如缺書記,擇能文字者分為之。用絹素寫榜。所請專使或上首知事,或勤舊,或西堂首座,或以次頭首充之。若非知事充專使,亦須以下知事一人同去掌財議事。」由此可知山門疏係於勸請新住持時,由書記所作之文疏。又延請新住持時,勸請鄰近諸山住持駕臨之文疏,稱為諸山疏;諸方禪寺住持寄予新命入寺住持之賀表,稱為江湖疏;同門上呈新任住持之賀表,則稱同門疏。〔佛光國師語錄卷三、常光國師語錄卷下、禪林象器箋文疏門〕
; (山門疏) Bài văn sớ do vị Thư kí làm được đọc trong lễ khuyến thỉnh (chúc mừng) vị Tân trụ trì nhập tự viện trong Thiền tông. Văn sớ cung thỉnh các vị Trụ trì các sơn môn lân cận đến dự lễ, gọi là Chư sơn sớ; thiệp chúc mừng của các vị Trụ trì chùa viện các nơi gửi đến vị Tân trụ trì, gọi là Giang hồ sớ; bài biểu do đồng môn dâng lên chúc mừng Tân trụ trì, gọi là Đồng môn sớ. [X. Phật quang quốc sư ngữ lục Q.3; Thường quang quốc sư ngữ lục Q.hạ; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Thỉnh tân trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].
sơn môn tam đại thiền sư
948指禪院內之都寺、維那、燒香侍者等三者。「禪師」並非職位稱號,乃表尊敬之意。〔禪林象器箋第七類職位門〕
; (山門三大禪師) Chỉ cho 3 vị: Đô Tự, Duy Na và Thị giả trong các Thiền viện. Từ Thiền sư ở đây chẳng phải là chức vị, mà chỉ được dùng để bày tỏ lòng tôn kính đối với các vị này. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
sơn môn tam đại thị giả
947於寺院內,隨從住持之左右,以輔佐其進退動作之三大侍者,即燒香侍者、書狀侍者、請客侍者。〔禪林象器箋第七類職位門〕(參閱「三門三大侍者」577)
; (山門三大侍者) Chỉ cho 3 vị thị giả lớn: Thị giả đốt hương, Thị giả thư kí vàThị giả thỉnh khách phụ távịTrụ trì trong mọi hoạt động trong chùa viện. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tam Môn Tam Đại Thị Giả).
Sơn môn 山門
[ja] サンモン sanmon ||| (1) "Mountain gate;" the gate to a monastery. (2) The monastery itself. => 1. Cổng vào tu viện. 2. Chùa, tự viện.
sơn ngoại tông
Một nhánh của tông phái Thiên Thai được Ngộ Ân sáng lập khoảng năm 986 sau Tây Lịch, giảng cạn về tông phái. Sở dĩ gọi là “Sơn Ngoại” ví nó được phát triển trong những tự viện xa núi Thiên Thai. Thậm phái được phát triển ngay tại núi Thiên Thai nên được gọi là Tông Sơn Gia—A branch of the T'ien-T'ai school founded by Wu-En in around 986 A.D., giving the “shallower” interpretation of the teaching of this sect; called Shan-Wai because it was developed in temples away from the T'ien-T'ai mountain. The “profounder” sect was developed at T'ien-T'ai and is known as “the sect of the mountain family” or “home sect.” ** For more information, please see Sơn Gia.
sơn nhạc sùng bái
955乃將山嶽加以神格化而崇拜之。我國自古即有山神之信仰,如「山中方七日,世上數千年」之傳說,每以雲深不知處之山中,稱為神仙所住之所,後漢書西南夷傳中,亦有「山神海靈,奇禽異獸」之記載。又如我國古代最大之祭典,皆由皇帝親祀於泰山。此外,印度人視喜馬拉雅山為世界之軸心,猶太人摩西於西奈山目睹耶和華之顯現等,皆是由此種崇拜心理所產生之說法。在日本,亦由古代山嶽崇拜之信仰與密教結合,而產生「修驗道」,強調修行者應在山林之中苦修。
; (山岳崇拜) Thần cách hóa núi cao để sùng bái. Tại Trung Quốc từ xưa đã có tín ngưỡng sơn thần, như truyền thuyết Sơn trung phương thất nhật, thế thượng sổ thiên niên (ở trong núi mới 7 ngày mà trên thế gian đã nghìn năm). Những chỗ mây phủ mịt mù trong núi sâu thường được xem là chỗ thần tiên cư trú. Truyện Tây nam di trong Hậu Hán thư cũng nói: Thần núi thần biển linh thiêng, chim thú lạ lùng. Những cuộc tế lễ lớn nhất ở Trung quốc đời xưa đều do Hoàng đế đích thân chủ trì, như cúng tế thần núi Thái Sơn. Ngoài ra, người Ấn Độ coi dãy núi Hỉ Mã Lạp Nhã là trung tâm của thế giới. Người Moses (Do thái) ở núi Si nại nhìn thấy Da hòa hoa (Jehowah: Thượng đế) hiện ra. Ở Nhật bản thời xưa cũng do tín ngưỡng sùng bái núi non kết hợp với Mật giáo mà đã sản sinh ra Tu nghiệm đạo, chủ trương người tu hành phải khổ tu trong rừng núi.
sơn pháp
947又作山規。即指清規、規範、宗規等以外,各寺獨自特有之行法、習慣等。
; (山法) Cũng gọi Sơn Qui. Chỉ cho những phép tắc, qui định riêng của mỗi chùa viện được đặt ra ngoài những thanh qui chung.
sơn phục
947為日本修驗道行者之稱。山伏,有「入法性真如之寶山,降伏無明煩惱」之意。又作山臥、修驗者、驗者、行者。為得神驗之法,而於山野作苦行修練之人。依其修行之程度,有大先達、正先達、三僧祇、二僧祇、一僧祇等階級之別。且有蓄髮帶妻者與剃髮清僧之別。就其蓄髮、剃髮之不同,可分為法身形、報身形、應身形三種:(一)外形如俗人般之優婆塞形者,稱為下山伏,此即法身形之山伏。(二)留髮一寸八分者,稱為摘山伏,此即報身形之山伏。(三)剃髮之比丘形,稱為剃山伏,此即應身形之山伏。自江戶時代以降,山伏所用之服飾、物品、器具均有所規定。所持物品主要有:頭巾、班蓋、鈴繫(法衣之一種)、結袈裟、法螺、念珠、錫杖、笈、肩箱、金剛杖、引敷、腳半,以上稱為十二道具。(參閱「修驗道」4051)
; (山伏) Cũng gọi Sơn Ngọa, Tu Nghiệm giả, Nghiệm giả, Hành giả. Từ ngữ gọi vị hành giả thuộc phái Tu nghiệm đạo ở Nhật Bản. Phục Sơn có nghĩa là vào núi báu Pháp tính chân như, hàng phục vô minh phiền não. Là người ở trong núi hoang vắng, tu luyện khổ hạnh, được pháp thần nghiệm nhiệm mầu. Tùy theo trình độ tu hành mà Sơn phục có các cấp bậc khác nhau như: Đại tiên đạt, Chính tiên đạt, Tam tăng kì, Nhị tăng kì, Nhất tăng kì... Về mặt hình thức, Sơn phục có 2 hạng: Người để tóc có vợ con và tăng cạo tóc thanh tịnh.Người để tóc và cạo tóc khác nhau nên chia làm 3 loại: Pháp thân hình, Báo thân hình và Ứng thân hình. 1. Pháp thân hình(cũng gọi Hạ sơn phục): Chỉ cho Ưu bà tắc, hình thức bề ngoài giống người thế tục. 2. Báo thân hình (cũng gọi là Trích sơn phục): Người để tóc 1 tấc 8 phân. 3. Ứng thân hình (cũng gọi Thế sơn phục): Hình tướng Tỳ khưu cạo tóc. Từ thời đại Giang hộ về sau, phục sức, vật phẩm, khí cụ của hành giả Tu nghiệm đạo đều có qui định. Các đạo cụ được sử dụng chủ yếu có 12 loại: Khăn chít đầu,dù, áo pháp, kết ca sa, pháp loa (cái tù và), tràng hạt, gậy tích, trắp sách, hòm (rương), gậy kim cương, đồ trải để ngồi, mảnh vải quấn ống chân... (xt. Tu Nghiệm Đạo).
sơn thanh thủy tú
Fine scenery, lovely landscape.
sơn thiệu kỳ
Tsu yin Chu ne (S), Chu ne, Chu shan Shao chi (C).
sơn thuỷ bình phong
946密教行灌頂或修曼荼羅供時,於集會所中,置於阿闍梨座後,繪有山水之屏風。蓋灌頂原在野外淨地築壇舉行,為緬懷印度此一古制,乃以山水屏風作為象徵,後世遂以山水屏風比擬灌頂。〔大日經具緣品〕
; (山水屏風) Bức bình phong có vẽ cảnh non nước đặt ở phía sau tòa A xà lê khi cử hành nghi thức Quán đính hoặc tu pháp Cúng dường mạn đồ la trong Mật giáo. Bởi vì đàn tràng cử hành nghi thức Quán đính vốn được thiết lập trên bãi đất trống ngoài trời, đây là 1 định chế của Ấn Độ đời xưa, cho nên, đời sau, do không có điều kiện lập đàn tràng ngoài trời, giữa cảnh non nước thiên nhiên, người ta mới dùng bình phong có vẽ cảnh sơn thủy để tượng trưng. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật].
sơn thuỷ nạp
945為宋代禪僧之服。乃以名貴絲織品(繒)裁剪而成,且有花紋。四分律行事鈔資持記卷下三(大四○‧三九一中):「今時禪眾,多作納衫,而非法服,裁剪繪綵,刺綴花紋,號山水納,價直數千。」
; (山水衲) Y phục của Thiền tăng Trung quốc ở đời Tống, tức y phục có hoa văn được may bằng loại tơ lụa đắt tiền. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 391 trung) nói: Thiền tăng thời nay phần nhiều mặc áo đơn trái với pháp phục, may bằng tơ lụa, có thêu hoa văn,gọi là Sơn thủy nạp, giá trị tới số nghìn.
sơn thế
Mountain world, i.e. monasteries.
; Mountain world—Monasteries.
sơn thủy
Mountain and water.
sơn thủy nạp
Mountain and water robe. 1) Tên của một loại y mặc trong tu viện dưới thời nhà Tống: Name of a monastic garment during the Sung dynasty. 2) Về sau nầy từ nầy được dùng để chỉ những loại y thêu dệt màu mè: Later this was the name given to a richly embroidered dress.
sơn trang
House in the mountain.
sơn tăng
955山野之僧。原指止住山中之僧。其後,凡住於聚落者,亦稱山僧、山衲,而演成自謙之詞,且多為禪僧所用。臨濟禪師語錄(大四七‧四九八上):「山僧說法,與天下人別。」此外,亦有謙稱拙僧、愚僧、拙衲、野僧者。〔黃龍慧南禪師語錄、東山慧空禪師語錄〕
; Sansō (J).
; Hill-monk, self deprecatory term used by monks. A monk dwelling apart from monasteries.
; Hill monk. 1) Tăng lữ ở miền sơn dã xa rời sự sung túc của chùa chiền: A monk dwelling apart from monasteries. 2) Tăng lữ tự xưng hô một cách nhún nhường: A self-deprecatory term used by monks.
; (山僧) Chỉ cho các vị tăng ở trong núi. Về sau, các vị tu ở thôn làng cũng gọi là Sơn tăng. Sơn tăng trở thành từ tự xưng khiêm nhường và phần nhiều được các vị Thiền tăng sử dụng. Lâm tế thiền sư ngữ lục (Đại 47, 498 thượng) ghi: Lời sơn tăng nói khác với người trong thiên hạ. [X. Hoàng long Tuệ nam thiền sư ngữ lục; Đông Sơn Tuệ Không thiền sư ngữ lục].
sơn tướng khích bồ tát
Giryagrapra-mardirāja (S)Tên một bộ kinh.
sơn vương
King of mountains, Giricakra-vartin (S), Girirāja (S).
; Vua núi—ngôi vị cao nhất—The king of the mountains—The highest peak.
sơn vương quyền hiện
946日本佛教用語。為天台宗比叡山護持法華經諸神祇之總稱。又作日吉權現、山王七社。日僧最澄開創比叡山時,勸請三輪大神為鎮守神,後又以之為山王神道之本尊。祭祀山王權現之道場有大宮、二宮、聖真子、八王子、客人、十禪師、三宮等,稱為上七社,另加中七社、下七社,成為二十一社。由於日本「神佛分離」之宗教政策所致,遂廢山王權現,而改稱日吉神社。
; (山王權現) Cũng gọi Nhật cát quyền hiện, Sơn vương thất xã. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Từ gọi chung các vị thần hộ trì kinh Pháp Hoa của tông Thiên Thai ở núi Tỉ Duệ.Khi ngài Tối trừng khai sáng Tỉ duệ sơn, ngài khuyến thỉnh Tam luân đại thần làm thần trấn giữ. Về sau, vị thần này được thờ làm bản tôn của Sơn vương thần đạo. Những đạo tràng cúng tế Sơn vương quyền hiện gồm có: Đại cung, Nhị cung, Thánh chân tử, Bát vương tử, Khách nhân, Thập thiền sư và Tam cung, gọi là Thượng thất xã (7 xã bậc thượng); nếu thêm 7 xã bậc trung và 7 xã bậc hạ nữa thì thành 21 xã. Do chính sách tông giáo Thần và Phật tách rời nên Sơn vương quyền hiện bị phế bỏ mà đổi thành Nhật cát thần xã.
sơn ông đạo mân
952(1596~1674)明末清初臨濟宗僧。潮州(廣東)潮陽人,俗姓林。字木陳,號山翁。自幼即異於常童,及長,讀大慧禪師語錄,有志出家。參謁匡廬開先寺之若昧智明,剃髮,後又參謁密雲圓悟十四年,繼其法席。先後住持浙江之荛峰、雲門、廣潤、大能仁、萬壽、山東之法慶等禪剎,並兩度住錫天童山。清順治十六年(1659),奉詔於北京萬善殿與學士王熙等相互問答,帝賜號弘覺禪師。康熙十三年示寂,世壽七十九,法臘五十五。著有語錄二十卷、奏對錄三卷、北遊集六卷、布水臺文集三十二卷等。〔續指月錄卷十九、五燈全書卷六十六〕
; (山翁道忞) (1596-1674) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người ở Triều dương, Triều châu (Quảng đông), họ Lâm, tự Mộc trần, hiệu Sơn Ông. Thửa nhỏ, sư đã khác với những trẻ thường, lớn lên, sư đọc Đại tuệ thiền sư ngữ lục và có chí xuất gia. Sư tham yết ngài Nhã muội Trí minh ở chùa Khai tiên ở Khuông lư, rồi xuất gia. Sau, sư tham học Thiền sư Mật vân Viên ngộ 14 năm và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư lần lượt trụ trì các chùa Linh phong, Vân môn, Quảng nhuận, Đại năng nhân, Vạn Thọ ở Chiết giang, chùa Pháp khánh ở Sơn đông và 2 lần chú tích núi Thiên Đồng. Năm Thuận trị 16 (1659) đời Thanh, sư vâng sắc cùng vấn đáp với học sĩ Vương hi ở điện Vạn thiện tại Bắc Kinh, được vua ban hiệu Hoằng Giác Thiền Sư. Năm Khang Hi 13 (1674), sư thị tịch, thọ 79 tuổi, pháp lạp 55. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 20 quyển, Tấu đối lục 3 quyển, Bắc du tập 6 quyển, Bố thủy đài văn tập 32 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lụcQ.19; Ngũ đăng toàn thư Q.66].
sơn điền linh lâm
947(1889~ )日本佛教學者。畢業於駒澤大學,並曾任該校學監兼教授、眼藏會講師。著有正法眼藏佛性の研究、禪心と禪機の研究、佛法僧三寶論、日本人の生死觀と禪(曹洞宗宗意安心論)等。
sơn điền long thành
946(1895~1979)日本佛教學者。岐阜縣人。西元一九二一年畢業於東京大學文學部印度哲學科,專攻印度學。曾留學法國。回國後,歷任龍谷大學教授、武藏野女子大學校長、東北大學名譽教授等職。一九五五年得學士院獎。主要著作有大乘佛教成立論序說、梵語佛典の諸文獻、真實を追いかける、生きがいのある人生等書。
sơn điền văn chiêu
946(1877~1933)日本佛教學者。先後就讀三河教校、真宗大學、真宗大學研究院。曾任真宗大谷大學圖書館長、教授、名古屋真宗專門學校教授等職。專門致力真宗史之研究,著有仏教の女子、真宗史、式嘆德文講義、親鸞聖人門侶交名牒、真宗信者の模範等十餘種。〔遺稿真宗史之研究所收略年譜、信道會館蔣版黑衣之聖者附錄略年譜〕
sơn đông
Shantung (C)Tên một tỉnh của Trung quốc.
sơn đầu
955<一>指葬祭場。〔敕修百丈清規卷七亡僧板帳式條〕 <二>指涅槃臺,即置棺之臺,又作化壇。(參閱「化壇」1328)
; (山頭) I. Sơn Đầu. Chỉ cho nghĩa trang, nơi chôn cất người chết.[X. điều Vong tăng bản trướng thức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7]. II. Sơn Đầu. Cũng gọi Hóa đàn. Chỉ cho đài Niết bàn, tức cái nền đặt quan tài. (xt. Hóa Đàn).
sư
4089梵語 upādhyāya。音譯作烏波儞。或梵語 śāstṛ,巴利語 satthar 或 satthu。教人以道者之通稱。又作師長、師僧、師父、師家。律中分成得戒師、受業師二種。釋氏要覽卷上則謂,師有親教師、依止師兩種;前者指依之出家者,後者則指依之稟受三藏者。 據長阿含經卷十一載,師長以五事敬視弟子,即:(一)順法調御。(二)誨其未聞。(三)隨其所問,令善解義。(四)示其善友。(五)盡以所知誨授不吝。另據大比丘三千威儀卷上載,和上(尚)當有十五德,即:(一)當知戒。(二)當持戒。(三)當不犯戒。(四)當知經。(五)當自守。(六)當教經。(七)當教誡。(八)當教習意。(九)當教稍稍受。(十)當教法則。(十一)當自有隱德。(十二)能致檀越。(十三)不得有獨匿心。(十四)人持物來,當言皆為眾人物。(十五)占視病瘦,當令均等。〔目連問戒律中五百輕重事、大乘莊嚴經論卷十二、四分律行事鈔資持記卷上三之三〕
; phra (S), Monk (Thai); Bhikkhu (S).
; Upàdhyàya (S). A host, army; a leader, preceptor, teacher, model, Buddhist priest. Spiritual teacher.
; Upadryaya (skt)—Ô Ba Nễ. 1) Thầy: Teacher. 2) Nhà sư Phật giáo: Buddhist monk.
; (師) Phạn: Upàdhyàya, Zàstf. Pàli: Satthar hoặcSatthu. Hán âm: Ô ba nễ. Cũng gọi Sư trưởng, Sư tăng, Sư phụ, Sư gia. Từ gọi chung các bậc thầy đem đạo dạy người. Trong Luật tạng, Sư được chia làm 2 loại là Đắc giới sư và Thụ nghiệp sư. Thích thị yếu lãm thì nói 2 loại Thân giáo sư và Y chỉ sư. Hai loại sư trong Luật tạng chỉ cho bậc thầy độ người xuất gia, còn 2 loại sư trong Thích thị yếu lãm thì chỉ cho bậc thầy dạy người học Tam tạng. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 11 thì bậcSư trưởng đem 5 việc dạy đệ tử: 1. Thuận theo pháp mà răn dạy. 2. Dạy điều đệ tử chưa nghe. 3. Đệ tử hỏi điều gì đều phải giải thích nghĩa lí cho rõ ràng. 4. Xem đệ tử như người bạn tốt. 5. Truyền dạy cho đệ tử tất cả những chỗ mình hiểu biết, không xẻn tiếc. Còn theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển 15 thì vị Hòa thượng cần phải có 15 đức: 1. Phải hiểu biết về giới. 2. Phải giữ giới nghiêm túc. 3. Không phạm giới. 4. Phải hiểu biết rõ nghĩa lí của kinh. 5. Phải tự giữ mình. 6. Phải dạy kinh. 7. Phải răn dạy. 8. Phải dạy tu tâm, ý. 9. Nên dạy nhận lãnh vừa đủ. 10. Phải dạy phép tắc. 11. Cần tự có ẩn đức. 12. Thường dạy bảo tín đồ. 13. Không được có tâm che giấu. 14. Có người đem các thứ đến cúng dường, nên nói đều là các thứ của chúng tăng.15. Thăm người đau yếu phải đối xử bình đẳng. [X. Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3].
sư biểu
Model teacher. Vạn thế sư biểu, the master of all times, i.e. Confucius Khổng tử.
sư bà
The Mother Superior (of a Buddhist nunnery).
; Old Buddhist nun.
sư bác
A senior bonze.
sư bảo
4096師長護持弟子,使之能行善法,不墮惡趣,故稱師保。〔增一阿含經卷十四、大智度論卷一〕
; (師保) Bậc sư trưởng che chở cho đệ tử, chỉ dạy cho họ tu hành các pháp lành để không bị đọa vào đường ác, nên gọi là Sư bảo. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.14; luận Đại trí độ Q.1].
sư bị
4096(835~908)唐末五代僧。福州閩縣人,俗姓謝。幼憨黠,好垂釣,常泛舟自娛。唐咸通(860~873)初年,年屆三十始脫塵志,投芙蓉山靈訓禪師落髮。受具足戒後,行頭陀法,終日宴坐,人稱備頭陀。與法兄雪峰義存親近若師徒,同力締構,參學者眾。偶閱楞嚴經,發明心地,諸方請益者如水歸海。初住梅谿普應院,不久遷玄沙山,應機接物凡三十餘載,學侶八百餘人。時有閩帥王審知,事以師禮,曲盡殷勤,並奏賜紫衣,號「宗一大師」。梁開平二年示寂,世壽七十四(一說七十或七十五)。有語錄三卷傳世。〔宋高僧傳卷十三、景德傳燈錄卷十八〕
; Xem Huyền sa.
; (師備) (835-908) Thiền sư Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, người huyện Mân, Phúc Châu, họ Tạ. Sư tinh khôn từ nhỏ, thích câu cá và dong thuyền đi chơi. Năm 30 tuổi, sư mới có chí thoát trần và lễ Thiền sư Linh huấn ở núi Phù dung cầu xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư tu pháp Đầu đà, suốt ngày ngồi yên lặng, nên người đời gọi sư là Bị đầu đà. Sư thường gần gũi pháp huynh là ngài Tuyết Phong Nghĩa tồn như tình thầy trò, cùng nhau tu hành, người đến tham học rất đông. Một hôm, xem kinh Lăng Nghiêm, tâm địa của sư bừng sáng, người từ khắp nơi đến học đạo đông như ngày hội. Ban đầu, sư trụ ở viện Phổ ứng tại Mai khê, không bao lâu, sư dời đến núi Huyền Sa, tùy cơ tiếp hóa trên 30 năm, độ hơn 800 người. Bấy giờ có Mân soái là Vương thẩm tri hết lòng thờ kính sư, tâu vua ban cho sư áo đỏ và hiệu là Tông Nhất Đại Sư. Năm Khai bình thứ 2 (908) đời Hậu Lương, sư thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi (có thuyết nói sư thọ 70 hoặc 75 tuổi). Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].
sư bồ
6094博戲之名。又作摴蒱。此物或如棗核狀。擲樗蒲賭之,以為戲樂,略如我國民間賭博之擲骰子。四分律卷十九(大二二‧六九二下):「跋難陀釋子,非時入村,與諸居士共樗蒱。」又梵網六十二見經(大一‧二六五上):「有異道人,受人信施食,常行摴蒱博掩。」依此推知,樗蒲早在印度即盛行,且為佛制所禁。〔菩薩戒義疏鈔卷下、類聚名物考卷一六九〕
; (樗蒲) Tên một trò chơi đánh bạc đời xưa. Vật này giống như hạt táo. Ném Sư bồ để vui chơi đỏ đen đại khái cũng giống như xoa hạt xúc xắc của người Trung Quốc. Luật Tứ phần quyển 19 (Đại 22, 692 hạ) nói: Thích tử Bạt nan đà vào thôn ngoài giờ qui định, cùng ném Sư bồ với các cư sĩ. Kinh Phạm Võng lục thập nhị kiến (Đại 1, 265 thượng) nói: Có người dị đạo, ăn của tín thí, thường ném Sư bồ. Suy đó thì có thể biết trò chơi Sư bồ đã thịnh hành ở Ấn độ từ rất sớm và bị đức Phật chế giới cấm.[X. Bồ tát giới nghĩa sớ sao Q.hạ;Loại tụ danh vật khảo Q.169].
sư chất
4098佛世時,舍衛國一婆羅門名。憂己無子,往詣佛處占相,佛謂其相有子,喜而請佛及眾比丘至其家受供養。眾比丘受供後,於歸路遇一獼猴,乞阿難之?,以蜜供養佛。未久獼猴即死,復生於師質家,名摩頭羅世質,後出家得道。〔賢愚經卷十二〕
; (師質) Tên 1 người Bà la môn ở nước Xá vệ vào thờiđức Phật tại thế. Ông này lo buồn vì không có con, nên đến nhờ Phật xem tướng. Đức Phật bảo là tướng ông ta sẽ có con. Ông vui mừng thỉnh Phật và các vị Tỳ khưu đến nhà để cúng dường. Khi Phật và các Tỳ khưu nhận sự cúng dường xong, trên đường trở về tinh xá, gặp 1 con vượn đến xin bát của ngài A Nan để đựng mật cúng dường Phật. Không bao lâu con vượn chết, liền sinh vào nhà ông Sư chất, tên là Ma đầu la thế chất, sau xuất gia và đắc đạo. [X. kinh Hiền ngu Q.12].
sư chủ
4094猶言師家、師父等。師為弟子之所主,故稱為師主。〔根本說一切有部毘奈耶卷二十七〕
; (師主) Cũng gọi Sư gia, Sư phụ. Chỉ cho vị thầy làm chủ răn dạy và là nơi nương tựa của đệ tử, cho nên gọi là Sư chủ. [X. Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.27].
sư cân
See Sư Huyền.
sư cô
4095指年高德劭之尼師。據景德傳燈錄卷十載,五臺山智通禪師於開悟後,忽曰(大五一‧二八一上):「師姑天然是女人作!」於宋元明清間,師姑乃為一般民間對尼師之泛稱。至今亦指寄身於佛門,資歷較深,或修行,或護法之優婆夷。
; A buddhist nun. Also ni cô.
; A nun—A Buddhist nun (Bhiksuni)—See Tỳ Kheo Ni.
; (師姑) Vốn chỉ cho bậc Ni sư tuổi cao đức trọng. Từ đời Tống về sau, từ Sư cô được dùng dể chỉ chung cho các người nữ xuất gia.
sư cụ
The superior of a Buddhist monastery, Buddhist abbot.
sư gia
4096有學德之禪師,可擔當修行僧之指導者;一般又特稱為坐禪之師。日本禪宗對於適合為眾僧之師,經其師之印可,始可成為師家。
; (師家) Chỉ cho bậc thầy có học vấn, đức hạnh, có khả năng hướng dẫn chúng tăng tu hành. Từ này cũng được dùng để gọi vị thầy tu Thiền. Trong Thiền tông Nhật Bản, người có đủ khả năng và tư cách làm thầy chúng tăng, nhưng phải được sư phụ của mình ấn khả, mới có thể trở thành bậc Sư gia.
sư giới
4095宋代雲門宗僧。嗣雙泉師寬之法,為雲門文偃再傳法子。住蘄州(湖北)五祖山,龍象海會,大振祖風。據五燈全書卷三十二載,上方嶽與雪竇顯結伴遊淮山,聞師喜勘驗學人,嶽往叩之,逕造丈室。師曰(卍續一四○‧三七九下):「上人名甚麼?」曰:「齊嶽。」師曰:「何似泰山?」嶽無語,師即打趕。翌日復謁。師曰:「汝作甚麼?」嶽回首作圓相呈之。師曰:「趁爐
; (師戒) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Vân ôn, sống vào đời Tống. Sư nối pháp ngài Song tuyền Sư khoan, trụ ở Long Tượng Hải Hội, núi Ngũ Tổ tại Kì châu (Hồ bắc), phát huy tông phong. Cứ theo Ngũ đăng toàn thư quyển 32 thì Thượng phương Tề nhạc kết bạn với ngài Tuyết đậu Trùng hiển đi du ngoạn Hoài Sơn, nghe tiếng sư hay trắc nghiệm người học, liền đến gạn hỏi sư. Sư hỏi (Vạn tục 140, 379 hạ): Thượng nhân tên gì? Đáp: Tề nhạc. Sư hỏi: Cái gì giống núi Thái Sơn? Tề nhạc không trả lời được, sư đánh đuổi ra. Hôm sau, Tề nhạc lại đến yết kiến. Sư hỏi: - Ông làm gì vậy? Tề nhạc xoay đầu làm thành 1 hình tròn trình sư. Sư bảo: - Đến treo cái lò sưởi này lên! Tề nhạc còn đang nghĩ ngợi, sư liền huơ gậy đuổi ra khỏi cửa. Vài ngày sau, Tề Nhạc lại đến chỗ sư, đưa tọa cụ lên nói: - Trải ra thì đại thiên sa giới, không trải thì mảy lông chẳng còn; như vậy thì nên trải hay không nên trải? Sư liền bước xuống giường, túm lấy Tề nhạc, nói: - Đã là người quen, tại sao phải như thế? Nhạc cũng ngậm miệng, sư liền đánh đuổi ra. Về già, sư trụ ở núi Đại Ngu tại Cao An (Giang tây), dựa cây gậy cười nói mà hóa.[X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.21; Liên đăng hội yếu Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].
Sư Hiệu
(師號, Shigō): còn gọi là Tứ Hiệu (賜號, danh hiệu được ban tặng), xưng hiệu do triều đình ban tặng cho chư vị cao tăng thạc đức, tỷ dụ như Đại Đức (大德), Quốc Sư (國師), Thiền Sư (禪師), v.v.
sư hiệu
4097又作賜號。朝廷賜予高德師僧之稱號,例如大師、國師、禪師等稱號。
; (師號) Cũng gọi Tứ hiệu. Tên hiệu để gọi các bậc Sư tăng cao đức do vua ban tặng, như Đại sư, Quốc sư, Thiền sư...
sư huynh
4095禪林用語。為法兄之意。又為同道中之泛稱。禪林象器箋卷五稱呼門下:「受業於師,先於己者,喚之為法兄。」〔祖堂集卷五船子德誠章〕
; Master and elder; senior fellow-student.
; (師兄) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Pháp huynh, từ gọi chung những người xuất gia thụ giới trước mình. Môn Xưng Hô trong Thiền lâm tượng khí tiên trong quyển 5 nói: Cùng được một thầy dạy dỗ, người học trước ta gọi là Pháp huynh. [X. chương Thuyền tử đức thành trong tổ đường tập Q.5].
sư huyền
4096又作獅絃。以獅子之筋為樂絃,奏之則餘絃悉絕;以比喻菩提心滅絕其餘之小功德。〔新華嚴經卷七十八〕
; Ví như có người lấy gân sư tử làm dây đàn, một khi âm thanh gảy lên thì các loại đàn khác ắt phải im tiếng—A tiger's tendons as lute-strings, i.e. bodhi music silences all minor strings.
; (師弦) Dây đàn sư tử, tức dùng gân con sư tử làm dây đàn, khi gảy lên thì các loại đàn dây khác đều im bặt; dùng để ví dụ tâm bồ đề át hết những công đức nhỏ nhặt khác. [X. kinh Tân hoa nghiêm Q.78].
Sư hống
(獅吼): hay sư tử hống (獅子吼), là tiếng rống của con sư tử, tỷ dụ cho sự thuyết pháp của đức Phật hùng dũng như tiếng gầm của chúa tể sơn lâm làm chấn động cả vũ trụ, càn khôn. Như Thắng Man Kinh (s: Śrīmālā-siṁha-nāda-sūtra, 勝鬘經) còn có tên gọi khác là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Kinh (勝鬘師子吼一乘大方便經), Sư Tử Hống Kinh (師子吼 經), Thắng Man Sư Tử Hống Kinh (勝鬘師子吼經), Sư Tử Hống Phương Quảng Kinh (師子吼方廣經), Thắng Man Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (勝鬘大方便方廣經), v.v. Trong Duy Ma Cật Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩詰經), Phẩm Phật Quốc (佛國品) có đoạn: “Sư tử hống vô úy âm dã, phàm sở ngôn thuyết bất úy quần tà dị học, dụ sư tử hống chúng thú hạ chi (獅子吼無畏音也、凡所言說不畏群邪異學、諭獅子吼眾獸下之, tiếng rống của con sư tử là âm thanh không sợ hãi, phàm giáo thuyết của ngài nói ra đều không sợ giáo học khác của chúng tà đạo, giống như tiếng rống của con sư tử làm cho các loài thú đều phải thần phục).” Ngoài ra, sư tử hống còn được dùng để ví cho âm thanh chửi mắng người khác của người vợ hung dữ. Trong dân gian vẫn thường dùng từ “Hà Đông Sư Hống (河東獅吼, tiếng rống của con sư tử Hà Đông)”, vốn phát xuất từ trong Dung Trai Tùy Bút (容齋隨筆) quyển 3, phần Trần Quý Thường (陳季常) của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống. Dưới thời Bắc Tống có một văn nhân tên Trần Quý Thường, tự xưng là Long Kheo Cư Sĩ (龍丘先生), thường vui vẻ tiếp đãi khách quý, thích giao du với các kỹ nữ; tuy nhiên, vợ ông họ Liễu, là người rất hung dữ, thường hay la rầy chồng. Có hôm nọ, người bạn thân là Tô Đông Pha (蘇東坡) khiêu khích Quý Thường đi chơi xuân. Bà vợ sợ chồng mình đi chơi với hàng kỹ nữ nên không cho phép ông ra bước khỏi nhà; tuy nhiên, họ Trần bảo đảm và hứa hẹn là nếu có kỹ nữ thì sẽ chịu hình phạt thích đáng; nhờ vậy bà họ Liễu mới chấp thuận. Về sau, bà biết được chồng có ăn chơi với các kỹ nữ, nên phạt đánh đòn. Quý Thường sợ bị đánh, tha thiết cầu xin tha tội và chịu quỳ phạt bên bờ hồ. Tô Đông Pha ghé thăm, chứng kiến sự tình như vậy, cảm thấy sỉ nhục cho đấng đại trượng phu nam tử, bèn quở trách bà họ Liễu; từ đó cả hai bên bắt đầu cãi vả nhau. Cuối cùng, bà biết được sự việc Đông Pha đã dụ dỗ chồng chơi với các kỹ nữ, rồi lại còn đến can thiệp vào chuyện riêng của gia đình mình; cho nên, bà tức giận lớn tiếng đuổi ông ra khỏi nhà. Nhân sự việc này, Tô Đông Pha có làm bài thơ rằng: “Long Kheo Cư Sĩ diệc khả lân, đàm không thuyết hữu dạ bất miên, hốt văn Hà Đông sư tử hống, trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên (龍丘居士亦可憐、談空說有夜不眠、忽聞河東獅子吼、柱杖落手心茫然, Long Kheo Cư Sĩ cũng đáng thương, đàm không luận có suốt đêm trường, chợt nghe Hà Đông sư tử rống, gậy chống buông tay tâm hoảng liền).” Bà họ Liễu vốn người Hà Đông (河東), cho nên Hà Đông sư tử (河東獅子) được dùng để ví cho bà. Về sau, Uông Đình Nột (汪廷訥) nhà Minh soạn tác phẩm Sư Hống Ký (獅吼記) cũng dựa trên bài thơ của Tô Đông Pha. Câu “cách phàm thành Thánh, tốc đăng sư hống chi lâm (革凡成聖、速登獅吼之林)” có nghĩa là khi đã chuyển hóa phàm tâm thành bậc Thánh thì sẽ mau chóng được lên khu rừng có tiếng rống thuyết pháp của sư tử.
sư hổ mang
A profligate bonze.
sư hội
4096(880~946)<一>五代僧。北燕薊門人,俗姓巨。幼即出家,禮薊州溫泉院道丕為師。二十歲,於金臺寶剎戒壇受具足戒。梁開平年中遊化河朔、江淮等地,於漢南遇觀音院嚴俊,互談道業,不覺時移,乃受示赴投子山參謁大同禪師。乾化四年(915)秋,受寶積坊羅漢院志修之請,代任住持,院僅苫蓋五間。後得檀越尚書左丞吳藹、兵部侍郎張袞等之皈依,共發奉章,朝廷賜「天壽禪院」之匾。此後四海之僧翕然來歸,一住三十五載,徒眾甚多,生活儉樸。天福七年(942)晉高祖賞其德行,敕紫衣;開運元年(944)賜號「法相」,師蔑其號而藏其衣。開運三年示寂,世壽六十七,法臘四十八。荼毘後得舍利數百,起塔於東郊汴陽鄉,刑部侍郎邊歸讜為其立碑。〔宋高僧傳卷二十八〕 <二>(1102~1166)宋代僧。籍貫不詳。號可堂。自幼研究華嚴之教章,未嘗懈怠。當時諸學盛行,異說紛紜,學者多不知所歸趣,師嘆之,撰焚薪(又稱析薪膏肓)以警世。蓋焚薪之名,取自南山聚集偽經焚之以歸正之故事。師又痛感華嚴之衰頹,研鑽孔目章、搜玄記及探玄記等,特精通孔目章,窮究六相十玄之奧旨。後以著述之不易,或恐迷惑他人,久廢執筆。至乾道二年六十五歲時,始著手述作五教章復古記,以償多年宿志;然至斷惑分齊章,得疾,奄然而寂,遺命弟子善熹繼其業。諡號「法真大師」,與後世之道亭、觀復、希迪共稱為宋朝華嚴四大家。著有華嚴五教章焚薪二卷、華嚴五教章復古記三卷、華嚴融會一乘義章明宗記一卷等。〔華嚴五教章焚薪卷上、諸宗章疏錄卷二、華嚴宗經論章疏目錄〕
; (師會) (1102-1166) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Tống, hiệu Khả Đường. Từ nhỏ sư đã nghiên cứu giáo chương Hoa nghiêm, không hề trễ nải. Đương thời sự học thịnh hành, các dị thuyết rối bời, học giả phần nhiều không biết chỗ qui thú, nên sư soạn sách Phần tân để cảnh giác người đời. Danh từ Phần tân (đốt củi) là lấy sự tích thu góp các kinh giả đem đốt ở Nam sơn để trở về với Chính pháp. Sư cũng đau xót trước sự suy đồi của tư tưởng Hoa nghiêm nên nghiên cứu cặn kẽ Khổng mục chương, Sưu huyền kí và Thám huyền kí, sư đặc biệt tinh thông Khổng mục chương, cùng suốt áo chỉ Lục tướng, Thập huyền. Về sau, vì cho rằng việc soạn thuật chẳng dễ, hoặc sợ làm cho người khác mê lầm, nên sư bỏ cầm bút rất lâu. Đến năm Càn đạo thứ 2, lúc đó đã 65 tuổi, sư mới bắt đầu soạn Ngũ giáo chương phục cổ kí để thỏa lòng mong muốn đã lâu. Nhưng khi soạn đến chương Đoạn hoặc phân tề thì sư lâm bệnh, an nhiên thị tịch, dạy đệ tử là Thiện hi tiếp tục công việc, thụy hiệu là Pháp Chân Đại Sư. Sư cùng với 3 vị: Đạo đình, Quan phục và Hi địch sau này được gọi chung là Tống Triều Hoa Nghiêm Tứ Đại Gia.Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân 2 quyển, Hoa nghiêm ngũ giáo chương phục cổ kí 3 quyển, Hoa nghiêm dung hội nhất thừa nghĩa chương minh tông kí. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.2; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].
sư hữu
Master and friends.
sư khổ hạnh
Ascetic monk.
sư lợi
4095唐代三階教僧。於則天武后景龍元年(707)著偽經「佛說示所犯者瑜伽法鏡經」一卷,該書係以南北朝時流行之像法決疑經為基礎,融合玄奘譯之佛臨涅槃記法住經等而成。其後還俗。生卒年不詳。
Sư Lợi 師利
[ja] シリ Shiri ||| Shīi (ca. Early 8th century--Tang); monk of the Sanjie jiao 三階教 movement involved in the production of the apocryphal Foshuo shi suofanzhe yuqie fajing jing 佛説示所犯者瑜伽法鏡經 (T 2896.85.1416-1422). => Shīi (đời Đường, trước thế kỷ thứ tám); Tăng sĩ thuộc Tam giai giáo (c: Sanjie jiao 三階教), có liên quan đến việc ra đời của bản kinh nguỵ tác Phật thuyết thị sở phạm giả Du-già pháp cảnh kinh (c: Foshuo shi suofanzhe yuqie fajing jing 佛説示所犯者瑜伽法鏡經).
sư ma úy
Siṃhanada (S)Tổ tiên đời thứ sáu cũa dòng họ Thích Ca.
sư mẫu
Mistress; master's wife.
sư nhan
Jui-yen (C), Zuigan (J), Shih-yen (C), Jui-yen (C), Zuigan, Shigen (J)Tên một vị sư khoảng TK thứ 9.
sư nói sư phải, vãi nói vãi hay
There's a reason for everything.
sư nương
Ni sư—A nun.
sư phụ
Satthu (S), Upadhaya (S), Sastṛ (S); Satthar (P), Satthu (P)Sư trưởng.
; Guru, master, teacher.
; Master—Teacher.
sư sự
To treat as a preceptor or teacher.
sư thích
4098為後代師家所撰述之著作。即後世師僧之撰述、注疏等,而與佛所說之經、菩薩阿羅漢所造之論相對稱。
; (師釋) Chỉ cho các trứ tác do các bậc sư gia đời sau soạn thuật, tức là các sách chú sớ, giải thích những kinh do đức Phật nói và những luận do các Bồ tát, La hán tạo.
sư truyền
Transmitted directly from the teacher.
sư trưởng
Xem Sư phụ.
; Master; superior.
; Elder master.
sư tôn
4096徒弟之弟子稱為師孫。禪林象器箋卷五稱呼門:「弟子之弟子稱師孫。」〔敕修百丈清規卷三〕
; Disciple of a disciple.
; Học trò của học trò ai—Disciple of a disciple.
; (師孫) Từ gọi đệ tử của hàng đồ đệ, tức là Pháp tôn của thầy mình. Môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Đệ tử của đệ tử gọi là Sư tôn.
sư tăng
4098請參閱 歷代法寶記 堪為人師之僧。又為眾僧之敬稱。虛堂和尚語錄卷一(大四七‧九八八中):「復舉昔有老宿,一夏不為師僧說話。」此處師僧一詞,即眾僧之意。又於叢林中,每稱能自立,自行承擔之禪僧為「師僧家」。如碧巖錄卷四第三十三則(大四八‧一七二中):「雲門云:『尚書且莫草草!師僧家拋卻三經五論來入叢林,十年二十年,尚不自奈何!尚書又爭得會?』」
; (師僧) Chỉ cho vị tăng có đức hạnh xứng đáng làm thầy người. Ngoài ra, Sư tăng cũng là từ tôn xưng chúng tăng. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 988 trung) nói: Lại ngày trước có vị lão túc, suốt 9 tuần an cư chẳng vì Sư tăng thuyết pháp. Từ Sư tăng ở đây chỉ cho chúng tăng. Ngoài ra, trong Tùng Lâm, vị Thiền tăng có khả năng tự lập, tự gánh vác trách vụ của mình, thường được gọi là Sư tăng gia. Như Bích nham lục tắc 33 (Đại 48, 172 trung) ghi: Ngài Vân Môn nói: Này Thượng thư! Ông chớ nên sơ suất! Bậc sư tăng gia đã luyện hết 3 kinh 5 luận mà vào tùng lâm, trải 10 năm, 20 năm mà vẫn còn chưa được thì làm thế nào mà Thượng thư hiểu nổi?
Sư tư
(師資): ý là sư đệ, sư đồ, thầy trò. Sư (師) ở đây nghĩa là người, vị thầy dạy dỗ đồ đệ, học trò; tư (資) là tư tài do thầy dạy ban cho, cũng có nghĩa là đệ tử. Đối với nhà Phật, mối quan hệ thầy trò đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thầy truyền trao pháp phái cho đệ tử, gọi là sư tư tương thừa (師資相承), huyết mạch (血脈). Theo Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh (尸迦羅越六方禮經, Taishō Vol. 1, No. 16) cho biết, đệ tử hầu thầy có 5 việc: (1) Phải kính cẩn, vui mừng; (2) Phải luôn nhớ ơn thầy; (3) Vâng theo lời thầy dạy; (4) Nghĩ nhớ không chán; (5) Phải đi theo sau khen ngợi thầy. Trong khi đó, thầy dạy đệ tử cũng có 5 điều: (1) Phải làm cho trò nhanh hiểu biết; (2) Phải làm cho trò hơn đệ tử người khác; (3) Muốn làm cho đệ tử không quên; (4) Các nghi vấn khó khăn đều phải giải thích rõ ràng; (5) Muốn khiến cho trí tuệ của đệ tử hơn thầy. Như trong Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1333) quyển 1, phần Khắc Tuyết Phong Ngữ Lục Duyên Khởi (刻雪峰語錄緣起), có đoạn: “Kiến đường trung hữu bảo tượng dữ Tam Môn điện vũ, hoảng như mộng trung sở kiến, nhân tất sư tư tương ngộ, thiên cổ do thông (見堂中有寶像與三門殿宇、恍如夢中所見、因悉師資相遇、千古猶通, thấy trong nhà có tượng báu và những ngôi điện vũ Tam Môn, mơ màng như thấy trong mộng, nhân đó thầy trò gặp nhau, thiên cổ được thông).”
sư tư
4097師弟、師徒之意。師,教訓徒弟者;資,為師所施教之資材,亦即弟子之意。佛門中師資之關係極其重要。師者傳法脈予弟子,稱師資相承、血脈。 據尸迦羅越六方禮經載,弟子事師當有五事,即:(一)當敬歎之,(二)當念其恩,(三)所教隨之,(四)思念不厭,(五)當從後稱譽之。師教弟子亦有五事,即:(一)當令疾知,(二)當令勝他人弟子,(三)欲令知不忘,(四)諸疑難悉為解說之,(五)欲令弟子智慧勝師。 南海寄歸內法傳卷三師資之道條(大五四‧二二二中):「西國相承事師之禮,初夜後夜到其師所,師乃先遣弟子安坐,三藏之中隨時教授,若事若理,不令空過。察其戒行,勿使虧違,知有所犯,即令治懺。弟子方乃為師按摩身體,襞疊衣裳,或時掃拭房庭,觀蟲進水,片有所作,咸皆代為,斯則敬上之禮也。」此外,道宣於所著教誡新學比丘行護律儀列舉出五十一條事師法,作為初學比丘事師之軌範。〔長阿含卷十一善生經、四分律序、六門教授習定論、四分律行事鈔資持記卷上三之三〕(參閱「血脈」2551)
; (師資) Chỉ cho thầy và trò. Sư là bậc thầy dạy dỗ đệ tử, Tư là những giáo pháp (tư liệu) mà thầy truyền trao cho đệ tử, đồng thời cũng có nghĩa là đệ tử. Trong Phật giáo, sự quan hệ giữa thầy và trò rất trọng yếu. Vị thầy trao truyền mệnh mạch giáo pháp cho đệ tử, gọi là Sư tư tương thừa, Huyết mạch. Cứ theo kinhThi ca la việt lục phương lễ thì đệ tử thờ thầy phải đủ 5 việc là: 1. Phải kính khen thầy. 2. Phải ghi nhớ ơn thầy. 3. Phải vâng theo những lời thầy dạy bảo.4. Luôn luôn nhớ nghĩ đến thầy. 5. Phải theo sau và tán thán thầy. Thầy dạy đệ tử cũng có 5 việc là: 1. Phải dạy cho chóng hiểu biết. 2. Phải dạy giỏi hơn đệ tử của người khác. 3. Muốn cho đệ tử nhớ biết mãi không quên. 4. Những điều khó khăn nghi ngờ của đệ tử đều phải giải nói cho hiểu biết. 5. Muốn cho trí tuệ của đệ tử được hơn thầy.Điều Sư tư chi đạo trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 222 trung) nói: Phép thờ thầy được truyền dạy cho nhau ở bên Tây vực là: Đầu đêm, cuối đêm phải đến chỗ thầy ở. Thầy bảo đệ tử ngồi yên, sau đó, trong 3 tạng kinh điển tùy thời dạy trao, hoặc sự, hoặc lí không để luống qua. Thầy xét giới hạnh của đệ tử, không được để thiếu trái, biết đệ tử có phạm lỗi, phải dạy sám hối ngay. Về phần đệ tử thì có bổn phận xoa bóp thân thể cho thầy, gấp xếp xiêm áo, lau quét phòng thầy, xem trùng, lọc nước, các việc lớn nhỏ đều làm thay thầy. Đó là phép kính thờ thầy. Ngoài ra, trong Giáo giới tân học Tỳ khưu hành hộ luật nghi, ngài Đạo Tuyên nêu ra 51 điều về phép thờ thầy để làm khuôn phép thờ thầy cho hàng Tỳ khưu mới học. [X. kinh Thiện sinh trong Trường a hàm Q.11; bài Tựa luật Tứ phần; luận Lục môn giáo thụ tập định; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3]. (xt. Huyết Mạch).
Sư Tư Huyết Mạch Truyện
(師資血脈傳, Shishikechimyakuden): tác phẩm của Thần Hội (神會), có ghi lời tựa của Độc Cô Phái (獨孤沛) trong Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận (菩提達摩南宗定是非論). Nó tương đương với truyền ký của 6 đời từ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) cho đến Lục Tổ Huệ Năng (慧能) của thư tịch Đôn Hoàng bản Thần Hội Ngữ Lục (神會語錄). Ngoài ra, nó còn là tên gọi khác của Lịch Đại Pháp Bảo Ký (歷代法寳記). Trong phần chú giải đầu quyển của Lịch Đại Pháp Bảo Ký có đoạn rằng: “diệc danh Sư Tư Huyết Mạch Truyện, diệc danh Định Thị Phi Tồi Tà Hiển Chánh Phá Hoại Nhất Thiết Tâm Truyện, diệc danh Tối Thượng Thừa Đốn Ngộ Pháp Môn (亦名師資血脈傳、亦名定是非摧邪顯正破壞一切心傳、亦名最上乘頓悟法門沛, cũng có tên là Sư Tư Huyết Mạch Truyện, cũng có tên là Định Thị Phi Tồi Tà Hiển Chánh Phá Hoại Nhất Thiết Tâm Truyện, và cũng có tên là Tối Thượng Thừa Đốn Ngộ Pháp Môn).”
sư tư thất tổ phương tiện ngũ môn
4097全一卷。附題為「擿句抽心錄之如左」。日人禿氏祐祥藏有本書貝葉形之敦煌寫本。一般學者認為本書揭示出「楞伽師資記」與「頓悟真宗金剛般若達彼岸要澤」之精華旨要。又「頓悟真宗金剛般若達彼岸要澤」與「大乘開心顯性頓悟真宗論」等相關之敦煌文獻,皆為北宗禪系之資料。〔禪思想史研究第二〕
; (師資七祖方便五門) Tác phẩm, 1 quyển, phụ đề là: Trích cú trừu tâm lục chi như tả. Đây là quyển sách viết tay hình lá bối, tìm thấy ở Đôn Hoàng, do 1 người Nhật bản là Thốc thị Hựu tường cất giữ. Các học giả cho rằng sách này nêu lên tinh hoa yếu chỉ của bộ Lăng già sư tư kí và bộ Đốn ngộ chân tông kim cương bát nhã đạt bỉ ngạn yếu trạch. Ngoài ra, những văn hiến phát hiện ở Đôn hoàng tương quan với Đốn ngộ chân tông kim cương bát nhã đạt bỉ ngạn yếu trạch và Đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông luận... đều là những tư liệu thuộc hệ thống Thiền Bắc tông. [X. Thiền tư tưởng sử nghiên cứu2].
sư tượng
4095師長成就弟子之三學,如工匠之成器,故譬之為匠。大寶積經卷一一二(大一一‧六三八中):「無量禪定福德業成,善寂調心,以為師匠。」根本說一切有部毘奈耶卷四十亦有(大二三‧八四五下)「汝等當覓上好師匠」之語。然至近世,無論教內外,謂師家、師者時,漸少以師匠稱之。
; (師匠) Thầy thợ. Bậc sư trưởng dạy dỗ đệ tử thành tựu giới, định, tuệ, như người thợ giỏi làm thành các đồ hữu dụng, cho nên ví dụ sư trưởng như người thợ (tượng). Kinh Đại Bảo Tích quyển112 (Đại 11, 638 trung) nói: Thành tựu được vô lượng nghiệp phúc đức, thiền định, khéo điều hòa tâm thường trong trạng thái vắng lặng, đó là sư tượng. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 40 cũng nói (Đại 23, 845 hạ): Các ông nên tìm bậc sư tượng tốt nhất.
sư tổ
4096<一>又作師翁。指師之師而言。由是推知,大師祖即指師祖之師。禪林寶訓卷一(大四八‧一○一九上):「演祖曰:『(中略)山門執事,知因識果,若師翁輔慈明師祖乎!』」 <二>唐代禪僧。屬南嶽之系統,為南泉普願之法嗣。後住於南山雲際寺。年壽不詳。〔景德傳燈錄卷十、五燈會元卷四〕
; The teacher of one's teacher. Patriarch.
; Thầy của thầy ai—The teacher of one's teacher.
; (師祖) I. Sư Tổ. Cũng gọi Sư ông. Chỉ cho sư phụ của thầy mình (tức ông nội của thế tục). Thiền lâm bảo huấn quyển 1 (Đại 48, 1019 thượng) ghi: Ngài Diễn tổ nói: (...) Người nắm giữ công việc trong sơn môn, phải hiểu biết nhân quả, như sư ông giúp sư tổ Từ Minh vậy!. II. Sư Tổ (?-?). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, thuộc hệ thống ngài Nam nhạc, là đệ tử nối pháp của ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Sau, sư trụ ở chùa Vân tế tại Nam Sơn. [X.Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].
sư tử
4090<一>梵語 siṃha,巴利語 sīha。又作獅子。獅子為百獸之王,故諸經論中每以獅子比喻佛之無畏與偉大。又如佛之座席稱為師子座、獅子座,佛之說法稱師子吼、獅子吼。 <二>(?~259)梵名 Siṃha,巴利名同。又稱師子比丘、師子菩提。禪宗相承系譜西天二十八祖中之第二十四祖。中印度人,婆羅門出身,從鶴勒那得法後,遊方至罽賓國,教化波利迦、達磨達等人,並傳法予婆舍斯多,命其往南天竺教化,遂獨留罽賓,時遇當地迫害佛教,被惡王所殺,寂年為魏高貴鄉公甘露四年。〔付法藏因緣傳卷六、景德傳燈錄卷二、寶林傳卷五〕
; Simha (S). A lion. Buddha, likened to the lion, the king of animals, in respect of his fearlessness.
; Simha (skt). 1) Sư tử là vua của loài thú: Loài sư tử trong các loài 4 chân, nó không sợ loài nào, mà ngược lại có khả năng hàng phục tất cả các loài—A lion, the king of animals. 2) Đức Phật cũng giống như loài sư tử vì đức vô úy của Ngài: The Buddha, likened to the lion, king of animals, in respect of his fearlessness.
; (師子) I. Sư Tử. Phạn: Siôha. Pàli: Sìha. Sư tử là chúa của trăm loài thú, cho nên trong các kinh, luận nó thường được dùng để ví dụ cho đức vô úy và tính vĩ đại của đức Phật. Lại như tòa ngồi của Phật gọi là tòa Sư tử, Phật nói pháp gọi là Sư tử hống. II. Sư Tử (?-259). Phạn, Pàli: Siôha. Cũng gọi Sư tử Tỳ khưu, Sư tử bồ đề. Vị Tổ thứ 24 trong 28 vị Tổ truyền thừa của hệ phổ Thiền tông Ấn Độ. Ngài là người Trung Ấn Độ, xuất thân từ dòng Bà la môn. Sau khi được Tổ Hạc lặc na truyền pháp cho, ngài đến nước Kế tân, giáo hóa các vị Ba lợi ca, Đạt ma đạt..., đồng thời, truyền pháp cho Bà xá tư đa và sai vị này qua Nam Thiên trúc giáo hóa, còn ngài một mình ở lại nước Kế tân. Bấy giờ gặp lúc nhà vua xứ ấy bách hại Phật giáo, ngài bị ác vương giết chết vào năm 259. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.5].
sư tử bồ tát
Xem Đạo sư Bồ tát.
sư tử bồ đề
Shishibodai (J)Tên một vị sư.
Sư Tử Bồ-đề
獅子菩提; S: siṃhabodhi;|Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Ðộ.
sư tử chính tông thiền tự
5524位於浙江西天目山獅子巖之左。元順帝至元十六年(1279),高峰原妙禪師來此建構禪叢,稱師子院。延祐五年(1318),改名師子正宗寺。元末罹兵火,明洪武四年(1371)松隱禪師復興之,至二十四年乃蔚爲叢林。其後復於明末遭燬,康熙四年(1665)大覺國師重興法席,於故址建造開山殿。〔天目山名勝志(錢文選)〕
sư tử du hí tam muội
4092梵語 siṃha-vikrīḍita-samādhi。又作獅子遊戲三昧。八種三昧之一。譬如獅子之搏鹿,自在戲樂,佛亦入此三昧,迴轉此地,使大地六種震動,故稱師子遊戲三昧。獅子於百獸中獨步無畏,佛為人中之獅子,降伏諸外道,亦無所怖畏,依此三昧力,使一切惡道地獄之眾生皆蒙解脫,得生於天上。〔大品般若經卷一序品、卷五、大智度論卷八、卷四十七〕
; (師子游戲三昧) Phạn: Siôha-vikrìđita-samàdhi. Một trong 8 loại tam muội. Như sư tử vờn bắt hươu nai, tự tại đùa giỡn, đức Phật cũng vàoTam muội này, xoay chuyển cõi đất, làm cho đại địa rúng động, thế nên gọi là Sư tử du hí tam muội. Sư tử một mình đứng giữa trăm loài thú mà không sợ, đức Phật làbậcsư tử trong loài người, hàng phục các ngoại đạo mà không khiếp sợ. Ngài nương vào sức Tam muội này làm cho hết thảy chúng sinh trong đường ác địa ngục đều được giải thoát mà sinh lên cõi trời. [X. phẩm Tựa kinh Đại phẩm bát nhã Q.1, 5; luận Đại trí độ Q.8, 47].
sư tử du hý tam muội
Siṃha-vikridita-Samādhi (S).
; The joyous samàdhi which is likened to the play of the lion with his prey. When a Buddha enters this degree of samàdhi he causes the earth to tremble, and the purgatories to give up their inmates.
; Sư Tử Du Hý Tam Muội được ví với sự vui thú tự tại của sư tử giởn mồi làm chấn động các loài thú. Khi Đức Phật nhập vào Tam Muội nầy thì cả địa cầu chấn động, hào quang chiếu khắp các chúng sanh trong cõi địa ngục khiến họ được giải thoát mà sanh về cõi nhân Thiên—The joyous samadhi which is likened to the play of the lion with his prey. When the Buddha enters this degree of samadhi he causes the earth to tremble, and the purgatories to give up their unmates.
sư tử giác
4094梵名 Buddhasiṃha。音譯作佛陀僧訶。印度無著菩薩之門人,通達密行,以高才聞名於世。玄奘所譯之阿毘達磨雜集論十六卷,乃合揉無著之大乘阿毘達磨集論及師子覺之釋者,為十支論之一。大唐西域記卷五阿瑜陀國條載,師子覺與無著、世親等嘗互謂(大五一‧八九六下):「凡修行業,願覲慈氏,若先捨壽,得遂宿心,當相報語,以知所至。」其後師子覺先捨命,然三年未見其報。後世親亦捨壽,時經六月,亦無所報。時諸異學皆譏之,以為師子覺、世親流轉惡趣,故無靈鑒。其後無著菩薩於夜初分,方為門人教授定法,有一天人乘虛而降,告無著:「從此捨壽命,往睹史多天,慈氏內眾蓮華中生。(中略)旋繞纔周,即來報命。」又告無著:「我旋繞時,見師子覺在外眾中,耽著欲樂,無暇相顧,詎能來報?」故推知師子覺學解深奧,然未享高齡。〔佛祖歷代通載卷四〕
; Buddha-siṃha (S)Tên một vị sư.
; Buddhasimha (S)
; (師子覺) Phạn: Buddhasiôha. Hán âm: Phật đà tăng ha. Cao tăng Ấn Độ, đệ tử của bồ tát Vô trước, thông suốt mật hạnh, nổi tiếng ở đời. Ngài có soạn chú sớ bộ Đại thừa A tì đạt ma tạp tập luận của bồ tát Vô trước. Theo điều A du đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 thì cả 3 ngài Sư tử giác, Vô trước và Thế thân từng nói với nhau (Đại 51, 896 hạ): Chúng ta tu hành mục đích mong được hầu cận đức Từ thị (Di lặc), nếu ai xả bỏ thân này trước, được toại nguyện xưa, thì nên báo tin cho nhau biết có được sinh về Đâu suất hay không? Về sau, ngài Sư tử giác tịch trước, nhưng đã 3 năm mà vẫn chưa thấy ngài về báo tin. Rồi tiếp theo,bồ tát Thế thân cũng tịch, nhưng 6 tháng đã trôi qua mà vẫn không thấy tin tức gì. Bấy giờ, các phái ngoại đạo đều chê cười họ, cho rằng các ngài Sư tử giác và Thế thân đã trôi lăn trong đường ác rồi, cho nên không linh hiển. Sau, vào lúc đầu đêm, bồ tát Vô trước đang dạy đệ tử phương pháp thiền định, thì cómột người cõi trời từ hư không đi xuống, bảo ngài Vô trước: Từ khi tôi bỏ thân mệnh được thác sinh từ hoa sen ra và ở trong chúng của đức Từ thị trên cõi trời Đổ sử đa, (...) Tôi vừa đi quanhđược1 vòng,liền trở lại đây báo tin cho ngài biết. Lại nói thêm: Khi tôi đi quanh thì thấy Sư tử giác ở trong số người bên ngoài đang tham đắm dục lạc, không còn rảnh rỗi để nhìn nhau, thì làm sao có thể trở về báo tin?.Cứ đó mà suy ra thì biết ngài Sư tử giác dù học vấn uyên bác nhưng chưa được hưởng ngôi cao. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.4].
sư tử giác vương
Siṃhahanu (S)Em của vua Tịnh Phạn.
sư tử giáp
Siṃhasannaha (S)Tổ tiên đời thứ ba cũa dòng họ Thích Ca.
sư tử giáp vương
4094師子頰,梵名 Siṃhahanu,巴利名 Sīha-hanu。為北印度迦毘羅衛國之王,乃釋迦牟尼佛之祖父。共有淨飯、白飯、斛飯、甘露飯四子。其長子淨飯王,即釋迦牟尼佛之父。又島史第三章謂王有五子。〔起世經卷十、五分律卷十五、大智度論卷三、彰所知論卷上〕
; Simhahànu (S). Great father of the Buddha.
; Simhahanu (skt)—Ông nội của Đức Phật Thích Ca, vị chúa thành Ca Tỳ La Vệ, cha của Tịnh Phạn Vương, Hộc Phạn Vương…,—The paternal grandfather of sakyamuni, a king of Kapilavastu, father of Suddhodana, Suklodana, Dronodana, and Amrtodana.
; (師子頰王) Sư tử giáp, Phạn: Siôhahanu. Pàli: Sìha-hanu. Vua nước Ca tì la vệ, Ấn độ, ông nội Thái tử Tất đạt đa. Vua Sư tử giáp có 4 người con là Tịnh phạn, Bạch phạn, Hộc phạn và Cam lộ phạn. Vua Tịnh phạn là con lớn của vua Sư tử giáp và là thân phụ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng, theo chương 3 trong Đảo sử thì vua Sư Tử Giáp có 5 người con. [X. kinh Khởi thế Q.10; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng].
sư tử hiền
4093梵名 Haribhadra。為八世紀中葉之印度學僧。出身於剎帝利階級。於德瓦巴拉王(梵 Devapāla)之世,出家為僧,博通內外學,尤精於般若。嘗從維盧左曩帕哆拉(梵 Vairocanabhadra)習彌勒之懺悔法。一日,忽夢一僧勸其赴卡莎路巴納(梵 Khasarpaṇa),醒後乃斷食三日以省察夢境。復夢處身於奧丹塔普利寺(梵 Odantapuri)中,時有一神人,僅現上半身,於雲中躬身禮拜。師乃問其緣由,神人告以正禮拜解說八千頌般若(梵 Aṣṭasāhasrikā)之彌勒。未久,師即見彌勒,全身金色,以支提飾頭,手結說法印,師叩之以彌勒所著現觀莊嚴論(梵 Abhisamayālaṃkāra)之多數注書中,究竟應以何本為準,彌勒乃謂:待領會全部注書後,再自其中別作注書。師以此因緣,夢醒後乃發憤搜覽撰著。其名望為當時之馬希巴拉王(梵 Mahīpāla)所重,王復召請至都城,俾令專事著作。所撰之注疏甚夥,較著者有 Vimuktasena 注、二萬五千頌般若(梵 Pañcaviṃśatisāhasrikā-prajñāpāramitā)之注、八千頌般若釋現觀莊嚴明(梵 Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā-vyākhyā, Abhisamayālaṃkārāloka)、薄伽梵功德寶集頌難語釋(梵 Bhagavad-ratnaguṇasañcaya-gāthā nāma pañjikā)、轉聲頌(梵 Vibhakti-kārikā)等,大多現存於西藏大藏經丹珠爾中。〔Śrī Sarat Chandra Das: Pag Sam Jon Zang; F.A. Schiefner: Geschichte des Buddhismus in Indien; E. Obermiller: Historyof Buddhism by Buston〕
; Haribhadrā (S)Tên một vị sư.
; (師子賢) Phạn: Haribhadra. Cao tăng Ấn độ, sống vào giữa thế kỉ thứ VIII, xuất thân từ giai cấp Sát đế lợi Sư xuất gia vào đời vua Đức ngõa ba lạp (Phạn: Devapàla), học rộng cả nội điển và ngoại điển, đặc biệt tinh thông Bát nhã. Sư từng theo ngài Duy lô tả nẵng phạ đa lạp (Phạn: Vairocanabhadra) học tập pháp sám hối của đức Di lặc. Một hôm, sư bỗng nằm mộng thấy 1 vị tăng khuyên sư đến xứ Ca sa lộ ba nạp (Phạn: Khasarpaịa); sau khi tỉnh dậy, sư nhịn ăn trong 3 ngày để suy xét về việc trong giấc mộng. Sau, sư lại mộng thấy mình ở trong chùa Áo đan tháp phổ lợi (Phạn: Odantapuri), lúc ấy có vị thần, chỉ hiện nửa thân phía trên, đứng trong áng mây, cúi mình lễ bái sư, sư hỏi lí do vì sao lễ bái, vị thần nói với sư là mình đang lễ bái đức Di lặc giải nói 8 nghìn bài tụng Bát Nhã (Phạn: Awỉsàhasrikà). Không bao lâu, sư mộng thấy đức Di Lặc, toàn thân màu vàng ròng, trên đầu có Chi đề (tháp không có xá lợi), tay kết ấn Thuyết pháp, sư đính lễ thưa hỏi: Trong đa số các sách chú giải bộ luận Hiện quán trang nghiêm (Phạn: Abhisamayàlaôkara) do đức Di Lặc trứ tác thì nên lấy bản nào làm tiêu chuẩn? Đức Di Lặc liền bảo: Đợi sau khi ông đã lãnh hội toàn bộ các sách chú giải ấy, rồi từ trong đó, ông lại viết ra bộ sách chú giải khác. Do nhân duyên này nên sau khi tỉnh mộng, sư mới ra sức tìm xem và soạn thuật. Danh tiếng sư lúc bấy giờ được vua Mã Hi Ba Lạp (Phạn: Mahìpàla) trọng vọng, nhà vua triệu thỉnh sư đến đô thành để chuyên việc trứ tác. Sư soạn rất nhiều chú sớ, nổi tiếng hơn cả thì có các bộ: - Vimuktasena chú. -Paĩcaviôzàhasrikà-prajĩà pàramità chú (chú thích 25.000 bài tụng Bát nhã) -Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramitàvyàkhyà, Abhisamayàlaôkàsàloka (Hiệnquán trang nghiêm minh chú thích 8 nghìn bài tụng Bát nhã). - Bhagavad-ratnaguịasaĩcaya-gàthà nàmapaĩjika (Bạc già phạm công đức bảo tập tụng nam ngữ thích). - Vibhakti-karikà (Chuyển thanh tụng)... Các tác phẩm trên hiện còn trong Đan châu nhĩ của Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Pag Sam Jon Zang by Zrì Sarat Chandra Das; Geschichte des Buddhismus in Indien by F. A. Schiefner; History of Buddhism by Buston, by E. Obermiller].
sư tử hương bồ tát
4092師子香,梵名 Siṃha-gandha。為阿彌陀佛於過去世行菩薩道時之名(無諍念王之第七子)。此菩薩曾與觀世音菩薩等,於寶藏如來座下發願而蒙授記成佛。悲華經卷四(大三‧一九一中):「汝之所願已得成就,天雨種種諸微妙香已,有不可計眾生,恭敬叉手發阿耨多羅三藐三菩提心,是故號汝為師子香。」同書又載,師子香菩薩所發之願共有四十,其中,第三十八願與無量壽經所載之第十七願及第十八願之意幾近相同。〔大乘悲分陀利經卷三、文殊師利佛土嚴淨經卷上、卷下〕
; (師子香菩薩) Sư tử hương, Phạn: Siôha-gandha. Tên của đức Phật A di đà (con trai thứ 7 của vuaVô tránh niệm) khi Ngài tu hành đạo Bồ tát ở đời quá khứ. Vị Bồ tát này và Bồ tát Quán Thế Âm đã cùng phát nguyện dưới tòa đức Bảo tạng Như Lai mà được thụ kí thành Phật. Kinh Bi Hoa quyển 4 (Đại 3, 191 trung) nói: Những điều ông nguyện cầu đã được thành tựu, từ trên trời, các loại hương vi diệu đã được rắc xuống và có vô số chúng sinh cung kính chắp tay phát tâm Vô thượng chính đẳng chánh giác, bởi thế nên tên ông là Sư Tử Hương. Kinh trên còn ghi: Bồ tát Sư Tử Hương phát 40 điều nguyện, trong đó, ý nghĩa của điều nguyện thứ 38 gần giống với ý nghĩa của các điều nguyện 17 và 18 trong kinh Vô lượng thọ. [X. kinh Đại thừa bi phân đà lợi Q.3; kinh Văn Thù Sư Lợi Phật độ nghiêm tịnh Q.thượng, hạ].
sư tử hống
5525<一>又作師子吼。比喻佛陀說法猶如百獸之王獅子之吼叫聲。(參閱「師子吼」4091) <二>爲道安於民國二十九年(1940)一月所創辦之佛教雜誌,其時社址設於廣西桂林。後於五十一年四月於臺北復刊。現任(七十七年)社長爲演培,發行人靈根,常覺任主編。
; 4091梵語 siṃhanāda。又作獅子吼。謂佛以無畏音說法,如獅子之咆吼。獅子為百獸之王,佛亦為人中之至尊,稱為人中獅子,故用此譬喻。又當佛說法時,菩薩起勇猛心求菩提,因而外道、惡魔生怖畏;猶如獅子吼時,小獅子亦增威,百獸怖伏。 關於「師子吼」一詞之語義,勝鬘寶窟卷上本舉出三種:(一)如說修行,謂所說如所行,言行一致而無有虛說。(二)無畏說,謂勝鬘親於佛前,對大眾縱任辯才,闡揚妙法,而無所畏懼。此無畏又有二種:(1)不畏他,謂勝人臨座而弘道綽然。(2)令他畏,謂能令外道驚愧,天魔懾懼。(三)決定說,謂依究竟理說究竟教,能上弘大道,下利群生,邪無不摧,正無不顯。 此外,維摩詰所說經注卷一、華嚴經探玄記卷十八、大智度論卷二十五等亦皆列舉多種獅子吼之解釋。其中,大智度論卷二十五並舉出佛獅子吼與獅子吼之差別,即:獅子吼能令眾獸驚怖,猶如瀕臨死亡之痛苦;佛獅子吼則無死亡之畏懼,且令聞者生喜樂心。 另新譯華嚴經卷五十七,舉出十種獅子吼。又北本涅槃經卷二十七,亦舉出獅子吼之十一事。 此外,於後世,一般多援引佛典中「獅子吼」一詞,用以形容秉持正義,排除異端,於大眾之中大聲作激昂慷慨之言論。或用以比喻悍妻所發出之惡聲,聞之足以使人蛴懼。〔中阿含卷二十六師子吼經、長阿含卷十一阿㝹夷經、無量壽經卷上、勝鬘經一乘章〕
; Khi Phật thuyết pháp, bọn ma nhiếp phục, ý dụ cho khi sư tử rống thì bá thú đều phục.
; Simhanàda (S). The lion's roar, a term designating authoritative or powerful preaching. As the lion's roar makes all the animals tremble, so Buddha's preaching overthrows all other religions, subdues devils, conquers heretics, and arrests the misery of life.
; Khi Phật thuyết pháp, bọn ma khiếp phục, ý dụ cho sư tử rống thì bách thú đều phục vậy.
; Simhanada (skt). (A) Đức Phật trong đại chúng nói điều quyết định mà không sợ hãi—The lion's roar, a term designating authoritative or powerful preaching. (B) Sư Tử Hống có bốn tác dụng—A lion's roar has four functions: 1) Làm cho cân não của các giống thú tê liệt: A lion'' roar makes all animals tremble. 2) Hàng phục loài voi: A lion's roar subdues elephants. 3) Làm cho chim sa: A lion's roar arrests birds in their flight. 4) Làm cho cá lặn: A lion's roar makes fishes sunk deeply in the water. (C) Tiếng Phật và Bồ Tát thuyết pháp cũng có bốn tác dụng—Buddha's or Bodhisattva's preaching also has four functions: 1) Đánh đổ mọi giáo thuyết khác: Overthrows all other religions or religious theories. 2) Hàng phục thiên ma: Subdues devils. 3) Đánh bạt tà đạo: Conquers heretics. 4) Thâu phục và đoạn diệt mọi phiền não: Arrest the misery of life.
; (師子吼) Phạn: Siôhanàda. Tiếng rống (kêu) của sư tử. Đức Phật dùng âm thanh vô úy để thuyết pháp như tiếng rống của sư tử. Sư tử là vua của trăm loài thú, đức Phật cũng là bậc chí tôn trong loài người, gọi là Nhân trung sư tử, cho nên tiếng thuyết pháp của Phật được ví với tiếng rống của sư tử. Khi đức Phật thuyết pháp, các Bồ tát khởi tâm dũng mãnh cầu đạobồ đề, do đó màngoại đạovà ác masợ hãi; cũng như khi sư tử cất tiếngkêurống thì những con sư tử nhỏ cũng tăng thêm uy lực, khiến trăm thú sợ hãi, nép phục. Về ngữ nghĩa của nhóm từ Sư tử hống thì Thắng nam bảo quật quyển thượng, phần đầu, nêu ra 3 ý: 1. Như thuyết tu hành: Lời nói phải đi đôi với việc tu hành, chứ không nói suông, hoặc nói 1 đường làm1nẻo. 2. Vô úy thuyết: Phu nhân Thắng man tự đứng trước đức Phật, dùng biện tài tuyên dương diệu pháp giữa đại chúng mà không sợ sệt. Trong đây lại chia làm 2: a) Không sợ người: Có khả năng hơn người nên lên pháp tòa hoằng đạo 1 cách tự tin vững chắc. b) Làm người sợ: Khiến cho ngoại đạo kinh thẹn, thiên ma khiếp đảm. 3. Quyết định thuyết: Nương vào lí tột cùng mà nói pháp cứu cánh, trên hoằng đại đạo, dưới lợi quần sinh, dẹp tà, hiển chính. Ngoài ra,Duy ma cật sở thuyết kinh chú quyển 1, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18, luận Đại trí độ quyển 25... cũng đều nêu ra nhiều cách giải thích về từ ngữ Sư tử hống. Trong đó, luận Đại trí độ quyển 25 có nêu ra sự sai khác giữa Phật sư tử hống và Sư tử hống. Tức Sư tử hống hay làm cho các loài thú kinh sợ, giống như sự đau khổ lúc hấp hối sắp chết, còn Phật sư tử hốngthìchẳng những không sợ như sợ chết mà còn làm cho người nghe sinh tâm vui mừng. Lại kinh Hoa Nghiêm quyển 57 (bản dịch mới) nêu ra 10 thứ Sư tử hống và kinh Niết bàn quyển 27 (bản Bắc) cũng nêu ra 11 việc liên quan đến Sư tử hống. Đời sau thường trích dẫn từ ngữ Sư tử hống trong kinh điển Phật để hình dung sự vâng giữ chính nghĩa, bài trừ dị đoan, giữa đám đông lớn tiếng cổ vũ lòng khảng khái. Hoặc dùng để ví dụ tiếng hung ác của người vợ dữ tợn thốt ra khiến người nghe run sợ; như thơ của Tô đông pha đời Tống, chế diễu Trần Quí thường bị vợ là Liễu thị hay ghen: Hốt văn Hà đông sư tử hống Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang. (Bỗng nghe sư tử Hà đông rống. Tay run gậy rớt lòng sợ hãi). [X. kinh Sư tử hống trong Trung a hàm Q.26; kinh A Nâu Di trong Trường A Hàm Q.11; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; chương Nhất thừa kinh Thắng Man].
sư tử hống bồ tát
Siṃhanadanadin (S)Tên một vị Bồ tát.
sư tử hống kinh
Xem Thắng Man kinh.
sư tử khải
Xem Ha ly bạt ma.
; Harivarman (skt)—Cha đẻ của thuyết Thành Thực Luận—To whom the Satyasiddhi sastra is ascribed.
sư tử ngoạ pháp
4092又作獅子臥法。謂比丘之臥法如獅子;即兩足相疊,右脅而臥。相當於吉祥臥、吉祥睡。中阿含卷八侍者經(大一‧四七三下):「阿難!汝臥當如師子臥法。(中略)獸王師子晝為食行,行已入窟。若欲眠時,足足相累,伸尾在後,右脅而臥。」〔禪苑清規卷十百丈規繩頌〕
; (師子臥法) Cách nằm của Sư tử. Đồng nghĩa: Cát tường ngọa, Cát tường thụy.Phép nằm của Tỳ khưu giống như cách nằm của sư tử, tức là nằm nghiêng hông bên phải và 2 chân chồng lên nhau. Kinh Thị Giả trong Trung A Hàm quyển 8 (Đại 1, 473 hạ) nói: A nan! Ông nên nằm như cách nằm của sư tử. (...) Sư tử là chúa các loại thú, ban ngày đi kiếm ăn, ăn rồi vào hang. Lúc sư tử muốn ngủ thì nằm hông bên phải, chân trước chân sau đều chồng lên nhau,đuôi duỗi thẳng ra phía sau.[X. Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui Q.10].
sư tử nhũ
4091又作獅子乳。比喻菩提心。大方廣佛華嚴經卷七十八(大一○‧四三二下):「譬如有人以牛羊等種種諸乳,假使積聚盈於大海,以師子乳一滴投中,悉皆變壞,直過無礙;菩薩摩訶薩亦復如是,以如來師子菩提心乳,著無量劫業煩惱乳大海之中,悉令壞滅,直過無礙。」
; Lion's milk, like bodhi-enlightenment, which is able to annihilate countless ages of the karma of affliction.
; (師子乳) Sữa của Sư tử. Ví dụ tâm bồ đề. Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm quyển 78 (Đại 10, 432 hạ) nói: Ví như người đem các loài sữa của bò, dê... chứa đầy cả biển lớn, nhưng chỉ cần nhỏ vào đó 1 giọt sữa sư tử rơi thẳng qua mà không bị ngăn ngại. Bậc Đại bồ tát cũng lại như thế, đem sữa tâm bồ đề của Như lai Sư tử bỏ vào giữa biển lớn sữa nghiệp phiền não từ vô lượng kiếp thì sữa nghiệp kia đều tan diệt hết, sữa tâm bồ đề thẳng suốt qua mà không bị ngăn ngại.
sư tử nhẫn
Kṣāntisiṃha (S)Tên một vị sư.
sư tử nhủ
Sữa sư tử, giống như sự giác ngộ bồ đề, có khả năng triệt tiêu nghiệp của vạn ức kiếp, chỉ cần một giọt sữa sư tử có thể làm mất hết mùi vị của tất cả các loại sữa khác—Lion's milk, like bodhi-enlightenment, which is able to annihilate countless ages of the karma of affliction, just as one drop of lion's milk can disintegrate an ocean of ordinary milk.
sư tử pháp môn
4092又作獅子法門。即指諸佛菩薩攝化眾生之法門;蓋藉獅子王以喻顯諸佛菩薩功德之謂。北本涅槃經第十一品中就師子吼列舉十一事,一一配以菩薩之法門。大智度論述及獅子王之形相威勢時,亦一一配當於諸佛之功德。寶雨經卷五則列出菩薩之十種善法,一一喻於獅子王。
; (師子法門) Chỉ cho pháp môn của chư Phật Bồ tát giáo hóa chúng sinh. Phẩm thứ 11 trong kinh Niết bàn (bản Bắc) có liệt kê 11 việc liên quan đến Sư tử hống, rồi phối hợp 11 việc ấy với các pháp môn của Bồ tát. Luận Đại Trí Độ, khi nói về hình tướng uy thế của sư tử chúa, cũng lần lượt đem phối với các công đức của chư Phật. Còn kinh Bảo Vũ quyển 5 thì nêu ra 10 thứ thiện pháp của Bồ tát, rồi lần lượt đem ra ví dụ với Sư tử vương.
sư tử phát
Harikeśa (S)Yết lí li xáTên một vị sư. Tên một loại quỷ Dạ xoa.
sư tử phạt y tư na phạt phái
Śrīvaisnava (S)Tên một tông phái.
sư tử phấn chấn tam muội
Siṃha-Vijrmbhit-Samādhi (S).
sư tử phấn tấn
4093又作獅子奮迅。獅子奮起之時,諸根開張,身毛皆豎,其勢迅速勇猛,以其威儀哮吼之相,其餘獸類盡失威竄伏,而令獅子兒之雄猛俱增。故諸經論中每以師子奮迅喻稱佛之大威神力,蓋佛奮迅其大悲法界之身,廣開大悲之根門,豎其悲毛之先導,復現應機之威力,可令二乘等竄藏聾盲,而使菩薩佛子增長百千諸三昧海及陀羅尼海。〔法華經踊出品、舊華嚴經卷四十五入法界品、華嚴經探玄記卷十八〕(參閱「師子奮迅三昧」4094)
; The lion aroused to anger, i.e. the Buddha's power of arousing awe.
; Khí thế của con sư tử dũng mãnh được dùng để ví với sự uy mãnh của chư Phật—The lion aroused to anger, i.e. the Buddha's power of arousing awe.
; (師子奮迅) Sư tử chồm lên nhanh chóng. Khi sư tử lấy sức chồm lên thì các căn của nó đều giãn ra và mở rộng, lông trên mình đều dựng đứng, uy thế mạnh mẽ nhanh nhẹn, cất tiếng gầm thét thìcác loài thú khác đều hoảng sợ và chạy trốn, làm cho uy thế củanhữngsư tử con cũng tăng thêm. Bởi vậy,trong các kinh thường dùng Sư tử phấn tấn để dụ cho sức uy thần lớn của Phật. [X. phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp Hoa; phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm Q.45 (bản dịch cũ); Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội).
Sư tử phấn tấn Bồ-tát sở vấn kinh 師子奮迅菩薩所問經
[ja] シシフンシンボサツショモンキョウ Shishi funshin bosatsu shomon kyō ||| The Shizi fenxun pusa suowen jing (T 1357.21.875-877); see Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經. => (c: Shizi fenxun pusa suowen jing ); Xem Hoa tích đà-la-ni thần chú kinh Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經).
sư tử phấn tấn tam muội
4093梵語 siṃha-vijṛmbhita-samādhi。又稱師子威三昧、師子嚬伸三昧、獅子奮迅三昧。略稱奮迅三昧。三昧,定之意。於所依之定中,如獅子王之奮迅勇猛,現佛之大威神力,故稱為師子奮迅三昧。華嚴經法界次第卷中說之甚詳,謂世間獅子迅速奮掙塵土,超越前後疾走之諸獸。此三昧可分二種:(一)奮除細微無知之惑。(二)出入捷疾無間,又分為二種,即:(1)入禪奮迅三昧,遠離欲界之惡不善法,入有覺有觀之色界初禪,如是次第入於二禪、三禪、四禪、空處、識處、無所有處、非想非非想處、入滅受想定等諸禪定之三昧。(2)出禪奮迅三昧,與入禪奮迅三昧相反,乃從滅受想定起,還入非想非非想處,由非想非非想處起入無所有處,如是識處、空處、四禪、三禪、二禪、初禪,乃至出散心中之三昧。入禪奮迅三昧與出禪奮迅三昧又併稱為二種師子奮迅三昧。〔增一阿含經卷十八、舊華嚴經卷四十四、新華嚴經卷四十「十定品」、南本涅槃經卷三十五、法華經玄義卷四上〕
; (師子奮迅三昧) Phạn: Siôha-vijfmbhita-samàdhi. Cũng gọi Sư tử uy tam muội, Sư tử tần thân tam muội. Gọi tắt: Phấn Tấn Tam Muội. Loại thiền định có uy lực lớn, giống như sức mạnh mẽ, nhanh nhẹn của sư tử, cho nên gọi là Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội. Theo Hoa Nghiêm kinh pháp giới thứ đệ quyển trung thì Tam muội này có thể chia làm 2 loại: 1. Dứt trừ các hoặc vô tri nhỏ nhiệm. 2. Xuất nhậpTam muội cực kì nhanh chóng. Loại Tam muội thứ 2 này lại được chia làm 2 thứ: a) Nhập thiền phấn tấn tam muội: Xa lìa các pháp bất thiện của cõi Dục mà vào Sơ thiền cõi Sắc, có đầy đủ giác và quán, rồi cứ thế lần lượt tiến vào các Tam muội như: Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ và, cuối cùng, vào Diệt thụ tưởng định. b) Xuất thiền phấn tấn tam muội: Thứ tự xuất định của Tam muội này trái lại với thứ tự của Tam muội nhập định trên, nghĩa là bắt đầu ra từ định Diệt thụ tưởng, rồi vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, lại ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà tiến vào Vô sở hữu xứ, cứ như thế lần lượt ra và vào đến Thức xứ, Không xứ, Tứ thiền, Tam thiền, Nhị thiền, Sơ thiền cho đến Tam muội ra khỏi tâm tán loạn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.18; kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch cũ); phẩm Thập định trong kinh Hoa nghiêm Q.40 (bản dịch mới); kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu].
sư tử phật
Siṃha-Buddha (S)Tên một vị Phật thời vị lai.
sư tử quang
4091梵名 Siṃha-raśmi。中印度那爛陀寺之學僧。依大慈恩寺三藏法師傳卷四載,玄奘至那爛陀寺,奉戒賢論師之命講唯識,時大德師子光先為眾講中論與百論,依中觀之義破斥瑜伽。玄奘憫其量狹,數往徵詰,復以會宗論三千頌呈戒賢及大眾,無不稱善,並共宣行。師子光自感慚赧,遂往大菩提寺,請東印度同學旃陀羅僧訶來相論難,冀洗雪前恥,其人既至,憚威而默不敢言,玄奘聲譽益甚。
; Siṃha-rasmi (S), Siṃhaprabha (S)Tên một vị sư.
; Simharasmi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Sư Tử Quang là một người chống đối trường phái Du Già, sống vào khoảng năm 630 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Simharasmi was a learned opponent of the Ygacara school who lived about 630 A.D.
; (師子光) Phạn: Siôha-razmi. Tên vị học tăng ở chùa Na Lan Đà, Trung Ấn Độ vào thời ngài Huyền Trang đến Ấn Độ cầu pháp. Theo Đại Từ Ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, lúc ngài Huyền Trang ở chùa Na Lan Đà vâng lời Luận sư Giới hiền giảng về Duy thức. Trước đó, Đại đức Sư tử quang đã giảng chođại chúng nghe về Trung luận và Bách luận. Đại đức dựa vào nghĩa của luận Trung quán để bài xích học thuyết Du già. Ngài Huyền Trang thương Đại đức Sư tử quang hẹp lượng nên nhiều lần gạn hỏi, ngài lại trình lên Luận sư Giới hiền và đại chúng 300 bài tụng Tông luận do ngài soạn. Mọi người đều khen hay và cùng tuyên hành. Đại đức Sư tử quang tự cảm thấy hổ thẹn, bèn đến chùa Đại bồ đề, mời người bạn đồng học của mình ở Đông Ấn Độ là ngài Chiên Đà La Tăng Ha đến tranh luận với ngài Huyền Trang, mong rửa sạch nỗi nhục trước. Nhưng, khi ngài Chiên Đà La Tăng Ha đến chùa Na Lan Đà, thấy uy nghi của ngài Huyền Trang đâm ra sợ, nên im lặng không dám hé răng mở miệng, do đó, tiếng tăm ngài Huyền Trang càng lừng lẫy.
sư tử quốc
Simhala (S). Sri-Lanka.
; Simhala (skt)—Tích Lan, một vương quốc nổi tiếng được thành lập bởi một thương gia tên Sư Tử, trước là thương gia, sau hàng phục ma quỷ mà lập quốc và làm vua tại đảo quốc nầy—Ceylon, the kingdom reputed to be founded by Simha, first an Indian merchant, later king of the country, who overcame the demons of Ceylon and conquered the island.
sư tử quốc đảo
Xem Lăng già đảo.
sư tử sàng
Simhasana (skt)—See Sư Tử Tòa.
Sư tử sơn 獅子山
[ja] シシザン Shishi zan ||| The Saja san school, one of the original "nine mountain 九山" schools of Korea, established during the Silla period by Toyun 道允. => e: Saja san school; Một trong Cửu sơn, chín tông phái của Phật giaod Cao Ly, được Đạo Duẫn (k: Toyun 道允) thành lập trong thời kỳ Tân La (Silla).
sư tử thân trung trùng
4091請參閱 勝鬘經 請參閱 勝鬘經 師子,即獅子。謂住於獅子身內,反噉食其肉之蟲;比喻入於佛門卻破壞佛法之惡比丘。或簡稱師蟲。蓮華面經卷上敘說甚詳,譬如獅子命絕身亡,百獸尚畏其威,不能噉食其肉,唯獅子之身自生諸蟲,還自噉食獅子之肉;佛法亦非外道惡魔所能壞,唯佛法中諸惡比丘,猶如毒刺,破壞佛法。〔仁王般若波羅蜜經卷下囑累品、成唯識論述記卷四本〕
; Trùng trong thân sư tử. Không một loài nào có thể ăn thây con sư tử, mà chỉ có những con trùng bên trong mới ăn chính nó; cũng như Phật pháp, không một giáo pháp nào có thể tiêu diệt được, mà chỉ những ác Tăng mới có khả năng làm hại giáo pháp mà thôi (trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật bảo A Nan: “Này ông A Nan, ví như con sư tử mệnh tuyệt thân chết, tất cả chúng sanh không ai dám ăn thịt con sư tử ấy, mà tự thân nó sinh ra dòi bọ để ăn thịt tự nó. Này ông A Nan, Phật pháp của ta không có cái gì khác có thể hại được, chỉ có bọn ác Tỳ Kheo trong đạo pháp của ta mới có thể phá hoại mà thôi.”)—Just as no animal eats a dead lion, but it is destroyed by worms produced within itself, so no outside force can destroy Buddhism, only evil monks within it can destroy it.
; (師子身中蟲) Gọi tắt: Sư trùng. Trùng trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử; ví dụ hạng tỉ khưu xấu ác vào trong cửa Phật, trở lại phá hoại Phật pháp. Theo kinh Liên hoa diện quyển thượng thì con sư tử tuy đã chết, nhưng trăm thú vẫn sợ uy của nó nên không dám đến ăn thịt, chỉ có những con trùng ở ngay trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử mà thôi. Phật pháp cũng thế, ngoại đạo thiên ma không phá hoại được, chỉ do các Tỳ khưu xấu ác ở trong Phật pháp, như những trùng độc, trở lại phá hoại Phật pháp. [X. phẩm Chúc lụy trong kinh Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Q.hạ; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu].
sư tử toà
4092梵語 siṃhāsana。又作師子床、獅子座、猊座。原指釋迦牟尼之座席。佛為人中獅子,故佛所坐之處(床、地等),總稱師子座。又坐此座說無為師子吼法,故亦稱師子座。後泛指寺院中佛、菩薩之臺座以及高僧說法時之座席。文殊菩薩像,跨乘獅子,意亦如上述。〔長阿含卷十七沙門果經、大智度論卷七、卷八、華嚴經探玄記卷三〕
; (師子座) Phạn: Siôhàsana. Cũng gọi Sư Tử Sàng, Nghê tòa. Vốn chỉ cho tòa ngồi của đức Thích Ca Mâu Ni. Vì đức Phật là sư tử trong loài người, nên nơi Phật ngồi (giường, chỗ... ) đều gọi làSư tử tòa. Lại vì Phật ngồi trên tòa này nói pháp Vô vi sư tử hống, nên cũng gọi là Sư tử tòa.Về sau, đài tòa của tượng Phật, Bồ tát trong các chùa viện và tòa ngồi thuyết pháp của các bậc cao tăng... đều gọi chung là Sư tử tòa. Tượng bồ tát Văn Thù cỡi Sư tử cũng mang ý nghĩa như trên.[X. kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; luận Đại trí độ Q.7, 8; Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].
sư tử trùng thực sư tử nhục
Just as no animal eats a dead lion, but it is destroyed by worms produced within itself, so no outside force can destroy Buddhism, only evil monks within it can destroy it.
sư tử trụ
Harivarman (skt)—See Sư Tử Khải.
sư tử trụ, sư tử khải
Harivarman (S)
sư tử tòa
Siṃha-sana (S).
; Simhàsana (S). A lion throne, or couch. A Buddha throne or seat; wherever the Buddha sits, even the bare ground; a royal throne.
; Simhasana (skt)—Theo Trí Độ Luận, Phật là sư tử trong loài người. Bất kỳ chỗ nào Phật ngồi, dù đó là góc phố, hay nơi trống trải, chỗ đó được gọi là “Tòa Sư Tử.”—According to the Maha-Prajnaparamita sastra, a lion throne, or couch. A Buddha throne, or seat; wherever the Buddha sits, even the corners of the town, the bare ground; a royal throne.
sư tử tôn giả
Aryasimha (S). The 24th patriarch.
; Aryasimha or Simha-bhiksu (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (24).
sư tử tướng
Simdhadhvaja (S). "Lion-flag", a Buddha south-east of our universe, fourth son of Mahàbhijna.
; Simhadhvaja (skt)—Tên vị Phật ở về phía đông nam của vũ trụ, con trai thứ tư của Mahabhijna—A Buddha south-east of our universe, fourth son of Mahabhijna.
sư tử tỳ kheo
Siṃha-bhiksu (S)Sư tử tôn giảTên vị tổ sư đời thứ 24 trong 28 vị Tổ sư Phật giáo Ấn độ.
; Aryasimha or Simha-bhiksu (skt)—See Sư Tử Tôn Giả.
sư tử vô úy quan âm
Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.
sư tử vương
4090又作獅子王、師子獸王。如來之說法能滅一切戲論,於一切外道邪見無所畏懼,如獅子王咆吼,百獸皆懾伏,故以獅子王喻之。〔增一阿含經卷二十二、無量壽經卷下〕(參閱「師子吼」4091)
; The lion king, Buddha.
; Ví chư Phật và chư Bồ Tát là vua trong loài (vì đức vô úy)—The lion king Buddhas or Bodhisattvas for their fearlessness.
; (師子王) Cũng gọi Sư tử thú vương. Vua Sư Tử. Sự thuyết pháp của đức Như Lai có năng lực diệt trừ tất cả hí luận, đối với hết thảy ngoại đạo tà kiến không hề sợ sệt,giống như sư tử chúa kêu rống thì trăm loài thú đều phải nép sợ, vì thế ví dụ như Sư tử vương. [X. kinh Nhất A Hàm Q.22; kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ]. (xt. SưTử Hống).
sư tử âm
Simhaghosa (S). "Lion's voice", a Buddha south-east of our universe, third son of Mahàbhijna.
; Simhaghosa (skt)—Sư Tử Âm Phật, là vị Phật ở về phía đông nam vũ trụ, con trai thứ ba của Mahabhijna—Lion's voice, a Buddha south-east of our universe, third son of Mahabhijna.
sư tử ý bồ tát
Siṃhamati (S)Tên một vị Bồ tát.
Sư tử 師子
[ja] シシ shishi ||| A synonym of 獅子, meaning "lion." In Buddhism, this term is an epithet of the Buddha, as it refers to his being the greatest among human beings, as the lion is the king of beasts (siṃha). This term is used ubiquitously in such texts as the Śrīmālā-sūtra and and the Nirvana Sutra. => Đồng nghĩa với 獅子, Trong Phật pháp, thuật ngữ nầy là một tên gọi của Đức Phật, vì Ngài là vĩ đại nhất trong loài người, như sư tử là vua của loài thú (s: (s: siṃha). Thuật ngữ nầy được dùng nhiều trong các kinh văn như kinh Thắng Man và kinh Niết-bàn.
Sư tử 獅子
[ja] シシ shishi ||| The lion, a metaphor for the Buddha. In Buddhist texts, this is most commonly written as 師子. => Dụ cho Đức Phật. Trong kinh Phật, từ nầy thường được viết là 師子.
sư uẩn
4098(?~973)五代僧。金華人。生性率真,遇事多直言不諱。梁龍德年中(921~923),與德韶禪師結侶參訪,先後參遊清涼、蒼梧、祝融等名山勝境,後住天台山般若寺。師之為人,滑稽突梯,凡遇好戲謔者,則與之親近,如膠似漆,故一般以高風亮節自持者多不屑與之為伍,唯德韶一人默而識之。宋開寶六年七月,無疾坐終,如入禪定,世壽八十餘。時值酷暑,停屍十四日,身體端坐,無稍偏倚,竅孔亦無穢氣。火化之後,除舍利之外,並見舌根不壞,色如紅蓮,柔軟若生。或以師在生之時別無奇特,火餘之舌根必為偶爾倖存,故重燒多次,然其色猶如紅蓮,無絲毫退易,後人多以之媲美鳩摩羅什。〔宋高僧傳卷二十三〕
sư vũ
4096與法臘、夏臘同義。師,法師之意;雨,指雨安居。佛制每歲雨季時結夏安居,故可由僧侶已過安居之數,以算其出家之年數。玄應音義卷二十五:「師雨,于矩切,謂雨安居也,言師若干夏臘也。」
; (師雨) Đồng nghĩa: Pháp Lạp, Hạ Lạp. Sư là pháp sư; Vũ chỉ cho mùa mưa, tức mùa an cư kết hạ. Đức Phật chế định người xuất gia hàng năm vào mùa mưa phải kết hạ an cư, vì thế từ ngữ Sư vũ được sử dụng để tính số năm xuất gia của hàng tăng lữ. Huyền ứng âm nghĩa quyển 25 ghi: Sư vũ nghĩa là mùa mưa an cư, nói sư được bao nhiêu tuổi hạ.
sư đàn
4098檀越(施主)與師僧之並稱。說法明眼論:「一日師檀,百劫結緣。」
; Tăng và Đàn hay Tăng và tín thí—Teacher and donor, or monk and patron.
; (師檀) Từ ngữ gọi chung đàn việt (thí chủ) và sư tăng. Luận Thuyết pháp minh nhãn nói: Một ngày sư đàn, trăm kiếp kết duyên.
sư đạo
The teacher's duty.
sư đệ
4095即指在佛教中,師父與弟子之關係。最初聽聞佛陀說法的憍陳如等五人,成為佛陀之弟子,此即佛教中最早的師弟關係。後佛弟子增為千餘人,於此情況下,佛陀即為「達人所未達之道,知人所不知之道,說人所未說之道」的師者;而所謂弟子者,即依佛所說之正道,並步其後塵,付諸實踐者。弟子之中,有聽聞佛之聲教而入於聖道者,稱為聲聞。在巴利律藏大品第一之五、四分律卷三十四等中,即敘說為師之和尚(巴 upajjhāya)或阿闍梨(梵 ācārya)與弟子(巴 saddhivihārika)之間,彼此須履行之任務。長阿含經卷十一等中,亦載有弟子敬奉師父之五事。此外授戒中,必須具有戒和尚、羯磨師、教授師等三師才可行戒儀。 釋尊在世時,釋尊為全體佛教教團之師,於其入滅後,則分別由以教法或戒律為師之長老們繼續傳承,佛教因之分裂成許多學派及教派;而各派之長老復依序傳授徒弟,遂得保留其代代相承之傳統,尤於密教中,非公開之傳授,即稱為祕傳;在禪宗則是一對一單傳,凡未接受此種傳授者,即不被承認為正式弟子。(參閱「相承」3902、「師資」4097)
; Teacher and student, master and pupil; junior fellow-student.
; 1) Teacher and student. 2) Younger disciple.
; (師弟) Chỉ cho sự quan hệ giữa sư phụ và đệ tử trong Phật giáo. Năm anh em Kiều trần như là những người đầu tiên nghe đức Phật thuyết pháp và trở thành đệ tử của Ngài, đây là quan hệ thầy trò sớm nhất trong Phật giáo.Về sau, hàng đệ tử của Phật tăng lên hơn nghìn người; trong tình hình ấy, đức Phật là bậc thầy đã đạt đạo lí mà con người chưa đạt, đã biết đạo lí mà con người không biết và đã nói đạo lí mà con người chưa nói. Còn đệ tử là những người nương theo chính đạo của Phật dạy và đi sau Ngài, được Ngài trao cho đạo lí giải thoát thực tiễn. Trong hàng đệ tử, có những vị lắng nghe âm thanh của đức Phật nói pháp mà được vào Thánh đạo, gọi là Thanh văn. Trong phần 5 của Luật tạng đại phẩm tiếng Pàli và trong luật Tứ phần quyển 34 Hán dịch, đều có nói rõ về nhiệm vụ mà thầy là Hòa thượng (Pàli: Upajjhàya) hoặc A xà lê (Phạn: Àcarya) và đệ tử (Pàli: Saddhivihàrika) phải thực hành. Trong Trường a hàm quyển 11 cũng nói đệ tử phải đem 5 việc để kính thờ thầy. Khi đức Thích tôn còn tại thế, Ngài là thầy của toàn thể giáo đoàn Phật giáo, sau khi Ngài nhập diệt thì hàng đệ tử lấy giáo pháp hoặc giới luật làm thầy, do các bậc Trưởng lão nối tiếp truyền thừa, vì thế mà Phật giáo chia ra nhiều học phái và giáo phái. Rồi các vị Trưởng lão của các phái lại tuần tự trao truyền cho đồ đệ, như vậy mới giữ gìn được truyền thống đời đời nối tiếp nhau. Riêng trong Mật giáo, không có sự trao truyền công khai, nên gọi là Bí truyền. Còn trong Thiền tông thì chỉ trao truyền giữa 1 thầy 1 đệ tử, vì thế, những người chưa tiếp nhận sự trao truyền ấy thì không được thừa nhận là đệ tử chính thức.(xt. Tương Thừa, Sư Tư).
sư đồ
Teacher and student.
sư-tử bồ đề
Siṃhabodhi (S).
sưï
(A) Artha (skt). 1) Nhật Ca Tha: Sự việc—Affair—Matter—Thing. 2) Biến Cố: Event. 3) Hành Động: Action. 4) Thực Hành: Practice. 5) “Sự” hay các pháp hữu vi do nhân duyên sanh ra, đối lại với “Lý” hay các pháp vô vi xa lìa khỏi mọi nhân duyên sanh ra: Phenomena in contrast with Noumena. 6) “Thực hành” đối lại với “Lý thuyết”: “Practice” or the thing, affair, matter, in contrast with “Theory” or the underlying principle. (B) Vastu (skt): 1) Vatsu nghĩa là một đối tượng đặc thù được cái tâm phân biệt, nhưng nó cũng có thể chỉ thực tính tối hậu được quan niệm như là một đối tượng của trực giác siêu việt: Vatsu means a particular object discriminated by the mind, but it may also designate ultimate reality conceived as an object of transcendental intuition. 2) Sự có nghĩa là sự việc, là cớ sự xãy ra, hay là một vật hiện hữu, nhưng nghĩa thông thường vẫn là “sự việc.” Phật tử không tin tưởng vào thực tại của những hiện hữu cá nhân vì kinh nghiệm cho biết không có gì tồn tại được dù chỉ trong chốc lát. Tất cả đều biến đổi, lần hồi, chầm chậm, nên lâu ngày chầy tháng ta mới nhận ra. Cảm giác của ta gắn liền với ý niệm thời gian và đo bằng không gian, cho nên mọi sự việc tiếp nối diễn ra trong thời gian đều chuyển thành một chuỗi thực tại cá biệt trong không gian—Vatsu means “a matter,” “an event,” or “a happening,” or “an existing thing.” However, its general meaning is “an event.” Buddhists do not believe in the reality of an individual existence, for there is nothing in our world of experience that keeps its identity even for a moment; it is subject to constant change. The changes are, however, imperceptively gradual as far as our human senses are concerned, and are not noticed until they pass through certain stages of modification. Human sensibility is bound up with the notion of time-divisions; it translates time into space; a succession of events is converted into a spatial system of individual realities. 3) “Sự” theo nghĩa thông thường là sự việc, là cơ sự, nhưng theo Phật giáo, “sự” có nghĩa là cái cá thể, cái dị biệt, cái cụ thể, cái đơn thể. Sự luôn đối lập với lý và đi đôi với lý thành “sự lý.” Sự thì sai biệt và phân biệt, còn lý thì vô sai biệt và vô phân biệt. Theo nghĩa thông thường trong đạo Phật, lý tức là “không,” và sự tức là “sắc.”: “Sự” ordinarily means “an event,” “a happening,” but according to Buddhist philosophy, “Vastu” means “the individual,” “the particular,” “the concrete,” “the monad.” “Sự” always stands contrasted to “lý.” “Sự” is distinction and discrimination, and “lý” is non-distinction and non-discrimination. In regular Buddhist terminology, “lý” corresponds to Sunyata, Void or Emptiness, while “sự” is form.
sương vệ
4937即門廂之護衛。全稱夾門廂衛。又稱廂曲。指密教曼荼羅通門兩側護衛所居之處。大日經義釋演密鈔卷六解釋夾門廂衛,謂「夾」為持之意,「廂」為門東西兩方之曲處,「衛」乃護之意;即門之左右設置護衛之處,設此可防魔事。又謂三重曼荼羅之四方皆設門,但僅開西方一門,其餘各門則以金剛線肿斷之;其通門之南頰之廂衛置優波遜那守門者,北頰置遜那守門者,第二院之南頰置難陀龍王,北頰置拔難陀龍王,近中一院之南頰置不可越護門者,北頰置相向守門者。 阿闍梨(指善無畏)所傳之圖僅設西方一門,其餘各方不設。廂衛於通門之兩夾成凸字形或亞字形,各角置金剛橛。即取廂衛之一方而言,為凸形,設置六橛,兩方相合則為亞字形,共計十二橛。大日經疏卷六中廣說橛數、門及廂衛之分量等。演密鈔即據此等而繪出三重曼荼羅夾門之位置(如圖),圖中之圓環表示金剛橛之位置。在現圖之胎藏界曼荼羅中,外金剛部院除東方外,西、南、北三方各設一門,各置守門之護衛,東方釋迦院及文殊院各設一門,於中央安置主尊。然僅畫門之標幟的鳥居門(梵 toraṇa),而不另作廂衛。〔大日經疏演奧鈔卷十八、曼荼羅の研究(栂尾祥雲)〕
; (厢衛) Gọi đủ: Giáp môn sương vệ. Cũng gọi Sương Khúc. Chỉ cho chỗ thần hộ vệ ở, canh giữ 2 bên cửa thông trong Mạn đồ la Mật giáo. Đại Nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 6 giải thích Giáp môn sương vệ như sau: Giáp là giữ gìn; Sương là chỗ quanh 2 bên đông tây của cửa; Vệ là hộ vệ. Tức là đặt chỗ hộ vệ 2 bên cửa để phòng ngừa việc ma tà. Ngoài ra, 4 phíacủa 3 lớp mạn đồ la đều có đặt cửa, nhưng chỉ mở 1 cửa phía tây, các cửa còn lại thì dùng dây kim cương giăng ngang. Sương vệ phía nam của cửa thông đặt Ưu a tốn na giữ cửa, phía bắc đặt Tốn na giữ cửa, phía nam của viện thứ 2 đặt Long vương Nan đà, phía bắc đặt Long vương Bạt nan đà, phía nam và phía bắc của viện gần giữa đặt 2 vị thần giữ cửa hướng vào nhau (Bất khả việt và Tương hướng). Mạn đồ la do A Xà Lê Thiện vô úy truyền chỉ đặt 1 cửa ở phương tây, các phương khác không đặt. Sương vệ ở 2 bên cửa thông làm thành hình chữ đột (.. ) hoặc hình chữ á (.. ), mỗi góc đặt cọc kim cương. Tức là lấy 1 phương của Sương vệ mà nói là hình (.. ), đặt 6 cọc, 2 phương hợp lại thì là hình (.. ), cộng chung là 12 cọc. Trong Đại Nhật kinh sớ quyển 6 có nói rộng về phân lượng của số cọc, cửa và sương vệ. Diễn mật sao căn cứ vào đây mà vẽ vị trí của 3 lớp mạn đồ la giáp môn (như hình vẽ), khuyên tròn trong hình vẽ biểu thị vị trí của những cọc kim cương. Trong Mạn Đồ La Thai tạng giới hiện nay, trừ phương đông của viện Ngoại Kim Cương bộ, 3 phươngtây, nam,bắc, mỗi nơi đặt 1 cửa, mỗi cửa đặt Sương vệ canh giữ; viện Thích ca và việnVăn Thù ở phương đông, mỗi viện đặt 1 cửa, ở chính giữa đặt vị Chủ tôn, nhưng chỉ vẽ Điểu cư môn (Phạn: Toraịa) để tượng trưng cho cửa chứ không làm Sương vệ. [X. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.18; Mạn đồ la chi nghiên cứu (Mai vĩ Tường vân)].
sướng
Satisfied—Content.
sướng mắt
Pleasant to the eye.
sạ dung
(sạ dung ) (?-195) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào cuối đời Đông hán, người Đơn Dương (An huy), tự Vĩ Minh. Khi loạn Hoàng cân nổi lên, ông kêu gọi nhiều người đi theo quan Thứ sử Từ châu là Đào khiêm. Khiêm rất quí trọng và cho ông làm quan coi việc vận chuyển lương thực ở 3 quận Quảng Lăng, Hạ Bì và Bành Thành, đồng thời, làm tướng trấn giữ Hạ Bì. Cứ theo Ngô Chí trong Tam quốc chí quyển 4 thì Sạ dung rất kính tin Phật giáo, ông xây cất 1 ngôi chùa rất lớn, đúc tượng Phật bằng đồng mạ vàng, mặc áo gấm, hàng ngày ông tụng kinh. Mỗi lần Phật đản, ông làm lễ tắm Phật và đem thức ăn cho những người nghèo đói. Dân gian đời Hán xây chùa thờ Phật, làm các việc Phật, tụng kinh lễ bái, bắt đầu từ đó. Lại do việc Sạ dung tụ tập dân chúng đọc tụng kinh Phật mà người ta biết chắc là thời bấy giờ đã có kinh điển Phật giáo được dịch ra chữ Hán. Qua các sinh hoạt tín ngưỡng này, ta cũng có thể thấy được tình hình Phật giáo ở Từ châu vào những năm cuối đời Linh đế và thời Hiến đế (190) nhà Hậu Hán. [X. Phật tổ thống kỉ Q.35; Hậu Hán thư Q.103].
Sạc-va Bắc-sa
S: sarvabhakṣa; »Kẻ háo ăn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Sa-ra-ha, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Ông là thần dân của vua Siṅgha-can-dra nước A-bi-ra (ābhira). Ông tham ăn, có cái bụng to như cái trống, cái gì cũng ăn được cả. Ngày nọ không kiếm ra gì để ăn, ông bị vào trong một hang động ngồi thở dốc. Ðạo sư Sa-ra-ha gặp ông hỏi han. Ông thú nhận nếu không ăn thì bụng như bị lửa đốt, cồn cào chịu không nổi. Sa-ra-ha nói nếu chút đói bụng mà không chịu được thì mai sau thành Ngạ quỷ sẽ như thế nào. Nghe xong, ông toát mồ hôi, cầu xin tu tập để thoát khổ đó. Sa-ra-ha cho ông nhập môn và dạy ông phép tu của »Kẻ lười biếng« (s: bhusuku) Tịch Thiên (s: śāntideva) như sau:|Hãy tưởng tượng ra rằng,|bụng: bầu trời trống rỗng,|lửa: hoả tai kiếp nạn;|mọi hiện tượng trên đời,|là thức ăn thức uống,|và ăn hết vũ trụ.|Ông tinh cần tu tập, ăn mặt trời mặt trăng, nuốt luôn núi Tu-di. Lúc đó loài người bị mất ánh sáng mặt trời mặt trăng, họ kêu gào sợ hãi. Các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) phải đến cầu cứu Sa-ra-ha. Sa-ra-ha dạy tiếp cho ông, hãy quán tưởng những gì nhai nuốt vào bụng là tính Không. Ông lại đạt tri kiến hiện tượng và tính Không là một, lúc đó mặt trời mặt trăng lại hiện, mọi người hò reo. Sau 15 năm, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Vô minh, nhiều mùi vị,|Ðắc đạo, chỉ một thứ.|Ðối với kẻ phàm phu:|còn Niết-bàn, Sinh tử.|Khi đã chứng đắc rồi,|Một thanh tịnh duy nhất.
sạch
Clean—Pure.
sạo sụt
To search for something.
sạt nghiệp
To ruin oneself.
sải
Buddhist nun.
sản tử thiền
4059禪林用語。指空解一切之禪法。剗子,即鋤頭。謂徒然剷除一切事物之存在,胸中了無些許義理或世間各種對立之法,然亦由於空解諸法而不識佛法、不解宗要;猶如徒知以鋤頭剷除所有沙泥土石,不知揀擇可資使用之土壤,復於淨除一切之後,亦不知建立任何可資安居之舍宅。禪林中,每以「剗子禪」一詞貶稱此類徒然空解一切之禪法。
; (剗子禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Thiền pháp thấy tất cả đều là không. Sản tử là cái bừa, ý nói một mực phủ nhận sự tồn tại của tất cả sự vật, trong tâm hoàn toàn không có chút nghĩa lí hay các thứ pháp đối lập nào trong thế gian hết. Nhưng cũng vì hiểu các pháp không một cách hời hợt như thế, nên chẳng nhận thức được Phật pháp, không hiểu được yếu chỉ của tông môn. Giống như chỉ biết dùng bừa bừa bỏ hết tất cả sỏi cát, đất đá, bùn lầy chứ không biết lựa chọn đất đai màu mỡ để lại mà dùng. Vả lại, sau khi đã bừa bỏ tất cả, cũng không biết phải xây dựng 1 ngôi nhà nào để ở. Trong Thiền Lâm, từ ngữ Sản tử thiền thường được dùng để chê trách những người tu Thiền mà chủ trương tất cả đều là không một cách hời hợt, thiên lệch.
sảng
To rave (nói sảng).
sảng sốt
To fall into a panic.
sảnh nữ li hồn
4021禪宗公案名。無門關第三十五則(大四八‧二九七中):「五祖問僧云:『倩女離魂,那箇是真底?』」倩女離魂乃剪燈新話卷上所載之怪譚。據云,倩娘嘗許王宙為妻,既而父悔,倩娘遂抑鬱成病,宙亦深恨,欲赴京師,途中忽遇倩娘,遂相攜至蜀,凡五年,生二子。後還歸岳家謝其事,然倩娘猶病在閨中,唯存一息,眾皆怪之。室中病女聞之而喜,起出相迎,兩位倩娘合為一體。前之倩娘實乃病女之離魂。 此公案著重於參究吾人自心本性究竟為真妄善惡,或形體之一異殊同。證道歌(大四八‧三九五下):「不除妄想不求真,無明實性即佛性。」即真妄不二。此公案乃是對於超越真妄自體之絕對價值,探問「那個是真底?」此非凡夫之情識所能分別,若無分別,則輪轉六道四生皆為菩提道場,而遊戲於三昧之境界。〔正統錄卷六「五祖章」、折中錄卷十五、道樹錄卷八十六〕
sấm
Điềm báo trước—The book of oracles—Prognosticate--Prophecy.
sấm la bán ni
Ksarapaniya (skt). 1) Nước tro: Ash-water. 2) Y áo màu nước tro: Ash-coloured garments.
sấm sét
Zeus.
sấn
6919為梵語 dakṣiṇā(音譯達嚫拏、馱器尼),巴利語 dakkhiṇā 之略譯。又作嚫、〖⿰扌/親〗、襯。其義有四:(一)泛指一般之布施。此時亦通於檀施、布施等用法。(二)指信徒以金錢、財物等布施僧侶。(三)指信徒所施予僧侶之金錢、財物。(四)指僧侶於信徒布施食物後,為信徒說法;此時亦稱達䞋、達䞋說法。 有關此類布施財物之用語,除上舉之外,佛教中另有上䞋、下䞋、堂䞋、俵䞋、重䞋、供䞋、檀䞋、大䞋、䞋金、䞋財、䞋資、䞋施、䞋錢等。其中,「上䞋」係指信徒獻上金錢、財物;「下䞋」係指將信徒所布施之財物安置於諸佛、祖師之像前;「䞋施」係指信徒對僧侶之布施;其餘之堂䞋、俵䞋、䞋物、䞋資、䞋錢等,皆指信徒對僧侶或寺院布施財物,或指所布施之財物,或特指僧侶為信徒作佛事畢,信徒所施之經懺錢。此外,禪林在法會時,住持於諸佛、祖師像前供置信徒所布施之錢財,亦稱為䞋金、䞋錢等。又法會當中,若住持認為所供奉之施物尚未允當時,即令人加添之,此稱為貼䞋。 敕修百丈清規卷三管待專使條(大四八‧一一二六下):「知事預稟住持,議專使宣疏帖人䞋資輕重,方丈備貼䞋,須令合節。」又禪林象器箋達嚫條:「增壹阿含經云:『是時迦葉從佛受教,往至梵志婦舍已,就座而坐,是時彼婆羅門婦便供辦餚饌種種飲食以奉迦葉,是時迦葉即受食。欲度人故,而向彼人說此噠嚫。』」〔舊譯華嚴經卷四十四、四分律卷四十九、尊婆須蜜菩薩所集論卷二、四分律行事鈔卷下三、禪苑清規卷六中筵齋條、玄應音義卷一、禪林象器箋錢財門〕(參閱「達嚫」5677)
; (䞋) Phạn: Dakwiịà. Pàli:Dakkhiịà. Gọi đủ: Đạt sấn noa, Đà khí ni. Gồm có 4 nghĩa: 1. Chỉ chung cho sự bố thí thông thường, cũng như Đànthí, Bố thí. 2. Chỉ cho tiền bạc, tài vật tín đồ dùng để bố thí cho chúng tăng. 3. Chỉ cho sự bố thí tiền bạc, tài vật của tín đồ cho chư tăng. 4. Chỉ cho việc chư tăng thuyết pháp sau khi được tín đồ bố thí thức ăn. Thuyết pháp ở đây cũng gọi là Đạt sấn, Đạt sấn thuyết pháp. Về các dụng ngữ thuộc loại bố thí tài vật thì ngoài chữ Sấn nói trên, trong Phật giáo còn có những từ ngữ như: Thượng sấn, hạ sấn, đường sấn, biểu sấn, trọng sấn, cung sấn, đàn sấn, đại sấn, sấn kim, sấn tài, sấn tư, sấn thí, sấn tiền... Trong đó, thượng sấn là tín đồ dâng tiền bạc, tài vật lên; hạ sấn là tín đồ đem tài vật bố thí đặt ở trước tượng chư Phật, Tổ sư; sấn thí là tín đồ bố thí cho chư tăng. Còn đường sấn, biểu sấn, sấn vật, sấn tư, sấn tiền... đều chỉ cho việc tín đồ bố thí tài vật cho chư tăng hoặc chùa viện, hoặc chỉ cho tài vật bố thí, hoặc đặc biệt chỉ cho tiền kinh sám mà tín đồ bố thí cho chư tăng sau khi đã vì họ mà làm xong các Phật sự. Ngoài ra, khi cử hành pháp hội trong Thiền lâm, vị Trụ trì đem tiền tài do tín đồ bố thí đặt trước tượng chư Phật và Tổ sư để cúng dường cũng gọi là Sấn kim, Sấn tiền. Lại trong pháp hội, nếu vị Trụ trì thấy các thí vật dâng cúng chưa được đầy đủ, liền bảo người dâng thêm, thì thí vật dâng thêm được gọi là Thiếp thí. Điều Đạt sấn trong Thiền lâm tượng khí tiên dẫn kinh Tăng nhất a hàm nói: Lúc đó, ngài Ca diếp vâng lời Phật dạy đến nhà người Phạm chí. Khi ngài Ca diếp đến nơi, vợ người Phạm chí thỉnh ngài ngồi và dâng các món ăn thịnh soạn cúng dường ngài. Sau khi thụ thực, ngài Ca diếp bèn nói pháp đạt sấn cho vợ người Phạm chí Bà la môn nghe. [X. kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch củ), luật Tứ phần Q.49; luận Tôn bà tu mật Bồ tát sở tập Q.2; Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ, phần 3; điều Trung diên trai trong Thiền uyển thanh qui Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.1; môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Đạt Sấn).
sấn kim
6652又作䞋金、嚫財、嚫錢。其義有三:(一)指信徒布施三寶之金、銀、衣物等。(二)指禪宗之住持於法會時,於諸佛祖師像前所供之獻金。(三)僧侶為其俗世親屬或一般在家信徒作佛事之後,施主供養眾僧之錢亦稱為嚫金。(參閱「達嚫」5677、「䞋」6919)
; (嚫金) Cũng gọi Sấn tài, Sấn tiền. Gồm có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho tiền bạc, y vật tín đồ dâng cúng Tam bảo. 2. Chỉ cho vàng bạc của tín đồ cúng dường mà vị Trụ trì đặt trước chư Phật và Tổ sư khi có pháp hội. 3. Chỉ cho số tiền tín đồ cúng dường chư tăng sau khi chư tăng đã làm xong các Phật sự cho tín đồ. (xt. Đạt Sấn, Sấn).
sấn thí
6652嚫,梵語 dakṣiṇā,巴利語 dakkhiṇā,音譯為達嚫拏、馱器尼,意譯為財施、施頌,又作䞋、襯、〖⿰扌/親〗。嚫施,係梵漢並稱之語,即布施之意。禪苑清規卷七尊宿遷化(卍續一一一‧四五八下):「起龕之日,本院隨力作一大齋,襯施重於尋常,至時請尊宿一人舉龕。」(參閱「䞋」6919)
; (嚫施) Sấn, Phạn: Dakwiịà. Pàli: Dakkhiịà. Hán dịch: Tài thí, Thí tụng. Cũng gọi: Sấn. Sấn thí là từ ghép chung tiếng Phạn và chữ Hán, nghĩa là bố thí. Điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui quyển thượng (Vạn tục 111, 458 hạ) nói: Vào ngày khởi khám (động quan), bản viện tùy khả năng đặt trai soạn, sấn thí quí ở chỗ bình thường, không nên cầu kì; đến giờ, thỉnh 1 vị tôn túc nâng khám. (xt. Sấn).
sấn vật
6651指布施之物,或特指施與僧侶之物。嚫,指布施、施與之意,故嚫物即指布施他人或施與僧侶之財物;與「嚫資」同義。(參閱「達嚫」5677、「䞋」6919)
; (嚫物) Đồng nghĩa: Sấn tư. Chỉ cho vật bố thí, hoặc đặc biệt chỉ cho vật bố thí cho chúng tăng. (xt. Đạt Sấn, Sấn).
sấn y
6865即內衣。又作襯身衣、襯體衣。於寒時或其他因緣而著之。據十誦律卷三十九載,有比丘未著襯身衣而倚新畫壁,致綵畫剝落,佛陀遂制比丘未著襯身衣而倚畫壁者,得突吉羅罪。又五分律卷二十一記載佛陀說襯衣之衣量(大二二‧一四二上):「時六群比丘作襯身衣,大小如僧祇支,或如泥洹僧。以是白佛,佛言:『不應爾,應三種作,上者從覆頭下至踝舒覆,左手掩令等沒;中者從覆頭下至半脛舒覆,左臂掩等至腕;下者從覆頭下至膝舒覆,左臂掩等半肘。』」〔四分律卷五十二、有部毘奈耶雜事卷十四〕
; (襯衣) Cũng gọi Sấn thân y, Sấn thể y. Áo lót mình. Áo này mặc khi lạnh hoặc khi có nhân duyên khác. Theo luật Thập tụng quyển 39, có lần, 1 vị Tỳ khưu không mặc sấn y mà đứng dựa vào bức tranh mới vẽ trên vách, làm cho nó tróc hết màu, đức Phật liền qui định Tỳ khưu không mặc sấn y mà dựa lưng vào tranh vách thì phạm tội Đột cát la. Luật Ngũ phần quyển 21 ghi: Bấy giờ, Lục quần Tỳ khưu may áo sấn thân cỡ bằng Tăng kì chi, hoặc bằng Nê hoàn tăng. Các Tỳ khưu đem việc ấy bạch đức Phật,Ngài dạy: Không nên may như thế, nên may theo 3 bậc sau đây: -Bậc thượng: Trên phủ đầu, dưới che đếnmắt cá chân, tay trái che kín hết. -Bậc trung: Trên phủ đầu, dưới phủđến nửa ống chân, tay trái che đến cổ tay. -Bậc hạ: Trên phủ đầu, dưới phủ đến đầu gối, tay trái che đến nửa khuỷu tay. [X. luật Tứ phần Q.52; Hữu bộ Tì nại da tạp sự Q.14].
sầu
Sorrowful—Sad.
sầu bi
Sad—Pitiful.
sầu cảm
Gloomy—Melancholy.
sầu khổ
To be sorrowful.
sầu muộn
Daurmanasya (S). Grief, distress.
; Afflicted—Grieved—Distressed—Sadness.
sầu não
Mournful—Doleful.
sầu vạn cổ
Never-ending sorrow.
sập xuống
To fall down.
Sắc
色; S, P: rūpa;|Ngũ uẩn
sắc
hay sắc tướng, sắc pháp, Phạn ngữ rpa, chỉ chung mọi biểu hiện có thể nhận biết được của vật chất, gồm cả năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), năm trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, đối tượng xúc chạm) và mọi vật hữu hình. Sắc cũng là một trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
; 2541梵語 rūpa,巴利語同。rūpa 係自 rūp(造形)之動詞語根變化而來,故含有「有形狀」之意。又謂 rūpa 是由 rū(壞)之動詞語根轉變而來,有變壞、變化之意。廣義之色,為物質存在之總稱。狹義之色,專指眼根所取之境。玆就廣狹二義分述之: <一>色為物質存在之總稱。即五蘊中之色蘊,五位中之色法(與心法相對)。乃質礙(佔有一定空間),且會變壞者。經論中對於色有諸種分法,據俱舍論卷一載,色包含五根(眼耳鼻舌身)、五境(色聲香味觸)、無表色等十一種。唯識宗分色為五根、五境、法處所攝色等十一種。其中,法處所攝色是意識之對境,包括極略色、極迥色、受所引色、遍計所起色、自在所生色等。 於此諸色法中,又可依其一一法之性而歸納成下列數種分類:(一)內色(五根)與外色(五境)。(二)細色(無表色,或指色界之色)與粗色(由極微所成之色,或指欲界之色)。(三)定果色(由定所生之色)與業果色(由業所造之色)。(四)可見有對色(指狹義之色,即色境)、不可見有對色(指聲、香、味、觸、五根)與不可見無對色(指無表色)等三種。〔雜阿含經卷一、卷十三、北本大般涅槃經卷三十九、俱舍論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷一〕(參閱「五根」1137、「五境」1171、「色蘊」2549、「法處所攝色」3389) <二>眼根所取之境。對於聲、香等而言,色乃專指眼根所識別之對象,如青、黃等質礙之境。五境之一,六境之一,十二處之一,十八界之一。又作色境、色處、色界。據瑜伽師地論卷一載,色大別有三種:(一)形色,長、短、方、圓、高、下、正、不正等八種。(二)顯色,青、黃、赤、白、雲、煙、塵、霧、影、光、明、闇等十二種。(三)表色,凡吾人行、住、坐、臥、取、捨、屈、伸等,種種動作形態,顯然可表示於外,而令人目見者。蓋此皆於五根、五境等色蘊中,特指眼根所取之境,故稱為色。〔識身足論卷十一、大毘婆沙論卷十三、卷七十五、順正理論卷一、阿毘達磨藏顯宗論卷二、俱舍論光記卷一、成唯識論述記卷二本、有宗七十五法記卷一〕(參閱「表色」3513、「形色」3788、「顯色」6922)
; RŪpa (S, P), Form, MatterHình sắc, Sắc tướngSắc là một trần trong lục trần. Sắc đối với Tâm, vôsắc. Thọ Tưởng Hành Thức thuộc tâm. Tứ Đại: đất nước gió lửa thuộc sắc.
; Rùpa (S). Outward appearance, form, colour, matter, thing; the desirable, especially the feminine attraction. It is defined as that which has resistance; or which changes and disappears, i.e. the phenomenal; also as hiển sắc colour and quality, hình sắc form or the measurable, and biểu sắc mode or action.
; Rupa (skt)—Form—Hình tướng của vật chất. Có nhiều loại sắc (vật chất, hình thể, hay hình dáng vật thể—matter, form, or material shape)—Appearance—Object. There are several different categories of rupa: (I) Nghĩa của sắc—The meanings of Rupa: Sắc là hình thể, nhưng thường dùng theo nghĩa thể chất, có một vị trí trong không gian, và ngăn ngại với những hình thể khác. Vậy, sắc có thể tích, do đó có hạn cuộc, bị tùy thuộc. Sắc phát hiện khi hội đủ những nhân duyên nào đó, và tùy những nhân duyên ấy mà trụ một thời gian, rồi tiêu diệt mất. Sắc vốn vô thường, lệ thuộc, hư giả, tương đối, nghịch đảo và sai biệt—Form is used more in the sense of “substance,” or “something occupying space which will resist replacement by another form.” So it has extension, it is limited and conditioned. It comes into existence when conditions are matured, as Buddhists would say, and staying as long as they continue, pass away. Form is impermanent, dependent, illusory, relative, antithetical, and distinctive. (II) Phân loại sắc—Categories of Rupa: (A) Hai Loại Sắc—Two kinds of rupa. 1) Nội sắc (những căn của giác quan như nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân): inner rupa as the organs of sense (eye, ear, nose, tongue, body). 2) Ngoại sắc (những trần cảnh bên ngoài như màu sắc, âm thanh, mùi thơm, hương vị, sự xúc chạm): Outer rupa as the objects of sense (colour, sound, smell, taste, touch). (B) Ba loại sắc—Three kinds of rupa: 1) Khả kiến hữu đối sắc (các sắc trần, trắng, xanh, vàng, đỏ, v.v.): Visible objects (white, blue, yellow, red, etc.). 2) Bất khả kiến hữu đối sắc (thanh, hương, vị, xúc): Invisible objects (sound, smell, taste, touch). 3) Bất khả kiến vô đối sắc (những vật thể trừu tượng): Invisible immaterial or abstract objects. (C) Thập Nhất Sắc (Mười Một loại Sắc)—Eleven kinds of rupa: 1) Ngũ Căn—The five organs of the sense: a) Nhãn: Eye. ii) Nhĩ: Ear. iii) Tỷ: Nose. iv) Thiệt: Tongue. v) Thân: Body. 2) Ngũ Cảnh—The five objects of the sense: i) Sắc: Colour. ii) Thanh: Sound. iii) Hương: Smell. iv) Vị: Taste. v) Xúc: Touch. 3) Vô Biểu Sắc—The immaterial object: (D) Thập Tứ Sắc (Mười Bốn loại sắc)—The fourteen elements: 1) Ngũ Căn—The five organs of sense (see Ngũ Căn in (C) (a). 2) Ngũ Cảnh—The five objects of sense (see Ngũ Cảnh in (C) (b). 3) Tứ Đại—The four elements: i) Đất: Earth. ii) Nước: Water. iii) Lửa: Fire. iv) Gió: Air or wind.
; (色) Phạn, Pàli: Rùpa. Nói theo nghĩa rộng, Sắc là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại; còn nói theo nghĩa hẹp thì Sắc là chỉ những cảnh mà nhãn căn duyên theo. Ngữ căn của từ rùpa là động từ rùp (tạo hình), cho nên rùpa hàm nghĩa có hình dáng. Cũng có thuyết cho rằng ngữ căncủarùpa là động từrù (hoại) cho nên có nghĩa biến hoại, biến hóa. I. Sắc. Tên gọi chung tất cả vật chất tồn tại. Như là Sắc uẩn trong 5 uẩn, Sắc pháp trong 5 vị. Sắc có tính chất ngại và biến hoại. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì Sắc gồm 11 thứ là: 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), 5 cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và Vô biểu sắc. Tông Duy thức chia Sắc làm 11 thứ: 5 căn, 5 cảnh và Pháp xứ sở nhiếp sắc. Pháp xứ sở nhiếp sắc là đối cảnh củaÝ thức, bao gồm Cực lược sắc, Cực qúynh sắc, Thụ sở dẫn sắc, Biến kế sở khởi sắc và Tự tại sở sinh sắc. Trong các sắc pháp này lại có thể căn cứ vào tính chất của mỗi pháp mà qui nạp thành các loại sau: 1. Nội sắc (5 căn) và Ngoại sắc (5 cảnh). 2. Tế sắc (Vô biểu sắc, hoặc chỉ cho Sắc của cõi Sắc) và Thô sắc (sắc do Cực vi tạo thành, hoặc chỉ cho sắc của cõi Dục). 3. Định quả sắc (sắc dothiền định sinh ra) và Nghiệp quả sắc (sắc do nghiệp tạo ra). 4. Khả kiến hữu đối sắc (chỉ cho sắc theo nghĩa hẹp, tức sắc cảnh), Bất khả kiến hữu đối sắc (chỉ chothanh, hương, vị, xúc, 5 căn) và Bất khảkiếnvôđối sắc (chỉ cho Vô biểu sắc). X. kinh Tạp a hàm Q.1, 13; kinh Đại niết bàn Q.39 (bản Bắc);luận Câu xá Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập]. (xt. Ngũ Căn, Ngũ Cảnh,Sắc Uẩn, Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc). II. Sắc. Cũng gọi Sắc cảnh, Sắc xứ, Sắc giới. Đối cảnh của nhãn căn duyên theo, như các cảnh chất ngại xanh, vàng... là 1 trong 5 cảnh, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Theo luận Du già sư địa quyển 1 thì Sắc này đại để có 3 loại: 1. Hình sắc: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao thấp, ngay thẳng và không ngay thẳng. 2. Hiển sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, bụi, sương mù, bóng, ánh sáng, bóng tối... 3. Biểu sắc: Đi, đứng,ngồi,nằm, lấy, bỏ, co, duỗi... Các loại sắc trên đặc biệt thuộc đối cảnh của nhãn căn duyên theo. [X. luận Thức thân túc Q.11; luận Đại tì bà sa Q.13, 75; luận Thuận chính lí Q.1; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.2; Câu xá luận quang kí Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Hữu tông thất thập ngũ pháp kí Q.1]. (xt. Biểu Sắc, Hình Sắc, Hiển Sắc).
sắc bào
The material as a bubble, impermanent.
; Sắc Diệm—Vật chất vô thường như bào như diệm (như bong bóng như ánh lửa)—The material as a bubble, or a flame; impermanent.
sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ tưởng, hành, thức diệt phục như thị
Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy—Form does not differ from emptiness (the void), emptiness does not differ from form; form itself is emptiness, emptiness itself is form; the same is true for feelings, conceptions, impulses and consciousness.
sắc chúng
Xem sắc ấm, sắc uẩn.
; See Sắc Uẩn.
sắc cái
2549色,色塵;蓋,覆蓋之意。以色、聲等色塵能覆蓋真性,故稱為色蓋。
; The concealing, or misleading, character of the visible, or material, the seeming concealing reality.
; 1) Bản chất của vật chất là che đậy và làm cho chúng sanh mê muội—The concealing, or misleading, character of the visible or material. 2) Cái giả che đậy cái thật: The seeming concealing reality.
; (色蓋) Sắc là sắc trần, Cái là che lấp. Vì sắc trần thường che lấp chân tính, cho nên gọi là Sắc cái.
sắc căn
VatthurŪpa (P).
sắc cảnh
2549又作色處、色界。或單稱色。為五境之一,六境之一,十二處之一,十八界之一。眼根所取青黃等質礙之境,稱為色境。分為二類:(一)形色,長、短、方、圓、高、下、正、不正。(二)顯色,青、黃、赤、白、雲、煙、塵、霧、影、光、明、闇。瑜伽師地論卷一則另加表色(行、住、坐、臥、取、捨、屈、伸),而合為三類。〔大毘婆沙論卷十三、俱舍論卷一〕(參閱「十二處」343、「十八界」356、「五境」1171、「六境」1298、「表色」3513)
; RŪpa-visaya (S).
; Visible objects, the realm of vision, or form.
; Cảnh sắc, cảnh giới có hình sắc (các pháp xanh, vàng, đỏ, trắng đều là cảnh giới đối với nhãn căn)—Visible objects, the realm of vision or form.
; (色境) Cũng gọi Sắc xứ, Sắc giới. Gọi tắt: Sắc. Chỉ cho những đối cảnh xanh, vàng... chất ngại do nhãn căn duyên theo, là 1 trong 5 cảnh, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Sắc cảnh được chia làm 2 loại: 1. Hình sắc: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, chính, bất chính. 2. Hiển sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, sương mù, bụi, bóng, sáng... [X.luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Cảnh, Lục Cảnh, Biểu Sắc).
Sắc cảnh 色境
[ja] シキキョウ shikikyō ||| (rūpa-visaya). 'color.' One of the five classes of objects. The object of the vision faculty. In Consciousness-only theory, an aspect of the eye-consciousness.` => (j: shikikyō; s: rūpa-visaya) Là một trong năm loại trần cảnh. Là đối tượng của nhãn căn. Theo giáo lý Duy thức tông, sắc cảnh là phạm trù đối tượng của nhãn thức.
sắc cụ
Material objects.
; Vật thể—Material objects.
Sắc cứu cánh thiên
cõi trời Sắc cứu cánh. Xem A-ca-ni-trá.
sắc cứu cánh thiên
2542色究竟,梵名 Akaniṣṭha 或 Aghaniṣṭha,巴利名 Akaniṭṭha,音譯阿迦尼吒、阿迦尼師吒、阿迦膩吒、阿迦抳瑟搋。又作礙究竟天、質閡究竟天、一究竟天、一善天、無結愛天、無小天。乃色界四禪天之最頂位。色界十八天之一,五淨居天之一。此天乃修最上品四禪者所生之處,其果報於有色界中為最勝。 關於此天眾生之壽量,大樓炭經卷四謂,壽長百劫,然亦有夭折者。長阿含經卷二十謂,壽長五千劫,或稍減。立世阿毘曇論卷七、俱舍論卷十一謂,壽量一萬六千大劫,身量一萬六千由旬。〔大樓炭經卷一、起世經卷一、大毘婆沙論卷一三六、雜阿毘曇心論卷二、法苑珠林卷三、慧苑音義卷下、佛祖統紀卷三十一〕(參閱「五淨居天」1150、「色界」2545)
; Akṣanirtha (S), Akaniṣṭha (S), Akanittha (P), Akanitthadeva (P), Highest Heaven of the world of form Tên một cõi giới trong ngũ tịnh cư thiên hay Tịnh cư thiên, Tịnh phạm địa, cõi cuối cùng trong Tứ thiền thiên = A ca ni trá thiên, A cá ni tráChư thiên cõi này quán xét rốt ráo đến chỗ vi tế các trần.
; Akanistha (skt)—Tầng trời sắc giới cao nhất—The highest of the material heavens. ** For more information, please see Sắc Giới and Thiên.
; (色究竟天) Sắc cứu cánh, Phạn: Akaniwỉha hoặc Aghaniwỉha. Hán âm: A ca ni tra, A ca ni sư tra, A ca nị tra, A ca ni sắt trá. Cũng gọi Ngại cứu cánh thiên, Chất ngại cứu cánh thiên,Nhất cứu cánh thiên, Nhất thiện thiên, Vô kết ái thiên, Vô tiểu thiên. Tầng trời cao nhất trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc, 1 trong 18 tầng trời cõi Sắc, 1 trong Ngũ tịnh cư thiên. Người tu Tứ thiền tối thượng phẩm được sinh về cõi trời này, quả báo ở đây thù thắng nhất trong cõi Sắc. Về tuổi thọ của chúng sinh ở cõi trời này, theo kinh Đại lâu thán quyển 4 là 100 kiếp, tuy nhiên cũng có sự chết yểu. Theo kinh Trường A Hàm quyển 20 thì tuổi thọ ở đây là 5 nghìn kiếp, hoặc giảm chút ít; còn luận Lập thế A Tì Đàm quyển 7 và luận Câu xá quyển 11 thì cho là 1 vạn 6 nghìn đại kiếp và thân cao 1 vạn 6 nghìn do tuần. [X. kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Khởi thế Q.1; luận Đại tì bà sa Q.136; luậnTạp a tì đàm tâm Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.31]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).
Sắc cứu cánh thiên 色究竟 天
[ja]シキクキョウテン shikikukyō ten ||| The heaven of the most rarefied form (akaniṣṭhāḥ), which is the eighth of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời trong đó chúng sinh ở trong dạng sắc thể tinh vi tế nhị nhất. Là cõi trời thứ 8 trong 8 cõi trời thuộc Tứ thiền thiên. Được liệt kê là cõi trời thiền thứ 17 trong 17 cõi trời thiền của Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
sắc cứu cánh thiên, sắc định
Akanistha (S). The highest of the material heavens.
sắc duy đặc lợi
Savitṛ (S)Nghĩa: hoạt động của mặt trời.
sắc dục
2547梵語 rūpa-kāma。為五欲之一。凡愛著於青黃長短等色境,惑動於男女間之色情,均稱為色欲。摩訶止觀卷四下(大四六‧四三下):「如禪門中所說,色害尤深,令人狂醉,生死根本良由此也。」(參閱「五欲」1149)
; Rùparàga (S). Sexual desire, or passion; lusts of the flesh, cocupiscence. Ham mê sắc dục, to indulge in carnal desires, in the sins of the flesh.
; Ham muốn nhục thể hay xác thịt—Sexual desire—Lusts of flesh—Passion.
; (色欲) Phạn: Rùpa-Kàma. Phàm đắm trước các sắc cảnh như xanh, vàng, dài, ngắn... hoặc rung động trước sắc tình nam, nữ, đều gọi Sắc dục, là 1 trong 5 dục. Ma ha chỉ quán quyển 4 (Đại 46, 43 hạ ghi: Như trong Thiền môn thường nói, sắc dục rất tai hại, hay làm cho người cuồng say, gốc rễ sinh tử đều do đó mà ra. (xt. Ngũ Dục).
Sắc giới
xem Ba cảnh giới.
; 色界; S, P: rūpadhātu, rūpaloka;|Ba thế giới
sắc giới
2544<一>梵語 rūpa-dhātu,巴利語同。色,變礙、示現之義。色界,意為色所屬之界。三界之一。又作色天、色行天。乃有淨妙之色質的器世界及其眾生之總稱,位於「欲界」上方,乃天人之住處。此界之眾生雖離淫欲,不著穢惡之色法,然尚為清淨微細之色法所繫縛,故為別於其下之欲界及其上之無色界,而稱色界。此界之天眾無男女之別,其衣係自然而至,而以光明為食物及語言。此界又依所入定之淺深次第而分四地(即四禪天、四靜慮處)。初禪諸天總稱為離生喜樂地,二禪諸天總稱為定生喜樂地,三禪諸天總稱為離喜妙樂地,四禪諸天總稱為捨念清淨地。 據俱舍論卷八載,初禪、二禪、三禪等三地各有三天,第四禪有八天,共十七天,即:(一)初禪三天:(1)梵眾天(梵 Brahma-pāriṣadya),(2)梵輔天(梵 Brahma-purohita),(3)大梵天(梵 Mahā-brahman)。(二)二禪三天:(1)少光天(梵 Parīttābha),(2)無量光天(梵 Apramāṇābhā),(3)極光淨天(梵 Ābhāsvara)。(三)三禪三天:(1)少淨天(梵 Parītta-śubha),(2)無量淨天(梵 Apramāṇa-śubha),(3)遍淨天(梵 Śubha-kṛtsna)。(四)四禪八天:(1)無雲天(梵 Anabhraka),(2)福生天(梵 Puṇya-prasava),(3)廣果天(梵 Bṛhat-phala),(4)無煩天(梵 Avṛha),(5)無熱天(梵 Atapa),(6)善現天(梵 Sudṛśa),(7)善見天(梵 Sudarśana),(8)色究竟天(梵 Akaniṣṭha)。 順正理論卷二十一釋其名義謂(大二九‧四五六中):「廣善所生,故名為梵。此梵即大,故名大梵。由彼獲得中間定故、最初生故、最後歿故、威德等勝故,名為大。大梵所有、所化、所領,故名梵眾。於大梵前,行列侍衛,故名梵輔。自地天內光明最小,故名少光。光明轉勝,量難測故,名無量光。淨光遍照自地處故,名極光淨。意地受樂,說名為淨,於自地中此淨最劣,故名少淨。此淨轉增,量難測故,名無量淨。此淨周普,故名遍淨。意顯更無樂能過此以下空中天所居地,如雲密合,故說名雲。此上諸天,更無雲地,在無雲首,故說無雲。更有異生勝福方所可往生故,說名福生。居在方所,異生果中,此最殊勝,故名廣果。離欲諸聖,以聖道水,濯煩惱垢,故名為淨,淨身所止,故名淨居;或住於此,窮生死邊,如還債盡,故名為淨,淨者所住,故名淨居;或此天中,無異生雜,純聖所止,故名淨居。繁謂繁雜,或謂繁廣,無繁雜中,此最初故,繁廣天中,此最劣故,說名無繁,或名無求,不求趣入無色界故。已善伏除雜脩靜慮上中品障,意樂調柔,離諸熱惱,故名無熱;或令下生煩惱名熱,此初離遠,得無熱名;或復熱者,熾盛為義,謂上品脩靜慮及果,此猶未證,故名無熱。已得上品雜修靜慮,果德易彰,故名善現。雜修定障,餘品至微,見極清澈,故名善見。更無有處於有色中能過於此,名色究竟;或此已到眾苦所依身最後邊,名色究竟;有言色者,是積集色,至彼後邊,名色究竟。此十七處,諸器世間,并諸有情,總名色界。」 然色界諸天之廢立,諸經論頗有異說。長阿含經卷二十舉出二十二天,即:梵身天、梵輔天、梵眾天、大梵天、光天、少光天、無量光天、光音天、淨天、少淨天、無量淨天、遍淨天、嚴飾天、小嚴飾天、無量嚴飾天、嚴飾果實天、無想天、無造天、無熱天、善見天、大善見天、阿迦尼吒天。起世經卷八、大般若經卷四○三等持相同說法。舊華嚴經卷十三、新華嚴經卷二十一、大般若經卷四○二、佛本行集經卷九等則刪除無想天,而僅列舉二十一天。大毘婆沙論卷一三六、立世阿毘曇論卷六、大乘阿毘達磨雜集論卷六等刪除梵身、光天、淨天、嚴飾等四天,而立十八天之說。金光明最勝王經卷三、順正理論卷二十一、彰所知論卷上等更除去無想天而立十七天之說;阿毘曇心論經卷五刪除大梵天,另加無想天,亦立十七天之說;中阿含卷九地動經復刪除無想天,而僅舉出十六天之名。 關於色界四禪天眾生之依處(所居之處)、身量、壽量,於長阿含經卷二十、大佛頂首楞嚴經卷九、立世阿毘曇論卷三、大毘婆沙論卷一三四、卷一三六、俱舍論卷十一、順正理論卷三十一等,皆詳加敘述,然所說略異。〔仁王般若波羅蜜經卷上、菩薩地持經卷二、大智度論卷十六、成實論卷十二、俱舍論卷五、卷二十八、仁王般若經疏卷一、法華經玄贊卷二、大乘義章卷八末〕(參閱「三界」584、「天」1330、「四禪」1843) <二>即十八界之色界。(參閱「色境」2549)
; RŪpa-bhŪmi (P), RŪpavacara (S), RŪpaloka (S, P), RŪpa-dhātu (S), zuk kham (T), RŪpa-brahma plane, World of form, Form realm Một trong ba cảnh: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Sắc giới là miền của các đấng không còn ưa muốn, song còn hình thể, các đấng này đều đắc quả từ sơ thiền đến tứ thiền, chia thành 20 tầng trời: tứ thiền thiên chiếm 13 tầng, còn 7 tầng thuộc Tịnh phạm đîa Có 20 cõi: - Sơ thiền thiên: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại phạm thiên. - Nhị thiền thiên: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên - Tam thiền thiên: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên - Tứ thiền thiên: Vô vân thiên, Phước sanh thiên, Quảng quả thiên. - Tịnh phạm thiên: Vô tưởng thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên.
; Rùpadhàtu, rùpavacara, rùpaloka (S). Any material world, or world of form; it especially refers to the second of the Trailokya tam giới, the Brahmalokas above the Devalokas, comprising sixteen or seventeen or eighteen "Heavens of Form" divided into four Dhyànas.
; Rupadhatu, or rupavacara, or rupaloka (skt)—World of form or material world. (I) Nghĩa của Sắc giới—The meanings of Rupadhatu: Sắc giới, đệ nhị giới trong tam giới—Realm of form, or material form, or material world. It especially refers to the second Trailokya. (II) Phân loại Dục giới—Categories of Rupadhatu: Tứ Thiền Thiên: Brahmalokas (skt)—The four dhyana heavens—See Tứ Thiền Thiên.
; (色界) I. Sắc Giới. Phạn, Pàli:Rùpa-dhàtu. Cũng gọi Sắc thiên, Sắc hành thiên. Từ ngữ gọi chung thế giới và chúng sinh có sắc chất thanh sạch tốt đẹp, là chỗ cư trú của chư thiên, 1 trong 3 cõi. Chúng sinh ở cõi này tuy đã xa lìa dâm dục, không đắm trước các sắc pháp thô xấu nhơ nhớp, nhưng vẫn còn bị ràng buộc bởi sắc pháp nhỏ nhiệm thanh sạch, cho nên để phân biệt với cõi Dục ở dưới và cõi vô sắc ở trên mà gọi cõi này là cõi Sắc. Chư thiên cõi này không phân biệt nam nữ, y phục tự nhiên, dùng ánh sáng làm thức ăn và tiếng nói. Ở cõi này căn cứ vào thứ tự nhập định cạn sâu mà chia làm 4 địa (tức Tứ thiền thiên, Tứ tĩnh lự xứ). Sơ thiền gọi là Li sinh hỉ lạc địa, Nhị thiền gọi là Định sinh hỉ lạc địa, Tam thiền gọi là Li hỉ diệu lạc địa và Tứ thiền gọi là Xả niệm thanh tịnh địa. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền mỗi nơi đều có 3 tầng trời,còn Tứ thiền thì có 8 tầng trời, cộng chung lại thì tất cả là 17 tầng trời được phân bố như sau: A. Ba tầng trời cõi Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya) 2. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita) 3. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman) B. Ba tầng trời cõi Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên (Phạn: Pàrìttàbha). 2. Vô lượng quang thiên (Phạn: Apramàịàbhà). 3. Cực quang tịnh thiên (Phạn: Àbhàsvara) C. Ba tầng trời cõi Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên (Phạn: Parìtta- Zubha). . Vô lượng tịnh thiên (Phạn: Apramàịa- Zubha) 3. Biến tịnh thiên (Phạn: Zubhakftsna) D. Tám tầng trời cõi Tứ thiền: 1. Vô vân thiên (Phạn: Anabhraka). 2. Phúc sinh thiên (Phạn: Puịyaprasava). 3. Quảng quả thiên (Phạn: Bfhatphala). 4.Vô phiền thiên (Phạn:Avfha). 5. Vô nhiệt thiên( Phạn:Atapa). 6. Thiện hiện thiên (Phạn:Sudfza). 7. Thiện kiến thiên (Phạn: Sudarzana). 8. Sắc cứu cánh thiên: (Phạn: Akaniwỉha). Mười bảy tầng trời trên đây gồm khí thế gian và các hữu tình gọi chung là Sắc giới. Nhưng sự phế lập các tầng trời cõi Sắc có rất nhiều thuyết khác nhau. Kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Khởi thế quyển 8 và kinhĐại bát nhã quyển 403, đều liệt kê 22 tầng trời: Phạm thân thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên, Đại phạm thiên, Quang thiên, Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên, Tịnh thiên, Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên, Nghiêm sức thiên, Tiểu nghiêm sức thiên, Vô lượng nghiêm sức thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Vô tưởng thiên, Vô tạo thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Đại thiện kiến thiên và A ca ni tra thiên. Còn kinh Hoa nghiêm quyển 13 (bản dịchcũ), quyển 21 (bản dịch mới), kinh Đại Bát Nhã quyển 402 và kinh Phật bản hạnh tập quyển 9 thì bỏ bớt Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 21 tầng trời. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 136, luận Lập thếa tì đàm quyển 6 và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 thì bỏ đi 4 tầng trời: Phạm thân, Quang thiên, Tịnh thiên và Nghiêm sức thiên mà lập thuyết Thập bát thiên (18 tầng trời). Rồi kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 3, luận Thuận chính lí quyển 21 và luận Chương sở tri quyển thượng lại bỏ bớt Vô tưởng thiên trong Thập bát thiên mà lậpthuyết Thập thất thiên (17 tầng trời). A Tì Đàm tâm luận kinh cũng lập thuyết Thập thất thiên bằng cách cắt bỏ Đại phạm thiên mà thay bằng Vô tưởng thiên. Rồi trong thuyết này, kinh Địa động trong Trung a hàm quyển 9 lại loại bỏ Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 16 tầng trời thôi. Về chỗ ở, thân lượng, tuổi thọ của chúng sinh trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc thì kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 9,luận Lập thế a tì đàm quyển 3, luận Đại tì bà sa quyển 134, 136, luận Câu xá quyển 11, luận Thuận chính lí quyển 31... đều có trình bày rõ ràng nhưng hơi khác nhau. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.2; luận Đại trí độ Q.16; luận Thành thực Q.12; luận Câu xá Q.5, 28; Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối]. II. SắcGiới. Tức Sắc giới trong 18 giới. (xt. Sắc Cảnh).
sắc giới hệ
2547指繫縛於色界之法。大毘婆沙論卷五十二(大二七‧二七一下):「繫在欲,故名欲界繫;繫在色,故名色界繫;繫在無色,故名無色界繫。如牛馬等繫在於柱或在於栓,名柱等繫。」又同論卷一四五(大二七‧七四六下):「若法為欲界阿賴耶所藏,摩摩异多所執,名欲界繫;為色、無色界阿賴耶所藏,摩摩异多所執,名色、無色界繫。阿賴耶者謂愛,摩摩异多者謂見。」若就「九十八隨眠」以分別欲界、色界、無色界之繫縛,則欲界繫有三十六隨眠,色、無色界繫各有三十一隨眠。又俱舍論卷二就「十八界」加以分別界繫,欲界之所繫具足所有之十八界,色界之所繫為除香、味二境與鼻、舌二識以外之十四界。俱舍論卷三復就「二十二根」加以分別界繫,謂色界之所繫乃除三無漏根及男女憂苦四根以外之十五根。〔大毘婆沙論卷五十、大乘阿毘達磨雜集論卷二、俱舍論卷八〕(參閱「色界」2545、「界繫」3893、「隨眠」6351)
; (色界系) Sự trói buộc bởi các pháp ở cõi Sắc. Luận Đại tì bà sa quyển 52 (Đại 27, 271 hạ) nói: Bị dục trói buộc nên gọi là Dục giới hệ; bị sắc trói buộc nên gọi là Sắc giới hệ, bị vô sắc trói buộc nên gọi là Vô sắc giới hệ. Như trâu, ngựa bị buộc vào cây cọc hoặc gốc cột, gọi là Trụ đẳng hệ.Cùng luận đã dẫn quyển 145 (Đại 27, 746 hạ) nói: Nếu pháp bị Ái và Kiến của cõi Dục chứa giấu và chấp trước thì gọi là Dục giới hệ, bị Ái và Kiến của cõi Sắc chứa nhóm và chấp trước thì gọi là Sắc giới hệ, bị Ái và Kiến của cõi Vô sắc chứa giấu và nắm giữ thì gọi là Vô sắc giới hệ. Nếu căn cứ vào 98 tùy miên (phiền não) để phân biệt sự trói buộc ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, thì cõi Dục có 36 tùy miên, cõi Sắc, cõi Vô sắc mỗi cõi có 31 tùy miên. Luận Câu xá quyển 2 lại căn cứ vào 18 giới để phân biệt sự trói buộc ở các cõi, cho rằng sự trói buộc ở cõi Dục có đủ cả 18 giới, ở cõi Sắc chỉ có 14 giới vì trừ ra 2 cảnh hương, vị và 2 thức mũi, lưỡi. Luận Câu xá quyển 3 còn dùng 22 căn để phân biệt, bảo rằng sự trói buộc ở cõi Sắc là 15 căn, vì trừ ra 3 căn vô lậu và 4 căn nam, nữ, ưu, khổ. [X. luận Đại tì ba sa Q.50; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma tạp tập Q.2; luận Câu xá Q.8]. (xt. Sắc Giới, Giới Hệ, Tùy Miên).
sắc giới thiên
RŪpabrahmaloka (P)Tên một cõi giới.
sắc giới thập bát thiên
2545據大毘婆沙論卷一三六載,色界之初禪、二禪、三禪、四禪共十八天。初禪三天,梵輔天、梵眾天、大梵天;二禪三天,少光天、無量光天、光音天;三禪三天,少淨天、無量淨天、遍淨天;四禪九天,小嚴飾天、無量嚴飾天、嚴飾果實天、無想天、無造天、無熱天、善見天、大善見天、阿迦尼吒天。然亦有經論主張色界有二十二天、二十一天、十七天、十六天者。〔立世阿毘曇論卷六、雜阿毘曇心論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷六)(參閱「色界」2545)
; Mười tám tầng tứ thiền sắc giới—Eighteen “Heavens of form.” Sơ Thiền Thiên—The first dhyana heavens: 1) Phạm Chúng Thiên: Brahmaparisadya (skt). 2) Phạm Phụ Thiên: Brahmapurohita or Brahmakayika (skt). 3) Đại Phạm Thiên: Mahabrahma. (II) Nhị Thiền Thiên—The second dhyana heavens: 4) Thiểu Quang Thiên: Parittabha (skt). 5) Vô Lượng Quang Thiên: Apramanabha (skt). 6) Quang Âm Thiên: Abhasvara (skt). (III) Tam Thiền Thiên—The third dhyana heavens: 7) Thiểu Tịnh Thiên: Parittasubha (skt). 8) Vô Lượng Tịnh Thiên: Apramanasubha (skt). 9) Biến Tịnh Thiên: Subhakrtsna (skt). (IV) Tứ Thiền Thiên—The fourth dhyana heavens: 10) Vô Vân Thiên: Anabhraka (skt). 11) Phúc Sanh Thiên: Punyaprasava (skt). 12) Quảng Quả Thiên: Brhatphala (skt). 13) Vô Tưởng Thiên: Asanjnisattva (skt). 14) Vô Phiền Thiên: Avrha (skt). 15) Vô Nhiệt Thiên: Atapa (skt). 16) Thiện Hiện Thiên: Sudrsa (skt). 17) Sắc Cứu Cánh Thiên: Akanistha (skt). 18) Đại Mục Tại Thiên: Mahamahesvara (skt). ** For more information, please see Thiên III.
; (色界十八天) Mười tám tầng trời của cõi Sắc. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 136 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền cộng tất cả là 18 tầng trời. Sơ thiền gồm3 tầng trời: Phạm phụ, Phạm chúng, Đại phạm. Nhị thiền gồm 3 tầng trời: Thiểu quang, Vô lượng quang và Quang âm. Tam thiền gồm 3 tầng trời: Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh. Tứ thiền gồm 9 tầng trời: Tiểu nghiêm sức, Vô lượng nghiêm sức, Nghiêm sức quả thực, Vô tưởng, Vô tạo, Vô nhiệt, Thiện kiến, Đại thiện kiến và A ca ni tra. Ngoài ra cũng có các kinh luận chủ trương các thuyết khác nhau như 22 tầng trời, 21 tầng trời, 17 tầng trời, 16 tầng trời... [X. luậnLập thế a tì đàm Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp tập Q.6]. (xt. Sắc Giới).
Sắc giới thập thất thiên 色界十七天
[ja] シキカイジュウシチテン shikikai jūshichiten |||The seventeen dhyāna heavens of the form realm 色界. The first three dhyanas have three heavens each, while the fourth has eight heavens. The heavens of the first dhyāna 初禪天 are: 1) , fanzhongtian 梵衆天 Brahma-pāriṣadhya; the Heaven of Brahma's Councilors; 2) fanfutian 梵輔天 Brahma-purohita, the Heaven of Brahma's High Priests; and 3) dafantian 大梵天 Mahābrahman, Brahma's heaven. The heavens of the second dhyāna 二禪天 are: 1) 少光天 Parītta-ābha, the Heaven of Lesser Light; 2) 無量光天 Apramāṇa-ābha, the Heaven of Infinite Light; and 3) 極光淨天 ābhās-vara, the Heaven of the Most Brilliant Purity. The Heavens of the third dhyāna 三禪天 are: 1) 少淨天 Parītta-śubha, the Heaven of Lesser Purity; 2) (s: Apramāṇa-śubha, e: Heaven of Infinite Purity). ; and 3) bianjingtian 遍淨天 'Subha-kṛitsna, the Heaven of Universal Purity. The fourth dhyāna 四禪天 heavens are: 1) 無雲天 Anabhraka, the Cloudless Heaven; 2) 福生天 (c: fushengtian; s: Puṇya-prasava, e: Heaven of Merit Production); 3) guangguotian 廣果天 Bṛihat-phala, the Heaven of Extensive Rewards, 4) wufantian 無煩天 Abṛiha, the heaven of no anxieties; 5) wuretian 無熱天 Atapa, the heaven without afflictions; 6)善現天 (c: shanxiantian e: Sudṛiśa, e: Heaven of Good Appearances). ; 7) shanjiantian 善見天 Sudarśana, the Heaven of Good Sight; and 8) sejiujingtiantian 色究竟天Akaniṣṭha, the Heaven of Ultimate Form. => Mười bảy cõi trời thiền của Sắc giới. Ba cõi giới thiền trước mỗi cõi có ba cõi trời, trong khi cõi giới thiền thứ tư có đến tám cõi trời. Các cõi trời của Sơ thiền thiên 初禪天 gồm: 1. Phạm chúng thiên 梵衆天( c: fanzhongtian; s: Brahma-pāriṣadhya; e: the Heaven of Brahma's Councilors). 2. Phạm phụ thiên (梵輔天 (c: fanfutian; s: Brahma-purohita, e: Heaven of Brahma's High Priests). 3. Đại phạm thiên 大梵天( c: dafantian; s: Mahābrahman; e:Brahma's heaven). 1. Thiểu quang thiên 少光天 (s: Parītta-ābha, e: Heaven of Lesser Light). 2. Vô lượng quang thiên 無量光天 (s: Apramāṇa-ābha, e: Heaven of Infinite Light). 3. Cực quang tịnh thiên 極光淨天 (s: ābhās-vara, e: Heaven of the Most Brilliant Purity). Các cõi trời của Tam thiền thiên 三禪天 gồm: 1. Thiểu tịnh thiên 少淨天 (s: Parītta-śubha, e: Heaven of Lesser Purity). 2. Vô lượng tịnh thiên 無量淨天 (s:Apramāṇa-śubha, e: Heaven of Infinite Purity). 3. Biến tịnh thiên 遍淨天 (c: bianjingtian, s: Subha-kṛitsna, e: Heaven of Universal Purity). Các cõi trời của Tứ thiền thiên 四禪天 gồm: 1. Vô vân thiên 無雲天 (s: Anabhraka, e: Cloudless Heaven). 2. Phước sinh thiên 福生天 (c: fushengtian; s: Puṇya-prasava, e: Heaven of Merit Production). 3. Quảng quả thiên 廣果天 (c:guangguotian; s: Bṛihat-phala, e: Heaven of Extensive Rewards). 4. Vô phiền thiên 無煩天( c: wufantian; s:Abṛiha, e: heaven of no anxieties). 5. Vô nhiệt thiên 無熱天 (c: wuretian; s:Atapa, e: heaven without afflictions). 6. Thiện hiện thiên 善現天 (c: shanxiantian e: Sudṛiśa, e: Heaven of Good Appearances). 7. Thiện kiến thiên善見天 (c: shanjiantian s: Sudarśana, e: Heaven of Good Sight). 8. Sắc cứu cánh thiên 色究竟天(c: sejiujingtiantian; s: Akaniṣṭha, e: Heaven of Ultimate Form).
Sắc giới 色界
[ja] シキカイ shikikai ||| The "form realm," which is the second of the three realms 三界. (1) Existence constituted of pure materiality, free from the afflictions of the desire realm 欲界 (yujie). Although the desires have subsided, one still possesses a body. It is the locus of the four meditation heavens. (2) Objects of vision. One of the eighteen realms. => Cõi giới thứ nhì trong Tam giới 三界. 1. Cõi giới chỉ hiện hữu gồm những thể chất thanh tịnh, không còn phiền não của cõi dục giới (欲界 c: yujie). Dù tham muốn đã được tiêu trừ, nhưng vẫn còn thân thể. Đây là cảnh giới của cõi trời Tứ thiền. 2. Đối tượng của nhãn căn. Là một trong 18 giới.
sắc hoàng
3734即天子之詔勅;以其書寫於黃紙之上,故稱勅黃。勅修百丈清規卷四(大四八‧一一三一上):「古之名宿多奉朝廷徵召,及名山大剎凡奉聖旨勅黃,住持者即具謝表。」
; (勅黃) Sắc chỉ của Thiên tử viết trên giấy màu vàng. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại48,1131 thượng) nói: Các bậc tôn túc danh đức thời xưa phần nhiều vâng theo sự triệu thỉnh của triều đình và các ngôi chùa lớn nổi tiếng hễ nhận được Thánh chỉ sắc hoàng thì vị Trụ trì liền chấp hành đầy đủ nghi thức tạ biểu.
sắc hữu
2542三有之一。三有,指欲有、色有、無色有;與欲、色、無色三界同義。以色界四禪天之果報乃實有者,故稱色有。〔菩薩善戒經卷一、大智度論卷三〕(參閱「三有」548、「色界」2545〕
; Material existence.
; Một trong tam hữu—One of three kinds of existence, material existence. ** For more information, please see Tam Hữu.
; (色有) Chỉ cho cõi Sắc, 1 trong 3 hữu: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, đồng nghĩa với 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Vì quả báo của Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc là có thật nên gọi cõi Sắc là Sắc hữu.[X. kinh Bồ tát thiện giới Q.1; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tam Hữu, Sắc Giới).
Sắc không
(色空): sắc và không. Sắc (s, p: rūpa, 色) là cái mang tính vật chất. Không (s: śūnya, p: suñña, 空) là cái không có thật thể cố định. Trong Kinh Bát Nhã của Phật Giáo Đại Thừa đã phủ định triệt để hết thảy mọi cố định của các sự vật hiện tượng (sắc, pháp, v.v.) và chính Long Thọ (s: Nāgājruna, 龍樹) đã hoàn chỉnh và hình thành nên hệ thống lý luận triết học về Không này.
sắc không ngoại đạo
Heretics who denied material existence (and consequently sought self-control, or nirvàna.
; Một trong mười loại ngoại đạo, phủ nhận sắc hữu, tìm cầu sự tự kiểm soát và cho rằng đây là niết bàn (dùng sắc phá hữu dục, dùng không phá sắc hữu)—One of the ten kinds of heretics, who denied material existence, and consequently sought self-control, or nirvana.
sắc kim cang bồ tát
RŪpavajra (S)Tên một vị Bồ tát.
sắc kim cương
2544梵名 Rūpa-vajra。於密教金剛界曼荼羅理趣會中,相當於四攝菩薩之鉤菩薩。住理趣會外院之東門。色,指可愛之境,美好之色,而能吸引人心;此尊即以此美好之色而具有鉤召之德,故稱色金剛。據理趣會軌載,其真言為:唵(oṃ)嚩日囉(vajra,金剛)嚕閉(rūpe,色)惹(jaḥ,鉤之種子)。其印契同於一般之四明印,即以降三世印,再鉤食指而成。又此尊持鉤以為其內證之本誓。〔般若波羅蜜多理趣經大樂不空三昧真實金剛薩埵菩薩等一十七聖大曼荼羅義述〕
; (色金剛) Phạn: Rùpa-vajra. Vị Bồ tát ngồi ở cửa phía đông của viện ngoài hội Lí thú trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, tương đương với bồ tát Câu trong Tứ nhiếp bồ tát. Vị tôn này dùng sắc đẹp và đức hạnh để hóa độ chúng sinh nên gọi là Sắc kim cương. Theo Lí thú hộiquĩ thì chân ngôn của vịtôn này là: Án (oô) phạ nhật ra (vajra,kim cương) rô bế (rùpe, sắc) nhạ (ja#, chủng tử câu). Ấn khế cũng dùng ấn Tứ minh, tức là kết ấn Hàng tam thế, co ngón tay trỏ lại thành hình móc câu. Vị tôn này cầm cái móc câu để biểu thị bản thệ nội chứng của mình. [X.Bát nhã ba la mật đa lí thú kinh đại thừa bất không tam muội chân thực kim cương tát đoá bồ tát đẳng nhất thập thất thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật].
sắc kiến tịnh từ tự chí
3733凡二十八卷(內含卷首二卷,卷末一卷)。清朝際祥撰。收在中國佛寺史志彙刊第一輯。淨慈寺位於杭州西湖南岸(錢塘南屏山),與北岸大昭慶律寺對峙,始創於周顯德中(954~959),號「慧日永明院」,宋紹興年間始改今名。當吳越懿忠王時,延請智覺延壽禪師駐錫本寺。智覺禪師,論者推爲曹溪後第一人,淨慈寺亦爲西湖第一叢林。明朝天啟年間,寺僧大壑撰「淨慈寺志」十卷;清乾隆初,篆玉又作「續志」,然僅寥寥數十頁。嘉慶年中,寺僧際祥乃博考群籍,另撰新志,其內分十二門:興建、支院、寺產、住持、法嗣、塔院、山水、園亭、古蹟、藝文、雜記、外紀。
sắc lượng
2548佛典中,統稱各種物質之單位為色量。色,即色法,乃一切物質之總稱。依據俱舍論卷十二載,色法之極少為極微,七極微為一微(梵 aṇu),七微為一金塵(梵 loha-raja),七金塵為一水塵(梵 ap-raja),七水塵為一兔毛塵(梵 śaśa-raja),七兔毛塵為一羊毛塵(梵 avi-raja),七羊毛塵為一牛毛塵(梵 go-raja),七牛毛塵為一隙遊塵(梵 vātāyana-cchidra-raja),七隙遊塵為一蟣(梵 likṣā),七蟣為一蝨(梵 yūka),七蝨為一
; (色量) Trong kinh điển Phật giáo, từ ngữ Sắc lượng được dùng để chỉ chung cho các đơn vị của các loại vật chất. Theo luận Câu xá quyển 12 thì đơn vị nhỏ nhất của sắc pháp là cực vi, 7 cực vi là 1 vi (Phạn: Aịu), 7 vi là 1 kim trần (Phạn: Loha-raja), 7 kim trần là 1 thủy trần (Phạn: Ap-raja), 7 thủy trần là 1 thố mao trần (Phạn: Zaza-raja), 7 thố mao trần là 1 dương mao trần (Phạn: Aviraja), 7 dương mao trần là 1 ngưu mao trần (Phạn: Go-raja), 7 ngưu mao trần là 1 khích du trần (Phạn: Vàtàyanacchidra-raja), 7 khích du trần là 1 con rận con (Phạn: Likwà), 7 con rận con là 1 con rận mẹ (Phạn: Yùka), 7 con rận mẹ là 1 hạt lúa mạch (Phạn: Yava), 7 hạt lúa mạch là 1đốt ngón tay (Phạn: Aíguliparva). Trên đây đều thuộc đơn vị dung tích. Ấn Độ còn định đốt ngón tay là đơn vị cơ bản đo chiều dài, 3 đốt ngón tay là 1 ngón tay (Phạn: Aígula), 24 ngón tay là 1 khuỷu tay (Phạn: Hasta), 4 khuỷu tay là 1 cung (Phạn: Dhanu), 500 cung là 1 câu lô xá (Phạn: Kroza), 8 câu lô xá là 1 du thiện na (Phạn: Yojana, tức do tuần). Như vậy, ta có thể biết sự đo lường dung tích của Ấn độ theo pháp tiến 7. Căn cứ theo sự giải thích trong Câu xá luận pháp nghĩa thì bất luận là vật chất phân tích đến đơn vị nào cũng đều phải đủ 7 phần (ngoại trừ cực vi) là: Trên, dưới, trái, phải, trước, sau, chính giữa. Theo luận Đại tì bà sa quyển 136 thì Vi (7 cực vi bằng 1 Vi) là sắc trần bé nhỏ nhất mà nhãn thức duyên theo, chỉ có mắt chư thiên, mắt Chuyển luân vương và mắt Bồ tát hậu hữu mới thấy được. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 nói rằng: Chúng sinh không thể thấy được cực vi trần, chỉ có Như Lai và Bồ tát thân sau cùng mới thấy được. Về Sắc lượng, trên đại thể, các kinh luận nói giống nhau, chỉ có tên dịch là khác. Chẳng hạn như Cực vi có chỗ dịch là Lân hư và dịch âm là Ba la nô la xà; Vi có chỗ dịch âm là A nhu, a nậu; kim trần có chỗ dịch là thiết trần, đồng trần... [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; Câu xá luận quang kí Q.12; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Do Tuần, Câu Lô Xá, Cực Vi).
sắc lạp tự
2543西藏名 Se-ra。為黃教四本山之一。位於西藏拉薩(藏 Lha-sa) 北方四公里之山麓峽谷中。明代永樂十七年(1419)黃教開祖宗喀巴命其弟子江卿曲吉(藏 Byams-chen chos-rje)興建。此外宗喀巴之弟子江樣曲吉(藏 Byams-dbyaṅs chos-rje)創建別蚌寺(藏 ⅵbras-spuṅs, 1416),與宗喀巴於一四○九年創建之噶勒丹寺(藏 Dgaḥ-ldan)合稱三大寺,為黃教之根本寺院;另加上班禪喇嘛所居之札什倫布寺(藏 Bkra-śis lhun-po),即為黃教四本山。 本寺外觀頗類於古羅馬時代之圓形劇場,諸僧院並立,層樓碉房,參差高聳,層層相疊,三座大殿堂,堂壁以黃金覆之,映照光輝,極為壯麗,故又以黃金寺稱名於世。全寺共有結巴、滿巴、阿巴三大學堂,曾有學僧八千餘人。其中二學堂為修學顯教之處,另一為修學密教行法之所。大講堂內置有十一面觀音之巨像。江卿曲吉曾代理其師赴北京,為明成祖說法,並獲成祖之皈依,故有西藏文大藏經甘珠爾之開版,即所謂之永樂版。江卿曲吉歸返藏土時亦攜回一部,日後成為本寺之寺寶。寺中另藏有金剛杵一支,長約零點六公尺,一端如三稜聂,一端呈人頭形;據云係於本寺建造之時,自西天竺飛來;藏人對之心懷敬畏,每歲十二月(約二十七日)迎至布達拉宮,首由達賴頂戴,再傳返色拉寺,許百姓前來頂禮。〔西藏仏教研究(長尾雅人)、Waddell: The Buddhism of Tibet; Tsung lien-Shen and Shen-chi Liu:Tibet and the Tibetans; A. Ferrari:Mk'yen Brtse's Guide to the Holy Places of Central Tibet〕
sắc mạng căn
RŪpa-jīvitindriyā (S), (S, P).
sắc mệnh căn
Rùpa-jìvitindriyà (S). Vital power of physical faculties.
sắc nguyện tự
3734請參閱 佛光國師語錄 請參閱 圓鑑禪師語錄 日本佛教用語。即日本天皇發願勅命建造之寺。又作勅願所。古稱御願寺,即特指御歸依之寺。後世遂成爲寺格之一種。凡在勅願寺,必安置先帝御位牌及天皇御壽牌於本尊身旁,以祈聖壽無疆、天下太平。御壽牌即當今天皇之位牌,上書「今上皇帝聖躬萬歲」八字。
sắc nhập
Chỗ hay nơi mà căn trần gặp nhau thì gọi là “Sắc Nhập” hay “Sắc Xứ,” một trong thập nhị nhơn duyên—The entrances, or places, where the organs and objects of physical sense meet, one of the twelve nidanas. ** For more information, please see Lục Nhập.
sắc nhập, sắc xứ
The entrances, or places, where the organs and objects of physical sense meet, ten in all, cf ngũ nhập. Also one of the twelve nidànas.
sắc pháp
2543梵語 rūpa-dharma。廣義言之,乃總稱物質之存在。泛指有質礙之物,即佔有一定之空間,具有自他互相障礙,及會變壞之性質者。一切法可分為色法、心法、心所法、心不相應行法、無為法等五位,其中色法在五蘊分類中稱為色蘊,心法稱為識蘊。在小乘俱舍五位七十五法和大乘法相宗五位百法中均將色法分為三類十一種:(一)五根(眼、耳、鼻、舌、身),(二)五境(色、聲、香、味、觸),(三)無表色。在五位七十五法中,色法在心法之前,因其能引起貪欲愛樂等染法,被視為最重要之對治對象;而五位百法中,色法則在心法、心所法之後,乃因其不能獨立生起,而僅為前二者之變現。(參閱「心」1395、「色」2541)
; Rùpa-dharma (S). 11 Form-elements: (1) nhãn caksu, eye; (2) nhĩ srotra, ear; (3) tỉ ghràna, nose; (4) thiệt jihvà, tongue; (5) thân kàya, body; (6) sắc rùpa, form; (7) thanh sabda sound; (8) hương gandha, smell; (9) vị rasa, taste; (10) xúc sparsa, touch; (11) pháp dharmà-yatanasamgr-hìtam-rùpam, forms included in dharma-àyatana, elements as objects of consciousness: (a) cực lược sắc, a substantial form analyzed to utmost, the smallest atom; (b) cực hánh sắc, an unsubstantial form as aerial space or colour analyzed to utmost, the remotest atom; (c) định quả sắc, a form produced by meditation; (d) vô biểu sắc, a perceptive form conceived at ordination, the innermost impression; (e) biến kế sở chấp sắc, a momentary illusive form.
; Rupani (skt)—Material.
; (色法) Phạn: Rùpa-dharma. Danh từ chỉ chung cho vật chất tồn tại, tức là những vật có tính chất ngại và biến hoại chiếm 1 khoảng không gian nhất định, ngăn trở lẫn nhau. Tất cả pháp có thể chia làm 5 vị: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Trong đó, Sắc pháp trong 5uẩn gọi là Sắc uẩn, Tâm pháp gọi là Thức uẩn. Trong 5 vị 75 pháp của tông Câu xá Tiểu thừa và trong 5 vị 100 pháp của tông Pháp tướng Đại thừa, Sắc pháp được chia làm 3 loại 11 món: 1. Ngũ căn: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân. 2. Ngũ cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô biểu sắc. Trong 5 vị 75 pháp, Sắc pháp được đặt trước Tâm pháp, vì nó có khả năng dẫn khởi các pháp nhơ nhớp như tham muốn, đắm đuối say mê... và được coi là đối tượng quan trọng nhất cần được đối trị. Còn trong 5 vị 100 pháp thì Sắc pháp đặt sau Tâm pháp và Tâm sở pháp, vì chính nó không có công năng sinh khởi mà chỉ là sự biến hiện của Tâm và Tâm sở. (xt. Tâm, Sắc).
Sắc pháp 色法
[ja] シキホウ shikihō ||| Material existence. In Consciousness-only theory, all existence is divided into form elements and mental elements. Those which have the nature of occupying space are called material elements. The five organs of sense and their objects are all considered as material elements. => Sự hiện hữu của vật thể. Theo giáo lý Duy thức, mọi hiện hữu được phân thành sắc pháp và tâm pháp. Những gì có đặc tính choán chỗ trong không gian được gọi là sắc pháp. Nam giác quan (ngũ căn) và năm đối tượng nhận biết của chúng (ngũ trần) đều được xem là sắc pháp
sắc quang
2541乃「心光」之對稱。指佛菩薩色身所放之光明。又作外光、身光。於各種色光之中,由佛之全身發出之光,稱為舉身光;由一相放出之光,稱為隨一相光;由白毫相(眉間)發出之光,稱為白毫光、毫光、眉間光;由毛孔發出之光,稱為毛孔光;由項邊發出之圓光,稱為頭光;由佛像背後所發出之光,稱為後光。(參閱「光明」2173)
; Physical light, as contrasted with tâm quang light of the mind; every Buddha has both, e.g. his halo, aura.
; Thân quang hay ánh hào quang, đối lại với “tâm quang;” mỗi vị Phật đều có đầy đủ cả hai—Physical light in contrast with light of the mind; every Buddha has both.
; (色光) Cũng gọi Ngoại quang, Thân quang. Đối lại: Tâm quang. Chỉ cho ánh sáng từ sắc thân của Phật, Bồ tát phóng ra. Trong các thứ sắc quang, ánh sáng từ toàn thân đức Phật phóng ra, gọi là Cử thân quang; ánh sáng từ tướng nào đó trong 32 tướng phóng ra, gọi là Tùy nhất tướng quang; ánh sáng phóng ra từ tướng Bạch hào (sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày), gọi là Bạch hào quang, Hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phóng ra từ lỗ chân lông, gọi là Mao khổng quang; ánh sáng tròn từ đỉnh đầu phóng ra, gọi là Đầu quang; ánh sáng từ phía sau lưng của Phật phóng ra, gọi là Hậu Quang. (xt. Quang Minh).
sắc quang minh
Physical light.
sắc sai trụ trì viện
3733指宋代等級最高之寺院,國家予以特殊之待遇。此等寺院之住持由宣勅任命,其等級高於甲乙徒弟院、十方住持院。於各宗派之中,禪宗屬此寺院者較多。
; (勅差住持院) Chỉ cho những chùa viện thuộc cấp cao nhất ở đời Tống, được triều đình đãi ngộ đặc biệt. Vị Trụ trì của các chùa viện này do sắc chỉ của vua bổ nhiệm, khác hẳn với các chùa viện thông thường và chùa viện thập phương. Trong các tông phái, Thiền Tông chiếm số nhiều các chùa viện thuộc loại này.
sắc sắc không không
Forms and emptiness; Reality is the non-dual Absolute.
sắc sở duyên
RŪparammāna (S), Visible object.
sắc sứ niêm hương
3733古代名藍大剎之住持,由皇帝勅命決定人選,而於晉山(進山)之日,有勅使蒞臨,寺院乃爲勅使拈香,以感謝其蒞臨,稱爲勅使拈香。據禪林象器箋第九類叢軌門記載,大德、妙心兩剎勅差住持,故開堂之日,勅使臨法筵,寺院並爲之拈香。
; (勅使拈香) Niêm hương cảm tạ vị Sắc sứ. Thời xưa, vị Trụ trì các ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Trung Quốc là do sắc chỉ của vua tuyển chọn và bổ nhiệm, ngày cử hành lễ nhập tự, vua sai sứ đến dự và vị tân Trụ trì niêm hương cảm tạ sứ giả, gọi là Sắc sứ niêm hương. Môn Tùng quĩ 9 trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên ghi: Hai chùa Đại Đức và Diệu Tâm được vua bổ nhiệm Trụ trì, cho nên vào ngày khai đường, vị Sắc sứ đến dự pháp hội, 2 chùa viện đều niêm hương cảm tạ sứ giả.
sắc sử môn
Chokushimon (J).
sắc thanh
The visible and audible.
; Thấy và nghe được—The visible and audible.
sắc thân
2542梵語 rūpa-kāya,巴利語同。指有形質之身,即肉身。反之,無形者稱為法身,或智身。故具足三十二相之佛,係為有形之生身。〔十住毘婆沙論卷十二、大乘義章卷十九〕
; RŪpakāya (S), zuk kyi ku (T), kāyas, Form body, zug ku (T).
; Rùpa-kàya (S). The physical body, as contrasted with the pháp thân dharma-kàya, the immaterial, spiritual, or immortal body.
; Rupakaya (skt)—Thân do các sắc pháp như tứ đại ngũ trần tạo ra của Phật, đối lại với pháp thân hay chân thân của Phật (phần tâm linh phi vật chất và bất tử)—The physical body (of the Buddha), as contrasted with the dharma-kaya, the immaterial, spiritual, or immortal body.
; (色身) Phạn, Pàli: Rùpa-kàya. Đối lại: Pháp thân, Trí thân. Chỉ cho nhục thân của đức Phật, có đầy đủ 32 tướng. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.12; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
sắc thân viên đức
2543指如來色身之德圓滿。屬三種圓德中之果圓德。依據俱舍論卷二十七載,色身圓德有四:(一)具三十二相。(二)具八十隨形好。(三)具大力。(四)內身骨堅固超越金剛,外發神光逾百千日。〔大乘義章卷十九、止觀輔行傳弘決卷二之三〕(參閱「三德」668)
; (色身圓德) Đức viên mãn của sắc thân Như lai, thuộc về Quả viên đức trong 3 Viên đức. Cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì sắc thân viên đức có 4: 1. Đầy đủ 32 tướng. 2. Đủ 8 nét đẹp tùy hình. 3. Có sức mạnh lớn. 4. Xương trong thân cứng chắc hơn kim cương, ngoài chiếu ánh sáng hơn trăm nghìn mặt trời.
Sắc thân 色身
[ja] シキシン shikishin ||| (1) Material body; physical body (2) The physical body of the Buddha manifest in the world. => 1. Thân thể vật chất, thể chất (s: rūpa-kāya). 2. Thân tướng của Đức Phật biểu hiện trong thế gian nầy.
sắc thải
2547佛教以青、黃、赤、白、黑等五種基本色為五正色,乃美麗莊嚴之色。如彌陀淨土之五色光、藥師經中之五色絲、千手觀音之五色雲。然於印度教團中規定禁止僧眾著用五正色,僅能使用染污過之壞色。 袈裟即印度法衣(梵 kāṣāya)之音譯,意即壞色、不正色。壞色指銅青色、雜銅色(緇)、樹皮色(木蘭色,即褐色)等,或因部派不同而主張亦略有差異。如現在南傳佛教所用之黃色,或為壞色中茶褐色之一種。此外,紫、緋、紅、綠等中間色亦禁止使用。印度教時代,婆羅門為莊嚴身體,常著五色衣。佛教為表現佛像之莊嚴,亦採用五色;通常亦以五色華、五色幕為其莊嚴道具。諸色之中,以金色為最勝之色,故常用於佛像,特以紫金(梵 suvarṇa,紫磨黃金)色為最殊勝。又密教以五色配合五佛、五智、五大、五根等教義。於一九五二年所制定之國際佛教教旗之顏色為藍、黃、赤、白、橙五色,及此五色之混合色。(參閱「五色」1082、「佛教教旗」2692)
; (色彩) Chỉ cho 5 màu sắc chính: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen là những màu sắc đẹp đẽ được dùng để trang nghiêm, như ánh sáng 5 màu ở cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà, sợi tơ 5 màu trong kinh Dược Sư, áng mây ngũ sắc của bồ tát Thiên thủ Quan Âm... Mật giáo dùng 5 màu phối hợp với giáo nghĩa 5 Phật, 5 trí, 5 đại, 5 căn... Lá cờ Phật giáo cũng được biểu trưng bằng 5 màu xanh, vàng,đỏ,trắng và cam. Ngoài ra, thông thường hoa 5 màu, màn 5 màu cũng được xử dụng làm các đạo cụ để trang nghiêm đạo tràng. (xt. Ngũ Sắc, Phật GiáoGiáo Kì).
sắc thị sắc, không thị không
Matter is matter, immaterial is immaterial.
sắc thụy
(敕諡號) Cũng gọi Sắc thụy hiệu. Danh hiệu do triều đình truy tặng cho người đã qua đời căn cứ theo đức hạnh lúc còn sống. Tại Trung Quốc, việc vua ban hiệu cho chư tăng bắt đầu từ Minh Nguyên đế (ở ngôi 409-423) đời Bắc Ngụy; thời ấy, ngài Pháp quả được truy tặng hiệu là Hồ Linh Công. Đến đời Đường, vào năm Thần long thứ 2 (706), vua Trung tông truy tặng ngài Thần tú hiệu Đại Thông Thiền Sư. Ngoài ra, sau các tăng hiệu được ban thường có thêm những từ tôn xưng như Đại sư, Quốc sư, Thiền sư, Bồ tát, Hòa thượng, Pháp sư, Thượng nhân...
sắc trần
2548指眼根、眼識所取所緣之對境。為五塵之一,六塵之一。此色染污心識,生起煩惱,故稱為塵。(參閱「五境」1171、「六塵」1298、「色」2541)
; The quality of form, colour, or sexual attraction; one of lục trần.
; Ruparammana (skt)—The visual object—Một trong lục trần, các màu sắc (xanh, đỏ, vàng, trắng, v.v.) và hình sắc hấp dẫn của nam nữ (mang tánh ô nhiễm)—The quality of form, color, or sexual attraction. ** For more information, please see Lục Trần.
; (色塵) Chỉ cho đối cảnh mà nhãn căn, nhãn thức duyên theo, thu lấy, 1 trong 5 trần, 1 trong 6 trần. Sắc này làm cho tâm thức nhơ nhớp, sinh ra phiền não, cho nên gọi là Trần (bụi bặm). (xt. Ngũ Cảnh, Ngũ Trần, Sắc).
Sắc trần 色塵
[ja] シキジン shikijin ||| "Form objects." One of the six kinds of objects, those of vision. The ideograph 塵, while meaning 'object,' also implies defilement.` => Là một trong 6 trần cảnh, như cảnh tượng. Chữ 'trần'塵 có nghĩa là 'đối tượng', còn hàm nghĩa là nhiẽm ô.
Sắc tu Bách Trượng thanh quy
敕修百丈清規; C: chìxiū bózhàng qīngguī; J: rokushu hyakujō shōki;|Sách, 1 quyển, tên gọi tắt là Bách Trượng thanh quy (百丈清規).
sắc tu bách trượng thanh quy
3733凡八卷(又作二卷)。略稱勅修清規、百丈清規。元朝東陽德輝編,全悟大訢及學業沙門等共校正。收於大正藏第四十八冊。元朝至元二年(1336),蒙順宗之勅,德輝乃重編百丈古清規,於百丈山大智壽聖禪寺,對照參考古清規、校定清規、備用清規和幻住清規等合而編輯。內容分九章:(一)祝釐章,列舉對朝廷之六項祝讚法式。(二)報恩章,頌讚國恩之遺勳及佛恩之廣大。(三)報本章,舉佛誕生、佛成道、佛涅槃之目次,並高唱報恩之精神。(四)尊祖章,舉達磨忌、百丈忌、開山忌、嗣法師忌等四忌以報祖師之恩德。(五)住持章,揭出上堂、小參、入院、遷化等十七目,以示住持人之日用行持。(六)兩序章,示兩序之進退、侍者之去就、湯茶煎點之法式,及列職雜務等,共二十一項。(七)大眾章,示沙彌之得度,新戒之參堂等,乃至遊方參請、赴齋粥、普請、病僧念誦等日用之規範。(八)節臘章,關於結制、戒臘、念誦等諸事。(九)法器章,詳舉鐘、版、木魚、磬、鼓等一切法器,並教示鳴打之法。網羅禪林清規之大綱。卷首有至元二年之上諭、正統七年四月禮部尚書胡娅等重刊序。卷末有百丈祖師塔銘、黃溍之百丈山天下師表閣記、楊億之古清規序、崇寧清規序、咸淳清規序、至大清規序及至元二年三月翰林直學士歐陽玄之序、同四年三月德輝之自序等。自序曰(大四八‧一一五九上):「百丈清規行于世尚矣!繇唐迄今,歷代沿革不同,禮因時而損益,有不免焉。往往諸本雜出,罔知適從,學者惑之。」以知本書編纂之由來。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、永平清規卷下、僧堂清規凡例、禪學思想史卷上〕
; (勅修百丈清規) Gọi tắt: Sắc tu thanh qui, Bách trượng thanh qui. Thanh qui, 10 quyển (có chỗ ghi 2 quyển), do ngài Đông dương Đức huy biên soạn vào đời Nguyên, các ngài Toàn ngộ Đại hân và sa môn Học nghiệp cùng giáo chính, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Năm Chí nguyên thứ 2 (1336) đời Nguyên, ngài Đức huy vâng sắc chỉ của Hoàng đế Thuận tông, đem bộ Bách trượng cổ thanh qui ở Đại trí Thọ thánh Thiền tự tại núi Bách Trượng, đối chiếu, tham khảo và so sánh với các bộ Cổ thanh qui, Giáo định thanh qui, Bị Dụng thanh qui và Huyễn Trụ thanh qui... rồi kết hợp lại để biên tập thành bộ Sắc tu Bách trượng thanh qui này. Nội dung của bộ thanh qui này chia làm 9 chương: 1. Chương Chúc li: Liệt kê 6 điều mục về cách thức chúc tụng tán thán đối với triều đình. 2. Chương Báo ân: Tán tụng công ơn quốc gia và ân đức rộng lớn của Phật. 3. Chương Báo bản: Liệt kê các điều mục theo thứ tự về ngày Phật đản sinh, Phật thành đạo, Phậtniết bàn và đề cao tinh thần báo ân. 4. Chương Tôn tổ: Ghi những ngày kị của 4 vị là tổ Đạt Ma, tổ Bách Trượng, tổ Khai Sơn và vị thầy nối pháp để báo đáp ân đức Tổ sư. 5. Chương Trụ trì: Đề ra 17 mục như Thướng đường, Tiểu tham, Nhập viện, Thiên hóa... để chỉ cho vị Trụ trì biết những việc phải làm hàng ngày. 6. Chương Lưỡng tự: Gồm 21 hạng mục chỉ dạy sự tiến thoái của Lưỡng tự (nhà Đông, nhà Tây), cách đi và đến của Thị giả, phép pha trà đun nước và các việc linh tinh khác. 7. Chương Đại chúng: Chỉ dạy các phép tắc hàng ngày như việc độ sa di, cách tham đường của người mới thụ giới Cụ túc, cho đến việc du phương tham thỉnh, phó trai chúc, phổ thỉnh, niệm tụng bệnh tăng... 8. Chương Tiết lạp: Nói về các việc kết chế, giới lạp, niệm tụng... 9. Chương Pháp khí: Nêu rõ tất cả pháp khí như: Chuông, mộc bản, mõ, khánh, trống... và chỉ dạy cách đánh các pháp khí này. Chín chương trên đây bao gồm hết các thanh qui của Thiền lâm. Đầu quyển có lời Thượng dụ viết vào năm Chí nguyên thứ 2 (1336) và bài tựa lần khắc in lại của quan Thượng thư bộ Lễ Hồ Huỳnh viết vào tháng 4 năm Chính thống thứ 7. Cuối quyển có bài minh tháp tổ Bách trượng, bài Bách Trượng Sơn Thiên Hạ Sư Biểu Các Kí của Hoàng tấn, bài tựa Cổ thanh qui của Dương Ức, bài tựa Sùng ninh thanh qui, bài tựa Hàm thuần thanh qui, bài tựa Chí đại thanh qui và bài tựa của Hàn Lâm Trực học sĩ Âu Dương Huyền viết vào tháng 3 năm Chí nguyên thứ 2 (1336). Cũng tháng 3 năm Chí nguyên thứ 2, tác giả Đức huy viết lời tựa, trong đó có đoạn (Đại 48, 1159 thượng): Bách trượng thanh qui vẫn còn lưu hành trong thế gian. Từ đời Đường đến nay, trải qua nhiều đời, bao nhiêu thay đổi khác nhau, do đó, không tránh khỏi có sự thêm bớt, luôn luôn thấy có các bản xuất hiện, người học không biết phải theo bản nào nên sinh ra ngờ vực, đó chính là nguyên do soạn bộ sách này. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Vĩnh bình thanh qui Q.hạ; Tăng đường thanh qui phàm lệ; Thiền học tư tưởng sử .thượng].
Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy 勒 修百丈清規
[ja] ロクシュヒャクジョウショウキ Rokushu hyakujō shōki ||| Lexiu bozhang qinggui; 1 fasc. abbreviated title Baizhang qinggui 百丈清規. T 2025.48.1109c-1160b. => (c: Lexiu bozhang qinggui) Sách, 1 quyển, tên gọi tắt là Bách Trượng Thanh Quy百丈清規. (Tôi e rằng cmuller nhầm chữ Lặc 勒 với chữ Sắc 勅 !)
sắc tài
Beauty and talent.
sắc tâm
Matter and mind, the material and immaterial.
; 1) Sắc (pháp có hình chất gây trở ngại và không có tri giác): Matter or material. 2) Tâm (pháp không có hình chất, không thể thấy được, nhưng có tri giác): Mind or immaterial. 3) Ở chư pháp thì gọi là “Sắc Tâm,” trong các loài hữu tình thì gọi là “Thân Tâm”: In inanimate we call “Material and immaterial,” in living things or animate we call “Matter and mind.”
sắc tướng
2547<一>即形質相狀。為宇宙間一切色法的本質之一。無論有情生命或器世間,均有其形質相狀。楞嚴經卷三(大一九‧一一五下):「色相既無,誰明空質?」 <二>指色身之相貌現於外而可見者。如諸佛菩薩為方便攝化眾生,而權假顯現色身相貌。即華嚴經卷一所載,無邊色相,圓滿光明。
; Xem Sắc.
; The material, material appearance, or external manifestation, the visible. Form, appearance, phenomenon.
; Rupalakshana (skt)—Tướng mạo sắc thân bên ngoài, có thể nhìn thấy được hay các đặc trưng của cơ thể—Material appearance—External manifestation—The visible or corporeal features.
; (色相) I. Sắc Tướng. Hình chất và tướng dáng, là 1 trong các bản chất của tất cả sắc pháp. Bất luận là sinh mệnh hữu tình hay khí thế gian đều có hình chất và tướng dáng của nó. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 115 hạ) nói: Sắc tướng đã không có thì ai biết được bản chất của không? II. Sắc Tướng. Chỉ cho tướng dáng của sắc thân hiện ra bên ngoài có thể thấy được. Như chư Phật, Bồ tát vì phương tiện nhiếp hóa chúng sinh nên tạm thời giả hiện ra tướng dáng sắc thân. Kinh Hoa Nghiêm quyển 1, nói: Vô biên sắc tướng, ánh sáng tròn đầy.
sắc tướng độ
2547指如來微塵相海身所依之土。為五土之一。此土萬德成就,眾寶莊嚴,且周圓無際。〔大明三藏法數卷二十〕(參閱「五土」1056)
; A Buddha's material or visible world.
; Thế giới sắc tướng của chư Phật (có thể thấy được)—A Buddha's material or visible world.
; (色相土) Chỉ cho cõi nướcnươngở của sắc thân vi trần tướng hải của Như lai, là 1 trong Ngũ độ. Cõi này muôn đức thành tựu và trang nghiêm bằng vô số báu vật, rộng khắp không ngằn mé. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ độ).
sắc tượng
Form.
Sắc tứ
(敕賜): Hoàng Đế hạ lệnh ban cho. Như trong Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青龍寺三朝供奉大德行狀, Taishō Vol. 50, No. 2057) có đoạn: “Sắc tứ đao nhất khẩu, ư Thanh Long Đại Phật Điện tiền, thọ sắc dữ Hòa Thượng nhị đồng tử thế đầu, tứ Ca Sa y bát các lưỡng phó (敕賜刀一口、於青龍大佛殿前、授敕與和上二童子剃頭、賜袈裟衣缽各兩副, nhà vua sắc ban cho đao một lưỡi, tại trước Chánh Điện của Chùa Thanh Long, sắc ban cho Hòa Thượng [Huệ Quả] hai đồng tử xuống tóc, ban y Ca Sa và bình bát, mỗi thứ hai bộ).” Hay trong Kim Sử (金史) quyển 38, phần Ngoại Quốc Sứ Nhập Kiến Nghi (外國使入見儀) có đoạn: “Thứ dẫn Cao Lệ, Hạ sứ tinh chí đan trì, tam sứ tinh cúc cung, hữu sắc tứ tửu thực, vũ đạo, ngũ bái (次引高麗、夏使幷至丹墀、三使幷鞠躬、有敕賜酒食、舞蹈、五拜, kế đến dẫn sứ thần Cao Lệ, nhà Hạ cùng đến thềm ngọc, cả ba sứ thần vòng tay cúi đầu, vua ban cho rượu thịt, nhảy múa, rồi lạy năm lạy).” Xưa kia, dưới thời quân chủ, phần lớn các tự viện đều được nhà vua ban biển ngạch sắc tứ. Như tại Chùa Trúc Lâm ở Xã Thủy Xuân, Thành Phố Huế có bức hoành đề: “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh Tự (敕賜竹林大聖寺)”. Tại Chùa Quốc Ân, Huế có Long Vị của Tổ Nguyên Thiều (元韶, 1648-1728) đề: “Sắc Tứ Quốc Ân Đường Thượng Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Tam Thế Húy Nguyên Thiều Thượng Thọ Hạ Tôn Lão Hòa Thượng (敕賜國恩堂上臨濟正宗三十三世諱元韶上壽下尊老和尚).”
sắc tứ quan âm cổ tự
See Quan Âm Sắc Tứ Tự.
sắc tứ tập phước
See Tập Phước.
sắc tứ từ ân tự
See Từ Ân Sắc Tứ Tự.
sắc tức thị không
2544梵語 rūpaṃ śūnyatā 或 yad rūpaṃ sā śūnyatā。出自玄奘所譯般若心經。為「空即是色」之對句。色,廣義言之,乃物質之總稱。謂一切現象皆為空幻,無有實體。小乘以人為五蘊之假和合,無獨立自存之實體,故說「人無我」;大乘不但認為人無我,且以為五蘊自身亦虛假不實,而說「法無我」。所謂五蘊皆空,意謂不論物質現象(相當於色)或精神現象(受、想、行、識)均屬因緣所生法,無固定不變之自性;若以其為實有自性,則是虛妄分別,故色之本質為空。〔梵文般若波羅蜜多心經、大品般若經卷二十五實際品、了義般若波羅蜜多經、維摩經卷中入不二法門品、大智度論卷九十、中論卷二觀行品、般若心經疏、般若波羅蜜多心經贊、華嚴注法界觀門〕(參閱「空即是色」3478)
; Form is emptiness.
; (色即是空) Phạn: Rùpaô-zùnyatà hoặc Yad rùpaô sà zùnyatà. Đối lại: Không tức thị sắc. Sắc tức là không, câu này có xuất xứ từ Bát Nhã Tâm Kinh do ngài Huyền trang dịch. Chữ Sắc, theo nghĩa rộng, chỉ chung cho vật chất. Câu này có nghĩa là tất cả hiện tượng đều là không vô, hư huyễn, chẳng có thực thể. Tiểu thừa cho con người là do 5 uẩn hòa hợp, trong đó không có thực thể tồn tại độc lập nên nói Nhân vô ngã. Đại thừa chẳng những cho nhân vô ngã mà ngay cả 5 uẩn cũng hư giả chẳng thật, nên nói Pháp vô ngã. Nói 5 uẩn đều không, tức là bất luận hiện tượng vật chất (tương đương với sắc) hay hiện tượng tinh thần (thụ, tưởng, hành, thức), đều thuộc pháp nhân duyên sinh, không có tự thể cố định bất biến, vì thế bản chất của sắc là không. [X. Bát nhã ba la mật đa tâm kinh; phẩm Thực tế trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.25; kinh Liễu nghĩa bát nhã ba la mật đa; phẩm Nhập bất nhị pháp môn kinh Duy ma Q.trung; luận Đại trí độ Q.90; phẩm Quán hành Trung luận Q.2; Bát nhã tâm kinh sớ; Bát nhã ba la mật đa tâm kinh tán; Hoa nghiêm chú pháp giới quán môn]. (xt. Không Tức Thị Sắc).
sắc tức thị không, không tức thị sắc
Rupam eva sunyata, sunyataiva rupam (p & skt)—Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất! Thế giới hiện tượng hay sắc tướng này là không, và không quả thực là thế giới hiện tượng. Không không khác với thế giới hiện tượng hay Sắc, thế giới hiện tượng hay Sắc không khác với Không. Cái gì là thế giới hiện tượng thì cái đó là Không, cái gì Không thì cái đó là thế giới hiện tượng”—Matter is just the immaterial, the immaterial is just matter (form is emptiness and the very emptiness is form). In the Heart Sutra, the Buddha told Sariputra: “Sariputra! This phenomenal world or form is emptiness, and emptiness is truly the phenomenal world. Emptiness is not different from the phenomenal world, the phenomenal world is not different from emptiness. What is the phenomenal world that is emptiness, what is emptiness that is the phenomenal world.”
sắc tự tướng
Rupasvabhava (skt)—Tự tính của thế giới bên ngoài—The self-nature of the external world.
Sắc tự tại địa 色自在地
[ja] シキジザイチ shikijizaiji ||| The stage of unimpeded form. The eighth of the ten bhūmis (十地) of the bodhisattva path. => Cảnh giới không chướng ngại sắc chất. Giai vị thứ 8 trong Thập địa của hàng Bồ-tát.
sắc uẩn
2549梵語 rūpa-skandha,巴利語 rūpa-kkhandha。又作色陰、色受陰。為五蘊之一。色,為變礙義;佔有一定空間,且會變壞者,稱之為色。而色之聚集,稱為色蘊;亦即有質礙、變礙諸法之類聚。 依據俱舍論卷一所載,色係指五根(眼耳鼻舌身)、五境(色聲香味觸)及無表色。五根為眼、耳等五識之所依,為五種淨色。五境為眼、耳等五根所取之五種境界。 五境中之色,有青黃赤白、長短方圓等二十種。青黃赤白等十二種,稱顯色;長短方圓等八種,稱形色。聲,分為有執受大種因、無執受大種因等八種聲。香,有好香、惡香、等香、不等香四種之別。味,有甘、醋、鹹、辛、苦、淡等六種。觸,有地、水、火、風四大種,及滑性、澀性、重性、輕性,並冷、餓、渴等十一種。無表色,謂意識緣於過去所見之境,雖分別明了,而無表對,故稱無表;雖無所表,而於所緣之境執著不忘,故稱為色。 於上述諸色法中,又可依其一一法之性質而歸納成下列之數種分類。據雜阿含經卷三載,色受陰即所有之色;乃一切四大及四大所造之色。其中,地水火風四大種,是為能造,而色聲等,是為所造。阿毘曇心論經卷一載,色有二種:(一)微塵積聚之色,指眼、耳乃至味、觸等十色入,又稱十色處。(二)非微塵積聚之色,指無教色(無表色),為法入之所攝。又雜阿含經卷十三、集異門足論卷三、俱舍論卷十三等,將色分為有見有對、無見有對、無見無對三種。有見有對,又作可見有對。因其可示現彼此之差別,故為有見;以其有障礙,故為有對;即指極微所成,眼根所取之色境。無見有對,又作不可見有對。雖有障礙而不可見,即指五根及聲香味觸之四境。無見無對,乃不可見無障礙之法,即指無表色。 依據顯揚聖教論卷五所載,色蘊略有五種相,即:(一)自相,即色身諸法各有不同之自相,如堅是地相,溼是水相,煖是火相,動是風相。(二)共相,即色身諸法和合之相,謂一切色身皆從地水火風和合為相。(三)所依能依相屬相,即色身四大種是所依相,四大造色是能依相。(四)受用相,謂眼等諸根有增上力,故諸色塵境界得以產生,遂有苦樂逆順受用之相。(五)業相,謂色身能作種種業行之相,故一切業行,皆依色身攝受增長。〔雜阿含經卷二、增一阿含經卷二十六、大毘婆沙論卷七十五、卷七十六、卷一二八、雜阿毘曇心論卷一、卷二、順正理論卷一、大乘阿毘達磨集論卷一、大乘百法明門論、成唯識論卷一、卷二、俱舍論光記卷一、大乘法苑義林章卷五本、止觀輔行傳弘決卷五之一〕(參閱「五蘊」1212)
; UpadarŪpa (P), RŪpa-khandha (P), RŪpa-skandha (S), Aggregate of form RŪpa-khandha (P)Trong ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
; Rùpa skandha (S). The skandha of rùpa, or that which has form, v.ngũ uẩn.
; Sắc uẩn thuộc về thân, còn bốn uẩn kia thuộc về tâm—The skandha of rupa (or that which has form)—Aggregate matter or the skandha of form relates to the physical body, while the remaining four concern the mind.
; (色蘊) Phạn: Rùpa-skandha. Pàli:Rùpa-kkhandha. Cũng gọi Sắc ấm, Sắc tụ ấm. Sự tụ tập của các pháp có tính chất ngại và biến hoại, là 1 trong 5uẩn. Theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 5 thì Sắc uẩn đại khái có 5 tướng: 1. Tự tướng: Các pháp sắc thân đều có tướng riêng khác nhau, như cứng là tướng của đất, ướt làtướngcủa nước, nóng là tướng của lửa, động là tướng của gió. 2. Cộng tướng: Tướng hòa hợp của các pháp sắc thân, nghĩa là tất cả sắc thân đều từ đất nước lửa gió hòa hợp thành tướng. 3. Sở y năng y tương thuộc tướng: Tức sắc thân 4 đại chủng là tướng sở y, sắc 4 đại tạo là tướng năng y. 4. Thụ dụng tướng:Các căn mắt, tai... có sức tăng thượng nên sản sinh ra các cảnh giới sắc trần, từ đó có tướng thụ dụng khổ vui nghịch thuận. 5. Nghiệp tướng: Sắc thân có khả năng tạo tác các tướng nghiệp hành, cho nên tất cả nghiệp hành đều nhờ sắc thân nhiếp thụ mà tăng trưởng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.2; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.26; luận Đại Tì Bà Sa Q. 75, 76, 128; luận Tạp A Tì Đàm Tâm Q.1, 2; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu; luận Thuận chính lí Q.1; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp tập Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; luận Duy thức Q.1, 2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1]. (xt. Ngũ Uẩn).
Sắc uẩn 色蘊
[ja] シキウン shikiun ||| (rūpa-skandha). The 'aggregate of form.' The gathering of materiality. The cluster of material existence. One of the five skandhas. It refers to material existence as opposed to mental functions as the other four skandhas do. In Abhidharmakośa theory this category consists of the eleven elements of the five sense organs, their five objects and unmanifest form. In Yogācāra theory, there are also eleven elements in this category, including the five sense organs, the five faculties and subtle form. => (s: rūpa-skandha). Sự nhóm chứa các sắc thể. Tổ hợp của các vật thể hiện hữu. Là một trong 5 uẩn. Sắc uẩn liên quan đến sự hiện hữu của sắc pháp khác với phạm trù tâm pháp như 4 uẩn còn lại. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, Sắc uẩn gồm 11 thành phần từ 5 giác quan, 5 trần cảnh và một Vô biểu sắc. Theo giáo lý Duy thức, cũng có 11 thành phần gồm 5 giác quan, 5 trần cảnh và một Tế sắc
sắc vi
Atoms of things of form, or colour.
; Vi trần—Atoms of things, of form, or colour.
sắc vị
The flavour of sexual attraction, love of women.
; Hương vị của sự hấp dẫn dục tình—The flavour of sexual attraction, or love of women.
sắc xứ
Xem sắc nhập.
; See Sắc Nhập.
sắc y
2542指染成青黃紫緋等色之法衣。文殊師利問經卷上世間戒品第十載,以異色袈裟區別五部,後世卻以之表示僧階之高下,意義已不同。論色衣之緣起,原係朝廷對高僧大德賜紫衣、緋衣,或為統理僧尼而設一定之衣色以為僧官之制服。古所稱紫衣即紫袈裟;於日本,並由袈裟之色區別階位,後更就袈裟、法衣二者分設規定。古來佛會多取範於朝廷之儀,故佛教僧侶亦多以朝臣服制為參考。而各宗以法衣之色區別僧階、堂班乃成定制。〔佛像標幟義圖說卷上色衣條、顯密威儀便覽卷上〕(參閱「法衣」3346)
; (色衣) Màu sắc của áo ca sa. Theo phẩm Thế gian giới trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng thì 5 bộ (Đàm vô đức, Tát bà đa, Di sa tắc, Ca diếp di và Ma tăng ha kì) được khu biệt bằng màu sắc của áo ca sa, đời sau bèn dựa vào đó để biểu thị thứ bậc cao thấp của tăng chúng, nên ý nghĩa đã khác nhau. Nguyên do Sắc y của chư tăng Phật giáo Trung quốc bắt nguồn từ những tử y (áo tía), phi y (áo màu hồng đào) mà triều đình ban cho các bậc Cao tăng, Đại đức, hoặc vì mục đích lãnh đạo tăng ni mà đặt ra 1 màu áo nhất định để may phục sức của các vị quan tăng. Về sau, các tông căn cứ vào màu sắc của áo pháp để phân biệt cấp bậc của chư tăng. [X. điều Sắc y trong Phật tượng tiêu xí nghĩa đồ thuyết Q.thượng; Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.thượng].
sắc ái
Xem sắc dục.
sắc ái kết
RŪparāga (S), Desire for fine material existence 1- Trong hai thằng thúc: dây trói buộc chúng sanh vào vòng luân hồi là ham muốn đeo níu trong Sắc giới (ruparaga) và ham muốn đeo níu trong Vô sắc giới. 2- Lòng còn thích hưởng phước ở cảnh tiên sắc giới. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 3- Mối trói buộc mà người đắc quả A la hán trừ dứt được là không còn thích hưởng phước cõi tiên hay sắc giới nữa.
sắc âm
See Sắc Uẩn.
sắc ích
3734指於人逝世後,朝廷依其生前德行而追贈稱號。追贈之號又稱勅諡號。僧號之勅,始於北魏明元帝(409~423 在位)追贈法果爲「胡靈公」。至於禪宗之中,則始於唐代中宗神龍二年(706),神秀受追贈「大通禪師」之號。此外,勅諡之僧號尚有:大師、國師、禪師、菩薩、和尚、法師、上人等。
sắc ấm
một trong năm ấm. Xem năm ấm.
; Rùpa-skandha. Xem sắc uẩn.
Sắc 色
[ja] シキ shiki ||| (1) (rūpa): 'form.' 1) That which changes and decays, has the quality of shape and mutual obstruction. The Sanskrit root of the word rūpa, rup, is a verb which means to have form, therefore the primary meaning of 'something which has form.' It is understood as something created by forming (Skt. rūpyata iti rūpam). It also has the meaning of the verbal root ru, meaning decay, or break down, and therefore, something which decays or breaks down, or changes. It is a word which refers to a material object which has shape, is formed or created, and changes. It is understood with the meaning of "materially obstructing," and bianhuai 變壞, "changing and decaying," both of which are the nature of all that possesses form. Other technical usages of the term include the meanings of (1) color, colorful (Skt. varna, citra, ranga); (2) color and form; that is, as an object of the eye consciousness. That which can be seen by the eye. All material existence, possessing form. The objects of the faculties of perception, so not simply color, but color and form together. Objects of vision; one of the five object-fields. Also called sechen 色塵 the 'data-field of form,' which is one of the 'six data-fields' or six objects of consciousness. Also has the meaning of 'form realm' (色界). In the Abhidharmakośa school, 色 is also interpreted as 顯色, that is, visible color as opposed to 形 (xing) which means visible shape. (3) In the doctrine of the Yogacara school 瑜伽行派, one of the five categories of elements within the group of form elements (色法). When considered as one of the five object realms (五境), it is the object-realm of the faculty of sight. => (s: rūpa; j: shiki; e: form) 1. Thứ thay đổi và biến hoại, có đặc tính hình dạng và ngăn ngại lẫn nhau. Từ gốc trong tiếng Sanskrit của rūpa là rup, là động từ với nghĩa có hình dáng. Được hiểu là một vật thể được tạo ra do sự tạo hình (Skt. rūpyata iti rūpam). Còn có nghĩa xuất phát từ động từ gốc là Ru, có nghĩa là tàn hoại hay hư nát, do vậy, sắc là thứ biến hoại, hư nát, và thường biến đổi. Là từ ngữ đề cập đến vật chất có hình dáng, được tạo tác, và thường xuyên biến dạng. Còn được hiểu với nghĩa là “chất ngại” 質礙) và biến hoại 變壞, cả hai đều là đặc tính của những vật có sắc chất. Cách dùng có tính cách chuyên biệt khác của từ nầy còn có nghĩa là màu sắc (Skt. varna, citra, ranga). 2. Màu và sắc; có nghĩa là đối tượng của nhãn thức. Những vật có thể thấy được bằng mắt. Tất cả những vật thể hiện hữu, đều có hình sắc. Đối tượng của ý thức, không chỉ đơn thuần là màu sắc, mà gồm cả màu sắc và hình dáng. Đối tượng của sự nhìn thấy; là một trong năm trần cảnh. Còn gọi là sắc trần, là một trong sáu lĩnh vực hay sáu đối tượng của thức. Còn có nghĩa là sắc giới (色界). Theo tông A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, sắc được hiểu là Hiển sắc 顯色, có nghĩa là sắc màu có thể thấy được, khác với hình 形 ), có nghĩa là hình dáng có thể thấy được. 3. Theo giáo lý Du-già hành tông, sắc là một trong năm nhóm thuộc Sắc pháp (色法). Khi xem sắc là một trong năm trần cảnh (五境), nó chính là trần cảnh, đối tượng của nhãn căn.
sắc, thanh, danh, lợi
Form, sound, fame, fortune or profit.
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
Forms, sounds, scents, tastes, textures (touches), and mental objects.
sắp
1) To put in order—To arrange. 2) To be on the point of (about to).
sắp xếp thời khắc tu hành
To establish (arrange) a time-table (frame) to practice the way.
sắp đặt
See Sắp (1).
sắt
Ống sáo—A lute.
sắt thạch
Tảng đá dùng làm ngôi cho Bất Động Minh Vương—The stone of which the throne of Arya-acalanatha-raja consists—See Bất Động Minh Vương.
sằn đề
Ksanti (S). Patience, forbearance, enduring shame.
sằn đề ba la mật
Xem Kiên nhẫn Ba la mật.
; Ksànti-pàramità (S). Cardinal patience.
sằn đề tiên nhân
Ksàntirsi (S). Name of Sàkyamuni in a previous incarnation, the patient or enduring rsi.
sằn đề đề bà
Śāntideva (S)Tịch Thiên.
; Kṣānti-vadirsi (S), Kṣāntideva (S)Thầy dạy võ Thái Tử Tất đạt Đa thuở nhỏ = Đồng Thần, Nhẫn nhục ThiênThầy dạy võ của Thái tử Tất Đạt Đa.
Sằn-đề ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là Kṣantipramit, tức là Nhẫn nhục ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật. Cũng gọi là Nhẫn độ.
sẳn có
Available.
sẳn sàng
Ready—Prepared.
sế điện chi cơ
4957禪林用語。以電光之瞬時不待,比喻禪林中師家接得學人機用之迅速,不容學人有思慮分別之餘地。碧巖錄第三十七則垂示(大四八‧一七五上):「掣電之機,徒勞佇思,當空霹靂,掩耳難諧。」
sỉ
1) Răng: Đặc biệt là răng trên phía trước—Teeth (especially the front and upper teeth). 2) Sỉ Nhục: Disgrace—Shame—Ashamed.
sỉ mạ
To affront—To insult.
sỉ mộc
Dantakastha (skt)—Cái que tăm làm sạch răng—A stick for cleaning the teeth.
sỉ nhục
Disgrace—Dishonour—Shame.
sỉ tiểu mộ đại
4104天台宗所立之五時中,在第三方等時之會座聽聞彈偏析小、歎大褒圓之說法,乃發啟羞恥小乘之淺劣,欽慕大乘之尊高之心。此乃方等時具有彈訶之益。〔法華經文句卷四、法華玄義釋籤卷十〕(參閱「彈偏析小」6002)
; Chối bỏ hay mắc cở với cái nhỏ (Tiểu Thừa) và mến mộ cái lớn (Đại Thừa)—Ashamed of the small (Hinayana) and in love with the great (Mahayana).
; (耻小慕大) Hổ thẹn nhỏ, mến chuộng lớn. Nghĩa là khởi tâm hổ thẹn đối với sự nông cạn, yếu kém của Tiểu thừa giáo mà hâm mộ sự cao siêu, tôn quí của Đại thừa giáo. Trong 5 thời phán giáo do tông Thiên thai thành lập thì thời Phương đẳng thứ 3 là thời pháp quở trách sự thiên chấp của Tiểu thừa và khen ngợi sự viên dung của Đại thừa. Hàng Thanh văn được nghe thời pháp này liền phát tâm Sỉ tiểu mộ đại. Đây là lợi ích của sự quở trách ở thời Phương đẳng vậy. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10]. (xt. Đàn Thiên Tích Tiểu).
sỉ ấn
Ấn có hình răng cưa—A serrated seal.
Sỉ 恥
[ja] チ chi ||| (1) To be ashamed; to shame oneself. (2) Shame, embarrassment. => 1. Xấu hổ, tự mình xấu hổ 2. Sự ngượng ngùng, tình trạng bối rối.
sị
Bí sị—Sad.
sỏi đời
Experienced.
số
6089梵語 saṃkhyā。唯識宗作二十四不相應行法之一,勝論學派以之為二十四德之一。即表示存在之數量。印度將數分為單數(一數)、雙數(兩數、二數)、複數(多數)三種。從一至無數(梵 asaṃkhya,阿僧祇),通常以如下十進法之五十二種數來表示,即:一、十、百、千、萬、洛叉(梵 lakṣa)、阿底洛沙(梵 atilakṣa)、俱胝(梵 koṭi)、末陀(梵 madhya)、阿由多(梵 ayuta)、大阿由多、那由多(梵 nayuta)、大那由多、鉢羅由多、大鉢羅由多、矜羯羅、大矜羯羅、頻跋羅、大頻跋羅、阿芻婆、大阿芻婆、毘婆訶、大毘婆訶、嗢蹲伽、大嗢蹲伽、婆喝那、大婆喝那、地致婆、大地致婆、醯都、大醯都、羯臘婆、大羯臘婆、印達羅(梵 indra)、大印達羅、三磨鉢耽、大三磨鉢耽、揭底、大揭底、拈筏羅闍、大拈筏羅闍、姥達羅、大姥達羅、跋藍、大跋藍、珊若(梵 saṃjñā)、大珊若、毘步多、大毘步多、跋羅攙、大跋羅攙、阿僧祇等。 阿僧祇又作阿僧祇耶、阿僧企耶、阿僧、僧祇等,譯為無數、無央數,即「無法計數」之意。但由一至阿僧祇為止,原有六十個數,後佚失八數,遂成為五十二數。翻譯名義大集則加上曾佚失之八數,而為六十數。此外,譬喻極大之數,以微塵數來表示;一以下之分數為極小之數(或作十六分之一),稱為歌羅分;最極微小之分數,稱為鄔波尼殺曇分(梵 upaniṣadam,優波尼殺陀分)。 新譯華嚴經卷四十五以一阿僧祇為單位,舉有:阿僧祇、無量、無邊、無等、不可數、不可稱、不可思、不可量、不可說、不可說不可說等十數,此稱為十大數。其算法是將阿僧祇乘以阿僧祇,稱為阿僧祇轉;阿僧祇轉再乘以阿僧祇轉,則為無量;以下各大數皆以此類推。〔瑜伽師地論卷三、卷五十六、顯揚聖教論卷一、大乘百法明門論、瑜伽論記卷十五下〕
; To number, count, enumerate, figure out, calculate, reason, reprimand; numbers, an account, fate, destiny; flurried. It is also used for trí knowledge and for mental content or conditions as in tâm số.
; 1) Con số: Number (n). 2) Đếm số: To Count—To Enumerate—To figure out. 3) Số mệnh: Fate—Destiny—Lot.
; (數) Phạn: Saôkhyà. Số lượng biểu thị sự tồn tại của các pháp, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức, 1 trong 24 đức của học phái Thắng luận. Ấn Độ chia Số làm 3 loại: Đơn số (1 số), Song sốb(2 số) và Phức số (nhiều số). Từ 1 đến vô số (Phạn:Asaôkhya, a tăng kì) thông thường được biểu thị bằng 52 loại số tăng dần theo pháp thập tiến (decimal system) như sau: Một, mười, trăm, nghìn, vạn, lạc xoa (Phạn: lakwa), a để lạc xoa (Phạn: atilakwa), câu chi (Phạn: koỉi), mạt đà (Phạn: madhya), a dođa (Phạn: ayuta), đại a do đa, na do đa (Phạn: nayuta), đại na do đa, bát la do đa, đại bát la do đa, căng yết la, đại căng yết la, tần bạt la, đại tần bạt la, a sô bà, đại a sô bà, tì bà ha, đại trí bà, đại địa trí bà, hê đô, đại hê đô, yết lạp bà, đại yết lạp bà, ấn đạt la (Phạn: indra), đại ấn đạt la, tam ma bát đam, đại tam ma bát đam, yết để, đại yết để, niêm phiệt la xà, đại niêm phiệt la xà, mỗ đạt la, đại mỗ đạt la, bạt lam, đại bạt lam, san nhã (Phạn: saôjĩà), đại san nhã, tì bộ đa, đại tì bộ đa, bạt la sàm, đại bạt la sàm, a tăng kì. A tăng kì cũng gọia tăng kì da,a tăng xí da,a tăng, tăng kì... Hán dịch là vô số, vô ương số, nghĩa là không thểtính đếm. Nhưng từ 1 đến a tăng kì vốn có 60 loại số, về sau thất lạc 8 số, cho nên chỉ còn 52 số, Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì có thêmvào 8 số thất lạc mà thành 60 số. Ngoài ra, muốn biểu thị số cực lớn thì dùng số vi trần (bụi nhỏ) để ví dụ; phân số dưới số 1 là số cực nhỏ (hoặc1 phần 16), gọi là Ca la phần; phân số nhỏ nhất gọi là U ba ni sát đàm phần (Phạn: upaniwadam, Ưu ba ni sát đà phần). Kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) dùng 1 A tăng kì làm đơn vị rồi nêu ra 10 số:A tăng kì, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khảsổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết, đây gọi là Thập đại số. Phép tính này là đem A tăng kì nhân với A tăng kì, gọi là A tăng kì chuyển; A tăng kì chuyển lại nhân với A tăng kì chuyển thì thành vô lượng; các số lớn tiếp theo sau cứ đó mà suy ra. [X. luận Du già sư địa Q.3, 56; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; Du già luận kí Q.15, phần cuối].
số châu
6090梵語 pāsakamālā。音譯作鉢塞莫。又作念珠、誦珠、咒珠。即以線貫串一定數目之珠,用以計算稱名念佛或陀羅尼等念誦之次數。其種類,依陀羅尼集經記載,有二十一珠、四十二珠、五十四珠、一百零八珠等四種;依數珠功德經記載,有十四顆、二十七顆、五十四顆、一百零八顆等四種;依金剛頂瑜伽念珠經記載,上品一千零八十顆、最勝一百零八顆、中品五十四顆、下品二十七顆。準此,數珠之基本顆數為一百零八顆,四十二、二十一顆者乃別說。 念珠之顆數不同,所表示之意義亦異:一百零八顆者表示證百八之三昧,以斷除百八之煩惱;五十四顆者表示菩薩修行過程之十信、十住、十行、十回向、十地及四善根因地等五十四位;四十二顆者則表示十住、十行、十回向、十地、等覺、妙覺等四十二位;二十七顆表示小乘修行四向四果之十八學人與九無學;二十一顆者表示十地、十波羅蜜、佛果等二十一位;十四顆者表示觀音之十四無畏。 數珠材質之種類亦多,有金、銀、赤銅、菩提子、蓮華子、金剛子、黑檀、紫檀、真珠、珊瑚、琉璃、鐵等,惟各經多以菩提子所製者為最殊勝。此外,有關念珠之配置法、掐捻法、功德等,經典所記載(大多為晚期經典,尤以密教諸經軌)甚詳。又佛教開始使用念珠之年代約在二世紀之後,於中國,有關數珠使用最早之記載,見於續高僧傳卷二十道綽傳(大五○‧五九三下):「人各搯珠,口同佛號。」是知至隋唐時乃開始使用,以為稱名記數之具。〔木槵子經、大悲空智經持念品、釋氏要覽卷中、翻譯名義集卷十八、類聚名物考卷二五五〕(參閱「念珠」3215)
; Lần chuỗi hạt, thường là 108—To count or tell beads (rosary), which consist of various numbers, generally 108.
; (數珠) Phạn: Pàsakamà là. Hán âm: Bát tắc mạc. Cũng gọi Niệm châu, Tụng châu, Chú châu. Tràng hạt dùng để niệm danh hiệu Phật. Theo kinh Đà la ni tập thì tràng hạt có các loại: 21 hạt, 42 hạt, 54 hạt và 108 hạt. Theo kinh Sổ châu công đức thì có các loại: 14 hạt, 27 hạt, 54 hạt và 108 hạt. Theo kinh Kim cương đính du già niệm châu thì loại nhiều nhất là 1.080 hạt, thông dụng là 108 hạt, trung bình là 54 hạt và ít nhất là 27 hạt. Theo đó thì số hạt cơ bản là 108 hạt. Về ý nghĩa thì 108 hạt là chỉ cho 108 tam muội đoạn trừ 108 phiền não; 54 hạt là biểu thị 54 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát như Thậptín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và 4 thiện căn nhân địa; 42 hạt thì biểu thị cho 42 giai vị: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác; 27 hạt là chỉ cho 18 bậc Hữu học và 9 Vô học tu hành Tứ hướng, Tứ quả của Tiểu thừa; 21 hạt biểu thị 21 giai vị là Thập địa, Thập ba la mật và Phật quả; còn 14 hạt thì chỉ cho 14 đức vô úy của bồ tát Quán thế âm. Về chất liệu thì tràng hạt được làm bằng các loại vàng, bạc, đồng đỏ, hạt bồ đề, hạt sen, hạt kim cương, chiên đàn đen, chiên đàn đỏ, chân châu, san hô, hổ phách, lưu li, sắt... Các kinh phần nhiều cho rằng dùng hạt bồ đề là tốt hơn cả. Về niên đại thì Phật giáo bắt đầu sử dụng tràng hạt từ sau thế kỉ II. Truyện ngài Đạo xước trong Tục cao tăng truyện quyển 30 (Đại 50, 593 hạ) nói: Mọi người đều lần tràng hạt, miệng cùng niệm Phật. Nhờ đó mà biết được việc dùng tràng hạt để đếm danh hiệu Phật đã có từ thời Tùy, Đường ở Trung quốc. [X. kinh Mộc hoạn tử; phẩm Trì niệm trong kinh Đại bi không trí; Thích thị yếu lãm Q.trung; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.18; Loại tụ danh vật khảo Q.255]. (xt. Niệm Châu).
số cát sông Hằng
(Hằng hà sa số): số lượng rất lớn, không thể tính đếm, cũng như số cát của con sông Hằng. Trong kinh Phật thường dùng cách nói này để diễn đạt những số lượng rất lớn.
số diệt vô vi
See Trạch Diệt.
số duyên tận
Pratisamkhyanirodha (skt)—Số diệt vô vi—See Trạch Diệt.
số hành phiền não
Dục vọng và hậu quả của nó—The common passions and their consequences.
số kiếp
Destiny—Fate.
số luận
6091請參閱 數論 為小乘說一切有部(薩婆多部)論藏之別稱;亦為說一切有部之代稱。又作數經。數論之「數」,含有二義,一為「慧數」,另一為「法數」之義。就慧數之意義而言,於三藏三學之中,說一切有部側重於「阿毘曇」,故又稱毘曇宗,其所詮顯之義即為斷惑證理之慧學,而此宗宗義所特重之「心所有法」於舊時亦稱為「心數」,由是可見此宗以「慧數」為本,故其論藏之名稱亦稱為數論。若就法數之意義而言,說一切有部判立七十五種之法數,且其宗義亦為佛教法數之根本,故其所說之法或所宗之論藏稱為數論。 自南北朝時代至初唐期間,佛教界習將成實宗之諸師稱為「論家」,地論宗之諸師稱為「地師」,攝論宗之諸師稱為「攝師」,準此,遂將毘曇宗之諸師稱為數家、數師、數人。 又印度六派哲學中成立最早之一派亦稱為數論(梵 Sāṃkhya),其宗義以分別智慧而計度諸法,並從而立名論說,其宗派名稱雖與此小乘毘曇宗相同,然教義旨趣則迥別,故歷來佛典中多稱之為數論外道以簡別之。此外,如梁高僧傳卷五所錄之支僧敦,卷七所錄之法和、曇鑒、僧含、僧莊、慧隆、道溫、僧嵩,卷八所錄之慧記、道慧、法瑗、僧遠、慧令、法仙、法最、僧敬、道文、僧賢、智秀、僧盛,續高僧傳卷五所錄之僧旻,卷六所錄之僧建、慧超,卷七所錄之洪偃、寶瓊,卷十二所錄之慧覺,卷十三所錄之圓光,卷二十一所錄之曇瑗、道成等諸師之傳中皆載有「善數論」或「通數論」之語,皆係指此等諸師通達說一切有部之論書或嫺熟該宗之宗旨,而非謂通達數論學派之宗要教說。〔法華玄論卷八、卷十、維摩義疏卷中、維摩經菴羅記卷十六、摩訶止觀卷五上、卷六上、大乘玄論卷二、卷五〕(參閱「毘曇宗」3857)
; Sàmkhya (S). A non-buddhist sect. Also Tiến hóa nhị nguyên luận.
; Các bộ luận của phái Tát Bà Đa Bộ (bàn về bản pháp số của Phật giáo)—The sastras of the Sarvastivadins. (I) Triết học Số Luận (Nhị Nguyên), mà Câu Xá Tông lấy làm nền tảng triết học chính, là một trong những nền triết học tối cổ ở Ấn Độ, có nhiều điểm tương đồng với Phật Giáo. Theo “Những Nền Tảng Triết Học Chính Yếu Của Phật Giáo” của Giáo Sư Junjiro Takakusu, thì phái nầy chủ trương rằng vạn hữu thường tồn dù chúng biến chuyển liên tục không ngừng nghỉ; không có cái gì mới xuất hiện, mà cũng không có cái gì biến mất. Tuy nhiên, Phật giáo chủ trương vạn hữu chỉ hiện hữu trong từng sát na, chứ hoàn toàn không có bản thể lưu tồn. Cả Số Luận và Phật Giáo đều phủ nhận lý thuyết về suy luận (tỷ lường). Do đó ta có thể nói Phật giáo chủ trương lý thuyết về thể tính tạm thời hay tức khắc (thuyết sát na diệt), nghĩa là mọi phân chia mọi thực tại thành những pháp “sát na sinh diệt.” Trong khi học phái Số Luận chủ trương thuyết “cực vi” và thừa nhận có ba thứ cực vi—The Sankhya Philosophy (Dualism), which the Kusa School based on for its main philosophy, one of the oldest philosophies of India, which has several tenets in common with Buddhism. According to Prof. Junjiro Takakusu in “The Essentials Buddhist Philosophy,” this school maintains that all things exist eternally though they are constantly changing; nothing new appears and nothing disappears. Buddhism, however, holds that everything exists only instantaneously; there is no abiding substance at all. Both Buddhism and the Sankhya Philosophy deny the theory of inherence. Buddhism may be said to hold, therefore, the theory of momentariness or instantaneous being. All reality may be split into separate elements which are instantaneous. The Kusa School maintains the atomic theory and asserts the existence of three atoms: 1) Vi Tế Cực Vi: Parama-anu (skt)—Bảy vi tế cực vi tạo thành hữu hình cực vi, là bản thể vật chất nhỏ nhất, có hình lập phương. Vi tế cực vi bất khả phân, vô cùng vi tế và không thể phân tích được nữa, nó chỉ có thể nhận ra được bằng thiền định—The finest atom. Seven of these finest atoms constitute the form atom which is the finest substance. It is of cubic form. The finest atom is the finest divisable atom of all and cannot be further analyzed. It is conceived only by meditation. 2) Hữu Hình Cực Vi: Anu (skt)—The form atom—Bảy hữu hình cực vi tạo thành vi trần cực vi mà mắt của một vị Bồ Tát , một vị Phật tương lai, có thể nhận thấy được—Seven of these form atoms constitute the fine dust atom which can be perceived by the eyes of a Bodhisattva, a future Buddha. 3) Vi Trần Cưc Vi: Rajas (skt)—The fine dust atom. (II) Theo Số Luận, mỗi yếu tố hay pháp tạo thành những dữ kiện giác quan và những dữ kiện tư tưởng trong từng sát na, được phái Duy Thực nói đến lần đầu tiên trong lịch sử triết học Ấn Độ. Ý niệm một sự thể không có bản thể thường trụ đi đôi với thuyết sinh diệt hay vô thường, mọi vật không thường tồn. Theo thuyết nầy thì chỉ có hiện tại là hiện hữu. Quá khứ không hiện hữu vì nó không còn nữa, và vị lai thì bất thực vì nó chưa xuất hiện. Thuyết nầy được các bộ phái Phật giáo khác trung thành chủ trương như: Đại Chúng Bộ, Pháp Tạng Bộ, và Kinh Lượng Bộ—According to the Sankhya, all elements or dharmas which constitute momentary sense-data and thought-data were enumerated by the Realistic School, perhaps for the first time in the history of Indian philosophy. The idea that a thing has no “sub-stance” goes along with the theory of change or impermanence, everything has no duration. According to this theory, only the present exists. The pas does not exist, because it is no more, and the future is not real, because it has not yet come into existence. This theory has been faithfully held by such other Buddhist schools as the Mahasanghika, the Mahisasaka, and the Sautrantika.
; (數論) Cũng gọi Số kinh. Tên gọi khác củaLuận tạng thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ (Tát bà đa bộ) Tiểu thừa, cũng là từ gọi thay cho Thuyết nhất thiết hữu bộ. Chữ số trong Số luận có 2 nghĩa, một là Tuệ số, hai là Pháp số. Nói theo nghĩa Tuệ số thì trong Tam học của Tam tạng, Thuyết nhất thiết hữu bộ chú trọng về A tì đàm, vì thế cũng gọi là Tì đàm tông. Giáo nghĩa của tông Tì đàm hiển bày là dùng Tuệ học để đoạn hoặc chứng lí, nhưng tông nghĩa của tông này lại đặc biệt chú trọng Tâm sở hữu pháp mà thời xưa cũng gọilàTâm số, do đó, có thể thấy tông này lấyTuệ số làm gốc, vì thế nên tên Luận tạng của tông này cũng gọi là Số luận. Nếu nói theo nghĩa pháp số thì Thuyết nhất thiết hữu bộ lập 75 pháp số; hơn nữa, tông nghĩa của tông này cũng là căn bản pháp số của Phật giáo, vì thế mà pháp do tông này nói hoặc Luận tạng do tông này y cứ được gọi là Số luận. Từ thời đại Nam Bắc triều đến khoảng đầu đời Đường, giới Phật giáo Trung quốc quen gọi các vị Luận sư của tông Thành thực là Luận gia, gọi các vị Luận sư của tông Địa luận là Địa sư và gọi các vị Luận sư của tông Nhiếp luận là Nhiếp sư, theo đó nên gọi các Luận sư của tông Tì đàm là Số gia, Số sư, Số nhân... Ngoài ra, trong 6 phái Triết học ở Ấn độ, phái được thành lập sớm nhất cũng gọi là Số luận (Phạn: Saôkhya), tông nghĩa của phái này dùng trí tuệ phân biệt để suy tính các pháp và theo đó mà đặt tên là Số luận. Mặc dù tên gọi của phái này đồng với tông Tì đàm của Tiểu thừa, nhưng giáo nghĩa và chỉ thú của 2 phái thì khác nhau rất xa, cho nên xưa nay trong kinh điển Phật giáo thường gọi phái này là Số luận ngoại đạo để phân biệt với Số luận Tì đàm của Phật giáo. [X. Pháp hoa huyền luận Q.8, 10; Duy ma nghĩa sớ Q.trung; Duy ma kinh am la kí Q.16; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng, 6 thượng; Đại thừa huyền luận Q.2, 5]. (xt. Tì Đàm Tông).
số luận học phái
6092數論,梵語 Sāṃkhya,音譯為僧佉,又作僧企耶;意譯又作數術、制數論。數論學派為印度六派哲學中成立最早者。相傳初祖為迦毘羅仙人(梵 Kapila)。此派以分別智慧而計度諸法,並以此數為基礎,從而立名論說,故稱數論派。其早期學說主張精神、物質二者統一為「最高我」,即採取有神論與一元論之立場(見敘事詩),至晚期則否認最高我,成為無神論之二元論。神我為純粹意識,不具作用,僅觀照自性而已。自性依序開展為覺(梵 buddhi)、我慢(梵 ahaṃkāra)、五大、十六變異。此一原理與神我、自性合稱二十五諦。所謂自性(梵 prakṛti),即可供開展之唯一因子,其構成之要素有純質(梵 sattva)、激質(梵 rajas)、翳質(梵 tamas)等三德;神我即由開展後所產生之物質結果中脫離出來,獨自存在,其時即稱為解脫。此宗派最古之經典為四五世紀頃伊濕伐羅訖哩史拏(梵 īśvarakṛṣṇa,自在黑)之僧佉頌(梵 Sāṃkhya-kārikā)。其注釋書有金七十論、高達帕達(梵 Gauḍapāda)與摩達羅(梵 Māṭhara)之注釋書等,均問世於六世紀左右。其後復有僧佉經(梵 Sāṃkhya-sūtra),亦為此派重要論書之一。於諸外道中,數論派乃最有力之學派;佛典中有甚多破斥此派學說之記載。今於印度之瓦拉那西附近,成為獨立學派而存在。〔北本大般涅槃經卷十六、卷三十九、大智度論卷七十、瑜伽師地論卷六、成實論卷三、外道小乘涅槃論、外道小乘四宗論、金七十論卷下、大乘義章卷六、大乘法苑義林章卷一本、外道哲學、印度六派哲學〕
; (數論學派) Số luận, Phạn: Saôkhya. Hán âm: Tăng khư, Tăng xí da. Hán dịch: Số luận, Số thuật, Chế số luận. Học phái Số luận được thành lập sớm nhất trong 6 phái triết học của Ấn độ. Tương truyền Tổ khai sáng là tiên nhân Ca tì la (Phạm:Kapila). Học phái này dùng trí tuệ phân biệt để tính toán các pháp, đồng thời lấy số làm nền tảng để đặt tên luận thuyết, cho nên gọi là phái Số luận. Ởthời kì đầu, phái này chủ trương tinh thần và vật chất hợp nhất thành Ngã tối cao, tức là đứng trên lập trường Hữu thần luận và Nhất nguyên luận; nhưng đến thời kì cuối thì phủ nhận Ngãtối cao, trở thành Nhị nguyên luận của Vôthần luận.Thần ngã là ý thức thuầntúy, không có tác dụng, chỉ quán chiếu tự tính mà thôi. Tự tính theo thứ lớp triển khai thành Giác (Phạn: Buddhi), Ngã mạn (Phạn: Ahaôkàra), Ngũ đại, Thập lục biến dị. Nguyên lí này cùng với Thần ngã, Tự tính gọi chung là 25 đế. Cái gọi là Tự tính (Phạn: Prakfti) có khả năng triển khai thành 1 hạt nhân duy nhấtmà yếu tố cấu thành là 3 đức: Thuần chất (Phạn: Sattva), kích chất (Phạn: Rajas) và ế chất (Phạn: Tamas). Thần ngã thoát li kết quả của vật chất, phát sinh sau khi triển khai. KhiThần ngã tách rời vật chất mà tồn tại độc lập thì gọi là giải thoát. Kinh điển xưa nhất của học phái này là Tăng khư tụng (Phạn: Saôkhyakàrikà) do ngài Tự tại hắc (Phạn: Ìzvarakfwịa) trứ tác vào khoảng thế kỉ IV, V. Những sách chú thích Tăng khư tụng gồm có luận Kim thất thập và các sách chú thích của Gauđapàda và Màỉhàra... đều xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ VI. Về sau lại có Tăng khư kinh (Phạn: Saôkhya-sùtrà), cũng là sách quan trọng của học phái này. Trong các ngoại đạo ở Ấn độ, Số luận là học phái có thế lực nhất. Trong các kinh điển của Phật giáo có rất nhiều chỗ bác bỏ học thuyết của phái này. Ngày nay, Số luận trở thành học phái độc lập tồn tại ở vùng phụ cận phía tây Ngõa lạp na tại Ấn độ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.16, 39 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.70; luận Du già sư địa Q.6; luận Thành thực Q.3; luận Ngoại đạo tiểu thừaniết bàn; luậnNgoại đạo tiểu thừa tứ tông; luận Kim thất thập Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Ngoại đạo triết học; Ấn độ lục phái triết học].
số luận kinh
Saṃkhyā sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
số luận ngoại đạo sư
Kapila (skt)—Kiếp Tỳ La là người sáng lập ra Số Luận Ngoại Đạo. Bộ luận cố đặt vạn pháp trong 25 đế. Thiên Thân Bồ Tát đã viết Chân Thực Luận để phá lại bộ Tăng Khư Luận nầy—Founder of the Sankhya philosophy (Tăng Khư Luận). It is an attempt to place all concepts in twenty-five categories, with Purusa at the head and the others in ordered progress. It also teaches “the eternity and multiplicity of souls.” Vasubandhu wrote in criticism of the system.
số luận phái
Sankha (P), Sāmkhyā (S), Sankha (P)Tăng khứ sư, Tăng khư đa, Tiến hóa nhị nguyên luận1- Học phái Tăng khư đa (Học phái Số luận), một phái tu của Bà la môn giáo ở Thiên trúc hoạt động trước khi đức Phật ra đời, dựa vào hai nguyên lý tinh thần thuần túy và nguyên chất căn bản để thuyết minh thế giới hiện thực. Tổ là ngài Ca tỳ la (Karpilarsi), kinh căn bản là Tăng khư đa. 2- Tăng khu luận trong Vệ đà.
số luận sư
Founder of the Sànkhya philosophy.
; Kapila (skt)—See Số Luận Ngoại Đạo Sư.
Số luận sư 數論師
[ja] スロンシ Suronshi ||| (1) Kapila, the founder of the Sāṃkhya sect. (2) A Sāṃkhya philosopher. => 1. Kapila, vị sáng lập trường phái Số luận (s: Sāṃkhya) 2. Triết gia thuộc phái Số luận.
số luận tụng
6091請參閱 數論頌 [1]梵名 Sāṃkhya-kārikā。又稱數論偈、僧佉頌。印度六派哲學數論(梵 Sāṃkhya)學派之經典。伊濕伐羅訖哩史拏(梵 Īśvarakṛṣṇa,意譯自在黑)著於西元四至五世紀間。共計七十二偈,包含六十科論(梵 Saṣtitantra)之全部內容。書中指出以觀想人生諸苦之立場為出發點,並以二十五諦為基本原理,進行觀法之修行,即可獲得解脫。一切法皆可攝入二十五諦中,二十五諦以神我(梵 puruṣa)與自性(梵 prakṛti)為二大原理,由自性展開覺(梵 buddhi)與我慢(梵 ahaṃkāra),由我慢展開意根(梵 manas)、五知根(梵 buddhīndriya,即感覺機能)、五作根(梵 karmendriya,即運動機能)、五唯(梵 tanmātra,即色聲香味觸),五唯又延展出五大(梵 mahābhūta,即地水火風空)。自性之本質為純質(梵 sattva)、激質(梵 rajas)、翳質(梵 tamas)三德,三德之活動變化,產生一切現象;神我則係無屬性、無作用之純粹智。若能體悟自性與神我本質上之差異,自性即停止活動,而得解脫。本書之重要注釋書有金七十論、高達帕達注(梵 Gaudapāda-bhāṣya)、摩達羅注(梵 Māṭhara-vṛtti)等。
; Xem Tăng Khư tụng.
; (數論頌) Phạn: Saôkhya-kàrikà. Cũng gọi Số luận kệ, Tăng khư tụng. Kinh điển của học phái Số luận (Phạn: Sàôkhya) trong 6 phái triết học của Ấn độ, do ngài Tự tại hắc (Phạn: Ìzvara= kfwịa) soạn vào khoảng thế kỉ IV, V. Nội dung sách này gồm 72 bài kệ, chủ trương lấy việc quán tưởng các nỗi thống khổ của cuộc đời làm điểm xuất phát và lấy 25 đế làm nguyên lí cơ bản mà thực tiễn tu hành pháp quán, thì có thể đạt được giải thoát. Hết thảy các pháp đều có thể tóm thu trong 25 đế; 25 đế lấy Thần ngã (Phạn: Puruwa) và Tự tính (Phạn: Prakfti) làm 2 nguyên lí trọng đại, từ Tự tính triển khai thành Giác (Phạn: Buddhi) và Ngã mạn (Phạn:Ahaôkàra), từ Ngã mạn triển khai thành Ý căn (Phạn: Manas), 5 Tri căn (Phạn: Buddhìndriya, tức 5 giác quan), 5 Tác căn (Phạn: Karmendriya, tức cơ năng vận động), 5 Duy (Phạn:Tanmàtra, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc), 5 Duy lại triển khai ra 5 Đại (Phạn: Mahàbhùta, tức đất, nước, lửa, gió, không). Bản chất của Tự tính là 3 đức: Thuần (Phạn: Sattva), Kích chất (Phạn: Rajas) và Ế chất (Phạn: Tamas), sự hoạt động biến hóa của 3 đức sản sinh ra hết thảy mọi hiện tượng. Thần ngã là trí thuần túy, không có thuộc tính, không có tác dụng. Nếu thể nhận được sự sai khác về mặt bản chất giữa Tự tính và Thần ngã thì Tự tính đình chỉ hoạt động mà được giải thoát. Về những sách chú thích quan trọng của Số luận tụng thì có luận Kim thất thập và các bộ chú thích của Cao đạt phạ đạt (Phạn: Gauđapàda) và Ma đạt la (Phạn: Màỉhara)...
Số luận 數論
[ja] スロン Suron ||| (1) Sāṃkhya . An Indian brahmanistic philosophical sect founded by Kapila 數論師. Often mentioned in Buddhist treatises as one of the six heterodox schools 六外道. (2) Hīnayāna abhidharma; Sarvāstivāda. => (s: Sāṃkhya) Một trường phái triết học Bà-la-môn do Kapila sáng lập (Số luận sư). Thường được đề cập trong kinh luận Phật giáo như là một trong sáu trường phái ngoại đạo. A-tỳ-đạt-ma Tiểu thừa ; Nhất thiết hữu bộ.
số mệnh
Niyati (S), Fate Số phận, Xem Số mệnh.
; Nìyati (S). Fate, destiny. Also s- phận.
; Destiny.
số nhân
Another name for the Sarvastivahad—See Số Pháp Nhân in Vietnamese-English Section, and Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
số pháp nhân
Người của bộ Tát Bà Đa hay Đại Chúng Bộ cho rằng vạn hữu là thực—Those of the Sarvastivadah school, who held that all things are real. ** For more information, please see Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
số rủi
Bad luck.
số thủ thú
Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Tất cả các loài hữu tình đều phải lưu chuyển trong luân hồi sanh tử—A definition of Pudgala, i.e. all beings subject to transmigration.
số tập lực
6091 請參閱 曼殊室利咒藏中校量數珠功德經 累積多數習慣,謂之數習;由數習所成之力,稱為數習力。又作串習力、習力。大乘阿毘達磨雜集論卷十三(大三一‧七五五中):「中有纔起,由串習力,聖道現前,斷餘隨眠。」〔大乘入楞伽經卷二、俱舍論卷二十九、成唯識論卷二〕
số tức
See Sổ Tức.
số tức quán
6089梵語 ānāpāna-smṛti。又作阿那般那觀、安那般那念、念安般、安般守意。意譯作念入出息、念無所起、息念觀、持息念。簡稱安般、數息。乃五停心觀之一,八念之一,十念之一。即計數入息或出息之次數,以收攝心於一境,使身、心止息。此為除散亂、入正定之修法。梵語 āna,原為遣來之意,轉指入息;apāna,原為遣去之意,轉指出息。亦即先入息、後出息之調息(呼吸)法。然亦有主張「先出息、後入息」之方式,而意譯為「念出入息」者。又若將數息觀細分,則有算數修習、悟入諸蘊修習、悟入緣起修習、悟入聖諦修習、十六勝行修習等五類。〔雜阿含經卷二十九、修行道地經卷五、大安般守意經卷下、俱舍論卷二十二、瑜伽師地論卷二十七〕
; (數息觀) Phạn: Ànàpàna-smfti. Cũng gọi: A na ban na quán, An na ban na niệm, Niệm an ban, An ban thủ ý. Hán dịch: Niệm nhập xuất tức, Niệm vô sở khởi, Tức niệm quán, Trì tức niệm. Gọi tắt: An ban, Sổ tức. Phép đếm số lần hơi thở vào hoặc ra để thu nhiếp tâm vào 1 cảnh, khiến thân tâm ngưng lặng, 1 trong Ngũ đình tâm quán, 1 trong Bát niệm, 1 trong Thập niệm. Đây là pháp tu diệt trừ tán loạn để vào chính định. Trong tiếng Phạm, àna vốn có nghĩa là bảo đến, ở đây chỉ cho hơi thở vào;apàna vốn có nghĩa là đuổi đi, ở đây chỉ cho hơi thở ra. Đây là phương pháp điều hòa hơi thở, trước thở vào, sau thở ra. Nhưng cũng có thuyết chủ trương trước thở ra, sau thở vào mà Hán dịch là Niệm xuất nhập tức. Nếu chia nhỏ Sổ tức quán ra thì có 5 loại: Toán số tu tập, Ngộ nhập chư uẩn tu tập, Ngộ nhập duyên khởi tu tập, Ngộ nhập thánh đế tu tập và Thập lục hành quán tu tập. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh Tu hành đạo địa Q.5; kinh Đại an ban thủ ý Q.hạ; luận Câu xá Q.22; luận Du già sư địa Q.27].
số đỏ
Good fortune—Luck.
sống chết
Life and death.
sống dai
To live long.
sống hòa hợp với người khác
To live in harmony with each other.
sống không gia đình
Anagāriya (P), Homelessness.
sống lại
To revive—To come to life again—To come alive again—To arise from death.
sống sót
To survive.
sống sượng
Tactless—Crude.
sống theo dục lạc
Sống theo dục lạc, bất cần đạo lý—To operate under the pleasure principle. Doing things in life that brings one pleasure regardless of morals and virtues.
sống thác
See Sống Chết.
sống thọ
Longevity. Những lời Phật dạy về “Sống thọ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Longevity” in the Dharmapada Sutra: 1) Sống trăm tuổi mà phá giới và buông lung, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà trì giới, tu thiền định—To live a hundred years, immoral and uncontrolled, is no better than a single-day life of being moral and meditative (Dharmapada 110). 2) Sống trăm tuổi mà thiếu trí huệ, không tu thiền, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đủ trí, tu thiền định—To live a hundred years without wisdom and control, is no better than a single-day life of being wise and meditative (Dharmapada 111). 3) Sống trăm tuổi mà giải đãi không tinh tấn, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà hăng hái tinh cần—To live a hundred years, idle and inactive, is no better than a single-day life of intense effort (Dharmapada 112). 4) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường—To live a hundred years without comprehending how all things rise and pass away, is no better than a single-day life of seeing beginning and end of all things (Dharmapada 113). 5) Sống trăm tuổi mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy đạo tịch tịnh vô vi—To live a hundred years without seeing the immortal state, is no better than a single-day life of one who sees the deathless state (nirvana) (Dharmapada 114). 6) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp tối thượng—To live a hundred years without seeing the Supreme Truth, is no better than a single-day life of someone who see the highest law (Dharmapada 115).
sống tạm
To live temporarily.
sống vào của cúng dường
To live on alms.
sống vất vưởng
Precrious lives.
sống yên ổn
Life of tranquility.
sống đầy đủ
To live in comfort.
sống động
Vivid.
sống đời khổ cực
To lead a miserable life.
sống ở miền núi
Giriśanta (S), Inhabiting in the mountains.
sốt sắng
Fervent—Zealous.
sồng sộc
To rush into the room.
sổ châu
Màlà (S). A rosery; to tell beads, which consist of various numbers, generally 108. Also chuỗi hạt.
Sổ châu 數珠
[ja] ジュジュ ジュズ ズズ juju juzu zuzu ||| A string of small beads used for counting prayers made to a buddha or great bodhisattva, in English, rosary (akṣa-sūtra、 japa-māla, pāsakamālā). The tradition of using rosaries in India predates Buddhism, as such implements were used earlier in Brahmanistic religions. Made of twenty-seven, fifty-four, or 108 beads. The number 108 is the number of afflictions; fifty-four is half of this, and twenty-seven is again half. Also written 念珠. => Chuỗi hạt dùng để đếm khi niệm danh hiệu Phật hoặc Bồ-tát. Tiếng Anh là rosary (s: akṣa-sūtra、 japa-māla, pāsakamālā). Truyền thống dùng chuỗi hạt được ghi nhận là có trước thời Đức Phật, được dùng trước đó trong tín ngưỡng Bà-la-môn. Gồm 27, 54, và 108 hạt. 108 là biểu trưng cho 108 phiền não, 58 là một nửa, và 27 là một phần tư. Còn gọi là Niệm châu念珠.
Sổ diệt vô vi
xem Ba pháp vô vi.
Sổ duyên diệt 數縁滅
[ja] シュエンメツ shuenmetsu ||| Extinguishing afflictions by analytical meditation, or analytical wisdom; equivalent to 數縁盡. (pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha) => Diệt trừ phiền não bằng pháp thiền minh sát, hay minh sát tuệ; Đồng nghĩa với Sổ duyên tận (數縁盡 s: pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha).
Sổ duyên tận 數縁盡
[ja] シュエンジン shuenjin ||| Extinguishing afflictions by analytical meditation, or analytical wisdom; equivalent to 數縁滅. (pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha) => Diệt trừ phiền não bằng pháp thiền minh sát, hay minh sát tuệ; Đồng nghĩa với Sổ duyên diệt (數縁滅 s: pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha).
sổ lồng
To escape from a cage.
sổ quán, sổ môn, sổ tức môn
Anàpàna (S). Xem sổ tức.
sổ sanh tử
Register of births and deaths.
Sổ tập 數習
[ja] サクシュウ sakushū ||| To repeatedly enact the same habit or custom; to be habituated by repetition. (abhyāsa, paricaya, saṃstava) 〔顯揚論, T 1602.31.508b〕 => Lặp lại thường xuyên một tập quán hay thói quen; tập quen bằng cách lập lại.
sổ tức
Paranayama (S), Ānāpāna (S).
; To count the breathings in order to calm mind and body for meditation.
; Đếm hơi thở, từ đó lắng đọng thân tâm vào thiền định—To count the breathings in order to calm mind and body for meditation.
sổ tức môn
Pháp môn thiền quán bằng cách đếm hơi thở để lắng đọng thân tâm—The method of meditation practice through counting the breathings in order to calm mind and body.
sổ tức quán
Ānāpāna (S), Ānāpāna-smṛti (S), Breathing An ban, An na bát naPhép thiền định hành giả tập trung vào sự đếm hơi thở ra và vào của mình.
; Anàprànasmrti (S), Anàpànasatti (P). Mindfulness on the in-and-out breathing.
; Anapanasatti (p)—Contemplation by counting the breathing. (A) Ý nghĩa của Quán Sổ Tức—The meanings of Contemplation by counting the breathing: Có nhiều phương pháp quán, nhưng quán sổ tức là dễ thực hành nhất. Sổ tức là phép quán đến hơi thở để loại trừ những tạp niệm. Trước khi bắt đầu phải thở ra hít vào khoảng 10 lần cho điều hòa. Khi thở ra nhẹ nhàng và dài, nên tưởng 'những điều phiền não tham sân si cũng như các chất ô trược đều bị tống khứ ra ngoài hết.' Khi hít vào cũng nhẹ nhàng và dài như lúc thở ra và tưởng 'những chất thanh tịnh của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào khắp thân tâm.' Điều cần nhớ là cần phải chuyên tâm vào hơi thở, không để tạp niệm xen vào; nếu có quên hay lầm lộn con số, đừng nên lo lắng, chỉ cần bắt đầu đếm lại rõ ràng—There are many methods of contemplation, but the method of contemplation by counting the breathing is the easiest way to practice. A meditation of counting breathings to eliminate scattering thoughts. First we inhale and exhale the air ten times for normalization. When exhaling deeply, imagine that what is impure in our body such as worry, greed, anger, and ignorance would be rejected in the atmosphere. When inhaling deeply, imagine that what is pure from the cosmos would follow the air to impregnate our body and mind. The most important detail to remember is to pay close attention to the breathing. Do not let the mind wander. If there is some error in the counting, don't worry, just do it again. (B) Có bốn cách đếm như sau—There are four ways of counting: 1) Đếm hơi chẳn—Even counting: Hít vào, thở ra đếm 1; hít vào thở ra đếm hai; đếm đến 10 rồi đếm lại trong khoảng thời gian 30 đến 45 phút: Counting the cycle of breathing that comprises both inhaling and exhaling. Count 1 for the first cycle, count 2 for the second cycle, and so on until 10 and do it again and again for 30 or 45 minutes. This way of counting is the most commonly applied. 2) Đếm hơi lẽ—Odd counting: Thở vào đếm 1, thở ra đếm 2, đếm đến mười rồi tiếp tục trở lại trong khoảng thời gian 30 đến 45 phút—Counting 1 for the inhaling process; counting 2 for the exhaling process until 10 and repeat the same process for 30 or 45 minutes. 3) Đếm thuận: Đếm theo hai cách trên tuần tự từ 1 đến 10—Counting from 1 to 10, utilizing either one of the above two methods. 4) Đếm nghịch: Đếm theo hai cách trên từ 10 đến 1—Counting from 10 to 1 utilizing either one of the above two methods.
Sổ tức quán 數息觀
[ja] シュソクカン shusokukan ||| Breath counting meditation. Focusing the mind by counting exhalations. A method of stilling the mind. => Pháp thiền đếm hơi thở. Tâp trung tâm ý bằng cách đếm hơi thở ra vào. Một phương pháp an định tâm. [ja] サクサク sakusaku ||| Often, repeatedly, frequently, again (Skt. abhīkṣṇa; Pali abhiṇhaṃ). 數數Sổ sổ (sác sác) ja] サクサク sakusaku ||| Often, repeatedly, frequently, again (Skt. abhīkṣṇa; Pali abhiṇhaṃ). => Thường, đều đặn, thường xuyên, lập lại (s: abhīkṣṇa; p: abhiṇhaṃ).
Sổ, số 數
[ja] シュ、スウ、シャク shu sū saku ||| I. シュ(1) 'Habituation by repetition,' which contributes to the special conscious functions of the six faculties. (2) Often. (3) An earlier translation of "mental functions" 心所. II. (1) Number (saṃkhyā). (2) To count (ganana). (3) In Consciousness-only theory, one of the 24 elements not concomitant with mind. Calculating the various material and mental elements. (4) Countable (saṃkhyeya). (5) A synonym for wisdom (智); especially analytical wisdom (pratisaṃkhyā). (6) sū: (samudācaritatta, punnappunam); 'number,' also 'often,' 'calculation.' => I. '1. Tập bằng cách lặp lại', góp phần vào tác dụng đặc biệt của thức trong 6 căn. 2. Thường . 3. Trước đây dùng để dịch Tâm sở 心所. II. 1. Số (s: saṃkhyā). 2. Đếm ( s: ganana). 3. Theo giáo lý Duy thức, là một trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp. Là phần tử suy lường vô số hiện tượng và tâm ý khác nhau. 4. Có thể tính đếm được (s: saṃkhyeya). 5. Đồng nghĩa với Trí (智); đặc biệt là trí phân tích (s: pratisaṃkhyā). 6. Số (s: samudācaritatta, punnappunam); cón có nghĩa là Thường, tính toán.
Sớ
(疏): còn gọi là Sớ Văn (疏文), Văn Sớ (文疏), hay Tấu Sớ (奏疏), có hai nghĩa: (1) Là văn thư của quần thần điều trần dâng lên bậc trên như đức vua, như trong Văn Thể Minh Biện (文體明辯) của Từ Sư Tằng (徐師曾, 1546-1610) nhà Minh có giải thích rằng: “Án Tấu Sớ giả, quần thần luận gián chi tổng danh dã (按奏疏者、群臣論諫之總名也, xét Sớ Tâu là tên gọi chung của các văn thư do quần thần can gián, luận nghị).” Hay như trong Tống Sử (宋史) quyển 32, Truyện Chu Trác (朱倬傳) có đề cập rằng: “Mỗi thượng sớ, triếp túc hưng lộ cáo; nhược Thượng Đế giám lâm, Tấu Sớ phàm số thập (每上疏、輒夙興露告、若上帝鑒臨、奏疏凡數十, mỗi lần dâng sớ, thường kính cẩn thưa rõ ràng; nếu Thượng Đế giáng xuống, sớ tâu thường mười phong).” Hoặc như trong bài Khiển Hứng Thi (遣興詩) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường cũng có câu: “Thượng sớ khất hài cốt, hoàng quan quy cố hương (上疏乞骸骨、黃冠歸故鄉, dâng sớ xin hài cốt, mũ vàng về cố hương).” Tấu Sớ còn gọi là Tấu Chương (奏章), Tấu Nghị (奏議). (2) Trong khoa nghi của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo, Sớ Văn được dùng rất rộng rãi và phổ biến, với tư cách là văn thư thành kính dâng lên đấng tối cao, đấng chí tôn như Thần, Thánh, Phật; là chiếc cầu tiếp nối giữa cõi hữu hình với thế giới vô hình. Như trong Đạo Giáo có các bộ Linh Bảo Văn Kiểm (靈寶文檢), Tâm Hương Diệu Ngữ (心香妙語), v.v., là những thư tịch chuyên dùng cho khoa nghi Công Văn. Về phía Phật Giáo có bộ Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Thích Nguyên Hiền (石鼓主人釋元賢) nhà Minh (1368-1662) biên soạn. Một số văn sớ thường dùng trong Đạo Giáo như: Nguyên Đán Khánh Hạ Văn Sớ (元旦慶賀文疏), Ngọc Hoàng Thượng Đế Khánh Hạ Văn Sớ (玉皇上帝慶賀文疏), Thượng Nguyên Thiên Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (上元天官大帝慶賀文疏), Thái Thượng Lão Quân Khánh Hạ Văn Sớ (太上老君慶賀文疏), Huyền Thiên Thượng Đế Khánh Hạ Văn Sớ (玄天上帝慶賀文疏), Thiên Thượng Thánh Mẫu Khánh Hạ Văn Sớ (天上聖母慶賀文疏), Trương Thiên Sư Khánh Hạ Văn Sớ (張天師慶賀文疏), Trung Nguyên Địa Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (中元地官大帝慶賀文疏), Hạ Nguyên Thủy Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (下元水官大帝慶賀文疏), Bắc Đẩu Giải Ách Văn Sớ (北斗解厄文疏), An Phụng Thần Vị Văn Sớ (安奉神位文疏), An Phụng Trị Niên Thái Tuế Văn Sớ (安奉值年太歲文疏), v.v. Linh Bảo Văn Kiểm nhấn mạnh vai trò của Sớ Văn là: “tuyên diễn đạo pháp, lợi thế chi tân lương dã (宣演道法、利世之津梁也, bờ bến để tuyên bày đạo pháp và làm lợi ích cho cuộc đời).” Từ ý nghĩa đó, Sớ được dùng rộng rãi trong Phật Giáo như là phương tiện độ sanh cần phải có đối với mọi trường hợp, như trong tác phẩm này có giới thiệu. Đặc biệt, có một loại Sớ Văn gọi là Pháp Đường Sớ (法堂疏) được dùng trong Thiền môn, là văn từ của vị Trưởng Lão Trú Trì của một tự viện nào đó, dùng để khải thỉnh khai đường thuyết pháp.
sớ
4738<一>經論注釋書之通稱。又作義疏。蓋佛經義理幽深,若不疏決開通則不易啟悟,故須依文義解之,分別旨趣,決擇勝劣,使無塵滯。如東晉竺法崇之法華義疏、竺道生之法華經疏等均是。又注解疏文者,稱為鈔;鈔,抄略之義,隨順本疏略加解釋,使經疏妙義了然易解。〔阿彌陀經疏鈔演義卷一〕 <二>法會時,於佛前表白發願意趣。又作宣疏。如開白疏、結會疏等。禪苑清規卷六中筵齋(卍續一一一‧四五四下):「法事唱禮,維那宣疏。」
; 1) Giải thích: Explanation. 2) Sớ dâng lên Tây Phương Giáo Chủ khẩn nguyện Ngài cứu độ những vong linh quá vãng—Request addressed to the Lord of the Western Paradise asking him to save the souls of the deceased.
; (疏) I. Sớ. Cũng gọi Nghĩa sớ. Từ gọi chung các sách chú thích kinh luận.Kinh Phật nghĩa lí sâu xa, nếu không sớ giải khai thông thì khó thấu hiểu được, cho nên cần phải theo văn nghĩa mà giải thích, phân biệt chỉ thú, thẩm định hơn kém, khiến không bị tắc nghẽn. Như Pháp hoa nghĩa sớ của ngài Trúc pháp sùng; Pháp hoa kinh sớ của ngài Trúc đạo sinh đời Đông Tấn... Văn chú giảiSớ gọi là Sao. Sao là lược sao, tức thuận theo bảnSớ gốc mà giải thích sơ lược thêm, làm cho diệu nghĩa của kinh sớ rõ ràng dễ hiểu hơn. [X. A di đà kinh sớ sao diễn nghĩa Q.1].II. Sớ. Cũng gọi Tuyên sớ. Chỉ cho lá sớ được đọc trước Phật để bày tỏ ý thú phát nguyện trong pháp hội. Như Khai bạch sớ, Kết hội sớ... Điều Diên trai trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 454 hạ) nói: Pháp sự xướng lễ, Duy na tuyên sớ.
sớ lặc
4740梵名 Khāsa。西域古國名。又作沙勒、佉路數怛勒、伽沙、佉沙、奇沙、室利訖栗多底、迦師佶黎、可失哈耳。意譯惡性、不正語。或謂國名乃取自國內之一山名。約當今新疆喀什噶爾,自西漢以來即為東西交通之北道樞紐。大唐西域記卷二載,該國人性獷暴,俗多詭詐,文字取自印度。西元三世紀頃,佛教已傳入該國,至初唐時,漸次興隆,以小乘教為主。中唐以後,因回教徒入侵,佛教殆絕,現僅存喀什噶爾北約十六公里處 彡ch-Merwan 佛寺之廢址,及東北約四十八公里處 Mauri Tīm 之廢塔。後秦鳩摩羅什曾於該國禮拜佛鉢,得阿毘曇、六足諸論、增一阿含經。後秦智猛法師則於此見佛陀之文石唾壺。高僧法顯傳敘述該國舉行般遮越師(五年大會)之情形。隋代達摩笈多來華途中,於該國為僧眾講「說破論(念破論)」、如實論各二千偈。佛典中有關疏勒之記載不少,有謂該國為經法隆盛邊國之一,或以該國之牛頭山為菩薩之住處,或該國為達摩波羅神(梵 Dharmapāla)之住處,或佛曾以該國付囑髮色天子、畢宿,或此處曾出現九十八佛等,皆為其例。〔申日經、新華嚴經卷四十五、佛母大孔雀明王經卷中、大方等大集經卷四十五、卷五十五、卷五十六、密迹金剛力士經卷三、大唐西域記卷一、出三藏記集卷十四、續高僧傳卷二、T. Watters: On Yuan Chwang, vol. Ⅱ〕
; (疏勒) Phạn: Khàsa. Hán dịch: Ác tính, Bất chính ngữ. Cũng gọi Sa lặc, Khư bộ đát lặc, Già sa, Khư sa, Kì sa, Thất lợi,Ngật lật đa để, Ca sư cát lê, Khả thất cáp nhĩ. Tên 1 nước thời xưa ởTây vực. Có thuyết cho rằng tên này lấytên1 ngọn núi trong xứ, ngày nay có lẽlàvùng Khách thập cát nhĩ ở Tân cương. Từ đời Tây Hán về sau, đây là con đường giao thông then chốt giữa Đông phương và Tây phương ở phía bắc Trung quốc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì người nước này tính tình dữ tợn, thường hay dối trá, chữ viết lấy từ Ấn độ. Phật giáo đã truyền vào nước nàykhoảng thế kỉIII, đến đầu đời Đường thìdần dần hưng thịnh, chủ yếu là Tiểu thừa giáo. Từ thời Trung đường về sau, vì tín đồ Hồi giáo xâm nhập nên Phật giáo bị tiêu diệt, hiện chỉ còn nền hoang của chùaOch-Merwan ở phía bắc Khách thậpcát nhĩ khoảng 16 cây số và tháp hoang Mauri Tìm ở phía đông bắc Khách thập cát nhĩ khoảng 48 cây số. Ngài Cưu ma la thập đời Hậu Tần có đến nước này lễ bái bình bát của đức Phật và thỉnh được luận A tì đàm, luận Lục túc, kinh Tăng nhất a hàm. Pháp sư Trí mãnh đời Hậu Tần thì thấy 1 cái ống nhổ bằng đá vân của Phật ở đây. Cao tăng Pháp hiển truyện có thuật lại việc nước này tổ chức hội Bát già việt sư (đại hội 5 năm). Đời Tùy, ngài Đạt ma cấp đa, trên đường đến Trung quốc, có dừng lại ở nước này giảng luận Thuyết phá (luận Niệm phá) và luận Như thực, mỗi luận đều có tới 2.000 bài kệ, cho chúng tăng nghe. Trong kinh Phật có nói nhiều về nước Sơ lặc,có chỗ nói nước này là 1 trong những nước biên thùy có kinh pháp hưng thịnh, hoặc nói nước này có núi Ngưu đầu là trụ xứ của Bồ tát; hoặc cho rằng nước này là nơi ở của thần Đạt ma ba la (Phạn: Dharmapàla), hoặc Phật từng đem nước này phó chúc cho Thiên tử Phát sắc, Tất tú, hoặc ở xứ này từng xuất hiện 98 vị Phật... X. kinh Thân nhật; kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản dịch mới); kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.45, 55, 56; kinh Mật tíchkim cương lực sĩ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.14; Tục cao tăng truyện Q.2; On Yuan Chwangvol. III,by T. Watters].
sớ mê hoặc
4740指見道所斷十惑中,貪、瞋、癡、慢四惑。俱舍家又稱背上使、疎迷惑。見道所斷十種惑為:有身見、邊執見、邪見、見取見、戒禁取見、貪、瞋、癡、慢、疑。其中前五者稱為五見。五見及疑為親緣之惑,即直接迷於諦理而起之惑(煩惱)。貪、瞋、慢為重緣之惑,即非直接迷於諦理之惑,而緣於五見、疑所起之惑;癡(無明)則通於親緣、重緣。故相對於「親」,稱重緣之惑為疏迷惑。〔俱舍論卷十九、俱舍論光記卷十九〕(參閱「見惑」2997)
; (疏迷惑) Cũng gọi Bối thượng sử. Chỉ cho 4 hoặc tham, sân, si, mạn trong 10 hoặc mà hành giả ở giai vị Kiến đạo phải đoạn trừ. Mười hoặc phải đoạn ở giai vị Kiến đạo là: Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Trong đây, 5 hoặc đầu gọi là Ngũ kiến. Ngũ kiến và Nghi là hoặc thân duyên, tức là hoặc do trực tiếp mê chân lí mà khởi; còn tham, sân, mạn là hoặc trùng duyên, không phải là hoặc trực tiếp mê chân lí mà là hoặc duyên theo Ngũ kiến và Nghi mà khởi. Si (vô minh) thì thông cả thân duyên và trùng duyên; nên đối lại với thân mà gọi hoặc trùng duyên là Sơ mê hoặc. [X. luận Câu xá Q.19; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Kiến Hoặc).
sớ pháp hoa
Commentary on the Lotus Sutra—Trước khi tông Thiên Thai được thành lập, việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa đã được khởi xướng rất sớm, từ năm 300 sau Tây Lịch. Và những cuộc diễn giảng được mở ra khắp nơi. Một bản sớ giải gồm bốn quyển do Trúc Pháp Tổng hoàn thành, nhưng sự nghiên cứu chủ đề của Pháp Hoa thì bắt đầu từ sau bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, vào năm 406. Nhờ ghi nhận nhiều bản sớ giải Pháp Hoa được soạn từ thế kỷ thứ 5 do các đồ đệ và truyền nhân của Cưu Ma La Thập mà chúng ta có thể hiểu rõ và đánh giá được tầm phổ biến và việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa đã diễn ra nghiêm mật như thế nào. Suốt trong thời gian nầy, có tám bản sớ giải đã được hoàn tất và nhiều khảo cứu chuyên môn về những khía cạnh đặc biệt của học thuyết đã được thực hiện. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, mặc dù công cuộc khảo cứu và những công trình về Pháp Hoa khởi đầu ở phương Bắc, nghĩa là những việc phiên dịch và sớ giải đã bắt đầu ở phương Bắc, tông phái nghiêng về học thuật nầy đặc biệt nẩy nở ở phương Nam, như sự kiện thành lập tông Thiên Thai—Prior to the establishment of the T'ien-T'ai School, a study of the Lotus text was commenced as early as 300 A.D. and lectures were delivered everywhere. A commentary in 4 volumes was completed by Chu-Fa-Tsung but research into the subject matter of Lotus was started after Kumarajiva's translation of the text in 406 A.D. By noticing the many commentaries compiled in the fifth century by his pupils and successors, we can well understand and appreciate to what an extent and how seriously the study of the Lotus was undertaken. During the time eight complete commentaries were written and many special studies of particular aspects of the doctrine were made. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Phiosophy, although the study and the work of Lotus were commenced in the North., i.e., the translation and commentaries, was begun in the North, the school of learning flurished particularly in the South, a fact which eventually gave rise to the foundation of the T'ien-T'ai School.
Sớ sao 疏抄
[ja] ショショウ shoshō ||| Commentaries and notes attached to a scriptural text. => Luận giải và chú thích của bản kinh văn.
sớ sơn
4739<一>位於江西撫州府金谿縣西北方約二十九公里處。又稱疎山。山中有疏山寺。疏山原為唐代隱士何仙舟之隱棲讀書處,稱為書山。唐末中和年間(881~884),洞山良价之法嗣疏山匡仁,始於此建寺,敕賜「白雲」之額。南唐時,改稱為疏山。 <二>指唐末疏山匡仁禪師。(參閱「匡仁」2201)
; (疏山) I. Sơ Sơn. Núi ở cách huyện Kim khê, phủ Phủ châu, tỉnh Giang tây khoảng 29 cây số về hướng tây bắc. Trong núi có chùa Sơ Sơn. Sơ sơn vốn là nơi ẩn sĩ Hà tiên chu đời Đường ở ẩn đọc sách, nên gọi là Thư Sơn. Khoảng năm Trung hòa (881-884) cuối đời Đường, ngài Sơ Sơn Khuông Nhân,đệ tử nối pháp của Thiền sư Động Sơn Lương giới, bắt đầu xây chùa ở đây, vua ban tấm biển hiệu chùa là Bạch Vân. Đến đời Nam Đường, đổi là chùa Sơ Sơn. II. Sơ Sơn. Chỉ cho Thiền sư Sơ Sơn Khuông Nhân sống vào cuối đời Đường. xt. Khuông Nhân).
sớ sơn hữu cú vô cú
4739禪宗公案名。係敘述唐末僧疏山匡仁先後參謁長慶大安、婺州(浙江)明招德謙(德山宣鑑之曾孫,以左眼失明,故稱獨眼龍)二禪師,依此因緣所引發之公案。又作疎山有句無句、疏山有無、疏山布單。疏山特至福州溈山參學大安之(卍續一三八‧二四一下)「有句無句,如藤倚樹」,並請問「忽遇樹倒藤枯,句歸何處」,大安聞後,放下泥槃,呵呵大笑而歸方丈;疏山不滿,深感賣卻布單(家財),特為此事遠道而來,竟無所得;大安遂囑侍者予師二百錢,並告知明招德謙可為師點破。疏山遂往明招處,明招欲為其點破,謂「頭正尾正,祇是不遇知音」。師亦不明白,又問「忽遇樹倒藤枯,句歸何處」,明招以「卻使溈山笑轉新」作答,師乃言下大悟,有感而謂「溈山元來笑裏有刀」。 大安所提示「有句無句,如藤倚樹」,係表示我等知覺分別,只不過是相對性。針對此,疏山問「忽遇樹倒藤枯,句歸何處」此句雖表疑惑之問,卻正是諸人安心立命之真實處。故大安放下泥槃,呵呵大笑。疏山不明白又轉往明招處,遂於自己所提疑問之下,省悟安心立命之實態。〔五燈會元卷十三〕
; (疏山有句無句) Cũng gọi Sơ sơn hữu vô, Sơ sơn bố đơn. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc ngài Sơ sơn Khuông nhân cuối đời Đường, lần lượt tham yết ngài Trường khánh Đại an và ngài Minh Chiêu Đức Khiêm (Độc nhãn long) ởVụ châu, Chiết giang. Ngài Sơ Sơn đến Qui Sơn, Phúc châu tham học ngài Đại an câu Hữu cú vô cú, như đằng ỷ thụ (Có câu không câu, như bìm nương cây), hỏi (Vạn tục 138, 241 hạ): Bỗng gặp cây đổ, bìm khô, thì cú nương vào đâu? Ngài Đại an nghe xong, buông chậu đất xuống, cười hả hả trở về phương trượng. Ngài Sơ sơn bất mãn, tiếc thầm đã bán hết gia tài, chỉ vì 1 việc này mà đã từ xa đến đây, rốt cuộc chẳng được gì. Ngài Đại an bèn dặn thị giả đưa cho sư 200 tiền và mách cho sư biết là ngài Minh chiêu Đức Khiêm có thể điểm hóa cho sư. Sơ sơn đến chỗ ngài Minh Chiêu, ngài Minh chiêu muốn điểm hóa nên nói: Đầu cũng ngay mà đuôi cũng ngay, chỉ là chẳng gặp tri âm thôi!. Sư cũng không rõ được, lại hỏi: - Bỗng gặp cây đổ, bìm khô, cú nương vào đâu? Ngài Minh chiêu đáp: - Lại làm cho tiếng cườicủa Qui sơn càngthêm mới. Ngay câu nói đó, sư đại ngộ, cảm thán nói: Trong tiếng cườicủaQui sơn vốn có dao.[X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13].
sớ sơn đảo a
4739禪宗公案名。即唐末僧疏山匡仁因傲慢、惡見之罪,而被師兄香嚴智閑預言倒屙三十年之故事。倒屙,指由口吐出大便。香嚴智閑,為溈山靈祐之法嗣。據景德傳燈錄卷十一載,有一僧問香嚴智閑,不尊重諸聖及自己本來面目時如何,香嚴答以(大五一‧二八四上):「萬機休罷,千聖不攜。」疏山當時在場,作嘔聲而嘲笑之;香嚴向其請教,疏山反要求香嚴執師禮,香嚴乃下座禮拜,疏山遂謂「何不道肯重不得全?」香嚴以其惡見之罪,預言疏山將倒屙三十年,且將「設住山無柴燒,近水無水喫。」其後,疏山匡仁住疏山,果如香嚴之預言。至二十七年病癒,乃自謂:「香嚴師兄記我三十年倒屙,今少三年在!」故每至食畢,即以手抉而吐之,以應前記。此即闡示疏山於平等見解中徹悟昔日自傲之罪業深重。
; (疏山倒屙) Tên công án trong Thiền tông. Sơ Sơn bị đại tiện ngược (đảo a), đây là câu chuyện ngài Sơ Sơn Khuông nhân cuối đời Đường, vì tội ngạo mạn, ác kiến nên sư huynh là ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn đoán trước sẽ bị đại tiện ngược (đi tiêu đàng mồm) trong 30 năm. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11, có 1 vị tăng hỏi ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn (đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu): Khi không tôn trọng các bậc Thánh và bản lai diện mục của chính mình thì thế nào? Ngài Hương nghiêm trả lời (Đại 51, 284 thượng) nói: Muôn cơ chấm dứt, nghìn thánh chẳng mang. Lúc ấy ngài Sơ sơn có mặt bèn nôn ra tiếng cười mỉa; ngài Hương Nghiêm nhìn ngài Sơ sơn thỉnh giáo, Sơ sơn yêu cầu Hương Nghiêm phải lễ mình như thầy. Ngài Hương Nghiêm rời chỗ ngồi lễ bái. Ngài Sơ sơn bảo: Sao không nói dù có tôn trọng cũng chẳng được gì? Vì tội ác kiến và kiêu ngạo ấy nên ngài Hương Nghiêm đoán trước là ngài Sơ sơn sẽ phải đại tiện ngược 30 năm, hơn nữa, dù có ở núi cũng không có củi đốt, gần nước cũng không có nước uống. Sau đó, ngài Sơ Sơn Khuông Nhân về trụ ở núi Sơ Sơn và đúng như lời đoán trước của ngài Hương Nghiêm. Được 27 năm thì lành bệnh, liền nói: Sư huynh Hương Nghiêm thụ kí cho ta 30 năm đại tiện ngược, nay còn thiếu 3 năm!. Từ đó, sau mỗi bữa ăn, ngài Sơ Sơn lấy tay móc cho mửa ra để ứng với lời thụ kí trước.
sớ sở duyên duyên
4740「親所緣緣」之對稱。唯識宗所立所緣緣二種體性之一。又作疎所緣緣。與能緣之體相離,託仗他識所變之境及自身中別識所變之境以為本質,能起所慮託之相分,以其間接成所緣緣,故稱疏所緣緣。所謂所緣緣,係指吾人心識之見分(能認識客觀之主體)攀緣相分(主體所認識客觀之一切境界)時,心識為「能緣」,相是「所緣」,能緣與所緣相合時,稱為所緣緣。所緣緣又分為親疏二種:(一)若意識之見分攀緣自所變之影像相分,稱為親所緣緣。(二)反之,「疏所緣緣」即須仗託本質為緣,方得生起內所慮託之相分;為本質生起,故稱為緣,見分同時亦變內相分似本質法,故稱所緣。簡言之,若法與能緣之識體雖是相離,或是他人心識所變,及自身中之別識所變,但仗託本質,不能取親相分,故稱疏所緣緣。如第八識相分所變之山河大地、日月星辰,眼識仗託此相分為本質而緣者,即是一例。成唯識論卷七(大三一‧四○下):「若與能緣體雖相離,為質能起內所慮託,應知彼是疏所緣緣。親所緣緣能緣皆有,離內所慮託,必不生故;疏所緣緣能緣或有,離外所慮託,亦得生故。」(參閱「四緣」1832、「所緣緣」3251)
; (疏所緣緣) Đối lại: Thân sở duyên duyên. Một trong 2 tính sở duyên duyên do tôngDuy thức thành lập. Bản chất của Sơ sở duyên duyên là lìa thể tướng của năng duyên mà nương nhờ vào cảnh do thức của người khác biến ra và cảnh do thức khác trong thân mình biến ra, có khả năng sinh khởi tướng phần suy tư, vì nó gián tiếp cấu thành sở duyên duyên, cho nên gọi là Sơ sở duyên duyên. Gọi Sở duyên duyên là vì khi Kiến phần của tâm duyênvới Tướng phần thì tâm là Năng duyên, tướng là Sở duyên. Khi Năng duyênvà Sở duyên hợp với nhau, gọi là Sở duyên duyên. Sở duyên duyên lại được chia làm 2 thứ: 1. Thân sở duyên duyên: Kiến phần của ý thức duyên theo Tướng phần của những bóng dáng do chính nó biến ra. 2. Sơ sở duyên duyên: Phải nhờ vào bản chất mới có thể sinh khởi Tướng phần suy tư bên trong, vì bản chất sinh khởi nên gọi là duyên, đồng thời kiến phần cũng biến ra Tướng phần giống như bản chất, cho nên gọi là Sở duyên. Tóm lại, pháp và thể thức năng duyên tuy là lìa nhau, hoặc do tâm thức người khác biến ra và thức khác trong chính thân mình biến ra, nhưng vì bản chất nương nhờ không thể duyên thủ Tướng phần của chính nó, nên gọi là Sơ sở duyên duyên. Như núi sông, đất đai, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú... là Tướng phần của thức thứ 8 biến ra, thức mắt nương nhờ vào Tướng phần này làm bản chất để duyên theo. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 40 hạ) nói: Nếu lìa thể năng duyên mà bản chất vẫn có thể khởi sự lo lường bên trong, thì nên biết đó chính là Sơ sở duyên duyên. Thân sở duyên duyên đều có năng duyên, nhưng nếu lìa sự lo lường bên trong thì không thể sinh khởi; còn Sơ sở duyên duyên thì hoặc có năng duyên, hay lìa sự nương gá bên ngoài vẫn có thể sinh khởi được. (xt. Tứ Duyên, Sở Duyên Duyên).
sớ tử
4739宣頌佛祖或高僧大德之表白文。釋氏要覽卷上(大五四‧二七六中):「疏子,即祝佛之文也。蓋疎通施主今辰之意也。夫祝辭不敢以小為大,故修辭者必須確實,則不可觑誕詭妄,自貽伊戚。」禪林中常於請名德任住持時,有造疏以敘懇切情懷之風習。又由寺院敘述勸請名德前來住持之文疏,稱為山門疏;製疏賀新命同門人入院之疏,稱為同門疏;敘鄰近諸山新住持入寺之疏,稱為諸山疏。尚有江湖疏、道舊疏、法眷疏、方外疏等。讚歎佛祖、高僧名德之言語,稱為疏語。〔禪林象器箋文疏門、敕修百丈清規卷一聖節〕
; (疏子) Bài văn biểu bạch ca tụng PhậtTổ hoặc các bậc cao tăng đại đức. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 276 trung) nói: Sớ tử tức là văn chúc Phật, thể theo ý của thí chủ. Trong lời chúc không dám lấy nhỏ làm lớn, cho nên văn từ cần phải xác thực, không thể dối trá ngụy vọng mà tự chuốc lấy sự lo buồn. Trong Thiền lâm, thường nhân dịp thỉnh bậc danh đứctrụ trì, có thói quen làm sớ để bày tỏ tấm lòng tha thiết. Văn sớ do chùa viện trình bày lời cầu thỉnh bậc danh đức đến trụ trì, gọi là Sơn môn sớ. Sớ của hững người đồng môn chúc mừng vịTân trụ trì, gọi là Đồng môn sớ. Sớ của các vị Trụ trì các chùa lân cận chúc mừng Tân trụ trì, gọi là Chư sơn sớ. Ngoài ra còn có Giang hồ sớ, Đạo cựu sớ, Pháp quyến sớ, Phương ngoại sớ... Ngôn ngữ tán thán Phật Tổ và các bậc cao tăng danh đức, gọi là Sớ ngữ. [X. Văn sớ môn trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].
Sớ 疏
[ja] ショ sho ||| (1) To write a commentary. A commentary, usually on a sutra or śāstra, done in order to elucidate the meaning. (2) A letter. (3) A memorandum to the emperor. => 1. Viết luận giải. Luận giải, thường là chú giải về một bộ kinh hay luận, để làm sáng tỏ nghĩa lý. 2. Một bức thư. 3. Một bản giác thư gởi cho vua.
sớm
Soon—Early.
sớm mai a di đà, chiều cũng a di đà, dù gấp thế mấy cũng không rời a di đà
Recite Amitabha Buddha's name in the morning, recite it again in the evening, no matter how rush you are, do not part from the recitation of Amitabha Buddha's name.
sớm muộn
Sooner or later.
sớm quá
Too soon—Too early.
sờ
To feel—To touch.
sờ sờ
Evident—Clear—Obvious.
sờ tác nhân
Xem Năng tác nhân.
sở
A place; where, what, that which, he (etc.) who.
; 1) Cơ sở—A place—Where—What—That which. 2) Rõ ràng: Clear—To clear up.
sở biến kế
That by which the mind is circumscribed, i.e. impregnated with the false view that the ego and things possess reality.
; Hết thảy chư pháp đều do cái tâm hay ý thức so đo tính toán chấp trước mà sanh ra—That by which the mind is circumscribed, i.e. impregnated with the false view that the ego and thing possess reality.
Sở biến kế 所遍計
[ja] ショヘンゲ shohenge ||| The complement of 能遍計. The operation objectively discriminated objects of self and elements, that are discriminated by the action of the subjective consciousness. Nanda called this a non-substantial existence, but called it a dependently arisen substantial existence. The objective aspect in the of the sixth and seventh consciousness. => Đối lại là Năng biến kế 能遍計. Tính phân biệt khách quan về đối tượng ngã và pháp, là phân biệt do hoạt động của thức chủ quan. Nanda gọi đây là hiện hữu vô thể, nhưng Hộ Pháp (s: Dharmapāla 護法 ) gọi nó là hiện hữu sinh khởi tuỳ theo thực thể. Là tướng phần trong hoạt động của thức thứ sáu và thức thứ bảy.
sở biến tri
Parijneya (S). To be known accurately.
Sở biến 所變
[ja] ショヘン shohen ||| That into which something has been transformed. A transformation, an incarnation. => Điều đã được chuyển hoá. Sự chuyển hoá, một hiện thân.
sở biệt
3246因明用語。又作有法(梵 dharmin)、前陳、體、自性。爲因明三支作法中,宗支(命題)之主部。通常稱爲前陳,相當於西洋論理學中命題之主詞。因明之法,前陳名詞必含有後陳(賓詞)名詞之意味,故宗之前陳名詞又稱有法,宗之後陳名詞又稱法;宗之前陳爲體,後陳爲義。如立「聲無常」之宗,則以前陳「聲」之體爲有法、所別,而以後陳「無常」之義爲法、能別。〔因明入正理論疏卷上本、因明論疏瑞源記卷二、卷三〕(參閱「體」6928)
; The subject of the thesis of a syllogism in contrast with năng biệt the predicate; that which is differentiated.
; Chủ đề của một luận đề có thể suy diễn, đối lại với năng biệt hay cái đã bị tách biệt không còn suy diễn gì được nữa—The subject of the thesis of a syllogism in contrast with the predicate; that which is differentiated.
; (所別) Cũng gọi: Hữu pháp (Phạn: Dharmin), Tiền trần, Thể, Tự tính. Tiếng dùng trong Nhân minh. Bộ phận chủ yếu của chi Tông (mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh. Thông thường gọi là Tiền trần, tương đương với chủ từ của mệnh đề trong Luận lí học phương Tây. Trong Luận lí Nhân minh, danh từ Tiền trần (danh từ trước) phải bao hàm ý nghĩa của danh từ Hậu trần (danh từ sau), vìvậy, danh từ Tiền trần của Tông còn được gọi là Hữu pháp (có thuộc tính), danh từ Hậu trầncủaTông cũng gọi là Pháp (thuộc tính). Tiền trần của Tông là thể,Hậu trần là nghĩa. Như lập Tông Âm thanh là vô thường thì thể của Tiền trần âm thanh là Hữu pháp, sở biệt, còn nghĩa của Hậu trần vô thường là pháp, năng biệt. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2, 3]. (xt. Thể).
sở biệt bất cực thành quá
3246因明用語。所別不極成,梵語 aprasiddha-viśeṣya。爲因明三十三過中,宗(命題)九過之一。所別,指宗支之前陳(主詞);不極成,不成就之義,即非經雙方共同認可因而不得成立。此過即宗之前陳不被敵者(問難者)認可所招致之過失。因明之法規定,宗之前陳與後陳兩項各別之概念均須爲雙方所共同認可,方可成立。故若數論外道對佛弟子立「我是思」之宗,其中,「我」爲所別,「思」爲能別(後陳、賓詞),思雖爲立(立論者)、敵所共同認可,然所別之「我」並非佛弟子所能接受,此蓋因佛弟子僅認可有五蘊和合之假我,而實無「我」之存在,故若勝論師提出「我是思」之宗支在雙方尚未進行正式對論時即不能成立。此即所別不極成過。〔因明入正理論、因明入正理論義纂要、因明論疏瑞源記卷四〕
; (所別不極成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở biệt bất cực thành (Phạn: Aprasiddha-vizewya) là 1 trong 9 lỗi thuộc về Tông (mệnh đề) trong 33 lỗi của Nhân minh. Sở biệt chỉ cho danh từ trước(tiền trần) của Tông;Bất cực thành nghĩa là không thành tựu, tức là vấn đề không được thành lập vì không có sự đồng ý của cả 2 bên. Lỗi này là do danh từ trước của Tông không được đối phương (người vấn nạn) thừa nhận. Luận lí Nhân minh qui định, danh từ trước(tiền trần)và danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) đều phải được cả đôi bên (người lập luận và người vấn nạn) cùng thừa nhận mới thành lập được; như Tông Ngã là tư do ngoại đạo Số luận đối với đệ tử Phật mà lập, trong đó ngã là sở biệt, tư là năng biệt; tư tuy được cả đôi bên cùng chấp nhận, nhưng ngã thì đệ tử Phật không thừa nhận, vì đệ tử Phật chủ trương ngã chỉ là giả ngã do 5 uẩn hòa hợp, chứ không có ngã chân thực tồn tại, cho nên Tông ngã là tư doSố luận sư đề ra không thể thành lập khi 2 bên chưa tiến hành đối luận chính thức.Đó là lỗi Sở biệt bất cực thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.4].
sở bất năng tri
An object cannot be recognized.
sở bị
3249指爲佛之教法所覆被之眾生機類。全稱所被機類。又作所被之緣、所被之機、所爲。華嚴經疏卷三(大三五‧五一七下):「教所被機者,夫教因機顯,離機無言,上說義理弘深,未委被何根器,若明能應者十身圓音,今直彰所被,通有十類。」 據「三論遊意義」載,所被之緣,即稟受二諦之教。觀經玄義分,依觀無量壽經所述,佛陀受頻婆娑羅王之夫人韋提希所請而說法之典故,乃以佛陀爲「能爲」,以稟受教法之韋提希爲「所爲」,所爲即指所被。他如成唯識論掌中樞要卷上本、華嚴經探玄記卷一、大乘起信論義記卷上等,皆對所被之機有所闡釋。〔法華經玄義卷一上、法華經玄贊卷一本〕
; (所被) Cũng gọi Sở bị chi duyên, Sở bị chi cơ, Sở vi. Gọi đủ: Sở bị cơ loại. Chỉ cho các loại căn cơ chúng sinh được giáo pháp của Phật thấm nhuần, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3 (Đại 35, 517 hạ) nói: Giáo sở bị cơ có nghĩa là giáo pháp nhân cơ mà được hiển bày, lìa cơ thì không có lời nói, nghĩa lí nói trên rất là sâu rộng, chưa biết phó thác cho căn khí nào; nếu Năng ứng là10 thân viên âm thì Sở bị chung có 10 loại. Theo Tam luận du ý nghĩa thì duyên sở bị tức bẩm thụ giáo Nhị đế. Quán kinh huyền nghĩa phần y cứ vào sự tích trong kinh QuánVô lượng thọ, Hoàng hậu Vi đề hi thỉnh cầu đức Phật thuyết pháp mà cho rằng Phật là Năng vi, Hoàng hậu Vi đề hi người lãnh thụ giáo pháp – là Sở vi, Sở vi tức chỉ cho Sở bị. Ngoài ra, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần đầu, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng... đều có giải thích rõ về căn cơ Sở bị. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1, phần đầu].
Sở bị 所被
[ja] ショヒ shohi ||| Teach and transform. To edify. => Giáo hoá. Khai mở tâm trí.
Sở chứng 所證
[ja] ショショウ soshō ||| (1) That which is realized (anubhūta) (2) That which is awakened (to). Enlightenment (adhigama, prapti). => 1. Điều được nhận ra (s: anubhūta). 2. Điều được thức tỉnh (về). Sự giác ngộ (s: adhigama, prapti).
sở cầu
3246於淨土教,以西方淨土爲所求之處。唐代善導於觀無量壽佛經疏散善義之十一義門中謂,迴向所修之諸功德,願生彌陀佛國;於上品下生之項中即謂,迴向功德之處乃所求之處。日僧證空於觀經散善要義釋觀門義鈔卷三謂,所求,意爲欣求;指依所愛之行而求之極樂。
; Desideratum.
; (所求) Điều mong cầu. Đối với Tịnh độ giáo thì điều mong cầu là được sinh về Tịnh độ ở phương Tây. Trong Thập nhất nghĩa môn của phần Tán thiện nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, ngài Thiện đạo đờiĐường chủ trương hồi hướng các công đức mà mình tu được nguyện sinh về cõi nước của Phật A di đà. Trong mục Thượng phẩm hạ sinh thì cho rằng nơi hồi hướng công đức chính là nơi sở cầu. Trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 3, ngài Chứng Không – vị tăng người Nhật bản – cho rằng sở cầu nghĩa là hân cầu, chỉ cho cõi Cực lạc y theo hạnh sở ái mà cầu.
sở cầu như ý
Sự việc xãy ra như ý muốn—Things are going as (in accordance with) one's wishes—Things are going our way.
Sở cầu 所求
[ja] ショグ shogu ||| That which is sought after--in Buddhism, enlightenment, nirvana, or the Pure Land. 〔二障義 HPC 1.810a〕 => Điều mà mọi người theo đuổi—trong đạo Phật , đó là giác ngộ giải thoát, niết-bàn, hay cõi Tịnh độ.
sở duyên
3250梵語 ālambana,巴利語同。爲「能緣」之對稱。指認識之對象,爲心、心所法生起之因,且被其所執取者。俱舍宗建立「六識」之說,故主張所緣之境爲色、聲、香、味、觸、法等六境,即眼識以色境,耳識以聲境,鼻識以香境,舌識以味境,身識以觸境,意識以六境之諸法爲其各自之所緣。法相宗建立「八識」之說,故除上記之外,尚論七、八二識所緣之境,即第七識以第八識之見分,第八識以種子、有根身、器界等三境,各爲其所緣。且依法相宗所立「萬法唯心」之旨,故謂所緣六境之諸法係由「六識聚」所起之影像相分,其影像以第八識之相分爲本質,亦即相分係由第八識之業力所任運變現者。 此外,大乘阿毘達磨雜集論卷五,就所緣舉出:非有所緣、有所緣,乃至須臾所緣、隨轉所緣等二十九種。俱舍論卷二(大二九‧七上):「心、心所法執彼而起,彼於心等,名爲所緣。」 又「所緣」有親疏之別:(一)親所緣,即內識所慮託之影像,亦即內識由作用所產生之影像。(二)疏所緣,即外在對境之本質。於成唯識論卷七,謂上記之親疏二緣並爲四緣中之「所緣緣」;然唯識二十論則認爲親所緣爲四緣中之「所緣緣」,疏所緣爲四緣中之「增上緣」。〔大毘婆沙論卷十六、瑜伽師地論卷一、俱舍論卷七、成唯識論卷二、觀所緣論釋〕(參閱「能緣」4298)
; Ārammaṇa (P), Preoccupation Xem Phan duyên.
; Alambana (S). That upon which something rests or depends, hence object of perception; that which is the environmental or contributory cause; attendant circumstances.
; Alambana (skt)—Cảnh đối đãi với tâm thức (pháp tâm và sở tâm là năng duyên, cảnh là sở duyên)—Upon which something rests or depends, hence objects of perception; that which is the environmental or contributory cause; attendant circumstances.
; (所緣) Phạn, Pàli: Àlambana. Đối lại: Năng duyên. Chỉ cho đối tượng của sự nhận thức, là nhân sinh ra các pháp tâm, tâm sở, vả lại bị cácthứtâm ấy chấp lấy. Tông Câu xá kiến lập thuyết Sáu thức, cho nên chủ trương cảnh Sở duyên là 6 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là thức mắt duyên sắc cảnh, thức tai duyên thanh cảnh, thức mũi duyên hương cảnh, thức lưỡi duyên vị cảnh, thức thân duyên xúc cảnh, thức ý duyên pháp cảnh. Tông Pháp tướng kiến lập thuyết Tám thức, cho nên ngoài các thức và các cảnh sở duyên nói ở trên, còn nói đến cảnh sở duyên của 2 thức 7 và 8.Tức là thức thứ 7 lấy Kiến phần của thức thứ 8 làm cảnh sở duyên; thức thứ 8 thì lấy 3 cảnh là chủng tử, hữu căn thân và khí thế giới làm cảnh sở duyên. Vả lại, theo ý chỉ Vạn pháp duy tâm, tông Duy thức cho rằng các pháp của 6 cảnh sở duyên là do ảnh tượng Tướng phần của 6 thức tụ sinh khởi; những ảnh tượng ấy lấy Tướng phần của thức thứ 8 làm bản chất, tức Tướng phần là do nghiệp lực của thức thứ 8 nhậm vận biến hiện ra. Ngoài ra, luận Đại thừa a tì đạt matạp tập quyển 5, có nêu 29 loại Sở duyên như: Phi hữu sở duyên, Hữu sở duyên, cho đến Tu du sở duyên, Tùy chuyển sở duyên... Lại nữa, Sở duyên có 2 loại thân và sơ khác nhau: 1. Thân sở duyên: Tức ảnh tượng do tác dụng của thức bên trong sinh ra. 2. Sơ sở duyên: Tức bản chất của cảnh đối diện bên ngoài. Luận Thành duy thức quyển 7 cho rằng Thân sở duyên và Sơ sở duyên nói trên đều là Sở duyên duyên trong 4 duyên; nhưng luận Duy thức nhị thập thì cho rằng Thân sở duyên là Sở duyên duyên trong 4 duyên, còn Sơ sở duyên thì là Tăng thượng duyên trong 4 duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Du già sư địa Q.1; luận Câu xá Q.7; luận Duy thức Q.2; Quán sở duyên luận thích]. (xt. Năng Duyên).
Sở duyên cảnh 所縁境
[ja] ショエンキョウ shoenkyō ||| The objects of consciousness. The objects upon which the mind and mental functions are contingent. See 所縁. => Đối tượng của thức. Đối tượng nà tâm và tâm sở y cứ. Xem Sở duyên所縁.
sở duyên duyên
3250梵語 ālambana-pratyaya。又作緣緣。即所緣之緣。四緣之一。所謂「所緣」,即指心及心作用之對象(認識作用之對象);若心、心作用之對象成爲原因,而令心、心作用產生結果之時,心及心作用之對象即稱爲「所緣緣」,心及心作用則稱爲「增上果」。又歷來多解釋爲心、心所法由託緣而生起,乃自心之所緣慮。故亦可謂所緣緣即一切法。俱舍論卷七(大二九‧三七上):「所緣緣性即一切法,望心、心所隨其所應。謂如眼識及相應法,以一切色爲所緣緣。如是耳識及相應法以一切聲,鼻識相應以一切香,舌識相應以一切味,身識相應以一切觸,意識相應以一切法爲所緣緣。」 又成唯識論於所緣緣立有親疏二類,據成唯識論卷七載(大三一‧四○下):「此體有二,一親二疎。若與能緣體不相離,是見分等內所慮託,應知彼是親所緣緣;若與能緣體雖相離,爲質能起內所慮託,應知彼是疎所緣緣。親所緣緣能緣皆有,離內所慮託必不生故;疎所緣緣能緣或有,離外所慮託亦得生故。」其中,親所緣緣爲見分、自證分等之內所慮託之法,即指影像相分;疏所緣緣爲與能緣之心相離之法,即本質相分。〔順正理論卷十九、顯揚聖教論卷十八、瑜伽師地論卷三〕(參閱「四緣」1832、「所緣」3250)
; Ālambana pratyaya (S).
; Adhipati-pratyàya (S). The influence of one factor in causing others, one of the tứ duyên.
; See Duyên Duyên.
; (所緣緣) Phạn: Àlambana-pratyaya. Cũng gọi Duyên duyên. Duyên của sở duyên, 1 trong 4 duyên. Sở duyên chỉ cho đối tượng của tâm và tác dụng tâm (đối tượng của tác dụng nhận thức). Nếu khi đối tượng của tâm và tác dụng tâm trở thành nguyên nhân khiến tâm và tác dụng tâm sinh ra kết quả, thì đối tượng của tâm và tác dụng tâm được gọi là Sở duyên duyên, còn tâm và tác dụng tâmthìgọi là Tăng thượng quả. Xưa nay thường giải thích là tâm, tâm sở pháp do nương gá các duyên mà sinh khởi, là sở duyênlựcủa tự tâm. Bởi thế cũng có thể cho rằng Sở duyên duyên tức là tất cả pháp. Luận Câu xá quyển 7 (Đại 29, 37 thượng) nói: Tính của sở duyên duyên tức là tất cả pháp, tâm và tâm sở ứng hiện tùytheo sở duyên duyên này. Như thức mắt và pháp tương ứng, lấy tất cả sắc làm sở duyên duyên. Cũng thế, thức tai và pháp tương ứng lấy tất cả thanh, thức mũi tương ứng lấy tất cả hương, thức lưỡi tương ứng lấy tất cả vị, thức thân tương ứng lấy tất cả xúc, thức ý tương ứng lấy tất cả pháp làm sở duyên duyên. Luận Thành duy thức lập 2 loại sở duyên duyên là Thân sở duyên duyên và Sơ sở duyên duyên. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 40 hạ) nói: Thể của sở duyên duyên có thân và sơ. Nếu không lìa thể năng duyên mà nương gá lo lường trong Kiến phần này, thì nên biết đó là Thân sở duyên duyên; còn nếu lìa thể năng duyên, mà bản chất có thể nương gá lo lường bên trong, thì nên biết đó là Sơ sở duyên duyên. Năng duyên của Thân sở duyên duyên trong trường hợp nào cũng đều có, lìa sự nương gá lo lường bên trong thì chắc hẳn không sinh; còn năng duyên của Sơ sở duyên duyên thì hoặc có hoặc không, nếu lìa sự nương gá lo lường bên ngoài cũng có thể sinh được. Trong đó, Thân sở duyên duyên là pháp nương gá lo lường bên trong Kiến phần, Tự chứng phần..., tức chỉ cho Tướng phần ảnh tượng. Còn Sơ sở duyên duyên là pháp lìa tâm năng duyên, tức là Tướng phần bản chất. [X. luận Thuận chính lí Q.19; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Du già sư địa Q.3]. (xt. Tứ Duyên).
Sở duyên duyên 所縁縁
[ja] ショエンエン shoenen ||| (ālambanam). An object as a conditioning element; object as cause. Suoyuan 所縁 itself refers to the objects of mind and mental functions. When the object of the mind and mental functions is taken as a cause, this object is considered as a "conditioning object" and the mind and mental functions are called the "dominant result" 増上果. . 〔攝大乘論 T 1593.31.115c27〕 => (s: ālambanam). Đối tượng của tâm tâm sở như là yếu tố nhân duyên; đối tượng như là nguyên nhân. Sở duyên (c: Suoyuan 所縁 ) tự nó liên quan đến đối tượng của tâm và tâm sở. Khi đối tượng của tâm và tâm sở được xem là nguyên nhân , thì đối tượng này được gọi là sở duyên duyên, tâm và tâm sở được gọi là Tăng thượng quả 増上果
sở duyên hữu đối
3250對,障礙、拘礙之義。指六識及與其相應之心所被所緣之境所拘礙,於他不得生起。乃三有對之一。蓋六識與心所僅能於自身所緣之對境而轉,如眼識僅能於色境而轉,耳識僅能於聲境而轉,如是則必然被所緣之法所拘礙,而無從於其他塵境生起作用,如眼識無從於聲、香、味等塵境生起作用。〔大毘婆沙論卷七十六、卷一二八、俱舍論卷二、俱舍論光記卷二、俱舍論寶疏卷二〕(參閱「有對」2451)
; (所緣有對) Đối nghĩa là ngăn chặn, chướng ngại. Sở duyên hữu đối chỉ cho 6 thức và các tâm sở tương ứng bị cảnh sở duyên làm chướng ngại, không sinh khởi được ở những cảnh khác, là 1 trong 3 hữu đối. Sáu thức và các tâm sở chỉ có thể chuyển biến được đối với cảnh sở duyên của chính chúng, như nhãn thức chỉ có thể chuyển biến được đối với sắc cảnh, nhĩ thức chỉ có thể chuyển biến được đối với thanh cảnh, như thể thì tất nhiên chúng bị pháp sở duyên câu thúc, ngăn ngại, khiến không thể nào sinh khởi tác dụng đối với các trần cảnh khác được, như nhãn thức không thể sinh khởi tác dụng với các trần cảnh thanh, hương, vị... [X.luận Đại tì bàsa Q.76, 128; luận Câu xá Q.2; Câu xá luận quang kí Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.2]. (xt. Hữu Đối).
Sở duyên phược 所縁縛
[ja] ショエンバク shoenbaku ||| Binding defilements that arise in connection with external objects. One of two kinds of fetters 二縛.〔二障義HPC 1.807a1〕 => Phiền não nhiễm ô ràng buộc sinh khởi khi dính mắc với ngoại cảnh. Một trong Nhị phược二縛.
sở duyên phọc
3251二縛之一。縛,爲煩惱之異名,以其能繫縛人,令人不得自在之故。<一>爲「相應縛」之對稱。諸煩惱繫縛心、心所法,及所緣之境,可大別爲相應縛與所緣縛兩類。其中,相應縛謂諸煩惱繫縛與之同時相應之心,心所法,令於所緣之境不得自在;所緣縛則謂煩惱緣境之時,必有熾毒之勢力繫縛此所緣之境,令不得自在。又於所緣縛中,復有同部同品、同部異品、異部同品、異部異品等四種之別。如欲界苦諦下之十隨眠一一互縛,成同部之所緣縛;集諦下遍行之惑縛苦諦下之法,成異部之所緣縛;又修道之煩惱縛善、無記等五蘊。〔大毘婆沙論卷八十六、俱舍論光記卷一、俱舍論寶疏卷一、唯識論了義燈卷五本〕 <二>爲「能緣縛」之對稱。所緣之境爲能緣之心所縛,稱爲能緣縛;反之,能緣之心爲所緣之境所拘礙,則稱爲所緣縛。(參閱「所緣」3250、「所緣有對」3250)
; (所緣縛) I. Sở Duyên Phược. Đối lại: Tương ứng phược. Phược là trói buộc, tên khác của phiền não; vì các phiền não có khả năng trói buộc, khiến con người không được tự do, tự tại, nên gọi là Phược, 1 trong 2 phược. Các phiền não trói buộc tâm, tâm sở và cảnh sở duyên, có thể chia làm 2 loại là Tương ứng phược và Sở duyên phược. Trong đó, Tương ứng phược nghĩa là các phiền não trói buộc tâm, tâm sở, đồng thời lại tương ứng với các tâm này, làm cho không được tự tại đối với cảnh sở duyên. Còn Sở duyên phược nghĩa là khi các phiền não duyên với cảnh thì chắc chắn có thế lực rất mạnh trói buộc cảnh sở duyên này, khiến chúng không được tự tại. Trong Sở duyên phược lại có 4 thứ khác nhau là: Đồng bộ đồng phẩm, Đồng bộ dị phẩm, Dị bộ đồng phẩm và Dị bộ dị phẩm. Như 10 tùy miên của Khổ đế ở cõi Dục mỗi mỗi trói buộc nhau, thành Sở duyên phược đồng bộ; các hoặc Biến hành của Tập đế trói buộc các pháp thuộc Khổ đế, thành Sở duyên phược dị bộ; còn các phiền não ở giai vị Tu đạo thì trói buộc 5 uẩn thiện, vô kí... [X. luận Đại tìbà sa Q.86; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5 phần đầu].II. Sở Duyên Phược. Đối lại: Năng duyên phược. Cảnh sở duyên bị tâm năng duyên trói buộc, gọi là Năng duyên phược; trái lại, tâm năng duyên bị cảnh sở duyên ngăn ngại thì gọi là Sở duyên phược. (xt. Sở Duyên, Sở Duyên Hữu Đối).
sở duyên thọ
Alamana-vedaniyata (S).
Sở duyên 所縁
[ja] ショエン shoen ||| (1) That upon which mind and mental functions are contingent, which usually means objects of perception or conception (Skt. ālambana; Tib. dmigs pa). This term refers especially to the fact that consciousness cannot arise by itself without objects, or an objective realm. The complement of 能縁. It is closely related in meaning to the term 攀縁 as that to which the mind attaches to and clambers upon as it finds it way in the world. The terms refers to the fact that, like a crippled person without a crutch, without their contingent objects, the mind and mental functions are powerless. "縁謂攀縁, 心心所法名能縁, 境是所縁. 有彼所縁故名有所縁, 心心所法其性羸劣, 執境方起猶如羸人非杖不行." 〔倶舍光記 T 1821.41〕 (2) Something with which there is an established relationship. => Nhờ vào đó mà tâm và tâm sở y cứ, thường có nghĩa là đối tượng của nhận thức hay tri giác (s: ālambana; t: dmigs pa). Thuật ngữ nầy đặc biệt đề cập đến sự kiện các thức không thể tự sinh khởi khi không có đối tượng, hay là cảnh giới khách quan. Đối lại là năng duyên. Rất gần với thuật ngữ Phan duyên, vì đó là điều mà tâm đeo dính và vin vào để tìm cách thể hiện. Thuật ngữ nói đến sự kiện như một người què chân không có nạng, không có đối tượng để nương vào, thì tâm và tâm sở đều bất lực. “"縁謂攀縁, 心心所法名能縁, 境是所縁. 有彼所縁故名有所縁, 心心所法其性羸劣, 執境方起猶如羸人非杖不行." [倶舍光記] “duyên vị phan duyên, tâm tâm sở pháp danh năng duyên, cảnh thị sở duyên. Hữu bỉ sở duyên cố danh hữu sở duyên, tâm tâm sở pháp kỳ tính luy liệt, chấp cảnh phương khởi, do như luy nhân, phi trượng bất hành- duyên nghĩa là phan duyên, tâm và tâm sở pháp gọi là năng duyên, trần cảnh gọi là sở duyên, do có sở duyên kia nên gọi là hữu sở duyên, tính của tâm và tâm sở pháp là yếu ớt, nương vào phương tiện mới sinh khởi, cũng giống như người bị liệt chân, không có gậy không thể đi được ”.[Câu xá quang ký].
sở dĩ
That's why—Therefore.
Sở dĩ nhiên 所以然
[ja] ショイゼン shoizen ||| The reason for, the cause; the circumstances of. => Lý do, nguyên nhân; do hoàn cảnh.
Sở dĩ 所以
[ja] ショイ shoi ||| Hence, therefore. That by which something is effected. The reason, the way something happened. => Do đó, do vậy. Điều mà cái gì bị ảnh hưởng. Lý do, cách mà sự việc xảy ra.
sở dẫn
That which is brought forward or out; a quotation.
; Đưa ra lời trích dẫn—That which is brought forward or out; a quotation.
sở dục trí hoạn kinh
3249全一卷。西晉竺法護譯。收於大正藏第十七冊。本經敘述五所欲造成之憂患痛苦。內容敘述諸比丘入舍衛城乞食時,逢諸外道異學等問彼五陰六色、痛癢、思想、生死、識等苦患之因;諸比丘遂詣佛所請示,佛告以五所欲產生之因緣,並舉事例示其憂患,特以「不淨觀」觀女色之例,勸彼等斷愛欲、入四禪。〔開元釋教錄卷十五、貞元新定釋教目錄卷二十四〕
; (所欲致患經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời TâyTấn, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về những nỗi thống khổ lo buồn do 5 thứ sở dục gây nên. Lúc các tỉ khưu vào thành Xá vệ khất thực, gặp các ngoại đạo dị học... hỏi về nguyên nhân của những khổ hoạn như: Năm ấm, sáu sắc, đau ngứa, tư tưởng, sống chết, thức... ; các tỉ khưu bèn đến chỗ đức Phật thỉnh giáo, Phật liền chỉ dạy về 5 nhân duyên sinh ra sở dục và các sự lo buồn do 5 sở dục ấy gây ra. Đặc biệt đức Phật dạy dùng Bất tịnh quán để đối trị nữ sắc, khuyên họ đoạn trừ ái dục, nhập Tứ thiền. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.15; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24].
sở giang vương
Vua của địa ngục thứ nhì trong thập điện địa ngục—King of the grievous river, the second of the ten rulers of Hades.
sở hoá
3243梵語 vinīta。爲「能化」之對稱。指能化(師)者所教化之對象(弟子)。於華嚴經探玄記卷十七所舉三種世間中,以十佛等之智正覺世間爲能化,而以眾生世間爲所化。此外,一般稱修行僧爲能化,追隨此修行僧之信眾爲所化。〔中阿含卷四十八求解經、法華經卷二譬喻品、佛地經論卷七、施設論卷六〕(參閱「能所」4296)
; (所化) Phạn: Vinìta. Đối lại: Năng hóa. Chỉ cho đối tượng được giáo hóa. Trong 3 loại thế gian nêu trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 7 thì Trí chínhgiác thế gian của Thập Phật là Năng hóa, còn Chúng sinh thế gian thì là sở hóa. [X. kinh Cầu giải trong Trung a hàm Q.48; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; Phậtđịa kinh luận Q.7; luận Thi thiết Q.6]. (xt. Năng Sở).
sở huân tứ nghĩa
3251法相宗立「所薰」之條件有四種,稱爲所薰四義。所薰,爲「能薰」之對稱,兩者互成薰習之義,惟能薰爲主體,所薰爲客體。據唯識大乘之薰習論,於吾人八識之中,前七識又稱七轉識,七轉識如起「現行」作用,則稱爲「能薰」;第八之阿賴耶識則爲「所薰」,乃七轉識現行,予以連續薰染影響作用之處,由之,阿賴耶識中之種子乃得「持續」及「增長」。然「能薰」與「所薰」並非一成不變,而係具有互爲和合、輾轉薰長之作用,此即唯識家所謂「種子生現行,現行薰種子」之義。且於成唯識論卷二亦謂能薰與所薰各具有四義,其中,所薰四義即指第八阿賴耶識所應具足之四種條件。即:(一)堅住性,一類爲堅,相續爲住。即其性無憂、喜、苦、樂、善、不善等之變動,始終一類相續,方能任持習氣。反之,如能薰之「七轉識」,則因具有憂、喜、苦、樂等緣境轉易之變易性,故有「轉識」之稱,故自亦不具堅住性。(二)無記性,全稱無覆無記性,乃三性之一。卽具有非善非惡之性,故視諸法皆平等無別,如是方能含容習氣。(三)可薰性,全稱可受薰性。即其體獨立自在而不依他起,其性非緊密,如是方能受納習氣。(四)與能薰共和合性,即與能薰之七轉識同時、同處並存,不即不離,和合一致而互爲因果。〔梁譯攝大乘論卷上,梁譯攝大乘論釋卷二、成唯識論述記卷三〕(參閱「薰習」6612)
; (所熏四義) Bốn nghĩa sở huân, tức là 4 điều kiện sở huân do tông Pháp tướng lập ra. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 thì năng huân (7 chuyển thức) và sở huân (thức A lại da thứ 8) mỗi thứ đều có 4 nghĩa, trong đó, 4 nghĩa sở huân là chỉ cho 4 điều kiện mà thức A lại da thứ 8 phải có đầy đủ, đó là: 1. Kiên trụ tính: Kiên ở đây có nghĩa là thuần 1 loại; Trụ có nghĩa là nối tiếp. Tức tính kiên trụ không có các biến động như lo, mừng, khổ, vui, thiện, bất thiện... , trước sau chỉ 1 loại nối tiếp mới giữ gìn được tập khí. Trái lại, như 7 chuyển thức năng huân thì dễ chuyển biến theo các cảnh lo, mừng, khổ, vui... , cho nên gọi là chuyển thức, vì thế không có tính kiên trụ.2. Vô kí tính (gọi đủ: Vô phú vô kí tính): Tức có tính chẳng phải thiện chẳng phải ác, vì thế xem các pháp đều bình đẳng, không có sai khác, nhờ vậy mới có khả năng dung chứa tập khí.3. Khả huân tính (gọi đủ: Khả thụ huân tính): Tức thể của nó độc lập tự tại, không cần nương vào pháp khác để sinh khởi, tính nó lại chẳng khép kín, nhờ thế mới có thể thu nhận tập khí. 4. Dữ năng huân cộng hòa hợp tính: Tức thức thứ 8 sở huânvà7 chuyển thức năng huân tồn tại cùng lúc, cùng chỗ, không là nhau mà cũng chẳng lìa nhau, hòa hợp một mối và làm nhân quả lẫn nhau. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Huân Tập).
sở hành tạng
Cariyataka (S), Cariya Pitaka Một trong 15 quyển của Tiểu a hàm, gồm 35 chuyện kễ về tiền thân của Phật Thích ca theo lời thỉnh cầu của ngài Xá lợi Phật..
Sở hành xứ 所行處
[ja] ショギョウショ shogyōsho ||| The extent or limit of function. Object. => Mức độ hay giới hạn của sự hoạt động. Đối tượng.
Sở hành 所行
[ja] ショギョウ shogyō ||| (1) That which is practiced; the method that is actualized; the complement of 能行. (2) The actual state of things; their way of being. (3) That which is composed; that which is compounded (saṃskāra). (4) The formulation of the content of cognition. (ākāryate)〔瑜伽論 T 1579.30.279-280〕 => 1. Điều thực hành, phương pháp thực hiện; đối lại là Năng hành. 2. Tình trạng thực tế của mọi hiện tượng; cách mà các hiện tượng hiện hữu. 3. Điều được làm ra; điều được bày ra (s: saṃskāra). 4. Việc công thức hoá một nội dung của nhận thức (s: ākāryate).
sở hóa
The one which is transformed or instructed.
; Người đã được chuyển hóa—The one who is transformed or instructed.
sở hạnh
3244爲「能行」之對稱。廣義而言,泛指所作所爲之一切行爲、行事、行法;狹義而言,則專指於求證菩提之過程中,一切所修行之法、所實踐之事等。以「念佛」一事而言,佛之名號爲所行,眾生稱念佛名之主觀意志、能力等爲能行。蓋於佛典之中,常以「能」、「所」之對稱來表現主體與客體,或主動與被動之關係,其中,「能」爲具有主動自發能力之主體,「所」爲被動之對境、對機,或被形成、被造作之各種作業。最常見者,如能造所造、能依所依、能化所化、能立所立、能修所修、能詮所詮,能取所取等,皆爲散見於經典各處之基本用語。〔那先比丘經(二卷本)卷上〕
; (所行) Đối lại: Năng hành. Nói theo nghĩa rộng thì Sở hành chỉ chung cho tất cả hành vi, hành sự, hành pháp của ta; còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng cho tất cả các pháp mà ta tu hành, các việc mà ta thực hiện trong quá trình cầu chứng bồ đề. Như trong việc niệm Phật thì danh hiệu Phật là sở hành, ý chí chủ quan, năng lực niệm danh hiệu Phật của chúng sinh là năng hành. Trong kinh Phật, cặp đôi Năng và Sở thường được sử dụng để biểu hiện mối quan hệ chủ thể và khách thể hoặc chủ động và bị động, trong đó Năng là chủ thể có đủ năng lực chủ động tự phát; còn Sở là đối cảnh, đối cơ bị động, hoặc các loại tác nghiệp được hình thành, được tạo tác. Thường thấy nhất là các cặp từ như Năng tạo sở tạo, Năng y sở y, Năng hóa sở hóa, Năng lập sở lập, Năng tu sở tu, Năng thuyên sở thuyên, Năng thủ sở thủ... [X. kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng (bản 2 quyển)].
sở hạnh tạng
3245巴利名 Cariyā-piṭaka。又譯作若用藏。屬巴利文小部經(Khuddaka-nikāya)之一。內容敘述現在劫的釋尊之所行(cariyā),即釋尊之本生故事。分爲七波羅蜜,收集三十五個本生故事。 (一)施波羅蜜,計有大善見王(Mahāsudassana)、大典尊(Mahāgovinda)、尼彌王(Nimi)等十本生。(二)戒波羅蜜,計有瞻箄耶龍(Campeyyanāga)、摩登伽(Mātaṅnga)、法天子(Dhamma-devaputta)等十本生。(三)出離波羅蜜,計有優怛闍耶王子(Yudhañjaya)、受馬那沙王子(Somanassa)等五本生。(四)決定波羅蜜,僅有鐵密雅(Temiya)本生。(五)真實波羅蜜,計有魚王(Maccha-rāja)、普明王(Sutasoma)等六本生。(六)慈悲波羅蜜,計有舒凡那沙馬(Suvaṇṇa-sāma)、耶卡拉惹王(Ekarāja)等二本生。(七)捨波羅蜜,僅有摩訶洛馬汗撒(Mahāloma-haṃsa)本生。又本書之注釋收於達磨波羅所著之真諦燈(Paramattha-dīpanī)中。 本書所列七波羅蜜,與巴利所傳之十波羅蜜相較,則未列出相當於智慧、精進、忍辱等三波羅蜜之本生。所收三十五本生中,除大典尊、法天子二種外,餘者在巴利文本生經(Jātaka)約五百五十種本生中皆有相同之故事;與聖勇(梵 Āryaśūra)之梵文本生鬘所收三十四種本生相較,內容一致者有十二種。 此外,本書各本生之敘述較之本生經之敘述,略嫌簡略,或謂係自本生經摘錄者。然本書之用語樸實,類似巴利文法句經之用語,而現存之本生經則顯示曾受本書影響之痕跡。故兩書中何者爲根源,諸學者尚無定說。〔善見律毘婆沙卷一、B.C. Law: A History of Pāli Literature;G.P. Malalasekera:Dictionary of Pāli Proper Names〕
; Cariyàpitaka (P). Collection of the conducting.
; (所行藏) Pàli: Cariỳa-piỉaka. Cũng gọi Nhã dụng tạng. Một trong các Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli. Nội dung nói về Sở hành (Cariya) của đức Thích tôn trong kiếp hiện tại, tức là truyện tích bản sinh của đức Thích tôn. Kinh này gồm 7 Ba la mật, thu chép 35 truyện Bản sinh.1. Thí ba la mật: Gồm có 10 chuyện bản sinh như Đại thiện kiến vương (Mahàsudassana), Đại điển tôn (Mahàgovinda), Ni di vương (Nimi)... 2. Giớ iba la mật: Gồm có 10 chuyện bản sinh như Chiêm tì da long (Campey= yanàga), Ma đăng già (Màtaíga), Pháp thiên tử (Dhamma-devaputta)... 3. Xuất li ba la mật: Gồm có 5 chuyện bản sinh như Ưu đát xà da vương tử (Yudhaĩjaya), Thụ mã na sa vương tử (Somanassa)... 4. Quyết định ba la mật: Chỉ có 1 chuyện bản sinh là Thiết mật nhã (Temiya). 5. Chân thực ba la mật: Gồm có 6 chuyện bản sinh như Ngư vương (Maccharàya), Phổ minh vương (Sutasoma)... 6. Từ bi ba la mật: Gồm có 2 chuyện bản sinh là Thư phàm na sa mã (Suvaịịasàma) và Da ca lạp nhạ vương (Ekaràja). 7. Xả ba la mật: Chỉ có 1 chuyện bản sinh là Ma ha lạc mã hãn tản (Mahàlomahaôsa). Sách chú thích của kinh này được thu vào Chân đế đăng (Paramattha-dìpanì) do ngài Đạt ma ba la soạn. Sách này liệt kê 7 Ba la mật, so sánh với 10 Ba la mật được lưu truyền trong Đại tạng kinhPàli thì không thấy nêu ra các bản sinh tương đương với 3 Ba la mật: Trí tuệ, Tinh tiến và Nhẫn nhục. Trong 35 bản sinh được thu tập trong sách này, trừ 2 bản sinh Đại điển tôn và Pháp thiên tử, số còn lại đều có cốt truyện tương đồng với khoảng 550 chuyện bản sinh trong kinh Bản sinh (Jàtaka) bằng tiếng Pàli. Nếu so với 34 loại bản sinh được thu chép trong Bản sinh man bằng tiếng Phạm của ngài Thánh dũng (Phạm: Àryazùra)thì có 12 loại mang nội dung giống nhau. Ngoài ra, cách trình bày về các bản sinh trong sách này so với cách trình bày trong kinh Bản sinh thì ngắn gọn quá, có chỗ cho là trích lục từ kinh Bản sinh. Nhưng dụng ngữ trong sách này thì chất phác, chân thật, giống như dụng ngữ của kinh Pháp cú tiếngPàli, mà kinh Bản sinh hiện còn lại cho thấy dấu vết chịu ảnh hưởng của sách này; bởi vậy, các học giả vẫn chưa xác định được trong 2 tác phẩm này, tác phẩm nào là gốc. [X. Thiện kiến luận tìbà sa Q.1; A History ofPàliLiterature by B. C. Law; Dictionary ofPàliProper Names by G.P. Malalasekera].
sở hữu
That one has, what there is, whatever exists.
; 1) Cái mà người ta có: What one has—Possession—Ownership—Proprietorship. 2) Cái đang hiện hữu: What there is—What ever exists.
Sở hữu 所有
[ja] ショウ shou ||| (1) All; the various . . . (sarva). (2) Any; whichever. (3) Related to, possessed by. (4) Existent. 〔二障義HPC 1.789c〕 => 1. Tất cả, nhiều...(s: sarva). 2. Bất kỳ, bất cứ cái nào. 3. Liên quan đến, sở hữu của. 4. Tồn tại.
sở kim
5483請參閱 楚石梵琦禪師語錄請參閱 楚石梵琦禪師語錄(698~759)唐代僧。廣平(河北宛平)人,俗姓程。七歲能誦法華,九歲出家,十八歲即昇座講法華義旨。嘗於靜夜誦法華,至寶塔品,身心泊然,如入禪定,忽爾感見寶塔,乃發誓打坐六年,建其寶塔。天寶元年(742)始構材木,安相輪。是年七月,玄宗夢見九重之上有法名,下有金字。翌晨,遣使驗之,遂敕賜錢五十萬,絹千匹。翌年,迎師至花萼樓,賜「多寶塔」之敕額及絹百疋。天寶三年,於春秋二時,召集同行之大德四十九人,行法華三昧,並奏爲恆式。師又刺血寫金法華經一部、菩薩戒一卷、觀普賢經一卷,感得舍利三千粒。又寫法華經一千部、金字三十六部,以鎮寶塔。乾元二年示寂,世壽六十二。敕葬西龍首原法華蘭若。諡號「大圓禪師」。弟子有慧空、法岸、浩然等。〔佛祖統紀卷二十二、釋門正統卷七、法華經持驗記卷上〕
sở kiến
Drisya (skt)—Những gì hiển lộ ra cho người ta thấy—What is presented to one's view.
Sở kỳ 所期
=> Điều mong mỏi, hy vọng, trông mong, mong đợi.
sở lưu phật
Niśyandabuddha (S).
; Nisyandabuddha (S).
sở lưu sở mục nhiếp phương tiện
3248指華嚴宗於同教一乘之教學中,所說之所流義、所目義與攝方便義。據華嚴二祖智儼之華嚴孔目章卷一載:(一)所流,謂一切三乘法皆依一乘而成立,悉由一乘流出。(二)所目,謂一乘爲大綱,三乘爲綱目,由大綱而有三綱目。(三)攝方便,謂佛所說之三乘法,皆爲使眾生入於一乘;乃總攝三乘爲一乘之前方便,故由三乘方能成就一乘。
; (所流所目攝方便) Chỉ cho Sở lưu nghĩa, Sở mục nghĩa và Nhiếp phương tiện nghĩa nói trong giáo học Đồng giáo Nhất thừa của tông Hoa nghiêm. Hoa nghiêm Khổng mục chương quyển 1 của ngài Trí nghiễm, Tổ thứ 2 của Tông Hoa nghiêm giải thích như sau: 1. Sở lưu: Tất cả phápTam thừa đều nương vào Nhất thừa mà được thành lập; tất thảy đều từ Nhất thừa lưu xuất. 2. Sở mục: Nhất thừa là giềng lưới rộng lớn, Tam thừa là mắt lưới; do giềng lưới rộng lớn mà có 3 mắt lưới. 3. Nhiếp phương tiện: Pháp Tam thừa do đức Phật nói đều vì khiến chúng sinh tiến vào Nhất thừa, đó là tiền phương tiện tóm thu Tam thừa về Nhất thừa; bởi vậy, nhờ Tam thừa mớicó thểthành tựu Nhất thừa.
sở lượng
3249因明用語。於因明中,指被認知之對象。又「所量性」則指可被量度之性質。因明正理門論本(大三二‧二上):「常、無常、勤勇,恆住堅牢性,非勤遷不變,由所量等九。」〔因明入正理論〕
; Prameya (S)Đối tượng nhận biết. Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
; That which is estimated; the content of reasoning, or judgment.
; That which is estimated; the content of reasoning, or reasoning.
; (所量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận lí Nhân minh, đối tượng bị nhận biết gọi là Sở lượng; còn cái tính chất có thể bị suy lường thì gọi là Sở lượng tính. [X. Nhân minh nhập chính lí luận].
sở lập
3244<一>梵語 siddha。所成立之意。〔俱舍論卷一〕 <二>因明用語。即於因明對論中提出而有待證明之主張命題,亦即因明三支中之宗支。相對於此,因支(理由)與喻支(譬喻)係用以證成宗支是否能確立者,故稱能立。〔因明入正理論、因明正理門論〕
; Xem Thành tựu giả.
; A thesis; that which is set up.
; Luận đề đã được xắp đặt sẳn—A thesis; that which is set up.
; (所立) I. Sở Lập. Phạn: Siddha. Hàm ý là được thành lập. [X. luận Câu xá Q.1]. II. Sở Lập. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, Sở lập là mệnh đề chủ trương mà người lập luận đưa ra và chờ chứng minh, tức là chi Tông trong 3 chi của luận thức Nhân minh. Đối lại, chi Nhân (lí do) và chi Dụ (ví dụ) được dùng để chứng thành chi Tông có được xác lập hay không, thì gọi là Năng lập. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
sở lập bất khiển quá
3244因明用語。所立不遣,梵語 sādhya-avyāvṛtta。不能遮遣所立宗法之意。爲因明三十三過中,異喻(即由反面來說明之例證)五過之第一。即爲「離作法」時,異喻雖能遮遣能立之因(理由),然不能遮遣所立宗(命題)之賓詞之過失。如聲論師對勝論師立以「聲常」爲宗,以「無質礙故」爲因,以「諸無常者見彼質礙」爲異法喻體,以「極微」爲異法喻依。然聲論師與勝論師皆承認「極微」爲常住、有質礙性,故雖能遮遣因(能立法)之無質礙性;然以其非屬不同於常之無常(即宗異品),故不可能作爲遮遣常住性之喻依。由此之故,遂成過失。〔因明入正理論疏卷下、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; (所立不遣過) Tiếng dùng trong Nhân Minh. Sở lập bất khiển, Phạm:Sàdhyaavyàvftta, nghĩa là lỗi không trái hẳn với Tông, 1 trong 5 lỗi thuộc Dị dụ trong 33 lỗi Nhân minh. Tức là khi dùng Li tác pháp, Dị dụ tuy trái với Nhân năng lập, nhưng lại không hoàn toàn trái với Tông sở lập, nên bị lỗi này. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không là chất ngại. Đồng dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn,như hư không. Dị dụ: Những gì vô thường đều là chất ngại, như cực vi. Nhưng Thanh luận sư và Thắng luận sư đều thừa nhận cực vi là thường còn, có tính chất ngại, cho nên tuy có dị phẩm Nhân, nhưng vì cực vi là thường còn chứ không phải vô thường, nên không đủ dị phẩm Tông. Vì thế nên bị lỗi. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
sở lập pháp bất thành quá
3244因明用語。所立法不成,梵語 sādhya-dharma-asiddha。因明三十三過中,同喻(由正面來說明之例證)五過之一。於因明對論中所引用實例與宗(命題)之賓詞不同品類所招致之過失。蓋於因明法則中,對於能立法之因(理由)而言,所立宗之法(後陳,賓詞),乃雙方就「宗支」之看法進行對諍之關鍵,而宗支之確立與否,有賴於因支與喻支(譬喻)之證成,就喻支而言,同喻之功能乃在由正面來積極結合宗支與因支,故所舉證之實例,其語意之範疇應同於宗之賓詞;若引用一同喻,其語意範疇雖合於能立之因,然不合於所立之宗法,則同喻之功能不成立,即犯所立法不成過。 如聲論師對勝論師立「聲是常(宗),無質礙故(因),猶如覺(同喻)之論式,由於一切「覺」皆無常,且雖符合能立法所說之無質礙性,然不合於所成立法所說之常住性,以致失去正面舉證之效果。蓋「覺」乃心與心所法之總名,而聲論師與勝論師之宗說皆認可心與心所法皆具無常、無質礙之性,故此同喻雖合於能成立之因,但不合於所成立之宗法,此即所立法不成過。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷下本、因明入正理論義纂要、因明論疏瑞源記卷五〕
; (所立法不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở lập pháp bất thành, Phạn: Sàdhyadharma-asiddha, 1 trong 5 lỗi thuộc Đồng dụ trong 33 lỗi Nhân minh. Khi Đồng dụ không cùng một phẩm loại với Tông thì bị lỗi này. Như lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không phải là chất ngại. Dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn, như sự hiểu biết. Sự hiểu biết là một hiện tượng tinh thần, không phải là vật chất nênkhông chất ngại. Nhưng sự hiểu biết vốn là vô thường, chứ không phải là thường còn, cho nên Đồng dụ trong luận thức trên không phải là đồng phẩm với Tông, do đó mà phạm lỗi bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5; Đông phương luận lí học (Nhất Hạnh)].
sở nam
5483(813~888)唐代禪僧。福建人,俗姓張。幼依開元寺曇藹爲沙彌。落髮後詣五臺山受具足戒,學律。依芙蓉靈訓之指示,參謁黃檗希運,後嗣其法。遇會昌法難,乃隱林野。後因裴休之請,住江蘇報恩寺二十餘年。其後,歷住寶林寺、支硎山、千頃山。光啟三年(887),錢王詔入內說法,賜紫衣。文德元年(一說六年)示寂,世壽七十六。著有般若心經頌、破邪論各一卷。〔宋高僧傳卷十七、景德傳燈錄卷十二、釋氏稽古略卷三〕
; (楚南) (813-888) Thiền sư Trung Quốc sống vào đời Đường, người tỉnh Phúc kiến, họ Trương. Thửa nhỏ, sư theo ngài Đàm Ái ở chùa Khai Nguyên. Sau khi cạo tóc, sư đến núi Ngũ Đài thụ giới Cụ túc, học luật. Theo lời chỉ dạy của ngài Phù Dung Linh huấn, sư đến tham yết ngài Hoàng Bá Hi Vận, sau được nối pháp của ngài. Gặp pháp nạn Hội Xương, sư ở ẩn trong rừng. Về sau, nhận lời thỉnh của Tướng quốc Bùi Hưu, sư trụ ở chùa Báo Ân hơn 20 năm. Năm Quang Khải thứ 3 (887), Tiền vương hạ chiếu thỉnh sư vào nội cung thuyết pháp và được ban tử y. Niên hiệu Văn đức năm đầu (888), sư thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Bát nhã tâm kinh tụng 1 quyển, luận Phá tà 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đănglụcQ.12; Thích thị kê cổ lược Q.3].
sở nguyện
Wish—Desire.
Sở nguyện 所願
[ja] ショガン shogan ||| That which one desires. One's wishes, hopes, prayers (praṇidhānu). 〔法華經、T 262.9.8b6〕 => Điều mong mỏi. Điều ước nguyện, bản nguyện của mình (s: praṇidhānu).
sở nhiễm
Upaklista (S). That which is soiled, or stained.
sở quy
3251於淨土教,以阿彌陀佛爲所歸之體。此說出於唐代善導之觀經散善義上品上生、上品中生等項中。日僧良忠於淨土宗要集卷四中,以彌陀爲所歸,以極樂爲所求,念佛爲所行,此三者爲一心所具。日僧證空之觀經散善要義釋觀門義鈔卷四則以極樂淨土爲所歸。
; (所歸) Nơi quay về. Tịnh độ giáo lấy đức Phật A di đà làm thể sở qui. Thuyết này có xuất xứ từ các mục Thượng phẩm thượng sinh, Thượng phẩm trung sinh... trong Quán kinh Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đời Đường. Trong Tịnh độ tông yếu tập quyển 4, ngài Lương trung, vị tăng người Nhật bản, lấy đức Di đà làm sở qui, lấy cõi Cực lạc làm sở cầu và lấy niệm Phật làm sở hành, 3 sở này có đủ trong nhất tâm. Còn trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 4 thì ngài Chứng không vị tăng người Nhật lấy Cực lạc tịnh độ làm sở qui.
Sở quy 所歸
[ja] ショキ shoki ||| That which is depended upon. That which one always returns to. => Điều tuỳ thuộc vào. Điều mà người ta luôn luôn quy hướng về.
Sở sinh 所生
[ja] ショショウ soshō ||| (janya). That which produces. That which gives birth. Parents. => Điều phát sinh, cái sinh ra.
sở sơn thiệu kỳ
Ch'u-Shan-Shao-Chi—Thiền Sư Sở Sơn Thiệu Kỳ, tác giả công án 'Ai đang niệm Phật?' Trong Thiền Luận, Tập II của Thiền sư D.T. Suzuki, Thiền sư Sở Sơn Thiệu Kỳ đã dạy về công án và niệm Phật như sau: “Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để mà nắm vào Thiền; vì thế họ được dạy pháp môn niệm Phật. Phật tức tâm, Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu mà có? Có phải đều từ tâm?. Nhưng Tâm ấy không phải là tâm, không phải Phật, không phải vật. Vậy là cái gì? Muốn thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những cái đã tích chứa do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên chú vào một câu hỏi: 'Ai đang niệm Phật?' Hãy để cho nghi tình nầy nghi đến cực độ; đừng say sưa theo những nghĩ tưởng mê lầm; đừng để cho những ý tưởng phân biệt cùng khởi lên. Một khi công phu bền bĩ, liên tục không gián đoạn, thì thiền định của các người sẽ được thuần thục, và nghi tình của các người nhất định bùng vỡ dữ dội. Rồi các người sẽ thấy rằng Niết Bàn và sanh tử, cõi tịnh độ và cõi uế trược chỉ là hý luận, và ngay từ đầu chẳng cần gì giải thích hay bình chú, và thêm nữa, Tâm không thuộc cảnh giới tâm ý thức, do đó là Bất Khả Đắc.”—Zen master Ch'u-Shan-Shao-Ch'i, the author of the koan 'Who is that practises the recitation of the Buddha name.' In the Essays in Zen Buddhism, composed by Zen master D.T. Suzuki, Zen master Ch'u-Shan-Shao-Ch'I taught about koan and recitation of Buddha name as follows: :It is necessary for the uninitiated to have a kind of too wherewith to take hold of Zen; and it is for this reason that they are told to practise the Recitation of Buddha name, that is thinking of the Buddha. The Buddha is no other than Mind, or rather, that which desires to see this Mind. Where does this desire, this thought, take its rise? From the Mind, we all say. And this Mind is neither a mind, nor a Buddha, nor a something. What is it then? To find it out, let them abandon all that they have accumulated in the way of learning, intellection, and knowledge; and let them devote themselves exclusively to this one question 'Who is it that practises the Recitation of Buddha name?' Let this inquiring spirit assert itself to the highest degree. Do not try to reason it out; do not assume a state of mere passivity for enlightenment to come by itself; do not allow yourself to cherish false thoughts and imaginations; do not let ideas of discrimination assert themselves. When your striving and seeking is constant, permitting to breaks and interruptions, your Dhyana will naturally be matured, and your inquiring spirit brough up to the inevitable crisis. You will then see that Nirvana and Samsara, the land of purity and the land of defilement, are mere idle talk, and that there is from the beginning nothing requiring explanation or commentary, and further that Mind is not somewhat belonging to the realm of empirical consciousness and therefore not an object of mental comprehension.
sở thuyên
3249<一>爲「能詮」之對稱。指依教法經文之語句,闡釋內容而開顯其意義,故稱經文爲能詮,義理爲所詮。據四教義卷一載,教即能詮,理即所詮。又據大乘法苑義林章卷一本載,所說之法爲所詮,依止之名句文字爲能詮。〔天台四教儀集註卷上末〕 <二>即究極之意。指最後之目的。
; That which is expouded, explained, or commented on.
; Nghĩa lý của kinh điển là sở thuyên (còn dựa vào kinh văn mà làm cho sáng tỏ nghĩa lý thì gọi là năng thuyên)—That which is expounded, explained, or commented.
; (所詮) I. Sở Thuyên. Đối lại: Năng thuyên. Chỉ cho nghĩa lí trong kinh văn được giải thích rõ ràng. Căn cứ vào ngữ cú của kinh văn để giải thích rõ nội dung và hiển bày ý nghĩa của nội dung ấy, nên gọi kinh văn là Năng thuyên, nghĩa lí là Sở thuyên. Tứ giáo nghĩa quyển 1 cho rằng giáo là Năng thuyên, lí là Sở thuyên. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 phần đầu nói: Pháp được diễn bày là Sở thuyên, danh cú văn tự y cứ là Năng thuyên. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, phần cuối]. II. Sở Thuyên. Hàm ý tột bậc. Tức chỉ cho mục đích sau cùng.
Sở thuyên 所詮
=> Điều được giảng giải trong kinh. Mục tiêu tối hậu. Cứu cánh.
Sở thuyết 所説
[ja] ショセツ shosetsu ||| That which is explained; the point being explained (Skt. deśita; Tib. gsuṅs). 〔法華經 T 262.9.36c21〕 => Điều được giảng nói; điểm đang được giải thích (s: deśita; t: gsuṅs).
sở thích
Taste.
sở thạch
5482(1296~1370)元代僧。明州象山人,俗姓朱。名梵琦,楚石爲其字。南嶽下二十世法孫徑山行端之法嗣。十六歲,受具足戒於杭州昭慶寺。其後,得法於元叟行端,先後住持天寧永祚寺、嘉興本覺寺、杭州報國寺。元至正七年(1347),順宗賜號「佛日普照慧辯禪師」。洪武三年,一喝而寂,世壽七十五。著有楚石梵琦語錄二十卷等。〔釋氏稽古略續集卷二、南宋元明禪林僧寶傳卷十、增集續傳燈錄卷四〕(參閱「梵琦」4639)
; (楚石) (1296-1370) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Nguyên, người ở Tượng Sơn, Minh Châu, họ Chu, tên Phạm Kì, tự Sở thạch. Sư là đệ tử nối pháp của ngài Hạnh đoan ở Kính Sơn, pháp tôn đời thứ 20 dòng Nam Nhạc. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Chiêu Khánh tại Hàng Châu. Về sau, sư đắc pháp nơi ngài Nguyên Tẩu Hạnh Đoan, lần lượt trụ trì các chùa Vĩnh tộ ở Thiên Ninh, chùa Bản Giác ở Gia Hưng và chùa Báo Quốc ở Hàng Châu. Năm Chí chính thứ 7 (1347) đời Nguyên, vua Thuận tông ban cho sư danh hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Năm Hồngvũ thứ 3 (1370), sư hét 1 tiếng rồi thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. có tác phẩm: Sở thạch Phạm kì ngữ lục 20 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tăng tập tục truyền đăng lục Q.4]. (xt. Phạm Kì).
sở thạch phạm kì thiền sư ngữ lục
5482凡二十卷。全稱佛日普照慧辯楚石禪師語錄。又作楚石禪師語錄、楚石錄。元末僧梵琦(1296~1370)撰,祖光、曇紹、良彥等編。收於卍續藏第一二四冊。編集福臻寺語錄、天寧永祚寺語錄、大報國寺語錄、本覺寺語錄、秉拂小參、頌古、法語、雜著,並附行狀及宋濂所撰之序、塔銘等。
; (楚石梵琦禪師語錄) Gọi đủ: Phật nhật phổ chiếu tuệ biện Sở thạch thiền sư ngữ lục. Cũng gọi Sở thạch thiền sư ngữ lục, Sở thạch lục. Ngữ lục, 20 quyển, do ngài Phạm kì soạn vào cuối đời Nguyên, các vị Tổ Quang, Đàm Thiệu, Lương Ngạn biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 24. Nội dung bộ sách này biên tập các ngữ lục của ngài Phạm kì giảng dạy tại các chùa Phúc Trăn, chùa Vĩnh Tộ ở Thiên Ninh, chùa Bản Giác ở Gia Hưng, chùa Báo Quốc ở Hàng Châu và các phần Bỉnh phất tiểu tham, Tụng cổ, Pháp ngữ,Tạp trứ. Ngoài ra còn phụ thêm phần Hành trạng, bài tựa và bài minh tháp do ông Tống liêm soạn.
Sở Thạch Phạm Kỳ
(楚石梵琦, Soseki Bonki, 1296-1370): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Đàm Diệu (曇曜), Sở Thạch (楚石), hiệu Tây Trai Lão Nhân (西齋老人), sinh tháng 6 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Trinh (元貞), xuất thân Tượng Sơn (象山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Chu (朱). Năm 9 tuổi, ông đến tham yết và xuất gia với Nột Ông Mô (訥翁模) ở Thiên Ninh Tự (天寧寺), Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang). Ngoài ra, ông còn tham vấn Tấn Ông Tuân (晉翁洵) ở Sùng Ân Tự (崇恩寺) vùng Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang). Năm 16 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới ở Chiêu Khánh Tự (昭慶寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Từ đó, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Kính Sơn (徑山), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), v.v. Cuối cùng ông đến tham vấn Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端) ở Kính Sơn và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào mùa đông năm đầu (1324) niên hiệu Thái Định (泰定), thể theo lời thỉnh cầu ông đến trú trì Phước Trăn Tự (福臻寺) ở Hải Diêm, rồi đến ngày mồng 3 tháng 2 năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (天曆) đến Thiên Ninh Vĩnh Tộ Tự (天寧永祚寺), ngày 25 tháng 7 năm đầu niên hiệu Chí Nguyên (至元) đến Đại Báo Quốc Tự (大報國寺) ở Lộ Phụng Sơn (路鳳山), Hàng Châu (杭州), và ngày mồng 8 tháng 8 năm thứ 4 (1344) niên hiệu Chí Chánh (至正) đến Bổn Giác Tự (本覺寺) ở Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông nhận sắc chỉ được ban tặng hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư (佛日普照慧辯禪師). Ngoài ra, vào ngày mồng 1 tháng 8 năm thứ 17 cùng niên hiệu trên, ông đến sống ở Báo Ân Quang Hiếu Tự (報恩光孝寺), rồi trở về lại Thiên Ninh Vĩnh Tộ Tự. Đến năm thứ 19 (1359) niên hiệu Chí Chánh, ông xây dựng một ngôi chùa ở phía tây Thiên Ninh Tự, đặt tên là Tây Trai Tự (西齋寺) và lui về đó ẩn cư. Sau đó, ông phụng chiếu khai đường thuyết pháp ở Tương Sơn Tự (蔣山寺), Kim Lăng (金陵). Ông có mối thâm giao với Tống Cảnh Liêm (宋景濂). Vào ngày 26 tháng 7 năm thứ 3 niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 63 hạ lạp. Ông có để lại một số trước tác như Tịnh Độ Thi (淨土詩), Từ Thị Thượng Sanh Kệ (慈氏上生偈), Bắc Du Tập (北遊集), Phụng Sơn Tập (鳳山集), Tây Trai Tập (西齋集), Hòa Thiên Thai Tam Thánh Thi (和天台三聖詩), Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư Sơn Cư Thi (永明壽禪師山居詩), Đào Tiềm Thi (陶潛詩), Lâm Thông Thi (林通詩), v.v. Nhóm môn nhân Tổ Quang (祖光) của ông biên tập bộ Sở Thạch Phạm Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄) 20 quyển, lại còn có Chí Nhân (至仁) soạn bản Sở Thạch Hòa Thượng Hành Trạng (楚石和尚行狀). Tống Cảnh Liêm soạn văn Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư Tháp Minh (佛日普照慧辯禪師塔銘).
sở thủ
Grahya (skt)—Cái bị nắm lấy hay cái bị nhận thức—Seized, that which is perceived.
sở thủ năng thủ
Grahyagrahaka (skt)—Cái được nhận thức hay được hiểu, và cái nhận thức hay cái hiểu—That which is perceived or apprehended, and that which perceives or apprehends—See Năng Thủ.
Sở thủ 所取
[ja] ショシュ shoshu ||| (1) That which is known; the objects of consciousness; those objects which are grasped by the subjective consciousness. The objective standpoint. (Skt. grāhya, grāhya-bhūta; Tib. gzuṇ ba) 〔對法論T 1606.31.764a〕 (2) Objects of attachment. That which is grasped. 〔二障義 HPC 1.800a〕 => 1. Điều được biết; đối tượng của thức; những đối tượng được nắm bắt bởi nhận thức khách quan. Quan điểm chủ quan (s: grāhya, grāhya-bhūta; t: gzuṇ ba). 2. Đối tượng của chấp trước. Điều bị chấp trước.
sở tri
(所知) Tên khác của thức A lại da. Tông Duy thức lấy 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực làm pháp Sở tri. Thức A lại da là chỗ y chỉ của 3 tính, nên gọi thức này là Sở tri y. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (ngài Huyền trang dịch); Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. A Lại Da Thức).
sở tri chướng
3248梵語 jñeyāvaraṇa。指執著於所證之法而障蔽其真如根本智。又作智障、智礙。爲二障之一,「煩惱障」之對稱。謂眾生由於根本無明惑,遂迷昧於所知之境界,覆蔽法性而成中道種智之障礙,故稱智礙。 據大毘婆沙論卷一四一、大乘起信論、俱舍論光記卷一等載,不染污無知即所知障。成唯識論卷九、佛地經論卷七等皆謂,所知障是以執著遍計所執諸法之薩迦耶見爲上首,謂所有見、疑、無明、愛、恚、慢等諸法,其所發業與所得之果,悉攝於此中,皆以法執及無明爲根本,故此障但與不善、無記二心相應,凡煩惱障中必含攝此障。 另據菩薩地持經卷九謂,染污所知障者有皮、膚、骨等三種,歡喜住能斷皮障,無開發無相住能斷膚障,如來住能斷骨障。若於一切障清淨,則斷此三住之智障。〔解深密經卷四、入楞伽經卷八化品,成唯識論卷十、大乘起信論義疏卷上之下、卷下之上、華嚴五教章卷三〕
; Jeyāvaraṇa (S), shes sgrib (T), Cognitive obscurations, Knowledge hindrance Chấp trước pháp sở chướng, làm chướng ngại trí chân.
; Jneyàvarana (S). Hindrance of the one's own knowledge; the barrier of the known, arising from regarding the seeming as real.
; Tri kiến do bộ óc nhận thức được đều làm chướng ngại sự kiến tánh.
; Jneyavarana (skt)—Trở ngại của tri thức—Hindrance of knowledge—Thế gian trí thường coi sự vật như thật là một chướng ngại cho chân trí, thường đi kèm với phiền não chướng (trở ngại của các phiền não)—Worldly wisdom which assumes seeming as real which is a hindrance to true wisdom (the barrier of the known, arising from regarding the seeming as real), generally coupled with Klesavarana, hindrance of passions. ** For more information, please see Nhị Chướng (A) (2).
; (所知障) Phạn: Jĩeyàvaraịa. Cũng gọi Trí chướng, Trí ngại. Đối lại: Phiền não chướng. Chấp chặt vào pháp đã chứng được, khiền cho trí chân như căn bản bị ngăn che, là 1 trong 2 chướng. Do vô minh căn bản mà chúng sinh mờ mịt đối với cảnh giới sở tri, che lấp pháp tính mà trở thành chướng ngại cho chủng trí trung đạo, cho nên gọi là Trí ngại. Theo luận Đại tì bà sa quyển 141, luận Đại thừa khởi tín và Câu xá luận quang kí quyển 1 thì Bất nhiễm ô vô tri tức là Sở tri chướng. Còn luận Thành duy thức quyển 9 và Phật địa kinh luận quyển 7 thì cho rằng Sở tri chướng lấy Tát ca da kiến chấp trước các pháp biến kế làm đầu. Nghĩa là tất cả nghiệp phát khởi và quả thu được của các pháp Kiến, Nghi, Vô minh, Ái, Khuể, Mạn... đều bao hàm trong Sở tri chướng, đều lấy pháp chấp và vô minh làm căn bản, vì thế chướng này chỉ tương ứng với 2 tâm Bất thiện và Vô kí, trong tất cả phiền não đều có chướng này. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 9 thì Nhiễm ô sở tri chướng có 3 loại: Bì (lớp bên ngoài), Phu (lớp ở giữa) và Cốt (lớp trong cùng),bậc Hoan hỷ trụ đoạn được Bì, bậc Vô khai phát vô tướng trụ đoạn được Phu, bậc Như lai trụ mới đoạn được Cốt tủycủa Sở tri chướng. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; phẩm Hóa trong kinh Nhập lăng già Q.8; luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng phần cuối, Q.hạ phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3].
Sở tri chướng 所知障
[ja] ショチショウ shochishō ||| The noetic hindrances, also called "hindrance by the known", hindrances of the knowable, as well as known as "hindrances to wisdom" 智障 (jñeya-āvaraṇa). . These are the subtle hindrances of cognition, based primarily on a lack of full penetration into the principle of the emptiness of elemental constructs. In more everyday terms, it means to be hindered from attaining enlightenment by none other than our own knowledge, our own habituated way of knowing. That is, it is exactly what we think we know, which keeps us from enlightenment. The concept is originally developed in Yogācāra texts such as the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽師地論, Mahāyāna-saṃparigraha-śāstra 攝大乘論, etc., but can also be found in later East Asian works such as the Awakening of Faith 起信論 and Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. These hindrances are taught along with the afflictive hindrances 二障--the hindrances by karmically habituated passions. while the afflictive hindrances can be mostly eliminated by the contemplation techniques of the practitioners of the two vehicles, the most subtle of the noetic hindrances are only eliminated by the advanced compassion and wisdom of the bodhisattvas. They are referred to together as the "two types of hindrances." The most concentrated discussion of the Two Hindrances is to be found in Wŏnhyo's Doctrine of the Two Hindrances (Ijangŭi: 二障義). => Sự chướng ngại của lý trí, còn gọi là “ tri chướng”, chướng ngại của nhận thức, còn gọi là “trí chướng”(智障 s: jñeya-āvaraṇa). Đây là người chướng ngại vi tế của nhận thức, chủ yếu căn cứ vào thiếu sự thâm nhập vào nguyên lý tính không về sự cấu thành các pháp. Trong thuật ngữ thông dụng, nó có nghĩa là bị chướng ngại giải thoát không gì khác hơn là do tri kiến , do thói quen trong cách nhìn của chính mình. Nghĩa là, ta cứ nghĩ điều ta biết là đúng, chính điều ấy đã ngăn không cho ta được giác ngộ. Là khái niệm thường gặp trong các kinh văn của Du-già hành tông như Du-già sư địa luận, Nhiếp Đại thừa luận,v.v..., và cũng có thể gặp trong các kinh luận được phát triển ở Đông Nam Á sau nầy như Luận Đại thừa khởi tín và Kinh Viên Giác. Chướng ngại nầy được trình bày là đi cùng với phiền não chướng (Nhị chướng) là nghiệp chướng do tập khí ái nhiễm. Trong khi phiền não chướng hầu như có thể trừ diệt bằng pháp tu quán chiếu của hàng Nhị thừa, thì sở tri chướng vi tế chỉ có thể được trừ sạch bằng tu tập từ bi và trí tuệ của hàng bồ-tát. Thường được gọi chung là “nhị chướng”. Đề tài tập trung về Nhị chướng được tìm thấy qua tác phẩm Nhị chướng nghĩa (二障義e: Doctrine of the Two Hindrances; k: Ijangŭi) của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo).
Sở tri cảnh 所知境
[ja] ショチキョウ shochikyō ||| The objective realm that is known by the consciousnesses, which has six aspects: delusion 迷亂, the basis of delusion 迷亂所依, the basis of non-delusion 不迷亂所依, delusion in non-delusion 迷亂不迷亂, non-delusion 不迷亂, and that which is analogous with non-delusion 不迷亂等流. 〔對法論T 1606.31.764a3-8〕 => Cảnh giới khách quan được nhận biết bởi thức, gồm sáu phương diện: mê loạn迷亂, mê loạn sở y迷亂所依,, bất mê loạn sở y不迷亂所依, mê loạn bất mê loạn迷亂不迷亂, bất mê loạn不迷亂, và bất mê loạn đẳng lưu不迷亂等流.
sở tri y
3248爲阿賴耶識之異名。唯識宗以所立之遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性爲所知法,三性所依止者即阿賴耶識,故稱此識爲所知依。〔攝大乘論釋卷一(玄奘譯)、成唯識論述記卷三〕(參閱「阿賴耶識」3676)
; Xem A lại da thức.
; That on which all knowledge depends, i.e. the àlayavijnàna, the other vijnànas being derived from it.
; Là cơ sở cho mọi tri thức hay mọi pháp tốt xấu tùy thuộc vào, đây là tên khác của A Lại Da Thức—That on which all knowledge depends; another name for alaya-vijnana—See A Lại Da Thức. **For more information, please see Bát Thức.
Sở tri 所知
[ja] ショチ shochi ||| The known; that which is known; that which will be known; that which should be known; object of knowledge (jñeya). => Cái biết; điều nhận thức được; điều sẽ được biết; điều nên phải biết, đối tượng của cái biết (s: jñeya). .
sở trường
Strong point.
sở tuấn
5483(1262~1336)元代僧。浙江鄞縣人,俗姓黃。字明極。生性閑雅,不好戲弄。年十二,就靈嚴寺竹靵喜剃髮,未久參謁橫川如珙,晝夜精研,不遑寢食。既而聞虎巖淨伏之化盛,赴冷泉侍之,有所省悟。後於天童止泓鑒之會下,掌藏鑰,而於金陵奉聖寺出世,舉僧錄司,其後遷瑞巖、普慈兩剎,又轉雙林寺。未久解印,歷遊徑山、靈隱、天童、淨慈諸山,皆居第一座。至順元年(1330)東渡日本,醍醐天皇召參宮中,奏對愜旨,賜「佛日燄慧禪師」之號。乃開廣嚴寺,以師爲開山第一世。既而奉詔歷住南禪、建仁兩寺,釋氏之宿碩、儒宗之俊彥皆望風而至。建武三年示寂於建仁寺,世壽七十五。遺骨分藏雲澤、少林二塔。〔本朝高僧傳卷二十六、日本名僧傳〕
sở tác
3245<一>爲「能作」之對稱。指身、口、意三業之發動造作。身、口、意三業爲能作之主體,爲彼等所造作者即稱所作。無量壽經卷上(大一二‧二六六中):「亦無所作,亦無所有。」〔大乘中觀釋論卷四〕 <二>又作羯磨。即秉聖法辦事,而有成濟之功。(參閱「羯磨」6137)
; That which is done, or to be done, or made, or set up etc.
; To be done.
; (所作) I. Sở Tác. Đối lại: Năng tác. Chỉ cho sự phát động tạo tác của 3 nghiệp thân, miệng, ý. Ba nghiệp thân, miệng, ý là chủ thể năng tác, những cái do 3 nghiệp tạo tác ra gọi là Sở tác. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Cũng không có sở tác, cũng không có sở hữu. [X. Đại thừa trung quán thích luận Q.4]. II. Sở Tác. Cũng gọi Yết ma. Làm việc theo đúng Thánh pháp mà có công giúp thành. (xt. Yết Ma).
sở tác biện địa
Xem Dĩ Tác Địa.
sở tác tương tự quá loại
3246因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第十二。於因明對論中,立者(立論者)以所作性(因緣生)之總相來成立宗(命題),敵者(問難者)卻妄以別相試圖破斥對方而自招之過失。即敵者將因(理由)與同喻(由正面來說明論證之同類例喻)個個分離,以攻擊因之不成立。例如佛弟子立「聲是無常(宗),所作性故(因),如瓶等(喻)」之論式,外教徒欲破斥之,遂謂:「瓶由泥團而生,故可說應有所作;聲非泥團所生,故非所作性。」如是之難破,即由於不知所作性之總、別而起之過失。此種過失相當於世親如實論道理難品中所說之「事異難」。〔因明正理門論、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21)〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
; (所作相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thứ12 trong 14 lỗi Tự năng phá do ngài Túc mục, Tổ của Cổ nhân minh lập ra. Đây là lỗi do ngườivấn nạn với ý đồ xấu dùng mánh khóe đểbác bỏ lập luận của đối phương, nhưng thất bại và tự chuốc lấy lỗi. Nghĩa là khi tranh luận, người lập luận dùng Nhân (lí do) chính xác để chứng minh cho chủ trương của mình, nhưng người vấn nạn lại tách rời Nhân và Đồng dụ ra để công kích là Nhân của đối phương không thành lập được. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác ra. Dụ: Như cái bình. Đây là luận thức hoàn toàn chính xác, nhưng tín đồ ngoại đạo muốn bác bỏ mới bắt bẻ rằng: Cái bình là từ đất nặn thành, cho nên có thể nói là được tạo tác ra; nhưng âm thanh thì không từ đất nặn thành,vì thế nó không phải được tạo ra. Nạn phá như vậy là do không hiểu cái tướng chung của những vật thể được tạo tác ra nên mắclỗi. Loại lỗi này tương đương với Sự dị nạn nói đến ở phẩm Đạo lí nan trong luận Như thực của ngài Thế thân. X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
Sở tác 所作
[ja] ショサ sosa ||| (1) Duty, responsibility, obligation. That which should be done. The accomplishment of a goal. (2) The operation of the three modes of activity (thought, word, deed). Act, action, activity, deed, function (kriyā). Ability. (3) That which has been created. => 1. Phần việc làm, trách nhiệm, nghĩa vụ. Việc phải làm. Sự thành tựu mục đích. 2. Quá trình hoạt động của ba hành vi (thân, khẩu, ý). Hành động, công việc, sự hoạt động, hành vi, chức năng (s: kriyā). Năng lực. 3. Điều được tạo ra.
sở tín
See Năng Tín.
sở tướng năng tướng
Lashyalakshana (skt)—Cái nêu định và cái được nêu định—Predicating and predicated.
sở tạo sắc
3249略稱所造。指一切色法皆爲地、水、火、風等四大種所造作,故稱所造色;而四大種則是能造。依成實論,四塵爲能造,五根爲所造,四大種則通於能造、所造。〔大毘婆沙論卷一二七、成實論大實有品〕(參閱「四大」1649、「能造所造」4297)
; (所造色) Gọi tắt: Sở tạo. Chỉ cho tất cả các sắc pháp đều do 4 đại đất, nước, lửa, gió tạo ra, vì thế gọi là Sở tạo sắc, còn 4 đại là Năng tạo. Theo luận Thành thực thì 4 trần (sắc, hương, vị, xúc) là Năng tạo, 5 căn (nhãn, nhĩ,tị, thiệt, thân) là Sở tạo, còn 4 đại thì vừa là Năng tạo vừa là Sở tạo. [X. luận Đại tìbà sa Q.127; phẩm Đại thực hữu trong luận Thành thực]. (xt. Tứ Đại, Năng Tạo SởTạo).
Sở tạo 所造
[ja] ショゾウ shozō ||| The creation (of objects) out of basic (four) elements 四大. The composition of material phenomena from the basic elements (bhautika-ārthya). 〔瑜伽論 T 1579.30.279a〕 => Sự tạo thành (vật thể) từ bốn yếu tố cơ bản (tứ đại 四大). Sự cấu tạo của các hiện tượng vật chất từ các yếu tố cơ bản (bhautika-ārthya).
sở vi lượng
3249因明用語。又稱前量。乃因明論式中,立者(立論者)所立之比量。比量,指經由推論比較所獲得之知識。敵者(問難者)用以對抗立者之比量,稱爲後量或能違量。所違量與能違量各是因(理由)、喻(譬喻)俱正之比量,故難以判定立、敵孰是孰非。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; (所違量) Cũng gọi Tiền lượng. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Tỉ lượng trong luận thức Nhân minh do người lập luận lập ra. Tỉ lượng chỉ cho sự hiểu biết do suy luận so sánh mà có được. Tỉ lượng của người vấn nạn (địch luận) dùng để chống lại người lập luận,gọi là Hậu lượng hoặc Năng vi lượng. Sở vi lượng và Năng vi lượng đều làtỉ lượng chính xác của Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ), cho nên khó định đoạt giữa người lập luận và người vấn nạn ai đúng ai sai. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
sở viên
5484(986~1039)宋代禪僧。全州清湘(廣西桂林)人,俗姓李。少爲儒生,潛心舉業。二十二歲迴心向道,於湘山隱靜寺得度。未久遊襄沔之門,與守芝谷泉結伴入洛陽。聞善昭之道望爲天下第一,遂赴汾州,依止二年仍未許入室。每見必詬罵,或毀詆諸方,所訓亦皆流俗之鄙事。師一夕訴之,語未竟,昭熟視而罵曰(大五一‧四八二上):「是惡知識,敢裨販我!」舉杖逐之。師欲伸解,昭更掩其口。師忽大悟,曰:「是知臨濟道出常情。」遂服役約十二年(一說七年),盡領其旨。後至并州,訪唐明智嵩,更與當世名士楊大年、李遵勗時聚論道。後欲歸鄉省母,過筠州(四川),於洞山見曉聰,依止三年,又遊仰山。時楊大年寄書宜春太守黃宗且,請師住於袁州(江西)南源廣利寺,居三年,辭而省母。又謁神鼎洪諲。洪諲大加讚賞,由是聲名大揚。既主潭州(湖南)道吾之席,次住石霜山崇勝寺,又轉南嶽福嚴寺,後遷潭州興化寺。寶元二年正月於潭州興化寺示寂,世壽五十四。諡號「慈明禪師」。垂寂之際,感染風疾,口吻已斜,侍者泣曰:「奈何平生呵佛罵祖,今乃爾!」師聞,以手正之,垂目而化。法嗣五十人中,以黃龍慧南、楊岐方會最爲知名,且各成一派。遺有石霜楚圓禪師語錄一卷(慧南重編)。〔續傳燈錄卷三、禪林僧寶傳卷二十一〕
; (楚圓) (986-1039) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Thanh tương, Toàn châu (huyện Quế lâm, tỉnh Quảng tây), họ Lí. Thủa nhỏ sư là 1 Nho sinh, rắp tâm theo đuổi sự nghiệp Khoa cử. Năm 22 tuổi, sư hồi tâm theo đạo Phật, xuất gia ở chùa Ẩn tĩnh tại Tương sơn. Không bao lâu, sư đến cửa Tương miễn, kết bạn với ngài Thủ chi Cốc tuyền cùng vào Lạc dương. Nghe tiếng tăm ngài Thiện chiêu là bậc nhất trong thiên hạ, sư bèn đến Phần châu, nương tựa ngài được 2 năm nhưng vẫn chưa được nghe pháp yếu. Mỗi lần thấy sư thì ngài Thiện chiêu lại chửi mắng, hoặc chê bai các nơi, có dạy bảo điều gì cũng chỉ là việc tầm thường của thế tục. Một hôm, sư đến trách ngài, chưa dứt lời thì ngài nhìn chằm chằm vào sư mà mắng rằng (Đại 51, 482 thượng): Ác tri thức này dám chê bai ta! rồi giơ gậy lên đuổi. Sư định giải thích, ngài liền bụm miệng. Sư chợt đại ngộ, thưa rằng: Thế mới biết đạo của Lâm tế vượt ngoài thường tình. Sư hầu hạ ngài Thiện chiêu khoảng 12 năm (có thuyết nói 7 năm), lãnh hội hết yếu chỉ của ngài. Sau, sư đến Tinh châu tham vấn ngài Đường Minh Trí tung, lại cùng với các bậc danh sĩ đương thời như Dương Đại Niên, Lí tuân úc thường họp bàn về đạo lí. Sư muốn về làng thăm mẹ, nhưng khi đi ngang qua Quân Châu (tỉnh Tứ Xuyên), sư gặp ngài Hiểu Tở Động Sơn, y chỉ ngài 3 năm, rồi lại đến Ngưỡng Sơn. Lúc đó, Dương Đại Niên gửi thư cho quan Thái thú Nghi xuân là Hoàng Tông Thả thỉnh sư đến trụ trì chùa Quảng Lợi ở Nam Nguyên tại Viên Châu (tỉnh Giang Tây). Ở đó được 3 năm, sư từ biệt về thăm mẹ. Sau đó, sư lại đến tham yết ngài Thần đỉnh Hồng Nhân. Ngài Hồng Nhân rất khen ngợi sư, từ đó danh tiếng sư lừng lẫy. Lúc đầu, sư làm Thủ tọa ở đạo tràng của ngài Đạo ngộ tại Đàm Châu (tỉnh Hồ Nam), kế đến trụ chùa Sùng Thắng ở núi Thạch Sương, rồi lại dời đến ở chùa Phúc nghiêm tại Nam nhạc; cuối cùng, lại dời đến trụ chùa Hưng hóa ở Đàm Châu. Tháng giêng năm Bảo Nguyên thứ 2 (1039), sư thị tịch ở chùa Hưng Hóa tại Đàm Châu, thọ 54 tuổi, thụy hiệu Từ Minh Thiền Sư. Trong 50 vị đệ tử nối pháp, nổi tiếng nhấtlà các sư Hoàng Long Tuệ Nam và Dương Kì Phương Hội, mỗi vị này lại thành lập 1 phái riêng. Sư có tác phẩm: Thạch Sương Sở Viên thiền sư ngữ lục 1 quyển (do ngài Tuệ nam biên chép lại). [X. Tục truyền đăng lục Q.3; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.21].
sở viện từ minh thiền sư
Zen master Zhi-Ming-Chu-Yuan—See Từ Minh Sở Viện Thiền Sư.
Sở văn 所聞
[ja] ショモン shomon ||| That which one hears; that which one is taught, or believes. => Điều mình nghe được; điều mình được dạy hay tin nhận.
sở vương anh
5482後漢光武帝之子,孝明帝之弟。爲我國正史上所載信仰佛教之第一人。據後漢書列傳第三十二載,英少時好遊俠,與賓客交遊,晚年更喜黃老之學,行浮屠之齋戒祭祀。同書列傳第七十八天竺國條亦謂:「楚王英始信其術(佛道),中國因此頗有奉其道者。」此足證楚王英所奉之佛教猶屬祠祀方術之類。〔佛祖統紀卷三十五、佛祖歷代通載卷四、釋氏稽古略卷一、後漢紀卷十〕
; (楚王英) Con của vua Quang Vũ đế đời Đông Hán, Trung quốc, là em của vua Hiếu minh đế. Theo chính sử của Trung quốc thì ông là người đầu tiên tin theo Phật giáo. Cứ theo Liệt truyện thứ 32 trong Hậu Hán thư thì lúc còn trẻ, Vương anh thích làm hiệp sĩ, giao du với các tôn khách, về già, ông lại thích học thuyết của Hoàng lão, thực hành trai giới cúng lễ theo Phật giáo.Điều Thiên Trúc quốc trong Liệt truyện thứ 78 củaHậu Hán thư nói: Sở vương anh là người đầu tiên tin đạothuật ấy (đạo Phật), nhân đó Trung quốc có rất nhiều người thờ phụng đạo Phật. Điều này đủ chứng tỏ nền Phật giáo mà Sở vương anh tin thờ cũng chỉ thuộc loại phương thuật cúng tế. [X. Phật tổ thống kỉ Q.35; Phật tổ lịch đại thông tải Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.1; Hậu hán kỉ Q.10].
Sở vọng 所望
[ja] ショモウ shomō ||| That which is expected, hoped for, waited for, or anticipated. => Điều hy vọng, trông chờ vào, trông đợi, mong đợi.
sở y
3247梵語 āśraya,巴利語 assaya。<一>爲「能依」之對稱。含有被依之意。在唯識學中,將諸八識心、心所生起時所依止仗託者,稱爲所依,計有三種,即:(一)因緣依,又作種子依。指諸有爲法生起之因,亦即一切諸法各自之種子。(二)增上緣依,又作俱有依。指心、心所法起轉之所依,即指內六處。(三)等無間緣依,又作開導依。指心、心所法現起之所依,即「前滅」之意。 又成唯識論卷四在闡明諸識之俱有依時,分別依與所依兩種,認爲「依」乃通於一切生滅之法,如大王與臣子互相依等。「所依」即內六處,限於五根及意根,而必具有決定、有境、爲主、取自所緣等四義,始得稱爲俱有所依。而作爲諸八識之俱有所依,於前五識有同境依(五根)、分別依(第六識)、染淨依(第七識)、根本依(第八識)四種,第六意識則有第七識、第八識二種,第七末那識唯有第八識一種,第八阿賴耶識亦僅有第七識一種。以上復有共依、不共依之別,共依,即共通之所依;不共依,即獨自所依之意。此外,經論中亦多有以能作爲物之依止者,稱爲所依。如瑜伽師地論卷九十九中,於梵行者應安住之所依,列舉村田所依、居處所依、補特伽羅所依、諸衣服等資具所依、威儀所依等五種。另如諸宗派之根本教旨,有所謂正所依、傍所依之經論等,皆爲其例。〔顯揚聖教論卷二、大毘婆沙論卷一二七、瑜伽師地論卷一、卷五十五、成唯識論述記卷四、成唯識論掌中樞要卷下本〕(參閱「依」3051)、「能依」4295) <二>因明用語。在因明立量(論式)上,指宗(命題)之前陳(主詞)。因明入正理論(大三二‧一一下):「虛空實有,德所依故,對無空論,所依不成。」蓋因明中規定,宗之前陳爲體,乃因(理由)所依屬之法,故稱所依。〔因明入正理論疏卷中末、因明論疏明燈抄卷五、因明論疏瑞源記卷五〕(參閱「所依不成過」3248)
; Aśraya (S), Basis, Asaya (P)Điều được/bị nương tựa; căn bản.
; Asraya (S). That on which anything depends, the basis of the vijnànas. Abode, deposit.
; Asraya (skt)—Cơ sở mà mọi thứ phải tùy thuộc vào, hay căn bản của các thức. Đây là sự chuyển biến hay đột chuyển xãy ra giữa căn bản của tâm thức, nhờ đó người ta có thể nắm được cái chân lý thâm sâu nhất của tất cả sự hiện hữu, mà giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc của phân biệt. Tất cả việc tu tập trong Phật giáo đều nhằm vào cái biến cố nầy, không có nó sẽ không có sự cải tiến nào cả. Khi người ta hiểu thông rằng thế giới bên ngoài chỉ là sự biểu hiện của chính tâm mình; thì có một sự đột chuyển từ căn bản của phân biệt, đấy là sự giải thoát chứ không phải là sự hủy diệt. Sự đột chuyển nầy là chân như, là chỗ trú thoát ngoài sự phân biệt—That on which anything depends, the basis of the vijnanas. This is a sudden revulsion or turning over which takes place at the basis of consciousness, whereby we are enabled to grasp the inmost truth of all existence, liberating us from the fetters of discrimination. All the Buddhist discipline aims at this catastrophe, without which there is no permanent conversion at all. When it is thoroughly comprehended that the external world is no more than the manifestation of one's own mind, there is a revulsion at the basis of discrimination, which is emancipation and not destruction. The revulsion is Suchness; the abode is free from discrimination—See Năng Y.
; (所依) Phạn: Àzraya. Pàli:Assaya. I. Sở Y. Đối lại:Năng y. Chỗ được nương tựa. Duy thức học gọi cái chỗ mà khi 8 thức tâm, tâm sở sinh khởi nương vào, gá vào là Sở y. Có 3 loại: 1. Nhân duyên y (cũng gọi Chủng tử y): Chỉ cho nhân sinh khởi của các pháp hữu vi, cũng tức là chủng tử của mỗi pháp trong tất cả các pháp.2. Tăng thượng duyên y (cũng gọi Câu hữu y): Chỉ cho chỗ nương của tâm, tâm sở pháp khi khởi chuyển, tức chỉ cho Nội lục xứ. 3. Đẳng vô gián duyên y (cũng gọi Khai đạo y): Chỉ cho chỗ nương hiện khởi của tâm, tâm sở pháp, tức là nghĩa tiền diệt. Luận Thành duy thức quyển 4, khi giải thích rõ về Câu hữu y của các thức, có phân biệt Y và Sở y, cho rằng Y là chung cho tất cả pháp sinh diệt, như vua và các quan nương lẫn nhau. Còn Sở y tức là Nội lục xứ, chỉ giới hạn ở 5 căn, và ý căn, phải có đủ 4 nghĩa: Quyết định, có đối tượng, làm chủ và giữ lấy cái mình duyên theo, mới được gọi là Câu hữu sở y. Trong 8 thức thì Câu hữu sở y của 5 thức gồm 4 loại: Đồng cảnh y (5 căn), Phân biệt y (thức thứ 6), Nhiễm tịnh y (thức thứ 7) và Căn bản y (thức thứ 8); ý thức thứ 6 thì có 2 loại Câu hữu sở y là thức thứ 7 và thức thứ 8, thức mạt na thứ 7 chỉ có 1 loại là thức thứ 8, thức thứ 8 cũng chỉ có 1 loại là thức thứ 7. Trên đây lại có Cộng y và Bất cộng y khác nhau. Cộng y là sở y chung, còn Bất cộng y là sở y riêng. Ngoài ra, trong kinh luận cũng có nhiều chỗ gọi cái có thể làm chỗ nương cho sự vật là Sở y. Như luận Du già sư địa quyển 99 có liệt kê 5 thứ Sở y mà người phạm hạnh nên an trụ là: Thôn điền sở y, Cư xứ sở y, Bổ đặc già la sở y, Chư y phục đẳng tư cụ sở y và Uy nghi sở y. Còn như giáo chỉ căn bản của các tông phái thì có các kinh luận chính sở y và bàng sở y... đều thuộc về nghĩa sở y nói ở đây. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.2; luận Đại tìbà sa Q.127; luận Du già sư địa Q.1, 55; Thành duy thức luận thuật kí Q.4; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ, phần đầu]. (xt.Y, Năng Y). II. Sở Y. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ) nói: Hư không có thật vì nó là sở y của muôn vật, nếu chấp hư không chẳng có thật thì nghĩa sở y không thành. Bởi vì trong Nhân minh qui định rằng danh từ trước của Tông là thể, là pháp sở y của Nhân (lí do), cho nên gọi là Sở y. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung, phần cuối].
sở y bất thành quá
3247因明用語。所依不成,梵語 āśraya-asiddha。爲因明三十三過中,因(理由)四不成過之一。所依,指因明三支作法中,宗支(命題)之有法,又稱前陳(主詞);不成,「不極成」之略稱,爲「不成就」之義,即非爲雙方所共同認可而無從成立。此一過誤,即因支所依的宗之有法不能成立所招致之過失。蓋因明中規定,宗之有法與法(後陳,即賓詞)均須爲立(立論者)、敵(問難者)雙方所共同認可,其中,有法乃因之所依,若敵者不認可,有法即不成立,此時亦無必要再進一步舉示因支乃至喻支(譬喻),稱爲所依不成。例如勝論師對無空論者提出「虛空實有,德所依故」之論式,其中宗支之主詞「虛空」乃勝論師所認可,然爲無空論者所否定,蓋無空論者以「虛空」爲「無體」之故。如此則不能成立,即犯此所依不成之過。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷中、因明論疏瑞源記卷五〕
; (所依不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở y bất thành, Phạn: Àzraya-asiddha. Sở y (cũng gọiTiền trần) chỉ cho Hữu pháp của chi Tông(mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh; Bất thành(gọi đủ: Bất cực thành) nghĩa là không thành tựu. Sở ybất thành là 1 trong 4 lỗi Bất thành về Nhân (lí do) trong 33 lỗi của Nhân minh, tức là không được cả 2 bên chấp nhận nên Nhân không thành lập được. Bởi vì Nhân minh qui định rằng danh từ trước (tiền trần)và danh từ sau(hậu trần)của Tông đều phải được cả người lập luận và người vấn nạn chấp nhận, trong đó, danh từ trước là Sở y của Nhân(lí do) nếu đối phương không chấp nhận thì không thành lập được, như vậy thì chi Nhân và chi Dụ (thí dụ) cũng không thành lập được, gọi là Sở y bất thành. Như Thắng luận sư đối với Vô không luận sư mà lập luận thức: Hư không là có thật, vì nó là sở y của muôn vật, trong đó, danh từ trước của Tông là Hư không được Thắng luận sư chấp nhận nhưng không được Vô không luận sư thừa nhận, vì Vô không luận sư chủ trương Hư không không có thể thực. Do đó, không thể thành lập và bị lỗi Sở y bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5].
Sở y sở duyên 所依所縁
[ja] ショエショエン shoeshoen ||| Bases and objects, both of which are necessary for the development of discriminations. 〔二障義 HPC 1.800a; 瑜伽論 T 1579.30.582a〕 => Chỗ y cứ và đối tượng, cả hai đều cần thiết cho sự phát huy tính phân biệt
sở y đế
Xem Thật.
Sở y 所依
[ja] ショエ shoe ||| (āśraya, niśraya, vastu, adhisthāna) (1) That on which something depends. A basis, a ground, a foundation. For example, the visual consciousness depends one the "bases" of the eye organ 眼 and form 色. (2) A shelter, a person or place to depend upon. Fact, reality. (3) Basis, foundation. As the basis for transmigratory existence, the ālaya-vijñāna 阿頼耶識. (4) To supervise, manage, survey (adhisthāyaka). (5) To be managed, controlled, guided. => 1. Điều mà các pháp y cứ vào mà phát sinh. Cơ sở, căn cứ, nền tảng. Chẳng hạn nhãn thức y cứ vào 'cơ sở' là nhãn căn và sắc. 2. Nơi nương tựa, là người hay nơi chốn để y cứ vào. Cơ sở lập luận, thực tế. 3. Căn bản, nền tảng. Là cơ sở tạo nên luân hồi, là A-lại-da thức. 4. Giám sát, quản lý, khảo sát (s: adhisthāyaka). 5. Được kiểm soát, bị điều khiển, được hướng dẫn.
sở đoạn
Heya (S).
sở đoản
Weakness.
sở đắc chân lý
To attain the truth.
Sở đắc 所得
[ja] ショトク shotoku ||| (upalambha, apalabdhi). (1) Acquisition, realization, cognition. (2) View, opinion. The view of the essential truth of the Buddha-dharma gained through the path of study and practice. (3) The discriminating mind that picks and chooses. (s: upalambha, apalabdhi). => 1. Sự đạt được, chứng ngộ được, nhận thức được. 2. Quan điểm, ý kiến. Quan niệm về bản chất chân lý Phật pháp đath được thông qua con đường tu học. 3. Tâm phân biệt chọn lựa.
Sở ưng 所應
[ja] ショオウ shoō ||| (1) To act accordingly, respond appropriately; to fit to the shape. (2) To wish for, hope for. (3) That which should be done. 〔二障義HPC 1.681d〕 => 1. Hành động một cách xứng hợp, đáp ứng một cách thích đáng; hợp với sự định hướng. 2. Ước nguyện, mong muốn. 3. Điều nên được làm.
Sở 所
[ja] ショ sho ||| (1) An indicator of the object or the passive. That which... Whereby. (2) Place, location, scene, situation. (3) Extent, to a certain extent. (4) Object (sthāna). => 1. Từ chỉ thị cho đối tượng hay quá khứ. Cái mà... nhờ đó mà... 2. Nơi chốn, địa điểm, quang cảnh, vị trí. 3. Phạm vi, đến mức nào đó. 4. Đối tượng, khách thể (s: sthāna). .
sợ
To be afraid of—To fear—To dread—To feel (be) frightened—To apprehend.
sợ chết
To be afraid of (fear) death.
sợ cuống chân
Paralyzed with fear.
sợ hãi
Bhaya (S), Fear Khủng bố.
; Fear.
sợ hãi chỉ là trạng thái tâm thần
Fear is only a state of mind.
sợ hết hồn
To be frightened out of one's wits.
sợ nhân quả
To fear of cause and Effect.
sợ run
To tremble (shiver—quiver) with fear.
sợi dây ràng buộc
Bandha (S), Bondage.
sụ mặt
Sad face.
sục sạo
To search—To make (conduct) a search.
sụm
To drop on one's knees.
sụp
To fall in—To collapse—To come (go) down.
sụt
To lower—To decrease—To diminish.
sủng
Ân sủng—Favour—Grace.
sủng ái
To love.
sủy thực
(揣食) Phạn: Kavađiô - kàràhàra hoặc Kavalì - Kàràhàra. Pàli: Kabaliíkàràhàra. Cũng gọi Đoàn thực, Đoạn thực, Kiến thủ thực. Vê nhuyễn thức ăn thành viên để ăn. Đây là cách ăn của người Ấn độ, 1 trong 4 cách ăn. Ngoài ra, Sủy thực cũng chỉ cho tất cả thức ăn của cõi Dục. Thức ănởcõi Dục lấy 3 trần hương, vị, xúc làm thể, vì chia ra từng phần, từng đoạn mà ăn để nuôi sống, duy trì sinh mệnh nên gọi là Đoạn thực.[X. luận Câu xá Q.10; luận Thành duy thức Q.4; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5]. (xt. Tứ Thực).
sứ chú pháp kinh
3061全一卷。唐代菩提流支譯。收於大正藏第二十一冊。內容敘述歡喜天毘那夜迦之儀軌,包括一字咒、像法供養法、偈頌、處世陀羅尼等。菩提流支另譯有大使咒法經,爲本經之廣本,內容大同小異。
; (使咒法經) Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh nói về nghi quĩ của Hoan hỉ thiên Tì na dạ ca, bao gồm Nhất tự chú, Tượng pháp cúng dường pháp,Kệ tụng, Xử thế đà la ni... Ngài Bồ Đề Lưu Chí còn dịch kinh Đại Sử Chú Pháp, là quảng bản của kinh này, nội dung phần lớn giống nhau, chỉ khác nhau chút ít.
sứ giả
3061梵語 ceṭaka。音譯作制吒迦。即傳達佛菩薩之教命、慈悲予眾生者。又梵語 ceṭī(制底)、dūta(度多)、dūtī(度底)等亦可譯作侍者、使者、使者女等。度多、度底爲佛菩薩之傳使;制吒迦、制底有僕婢之義,乃爲完成佛菩薩之本誓而精勤努力者。此外,度多、制吒迦爲男性使者,度底、制底爲女性使者。密教胎藏界現圖曼荼羅之觀音院、金剛手院、文殊院等多繪有此類使者,不空羂索經亦常述及。 又使者名稱之前多冠以所屬部院之名,如觀音院之使者,稱蓮華使者、蓮華部使者;金剛手院之使者,稱金剛使者。另有依所供奉本尊之本誓而冠以特殊名稱者,如奉教使者、寶供養使者、燒香供養使者等。該類使者多呈天女形,或雙膝跪坐,或單膝胡跪。
; Ceti (S), Cetaka (S); Duti (S); Duta (S).
; Messenger—Men of noble countenance.
; (使者) Phạn: Ceỉaka,Ceỉì, Dùta, Dùtì. Hán âm: Chế tra ca, Chế để, Độ đa, Độ để. Người truyền đạt mệnh lệnh giáo hóa và lòng từ bi của Phật, Bồ tát cho chúng sinh.Trong tiếng Phạn, các chữ Ceỉì (chế để),Dùta (độ đa) và Dù tì (độ để) cũng có thể dịch là Thị giả, Sứ giả, Nữ sứ giả... Độ đa, Độ để là truyền sứ của Phật và Bồ tát; Chế tra ca, Chế để nghĩa là nô bộc, nô tì, là những người gắng sức, siêng năng hoàn thành bản thệ của Phật và Bồ tát. Ngoài ra, Độ đa, Chế tra ca là các sứ giả nam, còn Độ để, Chế để là các sứ giả nữ. Trong các viện như: Quán âm, Kim cương thủ, Văn thù... của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, phần nhiều đều có vẽ các loại sứ giả này; trong kinh Bất không quyên sách cũng thường được nói đến. Ngoài ra, tên của các bộ, viện sở thuộc phần nhiều được đặt trước tên của sứ giả, như sứ giả của viện Quán Âm thì gọi là Liên hoa sứ giả, Liên hoa bộ sứ giả; sứ giả của viện Kim cương thủ thì gọi là Kim cương sứ giả... Còn có khi căn cứ vào bản thệ của Bản tôn mà vị sứ giả cung phụng để gọi tên như: Cung phụng sứ giả, Bảo cúng dường sứ giả, Thiên hương cúng dường sứ giả... Loại sứ giả này thường mang hình thiên nữ, hoặc quì 2 gối, hoặc quì 1 gối.
sứ giả như lai
A messenger of the Tathagata.
sứ mạng
Mission.
sứ đồ
Apostle.
sức
Trang sức—To adorn.
sức khỏe
Health.
sức lực
Strength.
sức mạnh
Forces.
sức mạnh thiên nhiên
Natural forces.
sức mạnh tinh thần
Thought-power.
sức nghe
Power of hearing—Audition.
sức ép
Pressure.
sừng sững
To stand motionless.
sừng thỏ
xem lông rùa, sừng thỏ.
Sử
使; C: shǐ; J: shi.|1. Phiền não, nhiễm ô, ưu phiền, sai khiến; vì sự sai sứ »khiến« cho con người làm đủ mọi việc; 2. Phiền não tiềm ẩn (= tùy miên 隨眠); 3. Theo luận Thập địa Tì-bà-sa (十地毘婆娑論), Sử được nhìn nhận như những Căn bản phiền não (根本煩惱), phân biệt với Cấu, được xem như là Tùy phiền não (隨煩惱); 4. Là 98 sử (九十八使); 5. Nếu, giả sử.
sử
3061煩惱之異名。全稱正使。因煩惱驅使吾人流轉於迷之世界(生死),故稱煩惱爲使。與隨眠同義。於十隨眠中,屬見性者爲有身見、邊執見、邪見、見取見、戒禁取見等五見,其推求道理之性質較爲猛利,故稱五利使;其餘之貪、瞋、癡、慢、疑之性質,則較遲鈍而難以制伏,故稱五鈍使。(參閱「五利使」1096、「五鈍使」1164、「正使」1988、「隨眠」6351)
; To send, cause; a messenger sứ; a pursuer, molester, lictor, disturber, troubler, intp as phiền não klesa, affliction, distress, wordly cares, vexations, and as consequent reincarnation. There are categories of 10, 16, 98, 112 and 128 such troublers, e.g. desire, hatred, stupour, pride, doubt, erroneous views, etc. leading to painful results in future rebirths, they are karma-messengers executing its purpose.
; 1) History. 2) To order—To command. 3) Klesa (skt)—“Sử” là tên khác của phiền não hay những lo âu thế gian, dẫn đến luân hồi sanh tử. Chúng là những trở ngại như ham muốn, thù ghét, cao ngạo, nghi ngờ, tà kiến, vân vân, dẫn đến những hậu quả khổ đau trong tương lai tái sanh, vì chúng là những sứ giả bị nghiệp lực sai khiến—Affliction, distress, worldly cares, vexations, and as consequent reincarnation. They are such troubles as desire, hate, stupor, pride, doubt, erroneous views, etc., leading to painful results in future rebirths, for they are karma-messengers executing its purpose.
; (使) Gọi đủ: Chính Sử. Tên khác của phiền não. Vì phiền não xui khiến con người rong ruổi trong thế giới mê vọng, cho nên gọi phiền não là Sử (sai khiến). Sử đồng nghĩa với Tùy miên. Trong 10 Tùy miên, có 5 Kiến thuộc về tính thấy là: Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Tính chất suy cầu đạo lí của 5 kiến này rất linh lợi nên gọi là Ngũ lợi sử. Còn tính chất của tham, sân, si, mạn, nghi thì chậm lụt và khó điều phục, nên gọi là Ngũ độn sử. (xt. Ngũ Lợi Sử, Ngũ Độn Sử, Chính Sử, Tùy Miên).
sử dụng
To employ—To utilize—To use—To exercise.
sử lợi na cách lạp
1620梵名 Śrīnagara,巴利名 Sirīnagara。古印度迦濕彌羅國(梵 Kaśmīra)首府。有新舊兩都,舊都為阿育王(梵 Aśoka)所創建,於刻文中稱為 Sirinagara,亦稱 Purāṇādhiṣṭhāna。其位置,約在今之旁哆雷坦(梵 Pāndreṭhan),距新都之南五公里之地。在大王統史(巴 Mahāvaṃsa)中,最初提到佛教之記事,即記載營造此舊都之事。新都為普拉瓦薛納(梵 Pravasena)二世所創建,亦稱為普拉瓦拉普納(梵 Pravarapura),相當於今之史利那加(Srinagar )。在大唐西域記卷三迦濕彌羅國之條,即以「新城」、「故城」稱其新舊兩城。
; (史利那格拉) Phạn: Zrìnagara. Pàli: Sirìnagara. Thủ phủ của nước Ca thấp di la (Phạn: Kazmìra) ở Ấn Độ đời xưa, có Tân và Cựu đô, Cựu đô do vua A Dục (Phạn: Azoka) sáng lập, trongvăn khắc (văn khắc trên các vách đá – Ma nhai) gọi là Sirinagara, cũng gọi là Puràịàdhiwỉhàna. Vị trí của Cựu đô này có lẽ nằm khoảng Vùng Pàndreỉhan hiện nay, cách Tân đô 5 cây số về phía nam. Trong Đại vương thống sử (Pàli:Mahàvaôsa), kí sự về Phật giáo được đề cập đầu tiên là nói về việc xây dựng Cựu đô này. Tân đô do Phổ lạp ngoã bệ nạp (Phạn: Pravasena) đời thứ 2 sáng lập, cũng gọi là Phổ lạp ngõa lạp phổ nạp (Phạn: Pravarapura), tương đương với Sử lợi na gia (Srinagar) ngày nay. Điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3 gọi 2 Tân đô và Cựu đô này là Tân thành và Cố thành.
sử lợi phạt y tư na phạt phái
1620史利伐依斯那伐,梵名 Śrīvaiṣṇava。為印度教毘濕奴派之潘迦拉朵拉派(梵 Pāñcarātra)之一。在七至十世紀間,由一群在南印度塔米爾(Tamil)地方崇拜毘濕奴之吟遊詩人所創立。其主張嚴禁對毘濕奴及其配偶神化身以外之一切禮拜,不承認有羅達(梵 Rādhā,吉栗瑟拏之配偶神)。其讚歌以達羅毘荼(Dravida)音樂唱和之,乃其一大特色。十一世紀時,因主張「制限不二」說之羅摩拏遮的領導,本派聲勢更盛。至十三世紀左右,分裂為南方派(梵 Teṅgalai)與北方派(梵 Vadagalai),迄今對立猶然。北方派尊重讚歌與吠陀,受性力派(梵 Śakti)之影響,尤以強調配偶女神之恩寵,此與南方派形成截然之分野。(參閱「毘紐天教」3854)
sử man nhĩ tháp phái
Smartha (S)Một tông phái Bà la môn Ấn độkhoảng 400 - 200 BC.
sử mạn nhĩ tháp phái
1622史曼爾塔,梵名 Smārta。印度教之一派。此派依據之根本要典為聖傳(梵 Smṛti),尤其是家庭經(梵 Gṛhya-sūtra),於家庭內實修種種簡明之祭祀儀禮,後擴大範圍成為一派流行。其特色為禮拜五神:毘濕奴(梵 Viṣṇu)、濕婆(梵 Śiva)、杜爾嘉(梵 Durgā)、太陽神(梵 Sūrya)、智慧學問之神(梵 Gaṇeśa),即以五所供養為日常祈禱。其宗教性之實修,係以六派哲學中彌曼差學派之教說為基礎;哲學性之教理,則以吠壇多學派商羯羅(梵 Śaṅkarācārya)之「不二一元」說為依據。故其派祖或謂彌曼差學派之鳩摩利羅(梵 Kumārila),或謂商羯羅。現今,此派於南印度及西印度奉商羯羅之學說,禮儀嚴格,北印度較為自由。
; (史曼爾塔派) Sử man nhĩ tháp, Phạn: Smàrta. Một trong các phái thuộc Ấn Độ giáo. Kinh điển căn bản mà phái này y cứ là Thánh truyện (Phạn: Smfti), nhất là kinh Gia đình (Phạn: Gfhya-sùtra), trong gia đình thực hành các nghi lễ cúng tế giản dị rõ ràng, về sau mở rộng phạm vi, trở thành 1 phái lưu hành tại Ấn Độ. Đặc sắc của phái này là ở chỗ lễ bái 5 vị thần: Tì thấp nô (Phạn: Viwịu), Thấp bà (Phạn: Ziva), Đỗ nhĩ gia (Phạn: Durgà), thần Thái dương (Phạn: Sùrya) và thần Học vấn (Phạn: Gaịeza), tức lấy việc cúng dường 5 vị thần này làm sự cầu nguyện hàng ngày. Sự thực tu có tính tông giáo của phái này là lấy giáo thuyết của học phái Di Mạn Sai trong 6 phái Triết học làm cơ sở; còn giáo lí có tính triết học thì lấy thuyết Bất nhị nhất nguyên của Thương yết la (Phạn: Zaíkaràcàrya), thuộc học phái Phệ Đàn Đa làm chỗ y cứ. Vì thế nên có thuyết cho rằng: Tổ khai sáng của phái này hoặc là Cưu ma lợi la (Phạn: Kumàrila) thuộc phái Di mạn sai, hoặc là Thương yết la thuộc phái Phệ đàn đa. Hiện nay, phái này ở Nam Ấn Độ và Tây Ấn Độ theo học thuyết của Thương yết la thì khá chặt chẽ, nhưng ở Bắc Ấn độ thì lỏng lẻo hơn.
sử mật tư
1622(Smith, Vincent Arthur; 1848~1920)英國印度學學者,牛津大學印度學教授。自一八七一年以後,於英屬印度政府任職,為連合州之支廳長官。一九○○年辭官,專事研究印度史,於一九二○年完成牛津印度史(The Oxford History of India)。此外另著有:Asoka, 1901;The Early History of India, 1904;History of Fine Arts in India and Ceylon, 1910;Akbar, 1917.
sử mục nhĩ đệ cập nhiếp na khắc nhĩ đệ
1622梵名 Smṛtijñānakīrti。十一世紀頃之印度學僧。於阿里王(藏 Mṅaḥ-ris)耶薛歐爾(藏 Ye-śes-ḥod)時,應尼泊爾翻譯家潘德瑪魯奇(梵 Padmaruci,藏 Rme-ru-rtse)之請,遂與殊庫修瑪弟魯迦(梵 Sūkṣmadīrgha,藏 Phra-la-riṅ-ba)相伴入藏。然未久潘德瑪魯奇罹患霍亂而歿,兩師未通曉藏語,乃轉徙藏、衛二州。其後,師於達納喀(藏 Rta-nag)暫以飼羊度日。後又應夏爾薛札普索耶納拇葉魯絳(藏 Dpyal-se-rtsab bsod-nams-rgyal-mthan)之請,而至曼恩倫(藏 Sman-luṇs)講說教義。又赴喀木州(藏 Khams)之達隆塔(藏 Ḥdan-kloṅ-thaṅ),樹立阿毘達磨俱舍論學派。其時,師已熟習西藏語,著有四座釋(梵 Catuṣ-pīṭha-ṭīkā)一書,並將聖文殊師利名等誦具祕密成就法釋慧明(梵 Ārya-Mañjuśrīnāmasaṅgīti-guhyavadvidhi-vṛtti-jñānadīpa)、真言義勝觀(梵 Mantrārtha-vipaśyinī)譯成西藏文。另又著有題為語門(梵 Vacanamukha,藏 Smra-sgo)之文法書。師之寂年與歲壽均不詳。著作除上述外,另有收於西藏大藏經丹珠爾之六真性安立(梵 ゞaṭtattva-vyavasthāna)、菩提心釋注(梵 Bodhicittavivaraṇa-ṭīkā)、瑜伽六支釋(梵 ゞaḍaṅgayoga-nāma-ṭīkā)、開眼儀軌(梵 Pratiṣṭhā-vidhi)、金剛摧破陀羅尼優婆提舍(梵 Vajravidāraṇā nāma dhāraṇy-upadeśa)等書。〔西藏大藏經總目錄(日本東北大學)、Sarat Chandra Das: Pag sam jon zang; E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston, Part 2〕
; (史穆爾弟及聶那克爾弟) Phạn: Smftijĩànakìrti. Danh tăng học giả người Ấn Độ sống vào khoảng thế kỉ XI. Vào thời A Lí vương (Tạng: Mía#-ris), thể theo lời mời của nhà dịch kinh người Ni Bạc Nhĩ (Nepal) là Phan Đức Mã Lỗ Kì (Phạn: Padmaruci, Tạng: Rme-ru-rtes), sư kết bạn với người Thù khố tu mã đệ lỗ ca (Phạn: Sùwmadìrgha, Tạng: Phra-larií-ba) cùng đến Tây Tạng. Nhưng không bao lâu thì Phan Đức Mã Lỗ Kì bị bệnh dịch tả và qua đời, 2 vị chưa thông hiểu tiếng Tây Tạng nên dời đến 2 châu Tạng, Vệ. Về sau, sư lại nhận lời mời của Dpyalse-rtsab bsod-nams-rgyal-mthan đến Sman-luịsthuyết giảng giáo nghĩa. Sau đó, sư đến Fdan-kloí-thaí thuộc châu Khams sáng lập học phái A tì đạt ma Câu Xá luận. Lúc đó, sư đã thông thạo tiếng Tây tạng và bắt đầu công việc trứ tác, phiên dịch. Sư soạn bộ Tứ tòa thích (Phạn: Catuwpìỉha-ỉìkà) và dịch ra tiếngTây tạng các bộ: Thánh văn thù sư lợi danh đẳng tụng cụ bí mật thành tựu pháp thích tuệ minh (Phạn: Àrya-Maĩjuzrìnàmasaígìtiguhyavadvidhi-vftti-jĩànadìpa), Chân ngôn nghĩa thắng quán (Phạn: Mantràrtha-vipazyinì). Sư còn soạn bộ sách về văn pháp (Grammar) đề là Ngữ ngôn (Phạn: Vacanamukha,Tạng: Smrasgo).Ngoài những sách đã kể trên, sư còn soạn các bộ: Chân tính an lập (Phạn: Waỉtattva-vyavasthàna), Bồ đề tâm thích chú (Phạn: Boddhicittavivaraịa-ỉìkà), Du già lục chi thích (Phạn: Wadaígayoga-nama-ỉìkà), Khai nhãn nghi quĩ (Phạn: Pratiwỉhà-vidhi), Kim cương tồi phá đà la ni ưu bà đề xá (Phạn: Vajravidàraịà nàma dhàraịyupadeza)... tất cả đều được xếp vào bộ Đan châu nhĩ (Luận trứ phiên dịch) trong Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục (Nhật bản Đông bắc Đại học); Pag sam jon zang bySarat Chandra Das; History of Buddhism by Bu-ston, Part 2, by E. Obermiller].
sử thản nhân
1621(Stein, Sir Mark Aurel; 1862~1943)英國東方考古學學者。本籍匈牙利。年輕時曾至印度,精通梵文。一八九九年以來,至伊朗、印度西北部、中亞、中國大陸西部等處探險調查,而造成考古學上之重大發現。其中,於新疆省塔里木盆地、于闐等地,發現古文書、古壁畫(1900~1901),於敦煌發現千佛洞之古經典類(1906~1908),並以極度低廉之價格向當時千佛洞之住持王圓籙道士詐取經卷九千餘卷,事後發表五巨冊之報告書塞林狄亞(Serindia, 1921),而於國際漢學界引起敦煌學之狂熱研究風潮。其所攜回之大批經卷,現今存於大英博物館。除上述事蹟外,又於蒙古、帕米爾高原、阿富汗等地,發現古代交通要道(1913~1916)。於考古學界,聲譽甚隆。後客死於阿富汗。主要著作另有:Chronicle of Kings of Kash mir, 3 vols., 1900;Sandburied Ruins of Khotan, 1903;Ruins of Desert Cathay, 2 vols., 1912;The Thousand Buddhas, 3 vols., 1922;On Alexander's Track to the Indus, 1929;On Old Routes of Western Iran, 1940.
; (史坦因) Stein, Sir Mark Aurel (1862-1943) Học giả khảo cổ học Đông phương người Anh, gốc Hungary. Thời còn trẻ, ông từng đến Ấn độ, giỏi tiếng Phạm. Từ năm 1899 về sau, ông thường đến thám hiểm ở các xứ Iran, Tây bắc Ấn độ, Trung á, miền Tây đại lục Trung quốc... và có những phát hiện trọng đại về mặt khảo cổ học. Trong đó, ở thung lũng Tháp lí mộc thuộc tỉnh Tân cương, ở Vu điền... ông đã tìm thấy những văn thư và bích họa cổ (1900- 1901), ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng phát hiện các loại kinh điển cổ (1906-1908) và dùng mánh khóe lừa đạo sĩ Vương viên lục– người trụ trì động Thiên Phật thời đó– để lấy đi hơn 9 nghìn quyển kinh Phật với giá rẻ mạt, sau đó, đăng trên Báo cáo thư Tắc lâm địch á Serindia, 1921). Sau sự kiện này, giới Hán học quốc tế đã dấy lên phong trào nghiên cứu Đôn hoàng học rất cuồng nhiệt. Một lượng lớn trong số 9 nghìn quyển kinh mà ông mang về hiện nay đang được cất giữ ở viện bảo tàng nước Anh. Ngoài ra, ở Mông cổ, cao nguyên Pamir, Afghanistan... ông còn tìm ra con đường giao thông trọng yếu (1913-1916) ở thời xưa. Ông rất nổi tiếng trong giới khảo cổ học. Sau, ông qua đời tại Afghanistan. Những trứ tác chủ yếu của ông gồm có: Chroircle of Kings of Kashmir, 3 vols., 1900; Sandburied Ruins of Khotan, 1903, Ruins of Desert Cathay, 2 vols., 1912, The Thousand Buddhas, 3 vols., 1922, On Alexander’s Track to the Indus, 1929, On Old Routes of Western Iran, 1940.
sử tiền tông giáo
1621指成文歷史出現以前之宗教。實質上屬於原始宗教,但一般專指從考古發掘與典籍所載遠古傳說中之宗教,為研究宗教起源之重要課題。部分考古發掘遺址所發現之初期宗教,已具簡單文字或文字雛形之記錄,但極不完整,迄今尚無法詳盡辨認。如義大利半島之伊特魯利亞宗教,中、南美洲之馬亞宗教與印加宗教等,皆屬於此類宗教。我國殷墟甲骨中發現之宗教現象,有時亦被列入此類。
sử tích xước
1622(1876~1925)四川萬縣人。字裕如,或一如、靖如。日本東京帝國大學畢業,精通英日文,慧解過人,任教於京師各大學。民國七年(1918)冬,發心研究佛學,著佛教論理學,闡明因明學之旨趣,慨然以弘法利生為己任。後應聘為武昌佛學院教席,於授課之餘,從事海潮音之編輯及著述。重要譯著有小乘佛學概論、因明入正理論講義、中華佛教史、印度佛教史、印度六派哲學等書。更有大乘起信論講義、金剛般若經總綱、論有法差別相違因之分本作別作二法等著作。其子史玨編其遺著為慧圓居士集。
; (史錫綽) (1876-1925) Học giả Phật giáo Trung quốc, người huyện Vạn, tỉnh Tứ xuyên, tự Dụ như, Nhất như, Tĩnh như. Ông tốt nghiệp Đại học Đế quốc ở Đông kinh, Nhật bản, tinh thông tiếng Anh và tiếng Nhật, kiến thức uyên bác, ông từng dạy ở các trường Đại học tại Kinh đô (Kyoto). Năm Dân quốc thứ 7 (1918), ông phát tâm nghiên cứu Phật pháp, viết tác phẩm: Phật giáo luận lí học để làm sáng tỏ chỉ thú của môn Nhân minh học. Sau đó, ông nhận lời mời về giảngdạy tại Phật học viện Vũ xương. Ngoài việc dạy học, ông còn biên tập và viết bài cho tạp chí Hải Triều Âm. Những tác phẩm và dịch phẩm trọng yếu của ông gồm có: Tiểu thừa Phật giáo khái luận, Nhân minh nhập chính lí luận giảng nghĩa, Trung hoa Phật giáo sử, Ấn độ Phật giáo sử, Ấn độ lục phái triết học, Đại thừa khởi tín luận giảng nghĩa, Kim cương bát nhã kinh tổng cương, Luận hữu pháp sai biệt tương vi nhân chi phân bản tác biệt tác nhị pháp... Con ông là Sử giác thu gom các di phẩm của ông biên thành 1 tập gọi là Tuệ Viên Cư Sĩ Tập.
Sử 使
[ja] シ shi ||| (1) Defilements, contaminants, affliction, proclivities--since proclivities "cause" people to do various things. (2) Latent afflictions = 隨眠. (3) In the Shidi piposuo lun, the 使 are identified as fundamental afflictions 根本煩惱, as distinguished from the 垢, which are identified as secondary afflictions 隨煩惱. 〔十地毘婆娑論 T 1521.26.108b28〕(4) The ninety-eight proclivities 九十八使. (5) If, supposing that. => 1. Phiền não, nhiễm ô, ưu phiền, sai khiến-- vì sự sai sứ "khiến" cho con người làm đủ mọi việc. 2. Phiền não tiềm ẩn = tùy miên. 3. Theo Luận Thập Địa Tỳ Bà Sa, sử được đồng nhất với Căn bản phiền não, phân biệt với Cấu, được được đồng nhất với Tùy phiền não. 4. 98 sử.5. Nếu, giả sử.
sửa chữa
To repair—To mend—To make repairs.
sửa lỗi
To correct an error (a mistake).
sửa sai
To correct a wrong doing.
sửa trị
To punish.
sửa tánh
To change one's way of living.
sửa túi nâng khăn
To serve one's husband.
sửa áo ngay thẳng
Arrange one's robe, to.
sửa đổi
To reform—To mend—To modify.
sửng sốt
Amazed.
sửu giới già tỏa
(杻械枷鎖) Gông, cùm, xiềng, xích. Những đồ dùng để trói buộc phạm nhân trong tù. Cứ theo Quan âm nghĩa sớ quyển thượng của ngài Trí khải giải thích, bị trói ở tay, gọi là Nữu(xiềng), ở chân gọi là Giới(cùm), ở cổ gọi là Già (gông), quấn toàn thân gọi là Tỏa(xích). Phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 56 hạ) nói: ... Nếu lại có người, hoặc có tội hoặc không tội, thân bị gông cùm xiềng xích, nếu xưng niệm danh hiệu bồ tát Quan thế âm, thì gông cùm xiềng xích ấy đều đứt nát mà được giải thoát. [X. phẩm Hộ quốc trong kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ, kinh Đại bảo tích Q.55; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.1; kinh Phật thuyết thập vương(đào được ở Đôn hoàng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.18].
sửu giới giá toả
3310刑具名稱。指手銬、腳鐐等刑具。法華經卷七觀世音菩薩普門品(大九‧五六下):「設復有人,若有罪若無罪,杻械枷鎖檢繫其身,稱觀世音菩薩名者,皆悉斷壞,即得解脫。」天台宗祖智顗於觀音義疏卷上解釋杻械枷鎖,在手,稱爲杻;在腳,稱爲械;在頸,稱爲枷;連身,稱爲鎖。以枷鎖作爲譬喻者,有觀音義疏卷上所引之經載(大三四‧九二八上):「妻子以爲鎖械,錢財以爲牢獄,王法以爲獄籍。」又在鎮州臨濟慧照禪師語錄,對於四賓主中之賓看賓,謂(大四七‧五○一上):「或有學人,披枷帶鎖出善知識前,善知識更與安一重枷鎖,學人歡喜,彼此不辨,呼爲客看客。大德!山僧如是所舉,皆是辨魔揀異,知其邪正。」〔仁王般若波羅蜜經卷下護國品、大寶積經卷五十五、大乘大集地藏十輪經卷一、佛說十王經(敦煌出土)、法華經玄贊卷十末、慧琳音義卷十八、碧巖錄第十一則垂示、佛光禪師語錄卷九〕
Sự
事; C: shì; J: ji;|1. Một sự việc, một công việc. Hiện tượng hiển nhiên (s: vastu); cụ thể; 2. Hiện tượng cá biệt, cá biệt, sai biệt; 3. Công năng, chức năng, hoạt động, chuyển động (s: kriyā); 4. Vật, đối tượng, thể chất (s: dravya); 5. Cõi, giới, trạng thái, môi trường, bối cảnh; 6. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, Sự là một trong Tứ pháp giới, là pháp giới của những hiện tượng cá biệt, được nhắc trong mối tương phản với Lí pháp giới, cõi vô phân biệt.
sự
3039梵語 artha。指因緣生之一切有爲法,即宇宙間千差萬別之現象。與平等門之「理」相對。僧肇之寶藏論(大四五‧一四三下):「理合萬德,事出千巧;事雖無窮,理終一道。」〔俱舍論卷二十五、華嚴五教止觀、摩訶止觀卷一上〕(參閱「事理」3043)
; Artha (S). Affair, concern, matter; action, practice; phenomena; to serve. It is "practice", or the thing, affair, matter in contrast with lí theory, or the underlying principle.
; (事) Phạn: Artha. Đối lại: Lí. Chỉ cho tất cả pháp hữu vi do nhân duyên sinh, tức muôn ngàn hiện tượng sai biệt trong vũ trụ. Luận Bảo Tạng của ngài Tăng Triệu (Đại 45, 143 hạ) nói: Lí hợp muôn đức, sự thì nghìn thứ; sự tuy vô cùng, lí chỉ một đường. [X. luận Câu xá Q.25; Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chỉ Quán; Ma Ha Chỉ Quán Q.1, phần đầu]. (xt.Sự Lí).
sự báo ứng
Retribution.
sự bất yếm tế
3039禪林用語。即謂對各種事物皆不厭審慎,行事須細心嚴謹;以叮嚀學者於修行中須時時警惕,不得稍有輕忽。從容錄第八十九則(大四八‧二八五中):「草漫漫(直下無底傍無邊),門裏門外君自看(照顧絆倒);荊棘林中下腳易(荒田揀草),夜明簾外轉身難(淨地卻迷人)。看看(事不厭細)幾何般?」
; (事不厭細) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Việc không ngán sự nhỏ nhặt. Nghĩa là đối với mọi sự vật đều phải xem xét thận trọng,làm việc phải chú tâm tinh tế. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên được dùng để nhắc nhở người học trong việc tu hành phải luôn luôn tỉnh táo, không được lơ là, sơ suất. Thung dung lục tắc 89 (Đại 48, 385 trung) ghi: Cỏ um tùm, mông mênh (thẳng xuống không đáy, bên cạnh không bờ),trong cửa ngoài cửa ông tự xem (coi chừng vướng chân vấp ngã), giữa rừng gai gốc đặt chân dễ (trong ruộng hoang chọn cỏ), ngoài rèm trời sáng xoay mình khó(đất sạch khước từ người mê). Hãy xem (sự bất yếm tế) được bao nhiêu?
Sự chướng
事障; C: shìzhàng; J: jishou;|»Chướng ngại của thế giới hiện tượng«. Cùng với Lí chướng (理障) – theo kinh Viên Giác –, chúng trì hoãn quá trình đạt giác ngộ. Sự chướng bao gồm những tâm trạng mê muội của chúng sinh như yêu ghét, và tất cả những cảm giác tham ái cũng như đau khổ khác có liên quan đến chúng, nguyên nhân trói buộc chúng sinh vào vòng sinh tử. Vì thế nên Sự chướng này tương đương với Phiền não chướng (煩惱障) trong học thuyết của trường phái Duy thức. So với Lí chướng thì Sự chướng tương đối nhỏ nhặt, và vì vậy, có thể được khắc phục bằng những phương pháp tu tập của hàng Nhị thừa (二乘; theo Viên Giác kinh 圓覺經)
sự chướng
3045二障之一。指貪、瞋、慢、無明、見、疑等之煩惱;此等煩惱能令生死相續而障涅槃,故稱事障。與「理障」相對稱。理障則指根本無明(又稱元品無明),乃有礙正知正見,而障本覺真如之理者。圓覺經(大一七‧九一六中):「云何二障?一者理障,礙正知見;二者事障,續諸生死。」 (參閱「二障」241)
; Phenomenal hindrances to entry into nirvàna, such as desire etc.; Lí chướng are noumenal hindrances, such as false doctrines, etc.
; Chướng ngại của tham dục, đối lại với lý chướng—Hindrances of passions to entry into nirvana such as desires, in contrast with noumenal hindrances (lý chướng). ** For more information, please see Nhị Chướng (C).
; (事障) Đối lại: Lí chướng. Chỉ cho các phiền não tham, sân, mạn, vô minh, kiến, nghi..., những phiền não này thường khiến cho sinh tử tiếp tục mà ngăn ngại Niết bàn, nên gọi là Sự chướng, 1 trong 2 chướng. Kinh Viên Giác (Đại 17, 914 trung) nói: Hai chướng là gì? Một là Lí chướng, thường ngăn cản chính kiến; hai là Sự chướng, hay nối tiếp sinh tử. (xt. Nhị Chướng).
sự chấm dứt sinh tử
Bhavanirodha (S), Extinction of life-death circle.
sự cung dưỡng
3041又作事供。爲「理供養」之對稱。即於壇上置放塗香、花鬘等爲供養物,依三密之加持力,一捻香、一輪花等得以周遍法界,供養三世十方一切諸佛。其中,塗香,表示清淨之義,謂滌淨菩提心中戲論之垢,滅除生死之熱惱;花,表示淨心之種子於大悲胎藏中開敷萬行。又一輪花、一盞燈等,悉爲地、水、火、風、空、識等六大性起之法,亦即悉以六大爲其體性。〔蘇悉地羯囉經卷下供養品、大日經疏卷七、卷八〕
; (事供養) Cũng gọi Sự cúng. Đối lại: Lí cúng dường. Tức đặt những vật cúng dường như hương thoa, tràng hoa... lên đàn, nhờ sức gia trì của Tam mật mà1 nén hương, 1 vòng hoa được lan tỏa khắp pháp giới để cúng dường hết thảy chư Phật trong 10 phương 3 đời. Trong đó, hương thoa tượng trưng cho nghĩa thanh tịnh, rửa sạch những cáu bẩn hí luận trong tâm bồ đề, tiêu trừ nhiệt não sinh tử; tràng hoa biểu thị chủng tử ở trong thai tạng đại bi nở rộ muôn hạnh. Lại nữa, 1 vòng hoa, 1 đĩa đèn đều là pháp tính khởi của 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức, cũng tức là đều lấy 6 đại làm thể tính. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô Tất Địa Yết La Q.hạ; Đại Nhật kinh sớ Q.7, 8].
sự cố
Reason of matter
Sự cứu cánh
事究竟; C: shìjiùjìng; J: jikukyō;|Cái tối hậu, cái tuyệt đối trong thế giới hiện tượng. Một cách dịch ý chữ Phạn pāramitā (Ba-la-mật 波羅密; theo Chính pháp hoa kinh 正法華經)
sự dữ nguyện vi
3045謂世間諸事無常,少有如願者。自有情生命之所欲求者而言,一般皆祈望福祿壽考,然以佛教哲理觀之,生老病死卻絲毫不由人;若自所不欲者而言,則又有求不得、愛別離、怨憎會等之苦惱相隨。故欲願愈深重者,必愈感事事不如意;亦即執著於因緣和合之世間諸法爲常、爲有者,則必深受貪、瞋、癡等之繫縛,而每有計執、祈願、造作,除招感禍患之外,無一事能順遂心願。
; (事與願違) Sự việc thực tế trái với ý muốn của mình. Nói theo thường tình, người đời ai cũng mong cầu phúc lộc sống lâu, nhưng nhìn qua lăng kính của triết lí Phật giáo thì vì thế gian là vô thườngnênsinh lão bệnh tử hoàn toàn không do con người quyết định, dù chỉ là mảy may. Ngoài ra, còn có nỗi khổ như mong cầu không được, thương yêu mà phải chia lìa, oán ghét mà cứ gặp gỡ... luôn đeo đuổi con người như bóng theo hình; bởi vậy, sự mong muốn càng sâu nặng, thì sự bất như ý càng chồng chất, nỗi khổ não càng nhiều.
sự giáo
3042天台宗所立藏、通、別、圓等四教之中,爲區分差別之事與真諦之理,乃謂藏教爲界內之事教,通教爲界內之理教;別教爲界外之事教,圓教爲界外之理教。其中,界內之事教係分析現實中各種色心諸法之事相差別而闡明之,界外之事教則先由界外,再返回現實;即針對現實之各種事相,一一施設其真實自在之對處,以詮釋恆沙無量之事。(參閱「化法四教」1325)
; Giáo lý nói về hiện tượng—Teaching dealing with phenomena—Đặc tính Tam Tạng Kinh Điển được nêu ra bởi tông Thiên Thai Biệt Giáo và Tiểu Thừa Giáo Giới: The characterization by T'ien-T'ai of the Tripitaka or Hinayana teaching as: 1) Giới Nội Sự Giáo: Giáo thuyết về hiện tượng bên trong tam giới (Dục, sắc, và Vô Sắc): Teaching dealing with phenomena inside or inferior within the three realms of desire, form, and formlessness. 2) Giới Ngoại Sự Giáo: Giáo thuyết về hiện tượng siêu việt bên ngoài Tam Giới—Teaching dealing with outside or superior to those realms; the one deals with the activities of time and sense, the other transcended these but was still involved in the transcient.
; (事教) Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập, để phân biệt giữa Sự sai biệt và Lí chân đế nên gọi Tạng giáo là Sự giáo của giới nội (trong 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc), Thông giáo là Lí giáo của giới nội; Biệt giáo là Sự giáo của giới ngoại (ngoài 3 cõi), Viên giáo là Lí giáo của giới ngoại. Trong đó, Sự giáo của giới nội là phân tích và giải thích rõ sự tướng sai khác của các pháp sắc, tâm trong hiện thực; còn Sự giáo của giới ngoại thì trước hết từ giới ngoại lại trở về hiện thực; tức đối với các loại sự tướng của hiện thực, đặt chúng vào vị trí chân thực tự tại để giải thích hằng sa vô lượng sự tướng. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).
sự giải thoát
Vimutti-kkhanda (P).
sự hoả ngoại đạo
3039爲印度古代外道之一。彼等祭祀供養火天(梵 Agni,巴 Aggi,阿耆尼)等神祇,並妄執此類作法爲將來生天之因。其徒稱爲事火螺髮(巴 aggikajaṭila)或事火婆羅門(巴 aggikabrāhmaṇa)。蓋事火外道主張火乃諸天之口,故投穀物、酥油等供物入於火中供養之,諸天得食即能降福祉於人。世尊在世時,事火之法頗爲盛行。世尊成道後,曾於尼連禪河邊訪事火婆羅門之三迦葉,世尊先降伏火龍,其後又示現諸種神通,三迦葉乃將事火之具投諸河中而歸依佛門。方便心論(大三二‧二四上):「晨朝禮敬、殺生祭祠、然眾香木、獻諸油燈,如是四種,名事火外道。」 另於大日經卷六世出世護摩法品一一舉出外道所修事火法之名稱,皆爲吠陀經典所載者,即所謂之「四十四火法」,惟經中所舉示者僅有四十項,即:(一)大梵天(藏 tshaṅs-pa-chen-po-me),(二)簸嚩句(藏 tshaṅs-paḥi-bu),(三)梵飯(藏 tshaṅs-paḥi-zas),(四)畢怛囉(藏 bha-ra-ta),(五)吠濕婆捺羅(藏 bai-śva-na-ra-da),(六)訶嚩奴(藏 ha-ba-na),(七)合毘嚩訶那(藏 srog-bya-len),(八)簸說三鼻睹(藏 ṅos-bsruṅs),(九)阿闥末拏(藏 a-tar-ba-na),(十)鉢體多(藏 par?),(十一)補色迦路陶,(十二)忙路多,(十三)嚩訶忙囊,(十四)瞢蘗盧,(十五)鉢伽蒲(藏 pra-ga-la),(十六)簸體無(藏 bar-ṭhi-ba),(十七)戌脂(藏 gtsaṅ),(十八)殺毘(藏 śad-bi),(十九)謨婆嚩(藏 kuṅ-byuṅ),(廿)素哩耶(藏 ñi-ma),(廿一)瑜赭迦(藏 sbyor-byed),(廿二)跋那易迦(藏 a-gne-ya),(廿三)簸嚩句(藏 pa-ba-ka),(廿四)梵火(藏 tshaṅs-paḥi-me),(廿五)扇都(藏 shi-ba),(廿六)阿縛賀寧(藏 a-ba-ni-ka),(廿七)微吠脂(藏 bi-ci-ci),(廿八)婆訶娑(藏 sva-ha-sa),(廿九)合微誓耶(藏 ha-bi),(卅)爾地(藏 gter),(卅一)阿密栗多( 藏 mri-ṭa),(卅二)那嚕拏(藏 da-ru-na),(卅三)訖栗旦多(藏 stobs-sbyin),(卅四)忿怒(藏 khro-bo),(卅五)迦摩奴(藏 ḥdod-las-skyes),(卅六)使者(藏 pho-ña),(卅七)社咜路(藏 dsa-tha-ra),(卅八)薄叉(藏 śa-za),(卅九)縛拏婆目佉(藏 rgod-maḥi-kha),(四十)瑜乾多(藏 ḥjig-pa)等。 此外,密教之護摩法無疑係襲自此類事火外道,然出世間之護摩法則以內觀爲護摩之基礎,此則非彼等事火外道所可比擬者。〔中阿含卷十一頻鞞娑邏王迎佛經、長阿含經卷十九、北本大般涅槃經卷十六、大日經疏卷八、百論疏卷中〕(參閱「十二火」333)
; (事火外道) Ngoại đạo thờ lửa, 1 trong các phái ngoại đạo ở Ấn Độ đời xưa. Phái này thờ cúng các vị thần như Hỏa Thiên (Phạn: Agni, Pàli: Aggi)... và chấp lầm rằng cách thờ cúng này là nhân sinh lên cõi trời trong tương lai. Tín đồ của phái này gọi là Sự hỏa loa phát (Pàli:Aggikajaỉila, tóc xoắn thờ lửa), hoặc Sự hỏa bà la môn (Pàli: Aggikabràhmaịa). Bởi Sự hỏa ngoại đạo cho rằng lửa là cái miệng của các trời, vì thế mới bỏ các vật cúng như thóc gạo, dầu bơ vào trong lửa để cúng dường các trời. Các trời được ăn rồi thì sẽ ban phúc cho con người. Vào thời đức Phật còn tại thế, pháp thờ lửa rất thịnh hành. Sau khi đức Thế tôn thành đạo, Ngài đến thăm 3 anh em Ca Diếp Sự hỏa Bà la môn bên bờ sông Ni liên thiền, trước hết, đức Thế tôn hàng phục con rồng lửa, sau đó, Ngài lại thị hiện các thứ thần thông, 3 anh em Ca Diếp liệng bỏ các dụng cụ thờ lửa xuống sông, rồi qui y theo Phật. Luận Phương tiện tâm (Đại 32, 24 thượng) ghi: Sáng sớm kính lễ Sát sinh cúng tế Đốt các loại hương Dâng đủ đèn dầu Bốn thứ ấy là Sự hỏa ngoại đạo. Ngoài ra, phẩm Thế xuất thế hộ ma pháp trong kinh Đại nhật quyển 6 có nêu ra từng tên gọi của các pháp thờ cúng lửa mà ngoại đạo tu, đều là các pháp thờ lửa được ghi chép trong kinh điển Phệ đà, đó tức là 44 hỏa pháp, nhưng trong kinh Đại nhật chỉ nêu có 40 pháp. Đó là: 1. Đại hạm thiên(Tạng: shaís-pachen-po-me). 2. Phaphạ cú (Tạng: shaís- pa#ibu).3. Phạm phạn (Tạng: Tshaís-pa#i- Zas).4. Tất đát ra (Tạng: ha-ra-ta). 5. Phệ thấp bà nại la (Tạng:Bai-zvana-ra-da). 6. Ha phạ nô (Tạng: a-ba-na). 7. Hợp tì phạ ha na (Tạng: rog-byalen).8. Pha thuyết tamtịđổ (Tạng: Íosbsruís). 9. A thát mạt noa (Tạng: A-ta-ba-na). 10. Bát thể đa (Tạng: Par ?) 11. Bổ sắc ca lộ đào. 12. Mang lộ đa. 13. Phạ ha mang nang. 14. Mâng bálư. 15. Bát già bồ (Tạng:Pra-ga-la). 16. Pha thể vô (Tạng: Bar-ỉhi-ba). 17. Tuất chi (Tạng:Gtsaí). 18. Sát tì (Tạng:Zad-bi). 19. Mô bà phạ (Tạng:Kuí-byuí). 20. Tố lí da (Tạng:Ĩi-ma). 21. Du giả ca (Tạng: Sbyor-byed). 22. Bạt na dịch ca (Tạng:A-gne-ya). 23. Pha phạ cú (Tạng: Pa-ba-ka). 24. Phạm hỏa (Tạng: Tshaís-pa#ime).25. Phiến đô (Tạng: Shi-ba). 26. A phược hạninh (Tạng: A-ba-nika).27. Vi phệ chi (Tạng: Bi-ci-ci). 28. Bà ha sa (Tạng: Sva-ha-sa). 29. Hợp vi thệ da (Tạng: Ha-bi). 30. Nhĩ địa (Tạng: Gter). 31. A mật lật đa (Tạng: Mri-ỉa). 32. Na rô noa (Tạng:Da-ru-na). 33. Ngật lật đán đa (Tạng: Stobs-sbyin). 34. Phẫn nộ (Tạng:Khro-bo). 35. Ca ma nô (Tạng:Fdod-las-skyes). 36. Sứ giả (Tạng: Pho-ía). 37. Xã sá lộ (Tạng: Dsa-tha-ra). 38. Bạc xoa (Tạng: Za-za). 39. Phược noa bà mục khư (Tạng: Rgod-ma#i-kha). 40. Du càn đa (Tạng: jig-pa). Ngoài ra, pháp Hộ Ma của Mật giáo hiển nhiên là đã thực hành theo Sự hỏa của ngoại đạo, nhưng pháp Hộ Ma xuất thế gian trong Mật giáo lấy nội quán làm cơ sởcủaHộ ma, điều này thì Sự hỏa ngoại đạo không thể sánh được. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q.11; kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại bát niết bàn Q.16 (bản Bắc); Đại nhật kinh sớ Q.8; Bách luận sớ Q.trung]. (xt. Thập Nhị Hỏa).
sự hoặc
Illusions arising in practice.
sự hỏa
Phenomenal fire; also fire-worship.
; 1) Sự hỏa đối lại với “tánh hỏa.”—Phenomenal fire, in contrast with natural fire (tánh hỏa). 2) Thờ Thần Lửa: Fire-worship.
sự hỏa bà la môn
Aggikabrahmāna (S).
sự hỏa loa phái
Aggikajatita (S)Một tông phái Bà la môn.
sự hộ ma
3046又作外護摩。爲密教修行法之一。即擇地造壇,焚燒乳木、五穀等供物,以清淨行者之三業,成就息災、增益等事業。此類行法乃行於心外之事,故又稱外護摩。反之,如行者以觀想之智火,燒除諸業煩惱,則稱爲內護摩。(參閱「外護摩」1878、「護摩」6869)
; (事護摩) Cũng gọi Ngoại hộ ma. Một trong các pháp tu hành của Mật giáo. Tức chọn đất lập đàn, đốt các vật cúng như nhũ mộc, ngũ cốc... để làm cho 3 nghiệp của hành giả thanh tịnh, thành tựu cácphápTức tai, Tăng ích. Pháp tu này là việc được thực hành ở ngoài tâm, vì thế cũng gọi Ngoại hộ ma. Ngược lại, nếu hành giả vận dụng lửa trí của sự quán tưởng để đốt sạch các nghiệp phiền não thì gọi là Nội hộ ma. (xt. Ngoại Hộ Ma, Hộ Ma).
sự khẩn yếu lúc lâm chung
The critical importance of the moment of death.
sự kiện
Vastu (S), Vatthu (P)Dữ kiện.
; Fact.
sự luận
3045爲「理論」之對稱。即闡論有關宇宙差別事相之論說。亦即探討宇宙萬法如何生起、差別現象如何顯現之宇宙現象論。於佛教教理中,有關事、理二義相對之論說,及事法生起之情形等,各宗派所說不一:(一)如俱舍論,係以業力說明宇宙萬法之生起(業感緣起);而於萬法之中,以虛妄之現象爲事,以苦、集、滅、道等四諦爲理。(二)如唯識宗,主張一切諸法之種子皆含藏於吾人第八阿賴耶識中,變現而成森羅萬象,即所謂「三界唯心,萬法唯識」(賴耶緣起);而於萬法之中,依於他緣而生起者爲事,本自圓成如實之真如者爲理。(三)如大乘起信論,係以超越現象的心之本體(真如)爲宇宙萬法之第一原因(真如緣起);又以真如乃不生不滅而絕對平等者,故謂事即理,理即事,惟以染淨迷悟之別,而有心真如門、心生滅門之說,然此二門不一不異,無有別體。(四)如華嚴宗,亦主張由真如之實體開發宇宙萬法,而由平等之真如變現出差別之萬法(法界緣起);並謂緣起差別之諸法爲事,真如平等之理性爲理。然華嚴宗緣起觀之特異於他宗之緣起學說者有二:(1)舉凡法界諸法,一一無非實體,萬象之實體亦無非現象,一即一切,一切即一,舉一物而餘物盡收,一塵爲主則諸法爲伴,相即相入,交融自在,互爲主伴、因緣,事事無礙,重重無盡。(2)華嚴教義之緣起特稱爲「性起」法門,即謂諸法之生起乃係法性緣起,不藉他緣,非如俱舍之惑業因緣、唯識之事相差別識、起信論之員如無明緣生論,而強調萬法係自「體性現起」之性起學說,毋須等待其他因緣,全體即用,其真如之法性一旦起動即現爲作用,變成迷與悟、情與非情等諸法,橫遍十方,豎窮三際。(五)如密教,主張毘盧遮那(大日如來)爲宇宙之本源、萬有之實體,而毘盧遮那之體即是地、水、火、風、空、識等六大,六大即佛身,佛身即六大(六大緣起);並謂於六大隨緣起動而成之宇宙萬有中,因緣生之有爲法爲事,不生不滅之無爲法爲理。(參閱「事理」3043)
; Discussion of phenomena in contrast with lí luận.
; Bàn về sự sai biệt của sự tướng (hiện tượng hay sự thực hành) thì gọi là “Sự Luận,” đối lại với “Lý Luận” hay bàn về chân lý tuyệt đối—Discussion of phenomena in contrast with discussion of noumena or absolute truth. ** For more information, please see Lý Luận.
; (事論) Đối lại: Lí luận. Luận thuyết bàn rõ về các sự tướng sai biệt trong vũ trụ, tức làVũ trụ luận tìm hiểu xem vạn pháp trong vũ trụ sinh khởi như thế nào à các hiện tượng sai biệt hiển hiện như thế nào. Trong giáo lí Phật giáo, đối với 2 nghĩa Sự và Lí, cũng như sự sinh khởi của vạn pháp, thì các tông phái đều có luận thuyết khác nhau. 1. Tông Câu xá: Dùng nghiệp lực để thuyết minh sự sinh khởi của vạn pháp trong vũ trụ (Nghiệp cảm duyên khởi); rồi trong vạn pháp thì lấy các hiện tượng hư vọng làm Sự và lấy Tứ đế khổ, tập, diệt, đạo làm Lí. 2. Tông Duy thức: Chủ trương chủng tử của tất cả các pháp đều hàm chứa trong thức A lại da thứ 8 của con người, đã biến hiện ra muôn tượng sum la, đây chính là chủ trương Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức (A lại da duyên khởi); rồi trong vạn pháp thì cái nương vào duyên khác mà sinh khởi là Sự, còn chân như vốn tự viên thành như thực là Lí. 3. Luận Đại thừa khởi tín: Chủ trương bản thể (chân như) của tâm siêu việt hiện tượng là nguyên nhânthứ nhất của muôn pháp trong vũ trụ (Chân như duyên khởi); vì chân như là cái chẳng sinh chẳng diệt và tuyệt đối bình đẳng nên nói Sự tức Lí, Lí tức Sự, chỉ do nhiễm tịnh mê ngộ khác nhau mà có thuyết Tâm chân như môn và Tâm sinh diệt môn, tuy nhiên, 2 môn này chẳng phải một, chẳng phải khác, không có thể tính riêng. 4. Tông Hoa Nghiêm: Chủ trương từ thực thể của chân như khai phát ra vạn pháp trong vũ trụ, lại từ chân như bình đẳng mà biến hiện ra muôn ngàn hiện tượng sai biệt (Pháp giới duyên khởi), trong đó, các pháp duyên khởi sai biệt là Sự,lí tính chân như bình đẳng là Lí. Nhưng, Duyên khởi quan của tông Hoa Nghiêm có 2 điểm đặc biệt khác với thuyết Duyên khởi của các tông khác là: a) Mỗi một pháp của các pháp trong pháp giới đều là thực thể, mà thực thể của muôn tượng cũng đều là hiện tượng, 1 tức hết thảy, hết thảy tức 1, nêu 1 vật thì gồm thu tất cả vật, 1 hạt bụi là chủ thì các pháp là bạn, tương tức tương nhập, giao thoa, dung hợp tự tại, làm chủ, bạn lẫn nhau, nhân duyên, sự sự vô ngại, trùng trùng vô tận. b) Duyên khởi trong giáo nghĩa Hoa Nghiêmđặc biệt gọi là pháp môn Tính khởi, nghĩa là sự sinh khởi của các pháp là duyên khởi từ pháp tính, không nương vào duyên khác, chẳng phải như nhân duyên hoặc nghiệp của Câu xá, Sự tướng sai biệt thức của Duy thức, Chân như vô minh duyên sinh luận của luận Khởi tín, mà chính là học thuyết Tính khởi, tức là muôn pháp từ thể tính hiện khởi,chứ khôngcần chờ đợi các nhân duyên khởi, toàn thể tức dụng, pháp tính của chân như 1 khi khởi động thì liền hiện ngay tác dụng, biến thành các pháp mê và ngộ, tình và phi tình... trùm khắp 10 phương, xuyên suốt 3 đời. 5. Mật giáo: Chủ trương Tì lô giá na (Đại nhật Như lai) là nguồn gốc của vũ trụ, thực thể của vạn hữu, mà thể của Tì lô giá na thì tức là 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức; 6 đại tức là thân Phật, thân Phật tức là 6 đại (Lục đại duyên khởi); đồng thời cho rằng trong vũ trụ vạn hữu do 6 đại tùy duyên khởi động mà thành thì pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, còn pháp vô vi không sinh không diệt là Lí. (xt. Sự Lý).
sự lí
3043又作理事。事,指事相、事法;理,指真理、理性。於佛教中,事、理之相對意義有二;(一)凡夫依迷情所見之事相,稱爲事;聖者依智見所通達之真理,稱爲理。而此所謂之「真理」,則依各宗派之說而有不同,或指四諦之理,或指真空之理,或指中道之理。(二)視之爲現象與本體之相對,即以森羅差別之現象事法,稱爲事;以此等現象之本體乃平等無差別之理性真如,稱爲理。而此現象之事與本體之理,二者之關係,各家立說不同:(1)依俱舍論卷二十五之說,苦、集、滅、道等四諦爲理,虛妄之現象爲事。「見惑」因迷於理而生起,故宜依無事而修;「修惑」因迷於粗雜之現象而起,故宜依有事而修。同論卷六又以無爲法稱爲無事,以有爲法稱爲有事;並將事相大別爲自性、所緣、繫縛、所因、所攝等五種。(2)依唯識家之說,事乃依他而起之事法,理則爲本自圓成如實之真如,二者具有不即不離之關係。蓋事與理之別,概在於有爲與無爲之不同,故謂事理不即(非一體);而真如之理者,其自體雖凝然不動,寂靜止息,然又可綿綿衍出現象,而爲事法所依據之實體,故謂事理不離(此外無他)。(3)依大乘起信論之說,真如(理)隨緣而展開萬法(事)之現象,因而事即理,理即事。(4)依華嚴宗之說,以緣起差別之諸法爲事,真如平等之理性爲理,乃謂事理互融無礙;而於四法界之第三說「理事無礙法界」,於三重觀門之第二立「理事無礙觀」。(5)依天台宗之說,事理相當於法華經之本、迹二門,俗諦之事屬迹門,真諦之理屬本門。若配於化法四教,則藏教爲界內事教,通教爲界內理教,別教爲界外事教,圓教爲界外理教。又天台宗依此事理之別,而將「觀」分爲事觀與理觀,將「惑」分爲迷事之惑、迷理之惑,將懺悔分爲事懺與理懺。此外,依天台性具之義,則十界三千諸法悉爲性具,而非依於因緣所生,故亦係無爲常住之真如法界。(6)依密教之說,謂因緣生之有爲法爲事,不生不滅之無爲法爲理。理爲攝持之義,一切有爲之事相各各攝持其體,即爲理;其體爲地、水、火、風、空、識等六大,稱六大法界。 總括而言,事,即指迷惑之世界;理,即指覺悟之世界。於歷來各種教理思想發展中,如較重視理,則事理之「相即思想」較盛;如自真理之具現而特重現實,則「事」之地位愈加重要,所謂「即事而真」、「一念三千」即爲彰顯此類現象之用語。〔華嚴五教止觀、寶藏論、摩訶止觀卷二上、卷四上、大乘玄論卷四、大乘法苑義林章卷一末、華嚴法界觀門、萬善同歸集卷三、蘇悉地經疏卷一、百法問答鈔卷四〕(參閱「事論」3045)
; Practice and theory; phenomenon and noumenom, activity and principle, or the absolute; phenomena ever change, the underlying principle, being absolute, neither changes nor acts, it is the chân như.
; (事理) Cũng gọi Lýsự. Sự là sự tướng, sự pháp; Lý là chân lí, lí tính. Trong Phật giáo, ý nghĩa tương đối giữa Sự và Lýcó 2: 1. Sự tướng mà phàm phu thấy được do mê tình, gọi là Sự; Chân lí mà bậc Thánh thấu suốt nhờ trí kiến, gọi là Lí.Chân lí ở đây tùy theo lập trường của các tông phái mà có khác, hoặc chỉ cho lí Tứ đế, hoặc chỉ cho lí Chân không, hoặc chỉ cho lí Trung đạo. 2. Sự pháp sai biệt của các hiện tượng, gọi là Sự; bản thể bình đẳng vô sai biệt của các hiện tượng, gọi là Lí. Về mối quan hệ giữa Sự của hiện tượng và Lí của bản thể, các tông phái lập thuyết có khác nhau: 1. Theo luận Câu xá quyển 25: Bốn đế khổ, tập, diệt, đạo, là Lí, hiện tượng hư vọng là Sự. Kiến hoặc do mê lí mà sinh khởi nên phải y theo vô sự mà tu, Tư hoặc thì do mê các hiện tượng thô tạp mà khởi nên phải y theo hữu sự mà tu. Cùng luận đã dẫn quyển 6, gọi Vô vi pháp là Vô sự, gọi Hữu vi pháp là Hữu sự; đồng thời, chia Sự tướng làm 5 loại: Tự tính, Sở duyên, Hệ phược, Sở nhân, Sở nhiếp. 2. Theo tông Duy thức: Sự là các sự pháp nương vào cái khác mà sinh khởi, còn Lí là chân như vốn tự viên thành như thực; giữa Sự và Lí có mối quan hệ bất tức bất li. Sự khác nhau giữa Sự và Lí chẳng qua là do hữu vi và vô vi bất đồng, cho nên nói Sự lí bất tức (không phải 1 thể); còn lí chân như thì tự thể của nó tuy lặng lẽ chẳng động, nhưng lại có thể liên tục phát sinh các hiện tượng và thực thể làm chỗ nương tựa cho các sự pháp, nên nói Sự lí bất li (ngoài pháp này không có pháp nào khác). 3. Theo luận Đại thừa khởi tín: Chân như (Lí) tùy duyên mà triển khai ra hiện tượng vạn pháp (Sự), do đó mà Sự tức Lí, Lí tức Sự. 4. Theo tông Hoa nghiêm: Các pháp duyên khởi sai biệt là Sự, lí tính chân như bình đẳng là Lí, Lí và Sự dung hợp nhau không ngăn ngại; là Lí sự vô ngạipháp giới trong 4 Pháp giới; là Lí sự vô ngại quán trong 3 lớp Quán môn. 5. Theo tông Thiên thai: Sự và Lí tương đương với Bản môn và Tích môn của kinh Pháp Hoa, Sự của tục đế thuộc Tích môn; Lí của chân đế thuộc Bản môn. Nếu phối hợp với 4 giáo hóa pháp, thì Tạng giáo là giới nội Sự giáo, Thông giáo là giới nội Lí giáo, Biệt giáo là giới ngoại Sự giáo, Viên giáo là giới ngoại Lí giáo. Ngoài ra, y cứ vào sự khác nhau giữa Sự và Lí này, tông Thiên thai còn chia Quán làm Sự quán và Lí quán, chia Hoặc làm Mê sự hoặc và Mê lí hoặc, chia Sám hối làm Sự sám và Lí sám. Lại nữa, theo nghĩa Tính cụ của tông Thiên thai thì ba nghìn các pháp trong 10 giới đều là tính cụ, chứ không phải nương vào nhân duyên mà sinh, vì thế cũng là pháp chân như thường trụ. 6. Theo thuyết của Mật giáo: Các pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, pháp vô vi bất sinh bất diệt là Lí. Lí là giữ lấy, nghĩa là tất cả sự tướng hữu vi, mỗi mỗi đều giữ lấy thể của nó, tức là Lí; thể của nó là 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức, gọi là Lục đại pháp giới. Nói tóm lại, Sự chỉ cho thế giới mê lầm; Lí chỉ cho thế giới giác ngộ. Trong sự phát triển của các loại tư tưởng giáo lí từ xưa đến nay, nếu xem trọng Lí hơn, thì tư tưởng tương tức của sự lí thịnh hơn; còn nếu từ việc thực hiện đầy đủ chân lí mà đặc biệt coi trọng hiện thực, thì địa vị của Sự càng quan trọng hơn, ngay nơi Sự là chân, một niệm ba nghìn là những dụng ngữ nói rõ loại hiện tượng này. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán; luận Bảo tạng; Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu; Đại thừa huyền luận Q.4; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Vạn thiện đồng qui tập Q.3; Tô tất địa kinh sớ Q.1; Bách pháp vấn đáp sao Q.4]. (xt. Sự Luận).
sự lí bất nhị
3044因緣生之有爲法爲事,不生不滅之無爲法爲理。事雖隨緣而生,而不生不滅之理即寓乎其中;理雖爲凝然不動、寂靜無爲之真如,然非由緣生之事則無以彰顯之。由是,即事即理,即理即事,稱爲事理不二。蓋事與理原雖截然有異且相對者,然離事則無理,離理事亦不存,故事、理自必無法單獨存在。又若自實踐性而言,事理之不二亦可謂事理無礙。又「理事不二」、「理事泯然」表示理事二者平等無差別,與「事理不二」同義。〔華嚴法界玄鏡卷上〕
; (事理不二) Pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, pháp vô vi không sinh không diệt là Lí. Sự tuy theo duyên mà sinh, nhưng lí không sinh không diệt lúc nào cũng ở trong Sự; Lí tuy là chân như lặng lẽ bất động, tịch tĩnh vô vi, nhưng nếu không nhờ cóSự do nhân duyên sinh thì Lí không thể hiển bày được. Do đó, tứcsự tứclí, tức lí tức sự, gọi là Sự lí bất nhị. VìSự và Lí tuy vốn hoàn toàn khác nhau, vảlại có tính đối đãi, nhưng ngoài Sự ra thì không có Lí và, ngược lại, ngoài Lí, cũng không có Sự, cho nên Sự và Lí tự nhiên không thể tồn tại 1 cách độc lập được. Nếu nói theo tính thực tiễn thì Sự lí bất nhị cũng có thể gọi là Sự lí vô ngại. Các dụng ngữ như Lí sự bất nhị, Lí sự mẫn nhiên là biểu thị lí và sự bình đẳng không sai biệt, đều đồng nghĩa với Sự lí bất nhị. [X. Hoa nghiêm pháp giới huyền kính Q.thượng].
sự lí song tu
3044即事行與理觀之修習同等重要。又作事理雙行。通常精勤於事行作法者,每易忽略理觀證悟;而重視理觀證悟者,則易輕忽事行作法。就念佛而言,稱名念佛爲事行,觀想佛名爲理行,即須口中稱念、心中觀想,兩者同時並行,始爲事理雙修之念佛行法。又如習禪之時,若能坐禪、戒律雙修,乃可了觀真如之理;故禪林中,對執著於教相而闇於觀法之禪師,多稱爲事相禪師。〔摩訶止觀卷七下〕
; (事理雙修) Cũng gọi Sự lí song hành. Tu cả sự và lí. Tức tu sự và quán lí đều quan trọng như nhau. Thông thường, nếu siêng năng tinh tiến thực hành các tác pháp về sự thì thường dễ xem nhẹ lí quán chứng ngộ, còn nếu coi trọng lí quán chứng ngộ thì lại dễ xem thường hành sự tác pháp. Chẳng hạn nói về việc niệm Phật thì xưng danh niệm Phật là sự hành, quán tưởng danh hiệu Phật là lí hành, tức phải trong miệng thì xưng niệm, trong tâm thì quán tưởng, đồng thời vận dụng cả 2 mới là hành pháp niệm Phật sự lí song tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, phần cuối].
sự lí tam thiên
3043天台宗將理具三千、事造三千合稱爲事理三千。又作兩重三千、兩種三千、理具三千事用三千、理造三千變造三千、理造三千事造三千、性具三千修具三千。據四明知禮所撰之十不二門指要鈔卷上等所載,理,指實相之理性;具,即本來具足之意。理具三千,即謂萬有原本一一悉皆具足三千諸法,而非由人天鬼畜等所造作者。事,指森羅差別之事相;造,與「具」同義。事造三千,即謂三千諸法係由於心隨染淨諸緣而變作生起者,其一一之法,宛然羅列,而呈森羅差別之相狀。 此外,所謂「事理三千」者,係由於方便配對名目之故,乃相對於理具三千而立事造三千之名相,兩者合之,即爲事理三千,而非謂計有六千之法;此因理體無差而事理不二,故僅爲唯一之三千。又於天台宗所立藏、通、別、圓四教中,若自別教之觀點而言,事理諸法歷然有別,然自圓教一乘之觀點而言,自地、水、火、風、空、見、識等之七大,乃至於十界三千之諸法,其一一之當體即爲實相之理性;故諸法雖森羅萬象,然又相互融攝,一即一切,一切即一,故天台宗同時有「三千圓具」與「三諦圓融」之說,二者並存而無礙,此乃天台宗教義之極致。〔止觀輔行傳弘決卷五之三〕(參閱「事理不二」3044)
; The three thousand phenomenal activities and three thousand principles, a term ođ the Thiên Thai school.
; (事理三千) Cũng gọi Lưỡng trùng tam thiên, Lưỡng chủng tam thiên, Lý cụ tam thiên sự dụng tam thiên, Lý tạo tam thiên biến tạo tam thiên, Lýtạo tam thiên sự tạo tam thiên, Tính cụ tam thiên tu cụ tam thiên. Tông Thiên Thai đem Lí cụ tam thiên và Sự tạo tam thiên hợp chung lại gọi là Sự lý tam thiên. Cứ theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng của ngài Tứ Minh Tri Lễ soạn, thì Lí chỉ cho lí tính thực tướng, Cụ nghĩa là xưa nay vốn sẵn đủ. Lí cụ tam thiên nghĩa là vạn hữu xưa nay vốn mỗi mỗi đầy đủ 3 nghìn các pháp, chứ chẳng phải do ngườitrờiquỉ súc tạo ra. Sự chỉ cho sự tướng sum la sai biệt;Tạo đồng nghĩavới Cụ. Sự tạo tam thiên nghĩa là 3 nghìn các pháp do tâm tùy theo các duyên nhiễm tịnh mà biến hóa sinh khởi, mỗi mỗi pháp đều hiển hiện rõ ràng và có các tướngtrạng sum la sai biệt. Ngoài ra, Sự lí tam thiên là do phương tiện phối hợp đối chiếu danh mục, đối lại với Lí cụ tam thiên mà lập danh tướng Sự tạo tam thiên, hợp cả 2 lại tức là Sự lí tam thiên,chứ không phải nói tất cả 6 nghìn pháp, đó là vì lí thể không sai khác, sự lí chẳng phải 2, cho nên chỉ có 1 Tam thiên duy nhất. Lại nữa, trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai lập ra, nếu nói theo quan điểm của Biệt giáo thì các pháp sự, lí rõ ràng có khác, nhưng nói theo quan điểm của Nhất thừa Viên giáo thì 7 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, kiến,thứccho đếncác pháptrong Thập giới tam thiên, đương thể của mỗi mỗi pháp chính là lí tính thực tướng. Bởi thế, các pháp tuy muôn tượng sum la nhưng lại dung nhiếp lẫn nhau, 1 tức tất cả, tất cả tức 1, cho nên tông Thiên Thai đồng thời có thuyết Tam thiên viên cụ và Tam đế viên dung, cả 2 đều tồn tại 1 cách vô ngại, đây là chỗ tột cùng trong giáo nghĩa tông Thiên thai. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]. (xt. Sự LýBất Nhị).
sự lý
1) Thực hành và lý thuyết: Practice and theory. 2) Pháp hữu vi hay hiện tượng do nhân duyên sanh ra và pháp vô vi không do nhân duyên sanh ra, tuyệt đối, không thay đổi vì nó là chơn như bất biến: Phenomenon and noumenon, activity and principle or the absolute; phenomena ever change, the underlying principle, being absolute, neither change nor acts, it is the bhutatathata.
sự lý ngũ pháp
See Ngũ Pháp (B).
sự lý tam thiên
Ba ngàn sự tạo và ba ngàn sự lý được tông Thiên Thai dùng đến—The three thousand phenomenal activities and three thousand principles, a term of the T'ien-T'ai Sect.
sự lý vô ngại pháp giới
Một trong tứ pháp giới—One of the four realms—See Tứ Pháp Giới.
sự lười biếng hôn trầm
Lazy and lethargic manner.
sự mật lí mật
3042又作事理俱密。事密,指如來身口意三密事相之法;理密,指闡明實相不二之理。日本台密謂華嚴、法華等諸大乘教,以涵攝如來所說世俗、勝義、圓融不二等祕密之理,故亦可稱爲密教,然其中唯說圓融不二之理,故僅可稱爲理祕密教,而大日經、蘇悉地經及金剛頂經等密教根本經典,則不僅宣說理密,亦闡明身口意等三密之法,盡演如來祕密之意,故稱事理俱密之教。〔蘇悉地羯羅經略疏卷一、真言宗教時問答卷三〕
; (事密理密) Cũng gọi Sự lí câu mật. Sự và Lý đều kín đáo. Sự mật chỉ cho sự tướng tam mật thân khẩu ý của Như lai; Lý mật chỉ cho sự nói rõ lí thực tướng bất nhị. Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền) của Nhật bản cho rằng vì các giáo pháp Đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa...có bao hàm các lí bí mật do đức Như Lai nói như thế tục, thắng nghĩa, viên dung bất nhị... cho nên cũng có thể gọi là Mật giáo; tuy nhiên, trong đó chỉ nói lí viên dung bất nhị, vì thế chỉ có thể gọi là Lí bí mật giáo. Còn các kinh điển căn bản của Mật giáo như kinh Đại nhật, kinh Tô tất địa, kinh Kim Cương đính... thì không những chỉ tuyên thuyết về lí mật, mà còn nói rõ về pháp tam mật thân khẩu ý, giải bày hết lí nghĩa bí mật của Như lai, cho nên gọi là Sự lí câu mật giáo. [X. Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.1;Chân tông giáo thời vấn đáp Q.3].
Sự nghiệp
事業; C: shìyè; J: jigyō;|1. Việc làm, hành động, chức năng, hoạt động (s: karman, prakriyā); 2. Những gì nên được làm; 3. Những hoạt động, hành dộng có liên hệ đến cuộc sống của người ta.
sự nghiệp anh hùng
Xem Thí dụ. Xem Kinh Thí dụ.
sự nghiệp nghiên cứu
Ganthadhura (S), Career of study.
sự nghiệp thế gian
Worldly careers or undertakings—Người tu nên luôn nhớ rằng sự nghiệp thế gian như giác chiêm bao, như trò huyễn hóa, như bọt bóng, như tiếng vang, chỉ thoáng chốc rồi tan biến, không có lợi gì cho công cuộc tu hành giải thoát—Cultivators should always remember that the worldly affairs are like a dream, an illusion, a bubble, an echo, existing for but a moment before returning to the void; they offer no real benefit to our cultivation for liberation.
sự nghiệp tối thắng
Perfect in constant performance.
Sự pháp
事法; C: shìfǎ; J: jihō;|Những hiện tượng riêng biệt.
sự pháp giới
3041爲華嚴宗所立四法界之第一法界。指宇宙間千差萬別之現象界。爲「理法界」之對稱。即宇宙各種事物皆各有其區別與界限,如諸眾生色、心等法,一一差別,各有分齊。(參閱「四法界」1717)
; The phenomenal world, phenomenal existence. Sự pháp thân, the Buddha-nature in practice. Lí pháp thân, the Buddha-nature in principle or essence, or the truth itself.
; Sự pháp giới, một trong bốn pháp giới—The phenomenal world, phenomenal existence, one of the four dharma-realms. ** For more information, please see Tứ Pháp Giới.
; (事法界) Đối lại: Lý pháp giới. Chỉ cho thế giới hiện tượng nghìn muôn sai khác trong vũ trụ, là pháp giới thứ nhất trong 4 pháp giới do tông Hoa Nghiêm thành lập. Tức các loại sự vật trong vũ trụ, mỗi loại đều có sự khu biệt và giới hạn, như các pháp sắc, tâm của chúng sinh, mỗi mỗi sai khác, đều có giới hạn riêng. (xt. Tứ Pháp Giới).
sự pháp thân
Phật tánh thực hành, đối lại với Phật tánh trong lý thuyết, hay chân lý, hay “Lý Pháp Thân.”—The Buddha-nature in practice, in contrast with the Buddha-nature in principle or essence, or the truth itself (Lý pháp thân). ** For more information, please see Lý Pháp Thân.
sự phân biệt thức
Vastuprativikalpa-vijāṇa (S), Knowledge of discrimination.
; Vastuprativikalpa-vijnàna (S). Knowledge of the discriminating of things.
; Vastuprativikalpajnana (skt)—Cái tâm thực nghiệm hay tâm thức theo nghĩa khả năng phân biệt các sự vật đặc thù—Emperical mind or consciousness as the faculty of discriminating particular object.
sự phấn chấn
Ubbilla (P).
sự quán
Quán tưởng về hình tướng bên ngoài—Contemplation (meditation) on the external forms or the phenomenal—See Nhị Quán.
sự quán lí quán
3046又作事理二觀。自事、理二點而言,可分觀法爲事觀、理觀二種。事觀,即謂觀照森羅差別之事;理觀,即謂觀照無生平等之理。天台宗山家、山外二派對事理二觀各有不同之說法。山家學者以爲事理二觀之異,係因觀照之法有別,至於所觀之境則悉爲迷事之一念。 於天台宗,此事理二觀說始於荊溪湛然,於其所撰之止觀義例二卷中引用占察經卷下所謂之唯識、實相二觀,印證事理二觀。蓋唯識觀即縱任三性,用四句之推撿達於實相之理的事觀,實相觀即達觀實相之理觀;故於唯識、實相二觀何言,亦不得以所觀之境區分差別之事與平等之理。 此外,處元於所撰止觀義例隨釋卷四之中,承四明知禮之意,指斥「山外」學者所謂觀照內心爲理觀,觀照外色爲事觀之說。同書中並闡論四種三昧與事理二觀之關係。〔中論疏卷七、十不二門指要鈔卷上〕(參閱「觀法」6960)
; (事觀理觀) Cũng gọi Sự lý nhị quán. Chỉ cho 2 pháp quán Sự và Lí. Sự quán là quán chiếu những sự vật sai biệt đến sum la; Lí quán là quán chiếu lí vô sinh bình đẳng. Đối với Sự quán và Lí quán, 2 phái Sơn gia, Sơn ngoại thuộc tông Thiên Thai đều có quan điểm khác nhau. Các học giả phái Sơn gia cho rằng sở dĩ có chỗ khác nhau giữa Sự quán và Lí quán là do phương pháp quán chiếu bất đồng, còn cảnh sở quán thì không sai khác mà chỉlà 1 niệm mê sự. Trong tông Thiên Thai, thuyết Sự Quán, Lí Quán này bắt đầu từ ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, trong Chỉ quán nghĩa lệ 2 quyển do ngài soạn có dẫn dụng Duy thức quán và Thực tướng quán nói trong kinh Chiêm sát quyển hạ để ấn chứng cho Sự quán và Lí quán. Vì Duy thức quán tức là Sự quán gồm đủ 3 tính, dùng sự suy xét tứ cú để đạt đến lí thực tướng; còn Thực tướng quán tức là Lí quán để đạt đến Thực tướng; bởi vậy, nói theo Duy thức quán và Thực tướng quán thì cũng không được dùng cảnh sở quán để phân tích Sự sai biệt và Lí bình đẳng. Ngoài ra, trong Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích quyển 4, ngài Nguyên xử theo ý ngài Tứ minh Tri lễ, chỉ trích thuyết của các học giả phái Sơn ngoại cho rằng quán chiếu nội tâm là lí quán, quán chiếu ngoại sắc là sự quán. Trong sách đã dẫn ở trên còn bàn rõ về sự quan hệ giữa 4 loại Tam muội và Sự quán lí quán. [X. Trung luận sớ Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng]. (xt. Quán Pháp).
sự ràng buộc của nghiệp
Karmic bondage.
sự sám
3045爲「理懺」之對稱。又稱事懺悔、隨事分別懺悔。事,指事儀。即於事相上之作法中,如實懺悔罪惡;舉凡身之禮拜瞻敬,口之稱唱讚誦,意之觀想聖容,以三業殷勤哀求,懺悔過去、現在所作罪業,皆稱爲事懺。此外,觀察實相之理,以滅除其罪,是爲理懺。一般所謂之懺悔,多指事懺而言。〔摩訶止觀卷二上〕(參閱「懺悔」6772)
; (事懺) Cũng gọi Sự sám hối, Tùy sự phân biệt sám hối. Đối lại: Lí sám. Chỉ cho tác pháp sám hối theo sự tướng. Phàm các hành vi như lễ bái chiêm ngưỡng của thân, xưng niệm tán tụng của miệng, quán tưởng thánh dung của ý, dùng 3 nghiệp ân cần thiết tha cầu xin sám hối các tội nghiệp đã tạo trong quá khứ, hiện tại, đều gọi là Sự sám. Còn quán xét lí thực tướng để diệt trừ tội lỗi thì gọi là Lí sám. Thông thường, nói sám hối phần nhiều là chỉ cho Sự sám. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu]. (xt. Sám Hối).
sự sư
Teaching dealing with phenomena. The characterization by Thiên Thai of the Tripitaka or Hìnayàna teaching as Giới nội sự sư within the three realms of desire, form, and formlessness; and the Biệt giáo different teaching as Giới ngoại sự sư outside or superior to those realms; the one dealt with the activities of time and sense, the other transcended these but was still involved in the transient.
sự sư pháp
3042弟子對師尊所應奉行之禮儀與勞務。道宣律師所撰之教誡新學比丘護律儀中,列舉事師法五十一項,如在師前不得受人禮拜;見師衣裳巾襪垢膩,稟明其師後,洗濯令淨;若隨師行不得喧笑、不得蹋師之影,相距可七尺餘;不得在師前讒佞他人,說其過惡者,死後入地獄;師欲出寺,當具足其所需之物等。
; (事師法) Phép thờ thầy. Trong Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi, Luật sư Đạo tuyên có nêu ra 51 pháp Sự sư, như ở trước mặt thầy không được để người khác lễ bái mình, thấy khăn áo của thầy dơ bẩn phải thưa để thầy biết, sau đó mang đi giặt sạch sẽ; nếu theo thầy ra đi không được cười nói ồn ào; không được dẫm đạp lên bóng của thầy, phải đi cách thầy hơn 7 thước; không được gièm chê hoặc nịnh nọt người khác trước mặt thầy; nều thầy muốn đi xa phải chuẩn bị đầy đủ các vật cần dùng cho thầy.
Sự sư pháp ngũ thập tụng
事師法五十頌; C: shìshī fǎ wǔshí sòng; J: jishi hō gojū ju; S: gurupañcāśikā; T: bla ma lnga bcu pa;|Một tác phẩm được xem là của Bồ Tát Mã Minh (馬鳴菩薩; s: aśvaghoṣa), được Nhật Xứng (日稱) và một số người khác dịch sang Hán văn. Một luận văn hướng dẫn ngắn gọn tìm một bậc chân sư như thế nào, và khi đã có một mối liên hệ thầy trò rồi sử sự như thế nào mới đúng. Luận tụng này có mối liên hệ rõ ràng với hệ thống thực hành mật giáo Vô thượng du-già (無上瑜伽; s: anuttarayoga-tantra).
sự sư pháp ngũ thập tụng
3042全一卷。馬鳴菩薩集,宋代僧日稱等譯。收於大正藏第三十二冊。全卷由五十頌組成,記述出家、在家二眾皆須敬重灌頂師阿闍黎,因此可得種種功德利益;反之,若對師輕慢誹謗,則得種種苦報災厄。文中並詳述弟子對師尊所應奉行之禮儀、勞務等。此外,本頌中所出現之儀軌、灌頂、真言、護摩等名相,顯係密教用語,故作者是否確爲馬鳴菩薩,尚待研考。
; (事師法五十頌) Tác phẩm, 1 quyển, dobồ tát Mã minh biên tập, ngài Nhật xứng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Toàn quyển gồm 50 bài tụng, nói về việc 2 chúng xuất gia và tại gia đều phải kính trọng Quán đính sư A xà lê, nhờ đó mà được các công đức lợiích. Trái lại, nếu khinh nhờn, phỉ báng thì sẽ chịu các thứ khổ báo tai ách. Trong sách cũng nói rõ các lễ pháp và việc hầu hạ... mà người đệ tử nên phụng hành đối với bậc tôn sư của mình. Ngoài ra, những danh tướng nghi quĩ, quán đính, chân ngôn, hộ ma... xuất hiện trong sách này hiển nhiên là những dụng ngữ của Mật giáo, bởi vậy, tác giả có đích xác là bồ tát Mã Minh hay không thì còn phải chờ sự nghiên cứu khảo chứng.
sự sư pháp ngũ thập tụng thích
3042喇嘛教黃教開祖宗喀巴著。明惠帝建文四年(1402)成書於熱振寺。書中闡明學僧對其軌範師應持之態度及所應遵循之守則。據藏譯本載,原頌爲拔毘天所集,然漢譯本則謂係馬鳴所集。宗喀巴以前無專文注釋,僅由師徒口授,久之漸起爭論。宗喀巴乃廣引經論,闡解本義。爲宗喀巴重要著作之一。
; (事師法五十頌釋) Tác phẩm, do Tổ khai sáng phái Hoàng giáo thuộc Lạt Ma giáo Tây Tạng là ngài Tông Khách Ba soạn ở chùa Nhiệt Chấn vào năm Kiến văn thứ 4 (1402) đời Huệ Đế nhà Minh. Nội dung sách này nói rõ về thái độ và những phép tắc mà người học tăng nên tuân giữ đối với bậc thầy khuôn mẫu của mình. Cứ theo bản dịch Tây Tạng thì văn dụng gốc (nguyên tác) do ngài Bạt Tì Thiên biên tập, nhưng theo bản Hán dịch thì do bồ tát Mã Minh biên tập. Trước ngài Tông Khách Ba không có văn chú thích, chỉ do thầy truyền miệng cho trò, lâu ngày dần dần nảy sinh tranh luận. Ngài Tông Khách Ba trích dẫn các kinh luận để giải thích rộng về ý nghĩa của những bài tụng gốc. Đây là 1 trong các tác phẩm quan trọng của ngài Tông Khách Ba.
sự sự vô ngại
3039謂現象界事事物物之關聯至爲密切而交融無礙,具有一多相即、大小相融之殊妙義。乃華嚴宗顯示現象即本體之用語。此外,華嚴宗初祖杜順所立「三重觀門」之第三重「周遍含容觀」,即相當於事事無礙法界,乃謂:觀事事物物悉大小相融,一多相即,遍攝無礙,交參自在。(參閱「三重觀門」592)
; No obstruction between thing and thing; each "thing-event" involves every other, and is seen to be self-determinative, self-generated.
; (事事無礙) Hết thảy sự sự vật trong thế giới hiện tượng đều liên quan rất mật thiết và giao thoa dung hợp mà không hề ngăn ngại lẫn nhau. Đây là dụng ngữ của tông Hoa Nghiêm hiển bày diệu nghĩa Nhất đa tương tức, Đại tiểu tương dung. Hiện tượng tức bản thể... (xt. Tam Trùng Quán Môn).
sự sự vô ngại pháp giới
3040爲華嚴宗所立四法界之第四法界。謂諸法之體用雖各別緣起,各守其自性,然事事相望,多緣互應而成一緣,一緣亦普遍資應爲多緣;力用交涉,互相並存而無礙自在,重重無盡。(參閱「四法界」1717)
; Perfectly unimpeded interpenetration—“Sự” theo Hoa Nghiêm liên quan đến thuật ngữ “Vatsu” trong Phạn ngữ có nghĩa là “sự việc,” “cớ sự xãy ra,” hay “một vật hiện hữu.” Tuy nhiên nghĩa thông thường của “sự” là “sự việc.” Người Phật tử chúng ta không tin tưởng vào thực tại của những hiện hữu cá nhân vì kinh nghiệm cho biết không có gì tồn tại được dù trong chốc lát. Tất cả đều biến đổi, lần hồi, chầm chậm, nên lâu ngày chầy tháng ta mời nhận ra. Cảm giác của chúng ta thường gắn liền với ý niệm về thời gian và đo bằng không gian, cho nên mọi sự việc tiếp nối diễn ra trong thời gian đều chuyển thành một chuỗi thực tại cá biệt trong không gian. Giáo lý “sự sự vô ngại pháp giới,” chỉ thấu triệt được khi ý thức của chúng ta hoàn toàn thâm nhập với dòng diễn biến vô tận của muôn sự muôn vật kể trên—According to the Avatamsaka terminology, which is a Sanskrit term “Vatsu” meaning “matter,” or “event,” or “happening,” or “ an individual thing or substance.” However, its general idea is “an event.” We, Buddhists, do not believe in the reality of an individual existence, for there is nothing in our world of experience that keeps its identity even for a moment; it is subject to constant change. The changes are, however, imperceptively gradual as far as our human senses are concerned , and are not noticed until they pass through certain stages of modification. Human sensibility is bound up with the notion of time-divisions; it translates time into space; a succession of events is converted into a spatial system of individual realities. The idea of “pefectly unimpeded interpenetration Dharmadhatu” is attained only when our consciousness is thoroughly pervaded with a feeling for a never-ending process of occurrences mentioned above.
; (事事無礙法界) Pháp giới thứ 4 trong 4 giới do tông Hoa nghiêm thành lập. Nghĩa là thể dụng của các pháp tuy duyên khởi khác nhau, mỗi pháp giữ gìn tự tính của nó, nhưng sự sự trông nhau, nhiều duyên ứng hợp nhau mà thành môt duyên, một duyên cũng ứng hợp cùng khắp thành nhiều duyên, lực dụng giao thoa, nương nhau tồn tại, vô ngại tự tại, trùng trùng vô tận. (xt. Tứ Pháp Giới).
sự sự vô ngại quán
3041又作事事無礙法界觀。爲華嚴宗所立四法界觀之第四法界觀。謂觀現象界之一切事象,乃互相交融而無有障礙。此一世界觀亦闡明於千差萬別之現象界中,得直接體證絕對之真理。(參閱「十玄門」416、「三重觀門」592、「四法界」1717)
; (事事無礙觀) Cũng gọi Sự sự vô ngại pháp giới quán. Pháp giới quán thứ 4 trong 4 pháp giới quán do tông Hoa nghiêm thành lập. Nghĩa là quán xét hết thảy sự vật trong thế giới hiện tượng đều giao thoa dung hợp với nhau mà không bị ngăn ngại. Pháp giới quán này cũng nói rõ sự thể nhận và chứng đắc chân lí tuyệt đối 1 cách trực tiếp ngay trong thế giới hiện tượng muôn nghìn sai khác. (xt. Thập Huyền Môn, Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).
sự thiền
Hữu lậu định hay thiền định tập trung tư tưởng vào hiện tượng—The dhyana of or concentration on phenomena.
sự thần biến của chư phật
The miracles of all Buddhas.
sự thật
Realities—Truth.
sự thật của đời sống
The realities of life.
sự thể
Affairs—Matters.
sự thực quy ước
Conventional truth.
sự trường tồn của phật giáo
The longevity for the Buddhism.
sự tình
Situation of matter.
sự tích
Traces of the deeds or life of an individual; biography. Story, tale.
; Dấu tích hành động hay đời sống của một cá nhân—Biography—Traces of the deeds or life of an individual.
sự tướng
3041密宗對修行三密之作法,稱爲事相。即修行擇地、造壇、護摩、灌頂、結印、誦咒等行軌作法,此係真言教理所依託之因緣事相。又因修法目的之不同,可分爲四種法、五種法、六種法等。四種法有息災、增益、降伏、敬愛等,若加鉤召法即爲五種法,再加延命法即爲六種法。 相對於事相者爲研究、解釋密教義理之「教相」,如開顯六大、四曼、三密等諸法門之義理教說;故知事相乃用以顯喻真言深密教理之實際具體修法。主要之事相有十八道、金剛界、胎藏界、護摩行法、灌頂等,皆依教理組織而與教相互爲表裏。例如結各種手印,皆含有其內在義理,可謂密教修法乃透過事相來實踐其教理者。 另於教相方面,則可大別爲顯密對辨、自宗不共二門:(一)顯密對辨門,係論說顯密二教之優劣、十住心之深淺、真言密教的究竟真實之教。(二)自宗不共門,係說真言不共之菩提心、即身成佛等理趣,此爲密教獨特之教理。 此外,事相與教相合稱事教二相,二者關係密切,須二相雙修始得心要;而初學教相,後習事相,爲開解立行之次第。又教相可對眾公開,事相則限制不許對未灌頂之人說,若說之,則師徒共犯違越三世諸佛祕法之重罪。〔大日經卷一住心品、大日經疏卷七、卷八〕
; Phenomenon, affair, practice. The practices of the esoterics are called sự tướng bộ as contrasted with their open teaching called giáo tướng bộ. Sự tướng thiền sư, a mystic, or monk in meditation, yet busy with affairs: an epithet of reproach.
; Các pháp hữu vi hay các hiện tượng có sanh có diệt—Phenomenon—Affair—Practice.
; (事相) Đối với tác pháp tu hành Tam mật, Mật tông gọi là Sự tướng. Tức là tu hành các pháp như: Chọn đất, làm đàn, hộ ma, quán đính, kết ấn, tụng chú... Đây là nhân duyên sự tướng mà trong đó giáo lí Chân ngôn được kí thác. Lại vì mục đích của sự tu hành có khác nhau nên có thể chia làm 4 loại pháp, 5 loại pháp, 6 loại pháp... Bốn loại pháp là: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục và Kính ái, nếu thêm pháp Câu triệu thì thành 5 loại pháp, lại thêm pháp Diên mệnh nữa thì thành 6 loại pháp. Sự tướng chủ yếu có: Thập Bát đạo, Kim Cương giới, Thai Tạng giới, Hộ Ma Hành pháp, Quán Đính... đều nương vào giáo lí và tương quan mật thiết với giáo tướng. Chẳng hạn như kết các loại thủ ấn, đều có bao hàm nghĩa lí bên trong, bởi thế, có thể nói, sự tu pháp trong Mật giáo là thông qua sự tướng để thực hành giáo lí. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại Nhật Q.1; Đại Nhật kinh sớ Q.7, 8].
sự tướng (thiền) sư
Vị (thiền) sư với hình tướng bên ngoài, nhưng kỳ thật chỉ bận bịu với những việc thế gian—A mystic, or monk in meditation, but always busy with worldly affairs.
sự tướng bộ
Pháp thực hành của mật giáo (thân khẩu ý mật), đối lại với “Giáo Tướng Bộ.”—The practices of the esoterics, as contrasted with their open teaching.
sự tướng cách lịch
3041謂現象界所有一切之存在互有差別,互不融合。現象界係由本體界所顯現者,故現象界若攝於本體時,其一一之事相無有差別;然若僅就現象界而論時,則視爲互有差別而不相容融。天台宗於藏、通、別、圓四教之教判中,以此事相隔歷說爲別教之教理,而以現象交融之本體說爲圓教之教理。〔華嚴經探玄記卷一、維摩義記卷一末〕
; (事相隔曆) Tất cả sự vật tồn tại trong thế giới hiện tượng đều sai khác nhau, không dung hợp lẫn nhau, gọi là Sự tướng cách lịch. Thế giới hiện tượng là từ trong thế giớibản thể hiển hiện ra, cho nên nếu khi nhiếp thế giới hiện tượng về bản thể thì mỗi mỗi sự tướng không có sai khác. Nhưng nếu chỉ nói riêng về thế giới hiện tượng thì thấy các sự tướng đều sai khác, không dung hợp lẫn nhau. Trong giáo phán về 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên Thai thì thuyết Sự tướng cách lịch này là giáo lí của Biệt giáo, còn thuyết Hiện tượng giao dung trong bản thể là giáo lí của Viên giáo.[X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Duy ma nghĩa kí Q.1, phần cuối].
sự tạo
3045爲「理具」之對稱。係天台宗之教義。天台宗謂真理(法性之理體)圓具三千諸法,此三千諸法以染淨等之諸緣而有差別相狀之顯現,稱爲事造。(參閱「一念三千」49、「理具事造」4718)
; Lập thuyết của tông Thiên Thai về 3000 tính cụ—Phenomenal activities. According to T'ien-T'ai there are 3,000 underlying factors or principles giving rise to the 3,000 phenomenal activities.
; (事造) Đối lại: Lí cụ. Giáo nghĩa của tông Thiên Thai. Tông này cho rằng chân lí (lí thể pháp tính) tròn đủ 3 nghìn các pháp, 3 nghìn các pháp này do các duyên nhiễm, tịnh... mà hiển hiện các tướng trạng sai biệt, gọi là Sự tạo. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Lí Cụ Sự Tạo).
sự việc kỳ lạ
Strange and wonderful occurrences.
sự độ
3041即持守五戒、十善等法,以度脫惡道之苦。蓋五戒、十善等皆屬有爲之事相,故謂之事;度者,謂度脫地獄、畜生、餓鬼等三惡道之苦。摩訶止觀卷二下(大四六‧一七中):「諸蔽爲惡,事度爲善。」〔金光明經文句記卷三下〕
; Salvation by observing the five commandments (precepts), the ten good deeds, etc.
; Cứu độ bằng cách hành trì ngũ giới hay thập thiện (sự tu phước là việc thiện)—Salvation by observing the five commandments, the ten good deeds, etc.
; (事度) Giữ gìn 5 giới, thực hiện 10 điều thiện để độ thoát các nỗi khổ của ác đạo. Bởi vì 5 giới, 10 điều thiện đều thuộc sự tướng hữu vi, cho nên gọi là Sự; Độ nghĩa là độ thoát các khổ trong 3 ác đạo địa ngục, súc sinh và ngã quỉ. Ma ha chỉ quán quyển 2 phần cuối (Đại 46, 17 trung) nói: Các cái che lấp là ác, sự độ là thiện. [X. Kim Quang Minh kinh Văn Cú Kí Q.3 phần cuối].
sực
All of a sudden---Suddenly.
sực nhớ
To remember suddenly.
sực tỉnh
To wake up suddenly.
ta
5396悉曇字???(tsa)。四十二字門之一。又作蹉、縒、哆娑。大智度論卷四十八(大二五‧四○九上):「若聞蹉字,即知一切法無慳無施相;末蹉羅,秦言慳。」蓋梵語 mātsarya(末蹉羅)爲慳、嫉之義,其中含有蹉(tsa)字,故有此說。又光讚般若經卷七舉盡滅,放光般若經卷四舉死亡,大般若經卷五十三舉勇健性,守護國界主陀羅尼經卷三舉勇猛等諸義,又新華嚴經卷七十六舉出修行趣入一切功德海之義。華嚴經隨疏演義鈔卷八十九(大三六‧六九一上):「縒字別譯爲哆婆(疑作娑)字,若會經者勇健方能修入功德。智論云:『若聞縒字,即知一切法無慳無施;以末縒羅,此言慳故。』釋曰:『無慳最勇健,施爲行首,勇而能行,故偏說耳。』」〔大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門、慧琳音義卷二〕
; 6524悉曇字???(ysa)。四十二字門之一。又作逸娑、也娑、拽娑、夷娑、闍、嵯。大智度論卷四十八謂聞此醝字,即知醝字空,知諸法亦空。大般若經卷四一五稱入逸娑字門,悟一切法衰老之性相不可得。〔大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門、守護國界主陀羅尼經卷三、華嚴經隨疏演義鈔卷八十九〕(參閱「悉曇」4564)
; 1) Nương tựa vào—To rely on—To avail oneself of. 2) Tiếng thở dài: To sigh—Alas!
Ta Bà
(s, p: sahā, j: saba, 娑婆): âm dịch là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶), ý dịch là nhẫn (忍), nói cho đúng là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界), ý dịch là thế giới chịu đựng (nhẫn độ, nhẫn giới), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới mà đức Thích Tôn giáo hóa. Nó còn được gọi là Nhân Gian Giới (人間界, cõi con người), Tục Thế Giới (世俗界, thế giới phàm tục), Hiện Thế (現世, cõi đời này). Chúng sanh ở trong thế giới này chịu đựng các phiền não, vì vậy mới có tên là thế giới chịu đựng. Bên cạnh đó từ này còn được dịch là Tạp Hội (雜會) hay Tập Hội (集會). Nguyên ngữ của từ tập hội là sabhā, muốn ám chỉ sự tập hội phức tạp của các tầng lớp như con người, trên trời, Sa Môn, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, cư sĩ, v.v. Người ta cho rằng nguyên lai từ sahā cũng phát xuất từ sabhā, là thế giới có nhiều loại người khác nhau làm đối tượng hóa độ của đức Phật Thích Ca. Thiền sư Chơn Không (眞空, 1045-1100) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Diệu bổn hư vô minh tự khoa, hòa phong xuy khởi biến Ta Bà, nhân nhân tận thức vô vi lạc, nhược đắc vô vi thỉ thị gia (妙本虛無明自誇、和風吹起遍娑婆、人人盡識無爲樂、若得無爲始是家, diệu bản thênh thang sáng tự khoa, gió hòa thổi khắp cõi Ta Bà, người người thảy biết vô vi lạc, nếu đạt vô vi mới là nhà).” Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) cũng có hai câu đối như sau: “Ta Bà giáo chủ bi nguyện hoằng thâm thệ độ khổ nhân ly hỏa trạch, Cực Lạc đạo sư từ tâm quảng đại thường nghinh mê tử nhập Liên Trì (娑婆敎主悲願宏深誓度苦人離火宅、極樂導師慈心廣大常迎迷子入蓮池, Ta Bà giáo chủ bi nguyện rộng sâu thề độ người khổ xa nhà lửa, Cực Lạc đạo sư từ tâm rộng lớn thường đón kẻ mê vào Liên Trì).”
Ta bà
(娑婆): có mấy nghĩa. (1) Dáng vẻ cành lá trơ trọi. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu Quỳnh Hoa (后土廟瓊花) của Vương Vũ Xưng (王禹偁, 954-1001) nhà Tống có câu: “Hốt tợ thử thiên thâm giản để, lão tùng kình tuyết bạch ta bà (忽似暑天深澗底、老松擎雪白娑婆, chợt giống mùa hè khe sâu đáy, tùng già vác tuyết trắng trọi trơ).” (2) Thong dong, nhàn rỗi. (3) Âm dịch của Phạn ngữ sahā, còn gọi là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶); ý dịch là nhẫn (忍); nói đủ là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界); ý dịch là nhẫn độ (忍土), nhẫn giới (忍界, cõi chịu đựng), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới do đức Thích Tôn giáo hóa. Như trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) có đoạn: “Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, Thánh chúng đến nghinh, quay về Tịnh Độ, bỏ Ta Bà chất nhớp, thành Cực Lạc sạch thân).”
ta bà
Saha (S), Human world, Sahaloka (S)Đại nhẫn thế giới, Kham nhẫn, Năng nhẫn, Nhẫn độChính là cõi giới chúng ta vì đau khổ rất nhiều, vì chúng sanh rất độc ác, đất đai chẳng yên tịnh, chúng sanh gây 10 điều ác mà chẳng chịu lìa bỏ.
; Jambudvida (skt)— The saha world—The worldly world—Impure Land—Ta Bà có nghĩa là khổ não, lại cũng có nghĩa là phiền lụy hay trói buộc, chẳng được ung dung tự tại. Thế giới Ta Bà, nơi đầy dẫy những mâu thuẫn, hận thù và bạo động. Nơi mà chúng ta đang sống là một thế giới bất tịnh, và Phật Thích Ca đã bắt đầu thanh tịnh nó. Con người sống trong thế giới nầy chịu phải vô vàn khổ hãi vì tam độc tham, sân, si cũng như những dục vọng trần tục. Cõi Ta Bà nầy đầy dẫy những đất, đá, gai chông, hầm hố, gò nổng, thường có những mối khổ về đói khát, lạnh, nóng. Chúng sanh trong cõi Ta Bà phần nhiều tham đắm nơi phi pháp, tà pháp, chớ chẳng chịu tin chánh pháp, thọ số của họ ngắn ngủi, nhiều kẻ gian trá. Nói về vua quan, dầu có nước để cai trị, họ chẳng hề biết đủ, mà ngược lại sanh lòng tham lam, kéo binh đánh chiếm nước khác, khiến cho nhiều người vô tội chết oan; lại thêm nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, mất mùa, đói khát, vân vân nên chúng sanh trong cõi nầy phải chịu vô lượng khổ sở. Nơi cõi Ta Bà nầy, sự thuận duyên cùng an vui tu tập thì ít, mà nghịch duyên phiền não thì nhiều. Hầu hết người tu hành đều dễ bị thối thất tâm Bồ Đề đã phát lúc ban đầu. Theo Đức Phật, quả đất mà chúng ta đang ở đây có tên là Nam Thiệm Bộ Châu, nằm về hướng nam của núi Tu Di, vốn là một phần nhỏ nhất trong hệ thống Đại Thiên Thế Giới do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm giáo chủ—Saha means sufferings and afflictions; it also means worries, binding, unable to be free and liberated. The worldly world is full of storm, conflict, hatred and violence. The world in which we live is an impure field, and Sakyamuni is the Buddha who has initiated its purification. People in this world endure many sufferings stemming from three poisons of greed, anger and delusion as well as earthly desires. The Saha World is filled with dirt, rocks, thorns, holes, canyons, hills, cliffs. There are various sufferings regarding thirst, famine, hot, and cold. The people in the Saha World like wicked doctrines and false dharma; and do not have faith in the proper dharma. Their lives are short and many are fraudulent. Kings and mandarins, although already have had lands to govern and rule, are not satisfied; as they become greedy, they bring forces to conquer other countries causing innocent people to die in vain. In addition, there are other infinite calamities such as droughts, floods, loss of harvest, thirst, famine, epidemics, etc. As for this Saha World, the favorable circumstances to cultivate in peace and contenment are few, but the unfavorable conditions of afflictions destroying path that are rather losing Bodhi Mind they developed in the beginning. Moreover, it is very difficult to encounter a highly virtuous and knowledgeable advisor. According to the Buddha, the planet in which we are currently living is called Virtuous Southern Continent. It is situated to the south of Mount Sumeru and is just a tiniest part of the Great World System of the Saha World in which Sakyamuni Buddha is the ruler.
ta bà ha
Svāhā (S, P), Soha (T)Tát bà ha, ta bà ha, tá hát, tá ha, số ha, xóa haNghĩa là Thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, kính giác chư Phật chứng minh công đứcXem Ta bà ha.
; Svàhà (S). An oblation by fire, also Hail! a brahminical salutation at the end of a sacrifice. It also means: successful, auspicious, blissful, etc.
ta bà thế giới
Mi-jied 'jig-rten-gyi khams (T), Sahalokadhātu (S), Human world.
; Saha-loka-dhatu (skt)—The world of human beings.
ta bà thế giới chủ
Brahma-sanamku (S)Một tên khác của Phạm Thiên.
ta bà tịnh độ
Samsara and the Pure Land—Theo Kinh Phật Thuyết A Di Đà, có hai cõi là Ta Bà và Tịnh Độ—According to the Amitabha Sutra, there are two realms, they are samsara and the Pure Land: 1) Ta Bà: Samsara—See Ta Bà. 2) Tịnh Độ: The Pure Land—See Tịnh Độ.
ta bà, sa bà
Sahà (S). That which bears, the earth; intp as bearing, enduring; the place of good and evil; a universe, or great chiliocosm,w here all are subject to transmigration and which a Buddha transforms. It is divided into three regions tam giới and Mahà Brahmà Sahàmpati PhạmThiên is its lord.
ta cát lợi đa da ni
Agni (skt)—See Ác Kỳ Ni.
ta già la
Sàgara (S). The ocean. The Nàga king of the ocean palace north of Mt Meru, possessed of priceless pearls; the dragon king of rain; his eight year old daughter instantly attained Buddhahood, v. the Lotus sùtra.
ta già la long vương
Xem biển.
ta ha
A miraculous medicine.
ta ha đề bà
Sahadeva (S)Câu sanh thầnTên một vị quan trong triều vua TịnhPhạn.
ta kiệt la
Xem Ta già la.
ta la
Sàla, sàla (S). The Sàl tree.
ta la bồ tát
Bồ Tát Ta La là một hình thức của Quan Âm, người ta nói rằng Bồ Tát Ta La được tạo thành bởi con mắt của Quán Âm—Tara Bodhisattva, as a form of Kuan-Yin, is said to have been produced from the eye of Kuan-Yin.
ta la chỉ
Saketa (S).
Ta La Song Thọ
(娑羅雙樹): gọi tắt là Ta La (s: śāla, p: sāla, 娑羅) là một loại cây rất cứng, chắc, cao, lá rộng thường xuyên, vốn có của Ấn Độ, vỏ cây có màu xanh trắng, lá có hình tròn thuẫn. Khi đức Thế Tôn nhập diệt ở bên bờ Ni Liên Thuyền thuộc ngoại thành Câu Thi Na, chính Ngài đã nhập Niết Bàn dưới hai gốc cây Ta La này. Tương truyền khi ấy do đau buồn vì sự nhập diệt của đức Thế Tôn, cây này đã khô héo. Khi cây này khô héo đi thì biến thành sắc màu trắng giống như con bạch hạc, cho nên rừng Ta La Song Thọ còn được gọi là Hạc Lâm (鶴林). Cây Song Thọ ở phía đông được ví cho thường và vô thường, cây ở phía Tây là ví cho ngã và vô ngã, cây ở phía Nam ví cho lạc và vô lạc, còn cây ở phía Bắc là ví cho tịnh và vô tịnh.
ta la song thụ, ta la lâm
Sàlavana (S). The grove of Sàl trees near Kusinagara, the reputed place of the Buddha's death.
ta la thất phạt để
Xem Biện Tài thiên.
ta la thọ
The Tala tree—Its edible fruit resembling the pomegranate, its leaves being used for writing.
ta la thọ vương hoa khai phu phật
Xem Khai Phu Hoa Vương Như Lai.
ta la thọ vương phật
Sāladrarāja (S), Sāladrarāja-buddha (S), Calendrarāja (S), Sala Tree King Buddha Phật Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí có thọ ký cho vua Diệu Trang nghiêm vương về sau sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca Hoa đức Bồ tát la hậu thân của Diệu Trang Nghiêm vương.
ta ma vệ đà
Sàma-Veda (S). The 3rd of four books of Veda.
ta ra
Tàrà (S). Name of a Goddess related to Avalokitesvara.
ta thán
Parideva (S).
; To complain.
ta thông khai đạo
Hai tông Biệt giáo và Viên giáo đều dựa vào Thông giáo để tiến hóa—The two other schools of Differentiated and Complete Teachings depend on the T'ung or Intermediate school for their evolution.
Ta 嗟
[ja] サ sa ||| To polish, esp. jewelry. A metaphor for polishing one's character. => Đánh bóng, đặc biệt là nữ trang. Nghĩa bóng là làm cho tao nhã, lịch sự.
ta, ngã
Atman (S). Self, ego, personality, soul.
Ta-bà thế giới
娑婆世界; S: sahalokadhātu;|Sa-bà thế giới
tagarasikhi
Tagarasikhi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
Tai
哉; C: zāi; J: sai; |Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi – Chẳng phải vậy sao?; 2. Nghi vấn từ; 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm; 5. Bắt đầu.
tai
1) Lỗ tai: Ear. 2) Tai họa: Calamity.
tai biến
Catastrophe—Disaster—Calamity.
tai hoạn
2983請參閱汾陽無德禪師語錄 請參閱汾陽無德禪師語錄 指妨礙向上修道之障。尋、伺、苦、樂、憂、喜、出息、入息等八者,妨礙入於色界第四禪,故稱之為八災患。
; (灾患) Chỉ cho các chướng ngại làm phương hại việc hướng thượng tu đạo, gồm 8 thứ là tầm(tìm cầu), tứ(rình xét), khổ, vui, lo mừng, thở ra và hít vào. Tám thứ này ngăn trở việc tiến vào Đệ tứ thiền cõi Sắc, vì thế gọi là Bát tai hoạn.
tai hại
Damaging—Disastrous.
tai họa
Disaster—Terrible that happens unexpectedly.
tai nạn
Accident.
tai nạn bất kỳ
Unfoerseen accident.
tai thính
Quick ear.
tai tiếng
Bad reputation.
tai to mặt lớn
Important or distinguished person.
tai ương
Disaster.
Tai 哉
[ja] サイ sai ||| (1) Rhetorical question--isn't it so?. (2) An interrogative. (3) A particle expressing surprise, admiration or grief. (4) To begin. => Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi tu từ-- Phải vậy không? 2. Nghi vấn từ. 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm. 4. Bắt đầu.
Tai 災
[ja] サイ sai ||| Calamity, misfortune, woe, evil, curse (vyasana, upadrava). => Tai ương, tai hoạ, bất hạnh, điều xấu ác, sự nguyền rủa (s: vyasana, upadrava).
Tai-lô-pa
S: tilopa, tailopa;|Một trong những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahā-siddha) và là người đầu tiên truyền phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā). Sư là người thống nhất các phép tu Tan-tra của Ấn Ðộ và truyền cho đệ tử là Na-rô-pa (t: nāropa). Dưới tên Na-rô-pa (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug), giáo pháp này được truyền bá rộng rãi tại Tây Tạng và đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Tên »Tai-lô-pa« có nghĩa là »người làm dầu mè« vì Sư từng ép dầu mè kiếm sống.|Tai-lô-pa là vị Ðạo sư (s: guru; xem A-xà-lê) đầu tiên được biết đến trong lịch sử Phật giáo: không phải là một Pháp sư (người tinh thông và thuyết giảng Tam tạng), không phải là Luận sư (người chuyên tranh luận và viết luận) mà chỉ là một người siêng năng tu tập, thực hành Phật pháp. Với Tai-lô-pa, trong lịch sử Phật giáo xuất hiện một hạng Ðạo sư mới.||H 50: Tai-lô-pa (tilopa)|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Śāliputra (Hoa Thị thành?). Mặc dù Long Thụ được xem là thầy của Sư nhưng Sư không theo tông phái nào, chỉ thí nghiệm nhiều phương pháp tu mật và trong lúc nhập định, Sư chứng kiến được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và A-đề Phật, ngộ sự nhất thể của mình với họ. Hộ Thần (s: sādhita) của Sư là Cha-kra sam-va-ra (s: cakrasaṃvara). Về cuộc đời giáo hoá của Sư sau đó thì có nhiều tài liệu khác nhau. Tương truyền rằng, Sư trụ trì tại một tịnh viện tại Odantaputra và nơi đây Sư truyền pháp lại cho Na-rô-pa. Phật tử Tây Tạng rất tôn thờ Sư, mặc dù Sư không bao giờ bước chân đến đây. Ðại tạng của Tây Tạng còn giữ lại chín tác phẩm của Sư và dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa) xem Sư là Sơ tổ.|Trong hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, Tai-lô-pa là Ðạo sư của nhà vua xứ Viṣṇunagara. Ngày nọ, bỗng nhiên Sư cảm nhận cuộc đời vô thường, vô vị và ngay tối hôm đó lẳng lặng ra đi về miền Nam. Sư được môn đệ là Na-rô-pa tận lòng phục vụ. Sau mười năm tu tập, Sư đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Tranh tượng hay trình bày Sư tay không bắt cá. Kệ tụng của Sư như sau:|Chim đậu núi Tu-di,|hầu như làm bằng vàng.|Thánh nhân, kẻ đã biết,|tất cả đều khả dĩ,|bỏ thế gian vật chất,|bám đậu vào đất Phật.
tam
Tri- (S), Trini-, Trayo-, Traya-,Tisro-, Tisra-.
; Tri, trayas (S). Three.
; Tri or Traya (skt)—Three.
tam a tăng kì kiếp
577為菩薩修行成滿至於佛果所須經歷之時間。又作三大阿僧祇劫、三劫阿僧企耶、三阿僧企耶、三僧祇、三祇、三無數大劫、三無數劫、三劫。阿僧祇,梵語 asaṃkhya,意為無量數、無央數;劫,為極長遠之時間名稱,有大、中、小三劫之別。三度之阿僧祇大劫,即稱三大阿僧祇劫。於三大劫中,釋迦佛值遇無數佛。據大毘婆沙論卷一七八載,於初劫之時,逢事七萬五千佛;第二劫之時,逢事七萬六千佛;第三劫之時,逢事七萬七千佛。 以三劫配於修行之位次,諸經論所說不一。天台宗智顗大師之四教義卷四以之配於聲聞之位次:(一)初阿僧祇劫配外凡之位,即證得五停心別相、總相念處之位。(二)二阿僧祇劫配內凡中之煖位,即以煖法之智慧修習六度之位。(三)三阿僧祇劫配頂位,即勤行六度,而於四諦觀解分明之位。 據攝大乘論本卷下之說:(一)初阿僧祇劫配地前菩薩之 魽A即十信、十住、十行、十迴向等四十位。(二)二阿僧祇劫配初地至第七地之位。(三)三阿僧祇劫配第八地至第十地之位。 梁譯攝大乘論卷下則舉出七阿僧祇與三十三阿僧祇之說。(一)七阿僧祇劫:(1)不定阿僧祇,(2)定阿僧祇,(3)授記阿僧祇(以上三項配於地前之四十位),(4)依實諦阿僧祇(初地至第三地),(5)依捨阿僧祇(第四地至第六地),(6)依寂靜阿僧祇(第七、第八地),(7)依智慧阿僧祇(第九、第十地)。(二)三十三阿僧祇劫:即地前有(1)信行阿僧祇,(2)精進行阿僧祇,(3)趣向行阿僧祇。十地之中則各地皆有三阿僧祇,蓋以每地均有入位、住位、出位等三種位次,每一位次立一阿僧祇,合地前之三劫,則總為三十三劫。又所立劫數雖為七、三十三,然其劫量則與上記之三阿僧祇劫無異。 優婆塞戒經卷一修三十二相業品(大二四‧一○三九上):「菩薩摩訶薩修是業已,名為滿三阿僧祇劫,次第獲得阿耨多羅三藐三菩提。善男子!我於往昔寶頂佛所滿足第一阿僧祇劫,然燈佛所滿足第二阿僧祇劫,迦葉佛所滿足第三阿僧祇劫。」〔大智度論卷四、瑜伽師地論卷四十八、俱舍論卷十八、天台四教儀集註卷中、華嚴五教章卷二、卷三、俱舍論光記卷十八〕
tam a tăng kỳ kiếp
Ba A Tăng Kỳ kiếp—The three great asamhkyeya kalpas—The three timeless periods of a bodhisattva's progress to Buddhahood.
; (三阿僧祇劫) Cũng gọi Tam đại a tăng kì kiếp, Tam kiếp a tăng xí da, Tam a tăng xí da, Tam a tăng kì, Tamkì, Tam vô số đại kiếp, Tam vô số kiếp, Tam kiếp. Ba kiếp a tăng kì, tức là khoảng thời gian mà vị Bồ tát phải trải qua kể từ khi phát tâm tu hành đến khi đạt thành quả Phật viên mãn. A tăng kì (Phạm: Asaôkhya) nghĩa là vô lượng số; Kiếp là đơn vị thời gian rất lâu xa, có đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp khác nhau. Trong 3 kiếp a tăng kì, đức Thích ca đã được gặp vô số Phật. Theo luận Đại tì bà sa quyển 178, trong kiếp thứ nhất, Ngài phụng sự 7 vạn 5 nghìn đức Phật; trong kiếp thứ 2, Ngài phụng sự 7 vạn 6 nghìn đức Phật và trong kiếp thứ 3, Ngài phụng sự 7 vạn 7 nghìn đức Phật. Về việc phối hợp 3 kiếp với các giai vị tu hành,trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 4, Đại sư Trí khải tông Thiên thai, phối hợp 3 kiếp với các giai vị của Thanh văn như sau:1. Kiếp a tăng kì thứ nhất: Phối với vị Ngoại phàm, tức chứng được các giai vị Biệt tướng niệm xứ và Tổng tướng niệm xứ trong Ngũ đình tâm. 2. Kiếp a tăng kì thứ hai: Phối với Noãn vị của Nội phàm, tức giai vị dùng trí tuệ của pháp Noãn tu tập 6 độ. 3. Kiếp a tăng kì thứ ba: Phối với Đính vị, tức giai vị siêng tu 6 độ, quán xét và hiểu rõ Tứ đế.Theo thuyết của Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ thì: 1. Kiếp a tăng kì thứ nhất: Phối với các giai vị Bồ tát Địa tiền, tức 40 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng. 2. Kiếp a tăng kì thứ hai: Phối với các giai vị từ Sơ địa đến Thất địa. 3. Kiếp a tăng kì thứ ba: Phối với các giai vị từ Bát địa đến Thập địa. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ (bản dịch đời Lương) thì nêu các thuyết 7 a tăng kì và 33 a tăng kì: I. Bảy kiếp a tăng kì: 1. Bất định a tăng kì. 2. Địa a tăng kì 3. Thụ kí a tăng kì. (Ba kiếp a tăng kì trên đây phối với 40 giai vị Địa tiền). 4. Y thực đế a tăng kì (từ Sơ địa đến Tam địa). 5. Y xả a tăng kì (từ Tứ địa đến Lục địa). 6. Y tịch tĩnh a tăng kì (từ Thất địa đến Bát địa). 7. Y trí tuệ a tăng kì (từ Cửu địa đến Thập địa). II. Ba mươi ba kiếp a tăng kì, tức Địa tiền có: 1. Tín hành a tăng kì. 2. Tinh tiến a tăng kì. 3. Thú hướng hành a tăng kì. Trong Thập địa thì mỗi địa đều có 3 a tăng kì, vì mỗi địa đều có 3 thứ bậc: Nhập vị, Trụ vị, Xuất vị, mỗi thứ bậc lập 1 a tăng kì, cộng chung với 3 kiếp của Địa tiền thì thành 33 kiếp. Về số kiếp được lập tuy là 7 hoặc 33, nhưng về lượng kiếp thì không khác gì với 3 kiếp a tăng kì nói trên. Phẩm Tu tam thập nhị tướng nghiệp trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1039 thượng) ghi: Đại Bồ tát tu xong nghiệp này rồi thì gọi là Mãn tam a tăng kì kiếp, sẽ lần lượt được Vô thượng chính đẳng chánh giác. Thiện nam tử! Thủa xưa, ở nơi đức Phật Bảo đính ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ nhất;nơi đức Phật Nhiên đăng ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ hai và ở nơi đức Phật Ca diếp ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ ba. [X. luận Đại trí độ Q.4; luận Du già sư địa Q.48; luận Câu xá Q.18; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2, 3; Câu xá luận quang kí Q.18].
Tam a-tăng-kì kiếp
三阿僧祇劫; C: sān āsēngqí jié; J: sana-sōgikō;|»Ba vô lượng kiếp« (A-tăng-kì). Năm mươi hai cấp bậc tu tập của một vị Bồ Tát được chia thành ba a-tăng kì kiếp. Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行) và Thập hồi hướng (十迴向) thuộc về đại kiếp thứ nhất. Từ địa vị thứ nhất đến thứ bảy của Bồ Tát thập địa kéo dài một đại kiếp, đại kiếp thứ hai, và địa thứ tám đến mười được thực hiện trong đại kiếp thứ ba.
tam an cư
Varsàh (S). The three months ơođ summer retreat.
; The three months of Summer Retreat.
tam ba la mật đa
573請參閱 金剛頂一切如來真實攝大乘現證教王經 <一>法相宗將施等十波羅蜜就能修之位地分為三種,略稱三波羅蜜。即:(一)波羅蜜多,地前三賢位之菩薩於初無數劫之間,修施等十波羅蜜,其勢力微弱,不能伏止煩惱,反被煩惱所伏,而煩惱現行,稱為波羅蜜多。(二)近波羅蜜多,初地至七地之菩薩於第二無數劫之間,修施等十波羅蜜,其勢力漸增,不被煩惱所伏,而能伏止煩惱,然故意現行煩惱;以此而故意修行,非任運無功用之修行,稱為近波羅蜜多。(三)大波羅蜜多,八地乃至十地之菩薩於第三無數劫之間,修施等十波羅蜜,其勢力轉增長,能畢竟伏止一切煩惱,而永不令現行,稱為大波羅蜜多。〔解深密經卷四、成唯識論卷九、成唯識論演祕卷三之末〕 <二>就修施等六度依凡夫、二乘、菩薩之別而分三種,又稱三種波羅蜜。即:(一)世間波羅蜜,謂凡夫執於「我、我所」,著「斷、常」二邊,欲求梵天等勝報而所行之有漏事六度。(二)出世間波羅蜜,謂聲聞、緣覺二乘但為自度,欣樂無餘涅槃之空寂所行之六度。(三)出世間上上波羅蜜,謂諸菩薩知萬法唯心,不住六塵,了悟自他同體而不捨一切眾生,為利樂此等故,遠離能施、所施等之分別所行之六度。〔楞伽阿跋多羅寶經卷四、楞伽阿跋多羅寶經註解卷四之下〕
; (三波羅蜜多) I. Tam Ba La Mật Đa. Gọi tắt: Tam ba la mật. Tông Pháp tướng dựa vào địa vị Năng tu mà chia 10 Ba la mật làm 3 loại: 1. Ba la mật đa: Hàng Bồ tát giai vị Tam hiền thuộc Địa tiền ở vô số kiếp thứ nhất, tu 10 Ba la mật như Bố thí... thế lực của Bồ tát này còn yếu kém, không đàn áp được phiền não, mà trái lại, bị phiền não chinh phục và hiện hành. 2. Cận ba la mật đa: Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, ở vô số kiếp thứ hai, tu 10 Ba la mật, thế lực của hàng Bồ tát này dần dần tăng lên, không bị phiền não áp phục, mà có khả năng áp phục được phiền não, nhưng lại cố ý hiện hành phiền não để tu hành, cho nên sự tu hành này là cố ý chứ chẳng phải là sự tu hành nhậm vận tự do, không cần dụng công. 3. Đại ba la mật đa: Hàng Bồ tát từ Bát địa đến Thập địa, ở vô số kiếp thứ ba, tu 10 Ba la mật, thế lực của hàng Bồ tát này đã trở nên lớn mạnh, đủ sức áp phục tất cả phiền não 1 cách hoàn toàn, vĩnh viễn không cho hiện hành. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận diễn bí Q.3, phần cuối]. II. Tam Ba La Mật Đa. Cũng gọi Tam chủng ba la mật. Căn cứ vào sự sai khác giữa phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát mà chia 6 độ như Bố thí... làm 3 loại: 1. Thế gian ba la mật: Chỉ cho các pháp 6 độ hữu lậu mà hàng phàm phu tu hành với tâm chấp trước ngã, ngã sở, đoạn, thường... để cầu mong được quả báo tốt đẹp như sinh lên cõi trời Phạm thiên... 2. Xuất thế gian ba la mật: Chỉ cho 6 độ của hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tu hành để tự độ, với lòng mong cầu đạt đến cảnh giới vắng lặng của Niết bàn vô dư.3. Xuất thế gian thượng thượng ba la mật: Sáu độ của các vị Bồ tát biết vạn pháp duy tâm, không trụ nơi 6 trần, thấu suốt mình và người là cùng 1 thể nên không bỏ tất cả chúng sinh, mà tu hành 6 độ với tâm không phân biệt năng sở để làm lợi ích cho họ.[X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.4; Lăng già a bạt đa la bảo kinh chú giải Q.4, phần cuối].
tam biến độ điền
706意謂三變穢土為淨土。又作三變土淨、三變土。釋迦如來於靈鷲山講說法華經寶塔品時,為供養多寶塔,故集合十方分身之諸佛,並以神力三度將娑婆穢土變為清淨國土。據法華經卷四見寶塔品所載,釋迦如來講說法華經時,多寶如來之寶塔由地踊出,佛即由多寶如來之宿願,聚集自己散於十方說法之分身,先將娑婆世界變為淨土,唯除此會之會眾,其餘之諸天人皆移至他土,然猶不能收盡一方所分之身,乃更於八方,各變二百萬億那由他之國為淨土,又移諸天人至他土,然猶不能容盡,乃更於八方,再度各變二百萬億那由他之國為淨土,又移諸天人至他土。法華文句卷八下解釋三變土田乃由三昧之力,而此三昧有三義,初變娑婆,是背捨能變穢為淨;次變二百那由他,是勝處轉變自在;後變二百那由他,是一切處於境無閡。又初一變表示淨除四住,次一變表示淨除塵沙,後一變表示淨除無明。〔法華玄論卷九、法華經玄贊卷八末、法華文句記卷八之四〕
; (三變土田) Cũng gọi Tam biến độ tịnh, Tam biến độ.Ba lần biến đổi Uế độ thành Tịnh độCứ theo phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4, khi đức Thích ca Như lai giảng nói kinh Pháp hoa thì tháp báu của đức Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên, đức Thích ca liền nhân nơi nguyện xưa của Phật Đa bảo nhóm họp các phân thân của mình đang thuyết pháp trong khắp 10 phương, trước hết biến thế giới Sa bà thành Tịnh độ, chỉ trừ hội chúng của hội ấy (hội Pháp hoa), còn các trời, người đều được dời đến các cõi khác, nhưng vẫn không thể chứa hết phân thân của 1 phương, nên ở 8 phương mỗi phương đều biến 200 vạn ức na do tha cõi nước thành Tịnh độ, lại dời các trời, người đến cõi khác, nhưng vẫn không thể dung chứa hết, vì thế ở 8 phương mỗi phương lại biến 200 vạn ức na do tha cõi nước thành Tịnh độ và dời các trời, người đến cõi khác. Pháp hoa văn cú quyển 8, hạ, giải thích Tam biến độ điền là do năng lực của Tam muội, Tam muội này có 3 nghĩa: 1. Biến cõi Sa bà là Bối xả, có năng lực biến uế thành tịnh. 2. Biến 2 trăm na do tha là Thắng xứ, chuyển biến tự tại. 3. Biến 2 trăm na do tha là Nhất thiết thắng xứ đối với cảnh không trở ngại. Sự biến hóa lần thứ nhất biểu thị trừ sạch 4 trụ địa, sự biến hóa lần thứ hai biểu thị trừ sạch hoặc trần sa và sự biến hóa lần thứ ba biểu thị trừ sạch hoặc vô minh. [X. Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8, phần cuối; Pháp hoa văn cú kí Q.8, phần 4].
tam bách lục thập hội
549禪林用語。又作三百會。乃形容佛陀一生說法的法會之多。〔碧巖錄第六則〕
; (三百六十會) Cũng gọi Tam bách hội. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ba trăm sáu mươi hội. Chỉ cho số pháp hội rất nhiều trong 1 đời thuyết pháp của đức Phật. [X. Bích nham lục tắc 6].
tam bách tứ thập bát giới
348 rules for a nun.
tam báo
623指三種業報,即依受報時間之別,將果報分為三種:(一)現報,現世所作之善惡業,現身即受善惡報。(二)生報,此生所作之善惡業,來生方受善惡之報。(三)後報,過去無量生中所作之善惡業,於此生受善惡報,或於未來無量生中方才受善惡報。〔成實論卷八、慈悲水懺法卷中、梁高僧傳卷六、大明三藏法數卷十一〕(參閱「三業」638)
; Three recompenses: 1) Hiện báo: Immediate result—Quả báo ngay trong kiếp hiện tại, hay quả báo của những hành động, lành hay dữ, ngay trong đời nầy—Recompeses in the present life for deeds done now, or result that happens in this present life. 2) Sinh báo: Future result—Hành động bây giờ mà đến đời sau mới chịu quả báo—Recompenses in the next rebirth for deeds now done, or future result which will happen in the next life. 3) Hậu báo: Deffered result—Hậu báo là quả báo về lâu xa sau nầy mới gặt—Recompenses in subsequent lives, or result that is deffered for some time to come.
; (三報) Chỉ cho 3 thứ nghiệp báo được chia theo thời gian chịu quả báo, đó là: 1. Hiện báo: Nghiệp thiện, ác được tạo ra ở đời hiện tại thì hiện thân này phải chịu quả báo của nghiệp thiện, ác ấy. 2. Sinh báo: Nghiệp thiện, ác tạo tác ở đời này, đến đời sau mới chịu quả báo thiện, ác. 3. Hậu báo: Nghiệp thiện, ác đã tạo ra trong vô lượng kiếp ở quá khứ, đến đời này chịu quả báo thiện, ác hoặc trong vô lượng kiếp ở vị lai mới chịu quả báo thiện ác. [X. luận Thành thực Q.8; Từ bi thủy sám pháp Q.trung; Lương cao tăng truyện Q.6; Đại minh tam tạng pháp số Q.11]. (xt. Tam Nghiệp).
tam bát la khư đa
645梵語 saṃprāgata。乃維那師於眾僧食前所唱之語。又作僧跋。意譯為時至、正至、善至。其義有二,即:(一)施主對眾僧表白其平等施之意。(二)指眾僧所食均為同一味。據根本說一切有部目得迦卷八、南海寄歸內法傳卷一載其行食方法,謂於受食前,將所有供養物置在眾人前,先令一人執持飲食,合掌長跪在上座前,曲身恭敬唱三鉢羅佉多,唱畢方得受食,若未唱而食,則得惡作罪。又此語為消除有毒食物之密語神咒,具有大威力,能令所有毒藥皆成美味。〔四分律行事鈔資持記卷下三之三、根本說一切有部目得迦注卷八〕
; (三鉢羅佉多) Phạm: Saôpràgata. Cũng gọi Tăng bạt. Hán dịch: Thời chí, Chính chí, Thiện chí.Lời của vị tăng Duy na xướng trước khi chúng tăng thụ trai, có 2 nghĩa: 1. Thí chủ bày tỏ ý bố thí bình đẳng đối với chúng tăng. 2. Chỉ cho các món ăn mà chúng tăng dùng đều 1 vị như nhau. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca quyển 8 và Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, trước khi thụ trai, đem các thức cúng dường đặt trước chúng tăng, rồi sai 1 người cầm món ăn, chắp tay quì thẳng trước vị Thượng tọa, cúi đầu cung kính xướng Tam bát la già đa, xướng xong mới được thụ thực, nếu chưa xướng mà ăn thì phạm tội ác tác. Tam bát la già đa là tiếng thần chú có năng lực tiêu trừ chất độc trong thức ăn, làm cho độc tố (nếu có) đều thành mĩ vị. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca chú Q.8].
tam bát nhã
602般若,梵語 prajñā,意為智慧。又作三種般若。<一>指實相般若、觀照般若、文字般若。大乘義章卷十依據大智度論,立三種般若義,即:(一)文字雖非般若,但為詮解般若之方便,又能生起般若,故稱文字般若。即指諸部般若經。(二)觀照,謂慧心鑒達之用,其體即為般若,故稱觀照般若。(三)實相,為觀照所知之境界,其體雖非般若,而能生起般若,故稱實相般若。 三般若中,文字、實相二者為般若之法,並非即是般若,觀照則為般若之體。據碧巖錄第九十六則載,實相般若即為真智,觀照般若即為真境,文字般若即為能詮之文字。又此三般若加境界般若、眷屬般若,稱為五種般若。此外,又有以文字般若稱為方便般若者。〔金剛般若經疏、大品經義疏卷一、般若心經略疏、三論玄義、止觀輔行傳弘決卷三之一〕 <二>指實相般若、觀照般若、方便般若。據金光明經玄義卷上、金光明玄義拾遺記卷二所載,般若乃圓常之大覺,此一覺有三種德,即:(一)實相般若,為般若之理體。乃眾生所本具,非寂非照,離一切虛妄之相,為般若之實性。即一切種智。(二)觀照般若,為觀照實相之實智。謂觀照之德,非照而照,了法無相,稱為觀照。即一切智。(三)方便般若,為分別諸法之權智。謂方便之德,非寂而寂,善巧分別諸法,稱為方便。即道種智。蓋此說謂方便、觀照、實相三者即是般若,乃性宗之義。
; Three perfect enlightenments: (1)-thực tướng bát nhã wisdom in its essence or reality; (2) quán chiếu bát nhã the wisdom of perceiving the real meaning of the last; (3) phương tiện or văn tự bát nhã the wisdom of knowing things in their temporary and changing condition.
; The three prajnas or perfect enlightenments: 1) Thực tướng Bát nhã: Wisdom in its essence or reality. 2) Quán chiếu Bát nhã: The wisdom of perceiving the real meaning of all things. 3) Phương tiện Bát nhã: The wisdom of knowing things in their temporal and changing condition. ** For more information, please see Bát Nhã.
; (三般若) Bát nhã, Phạm:Prajĩà. Hán dịch: Trí tuệ. Cũng gọi Tam chủng bát nhã. I. Tam Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Văn tự bát nhã. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 căn cứ vào luận Đại trí độ mà lập 3 nghĩa Bát nhã:1. Văn tự: Văn tự tuy không phải là Bát nhã, nhưng là phương tiện để giải thích Bát nhã, lại có năng lực sinh khởi Bát nhã, vì thếgọilà Văn tự bát nhã. Tức chỉ cho các bộ kinh Bát nhã. 2. Quán chiếu: Dụng của tâm tuệ chiếu suốt, thể của nó tức là Bát nhã, cho nên gọi là Quán chiếu bát nhã. 3. Thực tướng:Cảnh giới do quán chiếu mà biết được, thể của nó tuy chẳng phải là Bát nhã, nhưng có năng lực sinh khởi Bát nhã, vì thế gọi là Thực tướng bát nhã. Trong 3 Bát nhã thì Văn tự bát nhã và Thực tướng bát nhã là pháp Bát nhã chứ không phải chính chúng là Bát nhã, còn Quán chiếu bát nhã thì là thể của Bát nhã. Theo Bích nham lục tắc 10 thì Thực tướng Bát nhã chính là chân trí, Quán chiếu bát nhã chính là chân cảnh, còn Văn tự bát nhã chính là Văn tự năng thuyên. Ba Bát nhã này thêm vào 2 Bát nhã nữa là Cảnh giới bát nhã và Quyến thuộc bát nhã, gọi là Ngũ chủng bát nhã. Ngoài ra, Văn tự bát nhã cũng có khi được gọi là Phương tiện bát nhã. [X. Kim cương bát nhã kinh sớ; Đại phẩm kinh nghĩa sớ Q.1; Bát nhã tâm kinh lược sớ; Tam luận huyền nghĩa; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3]. II. Tam Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Phương tiện bát nhã. Cứ theo Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng và Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí quyển 2 thì Bát nhã là Đại giác viên mãn thường hằng, Đại giác này có 3 đức: 1. Thực tướng bát nhã: Lí thể của Bát nhã. Lí thể này tất cả chúng sinh đều có sẵn, chẳng phải vắng lặng chẳng phải chiếu soi, lìa hết thảy tướng hư vọng, là tính thực của Bát nhã. Tức là Nhất thiết chủng trí. 2. Quán chiếu bát nhã: Thực trí quán chiếu thực tướng. Nghĩa là đức quán chiếu chẳng phải soi mà soi, rõ suốt các pháp vô tướng, gọi là Quán chiếu. Tức Nhất thiết trí. 3. Phương tiện bát nhã: Quyền trí phân biệt các pháp. Nghĩa là đức phương tiện chẳng phải lặng mà lặng, khéo léo phân biệt các pháp, gọi là Phương tiện. Tức là Đạo chủng trí. Thuyết này cho rằng 3 thứ Phương tiện, Quán chiếu và Thực tướng chính là Bát nhã, đây là nghĩa của Tính tông.
tam bát nhật
505指每月初八、十八、二十八等三日,乃禪家於佛殿念誦之日。古以每月初三、十三、二十三、初八、十八、二十八等六日行之。逢三祈念國家、佛法隆昌、施主安穩;逢八觀無常、祈念完成一己之修行。其後衍為上八(初八)、中八(十八)、下八(二十八)等三個八日。上八、中八時念帝道遐昌、法輪常轉等,下八則令眾念無常。〔敕修百丈清規卷二念誦條、禪林象器箋節時門〕
; (三八日) Chỉ cho 3 ngày mồng 8, 18 và 28 mỗi tháng, là những ngày chúng tăng trong Thiền gia tụng niệm trên điện Phật. Thời xưa thì thực hành trong 6 ngày mồng 3, 13, 23, mồng 8, 18, 28 mỗi tháng. Vào các ngày 3 thì cầu nguyện quốc gia thanh bình, thịnh vượng, Phật pháp hưng long, thí chủ an ổn; còn vào các ngày 8 thì quán niệm vô thường và cầu nguyện sự nghiệp tu hành của mình được thành tựu viên mãn. Về sau, diễn biến thành 3 ngày 8 là Thượng bát (mồng 8), Trung bát (18) và Hạ bát (28). Các ngày Thượng bát và Trung bát thì cầu nguyện cho đất nước phồn vinh, đạo pháp hưng thịnh; còn ngày Hạ bát thì đại chúng nhớ nghĩ vô thường. [X. điều Niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tam Bình Nghĩa Trung
三平義忠; C: sānpíng yìzháng; J: sampei gichū; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ của Ðại Ðiên Bảo Thông.|Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban đầu Sư đến tham vấn Thạch Củng Huệ Tạng. Thạch Củng dương cung bảo: »Xem tên đây!« Sư bèn vạch ngực thưa: »Ðây là mũi tên giết người, đâu là mũi tên cứu người?« Thạch Củng gảy dây cung ba cái, Sư liền làm lễ. Thạch Củng bảo: »Ba mươi năm một phen dương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.«|Sư đến tham vấn Ðại Ðiên thuật lại việc trên, Ðại Ðiên bảo: »Ðã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?« Sư đáp không được. Ðại Ðiên bảo: »Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.« Sư hỏi: »Chẳng cần chỉ Ðông vẽ Tây, thỉnh thầy chỉ thẳng.« Ðại Ðiên bảo: »Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.« Sư bảo: »Vẫn là chỉ Ðông vẽ Tây« Ðại Ðiên bảo: »Nếu phượng hoàng con không đến bên này bàn.« Sư làm lễ, Ðại Ðiên bảo: »Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước khó tròn.«|Sư dạy chúng: »Các ngươi! Nếu chưa gặp trí thức thì chẳng nên, nếu từng gặp trí thức rồi phải nhân ngay ý độ ấy, đến trên chót núi, hóc đá, ăn cây, mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.«|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
tam bình nghĩa trung
Sampei GichŪ (J).
tam bình đẳng
The esoteric doctrine that the three body, mouth, and mind - are one and universal. Thus in samàdhi the Buddha "body" is found everywhere and in averything (pan-Buddha), every sound becomes a "true word", dhàrani or potent phrase, and these are summed up in mind. Other definitions of the three are: Phật, Pháp, Tăng the Triratna;
; Tâm, Phật, chúng sanh là một—Mind, Buddha and the living are one and universal.
tam bình đẳng quán
542又稱三三昧耶觀。乃密教之教義。即觀佛、法、僧,或身、語、意,或心、佛、眾生三者平等。廣義之三平等觀以三密攝一切諸法,即:一切色攝於身密,身密即印契;一切聲攝於語密,語密即真言;一切理攝於心密,心密即實相。三密平等平等,遍一切處,故行者所見之境界皆是大日如來遍一切處之身,所聞之音聲皆是陀羅尼、諸佛說法之音。狹義之三平等觀又分為三種,即:(一)觀行者之「三密平等」為平等,遍於法界,稱為自三平等觀。(二)觀行者之三平等與本尊之三平等為同一緣相,稱為他三平等觀。(三)觀行者、本尊及已成、未成之一切諸佛皆為同一緣相,稱為共三平等觀。作如是觀,行者與本尊融為一體,即能證「入我我入」之極致。 以上之觀法屬於正念誦或常時之觀法。若修護摩之時,則就本尊、爐壇、行者三密觀三平等,稱為內護摩觀。以內護摩修三平等觀,內外事理相應,能得悉地。所觀想之本尊及行者有身口意,爐壇亦有身口意(即爐身、爐口、爐火),本尊之身即爐身,亦是行者之身;本尊之口即爐口,亦是行者之口;本尊之智即爐火,亦是行者之智火,如是觀此三密之平等,亦稱三平等觀。〔大日經卷二具緣品、大日經疏卷二十、觀內護摩、祕藏記、阿娑縛抄卷四十護摩記本〕
; (三平等觀) Cũng gọi Tam tam muội da quán. Quán xét 3 thứ đều bình đẳng, đây là giáo nghĩa của Mật giáo. Tức quán Phật, Pháp, Tăng; hoặc thân, ngữ, ý; hoặc tâm, Phật và chúng sinh là bình đẳng. Tam bình đẳng quán theo nghĩa rộng là dùng Tam mật thu nhiếp tất cả các pháp, tức là: Tất cả sắc nhiếp về thân mật, thân mật chính là ấn khế; tất cả thanh nhiếp về ngữ mật, ngữ mật chính là chân ngôn; tất cả lí nhiếp về tâm mật, tâm mật chính là thực tướng. Tam mật bình đẳng bao trùm khắp cả mọi nơi, cho nên cảnh giới mà hành giả trông thấy đều là thân trùm khắp mọi nơi của Đại nhật Như lai, âm thanh mà hành giả nghe thấy đều là Đà la ni, là tiếng nói pháp của chư Phật. Tam bình đẳng quán theo nghĩa hẹp thì chia làm 3 loại: 1. tự tam bình đẳng quán: quán xét Tam mật bình đẳng của hành giả là bình đẳng, bao trùm khắp pháp giới. 2. Tha tam bình đẳng quán: Quán xét Tam bình đẳng của hành giả và Tam bình đẳng của Bản tôn là cùng 1 duyên tướng. 3. Cộng tam bình đẳng quán: Quán tưởng hành giả, Bản tôn và hết thảy chư Phật đã thành, chưa thành đều là cùng 1 duyên tướng. Quán xét như thế, hành giả và Bản tôn dung hòa làm 1 thể, tức là chỗ tột cùng nhập ngã ngã nhập của năng chứng. Pháp quán trên đây thuộc về pháp quán Chính niệm tụng hoặc lúc bình thường. Nếu khi tu Hộ ma thì dựa vào Tam mật: Bản tôn, Lư đàn, Hành giả mà quán tưởng, Tam mật ấy là bình đẳng, gọi là Nội hộ ma quán. Nhờ tu quán tam bình đẳng của Nội hộ ma mà sự lí trong ngoài ứng hợp nhau, đạt được Tất địa. Bản tôn được quán tưởng và hành giả có thân khẩu ý, lư đàn cũng có thân khẩu ý (tức thân lò, miệng lò, lửa lò), thân của Bản tôn chính là thân lò, cũng là thân của hành giả; khẩu của Bản tôn chính là miệng lò, cũng là khẩu của hành giả; trí của Bản tôn chính là lửa lò, cũng là lửa trí của hành giả; quán xét sự bình đẳng của Tam mật này như thế cũng gọi là Tam bình đẳng quán. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.20; Quán nội hộ ma; Bí tạng kí; Hộ ma kí bản trong A sa phược sao Q.40].
tam bình đẳng địa
The three universal positions or stages, i.e. the three states expressed by không, vô tướng, and vô nguyện.
tam bí mật
The three mysteries, a term of the esoteric school for thân, khẩu, ý; i.e. the symbol; the mystic word, or sound; the meditation of the mind. Tam bí mật thân is a term for the mystic letter, the mystic symbol and the image.
; See Tam Mật.
tam bí mật thân
602指字、印、形三種之祕密身。依真言宗之教義,諸尊皆有三種身體:(一)字祕密身,係以文字為體,表佛功德之梵字。復分為二:(1)音聲,即對以音聲為觀境之行者所顯現如鈴、鐸等之美妙音聲。(2)色相,即對以色相為觀境之行者所顯現如月輪中之種子、真言等。(二)印祕密身,係以印為體,表佛之本誓。復分為二:(1)有形之印契,於初發心行者之觀境顯現有形之印。(2)無形之印,於已達行者之觀境顯現心內無相。(三)形秘密身,係以形像為體。復分為二:(1)非清淨,對初發心之行者所示現之有相非清淨之形。(2)清淨,對已達之行者所示現之無相清淨身。〔大日經卷六說本尊三昧品、阿娑縛抄卷八十三聖觀音卷、大日經疏卷二十〕
; (三秘密身) Chỉ cho 3 thứ thân bí mật. Theo giáo nghĩa của tông Chân ngôn thì các vị tôn đều có 3 thứ thân là: 1. Tự bí mật thân: Dùng chữ (Phạm) làm thể, biểu thị công đức của Phật, được chia làm 2 loại: a) Âm thanh: Những âm thanh vi diệu của chuông, mõ... được biểu hiện cho những hành giả lấy âm thanh làm cảnh sở quán. b) Sắc tướng: Những chủng tử, chân ngôn... trong nguyệt luân được hiển hiện cho những hành giả lấy sắc tướng làm cảnh sở quán. 2. Ấn bí mật thân: Lấy ấn làm thể, biểu thị bản thệ của Phật, cũng được chia làm 2 loại:a) Ấn khế hữu tình: Ấn có hình tướng hiển hiện ra cảnh sở quán của những hành giả mới phát tâm. b) Ấn vô hình: Trong tâm vô tướng hiển hiện ra cảnh sở quán của hành giả đã đạt. 3. Hình bí mật thân: Thân lấy hình tượng làm thể, cũng được chia làm 2 loại: a) Phi thanh tịnh: Thân có tướng phi thanh tịnh thị hiện cho hành giả mới phát tâm. b) Thanh tịnh: Thân thanh tịnh vô tướng thị hiện cho hành giả đã đạt. [X. phẩm Thuyết bản tôn tam muội trong kinh Đại nhật Q.6; Thánh Quan âm quyển trong A sa phược sao Q.83; Đại nhật kinh sớ Q.20].
tam bạch thực
545又作三種白食、三種白淨食、三淨食。即乳、酪、米飯等三種白淨之食,乃密教修法時,行者所食用者。一字心咒經(大一九‧三一七上):「持法之人應須持戒,每須喫三白食,所謂乳酪粳米,不得破齋。」〔大雲經請雨品第六十四、一切功德莊嚴王經、十一面神咒心經、梁高僧傳卷二十三元慧傳〕
; (三白食) Cũng gọi Tam chủng bạch thực, Tam chủng bạch tịnh thực, Tam tịnh thực. Chỉ cho 3 thức ăn trắng và sạch: Sữa, lạc (cao sữa) và cơm gạo, là thực phẩm của hành giả Mật giáo dùng khi tu pháp. Kinh Nhất tự tâm chú (Đại 19, 317 thượng) nói: Người trì pháp cần phải giữ giới, thường dùng Tam bạch thực, đó là sữa, lạc và cơm gạo, không được phá trai. [X. phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại vân; kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm vương; kinh Thập nhất diện thần chú tâm; truyện Nguyên tuệ trong Lương cao tăng truyện Q.23].
tam bạt chí
Saṃparti (S)Tam bạt đề.
tam bạt la
Xem cấm giới.
tam bạt la đà da đát đặc la
(三跋羅陀耶怛特羅) Phạm: Zrì-mahàsaôvarsdayatantraràja. Gọi tắt: Saôvarodayatantra. Tác phẩm, là tư liệu trọng yếu của Mật giáo thuộc hệ thốngSaôvara. Từ trước đến nay, Đát đặc la này được xem là sách chú giải Đát đặc la Cakrasaôvara-tantra trung tâm (Laghusaôvaratantra hiện hành), nhưng thực ra, nội dung của sách này đã tiến bộ hơn và trở thành điển tịch căn bản của Mật giáo thuộc hệ thốngSaôvara. Toàn sách gồm 32 phẩm: Phẩm thứ nhất là phẩm Thỉnh vấn, bồ tát Kim cương thủ xin đức Thế tôn khai thị, phẩm thứ 2 là thứ tự sinh khởi, phẩm thứ 3 là thứ tự cứu cánh, phẩm thứ 4 là các pháp số: 4 Đại chủng, 5 uẩn, 18 giới... đối ứng với 5 trí, 5 Phật, phẩm thứ 5 là sự vận hành của mặt trời, mặt trăng đối ứng với sự vận động của gió trong thân người, phẩm thứ 6 là 5 thứ gió trong thân người, phẩm thứ 7 là sự đối ứng giữaPìỉha, các bộ phận của thân thể và mạch máu (Phạm:Nàđì) của các bộ phận tồn tại, trở thành tư liệu trọng yếu của thuyết Nộipìtha, phẩm thứ 8 là các vấn đề thực tiễn liên quan đến Mạn đồ la như: Cúng dường Mạn đồ la, đặc tính và hành vi của A xà lê, nghĩa vụ của thí chủ..., phẩm thứ 9 liên quan đến những động tác bí mật (Phạm:Chomà) và Du già giả và Du già nữ (Phạm:Đàkinì) cùng xác nhận, sự đối ứng giữa các chủng loại tuần lễ địa và địa danh thực tế, giữaPìỉhavà Bồ tát Thập địa, các loại hành pháp Tức tai, Hàng phục, Câu triệu..., phẩm thứ 10 nói về các loại chú pháp như sử dụng bùa hộ thân: (Phạm:Yantra)..., phẩm thứ 13 là Mạn đồ la Saôvarodaya, do 13 vị tôn tạo thành, phẩm thứ 17 nói về phương pháp cụ thể hướng dẫn vẽ Mạn đồ la, phẩm thứ 18 thuyết minh về Quán đính, phẩm thứ 19 là điềm báo trước về cái chết và gió Du già, phẩm thứ 21 nói rõ về thái độ sinh hoạt của hành giả Đát đặc la, phẩm 23 và phẩm 28 nói về Hộ ma, phẩm 26 nói về cách gây rượu thánh, phẩm 31 nói về 4 loại Du già nữ, thuyết Tứ luân (Phạm: Cakra), khai triển tâm bồ đề..., phẩm thứ 33 là nói vềSaôvara của trạng thái Tất địa. Còn các phẩm khác tuy là những mảnh đứt rách rời rạc nhưng nhiều chỗ vẫn còn phát hiện được các sự tích Mật giáo rất thú vị. [X. The Saôvarodayatantra Selected Chapters, Tokyo, 1974; by Shinichi TSUDA; Saôvara hệ Mật giáo ư pìỉha thuyết chi nghiên cứu (Phong sơn học báo); Đàkinìjàla chi thực thái; Saĩcàra (chuyển vị của Du già nữ); Tứ luân tam mạch chi thân thể quan].
tam bạt đề
Xem Tam bạt chí.
Tam Bảo
(s: tri-ratna, ratna-traya, p: ti-ratana, ratanattaya, j: sampō, 三寶): chỉ cho ba ngôi báu, gồm Phật Bảo (佛寶), Pháp Bảo (法寶) và Tăng Bảo (僧寶), mà một tín đồ Phật Giáo cần phải tôn kính, cúng dường; còn gọi là Tam Tôn (三尊). (1) Phật (s, p: buddha, 佛), chỉ cho đấng tự giác ngộ mình và làm cho người khác giác ngộ, là vị giáo chủ phật giáo có thể dạy đỗ, hướng dẫn người khác; hoặc chỉ chung cho chư Phật. (2) Pháp (s: dharma, p: dhamma, 法), là giáo pháp, lời dạy được đức Phật giác ngộ và tuyên thuyết cho người khác. (3) Tăng (s, p: saṅgha, 僧), chỉ cho tập đoàn đệ tử của đức Phật chuyên hành tì, tu tập giáo pháp của Ngài. Thường giáo đoàn này phải 3 người trở lên mới được gọi là Tăng. Ba ngôi báu này có uy đức rất cao tột, vĩnh viễn không thay đổi, giống như bảo vật trên đời, nên có tên là Tam Bảo. Cứu Cánh Nhất Thừa Thật Tánh Luận (究竟一乘寶性論, Taishō Vol. 31, No. 1611) quyển 2 có nêu ra 6 nghĩa của Tam Bảo: (1) Hy hữu, hiếm có, nghĩa rằng ba ngôi này trãi qua trăm ngàn vạn kiếp khó mà găp được, giống như trân bảo trên thế gian vậy. (2) Minh tịnh, trong sạch, nghĩa là ba ngôi báu này xa lìa hết thảy các pháp Hữu Lậu (s: sāsava, p: sāsrava, 有漏); nên không nhơ nhớp mà trong sạch. (3) Có thế lực, nghĩa là ba ngôi báu này đầy đủ năng lực oai đức tự tại không thể nghĩa bàn. (4) Trang nghiêm, nghĩa là ba ngôi báu này có thể trang nghiêm cõi xuất thế gian; giống như các bảo vật có thể làm trang nghiêm thế gian vậy. (5) Tối thắng, nghĩa là trong các pháp xuất thế gian, ba ngôi báu này là pháp vượt hơn hết tất cả. (6) Bất biến, không thay đổi, nghĩa là ba ngôi báu này là pháp Vô Lậu (s: anāsrava, p: anāsava, 無漏), không bị Tám Pháp của thế gian làm cho lay động, thay đổi. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 6 lại đưa ra 4 nghĩa khác để làm sáng tỏ nguyên do sáng lập Tam Bảo: (1) Tà Tam Bảo (邪三寶) để đối trị ngoại đạo, nghĩa là phản tà quy chánh. (2) Đức Phật là bậc thầy điều ngự, Pháp là giáo pháp của vị thầy đó, Tăng là học trò của thầy đó. Sự chứng đắc của ba ngôi này là vô lượng, chủng loại giống nhau, nên hợp thành một pháp; nhưng vì nhân quả chứng đắc có khác nhau, nên phân thành thầy trò. (3) Người thượng căn muốn chứng quả Bồ Đề của Phật, nên gọi đó là Phật Bảo; người trung căn muốn cầu trí tự nhiên mà liễu đạt pháp nhân duyên, nên gọi đó là Pháp Bảo; người hạ căn nương vào thầy thọ pháp, lý sự không sai khác, nên gọi đó là Tăng Bảo. (4) Đức Phật như vị lương y, Pháp như phương thuốc mầu nhiệm; Tăng giống như người khán bệnh; đối với người bệnh mà nói thì vị lương y, phương thuốc mầu nhiệm và người khán bệnh không thể nào thiếu được. Trong Lễ Phật Nghi Thức (禮佛儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1492) có đoạn: “Hựu phàm vi lễ bái, tất tu tiên kính Tam Bảo, Tam Bảo thị tối thắng cát tường, lương hựu phước điền, năng tiêu chúng sanh nghiệp cấu (又凡爲禮拜、必須先敬三寶、三寶是最勝吉祥、良祐福田、能消眾生業垢, lại phàm là lễ lạy, tất nên trước kính trọng Tam Bảo, Tam Bảo là điều tốt lành trên hết, là ruộng phước phù hộ tốt, có thể tiêu trừ nghiệp cấu của chúng sanh).” Hay trong Quy Giới Yếu Tập (歸戒要集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1129) quyển 1 cũng có đoạn: “Phù Tam Bảo giả, tánh tướng thường trụ, thể châu pháp giới, tiếp vật ứng cơ, như nhật diệu ư thiên giang, vi thế chu hàng (夫三寶者、性相常住、體周法界、接物應機、如日曜於千江、爲世舟航, phàm ba ngôi báu, tánh tướng thường trụ, thể khắp pháp giới, theo vật ứng cơ, như mặt trời tỏa sáng nơi ngàn sông, làm thuyền bè cho thế gian).”
Tam bảo
Ba ngôi báu là Phật, Pháp và Tăng.
; 三寶; C: sānbăo; J: sanbō; S: triratna; P: tiratana; »Ba ngôi báu«;|Ba cơ sở chính của Phật giáo: Phật, Pháp, Tăng, tức là bậc giác ngộ, giáo pháp của bậc giác ngộ và bạn đồng học. Người có niềm tin kiên cố nơi Tam bảo được gọi là bậc Dự lưu (vào dòng). Người Phật tử biểu lộ sự tin tưởng bằng cách quy y Tam bảo (Ba quy y). Trong mười phép quán Tuỳ niệm (p: anussa-ti), ba đối tượng đầu tiên là Tam bảo.|Ý nghĩa của Tam bảo được hiểu rộng hơn theo truyền thống Ðại thừa. Trong các buổi giảng dạy về Thiền, đặc biệt sau các chương trình Tiếp tâm (j: sesshin), quán Công án, các thiền sinh được hướng dẫn vào lối nhìn Tam bảo của Ðại thừa. Theo cách nhìn này thì người ta có thể phân ý nghĩa Tam bảo ra ba tầng cấp: a) Nhất thể tam bảo (j: ittai-sambō), b) Hiện tiền tam bảo (j: genzen-sambō) và c) Trụ trì tam bảo (j: juji-sambō).|Nhất thể tam bảo (一體三寶; cũng được gọi là Ðồng thể tam bảo; 同體三寶) bao gồm: 1. Ðại Nhật Phật, hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya), biểu hiện của sự bình đẳng vô vi, sự thông suốt tính Không (s: śūnyatā) và Phật tính của vạn vật; 2. Pháp (s: dharma), được hiểu là luân lí của toàn thể vũ trụ và theo đó thì tất cả những pháp hiện hữu đều theo nhân duyên mà sinh, đều phụ thuộc vào nhau; 3. Sự xuyên suốt giữa hai điểm 1. và 2. nêu trên và từ đó xuất phát ra một sự thật, một sự thật mà chỉ một bậc Giác ngộ mới có thể trực chứng được.|Hiện tiền tam bảo (現前三寶; cũng có lúc được gọi là Biệt thể tam bảo; 別體三寶) gồm có: 1. Ðức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni), người sáng lập Phật giáo qua sự giác ngộ của chính mình và là người đã thực hiện được Nhất thể tam bảo; 2. Pháp, ở đây được hiểu là giáo lí của đức Phật, được Ngài thuyết giảng và 3. Các vị đệ tử của Ngài.|Trụ trì tam bảo (住持三寶) bao gồm: 1. Những tranh tượng của đức Phật được truyền lại đến ngày nay; 2. Những lời dạy của chư vị Phật trong kinh sách và 3. Chư Phật tử hiện nay, những người đang tu học và thực hiện Chính pháp.
tam bảo
700梵語 tri-ratna 或 ratna-traya,巴利語 ti-ratana 或 ratanattaya。係指為佛教徒所尊敬供養之佛寶、法寶、僧寶等三寶。又作三尊。佛(梵 buddha),乃指覺悟人生之真象,而能教導他人之佛教教主,或泛指一切諸佛;法(梵 dharma),為根據佛陀所悟而向人宣說之教法;僧(梵 saṃgha),指修學教法之佛弟子集團。以上三者,威德至高無上,永不變移,如世間之寶,故稱三寶。 究竟一乘寶性論卷二舉出三寶之六義:(一)希有之義,謂此三者累經百千萬劫,一如世間難得之珍寶。(二)明淨之義,謂此三者遠離一切有漏法,無垢明淨。(三)勢力之義,謂此三者具足不可思議威德自在。(四)莊嚴之義,謂此三者能莊嚴出世間,一如世寶能莊嚴世間。(五)最勝之義,謂此三者於諸出世間之法中為最上勝妙者。(八)不變之義,謂此三者乃無漏法,不為世間之八法所更動變易。 大乘法苑義林章卷六本則舉出四義,以明示設立三寶之緣由:(一)為對治外道之邪三寶,是為反邪歸正之義。(二)佛為調御師,法為彼師之法,僧為彼師之徒。此三者所證無量,種類相同,故合立一法;然以能證之因果相互有別,故分師徒。(三)上根之人欲取證佛菩提,故為說佛寶;中根之人欲求自然智而了達因緣之法,故為說法寶;下根之人依師受法,理事不違,故為說僧寶。(四)佛如良醫,法如妙藥,僧如看護者;對一患病之人而言,良醫、妙藥、看護者均不可少。 另於瑜伽師地論卷六十四舉出佛法僧三者有六義之別:(一)相之別,謂佛為自然覺悟之相,法為覺悟之果相,僧為隨他所教的正修行之相。(二)業之別,佛為轉正教之業,法為捨除煩惱苦的所緣境之業,僧為勇猛增長之業。(三)信解之別,謂對於佛寶,應有親近承事之信解;對於法寶,應有希求證得之信解;對於僧寶,應有和合同一、法性共住之信解。(四)修行之別,謂對於佛寶,應修供養承事之正行;對於法寶,應修瑜伽方便之正行;對於僧寶,應修共受財法之正行。(五)隨念之別,謂應各以餘相隨念佛寶、法寶、僧寶。(八)生福之別,謂於佛寶依一有情而生最勝之福,於法寶即依此法而生最勝之福,於僧寶則依眾多有情而生最勝之福。 依諸論所說,三寶之類別有多種,通常有三種之別,即:(一)別相三寶,又稱階梯三寶、別體三寶。即佛、法、僧各各相別不同,佛初於菩提樹下成道,但示丈六之身,及說華嚴經時,特現為盧舍那佛之身,故稱佛寶。佛於五時所說之大乘、小乘等經律,稱為法寶。於稟佛之教法,修因得果之聲聞、緣覺、菩薩等,稱為僧寶。(二)一體三寶,又稱同體三寶、同相三寶。就其意義與本質而言,佛、法、僧三寶,名雖有三,但體性為一。例如,佛從覺者之立場而言,為性體靈覺,照了諸法,非空非有,故稱佛寶;但佛德足以軌範一切,亦即法性寂滅,而恒沙性德,皆可軌持,故亦稱法寶;又如佛為完全無諍之和合狀態,僧團之特質為和合無諍,故亦稱僧寶。如此則一佛寶而具足三寶。(三)住持三寶,指流傳、維持佛教於後世之三寶,即佛像、經卷、出家比丘等三寶。大乘認為八相成道為住持佛,益世之一切教法為住持法,被教化而成立之三乘眾為住持僧,此三者並稱住持三寶。 以上為三種三寶,此外尚有四種三寶(一體三寶、緣理三寶、化相三寶、住持三寶)、六種三寶(同體、別體、一乘、三乘、真實、住持)等說。三寶係世人免苦之根源,故有歸依三寶之舉,稱為三歸,又作三歸依,乃入信佛教之第一要件。 有關三寶之標幟,我國與日本歷來較乏用以表示三寶之符號或圖像,在印度則使用情形較盛,其類別有二:(一)三寶各別之記號,通常以塔形表示佛,以輪寶表示法,以菩提座或獅子座表示僧。(二)以一種形像表示三寶,通常用由三叉戟變化為鍬形狀之標幟。西藏之喇嘛教亦以三瓣寶珠表示三寶。〔增一阿含經卷十二、過去現在因果經卷三、觀無量壽經、新華嚴經卷十八、成實論卷一具足品、雜阿毘曇心論卷十、大毘婆沙論卷三十四、俱舍論卷十四、大乘義章卷十〕(參閱「三歸依」688、「三寶章」704、「四種三寶」1795)
; Tiratna (P), dkon mchog gsum (T), Triratna (S), Tiratanattaya (P), Tiratanam (P), Ratnatraya (S), Ratnattaya (P), Sambō (J), Three Treasures, Triple Jewels, Triple Gem, Three Jewels, Three Precious Ones Gồm: Phật, Pháp, Tăng.
; Triratna, or Ratnatraya (S). The three Precious Ones: Buddha, Dharma, Sangha, i.e. Buddha, the Law, the Order. Popularly the tam bảo are referred to the three images in the main hall of monasteries. The centre one is Sàkyamuni, on his left Bhaisajya Dược Sư, and on his right Amitàbha. Three Gems, three jewels.
; Nền móng trong Phật Giáo là Tam Bảo. Không tin, không tôn kính Tam Bảo thì không thể nào có được nếp sống Phật giáo—Three Precious Ones—Triple Jewel—Triple Gem (Buddha, Dharma, Sangha)—The foundation of Buddhism is the Three Treasures, without trust in which and reverence for there can be no Buddhist religious life. There are three kinds of Triratna (three Treasures): (A) Nhất Thể Tam Bảo—The Unified or one-body Three Treasures: 1) Phật Tỳ Lô Giá Na: Sự biểu thị sự thể hiện của thế giới Tánh Không, của Phật tánh, của tánh Bình Đẳng Vô Ngại: The Vairocana Buddha, representing the realization of the world of Emptiness, of Buddha-nature, of unconditioned Equality. 2) Pháp: Pháp từ vô thỉ vô chung mà tất cả mọi hiện tượng theo nhân duyên tùy thuộc vào đó: The Dharma that is the law of beginningless and endless becoming, to which all phenomena are subject according to causes and conditions. 3) Sự hòa hợp giữa Phật Tỳ Lô Giá Na và Pháp (hai yếu tố trên) tạo thành toàn bộ thực tại như những bậc giác ngộ kinh nghiệm: The harmonious fusion of the preceding two, which constitutes total reality as experienced by the enlightened. (B) Hiện Tiền Tam Bảo—The Manifested Three Treasures: 1) Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni: Người đã thể hiện nơi chính mình sự thật của Nhất Thể Tam Bảo qua sự thành tựu viên mãn của Ngài: The historic Buddha Sakyamuni, who through his perfect enlightenment relaized in himself the truth of the Unified Three Treasures. 2) Pháp: Bao gồm những lời dạy và những bài thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni trong ấy đã giải rõ ý nghĩa của Nhất Thể Tam Bảo và con đường đi đến thể hiện được nó: The Dharma, which comprises the spoken words and sermons of Sakyamuni Buddha wherein he elucidated the significance of the Unified Three Treasures and the way to its realization. 3) Những môn đệ trực tiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Bao gồm luôn cả những đệ tử trong thời Ngài còn tại thế, đã nghe, tin, và thực hiện nơi bản thân họ Nhất Thể Tam Bảo mà Ngài đã chỉ dạy: Sakyamuni Buddha's Disciples, including the immediate disciples of the Buddha Sakyamuni and other followers of his day who heard, believed, and made real in their own bodies the Unified Three Treasures that he taught. (C) Thọ Trì Tam Bảo—The Abiding Three Treasures: 1) Phật bảo: Sự thờ cúng hình tượng chư Phật như đã được truyền đến chúng ta: The Buddha—The Supremely Enlightened Being. The iconography of Buddhas which have come down to us. 2) Pháp bảo: Bao gồm những bài giảng, bài thuyết pháp của chư Phật (tức là những đấng giác ngộ viên mãn) như đã thấy trong các kinh điển và bản văn Phật giáo khác vẫn được phát triển: The Dharma—The teaching imparted by the Buddha. All written sermons and discourses of Buddhas (that is, fully enlightened beings) as found in the sutras and other Buddhist texts still extant. 3) Tăng bảo: Bao gồm các môn đệ đương thời tu tập và thể hiện chân lý cứu độ của Nhất Thể Tam Bảo đầu tiên được Phật Thích Ca Mâu Ni khai thị: The Sangha—The congregation of monks and nuns or genuine Dharma followers. Sangha consists of contemporary disciples who practice and realize the saving truth of the Unified Three Treasures that was first revealed by Sakyamuni Buddha. (D) See Kinh Tam Bảo in Appendix E.
; (三寶) Phạm: Tri-ratna hoặc Ratna-traya. Pàli: Ti-ratana hoặc Ratanattaya. Cũng gọi Tam tôn. Chỉ cho 3 ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường. Phật (Phạm:Buddha) là bậc đã giác ngộ, có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, là Giáo chủ của Phật giáo, hoặc chỉ chung cho hết thảy chư Phật; Pháp (Phạm: Dharma) là giáo pháp của đức Phật; Tăng (Phạm: Saôgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, như của báu thế gian, nên gọi là Tam bảo. Theo luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 2 thì Tam bảo có 6 nghĩa: 1. Hi hữu: Ba ngôi báu này trải qua trăm nghìn muôn kiếp mới có, cũng như vật trân bảo ở thế gian rất khó có được. 2. Minh tịnh: Ba ngôi báu này xa lìa tất cả pháp hữu lậu, trong sạch sáng suốt. 3. Thế lực: Ba ngôi báu này có đầy đủ uy đức tự tại không thể nghĩ bàn. 4. Trang nghiêm: Ba ngôi báu này có năng lực trang nghiêm xuất thế gian, giống như của báu ở thế gian có thể làm đẹp thế gian.5. Tối thắng: Ba ngôi báu này thù thắng mầu nhiệm hơn hết trong các pháp xuất thế gian. 6. Bất biến: Ba ngôi báu này là pháp vô lậu, tám pháp của thế gian không thể làm cho lay động, biến đổi. Đại thừa nghĩa chương quyển 6, phần đầu thì nêu 4 nghĩa thiết lập Tam bảo: 1. Vì đối trị tà tam bảo của ngoại đạo, đó là nghĩa bỏ tà về chính. 2. Phật là bậc Điều ngự sư, Pháp là giáo pháp của Phật, Tăng là đồ đệ của Phật. Chỗ chứng ngộ của 3 ngôi báu này là vô lượng, nhưng chủng loại giống nhau, cho nên lập chung là 1 pháp. Nhưng, vì nhân quả chứng ngộ có khác nhau nên chia ra thầy và trò. 3. Vì người thượng căn muốn chứng được quả Phật bồ đề mà nói Phật bảo; vì người trung căn cầu được trí tự nhiên để rõ suốt pháp nhân duyên mà nói Pháp bảo; vì người hạ căn nương theo thầy lãnh nhận giáo pháp, sự lí không trái mà nói Tăng bảo.4. Phật như thầy thuốc giỏi, Pháp như thuốc hay, Tăng như người khám bệnh; đối với 1 người đang có bệnh mà nói thì thầy thuốc giỏi, phương thuốc hay và người xem bệnh đều rất cần thiết, không thể thiếu một. Còn luận Du già sư địa quyển 64 thì nói Tam bảo có 6 nghĩa khác nhau: 1. Tướng khác nhau: Phật là tướng của sự giác ngộ tự nhiên, Pháp là quả tướng của sự giác ngộ, Tăng là tướng tu hành chân chính theo lời Phật chỉ dạy. 2. Việc làm khác nhau: Việc làm của Phật là giảng nói giáo pháp chân chính, việc của Pháp là diệt trừ các khổ phiền não do cảnh sở duyên tạo ra, việc của Tăng là dũng mãnh tinh tiến. 3. Tin hiểu khác nhau: Đối với Phật bảo phải có lòng tin hiểu gần gũi, phụng sự; đối với Pháp bảo phải có lòng tin mong cầu chứng ngộ; đối với Tăng bảo phải có lòng tin hiểu hòa hợp đồng nhất, cùng an trú trong pháp tính. 4. Tu hành khác nhau: Đối với Phật bảo phải tu hành chân chính, phụng thờ; đối với Pháp bảo phải tu chính hạnh phương tiện du già; đối với Tăng bảo phải tu chính hạnh cùng thụ tài pháp. 5. Tùy niệm khác nhau: Mỗi người nên tùy theo các tướng mà niệm Phật, Pháp và Tăng bảo. 6. Sinh phúc khác nhau: Đối với Phật y vào 1 hữu tình mà sinh phúc tối thắng; đối với Pháp y vào pháp này mà sinh phúc tối thắng; đối với Tăng y vào nhiều hữu tình mà sinh phúc tối thắng. Cứ theo các luận thì Tam bảo có nhiều chủng loại, phổ thông có 3 thứ: 1. Biệt tướng tam bảo(cũng gọi Giai thê tam bảo, Biệt thể tam bảo): Phật, Pháp, Tăng, mỗi mỗi đều khác nhau. Đầu tiên, Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề, chỉ thị hiện thân trượng sáu và khi nói kinh Hoa nghiêm thì đặc biệt hiện thân Phật Lô xá na, cho nên gọi là Phật bảo. Các kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa do đức Phật nói trong 5 thời, gọi là Pháp bảo. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát nhờ tu theo giáo pháp của Phật mà chứng được quả giác ngộ, giải thoát gọi là Tăng bảo. 2. Nhất thể tam bảo(cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo): Đứng về phương diện ý nghĩa và bản chất mà nói, Phật Pháp, Tăng có 3 tên gọi khác nhau nhưng thể tính chỉ là một. Chẳng hạn như đứng trên lập trường của người giác ngộ mà nói thì Phật là thể tính linh giác, soi rõ các pháp, chẳng phải không, chẳng phải có nên gọi là Phật bảo; chỉ Phật mới có đầy đủ đức hạnh làm khuôn phép cho tất cả chúng sinh, cũng tức là pháp tính vắng lặng mà có hằng sa tính đức, đều đáng làm khuôn mẫu, cho nên cũng gọi là Pháp bảo; lại như Phật là trạng thái hòa hợp, hoàn toàn không tranh đua, mà đặc chất của Tăng đoàn là hòa hợp không tranh đua, vì thế cũng gọi là Tăng bảo. Như vậy thì trong một Phật bảo mà có đủ cả Tam bảo. 3. Trụ trì tam bảo: Chỉ cho Tam bảo lưu truyền, duy trì Phật pháp ở đời sau, tức là 3 ngôi báu: Tượng Phật, kinh Phật và các tỉ khưu xuất gia. Đại thừa cho rằng 8 tướng thành đạo là Trụ trì Phật, tất cả giáo pháp làm lợi ích cho thế gian gọi là Trụ trì pháp và chúng Tam thừa được giáo hóa, thành lập là Trụ trì tăng. Ba ngôi báu này gọi chung là Trụ trì tam bảo. Ngoài ra còn có các thuyết 4 loại Tam bảo (Nhất thể Tam bảo, Duyên lí Tam bảo, Hóa tướng Tam bảo, Trụ trì Tam bảo), 6 loại Tam bảo (Đồng thể, Biệt thể, Nhất thừa, Tam thừa, Chân thực và Trụ trì)... Về tiêu biểu của Tam bảo thì Trung quốc và Nhật bản từ xưa đến nay tương đối ít dùng phù hiệu hay hình vẽ để tượng trưng Tam bảo, nhưng ở Ấn độ thì việc sử dụng phù hiệu hoặc hình vẽ để biểu thị Tam bảo tương đối phổ biến. Có 2 loại biểu hiện khác nhau: 1. Dùng hình tháp tượng trưng Phật bảo, bánh xe tượng trưng Pháp bảo và tòa Bồ đề hoặc tòa Sư tử tượng trưng Tăng bảo. 2. Vẽ hình dáng cây kích 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Còn Phật giáo Tây tạng thì dùng hạt bảo châu có 3 cánh để tượng trưng Tam bảo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.18 (bản dịch mới); phẩm Cụ túc trong luận Thành thực Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.34; luận Câu xá Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tam Qui Y, Tam Bảo Chương, Tứ Chủng Tam bảo).
tam bảo chương
703又作三寶標、三寶、三叉、三鈷。用以象徵佛法僧三寶之圖象、標幟等。印度阿育王時代即已盛行,今山琦塔(Sanchi)四門存有此類刻畫,多用以裝飾塔門之尖頭、柱、橫梁。其章標多於法輪之上安三叉,一般即以三叉象徵三寶;另有一說,即以三叉象徵佛寶,法輪象徵法寶,樹葉象徵僧寶。於今阿摩羅婆提大塔(梵 Amarāvatī)內側之玉垣發現有二種三寶章之刻畫,其一於上欄刻有佛塔,中欄刻法輪,下欄刻樹木;另一種即中央刻佛塔,左側刻法輪,右側刻樹木。〔A. Cunningham:The Bhilsa Topes; Stūpa of Bharhut; J. Fergusson: Tree and Serpent Worship ; History of Indian and Eastern Architecture、印度佛蹟實寫解說、印度旅行記(天沼俊一)〕
; (三寶章) Cũng gọi Tam bảo tiêu, Tam bảo, Tam xoa, Tam cổ. Chỉ cho hình vẽ, phù hiệu... được dùng để tượng trưng Tam bảo. Tam bảo chương đã thịnh hành ở thời đại vua A dục tại Ấn độ. Tam bảo chương thường được sử dụng để trang sức đầu nhọn, cột, xà ngang của cửa tháp. Hình thức của Tam bảo chương là trên pháp luân(bánh xe pháp) đặt phù hiệu 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Có thuyết cho rằng 3 chĩa tượng trưng Phật bảo, bánh xe pháp tượng trưng Pháp bảo và lá cây tượng trưng Tăng bảo. Hiện nay, ở 4 cửa ra vào của tháp Sơn kì (Phạm:Zànti) còn có các bức khắc Tam bảo chương. Và trên lan can của Đại tháp A ma la đề bà (Phạm: Amaràvatì) người ta tìm thấy 2 loại hình khắc Tam bảo chương, 1 loại ở khoảng trên khắc tháp Phật, khoảng giữa khắc bánh xe pháp, khoảng dưới khắc cái cây, còn 1 loại thì ở giữa khắc tháp Phật, bên trái khắc bánh xe pháp, bên phải khắc cây.[X. The Bhilsa Topes, Stùpa of Bharhut by A. Cunningham; Tree and Serpent Worship by J.Fergusson; History of Indian and Eastern Architecture by J.Fergusson; Ấn độ Phật tích thực tả giả thuyết; Ấn độ lữ hành kí (Thiên chiểu Tuấn nhất)].
tam bảo hội từ
704凡三卷。又稱三寶繪。日本永觀二年(984)源為憲撰。係作者為冷泉天皇皇女尊子內親王之進入佛門而著之佛教故事集。三寶指佛法僧。本書上卷為釋迦本生故事;中卷為日本僧俗十八人之傳記,大體皆出自日本靈異記;下卷為每月份之佛教行事(法會)之解說。本書為了解當時日本社會之重要資料。
; (三寶繪詞) Cũng gọi Tam bảo hội. Tác phẩm, 3 quyển, do Nguyên vi hiến người Nhật bản soạn vào năm 984. Nội dung sách này thu chép các truyện tích của Phật giáo. Tam bảo chỉ cho Phật, Pháp, Tăng. Quyển thượng gồm các truyện bản sinh của đức PhậtThích ca; quyển trung gồm các truyện kí của 18 vị tăng tục người Nhật bản, đại thể đều được trích ra tự Linh dị kí của Nhật bản; còn quyển hạ thì giải thích về các hành sự (pháp hội) của Phật giáo vào mỗi tháng. Sách này là tư liệu trọng yếu giúp người ta hiểu rõ về xã hội Nhật bản ở thời bấy giờ. Ấn Tam Bảo Tam Bảo Chương Tam Bảo Điểu
Tam bảo kỉ
三寶紀; C: sānbăojì; J: sanbōki;|Lịch đại tam bảo kỉ (歴代三寶紀).
tam bảo lễ
704請參閱 集神州三寶感通錄 又作三敬禮、三禮。乃禮拜佛、法、僧三寶之意。禮文種類甚多,如今寺院通行之佛門必備課誦本所載者原出於舊華嚴經卷六淨行品(大九‧四 T○下):「自歸於佛,當願眾生體解大道,發無上意。自歸於法,當願眾生深入經藏,智慧如海。自歸於僧,當願眾生統理大眾,一切無礙。」又如智顗之法華三昧懺儀(大四六‧九五○中):「一切恭敬,一心敬禮十方常住佛,一心敬禮十方常住法,一心敬禮十方常住僧。」及遵式之往生淨土懺願儀(大四七‧四九一下):「一心敬禮十方法界常住佛,一心敬禮十方法界常住法,一心敬禮十方法界常住僧。」凡此,皆以禮敬三寶為其要旨。據往生禮讚偈載,十方虛空無邊,三寶無盡,若能至心頂禮一拜,即增福無量,功德無窮,得身口意業解脫。〔法事讚卷上、彌陀懺儀、禮念彌陀道場懺法卷一〕
; (三寶禮) Cũng gọi Tam kính lễ, Kính lễ. Lễ bái Tam bảo. Có rất nhiều loại văn lễ, như văn lễ chép trong cuốn Phật môn tất bị khóa tụng bản thông dụng trong các chùa viện hiện nay vốn được trích ra từ phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch cũ) như sau (Đại 9, 430): Con qui Phật rồi, nguyện cho chúng sinh Hiểu thấu đạo lớn, phát lòng vô thượng. Con qui Pháp rồi, nguyện cho chúng sinh Hiểu sâu tạng kinh, trí tuệ như biển. Con quiTăng rồi, nguyện cho chúng sinh Thống lí đại chúng, hết thảy không ngại. Trong Pháp hoa tam muội sám nghi của ngài Trí khải thì chép (Đại 46, 950 trung): Hết thảy cung kính, Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Phật. Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Pháp. Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Tăng. Trong Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi của ngài Tuân thức thì chép (Đại 47, 491 hạ): Dốc lòng kính lễ thường trụ Phật ở khắp pháp giới trong 10 phương. Dốc lòng kính lễ thường trụ Pháp ở khắp pháp giới trong 10 phương. Dốc lòng kính lễ thường trụ Tăng ở khắp pháp giới trong 10 phương. Tất cả văn lễ trên đây đều lấy việc lễ kính Tam bảo làm chủ yếu. Lại cứ theo Vãng sinh lễ tán kệ thì hư không trong 10 phương là vô biên, Tam bảo là vô tận, nếu dốc lòng đính lễ 1 lạy, thì thêm phúc vô lượng, công đức vô cùng, 3 nghiệp thân khẩu ý được thanh tịnh, giải thoát. [X. Pháp sự tán Q.thượng; Di đà sám nghi; Lễ niệm Di đà đạo tràng sám pháp Q.1].
tam bảo lục nghĩa
700據諸經要集卷一載,三寶有希有、離垢、勢力、莊嚴、最勝、不改等六義。(一)希有義,謂薄福眾生,百千萬世不能值遇三寶;猶如世之珍寶,非貧窮之人所能得。(二)離垢義,謂三寶諸漏淨盡,無有垢染;猶如世之珍寶,內外瑩徹,體無瑕穢。(三)勢力義,謂三寶具六神通,拔濟眾生,出離苦趣;猶如世之珍寶,除貧去毒,有大勢力。(四)莊嚴義,謂三寶能以正法嚴飾行人,令得身心清淨;猶如世之珍寶,嚴飾身首,令人姝好。(五)最勝義,謂三寶為一切世間之最殊勝者;猶如世之珍寶,為諸物中最勝之物。(六)不改義,謂三寶不為世間八法之所變易;猶如世之真金,燒打磨鍊,不能變改。
; (三寶六義) Sáu nghĩa của Tam bảo được ghi trong Chư kinh yếu tập quyển 1: 1. Nghĩa hiếm có: Chúng sinh bạc phúc, trăm nghìn muôn đời không được gặp Tam bảo; giống như của trân quí ở thế gian, người nghèo cùng không có được. 2. Nghĩa lìa cáu bẩn: Tam bảo đã sạch hết lậu hoặc, không còn cấu nhiễm, giống như trân bảo ở thế gian, trong ngoài sáng bóng, trong suốt. 3. Nghĩa thế lực: Tam bảo có đầy đủ 6 thần thông, cứu giúp chúng sinh, ra khỏi đường khổ; giống như vật trân bảo ở thế gian làm cho chúng sinh hết nghèo khó, bệnh hoạn, có thế lực lớn. 4. Nghĩa trang nghiêm: Tam bảo có năng lực dùng chính pháp trang nghiêm người tu hành, khiến thân tâm được thanh tịnh, giống như vật trân quí ở thế gian, trang sức thân thể, làm cho người xinh đẹp.5. Nghĩa tối thắng: Tam bảo là thù thắng nhất thế gian, giống như vật trân quí ở đời là hơn hết trong các vật. 6. Nghĩa không biến đổi: Tam bảo không bị 8 pháp thế gian làm thay đổi, giống như vàng ròng, dù có nung đốt mài dũa cũng không làm cho nó biến đổi.
tam bảo phật
Phật Thích Ca là ngôi thứ Nhất của Tam Bảo, thì pháp của Ngài là ngôi Hai, và Tăng đoàn là ngôi Ba. Tất cả ba ngôi nầy được coi như là sự thị hiện của chư Phật—While Sakyamuni Buddha is the first person of the Trinity, his Law the second, and the Order the third, all three by some are accounted as manifestations of the All-Buddha. ** For more information, please see Tam Bảo.
tam bảo sắc tứ tự
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào đầu thế kỷ thứ 19. Khi Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi, chùa đã được sắc phong là Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Nguyên thủy chùa chỉ làm bằng gỗ, mái lợp tranh, do bà Dương Thị Cán dựng lên để làm nơi tu trì. Ngôi chùa hiện tại là do Hòa Thượng Chí Thiền xây dựng lại năm 1917—Name of a temple, located in Rạch Giá town, Kiên Giang province, South Vietnam. The temple was built in early nineteenth century. When Lord Nguyễn Ánh ascended the throne, the temple was offered the royal proclamation. At first the temple was made of wood and thatched roof, was a place for Ms. Dương Thị Cán stayed and worshipped Buddhism. The present temple was rebuilt by Most Venerable Chí Thiền in 1917.
tam bảo tương hệ tương tùy
Một người không nhận ra Nhất Thể Tam Bảo thì không thể nào hiểu sâu ý nghĩa sự giác ngộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, không thể đánh giá sự quý báu vô cùng của những lời Ngài dạy, cũng như không thể ấp ủ hình ảnh chư Phật như những thực thể sinh động. Lại nữa, Nhất Thể Tam Bảo sẽ không được biết đến nếu nó không được Phật Thích Ca Mâu Ni thể hiện nơi thân tâm Ngài và con đường thể hiện do Ngài triển khai cũng vậy. Cuối cùng, không có những người giác ngộ theo con đường của Phật trong thời đại chúng ta khích lệ và dẫn dắt người khác theo con đường Tự Ngộ nầy thì Nhất Thể Tam Bảo chỉ là một lý tưởng xa xôi. Câu chuyện lịch sử cuộc đời Đức Phật Thích Ca sẽ là câu chuyện lịch sử khô héo về những lời Phật dạy, hoặc sẽ là những chuyện trừu tượng vô hồn. Hơn nữa, khi mỗi chúng ta thể hiện Nhất Thể Tam Bảo, thì nền móng của Tam Bảo không gì khác hơn chính tự tánh của mình—The Three Treasures are mutually related and interindependent. One unrealized in the Unified Three Treasures can neither comprehend in depth the import of Sakyamuni Buddha's enlightenment, nor appreciate the infinite preciousness of his teachings, nor cherish as living images and pictures of Buddhas. Again, the Unified Three Treasures would be unknown had not it been made manifest by Sakyamuni in his own body and mind and the Way to its realization expounded by him. Lastly, without enlightened followers of the Buddhas' Way in our own time to inspire and lead others along this Path to Self-realization, the Unified Three Treasures would be a remote ideal, the saga of Sakyamuni's life desiccated history, and the Buddhas' words lifeless abstractions. More, as each of us embodies the Unified Three Treasures, the foundation of the Three Treasures is none other than one's own self.
tam bảo tạng
The Triratna as the treasury of all virtue and merit; also the Tripitaka tam tạng, sùtras kinh, vinaya luật, luận abhidharma; also sravakas thanh văn, pratyeka-buddhas duyên giác, bodhisattvas bồ tát.
tam bảo vật
702指屬於佛、法、僧三寶之物。即:(一)佛物,如佛像、殿堂、香華、佛衣、幡蓋之類,凡屬佛之信施物,皆不得移作他用,移用者犯盜罪。四分律行事鈔卷中之一舉出四種佛物:(1)佛受用物,供給佛所受用之堂宇、衣服、床帳等。(2)施屬佛物,施予佛之錢寶、田園、人畜等。(3)供養佛物,供養佛之香燈、華幡、供具等。(4)獻佛物,供獻予佛之醫藥、飲食等。梵網經菩薩戒本疏卷一則舉出六種佛物,前四種與上記之四種相同,其餘兩種為:(1)佛寶物,專門供養佛之物。佛在世時,為佛之色身所用;佛入滅後,為佛之法身所用。(2)局佛物,即唯限於一佛之物,如供養釋迦像者不得移作供養彌陀,或本欲造佛像之材不得用以刻造僧像或天神菩薩等像。 (二)法物,如經卷、紙筆、箱函、簏巾之類,凡此經物,不可回改別用。四分律行事鈔同卷又舉出四種法物:(1)法受用物,指軸帙、箱巾、函帕等物。(2)施屬法物,施予法之田園等。可分為二分,一分施予經,一分施予讀誦經典者。(3)供養法物,如供養經卷之香花等。(4)獻法物,如供養經卷之飲食等。菩薩戒本疏於上記之外,另舉出兩種,即:(1)法寶物,即置於塔中,專門用以供養法寶之物。(2)局法物,如欲書寫大品經之材不得移作書寫涅槃經。 (三)僧物,指僧房、田園、衣鉢、穀菜之類。僧物有二種,其一為常住物,如寺舍、樹林、廚庫等。其二為已定其處者,即不得移往他處之物。行事鈔同卷舉出四種僧物:(1)常住常住物,固定為一寺一所所分用之廚庫、寺舍、眾具、花果、樹林、田園、僕畜。(2)十方常住物,如飯餅等為十方眾僧所共用之物。(3)現前現前物,無論衣藥房具等,凡為施主臨時施予現前之僧,而由該僧受用之物。(4)十方現前物,如施主臨時所施而為十方僧所分用之物。菩薩戒本疏則舉出五種:(1)僧寶物,施主置於塔中以供養第一義諦僧之物。(2)常住僧物,即行事鈔所說之常住常住物及十方常住物。(3)十方現前僧物。(4)眾僧物,此二項合之,即行事鈔所說之十方現前物。(5)己界局僧物,如施予此寺寺僧之物不得轉施他寺。由是可知,於三寶物,若偷盜、轉用、借貸不還,則依其輕重而治其罪。〔顯揚大戒論卷三、釋氏要覽卷中、摩訶止觀卷八下、止觀輔行傳弘決卷八之三、南海寄歸內法傳卷四〕(參閱「佛物」2637、「法物」3362、「僧物」5736)
; The things appertaining to the Triratna, i.e. to the Buddha-temples and images etc; to the Dharma-the scriptures; to the Sangha-cassock, bowl etc.
; (三寶物) Chỉ cho những vật thuộc về Phật, Pháp, Tăng. 1. Phật vật: Như các loại tượng Phật, điện đường, hương hoa, phướn lọng... tất cả vật dụng cúng dường Phật đều không được dùng vào các việc khác, nếu lạm dụng thì phạm tội ăn cắp. Cứ theo Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1 thì vật cúng dường Phật có 4 thứ: a) Phật thụ dụng vật: Những vật sở hữu của Phật như nhà cửa, y phục, giường màn... b) Thí thuộc Phật vật: Những vật bố thí cho Phật như tiền bạc, của báu, ruộng vườn, người và súc vật... c) Cúng dường Phật vật: Những vật cúng dường Phật như hương đèn, hoa phướn, vật cúng... d) Hiến Phật vật: Những vật dâng cúng như thuốc thang, thức ăn uống... Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 1 thì nêu 6 thứ Phật vật, trong đó, 4 thứ trước giống như 4 thứ vừa nói ở trên, còn 2 thứ sau là: a) Phật bảo vật: Vật chuyên để cúng dường Phật: Lúc Phật còn tại thế thì do sắthân Phật thụ dụng; sau khi Phật nhập diệtthì do pháp thân Phật thụ dụng. b) Cục Phật vật: Tức là vật chỉ thuộc về 1 đức Phật, như vật cúng dường tượng Phật Thích ca thì không được đem cúng dường tượng Phật A di đà, hoặc gỗ vốn dành để khắc tượng Phật không được dùng để tạc tượng Tăng hoặc tượng thiên thần, Bồ tát... 2. Pháp vật: Như các loại kinh Phật, giấy bút, hòm tráp, khăn đậy kinh... Tất cả những vật này không được sửa đổi lại để dùng vào việc khác. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1, nêu 4 thứ Pháp vật: a) Pháp thụ dụng vật: Những vật sở hữu của Pháp, như trục cuốn, hòm tráp, khăn... b) Thí thuộc pháp vật: Những vật được bố thí cho Pháp như ruộng vườn... Có thể chia làm 2 phần, 1 phần dành cho kinh điển và 1 phần dành cho người đọc tụng kinh điển. c) Cúng dường pháp vật: Những vật cúng dường kinh điển như hương, hoa... d) Hiến pháp vật: Những thứ cúng dường kinh điển như thức ăn uống... Bồ tát giới bản sớ, ngoài 4 thứ cúng dường Pháp ghi trên, nêu thêm 2 thứ nữa là: a) Pháp bảo vật: Vật để trong tháp, chuyên dùng để cúng dường Pháp bảo. b) Cục pháp vật: Vật chỉ hạn cuộc ở 1 bộ kinh nhất định nào đó, như giấy định dùng để biên chép kinh Đại phẩm thì không được dùng để biên chép kinh Niết bàn... 3. Tăng vật: Chỉ cho các loại vật dụng thuộc về Tăng như: Phòng tăng, ruộng vườn, áo bát, thóc gạo, rau quả... Tăng vật có 2 loại: Một là Thường trụ vật, như chùa viện, tinh xá, rừng cây, kho lẫm...; hai là những vật đã có nơi chốn cố định, tức những vật không được dời đi nơi khác. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1, nêu ra 4 thứ Tăng vật: a) Thường trụ thường trụ vật: Gồm những vật cố định được sử dụng ở một trụ xứ như nhà bếp, nhà kho, chùa viện, tinh xá, đồ dùng, hoa trái, rừng cây, ruộng vườn, người giúp việc, súc vật... b) Thập phươngthường trụ vật: Những vật do chúng tăng trong 10 phương cùng nhau thụ dụng như cơm, bánh... c) Hiện tiền hiện tiền vật: Những vật như y phục, thuốc thang, phòng xá, đồ dùng... mà thí chủ cúng dường chúng tăng hiện tiền thì do chúng tăng ấy thụ dụng. d) Thập phương hiện tiền vật: Những vật do thí chủ cúng dường chúng tăng 10 phương hiện tiền thì chúng tăng ấy chia dùng. Bồ tát giới bản sớ thì nêu 5 thứ Tăng vật:a) Tăng bảo vật: Vật do thí chủ đặt vào trong tháp để cúng dường Tăng đệ nhất nghĩa đế. b) Thường trụ tăng vật: Tức là Thường trụ thường trụ vật và Thập phương thường trụ vật nói trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1. c) Thập phương hiện tiền tăng vật. d) Chúng tăng vật. Hai thứ Tăng vật này hợp chung lại tức là Thập phương hiện tiền vật nói trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1. e) Kỉ giới cục tăng vật: Như vật bố thí cho chúng tăng chùa này thì không được đem đi bố thí cho chư tăng chùa khác. Do đó mà biết, đối với vật của Tam bảo, hoặc lấy trộm, hoặc chuyển dụng hay vay mượn không trả thì tùy theo nặng nhẹ mà trị tội. [X. luận Hiển dương đại giới Q.3; Thích thị yếu lãm Q.trung; Ma ha chỉ quán Q.8 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần 3; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Phật Vật, Pháp Vật, Tăng Vật).
tam bảo điểu
704又稱佛法僧鳥。以其鳴聲似「佛法僧」之音,故有此名。其形似鵯鳥,而較肥大。身為濃綠色,翼及尾為青、紫色,嘴短,末端稍曲,與腳皆是朱紅。此鳥產於熱帶地方,平時少聞其聲,或於講經會上偶聞其鳴,為少見之靈禽。
; (三寶鳥) Cũng gọi Phật pháp tăng điểu. Loại chim có tiếng hót nghe giống như âm thanh Phật pháp tăng nên gọi là chim Tam bảo. Hình dáng chim này giống như quạ khoang nhưng hơi béo và lớn hơn. Mình màu lục thẫm, cánh và đuôi màu xanh, đỏ tía; mỏ ngắn, đầu mỏ hơi cong, mỏ và chân đều đỏ như màu son. Loài chim này sống ở các vùng nhiệt đới, bình thường ít nghe nó kêu, hoặc chỉ trên hội giảng kinh tình cờ nghe nó hót.Đây là loài chim thiêng hiếm thấy.
tam bảo ấn
702指刻有「佛法僧寶」四字之印,意在祈禱三寶之加護。為日本禪宗寺院所用。形狀或方或菱或圓,字體亦不限於篆、隸、梵字等。〔禪林象器箋器物門〕
; (三寶印) Chỉ cho khuôn dấu có khắc 4 chữ Phật Pháp Tăng Bảo, mục đích là cầu nguyện Tam bảo gia hộ, được dùng trong các chùa viện thuộc Thiền tông ở Nhật bản. Khuôn dấu có hình vuông hoặc tròn, đôi khi cũng có hình quả ấu. Còn chữ khắc trên khuôn dấu thì có nhiều kiểu: Chữ triện, chữ lệ, chữ Phạm... [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tam bất dị
Three non-easy things—Three reasons why the text should not be changed.
tam bất hộ
530梵語 trīṇi tathāgatasyārakṣyāni,巴利語 tīṇi tathāgatassārakkheyyāni。即:身不護、語不護、意不護。意謂如來之身、口、意三業,本來清淨無過失,不須特加防護。若加上命不護(如來之生活本自清淨,不須特加防護),則稱為四不護。佛陀之此等特性,與阿羅漢不同。阿羅漢之三業雖然清淨,然仍須常加防護,方能離過。〔集異門足論卷四、瑜伽師地論卷八十三、顯揚聖教論卷四、大乘義章卷十九〕(參閱「四不護」1663)
; The three that need no guarding, i.e. the tam nghiệp of a Buddha, his body, mouth and mind which he does not need to guard as they are above error.
; Ba thứ không cần phải bảo hộ—The three that need no guarding because they are above error. They are Buddha's body, mouth and mind.
; (三不護) Phạm:Trìịi tathàgatasyàrakwyàni. Pàli: Tìni tathàgatassàrakkheyyàni. Chỉ cho Thân bất hộ, Ngữ bất hộ và Ý bất hộ. Nghĩa là 3 nghiệp thân khẩu ý của Như lai xưa nay vốn thanh tịnh, không lỗi lầm, không cần phải giữ gìn phòng hộ. Nếu thêm Mệnh bất hộ (sự sống của Như lai vốn thanh tịnh, không cần giữ gìn) thì gọi là Tứ bất hộ. Những đặc tính này của đức Phật khác với A la hán. Ba nghiệp của A la hán tuy thanh tịnh nhưng vẫn thường phải giữ gìn phòng hộ mới có thể tránh lỗi lầm. [X. luận Tập dị môn túc Q.4; luận Du già sư địa Q.83; luận Hiển dương thánh giáo Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Tứ Bất Hộ).
tam bất khả tận
527據大寶積經卷十四載,不可盡有三:(一)經法不可盡,如來所說經法隨眾生根機不同,或廣或略,雖以一音宣演,十方普被,故稱不可盡。(二)文字之義不可盡,如來所說經教妙義橫亘十方,豎徹三際,大無不周,細無所遺,是以小根淺智之人不能窺其奧妙,故稱不可盡。(三)所宣訓誨不可盡,如來所宣言教,訓誨眾生,或說大乘,或說小乘,隨類現行,種種設化,利益無量,故稱不可盡。
; (三不可盡) Ba thứ không thể hết: 1. Kinh pháp không thể hết: Các kinh pháp do đức Như lai nói ra tùy theo căn cơ của chúng sinh mà có khác nhau, hoặc rộng hoặc lược, tuy dùng 1 âm thanh để diễn nói nhưng trùm khắp 10 phương, cho nên nói là không thể hết. 2. Nghĩa của văn tự không thể hết: Diệu nghĩa của kinh giáo do đức Như lai nói ngang thì trùm khắp 10 phương, dọc thì suốt cả 3 đời, lớn thì không đâu không đến, nhỏ thì không sót mảy may. Những người căn cơ nhỏ hẹp, trí tuệ nông cạn không thể nào thấy được nghĩa sâu kín nhiệm mầu ấy, nên là không thể hết. 3. Sự dạy dỗ do đức Như lai tuyên nói không thể hết: Ngôn giáo do đức Như lai nói ra để dạy dỗ chúng sinh, hoặc nói Đại thừa, hoặc nói Tiểu thừa, tùy loại hiện hành, giáo hóa bằng nhiều cách, lợi ích vô lượng, cho nên nói là không thể hết. [X. kinh Đại bảo tích Q.14].
tam bất kiên pháp
529指身、命、財,乃世間三種無法持久之物相。即:(一)身不堅,父母所生之髮膚,為地、水、火、風等四大假合所成,生滅無常,不可久存。(二)命不堅,人壽各有長短,同為夢幻之體,倏忽無常,不可長留。(三)財不堅,世間財物,集散無常,不可長守。〔本事經卷七〕
; Three unstable things - the body thân, length of life thọ mệnh, wealth tài sản.
; Three unstable things: 1) Thân: The body. 2) Mạng: The length of life. 3) Tài: Wealth.
; (三不堅法) Ba thứ không bền chắc, không thể giữ được mãi mãi ở thế gian. Đó là: 1. Thân không bền chắc: Thân do cha mẹ sinh ra là nhờ sự giả hợp của 4 đại đất, nước, lửa, gió mà thành, sinh diệt vô thường, không thể giữ được mãi mãi. 2. Mệnh không bền chắc: Mệnh sống con người tuy có dài ngắn không đồng nhưng đều như mộng huyễn, không thể giữ được mãi mãi. 3. Của cải không bền chắc: Của cải ở thế gian tụ tán vô thường, còn đó rồi mất đó, không thể giữ được mãi mãi. [X. kinh Bản sự Q.7].
tam bất năng
528指改變定業、化導無緣眾生及救度所有眾生等三種不可能之事。此乃唐代禪宗北宗僧元珪禪師之語。即:(一)不能免定業,佛雖具足不執著於一切現象之智慧,然對招感善惡結果之定業亦無法改轉。(二)不能度無緣,佛雖能了知諸眾生之性質,窮盡無限事,然亦無法化導無緣之眾生。(三)不能盡生界,佛雖能救度世間一切眾生,但卻無法令眾生界盡。此三者是為三不能。但依元珪禪師之意,此三不能係對小乘之應身佛而言,若對大乘之法身佛而言,則無所謂三不能者。〔大乘起信論、大智度論卷六十四、護法論、景德傳燈錄卷四〕
; (三不能) Chỉ cho 3 việc không thể làm được. 1. Không thể thay đổi được định nghiệp: Tuy đức Phật có đầy đủ trí tuệ, đối với tất cả hiện tượng không chấp trước, nhưng đối với định nghiệp mang lại quả báo thiện ác thì Phật cũng không có cách nào thay đổi được. 2. Không thể độ người vô duyên: Tuy Phật biết rõ tính chất của mọi chúng sinh, thấu suốt hết các sự việc, nhưng cũng không thể nào hóa đạo những chúng sinh không có duyên. 3. Không thể độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh: Đức Phật tuy có thể độ tất cả chúng sinh trong thế gian, nhưng không thể nào độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh.Tam bất năng là lời của Thiền sư Nguyên khuê ở đời Đường, nhưng ngài cho rằng Tam bất năng là nói theo Ứng thân Phật của Tiểu thừa, chứ nói theo Pháp thân Phật của Đại thừa thì không có Tam bất năng. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.64; luận Hộ pháp; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4].
tam bất tam tín
This refers to the state of faith in the worshipper; the three bất are impure, not single, not constant; the three tín are the opposite.
Tam bất thiện căn
三不善根; C: sān bùshàngēn; J: san fuzengon;|Ba cội nguồn bất thiện là tham (貪), sân (瞋) và si (癡). Chúng tương đương với Ba độc (tam độc 三毒; theo Du-già luận 瑜伽論)
tam bất thiện căn
530梵語 trīṇy akuśala-mūlāni,巴利語 tīṇi akusala-mūlāni。指其體不善,能成為一切不善法之因之三種不善,即貪不善根、瞋不善根、癡不善根。乃「三善根」之對稱。貪者,染著順境;瞋者,忿怒逆境;癡者,無明、不辨事理。此三煩惱乃生起諸惡之根本,故稱不善根。此外,三不善根均與六識相應。〔增一阿含經卷十三、成唯識論卷六、阿毘達磨雜集論卷七、大毘婆沙論卷四十七、卷一一二、俱舍論光記卷十六〕(參閱「三善根」622)
; Tini-akuśala-mŪlani (P), Triny-akuśala-mŪlani (S), Three Unwholesome Roots Gồm: tham, sân, si.
; Three bad roots, or qualities - desire tham, anger sân, and stupidity si. Also tam độc.
; Theo Kinh Trường Bộ, Phúng Tụng Kinh, có ba bất thiện căn—According to the Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three bad (unwholesome) roots or qualities: 1) Tham Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Greed or Desire. 2) Sân Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Anger or Hatred. 3) Si Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Stupidity, or Ignorance, or Delusion.
; (三不善根) Phạm: Trìịy akuzala-mùlàni. Pàli: Tìịi akusala-mùlàni. Đối lại: Tam thiện căn. Chỉ cho 3 thứ bất thiện: Tham bất thiện, Sân bất thiện và Si bất thiện.Tham là tham đắm cảnh thuận, Sân là phẫn nộ trước cảnh nghịch, Si là vô minh, không phân biệt được sự lí. Ba phiền não này là gốc rễ sinh ra các điều ác, cho nên gọi là Bất thiện căn. Ngoài ra, Tam bất thiện căn đều tương ứng với 6 thức. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Thành duy thức Q.6; luận A tì đạt ma Q.7; luận Đại tì bà sa Q.47, 112; Câu xá luận quang kí Q.16]. (xt. Tam Thiện Căn).
tam bất thiện giới
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại bất thiện giới—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome elements. 1) Dục giới: The unwholesome element of sensuality. 2) Sân giới: The unwholesome element of enmity. 3) Hại giới: The unwholesome element of cruelty.
tam bất thiện nghiệp môn
Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có ba cửa gây ra bất thiện nghiệp—According to the Abhidharma, there are three doors of unwholesome kamma: 1) Cửa Thân: The door of bodily action. i) Sát Sanh: Killing. ii) Trộm Cắp: Stealing. iii) Tà Dâm: Sexual misconduct. 2) Cửa Khẩu: The door of verbal action. i) Nói Dối: False speech. ii) Nói Đâm Thọc: Slandering. iii) Nói lời Thô Lỗ: Harsh speech. iv) Nói Nhảm Nhí: Frivolous talk. 3) Cửa Ý: The door of mental action. i) Tham Ái: Covetousness. ii) Sân Hận: Ill-will. iii) Tà Kiến: Wrong views.
tam bất thiện tư duy
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại thiện tư duy—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome thought. 1) Dục tư duy: The unwholesome thought of sensuality. 2) Sân tư duy: The unwholesome of enmity. 3) Hại tư duy: The unwholesome of cruelty.
tam bất thiện tưởng
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại bất thiện tưởng—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome perception. 1) Dục tưởng: The unwholesome perception of sensuality. 2) Sân tưởng: The unwholesome perception of enmity. 3) Hại tưởng: The unwholesome perception of cruelty.
tam bất thiện tầm
Akusala-vitakka (skt)—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba thức suy nghĩ thiện—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome investigation. 1) Dục tầm: Kama-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of sensuality. 2) Sân tầm: Vyapada-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of enmity. 3) Hại tầm: Vihimsa-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of cruelty.
tam bất thoái
〖出觀經妙宗鈔〗〔一、位不退〕,謂別教菩薩從初住位中斷見惑,二住至七住位中斷思惑,則永不退失超凡之位,故名位不退。(初住即十住,發心住、治地住、修行住、生貴住、方便具足住、正心住、不退住、童真住、法王子住、灌頂住也。)〔二、行不退〕,謂別教菩薩從八住已去,至十行位中,伏斷塵沙之惑,則永不退失菩薩之行,故名行不退。(十行者,歡喜行、饒益行、無瞋恨行、無盡行、離癡亂行、善現行、無著行、尊重行、善法行、真實行也。)〔三、念不退〕,謂別教菩薩從初地已去,破無明惑,則永不退失中道正念,故名念不退。
; 529修行佛道之過程中,以既得悟之功德而入於不退失之地位,稱為不退。三不退,即位不退、行不退、念不退。(一)位不退,既修得之位不退失。(二)行不退,於所修之行法不退失。(三)念不退,於正念不退轉。此三不退配以菩薩之行位,諸宗說法不一。法相宗以依萬劫修因入十住之位,成就唯識觀,無復退墮惡業流轉生死之位,稱為位不退;既入初地,成就真唯識觀,於利他之行不退失,稱為行不退;八地以上,得無功用之智,念念入真如海,於定散中恆常自在,稱為念不退。天台宗則以別教之初住至第七住為位不退,於此間斷滅見思之惑而永超三界之生死;以第八住至十迴向之終為行不退,於此間破除塵沙之惑而不退失利他之心;以初地以上為念不退,此時既斷無明之惑,永不退失中道之正念。如配以圓教,則初信至第七信為位不退;第八信至第十信之終為行不退;初住以上為念不退。 另據吉藏之法華義疏卷一載,三不退之異說有四:(一)十住位中,第七住以上之菩薩不再退轉二乘地,稱位不退;十地之中,第七地菩薩所作之修行不再退轉,稱行不退;第八地以上之菩薩入無功用道,自然進道而不動念,稱念不退。(二)外凡六心稱為位退,七心以上稱位不退,餘二者如同前釋。(三)習種性,稱位不退;道種性,解行純熟,稱行不退;初地以上得無生忍,不復生心動念,稱念不退。(四)十信十住是信不退,十行是位不退,十迴向是行不退,十地是念不退。三不退若加上處不退,即為四不退。〔法華義疏卷二、維摩經略疏卷一、法華玄義卷四上、法華文句記卷二中〕(參閱「不退」984)
; The three non-backslidings, i.e. from position attained, from line of action pursued, and in dhyàna.
; (三不退) Trong quá trình tu hành Phật đạo, nhờ công đức đã giác ngộ mà vào được địa vị không trở lui, gọi là Bất thoái. Bất thoái có 3 là:1. Vị bất thoái: Địa vị đã chứng được không trở lui. 2. Hành bất thoái: Pháp tu hành không lui sụt. 3. Niệm bất thoái: Chính niệm không lui mất: Về việc phối hợp Tam bất thoái này với các giai vị tu hành của Bồ tát thì các tông nói không giống nhau. Tông Pháp tướng gọi giai vị muôn kiếp tu nhân vào Thập trụ, thành tựu Duy thức quán, không còn rơi trở lại địa vị do nghiệp ác mà phải trôi lăn trong sinh tử là Vị bất thoái; đã vào được Sơ địa, thành tựu chân Duy thức quán, đối với hạnh lợi tha không lui sụt, gọi là Hạnh bất thoái; từ Bát địa trở lên, được trí vô công dụng, niệm niệm nhập vào biển chân như, trong định, trong tán thường hằng tự tại, gọi là Niệm bất thoái. Tông Thiên thai thì chủ trương từ Sơ trụ đến Thất trụ của Biệt giáo là Vị bất thoái, trong giai đoạn này dứt trừ tất cả Kiến hoặc, Tư hoặc mà thoát hẳn sinh tử trong 3 cõi; từ Bát trụ đến hết Thập hồi hướng là Hạnh bất thoái, trong giai đoạn này phá trừ hoặc Trần sa mà không lui mất tâm lợi tha; từ Sơ địa trở lên là Niệm bất thoái, trong giai đoạn này dứt trừ hoặc Vô minh, vĩnh viễn không lui mất chính niệm Trung đạo. Nếu phối hợp với Viên giáo thì từ Sơ tín đến Thất tín là Vị bất thoái, từ Bát tín đến hết Thập tín là Hạnh bất thoái, từ Sơ trụ trở lên là Niệm bất thoái. Ngoài ra, trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1, ngài Cát tạng có nêu ra 4 thuyết khác về Tam bất thoái sau đây: 1. Trong giai vị Thập trụ, Bồ tát từ Thật trụ trở lên không còn trở lui lại địa vị Nhị thừa, gọi là Vị bất thoái; trong Thập địa, sự tu hành của Bồ tát Thất địa không còn chuyển lui nữa, gọi là Hạnh bất thoái; Bồ tát từ Bát địa trở lên nhập vào Vô công dụng đạo, tự nhiên tiến đạo mà không động niệm, gọi là Niệm bất thoái. 2. Lục tâm của giai vị Ngoại phàm là Vị thoái, Thất tâm trở lên là Vị bất thoái, còn Hạnh bất thoái và Niệm bất thoái thì cũng giống như trước đã giải thích. 3. Tập chủng tính gọi là Vị bất thoái, Đạo chủng tính, giải và hành đều thuần thục, gọi là Hạnh bất thoái; Sơ địa trở lên được Vô sinh nhẫn, không còn sinh tâm động niệm, gọi là Niệm bất thoái. 4. Thập tín thập trụ là Tín bất thoái, Thập hành là Vị bất thoái, Thập hồi hướng là Hạnh bất thoái, Thập địa là Niệm bất thoái. Tam bất thoái nếu thêm Xứ bất thoái thì thành Tứ bất thoái. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2; Duy ma kinh lược sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.2, trung]. (xt. Bất Thoái).
tam bất thành
528指淨土與穢土之關係,在本質上有三種不同。即:(一)一質不成,謂淨土與穢土非為同一本質所成立。(二)異質不成,謂兩者非由全異之本質各別成立。(三)無質不成,淨土與穢土皆非無本質而成立。懷感之釋淨土群疑論卷一解說甚詳(大四七‧三四下):「淨穢兩土由淨穢二業,令其自心變現作淨穢相。此淨穢相是淨穢心現,心淨土淨,心穢土穢,各由自心。心既有殊,土寧稱一?故曰一質不成故淨穢虧盈。佛未足指按地,穢盈而淨虧;佛已足指按地,淨盈而穢虧,如維摩經說。故知,身子、梵王,二心各異,所現之土,淨穢有殊,不可言其一,故曰一質不成故淨穢虧盈。雖復淨穢兩心現淨穢二土,心有兩體,土成二相,然同處同時,不相障礙,不可言有淨處無穢、有穢處無淨。別處而現,而有障礙。以同處同時現淨穢故,故曰異質不成故搜玄即冥。搜者,搜求也;玄者,幽玄者。搜其幽玄旨趣,淨穢兩相冥然,同在一處,不可分成二所也。(中略)淨穢相殊,其體無二。搜其實體,唯是一如,故言搜玄即冥。無質不成故緣起萬形者,此淨穢土雖同處現,而二相別,皆由淨穢兩業因緣差別,變現種種棘林、瓊樹、瓦礫、珠璣,從緣所生,依他起性,方成土相,不同於彼空花、龜毛、兔角遍計所執性情有體無、無形質體,故曰無質不成故緣起萬形也。」 此三不成之主張者向被視為道安法師,然釋淨土群疑論於安樂集以前之書中並無有關說法,故不能斷定「三不成」即為前秦道安所說,而恐係北周道安所倡。三不成加上「有質不成」則為四不成。同主張四不成者有澄觀之華嚴經疏卷十一、宗密之圓覺經略疏註卷上一。〔大乘玄論卷五、安樂集卷上、華嚴大疏鈔卷七、宗鏡錄卷八十九、成唯識論學記卷三〕
; (三不成) Ba thứ không thành. Chỉ cho sự quan hệ giữa Tịnh độ và Uế độ, về mặt bản chất, có 3 thứ không thành. Đó là: 1. Một chất không thành: Tịnh độ và Uế độ chẳng phải được thành lập bởi cùng 1 bản chất. 2. Khác chất không thành: Tịnh độ và Uế độ chẳng phải được thành lập bởi bản chất hoàn toàn khác nhau. 3. Không chất chẳng thành: Tịnh độ và Uế độ đều chẳng phải được thành lập từ chỗ vô bản chất. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 1, ngài Hoài cảm giải thích (Đại 47, 34 hạ): Tịnh độ và Uế độ là do 2 nghiệp tịnh, uế khiến cho tự tâm của chúng sinh biến hiện ra tướng tịnh, uế. Tướng tịnh, uế này là do tâm hiện ra, hễ tâm tịnh thì độ tịnh, tâm uế thì độ uế, đều do tự tâm cả. Tâm đã khác thì độ làm sao là 1 được, vì thế nói là 1 chất không thành. Lại tuy tịnh tâm và uế tâm biến hiện thành Tịnh độ và Uế độ, tâm có 2 thể, độ có 2 tướng, nhưng cùng chỗ cùng thời, không ngăn ngại nhau, không thể nói chỗ có tịnh không có uế, chỗ có uế không có tịnh. Vì cùng chỗ cùng thời biến hiện tịnh, uế nên nói là khác chất không thành. Tịnh độ và Uế độ tuy cùng hiện 1 chỗ nhưng 2 tướng khác nhau, đều do nhân duyên 2 nghiệp tịnh, uế không đồng mà biến hiện ra rừng cây, gai gốc, đất đá, gạch ngói... từ duyên sinh ra, Y tha khởi tính mới thành tướng độ, khác với tính Biến kế sở chấp tình có thể không, không hình không chất, cho nên nói không chất chẳng thành. Người chủ trương Tam bất thành này từ trước đến nay được xem là Pháp sư Đạo an, nhưng theo luận Thích tịnh độ quần nghi thì trong các sách từ An lạc tập về trước đều không thấy nói đến thuyết này, như vậy không thể đoán định Tam bất thành là của ngài Đạo an đời Tiền Tần mà có lẽ do ngài Đạo an đời Bắc Chu đề xướng. Tam bất thành thêm vào Hữu chất bất thành nữa thì là Tứ bất thành, do các ngài Trừng quán, Tông mật... chủ trương. [X. Đại thừa huyền luận Q.5; An lạc tập Q.thượng; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.7; Tông kính lục Q.89; Thành duy thức luận học kí Q.3].
tam bất thất
The three never lost, idem tam bất hộ.
tam bất thối chuyển
The three non-backslidings—Three kinds of non-retreat: 1) Vị bất thối: Không thối chuyển từ chỗ đã đạt: From position attained—Non-retreat from position—Never receding from position attained. 2) Hạnh bất thối: Không thối chuyển từ những hành động thiện lành đang theo đuổi: From line of good action pursued—Non-retreat from practice—Never receding from a right course of action. 3) Niệm bất thối: Không thối chuyển trong thiền định: In dhyana—Non-retreat from mindfulness—Never receding from pursuing a right line of thought or mental discipline.
tam bất túc
528能妨礙參禪修行之三種匱乏,即:衣不足、食不足、睡眠不足。坐禪用心記(大八二‧四一二下):「衣不足、食不足、睡眠不足,是名三不足,皆退惰因緣也。」
; (三不足) Ba thứ không đủ làm trở ngại việc tham thiền: Áo mặc không đủ, cơm ăn không đủ và ngủ nghỉ không đủ. Tọa thiền dụng tâm kí (Đại 82, 412 ha nói: Áo mặc không đủ, cơm ăn không đủ và ngủ nghỉ không đủ gọi là Tam bất túc, đều là nhân duyên làm cho việc tu hành lui sụt.
tam bất tịnh nhục
529為十誦律卷二十六所載三種不許食用之肉,即:(一)見殺,見是生物為我而殺。(二)聞殺,於可信之人,聞此生物為我而殺。(三)疑殺,此處無有屠家,亦無自死之物,有為我而殺之嫌疑者。(參閱「三種淨肉」657)
; The three kinds of flesh unclean to a monk.
; Three kinds of unclean flesh to a monk: 1) Mắt thấy giết: When he has seen the animal killed. 2) Tai nghe giết: When he has heard the animal killed. 3) Ngờ là người giết vì mình: When he has doubted that the animal killed to offer to him.
; (三不淨肉) Ba thứ thịt không thanh tịnh. Cứ theo luật Thập tụng quyển 26 thì tỉ khưu không được ăn 3 thứ thịt sau đây: 1. Kiến sát: Thấy giết, tức thấy con vật ấy vì mình mà bị giết để đãi mình. 2. Văn sát: Nghe giết, tức nghe người đáng tin nói rằng người ta giết con vật ấy để đãi mình. 3. Nghi sát: Ngờ giết, tức ở nơi không có nhà đồ tể, cũng không có con vật tự chết, ngờ là con vật ấy bị giết để đãi mình. (xt. Tam Chủng Tịnh Nhục).
tam bệnh
600病,梵語 vyādhi。<一>就病之性質,類分為風、寒、氣,或熱、風、冷三種,乃世間之三大病。據北本大般涅槃經卷三十九載,可以酥對治熱病,以油對治風病,以蜜對治冷病。〔增一阿含經卷十二〕 <二>就病之治不治,類分為易治、難治、不可治,或重病、極重病、不可治病三種。此外,或以難治之三病比喻難化之三機。(一)誹謗大乘者,即不能信受如來之法,於大乘經典妄生謗毀,如世重病,實為難治。(二)五逆罪者,即殺父、弒母、害阿羅漢、出佛身血、破和合僧等五逆,如世極重之病,尤為難治。(三)一闡提,即撥無因果、顛倒邪見、不信現在未來業報、不親善友知識、不聽諸佛所說教誡,如世重病,終難治癒。〔五分律卷五、顯揚大戒論卷一〕 <三>就病之種類,分為業、鬼、四大三種。業病可以善根對治,鬼病以咒藥對治,四大病以醫藥對治。藥師如來即以理智教三業而滅此三病。〔大藏法數卷十一、乳味鈔卷八〕 <四>北本涅槃經卷三十九所載之三病:(一)貪病,修不淨觀可對治。(二)瞋病,修慈悲觀可對治。(三)癡病,修因緣觀可對治。
; Three ailments.
; (三病) Bệnh, Phạm:Vyàdhi. I. Tam Bệnh. Tùy theo tính chất, bệnh được chia làm 3 loại: Phong, hàn, khí hoặc nhiệt, phong và lãnh, là 3 thứ bệnh lớn của thế gian.Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 39 (bản Bắc) thì dùng tô đối trị bệnh nóng, dùng dầu đối trị bệnh phong và dùng mật đối trị bệnh lạnh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12]. II. Tam Bệnh. Ba thứ bệnh: Dễ trị, khó trị, không thể trị, hoặc bệnh nặng, bệnh rất nặng, bệnh không thể trị. Ngoài ra có chỗ dùng 3 thứ bệnh khó trị ví dụ cho 3 hạng người khó giáo hóa: 1. Người phỉ báng Đại thừa: Người không tin nhận giáo pháp của Như lai, vọng sinh hủy báng kinh điển Đại thừa, như căn bệnh nặng ở thế gian, thực là khó trị. 2. Người phạm năm tội nghịch: Giết cha, giết mẹ, hại A la hán, làm cho thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng, như căn bệnh rất nặng ở thế gian, cực kì khó trị. 3. Nhất xiển đề: Người bài bác luậtnhân quả, tà kiến tráo trở, không tin có báo ở hiện tại và vị lai, không chịu gần gũi bạn lành, không nghe lời chư Phật răn dạy, như chứng bệnh nặng ở thế gian, rất khó chữa khỏi. [X. luật Ngũ phần Q.5; luận Hiển dương đại giới Q.1]. III. Tam Bệnh. Chỉ cho 3 thứ bệnh: Nghiệp, quỉ, tứ đại. Bệnh nghiệp dùng thiện căn đối trị, bệnh quỉ dùng chú dược đối trị và bệnh tứ đại dùng y dược đối trị. Đức Dược sư Như lai dùng lí trí giáo hóa 3 nghiệp để diệt trừ 3 thứ bệnh này. [X. Đại tạng pháp số Q.11; Nhũ vị sao Q.8].IV. Tam Bệnh. Chỉ cho 3 thứ bệnh nói trong kinh Niết bàn quyển 39 (bản Bắc). 1. Bệnh tham: Tu bất tịnh quán để đối trị. 2. Bệnh sân: Tu từ bi quán để đối trị. 3. Bệnh si: Tu nhân duyên quán để đối trị.
tam bịnh
The three ailments: (A) 1) Tham: Lust—Craving—Greed—For which the meditation on uncleanness (Quán thân bất tịnh) is the remedy. 2) Sân: Anger—Hate—Ire—For which the meditation on kindness (từ) and pity (bi) is the remedy. 3) Si: Stupidity—Ignorance—Unwilling to learn the truth—For which the meditation on causality (Nhơn duyên) is the remedy. (B) 1) Hủy báng Đại Thừa: Slander of Mahayana. 2) Phạm tội Ngũ nghịch: Commit the five gross sins (Xem Ngũ nghịch). 3) Tu theo ngoại đạo: To practice outsider or heathen doctrine.
tam bố thí
Three kinds of dana or charity: 1) Tài Thí: Tài thí gồm có ngoại tài (tiền bạc, vật chất) và nội tài thí (mắt, tai, óc, v.v.)—Giving of goods includes outward (money, materials) and inward giving (eyes, ears, brain, etc). 2) Pháp Thí: Nói pháp giảng kinh hóa độ quần sanh—Giving of the doctrine—Giving of the dharma to preach or to speak Dharma to save sentient beings. 3 Vô Úy Thí: Abhaya—Khi thấy ai sợ sệt, hay đang trong cơn nguy hiểm, mà mình có thể an ủi vỗ về, hay đem sự vô úy không sợ hãi lại cho người, là vô úy thí—Giving of courage or fearlessness—Whenever we find someone who is frightened or encountered some difficult circumstances, we try to comfort.
tam bối
681指無量壽經所說往生彌陀淨土之上輩、中輩、下輩三類眾生。(一)上輩,乃捨家棄欲而作沙門、發菩提心、一向專念無量壽佛、修諸功德、願生彼國之眾生。(二)中輩,乃發菩提心、一向專念無量壽佛、奉持齋戒、起立塔像、飯食沙門、懸繪燃燈散花燒香、願生彼國之眾生。(三)下輩,乃發菩提心、一向專意乃至十念、願生其國之眾生。 此三輩與觀無量壽經之九品,有同異之諸釋。慧遠之無量壽經義疏卷下,以觀經上品三人合為上輩,中品三人合為中輩,下品三人合為下輩。吉藏之無量壽經義疏,以觀經上中品人為上輩,中上、中中品人為中輩,下下品人為下輩。元曉之遊心安樂道以邊地胎生別為一類,非九品所攝。憬興之無量壽經連義述文贊卷下,則以為邊地胎生乃中下、下上二品人所攝,三輩九品無所謂寬狹,皆攝盡往生。元照之觀無量壽經義疏卷下,以無量壽經之三輩皆標明發菩提心,故通為觀經上三品所攝,中三品與下三品因行不同,非在三輩之列。綜言之,以三輩九品為同者有曇鸞、慧遠、智顗、吉藏、法位、龍興、憬興七師,以三輩九品為異者有義寂、智圓、元照、戒度四師。今淨土宗從曇鸞之說,但以開合有別而已。〔無量壽經卷下、觀無量壽經義疏(慧遠)、觀無量壽經義疏(吉藏)〕
; (三輩) Ba nhóm. Chỉ cho 3 hạng chúng sinh vãng sinh Tịnh độ được nói trong kinh Vô lượng thọ. Đó là: 1. Thượng bối: Chúng sinh bỏ nhà lìa dục làm sa môn, phát tâm bồ đề, một lòng niệm danh hiệu Phật Vô lượng thọ, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật ấy. 2. Trung bối: Chúng sinh phát tâm bồ đề, 1 lòng chuyên niệm danh hiệu Phật Vô lượng thọ, vâng giữ trai giới, xây tháp tạo tượng, cúng dường sa môn, treo phan thắp đèn, rải hoa đốt hương, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật ấy. 3. Hạ bối: Những chúng sinh phát tâm bồ đề, 1 lòng chuyên chú cho đến 10 niệm, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật kia. Về Tam bối này và Cửu phẩm (9 bậc) nói trong kinh Quán vô lượng thọ có các giải thích khác nhau. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Tuệ viễn cho rằng chúng sinh của 3 bậc Thượng phẩm (Thượng thượng, Thượng trung, Thượng hạ) hợp lại là Thượng bối, chúng sinh của 3 bậc Trung phẩm (Trung thượng, Trung trung, Trung hạ) hợp lại là Trung bối và chúng sinh của 3 bậc Hạ phẩm (Hạ thượng, Hạ trung, Hạ hạ) hợp lại là Hạ bối. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng thì cho rằng những chúng sinh bậc Thượng trung phẩm nói trong Quán kinh là Thượng bối, những chúng sinh của các bậc Trung thượng và Trung trung phẩm là Trung bối, còn những chúng sinh của bậc Hạ hạ phẩm là Hạ bối.Trong Du tâm an lạc đạo, ngài Nguyên hiểu cho rằng Biên địa thai sinh là 1 loại riêng chứ không nằm trong Cửu phẩm. Nhưng, trong Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển hạ thì ngài Cảnh hưng lại cho rằng những chúng sinh Biên địa thai sinh nằm trong 2 phẩm Trung hạ và Hạ thượng,vì Tam bối Cửu phẩm không có tính cách rộng hẹp mà là thu nhiếp hết tất cả chúng sinh vãng sinh.Trong Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Nguyên chiếu cho rằng Tam bối của kinh Vô lượng thọ đều nêu rõ việc phát tâm bồ đề, cho nên đều thuộc về ba phẩm Thượng của Quán kinh, còn 3 phẩm Trung và 3 phẩm Hạ thì vì nhân hạnh khác nhau nên không được xếp vào Tóm lại, về phía chủ trương Tam bối và Cửu phẩm giống nhau thì gồm có các ngài: Đàm loan, Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng, Pháp vị, Long hưng và Cảnh hưng; còn phía cho Tam bối và Cửu phẩm khác nhau thì có các ngài: Nghĩa tịch, Trí viên, Nguyên chiếu và Giới độ. Hiện nay, tông Tịnh độ theo thuyết của ngài Đàm loan chỉ có khai hợp là khác nhau mà thôi. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tuệ viễn); Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng)].
tam bối sự phật
681據分別經載,奉事佛有真假,故分別為三類:(一)魔弟子事佛,謂魔弟子雖受佛戒,心樂邪業,不信正道,不知有罪惡之報,假名事佛,常與邪俱。(二)天人事佛,謂天人受持五戒,行於十善,至死不犯,篤信罪福因果,常念正法。(三)佛弟子事佛,謂佛弟子奉持五戒,廣學經法,修習智慧,知三界苦,心不樂著,欲得解脫,行於六度,不貪身命,不為邪業。
; (三輩事佛) Ba hạng người phụng sự Phật. Cứ theo kinh Phân biệt thì phụng sự Phật có chân, giả khác nhau nên chia làm ba loại: . Đệ tử của ma thờ Phật: Đệ tử của ma tuy thụ giới của Phật, nhưng tâm ưa thích nghiệp tà, không tin đạo chân chính, không biết có quả báo của tội ác, giả danh thờ Phật, thường đi theo tà. 2. Trời, người thờ Phật: Trời, người giữ gìn 5 giới, làm 10 điều thiện, đến chết không phạm, dốc lòng tin nhân quả tội phúc, thường nhớ nghĩ chính pháp. 3. Đệ tử của Phật thờ Phật: Đệ tử của Phật vâng giữ 5 giới, học rộng kinh pháp, tu tập trí tuệ, biết rõ các khổ trong 3 cõi, tâm không tham đắm, muốn được giải thoát, thực hành 6 độ, không tiếc thân mệnh, không tạo nghiệp tà.
tam bồ đề
Saṃbodhi (S), Perfect enlighten-mentChánh đẳng chánh giác, Chánh giác.
; Sambodhi (S). Chính đẳng giác. Perfect universal awareness, perfectly enlightened.
; Sambodhi—The insight, wisdom and assimilation of truth essential to the higher attainment of Arhatship.
; (三菩提) I. Tam Bồ Đề. Cũng gọi Tam thừa bồ đề. 1. Thanh văn bồ đề: Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác mà không dạy người khác phát tâm bồ đề, không làm cho người khác khởi lòng tin, do nhân duyên này, tâm được giải thoát, gọi là Thanh văn bồ đề.2. Duyên giác bồ đề(cũng gọi Độc giác bồ đề, Bích chi phật bồ đề): Thiện nam tử, thiện nữ nhân, tự mình phát tâm bồ đề mà không dạy người khác phát tâm bồ đề, không làm cho người khởi tín tâm, không tự mình thụ trì nghĩa kinh Đại thừa, cũng không vì người khác giải nói rộng rãi, do nhân duyên này nên tâm chứng Bích chi bồ đề. 3. Vô thường chính đẳng bồ đề (cũng gọi Vô thượng bồ đề, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Chư Phật bồ đề): Thiện nam tử, thiện nữ nhân tự mình phát tâm bồ đề, cũng lại dạy người khác phát tâm bồ đề khiến người khác khởi lòng tin, dù có người đến hay không đến, đều cung kính tùy hỉ, sự tự lợi lợi tha như thế đều là vì lợi ích, an vui cho nhiều người, cho nên gọi là Vô thượng chính đẳng bồ đề. Ba thừa trên đây ví như 3 người vượt sông Hằng, người thứ nhất kết bè cỏ để qua; người thứ hai dùng đãy bằng da, hay thuyền bằng da để qua; người thứ ba làm 1 con thuyền lớn để qua, thuyền này chở được cả trăm nghìn người. Thí dụ này được thấy trong kinh Xuất sinh bồ đề tâm. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; phẩm Tam chủng bồ đề trong kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại trí độ Q.53]. II. Tam Bồ Đề. Dựa vào 3 thân Phật chia làm 3 loại: 1. Ứng hóa Phật bồ đề(cũng gọi Phương tiện bồ đề, Cứu cánh bồ đề): Bồ đề này lấy hóa dụng thiện xảo tự tại làm đạo. 2. Báo Phật bồ đề(cũng gọi Thực trí bồ đề, Thanh tịnh bồ đề): Bồ đề này lấy trí tuệ xứng lí làm đạo. 3. Pháp Phật bồ đề(cũng gọi Chân tính bồ đề, Thực tướng bồ đề, Vô thượng bồ đề): Bồ đề này lấy lí thực tướng làm đạo. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5, hạ, đem 3 bồ đề này phối hợp với Tư thành quĩ, Quán chiếu quĩ và Chân tính quĩ. Còn Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 1, thì phối hợp với giải thoát, bát nhã và pháp thân. [X. Kim quang minh huyền nghĩa Q.thượng]. (xt. Tam Thân, Bồ Đề).
tam bổn căn
Xem Tam luận tông.
tam bộ
620密教分胎藏界諸尊為蓮華部、金剛部、佛部,分別表示佛之大悲、大智、大定等三德。蓋金剛界以「除障成身、自受法樂」之行相,故轉九識而成五智,乃立五部以定尊位;相對於此,胎藏界則以「化度利生、他受法樂」之行相, }「大定、大智、大悲」等三門以引攝眾生,故立三部之別以賅攝諸尊。若以三部配涅槃三德,則蓮華部為法身,金剛部為般若,佛部即解脫。(一)蓮華部,眾生本具淨菩提心清淨之理,此理雖經六道四生之界,流轉生死之泥中而不染不垢,猶如蓮出污泥,故稱蓮華部。(二)金剛部,自心之理存有智,此智雖經無數劫而不朽不壞,能破煩惱,其堅固、摧破之二德猶如金剛,故稱金剛部。(三)佛部,理智具足,覺道圓滿,故稱佛部。 此三部之部母與部主各異,佛部以金剛佛頂為部主,以虛空眼為部母;蓮華部以馬頭觀音為部主,以伴陀羅縛字尼(即白衣觀音)為部母;金剛部以金剛手為部主,以忙麼雞為部母。若就中臺八葉院而分別三部,則毘盧遮那表示總體,故以之為佛部;四行菩薩表示大悲之德,故以之為蓮華部;四佛表示覺智,故以之為金剛部。或以大日如來為佛部,彌陀為蓮華部,寶幢為金剛部。或以彌陀為蓮華部,釋迦為金剛部,寶幢與開敷花攝屬佛部。 若於第一重中分別三部,則遍知院及五大院攝屬佛部,觀音院攝屬蓮華部,金剛手院攝屬金剛部。若就整個曼荼羅而分別三部,則中臺八葉院、遍知院、釋迦院、文殊院、五大院、虛空藏院、蘇悉地院攝屬佛部,右方之觀音院、地藏院攝屬蓮華部,左方之金剛手院、除蓋障院,及周圍之外金剛部院攝屬金剛部。若以此三部加上寶部、羯磨部,是為五部,金剛界即分五部而立。〔蘇悉地羯囉經卷上、陀羅尼諸部要目、大日經疏卷五、祕藏記、胎藏界曼荼羅鈔卷下〕(參閱「五部」1154、「胎藏界」3935)
; (三部) Ba bộ. Mật giáo chia các vị tôn của Thai tạng giới làm 3 bộ: Liên hoa bộ, Kim cương bộ và Phật bộ, biểu thị cho 3 đức của Phật là Đại bi, Đại trí và Đại định. 1. Liên hoa bộ: Chúng sinh vốn có sẵn lí của tâm bồ đề thanh tịnh, lí này tuy trải qua 6 đường, 4 loài, trôi lăn trong bùn lầy sinh tử mà không nhuốm bẩn giống như hoa sen mọc lên từ bùn nhơ mà vẫn thơm ngát, nên gọi Liên hoa bộ. 2. Kim cương bộ: Trong lí của tự tâm có trí, trí này tuy trải qua vô số kiếp mà vẫn không mất không nát, có khả năng tiêu trừ phiền não, tính chất cứng chắc và công năng phá dẹp của trí này giống như kim cương, cho nên gọi là Kim cương bộ.3. Phật bộ: Lí trí trọn đủ, giác đạo viên mãn, nên gọi là Phật bộ. Bộ mẫu và bộ chủ của 3 bộ này đều khác nhau, Phật bộ lấy Kim cương Phật đính làm Bộ chủ, lấy Bạn đà la phược tự ni (tức Bạch y Quan âm) làm Bộ mẫu. Kim cương bộ lấy Kim cương thủ làm Bộ chủ, lấy Mang ma kê làm Bộ mẫu. Nếu căn cứ vào viện Trung đài bát diệp để phân biệt 3 bộ thì Tì lô giá na biểu thị tổng thể, nên được dùng làm Phật bộ; Tứ hành bồ tát biểu thị đức Đại bi, nên được dùng làm Liên hoa bộ; Tứ Phật biểu thị trí giác, nên được dùng làm Kim cương bộ. Hoặc lấy Đại nhật Như lai làm Phật bộ; Di đà làm Liên hoa bộ và Bảo chàng làm Kim cương bộ. Hoặc lấy Phật Di đà làm Liên hoa bộ, Phật Thích ca làm Kim cương bộ, Phật Bảo chàng và Khai phu hoa làm Phật bộ.Nếu phân biệt 3 bộ trong lớp thứ nhất (của Mạn đồ la) thì viện Biến tri và viện Ngũ đại thuộc Phật bộ, viện Quan âm thuộc Liên hoa bộ và viện Kim cương thủ thuộc Kim cương bộ. Nếu y cứ vào toàn thể Mạn đồ la mà phân biệt 3 bộ thì các viện: Trung đài bát diệp, Biến tri, Thích ca, Văn thù, Ngũ đại, Hư không tạng và Tô tất địa thuộc Phật bộ; các viện Quan âm, Địa tạng ở bên phải thuộc Liên hoa bộ; còn các viện Kim cương thủ, Trừ cái chướng ở bên trái và viện Ngoại kim cương bộ chung quanh thì thuộc Kim cương bộ. Nếu thêm Bảo bộ và Yết ma bộ nữa thì thành 5 bộ (của Kim cương giới). [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; Đà la ni chư bộ yếu mục; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí; Thai tạng giới mạn đồ la sao Q.hạ]. (xt. Ngũ Bộ, Thai Tạng Giới).
tam bộ bí kinh
621又作真言三部、祕密三部、大日三部。乃密教三部經之略稱。即大日經、金剛頂經、蘇悉地經等三部經典,為日本之台密所特重。東密則除去蘇悉地經,僅用兩部大經。(參閱「三部經」621)
; (三部秘經) Cũng gọi Chân ngôn tam bộ, Bí mật tam bộ, Đại nhật tam bộ. Gọi tắt: Mật giáo tam bộ kinh. Chỉ cho 3 bộ kinh: Kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính, và kinh Tô tất địa. Ba bộ kinh này đặc biệt được Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản truyền thừa) xem trọng. (xt. Tam Bộ Kinh).
tam bộ giả danh sao
621凡七卷。今收於大正藏第八十三冊。日僧向阿證賢撰,元亨年間(1321~1323)成書。以真如堂等高僧之對話形式,比喻彌陀之慈悲為父,眾生之思慕為子。通常,日本之假名法語著述,乃針對不通漢字之讀者,故大都不加文飾,然本書則相反,係以和文撰寫,為一文學水準極高之作品。書中鼓吹淨土思想,甚為善巧。
; (三部假名鈔) Tác phẩm, 7 quyển, do ngài Hướng a Chứng hiền người Nhật soạn vào khoảng năm 1221-1323, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung sách này dùng hình thức đối thoại của các vị cao tăng ở Chân như đường... ví dụ lòng từ bi của đức Phật A di đà như cha, tâm nhớ tưởng của chúng sinh là con, Thông thường, những tác phẩm Giả danh pháp ngữ của Nhật bản là nhắm vào các độc giả không thông thạo chữ Hán, nên phần nhiều không trau chuốt câu văn, nhưng sách này thì trái lại, được viết bằng tiếng Nhật, là 1 tác phẩm có giá trị văn học rất cao, cổ xúy mạnh mẽ tư tưởng Tịnh độ.
Tam Bộ Kinh
(三部經, Sambukyō): tên gọi ba bộ kinh có cùng chung nhất với nhau về nghĩa lý, được rút ra từ trong kinh điển. Tiêu biểu nhất là ba bộ Pháp Hoa, gồm Vô Lượng Nghĩa Kinh (無量義經), Pháp Hoa Kinh (法華經) và Quán Phổ Hiền Kinh (觀普賢經). Ở Nhật ngoài ba bộ này ra còn có ba bộ Trấn Hộ Quốc Gia, được gọi là Hộ Quốc Tam Bộ Kinh (護國三部經), gồm Pháp Hoa Kinh, Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), và Kim Cang Minh Kinh (金剛明經). Thêm vào đó còn có ba bộ Đại Nhật gồm Đại Nhật Kinh (大日經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) và Tô Tất Địa Kinh (蘇悉地經); ba bộ Di Lặc gồm Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), và Di Lặc Thành Phật Kinh (彌勒成佛經), v.v. Trong bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) của Pháp Nhiên, lần đầu tiên dùng đến tên gọi Tịnh Độ Tam Bộ Kinh (淨土三部經), gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量義經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量義經), và A Di Đà Kinh (阿彌陀經).
Tam bộ kinh
三部經; C: sānbùjīng; J: sanbukyō;|Ba bộ kinh căn bản, thay đổi tuỳ theo truyền thống: I. Pháp Hoa tam bộ kinh (法華三部經); 2. Di-lặc tam bộ kinh (彌勒三部經); 3. Tịnh độ tam bộ kinh (淨土三部經); 4. Đại Nhật tam bộ kinh (大日三部經); 5. Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh (鎮護國家三部經).
tam bộ kinh
621略稱三經。為各宗自經典中特別選出三部與其宗義同性質之經典。最常稱者有:(一)淨土三部經,為無量壽經二卷、觀無量壽經一卷、阿彌陀經一卷。又稱淨土三部妙典。為淨土宗所正依之三部要典。(二)法華三部經,為無量義經一卷、法華經七卷、觀普賢經一卷。「法華三部經」一稱最早係出自天台大師別傳。略稱鎮國三部。(三)大日三部經,為大日經七卷、金剛頂經三卷、蘇悉地經三卷。又稱真言三部、祕密三部。為密教所依用之三部要典。(四)彌勒三部經,為上生經一卷、下生經一卷、成佛經一卷。此外,日本佛教界有所謂之「鎮護國家三部經」,指法華經七卷、金光明經十卷、仁王經二卷。〔彌勒上生經疏、選擇本願念佛集〕
; (三部經) Gọi tắt: Tam kinh. Ba bộ kinh. Các tông phái thường hay chọn lấy 3 bộ kinh đặc biệt trong tạng Kinh để làm chỗ y cứ cho giáo nghĩa của tôn phái mình. Phổ thông nhất thì có: 1. Tịnh độ tam bộ kinh(cũng gọi Tịnh độ tam bộ kinh điển): Gồm kinh Vô lượng thọ (2 quyển), kinh Quán Vô lượng thọ (1 quyển) và kinh A di đà (1 quyển). 2. Pháp hoa tam bộ kinh(gọi tắt: Trấn quốc tam bộ): Gồm kinh Vô lượng nghĩa (1 quyển), kinh Pháp hoa (7 quyển) và kinh Quán Phổ hiền (1 quyển). 3. Đại nhật tam bộ kinh (cũng gọi Chân ngôn tam bộ, Bí mật tam bộ): Gồm kinh Đại nhật (7 quyển), kinh Kim cương đính (3 quyển) và kinh Tô tất địa (3 quyển). 4. Di lặc tam bộ kinh: Gồm kinh Thướng sinh (1 quyển), kinh Há sinh, (1 quyển) và kinh Thành Phật (1 quyển). Ngoài ra Phật giáo Nhật bản cũng có Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh, tức là kinh Pháp hoa (7 quyển), kinh Kim quang minh (10 quyển) và kinh Nhân vương (2 quyển).[X. Di lặc thướng sinh kinh sớ; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
tam bộ nhứt bái
Three steps one bow.
tam bộ đại pháp
620指金剛界大法、胎藏界大法與蘇悉地大法而言。為日本台密特有之說法。東密依金剛頂經與大日經,僅說金剛界與胎藏界兩部大法;台密則除說智差別之金剛頂部與理平等之胎藏部外,又依蘇悉地經而說理智不二之蘇悉地法,故總為三部大法。
; (三部大法) Chỉ cho 3 bộ pháp lớn, đó là: Kim cương giới đại pháp, Thai tạng giới đại pháp và Tô tất địa đại pháp, là thuyết đặc biệt của Thai mật Nhật bản. Đông Mật(Mật giáo do ngài Không hải của Nhật bản truyền, lấy Đông tự làm đạo tràng căn bản nên gọi là Đông Mật)y cứ vào kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật; chỉ nói có 2 bộ đại pháp Kim cương giới và Thai tạng giới mà thôi.
tam ca diếp
〖出法華經文句〗梵語迦葉,華言光波。謂身光炎涌映餘光故也。毘婆尸佛時,三人共立剎柱,以是因緣,感報遂為兄弟。(梵語毘婆尸,華言勝觀。)〔一、優樓頻螺迦葉〕,梵語優樓頻螺,華言木瓜林;謂其居處,近於此林,故以名之。將護四眾,供給四事,令無所乏,最為第一。(四眾者,一比丘、二比丘尼、三優婆塞、四優婆夷也。四事者,一飲食、二衣服、三臥具、四醫藥也。)〔二、伽耶迦葉〕,梵語伽耶,華言城。謂其居家在王舍城南七由旬,故以名之。觀了諸法都無所著,教化眾生,最為第一。(梵語由旬,華言限量。一由旬,四十里也。)〔三、那提迦葉〕,梵語那提,華言河。謂其居止近於此河,故以名之。心意寂然,降伏結業,精進修行,最為第一。
; 591迦葉,梵名 Kāśyapa,意為光波,因其身光炎涌,故稱。毘婆尸佛時,三人共立剎柱,以是因緣感報,遂為兄弟。(一)優樓頻螺迦葉(梵 Uruvilvā-kāśyapa),優樓頻螺,意為木瓜林;以其居處近於此林,故稱。其將護四眾,供給四事,令無所乏。(二)那提迦葉(梵 Nadī-kāśyapa),那提,意為河;以其居止近此河,故稱。其心意寂然,降伏結業,精進修行。(三)伽耶迦葉(梵 Gayā-kāśyapa),伽耶,意為城;以其居家在王舍城南七由旬,故稱。能觀了諸法,都無所著,教化眾生。三人原係事火外道,各有徒眾五百、三百、二百,佛成道後不久,即秉佛之教化,歸入正法。〔增一阿含經卷三、過去現在因果經卷四、太子瑞應本起經卷下、佛五百弟子自說本起經〕
; Three brothers Kàsyapa, all three said to be disciples of the Buddha: Ưu lâu tần loa Ca diếp Uruvilva Kàsyapa, Già da Ca diếp Gaya Kàsyapa, Na đề Ca diếp Nadi Kàsyapa.
; (三迦葉) Ca diếp, Phạm: Kàzyapa. Hán dịch: Quang ba. Ba vị Ca diếp. Vì thân của các vị tỏa ra ánh sáng nên có tên là Ca diếp. Ở thời đức Phật Tì bà thi, 3 vị cùng nhau xây dựng chùa viện, nhờ nhân duyên ấy nên chiêu cảm quả báo làm anh em. 1. Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm: Uruvilvà-kàzyapa): Ưu lâu tần loa nghĩa là rừng mộc qua (cognassier, loại cây có quả dùng làm rượu), vì chỗ ngài ở gần khu rừng này nên gọi là Ưu lâu tần loa. Ngài thường ủng hộ 4 chúng, cung cấp các thứ cần dùng, không thể thiếu thốn. 2. Na đề ca diếp (Phạm: Nadì- Kàzyapa): Na đề nghĩa là sông, vì chỗ ở của ngài gần con sông nên gọi là Na đề. Tâm ý ngài vắng lặng, hàngphục các kết nghiệp, tinh tiến tu hành. 3. Già da ca diếp (Phạm: Gayà- Kàzyapa): Già da nghĩa là thành, vì nhà ngài ở cách thành Vương xá 7 do tuần về phía nam nên gọi là Già da. Ngài thường quán xét các pháp, giáo hóa chúng sinh và không chấp trước vào bất cứ điều gì. Ba anh em ngài Ca diếp vốn là ngoại đạo thờ lửa, mỗi vị theo thứ tự, có 500, 300, 200 đồ chúng, sau khi đức Phật thành đạo ít lâu, cả 3 vị được Ngài giáo hóa, qui y chính pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi].
Tam Ca-diếp
三迦葉; C: sān jiāyè; J: sankashō;|Ba anh em họ Ca-diếp: 1. Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優楼頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśya-pa); 2. Na-đề Ca-diếp (那提迦葉; s: kāśya-pa); 3. Già-da Ca-diếp (伽耶迦葉; s: gayā-kāśyapa). Họ nguyên là Pháp sư chuyên thờ thần lửa với hơn ngàn đệ tử. Khi được đức Phật chuyển hoá, họ gia nhập tăng-già với chúng đệ tử của họ. Ba anh em này sau là những người góp phần trong việc quản lí, tổ chức tăng-già sau này.
tam chi
532<一>因明用語。為三支作法之略稱。為三支作法之略稱。係陳那及其弟子商羯羅主等新因明論師所立,依宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)而成立之因明論式。(參閱「三支作法」534) <二>指東漢、三國時代之名僧支婁迦讖、支亮、支謙。歷代三寶紀卷五(大四九‧五八下):「世稱天下博知,不出三支。」
; (三支) I. Tam Chi. Gọi đủ: Tam chi tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tam chi là Tông (mệnh đề), Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ). (xt. Tam Chi Tác Pháp). II. Tam Chi. Chỉ cho 3 vị danh tăng dịch kinh người nước Nguyệt chi: Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán, Chi lượng và Chi khiêm đời Tam quốc.
tam chi (tỷ lượng)
Three members of a syllogism: pratijnà tông the proposition, hetu nhân the reason, udàharana dụ the example. cf Nhân minh.
Tam chi tác pháp
三支作法; C: sānzhī zuòfǎ; J: sanshi sahō;|Ba thành phần của Tam đoạn luận pháp (e: syllogism) trong tân phái của Nhân minh học Phật giáo. Ba thành phần này là: Tông (宗; s: pratijñā), là tông chỉ; Nhân (因; s: hetu), nguyên nhân; và Dụ (喩; s: udāharana), thí dụ cụ thể. Các cựu phái thường sử dụng luận pháp với năm thành phần (Ngũ chi tác pháp 五支作法), nhưng kể từ thời Trần-na, năm thành phần như vậy được xem là thừa và thay vào đó, Tam chi tác pháp được sử dụng.
tam chi tác pháp
533因明用語。依宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)等三支成立之因明論式。又作三分作法。略稱三支、三分。乃陳那及其弟子商羯羅主等新因明論師所立,唯設宗、因、喻三段之推論式。(一)宗,又稱所立(梵 sādhya),為議論之主題,乃即將被論證之命題。如言「聲是無常」是。宗由主詞與賓詞組成,主詞又稱有法(梵 dharmin)、所別(梵 viśeṣya)、前陳;賓詞又稱法(梵 dharma)、能別(梵 viśeṣana)、有相(梵 liṅgin)、後陳。凡因明之規則,主詞與賓詞須立(立論者)、敵(問難者)共同認可。聯結此兩語以立一論式時,始生兩者間之議論,借因、喻之力以圖成立其主義。 (二)因,即能立(梵 sādhana),為論證之根據。如云「所作性故」是。因具有遍是宗法性、同品定有性、異品遍無性三相,此為因必備之條件,新因明之根柢。(1)遍是宗法性(梵 pakṣa-dharmatva),規定宗之主詞與因之關係,即後者之範圍必包攝(大於)或等於前者。(2)同品定有性(梵 sapakṣe vidyamānatā),規定宗之賓詞與因之關係,後者包攝前者,或與其「外延」全體相等。外延,此處指適用於某一概念相同屬性之全部範圍。故知「因」須包含宗之賓詞,或與賓詞相同屬性之全部範圍相等,始構成因之條件。(3)異品遍無性(梵 vipakṣe nāstitā),係與同品定有性相反之規定,即與宗之主詞及賓詞相違之異品應全無關係。故知同品係從正面推斷以證成所立之宗,而異品則從反面證成所立之宗。 (三)喻,為議論根柢之一般原理,表示立、敵共認之真理,相當於論理學之大前提,由喻體及喻依組成。喻體為一般之真理,喻依為其實例。喻又分同喻、異喻。同喻為宗論證之積極基礎,異喻為其消極基礎。 今舉具備三支作法之論式如下:聲是無常(宗,第一支),所作性故(因,第二支),見諸所作皆無常,譬如瓶等(同喻),諸常住皆非所作,譬如虛空(異喻,以上第三支)。 古因明五支作法與三支作法之關係,三支作法係五支作法之前三支作法,五支為宗、因、喻、合、結,三支作法即將「合」支歸攝於喻體,將「結」支歸攝於宗支。如是將五支作法之歸納性質導向於三支作法之演繹性質,近似西洋論理學之三段論法,表示論理學之意義更進一步。今試將三支作法與三段論法作一比較,論式分三段彼此相同,又三段論法結論賓位之概念,即有大概念之前提,稱大前提,此同於同喻合作法之喻體;其結論主位之概念,即有小概念之前提,稱小前提,與因同;其結論,與宗之性質相同。然三支作法為立敵互相往復問答,以悟他論證為目的,故用宗、因、喻之次第;三段論法以考究自己思想之運用法則為目的,以推理為主,故用大前提、小前提、結論之次第。此外,於因明可用異喻之方法檢查同喻之正否,三段論法全闕,又未見喻依。〔因明入正理論疏卷上本、因明論疏瑞源記〕(參閱「五支作法」1069、「因明」2276)
; (三支作法) Cũng gọi Tam phần tác pháp. Gọi tắt: Tam chi, Tam phần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho luận thức gồm 3 phần Tông, Nhân, Dụ, của Tân nhân minh. 1. Tông là chủ đề của cuộc tranh luận. Tông do chủ từ và tân từ kết hợp thành. Theo qui định của Nhân minh, chủ từ và tân từ phải được cả người lập luận lẫn người vấn nạn chấp nhận. Khi kết hợp chủ từ và tân từ lại để thành lập 1 luận thức thì lúc đó mới trở thành chủ đề để tranh luận. Như Âm thanh là vô thường thì chủ từ âm thanh và tân từ vô thường được liên kết lại bằng chữ là. 2. Nhân là căn cứ của luận chứng, là lí do để thành lập Tông. Nhân phải có đủ 3 điều kiện sau đây: -Biến thị tông pháp tính, nghĩa là Nhân phải hoàn toàn có quan hệ với Tông, tức Nhân lúc nào cũng phải hiện hữu trong Tông. -Đồng phẩm định hữu tính, nghĩa là Nhân phải có tính cách cùng phẩm, cùng loại với Tông. -Dị phẩm biến vô tính, nghĩa là Nhân tuyệt đối không được mang tính cách khác loại với Tông. 3. Dụ là nguyên lí chung của sự tranh luận, biểu thị chân lí được cả đôi bên lập luận và địch luận cùng thừa nhận, tương đương với Đại tiền đề của Luận lí học phương Tây. Dụ có 2 thứ là Đồng dụ và Dị dụ; Đồng dụ là ví dụ cùng phẩm loại với Tông, Dị dụ là ví dụ khác phẩm loại với Tông. Luận thức dùng Đồng dụ gọi là Hợp tác pháp, còn luận thức dùng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Sau đây là luận thức Tam chi tác pháp hoàn chỉnh: Tông(chi 1): Âm thanh là vô thường. Nhân (chi 2): Vì nó có tính cách được tạo ra. Dụ (chi 3): Những gì có tính cách được tạo ra đều là vô thường, như cái bình... (Đồng dụ–Hợp tác pháp); Những gì không phải là vô thường thì đều không có tính cách được tạo ra, như hư không (Dị dụ–Li tác pháp). [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí]. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp, Nhân Minh).
tam chi tỉ lượng
〖出阿毘達磨雜集論〗比量者,謂以有為法與無為法比類而量度也。〔一、立宗〕,宗,猶主也,要也。謂如五蘊等法,皆假因緣而生,實無自性,於中求我,決不可得。故對執我論者,先說諸法無我也。(五蘊者,色蘊、受蘊、想蘊、行蘊、識蘊也。)〔二、立因〕,立因者,謂破執有我者而立因也。若於五蘊等法施設實有我者,此之五蘊,既從眾緣而生,皆是生滅之法,蘊既生滅,我不成就。若離五蘊,而於餘處施設有我者,我無所因,我亦無用。是則皆無有我也。〔三、立喻〕,立喻者,謂以別法喻所立法也。如於現在世施設實有過去相者,此現在相已生未滅,不應於已生未滅法中,施設過去已滅之相。若離現在而於餘處施設過去相者,然過去世相既滅壞,不應施設有相,此過去相不可得,以喻諸法皆不可得也。
tam chiếu
641以太陽順序照耀高山、幽谷和平地來比喻佛陀教化眾生之順序次第。據舊譯華嚴經卷三十四寶王如來性起品所載,譬如日出,先照一切諸大山王,次照一切大山而後金剛寶山,而後一切大地;佛陀教化眾生亦循如下之次第:菩薩摩訶薩、緣覺、聲聞、決定善根之眾生、一切眾生乃至邪定聚之眾生。智顗在法華玄義卷一就釋尊說法之順序分為:高山、幽谷、平地,並配列五時加以解說,即:照高山為華嚴時,照幽谷為阿含時,照平地則分為三時,依序為:方等時(食時,即午前八時)、般若時(禺中,即十時)、法華涅槃時(正午)。〔法華玄義釋籤卷一、觀音義疏記卷三、翻譯名義集卷十四〕(參閱「五時八教」1132)
; The three shinings; the sun first shining on the hill-tops, then the valleys and plains. So, according to Thiên Thai teaching of the Hoa Nghiêm sùtra, the Buddha's doctrine had three periods of such shining: (a) first, he taught the Hoa Nghiêm sùtra, transforming his chief disciples into bodhisattva; (b) second, the Hìnayàna sùtras in general to sravaka and pratyeka-buddha in the Lumbini garden; (c) the phương đẳng sùtras down to the Niết bàn kinh for all the living.
; So sánh giáo pháp nhà Phật với ba ánh chiếu của mặt trời; một là ánh mặt trời trên đỉnh đồi, sau đó là ánh chiếu trong thung lũng và cuối cùng là ánh chiếu trên vùng đồng bằng. Đức Phật thuyết giảng Hoa nghiêm để chuyển hóa các đệ tử thành Bồ tát; sau đó Ngài giảng Tiểu thừa cho hàng Thanh văn Duyên giác trong vườn Lâm Tỳ Ni, và sau cùng Ngài thuyết giảng Phương Đẳng và Niết Bàn cho chúng sanh mọi loài—The Buddha's teachings compare to the three shinings of the sun; the sun first shining on the hill-tops, then the valleys and plains. The Buddha first preached Avatamsaka sutra (Kinh Hoa Nghiêm) transforming his chief disciples into bodhisattvas; second he preached Hinayana sutras to sravaskas and Pratyeka-buddhas in the Limbini garden; third he preached Vaipulya (Phương Đẳng) and Nirvana for all the living.
; (三照) Thứ tự chiếu soi của mặt trời có 3 nấc từ khi mới mọc. Cứ theo phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch cũ) thì ví dụ như mặt trời mọc, trước hết chiếu soi hết tất cả núi chúa(cao nhất), kế đến chiếu soi tất cả núi lớn và núi báu Kim cương, sau cùng chiếu soi tất cả đại địa. Sự giáo hóa chúng sinh của đức Phật cũng tuần tự theo các thứ lớp như sau: Trước hết, giáo hóa từ Đại bồ tát, rồi Duyên giác, Thanh văn, chúng sinh thiện căn quyết định, tất cả chúng sinh và cuối cùng cho đến chúng sinh tà định tụ. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, ngài Trí khải căn cứ vào thứ tự thuyết pháp của đức Phật mà chia ra: Núi cao, thung lũng và đồng bằng, rồi đem phối với 5 thời giáo để giải thích; nghĩa là: Chiếu núi cao là thời Hoa nghiêm, chiếu các thung lũng là thời A hàm, chiếu đồng bằng thì chia làm 3 thời, theo thứ tự là: Thời Phương đẳng(ví dụ lúc 8 giờ sáng), thời Bát nhã(lúc 10 giờ) và thời Pháp hoa Niết bàn(lúc 12 giờ trưa). [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Quán âm nghĩa sớ kí Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
tam chu thuyết pháp
560又稱法華三周。天台宗就法華經迹門正宗分之開權顯實之說相而立之名目;亦即佛為令聲聞悟入一乘實相之理,遂就上中下三根之機而反覆說法三回,稱為三周說法。即:(一)法說周,又稱初周。乃佛為上根人,就法體而直說諸法實相、十如之理;開三乘之權,使其了悟一乘之實。此時唯有大智舍利弗一人解悟授記,即法華經方便品中所談。(二)譬說周,又作中周。乃佛對法說周不悟之中根者,更作三車一車之說。初許三車是施權,後賜一大車是顯實,使之了悟一乘之理。此時有摩訶迦葉、摩訶迦旃延、摩訶目犍連、須菩提等四大弟子領解授記,即譬喻品中所談。(三)宿世因緣周,又作下周,略稱因緣周。乃佛為不能了解上述二周之下根者,說其宿世為大通智勝佛下之一乘機種,使彼等了悟宿世久遠之機緣而得悟。此時有富樓那、憍陳如等千二百聲聞領解授記,亦即化城喻品中所談。此三周分反覆正說(佛說)、領解(表明弟子之領解)、述成(佛對弟子之領解認可)、授記(佛對弟子成佛作預言)四階段。循此以度化上、中、下三根,可謂周備完足。〔法華經義記卷三、法華經義疏卷八(吉藏)、法華文句卷四上、法華經玄贊卷三〕
; (三周說法) Cũng gọi Pháp hoa tam chu. Đức Phật vì muốn cho hàng đệ tử Thanh văn ngộ nhập lí Nhất thừa thực tướng, nên Ngài dựa theo căn cơ thượng, trung, hạ mà nói pháp lập đi lập lại 3 vòng, gọi là Tam chu thuyết pháp. Đó là: 1. Pháp thuyết chu(cũng gọi Sơ chu): Đức Phật vì hàng thượng căn, y cứ vào pháp thể mà trực tiếp nói thực tướng các pháp và lí Thập như, xóa bỏ Tam thừa phương tiện, khiến họ liễu ngộ Nhất thừa chân thực. Trong vòng thuyết pháp này chỉ có 1 vị là Đại trí Xá lợi phất tỏ ngộ và được thụ kí(phẩm Phương tiện). 2. Thí thuyết chu(cũng gọi Trung chu): Đối với hàng trung căn chưa tỏ ngộ ở vòng đầu (Sơ chu), đức Phật lại nói về ba xe, một xe để hóa độ họ. Trước nói 3 xe là dùng phương tiện, sau cho 1 xe lớn hiển chân thực để giúp họ tỏ ngộ lí Nhất thừa. Vòng thuyết pháp thứ 2 này có 4 vị đại đệ tử là các ngài Ma ha Ca diếp, Ma ha Ca chiên diên, Ma ha Mục kiền liên và Tu bồ đề lãnh ngộ và được thụ kí (phẩm Thí dụ). 3. Túc thế nhân duyên chu (cũng gọi Hạ chu, gọi tắt: Nhân duyên chu): Đức Phật vì hàng hạ căn không thể tỏ ngộ trong 2 vòng thuyết pháp trước mà nói đời trước họ đã gieo nhân căn cơ Nhất thừa dưới thời đức Phật Đại thông trí thắng, khiến họ thấy rõ cơ duyên lâu xa đời trước mà được tỏ ngộ. Trong vòng thuyết pháp này, có 1.200 vị Thanh văn tỏ ngộ và được thụ kí, đó là các ngài Phú lâu na, Kiều trần như...(phẩm Hóa thành dụ). Tam chu trên đây được chia làm 4 giai đoạn là: Chính thuyết(Phật nói),Lãnh giải (nói lên sự hiểu tỏ của đệ tử), Thuật thành (Phật thừa nhận sự hiểu tỏ của các đệ tử) và Thụ kí(Phật nói trước về sự thành Phật của các đệ tử). Đức Phật theo đây để hóa độ đầy đủ 3 căn thượng, trung, hạ. [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.8 (Cát tạng); Pháp hoa văn cú Q.4, thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.3].
tam chu thụ kí
559上中下三根之聲聞由於聽聞法華經之三周說法而得悟,對此,佛為之各各授予作佛之記,稱為三周授記。三周者,法說周、譬說周與因緣周。(一)於法說周對上根授記,如譬喻品中對舍利弗授記即是。(二)於譬說周對中根授記,如授記品中對摩訶迦葉、須菩提、迦旃延、目犍連四大聲聞授記即是。(三)於因緣周對下根授記,如五百弟子授記品中對富樓那、千二百聲聞、憍陳如、優樓頻螺迦葉等授記,授學無學品中對阿難等二千人授記,提婆達多品中對提婆達多授記,勸持品中對波闍比丘尼、六千有學無學比丘尼等授記即是。〔法華經文句卷四上、法華文句記卷四中、卷四下、法華玄論卷五〕(參閱「三周說法」560、「授記」4587)
tam chu thụ ký
(三周授記) Đức Phật thụ kí cho hàng Thanh văn thành Phật qua 3 vòng thuyết pháp của kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Pháp thuyết chu: Thụ kí cho bậc thượng căn, như việc thụ kí cho ngài Xá lợi phất trong phẩm Thí dụ. 2. Thí thuyết chu: Thụ kí cho hàng trung căn, như việc thụ kí cho 4 vị đại Thanh văn: Ma ha Ca diếp, Tu bồ đề, Ca chiên diên và Mục kiền liên trong phẩm Thụ kí. 3. Nhân duyên chu: Thụ kí cho hàng hạ căn, như việc thụ kí cho ngài Phú lâu na, 1.200 vị Thanh văn, các ngài Kiều trần như, Ưu lâu tần loa ca diếp... trong phẩm Ngũ bách đệtửthụ kí, việc thụ kí cho 2.000 vị như ngài A nan.. trong phẩm Thụ học vô học, việc thụ kí cho Đề bà đạt đa trong phẩm Đề bà đạt đa và việc thụ kí cho tỉ khưu ni Ba xà, cùng 6.000 vị tỉ khưu ni Hữu học vô học trong phẩm Khuyến trì. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.4 thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.4 trung, hạ; Pháp hoa huyền luận Q.5]. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp, Thụ Kí).
Tam chuyển ngữ
(三轉語, Santengo): ba loại ngữ cú làm chuyển từ mê sang ngộ, tỷ như Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ (巴陵三轉語), Triệu Châu Tam Chuyển Ngữ (趙州三轉語), v.v.
tam chuyển
Ba lần chuyển Pháp Luân khi Đức Phật giảng pháp trong vườn Lộc uyển—The three turns of the law-wheel when the Buddha preached in the Deer Park: 1) Thị chuyển: Indicative, postulation and definition of the Four Noble Truths. 2) Cần chuyển: Khuyến chuyển—Hortative, suffering should be diagnosed—See Khuyến Chuyển. 3) Chứng chuyển: Evidential overcoming suffering.
tam chuyển pháp luân
694<一>即三分釋尊之教說為根本法輪、枝末法輪、攝末歸本法輪。乃三論宗吉藏所立之判教名稱。略稱三法輪、三輪。(一)根本法輪,為大菩薩直接宣示悟境之根本教說。華嚴經所說一因一果之一乘教屬之。(二)枝末法輪,為尚不能理解佛法之薄福鈍根者,將佛陀一代四十餘年之教法(一乘教)分為方便之三乘而說諸經。此由根本之一乘教分化而來,故稱枝末。(三)攝末歸本法輪,將枝末之三乘教法,歸結於根本之一乘教,此即法華經之教說。 復次,如般若、淨名等大乘經典,自其不廢三乘之意義而言,可說是枝末法輪。或三乘入一乘之教,亦可稱枝末法輪;若以直入一乘之教而言,則稱為根本法輪。又三論宗之判教是:以聲聞藏、菩薩藏二者為主,而以三轉法輪為副。〔法華經信解品、譬喻品、法華遊意、中論疏卷一〕 <二>指佛陀三轉四諦之法輪:(一)示轉,指示「此是苦,此是集,此是滅,此是道」。(二)勸轉,勸示「此是苦,汝應知;此是集,汝應斷;此是滅,汝應證;此是道,汝應修」。(三)證轉,證示「此是苦,我已知,不復更知;此是集,我已斷,不復更斷;此是滅,我已證,不復更證;此是道,我已修,不復更修」。以每一轉各具眼、智、明、覺四行相,故成十二行相。(參閱「三轉十二行相」694)
; The three turns of the law-wheel when the Buddha preached in the Deer Park Lộc Uyển: (a) thị chuyển indicative, i.e. postulation and definition of the tứ đế four noble truths; (b) khuyến chuyển hortative, e.g. khổ đương tri suffering should be diagnosed; (c) chứng chuyển evidential, e.g. I have overcome suffering etc.
; (三轉法輪) I. Tam Chuyển Pháp Luân. Gọi tắt: Tam pháp luân, Tam luân. Chỉ cho 3 thứ chuyển pháp luân là Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp. Đây là danh từ phán giáo do ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận đặt ra. 1. Căn bản pháp luân: Giáo thuyết căn bản trực tiếp tuyên bày cảnh giới giác ngộ cho các vị Đại bồ tát. Nhất thừa giáo 1 nhân 1 quả nói trong kinh Hoa nghiêm thuộc về giáo pháp căn bản này. 2. Chi mạt pháp luân: Vì những người ít phúc, căn tính chậm lụt, chưa có khả năng hiểu được Phật pháp nên phương tiện chia giáo pháp Nhất thừa làm Tam thừa mà nói các kinh. Đây là giáo pháp ngành ngọn(chi mạt) từ giáo pháp gốc rễ(căn bản) mà phân hóa ra, cho nên gọi là Chi mạt pháp luân. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân(pháp luân đưa ngọn về gốc): Đưa giáo pháp Tam thừa chi mạt qui kết về giáo pháp Nhất thừa căn bản, đây chính là giáo thuyết của kinh Pháp hoa. Lại nữa, các kinh Đại thừa như Bát nhã, Tịnh danh, nếu nói theo ý nghĩa Bất phế Tam thừa(không bỏ Tam thừa)thì có thể gọi các kinh này là Chi mạt pháp luân hoặc giáo pháp Tam thừa nhập Nhất thừa cũng có thể gọi là Chi mạt pháp luân. Nếu nói theo giáo pháp Trực nhập Nhất thừa(vào ngay Nhất thừa) thì gọi là Căn bản pháp luân.Ngoài ra, theo sự phán giáo của tông Tam luận thì Thanh văn tạng và Bồ tát tạng là chính, còn Tam chuyển pháp luân thì là phụ. [X. phẩm Tín giải kinh Pháp hoa; Pháp hoa du ý; Trung luận sớ Q.1]. II. Tam Chuyển Pháp Luân. Chỉ cho pháp luân 3 lần chuyển Tứ đế của đức Phật. 1. Thị chuyển: Chỉ ra rằng Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. 2. Khuyến chuyển: Khuyên rằng Đây là khổ, các ông nên biết; đây là tập, các ông nên dứt; đây là diệt, các ông nên chứng; đây là đạo, các ông nên tu. 3. Chứng chuyển: Chứng rằng Đây là khổ, ta đã biết, không còn gì để biết; đây là tập, ta đã dứt, không còn gì để dứt; đây là diệt, ta đã chứng, không còn gì để chứng; đây là đạo, ta đã tu, không còn gì để tu. Mỗi 1 lần chuyển đều có 4 hành tướng là nhãn, trí, minh, giác, cho nên 3 chuyển thành là 12 hành tướng. (xt. Tam Chuyển Thập Nhị Hành Tướng).
tam chuyển pháp luân kinh
694梵名 Dharmacakrasūtra。全一卷。唐代義淨譯。收於大正藏第二冊。佛陀成道之初,於鹿野苑為憍陳如等五比丘宣說四諦之理,以由不同角度講述三遍,稱三轉十二行相,遂成此經。異譯本有東漢安世高所譯轉法輪經一卷,南傳佛教亦有此經。被視為佛陀之開教宣言與教義之基礎。
; (三轉法輪經) Phạm: Dharmacakrasùtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Lúc mới thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc dã tuyên giảng về lí Tứ đế cho 5 vị tỉ khưu là các ngài Kiều trần như... nghe. Vì đức Phật giảng giải 3 lần, mỗi lần có 4 hành tướng, nên gọi là Tam chuyển thập nhị hành tướng mà thành kinh này. Kinh này còn có 1 bản dịch khác là kinh Chuyển pháp luân, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Đông Hán. Kinh này được xem là bản Tuyên ngôn khai giáo của đức Phật và là nền tảng của giáo nghĩa. Phật giáo Nam truyền cũng có kinh này.
tam chuyển thập nhị hành tướng
694梵語 tri-parivarta-dvādaśākāra-dharma-cakra-pravartana。又作當三轉四輪十二行法輪、四諦法輪三會十二轉說、三轉十二行法輪。指世尊三轉四諦之法輪,每一轉各具四行相,故有十二行相。三轉者,四諦各有示相轉(肯定四諦,說此是苦諦、集諦、滅諦、道諦)、勸相轉(說此苦諦應知,集諦應斷,滅諦應證,道諦應修)、證相轉(說苦諦已知,集諦已斷,滅諦已證,道諦已修)。此三轉各具眼(梵 cakṣus)、智(梵 jñāna)、明(梵 vidyā)、覺(梵 buddhi)等四行相,或三周循歷四聖諦,故稱十二行相。據大毘婆沙論卷七十九載,眼智明覺有兩義:(一)眼,即法智忍;智,即諸法智;明,即諸類智忍;覺,即諸類智。(二)眼,觀見之義;智,決斷之義;明,照了之義;覺,警察之義。 於每一諦中,皆有三轉十二行相,故四諦合之,共有十二轉四十八行相。如以苦諦言之,謂「此是苦」,為示相轉;謂「應徧知此苦」,為勸相轉;謂「已徧知此苦」,為證相轉。此三轉依次可配於見道、修道、無學道;如是一一而轉,每一轉皆各具眼、智、明、覺等四行相,故於一苦諦即有三轉十二行相。〔雜阿含經卷十五、四分律卷三十二、俱舍論卷二十四、瑜伽師地論卷九十五、法華經玄贊卷四、俱舍論光記卷二十四〕(參閱「轉法輪」6619)
; Tri-parivarta-dvadaśakaradharma-cakra-pravartana (S).
; (三轉十二行相) Phạm:Trì-parivarta-dvàdazàkàradharma-cakra-pravartana.Cũng gọi Đương tam chuyển tứ luân thập nhị hành pháp luân, Tứ đế pháp luân tam hội thập nhị chuyển thuyết, Tam chuyển thập nhị hành pháp luân. Chỉ cho 3 lần đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế, mỗi một lần chuyển đều có 4 hành tướng, cộng chung thành 12 hành tướng. Còn Tam chuyển thì 4 đế mỗi đế đều có 3 chuyển:Thị tướng chuyển (đây là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế), Khuyến tướng chuyển(đây là khổ đế nên biết, là tập đế nên dứt, là diệt đế nên chứng, là đạo đế nên tu) và Chứng tướng chuyển (đây là khổ đế đã biết, là tập đế đã dứt, diệt đế đã chứng, đạo đế đã tu). Ba chuyển này mỗi chuyển đều có 4 hành tướng: Nhãn (Phạm: Cakwu= mắt), Trí (Phạm: Jĩàna), Minh (Phạm: Vidyà) và Giác (Phạm: Buddhi), hoặc 3 vòng xoay quanh 4 thánh đế, cho nên gọi là Thập nhị hành tướng.Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 79 thì Nhân, Trí, Minh, Giác có 2 nghĩa: 1. Nhãn tức Pháp trí nhẫn, Trí tức các Pháp trí, Minh tức các loại Trí nhẫn và Giác tức là các loại Trí. 2. Nhãn nghĩa là quán thấy: Trí nghĩa là quyết đoán; Minh tức là chiếu rõ và Giác nghĩa là tỉnh biết. Trong mỗi đế đều có 3 chuyển 12 hành tướng, cho nên 4 đế cộng chung lại thì có 12 chuyển 48 hành tướng. Ba chuyển này theo thứ tự có thể phối với Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo, cứ như thế chuyển từng món một, mỗi chuyển đều có 4 hành tướng Nhãn, Trí, Minh, Giác, cho nên khổ đế có 3 chuyển 12 hành tướng, các đế khác cũng thế.[X. kinh Tạp a hàm Q.15; luật Tứ phần Q.32; luận Câu xá Q.24; luận Du già sư địa Q.95; Pháp hoa kinh huyền tán Q.4; Câu xá luận quang kí Q.24]. (xt. Chuyển Pháp Luân).
tam chuyển độc văn
695即空轉、假轉、中轉。又作十如三轉。法華經方便品有「十如是」之文(大九‧五下):「諸法如是相、如是性、如是體、如是力、如是作、如是因、如是緣、如是果、如是報、如是本末究竟等。」天台宗智顗大師將此「十如是」之文分為三種讀法,據法華玄義卷二上載,由三種不同讀法,可顯現空、假、中之三諦法,即指:(一)空轉,若讀為「是相如」,乃至「是本末究竟等如」,則作「諸法皆空」之解,用以彰顯「空」諦。(二)假轉,若讀為「如是相」,乃至「如是本末究竟等」,則作「空即假、現象即差別」之解,用以彰顯「假」諦。(三)中轉,若讀為「相如是」,乃至「本末究竟等如是」,則作「諸法即諸法實相」之解,用以彰顯「中」諦。〔法華玄義講述卷二上〕
; (三轉讀文) Cũng gọi Thập như tam chuyển. Ba cách chuyển đọc văn kinh để hiển bày 3 đế Không, Giả, Trung do Đại sư Trí khải tông Thiên thai đặt ra. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa có đoạn văn Thập như thị (Đại 9, 5 hạ): Chư pháp như thị tướng, Như thị tính, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo, Như thị bản mạt cứu cánh đẳng. Đại sư Trí khải chia đoạn văn này làm 3 cách đọc khác nhau là Không chuyển, Giả chuyển và Trung chuyển, gọi là Tam chuyển: 1. Không chuyển: Nếu đọc là Thị tướng như cho đến Thị bản mạt cứu cánh đẳng như, thì sẽ hiểu là các pháp đều không, hiển bày Không đế. 2. Giả chuyển:Nếu đọc là Như thị tướng cho đến Như thị bản mạt cứu cánh đẳng, thì sẽ hiểu là Không tức giả, hiện tượng tức sai biệt, hiển bày Giả đế. 3. Trung chuyển: Nếu đọc là Tướng như thị cho đến Bản mạt cứu cánh như thị thì sẽ hiểu là Các pháp tức thực tướng các pháp, hiển bày Trung đế. [X. Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.2, thượng].
tam chánh
(三正) Cũng gọi Tam trung. Chỉ cho 3 chính: Đối thiên chính, Tận thiên chính và Tuyệt đãi chính. Đây là sự giải thuyết về giáo nghĩa Phá tà hiển chính do tông Tam luận thành lập. 1. Đối thiên chính: Nhằm đối lại với các thiên kiến như đoạn kiến, thường kiến mà hiển bày chính lí, cũng như tùy bệnh cho thuốc. 2. Tận thiên chính: Diệt trừ các thiên kiến đoạn, thường mà hiển hiện chân lí, giống như dùng thuốc chữa bệnh. 3. Tuyệt đãi chính: Khi các thiên kiến đoạn, thường đã dứt sạch thì chính lí tương đối cũng chẳng còn, vì thế chính lí là chẳng phải thiên chẳng phải chính. Tuy không thể gọi là chính lí, nhưng vì để biểu thị tính chất tuyệt đối của nó, nên cũng gượng gọi là chính lí, cũng hệt như thuốc đến thì bệnh hết. [X. Tam luận huyền nghĩa].
Tam chánh niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
tam chân như
601諸法之體性真實不變,稱為真如。<一>成唯識論依三無性而立此三真如,即:(一)無相真如,謂諸法之體無遍計所執之虛相。(二)無生真如,謂諸法由因緣而生,故不為實生。(三)無性真如,諸法之真體不落言詮,棄絕思慮,故無妄情所執之實性。 <二>雜集論所立三真如為:(一)善法真如,謂真如隨緣為善法。(二)不善法真如,謂真如隨緣為不善法。(三)無記法真如,謂真如隨緣為無記法。
; Three aspects of the bhùtatathatà, implying it is above the limitations of form, creation, or a soul: (1) (a) vô tướng chân như without form; (b) vô sinh chân như without creation; (c) vô tính chân như without anything that can be called a nature for comparison; e.g. chaos, or primal matter. (2) (a) thiện pháp chân như the bhùtatathatà as good; (b) bất thiện pháp chân như as evil; (c) vô ký pháp chân như as neutral.
; Three aspects of Bhutatathata: (A) 1) Vô tướng: Without form—Above the limitation of form. 2) Vô sinh: Without creation—Above the limit of creation. 3) Vô tánh: Without nature (soul)—Above the limit of a soul. (B) 1) Thiện pháp chân như: The bhutathatata as good. 2) Bất thiện pháp chân như: The bhutathatata as evil. 3) Vô ký pháp chân như: The bhutathatata as neither good nor evil. **For more information, please see Chân Như.
; (三真如) I. Tam Chân Như. Thể tính chân thực không thay đổi của các pháp gọi là chân như. Luận Thành duy thức y cứ vào Tam vô tính mà lập ra Tam chân như: 1. Vô tướng chân như: Thể của các pháp không có tướng hư vọng của Biến kế sở chấp. 2. Vô sinh chân như: Các pháp do nhân duyên mà sinh nên chẳng phải là thực sinh.3. Vô tính chân như: Thể chân thực của các pháp không rơi vào lời nói, dứt tuyệt lo lường, cho nên không có thực tính của vọng tình sở chấp. II. Tam Chân Như. Tam chân như do luận Tạp tập thành lập là: 1. Thiện pháp chân như: Chân như theo duyên thành thiện pháp. 2. Bất thiện pháp chân như: Chân như theo duyên thành bất thiện pháp. 3. Vô kí pháp chân như: Chân như theo duyên là vô kí pháp.
tam chính
542又稱三中。係三論宗所立,乃該宗破邪顯正教義之解說。「正」有三種,故稱三正。即:(一)對偏正,針對斷見、常見等偏見而顯示正理;一如對症下藥。(二)盡偏正,袪除斷、常等偏見而顯現真理;一如用藥治病。(三)絕待正,斷、常之偏見盡失,相對之正理亦不再殘留,故正理為非偏非正。雖不可名正理,然為表示其絕對性,故亦強名之為正理;一如藥到病癒。〔三論玄義〕
tam chướng
666梵語 trīṇy āvaranāni。三種障礙。<一>又作三重障。指障礙聖道及其前加行善根之煩惱障、業障、異熟障。(一)煩惱障(梵 kleśāvaraṇa),本性熾然具足貪、瞋、癡三煩惱,致難生厭離,難教誨,難開悟,難得免離,難得解脫。此亦即指恆起之煩惱。(二)業障(梵 karmāvaraṇa),即五無間業。乃由身口意所造作之不善業。(三)異熟障(梵 vipākāvaraṇa),又作報障、果報障。以煩惱、業為因,所招感之三惡趣等果報。〔北本大般涅槃經卷十一、佛名經卷一、發智論卷十一、成實論卷八、俱舍論卷十七、大智度論卷五、大毘婆沙論卷一一五〕 <二>據大乘瑜伽大教王經卷五載,以三種障礙之故,不得遇瑜伽祕密之三摩地法。即:(一)我慢重障,我慢貢高,邪見執蔽,致不能下心敬事諸佛菩薩師僧父母,不能學如來正法。(二)嫉妒重障,妒賢嫉能,自是他非,見人修善,反生嫉妒,不能學得如來正法。(三)貪欲重障,多貪、多欲、懶惰、睡眠、惛沉、掉舉、破戒者,不能學如來正法。上記三種人不識因果,不敬師長,亦不見良善,不護道業,廣造惡業,故不得遇三密正法。 <三>妨礙禪定之三種障礙。(一)昏沉闇蔽障,謂昏沉闇睡,則無所別知,障諸禪定,致不得開發。(二)惡念思惟障,謂雖不昏沉,然惡念忽起而破禁戒,致作諸不善事。(三)境界逼迫障,謂雖無昏沉、惡念等事,而身或猝痛,陷地、火燒、落崖,猛虎奔逐,魔惱並起,諸惡相現而逼惱行人,橫生驚怖,致障諸禪定,不得開發。凡此三者,均足障礙禪定之修習。〔釋禪波羅蜜次第法門卷四、天台四教儀集解標指鈔卷下四、大藏法數卷九〕 <四>又作三粗重、三煩惱。指修惑、見惑、無明等三種煩惱障。分別以皮、肉、心三種為喻。又作皮膚骨三障。(一)皮煩惱障,指修惑;修惑係五根對外五塵而起,如皮在外,故以皮為喻。(二)肉煩惱障,指見惑;見惑係由誤迷理論、觀點而致,屬內心之執著分別,如肉在皮內,故以肉為喻。(三)心煩惱障,指無明;根本無明為一切迷妄之源,此無明之惑由迷真逐妄而起,故以心為喻。大乘義章卷五本復對同一無明立皮膚骨三障,謂粗品無明浮淺,為皮障;中品無明次深,為膚障;細品無明最深,為骨障。〔梁譯攝大乘論釋卷十五、華嚴孔目章卷三〕(參閱「三粗重」616、「三惑」624)
; Triny-āvaraṇani (S), Tayokincana (P).
; The three vighna, i.e. hinderers or barriers of which three groups are given: (1) (a) phiền não chướng the passions; (b) nghiệp chướng the deeds done; (c) báo chướng the retributions. (2) (a) bì phiền não chướng; (b) nhục phiền não chướng; (c) tâm phiền não chướng skin, flesh and heart (or mind) troublers, i.e. delusions from external objects, internal views, and mental ifnorance. (3) tam trọng chướng the three weighty obstructions: (a) ngã mạn self-importance; (b) tật đố envy;(c) tham dục desire.
; Ba loại chướng ngại—Three kinds of Vighna—Three hinderers—Three barriers (A) 1) Phiền não chướng: Hoặc chướng—Hindrances of affliction—Chướng gây nên bởi dục vọng, ham muốn, hận thù và ngu si—Hinderers or barriers caused by passions, desires, hate, stupidity. 2) Nghiệp chướng: Karmic hindrances—Chướng ngại gây nên bởi những nghiệp đã được làm—Hinderers caused by the deeds done. 3) Báo chướng: Hindrances of retribution—Chướng gây nên những quả báo—Hinderers caused by the retributions. (B) 1) Bì phiền não: Chướng ngại bởi ngoại cảnh—Delusions from external objects. 2) Nhục phiền não: Chướng ngại gây nên bởi nội kiến—Delusions from internal views. 3) Tâm phiền não: Chướng ngại gây nên bởi tâm thần mê muội—Delusions from mental ignorance. (C) 1) Ngã mạn: Self-importance. 2) Tật đố: Envy. 3) Tham dục: Desire.
; (三障) Phạm:Trìịy-àvaranàni. Ba thứ chướng ngại. I. Tam Chướng. Cũng gọi Tam trọng chướng. Chỉ cho Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Dịthục chướng ngăn ngại thánh đạo và các thiện căn gia hạnh trước đó. 1. Phiền não chướng (Phạm: Klezàvaraịa): Bản tính con người vốn đầy đủ 3 phiền não tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán lìa, khó được giải thoát. Đây cũng chính là chỉ cho phiền não thường xuyên sinh khởi. 2. Nghiệp chướng (Phạm: Karmàvaraịa: Tức chỉ cho nghiệp 5 vô gián, là những nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo tác ra. 3. Dị thục chướng (Phạm: Vipakàvaraịa,cũng gọi Báo chướng, Quả báo chướng): Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền não và nghiệp đưa đến. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Bắc); kinh Phật danh Q.1; luận Phát trí Q.11; luận Thành thực Q.8; luận Câu xá Q.17; luận Đại trí độ Q.5; luận Đại tì bà sa Q.115]. II. Tam Chướng. Cứ theo kinh Đại thừa du già đại giáo vương Q.5 thì vì 3 thứ chướng làm trở ngại nên không được gặp pháp Tam ma địa của Du già bí mật. Ba thứ chướng là: 1. Ngã mạn trọng chướng: Người bị cái chướng cao ngạo nặng nề, kiến chấp tà ác che lấp, đến nỗi không thể hạ tâm kính thờ chư Phật, Bồ tát, sư trưởng, phụ mẫu, không thể tu học chính pháp của Như lai. 2. Tật đố trọng chướng: Người bị cái chướng tật đố nặng nề thường hay ganh ghét bậc hiền đức, người tài năng, tự cho mình là hay, người khác là dở, thấy người tu thiện thì mang lòng đố kị, không thể tu học chính pháp của Như lai. 3. Tham dục trọng chướng: Người bịcái chướng nặng nề nhiều tham muốn, trây lười, ngủ nghỉ, tối tăm, động loạn, phá giới, không thể tu học chính pháp của Như lai.Ba hạng người trên đây, không biết gì về nhân quả, không kính sư trưởng, cũng chẳng trọng người hiền lương, không hộ trì đạo nghiệp, gây nhiều nghiệp ác, vì thếkhông được gặp chính pháp Tam mật. III. Tam Chướng. Chỉ cho 3 thứ chướng ngại ngăn trở thiền định. Đó là: 1. Hôn trầm ám tế chướng: Người thường ngủ gục li bì, tâm trí mờ tối khiến không phân biệt được điều gì, ngăn trở các thiền định, đến nỗi không khai phát được. 2. Ác niệm tư duy chướng: Tuy không mờ tối nhưng niệm ác chợt sinh, khiến phá các giới cấm, đến nỗi làm những việc bất thiện. 3. Cảnh giới bức bách chướng: Tuy tâm không mờ tối, không nghĩ đến các việc ác, nhưng thân lại đau nhức, hoặc bị đất vùi lửa đốt, ngã từ sườn núi, mãnh hổ rượt đuổi, ma phiền não nổi lên, các tướng ác như thế hiện ra, bức não người tu hành, khiến tâm sinh sợ hãi, đến nỗi chướng ngại các thiền định, không khai phát được. Ba thứ chướng nêu trên đều trở ngại việc tu tập thiền định. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.4; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải tiêu chỉ sao Q.hạ, phần 4; Đại tạng pháp số Q.9]. IV. Tam Chướng. Cũng gọi Tam thô trọng, Tam phiền não.Chỉ cho 3 thứ phiền não chướng là Tu hoặc, Kiến hoặc và Vô minh, theo thứ tự được ví dụ với da, thịt và tim, hoặc da dày da mỏng và xương. 1. Bì phiền não chướng: Chỉ cho Tu hoặc. Tu hoặc nổi lên khi 5 căn tiếp xúc với 5 trần bên ngoài, như da(bì) ở ngoài, nên dùng da làm ví dụ. 2. Nhục phiền não chướng: Chỉ cho Kiến hoặc. Kiến hoặc do mê lầm về lí luận, quan điểm mà sinh khởi, thuộc về chấp trước phân biệt trong tâm, như thịt ở phía trong da, nên dùng nhục (thịt) làm ví dụ. 3. Tâm phiền não chướng: Chỉ cho Vô minh. Vô minh là nguồn gốc của tất cả sự mê vọng, do mê chân theo vọng mà sinh ra, cho nên dùng tâm (tim) làm ví dụ.Đại thừa nghĩa chương quyển 5, phần đầu, lại lập Vô minh làm 3 chướng Bì, Phu, Cốt(da dày, da mỏng, xương). Nghĩa là Vô minh phẩm thô to là Bì chướng, Vô minh phẩm thô vừa là Phu chướng và Vô minh phẩm nhỏ nhiệm là Cốt chướng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3]. (xt. Tam Thô Trọng, Tam Hoặc).
tam chấp thủ
Three attachments—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, để chứng ngộ Nhất Thiết Không, người ta phải lìa bỏ ba sự chấp thủ—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, to realize Total-Voidness, one must do away with the three attachments. 1) Chấp thủ vào giả Danh Tâm—Attachment to the temporary name: Vạn hữu và vạn vật, vì hiện hữu như là sự kết hợp của những nhân quả được liệt vào giả danh bởi vì không có cách nào để chỉ định hiện hữu biến chuyển của nó ngoại trừ bằng tên gọi. Ta phải nhận ra rằng thật vô dụng khi bám chặt vào một tự ngã mà thực sự nó chỉ là một tên gọi. Trước hết chúng ta phải từ bỏ sự chấp thủ vào giả danh của mình—All beings and things, since they exist as the combination of causations, are given temporary names, beause there is no way to designate changing existence except by name. One must realize that it is useless to be attached to a self which is in truth only an appellation. One must first get rid of this attachment to one's temporary name. 2) Chấp thủ vào Pháp Tâm—Attachment to all elements: Các pháp là nền tảng mà tên giả danh khởi lên. Từ bỏ sự chấp thủ vào các pháp là chúng ta phải chứng nhập không tánh như trên—The elements are the basis on which the temporary name arises. To be rid of the attachment to the elements is to realize their voidness. 3) Chấp thủ vào Không Tâm—Attachment to the Void itself: Khi chúng ta chứng ngộ không tánh của Ngã và Pháp, chúng ta tưởng chừng đã có thể đạt được Nhất Thiết Không; kỳ thật, chúng ta vẫn còn có ý thức về Không chẳng khác gì như có một sự thể nào đó đang hiện hữu. Không tâm nầy có thể xóa bỏ khi người ta đi vào Diệt Tận Định (Nirodha-samapatti) hay vào Niết Bàn viên mãn. Diệt tận Định, như ở nơi vị A La Hán, là một trạng thái trong đó tất cả những tham dục đều bị xả ly; và Niết Bàn viên mãn, như ở trường hợp của Đức Phật, là trạng thái trong đó tất cả những điều kiện của sự sống, tâm và vật, đều bị diệt tận bằng sự giác ngộ, giống như bóng tối bị tiêu diệt bởi ánh sáng; bởi vì Đức Phật đã đạt đến trạng thái Niết Bàn viên mãn, nơi đây không còn những phẩm tánh phân biệt, và siêu viêu việt cả “Tứ Cú.”—When as above, we have realized the voidness of both the individual self and of the elements, we may sem to have attained Total Voidness, but the truth there still remains the consciousness of the Void, and we are liable to be attached to the idea of the Void as much as if it were something existent. This void-consciousness can be removed when one enters into the Meditation of Extinction (nirodha-samapatti or into Perfect Nirvana. The former is, as in an Arhat, a state in which all passions we have been done away with, and the later is as in the case of the Buddha, the state in which all conditions of life, matter and mind, have been extinguished by virtue of Enlightenment as darkness is extinguished by light, because the Buddha had attained the state of Perfect Nirvana which is in itself devoid of any extinguishing qualities and he had transcended the “four arhument.
tam chỉ
535<一>指天台宗針對空、假、中三觀所立之三種止行。即:(一)體真止,乃針對空觀而立。謂體達無明顛倒之妄,即是實相之真者,稱為體真止。以其徹達因緣和合諸法空無自性,故能止息一切攀緣妄想而證空理;空即是真,故稱為體真止。若達此境地,則發定、開慧眼,能見第一義,成就真諦三昧。(二)方便隨緣止,又作方便止、繫緣守境止。乃針對假觀而立。菩薩隨緣歷境,心安於俗諦而不動,稱為方便隨緣止。蓋菩薩知空非空,故能善巧方便,隨緣分別藥病,以教化眾生,並安於俗諦,心不為外境所動。此能開法眼,成就俗諦三昧。(三)息二邊分別止,又作制心止。乃針對中觀而立。指不分別生死與涅槃、有與無等二邊之相。蓋前述之第一止偏於真,第二止偏於俗,俱不合於中道。既知真非真,則為空邊寂靜;知俗非俗,則為有邊寂靜,亦即息真俗二邊而止於中諦。若達此境,則發中道定,開佛眼,成就中道三昧。〔小止觀證果章、摩訶止觀卷三上〕 <二>法華經方便品中,有佛三止、舍利弗三請之記載。(參閱「三止三請」535)
; (三止) I. Tam Chỉ. Ba chỉ hành do tông Thiên thai lập ra để đối lại với Tam quán Không, Giả, Trung. Đó là: 1. Thể chân chỉ: Đối lại với Không quán. Thể đạt cái hư vọng điên đảo của vô minh chính là chân như của thực tướng, gọi là Thể chân chỉ. Vì người đã thấu suốt được các pháp do nhân duyên hòa hợp là không vô tự tính, nên có thể ngăn dứt hết thảy phan duyên vọng tưởng mà chứng lí không, không chính là chân, vì thế gọi là Thể chân chỉ. Nếu đạt được cảnh giới này thì phát định, mở mắt tuệ, thấy được Đệ nhất nghĩa, thành tựu tam muội Chân đế. 2. Phương tiện tùy duyên chỉ(cũng gọi Phương tiện chỉ, Hệ duyên thủ cảnh chỉ): Đối lại với Giả quán. Bồ tát tùy duyên từng trải các cảnh, tâm an trụ nơi tục đế mà bất động, gọi là Phương tiện tùy duyên chỉ. Bởi vì Bồ tát biết rõ không chẳng phải thật không nên dùng các phương tiện khéo léo, tùy duyên phân biệt thuốc và bệnh để giáo hóa chúng sinh, đồng thời, tâm ở trong tục đế mà không bị ngoại cảnh làm cho lay động. Nhờ đó mà mở mắt tuệ, thành tựu tam muội Tục đế. 3. Tức nhị biên phân biệt chỉ(cũng gọi Chế tâm chỉ): Đối lại với Trung quán. Chỉ cho tướng không phân biệt 2 bên: Sinh tử và Niết bàn, Hữu và Vô... Bởi vì, như đã trình bày ở trên, Thể chân chỉ thiên về Chân, Phương tiện tùy duyên chỉ thì thiên về Tục, đều không phù hợp với lí Trung đạo. Đã biết Chân chẳng phải chân thì là bên Không tịch tĩnh; biết Tục chẳng phải tục thì là bên Hữu tịch tĩnh, cũng tức là dứt 2 bên Chân, Tục mà trụ chỉ ở Trung đế. Nếu đạt được cảnh giới này thì phát định Trung đạo, khơi mở mắt Phật, thành tựu tam muội Trung đạo.[X. chương Tiểu chỉ quán chứng quả; Ma ha chỉ quán Q.3, thượng]. II. Tam Chỉ. Tức Phật tam chỉ, Xá lợi phất tam thỉnh nói trong phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa. (xt. Tam Chỉ Tam Thỉnh).
tam chỉ tam thỉnh
535乃佛陀宣講法華經之典故。法華經方便品之初,先讚歎如來之二智,然以諸法實相為甚深微妙,欲說又止,後由舍利弗代眾請說。如是,佛與舍利弗交互各三止三請,佛乃允其第三次之請而廣說妙法,稱為三止三請。
; (三止三請) Ba lần ngăn lại, ba lần thỉnh cầu. Đây là điển tích đức Phật tuyên giảng kinh Pháp hoa. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, lúc đầu, đức Phật định nói kinh Pháp hoa, nhưng Ngài tự nghĩ thực tướng các pháp rất sâu xa mầu nhiệm thính chúng khó lãnh hội được, nên Ngài thôi, không muốn nói nữa. Sau, tôn giả Xá lợi phất thay mặt đại chúng, thỉnh cầu đức Phật giảng nói nhưng Phật ngăn lại. Cứ như thế, bên thỉnh, bên ngăn đến 3 lần, đức Phật mới chấp nhận lời thỉnh cầu lần thứ 3 của Tôn giả Xá lợi phất mà nói rộng về Diệu pháp, nên gọi là Tam chỉ tam thỉnh.
tam chủng
Three kinds, sorts, classes, categories, etc.
; Three kinds, sorts, classes or categories.
tam chủng ba la mật
The three kinds of pàramità ideals, or methods of perfection: (a) Thế gian ba la mật that of people in general relating to this world; (b) xuất thế gian ba la mật that of sràvakas and pratyeka buddhas; (c) xuất thế gian thượng thượng ba la mật the supreme one of bodhisattvas, relating to the future life of all.
; Ba loại Ba La Mật—Three kinds of Paramitas. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật đưa ra ba loại Ba La Mật—In the Lankavatara Sutra, the Buddha gave three kinds of Paramitas: 1) Xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật—Paramitas of the supreme ones of Bodhisattvas, relating to the future life for all: Các loại Ba La Mật siêu thế gian trong ý nghĩa cao nhất được thực hành bởi một vị Bồ Tát hiểu rằng thế giới được quan niệm một cách nhị biên do bởi cái tâm phân biệt và vị ấy thoát khỏi những tưởng tượng sai lầm và những ràng buộc hư vọng như tâm, hình tưởng, đặc tính, vân vân. Vị ấy thực hành đức hạnh bố thí chỉ nhằm làm lợi cho tất cả chúng sanh hữu tình và đưa họ đến trạng thái tâm linh hạnh phúc. Vị ấy thực hành trì giới mà không ra bất cứ điều kiện hay sự ràng buộc nào, ấy là trì giới Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Vị ấy biết được sự khác biệt giữa chủ thể và đối tượng, nhưng vẫn yên lặng chấp nhận mà không khởi lên bất cứ ý nghĩ nào về sự gắn bó hay tách rời nào, đó chính là nhẫn nhục Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Vị ấy tu tập một cách mạnh mẽ suốt ngày suốt đêm, hòa mình theo mọi đòi hỏi của kỹ luật mà không khởi lên cái tâm phân biệt nào, đó chính là tinh tấn Ba La Mật. Vị ấy không chấp vào kiến giải về Niết Bàn của các triết gia và thoát khỏi mọi sự phân biệt, đó chính là Thiền định Ba La Mật. Còn về Bát Nhã Ba La Mật, vị ấy không sanh tâm phân biệt bên trong mình, không nhìn thế giới bằng bất cứ loại hiểu biết hay phân tách nào, không rơi vào nhị biên mà gây nên sự chuyển biến từ căn bản của tâm thức. Đó là không đoạn diệt sự vận hành của nghiệp trong quá khứ, mà cố gắng tu tập để tạo ra một trạng thái tự chứng—The Paramita that are super-worldly in the highest sense are practiced by a Bodhisattva who understands that the world is dualistically conceived, because of the discriminating mind, and who is detached from erroneous imaginations and wrong attachments of all kinds, such as mind, form, characters, etc. He would practice the virtue of charity solely to benefit sentient beings and to lead them a a blissful state of mind. To practice morality without forming any attachment to condition in which he binds himself, this is his sila-paramita. Knowing the distinction between subject and object, and yet quietly to accept it without waking any sense of attachment or detachment, this is the Bodhisattva's Kshanti-paramita. To exercise himself most intently throughout the day and night, to conform himself to all the requirements of discipline, and not to evoke a discriminating mind, this is his Vyria-paramita. Not to cling to the philosopher's view of Nirvana and to be free from discrimination, this is his Dhyana-paramita. As to Prajna-paramita, it is not to evoke a discriminating mind within oneself, nor to review the world with any kind of analytical understanding, not to fall into dualism, but to cause a turning at the basis of consciousness. It is not to destroy the working of a past karma, but to exert oneself in the exercise of bringing about a state of self-realization, this is Prajna-paramita. 2) Xuất thế gian Ba La Mật—Paramitas for Sravakas and Pratyeka-buddhas relating to the future life for themselves: Loại Ba La Mật siêu thế gian được chư Thanh Văn và Duyên Giác thực hành. Chư vị nầy chấp vào ý niệm về Niết Bàn và quyết đạt cho được Niết Bàn bằng mọi giá. Họ cũng giống như người thế gian bị ràng buộc vào sự hưởng thụ quy ngã—The super-worldly kind of paramitas is practiced by Sravakas and Pratyekabuddhas who, clinging to the idea of Nirvana, are determined to attain it at all costs; they are like the worldly people who are attached to the enjoyment of egotism. 3) Thế gian Ba La Mật—Paramitas for people in general relating to this world: Loại thế gian Ba La Mật được thực hành bởi những người thế gian tầm thường, thường chấp vào ý niệm về “ngã” và “ngã sở;” họ không thể vùng thoát khỏi những ràng buộc nhị biên như hữu và phi hữu, và tất cả những đức hạnh mà họ thực hành đều được đặt căn bản trên ý niệm đạt một cái gì đó có tính cách vật chất như là một sự đền đáp lại. Họ có thể đạt được một số khả năng tâm linh nào đó và sau khi chết được sanh vào cõi Trời của Phạm Thiên—The worldly kind of paramitas is practiced by worldly people who cling to the idea of an ego and what belongs to it; they are unable to shake themselves off the fetters of dualism such as being and non-being, and all the virtues they would practice are based on the idea of gaining something material as a reward. They may gain certain psychic powers and after death be born in the heaven of Brahma.
tam chủng biến dịch sanh tử
(三種變易生死) Ba nghĩa của sinh tử biến dịch: 1. Sự sinh diệt nhỏ nhiệm gọi là Biến dịch tử, vì vô thường đổi khác trong từng niệm, niệm trước đổi, niệm sau dời nên gọi là Biến dịch. Lại nữa, biến dịch là chết nên gọi là Biến dịch tử. Biến dịch tử này chung cho cả phàm và thánh. 2. Thân pháp tính chứng được do duyên theo vô lậu gọi là Biến dịch tử, vì thân này có thần thông biến hóa vô ngại, thường chuyển biến thường dời đổi, nên gọi là Biên dịch. Nghĩa này chung cho cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. 3. Chỉ cho Pháp thân thực chứng, thân này ẩn hiển tự tại, thường chuyển biến, thường đổi dời nên gọi là Biến dịch. Sự biến dịch này chẳng phải là chết, nhưng Pháp thân này chưa ra khỏi sinh diệt, vẫn còn là pháp sinh tử vô thường, tùy theo chỗ biến đổi trên thân mà có sinh tử, cũng gọi là Biến dịch tử. Nghĩa này chỉ có trong Đại thừa. [X. Thắng man kinh bảo quật Q.trung, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.8; Tam luận đại nghĩa sao Q.4]. (xt. Biến Dịch Sinh Tử).
tam chủng biến dịch sinh tử
663乃就變易生死之名而釋為三義,即:(一)微細之生滅稱為變易死,因無常念念遷異,前變後易,故稱變易。又變易是死,故稱變易死。此通於凡、聖。(二)緣照無漏所得之法性身稱為變易死,以其神化無礙,能變能易,故稱變易。此義通於大、小乘。(三)指真證法身,此身隱顯自在,能變能易,故稱變易。此變易非死,然此法身未出生滅,猶為無常死法,隨其所變易之身上而有生死,亦稱變易死。此義唯在大乘。〔勝鬘經寶窟卷中末、大乘義章卷八、三論大義鈔卷四〕(參閱「變易生死」6916)
tam chủng bất kiên dịch tam kiên pháp
648本事經卷七以財、身、命三種不堅,轉成堅財、堅身、堅命等三種堅法,即:(一)不堅財貿易堅財,謂一切世間財物,體非堅固,聚散無常,不可久保;若能持以布施梵行清淨之人,遠求無上安樂涅槃,或求當來天人樂果,即為堅固之財。(二)不堅身貿易堅身,謂父母所生之身乃四大假合,危脆不實,體非堅固,生滅無常,不可久存;若能持守五戒,清淨無染,修習菩提無上之道,以證金剛不壞之身,即為堅固之身。(三)不堅命貿易堅命,謂人所受之命雖壽夭不齊,皆同夢幻,體非堅固,倏忽無常,不可久保;若能了知四諦,修習正法,超越生死,以續常住不朽慧命,即為堅固之命。
; (三種不堅易三堅法) Ba thứ bất kiên(không bền chắc)đổi thành 3 pháp kiên (3 pháp kiên cố). Kinh Bản sự quyển 7 đem 3 thứ bất kiên là tài, thân và mệnh chuyển thành 3 pháp kiên. Đó là: 1. Bất kiên tài đổi thành kiên tài: Tất cả của cải ở thế gian không có tính chất bền chắc, còn đó mất đó, không giữ được lâu. Nếu bố thí của cải ấy cho người nghèo khó, và người phạm hạnh thanh tịnh để cầu Niết bàn an lạc vô thượng, hoặc cầu quả vui trời, người trong đương lai, thì đó chính là Kiên tài(của cải kiên cố).2. Bất kiên thân đổi thành kiên thân: Thân cha mẹ sinh ra là do 4 đại giả hòa hợp, mong manh không thực, chẳng có tính bền chắc, sống chết bất kì, không giữ được lâu. Nếu giữ gìn 5 giới, thanh tịnh không nhơ nhuốm, tu tập đạo vô thượng bồ đề để chứng thân kim cương bất hoại, thì đó là Kiên thân (thân bền chắc). 3. Bất kiên mệnh đổi thành kiên mệnh: Mệnh sống của con người tuy có thọ yểu khác nhau nhưng đều là mộng huyễn, thể tính không bền chắc, giây phút vô thường, khó giữ lâu được. Nếu biết rõ 4 đế, tu tập chính pháp, siêu việt sinh tử để tuệ mệnh thường trụ, thì đó chính là Kiên mệnh (mệnh sống kiên cố).
tam chủng bệnh tướng
655據釋禪波羅蜜次第法門卷四載,修禪定者,若善識病源,能明四大、五臟、五根等三種病發之相,善加調治,則身心安隱,不廢修業。(一)四大增動病相:(1)地大增故,腫結沉重,身體枯瘠等諸患生。(2)水大增故,痰癊脹滿,飲食不消等諸患生。(3)火大增故,煎寒壯熱,肢節皆疼等諸患生。(4)風大增故,虛懸戰掉,嘔吐氣急等諸患生。 (二)五臟生患之相:(1)若患從心生,身必寒熱,口中常燥。(2)患從肺生者,身體脹滿,四肢煩疼,兼之鼻塞。(3)患從肝生者,愁憂瞋恚,頭痛眼疼。(4)患從脾生者,通身遊風,瑸瑸痒悶,飲食失味。⑤患從腎生者,咽喉噎塞,腹脹耳滿。 (三)五根中患相:(1)眼或赤或疼,昏花翳闇,是為眼患。(2)耳或痛或聾,或嘈然作聲,是為耳患。(3)鼻塞及流濃涕,是為鼻患。(4)舌或瘡或硬,飲食失味,是為舌患。(5)四體卒痛,百節酸疼,是為 面w。
; (三種病相) Ba thứ tướng bệnh nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4. 1. Tướng bệnh do 4 đại thêm lên: a) Vì địa đại tăng lên nên sinh ra các bệnh sưng tấy trầm trọng, thân khô đét. b) Vì thủy đại tăng lên nên sinh ra bệnh phù thũng, ăn uống không tiêu. c) Vì hỏa đại tăng lên nên sinh ra bệnh nhiệt, các khớp xương đau nhức. d) Vì phong đại tăng lên nên sinh ra các chứng chóng mặt, nôn mửa, thở gấp... 2. Tướng bệnh do 5 tạng sinh: a) Nếu bệnh sinh từ tim thì thân nóng lạnh, trong miệng khô ráo. b) Nếu bệnh sinh từ phổi thì thân thể phù thũng, chân tay đau nhức, mũi bị nghẹt. c) Nếu bệnh sinh từ gan thì lo sầu nóng nảy, nhức đầu mỏi mắt. d) Nếu bệnh sinh từ lá lách thì khắp mình phong giật, ngứa ngáy khó chịu, ăn uống mất ngon. e) Nếu bệnh sinh từ thận thì cổ họng bị nghẹn, bụng trướng tai ù. 3. Tướng bệnh trong 5 căn: a) Mắt hoặc đỏ hoặc đau, màng mắt che mờ, thấy hoa giữa hư không, đó là bệnh mắt.b) Tai hoặc đau hoặc điếc, hoặc tự nhiên ù tai, nghe tiếng rầm rì, đó là bệnh tai.c) Mũi bị nghẹt và chảy mủ, đó là bệnh mũi.d) Lưỡi hoặc nổi nhọt, hoặc tê cứng, ăn uống không thấy ngon, đó là bệnh lưỡi.e) Tứ chi đau nhức, toàn thân ê ẩm, đó là bệnh thân.
tam chủng bố thí
Ba loại bố thí—Three kinds of dana or charity—See Tam Bố Thí.
tam chủng bồ đề
Three kinds of bodhi. (A) 1) Thanh Văn Bồ Đề: Bồ Đề mà hàng Thanh Văn đạt được—The enlightenment of sravakas. 2) Duyên Giác Bồ Đề: Bồ Đề mà hàng Duyên Giác đạt được—The enlightenment of Pratyeka-buddhas. 3) Phật Bồ Đề: Bồ Đề mà Phật đạt được—The enlightenment of Buddhas. (B) 1) Hành nguyện Bồ Đề Tâm: To start out for bodhi-mind to act out one's vows to save all living beings—See Hành Nguyện Bồ Đề Tâm. 2) Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm: Bodhi-mind which is beyond description, and which surpasses mere earthly ideas—See Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm. 3) Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm: Samadhi-bodhi mind—See Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm.
tam chủng bồ đề tâm
659又作三菩提心。<一>菩提心論載,菩提心之行相有行願、勝義、三摩地等三種之別,稱為三種菩提心。(一)行願菩提心,即大悲心。行,指四弘六度之一切萬行;願,即願波羅蜜。外道二乘不起此心,唯菩薩大士能發。即菩薩當利益無餘之有情界,願彼得安樂,觀十方含識猶如己身,又於大悲門中拯救,隨眾生之願給付,乃至不惜身命。(二)勝義菩提心,又作深般若心。菩薩了知一切法無自性,亦即觀勝義空佛性,以求菩提之心。就十住心而論,初厭棄異生羝羊等世間之妄心,次棄捨唯蘊無我等二乘之心,又捨遣他緣大勝等漸修之法門,如是依如來之教敕,先以最上之智慧對望十心勝劣而空九種信心;其次以深般若之妙慧,亦空眾生之妄想、諸佛之說法,直觀緣生之諸法無自性而空九種住心。超此諸住心等,發菩提心,行菩提行,即是勝義菩提心。(三)三摩地菩提心,即與三密相應之五部祕觀。凡一切眾生雖本共具大毘盧遮那四種法身及四種曼荼羅,然以五障、三毒蔽覆之故,不得覺悟;若於心中觀日月輪,誦聲字之真言,發三密之加持,揮四智之妙用,則大日之光明朗廓而周遍法界,五部三部之尊森羅圓現,住此三昧,一切不可思議之德用皆具足於心身,覺知即身為大日之體,是為三摩地菩提心。〔菩提心論勘文卷上、教時問答卷三、卷四、大日經疏住心鈔卷六〕(參閱「菩提心」5200) <二>大乘起信論所舉之三種菩提心,即:(一)直心,心常質直,離諸諂曲。能行正法,即是菩提之心。(二)深心,於正法心生深信,復樂修一切善行。(三)大悲心,悲愍一切受苦眾生,常思救護,令其安樂。
; (三種菩提心) Cũng gọi Tam Bồ đề tâm. I. Tam Chủng Bồ Đề Tâm. Theo luận Bồ đề tâm thì hành tướng của tâm bồ đề có 3 thứ khác nhau là Hạnh nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa, gọi là Tam chủng bồ đề tâm. 1. Hạnh nguyện bồ đề tâm: Tức tâm Đại bi. Hạnh chỉ cho tất cả muôn hạnh thuộc Tứ hoằng, Lục độ; Nguyện chỉ cho Nguyện ba la mật. Ngoại đạo và Nhị thừa không khởi tâm này, chỉ có hàng Bồ tát đại sĩ mới phát được. Tức Bồ tát làm lợi ích cho cõi hữu tình không sót, nguyện cho họ được yên vui, quán tưởng hàm thức trong 10 phương cũng như thân mình, lại cứu giúp bằng môn Đại bi, tùy nguyện của chúng sinh mà chu cấp cho họ, ngay cả thân mệnh cũng không tiếc. 2. Thắng nghĩa bồ đề tâm (cũng gọi Thân bát nhã tâm): Bồ tát rõ biết tất cả pháp không có tự tính, cũng tức quán Phật tính thắng nghĩa không, để cầu tâm bồ đề. Nói theo Thập trụ tâm thì trước hết chán bỏ vọng tâm dị sinh đê dương của thế gian, kế đến xả bỏ tâm Nhị thừa duy uẩn vô ngã, lại xả bỏ các pháp môn tiệm tu, cứ như thế y theo lời dạy của Như lai, trước hết dùng trí tuệ tối thượng đối chiếu với 10 tâm hơn kém mà quán không 9 thứ tín tâm; kế đến, dùng diệu tuệ bát nhã sâu xa, quán không tất cả vọng tưởng của chúng sinh, thuyết pháp của chư Phật, trực tiếp quán các pháp duyên sinh không có tự tính mà không hóa 9 thứ trụ tâm. Vượt qua các trụ tâm này mà phát tâm bồ đề, thực hành hạnh bồ đề, đó chính là Thắng nghĩa bồ đề tâm.3. Tam ma địa bồ đề tâm: Tức Ngũ bộ bí quán tương ứng với Tam mật. Tất cả chúng sinh tuy vốn có đủ 4 thứ Pháp thân của đức Phật Đại tì lô giá na và 4 thứ Mạn đồ la, nhưng vì 5 chướng, 3 độc... che lấp nên không giác ngộ được; nếu quán nhật nguyệt luân trong tâm, tụng từng chữ từng tiếng Chân ngôn, phát huy gia trì tam mật và sự diệu dụng của 4 trí thì ánh sáng của đức Đại nhật sẽ chiếu soi khắp pháp giới, các vị tôn của Ngũ bộ, Tam bộ đều hiển hiện, trụ trong Tam muội này thì tất cả đức dụng bất khả tư nghị đều đầy đủ trong thân tâm, biết ngay nơi thân này là thể của Đại nhật, đó là Tam ma địa bồ đề tâm. [X. Bồ đề tâm luận khám văn Q.thượng; Giáo thời vấn đáp Q.3, 4; Đại nhật kinh sớ trụ tâm sao Q.6]. (xt. Bồ Đề Tâm). II. Tam Chủng Bồ Đề Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm bồ đề được nêutrong luận Đại thừa khởi tín, đó là: 1. Trực tâm: Tâm thường ngay thẳng, không nịnh hót quanh co, thực hành chính pháp, đó chính là tâm bồ đề. 2. Thâm tâm: Đối với chính pháp, sinh tâm tin sâu và thích tu tất cả thiện hạnh. 3. Đại bi tâm: Thương xót tất cả chúng sinh chịu khổ, thường nghĩ đến việc cứu giúp khiến họ được yên vui.
tam chủng chí giáo
651顯揚聖教論卷十一載,至教有三,即:(一)聖言所攝,謂修行之人於如來及諸弟子所說正法,當遵崇聖制,信解修習,不敢違越。(二)對治雜染,謂修行之人修善去惡,必有對治之法,如心散亂,則以禪定對治之;如心貪染,則以不淨觀對治之,如是乃能息妄歸真,得入正道。(三)不違法相,謂修行之人於如來所說正教,當遵其法相,如理思修,精進一心,不敢違背。
; (三種至教) Chỉ cho 3 thứ giáo rất lớn nói trong luận Hiển dương thánh giáo quyển 11: 1. Thánh ngôn sở nhiếp: Đối với chính pháp, thánh chế do đức Như lai và các đệ tử của ngài nói ra, người tu hành nên tuân thủ, tin hiểu, tu tập, không được trái vượt. 2. Đối trị tạp nhiễm: Người tu hành làm điều thiện, bỏ các ác phải có pháp đối trị, như tâm tán loạn thì đối trị bằng thiền định, tâm tham nhiễm thì đối trị bằng bất tịnh quán, như thế thì dứt vọng về chân, được vào chính đạo. 3. Bất vi pháp tướng: Người tu hành phải tuân thủ pháp tướng của chính giáo do đức Như lai nói ra, tư duy và tu hành đúng như lí, 1 lòng tinh tiến, không dám trái vượt.
tam chủng chấp thủ
See Tam Chấp Thủ.
tam chủng chỉ quán
648指天台宗所立之漸次止觀、不定止觀與圓頓止觀。略稱三止觀。此三觀依序為初淺後深之觀法、淺深不定之觀法與初後不二之觀法,三者皆是緣實相之大乘止觀,係天台智者大師秉承南嶽慧思禪師之說,為三根性說三法門,並引三譬喻而廣說者。(一)漸次止觀,略稱漸次觀,為初淺後深之觀。此法猶如登梯之由低而高。即初先持戒,達三善道;次修禪定,止欲散網,達色、無色定道;次修無漏,止於三界獄,達涅槃道;復修慈悲,止於自證,達菩薩道;後漸觀實相,止二邊偏,達常住道。此即漸次止觀之相,此諸法門能見佛性,住大涅槃。(二)不定止觀,非初觀實相,亦非次第由淺至深,而係前後互更之觀法。如置金剛寶於日中,其色彩之現像不定。此為無別之階位,隨眾生根機而作前淺後深,或前深後淺,或淺深事理漸頓不定等法,以成實相之觀。即指世界為第一義,或指第一義為「為人對治」;或息觀為止,或照止為觀,故稱不定止觀。此係從過去佛深種善根,今修證十二門,豁然開悟而得無生忍。(三)圓頓止觀,指初發心即觀實相。觀法界一色一香無非中道,己界、佛界及眾生界亦然,故無明塵勞即是菩提,無集可斷;邊、邪皆中,無道可修;生死即涅槃,無滅可證。猶如通者之騰於虛空,初緣實相而行解共頓。此係以法性寂然修四種三昧,行八正道,雖有初後,然實無二無別,故於道場開佛知見,得無生忍。〔摩訶止觀卷一上、法華玄義卷十上、法華玄義釋籤卷十上〕(參閱「不定止觀」972、「止觀」1476、「圓頓止觀」5411、「漸次止觀」5827)
; Three Thiên Thai modes of entering dhyàna: (a) Tiệm thứ gradual, from the shallow to the deep, the simple to the complex; (b) bất định irregular, simple and complex mixed; (c) viên đốn immediate and whole.
; Ba loại chỉ quán—Three modes of entering dhyana (three methods of attaining abstraction): 1) Tiệm Thứ Chỉ Quán: Trước cạn sau sâu, trước đơn giản sau phức tạp, chẳng hạn như trụ tâm tại đỉnh mũi hay rốn, vân vân—Gradual, from the shallow to the deep, from the simple to the complex, such as fixing the mind on the nose, or navel, etc. 2) Bất Định Chỉ Quán: Đơn giản và phức tạp dung hòa lẫn nhau, chẳng hạn như ngừng sự suy nghĩ khi nó vừa khởi lên—Irregular, simple and complex mixed, such as stopping every thought as it arises. 3) Viên Đốn Chỉ Quán: Tức thì và toàn diện, nghĩa là trước và sau không khác, trụ tư tưởng vào chỗ không có gì tự hiện hữu, mà hiện hữu do nhân từ trước—Immediate and whole, such as dwelling on the thought that nothing exists of itself, but from a preceding cause.
; (三種止觀) Gọi tắt: Tam chỉ quán. Chỉ cho Tiệm thứ chỉ quán, Bất định chỉ quán và Viên đốn chỉ quán do tông Thiên thai thành lập. Đó là: 1. Tiệm thứ chỉ quán(gọi tắt: Tiệm thứ quán): Pháp quán trước cạn sau sâu dần, giống như bước lên thang lầu từ thấp đến cao. Đầu tiên là giữ giới, đạt được 3 đường thiện; kế đến là tu thiền định, dứt dục phá lưới Dục giới, đạt được Sắc định và Vô sắc định; kế nữa là tu vô lậu, ra khỏi ngục 3 cõi, đạt được đạo Niết bàn; lại tu từ bi, ngăn dứt việc tự chứng, đạt được đạo Bồ tát; sau đó, dần dần quán thực tướng, ngăn dứt thiên chấp 2 bên, đạt được đạo thường trụ. Đây chính là tướng của Tiệm thứ chỉ quán, các pháp môn này có năng lực khiến cho hành giả thấy được tính Phật, trụ Đại niết bàn. 2. Bất định chỉ quán: Pháp quán chẳng phải trước quán thực tướng, cũng chẳng phải theo thứ tự từ cạn đến sâu, mà là trước sau thay đổi nhau. Như đặt viên kim cương dưới ánh mặt trời thì hiện ra nhiều màu sắc bất định. Đây là giai vị không phân biệt, tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thực hành pháp trước cạn sau sâu, hoặc trước sâu sau cạn, hoặc cạn sâu, sự lí, tiệm đốn bất định... để thành tựu pháp quán thực tướng. Tức chỉ cho thế giới là Đệ nhất nghĩa, hoặc chỉ cho Đệ nhất nghĩa là vị nhân đối trị; hoặc dứt Quán là Chỉ, hoặc chiếu Chỉ là Quán, cho nên gọi là Bất định chỉ quán. Đây là nhờ đã trồng căn lành từ nơi các đức Phật quá khứ, nên nay tu chứng Thập nhị môn, hoát nhiên khai ngộ mà được Vô sinh nhẫn. 3. Viên đốn chỉ quán: Vừa mới phát tâm liền quán thực tướng. Quán trong pháp giới nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo, cõi mình, cõi Phật và cõi chúng sinh cũng thế, cho nên vô minh trần lao chính là bồ đề, không có Tập đế để đoạn; biên, tà đều là Trung, chẳng có Đạo đế để tu; sinh tử tức niết bàn, không có Diệt đế để chứng. Giống như người có thần thông bay lên hư không, mới duyên theo thực tướng mà hành, giải đều viên đốn. Đây là dùng pháp tính tịch nhiên mà tu 4 thứ Tam muội, thực hành 8 chính đạo, tuy có trước sau nhưng thực không hai không khác, cho nên ở nơi đạo tràng mà mở ra tri kiến Phật, được Vô sinh nhẫn.[X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, thượng]. (xt. Bất Định Chỉ Quán, Chỉ Quán, Viên Đốn Chỉ quán, Tiệm Thứ Chỉ Quán).
tam chủng chứng tướng
663據法華懺儀載,上中下三根之人修習法華三昧,於三七日中,一心精進,然以根性之異,故所證之相亦不同。即:(一)下根證相,指下根行人於三七日中獲得戒根清淨。又分三品:(1)下品戒根漸淨之相,於三七日中,或得靈異好夢,或覺諸根明淨,四大輕利,道心勇發。(2)中品戒根淨相,於三七日內,行道坐禪之中,忽見光華淨色,聞妙香氣及微妙音聲稱讚,身心慶悅,得法喜樂。(3)上品戒根淨相,於三七日中,身心寂淨,或自見其身著淨法服,威儀齊整,身相端嚴,信心開發,得法喜樂,無所怖畏。 (二)中根證相,指中根行者所證之相。亦有三品之不同:(1)下品定根淨相,若於坐禪之時,忽覺身心澄靜,發諸禪定,覺觀分明,喜樂一心。(2)中品定根淨相,若於坐禪之時,身心安定,覺出入息長短細微,徧身毛孔出入無閡,或見自身諸不淨相,因發禪定,身心快樂,寂然正受。(3)上品定根淨相,若於坐禪之時,身心安靜,緣自五陰之身,即覺無常、苦、空,夢幻不實,乃至一切諸法不生不滅,猶如虛空,寂靜無為,厭離世間,憫念一切。 (三)上根證相,指上根行者所證之相。亦有三品之不同:(1)下品慧根證相,若於行坐念誦之中,忽覺身心如雲如影,夢幻不實,因此覺心,則發智慧,了達諸法,無有障礙,於諸經論隨義解釋,難問無滯。(2)中品慧根證相,若於行坐念誦之中,身心寂然,猶如虛空,於正慧中,面見普賢菩薩與無量菩薩而自圍繞,悉現其前,於是得大智慧,於諸佛所說之法通達妙義,說無窮盡。(3)上品慧根證相,若於行坐念誦之中,身心豁然清淨,入深禪定,覺慧分明,得無礙總持,獲六根清淨,開佛知見,入菩薩位。
; (三種證相) Ba loại tướng chứng thấy. Cứ theo Pháp hoa sám nghi thì hành giả thuộc 3 căn thượng, trung, hạ tu tập tam muội Pháp hoa, trong 21 ngày, nhất tâm tinh tiến, nhưng vì căn tính khác nhau nên tướng chứng thấy không giống nhau, được biểu hiện qua 3 tướng như sau:1. Hạ căn chứng tướng: Chỉ cho người tu hành thuộc hạ căn, trong 21 ngày, đạt được giới căn thanh tịnh, được chia làm 3 phẩm: a) Tướng hạ phẩm giới căn thanh tịnh dần dần: Trong 21 ngày, hoặc đạt được mộng lành linh dị, hoặc có cảm giác các căn trong sáng, 4 đại nhẹ nhàng, tâm đạo phát khởi mạnh mẽ. b) Tướng trung phẩm giới căn thanh tịnh: Trong 21 ngày, khi hành đạo, tọa thiền chợt thấy các màu sắc trong sạch, sáng đẹp như hoa, nghe mùi hương mầu nhiệm và âm thanh vi diệu khen ngợi, thân tâm vui mừng, được pháp hỉ lạc. c) Tướng thượng phẩm giới căn thanh tịnh: Trong 21 ngày, thân tâm vắng lặng, hoặc tự thấy thân mình mặc áo pháp thanh tịnh, uy nghi tề chỉnh, thân tướng đoan nghiêm, lòng tin khơi mở, được pháp hỉ lạc, không còn sợ hãi. 2. Trung căn chứng tướng: Chỉ cho tướng chứng thấy của hành giả thuộc trung căn, cũng có 3 phẩm khác nhau: a) Tướng hạ phẩm định căn thanh tịnh: Trong lúc ngồi thiền, chợt có cảm giác thân tâm vắng lặng, phát được các thiền định, giác và quán rõ ràng, hỉ và lạc 1 tâm. b) Tướng trung phẩm định căn thanh tịnh: Trong khi tọa thiền thân tâm an định, cảm biết hơi thở dài ngắn nhỏ nhiệm ra vào trong các lỗ chân lông khắp trên thân không ngăn ngại, hoặc thấy các tướng bất tịnh của tự thân, nhân đó phát ra thiền định, thân tâm khoái lạc, lặng lẽ chính thụ. c) Tướng thượng phẩm định căn thanh tịnh: Lúc tọa thiền, thân tâm an tĩnh, duyên theo thân 5 ấm của mình liền cảm biết vô thường, khổ, không, mộng huyễn không thật, cho đến biết tất cả các pháp chẳng sinh chẳng diệt, tịch lặng vô vi, chán xa thế gian, dứt bặt phiền não. 3. Thượng căn chứng tướng: Chỉ cho tướng chứng biết của hành giả thuộc thượng căn. Cũng có 3 phẩm khác nhau: a) Tướng hạ phẩm chứng biết tuệ căn: Trong lúc đi lại, ngồi thiền hay tụng niệm, chợt có cảm giác thân tâm như mây như bóng, mộng huyễn không thật, nhân đó mà tâm tỉnh giác, phát sinh trí tuệ, rõ suốt các pháp, không bị ngăn ngại, đối với các kinh luận, theo nghĩa mà giải thích, vấn nạn không bị trở ngại. b) Tướng trung phẩm chứng biết tuệ căn: Trong khi đi lại, ngồi thiền hay tụng niệm, thân tâm vắng lặng, giống như hư không, trụ trong chính tuệ, trước mặt thấy bồ tát Phổ hiền và vô lượng Bồ tát khác tự vây quanh, đều hiện ở trước mặt mình, lúc đó được đại trí tuệ, thông suốt diệu nghĩa của các pháp do chư Phật nói, giảng thuyết vô cùng tận. c) Tướng thượng phẩm chứng biết tuệ căn: Trong lúc đi lại, tọa thiền hoặc tụng niệm, thân tâm hoát nhiên thanh tịnh, thâm nhập thiền định, giác tuệ rõ ràng, được tổng trì vô ngại, chứng lục căn thanh tịnh, khơi mở tri kiến Phật, nhập vào ngôivị Bồ tát.
tam chủng cúng dường
Three modes of serving (the Buddha, etc.): (a) Lợi cúng dường ọfferings of incense, flowers, food, etc.; (b) Kính cúng dường of praise and reverence; (c) Hạnh cúng dường of right conduct.
; Ba loại cúng dường—The three kinds of offerings—See Tam Cúng Dường.
tam chủng cảnh a lại da thức
See A Lại Da Thức Tam Chủng Cảnh.
tam chủng diệt
660<一>三種有為、無為之滅。即擇滅、非擇滅、無常滅。據發智論卷二載:(一)諸滅是離繫,稱為擇滅。(二)諸滅非離繫,稱為非擇滅,以上屬無為法。(三)諸行散壞破沒亡退,稱為無常滅,屬有為法。〔大毘婆沙論卷三十一〕(參閱「非擇滅無為」3714、「擇滅」6225) <二>三種有為法之散壞破滅。即念念滅、相違滅、無餘滅。據四諦論卷三載:(一)隨一切有為法之剎那而落謝,稱為念念滅。(二)剎那相續之破滅,其性前後相乖,稱為相違滅。(三)如燈火之熄滅,滅後無餘,稱為無餘滅。此與順中論卷下所載念念壞滅無常、和合離散無常、畢竟如是無常等三種無常同義。 <三>斷除煩惱之道有三種,即:(一)未有滅,謂煩惱尚未生起而不令生起。(二)伏離滅,謂煩惱既已生起,由於世、出世之道現時不起。(三)永離滅,謂煩惱已伏住不起,遠離滅因,永滅無餘,故未來決不再生起。〔四諦論卷三〕 <四>指成唯識論卷八、成唯識論述記卷九本所列舉之三種滅諦,此係法相宗所說。法相宗謂苦、集、滅、道四諦中之滅諦,因具有遍計所執性、依他起性、真如等三性,而設三滅諦之說,即:(一)自性滅,指遍計所執性。滅,乃不生之義。蓋以自性不生,假名為滅。(二)二取滅,指依他起性。二取,係指能取、所取;滅,擇滅之義。蓋以能取、所取之相本即不生,故稱二取滅。(三)本性滅,指真如。蓋真如之體本來寂滅,故稱本性滅。〔辯中邊論卷中、成唯識論了義燈卷六末、成唯識論同學鈔卷八十五〕
; (三種滅) I. Tam Chủng Diệt. Ba thứ diệt của các pháp Hữu vi và Vô vi: Trạch diệt, Phi trạch diệt, Vô thường diệt.1. Trạch diệt: Sự tịch diệt lìa tất cả phiền não ràng buộc. 2. Phi trạch diệt: Sự tịch diệt không lìa tất cả phiền não ràng buộc. 3. Vô thường diệt: Các hành tam hoại phá diệt. Trong 3 thứ tịch diệt trên đây, Trạch diệt và Phi trạch diệt thuộc về pháp Vô vi, còn Vô thường diệt thì thuộc về pháp Hữu vi. X. luận Đại tì bà sa Q.31]. (xt. Phi Trạch Diệt Vô Vi, Trạch Diệt). II. Tam Chủng Diệt. Ba thứ diệt của pháp Hữu vi: Niệm niệm diệt, Tương vi diệt và Vô dư diệt. 1. Niệm niệm diệt: Sự hoại diệt của tất cả pháp hữu vi trong từng sát na. 2. Tương vi diệt: Tính chất của sự phá diệt tương tục giữa các sát na trước sau trái nhau. 3. Vô dư diệt: Như sự diệt tắt của lửa đèn, sau khi diệt không còn gì sót lại. Ba thứ diệt trước đây đồng nghĩa với 3 thứ Vô thường nói trong luận Thuận trung quyển hạ là Niệm niệm hoại diệt vô thường, Hòa hợp li tán vô thường và Tất cánh như thị vô thường. III. Tam Chủng Diệt. Ba phương thức đoạn diệt phiền não, đó là: 1. Vị hữu diệt: Phiền não chưa sinh khởi thì không để cho nó sinh khởi. 2. Phục li diệt: Phiền não đã sinh khởi, nhờ ở đạo thế, xuất thế mà hiện thời không khởi.3. Vĩnh li diệt: Phiền não đã nép phục, không sinh khởi, xa lìa nhân diệt, diệt mãi không còn, cho nên trong vị lai chắc chắn sẽ không sinh khởi lại. [X. luận Tứ đế Q.3]. IV. Tam Chủng Diệt. Ba loại Diệt đế được nêu trong luận Thành duy thức quyển 8 và trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 9, phần đầu. 1. Tự tính diệt: Chỉ cho tính Biến kế sở chấp. Diệt có nghĩa là không sinh, bởi vì tự tính không sinh nên giả gọi là Diệt. 2. Nhị thủ diệt: Chỉ cho tính Y tha khởi. Nhị thủ là Năng thủ, Sở thủ. Bởi vì tướng của Năng thủ, Sở thủ vốn không sinh nên gọi là Nhị thủ diệt. 3. Bản tính diệt: Chỉ cho Chân như. Bởi vì thể của Chân như xưa nay vốn vắng lặng, cho nên gọi là Bản tính diệt. X. luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.6, phần cuối; Thành duy thức luận đồng học sao Q.85].
Tam chủng duyên
三種縁; C: sānzhǒngyuàn; J: sanshuen;|Tam duyên.
Tam chủng duyên sinh
三種縁生; C: sānzhǒng yuànshēng; J: sanshu enshō;|Ba loại nhân duyên, nguyên do của một sự tái sinh: 1. Cùng sinh tử duyên sinh (窮生死縁生): nhân do đã đến giới hạn của sinh tử; 2. Ái phi ái đạo duyên sinh (愛非愛道縁生): nhân do không còn luyến ái và cũng không không luyến ái và 3. Thụ dụng duyên sinh (受用縁生): Đã đạt được một thân hưởng thụ (Thụ dụng thân; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
tam chủng duyên từ
Xem tam chủng từ bi.
tam chủng dục
The three kinds of desire - food, sleep, sex.
; Three kinds of desire—See Tam dục.
tam chủng giáo tướng
656<一>又作教相三意。乃法華經與法華以前諸經在教相上之三種差別。即:(一)根性融不融相,即五時八教之判教。法華以前之四時(華嚴時、阿含時、方等時、般若時),乃以化儀與化法之四教教化根性未熟之二乘、三乘、五乘等。其化法四教中雖有圓教,然僅有法開會(謂一切教法皆為相同一致者),而無人開會(謂泯除三乘之別,人人皆可成佛)。法華所教化者則為根性純熟之一佛乘之機,能化之教亦具有法開會與人開會,為純圓獨妙之開顯圓。(二)化道始終不始終相,餘教當機益物,不說如來引權歸實施化之意。法華則明佛設教之元始,巧為眾生作頓、漸、不定、顯密等種子,中間以頓漸五味調伏長養而成熟之,又以頓漸五味而度脫之,具有種、熟、脫三益。(三)師弟遠近不遠近相,眾經皆謂佛於菩提樹下成道時,實智始滿,將施權智,二乘弟子不得入實智,亦不能施權智。法華則言佛坐菩提樹下之前,早已成道,已滿權實二智,且弟子已入實智甚久,亦先解權智而行之,故道樹之前,師與弟子權實長遠。三種教相中,智顗多用第一判,荊溪湛然、日僧最澄多用第二判,日本日蓮宗之祖日蓮多用第三判。〔法華玄義卷一上、法華玄義釋籤卷一上〕 <二>即南地諸家通用之頓、漸、不定等三種教相。(一)頓教,華嚴為化菩薩,如日照高山,故稱為頓教。(二)漸教,又分有相、無相二教。三藏教(小乘教)為化小乘,先教以「半字」教,稱為有相教;釋尊成道十二年後為大乘說五時般若乃至常住,稱為無相教。有相、無相俱為漸教。(三)不定教,如勝鬘、光明等經,非頓非漸,闡明佛性常住,故稱為偏方不定教。〔仁王般若經疏卷上一、法華玄義卷十上〕
; The three modes of the Buddha's teaching of the South Sects; đốn immediate; tiệm gradual or progressive; bất định indeterminate.
; See Tam Giáo Tướng.
; (三種教相) I. Tam Chủng Giáo Tướng. Cũng gọi Giáo tướng tam ý. Ba sự sai khác về mặt giáo tướng giữa kinh Pháp hoa và các kinh trướcPháp hoa.1. Căn tính dung bất dung tướng: Tức phán giáo Năm thời Tám giáo. Bốn thời (thời Hoa nghiêm, thời A hàm, thời Phương đẳng, thời Bát nhã) trước Pháp hoa là dùng 4 giáo Hóa nghi và Hóa pháp để giáo hóa hàng Nhị thừa, Tam thừa, Ngũ thừa căn tính chưa thuần thục. Trong 4 giáo Hóa pháp tuy có Viên giáo nhưng chỉ có Pháp khai hội(nghĩa là tất cả giáo pháp đều tương đồng nhất trí) chứ không có Nhân khai hội (nghĩa là loại bỏ sự khác nhau giữa Tam thừa, vì mọi người đều có khả năng thành Phật). Những người được Pháp hoa giáo hóa là những căn cơ Nhất Phật thừa, căn tính thuần thục, pháp năng hóa thì đủ cả Pháp khai hội và Nhân khai hội, tức là mở bày Viên giáo thuần tuý vi diệu. 2. Hóa đạo thủy chung bất thủy chung tướng: Các giáo khác ứng theo căn cơ làm lợi ích chúng sinh, không nói đến ý nghĩa giáo hóa bằng cách đưa Quyền về thực của Như lai. Còn Pháp hoa thì nói rõ bản ý thiết lập giáo pháp của Phật là khéo léo vì các căn cơ của chúng sinh mà gieo các chủng tử Đốn, Tiệm, Bất định, Hiển, Mật... sau đó dùng các giáo pháp này mà điều phục, trưởng dưỡng và làm cho họ thuần thục, cuối cùng là độ thoát họ. Đủ biết việc thiết lập giáo pháp của đức Phật có 3 giai đoạn lợi ích: Chủng, Thục, và Thoát. 3. Sư đệ viễn cận bất viễn cận tướng: Các kinh khác đều nói rằng khi Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề thì Thực trí mới tròn đủ, mới thi thiết Quyền trí, các đệ tử Nhị thừa không vào được Thực trí thì cũng không thi thiết được Quyền trí. Còn kinh Pháp hoa thì cho rằng trước khi Phật ngồi dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã thành Phật từ lâu, đã đầy đủ cả hai trí Quyền và Thực; vả lại, các đệ tử cũng đã vào Thực trí rất lâu, cũng đã hiểu Quyền trí và thực hành rồi, cho nên, thầy và đệ tử đều đã có Quyền và Thực trí từ lâu xa trước khi Phật ngồi ở gốc cây Bồ đề. Trong 3 loại giáo tướng trên đây, ngài Trí khải thường dùng cách phán giáo thứ nhất, ngài Kinh khê Trạm nhiên, ngài Tối trừng(người Nhật bản)thường dùng cách phán giáo thứ hai, ngài Nhật liên(Tổ của tông Nhật liên, Nhật bản) thì thường dùng cách phán giáo thứ ba. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1]. II. Tam Chủng Giáo Tướng. Chỉ cho 3 thứ giáo tướng thường được các Luận sư phương Nam sử dụng. 1. Đốn giáo: Giáo pháp Hoa nghiêm dùng để giáo hóa hàng Bồ tát, như mặt trời chiếu trên núi cao, nên gọi là Đốn giáo.2. Tiệm giáo: Lại chia làm Hữu tướng giáo và Vô tướng giáo. Tam tạng giáo(Tiểu thừa giáo) để hóa độ Tiểu thừa, trước dạy Bán tự giáo, gọi là Hữu tướng giáo. Sau khi thành Phật được 12 năm, đức Thế tôn vì hàng Đại thừa mà nói 5 thời Bát nhã cho đến thường trụ, gọi là Vô tướng giáo. Hữu tướng, Vô tướng đều thuộc về Tiệmgiáo.3. Bất định giáo: Như các kinh Thắng man, Kim quang... chẳng phải đốn, chẳng phải tiệm, nói rõ về Phật tính thường trụ, cho nên gọi là Thiên phương bất định giáo.[X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.thượng, phần 1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng].
tam chủng hiện hữu
Theo quan niệm Phật Giáo, vạn hữu sinh khởi do tâm, và chỉ có tâm mà thôi. Nhứt là trong học thức “Duy Thức,” cái mà chúng ta gọi là hiện hữu nó tiến hành từ thức mà ra. Theo Duy Thức Tông, mọi vật hiện hữu được xếp tùy theo bản tánh của nó vào ba loại—According to the Buddhist idea, all things are born from mind and consist of mind only. Especially in the idealistic theory, what we generally call existence proceeds from consciousness. According to the Mind-Only School, everything that exists is classified as to the nature of its origin into three species: 1) Vọng Hữu Tánh: Parikalpita-laksana (skt)—Còn được gọi là “Biến Kế Sở Chấp Tánh.” Những hiện hữu không thật vốn đồng thời không có một bản thể, như ma quỷ chỉ hiện hữu trong sự tưởng tượng của con người chứ không có trong thực tại—False existence, also called “Character of Sole Imagination.” Those of false existence which are at the same time bereft of an original substance (adravya), just like a ghost that exists merely in one's imagination but not in reality. 2) Giả Hữu Tánh: Paratantra-laksana (skt)—Còn được gọi là “Y Tha Khởi Tánh.” Những hữu thể giả tạm hay nhất thời không có tánh thường tại, như căn nhà được dựng bằng gỗ, gạch, ngói, vân vân. Nó chỉ hiện hữu bằng một tràng tổng hợp những nhân duyên và không tự hữu. Nó không có thực tại thường tồn—Temporary or transitory existence, also called “Character of Dependence upon others.” Those of temporary or transitory existence, having no permanent character (asvabhava), like a house that is built by timbers, stones, tiles, etc. It exists only by a combination of causes or causal combination, and is not self-existent. It has no permanent reality. 3) Chân Hữu Tánh: Parinispanna-laksana (skt)—Còn được gọi là “Viên Thành Thật Tánh.” Những hữu thể chân thật, nghĩa là phi hữu trong ý nghĩa cao nhất của danh từ nầy, xa lìa tất cả tướng không thật và giả tạm hay vô tướng. Sự thực, cái nầy không phải là phi hữu mà là hiện hữu siêu việt. Tánh nầy còn được gọi là “Bản Thể của tất cả” và chỉ có những người có trí tuệ siêu việt mới thấu hiểu nó được. Tánh nầy tiêu biểu những gì còn sót lại sau khi hai tánh trước đã bị loại bỏ—True existence, also called “Character of Ultimate Reality.” Those of true existence, that is to say, non-existent in the highest sense of the word, bereft of all false and temporary nature (alaksana). This is, in truth, not non-existence but transcendental existence. This is also called the “Substratum of all” and can be known only by a person of supreme knowledge. It represents merely the remainder after the elimination of the first two.
Tam chủng huân tập
三種熏習 (薰) 習; C: sānzhǒng xūnxí; J: sanshu kunshū;|Ba loại Huân tập (chữ Huân cũng được viết 熏 thay vì 薰): I. 1. Danh ngôn huân tập (名言薫習): Sự huân tập của danh ngôn; 2. Sắc thức huân tập (色識薫習), huân tập của sắc thức và 3. Phiền não huân tập (煩惱薫習), sự huân tập của những loại phiền não. II. 1. Huân tập của ngôn thuyết (言説); 2. Huân tập của Ngã kiến (我見) và 3. Huân tập có liên hệ đến sự tồn tại của chính mình (有分), tỉ như ở trong một trong Tam giới hoặc Lục thú (theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
tam chủng huân tập
663<一>指唐譯攝大乘論卷上所舉之三種習氣,即:名言習氣、我執習氣、有支習氣。(參閱「三種習氣」658) <二>薰,即薰發;習,即數習、慣習之義。指:(一)名言薰習,名即名字,言即言說。此分別名字言說之識,即第六意識,由第七末那識傳送,薰習第八種子之識,而能成就染分之相,故稱名言薰習。(二)色識薰習,色即眼根所對之諸色,由此諸色而引生眼識,稱為色識。於此分別,即是第六意識,亦由第七識傳送,薰習第八種子之識,而能成就染分之相,故稱色識薰習。(三)煩惱薰習,煩惱即貪、瞋、邪見等之煩惱。此煩惱乃由第六意識所起,亦由第七識傳送,薰習第八種子之識,而能成就染分之相,故稱煩惱薰習。〔華嚴經孔目章卷三〕
; (三種熏習) I. Tam Chủng Huân Tập. Chỉ cho 3 thứ tập khí: Danh ngôn tập khí, Ngã chấp tập khí và Hữu chi tập khí.[X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Đường)]. (xt. Tam Chủng Tập Khí).II. Tam Chủng Huân Tập. Ba thứ huân tập. Huân là xông ướp (như ướp trà bằng các loại hoa); Tập là tập tành luôn thành thói quen, như ướp trà bằng nhị sen, lâu ngày trà có mùi sen. Ba thứ huân tập là: 1. Danh ngôn huân tập: Danh là danh tự; Ngôn là ngôn thuyết. Thức phân biệt danh tự và ngôn thuyết này chính là Ý thức thứ 6, do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào huân tập thức Chủng tử thứ 8, tạo thành tướng phần nhiễm ô, vì thế gọi là Danh ngôn huân tập. 2. Sắc thức huân tập: Sắc là các sắc này dẫn sinh ra nhãn thức, gọi là Sắc thức. Phân biệt các sắc này chính là Ý thức thứ 6, cũng do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào để huân tập trong thức Chủng tử thứ 8 mà tạo thành tướng phần nhiễm ô, nên gọi là Sắc thức huân tập. 3. Phiền não huân tập: Chỉ cho các phiền não tham, sân, tà kiến... Các phiền não này là do Ý thức thứ 6 khởi động rồi do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào để huân tập trong thức Chủng tử thứ 8 mà tạo thành tướng phần nhiễm ô, cho nên gọi là Phiền não huân tập. [X. Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3].
tam chủng hành nghi
651乃日僧辨阿依善導、源信之說所立之三種念佛儀則。據辨阿之末代念佛授手印載,所謂尋常行儀,即不拘處所、身體、衣裝、飲食之淨與不淨,亦不論時節之久暫或行住坐臥等諸時,皆可念佛。別時行儀則應注重道場、身體、衣服等之清淨,並應常立常坐,一食常齋,不食酒肉五辛,於一日乃至十日之間一心念佛。臨終行儀與別時行儀相同。 據善導之觀念法門載,欲入三昧道場時,先須莊嚴道場,安置尊像,以香湯掃灑。若無佛堂,亦可以淨房代之,取一佛像安置西壁。行者從月一日至八日,或從八日至十五日,或從十五日至二十三日,或從二十三日至三十日,自量家業輕重,於此時中入淨行道。衣裝、鞋襪盡須清淨,七日之中皆須一食常齋,飯食粗淡而節量,晝夜束心相續,專念阿彌陀佛,心與聲相續,七日之間,或坐或立,惟不得睡眠,此即上記之別時行儀。又載,行者於臨命終時,依念佛三昧法,端正身心,迴面向西,專注觀想阿彌陀佛,心口相應,聲聲不絕,決定作往生想、華臺聖眾來迎接想,此即上記之臨終行儀。往生要集卷中末所載別時念佛之二種儀式,即今之別時行儀與臨終行儀。而觀經疏卷四所載(大三七‧二七二中):「一心專念彌陀名號,行住坐臥,不問時節久近。」,及往生禮讚所載「長時修」等,即今之尋常行儀。又三種行儀之中,若以傍正別之,則尋常行儀為正行,別時行儀為傍行。
; (三種行儀) Chỉ cho 3 nghi thức niệm Phật: Tầm thường hành nghi, Biệt thời hành nghi, và Lâm chung hành nghi. Ba nghi thức này do vị tăng người Nhật bản là ngài Biện a căn cứ vào thuyết của các ngài Thiện đạo (Trung quốc)và Nguyên tín(Nhật bản) mà lập ra. Cứ theo Mạt đại niệm Phật thụ thủ ấn của ngài Biện a thì Tầm thường hành nghi không câu nệ nơi chốn, thân thể, y phục, thức ăn uống tịnh hay bất tịnh, cũng không kể thời gianlâu mau hoặc lúc đi, đứng, ngồi, nằm... đều có thể niệm Phật. Biệt thời hành nghi thì phải chú trọng đến sự thanh tịnh của đạo tràng, thân thể, y phục... phải thường đứng, thường ngồi, thường ăn 1 bữa, không ăn thịt, hành tỏi... và không uống rượu, dốc lòng niệm Phật từ 1 ngày đến 10 ngày. Còn Lâm chung hành nghi thì cũng giống như Biệt thời hành nghi.
tam chủng hương
655指由樹之根、枝、花所製成之世間三種香。據戒德香經載,此三種香唯順風時得聞其香,逆風則不聞;阿難乃思惟欲尋較此三者更殊勝之香,能不受風向影響而普薰十方,遂請示於佛。佛告之以守五戒、修十善、敬事三寶、仁慈道德、不犯威儀等事,若能持之不犯,則其戒香普薰十方,不受有風、無風及順逆之影響,此戒香乃最清淨、無上者,非世間眾香所能比。(參閱「戒香」2911)
; Ba loại nhang—Three kinds of scents or incense. 1) Nhang làm bằng cành cây: Incense made from branches. 2) Nhang làm bằng rễ cây: Incense made from roots. 3) Nhang làm bằng bông: Incense made from flower).
; (三種香) Chỉ cho 3 thứ hương ở thế gian được làm bằng rễ, cành và hoa của cây. Cứ theo kinh Giới đức hương thì người ta chỉ ngửi thấy mùi thơm của 3 thứ hương này khi thuận gió, còn nếu ngược gió thì không ngửi thấy. Ngài A nan tự nghĩ muốn tìm loại hương thù thắng hơn 3 thứ hương này, có thể bay ngược chiều gió mà lan tỏa khắp 10 phương, Ngài bèn thỉnh ý đức Phật. Phật liền dạy: Nếu giữ gìn 5 giới, làm 10 điều thiện, kính thờ Tam bảo, nhân từ đạo đức, không phạm uy nghi... thì hương giới của các việc ấy lan tỏa khắp 10 phương mà không phụ thuộc vào gió có hay không, xuôi hay ngược; hương giới ấy thanh tịnh nhất, không 1 loại hương thế gian nào có thể sánh được. (xt. Giới Hương).
tam chủng hữu
651有,「存在」之義。三種有,指三種存在之法,即:(一)相待有,如對長而有短,對短而有長;對境有心,對心有境;又如輕重、彼此、大小、高低等亦如是。(二)假名有,假多數集合為一物,如假四大和合為人,有假名而無實體;又如山林、毛岁等亦如是。(三)法有,一切法由因緣而生,雖無自性,然亦非如兔角龜毛之有名無實,故稱為法有。〔大智度論卷十二、大明三藏法數卷十三〕
; Three kinds of existence (a) Tương đối hữu that of qualities, as of opposites, e.g. length and shortness; (b) giả danh hữu that of phenomenal things so-called, e.g. a jar, a man; (c) pháp hữu that of the nounenal, or imaginary, understood as facts and not as illusions, such as a "hare's horn" or a "turtle fur".
; Three kinds of existence—See Tam Hữu.
; (三種有) Chỉ cho 3 thứ pháp tồn tại. 1. Tương đãi hữu: Như đối với dài mà có ngắn, đối với ngắn mà có dài; đối với cảnh mà có tâm, đối với tâm mà có cảnh. Lại như nặng nhẹ, đây kia, lớn nhỏ, cao thấp...cũng thế. 2. Giả danh hữu: Mượn nhiều thứ tập hợp lại thành 1 vật, như mượn 4 đại hòa hợp thành thân người, có cái tên giả mà không có thể thực. 3. Pháp hữu: Tất cả pháp do nhân duyên sinh ra, tuy không có tự tính, nhưng cũng chẳng như lông rùa, sừng thỏ hữu danh vô thực, cho nên gọi là Pháp hữu. [X. luận Đại trí độ Q.12; Đại minh tam tạng pháp số Q.13].
tam chủng không
The three voids or immaterialities. The first set of three is (a) không; (b) vô tướng; (c) vô nguyện; xem tam tam muội. The second (a) ngã; (b) pháp; (c) câu không, the self, things, all phenomena as empty or immaterial. The third relates to charity (a) giver; (b) receiver; (c) gift, all area empty tam luân không tịch.
tam chủng khổ
xem ba loại khổ.
tam chủng kiến hoặc
Three classes of delusive views, or illusions - those common to humanity; those of inquiring mind; and those of the learned and settled mind.
; Ba loại kiến hoặc—Three classes of delusive views or delusions: 1) Thường hoặc: Nghi hoặc thông thường—Common delusions to humanity. 2) Tụ hoặc: Trong khi tu tập thấy những điều nghi hoặc—Delusions of the inquiring mind. 3) Thông thái hoặc: Nghi hoặc của những học giả thông thái—Delusions of the learned and settled mind.
tam chủng kì đặc sự
653據過去現在因果經卷四載,佛有三種奇特之事,即:(一)神通奇特,謂佛妙應群機,現大神變,不可思議,使一切眾生及諸邪魔外道咸歸正化。(二)慧心奇特,謂佛之智慧,心光湛寂,照了一切諸法,成就一切種智。(三)攝受奇特,謂佛善知眾生諸根利鈍,隨機攝受,開導教化,令彼咸聞法要,進修妙行,出離生死。
tam chủng kỳ đặc sự
(三種奇特事) Ba việc đặc biệt kì lạ. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 4 thì Phật có 3 việc đặc biệt kì lạ, đó là: 1. Thần thông kì đặc: Phật khéo thích ứng với mọi căn cơ, hiện đại thần thông không thể nghĩ bàn, khiến tất cả chúng sinh và các tà ma ngoại đạo đều quay về với chính pháp. 2. Tuệ tâm kì đặc: Tâm trí tuệ của đức Phật sáng tỏ vắng lặng, soi rõ tất cả các pháp, thành tựu Nhất thiết chủng trí. 3. Nhiếp thụ kì đặc: Phật khéo biết các căn lợi độn của chúng sinh, mở đường giáo hóa, khiến họ đều nghe chính pháp, tiến tu các hạnh, ra khỏi sinh tử.
tam chủng luật nghi
654說一切有部將律儀(即防護)分為三類:(一)別解脫律儀(梵 prātimokṣa-saṃvara),又作別解脫戒。即欲纏戒,為八眾應受持之戒條。(二)靜慮生律儀(梵 dhyāna-saṃvara),又作靜慮律儀或定共戒。即色纏戒,乃依靜慮而生者。(三)道生律儀(梵 anāsrava-saṃvara),又作無漏律儀或道共戒。係聖人所成就之律儀。此三種律儀,加上斷律儀,則為四種律儀,又稱四戒。〔大毘婆沙論卷一一九、俱舍論卷十四、順正理論卷三十六〕(參閱「別解脫律儀」2806、「戒」2896、「無漏律儀」5130、「靜慮律儀」6360)
; (三種律儀) Ba loại luật nghi. Thuyết nhất thiết hữu bộ chia luật nghi (tức phòng hộ) làm 3 loại: 1. Biệt giải thoát luật nghi: (Phạm: Pràtimokwa-saôvara, cũng gọi Biệt giải thoát giới): Tức Dục triền giới, là những giới điều mà 8 chúng phải thụ trì. 2. Tĩnh lự sinh luật nghi: (Phạm: Dhyàna-saôvara, cũng gọi Tĩnh lự luật nghi hoặc Định cộng giới): Tức Sắc triền giới, là luật nghi do tĩnh lự sinh ra. 3. Đạo sinh luật nghi (Phạm: Anàsvara-saôvara, cũng gọi Vô lậu luật nghi hoặc Đạo cộng giới): Là luật nghi của các Thánh nhân thành tựu. Ba loại luật nghi trên, nếu thêm Đoạn luật nghi nữa thì thành là Tứ chủng luật nghi, cũng gọi Tứ giới. [X. luận Đại tì bà sa Q.119; luận Câu xá Q.14; luận Thuận chính lí Q.36]. (xt. Biệt Giải Thoát Luật Nghi, Giới, Vô Lậu Luật Nghi, Tĩnh Lự Luật Nghi).
tam chủng lạc sanh
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại lạc sanh—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of happy rebirths. 1) Có những loài hữu tình trong quá khứ luôn luôn tạo ra thiền định lạc hay sống trong sự an lạc, như các vị Phạm Chúng Thiên: There are beings who continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group. 2) Có những loài hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng 'Ôi an lạc thay,' như chư Quang Âm Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, so that they occasionally exclaim 'oh what bliss' such as the Radiant Devas. 3) Có những loại hữu tình thấm nhuấn, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Biến Tịnh Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in happiness, who supremely blissful, experience only perfect happiness, such as the Lustrous Devas.
tam chủng lễ phật
662據華嚴孔目章卷一載,以身儀之端正、內心之虔誠與否,而分禮佛之態度為三種。即:(一)成過禮,禮佛時,身儀不正,與輕慢相應,而有過失。(二)相似禮,禮佛時,身儀雖似端正,而與雜覺相應。(三)順實禮,禮佛時,身儀端正,而與正智相應,隨順實理。
; (三種禮佛) Ba hình thức lễ Phật. 1. Thành quá lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân không nghiêm chính, tương ứng với khinh mạn mà thành ra lỗi lầm. 2. Tương tự lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân tuy có vẻ đoan chính, nhưng lại tương ứng với cảm giác tạp nhiễm. 3. Thuận thực lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân đoan chính, tương ứng với chính trí, thuận theo thực lí. [X.Hoa nghiêm khổng mục chương Q.1].
tam chủng ma
Three types of demons—“Ma” tiếng Phạn gọi là mara, Tàu dịch là “sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến niết bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: phiền não ma, ngoại ma và Thiên ma—“Demons” are called “mara” in Sanskrit. In Chinese, the word has connotation of “murderer” because demons usually plunder the virtues and murder the wisdom-life of cultivators. “Demons” also represent the destructive conditions or influences that cause practitioners to retrogress in their cultivation. Demons can render cultivators insane, making them lose their right thought, develop erroneous views, commit evil karma and end up sunk in the lower realms. These activities which develop virtue and wisdom and lead sentient beings to Nirvana are called Buddha work. Those activities which destroy good roots, causing sentient beings to suffer and revolve in the cycle of Birth and Death, are called demonic actions. The longer the practitioner cultivates, and the higher his level of attainment, the more he discovers how wicked, cunning and powerful the demons are. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, although there are numerous demons, they can be divided into three types: demons of afflictions, external demons and celestial demons. 1) Phiền Não Ma: Demons of Afflictions. a) Phiền não ma chỉ cho các phiền não tham nhiễm, hờn giận, si mê, khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; cho đến các thứ ma ngũ ấm, lục nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Loại ma nầy cũng gọi là nội ma, do lòng mê muội điên đảo sanh ra, nên phải dùng tâm chân chánh sáng suốt giác ngộ mà giải trừ. Phàm phu tự mình đã có những nghiệp riêng, lại do cộng nghiệp sống chung trong khung cảnh, mà người xung quanh phần nhiều tánh tình hiểm ác, nghiệp chướng sâu dầy, nên dễ động sanh phiền não. Có kẻ không chịu đựng nổi sự lôi cuốn của ngũ trần nên bị sa ngã. Có người vì nghịch cảnh, khiến cho bi thương sầu não, chí tiến thủ tiêu tan. Những sự việc nầy xui khiến người tu nhẹ thì ưu sầu, uất ức sanh đau bệnh; nặng thì chán nãn bỏ đạo, hoặc phẫn chí tự tận; nguy hại hơn nữa, tất đến chỗ đối với hàng xuất gia tại gia đều mất hết mỹ cảm, tránh xa chán ghét, sanh việc khinh rẽ chê bai, không tin nhân quả, làm điều ác, rồi phải đọa tam đồ—These demons represent the afflictions of greed, anger, resentment, delusion, contempt, doubt and wrong views. They also include the demons of the Five Skandas, the Six Entrances, the Twelve Sense Fields, and the Eighteen Elements. These demons are also called “internal” as they created by topsy-turvy, delusive states of mind. Therefore, they must be overcome by the bright, enlightened mind. The human mind is easily moved, developing afflictions not only because of personal karma but also because of the common karma of living in an environment filled, for the most part, with evil beings. Some persons cannot resist the attractions of the five Dusts and thus fall into evil ways. Others, encountering adverse conditions, grow sad and mournful and lose their determination to progress. Such developments depending on their severity, render the cultivator despondent , indignant and ill, or worse still, cause him to abandon the Buddhist Order or even to commit suicide out of despair. More harmful still, they can lead to loss of respect and good will toward other cultivators, sometimes even hatred and avoidance of clergy and lay people alike. Loss of faith in cause and effect, bad karma and finally, descent upon the three Evil Paths are the end result. b) Muốn đối trị thứ ma nầy, hành giả phải quán xét phiền não là hư huyễn, xao động, nóng bức, trói buộc, tối tăm, chỉ làm khổ cho người và mình. Dứt phiền não, ta sẽ trở về chân tâm tự tại giải thoát, mát lặng sáng trong, an vui mầu nhiệm. Đối với sự mê chấp từ năm ấm cho đến mười tám giới, cũng nên quán như thế—To counteract these demons, the practitioner should reflect that all afflictions are illusory, upsetting, suffocating, binding, evil and conducive only to suffering for both himself and others. To eliminate afflictions is to return to the True Mind, free and liberated, fresh and tranquil, bright and clear, happy and at peace, transcendental and wondrous. The cultivator should also meditate in the same way on all attachments, from the Five Skandas to the Eighteen Elements. • Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật bảo: “Các ngươi chớ nên tham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, dù thô hay dù tế. Nếu mê đắm tham trước, Tất bị nó thiêu đốt: In the Lotus Sutra, Sakyamuni Buddha said: “You should not be greedy and attached to gross and vile forms, sound, smell, taste, touch and dharmas. If you do, they will burn you up.” • Khi xưa Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi một vị Thiên nữ: “Ngươi xem mười tám giới như thế nào?” Thiên nữ đáp: “Như thấy kiếp lửa đốt thế gian!” Đây là những lời cảnh giác để phá trừ loại ma phiền não: Manjusri Bodhisattva once asked a female deity, “How do you see the Eighteen Elements?” The deity replied, “They are similar to the eonic fire burning up the whole world.” These are words of warning, reminding us to eliminate the demons of afflictions. • Phiền não ma hay nội ma, nếu không chế phục được, tất sẽ chiêu cảm đến ngoại ma ở ngoài đến phá. Lời xưa nói: “Trong cửa có tiểu nhơn, ngoài cửa tiểu nhơn đến. Trong cửa có quân tử, ngoài cửa quân tử đến.” Lại như khi ăn trộm đào ngách muốn vào nhà, gia chủ hay được tỏ ra bình tỉnh răn trách, tất nó phải sợ hãi bỏ đi. Nếu chủ nhà kinh sợ rối rít năn nỉ, đó chính là thái độ khuyên rước trộm vào nhà vậy: If the demons of afflictions or internal demons are not subdued, they will attract external demons which wreak havoc. The ancient have said: “If inside the door there are mean-spirited people, mean-spirited people will arrive at the door; if inside the door there are virtuous, superior people, noble superior people will arrive at the door.” As an example, when thieves try to enter a house through the side door, if the owner calmly scolds them in a loud voice, they will naturally be frightened and leave. If on the other hand, he is terrified and panic-stricken, and begs them to desist, he will unwittingly be inviting them into his house. 2) Ngoại Ma: External Demons—Ngoại ma là những loài ma quỷ thần yêu mị bên ngoài. Người tu khi có đôi chút công phu, liền bị nó đến thử thách phá khuấy. Loài nầy có thể chia thành ba hạng là bố ma, ái ma và não ma—External demons take the form of various spirits, ghosts and deities. Once the cultivator has reached a certain level of attainment, he will be subject to demonic disturbances which will put him to the test. External demons may be divided into three groups: a) Bố Ma: Terrorizing Demons—Bố ma là loài ma ưa khủng bố làm cho người kinh sợ. Thứ ma nầy thường hóa hình cọp, sói, rắn, rít, hoặc các loài thú hung dữ kỳ lạ, hay hình ác quỷ ghê rợn để dọa nhát người tu. Những hình tướng nầy biến huyễn vô cùng, hoặc không đầu, nhiều đầu, nhiều tay, nhiều mắt; hoặc mình người đầu thú, mình thú đầu người, hoặc cầm khí giới, hoặc phung lửa đỏ. Nếu hành giả kinh hãi, liền bị nó phá làm mất chánh niệm, lắm khi sanh điên cuồng. Gặp cảnh nầy, nên nghĩ các tướng đều giả dối, ma chỉ có thể hủy diệt huyễn thân chớ không thể phá hoại được chân tâm. Suy xét như thế rồi bình tĩnh không sợ chết, an nhiên chuyên tâm niệm Phật hoặc trì chú, nó sẽ tự rút lui—These are ghosts that like to frighten and terrorize people. They usually take the form of tigers, wolves, deadly serpents, poisonous snakes or other ferocious beasts or hallucinatory, diabolic apparitions to scare the cultivator. Their forms change ad infinitum. They may have no head or many heads, many hands, many eyes, or a half-human, half-bestial body. They may brandish weapons or spit fire. If the practitioner is frightened, he loses his right thought and often goes insane. Faced with these occurences, we should reflect that all forms and marks are illusory, and that demons can only destroy the illusory body, not the True Mind. Meditating this way, we should remain calm and unafraid of death, peacefully concentrating on Buddha or Mantra Recitation. The demons will then retrest of their own accord. b) Ái Ma: Demons of Lust and Attachment—Ái ma là loài ma khích động lòng ái dục cho đến tâm tham nhiễm cảnh ngũ trần. Chúng hóa hình nam, nữ lõa lồ xinh đẹp; hoặc hình cha mẹ anh em, kẻ thân mến, cho đến thân Phật, Bồ Tát tướng tốt trang nghiêm để khuyến dụ. Nếu người thích ăn ngon, chúng hóa sơn hào hải vị, hương thơm ngào ngạt đem dâng; người ưa bảo vật, chúng hiện hình thú lạ ngậm châu ngọc đến hiến tặng. Tùy tâm niệm hành giả ưa thích điều chi, chúng liền hiện ra thứ ấy. Chúng có thể dùng ma lực khiến cho người tu được tà định, tà trí, tài biện thuyết, phép thần thông biết quá khứ vị lai. Những kẻ không hiểu cho là đã chứng đạo quả, thảy đều tin phục; song kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên làm phép quỷ mê hoặc thế gian—These are a type of demon which excites a range of emotions, from lust to delusive attachment to the realm of the five Dusts, i.e., this world. They take the appearance of alluring, nude men and women or of parents, siblings or close relatives, as well as of Buddhas and Bodhisattvas with beautiful, adorned features, in order to entice the practitioner. If he is fond of good food, these demons bring him succulent, fragrant dishes. If he likes diamonds or gold, they take the appearance of strange animals holding precious stones in their mouths as offerings. They cause whatever the practitioner desires to appear. They can also use their psychic power to lead him into evil samadhi, evil wisdom and eloquence, giving him the mystic power to know the past and the future. Those who do not understand will mistake these occurences for evidence that the practitioner has attained Enlightenment, and thus believe in and trust him. In reality, however, the cultivator's mind is upside down and he spends all his time engaging in errant, demonic practices to deceive others. • Có một nhà sư Việt Nam tu tại một ngôi chùa bỏ hoang bên Lào. Trong khi thiền định ông thấy một nhóm mỹ nhân lõa lồ, nắm tay nhau nhảy múa. Sư trấn định tâm không nổi, bèn thành khẩn niệm Phật, tướng ấy liền tan—Once there was a Vietnamese monk cultivating at a deserted temple in Laos. In one of his meditation sessions, he saw a group of beautiful, ethereal women, all naked, holding hands and dancing around. The monk, unable to calm his agitated mind, immediately recited the Buddha's name in all earnestness. Only then did this scene disappear. • Một câu chuyện khác—Another story—Khi xưa bên Trung Quốc có một vị sư đang tham thiền, nhân khi trời lạnh bụng đói, động niệm tưởng ăn; sư liền thấy một thiếu phụ bưng thức ăn đến cúng dường. Thiếu phụ quỳ xuống sớt đồ ăn vào bát, thỉnh sư nên dùng liền kẻo nguội mất ngon. Sư vì đói muốn thọ dụng ngay, nhưng nghĩ chưa đến giờ thọ trai, nên nhẫn nại bảo hãy tạm để một bên, chờ đúng giờ sẽ ăn. Thiếu phụ nghe nói, có vẻ hờn giận bỏ đi. Giây lâu sau đúng ngọ, sư giở bát ra thấy trong ấy toàn là dòi bò lúc nhúc. Chừng ấy ông mới tỉnh ngộ, biết vừa động sanh vọng niệm, liền rước lấy cảnh ma; may nhờ có chút định lực mới khỏi ăn đồ dơ và phạm giới sát—Once in China, there was a monk seated in meditation. Because he was cold and hungry, the thought of food arose in his mind. He suddenly saw a woman presenting him with an offering of food. The woman knelt, put food in his bowl, and respectfully asked him to eat immediately, before the food grew cold and lost all taste. The monk, being hungry wanted to eat at once but remembering that it was not yet noontime, he patiently told her to put the bowl aside for the time being. The woman left, appearing angry and upset. Some time later, at noon, he uncovered the bowl to discover that it was full of worms, crawling all around. He then understood that his false thought of food had attracted the demonic apparitions. Thanks to his self-restaint and power of concentration, however, limited, he avoided consuming the dirty food and violating the precept against killing. • Lại cũng một vị sư tu thiền trong núi, thấy mình lẻ loi cô quạnh, nên sanh vọng tưởng muốn được một ít người cùng ở chung cho vui. Vừa đâu có bà lão dẫn hai cô gái trẻ đẹp, bảo nhà ở dưới làng chân núi, tìm đến am tranh cầu xin dạy đạo. Vị Tăng ban đầu không nghi ngờ, liền thuyết pháp khai thị. Tới lui như thế lâu ngày, một hôm bà lão bạch sư xin cho hai cô gái làm thị giả lo việc giặt giủ cơm nước cho sư đỡ cực nhọc. Sư nghe nói thoáng sanh lòng nghi, liền nghiêm trách từ chối. Ba người tỏ vẻ hờn thẹn bỏ đi. Sư lén theo dõi qua một khúc quanh bỗng chợt mất bóng, sư đến xem thì đã cùn đường, lại không có nhà cửa chi cả, chỉ thấy ba gốc cổ thụ, một to hai nhỏ. Sư suy nghĩ biết đây là yêu tinh cổ thụ, muốn đem búa chặt đốn hoặc nổi lửa thiêu đốt để dứt trừ hậu hoạn. Vừa nghĩ đến đó bỗng thấy ba người hiện ra cầu sám hối và xin tha mạng. Thế mới biết tâm yên cảnh lặng, vọng khởi ma sanh, người tu phải ghi nhớ điều nầy—Yet another story concerns a Zen monk who practiced in a deserted mountain area. Lonely and isolated, he had a deluded thought, wishing to have some fellow-cultivators practicing along with him to make life more bearable. Immediately, an old woman appeared from nowhere, leading two beautiful young girls by the hand, who, she said, lived in the village down in the valley. They had come, they claimed , to seek guidance in the Way. The monk, unsuspicious, immediately gave a Dharma talk to the group. One day, after many such visits over a period of time, the old woman respectfully requested that the two girls be allowed to become attendants to the monk and relieve him of his daily chores. The monk, hearing this, became suspicious. He reprimanded the old woman severely and refused the offer. The three women left, apparently angry and ashamed. The monk, intrigued, followed them discreetly until they disappeared around a bend in the road. When he reached the spot, he found it was a dead end with no habitation or anything else around, except for three very old trees, one big tree and two small ones. He thought it over and realized that he had been tested . A fleeting thought occurred to him, that he should cut down the trees, start a bonfire, and burn them into ground. At that moment, the three women reappeared, repentant, begging him to forgive them and spare their lives. Therefore, the cultivator should remember: when the mind is still, all realms are calm; when delusion arises, demons are born. c) Não Ma: Nuisance Demons. • Não ma là loại ma chuyên phá rối, làm não loạn người tu. Có giống tinh mị mỗi loài đến theo giờ của nó, đại khái mỗi giờ có ba loài, mười hai giờ thành ba mươi sáu loài tinh thú. Như giờ Dần đến, tất là loài cọp, beo, gấu; giờ Mẹo đến là loài mèo, thỏ, cáo; giờ Thìn là loài, rồng, cá, thuồng luồng…Theo trong Tọa Thiền Chỉ Quán có thứ quỷ Du Lạp Kiết Chi, Tàu gọi là Đôi Dịch, đầu mặt như cây đàn tỳ bà, bốn mắt hai miệng, thường ưa khuấy động phá rối người tu. Chúng chờ khi người tu đang tụng niệm, hóa ra sâu trùng, hoặc bò lên khắp đầu mặt, hoặc chun vào miệng, lỗ mũi, mắt, lỗ tai; hoặc chui vào nách, bụng của hành giả mà cắn chích. Đôi khi chúng kêu vang vào lỗ tai, làm thành tiếng ồn ào, nhức óc; hoặc chợt ôm giữ người, quơ tìm thì không đụng thấy. Chúng còn hóa ra cảnh ngũ trần hoặc thuận, hoặc nghịch, hoặc không thuận nghịch, biến huyễn khôn lường, làm cho hành giả loạn động chẳng biết đâu mà nhận thức, dễ mất định tâm. Muốn đối trị với ba mươi sáu loài tinh thú, cứ theo giờ kêu tên của nó mà quở trách; với ma Đôi Dịch, nên tụng tam quy ngũ giới hoặc giới bổn, bởi chúng là thứ quỷ phạm tội phá giới. Làm như thế chúng liền ẩn mất. Hoặc cách đối trị tổng quát là nên nhiếp tâm vào chánh định, hay chuyên chỉ trì chú niệm Phật, chúng sẽ tan biến—This type of demon concentrates on harassing and disturbing the practitioner. There is a certain species of spirits and ghosts which can be subdivided into many types, each appearing at a fixed time of the day. In general, each hour has three types of spirits. For example, during the period between seven and nine in the morning, they take the appearance of dragons, fish, and serpent-like creatures. In his commentaries Samatha and Vipassana for Beginners, the Patriarch Chih-I mentioned a type of demon with a face like a pear-shaped lute, four eyes and two mouths, which enjoys disturbing cultivators. Waiting for the individual to begin to practice, it takes the form of worms or tiny insects and crawls all over his head and face, penetrates into his mouth, nose, eyes and ears, or goes under his armpits or belly to sting him. At other times it shouts loudly into the practitioner's ears, creating a great disturbance and giving him a headache; or it suddenly embraces him tightly. If the practitioner attempt to seize it in return, nothing is there. This type of nuisance demon also causes scenes of the five Dusts to appear, either favorable or unfavorable, or neither favorable nor unfavorable. Such transformations are countless and can cause the practitioner to become agitated. As he does not know what to make of all this, he loses his concentration. The general way to subdue these nuisance demons is to “gather” the mind in correct samadhi or diligently recite mantras or the Buddha's name, they will then all disappear. • Ngoại ma còn là những ma bàng môn tả đạo. Những vị kiếp trước hoặc kiếp nầy đã từng tu theo ngoại đạo, sau trở lại quy y Phật pháp; hoặc những vị tuy chỉ nương về Tam Bảo, nhưng xưa kia ông bà cha mẹ đều theo bàng môn tả đạo, thường hay bị ngoại ma phá rối. Bởi lối tu của ngoại đạo đều không rời phiền não hữu lậu, còn trong vòng tự cao chấp ngã, tham đắm quyền danh, nên hàng ngoại đạo hay quy tụ bè phái, không muốn cho người có ít nhiều liên hệ với phe mình tu theo đạo khác: External demons also include demons belonging to externalist cults and other false or quasi-Buddhist sects; or practitioners who have belonged to cults in this or previous lives but have now converted to Buddhism, as well as those who are themselves Buddhists but who come from families formerly active in other faiths and cults, tend to be bothered by external demons. This is because the cultivation methods of externalists are within the realm of worldly afflictions and are tainted with pride, ego attachment, power and fame. Therefore, they stick together and do not want people connected with them in some way to follow other teachings. 3) Thiên Ma: Celestial Demons. a) Thiên ma là loại ma ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, thuộc tầng thứ sáu của trời Lục Dục. Loại ma nầy có phước báo, hưởng sự vui mầu nhiệm cao tột của ngũ trần, cho đó là cảnh khoái lạc tuyệt đối, nắm quyền hạn về dục nhiễm, không muốn ai thoát khỏi phạm vi ấy. Khi hành giả đạt đến mức tu khá cao, tâm quang phát lộ, ánh sáng chiếu thấu lên cõi trời Tha Hóa làm cho cung điện ma rung động, chúng liền phát giác và vì sợ e có người giải thoát, quyến thuộc mình sẽ giảm bớt đi, nên tìm cách phá hoại. Chúng hiện ra nhiều cảnh, hoặc hăm dọa, hoặc khuyến dụ, hoặc giúp sức cho tà định tà trí cùng thần thông cốt để gạt gẫm; lại thay phiên nhau rình rập không giây phút nào rời để chờ cơ hội thuận tiện. Nếu hành giả có một niệm sơ hở, liền bị chúng ám nhập, xúi dục làm những điều trái đạo đức, đời tu kể như đã hư tàn: This refers to the type of demon that resides in the Sixth Heaven, also called the Heaven of Free Enjoyment of Others' Emanations. This type of demon possesses merits and blessings and enjoys the highest heavenly bliss in the Realm of desire, of which our world is but a small part. They then mistake such happiness and bliss as ultimate, and do not wish anyone to escape their influence. When a practitioner has attained a fairly high level of cultivation, his mind-light develops and shines up to the realm of the Sixth Heaven. It is then discovered by the celestial demons, who seek ways to sabotage his cultivation. Such action can take many forms, threatening or cajoling, or even helping the practitioner attain false samadhi “wisdom” and spiritual power, with the aim of ultimately deceiving him. These demons take turns watching the practitioner constantly and without interruption, waiting for the opportunity. If the practitioner has a delusive thought, they pounce on him or steer him toward things contrary to the Way. The practitioner's entire lifetime of cultivation is then over, for all practical purposes. b) Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát đã từng khuyên dạy: “Trong khi hành giả tịnh tu, thường bị các thiên ma, ngoại đạo, hoặc quỷ thần làm não loạn. Chúng hiện các hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc tướng nam nữ xinh đẹp để quyến rũ. Có khi chúng hiện thân Phật, Bồ Tát hay chư Thiên đẻ các tướng trang nghiêm; hoặc nói các môn đà la ni; hoặc nói pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; hoặc nói các pháp bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, khen ngợi cảnh không oán không thân, không nhân không quả, cứu cánh rỗng không vắng lặng, bảo đó là chân niết bàn. Hoặc chúng làm cho hành giả biết đời trước của mình, suốt việc quá khứ vị lai, thấu rõ tâm niệm của mọi người, cho đến được biện tài vô ngại. Chúng khiến người tu tham luyến danh lợi thế gian, tánh tình thất thường, hay giận, hay cười, ưa ngủ, nhiều bệnh, dễ xót thương xúc cảm, có khi rất tinh tấn, lắm lúc lại trễ nải biếng nhác. Hoặc chúng xui hành giả sanh tâm nghi ngờ không tin, nhiều lo nghĩ, bỏ pháp tu căn bản trở lại tu các tạp hạnh, đắm nhiễm những việc triền phược ở thế gian. Hoặc chúng làm cho hành giả được một ít phần tương tợ như tam muội, có thể ở trong định từ một ngày cho tới bảy ngày, thân tâm an vui không biết đói khát; song đó là do sức tà chứng của ngoại đạo gia bị, không phải chân tam muội. Hoặc lại khiến cho hành giả ăn uống không chừng độ, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi luôn. Khi gặp những cảnh như trên, người tu phải dùng trí tuệ quán sát, gắng giữ chánh niệm, đừng sanh tâm chấp trước mà lạc vào lưới tà. Phải kiên trì như thế mới xa lìa được ma chướng.”—In the Awakening of Faith, the Patriarch Asvaghosha admonished: “There may be some disciples whose root of merit is not yet mature, whose control of mind is weak and whose power of application is limited, and yet who are sincere in their purpose to seek enlightenment, these for a time may beset and bewildered by maras and evil influences who are seeking to break down their good purpose. Such disciples, seeing seductive sights, attractive girls, strong young men, must constantly remind themselves that all such tempting and alluring things are mind-made; and, if they do this, their tempting power will disappear and they will no longer be annoyed. Or, if they have vision of heavenly gods and Bodhisattvas and Buddhas surrounded by celestial glories, they should remind themselves that those, too, are mind-made and unreal. Or, if they should be uplifted and excited by listening to mysterious Dharanis, to lectures upon the paramitas, to elucidations of the great principles of the Mahayana, they must remind themselves that these also are emptiness and mind-made, that in their essence they are Nirvana itself. Or, if they should have intimations within that they have atained transcendental powers, recalling past lives, or foreseeing future lives, or, reading others' thoughts, or freedom to visit other Buddha-lands, or great powers of eloquence, all of these may tempt them to become covetous for worldly power and riches and fame. Or, they may be tempted by extremes of emotion, at times angry, at other time joyous, or at times very kind-hearted and compassionate, at other times the very opposite, or at times alert and purposeful, at other times indolent and stupid, at times full of faith and zealous in their practice, at other times engrossed in other affairs and negligent. All of these will keep them vacillating, at times experiencing a kind of fictitious samadhi, such as the heretics boast of, but not the true samadhi. Or later, when they are quite advanced they become absorbed in trances for a day, or two, or even seven, not partaking of any food but upheld inward food of their spirit, being admired by their friends and feeling very comfortable and proud and complacent, and then later becoming very erratic, sometimes eating little, sometimes greedily, and the expression of their face constantly changing. Because of all such strange manifestations and developments in the course of their practices, disciples should be on their guard to keep the mind under constant control. They should neither grasp after nor become attached to the passing and unsubstantial things of the senses or concepts and moods of the mind. If they do this they will be able to keep far away from the hindrances of karma.” c) Kết lại, chỉ có hai loại ma là nội ma và ngoại ma; Thiên ma cũng thuộc về loài ngoại ma. Nhưng sở dĩ lập Thiên ma thành một loại riêng, là vì muốn cho hành giả lưu ý đến sự phá hoại nguy hiểm tinh vi của nó. Ngoài phiền não ma, ngoại ma, Thiên ma như trên, trong kinh còn nói đến bệnh ma và tử ma. Bởi cơn đau bệnh thường làm cho hành giả tiêu giảm công phu, lại tu chưa đến đâu rồi chết có thể khiến người thối thất đạo quả, nên mới gọi là ma. Nhưng bệnh ma và tử ma đại ý chí sự chướng ngại của bệnh và chết thuộc về thân tứ đại trên đường tu, không có tính cách phá hoại khuấy rối để giết hại đạo tâm theo đúng nghĩa của ma—In summary and as a further generalization, there are only two types of demon, internal and external. Celestial demons are within the category of external demons; however, we described them separately to alert the practitioner to the dangerous, subtle havoc they can cause. In addition to the demons of afflictions, external demons and celestial demons described above, Buddhist sutras also mention “disease demons” and the “demons of death.” For disease will usually wither the practitioner's efforts, while death in the midst of cultivation can make him retrogress. Thus, disease and death are called demons. In general, they represent obstacles to the way that affect the physical body, but they cannot harm and destroy the Bodhi-Mind in the true sense of the word “demon.” d) Sức tu của người thời nay phần nhiều bị phiền não ma hoặc ngoại ma phá hoại, chưa đủ để cho Thiên ma phải ra tay. Loại ma nầy chỉ đến với những vị tu cao. Nếu Thiên ma quyết phá, những vị sức tu tầm thường khó có hy vọng thoát khỏi. Trong Kinh Lăng Nghiêm, vì thương đường tu nhiều hiểm nạn, Đức Phật khuyên các hành giả tham thiền nên kiêm trì mật chú, để được nhờ thần lực gia hộ, thoát khỏi nạn ma thành tựu chánh định. Ấn Quang Đại Sư đã bảo: “Mới xem qua dường như Kinh Lăng Nghiêm khác quan điểm với Tịnh Độ, nhưng xét nghĩ sâu mới thấy kinh nầy vô hình đã khen ngợi tuyên dương Tịnh Độ. Tại sao thế? Bởi bậc đã chứng đệ tam Thánh quả A Na Hàm mà còn có thể bị ma cảnh làm cho thối đọa, thì sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ càng nổi bậc thêm tánh cách trọng yếu, trong ánh sáng nhiếp hộ của Đức A Di Đà không còn nạn ma nữa.”—Considering the level of cultivation of today's practitioners, they generally face harassment only from demons of afflictions or external demons. Such cultivators are not advanced enough to arouse opposition from celestial demons. However, should the latter set their minds to destroying someone, that person has little hope of escaping harm, unless his cultivation is examplary. In the Surangama Sutra, Sakyamuni Buddha, out of compassion for cultivators faced with many dangers along the Way, advised those who practiced meditation to recite mantras at the same time. This would enable them to rely on the power of the Buddhas to escape harm from demons and achieve correct samadhi. The Patriarch Yin Kuang once said: “At first glance, it would appear that the Surangama Sutra has a different viewpoint from Pure Land. However, upon closer scrutiny, that sutra, in its essence, actually praised and commended the Pure Land School. Why is this so? It is because, if even those who have attained the third level of sagehood can suffer retrogression caused by demons, we can see the crucial importance of Buddha Recitation and rebirth in the Pure Land: in the gathering and helping light of the Lord Amitabha Buddha, there is no more danger of demons. e) See Năm Điều Kiện Cần Thiết Để Thành Công Của Người Tu Thiền. f) Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát sau khi kết hợp tổng quát về tinh yếu của pháp Đại Thừa, và trình bày xong đường lối tu tập, Ngài đã bảo: “Cõi Ta Bà phiền não cang cường, chánh tín khó vững, không thường được gặp Phật nghe pháp, đường tu nhiều hiểm nạn chướng duyên. Nên biết Đức Như Lai có phương tiện thù thắng, dạy cầu sanh về cõi Tịnh Độ ở Tây Phương. Như trong khế kinh nói 'nếu chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, đem công đức tu hồi hướng cầu sanh Tây Phương, thì sẽ được về thế giới Cực Lạc, thường thấy Phật nghe pháp, không còn thối chuyển. Nếu hành giả y theo đường lối tu nầy, quyết định sẽ được vào chánh định tụ.”—In the Awakening of Faith, after summarizing the essential points of Mahayana doctrine and explaining the path of cultivation, the Patriarch Asvaghosha added: “Next, suppose there is a man who learn this teaching for the first time and wishes to seek the correct faith but lacks courage and strength. Because he lives in this world of suffering, he fears that he will not always be able to meet the Buddhas and honor them personally, and that faith being difficult to perfect, he will be inclined to fall back. He should know that the Tathagathas have an excellent expedient means by which they can protect his faith: that is, through the strength of wholehearted meditation-recitation on Amitabha Buddha, he will in fulfillment of his wishes be able to be born in the Buddha-land beyond, to see the Buddha always, and to be forever separated from the evil states of existence. It is as the sutra says, 'if a man meditates wholly on Amitabha Buddha in the world of the Western Paradise and wishes to be born in that world, directing all the goodness he has cultivated toward that goal, then he will be born there.' Because he will see the Buddha at all times, he will never fall back. If a cultivator follows this path, he will be able to be born there in the end because he abides in the correct samadhi.”
tam chủng nhân
Three kinds of people—See Nhị Chủng Nhân.
tam chủng nhân nan báo
647據大毘婆沙論卷六十六載,有三種人令有情眾生獲大利益,縱然盡形壽以各種上妙衣服、飲食、臥具、醫藥及餘資緣供養之,亦難以報其恩。此三種人即:(一)令出家者,若有人為其說法,勸令出家,剃髮染衣,以正信心受持淨戒,乃至成就菩提,其恩難報。(二)令知集法者,眾生積集煩惱惑業,招集生死之苦,若有人為其說法,令知煩惱過患而滅除之,其恩難報。(三)令得漏盡者,若有人為其說法,令如法而修,破除煩惱,出離生死之苦,而證真空涅槃之樂,其恩難報。
; (三種人難報) Ba hạng người khó báo đền ân đức. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 66 thì có 3 hạng người mà ân đức của họ đối với hữu tình rất khó báo đền. Đó là: 1. Người khuyên mình xuất gia: Nếu có người nói pháp cho mình nghe, khuyên mình xuất gia, cạo tóc nhuộm áo, đem tâm chính tín thụ trì tịnh giới, cho đến thành tựu bồ đề, thì ân đức của người ấy rất khó báo đền. 2. Người giúp mình biết rõ họa phiền não: Chúng sinh tích chứa phiền não hoặc nghiệp, chuốc lấy các khổ sinh tử; nếu có người nói pháp cho mình nghe, khiến mình thấy rõ sự tai hại của phiền não mà diệt trừ, thì ân đức của người ấy rất khó báo đền.3. Người giúp mình được lậu tận: Nếu có người nói pháp cho mình nghe, chỉ dạy mình tu hành đúng như pháp, phá trừ phiền não, thoát khỏi khổ sinh tử, chứng được niềm vui của Niết bàn chân không, thì ân đức người ấy rất khó báo đền.
tam chủng nhẫn hành
652據諸經要集卷十載,菩薩修行時,有身、口、意三種忍行,即:(一)身忍行,菩薩修行時,捨身、命、財,無有吝惜,雖被割截身體而能忍受,稱為身忍行。(二)口忍行,菩薩修行時,雖被人輕嫌打罵,聞已能忍,不起鬥爭,稱為口忍行。(三)意忍行,菩薩修行時,雖被人毀訾辱罵、瞋恚呵責,聞已能忍,不起忿恨之心,稱為意忍行。
; Three kinds of patience or forbearance—See Tam nhẫn.
; (三種忍行) Ba thứ hạnh nhẫn chịu. Cứ theo Chư kinh yếu tập quyển 10 thì Bồ tát tu hành có 3 hạnh nhẫn của thân, khẩu, ý: 1. Thân nhẫn hạnh: Khi tu hành, Bồ tát xả bỏ thân mệnh, tài sản không hề sẻn tiếc, cho đến dù có bị chém đứt thân thể cũng vẫn chịu đựng được. 2. Khẩu nhẫn hạnh: Khi tu hành, Bồ tát dẫu có bị khinh khi, đánh mắng, cũng vẫn nhẫn chịu, không phân trần tranh cãi. 3. Ý nhẫn hạnh: Khi tu hành, dù Bồ tát bị người hủy báng nhục mạ, nổi nóng mắng chửi, cũng vẫn nhẫn chịu như không nghe thấy gì, không sinh tâm oán giận...
Tam chủng phiền não
三種煩惱; C: sānzhǒng fánnăo; J: sanshu bonnō;|Ba loại phiền não: 1. Những phiền não xảy ra trên Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道), và những phiền não không xuất sinh trên hai con đường trên (theo Nhị chướng nghĩa 二障義). 2. Lục căn (六根), Lục cảnh (六境) và Lục thức (六識).
tam chủng phiền não
xem ba loại phiền não.
tam chủng pháp hoa
653指根本、隱密及顯說三種,乃日本天台宗之說。日僧最澄在守護國界章卷上指出,一切佛教盡攝於法華經所說之一乘教中,故一切教說皆屬法華之教,法華一乘之外別無教法。即:(一)根本法華,指華嚴經;該經是佛之自內證,為佛尚未說出之法華。(二)隱密法華,指阿含、方等、般若時等諸經;此等諸經乃為根機較低者廣開方便之三乘說,然其中之義理教說亦隱含一乘法。(三)顯說法華,指法華經;該經明白地說出唯一之佛乘。 復次,在口傳法門方面,有惠思及惠威立別種之三種法華。此外,又立有四種、五種、七種法華等說。此說與密教結合,則顯示胎藏界與金剛界兩部不二,或謂印與種子不一不異。
; (三種法華) Ba loại Pháp hoa. Chỉ cho Căn bản, Ẩn mật và Hiển thuyết Pháp hoa, đây là chủ trương của tông Thiên thai Nhật bản. 1. Căn bản Pháp hoa: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này là pháp tự nội chứng của đức Phật, thuộc về Pháp hoa mà Phật vẫn chưa nói ra. 2. Ẩn mật Pháp hoa: Chỉ cho các kinh ở thời A hàm, Phương đẳng, Bát nhã. Các kinh này thuộc về Tam thừa mà đức Phật phương tiện nói rộng cho các căn cơ thấp kém hơn, nhưng nghĩa lí giáo thuyết trong đó cũng có ẩn chứa pháp Nhất thừa. 3. Hiển thuyết Pháp hoa: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Kinh này nói rõ Phật thừa duy nhất. Về phương diện Pháp hoa khẩu truyền thì có Tam chủng Pháp hoa do ngài Tuệ tư và Tuệ uy lập riêng. Ngoài ra còn có các thuyết lập Tứ chủng Pháp hoa, Ngũ chủng Pháp hoa, Thất chủng Pháp hoa... Thuyết này kết hợp với Mật giáo thì nói rõ 2 bộ Thai tạng giới và Kim cương giới là chẳng phải hai, hoặc nói ấn và chủng tử là chẳng phải một cũng chẳng phải khác.
tam chủng pháp thân
653<一>鳩摩羅什所立之三種法身,即:(一)法化生身,由法性化現之化身佛,即金剛身。(二)五分法易,即戒、定等之五分功德。(三)實相法身,即空性之諸法實相。〔注維摩經卷三〕 <二>天台宗所立之三種法身,即:(一)但空法身,乃小乘之法身。(二)即假法身,為大乘別教之法身,乃滅無常色而獲常等,樂、我、淨等三亦復如是。(三)即中法身,為大乘圓教之法身,謂如來法身非常非無常,樂、我、淨等亦復如是。〔天台仁王經疏卷二〕 <三>指理法身、智法身、理智無礙法身。
; Three kinds of dharmakaya—See Tam Pháp Thân.
; (三種法身) I. Tam Chủng Pháp Thân. Ba loại Pháp thân do ngài Cưu ma la thập thành lập. 1. Pháp hóa sinh thân: Hóa thân Phật do pháp tính hóa hiện, tức thân Kim cương. 2. Ngũ phần pháp thân: Tức 5 phần công đức giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát, tri kiến. 3. Thực tướng pháp thân: Tức thực tướng của các pháp tính không. [X. Chú Duy ma kinh Q.3]. II. Tam Chủng Pháp Thân. Ba loại Pháp thân do tông Thiên thai thành lập. 1. Đãn không pháp thân: Pháp thân của Tiểu thừa. 2. Tức giả pháp thân: Pháp thân của Đại thừa Biệt giáo, là diệt sắc vô thường mà đạt được Thường; 3 pháp còn lại là Lạc, Ngã, Tịnh cũng như thế. 3. Tức trung pháp thân: Pháp thân của Đại thừa Viên giáo. Nghĩa là pháp thân của Như lai chẳng phải thường chẳng phải vô thường, 3 pháp Lạc, Ngã, Tịnh, cũng thế.[X. Thiên thai nhân vương kinh sớ Q.2].III. Tam Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Lí pháp thân, Trí pháp thân và Lí trí vô ngại pháp thân.
tam chủng phát tâm
〖出起信論〗〔一、信成就發心〕,謂十信行滿,信心成就,入十住位中,初發心住,故名信成就發心。(十信者,信心、念心、精進心、慧心、定心、不退心、護法心、回向心、戒心、願心也。十住者,發心住、治地住、修行住、生貴住、方便具足住、正心住、不退住、童真住、法王子住、灌頂住也。)〔二、解行發心〕,解即解了,行即修行。謂十行位中能解法性本空,順修六度之行,發回向心,入十回向,故名解行發心。(十行者,歡喜行、饒益行、無瞋恨行、無盡行、離癡亂行、善現行、無著行、尊重行、善法行、真實行也。六度者,一布施、二持戒、三忍辱、四精進、五禪定、六智慧也。十回向者,救一切眾生離眾生相回向、不壞回向、等一切佛回向、至一切處回向、無盡功德藏回向、隨順平等善根回向、隨順等觀一切眾生回向、真如相回向、無礙解脫回向、法界無量回向也。)〔三、證發心〕,證即證入,謂入初地乃至第十地。而此證者,無有境界;惟真如智,名為法身,法身顯發,故名證發心。
; 659<一>指菩薩在修行道位中所發之三種菩提心,即:(一)信成就發心,謂十信行滿,信心成就,入十住位中初發心住。(二)解行發心,解即解了,行即修行。謂十行位中能解法性本空,順修六度之行,發迴向心,入十迴向。(三)證發心,證即證入。謂入初地乃至第十地,而此證者無有境界,惟真如智,稱為法身,法身顯發,故稱證發心。〔十地經論卷二、大乘義章卷九〕 <二>發菩提心文所立,菩薩所發之心有大悲心、大智心、大願心等三類。(一)大悲心,菩薩既悟自 艄輓L生滅,遂悲六道枉受沈淪,己雖未證菩提,然願眾生解脫,於是廣發同體大悲,盡未來行四攝法,攝彼眾生,皆令歸真,同成佛道。(二)大智心,菩薩既興大智,誓度群品,品類既多,根器不一,即須廣事諸佛,廣學妙法,一一證入,轉化眾生,遂興廣大悲智。(三)大願心,心唯本淨,久翳塵勞,習性難頓銷除,法器須資磨寶,自慮輪迴諸趣,不遇佛法勝緣,故發大願備修萬行,行願相資,猶如車翼運行不退,直至菩提。 <三>觀無量壽佛經謂,若有眾生願生彼國者,當發三種心即得往生。即:(一)至誠心,謂此土眾生欲生彼國者,當發專至誠實之心,正念真如,求願往生。(二)深心,謂欲求無上佛果者,必須心契深理,厚種善根,如深根難拔。(三)發願心,謂以真如實心、趣果善心,以此二心功德,善巧回向,發願求生淨土,速證法忍,廣拔一切眾生苦惱。(參閱「三心」532)
; (三種發心) I. Tam Chủng Pháp Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm bồ đề mà Bồ tát phát khởi ở giai vị tu đạo, đó là: 1. Tín thành tựu phát tâm: Hạnh Thập tín viên mãn, tín tâm đã thành tựu, tiến vào Sơ phát tâm trụ trong giai vị Thập trụ.2. Giải hành phát tâm: Giải là hiểu rõ, Hành là tu hành. Nghĩa là trong giai vị Thập hành hiểu được pháp tính vốn không, tu hành 6 độ, phát tâm hồi hướng, tiến vào giai vị Thập hồi hướng. 3. Chứng phát tâm: Chứng là chứng nhập. Nghĩa là nhập Sơ địa cho đến Thập địa. Sự chứng nhập này không có cảnh giới, chỉ là trí Chân như, gọi là Pháp thân; pháp thân hiển phát nên gọi là Chứng phát tâm. [X. Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. II. Tam Chủng Phát Tâm. Ba thứ tâm bồ đề do Bồ tát phát khởi trong Bồ đề tâm văn. Đó là: 1. Đại bi tâm: Bồ tát đã liễu ngộ tự tâm vốn không sinh diệt nên thương xót chúng sinh uổng chịu trầm luân trong 6 đường, tuy mình chưa chứng bồ đề nhưng nguyện cho chúng sinh giải thoát. Do đó, phát tâm đại bi đồng thể rộng lớn, thực hành Tứ nhiếp pháp suốt đời vị lai, nhiếp thụ các chúng sinh ấy, khiến về nguồn chân, cùng thành Phật đạo. 2. Đại trí tâm: Bồ tát đã khởi phát đại trí, thệ độ chúng sinh, phẩm loại rất nhiều, căn khí khác nhau, nên phải phụng sự hết thảy chư Phật, học rộng diệu pháp, mỗi mỗi chứng nhập, chuyển hóa chúng sinh, phát trí đại bi rộng lớn. 3. Đại nguyện tâm: Tâm vốn thanh tịnh, nhưng bị trần lao che lấp lâu ngày nên tập khí khó có thể tiêu trừ ngay được, sợ bị luân hồi trong các đường ác, không gặp được thắng duyên Phật pháp, nên phát đại nguyện tu đủ muôn hạnh, hạnh và nguyện trợ giúp lẫn nhau, giống như chiếc xe vận chuyển không ngừng, thẳng đến bồ đề. III. Tam Chủng Phát Tâm. Chỉ cho 3 thứ phát tâm cầu vãng sinh nói trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật, đó là: 1. Chí thành tâm: Chúng sinh ở thế giới Sa bà này muốn sinh về cõi nước của đức Phật kia thì nên phát tâm chuyên chí thành thực, chính niệm chân như, cầu nguyện vãng sinh. 2. Thâm tâm: Người muốn cầu quả Phật vô thượng thì tâm cần phải khế hợp thâm lí, trồng chắc căn lành, như gốc sâu khó trốc. 3. Phát nguyện tâm: Khéo hồi hướng công đức của thực tâm Chân như và thiện tâm Thú quả, phát nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ, mau chứng pháp nhẫn, diệt trừ tất cả khổ não cho chúng sinh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ Phật]. (xt. Tam Tâm).
tam chủng phương ngôn
648為三論宗解釋「八不中道」所用之三種言教。即因應受教者所緣之方域,由能化之聖者所設之三種言教。此係隋代吉藏之師興皇法朗所立。據大乘玄論卷一載,(一)第一種方言,謂非生、非不生為中道,生而不生為假名。假之生難以稱為生或不生,故稱俗諦中道;假之不生,難以稱為不生或非不生,故稱真諦中道;俗諦之生滅並非生滅,為無生滅之生滅,真諦之生滅,並非無生滅,為生滅之無生滅,故非生滅,非無生滅,為二諦合明中道。此三種中道之說明法,係「徹底破除對方所執著之立場,以顯出中道」之奪破門。 (二)第二種方言,謂無生滅之生滅為俗諦中道;生滅之無生滅為真諦中道;非生滅,非無生滅為二諦合明中道。此種說明法,係「權且承認對方之立場,而指摘其矛盾之為假執,徹底破其執病,以顯出中道」之縱破門。 (三)第三種方言,謂俗諦為假生即不生,假滅即不滅,此種不生不滅為俗諦中道;非不生,非不滅為真諦中道;非生滅,非不生滅為二諦合明中道。其說明法係「直接顯示真實道理,徹底破除對方執病,以顯出中道」之平等門。 關於方言之語義,玄叡之大乘三論大義鈔卷二謂,方者,即方域;域者,即所緣之域。眾生所緣之域,即方域。所謂言,即言教,指能化隨緣之教。總之,隨方之言,故謂方言,亦即隨著所化之根機,由能化之聖者所設之言教。〔中觀論疏卷一本、大乘正觀略私記、三論玄疏文義要卷三、大乘玄問答卷一、十住心論卷七〕
; (三種方言) Ba thứ ngôn giáo dùng để giải thích Bát bất trung đạo do ngài Hưng hoàng Pháp lãng thuộc tông Tam luận đời Tùy lập ra. Cứ theo Đại thừa huyền luận quyển 1 thì 3 loại phương ngôn ấy là: 1. Loại phương ngôn thứ nhất: Chẳng phải sinh, chẳng phải chẳng sinh là trung đạo, sinh mà chẳng sinh là giả danh. Đã là sinh giả thì khó gọi được là sinh hay chẳng sinh, cho nên gọi là Tục đế trung đạo. Mà chẳng sinh giả thì cũng khó gọi được là chẳng sinh hay chẳng phải chẳng sinh, cho nên gọi là Chân đế trung đạo. Sinh diệt của Tục đế đều chẳng phải là sinh diệt, là sinh diệt của vô sinh diệt, sinh diệt của Chân đế đều chẳng phải là vô sinh diệt, là vô sinh diệt của sinh diệt, cho nên chẳng phải là sinh diệt, chẳng phải là vô sinh diệt, là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh 3 thứ Trung đạo này là Đoạt phá môn triệt để phá trừ lập trường mà đối phương chấp trước để nêu tỏ trung đạo. 2. Loại phương ngôn thứ hai: Sinh diệt của vô sinh diệt là Tục đế trung đạo, vô sinh diệt của sinh diệt là Chân đế trung đạo; chẳng phải sinh diệt, chẳng phải vô sinh diệt là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh này là Tung phá môn tạm thời thừa nhận lập trường của đối phương để chỉ trích sự mâu thuẫn của họ là giả chấp, triệt để phá bệnh chấp của đối phương để nêu tỏ Trung đạo. 3. Loại phương ngôn thứ ba: Tục đế là giả sinh tức bất sinh, giả diệt tức bất diệt, loại bất sinh bất diệt này là Tục đế trung đạo; chẳng phải chẳng sinh, chẳng phải chẳng diệt là Chân đế trung đạo; chẳng phải sinh diệt, chẳng phải chẳng sinh diệt là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh này là Bình đẳng môn trực tiếp hiển bày đạo lí chân thực, triệt để phá trừ bệnh chấp của đối phương để nêu tỏ Trung đạo. Về ngữ nghĩa của từ ngữ phương ngôn, Đại thừa tam luận đại nghĩa sao quyển 2 của ngài Huyền duệ cho rằng: Phương là phương vực, là phương vực sở duyên của chúng sinh; Ngôn là ngôn giáo, là ngôn giáo tùy duyên của năng hóa. Tóm lại, ngôn ngữ của 1 địa phương gọi là Phương ngôn, cũng tức là ngôn giáo của bậc Thánh năng hóa là tùy theo căn cơ sở hóa mà được thiết lập. [X. Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Đại thừa chính quán lược tư kí; Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.3; Đại thừa huyền vấn đáp Q.1; luận Thập trụ tâm Q.7].
tam chủng phật tử
Có ba loại Phật tử—There are three kinds of Buddhist followers: 1) Ngoại Tử: Người chưa tin đạo—External sons, who have not yet believed. 2) Thứ Tử: Người theo Tiểu Thừa—Secondary sons, or Hinayanists. 3) Chân Tử: Người theo Đại Thừa—True sons, or Mahayanists.
tam chủng quang minh
650據瑜伽師地論卷十一載,光明有三,即:(一)外光明,指日、月、星光及火珠、燈炬等光,此等光明能破除昏暗,故稱外光明。(二)法光明,指隨所聞之法,觀察修習,明心見性而顯現之光明,此等光明能破除愚癡之暗,顯發本覺妙明,故稱法光明。(三)身光明,指諸佛、菩薩、二乘及諸天等之身所顯現之光,此等光明亦能破除黑暗,稱為身光明。
; The three kinds of lights: (a) external -sun, moon, stars, lamps, etc.; (b) dharma, or the light of right teaching and conduct; (c) the effulgence or bodily halo emitted by Buddha, bodhisattva, deva.
; Ba loại ánh sáng—Three kinds of light: 1) Ngoại quang: External light (sun, moon, stars, lamps, etc). 2) Pháp quang: Dharma light or light of right teaching and conduct. 3) Phật quang: The effulgence or bodily halo emitted by Buddhas, Bodhisattvas and devas,
; (三種光明) Ba thứ ánh sáng được nói trong luận Du già sư địa quyển 11, đó là: 1. Ánh sáng bên ngoài: Chỉ cho ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao, hỏa châu, đèn đuốc... Các thứ ánh sáng này có khả năng xua tan bóng tối, vì thế gọi là Ánh sáng bên ngoài. 2. Ánh sáng của pháp: Chỉ cho ánh sáng do nghe pháp rồi quán sát tu tập mà hiển hiện, làm cho tâm sáng và thấy rõ tính. Loại ánh sáng này có công năng phá trừ bóng tối của sự ngu si, hiển phát bản giác diệu minh, vì thế gọi là Ánh sáng của pháp. 3. Ánh sáng trên thân: Chỉ cho ánh sáng hiển hiện trên thân của chư Phật, Bồ tát, Nhị thừa và chư thiên... Loại ánh sáng này cũng có công năng phá trừ bóng tối, nên gọi là Ánh sáng trên thân.
tam chủng quán đảnh
Ba loại quán đảnh—Three kinds of baptism—Every Buddha baptizes a disciple by either one of the below three kinds: (A) Theo truyền thống Đại Thừa—Mahayana Tradition: 1) Ma đảnh quán đảnh: Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head. 2) Thọ ký quán đảnh: Buddhas baptizes a disciple by predicting Buddhahood to him. 3) Phóng quang quán đảnh: Buddhas baptizes a disciple by revealing his glory to him to his profit. (B) Theo truyền thống Mật Giáo—Tantric Tradition: 1) Sái Thủy Quán Đảnh: To sprinkle the head with water. 2) See (A) (2). 3) See (A) (3).
tam chủng quán đỉnh
The threekinds of baptism: (1) (a) Ma đỉnh quán đỉnh every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head; (b) thụ ký by predicting Buddhahood to him; (c) phóng quang by revealing his glory to him to his profit. (2) Shingon Chân ngôn tông has (a) baptism on acquiring the mystic word; (b) on remission of sin and prayer for blessing and protection; (c) on seeking for reward in the next life.
tam chủng quỷ thần ma
656據釋禪波羅蜜次第法門卷四載,魔能現諸形相,惱亂修行,障蔽禪定;行者若不善分別以祛除之,則使魔得其便,而致身心恐怖,有妨精進。(一)精媚鬼,此鬼由精靈變化而厭媚於人,以十二時中子鼠丑牛等獸為種種相,或作少男、少女、老宿之形及可畏等相惱亂行人,各當其時而來。若多卯時來者,必是狐兔之類,說其名字,精媚即散。餘時來者,類此可知,呼其名字,即皆消滅。 (二)埠惕鬼,埠惕即惡夜叉。據摩訶止觀載,拘那含佛末法之時,有一比丘,好惱亂眾僧,為眾擯出,遂發惡誓,常惱坐禪之人。此鬼亦作種種形貌,或如蟲類緣人頭面鑽刺之狀,或抱持於人,或復言說,音聲喧鬧,及作諸獸之形來惱行人。行者應即覺知,且暗中呵罵彼鬼(大四六‧五○七上):「我今識汝,汝是此閻浮提中,食火嗅香偷臘吉支,邪見喜破戒種。我今持戒,終不畏汝。」兼誦戒律以除卻之,彼鬼即便退去,無能惱亂。 (三)魔羅鬼。魔羅,梵語 māra,意為能奪命。此鬼能奪行人智慧之命,多作三種形相,惱亂行人,即顯現醜色、惡聲等可畏五塵及虎、狼、獅子、羅剎等違情之相,或現美色、嬌聲等可愛五塵及父母等順情之相,或現尋常所見五塵等非違非順之相。以上三相,或令怖畏,或令愛著,皆能動亂行人之心,使禪定不得顯發。
; (三種鬼神魔) Chỉ cho 3 loại quỉ nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4: 1. Tinh mị quỉ: Quỉ này do yêu tinh biến hóa để mê hoặc người, hiện hình những con thú như chuột, trâu... trong 12 giờ, hoặc hình thiếu niên, thiếu nữ, ông già, hoặc các hình tướng dễ sợ để não loạn người tu hành. Mỗi con thú sẽ đến vào đúng giờ của nó. Nếu nó thường đến vào giờ mão thì chắc chắn đó là loài chồn, thỏ, hễ nói đúng tên của chúng thì tinh mị liền tan. Nếu chúng đến vào các giờ khác thì cứ suy đây mà biết, gọi đúng tên chúng thì đều tiêu diệt. 2. Phụ dịch quỉ: Phụ dịch tức là ác dạ xoa. Cứ theo Ma ha chỉ quán thì vào thời mạt pháp của đức Phật Câu na hàm, có 1 tỉ khưu thích não loạn chúng tăng, bị đuổi ra khỏi tinh xá, bèn phát lời thề ác độc là thường não loạn người tọa thiền. Loài quỉ này cũng biến ra nhiều hình tướng như loài sâu bọ bám vào đầu và mặt người mà châm chích, hoặc ôm chặt lấy người, hoặc nói năng ồn ào và biến làm hình các con thú để não loạn người tu hành. Hành giả phải hay biết ngay lúc đó và trong bóng tối quở mắng loài quỉ kia (Đại 46, 507 thượng): Ta hiện giờ biết ngươi rồi, ngươi ở trong cõi Diêm phù đề này ăn lửa và ngửi trộm hương lạp cát chi. Ngươi là loại tà kiến thích phá giới. Ta nay giữ giới, quyết không sợ ngươi, rồi tụng giới luật để trừ khử nó, quỉ kia liền rút lui, không não loạn được. 3. Ma la quỉ (Ma la, Phạm:Màra, nghĩa là hay cướp mệnh sống): Quỉ này thường cướp mệnh sống trí tuệ của người tu hành, thường biến ra 3 loại hình tướng để não loạn người tu hành, tức hiện ra 5 trần cảnh đáng sợ như màu sắc trông xấu xí, hôi thối, âm thanh nghe rùng rợn, chối tai... và các hình tướng trái ý như là hổ(cọp), chó sói, sư tử... hoặc hiện ra 5 trần cảnh khả ái như sắc đẹp, tiếng hay và các hình tướng thuận tình như cha, mẹ... hoặc hiện ra 5 trần cảnh tầm thường vẫn thấy và các hình tướng chẳng trái chẳng thuận... Ba loại hình trên đây hoặc làm sợ hãi, hoặc khiến ưa thích, đều có thể làm cho tâm người tu hành động loạn, thiền định không hiển phát được.
tam chủng sa di
Ba loại Sa Di dựa theo tuổi tác—Three kinds of Sramanera which are recognized according to age: 1) Khu Ô Sa Di: Sa Di đuổi quạ, tuổi từ 7 đến 13 (đủ khả năng đuổi quạ)—“Drive away crows” Sramanera, age from 7 to 13, old enough to drive away crows. 2) Ứng Pháp Sa Di: Sa Di Ứng Pháp, tuổi từ 14 đến 19, đủ khả năng thực hành theo Phật pháp—One who is able to respond to or follow the doctrine, age from 14 to 19. 3) Sa Di: Tuổi từ 20 đến 70—Sramanera, age from 20 to 70.
tam chủng sanh thân
(三種生身) Ba thứ thân do học phái Số luận thành lập.1. Vi tế thân(gọi tắt: Tế thân): Chỉ cho thân mới sinh, tức là thân trung ấm. Thân vi tế này sinh vào trong thai, nhờ tinh huyết của cha mẹ hòa hợp mà được tăng trưởng. Vì sự sai biệt vi tế của nó có khả năng sinh ra thân đầu tiên, nên gọi là thân Thường trụ. Ngay khi thô thân chết đi thì tế thân nếu tương ứng với thiện trong các pháp hữu lậu thì theo thứ tự thụ sinh trong các cõi: Phạm, Trời, Thế chủ, người...; nếu tương ứng với ác trong các pháp hữu lậu thì thụ sinh vào đường súc sinh như các loài 4 chân(bò, ngựa, chó, dê...), có cánh (chim), bò sát(rồng, rắn...), đi ngang(cua...). Vì thân vi tế thường trụ chưa sinh trí chán lìa nên luân chuyển trong 8 nơi; nếu sinh khởi trí chán lìa thì bỏ thân vi tế này mà được giải thoát. 2. Phụ mẫu sinh thân: Chỉ cho Tế thân vào trong thai mẹ dần dần đầy đủ tướng mạo con người. Thân này và Cộng hòa hợp thân đều thuộc thô thân. Thô thân nương vào máu, thịt, gân của mẹ và móng, lông, xương của cha mà sinh. Đây là Lục y thân (thân nương vào 6 thứ trên)giúp ích cho Tế thân ở trong. 3. Cộng hòa hợp thân(cũng gọi Đại dị thân): Thân sinh ra từ Phụ mẫu sinh thân trong thai và lấy 5 đại (đất, nước, lửa, gió, không)bên ngoài làm chỗ nương ở. Thân này và Phụ mẫu sinh thân đều có sinh diệt, cho nên không phải thân thường trụ. [X. luận Kim thất thập Q.trung; luận Đại trí độ Q.12].
tam chủng sinh
The three sources, or causes of the rise of the passions and illusions: (a) Tưởng sinh the mind, or active thought; (b) tướng sinh the objective world; (c) lưu chú sinh their constant interaction, or the continuous stream of latent predispositions.
tam chủng sinh thân
649指人類身體具有之三位。係數論學派所立。即:(一)微細身,略稱細身。指初生之身,即佛教所指之中陰身。此微細身生入胎中,由父母之赤白和合而增益其身。以其微細差別能生初身,故為常住之身。當粗身退沒時,細身若與有漏法中之善相應,則順次受生於梵、天、世主、人道等趣;若與有漏法中之惡相應,則受生於四足(如牛馬犬羊)、有翅(鳥類)、胸行(龍蛇)、傍形(蟹)等畜生道。因常住之細身未生智厭,故輪轉八處;若智厭生起,則離此細身而得解脫。(二)父母生身,指細身入胎內,漸具人貌之胎內身。與共和合身皆屬粗身。粗身依血、肉、筋、爪、毛、骨而生,前三種從母生,後三種從父生。此即六依身,資益內細身。(三)共和合身,又稱大異身。即從父母生身之胎內出,而以外五大(地、水、火、風、空)為其住處之身。與父母生身皆有生滅,會退沒,故非常住之身。〔金七十論卷中、大智度論卷十二〕
tam chủng sinh ái dục
Ba nguồn gốc gây nên dục vọng và ảo tưởng—Three sources or causes of the rise of the passions and illusions: 1) Tưởng sinh: The mind or active thought. 2) Tướng sinh: The objective world. 3) Lưu chú sinh: Constant interaction, or the continuous stream of latent predispositions.
tam chủng sám hối pháp
Three modes of repentance: (a) vô sinh sám to meditate on the way to prevent wrong thoughts and delusions; (b) thủ tướng sám to seek the presence of the Buddha to rid one of sinful thoughts and passions; (c) tác pháp sám in proper form to confess one's breech of the rules before the Buddha and seek remission.
; Ba loại sám hối—Three modes of repentance: 1) Vô sinh sám hối: To meditate on the way to prevent wrong thoughts and delusions—See Vô Sanh Hối. 2) Thủ tướng sám hối: To seek the presence of the Buddha to rid one of sinful thoughts and passions—See Thủ Tướng Sám. 3) Tác pháp sám: In proper form to confess one's breach of the rules before the Buddha and seek remission—See Tác Pháp Sám.
tam chủng sắc
Three kinds of rùpa, i.e. appearance or object: (1) (a) visible objects; (b) invisible objects, e.g. sound; (c) invisible, immaterial, or abstract objects. (2) (a) colour; (b) shape; (c) quality.
; Ba loại sắc—Three kinds of rupa (appearance or object): (A) 1) Hiện sắc: Visible objects (body, face). 2) Ẩn sắc: Invisible objects (sound, voice). 3) Trừu tượng sắc: Immaterial or abstract objects. (B) 1) Sắc: Color. 2) Tướng (hình thể): Shape. 3) Phẩm chất: Quality.
tam chủng sở sanh khổ
xem ba loại khổ.
tam chủng tam muội
The three meditations on the relationship of the noumenal and phenomenal of the Hoa Nghiêm tông: (a) lý pháp giới the universe as law or mind, that all things are chân như, i.e. all things or phenomena are of the same Buddha-nature, or the Absolute; (b) lý sự vô ngại pháp giới that the Buddha-nature and the thing, or the Absolute and phenomena are not mutually exclusive; (c) sự sự vô ngại pháp giới that phenomena are not mutually exclusive, but in a common harmony as part of the whole.
tam chủng tam quán
The three types of meditation on the principles of tam đề, i.e. không, giả, trung.
tam chủng tam thế
See Tam Thế.
tam chủng thanh tịnh
657指心、身、相之三種清淨。乃大智度論卷四十三釋集散品所立修般若之菩薩所具有者,即:(一)心清淨,不生染心、瞋心、憍慢心、慳貪心、邪見心。(二)身清淨,心得清淨,故不再受後身,常得化生。(三)相清淨,心身既皆清淨,則能具足相好莊嚴之身。
; The three purities of a bodhisattva: (a) Tâm thanh tịnh a mind free from all impurity; (b) thân thanh tịnh a body pure because never to be reborn save by transformation; (c) tướng thanh tịnh an apparence perfectly pure and adorned.
; Ba loại thanh tịnh của Bồ Tát—Three purities of a bodhisattva—See Tam Thanh Tịnh.
; (三種清淨) Ba thứ thanh tịnh mà Bồ tát phải có đầy đủ được nói trong luận Đại trí độ quyển 43. Đó là: 1. Tâm thanh tịnh: Không sinh tâm nhiễm ô, tâm sân hận, tâm kiêu mạn, tâm keo tham, và tâm tà kiến. 2. Thân thanh tịnh: Tâm thanh tịnh nên không còn phải chịu thân đời sau, thường được hóa sinh. 3. Tướng thanh tịnh: Tâm và thân đều đã thanh tịnh, thì được thân có đầy đủ tướng hảo trang nghiêm.
tam chủng thiên
Three definitions of heaven: (a) as a name, o oname, or title, e.g. divine king, son of Heaven, etc.; (b) as a place for rebirth, the heavens of the gods; (c) the pure Buddha-land.
; Ba loại trời—Thre kinds of heaven: (A) 1) Tự thiên: Heaven by name or title (divine king, son of king, etc). 2) Tái sanh thiên: Heaven as a place of rebirth (the heavens of the gods). 3) Tịnh Phật thiên: Cung trời nơi chư Phật đồng cư—The pure Buddha-land. (B) 1) Danh Thiên: Thiên vương hay thiên tử, vua trong loài người—Famous rulers on earth 2) Sanh Thiên: Thiên thú trong lục thú (từ vương thiên đến phi tưởng thiên)—The highest incarantions of the six paths. 3) Tịnh Thiên: Cõi của các bậc Thánh giả từ Thanh Văn đến Duyên Giác, đã diệt trừ hết phiền não cấu chướng—The pure or the saints, from Sravakas to Pratyeka-buddhas.
tam chủng thiền
662指三種禪定,即:(一)世間禪,乃色界、無色界之禪定,有二種:(1)根本味禪,有四禪、四無量、四空等三品,合稱十二門禪。厭離欲界之散亂者修四禪,欲求大福者修四無量,厭色籠者修四空。(2)根本淨禪,逢佛之出世,聞佛之說法,則得依之而直發無漏智,故稱淨禪。亦有六妙門、十六特勝、通明禪三品,分別為慧性多者、定性多者、定慧均等者所修。(二)出世禪,有觀、練、薰、修四種:(1)觀禪,觀為觀照之義。明觀燭照不淨等之境,故稱為觀。有九想、八背捨、八勝處、十一切處四種。(2)練禪,練為鍛練之義,即九次第定,此禪由淺至深,順序鍛練四禪滅盡定,不雜異念,以無漏鍛練有漏,通達八地。(3)薰禪,薰為薰熟自在之義,如獅子奮迅三昧,能除異念之間雜,其順逆進退皆得隨意自在。(4)修禪,超越三昧,修治前定,使之精妙,可超越出入自在。(三)出世間上上禪,即地持經卷五所說之九種大禪:(1)自性禪,修觀心之實相,不外求。(2)一切禪,能得自行化他一切功德。(3)難禪,為深妙難修之禪。(4)一切門禪,一切禪定皆由此門而出。(5)善人禪,大善根之眾生所共修。(6)一切行禪,含攝大乘之一切行法。(7)除惱禪,除滅眾生之苦惱。(8)此世他世樂禪,令眾生悉得二世之樂。(9)清淨淨禪,惑業斷盡,得大菩提之淨報。〔俱舍論卷十八、法華玄義卷四之一、釋禪波羅蜜次第法門卷一上〕
; (三種禪) Ba thứ thiền định. 1. Thế gian thiền: Chỉ cho thiền định cõi Sắc và cõi Vô sắc. Có 2 thứ: a) Căn bản vị thiền, có 3 phẩm: Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ thông, gọi chung là Thập nhị môn thiền. Người chán ngán sự tán loạn ở cõi Dục thì tu Tứ thiền; người muốn cầu phúc lớn thì tu Tứ vô lượng, còn người chán sự bó buộc ở cõi Sắc thì tu Tứ không. b) Căn bản tịnh thiền: Gặp Phật ra đời, nghe Phật thuyết pháp, nhờ đó mà phát ngay được trí vô lậu, cho nên gọi là Tịnh thiền. Cũng có 3 phẩm: Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng và Thông minh thiền, theo thứ tự là pháp tu của người nhiều tuệ tính, người nhiều định tính và người định tuệ bằng nhau. 2. Xuất thế thiền: Có 4 loại: Quán, Luyện, Huân, Tu. a) Quán thiền: Quán là quán chiếu rõ ràng các cảnh bất tịnh nên gọi là Quán. Có 4 thứ: Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ và Thập nhất thiết xứ. b) Luyện thiền: Luyện là rèn luyện, tức chỉ cho Cửu thứ đệ định; định này từ cạn đến sâu, theo thứ tự rèn luyện Tứ thiền đến Diệt tận định, không xen lẫn các niệm khác, dùng vô lậu rèn luyện hữu lậu, thông suốt Bát địa. c) Huân thiền: Huân là huân tập thuần thục, như tam muội Sư tử phấn tấn có công năng diệt trừ sự xen tạp các niệm khác, thuận nghịch tiến thoái đều tùy ý tự tại. d) Tu thiền: Loại thiền định siêu việt, tu các định trước làm cho tinh diệu, có thể xuất nhập một cách tự tại. 3. Xuất thế gian thượng thượng thiền: Tức 9 thứ Đại thiền nói trong kinh Địa trì quyển 5. a) Tự tính thiền: Tu quán thực tướng của tâm, không tìm cầu bên ngoài. b) Nhất thiết thiền: Được tất cả công đức tự hành, hóa tha. c) Nan thiền: Thiền sâu xa, mầu nhiệm khó tu. d) Nhất thiết môn thiền: Tất cả thiền định đều từ môn này mà ra. e) Thiện nhân thiền: Thiền này các chúng sinh có thiện căn lớn đều cùng tu. f) Nhất thiết hành thiền: Bao nhiếp tất cả hành pháp của Đại thừa. g) Trừ não thiền: Trừ diệt khổ não của chúng sinh. h) Thử thế tha thế lạc thiền: Thiền khiến cho chúng sinh đều được niềm vui trong đời này và đời khác. i) Thanh tịnh tịnh thiền: Dứt hết hoặc nghiệp, được quả báo thanh tịnh đại bồ đề. [X. luận Câu xá Q.18; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, phần 1; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.1, thượng].
tam chủng thiện căn
The three kinds of good roots - almsgiving bố thí, mercy từ bi, and wisdom trí tuệ.
; Ba loại thiện căn—Three kinds of good roots: 1) Bố thí: Almsgiving. 2) Bi mẫn: Mercy. 3) Trí huệ: Wisdom.
tam chủng thiện thân
Ba điều thiện nơi thân—Three good deeds of the body: 1) Không sát sanh: Not to kill any living beings. 2) Không trộm cắp: Not to steal any properties of others. 3) Không tà dâm: Not to commit adultery.
tam chủng thiện tri thức
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, người đả thất chuyên tu (chuyên tu bảy ngày trong thất), phải có ba bậc thiện tri thức—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, in conducting a seven-day retreat, one can either practice alone, to attain purity more easily, or with many other cultivators. There are three types of good spiritual advisors: 1) Giáo Thọ Thiện Tri Thức: Teaching Spiritual Advisor—Giáo thọ thiện tri thức là vị thông hiểu Phật pháp và có kinh nghiệm về đường tu để thường chỉ dạy mình; hay mình đến để thỉnh giáo trước và sau khi kiết thất. Trong trường hợp nhiều người đồng đả thất, nên thỉnh vị giáo thọ nầy làm chủ thất, mỗi ngày đều khai thị nửa giờ hoặc mười lăm phút—This is someone conversant with the Dharma and experienced in cultivation. The retreat members can have him follow their progress, guiding them throughout the retreat, or they can simply seek guidance before and after the retreat. When several persons hold a retreat together, they should ask a spiritual advisor to lead the retreat and give a daily fifteen-to-thirty-minute inspirational talk. 2) Ngoại Hộ Thiện Tri Thức: Caretaking Spiritual Advisor—Đây là một hay nhiều vị ủng hộ bên ngoài, lo việc cơm nước, quét dọn, cho hành giả được yên vui tu tập. Thông thường, vị nầy thường được gọi là người hộ thất—This refers to one or several persons assisting with outside daily chores such as preparing meals or cleaning up, so that on retreat can cultivate peacefully without distraction. Such persons are called “Retreat assistant.” 3) Đồng Tu Thiện Tri Thức: Common Practice Spiritual Advisor—Đây là những người đồng tu một môn với mình, để nhìn ngó sách tấn lẫn nhau. Vị đồng tu nầy có thể là người đồng kiết thất chung tu, hoặc có một ngôi tịnh am tu ở gần bên mình. Ngoài sự trông nhìn sách tấn, vị đồng tu còn trao đổi ý kiến hoặc kinh nghiệm, để cùng nhau tiến bước trên đường đạo. Lời tục thường nói: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là ý nghĩa nầy—These are persons who practice the same method as the individual(s) on retreat. They keep an eye on one another, encouraging and urging each other on. These cultivators can either be participants in the same retreat or cultivators living nearby. In addition to keeping an eye out and urging the practitioners on, they can exchange ideas or experiences for the common good. This concept has been captured in a proverb: “Rice should be eaten with soup, practice should be conducted with friends.”
tam chủng thiện tâm
Ba điều thiện nơi tâm—Three good deeds of the mind: 1) Không tham lam: Not to be greedy. 2) Không sân hận: Not to be angry. 3) Không si mê tà kiến: Not to be ignorant with wrong views.
tam chủng thuỵ miên
661睡眠,使心闇昧之精神作用。依天親之遺教經論所立,睡眠之起有三種原因,即:(一)從食而起,(二)從時節而起,(三)從心而起。前二者是阿羅漢眠,可用精進對治之,如白晝則勤心修習善法,初夜、後夜亦不可廢,於中夜可誦經,毋以睡眠而令一生虛度。對治從心起之睡眠,其方法有二:(一)以思惟觀察對治,觀諸生滅壞五陰,念無常之火燒諸世間,求禪定智慧以求自度。(二)以淨戒對治,即禪定相應心戒,於色、聲等六境安住自心,能令自地清淨莊嚴,亦令他地無過。〔增一阿含經卷三十一、佛本行集經卷五十九〕(參閱「睡眠」5538)
; (三種睡眠) Thụy miên nghĩa đen là ngủ gục, nghĩa bóng là phiền não; Thụy miên ở đây là tác dụng làm cho tâm trở nên mờ tối. Theo Di giáo kinh luận thì có 3 nguyên nhân gây ra thụy miên: 1. Do ăn uống gây ra. 2. Do thời tiết gây ra. 3. Do tâm sinh ra. Hai nguyên nhân đầu là Thụy miên của A la hán, có thể dùng sự tinh tiến để đối trị; như ban ngày thì siêng năng tu tập các pháp lành, lúc đầu hôm và cuối đêm cũng không bỏ phế, nửa đêm có thể tụng kinh, không vì ngủ nghĩ mà luống phí 1 đời. Riêng thụy miên từ trong tâm sinh khởi thì có 2 cách đối trị: 1. Đối trị bằng tư duy quán sát: Quán xét các pháp 5 ấm sinh diệt, hư hoại, nghĩ về lửa vô thường thiêu đốt các cõi thế gian, cầu trí tuệ thiền định để tự độ. 2. Đối trị bằng giới pháp thanh tịnh: Thiền định tương ứng với giới tâm, để tâm mình an trụ trong 6 cảnh sắc, thanh..., có năng lực làm cho tự địa(hoàn cảnh của mình) thanh tịnh trang nghiêm, cũng khiến cho tha địa(hoàn cảnh của người khác) không lỗi. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.31; kinh Phật bản hạnh tập Q.59]. (xt. Thụy Miên).
tam chủng thành tựu
652指唯識宗所說之種子、自在、現行三者。成就乃「得」之異名。有情之身中為色、心諸法所屬,他身及非情等為己受用之物者,皆由自識所變,故稱為得。唯識家就有情可成之諸法假立三種成就,即:(一)種子成就,指一切見修所斷之煩惱、任運而起之諸無記法,及生得善等所有種子之未受損害而存在者,又分二種,即:(1)體成就,真體永不損害。(2)功能成就,其功能作用不須對治。(二)自在成就,指須藉由加行所生之善法,及工巧處、變化心、威儀等三無記之一分加行力所成者。此種子可任運自在,故稱自在成就。(三)現行成就,指一切法之現行。即五蘊、十二處、十八界三科法之通於有漏、無漏、善、不善、無記等。〔瑜伽師地論卷五十二、卷五十六、俱舍論卷二十一、成唯識論卷一、大毘婆沙論卷一五七〕
; (三種成就) Chỉ cho 3 thứ thành tựu: Chủng tử, Tự tại và Hiện hành là giáo thuyết của tông duy thức. 1. Chủng tử thành tựu: Chỉ cho tất cả phiền não do Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn, các pháp vô kí tự nhiên sinh khởi và tất cả chủng tử chưa bị tổn hại, vẫn còn tồn tại như Sinh đắc thiện...; được chia làm 2 thứ: a) Thể thành tựu: Thể chân thực vĩnh viễn không bị tổn hoại. b) Công năng thành tựu: Tác dụng công năng không cần phải đối trị mà thành tựu. 2. Tự tại thành tựu: Chỉ cho những thiện pháp nhờ sức gia hạnh mà sinh ra; loại chủng tử này được nhậm vận tự tại, cho nên gọi là Tự tại thành tựu. 3. Hiện hành thành tựu: Chỉ cho sự hiện hành của tất cả pháp. Tức các pháp 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới thông cả hữu lậu, vô lậu, thiện, bất thiện, vô kí... [X. luận Du già sư địa Q.52, 56; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.1; luận Đại tì bà sa Q.15].
tam chủng thân
652身,即聚集之義。大乘五蘊論以名、句、文為三種身,即:(一)名身,依事立名,名詮自性,是為名身。(二)句身,梵文之文法係由眾語和合成句,如菩為一字,提為一字,若二字和合,稱為菩提。故句詮差別,是為句身。(三)文身,文即文字,為名、句二法所依。
; The Thiên Thai school has a definition of sắc thân the physical body of Buddha; pháp môn thân his psychological body with its vast variety; thật tướng thân his real body or dharmakàya. The esoteric sect ascribes a trikàya to each of its honoured ones.
; See Tam Thân.
; (三種身) Ba thứ thân. Thân nghĩa là tụ tập. Luận Đại thừa ngũ uẩn cho Danh, Cú, Văn là 3 thứ thân. Đó là: 1. Danh thân: Y cứ vào việc mà đặt tên, tên nói lên tự tính, đó là Danh thân. 2. Cú thân: Văn pháp tiếng Phạm là do liên kết các chữ lại thành câu, như bồ là 1 chữ, đề là 1 chữ, liên kết 2 chữ lại gọi là Bồ đề. Cho nên câu nói lên sự sai khác, đó là Cú thân: 3. Văn thân: Văn tức văn tự, là chỗ nương của 2 pháp Danh và Cú.
tam chủng thân khổ
Three dukhas or afflictions of the body: 1) Già: Old age. 2) Bịnh: Sickness. 3) Chết: Death.
tam chủng thường
656大乘莊嚴經論卷三菩提品以法身、報身、應身三身為具有恆常性之三法。即:(一)本性常,謂法身本性常住,無生無滅。(二)不斷常,謂報身常依法身,無有間斷。(三)相續常,謂應身於十方世界沒已,復現化無窮。
; A Buddha in his three eternal qualities: (a) bản tính thường in his nature or dharmakàya pháp thân; (b) bất đoạn thường in his unbroken eternity, sambhogakàya báo thân; (c) in his continuous and eternally varied forms, nirmànakàya ứng hóa thân. (c) tương tục thường
; Ba phẩm chất thường hằng của Phật—A Buddha in his three eternal qualities: 1) Bổn tánh thường: Buddha nature or Dharmakaya. 2) Bất đoạn thường: Buddha's unbroken eternity or Sambhogakaya. 3) Tương tục thường: Buddha's continuous and eternally varied forms or Nirmanakaya.
; (三種常) Chỉ cho 3 tính thường hằng của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân: 1. Bản tính thường: Bản tính của Pháp thân là thường trụ, không sinh không diệt.2. Bất đoạn thường: Báo thân thường nương vào Pháp thân, không có gián đoạn. 3. Tương tục thường: Ứng thân sau khi mất đi lại tiếp tục hóa hiện vô cùng.
tam chủng thần biến
655又作三種示導、三示現、三神足。據大寶積經卷八十六載,如來有三種神通變化,即:(一)說法神變,如來以無礙大智了知眾生善惡業因及善惡果報,現一切神變而為說法。(二)教誡神變,如來教諸弟子應作、不應作、應信、不應信、應親近、不應親近、雜染法、清淨法等,現諸神變而為教誡。(三)神通神變,如來為調伏憍慢眾生,或現一身而作多身,或現多身而作一身,山崖石壁出入無礙,身上出火,身下出水;或身下出火,身上出水;或入地如水,履水如地等,以諸種神變調伏眾生。
; (三種神變) Cũng gọi Tam chủng thị đạo, Tam thị hiện, Tam thần biến. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 86 thì đức Như lai có 3 thứ thần biến là: 1. Thuyết pháp thần biến: Như lai dùng trí vô ngại biết rõ nghiệp nhân thiện ác và quả báo thiện ác của chúng sinh, hiện tất cả thần biến mà nói pháp cho chúng sinh nghe. 2. Giáo giới thần biến: Như lai dạy các đệ tử điều gì nên làm, điều gì không nên làm, điều gì nên tin, điều gì không nên tin, cái gì nên gần gũi, cái gì không nên gần gũi, các pháp tạp nhiễm, các pháp thanh tịnh... và hiện các thần thông biến hóa mà dạy răn họ. 3. Thần thông biến hóa: Như lai vì điều phục các chúng sinh kiêu mạn, nên hoặc hiện 1 thân làm nhiều thân, hoặc hiện nhiều thân làm 1 thân, ra vào sườn núi, vách đá không bị ngăn ngại, trên thân ra lửa, dưới thân ra nước; hoặc dưới thân ra lửa, trên thân ra nước; hoặc vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất... dùng các thứ thần thông biến hóa như thế để điều phục các chúng sinh.
tam chủng thắng dũng mãnh
658為大乘莊嚴經論卷一歸依品所舉修習佛道之三種勝勇猛。即:(一)願勝勇猛,謂初修行之時,發四弘誓願,發大勇猛,成佛菩提,廣化有情。(二)行勝勇猛,謂至心學道,能行妙行,發大勇猛,決趣菩提。(三)果勝勇猛,謂一心精進,修諸妙行,發大勇猛,決求成佛,故修因而感果,與佛平等無二。
; (三種勝勇猛) Ba thứ dũng mãnh thù thắng trong việc tu tập Phật đạo được nói đến trong phẩm Qui y của Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 1. Đó là: 1. Nguyện thắng dũng mãnh: Lúc mới bắt đầu tu hành, phát 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm mạnh mẽ thành Phật bồ đề, hóa độ tất cả chúng sinh. 2. Hạnh thắng dũng mãnh: Dốc lòng học đạo, tu các diệu hạnh, phát tâm mạnh mẽ, quyết tới bồ đề. 3. Quả thắng dũng mãnh: Nhất tâm tinh tiến, thường thực hành mọi thiện hạnh, phát tâm mạnh mẽ, quyết cầu thành Phật, nhờ tu nhân mà cảm quả, cùng với Phật bình đẳng không hai.
Tam Chủng Thế Gian
(三種世間, Ba Loại Thế Gian): gồm (1) Hữu Tình Thế Gian (有情世間), (2) Khí Thế Gian (器世間), và (3) Ngũ Ấm Thế Gian (五陰世間).
tam chủng thế gian
649指三種世界。又作三世間。<一>據大智度論卷七十載,世,隔別之義;間,間差之義。(一)眾生世間,即指五陰所成的一切眾生;為能居之正報。又作假名世間,於十界、五陰等法之上,假立名字,各各不同,故稱假名世間。(二)國土世間,即器世間,指有情所居之國土,如山河大地等;為所居之依報。(三)五蘊世間,又作五陰世間,五陰即色受想行識,十界五陰各有差別,故稱五陰世間;為依正二報之通體。〔大智度論卷四十七、止觀輔行傳弘決卷五之三〕 <二>據華嚴經孔目章卷三載:(一)器世間,指三千世界,乃釋迦如來所化導之境。器,容受依用之義,即容受眾生而為眾生所依用之山河大地等。(二)眾生世間,謂五陰和合,眾共而生,間隔不同;乃釋迦如來所化之機眾。(三)智正覺世間,指以無漏智得正覺之智者,即正報中之佛;或指此等智者所依存之境,亦即超越三界輪迴之出世間。〔華嚴經疏卷三、華嚴經探玄記卷十四〕(參閱「出世間」1554) <三>為印度數論學派所立之三種世間,即:(一)天上世間,指居於天界之諸天眾。(二)人間世間,指居於大地之人類。(三)獸道世間,指居於天地間之禽獸。此三種世間均由唯一之自性諦所生。〔金七十論卷上〕
; (三種世間) Cũng gọi Tam thề gian. Chỉ cho 3 loại thế gian. I. Tam Chủng Thế Gian. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 47 thì 3 loại thế gian là: 1. Chúng sinh thế gian: Chỉ cho tất cả chúng sinh được cấu tạo thành bằng 5 ấm, là chính báo năng cư. 2. Quốc độ thế gian: Tức khí thế gian, chỉ cho cõi nước mà hữu tình cư trú, như núi, sông, đất liền..., thuộc về y báo sở cư. 3. Ngũ uẩn thế gian(cũng gọi Ngũ ấm thế gian): Ngũ uẩn tức sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn trong 10 cõi đều có sai khác, cho nên gọi là Ngũ uẩn thế gian, là thể chung của y báo và chính báo. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]. II. Tam Chủng Thế Gian. Cứ theo Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 thì Tam chủng thế gian gồm:1. Khí thế gian: Chỉ cho 3 nghìn thế giới, là cảnh giới do đức Thích ca Như lai hóa đạo. Khí nghĩa là dung chứa và nương dùng, tức là núi, sông, đất liền... dung chứa chúng sinh, là nơi chúng sinh dùng để nương ở. 2. Chúng sinh thế gian: Năm ấm hòa hợp, cùng chung sinh ra, gián cách khác nhau, là những căn cơ do đức Thích ca Như lai giáo hóa. 3. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho bậc Trí giả dùng trí vô lậu mà được Chính giác, tức là đức Phật trong chính báo; hoặc chỉ cho cảnh giới mà các bậc trí nương ở, cũng tức là thế gian siêu xuất 3 cõi luân hồi.[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14]. (xt. Xuất Thế Gian). III. Tam Chủng Thế Gian. Ba loại thế gian do học phái Số luận của Ấn độ thành lập: 1. Thiên thượng thế gian: Chỉ cho các Thiên chúng ở trên cõi trời. 2. Nhân gian thế gian: Chỉ cho loài người sống trên mặt đất. 3. Thú đạo thế gian: Chỉ cho loài cầm thú sống ở giữa khoảng trời và đất. Ba loại thế gian này đều do 1 Tự tính đế duy nhất sinh ra. [X. luận Kim thất thập Q.thượng].
tam chủng thị đạo
650梵語 trīṇi prātihāryāṇi,巴利語 tīṇi pāṭihāriyāni。又作三示現、三教化、三變現、三變化、三示導、三神變、三輪、三業輪、三神足、三種神變。佛菩薩為教化眾生,而示現身、口、意三業之德用。據大般若經卷四六九載,菩薩之示導有三種,即:(一)神變示導,菩薩憫彼地獄之苦,現神通力,滅除湯火刀劍種種苦具,令諸眾生藉此神變,從地獄出,生天、人中,受諸快樂。(二)記說示導,菩薩憫彼地獄之苦,記眾生心之所念,而為說法,令諸眾生,藉此法力,從地獄出,生天、人中,受諸快樂。(三)教誡示導,菩薩憫彼地獄之苦,發慈悲喜捨之心,說法教誡,令諸眾生藉此教誡,從地獄出,生天、人中,受諸快樂。另依俱舍論卷二十七之說,則有神變示導(梵 ṛiddhi-pratihāryaṃ)、記心示導(梵 anuśāsanī-pratihāryaṃ)、教誡示導(梵 ādeśa-pratihāryaṃ)等三種示導,而以之通於六通中之三通,即神變示導相當於神境通,記心示導相當於他心通,教誡示導相當於漏盡通。又以神變、記心為化導外道,使之歸伏、信受者;以教誡為令彼等發心修行者,故最為尊勝。此外,瑜伽師地論卷二十七、大寶積經卷八十六、中阿含經卷三十五、長阿含經卷十六、雜阿含經卷八等均有三種示導,或三示現、三神足之說,然所舉之內容略異。〔集異門足論卷六、雜阿毘曇心論卷六、大毘婆沙論卷一○三〕(參閱「六通」1292、「示現」2144)
; Three ways in which bodhisattvas manifest themselves for saving those suffering the pains of hell, i.e. thân physically, by supernatural powers, change of form, etc.; ý mentally, through power of memory and enlightenment; khẩu orally, by moral exhortation.
; Ba cách dẫn dắt—Three ways in which bodhisattvas manifest themselves for saving those suffering the pains of hell: 1) Thần biến thị đạo: Dùng thân nghiệp dẫn dắt—Physically, by supernatural powers, change of form. 2) Giáo giải thị đạo: Dùng khẩu nghiệp (lời nói) mà dẫn dắt—Orally, by moral exhortation. 3) Ký thuyết thị đạo: Lúc nào cũng ghi nhớ và tìm đủ mọi cách mả giảng giải bằng ý nghiệp—Mentally, through powers or memory and enlightenment.
; (三種示導) Phạm;Trìịi pràtihàryàịi. Pàli: Tìịi pàỉihàriyàni. Cũng gọi Tam thị hiện, Tam giáo hóa Tam biến hiện, Tam luân, Tam nghiệp luân, Tam thần túc, Tam chủng thần biến. Ba thứ thị đạo, là đức dụng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý do Phật, Bồ tát thị hiện để giáo hóa chúng sinh. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 469 thì Bồ tát có 3 thứ thị đạo là: 1. Thần biến thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia nên thị hiện sức thần thông, diệt trừ các khổ cụ như nước sôi, dao kiếm, khiến cho chúng sinh nhờ sức thần biến này được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. 2. Kí thuyết thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia, nên ghi lấy những điều mà chúng sinh nghĩ trong tâm rồi nói pháp cho họ nghe, khiến chúng sinh nhờ sức pháp này được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.3. Giáo giới thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia, nên phát tâm từ bi hỉ xả, nói pháp dạy răn, khiến các chúng sinh nhờ sự dạy răn này, được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. Còn cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì 3 thứ thị đạo là: 1. Thần biến thị đạo (Phạm:Fidhipratihàryaô). 2. Kí tâm thị đạo (Phạm:Anuzàsanìpratihàryaô). 3. Giáo giới thị đạo (Phạm:Àdesapratihàryaô). Ba thứ Thị đạo này tương đương với 3 thông trong 6 thông, tức là Thần biến thị đạo tương đương với Thần cảnh thông, Kí tâm thị đạo tương đương với Tha tâm thông và Giáo giới thị đạo thì tương đương với Lậu tận thông. Lại vì Thần biến, Kí tâm là để giáo hóa ngoại đạo khiến họ qui phục mà tin nhận, còn Giáo giới là để khiến họ phát tâm tu hành nên được xem là tôn quí và thù thắng nhất. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 27, kinh Đại bảo tích quyển 86, kinh Trung a hàm quyển 35, kinh Trường a hàm quyển 16, kinh Tạp a hàm quyển 8... đều có thuyết Tam chủng thị đạo, hoặc Tam thị hiện, Tam thần túc, nhưng nội dung hơi khác. [X. luận Tập dị môn túc Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Đại tì bà sa Q.103]. (xt. Lục Thông, Thị Hiện).
tam chủng tinh tiến
661<一>成唯識論卷九所立之三種精進。即:(一)被甲精進,發勇猛、自利利他之大誓願,期無數大劫而無退屈之念,誓成大事,恰如被甲臨敵之大威勢。(二)攝善精進,攝諸善法精進修行。(三)利樂精進,利樂一切眾生,心不疲倦。 <二>菩薩善戒經卷五所立之三種精進。即:(一)莊嚴精進,菩薩發心精勤修習一切梵行,莊嚴道果。復為化諸眾生,於三界中示現受生,乃至為慈悲故,入地獄中,代受其苦,心不休息。(二)攝善法精進,菩薩既修六度梵行,不為煩惱、惡業、邪見之所傾動,攝持世間、出世間一切善法,心不放逸。(三)利益眾生精進,菩薩於一切時,修習聖道,利益一切眾生,以種種法而化導之,咸使斷滅惡因,成就善果,雖歷塵劫,心不疲倦。〔無性攝論卷七〕(參閱「精進」5883)
; (三種精進) I. Tam Chủng Tinh Tiến. Ba thứ tinh tiến do luận Thành duy thức quyển 9 thiết lập. 1. Bị giáp tinh tiến: Phát đại thệ nguyện lợi mình lợi người mạnh mẽ, dù trải qua vô số kiếp cũng không có ý nghĩ trở lui, thề thành tựu việc lớn, cũng như người trong uy thế hùng dũng mặc giáp ra trận.2. Nhiếp thiện tinh tiến: Thu nhiếp các thiện pháp, tinh tiến tu hành. 3. Lợi lạc tinh tiến: Đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh, tâm không mỏi mệt. II. Tam Chủng Tinh Tiến. Ba thứ tinh tiến được thành lập trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 5. 1. Trang nghiêm tinh tiến: Bồ tát phát tâm tinh cần tu tập tất cả phạm hạnh, trang nghiêm đạo quả. Lại thị hiện thụ sinh trong 3 cõi để hóa độ chúng sinh, cho đến mở lòng đại bi đi vào trong địa ngục để chịu khổ thay cho chúng sinh, tâm không ngừng nghỉ.2. Nhiếp thiện pháp tinh tiến: Bồ tát đã tu 6 độ, phạm hạnh, không bị phiền não, ác nghiệp và tà kiến khuynh đảo, thu giữ tất cả pháp lành trong thế gian và xuất thế gian, tâm không buông lơi. 3. Lợi ích chúng sinh tinh tiến: Bồ tát trong tất cả thời gian, tu tập Thánh đạo, làm lợi ích hết thảy chúng sinh, dùng mọi phương tiện hóa đạo chúng sinh, khiến họ đều đoạn diệt nhân ác, thành tựu quả thiện, dù trải vô số kiếp, tâm không hề mỏi mệt. [X. luận Vô tính nhiếp Q.7]. (xt. Tinh Tiến).
tam chủng tinh tấn
Theo Luận Thành Duy Thức, có ba loại tinh tấn—According to the Consciousness Only Sastra (Mind-Only-Sastra), there are three kinds of virya: 1) Bộ Giáp Tinh Tấn: Luôn mặc áo đại giáp của Bồ tát, không còn sợ tai ương gì nữa—Entering the world with a Bodhisattva's robe, and without and fear of calmities, i.e. to go on a Bodhisattva path—See Bồ Tát Đạo. 2) Nhiếp Thiện Tinh Tấn: Chăm tu thiện pháp không biết mệt mỏi—To cultivate good deeds with zeal. 3) Lợi Lạc Tinh Tấn: Chuyên cầu giáo hóa chúng sanh mà không nhập vào thế tục—To benefit beings with the power of unfailing progress.
tam chủng trang nghiêm
658<一>極樂淨土之莊嚴功德可分為三類。又作三種成就願心莊嚴、三種願嚴、三嚴。即:(一)國土莊嚴,即佛國土之莊嚴功德,又分為莊嚴清淨功德成就、莊嚴量功德成就等十七種。(二)佛莊嚴,又分為莊嚴座功德成就等八種。(三)菩薩莊嚴,又分為大菩薩徧至十方說法利生等四種。如是三種之莊嚴,總有二十九句,故又稱三種二十九句莊嚴。〔往生論、往生論註卷下〕 <二>指淨土宗所說之三種依報莊嚴,即:(一)地下莊嚴,如一切寶幢光明互相映發等是。(二)地上莊嚴,如一切寶地、池林、寶樓、宮閣等是。(三)虛空莊嚴,如一切變化、寶宮、華網、寶雲、化鳥、風光、動發、聲樂等是。此三種莊嚴皆為彌陀淨國無漏真實之勝相。〔觀無量壽經玄義分〕
; (三種莊嚴) I. Tam Chủng Trang Nghiêm. Cũng gọi Tam chủng thành tựu tâm trang nghiêm, Tam chủng nguyện nghiêm, Tam nghiêm. Ba loại công đức trang nghiêm cõi Tịnh độ cực lạc. 1. Quốc độ trang nghiêm: Công đức trang nghiêm cõi nước của Phật, gồm có 17 thứ như Trang nghiêm thanh tịnh công đức thành tựu, Trang nghiêm lượng công đức thành tựu... 2. Phật trang nghiêm: Gồm có 8 thứ như Trang nghiêm tòa công đức thành tựu... 3. Bồ tát trang nghiêm: Gồm có 3 thứ công đức Trang nghiêm chia làm 29 câu, cho nên cũng gọi là Tam chủng nhị thập cửu cú trang nghiêm. [X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. II. Tam Chủng Trang Nghiêm. Chỉ cho 3 loại Y báo trang nghiêm do tông Tịnh độ lập ra, đó là: 1. Địa hạ trang nghiêm: Như ánh sáng của tất cả bảo chàng phản chiếu lẫn nhau. 2. Địa thượng trang nghiêm: Như tất cả đất báu, ao rừng, lầu báu, cung điện... 3. Hư không trang nghiêm: Tất cả cảnh biến hóa như cung báu, mạng lưới hoa, mây báu, chim hóa, phong quang, động phát, tiếng nhạc... Ba loại trang nghiêm này đều là tướng thù thắng, vô lậu chân thực ở cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà. [X. phần Huyền nghĩa trong kinh Quán Vô lượng thọ].
tam chủng trí
Ba loại trí huệ—Three kinds of wisdom—See Tam Trí.
tam chủng trọng tội
655為密宗所立之三種重罪。即:(一)退三昧耶,謂受法之後,退失本誓而不修行。(二)破三昧耶,謂已受密法之行者,對密藏產生疑謗。(三)越三昧耶,又作越法罪。即未經允許而恣意見聞者。〔瞿醯經卷下、大日經疏演奧鈔卷一〕
; (三種重罪) Ba thứ tội nặng do Mật tông thành lập. Đó là: 1. Thoái tam muội da: Sau khi nhận pháp, hành giả lui mất bản thệ, không tu hành. 2. Phá tam muội da: Hành giả đã nhận mật pháp, lại sinh tâm ngờ vực và chê bai Mật tạng. 3. Việt tam muội da(cũng gọi Việt pháp tội): Chưa được cho phép mà tự ý xem nghe. [X. kinh Cù hê Q.hạ; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.1].
tam chủng tác ý
651作意,使心警覺以引起活動之精神作用。三種作意即指由所相應之觀智而生起之三種精神作用。(一)自相作意,即觀色之變礙,識之了別等法的自相,稱為自相觀,而與此等自相觀相應所生起之作意,稱為自相作意;亦即與觀法自相之智慧相應而起之精神作用。(二)共相作意,即與四諦以上苦、空、無常、無我等十六行相(十六行相為通色心諸法之共相)相應而起之作意;亦即與觀法共相之智慧相應而起之精神作用。(三)勝解作意,即與不淨觀、四無量心、有色解脫、八勝處、十遍處等觀相應而起之作意;亦即與假想觀相應而起之精神作用。所謂不淨觀,如觀美人,而以青瘀等假想之,故為假想觀,其所觀之境不受拘束而能自由觀解,故謂勝解。〔俱舍論卷七、大毘婆沙論卷十一〕
; (三種作意) Ba loại tác ý. Tác ý là làm cho tâm chú ý để dẫn tới hoạt động. Ba loại tác ý là: 1. Tự tướng tác ý: Tức quán xét tự tướng của các pháp như sự biến đổi và chất ngại của sắc, sự phân biệt và rõ biết của thức... gọi là Tự tướng quán; còn sự chú ý do tương ứng với Tự tướng quán này mà sinh khởi thì gọi là Tự tướng tác ý, cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với trí tuệ của Tự tướng quán. 2. Cộng tướng tác ý: Tác ý sinh khởi do tương ứng với 16 hành tướng (16 hành tướng là cộng tướngchung của các pháp sắc và tâm) như khổ, không, vô thường, vô ngã... từ Tứ đế trở lên, cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với trí tuệ của Cộng tướng quán. 3. Thắng giải tác ý: Tác ý sinh khởi do tương ứng với Bất tịnh quán, Tứ vô lượng tâm, Hữu sắc giải thoát, Bát thắng xứ, Thập biến xứ..., cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với Giả tưởng quán. Bất tịnh quán là quán tưởng sự nhớp nhúa của các pháp để xa lìa tham dục, như quán tưởng xác chết của 1 người đẹp đã chương sình, hôi thối, và bị dòi bọ rút rỉa, đó là Giả tưởng quán; cảnh sở quán của Giả tưởng quán không bị ràng buộc mà tự do quán giải, cho nên gọi là Thắng giải. [X. luận Câu xá Q.7; luận Đại tì bà sa Q.11].
tam chủng tâm khổ
The three kinds of mental distress, desire tham, anger sân, stupidity si; idem tam độc.
; Three kinds of mental distress (tham: desire, sân: hatred, si: stupidity)—See Tam Độc.
tam chủng tăng
661<一>據心地觀經卷二報恩品所載,有:(一)菩薩僧,如文殊、彌勒等菩薩。(二)聲聞僧,如舍利弗、目犍連等。(三)凡夫僧,具足別解脫戒、正見等,而能說法利他者。 <二>據大智度論卷二十二所載,有聲聞僧、辟支佛僧、菩薩僧等三種。 <三>據北本大般涅槃經卷三金剛身品載,僧眾品類極多,可略分為三種,即:(一)犯戒雜僧,謂比丘雖持禁戒,然為利養之故,常與破戒者共相親附,同其事業,雜處熏習,久之因而破戒。(二)愚癡僧,謂比丘雖在阿蘭若處,然諸根不利,闇鈍愚魯,不能解了經律論,於諸弟子或犯禁戒者,亦不能教令清淨懺悔。(三)清淨僧,謂比丘本性清淨,嚴持戒律,通達經論,不為諸魔之所嬈壞,又能調伏利益一切眾生,為說諸戒輕重之相者,堪稱護法無上大師善持律者。大智度論卷三將上記之犯戒雜僧分立為有羞僧、無羞僧兩種,而總為四種僧。
; (三種僧) I. Tam Chủng Tăng. Cứ theo phẩm Báo ân trong kinh Tâm địa quán quyển 2 thì Tam chủng tăng là: 1. Bồ tát tăng: Như các vị bồ tát Văn thù, Di lặc... 2. Thanh văn tăng: Như các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên... 3. Phàm phu tăng: Những vị tăng có đầy đủ Biệt giải thoát giới, chính kiến... và có khả năng thuyết pháp làm lợi ích cho người khác. II. Tam Chủng Tăng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 22 thì Tam chủng tăng là: Thanh văn tăng, Bích chi phật tăng và Bồ tát tăng. III. Tam Chủng Tăng. Cứ theo phẩm Kim cương thân trong Đại bát niết bàn quyển 3 (bản Bắc) thì Tam chủng tăng là: 1. Phạm giới tạp tăng: Tỉ khưu tuy giữ giới cấm nhưng vì lợi dưỡng nên thường gần gũi người phá giới, làm những việc giống như họ, tiêm nhiễm những thói thô tạp, lâu ngày nhân đó mà phá giới. 2. Ngu si tăng: Tỉ khưu tuy sống ở chốn A lan nhã(nơi yên tĩnh thanh tịnh) nhưng các căn chậm lụt, ngu độn, thô lỗ, không có khả năng hiểu rõ kinh luật luận, đối với các đệ tử vi phạm giới cấm cũng không có khả năng dạy bảo họ sám hối để được thanh tịnh.3. Thanh tịnh tăng: Tỉ khưu tính vốn thanh tịnh, giữ giới luật nghiêm túc, thông hiểu kinh luận, không bị các loại ma nhiễu loạn, lại có khả năng điều phục và làm lợi ích cho chúng sinh, giảng nói cho họ nghe về tính cách nặng nhẹ của các giới cấm, xứng đáng được gọi là những vị Đại sư hộ pháp vô thượng khéo giữ gìn giới luật. Luận Đại trí độ quyển 3 chia Phạm giới tạp tăng làm 2 loại là Hữu tu tăng(tăng biết xấu hổ)và Vô tu tăng(tăng không xấu hổ), cộng chung thành Tứ chủng tăng.
tam chủng tư hoặc
654指於塵境起諸染著而生之三種惑業。即:(一)俱生思惑,乃與形俱生者,即於托胎時所生之愛惡心。(二)依見思惑,乃隨見惑而生起之惑,係由邪師、邪教、邪思惟等之誘導所生之惑業。(三)三界繫思惑,即三界九地之思惑,又作正三毒。(參閱「見惑」2997、「修惑」4047)
; (三種思惑) Chỉ cho 3 thứ Tư hoặc sinh khởi do tâm tham đắm các trần cảnh. 1. Câu sinh tư hoặc: Tư hoặc sinh ra cùng lúc với thân, tức tâm yêu ghét sinh ra khi đầu thai. 2. Y kiến tư hoặc: Tư hoặc sinh ra theo kiến hoặc, tức hoặc nghiệp phát khởi do sự dắt dẫn của tà sư, tà giáo, tà tư duy... 3. Tam giới hệ tư hoặc(cũng gọi Chính tam độc): Tư hoặc trong 3 cõi 9 địa. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).
tam chủng tướng
654<一>華嚴經隨疏演義鈔以標相、形相、體相為三種相。(一)標相,標即表,如見煙即知是火等。(二)形相,指長短方圓等形狀。(三)體相,體即體質,如火以熱為體質。 <二>大智度論卷一以假名相、法相、無相相為三種相。(一)假名相,謂世間一切事物及眾生以眾緣和合而有種種名字,皆無自性,虛假不實;眾生迷故,於此假名起執取相,故稱假名相。(二)法相,謂五蘊、十二入、十八界等諸法,以俗眼觀之,則見是有;以慧眼觀之,則見是無;眾生迷故,於此等諸法起執取相,故稱法相。(三)無相相,遠離上舉之假名相、法相,但有無相;眾生迷故,又於無相之中,起執取相,故稱無相相。 <三>成實論卷十二以發相、制相、捨相為三種相。(一)發相,心昏沉時,用精進之行以策發之,稱為發相。(二)制相,心掉舉時,用寂靜之法以禁制之,稱為制相。(三)捨相,心若不沉不散時,即捨去上舉之發、制二相,稱為捨相。
; The three kinds of appearance: (1) In logic, the three kinds of percepts: (a) Tiêu tướng inferential, as fire is inferred in smoke; (b) hình tướng formal, or spatial, as length, breadth, etc. (c) thể tướng qualitative, as heat is in fire, etc. (2) (a) Giả danh tướng names, which are merely indications of the temporal; (b) pháp tướng dharmas, or things; (c) vô tướng tướng the formless - all threes are incorrect positions.
; Ba loại tướng—Three kinds of appearance: (A) 1) Phiêu tướng: Inferential, as fire is inferred from smoke. 2) Hình tướng: Formal or spacial, as length, breadth, ect. 3) Thể tướng: Qualitative, as heat is in fire. (B) 1) Giả danh tướng: Names, which are merely indications of the temporal. 2) Pháp tướng: Dharmas or things. 3) Vô tướng tướng: The formless.
; (三種相) I. Tam Chủng Tướng. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao thì Tam chủng tướng là: Tiêu tướng, Hình tướng và Thể tướng. 1. Tiêu tướng: Tiêu là biểu hiệu, như thấy khói thì biết có lửa... 2. Hình tướng: Chỉ cho hình dáng dài, ngắn, vuông, tròn... 3. Thể tướng: Thể tức là thể chất, như thể chất của lửa là nóng. II. Tam Chủng Tướng. Theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Tam chủng tướng là: Giả danh tướng, Pháp tướng và Vô tướng tướng. 1. Giả danh tướng: Tất cả sự vật và chúng sinh ở thế gian đều do các duyên hòa hợp mà có những tên gọi, đều không có tự tính, hư giả chẳng thật; vì mê lầm nên chúng sinh khởi tướng chấp lấy cái giả danh này, nên gọi là Giả danh tướng. 2. Pháp tướng: Các pháp 5 uẩn, 12 nhập, 18 giới... nhìn bằng con mắt thế tục thì thấy là có, nhìn bằng con mắt trí tuệ thì thấy là không; chúng sinh vì mê lầm nên khởi tướng chấp lấy các pháp này, nên gọi là Pháp tướng. 3. Vô tướng tướng: Xa lìa Giả danh tướng và Pháp tướng trên thì chỉ có Vô tướng; nhưng chúng sinh vì mê lầm nên trong vô tướng lại khởi tướng chấp thủ cho nên gọi là Vô tướng tướng. III. Tam Chủng Tướng. Theo luận Thành thực quyển 12 thì Tam chủng tướng là Phát tướng, Chế tướng và Xả tướng. 1. Phát tướng: Khi tâm mờ tối li bì thì dùng hạnh tinh tiến để kích phát, gọi là Phát tướng. 2. Chế tướng: Khi tâm động loạn thì dùng pháp tịch lặng để cấm chế, gọi là Chế tướng. 3. Xả tướng: Lúc tâm không mờ tối, không động loạn thì xả bỏ Phát tướng và Chế tướng nêu trên, gọi là Xả tướng.
Tam chủng tất-địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam quả bí mật đà-la-ni pháp
三種悉地破地獄轉業障出三界祕密陀羅尼法; C: sānzhǒng xīdì pòdìyù zhuàn yèzhàng chū sānjiè mìmì tuóluónífǎ; J: sanshu shicchi hajigoku ten gosshō shutsu sangai himitsu daranihō;|»Bí mật đà-la-ni của ba loại thành tựu, tiêu diệt địa ngục, chuyển biến nghiệp chướng trong tam giới«. Một tác phẩm bao gồm một quyển, tác giả được xem là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṁha). Quyển này có những đoạn đề cập đến sự tương quan giữa Ngũ tự (五字) và Ngũ bộ (五部) của Mật giáo đạo Phật và Ngũ Hành thuyết (五行説) của Đạo giáo và chính những đoạn văn này cũng thường được trích dẫn làm một ví dụ – xuất phát từ phía Trung Hoa –, là biểu trưng của một sự tổng hợp tư tưởng Ấn Hoa.
tam chủng tầm cầu
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại tầm cầu—According to the Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of searches: 1) Tầm Cầu Về Dục: The search for sensual pleasure. 2) Tầm Cầu Về Hữu: The search for existence. 3) Tầm Cầu Về Phạm Hạnh: The search for a holy life.
tam chủng tập khí
658指名言、我執、有支三種。又作三種熏習、三熏習。由現行氣分熏習所成,稱為習氣。即:(一)名言習氣,乃依名言熏習所成有為法之各別親因緣種子。復分為二:(1)表義名言,能詮釋義理之音聲差別。(2)顯境名言,能了別境界之心、心所法。(二)我執習氣,由我執熏習而成,令有情等起自他差別之種子。復分為二:(1)俱生我執,通於六、七二識,除二乘之無學、八地以上之菩薩、如來以外,餘皆有此熏習。(2)分別我執,唯限於第六識,係於異生之資糧位所生起者。(三)有支習氣,乃依有支熏習所成,異熟果成為善惡差別之業種。復分為二:(1)有漏善,能招可愛果報之業者。(2)諸不善,能招非愛果報之業者。有支習氣,即以與第六識之思相應之善惡為增上緣,而助長異熟無記之名言種子,令生當來之果。名言種子為第六識之思種子,有詮顯自義、了別境界之功能;依之,熏習自身五蘊之種子,而為自他差別之理由,生成我執習氣,互為循環,以成有漏、有為、自他、善惡等諸法。〔解深密經卷三、成唯識論卷八、唐譯攝大乘論釋卷三、卷四、成唯識論述記卷八本〕(參閱「習氣」4771)
; (三種習氣) Cũng gọi Tam chủng huân tập, Tam huân tập. Chỉ cho 3 thứ tập khí: Danh ngôn, Ngã chấp và Hữu chi. 1. Danh ngôn tập khí: Các chủng tử thân nhân duyên khác nhau của pháp hữu vi do danh ngôn huân tập (xông ướp) mà thành, được chia làm 2 thứ: a) Biểu nghĩa danh ngôn: Những âm thanh khác nhau có năng lực giải thích nghĩa lí rõ ràng. b) Hiển cảnh danh ngôn: Tâm, tâm sở pháp có khả năng phân biệt rõ các cảnh giới.2. Ngã chấp tập khí: Các chủng tử do ngã chấp huân tập mà thành, làm cho hữu tình khởi lên sự sai khác về mình và người, cũng được chia làm 2 thứ: a) Câu sinh ngã chấp: Chung cho thức thứ 6(ý thức) và thức thứ 7(thức Mạt na), ngoại trừ các vị Vô học của Nhị thừa, hàng Bồ tát từ địa thứ 8 trở lên và Như lai, các chúng sinh khác đều có tập khí này.b) Phân biệt ngã chấp: Chỉ có ở thức thứ 6, là tập khí sinh khởi ở vị Tư lương của Dị sinh(phàm phu). 3. Hữu chi tập khí: Các chủng tử do Hữu chi huân tập mà thành quả Dị thục thiện, ác khác nhau, lại cũng được chia làm 2 thứ: a) Hữu lậu thiện: Nghiệp nhân có năng lực mang lại quả báo đáng ưa thích. b) Chư bất thiện: Những nghiệp nhân có năng lực đưa đến các quả báo chẳng đáng ưa. Hữu chi tập khí lấy thiện, ác tương ứng với Tư của thức thứ 6 làm Tăng thượng duyên, trợ giúp việc nuôi lớn các Danh ngôn chủng tử của Dị thục vô kí, làm cho sinh ra quả ở đương lai. Danh ngôn chủng tử là Tư chủng tử của thức thứ 6, có công năng hiển rõ tự nghĩa và phân biệt cảnh giới; theo đó, chủng tử huân tập 5 uẩn tự thân là lí do cắt nghĩa sự sai khác mình, người, sinh thành tập khí ngã chấp, xoay vần lẫn nhau mà làm thành các pháp hữu lậu, hữu vi, tự tha, thiện ác... [X. kinh Giải thâm mật Q.3; luận Thành duy thức Q.8; Nhiếp đại thừa luận thích Q.3 (bản dịch đời Đường); Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu]. (xt. Tập Khí).
tam chủng tịnh nghiệp
657為觀無量壽經所舉三種往生淨土之因,亦為過去、未來、現在三世諸佛淨業正因。即:(一)孝養父母,奉事師長,慈心不殺,修十善業。(二)受持三歸,具足眾戒,不犯威儀。(三)發菩提心,深信因果,讀誦大乘,勸進行者。
; The threfold way of obtaining a pure karma, idem tam phúc
; Ba loại tịnh nghiệp—Three foldway of obtaining a pure karma—See Tam Phước.
; (三種淨業) Ba thứ chính nhân tịnh nghiệp vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Quán Vô lượng thọ, đó là: 1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu 10 điều thiện. 2. Thụ trì 3 qui y, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi. 3. Phát tâm bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến khích người tinh tiến tu hành.
tam chủng tịnh nhục
xem ba loại thịt trong sạch.
; 657指許可比丘食用而不犯戒之三種淨肉,即:(一)不為我殺,且不見其殺者。(二)不為我殺,且不聞被殺之聲者。(三)無為我而殺之嫌者。然於大乘經典中,食肉乃違反大慈悲之精神,開三種淨肉之食,不過聲聞權宜之制,故大乘經典設有禁斷食肉之規。〔四分律卷四十二、十誦律卷三十七、首楞嚴義疏注經卷九、梵網經要解卷五〕(參閱「淨肉」4697)
; (三種淨肉) Chỉ cho 3 thứ thịt thanh tịnh tỉ khưu được phép ăn mà không phạm giới. 1. Không phải con vật bị giết để đãi mình ăn, mình không thấy nó bị giết. 2. Không phải vì mình mà con vật bị giết, mình cũng không nghe nó kêu khi bị giết.3. Mình không nghi ngờ là con vật bị giết để đãi mình ăn. Tuy nhiên, theo kinh điển Đại thừa, thì ăn thịt là trái với tinh thần đại từ bi của đức Phật, cho nên Đại thừa cấm chỉ ăn thịt. Còn cho phép ăn 3 thứ thịt thanh tịnh chẳng qua là phương tiện cho hàng Thanh văn mà thôi. [X. luật Tứ phần Q.42; luật Thập tụng Q.37; Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.9; Phạm võng kinh yếu giải Q.5]. (xt. Tịnh Nhục).
tam chủng tức thân thành phật
654即日本真言宗所立理具、加持、顯得等三種即身成佛之義。此三者皆為平等法界中法爾無作之事業,通名即身成佛。就縱之次第而言,理具通於凡聖因果;加持則通於初地以上乃至佛果,一一位皆具有加持感應之功德;顯得指第十一地圓極之位。就橫之意義而言,行者本具之菩提心為理具;本尊及三密之教門為加持;內因與外緣相應,則曼荼羅海會之功德現前為顯得。若配以三大,則理具為體,加持為相,顯得為用。〔異本即身成佛義、祕宗教相鈔卷六、開心抄卷中、宗義決擇集卷二十一〕(參閱「即身成佛」3760)
; (三種即身成佛) Chỉ cho 3 nghĩa Tức thân thành Phật: Lí cụ, Gia trì và Hiển đắc do tông Chân ngôn, Nhật bản, thành lập. Ba nghĩa này đều là sự nghiệp tự nhiên, vô tác trong pháp giới bình đẳng, gọi chung là Tức thân thành Phật.Nói theo thứ tự dọc thì Lí cụ thông cả nhân quả phàm thánh; Gia trì thì suốt từ Sơ địa trở lên cho đến quả Phật, mỗi mỗi giai vị đều có đủ sự gia trì cảm ứng; Hiển đắc chỉ cho giai vị Đệ thập nhất địa viên cực. Còn nói theo ý nghĩa ngang thì tâm bồ đề sẵn có của hành giả là Lí cụ; giáo môn của Bản tôn và Tam mật là Gia trì; nhân trong và duyên ngoài ứng hợp nhau thì công đức của Hải hội mạn đồ la hiện ra trước mắt là Hiển đắc. Nếu đem phối hợp với Tam đại thì Lí cụ là Thể, Gia trì là Tướng và Hiển đắc là Dụng. [X. Dị bản tức thân thành Phật nghĩa; Bí tông giáo tướng sao Q.6; Khai tâm sao Q.trung; Tông nghĩa quyết trạch tập Q.21]. (xt. Tức Thân Thành Phật).
tam chủng từ bi
Ba nguyên nhân của Từ bi—Three reasons of a bodhisattva's pity—See Tam Từ Bi.
tam chủng từ bi (duyên từ)
The three reasons of a bodhisattva's pity: because all beings are like helpless infants chúng sinh duyên từ bi; because of his knowledge of all laws and their consequences pháp duyên từ bi; without external cause, i.e. because of his own nature, vô duyên từ bi.
tam chủng viên dung
Three kinds of unity or identity of: (a) Sự lý phenomena with "substance" e.g. waves and the water; (b) Sự sự phenoma with phenoma, e.g. wave with wave; (c) Lý lý substance with substance, e.g. water with water.
; See Tam Viên Dung.
tam chủng viên mãn an lạc
〖出瑜伽師地論〗〔一、成就加行圓滿〕,謂修菩薩行者,於淨戒中,不敢毀犯,於身語意,清淨無染,若有過失,即能懺悔,令其戒體圓滿無虧,是名成就加行圓滿。〔二、成就意樂圓滿〕,謂修菩薩行者,為法出家,不為活命。但為求無上菩提及求大涅槃樂,勇猛精進,不生懈怠之心,不雜眾惡之法,不受當來生老病死之苦,是名成就意樂圓滿。(梵語菩提,華言道。梵語涅槃,華言滅度。)〔三、成就宿因圓滿〕,謂修菩薩行者,於宿世中曾修福善,故於今生種種資身之具,悉無匱乏;復能為他廣行惠施,心不慳吝,是名成就宿因圓滿。
; 659據瑜伽師地論卷四十一載,修菩薩行者能成就三種圓滿安樂,即:(一)成就加行圓滿,謂於淨戒不敢毀犯,於身語意清淨無染,若有過失即能懺悔,令其戒體圓滿無虧。(二)成就意樂圓滿,謂為法出家,不為活命,但為求無上菩提及求大涅槃樂,勇猛精進,不生懈怠之心,不雜眾惡之法,不受當來生老病死之苦。(三)成就宿因圓滿,謂於宿世中曾修福善,故於今生種種資身之具悉無匱乏,復能為他廣行惠施,心不慳吝。
; (三種圓滿安樂) Cứ theo luận Du già sư địa quyển 41 thì người tu hạnh Bồ tát có khả năngthành tựu 3 thứ viên mãn an lạc là: 1. Thành tựu gia hạnh viên mãn: Đối với tịnh giới không dám hủy phạm, thân khẩu ý thanh tịnh vô nhiễm, nếu có lỗi lầm thì sám hối ngay để giới thể viên mãn. 2. Thành tựu ý lạc viên mãn: Vì pháp mà xuất gia chứ không vì mưu sinh, chỉ vì cầu bồ đề vô thượng và niềm vui đại Niết bàn, hăng hái mạnh mẽ, không sinh tâm biếng nhác, không xen lẫn các pháp ác, không bị khổ sinh lão bệnh tử trong đương lai. 3. Thành tựu túc nhân viên mãn: Ở đời trước từng tu phúc thiện, cho nên đời này các nhu cầu cho cuộc sống đều được đầy đủ, còn có khả năng giúp đỡ người khác, tâm không sẻn tiếc.
tam chủng vãng sanh
Chúng sanh tu tập cầu vãng sanh về Cực Lạc nhiều không kể xiết, còn hơn vô số điểm giọt mưa. Tuy nhiên, theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, chúng sanh cầu về Tịnh Độ không riêng những hạng chán cảnh khổ Ta Bà ngũ trược ác thế, mà cũng có hạng vì thương xót muốn tế độ chúng sanh cõi Ta Bà, cho đến những bậc “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” Tuy sở nguyện có cao thấp, một khi đã sanh về Cực Lạc thì cũng đồng được sự lợi ích như nhau, nghĩa là tất cả đều không thối chuyển, cuối cùng đều đạt đến quả vị Phật. Cổ đức đã bảo: “Pháp môn Tịnh Độ rất cao thâm mầu nhiệm, duy có Phật với Phật mới biết hết được, vì bậc Đẳng giác còn nguyện vãng sanh, ngôi Nhất Sanh Bồ Tát còn phải trụ nơi miền Cực Lạc để học hỏi. Các Kinh Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích, vân vân đều khen ngợi Tịnh Độ và đề cập đến sự vãng sanh.” Xét chung về tâm nguyện cầu sanh của những vị ấy, có ba loại vãng sanh—Countless sentient beings will be reborn in the Pure Land, their numbers exceeding even the innumerable rain drops. However, according to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, sentient beings who seek rebirth in the Pure Land are not limited to those weary of the sufferings in the realm of the Five Turbidities, there are also those who compassionately wish to save sentient beings in the Saha World, and those who look upward to the goal of Buddhahood and downward to the salvation of deluded sentient beings throughout the worlds of the ten directions. Whether their vows and aspirations are low or high, once they are reborn in the Pure Land, all derive the same benefits; none will ever retrogress and will ultimately achieve Buddhahood and help sentient beings. Ancient masters once said: “The Pure Land method is extremely lofty, profound and wonderful; only the Buddhas can really fathom its depth. This is why even those great Bodhisattvas who have reached the level of Equal Enlightenment still vow to be reborn there. Even “One-life Bodhisattvas” or those who will become Buddhas in their next lifetime must remain there to study and practice. Such Mahayana texts as the Avatamsaka Sutra, the Lotus Sutra, the Maharatnakuta Sutra, etc., all extol the Pure Land and discuss rebirth there. There are are three categories of rebirth in the Pure Land. 1) Hạng thứ nhất, là những phàm phu thấp kém nhưng chân thật, không hiểu công đức cùng sự trang nghiêm ở Tịnh Độ, chỉ cảm nghĩ đời sống nhiều vất vã khổ nhọc, cõi Ta Bà đầy chán nãn lo phiền, nên nguyện sanh về cõi nước thanh tịnh an vui—The first category comprises ordinary beings who are of limited capacities but true and sincere. They may not understand what constitutes the virtues or adornments of Buddha lands; nevertheless, realizing that life is full of hardship and suffering, and that the Saha World abounds in worries and troubles, they vow to be reborn in a pure and happy land. 2) Hạng thứ hai, tuy cũng là phàm phu nhưng có trí huệ và chí nguyện lớn, muốn sanh về cõi Cực Lạc để bảo đảm thoát ly nẻo luân hồi, mau chứng đạo quả, hoàn thành chí nguyện tự độ độ tha—The second category is composed of individuals who, although ordinary beings, possess great aspirations and a certain degree of wisdom. They seek rebirth in the Pure Land to ensure escape from transmigration, swift attainment of Buddhahood and fulfillment of their Vows to rescue themselves and others. 3) Hạng thứ ba, gồm từ hàng tiểu Thánh đã thoát ly vòng sống chết cho đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, vì muốn mau tiến lên thượng địa, muốn học hỏi diệu pháp thành Phật, nên phát nguyện vãng sanh—The third category ranges from the lesser saints who have escaped Birth and Death to the greatest Bodhisattvas, those at Equal Enlightenment stage. They vow to be reborn in the Pure Land in order to progress swiftly to the ultimate “Bodhisattva ground” and study the wonderful Dharma leading to Buddhahood.
tam chủng vô thường
xem ba loại vô thường.
tam chủng xiển đề
Ba loại xiển đề—Three kinds of icchantika: 1) Nhứt Xiển đề: The wicked. 2) A Xiển đề ca: Đại bi Xiển đề—Bodhisattvas who become icchantika to save all beings, i.e. Earth Store Bodhisattva. 3) Vô tính Xiển đề: Those without a nature for final nirvana.
tam chủng ác
658成實論卷十以惡、大惡、惡中惡為三種惡。(一)惡,如殺、盜、淫、妄等違理造作之事皆屬之。(二)大惡,自作亦教人作,如自殺亦教人殺、自慳亦教人慳等,是為大惡。(三)惡中惡,自吝法亦教人吝法,由一人吝法,則令多人墮於惡道,亦是斷滅佛法,是為惡中惡。
; (三種惡) Ba thứ ác nói trong luận Thành thực quyển 10. 1. Ác: Làm những việc trái với đạo lí như giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối... đều thuộc về Ác. 2. Đại ác: Tự mình làm và dạy người làm, như mình giết, và dạy người giết, tự mình keo kiệt và dạy người keo kiệt... đều thuộc về Đại ác. 3. Ác trung ác: Tự mình sẻn pháp, và dạy người sẻn pháp, vì 1 người sẻn pháp thì làm cho nhiều người bị rơi vào ác đạo, cũng là đoạn diệt Phật pháp, đó là Ác trung Ác.
tam chủng ý sanh thân
(三種意生身) Ba thứ Ý sinh thân. Hàng Bồ tát Thông giáo Đăng địa được tam muội Như huyễn, có năng lực thị hiện vô lượng thần thông tự tại, vào khắp các cõi Phật, tùy ý không ngại, ý muốn đến nơi nào thì thân theo đến nơi ấy, cho nên gọi là Ý sinh thân. Cứ theo phẩm Nhất thiết ngữ tâm trong kinh Lăng già quyển 3 thì Bồ tát Thông giáo có 3 thứ Ý sinh thân là: 1. Tam muội lạc chính thụ ý sinh thân: Khi Bồ tát Đệ tam địa, Đệ tứ địa, Đệ ngũ địa của Thông giáo tu Tam muội thì chứng được niềm vui chân không tịch diệt, vào khắp tất cả cõi Phật, tùy ý không ngại.2. Giác pháp tự tính tính ý sinh thân: Bồ tát Thông giáo Đệ bát địa biết rõ tất cả tính của tự tính các pháp như huyễn như hóa, thảy đều không có, dùng vô lượng thần lực vào khắp tất cả cõi Phật, nhanh chóng như ý muốn, tự tại vô ngại. 3. Chủng loại câu sinh vô hành tác ý sinh thân: Bồ tát Đệ cửu địa và Đệ thập địa của Thông giáo, biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, nếu được 1 thân thì cùng lúc phổ hiện vô lượng thân, như hình tượng trong gương, tùy theo các loại mà cùng hiện ra 1 lượt, tuy hiện các hình tượng nhưng không có tác vi.
tam chủng ý sinh thân
660通教登地菩薩得如幻三昧,能示現無量自在神通,普入一切佛剎,隨意無礙,意欲至彼,身亦隨至,故稱意生身。據楞伽經卷三之一切佛語心品載,通教菩薩有三種意生身,即:(一)三昧樂正受意生身,三昧為梵語 samādhi 之音譯,以定性為樂,異於苦樂等受,故意譯為正受。謂三昧樂正受,乃華梵雙舉。通教第三、第四、第五地菩薩修三昧時,證得真空寂滅之樂,普入一切佛剎,隨意無礙。(二)覺法自性性意生身,通教第八地菩薩覺了一切諸法自性之性,如幻如化,悉無所有,以無量神力普入一切佛剎,迅疾如意,自在無礙。(三)種類俱生無行作意生身,通教第九、第十地菩薩覺知一切法皆是佛法,若得一身,無量身一時普現,如鏡中之像,隨諸種類而得俱生,雖現眾像,而無作為。
tam chủng đoạn
The three kinds of uccheda, cutting off, excision, or bringing to an end: (1) (a) tự tính đoạn with the incoming of wisdom, passion or illusion ceases of itself; (b) bất sinh đoạn with realization of the doctrine that all is không unreal, evil karma ceases to arise; (c) duyên phược đoạn illusion being ended, the causal nexus of the passions disappear and the attraction of the external ceases. (2) The three sràvakas or ascetic stages are: (a) kiến sở đoạn ending the condition of false views; (b) tu hành đoạn getting rid of desire and illusion in practice; (c) phi sở đoạn no more illusion or desire to be cut off.
; Three kinds of cutting-off, excision or bringing to an end (Uccheda)—See Tam Đoạn.
tam chủng đà la ni
Three kinds of Dharani—See Tam Đà La Ni.
tam chủng đại trí
The three major kinds of wisdom: (a) vô sư trí self acquired,no master needed; (b) tự nhiên trí unacquired and natural; (c) vô nghi trí universal.
; Ba loại đại trí—Three kinds of major wisdom: 1) Tự đạt trí: Self-acquired, no master needed. 2) Tự tánh trí: Unacquired or natural. 3) Phổ trí: Trí hiểu biết rộng lớn nhờ tu tập thiền định—Universal mind through practicing medtiation.
tam chủng địa ngục
The three kinds of hells - hot, cold, and solitary.
; Three kinds of hells: 1) Nhiệt địa ngục: Hot hells. 2) Hàn địa ngục: Cold hells. 3) Cô độc địa ngục: Solitary hells. ** See Địa Ngục.
tam chủng định nghiệp luân
653據地藏十輪經卷二「十輪品」載,如來以禪定、誦習、營福等法輪破一切煩惱惑業,並令眾生如說修行而證道果,故說此三種定業輪。(一)建立修定業輪,令眾生修行正觀,觀察無明煩惱起滅之相,以數息等法修習靜慮,摧破一切惑業,令心住於正定。(二)建立習誦業輪,令眾生習誦大乘經教,初、中、後夜精勤無怠,心不散亂,摧破一切惑業。(三)建立營福業輪,令眾生修行持戒、布施、造像、建塔、供養佛法僧,營種種福報之事,以摧破一切惑業。
; (三種定業輪) Ba thứ bánh xe định nghiệp. Cứ theo phẩm Thập luân trong kinh Địa tạng thập luân quyển 2, đức Như lai dùng 3 bánh xe pháp Thiền định, Tụng tập và Doanh phúc để phá diệt tất cả phiền não hoặc nghiệp, đồng thời, khiến chúng sinh tu hành đúng như lời Phật dạy để chứng đạo quả, cho nên nói Tam chủng định nghiệp luân này. 1. Kiến lập tu định nghiệp luân: Khiến chúng sinh tu hành chính quán, quán xét tướng sinh diệt của vô minh phiền não, dùng các pháp như Sổ tức tu tập tĩnh lự, phá diệt tất cả hoặc nghiệp, khiến tâm an trụ nơi chính định. 2. Kiến lập tập tụng nghiệp luân: Khiến chúng sinh tập tụng kinh giáo Đại thừa, đầu hôm, nửa đêm, gần sáng, siêng năng không mệt mỏi, tâm không tán loạn, trừ diệt tất cả hoặc nghiệp. 3. Kiến lập doanh phúc nghiệp luân: Khiến chúng sinh tu hành giữ giới, bố thí, tạo tượng, xây tháp, cúng dường Tam bảo, làm mọi việc phúc báo để phá trừ tất cả hoặc nghiệp.
tam cung dưỡng
559為普賢行願疏所舉三種供養之法。即:(一)財供養,以世間財寶及種種上妙諸供養具供養諸佛菩薩。(二)法供養,依佛所說教法,修於眾行,乃至不捨菩薩業,不離菩提心,即是以法供養諸佛菩薩。(三)觀行供養,依中道妙觀,觀於一念之心,具足三諦之法,無有缺減,眾生、諸佛平等不二,煩惱生死即是菩提涅槃,念念觀之,即是供養諸佛菩薩。(參閱「供養」3065)
; (三供養) Ba pháp cúng dường được nêu trong Phổ hiền hành nguyện sớ, đó là: 1. Tài cúng dường: Đem của báu thế gian và các thứ cúng dường thượng diệu để cúng dường chư Phật và Bồ tát. 2. Pháp cúng dường: Y theo giáo pháp đức Phật dạy mà tu mọi hạnh, cho đến không bỏ hạnh Bồ tát, không lìa tâm bồ đề, đó chính là đem pháp cúng dường chư Phật và Bồ tát. 3. Quán hạnh cúng dường: Nương vào diệu quán Trung đạo mà quán xét trong tâm 1 niệm có đầy đủ pháp Tam đế, không hề thiếu xót, chúng sinh và chư Phật là bình đẳng không 2, phiền não sinh tử tức là bồ đề niết bàn, niệm niệm quán xét như thế chính là cúng dường chư Phật và Bồ tát. (xt. Cúng Dường).
tam cá cáo sắc
664於法華經之說會中,釋尊對迹化菩薩與來自他方之菩薩所予之三度教敕。即:(一)如來不久當入涅槃,乃欲以此法華經付囑諸弟子乃至後世之人。(二)告諸大眾,佛滅度後,若有能讀誦護持此經者,今於佛前自說誓言。(三)諸善男子,於佛入滅後,若有能受持讀誦此經者,今於佛前自說誓言。〔法華經卷四見寶塔品〕
; (三個告敕) Ba lần dạy bảo của đức Phật đối với các Bồ tát tích hóa và các Bồ tát đến từ các phương khác được ghi trong kinh Pháp hoa.1. Không bao lâu nữa đức Như lai sẽ vào Niết bàn nên Ngài muốn phó chúc kinh Pháp hoa cho các đệ tử và người đời sau.2. Đức Phật bảo đại chúng, sau khi Ngài diệt độ, nếu ai có khả năng đọc tụng hộ trì kinh Pháp hoa thì nay trước đức Phật hãy tự nói lời thệ. 3. Đức Phật lại bảo các thiện nam tử, sau khi Phật diệt độ, nếu người nào có khả năng thụ trì, đọc tụng kinh Pháp hoa này thì nay trước đức Như lai hãy tự nói lời thệ.[X. phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4].
tam cùng
Three togethers: 1) Cùng ăn: Eat together. 2) Cùng ở: Live together. 3) Cùng làm việc: Work together.
tam cú
541禪宗諸家為表現禪之宗旨而用以開示接引學人之語。可視為各家精粹代表:<一>雲門三句:指雲門文偃之「函蓋乾坤、目機銖兩、不涉萬緣」。(參閱「雲門三句」5334) <二>德山三句:雲門文偃之法嗣德山緣密別於其師承而拈出「函蓋乾坤、截斷眾流、隨波逐浪」三句,後用為雲門宗之三句。(參閱「雲門三句」5334) <三>巴陵三句:乃巴陵顥鑑之「銀弐裡盛雪、珊瑚枝枝撐著月、雞寒上樹鴨寒下水」。此三句頗得雲門文偃之激賞,嘗謂(大四八‧三一三上):「他日老僧忌辰,只舉此三轉語供養老僧足矣!」〔人天眼目卷二〕(參閱「巴陵三轉語」1388) <四>巖頭三句:乃巖頭全奯用以接引學人之方法,即「咬去咬住(執著於去住)、欲去不去欲住不住(欲了脫去住而仍執著於去住)、或時一向不去或時一向不住(完全了脫去住)」。〔人天眼目卷六〕 <五>汾陽三句:汾陽善昭為指導學人所立之「著力句、轉身句、親切句」。所謂著力句,指學人之力量當有造成嘉州(四川)高三十六丈彌勒石像之大能耐;所謂轉身句,指學人之機用當求立足穩固,更甚於陝府鐵牛;所謂親切句,指契印佛道當如獅子攫人,迅疾而毫不放鬆。〔人天眼目卷二〕 <六>臨濟三句:乃臨濟義玄接眾所立者,即:(一)三要印開朱點側,未容擬議主賓分。(二)妙解豈容無著問,漚和爭負截流機。(三)看取棚頭弄傀儡,抽牽都來裡有人。(參閱「臨濟三句」6505)
; (三句) Ba câu chuyển ngữ của các Thiền sư dùng để khai thị người học. Các tam cú sau đây được xem là có tính cách đại biểu: 1. Vân môn tam cú: Ba câu của Thiền sư Vân môn Văn yển: a) Hàm cái càn khôn: Ngậm chứa trời đất.b) Mục cơ thù lượng: Tùy theo căn cơ. Tam Cổ Câu Tam Cổ Kích Nội phược Tam cổ ấn c) Bất thiệp vạn duyên: Không dính các duyên. 2. Đức sơn tam cú: Ba câu của Thiền sư Đức sơn Duyên mật. a) Hàm cái càn khôn: Ngậm chứa trời đất.b) Tiệt đoạn chúng lưu: Dứt bặt các dòng. c) Tùy ba trục lãng: Theo nước đuổi sóng.(xt. Vân Môn Tam Cú). 3. Ba lăng tam cú: Ba câu của Thiền sư Ba lăng Hạo giám: a) Ngân uyển lí thịnh tuyết: Trong chén bạc đựng tuyết. b) San hô chi chi sanh trứ nguyệt: Cành cành san hô chống đỡ trăng. c) Kê hànthướng thụ áp hàn há thủy: Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước. Ba câu này rất được ngài Vân môn Văn yển tán thưởng. Ngài từng nói (Đại 48, 313 thượng): Sau này vào ngày giỗ của lão tăng, các ông chỉ cần cử xướng 3 câu chuyển ngữ này để cúng dường lão tăng là đủ rồi!. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. (xt. Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ). 4. Nham đầu tam cú: Ba câu của Thiền sư Nham đầu Toàn khoát: a) Giảo khứ giảo trụ: Chấp trước đi và đứng. b) Dục khứ bất khứ dục trụ bất trụ: Muốn thoát khỏi đi, đứng lại bị kẹt vào đi, đứng. c) Hoặc thời nhất hướng bất khứ hoặc thời nhất hướng bất trụ: Hoàn toàn thoát khỏi đi, đứng. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.6]. 5. Phần dương tam cú: Ba câu của Thiền sư Phần dương Thiện chiêu: a) Trước lực lớn: Lực lượng lớn mạnh. b) Chuyển thân cú: Cơ dụng chắc chắn, vững chãi. c) Thân thiết cú: Khế hợp nhanh chóng. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. 6. Lâm tế tam cú: Ba câu của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền: a) Tam yếu ấn khai chu điểm trắc, Vị dung nghĩ nghị chủ tâm phân: Một niệm khai ngộ, Phật chân thật hiện tiền. b) Diệu giải khởi dung vô trước vấn, Âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ: Dùng các pháp phương tiện để cầu giải thoát tuyệt đối.c) Khán thủ bằng đầu lộng ổi lỗi, Trừu khiên đô lai lí hữu nhân: Vì những người độn căn mà bày ra các pháp môn phương tiện để dắt dẫn, giúp họ khai ngộ. (xt. Lâm Tế Tam Cú).
tam cú giai đoạn
541略稱三句。乃因、根、究竟,或因、行、果等三句之意。係密宗從修因至佛果之階段以「菩提心為因」、「大悲為根」、「方便為究竟」等三句表示。大日經所說之甚深祕密之義,盡在此三句。(一)菩提心為因,菩提心即是白淨信心之義,眾生本有之佛性,圓具自行化他因果之功德,出過一切之戲論,如淨虛空,得深信力,離疑惑之心,能入佛海,萬行功德從此增長。(二)大悲為根,「悲」為梵語 karuṇā(音譯迦盧拏)之意譯;ka 是苦之義,ruṇā是剪除之義。即慈如廣植嘉苗,悲如芸除草穢。又根為能執持之義,猶如樹根執持莖葉花果,使不傾拔。即行者以遍一切處淨菩提心普作佛事,發起悲願,迴向群生,由自之善根及如來加持法界之力,所為之妙業皆得成就。即行者所修之萬行,由大悲故,任運開發。(三)方便為究竟,即萬行圓極無可復增,應物之方便自在,垂化法界,究盡能事。即醍醐之妙果,三密之源。 若以三句配列五轉,則菩提心為因,配於發心;大悲為根 A配於修行;方便為究竟,配於菩提、涅槃、究竟。若配列三部,則因配蓮華部能藏,根配金剛部智德,究竟配佛部圓滿。 又就此三句之相狀,金剛薩埵發起九種之問:(一)菩提心之生(體),(二)菩提心之相(相),(三)心之續生(淨心),(四)心之相(染污心),(五)時(修行所經),(六)功德聚(本有功德),(七)修行(能行),(八)異熟心(無記心),(九)心之殊異(修得淨心)。前六者就法問,後三者乃就人問。此九種之問又稱九句對問。〔大日經卷一、守護國界主陀羅尼經卷一、菩提心論、大日經疏卷一、卷二〕
; (三句階段) Gọi tắt: Tam cú. Giai đoạn 3 câu. Ba câu hàm ý là Nhân, Căn, Cứu cánh hoặc Nhân, Hành, Quả. Ba câu này biểu thị giai đoạn từ tu nhân đến Phật qua của Mật giáo, tức lấy tâm bồ đề làm nhân, lấy đại bi làm căn và lấy phương tiện làm cứu cánh. 1. Tâm bồ đề là nhân: Tâm Bồ đề tức là lòng tin trong sạch, chúng sinh sẵn có tính Phật, có đầy đủ công đức nhân quả tự hành hóa tha, vượt ngoài tất cả hí luận, thanh tịnh như hư không, được sức tin sâu, lìa tâm ngờ vực, vào được biển Phật, công đức muôn hạnh từ đó tăng trưởng. 2. Đại bi là căn: Bi là dịch ý từ tiếng Phạm Karuịà (Hán âm: Ca lô noa); Ka nghĩa là khổ,ruịà nghĩa là cắt đứt. Từ như trồng cấy lúa tốt, Bi như cắt bỏ cỏ dại. Căn nghĩa là có khả năng giữ gìn, giống như gốc cây giữ gìn thân cây, cành lá, hoa quả, không để gãy đổ. Tức là hành giả dùng tâm bồ đề thanh tịnh trùm khắp mọi nơi làm các Phật sự, phát khởi bi nguyện hồi hướng chúng sinh, nhờ căn lành của chính mình và sức gia trì pháp giới của Như lai mà các sự nghiệp vi diệu mình làm đều được thành tựu. Tức muôn hạnh do hành giả tu, nhờ đại bi mà tự nhiên khai phát. 3. Phương tiện là cứu cánh: Muôn hạnh đầy đủ cùng tột, không còn gì thêm nữa, phương tiện tùy cơ độ sinh được tự tại, mọi việc làm được rốt ráo, tức diệu quả đề hồ, nguồn gốc tam mật. Nếu đem Tam cú phối hợp với Ngũ chuyển thì tâm bồ đề là nhân phối với phát tâm, đại bi là căn phối với tu hành, phương tiện là cứu cánh phối với bồ đề, niết bàn, cứu cánh. Nếu đem phối hợp với Tam bộ thì nhân phối với Liên hoa bộ năng tàng, căn phối với Kim cương bộ trí đức và cứu cánh phối với Phật bộ viên mãn.[X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.1; luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1, 2].
tam cúng dường
Ba pháp cúng dường—Three modes of serving the Buddha: 1) Tài Cúng Dường: Dâng hương, hoa, quả—Offerings of incense, flowers and fruits. 2) Lễ Bái Cúng Dường: Tỏ lòng tôn kính—Offerings of praise and reverence. 3) Giới Cúng Dường: Hành trì tốt—Good (right) conduct.
Tam căn
三根; C: sāngēn; J: sankon;|1. Chỉ ba căn cơ của con người: Thượng, trung và hạ; 2. Ba nguồn gốc bất thiện là Tham, sân và si.
tam căn
599<一>又作三輩。眾生之根性有上、中、下三等,稱為三根。據法華經卷三藥草喻品載,猶如卉木叢林及諸藥草中,有小根小莖小枝小葉,有中根中莖中枝中葉,有大根大莖大枝大葉,其上中下隨樹之大小而各有所受。上根者(又作利根),根性伶俐,速發智解,堪忍耐難行,能證妙果;中根次之,下根(又作鈍根)最劣。摩訶止觀卷六下(大四六‧七九中):「下根斷惑盡,方能出假,佛於法華中破其取涅槃心,勸發無上道,起方便慧。(中略)中根者斷見惑已,生死少寬,思任運斷。(中略)上根者初心聞慧即能體達見思即空。」〔大智度論卷五十四、法華玄論卷九、止觀輔行傳弘決卷六之三、天台四教儀集註卷下〕 <二>全稱三不善根。即貪、瞋、癡等三煩惱。(參閱「三不善根」530) <三>全稱三無漏根。即二十二根中之未知當知根、已知根、具知根等。(參閱「三無漏根」629)
; The three (evil) roots - desire, hate, stupidity, idem tam độc. Another group is the three grades of good roots, or abilities, thượng, trung, hạ superior, medium and inđerior. Another is the three grades of faultlessness tam vô lậu căn.
; Three cultivated levels—Mỗi căn trong lục căn đều có ba khả năng khác nhau—Each of the six organs has three different powers: 1) Thượng Căn: Clever (high). 2) Trung Căn: Middle capacity (intermediate). 3) Độn căn: Dull (low).
; (三根) I. Tam Căn. Cũng gọi Tam bối. Căn tính của chúng sinh có 3 bậc thượng, trung, hạ gọi là Tam căn. Cứ theo phẩm Dược thảo dụ trong kinh Ba vị Ca diếp qui y đức Phật (bức khắc nổi ở tháp Sơn kì)Pháp hoa quyển 3, giống như cây cỏ um tùm trong rừng, có loại gốc nhỏ thân nhỏ cành nhỏ lá nhỏ, có loại gốc vừa thân vừa cành vừa lá vừa, có loại gốc lớn thân lớn cành lớn lá lớn; bậc thượng, trung, hạ tùy cây lớn nhỏ mà sức hấp thu khác nhau. Chúng sinh cũng thế, người thượng căn (lợi căn) căn tính lanh lẹ, bén nhạy, trí hiểu biết phát sinh nhanh chóng, có năng lực chịu đựng đối với việc khó làm và có khả năng chứng diệu quả; kế đến là người trung căn, còn người hạ căn (độn căn) là yếu kém nhất. Ma ha chỉ quán quyển 6, hạ (Đại 46, 79 trung) nói: Người hạ căn dứt hết hoặc (phiền não) mới ra khỏi Giả, trong kinh Pháp hoa, Phật phá tâm chấp trước Niết bàn của hạng người này, khuyến khích họ phát tâm Vô thượng đạo, khởi tuệ phương tiện (...) Người trung căn sau khi đoạn Kiến hoặc thì sinh tử rút ngắn dần, Tư hoặc tự nhiên đoạn. (...) Người thượng căn thì tâm chớm sinh trí tuệ liền thấu suốt Kiến hoặc và Tư hoặc tức không. [X. luận Đại trí độ Q.54; Pháp hoa huyền luận Q.9; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. II. Tam Căn. Gọi đủ: Tam bất thiện căn. Chỉ cho 3 phiền não tham, sân và si. (xt. Tam Bất Thiện Căn). III. Tam Căn. Gọi đủ: Tam vô lậu căn. Tức chỉ cho Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn trong 22 căn. (xt. Tam Vô Lậu Căn).
tam cương
664<一>指寺院中統領僧眾,職掌事務之三項僧職。綱,意謂以有德之僧立綱紀,提挈僧眾。即:(一)上座(梵 sthavira),原指法臘高之上座比丘,此係由法臘高而具德望者充任,以統領眾僧。(二)寺主(梵 vihāra-svāmin),原指建造寺院者,此處則指主司寺內堂宇之營造或管理等事者。(三)都維那,略稱維那。都維是漢語,那為梵語 karma-dāna(音譯作羯磨陀那,意譯為 穡Ā)之譯,故都維那為梵漢並稱之名詞。或譯作悅眾,係主司僧眾雜務者。三綱之制始於姚秦時代(四世紀末)。〔集異門足論卷四、大唐西域求法高僧傳卷上、佛祖統紀卷三十八〕 <二>謂寺主、知事、維那。有時亦稱上座、維那、典座三者。名稱上頗有變化。〔大宋僧史略卷中〕
; The three bonds, i.e. directors of a monastery: (a) thượng tọa sthavira, elder, president; (b) tự chủ, viện chủ vihàrasvàmin, trụ trì the abbot; (c) duy na karmàdana who directs the monks.
; (A) Ba bổn phận của con người được Khổng Tử dạy trong Tứ thư—Three relations of a man's duty taught in Confucian theory: 1) Quân thần: King and subject. 2) Phụ tử: Father and son. 3) Phu phụ: Husband and wife. (B) Ba vị sư chính trong tự viện—Three main monks in a monastery: 1) Tự Chủ: Vị sư trong coi tổng quát trong tự viện—Head of a monastery—An abbot, or controller of all affairs in a monastery. 2) Thượng Tọa: Vị sư trông coi việc hoằng pháp—Venerable, or bhikkhu who is responsible for preaching the dharma. 3) Duy Na: Vị sư giám viện—Supervisors of monks in a monastery.
; (三綱) I. Tam Cương. Ba chức vụ nòng cốt lãnh đạo chúng tăng trong tùng lâm là Thượng tọa, Tự chủ và Đô duy na. 1. Thượng tọa(Phạm:Sthavira): Vốn chỉ cho vị tỉ khưu Thượng tọa có tuổi hạ cao, ở đây chỉ cho người có tuổi hạ cao, danh đức trọng vọng được cử ra để thống lãnh chúng tăng. 2. Tự chủ(Phạm: Vihàra-svàmin): Vốn chỉ cho người xây cất chùa viện, ở đây thì chỉ cho người trông coi việc tu tạo điện đường trong chùa hoặc quản lí mọi việc... 3. Đô duy na, gọi tắt: Duy na: Đô duy là tiếng Hán, Na là tiếng Phạm karmadàna (dịch âm là Yết ma đà na, dịch ý là trao việc), bởi thế, Đô duy na là danh từ ghép chung cả Phạm và Hán. Hoặc được dịch là Duyệt chúng(làm cho chúng tăng đẹp lòng), là trông coi các việc lặt vặt trong chúng tăng. Chế độ Tam cương bắt đầu được đặt ra vào thời đại Diêu Tần (cuối thế kỉ IV).[X. luận Tập dị môn túc Q.4; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.38]. II. Tam Cương. Chỉ cho 3 chức vụ: Tự chủ, Tri sự, Duy na. Có khi cũng gọi là Thượng tọa, Duy na, Điển tọa. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung].
tam cảnh
Theo Pháp Tướng Tông, đối tượng của thế giới bên ngoài in hình bóng vào tâm thức gồm có ba loại cảnh. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, thì thuyết về ba loại cảnh có thể là xuất xứ từ Na Lan Đà. Những bài kệ thông dụng của Pháp Tướng Tông lại hầu như có nguồn gốc từ Trung Hoa, như sau: “Tâm cảnh bất tùy tâm. Độc ảnh duy tùy kiến. Đái chất thông tình bản. Tánh chủng đẳng tùy ưng.” Bài kệ nầy giải thích bằng cách nào mà ba loại cảnh liên hệ với nhiệm vụ chủ thể và bản chất nguyên bản ngoại tại. Bạn có thể điên đầu trong khi tìm hiểu vì sao Duy Thức Học lại có cái gọi là “thực thể nguyên bản.” Thực ra, đừng quên rằng mặc dù nó là thực thể ngoại tại, nó lại là cái biểu lộ ra ngoài từ nơi thức. Đệ bát A Lại Da thức tự nó không phải là thực thể cố định không thay đổi; nó luôn luôn biến chuyển từng sát na, và được huân tập hay ghi nhận ấn tượng bằng tri nhận và hành động, nó trở thành tập quán và hiệu quả trong sự biểu lộ ngoại tại. Nó giống như dòng nước chảy không bao giờ dừng lại ở một nơi nào trong hai thời hạn tiếp nối nhau. Và chỉ duy có dựa vào sự liên tục của dòng nước ta mới có thể nói về “dòng sông”—According to the Dharmalaksana, the objects of the outer world (visaya), which throw shadows on the mind-face are of three kinds. The theory of three kinds of the object-domain may have originated from Nalanda, but the four-line memorial verse current in the school is probably of Chinese origin. It runs as follow: “The object of nature does not follow the mind (subjective). The subject may be good or evil, but the object is always neutral. The mere shadow only follows the seeing (subjective). The object is as the subject imagines. The object with the original substance. The character, seed, etc, are various as occasions require. The object has an original substance, but the subject does not see it as it is.” This four-line verse explains how the three kinds of the object-domain are related to the subjective function and the outer original substance. One may be puzzled in understanding how an idealism can have the so-called original substance. We should not forget that though it is an outer substance it is after all a thing manifested out of ideation. The eighth, the Alaya-consciousness itself, is not an unchangeable fixed substance (dravya), but is itself ever changing instantaneously (ksanika) and repeatedly; and, being 'perfumed' or having impressions made upon it by cognition and action, it becomes habituated and efficient in manifestation. It is like a current of water which never stops at one place for two consecutive moments. It is only with reference to the continuity of the stream that we can speak of a river. Let examine these three kinds of object-domain: 1) Tánh Cảnh: Tri nhận tức thời, nghĩa là đối tượng có bản chất nguyên bản và trình bày nó như là chính nó, cũng như năm đối tượng giác quan, sắc, thinh, hương, vị, xúc, được tri nhận như vậy. Tiền ngũ thức và đệ bát A Lại Da thức, tri nhận đối tượng theo cách nầy—The object domain of nature or immediate perception, i.e., the object that has the original substance and presents it as it is, just as the five objects of the sense, form, sound, smell, taste and touch, are perceived as they are. The first five sense-consciousnesses and the eighth, the store-consciousness, perceive the object in this way. 2) Độc Ảnh Cảnh: Hay là ảo giác. Hình bóng chỉ xuất hiện tự nơi tưởng tượng và không có hiện hữu thực sự. Lẽ dĩ nhiên, nó không có bản chất nguyên bản, như một bóng ma vốn không có hiện hữu. Chỉ có trung tâm giác quan thứ sáu hoạt động và tưởng tượng ra loại cảnh nầy—The object-domain of mere shadow or illusion. The shadow-image appears simply from one's own imagination and has no real existence. Of course, it has no original substance as a ghost which which does not exist at all. Only the six sense-center, functions on it and imagines it to be. 3) Đối Chất Cảnh: Đối tượng có một bản chất nguyên bản nhưng lại không được tri nhận đúng y như vậy. Khi đệ thất Mạt Na Thức nhìn lại nhiệm vụ chủ thể của đệ bát A Lại Da Thức, nó xem thức nầy như là ngã. Nhiệm vụ chủ thể của A Lại Da đệ bát thức có bản chất nguyên bản, nhưng nó không được đệ thất Mạt Na Thức nhìn thấy y như vậy, và chỉ được xem như là ngã, mà thực tại thì chỉ là ảo giác vì nó không phải là ngã—The object-domain with the original substance. The object has an original substance and yet is not perceived as it is. When the seventh, the thought-center, looks at the subjective function of the eighth, the store-center, it considers that it is self or ego. The subjective function of the eighth, the store-center, has its original substance or entity, but it is not seen as it is by the seventh consciousness and is regarded to be self or an abiding ego, which is in reality an illusion since it is not self at all.
tam cấu
579垢,梵語 mala。三種垢穢之意。指能垢穢眾生心行之貪(梵 rāga)、瞋(梵 dveṣa)、癡(梵 moha)三毒。無量壽經義疏卷上(大三七‧一○三下):「消除三垢,濟度厄難,小乘法教,化斷三毒,名除三垢。」即以三毒為三垢之說。華嚴經疏演義鈔卷十六之上解釋毘舍浮佛無三垢之語,以現行、種子、習氣三者,稱為三垢。天台家則以見思、塵沙、無明等三惑為三垢。〔大乘義章卷五本、無量壽經連義述文贊卷中〕
; The three defilers - desire, hate, stupidity (or ignorance)
; (三垢) Cấu, Phạm: Mala. Ba thứ cáu bẩn. Chỉ cho 3 độc tham (Phạm: Ràga), sân (Phạm: Dvewa) và si (Phạm: Moha) làm cho tâm hành của chúng sinh nhớp nhúa. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 37, 103 hạ) nói: Tiêu trừ tam cấu, cứu giúp ách nạn, pháp Tiểu thừadạy dứt tuyệt 3 độc, gọi là Trừ tam cấu, tức nói tam độc là tam cấu. Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao quyển 16, thượng, giải thích câu Phật Tì xá phù không có tam cấu cho 3 thứ hiện hành, chủng tử và tập khí là tam cấu. Còn các nhà Thiên thai thì gọi Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc là Tam cấu. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung].
tam cấu nhiễm
Tam Độc—Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Cấu Nhiễm—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three defilers or stains: 1) Tham Cấu Nhiễm: Desire—Greed—The stain of lust. 2) Sân Cấu Nhiễm: Anger—Ire—The stain of hatred. 3) Si Cấu Nhiễm: Stupidity—Ignorance—The stain of delusion.
tam cổ
574密教法器之一,為金剛杵之一種。股又作鈷、古、囄,故三股亦稱三鈷杵(梵 tri-śaṅkuḥ)、三股金剛、三股跋折羅、三股縛日囉、底里賞俱、三鈷等。三股原為印度之武器,杵頭分三枝,表示胎藏界佛、金剛、蓮華三部,及身、語、意三密,或總表三智三觀等三軌之法門。蘇悉地經謂,行者手執三股杵,則不為毘那夜迦所障難,又護摩及念誦時,左手持之,能成就諸事。〔金剛頂經卷二、慧苑音義卷上〕
; (三股) Cũng gọi Tam cổ chử, Tam cổ kim cương, Tam cổ bạt chiếc la, Tam cổ phạ nhật ra, Để lí thường câu, Tam cổ. Chày 3 chĩa (Phạm: Tri-zaíku#), 1 trong các pháp khí của Mật giáo. Tam cổ vốn là 1 thứ vũ khí của Ấn độ đời xưa, ở đầu chia làm 3 chĩa, tượng trưng cho 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ của Thai tạng giới và 3 mật Thân, Ngữ, Ý; hoặc tượng trưng chung cho pháp môn Tam quĩ là 3 trí, 3 quán... Theo kinh Tô tất địa, khi hành giả cầm chày 3 chĩa thì không bị Tì na dạ ca gây chướng ngại; còn khi niệm tụng Hộ ma, cầm chày 3 chĩa bên tay trái thì thành tựu mọi việc. [X. kinh Kim cương đính Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
tam cổ câu
575又稱三鈷鉤、金剛鉤。為密教表示佛菩薩鉤召之德所用之三昧耶形。因其柄之鋒頭作三股金剛形,故有此稱。原為印度武器之一,後為密教採用,表示諸尊之三昧耶形,如金剛界曼荼羅四攝菩薩中之金剛鉤菩薩、外金剛部之金剛面天、胎藏界曼荼羅遍知院之大安樂不空真實菩薩、虛空藏院之不空鉤觀世音菩薩等皆持之。此外,金剛界曼荼羅三昧耶會之金剛王菩薩,其三昧耶形亦與三股鉤並立。〔金剛界七集卷上、諸說不同記卷二〕
; (三股鈎) Cũng gọi Kim cương câu. Móc câu 3 chĩa, vốn là 1 trong những thứ vũ khí của Ấn độ đời xưa, về sau được Mật giáo sử dụng để tượng trưng cho hình Tam muội da của các vị tôn. Như các bồ tát Kim cương câu trong Tứ nhiếp bồ tát của Mạn đồ la Kim cương giới, Kim cương diện thiên của Ngoại kim cương bộ, bồ tát Đại an lạc bất không chân thực trong viện Biến tri của Mạn đồ la Thai tạng giới, bồ tát Bất không câu Quán thế âm của viện Hư không tạng v.v... đều cầm Tam cổ câu.[X. Kim cương giới thất tập Q.thượng; Chư thuyết bất đồng kí Q.2]
tam cổ kích
574梵語 tri-sūla 或 śaktiḥ。音譯咥哩首羅。又作三頭戟、三鈷戟、三戟叉、三古鉾。略稱三戟。密教法器之一,為尖端分三股之戟。胎藏界曼荼羅金剛手院忿怒月靨尊之三昧耶形即此,表降伏貪瞋癡三毒煩惱,以顯佛部、金剛部、蓮華部等三部諸尊之義。為現圖胎藏曼荼羅之降三世、大威德、勝三世忿怒月黶、千手觀音、精進波羅蜜等諸尊所持之法器,又外金剛部院之伊舍那天、廣目天、烏摩妃、水天眷屬等亦皆持此三形,概示摧破內外惡魔之德。〔大日經疏卷十六、諸說不同記卷四〕
tam cổ kých
(三股戟) Phạm:Tri-sùlahoặc Zakti#. Hán âm: Điệt lí thủ la. Cũng gọi Tam đầu kích, Tam kích xoa, Tam cổ mâu. Gọi tắt: Tam kích. Cây kích 3 chĩa đầu nhọn, 1 trong các thứ pháp khí của Mật giáo. Tam cổ kích là hình Tam muội da của Phẫn nộ nguyệt yểm tôn trong viện Kim cương thủ của Mạn đồ la Thai tạng giới, biểu thị ý hàng phục 3 độc tham, sân, si để hiển bày nghĩa của các vị tôn thuộc 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ. Tam cổ kích là pháp khí cầm tay của các vị tôn như Hàng tam thế, Đại uy đức, Thắng tam thế phẫn nộ nguyệt yểm, Thiên thủ Quan âm, Tinh tiến ba la mật... trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Ngoài ra, Y xá na thiên, Quảng mục thiên, Ô ma phi, quyến thuộc của Thủy thiên... trong viện Ngoại kim cương bộ, cũng đều cầm cây kích này, đại khái là tượng trưng cho đức phá dẹp ác ma trong và ngoài. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].
tam cổ ấn
574股,又作鈷、囄、谷。即密教表示三股金剛杵形之印契。又稱三股金剛杵印、三股杵印。半印者稱為小三股印;相對於此,此印又稱大三股印。依印母之內縛、外縛,而有內縛三股印、外縛三股印二種。內縛三股印之印相為二手內縛,二中指豎合,二食指彎曲如鉤形,各附於二中指指背(約有一麥之距離),遂形成三股杵之形。大日經密印品所說之摩麼雞印等即是內縛三股印。有關內縛三股印之印相,另有多種異相。反之,印母外縛者,稱為外縛三股印。甘露軍荼利軌所說之金剛部母莽莫雞印、大三昧耶等之結界印等,亦皆為三股印。
; (三股印) Cũng gọi Tam cốc ấn, Tam cổ kim cương chử ấn, Tam cổ chử ấn. Ấn khế tượng trưng hình cây chày kim cương 3 chĩa của Mật giáo. Ấn được kết 1 nửa gọi là Tam tiểu cổ ấn, đối lại, ấn này cũng được gọi là Tam đại cổ ấn. Y cứ vào Nội phược và Ngoại phược của ấn mẫu mà có 2 loại là Nội phược tam cổ ấn và Ngoại phược tam cổ Tam Cổ Chử ấn. Ấn tướng của Nội phược tam cổ ấn là 2 tay kết Nội phược quyền, 2 ngón giữa dựng thẳng chạm đầu vào nhau, 2 ngón trỏ co lại như hình móc câu, đều đặt ở lưng của 2 ngón giữa(để cách khoảng chừng 1 hạt thóc), tạo thành hình dáng cây chày 3 chĩa. Ấn Ma ma kê nói trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật chính là Nội phược tam cổ ấn. Về ấn tướng của Nội phược tam ấn còn có nhiều thuyết khác nhau. Trái lại, ấn mẫu ngoại phược, thì gọi là Ngoại phược tam cổ ấn. Ngoài ra, ấn Mãng mạc kê của Kim cương bộ mẫu, ấn Kết giới của Đại tam muội da... nói trong Cam lộ quân đồ lợi quĩ, cũng đều là Tam cổ ấn.
tam cổng niết bàn
Ba cửa ngõ đi vào Niết Bàn—Three gates to the city of nirvana: 1) Không: The emptiness—The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Vô sắc—Formless. 3) Vô tác: Inactivity.
tam cụ túc
559指供養於佛前之香爐、花瓶、燭臺。若花瓶與燭臺左右各一對,則稱五具足。
; The three essential articles for worship: flower vase, candlestick and censer.
; Ba món cần thiết khi thờ cúng—The three essential articles for worship: 1) Bình hoa: Flower vase. 2) Đèn: Candlestick. 3) Lư hương: Censer.
; (三具足) Đầy đủ 3 thứ. Tức chỉ cho lô hương, bình hoa và chân đèn cúng dường ở trước Phật.
tam cử
687指比丘違犯不見、不懺悔、惡見不捨等三罪,犯此三罪者,則宜行羯磨法,以舉其罪,棄彼等於眾人之外,稱為三舉。即:(一)不見舉,對犯罪後雖經他人忠告,仍不自認有罪者。(二)不懺舉,對有過而無心悔改之人。(三)惡見不捨舉,對生惡見,謂己知佛所說一切法,並謂犯婬欲非障道法者。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上一、卷上二、僧羯磨卷下治人篇〕
; The three exposures, i.e. the three sins of a monk, each entailing his unfrocking - wilful non confession of sin, unwillingness to repent, claiming that lust is not contrary to the doctrine.
; (三舉) Ba tội được nêu ra (cử) để chúng tăng xét xử trong khi làm pháp yết ma. Người vi phạm 1 trong 3 tội này thì bị đuổi ra khỏi đại chúng. Tam cử là: 1. Bất kiến cử: Người phạm tội, sau khi được người khác thành thực khuyên bảo nhưng vẫn không chịu thừa nhận là mình có tội. 2. Bất sám cử: Người có lỗi nhưng không có tâm ăn năn sửa đổi. 3. Ác kiến bất xả cử: Người cho mình biết tất cả pháp do đức Phật nói, đồng thời chủ trương phạm dâm dục không phải là chướng ngại đạo pháp. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1, phần 2; thiên Trị nhân trong Tăng yết ma Q.hạ].
tam cực thiểu
637指物質、名稱、時間等三種之極少。即:一極微為物質之極少,一字為諸名之極少,一剎那為時間之極少。〔俱舍論卷十二〕
; The three smallest things, i.e. an atom, as the smallest particle of matter; a letter, as the shortest possible name; a ksana, as the shortest periodof time.
; (三極少) Chỉ cho đơn vị nhỏ nhất của 3 thứ là vật chất, danh xưng và thời gian. Đơn vị nhỏ nhất của vật chất là cực vi; đơn vị nhỏ nhất của danh xưng là 1 chữ; đơn vị nhỏ nhất của thời gian là sát na. [X. luận Câu xá Q.12].
tam da tam bồ
Xem Tam miệu Tam Phật đà.
tam da tam phật
Xem Tam miệu Tam Phật đà.
tam danh ☸ a nan tam danh
〖出翻譯名義〗阿難是斛飯王之子。佛成道日生,以其能持法藏,有三種不同,隨德受稱,故有三名也。〔一、名阿難〕,梵語阿難,華言慶喜。生時合國欣慶歡喜故也。以其親承佛旨,傳以化人,即傳持聲聞藏也。〔二、名阿難跋陀〕,梵語阿難跋陀,華言喜賢。以其住於有學之地,得空、無相、無願三解脫門,即傳持緣覺藏也。(空者,謂了達自性本空,無我、我所也。無相者,謂一切法空無男女相也。無願者,謂了達諸法無相,無所願求也。以能空此三者,即得自在無礙,故云解脫門也。)〔三、名阿難迦羅〕,梵語阿難迦羅,華言喜海。以其解了如來說法,無說而說,說即無說;所謂佛法大海水,流入阿難心。即傳持菩薩藏也。
tam danh ☸ văn thù tam danh
〖出翻譯名義〗〔一、文殊師利〕,梵語文殊師利,華言妙德。謂具不可思議種種微妙功德,故名妙德。〔二、滿殊尸利〕,梵語滿殊尸利,華言妙首。謂具不可思議微妙功德,在諸菩薩之上,故名妙首。〔三、曼殊室利〕,梵語曼殊室利,華言妙吉祥。謂具不可思議微妙功德,最勝吉祥,故名妙吉祥。
tam dao động
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Dao Động—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of trouble: 1) Tham Dao Động: The trouble of lust. 2) Sân Dao Động: The trouble of hatred. 3) Si Dao Động: The trouble of delusion.
tam diện đại hắc thiên
Trời mặt đen—The three-faced great black deva—Mahakala.
tam diệt đế
640指法相宗依遍計所執等三性所立之三種滅諦。即:(一)自性滅,即遍計所執性之自性不生。滅為不生之義;自性不生,假名為滅,並非一定為諦所攝。此為性實諦假。(二)二取滅,即依他起性之二取不生。「二取」指能取、所取,「滅」為擇滅。有護法、安慧之二說。護法謂斷染分之依他起性的能取、所取,可得不生,不生為擇滅,此即滅諦。二取不生,為擇滅所由之門,故擇滅假名為依他起性,滅體則非依他起性;此為性假諦實。安慧則謂能取、所取是遍計所執性,二取所依染污識之自體分為依他起性,斷此二取所依之依他起性的自體分,可得不生,不生即滅,假名為依他起性。(三)本性滅,即真如之本性寂滅。真如本性染垢皆寂,故為本性滅。又真如為本性滅者,若僅依「詮」而言,為性實諦假;若「詮」、「旨」合說,則為性諦俱實。〔成唯識論卷八、辯中邊論卷中、成唯識論述記卷九本〕
; (三滅諦) Chỉ cho 3 loại Diệt đế do tông Duy thức dựa vào 3 tính mà lập ra. 1. Tự tính diệt: Tự tính của tính Biến kế sở chấp chẳng sinh. Diệt nghĩa là chẳng sinh. Tự tính chẳng sinh, giả gọi là Diệt, hoàn toàn chẳng thuộc về Đế. Đó là tính thực đế giả. 2. Nhị thủ diệt: Nhị thủ(năng thủ, sở thủ) của tính Y tha khởi là chẳng sinh. Diệt là trạch diệt. Theo ngài Hộ pháp thì đoạn trừ năng thủ, sở thủ của tính Y tha khởi thuộc phần nhiễm thì có thể được bất sinh, bất sinh là trạch diệt, đó tức là Diệt đế. Năng thủ, sở thủ chẳng sinh là cửa của trạch diệt từ đó mà ra, cho nên trạch diệt giả gọi là tính Y tha khởi, nhưng thể của diệt thì chẳng phải tính Y tha khởi. Đó là tính giả đế thực. Còn theo ngài An tuệ thì năng thủ, sở thủ là tính Biến kếsở chấp, nhị thủ nương vào phần thể của thức nhiễm ô là tính Y tha khởi. Nếu dứt phần tự thể của tính Y tha khởi làm chỗ nương cho năng thủ, sở thủ này thì có thể được không sinh, không sinh tức là diệt, giả gọi là tính Y tha khởi. 3. Bản tính diệt: Tức bản tính của chân như vốn vắng lặng. Bản tính chân như không có nhiễm ô, cho nên là bản tính diệt. Chân như là bản tính diệt, nếu chỉ nói theo thuyên(giải rõ)thì là tính thực, đế giả; còn nếu nói cả thuyên và chỉ(yếu chỉ) thì là đế và tính đều thực. [X. luận Thành duy thức Q.8; luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu].
tam diệu
553指天台宗所立「心、佛、眾生」三者互相妙融自在之說。乃自他相互包攝之形容語。蓋法華經有相待、絕待二妙,用此二妙以妙融心、佛、眾生三法,則眾生之法亦具有二妙,佛法與心法二者亦各具二妙,而得融妙自在,乃成三妙。〔法華玄義卷二上、法華玄義釋籤卷二上〕
; (三妙) Chỉ cho thuyết Tâm, Phật và chúng sinh dung hòa vào nhau một cách mầu nhiệm tự tại do tông Thiên thai thành lập. Đây là từ ngữ hình dung sự bao nhiếp lẫn nhau giữa mình và người. Bởi vì kinh Pháp hoa có 2 diệu là Tương đãi diệu và Tuyệt đãi diệu; 2 diệu này được dùng để dung hợp 3 pháp Tâm, Phật và chúng sinh 1 cách mầu nhiệm thì pháp chúng sinh cũng có 2 diệu, pháp Phật và pháp Tâm mỗi pháp cũng đều có 2 diệu, dung hòa lẫn nhau 1 cách tự tại mà thành là Tam diệu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, thượng].
tam diệu hạnh
553梵語 trīṇi sucaritāni,巴利語 tīṇi sucaritāni。又作三清淨。為「三惡行」之對稱。指三種智者所愛樂,能招可愛之果之行。(一)身妙行(梵 kāya-sucarita),指亙一切加行、根本、後起等一切善之身業。(二)語妙行(梵 vāksucarita),亦為亙一切加行、根本、後起等一切善之語業。(三)意妙行(梵 manaḥ-sucarita),一切善思,亦即無貪、無瞋、正見等三種意業。 三妙行與善業道有所別,即業道乃唯以粗品之根本為其性,不攝其餘之善;妙行則含攝一切之善。又說一切有部主張意業以思為體,謂思與無貪等各有別體,故立意業及非業之無貪、無瞋、正見等為意妙行。經量部則主張無貪等離思即無別體,故即是意業,在意業之外,不立無貪等為意妙行。此外,大毘婆沙論卷十七以諸身妙行即身清淨,諸語妙行即語清淨,諸意妙行即意清淨,而稱三妙行為三清淨。〔雜阿含經卷十一、集異門足論卷三、大毘婆沙論卷一一二、阿毘達磨順正理論卷四十一〕
; Trini-sucaritani (S)Gồm: Thân diệu hạnh, Ngữ diệu hạnh, ý diệu hạnh.
; A muni, recluse or monk, who controls his body, mouth, and mind thân khẩu ý. Also tam mâu ni.
; Ba phẩm chất của một tăng sĩ—Three characteristics of a good monk: 1) Kềm thúc nơi thân: Control his body. 2) Kềm thúc nơi khẩu: Control his mouth. 3) Kềm thúc nơi ý: Control his mind.
; (三妙行) Chỉ cho cái giường thiền trongTăng đường. Giường này rộng 3 thước (Tàu). Trên đầu giường có 3 cái đòn tay, cho nên gọi là Tam điều chuyên hạ. Chiều dài của giường là 6 thước, gọi là Đơn tiền; ván giường dày 1 thước, cộng chung là 7 thước, gọi là Thất xích đơn tiền. Tùy kích thước khác nhau mà có Lục xích đơn, Ngũ xích đơn... Bích nham lục tắc 25 (đại 48, 166 hạ) nói: Nếu những người ấy thấy được thì là cùng tham với am chủ Liên hoa phong. Còn nếu chưa được như thế thì tam điều chuyên hạ, thất xích đơn tiền, hãy tham kỹ thử xem!. [X. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Tây thiền kế đồ thiền sư chương].
tam doãn
532明末清初僧。湖南平江人,俗姓李。生卒年不詳。少入學堂,名聞鄉里。及長,值甲申(1644)之變,投身義軍,轉戰有年,後因敗覆,入山為僧,遊化南北,十有餘年。康熙初年返里,值三藩亂作,大軍會剿,閭里騷動,師愍之,至長沙謁安親王,懇禁暴掠,民始得蘇。眾感其德,尊為護國禪師。晚歲結茅於星岳山中,民為創建精舍,號為棲賢林。後無疾而終,世壽七十餘。
Tam duyên
三縁; C: sānyuàn; J: san'en;|Ba loại nhân duyên (điều kiện). I. 1. Chung sinh (終生): Nhân duyên chấm dứt cuộc sống; 2. Đoạn hoặc (斷惑): Nhân duyên cắt đứt lậu hoặc, phiền não; 3. Thụ sinh (受生): Nhân duyên thụ sinh (thụ thai, tái sinh). II. Tà sư, tà giáo và tà kiến. III. Theo Thiện Đạo (善導) thì có ba nhân duyên thiện hảo được khởi dẫn trong lúc niệm Phật: 1. Thân duyên (親縁): Hành giả trở nên thân thiện hơn với Phật A-di-đà trong lúc xưng tán hồng danh của ngài, quán tưởng công đức của ngài cũng như tỏ vẻ cung kính tuỳ thuận; 2. Cận duyên (近縁): Hành giả nhờ lòng thành tha thiết yết kiến Phật mà được ngài cảm ứng; 3. Tăng thượng duyên (増上縁): Vì lòng thành xưng tán danh hiệu Phật nên hành giả tiêu diệt được nghiệp chướng, đạt được một cấp bậc tái sinh tốt hơn.
tam duyên
674又作攝取三緣。乃指親緣、近緣、增上緣,即念佛之行者被阿彌陀佛光明所攝之緣由,共有三種。此語係出自善導之觀經疏定善義卷三。(一)親緣,行者口稱名號,身禮敬佛,心默念佛,而佛聞其稱名,見其禮佛,知其念佛。如此行者與佛互相憶念,兩者具有密不可分之關係。(二)近緣,行者欲見佛時,佛即應行者而親近其身。(三)增上緣,行者稱念名號,念念除去罪障,臨命終時,聖眾來迎,不為業障所繫縛,必定往生。此外,又指慈悲之緣,即:眾生緣、法緣、無緣緣。(參閱「慈悲」5805)
; The three nidànas or links with the Buddha resulting from calling upon him, a term of the Pure land sect: (1) thân duyên that he hears those who call his name, sees their worship, knows their hearts and is one with them; (2) cận duyên that he shows himself to those who desire to see him; (3) tăng thượng duyên that at every invocation aeons of sin are blotted out, and he and his sacred host receive such a disciple at death.
; Ba mối duyên nối kết khi chúng ta cầu niệm Phật—Three nidanas or links with the Buddha resulting from calling upon him: 1) Thân duyên: Đức Phật A Di Đà nghe những người trì niệm hồng danh của Ngài, thờ phụng Ngài, biết tâm họ và tâm Ngài là một—That Amitabha hears those who call his name, sees their worship, knows their hearts and is one with them. 2) Cận duyên: Đức Phật A Di Đà hiển hiện ngay trước những người mong mỏi được thấy Ngài—That Amitabha shows himself to those who desire to see him. 3) Tăng thượng duyên: Những người mà trong mỗi lời nguyện luôn nguyện tẩy sạch tội chướng, khi lâm mạng chung thời Đức Phật A Di Đà sẽ tiếp dẫn—At every invocation (cầu nguyện) aeons of sins are blotted out (tẩy đi), Amitabha and his sacred host receive such a disciple at death.
; (三緣) Cũng gọi Nhiếp thủ tam duyên. Chỉ cho Thân duyên, Cận duyên và Tăng thượng duyên. Từ ngữ này có xuất xứ từ Quán kinh sớ định thiện nghĩa quyển 3 của ngài Thiện đạo đời Đường, nói về duyên do mà những hành giả tu Tịnh độ được ánh sáng của đức Phật A di đà nhiếp thủ. Tam duyên là: 1. Thân duyên: Khi hành giả miệng xưng danh hiệu Phật, thân lễ kính Phật, tâm thầm niệm Phật thì Phật nghe người ấy xưng danh, thấy ngườiấy lễ kính, biết người ấy niệm Phật. Như vậy, hành giả và Phật nhớ nghĩ lẫn nhau, cả 2 đều có sự quan hệ thân thiết không thể chia cắt được. 2. Cận duyên: Khi hành giả muốn thấy Phật thì Phật liền đáp ứng lòng mong muốn ấy của hành giả mà hiện ra ở gần bên hành giả.3. Tăng thượng duyên: Hành giả xưng niệm danh hiệu Phật, niệm niệm diệt trừ tội chướng, lúc lâm chung, Thánh chúng đến đón, không bị nghiệp chướng trói buộc, chắc chắn được vãng sinh. Ngoài ra, Tam duyên cũng chỉ cho Từ bi duyên(tức Chúng sinh duyên), Pháp duyên và Vô duyên duyên. (xt. Từ Bi).
Tam Duyên Sơn Chí
(三緣山志, Sanenzanshi): 9 quyển, trước tác của Trúc Vĩ Thiện Trúc (竹尾善筑, Takeo Zenchiku, 1782-1839), cháu của Sơn Huyện Đại Nhị (山縣大貳, Yamagata Daini, 1725-1767), nhà binh học dưới thời Giang Hộ; là thư tịch viết về lịch sử của Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji), ngôi chùa trung tâm của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông.
tam dư
685又作三種餘。餘,殘餘、殘留之意。謂聲聞、緣覺二乘之人雖已入於無餘涅槃,然仍有煩惱、業、果報等三種之殘餘。(一)煩惱餘,又作障餘。謂二乘之人雖已斷除煩惱障,人於無餘涅槃而灰身滅智,然所知障尚未斷除,微細之煩惱尚未滅盡,此即煩惱之殘餘。(二)業餘,又作道餘。謂二乘之人雖已斷除一切有漏業,然仍受變易身而殘餘無漏業。(三)果報餘,又作果餘、報餘、苦餘。謂二乘之人雖已斷除煩惱障,滅盡有漏業,斷捨分段身,而入於無餘涅槃,然因尚未斷除所知障,未滅盡無漏業,未斷捨變易身,故猶殘餘變易之果報。〔佛性論卷三、大乘起信論義記卷上、五教章通路記卷五十〕
; 〖出華嚴經隨疏演義鈔〗〔一、煩惱餘〕,煩惱餘亦名障餘。謂二乘之人,雖斷三界內見、思惑盡,尚有界外無明惑在,故名煩惱餘。(二乘者,聲聞乘、緣覺乘也。三界者,欲界、色界、無色界也。)〔二、業餘〕,業餘亦名道餘。謂二乘之人,雖斷三界內業縛,尚餘界外變易生死之業,故名業餘。〔三、苦餘〕,苦餘亦名果餘。謂二乘之人,已出三界分段生死,尚有變易生死之苦,故名苦餘。
; The three after death remainders, or continued mortal experiences of sràvakas and pratyeka-buddhas who mistakenly think they are going to vô dư niết bàn final nirvàna, but will still find phiền não dư further passion and illusion, nghiệp dư further karma and quả dư continued rebirth, in realms beyond tam giới trailokya.
; Ba thứ còn thừa lại khiến chúng sanh tiếp tục luân hồi—The three after death remainders, or continued mortal experiences, of sravakas and pratyeka-buddha, who mistakenly think they are going to final nirvana (Vô dư Niết bàn), but will still find the following three remainders: 1) Phiền não dư: Further passion and illusion. 2) Nghiệp dư: Further karma. 3) Quả dư: Continued rebirth, in realms beyond the trailoka (tam giới).
; (三餘) Cũng gọi Tam chủng dư. Dư là thừa ra, sót lại. Nghĩa là hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tuy đã vào Niết bàn vô dư nhưng vẫn còn sót lại 3 thứ là phiền não, nghiệp và quả báo. Đó là: 1. Phiền não dư(cũng gọi Chướng dư): Hàng Nhị thừa tuy đã dứt trừ Phiền não chướng, vào Niết bàn vô dư nguội thân bặt trí, nhưng vẫn chưa đoạn trừ Sở tri chướng, các phiền não nhỏ nhiệm vẫn chưa được diệt hết, đây chính là tàn dư của phiền não. 2. Nghiệp dư(cũng gọi Đạo dư): Hàng Nhị thừa tuy đã dứt trừ tất cả nghiệp hữu lậu, nhưng vẫn còn chịu thân biến dịch và nghiệp vô lậu tàn dư. 3. Quả báo dư(cũng gọi Quả dư, Báo dư, Khổ dư): Hàng Nhị thừa tuy đã đoạn trừ Phiền não chướng, dứt hết nghiệp hữu lậu, xả bỏ thân phần đoạn mà vào Niết bàn vô dư, nhưng vì chưa đoạn trừ Sở tri chướng, chưa diệt hết nghiệp vô lậu, chưa dứt bỏ thân biến dịch nên vẫn còn chịu quả báo của thân biến dịch tàn dư. [X. luận Phật tính Q.3; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.50].
Tam Dương
(三陽): Dịch Học Tượng Số thời nhà Hán lấy 12 quẻ tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Trong đó, tháng 10 là quẻ Khôn (坤卦), thuần về hào âm; tháng 11 là quẻ Phục (復卦), một dương sanh bên dưới; tháng 12 là quẻ Lâm (臨卦), hai dương sanh bên dưới; tháng Giêng là quẻ Thái (泰卦), ba dương sanh bên dưới. Lúc này âm dần tiêu, dương dần tăng trưởng, có ý là vạn sự vạn vật đều đổi mới. Cho nên, sau này người ta thường dùng từ Tam Dương khai thái (三陽開泰), Tam Dương giao thái (三陽交泰) để xưng tụng, chúc mừng đầu năm mới hoặc ngụ ý cát tường, tốt đẹp. Như trong tờ Hạ Nguyên Đán Biểu (賀元旦表) của Trương Cư Chánh (張居正, 1525-1582) nhà Minh có đoạn: “Tư giả đương Tam Dương khai thái chi hầu, chánh vạn vật xuất chấn chi thời, khí chuyển hồng quân, cọng lạc Nghiêu thiên chi hóa nhật (茲者當三陽開泰之候、正萬物出震之時、氣轉鴻鈞、共樂堯天之化日, nay gặp lúc khí tiết đầu xuân tốt đẹp, đúng phải lúc vạn vật chuyển mình, khí rung đất trời, cùng vui ngày chuyển hóa dưới trời vua Nghiêu).” Hay trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (續指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 11 có câu: “Tam Dương giao thái, vạn vật hàm tân, hiển nhất chân chi diệu dụng, tổng tạo hóa chi uyên nguyên, trần trần hợp đạo, xứ xứ thông tân, pháp diên đại khải, giác uyển hoằng khai (三陽交泰、萬物咸新、顯一眞之妙用、總造化之淵源、塵塵合道、處處通津、法筵大啟、覺苑弘開, đầu xuân an thái, muôn vật mới toanh, lộ nguồn chơn ấy diệu dụng, thảy tạo hóa ấy uyên nguyên, nơi nơi hợp đạo, chốn chốn thấm nhuần, cỗ pháp rộng mở, vườn giác phô bày).”
Tam dục
xem Ba sự ham muốn.
tam dục
615<一>眾生心之所欲。(一)形貌欲,見端容美貌而生貪著之心。(二)姿態欲,見行步進止、含笑嬌態等而生愛染之心。(三)細觸欲,見男女皮膚之細軟、滑澤而生耽染之心。北本大般涅槃經卷十二(大一二‧四三四上):「菩薩摩訶薩如是觀時,身所有骨一切分離。得是觀已,即斷三欲。」 <二>釋氏要覽卷下引涅槃經所載出家人所起之三欲:(一)惡欲,欲為一切大眾上首,令一切僧隨彼,令四眾皆供養恭敬讚歎,若為說法則皆信受,又令彼得豐美衣食屋宅等。(二)大欲,令四眾知彼得初住乃至四無礙智而得利養。(三)欲欲,欲生梵天乃至剎利家而得自在。 <三>翻譯名義集卷三世界篇所載之三欲,即指欲界之三大欲望:(一)飲食欲,凡夫之人於種種美味飲食多生貪愛。(二)睡眠欲,凡夫之人心多暗塞,不能勤修道業,耽於睡眠。(三)婬欲,一切男女互相貪染,起諸欲事。
; The three lusts, i.e. for form, carriage or beauty, and refinement or softness to the touch.
; The three lusts—Three kinds of desire: (A) 1) Hình mạo dục: Ưa thích mặt mày mình mẩy đẹp đẻ—Lust for form. 2) Tư thái dục: Ưa thích dung nghi cốt cách—Lust for carriage or beauty. 3) Tế xúc dục: Thích sự xúc chạm nhẹ nhàng êm ái—Lust for softness to the touch or refinement. (B) 1) Dâm: Sex. 2) Thực: Food. 3) Thùy: Sleep.
; (三欲) I. Tam Dục. Ba cái tham muốn trong tâm chúng sinh, đó là: 1. Hình mạo dục: Thấy dáng người xinh đẹp liền sinh lòng tham đắm. 2. Tư thái dục: Thấy cử chỉ đi đứng khoan thai, thái độ vui vẻ, yểu điệu liền sinh tâm ái nhiễm. 3. Tế xúc dục: Thấy làn da của nam, nữ mịn màng, bóng láng liền sinh tâm đắm nhiễm. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 12 (Đại 12, 434 thượng) nói: Lúc Đại bồ tát quán xét như thế thì tất cả xương trong thân đều chia lìa. Quán được như vậy rồi liền dứt tam dục. II. Tam Dục. Ba thứ dục của người xuất gia nói trong kinh Niết bàn, đó là: 1. Ác dục: Muốn làm bậc Thượng thủ trong đại chúng, khiến tất cả chư tăng phải theo mình, 4 chúng đều phải cúng dường cung kính khen ngợi mình; nếu có nói pháp cho họ nghe thì muốn họ đều tin nhận và dâng cúng cho mình y phục, thức ăn, nhà cửa... dồi dào. 2. Đại dục: Bảo cho 4 chúng biết mình đã được Sơ thụ cho đến Tứ vô ngại trí để mong lợi dưỡng. 3. Dục dục: Muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên cho đến dòng Sát đế lợi để được tự tại. III. Tam Dục. Chỉ cho 3 thứ dục vọng lớn ở cõi Dục nói trong thiên Pháp giới của Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, đó là: 1. Ẩm thực dục: Đối với các thức ăn uống thơm ngon, người phàm phu thường sinh tâm tham đắm. . Thụy miên dục: Tâm người phàm phu thường mờ tối, không chịu siêng năng tu hành đạo nghiệp, chỉ thích ngủ nghỉ. 3. Dâm dục: Tất cả nam nữ đều say đắm nhau, làm các việc dâm dục.
tam dục sanh
Kamupapattiyo (skt)—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại dục sanh—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of rebirth in the realm of Sense-Desire. 1) Có những loại hữu tình do dục an trú. Đối với các dục họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài người, một số chư Thiên, và một số tái sanh trong các đọa xứ: There are beings who desire what presents itself to them, and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in state of woe. 2) Có những loại hữu có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên, Hóa Lạc Thiên: There are beings who desire what they have created, such as the devas who rejoice in their own creation. 3) Có những loại hữu tình có lòng dục đối với sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loài khác tạo ra, như các loài Tha Hóa Tự Tại Thiên: There are beings who rejoice the creations of others, such as the devas Having Power over Others' Creation.
Tam giai giáo
三階教; C: sānjiē-jiào; J: sankaikyō;|»Giáo lí dành cho ba giai cấp«. Một phong trào Phật giáo được khởi dẫn bởi Tín Hành (信行, 540-594). Tam giai tương ưng với căn cơ khác nhau của chúng sinh, bao gồm: 1. Căn cơ tu hành theo Nhất thừa, dành cho những người căn cơ tuyệt đỉnh; 2. Căn cơ thực hiện Tam thừa, dành cho những người tuy không thực hiện được Nhất thừa, nhưng vẫn có khả năng phán đoán chân chính, phân biệt đúng sai, và 3. Không có căn cơ, khả năng gì, hoặc căn cơ thấp kém nhất, phá giới, ôm ấp tà kiến. Giáo lí dành cho hai giai cấp đầu được gọi là Biệt pháp (別法), giáo lí phân tích, phân biệt được chân nguỵ và giáo lí dành cho giai cấp cuối cùng được gọi là Phổ pháp (普法), lấy nguyên tắc »tất cả đều là Pháp thân« làm cơ sở, đặc biệt dành cho những chúng sinh căn cơ thấp kém, mù quáng từ lúc sinh ra (sinh manh 生盲), không có khả năng phân biệt thiện ác, chân nguỵ.|Phái này chia giáo pháp đức Phật ra ba giai đoạn: 1. Giai đoạn Chính pháp, là lúc mọi người đều tuân thủ giáo pháp Phật, kéo dài khoảng 500 năm kể từ Phật nhập diệt; 2. Giai đoạn Tượng pháp, là lúc pháp bị lẫn lộn đúng sai, kéo dài khoảng 1000 năm; 3. Giai đoạn Mạt pháp, là lúc giáo pháp không còn ai tin và bị huỷ diệt, giai đoạn này kéo dài 10.000 năm. Thời mạt pháp được xem là bắt đầu từ năm 550 sau Công nguyên và hiện nay còn kéo dài.|Tín Hành và các môn đệ cho rằng, chỉ môn phái của mình mới giữ đúng giáo pháp. Phái Tam giai chủ trương giữ nghiêm khắc Giới luật (s: śīla), ép xác, khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Giáo phái này công kích các phái khác, gọi các nhà cầm quyền là »chệch hướng« nên bị cấm năm 600, và khoảng năm 845 mới thật sự biến mất.|Theo Tín Hành thì Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa được giảng trong giai đoạn thứ nhất. Trong giai đoạn thứ hai thì Ba thừa (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát thừa) được truyền bá. Theo tông này, cả hai giai đoạn này đều có giới hạn. Giai đoạn thứ ba dành cho thời kì mạt pháp. Giáo lí phải thật toàn triệt và Tam giai giáo là đại diện.|Thời kì mạt pháp có đặc tính là con người chê bai giới luật, ngã theo tà đạo, không phân biệt tốt xấu, đúng sai. Theo phái này thì con người như thế nhất thiết phải tái sinh ở địa ngục, và một đời sống thiền định, phạm hạnh trong tu viện cũng không cứu được con người trong thời mạt pháp. Tông này chủ trương tu sống khổ hạnh, rời tu viện và sống với sự nghèo khổ của quần chúng. Quan điểm của phái này là mọi hiện tượng đều do Phật tính biến hiện ra, tất cả chúng sinh là »Phật sẽ thành«. Nhằm biểu hiện quan điểm này, đệ tử phái này hay quì lạy những người chẳng quen biết ngoài đường ngoài chợ, thậm chí quì lạy cả chó mèo và vì vậy hay bị cười đùa. Ðệ tử của Tam giai giáo tu phép bố thí và vì thế, hay nhận được của bố thí. Nhờ vậy với thời gian, phái này có nhiều của cải, có nhiều phương tiện làm việc thiện xã hội. Họ tổ chức những hoạt động từ thiện, ban phát quần áo, thức ăn cho người nghèo khổ hay bỏ tiền sửa chữa chùa chiền, tổ chức nghi lễ.
tam giai giáo
634又稱第三階宗、三階宗、普法宗。為隋代信行(540~594)所創,至中唐為止所流行之佛教宗派。信行自稱一乘菩薩,倡導第三階之佛教,廢具足戒,強調苦行忍辱、從事勞役,並以乞食為生,一日一食。反對偶像崇拜而僅禮拜塔。認為一切眾生皆是真佛,故路見男女,一概禮拜。在經濟方面,於隋文帝開皇三年(583),設置十六種「無盡藏行」之制度,勸化信徒施捨錢糧,而由寺院庫藏,然後布施或借貸給貧苦信徒,或供修繕寺塔經藏之用。開皇九年,僕射高潁迎請信行入住長安真寂寺(化度寺)弘法,又開創光明、慈門、慧日、弘善等諸寺。開皇十四年一月示寂。著有三階佛法、對根起行法等三十五部四十四卷。其門下有慧定、道進、王善行、王善性等。 開皇二十年,此派系被視為異端而受到敕禁,但其徒眾不絕。唐武則天證聖二年(696)時,敕禁乞食、長齋、持戒坐禪以外之行法。玄宗開元十三年(725),復敕令三階教徒於諸寺所設三階院之隔障悉除,令之與大院相通,眾僧雜居,而禁止三階教徒別居一處。另據貞元新定釋教目錄卷十載,唐德宗貞元十六年(800)四月曾將此宗之典籍入藏,其後,此宗宗典復自大藏經中被剔除,至宋代始湮滅不聞。直至近代,敦煌文物出土,史坦因(A. Stein)、伯希和(P. Pelliot)二人分別自敦煌石室中獲得若干三階教之典籍,有關三階佛法之研究乃漸受學者之重視。 此宗將佛教按「時」、「處」、「機」(指人)分為三階,以第一階為正法時期,「處」為佛國,其「機」唯有佛菩薩,所修持者為大乘一乘佛法;第二階為像法時期,「處」為五濁諸惡世界,「機」為凡聖混雜,流行大小乘(三乘)佛法;第三階為末法時期,「處」為五濁諸惡世界,然人皆邪解邪行。信行以為當時已進入第三階之末法,人僅為第三階之不持戒失正見者而已,若依據第一階之一乘、第二階之三乘等別法來修行,實甚困難,故必須依第三階之普法,歸依一切三寶,斷除一切惡,修持一切善,始易有成。此即三階宗之根本主張。現存於日本之「三階佛法」,為日本學者矢吹慶輝博士收集在敦煌出土本中所發現之若干典籍,及散見於與此宗不同立場之淨土系等典籍中之部分資料彙編而成。〔三階佛法密記卷上、開元釋教錄卷十八、華嚴五教章卷一、釋淨土群疑論卷四、三階教の研究(矢吹慶輝)〕
; (三階教) Cũng gọi Đệ tam giai tông, Tam giai tông, Phổ pháp tông. Tông phái Phật giáo Trung quốc do ngài Tín hành (540-594) sáng lập vào đời Tùy đến đời Trung đường thì bị cấm lưu hành. Ngài Tín hành tự xưng là Nhất thừa bồ tát, đề xướng Phật giáo giai đoạn thứ 3, bỏ giới Cụ túc, chủ trương khổ hạnh nhẫn nhục, làm các việc nặng nhọc, ngày ăn 1 bữa, và sống bằng cách khất thực. Phản đối việc sùng bái ngẫu tượng mà chỉ lễ bái tháp. Sư cho rằng tất cả chúng sinh đều là chân Phật, cho nên trên đường đi gặp bất cứ ai đều lễ lạy. Về phương diện kinh tế, vào năm Khai hoàng thứ 3 (583) đời vua Văn đế nhà Tùy, sư thiết lập chế độ 16 thứ Vô tận tạng hạnh, khuyến hóa tín đồ thí xả tiền tài, lương thực và do các chùa cất giữ, sau đó đem bố thí hoặc cho các tín đồ nghèo túng vay mượn, hoặc dùng vào việc sửa chữa chùa tháp, kinh tạng... Năm Khai hoàng thứ 9 (589) quan Thượng thư Tả bộc xạ là Cao dĩnh thỉnh ngài Tín hành vào ở chùa Chân tịch (chùa Hóa độ) tại Trường an để hoằng pháp, ở đây sư lại sáng lập các chùa Quang minh, Từ môn, Tuệ nhật, Hoằng thiện... Đến tháng giêng năm Khai hoàng 14 (594) sư thị tịch. Đệ tử có các vị: Tuệ định, Đạo tiến, Vương thiện hạnh, Vương thiện tính... Sư có các tác phẩm: Tam Giai Phật pháp, Đối căn khởi hành pháp... gồm 35 bộ, 44 quyển. Năm Khai hoàng 20 (600), hệ phái này bị coi là dị đoan và bị vua ban sắc lệnh cấm lưu hành, nhưng đồ chúng vẫn duy trì. Vào năm Chứng thánh thứ 2 (696), Vũ tắc thiên nhà Đường ban sắc cấm chỉ các hành pháp khác ngoài việc khất thực, trường trai, giải giới, tọa thiền. Năm Khai nguyên 13(725), vua Huyền tông lại ra lệnh phá bỏ các viện Tam giai do tín đồ Tam giai xây dựng trong khuôn viên các chùa để ngăn cách chùa, buộc chúng tăng ở chung với nhau và cấm chỉ giáo đồ Tam giai ở riêng 1 chỗ. Lại cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 10 thì vào tháng 4 năm Trinh nguyên 16 (800) đời vua Đức tông nhà Đường, sách vở tông Tam giai được đưa vào Đại tạng kinh, nhưng về sau, lại bị loại trừ ra khỏi Đại tạng, đến đời Tống thì mất hẳn không nghe nói đến nữa. Mãi đến thời cận đại, khi những di vật văn hóa được phát hiện tại Đôn hoàng thì 2 ông A. Stein (người Anh) và P. Pelliot (người Pháp) mới lần lượt tìm được 1 số kinh sách của Tam giai giáo trong hang đá Đôn hoàng, từ đó, việc nghiên cứu về Phật pháp Tam giai mới dần dần được giới học giả xem trọng. Tông này căn cứ vào những yếu tố Thời(thời đại), Xứ(xứ sở) và Cơ(con người) mà chia Phật pháp ra làm 3 giai đoạn: 1. Giai đoạn thứ nhất: Thời là thời đại Chính pháp, Xứ là nước Phật, Cơ là Phật, Bồ tát. Giáo pháp thụ trì trong giai đoạn này là Phật pháp Nhất thừa của Đại thừa.2. Giai đoạn thứ hai: Thời là thời đại Tượng pháp. Xứ là thế giới 5 trược ác, Cơ là phàm thánh lẫn lộn, giáo pháp lưu hành trong giai đoạn này là Tam thừa (gồm cả Đại thừa và Tiểu thừa). 3. Giai đoạn thứ ba: Thời là thời Mạt pháp, Xứ cũng là thế giới 5 trược ác, Cơ thì đều là tà giải tà hành(hiểu sai làm sai).Ngài Tín hành cho rằng thời đại của ngài lúc bấy giờ đã là giai đoạn thứ 3, chỉ toàn là những người không giữ giới, mất chính kiến mà thôi, nếu nương theo các pháp khác như Nhất thừa của giai đoạn thứ nhất, Tam thừa của giai đoạn thứ hai mà tu hành thì thực rất khó khăn cho nên phải nương vào Phổ pháp của giai đoạn thứ ba mà qui y tất cả Tam bảo, đoạn trừ tất cả điều ác, tu trì tất cả đều thiện thì Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4; Tam giai giáo nghi nghiên mới dễ thành tựu. Đó chính là chủ trương căn bản của tông Tam giai. X. Tam giai Phật pháp mật kí Q.thượng; cứu (Thỉ xuy Khánh huy)].
Tam giai Phật pháp
三階佛法; C: sānjiē fófǎ; J: sankai buppō;|Tam giai Phật pháp là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Tam giai giáo trong thời kì Tuỳ-Đường; người ta đã tìm thấy lại nhiều bản ở cả hai nước, Nhật Bản và Trung Hoa.
tam giai phật pháp
(三階佛法) Cũng gọi Tam giai biệt tập, Tam giai tập lục, Tam giai tập, Tứ quyển tam giai. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tín hành (549-594) soạn vào năm Khai hoàng 12 (592) đời Tùy và được thu vào Đại chính tạng tập 85, cũng được thu chép vào thiên Tam Giai giáo chi nghiên cứu của học giả Thỉ xuy Khánh huy người Nhật bản. Sách này là giáo điển căn bản của Tam giai giáo thịnh hành 1 thời váo các đời Tùy Đường và cũng là Thánh điển được giáo đồ Tam giai tôn sùng nhất. Vào các đời Tùy, Đường, Tam giai giáo đã từng nhiều lần bị triều đình cấm lưu hành, nên sách này cũng như các sách vở khác của Tam giai giáo hầu hết đã bị thất truyền. Nhưng, thời gần đây, toàn bộ 4 quyển của sách này đã được tìm thấy ở chùa Hưng thánh tại Kyoto, Nhật bản. Còn trong các di vật văn hóa đào được ở Đôn hoàng cũng bao gồm các mảnh đứt rách của quyển 2, quyển 3 sách này; quyển 2 do ông A. Stein thu tập, hiện được cất giữ ở viện bảo tàng Đại anh tại Luân đôn, quyển 3 thì do ông P. Pelliot sở hữu và hiện được tàng trữ ở thư viện Quốc gia tại Ba lê. Lại theo tác phẩm Tam giai Phật pháp mật kí đào được ở Đôn hoàng thì nội dung sách này có thuyết Ba đại đoạn, Mười tử đoạn, Hai mươi lăm tử cú. Đại đoạn thứ nhất căn cứ vào tập khí ở quá khứ mà giải thích rõ về nghĩa của căn cơ Tam giai; Đại đoạn thứ hai căn cứ vào con người hiện tại mà bàn về sự tà chính của Tam giai; Đại đoạn thứ ba thì trước hết căn cứ vào kinh giáo được bẩm thụ mà nêu rõ pháp Tam giai có thượng trung hạ, nhẹ nặng, cạn sâu khác nhau, sau đó căn cứ vào bi điền(ruộng thương), kính điền(ruộng kính) mà nói rõ rằng người Tam giai giáo nương theo cảnh mà khởi hành, sự lợi ích và duyên do của sự khởi hành ấy... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.18]
tam giai phật pháp mật kí
634原為三卷,今僅存上卷,即敦煌本伯希和第二四一二號。係隋代信行所撰三階佛法之注釋書,上卷內分示名、舉數、釋義、指文等四門,論述三階教義。
tam giai phật pháp mật ký
(三階佛法密記) Tác phẩm, 3 quyển, hiện nay chỉ còn quyển thượng, là bản do ông P. Pelliot lấy được ở Đôn hoàng, mang số hiệu 2412. Đây là sách chú thích bộ Tam giai Phật pháp do ngài Tín hành soạn vào đời Tùy. Nội dung quyển thượng có 4 môn: Thị danh, Cử số, Thích nghĩa và Chỉ văn, trình bày về giáo nghĩa Tam giai.
tam giác
705<一>指三種惡覺。又作三不善覺、三惡覺、三界。乃凡夫所具三種障礙禪定之惡覺。即:(一)欲覺,又作貪覺,對世間可貪之事思量而起欲心。(二)瞋覺,又作恚覺,對世間怨憎之事思量而起瞋心。(三)害覺,又作惱覺,生憎嫉之心,起惱害他人之念。〔雜阿含經卷二十四、大方等大集經卷十七、品類足論卷五〕(參閱「三想」636) <二>指三種善覺。又作三善覺。即:(一)離欲覺,又作出覺,可用以對治欲覺。(二)無恚覺,又作無瞋覺,可用以對治瞋覺。(三)無害覺,可用以對治害覺。〔長阿含經卷八、品類足論卷五、成實論卷十四善覺品〕 <三>為妙覺果佛所具足之三覺,即:(一)自覺,謂覺知三世一切諸法常、無常等,悟性真空,了惑虛妄,功成妙智,道證圓覺,故稱自覺。(二)覺他,謂運無緣之慈,度諸眾生,令離生死苦,得涅槃樂。(三)覺行圓滿,又作覺滿,謂三惑淨盡,眾德悉備,位登妙覺,行滿果圓。阿羅漢具自覺,菩薩具自覺、覺他二覺,佛具三覺。〔品類足論卷五、觀經玄義分卷一、無量壽經義疏卷上〕 <四>大乘起信論所說之本覺、始覺、究竟覺。(一)本覺,指一切眾生本來固有之自性清淨心。(二)始覺,依本覺內薰與教法外薰而妄心漸起契於本覺之知覺者。(三)究竟覺,始覺中與本覺極其一致者。
; The three kinds of enlightenment: (1) (a) tự giác enlightenment for self; (b) giác tha for others; (c) giác hạnh viên mãn perfect enlightenment and accomplishment; the first is an arhat's, the first and second a bodhisattva's, all three a Buddha's. (2) From the Awakening of Faith Khởi tín luận: (a) bản giác inherent, potential enlightenment or intelligence of every being ; (b) thủy giác initial, or early stages of such enlightenment brought about through the external perfuming or influence of teaching, working on the internal perfuming of subsconscious intelligence; (c) cứu cánh giác completion of enlightenment the subjective mind in perfect accord with the subsconcious mind, or the inherent intelligence.
; Ba loại giác ngộ—Three kinds of enlightenments: (A) 1) Tự giác: Enlightenment for self. 2) Giác tha: Help others attain enlightenment. 3) Giác hạnh viên mãn: Perfect enlightenment and achievement. (B) 1) Bổn giác: Inherent, potential enlightenment or intelligence of every being. 2) Thủy giác: Initial or early stage of enlightement, brought about through the external or influence of teaching. 3) Cứu cánh giác: Completion of enlightenment.
; (三覺) I. Tam Giác. Cũng gọi Tam bất thiện giác, Tam ác giác, Tam giới. Chỉ cho Dục giác, Sân giác, và Hại giác, là 3 thứ ác giác làm chướng ngại thiền định của phàm phu. 1. Dục giác(cũng gọi Tham giác): Suy nghĩ về những thứ hấp dẫn của thế gian mà sinh tâm ham muốn. 2. Sân giác(cũng gọi Khuể giác): Suy nghĩ về những việc oán ghét ở thế gian mà sinh tâm tức giận. 3. Hại giác(cũng gọi là Não giác): Sinh tâm ghen ghét mà có ý niệm làm não hại người khác. [X. kinh Tạp a hàm Q.24; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17; luận Phẩm loại túc Q.5]. (xt. Tam Tưởng). II. Tam Giác. Cũng gọi Tam thiện giác. Chỉ cho 3 thứ Thiện giác dùng để đối trị 3 thứ Ác giác, đó là: 1. Li dục giác(cũng gọi Xuất giác): Dùng để đối trị Dục giác. 2. Vô khuể giác(cũng gọi Vô sân giác): Dùng để đối trị Sân giác. 3. Vô hại giác: Dùng để đối trị Hại giác.[X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Phẩm loại túc Q.5; phẩm Thiện giác luận Thành thực Q.14]. III. Tam Giác. Chỉ cho Tự giác, Giác tha, và Giác hạnh viên mãn của quả Phật Diệu giác. 1. Tự Giác: Giác biết tất cả các pháp trong 3 đời, pháp nào là thường, pháp nào là vô thường..., tỏ ngộ tính chân không, rõ biết các hoặc là hư vọng, thành tựu trí mầu nhiệm, chứng đạo viên giác nên gọi là Tự giác.2. Giác tha: Vận dụng tâm từ bi vô duyên, cứu độ chúng sinh, khiến họ thoát khổ sinh tử, được vui Niết bàn. 3. Giác hạnh viên mãn(cũng gọi Giác mãn): Hết sạch 3 hoặc, đầy đủ mọi đức, lên ngôi Diệu giác, hạnh mãn quả viên. Bậc A la hán chỉ có Tự giác; hàng Bồ tát được Tự giác và Giác tha, chỉ có Phật mới đầy đủ Tam giác. [X. luận Phẩm loại túc Q.5; Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. IV. Tam Giác. Chỉ cho Bản giác, Thủy giác và Cứu cánh giác nói trong luận Đại thừa khởi tín. 1. Bản giác: Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh xưa nay vốn có của tất cả chúng sinh. 2. Thủy giác: Tri giác có được nhờ bản giác huân tập(xông ướp) bên trong và giáo pháp huân tập bên ngoài mà vọng tâm dần dần khế hợp với bản giác. 3. Cứu cánh giác: Thủy giác và bản giác hoàn toàn nhất trí.
Tam Giác sơn
三角山; C: sānjueshān; J: sankakusan; K: samgaksan.|Một ngọn núi nằm ở quận Cao Dương (高陽郡; k: koyanggun), Hàn Quốc, nổi danh vì những chùa chiền ở đây.
tam giác đàn
A three-cornered altar in the fire-worship of Chân Ngôn tông, connected with exorcism.
Tam giáo
三教; C: sānjiào; J: sankyō;|Có hai cách phân loại thường gặp: I. Ba truyền thống Đạo học lớn tại Đông á: 1. Phật giáo (佛教), 2. Nho giáo (儒教) và 3. Đạo giáo (道教); II. Theo Thiền sư Khuê Phong Tông Mật trong bài chú giải Viên Giác kinh (圓覺經) thì cách phân chia Tam giáo trong Phật giáo như sau: 1. Đốn giáo (頓教) được trình bày trong kinh Hoa nghiêm (華嚴經), 2. Tiệm giáo (漸教) trong thời kì Phật giảng dạy ở Lộc Uyển cho đến khi nhập niết-bàn tại Sa-la thụ viên, và 3. Bất định giáo (不定教), dạy về tính viên mãn vô khiếm, vĩnh hằng của Phật tính.
tam giáo
609將佛一代之聖教判別為三類。此種判教盛行於南北朝以後。<一>南北通用之頓教、漸教、不定教等化儀三教。(一)頓教,指不循順序次第,起始即說幽深教法之教,如華嚴經。(二)漸教,指由淺入深,由小至大,循序漸進之教法,如阿含經、般若經、涅槃經等。(三)不定教,又作偏方不定教、無方教。攝頓、漸,隨機隨時應變之教法,如勝鬘經、金光明經。 以上之漸教復有其教法層次,故產生三時教、四時教、五時教之說。虎丘山笈法師即分之為三教,謂自佛成道至十二年之中,講說諸法實有之道,稱為有相教,如阿含經;十二年後至法華時之中,講說諸法皆空之旨,稱為無相教;最後於雙樹林之時,有無雙照,而說一切眾生皆有佛性,闡提亦可作佛,稱為常住教。宗愛法師復於無相、常住之間加上同歸教,而成四教;莊嚴寺之僧旻亦同此主張。道場寺慧觀、定林寺僧柔、謝寺慧次等更於無相、同歸之間加上褒貶抑揚教(如淨名、思益等經),而成五教。至於不定教,則智顗分之為顯露不定、祕密不定二種,而各簡稱為不定教、祕密教、加上頓、漸二教,雖成化儀四教,實則仍不出頓漸不定三教。又法華玄義卷十雖載稱此三教南北通用,恐係江南諸師所立,故又有「南中三教」之稱。其中,頓漸二教乃慧觀首立,唯其說法起源甚早。至於不定教,則係後人添加,首倡者不詳。〔大品經遊意(吉藏)、大方廣佛華嚴經疏卷一、法華玄義釋籤講義卷十(慧澄)、大乘義章卷一、三論玄義〕 <二>北魏慧光(世稱光統律師)所立之漸教、頓教、圓教。又稱光統三教。(一)漸教,為根機未熟者按淺深順序說教,如先說無常,後說常,先說空,後說不空。(二)頓教,為利根者於一法門具說常無常、空不空。(三)圓教,為上臻佛境者說如來之無礙解脫、究竟果海、圓極祕密等自在法門,如華嚴經即是。立華嚴經為圓教即以慧光為嚆矢。〔華嚴經探玄記卷一、華嚴經疏鈔玄談卷四、華嚴經搜玄記卷一本、華嚴五教章卷一〕 <三>地論宗所立之立相教、捨相教、顯真實教。(一)立相教,為二乘之人所說有相之教。(二)捨相教,大品等經廣明無相之理,故稱捨相。(三)顯真實教,華嚴等經顯示真實,故稱顯真實教。此說創於慧光之後。〔大乘玄論卷五〕 <四>南山道宣所立之性空教、相空教、唯識圓教。(一)性空教,諸法性空無我,以此理照心,是為小乘。(二)相空教,諸法本相是空,唯情妄見,以此理照用,為小菩薩,屬大乘淺教,如般若經等。(三)唯識圓教,諸法外塵本無,實唯有識,此理深妙,唯意緣知,悉攝一切大乘深義,如華嚴、法華、楞伽等經,攝大乘等論均屬之。以上,前二者為權教,後者是實教。又依此三教而立之三觀稱性空觀、相空觀、唯識觀。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷中四懺六聚法篇、四分律行事鈔資持記卷中四之三、八宗綱要卷上〕 <五>宋代贊寧所立之顯教、密教、心教。(一)顯教,指諸乘之經律論等,以迦葉摩騰為始祖。(二)密教,指瑜伽、灌頂、五部、護摩、三密、曼拏、輪法等,以金剛智為始祖。(三)心教,指直指人心、見性成佛之禪法,以菩提達磨為始祖。〔宋高僧傳卷三〕 <六>真諦三藏依金光明經(合部金光明經卷二業障品)等所立之轉法輪、照法輪、持法輪。佛成道後七年中於鹿野苑講說四諦之理,稱為轉法輪。七年後在舍衛國說般若等,以空照有,此時具有轉、照二輪。三十年後入涅槃前,在毘舍離國為真常之菩薩說解節經等,空有雙照,此時具有轉、照、持三輪。此為真諦解節經疏之說,出於圓測之解深密經疏卷五、華嚴經疏卷一。又解深密經疏卷五載,真諦之部宗異論記立小乘法輪、大乘法輪、一乘法輪等三教。初法輪即三藏教,僅指小乘,即阿含經;第二法輪通於大小二乘,即涅槃經;第三法輪僅指大乘,即華嚴、般若等經。此為轉、照、持三法輪之別說。 <七>嘉祥寺吉藏所立之根本法輪、枝末法輪、攝末歸本法輪。(一)根本法輪,指華嚴經。此經乃佛成道最初所說。(二)枝末法輪,即為小乘等後所說之經。(三)攝末歸本法輪,指法華經。此經乃佛成道四十年後,說會三歸一之理。(參閱「三轉法輪」694) <八>唐代玄奘所立之有教、空教、中道教。為法相宗之教判。(一)有教,初時於鹿苑等處轉小乘四諦之法輪,說「我空法有」之旨。(二)空教,第二時於靈鷲山等說諸部般若,述「諸法皆空」之旨。(三)中道教,第三時說深密等經,破有、空二執,而明中道之旨。華嚴五教章中則以此三時分別為轉、照、持等三法輪。又依華嚴經探玄記卷一載,印度戒賢論師立第一時「人空法有」(有教),第二時「諸法皆空」(空教),第三時「非有非空」(中道教),與玄奘所立三教之內容相同。〔起信論義記序〕(參閱「三法輪」573、「三時教」596) <九>印度智光論師依般若經、中觀論等立三時教,以第三之無相大乘為了義教。謂佛初時於鹿野苑為諸小根說四諦等小乘之法,明「心境俱有」之旨。第二時中為中根者說法相大乘,明「境空心有唯識」之理。第三時為上根說無相大乘,明「心境俱空、平等一味」之義,即般若等之義。〔華嚴經探玄記卷一、起信論義記序〕 除以上九種就佛法內容而判教外,我國亦常以佛、儒、道並稱三教,日本則是佛教、神道教、儒教並稱三教。此三教在中日歷史上曾有混同之現象,然同時亦有彼此排斥之事例。(參閱「三教論衡」612)
; The three teachings, i.e. Nho Confucianism, Phật Buddhism and Đạo Taoism; or Khổng, Lão, Thích Confucianism, Taoism, Buddhism. In Japan they are Shinto thần đạo, Confucianism and Buddhism. In Buddhism the term is applied to the three periods of Sàkyamuni's own teaching of which there are several definitions: (1) The Giang Nam school describe his teaching as (a) tiệm progressive or gradual; (b) đốn immediate; (c) bất định indeterminate. (2) Quang Thống describes the three are: (a) tiệm progressive for beginners; (b) đốn immediate for the more advanced; (c) viên complete for the most advanced. (3) The Nam Sơn deals with (a) Tính không of Hìnayàna; (b) Tướng không of Mahàyàna; (c) Duy thức viên the perfect idealism. Thiên Thai accepts the division of tiệm, đốn and bất định for pre-Lotus teaching trước thời Pháp Hoa, but adopts tiệm, đốn, viên with the Lotus as the perfect teaching; it also has the division of tam tạng giáo, thông giáo and biệt giáo.
; (A) Three religions: Buddhism, Confucianism and Taoism. (B) Sakyamuni's teaching: 1) Tạng giáo hay Tam tạng giáo: The Tripitaka doctrine (the orthodox of Hinayana)—See Tạng Giáo, Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo and Thiên Thai Tông. 2) Thông giáo: The intermediate, or interrelated doctrine (Hinayana-cum-Mahayana)—See Thông Giáo and Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo. 3) Biệt giáo: The differentiated or separated doctrine (Early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana)—See Biệt Giáo.
; (三教) Thánh giáo 1 đời của đức Phật được các nhà phán giáo chia làm 3 loại: Thuyết này thịnh hành ở Trung quốc từ thời Nam Bắc triều về sau. I. Tam Giáo. Chỉ cho Đốn giáo. Tiệm giáo và Bất định giáo. 1. Đốn giáo: Giáo này không tuần tự theo thứ lớp mà ngay từ đầu đã nói giáo pháp sâu xa, kín nhiệm như kinh Hoa nghiêm. 2. Tiệm giáo: Chỉ cho giáo pháp tiến tới dần dần theo thứ lớp từ cạn đến sâu, từ nhỏ đến lớn, như các kinh A hàm, Bát nhã, Niết bàn... 3. Bất định giáo(cũng gọi Thiên phương bất định giáo, Vô phương giáo): Giáo pháp thu nhiếp cả Đốn lẫn Tiệm, tùy cơ, tùy thời mà ứng biến, như các kinh Thắng man, kinh Kim quang minh... Tiệm giáo nói trên lại được chia ra nhiều tầng bậc giáo pháp, cho nên đã sản sinh các thuyết như Tam thời giáo, Tứ thời giáo, Ngũ thời giáo... Pháp sư Cấp ở núi Hổ khâu chia làm 3 giáo, nghĩa là trong thời gian từ khi đức Phật thành đạo đến năm thứ 12, Ngài tuyên giảng đạo lí các pháp có thật, gọi là Hữu tướng giáo, như kinh A hàm; trong thời gian từ năm thứ 12 trở đi đến thời Pháp hoa thì Ngài tuyên giảng yếu chỉ các pháp đều không, gọi là Vô tướng giáo; sau cùng, khi ở rừng Song thụ là lúc tuyên thuyết giáo pháp Hữu, Vô song chiếu, đức Thế tôn nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính và Xiển đề cũng có khả năng thành Phật, gọi là Thường trụ giáo. Giữa khoảng Vô tướng giáo và Thường trụ giáo, Pháp sư Tông ái lại thêm Đồng qui giáo mà thành 4 giáo. Ngài Tăng mân ở chùa Trang nghiêm cũng cùng chủ trương này. Còn các ngài Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, Tăng nhu ở chùa Định lâm, Tuệ thứ ở chùa Tạ... thì giữa khoảng Vô tướng giáo và Đồng qui giáo, lại thêm Bao biếm ức dương giáo (như các kinh Tịnh danh, Tư ích...) mà thành 5 giáo. Về Bất định giáo thì Ngài Trí khải chia làm 2 loại là Hiển lộ bất định và Bí mật bất định, được gọi tắt là Bất định giáo, Bí mật giáo rồi thêm vào 2 giáo Đốn, Tiệm, tuy thành 4 giáo nhưng thực ra không ngoài 3 Đốn, Tiệm, và Bất định nói trên. Ngoài ra, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 tuy nói 3 giáo này thông dụng cả ở Nam và bắc, nhưng có lẽ đã do các sư ở Giang nam lập ra, cho nên còn có tên là ‘Nam trung tam giáo. Trong đó, Đốn giáo và Tiệm giáo do ngài Tuệ quán thành lập đầu tiên, còn Bất định giáo thì do người sau thêm vào, nhưng không rõ người đầu tiên đề xướng là ai. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát tạng); Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.10 (Tuệ trừng); Đại thừa nghĩa chương Q.1; Tam luận huyền nghĩa]. II. Tam Giáo.Cũng gọi Quang thống tam giáo. Chỉ cho Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo do ngàiTuệ quang (người đời gọi là Luật sư Quang thống) đời Bắc ngụy lập ra. 1. Tiệm giáo: Giáo pháp nói theo thứ lớp từ cạn đến sâu để độ những người căn cơ chưa thuần thục, như trước nói vô thường, sau nói thường, trước nói không, sau nói bất không. 2. Đốn giáo:Đối với những căn cơ bén nhạy thì trong 1 pháp môn, nói đủ cả thường, vô thường, không, bất không. 3. Viên giáo: Vì những người đạt đến cảnh giới Phật mà nói các pháp môn tự tại của Như lai như Vô ngại giải thoát,cứu cánh quả hải, viên cực bí mật... như kinh Hoa nghiêm chính là Viên giáo. Như vậy, ngài Tuệ quang là người đầu tiên lập kinh Hoa nghiêm làm Viên giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].III. Tam Giáo. Chỉ cho Lập tướng giáo, Xả tướng giáo và Hiển chân thực giáo do tông Địa luận thành lập. 1. Lập tướng giáo: Giáo pháp hữu tướng nói cho hàng Nhị thừa. 2. Xả tướng giáo: Kinh Đại phẩm... thuyết minh rộng về lí vô tướng, nên gọi là Xả tướng. 3. Hiển chân thực giáo: Kinh Hoa nghiêm... hiển bày đạo lí chân thực, nên gọi là Hiển chân thực giáo. Thuyết này được khai sáng sau ngài Tuệ quang. [X. Đại thừa huyền luận Q.5] IV. Tam Giáo. Chỉ cho Tính không giáo, Tướng Không giáo và Duy thức viên giáo do ngài Nam sơn Đạo tuyên thành lập. 1. Tính Không Giáo: Các pháp tính không, vô ngã, đem lí này soi rọi tâm, đó là Tiểu thừa. 2. Tướng Không giáo: Tướng của các pháp vốn là không, chỉ do tình chấp mà thấy có, dùng lí này soi rọi là Tiểu bồ tát, thuộc giáo nông cạn của Đại thừa như kinh Bát nhã... 3. Duy thức viên giáo: Các pháp trần bên ngoài vốn không, chỉ do thức biến hiện, lí nầy sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý duyên biết, bao nhiếp tất cả thâm nghĩa Đại thừa, như các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng già, luận Nhiếp đại thừa... đều thuộc Duy thức Viên giáo. Trong 3 giáo trên, 2 giáo trước là Quyền giáo, giáo thứ 3 là Thực giáo. Còn 3 pháp quán dựa theo 3 giáo này mà được lập ra thì gọi là Tính không quán, Tướng không quán và Duy thức quán. [X. thiên Sám lục tụ pháp trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 4; Bát tông cương yếu Q.thượng]. V. Tam Giáo. Chỉ cho Hiển giáo, Mật giáo và Tâm giáo, do ngài Tán ninh đời Tống thành lập.1. Hiển giáo: Chỉ cho kinh, luật, luận của các thừa. Giáo này tôn ngài Ca diếp ma đằng làm Thủy tổ. 2. Mật giáo: Chỉ cho Du già, Quán đính, Ngũ bộ, Hộ ma, Tam mật, Mạn noa, Luân pháp... Giáo này tôn ngài Kim cương trí làm Thủy tổ. 3. Tâm giáo: Chỉ cho pháp thiền chỉ tâm người, thấy tính thành Phật. Giáo này tôn ngài Bồ đề đạt ma làm Thủy tổ. [X. Tống cao tăng truyện Q.3]. VI. Tam Giáo. Chỉ cho 3 giáo: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân, và Trì pháp luân do ngài Chân đế dựa theo kinh Kim quang minh (phẩm Nghiệp chướng kinh Hợp bộ Kim quang minh quyển 2) mà thành lập. Trong 7 năm, sau khi thành đạo, đức Phật giảng nói về lí Tứ đế ở vườn Lộc dã, gọi là Chuyển pháp luân. Sau 7 năm ấy, ở nước Xá vệ, đức Phật nói Bát nhã... dùng Không chiếu Hữu, lúc này có đủ cả Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân. Ba mươi năm sau, trước khi vào Niết bàn, ở nước Tì xá li, Phật nói kinh Giải tiết... cho các vị Bồ tát nghe, Không, Hữu đều chiếu, lúc này đủ cả 3 luân là Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân. Đây là thuyết của ngài Chân đế nói trong Giải tiết kinh sớ, được ghi trong Giải thâm mật kinh sớ quyển 5 của ngài Viên trắc và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán. Theo Giải thâm mật kinh sớ quyển 5, Tam giáo lập trong Bộ tông dị luận kí của ngài Chân đế là: Tiểu thừa pháp luân, Đại thừa pháp luân, và Nhất thừa pháp luân. Trong đó, Pháp luân đầu là Tam tạng giáo, chỉ cho Tiểu thừa, tức kinh A hàm; Pháp luân thứ 2 chung cho cả Đại thừa và Tiểu thừa, tức kinh Niết bàn; Pháp luân thứ 3 thì chỉ riêng cho Đại thừa, tức các kinh Hoa nghiêm, Bát nhã... Đây là thuyết khác của 3 pháp luân: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân, và Trì pháp luân. VII. Tam Giáo. Chỉ cho 3 giáo: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân, do ngài Cát tạng ở chùa Gia tường thành lập vào đời Tùy. 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này được đức Phậtgiảng nói đầu tiên sau khi thành đạo. 2. Chi mạt pháp luân: Các kinh Phật giảng nói sau đó cho hàng Tiểu thừa. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Nội dung kinh này nói về lí Hội tam qui nhất (qui Tam thừa về Nhất thừa) tức Nhiếp mạt qui bản (đưa ngọn về gốc) được đức Phật tuyên thuyết sau khi thành đạo 40 năm. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). VIII. Tam Giáo. Chỉ cho Hữu giáo, Không giáo, và Trung đạo giáo, do ngài Huyền trang thành lập vào đời Đường. Đây là phán giáo của tông Pháp tướng. 1. Hữu giáo: Thời đầu tiên ở vườn Lộc dã, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa, nói về yếu chỉ Ngã không pháp hữu. 2. Không giáo: Thời thứ 2 ở núi Linh thứu, đức Phật tuyên thuyết các bộ Bát nhã, nói về ý chỉ các pháp đều không. 3. Trung đạo giáo: Thời thứ 3, đức Phật tuyên thuyết kinh giải Thâm mật... nói về sự phá chấp Hữu, Không mà hiển bày lí Trung đạo. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương,3 thời này được dùng để chỉ cho Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân. Lại theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 thì Luận sư Giới hiền của Ấn độ lập thời thứ nhất là Nhân không pháp hữu (Hữu giáo), thời thứ hai là Chư pháp giai không (không giáo) và thời thứ 3 là Phi hữu phi không (Trung đạo giáo) nội dung cũng giống với Tam giáo do ngài Huyền trang thành lập. [X. bài tựa trong Khởi tín luận nghĩa kí]. (xt. Tam Pháp Luân, Tam Thời Giáo).IX. Tam Giáo. Chỉ cho Tam thời giáo do Luận sư Trí quang của Ấn độ y cứ vào kinh Bát nhã, luận Trung quán... mà thành lập. 1. Thời đầu tiên: Đức Phật vì những người tiểu căn mà nói các pháp Tiểu thừa như Tứ đế ở vườn Lộc dã để hiển bày ý chỉ Tâm cảnh đều có. 2. Thời thứ hai: Phật nói pháp tướng Đại thừa cho những người trung căn để hiển bày lí cảnh không tâm có theo nghĩa Duy thức. 3. Thời thứ ba: Phật vì những người thượng căn mà nói Đại thừa vô tướng để hiển bày nghĩa tâm cảnh đều không, bình đẳng nhất vị, tức nghĩa Bát nhã. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; bài tựa Khởi tín luận nghĩa kí]. Ngoài 9 loại Tam giáo được phân biệt theo nội dung Phật pháp nói trên, ở Trung quốc người ta cũng thường gọi Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo là Tam giáo, còn tại Nhật bản thì Phật giáo, Thần đạo giáo và Nho giáo cũng được gọi là Tam giáo. Loại Tam giáo này, trong lịch sử Trung quốc và Nhật bản từng xảy ra sự kiện bài xích lẫn nhau. (xt. Tam Giáo Luận Hành).
tam giáo bình tâm luận
609凡二卷。元代劉謐撰。收於大正藏第五十二冊。作者以儒釋道三教之論爭,千百年來,是非紛然,故特著此論以明辨之。初言三教皆為止惡行善之法,而佛以治心,道以治身,儒以治世,不可偏廢;次言三教之極功(結果)有淺深之不同,故教有廣狹、久近之別,以儒道二教為世間法,佛教則始於世間法終於出世間法;後則力駁唐之傅奕、韓愈之說,又舉出宋之程明道、朱熹、張橫渠、程伊川等之主張而論破之。
; (三教平心論) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Lưu mật soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Vì thấy cuộc tranh luận giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo kéo dài cả nghìn năm đến nay mà đúng sai vẫn chưa dứt khoát, cho nên tác giả Tĩnh trai Lưu mật mới đặc biệt soạn sách này để biện minh. Trước hết tác giả cho rằng Tam giáo đều là pháp ngăn ác làm thiện, Phật dùng để trị tâm, Đạo dùng để trị thân và Nho dùng để trị đời, không thể bỏ 1 bên nào; kế đến nói về hiệu quả của Tam giáo có cạn, sâu khác nhau nên giáo có rộng, hẹp, xa, gần bất đồng; Nho giáo và Đạo giáo là pháp thế gian, Phật giáo thì bắt đầu ở pháp thế gian, mà kết thúc ở pháp xuất thế gian; sau cùng, tác giả cực lực bác bỏ thuyết của Phó dịch, Hàn dũ đời Đường, đồng thời, nêu ra các quan điểm chủ trương của Trình minh đạo, Chu hi, Trương hoành cừ, Trình y xuyên... để luận phá.
Tam Giáo Chỉ Quy
(三敎指歸, Sankōshiiki, Sankōshiki): sách tuyên ngôn xuất gia của Không Hải Đại Sư, được viết dưới dạng tiểu thuyết ngụ ý mang tính tôn giáo, là trước tác ra đời vào năm thứ 16 (797) niên hiệu Khánh Lịch (慶曆), lúc Đại Sư 24 tuổi; gồm 3 quyển: quyển Thượng là Quy Mao Tiên Sinh Luận (龜毛先生), quyển Trung là Hư Vong Ẩn Sĩ Luận (虛亡隱士論) và quyển Hạ là Giả Danh Khất Nhi Luận (假名乞兒論). Trong lời tựa, Đại Sư thuật rõ lý do rời khỏi ghế nhà trường, nhân duyên gặp gỡ vị Sa Môn, phát tâm xuất gia và viết bộ này. Từ phần luận của Quy Mao Tiên Sinh trở về sau được cấu thành theo phong cách Hí Khúc. Trước hết, trong phần Quy Mao Tiên Sinh Luận, đối với tuổi thanh niên bất lương, phóng đãng, không chịu vâng lời của đứa cháu ngoại của Ông Thố Giác (兔角公) là Điệt Nha Công Tử (蛭牙公子), từ lập trường của Nho Giáo, Quy Mao Tiên Sinh thuyết giáo về đạo lý nhân luân, trung hiếu để cải hóa. Kế đến, trong phần Hư Vong Ẩn Sĩ Luận, khi ngồi bên lắng nghe sự việc như vậy, Hư Vong Ẩn Sĩ thuyết về tính ưu việt của Đạo Giáo hơn Nho Giáo để khuất phục Quy Mao Tiên Sinh, Điệt Nha Công Tử và Ông Thố Giác. Trong quyển Hạ Giả Danh Khất Nhi Luận, nhân vật Giả Danh Khất Nhi dưới dạng nhà khất thực (sự thật là Không Hải lúc tuổi thanh niên) khẳng định rằng chữ Hiếu vốn phủ định việc xuất gia là hạnh hiếu nhỏ; chính xuất gia mới là đại hiếu; vì vậy Phật Giáo ưu việt hơn cả Nho Giáo và Đạo Giáo; và cuối cùng Đại Sư kết thúc với bài Sanh Tử Hải Chi Phú (生死海之賦) cũng như Thập Vận Chi Thi (十韻之詩). Trong tác phẩm này, Quy Mao Tiên Sinh ám chỉ cho người chú bên mẹ của Không Hải là A Đao Đại Túc (阿刀大足). Tác phẩm thêu dệt câu chuyện Đại Sư nghỉ học, sống cuộc đời của người cư sĩ tại gia với chí nguyện xuất gia; nhưng bị cả gia đình dòng họ Tá Bá (佐伯) phản đối kịch liệt. với ý nghĩa đó, đây là thư tịch rất quý báu, thể hiện rõ bóng dáng thời đại thanh niên của Không Hải và sự chuyển biến về mặt tư tưởng của Đại Sư trong thời gian ấy.
tam giáo chỉ quy
611凡三卷。日僧空海撰。書中主張出家乃為真正忠孝之道,並評及儒道佛三教之優劣。著者十八歲時所撰之稿本原名為聾瞽指歸(高野山藏有其親筆寫本),至二十四歲時修訂為今名。全書主要內容為:龜毛先生論說儒道、虛亡隱士論說道教、假名乞兒論說佛教之修行。書中辭藻豐富華麗,以四六駢儷體之漢文寫成。
; (三教指歸) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Không hải, vị tăng người Nhật soạn. Năm 18 tuổi, tác giả soạn bản thảo của sách này đặt tên là Lung cổ chỉ qui (bản viết tay của tác giả hiện được cất giữ ở núi Cao dã), đến năm 20 tuổi, tác giả sửa chữa lại và lấy tên sách như hiện nay. Sách này viết bằng chữ Hán theo thể văn biền ngẫu tứ lục, lời đẹp, ý tứ phong phú, nói về sự hơn kém giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, chủ trương xuất gia là đạo trung hiếu chân chính. Nội dung chủ yếu sách này gồm: Tiên sinh Qui mao nói về Nho giáo, ẩn sĩ Hư vong nói về Đạo giáo và Khất sĩ Giả danh bàn về sự tu hành của Phật giáo.
tam giáo luận hoành
612<一>指儒、釋、道三教之論諍。蓋儒道二教原係我國固有宗教,佛教則傳自印度,不論思想信仰或儀禮習慣方面,均有極大之差異,故三教之間常起教義、儀禮上之論諍。據漢法本內傳所載,後漢明帝時,道士褚善信等嘗與迦葉摩騰、竺法蘭二人於洛陽白馬寺外辯法,終為摩騰所伏,此蓋後世所捏造。三國時代,吳之康僧會對孫皓答辯周孔善惡報應之說略嫌顯近,而謂釋教方盡幽遠之意。曹植亦曾作辨道論,以駁斥道教不老不死之說。凡此,皆屬早期之三教論衡。 西晉時,王浮與帛遠論道佛之優劣,以辭屈而偽作老子化胡經謗佛,其後佛徒乃作清淨法行經以酬之。東晉時,孫盛以佛入儒,作「聖賢同軌老聃非大賢論」及「老子疑問反訊」以斥道教;又羅含君章、廬山慧遠各作更生論、形盡神不滅論,共論神識之不滅;孫綽、慧遠各作喻道論、明報應論以說因果報應之不妄;此外,慧遠並著「沙門不敬王者論」,「沙門袒服論」,以明佛教禮儀異於我國傳統之制,對此,何無忌作「難袒服論」以難破慧遠之說。劉宋時代,鄭道子、僧含有「神不滅論」,慧琳有「白黑論」;何承天則作「達性論」,主張神滅、天命以謗佛教;慧遠門人宗炳作明佛論、顏延之作「釋何衡陽達性論」、劉少府作「答何承天」等破何承天之說;道士顧歡作「夷夏論」,謂佛法為夷狄之法;對此,僧紹之「正二教論」、謝鎮之「與顧道士折夷夏論」、慧通之「駁顧道士夷夏論」等均予以駁斥。蕭齊時代,張融作「門律」,倡道佛二教一致,周顒時與之酬唱,孟景翼亦作「正一論」以贊張氏之論。逮范縝再倡「神滅論」,否定因果報應;對此,蕭琛出「難神滅論」以對之,而神滅不滅之論諍達於高潮。梁武帝即主張神不滅論。 北魏太武帝深信道教,以道士寇謙之等言,於太平真君七年(446)行排佛政策,文成帝時佛教始復興。北齊文宣帝時嘗令佛道辯法而排斥道教。至北周武帝,容道士張賓、衛元嵩之言,於天和四年(569),敕道佛二教之徒論其優劣,且命司隸大夫甄鸞詳定佛道二教之優劣。如甄鸞著「笑道論」,以辨道教之偽,又道安著「二教論」,以抨擊道教。及至建德三年(574)仍敕廢道佛二教,但實廢佛教,以立道教。唐興,以李姓之故,重道教,更與佛教屢有衝突。初唐之三教談論,多為實質上之談論。高祖武德四年(621,一說七年),道士太史傅奕上「減省寺塔僧尼益國利民事十一條」,痛論僧尼寺塔之弊,法琳、李師政乃作「破邪論」、「內德論」,明渍作「決對傅奕廢佛法僧事」,以破傅氏之說。太宗貞觀十三年(639),祭酒孔穎達、沙門慧淨、道士蔡晃等,於弘文殿談論三教。高宗時以道教為國教,追諡老子為「玄元皇帝」,一時道教勢盛,且多剽竊佛教教理而作偽經。至麟德元年(664),道世上表陳述道經之偽妄,總章元年(668)乃有詔論老子化胡經真偽之事,然其事未久即被禁斷。又嗣聖八年(691),僧尼之位次恢復僧先道後,兩教紛諍之原因由是得以緩和。貞元十二年(796),徐岱與沙門覃延、道士葛參成等人,在麟德殿講論三教。翌年,左街僧事端甫入內殿講論儒道,賜紫方袍。從玄宗至文宗期間,湛然以儒家出身,弘揚天台教觀,門人儒者梁肅著止觀統例,澄觀論華嚴、易經之類同,李翶作復性書,採大乘起信、圓覺、楞嚴之說,而為宋儒之先驅。憲宗時,韓愈作原道、原人等,論道佛之弊,又上「論佛骨表」及「與孟簡書 v來排擊佛教;對此,孟簡以「論夷夏」及「因果報應」酬答韓氏。圭峰宗密著原人論,斥破儒道二教之迷執,並闡述周易與真如緣起之關係。會昌五年(845),武宗排佛,一時道教勢盛,未幾,佛寺復興。此後所謂三教論諍日趨形式化,三教論談僅流於朝廷儀禮之一。 及至宋代,儒教勃興,採佛教教理匯成新學之同時,排佛之風亦盛,如孫泰山之「儒辱說」、歐陽修之「本論」三篇、石守道之「怪道」、胡寅之「崇正辯」、李泰伯之「潛書」等均主排佛,歐陽修撰新唐書、五代史,更刪除所有有關佛教之事項;對此,智圓於「閑居編」中提倡三教並存不廢之說,契嵩於「輔教編」、「非韓」三篇力主儒釋一貫之道,張商英撰「護法論」駁斥韓、歐之主張。又張載、二程、朱熹等雖提倡排佛論,然其學說取之於佛教者實多。至宋徽宗,崇信道教,崇寧五年(1106)敕寺院置孔、老像,道士位次,列在僧尼之上,佛典中凡有謗道儒之處概皆焚棄。南宋時代,宗杲最先提倡三教融合之說,孝宗、宗曉、劉謐、子成、志磐、李純甫等均有以繼之。逮南宋淳祐九年(1249),李志總掌天下之道教,致佛道二教再相傾軋。及元世祖就西藏僧八思巴受戒,道士之反感益烈,寶祐三年(1255),道士丘處機、李志常等搗毀西京夫子廟、佔領梵剎四百餘所,至元十八年(1281),除道德經外,道藏及有關之印版等因帝令而悉燒棄。與此同時,王中孚、酈希誠、張宗演各倡全真教、大道教、正一教,轄有大江南北,統一確定道教教會。至明代正統年間,完成道藏之編纂,萬曆年間續入增補完成,道教因而振興。 明太祖嘗製三教論、釋道論,沈士榮(續原教論)、姚廣孝(道餘錄)、屠隆(佛法金湯編)、袾宏(緇門崇行錄)、智旭(周易禪解、四書蕅益解)等均主三教調和之說,胡敬齋、王陽明等則秉儒排佛。概言之,此時儒佛二教調和之論較盛。清初,一明撰「會心內集」等,亦倡三教融會。此一時期,各教皆喪生氣,而淪於萎靡沉滯之勢。 在日本,有佛教、神道、儒教三教之論衡,由於日本自上古以來即以神道作為政治與道德之軌範,至應神天皇在位(270~309)時,始由阿直岐、王仁等自百濟傳入論語,為儒教興學之濫觴,不久佛教亦傳入而成三教。欽明天皇在位(540~570)時,雖有奉祀佛像之問題,蘇我、物部二氏發生論諍,但此後以皇室為首,一般均重神祇,同時亦崇信儒佛二教。後本地垂迹之說興起,神佛融合之論由是盛行。〔弘明集、梁高僧傳卷七、廣弘明集歸正篇、辯惑篇、法義篇、唐護法沙門法琳別傳卷上、釋氏六帖卷八、歐陽修外傳〕 <二>全一卷。日本臨濟宗慧訓撰,成於延享三年(1746)。為論述儒、釋、道三教之同異及諸家諸宗之大意。分總論、雜論、別論三篇。
; (三教論衡) I. Tam Giáo Luận Hành. Chỉ cho cuộc tranh luậngiữa 3 giáo Nho, Phật và Đạo. Nho giáo và Đạo giáo là các tông giáo của Trung quốc, còn Phật giáo là tông giáo ngoại nhập, được truyền từ Ấn độ tới, cho nên bất luận về phương diện nào, hoặc tư tưởng tín ngưỡng hoặc nghi lễ tập quán, đều có sự sai khác rất lớn, cho nên giữa Tam giáo thường xảy ra các cuộc tranh luận về giáo nghĩa, nghi lễ... Cứ theo Hán pháp bản nội truyện vào thời vua Minh đế nhà Hậu Hán (lúc Phật giáo mới truyền vào Trung quốc) thì đạo sĩ Chử thiện tín đã từng tranh biện với các ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan (hai người đầu tiên truyền Phật giáo vào Trung quốc) và cuối cùng đã bị ngài Ma đằng hàng phục. Vào thời Tam quốc, ngài Khang tăng hội ở nước Ngô từng biện luận với Tôn hạo về thuyết Thiện ác báo ứng của Chu công, Khổng tử, và cho rằng thuyết này còn thiển cận, không sánh được với thuyết Thiện ác báo ứng của Phật giáo. Rồi Tào thực cũng viết Biện đạo luận để bác bỏ thuyết Trường sinh bất lão bất tử của Đạo giáo. Những sự kiện này đều là Tam giáo luận hành thuộc thời kì đầu. Sang thời Tây Tấn, có Đạo sĩ Vương phù và ngài Bạch viễn tranh luận về sự hơn, kém giữa Đạo giáo và Phật giáo. Vương phù ngụy tác kinh Lão tử hóa hồ để phỉ báng đức Phật, sau đó, Phật giáo đồ soạn kinh Thanh tịnh pháp hành để đáp lại. Đến thời Đông Tấn, Tôn thịnh viết Thánh hiền đồng quĩ Lão đam phi đại hiền luận để bài xích Đạo giáo. Rồi cư sĩ Quân chương ở La hàm và ngài Tuệ viễn ở Lô sơn đều soạn Cánh sinh luận. Hình tận thần bất diệt luận để biện luận về thần thức bất diệt. Ngoài ra, ngài Tuệ viễn còn viết Sa môn bất kính vương giả luận và Sa môn đản phục luận để nói rõ rằng lễ nghi Phật giáo khác với lễ nghi truyền thống của Trung quốc. Nghĩa là các vị sa môn Ấn độ không bao giờ lạy các ông vua Ấn độ thì cũng đừng bắt các vị sa môn Trung quốc lạy vua Trung quốc. Thời đại Lưu Tống, Trịnh đạo tử, và Tăng hàm viết Thần bất diệt luận, Tuệ lâm viết Bạch hắc luận; Hà thừa thiên thì soạn Đạt tính luận; chủ trương thần thức tiêu diệt để chê bai Phật giáo. Tông bính liền soạn Minh Phật luận, Nhan diên soạn Thích hà hành dương Đạt tính luân và Lưu thiếu phủ viết luận Đáp hà thừa thiên để luận phá thuyết của Hà thừa thiên. Đạo sĩ Cố hoan viết Di hạ luận cho rằng Phật pháp là pháp của dân mọi rợ (di địch). Lập tức ngài Tăng thiện viết Chính nhị giáo luận, cư sĩ Tạ trấn chi viết Dữ Cố đạo sĩ chiết Di hạ luận, ngài Tuệ thông thì soạn Bác cố đạo sĩ Di hạ luận... để bài bác chủ trương của đạo sĩ Cố hoan. Vào thời Tiêu Tề, Trương dung viết Môn luật đề xướng chủ trương Đạo, Phật nhất trí’, Mạnh cảnh dực viết Chính nhất luận tán thành đề xướng của họ Trương. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy thâm tín Đạo giáo, nghe lời Đạo sĩ Khấu khiêm, vào năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), bắt đầu thi hành chính sách bài Phật giáo, đến thời vua Văn thành đế Phật giáo mới được phục hưng. Vua Văn tuyên nhà Bắc Tề từng tổ chức các cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo nhằm bài xích Đạo giáo. Đến Vũ đế nhà Bắc Chu ban sắc cho tín đồ Đạo giáo và Phật giáo tranh luận về sự hơn, kém của 2 tông giáo theo lời tâu thỉnh của đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung. Vua sai quan Tư lệ đại phu là Chân loan chủ tọa và thẩm định việc này. Sau đó, Chân loan làm Tiếu đạo luận nói lên sự hư dối của Đạo giáo, đồng thời, ngài Đạo an viết Nhị giáo luận công kích Đạo giáo. Đến năm Kiến đức thứ 3 (574) Vũ đế nhà Bắc Chu hạ lệnh phế bỏ Đạo giáo và Phật giáo, nhưng thực ra là bãi bỏ Phật giáo để lập Đạo giáo. Sang đời Đường, vì tổ tiên nhà Đường là họ Lí nên Đạo giáo được xem trọng, bởi vậy, giữa Đạo giáo và Phật giáo thường xảy ra xung đột. Vào đầu đời Đường các cuộc thảo luận về Tam giáo thường được tổ chức và rất hữu ích. Năm Vũ đức thứ 4 (621), có thuyết nói năm thứ 7) đời vua Cao tổ, quan Thái sử là đạo sĩ Phó dịch dâng biểu phế Phật, Ngài Pháp lâm liền viết Phá tà luận; Lí sư chính viết Nội đức luận và Minh khái viết Quyết đối Phó dịch phế Phật pháp tăng sự để phá chủ trươngcủa Phó dịch. Năm Trinh quán 13 (639) đời Vua Thái tông, quan Tế tửu là Khổng dĩnh đạt, sa môn Tuệ tịnh và đạo sĩ Thái hoảng họp nhau ở điện Hoằng văn để đàm luận về Tam giáo. Thời vua Cao tông, Đạo giáo được nhận làm quốc giáo và Lão tử được trung phong thụy hiệu là Huyền Nguyên hoàng Đế, thế lực của Đạo giáo được hưng thịnh một thời và lượm lặt những giáo lí của Phật giáo để soạn thành kinh của Đạo giáo. Vào niên hiệu Lân đức năm đầu (664), Đạo thế dâng biểu tâu về sự dối trá của các kinh Đạo giáo, do đó, đến niên hiệu Tổng chương năm đầu (668), vua ban lệnh thảo luận về việc kinh Lão tử hóa hồ là thật hay giả, nhưng chưa bao lâu việc này đã bị cấm. Năm Trinh nguyên 12 (796), Từ đại cùng với Sa môn Đàm diên và Đạo sĩ Cát tham thành họp ở điện Lân đức để giảng bàn Tam giáo. Năm sau, Tả nhai tăng sự là ngài Đoan phủ vào nội điện để giảng về Nho giáo và Đạo giáo, được vua ban cho áo đỏ. Thời kì từ vua Huyền tông đến Văn tông, ngài Trạm nhiên, vốn xuất thân từ Nho gia, hoằng dương Thiên thai giáo quán, đệ tử của ngài lànhàNho Lương túc soạn Chỉ quán thống lệ; ngài Trừng quán thì bàn về Hoa nghiêm và Kinh Dịch, Lí tường viết Phục tính thư sử dụng tư tưởng Đại thừa khởi tín, Viên giác và Lăng nghiêm, đây chính là đầu mối của Tống Nho sau nầy. Thời vua Hiến tông, Hàn dũ viết Nguyên đạo, Nguyên nhân dâng Luận Phật cốt biểu và viết Dữ mạnh tường thư để công kích và bài bác Phật giáo. Mạnh giản liền soạn Luận Di hạ và Nhân quả báo ứng để trả lời Hàn dũ. Ngài Khuê phong Tông mật soạn Nguyên nhân luận để phá sự chấp mê của Đạo giáo và Nho giáo, đồng thời, trình bày về sự quan hệ giữa Chu dịch và Chân như duyên khởi. Năm Hội xương thứ 5 (845), Vũ tông thi hành chính sách phế Phật, nhất thời Đạo giáo hưng thịnh, nhưng không bao lâu, Phật giáo lại được phục hưng. Từ đây trở đi, Tam giáo luận hành chỉ còn là hình thức và Tam giáo luận đàm cũng chỉ là 1 nghi lễ của triều đình mà thôi. Sang đời Tống, Nho giáo bỗng hưng thịnh, một mặt hấp thu giáo lí Phật giáo để tạo thành 1 nền học vấn mới, đồng thời, mặt khác lại dấy lên 1 phong khí bài Phật cũng ồn ào không kém. Như Nho nhục thuyết của Tôn thái sơn, Bản luận của Âu dương tu, Quái đạo của Thành thủ đạo, Sùng chính biện của Hồ dần, Tiềm thư của Lí thái bá... đều chủ trương bài Phật; Âu dương tu soạn Tân đường thư, Ngũ đại sử, trong đó, họ Âu lại bỏ hết những sự việc có liên quan đến Phật giáo! Về vấn đề này, ngài Trí viên soạn Nhàn cư biên đề xướng thuyết Tam giáo tịnh tồn (ba tông giáo cũng tồn tại) không thể bỏ; ngài Khế tung soạn Phụ giáo biên và Phi hàn cực lực chủ trương Nho Thích nhất quán (Nho giáo và Phật giáo cùng một lí mà suốt cả mọi việc); cư sĩ Trương thương anh soạn Hộ pháp luận bác bỏ chủ trương của Hàn dũ và Âu dương tu. Đặc biệt các nhà Đại nho như Trương tái, Trình minh đạo, Trình y xuyên, Chu hối am... tuy chủ trương bài Phật, nhưng trong các học thuyết của họ lại nhan nhản những tư tưởng của Phật giáo. Đến khi Tống huy tông sùng tín Đạo giáo thì năm Sùng ninh thứ 5 (1106), vua ban sắc các chùa viện phải thờ tượng Khổng tử và Lão tử, thứ bậc các Đạo sĩ được xếp ở trên tăng ni; trong sách Phật hễ có chỗ nào chê Đạo giáo và Nho giáo thì đều bị đốt bỏ. Vào đời Nam Tống, ngài Tông cảo là người đầu tiên đề xướng thuyết Tam giáo dung hợp, vua Hiếu tông, các vị Tông hiểu, Lưu mật, Tử thành, Chí bàn, Lí thuần phủ... đều kế thừa thuyết của ngài Tông cảo. Năm Thuần hựu thứ 9 (1249), Lí chí thường nắm quyền quản lí Đạo giáo trên toàn quốc thì lại đẩy Đạo giáo và Phật giáo vào vết xẻ đổ tương tranh cũ. Đến đời Nguyên, vua Thế tổ được vị tăng Quốc sư người Tây tạng là Bát tư ba truyền giới Bồ tát, thì phản cảm của các đạo sĩ càng mãnh liệt hơn. Vào năm Bảo hựu thứ 3 (1255), đạo sĩ Khâu xử cơ, Lí chí thường... phá hủy miếu thờ Khổng tử ở Tây kinh, chiếm đoạt hơn 400 ngôi chùa Phật giáo. Năm Chí nguyên 18 (1281), vua ban sắc, chỉ trừ Đạo đức kinh, còn Đạo tạng và tất cả kinh sách liên quan đến Đạo giáo đều bị đốt hết. Đồng thời với biến cố này, Vương trung phu sáng lập Toàn chân giáo, Lịch hi thành lập Đại đạo giáo và Trương tông diễn lập Chính nhất giáo, thống nhất Bắc nam, và xác định Giáo hội Đạo giáo. Sang đời Minh, khoảng năm Chính thống, việc biên soạn Đạo tạng được hoàn thành. Tam giáo luận và Thích đạo luận của vua Minh thái tổ, Tục nguyên giáo luận của Trần sĩ vinh, Đạo dư lục của Diêu quảng hiếu, Phật pháp kim thang biên của Đồ long, Trung môn sùng hành lục của Châu hoành, Chu dịch của Thiền giải và Tứ thư ngẫu ích giải của Trí húc... tất cả đều chủ trương thuyết Tam giáo điều hoà; nhưng Hồ kính trai và Vương dương minh thì theo Nho, bài Phật. Tóm lại, đời Minh, chủ trương điều hòa giữa Nho giáo và Phật giáo tương đối mạnh hơn các đời trước. Sang đầu đời Thanh, có Nhất minh soạn Hội tâm nội tập cũng đề xướng thuyết Tam giáo dung hội. Nhưng thời kì này, các tông giáo đều rơi vào tình trạng trầm trệ, mất sinh khí và suy vi, không còn thế lực gì đáng nói. [X. Hoằng minh tập, Lương cao tăng truyện Q.7; thiên Qui chính trong Quảng hoằng minh tập; Đường hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.thượng; Thích thị lục thiếp Q.8; Âu dương tu ngoại truyện]. II. Tam Giáo Luận Hành. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ huấn, thuộc tông Tào động, Nhật bản soạn vào năm Diêu hưởng thứ 3 (1746). Nội dung sách này chia làm 3 thiên: Tổng luận, Tạp luận, và Biệt luận, trình bày về sự dị đồng giữa Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và đại ý của các nhà, các tông.
tam giáo sưu thần đại toàn
612凡七卷。為儒、釋、道三教之神像或聖像之畫集。卷一首載儒釋道三教源流,全書計收玉皇上帝、西嶽神、昭靈侯、五瘟使者、黨元帥、佛陀耶舍禪師、本淨禪師等神號一百二十餘。本書約成於明代永樂年間(1402~1424)以後,作者不詳。具宗教研究之價值。一說本書即元版畫像搜神廣記,或據該書增益繙刻而成。
; (三教搜神大全) Tác phẩm, 7 quyển, không rõ tác giả, có lẽ được trứ tác vào khoảng năm Vĩnh lạc (1402-1424) đời Minh về sau. Nội dung sách này là vẽ hình tượng của 120 vị thần, thánh thuộc 3 tông giáo Nho, Phật, Đạo như Ngọc hoàng thượng đế, Tây nhạc thần, Chiêu linh hầu, Ngũ ôn sứ giả, Đảng nguyên soái, Phật đà da xá thiền sư, Bản tịnh thiều sư... Ở đầu quyển 1 ghi chép nguồn gốc của Tam giáo. Bộ sách rất có giá trị về mặt nghiên cứu tông giáo. Có thuyết cho rằng sách này chính là Họa tượng sưu thần quảng kí bản đời Nguyên, hoặc y cứ vào sách này rồi khắc thêm mà thành.
tam giáo thông khảo
A Thorough Study in the Three Religions—Bộ sách được biên soạn bởi An Thiền Thiền Sư, Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 19. Sách được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ 19, có lẽ được in vào khoảng năm 1845. Sách gồm ba phần—A book composed by Zen master An Thiền, A Vietnamese famous Zen master in the early nineteenth century. The book was composed in the middle of the nineteenth century. Probably printed in 1845. The bok included three divisions: I) Quyển thứ nhất—Phật Giáo: First volume—Buddhism. 1) Phụng Chiếu cầu pháp: Việc du học của Thiền sư Tính Tuyền Trạm Công—The travel in seeking the Buddha Dharma of Zen Master Tính Tuyền Trạm Công. 2) Bản Quốc Thiền Môn Kinh Bản: Các bản kinh khắc ở Việt Nam—Sutras printed in Vietnam. 3) Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi: Khởi thủy Thiền học Việt Nam—The beginning of Zen in Vietnam. 4) Đại Nam Phật Tháp: Các tháp Phật ở Việt Nam—Buddha stupas in Vietnam. 5) Vô Ngôn Thông Truyền Pháp: Thiền phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T'ung Zen Sect. 6) Danh Trấn Triều Đình: Các cao Tăng nổi tiếng ở triều đình—Famous monks at the Royal Palace. 7) Lê Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời Tiền Lê—Famous monks during the Tiền Lê Dynasty. 8) Lý Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời nhà Lý—Famous monks during the Lý Dynasty. 9) Trần Triều Danh Đức: Các cao Tăng đời Trần—Famous monks during the Trần Dynasty. 10) Tỳ Ni Đa Lưu Chi Truyền Pháp: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen Sect. 11) Tuyết Đậu Truyền Pháp: Thiền phái Thảo Đường—Thảo Đường Zen Sect. 12) Những việc thần bí liên quan đến các Thiền sư Việt Nam qua các triều đại: Mystic things involving Vietnamese Zen masters throughout all dynasties. 13) Danh từ Phật học và các thần thoại Phật Giáo ở Trung Hoa và Việt Nam: Buddhist terms and mythological stories about Buddhism in China and Vietnam. II) Quyển thứ hai—Khổng Giáo: Second volume—Confucianism. III) Quyển thứ ba—Lão Giáo: Third volume—Taoism.
tam giáo tướng
Ba cách dạy của Phật—The three modes of the Buddha's teaching of the Southern sects: 1) Đốn: Immediate—See Đốn Giáo and Đốn Tiệm. 2) Tiệm: Gradual or progressive—See Tiệm Giáo. 3) Bất định: Intermediate—See Bất Định Giáo.
tam giáo đồ
612又作三教聖人圖、三聖圖。即將孔子、釋迦、老子三聖人之像,繪於一圖之中,以此表示儒、佛、道三教之匯合。另有以佛印禪師、蘇東坡、黃魯直等三人代表佛、儒、道三教之圖像。蓋三教一致之思想自古即盛行我國,中唐以後更為禪徒所喜,唐代之孫位、宋代之馬遠、陳清波、王齊翰、許道寧等即好描此三聖像。〔辨偽錄卷二、禪宗正脈卷十六、山房雜錄〕(參閱「三酸圖」666)
; (三教圖) Cũng gọi Tam giáo thánh nhân đồ, Tam thánh đồ. Bức họa vẽ tượng 3 vị Thánh là Khổng tử, Thích ca và Lão tử để biểu trưng sự hòa hợp giữa Tam giáo Nho, Thích, Đạo. Ngoài ra, cũng có các bức tranh vẽ 3 vị; Thiền sư Phật ấn, Tô đông pha và Hoàng lỗ trực đại biểu cho tam giáo Phật, Nho, Đạo. Tư tưởng Tam giáo nhất trí đã thịnh hành ở Trung quốc từ xưa, từ giữa đời Đường về sau rất nhiều Thiền sư tán đồng tư tưởng này. Về giới hội họa thì có Tôn vị đời Đường, Mã viễn, Trần thanh ba, Vương tề hàn, Hứa đạo ninh... đời Tống rất thích vẽ 3 vị Thánh này. [X. Biện ngụy lục Q.2; Thiền tông chính mạnh Q.16; Sơn phòng tạp lục]. (xt. Tam Toan Đồ). Tam Giáo Đồ
tam giả
Prajnapti (S). The word giả in Buddhist terminology means that every thing is merely phenomenal, and consist of derived elements; nothing therefore has real existence, but all is empty and unreal hư vọng bất thật. The three giả are pháp things, thụ sensations, and danh names.
; Prajnapti (skt)—Ba cái không thật—Trong Phật giáo, đặc biệt là trong Thành Thực Luận và Kinh Bát Nhã, mọi vật chỉ là hiện tượng, gồm những yếu tố cấu thành; không có cái gì có thực hữu, chỉ là hư không và không thật—Three unrealities or three phenomenals—Three fallacious postulates—In Buddhism, especially in the Satyasiddhi-sastra and the Maha-Prajna Sutra, everything is merely phenomenal, and consists of derived elements; nothing therefore has real existence, but all is empty and unreal: 1) Pháp giả: Chư pháp tự tánh vốn là hư giả không thật (pháp do nhân duyên mà sinh ra)—All dharmas (things) are unreal. 2) Thọ giả: Thọ nhận vốn không thật (chư pháp đều thọ nhận nơi các pháp khác, như thọ nhận tứ đại mà thành vô tình chúng sanh, thọ nhận ngũ uẩn mà thành hữu tình chúng sanh, tức là thọ nhận biệt thể để làm thành tổng thể)—Sensations (feelings) are unreal. 3) Danh giả: Cái tên của chư pháp đều không thật (Danh nương vào ý tưởng mà có chứ không có tự tánh)—Names are unreal.
tam giả quán
604為仁王般若波羅蜜經卷上序品所揭舉之三種假觀之名,天台宗乃進一步詮釋之,即:(一)法假虛實觀,為色陰之法。(二)受假虛實觀,為受、想、行、識之四陰。(三)名假虛實觀,為法、受二種。此三者自實無體,依他方有,故稱為假。又一虛一實,相形而不得稱,三者皆虛,凡夫謂為實,智者以為虛,實即虛,故稱虛實,此為通教之意。若依別教之意,則三假之中,各有三觀,法即虛,是空觀;假即實,是假觀;觀之一字,是為中觀。空假是方便道,故不立觀之名,入於中道,故獨稱為觀。受假及名假依此可解。若依圓教之意,三法即空即假即中,雙照雙亡。〔仁王經合疏卷上〕
; Ba cách quán chư pháp là giả tạm—The meditation on three unreal objects: 1) Quán pháp giả: Contemplate on unreal dharmas. 2) Quán thọ giả: Contemplate on unreal sensations. 3) Quán danh giả: Contemplate on unreal names.
; (三假觀) Chỉ cho 3 pháp quán: Pháp giả hư thực quán, Thụ giả hư thực quán và Danh giả hư thực quán được nêu trong phẩm Tựa kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng. Tông Thiên thai giải thích rõ 3 pháp quán này như sau: 1. Pháp giả hư thực quán: Quán xét sắc ấm hư thực. 2. Thụ giả hư thực quán: Quán xét 4 ấm thụ, tưởng, hành, thức hư thực. 3. Danh giả hư thực quán: Quán xét 2 thứ pháp và thụ hư thực. Ba pháp này tự chúng không có thực thể, phải nhờ pháp khác mới có nên gọi là giả(mượn). Một hư một thực cùng sánh với nhau thì không có tên, cả 3 đều là hư dối, phàm phu cho là thực, người trí thì thấy hư dối, thực chính là hư, cho nên gọi là hư thực, đây là nghĩa của Thông giáo. Nếu nói theo nghĩa của Biệt giáo thì trong Tam giả, mỗi giả đều có Tam quán. Nói pháp tức hư, đó là Không quán; nói Giả tức thực, đó là Giả quán; còn nói 1 chữ Quán không thôi thì đó là Trung quán. Vì không và Giả là phương tiện nên không đặt tên Quán, khi đã vào Trung đạo thì chỉ có 1 thôi nên gọi là Quán. Trên đây là giải thích Pháp giả hư thực quán, còn Thụ giả và Danh giả thì cứ theo cách giải thích trên cũng rõ. Nếu theo nghĩa của Viên giáo thì 3 pháp tức Không tức Giả tức Trung, đều chiếu soi, đều dứt bặt. [X. Nhânvươngkinh hợp sớ Q.thượng].
tam giả thí thiết
604略稱三假。<一>般若經所立之三種假。假施設,梵語 prajñapti。又作三攝提、三波羅攝提。即:(一)法假,法,指色心等法,其法自性本來虛假不實,故稱法假。諸法乃因緣所生而無實性,是為自性假。(二)受假,總法含受別法而成一體,如含受四大而成草木,攬五蘊而成眾生,即攬別為總,故稱受假。(三)名假,名即一切諸法之名,由法依想而假施設者,故稱名假。依觀入破遣之次第,於三假中先破名假,次破受假,後破法假,證入諸法之實相,即為真空。〔大品般若經卷二十三、大智度論卷四十一、大乘義章卷一、大乘玄論卷一〕 <二>成實論假名相品所立之三假,即:(一)因成假,一切有為法乃因緣所成,故稱為假。(二)相續假,眾生心識念念相續,前念既滅,後念復生。了此相續,本無實體,故稱為假。(三)相待假,一切諸法各有對待,如對長說短、對短說長、對無說有、對有說無,大小、多少、強弱亦復如是。了此一切對待之法,本無實體,故稱為假。又據成唯識論卷八所載聚集、相續、分位三假,如瓶盆、有情等乃多法一時所集成,能集雖實,所成是假,稱為聚集假,相當於上記之因成假;如過去、未來等世因果於多法多時上立一假法,稱為相續假,與上記之相續假同;如不相應行法於一法一時上立一假法,稱為分位假,相當於上記之相待假。〔仁王般若波羅蜜經卷上教化品、成唯識論述記卷九、成唯識論了義燈卷六末、摩訶止觀卷五、止觀輔行傳弘決卷五之五、大乘義章卷一、大乘玄論卷一〕 <三>依三無性之義,五蘊、十二因緣各具分別、依他、真實三假,即:受苦受樂為分別假;分別之體由因緣而生,乃由因生果,是為依他假;如如第一義諦則是真實假。〔十八空論〕
; (三假施設) Gọi tắt: Tam Giả. I. Tam Giả Thi Thiết. Cũng gọi Tam nhiếp đề, Tam ba la nhiếp đề. Chỉ cho 3 thứ pháp giả được thiết lập trong kinh Bát nhã. Đó là: 1. Pháp giả: Pháp chỉ cho các pháp sắc tâm, tự tính của các pháp ấy xưa nay vốn hư giả không thật, cho nên gọi là Pháp giả. Các pháp nhờ nhân duyên giả hợp mà sinh, không có thực tính, đó là Tự tính giả.2. Thụ giả: Pháp chung hàm chứa pháp riêng mà cấu thành nhất thể, như hàm chứa 4 đại mà thành cỏ cây, hòa hợp 5 uẩn mà thành chúng sinh, tức hợp riêng làm chung, nên gọi là Thụ giả. 3. Danh giả: Danh là tên gọi của tất cả các pháp; vì pháp nương theo ý tưởng giả mà đặt ra tên gọi cho nên gọi, là Danh giả.Theo thứ tự quán xét để phá bỏ thì trong Tam quán, trước hết phá bỏ Danh giả, kế đến, phá bỏ Thụ giả và sau cùng phá bỏ Pháp giả mà chứng nhập thực tướng các pháp, tức là Chân không. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.23; luận Đại trí độ Q.41; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa huyền luận Q.1]. II. Tam Giả Thi Thiết. Chỉ cho Nhân thành giả, Tương tục giả và Tương đãi giả được nói trong phẩm Giả danh tướng của luận Thành thực. Tức là: 1. Nhân thành giả: Tất cả pháp hữu vi đều nhờ nhân duyên mà được thành lập, cho nên gọi là giả. 2. Tương tục giả: Tâm thức chúng sinh niệm niệm nối nhau, niệm trước vừa diệt, niệm sau sinh liền. Trong dòng nối tiếp này vốn không có thực thể, cho nên gọi là giả.3. Tương đãi giả: Tất cả các pháp đều có đối đãi, như đối với dài mà nói ngắn, đối với ngắn mà nói dài, đối với không mà nói có, đối với có mà nói không, lớn nhỏ, nhiều ít, mạnh yếu... cũng đều như thế. Biết rõ các pháp đối đãi này vốn không có thực thể, cho nên gọi là giả. Ngoài ra, luận Thành duy thức quyển 8, cũng nêu Tam giả là Tụ tập giả, Tương tục giả và Phần vị giả. Như cái bình, cái chậu, hữu tình... do nhiều pháp đồng thời tụ tập lại mà thành, năng tập tuy thật nhưng sở thành là giả, gọi là Tụ tập giả, tương đương với Nhân thành giả nói ở trên; như nhân quả các đời quá khứ, vị lai... trong nhiều pháp nhiều thời gian lập thành 1 pháp giả, gọi là Tương tục giả, cũng giống với Tương tục giả nói ở trên; như pháp Bất tương ứng hành trong 1 pháp cùng 1 thời gian thành lập 1 pháp giả, gọi là Phần vị giả, tương đương với Tương đãi giả nói ở trên.[X. phẩm Giáo hóa kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.9; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.6, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằngquyết Q.5, phần 5]. III. Tam Giả Thi Thiết. Y cứ vào nghĩa Tam vô tính thì 5 uẩn, 12 nhân duyên, mỗi pháp đều có Tam giả là Phân biệt giả, Y tha giả và Chân thực giả. Cảm nhận khổ, vui là Phân biệt giả; thể của phân biệt do nhân duyên mà sinh, tức do nhân sinh ra quả, là Y tha giả, còn như Đệ nhất nghĩa đế là Chân thực giả. [X. luận Thập bát không].
tam giả thí thiết, tam nhiếp đề
The three fallacious postulates in regard to pháp, thụ, danh. Tam giả quán the meditation on the above.
tam giải thoát
Vimokshatraya (skt)—Ba đối tượng quán chiếu dẫn tới giải thoát—Three subjects or objects of the meditation that lead toward liberation (three emancipations): 1) Không: Sunyata (skt)—Emptiness—Hiểu được bản chất của vạn hữu vốn không nên làm cho cái tâm không, cái tôi không, cái của tôi không, khổ không, là giải thoát—To empty the mind of the ideas of me, mine and sufferings which are unreal. 2) Vô Tướng: Animitta (skt)—Signlessness (having no-signs)—Đoạn trừ mọi hình tướng bên ngoài là giải thoát—To get rid of the idea of form, or externals. There are no objects to be perceived by sense-organs. 3) Vô Nguyện: Apranihita (skt)—Wishlessness (desirelessness)—Đoạn trừ tất cả mọi mong cầu cho đến khi nào không còn một mảy may ham muốn hay cố gắng để đạt được bất cứ thứ gì là giải thoát—To get rid of all wishes or desires until no wish of any kind whatsoever remains in the cultivator's mind, for he no longer needs to strive for anything.
Tam giải thoát môn
xem Ba môn giải thoát.
; 三解脫門; C: sān jiětuō mén; J: sange-datsumon;|Ba cửa giải thoát.
tam giải thoát môn
643梵語 trīṇi vimokṣa-mukhāni。指得解脫到涅槃之三種法門。略稱三解脫、三脫門、三門。即:(一)空門(梵 śūnyatā),觀一切法皆無自性,由因緣和合而生;若能如此通達,則於諸法而得自在。(二)無相門(梵 animitta),又稱無想門。謂既知一切法空,乃觀男女一異等相實不可得;若能如此通達諸法無相,即離差別相而得自在。(三)無願門(梵 apraṇihita),又作無作門、無欲門。謂若知一切法無相,則於三界無所願求;若無願求,則不造作生死之業;若無生死之業,則無果報之苦而得自在。 三解脫門乃依無漏之空、無相、無願等三三昧而入,此三昧猶如門戶之能入解脫,故稱三解脫門。然三昧通有漏、無漏,三解脫門唯通無漏。以其具有淨及無漏等世、出世間之特別法,故為涅槃之入門。又瑜伽師地論卷七十四謂,三解脫門係依三自性而建立,即由遍計所執之自性而立空解脫門,由依他起之自性而立無願解脫門,由圓成實之自性而立無相解脫門。〔俱舍論卷二十八、大毘婆沙論卷一○四、十地經論卷八、大乘義章卷二、摩訶止觀卷七上〕(參閱「三三昧」521)
; Trini-vimoksa-mukhani (S), Gồm: Không môn, Vô tướng môn, Vô nguyện môn Ghi trong kinh Đại-Bát-Nhã, tức là Không, Vô Tướng, Vô Nguyện. Tên gọi dù có ba, nhưng thể vốn là mt. Chư pháp thể Không, có tướng đều vọng, nguyện là mong cầu. Người sơ tâm phát nguyện chỉ là phương tiện tạm thời. Phật là người vô cầu, nếu chấp tướng, chấp nguyện, thì chẳng thể từ Không hiển dụng mà lại chướng ngại sự giải thoát vì họ có sở trụ vậy.
; Ghi trong Đại Bát Nhã, tức là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Tên gọi dù có ba, nhưng thể vốn là một, chư pháp thể “không”, có tướng đều vọng, nguyện là mong cầu. Người sơ tham phát nguyện chỉ là phương tiện tạm thời. Phật là người vô cầu, nếu chấp tướng, chấp nguyện thì chẳng thể từ “không” hiển dụng, mà lại chướng ngại sự giải thoát, vì là có sở trụ vậy.
; (三解脫門) Phạm: Trìịi vimokwa-mukhàni. Gọi tắt: Tam Giải thoát, Tam thoát môn, Tam môn. Chỉ cho 3 pháp môn giúp hành giả được giải thoát, đến Niết bàn. Đó là: 1. Không môn (Phạm: Sùnyatà): Quán xét tất cả các pháp đều không tự tính, do nhân duyên hòa hợp mà sinh; nếu thông suốt lí ấy thì đối với các pháp được tự tại. 2. Vô tướng môn (Phạm: Animitta), cũng gọi Vô tưởng môn: Đã biết tất cả pháp là Không, liền quán tưởng các tướng nam nữ, nhất dị... thực bất khả đắc; nếu thông suốt lí các pháp vô tướng, thì lìa tướng sai biệt mà được tự tại. 3. Vô nguyện môn (Phạm: Apraịihita), cũng gọi Vô tác môn, Vô dục môn: Nếu biết tất cả pháp vô tướng thì trong 3 cõi không mong cầu điều gì; nếu không mong cầu thì không tạo tác nghiệp sinh tử; nếu không tạo nghiệp sinh tử thì không phải chịu quả khổ, do đó được tự tại. Ba môn giải thoát nương vào 3 Tam muội vô lậu là Không tam muội, Vô tướng tam muội, và Vô nguyện tam muội mà vào; 3 Tam muội này giống như 3 cái cửa đưa vào giải thoát, cho nên gọi là Tam giải thoát môn. Tuy nhiên, Tam muội chung cho cả hữu lậu và vô lậu, còn Tam giải thoát môn thì chỉ dành cho vô lậu thôi. Bởi vì Tam giải thoát môn là Pháp đặc biệt thanh tịnh vô lậu của thế gian và xuất thế gian nên là cửa vào của Niết bàn. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 74 thì Tam giải thoát môn là y cứ vào tam tự tính mà được kiến lập, tức do tự tính Biến kế sở chấp mà lập Không giải thoát Tam Giai Phật Pháp (bản đào được ở Đôn hoàng) môn, do tự tính Y tha khởi mà lập Vô nguyện giải thoát môn và do tự tính Viên thành thực mà lập Vô tướng giải thoát môn. [X. luận Câu xá Q.28; luận Đại tì bà sa Q.104; Thập địa kinh luận Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng]. (xt. Tam Tam Muội).
tam giải thoát môn, the three emancipations, idem tam không and tam tam muội
They are không giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn, vô tác giải thoát môn.
Tam Giới
(s: trayo dhātavaḥ, p: tisso dhātuyo, 三界): Ba Cõi, có nhiều ý nghĩa khác nhau. (1) Chỉ ba cõi mà chúng sanh đang sống gồm Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界), Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界) và Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界). Chúng hữu tình mê vọng lưu chuyển trong vòng sanh tử biến hóa, tùy theo cảnh giới mà chia thành 3 giai cấp khác nhau. Nó còn được gọi là Tam Hữu (三有). Tam Giới là lãnh vức mê khổ của chúng sanh, như biển lớn không có giới hạn, nên được gọi là Khổ Giới (苦界, Cõi Khổ), Khổ Hải (苦海, Biển Khổ). Dục Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình đầy dâm dục, tình dục, sắc dục, tham dục, v.v. Cõi này bao gồm trên từ cõi trời thứ 6 Tha Hóa Tự Tại Thiên (他化自在天), giữa có bốn châu lớn của con người và dưới đến Vô Gián Địa Ngục (無間地獄), v.v. Do vì nam nữ cùng sống chung với nhau, nhiễm các mong muốn, nên gọi là Dục Giới. Cõi Dục Giới có Địa Cư (s: Bhauma, 地居), Hư Không Cư (s: Āntarikṣavāsina, 虛空居), Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天, gồm Trì Quốc Thiên [s: Dhṛtarāṣṭra, 持國天], Tăng Trưởng Thiên [s: Virūḍhaka, 增長天], Quảng Mục Thiên [s: Virūpākṣa, 廣目天] và Đa Văn Thiên [s: Vaiśrāmana, 多聞天]), Đao Lợi Thiên (s: Trāyastriṁśa, 忉利天), Tu Dạ Ma Thiên (s: Yāma, 須夜摩天), Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, 兜率天), Hóa Lạc Thiên (s: Nirmāṇarati, 化樂天), Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Parmanirmitavaśavartin, 他化自在天). Sắc Giới, sắc ở đây có nghĩa là thị hiện (hiện rõ), là thế giới cư trú của chúng hữu tình đã xa lìa được dâm dục, thực dục và có đầy đủ sắc chất thanh tịnh. Cõi này năm trên Dục Giới, không có dục nhiễm, cũng chẳng có hình nữ; chúng sanh ở đây đều do hóa sanh mà có. Cung điện tại đây cao lớn, do sắc hóa sanh, nên hết thảy đều đặc biệt, khác thường. Do vì cõi này có sắc chất nên được gọi là Sắc Giới. Căn cứ vào Thiền định sâu cạn, thô tế mà cõi này được chia thành 4 cấp khác nhau, từ Sơ Thiền Phạm Thiên (初禪梵天) cho đến A Ca Nị Tra Thiên (阿迦膩吒天), có 28 cõi trời. Cõi này có Sơ Thiền Thiên (初禪天, gồm Phạm Thiên [s: Brahmakaya, 梵天], Phạm Chúng Thiên [s: Brahmapārṣadya, 梵眾天], Phạm Phụ Thiên [s: Brahmapurohita, 梵輔天] và Đại Phạm Thiên [s: Mahābrahmā, 大梵天]), Nhị Thiền Thiên (二禪天, gồm Thiểu Quang Thiên [s: Parittābha, 少光天], Vô Lượng Quang Thiên [s: Apramāṇābha, 無量光天] và Quang Âm Thiên [s: Ābhāsvara, 光音天]), Tam Thiền Thiên (三禪天, gồm Thiểu Tịnh Thiên [s: Parittaśubha, 天], Vô Lượng Tịnh Thiên [s: Apramāṇaśubha, 天] và Biến Tịnh Thiên [s: Śubhakṛtsna, 少淨天]), Tứ Thiền Thiên (四禪天, gồm Vô Vân Thiên [s: Anabhraka, 無雲天], Phước Sanh Thiên [s: Puṇyaprasava, 福生天] và Quảng Quả Thiên [s: Bṛhatphala, 廣果天]) và Tịnh Phạm Địa (淨梵天, gồm Vô Tưởng Thiên [s: Avṛha, 無想天], Vô Phiền Thiên [s: Atapa, 無煩天], Vô Nhiệt Thiên [s: Sudrśa, 無熱天], Thiện Kiến Thiên [s: Sudarśana, 善見天], Sắc Cứu Cánh Thiên [s: Akaniṣṭha, 色究竟天], Hòa Âm Thiên [s: Aghaniṣṭha, 和音天] và Đại Tự Tại Thiên [s: Mahāmaheśvara, 大自在天]). Vô Sắc Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình không có vật chất mà chỉ có 4 tâm là Thọ (受), Tưởng (想), Hành (行) và Thức (識). Cõi này không có vật chất, thân thể, cung điện, quốc độ gì cả; chỉ lấy tâm thức mà trú trong Thiền định sâu xa vi diệu; nên có tên gọi như vậy. Nó nằm trên Sắc Giới, có 4 cõi trời (Không Vô Biên Xứ [s: Akāśānantyāyatana, 空無邊處], Thức Vô Biên Xứ [s: Vijñānānantyāyatana, 識無邊處], Vô Sở Hữu Xứ [s: Ākiñcanyāyatana, 無所有處] và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ [s: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處]), được gọi là Tứ Vô Sắc (四無色), Tứ Không Xứ (四空處). Quả báo, khổ vui, v.v., trong Tam Giới tuy có khác nhau; nhưng cả 3 đều thuộc vào cõi mê lầm, nên chúng sanh trong đó đều phải chịu sự chi phối của quy luật luân hồi sanh tử. Vì vậy, bậc thánh thường xa rời ba cõi này. Trong Phẩm Thí Dụ (譬喩品) của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Tam Giới vô an, do như hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khả bố úy (三界無安、猶如火宅、眾苦充滿、甚可怖畏, Ba Cõi không an, giống như nhà lửa, các khổ đầy ắp, rất đáng sợ hãi)”. Bên cạnh đó, Phẩm Hóa Thành Dụ (化城喩品) của kinh này cũng diễn tả rằng: “Năng ư Tam Giới ngục, miễn xuất chư chúng sanh (能於三界獄、勉出諸眾生, có thể nơi ngục của Ba Cõi, làm cho các chúng sanh ra khỏi)”. Như vậy, kinh này muốn cho mọi người thấy rõ rằng Tam Giới không phải là thế giới an ổn thật sự, nên phải thường cầu mong thoát khỏi thế giới ấy. (2) Tam Giới chỉ cho ba con đường đối trị của giải thoát, gồm: Đoạn Giới (斷界), Ly Giới (離界) và Diệt Giới (滅界). Đoạn Giới là đoạn trừ Cửu Kết (九結, 9 loại phiền não), trong đó trừ Tham ra, còn lại 8 thứ kia đều đoạn trừ, hoặc đoạn trừ Vô Minh Kết (無明結, sự ràng buộc của vô minh). Ly Giới là đoạn trừ phiền não của Tham, hay đoạn trừ Ái Kết (愛結, sự ràng buộc của ái). Diệt Giới là đoạn diệt Hữu Lậu (有漏) và các pháp Hữu Vi (有爲), v.v. (3) Chỉ Sắc Giới (色界), Vô Sắc Giới (無色界) và Tận Giới (盡界). (4) Chỉ Pháp Giới (法界), Tâm Giới (心界) và Chúng Sanh Giới (眾生界). Trong Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義), hồi thứ 26 có đoạn: “Siêu xuất Tam Giới ngoại, bất tại Ngũ Hành trung (超出三界外、不在五行中, vượt ra ngoài Ba Cõi, chẳng ở trong Năm Hành).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) cũng có đoạn rằng: “Tam Giới nghiệp báo, duy tâm sở sanh, bổn nhược vô tâm, ư Tam Giới trung, tức xuất Tam Giới; kỳ Tam Giới giả, tức Tam Độc giả; Tham vi Dục Giới, Sân vi Sắc Giới, Si vi Vô Sắc Giới; cố danh Tam Giới (三界業報、唯心所生、本若無心、於三界中、卽出三界、其三界者、卽三毒也、貪爲欲界、嗔爲色界、癡爲無色界、故名三界, nghiệp báo của Ba Cõi, do tâm sanh ra, nếu vốn không tâm, ở trong Ba Cõi, tức ra Ba Cõi; Ba Cõi ấy tức là Ba Độc; Tham là Cõi Dục, Sân là Cõi Sắc, Si là Cõi Vô Sắc; nên gọi là Ba Cõi).”
Tam giới
三戒; C: sānjiè; J: sankai;|Ba loại giới luật. Giới luật dành cho cư sĩ, cho tăng sĩ và giới luật dành chung cho cả hai nhóm này.
; 三界; C: sānjiè; J: sangai; S: triloka;|Ba cõi hiện hữu trong Vòng sinh tử: 1. Dục giới (欲界), nơi chúng sinh chỉ đắm say vào những khoái lạc thân thể; 2. Sắc giới (色界), nơi chúng sinh đã vượt khỏi những khoái lạc thân thể nêu trên, nhưng vẫn còn cảm nhận thân sắc vi tế. Đây là cõi của Tứ thiền thiên (四禪天); 3. Vô sắc giới (無色界), là cõi tối cao của Luân hồi, chúng sinh đã thoát khỏi sự tồn tại vật chất, hoàn toàn không có sắc tướng. Đây là cõi của Tứ vô sắc định (四無色定).|Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận của Thế Thân, Tam giới nêu trên còn được phân thành nhiều cõi khác nhau. Dục giới bao gồm 20 cõi. Gồm có: Tứ đại châu (四大洲), Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄), và sáu cõi trời của Dục giới – Lục dục thiên (六欲天). Ngoài Lục dục thiên ra còn có 17 cõi trời của Sắc giới – Sắc giới thập thất thiên (色界十七天). Bên trên Sắc giới là Vô sắc giới, nơi vật chất, sắc tướng không còn tồn tại. Ba thế giới
tam giới
584梵語 trayo dhātavaḥ,巴利語 tisso dhātuyo。<一>指眾生所居之欲界、色界、無色界。此乃迷妄之有情在生滅變化中流轉,依其境界所分之三階級;係迷於生死輪迴等生存界(即有)之分類,故稱作三有生死,或單稱三有。又三界迷苦之領域如大海之無邊際,故又稱苦界、苦海。(一)欲界(梵 kāma-dhātu),即具有婬欲、情欲、色欲、食欲等有情所居之世界。上自第六他化自在天,中包括人界之四大洲,下至無間地獄等二十處;因男女參居,多諸染欲,故稱欲界。(二)色界(梵 rūpa-dhātu),色為變礙之義或示現之義,乃遠離欲界婬、食二欲而仍具有清淨色質等有情所居之世界。此界在欲界之上,無有欲染,亦無女形,其眾生皆由化生;其宮殿高大,係由色之化生,一切均殊妙精好。以其尚有色質,故稱色界。此界依禪定之深淺粗妙而分四級,從初禪梵天,終至阿迦膩吒天,凡有十八天。(三)無色界(梵 ārūpya-dhātu),唯有受、想、行、識四心而無物質之有情所住之世界。此界無一物質之物,亦無身體、宮殿、國土,唯以心識住於深妙之禪定,故稱無色界。此界在色界之上,共有四天(空無邊處天、識無邊處天、無所有處天、非想非非想處天),又稱四無色、四空處。 三界可細分為二十五有(界),若將色界之那含天析而為五(即五那含天),則共為「二十九有」。其與九地之關係,如下表所示: 此三界之果報雖有優劣、苦樂等差別,但屬迷界,係眾生生死輪迴之趣,故為聖者所厭棄。法華經譬喻品(大九‧一四下):「三界無安,猶如火宅;眾苦充滿,甚可怖畏。」又化城喻品(大九‧二四下):「能於三界獄,勉出諸眾生。」即勸三界諸有情莫以三界為安,當勤求解脫。〔南本大般涅槃經卷十三、俱舍論卷八、品類足論卷五、大毘婆沙論卷七十五、瑜伽師地論卷四、大智度論卷二十一、華嚴經孔目章卷二〕(參閱「九地」132、「色界」2545、「欲界」4653、「無色界」5083) <二>指斷界、離界、滅界等三種無為解脫之對治道。(一)斷界,即斷除九結(九種煩惱)中除貪以外之其餘八種煩惱,或斷除無明結。(二)離界,謂斷離貪煩惱或斷除愛結。(三)滅界,謂斷滅有漏善及諸有為、無覆無記等煩惱。即除九種煩惱外之其餘有漏法。大毘婆沙論卷二十九(大二七‧一四八中):「一切行斷,故名斷界;一切行離,故名離界;一切行滅,故名滅界。」〔順正理論卷七十二、俱舍論卷二十五〕 <三>指色界、無色界、盡界。〔長阿含經卷八、品類足論卷五〕 <四>指法界、心界、眾生界。此係基於華嚴經心、佛、眾生三無差別之說而立。〔大日經疏卷三〕 <五>薩滿教基本觀念之一。主張宇宙分為上、中、下三界。依各族而說法稍異。如蒙古族薩滿教認為上層世界為神靈世界,中層世界為人類、動物之居地,下層世界為死神與魔鬼聚集之世界,即地獄。在中層世界與下層世界間,復有一不可知之世界,為人死後之去處。
; Triloka (S, P), Traidhātuka (S), Tibhāva (P), Tiloka (P), Trailokya (S), Tribhāva (S), Tibhava (P), Three Realms, Three worlds Tam hữuBa cõi sinh tữ: dục, sắc, vô sắcDục-giới (có nam nữ dâm dục), Sắc-giới (không có nam nữ dâm dục), Vô-sắc-giới (không có sắc thân, chỉ có thần thức).
; The three sets of commandments, or precepts, i.e. the ten for the ordained who have left home, the eight for the devout at home, and the five for the ordinary laity.
; Traidhatuka (skt)—Trailokya (p)—Tại Thế—Three realms (three worlds) and Three sets of commandments: (A) Three realms: Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, cõi luân hồi sanh tử được chia làm ba—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, the realms of births and deaths divided into three realms of existence: 1) Dục giới: Kamadhatu (skt)—Cảnh giới tham sắc dục và thực dục. Gồm sáu cõi trời, cõi người và địa ngục. Chúng sanh trong cõi dục giới nầy đều có ngũ uẩn tạo thành thân thể vật chất (thế giới vật chất bao trùm từ lục đạo đến các cõi trời đều thuộc dục giới nầy)—The realm of passions—The realm of (sensuous) desire of sex and food. It includes the six heavens, the human world, and then hells. All beings in this realm possess five aggregates or panca-skandha—See Ngũ Uẩn. 2) Sắc giới: Rupadhatu (skt)—Cảnh giới bên trên Dục giới gồm Tứ Thiền Thiên—Đây là cõi của thiên thần bậc thấp (Chúng sanh trong cõi nầy không có dâm dục và thực dục, chỉ có thân thân thể vật chất tốt đẹp thù thắng, cõi nước cung điện nguy nga. Tóm lại trong cõi nầy tham dục vật chất không ngừng tự thạnh, nhưng chưa giải thoát hết các mối phiền trược của vật chất vi tế. Y cứ theo tinh thần tu dưỡng cao cấp, cõi nầy chia làm tứ thiền thiên)—The realm of Beauty—The realm of form or matter. It is above the lust world. It is represented in the Brahamlokas (tứ thiền thiên)—The realm of the lesser deities—See Tứ Thiền Thiên. 3) Vô sắc giới: Arupadhatu (skt)—Cảnh giới vô sắc, không còn thân thể, cung điện, đồ vật. Nơi đó tâm an trụ trong thiền định thâm diệu. Cảnh giới nầy trải dài đến Tứ Không Xứ—Đây là cõi của thiên thần bậc cao (cảnh giới nầy cao hơn cảnh sắc giới, chúng sanh không còn bị vật chất ràng buộc, đương thể thuần là tinh thần độc lập, chúng sanh trong cõi nầy thường trụ trong thâm định, không có cảnh giới xứ sở. Y theo thắng liệt của thiền định, cõi nầy là cõi tứ không xứ)—The realm of no Beauty (non-form)—The formless or immaterial realm of pure spirit. There are no bodies, palaces, things. Where the mind dwells in mystic contemplation. Its extent is indefinable in the four “empty” regions of spaces (Tứ không xứ)—This is the realm of the higher deities—See Tứ Không Xứ. (B) Ba giới khác—Three more realms: 1) Sắc giới: Rupa-dhatu (skt)—The realm of form. 2) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (skt)—The formless realm. 3) Diệt giới: Nirodha-dhatu (skt)—The realm of cessation. (C) Ba loại giới khác—Three other realms: 1) Liệt giới: Hina-dhatu (skt)—The low realm. 2) Trung giới: Majjhima-dhatu (skt)—The middle realm. 3) Thắng giới: Panita-dhatu (skt)—The sublime realm. (D) Ba loại giới luật—Three sets of commandments: 1) Sa di giới: Mười giới Sa Di—The ten commandments for the novice. 2) Bát quan trai giới: The eight commandments for the devout Buddhist at home. 3) Ngũ giới: Năm giới cho Phật tử tại gia—The five commandments for the ordinary laity. ** For more information, please see Tam Hữu.
; (三界) Phạm: Trayo-dhàtava# Pàli:Tisso dhàtuyo. I. Tam Giới. Cũng gọi Khổ giới, Khổ hải. Chỉ cho Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới.1. Dục giới (Phạm:Kama-dhàtu): Thế giới của các loài hữu tình có tính dâm dục, tình dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên từ cõi trờiTha hóa tự tại thứ 6, giữa gồm 4 đại châu cõi người, dưới đến địa ngục Vô gián; vì nam nữ ở lẫn lộn, nhiều thứ dục nhiễm nên gọi là Dục giới. 2. Sắc giới (Phạm:Rùpa-dhàtu): Sắc có nghĩa biến ngại hoặc thị hiện, là thế giới cư trú của loài hữu tình đã xa lìa dâm dục và thực dục của cõi Dục, nhưng vẫn còn có sắc chất thanh tịnh. Cõi này ở phía trên cõi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cõi này đều do hóa sinh, cung điện cao lớn, là do sự hóa sinh của sắc, tất cả đều thù thắng đẹp đẽ. Vì cõi này vẫn còn sắc chất nên gọi là Sắc giới. Cõi này tùy theo thiền định sâu cạn thô diệu mà được chia làm 4 bậc, từ Sơ thiền Phạm thiên cho đến A ca nị tra thiên, tất cả có 18 tầng trời.3. Vô sắc giới (Phạm:Àrùpya-dhàtu): Thế giới cư trú của loài hữu tình chỉ có thụ, tưởng, hành, thức không có 1 vật gì là vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm, nên gọi là Vô sắc giới. Thế giới này ở phía trên cõi Sắc, có tất cả 4 tầng trời(Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi phi tưởng xứ), cũng gọi là Tứ vô sắc, Tứ không xứ. Tam giới được chia nhỏ ra làm 25 Hữu (Giới), nếu chia Na hàm thiên của cõi Sắc ra làm 5(tức Ngũ na hàm thiên) thì có tất cả 29 Hữu. Sự quan hệ giữa Tam giới và Cửu địa (9 nơi) được biểu đồ như sau: Hữu Ngũ Thú Tạp Cư Địa LiSinh Hỉ Lạc Địa Định Sinh Hỉ Lạc Địa Li Hỉ Diệu Lạc Địa Xả Niệm Thanh Tịnh Địa Không Vô Biên Xứ Địa Thức Vô Biên Xứ Địa Vô Sở Hữu Xứ Địa Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa Cửu Địa Sơ Thiền Nhị Thiền Tam Thiền Tứ Thiền Tam Giới Dục Giới Sắc Giới Vô Sắc Giới Bốn ác thú (4) Bốn châu cõi người (4) Sáu trời Dục (6) trời cõi Thiền (4) Phạm thiên (1) Năm Na hàm thiên (1) Vôtưởng thiên (1) Bốn Vô Sắc thiên (4) Lục Đạo Địa ngục Ngã quỉ Súc sinh Tula Nhân ThiênQuả báo của 3 cõi này tuy có hơn, kém, khổ, vui, khác nhau, nhưng đều thuộc cõi mê, là đường sinh tử luân hồi của chúng sinh, cho nên các bậc Thánh đều nhàm chán lìa bỏ. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Ba cõi (tam giới) không yên ổn, giống như căn nhà lửa, chúng sinh chịu toàn khổ não, rất đáng sợ hãi. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.13; (bản Nam); luận câu xá Q.8; luận Phẩm loại tác Q.5; luận Đại tì bà sa Q.75; luận Du già sư địa Q.4; Đại trí độ Q.21; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2]. (xt. Cửu Địa, Sắc Giới, Dục Giới, Vô Sắc Giới). II. Tam Giới. Chỉ cho Đoạn giới, Li giới, và Diệt giới là 3 pháp đoạn trừ phiền não đưa đến vô vi giải thoát. 1. Đoạn giới: Tức đoạn trừ 8 phiền não trong 9 kết(trừ tham)hoặc đoạn trừ Vô minh kết. 2. Li giới: Đoạn diệt phiền não tham hoặc đoạn trừ ái kết. 3. Diệt giới: Đoạn diệt các pháp hữu lậu, hữu vi và các phiền não vô phú vô kí... tức là đoạn trừ tất cả các pháp hữu lậu còn sót lại. Luận Đại tì bà sa quyển 29 (Đại 27, 148 trung) nói: Tất cả hành đoạn nên gọi là Đoạn giới; tất cả hành lìa nên gọi là Li giới; tất cả hành diệt nên gọi là Diệt giới.[X. luận Thuận chính lí Q.72; luận Câu xá Q.25]. III. Tam Giới. Chỉ cho Sắc giới, Vô sắc giới và Tận giới.[X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Phẩm loại túc Q.5]. IV. Tam Giới. Chỉ cho Pháp giới, Tâm giới, và Chúng sinh giới. Tam giới này là căn cứ vào thuyết Tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau trong kinh Hoa nghiêm mà được thành lập. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3]. V. Tam Giới. Chỉ cho Thượng giới, Trung giới và Hạ giới.Đây là quan niệm cơ bản của Tát mãn giáo. Theo quan niệm này thì vũ trụ được chia ra làm Tam giới thượng, trung, hạ, nhưng tùy theo các dân tộc mà ý nghĩa có hơi khác nhau. Như Tát mãn giáo của dân tộc Mông cổ thì cho rằng Thượng giới là thế giới của Thần linh, Trung giới là nơi ở của loài người và động vật; còn Hạ giới là thế giới của thần chết và ma quỉ tu tập, tức là địa ngục. Ở khoảng giữa Trung giới và Hạ giới lại có một thế giới không thể biết được, là nơi mà con người sau khi chết sẽ đi đến.
tam giới do tâm sinh
Cittamhi-traidhatukayonih (skt)—Tâm là nguồn gốc của ba cõi—The mind is the origin of the triple world.
tam giới duy nhất tâm
The triple world is but one mind; from a verse of Hoa Nghiêm sùtra; it proceeds Tâm ngoại vô biệt pháp, Tâm Phật cập Chúng sinh, thị tam vô sai biệt "outside mind there is no other thing; mind Buddha and all the living, these there are not different"; in other words there is no differentiating between these three, for all is mind.
; Tribhavasva-cittamatram (skt)—Tam giới duy thị tự tâm hay tam giới duy chỉ do tâm nầy. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Vị Bồ tát Ma ha Tát thấy rằng thế giới chỉ là sự sáng tạo của tâm, mạt na và ý thức; rằng thế giới được sinh tạo do phân biệt sai lầm bởi cái tâm của chính mình; rằng không có những tướng trạng hay dấu hiệu nào của một thế giới bên ngoài mà trong đó nguyên lý đa phức điều động; và cuối cùng rằng ba cõi chỉ là cái tâm của chính mình—The triple world is but one mind—The triple world is just Mind. In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “The Bodhisattva-mahasattvas sees that the triple world is no more than the creation of the citta, manas, and mano-vijnana, that it is brought forth by falsely discriminating one's own mind, that there are no signs of an external world where the principle of multiplicity rules, and finally that the triple world is just one's own mind.”
tam giới duy thị tự tâm
Svacitta-matram-traidhatukam (skt)—Ba cõi chỉ là tâm của mình—The triple world is no more than one's own mind—See Tam Giới Duy Nhất Tâm.
tam giới duy tâm
586謂三界(欲界、色界、無色界)所有現象皆由一心之所變現。全稱三界唯一心。即心為萬物之本體,此外無別法,凡三界生死、十二緣生等諸法,實是妄想心所變作。六十華嚴卷十(大九‧四六五下):「心如工畫師,畫種種五陰,一切世界中,無法而不造。如心,佛亦爾;如佛,眾生然。心、佛及眾生,是三無差別。諸佛悉了知,一切從心轉,(中略)心造諸如來。」有關此「心」之義,性、相兩家說法不同。(一)在法相宗,指阿賴耶等心識;以此證阿賴耶緣起乃唯識所變之義,故攝大乘論釋卷四釋作「三界唯識」,謂心與欲等愛結相應,遂墮在三界。(二)在法性宗,指如來藏之自性清淨心;即真如隨緣作諸法之義。謂心造一切法,而一切法本離言說相、名字相、心緣相,乃畢竟平等、不變不異,唯此一心,故稱真如。大方廣佛華嚴經疏卷四十依此而有三種不同論法,即:(一)二乘之人有前境不了唯心,縱聞一心,亦僅謂為真諦之一,或謂由心轉變,非皆是心。(二)異熟賴耶可為一心,以其揀無外境,故說一心。(三)如來藏性清淨,理無二體,故本為一心。〔十地經論卷八、辯中邊論卷上、大乘起信論、大日經疏卷二、唯識二十論述記卷上〕
; Tribhāvacittamātra (S).
; Tribhàvacittamàtra (S). The threefold existence is nothing but the mind.
; (三界唯心) Cũng gọi Tam giới duy nhất tâm. Ba cõi do một tâm. Tất cả mọi hiện tượng trong 3 cõi đều do tâm biến hiện ra, vì tâm là bản thể của muôn vật nên không 1 vật nào ngoài tâm. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 10 (Đại 9, 465 hạ) nói: Tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ 5 ấm, trong tất cả thế giới, không pháp nào chẳng tạo. Tâm cũng như Phật, Phật cũng như chúng sinh. Tâm, Phật và chúng sinh, cả 3 không sai khác. Chư Phật đều biết rõ, tất cả do tâm chuyển, (...) tâm tạo các Như lai. Về nghĩa của Tâm này; các nhà Pháp tính và Pháp tướng đều nói khác nhau: Theo tông Pháp tướng thì Tâm này là chỉ cho tâm thức A lại da, vì dùng tâm này mà chứng A lại da duyên khởi là nghĩa duy thức biến hiện, cho nên Nhiếp đại thừa luận thích quyển 4 giải là Tam giới duy thức nghĩa là tâm tương ứng với các ái kết như dục... nên bị đọa trong 3 cõi. Còn theo tông Pháp tính thì Tâm này là chỉ cho Tự tính thanh tịnh tâm của Như lai tạng, có nghĩa là chân như tùy duyên mà tạo tác các pháp. Tức là Tâm tạo tất cả pháp, còn tất cả pháp thì vốn lìa tướng ngôn thuyết, tướng danh dự, tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không chuyển dời, không đổi khác, tất cả chỉ có Tâm này, cho nên gọi là Chân như. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ quyển 40 căn cứ vào nghĩa này mà nêu ra 3 cách giải thích khác nhau: 1. Hàng nhị thừa thấy cảnh trước mắt không rõ đó là duy tâm, giả sử có nghe nói tâm thì cũng chỉ cho đó là 1 trong các chân đế, hoặc cho là do tâm chuyển biến, chứ chẳng phải đều là tâm. 2. A lại da dị thục được coi là 1 tâm, vì chỉ có tâm chứ không có ngoại cảnh nên nói là 1 tâm. 3. Tính Như lai tạng thanh tịnh, lí không có 2 thể nên vốn là 1 tâm. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Biện trung biên Q.thượng, luận Đại thừa khởi tín; Đại nhật kinh sớ Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng].
tam giới hùng
587佛之德稱。佛為三界中之大雄,可折伏一切之魔障。無量壽經卷上(大一二‧二六九中):「願慧悉成滿,得為三界雄。」
; The hero of the trailokya, Buddha.
; (三界雄) Đức hiệu của Phật. Phật là bậc đại hùng trong 3 cõi, có năng lực hàng phục tất cả ma chướng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 296 trung) nói: Nguyện và trí tuệ đều viên mãn, được là bậc đại hùng trong 3 cõi.
tam giới hỏa trạch
The burning house of the triple world, as in the Lotus parable.
; The burning house of the triple worlds—See Tam Giới Như Hỏa Trạch.
tam giới khổ luân
584指三界之迷苦,往返不止,乃有罪眾生之生死輪迴境界。仁王護國般若波羅蜜多經卷上(大八‧八三七中):「十善菩薩發大心,長別三界苦輪海。〔勝天王般若經卷一〕
; (三界苦輪) Ba cõi là vòng mê khổ, quay mãi không ngừng. Tức là cảnh giới sinh tử luân hồi của chúng sinh. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 trung) nói: Thập thiện bồ tát phát tâm rộng lớn, mãi mãi xa lìa biển khổ luân hồi 3 cõi (Tam giới khổ luân hải). [X. kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.1].
tam giới nhãn
586佛之德稱。佛為大智大明者,可作三界人之眼,引導吾人避離生死之險難,故稱三界眼。佛般泥洹經卷下(大一‧一六九上):「佛為大明,三界中眼;今般泥洹,三界眼滅。」
; The trailokya—Buddha who sees all the realms and the way of universal escape.
; (三界眼) Con mắt của 3 cõi, danh từ tôn xưngđức Phật. Phật là bậc đại trí đại giác, là con mắt của mọi loài trong 3 cõi, dắt dẫn chúng sinh ra khỏi hiểm nạn sinh tử, vì thế gọi là Tam giới nhãn. Kinh Phật bát nê hoàn quyển hạ (Đại 1, 169 thượng) nói: Phật là bậc đại minh, là con mắt trong 3 cõi, nay Phật vào Niết bàn là con mắt trong 3 cõi không còn nữa.
tam giới như hỏa trạch
Dục giới, sắc giới và vô sắc giới đang thiêu đốt chúng sanh với những khổ đau không kể xiết. Tam giới giống như nhà lửa đang hừng hực cháy. Kinh Pháp Hoa dạy: “Ba cõi không an, dường như nhà lửa, sự khổ dẫy đầy, đáng nên sợ hãi.” Chúng sanh trong ba cõi, đặc biệt là chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy, luôn bị những sự khổ não và phiền muộn bức bách. Sống chen chúc nhau trong đó như ở giữa một căn nhà đang bốc cháy, dẫy đầy hiểm họa, chẳng biết còn mất lúc nào. Ấy thế mà mọi người chẳng biết, chẳng hay, cứ mãi nhởn nhơ vui thú của ngũ dục, làm như không có chuyện gì xãy ra cả. Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ vậy để lúc nào cũng chuyên cần tinh tấn tu hành cầu giải thoát—The three realms of Desire, Form and Formless realms scorching sentient beings, such sufferings are limitless. The triple worlds as a burning house. In the Lotus Sutra, the Buddha taught: “The three worlds are unsafe, much like a house on fire. Suffering is all pervasive, truly deserving to be terrified and frightened.” Sentient beings in the three worlds, especially those in the Saha World, are hampered constantly by afflictions and sufferings. Living crowded in the suffering conditions of this Saha World is similar to living in a house on fire, full of dangers, life can end at any moment. Even so, everyone is completely oblivious and unaware, but continues to live leisurely, chasing after the five desires, as if nothing was happening. Sincere Buddhists should always remember this and should always diligently cultivate to seek liberation.
tam giới sàng
The sick-bed of the trailokya, especially this world of suffering.
; The sick-bed of the Trailokya—The Saha World of suffering.
tam giới trí
587(Nyanatiloka, 1878~1960)為德國佛學學者,亦為德國第一位出家之比丘。生於維斯巴登市(Wiesbaden)。最初專攻音樂,後赴緬甸仰光,並於當地出家。一九○三年至錫蘭,居於波加斯都瓦小島(Polgasduwa),參與錫蘭僧團,研習巴利文佛典,其後即從事佛典翻譯與修持度眾,隨之出家之德國比丘有數十位,樹立西方學界對佛教解行並重之典型風範。第一次世界大戰期間,曾被英國視為德國間諜而囚禁於我國漢口,後透過國際紅十字會而釋放歸國。一九二六年再赴錫蘭,後亦示寂於錫蘭。著有巴利文法、佛教偈頌、佛教辭典等。
; (三界智) Nyanatiloka (1878-1960) Danh tăng người Đức, sinh ở thành phố Wiesbaden, là vị tỉ khưu đầu tiên của nước Đức.Sư vốn là 1 học giả Phật giáo và lại chuyên nghiên cứu âm nhạc. Sau sư đến Rangoon, thủ đô nước Miến điện và xuất gia tại đó. Năm 1903, sư đến Tích lan cư trú trên đảo Polgasduwa, tham dự vào tăng đoàn Tích lan, học tập và nghiên cứu kinh điển bằng tiếngPàli. Về sau, sư chuyên phiên dịch kinh điển Phật và tu trì độ chúng, trong đó có vài mươi vị tỉ khưu người Đức. Sư là khuôn mẫu điển hình của việc học tập và thực hành giáo lí Phật giáo đối với giới nghiên cứu Phật học phương Tây. Trong cuộc đại chiến lần thứ nhất, sư bị người Anh nghi là gián điệp nước Đức nên bắt giam tại Hán khẩu ở Trung quốc; sau nhờ sự can thiệp của hội Hồng thập tự quốc tế nên sư được trả tự do và trở về nước. Năm 1926, sư lại đến Tích lan và thị tịch tại đó vào năm 1960, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm:Pàli văn pháp, Phật giáo kệ tụng, Phật giáo từ điển.
Tam giới tôn
bậc cao quý nhất trong Ba cõi là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
tam giới tôn
586佛之德稱。佛乃三界之尊,故稱之。維摩經佛國品(大一四‧五三七下):「今我稽首三界尊。」
; The honoured one of the three worlds, i.e. Buddha.
; The Honoured One of the three worlds (Buddha).
; (三界尊) Bậc tôn quí trong 3 cõi. Là danh từ tôn xưng đức Phật. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma (đại 14, 537 hạ) nói: Con nay cúi đầu kính lễ bậc tôn quí trong 3 cõi(Tam giới tôn).
Tam giới tạng
三界藏; C: sānjiècáng; J: sankaizō;|Ba cõi hiện hữu được xem như là xuất xứ của tất cả những phiền não, nghiệp chướng (Nhất thiết chúng sinh phiền não bất xuất tam tạng giới 一切衆生煩惱不出三界藏, theo Nhân vương kinh 仁王經).
tam giới tạng
587三界包括一切眾生之煩惱業果,故稱為藏。仁王護國般若波羅蜜經卷上(大八‧八二六下):「一切眾生煩惱不出三界藏。」
; The trailokya-garba, the womb or storehouse of all the transmigrational.
; The Trailokya-garbha—The womb or storehouse of all the transmigrational.
; (三界藏) Ba cõi là cái kho chứa đựng phiền não nghiệp quả của tất cả chúng sinh, cho nên gọi là Tam giới tạng. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 826 hạ) nói: Phiền não của hếtthảychúng sinh không ngoài kho 3 cõi.
tam giới từ phụ
The kindly father of the triple world, Buddha.
; The kindly father of the triple world.
tam giới vô an
587謂在欲界、色界、無色界之三界中,不能求得真實之安寧。法華經譬喻品(大九‧一四下):「三界無安,猶如火宅;眾苦充滿,甚可怖畏。」法句經卷上世俗品(大四‧五六六中):「世皆有死,三界無安;諸天雖樂,福盡亦喪。」又有將三界比喻為火宅或大火聚者。〔賢愚經卷十一無惱指鬘品、大乘本生心地觀經卷三、卷四、仁王護國般若波羅蜜多經疏卷下一〕
; (三界無安) Trong 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc không thể tìm được sự an lành chân thật. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Ba cõi không yên, giống như nhà lửa; đầy dẫy các khổ, rất đáng sợ hãi.Phẩm Thế tục kinh Pháp cú quyển thượng (Đại 4, 566 trung) nói: Đời đều có chết, ba cõi không yên; các trời tuy vui, phúc hết cũng mất. [X. Phẩm Vô não chỉ man trong kinh Hiền ngu Q.11; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3, 4; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.hạ, phần 1].
tam giới vạn linh bài
587為使無緣之有情蒙受冥福,而安置於禪剎佛殿之一種牌位。日本佛教界自鎌倉時代初期即風行之。文有「三界萬靈,十方至聖,六親眷屬,七世父母」、「三界萬靈,六道四生,七世父母,六親眷屬等」等多種。或於施餓鬼會時,書之於木牌,安置餓鬼棚,而以種種供物供養之。〔大鑑禪師小清規、禪林象器箋卷十六圖牌門〕
; (三界萬靈牌) Bài vị của các vong linh trong 3 cõi được đặt ở điện Phật của các chùa viện để hàng ngày nguyện cầu cho những chúng sinh vô duyên cũng được nhờ ơn Phật mà chóng siêu thoát. Trên bài vị này, viết các hàng chữ: Tam giới vạn linh, Thập phương chí thánh, Lục thân quyến thuộc, Thất thế phụ mẫu.(Muôn linh ba cõi, Các thánh mười phương, Họ hàng sáu thân, Cha mẹ bảy đời). Hoặc viết: Tam giới vạn linh, Lục đạo tứ sinh, Thất thế phụ mẫu, Lục thân quyến thuộc... bài vị này cũng được đặt trên đàn cúng ngạ quỉ khi mở hội Thí ngạ quỉ. Tại Nhật bản, phong tục thờ bài vị này thịnh hành từ đầu thời đại Liêm thương. [X. Đại giám thiền sư tiểu thanh qui; môn Đồ bài trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].
tam giới độc tôn
587即佛之尊稱。佛乃三界中之最尊貴者,具足智德,為三界獨尊,四世導師,世所尊重。寶藏論廣照空有品(大四五‧一四五中):「其名曰佛,三界獨尊,覺了無物,非作而作,所作已畢。」〔長阿含經卷一〕
; (三界獨尊) Từ tôn xưng đức Phật. Phật là đấng tôn quí nhất trong 3 cõi, đầy đủ trí tuệ và phúc đức, là bậc duy nhất được 3 cõi tôn kính quí trọng, là bậc thầy dẫn đường cho 4 loài. Phẩm Quang chiếu không hữu trong luận Bảo tạng (Đại 45, 145 trung) nói: Phật là bậc tôn quí nhất trong 3 cõi, đã giác ngộ lí không, không làm mà làm, việc làm đã viên mãn. [X. kinh Trường a hàm Q.1].
Tam hiền
三賢; C: sānxián; J: sangen;|1. Trong A-tì-đạt-ma của Tiểu thừa, Tam hiền đây là Ngũ đình tâm quán (五停心觀), Biệt tướng niệm trú (別相念住), và Tổng tướng niệm trú (總相念住). 2. Trong Pháp tướng tông, Tam hiền gồm ba nhóm Thập trú, Thập hạnh và Thập hồi hướng.
tam hiền
〖出仁王護國經疏〗十住、十行、十回向諸位菩薩皆稱賢者,此就別教而論,蓋諸位菩薩,但斷見、思惑盡,尚有無明惑在,未入聖位,故名賢也。〔一、十住〕,會理之心,安住不動,名之為住。一發心住、二治地住、三修行住、四生貴住、五具足方便住、六正心住、七不退住、八童真住、九法王子住、十灌頂住。〔二、十行〕,行即進趣之義。謂行此行,則能進向於果,名之為行。一歡喜行、二饒益行、三無違逆行、四無屈撓行、五無癡亂行、六善現行、七無著行、八難得行、九善法行、十真實行。〔三、十回向〕,回因向果,名為回向。一救諸眾生離眾生相回向、二不壞回向、三等一切諸佛回向、四至一切處回向、五無盡功德藏回向、六入一切平等善根回向、七等隨順一切眾生回向、八真如相回向、九無縛無著解脫回向、十入法界無量回向。
; 678指修善根以制伏煩惱,使心調和之三種修行階位。可分小乘之五停心、別相念住、總相念住和大乘之十住、十行、十回向三位。(一)小乘三賢位,又作外凡位。即修有漏善根(即順解脫分)之階位。(1)五停心觀位,以五停心觀,抑止貪、瞋、癡、我見、散亂心之五種階位。(2)別相念住位,一面觀身、受、心、 k之不淨、苦、無常、無我之自相,同時觀無常、苦、空、無我之共相。(3)總相念住位,即總觀四念住之無常、苦、空、無我之共相之位。以上三位與四善根位(內凡位)合稱七方便位,乃入見道之準備修行階位。又五停心觀位成就奢摩他(止),其他二位成就毘鉢舍那(觀)。 (二)大乘三賢位,又作三十心。指十地以前之菩薩,其階位有三階十心之別。(1)十住,會理之心,安住不動,稱為住。十住即發心住、治地住、修行住、生貴住、具足方便住、正心住、不退住、童真住、法王子住、灌頂住。(2)十行,行此行,則能進趣於果,稱為行。十行即歡喜行、饒益行、無違逆行、無屈撓行、無癡亂行、善現行、無著行、難得行、善法行、真實行。(3)十回向,回因向果,稱為回向。十回向即救諸眾生離眾生相回向、不壞回向、等一切諸佛回向、至一切處回向、無盡功德藏回向、入一切平等善根回向、等隨順一切眾生回向、真如相回向、無縛無著解脫回向、入法界無量回向。除菩薩瓔珞本業經以十住、十行、十回向為三賢外,另有仁王般若波羅蜜經之十信習種性、十止性種性、十堅心道種性,梵網經卷上之十發趣、十長養、十金剛等。又相對於十信之稱為外凡,此大乘三賢稱為內凡。〔四教義卷五、菩薩瓔珞本業經疏卷下、華嚴經探玄記卷五、華嚴五教章卷三〕(參閱「五十二位」1044、「五停心觀」1144、「四念住」1708、「菩薩階位」5221)
; Người chứng đắc ba quả vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng.
; (三賢) Chỉ cho 3 giai vị tu hành các thiện căn để ức chế phiền não, khiến cho tâm được điều hoà. Tam hiền có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau. 1. Tiểu thừa tam hiền vị (cũng gọi Ngoại phàm vị): Giai vị tu các thiện căn hữu lậu,(tức Thuận giải thoát phần), có 3 vị: a. Ngũ đình tâm quán vị: Giai vị dùng Ngũ đình tâm quán để ngăn dứt tham, sân, si, ngã kiến và tâm tán loạn. b. Biệt tướng niệm trụ vị: Giai vị quán riêng các tự tướng: Bất tịnh, khổ, vô thường và vô ngã thuộc thân, thụ, tâm, pháp, đồng thời, quán các cộng tướng: Vô thường, khổ, không, và vô ngã. c. Tổng tướng niệm trụ vị: Giai vị quán chung các cộng tướng: Vô thường khổ, không và Vô ngã thuộc Tứ niệm trụ.Ba giai vị trên đầy và 4 giai vị Thiện căn hợp lại gọi chung là Thất phương tiện vị, là giai vị tu hành chuẩn bị vào Kiến đạo. Giai vị Ngũ đình tâm quán thành tựu Xa ma tha(Chỉ), 2 giai vị còn lại thì thành tựu Tì bát xá na(Quán). 2. Đại thừa tam hiền vị(cũng gọi Tam thập tâm): Chỉ cho hàng Bồ tát trước Thập địa, giai vị này có 3 bậc Thập tâm khác nhau. a. Thập trụ: Tâm lãnh hội được lí, an trụ chẳng động, gọi là Trụ. Thập trụ gồm có: Phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sinh quí trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái trụ, Đồng chân trụ, Pháp vương tử trụ và Quán đính trụ. b. Thập hạnh: Tu hành 10 hạnh này sẽ có năng lực tiến tới quả, gọi là Hạnh. Thập hạnh gồm có: Hoan hỉ hạnh, Nhiêu ích hạnh, Vô vi nghịch hạnh, Vô khuất náo hạnh, Vô si loạn hạnh, Thịện hiện hạnh, Vô trước hạnh, Nan đắc hạnh, Thiện pháp hạnh, và Chân thực hạnh. c. Thập hồi hướng: Hồi nhân hướng quả, gọi là Hồi hướng. Thập hồi hướng gồm có: Cứu chư chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng, Bất hoại hồi hướng, Đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng, Chí nhất thiết xứ hồi hướng, Vô tận công đức tạng hồi hướng, Nhập nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi hướng, Đẳng tùy thuận nhất thiết chúng sinh hồi hướng, Chân như tướng hồi hướng, Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng, và Nhập pháp giới vô lượng hồi hướng. Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là Tam hiền vị của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp, còn Tam hiền vị của kinh Nhân vương bát nhã ba la mật là Thập tín tập chủng tính, Thập chỉ tính chủng tính, Thập kiên tâm đạo chủng tính và Tam hiền vị của kinh Phạm võng quyển thượng là Thập phát thú Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương... [X. Tứ giáo nghĩa Q.5; Bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh sớ Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Thập Nhị Vị, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Trụ, Bồ Tát Giai Vị).
tam hiền thập tánh
Thập trụ + thập hạnh + thập hồi hướng.
tam hiện quán
616指見、緣、事三現觀。現觀,指以無漏慧觀現前之四聖諦之理。(一)見現觀,係就見諦之法而立者,即以無漏智慧觀諸諦之境現見分明。(二)緣現觀,係就能緣之法而立者,即無漏智慧及與其相應之心、心所皆緣四諦之境。(三)事現觀,係就作同一事業之法而立者,即上述能緣與其餘俱有之道共戒,及生、住、異、滅等不相應法,同一事業。〔俱舍論卷二十二、卷二十三、異部宗輪論述記〕(參閱「現觀」4731)
; (三現觀) Chỉ cho Kiến hiện quán, Duyên hiện quán và Sự hiện quán. Hiện quán là dùng, trí tuệ vô lậu quán xét lí của Tứ thánh đế hiện tiền. 1. Kiến hiện quán: Pháp này căn cứ vào pháp Kiến đế mà được thành lập, tức dùng trí huệ vô lậu quán xét cảnh các đế, hiện thấy rõ ràng. 2. Duyên hiện quán: Pháp quán này là dựa vào pháp năng duyên mà được thành lập, tức trí tuệ vô lậu và các tâm, tâm sở tương ứng với trí ấy đều duyên theo cảnh của Tứ đế. 3. Sự hiện quán: Pháp quán này là y cứ vào pháp cùng làm 1 việc mà được thành lập, tức pháp năng duyên nói trên cùng với Đạo cộng giới và các pháp không tương ứng như sinh, trụ, dị, diệt,.. cùng làm 1 việc hiện quán Tứ đế. [X. luận Câu xá Q.22, 23; Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Hiện Quán).
tam hoang vu
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Hoang Vu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of barrenness: 1) Tham Hoang Vu: The barrenness of lust. 2) Sân Hoang Vu: The barrenness of hatred. 3) Si Hoang Vu: The barrenness of delusion.
tam hoà
560指根、境、識三者和合而生觸之心所。成唯識論卷三(大三一‧一一中):「根、境、識更相隨順,故名三和,觸依彼生。」然諸師對此說法亦有不同觀點,有說「別法與心相應三和所生」者為觸;故前述之以根、境、識三和為觸者,則引契經所說之「三和即名為觸」作其證。此外,說一切有部以「三和生觸」立其宗義,經量部亦以根、境、識三者和合為觸,而無別體,稱為「三和成觸」。〔俱舍論卷十、成唯識論卷六〕(參閱「觸」6802)
tam hoàng
San-huang (C), Sanhuang (C)Ba vị hoàng đế huyền thoại của Trung quốc: Phục Hy, Thần Nông và Viêm Đế cai trị từ 2852-2697 hay 2952-2490 B.C.E.
tam hoá
531三種教化。<一>梵語 trīṇinirmāṇāni。就眾生利益之所依,分業化、隨化、上化。(一)業化(梵 karma-nirmāṇa),以工巧業處而化自在。(二)隨化(梵 upapatti-nirmāṇa),隨他之所欲而化自在。(三)上化(梵 uttama-nirmāṇa),住兜率天等之勝上而化之。〔大乘莊嚴經論卷二〕 <二>就身語意三業,分身化、語化、意化,與「三示現」、「三輪」同義。(一)身化,依神境通,變化勝異之境,引所化之眾生發心。又分現神通化、現受生化、現業果化三種。(二)語化,又作口化。依他心通,演說教法,引所化之眾生發心。又分慶慰語化、方便語化、辯揚語化三種。(三)意化,依漏盡通,鑑察眾生根機意樂,隨宜說法,引所化之眾生發心。又分決擇意化、造作意化、發起意化、受領意化四種。 聲聞、菩薩及佛之變化身皆具三化之德,唯為顯佛三化之殊勝,而稱之為威力。又他受用身所化之生類雖無惡見等,然當彼之所化入上位時,亦示現三化。〔佛地經論卷六、成唯識論卷五、大乘法苑義林章卷六末〕(參閱「三輪」679)
tam hoả
536<一>指貪、瞋、癡。又作三毒、三垢。即:(一)貪(梵 rāga)火,渴取一切順境。(二)瞋(梵 dveṣa)火,對所遇逆境引起忿怒。(三)癡(梵 moha)火,心智懵懂,不明事理,顛倒妄取,起諸邪行。大寶積經卷九十六(大一一‧五四二下)有「我見諸眾生,三火所熱惱」之句。凡人之煩惱,以貪欲、瞋恚、愚癡荼毒人最劇,故又稱三毒。其微細難察,殘害身心,常使人沈淪於生死輪迴。此三者能害眾生,為惡之根源,故又稱三不善根。〔北本大般涅槃經卷二十九、有部毘奈耶卷三十四、大智度論卷二十一〕 <二>印度婆羅門教及印度教大型祭祀中必置之供奉物。即(一)家主火(梵 Garhapatyagni),為調理供養諸神及婆羅門供物所設之火,火爐為圓形。(二)供養火(梵 Āhavanīyāgni),位於家主火之西方,燒供物奉獻諸神,火爐為方形。(三)祖先祭火(梵 Anvāharyapacana),供物奉獻祖先,火爐為半月形;位於家主火之南,故又稱南火(梵 Dakṣināgni)。
Tam hoặc
三惑; C: sānhuò; J: sanwaku;|Ba sự mê hoặc, ba phiền não. Có hai cách phân loại: 1. Ba loại phiền não căn bản là Tham dục (貪欲), Sân khuể (瞋恚), và Ngu si (愚癡). Chúng tương đương với Ba độc (Tam độc 三毒); 2. Trong Thiên Thai tông, ba loại hoặc chính là là Kiến tư hoặc (見思惑) – Phiền não xuất phát từ những kiến giải, những mối tư duy sai –, Trần sa hoặc (塵沙惑) – phiền não cản trở trí huệ và nhiều như số cát sông Hằng –, và Vô minh hoặc (無明惑), những phiền não gây chướng ngại cho việc thấu hiểu sự vật. Loại hoặc đầu được phá huỷ bởi hành giả Tiểu cũng như Đại thừa. Hai loại hoặc sau chỉ được tiệt đoạn bởi những vị Bồ Tát.
tam hoặc
624<一>又作三障。天台宗就界內、界外之惑所分之見思、塵沙、無明等三惑。(一)見思惑,見惑與思惑之並稱。見惑,乃意根對法塵所起之諸邪見。即迷於推度三世道理之煩惱;思惑,乃眼耳鼻舌身五根,貪愛色聲香味觸五塵,而起之想著。即迷於現在事理之煩惱。此見思惑為聲聞、緣覺、菩薩三乘所共斷,故稱通惑。由此招感三界之生死,故為界內之惑,須以空觀對治之。(二)塵沙惑,迷於界內外恆沙塵數之法所起之惑障,稱為塵沙惑。菩薩斷除見思惑後,易著於空觀,而未能進一步了知眾生之塵沙惑,及對治教化之方法,故此惑又稱著空惑,能妨礙菩薩出假利生,化度眾生。又此惑為菩薩所斷,故又稱別惑,通於界內外,須以假觀破之。(三)無明惑,於一切法無所明了,故稱無明。即迷於中道第一義諦之煩惱。此惑乃業識之種子、煩惱之根本,聲聞、緣覺不知其名,屬界外之惑,唯在大乘菩薩,定慧雙修,萬行具足,方斷此惑,故又稱別惑。須以中觀破之。 若論斷位,則別圓二教不同。依別教之說,十信位能伏住見思惑,初住能斷除見惑,七住能斷盡思惑,八、九、十住能斷除界內之塵沙惑,十行斷界外之塵沙惑,十迴向能伏住無明惑,初地以後至妙覺位能斷除十二品之無明惑。依圓教之說,五品弟子位能伏住五住地之煩惱,十信中之初信位能斷除見惑,七信位能斷盡思惑,八、九、十信能斷除界內外之塵沙惑,初住以後至妙覺位能斷除四十二品之無明惑。實則三惑原係一惑之粗細分,惑體無別,其粗者稱為見思,細者稱為無明,介於其間者稱為塵沙,是故,所謂斷捨,當無前後異時之別。又若以三惑對配二障,則見思惑相當於煩惱障,塵沙惑、無明惑相當於所知障。〔摩訶止觀卷四上、卷六上、法華經玄義卷五上、法華玄義釋籤卷三下、卷四下、止觀輔行傳弘決卷六之三、卷七之四、四教義卷一、四念處卷四〕 <二>為三毒之異稱,即貪欲、瞋恚、愚癡等三種根本之迷惑。
; A Thiên Thai classification of the three illusions; also styled tam phiền não trials or temptations, tam lậu leakages, tam cấu uncleanesses, tam kết bonds. The first of the following three is common to all disciples, the two last to bodhisattvas. They arise from a-Kiến Tư hoặc things seen and thought, i.e. illusions from imperfect perception with temptation to love, hate, etc.; to be rid of these false views and temptations is the discipline and nirvàna of ascetic or Hìnayàna Buddhists. Mahàyàna proceeds further in and by its bodhisattva aims, which produce their own difficulties, i.e. b-Trần sa hoặc illusion and temptation through the immense variety of duties in saving men; and c-Vô minh hoặc the illusions and temptations that arise from failure philosophically to understand things in their reality.
; Tam phiền não—Tam lậu—Tam cấu—Three delusions. (A) Theo tông Thiên Thai, có ba loại hoặc—According to the T'ien-T'ai Sect, there are three delusions: 1) Kiến tư hoặc: Thấy và nghĩ tưởng theo ảo vọng từ những nhận xét không hoàn hảo, với những cám dỗ của yêu ghét, vân vân. Muốn loại bỏ những cấu chướng nầy, người ta phải tuân thủ và hành trì giới luật (mê chấp tướng sanh tử)—Things seen and thought illusions from imperfect perception, with temptation to love, hate, etc., to be rid of these false views and temptations, one must cultivate and observe moral precepts. 2) Trần sa hoặc: Phiền não và cám dỗ trong lúc cứu độ chúng sanh (mê chấp cứu độ chúng sanh để đuợc vào cõi Niết Bàn)—Illusion and temptation through the immense variety of duties in saving others. 3) Vô minh hoặc: Phiền não và cám dỗ khởi lên từ chỗ không hiểu chư pháp và thực tánh của chúng. Phiền não khởi lên từ căn bản vô minh làm che lấp mất chân lý. Trong Biệt Giáo và Viên Giáo, Bồ Tát khắc phục vô minh hoặc trong sơ địa (mê chấp về tướng nhị biên)—The illusions and temptations that arise from failure philosophically to understand things in their reality—Illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth. In the Differentiated Teaching, this illusion is overcome by the Bodhisattva from the first stage; in the Perfect Teaching, it is overcome by the Bodhisatva in the first resting-place. (B) Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, có ba nhóm lậu hoặc—According to the Hinayana Buddhism, there are three groups of delusions: 1) Dục lậu: Say mê về dục lạc trần thế: Kamasava (p)—Intoxicant of worldly desires or sensual pleasures. 2) Hữu lậu: Bhavasava (p)—Sự ham muốn hiện hữu trong một trong những cảnh giới hữu lậu—The love of existence in one of the conditioned realms. 3) Vô minh lậu: Avijjasava (p)—Sự uế nhiễm trong tâm khởi lên từ sự ngu si—The defilements of ignorance in mind. *** Ngoài ra, có người còn cho rằng có lậu thứ tư là Kiến lậu, là những quan điểm đồi bại—Besides, some considers the fourth delusion: the corruption of views.
; (三惑) I. Tam Hoặc. Cũng gọi Tam chướng. Chỉ cho Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc. 1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ý căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền não mê lầm đối với đạo lí trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tức là phiền não mê lầm đối với sự lí ở hiện tại. Kiến hoặc và Tư hoặc này do cả 3 thừa Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Vì chúng chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi nên thuộc về hoặc giới nội, phải dùng Không quán để đối trị. 2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi vì mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo hóa độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc còn được gọi là Trước không hoặc, Hóa đạo chướng hoặc. Vì hoặc này chỉ do Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị. 3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rõ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền não mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp thức, cội rễ của phiền não, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và phải dùng Trung quán để đối trị. Nếu bàn về giai vị đoạn trừ thì giữa Biệt giáo và Viên giáo có khác nhau. Theo thuyết của Biệt giáo thì giai vị Thập tín mới chỉ nép phục được Kiến tư hoặc, Sơ trụ đoạn trừ được Kiến hoặc, Thất trụ đoạn sạch Tư hoặc, Bát trụ, Cửu trụ, và Thập trụ đoạn trừ được Trần sa hoặc thuộc giới nội, Thập hạnh đoạn trừ Trần sa hoặc thuộc giới ngoại, Thập hồi hướng nép phục Vô minh hoặc, từ Sơ địa trở lên cho đến giai vị Diệu giác đoạn trừ được 12 phẩm Vô minh hoặc. Còn theo thuyết của Viên giáo thì Giai vị Ngũ phẩm đệ tử nép phục được phiền não Ngũ trụ địa, giai vị đầu của Thập tín đoạn trừ được Kiến hoặc, giai vị Thất tín đoạn trừ hết Tư hoặc, Bát tín, Cửu tín và Thập tín, đoạn trừ được Trần sa hoặc thuộc giới nội, từ Sơ trụ trở lên cho đến giai vị Diệu giác đoạn trừ được 12 phẩm Vô minh hoặc. Thật ra Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc thì không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa thì gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước, sau khác nhau. Nếu lại phối hợp Tam hoặc với Nhị chướng thì tương đương với Sở tri chướng. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; 6 thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.3 hạ, 4 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 3, 7, phần 4; Tứ giáo nghĩa Q.1; Tứ niệm xứ Q.4]. II. Tam Hoặc. Tên gọi khác của Tam độc, tức 3 thứ mê hoặc căn bản là tham dục, sân khuể và ngu si.
Tam Huyền
(三玄): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi chung của các nhà huyền học thời Ngụy Tấn (魏晉南北朝, 220-589) đối với 3 thư tịch Lão Tử (老子), Trang Tử (莊子) và Chu Dịch (周易). Đạo Giáo cũng dùng đến thuật ngữ này. Như trong Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓), chương Miễn Học (勉學), giải thích rằng: “Kịp ư Lương thế, tư phong phục xiển, Trang, Lão, Chu Dịch, tổng vị Tam Huyền (洎於梁世、茲風復闡、莊、老、周易、總謂三玄, đến thời nhà Lương, phong thái này lại được mở ra, Trang Tử, Lão Tử và Chu Dịch, gọi chung là Tam Huyền).” (2) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) có đoạn: “Thiên hữu Tam Huyền, vị nhật, nguyệt, tinh dã (天有三玄,謂日、月、星也, trời có Tam Huyền, tức là mặt trời, mặt trăng và sao).” (3) Thuật ngữ Thiền, chỉ cho 3 loại áo nghĩa, giáo chỉ do Thiền sư Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, ?-866) của Lâm Tế Tông tuyên xướng; gồm: (1) Thể Trung Huyền (體中玄), (2) Cú Trung Huyền (句中玄), (3) Huyền Trung Huyền (玄中玄). Trong một câu có Ba Huyền, trong một Huyền có Ba Yếu, tổng cọng có 9 pháp. Như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 9, phần Đông Kinh Hoa Nghiêm Phổ Tư Thiền Sư (東京華嚴普孜禪師), có đoạn: “Sư vi nhân thanh tú kiệt xuất, xướng Lâm Tế hạ Tam Huyền Cửu Đái, tạo Tào Động Ngũ Vị Thập Huyền, giai diệu đắc kỳ gia phong yếu chỉ (師爲人清秀傑出、唱臨濟下三玄九帶、造曹洞五位十玄、皆妙得其家風要旨, Thiền Sư là người thanh tú kiệt xuất, cổ xướng Ba Huyền Chín Pháp của Lâm Tế, tạo ra Năm Vị Mười Huyền của Tào Động, đều đạt được gia phong yếu chỉ của người một cách diệu xảo).” Hay trong bài thơ Tiên Hòa Thượng Tọa Thoát (仙和尚坐脫) của Triệu Phong (趙渢, ?-?) nhà Kim cũng có đoạn: “Dũng để thoát thời vô nhất vật, cơ luân chuyển xứ hữu Tam Huyền (桶底脫時無一物、機輪轉處有三玄, đáy thùng vỡ rồi chẳng một vật, cơ phong chuyển hóa có Ba Huyền).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 38, phần Đầu Thủ Tứ Tiết Bỉnh Phất (頭首四節秉拂), lại có câu: “Hoát khai Tam Yếu Tam Huyền lộ, tọa đoạn Tu Di đệ nhất phong (豁開三要三玄路、坐斷須彌第一峰, mở toang Ba Yếu Ba Huyền nẻo, nghiễm nhiên ngồi chót đỉnh Tu Di).”
tam huyền tam yếu
543臨濟義玄接引學人之方法。臨濟錄上堂(大四七‧四九七上):「師又云:『一句語須具三玄門,一玄門須具三要,有權有用。』」然臨濟並未明言道出三玄門與三要之內容。蓋「一句語有玄有要」即是活語,「三玄三要」,其目的乃教人須會得言句中權實照用之功能。後之習禪者於此三玄三要各作解釋,而謂三玄即:(一)體中玄,指語句全無修飾,乃依據所有事物之真相與道理而表現之語句。(二)句中玄,指不涉及分別情識之實語,即不拘泥於言語而能悟其玄奧。(三)玄中玄,又作用中玄。指離於一切相待之論理與語句等桎梏之玄妙句。又依人天眼目卷一所載汾陽善昭之說,三要之中,第一要為言語中無分別造作,第二要為千聖直入玄奧,第三要為言語道斷。〔臨濟義玄禪師語錄序、五家玄旨纂要卷上、禪學的黃金時代(吳經熊)〕(參閱「臨濟三句」6505)
; Là cơ xảo của Lâm Tế để kích thích hành giả tham thiền phát khởi nghi tình.
; (三玄三要) Tiếng dùng trongThiền lâm. Phương pháp tiếp dẫn người học của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền. Tam huyền là: 1. Thể trung huyền: Chỉ cho câu nói hoàn toàn không trau chuốt văn hoa, chỉ y cứ vào chân tướng là đạo lí của mọi sự vật mà biểu hiện. 2. Cú trung huyền: Chỉ cho lời nói chân thực, không hề liên quan đến tình thức phân biệt, tức không câu nê vào ngôn ngữ mà chỉ nhằm tỏ ngộ ý nghĩa sâu kín của lời nói. 3. Huyền trung huyền (cũng gọi Dụng trung huyền): Chỉ cho câu nói sâu xa mầu nhiệm, xa lìa tất cả lí luận tương đãi và sự trói buộc củangữ cú... Trong 3 huyền môn, mỗi huyền môn lại có 3 yếu tố quan trọng gọi là Tam yếu. Theo Thiền sư Phần dương Thiện chiêu thì Tam yếu là: 1. Yếu thứ nhất: Trong lời nói không có phân biệt tạo tác. 2. Yếu thứ hai: Nghìn Thánh vào thẳng nghĩa sâu xa mầu nhiệm. 3. Yếu thứ ba: Dứt bặt nói năng. [X. bài tựa trong Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục; Ngũ gia huyền chỉ toản yếu Q.thượng; Thiền học đích hoàng kim thời đại (Ngô kinh hùng); Nhân thiên nhãn mục Q.1]. (xt. Lâm Tế Tam Cú).
Tam huệ
三慧 (惠); C: sānhuì; J: san'e;|Ba loại trí huệ, Văn tư tu.
tam huệ
Tisrah-prajāh (S)Gồm: Văn huệ, Tư huệ, Tu huệ.
; Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, có ba cách đạt được trí huệ—According to the Theravadan Buddhism, there are three modes of attaining moral wisdom: 1) Văn Huệ: Sutamaya-panna (p)—Đạt được văn huệ qua đọc nghe và những lời giáo huấn—Attaining moral wisdom from reading, hearing and instruction—Attaining wisdom based on learning. 2) Tư huệ: Cintamaya-panna (p)—Đạt được tư huệ qua suy tư—Attaining moral wisdom from reflection—Attaining wisdom based on thinking. 3) Tu huệ: Bhavanamaya-panna (p)—Đạt được tu huệ qua tu hành phát triển tâm linh—Attaining moral wisdom from practice of abstract meditation (attaining wisdom based on mental development).
Tam Hà
(三河): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Dưới thời nhà Hán, là tên gọi của 3 quận Hà Nội (河內), Hà Đông (河東) và Hà Nam (河南), tức hiện tại là Tỉnh Hà Nam (河南省), Phố Lạc Dương (洛陽市) và một dãy Nam Bắc. Như trong Sử Ký (史記), phần Hóa Thực Liệt Truyện (貨殖列傳) có đoạn rằng: “Tích Đường nhân đô Hà Đông, Ân nhân đô Hà Nội, Chu nhân đô Hà Nam; phù Tam Hà, tại thiên hạ chi trung; nhược đỉnh túc, vương giả sở cánh cư dã (昔唐人都河東、殷人都河內、周人都河南、夫三河、在天下之中、若鼎足、王者所更居也, xưa kia kinh đô nhà Đường là Hà Đông, kinh đô nhà Ân là Hà Nội, kinh đô nhà Chu là Hà Nam; phàm ba quận này ở trong thiên hạ; nếu kết hợp thành thế chân vạc, là chốn an cư của bậc đế vương).” (2) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Tứ Chi Hà (賜支河) và Hoàng Hà (湟河). Như trong bài Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tam Hà (三河) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có câu: “Đường thi 'Thiên Tử Tam Hà mộ thiếu niên' (唐詩'天子三河募少年', thơ Đường có câu 'ba sông của Thiên Tử chiêu mộ thiếu niên').” (3) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Hoài Hà (淮河) và Lạc Hà (洛河); và đôi khi cũng chỉ cho tất cả các sông ngòi.
Tam Hà Tứ Hải Cửu Giang
(三河四海九江): ba sông, bốn biển, chín sông, là từ chỉ chung cho những nơi có nước như ao hồ, sông ngòi, biển cả trên khắp thế giới. Như trong Thái Thượng Linh Bảo Ngọc Quỹ Minh Chơn Đại Trai Quan Công Nghi (太上靈寶玉匱明眞大齋官功儀) của Đạo Giáo có đoạn cung thỉnh rằng: “Cẩn thượng thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Tam Cung Cửu Phủ, Bách Nhị Thập Tào, Ngũ Nhạc Đại Thần, Thập Đại Động Thiên, Tam Thập Lục Động Thiên, Nhị Thập Tứ Hóa, Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Thủy Đế, Thập Nhị Hà Nguyên, Cửu Cung Chân Nhân, Thập Nhị Tiên Quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, binh mã kỵ thừa, giáng lâm tiêu tòa (謹上請三元君、上元天官、中元地官、下元水官、三宮九府、百二十曹、五嶽大神、十大洞天、三十六洞天、二十四化、三河四海、九江水帝、十二河源、九宮眞人、十二仙君、九天司命、五嶽丈人、九天使者、儲副正職佐命大神、天仙地仙、飛仙神仙、王童玉女、兵馬騎乘、降臨醮座, xin cung thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Ba Cung Chín Phủ, Trăm Hai Mươi Tào, Đại Thần Năm Núi, Trời Mười Động Lớn, Trời Ba Mươi Sáu Động, Hai Mươi Bốn Hóa, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Thủy Đế, Mười Hai Nguồn Sông, Chân Nhân Chín Cung, mười hai tiên quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, cỡi mang binh ngựa, giáng xuống đàn cúng).” Hay như trong Thái Thượng Thần Chú Diên Thọ Diệu Kinh (太上神呪延壽妙經) cũng có đoạn: “Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Bát Cực, chư chân nhân đẳng, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Tam Giới Địa Kỳ, Tam Quan Cửu Thự, nhất thiết thần minh, văn trì thử kinh, tức vi tiêu trừ nhất thiết khổ não (三河四海、九江八極、諸眞人等、仙童玉女、三界地祇、三官九署、一切神明、聞持此經、卽爲消除一切苦惱, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Tám Hướng, các vị chân nhân, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Thổ Thần Ba Cõi, Ba Quan Chín Sảnh, hết thảy thần minh, nghe trì kinh này, tức được tiêu trừ hết thảy khổ ách).”
Tam Hàn
(三韓): tên gọi chung của ba tiểu quốc Mã Hàn (馬韓), Thần Hàn (神韓) và Biện Hàn (辨韓), đã chiếm cứ phía Nam Triều Tiên cổ đại. Nó còn là tên gọi chung của Tân La (新羅), Bách Tế (百濟) và Cao Cú Lệ (高句麗).
tam hành
Three lines of action that affect karma: (A) Sự hành động dưới ba loại nghiệp—Actions under three kinds of karma: 1) Thập thiện nghiệp: Phước Hành—The ten good deeds that cause happy karma. 2) Thập ác nghiệp: The ten evil deeds that cause unhappy karma. 3) Vô ký nghiệp (Vô thiện vô ác): Bất động nghiệp—Neither good nor evil karma, that arise without activity. (C) Sự hành động dưới ba hình thức—Actions in three forms: 1) Thân hành: Kaya-sankhara (p)—Physical actions. 2) Ngôn hành: Vaci-sankhara (p)—Verbal actions. 3) Tâm hành: Citta-sankhara (p)—Mental actions.
tam hòa
The union of the three, i.e. căn indriya, cảnh àlambana, thức vijnàna, i.e. organ, object, cognition.
; (三和) Ba hòa hợp, tức chỉ cho căn, cảnh và thức hòa hợp mà sinh ra tâm sở Xúc. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 11 trung) nói: Căn, cảnh, thức, tùy thuận nhau gọi là Tam hòa, Xúc do đó mà sinh. Tuy nhiên, các sư khác đối với vấn đề này cũng có những quan điểm bất đồng. [X. luận Câu xá Q.10. luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Xúc).
tam hóa
Trini-nirmanani (S)Ba cách giáo hóa gồm: Nghiệp hóa, Tùy hóa, Thượng hóa.
; (三化) Ba phương pháp giáo hóa. I. Tam Hóa. Phạm:Trìịi nirmàịàni. Dựa theo sự lợi ích của chúng sinh mà chia ra 3 cách giáo hóa là Nghiệp hóa, Tùy hóa và Thượng hóa. 1. Nghiệp hóa (Phạm: Karmanirmàịa): Giáo hóa về công nghiệp một cách khéo léo tự tại. 2. Tùy hóa (Phạm: Upapattinirmàịa): Tùy điều người ta mong muốn mà giáo hóa 1 cách tự tại. 3. Thượng hóa (Phạm: Uttamanirmàịa): Trụ ở nơi thắng thượng như cõi trời Đâu suất mà giáo hóa 1 cách tự tại.[X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2]II. Tam Hóa. Dựa theo 3 nghiệp thân ngữ ý mà chia làm Thân hóa, Ngữ hóa và Ý hóa đồng nghĩa với với Tam thị hiện, Tam luân. 1. Thân hóa: Nương vào Thần cảnh thông, biến hóa ra các cảnh thù thắng lạ kì để hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi được giáo hóa. Thân hóa lại được chia làm 3 thứ là Hiện thần thông hóa, Hiện thụ hóa sinh, và Hiện nghiệp quả hóa.2. Ngữ Hóa(cũng gọi Khẩu hóa): Nương vào Tha tâm thông mà diễn nói giáo pháp, hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi giáo hóa. Cũng chia làm 3 thứ là Kháng úy ngữ hóa, Phương tiện ngữ hóa và Biện dương ngữ hóa. 3. Ý hóa: Nương vào Lậu tận thông, giám sát căn cơ và ý muốn của chúng sinh để tùy nghi nói pháp, hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi được giáo hóa. Ý hóa lại được chia làm 4 thứ là Quyết trạch ý hóa, Tạo tác ý hóa, Phát khởi ý hóa và Thụ lãnh ý hóa. Thân biến hóa của Thanh văn, Bồ tát, và Phật đều đủ đức Tam hóa, nhưng để hiển bày đức Tam hóa thù thắng của Phật nên gọi đó là Uy lực. Ngoài ra, các loài chúng sinh được thân Tha thụ dụng hóa độ tuy không có các ác kiến, nhưng khi họ được giáo hóađể vào địa vị trên thì cũng thị hiện Tam hóa. [X. Phật địa kinh luận Q.6; luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Luân).
Tam hạnh
三行; C: sānxíng; J: sangyō;|1. Ba hạnh tạo nghiệp của thân, khẩu và ý; 2. Ba hạnh: thiện, ác và không thiện không ác; 3. Ba hạnh theo kinh Kim Cương: Hành động theo tình thế, hành động theo tâm thức và hành động tuỳ theo Chân như.
tam hạnh
550<一>指身、口、意三業。中觀論有「起三行」之語,即為起動三業之謂。(參閱「三業」638) <二>三行又指:(一)福行,即行十善等福,能招感天上、人間之果。(二)罪行,又稱非福行。即行十惡等罪,能招感三惡道之苦。(三)不動行,又稱無動行。即修有漏之禪定,能招感色界、無色界之果。因禪定不動,感果不動,福行罪行,非如異變,故稱不動。〔大智度論卷八十八〕
; Three lines of action that affect karma, i.e. phúc hạnh the ten good deeds thập thiện that cause happy karma; Tội hạnh the ten evil deeds thập ác that cause unhappy karma; bất động hạnh (nghiệp) or vô động hạnh karma arising without activity, e.g. meditation on error and its remedy.
; (三行) I. Tam Hành. Chỉ cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý. Trong luận Trung quán có câu Khởi tam hành, nghĩa là khởi động 3 nghiệp. (xt. Tam Nghiệp). II. Tam Hành. Chỉ cho Phúc hành, Tội hành, và Bất động hành. 1. Phúc hành: Làm các việc phúc như 10 điều thiện... có công năng mang lại quả báo cõi trời, cõi người... 2. Tội hành(cũng gọi Phi phúc hành): Tạo các tội như 10 điều ác: Giết hại, trộm cướp... có công năng mang lại khổ đau trong 3 đường ác. 3. Bất động hành(cũng gọi Vô động hành): Tu thiền định hữu lậu, có năng lực chiêu cảm quả báo cõi Sắc, cõi Vô sắc... Vì thiền định không thay đổi và biến động như phúc hành và tội hành nên gọi là Bất động. [X. luận đại trí độ Q.88].
tam hạnh nghiệp
Xem Tam nghiệp.
Tam học
三學; C: sānxué; J: sangaku;|Chỉ ba việc thực hành Phật pháp: Giới (戒; s: śīla), định (定; s: dhyāna) và Huệ (慧; s: prajñā). Ba môn học.
tam học
682<一>梵語 tisraḥ śikṣāḥ,巴利語 tisso sikkhā。乃學佛者所必修之戒、定、慧三學。又作三勝學,全稱戒定慧三學。(一)增戒學(梵 adhiśīla),又作戒學、增上戒學。戒可修善,並防止身、口、意所作之惡業。(二)增心學(梵 adhicitta),又作定學、增意學、增上意學、增上心學。定可攝散澄神、摒除雜念,見性悟道。(三)增慧學(梵 adhiprajñā),又作慧學、增上慧學。慧能顯發本性,斷除煩惱,見諸佛實相。此三者為佛教實踐綱領,即由戒生定,由定發慧。故菩薩地持經卷十以六度配三學,即布施、持戒、忍辱、精進等四波羅蜜為戒學,禪波羅蜜為定學,般若波羅蜜為慧學。蓋三學實為佛道之至要,一切法門盡攝於此,故當精勤修學。三學若加上解脫與解脫知見,則成所謂「五分法身」。〔北本大般涅槃經卷十七、本事經卷六、四分律卷五十八、摩訶僧祇律卷二、大乘義章卷十〕(參閱「戒定慧」2908) <二>就學習之滿、未滿而分有學、無學、非學非無學等三種之人。據大智度論卷十八、俱舍論卷二十四之解釋:(一)有學(梵 śaikṣa),指四向三果。「有學智」則指苦法智忍之慧,乃至向阿羅漢第九無礙道中之金剛三昧慧。「有學法」指無漏有為的有學之五蘊。(二)無學(梵 aśaikṣa),指阿羅漢果。「無學智」則指阿羅漢第九解脫智。「無學法」指無漏有為的無學之五蘊。(三)非學非無學(梵 naivaśaikṣa-nāśaikṣa),指異生(即凡夫)。「非學非無學智」則指乾慧地之不淨、安那般那、欲界繫之四念處、煖法、頂法、忍法、世間第一法等。「非學非無學法」指有漏之五蘊及無為法。〔雜阿含經卷二十八、中阿含卷三十福田經、大智度論卷二十二、俱舍論卷四、俱舍論光記卷四〕(參閱「四向四果」1683、「異生」5151)
; Tisrah-siksah (S), Tissosikkha (P), Tisso-sikkhā (P), Triśikṣa (S)Ba môn học: giới, định, huệ.
; The "three studies" or vehicles of learning - discipline giới, meditation định, wisdom tuệ. Threefold formation: moral formation, spiritual formation, formation of wisdom. Also the Tripitaka tam tạng; the giới being referred to the luật vinaya, the định to the sùtras, and the tuệ to the sàstras.
; Three studies—Three practices of precepts, meditation and wisdom: 1) Giới: Sila (skt & p)—Trì giới là để tránh những hậu quả xấu ác do thân khẩu ý gây nên. Theo Phật Giáo Nhìn Toàn Diện của Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera, trước khi gia công thực hành những nhiệm vụ khó khăn hơn, như tu tập thiền định, điều chánh yếu là chúng ta phải tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương, đặt hành động và lời nói trong giới luật. Giới luật trong Phật Giáo nhằm điều ngự thân nghiệp và khẩu nghiệp, nói cách khác, giới luật nhằm giúp lời nói và hành động trong sạch. Trong Bát Chánh Đạo, ba chi liên hệ tới giới luật là chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng. Người muốn hành thiền có kết quả thì trước tiên phải trì giữ ngũ giới căn bản không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và uống rượu cũng như những chất cay độc làm cho tâm thần buông lung phóng túng, không tỉnh giác—Discipline—Learning by the commandments or prohibitions, so as to guard against the evil consequences of error by mouth, body or mind. According to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spetrum of Buddhism, it is essential for us to discipline ourselves in speech and action before we undertake the arduous task of training our mind through meditation. The aim of Buddhism morality is the control of our verbal and physical action, in other words, purity of speech and action. This is called training in virtue. Three factors of the Noble Eightfold Path form the Buddhsit code of conduct. They are right speech, right action, and right livelihood. If you wish to be successful in meditation practice, you should try to observe at least the five basic precepts of morality, abstinence from killing, stealing, illicit sexual indulgence, speaking falsehood and from taking any liquor, including narcotic drugs that cause intoxication and heedlessness—See Giới (I). 2) Định: Dhyana (skt)—Thiền định. Theo Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera trong Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, giới đức trang nghiêm giúp phát triển định tâm. Ba chi cuối cùng của Bát Chánh Đạo là chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, hợp thành nhóm định. Hành giả có thể ngồi lại trong một tịnh thất, dưới một cội cây hay ngoài trời, hoặc một nơi nào thích hợp khác để gom tâm chăm chú vào đề mục hành thiền, đồng thời không ngừng tinh tấn gội rữa những bợn nhơ trong tâm và dần dần triệt tiêu năm triền cái để định tâm vào một điểm—Meditation—By Dhyana or quiet meditation. According to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spectrum of Buddhism, virtue aids the cultivation of concentration. The first three factors of the Noble Eightfold Path, right effort, right mindfulness and right concentration, form the concentration group. This called training in concentration or samadhi-sikkha. Progressing in virtue the meditator practices mental culture, Seated in cloister cell, or at the foot of a tree, or in the open sky, or in some other suitable place, he fixes his mind on a subject of meditation and by unceasing effort washes out the impurities of his mind and gradually gains mental absorption by abandoning the five hindrances. 3) Huệ: Prajna (skt)—Cũng theo Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera trong Phật Giáo Nhìn Toàn Diện thì tâm định ở mức độ cao là phương tiện để thành đạt trí tuệ hay tuệ minh sát. Tuệ bao gồm chánh kiến và chánh tư duy, tức là hai chi đầu trong Bát Chánh Đạo. Trí tuệ giúp chúng ta phá tan lớp mây mờ si mê bao phủ sự vật và thực chứng thực tướng của vạn pháp, thấy đời sống đúng như thật sự, nghĩa là thấy rõ sự sanh diệt của vạn hữu—Wisdom—By philosophy—Study of principles and solving of doubts. Also according to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spectrum of Buddhism, high concentration is the means to the acquisition of wisdom or insight. Wisdom consists of right understanding and right thought, the first two factors of the path. This is called the training in wisdom or panna-sikkha. Wisdom helps us get rid of the clouded view of things, and to see life as it really is, that is to see life and things pertaining to life as arising and passing. ** For more information, please see Tam Tu in Vietnamese-English Section.
; (三學) I. Tam Học. Phạm:Tisra# zikwà#. Pàli:Tisso sikkhà. Cũng gọi Tam thắng học. Gọi đủ: Giới định tuệ tam học. Ba môn giới, định, tuệ mà người học Phật phải tu. 1. Tăng giới học (Phạm: Adhizìla) cũng gọi Giới học, Tăng thượng giới học: Giới có năng lực tu thiện, đồng thời ngăn ngừa các nghiệp ác do thân, khẩu, ý tạo ra. 2. Tăng tâm học (Phạm: Addhicitta), cũng gọi Định học, Tăng ý học, Tăng thượng ý học, Tăng thượng tâm học: Định có năng lực nhiếp tâm tán loạn, diệt trừ các niệm tạp nhạp, thấy tính ngộ đạo. 3. Tăng tuệ học (Phạm:Adhiprajĩà), cũng gọi Tuệ học, Tăng thượng tuệ học: Tuệ có năng lực hiển phát bản tính, đoạn trừ phiền não, thấy thực tướng của chư Phật.Ba môn học này là giềng mối thực hành của Phật giáo, tức nhờ giới sinh định, do định phát ra tuệ. Vì thế, kinh Bồ tát địa trì quyển 10 đem Lục độ phối hợp với Tam học, tức 4 Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến là Giới học, Thiền ba la mật là Định học và Bát nhã ba la mật là Tuệ học. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.17, (bản Bắc); kinh Bản sự Q.6; Luật Tứ phần Q.58; luật Ma ha tăng kì Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới Định Tuệ). II. Tam Học. Chỉ cho Hữu học, Vô học và Phi hữu học phi vô học. Cứ theo sự giải thích trong luận Đại trí độ quyển 18 và luận Câu xá quyển 24 thì: 1. Hữu học (Phạm: Zaikwa): Chỉ cho Tứ hướng tam quả. Còn Hữu học trí thì chỉ cho Khổ pháp trí nhẫn, cho đến Kim cương tam muội tuệ trong Vô ngại đạo thứ 9 của A la hán hướng. Hữu học pháp chỉ cho Ngũ uẩn của Hữu học thuộc vô lậu hữu vi. 2. Vô học (Phạm: Asaikwa): Chỉ cho quả A la hán. Vô học trí thì chỉ cho giải thoát trí thứ 9 của A la hán. Còn Vô học pháp thì chỉ cho Ngũ uẩn của Vô học thuộc Vô lậu hữu vi. 3. Phi học phi vô học (Phạm: Naivazaikwa-nàzaikwa): Chỉ cho dị sinh (tức phàm phu). Phi học phi vô học trí thì chỉ cho pháp bất tịnh của Can tuệ địa, an na ban na, tứ niệm xứ thuộc Dục giới hệ, noãn pháp, đính pháp, nhẫn pháp, và thế đệ nhất pháp... Còn phi học phi vô học pháp thì chỉ cho Ngũ uẩn hữu lậu và pháp vô vi. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; kinh Phúc điền trong kinhA hàm Q.30; luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.4; Câu xá luận quang kí Q.4]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả, Dị Sinh).
tam hỏa
The three fires - desire, hate, and stupidity. Xem tam độc.
; Three fires: 1) Lửa Tham dục: Fire of desire. 2) Lửa Sân hận: Fire of hatred. 3) Lửa Vô minh: Fire of stupidity or ignorance.
; (三火) I. Tam Hỏa. Cũng gọi Tam độc, Tam cấu. Ba thứ lửa. Chỉ cho tham, sân, si. 1. Tham hỏa: Khao khát nhận lấy tất cả cảnh thích ý. 2. Sân hỏa: Phẫn nộ trước mọi cảnh trái ý mà mình gặp. 3. Si hỏa: Tâm trí mù mờ, không rõ sự lí, điên đảo làm bậy. Kinh Đại bảo tích quyển 96 (Đại 11, 542 hạ) có câu: Ta thấy các chúng sinh bị tam hỏa nung đốt. Trong các thứ phiền não của phàm phu thì tham dục, sân khuể và ngu si là độc hại nhất nên cũng gọi là Tam độc. Sự nhỏ nhiệm của 3 thứ độc này rất khó quán xét, chúng tàn hại thân tâm, thường làm cho con người chìm đắm trong sinh tử luân hồi. Ba cái độc này là nguồn gốc của mọi tội ác, tàn phá xã hội loài người, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc); Hữu bộ tì nại da Q.34; luận Đại trí độ Q.21]. II. Tam Hỏa. Chỉ cho Gia chủ hỏa, Cúng dường hỏa và Tiên tổ tế hỏa, là các vật thờ cúng được bài trí trong lễ đại tế của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo ở Ấn độ. 1. Gia chủ hỏa (Phạm: Garhapat= yagni): Lò lửa hình tròn, dùng để điều lí các vật cúng dường chư thần và Bà la môn. 2. Cúng dường hỏa (Phạm:Àhavanì= yàgni): Lò lửa hình vuông, đặt ở phía tây của Gia chủ hỏa, dùng để đốt những vật dâng cúng các thần. 3. Tổ tiên hỏa (Phạm: Anvàharya= pacana): Lò lửa hình bán nguyệt, là vật thờ cúng tổ tiên, được đặt ở phía nam của Gia chủ hỏa, vì thế cũng gọi là Nam hỏa (Phạm:Dakwinàgni).
tam hồn thất phách
668即眾生身中之三種魂識與七類魄識。三魂,指胎光業魂神識、幽精轉魂神識、相靈現魂神識;七魄,指雀陰魄神識、天賊魄神識、非毒魄神識、尸垢魄神識、臭肺魄神識、除穢魄神識、伏尸魄神識。據傳,一切眾生臨命終時,閻魔法王遣閻魔卒縛人之三魂至門關樹下,此說或源於道教之三精(臺光、爽靈、幽精)說;或係基於大乘起信論,而以業轉現之三細配於三魂,以前七識配於七魄。〔地藏菩薩發心因緣十王經、持寶通覽卷中〕
; (三魂七魄) Ba hồn 7 vía trong thân của chúng sinh.Tam hồn chỉ cho Thai quang nghiệp hồn thần thức, U tinh chuyển hồn thần thức và Tương linh hiện hồn thần thức; Thất phách chỉ cho Tước âm phách thần thức, Thiên tặc phách thần thức, Phi độc phách thần thức, Thi cấu phách thần thức, Xú phế phách thần thức, Trừ uế phách thần thức và Phục thi phách thần thức. Theo truyền thuyết, tất cả chúng sinh lúc hấp hối, Diêm ma pháp vương sai lính Diêm ma trói 3 hồn của người chết ở gốc cây trước cửa ngục; thuyết này có lẽ đã bắt nguồn từ thuyết Tam tinh (Đài quang, Sảng linh, U tinh) của Đạo giáo; hoặc là căn cứ vào luận Đại thừa khởi tín đem Tam tế do nghiệp chuyển hiện phối hợp với Tam hồn và 7 thức trước phối với Thất phách. [X. kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương; Trì bảo thông giám Q.trung].
tam hội
637<一>為佛救度眾生而說之三次法會,過去諸佛如毘婆尸如來、尸棄如來、毘舍婆如來、拘樓孫如來、拘那含如來、迦葉如來等,經典均載其三會說法及與會聽法之眾數。當來下生之彌勒佛亦有三會說法,稱為彌勒三會,又稱龍華三會,以教化釋尊未度化之眾生。據經載,此會約在釋迦佛滅度後五十六億七千萬年之後。〔長阿含經卷一、增一阿含經卷四十四、彌勒下生經、七佛經、菩薩處胎經卷二〕(參閱「龍華三會」6389) <二>叢林中,敲鐘或打鼓滿三十六下,稱為一會。如此重覆三次,共一百零八下,稱為三會。〔禪苑清規卷六警眾〕 <三>日本佛教界於南都(奈良)、北京(京都)所舉行之三大法會。南都三會為:興福寺之維摩會、藥師寺之最勝會、大極殿之御齋會。北京三會為:圓宗寺之法華會與最勝會、法勝寺之大乘會。北京之三會又稱為天台三會。
; (三會) I. Tam Hội. Ba hội thuyết pháp của chư Phật. Trong các kinh điển đều có ghi chép về ba hội thuyết pháp và số chúng nghe pháp trong hội của các đức Phật quá khứ như Tì bà thi Như lai, Thi khí Như lai, Tì xá bà Như lai, Câu lâu tôn Như lai, Câu na hàm Như lai và Ca diếp Như lai... Đức Phật Di lặc giáng sinh trong vị lai cũng sẽ có Tam hội thuyết pháp, gọi là Di lặc tam hội, cũng gọi Long hoa tam hội, để giáo hóa những chúng sinh mà đức Thích ca chưa hóa độ. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh Di lặc há sinh; kinh Thất Phật; kinh Bồ tát xử thai Q.2]. (xt. Long Hoa Tam Hội). II. Tam Hội. Chỉ cho 3 hồi trống, chuông. Trong tùng lâm đánh chuông hoặc đánh trống đủ 36 tiếng, gọi là Nhất hội. Cứ như thế đánh 3 lần, cộng tất cả là 108 tiếng, gọi là Tam hội[X. điềuCảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui Q.6]. III. Tam Hội. Chỉ cho 3 pháp hội lớn của Phật giáo Nhật bản được tổ chức tại Nam đô (Nara) và Bắc kinh (Kyoto). Nam đô tam hội: Hội Duy ma ở chùa Hưng phúc, hội Tối thắng ở chùa Dược sư và Hội Ngự trai ở điện Đại cực. Còn Bắc kinh tam hội là: Hội pháp hoa và hội Tối thắng ở chùa Viên tông, hội Đại thừa ở chừa Pháp thắng. Bắc kinh tam hội cũng gọi là Thiên thai tam hội.
tam hội ☸ long hoa tam hội
〖出法住記〗彌勒下生經云:彌勒菩薩即於出家之日,便得成佛。坐於龍華樹下,花林園中,三會說法。故云龍華三會。(梵語彌勒,華言慈氏。)〔第一會,度九十六俱胝聲聞眾〕,梵語俱胝,華言百億。記云:若諸國王、大臣、長者、居士、男女一切施主,於今釋迦牟尼佛正法中,能作佛事,自種善根,或教他種,以七寶金銀鍮石銅鐵木石泥土,或以繒縷,或以綵畫,作佛形像;及窣堵波,若大若小,乃至最小如指節大,或以香花、諸妙供具而為供養,由如是善根力故,至彌勒如來成正覺時,善得人身,於第一會中,剃髮出家,乘宿願力,便得涅槃。(梵語窣堵波,華言高顯,即塔也。梵語涅槃,華言滅度。)〔第二會,度九十四俱胝聲聞眾〕,記云:若國王等及以臣庶,於今釋迦牟尼佛正法中,能為法事。謂於諸大乘經典,或律、或論,若讀若誦,或恭敬供養,或於經卷以諸雜綵而嚴飾之,由是善根力故,至彌勒如來成正覺時,善得人身,於第二會中,剃髮出家,乘宿願力,便得涅槃。〔第三會,度九十二俱胝聲聞眾〕,記云:若諸國王及臣庶等,於今釋迦牟尼佛正法中,能為僧事。自種善根,或教他種,於每月初一日,或初八日、十五日,設齋供養比丘、比丘尼,或供養修禪定者,或供養諸說法者,或施坐臥等具供養僧眾。由是善根力故,至彌勒如來成正覺時,於第三會中,剃髮出家,乘宿願力,便得涅槃。
Tam hữu
chỉ sự tồn tại trong Ba cõi, nên là tên khác của sanh tử luân hồi. Xem Ba cảnh giới.
; 三有; C: sānyǒu; J: san'u;|1. Ba cách tồn tại: Cách tồn tại trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới; 2. Đồng nghĩa với Tam giới (三界), Ba thế giới.
tam hữu
531三種親友。俱舍論頌疏卷二十九分親友為三等,上者能生法身,中者以財、法交,下者唯以財交。又摩訶止觀卷四下以外護、同行、教授等三種善知識為三友。〔淨土法事讚卷下、法事讚私記卷下〕(參閱「善知識」4884)
; 548有,梵語 bhava,其義分類如下:<一>欲有、色有、無色有。義同三界。(一)欲有,欲界天、人、修羅、畜生、餓鬼、地獄,各隨其業因而受果報,稱為欲有。(二)色有,色界四禪諸天,雖離欲界粗染之身,而有清淨之色,稱為色有。(三)無色有,無色界四空諸天,雖無色質為礙,亦隨所作之因,受其果報,稱為無色有。〔大智度論卷三、集異門足論卷四、大毘婆沙論卷六十〕 <二>有情一生之始終分為生有、本有、死有。(一)生有,指託生之最初一剎那。(二)本有,指由生至死之間。(三)死有,指死之瞬間。小乘有部宗則以此三有,加上「中有」,而主張四有之說。〔異部宗輪論〕(參閱「四有」1688) <三>有漏之異名。漏,為煩惱之異名。煩惱自有情眾生之六根門漏泄無窮,而令其流轉於生死之間,故謂有漏乃三有之因,為其所依、所攝。(參閱「有漏」2452) <四>善成有、性得有、變異有。乃數論外道所立。(一)善成有,如數論之祖迦毘羅仙人,初生時具法、智、離欲、自在等四德,此四德係因善而得成就,故稱善成有。(二)性得有,如昔時梵王生娑那歌、娑難陀那、娑那多那、娑難鳩摩羅等四子,此四子十六歲時自然成就法、智、離欲、自在等四德,以無因而得,故稱自性有。(三)變異有,師身名變異,因師身故,弟子恭敬親近聽聞得智慧,因智慧得離欲,因離欲得善法,因善法得自在;如是,弟子四德從師身得,故稱變異有。此三有相當於佛法之等起善、生得善、加行善。〔金七十論卷中〕
; Xem tam giới.
; The three kinds of bhava, or existence; idem tam giới. The three states of mortal existence in the trailokya, i.e. in the realms of desire, of form, and beyond form. Another definition is hiện hữu present existence, or the present body and mind; đương hữu in a future state; trung hữu antarà-bhava in the intermediate state.
; Ba loại hiện hữu—Three kinds of existence—Three states of mortal existence in the trailikya: (A) 1) Tướng trì hữu: Qualities (good, bad, length, shortness). 2) Giả danh hữu: Phenomenal things—See Giả Danh Hữu. 3) Pháp hữu: The noumenal or imaginary, understood as facts and not as illusions—See Pháp Hữu. (E) Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại hữu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of existence: 1) Dục Hữu: Hiện hữu dục giới—Existence in the realm of desire—Sense-sphere existence. 2) Sắc Hữu: Hiện hữu sắc giới—Existence in the realm of form—Form-sphere existence. 3) Vô Sắc Hữu: Hiện hữu hay quả báo thực tại của vô sắc giới—Existence in the realm of formlessness (immaterial realm)—Formless-sphere existence. (C) 1) Hiện hữu: Bổn Hữu—Present existence or the present body and mind. 2) Trung hữu: Antara-bhava (skt)—Thân tâm sau khi chết—The intermediate state of existence. 3) Đương hữu: Thân tâm đời sau—Existence in the future state. ** For more information, please see Tam Giới.
; (三友) Ba hạng bạn thân. Câu xá luận tụng sớ quyển 29, chia bạn thân ra làm 3 bậc: Bậc thượng sinh được pháp thân; bậc trung thì giao du bằng tài (của cải vật chất) và pháp; còn bậc hạ thì chỉ giao du bằng tài vật. Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ, thì cho 3 hạng thiện tri thức: Ngoại hộ, đồng hành và giáo thụ là Tam hữu. [X. Tinh độ pháp sự tán Q.hạ; Pháp sự tán tư kí Q.hạ]. (xt. Thiện Tri Thức). I. Tam Hữu: Hữu, Phạm: Bhava. Tam hữu chỉ cho Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu, tức đồng nghĩa với Tam giới(3 cõi). Vì chúng sinh trong 3 cõi này có(hữu)tạo nghiệp dẫn đến quả báo dị thục nên gọi là Tam hữu.1. Dục hữu: Nơi cư trú của các loài trời, người, tu la, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, mỗi loài tùy theo nghiệp nhân mà chịu quả báo.2. Sắc hữu: Các trời Tứ thiền của cõi Sắc, tuy đã lìa thân thô nhiễm của cõi Dục nhưng còn sắc thanh tịnh. 3. Vô sắc hữu: Các trời Tứ không của cõi Vô sắc, tuy không còn sắc chất làm ngại, nhưng cũng vẫn tùy theo chỗ tạo nghiệp nhân mà chịu quả báo. [X. luận Đại trí độ Q.3; luận Tập dị môn túc Q.4; luận Đại tì bà sa Q.60]
; (三有) Chỉ cho Sinh hữu, Bản hữu và Tử hữu gồm trong 1 đời của loài hữu tình. 1. Sinh hữu: Chỉ cho sát na(tích tắc) đầu tiên gá vào thai mẹ. 2. Bản hữu: Chỉ khoảng thời gian từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. 3. Tử hữu: Chỉ cho giây lát trút hơi thở cuối cùng. Tông hữu bộ của Tiểu thừa thêm Trung hữu vào Tam hữu này mà chủ trương thuyết Tứ hữu. [X. luận Dị bộ tông luận]. (xt. Tứ Hữu). III. Tam Hữu. Tên gọi khác của Hữu lậu. Lậu là tên khác của phiền não. Phiền não từ trong 6 căn môn của chúng sinh hữu tình tuôn chảy ra vô cùng, khiến chúng sinh phải trôi lăn trong vòng sinh tử, vì thế nói hữu lậu là nhân, là chỗ nương, chỗ nhiếp thuộc của Tam hữu. (xt. Hữu Lậu). IV. Tam Hữu. Chỉ cho Thiện thành hữu, Tích đắc hữu và Biến dị hữu do ngoại đạo Số luận thành lập.1. Thiện thành hữu: Như Tổ của phái Số luận là tiên nhân Ca tì la, lúc mới sinh ra đã có đủ 4 đức: Pháp, trí, li dục và tự tại, 4 đức này là nhờ thiện mà được thành tựu, cho nên gọi là Thiện thành hữu. 2. Tích đắc hữu: Như Phạm vương thủa xưa sinh ra 4 người con là Sa na ca, Sa nan đà na, Sa na đa na, và Sa nan cưu ma la; 4 người con này lúc mới lên 16 tuổi thì tự nhiên thành tựu được 4 đức là pháp, trí, li dục và tự tại, chứ không do nhân duyên nào cả. Vì tự nhiên mà được nên gọi là Tích đắc hữu. 3. Biến dị hữu: Thân thầy gọi là Biến dị(đổi khác), nhờ cung kính gần gũi và lắng nghe thầy mà đệ tử có được trí tuệ, nhờ có trí tuệ mà được li dục, nhờ li dục mà được thiện pháp, nhờ thiện pháp mà được tự tại. Như vậy, 4 đức của đệ tử là nhờ thân thầy mà có được, cho nên gọi là Biến dị hữu.Tam hữu trên đây của ngoại đạo Số luận tương đương với Đẳng khởi thiện, Sinh đắc thiện và Gia hạnh thiện của Phật giáo.[X. luận Kim thất thập Q.trung].
tam hữu duy phân biệt
Ba cõi là sản phẩm của phân biệt, không có cái gì như là thế giới bên ngoài cả—The triple world is no more than the product of discrimination, there is no such thing as an external world.
tam hữu vi
548指三種有為法。又作三有為相、三相。即:(一)色法,乃質礙之法,小乘俱舍指五根、五境、無表色之十一法;大乘法相指五根、五境、法處所攝色之十一法。(二)心法,乃慮知之法,俱舍指一心王及四十六心所;大乘指八心王及五十一心所。(三)非色非心法,異於前二者,俱舍指十四不相應法;大乘指二十四不相應法。此三者皆有因緣之為作,故稱有為法。一切法中除無為法,餘悉有為法。〔大乘義章卷二「三有為義」〕
; (三有爲) Cũng gọi Tam hữu vi tướng, Tam tướng. Chỉ cho 3 loại pháp hữu vi: Sắc pháp, Tâm pháp và Phi sắc phi tâm pháp 1. Sắc pháp: Pháp chất ngại. Theo tông Câu xá của tiểu thừa chỉ cho 11 pháp: 5 căn, 5 cảnh và Vô biểu sắc; còn theo tông Pháp tướng của Đại thừa thì chỉ cho 11 pháp: 5 căn, 5 cảnh và Pháp xứ sở nhiếp sắc.2. Tâm pháp: Pháp suy biết. Theo Câu xá thì chỉ cho 1 tâm vương và 46 tâm sở; còn theo Đại thừa thì chỉ cho 8 tâm vương và 51 tâm sở. 3. Phi sắc phi tâm pháp: Pháp không thuộc sắc không thuộc tâm. Theo Câu xá thì chỉ cho 14 pháp Bất tương ứng; còn theo Đại thừa thì chỉ cho 24 pháp Bất tương ứng.Ba loại pháp trên đây đều do sự tạo tác của nhân duyên nên gọi là pháp Hữu vi. Trong hết thảy các pháp, trừ pháp vô vi, còn lại đều thuộc pháp hữu vi... [X. điều Tam hữu vi nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.2].
tam hữu vi pháp
The three active, or functioning dharmas: (1) pratigha, matter or form. i.e. that which has "substantial resistance"; (2) mind; and (3) phi sắc phi tâm entities neither of matter nor mind. Tam hữu vi tướng. The three forms of all phenomena, birth, stay (i.e. life), death; utpàda, sthiti, and nirvàna.
tam hữu đối
549對,礙之義。乃五根、五境及心、心所等法受障礙而不生,或所取所緣境受拘礙而不能轉他境。即:(一)障礙有對,於五根、五境、十色界物質中,如手礙手,石礙石,互礙且被礙。(二)境界有對,五根、七心界及相應之心所,為各自色等境所拘礙,而取境不得自在,如魚等之眼為水所拘礙,人眼為陸所拘礙。(三)所緣有對,為六識及法境之一分所拘礙,而緣慮作用不得自在。 境界有對與所緣有對之別,前者為五根及心、心所法於其境界有見聞取境之功能;後者為心、心所法執其境界,帶形相而起。障礙有對與境界有對相較,則互為廣狹,即七心界及法界之一分的諸相應法為境界而非障礙;色等五境為障礙而非境界,眼等五根亦障礙亦境界,法界之一分的非相應法為非障礙,亦非境界。又境界有對與所緣有對相較,所緣比境界狹,即所緣必為境界,境界未必為所緣,如同眼等五根即是。〔雜阿毘曇心論卷一、成唯識論卷一、成唯識論了義燈卷二〕
; The three sets of limitation on freedom: (a) direct resistance or opposition; (b) environment or condition; (c) attachment.
; (三有對) Chỉ cho 3 thứ Hữu đối là Chướngngại hữu đối, Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối. Đối có nghĩa là ngại, là ngăn trở. Tức các pháp 5 căn, 5 cảnh, tâm và tâm sở bị ngăn ngại không sinh ra được, hoặc cảnh sở thủ sở duyên bị câu thúc không thể chuyển được cảnh khác. Đó là: 1. Chướng ngại hữu đối: Các sắc pháp 5 căn, 5 cảnh... tự ngăn ngại và làm chướng ngại lẫn nhau, như tay này ngăn ngại tay kia, vật này làm trở ngại vật khác... 2. Cảnh giới hữu đối: Năm căn, 7 tâm giới và tâm sở tương ứng bị các sắc cảnh... câu thúc, chướng ngại nên thủ cảnh không được tự tại, như mắt của loài cá bị nước làm chướng ngại, mắt người bị đất ngăn ngại.3. Sở duyên hữu đối: Vì 6 thức và 1 phần pháp cảnh bị ngăn ngại nên tác dụng duyên lự không được tự tại. Cảnh giới hữu đối khác với Sở duyên hữu đối, tức Cảnh giới hữu đối là 5 căn và pháp tâm, tâm sở đối với cảnh giới của chúng có công năng thấy nghe và nắm bắt; còn Sở duyên hữu đối là các pháp tâm, tâm sở chấp chặt vào cảnh giới của chúng, nên mang theo hình tướng mà sinh khởi. Nếu lại so sánh giữa Chướng ngại hữu đối và Cảnh giới hữu đối thì cũng có sự khác nhau, tức 7 tâm giới và các pháp tương ứng thuộc 1 phần của pháp giới là cảnh giới chứ không phải chướng ngại; 5 cảnh như sắc... là chướng ngại chứ không phải cảnh giới; 5 căn như nhãn... vừa là chướng ngại và vừa là cảnh giới, pháp phi tương ứng thuộc 1 phần của pháp giới chẳng phải chướng ngại, cũng chẳng phải cảnh giới. Còn nếu so sánh giữa Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối thì Sở duyên hẹp hơn Cảnh giới, tức Sở duyên phải là Cảnh giới, nhưng Cảnh giới chưa hẳn là sở duyên, như 5 căn nhãn... vậy. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.2].
tam hữu-vi pháp
Three active or functioning dharmas: 1) Sắc pháp: Pratigha—Matter or form which has substantial resistance—Material or things which have form. 2) Tâm Pháp: Phi sắc pháp—The mind (mental). 3) Phi sắc phi tâm pháp: Những pháp không phải sắc mà cũng không phải tâm—Entities neither of matter nor mind.
tam hữu-vi tướng
Ba tướng hữu vi—Three forms of all phenomena: 1) Sanh: Upada—Birth. 2) Trụ: Sthiti—Stay or life. 3) Chết: Nirvana—Death.
Tam khoa
三科; C: sān kē; J: sanka;|Cách phân chia tất cả các pháp thành ba loại: Ngũ uẩn (五蘊), Thập nhị xứ (十二處) và Thập bát giới (十八界).
tam khoa
588一切諸法分為蘊、處、界三類,稱為三科。蘊處界又作陰入界、陰界入。即:(一)五蘊,又作五陰、五眾、五聚。指色、受、想、行、識。(二)十二處,又作十二入。指眼、耳、鼻、舌、身、意、色、聲、香、味、觸、法。(三)十八界,眼、耳、鼻、舌、身、意、色、聲、香、味、觸、法、眼識、耳識、鼻識、舌識、身識、意識。 俱舍論卷一載,依愚之差別,為愚於心所者細別心所而說五蘊,為愚於色法者細別色法而說十二處,為愚於色、心二法者細別色、心二法而說十八界;依根之利鈍,為利根者說五蘊,為中根者說十二處,為鈍根者說十八界;依樂欲之不同,為欲略者說五蘊,為欲中者說十二處,為欲廣者說十八界。即由三科觀察人及世界,依愚夫迷悟之不同情況,破我執之謬,立無我之理。 小乘諸部於三科立有假實之論。其中,說一切有部主張三科皆實,經部主張蘊、處為假,界為實。俱舍論則以蘊為假,處、界二者為實。依俱舍論,蘊有積集之義,積集多法為蘊,故蘊為假法;處、界二者則不然,故為實。有部認為蘊中之一法有蘊之相,即稱為蘊,而不須積集多法始稱為蘊,故以蘊為實法。經部則認為「處」乃極微積聚,為識之生門,故為假。華嚴五教章卷一之十宗判之第四「現通假實宗」列舉說假部等之說,即於三科中,以蘊為實,處、界為假,因為處為六根六境相對,界為根境相對、識境相對、根識相對始能成立,蘊則不然。〔大毘婆沙論卷七十一、卷七十二、卷七十三、卷七十四、雜阿毘曇心論卷一、俱舍論光記卷一、大乘義章卷八本之末、百法問答鈔卷一〕(參閱「十二處」343、「十八界」356、「五蘊」1212)
; The three categories of ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới.
; (三科) Tất cả các pháp được chia làm 3 loại: Uẩn, Xứ, Giới gọi là Tam khoa. Uẩn xứ giới cũng gọi là Ấm nhập giới, Ấm giới nhập. Tức là: 1. Ngũ uẩn(cũng gọi Ngũ ấm, Ngũ chúng, Ngũ tụ): Chỉ cho sắc, thụ, tưởng, hành, thức. 2. Thập nhị xứ (cũng gọi Thập nhị nhập): Chỉ cho 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 trần(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). 3. Thập bát giới: Gồm 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) và 6 thức(thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý). Theo luận Câu xá quyển 1 thì y cứ vào mức ngu muội khác nhau mà chia ra 3 khoa, như đối với người ngu về tâm sở thì chia nhỏ tâm sở mà nói Ngũ uẩn; với người ngu về sắc pháp thì chia nhỏ sắc pháp mà nói Thập nhị xứ; với người ngu cả về tâm pháp và sắc pháp thì chia nhỏ sắc pháp và tâm pháp mà nói Thập bát giới. Nếu y cứ vào căn cơ lợi(bén nhạy), độn,(cùn lụt), thì với người lợi căn, nói Ngũ uẩn, với người Trung căn, nói Thập nhị xứ, với người độn căn thì nói Thập bát giới. Tức dựa vào 3 khoa để quán xét con người và thế giới, rồi căn cứ vào tình huống khác nhau giữa mê và ngộ của phàm phu mà thiết lập lí vô ngã để phá trừ cái mê lầm chấp ngã. Các bộ phái Tiểu thừa đối với Tam khoa có đặt ra vấn đề giả và thật. Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Tam khoa đều là thật, Kinh bộ thì chủ trương Uẩn, Xứ là giả, chỉ có Giới là thật. Còn luận Câu xá thì cho rằng Uẩn là giả, Xứ và Giới là thật. Theo luận Câu xá thì Uẩn có nghĩa tích tụ, tích tụ nhiều pháp là Uẩn, vì thế Uẩn là pháp giả; còn Xứ và Giới thì không phải vậy, nên là thật. Hữu bộ thì cho rằng một pháp trong uẩn có cái tướng của Uẩn, do đó gọi là Uẩn, chứ không phải tích tụ nhiều pháp mới gọi là Uẩn, vì thế uẩn là pháp thật. Kinh bộ thì chủ trương Xứ là sự tích tụ của cực vi, là cửa sinh ra thức, cho nên là giả. Thuyết giả bộ thì cho Uẩn là thật, Xứ và Giới là giả, vì Xứ là 6 căn, 6 cảnh đối nhau, Giới là căn, cảnh đối nhau, thức, cảnh đối nhau, căn, thức đối nhau mới thành lập được, Uẩn thì không phải thế, nên Uẩn là thật. [X. luận Đại tỳ bà sa Q.71, 72, 73, 74; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần đầu; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Uẩn).
tam khoa giản cảnh
589即天台宗論觀心之境,於圓頓止觀十境中之第一種陰入界境,揀五陰、十二入、十八界等三科之境而指示觀境。其揀境之次第,先揀捨十八界與十二入,而取五陰;繼於五陰中揀捨色、受、想、行等前四陰,而取第五識陰。又於識陰之中揀捨眼、耳、鼻、舌、身等前五識,而取第六識,於第六識中揀捨善惡之識,而取悠悠之無記識,後復揀捨心王、心所中之心所,取心王,以為觀境。此乃觀境之要法,亦四明知禮主張妄心觀最有力證據之一。〔止觀輔行傳弘決卷五之二、摩訶止觀卷五上〕
; (三科揀境) Lựa chọn cảnh trong 3 khoa (ấm nhập giới) để quán xét. Tông Thiên thai bàn về cảnh của pháp quán tâm, trong 10 cảnh Viên đốn chỉ quán, chọn lấy 3 khoa: 5 ấm, 12 nhập, 18 giới để chỉ bày quán cảnh. Thứ tự lựa chọn như sau: Trước hết, lựa bỏ 18 giới và 12 nhập, chỉ giữ lại năm ấm; kế đến, trong 5 ấm, lựa bỏ sắc, thụ, tưởng, hành, chỉ giữ lại thức. Rồi trong thức ấm, lựa bỏ 5 thức trước là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, chỉ giữ lại ý thức thứ 6; trong thức thứ 6, lựa bỏ thức thiện ác, giữ lại thức vô kí(không thiện không ác); sau cùng, trong tâm vương và tâm sở thì lựa bỏ tâm sở mà giữ lại tâm vương để làm cảnh quán xét. Đây là pháp quán cảnh trọng yếu và cũng chính là chứng cứ mạnh mẽ nhất của Vọng tâm quán mà ngài Tứ minh Tri lễ chủ trương. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
tam khát ái
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại Khát Ái—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of craving: 1) Dục Khát Ái: Craving (thirst) for sensual pleasures. 2) Hữu Khát Ái: Craving (thirst) for existence. 3) Phi Hữu Khát Ái: Craving (thirst) for extermination.
Tam Không
(三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tánh Biến (遍), Y (依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không; tức là: (1) Vô Tánh Không (無性空), còn gọi là Vô Thể Không (無體空), nghĩa là Tánh Biến Kế Sở Chấp (遍計所執性) trước khi vọng tình tuy là có nhưng thể tánh của nó thật sự là không. (2) Dị Tánh Không (異性空), nghĩa là thể tướng của Tánh Y Tha Khởi (依他起性) khác hẳn với Biến Kế Sở Chấp, tuy chẳng phải là không có, nhưng cũng như sở chấp vào vọng tình mà chẳng phải có. (3) Tự Tánh Không (自性空), có nghĩa Tánh Viên Thành Thật (圓成實性) là tự tánh của các pháp, thể hiện rõ hai tánh không của người và pháp. Trong Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論, Taishō Vol. 31, No. 1602) quyển 15 có nêu ra Ba Không khác là Vô Thể Không (無體空), Viễn Ly Không (遠離空) và Trừ Di Không (除遺空). Hơn nữa, tùy theo sở chấp mà Không được chia thành 3 loại khác là: (1) Ngã Không (我空), còn gọi là Nhân Không (人空); vì cho rằng pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊, Năm Uẩn) độc lập, chủ tể, nên sinh ra có ngã chấp, nhưng nếu biết rõ Năm Uẩn Sắc (s, p: rūpa, 色), Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) và Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) vốn không có tự tánh, do nhân duyên mà sanh, thì chẳng hiện hữu ngã thể; đó được gọi là Ngã Không. (2) Pháp Không (法空), nghĩa là đối với pháp Năm Uẩn cho là thật có, gọi là chấp vào pháp; nếu nhận thức rõ pháp Năm Uẩn ấy như huyễn hóa, từ duyên mà sanh khởi, vốn chẳng có tự tánh; đó được gọi là Pháp Không. (3) Câu Không (倶空), tức hai chấp trước về ngã và pháp đều đoạn tận, ngay cả pháp chấp vào Không cũng không có thực thể, như vậy mới khế hợp với chân tâm bản tánh. Bên cạnh đó, Tam Không còn chỉ cho Tam Giải Thoát (三解脫, Ba Pháp Giải Thoát) là Không (空), Vô Tướng (無相) và Vô Nguyện (無願); vì 3 pháp này đều làm sáng tỏ đạo lý Không, nên được gọi là Tam Không. Hay khi bố thí, nên quán 3 pháp người thọ nhận, người bố thí và vật bố thí đều là Không. Trong Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 2 có khẳng định rằng: “Tam Không giả, tức Không, Vô Tướng, Vô Nguyện (三空者、卽空、無相、無願, Ba Không là Không, Vô Tướng và Vô Nguyện).” Hay trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) quyển Thượng có câu: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn nhất tâm lìa xa có không mà thanh tịnh, biển Ba Không dung nhiếp cả chơn tục mà sáng suốt).” Tác phẩm Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29, phần Thái Bình Hưng Quốc Tam Niên (太平興國三年, năm thứ 3 [978] niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc) có đoạn: “Hữu Tây Vức Pháp Sư Thiên Tức Tai đẳng, thường trì Tứ Nhẫn, tảo ngộ Tam Không, phiên bối diệp chi chơn thuyên, tục nhân thiên chi thánh giáo (有西域法師天息災等、常持四忍、早悟三空、翻貝葉之眞詮、續人天之聖敎, có Pháp Sư Thiên Tức Tai người Tây Vức, v.v., thường hành trì Bốn Nhẫn, sớm giác ngộ Ba Không, phiên dịch kinh điển chân lý, kế tục Trời người Thánh giáo).”
; (三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tánh Biến (遍), Y (依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không; tức là (1) Vô Tánh Không (無性空), còn gọi là Vô Thể Không (無體空), nghĩa là Tánh Biến Kế Sở Chấp (遍計所執性) trước khi vọng tình tuy là có nhưng thể tánh của nó thật sự là không. (2) Dị Tánh Không (異性空), nghĩa là thể tướng của Tánh Y Tha Khởi (依他起性) khác hẳn với Biến Kế Sở Chấp, tuy chẳng phải là không có, nhưng cũng như sở chấp vào vọng tình mà chẳng phải có. (3) Tự Tánh Không (自性空), có nghĩa Tánh Viên Thành Thật (圓成實性) là tự tánh của các pháp, thể hiện rõ hai tánh không của người và pháp. Trong Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論) quyển 15 có nêu ra Ba Không khác là Vô Thể Không (無體空), Viễn Ly Không (遠離空) và Trừ Di Không (除遺空). Hơn nữa, tùy theo sở chấp mà Không được chia thành 3 loại khác là: (1) Ngã Không (我空), còn gọi là Nhân Không (人空); vì cho rằng pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊, Năm Uẩn) độc lập, chủ tể, nên sinh ra có ngã chấp, nhưng nếu biết rõ Năm Uẩn Sắc (s, p: rūpa, 色), Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) và Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) vốn không có tự tánh, do nhân duyên mà sanh, thì chẳng hiện hữu ngã thể; đó được gọi là Ngã Không. (2) Pháp Không (法空), nghĩa là đối với pháp Năm Uẩn cho là thật có, gọi là chấp vào pháp; nếu nhận thức rõ pháp Năm Uẩn ấy như huyễn hóa, từ duyên mà sanh khởi, vốn chẳng có tự tánh; đó được gọi là Pháp Không. (3) Câu Không (倶空), tức hai chấp trước về ngã và pháp đều đoạn tận, ngay cả pháp chấp vào Không cũng không có thực thể, như vậy mới khế hợp với chân tâm bản tánh. Bên cạnh đó, Tam Không còn chỉ cho Tam Giải Thoát (三解脫, Ba Pháp Giải Thoát) là Không (空), Vô Tướng (無相) và Vô Nguyện (無願); vì 3 pháp này đều làm sáng tỏ đạo lý Không, nên được gọi là Tam Không. Hay khi bố thí, nên quán 3 pháp người thọ nhận, người bố thí và vật bố thí đều là Không. Trong Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 2 có khẳng định rằng: “Tam Không giả, tức Không, Vô Tướng, Vô Nguyện (三空者、卽空、無相、無願, Ba Không là Không, Vô Tướng và Vô Nguyện).” Hay trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) quyển Thượng có câu: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn nhất tâm lìa xa có không mà thanh tịnh, biển Ba Không dung nhiếp cả chơn tục mà sáng suốt).” Tác phẩm Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29, phần Thái Bình Hưng Quốc Tam Niên (太平興國三年, năm thứ 3 [978] niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc) có đoạn: “Hữu Tây Vức Pháp Sư Thiên Tức Tai đẳng, thường trì Tứ Nhẫn, tảo ngộ Tam Không, phiên bối diệp chi chơn thuyên, tục nhân thiên chi thánh giáo (有西域法師天息災等、常持四忍、早悟三空、翻貝葉之眞詮、續人天之聖敎, có Pháp Sư Thiên Tức Tai người Tây Vức, v.v., thường hành trì Bốn Nhẫn, sớm giác ngộ Ba Không, phiên dịch kinh điển chân lý, kế tục Trời người Thánh giáo).”
Tam không
xem ba pháp tam-muội.
; 三空; C: sānkōng; J: sankū;|1. Ba loại tính Không được mô tả trong Kim cương tam-muội kinh (金剛三昧經): Tướng không (相空), Không không (空空) và Sở không (所空); 2. Theo Kỉ Hoà trong tác phẩm Ngũ gia giải thoát nghị (五家解説誼; k: o ka hae sǒrǔi) thì Tam không bao gồm Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Không không (空空); 3. Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Ngã pháp không (我法空), tính không của cả hai, Ngã và Pháp; 4. Không (空), Vô tướng (無相) và Vô nguyện (無願); 5. Trong khi thực hiện hạnh bố thí thì Tam không gồm Tính không của người bố thi, của người nhận và Tính không của vật được bố thí; 6. Vô tính không (無性空), Dị tính không (異性空) và Tự tính không (自性空).
tam không
573<一>唯識家依遍、依、圓三性立三空之義。即:(一)無性空,又稱無體空。謂遍計所執性於妄情之前雖有,然其體性實無。(二)異性空,謂依他起性之體相異於遍計所執,雖非空無,然亦如妄情所執而非有。(三)自性空,謂圓成實性即諸法之自性,顯示人法二空。又顯揚聖教論卷十五亦依遍等三種自體而立無體空、遠離空、除遣空三空。〔辯中邊論卷中、中邊分別論卷上、辯中邊論述記卷中〕 <二>依所執而分空為三種。即:(一)我空,又作人空。於五蘊之法強立主宰,稱為我執;若推求色、受、想、行、識皆無自性,不見我體,稱為我空。(二)法空,於五蘊之法計為實有,稱為法執;若推求五蘊之法如幻如化,皆從緣生,無有自性,稱為法空。(三)俱空,我法二執既遣,能空之空亦除,空執兩亡,契於本性,稱為俱空。〔金剛經疏論纂要卷上、金剛經纂要刊定記卷一〕
; The three voids or immaterialities, or the threefold of svabhava: (A) 1) Không: Empty—Void. 2) Vô tướng: No-appearance. 3) Vô nguyện: No vow. (B) Svabhava (skt). 1) Ngã không: No-self. 2) Pháp không: All things are empty. 3) Câu không: Tất cả đều không—All phenomena are empty or immaterial. (C) Tam Không trong bố thí Ba La Mật—Three voids in Paramita charity: 1) Không thấy người nhận: No receiver. 2) Không thấy người cho: No giver. 3) Tất cả đều không: All are empty.
Tam khổ
三苦; C: sānkǔ; J: sanku;|Ba loại khổ: 1. Khổ khổ (苦苦): Khổ não khi phải chạm trán những sự việc không hay; 2. Hành khổ (行苦): Khổ não vì sự biến chuyển; 3. Hoại khổ (壞苦): Khổ não vì sự hoại diệt.
tam khổ
590梵語 tisro-duḥkhatāḥ。<一>依苦之性質,分為苦苦、壞苦、行苦三種。(一)苦苦(梵 duḥkha-duḥkhatā),有漏行蘊中,諸非可意之苦受法,逼惱身心之苦。(二)壞苦(梵 vipariṇāma-duḥkhatā),諸可意之樂受法,生時為樂,壞時逼惱身心之苦。(三)行苦(梵 saṃskāra-duḥkhatā),除可意非可意以外所餘之捨受法,為眾緣所造,難免生滅遷流,故聖者觀見之,於身心皆感逼惱,故稱為行苦。一切有漏之行皆無常而生滅遷流,故皆為行苦所攝,則非可意之法有苦苦、行苦二種,可意之法則有壞苦、行苦二種。〔俱舍論卷二十二、華嚴經探玄記卷十三〕 <二>苦諦四行相中之苦有所取苦、事相苦、和合苦等三類,係唯識宗所立。(一)所取苦,又作取苦。於遍計所執性上,執持實我、實法,遂於能取之心感苦。(二)事相苦,又作相苦。於依他起性上,見苦苦、壞苦、行苦等三相。(三)和合苦,於圓成實性上取苦之義,即真如與一切有漏有為之苦相和合,故稱苦,然其體實無。〔成唯識論卷八、成唯識論述記卷九本〕 <三>因食所生之界不平等所生病苦、欲希求苦、求不允苦。(一)界不平等所生病苦,係由「段食」所致,乃地、水、火、風四大不調而引起之病苦。(二)欲希求苦,係由「觸食」所致,為欲求渴望之苦。(三)求不允苦,係由「意思食」所致,為求不得之苦。〔瑜伽師地論卷九十四〕 <四>印度古代六派哲學中之數論學派所立,將世間諸苦分為如下三種:(一)依內苦(梵 ādhyātmika-duḥkhatā),係由風熱痰之不平等,故生病苦,是即身苦;又怨會、愛離、所求不得而生之心苦,亦屬依內苦。(二)依外苦(梵 ādhibhautika-duḥkhatā),係由世人、禽獸毒蛇、山崩岸坼等所生之苦。(三)依天苦(梵 ādhidaivika-duḥkhatā),係由寒熱、風雨、雷霆等種種天之所為所生之苦。〔金七十論卷上〕
; Tisro-dukkhatah (S)Khổ-khổ, hoại-khổ, hành-khổ. Khổ-khổ là lúc thân tâm đang chịu thống khổ. Hoại-khổ là cái khổ vì sự vật vui thú bị mất đi. Hành-khổ là cái khổ chuyển biến chẳng yên định. Dục giới có đủ ba khổ; Sắc-giới chỉ có hoại-khổ, hành-khổ; Vô-Sắc-Giới chỉ có hành-khổ Gồm: - khổ khổ: khổ là khổ - hoại khổ: khổ vì hư hoại - hành khổ: lòng khởi nỗi khổ. Khổ có 2 đường: thanh khổ ( hay hạnh khổ, chí nguyện thành đạo tu hành chẳng sá gian khổ) và trược khổ.
; The three kinds of dukkha, pain, or suffering: khổ khổ that produced by direct causes; hoại khổ by loss or deprivation; hành khổ by the passing or impermanency of all things.
; Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Khổ khổ là lúc thân tâm đang chịu thống khổ; hoại khổ là cái khổ vì sự vật vui thú bị mất đi; hành khổ là cái khổ chuyển biến chẳng yên định. Dục giới có đủ ba khổ; Sắc giới chỉ có hoại khổ, hành khổ; Vô sắc giới chỉ có hành khổ.
; Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại khổ—Chúng sanh mọi loài đều kinh qua ba loại khổ—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three aspects of Dukkha—Three kinds of duhkha (Pain—Sufferings)—All sentient beings experience three types of sufferings: 1) Khổ Khổ Tánh: Dukkha-dukkha (skt)—Khổ gây ra bởi những nguyên nhân trực tiếp hay khổ khổ, gồm những nỗi khổ xác thân như đau đớn, già, chết; cũng như những lo âu tinh thần—Dukkha as ordinary suffering—Suffering due to pain—Suffering that produce by direct causes or suffering of misery, Including physical sufferings such as pain, old age, death; as well as mental anxieties. 2) Hoại Khổ Tánh: Viparinama-dukkha (skt)—Khổ gây ra bởi những thay đổi—Dukkha as produced by change—Suffering due to change—Suffering by loss or deprivation or change. 3) Hành Khổ Tánh: Samkhara-dukkha (skt)—Khổ vì chư pháp vô thường, thân tâm nầy vô thường—Dukkha as conditioned states—Suffering due to formations—Suffering by the passing or impermanency of all things, body and mind are impermanent.
; (三苦) Phạm: Tisro-du#khatà#. I. Tam Khổ. Căn cứ vào tánh chất của khổ mà chia làm 3 loại là Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ.1. Khổ khổ (Phạm: Du#khadu#khatà): Nỗi khổ bức não thân tâm thuộc các pháp khổ thụ trái ý trong hành uẩn hữu lậu. 2. Hoại khổ (Phạm: Vipariịàmadu#khatà): Cái khổ do các pháp lạc thụ như ý gây ra, nghĩa là các pháp như ý khi sinh thì vui, khi hoại thì dày vò thân tâm làm cho khổ não. 3. Hành khổ (Phạm: Saôskàra- du#khatà): Ngoài các pháp như ý (vui) và trái ý (khổ), các pháp không vui không khổ (xả thụ) còn lại, vì do nhân duyên tạo ra nên khó tránh khỏi sinh diệt đổi dời, bậc Thánh quán thấy điều đó, thân tâm cảm thấy bức não, cho nên gọi Hành khổ.Tất cả các hành hữu lậu đều vô thường, sinh diệt, đổi dời, cho nên đều thuộc về Hành khổ. Do đó, các pháp trái ý có 2 thứ khổ là Khổ khổ và Hành khổ, còn các pháp như ý cũng có 2 thứ khổ là Hoại khổ và Hành khổ. [X. luận Câu xá Q.22; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13]. II. Tam khổ. Chỉ cho 3 loại khổ: Sở thủ khổ, Sự tướng khổ và Hòa hợp khổ trong 4 hành tướng của Khổ đế do tông Duy thức thành lập.1. Sở thủ khổ(cũng gọi Thủ khổ): Do tính Biến kế sở chấp nhận có thực ngã, thực pháp nên tâm năng thủ cảm thấy khổ não.2. Sự tướng khổ(cũng gọi Tướng khổ): Nương vào tính Y tha khởi mà thấy có 3 tướng khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. 3. Hòa hợp khổ: Đối với tính Viên thành thực chấp lấy nghĩa khổ, tức chân như và tất cả khổ của hữu lậu, hữu vi hòa hợp nhau, nên gọi là khổ, nhưng không có thực thể. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu]. III. Tam Khổ. Chỉ cho 3 cái khổ do 3 cách ăn gây ra, đó là: 1. Giới bất bình đẳng sở sinh bịnh khổ: Nỗi khổ do 4 đại đất, nước, lửa, gió không điều hòa nên sinh bệnh. Đây thuộc về đoạn thực. 2. Dục hi cầu khổ: Cái khổ vì mong cầu, khát vọng. Đây thuộc về Xúc thực. 3. Cầu bất doãn khổ: Cái khổ vì mong cầu không được. Đây thuộc về Ý tư thực. [X. luận Du già sư địa Q.94]. IV. Tam Khổ. Chỉ cho Y nội khổ, Y ngoại khổ và Y thiên khổ do học phái Số luận trong 6 phái triết học ở Ấn độ đời xưa thành lập. 1. Y nội khổ (Phạm: Àdhyàtmikadu#khatà): Chỉ cho các bệnh khổ của thân như cảm mạo, thương hàn và các bệnh khổ của tâm như oán ghét gặp gỡ, thương yêu chia lìa, cầu mong chẳng toại v.v...2. Y ngoại khổ (Phạm:Àdhibhautikadu#khatà): Chỉ cho các nỗi khổ do người đời gia hại, hoặc do thú dữ, rắn độc cắn, hoặc do núi lở, đất chuồi, lụt lội gây ra. 3. Y thiên khổ (Phạm: Adhidaivikadu#khatà): Chỉ cho các khổ do thiên nhiên gây ra như nóng rét, gió mưa, sấm sét...[X. luận Kim thất thập Q.thượng].
tam khổ tướng
xem ba tướng khổ.
tam khổ đối tam giới
590天台四教儀集註以苦苦、壞苦、行苦配於欲界、色界、無色界,即:(一)苦苦對欲界,三界受生無非是苦,欲界諸境逼迫,其苦尤然,故以配苦苦。(二)壞苦對色界,樂壞時苦,稱為壞苦。色界天雖受禪味之樂,報盡之時,還於五道受生死苦,故以配壞苦。(三)行苦對無色界,無色界中雖無質礙之色,然以有漏心識生滅變化而有行苦,故以配行苦。
; (三苦對三界) Thiên thai tứ giáo nghi tập chú đem 3 khổ phối hợp với 3 cõi. 1. Khổ khổ đối Dục giới: Thụ sinh trong 3 cõi đều là khổ, các cảnh cõi Dục bức bách, nỗi khổ ở đây rất nhiều, nên cõi Dục được phối với khổ khổ. 2. Hoại khổ đối Sắc giới: Nỗi khổ phát sinh khi niềm vui tan hoại, gọi là Hoại khổ. Các người trời cõi Sắc tuy được cái vui thiền vị, nhưng khi quả báo đã hết lại phải chịu khổ sinh tử trong 5 đường, nên cõi Sắc được phối hợp với Hoại khổ. 3. Hành khổ đối Vô sắc giới: Trong cõi Vô sắc tuy không có sắc chất ngại, nhưng vì tâm thức hữu lậu sinh diệt biến hóa mà có hành khổ, cho nên cõi Vô sắc được phối với Hành khổ. TAM KHÔNG I. Tam Không. Chỉ cho 3 thứ không do tông Duy thức dựa theo nghĩa của 3 tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập ra, đó là: 1. Vô tính không(cũng gọi Vô thể không): Tính Biến kế sở chấp đối trước vọng tình tuy có nhưng thực ra thể tính của nó thì không. 2. Dị tính không: Thể tướng của tính Y tha khởi khác với tính Biến kế sở chấp; tuy chẳng phải không vô, nhưng cũng giống như cái do vọng tình chấp trước nên chẳng phải có. 3. Tự tính không: Tính Viên thành thực chính là tự tính của các pháp, hiển bày lí Nhân không và Pháp không. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 15 cũng y cứ vào tự thể của 3 tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập 3 không: Vô thể không, Viễn li không và Trừ khiển không. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Trung biên phàn biẽt Q.thượng; Biện trung biên luận thuật kí Q.trung]. II. Tam Không. Căn cứ theo cái chúng sinh chấp trước mà chia Không làm 3 loại: 1. Ngã không (cũng gọi Nhân không): Đối với pháp 5 uẩn cưỡng lập chủ tể, gọi là Ngã chấp; nếu suy tìm trong sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì đều không có tự tính, không thấy ngã thể, gọi là Ngã không. 2. Pháp không: Đối với pháp 5 uẩn chấp là có thật, gọi là Pháp chấp, nếu suy tìm trong pháp 5 uẩn thì như huyễn như hóa, đều do nhân duyên sinh, không có tự tính, gọi là pháp không. 3. Câu không: Ngã chấp và Pháp chấp đã trừ, cái không của năng không cũng diệt, Không và Chấp đều mất, khế hợp bản tính, gọi là Câu không. [X. Kim cương kinh sớ luận toản yếu Q.thượng; Kim cương kinh toản yếu san định kí Q.1].
Tam kinh
三經; C: sānjīng; J: sangyō;|Ba bộ kinh được xem là căn bản của mỗi truyền thống Phật giáo. Tam bộ kinh (三部經).
Tam Kinh Nghĩa Sớ
(三經義疏, Sangyōgisho): thư tịch chú thích kinh điển do Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) truyền lại, tên gọi chung của Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ (法華經義疏) 4 quyển, Thắng Man Kinh Nghĩa Sớ (勝鬘經義疏) 1 quyển và Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ (維摩經義疏) 2 quyển. Theo ký lục của thời đại Nại Lương về bộ sách này thì trong Pháp Long Tự Già Lam Duyên Khởi Tinh Lưu Ký Tư Tài Trương (法隆寺伽藍緣起并流記資材帳) có ghi là Thượng Cung Thánh Đức Thái Tử Vương Ngự Chế Giả (上宮聖德太子王御制者); còn trong Thượng Cung Thánh Đức Pháp Vương Đế Thuyết (上宮聖德法王帝說) cũng có ghi là ngự chế sớ kinh 7 quyển của Pháp Hoa, v.v.; và trong Tịnh Danh Huyền Luận Lược Thuật (淨名玄論略述) của Trí Quang (智光, Chikō) cũng như trong Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Chỉ Sự Ký (華嚴五敎章指事記) của Thọ Linh (壽靈, Jurei), v.v., cũng có dẫn dụng những ngôn từ trong bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ này. Vào thời Bình An và Liêm Thương thì rất nhiều các học tăng của các tông phái như Tối Trừng (最澄, Saichō), Không Hải (空海, Kūkai), Viên Trân (圓珍, Enchin), Huyền Duệ (元叡, Genei), Trọng Toán (仲算, Chūsan), Trinh Khánh (貞慶, Jōkei), Trừng Thiền (澄禪, Chōzen), Tông Tánh (宗性, Sōshō), v.v., cũng đã có dẫn dụng về bộ luận này. Đặc biệt Ngưng Nhiên (凝然, Gyōnen) đã tiến hành chú thích toàn bộ thư tịch này. Vào năm 1274 thì cả ba bộ sớ này được khắc gỗ và xuất bản. Từ đó trở đi có rất nhiều bản in khắc khác ra đời.
tam kinh nghĩa sớ
641日本聖德太子撰。乃法華義疏四卷、維摩經義疏三卷、勝鬘經義疏之合稱。又作三經疏釋。今收於大正藏第五十六冊。選釋三經之目的,前者為佛教理論,後二者為生活實踐。聖德太子生當日本佛教草創時期,彼時有此種獨特注釋,頗具意義,誠可謂為日本佛教之出發點。或謂此三疏未必為太子所撰。
; (三經義疏) Cũng gọi Tam kinh sớ thích. Gọi chung 3 bộ Pháp hoa nghĩa sớ 4 quyển, Duy ma kinh sớ 3 quyển và Thắng man kinh nghĩa sớ 1 quyển, do Thái tử Thánh đức, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 56. Mục đích của việc tuyển chọn 3 bộ kinh này để giải thích là kinh Pháp hoa thuộc về lí luận Phật giáo, còn kinh Duy ma và Thắng man là sinh hoạt thực tiễn. Thái tử Thánh đức sống đúng vào thời kì sáng lập của Phật giáo Nhật bản; vào thời ấy mà đã có loại chú thích đặc biệt này thì thật rất có ý nghĩa, có thể nói đó là điểm xuất phát của Phật giáo Nhật bản. Cũng có thuyết cho rằng 3 bộ kinh sớ này chưa chắc đã là soạn phẩm của Thái tử.
tam kinh nhất luận
641即淨土宗所依準之四部典籍。三經指:無量壽經二卷(曹魏康僧鎧譯)、觀無量壽經一卷(劉宋畺良耶舍譯)、阿彌陀經一卷(姚秦鳩摩羅什譯)。一論指無量壽經優婆提舍願生偈一卷(天親著,元魏菩提流支譯)。四書要旨均在明示往生淨土之教。三經又稱淨土三部經。
; The three sùtras and one sàstra on which the Pure-land sect bases its teaching: Phật thuyết vô lượng thọ kinh, Phật thuyết quán vô lượng thọ kinh, Phật thuyết A di đà kinh; Thiên thân Tịnh độ luận.
; (三經一論) Ba kinh 1 luận. Tức 4 bộ kinh luận mà tông Tịnh độ y cứ. Tam kinh chỉ cho kinh Vô lượng thọ 2 quyển(do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy), kinh Quán vô lượng thọ 1 quyển(do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống), và kinh A di đà 1 quyển(do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần). Còn nhất luận thì chỉ cho Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ 1 quyển(do Bồ tát Thiên thân soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy). Ý chỉ trọng yếu của 4 bộ kinh luận này đều nhằm hiển bày giáo pháp vãng sinh Tịnh độ. Tam kinh còn được gọi là Tịnh độ tam bộ kinh.
Tam Kinh Nhất Luận Ngũ Bộ Cửu Quyển
(三經一論五部九巻): các kinh điển thuộc Tịnh Độ Tông. Tam Kinh gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經). Nhất Luận là bộ Vãng Sanh Luận (徃生論) của Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親). Còn Ngũ Bộ Cửu Quyển là từ tổng xưng các trước tác của Thiện Đạo (善導, Zendō, 613-681), gồm: Quán Kinh Sớ (觀經疏) 4 quyển, Pháp Sự Tán (法事讚) 2 quyển, Quán Niệm Pháp Môn (觀念法門) 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán (徃生禮讚) 1 quyển và Ban Chu Tán (般舟讚) 1 quyển.
tam kinh thông biệt
641據法華玄義卷一下載,如來所說諸經,無不具教、行、理三者,此三者亦無不以「別」契於「通」,以「通」應於「別」。故教有通別,依教明行;行有通別,從行顯理,理亦有通別。(一)教經通別,聖人對機所說之一切言教,因機宜不同,部部別異,故稱教別;諸部雖異,通是佛說,故稱教通。(二)行經通別,行,即依教修行之義。眾生以種種門入,稱為行別;所入之門雖異,所契之理則同,稱為行通。(三)理經通別,一切言教所詮之義理,名字非一,稱為理別;理則無二,稱為理通。
; (三經通別) Chỉ cho nghĩa thông và biệt trong 3 phần Giáo, Hành, Lí, của các kinh. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, hạ, các kinh do đức Phật nói đều có đủ 3 phần Giáo, Hành và Lí. Ba phần này mỗi phần đều có nghĩa thông và biệt, Biệt hợp với Thông, Thông ứng với Biệt. Cho nên Giáo có thông biệt, nương vào Giáo mà rõ Hành; Hành có thông biệt, từ Hành mà rõ Lí; Lí cũng có thông biệt. 1. Giáo kinh Thông biệt: Tất cả ngôn giáo, do bậc Thánh đối cơ mà giảng nói, vì cơ nghi bất đồng, bộ bộ khác nhau, nên gọi là Giáo biệt; các bộ tuy khác, nhưng nói chung (thông) đều do Phật thuyết, nên gọi là Giáo thông. 2. Hành kinh thông biệt: Hành nghĩa là nương theo giáo mà tu hành. Chúng sinh tu hành bằng nhiều pháp môn, gọi là Hành biệt; pháp môn tuy khác nhưng lí khế hợp thì giống nhau, gọi là Hành thông. 3. Lí kinh thông biệt: Nghĩa lí do tất cả ngôn giáo giải thích, danh tự chẳng phải 1, gọi là Lí biệt; còn lí thì không 2, gọi là Lí thông.
tam kinh tịnh độ
Three Pure Land Sutras: 1) Kinh A Di Đà: Amitabha Sutra. 2) Kinh Vô Lượng Thọ: Longer Amitabha Sutra. 3) Kinh Quán Vô Lượng Thọ: Meditation Sutra.
tam kiên
The three sure or certain things are thân, mệnh and tài. i.e. the reward of the true disciple is an infinite body or personality, an endless life, and boundless (spiritual) possessions, vô cực chi thân, vô cùng chi mệnh, vô tận chi tài.
; The three sure or certain things for the true disciple: 1) Thân sống vô cực: Infinite body or personality. 2) Mạng thọ vô cùng: Endless life. 3) Tài sản vô tận: Boundless sipritual possessions.
tam kiêu
Three intoxications—See Tam Pháp (xxxxxiii).
tam kiêu mạn
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại kiêu mạn—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (searches), there are three kinds of discrimination: 1) Kiêu mạn 'Tôi hơn': The discrimination 'I am superior.' 2) Kiêu mạn 'Tôi bằng': The discrimination 'I am equal.' 3) Kiêu mạn 'Tôi thua': The discrimination 'I am inferior.'
Tam kiến
三見; C: sānjiàn; J: sanken;|Ba kiến ở đây có nghĩa là ba kiến giải sai lầm sau hai tà kiến đầu là Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), tất cả đều hệ thuộc vào hệ thống Thập hoặc (十惑). Chúng là: Tà kiến (邪見), Kiến thủ kiến (見取見) và Giới cấm thủ kiến (戒禁取見).
Tam kiếp
三劫; C: sānjié; J: sankō;|Ba kiếp, ba giai đoạn rất dài: 1. Là lối viết tắt của Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫); 2. Trong Chân Ngôn tông, thuật ngữ này chỉ những vướng mắc, trói buộc mù quáng; 3. Ba thời kiếp: Dĩ vãng, hiện tại và tương lai.
tam kiếp
553<一>指過去、現在及未來三大劫。過去之住劫稱為莊嚴劫(梵 vyūha-kalpa),現在之住劫稱為賢劫(梵 bhadra-kalpa),未來之住劫稱為星宿劫(梵 nakṣatra-kalpa)。各大劫之住劫中,各有千佛出世,稱為三劫三千佛。據觀藥王藥上二菩薩經載,現在賢劫中有拘留孫、拘那含、迦葉、釋迦牟尼,乃至最後之樓至佛等千佛出世;過去莊嚴劫中有華光佛至毘舍浮佛等千佛;未來星宿劫則有日光佛至須彌相佛等千佛出世。 <二>為三劫惑之略稱。又稱三妄執。指粗妄執、細妄執、極細妄執。(參閱「三妄執」547) <三>三阿僧祇劫之略稱。為菩薩修行成滿至於佛果所須經歷之時間。(參閱「三阿僧祇劫」577)
; The three asankheya kalpas, the three countless aeons, the period of a bodhisattva's development; also the past trang nghiêm, the present hiền, and the future tinh tú kiếp.
; The three asankhyeya kalpas—The three countless aeons—The periods of a bodhisattva's development: 1) Trang nghiêm kiếp: The past aeon. 2) Hiền kiếp: The present aeon. 3) Tinh túc kiếp: The future kalpa.
; (三劫) I. Tam Kiếp. Chỉ cho 3 đại kiếp: Quá khứ, Hiện tại và Vị lai. Trụ kiếp ở quá khứ gọi là Trang nghiêm kiếp (Phạm: Vỳuha-kalpa), Trụ kiếp ở hiện tại gọi là Hiền kiếp (Phạm: Bhadra-kalpa), Trụ kiếp ở vị lai gọi là Tinh tú kiếp (Phạm: Nakwatra-kalpa). Trong trụ kiếp của mỗi Đại kiếp đều có 1 nghìn đức Phật ra đời, gọi là Tam kiếp tam thiên Phật. Cứ theo kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát thì trong Hiền kiếp hiện tại có 1 nghìn đức Phật xuất hiện, từ Phật Câu lưu tôn, Câu na hàm, Ca diếp, Thích ca mâu ni, cho đến cuối cùng là đức Phật Lâu chí; trong kiếp Trang nghiêm ở quá khứ có 1 nghìn đức Phật, bắt đầu từ Phật Hoa quang, cho đến cuối cùng là Phật Tì xá phù; trong kiếp Tinh tú ở vị lai, có 1 nghìn đức Phật ra đời, bắt đầu từ Phật Nhật quang, cho đến sau cùng là đức Phật Tu di tướng... II. Tam Kiếp. Gọi đủ: Tam kiếp hoặc. Cũng gọi Tam vọng chấp. Chỉ cho Thô vọng chấp, Tế vọng chấp, Cực tế vọng chấp. (xt. Tam Vọng Chấp). III. Tam Kiếp. Gọi đủ: Tam a tăng kì kiếp. Khoảng thời gian mà Bồ tát phải trải qua để tu hành từ lúc phát tâm đến thành tựu quả Phật viên mãn. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp).
tam kiếp tam thiên phật
The thousand Buddhas in each of the three kalpas.
tam kiết
Trini-samyojanani (S).
tam kì lương chu
608 (1921~ )日本佛教學者。早稻田大學文學部畢業,於該校任教多年。主要研究佛教史、東亞哲學等。先後發表天台密教與真言密教、佛頂系的密教─唐代密教史的觀點等。
tam kì mạt kiếp
625明、清民間宗教用語。分世界為三期,主張經過第二期末之末劫,即進入第三時期之理想世界。弘陽教稱此三時期為青陽、紅陽、白陽。圓頓教稱為龍華三會,即龍華初會、二會、三會,分別代表過去、現在、未來。(參閱「圓頓教」5412)
Tam kết
xem Ba kết.
tam kết
Samyoga (skt)—Đức Phật đã nói trong Kinh Niết Bàn: “Này thiện nam tử, Tu Đà Hoàn tuy có thể cắt đứt vô lượng phiền não, nhưng vì ba kết rất nặng nên chúng cũng bao hàm tất cả kết mà Tu Đà Hoàn đã đoạn.”—In the Nirvana Sutra, the Buddha said: “Srota-apanna though has cut off inummerable illusions; however, the three ties are so serious that if he is able to cut off these three ties, he can cut off all other ties: 1) Kiến Kết: Ngã kiến—The tie of false views of permanent ego. 2) Giới Thủ Kết: Silavrataparamarsa (skt)—Giới Cấm Thủ Kết. • Hành tà giới: The tie of wrong discipline. • Chấp vào cái công hạnh phát sinh do sự tuân thủ giới luật đạo đức: Taking hold of the merit accruing from the observance of the rules of morality. 3) Nghi Kết: Nghi ngờ chánh lý—The tie of doubt.
; (三結) Phạm: Trìịi saôyojanàni. Pàli:Tìịi saôyojanàni. Cũng gọi Sơ quả tam kết. Kết chính là Kiến hoặc, chúng sinh do Kiến hoặc này trói buộc nên không thể thoát li sinh tử. Hàng Thanh văn dứt hết Hoặc này thì chứng được Sơ quả Tu đà hoàn, vì thế gọi là Sơ quả tam kết. Tam kết là. 1. Hữu thân kiến kết (Phạm: Satkàyadfwỉi-saôyojana): Đối với pháp năm ấm, chúng sinh chấp lầm làm thân, thường khởi ngã kiến, cưỡng lập chủ tể. Đây là Không cận chướng trong ba pháp Tam ma địa cận chướng, cũng là cội rễ của 62 kiến thú. Vì các kiến thú là căn bản của dư phiền não, dư phiền não là gốc của nghiệp, các nghiệp lại là gốc của quả Dị thục; nương vào quả Dị thục thì tất cả pháp thiện, bất thiện, vô kí đều được sinh trưởng, cho nên cần phải đoạn trừ. 2. Giới cấm thủ kết (Phạm:Zìlavra= taparàmarza-saôyojana): Chỉ cho việc thực hành các tà giới. Đây là Vô nguyện cận chướng trong ba pháp Tam ma địa cận chướng; chẳng hạn những người ngoại đạo đối với điều chẳng phải giới lại lầm tưởng là giới, như giữ giới bò(ăn cỏ), giới chó(ăn phân)... 3. Nghi kết (Phạm: Vicikitsàsaôyojana): Tức nghi ngờ chính lí, mê tâm trái lí, không tin sâu chính pháp. Đây là Vô tướng cận chướng trong 3 pháp Tam ma địa cận chướng. Tam kết trên đây là quan trọng nhất trong Kiến hoặc, cho nên được dùng làm tên chung cho Kiến hoặc, nếu đoạn được 3 kết này thì chứng quả Dự lưu, không còn trở lui, nhất định tiến tới Bồ đề. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; luận Đại tì bà sa Q.46; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần cuối].
Tam kết phược
xem Ba kết.
tam kết sử
ba sự trói buộc và sai sử nằm trong ngũ hạ kết, bao gồm sự trói buộc do quan điểm sai lầm, trói buộc vì sự nghi ngờ và trói buộc vì giữ theo tà giới.
tam kết ☸ sơ quả tam kết
〖出四教儀集註〗結,即見惑。眾生由此見惑結縛,不能出離生死。聲聞之人,斷此惑盡,即證初須陀洹果,故名初果三結。(梵語須陀洹,華言預流,謂預入聖道法流也。)〔一、身見結〕,謂眾生於五陰等法中,妄計為身,強立主宰,恒起我見,是名身見結。(五陰者,色陰、受陰、想陰、行陰、識陰也。)〔二、戒取結〕,謂外道之人,於非戒中謬以為戒,取以進行,如雞狗戒等,是名戒取結。(雞狗戒者,謂外道計自身前世從雞中來,即便獨立等;或計從狗中來,即便噉糞穢等是也。)〔三、疑結〕,謂迷心背理,而於正法猶豫不決,不能深信,是名疑結。
Tam Kỳ
(三祇, Sangi): hay còn gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp (三阿僧祇劫), Tam Đại A Tăng Kỳ Kiếp (三大阿僧祇劫), Tam Đại Tăng Kỳ (三大僧祇). A Tăng Kỳ Kiếp (s: asaṅkhyeya-kalpa, p: asaṅkheyya-kappa, 阿僧祇劫) có nghĩa là số lượng kiếp (thời gian vĩnh hằng) quá lớn đến nỗi không thể nào đếm được, và gấp lên ba lần như vậy được gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp. Vị Bồ Tát từ khi bắt đầu phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật cần phải trải qua tu hành trong khoảng thời gian Tam A Tăng Kỳ Bách Đại Kiếp (三阿僧祇百大劫, tức ba kỳ và trăm kiếp lớn). Vị Bồ Tát đang tu hành 50 vị, trong A Tăng Kỳ Kiếp đầu tiên, cần phải tu tập 40 vị gồm Thập Tín (十信), Thập Hạnh (十行), Thập Trụ (十住), Thập Hồi Hướng (十回向); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai thì cần tu từ Sơ Địa cho đến Địa Thứ Bảy trong Thập Địa (十地); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ ba thì cần tu từ Địa Thứ Tám cho đến Địa Thứ Mười. Sau khi tu hạnh Ba La Mật trãi qua Ba A Tăng Kỳ Kiếp, trong thời gian trăm đại kiếp, vị Bồ Tát cần phải tu hành thêm nữa để đạt đến 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō No. 366) có giải thích về vị giáo chủ cõi Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) như sau: “Hựu Xá Lợi Phất ! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ Kiếp, cố danh A Di Đà (又舍利弗、彼佛壽命及其人民、無量無邊阿僧祇劫、故名阿彌陀, Lại nữa Xá Lợi Phất ! Thọ mạng và nhân dân của đức Phật kia vô lượng vô biên không thể tính đếm được, nên được gọi là A Di Đà).” Hay như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn: “A Tăng Kỳ Kiếp giả, tức Tam Độc tâm dã, cố ngôn A Tăng Kỳ; Hán danh bất khả số; thử Tam Độc tâm, ư trung hữu Hằng sa ác niệm, ư nhất nhất niệm trung, giai vi nhất thiết, như thị Hằng sa bất khả số dã; cố ngôn Tam Đại A Tăng Kỳ; chơn như chi tánh, ký bị Tam Độc chi sở phú cái; nhược bất siêu bỉ tam đại Hằng sa độc ác chi tâm, vân hà danh vi giải thoát (阿僧祇劫者、卽三毒心也、胡言阿僧祇、漢名不可數、此三毒心、於中有恆沙惡念、於一一念中、皆爲一劫、如是恆沙不可數也、故言三大阿僧祇、眞如之性、旣被三毒之所覆蓋、若不超彼三大恆沙毒惡之心、云何名爲解脫, A Tăng Kỳ Kiếp tức là tâm có Ba Độc; nên gọi là A Tăng Kỳ; Tàu gọi là không thể tính đếm được; tâm có Ba Độc này, trong đó có niệm ác nhiều như sông Hằng; trong mỗi một niệm đều có tất cả, như vậy cát sông Hằng không thể nào tính đếm được; nên có tên là Ba A Tăng Kỳ Kiếp Lớn; tánh của chơn như, đã bị Ba Độc che lấp, nếu không vượt qua tâm ác độc lớn như cát sông Hằng, thế nào gọi là giải thoát đây).”
tam kỳ bách (đại) kiếp
The period necessary for a bodhisattva to become a Buddha, i.e. three asankhyeyas to attain the lục độ and 100 kalpas to acquire the thirty-two tướng or characteristic marks of a Buddha.
tam kỳ mạt kiếp
(三期末劫) Tiếng dùng trong tông giáo dân gian ở đời Minh, Thanh tại Trung quốc. Thế giới được chia làm 3 thời kì, các tông giáo dân gian chủ trương trải qua hết kiếp mạt ở cuối thời kì thứ 2 thì sẽ tiến vào thế giới lí tưởng của thời kì thứ 3. Hoằng dương giáo gọi 3 thời kì này là Thanh dương, Hồng dương, Bạch dương. Viên đốn giáo gọi là Long hoa tam hội, tức Long hoa sơ hội, Nhị hội, Tam hội, theo thứ tự đại biểu cho quá khứ, hiện tại và vị lai. (xt. Viên Đốn Giáo).
tam kỳ đặc
The three incomparable kinds of rareness. 1) Thần Thông Kỳ Đặc: Thần lực kỳ đặc hóa độ chúng sanh—Incomparable kinds of power to convert all beings. 2) Huệ Tâm Kỳ Đặc: Trí huệ Phật—Buddha wisdom. 3) Nhiếp Thọ Kỳ Đặc: Phật lực có khả năng lôi kéo và cứu độ chúng sanh—Buddha-power to attract and save all beings.
Tam li dục
三離欲; C: sānlíyù; J: sanriyoku;|Ba dạng li dục. Theo Du-già sư địa luận thì Tam li dục bao gồm: 1. Vị li dục (未離欲), chưa rời bỏ dục vọng; 2. Bội li dục (倍離欲), thoát khỏi khát vọng gấp đôi bình thường và 3. Dĩ li dục (已離欲), đã thoát khỏi dục vọng hoàn toàn.
tam liễu tri
Theo Thanh Tịnh Đạo, có ba loại Liễu Tri—According to The Path of Purification, there are three kinds of Full-Understanding. 1) Sở Tri Liễu Tri: Trí trong ý nghĩa hiểu biết—Full understanding as the known. Understanding that is direct-knowledge is knowledge in the sense of the known 2) Suy Đạt Liễu Tri: Tuệ với tư cách liễu tri gọi là trí trong ý nghĩa phê phán—Full understanding as investigating or judging. Whatever states are fully-understod are judged. 3) Đoạn Trừ Liễu Tri: Trí theo ý nghĩa từ bỏ—Full understanding as abandoning.
tam loại cường địch
697日本佛教用語。係指對法華經之修行者懷有敵意或加以迫害之人有三類,即:(一)邪惡之俗人,又稱俗眾增上慢。(二)邪智之比丘,又稱道門增上慢。(三)戴聖者假面具之比丘,又稱僭聖增上慢。日本日蓮宗開祖日蓮認為,唯有三類強敵之迫害加之於身,才是表明自己係法華經行者之證據;而對於日蓮宗之行者而言,第一類強敵相當於幕府之官吏,第二類為真言宗、淨土宗之僧侶,第三類為禪宗、律宗之僧侶。
; (三類强敵) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho 3 loại người mang tâm thù địch hoặc bức hại những hành giả kinh Pháp hoa, đó là: 1. Người thế tục tà ác, cũng gọi những người tục tăng thượng mạn. 2. Những tì khưu tà trí, cũng gọi Đạo môn tăng thượng mạn. 3. Những tì khưu đội lốt, giả danh thánh nhân, cũng gọi Tiếm thánh tăng thượng mạn.Tổ khai sáng tông Nhật liên là ngài Nhật liên cho rằng chỉ có những người bị 3 loại cường địch bức hại nơi thân thì mới là chứng cứ biểu thị chính mình là hành giả Pháp hoa. Còn đối với các hành giả tông Nhật liên mà nói thì loại cường địch thứ nhất tương đương với các quan lại của Mạc phủ, loại thứ hai là các tăng lữ thuộc tông Chân ngôn, tông Tịnh độ; loại thứ 3 là chư tăng thuộc Thiền tông và Luật tông.
Tam loại cảnh
三類境; C: sān lèijìng; J: san ruikyō;|»Ba loại cảnh giới«. I. Theo thuyết Duy thức (唯識), các cảnh giới tâm thức được phân loại tuỳ theo bản chất của chúng. Bao gồm: 1. Tính cảnh (性境): Cảnh giới xuất phát từ những chủng tử trong A-lại-da thức; 2. Độc ảnh cảnh (獨影境): là những cảnh giới xuất phát một cách tạm thời từ một quan điểm chủ quan; và 3. Đái chất cảnh (帶質境): Cảnh giới hiển hiện tuỳ thuộc vào cả hai trường hợp vừa nêu trên.
tam loại cảnh
698<一>又稱三類、三境。乃法相宗之教義。將所緣之對境,依其性質,而類別為三種。即:(一)性境,指真實之境。此境自守其性,並不隨心。即指具有真實體性與作用,由實種子所生起之境。包括第八識之相分(種子、五根、器世間)、前五識及五俱(與前五識之任一者同時生起)意識之相分等。此境有三種不隨心,即:(1)性不隨,謂其能緣之見分通於善、不善、無記三性,所緣之相分境,唯無記性,不隨能緣之性通於三性。(2)種不隨,謂見分從自見分種生,相分從自相分種生,不隨能緣之種子而生。(3)繫不隨,繫,指界地繫。謂所緣境之界地不隨能緣之心。如欲界繫之五識八識及五俱意識緣自界之五塵時,相分與能緣雖為欲界繫,而所緣之五塵非隨能緣而成欲界繫。 (二)獨影境,獨者,簡別於本質;影,為影像,即相分。謂依能緣之心之妄分別而變起之境,別無本質,僅為影像。如第六意識之妄分別變出之龜毛、兔角、空華等,全屬幻影。此境有三種隨心:(1)性隨心,謂境與能緣之心同一性。(2)種隨心,謂境與能緣之心由同一種子而生。(3)繫隨心,謂境與能緣之心同一界繫。 (三)帶質境,帶質即兼帶本質。謂能緣之心緣所緣之境,其相分有所依之本質,而不得境之自相。此境係由心、境二者之力合成,居於性境與獨影境之間。如第七識緣第八識見分之相分,及第六識追想過去之形像者。此境有三種通情本。情,為能緣之見分;本,為本質。即:(1)性通情本,謂如第七識之見分緣第八之見分時,所變之相分無別種生,一半與本質同種生,一半與能緣之見分同種生,若從本質生者,為無覆無記性,若隨能緣之見分生者,則為有覆無記性,其性不定。(2)界通情本,又稱繫通情本。謂此相分之界地通於本質與見分之界地繫而不定。(3)種通情本,謂此相分之種子亦隨本質與見分而不定。 三類境之名稱在諸經中雖未見記載,然有關相見二分為同種生或別種生,在印度即有異說,至玄奘時,以護法之說為正義,造(大四三‧六三三中)「性境不隨心,獨影唯從見,帶質通情本,性種等隨應」一頌,授予弟子窺基,評判所緣之境,以別種生之相分為性境,同種生之相分為獨影境,同別兩種生之相分為帶質境。〔成唯識論掌中樞要卷上末、成唯識論了義燈卷一末、成唯識論述記卷三本、大乘法苑義林章卷四末、百法問答鈔卷二〕 <二>指第八阿賴耶識所緣之三種境。即:(一)種子境,第八識能徧任持世間、出世間諸法種子,故稱種子境。(二)根身境,第八識覺明能了之心,發起內外塵勞之相,於一圓湛,析出根塵,聚內四大而為身分,故稱根身境。(三)器世間境,從第八識轉相而成現相,即有山河大地等境界,故稱器世間境。
; (三類境) I. Tam Loại Cảnh. Cũng gọi Tam loại, Tam cảnh. Chỉ cho 3 loại cảnh do tông Pháp tướng căn cứ vào tính chất của cảnh sở duyên mà thành lập, đó là: 1. Tính cảnh: Chỉ cho cảnh chân thực. Cảnh này tự giữ lấy tính chất của nó, không theo tâm. Tức chỉ cho cảnh có đầy đủ thể tính và tác dụng chân thực và do chủng tử thật sinh khởi. Nó bao gồm tướng phần(chủng tử, ngũ căn, khí thế gian) của thức thứ 8, tướng phần của 5 thức trước và Ngũ câu ý thức(đồng thời sinh khởi với bất cứ thức nào trong 5 thức trước). Cảnh này có 3 thứ Bất tùy tâm(chẳng theo tâm) a. Tính bất tùy: Kiến phần năng duyên chung cả 3 tính thiện, bất thiện và vô ký, tướng phần sở duyên chỉ có tính vô kí, tính Bất tùy năng duyên chung cả 3 tính. b. Chủng bất tùy: Kiến phần từ Tự kiến phần sinh ra, Tướng phần cũng từ Tự tướng phần sinh ra chứ không theo chủng tử năng duyên sinh ra. c. Hệ bất tùy: Hệ chỉ cho giới địa hệ (nơi chỗ trói buộc). Nghĩa là giới địa hệ của cảnh sở duyên không theo tâm năng duyên. Như 5 thức trước, thức thứ 8 và Ngũ câu ý thức, khi duyên theo 5 trần của tự giới, thì tướng phần và năng duyên tuy là Dục giới hệ, nhưng 5 trần sở duyên chẳng phải theo năng duyên để trở thành Dục giới hệ. 2. Độc ảnh cảnh: Độc là khác với bản chất; ảnh là bóng dáng, tức tướng phần. Nghĩa là cảnh do vọng phân biệt nương vào tâm năng duyên mà biến sinh ra, chỉ là bóng dáng chứ không có bản chất. Như lông rùa, sừng thỏ, hoa đốm... do thức thứ 6 vọng phân biệt mà biến ra, toàn thuộc ảo ảnh. Cảnh này có 3 thứ tùy tâm: a. Tính tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng chung 1 tính. b. Chủng tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên từ cùng 1 chủng tử sinh ra. c. Hệ tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng chung 1 giới hệ. 3. Đới chất cảnh: Đới chất là bản chất kiêm đới. Nghĩa là tâm năng duyên duyên theo cảnh sở duyên, tướng phần của nó có bản chất làm chỗ nương chứ không có tự tướng của cảnh. Cảnh này do năng lực của tâm và cảnh hợp thành, ở khoảng giữa Tính cảnh và Độc ảnh cảnh. Như tướng phần hiển hiện khi thức thứ 7 duyên theo kiến phần của thức thứ 8 và thức thứ 6 truy tưởng hình tượng của quá khứ. Cảnh này có 3 thứ Thông tình bản(Tình là kiến phần năng duyên; bản là bản chất). a. Tính thông tình bản: Như khi kiến phần của thức thứ 7 duyên theo kiến phần của thức thứ 8 thì tướng phần được biến hiện ra không khác loại, nhưng 1 nửa cùng loại với bản chất và một nửa cùng loại với kiến phần năng duyên, nếu từ bản chất sinh thì là tính vô phú vô kí, còn nếu từ kiến phần năng duyên sinh thì là tính hữu phú vô kí, tính ấy bất định. b. Giới thông tình bản(cũng gọi Hệ thông tình bản): Giới địa của tướng phần này chung với giới địa hệ của bản chất và kiến phần mà là bất định. c. Chủng thông tình bản: Chủng tử của tướng phần này cũng tùy theo bản chất và kiến phần mà bất định. Tên gọi của 3 loại cảnh tuy trong các kinh không thấy ghi chép, nhưng về vấn đề Tướng phần và Kiến phần là cùng loại hay khác loại thì ở Ấn độ đã có các thuyết khác nhau, đến thời Ngài Huyền trang thì thuyết của ngài Hộ pháp được dùng làm chính nghĩa, ngài làm ra bài tụng truyền cho đệ tử là sư Khuy cơ như sau (Đại 43, 633 trung): Tính cảnh bất tùy tâm Độc ảnh duy tòng kiến Đới chất thông tình bản Tính chủng đẳng tùy ứng. Sau, ngài Khuy cơ giải thích rằng: Tướng phần do khác loại sinh ra là Tính cảnh, Tướng phần do cùng loại sinh ra là Độc ảnh cảnh và Tướng phần do cả 2 cùng loại và khác loại sinh ra là Đới chất cảnh. [X.Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4, phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q.2]. II. Tam Loại Cảnh. Chỉ cho 3 loại cảnh mà thức A lại da thứ 8 duyên theo, đó là: 1. Chủng tử cảnh: Thức thứ 8 có khả năng nắm giữ chủng tử của tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, nên gọi là Chủng tử cảnh. 2. Căn thân cảnh: Thức thứ 8 là tâm tròn sáng rõ suốt, phát khởi tướng trần lao trong, ngoài; từ 1 tâm tròn sáng lặng lẽ, chia ra căn trần, tụ tập 4 đại bên trong làm thân phần, cho nên gọi là Căn thân cảnh. 3. Khí thế gian cảnh: Từ thức thứ 8 chuyển tướng mà thành hiện tướng, tức các cảnh giới núi sông, đất đai..., vì vậy gọi là khí thế gian cảnh.
tam luân
679<一>構成器世界之風、水、金等三種輪圍。(一)風輪(梵 vāyu-maṇḍala),又作風界。器世界成立之初,由有情之共業力,依止虛空,而生於最下。(二)水輪(梵 jala-maṇḍala),又作水界。以有情之業增上力,起大雲雨,澍於風輪之上,積水而成。(三)金輪(梵 kāñcana-maṇḍala),又作金性地輪、地輪、地界。由有情之業力,搏擊水輪,於其上結成金。以上三輪可謂佛教之宇宙開闢論,除構成器世界之三輪外,於金輪之上復有現實世界之形成。〔長阿含經卷十八、增一阿含經卷三十十七、起世經卷一、大樓炭經卷一、俱舍論卷十一、立世阿毘曇論卷一〕(參閱「大地四輪」778、「須彌山」5364) <二>以轉輪聖王之輪寶比喻如來身口意三業之勝用。(一)神變輪,又作神通輪、身輪。乃顯現神通,變化勝異之境,而今眾生發心入信之神通輪。(二)教誡論,又作說法輪、口輪。即演說教法,令眾生反邪入正而發心入信。(三)記心輪,又作憶念輪、意輪。佛說法時,先以意輪鑑知眾生根器利鈍,隨宜演說,無有差謬。以上三輪,意義等同三示現、三種示導。〔大乘大集地藏十輪經卷六、瑜伽師地論卷二十七、卷三十七、大乘法苑義林章卷六末〕(參閱「三種示導」650) <三>世間充滿無常、不淨、苦,三者如輪,迴轉無限,無始無終,故喻之如輪,稱為無常輪、不淨輪、苦輪。〔阿彌陀經通贊疏序、往生要集卷一上〕 <四>全稱三轉法輪。係三論宗吉藏三分釋尊教說為根本法輪、枝末法輪、攝末歸本法輪等三者。(參閱「三轉法輪」694) <五>全稱三法輪。指佛之說法有轉法輪、照法輪、持法輪等三種意義。(參閱「三法輪」573) <六>指布施時之施者、受者、施物等三者。行布施時,若住於空觀,亦即心不執著於施者(能施)、受者(所施)與施物三者,則稱三輪體空、三輪清淨、三事皆空。此說以般若經為主。(參閱「三輪相」680) <七>於密教金剛界曼荼羅從果向因之次第,可依順序,將大日如來教化利濟眾生之次第分為三種,即自性輪身、正法輪身、教令輪身。(參閱「三輪身」680)
; The three wheels: (1) The Buddha's (a) body or deeds; (b) mouth or discourses; (c) mind or ideas. (2) (a) thần thông (or biến) his supernatural powers, or powers of self transformation, associated with thân body; (b) ký tâm luân his discriminating understanding of others, associated with ý mind; (c) giáo thành luân or chính giáo luân his (oral) powers of teaching, associated with khẩu mouth. (3) Similarly (a) thần túc luân; (b) thuyết pháp luân; (c) ức niệm luân. (4) hoặc, nghiệp and khổ. The wheel of illusion hoặc produces karma nghiệp, that of karma sets rolling that of suffering khổ, which in turn sets rolling the wheel of illusion. (5) (a) impermanence vô thường; (b) uncleanness bất tịnh; (c) suffering khổ.
; The three-wheel. (A) 1) Thân Phật: Buddha's body or deeds. 2) Khẩu Phật: Buddha's mouth or discourses. 3) Tâm Phật: Buddha's mind or ideas. (B) 1) Thần Thông Luân: Buddha's supernatural powers, or powers of bodily self-transformation, associated with his body. 2) Ký Tâm Luân: Buddha's discriminating understanding of others, asociated with his mind. 3) Giáo Giới Luân: Buddha's oral powers of teaching, associated with his discourses or speech. (C) Bánh xe phiền não sanh nghiệp, nghiệp sanh khổ đau, và khổ đau lại sanh phiền não. Ba bánh xe này luân chuyển không ngừng nghỉ—The wheel of illusion produces karma, that of karma sets rolling that of suffering, which in turn sets rolling the wheel of illusion. These three wheels are in constant revolution 1) Hoặc Luân: The wheel of Delusions. 2) Nghiệp Luân: The wheel of Karma. 3) Khổ Luân: The wheel of Suffering. (D) 1) Vô Thường Luân: The wheel of Impermanence. 2) Bất Tịnh Luân: The wheel of Impurity. 3) Khổ Luân: The wheel of Distress.
; (三輪) I. Tam luân. Chỉ cho 3 lớp vật chất cấu tạo thành khí thế giới. Đó là: 1. Phong luân (Phạm: Vàyumaịđala), cũng gọi phong giới: Lúc mới đầu thành lập khí thế giới, do nghiệp lực chung của loài hữu tình, nương tựa vào hư không mà sinh ra phong luân ở dưới cùng. 2. Thủy luân (Phạm: Jala-maịđala), cũng gọi Thủy giới: Do nghiệp lực tăng thượng của hữu tình mà nổi lên trận mây mưa lớn, trút xuống trên lớp phong luân, tích chứa nước thành lớp thủy luân. 3. Kim luân (Phạm: Kàĩcanamaịđala), cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới: Do sức nghiệp của hữu tình va đập vào thủy luân mà kết thành vàng (kim) trên thủy luân. Tam luân trên đây có thể được xem là Vũ trụ luân (cosmologie) của Phật giáo. Ngoài Tam luân cấu thành Khí thế giới, trên Kim luân lại hình thành thế giới hiện thực.[X. kinh Trường a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.37; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Câu xá Q.11; luận Lập thế a tì đàm Q.1]. (xt. Đại Địa Tứ Luân, Tu Di Sơn). II. Tam Luân. Dùng bánh xe báu của vua Chuyển luân thánh vương để ví dụ tác dụng thù thắng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý của Như lai. Đó là: 1. Thần biến luân(cũng gọi Thần thông luân, Thân luân): Hiển hiện thần thông, biến hóa ra những cảnh thù thắng, khác lạ để khiến chúng sinh phát tín tâm. 2. Giáo giới luân(cũng gọi Thuyết pháp luân, Khẩu luân): Phật diễn nói giáo pháp khiến chúng sinh phát tín tâm bỏ tà về chính. 3. Kí tâm luân(cũng gọi Ức niệm luân, Ý luân): Khi đức Phật nói pháp, trước hết Ngài dùng ý luân để xét biết căn cơ lợi độn của chúng sinh hầu tùy nghi diễn giảng, không phạm sai lầm. Tam luân trên đây có ý nghĩa giống với Tam thị hiện, Tam chủng thị đạo. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.6; luận Du già sư địa Q.27, 37; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Chủng Thị Đạo). III. Tam Luân. Chỉ cho sự vô thường, bất tịnh và khổ nãotrong thế gian. Ba thứ này giống như bánh xe (luân) quay vòng không ngừng, không đầu không cuối, cho nên ví dụ như bánh xe mà gọi là Vô thường luân, Bất tịnh luân và Khổ luân. [X. lời tựa trong A di đà kinh thông tán sớ; Vãng sinh yếu tập Q.1, thượng]. IV. Tam Luân. Gọi đủ: Tam chuyển pháp luân. Ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận chia giáo pháp của đức Phật làm 3 pháp luân là: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). V. Tam Luân. Gọi đủ: Tam pháp luân. Sự thuyết pháp của đức Phật có 3 ý nghĩa: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân, gọi là Tam pháp luân.(xt. Tam pháp luân). VI. Tam Luân. Chỉ Thí giả(người bố thí), Thụ giả(người nhận của bố thí) và Thí vật(vật dùng để bố thí)... Khi người thực hành pháp bố thí, nếu trụ nơi Không quán thì không chấp trước vào 3 thứ này, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh, Tam sự giai không. (xt. Tam Luân Tướng). VII. Tam Luân. Theo thứ tự từ quả hướng tới nhân trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, thì có thể chia sự giáo hóa lợi sinh của đức Đại nhật Như lai làm 3 thứ là: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. (xt. Tam Luân Thân). TAM LUÂN GIÁO I. Tam Luân Giáo. Chỉ cho Tam luân giáo do ngài Chân đế căn cứ vào kinh Kim quang minh mà thành lập vào đời Lương. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Sau khi thành đạo, trong 7 năm đầu, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa. 2. Chiếu pháp luân: Sau 7 năm đó, đức Phật nói các bộ Bát nhã để hiển bày lí không, dùng Không chiếu rọi Hữu, nên gọi là Chiếu pháp luân. 3. Trì pháp luân: Sau 30 năm, đức Phật nói kinh Giải thâm mật... giảng về Không, Hữu để giữ gìn Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân nên gọi là Trì pháp luân.[X. Hoa nghiêm Huyền đàm Q.4]. II. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 thứ pháp luân do Đại sư Gia tường Cát tạng y cứ vào phẩm Tín giải kinh Pháp hoa mà thành lập, đó là: 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này chỉ vì hàng Bồ tát mà mở bày pháp môn 1 nhân 1 quả. 2. Chi mạt pháp luân: Chỉ cho các kinh Tiểu thừa như A hàm, cho đến các kinh Đại thừa như Phương đẳng, Bát nhã... Trong các kinh này, vì những người độn căn không kham nổi pháp môn 1 nhân 1 quả, nên đức Phật chia Nhất Phật thừa làm Tam thừa giáo. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Tức đưa Tam thừa về Nhất Phật thừa. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng]. III. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Huyền trang y cứ vào kinh Giải thâm mật và luận Du già mà thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Chỉ cho Hữu giáo của các kinh Tiểu thừa thời kì đầu. 2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho Không giáo của kinh Bát nhã thới kì thứ hai. 3. Trí pháp luân: Chỉ cho Trung đạo giáo của kinh Giải thâm mật... ở thời kì thứ ba. Đây là Tam thời giáo của tông Pháp tướng. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4].
tam luân giáo
680教判名。<一>指梁‧真諦依金光明經而立之三輪教,即:(一)轉法輪,佛成道後,於七年中轉小乘四諦之法輪。(二)照法輪,七年後說諸部之般若以明空,以空照有,故稱照法輪。(三)持法輪,三十年後說解深密經等,說空有,以持轉、照二輪,故稱持法輪。〔 媊Y玄談卷四〕 <二>指嘉祥大師吉藏依法華經信解品而立之三種法輪,即:(一)根本法輪,指華嚴經,此經純為菩薩開顯一因一果之法門。(二)枝末法輪,指小乘諸經乃至方等、般若等諸大乘經。以鈍根者不堪聞一因一果,故將一佛乘分別為三乘教。(三)攝末歸本法輪,指法華經。即會三乘而歸於一佛乘。〔法華遊意卷上〕 <三>指玄奘依解深密經、瑜伽師地論等所立之三法輪,即:(一)轉法輪,指初時小乘經之有教。(二)照法輪,指第二時般若經之空教。(三)持法輪,指第三時解深密經等之中道教,此即法相宗之三時教。〔華嚴五教章卷上、華嚴玄談卷四〕
; The three periods of the Buddha's teaching as defined by Paramàrtha chân đế: (a) chuyển pháp luân the first rolling onwards of the law-wheel, the first seven years teaching of Hìnayàna, i.e. tứ đế, and không; (b) chiếu pháp luân illuminating or explaining the law-wheel, the thirty years teaching of the bát nhã prajnà or wisdom sùtras, illuminating không, and by không illuminating hữu reality; (c) trì pháp luân maintaining the law-wheel, i.e. the remaining years of teaching of the deeper truths of không hữu both unreality and reality. Also the three-fold group of the Lotus schhol: (a) căn bản pháp luân radical or fundamental, as found in Hoa Nghiêm sùtra; (b) chi mạt pháp luân branch and leaf, i.e. all other teaching; until (c) nhiếp mạt qui bản pháp luân branches and leaves are reunited with the root in the Lotus sùtra Pháp hoa kinh.
; The three periods of the Buddha's teaching: 1) Chuyển Pháp Luân: The first rolling onwards of the Law-wheel, the first years teaching of Hinayana, four axioms (Tứ Đế) and unreality (Không). 2) Chiếu Pháp Luân: Illuminating or explaining the law-wheel, the thirty years teaching of the Prajna (Bát Nhã) or Wisdom Sutras. 3) Trì Pháp Luân: Maintaining the law-wheel, the remaining years of teaching of the deeper truths of both unreality (Không) and reality (Hữu).
tam luân hóa đạo
Three sovereign powers for converting others: 1) Thần biến: Do thân nghiệp của Đức Phật hiện đủ loại thần biến, khiến chúng sanh khởi chánh tín—Supernatural transformation (thân: physical). 2) Ký tâm: Dùng ý nghiệp của Đức Phật phân biệt được tâm hành sai biệt của kẻ khác (thức biệt tha tâm)—Memory or knowledge of all the thoughts of all beings (ý: mental). 3) Giáo giới: Dùng khẩu nghiệp của Đức Phật để răn dạy chúng sanh khiến họ tu hành—Teaching and warning.
tam luân thân
679指自性、正法、教令三種輪身。又作三種輪身、三輪。即密教金剛界曼荼羅,分為從果向因、從因至果等二種次第;於從果向因之次第,自本地大日如來至垂迹之教化利濟眾生,可依其順序而分為三種。亦即大日如來為救濟眾生,現出方便之菩薩、明王之相狀,依序分為三類:(一)自性輪身,即大日如來以本地自性之佛體教化利益眾生。(二)正法輪身,顯現菩薩身說示正法,教化利益眾生者。(三)教令輪身,為教化難度之眾生,故顯現大忿怒相(不動明王之相)。以上三輪身亦稱三身,三身亦適用於五佛、五菩薩、五大明王等。
; (三輪身) Cũng gọi Tam chủng luân thân, Tam luân.Chỉ cho 3 thứ luân thân: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo được chia làm 2 thứ lớp từ quả hướng đến nhân và từ nhân hướng đến quả. Về thứ lớp từ quả hướng đến nhân, sự giáo hóa làm lợi ích chúng sinh của đức Đại nhật Như lai, từ Bản địa đến Thùy tích có thể theo thuận tự chia làm 3 thứ, tức là vì cứu độ chúng sinh mà đức Đại nhật Như lai phương tiện hiện ra các hình tướng Bồ tát, Minh vương... theo thứ tự chia làm 3 loại:1. Tự tính luân thân: Tức Đại nhật Như lai dùng Phật thể của tự tính bản địa để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 2. Chính pháp luân thân: Tức Đại nhật Như lai là hiển hiện thân Bồ tát tuyên giảng chính pháp để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh.3. Giáo lệnh luân thân: Tức Đại nhật Như lai hiển hiện tướng phẫn nộ (tướng của Minh vương Bất động) để giáo hóa những chúng sinh ương ngạnh khó cứu độ.Tam luân thân trên đây còn gọi là Tam thân, Tam thân cũng có thể dùng cho Ngũ Phật, Ngũ Bồ tát, Ngũ đại Minh vương...
tam luân thế giới
The three wheel world, i.e. phong, thủy, kim luân. Every world is founded on a wheel or whirling wind; above this is one with water; above this is one with metal, on which its nine mountains and eight seas are formed.
; The Three-Wheel world.
tam luân thể không
681布施之時,能體達施者、受者、施物三者皆悉本空,摧破執著之相,稱為三輪體空。(一)施空,能施之人體達我身本空,既知無我,則無希望福報之心,稱為施空。(二)受空,既體達本無能施之人,亦無他人為受施者,故不起慢想,稱為受空。(三)施物空,物即資財珍寶等物,能體達一切皆空,則雖有所施,亦視為空,故不起貪想,稱為施物空。〔能斷金剛般若波羅蜜多經論釋卷上〕(參閱「三輪相」680)
; Nói về việc bố thí: kẻ bố thí, kẻ nhận bố thí, tài vật để bố thí, gọi chung là Tam luân. Thí mà chẳng trụ nơi thí gọi là Tam luân thể không.
; (三輪體空) Thể của 3 luân là Không. Tức là khi thực hành pháp bố thí, Bồ tát phải thấu suốt thể của người bố thí, người nhận sự bố thí và vật dùng để bố thí đều là không để phá trừ tướng chấp trước. 1. Thí không: Người bố thí thấu rõ thân mình vốn không, đã biết thân ta là không thì không có tâm mong cầu phúc báo.2. Thụ không: Đã thấu suốt vốn không có người bố thí thì cũng chẳng có người nhận sự bố thí, vì thế không sinh ý tưởng kiêu mạn. 3. Thí vật không: Vật tức là tiền bạc, của cải, vật báu... đã thấu suốt tất cả đều không thì tài vật dùng để bố thí cũng là không, do đó không sinh tâm tham lam hối tiếc. [X. Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh thích Q.thượng]. (xt. Tam Luân Tướng). TAM LUÂN TƯỚNG Ba tướng luân. Chỉ cho người bố thí, người nhận sự bố thí và vật để bố thí. Tướng Tam luân tồn tại trong ý tưởng gọi là Hữu tướng tam luân. Diệt Tam luân này, trụ nơi vô tâm mà thực hành pháp bố thí thì đó là Thí ba la mật tam luân thanh tịnh. Theo Kim cương bát nhã ba la mật kinh chú giải, người đời làm việc bố thí tâm mong cầu quả báo, đó là trước tướng; nhưng Bồ tát tu hành bố thí thì thấu suốt Tam luân thể không, nên không chấp tướng. Pháp giới thứ đệ quyển hạ (Đại 46, 686 trung) nói:Nếu khi thực hành bố thí mà thấy người thí, người nhận và vật thí đều là không, bất khả đắc, thì vào được Thực tướng chính quán. Cho nên Tam luân tướng có chia ra thô và tế. Tự thân người bố thí khởi tâm kiêu mạn, đối với người nhận sự bố thí thì có ý nghĩ yêu ghét, đối với vật bố thí thì sinh tâm hối tiếc, đó là Tam luân tướng thô, chưa đạt được lí vạn pháp như huyễn. Còn người chấp thực ngã, thực pháp mà bố thí thì là Tam luân tướng tế. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật Q.192]. (xt. Tam Luân Thể Không).
tam luân tướng
680指施者、受者與施物三者。三輪之相存於意中,稱為有相之三輪。滅此三輪,住於無心而行施,則為三輪清淨之檀波羅蜜。依金剛般若波羅蜜經註解,世人行施,心希果報,是為著相;而菩薩行施,了達三輪體空,故不住於相。能斷金剛般若波羅蜜多經論釋卷上(大二五‧八七五下):「攝伏在三輪,於相心除遣。(中略)此顯所捨之物及所施眾生并(並)能施者,於此三處除著想心。」法界次第卷下(大四六‧六八六中):「若布施時,施人、受人及財物三事,皆空不可得,入實相正觀。」故三輪相有粗細之分,施者於自身起慢心,對受者懷愛憎之念,對施物生惜心,此即粗三輪相,乃未達萬法如幻之理。執實我之法而布施者,是為細三輪相。〔大般若波羅蜜經卷一九二〕(參閱「三輪體空」681)
; The three-wheel condition -giver, receiver, gift.
Tam luận
三論; C: sānlùn; J: sanron;|Ba bộ luận. Chỉ ba bộ luận quan trọng, được xem là cơ sở của một tông phái Phật giáo Trung Quốc có cùng tên: Tam luận tông (三論宗). Ba bộ luận này là 1. Trung quán luận (中觀論), 2. Thập nhị môn luận (十二門論) với tác giả là Long Thụ (龍樹) và 3. Bách luận (百論) của Thánh Thiên (聖天). Cả ba bộ luận này được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn. Tông Tam luận góp phần quan trọng trong lĩnh vực luận lí Tính không. Trung quán luận dạy Tám phủ định (Bát bất 八不): Bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất nhị, bất lai bất xuất (不生不滅,不常不斷,不一不異,不來不出). Tám phủ định này được dùng để đả phá tất cả những khái niệm, tất cả những quan điểm về Hữu, Vô, và như vậy thì ý nghĩa của »Trung đạo« nằm ở chỗ: Tất cả các pháp đều được xem là tồn tại, nhưng lại không mang một bản chất, một tự ngã nào. Thập nhị môn luận giảng giải Tính không của tất cả các pháp trong mười hai chương, và Bách luận giảng giải Tính không để đả phá luận cứ của những triết gia ngoại đạo.|Cưu-ma-la-thập truyền ba bộ luận này đến ba đại đệ tử của mình là Đạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇) và Tăng Lãng (僧朗). Tăng Lãng là người nhấn mạnh sự khác biệt của tông Tam luận và tông Thành Thật và vì vậy, có thể được xem là người sáng lập tông môn Tam luận đích thật. Trong thế kỉ thứ 6, những đại biểu quan trọng nhất là Pháp Lãng (法朗), Cát Tạng (吉藏) và lúc này cũng là thời hoàng kim của giáo lí Tam luận. Trong thế kỉ thứ 7, giáo lí Tam luận được truyền sang Hàn Quốc bởi Huệ Quán (慧觀), một đệ tử của Cát Tạng. Sau khi tông Pháp Tướng xuất hiện, tông Tam luận ngày càng rơi vào quên lãng.
tam luận
675指龍樹之中論四卷、十二門論一卷,及提婆之百論二卷。此三部論書為三論宗所依用之要典,皆為鳩摩羅什所譯。(一)中論,中者照其實,論者盡其言。因修行之人內心滯惑,或生倒見,或執偏悟,故折之以中道之理,令離二邊之相,故稱中論。(二)百論,佛入滅後八百餘年,外道紛然,異端競起,邪辯逼真,殆亂正道,提婆菩薩乃作斯論,所以防止閑邪,彰明宗義。此論有百偈,故稱百論。(三)十二門論,門以開通無滯,論以窮源盡理。其始自觀因緣門,終至生門,總有十二,故稱十二門論。 關於其合稱「三論」之由來,三論玄義中曾列舉八義以說明之,即:(一)每一論各具破邪、顯正、言教等三義。(二)三論具合,方備三義;如中論闡明所顯之理,百論析破邪執,十二門論為言教。以此三義相成,故稱三論。(三)三部具上、中、下三品;即中論為廣論,百論為次論,十二門論為略論。(四)一切經論之形式有三:僅為「偈頌」之論、僅為「長行」之論、亦具偈頌亦具長行之論。如中論屬於僅為偈頌之論,百論屬於僅為長行之論,十二門論屬於亦具偈頌亦具長行之論。此三書雖各相開演其說,然又共相完成。(五)同為大乘通論,三論皆以破小乘諸部之迷執,通申大、小兩教。(六)三書同顯不二實相,以詮中道之妙理。(七)同為四依菩薩所造之論。(八)同是像、末時代所作,此乃菩薩為綱維大法及通申諸經之義而作。 三論宗之支派四論宗,將上記之三論,另加大智度論,合為四論,而以之為所依要典。又以上各論之注疏頗多,但以吉藏之三論疏(共十六卷)最著。〔三論玄義〕(參閱「十二門論」340、「中論」1034、「四論宗」1836、「百論」2499)
; (三論) Chỉ cho luận Trung quán 4 quyển, luận Thập nhị môn 1 quyển của ngài Long thụ và Bách luận 2 quyển của ngài Đề bà. Ba bộ luận này đều là điển tịch trọng yếu của tông Tam luận và đều do ngài Cưu ma la thập dịch. 1. Luận Trung quán: Trung quán là quán chiếu sự thực; Luận là tận cùng lời nói. Vì nội tâm người tu hành bị dính mắc mê hoặc mà sinh ra tà kiến điên đảo, hoặc chấp thiên ngộ, phải dùng lí trung đạo để chiết phục, khiến họ lìa bỏ tướng 2 bên, cho nên gọi là Trung quán. 2. Bách luận: Sau Phật nhập diệt hơn 800 năm, ngoại đạo rối ren, dị đoan tranh nhau nổi dậy, tà biện bức ngặt, làm loạn chính đạo, cho nên ngài Đề bà làm ra luận này, nêu rõ tông nghĩa để chặn đứng tà bậy. Bộ luận này có 100 bài kệ, vì thế gọi là Bách luận. 3. Thập nhị môn luận: Môn là mở rộng thông thoáng, Luận là cùng nguồn hết lí. Bắt đầu bằng Quán nhân duyên môn và kết thúc với Sinh môn, tất cả gồm 12 môn, nên gọi là Thập nhị môn luận. Về lí do tại sao gọi chung là Tam Luận thì trong Tam luận huyền nghĩa có nêu ra 8 nghĩa để nói rõ như sau: 1. Mỗi luận đều có 3 nghĩa: Phá tà, hiển chính và ngôn giáo. 2. Ba luận hợp chung lại mới đủ 3 nghĩa: Như Trung luận nói rõ về lí được hiển bày, Bách luận phá dẹp tà chấp, còn Thập nhị môn luận là ngôn giáo. Vì 3 nghĩa này bổ xung cho nhau mà được thành tựu nên gọi là Tam luận. 3. Ba bộ gồm đủ ba phẩm thượng, trung, hạ: Tức Trung luận là quảng luận, Bách luận là thứ luận và Thập nhị môn luận là lược luận. 4. Tất cả kinh luận có 3 hình thức: Một là luận chỉ có kệ tụng(văn vần), hai là luận chỉ có trường hàng(văn xuôi), ba là luận vừa có kệ tụng vừa có trường hàng. Trong ba loại này thì Trung luận thuộc loại thứ nhất, Bách luận thuộc loại thứ hai và Thập nhị môn luận thuộc loại thứ ba. Ba luận này tuy mỗi luận đều khai diễn thuyết của riêng mình, nhưng lại cũng hoàn thành lẫn nhau. 5. Cùng là Đại thừa thông luận: Ba luận đều phá sự mê chấp của các bộ phái Tiểu thừa, thuyết minh cả Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo. 6. Ba luận đều hiển bày thực tướng bất nhị để giải thích rõ diệu lí Trung đạo. 7. Đều là trứ tác của Bồ tát. 8. Đều được soạn thuật vào thời đại tượng, mạt nhằm duy trì đại pháp và diễn giải nghĩa của các kinh. Tông Tứ luận (chi phái của tông Tam luận) thêm luận Đại trí độ vào ba luận nói trên hợp chung làm 4 luận và lấy đó làm yếu điểm y cứ. Có rất nhiều sách chú thích các luận trên đây, nhưng chỉ có bộ Tam luận sớ (16 quyển) của ngài Cát tạng là nổi tiếng hơn cả. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Thập Nhị Môn Luận, Trung Luận, Tứ Luận Tông, Bách Luận).
Tam luận huyền nghĩa
三論玄義; C: sānlùn xuányì; J: sanron gen-gi;|»Ý nghĩa sâu sắc của Tam luận«, một tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).
tam luận huyền nghĩa
675全一卷。隋代吉藏撰。今收於大正藏第四十五冊。概述三論宗所依之中論、百論、十二門論等三書之大義,乃三論宗最簡明之綱要書,亦為了解龍樹中觀思想之入門書。本書分通序大歸、別釋眾品二門,初門復分破邪、顯正二章,破邪之下有摧外道、折毘曇、排成實、呵大執,顯正之下有明人正、顯法正。別釋眾品中,初明造論緣起,次述諸部通別、眾論立名及其旨歸,末則就三論敷演宗要。全書即駁斥外道、大小乘佛教之迷執,而顯揚三論宗之「諸法性空」與「非有非空」之中道之理。此外,本書列舉三論共通之點八項,及其個別之特色,如百論以破外教為主,中論講大小二乘,十二門論則破大乘之迷而顯正教。〔佛典疏鈔目錄卷上〕
; (三論玄義) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này trình bày 1 cách khái quát về đại nghĩa của ba bộ Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận mà tông Tam luận y cứ, là sách cương yếu ngắn gọn, sáng sủa nhất của tông Tam luận, đồng thời, cũng là sách nhập môn để hiểu rõ tư tưởng Trung quán của ngài Long thụ. Sách này chia làm 2 môn: Thông tự đại qui và Biệt thích chúng phẩm. Môn Thông tự đại qui lại chia ra 2 chương Phá tà và Hiển chính. Trong chương Phá tà gồm có các mục: Tồi ngoại đạo, Chiết tì đàn, Bài Thành thực và Ha đại chấp, trong chương Hiển chính thì có các mục: Minh nhân chính và Hiển pháp chính. Môn Biệt thích chúng phẩm thì trước hết, nói rõ về lí do tạo luận, kế đến trình bày về những điểm chung và riêng giữa các bộ, đặt tên và ý chỉ qui kết của các luận, cuối cùng, y cứ vào Tam luận để phu diễn tông yếu. Toàn sách bài bác ngoại đạo, chê trách các mê chấp của Phật giáo Đại, Tiểu thừa mà nêu tỏ cái lí các pháp tính không và trung đạo phi hữu phi không của tông Tam luận. Ngoài ra, sách này còn liệt kê 8 điểm chung của Tam luận và đặc sắc riêng của mỗi luận, như Bách luận thì phá ngoại giáo là chính, Trung luận thì giảng Đại, Tiểu thừa, còn Thập nhị môn thì phá chỗ mêchấp của Đại thừa mà hiển bày chính giáo.[X. Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng].
tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu
675凡十卷。日僧珍海撰。今收於大正藏第七十冊。就吉藏三十餘種著作中,摘錄三論宗義之綱要,加以通釋、編集而成。全書分大意、造論緣起、二諦義、八不義、二智義、八識義、佛性義、二乘義、菩薩地位義、三佛義、淨土義、涅槃義、雜問答等十三章。每章又分十數條細目。徵引羅列之經論釋頗多,為有關三論宗之重要著作。
; (三論玄疏文義要) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trân hải, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 70. Tác giả căn cứ vào hơn 30 loại trứ tác của ngài Cát tạng, trích lấy nghĩa cương yếu của tông Tam luận, thêm phần giải thích chung mà biên tập thành sách này. Toàn sách chia làm 13 chương: Đại ý, Tạo luận duyên khởi, Nhị đế nghĩa, Bát bất nghĩa, Nhị trí nghĩa, Bát thức nghĩa, Phật tính nghĩa, Nhị thừa nghĩa, Bồ tát địa vị nghĩa, Tam Phật nghĩa, Tịnh độ nghĩa, Niết bàn nghĩa và Tạp vấn đáp. Mỗi chương lại chia ra mười mấy điều mục nhỏ, trưng dẫn rất nhiều kinh luận sớ. Đây là tác phẩm quan trọng về tông Tam luận.
tam luận phái
San-lun (C).
tam luận sự
Three topics of discussion—See Tam Pháp (xxxxxv).
Tam Luận Tông
(三論宗, Sanron-shū): tên gọi một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái nghiên cứu dựa trên 3 bộ luận chính là Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) 4 quyển, Thập Nhị Môn Luận (s: Dvādaśa-dvāra-śāstra, 十二門論) 1 quyển của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250), vị khaitổ của Phật Giáo Trung Quán, và Bách Luận (百論) củaThánh Đề Bàhay Thánh Thiên (s: Āryadeva, 聖提婆 hay 聖天, khoảng 170-270), đệ tử của Long Thọ. Cả 3 bộ luận này đều do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. Đây là học phái không những dựa trên kinh điển mà còn y cứ vào các luận thư, trong đó lấy cả Bát Nhã Kinh (般若經) làm gốc căn bản cho tư tưởng Không, vì thế nó còn được gọi là Trung Quán Tông (中觀宗), Không Tông (空宗), Vô Tướng Tông (無相宗), Vô Tướng Đại Thừa Tông (無相大乘宗), Vô Đắc Chánh Quán Tông (無得正觀宗). Ở Nhật Bản, tông này được Huệ Quán (慧觀) của vương triều Cao Lệ (高麗) Triều Tiên, đệ tử của Cát Tạng (吉藏), truyền vào năm 625, và được xem như là đệ nhất truyền của dòng Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji). Ngoài ra, sau này Trí Tạng (智藏) thuộc pháp hệ này có sang nhà Đường cầu pháp, sau khi trở về nước ông đã nỗ lực hoằng dương tông phong ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), và vị này được xem như là đệ nhị truyền. Về sau, đệ tử của Trí Tạng là Đạo Từ (道慈) cũng sang nhà Đường cầu pháp trong vòng 18 năm, và truyền thừa nên dòng Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Cứ như vậy tông này đã nghiễm nhiên trở thành 1 trong 6 tông lớn vùng Nam Đô và tiến hành giảng dạy nghiên cứu rất thịnh hành, nhưng sau đó thì lại suy vong.
Tam luận tông
三論宗; C: sānlùn-zōng; J: sanron-shū; K: samnon chong. |Tông phái Ðại thừa của Phật giáo Trung Quốc. Danh xưng này xuất phát từ ba bộ luận căn bản của tông này: Trung quán luận tụng (中觀論頌; s: madhyamaka-kārikā), Thập nhị môn luận (十二門論; s: dvā-daṣadvāra-śāstra hoặc dvādaśanikāya-śās-tra) của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna) và Bách tuận (百論; s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (聖天; s: āryadeva). Các bộ luận này được Cưu-ma-la-thập dịch và chú giải trong thế kỉ thứ 5. Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) truyền cho đệ tử là Ðạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇), Tăng Duệ (僧叡) và Ðạo Dung (道融). Các vị này vạch rõ sự khác nhau giữa tông phái mình với Thành thật tông và có thể xem là những người sáng lập Tam luận tông.|Trong thế kỉ thứ 6, Tam luận tông rất thịnh hành và những Cao tăng thời này là Pháp Lãng (法朗) và đệ tử là Cát Tạng (吉藏). Trong thế kỉ thứ 7, Tam luận tông được Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), đệ tử của Cát Tạng truyền qua Nhật. Tam luận tông dần dần mất ảnh hưởng sau khi Pháp tướng tông ra đời.|Tam luận tông bắt nguồn từ Trung quán tông của Ấn Ðộ nhưng cũng có những nét đặc thù của Trung Quốc: Tam luận tông cho rằng đức Phật đã chỉ dạy hai phép tu: Thanh văn thừa và Bồ Tát thừa, và Tam luận tông thuộc về Bồ Tát thừa. Tông này cho rằng có ba thời giáo: kinh Hoa nghiêm là thời giáo thứ nhất. Kinh này chứa những lời khai thị cho Bồ Tát nhưng các đệ tử Phật thời đó chưa đủ sức lĩnh hội. Vì vậy thời giáo thứ 2, kéo dài giữa thời kinh Hoa nghiêm và kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó mọi giáo pháp của Phật bao gồm cả Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, có giá trị cho Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa và Bồ Tát thừa. Thời kì thứ 3 là thời kì mà mọi đệ tử đã sẵn sàng để nghe kinh Diệu pháp liên hoa, đó là thời Phật thừa, chỉ một pháp duy nhất.|Tam luận tông Nhật Bản (j: sanron-shū) được đưa từ Trung Quốc qua năm 625 do Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), người Triều Tiên truyền lại. Huệ Quán có hai đệ tử chính và Tam luận tông Nhật Bản cũng vì vậy mà có hai bộ phái (Thành thật tông). Tam luận tông không có mấy ảnh hưởng tại Nhật, mặc dù nhiều trường phái khác cũng tham khảo giáo pháp của tông này để hiểu thêm kinh điển Ðại thừa.|Tam luận tông tại Nhật có ảnh hưởng lớn lên hoàng thân Thánh Ðức (shotoku, 574-622), người đã thống nhất nước Nhật. Trong thiền viện của vị hoàng thân này thời đó có ba vị luận sư Triều Tiên của Tam luận tông giảng dạy. Trong »hiến pháp« của Nhật Bản mà Thánh Ðức soạn thảo, người ta thấy có vài yếu tố của Tam luận tông.
tam luận tông
676又作空宗、無相宗、中觀宗、無相大乘宗、無得正觀宗、嘉祥宗、提婆宗、般若宗、破相宗。我國十三宗之一,日本八宗之一。係以中論、百論、十二門論等三論為所依,宣揚空、無相、八不中道等義理之宗派。以著重闡揚諸法性空,故又稱法性宗。 此宗之傳承:(一)據三論祖師傳集,以釋尊為第一祖,文殊、馬鳴、龍樹、提婆、羅睺羅依序為二至六祖;三論宗血脈及八宗綱要卷下則以文殊為高祖,馬鳴為次祖,龍樹為三祖。其中,龍樹於第三世紀初出興於南印度,作中論頌、十二門論,倡導無依無得中道正觀之旨,而開本宗之基。提婆,南印度人,就龍樹受法,嘗論破外道、小乘;羅睺羅禮讚般若空觀;梵志青目製長行,解中論頌;此外,婆藪開士注提婆之百論,佛護釋中論,無著作順中論,安慧作大乘中觀釋論,清辯作般若燈論釋、大乘掌珍論,護法作廣百論,月稱造中論疏、百論疏。印度有關中論之釋書凡七十餘家,由此可知彼時流行之盛。 (二)此宗傳入我國,其派有二:姚秦時代由鳩摩羅什傳來者,稱為古三論;日照三藏於唐高宗儀鳳年間(676~678)傳入之清辯、智光二論師之系統,則稱新三論。其中,羅什譯有大品般若經三十卷、大智度論百卷、中論四卷、十二門論一卷,並譯出龍樹、提婆二菩薩之傳,而奠定我國三論宗之基礎。羅什門下,號稱桃李三千,然高足僅得十人,即僧肇、道生、僧叡、曇影、慧嚴、慧觀、僧荜、道恆、道標、道融等。其中,僧肇作肇論,道生作二諦論,曇影作中論疏,道融作三論注。而以慧觀、道生、僧叡等多弘法江南,僧肇、曇影、道融等則宣教關中,遂形成三論宗南北二學派。其後有曇濟出,著有七宗論。 西元四○一年至四八○年之間,北派以無人才而漸趨消沉,南派亦因受成實論壓迫而未能發展。六世紀時,有僧朗出,僧朗又稱道朗,係高麗人,入關師事曇濟,以破小乘得梁武帝崇信,稍振三論之勢,惟此時多於山中修習止觀,又因當時盛行成實論之研究,故少受外間注意。僧朗之後,僧詮繼起,欲振三論之學風,然因當時流行地論、攝論等緣起論之法門,故僧詮所倡之三論亦受其影響,而異於羅什之舊說。僧詮門下有法朗、辨公、慧勇、慧布等四哲,其中以法朗尤為俊傑,奉陳武帝之詔,止住京都興皇寺,大張講席,常隨之眾千餘人,門下有二十五人,而以嘉祥大師吉藏(549~623)最為特出。吉藏,金陵人,七歲即投法朗之門,徹研大小二乘之玄旨。三十三歲,止住嘉祥寺,大闡三論,著大品經義疏、中觀論疏、百論疏、十二門論疏、大乘玄論、二諦義、三論玄義、法華玄論、法華義疏等數十部,集三論宗之大成,此宗得入黃金時代(581~623)。吉藏以後,雖有智凱、知命、智實、寂師、慧遠等高足繼起,然因無卓絕之大師、無切實之行證,復受法相宗之排斥、思潮之變遷、學者之好異思遷、禪宗之盛行等因素影響,唐代中葉以後,本宗遂告沉寂。 又法朗之門下,另有慧均(作四論玄義)者,及系統不詳之碩法師(作三論疏、三論遊意),亦皆為一時之三論碩學。除上記古三論之正系外,另有傍系之四論宗,即以中、百、十二門論之外,另加大智度論,合為四論,而以之為其宗說之要典,倡此宗最著者為曇鸞。 (三)朝鮮:於南北朝時復興我國三論宗之道朗本即高麗國遼東城人,於其入關之前,已具有三論之素養。此外,日本欽明、推古朝代,由高麗、百濟前往日本之貢僧,皆為通達三論與成實之學者,其中高麗之慧灌為吉藏之弟子,後為日本三論宗之鼻祖。可知高麗、百濟之傳入空論之義(屬於古三論),為時甚早。 新羅之三論研究屬於日照所傳之新三論,乃伴隨華嚴宗之傳播而起。元曉係與法藏共受日照之新三論,著有掌珍論宗要、三論宗要等書。又依三國遺事卷四載,義湘曾由勝詮處得法藏之著書,授與門弟子,故知新三論之法義,亦有由義湘所傳介者。此外,古三論學者之著書,在當時亦已傳抵新羅。 (四)至於日本,則係由吉藏之高麗弟子慧灌經高麗傳至日本(625),此後其法孫智藏又來唐學三論學說,返國傳布,形成元興寺、大安寺二流派。唯三論入日本後,因與唯識競爭,已失其本真,如勤操、玄叡、隆海諸師以三論破唯識,襲用天台權實之說即是。 本宗之教義:主要為破邪顯正、真俗二諦、八不中道等三科。中、百、十二門論均不出破邪顯正二轍。依大乘玄論,有得是邪,無得是正,破邪即破除「有所得」之見解,顯正即彰顯「無所得」之空理,惟所謂破邪顯正,通常指破捨邪見以顯取他正,本宗則是破邪之外,無別顯正,破邪即顯正。顯正乃顯四句、絕百非、言亡慮絕之無所得中道,為令眾生領悟此無所得之理體,於無名相中,強設名相,而說真俗二諦,真俗二諦即詮顯無所得理之言教。是故,中論特以「八不」闡明二諦之義。所謂八不,即不生、不滅、不常、不斷、不一、不異、不出、不來。蓋稱邪者,雖有種種之別,然可總稱為「一切有所得」之見解;別而言之,則不出「生滅常斷一異出來」等四雙八計,破除此八計之邪迷,以詮顯無得之正觀,即是八不中道。 本宗破除一切有所得之見解,以無所得為宗旨,故不於釋迦一代之教法立權實真假,或分淺深優劣,然為因應眾生根機,仍立二藏、三輪之教判。二藏,即聲聞藏、菩薩藏;三輪,即根本法輪(即華嚴經)、枝末法輪(華嚴之後,法華以前一切諸大小乘經)、攝末歸本法輪(即法華經)。〔三論玄義、法華玄論卷一、卷三、法華遊意卷上、中觀論疏卷一本、卷一末、十二門論宗致義記、大乘三論大義鈔卷一〕(參閱「二諦」244、「四論宗」1836、「吉藏」2242、「龍樹」6393)
; San-lunn-tsoung (C), Sanron school, Sanron-shŪ (J)Tam bổn cănMột tông phái Đại thừa, tổ sư là ngài Long thọ, ngài Cưu ma la thập dịch sang chữ Hán vào thế kỷ 5, truyền sang Nhật vào thế kỷ 7. Tông này có 3 bộ luận: Trung luận, Thập nhị môn luận, Bá luận. Tông này chủ trương không nhận có là có, không nhận không là không, có và không không chi phối được mình. Thiền định thấu lý này thì thành Phật.
; Màdhyamika (S). The Middle School bases its doctrines on three sàstras: Trung quán luận Màdhyamika-sàstra Treatise on the Màdhyaka, Thập nhị môn luận Dvàdasanikàya-sàtra Treatise on the twelve gates, Bách luận Sata-sàstra Treatise on the hundred verses.
; (A) Cương yếu Tam Luận Tông—Preliminary of the Madhyamika School—Đây là tông phái chủ trương “Đại Thừa Phủ Định Luận.” Tiếng Phạn gọi là Madhyamika, chủ trương học thuyết Trung Đạo, Không Luận, hay Tương Đối Luận. Tam Luận Tông dựa vào ba bộ luận được Ngài Long Thọ và đệ tử của ngài là Đề Bà biên soạn. Ba bộ luận ấy là Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, và Bách Luận (see Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, and Bách Luận). Những cố gắng của Tam Luận Tông quy tụ vào sự bài bác tất cả các quan điểm tích cực và khẳng định của các tông không lấy phủ định biện chứng làm căn bản. Sự bài bác trước tiên nhắm thẳng vào những quan điểm sai lầm của Bà La Môn và tà giáo; kế đến nhắm vào những thiên kiến của phái Tiểu Thừa; và sau cùng nhắm vào những kiến giải độc đoán của đề ra bởi các tác giả của phái Đại Thừa không phải là Tam Luận. Lý tưởng của Tam Luận Tông hình như là tiêu diệt hý luận. Căn bản của mọi luận chứng của Tam Luận Tông là 'Tứ Cú.' (see Tứ Cú Tam Luận Tông (A))—Madhyamika school of Nagarjuna, or the Mahayanistic Negativism, called Madhyamika in Sanskrit. The doctrine of the Middle Path, or Sunyatavada, the “Theory of Negativity” or “Relativity.” The school was based on the three main sastras, Madhyamika-Sastra or Middle Path, Dvadasa-dvara-Sastra or the Twelve Gates, and the Sata-Sastra or the One Hundred Verse Treatise. The efforts of the Madhyamika School are centered on the refutation of all positive and affirmative views of other schools which have no foundation of dialectical negation. The refutation is directed first against the wrong views of Brahmanism and heretics, secondly against the one-sided views of Hinayana, and thirdly against the dogmatic views positively set forth by the Mahayanistic authors other than San-Lun School. The ideal of the Madhyamika School seems to have been eliminated the 'inexplicable in speech and unrealizable in thought.' The basis of all arguments is what we called the 'Four Points of Argumentation.” (B) Sơ Tổ Tam Luận Tông—The founder of the Madhyamika School: Long Thọ Bồ Tát—Nagarjuna Bodhisattva—See Long Thọ (2) in Vietnamese-English Section, and Nagarjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (C) Lịch sử thành lập Tam Luận Tông ở Ấn Độ—History of the formation of the Madhyamika School in India—Theo Giáo Sư Stcherbatsky trong “Cương Yếu Triết Học Phật Giáo,” được soạn bởi Giáo Sư Takakusu, những giai đoạn phát triển của giáo lý Đại Thừa đặc biệt đề cập đến Trung Quán sau đây—According to Prof. Stcherbatsky in The Essentials of Buddhist Philosophy composed by Prof. Takakusu, the Mahayana philosophy has developed in the following periods with special reference to Madhyamika: 1) Thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch—First century A.D.: Sự hưng khởi của Đại Thừa A Lại Da Thức và Chân Như, cả hai đều do Ngài Mã Minh khởi xướng—The rise of Mahayana Alaya-vijnana or Store-Consciousness and Tathata or Thusness, both admitted by Asvaghosa. 2) Thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch—Second century A.D.: Tánh Không Duyên Khởi Luận, do Long Thọ và Đề Bà thành lập—The theory of universal relativity or Sunyata, formulated by Nagarjuna and Aryadeva. 3) Thế kỷ thứ ba và thứ tư sau Tây Lịch—Third and fourth centuries A.D.: Một khoảng trống. Tuy nhiên, trong thời gian nầy có hai ngài Kiên Huệ và Di Lặc. Di Lặc là vị thầy trực tiếp hay gián tiếp của ngài Vô Trước, và tính cách lịch sử của ông thì không thể nghi ngờ gì được, mặc dù có những huyền thuyết nên một số học giả xem ông như là nhân vật tưởng tượng—A gap; however, during this time two great monks Saramati and Maiteya appeared. Maitreya is a direct or indirect teacher of Asanga and his historicity cannot be doubted, although, because of mysterious legends surrounding him, some scholars are inclined to regard him as an imaginary person. 4) Thế kỷ thứ năm—Fifth century: Lập trường duy tâm của Vô Trước và Thế Thân—The idealistic interpretation of Asanga and Vasubandhu. 5) Thế kỷ thứ sáu—Sixth century: Phân tranh giữa các phái duy tâm và tánh không—A split between the idealistic and relativistic schools. a) An Huệ và Trần Na là những đại biểu cho phái Duy Tâm: Sthiramati and Dignaga are representatives for the idealistic school. b) Phật Hộ và Thanh Biện là những đại biểu cho phái Tánh Không—Buddhapalita and Bhavaviveka are representatives for the relativistic school. 6) Thế kỷ thứ bảy—Seventh century: Hệ thống Trung Quán hoàn thành triệt để dưới sự xiển dương của Nguyệt Xứng—Final establishment of Madhyamika system in its extreme form by Candrakirti. (D) Lịch sử thành lập Tam Luận Tông ở Trung Quốc—History of the formation of the Madhyamika School in China: Lịch sử của Tam Luận Tông bắt đầu ở Trung Hoa với sự xuất hiện của Cưu Ma La Thập như sau—The history of the Madhyamika School begins in China with the advent of the famous Kumarajiva, and the transmission is said to have been as follows: 1) Thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch—Fifth century A.D.: Trung Luận Quán của ngài Long Thọ được Cưu Ma La Thập phiên dịch và truyền cho các đồ đệ Đạo Sanh, Đàm Tế, và Tăng Lãng. Trong số đó Tăng Lãng là một truyền nhân xuất sắc, cuối cùng đã tách hẳn Tam Luận tông khỏi Thành Thật tông (Tiểu Thừa Không Luận tông). Tam Luận Tông Trung Quốc có nền tảng thực thụ là do công trình của Tăng Lãng—Nagarjuna's Madhyamika Sastra was translated and expounded by Kumarajiva and handed down to his pupil Tao-Sheng, T'an-Chi, and Seng-Lang. Seng-Land, a distinguished successor, finally separated the San-Lun School clearly from Satyasiddhi School, the Hinayanistic Nihilism. The Chinese San-Lun School owes its real foundation to Seng-Lang's work. 2) Thế kỷ thứ sáu sau Tây Lịch—Sixth century A.D.: Pháp Lãng là một đạo sư vĩ đại, có hai mươi lăm đệ tử dưới tay. Cát Tạng là một nhân vật lỗi lạc trong nhóm nầy. Thân phụ ông đã xuất gia và thường dẫn ông đi nghe ngài Chân Đế thuyết pháp. Rồi Cát Tạng xuất gia theo Pháp Lãng và được Pháp Lãng đặc biệt dạy dỗ. Khi được 19 tuổi đọc và trùng tuyên những bài giảng của Thầy không mảy may sai lạc, khiến thính chúng rất đỗi ngạc nhiên. Ông trụ tại chùa Gia Tường, do đó được gọi là Gia Tường Đại Sư—Fa-Lang was a great leader who had twenty-five pupils under him. Chi-Tsang was the outstanding member of this group. His father had entered the order and often took him to hear lectures by Paramartha, the then flourishing Indian teacher in China. Chi-Tsang himself joined the order under Fa-Lang and received a special training from him. When nineteen years of age, he lectured and recapitulated his teacher's lectures without any mistakes, to the great atonishment of the listeners. He lived in Chia-Hsiang monastery and is known by the name Chia-Hsiang Tashih, or the great master of Chia-Hsiang—See Cát Tạng Đại Sư. (E) Các bộ luận căn bản—Basic commentaries: 1) Trung Quán Luận: Trung Quán Luận được viết bởi Ngài Long Thọ. May mắn là bản Phạn ngữ vẫn còn tồn tại. Bản Hán văn do Cưu Ma La Thập dịch—Madhyamika Sastra written by Nagarjuna. Fortunately the Sanskrit text of it has been preserved. It was translated into Chinese by Kumarajiva—See Trung Quán Luận. 2) Thập Nhị Môn Luận: Thập Nhị Môn Luận cũng được viết bởi Ngài Long Thọ—The Twelve Gates, also written by Nagarjuna—See Thập Nhị Môn Luận. 3) Bách Luận: Bách Luận được viết bởi Đề Bà, đệ tử của Ngài Long Thọ—The One Hundred Verse Treatise, written by Aryadeva—See Bách Luận. 4) Đại Trí Độ Luận: Prajnaparamita sastra—See Đại Trí Độ Luận. (F) Lịch sử thành lập Tam Luận tông tại Nhật Bản—The history of the formation of the Madhyamika School in Japan: Ở Nhật Bản, Tam Luận tông không hề là một ngành học độc lập, nhưng học thuyết vẫn được tiếp nối học hỏi một cách nồng nhiệt đến cả ngày nay, vì nó thiết yếu cho người học Phật, là một khí giới sắc bén của luận chứng biện chứng, cũng như là căn bản lý thuyết làm nền tảng cho nhiều tông phái tích cực và hoạt động của Phật Giáo ngày nay—In Japan, the school was never an independent institution, but the study of its doctrine has been ardently continued even to the present time because it is indispensable for Buddhist students as one of the chief objects of Buddhist learning and a strong weapon of dialectic argument, as well as the theoretical basis underlying many of the more positive and active schools of Buddhism today. 1) Thế kỷ thứ bảy—Seventh century A.D.: Huệ Quán, người Cao Ly, đồ đệ của Cát Tạng, sang Nhật năm 625 và giảng giáo lý Tam Luận tại chùa Nguyên Hưng ở Nại Lương. Đây là sự truyền thừa Tam Luận tông đầu tiên tại Nhật Bản—Chi-Tsang's Korean pupil, Hui-Kuan from Kauli, a state in Korea, came to Japan in 625 and taught the Madhyamika doctrine at the monastery Gwangoji in Nara. This is the first transmission of Madhyamika to Japan. 2) Truyền thừa thứ hai do Trí tạng, một đồ đệ của Huệ Quán—The second transmission was by Chizo, a pupil of Hui-Kuan. 3) Truyền thừa thứ ba do Đạo Từ, đồ đệ của Nguyên Khang, tác giả bản Sớ Giải Tam Luận—The third transmission was by Doji, a pupil of Yuan-K'ang, the author of the commentary on the Three treatise. (G) Triết Lý Tam Luận Tông—Philosophy of the Madhyamika School: Triết lý Tam Luận Tông có ba phần—The teaching of the Madhyamika School has three aspects: 1) Phá tà hiển chánh: The refutation of erroneous views and elucidation of right views—See Phá Tà Hiển Chánh. 2) Phân biệt Chân Đế Tục Đế: The distinction between worldly truth and the higher truth—See Nhị Đế. 3) Bát Bất Trung Đạo: The Middle Path of the Eightfold Negation—See Bát Bất Trung Đạo.
; (三論宗) Cũng gọi Không tông, Vô tướng tông, Trung quán tông, Vô tướng đại thừa tông, Vô đắc chính quán tông, Gia tường tông, Đề bà tông, Bát nhã tông, Phá tướng tông. Tông phái lấy ba bộ Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận làm chỗ y cứ, tuyên dương các nghĩa Không, Vô tướng, Bát bất trung đạo... 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc, 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản. Tông này còn chú trọng xiển dương các pháp tính không, nên cũng gọi là Pháp tính tông.Hệ thống truyền thừa của tông Tam luận như sau: 1. Ấn độ. Theo Tam luận tổ sư truyện tập, đức Thích ca được tôn làm Tổ thứ nhất của tông này, các ngài Văn thù, Mã minh, Long thụ, Đề bà, La hầu la theo thứ tự là Tổ thứ hai đến Tổ thứ sáu. Tam luận tông huyết mạch và Bát tông cương yếu thì tôn ngài Văn thù là Cao tổ, ngài Mã minh là Tổ thứ hai, ngài Long thụ là Tổ thứ ba. Trong đó, ngài Long thụ ra đời vào đầu thế kỉ III tại Nam Ấn độ, soạn Trung luận tụng, Thập nhị môn luận, khởi xướng yếu chỉ Trung đạo chính quán vô y vô đắc mà đặt nền móng cho tông này. Ngài Đề bà là người Nam Ấn độ, nhận pháp nơi ngài Long thụ, từng luận phá ngoại đạo, Tiểu thừa, ngài La hầu la lễ tán Bát nhã không quán, Phạm chí Thanh mục soạn văn xuôi giải thích Trung luận tụng; ngoài ra, ngài Thế thân chú thích Bách luận của ngài Đề bà, ngài Phật hộ chú thích Trung luận, ngài Vô trước soạn luận Thuận trung, ngài An tuệ soạn Đại thừa trung quán thích luận, ngài Thanh biện soạn Bát nhã đăng luận thích, Đại thừa chưởng trân luận, ngài Hộ pháp soạn Quảng bách luận, ngài Nguyệt xứng soạn Trung luận sớ, Bách luận sớ. Ấn độ có hơn 70 nhà chú thích bộ Trung luận, căn cứ vào đó ta có thể biết sự lưu hành bộ luận này vào thời ấy hưng thịnh như thế nào.2. Trung Quốc. Tông Tam luận được truyền vào Trung quốc có 2 phái: Phái do ngài Cưu ma la thập truyền vào thời đại Diêu tần gọi là Cổ tam luận; còn hệ thống của 2 luận sư Thanh biện và Trí quang do Tam tạng Nhật chiếu truyền đến Trung quốc vào khoảng năm Nghi phụng (676-678) đời vua Cao tông nhà Đường thì gọi là Tân tam luận. Trong đó, ngài Cưu ma la thập dịch kinh Đại phẩm bát nhã 30 quyển, luận Đại trí độ 100 quyển, Trung luận 4 quyển, Thập nhị môn luận 1 quyển, đồng thời, dịch truyện kí của ngài Long thụ và Đề bà... đã đặt vững chắc nền tảng của tông Tam luận Trung quốc. Học trò ngài La thập có tới 3 nghìn người, nhưng chỉ có 10 người giỏi, đó là các ngài: Tăng triệu, Đạo sinh, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ nghiêm, Tuệ quán, Tăng khế, Đạo hằng, Đạo tiêu, Đạo dung... Trong đó, ngài Tăng triệu soạn Triệu luận, ngài Đạo sinh soạn Nhị đế, ngài Đàm ảnh soạn Trung luận sớ, ngài Đạo dung soạn Tam luận chú... Các ngài Tuệ quán, Đạo sinh, Tăng duệ... hoằng pháp ở Giang nam, các ngài Tăng triệu, Đàm ảnh, Đạo dung... thì truyền giáo ở Quan trung, do đó mà hình thành 2 học phái của tông Tam luận ở 2 miền Nam Bắc. Về sau, có ngài Đàm tế xuất hiện, soạn luận Thất tông. Từ khoảng năm 401 đến 480, phái ở miền Bắc vì không có nhân tài nên dần dần sa sút, còn phái ở miền Nam cũng bị luận Thành thực lấn át nên không phát triển được. Vào thế kỉ thứ VI, có ngài Tăng lãng(cũng gọi Đạo lãng), người Cao li, đến Trung quốc thờ ngài Đàm tế làm thầy, được Lương vũ đế kính tin, nên có thế chấn hưng Tam luận. Nhưng ngài tu tập Chỉ quán ở núi, vả lại, sự nghiên cứu luận Thành thực lúc đó đang thịnh hành nên ít ai chú ý đến ngài. Sau ngài Tăng lãng, có ngài Tăng thuyên nối tiếp, muốn chấn hưng học phong Tam luận, nhưng vì bấy giờ pháp môn Duyên khởi luận của Địa luận, Nhiếp luận đang lưu hành, nên Tam luận do ngài Tăng thuyên đề xướng cũng chịu ảnh hưởng mà khác với Tam luận cũ của ngài La thập. Học trò của ngài Tăng thuyên có các vị Pháp lãng,Biện công, Tuệ dũng, Tuệ bá(được gọi là Từ triết), trong đó, đặc biệt ngài Pháp lãng vượt trội hơn cả, được Vũ đế nhà Trần triệu về trụ trì chùa Hưng hoàng tại kinh đô, mở trường giảng pháp, học chúng thường trên nghìn người, môn hạ có 25 vị, trong đó, Đại sư Gia tường Cát tạng là bậc kiệt xuất. Ngài Cát tạng soạn thuật mấy mươi bộ như: Đại phẩm kinh nghĩa sớ, Trung quán luận sớ, Bách luận sớ, Thập nhị môn luận sớ, Đại thừa huyền luận, Nhị đế nghĩa, Tam luận huyền nghĩa, Pháp hoa huyền luận, Pháp hoa nghĩa sớ... tập đại thành tông Tam luận, đưa tông này vào thời đại vàng son (581- 623). Sau ngài Cát tạng, tuy có các vị cao túc như Trí khải, Tri mệnh, Trí thực, Tịch sư, Tuệ viễn... kế thừa, nhưng vì không vị nào vượt trội, lại thiếu hành chứng thiết thực và bị tông Pháp tướng bài xích; rồi do ảnh hưởng của những nhân tố như trào lưu tư tưởng biến thiên, học giả thích đổi mới tư tưởng và Thiền tông bành trướng... nên từ giữa đời Đường về sau, tông này không còn được ai nhắc đến nữa. Học trò ngài Pháp lãng còn có Tuệ quân (soạn Tứ luận huyền nghĩa) và Thạc pháp sư (soạn Tam luận sớ, Tam luận du ý), không rõ hệ thống, cũng là các bậc thạc học về Tam luận 1 thời.3. Triều Tiên: Ngài Tăng lãng phục hưng tông Tam luận của Trung quốc vào thời Nam Bắc triều vốn là người ở thành Liêu đông, nước Cao li, trước khi đến Trung quốc, ngài đã có kiến thức về Tam luận. Ngoài ra, cáccao tăng từ Cao li, Bách tế đến Nhật bản triều cống vào thời các Thiên hoàng Khâm minh, Suy cổ đều là các học giả thông suốt Tam luận và Thành thực, trong đó, ngài Tuệ quán của Cao li là đệ tử của Đại sư Cát tạng, sau trở thành Thủy tổ của tông Tam luận Nhật bản. Do đó, có thể biết thời đại truyền nhập nghĩa Không luận (thuộc Cổ tam luận)vào Cao li, Bách tế là rất sớm. Sự nghiên cứu Tam luận ở Tân la thuộc Tân tam luận do ngài Nhật chiếu truyền, phát khởi cùng lúc với sự truyền bá tông Hoa nghiêm. Ngài Nguyên hiểu và Pháp tạng cùng thụ học Tân tam luận nơi ngài Nhật chiếu. Ngài Nguyên hiểu có soạn Chưởng trân luận tông yếu, Tam luận tông yếu... Lại theo Tam quốc di sự quyển 4 thì ngài Nghĩa tương từng nhận được các trứ tác của ngài Pháp tạng ở nơi ngài Thắng thuyên, trao cho các môn đệ, vì thế mà biết được là pháp nghĩa Tân tam luận cũng còn do ngài Nghĩa tương truyền nữa. Ngoài ra, những tác phẩm của các học giả Cổ tam luận ở đương thời cũng đã được truyền đến Tân la. 4. Nhật Bản. Ngài Tuệ quán, người Cao li, đệ tử của Đại sư Cát tạng, truyền tông Tam luận đến Nhật bản (625), về sau, pháp tôn của ngài Tuệ quán là Trí tạng lại đến Trung quốc vào đời Đường để học giáo nghĩa tông Tam luận. Sau khi về nước, sư Trí tạng truyền bá Tam luận, hình thành 2 dòng phái Nguyên hưng tự và Đại an tự. Điều đáng tiếc là sau khi truyền bá vào Nhật bản, vì phải cạnh tranh với Duy thức nên Tam luận đã mất đi cái bản chất của mình, như các sư Cần tháo, Huyền duệ, Long hải đã dùng Tam luận để phá Duy thức, đó chính là noi theo thuyết quyền thực của Thiên thai vậy. Giáo nghĩa chủ yếu của tông Tam luận gồm 3 khoa: Phá tà hiển chính, Chân tục nhị đế và Bát bất trung đạo. Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận đều không ngoài2 mục đích phá tà và hiển chính. Theo Đại thừa huyền luận thì hữu đắc là tà, mà vô đắc là chính, phá tà là phá trừ cái kiến giải hữu sở đắc (có cái để được), còn hiển chính là nêu tỏ cái lí không vô sở đắc. Thông thường, phá tà hiển chính là chỉ cho phá bỏ tà kiến, hiển bày chính lí, nhưng tông Tam luận chủ trương ngoài phá tà không có hiển chính, bởi vì phá tà tức là hiển chính. Hiển chính là Trung đạo vô sở đắc, lìa tứ cú, dứt bách phi, lời mất, ý bặt. Vì muốn cho chúng sinh lãnh ngộ được cái lí thể vô sở đắc này mà trong chỗ vô danh tướng, cưỡng lập ra danh tướng, để nói Chân đế và Tục đế, 2 đế chính là ngôn giáo giải thích rõ lí vô sở đắc. Vì thế, Trung luận đặc biệt dùng Bát bất thuyết minh nghĩa của 2 đế. Bát bất là bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất xuất, bất lai. Cái gọi là tà tuy có nhiều thứ khác nhau, nhưng có thể tóm lại mà gọi chung bằng kiến giải nhất thiết hữu sở đắc(tất cả đều có chỗ được); nói cách khác, không ngoài 4 đôi 8 chấp: Sinh-diệt, thườngđoạn; nhất-dị, xuất-lai. Phá trừ 8 cái chấp tà mê này để hiển bày chính quán vô sở đắc, tức là Bát bất trung đạo. Tông này phá trừ tất cả kiến giải hữu sở đắc, lấy vô sở đắc làm tông chỉ, bởi thế, đối với giáo pháp 1 đời của đức Phật không lập quyền thực chân giả, hoặc chia sâu, cạn, hơn, kém. Tuy nhiên, để thích ứng với căn cơ của chúng sinh, vẫn lập giáo phán Nhị tạng và Tam luân. Nhị tạng chỉ cho tạng Thanh văn, tạng Bồ tát, Tam luân chỉ cho căn bản pháp luân (tức kinh Hoa nghiêm), Chi mạt pháp luân (tất cả các kinh Đại, Tiểu thừa sau Hoa nghiêm, trước Pháp hoa), Nhiếp mạt qui bản pháp luân(tức kinh Pháp hoa). [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.1,3; Pháp hoa du ý Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu và phần cuối; Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí; Đại thừa tam luận đại nghĩa sao Q.1]. (xt. Nhị Đế, Tứ Luận Tông, Cát Tạng, Long Thụ).
tam luận tổ sư truyện tập
676凡三卷。撰者不詳。乃集錄中、印三論宗列祖之傳記。上卷收錄釋迦、文殊、馬鳴、龍樹、提婆、羅睺羅、須利耶蘇摩等印度諸祖之傳記,中卷詳記鳩摩羅什,下卷則收錄羅什門下之僧肇、道生、道融、僧叡、曇影、慧嚴、慧觀、僧荜、道恆、道標,及其後繼起之曇濟、道朗、僧詮、吉藏等中國三論宗歷代之諸祖。
; (三論祖師傳集) Tác phẩm, 3 quyển, thu chép truyện kí về các Tổ thuộc tông Tam luận của Ấn độ và Trung quốc. Quyển thượng: Gồm truyện Phật Thích ca và các chư Tổ Ấn độ như ngài Văn thù, Mã minh, Long thụ, La hầu la, Tu lợi da tô ma...Quyển trung: Nói về ngài Cưu ma la thập.Quyển hạ: Gồm truyện kí của các vị Tăng triệu, Đạo sinh, Đạo dung, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ nghiêm, Tuệ quán, Tăng khế, Đạo hằng, Đạo tiêu, Đàm tế, Đạo lãng, Tăng thuyên, Cát tạng...
tam lý tâm duyên quyết định
Theo Trí Giả và Thiên Như Đại Sư trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có ba lý do khiến vãng sanh Tịnh Độ không tùy thuộc vào ác nghiệp, hạnh tu và thời gian tu tập lâu mau—According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in The Pure Land Buddhism, there are three reasons why rebirth in the Pure Land does not necessarily depend on the weight of bad karma, the amount of practice or the duration of cultivation. 1) Do bởi Tâm—Because of Mind: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi vọng niệm điên đảo mà sanh, còn lúc niệm Phật lại từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật của Phật A Di Đà mà khởi; một bên hư một bên thật đâu thể sánh nhau! Ví như một gian thạch thất đóng kín để tối muôn năm, nếu được người mở ra cho ánh sáng mặt trời soi vào, sự tối ấy liền mất; đâu phải vì do tối tăm đã lâu mà không làm được sáng ư? Người tạo ra tội nhiều kiếp, khi lâm chung với tâm thành tựu mười niệm vãng sanh cũng lại như vậy—The transgressions committed by sentient beings spring from deluded, perverse thought. Recitation of the Buddha's name, on the other hand, arises from right thought, that is, hearing of Amitabha Buddha's name and true virtues. One is false and the other is true. There is no possible comparison between them! This is similar to a house which has been boarded up for ten thousand years. If the windows are suddenly opened to let the sunlight in, all darkness immediately dissipates. However, long the period of darkness may have been, how can it fail to disappear? It is likewise for sentient beings who have committed transgressions for many eons but achieve rebirth at the time of death through ten pure recitations. 2) Do bởi Duyên—Because of Conditions: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi vọng niệm tối tăm điên đảo, duyên theo cảnh giới hư huyễn mà sanh; lúc niệm Phật từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật thanh tịnh của Phật A Di Đà duyên theo Bồ Đề tâm mà khởi. Như thế, một bên chân một bên ngụy, đâu thể sánh nhau! Ví như có người bị trúng tên độc, tên ghim sâu sức độc mạnh, xương thịt nhiễm trọng thương, nếu được nghe tiếng trống thần dược, thì tên tự bắn ra, độc tiêu tan hết; đâu phải vì do tên sâu độc nặng mà không được an lành ư? Người tạo tội nhiều kiếp, khi lâm chung có duyên thành tựu mười niệm mà được vãng sanh cũng lại như vậy—Transgressions grow out of dark, inverted thoughts, combined with illusory circumstances and environments. Buddha Recitation, on the contrary, arises from hearing of Amitabha Buddha's name and pure virtues, combined with the aspiration for enlightenment. One is false and the other is true. There is no possible comparison between them! This is analogous to a person struck by a poisoned arrow. The arrow has penetrated deep inside his body and the poison is strong, deeply wounding his flesh and bones. Still, if at that moment he hears the 'celestial drum,' the arrow will shoot out of his flesh by itself and the poison will be neutralized. The arrow has not penetrate so deep nor is the poison so strong that he cannot recover! It is likewise for sentient beings who have committed transgressions for many eons but achieve rebirth at the time of death through ten pure recitations. 3) Do Bởi Quyết Định—Because of Certainty of Salvation: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi gián tâm hoặc hậu tâm; lúc lâm chung niệm Phật lại không có hai tâm đó, mà từ nơi một niệm mãnh liệt trì danh rồi xả mạng, nên được siêu thoát. Ví như sợi dây cực to, cả ngàn người bứt không đứt, nếu có đứa bé cầm gươm Thái A mà chém, dây liền đứt đoạn. Lại như đống củi rất lớn chứa góp từ cả ngàn năm, nếu có người dùng một đốm lửa mà đốt, củi liền cháy hết. Và như có người trong đời tu mười nghiệp lành, ưng được sanh về cõi trời, nhưng khi lâm chung kẻ ấy khởi một niệm tà kiến mạnh mẽ, liền bị đọa vào A Tỳ địa ngục. Nghiệp ác vẫn hư vọng, mà do bởi tâm niệm quyết liệt, còn có thể lấn lướt nghiệp lành một đời, khiến cho chúng sanh bị đọa vào ác đạo; huống chi sự niệm Phật là nghiệp lành chân thật, có người khi lâm chung, dùng tâm mãnh liệt trì danh, lại không thể lấn áp ác nghiệp từ vô thỉ ư? Cho nên người tạo tội nhiều kiếp, khi lâm chung tâm mãnh liệt thành tựu mười niệm mà không được vãng sanh, quyết không có lý do đó!—When sentient beings committed transgressions, they do so either from the 'intervening mental state' or the 'post mental state.' These two mental states do not apply, however, at the time of death: there is only one extremely powerful, utterly intense thought of recitation, letting go of everything before dying. Therefore, rebirth is achieved. This is analogous to a very large, strong cable which even thousands of people cannot break. Yet, a child wielding a 'celestial sword' can cut it in a several pieces without difficulty. It is also similar to a huge pile of wood, accumulated for thousands of years, which, when set on fire by a small flame, is completely consumed within a short time. The same is true of someone who has practiced the Ten Virtues throughout his life, seeking rebirth in the Heavens. If, at the time of death, he develops an intense perverse thought, he will immediately descend, instead, into the Avici or Never-Ending Hell. Although bad karma is intrinsically false and illusory, the overpowering strength of Mind and thought can still upset a lifetime of good karma and cause the individual to descend onto the evil paths. How, then, can Buddha Recitation, which is true, wholesome karma, generated intensely at the time of death, fail to upset his bad karma, even though that karma may have been accumulated from time immemorial? Therefore, someone who has committed transgressions for many eons, but, at the time of death accomplishes ten recitations with a totally earnest Mind, will certainly be reborn in the Pure Land. Not to achieve rebirth under such circumstances would indeed be inconceivable!
Tam lượng
三量; C: sānliáng; J: sanryō;|Ba cách suy lượng theo cựu phái của Nhân minh học: 1. Hiện lượng (現量; s: prayakṣa), thấy rõ trực tiếp bằng cặp mắt; 2. Tỉ lượng (比量; s: anumāna), biết bằng suy ngẫm; 3. Thánh giáo lượng (聖教量), biết được qua giáo lí của những bậc thánh hiền.
tam lượng
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu và Liên Tông Thập Tam Tổ, kinh điển dạy rằng người niệm Phật nên y theo ba lượng để củng cố lòng tin—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice and The Thirteen Patriarchs of Pure Land Buddhism, the Buddhist sutras and commentaries, the Pure Land practitioner should follow three guidelines to consolidate his faith. 1) Lý Trí Lượng: The Guideline of Reason—Lý trí lượng là sự suy lường tìm hiểu của lý trí, chẳng hạn như suy nghĩ, 'các thế giới đều do tâm tạo, đã có cõi người thuộc phân nửa thiện ác, tất có tam đồ thuộc nhiều nghiệp dữ, và các cõi trời thuộc nhiều nghiệp lành. Như thế tất cũng có cõi Cực Lạc do nguyện lực thuần thiện của Phật, và công đức lành của chư Bồ Tát cùng những bậc thượng thiện nhơn—This is the reasoning and understanding of human logic. For example, we may reflect, 'all realms are created from the mind. If there is a world such as ours, where god karma and bad karma are about equal, there must exist other worlds such as the three Evil Paths, with a preponderance of evil karma, as well as celestial realms, where good karma prevails. It therefore stands to reason that the Western Pure Land exists as a result of the pure, good Vows of Amitabha Buddha as well as the virtues of the Bodhisattvas and other morally superior beings. 2) Thánh Ngôn Lượng: The Guideline of the Teachings of the Sages—Thánh ngôn lượng là giá trị lời nói của chư Phật và chư Bồ Tát trong các kinh điển. Đức Thế Tôn đã dùng tịnh nhãn thấy rõ y báo và chánh báo nơi cõi Cực Lạc, và diễn tả cảnh giới ấy trong các kinh Tịnh Độ. Các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền đều ngợi khen cõi Cực Lạc và khuyên nên cầu vãng sanh. Người Phật tử nếu không lấy lời của Phật, Bồ Tát làm mực thước, thử hỏi còn phải tin ai hơn?—These are the words of the Buddhas and Bodhisattvas in sutras and commentaries. Buddha Sakyamuni, with his pure vision, clearly saw the auspicious environment and superior beings of the Western Pure Land and described them in the Pure Land sutras. The great Bodhisattvas, such as Manjusri and Samantabhadra, all extolled the Land of Ultimate Bliss and enjoined sentient beings to seek rebirth there. If Buddhists are not guided by the words of Buddhas and Bodhisattvas, whom then should they believe? 3) Hiện Chứng Lượng: The Guideline of Actual Seeing and Understanding—Hiện chứng lượng là lối tìm hiểu do sự thấy biết hoặc chứng nghiệm hiện thực để khởi lòng tin. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục đã chứng minh rất nhiều vị niệm Phật được vãng sanh, và ở Việt Nam cũng có nhiều Phật tử tu Tịnh Độ được về Cực Lạc. Chẳng những thế mà hiện tiền khi tịnh niệm, các vị ấy cũng thấy cảnh Tịnh Độ hiện bày. Nếu không có cõi Cực Lạc, và không có Phật A Di Đà tiếp dẫn, thì làm sao những vị ấy thấy rõ và được kết quả vãng sanh?—This is a method of reasoning based on actual occurences, verifiable through our eyes and understanding. The commentary, Biographies of Pure Land Sages and Saints, has amply documented the stories of individuals who have achieved rebirth in the Land of Ultimate Bliss through Buddha Recitation. Moreover, those who have practiced Buddha Recitation with a pure mind have been known to witness scenes of the Pure Land during their current lifetimes.
; (三量) I. Tam Lượng. Lượng nghĩa là đo lường, tiêu chuẩn. Chỉ cho nguồn gốc tri thức, hình thức nhận thức và tiêu chuẩn để lượng định về sự chân ngụy của tri thức. Giữa các tông phái triết học ở Ấn độ từ xưa đã thịnh hành về việc tìm hiểu về nguồn gốc, hình thức cũng như sự chân ngụy của tri thức, do đó đã sinh ra nhiều thuyết về Lượng Luận trong đó phổ biến nhất là Tam lượng. Nhưng về nội dung và tên gọi của Tam lượng thì các tông phái đều nói khác nhau. 1. Tam lượng được tông Duy thức và luận Nhân minh ứng dụng là: a) Hiện lượng (Phạm: Pratyakwapramàịa), cũng gọi Chân hiện lượng: Khi tâm đối trước cảnh không có bất cứ sự phân biệt, tính toán nào, chỉ hoàn toàn do tự thể hiện phân minh, nhận biết rõ ràng, cũng tức là các giác quan trực tiếp nhận biết những hiện tượng bên ngoài; sự nhận biết này là nguồn gốc, là cơ bản nhất của tri thức. Như thấy khói chỉ biết đó là khói. b) Tỉ lượng (Phạm: Anumànapramàịa): Dựa vào đối cảnh đã biết mà so sánh(tỉ), tính lường(lượng) để biết 1 cách chính xác đối cảnh chưa hiện trước và chưa biết. Như thấy khói thì suy tính mà biết có lửa.c) Phi lượng: Từ gọi chung Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng. Tức sự suy tính không chính xác, hoặc sự tình không thể lường biết được. 2. Tam lượng của luận Du già sư địa quyển 15 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 11 lập: a) Hiện lượng:(giống như trên). b) Tỉ lượng:(giống như trên). c) Thánh giáo lượng(cũng gọi Chí giáo lượng, Chính giáo lượng): Ngôn giáo của bậc Nhất thiềt trí nói ra, hoặc nghe Ngài nói, hoặc tu theo giáo pháp của Ngài. Trong đó lại chia làm 3 trường hợp: -Bất vi Thánh ngôn: Phật tự nói kinh giáo, đắp đổi lưu truyền, không trái với chánh pháp, chính nghĩa. -Năng trị tạp nhiễm: Nếu khéo tu pháp này thì dứt khoát điều phục được phiền não tham si... -Bất vi pháp tướng: Đối với tất cả pháp lìa nói năng, không đặt ra lời nói. 3. Tam lượng do ngoại đạo Số luận thành lập: a) Chứng lượng: Chỉ cho tác dụng nhận biết hiển hiện khi 5 tri căn duyên với 5 trần cảnh. Tương đương với Hiện lượng nói trên. b) Tỉ lượng: Chia làm 3 loại: Hữu tiền, Hữu dư và Bình đẳng. Hữu tiền là tác dụng suy biết vị lai, Hữu dư là tác dụng suy biết quá khứ, Bình đẳng là tác dụng suy biết hiện tại. c) Thánh ngôn lượng: Tương đương với Thánh giáo lượng nói trên. Tuy chẳng phải do 5 giác quan cảm biết, cũng không do so sánh tính lường mà có, nhưng vì dốc lòng tin tưởng nơi bậc Thánh, nên cũng tin lời dạy của Ngài, là chính xác là chân lí. Như sự tồn tại của châu Bắc câu lô, chúng ta không thể cảm biết được, cũng không thể so sánh, suy lường mà biết được, nhưng vì tin lời bậc Thánh nói, nên chúng ta tin là có châu Bắc câu lô. [X. kinh Giải thâm mật Q.5, luận A tì đạt ma tạp tập Q.16, luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1]. (xt. Tỉ Lượng; Chân Hiện Lượng, Lượng). II. Tam Lượng. Ba lượng của Thành duy thức quyển 2 thành lập: 1. Sở lượng: Chỉ cho đối tượng được suy tính, đo lường mà biết. 2. Năng lượng: Chỉ cho người tính toán, lường biết. 3. Lượng quả: Chỉ cho kết quả được lường biết. Chẳng hạn muốn lượng biết 1 tấm vải thì tấm vải là sở lượng, thước đo là nănglượng và độ dài của tấm vải là Lượng quả. Luận Thành duy thức lại căn cứ vào thuyết này mà chia tác dụng của tâm thức làm 4 phần, cho Tướng phần là Sở lượng, Kiến phần là Năng lượng và Tự chứng phần là Quả lượng. (xt. Tứ Phần).
tam lạc
673<一>指外、內、法樂等三樂,乃依往生論註卷下所立。即:(一)外樂,為五識(眼、耳、鼻、舌、身)緣五境(色、聲、香、味、觸)所生之樂。(二)內樂,即初禪、二禪、三禪意識所生之樂。(三)法樂樂,即智慧所生之樂,由愛佛功德而起,亦由遠離我心、無安眾生心、自供養心等三種心而產生。〔大智度論卷三、卷八〕 <二>指天、禪、涅槃三樂,乃據大寶積經卷一○一所立。即:(一)天樂,修十善業者,命終後生於天上而受種種殊妙之樂。(二)禪樂,修行之人入諸禪定,一心清淨,萬慮俱寂,得自然禪悅之趣。(三)涅槃樂,斷諸惑而證涅槃,生滅滅已,寂滅為樂,此乃究竟之樂。
; The three joys - the joy of being born a deva, the joy of meditation, the joy of nirvàna.
; Three joys: 1) Vui được sanh Thiên: The joy of being born a deva. 2) Vui trong thiền định: The joy of meditation. 3) Vui nhập Niết bàn: The joy of nirvana.
; (三樂) I. Tam Lạc. Chỉ cho Ngoại lạc, Nội lạc và Pháp lạc nói trong Vãng sinh luận chú quyển hạ. 1. Ngoại lạc: Niềm vui do 5 thức(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) duyên với 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) sinh ra. 2. Nội lạc: Niềm vui do ý thức ở Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền sinh ra. 3. Pháp lạc lạc: Niềm vui do trí tuệ sinh ra, từ sự yêu kính công đức của Phật mà khởi, đồng thời cũng xa lìa 3 thứ tâm là Ngã tâm, Vô an chúng sinh tâm và Tự cúng dường tâm mà sinh ra. [X. luận Đại trí độ Q.3, 8]. II. Tam Lạc. Chỉ cho Thiên lạc, Thiền lạc, Niết bàn lạc nói trong kinh Đại bảo tích quyển101. 1. Thiên lạc: Người tu Thập thiện, sau khi mạng chung, được sinh lên cõi trời hưởng các thú vui thù thắng vi diệu. 2. Thiền lạc: Người tu hành vào các thiền định, một lòng thanh tịnh, mọi tư lự đều lặng bặt, được niềm vui thiền định tự nhiên. 3. Niết bàn lạc: Dứt hết phiền não, chứng được Niết bàn, sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Đây là niềm vui cùng tột.
tam lạc xoa
643指三億,乃密教陀羅尼念誦成就之限數。落叉,原為印度之數名,十萬曰落叉,以十萬為一億,則三落叉譯作三億。或指晨、午、昏三時及寒、熱、雨三季,此皆為淺略之釋。若依深祕之釋,則落叉為相、見之義,三落叉者,為行者觀字、印、本尊三平等實相之義,而達圓融無礙一體之境。又為身、口、意三業各現暖(息災)、煙(降伏)、光(增益)三瑞相之義。〔大日經疏卷十七、卷二十、大日經義釋演密鈔卷十〕
; The three laksa; a laksa is a mark, sign, token, aim, object; it is also 100,000, i.e. an ức. The three laksa of the esoteric sects are the tự or magic word, ấn symbol, and bản tôn object worshipped.
; (三落叉) Chỉ cho 3 ức, là số hạn thành tựu việc niệm tụng Đà la ni trong Mật giáo. Lạc xoa vốn là danh số của Ấn độ, 10 vạn là 1 lạc xoa, vì 10 vạn là 1 ức nên 3 lạc xoa dịch là 3 ức. Hoặc chỉ cho 3 thời sáng, trưa, chiều, và 3 mùa lạnh, nóng, mưa, đây đều là cách giải thích theo nghĩa nông cạn và sơ lược. Còn nếu giải thích theo nghĩa sâu xa và kín nhiệm thì Lạc xoa nghĩa là tứơng và kiến, 3 lạc xoa nghĩa là hành giả quán xét thực tướng của 3 bình đẳng: Tự bình đẳng, Ấn bình đẳng và Bản tôn bình đẳng, để đạt đến cảnh giới nhất thể viên dung vô ngại. Ngoài ra, 3 lạc xoa cũng có nghĩa là 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều hiện 3 tướng lành: Hơi ấm(Tức tai), khói(Hàng phục) và ánh sáng(Tăng ích). [X. Đại nhật kinh sớ Q.17, 20; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.10].
Tam lậu
三漏; C: sānlòu; J: sanro; S: traya-āsravāh.|Ba loại ô nhiễm, rỉ chảy: I. 1. Dục lậu (欲漏), sự ô nhiễm của tham dục; 2. Hữu lậu (有漏), ô nhiễm của sự tồn tại và 3. Vô minh lậu (無明漏), ô nhiễm của vô minh (theo Du-già luận 瑜伽論). II. Sự nhiễm ô của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
tam lậu
646梵語 traya āsravāḥ,巴利語 tayo āsavā。又作三有漏。指令有情留住於三界之欲漏、有漏、無明漏等三種煩惱。(一)欲漏(梵 kāmāsrava),又作欲有漏。即欲界所繫根本煩惱三十六隨眠中,除五部之無明外,其餘三十一種,另加十纏,稱為欲漏,共計四十一種。(二)有漏(梵 bhavāsrava),又作有有漏。即色界、無色界所繫根本煩惱各三十一隨眠中,各除五部之無明,其餘二十六種,二界合為五十二種。入阿毘達磨論卷上則加上惛沉、掉舉,而成五十四種。(三)無明漏(梵 avidyāsrava),三界五部之無明,即三界之癡煩惱,稱為無明漏。依大毘婆沙論卷四十七載,譬喻論師以無明、有愛各為前際緣起、後際緣起之根本,而僅立二漏之說;同書卷四十八,分別論者則於三漏之外,復加見漏,而立四漏之說。〔長阿含經卷二、北本大般涅槃經卷二十二、集異門足論卷四、品類足論卷五、順正理論卷五十三〕
; Tayo-asara (P), Traya-asravah (S), Tayo-asara (P)Gồm: Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu.
; The three affluents that feed the stream of mortality, or transmigration: dục desire; hữu (material, or phenomenal) existence; vô minh ignorance (of the way of escape).
; Three taints—See Tam Lậu Hoặc.
; (三漏) Cũng gọi Tam hữu lậu. Chỉ cho 3 thứ phiền não trói buộc hữu tình trong 3 cõi, khó thoát ra được. 1. Dục lậu (Phạm:Kàmàsrava), cũng gọi Dục hữu lậu: Trong 36 tùy miên phiền não căn bản trói buộc chúng sinh trong cõi Dục thì trừ 5 bộ vô minh ra, 31 thứ còn lại cộng thêm 10 triền thành 41 thứ Dục lậu. 2. Hữu lậu (Phạm:Bhavàsrava), cũng gọi Hữu hữu lậu: rong 31 tùy miên phiền não căn bản ràng buộc trong mỗi cõi sắc và Vô sắc, trừ 5 bộ Vô minh của mỗi cõi ra, còn lại 26 thứ, 2 cõi hợp thành 52 thứ Hữu lậu. Luận Nhập a tì đạt ma quyển thượng thì thêm Hôn trầm, Điệu cử thành 54 thứ. 3. Vô minh lậu (Phạm:Avidyàsrava): Năm bộ vô minh(tức phiền não Si)trong 3 cõi gọi là Vô minh lậu. Theo luận Đại tì bà sa quyển 47 thì Luận sư Thí dụ cho Vô minh, Hữu ái đều là cội rễ của Tiền tế duyên khởi và Hậu tế duyên khởi, nên chỉ lập thuyết Nhị lậu. Cùng luận này, quyển 48, thì cho rằng ngoài Tam lậu ra, các nhà Phân biệt luận lại thêm Kiến lậu mà lập thuyết Tứ lậu. [X. kinh Trường a hàm Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.22 (bản Bắc), luận Tập dị môn túc Q.4; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Thuận chính lí Q.53].
tam lậu hoặc
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba lậu hoặc—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three affluences or taints that feed the stream of mortality or transmigration: 1) Dục Lậu Hoặc: Tất cả phiền não trong dục giới, ngoại trừ vô minh—Desire or the taint of sensuality. 2) Hữu Lậu Hoặc: Tất cả phiền não trong sắc giới và vô sắc giới ngoại trừ vô minh—Material or phenomenal existence—The taint of existence. 3) Vô Minh Lậu Hoặc: Vô minh trong tam giới—Ignorance of the way of escape—The taint of ignorance.
tam lễ
688又作三拜。<一>三寶禮之略稱。又作三敬禮。合掌恭敬禮拜佛法僧三寶。舊華嚴經卷六淨行品、往生淨土懺願儀均載有禮拜三寶時應唱之文。(參閱「三寶禮」704) <二>三歸禮之略稱,即歸依佛法僧三寶時之敬禮。善導之往生禮讚偈載,歸依三寶時應唱(大四七‧四四○下):「歸佛得菩提,道心恆不退,願共諸眾生,回願往生無量壽國;歸法薩婆若,得大總持門,願共諸眾生,回願往生無量壽國;歸僧息諍論,同入和合海,願共諸眾生,回願往生無量壽國。」此外,亦應唱唸「三歸三竟」之文。(參閱「三歸依」688) <三>三尊禮之略稱,即歸命阿彌陀佛、觀音、勢至等三尊時之敬禮。 <四>密教之三禮,即真言行者對本尊聖眾三度禮拜。導師於修法壇前行三禮時,多執柄香爐;初心之行者則或撥念珠,或作金剛合掌,口誦普禮之真言而禮之。其真言為「唵薩嚩怛他蘗多跛娜滿娜喃迦嚧彌」。又於灌頂、傳授等儀式時,受者須向大阿闍梨行三禮。 <五>三身禮之略稱,即歸命阿彌陀如來三種功德時之敬禮。其時所唱之禮文為:「南無西方極樂世界,本願成就身阿彌陀佛;南無西方極樂世界,光明攝取身阿彌陀佛;南無西方極樂世界,來迎引接身阿彌陀佛。」 <六>釋迦三禮之略稱,即敬禮釋迦如來之遺身舍利。淨土諸迴向寶鑑卷二載有禮文。 <七>三唱禮之略稱。禮阿彌陀佛時,三唱彼佛六字名號。 <八>無言三禮之略稱,即沈默不言而對佛菩薩、師長三禮。〔南海寄歸內法傳卷三師資之道〕 <九>大智度論卷十載有上、中、下三禮,上禮為稽首禮,中禮為跪禮,下禮為揖禮。 <十>彫刻佛像時,每一刀皆禮拜三次,稱為一刀三禮;又書寫經文或描繪佛像時,亦有一筆三禮、一字三禮之作法。
; (三禮) Cũng gọi Tam bái. I. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam bảo lễ. Cũng gọi Tam kính lễ. Chấp tay lễ bái Tam bảo Phật Pháp Tăng. Trong phẩm Tịnh hạnh kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch cũ) và Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi đều có chép văn xướng khi lễ bái Tam bảo. (xt. Tam Bảo Lễ). II. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam qui lễ. Kính lễ khi qui y Tam bảo Phật Pháp Tăng. Theo Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo thì khi qui y Tam bảo nên xướng rằng (Đại 47, 440): Qui y Phật được bồ đề, đạo tâm thường chẳng lui, nguyện cùng các chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ, Qui y pháp Tát bà nhã, được môn Đại tổng trì, nguyện cùng các chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ; Qui y tăng dứt tranh luận, cùng vào biển hòa hợp, nguyện cùng với chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ. (xt. Tam Qui Y). III. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam tôn lễ. Tức kính lễ khi qui mệnh đức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí.IV. Tam Lễ. Tam lễ của Mật giáo, tức hành giả Chân ngôn 3 lần lễ bái Bản tôn thánh chúng. Khi vị đạo sư lễ Tam lễ trước đàn tu pháp thì phần nhiều cầm lư hương có cán; hành giả sơ tâm thì cầm tràng hạt hoặc chắp tay kim cương, miệng tụng chân ngôn Phổ lễ để lễ. Chân ngôn là Án tát phạ đát tha nghiệt đa bả na mãn na nâm ca lô di. Còn khi cử hành nghi thức Quán đính, Truyền thụ... thì đệ tử lãnh thụ phải hướng vào vị Đại a xà lê mà lễ 3 lễ. V. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam thân lễ. Tức kính lễ 3 thứ công đức của A di đà Như lai. Văn xướng khi lễ là: Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Bản nguyện thành tựu thân A di đà Phật. Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Quang minh nhiếp thủ thân A di đà Phật. Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Lai nghinh tiếp dẫn thân A di đà Phật. VI. Tam Lễ. Gọi đủ: Thích ca tam lễ. Tức kính lễ di thân xá lợi của đức Thích ca Như lai. Tịnh độ chư hồi hướng bảo giám quyển 2 có ghi văn lễ. VII. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam xướng lễ. Ba lần xướng 6 chữ hồng danh của đức Phật A di đà khi lễ bái Ngài. VIII. Tam Lễ. Gọi đủ: Vô ngôn tam lễ. Tức im lặng không nói mà lễ Phật, Bồ tát và Sư trưởng 3 lễ. [X. điều Sư tư chi đạo trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3]. IX. Tam Lễ. Ba kiểu lễ nói trong luận Đại trí độ quyển 10: Thượng lễ, trung lễ và hạ lễ. Thượng lễ là cúi đầu lễ, trung lễ là quì lễ, hạ lễ là chắp tay vái. X. Tam Lễ. Khi điêu khắc tượng Phật, mỗi nhát dao lễ bái 3 lần, gọi là Nhất đao tam lễ, lại khi viết chép văn kinh hoặc vẽ tranh tượng Phật, cũng có tác pháp Nhất bút tam lễ (đưa 1 nét bút lễ 3 lễ), Nhất tự tam lễ(viết 1 chữ lễ 3 lễ).
tam lục độc pháp
530指十八種獨特之法,即佛所獨具之十八種不共法。此十八種功德,非聲聞、緣覺二乘所共通,故不共法又稱獨法。菩薩瓔珞本業經卷上(大二四‧一○一○下):「三六不共,一切功德。」〔雜阿毘曇心論卷一〕(參閱「十八不共法」348)
; (三六獨法) Tam lục là 18 (3x6=18), Độc pháp chỉcho pháp riêng biệt. Tức là 18 pháp đặc biệt, chỉ riêng Phật mới có, gọi là Thập bát bất cộng pháp. Mười tám thứ công đức này, hàng Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác không có được, nên gọi là Độc pháp, cũng gọi Bất cộng. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 1010 hạ) nói: Tam lục bất cộng, tất cả công đức. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.1]. (xt. Thập Bát Bất Cộng Pháp).
tam lực
505三種力用。<一>密宗所說眾生與佛加持相應之三力,即:(一)我功德力,即行者修身、口、意之三密妙行功德善根力;為了因佛性之增上緣。(二)如來加持力,即如來大悲加持之護念力;為緣因佛性之增上緣。(三)法界力,指心、佛、眾生之法性乃平等不二之淨法界力;為正因佛性之親因緣。此三力互相加持,無礙涉入,開發行者本有之佛性以成佛,故稱為三力和合、三力加持。大日經疏卷十一(大三九‧六九六下):「以我功德力故,以如來加持力故,以法界平等力故;以此三緣合故,則能成就不思議業也。」〔雜阿含經卷二十六、大日經卷三、卷七、大日經義釋卷八〕 <二>行法成就之三力,即:(一)法力,又作經法力。即妙法蓮華經之力。此經敘述十方三世諸佛自利利他之功德,乃八萬法藏之重要妙法,為過去諸佛與未來諸佛行願所修。故依法華有相無相二行修三昧,可成就一切行。(二)佛力,又作願力。指佛欲令行者解脫之願力。釋尊於其五百大願中之第五十二願謂,若眾生於諸微妙法中,起一念之信,至心受持,則如來與十方諸佛俱現身,或隱於其人之前,其人所願必得成就,乃至速成無上道。(三)信力,行者自力所起之信心。即於佛法生信不疑,於出離生死、證得菩提不生猶豫之心。冥合此三力,即可成就妙行,稱為三力冥合。 <三>行者入於三昧定中,得見佛利益之三力,即威神力、三昧力、本功德力。前二者為佛力,後者為眾生之宿善力;一說前者為佛力,後二者為眾生之力用。皆意味生佛之力用相倚始得見佛之益。〔止觀輔行傳弘決卷二之一〕(參閱「三念願力」563)
; The three powers, of which there are various groups: 1-a- personal power; b-Tathàgata-power; c-power of the Buddha within. 2-a- power of a wise eye to see the Buddha-medecine (for evil); b- of diagnosis of ailment; c- of suiting and applying the medecine to the disease. 3-a- the power of Buddha; b- of samàdhi; c- of personal achievement or merit.
; Three powers: 1) Ngã công đức lực: Năng lực tu hành của tự thân hay tự duyên—Personal power. 2) Như lai gia trì lực: Sự gia trì của Đức Như Lai hay tha duyên—Tathagata power. 3) Pháp giới lực: Phật tính sẳn có trong tự tâm hay nội nhân—Power of Buddha-nature within.
; (三力) I. Tam Lực. Ba thứ lực dụng gia trì tương ứng giữa Phật và chúng sinh của Mật giáo. 1. Ngã công đức lực: Sức công đức thiện căn của hành giả tu diệu hạnh tam mật thân, khẩu, ý; là duyên tăng thượng của Liễu nhân Phật tính. 2. Như lai gia trì lực: Sức đại bi gia trì hộ niệm của Như lai; là duyên tăng thượng của Duyên nhân Phật tính. 3. Pháp giới lực: Chỉ cho sức pháp giới thanh tịnh của pháp tính tâm, Phật, chúng sinh là bình đẳng bất nhị, là thân nhân duyên của Chính nhân Phật tính. Ba thứ lực dụng này gia trì lẫn nhau, dung nhập vào nhau không ngăn ngại, mở ra tính Phật sẵn có của hành giả để thành Phật, vì thế gọi là Tam lực hòa hợp, Tam lực gia trì. Đại nhật kinh sớ quyển 11 (Đại 39, 696 hạ) nói: Nhờ sức công đức của hành giả, nhờ sức gia trì của Như lai, nhờ sức pháp giới bình đẳng hợp lại, nên thành tựu được sự nghiệp bất khả tư nghì. [X.kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Đại nhật Q.3, 7; Đại nhật nghĩa thích Q.8]. II. Tam Lực. Ba năng lực thành tựu mọi hành pháp, đó là: 1. Pháp lực(cũng gọi kinh pháp lực): Tức năng lực của kinh Diệu pháp liên hoa. Kinh này nói về công đức tự lợi lợi tha của chư Phật trong 3 đời, 10 phương, là diệu pháp trọng yếu của 8 vạn pháp tạng, là hạnh nguyện tu hành của chư Phật quá khứ và chư Phật vị lai. Cho nên, nương vào 2 hạnh hữu tướng và vô tướng của Pháp hoa mà tu Tam muội thì thành tựu tất cả các hạnh. 2. Phật lực (cũng gọi Nguyện lực): Chỉ cho nguyện lực của Phật muốn làm cho người tu hành được giải thoát. Nguyện thứ 52 trong 500 đại nguyện của đức Thích tôn nói: Đối với các pháp vi diệu, nếu chúng sinh khởi 1 niệm tin tưởng và dốc lòng thụ trì thì Như lai và chư Phật 10 phương đều hiện thân, hoặc ẩn thân trước mặt người ấy, người ấy có nguyện điều gì thì chắc chắn được thành tựu, cho đến mau thành đạo Vô thượng. 3. Tín lực: Lòng tin được khởi dậy do tự lực của hành giả. Tức đối với Phật pháp sinh lòng tin tưởng không nghi ngại, đối với việc xuất li sinh tử, chứng đắc bồ đề không sinh tâm do dự. Nếu 3 năng lực này thầm hợp thì thành tựu diệu hạnh, gọi là Tam lực minh hợp. III. Tam Lực. Ba năng lực được lợi ích thấy Phật khi hành giả nhập vào định Tam muội: Uy thần lực,Tam muội lực vàBản công đức lực. Hai lực trước là Phật lực, lực thứ ba là thiện lực đời trước của chúng sinh. Có thuyết nói rằng lực trước thuộc về Phật lực, 2 lực còn lại là lực dụng của chúng sinh.Trong trường hợp nào cũng đều có ý là lực dụng của chúng sinh và lực dụng của Phật phải dựa vào nhau mới được lợi ích thấy Phật.[X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 1]. (xt. Tam Niệm Nguyện Lực).
tam lực kệ
The triple power verse: In the power of my virtue, And the aiding power of the Tathà gata, And the power of the spiritual realmi I can go anywhere in the land of the living.
tam ma
Sama (S). Level, equal, same etc; cf tam muội and bình đẳng.
tam ma ba đa pháp
671密教護摩修法之一種。即於一座護摩之終,祈念究竟成就之法。全稱三摩波多護摩法、成就護摩法。又作終法。三摩波多,梵語 samāpta,又作三簸多、三波多,意譯究竟。金剛頂瑜伽護摩儀軌載其法如次(大一八‧九二○上):「安所成就物於酥器前,或物大,即安於右邊或左邊。行人自身、酥器、及物,并爐、聖眾,如是為五集,循環次第應安立。取小杓滿杓酥,加於所成物上,誦真言至薩嚩字,即舉杓投火,與訶聲俱下,便長引訶聲,令杓卻至物上,訶聲方絕,遍別如此。若加持人,即安杓頭上;若用本尊真言,無薩嚩訶字者,當加之而誦。」〔蘇悉地羯囉經卷中補闕少法品、菩提場所說一字頂輪王經卷四、建立曼荼羅護摩儀軌〕
; (三摩波多法) Tam ma ba đa, Phạm: Samàpta. Cũng gọi Tam pha đa, Tam ba đa. Hán dịch: Cứu cánh. Gọi đủ: Tam ma ba đa hộ ma pháp; Thành tựu hộ ma pháp. Cũng gọi Chung pháp. Pháp cầu nguyện cho được thành tựu viên mãn lúc kết thúc 1 pháp Hộ ma, 1 trong các pháp tu Hộ ma của Mật giáo. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ nói về pháp này như sau (Đại 18, 920 thượng): Đặt vật thành tựu ờ trước đồ đựng váng sữa (tô), nếu là vật lớn thì đặt ở bên phải hay bên trái. Tự thân hành giả, đồ đựng váng sữa, vật thành tựu, lò đốt và Thánh chúng, cứ như thế theo thứ tự lần lượt an lập. Lấy cái môi nhỏ múc đầy váng sữa để trên vật thành tựu vàtụng chân ngôn đến chữ tát phạ thì đưa cái môi vào lửa theo với chữ ha, kéo dài tiếng ha để chờ khi cái môi đến trên vật thành tựu thì tiếng ha mới dứt, lần khác cũng như thế. Nếu gia trì trên người thì đặt cái môi lên đầu. Nếu dùng chân ngôn của Bản tôn mà không có chữ tát phạ ha thì nên thêm vào mà tụng. [X. phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].
tam ma bán da
Samàpanna (S). In the state of samàdhi.
tam ma bát để
673梵語 samāpatti,巴利語同。音譯作三摩拔提、三摩
; Xem Chánh thọ. Xem Đẳng chí.
; (三摩鉢底) Phạm,Pàli:Samàpatti. Hán âm: Tam ma bạt đề, Tam ma nga. Hán dịch: Đẳng chí, Chính thụ, Chính định hiện tiền. Chỉ cho cảnh giới thiền định do xa lìa các phiền não hôn trầm, trạo cử... mà thân tâm hành giả đạt đến trạng thái bình đẳng, an hòa. Cứ theo luận Câu xá quyển 28 thì 4 Tĩnh lự và 4 định Vô sắc là 8 Đẳng chí căn bản, trong đó, 4 Tĩnh lự và 3 định Vô sắc sau, cả 7 loại đều có 3 thứ Vị đẳng chí, Tịnh đẳng chí và Vô lậu đẳng chí, còn Hữu đính địa thì chỉ có Vị đẳng chí và Tịnh đẳng chí mà thôi. Về sựsaikhác giữa Tam ma bát để và Tam ma địa (Đẳng trì) thì trong luận Đại tì bà sa quyển 162 có nêu ra mấy thuyết, trong đó, có thuyết cho rằng Đẳng trì lấy 1 vật làm thể, Đẳng chí lấy 5 uẩn làm thể. Có thuyết nói Đẳng trì là 1 sát na, Đẳng chí thì tương tục. Có thuyết cho rằng các Đẳng trì tức là Đẳng chí, còn Đẳng chí thì không phải Đẳng trì, như Vô tưởng đẳng chí, Diệt tận đẳng chí chẳng phải là Đẳng trì. Cũng có thuyết nói Đẳng trì chẳng phải là Đẳng chí, như Bất định tâm tương ứng đẳng trì chẳng phải là Đẳng chí. Theo Câu xá luận quang kí quyển 6 thì Tam ma địa thông cả định, tán và 3 tính thiện, ác, vô kí, chỉ có tâm bình đẳng, giữ tâm hướng tới cảnh, cho nên gọi là Đẳng trì. Còn Tam ma bát để thì thông cả định hữu tâm và định vô tâm, chỉ có ở định chứ không hiện diện ở tán. Ngoài ra cũng có thuyết cho rằng Tam ma bát để là tên khác của thiền định. Trong Nhiếp đại thừa luận thích quyển 11 (bản dịch đời Lương) có lược nêu 6 thể loại Tam ma bát để khác nhau là: Cảnh, chúng loại, đối trị, tùy dụng, tùy dẫn, do sự... [X. luận Du già sư địa Q.11; Thập địa kinh luận Q.5; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; luận Câu xá Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần đầu; Du già luận lược toản Q.1,5]. (xt. Tam Muội).
tam ma bì đà
Sama-veda (S). The third of the four Vedas.
tam ma bạt đề
Samàdhi (S). Mental concentration.
tam ma da
671梵語 samaya 之音譯。又作三昧耶、縒麼野、娑摩耶。意譯時、眾會、一致、規則、教理。一般多作「時」、「一致(平等)」之義。 <一>作為「時」之意,如諸經之初,有「如是我聞:一時」(梵 evaṃ mayā śrutam ekasmin samaye)之語,亦即六事成就中之時成就。據大智度論卷一所載,古印度有關「時」之名稱有二:一為迦羅(梵 kāla),一為三摩耶。其中,迦羅一詞為印度古代外道所習用,此類外道執「時間」為實有,且以之為萬物之生因,佛教則視之為邪見,故於經中多用三摩耶一語,而不用迦羅一詞。此外,或以迦羅表示長時之時,如一年分為三等分,而以三摩耶表示時中之小時,如一日分為畫夜六時,六時之中更有「小分」之分。〔大日經義釋演密鈔卷八、大日經疏鈔卷二〕(參閱「一時」63) <二>密教以之為諸佛或諸尊之本誓(因位之誓願)。具有平等、本誓、除障、驚覺等四義。即:以佛與眾生之本質而言,二者完全平等無有差別(平等),故佛發誓令所有眾生開悟成佛(本誓),而眾生由於佛之加持力,故能袪除煩惱(除障),眾生之迷心亦能隨之而驚醒(驚覺)。其中均以平等之義為中心。故大日經卷六言此三者皆平等一致,即三皆三昧之意,而稱為三三昧耶。此有一心三三昧耶、三寶三三昧耶、一身三三昧耶、三乘三三昧耶等四種。 據大日經卷二、大日經疏卷九所載,修胎藏界曼荼羅諸尊之三昧(三摩地)契合於本誓,與諸尊成為一體之修法,因胎藏界之諸尊分為佛部、蓮華部、金剛部等三部,其觀想亦有三種,此三種三昧耶,稱為三三昧耶。即:諸佛之本體,謂法界,此法界在胎內之位為入佛三昧耶,出胎內為法界生,完成自利利他之作用為轉法輪;依序而為法身、報身、應身之功德。此亦稱佛部三昧耶、蓮華部三昧耶、金剛部三昧耶,或三部三昧耶。 為平等、本誓之意時,密教之戒,稱為三昧耶戒、三摩耶戒,簡稱為三戒。而其作法則稱三昧耶戒儀、三昧耶戒作法,其道場稱為三昧耶戒場、三昧耶戒壇。此戒乃是立於「三皆三昧耶」,即「三三平等一致」之觀點,而以眾生本具之本有清淨菩提心為戒體,亦即以行願(大悲)、勝義、三摩地之三種菩提心為戒體,並以顯教、密教、大乘、小乘之戒法等法界之德為行相,在傳法灌頂時所授。 密教認為,受法之後不修行,則將退失自己之本誓,此稱退三昧耶罪。對密教之教說(密藏)加以懷疑、誹謗者,則稱破三昧耶罪。若未經允許學法,而自行授受者,為越三昧耶罪(越法罪)。以上三種罪,合稱為三種重罪。 象徵佛、菩薩、諸天等之本誓之器杖、印契等物,稱為三昧耶形、三摩耶形(略稱三形),或波羅蜜形。描繪三昧耶形以代表尊形之曼荼羅,則稱三昧耶曼荼羅,係四種曼荼羅之一。例如,大日如來之寶塔、觀音菩薩之蓮華、不動明王之劍等,均為三昧耶形。即順序觀想種子、三昧耶形、尊形,先從種子成就三昧耶形,再從三昧耶形開展出諸尊之形相。 密教修行之過程有五階段,為五種要誓之意,稱為五種三昧耶、五種灌頂。即:(一)初見三昧耶,遙從壇外可見曼荼羅,而未授與真言及印契之位。(二)入睹三昧耶,允許進入壇內供養、禮拜、散花,而得聞本尊名號之位。此時可受真言與印契。(三)具壇三昧耶,見曼荼羅及印契之後,修妙業之位。(四)傳教三昧耶,修行法則,知曉必要之事,而得為人師之位。(五)祕密三昧耶,到達最後生祕密慧之位。上述五種三昧耶可配於後世之灌頂,而依序相當於曼荼羅供、結緣灌頂、受明灌頂、傳法灌頂、以心灌頂。〔大日經卷五入祕密漫荼羅法品、理趣釋卷上、大日經疏卷十六〕
; (三摩耶) Phạm: Samaya. Cũng gọi Tam muội da, Sai ma dã, Sa ma da. Hán dịch: Thời, Chúng hội, Nhất trí, Qui tắc, Giáo lý. I. Tam Ma Da. Có hàm nghĩa là thời như ở đầu các kinh có câu Như thị ngã văn, nhất thời... (Phạm: Evaô maỳa Zrutam ekamsmin samaye), cũng tức là thời thành tựu trong Lục sự thành tựu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Ấn độ đời xưa dùng 2 từ để chỉ nghĩa thời: Một là Ca la (Phạm:Kàla); hai là Tam ma da. Trong đó, từ Ca la thường được ngoại đạo Ấn độ sử dụng; ngoại đạo này chấp thời gian là có thật, hơn nữa, chủ trương thời gian là nhân sinh ra muôn vật, nhưng Phật giáo thì cho đó là tà kiến, bởi vậy, trong kinh thường dùng từ Tam ma da chứ không dùng từ Ca la. Ngoài ra có thuyết cho rằng Ca la biểu thị thời trong trường thời, như 1 năm chia làm 3 phần bằng nhau; còn Tam ma da thì biểu thị tiểu thời trong thời, như 1 ngày chia làm 6 thời ngày đêm, trong 6 thời lại chia ra tiểu phần. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.8; Đại nhật kinh sớ sao Q.2]. (xt. Nhất Thời). II. Tam Ma Da. Mật giáo cho Tam ma da là bản thệ (thệ nguyện ở nhân vị)của chư Phật hoặc chư tôn, có 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác. Đứng về phương diện bản chất mà nhận xét, thì Phật và chúng sinh hoàn toàn bình đẳng, không có sai khác(bình đẳng), vì thế, Phật phát thệ làm cho tất cả chúng sinh được khai ngộ thành Phật(bản thệ), còn chúng sinh thì nhờ sức gia trì của Phật, cho nên có thể diệt trừ phiền não(trừ chướng), tâm mê do đó cũng được thức tỉnh(kinh giác). Trong 4 nghĩa này, bình đẳng là trung tâm. Cho nên kinh Đại nhật quyển 6 nói cả 3(bản thệ, trừ chướng, kinh giác) đều bình đẳng nhất trí, tức hàm ý cả 3 đều là Tam muội, gọi là Tam tam muội da. Ở đây có 4 thứ: Nhất tâm tam tam muội da, Tam bảo tam tam muội da, Nhất thân tam tam muội da và Tam thừa tam tam muội da. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 2 và Đại nhật kinh sớ quyển 9, tu theo pháp Tam muội(Tam ma da) của chư tôn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới thì khế hợp với bản thệ và cùng với chư tôn trở thành nhất thể, vì chư tôn thuộc Thai tạng giới chia làm 3 bộ là Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ, pháp quán tưởng cũng có 3 thứ, gọi là Tam tam muội da. Ba thứ Tam muội da này cũng gọi là Phật bộ tam muội da, Liên hoa bộ tam muội da và Kim cương bộ tam muội da, hoặc gọi chung là Tam bộ tam muội da. Khi có nghĩa bình đẳng, bản thệ, thì giới của Phật giáo gọi là Tam muội da giới, Tam ma da giới, gọi tắt là Tam giới. Còn tác pháp của giới này gọi là Tam muội da giới nghi, Tam muội da giới tác pháp; đạo tràng của giới này gọi là Tam muội da giới tràng, Tam muội da giới đàn.Giới này lấy tâm Bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh làm giới thể và lấy công đức pháp giới làm hành tướng. Giới này được truyền trao khi hành giả thụ pháp Quán đính. Mật giáo cho rằng sau khi thụ pháp mà không tu hành thì bản thệ của mình sẽ bị lui mất và phạm tội, gọi là tội Thoái tam muội da. Người hoài nghi và chê bai giáo thuyết (Mật tạng) của Mật giáo thì gọi là tội Phá tam muội da. Nếu chưa được chấp nhận cho học pháp mà tự trao truyền, nhận lãnh với nhau thì phạm tội, gọi là tội Việt tam muội da(tội vượt pháp). Ba thứ tội nêu trên hợp lại gọi chung là Tam chủng trọng tội. Những vật như khí trượng, ấn khế... tượng trưng bản thệ Phật, Bồ tát, chư tôn... gọi là Tam muội da hình, Tam ma da hình(gọi tắt là Tam hình), hoặc Ba la mật hình, Mạn đồ la vẽ hình Tam muội da để tượng trưng cho tôn hình, gọi là Tam muội da mạn đồ la, 1 trong 4 loại Mạn đồ la. Quá trình tu hành trong Mật giáo có 5 giai đoạn gọi là Ngũ chủng tam muội da, Ngũ chủng quán đính. Đó là: 1. Sơ kiến tam muội da: Giai vị chưa được trao cho chân ngôn và ấn khế, mới chỉ thấy được Mạn đồ la từ đàng xa phía ngoài đàn. 2. Nhập đổ tam muội da: Giai vị được phép vào phía trong đàn để cúng dường, lễ bái, rải hoa và được nghe danh hiệu của Bản tôn. Giai đoạn này được thụ chân ngôn và ấn khế. 3. Cụ đàn tam muội da: Giai vị tu nghiệp vi diệu sau khi đã được thấy Mạn đồ la và ấn khế. 4. Truyền giáo tam muội da: Giai vị tu hành các phép tắc, hiểu biết các việc tất yếu mà được làm thầy các người khác. 5. Bí mật tam muội da: Giai vị cuối cùng phát sinh trí tuệ bí mật. Năm thứ Tam muội da trên tương đương với Mạn đồ la cúng, Kết duyên quán đính, Thụ minh quán đính, Truyền pháp quán đính và Dĩ tâm quán đính của đời sau.[X. phẩm Nhập bí mật mạn đồ la pháp trong kinh Đại nhật Q.5; Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.16].
tam ma da đạo
672總稱密教之法。三摩耶,乃平等之義,密教以三密平等之法為其根本義理,故總稱其法為三摩耶道。(參閱「三摩耶」672)
; (三摩耶道) Từ gọi chungphápcủa Mật giáo. Tam mada nghĩa là bình đẳng, Mật giáo lấy pháp Tam mật bình đẳng làm nghĩa lí căn bản, vì thế gọi chung pháp của Mật giáo là Tam ma da đạo. (xt. Tam Ma Da).
tam ma hý đa
Xem Đẳng dẫn.
tam ma hứ đa
671梵語 samāhita,巴利語同。意譯等引、勝定。指由定力所引生之身心安和平等。又由前加行等所引發的定之分位,亦稱為三摩呬多。據成唯識論述記卷六本、瑜伽論略纂卷一等所載,三摩呬多唯限於「定」,而不通於「散」;然廣通有心、無心,而以有漏、無漏之五蘊功德為其體性。等引之地可包含:四靜慮、八解脫、三等持、五現見三摩鉢底等四種。故知等引(三摩呬多)之範圍實較「等至」(三摩鉢底)一詞為廣。俱舍論光記卷六(大四一‧一二四中):「三摩呬多,此云等引,通有心、無心定。多分有心定中說不通散,若有心定名等引,謂定前心離於沈、掉,名等,能引起此定名引,此從加行立名。又解即定離於沈、掉,名等,能引起平等身心,名引。若無心定名等引,還作兩解,准有心定釋,唯無心為異。」依此,等引具有:(一)遠離沈掉等,(二)能引平等,(三)引發平等方便等三義。〔瑜伽師地論卷十一、瑜伽論記卷四上、玄應音義卷二十一〕(參閱「三昧」580)
; (三摩呬多) Phạm,Pàli:Samàhita. Hán dịch: Đẳng dẫn, Thắng định. Chỉ cho thân tâm an hòa bình đẳng do định lực dẫn sinh. Phần vị định do gia hạnh trước dẫn phát, cũng gọi là Tam ma hi đa. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6, phần đầu và Du già luận lược toản quyển 1 thì Tam ma hi đa chỉ có ở định chứ không có ở tán, nhưng thông cả hữu tâm, vô tâm và lấy công đức 5 uẩn hữu lậu, vô lậu làm thể tính. Lãnh vực của Đẳng dẫn bao gồm: Bốn tĩnh lự, 8 giải thoát, 3 đẳng trì và 5 hiện kiến tam ma bát để. Do đó mà biết rằng phạm vi của Đẳng dẫn (Tam ma hi đa) rộng hơn so với Đẳng chí (Tam ma bát để). Câu xá luận quang kí quyển 6 (Đại 41, 124 trung) nói: Tam ma hi đa, Hán dịch là Đẳng dẫn, thông cả định hữu tâm và vô tâm. Phần nhiều có trong định hữu tâm nhưng không có ở tán, nếu gọi định hữu tâm là Đẳng dẫn, thì tâm lìa hôn trầm, điệu cử, gọi là Đẳng, có năng lực dẫn khởi định này gọi là Dẫn, đây là theo gia hạnh mà đặt tên. Cũng giải thích là định lìa hôn trầm, điệu cử, gọi là Đẳng, thường dẫn khởi thân tâm bình đẳng, gọi là Dẫn. Nếu gọi định vô tâm là Đẳng dẫn thì lại có 2 cách giải thích, cứ theo như định hữu tâm mà giải thích, chỉ có khác chữ vô tâm. Căn cứ vào sự giải thích trên đây thì Đẳng dẫn có 3 nghĩa: 1. Xa lìa hôn trầm, điệu cử... 2. Thường dẫn khởi bình đẳng... 3. Dẫn phát ra phương tiện bình đẳng... [X. luận Du già sư địa Q.11; Du già luận kí Q.4, thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.21]. (xt. Tam Muội).
tam ma nhã
673舊譯作「總相」,新譯作「有」。為勝論學派所說六句義之第四句義。百論疏卷上之中(大四二‧二四六下):「四者三摩若諦,此云總相諦,謂總萬法為一大有等。」
; (三摩若) Dịch cũ: Tổng tướng. Dịch mới: Hữu. Chỉ cho Cú nghĩa (nguyên lí) thứ 4 trong 6 cú nghĩa do học phái Thắng luận lập ra. Bách luận sớ quyển thượng (Đại 42, 246 hạ) nói: Thứ tư là Tam ma nhã đế, Hán dịch là Tổng tướng đế, nghĩa là thu tóm muôn pháp thành một Đại hữu.
tam ma đát trá quốc
(三摩呾咤國) Tam ma đát tra, Phạm: Samataỉa. Tên một nước đời xưa ở miền Đông Ấn độ.Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 thì nước này chu vi hơn 2000 dặm, vùng gần bờ biển ẩm thấp, đô thành chu vi hơn 20 dặm, khí hậu ôn hòa, phong tục nhu thuận, tính người cứng cỏi, siêng năng hiếu học, tin cả tà lẫn chính, có hơn 2 nghìn vị tăng, đều tu học giáo pháp Thượng tọa bộ. Cách đô thành không xa, có ngôi tháp do vua A dục xây dựng. Về sau, khi ngài Nghĩa tịnh sang Tây trúc cầu pháp có đi qua nước này, quốc vương lúc ấy tên là Hạt la xã bạt tra, chư tăng trong nước đều tu học Đại thừa giáo. Nước này tương đương với vùng đất hiện nay cách Calcutta khoảng 99 km về phía đông bắc. [X. điều Tăng triết thiền sư trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ; Ancient Geography of India by A. Cunmingham].
tam ma đế
Xem đại định.
tam ma đề
Là thiền quán tùy duyên biến hiện, quán các pháp đều giả như lúa mạ huyển hóa mà dần dần tăng trưởng.
; Samàdhi (S). Mental concentration.
; Là thiền quán tùy duyên biến hiện, quán các pháp đều giả, như lúa mạ huyễn hóa mà dần dần tăng trưởng.
Tam Ma Địa
(s, p: samādhi, 三摩地): còn gọi là Tam Muội (三昧), Tam Ma Đề (三摩提), Tam Ma Đế (三摩帝), Tam Ma Để (三摩底), Tam Muội Địa (三昧地), v.v.; ý dịch là Đẳng Trì (等持), Chánh Định (正定), Chánh Ý (定意), Điều Trực Định (調直定), Chánh Tâm Hành Xứ (正心行處), Định (定); nghĩa là xa lìa hôn trầm, trạo cử, là tác dụng của tinh thần, tâm chuyên trú vào một cảnh, không tán loạn. Tam Ma Địa là một trong 75 pháp, hay 100 pháp. Như trong Phật Thuyết Pháp Thân Kinh (佛說法身經, Taishō Vol. 17, No. 766) có câu: “Hữu tam chủng Tam Ma Địa vị Không Vô Tướng Vô Nguyện, phục danh Tam Giải Thoát Môn (有三種三摩地謂空無相無願、復名三解脫門, có ba loại Tam Ma Địa là Không, Vô Tướng, Vô Nguyện; lại có tên là Ba Cửa Giải Thoát).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 6 có câu: “Bỉ Phật giáo ngã, tùng văn tư tu, nhập Tam Ma Địa (彼佛敎我、從聞思修、入三摩地, Phật kia dạy ta, từ lắng nghe, tư duy, tu tập, đi vào Tam Ma Địa [định]).”
tam ma địa
Samàdhi (S). Mental concentration.
; Tam Muội—Samadhi (skt)—Concentration—Contemplation on reality—Trạng thái tâm không loạn động, tập trung vào không định vì thế mà nội tâm đi vào trạng thái yên tĩnh hoàn toàn—A state of mind in which the mind is free from distraction (loạn động), is absorbed in intense, purposeless concentration, thereby entering a state of inner serenity—See Samatha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Samadhi in English-Vietnamese Section.
; (三摩地) Phạm,Pàli:Samàdhi. Cũng gọi Tam muội, Tam ma đề, Tam ma đế. Hán dịch: Đẳng chí, Chính định, Định ý, Điều trực định, Chính tâm hành xứ. Tâm chuyên chú vào 1 cảnh, xa lìa hôn trầm, trạo cử, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Từ ngữ Tam ma địa có nhiều nghĩa, theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì Tam ma địa là 1 trong 10 Đại địa pháp, tương ứng với tất cả tâm, tâm sở pháp, thông cả định, tán, cũng thông cả 3 tính thiện, ác, vô kí, nhưng không có thể riêng biệt. Theo Kinh Lượng bộ, tâm ở 1 cảnh mà chuyển liên tục, gọi là Tam ma địa. Hành giả trụ trong Tam ma địa, lặng lẽ quán tưởng, trí tuệ sáng rỡ, chiếu soi, đoạn trừ tất cả phiền não mà chứng đắc chân lí. [X. luận Đại tì bà sa Q.104; phẩm Định tướng trong luận Thành thực Q.12; luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.13]. (xt. Tam Muội).
tam ma địa bồ đề
Samadhi-bodhi (skt)—Trạng thái giác ngộ trong đó tâm hành giả thoát khỏi mọi loạn động, thoát mọi cấu chướng, tập trung vào “không định,” vì thế mà nội tâm đi vào một trạng thái yên tĩnh hoàn toàn—A state of enlightenment in which the mind is free from distraction, free from unclean hindrances, absorbed in intense, purposeless concentration, thereby entering a state of inner serenity. ** For more information, please see Samadhi in English-Vietnamese Section.
tam ma địa pháp
(三摩地法) Từ gọi chungphápcủa Mật giáo. Vì bản ý của Mật tông là tu Tam ma địa Tam mật bình đẳng, cho nên pháp của Mật giáo được gọi chung là Tam ma địa pháp. Pháp này cũng là pháp lắng tưởng 5 tướng thành thân, quán xét 3 mật sâu kín để thông suốt Tam ma địa bồ đề tâm. Vì thế, tâm bồ đề trong Mật giáo cũng được gọi là Tam ma địa bồ đề tâm. Theo luận Bồ đề tâm thì pháp Tam ma địa chỉ có trong nghĩa Tức thân thành Phật của pháp Chân ngôn, cho nên trong các giáo không nói đến pháp Tam ma địa này.
tam ma địa vương kinh
Samādhirāja sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
Tam minh
三明; C: sānmíng; J: sammyō; S: tisrovidyā;|I. Ba »Nhận thức«, »Hiểu biết«: 1. Nhận thức được nhân duyên, những nghiệp còn lại của những cuộc sống trước đây (để rồi qua đó đoạn diệt Thường kiến); 2. Nhận thức được những gì xảy ra trong tương lai (để rồi qua đó diệt trừ Đoạn kiến); 3. Một sự hiểu biết vô cấu (giúp diệt trừ những kiến hoặc trong thâm tâm). II. Ba trong sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通): 1. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyācakṣurjñānasākṣat-kriyāvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi; 2. Túc mệnh thông (宿命通; s: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sākṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú thông (宿住通), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo 六道, Lục thú 六趣); 3. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣayajñānasākṣatkriyāvi-dyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới.
tam minh
568梵語 tri-vidya,巴利語 ti-vijjā。<一>又作三達、三證法。達於無學位,除盡愚闇,而於三事通達無礙之智明。即:(一)宿命智證明(梵 pūrva -nivāsānusmṛti-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā),又作宿住隨念智作證明、宿住智證明、宿住智明、宿命明、宿命智。即明白了知我及眾生一生乃至百千萬億生之相狀之智慧。(二)生死智證明(梵 cyuty-upapatti-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā),又作死生智證明、天眼明、天眼智。即了知眾生死時生時、善色惡色,或由邪法因緣成就惡行,命終生惡趣之中;或由正法因緣成就善行,命終生善趣中等等生死相狀之智慧。(三)漏盡智證明(梵 āsrava-kṣaya-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā),又作漏盡智明、漏盡明、漏盡智。即了知如實證得四諦之理,解脫漏心,滅除一切煩惱等之智慧。 又依大毘婆沙論卷一○二載,宿命明見過去事而生厭離,天眼明見未來事而生厭離,漏盡明既已厭離,乃欣樂涅槃;此外,宿命明可斷除常見,天眼明可斷除斷見,漏盡明則遠離此二邊而安住於中道。若與六神通相配,則此三明依序以六通之第五、第二、第六為自性。〔雜阿含經卷三十一、大智度論卷二、集異門足論卷三、卷十五、雜阿毘曇心論卷六、俱舍論卷二十七〕(參閱「六神通」1290) <二>菩薩明、諸佛明、無明明。據北本大般涅槃經卷十八載,菩薩明即般若波羅蜜,諸佛明即佛眼,無明明即畢竟空。〔涅槃經會疏卷十六、華嚴經探玄記卷十五〕
; Trividyā (S), Ti- vijjā (P)Gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.
; Te-vijja (P). Threefold knowledge. Tam minh kinh Tevijja-vacchagota-sutta.
; Three insights—Three kinds of clarity—Ba loại sáng suốt có thể đạt được bằng trì giới (theo Thanh Tịnh Đạo của Ngài Bhadantacariya Buddhaghosa)—Three kinds of knowledge which can be obtained by observing precepts (according to The Path of Purification by Bhadantacariya Buddhaghosa): 1) Túc mạng minh: Biết được các đời trước—Insight into the mortal conditions of self and others in previous life. 2) Thiên nhãn minh: Biết sự chết và tái sanh của các loài hữu tình—Supernatural insight into future mortal conditions (deaths and rebirths). 3) Lậu tận minh: Đoạn trừ tất cả các lậu hoặc (những dục vọng và quyến rủ)—Nirvana insight—Insight into present mortal sufferings so as to overcome all passions or temptations.
; (三明) Phạm:Tri-vidya. Pàli:Ti-vijjà. I. Tam Minh. Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp. Trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được vị Vô học. Tam minh gồm có: 1. Túc mệnh trí chứng minh (Phạm: Pùrva-nivàsànusmfti-jĩàna-sàkwàtkriya-vidỳa); cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí tác chứng minh, Túc trụ trí chứng minh, Túc trụ trí minh,Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng của mình và chúng sinh từ một đời cho đến trăm nghìn vạn ức đời. 2. Sinh tử trí chứng minh (Phạm: Cyuty-upapattì-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Sinh tử trí chứng minh, Thiên nhãn minh, Thiên nhãn trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng sống chết của chúng sinh lúc tử lúc sinh, sắc thiện sắc ác, hoặc do nhân duyên tà pháp thành tựu ác hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường ác; hoặc do nhân duyên chính pháp thành tựu thiện hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường thiện... 3. Lậu tận trí chứng minh (Phạm: Àsrava-kwaya-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Lậu tận trí minh, Lậu tận minh, Lậu tận trí: Trí tuệ biết rõ như thực đã chứng được lí Tứ đế, giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất cả phiền não. Theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Túc mệnh minh thấy được các việc quá khứ nên sinh tâm chán lìa, Thiên nhãn minh thì thấy được các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, còn Lậu tận minh thì đã chán lìa rồi bèn ưa thích Niết bàn. Ngoài ra, Túc mệnh minh có thể đoạn trừ thường kiến, Thiên nhãn minh thì dứt trừ được đoạn kiến; còn Lậu tận minh thì xa lìa cả hai bên thường, đoạn mà an trụ ở Trung đạo. Nếu phối với 6 thần thông thì Tam minh này theo thứ tự lấy thần thông thứ 5, thứ 2, thứ 6 trong 6 thần thông làm tự tính.[X. kinh Tạp a hàm Q.31; luận Đại trí độ Q.2; luận Tập dị môn túc Q.3,15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Câu xá Q.27]. (xt. Lục Thần Thông]. II. Tam Minh. Chỉ cho Bồ tát minh, Chư Phật minh và Vô minh minh. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc) thì Bồ tát minh tức Bát nhã ba la mật, Chư Phật minh tức Phật nhãn, Vô minh minh tức Tất cánh không. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.16; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15].
tam minh trí
Trividyà (S). The three clear conceptions that: a-All is impermanent vô thường anitya; b-all is sorrowful khổ dukkha; c-all is devoided of a self vô ngã anàtman.
; The three clear conceptions of all beings: 1) Vô thường: Anitya—All is impermanent. 2) Khổ: Duhkha—All is sorrowful. 3) Vô ngã: Anatman—All is devoid of a self.
tam miệu
Samyak (S). Chính đẳng, Perfect, right.
; Turn together or in one direction—Right and balanced. ** For more information, please see Đẳng Chánh Giác in Vietnamese-English Section, and Samyak-sambuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tam miệu tam bồ đề
Samyak-saṃbodhi (S)quả vị Chánh đẳng chánh giác Samyak: chánh nhơn, hoàn toàn (Sam: biến, khắp cả); Bodhi: giác ngộ.
; Samyakcambodhi (S). Correct universal intelligence, Chính biến tri (đạo). Correct equal or universal enlightenment Chính đẳng giác. Correct universal perfect enlightenment Chính đẳng chính giác. An epithet ođ every Buddha. The full term is anuttara-samyak-sambodhi, perfect universal enlightenment, knowledge, or understanding; omniscience.
; Samyak-sambodhi—Correct universal intelligence—Perfect knowledge or wisdom—See Tam Miệu.
tam miệu tam phật đà
693梵語 samyak-saṃbuddha,巴利語 sammā-sambuddha。又作三藐三沒馱、三耶三佛、三耶三佛陀。意譯作正遍知、正等覺、正等覺者。為如來十號之一。據大智度論卷二載,三藐三佛陀者,三藐,義為「正」,三,義為「遍」,佛,義為「知」;故三藐三佛陀即為「正遍知一切法」。如來能覺了四諦之理,知一切諸法實不壞之相,不增不減,又悉知十方諸世界之名號及六道所攝眾生之名號等一切諸法,故有此一稱號。〔坐禪三昧經卷上、北本大般涅槃經卷十八、大乘義章卷二十末〕
; Samyak-saṃbuddha (S), Sammā-sambuddha (P)Chánh biến tri, Tam miệu Tam bồ đề, Tam da tam bồ, Tam da Tam Phật, Chánh biến tri, Chánh biến giác, Chánh đẳng Chánh giácBậc giác ngộ hoàn toàn, hiểu biết tất cả.
; Samyaksambuddha (S). The third of the ten titles of Buddha defined as Chính biến tri or Chính đẳng giác one who has perfect universal knowledge or understanding, omniscient
; Samyaksambuddha—One who has perfect universal knowledge or understanding.
; (三藐三佛陀) Phạm: Samyak-saôbuddha. Pàli: Sammà-sambuddha. Cũng gọi Tam miệu tam một đà, Tam da tam Phật, Tam da tam Phật đà. Hán dịch: Chính biến tri, Chính đẳng giác, Chính đẳng giác giả. Một trong mười danh hiệu của Như lai.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2, trong Tam miệu tam Phật đà thì Tam miệu nghĩa là Chính, Tam nghĩa là Biến, Phật nghĩa là Tri, cho nên Tam miệu tam Phật đà nghĩa là Chính biến tri nhất thiết pháp. Như lai có năng lực biết rõ lí Tứ đế, biết tướng của tất cả các pháp thực không hoại, không tăng, không giảm, lại biết danh hiệu của các thế giới trong mười phương và danh hiệu của chúng sinh trong 6 đường... vì thế Như lai được gọi là Tam miệu tamphật đà. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối].
tam muội
580<一>梵語 samādhi 之音譯,巴利語同。又作三摩地、三摩提、三摩帝。意譯為等持、定、正定、定意、調直定、正心行處等。即將心定於一處(或一境)的一種安定狀態。又一般俗語形容妙處、極致、蘊奧、訣竅等之時,皆以「三昧」稱之,蓋即套用佛教用語而轉意者,然已與原義迥然有別。 於佛典中,samādhi 譯為等持時,「等」乃指離開心之浮(掉舉)沈(惛沈),而得平等安詳,「持」則指將心專止於一境之意,此即為將心止於一境而不散亂之狀態,稱為心一境性。俱舍宗視之為十大地法之一,唯識宗則認為是五別境之一,且兩宗均以之為心所之一,但經部與成實宗則認為心所並無別體。 一般修行大都止心一處,不令散亂,而保持安靜,此一狀態稱為三昧。達三昧之狀態時,即起正智慧而開悟真理,故以此三昧修行而達到佛之聖境者,則稱三昧發得或發定。舊譯常將三摩地(梵 samādhi,三昧、等持)、三摩鉢底(梵 samāpatti,等至、正受、正定、現前)及三摩呬多(梵 samāhita,等引、勝定)混同,而一概譯為三昧。實際上,三昧應指三摩地而言。 有部認為凡是一切心共同之精神作用(即大地法),共通於定、散及善、惡、無記之三性,而僅限於一切有心位(不通於無心定)不亂心,且對一境地有集中之作用者,即稱三摩地。對此,三摩鉢底與三摩呬多則通於有心、無心,而僅局限於定(包含有心定、無心定而不通於散定)。 俱舍論卷二十八謂,就所依止之定(等至)有四靜慮(四禪)、四無色定、八等至、三等持之別。四靜慮及四無色定乃以善等持(三摩地、三昧)為體;又四靜慮及四無色定之根本等至(三摩鉢底)有八種,故稱八等至;三等持(三三昧)即:有尋有伺、無尋唯伺、無尋無伺等三種。此外亦指空、無相、無願,或空空、無相無相、無願無願之三重等持(三重三昧)而言。 二種三昧之中,第一種係以尋(尋求推度之粗雜的精神作用)與伺(伺察思惟之深細的精神作用)之有無,而分為:(一)初靜慮(初禪)與未至定。此屬有尋有伺三摩地。又作有覺有觀三昧。(二)中間靜慮(中間定),屬無尋唯伺三摩地。又作無覺有觀三昧。(三) 第二靜慮(第二禪)之近分以上屬無尋無伺三摩地。又作無覺無觀三昧。第二種則指觀「人、法」皆空之三昧,稱為空三昧。捨離差別相之三昧,稱為無相三昧;捨離願求之思之三昧,則稱為無願三昧。其次在三重三昧中,又有空空三昧、無相無相三昧、無願無願三昧等。 據十住毘婆沙論卷十一載,三昧乃四禪(四靜慮)、八解脫以外之一切定。又謂唯三解脫門(無漏之空、無相、無願三昧)和有尋有伺等之三三昧稱為三昧。同論又揭示定之範圍較狹,三昧之範圍則較廣,依此,諸佛菩薩所得之定可視為三昧。大乘義章卷十三舉出雜阿毘曇心論卷六、成實論卷十二、十地經論卷五等之說,而述明禪、定、三昧、正受、三摩
; Samàdhi (S). Putting together, composing the mind, intent contemplation, perfect absorption, union of the meditator with the object of meditation. Also tam ma địa, tam ma đề, tam ma đế. Interpreted by định or chính định the mind fixed and undisturbed; by chính thụ correct sensation of the object contemplated; by chính tâm hành xứ the condition when the motions of the mind are steadied and harmonized with the object; by tức lự nghi tâm the cessation of distraction and the fixation of the mind; by đẳng trì the mind held in equilibrum; by sa ma tha i.e. chỉ tức to stay the breathing. It is described as concentration of the mind (upon an object). The aim is giải thoát, mukti, deliverance from all the trammels of life, the bondage of the passions and reincarnations. There are numerous kinds and degrees of samàdhi.
; Tự tánh như như bất động gọi là chánh định. Đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc đều trong định. Nếu tĩnh tọa mới nhập định, có xuất có nhập thì chẳng phải đại định.
; (三昧) I. Tam Muội. Phạm,Pàli:Samàdhi. Cũng gọi Tam ma địa, Tam ma đề, Tam ma đế. Hán dịch: Đẳng trì, Định, Chính định, Định ý, Điều trực định, Chính tâm hành xứ.Chỉ cho trạng thái thiền định, an trú tâm ở 1 chỗ, 1 cảnh. Trong kinh Phật, từ Samàdhi được dịch là Đẳng trì thời, đẳng là giữ cho tâm được bình đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; trì là chuyên tâm ở 1 cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính. Tông Câu xá coi Tam muội là 1 trong 10 Đại địa pháp, tông Duy thức thì cho là 1 trong 5 Biệt cảnh, cả 2 tông đều cho Tam muội thuộc 1 trong các tâm sở, nhưng kinh Lượng bộ và tông Thành thực đều cho tâm sở không có tính riêng biệt. Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ý ở 1 chỗ, không để tán loạn mà phải giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội thì liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lí, vì thế khi dùng Tam muội này tu hành mà đạt được cảnh giới Phật thì gọi là Tam muội phát đắc hoặc phát định. Các nhà dịch cũ thường lầm 3 từ: Tam ma địa (Phạm: Samàdhi, Tam muội; Đẳng trì), Tam ma bát để (Phạm: Samàpatti, Đẳng chí, Chính thụ, Chính định, Hiện tiền) và Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita, Đẳng dẫn, Thắng định) là giống nhau và đều dịch là Tam muội. Nhưng trên thực tế, Tam muội chỉ là Tam ma địa mà thôi.Hữu bộ cho rằng phàm là tác dụng tinh thần chung cho tất cả tâm (tức Đại địa pháp) thì đều có định, tán và 3 tính thiện, ác, vô kí, nhưng chỉ giới hạn ở tâm không tán loạn của tất cả định Hữu tâm (không có trong định Vô tâm) và có tác dụng tập trung trong 1 cảnh thì gọi là Tam ma địa. Ngược lại, Tam ma bát để và Tam ma hi đa thì thông cả Hữu tâm, Vô tâm, nhưng chỉ giới hạn ở định (bao gồm định Hữu tâm,định Vô tâm chứ không chung cho định, tán).Luận Câu xá quyển 28 cho rằng thiền định làm chỗ y chỉ có 4 loại khác nhau là 4 Tĩnh lự(Tứ thiền), 4 định Vô sắc, 8 Đẳng chí và 3 Đẳng trì. Bốn Tĩnh lự và 4 định Vô sắc lấy Thiện đẳng trì(Tam ma địa, Tam muội) làm thể. Đẳng chí(Tam ma bát để) căn bản của 4 Tĩnh lự và 4 định Vô sắc có 8 thứ, vì thế gọi là Bát đẳng chí; 3 Đảng trì có 3 loại là Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Ngoài ra, 3 Đẳng trì (Tam tam muội) cũng chỉ cho 3 lớp Đẳng trì(Tam trùng tam muội) là: Không, Vô tướng, Vô nguyện hoặc Không không, Vô tướng vô tướng, Vô nguyện vô nguyện. Trong 2 loại Tam muội thì loại thứ nhất tùy theo có Tầm và Tứ hay không mà được chia làm 3 thứ Tĩnh lự. 1. Sơ tĩnh lự(Sơ thiền)và Vị chí định (cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội): Tĩnh lự này thuộc về Tam ma địa hữu tầm hữu tứ. 2. Trung gian tĩnh lự(cũng gọi Vô giác hữu quán tam muội, Trung gian định): Tĩnh lự này thuộc Tam ma địa vô tầm duy từ. 3. Cận phần của Đệ nhị tĩnh lự (Đệ nhị thiền) trở lên(cũng gọi Vô giác vô quán tam muội): Cận phần này thuộc Tam ma địa vô tầm vô tứ. Còn loại thứ 2 thì chỉ cho Tam muội quán xét nhân và pháp đều không, gọi là Không tam muội. Tam muội lìa bỏ tướng sai biệt, gọi là Vô tướng tam muội. Tam muội lìa bỏ ý nghĩa mong cầu, gọi là Vô nguyện tam muội. Kế đến, trong 3 lớp tam muội còn có Không không tam muội, Vô tướng vô tướng tam muội và Vô nguyện vô nguyện tam muội. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 11, chỉ trừ Tứ thiền (4 Tĩnh lự)và Bát giải thoát, còn tất cả định đều là Tam muội. Lại cho rằng chỉ có 3 môn Giải thoát(Không tam muội, Vô tướng tam muội, Vô nguyện tam muội vô lậu) và 3 Tam muội Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầmvô tứ được gọi là Tam muội. Cũng luận đã dẫn còn chỉ ra rằng phạm vi của Định hẹp hơn phạm vi của Tam muội, theo đó thì Định mà chư Phật và Bồ tát chứng đắc có thể được xem là Tam muội. Đại thừa nghĩa chương quyển 13 có nêu các thuyết trong luận như Tạp a tì đàm tâm quyển 6, luận Thành thực quyển 12, Thập địa kinh luận quyển 5... rồi y cứ vào đó mà giải thích rõ sự khác nhau giữa: Thiền, Định, Tam muội, Chính thụ, Tam ma nga (Phạm, Pàli: Samàpatti: Đẳng chí), Giải thoát, Xa ma tha (Phạm: Samàtha, Pàli: Samatha: Chỉ)... Theo sự giải thích này thì Tam muội với nghĩa hẹp là chỉ cho 3 loại Tam muội Không, Vô tướng và Vô nguyện; còn Tam muội với nghĩa rộng thì chỉ cho 4 tâm Vô lượng và tất cả Định khác. Kinh A hàm cho rằng ngoài 4 thiền, 8 định ra, còn có 3 tam muội Không, Vô tướng, Vô nguyện(3 môn Giải thoát) và 3 tam muội Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Nhưng trong các kinh Đại thừa thì có từ vài trăm trở lên đến cả nghìn loại Tam muội. Về càc kinh Đại thừa có mang tên Tam muội thì gồm: Kinh Bát chu tam muội, kinh Thủ lăng nghiêm tam muội, kinh Tuệ ấn tam muội, kinh Tự thệ tam muội, kinh Phật ấn tam muội, kinh Pháp hoa tam muội, kinh Niệm Phật tam muội, kinh Nguyệt đăng tam muội, kinh Kim cương tam muội... Tiêu đề Tam muội trong các kinh trên được giải thích rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trong đó, Bát chu tam muội còn được gọi Chư Phật hiện tiền tam muội, Phật lập tam muội. Ngoài ra, kinh Pháp hoa quyển 1 có nêu tên Vô lượng nghĩa xứ tam muội; kinh Hoa nghiêm quyển 6 và 44 (bản dịch cũ) thì có: Hoa nghiêm tam muội, Hải ấn tam muội, Sư tử phấn tấn tam muội... kinh Đại phẩm Bát nhã quyển 3, quyển 5 cũng có thuyết 108 tam muội, như Thủ lăng nghiêm (Kiện hành) tam muội, Bảo ấn tam muội, Sư tử du hí tam muội... Trong tông Thiên thai thì Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng có nêu 4 loại Tam muội: Thường tọa, Thường hành, Bán hành bán tọa và Phi hành phi tọa. Đạo tràng để tu 4 loại Tam muội này gọi là Tứ tam muội viện. Ngoài ra, luận Thành thực quyển 12 có nêu 3 thứ Tam muội là Nhất phần tu tam muội(chỉ tu 1 phần định hay huệ), Cộng phần tu tam muội(gồm tu cảđịnh và tuệ hữu lậu) và Thánh chính tam muội(gồm tu cả định và tuệ vô lậu). Kinh Niết bàn quyển 13 (bản Nam) liệt kê tên 25 loại Tam muội mà Bồ tát tu để phá trừ 25 Hữu, 16 Tam muội trong kinh Pháp hoa quyển 7, tức là tên gọi khác của Pháp hoa tam muội. Tam muội từ thân phát ra lửa, gọi là Hỏa giới tam muội, Hỏa định tam muội, Hỏa quang tam muội, hàm ý là hỏa táng thi hài. Tam muội tối thắng thì gọi là Vương tam muội hoặc Tam muội vương tam muội. Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Pháp nhiên vị tăng người Nhật, gọi niệm Phật là Vương tam muội. Lại trong Tọa thiền dụng tâm kí, ngài Oánh sơn Thiệu cẩn, cũng gọi tọa thiền là Vương tam muội. Ngôi nhà để tu Tam muội, gọi là Tam muội đường. Nếu chia theo chủng loại Tam muội được tu thì có Pháp hoa tam muội đường, Thướng hành tam muội đường, Lí thú tam muội đường... [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Trường a hàm Q.9,10; kinh Đại bát niết bàn Q.25 (bản Bắc); kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1,23; luận Đại trí độ Q.28; luận Du già sư địa Q.11; luận Tập dị môn túc Q.6; Phật địa kinh luận Q.1, luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.13; Viên giác kinh lược sớ chú Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4, thượng]. (xt. Bách Bát Tam Muội, Định). II. Tam Muội. Tại Nhật bản, nơi thiêu thi hài, nghĩa địa, cũng được gọi là Tam muội. Để cầu siêu cho người chết, phần nhiều nhà Pháp hoa tam muội được dựng bên cạnh mộ phần và thỉnh chư tăng tu tam muội Pháp hoa. Ngôi nhà Pháp hoa tam muội gọi tắt là Tam muội đường hoặc Tam muội.
tam muội (tam ma địa)
Chánh định—Samaya—Samadhi—Từ nầy có nhiều nghĩa khác nhau. Theo Phật giáo, Tam Muội có nghĩa là tâm định tĩnh, không bị quấy rối. Sự nối kết giữa người quán tưởng và đối tượng thiền. Trong nhà Thiền, Tam Muội chẳng những ám chỉ sự quân bình, tĩnh lặng hay nhất tâm bất loạn, mà nó còn ám chỉ trạng thái tập trung mãnh liệt nhưng không hề gắng sức, mà là sự thấm nhập trọn vẹn của tâm trong chính nó hay là sự trực quan cao rộng (nhập chánh định). Tam Muội và Bồ Đề đồng nhất với nhau theo cái nhìn của tâm Bồ Đề Giác Ngộ, tuy nhiên nhìn theo giai đoạn đang phát triển thì tam muội và ngộ khác nhau—This term has a variety of meanings. In Buddhism, it means the mind fixed and undisturbed—To assemble together—Putting together—Composing the mind, intent contemplation, perfect absorption, union of the meditator with the object of meditation. In Zen it implies not merely equilibrium, tranquility, and one-pointedness, but a state of intense yet effortless concentration, of complete absorption of the mind in itself, of heightened and expanded awareness. Samadhi and Bodhi are identical from the view of the enlightened Bodhi-mind. Seen from the developing stages leading to enlightenment-awakening; however, samadhi and enlightenment are different.
tam muội da
Samaya (S), dam sig (T)Cảnh trí nhà tu quyết đắc Phật huệ. Từ này gồm những nghĩa: - Tam bình đằng: thân - khẩu - ý như nhau. - Thệ nguyện: lập nguyện giữ giới. - Cảnh giác: làm thức tĩnh cái giác ngộ. - Trừ cấu chướng: diệt trừ phiền não chướng ngại đối với thân tâm.
; Samàya (S) is variously defined as hội coming together, meeting, convention; thời timely; tông in agreement, at the same class; bình đẳng equal, equalized; cảnh giác aroused, warned; trừ cấu chướng ridance of unclean hindrances. Especially it is used as indicating the vows made by Buddhas and bodhisattvas, hence as a tally symbol, or emblem of the spiritual quality of a Buddha or bodhisattva.
; Samaya (skt)—Coming together—Meeting—Convention—Riddance of unclean hindrances (trừ cấu chướng).
tam muội da giới
582又作三摩耶戒、祕密三昧耶戒、佛性三昧耶戒、祕密戒、三世無障礙智戒、無為戒。略稱三戒,即住於三三平等之理,以本有之淨菩提心為戒體,法界無量萬德為行相之祕密真言戒。此戒能成就如來清淨之智,三世諸佛由此證得菩提。故又稱三世無障礙智戒。其戒相為不應捨正法、不捨離菩提心、不悋慳一切法、莫不利眾生行等四重禁。此戒係密教修行之指針,真言行者必須受持,入壇行灌頂之前先受此戒,方得入壇。 三昧耶本具平等、本誓、除障、驚覺四義,故此戒亦有四義:(一)平等,行者初發心時,知三三平等之理,安住於佛地三昧道,照見心、佛、眾生三無差別。(二)本誓,以三平等之理為緣,起大誓願,修大悲,行四無量、四攝等,能利益眾生永不止。(三)除障,由本誓發得三三平等之戒體時,能除滅過去、現在、未來之惡業罪障。⑷驚覺,自驚察身心,制止放逸懈怠。又授此戒之作法,稱為三昧耶戒儀、三昧耶戒作法;道場則稱為三昧耶戒場、三昧耶戒壇。〔守護國界主陀羅尼經卷九、不空羂索神變真言經卷十五、大日經疏卷九、卷十一、卷十六〕
; Samàya-commandments: the rules to be strictly observed before full ordination in the esoteric sects.
; Giới Tam Muội phải được nghiêm trì trước khi thọ giới đàn trong Mật Giáo—Samaya commandments to be strictly observed before full ordination in the esoteric sect.
; (三昧耶戒) Cũng gọi Tam ma da giới, Bí mật tam muội da giới, Phật tính tam muội da giới, Bí mật giới, Tam thế vô chướng ngại trí giới, Vô vi giới. Gọi tắt: Tam giới. Tức là giới Chân ngôn bí mật trụ nơi lí Tam tam bình đẳng, lấy tâm bồ đề thanh tịnh vốn có làm giới thể, lấy pháp giới vô lượng vạn đức làm hành tướng. Giới này có công năng thành tựu trí thanh tịnh của Như lai, chư Phật ba đời nhờ giới này mà chứng được Bồ đề, cho nên giới này còn gọi là Tam thế vô chướng ngại trí giới. Tướng giới của giới này là 4 trọng cấm: Không được bỏ chánh pháp, không được lìa bỏ tâm Bồ đề, không được sẻn tiếc tất cả pháp, không được làm điều gì bất lợi cho chúng sinh. Giới này là kim chỉ nam cho việc tu hành trong Mật giáo, hành giả chân ngôn đều phải thụ trì, trước khi vào đàn thực hành quán đính, phải thụ giới này trước rồi mới được vào. Tam muội da vốn đủ 4 nghĩa bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác, bởi vậy giới này cũng có 4 nghĩa. 1. Bình đẳng: Khi hành giả mới phát tâm, biết rõ lí Tam tam bình đẳng, an trụ nơi Phật địa tam muội đạo, thấy suốt tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 2. Bản thệ: Lấy lí 3 bình đẳng làm duyên, phát khởi thệ nguyện rộng lớn, tu Đại bi, thực hành 4 vô lượng, 4 nhiếp pháp... làm lợi ích chúng sinh, không bao giờ dừng nghĩ. 3. Trừ chướng: Khi nhờ bản nguyện mà phát được giới thể Tam tam bình đẳng thì có năng lực trừ diệt các tội chướng nghiệp ác ở quá khứ, hiện tại và vị lai. 4. Kinh giác: Tự tỉnh thức và quán xét thân tâm, dứt bỏ tính buông thả, biếng nhác, tinh tiến tu hành, thành tựu giác ngộ, giải thoát. Tác pháp trao truyền giới này gọi là Tam muội da giới nghi, Tam muội da giới tác pháp; đạo tràng để truyền thụ thì gọi là Tam muội da giới tràng, Tam muội da giới đàn.[X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Đại nhật kinh sớ Q.9,11,16].
tam muội da hình
583又作三摩耶形。略稱三形。指標示諸尊本誓之器杖、印契等形相。據兩部曼荼羅義記卷五之說,三昧耶形又稱波羅蜜形,住諸尊三昧耶形即是入定之形相,寂住本誓願。又三昧耶有平寺、本誓、除障、驚覺四義:(一)平等之義,三昧耶形俱印契、器杖等表象佛之內證,及內德、外相平等無別。(二)本誓之義,如大日之五輪率都婆。(三)除障之義,以此標幟表示眾生遠離煩惱、業、 W等三障。⑷驚覺之義,以此三形驚眾生之長眠,令其發心修行。如文殊菩薩所持之利劍,表示大智斷惑之昔願;觀音之蓮華(花),表示同大悲、無有染著之本誓;轉法輪菩薩所持之寶輪,表示說法破執之本誓。執持刀、輪寶、金剛杵等三昧耶形時,天魔波旬不敢違越,諸佛自身亦不能違越。若眾生見此三昧耶形,信其本誓,如法修行,則能如願而得福智。〔金剛界七集卷上、兩部曼荼羅隨聞記卷三〕
; The distinguising symbol of a Buddha or bodhisattva, e.g. the Lotus of Quán thế Âm.
; Một biểu tượng đặc biệt của Phật và Bồ Tát—The distinguishing symbol of a Buddha or Bodhisattva (The Lotus of Kuan Shi Yin).
; (三昧耶形) Cũng gọi Tam ma da hình. Gọi tắt: Tam hình. Chỉ cho các hình tướng như khí tượng, ấn khế... tiêu biểu cho bản thệ của các vị tôn.Cứ theo thuyết trong Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí quyển 5 thì Tam muội da hình cũng gọi Ba la mật hình, trụ trong hình Tam muội da của chư tôn tức là hình tướng nhập định, lặng lẽ an trụ trong bản thệ nguyện. Tam muội da có 4 nghĩa là bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác.1. Bình đẳng: Hình Tam muội da và ấn khế, khí trượng... tượng trưng cho nội chứng của Phật, cùng với nội đức, ngoại tướng đều bình đẳng không sai khác. 2. Bản thệ: Như tháp Ngũ luân của đức Đại nhật. 3. Trừ chướng: Dùng hình tướng này biểu thị cho chúng sinh xa lìa 3 chướng phiền não, nghiệp và khổ. 4. Kinh giác: Dùng hình Tam muội da này đánh thức giấc ngủ dài của chúng sinh, khiến họ phát tâm tu hành. Như thanh kiếm sắc mà bồ tát Văn thù cầm tượng trưng cho nguyện xưa dùng đại trí để dứt trừ phiền não, hoa sen của bồ tát Quán âm, tượng trưng cho bản thệ đại bi đồng thể, không có nhiễm trước; bánh xe báu mà bồ tát Chuyển pháp luân cầm tượng trưng cho bản thệ thuyết pháp phá chấp. Khi cầm các hình Tam muội da như dao, bánh xe báu, chày kim cương... thì Thiên ma Ba tuần không dám trái vượt, tự thân chư tôn cũng không thể trái vượt. Nếu chúng sinh thấy các hình Tam muội da này mà tin tưởng nơi bản thệ rồi như pháp tu hành thì sẽ toại nguyện và được phúc đức. [X. Kim cương giới thất tập Q.thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la tùy văn kí Q.3].
tam muội da hội
The Samàya assembly, i.e. the second of the nine mandalas, consisting of seventy-three saints represented by the symbols of their power.
tam muội da mạn đa la
Samaya-maṇdala (S).
tam muội da mạn đà la
Samàya-mandala (S). One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their power, e.g. pagoda, jewel, lotus, sword.
; Samaya-mandala (skt)—One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their powers.
tam muội da mạn đồ la
583梵語 samaya-maṇḍala。又作三摩耶曼荼羅、平等曼荼羅、三昧耶智印。略稱三曼。密教四種曼荼羅之一。即畫諸尊所持之器杖(如刀、劍、蓮花等)及其印契(手式)之曼荼羅。又以四種曼荼羅賅攝法界萬有時,三昧耶曼荼羅即表示所依之器界。若以之配三寶,則相當於僧寶;以之配三密,則相當於意密;以之配四種法身,則相當於等流身。〔理趣釋卷上、即身成佛義〕(參閱「四曼相大」1755)
; (三昧耶曼荼羅) Phạm: Samaya-maịđala. Cũng gọi Tam ma da mạn đồ la, Bình đẳng mạn đồ la, Tam muội da trí ấn. Gọi tắt: Tam mạn. Chỉ cho Mạn đồ la vẽ các khí trượng (như dao, kiếm, hoa sen...) mà các vị tôn cầm và ấn khế(thủ ấn)của các Ngài, 1 trong 4 loại Mạn đồ la của Mật giáo. Khi dùng 4 loại Mạn đồ la bao nhiếp vạn hữu trong toàn thể pháp giới thì Tam muội da mạn đồ la là chỗ nương của khí thế giới. Nếu phối hợp 4 loại Mạn đồ la với Tam bảo thì Tam muội da mạn đồ la tương đương với Tăng bảo; nếu phối hợp với Tam mật thì tương đương với Ý mật; nếu phối hợp với 4 loại pháp thân thì tương đương với Đẳng lưu pháp thân. [X. Lí thú thích Q.thượng; Tức thân thành Phật nghĩa]. (xt. Tứ Mạn Tướng Đại).
tam muội da thân
583指三昧耶曼荼羅之佛身。與三昧耶形同,密教諸尊之本誓、內證等標幟及塔、輪寶、蓮花、國土器世界等皆稱三昧耶身。如樓閣寶王者即如來三昧耶身,諸顯教中以四大等為非情,密教則以之為如來三昧耶身。(參閱「三昧耶形」583)
; (三昧耶身) Chỉ cho thân Phật trong Mạn đồ la tam muội da, giống với hình Tam muội da. Các phù hiệu tượng trưng cho bản thệ, nội chứng... của chư tôn trong Mật giáo và tháp, bánh xe báu, hoa sen, quốc độ, khí thế giới... đều gọi là Tam muội da thân. Như lầu gác bảo vương tức là thân Tam muội da của Như lai; trong Hiển giáo, tứ đại được xem là phi tình nhưng trong Mật giáo thì chúng là thân Tam muội da của Như lai. (xt. Tam Muội Da Hình).
tam muội da thân (hình)
The embodiment of Samàya, a term of the esoteric sect; i.e. the symbol of a Buddha or bodhisattva which expresses his inner nature, e.g. the stùpa as one of the symbols of Vairocana Đại nhật; the lotus of Quán thế Âm etc. Thân is used for a Buddha, hình for a bodhisattva. The exoteric sects associate the term with the báo thân sambhogakàya.
tam muội da trí
Samaya wisdom (S). In esoteric teaching, the characteristics of a Buddha or bodhisattva's wisdom, as shown in the mandala.
; See Tam Muội Trí.
tam muội giới
1) Tam Muội Giới là một danh từ phổ thông trong Mật Giáo: Samaya world, a general name for esoteric sect. 2) Giới phải nghiêm giữ trước khi được thọ giới đàn Cụ Túc trong Mật Giáo: Samaya commandments (the rules to be strictly observed before full ordination in the esoteric sect.
tam muội hoả
580據傳法正宗記卷一載,釋迦自知化期已近,乃付首座弟子大迦葉以清淨法眼及金縷僧伽梨衣,隨後即往拘尸那迦羅城娑羅雙樹間,敷座設床,右脅而臥,在諸比丘及眾弟子圍繞之下,泊然入寂,大迦葉聞訊趕至,見金棺內之三昧真火燔然而焚,舍利光焰普照天地。
; (三昧火) Lửa Tam muội(Lửa định). Cứ theo Truyền pháp chính tông kí quyển 1, đức Thích ca tự biết mình sắp đến ngày nhập diệt, liền phó chúcpháp nhãn thanh tịnh và tấm áo Tăng già lê bằng kim lũ cho vị đệ tử hàng đầu là ngài Đại ca diếp, sau đó, đức Phật đi đến thành Câu thi na ca la, vào rừng cây Sa la song thụ, trải giường tòa, nằm nghiêng hông bên phải, trong lúc các vị tỉ khưu đệ tử đứng vây chung quanh, Phật an nhiên thị tịch. Ngài Đại ca diếp nghe tin vội đến thì thấy Tam muội chân hỏa trong kim quan cháy đỏ rực, ánh sáng xá lợi chiếu khắp đất trời.
tam muội hình
Tam muội thân, biểu tượng đặc sắc của Phật và Bồ Tát, dùng diễn tả nội tánh—The distinguishing symbol of a Buddha or a Bodhisattva which expresses his inner nature (the stupa as one of the symbol of Vairocana, the lotus for Kuan Shi Yin)—The embodiment of Samaya—Báo thân—Sambhogakaya.
tam muội hỏa
tummo (T), Subtle heat.
; Fire of samàdhi, the fire that consumed the body of Buddha when He entered nirvàna.
; Fire of samadhi (the fire that consumed the body of the Buddha when he entered nirvana).
tam muội lạc
Samadhisukha (skt)—Hạnh phúc khởi sinh từ trạng thái tập trung của tâm. Những vị chưa có thể lên đến hàng Bồ Tát thì quá mê đắm vào hạnh phúc của Tam Muội và quên mất thế giới bên ngoài mà tại đấy có rất nhiều chúng sanh chưa giác ngộ đang mong chờ sự giải thoát. Loại người theo Phật giáo tự mãn nầy thường bị Đức Phật lên án nghiêm khắc—The bliss arising from a concentrated state of mind. Those who have not yet been able to rise to the rank of Bodhisattvahood are too deeply drunk with the beatitude of a samadhi, forgetful of the outside world where so many unenlightened ones are waiting for emancipation. This class of self-complacent Buddhists is severely indicted by the Buddha.
tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân
Samadhi-sukha-samapatti-manomayakaya (skt)—Một trong ba loại thân do ý sanh—One of the three will-bodies.
tam muội lạc chánh thọ ý sinh thân
Samādhi-sukhasamāpatti-manomayakāya (S).
tam muội lạc chính thọ ý sinh thân
Samàdhi-sukha-samàpatti-mano-mayakàya (S)
tam muội ma
Samàdhi-màra (S). One of the ten màras, who lurks in the heart and hinders progress in meditation, obstructs the truth and destroys wisdom.
; Một trong thập ma ẩn núp trong tâm làm chướng ngại tiến bộ trong thiền định, làm cản trở chân lý và phá nát trí tuệ—Samadhi mara, one of the ten maras who lurks in the heart and hinders progress in meditation, obstructs the truth and destroys wisdom.
tam muội môn
582指進入佛所具無量三昧之門戶。佛之三昧,無量無數,菩薩無法盡得,或聞是心而萌生退意,故佛說三昧門,入一門即統攝無量三昧,如牽衣一角,舉衣皆得。〔大智度論卷二十八〕
; The different stages of a bodhisattva's samàdhi.
; (三昧門) Chỉ cho cánh cửa Tam muội, từ đó có thể tiến vào vô lượng Tam muội của Phật. Tam muội của Phật có vô lượng, vô số, hàng Bồ tát không thể nào thâm nhập được hết các Tam muội này, hoặc có vị nghe việc ấy sinh tâm trở lui, vì thế đức Phật giảng nói về Tam muội môn, hễ vào được 1 môn thì thu tóm vô lượng Tam muội, hệt như nắm 1 góc tấm áo thì có thể giơ toàn thể tấm áo lên. [X. luận Đại trí độ Q.28].
tam muội mạn đà la
Samaya-mandala—Một trong bốn vòng ảo thuật trong đó Thánh chúng dùng để làm biểu tượng cho sức mạnh—One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their power.
tam muội nguyệt luân tướng
The candra-mandala—The moon-wheel or disc samadhi (Nagarjuna is said to have entered it).
tam muội pháp giới
Ba phương pháp thiền quán về sự liên hệ giữa lý và sự trong Kinh Hoa Nghiêm—Three meditations, on the relationship of the noumenal and phenomenal in the Flower Ornament Scripture (Kinh Hoa Nghiêm): 1) Lý pháp giới: The universe as law or mind that things or phenomena are of the same Buddha-nature, or the Absolute. 2) Lý Sự pháp giới: The Buddha-nature and the thing, or the Absolute and phenomena are not mutually exclusive. 3) Sự sự vô ngại pháp giới: Phenomena are not mutually exclusive, but in a common harmony as pasrts of the whole.
tam muội phát đắc
584又作發定。謂由專念之法而心住一境,遂得勝境現前。亦即初因思惟之加行,思想漸漸微細,乃至覺想俱亡,達於三昧正受之域,終與所觀之勝境冥合,得以分明了知,稱為三昧發得。淨土宗祖師中,善導、懷感皆曾發得三昧,見淨土勝相。〔釋淨土群疑論卷七、觀念法門、往生瑞應刪傳、廣弘明集卷三十〕
; (三昧發得) Cũng gọi Phát định. Phát được Tam muội. Nghĩa là nhờ pháp chuyên niệm mà tâm trụ ở 1 cảnh, liền được thắng cảnh hiện tiền. Cũng tức là ban đầu nhờ gia hành tư duy, nên tư tưởng dần dần nhỏ nhiệm, cho đến giác và tưởng đều mất, đạt đến cảnh giới Tam muội chính thụ, cuối cùng thầm hợp với thắng cảnh sở quán, thấy biết được rõ ràng, gọi là Tam muội phát đắc. Trong số các vị Tổ sư của tông Tịnh độ thì các ngài Thiện đạo, Hoài cảm... từng đã phát đắc Tam muội, thấy được tướng thù thắng của cõi Tịnh độ. [X. luận Thích tịnh độ quần nghi Q.7; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh thụy ứng san truyện; Quảng hoằng minh tập Q.30].
tam muội phật
Samàdhi Buddha (S). One of the ten Buddhas mentioned in the HoaNghiêm Kinh.
tam muội trí
Samaya-wisdom—Buddhas' or bodhisattvas' wisdom.
tam muội trường
584日本佛教用語。即葬場。意謂葬場乃為進入三昧之場所。又作三昧所,或單稱三昧。即葬場及火葬之區域。〔類聚名物考卷三二二〕
; (三昧場) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Tam muội sở. Gọi tắt: Tam muội. Chỉ cho khu vực thiêu đốt và chôn cất người chết, ý nói là môi trường tiến vào Tam muội (vào an định). [X. Loại tụ danh vật khảo Q.322].
tam muội tương ưng
The symbols or offerings should tally with the object worshipped, e.g. a white flower with a merciful or a white image.
; The symbols or offerings should tally with the object worshipped.
Tam muội Vô nguyện
xem ba pháp tam-muội.
tam muội vương
See Vương Tam Muội.
tam muội vương an lập tam muội
Samādhirāja-supratisthita-samādhi (S)Thiện lập định vương Tam muội.
tam muội vương kinh
Samàdhiràja-sùtra (S). Sùtra of the King of Concentration.
Tam Muội Vương Tam Muội
(三昧王三昧, Zammaiōzammai): quyển thứ 72 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏), là phần Thị Chúng (示眾) tại Cát Phong Tự (吉峰寺) vùng Việt Tiền (越前, Echizen), vào ngày 15 tháng 2 năm 1244. Đây là thiên dạy rõ rằng ngồi Thiền là vua của hết thảy các Tam Muội, hành Thiền là loại Tam Muội thâu nhiếp tất cả các Tam Muội khác.
tam muội vương tam muội
See Vương Tam Muội.
tam muội đường
584又作法華三昧院、法華堂。日本佛教界長期講解有關法華經而設置之建築物。以最澄在比叡山東塔所建者為最早,後在西塔、橫川亦建有三昧堂,在天台宗之大寺院中建立此種堂者屢見不鮮。及至後世,則不限於講法華,亦為開講其他經典之場所。
; (三昧堂) Cũng gọi Pháp hoa tam muội viện, Pháp hoa đường. Ngôi nhà được kiến trúc để giảng kinh Pháp hoa dài hạn của giới Phật giáo Nhật bản. Ngôi Tam muội đường đầu tiên là do ngài Tối trừng xây dựng ở Đông tháp thuộc núi Tỉ duệ, về sau, ở Tây tháp và Hoành xuyên cũng có các Tam muội đường được kiến tạo. Trong các chùa viện lớn thuộc tông Thiên thai đều có Tam muội đường. Đến đời sau, Tam muội đường không phải chỉ dành riêng cho việc giảng kinh Pháp hoa mà cũng là đạo tràng để giảng các kinh khác.
tam môn
575<一>又作山門。為禪宗伽藍之正門。三門有智慧、慈悲、方便三解脫門之義,或象徵信、解、行三者,非必有三扇門。又三門建築或係根據大智度論卷二十(大二五‧二○七下)所載:「譬如城有三門,一人身不得一時從三門入,若入則從一門。諸法實相是涅槃城,城有三門:空、無相、無作。」〔佛地經論卷一〕 <二>菩薩進趣菩提所修之三種法門。即:(一)智慧門,知進守退為智,知空無我為慧;依智故不求自樂,依慧故遠離貪著。(二)慈悲門,拔苦為慈,與樂為悲;依慈故拔一切眾生之苦,依悲故遠離無安眾生心。(三)方便門,正直為方,外己為便;依正直故生憐憫一切眾生心,依外己故遠離供養恭敬自身心。以上,智慧門屬自利,慈悲門屬利他,方便門則自利利他雙行。然三門雖分,實則不二,智即悲,悲即智,是為智悲雙行以攝化眾生而成方便門。〔淨土論、往生論註卷下〕 <三>三解脫門之略稱。指得解脫至無餘涅槃之空、無相、無願等三種法門。(參閱「三解脫門」644)
; (三門) I. Tam Môn. Cũng gọi Sơn môn. Cổng chính của các chùa Thiền tông. Tam môn nghĩa là 3 cửa giải thoát: Từ bi, Trí tuệ và Phương tiện, hoặc tượng trưng cho 3 môn Tín, Giải, Hành, chứ không hẳn là phải có 3 cánh cửa. Hoặc kiến trúc Tam môn đã được căn cứ vào đoạn văn sau đây trong luận Đại trí độ quyển 20 (Đại 25, 207 hạ): Ví như tòa Thành có 3 cửa, 1 thân người không thể cùng 1 lúc vào cả 3 cửa, mà chỉ có thể từ 1 cửa đi vào. Thực tướng các pháp là thành Niết bàn, thành có 3 cửa: Không, Vô tướng, Vô tác. [X. Phật địa kinh luận Q.1]. II. Tam Môn. Chỉ cho 3 loại pháp môn mà Bồ tát tu hành để hướng tới Bồ đề. Đó là: 1. Trí tuệ môn: Biết tiến, giữ thoái là trí, biết không, vô ngã là tuệ, y vào Trí nên không cầu sự an vui cho mình, y vào Tuệ nên xa lìa tham đắm. 2. Từ bi môn: Cứu khỏi khổ là Từ, ban cho vui là Bi; y vào Từ nên cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ não, y vào ¨ Bi nên mang lại an vui cho tất cả chúng sinh.3. Phương tiện môn: Ngay thẳng là Phương, ngoài mình là Tiện; y vào ngay thẳng nên sinh tâm thương xót tất cả chúng sinh, y vào ngoài mình nên xa lìa tâm mong cầu sự cung kính cúng dường đối với chính mình. Như trên, Trí tuệ môn thuộc tự lợi, Từ bi môn thuộc lợi tha, Phương tiện môn thì thuộc cả tự lợi và lợi tha. Tuy chia làm 3 môn nhưng thực ra chẳng phải là hai, vì Trí tức Bi, Bi tức Trí, thực hành cả Trí lẫn Bi để nhiếp hóa chúng sinh mà thành Phương tiện môn. [X. luận Tịnh độ; Vãng sanh luận chú Q.hạ]. III. Tam Môn. Gọi đủ: Tam giải thoát môn. Chỉ cho 3 pháp môn đạt đến sự giải thoát của Niết bàn vô dư, đó là: Không, Vô tướng và Vô nguyện. (xt. Tam Giải Thoát Môn).
tam môn tam đại thị giả
576又作山門三侍者。三門,即山門;侍者,即隨侍師家左右而任其使喚之人。三大侍者為:(一)燒香侍者,掌管住持之上堂、小參、普說、開室、念誦、燒香、行禮兼記錄法語之職。(二)書狀侍者,負責住持往復書啟文章之擬草具呈,及山門一切文翰之職。(三)請客侍者,掌理應接賓客、款待尊宿、節臘、具狀、行禮之職。〔敕修百丈清規卷下、釋氏要覽卷下、禪苑清規卷上〕
; (三門三大侍者) Cũng gọi Sơn môn tam thị giả. Ba vị đại thị giả trong tùng lâm. 1. Thiêu hương thị giả: Chức vụ trông coi các việc thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thất, niệm tụng, thiêu hương, hành lễ và kiêm cả việc ghi chép các pháp ngữ của vị Trụ trì. 2. Thư trạng thị giả: Chức vụ phụ trách việc thảo các thư từ qua lại để trình lên vị Trụ trì và tất cả các văn thư trong sơn môn. 3. Thỉnh khách thị giả: Chức vụ trông coi việc tiếp khách, khoản đãi các bậc tôn túc, tiết lạp, cụ trạng, hành lễ... [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thiền uyển thanh qui Q.thượng].
tam môn tịnh độ
Three Methods in the Pure Land Cultivation—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, pháp môn không cao không thấp, cao thấp do căn tánh mà phân. Vì chúng sanh căn cơ sai biệt nhau, nên pháp tu cũng có nhiều cách. Tuy nhiên, căn bản có ba môn tu trong Tịnh Độ—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism, the Dharma methods are not, in themselves, high or low. It is only because the different natures and capacities of individuals that they have been categorized as such. Sentient beings are at different levels of spiritual development, and therefore, various methods are required. There are numerous methods; however, we can summarize in the three basic ones. (I) Đệ Nhất Môn là pháp môn Quán Tưởng—First Method, Visualization Method—Quán tưởng là như trong Quán Kinh dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Cho nên khi tâm các bạn tưởng Phật, thì tâm ấy chính là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình, tâm ấy là tâm Phật, tâm ấy chính là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh. Vì thế các bạn phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân Đức Phật kia.”—Visualization Method, is explained as follows in the Meditation Sutra: “Every Buddha, Tathagata, is One who is a Dharma realm Body and enters into the Mind of all beings. For this reason when you perceive the Buddha-state in your Minds, this indeed is the Mind which possesses the thirty-two signs of perfection and the eighty minor marks of excellence. It is the Mind that becomes Buddha; indeed, it is the Mind that is Buddha. The ocean of true and universal knowledge of all the Buddhas is born of Mind and thought. For this reason, you ought to apply your Mind with one thought to the meditation on that Buddha. 1) Thiên Thai sớ nói mấy chữ “Chư Phật Như Lai” sắp xuống, là thuyết minh tất cả chư Phật; lại nói mấy chữ “Phải nhớ nghĩ” sắp xuống, là chỉ cho quán tưởng riêng Đức Phật A Di Đà, pháp giới thân là pháp thân của Báo Phật. Tâm chúng sanh tịnh, pháp thân tự hiện, nên gọi là “vào;” như khi vầng hồng nhật mọc lên tất bóng hiện xuống trăm sông. Đây là chỉ cho Phật thân tự tại, có thể tùy vật hiện hình vậy. Lại “pháp giới thân” là chỉ cho thân Phật, khắp tất cả chỗ, lấy pháp giới làm thể. Khi hành giả chứng được môn Quán Phật Tam Muội nầy, giải nhập tương ưng, nên nói “vào trong tâm tưởng.” “Tâm nầy là Phật” là Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sanh tâm tịnh mới có, sợ e người hiểu lầm cho rằng bỗng nhiên mà có, nên mới nói “là Phật.” Mới khởi tu quán nên nói “làm,” sự tu đã thành nên gọi “là.”—According to the T'ien-T'ai Treatise, the passage beginning from 'Every Buddha, Tathagata' refers to all Buddhas. The passge beginning with 'You ought to apply your Minds,' etc., refers specifically to meditation on Buddha Amitabha. The Dharma Realm Body is the Dharma Body of the Reward Buddha. If the Minds of sentient beings are pure, the Dharma Body reveals itself. Thus, the word 'enter' is used. This is similar to the brilliant sun; when it rises, its image appears in a multitude of rivers. This is to indicate that the Buddha Body is free and unimpeded and can manifest itself according to the object. Moreover, the 'Dharma Realm Body' refers to the Buddha Body, appearing everywhere, taking the Dharma Realm as its nature. When the practitioner achieves this Buddha Visualization Samadhi, his understanding and actions (noumenon and phenomenon) interpenetrate and become one. This is expressed in the words 'enters into the Minds of all beings.' “It is the Mind that becomes Buddha” means that the Buddha has always been inherently empty and void. Because the Minds of sentient beings are pure, Buddha exists. Indeed, it is the Mind that is Buddha. Since people might misunderstand what was said previously and think that the Buddha has spontaneously come into existence, the words 'is Buddha' are used. The word 'become' indicates the beginning of visualization, while the word 'is' means that visualization has been accomplished. 2) Diệu Tông Thích nói: “Muốn tưởng thân Phật phải hiểu rõ quán thể. Thể đó là bản giác; từ nơi đây mà khởi thành pháp quán. Bản giác là thân pháp giới của chư Phật, vì chư Phật không sở chứng chi khác, toàn chứng bản tánh của chúng sanh. Nếu thỉ giác có công, bản giác mới hiển, nên nói “pháp thân từ nơi tâm tưởng mà sanh.” Lại Đức Di Đà cùng tất cả chư Phật đồng như một pháp thân, một trí huệ, sự ứng dụng cũng như vậy. Hiển được thân Đức Di Đà tức là hiển được thân chư Phật, tỏ được thân chư Phật tức là lộ được thể Di Đà. Cho nên trong văn kinh nói rộng qua chư Phật để kết về sự quán tưởng Đức A Di Đà. Từ mấy chữ “thân pháp giới” trở xuống là nói về sự giao cảm của đạo cảm ứng và ước về lý giải nhập tương ưng—Another commentary states: “To visualize the Buddha's body, you should clearly understand the nature of visualization. That nature is self-enlightenment. Visualization methods are developed from there. Self-enlightenment is the Dharma Realm Body of the Buddhas because what the Buddhas have completely attained is nothing other than the Self-Nature of sentient beings. Only when the 'initial enlightenment' is meritorious does 'self-enlightenment' appear. This is the meaning of the words 'the Dharma Realm Body is born of Mind and thought.' Moreover, Amitabha Buddha and all Buddhas possess the same Dharma Body, the same wisdom and the same capacities and functions. When the body of Amitabha Buddha is manifested, the bodies of all Buddhas are manifested; when the bodies of the Buddhas are understood, the nature of Amitabha Buddha is revealed. Therefore, the Meditation Sutra refers broadly to all Buddhas in order to end in the visualization of Amitabha Buddha. “From the words 'Dharma Realm Body' on, the Sutra refers to the mutual response between the Buddhas and the practitioner and the ''nterpenetration' between understanding and action (theory and practice). Đại Sư Dung Tâm đã phê bình về hai lời giải trên như sau: “Nếu không có lời giải trước, thì môn quán tưởng ấy không phải là quán Phật; như không có lời giải sau, e hành giả hiểu lầm rằng thể của chúng sanh và Phật khác nhau, nên hai lối giải đã tác thành cho nhau mà thuyết minh thuyết Quán Pháp vậy.”—Commenting on these two explanations, Elder Master Dung Tâm has written: “Without the first explanation, the above visualization would not be a meditation on the Buddha. Without the second explanation, the practitioner could misunderstand and think that the nature of sentient beings is different from that of the Buddhas. The two explanations are complementary in elucidating the Visualization method.” (II) Đệ Nhị Môn là pháp môn Ức Niệm—The Second Method, Recitation or Recollection Method—Nói ức niệm là hành giả hoặc duyên theo tướng tốt, hoặc trì danh hiệu của Phật, đều gọi là ức niệm. Môn nầy có cả lý lẫn sự—With recitation or recollection method, the cultivator either “recollects” the auspicious features of Amitabha Buddha or “recites” His name. This method has both noumenal and phenomenal aspects. 1) Lý Nhất Tâm—One-pontedness of Mind on noumenal level: Trong Kinh Hoa Nghiêm, Giải Thoát Trưởng Giả nói: “Nếu tôi muốn thấy Đức Vô Lượng Thọ Như Lai và thế giới an lạc, thì tùy ý liền được thấy. Tôi có thể biết rõ tất cả chư Phật, quốc độ tùy thuộc, cùng những việc thần thông của các ngài. Bao nhiêu cảnh tướng trên đây, không từ đâu mà đến, không đi về đâu, không có xứ sở và không chỗ trụ; cũng như thân tôi không thật có đi, đứng, tới lui. Các Đức Như Lai kia không đến chỗ tôi, tôi cũng không đi đến chỗ của các Ngài. Sở dĩ như thế, vì tôi hiểu rõ tất cả chư Phật cùng với tâm mình đều như mộng. Lại hiểu tự tâm như nước trong chum, các pháp như hình bóng hiện trong nước. Tôi đã ngộ tâm mình như nhà huyễn thuật, tất cả chư Phật như cảnh huyễn hóa. Lại biết chư Phật chư Bồ Tát trong tự tâm, đều như tiếng vang, như hang trống, tùy theo âm thanh mà phát ra tiếng dội lại. Ví tôi ngộ giải tâm mình như thế nên có thể tùy niệm thấy Phật.” Về đoạn kinh trên, ngài Trinh Nguyên giải rằng: “Từ đầu đến mấy chữ 'chỗ của các Ngài' chính là thuyết minh lý duy tâm, nếu ngộ tức tâm mà vô tâm liền vào chân như tam muội. Khi hành giả hiểu rõ các cảnh tướng đều như huyễn, duy tâm hiện ra, đã ngộ duy tâm và tức tâm tức Phật, thì tùy chỗ tưởng niệm, không đâu chẳng là Phật. Đoạn văn sau nêu ra bốn điều thí dụ với đều đủ bốn quán thông và biệt để hiển lý duy tâm, tất cả vẫn viên dung không ngại: In the Avatamsaka Sutra, the Elder Liberation said: “If I wish to see Amitabha Thus Come One in the World of Happiness, then as soon as I formulate the intention I see Him. I can clearly see all the various Buddhas, their lands and retinues as well as their spiritual powers. And yet, these Thus Come Ones do not come here, nor do I go to them. . This is so because I know that all Buddhas and my own Mind are completely like a dream. I know that all Buddhas are like an image or reflection in the water. I know that all thephysical characteristics of all Buddhas together with my own Mind, are both like an illusion, an echo. I realize this as such and recollect and consider this as such, that all Buddhas I see arise from my own Mind. Because I clearly understand my Mind as such, I can at will see the Buddhas. An Elder Master commented on the above quote as follows: “From the first sentence to the words 'Nor do I go to the Buddhas,' the sutra elucidates the truth of Mind-Only. If the practitioner is enlightened to the truth of 'Mind but not Mind,' he immediately enters the True Thusness Samadhi. When the practitioner truly understands that all realms and marks are illusory, created from the Mind, and awakens to the truth of 'Mind-Only and Mind is Buddha,' then, depending on the object of his thoughts and recollection, there is nothing which is not Buddha. The second part of this quote refers to four examples. These four examples encompass the Four Meditations and include the 'general' and the 'specific,' thus revealing the truth of Mind-Only, everything has always been perfect and unobstructed: a) Cảnh mộng là dụ cho lý không đến không đi, có nghĩa là toàn thể đều duy tâm: 'Like a dream' stands for the truth of 'neither coming nor going.' This means that everything is Mind-Only. b) Hình bóng trong nước là dụ cho lý không ra không vào, vì duy tâm nên tất cả đều “không”: 'Like a reflection in the water' represents the truth of 'neither leaving nor entering.' This shows that because it is Mind-Only, it is empty. c) Tướng huyễn hóa là dụ cho lý chẳng có chẳng không, vì duy tâm nên tất cả đều “giả”: 'Like an illusion' stands for the truth of 'neither existing nor non-existing.' This indicates that because it is Mind-Only, it is false. d) Tiếng vang là dụ cho lý chẳng tan chẳng hợp, vì duy tâm nên tất cả đều “trung”: 'Like an echo' means 'neither disintegrating nor amalgamating.' This shows that because it is Mind-Only, it is the Middle Way. ** Nếu hành giả hiểu rõ lý trên đây, rồi chấp trì bốn chữ A Di Đà Phật, sẽ không còn những thứ sau đây—If the practitioner clearly understands this truth and concentrates upon the Buddha's name, he or she will be free of the followings: e) Tâm có tâm không: The Mind of existence and non-existence. f) Tâm cũng có cũng không: The Mind of simultaneous existence and non-existence. g) Tâm chẳng phải có chẳng phải không: The Mind of simultaneous non-existence and non-non-existence. h) Dứt cả quá khứ hiện tại vị lai mà niệm, đó gọi là “lý ức niệm” hay lý nhất tâm: Serving all past, present and future, this is call “Noumenal recitation. i) Và ngày đêm sáu thời cứ như thế mà nhiếp tâm trì niệm, không cho gián đoạn, không sanh một niệm, thì chẳng cần vượt giai tầng mà đi thẳng vào cõi Phật. Đây cũng gọi là “lý nhất tâm.” Tóm lại, lý nhất tâm là người thông đạt bốn lý quán trên, dùng tâm ấy mà niệm Phật, tương ưng với không huệ, đi đến chỗ thuần chơn. Lý nhất tâm là hành môn của bậc thượng căn: If the practitioner can recite singlemindedly in this way throughout the six periods of day and night, i.e., all the time, without interruption and without developing a single thought , he need not pass through any stage of cultivation but can enter directly into the realm of the Buddhas. This is also called “One-pointedness of Mind” or noumenal level. One-pointedness of Mind on noumenal level is the practice of those of the highest capacities. 2) Sự Nhất Tâm—One-pointedness of Mind on phenomenal level: Về “sự ức niệm,” như trong Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện đời hoặc đương lai nhất định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, không cần mượn phương tiện chi khác mà tâm tự được khai ngộ.” Hay như các kinh sách khác đã chỉ dạy, 'hoặc hệ niệm suốt một đời, hoặc trì niệm trong ba tháng, bốn mươi chín ngày, một ngày đêm, cho đến bảy ngày đêm, hoặc mỗi buổi sớm mai giữ mười niệm. Nếu hành giả dùng lòng tin sâu, nguyện thiết, chấp trì câu niệm Phật như rồng gặp nước, như cọp dựa non, thì được sức Phật gia bị đều vãng sanh về Cực Lạc. Theo trong Kinh cho đến hạng phàm phu tạo tội ngũ nghịch thập ác, nếu khi lâm chung chí tâm xưng danh hiệu Phật mười niệm, cũng được vãng sanh. Và đây gọi là “sự nhất tâm.” Tóm lại, sự nhất tâm là hành giả tâm còn giữ niệm, mỗi niệm không cho xen hở, đi đến chỗ không còn tạp niệm. Sự nhất tâm thông dụng cho hàng trung hạ: The Surangama Sutra states: “Moreover, whoever recites the name of Amitabha Buddha, whether in the present time, or in the future time, will surely see the Amitabha Buddha and never become separated from him. By reason of that association, just as one associating with the maker of perfumes becomes permeated with the same perfumes, so he will become enlightened without Amitabha's compassion, and will become enlightened without any other expedient means. Another sutra teaches that: “Whether he focusses on the Buddha constantly throughout his life, or recites assiduously for three months, or forty-nine days, or one to seven days and nights, or recites only ten times each morning, as long as the practitioner holds the Buddha's name with deep faith and fervent vows, like a dragon encountering water or a tiger hidden deep in the mountains, he will be assisted by the Buddha's power and achieve rebirth in the Pure Land. A dragon outside the ocean or a tiger without the protection of the forest has but one thought in mind: to return to its environment. One-pointedness of Mind on phenomenal level refers to the practitioner whose Mind is still attached to recitation, one recitation following another without pause, leading to he state of extinction of all sundry thought. (III) Đệ Tam Môn là pháp môn Chúng Hạnh—The Third Method, method of “Sundry Practices: 1) Nguyện Lực Vãng Sanh—Seeking rebirth through the power of vows: Pháp Môn Chúng Hạnh là môn nói về hành giả dùng nhiều hạnh để vãng sanh về Cực Lạc. Như trong Kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát khuyến tấn Thiện Tài đồng tử và đại chúng nơi hải hội dùng mười đại nguyện cầu sanh Tịnh Độ (see Thập Hạnh Phổ Hiền). Trong mỗi nguyện ấy đều có nói khi nào cõi hư không, cõi chúng sanh, nghiệp chúng sanh, phiền não của chúng sanh hết, thì nguyện tôi mới hết. Và hành giả phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý, thực hành nguyện đó không gián đoạn, không chán mỏi. Đến khi lâm chung, tất cả mọi thứ tùy thân đều để lại, cho đến các căn đều tan rã, duy những đại nguyện ấy hằng theo bên mình trong khoảng sát na hành giả liền được sanh về Cực Lạc—The “Sundry Practices” is the method in which the cultivator engages in many practices seeking rebirth in the Pure Land. Thus, in the Avatamsaka Sutra, the Bodhisattva Samantabhadra advises and urges the youth Sudhana (Good Wealth) and the Ocean-Wide Great Assembly to seek rebirth throught the Ten Great Vows (see Thập Hạnh Phổ Hiền). Each Vow contains the clause: “When the realm of empty space is exhausted, my Vows will be exhausted. But because the realm of empty space is inexhaustible, my Vows will never end. In the same way, when the realm of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are exhausted, my Vows will be exhausted. But the realms of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are inexhaustible. Therefore, my Vows are inexhaustible. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never tire of doing these deeds. At the time of death, when all family and possessions are left behind and all faculties disintegrate, only these great vows will follow close behind, and in an instant, the practitioner will be reborn in the Pure Land. 2) Tâm Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through Mind-power: Lại như trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc về mười tâm như sau: “Mười thứ tâm nầy không phải hạng phàm phu, bất thiện hay kẻ có nhiều phiền não có thể phát được. Nếu có kẻ nào thành tựu một trong mười tâm trên, muốn sanh về thế giới Cực Lạc mà không được như nguyện, đó là điều không khi nào có.”—Moreover, in the Maharatnakuta Sutra, Sakyamuni Buddha told Maitreya Bodhisattva: “These Ten Minds cannot be developed by ordinary people, nor those who lack virtue and beset by afflictions (See Thập Tâm Tịnh Độ). For someone to attain one of these ten frames of Mind while seeking rebirth in the Pure Land and yet fail to be reborn is simply impossible.” 3) Thần Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through spiritual power: Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần chú Đại Bi, mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, mà không được sanh về cõi Phật, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi nếu không được vô lượng tam muội biện tài, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được như nguyện, thì chú nầy không được gọi là chú Đại Bi Tâm Đà La Ni; duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành.” Ngoài ra, những kẻ chí tâm trì tụng các chú như Bạch Tán Cái, Chuẩn Đề, Vãng Sanh, đều có thể sanh về Cực Lạc hoặc các Tịnh Độ khác—Moreover, in the Sutra of the Heart of Great Compassion Mantra, Avalokitesvara Bodhisattva (Kuan-Yin) said to the Buddha: “Great Honored Teacher! If any sentient being should assiduously recite the Great Compassion Mantra and still descend upon the Three Evil Paths, I vow not to attain Buddhahood. If any practitioner should assiduously recite the Great Compassion Mantra and fail to be reborn in the lands of the Buddhas, I vow not to attain Buddhahood. If any practitioner should assiduously recite the Great Compassion Mantra and not to achieve innumerable samadhis and great eloquence, I vow not to attain Buddhahood. If anyone should assiduously recite the Great Compassion Mantra and not have all wishes and hopes of his present life fulfilled, this dharani cannot be called the Great Compassion Mantra! The only exceptions are wishes which are unwholesome and those made when the Mind is not utterly sincere."”Moreover, practitioners who assiduously recite such dharani as the Thousand-Armed Avalokitesvara Mantra, the Rebirth Mantra, etc. with utmost sincerity, can all be reborn in the Western Pure Land or other pure lands. 4) Phước Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through the power of accumulated merits: Lại nữa, Kinh Quán Vô Lượng Thọ có nói: “Muốn sanh về Cực Lạc, phải tu ba thứ phước. Ba thứ phước nầy là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai”—Moreover, the Meditation Sutra states: “Those who wish to be reborn in the land of Ultimate Bliss, must cultivate the three-fold goodness. These are the efficient causes for the pure actions of all the Buddhas of the three worlds, past, present and future. a) Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành: They should be filial toward their parents and support them; serve and respect their teachers and elders; be of compassionate heart and abstain from doing harm; and cultivate the ten virtuous actions. b) Thọ trì tam quy, giữ kỹ các giới, không phạm oai nghi: They should accept and hold on to their refuge in the Three Jewels; perfectly observe all moral precepts and not lower their dignity nor neglect ceremonial observances. c) Phát lòng Bồ Đề, tin lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, khuyến tấn người tu hành. Ngoài ra, những kẻ cất chùa xây tháp, tạo tượng, lễ bái tán tụng, giữ gìn trai giới, đốt hương, rải hoa, cúng dường tràng phan bảo cái, trai Tăng bố thí, nếu hạnh lành thuần thục, dùng lòng tín nguyện hồi hướng, đều có thể vãng sanh: They should awaken in their Minds a longing for Bodhi, deeply believe in the principle of cause and effect, recite Mahayan sutras, persuade and encourage other practitioners. Furthermore, those who perform good deeds, carrying them out to perfection and transferring the merits with a Mind of faith and vows, can all achieve rebirth as well. These meritorious acts include erecting temples, stupas and statues of the Buddhas, worshipping the Buddhas, burning incense, offering flowers, donating pennants and other decorations to Buddhist temples, making offerings of food to the clergy, practicing charity, etc.
tam môn đồ phái
577又稱越前三門徒不拜之眾。乃日本真宗之一流派。本願寺第三世覺如(1270~1351)遊化越前之時,為大野之如導,橫越之道性,與鯖江之如覺等三人所倡導,奉持「不拜之祕事」,稱為三門徒派。上述三人之門流稱為三門徒。此派主張一切眾生與佛本來同一,阿彌陀佛開悟之時,已認定眾生亦能開悟,故行者僅需信仰其本願,而無需念佛或禮拜。其後,捨此主張,而另外主張與本願寺相同之信仰,與真宗合流,成為十派中之內四派。即為三門徒派、山元派、出雲路派、誠照寺派。
; (三門徒派) Cũng gọi Việt tiền tam môn đồ bất bái chi chúng. Một trong các dòng phái của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản. Khi ngài Giác như (1270-1351) thuộc đời thứ 3 của chùa Bản nguyện du hóa đến Việt tiền đã đề xướng cho 3 người là Như đạo ở Đại dã, Đạo tính ở Hoành việt và Như giác ở Chinh giang, vâng giữ Bất bái chi bí sự(Việc bí mật không lạy), gọi là Tam môn đồ phái(dòng phái của 3 vị nói trên). Phái này chủ trương tất cả chúng sinh và Phật vốn là đồng nhất, khi đức Phật A di đà khai ngộ, Ngài đã nhận định chúng sinh cũng có khả năng khai ngộ, cho nên hành giả chỉ cần tin tưởng vào bản nguyện của Ngài chứ không cần phải niệm Phật hay lễ bái. Về sau, chủ trương này được bãi bỏ và thay vào đó là chủ trương tín ngưỡng giống như chủ trương của phái Bản nguyện tự, rồi nhập chung với phái Chân tông, trở thành Nội tứ phái trong 10 phái: Tam môn đồ phái, Sơn nguyên phái, Xuất vân lộ phái và Thành chiếu tự phái.
tam mạn đa bạt đà la
Xem Phổ hiền Bồ tát.
; Samantabhadra (S). Fouguen (J). Phổ Hiền. Pervading goodness, or "all gracious'. Also Biến Cát universal fortune; also styled Visvàbhadra. The principal Bodhisattva of Nga Mi sơn. He is the special patron of followers of the Lotus Sùtra. He is usually seated on a white elephant, and his abode is said to be in the East. He is one of the four Bodhisattvas of the Yoga school.
tam mạn đà
Samanta (S) Tr. by đẳng, phổ, biến. Universal, everywhere. Samantagandha (S). Phổ huân, universal fragrant; a tree in paradise; a title of a Buddha.
tam mật
606梵語 trīṇi guhyāni。指祕密之三業。即身密(梵 kāya-guhya)、口密(梵 vāg-guhya)、意密(梵 mano-guhya)。口密又稱為語密,意密又稱為心密。主要為密教所用。 (一)依顯教之解釋,不能以凡慮測得之佛之三業,稱為三密。據大智度論卷十載:(1)身密,如來處大會中,眾見佛之身色及身長不同,乃至現大神變,皆不可思議。(2)語密,佛說法時,或一里,或十里,或百千萬里外皆得聞佛音聲。又於同一會中,或聞說布施,或聞說持戒等,各各隨心所聞,皆不可思議。(3)意密,佛常處寂定,凡所思惟觀察,皆不可思議。 (二)密教以佛之三業屬體、相、用三大中之用大(真如之作用),其作用甚深微細,為凡慮所不及,等覺十地亦不能見聞,故稱三密,與眾生之三業相應,能成就不思議之業用。眾生之三業非但契合佛之三業,且含攝於其中,又眾生心中隱祕之本性同於佛之三密,即眾生三業之實相皆是六大法性之作用,與佛之三業相同,故亦稱三密。眾生之三密中,行者手作本尊之印契,乃至行、住、坐、臥等一切事業,皆稱身密。行者口誦真言,乃至一切言語等口業,皆稱語密。行者心觀本尊,乃至隨事起念一切事業,皆稱意密。眾生之三業相應於佛之三密,稱為三密用大,與「六大體大」、「四曼相大」合稱三大。 佛之三密遍滿宇宙,具體而言則有四種曼荼羅身,其中相好具足之大曼荼羅即如來之身密;三昧耶曼荼羅以密印及種種標幟表示本誓,為如來之意密;法曼荼羅是種子、真言、陀羅尼等言教,為如來之語密;羯磨曼荼羅通於以上三曼荼羅,故通三密。又佛部、蓮華部、金剛部依序配於身、語、意三密。 又三密有有相、無相二種:(一)有相三密,佛與眾生互融,入於瑜伽境界,眾生身結印(身密)、口誦真言(口密)、意觀本尊(意密),此即有相三密。(二)無相三密,眾生所有身、語之行為、內心所思考者皆為三密,此即無相三密。基於有相三密,佛之三密加護攝持在眾生之三業上,稱為三密加持。佛之三密與眾生之三密相應融合,稱為三密相應(三密瑜伽)。另如行者與本尊一體化,當身即可成佛,稱為即身成佛。清淨三業之觀法,稱為三密觀(又作三金剛觀、三金觀、三吽觀),即在身、口、意三處觀「吽」字,此乃觀象徵五智之五鈷金剛杵,以清淨三業罪障之觀法。 此外,三密有四重之本末,第一重,意密之德顯了,是為本;身、口二密隨觀心,成本尊之所作,是為末。第二重,三密皆同至第一實際妙極之境,故平等而無本末之分。第三重,由因至果以意為本,佛果之正位以身相為本,果後之方便以言說為本,故三密互有本末。第四重,身是體,為佛部,故為本;語、意是相用,為蓮華、金剛二部,故為末。 關於三密與六大、四曼之關係,有橫、豎二義。就豎義而言,六大之中,地、水、火三大為身密,風、空二大為語密,識大為意密。在四曼之中,字、印、形次第為語、身、意三密。就橫義而言,一切顯色為身密,一切音聲為語密,一切理趣為意密。依此橫、豎二義,在三密之中攝體相,故四曼、六大微細法體,乃至少分如鄰虛,亦無非業用,三密之一法得攝盡眾德,故三密即大日如來。〔大寶積經卷十密迹金剛力士會、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、菩提心論、大日經疏卷一、十住心論卷十、辨顯密二教論卷下、大日經開題、五輪九字明祕密釋、即身成佛義〕
; Trini-guhyani (S)Gồm: Thân mật, Khẩu mật, ý mật.
; The three mystic things: the body, mouth (i.e.voice), and mind of the Tathàgata Như Lai, which are universal, all things being this mystic body, all sounds this mystic voice, and all thoughts this mystic mind. All creatures in body, voice, and mind, are only individualized parts of the Tathàgata, but illusion hides their Tathàgata from them. The esoterics seek to realize their Tathàgata nature by physical signs and postures, by voicing of chân ngôn dhàranis and by meditations so that nhập ngã ngã nhập He may enter me and I Him, which is the perfection of siddhi tất địa.
; Thân Khẩu Ý—Thân khẩu ý của mọi sinh vật là những phần của Chân như, nhưng phiền não che lấp bản tánh chân như—The three mystic things (body, mouth and mind) of the Tathagata—All creatures in body, voice and mind are only individualized parts of the Tathagata, but illusion hides their Tathagata nature from them. Buddhist cultivators seek to realize their Tathagata nature by physical signs and postures, by voicing of dharani and by meditation: 1) Thân mật: All things being this mystic body. 2) Khẩu mật: All sound this mystic voice. 3) Ý mật: All thought this mystic mind.
; (三密) Phạm:Trìịi guhỳani. Chỉ cho 3 nghiệp bí mật, tức Thân mật (Phạm: Kàya-guhya), Khẩu mật (Phạm: Vàg-guhya)) và Ý mật (Phạm: Manoguhya). Khẩu mật cũng gọi là Ngữ mật và Ý mật cũng gọi là Tâm mật. Từ Tam mật chủ yếu do Mật giáo sử dụng. 1. Theo sự giải thích của Hiển giáo, không thể dùng sự suy tư của phàm phu mà lường biết được ba nghiệp của Phật, nên gọi là Tam mật. Thân mật: Đức Như lai ở giữa đại hội, đại chúng thấy sắc thân của Phật cao, thấp khác nhau, cho đến hiện đại thần biến đều không thể nghĩ bàn. Ngữ mật: Khi đức Phật nói pháp, người ở cách xa hoặc một dặm, hoặc mười dặm hoặc trăm ngàn dặm đều nghe được âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng một hội, người nghe bố thí, người nghe trì giới... mỗi người tùy theo chỗ mình nghe đều không thể nghĩ bàn. Ý mật: Phật thường ở trong thiền định vắng lặng, những chỗ ngài tư duy, quán xét đều không thể nghĩ bàn. 2. Theo sự giải thích của Mật giáo thì ba nghiệp của Phật thuộc về Dụng đại (tác dụng của Chân như) trong 3 đại Thể, Tướng, Dụng. Tác dụng ấy rất sâu xa nhỏ nhiệm, sự nghĩ lường của phàm phu không thể nào biết được, hàng Bồ tát Thập địa, Đẳng giác cũng không thể thấy nghe, cho nên gọi là Tam mật. Tam mật của Phật nếu ứng hợp với Tam nghiệp của chúng sinh thì thành tựu nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tam nghiệp của chúng sinh chẳng những khế hợp với Tam mật của Phật mà còn hàm nhiếp trong đó. Lại nữa, bản tính ẩn kín trong tâm chúng sinh cũng giống với Tam mật của Phật, tức thực tướng tam nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của pháp tính Lục đại và tương đồng với Tam mật của Phật, vì thế ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng sinh cũng gọi là Tam mật. Trong Tam mật của chúng sinh, hành giả dùng tay kết ấn của Bản tôn, cho đến tất cả việc đi, đứng, ngồi, nằm của hành giả đều gọi là Thân mật. Miệng hành giả tụng chân ngôn, cho đến tất cả lời nói thuộc về khẩu nghiệp, đều gọi là Ngữ mật. Tâm của hành giả quán tưởng Bản tôn, cho đến khởi lên ý niệm về tất cả sự nghiệp... đều gọi là Ý mật. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật, gọi là Tam mật dụng đại, cùng với Lục đại thể đại và Tứ mạn tướng đại gọi chung là Tam đại. Tam mật của Phật trùm khắp vũ trụ. Nói một cách cụ thể thì có thân của bốn loại Mạn đồ la, trong đó, Đại mạn đồ la có đầy đủ mọi tướng tốt đẹp, chính là Thân mật của Như lai; Tam muội da mạn đồ la dùng mật ấn và các kí hiệu để biểu trưng bản thệ, là Ý mật của Như lai; Pháp mạn đồ la là biểu thị ngôn giáo, chủng tử, chân ngôn, đà la ni... là Ngữ mật của Như lai; còn Yết ma mạn đồ la thì chung cho cả ba loại Mạn đồ la nêu trên, nên cũng chung cho cả Tam mật. Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ theo thứ tự phối hợp với Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Tam mật có hai loại là Hữu tướng và Vô tướng. 1. Hữu tướng tam mật: Phật và chúng sinh dung hòa lẫn nhau, nhập vào cảnh giới Du già; chúng sinh thân kết ấn(Thân mật), miệng tụng chân ngôn(Khẩu mật) và ý quán tưởng Bản tôn(Ý mật). 2. Vô tướng tam muội: Tất cả việc làm, lời nói thuộc thân, khẩu và những ý nghĩ trong tâm của chúng sinh đều là Tam mật.Tam mật có bốn lớp gốc, ngọn: -Lớp thứ nhất: Đức của Ý mật hiển bày rõ, đó là gốc. Thân mật và Khẩu mật theo tâm quán tưởng, thành tựu những việc của Bản tôn, đó là ngọn. -Lớp thứ hai: Tam mật đều cùng đạt đến cảnh cực vi diệu Đệ nhất thực tế, cho nên bình đẳng, không chia gốc ngọn. -Lớp thứ ba: Từ nhân đến quả lấy ý làm gốc, chính vị quả Phật lấy thân tướng làm gốc, phương tiện sau khi chứng quả lấy lời nói làm gốc, bởi thế Tam mật đều có gốc ngọn lẫn nhau. -Lớp thứ tư: Thân là thể, thuộc Phật bộ nên là gốc, Ngữ và Ý là tướng và dụng thuộc Liên hoa bộ và Kim cương bộ nên là ngọn. Về sự quan hệ giữa Tam mật, Lục đại và Tứ mạn thì có 2 nghĩa ngang và dọc. Nói theo nghĩa dọc thì trong Lục đại, đất, nước và lửa là Thân mật, gió và hư không là Ngữ mật, thức là Ý mật; trong Tứ mạn thì chữ, ấn và hình theo thứ tự là Ngữ mật, Thân mật và Ý mật. Còn nói theo nghĩa ngang thì tất cả hiển sắc là Thân mật, tất cả âm thanh là Ngữ mật và tất cả ý thú là Ý mật. Theo đó thì trong Tam mật, 2 nghĩa ngang, dọc nhiếp thuộc thể và tướng, bởi vậy, pháp thể nhỏ nhiệm của Tứ mạn, Lục đại, cho đến 1 phần nhỏ như lân hư trần cũng đều là nghiệp dụng, 1 pháp trong Tam mật hàm nhiếp hết mọi đức, cho nên Tam mật tức là Đại nhật Như lai. [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.10; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; luận Bồ đề tâm, Đại nhật kinh sớ Q.1; luận Thập trụ tâm Q.10; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.10; Đại nhật kinh khai đề; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích; Tức thân thành Phật nghĩa].
tam mật dụng đại
607三密,指身密、語密、意密。三密之作用遍於法界,賅通宇宙萬有,故稱三密用大。即眾生之三業相應於佛之三密,無隔無別,彼此不二。此理非凡夫所能了解,須經修持後,方能體悟,故稱之為密。如來因三密而成就清淨功德;一切山河大地法界體相,均是如來清淨法身,因眾生不知,故稱身密。一切音聲,皆是如來說法語言,因眾生不知,故稱語密。識大周遍法界,如來無所不知,無所不曉,而眾生不知,故稱意密。 密宗之修行者,即藉結手印功德力,將自己之身業轉成如來之身密;藉持咒功德力,將自己語業轉成如來之語密;藉觀想本尊之功德力,將自己之意業轉成如來之意密。藉三密加持之作用,一切眾生皆可成佛,一切國土可成淨土。在三密加持下,令眾生均能圓滿具足如來智慧德相,成就即身成佛之妙行,顯示眾生本覺之果德。(參閱「三密」606)
; (三密用大) Tác dụng to lớn của Tam mật. Tam mật chỉ cho Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Tác dụng của Tam mật trùm khắp pháp giới, bao quát cả vũ trụ vạn hữu, cho nên gọi là Tam mật dụng đại. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật, không cách biệt, chẳng phải hai; lí này phàm phu không thể nào hiểu rõ được, cần phải tu trì mới thể ngộ được, vì thế gọi là Mật. Như lai nhờ Tam mật mà thành tựu các công đức thanh tịnh; tất cả núi sông đất đai, thể tướng pháp giới đều là pháp thân thanh tịnh của Như lai, vì chúng sinh không biết nên gọi là Thân mật. Tất cả âm thanh đều là tiếng nói pháp của Như lai, vì chúng sinh không biết nên gọi là Ngữ mật. Thức đại của Như lai trùm khắp pháp giới, không điều gì mà Như lai không biết, không việc gì mà Như lai không hiểu, nhưng vì chúng sinh không biết nên gọi là Ý mật. Người tu hành Mật tông nhờ sức công đức tay kết thủ ấn mà chuyển thân nghiệp của chính mình thành Thân mật của Như lai, nhờ sức công đức trì chú mà chuyển ngữ nghiệp của chính mình thành Ngữ mật của Như lai; nhờ sức công đức quán tưởng Bản tôn mà chuyển ý nghiệp của chính mình thành Ý mật của Như lai. Nhờ tác dụng gia trì của Tam mật, tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật, tất cả cõi nước đều trở thành Tịnh độ. Nhờ sức gia trì của Tam mật, chúng sinh đều có thể trở nên viên mãn đầy đủ đức tướng trí tuệ của Như lai, thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật, hiển bày quả đức bản giác của chúng sinh. (xt. Tam Mật)
tam mật gia trì
606指佛陀三密之加持。三密,即身密、口密(語密)、意密。眾生修行三密時,其身口意三業受到佛陀三密之加持,佛與眾生三密相應,融和無間(三密瑜伽),則有不可思議之功能產生,此身即可成佛。此時,有一種超乎人類之力量顯現,此種相應而且得到感應之事,稱為加持。蓋就差別門而言,眾生所起之三密源於妄想,以三毒為體,而異於佛界之三密;然若據平等門而言,以佛眼觀之,則眾生之三密與諸佛之三密平等無異。故行者之三密若與本尊之三密相互加持,則可速疾成就大悉地。又此三密相應之果,稱為三法道界。〔大日經卷七、菩提心論、大日經疏卷一、即身成佛義〕
; Thân, ngữ, ý là tam mật. Đại Nhựt Như Lai bản thể khắp thời gian không gian là thân mật, tiếng nói khắp thời gian không gian là ngữ mật, thức đại khắp thời gian không gian là ý mật. Bàn tay kiến ấn là thân mật, miệng tụng chú là ngữ mật, tâm quán tưởng là ý mật. Thân, ngữ, ý đồng thời thực hành gọi là tam mật gia trì.
; Thân, ngữ, ý là tam mật. Đại Nhựt Như lai bản thể khắp thời gian không gian là Thân mật. Tiếng nói khắp thời gian không gian là Ngữ mật. Thức đại khắp thời gian không là Ý mật. Bàn tay kiết ấn là Thân mật, miệng tụng chú là Ngữ mật, tâm quán tưởng là Ý mật. Thân, ngữ, ý đồng thời thực hành gọi là Tam mật gia trì.
; (三密加持) Chỉ cho sự gia trì của Tam mật đức Phật. Khi chúng sinh tu hành Tam mật thì 3 nghiệp thân, khẩu, ý của mình được Tam mật của Phật gia trì, Phật và chúng sinh Tam mật tương ứng, dung hợp không cách ngăn (Tam mật du già) thì phát sinh công năng chẳng thể nghĩ bàn, thân này có khả năng thành Phật ngay. Lúc đó tựa hồ có 1 thứ năng lực siêu nhân hiển hiện. Việc tương ứng và được cảm ứng này gọi là Gia trì. Nếu nói theo Sai biệt môn thì Tam mật mà chúng sinh phát khởi vốn bắt nguồn từ vọng tưởng, lấy tam độc(tham, sân, si) làm thể, nên khác với Tam mật của Phật giới. Nhưng, nếu căn cứ vào Bình đẳng môn mà nói và nhìn bằng con mắt Phật, thì Tam mật của chúng sinh và Tam mật của chư Phật là bình đẳng, không khác nhau. Vì thế, nếu Tam mật của hành giả và Tam mật của Bản tôn gia trì cho nhau thì mau chóng thành tựu Đại tất địa. Quả tương ứng của Tam mật này gọi là Tam pháp đạo giới. [X. kinh Đại nhật Q.7; luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1; Tức thân thành Phật nghĩa].
tam mật lục đại
The three mystic things associated with the six elements, i.e. the mystic body is associted with earth, water and fire; the mystic words with wind and space; the mystic mind with thức consciousness (or cognition).
tam mật quán
607又作三金剛觀、三金觀、三吽觀。密教用以滅除身口意三業之罪垢,顯現諸尊功德之修法。其行法之次第,先著座塗香,行護身法之前,行蓮華合掌,於掌、舌、心三處觀想月輪,於月輪上有八葉蓮華,復於其上觀想金剛種子之吽字,復觀想吽字變成表示五智之五股金剛杵,以之斷除身口意之煩惱不淨。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、金剛頂瑜伽他化自在天理趣會普賢修行念誦儀軌、聖如意輪觀自在菩薩念誦次第〕
; (三密觀) Cũng gọi Tam kim cương quán, Tam kim quán, Tam hồng quán. Pháp quán tưởng của Mật giáo tu để diệt trừ những tội cấu của 3 nghiệp thân khẩu ý, hiển hiện công đức của chư tôn. Thứ tự tu hành pháp này như sau: Trước hết trải tòa ngồi, xoa hương, trước khi thực hành pháp hộ thân thì thực hành Liên hoa hợp chưởng (chắp tay theo hình hoa sen chưa nở), quán tưởng nguyệt luân(vòng tròn như mặt trăng) ở bàn tay, lưỡi và tim, trên nguyệt luân có 8 cánh hoa sen; trên hoa sen quán tưởng chữ Hồng, lại quán tưởng chữ Hồng biến thành cây chày kim cương năm chĩa, tượng trưng năm trí, dùng để đoạn trừ các phiền não bất tịnh của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính du già tha hóa tự tại thiên lí thú hội Phổ hiền tu hành niệm tụng nghi quĩ; Thánh như ý luân Quán tự tại bồ tát niệm tụng thứ đệ].
tam mật tương ưng
The three mystic things, body, mouth, and mind of theTathàgata are identical with those of all the living, so that even the fleshly body born of parents is the dharmakàya, or body of Buddha.
tam mặc đường
686指須嚴守緘默之三所堂,即:浴室、僧堂、西淨(廁處)三處。(一)在浴室之內,不得漫言,故佛訂定二種洗浴之儀式,一為法語,二為聖默然。(二)僧堂,即坐禪堂,在此不得聚首喧笑,亦不得讀經或閱冊子。(三)如廁之時,身口應狀如木石,不得張聲。〔毘奈耶雜事卷三、大比丘三千威儀卷上、沙彌威儀、敕修百丈清規卷下日用軌範條、禪林象器箋殿堂門〕
; (三默堂) Chỉ cho 3 nơi mà khi vào trong phải giữ im lặng, đó là nhà tắm, nhà tăng, và nhà xí. 1. Nhà tắm: Trong nhà tắm không được nói chuyện, cho nên Phật qui định 2 nghi thức tắm gội: Một là nói pháp, hai là im lặng.2. Nhà tăng (tức là nhà ngồi thiền): Ở đây không được chụm đầu nói cười, cũng không được đọc kinh xem sách. 3. Nhà xí (nhà vệ sinh): Khi vào nhà xí, thân và miệng nên giống như gỗ đá, tuyệt đối giữ im lặng. [X. Tì nại da tạp sự Q.3; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; Sa di uy nghi; điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện đường Thiền lâm tượng khí tiên].
tam mục
The three-eyed, a term for Siva, i.e. Mahesvara; simili for the dharmakàya, or spiritual body, prajnà or wsdom, and nirvàna emancipation.
tam nan
See Tam Ác Đạo.
Tam nghi
三疑; C: sān yí; J: sangi;|Ba mối nghi ngờ cản trở việc tu hành nghiêm túc bất động: Nghi ngờ chính mình, nghi ngờ bậc thầy, nghi ngờ Phật pháp.
tam nghi
646據釋禪波羅蜜次第法門卷二載,習禪之時,若生起如下三疑,則不能入於禪定。即:(一)疑自,若人以諸根闇鈍、罪垢深重,遂自疑非是受道之器,禪定終不能發。(二)疑師,懷疑受道之師威儀相貌皆不具足。作此疑慢,禪定不能生。(三)疑法,懷疑所受之法非正真之道,故不敬信受行,禪定不能生。以上種種因 t,若覺知疑過,當急棄之。棄疑蓋即為棄五蓋之一。(參閱「棄五蓋」5049)
; The three doubts - of self, of teacher, of the dharma-truth.
; (A) Three doubts: 1) Nghi mình: Doubts of self. 2) Nghi Thầy: Doubts of teachers. 3) Nghi Pháp: Doubts of Dharma. (B) Three ranks: 1) Trời: Heaven. 2) Đất: Earth. 3) Người: Man.
; (三疑) Ba mối ngờ vực phát sinh khi tu tập thiền định. Cứ theo Thích thiền Ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 2, khi hành giả tu thiền, nếu sinh khởi 3 mối ngờ sau đây thì không thể vào được thiền định. 1. Nghi tự: Ngờ chính mình, nếu người vì các căn ám độn, tội chướng sâu nặng, ngờ mình chẳng phải là pháp khí để được thầy truyền đạo cho, thì thiền định không thể phát khởi. 2. Nghi sư: Ngờ thầy, ngờ vị thầy dạy đạo uy nghi, tướng mạo đều không đầy đủ. Nếu người có tâm hoài nghi ngạo mạn như vậy thì thiền định không thể phát sinh.3. Nghi pháp: Ngờ pháp, ngờ rằng giáo pháp mà mình nhận lãnh chẳng phải là đạo chân chính nên không kính tin. Nếu người có tâm hoài nghi như vậy thì thiền định không sinh được. Từ các nhân duyên trên đây, nếu biết hoài nghi là lỗi thì phải xả bỏ ngay. Xả bỏ Nghi cái(phiền não ngờ) tức là bỏ được 1 trong 5 cái. (xt. Khí Ngũ Cái).
tam nghiệm
706入於定中,若有佛菩薩等之像顯現時,驗定其邪正之法有三,即:(一)以定研磨,定中境相已發,而難知其邪正時,當深入定心,於彼境中不取不捨,但平等定住,若是善根之所發者,定力愈深,善根彌發;若是魔所為,不久自壞。(二)依本修治,若原本修不淨觀者,今仍依其本而修不淨觀,境界增明者則知是正境,若漸漸壞滅則知是邪。(三)智慧觀察,觀所發之相,推驗根源,不見生處,深知空寂,心不住著,邪當自滅,正境自現。以上三者,若以鍊金比喻之,「以定研磨」譬如磨金,「依本修治」猶如錘打,「智慧觀察」則類之於燒冶,以此三者驗定,邪正自可得知。〔大乘起信論義記卷下末、起信論疏筆削記卷六、起信論疏卷下〕
; (三驗) Ba cách để nghiệm xem những cảnh tượng như Phật, Bồ tát hiện ra khi hành giả ở trong định là chính hay tà. 1. Dùng định để xét nghiệm: Khi ở trong định, các cảnh tướng hiện ra mà khó biết là tà hay chính thì phải đi sâu vào tâm định, đối với các cảnh ấy không nắm giữ không buông bỏ,chỉ bình đẳng trụ trong định, nếu do thiện căn hiện ra thì sức định càng sâu, thiện căn càng phát; còn nếu do ma biến ra thì chẳng bao lâu sẽ tự mất. 2. Cứ y theo pháp vốn tu mà đối trị: Nếu pháp vốn tu là Bất tịnh quán thì lúc này cũng vẫn theo đó mà tu, nếu cảnh giới sáng thêm thì biết cảnh ấy là chính, nếu cảnh ấy dần dần hoại diệt thì biết đó là cảnh tà. 3. Dùng trí tuệ quán xét: Quán sát tướng đã phát, xét nghiệm đến cội nguồn mà không thấy chỗ sinh của cảnh tướng thì biết là không tịch, tâm không dính mắc, tướng tà sẽ tự diệt, cảnh chính tự hiện.Ba phương pháp xét nghiệm trên đây nếu dùng việc luyện vàng để ví dụ thì: Dùng định để xét nghiệm ví như mài dũa vàng, y theo pháp vốn tu để đối trị ví như búa đập; dùng trí tuệ quán xét thì ví như nấu đúc. Dùng 3 cách nghiệm xét trên đây thì tà hay chính có thể tự biết.
Tam Nghiệp
(s: trīni-karmāṇi, 三業): ba nghiệp gồm thân, miệng và ý. (1) Thân nghiệp (s: kāya-karman, p: kāya-kamma, 身業) là việc làm do thân làm ra, có thiện và ác. Như sát sanh, trộm cắp, tà dâm là nghiệp xấu của thân. Còn nếu không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, v.v., là nghiệp tốt của thân. (2) Khẩu nghiệp (s: vāk-karman, p: vacī-kamma, 口業) là việc làm do miệng làm ra, có thiện có ác khác nhau. Tỷ dụ như nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt là nghiệp xấu của miệng. Và nếu không nói dối, không nói lời ly gián, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt là nghiệp tốt của miệng. (3) Ý nghiệp (s: manas-karman, p: mano-kamma, 意業) là việc làm do ý tạo ra, cũng có thiện và ác. Như tham dục, sân hận, tà kiến là nghiệp không tốt của ý. Và không tham lam, không sân hận, không tà kiến là nghiệp tốt của ý. Ngoài ra, Tam Nghiệp còn có nghĩa là: (1) Thiện Nghiệp (善業, hành vi tạo tác mang tính tốt, lương thiện), (2) Ác Nghiệp (惡業, hành vi tạo tác mang tính xấu, thấp kém) và (3) Vô Ký Nghiệp (無記業, hành vi tạo tác không thể phân biệt, chẳng thuộc về thiện và ác). Hay Tam Nghiệp là: (1) Lậu Nghiệp (漏業, tác nghiệp có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phần Đoạn Sanh Tử, thuộc về hành vi tạo tác của phàm phu), (2) Vô Lậu Nghiệp (無漏業, tác nghiệp không có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phương Tiện Hữu Dư Độ, thuộc về tác nghiệp của hàng Nhị Thừa Thanh Văn và Duyên Giác) và (3) Phi Lậu Phi Vô Lậu Nghiệp (非漏非無漏業, tác nghiệp không thuộc về hữu lậu và vô lậu, có thể chiêu cảm quả báo Thật Báo Độ, là tác nghiệp của Bồ Tát). Như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, CBETA No. 1085) có giải thích rằng: “Giới chi nhất tự thị danh, Phạn vân Thi La, diệc vân Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa đẳng, thử vân thanh lương, diệt Tam Nghiệp chi quá khiên, đắc giải thoát dã (戒之一字是名、梵云尸羅、亦云毗尼波羅提木叉等、此云清涼、滅三業之過愆、得解脫也, một chữ Giới là tên gọi, tiếng Phạn là Thi La, còn gọi là Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa, v.v.; Tàu gọi là trong mát, diệt các tội lỗi của Ba Nghiệp, được giải thoát).” Hay trong (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) có câu: “Kim trì giới chi yếu, tiên tu Tam Nghiệp thanh tịnh, tắc tâm tự tịnh (今持戒之要、先須三業清淨、則心自淨, nay điều côt yếu của việc giữ giới là trước hết phải Ba Nghiệp trong sạch, tức tâm tự trong sạch).”
tam nghiệp
xem ba nghiệp.
; 637梵語 trīni-karmāṇi。<一>身口意三業。(一)身業,指身所作及無作之業,有善有惡,若殺生、不與取、欲邪行等為身惡業;若不殺、不盜、不淫,即為身善業。(二)口業,又作語業,指口所作及無作之業,有善有惡,若妄語、離間語、惡語、綺語等為口惡業;若不妄語、不兩舌、不惡語、不綺語則為口善業。(三)意業,指意所起之業,有善有惡,若貪欲、瞋恚、邪見等為意惡業;若不貪、不瞋、不邪見則為意善業。此外,另有非善非惡、無感果之力的無記之身口意三業。〔別譯雜阿含經卷五、大毘婆沙論卷一一三、集異門足論卷六、大乘法苑義林章卷三末〕(參閱「業道」5502) <二>就善、惡、無記等三性分業為善業、不善業、無記業。(一)善業(梵 kuśala-karma),指以無貪、無瞋、無癡等為因緣之業。(二)惡業(梵 akuśala-karma),又作不善業,指以貪、瞋、癡等為因緣之業。(三)無記業(梵 avyākṛta-karma),非以無貪、無瞋、無癡等,亦非以貪、瞋、癡等為因緣之業。〔俱舍論卷十五、瑜伽師地論卷九、品類足論卷五、發智論卷十一〕(參閱「三性」563) <三>又作三受業、三受報業。就苦、樂、捨三受,分業為順樂受業、順苦受業、順不苦不樂受業。(一)順樂受業(梵 sukha-vedanīya-karma),又作樂報業,指福業及順第三靜慮而受之善業。(二)順苦受業(梵 duḥkha-vedanīya-karma),又作苦報業,指非福業。(三)順不苦不樂受業(梵 aduḥkhāsukha-vedanīya-karma),又作不苦不樂報業,指能感一切處阿賴耶識之異熟業及第四靜慮以上之善業。〔俱舍論卷十五、瑜伽師地論卷九、品類足論卷五〕 <四>又作三時業、三報業。就現、次、後等三生之報,分業為順現法受業、順次生受業、順後次受業。又作現報業、生報業、後報業。(一)順現法受業(梵 dṛṣṭa-dharma-vedanīya-karma),即此生所造,於此生成熟之業。(二)順次生受業(梵 upapadya-vedanīya-karma),即此生所造,於第二生成熟之業。(三)順後次受業(梵 apara-paryāya-vedanīya-karma),即此生所造,於第三生以後次第成熟之業。〔俱舍論卷十五、瑜伽師地論卷九十〕 <五>就界之上下及所感果之愛與非愛之別,分業為福業、非福業、不動業。(一)福業(梵 puṇya-karma),招感欲界善果之業;此業能招可愛之果以益有情。(二)非福業(梵 apuṇya-karma),又作罪業。招感欲界惡果之業;此業能招非可愛之果以損有情。(三)不動業(梵 aniñjya-karma),招感色界及無色界善果之業。又色界、無色界之業,以定力之故,初禪之業必感初禪之果,二禪之業必感二禪之果;其業與果皆不動轉,故稱不動業。反之,欲界之業則能為他緣所動轉,故稱動業。〔正法念處經卷五十五、俱舍論卷十五、順正理論卷四十〕 <六>就施、戒、修,分業為施類福業事(梵 dāna-maya-puṇya-kriyā-vastūni)、戒類福業事(梵 sīla-maya-puṇya-kriyā-vastūni)、修類福業事(梵 bhāvanā-maya-puṇya-kriyā-vastūni)。又作三福業事(梵 trīṇi puṇya-kriyā-vastūni)、三類福業事、三性福業事。略稱三福業。瑜伽師地論卷九(大三○‧三一九下):「施性業者,謂若因緣,若等起,若依處,若自性。彼因緣者,謂以無貪、無瞋、無癡為因緣。彼等起者,謂無貪、無瞋、無癡俱行,能捨所施物,能起身語業思。彼依處者,謂以所施物及受者為依處。彼自性者,謂思所起,能捨所施物身業語業。如施性業,如是戒性業、修性業,隨其所應應知。此中,戒性業因緣、等起如前,自性者,謂律儀所攝身語業等。依處者,謂有情、非有情數物。修性因緣者,謂三摩地因緣,即無貪、無瞋、無癡。等起者,謂彼俱行引發定思。自性者,謂三摩地。依處者,謂十方無苦無樂等有情界。」〔中阿含卷十一牛糞喻經、增一阿含經卷十二、大般若波羅蜜多經卷三〕 <七>就律儀、不律儀、非律儀非不律儀等三種之別,而分業為律儀所攝業、不律儀所攝業、非律儀非不律儀所攝業。(一)律儀所攝業,又作律儀業。有三種:別解脫律儀所攝之業、靜慮等至果斷律儀所攝之業、無漏律儀所攝之業。(二)不律儀所攝業,又作不律儀業。瑜伽師地論卷九列舉十二種不律儀類所攝之業,即:屠羊、販雞、販豬、捕鳥、罝兔、盜賊、魁膾、守獄、讒刺、斷獄、縛象、咒龍。(三)非律儀非不律儀所攝業,又作非律儀非不律儀業。除上述之律儀業及不律儀類業外,其餘一切善、不善、無記業均是。〔發智論卷十二、大乘阿毘達磨雜集論卷八〕(參閱「非律儀非不律儀」3709) <八>就三世,分業為過去業、未來業、現在業。(一)過去業,謂住於習氣之位,或已與果,或未與果之業。(二)未來業,謂未生未滅之業。(三)現在業,謂已造已思而未謝滅之業。〔發智論卷十一、俱舍論卷十七、瑜伽師地論卷九〕 <九>就三界之所繫,分業為欲界繫業、色界繫業、無色界繫業。(一)欲界繫業,謂能招感欲界之異熟而墮於欲界之業。(二)色界繫業,謂能招感色界之異熟而墮於色界之業。(三)無色界繫業,謂能招感無色界之異熟而墮於無色界之業。〔發智論卷十一、瑜伽師地論卷九、大毘婆沙論卷一一五〕 <十>就學、無學、非學非無學等三種之別,分業為學業、無學業、非學非無學業。(一)學業(梵 śaikṣa-karma),異生、非異生之學相續中之所有善業。(二)無學業(梵 aśaikṣa-karma),無學相續中之所有善業。(三)非學非無學業(梵 naivaśaikṣa-nāśaikṣa-karma),除前二種外,其餘相續中之所有善、不善、無記業均是。 <十一>就斷與非斷之別,分業為見所斷業、修所斷業、無斷業。(一)見所斷業(梵 darśana-heya-karma),即招感惡趣之不善等之業。(二)修所斷業(梵 bhāvanā-heya-karma),即招感善趣之善、不善、無記業。(三)無斷業(梵 aheya-karma),即世、出世之諸無漏業。〔瑜伽師地論卷九、品類足論卷五、大毘婆沙論卷一一五〕 <十二>就身語意三業之染污情形而分業為曲業、穢業、濁業。據俱舍論卷十五載,即:(一)曲業,依諂而生之身語意三業。(二)穢業,依瞋而生之身語意三業。(三)濁業,依貪而生之身語意三業。然瑜伽師地論卷九另有異說。〔發智論卷十一、大毘婆沙論卷一一七、大乘義章卷七〕 <十三>就應作、不應作、非應作非不應作等三種之別,分業為應作業(梵 yoga-vihita-karma)、不應作業(梵 ayoga-vihita-karma)、非應作非不應作業(梵 nayoga-vihita-nāyoga-vihita-karma)。俱舍論卷十七(大二九‧九二上):「有說,染業名不應作,以從非理作意所生。有餘師言,諸壞軌則身語意業亦不應作,謂諸所有應如是行,應如是住,應如是說,應如是著衣,應如是食等;若不如是,名不應作。由彼不合世俗禮儀,與此相翻,名應作業。有說,善業名為應作,以從如理作意所生。有餘師言,諸合軌則身語意業亦名應作,俱違前二,名為第三,隨其所應,二說差別。」〔順正理論卷四十三〕 <十四>就喜、憂、捨三受,分業為順喜受業(梵 saumanasya-vedanīya-karma)、順憂受業(梵 daurmanasya-vedanīya-karma)、順捨受業(梵 upekṣā-vedanīya-karma)。〔俱舍論卷三、俱舍論光記卷三〕
; Trividha-dvara (S), Trini-karmani (S), Three karmas Ba Hạnh nghiệp, ba nghiệp báo, ba việc làm. 1- Tam nghiệp là: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Trong tam nghiệp, ý nghiệp là quan trọng hơn hết 2- Tam nghiệp là: phước nghiệp, phi phước nghiệp (tội nghiệp), bất động nghiệp (hạnh nghiệp không liên hệ dục giới, do thiền định mà thấu tới saq1c giới và vô sắc giới). 3- Tam nghiệp là: thiện nghiệp, ác nghiệp (bất thiện nghiệp), vô ký nghiệp (hạnh nghiệp không có phước hoặc tội). 4- Tam nghiệp là: lậu nghiệp (hữu lậu nghiệp), vô lậu nghiệp (hạnh nghiệp của hàng Thanh văn, Duyên giác, quyết dứt trừ phiền não luân hồi), phi lậu phi vô lậu nghiệp (hạnh nghiệp chơn thật của hàng Bồ tát).
; Trividhà-dvàra. The three conditions, inheritances, or karmas of which there are several groups. (1) Deed, word, thought thân, khẩu, ý. (2) (a) Present-life happy karma; (b) present-life unhappy karma; (c) bất định karma of an unperturbable nature. (3) (a) Good; (b) evil; (c) neutral karma. (4) (a) Lậu nghiệp karma of ordinary rebirth; (b) vô lậu nghiệp karma of Hìnayàna nirvàna; (c) phi lậu phi vô lậu karma of neither, independent of both, Mahàyàna nirvàna. (5) (a) Present deeds and their consequences in this life; (b) present deeds and their next life consequences; (c) present deeds and consequences after the next life.
; Ba nghiệp—The three conditions, inheritances, or three kinds of karma: (A) Three kinds of behavior: 1) Thân nghiệp: Behavior of body—Action—Deed—Doing. 2) Khẩu nghiệp: Behavior of speech—Speech—Word—Speaking. 3) Ý nghiệp: Behavior of mind—Thought—Thinking. (B) 1) Hiện Phước nghiệp: Present life happy karma. 2) Hiện Phi Phước nghiệp: Present life unhappy karma. 3) Hiện Bất Động nghiệp: Karma of an imperturbable nature. (C) 1) Hữu lậu nghiệp: Karma of ordinary rebirth. 2) Vô lâu nghiệp: Karma of Hinayan Nirvana. 3) Phi lậu phi vô lậu nghiệp: Karma of Mahayana Nirvana.
; (三業) Phạm: Trìịi-karmàịi. I. Tam Nghiệp. Ba nghiệp thân, khẩu, ý. 1. Thân nghiệp: Chỉ cho nghiệp tạo tác và không tạo tác của thân, có thiện có ác khác nhau; nếu làm các việc như giết hại, trộm cướp, tà dâm... là Thân ác nghiệp; nếu không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm... là Thân thiện nghiệp. 2. Khẩu nghiệp(cũng gọi Ngữ nghiệp): Chỉ cho nghiệp tạo tác và không tạo tác của miệng, có thiện, có ác, nếu nói dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêu dệt... là khẩu ác nghiệp; nếu không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói ác, không nói đơm đặt thì là Khẩu thiện nghiệp. 3. Ý nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ý thức dấy lên, có thiện có ác, nếu tham muốn, sân hận, tà kiến là Ý ác nghiệp; nếu không tham, không sân, không tà kiến... thì là Ý thiện nghiệp. Ngoài ra còn có 3 nghiệp thân, khẩu, ý vô kí, tức là các nghiệp không phải thiện không phải ác, không có năng lực chiêu cảm quả báo. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.5; luận Đại tì bà sa Q.113; luận Tập dị môn túc Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối]. (xt. Nghiệp Đạo). II. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 tính thiện, ác và vô kí: 1. Thiện nghiệp (Phạm: Kuzalakarma): Nghiệp lấy vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên. 2. Ác nghiệp(Phạm:Akuzala-karma), cũng gọi Bất thiện nghiệp: Chỉ cho nghiệp lấy tham, sân, si làm nhân duyên. 3. Vô kí nghiệp (Phạm: Avỳakftakarma): Nghiệp chẳng lấy vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên, cũng chẳng lấy tham, sân, si làm nhân duyên. [X. luận Câu xá Q.15; luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Phát trí Q.11]. (xt. Tam Tính). III. Tam Nghiệp. Cũng gọi Tam thụ nghiệp, Tam thụ báo nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 thứ cảm thụ khổ, lạc, xả, đó là: 1. Thuận lạc thụ nghiệp (Phạm: Sukha-vedanìya-karma), cũng gọi Lạc báo nghiệp: Chỉ cho phúc nghiệp và thiện nghiệp cảm nhận theo Đệ tam tĩnh lự. 2. Thuận khổ thụ nghiệp (Phạm: Du#kha-vedanìya-karma), cũng gọi Khổ báo nghiệp: Chỉ cho phi phúc nghiệp. 3. Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp (Phạm: Adu#khàsakha-vedanìyakarma), cũng gọi Bất khổ bất lạc báo nghiệp: Chỉ cho nghiệp Dị thục có năng lực chiêu cảm thức A lại da ở tất cả mọi nơi và nghiệp thiện của Đệ tứ tĩnh lự trở lên.[X. luận Câu xá Q.15, luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5]. IV. Tam Nghiệp. Cũng gọi Tam thời nghiệp, Tam báo nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo quả báo 3 đời hiện tại(hiện), đời kế(thứ) hoặc nhiều đời sau(hậu). 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp (Phạm: Dfwỉa-dharam-vedanìyakarma): Nghiệp được tạo ra ở đời này và thành thục ngay ở đời này. Tức gây nhân ở hiện tại và chịu quả báo ngay trong hiện tại.2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (Phạm: Upapadya-vedanìya-karma): Nghiệp tạo ở đời này đến đời thứ 2 mới thành thục. Tức là đời này gieo nhân sang đời kế tiếp mới chịu quả báo. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (Phạm: Apara-paryàya-vedanìya-karma): Nghiệp tạo ở đời này đến đời thứ 3 hoặc nhiều đời sau nữa mới thành thục. Tức gây nhân ở đời hiện tại đến đời thứ 3 hoặc nhiều đời sau mới chịu quả báo. V. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo cảnh giới trên dưới và cảm quả đáng ưa, không đáng ưa khác nhau. Đó là: 1. Phúc nghiệp (Phạm: Puịyakarma): Nghiệp chiêu cảm quả thiện cõi Dục; nghiệp này có công năng mang lại quả đáng ưa, có ích cho hữu tình. 2. Phi phúc nghiệp (Phạm: Apuịyakarma), cũng gọi Tội nghiệp: Nghiệp chiêu cảm quả ác ở cõi Dục; nghiệp này có công năng mang lại quả không đáng ưa, gây tổn hại cho hữu tình. 3. Bất động nghiệp (Phạm:Aniĩjyakarma): Nghiệp chiêu cảm quả thiện ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghiệp ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, nhờ sức định nên nghiệp Sơ thiền chắc chắn cảm quả Sơ thiền, nghiệp Nhị thiền nhất định cảm quả Nhị thiền, nghiệp và quả này đều không biến động, vì thế gọi là Bất động; trái lại, nghiệp cõi Dục thì thường bị các duyên khác làm cho biến động, cho nên gọi là Động nghiệp. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.55; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.40]. VI. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo Thí, Giới, Tu là: -Thí loại phúc nghiệp sự (Phạm:Dànamaya-puịya-kriỳa-vastùni). -Giới loại phúc nghiệp sự (Phạm:Zìlamaya-puịya-kriỳa-vastùni). -Tu loại phúc nghiệp sự (Phạm: Bhàvanà-maya-puịya-kriỳa-vastùni). Cũng gọi Tam phúc nghiệp sự (Phạm: Trìịi puịya-kriỳa-vastùni), Tam loại phúc nghiệp sự, Tam tính phúc nghiệp sự. Gọi tắt: Tam phúc nghiệp. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 hạ) nói: Thí tính nghiệp(Thí loại phúc nghiệp sự) có 4 nghĩa: Nhân duyên, Đẳng khởi, Y xứ và Tự tính. Nhân duyên nghĩa là vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên; Đẳng khởi nghĩa là cùng thực hành vô tham, vô sân, vô si, xả bỏ vật sở thí, khởi nghiệp thân ngữ ý. Y xứ nghĩa là lấy vật để bố thí và người nhận làm chỗ nương; Tự tính nghĩa là Tâm sở Tư khởi nghiệp thân và ngữ thường xả bỏ vật sở thí. Đó là nói về Thí là tính nghiệp. Còn về Giới tính nghiệp(Giới loại phúc nghiệp sự)và Tu tính nghiệp(Tu loại phúc nghiệp sự) thì cũng giống như thế, cứ suy nghĩa này thì biết. Trong đó, nghĩa nhân duyên và đẳng khời của Giới tính nghiệp giống như trên; còn Tự tính là thuộc về luật nghi của thân và ngữ nghiệp. Y xứ là số hữu tình và phi hữu tình. Nghĩa nhân duyên của Tu tình nghiệp là nhân duyên Tam ma địa, tức vô tham, vô sân, vô si. Đẳng khởi là định phát khởi cùng lúc với Tư; Tự tính là Tam ma địa; Y xứ là cõi hữu tình không có khổ, lạc trong khắp 10 phương. [X. kinh Ngưu phẩn dụ trong Trung a hàm Q.11; kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Đại bát nhã Ba la mật đa Q.3]. VII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo luật nghi, bất luật nghi và phi luật nghi phi bất luật nghi là: Luật nghi sở nhiếp nghiệp, Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp và Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp. 1. Luật nghi sở nhiếp nghiệp (cũng gọi Luật nghi nghiệp), có 3 thứ: Biệt giải thoát luật nghi sở nhiếp chi nghiệp, Tĩnh lự đẳng chí quả đoạn luật nghi sở nhiếp chi nghiệp và Vô lậu luật nghi sở nhiếp chi nghiệp. 2. Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp(cũng gọi Bất luật nghi nghiệp). Luận Du già sư địa quyển 9 liệt kê 12 thứ Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp là: Giết dê, bán gà, bán lợn, bắt chim, bẫy thỏ, trộm cắp, đồ tể, giữ ngục, dèm pha, cai ngục, bắt voi, dùng chú thuật hại rồng. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp(cũng gọi Phi luật nghi phi bất luật nghi nghiệp). Trừ Luật nghi nghiệp và Bất luật nghi nghiệp nói trên, tất cả thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô kí nghiệp còn lại đều thuộc Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp.[X. luận Phát trí .12; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8]. (xt. Phi Luật Nghi Phi Bất Luật Nghi). VIII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 đời: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. 1. Quá khứ nghiệp: Nghiệp trụ ở vị tập khí, hoặc đã thành quả, hoặc chưa thành quả. 2. Vị lai nghiệp: Nghiệp chưa sinh chưa diệt.3. Hiện tại nghiệp: Nghiệp đã tạo tác đã tư duy nhưng chưa diệt. [X. luận Phát trí Q.11; luận Câu xá Q.17; luận Du già sư địa Q.9]. IX. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo sự trói buộc trong 3 cõi là: Dục giới hệ nghiệp, Sắc giới hệ nghiệp và Vô sắc giới hệ nghiệp. 1. Dục giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục trong cõi Dục mà rơi vào cõi Dục. 2. Sắc giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục ở cõi Sắc mà rơi vào Sắc giới. 3. Vô sắc giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục ở cõi Vô sắc mà rơi vào Vô sắc giới. [X. luận Phát trí Q.11; luận Du già sư địa Q.9, luận Đại tì bà sa Q.115]. X. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 bậc Học, Vô học, Phi học phi vô học là: Học nghiệp, Vô học nghiệp và Phi học phi vô học nghiệp. 1. Học nghiệp (Phạm:Zaiksa-karma): Tất cả thiện nghiệp trong sự tương tục của bậc Hữu học thuộc hàng dị sinh và phi dị sinh.2. Vô học nghiệp (Phạm: Azaikwakarma): Tất cả thiện nghiệp trong sự tương tục thuộc bậc Vô học. 3. Phi học phi vô học nghiệp (Phạm: Naivazaikwa-nàzaikwa-karma): Trừ 2 thứ thiện nghiệp nói trên, tất cả thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô kí nghiệp trong sự tương tục khác đều thuộc về Phi học phi vô học nghiệp. XI. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo đoạn và phi đoạn là: Kiến sở đoạn nghiệp, Tu sở đoạn nghiệp và Vô đoạn nghiệp. 1. Kiến sở đoạn nghiệp (Phạm: Darzana-heya-karma): Nghiệp bất thiện chiêu cảm ác thú. 2. Tu sở đoạn nghiệp (Phạm:Bhàvanàheya-karma): Các nghiệp thiện, bất thiện, vô kí... chiêu cảm thiện thú. 3. Vô đoạn nghiệp (Phạm: Aheyakarma): Các nghiệp vô lậu thế gian và xuất thế gian. [X. luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.115]. XII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia theo sự nhiễm ô của 3 nghiệp thân, khẩu, ý là: Khúc nghiệp, Uế nghiệp và Trược nghiệp. 1. Khúc nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào sự dua nịnh mà sinh. 2. Uế nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào sân hận mà sinh. 3. Trược nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào tham lam mà sinh. [X. luận Câu xá Q.15; luận Phát trí Q.11; luận Đại tì bà sa Q.117; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. XIII. Tam Nghiệp. Dựa theo ba thứ Ưng tác, Bất ưng tác và Phi ưng tác phi bất ưng tác khác nhau mà chia nghiệp làm 3 loại là: -Ưng tác nghiệp (Phạm: Yoga-vihitakarma). -Bất ưng tác nghiệp (Phạm: Ayogavihita-karma). -Phi ưng tác phi bất ưng tác nghiệp (Phạm: Nayoga-vihita-nàyoga-vihitakarma). Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 92 thượng) nói: Có thuyết cho rằng nghiệp ô nhiễm được gọi là Bất ưng tác, vì nó từ sự tác ý phi lí mà sinh ra. Có các Luận sư khác lại chủ trương các nghiệp thân ngữ ý làm bại hoại pháp tắc cũng là Bất ưng tác, nghĩa là tất cả càc việc nên đi như thế, nên đứng như thế, nên nói như thế, nên mặc áo như thế, nên ăn uống như thế..., nếu không như thế thì gọi là Bất ưng tác. Những việc không hợp với lễ nghi thế tục, trái với thế tục, gọi là Ưng tác nghiệp. Có thuyết cho rằng thiện nghiệp gọi là Ưng tác, vì nó từ sự tác ý hợp lí mà sinh ra. Các Luận sư khác cho rằng các nghiệp thân ngữ ý hợp với quĩ tắc cũng gọi là Ưng tác. Đây là thuyết thứ 3, đều trái với 2 chủ trương trước, tùy theo chỗ nên làm mà 2 thuyết khác nhau. [X. luận Thuận chính lí Q.43]. XIV. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp theo 3 cảm thụ hỉ(mừng), ưu (lo), xả(không mừng không lo) mà được phân loại là: -Thuận hỉ thụ nghiệp (Phạm: Saumanasya-vedanìya-karma). -Thuận ưu thụ nghiệp (Phạm: Daurmanasya-vedanìya-karma). -Thuận xả thụ nghiệp (Phạm:Upekwàvedanìya-karma). [X. luận Câu xá Q.3; Câu xá luận quang kí Q.3].
tam nghiệp cúng dường
To serve or worship with perfect sincerity of body, mouth and mind.
; Ba loại cúng dường—The three kinds of offerings or praises: 1) Thân nghiệp cúng dường: The offering or praise of the body. 2) Khẩu nghiệp cúng dường: The offering or praise of the lips. 3) Ý nghiệp cúng dường: The offering or praise of the mind.
Tam Nghiệp Hoặc Loạn
(三業惑亂, Sangōwakuran): cuộc pháp luận (luận tranh về giáo pháp) xảy ra trong nội bộ Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派, Honganji-ha, phía Tây Bổn Nguyện Tự) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông dưới thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867). Người đứng ra xét xử để dẹp yên vụ náo động này là Hiếp Phản An Đổng (脇坂安董, Wakizaka Yasutada), quan Tự Xã Phụng Hành (寺社奉行, Jishabugyō) và là Phiên chủ đời thứ 8 của Phiên Long Dã (龍野藩, Tatsuno-han). Trong phần An Đổng của cuốn Hiếp Phản Gia Phổ (脇坂家譜) có ghi rằng: “Ngày 11 tháng 7 năm Văn Hóa thứ 3 (1806), xét xử vụ náo động về Tông ý của Tây Bổn Nguyện Tự.” Tại Thiện Long Tự (善龍寺, Zenryū-ji, thuộc Tatsuno-shi [龍野市], Hyōgo-ken [兵庫縣]) vẫn còn thư tịch Chơn Tông Tân Nghĩa Cổ Nghĩa Tài Đoạn Thật Ký (眞宗新義古義裁斷實記), được xuất bản ở Long Dã. Sự kiện Tam Nghiệp Hoặc Loạn này là cuộc luận tranh về vấn đề gọi là Dị An Tâm (異安心, ianshin, an tâm theo nghĩa khác). Dị An Tâm ở đây có nghĩa là an tâm của Chơn Tông, khác với an tâm của cảnh giới cứu độ; cho nên đây là cuộc luận tranh để nêu rõ đâu là an tâm đúng nghĩa. An tâm và giáo tướng (giáo lý) có mối quan hệ mật thiết hỗ tương lẫn nhau, không thể phân ly; cho nên nếu giáo thuyết mà sai lạc thì có khả năng nảy sinh mê tín, tà tín. Sự kiện này phát sinh vào năm 1791 (Khoan Chính [寛政] 3) và chấm dứt vào năm 1806 (Văn Hóa [文化] 3). Thật ra, vụ này cần phải mất 10 năm mới giải quyết xong. Nguyên nhân xảy ra cuộc náo động này là sau lễ Húy Kỵ lần thứ 300 của Liên Như Thượng Nhân (蓮如上人) vào năm 1798 (Khoan Chính 10). Năm trước đó, 1797, Trí Động (智洞), người nhậm chức Năng Hóa (能化, Nōke) đời thứ 7 của Học Lâm, thay thế Văn Như Thượng Nhân (文如上人) giảng thuyết về Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經); trong đó, ông tuyên xướng thuyết gọi là Tam Nghiệp Quy Mạng (三業歸命), Dục Sanh Quy Mạng (欲生歸命). Nếu truy nguyên đầu nguồn của thuyết này, nó vốn phát xuất từ Tri Không (知空), vị Năng Hóa đời thứ 3, cho đến Tuấn Đế (峻諦), cho đến vị Năng Hóa đời thứ 7 là Công Tồn (功存). Vị này viết cuốn Nguyện Sanh Quy Mạng Biện (願生歸命辨) để đưa ra chủ thuyết mới là Tam Nghiệp Quy Mạng; và đến thời của Trí Động thì thuyết này đã trở thành tiêu chuẩn an tâm của Chơn Tông thuộc phái Bổn Nguyện Tự. Như có đề cập ở trên, vào ngày 11 tháng 7 năm 1806, An Đổng đứng ra xét xử vụ dao động này, phán quyết rằng thuyết Tam Nghiệp Quy Mạng là không đúng chánh nghĩa, tuyên phạt rất khoan dung phía Tông môn Phái Bổn Nguyện Tự phải bế môn trong vòng 100 ngày. Cũng nhân xảy ra vụ này, chức Năng Hóa bị phế bỏ hẳn luôn.
tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng phật vãng tây phương
By keeping the karma of body, speech and mind pure, we will be no different from Buddhas when reborn into the Pure Land.
tam nghiệp tương ưng
In worship all three (body, mouth, mind) correspond.
tam nghiệp tứ uy nghi
638三業為身、口、意三處之所作,四威儀為行、住、坐、臥之儀表。三業四威儀乃泛指一切所作。
; (三業四威儀) Ba nghiệp và 4 uy nghi. Ba nghiệp là những sự tạo tác của thân, khẩu, ý, 4 uy nghi là các nghi biểu đi, đứng, ngồi, nằm. Ba nghiệp và 4 uy nghi là chỉ chung cho tất cả mọi hành vi của người tu.
tam nghĩa hoan hỉ
〖出觀經妙宗鈔〗觀無量壽佛經疏,因釋:阿難及天龍等聞法,歡喜作禮而去,故以三義釋之。(梵語阿難,華言慶喜。)〔一、遇人歡喜〕,人即佛也。謂佛具足四無礙智,說觀彼佛之法離於錯謬,今遇此人,寧不歡喜,是名遇人歡喜。(四無礙智者,法無礙智、義無礙智、詞無礙智、樂說無礙智也。彼佛即梵語阿彌陀,華言無量壽。)〔二、聞法歡喜〕,謂所說觀佛之法一十六門,曲盡其妙,能令凡心入深三昧,聞如是法,豈不歡喜,是名聞法歡喜。(一十六觀門者,日觀、水觀、地觀、寶樹觀、八功德水觀、總觀、華座觀、像觀、佛真身觀、觀世音觀、大勢至觀、普想觀、雜想觀、上輩生觀、中輩生觀、下輩生觀。)〔三、得果歡喜〕,果即修觀剋獲之果也。謂韋提希等,聞說觀佛之法,依此修之,得分真果;侍女諸天,得相似果。得如是果,豈不歡喜,是名得果歡喜。(梵語韋提希,華言思惟。分真者,即證一分中道也。相似者,近於分真也。)
; 642佛說觀無量壽經之後,韋提希夫人、阿難,及無量人、天、龍、神、夜叉等,聞法歡喜,作禮而去。其歡喜之義有三,即:(一)遇人歡喜,人即是佛。謂佛具足四無礙智,演說觀阿彌陀佛法門,離於錯謬;今遇此人,心生歡喜。(二)聞法歡喜,謂佛所說十六觀門,曲盡其妙,能令凡心入深三昧;聞如是法,心生歡喜。(三)得果歡喜,謂韋提希等聞說觀佛之法,依此修之,得分真果;侍女諸天得相似果;得如是果,心生歡喜。〔觀無量壽經疏妙宗鈔卷六末〕
; (三義歡喜) Sau khi nghe đức Phật giảng nói kinh Quán Vô lượng thọ thì phu nhơn Vi đề hi, ngài A nan và vô lượng người, trời, rồng, thần, dạ xoa... đều vui mừng và làm lễ lui ra. Sự vui mừng này có 3 nghĩa sau đây:1. Gặp người vui mừng: Người chính là đức Phật. Phật có đầy đủ 4 trí vô ngại, diễn nói pháp môn quán tưởng Phật A di đà, lìa các sai lầm; nay được gặp người này lòng sinh vui mừng. 2. Nghe pháp vui mừng: Mười sáu môn quán tưởng do đức Phật nói là chỗ tận cùng của sự mầu nhiệm, có năng lực khiến cho tâm phàm phu tiến sâu vào Tam muội; được nghe pháp như thế tâm sinh vui mừng. 3. Được quả vui mừng: Phu nhân Vi đề hi nghe nói về pháp môn quán Phật, y theo đó tu hành, được Phần chân quả; thị nữ, chư thiên được Tương tự quả, được quả như thế, sinh tâm vui mừng. [X. Quán Vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.6 phần cuối].
tam nghĩa quán
642謂次第觀想五蘊、十二處、十八界之真義。大毘婆沙論卷一八三有此一說,然俱舍論則略而不述。俱舍論光記卷二十三(大四一‧三四四中):「問:『婆沙云三義觀、七處善,此論何故不說?』『三義觀者,謂次第觀蘊、處、界也。(中略)是故不說彼二觀門。』」
; (三義觀) Theo thứ tự quán xét nghĩa chân thực của 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... Luận Đại tì bà sa quyển 183 có thuyết này, nhưng luận Câu xá chỉ nói sơ lược chứ không trình bày chi tiết. Câu xá luận quang kí quyển 33 (Đại 41, 344 trung): Hỏi: Luận Bà sa nói về Tam nghĩa quán, Thất xứ thiện, tại sao luận này không nói? Đáp: Tam nghĩa quán là theo thứ tự quán Uẩn, Xứ, Giới. (...) cho nên không nói 2 quán môn ấy.
tam nghĩa ☸ a la hán tam nghĩa
〖出翻譯名義〗梵語阿羅漢,華言無生,亦云無學。謂三界生死已盡,是為無生;無法可學,是為無學。或言不翻者,名含三義故也。(三界者,欲界、色界、無色界也。)〔一、殺賊〕,賊即見、思惑也。以其劫人功德之財,奪人智慧之命,故名為賊。阿羅漢能斷三界見、思之惑,故名殺賊。〔二、不生〕,不生,即無生也。謂阿羅漢既斷見、思惑盡,更不受三界生,故名不生。〔三、應供〕,謂阿羅漢智斷功德既已具足,應受人天供養,故名應供。(智,謂得漏盡智;斷,謂斷三界見、思惑盡也。)
tam nghịch
The three unpardonable sins of Devadatta which sent him to the Avici hell - schism, stening the Buddha to the shedding of his blood, killing a nun.
Tam Nguyên
(三元): (1) Trời, đất và người, đồng nghĩa với Tam Tài (三才). (2) Thượng Nguyên (上元, rằm tháng giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng 7) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng 10). (3) Ngày đầu năm, ý muốn nói về ngày đầu tiên của một ngày, tháng và năm, đồng nghĩa với Tam Thỉ (三始), Tam Triêu (三朝). (4) Tên gọi 3 người thi đậu Tiến Sĩ hạng cao nhất dưới thời nhà Minh. (5) Giải Nguyên (解元), Hội Nguyên (會元) và Trạng Nguyên (狀元), ba người đứng đầu trong 3 cuộc thi Hương, Hội và Đình được tổ chức dưới thời nhà Thanh. (6) Trong Đạo Gia, nó có nghĩa là trời đất và nước.
tam nguyên
The three big days of the year in Buddhism tradition: 1) Thượng nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng giêng—The fifteen of the first moon. 2) Trung nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng bảy—The fifteen of the seventh moon. 3) Hạ nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng mười—The fifteen of the tenth moon.
tam nguyện
698指三種誓願。<一>將阿彌陀佛四十八願總分為三類,即:(一)攝淨土願,又作攝土願、求佛土願,乃有關莊嚴淨土者;四十八願中之第三十一、三十二願即是。(二)攝法身願,又作攝佛身願、求佛身願,乃有關佛身成就者;四十八願中之第十二、十三、十七願即是。(三)攝眾生願,又作利眾生願、攝生願,乃有關利益眾生者;餘四十三願均是。〔無量壽經義疏卷上(淨影)、無量壽經義疏(吉藏)、無量壽經鈔卷三〕 <二>指阿彌陀佛四十八願中,有關修因往生之第十八、十九、二十等三願。惟三願之解釋,諸說紛紜。義寂各稱之為攝取至心欲生願、攝取修德欲生願、攝取聞名欲生願,且各攝觀經之下下品、上品、中品;法位、玄一、憬興諸師則謂依序攝觀經上品、中品、下品;元興寺智光各稱之為諸緣信樂十念往生願、行者命終現前導生願、聞名係念修福即生願;日本源空則稱之為念佛往生願、臨終現前願、三生果遂願。由以上諸師所予願名,可知解釋不一。 <三>指阿彌陀佛四十八願中,有關以五因五果滿足,速得證阿耨多羅三藐三菩提之第十八、十一、二十二願。其中,第十八願之十念相當於五念之因,第十一願所誓相當於五果門中之近門、大會眾門、宅門、屋門,第二十二願相當於園林遊戲地門。〔往生論註〕(參閱「三願的證」700) <四>指菩薩所起之三願。(一)願使一切眾生證知佛法。(二)願以無厭之心為眾生說法。(三)願捨身命護持正法。諸乘法數卷一則舉出自行、神通、化他等三願。〔大明三藏法數卷十二〕
; (三願) I. Tam Nguyện. Ba thứ thệ nguyện Bốn mươi tám nguyện của đức Phật A di đà được chia làm 3 loại chung sau đây: 1. Nhiếp tịnh độ nguyện (cũng gọi Nhiếp độ nguyện, Cầu Phật độ nguyện): Chỉ cho các nguyện có liên quan đến việc trang nghiêm cõi Tịnh độ, nguyện thứ 31, nguyện thứ 32 trong 48 nguyện là thuộc Nhiếp tịnh độ nguyện. 2. Nhiếp pháp thân nguyện (cũng gọi Nhiếp Phật thân nguyện, Cầu Phật thân nguyện): Chỉ cho các nguyện liên quan đến việc thành tựu thân Phật; các nguyện thứ 12, thứ 13 và thứ 17 trong 48 nguyện thuộc về Nhiếp pháp thân nguyện. 3. Nhiếp chúng sinh nguyện (cũng gọi Lợi chúng sinh nguyện, Nhiếp sinh nguyện): Chỉ cho các nguyện liên quan đến việc làm lợi ích chúng sinh; 3 nguyện còn lại đều thuộc Nhiếp chúng sinh nguyện [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh sao Q.3].II. Tam Nguyện. Chỉ cho 3 nguyện thứ 18, 19, 20 nói về tu nhân vãng sinh trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Nhưng sự giải thích về 3 nguyện này có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Nghĩa tịch lần lượt gọi 3 nguyện này là Nhiếp thủ chí tâm dục sinh nguyện, Nhiếp thủ tu đức dục sinh nguyện, Nhiếp thủ văn danh dục sinh nguyện và theo thứ tự qui thuộc vào Hạ hạ phẩm, Thượng phẩm và Trung phẩm của Quán kinh; còn các ngài Pháp vị, Huyền nhất, Cảnh hưng... thì theo thứ tự qui thuộc 3 nguyện này vào Thượng phẩm, Trung phẩm và Hạ phẩm của Quán kinh. Ngài Trí quang chùa Nguyên hưng thì lần lượt gọi 3 nguyện này là Chư duyên tín nhạo thập niệm vãng sinh nguyện, Hành giả mệnh chung hiện tiền đạo sinh nguyện và Văn danh hệ niệm tu phúc tức sinh nguyện; ngài Nguyên không của Nhật bản thì gọi là Niệm Phật vãng sinh nguyện, Lâm chung hiện tiền nguyện và Tam sinh qủa toại nguyện. III. Tam Nguyện. Chỉ cho nguyện thứ 18, 11, 22 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, nói về việc nhờ có đầy đủ 5 nhân 5 quả mà mau chứng được Vô thượng bồ đề. Trong đó, 10 niệm của nguyện thứ 18 tương đương với nhân của 5 niệm, lời thệ của nguyện thứ 11 tương đương với Cận môn, Đại hội chúng môn, Trạch môn, Ốc môn trong Ngũ quả môn; nguyện thứ 22 tương đương với Viên lâm du hí địa môn. [X. Vãng sinh luận chú]. (xt. Tam Nguyện Đích Chứng). IV. Tam Nguyện. Chỉ cho 3 thứ nguyện do Bồ tát phát khởi, đó là: 1. Nguyện làm cho tất cảchúng sinh chứng biết Phật pháp. 2. Nguyện vì chúng sinh nói pháp mà tâm không chán nản, mỏi mệt. 3. Nguyện xả bỏ thân mệnh để bảo vệ chính pháp. Chư thừa pháp số quyển 1 thì nêu Tam nguyện là: Tự hành, Thần thông, Hóa tha. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.12].
tam nguyện chuyển nhập
700日本淨土真宗教義。主張由方便(導至真實之方便)之教至真實之教,其信仰過程,由阿彌陀佛四十八願中之第十九願(要門)進至第二十願(真門),而後再轉進第十八願(弘願)。即:先捨聖道之教,願生淨土(第十九願);次捨諸行,專修念佛(第二十願);最後則離自力之心而歸依他力之願心(第十八願)。 三願轉入,係根據親鸞「教行信證」化身土卷本之說而來,乃親鸞將自己之入信過程,從第十九願經第二十願而入第十八願作一敘述者。然真宗對於信仰真實之教是否須要順序經過三願轉入之問題,持有諸種異說。
; (三願轉入) Chuyển dần đến 3 nguyện. Đây là giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản. Tông này chủ trương từ giáo Phương tiện (phương tiện dẫn đến chân thực) đến giáo chân thực là quá trình tín ngưỡng từ nguyện thứ 19(yếu môn) trong 48 nguyện của đức Phật A di đà tiến đến nguyện thứ 20(chân môn), rồi sau lại chuyển tiến đến nguyện thứ 18(hoằng nguyện). Tức là: Trước hết, xả bỏ giáo thánh đạo, nguyện sinh Tịnh độ(nguyện thứ 19); kế đến, xả bỏ các hạnh để chuyên tu niệm Phật (nguyện thứ 20); cuối cùng, quyết lìa bỏ tâm tự lực mà nương tựa vào nguyện tâm tha lực(nguyện thứ 18). Tam nguyện chuyển nhập bắt nguồn từ thuyết Hóa thân độ trong Giáo hành tín chứng của ngài Thân loan. Ngài Thân loan trình bày quá trình nhập tín của chính mình là từ nguyện thứ 19 qua nguyện thứ 20 mà chuyển vào nguyện thứ 18. Nhưng đối với Chân tông, vấn đề tín ngưỡng giáo chân thực có cần phải trải qua tiến trình Tam nguyện chuyển nhập hay không thì có nhiều thuyết khác nhau.
tam nguyện đích chứng
699又作的取三願。意謂取阿彌陀佛四十八願中之第十八、十一、二十二等三願,以之闡明往生淨土之因(五念門)與果(五功德門),皆由阿彌陀佛之本願力而來,並以之證明往生淨土可迅速成佛。亦即以此三願,證明阿彌陀佛願力之力用。此說係出自往生論註卷下。同書並舉出,眾生須修五念門,及以阿彌陀佛之本願力為增上緣,則可往生淨土,逮成淨土菩薩後,始能教化他人,而完成自利利他之德行。 三願的證,即:(一)第十八願,此願乃阿彌陀佛願十方眾生至心信樂乃至十念念佛,以欲往生淨土者,即得往生。此願為眾生往生之因,相當於五念門(即眾生為往生淨土,而憶念觀察阿彌陀佛及其淨土之五種修行法門)之因行,故取此願以印證之。(二)第十一願,此願乃阿彌陀佛願淨土中之人、天,皆住於正定聚中,以至滅度。此願為眾生往生淨土後所得之果報,相當於五功德門(即修行五念門而往生淨土後所得之五種果報)中之前四門,故取此願以印證之。(三)第二十二願,此願乃阿彌陀佛願他方佛土之諸眾菩薩,來生淨土佛國,除其本願自在所化(即遊化諸佛國土以廣度一切眾生)外,餘皆令至一生補處。此願中之淨土菩薩,以遊化來度眾,相當於五功德門中之第五園林遊戲地門(即修行已成,而至神遊化度之教化地),故取此願以印證之。由上所述,可證知往生淨土之因與果,皆由阿彌陀佛之本願力而來;同時亦可證知,眾生因阿彌陀佛之本願力而得以往生淨土,安住於正定聚中,以致迅速成佛。
; (三願的證) Cũng gọi Đích thủ tam nguyện. Sự chứng minh của 3 nguyện. Nghĩa là dùng 3 nguyện thứ 18, 11, 22, trong 48 nguyện của đức Phật A di đà để nói rõ rằng nhân(Ngũ niệm môn) và quả(Ngũ công đức môn) của việc vãng sinh Tịnh độ đều là nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà có, đồng thời, để chứng minh rằng sinh về Tịnh độ thì mau chóng được thành Phật. Cũng tức là dùng 3 nguyện này để chứng minh cái lực dụng của nguyện lực Phật A di đà. Thuyết này có xuất xứ từ Vãng sinh luận chú quyển hạ. Cũng sách này còn nói, nếu chúng sinh tu Ngũ niệm môn và lấy sức bản nguyện của Phật A di đà làm duyên tăng thượng thì sẽ được vãng sinh Tịnh độ. Tam nguyện đích chứng là: 1. Nguyện thứ 18: Nếu chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa dù chỉ niệm Phật được 10 niệm mà muốn sinh về Tịnh độ thì cũng được vãng sinh. Nguyện này là nhân vãng sinh của chúng sinh, tương đương với nhân hạnh của Ngũ niệm môn (5 pháp môn tu hành mà chúng sinh nhớ nghĩ, quán tưởng đức Phật A di đà và cõi Tịnh độ của ngài để cầu vãng sinh), vì thế dùng nguyện này ấn chứng. 2. Nguyện thứ 11: Nguyện cho người, trời trong cõi Tịnh độ đều trụ trong Chính định tụ, cho đến diệt độ. Nguyện này là quả báo mà chúng sinh sẽ có được sau khi sinh về Tịnh độ, tương đương với 4 môn trước trong Ngũ công đức môn (là 5 thứ quả báo mà người tu hành Ngũ niệm môn có được sau khi sinh về Tịnh độ), cho nên dùng nguyện này để ấn chứng. 3. Nguyện thứ 22: Nguyện cho các chúng Bồ tát ở cõi Phật phương khác sinh về Tịnh độ, trừ những vị có bản nguyện tự tại hóa độ(tức du hóa các cõi nước của chư Phật để hóa độ tất cả chúng sinh)ra, những vị còn lại đều đạt đến Nhất sinh bổ xứ. Các Bồ tát Tịnh độ trong nguyện này dùng việc du hóa để độ sinh, tương đương với Viên lâm du hí địa môn (là địa vị giáo hóa chúng sinh bằng thần thông du hí sau khi tu hành thành tựu) trong Ngũ công đức môn, vì thế dùng nguyện này để ấn chứng. Qua sự trình bày trên đây, người ta có thể chứng biết nhân và quả vãng sinh Tịnh độ đều nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà có, đồng thời, cũng chứng biết chúng sinh nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà được sinh về Tịnh độ, an trụ trong Chính định tụ, cho đến mau chóng thành Phật.
tam ngôn thanh
554為梵語文法中之特殊術語。言聲,梵語 vacana。在梵語文法上,為區別名詞、代名詞、形容詞、數詞等詞類各有三種之別,遂以此一術語為計數之法。又作三數。單數稱為一言聲(梵 eka-vacana),雙數稱為二言聲(梵 dvi-vacana),複數稱為多言聲(梵 bahu-vacana),古代悉曇家將之總稱為三言聲。例如:一匹馬稱 aśva,二匹馬稱 aśvau,多數馬稱 aśvās。
; (三言聲) Cũng gọi Tam số. Thuật ngữ đặc biệt trong văn pháp tiếng Phạm. Ngôn thanh, Phạm: Vacana. Về mặt văn pháp, các loại từ như danh từ, đại danh từ, hình dung từ, số từ... trong tiếng Phạm đều có 3 thứ khác nhau, cho nên để phân biệt, thuật ngữ Tam ngôn thanh được dùng làm pháp tính số. Số đơn gọi là Nhất ngôn thanh (Phạm: Eka-vacana), số kép gọi là Nhị ngôn thanh (Phạm: Dvivacana), số nhiều gọi là Đa ngôn thanh (Phạm:Bahu-vacana), các nhà văn pháp Tất đàm đời xưa gọi chung 3 số này là Tam ngôn thanh. Chẳng hạn như 1 con ngựa gọiazva, 2 con ngựa gọi làazvau, nhiều con ngựa gọi làazvàs.
tam ngại
Ba mối lo ngại về tự ngã, về tôn sư và về chư pháp—The three doubts of self, of teacher, and of the dharma-truth.
tam ngữ
Buddha's three modes of discourse, i.e. without reserve, or the whole truth; tactical, or partial, adapting truth to the capacity of his hearers; and a combination of both.
tam nhiễm
Three kasaya—Ba nhiễm trược—Three infections: 1) Dục nhiễm: The infection of the passions. 2) Nghiệp nhiễm: Karma infection. 3) Tái sanh nhiễm: The infection of reincarnation.
tam nhiệt
674又作三患。為長阿含經卷十八所舉龍之三種苦惱。即:(一)熱風熱砂等燒皮肉骨髓之苦惱,(二)惡風奪居處飾衣之苦惱,(三)金翅鳥掠奪宮中龍子之苦惱。〔正法眼藏袈裟功德〕
; Ba nỗi khổ đau—The three heats—Three kinds of burning: 1) Khổ đau vì ngoại nhiệt làm nóng cháy da: The pain of hot wind and sand being blown against the skin. 2) Khổ đau vì tai ương làm tiêu tan trang sức áo quần: The pain of disasters (violent winds) which take away jeweled clothes and ornaments. 3) Khổ đau vì bị garuda (loài chim hay ăn thịt rồng) ăn thịt: Khổ đau vì bị ngũ dục giết chết huệ mạng—The pain of being eaten by a garuda, a dragon-eating bird—The pain of wisdom-life being killed by the five desires.
; (三熱) Cũng gọi Tam hoạn. Ba cái nóng. Tức là 3 nỗi khổ não mà loài rồng phải chịu đựng nói trong kinh Trường a hàm quyển 18. Đó là: 1. Nỗi khổ vì gió nóng, cát nóng làm cháy bỏng da thịt, xương tủy... 2. Nỗi khổ não vì bị gió dữ thổi bay mất chỗ cư trú và y phục. 3. Nỗi khổ não vì bị loài chim cánh vàng cướp mất rồng con trong cung điện. [X. điều Ca sa công đức trong Chính pháp nhãn tạng].
tam nhân
〖出佛性論〗〔一、應得因〕,謂依真如空理而修因行,應得菩提之果,故名應得因。(梵語菩提,華言道。)〔二、加行因〕,謂依菩提心,加功用行,以此為因,即能證得法身之果,故名加行因。〔三、圓滿因〕,謂由加行故,因行圓滿,故名圓滿因。
; 545<一>指至誠心、深心、回向發願心。此三心乃往生淨土之正因,故稱三因。〔往生禮讚偈〕(參閱「三心」532) <二>佛性論卷二,依覺悟佛果之次第所立,三因即:(一)應得因,依真如空理而修因行,應得菩提之果,故稱應得因。(二)加行因,依菩提心加功用行,以此為因,即能證得法身之果。(三)圓滿因,由加行而因行圓滿,故稱圓滿因。此三因中,應得因以無為如理為體,後二因則以有為願行為體。又應得因中,具有住自性、引出性、至得性等三種佛性。住自性謂道前凡夫位;引出性指發心以上,窮有學聖位;至得性即無學聖位。 <三>指菩薩修行過程中之三種因果。即:(一)異熟因,由善、惡業感樂、苦二果,因苦、樂二果非善非惡而為無記法,故稱善惡業為異熟因。(二)福因,以施、戒、忍三波羅蜜為因,能感福德之果報,故稱施、戒、忍三波羅蜜為福因。(三)智因,以慧波羅蜜為因,能感菩提智果,故稱慧波羅蜜為智因。精進、禪定二波羅蜜則通於福智二因。(參閱「三因三果」546) <四>成實論依俱舍論六因而立三因,即:(一)生因,指法生之時能為因者,即異熟因。(二)習因,如習貪欲而益長貪欲,即同類因。(三)依因,如以六根六境為所依而生六識,即俱用、相應、遍行三因。六因中之能作因為四緣中之增上緣,故成實論不立。 <五>三因佛性之略稱。即正因佛性、了因佛性、緣因佛性。(參閱「三因佛性」546)
; The six "causes" of the Abhidharma-Kosa Câu xá luận as reduced to three in the Satya siddi sàstra Thành thật luận, i.e. sinh nhân producing cause, tập nhân habit cause, y nhân dependent or hypostatic cause, e.g. the six organs lục căn and their objects lục cảnh causing the cognitions lục thức.
; Chánh nhân (bản nhân thành Phật), liễu nhân (liễu triệt lý thành Phật), duyên nhân (trợ duyên thành Phật).
; (三因) I. Tam Nhân. Chỉ cho tâm chí thành, tâm sâu xa, tâm hồi hướng phát nguyện. Ba tâm này là nhân chính yếu để được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Tam nhân. [X. Vãng sinh lễ tán kệ]. (xt. Tam Tâm). II. Tam Nhân. Chỉ cho Ứng đắc nhân, Gia hành nhân, Viên mãn nhân do luận Phật tính y cứ theo thứ tự giác ngộ thành Phật mà lập ra. 1. Ứng đắc nhân: Nương vào lí không của chân như mà tu nhân hạnh, ứng được quả bồ đề nên gọi là Ứng đắc nhân. 2. Gia hành nhân: Nương vào tâm bồ đề mà thêm công dụng tu hành, lấy đó làm nhân mà có thể chứng được quả pháp thân, nên gọi là Gia hành nhân. 3. Viên mãn nhân: Nhờ gia hành mà nhân hạnh tròn đầy, vì thế gọi là Viên mãn nhân. Trong 3 nhân này, Ứng đắc nhân lấy vô vi như lí làm thể, còn Gia hành nhân và Viên mãn nhân thì lấy hữu vi nguyện hành làm thể. Lại trong Ứng đắc nhân có 3 thứ Phật tính là Trụ tự tính, Dẫn xuất tính và Chí đắc tính. Trụ tự tính chỉ cho vị phàm phu trước Tu đạo; Dẫn xuất tính chỉ cho vị Phát tâm trở lên đến tột cùng Thánh vị Hữu học; Chí đắc tính tức là Thánh vị vô học. III. Tam Nhân. Chỉ cho 3 thứ nhân quả trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Dị thục nhân: Do nghiệp thiện, ác chiêu cảm quả vui, quả khổ; vì 2 quả khổ, vui chẳng phải thiện chẳng phải ác mà là pháp vô kí, nên gọi nghiệp thiện, ác là Dị thục nhân. 2. Phúc nhân: Lấy 3 Ba la mật thí, giới, nhẫn làm nhân mà chiêu cảm quả báo phúc đức, cho nên gọi thí, giới, nhẫn là Phúc nhân. 3. Trí nhân: Lấy Tuệ ba la mật làm nhân mà chiêu cảm quả trí bồ đề, vì thế gọi Tuệ ba la mật là Trí nhân. Tinh tiến ba la mật và Thiền định ba la mật thì chung cho cả Phúc nhân và Trí nhân. (xt. Tam Nhân Tam Quả). IV. Tam Nhân. Chỉ cho 3 nhân do luận Thành thực căn cứ vào 6 nhân của luận Câu xá mà lập ra, đó là: 1. Sinh nhân: Chỉ cho pháp khi sinh ra có thể làm nhân, tức là Dị thục nhân. 2. Tập nhân: Như tập quen tham dục thì tham dục càng thêm lớn, tức Đồng loại nhân. 3. Y nhân: Như lấy 6 căn 6 cảnh làm chỗ nương mà sinh ra 6 thức, tức 3 nhân Câu dụng, Tương ứng và Biến hành. Còn Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên nên luận Thành thực không lập. V. Tam Nhân. Gọi đủ: Tam nhân Phật tính. Chỉ cho Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính và Duyên nhân Phật tính. (xt. Tam Nhân Phật Tính).
tam nhân phật tánh
(三因佛性) I. Tam Nhân Phật Tính. Ba nhân Phật tính do Đại sư Trí khải tông Thiên thai căn cứ vào thuyết trong kinh Đại bát niết bàn quyển 28 (bản Bắc) mà lập ra. Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có đủ 3 nhân Phật tính này, nếu được hiển bày thì liền thành diệu quả tam đức. 1. Chính nhân Phật tính: Chính tức là trung chính, trung ắt song chiếu, lìa thiên lìa tà, chiếu không chiếu giả, chẳng không chẳng giả, đầy đủ Tam đế, là chính nhân Phật tính. Cũng tức là lí thể của thực tướng các pháp, là nhân chính để thành Phật. 2. Liễu nhân Phật tính: Liễu tức là soi rõ, do Chính nhân ở trước mà phát ra trí soi rõ này, trí và lí ứng hợp nhau, đó là Liễu nhân Phật tính. 3. Duyên nhân Phật tính: Duyên tức là trợ duyên, tất cả công đức thiện căn đều giúp đở Liễu nhân để khai phát tính của Chính nhân, đó là Duyên nhân Phật tính.[X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6]. II. Tam nhân Phật tính. Ba nhân Phật tính theo thuyết của luận Phật tính quyển 2. 1. Ứng đắc nhân: Chỉ cho Chân như do ngã không, pháp không hiển hiện. 2. Gia hành nhân: Chỉ cho tâm bồ đề.3. Viên mãn nhân: Chỉ cho gia hành. Trong 3 nhân trên, Ứng đắc nhân có 3 thứ Phật tính là: Trụ tự tính, Dẫn xuất tính và Chí đắc tính. (xt. Tam Nhân).
tam nhân phật tính
546<一>係天台大師智顗據北本大般涅槃經卷二十八之說所立者,謂一切眾生無不具此三因佛性,此因若顯,即成三德妙果。(一)正因佛性,正即中正,中必雙照,離於邊邪,照空照假,非空非假,三諦具足,為正因佛性。亦即諸法實相之理體是成佛之正因。(二)了因佛性,了即照了,由前正因,發此照了之智,智與理相應,是為了因佛性。(三)緣因佛性,緣即緣助,一切功德善根,資助了因,開發正因之性,是為緣因佛性。〔金光明經玄義卷上、四教義卷六〕 <二>佛性論卷二之說:(一)應得因,指二空所現之真如。(二)加行因,指菩提心。(三)圓滿因,指加行。其中,應得因具有三種佛性,即:住自性、引出性、至得性。(參閱「三因」545)
tam nhân quán thập nhị nhân duyên
〖出涅槃經〗三人者,謂通教聲聞、緣覺、菩薩,雖同觀十二因緣,然隨智淺深,法成高下,故有三種之異也。〔一、下智觀故得聲聞菩提〕,梵語菩提,華言道。謂聲聞之人,用體空之智,初觀十二因緣生,次觀十二因緣滅。觀此生滅,即悟非生非滅,破見、思之惑,證真空之理,是名下智觀故得聲聞菩提。(體空者,體達諸法性本空也。十二因緣者,一無明、二行、三識、四名色、五六入、六觸、七受、八愛、九取、十有、十一生、十二老死也。因緣生者,即無明緣行、行緣識等是也。因緣滅者,即無明滅乃至老死滅是也。)〔二、中智觀故得緣覺菩提〕,謂緣覺之人,亦用體空之智,初觀十二因緣生,次觀十二因緣滅。觀此生滅,即悟非生非滅,破見、思之惑;更能侵除習氣,以由能觀之智,比於聲聞稍勝,故所證真空之理亦深,是名中智觀故得緣覺菩提。(侵除者,猶漸除也。習氣者,見、思餘習之氣分也。)〔三、上智觀故得菩薩菩提〕,謂菩薩之人,雖亦用體空之智,觀十二因緣生滅,了悟非生非滅,而能頓斷見、思習氣。以由能觀之智,比於緣覺復勝,故所證真空之理最深,是名上智觀故得菩薩菩提。(菩薩,梵語具云菩提薩埵,華言覺有情。)
; 505據北本涅槃經卷四十載,通教聲聞、緣覺、菩薩雖同觀十二因緣,然隨智淺深,法成高下,故有三種之異:(一)下智觀故得聲聞菩提,謂聲聞之人以體空之智,初觀十二因緣生,次觀十二因緣滅,觀此生滅,即悟非生非滅,破見、思之惑,證真空之理。(二)中智觀故得緣覺菩提,謂緣覺之人亦以體空之智,初觀十二因緣生,次觀十二因緣滅,觀此生滅,即悟非生非滅,破見、思之惑,更能漸除習氣。以其能觀之智稍勝於聲聞,故所證真空之理亦深。(三)上智觀故得菩薩菩提,謂菩薩亦用體空之智,觀十二因緣之生滅,了悟非生非滅,頓斷見、思之惑及其習氣。以其能觀之智復勝於緣覺,故所證真空之理最深。(參閱「十二因緣」337)
; (三人觀十二因緣) Ba bậc người cùng quán xét 12 nhân duyên. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 40 (bản Bắc) thì Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát của Thông giáo, tuy cùng quán xét 12 nhân duyên, nhưng tùy theo trí có cạn, sâu, pháp thành cao, thấp cho nên có 3 loại khác nhau. 1. Quán xét bằng hạ trí cho nên chứng được bồ đề của Thanh văn: Hàng Thanh văn dùng trí của thể không, trước hết quán 12 nhân duyên sinh, kế đến quán 12 nhân duyên diệt, quán sinh, diệt như thế liền ngộ được chẳng sinh chẳng diệt, phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc mà chứng lí Chân không. 2. Quán xét bằng trí bậc trung cho nên chứng được bồ đề của Duyên giác: Hàng Duyên giác cũng dùng trí của thể không, bắt đầu quán 12 nhân duyên sinh, sau đó quán 12 nhân duyên diệt, quán sinh quán diệt như thế liền ngộ được chẳng sinh chẳng diệt, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lại dần dần trừ được tập khí. Vì trí năng quán của Duyên giác thù thắng hơn trí năng quán của Thanh văn, nên lí chân không mà hàng Duyên giác chứng được cũng sâu hơn. 3. Quán xét bằng trí bậc thượng cho nên được bồ đề của Bồ tát: Bồ tát cũng dùng trí thể không mà quán xét sự sinh diệt của 12 nhân duyên, liễu ngộ phi sinh phi diệt, tức khắc đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc và tập khí của chúng. Vì trí năng quán của Bồ tát thù thắng hơn trí năng quán của Duyên giác, nên lí chân không mà Bồ tát chứng được là sâu xa nhất. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).
tam nhân tam quả
545菩薩修行之過程,有三種因果,即:(一)異熟因異熟果,即今世所種之善惡因,於來生得果。(二)福因福果,以布施、持戒、忍辱為因,於現前及來世得自在之果。(三)智因智果,以精修一切智慧為因,證得三乘及佛果。 異熟之因果,如菩薩由不傷害一切眾生,得壽量具足;由供養尊長,得大勢具足;由惠施濟度,得自在具足。福、智之因果,以施、戒、忍三波羅蜜為福,慧波羅蜜為智,精進、靜慮二波羅蜜通於前二者。修福者為福因,不流轉生死,不受損惱,且能攝益眾生,招致福果。修智者為智因,決定福之是非正邪,起無量善巧之事業為智果,由此福、智證得無上正等菩提,故為果業之究竟。
; The three causes produce their three effects: (1) Dị thục nhân dị thục quả differently ripening causes produce differently ripening effects, i.e. every developed cause produce its developed effect, especially the effect of the present causes in the next transmigration; (2) Phúc nhân phúc báo blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter; (3) Trí nhân trí quả wisdom (now) produces wisdom-fruit (hereafter).
; (三因三果) Ba thứ nhân quả trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Dị thục nhân dị thục quả: Đời này gieo nhân thiện, ác, đời sau được quả. 2. Phúc nhân phúc quả: Lấy bố thí, trì giới, nhẫn nhục làm nhân, đời này và đời sau được quả tự tại. 3. Trí nhân trí quả: Tiến tu tất cả trí tuệ làm nhân, chứng được Tam thừa và Phật quả. Về nhân quả Dị thục, như Bồ tát nhờ không làm hại tất cả chúng sinh nên được thọ lượng đầy đủ; nhờ cúng dường bậc tôn trưởng nên được thế lực đầy đủ; do huệ thí cứu giúp nên được tự tại đầy đủ. Về nhân quả của Phúc, Trí, lấy Thí, Giới, Nhẫn làm Phúc, Tuệ làm Trí; còn Tinh tiến, Tĩnh lự thì chung cho cả Phúc và Trí. Người tu phúc là nhân phúc, không bị trôi lăn trong sinh tử, không bị tổn não, lại có thể giúp ích chúng sinh, mang lại quả phúc. Người tu Trí là nhân Trí, quyết định tính chất phải quấy, chính tà của Phúc, phát khởi vô lượng sự nghiệp thiện xảo là quả trí. Nhờ phúc và trí này mà chứng được Vô thượng chính đẳng bồ đề, đó là quả nghiệp rốt ráo.
tam nhân ☸ kết tập tam nhân
〖出付法藏因緣經〗〔一、阿難〕,梵語阿難,華言慶喜。斛飯王之子,佛成道日生,生時舉國欣慶,故云慶喜。隨佛出家,得阿羅漢果。多聞第一,能持法藏。如來滅後,與文殊師利集諸大眾於鐵圍山等處,結集脩多羅藏。(梵語脩多羅,華言契經。)〔二、優波離〕,梵語優波離,華言化生,或翻上首。以其持律第一,為眾紀綱故也。如來滅後,與五百聖人,於畢缽羅窟內,結集毘奈耶藏。(畢缽羅,西域記云:即菩提樹也。梵語毘奈耶,華言善治,即律也。)〔三、迦葉〕,梵語迦葉波,華言飲光。謂其身光炎涌,能映餘物故也。如來滅後,集諸大眾,於畢缽羅窟等處,結集阿毘曇藏。(梵語阿毘曇,華言無比法,即論也。)
tam nhãn
616指肉眼、天眼與慧眼。(一)肉眼(梵 māṃsa-cakṣus),肉眼能照顯露而無有障礙之有見諸色。(二)天眼(梵 divya-cakṣus),天眼能照顯露、不顯露之有障、無障之有見諸色。(三)慧眼(梵 prajñā-cakṣus),慧眼能照一切種,若色、非色等所有諸法。〔長阿含經卷八、瑜伽師地論卷十四、俱舍論卷一〕(參閱「五眼」1151)
; (三眼) Chỉ cho nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn (mắt trời) và tuệ nhãn(mắt tuệ). 1. Nhục nhãn (Phạm: Màôsacakwus): Loại mắt có khả năng soi thấy các sắc Hữu kiến hiển lộ không bị ngăn ngại.2. Thiên nhãn (Phạm: Dìvyacakwus): Loại mắt chiếu thấy các sắc Hữu kiến hiển lộ, không hiển lộ, hữu chướng, vô chướng. 3. Tuệ nhãn (Phạm:Prajĩà-cakwus): Loại mắt có khả năng chiếu soi tất cả các pháp, có sắc hay không sắc. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Du già sư địa Q.14; luận Câu xá Q.1]. (xt. Ngũ Nhãn).
tam nhãn nhân
Trilochana (S), Three-eye person.
tam nhơn
Three causes: 1) Sanh nhơn: Producing cause, as good or evil deeds cause good or evil karma. 2) Tập nhơn: habit cause—Lust breeding lust. 3) Y nhơn: dependent or hypostatic cause (Lục căn Six organs and their lục trần or six objects causing the cognitions lục thức or six consciousnesses).
tam nhơn phật tánh
The first three characteristics of Buddha's nature—See Ngũ Phật Tánh (A).
tam nhơn tam quả
The three causes produce their three effects: 1) Dị thục nhơn dị thục quả: Mọi nhân trong kiếp hiện tại đều tạo thành quả trong kiếp tới—Differently ripening causes produce differently ripening effects (every developed cause produces its developed effect, especially the effect of the present causes in the next transmigration). 2) Phúc nhơn phúc báo: Phúc nhơn tạo phúc quả ở đời nầy và đời sau—Blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter. 3) Trí nhơn trí quả: Trí nhơn tạo trí quả sau nầy—Wisdom now produces wisdom-fruit hereafter.
tam như lai tạng
547指如來藏之三義。如來藏,即指藏伏在一切有情的雜染身中之自性清淨心。(一)依大乘止觀法門卷一之說,如來藏有三義,即:(1)能藏,果德之法身,與性淨之淨心,包含染淨二性及染淨二事,而無所妨礙。(2)所藏,自性清淨心為無明之殼所覆藏。(3)能生,此心體具染淨二性之用,而有染淨二種薰力,能生世間、出世間之諸法。 (二)依圓覺經略疏卷上一之說,如來藏,指如來之法身,具有如下三義:(1)隱覆,如來之法身隱覆於煩惱生死之中,如同真金墜入污穢物中。(2)含攝,如來之法身含攝身相國土神通大用無量之功德,亦含攝一切眾生,此皆含攝於如來藏內。(3)出生,就悟時而言,如來之法身既含眾德,得了達證入,即能出生。〔占察經卷下、勝鬘寶窟卷下本、起信論義記卷上〕
; (三如來藏) Ba nghĩa của Như lai tạng. Như lai tạng chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh ẩn chứa trong thân tạp nhiễm của tất cả hữu tình.1. Theo thuyết trong Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, Như lai tạng có 3 nghĩa: a. Năng tàng: Pháp thân của quả đức và tịnh tâm của tính tịnh, bao gồm 2 tính nhiễm, tịnh và 2 sự nhiễm, tịnh nhưng không bị ngăn ngại. b. Sở tàng: Tâm tự tính thanh tịnh bị cái vỏ của vô minh bao phủ. c. Năng sinh:Tâm thể này có cái dụng của 2 tính nhiễm và tịnh, đồng thời có sức huân tập(xông ướp) của 2 thứ nhiễm và tịnh, có khả năng sinh ra các pháp thế gian và xuất thế gian. 2. Theo thuyết trong Viên giác kinh lược sớ quyển thượng, phần 1, Như lai tạng là chỉ cho pháp thân của Như lai, có 3 nghĩa sau đây: a. Ẩn phú: Pháp thân của Như lai bị phủ kín trong sinh tử phiền não, giống như thỏi vàng bị vùi trong đống rác nhơ nhớp. b. Hàm nhiếp: Pháp thân Như lai bao hàm vô lượng công đức như thân tướng, quốc độ, thần thông đại dụng, cũng bao hàm hết thảy chúng sinh, tất cả đều hàm nhiếp trong Như lai tạng. c. Xuất sinh: Đứng về phương diện giác ngộ mà nói thì pháp thân Như lai đã bao gồm mọi đức, được rõ suốt chứng nhập thì có năng lực xuất sinh. [X. kinh Chiêm sát Q.hạ; Thắng man bảo quật Q.hạ, phần đầu; Khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].
tam nhất nhị thừa
504指三乘和一乘。據華嚴五教章卷一載:(一)三乘,即法華經所說之聲聞、緣覺、菩薩等三乘,有證道之別;此三乘中,聲聞、緣覺二乘攝愚法(謂愚於大乘法空之理)之二乘。(二)一乘,於法華經中所說,一切眾生悉可成佛,十方佛土中,唯有一乘法,此即會三乘而歸於一佛乘。配於天台宗藏、通、別、圓等四教,則藏、通二教為三乘,別、圓二教為一乘;配於華嚴宗小、始、終、頓、圓等五教,則小、始二教為三乘,終、頓、圓等三教為一乘;配於諸宗,則三論、法相、成實、俱舍等四宗為三乘,華嚴、天台等為一乘。
; Có ba hàng nhị thừa trước khi Phật thuyết Kinh Pháp Hoa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, khi tới hội Pháp Hoa thì tất cả đều đã được thành thục để đi vào Nhứt Thừa—The “Two Vehicles” of “Three” and “One,” the three being the pre-Lotus ideas of Sravaka, Pratyeka and Bodhisattva, the one being the doctrine of the Lotus Sutra which combined all three in one.
; (三一二乘) Chỉ cho Tam thừa và Nhất thừa. 1. Tam thừa: Tức 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nói trong kinh Pháp hoa, có sự khác nhau về chứng đạo. Trong 3 thừa này thì 2 thừa Thanh văn và Duyên giác nhiếp thuộc Ngu pháp (ngu mê về lí pháp không của Đại thừa). 2. Nhất thừa: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, trong các cõi Phật ở 10 phương chỉ có pháp Nhất thừa, đây là hội Tam thừa qui về Nhất Phật thừa nói trong kinh Pháp hoa. Nếu phối hợp với 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên thai thì Tạng giáo và Thông giáo là Tam thừa, Biệt giáo và Viên giáo là Nhất thừa; nếu phối hợp với 5 giáo Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên của tông Hoa nghiêm thì Tiểu giáo và Thủy giáo là Tam thừa, còn Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo thì thuộc Nhất thừa. Nếu phối hợp với các tông thì 4 tông: Tam luận, Pháp tướng, Thành thực, Câu xá thuộc về Tam thừa, còn 2 tông Hoa nghiêm và Thiên thai thì thuộc Nhất thừa.
tam nhẫn
Three forms of ksànti, i.e. patience (or endurance, tolerance). One of the groups is patience under hatred Nại oán hại nhẫn, under physical hardship An thế khổ nhẫn, and in pursuit of the faith Đế sát pháp nhẫn or Vô sanh pháp nhẫn. Another is patience of the blessed in the Pure Land in understanding the truth they hear Âm hưởng nhẫn, patience in obeying the truth Nhu thuận nhẫn, patience in attaining absolute reality Vô sanh pháp nhẫn. Another is patience in the joy of remembering Amitàbha Hỷ nhẫn, patience in meditation on his truth Ngộ nhẫn, and patience in constant faith in him Tín nhẫn.Another is the patience of submission, of faith and of obedience.
; Ba loại nhẫn—Three forms of ksanti (Patience—Endurance—Tolerance): (A) 1) Âm hưởng nhẫn: Kham nhẫn chịu đựng những âm thanh mình nghe—Endure the sound we hear—Patience in hearing the sound—Understanding the truth we hear. 2) Nhu thuận nhẫn: Kham nhẫn khi lắng nghe chân lý—Patience in obeying the truth. 3) Vô sanh pháp nhẫn: Kham nhẫn khi đạt thành chân lý tuyệt đối—Patience in attaining absolute reality. (B) 1) Thân nhẫn: Nhẫn nhục nơi thân—Patience or forbearance of the body. 2) Khẩu nhẩn: Nhẫn nhục nơi khẩu—Patience or forbearance of the mouth. 3) Ý nhẫn: Nhẫn nhục nơi ý—Patience or forbearance of the mind.
tam nhật phần
Ba phần trong một ngày—The three divisions of the day. 1) Sơ Nhật Phần: The beginning of the day. 2) Trung Nhật Phần: The middle of the day. 3) Hậu Nhật Phần: The end of the day.
tam nhật trai
535又作見王齋。人死後第三日,親人為設齋食以招請供養僧尼,稱為三日齋。〔釋氏要覽卷下、禪林象器箋飲啖門〕
; (三日齋) Cũng gọi Kiến vương trai. Sau khi người chết đến ngày thứ 3, thân nhân thỉnh tăng ni thiết trai cúng dường để cầu siêu độ cho người quá cố, gọi là Tam nhật trai. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tam nhứt nhị thừa
See Tam Nhất Nhị Thừa in Vietnamese-English Section.
Tam niên nhũ bộ
(三年乳哺): ba năm trường mẹ cho con bú và mớm cơm cho con ăn. Trong Địa Mẫu Kinh (地母經) của Đạo Giáo có câu: “Thùy phi phụ mẫu sanh, thập nguyệt hoài thai khổ, tam niên nhũ bộ tân (誰非父母生、十月懷胎苦、三年乳哺辛, ai là người không phải do cha mẹ sanh ra, mười tháng mang thai cực khổ, ba năm cho con bú mớm nhọc nhằn).” Hơn nữa, trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 78 cũng có đoạn: “Thiên vô nhị nhật, nhân vô nhị lý, dưỡng dục hài đồng, phụ tinh mẫu huyết, hoài thai thập nguyệt, đãi thời nhi sanh, sanh hạ nhũ bộ tam niên, tiệm thành thể tướng, khởi hữu bất tri chi lý (天無二日、人無二理、养育孩童,父精母血,怀胎十月,待时而生,生下乳哺三年,渐成体相,岂有不知之理!養育孩童、父精母血、懷胎十月、待時而生、生下乳哺三年、漸成體相、豈有不知之理, trời không có hai mặt trời, người không có hai lý, nuôi dưỡng con nhỏ, tinh cha huyết mẹ, mang thai mười tháng, đợi đến lúc sanh con, sanh xong cho bú mớm ba năm, dần dần thành hình tướng, liệu làm sao chẳng biết lý ấy).” Hay như trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn (勸發菩提心文) của Tỉnh Am Đại Sư (省庵大師, 1686-1734) có câu: “Vân hà niệm phụ mẫu ân ? Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, thập nguyệt tam niên, hoài thai nhũ bộ (云何念父母恩、哀哀父母、生我劬勞、十月三年、懷胎乳哺, Thế nào là nhớ đến công ơn cha mẹ ? Thương thay cha mẹ, sanh ta khó nhọc, mười tháng ba năm, mang thai bú mớm).”
tam niết bàn
600三種涅槃。<一>天台宗就體、相、用三方面,用以彰顯不生不滅之義所立之三種涅槃。即:(一)性淨涅槃,諸法實相不可染不可淨,不可染即不生,不可淨即不滅,不生不滅即性淨涅槃。(二)圓淨涅槃,智極為圓,惑盡為淨,智若契理,惑畢竟不生,智畢竟不滅,不生不滅即圓淨涅槃。(三)方便淨涅槃,智能契理,即照群機。照必垂應,機感即生,此生非生,機緣既盡,應身即滅。此滅非滅,不生不滅即方便淨涅槃。以上,依序以三大中之體大、相大、用大,為三身中之法身、報身、應身。〔金光明經玄義卷上、法華玄義卷五下、十地經論義記卷一末、止觀輔行傳弘決卷三之一〕 <二>就小乘、三乘、一乘,涅槃有三種類別:(一)小乘涅槃,有餘身智,稱為有餘涅槃;無餘身智,稱為無餘涅槃。兩者均以數滅無為為體。(二)三乘涅槃,凡有五種:(1)智悲相導而無住著,是為無住涅槃。(2)本有故,寂滅故,是為性淨涅槃。(3)藉緣修故,稱為方便淨涅槃。(4)有餘應化,未窮盡故,稱為有餘涅槃。(5)法身無餘,順寂滅故,稱為無餘涅槃。(三)一乘涅槃,就別教而言,即有十種涅槃,如華嚴經離世間品所說。〔華嚴經孔目章卷四〕(參閱「涅槃」4149)
; (三涅槃) I. Tam Niết Bàn. Ba thứ Niết bàn do tông Thiên thai dựa theo 3 phương diện Thể, Tướng, Dụng mà lập ra để nêu tỏ nghĩa bất sinh bất diệt. Đó là: 1. Tính tịnh Niết bàn: Thực tướng các pháp không nhiễm không tịnh, không nhiễm tức không sinh, không tịnh tức không diệt, không sinh không diệt tức là Tính tịnh Niết bàn. 2. Viên tịnh Niết bàn: Trí đạt đến cùng cực là Viên, Hoặc bị trừ hết sạch là Tịnh; Trí mà khế hợp với Lí thì Hoặc rốt ráo chẳng sinh, Trí rốt ráo chẳng diệt, chẳng sinh chẳng diệt tức là Viên tịnh Niết bàn.3. Phương tiện tịnh Niết bàn: Trí thường khế lí thì chiếu rọi các cơ. Chiếu ắt ứng hiện, cơ cảm liền sinh, sinh này chẳng phải sinh, cơ duyên đã hết thì ứng than liền diệt. Diệt này chẳng phải diệt, chẳng sinh chẳng diệt tức là Phương tiện tịnh Niết bàn.Trên đây, theo thứ tự là Thể đại, Tướng đại và Dụng đại trong 3 đại, Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân trong 3 thân. [X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 hạ; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.1 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1]. II. Tam Niết Bàn. Ba loại Niết bàn của Tiểu thừa, Tam thừa và Nhất thừa. 1. Niết bàn của Tiểu thừa: Thân và trí đều còn, gọi là Hữu dư Niết bàn; thân và trí đều không còn, gọi là Vô dư Niết bàn. Cả hai đều lấy tịch diệt vô vi làm thể.2. Niết bàn của Tam thừa: Gồm có 5 thứ:a. Vô trụ niết bàn: Vận dụng cả bi và trí, không trụ trước. b. Tính tịnh niết bàn: Vì vốn có sẵn nên Niết bàn này thường vắng lặng, thanh tịnh.c. Phương tiện tịnh niết bàn: Vì Niết bàn này nhờ các duyên tu hành mà có được. d. Hữu dư niết bàn: Vì còn có thân ứng hóa, chưa cùng tận. e. Vô dư niết bàn: Pháp thân vắng bặt, vì thuận theo tịch diệt. 3. Niết bàn của Nhất thừa: Nói theo Biệt giáo thì có 10 thứ Niết bàn, như 10 thứ Niết bàn nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. [X. Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4]. (xt. Niết Bàn).
tam niết bàn môn
The three gates to the city of nirvàna, i.e. Không the Void Vô tướng Formlessness, and Vô tác Inactivity; idem Tam giải thoát môn.
; See Tam Giải thoát môn—Three gates to the city of Nirvana: 1) Không: The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Formlessness. 3) Vô tác: Inactivity.
tam niệm nguyện lực
562又作三念力、三力、三事。指阿彌陀佛念持眾生,而令眾生得以見佛之三種力用。即:(一)大誓願力,即佛因位之願力、佛威神力,亦即果上之力用;以此力用加於眾生,眾生乃得見佛。(二)三昧定力,佛常在三昧定中,心意不散亂,能現大力用;以此力用加於眾生,眾生乃得見佛。(三)本功德力,即行者本有之功德力。又分性本、宿本二義。性本,指本有之佛性;宿本,指宿世之善根力。善導將此三力悉歸為佛力,而稱之為彌陀三念願力;摩訶止觀卷二上則以前二力為佛力,本功德力則屬行者之力。〔般舟三昧經卷上、大方等大集經賢護分卷二、止觀輔行傳弘決卷二之一、觀無量壽經義疏正觀記卷中、往生要集卷中末〕
; (三念願力) Cũng gọi Tam niệm lực, Tam lực, Tam sự. Chỉ cho ba thứ lực dụng của đức Phật A di đà nhớ nghĩ và hộ trì chúng sinh để khiến cho họ được thấy Phật. Đó là: 1. Đại thệ nguyện lực: Tức nguyện lực ở nhân vị(lúc còn tu nhân) của Phật, sức uy thần của Phật, cũng tức là lực dụng khi đã đắc quả, Phật dùng 3 thứ lực dụng này gia hộ chúng sinh thì chúng sinh liền được thấy Phật.2. Tam muội định lực: Phật thường an trụ trong định, tâm ý không tán loạn, hiện đại lực dụng; Phật gia hộ chúng sinh bằng lực dụng này, chúng sinh liền được thấy Phật. 3. Bản công đức lực: Tức sức công đức sẵn có của hành giả, có 2 nghĩa: Tính bản và Túc bản. Tính bản chỉ cho Phật tính vốn có; Túc bản chỉ cho sức thiện căn của đời trước. Ngài Thiện đạo chủ trương 3 lực dụng trên đây đều là của đức Phật A di đà và gọi là Di đà tam niệm nguyện lực. Nhưng Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng, thì cho rằng Đại thệ nguyện lực và Tam muội định lực là lực dụng của Phật, còn Bản công đức lực là lực dụng thuộc về hành giả.[X. kinh Bát chu tam muội Q.thượng; Hiền hộ phần trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyển Q.2, phần 1; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí Q.trung; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối].
tam niệm trụ
562梵語 trīṇi smṛty-upasthānāni。又作三念處、三意止。<一>為佛十八種不共法之一。佛以大悲攝化眾生,常住於三種之念,而無憂喜歡慼之情。即:(一)第一念住,謂眾生信佛、受行,如來亦不生歡喜之心,且常安住正念正智。(二)第二念住,謂眾生不信佛、不受行,如來亦不生憂惱,且常安住正念正智。(三)第三念住,謂眾生中有信與不信者,佛知之亦不生歡慼之心,且常安住正念正智。此三念住皆以念、慧為體,唯佛所具功德,乃二乘不能得。〔大毘婆沙論卷十七、俱舍論卷二十七、大智度論卷二十四〕 <二>依身、受、心、法四念住之體而有如下三種分別,即:(一)自性念住,又作性念處。四念住各以慧為體,此慧有聞、思、修三種。(二)相雜念住,又作共念處、相應念處。以慧與所餘之俱有法為體。(三)所緣念住,又作緣念處、境界念處。以慧所緣之諸法為體。 故知四念住之體各具有此等三念住之別。另據大毘婆沙論卷一八七之說,三念住之中,自性念住及所緣念住不能斷除煩惱,唯有相雜念住能斷除煩惱。此外,四教義卷二謂,修三種念處,可成就三種羅漢,如修性念處,可成就慧解脫羅漢;修共念處,可成就俱解脫羅漢;修緣念處,可成就無礙解脫羅漢。〔雜阿毘曇心論卷五、俱舍論卷二十三、瑜伽師地論卷二十八、大智度論卷十九〕
; Trini-Smṛty-Upasṭhānani (S)Tam niệm xứBa niệm chư Phật thường an trụ.
; Whether all creatures believe, do not believe, or part believe and part do not believe, the Buddha never rejoices, nor grieves, but rests in his proper mind and wisdom, i.e. though full of pity, his far-seeing wisdom chính niệm chính trí keeps him above the disturbances of joy and sorrow.
; (三念住) Phạm: Trìịi smfty-upasthànàni. Cũng gọi Tam niệm xứ, Tam ý chỉ. I. Tam niệm trụ. Chỉ cho 3 ý niệm trong đó chư Phật thường an trụ. Phật dùng tâm đại bi độ hóa chúng sinh, thường an trụ trong 3 niệm, không có các cảm giác lo mừng, vui buồn. Đây là 1 trong 18 pháp riêng (bất cộng pháp) của đức Phật. Tam niệm trụ là: 1. Đệ nhất niệm trụ: Chúng sinh tin Phật, vâng theo lời Phật dạy mà tu hành, Phật cũng không vì thế mà sinh tâm vui mừng, nhưng thường an trụ trong chính niệm chính trí. 2. Đệ nhị niệm trụ: Chúng sinh không tin Phật, chẳng làm theo lời Phật dạy, Phật cũng không vì thế mà sinh tâm lo buồn, nhưng thường an trụ trong chính niệm chính trí. 3. Đệ tam niệm trụ: Trong chúng sinh có người tin, người không tin, Phật biết điều đó, nhưng không vì thế mà sinh tâm vui buồn, chỉ an trụ trong chính niệm chính trí. Ba niệm trên đây đều lấy niệm và tuệ làm thể, là các công đức chỉ một mình Phật có, chứ hàng nhị thừa không có được. II. Tam Niệm Trụ. Dựa theo thể của Tứ niệm trụ (thân, thụ, tâm, pháp) mà Niệm trụ được chia làm 3 loại sau đây: 1. Tự tính niệm trụ(cũng gọi Tính niệm xứ): Tứ niệm xứ đều lấy tuệ làm thể, có 3 thứ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. 2. Tương tạp niệm trụ(cũng gọi Cộng niệm xứ, Tương ứng niệm xứ): Lấy tuệ và các pháp câu hữu khác làm thể. 3. Sở duyên niệm trụ(cũng gọi Duyên niệm xứ, Cảnh giới niệm xứ): Lấy các pháp sở duyên của tuệ làm thể. Theo luận Đại tì bà sa quyển 187 thì trong Tam niệm trụ trên, Tự tính niệm trụ và Sở duyên niệm trụ không đoạn trừ được phiền não, chỉ có Tương tạp niệm trụ là có khả năng ấy. Ngoài ra, Tứ giáo nghĩa quyển 2 cho rằng tu 3 niệmxứ có khả năng thành tựu 3 loại La hán, như tu Tính niệm xứ có thể thành Tuệ giải thoát la hán; tu Cộng niệm xứ có thể thành Câu giải thoát la hán, tu Duyên niệm xứ có thể thành tựu Vô ngại giải thoát la hán. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.33; luận Du già sư địa Q.28; luận Đại trí độ Q.19].
tam niệm trụ (xứ)
Phật luôn luôn trụ trong chánh tâm và trí huệ. Phật không vui sướng cũng không khổ sầu, dù rằng chúng sanh có tin, không tin, hơi tin hay hơi không tin, Phật vẫn luôn giữ mình vượt trên những vui sướng khổ sầu—The Buddha always rests in his proper mind and wisdom. He neither rejoices, nor grieves whether all creatures believe, do not believe, part believe and part do not believe. The Buddha always keep himself above the disturbances of joy and sorrow.
Tam niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
tam niệm xứ
Xem Tam niệm trụ.
; Xem tam niệm trụ.
tam năng biến
602梵語 trividha-parināma。指異熟、思量與了境。瑜伽行派與法相宗主張,「識」能轉變生起一切萬法,或變現為心內主觀(見分)與客觀(相分)認識作用之主體,故稱為能變。依其作用之特性,能變有異熟、思量、了境等三種。(1)異熟(梵 vipāka,巴同)能變,又稱第一能變、初能變,即第八阿賴耶識。第八識係人界乃至天上界之有情所共之果報,其報由引業牽引,而為恆常相續之總報體,故稱為異熟,或稱異熟能變、異熟識、真異熟。例如眼耳鼻舌身意等前六識與貧富貴賤等個別之果報,係由滿業而來之別報體;然以其報有斷絕,故不稱異熟,而稱異熟生。若自賴耶三位而言,異熟識之名即相當於善惡業果位。 (二)思量(梵 manana)能變,又稱第二能變,即指第七末那識。以第七識為恆審思量之識,故稱思量能變。在諸識中,雖然第六、第七識能審思量,然以第六識有間斷,故不稱思量能變。 (三)了境能變,又稱第三能變,全稱了別境能變,即指眼耳鼻舌身意等前六識。此六識具有明白了別顯著之對象(如色、聲等)之作用,故稱了別境能變。第七、第八識則無了別顯著對象之作用。唯佛之前六識,對於如「真如」般之對象(細境)亦能加以了別。以上,初能變之識由先世之業及名言之實種變現實境,故稱變現為變,其中,若就所藏之種子而言,稱為因能變,就識體之自體分能變現而生見相二分之果而言,稱為果能變。〔唯識三十論頌、成唯識論卷四、卷七、成唯識論述記卷一本、卷二本〕(參閱「因能變」2299、「果能變」3323)
; Trividha-pariṇāma (S).
; 1. Trong thức tám, khi có một chủng tử nào chín muồi, gặp duyên biến hiện thuộc về dị thục năng biến. 2. Dù trong chủng tử đủ sức biến hiện, còn phải chờ thức bảy, ngày đêm suy lường chấp ngã, mới được biến hiện ra, thuộc về suy lường năng biến. 3. Hai thức thứ bảy và thức thứ tám, dù có tính năng biến, còn phải chờ thức thứ sáu liễu biệt lục trần (phân biệt rõ ràng) mới được sanh khởi hiện hành, thuộc liễu biệt năng biến; ba thức sáu, bảy, tám hợp tác biến hiện vũ trụ vạn vật, gọi là Tam năng biến.
; Duy Thức Luận chia tám thức ra làm ba loại năng biến—The “Only-Consciousness” Sastra divided the eight consciousnesses into three powers of change. 1) Sơ Năng Biến: The first power of change—See A Lại Da Thức. 2) Đệ Nhị Năng Biến: The second power of change—See Mạt Na Thức. 3) Đệ Tam Năng Biến: The third power of change—See Lục Thức.
; (三能變) Phạm: Trividha-pariịàma. Ba thứ chủ động sự biến hiện. Hành phái Du già và tông Duy thức chủ trương Thức có năng lực chuyển biến sinh khởi tất cả muôn pháp, hoặc biến hiện là chủ thể của tác dụng nhận thức chủ quan (Kiến phần) và khách quan(Tướng phần) trong nội tâm, vì thế gọi là Năng biến. Y cứ vào đặc tính của tác dụng, Năng biến được chia làm 3 loại là Dị thục, Tư lương và Liễu cảnh. 1. Dị thục (Phạm,Pàli:Vipàka)năng biến(cũng gọi Đệ nhất năng biến, Sơ năng biến): Tức thức A lại da thứ 8. Thức thứ 8 là quả báo chung của hữu tình từ cõi người cho đến các cõi trời, quả báo này do Dẫn nghiệp dắt dẫn mà trở thành thể tổng báo thường hằng tương tục, cho nên gọi là Dị thục, hoặc gọi là Dị thục năng biến, Di thục thức, Chân dị thục. Chẳng hạn như 6 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và quả báo riêng biệt về giàu nghèo, sang hèn... là do thể biệt báo của Mãn nghiệp mà có; nhưng quả báo này có lúc dứt mất nên không gọi là Dị thục mà gọi là Di thục sinh. Nếu nói theo Lại da tam vị thì tên Dị thục thức tương đương với Thiện ác nghiệp quả vị. 2. Tư lương (Phạm: Manana) năng biến(cũng gọi Đệ nhị năng biến): Chỉ cho thức Mạt na thứ 7. Vì thức thứ 7 là thức thường so đo, nghĩ ngợi, tính lường nên gọi là Tư lương năng biến. Trong các thức thì thức thứ 6 và thức thứ 7 luôn luôn suy nghĩ, lo lường, nhưng vì thức thứ 6 có lúc gián đoạn chứ không thường hằng như thức thứ 7 nên không được gọi là Tư lương năng biến.3. Liễu cảnh năng biến(cũng gọi Đệ tam năng biến, gọi đủ: Liễu biệt cảnh năng biến): Tức chỉ cho 6 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Sáu thức này có tác dụng phân biệt rõ ràng các đối tượng(như màu sắc, âm thanh...) khi chúng hiển hiện, cho nên gọi là Liễu biệt cảnh năng biến. Thức thứ 7 và thức thứ 8 thì không có tác dụng phân biệt rõ ràng các đối tượng. Chỉ có 6 thức trước của đức Phật đối với các cảnh nhỏ nhiệm như Chân như cũng có thể phân biệt rõ ràng. Trên đây, thức năng biến thứ nhất do nghiệp đời trước và chủng tử của Danh ngôn biến hiện ra cảnh thực, vì thế gọi là Biến. Trong đó, nếu nói theo chủng tử(hạt giống) được tích chứa thì gọi là Nhân năng biến, còn nói theo phần tự thể của thức thể có năng lực biến hiện mà sinh ra quả Kiến phần và Tướng phần thì gọi là Quả năng biến. [X. Duy thức tam thập luận tụng; luận Thành duy thức Q.4,7; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu, Q.2, phần đầu]. (xt. Nhân Năng Biến, Quả Năng Biến).
tam năng tam bất năng
The three things possible and impossible to a Buddha. He can (a) have perfect knowledge of all things; (b) know all the natures of all beings, and fathom the affairs of countless ages; (c) save countless beings. But he cannot (a) annihilate causality, i.e. karma; (b) save unconditionally; (c) end the realm of the living.
tam nội
530指喉內、舌內、唇內。乃日本悉曇學之用語。由於發音器官之不同,可將梵語音聲分為喉內、舌內、唇內等三種。日僧安然之悉曇十二例中之第五下字連成上字音例載,五句字有三類音,第一為喉內之始音,即迦(ka)字;第二為舌內之始音,即左(ca)、吒(ṭa)、多(ta);第三為唇內之始音,即跛(Pa)。其後之九字亦有三類音。一為喉內之始音,即野(ya)、賀(ha)、叉(冂sa);二為舌內之始音,即囉(ra)、攞(la)、奢(śa)、沙(ṣa)、娑(sa);三為唇內之始音,即嚩(va)。亦即以五種、九種之始音字而成各三類之終音字。例如大空、涅槃之音,皆含喉、舌、唇內之音。大空之三音為幸、建、欠;涅槃之三音為革、揭、劫。此一用法頗類於我國之雙聲、疊韻。〔悉曇略記、悉曇要訣卷一〕
; (三內) Ba âm bên trong. Chỉ cho Hầu nội (cổ họng), Thiệt nội(lưỡi)và Thần nội(môi). Đây là tiếng dùng trong Tất đàm học của Nhật bản, tức là 3 cách phát âm tiếng Phạm. Phần đệ ngũ hạ tự liên thành thượng tự âm lệ trong Tất đàm thập nhị lệ của ngài An nhiên, cao tăng người Nhật bản, có ghi: Ngũ cú tự có 3 loại âm, thứ nhất là âm đầu của hầu nội; tức là chữ ka; thứ hai là âm đầu của thiệt nội, tức chữ ca, ỉa, ta; thứ ba là âm đầu của thần nội, tức chữ pa. Chín chữ sau đó cũng có 3 loại âm. Một là âm đầu của hầu nội, tức chữ ya, ha, kwa; hai là âm đầu của thiệt nội, tức các chữ ra, la, za, wa, sa; ba là âm đầu của thần nội, tức chữ va. Cũng tức là dùng âm đầu của các chữ thuộc 5 loại, 9 loại mà làm thành âm cuối của các chữ 3 loại âm. Chẳng hạn như âm đại không, âm niết bàn đều hàm chứa âm của hầu nội, thiệt nội và thần nội. Ba âm của đại không là Hạnh, Kiến, Khiếm; 3 âm của niết bàn là Cách, Yết, Kiếp. Cách dùng này rất giống với Song thanh, Điệp vận của Trung quốc. [X. Tất đàm lược kí; Tất đàm yếu quyết Q.1].
Tam phiền não
三煩惱; C: sānfánnăo; J: sanbonnō;|Trong luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), Vô minh (無明), Ái (愛) và Thủ (取) là ba nhánh nghiệp quan trọng trong Thập nhị chi (十二支).
tam phiền não
Three kinds of afflictions: 1) Kiến Tư Hoặc: The ilusion or misleading views and thoughts—See Kiến Hoặc Tư Hoặc. 2) Trần Sa Hoặc: Delusion of “Dust and sand.” 3) Vô Minh Hoặc: The illusion arising from primal ignorance—See Vô Minh and Vô Minh Hoặc.
tam phong phái
594為臨濟宗支派。興於明清之際。開祖漢月法藏(1573~1635),江蘇無錫人。據五燈全書卷六十五載,法藏於海虞之三峰(江蘇吳縣西南)聞折竹聲而開悟。後於天啟四年(1624)至金粟寺,為密雲圓悟之首座,然不滿圓悟所提倡之「自性自悟」說,而主張禪宗五家之分派各有理由,依一大圓相得以探究佛祖之本源,遂於天啟五年著五宗原一卷。相對於此,圓悟亦於崇禎七年(1634)著七闢,九年著三闢,以駁法藏之說,法藏之弟子潭吉弘忍,則撰五宗救,以支持法藏。圓悟又於弘忍寂年(1638)駁斥法藏與弘忍。然法藏之門人尚有具德弘禮、繼起弘儲等多人,又有法孫紀蔭(住常州祥符寺)著有宗統編年三十三卷,故三峰派在江南甚為興盛。惟清世宗嘗自撰揀魔辨異錄八卷,反駁此派,並毀壞五宗原及五宗救之板木,且於雍正十一年(1733)禁斷此派之流傳。〔五燈會元續略卷八、五燈嚴統卷二十四〕
; (三峰派) Chi phái thuộc tông Lâm tế, hưng thịnh vào thời Minh, Thanh, Tổ khai sáng là ngài Hán nguyệt Pháp tạng (1573-1635), người huyện Vô tích, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Cứ theo Ngũ đăng toàn thư quyển 65, ngài Pháp tạngnghetiếng chẻ tre mà khai ngộ ở Tam phong (nằm về phía tây nam huyện Ngô, tỉnh Giang tô) tại Hải ngu. Vào năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư đến chùa Kim túc làm Thủ tọa của ngài Mật vân Viên ngộ, nhưng không đồng ý với thuyết Tự tính tự ngộ do ngài Viên ngộ đề xướng, mà chủ trương sự phân phái của Ngũ gia Thiền tông đều có lí do, dựa theo Nhất đại viên tướng mà suy tìm khảo xét về nguồn gốc của Phật tổ, rồi vào năm Thiên khải thứ 5 (1625), soạn Ngũ tông nguyên 1 quyển. Để đối lại, vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), ngài Viên ngộ soạn Thất tịch và 2 năm sau (1636) lại soạn Tam tịch để bác bỏ thuyết của ngài Pháp tạng, đệ tử ngài Pháp tạng là ngài Đàm cát Hoằng nhẫn soạn Ngũ tông cứu để ủng hộ ngài Pháp tạng. Vào năm ngài Hoằng nhẫn thị tịch (1638), ngài Viên ngộ lại bác bỏ chủ trương của các ngài Pháp tạng và Hoằng nhẫn. Nhưng học trò ngài Pháp tạng còn có nhiều người như: Cụ đức Hoằng lễ, Kế khởi Hoằng trừ..., lại có pháp tôn là Kỉ ấm (trụ trì chùa Tường phù tại Thường châu) soạn Tông thống biên niên 33 quyển, vì thế phái Tam phong rất hưng thịnh tại Giang nam. Nhưng vua Thế tông nhà Thanh tự soạn Giản ma biện dị lục 8 quyển để bác bỏ phái này, đồng thời, hủy hoại những bản khắc in Ngũ tông nguyên và Ngũ tông cứu; hơn nữa, vào năm Ung chính 11 (1733) cấm chỉ sự lưu truyền của phái này. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24].
Tam pháp
三法; C: sānfǎ; J: sanhō;|Ba loại pháp: I. 1. Giáo (教), nghĩa là giảng dạy; 2. Hành (行) với ý nghĩa thực hành và 3. Chứng (證) với ý nghĩa chứng ngộ, trực chứng; II. Chỉ ba bộ phần trong tam tạng là Kinh (經), Luật (律) và Luận (論); III. Chỉ ba loại pháp: 1. Chân pháp (真法), giáo lí chan thật; 2. Giả pháp (假法), pháp giả tạo và 3. Mạt pháp (末法), pháp trong lúc suy tàn.
tam pháp
570<一>教法、行法、證法。略稱教行證。教者,佛所曉諭之言教;行者,眾生修行佛之教法;證者,修行以證悟真理。此三法具足,得謂教法完備。十地經論卷三(大二六‧一三八下):「一切諸佛所說法輪皆悉受持者,謂教法,修多羅等書寫、供養、讀誦、受持,為他演說故;攝受一切佛菩提者,所謂證法,證三種佛菩提法,攝受此證法教化轉授故;一切諸佛所教化法皆悉守護者,謂修行法,於修行時,有諸障難,攝護救濟故。」〔法華玄義(會本)卷一上、卷三下、四教義卷一、大乘義章卷九〕 <二>心、佛、眾生三無差別,稱為三法無差。〔舊華嚴經卷十〕
; The three dharmas, i.e. giáo pháp the Buddha's teaching; hành pháp the practice of it; chứng pháp realization or experiential proof of it in bodhi and nirvàna.
; (A) Three dharma: 1) Phật pháp: The Buddha's teaching. 2) Hành pháp: The practice of Buddha dharma. 3) Chứng pháp: The realization of experiential proof of the dharma in bodhi or nirvana. (B) Tam Bất Thiện Căn—Three unwholesome roots: Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có một chuỗi ba pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are sets of THREE THINGS: 1) Tham bất thiện căn: Lobho akusala mulam (p)—Unwholesome root of greed. 2) Sân bất thiện căn: Doso akusala mulam (p)—Unwholesome root of hatred. 3) Si bất thiện căn: Moho akusala mulam (p)—Unwholesome root of delusion. (D) Tam Thiện Căn—Three wholesome roots: 1) Vô tham thiện căn: alobho kusala (p)—Wholesome root of non-greed. 2) Vô sân thiện căn: Adoso kusala (p)—Wholesome root of non-hatred. 3) Vô si thiện căn: Amoho kusala (p)—Wholesome root of non-delusion. (E) Tam Ác Hạnh—Three kinds of wrong conduct: 1) Thân ác hạnh: Kaya-duccaritam (p)—Wrong conduct in body. 2) Khẩu ác hạnh: Vaci-duccaritam (p)—Wrong conduct in speech. 3) Ý ác hạnh: Mano-duccaritam (p)—Wrong conduct in thought. (F) Tam Thiện Hạnh—Three kinds of right conduct: 1) Thân thiện hạnh: Kaya-succaritam (p)—Roght conduct in body. 2) Khẩu thiện hạnh: Vaci-succaritam (p)—Right conduct in speech. 3) Ý thiện hạnh: Mano-succaritam (p)—Right conduct in thought. (G) Tam Bất Thiện Tầm: Akusala vitakka (p)—Three kinds of unwholesome thought: 1) Dục tầm: Kama-vitakko (p)—Unwholesome thought of sentuality. 2) Sân tầm: Vyapada-vitakko (p)—Unwholesome thought of enmity. 3) Hại tầm: Vihimsa-vitakko (p)—Unwholesome thought of cruelty. (H) Tam Thiện Tầm—Three kinds of wholesome thought: 1) Ly dục tầm: Nekkkama-vitakko (p)—Wholesome thought of renunciation. 2) Vô sân tầm: Wholesome thought of non-enmity. 3) Vô hại tầm: Wholesome thought of non-cruelty. (I) Tam Bất Thiện Tư Duy—Three kinds of unwholesome motivation: 1) Dục bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through sensuality. 2) Sân bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through enmity. 3) Hại bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through cruelty. (J) Tam Bất Thiện Tưởng—Three kinds of unwholesome perception: 1) Dục bất thiện tưởng: Unwholesome perception of sensuality. 2) Sân bất thiện tưởng: Unwholesome perception of enmity. 3) Hại bất thiện tưởng: Unwholesome perception of cruelty. (K) Tam Thiện Tưởng—Three kinds of wholesome perception: 1) Ly dục tưởng: Wholesome perception of renunciation. 2) Vô sân tưởng: Wholesome perception of non-enmity. 3) Vô hại tưởng: Wholesome perception of non-cruelty. (L) Tam Bất Thiện Giới—Three unwholesome elements: 1) Dục giới: Sensuality. 2) Sân giới: Enmity. 3) Hại giới: Cruelty. (M) Tam Thiện Giới—Three wholesome elements: 1) Ly dục giới: Renunciation. 2) Vô sân giới: Non-enmity. 3) Vô hại giới: Non-cruelty. (N) Ba Giới Khác—Three more elements: (a) i) Dục giới: kama-dhatu (p)—The element of sense-desire. ii) Sắc giới: Rupa dhatu (p)—The element of form. iii) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (p)—The formless element. (b) i) Sắc giới: Rupa-dhatu (p)—The element of form. ii) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (p)—The formless element. iii) Diệt giới: Nirodha-dhatu (p)—The element of cessation. (c) i) Liệt giới: Hina-dhatu (p)—The low element. ii) Trung giới: Majjhima-dhatu (p)—The middling element. iii) Thắng giới: Patina-dhatu (p)—The sublime element. (O) Tam Ái—Three kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (p)—Sensual craving. 2) Hữu ái: Bhava-tanha (p)—Craving for becoming. 3) Vô hữu ái: Vibhava-tanha (p)—Craving for extinction. (P) Ba Ái Khác—Three more kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (p)—Craving for the world of sensual desire. 2) Sắc ái: Rupa-tanha (p)—Craving for the world of form. 3) Vô sắc ái: Arupa-tanha (p)—Craving for the formless world. (Q) Ba Ái Khác—Three more kinds of craving: 1) Sắc ái: Craving for the world of form. 2) Vô sắc ái: Craving for the formless world. 3) Diệt ái: Craving for cessation. (R) Tam Kiết Sử: Samyojanani (p)—Three fetters: 1) Thân kiến kiết sử: Sakkaya-ditthi (p)—The fetter of personality belief. 2) Nghi kiết sử: Vici-kiccha (p)—The fetter of doubt. 3) Giới cấm thủ: Silabhata-paramaso (p)—The fetter of attachment to rite and ritual. (S) Tam Lậu: Asava (p)—Three corruptions: 1) Dục lậu: kamasavo (p)—The corruption of desire. 2) Hữu lậu: Bhavasavo (p)—The corruption of becoming. 3) Vô minh lậu: Avijjasavo (p)—The corruption of ignorance. (T) Tam Hữu—Three kinds of becoming: 1) Dục hữu: Kama-bhavo (p)—Becoming in the world of sense-desire. 2) Sắc hữu: Rupa-bhavo (p)—Becoming in the world of form. 3) Vô sắc hữu: Arupa-bhavo (p)—Becoming in the formless world. (U) Tam Cầu—Three quests: 1) Dục cầu: Kamesana (p)—Quests for sense-desire. 2) Hữu cầu: Bhavesana (p)—Quests for becoming. 3) Phạm hạnh cầu: Brahmacariyesana (p)—Quests for the holy life. (V) Tam Mạn—Three forms of conceit: 1) Thắng mạn: Tôi tốt hơn—I am better than… 2) Đẳng mạn: Tôi bằng—I am equal to… 3) Ty liệt mạn: Tôi tệ hơn—I am worse than… (W) Tam Thời—Three times: 1) Quá khứ: Atito addha (p)—Past. 2) Vị lai: Anagato addha (p)—Future. 3) Hiện tại: Paccuppanno addha (p)—Present. (X) Tam Biên—Three ends: 1) Hữu thân biên: Sakkaya anto (p)—Personality. 2) Hữu thân tập biên: Sakkaya-samudayo anto (p)—Arising of personality. 3) Hữu thân diệt biên: Sakkaya-noridho anto (p)—Cessation of personality. (Y) Tam Thọ—Three feelings: 1) Lạc thọ: Sukha vedana (p)—The pleasant feeling. 2) Khổ thọ: Dukkha vedana (p)—The painful feeling. 3) Phi khổ phi lạc thọ: Adukkham-asukha vedana (p)—Neither pleasant nor painful feeling. (Z) Tam Khổ Tánh—Three kinds of suffering: 1) Khổ khổ: Dukkha-dukkhata (p)—Suffering as pain. 2) Hành khổ: sankhara-dukkhata (p)—Suffering as inherent in formations. 3) Hoại khổ: Viparinama-dukkhata (p)—Suffering as due to change. (AA) Tam Tụ—Three accumulations: 1) Tà định tụ: Micchatta-niyato rasi (p)—Evil accumulation with fixed result. 2) Chánh định tụ: Sammatta-niyato rasi (p)—Good accumulation with fixed result. 3) Bất định tụ: Aniyato rasi (p)—Indeterminate. (BB) Tam Nghi—Three obscurations: 1) Đối với vấn đề thuộc về quá khứ nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the past. 2) Đối với vấn đề thuộc về tương lai nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the future. 3) Đối với vấn đề thuộc về hiện tại nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the present. (CC) Ba điều Như Lai không cần gìn giữ—Three things a Tathagata has no need to guard against: 1) Như Lai thanh tịnh hiện hành về thân, Như Lai không có ác hạnh về thân mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in bodily conduct. There is no misdeed of the body which He must conceal lest anyone should get to hear about it. 2) Như Lai thanh tịnh hiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in speech. There is no misdeed of the speech. 3) Như Lai thanh tịnh hiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in thought. There is no misdeed of thought. (DD) Tam Chướng—Three obstacles: 1) Tham chướng: Rago-kincanam (p)—Obstacles of Lust. 2) Sân chướng: Dosa kincanam (p)—Obstacles of hatred. 3) Si chướng: Moho kincanam (p)—Obstacles of delusion. (EE) Tam Chủng Hỏa—Three fires: 1) Lửa tham: Ragaggi (p)—Fire of lust. 2) Lửa sân: Dosaggi (p)—Fire of hatred. 3) Lửa si: Mohaggi (p)—Fire of delusion. (FF) Ba Loại Lửa Khác—Three more fires: 1) Lửa của người hiếu kính: Ahuneyyaggi (p)—The fire of those to be revered. 2) Lửa của người gia chủ: Gahapataggi (p)—The fire of the householder. 3) Lửa của người đáng cúng dường (cha mẹ, vợ con, và các vị xuất gia): Dakkhineyyaggi (p)—The fire of those worthy of offerings (parents, husband, wife, children, monks and nuns). (GG) Tam Chủng Sắc Tụ—Threefold classification of matter: 1) Hữu kiến hữu đối sắc: Sanidas-sana-sappatigham rupam (p)—Visible and resisting matter. 2) Vô kiến hữu đối sắc: Anidassana-sappatigham rupam (p)—Invisible and resisting matter. 3) Vô kiến vô đối sắc: Anidas-sana-appatigham-rupam (p)—Invisible and unresisting matter. (HH) Tam Hành—Three kinds of karmic formation: 1) Phước hành: Punnabhisankharo (p)—Meritorious karmic formation. 2) Phi phước hành: Apunnabhisankharo (p)—Demeritorious karmic formation. 3) Bất động hành: Anenjabhisankharo (p)—Imperturbable karmic formation. (II) Tam Chủng Nhân—Three persons: 1) Hữu học nhân: Sekho puggalo (p)—The learner. 2) Vô học nhân: Asekho puggalo (p)—The non-learner. 3) Phi hữu học phi vô học nhân: N'eva sekho nasekho puggalo (p)—The one who is neither the learner nor the non-learner. (JJ) Tam Vị trưởng Lão—Three elders: 1) Sanh trưởng lão: Jati-thero (p)—An elder by birth. 2) Pháp trưởng lão: Dhamma thero (p)—An elder in Dhamma. 3) Nhập định trưởng lão: Sammuti-thero (p)—An elder by convention. (KK) Tam Phước Nghiệp Sự—Three grounds based on merit: 1) Thí hành phước nghiệp sự: Danamayam punna kiriya vatthu (p)—The merit of giving. 2) Giới hành phước nghiệp sự: Silamayam punna kiriya vatthu (p)—The merit of morality. 3) Tu hành phước nghiệp sự: Bhavanamaya punna kiriya vatthu (p)—The merit of meditation. (LL) Tam Cử Tội Sự—Three grounds for reproof: 1) Thấy: Ditthena (p)—Reproof based on what has been seen. 2) Nghe: Sutena (p)—Reproof based on what has been heard. 3) Nghi: Parisankaya (p)—Reproof based on what has been suspected. (MM) Tam Dục Sanh—Three kinds of rebirth in the realm of Sense-Desire: 1) Hữu tình do dục an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài người, một số chư Thiên, và một số tái sanh trong đọa xứ: Paccuppatthita-kama (p)—There are beings who desire what presents itself to them, and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in states of woe. 2) Hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra, như chư Hóa Lạc Thiên: Nimmita-kama (p)—There are beings who desire what they have created, such as the devas who rejoice in the own creation (nimmanarati). 3) Hữu tình có lòng dục đối với sự vật do các loài khác tạo ra, như chư Thiên Tha Hóa Tự Tại: There are beings who rejoice in the creations of others, such as the devas Having Power over Others' Creation (Pranimmita-vasavati). (NN) Tam Chủng Lạc Sanh: Sukhupapattiyo (p)—Three happy rebirths: 1) Hữu tình luôn tạo ra thiền định lạc hay sống trong sự an lạc, như các vị Phạm Thiên: There are beings who, having continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group. 2) Hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: “Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!” như chư Quang Âm Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, fuul of it, immersed in it, so that they occasionally exclaim: “Oh what bliss!” such as the Radiant devas (abhasara). 3) Hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Biến Tịnh Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, who, supremely blissful, experience only perfect happiness, such as the lustrous devas (subhakina). (OO) Tam Tuệ—Three kinds of wisdom: 1) Hữu học tuệ: The wisdom of the learner. 2) Vô học tuệ: The wisdom of the non-learner. 3) Phi hữu học phi vô học tuệ: The wisdom of the one who is neither the learner nor the non-learner. (PP) Ba Loại Tuệ Khác—Three Three more kinds of wisdom: 1) Tư sanh tuệ: Cintamaya panna (p)—The wisdom based on thought. 2) Văn sanh tuệ: Sutamaya panna (p)—The wisdom based on learning. 3) Tu sanh tuệ: Bhavanamaya panna (p)—The wisdom based on mental development. (QQ) Tam Chủng Binh Khí—Three armaments; 1) Nghe: Sutavudham (p)—What one has learnt. 2) Xả ly: Pavivekavudham (p)—Detachment. 3) Tuệ: Pannavudham (p)—Wisdom. (RR) Tam Căn—Three faculties: 1) Vị tri đương tri căn: Anannatam-nassamitindriyam (p)—Trí căn dùng để biết những gì chưa được biết—The faculty of knowing that one will know the unknown. 2) Dĩ tri căn: Annindriyam (p)—Trí căn tối thượng—The faculty of highest knowledge. 3) Cụ tri căn: Annata-indriyam (p)—Trí căn của bậc thức giả—The faculty of the one who knows. (SS) Tam Nhãn—Three eyes: 1) Nhục nhãn: Mamsa-cakkhu (p)—The fleshly eye. 2) Thiên nhãn: Dibba-cakkhu (p)—The divine eye. 3) Tuệ nhãn: Panna-cakkhu (p)—The eye of wisdom. (TT) Tam Học—Three kinds of training: 1) Tăng thượng giới học: Adhisila-sikkha (p)—Training in higher morality. 2) Tăng thượng tâm học: Adhicitta-sikkha (p)—Training in higher thought. 3) Tăng thượng tuệ học: Adhipanna-sikkha (p)—Training in higher wisdom. (UU) Tam Sự Tu Tập—Three kinds of development: 1) Thân tu: Kaya-bhavana (p)—Development of the emotions. 2) Tâm tu: Citta-bhavana (p)—Development of mind. 3) Tuệ tu: Panna-bhavana (p)—Development of wisdom. (VV) Tam Vô Thượng—Three unsurpassables: 1) Kiến vô thượng: Dassananuttariyam (p)—The unsurpassable of vision. 2) Hành vô thượng: Patipadanuttariyam (p)—The unsurpassable of practice. 3) Giải thoát vô thượng: Vimuttanuttariyam (p)—The unsurpassable of liberation. (WW) Tam Định—Three kinds of concentration: 1) Hữu tầm hữu tứ định: Savotakko-savicaro samadhi (p)—The concentration of thinking and pondering. 2) Vô tầm hữu tứ định: Avitakko-vicara-matto samadhi (p)—The concentration with pondering without thinking. 3) Vô tầm vô tứ định: Avitakko-avicaro samadhi (p)—The concentration with neither thinking nor pondering. (XX) Ba Định Khác—Three more kinds of concentration: 1) Không định: Sunnato-samadhi (p)—The concentration on emptiness. 2) Vô tướng định: Animitto-samadhi (p)—The concentration on the signlessness. 3) Vô nguyện định: Appanihito samadhi (p)—The concentration on desirelessness. (YY) Tam Thanh Tịnh—Three purities: 1) Thân thanh tịnh: Kaya-socceyam (p)—Purity of body. 2) Ngữ thanh tịnh: Vaci-socceyam (p)—Purity of speech. 3) Ý thanh tịnh: Mano-socceyam (p)—Purity of mind. (ZZ) Tam Tịnh Mặc—Three qualities of the sage: 1) Thân tịnh mặc: Kaya-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to the body. 2) Ngữ tịnh mặc: Vaci-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to speech. 3) Ý tịnh mặc: Mano-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to mind. (3A) Tam Thiện Xảo—Three skills: 1) Tăng ích thiện xảo: Aya-kosallam (p)—Skills in going forward. 2) Tổn ích thiện xảo: Apaya-kosallam (p)—Skills in going down. 3) Phương tiện thiện xảo: Upaya-kosallam (p)—Skills in means to progress. (3B) Tam Kiêu—Three intoxications: 1) Vô bệnh kiêu: Arogya-mado (p)—Kiêu mạn vì thân không bệnh—Intoxication with health. 2) Niên tráng kiêu: Yobbana-mado (p)—Kiêu mạn vì tuổi tráng niên—Intoxciation with youth. 3) Hoạt mạng kiêu: Jivita-mado (p)—Kiêu mạn vì có đời sống sung túc—Intoxication with one's prosperous life. (3C) Tam Tăng Thượng—Three Predominant influences: 1) Ngã tăng thượng: Attadhipateyyam (p)—The predominant influence on oneself. 2) Thế tăng thượng: Lokadhipateyyam (p)—The predominant influence on the world. 3) Pháp tăng thượng: Dhammadhipateyyam (p)—The predominant influence on the Dhamma. (3D) Tam Luận Sự—Three topics of discussion: 1) Bàn luận về vấn đề quá khứ (sự việc nầy xãy ra trong quá khứ): Talk may be of the past (that's how it used to be). 2) Bàn luận về vấn đề tương lai ((sự việc nầy xãy ra trong tương lai): Talk may be of the future (that's how it will be). 3) Bàn luận về vấn đề hiện tại (sự việc này xãy ra trong hiện tại): Talk may be of the present (that's how it is now). (3E) Tam Minh—Three knowledges: 1) Túc mạng minh: Pubbenivasanussati-nanam-vijja (p)—Knowledge of one's past lives. 2) Hữu tình sanh tử minh: Sattanam-cutupapate-nanam-vijja (p)—Knowledge of the decease and rebirth of beings. 3) Lậu tận trí minh: Asavanam-khaye-nanam-vijja (p)—Knowledge of the destruction of the corruption. ** For more information, please see Tam Minh. (3F) Tam Trú—Three abidings: 1) Thiên trú: Dibbo-viharo (p)—Deva-abiding. 2) Phạm trú: Brahma-viharo (p)—Brahma-abiding. 3) Thánh trú: Ariyo-viharo (p)—Ariyan-abiding. (3G) Tam Thần Thông—Three miracles: 1) Thần túc thần thông: Iddhi-patihariyam (p)—The miracle of psychic power. 2) Tha tâm thần thông: Adesana-patihariyam (p)—The miracle of telepathy. 3) Giáo giới thần thông: Anusasani-patihariyam (p)—The miracle of instruction.
; (三法) I. Tam Pháp. Chỉ cho Giáo pháp, Hành pháp và Chứng pháp. Gọi tắt: Giáo hành chứng.Giáo là lời đức Phật chỉ dạy; Hành là chúng sinh tu hành giáo pháp của Phật; Chứng là tu hành để chứng ngộ chân lí. Đầy đủ 3 pháp này được gọi là Giáo pháp hoàn bị. Thập địa kinh luận quyển 3 (Đại 26, 138 hạ) nói: Thụ trì tất cả pháp luân của chư Phật có nghĩa là biên chép, cúng dường, đọc tụng, giãng diễn cho mọi người nghe về giáo pháp, Tu đa la... do Phật nói; nhiếp thụ tất cảPhậtbồ đề có nghĩa là chứng pháp, chứng 3 pháp Phật bồ đề; nhiếp thụ sự chứng pháp này để giáo hóa, truyền trao. Còn giữ gìn bảo vệ tất cảgiáo pháp của Phật chính là sự tu hành giáo pháp ấy. Trong lúc tu hành nếu gặp các chướng nạn thì phải giữ gìn, cứu giúp. [X. Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) quyển 1 thượng, 3 hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. II. Tam Pháp. Chỉ choTâm, Phật và Chúng sinh cả 3 không sai khác, gọi là Tam phápvô sai. [X. kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch cũ)].
tam pháp diệu
The mystery of the three things—See Tâm, Phật, Cập Chúng Sanh Thị Tam Vô Sai Biệt.
tam pháp giới
Three realms—See Ngũ Pháp Giới, Lý Pháp Giới and Sự Sự Pháp Giới.
tam pháp luân
572教判之名。略稱三輪。指如來三時說法所代表之意義。<一>真諦、玄奘所立之轉、照、持等三法輪。(一)轉法輪,即世尊最初於鹿野苑所說之小乘四諦教法。又稱初轉法輪。屬三時教中之有教。(二)照法輪,為大乘說諸法皆空等般若經教法,以其為大乘獨行之空理,以空照破有,故稱照法輪。為三時教中之空教。(三)持法輪,為遣第二時所執之空理,世尊復說三性及真如不空等妙理,俾三乘之人皆得修持,故稱持法輪。此不空妙有等唯識中道之教法,即三時教中之中道教。〔華嚴五教章卷一、華嚴經疏卷一、法華經玄贊卷一〕(參閱「三時教」596) <二>吉藏所立之根本、枝末、攝末歸本等三法輪。(一)根本法輪,即世尊於初成道華嚴之會,為菩薩說一因一果法門,稱為根本教。此即華嚴經所說之一乘教。(二)枝末法輪,福薄鈍根者不堪聞一因一果等一乘教,故於一佛乘外分別說三乘教,此即為枝末法輪。(三)攝末歸本法輪,至法華會時,機緣已熟,復為彼等三乘之人攝歸一乘,稱為攝末歸本法輪。此即法華「會三歸一」之教。據此,三論宗所依據之般若經等應屬枝末法輪,然依吉藏本意,佛於三時皆講大乘,般若經屬大乘,故仍屬根本法輪。三論宗以二藏教判為主,而以此三法輪教判為輔。〔華嚴經疏卷一、華嚴經疏鈔玄談卷四、法華玄義釋籤要決卷十〕(參閱「會三歸一」5474)
; (三法輪) Gọi tắt: Tam luân. I. Tam Pháp Luân. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Chân đế và ngài Huyền trang thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân(cũng gọi Sơ chuyển pháp luân): Tức giáo pháp Tứ đế của Tiểu thừa do đức Phật nói lần đầu tiên ở vườn Lộc dã, thuộc Hữu giáo trong Tam thời giáo.2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho giáo pháp kinh Bát nhã nói các pháp đều không, vì đây là lí Không chỉ có hàng Đại thừa thực hành, dùng Không chiếu phá Hữu, cho nên gọi là Chiếu pháp luân, thuộc về Không giáo trong Tam thời giáo. 3. Trì pháp luân: Để loại bỏ lí Không mà thời thứ 2 chấp trước, đức Phật lại nói về 3 tính và diệu lí chân như bất không khiến cho hàng Tam thừa đều tu trì được, cho nên gọi là Trì pháp luận. Đây là giáo pháp Duy thức trung đạo Bất không diệu hữu, tức là Trung đạo giáo trong Tam thời giáo.[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1;Hoa nghiêm kinh huyền tán Q.1]. (xt. Tam Thời Giáo). II. Tam Pháp Luân. Chỉ cho Căn bản pháp luân, Chi mạc pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân do ngài Cát tạng thành lập. 1. Căn bản pháp luân: Trong hội Hoa nghiêm, khi đức Phật mới thành đạo. Ngài vì hàng Bồ tát mà nói pháp môn Nhất nhân nhất quả, gọi là Căn bản giáo. Đây tức là Nhất thừa giáo nói trong kinh Hoa nghiêm. 2. Chi mạt pháp luân: Hàng độn căn phúc mỏng không nghe nổi Nhất thừa giáo 1 nhân 1 quả, cho nên ngoài Nhất Phật thừa, đức Thế tôn còn chia ra nói Tam thừa giáo để thích ứng với mọi căn cơ, đó tức là Chi mạt pháp luân. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Đến hội Pháp hoa, lúc đó cơ duyên đã thuần thục, đức Phật lại qui nhiếp hàng Tam thừa trước kia trở về Nhất thừa, gọi là Nhiếp mạt qui bản pháp luân. Đây chính là giáo pháp Hội tam qui nhất của kinh Pháp hoa. Cứ theo giáo phán trên thì kinh Bát nhã... mà tông Tam luận y cứ đáng lẽ phải thuộc Chi mạt pháp luân, nhưng theo bản ý của ngài Cát tạng thì ở cả 3 thời đức Phật đều giảng nói Đại thừa, mà kinh Bát nhã là kinh Đại thừa nên tất nhiên là thuộc về Căn bản pháp luân.Tông Tam luận dùng giáo phán Nhị tạng làm chính, còn giáo phán Tam pháp luân này thì được xem là phụ.[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm yếu quyết Q.10]. (xt. Hội Tam Qui Nhất).
tam pháp nhẫn
571梵語 tisraḥ kṣāntayaḥ。又作三忍。謂悟解三種法理且認證之。「忍」,體悟、認識事理而心安之意。<一>音響忍、柔順忍、無生法忍。(一)音響忍(梵 ghoṣānugama-dharma-kṣānti),又作隨順音聲忍、生忍。指聽聞教法而得心安。係在十信位者,尋聲而悟解,故稱音響忍。(二)柔順忍(梵 anulomikī-dharma-kṣānti),又作思惟柔順忍、柔順法忍。乃隨順真理,賴一己之思考而得悟。係三賢位者,伏其業惑,令六塵無性不生,故稱柔順忍。(三)無生法忍(梵 anutpattika-dharma-kṣānti,又作修習無生忍、無生忍。謂契合真理。即七地以上者,離一切相而證悟實相。 又唐代僧玄一於無量壽經記卷上,以三忍配三慧:(一)聞慧,謂近從音教而有音響忍。(二)思慧,謂隨分調心而有柔順忍。(三)修慧,謂觀證無生之理而有無生忍。 又日僧了惠於無量壽經鈔卷五引述新羅僧義寂之解釋,即:(一)音響忍,謂若聞真實之法不驚不怖不畏、信解受持、愛樂順入、修習安住,是為第一之隨順音響忍,稱為音響忍。此係於十忍品中之解釋。(二)菩薩隨順寂靜觀一切法,平等正念而不違逆諸法,以隨順深入一切諸法,以清淨之直心分別諸法,修平等觀而深入具足,是為第二之順忍,稱為隨順忍。(三)菩薩不見有法之生,不見有法之滅;若不生則不滅,不滅則無盡,無盡則離垢,離垢則無壞,無壞則不動,不動則寂滅,是為第三之無生法忍。〔無量壽經卷上、坐禪三昧經卷下、月燈三昧經卷二、瑜伽師地論卷四十九、無量壽經鈔卷四〕 <二>見阿彌陀佛之淨土而心生歡喜,得喜忍、悟忍、信忍等無生忍。此蓋以觀想勇猛專精,見淨土莊嚴,心生歡喜而得無生忍時,就其喜、悟、信等三種心態而分者。然此種無生忍究係觀佛而得,或由信心而得,則眾說紛紜。〔觀經序分義〕 <三>忍辱波羅蜜之耐怨害忍、安受苦忍、諦察法忍。(一)耐怨害忍,人以怨憎毒害加於我,而能安心忍耐無反報之心。(二)安受苦忍,疾病水火刀杖眾苦所逼,能安心忍受,恬然不動。(三)諦察法忍,審察諸法體性虛幻,本無生滅,信解真實,心無妄動,安然忍可。〔世親攝大乘論釋卷七、成唯識論述記卷十本、華嚴大疏鈔卷五〕(參閱「忍」2889)
; Tisrah-ksantayah (S).
; (三法忍) Phạm: Tisra# kwàntaya#. Cũng gọi Tam nhẫn. I. Tam Pháp Nhẫn:Ba loại nhẫn. Nhẫn nghĩa là thể ngộ, nhận thức sự lí mà tâm được an. 1. Âm hưởng nhẫn (Phạm: Ghowà= nugama-dharma-kwànyi), cũng gọi Tùy thuận âm thanh nhẫn, Sinh nhẫn: Lắng nghe giáo pháp mà tâm được an. Đây là giai vị Thập tín, nhờ nghe pháp âm mà liễu ngộ nên gọi là Âm hưởng nhẫn. 2. Nhu thuận nhẫn (Phạm: Anulo= mikì-dharma-kwànyi), cũng gọi Tư duy nhu thuận nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn: Nhờ sự tư duy của chính mình mà được liễu ngộ và tùy thuận chân lí. Đây là giai vị Tam hiền, hàng phục các hoặc nghiệp, khiến 6 trần vô tính không sinh ra được, cho nên gọi là Nhu thuận nhẫn. 3. Vô sinh pháp nhẫn (Phạm: Anutpattika-dharma-kwànyi), cũng gọi Tu tập vô sinh nhẫn, Vô sinh nhẫn. Nghĩa là khế hợp chân lí. Tức Thất địa trở lên, lìa tất cả tướng mà chứng ngộ thực tướng. Trong Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, ngài Huyền nhất đời Đường đem Tam nhẫn phối với Tam tuệ: Nhờ được nghe âm giáo mà có Âm hưởng nhẫn là Văn tuệ; nhờ tùy phần điều phục tâm mà có Nhu thuận nhẫn là Tư tuệ; nhờ quán xét chứng lí vô sinh mà có Vô sinh nhẫn là Tu tuệ. Lại trong Vô lượng thọ kinh sao quyển 5, vị tăng người Nhật bản là Liễu huệ, có dẫnlời giải thích của ngài Nghĩa tịch, người nước Tân la, về Tam nhẫn như sau: 1. Âm hưởng nhẫn: Nếu nghe pháp chân thực mà không kinh nghi sợ hãi, lại tin hiểu thụ trì, ưa thích thuận theo, tu tập an trụ, thì đó là Tùy thuận âm hưởng nhẫn bậc nhất. Đây là lời giải thích trong phẩm Thập nhẫn. 2. Tùy thuận nhẫn: Bồ tát tùy thuận tịch tĩnh quán xét tất cả pháp, bình đẳng chính niệm, không trái nghịch các pháp, dùng tùy thuận vào sâu tất cả các pháp, dùng trực tâm thanh tịnh phân biệt các pháp, tu bình đẳng quán và thâm nhập đầy đủ, đó là thuận nhẫn thứ 2, gọi là Tùy thuận nhẫn. 3. Vô sinh pháp nhẫn: Bồ tát không thấy có pháp sinh, không thấy có pháp diệt; nếu không sinh thì không diệt, không diệt thì không hết, không hết thì lìa cấu, lìa cấu thì không hoại, không hoại thì chẳng động, chẳng động thì vắng lặng, đó là Vô sinh pháp nhẫn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; kinh Nguyệt đăng tam muộiQ.2; luận Du già sư địa Q.49; Vô lượng thọ kinh sao Q.4]. II. Tam Pháp Nhẫn. Ba pháp Vô sinh nhẫn theo quan điểm Tịnh độ giáo. Do thấy cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà mà lòng sinh vui mừng và được 3 Vô sinh nhẫn: Hỉ nhẫn, Ngộ nhẫn và Tín nhẫn. Sự phân chia 3 Vô sinh nhẫn này là dựa theo 3 trạng thái của tâm là hỉ(mừng), ngộ (hiểu rõ) và tín (tin), khi được Vô sinh nhẫn nhờ sự quán tưởng mạnh mẽ chuyên tinh, thấy cõi Tịnh độ trang nghiêm mà tâm sinh hoan hỉ. Nhưng vẫn còn nhiều thuyết phân vân, không biết rốt cuộc thì loại Vô sinh nhẫn này là do quán tưởng Phật mà được, hay do lòng tin mà được? [X. Quán kinh tự phần nghĩa]. III. Tam Pháp Nhẫn. Chỉ cho 3 thứ nhẫn: Nại oán hại nhẫn, An thụ khổ nhẫn và Đế sát pháp nhẫn thuộc Nhẫn nhục Ba la mật. 1. Nại oán hại nhẫn: Dù bị người ta oán ghét, hãm hại thì mình vẫn thản nhiên chịu đựng, không có tâm trả thù. 2. An thụ khổ nhẫn: Dù có bị các nỗi khổ não bức ngặt như tật bệnh, nước lửa, dao gậy thì vẫn yên lòng nhẫn nại, điềm nhiên bất động. 3. Đế sát pháp nhẫn: Xét kĩ thể tính các pháp hư dối, vốn không sinh diệt, tin hiểu chân thực, tâm không vọng động, an nhiên lãnh nhận. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (Thế thân); Duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.5]. (xt. Nhẫn).
tam pháp thân
Ba Pháp Thân—Three kinds of dharmakaya: 1) Pháp Hóa Sinh Thân: Pháp thân Phật do pháp tính hóa hiện như Phật Thích Ca Mâu Ni—The manifested Buddha, i.e., Sakyamuni. 2) Ngũ Phần Pháp Thân: Năm phần công đức giới, định, tuệ hay lực thuyết giáo của Phật—The power of his teaching. 3) Thực Tướng Pháp Thân: Thực tướng không tính của chư pháp—The absolute or ultimate reality.
tam pháp triển chuyển nhân quả đồng thời
572為唯識宗表示種子與現行互為因果之用語。唯識宗認為在第八識內之種子,必待眾緣和合而起現行(在現實上作用);又現行之法、現行之剎那(一瞬間),其種子亦熏習於本識(第八識),即所謂「種子生現行,現行熏種子。」此時能生之種子、所生而能熏之現行,及所熏種子,三者相互展轉成為作用,其因果關係乃同一剎那,非異時,此即為三法展轉,因果同時。凡過去、未來諸法,其種子與現行之因果關係,皆相續同時,如炷生焰,焰生即成火炬,乃三法展轉,因果俱時。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷三本〕(參閱「七轉第八互為因果」122)
; (三法展轉因果同時) Chỉ cho 3 pháp: Chủng tử năng sinh, Hiện hành năng huân và Chủng tử sở huân xoay vần, đắp đổi, đồng thời làm nhân làm quả lẫn nhau. Đây là tiếng dùng của tông Duy thức biểu thị sự quan hệ nhân quả giữa chủng tử và hiện hành. Tông Duy thức cho rằng những chủng tử trong thức thứ 8 phải đợi các duyên hòa hợp mới khởi lên hiện hành(tác dụng về mặt hiện thực), rằng chủng tử của pháp hiện hành và sát na(khoảng 1 nháy mắt), hiện hành cũng được huân tập(xông ướp) trong bản thức(thức thứ 8), tức cái được gọi là Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử. Lúc này, chủng tử năng sinh, hiện hành sở sinh làm năng huân và chủng tử sở huân xoay vần đắp đổi làm tác dụng lẫn nhau, mà sự quan hệ nhân quả giữa chúng là cùng 1 sát na, chứ không phải khác thời, đó tức là Tam pháp triển chuyển, nhân quả đồng thời. Mối quan hệ nhân quả giữa chủng tử và hiện hành của các pháp quá khứ, vị lai đều là tương tục đồng thời, như đốt bấc thì có tia lửa, lửa cháy thì thành ngọn đèn. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Thất Chuyển Đệ Bát Hỗ Vi Nhân Quả).
tam pháp tánh
Three tones of all dharmas: 1) Lạc: The tone of pleasure. 2) Khổ: The tone of displeasure. 3) Không khổ không lạc: The tone of indifference.
tam pháp y
xem ba tấm pháp y.
tam pháp độ luận
571請參閱 三法度論 梵名 Tri-dharmika-śāstra。凡三卷。東晉僧伽提婆譯。今收於大正藏第二十五冊。又作三法度經論。本書係依四阿含經,說德(施、戒、修三真度)、惡(惡行、愛、無明三真度)、依(陰、界、入三真度)等三法九真度,並闡釋解脫之道。真度,為梵語 khaṇḍa 之音譯,又作犍度。四阿鋡暮抄解二卷(亦收於大正藏第二十五冊)為本書之同本異譯。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷三〕
; Tri-dharmika śāstra (S).
; (三法度論) Phạm: Tri-dharmika-zàstra. Cũng gọi Tam pháp độ kinh luận. Luận, 3 quyển, do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Nội dung luận này dựa theo các kinh A hàm mà nói về 3 pháp 9 chân độ là: Đức (3 chân độ: Thí, Giới, Tu); Ác (3 chân độ: Ác hạnh, Ái, Vô minh) và Y (3 chân độ: Ấm, Giới, Nhập), đồng thời, giải thích rộng về đạo giải thoát. Chân độ là dịch âm từ tiếng Phạmkhaịđa, cũng gọi Kiền độ.Tứ a hàm mộ sao giải 2 quyển (cũng được thu vào Đại chính tạng tập 25) là bản dịch khác của luận này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
Tam pháp ấn
三法印; C: sānfǎyìn; J: sanbōin;|Ba dấu ấn của pháp, ba đặc tính của nguyên tắc. Chỉ ba khía cạnh đặc thù của Phật pháp, hoàn toàn khác biệt những giáo lí ngoại đạo: 1. Chư hành vô thường (諸行無常), tất cả đều vô thường; 2. Chư pháp vô ngã (諸法無我), tất cả đều không có một cơ sở tự tồn và 3. Niết-bàn tịch tĩnh (涅槃寂靜), tức là niết-bàn là sự an tĩnh tuyệt đối.
tam pháp ấn
570可作為佛教特徵之三種法門。即諸行無常、諸法無我、涅槃寂靜等三項根本佛法。此三項義理可用以印證各種說法之是否正確,故稱三法印。小乘經典若有此「無常、無我、涅槃」三法印印定其說,即是佛說,否則即是魔說。此語未見於巴利語系經典。漢譯雜阿含經卷十則有類似之說法。(一)諸行無常(梵 anityāḥ sarva-saṃskārāḥ),又作一切行無常印、一切有為法無常印,略稱無常印。一切世間有為諸法概皆無常,眾生不能了知,反於無常中執常想,故佛說無常以破眾生之常執。(二)諸法無我(梵 nirātmānaḥ sarva-dharmāḥ),又作一切法無我印,略稱無我印。一切世間有為無為諸法概皆無我,眾生不能了知,而於一切法強立主宰,故佛說無我以破眾生之我執。(三)涅槃寂靜(梵 śantaṃ nirvāṇam),又作涅槃寂滅印、寂滅涅槃印,略稱涅槃印。一切眾生不知生死之苦,而起惑造業,流轉三界,故佛說涅槃之法,以出離生死之苦,得寂滅涅槃。 以上,諸行無常唯明有為,涅槃寂靜唯明無為,諸法無我則通明有為無為。又三法印加「一切行苦」,則稱四法印、四法本末、四憂檀那。此外,復加「一切法空(一切現象虛幻不實)」,則為五法印。〔菩薩地持經卷八、有部目得迦卷六、大智度論卷三十二、大毘婆沙論卷九、俱舍論光記卷一〕
; Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh, thuc pháp ấn chứng của tiểu thừa.
; Xem tam ấn.
; Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh, thuộc pháp ấn chứng của Tiểu thừa.
; Trilaksana (skt)—Tilakkhana (p)—Three Dharma Seals—Three marks of existence, or three characteristics of all phenomenal existence: (A) 1) Vô thường: Anicca (p)—Impermanence. 2) Khổ: Dukkha (p)—Suffering or unsatisfaction. 3) Vô ngã: Anatta (p)—No-self—Egoless—Impersonality. (B) 1) Vô Thường: Impermanence. 2) Vô Ngã: Non-ego. 3) Niết Bàn: Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn—Nirvana.
; (三法印) Ba pháp môn tiêu biểu đặc biệt của Phật giáo. Tức là 3 pháp nghĩa căn bản của Phật giáo: Các hành vô thường, các pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh. Ba thứ nghĩa lí này được dùng để ấn chứng xem các pháp nghĩa giảng nói có chính xác hay không, nên gọi là Tam pháp ấn. Các kinh điển Tiểu thừa nếu được ấn định bởi Tam pháp ấn vô thường, vô ngã, niết bàn thì đó chính là do đức Phật nói, nếu không thì do ma nói. Từ ngữ Tam pháp ấn này không thấy trong kinh điển thuộc hệ thốngPàli, còn trong kinh Tạp a hàm Hán dịch quyển 10 thì có thuyết giống với Tam pháp ấn. Đó là: 1. Các hành vô thường (Phạm: Anitỳa# sarva-saôskàrà#), cũng gọi Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn, gọi tắt: Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều là vô thường, vì chúng sinh không rõ biết, cho nên đối với vô thường lại chấp thường, bởi vậy Phật nói vô thường để phá cái chấp thường của chúng sinh. 2. Các pháp vô ngã (Phạm: Niràtmàna# sarva-dharmà#), cũng gọi Nhất thiết pháp vô ngã ấn, gọi tắt: Vô ngã ấn: Tất cả các pháp hữu vi vô vi trong thế gian đều là vô ngã, vì chúng sinh không rõ biết, cho nên đối với hết thảy pháp cưỡng lập chủ tể, bởi vậy Phật nói vô ngã để phá cái chấp ngã của chúng sinh. 3. Niết bàn tịch tĩnh (Phạm:Zantaô nirvàịaô), cũng gọi Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn, gọi tắt: Niết bàn ấn: Hết thảy chúng sinh không biết cái khổ sinh tử, nên khởi hoặc tạo nghiệp, trôi lăn trong 3 cõi, bởi thế Phật nói pháp Niết bàn để ra khỏi khổ sinh tử, được Niết bàn tịch diệt. Trên đây các hành vô thường nói về hữu vi, Niết bàn tịch tĩnh nói về vô vi, còn các pháp vô ngã thì nói chung cả hữu vi và vô vi. Tam pháp ấnnếu thêm vào Nhất thiết hành khổ nữa thì gọi là Tứ pháp ấn, Tứ pháp bản mạt, Tứ ưu đàn na. Ngoài ra, nếu lại thêm Nhất thiết pháp không(tất cả mọi hiện tượng đều hư dối không thật) thì là Ngũ pháp ấn. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Hữu bộ mục đắc ca Q.6; luận Đại trí độ Q.32; luận Đại tì bà sa Q.9; Câu xá luận quang kí Q.1].
tam phát nguyện
(三發願) Chỉ cho 3 nguyện đã phát, đang phát và sẽ phát nói trong kinh A di đà. 1. Nguyện đã phát: Tâm nguyện vãng sinh Tịnh độ đã phát trong quá khứ. 2. Nguyện hiện phát: Nguyện hiện đang phát. 3. Nguyện sẽ phát: Nguyện sẽ phát trong tương lai. Vì nhân duyên đời trước khác nhau, nhiều căn cơ bất đồng, nên tâm phát nguyện có chia ra trước sau, mau chậm, vì thế nên vãng sinh Tịnh độ cũng có 3 thời khác nhau như trên. Kinh A di đà (Đại 12, 348 thượng) nói: Nếu những ai đã phát nguyện, đang phát nguyện và sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi nước của Phật A di đà thì các người ấy đều được bất thoái chuyển đối với quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác.
tam phát tâm
The three resolves of the Khởi tín luận Awakening of Faith: (a) tín thành tựu phát tâm to perfect the bodhi of faith, i.e. in the stage of faith; (b) giải hành phát tâm to understand and carry in practice the wisdom; (c) chứng phát tâm the realization, or proof of, or union with bodhi.
; Three vows of the awakening of faith: 1) Tín thành tựu phát tâm: To perfect bodhi of faith. 2) Giải hành phát tâm: To understand and carry into practice this wisdom. 3) Chứng phát tâm: The realization or proof of or union with bodhi.
Tam phân biệt
三分別; C: sānfēnbié; J: sanfunbetsu;|Sự phân biệt với ba thành phần; xảy ra giữa giác quan, đối tượng, và nhận thức hệ thuộc phát sinh qua sự tiếp xúc (theo Biện trung biên luận 辯中邊論).
tam phân biệt
530指三種思考識別之作用。分別,梵語 vikalpa。即:(一)自性分別(梵 svabhāva-vikalpa),又稱任運分別、自性思惟。即心識之認知作用,對現在所緣之境任運覺知,而較少推測思考,為一種單純之思考作用。(二)隨念分別(梵 anusmaraṇa-vikalpa),又稱隨憶思惟。係一種與意識相應,對過去之事追念不忘,而隨事臆想或隨境追念之作用。(三)計度分別(梵 abhinirūpaṇā-vikalpa),又稱推度分別、分別思惟。即對不現前之諸種事相起計量推度之作用。又依婆沙論之說,二禪以上為無尋無伺地,故無自性分別;初禪以上為定地,故無計度分別;唯有隨念分別為三界俱有者。〔大毘婆沙論卷四十二、大乘阿毘達磨雜集論卷二、俱舍論卷二、唯識二十論述記卷下〕(參閱「分別」1315)
; (三分別) Phân biệt, Phạm:Vikalpa. Chỉ cho 3 loại tác dụng suy tư, phân biệt, đó là:1. Tự tính phân biệt (Phạm: Svab= hàva-vikalpa), cũng gọi Nhậm vận phân biệt, Tự tính tư duy. Tức là tác dụng nhận biết của tâm thức, đối trước cảnh sở duyên hiện tại, nhận biết 1 cách tự nhiên, ít phải suy tư khảo xét; đây là 1 loại tác dụng tư khảo đơn thuần. 2. Tùy niệm phân biệt (Phạm:Anus= maraịa-vikalpa), cũng gọi Tùy ức tư duy. Tức 1 loại tác dụng tương ứng với ý thức, đối với các việc quá khứ nhớ nghĩ không quên, nhớ tưởng tùy theo việc hoặc truy niệm tùy theo cảnh. 3. Kế đạc phân biệt (Phạm: Abhin= ràpaịà-vikalpa), cũng gọi Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Tác dụng tính toán suy lường đối với các sự tướng không hiện tiền.Theo thuyết của luận Bà sa thì Nhị thiền trở lên là các cõi không có Tầm và Tứ nên không có Tự tính phân biệt; từ Sơ thiền trở lên là cõi định nên không có Kế đạc phân biệt, chỉ có Tùy niệm phân biệt là 3 cõi đều có. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Câu xá Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.hạ]. (xt. Phân Biệt).
tam phân khoa kinh
The three divisions of a treatise on a sùtra, i.e. tự phần introduction, chính tông phần discussion of the subject, lưu thông phần application.
; Ba phần của kinh—The three divisions of a treatise on a sutra: 1) Tự phân: Giới thiệu Kinh—Introduction. 2) Chính tông phân: Thảo luận Kinh—Discussion of the subject. 3) Lưu thông phân: Áp dụng Kinh—Application.
tam phú bát hiệu
693三,指正、五、九月等各月之一日;八,指立春、春分、立夏、夏至、立秋、秋分、立冬、冬至等八王日。謂諸天帝釋之使者及日月鬼神、地獄閻羅等百萬神眾,俱於此十一日覆奏三界眾生之善惡,比校是否與四天王之善神於每月六齋日所奏相同,校格眾生罪福,使無枉錯;再按其罪福之多少而定生注死、增減壽福。據嘉祥之無量壽經疏載,一切眾生皆有二神守於其身,一為同名(男神),在左肩上,書其作善;一為同生(女神),在右肩上,書其作惡。四天王之善神即於每月六齋日案其名籍,上奏天王,復於一年中三覆、八校,使無差錯。〔五戒經、法苑珠林卷八十八〕
; (三覆八校) Tam (3) chỉ cho ngày mùng 1 của các tháng 1, 5, 9; Bát (8) chỉ cho các ngày Bát vương: Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí. Vào 11 ngày này, các sứ giả của Chư thiên Đế thích và trăm vạn chúng thần, như Nhật nguyệt quỉ thần, địa ngục Diêm la... đều tâu lại(phúc tấu)các việc thiện ác của chúng sinh trong 3 cõi và so sánh (tỉ giảo)xem có giống như những điều mà thiện thần của Tứ thiên vương đã tâu lại vào 6 ngày trai mỗi tháng hay không, xem xét kĩ những việc tội phúc của chúng sinh để tránh sự sai lầm oan uổng, rồi căn cứ vào tội phúc nhiều hay ít mà quyết định sống chết, thêm bớt tuổi thọ và phúc đức. Cứ theo Vô lượng kinh sớ của ngài Gia tường thì tất cả chúng sinh đều có 2 vị thần theo giữ gìn bên mình, 1 là Đồng danh(thần nam) ở trên vai bên trái, ghi chép các việc thiện của chúng sinh ấy; vị thần thứ 2 là Đồng sinh(thần nữ) ở trên vai bên phải, ghi chép các việc ác của chúng sinh ấy. Thiện thần của Tứ thiên vương thì cứ vào 6 ngày trai hàng tháng xem xét sổ sách và tâu lên Thiên vương, rồi trong 1 năm lại có Tam phúc bát giảo, tra xét lại không để lầm lẫn. [X. kinh Ngũ giới, Pháp uyển châu lâm Q.88].
tam phúc
647指往生極樂淨土者所修之三種淨業;此為過去、現在、未來三世諸佛之淨業正因。即:(一)世福,又作世善。為世俗本來存在之孝悌忠信等善法,如孝養父母、奉事師長、慈心不殺、修十善業等。(二)戒福,又作戒善。為佛出世所定之戒法,包括人、天、聲聞、菩薩所受持之三歸、五戒乃至具足眾戒,不犯威儀等。其中,或具受或不具受;或具持或不具持,但皆迴向,必能往生。(三)行福,又作行善。為凡夫起大乘心,自行化他所具之善根,即發大菩提心、深信因果、讀誦大乘經典(開智慧、厭苦欣涅槃)、勸進行者(勸人捨惡,向涅槃道)、發願往生淨土等。〔觀無量壽佛經疏(智顗)、觀經散善義、觀經序分義、觀無量壽佛經義疏卷中(元照)〕
; The three (sources of) felicity: (1) The Vô lượng thọ kinh has the felicity of (a) thế phúc filial piety, regard for elders, keeping the ten commandments; (b) giới phúc of keeping the other commandments; (c) hành phúc of resolve on complete bodhi and the pursuit of Buddha-way. (2) The Câu xá luận has the blessedness of: (a) thí loại phúc almsgiving, in evoking resulting wealth; (b) giới loại phúc observance of the tính giới (against killing, stealing, adultery, lying) and the già giới (against alcohol, etc.), in obtaining a happy lot in the heavens; (c) tu loại phúc observance of meditation in obtaining final escape from the mortal round.
; (三福) Chỉ cho 3 thứ tịnh nghiệp mà các hành giả Tịnh độ tu để cầu vãng sinh Cực lạc. Đây là chính nhân tịnh nghiệp của chư Phật 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 1. Thế phúc(cũng gọi Thế thiện): Các pháp thiện hiếu đễ trung tín xưa nay vẫn tồn tại ở thế tục, như hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu 10 việc thiện... 2. Giới phúc(cũng gọi Giới thiện): Những giới pháp do đức Phật chế định như: Tam qui, Ngũ giới cho đến giới Cụ túc mà các hàng người, trời, Thanh văn, Bồ tát... vâng giữ, không phạm uy nghi... Trong đó, hoặc thụ đầy đủ hay không đầy đủ, hoặc giữ đầy đủ hay không đầy đủ, tất cả đều hồi hướng cho việc vãng sinh Tịnh độ.3. Hành phúc(cũng gọi Hành thiện): Thiện căn của hàng phàm phu phát tâm Đại thừa, đầy đủ tự hành hóa tha; tức phát tâm đại Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa(khơi mở trí tuệ, chán khổ, ưa thích Niết bàn), khuyến tiến hành giả(khuyên mọi người xả bỏ việc ác, hướng tới đạo Niết bàn), phát nguyện vãng sinh Tịnh độ... [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Quán kinh tán thiện nghĩa; Quán kinh tự phần nghĩa; Quán vô lượng thọ Phật kinh nghĩa sớ Q.trung (Nguyên chiếu)].
tam phúc nghiệp
647又作三福業事、三性福業事。<一>據增一阿含經卷十二載,指:(一)施福業,謂修行之人若遇貧窮者來乞時,須食與食、須衣與衣,乃至臥具、醫藥,隨其所欲,皆悉施與。因施獲福,稱為施福業。(二)平等福業,謂修行之人能持戒律,不興惡想,梵行端嚴,語言和雅,以平等慈悲愛護之心普覆一切有情,令得安隱。以平等心而能致福,稱為平等福業。(三)思惟福業,修行之人以智慧觀察,了知出要之法,遠離世間塵緣雜想。以此思惟為出世善福之業,稱為思惟福業。 <二>指施、戒、修三福業,即:(一)施類福業事(施性業),乃布施諸沙門、苦行者、乞者以飲食、衣服、臥具、房舍、醫藥、燈燭等物,或行身業之施、語業之施、意業之施,是為施類。(二)戒類福業事(戒性業),凡離害生命,離不與取,離欲邪行,離虛妄語,離飲酒、放逸等,是為戒類。(三)修類福業事(修性業),慈悲喜捨四無量,是為修類。〔大般若波羅蜜多經卷三、集異門足論卷五、大毘婆沙論卷八十二〕
; The three things that bring a happy lot - almsgiving, impartial kindness and love, pondering over the demands of the life beyond.
; (三福業) Cũng gọi Tam phúc nghiệp sự, Tam tính phúc nghiệp sự. I. Tam Phúc Nghiệp. Chỉ cho 3 thứ phúc nghiệp nói trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 12, đó là: 1. Thí phúc nghiệp: Người tu hành khi gặp người nghèo cùng đến xin, tùy theo nhu cầu, nếu cần thức ăn thì cho thức ăn, cần áo mặc thì cho áo mặc, cho đến họ cần mền, chiếu, thuốc thang thì đều cung cấp cho họ. Vì bố thí được phúc nên gọi là Thí phúc nghiệp. 2. Bình đẳng phúc nghiệp: Người tu hành thường giữ giới luật, không nghĩ việc ác, phạm hạnh đoan chính, nói năng hòa nhã, đem tâm từ bi bình đẳng thương xót, che chở tất cả chúng sinh, khiến họ được an ổn. Vì tâm bình đẳng mang lại phúc đức nên gọi là Bình đẳng phúc nghiệp. 3. Tư duy phúc nghiệp: Người tu hành dùng trí tuệ tư duy quán xét, rõ biết pháp yếu, xa lìa các trần duyên tạp nhiễm của thế gian. Vì sự tư duy này là nghiệp phúc thiện xuất thế, cho nên gọi là Tư duy phúc nghiệp. II. Tam Phúc Nghiệp. Chỉ cho 3 loại phúc nghiệp: Thí, Giới, Tu.1. Thí loại phúc nghiệp sự (Thí tính nghiệp): Đem những vật như: Thức ăn uống, y phục, mền chiếu, phòng xá, thuốc thang, đèn nến... bố thí cho các bậc sa môn, người tu khổ hạnh, những người xin ăn...; hoặc thực hành thân nghiệp thí, ngữ nghiệp thí, ý nghiệp thí, đó là Thí loại.2. Giới loại phúc nghiệp sự(Giới tính nghiệp): Hễ xa lìa các việc như: Giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, buông lung... đó là Giới loại. 3. Tu loại phúc nghiệp sự (Tu tính nghiệp): Bốn tâm vô lượng: Từ, bi, hỉ, xả, đó là Tu loại. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.3; luận Tập dị môn túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.82].
tam phương tiện
534巧用諸法,隨機利物,稱為方便。據淨名經疏載,方便有三:(一)自行方便,謂佛及四十一位菩薩於心內自證不思議真俗二諦之理。(二)化他方便,謂藏、通、別三教及圓教有門所明諸菩薩不斷煩惱,照界內、界外,而以種種法門度化眾生。(三)自他方便,合前述自行、化他二種方便,稱為自他方便。
; A term of the esoterics for body, mouth (or speech), and mind, their control and the entry into the tam mật three mysteries.
; Three means to cultivate or practice Buddha dharma: 1) Kềm thân: Kềm thân không cho làm điều ác—To control one's body for not doing bad deeds. 2) Kềm khẩu: Kềm khẩu không cho nói những điều vô ích hay tổn hại—To control one's mouth for not speaking vain talk or harsh speech. 3) Kềm tâm: Kềm tâm không cho dong ruổi tạo nghiệp bất thiện—To control one's mind for not wandering with unwholesome karma.
; (三方便) Khéo sử dụng các pháp, tùy theo căn cơ làm lợi ích chúng sinh, gọi là phương tiện.Cứ theo Tịnh danh kinh sớ thì Phương tiện có 3 loại: 1. Tự hành phương tiện: Phật và các Bồ tát thuộc 41 giai vị, trong tâm tự chứng lí chân đế và tục đế chẳng thể nghĩ bàn.2. Hóa tha phương tiện: Các vị Bồ tát thuộc Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, và Viên giáo hữu môn không đoạn phiền não, chiếu soi giới nội, giới ngoại và dùng nhiều pháp môn hóa độ chúng sinh. 3. Tự tha phương tiện: Hợp chung 2 loại phương tiện Tự hành và Hóa tha, gọi là Tự tha phương tiện.
tam phước
Tam Phúc—Three sources of felicity: (A) Theo Vô Lượng Thọ Kinh—According to The Infinite Life Sutra: 1) Ân phước hay Thế phước: Hiếu dưỡng cha mẹ và tu hành thập thiện, bao gồm cả việc phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, và tu thập thiện: Filial piety toward one's parents and support them, serve and respect one's teachers and the elderly, maintain a compassionate heart, abstain from doing harm, and keep the ten commandments. 2) Giới phước: Thọ tam quy, trì ngũ giới cho đến cụ túc giới, không phạm oai nghi—For those who take refuge in the Triratna, observe other complete commandments, and never lower their dignity as well as miantaining a dignified conduct. 3) Hành phước—Tu hành phát bồ đề tâm, tin sâu nhơn quả—Đọc tụng và khuyến tấn người cùng đọc tụng kinh điển Đại thừa—For those who pursue the Buddha way (Awaken their minds a longing for Bodhi), deeply believe in the principle of cause and effect, recite and encourage others to recite Mahayana Sutras. (B) Câu Xá Luận—According to The Abhidharma Kosa: 1) Ân phước hay thí loại phước (Quả phước bố thí): Almsgiving, in evoking resultant wealth. 2) Giới loại phước (Quả phước của trì giới): Obtaining a happy lot in the heaven for observing commandments (not killing, not stealing, not lying, not commiting adultery, etc). 3) Tu loại phước (Phước tu hành): Observance meditation in obtaining final escape from the mortal round.
tam phước nghiệp sự
Trini-puṇya-kriya-vastuni (S).
tam phước điền
Three fields for cultivating welfare—See Tam Phước.
tam phược
The three bonds - desire, anger, stupidity. Xem tam độc.
; Three fetters—See Tam Độc.
; (三縛) Chỉ cho 3 thứ trói buộc. Phược là tên khác của phiền não. Như 3 căn bất thiện tham sân si trói buộc chúng sinh khiến không được tự tại, cho nên gọi là Phược. 1. Tham phược (Phạm: Ràgabandhana): Tâm chấp thủ gọi là Tham. Đối với 5 trần cảnh vừa ý, chúng sinh khởi tâm tham đắm nhiễm trước, gây các hoặc nghiệp, do đó bị ràng buộc, không được tự tại.2. Sân phược (Phạm: Dvewabandhana): Tâm phẫn nộ gọi là Sân. Đối với 5 trần cảnh trái ý, chúng sinh sinh tâm phẫn nộ, khởi các hoặc nghiệp, do đó bị ràng buộc, không được tự tại. 3. Si phược (Phạm: Mohabandhana): Tâm mê hoặc, gọi là Si. Đối với sự lí của tất cả các pháp, chúng sinh không rõ biết, vọng sinh tà kiến, khởi các hạnh tà, trói buộc không ngừng, không được giải thoát. [X. luận Câu xá Q.21; luận Du già sư địa Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3].
tam phạm
612色界四禪天中之初禪天有梵眾、梵輔、大梵等三天,稱為三梵。大梵為君,梵輔為臣,梵眾為民。〔大日經義釋卷七、諸尊要抄卷十二〕(參閱「大梵天」850)
; The three Brahna heavens of the first dhyàna: that of Phạm chúng Brahma-pàrasidya, the assembly of Brahma; Phạm phụ Brahma-purohitas, his attendants; Đại Phạm Mahàbrahmà, Great Brahmà.
; (三梵) Trời Sơ thiền trong Tứ thiền thiên cõi Sắc có 3 tầng trời là Phạm chúng,Phạm phụ và Đại phạm, gọi chung là Tam phạm. Đại phạm là vua,Phạm phụ là quan, Phạm chúng là dân. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Chư tôn yếu sao Q.12]. (xt. Đại Phạm Thiên).
tam phạt nghiệp
664梵語 trīṇi daṇḍāni,巴利語 tīṇi daṇḍāni。略稱三罰。即身罰業、口罰業、意罰業等三種惡業。(一)身罰(梵 kāya-daṇḍa),指殺生、偷盜、邪婬等身業所生之罪惡。(二)口罰(梵 vāg-daṇḍa),指妄語、綺語、惡口、兩舌及謗三寶等口業所生之罪惡。(三)意罰(梵 mano-daṇḍa),指貪瞋癡等意業所生之罪惡。所以稱為罰業,據唯識二十論述記卷下載(大四三‧一○○四下):「三業諸罪,現為人天之所呵責,未來當受諸惡苦報,可治罰故,可毀責故,名之為罰。」〔中阿含經卷三十二、唯識二十論、俱舍論卷十八、俱舍論光記卷十八〕
; Trini-daṇḍani (S)Ba thứ ác nghiệp: Thân phạt nghiệp, Khẩu phạt nghiệp, ý phạt nghiệp.
; (三罰業) Phạm: Trìịi daịđàni. Pàli:Tìịi daịđàni. Gọi tắt Tam phạt. Chỉ cho 3 loại ác nghiệp: Thân phạt nghiệp, khẩu phạt nghiệp và ý phạt nghiệp. 1. Thân phạt (Phạm: Kàya-daịđa): Chỉ cho các tội ác do thân nghiệp gây ra như sát sinh, trộm cướp, gian dâm...2. Khẩu phạt (Phạm:Vàg-daịđa): Chỉ cho các tội ác do khẩu nghiệp sinh ra như nói dối, nói thêu dệt, ác khẩu, 2 lưỡi và phỉ báng Tam bảo... 3. Ý phạt (Phạm: Mano-daịđa) Chỉ cho các tội ác từ ý nghiệp sinh ra như tham, sân, si... Duy thức nhị thập luận thuật kí quyển hạ (Đại 43, 1004 hạ) nói: Tội ác do 3 nghiệp gây nên, hiện tại bị trời, người quở trách, vị lai sẽ phải chịu quả báo thống khổ, xấu ác, đáng trị phạt, đáng quở trách, nên gọi là phạt. [X. kinh Trung a hàm Q.32; Duy thức nhị thập luận; luận Câu xá Q.18; Câu xá luận quang kí Q.18].
tam phần khoa kinh
531又作一經三段。乃將一經論分為三部分解釋。一般依該經論內容而作適度之區分者,稱為科文。通常皆分為序分、正宗分、流通分等三部分,故稱三分科經。(一)序分,又作序說、教起因緣分。即述說一經教說產生之由來。(二)正宗分,又作正宗說、聖教正說分。即論述一經之宗旨,正顯聖教所說法門。(三)流通分,又作流通說。乃敘說受持本經之利益,復勸眾等廣為流傳,使流通久遠,令末世眾生依教奉行。三分科經之說,創始於東晉道安,盛行於劉宋以後。〔佛地經論卷一、仁王般若經疏卷上一、大方廣佛華嚴經疏卷四、法華義記卷一〕(參閱「科文」3923)
; (三分科經) Cũng gọi Nhất kinh tam đoạn. Chia một bộ kinh ra làm 3 phần để giải thích. Nói chung, y cứ vào nội dung của 1 bộ kinh luận nào đó để phân chia thích đáng, gọi là Khoa văn. Thông thường đều chia làm 3 phần: Phần tựa, phần chính tông, phần lưu thông, cho nên gọi là Tam phần khoa kinh. 1. Phần tựa(cũng gọi Tự thuyết, Giáo khởi nhân duyên phần): Tức phần trình bày nguyên do phát khởi ra giáo thuyết của 1 bộ kinh. 2. Phần chính tông(cũng gọi Chính tông thuyết, Thánh giáo chính thuyết phần): Tức phần trình bày tông chỉ của bộ kinh, chính thức bàn về pháp môn được nói trong Thánh giáo. 3. Phần lưu thông(cũng gọi Lưu thông thuyết): Tức phần nói về sự lợi ích của việc thụ trì bộ kinh, khuyến khích mọi người lưu truyền rộng rãi để bộ kinh được lưu hành lâu dài, giúp chúng sinh đời mạt pháp y theo lời dạy mà vâng làm. Thuyết Tam phần khoa kinh do ngài Đạo an sáng lập vào đời Đông Tấn và thịnh hành từ đời Lưu Tống về sau. [X. Phật địa kinh luận Q.1; Nhân vương Bát nhã kinh sớ Q.thượng, phần 1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.4; Pháp hoa nghĩa kí Q.1]. (xt. Khoa Văn).
Tam Phẩm
(三品): (1) Vàng, bạc và đồng. (2) Ba loại tiền đồng có hình thái đặc thù được dùng dưới thời nhà Hán: tiền rồng (龍幣), tiền ngựa (馬幣) và tiền rùa (龜幣). (3) Ba giai cấp thượng trung hạ của tánh con người. (4) Chức vị Tam Phẩm thứ 3 tính từ Nhất Phẩm đến Cửu Phẩm (nghĩa trong bài). (5) Ba giai cấp vãng sanh Cực Lạc: thượng phẩm, trung phẩm và trung phẩm.
tam phẩm
The general meaning is thượng, trung, hạ superior, medium, ihferior.
tam phẩm sa di
579指三類沙彌,即:(一)下品沙彌,自七歲至十三歲,稱為驅烏沙彌。小兒出家,阿難不敢度,佛說若能驅逐烏鳥不使奪食,便聽任其度。(二)中品沙彌,自十四歲至十九歲,稱為應法沙彌,正合沙彌之位,依師調練純熟,足堪受比丘之具足戒。(三)上品沙彌,二十歲以上者,稱為名字沙彌,本為僧之位,以緣未及,故稱之。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷下四、四分律行事鈔資持記卷下四〕(參閱「沙彌」2976)
; The three grades of sràmanera, i.e. 7-13 years old styled khu ô sa di, 14-19 ứng pháp sa di, and 20 and upwards danh tự sa di.
; Ba phẩm Sa Di—The three grades of Sramanera: 1) Hạ phẩm Sa Di: Khu Ô Sa Di—Tuổi từ 7 đến 13—From 7 to 13 years old. 2) Trung phẩm Sa Di: Ứng Pháp Sa Di—Tuổi từ 14 đến 19—From 14 to 19 years old. 3) Thượng phẩm Sa Di: Danh Tự Sa Di—Tuổi từ 20 trở lên—20 years or older.
; (三品沙彌) Chỉ cho 3 loại Sa di, tức là: 1. Hạ phẩm sa di: Từ 7 tuổi đến 13 tuổi, gọi là Khu ô sa di(Sa di đuổi quạ). Trẻ nhỏ xuất gia, ngài A nan không dám độ, đức Phật dạy: Nếu đuổi được chim quạ không để chúng khuấy phá thì độ được. 2. Trung phẩm sa di: Từ 14 tuổi đến 19 tuổi, gọi là Ứng pháp sa di(Sa di đúng pháp). Đây đúng là địa vị sa di, nương thầy điều luyện thuần thục, có khả năng thụ giới Cụ túc của Tỉ khưu. 3. Thượng phẩm sa di: Hai mươi tuổi trở lên, gọi là Danh tự sa di, vốn là địa vị của tăng, nhưng vì chưa đủ duyên nên gọi là Danh tự sa di. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4]. (xt. Sa Di).
tam phẩm thính pháp
579聽聞經法,有上、中、下三品之別。即:上品以神聽聞,中品以心聽聞,下品以耳聽聞。
; The three grades of hearers, i.e. thượng with the thần spirit, trung with the tâm mind, hạ with the nhĩ ears.
; Ba phẩm thính pháp—Three grades of hearers: 1) Thượng phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng cả tâm thức—Hearing Dharma with the spirit. 2) Trung phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng tâm—Hearing Dharma with the mind. 3) Hạ phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng lổ tai—Hearing Dharma with the ear.
; (三品聽法) Nghe kinh pháp có 3 phẩm thượng, trung, hạ khác nhau, tức là: Thượng phẩm dùng thần để nghe, Trung phẩm dùng tâm để nghe, còn Hạ phẩm thì dùng tai để nghe.
tam phẩm tất địa
579謂密教行者之悉地有上、中、下三品。悉地,梵語 siddhi,意譯成就,謂三密之行業相應而成就妙果。三品悉地中,上品悉地往生普門大日之密嚴國土;中品悉地往生十方之淨土,西方之極樂亦在其中;下品悉地往生諸天修羅宮。〔真言廣名目卷六〕
; The three esoteric kinds of siddhi, i.e. complete attainment, supreme felicity. They are thượng superior, to bo born in the Mật nghiêm quốc Vairocana Pure-land, trung medium in one of the other Pure-lands among which is the Western Paradise, hạ inferior in the Tu la cung Sun palaces among the devas. Also styled tam phẩm thành tựu,
; (三品悉地) Tất địa của người tu hành Mật giáo có 3 phẩm thượng, trung, hạ. Tất địa, tiếng Phạm làSiddhi, dịch ý là thành tựu, nghĩa là hành nghiệp của Tam mật ứng hợp nhau thì thành tựu diệu quả. Trong 3 phẩm Tất địa, Tất địa thượng phẩm vãng sinh về cõi nước Mật nghiêm của Phổ môn Đại nhật; Tất địa trung phẩm vãng sinh về các cõi Tịnh độ ở 10 phương, trong đó có cõi Cực lạc ở phương Tây; còn Tất địa hạ phẩm thì sinh về các cung trời và cõi Tu la.
tam phẩm tịnh độ
Ba phẩm Tịnh Độ—Three kinds of attainment in the Pure Land: 1) Thượng phẩm: Superior—To be born in the Vairocana Pure Land (Mật nghiêm quốc). 2) Trung phẩm: Medium—To be born in the Western Paradise of the Pure Land (Tây Phương Cực Lạc). 3) Hạ phẩm: Inferior—To be born in the Sun Palace (Tu La Cung) among the devas.
tam phật bồ đề
The bodhi, or wisdom, of each of the trikàyas tam thân, i.e that under the bodhi-tree, that of parinirvàna, that of tathàgata-garba in its eternal nirvàna aspect.
; Thân hay trí trong tam thân—The body or wisdom of each of the Trikaya (Trikaya Tam thân): 1) Ứng Hóa Phật Bồ Đề: Nơi nào nên hiện thì hiện, như Phật Thích Ca đã thành đạo dưới cội Bồ Đề để cứu độ chúng sanh—One under the bodhi-tree. 2) Báo Phật Bồ Đề: Thập địa viên mãn, chứng niết bàn chân thường—One of parinirvana. 3) Pháp Phật Bồ Đề: Như Lai tạng tính vốn thanh tịnh hay niết bàn miên viễn—One of Tathagatagarbha in its eternal nirvana aspect.
tam phật ngữ
552又作佛三語、三意語。即:(一)隨自意語,佛隨順自意所說內證真實明了之法。(二)隨他意語,佛隨順眾生根機所說方便之法。(三)隨自他意語,半隨自證,半隨對機而宣說之語。〔南本涅槃經卷三十二、摩訶止觀卷三之二〕
; The Buddha's three modes of discourse - unqualified, i.e. out of the fullness of his nature; qualified to suit the intelligence of his hearers; and both.
; The Buddha's three modes of discourse: 1) Tùy tự ý ngữ: Unqualified (out of the fullness of his nature). 2) Tùy tha ý ngữ: Qualified to suit the intelligence of his hearers. 3) Tùy tự tha ý ngữ: A combination of both of the above two methods.
; (三佛語) Cũng gọi Phật Tam ngữ, Tam Ý ngữ. Chỉ cho 3 thứ ý ngữ của Phật. 1. Tùy tự ý ngữ: Phật tùy thuận tự ý nói ra pháp nội chứng chân thực rõ ràng. 2. Tùy tha ý ngữ: Phật tùy thuận căn cơ chúng sinh mà nói các pháp phương tiện.3. Tùy tự tha ý ngữ: Lời vừa tùy thuận tự chứng, vừa tùy theo đối cơ mà nói. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Ma ha chỉ quán Q.3, phần 2].
tam phật thân
Xem tam thân.
tam phật tánh
Trikaya—Three kinds of Buddha-nature: 1) Tự tánh trụ Phật tánh: The Buddha-nature which is in all living beings, even those in the three evil paths (gati). 2) Dẫn xuất Phật tánh: The Buddha-nature developed by the right discipline. 3) Trí đắc quả Phật tánh: The final or perfected Buddha-nature resulting from the development of the original potentiality.
; (三佛性) I. Tam Phật Tính. Chỉ cho 3 nhân Phật tính: Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính, và Duyên nhân Phật tính, do ngài Trí khải căn cứ vào kinh Đại bát niết bàn Q.28 (bản Bắc) mà lập ra. (xt. Tam Nhân Phật Tính, Phật Tính). II. Tam Phật Tính. Cũng gọi Tam vị Phật tính. 1. Tự tính trụ Phật tính(cũng gọi Trụ tự tình tính): Phật tính của Giai vị phàm phu trước Kiến đạo, là Phật tính vốn sẵn có của chúng sinh mặc dù chúng sinh chưa tu hành. Tự tính của Phật tính này là thường trụ. 2. Dẫn xuất Phật tính(cũng gọi Dẫn xuất tính): Phật tính của Thánh vị Hữu học từ Phát tâm trở lên, nhờ sức tu tập, trí tuệ, thiền định... mà dẫn phát Phật tính vốn có của mình. 3. Chí đắc quả Phật tính(cũng gọi Chí đắc Phật tính, Chí cứu cánh quả): Phật tính của Thánh vị Vô học, nhờ tu nhân đầy đủ mà hiển hiện quả tính, tức là Phật tính sẵn có được thể hiện rõ ràng, giác ngộ rốt ráo.[X. luận Phật tính Q.2; luận Thành duy thức Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7, 9 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.4]. III. Tam Phật Tính. Chỉ cho 3 loại Phật tính: Lí Phật tính, Hành Phật tính, và Ẩn mật Phật tính được nói trong Duy thức nghĩa tư kí quyển 4, phần đầu. Đó là: 1. Lí Phật tính: Chân như còn bị trói buộc là nhân của quả Phật và 4 đức Niết bàn, gọi là Lí Phật tính. 2. Hành Phật tính: Lục độ vạn hạnh là nhân 4 trí để thành quả Phật bồ đề, gọi là Hành Phật tính. 3. Ẩn mật Phật tính: Tham, sân, si... là pháp sở đoạn, sinh ra trí năng đoạn, như cục phân là nhân của lửa, nên gọi là Ẩn mật Phật tính. [X. luận Năng hiển trung biên tuệ nhật Q.4; Duy thức nghĩa chương Q.4, phần đầu]. (xt.Nhị Phật Tính, Phật Tính).
tam phật tính
552<一>三因佛性。智顗依佛性所具因之義而立如下三因佛性:(一)正因佛性,正乃中正之義,為遠離偏邪,是眾生本具之理性。(二)了因佛性,了即照了之義,為顯發法身之照了覺智。(三)緣因佛性,緣即資助之義,為資助覺智之功德善根。〔北本大般涅槃經卷二十八、金光明經玄義卷上、法華經玄義卷五下〕(參閱「佛性」2633) <二>又作三位佛性。依道前凡夫位等三位,將佛性分成如下三種:(一)自性住佛性,又作住自性性。即見道前之凡夫位,為眾生未修行而本具之佛性,此佛性自性常住。(二)引出佛性,又作引出性。即發心以上有學之聖位,眾生藉修習、智慧 B禪定之力,引發本有之佛性。(三)至得果佛性,又作至得佛性、至究竟果。即無學之聖位,以修因滿足而顯現果性,為了了顯現,覺悟究竟之天生佛性。〔佛性論卷二、成唯識論卷六、梁譯攝大乘論釋卷七、卷九、華嚴經孔目章卷二、華嚴經探玄記卷四〕 <三>指理佛性、行佛性、隱密佛性三種。據唯識義私記卷四本所說:(一)在纏真如為佛果涅槃四德之因,故稱理佛性。(二)六度等萬行乃成佛果菩提四智之因,故稱行佛性。(三)貪瞋等是所斷法,生能斷之智,如糞為火之因,故稱隱密佛性。〔能顯中邊慧日論卷四、唯識義章卷四本〕(參閱「二佛性」195、「佛性」2633)
; The three kinds of Buddha-nature: 1-Tự tính trụ Phật tính the Buddha-nature which is in all living beings, even those in the three evil paths; 2-Dẫn xuất Phật tính the Buddha-naure developed by the right discipline; 3-Chí đắc quả Phật tính the final or perfect Buddha-nature.
tam phật tử
〖出華嚴經疏〗〔一、外子〕,謂諸凡夫,未曾入道,未能紹繼佛種,是名外子。〔二、庶子〕,謂聲聞、緣覺,但稟小乘之教,生於法身,不從如來大法生故,是名庶子。〔三、真子〕,謂大乘菩薩,稟受如來大法,生於法身,是名真子。
; 552如來視一切眾生皆如己子。華嚴經疏卷七將之類分為三,即:(一)外子,凡夫未曾入道,未能紹繼佛種,稱為外子。(二)庶子,聲聞、緣覺稟小乘之教,不從如來大法生,故稱庶子。(三)真子,大乘菩薩稟受如來大法,生於法身,故稱真子。
; All the living are Buddha-sons, but they are of three kinds - the commonalty are ngoại tử external sons; the followers of the two inferior Buddhist vehicles tiểu and trung thừa are thứ tử, secondary sons; the bodhisattvas (i.e. mahàyànists) are đạo tử true sons.
; (三佛子) Chỉ cho 3 loại Phật tử được nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7, đó là:1. Ngoại tử: Hàng phàm phu chưa hề vào đạo, không thể nối tiếp hạt giống Phật, gọi là Ngoại tử. 2. Thứ tử: Hàng Thanh văn, Duyên giác tu theo giáo pháp Tiểu thừa, không sinh ra từ giáo pháp Đại thừa của Như lai, cho nên gọi là Thứ tử. 3. Chân tử: Hàng Bồ tát Đại thừa vâng lãnh pháp Đại thừa của Như lai,sinh ra từ Pháp thân của Như lai, cho nên gọi là Chân tử.
tam phật đà
Sambuddha (S). The truly enlightened one, or correct enlightenment.
; Sambuddha—The truly enlightened one—Correct enlightenment.
tam phật đỉnh
552指密教胎藏界曼荼羅釋迦院中之三佛頂,表示如來三部眾德之頂。佛頂,乃如來無見頂相,於諸佛中最為尊勝。三佛頂即:(一)廣大佛頂,又作大轉輪佛頂、廣生佛頂、會通大佛頂,或稱黃色佛頂。跏坐於赤蓮花上,右手持蓮花,蓮上立獨股杵,臂當胸前。左手拇中指相捻,豎食指,掌向外,置胸前。密號破魔金剛,三昧耶形為五股金剛杵。(二)極廣大佛頂,又作高佛頂、廣大發生佛頂、極廣生佛頂。形像身黃色,坐赤蓮花上,左手持蓮當腰,蓮上有綠珠。密號難都金剛,三昧耶形為開敷之蓮花。(三)無邊音聲佛頂,又作無量聲轉輪佛頂。如來梵音之說法無量無邊,能契眾機,故稱之。形像黃色,右手豎掌,屈食指、中指,置於胸前,左手持蓮於腰側,蓮上有螺貝。密號妙響金剛,三昧耶形為蓮花上螺貝。〔大日經具緣品、密印品、祕密漫荼羅品、不空羂索神變真言經卷九、大日經疏卷五〕
; (三佛頂) Chỉ cho 3 Phật đính trong viện Thích ca thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là đính biểu thị mọi đức của 3 bộ Như lai. Phật đính là Vô kiến đính tướng của Như lai, là tôn quí nhất trong các đức Phật. Tam Phật đính là: 1. Quảng đại Phật đính(cũng gọi Đại chuyển luân Phật đính, Quảng sinh Phật đính, Hội thông đại Phật đính, Hoàng sắc Phật đính). Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen dựng cây chày 1 chĩa, cánh tay đề ngang trước ngực; ngón cái và ngón giữa của tay trái bấm vào nhau, ngón trỏ dựng thẳng, bàn tay hướng ra ngoài, đặt ở trước ngực. Mật hiệu là Phá ma kim cương, hình Tam muội da là chày Kim cương 5 chĩa.2. Cực quảng đại Phật đính(cũng gọi Cao Phật đính, Quảng đại phát sinh Phật đính, Cực quảng sinh Phật đính). Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái cầm hoa sen đặt ở cạnh sườn, trên hoa sen có hạt châu màu lục; mật hiệu là Nan đô kim cương, hình Tam muội da là hoa sen nở rộ. 3. Vô biên âm thanh Phật đính (cũng gọi Vô lượng thanh chuyển luân Phật đính). Phạm âm thuyết pháp của Như lai vô lượng vô biên, khế hợp với mọi căn cơ, nên gọi là Vô biên âm thanh Phật đính. Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, bàn tay phải dựng đứng, co ngón trỏ, ngón giữa, để ở trước ngực; tay trái cầm hoa sen đặt ở cạnh sườn, trên hoa sen có vỏ ốc. Mật hiệu là Diệu hướng kim cương, hình Tam muội da là vỏ ốc trên hoa sen. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9; Đại nhật kinh sớ Q.5].
tam phật độ
551指成唯識論所說之三種佛土。即法性土、受用土、變化土。佛有三身,故所居之國土亦有三種,即法身佛住於法性土,報身佛住於受用土,應身佛住於變化土。〔大乘法苑義林章卷七末〕(參閱「受用土」3100、「法性土」3358、「變化土」6913)
; (三佛土) Chỉ cho 3 cõi Phật nói trong luận Thành duy thức; Pháp tính độ; Thụ dụng độ và Biến hóađộ. Phật có 3 thân nên cõi nước Ngài an trụ cũng có 3 loại, tức Pháp thân Phật an trụ ở cõi Pháp tính, Báo thân Phật an trụ ở cõi Thụ dụng và Ứng thân Phật cư trụ trong cõi Biến hóa. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần cuối]. (xt. Thụ DụngĐộ, Pháp Tính Độ, Biến Hóa Độ).
tam phọc
683指三種繫縛,縛,煩惱之別名。蓋貪瞋癡三不善根,繫縛眾生,令其不自在,故稱為縛。即:(一)貪縛(梵 rāga-bandhana),引取之心,稱為貪。眾生於五塵可意之境,貪染生著,起諸惑業,因被纏繫,不得解脫。(二)瞋縛(梵 dveṣa-bandhana),忿怒之心,稱為瞋。眾生於五塵違意之境,忿怒生瞋,起諸惑業,因被纏繫,不得解脫。(三)癡縛(梵 moha-bandhana),迷惑之心,稱為癡。眾生於一切事理之法,無所明了,妄生邪見,起諸邪行,纏繫不息,不得解脫。〔俱舍論卷二十一、瑜伽師地論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷六、華嚴經孔目章卷三〕
Tam quan
三關|Ba ải
tam quan
697指三問題或三語。<一>楞嚴三關:謂宋代天台名德慈雲遵式所問有關楞嚴經之三問題。慈雲法師遵式居天竺寺(寺在浙江杭州)時,有貴官,注楞嚴經,持稿求師印可,師烹烈燄,謂之曰(大四九‧二○八下):「閣下留心佛法,誠為希有。今先申三問,若答之契理,當為流通,若其不合,當付此火。」官許之。師曰:「真精妙元性淨明心,不知如何注釋?三四四三宛轉十二,流變三疊一十百千,為是何義?二十五聖所證圓通,既云實無優劣,文殊何得獨取觀音?」其人聞之不知所措,無法置答。師即舉稿付火中。「楞嚴三關」之名,自茲而出。〔佛祖統紀卷十慈雲傳〕 <二>黃龍三關:宋代黃龍山普覺禪師,常以三語問學者曰(卍續一三八‧三二六上):「人人盡有生緣,上座生緣在何處?」「我手何似佛手?」「我腳何似驢腳?」一時學者鮮能契其旨者,天下叢林稱之為三關。〔五燈會元卷十七〕
; San-kuan (C)Trong Đạo gia, là Trời, Đất và Nước.
; (三關) Chỉ cho 3 câu hỏi hoặc 3 câu nói rất khó đáp như vượt qua cửa ải (quan) nên gọi là Tam quan. Có 2 thuyết: I. Lăng nghiêm tam quan: Ba câu hỏi của Đại sư Từ vân Tuân thức đời Tống. Khi ngài trụ tại chùa Thiên trúc ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang, có 1 vị quan chú giải kinh Lăng nghiêm, mang bản thảo đến xin ngài ấn khả. Ngài đang nhóm lửa, bảo rằng (Đại 49, 208 hạ): Các hạ lưu tâm đến Phật pháp thật là điều hiếm có. Nhưng, trước hết tôi có 3 câu hỏi, nếu Các hạ đáp đúng thì sách này sẽ được lưu thông, còn nếu không đúng thì tôi sẽ cho nó vào đống lửa này!. Vị quan đồng ý. Ngài hỏi: 1. Chân tinh diệu nguyên tính tịnh minh tâm, chẳng hay Các hạ chú thích thế nào?2. Ba nhân bốn, bốn nhân ba, uyển chuyển thành 12, lưu biến 3 lớp một mười trăm nghìn, đó là nghĩa gì? 3. Viên thông mà 25 bậc Thánh chứng ngộ, đã nói là thực không hơn kém, thế tại sao ngài Văn thù lại chỉ chọn 1 mình Quan âm?Vị quan nghe xong, ngồi như phỗng đá, không biết trả lời ra sao, ngài Từ vân liền ném tập bản thảo vào lửa, từ ngữ Lăng nghiêm tam quan từ đó mà ra. [X. Từ vân truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.10]. II. Hoàng long tam quan: Thiền sư Phổ giác ở núi Hoàng long vào đời Tống, thường dùng 3 câu nói để hỏi người học (Vạn tục 138, 326 thượng): 1. Mọi người đều có sinh duyên, vậy sinh duyên của Thượng tọa ở chỗ nào? 2. Tay tôi sao giống tay Phật? 3. Chân tôi sao giống chân lừa? Người học đương thời không ai khế hội được yếu chỉ của các câu hỏi ấy, tùng lâm trong thiên hạ bèn gọi đó là Tam quan. [X. Ngũ đăng hộinguyên Q.17]. TAM QUÁN I. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung quán do tông Thiên thai thành lập.1. Không quán(cũng gọi Tòng Giả nhập Không quán, Nhị đế quán): Không nghĩa là lìa tính, lìa tướng. Tức quán tâm 1 niệm không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa, gọi đó là Không. Do quán 1 niệm không, cho nên 1 không thì tất cả không, Giả, Trung cũng đều là Không; 3 pháp quán Không, Giả, Trung này có công năng trừ sạch tướng Tam hoặc, dùng Không quán trừ sạch tướng Kiến hoặc, dùng Giả quán trừ sạch tướng Trần sa và dùng Trung quán trừ sạch tướng Vô minh. Ba tướng đều sạch, rốt ráo là không, đó là Không quán. Nói một cách đơn giản là từ lập trường thường thức của thế tục(Giả) tiến vào lập trường chân lí của tông giáo (Không), đó là Không quán. 2. Giả quán(cũng gọi Tòng không nhập giả quán, Bình đẳng quán): Giả nghĩa là tất cả các pháp đều đầy đủ. Tức quán tâm 1 niệm có đầy đủ tất cả pháp, gọi đó là Giả. Do quán 1 niệm giả nên 1 giả thì tất cả đều giả, Không, Trung cũng đều là Giả; vì 3 pháp quán Không, Giả, Trung, này đều có công năng lập pháp,nên dùng Không quán lập pháp Chân đế, dùng Giả quán lập pháp Tục đế và dùng Trung quán lập pháp Trung đế, 3 pháp đều lập, tức là diệu quả, đó là Giả quán. Nói cách đơn giản là chẳng bị dính mắc nơi Không mà tiến vào cảnh giới thế tục có trí Phật chiếu soi cùng khắp, đó là Giả quán. 3. Trung quán(cũng gọi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế quán): Trung tức là ở chính giữa, dứt bặt 2 bên đối đãi. Nghĩa là quán tâm 1 niệm chẳng phải không chẳng phải giả, tức không tức giả, gọi đó là Trung. Do quán 1 niệm trung, nên 1 trung thì tất cả trung, Không, Giả đều là Trung. Vì 3 pháp quán Không, Giả, Trung này đều có công năng dứt bặt đối đãi, nên nói Không thì không có pháp nào ngoài Không, nói Giả thì không có pháp nào ngoài Giả, nói Trung thì không có pháp nào ngoài Trung, cả 3 đều tuyệt đãi, tức là Viên trung, đó là Trung quán. Nói cách đơn giản là chẳng chấp Không quán, chẳng chấp Giả quán, hạnh của Bồ tát đại bi là Không, Giả viên dung, đó là Trung đạo quán. Duy ma kinh văn sớ quyển 21, y cứ vào Biệt giáo và Viên giáo để phân biệt tướng Tam quán, có nêu ra 3 loại Tam quán khác nhau: Biệt tướng, Thông tướng và Nhất tâm, gọi là Tam chủng tam quán. 1. Biệt tướng tam quán: Tức lần lượt quán 3 đế 1 cách riêng rẽ. Nghĩa là nếu từ Giả vào Không(Không quán) thì chỉ được quán Chân đế; nếu từ Không vào Giả(Giả quán) thì chỉ được quán Tục đế; nếu vào Trung đạo chính quán thì mới chiếu rọi được cả Chân đế và Tục đế. Đây tức chỉ cho Tam quán của Biệt giáo, vì Biệt giáo cho rằng Tam quán không giống nhau, vả lại, phải lần lượt quán theo thứ tự nên còn gọi là Thứ đệ tam quán, Cách dịch tam quán, theo thứ tự đoạn trừ được 3 hoặc mà chứng được 3 trí. 2. Thông tướng tam quán: Tức trong 1 pháp quán mà hiểu suốt cả 3 đế. Nghĩa là nếu từ Giả vào Không thì biết Tục giả là Không, Chân đế trung đạo cũng đều là Không; nếu từ Không vào Giả thì biết Tục giả là Giả, Chân đế trung đạo cũng đều là Giả; nếu vào Trung đạo chính quán thì biết Trung đạo là trung, Tục giả, Chân không cũng đều là Trung. Tức dùng 1 pháp quán làm tên mà tâm thì hiểu suốt cả 3, đó là Thông tướng tam quán. 3. Nhất tâm tam quán: Tức trong 1 tâm niệm mà quán đủ cả 3 đế. Nghĩa là quán tâm 1 niệm rốt ráo không có, thanh tịnh như hư không, gọi là Không quán; tâm năng quán và cảnh sở quán đều rõ ràng sáng tỏ, gọi là Giả quán; tuy rõ ràng sáng tỏ nhưng tính thường tự không, không chẳng cố định là không, giả chẳng cố định là giả, gọi là Trung quán. Tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, đó là Nhất tâm tam quán.Thông tướng tam quán và Nhất tâm tam quán nói trên là chỉ cho Tam quán của Viên giáo, vì Viên giáo cho rằng Tam quán là ở trong tâm 1 niệm chung hợp chân lí của cả 3 đế Không Giả Trung để quán xét, cho nên gọi là Viên dung tam quán, Bất thứ đệ tam quán. Lại vì đối tượng để quán xét là tâm 1 niệm nên nói 1 không tất cả không, 1 giả tất cả giả, 1 trung tất cả trung mà trở thành pháp quán tức không, tức giả, tức trung. Đây tức là ở trong 1 niệm quán phá tâm chấp (Không), cho tất cả hiện tượng dường như có(Giả) và thể đạt thế giới tuyệt đối(Trung). Về 1 niệm này có 2 cách nhìn khác nhau: Phái Sơn gia tông Thiên thai đời Tống bảo rằng 1 niệm này là chỉ cho vọng tâm, còn phái Sơn ngoại thì lại cho đó là chân tâm. Phái Sơn gia lấy vọng tâm làm đối tượng(cảnh) quán xét, đâylà 1 trong những lí do rất vững mạnh và chủ trương này được căn cứ vào thuyết Tam khoa giản cảnh (Khu biệt) trong Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng. Tức là khi quyết định đối tượng quán xét thì cần phải phân biệt cảnh giới của 3 khoa: 5 ấm, 12 nhập, 18 giới. Trước hết, trong 3 khoa chọn lấy 5 ấm, trong 5 ấm lấy Thức ấm, trong Thức ấm, lấy thức thứ 6, trong thức thứ 6 lấy vô kí, cuối cùng, trong tâm vương và tâm sở thì lấy tâm vương làm đối tượng quán xét. Đây là trực tiếp lấy vọng tâm vô kí của phàm phu làm đối tượng quán xét. Trong 4 giáo Hóa pháp, Tam quán là pháp quán của Biệt giáo và Viên giáo. Nếu phối hợp Tam quán với 4 giáo thì Không quán thuộc Tạng giáo và Thông giáo. Tạng giáo phân tíchsự tồn tại của tất cả tâm và vật đều không có thực thể và cuối cùng qui về lí không, đây chính là Tích không quán. Thông giáo thì lại tiến thêm bước nữa, trực tiếp thể đạt tất cả các pháp như huyễn tức không mà vào lí không, đây chính là Thể không quán; loại quán này có công năng đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc trong 3 cõi. Nhưng Không quán này chỉ thiên hẳn về 1 lí không, nên gọi là Đãn không quán, trái lại, Không quán của Biệt giáo và Viên giáo thì gọi là Bất đãn không quán. Nhưng đối với những người lợi căn, độn căn trong Thông giáo khi tu quán, cũng có trường hợp người lợi căn từ Đãn không quán tiến vào Bất đãn không quán, như Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông chính đã căn cứ vào lí do này. Giả quán là pháp quán của Biệt giáo. Tông Thiên thai chia Giả quán làm 2 loại: 1. Sinh tử giả: Tức tình kiến si mê của chúng sinh. 2. Kiến lập giả: Tức tri kiến được trí nhãn xuất thế gian của bậc Thánh soi sáng. Cái giả khi từ Giả vào Không của Không quán thuộc Tạng giáo và Thông giáo nói trên là thuộc Sinh tử giả chứ chưa đạt đến Kiến lập giả. Còn Giả quán của Biệt giáo thì quán từ Không vào Giả, trên không có an lập giả sai biệt, cho nên thuộc Kiến lập giả. Đặc chất của Biệt giáo là quán vô lượng Tứ đế mà kiến lập hằng sa Phật pháp để ra khỏi cái giả nhằm làm lợi ích chúng sinh. Còn sự khác nhau giữa Giả quán của Viên giáo và Giả quán của Biệt giáo là ở chỗ Biệt giáo xem Không quán khác với Trung quán, không tương tức nhau, vả lại, chỉ lập riêng Giả quán làm đối tượng, có công năng đoạn trừ Trần sa hoặc; trái lại, Viên giáo thì xem Không quán và Trung quán là 1, tức không tức trung, lấy diệu giả làm đối tượng, có công năng cùng lúc đoạn trừ cả 3 hoặc. Trung quán thuộc Viên giáo, là pháp quán tối cao vô thượng, nó dung hợp cả Không quán và Giả quán, tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, dùng quán lí Trung đạo mà hiểu cả 3 đế, gọi là Bất đãn trung quán; trái lại, Trung quán của Biệt giáo thì gọi là Đãn trung quán. Người tu Đãn trung quán của Biệt giáo, trước hết phải tu Không quán ở giai vị Thập trụ để phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, kế đến, tu Giả quán ở giai vị Thập hành để phá trừ Trần sa hoặc, sau cùng mới tu Trung quán (Đãn trung quán) để phá trừ Vô minh hoặc. Lúc này, Tam quán nhất tâm của Biệt giáo gần giống với Bất đãn trung quán của Viên giáo.[X. Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.5; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1; Tông kính lục Q.35]. II. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán tâm do ngài Trí khải lập riêng khi giảng kinh Pháp hoa. 1. Tòng hành quán(cũng gọi Ước hành quán): Nghĩa là chuyên y cứ vào pháp môn tu hành của các kinh mà tu quán, tức là chỉ đối với muôn cảnh mà quán 1 tâm, muôn cảnh tuy khác nhau, nhưng lí quán mầu nhiệm thì chỉ là 1, như quán xét ấm tức là nghĩa này. 2. Phụ pháp quán: Dựa vào các pháp tướng để tu Viên quán, tức căn cứ theo các pháp tướng như Tứ đế, Ngũ hạnh mà vào tâm 1 niệm để thành tựu pháp quán. 3. Thác sự quán(cũng gọi Lịch sự quán): Mượn nghĩa các việc để thành tựu tu quán, tùy theo mỗi việc đều dùng quán pháp biểu thị để trợ duyên giúp cho việc tu quán. Như mượn thành nhà vua để quán thì quán vua là 6 thức tâm vương, nhà là 5 ấm, thành nhà vua là thân của chúng ta, cho đến thành vua này tức Không, Giả, Trung, tâm vương làm ra nhà này, nếu tách rời 5 ấm thì nhà là Không, Không tức là thành Niết bàn. Theo Thập bất nhị môn xu yếu quyển thượng thì Thập thừa là thể chung của 3 loại quán pháp, còn Thác sự, Phụ pháp và Tòng hành là tướng riêng của 3 loại quán pháp. [X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng; Chỉ quán nghĩa lệ; Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích Q.6]. III. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán do Luật sư Đạo tuyên ở núi Chung nam thành lập, gọi là Nam sơn tam quán. Ba pháp này theo thứ tự là pháp quán của Nhị thừa, Tiểu bồ tát và Đại bồ tát. Đó là: 1. Tính không quán: Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác quán xét tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, vốn không có tự tính, là vô ngã; thường dùng lí này để soi rọi tâm mình, gọi là Tính không quán, tương đương với Tích không quán và Thể không quán của tông Thiên thai.2. Tướng không quán: Hàng Bồ tát thuộc Tạng giáo và Thông giáo quán xét tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, vốn không có tướng, nhưng vì chúng sinh mê chấp nên lầm thấy các tướng sai khác. Bồ tát thường dùng lí này để soi rọi tâm mình, gọi là Tướng không quán. 3. Duy thức quán: Thức là tâm thức. Hàng Bồ tát Đại thừa thuộc Biệt giáo và Viên giáo rõ biết tất cả các pháp ngoại trần ở thế gian đều do thức biến hiện ra, ngoài tâm không có vật gì tồn tại, tự tính vốn tự thanh tịnh. Lí này rất sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý duyên biết được, gọi là Duy thức quán. Duy thức quán lại được chia ra 2 thứ: Trực nhĩ thông quán là pháp tu của hàng lợi căn và Lịch sự biệt quán là pháp tu của những người mới phát tâm. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 4]. (xt. Duy Thức) IV. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán về pháp giới do ngài Đỗ thuận, Tổ của tông Hoa nghiêm, y cứ vào kinh Hoa nghiêm mà thành lập. 1. Chân không quán: Tức là Lí pháp giới trong 4 pháp giới. Chân là ý niệm không hư dối; Không là sắc tướng không phải hình chất trở ngại. Nghĩa là lựa bỏ vọng tình để hiển bày chân tính mà qui về tính không bình đẳng, khiến thấy sắc chẳng phải thực sắc mà là chân không; thấy không chẳng phải đoạn không mà là chân tính; như vậy mới dứt bặt được những sự tướng của cái thấy do vọng tình mà hiển bày thể mầu nhiệm của chân không. 2. Lí sự vô ngại quán: Tức là Lí sự vô ngại pháp giới trong 4 pháp giới. Lí nghĩa là tính lặng thể sáng; Sự nghĩa là hình tướng phần hạn. Tức quán sự tướng sai biệt và lí tính bình đẳng không sai biệt của muôn tượng, dung thông hòa nhập lẫn nhau 1 cách tự tại vô ngại; đây là vì muôn tượng đều do chân như tùy duyên biến hiện ra, hệt như nước tức sóng, sóng tức nước, chẳng hể ngăn ngại lẫn nhau. Cũng tức là quán xét tính chân như sinh khởi muôn pháp và muôn pháp mỗi mỗi đều lấy chân như làm tính. 3. Chu biến hàm dung quán: Tức là Sự sự vô ngại pháp giới trong 4 pháp giới. Chu biến nghĩa là trùm khắp mọi nơi; Hàm dung nghĩa là ngậm chứa hết thảy. Tính của chân như 1 vị bình đẳng, không thể phân chia, mỗi mảy bụi đều hàm chứa toàn thể chân như, mỗi sự tướng bao trùm tất cả pháp giới, do đó, 1 tướng và nhiều tướng dung hòa nhau vô ngại, lớn nhỏ bao hàm lẫn nhau, dung nhiếp vào nhau, trùng trùng vô tận. Ba loại cảnh sở quán(3 pháp giới) trình bày ở trên tuy giống nhau ở nhất tâm pháp giới, nhưng do trí năng quán sâu, cạn khác nhau mà có 3 thứ sai biệt ấy, vì thế cũng gọi là Tam trùng quán môn. Trong Pháp giới quán môn, ngài Đỗ thuận lại chia Chân không quán làm Tứ cú: Hội sắc qui không quán, Minh không tức sắc quán, Không sắc vô ngại quán và Mẫn tuyệt vô kí quán; chia Lí sự vô ngại quán làm 10 môn: Lí biến ư sự môn, Sự biến ư lí môn, Y lí thành sự môn, Sự năng hiển lí môn, Dĩ lí đoạt sự môn, Sự năng ẩn lí môn, Chân lí tức sự môn, Sự pháp tức lí môn, Chân lí phi sự môn và Sự pháp phi lí môn; rồi lại chia Chu biến hàm dung quán làm 10 môn: Lí như sự môn, Sự như lí môn, Sự hàm lí sự môn, Thông cục vô ngại môn, Quảng hiệp vô ngại môn, Biến dung vô ngại môn, Nhiếp nhập vô ngại môn, Giao thiệp vô ngại môn, Tương tại vô ngại môn và Phổ dung vô ngại môn để giải thích thêm cho rõ ràng. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán; Hoa nghiêm kinh chỉ qui]. (xt. Tứ Pháp Giới, Tứ Pháp Giới Quán). V. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán nói trong kinh Viên giác. Đó là: 1. Xa ma tha (Phạm: Zamatha, Hán dịch: Chỉ): Chỉ nghĩa là dừng lặng. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tỉnh biết thanh tịnh mà giữ lấy sự lặng lẽ làm hạnh, tâm không vọng động duyên theo các cảnh nhiễm tịnh, đó chính là thể chân chỉ, tương đương với Không quán của Thiên thai.2. Tam ma bát đề (Phạm: Samàpatti, Hán dịch: Đẳng chí): Đẳng nghĩa là xa lìa hôn trầm, điệu cử, Chí nghĩa là làm cho tâm bình đẳng an hòa. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tịnh giác biết rõ tâm tính và căn trần đều do huyễn hóa mà có, rồi khởi huyễn quán mà tu để trừ các huyễn; đây chính là Phương tiện tùy duyên chỉ, thường tùy duyên theo cảnh mà an tâm chẳng động, tương đương với Giả quán của Thiên thai. 3. Thiền na (Phạm:Dhyàna, Hán dịch: Tĩnh lự): Tĩnh tức là định, lự tức là tuệ. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tỉnh biết thanh tịnh không chấp lấy huyễn hóa và các tướng tĩnh lặng, mà thường thuận theo cảnh giới tịch diệt; đây chính là Tức nhị biên chỉ, không phân biệt tướng đối đãi 2 bên như: Sinh tử và niết bàn, chỉ tức và hữu vô..., tương đương với Trung quán của Thiên thai. Ngài Tông mật theo thứ tự gọi 3 pháp quán trên đây là: Mẫn tướng trừng thần quán(Tĩnh quán), Khởi huyễn tiêu trần quán(Huyễn quán) và Tuyệt đãi linh tâm quán(Tịch quán) Ngoài ra, về chỗ giống nhau và khác nhau giữa 3 pháp quán của kinh Viên giác và 3 pháp quán của tông Thiên thai thì trong Viên giác kinh lược sớ quyển hạ, ngài Tông mật có chỉ ra rằng nghĩa lí của 2 bên tuy giống nhau nhưng ý thú thì khác nhau. Chỗ giống nhau là Mẫn tướng tức Không quán, Khởi huyễn tức Giả quán và Tuyệt đãi tức Trung quán. Còn chỗ khác nhau là Tam quán của Viên giác chỉ rõ phương tiện dụng tâm của hành giả, thường dựa vào tâm mà thành hạnh, cho nên không lập cảnh sở quán; còn Tam quán của tông Thiên thai thì suy cứu đến tận cùng tính tướng các pháp, thường nhờ vào nghĩa lí mà sinh hiểu biết, cho nên kiến lập Tam đế sở quán. Cũng sách đã dẫn có nói Tam quán của kinh Viên giác có tất cả 25 thứ Định luân thanh tịnh. Luân nghĩa là xoaychuyển phá dẹp, có năng lực phá dẹp hoặc chướng mà chuyển thành chính trí, cho nên gọi là Luân. Trong 25 luân, trước hết theo thứ tự chỉ tu riêng Tam quán; Tĩnh quán, Huyễn quán, và Tịch quán, gọi là Đơn tu Tam quán, đó là Tam luân. Kế đến tu Giao lạc tam quán (kết hợp 3 pháp quán với nhau), tức ban đầu lấy Tĩnh quán làm chính và Kiêm tu Huyễn quán, Tịch quán, 3 thứ quán này kết hợp với nhau thành 7 luân, rồi sau lại theo thứ tự đều lấy Huyễn quán, Tịch quán làm chính và kiêm tu 2 thứ quán còn lại; như vậy 3 cái 7 luân cộng chung thành 21 luân. Sau đó, dùng Tuệ viên giác viên tu Tam quán, gọi là Như ý viên tu quán, đây chỉ là 1 luân, trở lên tổng cộng là 25 luân. [X. Ngự chú viên giác kinh Q.thượng; Viên giác kinh sớ Q.hạ, phần 1]. VI. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán tâm nói trong Quán kinh sớ truyền thống kí quyển 3: 1. Quán chúc quán: Năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân duyên theo 5 cảnh trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, hiển hiện rõ ràng, đối cảnh biết liền, không cần tính toán suy lường. 2. Quán tri quán: Sự hiểu biết tương ứng với trí thức,nhờ các tướng mà quán xét nghĩa. 3. Quán hành quán: Tức 13 quán. Nghĩa là nhờ vào sức chính định mà thực hành pháp quán suy lường cảnh giới. Nếu phối hợp 3 pháp quán này với 3 phân biệt thì Quán chúc quán là Tự tính phân biệt, Quán tri quán là Tùy niệm phân biệt và Quán hành quán là Kế đạc phân biệt.[X. Tịnh độ pháp môn nguyên lưu chương; Truyền thông kí nhu sao Q.16]. (xt. Tam Phân Biệt, Ngũ Tâm).
tam quang
545指日、月、星三者。又指色界第二禪之少光天、無量光天、光音天。
; Three lights (sun, moon, and star).
; (三光) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Cũng chỉ cho 3 tầng trời: Thiểu quang, Vô lượng quang, và Quang âm thuộc Đệ nhị thiền cõi Sắc.
tam quang thiên
Sun, moon, and stars. Also in the second dhyàna of the form-worrld there are the two deva regions thiểu quang thiên, vô lượng quang thiên, and quang âm thiên. Also Quán thế âm bồ tát is styled Nhậ thiên tử sun-prince, or divine son of the sun; Đại thế chí bồ tát is styled Nguyệt thiên tử, divine son of the moon; and Hư không tạng bồ tát, the bodhisattva of the empyrean is styled Minh tinh thiên tử, divine son of the bright stars.
; See Tam Quang Thiên Tử.
tam quang thiên tử
545指日天子、月天子、明星天子三者。法華經卷一序品即有名月天子、普香天子、寶光天子、四大天王之記載。法華經文句卷二下謂,名月等三天子乃帝釋天之內臣,如同卿相。又法華經玄贊卷二本謂,三光即指寶光、名月、普香三者。觀世音,名寶意,為日天子,即寶光;大勢至,名寶吉祥,為月天子,即名月;虛空藏,名寶光,為星天子,即普香。此係將日月星配以法華經之三天子,然梵文本法華經於相應經文之處同時列舉出月天子(Candra deva-putra)、日天子(Sūrya deva-putra)、普香天子(Samantagandha deva-putra)、寶光天子(Ratnaprabha deva-putra)、光明天子(Avabhāsaprabha deva-putra)等五天子之名。又據學海餘滴卷四載,造佛工匠於造三光之像時,將大明星天子作菩薩形,日、月二天則取天人之形。若依三光之本,則皆作菩薩形。若依迹象而言,則皆取天人形,即本、迹互用,以顯其象。〔虛空藏菩薩神咒經、七佛八菩薩所說大陀羅尼神咒經卷一、法華義疏卷一〕
; Devas from the Three lights: 1) Bảo Quang Thiên Tử: Nhựt Thiên Tử—Đức Quán Âm tên là Bảo Ý Thiên Tử—Avalokitesvara—Divine son of the Sun. 2) Minh Nguyệt Thiên Tử: Bảo Cát Tường Thiên Tử—Nguyên Thiên Tử—Đại Thế Chí Bồ Tát—Mahasthamaprpta—Divine son of the Moon. 3) Minh Tinh Thiên Tử: Phổ Quang Thiên Tử—The bodhisattva of the empyrean (Hư không tạng Bồ Tát)—Divine son of the bright stars.
; (三光天子) Chỉ cho 3 vị Thiên tử: Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử và Minh tinh thiên tử. Trong phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 thì có: Danh nguyệt thiên tử, Phổ hương thiên tử, Bảo quang thiên tử. Pháp hoa văn cú quyển 2 hạ cho rằng 3 vị Thiên tử Danh nguyệt... là nội thần của trời Đế thích, giống như các khanh tướng. Còn Pháp hoa kinh huyền tán quyển 2, phần đầu thì cho rằng Tam quang là chỉ cho 3 vị: Bảo quang, Danh nguyệt và Phổ hương. Quán thế âm tên là Bảo ý, là Nhật thiên tử, tức Bảo quang; Đại thế chí tên là Bảo cát tường, là Nguyệt thiên tử, tức Danh nguyệt; Hư không tạng tên là Bảo quang, là Tinh thiên tử, tức Phổ hương. Đây là phối hợp Nhật, Nguyệt, Tinh với 3 vị Thiên tử trong kinh Pháp hoa, nhưng kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm ở đoạn văn kinh tương ứng đồng thời nêu tên 5 vị Thiên tử, Nguyệt thiên tử (Candra devaputra), Nhật thiên tử (Sùrya deva-putra), Phổ hương thiên tử (Samantagandha deva-putra), Bảo quang thiên tử (Ratnapsabha deva-putra), và Quang minh thiên tử (Avabhàsaprabha devaputra). Ngoài ra, theo Học hải dư trích quyển 4, khi người thợ làm tượng Phật tạo tượng Tam quang thì tượng Đại minh tinh thiên tử có hình tướng Bồ tát, còn Nhật thiên tử và Nguyệt thiên tử thì theo hình tướng người trời. Nếu y theo Bản môn của Tam quang thì đều có hình tướng Bồ tát, còn theo Tích môn thì đều lấy hình người trời, tức dùng cả Bản và Tích để tạo thành hình tượng Tam quang. [X. kinh Hư không Bồ tát thần chú; kinhThất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1].
tam qui
Xem Qui y tam bảo.
; Trisarana, Sarana-gamana (S). The three surrenders to, "or formulas of refuge" in the Three Precious Ones Tam Bảo, i.e. to Buddha Phật, the Dharma Pháp, the Sangha Tăng. The three formulas are Qui y Phật Buddham saranam gacchàmi, Qui y Pháp Dharmam saranam gacchàmi, Qui y Tăng Sangham saranam gacchàmi. It is the most primitive formula of the early Buddhism. The surrender is to the Buddha as teacher Sư, the Law as medicine Dược, the Ecclesia as friens Hữu. These are known as the Tam Qui Y. Threefold refuge: I take my refuge in the Buddha, in the Dharma, in the Sangha.
tam qui thụ pháp
The receiving of the Law, or admission of a lay disciple, after recantation of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the above three refuges.Tam qui ngũ giới. The ceremony which makes the recipient a ưu bà tắc upasaka, male disciple or ưu bà di upàsikà, female disciple, accepting the five precepts.
tam qui y
Triśaraṇa-gamāna (S), Ti- saranāgamāna (P), Tisaraṇa (P), Triśaraṇa (S),Three refuges Buddham Saranam Gacchami: Tôi xin qui y Phật Dhammam Saranam Gacchami: Tôi xin qui y Pháp, Shangam Saranam Gacchami: Tôi xin qui y TăngXem Tisarana
Tam Quy
(三皈): hay Tam Quy Y (s: tri-śaraṇa-gamana, p: ti-saraṇa-gamana, 三皈依、三歸依), Tam Quy (三歸), Tam Tự Quy (三自歸), Tam Quy Giới (三歸戒), Thú Tam Quy Y (趣三歸依). Riêng từ quy y hàm nghĩa cứu hộ, hướng về. Tam Quy Y tức là quay trở về và nương tựa vào Tam Bảo (三寶, Ba Ngôi Báu gồm Phật, Pháp và Tăng) và cầu xin quý Ngài cứu giúp để được vĩnh viễn thoát khỏi tất cả khổ. Đó là Quy Y Phật (s: Buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依佛, I take refuge in the Buddha), Quy Y Pháp (s: Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依法, I take refuge in the Dharma) và Quy Y Tăng (s: Saṃghaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依僧, I take refuge in the Sangha). Đây là nghi thức cần phải có để trở thành tín đồ Phật Giáo. Sau khi đức Phật Thích Ca thành đạo, khi chưa có Tăng Bảo thì chỉ truyền thọ hai phép quy y Phật và Pháp mà thôi. Theo Ngũ Phần Luật (五分律) quyển 15 cho biết rằng người thọ Tam Quy Y đầu tiên là thân phụ của Tỳ Kheo Da Xá (s: Yaśa, Yaśoda, 耶舍). Phép Tam Quy Y này có thể chia làm 2 loại: (1) Phiên Tà Tam Quy (翻邪三歸), nghĩa là Ba Phép Quy Y thọ nhận khi từ bên tà đạo quay về với chánh đạo; (2) Thọ Giới Tam Quy (受戒三歸), gồm có 4 loại như Ngũ Giới Tam Quy (五戒三歸, người Phật tử tại gia trước khi thọ Năm Giới thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Bát Giới Tam Quy (八戒三歸, trước khi thọ Bát Quan Trai Giới thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Thập Giới Tam Quy (十戒三歸, trước khi thọ Mười Giới để trở thành Sa Di [s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌], Sa Di Ni [s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼] thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Cụ Túc giới Tam Quy (, trước khi thọ Cụ Túc giới để trở thành Tỳ Kheo [s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘], Tỳ Kheo Ni [s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼] thì phải thọ Ba Phép Quy Y). Về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc Quy Y Tam Bảo, Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 14 có giải thích rằng người phát tâm Quy Y Tam Bảo thì sẽ vĩnh viễn giải thoát hết thảy các khổ. Trong khi đó, Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 10 có nêu ra 3 ý nghĩa khác về việc Quy Y Tam Bảo nhằm: (1) Vì để xa lìa các điều ác bất thiện của sanh tử; (2) Vì để cầu xuất thế Niết Bàn; (3) Vì để lợi ích chúng sanh. Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn (法界次第門) quyển Thượng cũng cho biết rằng công dụng của việc Quy Y Tam Bảo là để phá Ba Tà, cứu độ Ba Đường (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh), v.v. Trước khi vào phần chính văn của Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1, Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận (究竟一乘寶性論) quyển 1, Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), Phật Địa Kinh Luận (佛地經論) quyển 1, A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論), v.v., đều có nêu văn Quy Kính Tam Bảo. Trong Tỳ Ni Thảo Yếu (毘尼討要) quyển 5 có đoạn: “Ngã mỗ giáp tận hình thọ Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng [tam thuyết]; ngã mỗ giáp tận hình thọ Quy Y Phật cánh, Quy Y Pháp cánh, Quy Y Tăng cánh [tam thuyết] (我某甲盡形壽歸依佛、歸依法、歸依僧[三說]、我某甲盡形壽歸依佛竟、歸依法竟、歸依僧竟[三說], con … nguyện suốt đời Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng [ba lần]; con … nguyện suốt đời Quy Y Phật rồi, Quy Y Pháp rồi, Quy Y Tăng rồi [ba lần]).” Bên cạnh đó, trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (授菩薩戒儀) của Trạm Nhiên (湛然) lại có đoạn: “Đệ tử mỗ giáp nguyện tùng kim thân, tận vị lai tế, Quy Y Phật Lưỡng Túc Tôn, Quy Y Pháp Ly Dục Tôn, Quy Y Tăng Chúng Trung Tôn [tam thuyết]; đệ tử mỗ giáp nguyện tùng kim thân, tận vị lai tế, Quy Y Phật cánh, Quy Y Pháp cánh, Quy Y Tăng cánh [tam thuyết] (弟子某甲願從今身、盡未來際、歸依佛兩足尊、歸依法離欲尊、歸依僧眾中尊[三說]、弟子某甲願從今身、盡未來際、歸依佛竟、歸依法竟、歸依僧竟[三說], đệ tử … nguyện từ đời này cho đến cùng tận tương lai, Quy Y Phật Lưỡng Túc Tôn, Quy Y Pháp Ly Dục Tôn, Quy Y Tăng Chúng Trung Tôn [ba lần]; đệ tử … nguyện từ đời này cho đến cùng tận tương lai, Quy Y Phật rồi, Quy Y Pháp rồi, Quy Y Tăng rồi [ba lần]).” Nguyên Không (源空, Genkū), tức Pháp Nhiên (法然, Hōnen, 1133-1212), người khai sáng Tịnh Độ Tông Nhật Bản, có giải thích trong tác phẩm Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集, Senchakuhongannembutsushū) rằng “tận hình thọ (盡形壽, cho đến suốt đời này)” là Tam Quy của Tiểu Thừa; trong khi đó, “tận vị lai tế (盡未來際, cho đến tận cùng tương lai, tức đời sau và nhiều đời sau nữa)” là Tam Quy của Đại Thừa. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 87 còn cho biết rằng: “Vân hà danh vi Tam Quy ? Phật ngôn: 'Thiện nam tử vi phá chư khổ, đoạn trừ phiền não, thọ ư vô thượng tịch diệt chi lạc, dĩ thị nhân duyên thọ Tam Quy Y' (云何名爲三歸、佛言、善男子爲破諸苦、斷除煩惱、受於無上寂滅之樂、以是因緣受三歸依, Thế nào là Ba Phép Quy Y ? Phật dạy: 'Thiện nam tử vì phá các khổ, đoạn trừ phiền não, thọ niềm vui vắng lặng vô thượng, lấy nhân duyên này mà thọ Ba Phép Quy Y).” Riêng trong Thái Thượng Tam Nguyên Từ Bi Thủy Sám (太上三元慈悲水懺) có đề cập đến “Quy Thân, Quy Mạng, Quy Thần (歸身、歸命、歸神)” là Tam Quy Y của Đạo Giáo; và “Đạo, Kinh, Sư (道、經、師)” là Ba Ngôi Báu của họ.
tam quy
See Tam Quy-Y
tam quy ngũ giới
Nghi lễ thọ Ưu Bà Tắc hay Ưu Bà Di Giới, trong đó Phật tử tại gia nguyền thọ tam quy gìn ngũ giới—The ceremony which makes the recipient an upasaka or upasika—Laymen or laywomen taking refuge in the Triratna, receiving the Law and accepting the five commandments—See Tam Quy Y and Ngũ Giới in Vietnamese-English Section.
tam quy thọ pháp
Về nương nơi Tam Bảo, thọ pháp và được nhận làm Phật tử tại gia, sau nghi thức sám hối—Take refuge in the Triratna, receiving of the Law, or admission of a lay disciple, after recantation and repentance of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the three surrenders (to Buddha, Dharma, Sangha).
Tam quy y
三歸依; S: triśaraṇa; P: tisaraṇa;|Ba quy y
tam quy y
687梵語 tri-śaraṇa-gamana,巴利語 ti-saraṇagamana。又作三皈依、三歸、三自歸、三歸戒、趣三歸依。歸依一詞,含有救護、趣向之義。三歸依即歸投、依靠三寶,並請求救護,以永解脫一切苦。即指歸依佛、歸依法、歸依僧。係成為佛教徒所必經之儀式。釋迦牟尼成道後,尚未有僧寶之時,則僅授佛、法二歸戒。據五分律卷十五載,最早受三歸戒者為耶舍比丘之父。 三歸依可分二種:(一)翻邪三歸,翻邪道而入正道時,所受之三歸。(二)受戒三歸,有五戒三歸(在家信徒受五戒前,必先受三歸)、八戒三歸(受八齋戒前,必先受三歸)、十戒三歸(受十戒成為沙彌、沙彌尼前,必先受三歸)、具足戒三歸(受具足戒成為比丘、比丘尼前,必先受三歸)等四種。若謂五種三歸時,則是此四種三歸加上翻邪三歸。 關於歸依三寶之旨趣,俱舍論卷十四謂,歸依三寶能永遠解脫一切之苦。大乘義章卷十舉出三義:(一)為遠離生死之惡不善,(二)為求出世涅槃,(三)為利益眾生。法界次第初門卷上之下謂,三歸之用,正破三邪、濟三塗、接三乘、出三有;而佛法以此三歸為本,通一切戒品及諸出世之善法。 於大智度論卷一、究竟一乘寶性論卷一、大乘起信論、佛地經論卷一、阿毘曇心論等之文前皆列舉出三寶歸敬之文,用表對三寶之敬禮稽首。此外,受三歸儀式時,須隨戒師之教,唱唸「三歸三竟」之文。毘尼討要卷五(卍續七○‧一七六下):「我某甲盡形壽歸依佛,歸依法,歸依僧(三說);我某甲盡形壽歸依佛竟,歸依法竟,歸依僧竟(三說)。」湛然之授菩薩戒儀(卍續一○五‧五下):「弟子某甲願從今身,盡未來際歸依佛兩足尊,歸依法離欲尊,歸依僧眾中尊(三說);弟子某甲願從今身,盡未來際歸依佛竟,歸依法竟,歸依僧竟(三說)。」日僧源信於其選擇本願念佛集謂,三歸依可分為大小二乘之別,「盡形壽」者為小乘之三歸,「盡未來際」者為大乘之歸依。 另據大乘法苑義林章卷四本載,「歸依」與「敬禮」有七種之別:(一)歸依唯局於身語二業,敬禮賅通身語意三業。(二)歸依具歸三寶,其境較廣;敬禮唯敬一尊,其境未廣。(三)歸依有其限齊,故必云「盡未來際」;敬禮但舉心虔仰即可,故或久或暫,不為所限。(四)歸依情懇,必有表業與無表業;敬禮但有善表業即成。(五)歸依必合身語二業,其義較重;敬禮僅具一者即成。⑹歸依帶相,故唯在欲、色二界;敬禮可通欲、色、無色等三界。⑺歸依觀真理而成,其義較勝;敬禮重賢善即成,其義較次。〔長阿含經卷十一、北本大般涅槃經卷五、勝鬘經、大方等大集經卷三十二、十誦律卷五十六、有部毘奈耶卷四十四、大智度論卷十三、大毘婆沙論卷三十四、卷一二四、十住毘婆沙論卷七〕(參閱「三寶」700)
; Sarana-gamana (skt)—Take refuge in Triratna—Take refuge in the three Precious Ones—The Three Refuges: (A) 1) Quy y Phật vị đạo sư vô thượng: Take refuge in the Buddha as a supreme teacher. 2) Quy y Pháp thần y lương dược: Take refuge in the Dharma as the best medicine in life. 3) Quy y Tăng đệ tử tuyệt vời của Phật: Take refuge in the Sangha, wonderful Buddha's disciples. (B) 1) Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy): To the Buddha, I return to rely, vowing that all living beings understand the great way profoundly, and bring forth the bodhi mind (1 bow). 2) Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy): To the Dharma, I return and rely, vowing that all living beings deeply enter the sutra treasury, and have wisdom like the sea (1 bow). 3) Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại: To the Sangha, I return and rely, vowing that all living beings form together a great assembly, one and all in harmony without obstructions(1 bow). ** Trong lúc lắng nghe ba pháp quy-y thì lòng mình phải nhất tâm hướng về Tam Bảo và tha thiết phát nguyện giữ ba pháp ấy trọn đời, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không biến đổi—When listening to the three refuges, Buddhists should have the full intention of keeping them for life; even when life is hardship, never change the mind. (C) Tam quy chính là ba trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà tam ác đạo được thanh tịnh—The three refuges are three of the most important entrances to the great enlightenment; for they purify the evil worlds. (D) Người Phật tử mà không quy y Tam Bảo sẽ có nhiều vấn đề trở ngại cho sự tiến bộ trong tu tập—There are several problems for a Buddhist who does not take refuge in the Three Gems. 1) Không có dịp thân cận chư Tăng (Tăng Bảo) để được chỉ dạy dẫn dắt. Kinh Phật thường dạy, “không quy y Tăng dễ đọa súc sanh.” Không quy-y Tăng chúng ta không có gương hạnh lành để bắt chước, cũng như không có ai đưa đường chỉ lối cho ta làm lành lánh ác, nên si mê phát khởi, mà si mê là một trong những nhân chính đưa ta tái sanh vào cõi súc sanh: There is no chance to meet the Sangha for guidance. Buddhist sutras always say, “If one does not take refuge in the Sangha, it's easier to be reborn into the animal kingdom.” Not taking refuge in the Sangha means that there is no good example for one to follow. If there is no one who can show us the right path to cultivate all good and eliminate all-evil, then ignorance arises, and ignorance is one of the main causes of rebirth in the animal realms. 2) Không có dịp thân cận Pháp để tìm hiểu và phân biệt chánh tà chân ngụy. Do đó tham dục dấy lên, mà tham dục là một trong những nhân chính để tái sanh vào cõi ngạ quỷ. Vì thế mà kinh Phật luôn dạy, “không quy y pháp dễ đọa ngạ quỷ”: There is no chance to study Dharma in order to distinguish right from wrong, good from bad. Thus desire appears, and desire is one of the main causes of rebirth in the hungry ghost. Therefore, Buddhist sutras always say, “if one does not take refuge in the Dharma, it's easier to be reborn in the hungry ghost realms.” 3) Không được dịp thân cận với chư Phật chẳng những không cảm được hồng ân của quý ngài, mà không có dịp bắt chước đức từ bi của các Ngài. Do đó sân hận ngày một tăng, mà sân hận là một trong những nguyên nhân chính của địa ngục. Vì thế mà kinh Phật luôn dạy, “không quy y Phật dễ bị đọa địa ngục”: There is not any chance to get blessings from Buddhas, nor chance to imitate the compassion of the Buddhas. Thus, anger increased, and anger is one of the main causes of the rebirth in hell. Therefore, Buddhist sutras always say, “if one does not take refuge in Buddha, it's easier to be reborn in hell. (E) Muốn quy y Tam Bảo, trước hết người Phật tử nên tìm đến một vị thầy tu hành giới đức trang nghiêm để xin làm lễ quy y thọ giới trước điện Phật: To take refuge in the Triratna, a Buddhist must first find a virtuous monk who has seriously observed precepts and has profound knowledge to represent the Sangha in performing an ordination ceremony.
; (三歸依) Phạm: Tri-zaraịa-gamana. Pàli: Tì-saraịa-gamana. Cũng gọi Tam qui, Tam tự qui, Tam qui giới, Thú tam qui y. Qui y Tam bảo, nghĩa là quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng và xin được cứu giúp, che chở để mãi mãi thoát khỏi tất cả khổ não của thân tâm. Tam qui y được chia làm 2 thứ: 1. Phiên tà tam qui: Tam qui được lãnh nhận khi bỏ tà đạo, trở về chính đạo. 2. Thụ giới tam qui: Có 4 loại là Ngũ giới tam qui(tín đồ tại gia khi thụ Ngũ giới thì phải thụ Tam qui trước), Bát giới tam qui(khi thụ 8 giới trai thì phải thụ Tam qui trước), Thập giới tam qui(khi thụ 10 giới Sa di, Sa di ni thì phải thụ Tam qui trước) và Cụ túc giới tam qui(khi thụ giới Cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni thì phải thụ Tam qui trước). Nếu thêm Phiên tà tam qui nữa thì thành5 loại, gọi chung là Ngũ chủng Tam qui.Về chỉ thú của sự qui y Tam bảo, luận Câu xá quyển 14 cho rằng qui y Tam bảo mãi mãi xa lìa được tất cả khổ não. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 thì nêu ra 3 nghĩa: Vì xa lìa khổ sinh tử, vì cầu Niết bàn xuất thế và vì lợi ích chúng sinh. Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, phần cuối, cho rằng công dụng của Tam qui chính là phá Tam tà, cứu Tam đồ, nối tiếp Tam thừa, ra khỏi Tam hữu, Phật pháp lấy Tam qui này làm gốc, chung cho tất cả giới phẩm và các pháp lành xuất thế.Trong các luận Đại trí độ quyển 1, Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 1, Đại thừa khởi tín, Phật địa kinh luận quyển 1, A tì đàm tâm... ngay ở trang đầu đều có nêu văn Qui kính Tam bảo, bày tỏ sự cúi đầu kính lễ Tam bảo. Ngoài ra, lúc thụ Tam qui, người thụ phải theo lời dạy của Giới sư, xướng văn Tam qui tam cánh. Tì ni thảo yếu quyển 5 ghi văn Tam qui tam cánh như sau (Vạn tục 70, 176 hạ): Con tên là... xin trọn đời qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng(nói 3 lần); Con tên là... trọn đời qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi(nói 3 lần). Thụ Bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên thì ghi (Vạn tục 105, 5 hạ): Đệ tử tên là... nguyện từ đời này đến hết kiếp vị lai qui y Phật lưỡng túc tôn, qui y pháp li dục tôn, qui y tăng chúng trung tôn (nói 3 lần). Đệ tử tên là... nguyện từ đời này đến hết kiếp vị lai qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi(nói 3 lần). Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Nguyên tín của Nhật bản cho rằng Tam qui y được chia làm Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau, trọn đời là Tam qui của Tiểu thừa, còn hết kiếp vị lai là Tam qui của Đại thừa. Lại theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4, phần đầu, Qui y và Kính lễ có 7 nghĩa khác nhau: 1. Qui y chỉ hạn cuộc ở nghiệp thân và nghiệp khẩu, kính lễ thì chung cho cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 2. Qui y là qui y cả Tam bảo, phạm vi rộng hơn; còn kính lễ thì chỉ kính 1 vị tôn, phạm vi không rộng. 3. Qui y có giới hạn, cho nên phải nói hết kiếp vị lai; còn kính lễ chỉ cần nói lên lòng kính ngưỡng là được, cho nên hoặc lâu hoặc mau, không bị hạn định. 4. Qui y vì thành khẩn, thiết tha, nên phải có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp; còn kính lễ thì chỉ cần thiện biểu nghiệp là thành. 5. Qui y phải hợp cả thân nghiệp và khẩu nghiệp, ý nghĩa quan trọng hơn; còn kính lễ thì chỉ cần 1 nghiệp là thành. 6. Qui y thuộc về hình tướng nên chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc; còn kính lễ thì thông cả ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc. 7. Qui y do quán chân lí mà thành, ý nghĩa thù thắng hơn; còn kính lễ thì trọng hiền thiện là thành, ý nghĩa kém hơn. [X. kinh Trường a hàm Q.11; kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc); kinh Thắng man; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.32; luật Thập tụng Q.56;Hữu bộ tì nại da Q.44; luận Đại trí độ Q.13; luận Đại tì bà sa Q.34, 124; luận Thập trụ tì bà sa Q.7]. (xt. Tam Bảo).
tam quyết định nghiệp
553又作三時業、三報業。指決定受異熟果時分之業。此係俱舍論卷十五所說。即:(一)順現法受業,略稱順現業。此生造作增長,於此生受異熟果之業。(二)順次生受業,又作順次業、順生業。此生造作增長,於第二生受異熟果之業。(三)順後次受業,又作順後業。此生造作增長,於隔二世以上受異熟果之業。〔瑜伽師地論卷九、阿毘達磨順正理論卷四十〕(參閱「定業不定業」3182)
; (三决定業) Cũng gọi Tam thời nghiệp, Tam báo nghiệp. Chỉ cho 3 thứ nghiệp quyết định thời gian chịu quả báo dị thục. Đây là thuyết của luận Câu xá quyển 15, đó là: 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp (gọi tắt: Thuận hiện nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này thì ngay đời này phải chịu quả báo dị thục. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (cũng gọi Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này, sang đời thứ 2 mới chịu quả báo dị thục. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (cũng gọi Thuận hậu nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này đến đời thứ 3 hoặc lâu hơn nữa mới chịu quả báo dị thục. [X. luận Du già sư địa Q.9; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.40]. (xt. Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
tam quyền nhất thật
705指天台宗之化法四教。四教之中,藏、通、別教三種係權施未了之教,故稱為三權;對此而言,圓教為真實了義之教,故稱一實。法華文句卷三上(大三四‧三六上):「三權是矩是方,一實是規是圓。」〔法華玄義卷七〕(參閱「化法四教」1325)
; The Thiên Thai division of the Schools of Buddhism into four, three termed quyền temporary, i.e. tạng, thông. biệt, the fourth is the thật or viên real or perfect School of Salvation by faith to Buddhahood, especially as reavealed in the Lotus Sùtra.
; (三權一實) Ba giả tạm, một chân thực. Chỉ cho 4 giáo Hóa pháp của tông Thiên thai. Trong 4 giáo thì 3 giáo Tạng, Thông, Biệt là giáo pháp phương tiện tạm thời lập ra chứ chưa phải là giáo pháp liễu nghĩa, cho nên gọi là Tam quyền; trái lại, Viên giáo là giáo pháp chân thật liễu nghĩa, nên gọi là Nhất thực.Pháp hoa văn cú quyển 3 thượng (Đại 34, 36 thượng) nói: Tam quyền là cái khuôn vuông, Nhất thực là cái khuôn tròn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7]. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).
tam quá
Three transgressions of the body, mouth and mind (deeds, words, thoughts).
Tam quán
三觀; C: sānguān; J: sangan;|I. Ba cách quán sát. Ba cách thiền quán được dạy đầu tiên trong Anh lạc bản nghiệp kinh, sau được chiếu rọi tường tận bởi Trí Khải (智顗). Chúng là: 1. Không quán (空觀), phủ nhận những cảm thụ, nhận thức hiện thật một cách sai lạc; 2. Nhân duyên quán (因緣觀), giúp diệt trừ kiến giải chấp không; 3. Trung quán (中觀), dung nhiếp cả hai lối quán trên nhưng không chấp trước, vướng mắc vào chúng. II. Ba phương pháp thiền định được dạy trong kinh Viên Giác: 1. Xa-ma-tha (奢摩他; s: śamatha), một dạng thiền định mà trong đó, tâm thức của hành giả được lắng đọng qua sự tập trung vào một đối tượng; 2. Tam-ma Bát-để (三摩鉢提; s: samāpatti), quán sát một chân lí Phật pháp, ví như nguyên lí Duyên khởi, và 3. Thiền-na (禪那; s: dhyāna), không dựa vào hai cách Thiền quán trên. Ba phương pháp thiền này gần giống như ba phương pháp nêu bên trên.
tam quán
706指三種觀法。<一>天台智者大師所立之天台三觀,此係諸家所說三觀中最為普通之一說。乃天台宗之重要法門,為教義與實踐之骨架。係對於一切存在作三種觀法,即空觀、假觀、中觀,稱為「空假中三觀」。此乃依據菩薩瓔珞本業經卷上賢聖學觀品所說「從假入空二諦觀、從空入假平等觀、中道第一義諦觀」而立。即: (一)空觀,又作從假入空觀、二諦觀。空者,離性離相之義。謂觀一念之心,不在內、不在外、不在中間,稱之為空;由觀一念空之故,而一空一切空,無假無中而不空;此因空、假、中三觀能蕩除三惑之相,以空觀蕩除見思之相,以假觀蕩除塵沙之相,以中觀蕩除無明之相,三相皆蕩,即畢竟空,是為空觀。簡言之,自世俗常識之立場(假),進入宗教立場之真理(空),是為空觀。(二)假觀,又作從空入假觀、平等觀。假者,無法不備之義。謂觀一念之心,具足一切諸法,稱之為假;由觀一念假之故,而一假一切假,無空無中而不假;此因空、假、中三觀皆能立法,以空觀立真諦之法,以假觀立俗諦之法,以中觀立中諦之法,三法皆立,即為妙假,是為假觀。簡言之,不停滯於「空」,而進入佛智遍照之世俗境界,是為假觀。(三)中觀,又作中道第一義諦觀。中即中正,泯絕二邊對待之義。謂觀一念之心,非空非假,即空即假,稱之為中;由觀一念中之故,而一中一切中,無空無假而不中;此因空、假、中三觀皆能泯絕對待,言空則空外無法,言假則假外無法,言中則中外無法,三者皆絕待,即為圓中,是為中觀。簡言之,不執空觀、不執假觀,空假圓融之大悲菩薩行,是為中道觀。 另據維摩經文疏卷二十一,就別、圓二教以簡別三觀之相,舉出別相、通相、一心等三種不同之三觀,稱為三種三觀。即:(一)別相三觀,即歷別觀於三諦。謂若從假入空(空觀),僅得觀真諦;若從空入假(假觀),僅得觀俗諦;若入中道正觀,方得雙照真、俗二諦。此即指別教之三觀,別教認為三觀乃不相同且為依序漸觀,故又稱為次第三觀、隔歷三觀。依次可斷除三惑而得三智。(二)通相三觀,即於一觀中圓解三諦。謂若從假入空,知俗假是空,真諦中道亦皆是空;若從空入假,知俗假是假,真諦中道亦皆是假;若入中道正觀,則知中道是中,俗假、真空亦皆是中。即以一觀為名而解心皆通者,是為通相三觀。(三)一心三觀,即於一念心中而能圓觀三諦。謂觀一念心畢竟無有,淨若虛空,稱為空觀;能觀之心、所觀之境皆歷歷分明,稱為假觀;雖歷歷分明,然性常自空,空不定於空,假不定於假,稱為中觀。即三而一,即一而三,是為一心三觀。 上述之通相三觀、一心三觀即指圓教之三觀,圓教認為三觀乃於一念心中,融合空假中三諦之真理以觀之,故稱圓融三觀、不次第三觀。又因觀之對象在一念之心,故言:一空一切空、一假一切假、一中一切中,而為即空、即假、即中之觀。此即破執心(空),以一切現象似有(假),體達絕對之世界(中),而在一念之中作觀。對此一念有二種不同看法,宋代天台宗山家派謂此一念指妄心,山外派則認為是真心。山家派視觀之對象(境)為妄心的有力理由之一,即是根據摩訶止觀卷五上三科揀境(區別)之說。即在決定觀之對象時,要分別五陰、十二入、十八界等三科之境界。先在三科之中取五陰,復在五陰之中取識陰,又在識陰之中取第六識,更在第六識中取無記識,終則在心王、心所之中取心王為作觀之對象,此係直接取凡夫無記之妄心為觀之對象者。 三觀在化法四教中,屬於別、圓二教之觀法。若將三觀配於四教,則空觀屬藏、通二教。藏教分析一切心物之存在為無實體,而終歸於空理,此即所謂之析空觀;通教則更進一步,直接體達一切諸法如幻即空,而入於空理,此即體空觀,此觀能斷除三界內所起之見思惑。然此等之空觀偏向於空之一理,故稱「但空觀」;對此而言,別、圓二教之空觀則稱「不但空觀」。但通教於利根、鈍根二者修觀時,有時會令利根者從但空觀而進入不但空觀,如別接通、圓接通即基於此種理由而來。 假觀屬別教之觀法。天台宗將假觀分為二種,即:(一)生死假,即癡迷眾生之情見。(二)建立假,即聖者以出世間之智眼所照之見。前記藏、通二教之空觀,從假入空時之假,屬生死假而未達建立假。別教之假觀則為以空入假之觀,於空之上,安立假差別,故為建立假。別教之特質即為觀無量四諦而建立恆沙之佛法,以出假利生。另圓教之假觀與別教之假觀不同之處,即是別教將空、中二觀別視,互不相即,且獨立假觀為對境,能斷塵沙之惑;而圓教則視空、中二觀為一,即空即中,以妙假為對境,能同時斷除三惑。 中觀屬圓教,為最高無上之觀法。乃融合空、假二觀,即三而一,即一而三,以觀中道之理而圓解三諦,稱為「不但中觀」。對此而言,別教之中觀則稱「但中觀」。別教修但中觀者,須先於十住位修空觀以破見思之惑,次於十行位修假觀以破塵沙之惑後,方修中觀(但中觀)以破無明之惑,此時三觀一心,幾同於圓教之不但中觀。〔維摩經玄疏卷二、摩訶止觀卷五、法華經玄義卷一、金光明經玄義卷下、四教義卷一、宗鏡錄卷三十五〕 <二>為智者大師講法華經時,另立三種觀心之法,即:(一)從行觀,又作約行觀。謂專就諸經之行門而修觀,即唯於萬境觀一心,萬境雖殊,妙觀理一,如觀「陰」等即是其意。(二)附法觀,謂附於諸法相以修圓觀,即就四諦五行等之法相,入一念心,以成其觀。(三)託事觀,又作歷事觀。謂假託事義以成修觀,隨歷一事,皆以觀法表對,以助修觀。如假借王舍城而為觀,則觀王為六識心王,舍為五陰,王舍城為吾人之一身,乃至此王舍城即空假中,心王造此舍,若析五陰則舍空,空即涅槃城。又十不二門樞要卷上謂,十乘為三種觀法之通體,託事、附法、從行等三者則為三種觀法之別相。〔十不二門指要鈔卷上、止觀義例、止觀義例隨釋卷六〕 <三>南山道宣律師所立之南山三觀。依序為二乘、小菩薩、大菩薩之觀法,即:(一)性空觀,聲聞、緣覺二乘之人觀因緣所生之一切諸法,其性本空,皆無有我。常以此理照察自心,稱為性空觀。相當於天台家所說之析空觀及體空觀。(二)相空觀,藏、通二教菩薩觀因緣所生之一切諸法,其相本空,但眾生情執,妄見種種差別之相。常以此理照察自心,稱為相空觀。(三)唯識觀,識即心識。別、圓二教大乘菩薩,了知世間一切外塵諸法,皆唯識所現,心外無物之存在,自性本自清淨。此理深妙,唯意緣知,稱為唯識觀。唯識觀又分為二種,即利根者所修之「直爾總觀」與初心者所修之「歷事別觀」。〔止觀輔行傳弘決卷五之四〕(參閱「唯識」4424) <四>華嚴宗帝心尊者杜順依華嚴經所立之法界三觀。法界,指所觀之境;三觀,指能觀之心。即:(一)真空觀,即四法界中之理法界。真,為非虛妄之念慮;空,為非形礙之色相。謂簡別妄情以顯真性,而歸於平等之空性,使見色非實色而為真空,令見空非斷空而為真性,如此則能泯滅妄情所見之事相,而彰顯真空之妙體。(二)理事無礙觀,即四法界中之理事無礙法界。理,性靜明體之義;事,形相分限之義。即觀萬象差別之事法與平等無差之理性,鎔融相涉而無礙自在,此乃因萬象皆為真如之隨緣變現;猶如水即為波,波即為水。亦即觀真如性起萬法,而萬法一一以真如為性,是為理事無礙觀。(三)周徧含容觀,即四法界中之事事無礙法界。周遍,無所不在之義;含容,無法不攝之義。真如之性乃一味平等而不可分取,一微一塵悉完具真如之全體,一一事相亦徧含容一切法界,故一相與多相互融無礙,大小相含,互攝互容而重重無盡,是為周徧含容觀。上述三種所觀之境,雖同於一心法界,然因能觀之智的深淺不同,而有此三種之別,故又稱為三重觀門。 杜順又於法界觀門中,開真空觀為會色歸空觀、明空即色觀、空色無礙觀、泯絕無寄觀四句;開理事無礙觀為理徧於事門、事徧於理門、依理成事門、事能顯理門、以理奪事門、事能隱理門、真理即事門、事法即理門、真理非事門、事法非理門等十門;又開周徧含容觀為理如事門、事如理門、事含理事門、通局無礙門、廣陿無礙門、徧容無礙門、攝入無礙門交涉無礙門、相在無礙門、溥融無礙門等十門說明之。〔華嚴法界觀門、華嚴五教止觀、華嚴經旨歸〕(參閱「四法界」1717、「四法界觀」1718) <五>指圓覺三觀。據圓覺經、圓覺經略疏卷下舉出三種修觀之精神狀態,即:(一)奢摩他,梵語 śamatha,意譯止,止即止寂之義。欲求圓覺者,以淨覺心取靜為行,而於染淨等境心不妄緣,此即是體真止,相當於天台之空觀。(二)三摩鉢提,梵語 samāpatti,意譯等至。遠離昏沉、掉舉,謂之等;令心平等安和,謂之至。欲求圓覺者,以淨覺心知覺心性與根塵皆因幻化而有,遂起幻觀而修,以除諸幻,此即是方便隨緣止,能隨緣歷境而安心不動。相當於天台之假觀。(三)禪那,梵語 dhyāna,意譯靜慮。靜即定,慮即慧。欲求圓覺者,以淨覺心不取幻化及諸靜相,便能隨順寂滅境界,此即是息二邊止,能不分別生死、涅槃、止息、有無等二邊之相。相當於天台之中觀。又宗密將上述之三觀依次稱為泯相澄神觀(靜觀)、起幻銷塵觀(幻觀)、絕待靈心觀(寂觀)。 此外,關於圓覺三觀與天台三觀之異同處,據宗密之圓覺經略疏卷下載,二者之義理雖同,然意趣相異。其相同之處為泯相即空觀、起幻即假觀、絕待即中觀。相異之處為圓覺三觀乃明示行人之用心方便,多就心而成行,故不立所觀之境;天台三觀則推窮諸法之性相,多就義理而生解,故立所觀之三諦。同書又舉出圓覺三觀共有二十五種清淨定輪。輪者,摧輾之義,能摧毀惑障而轉正智,故稱為輪。二十五輪即先依次單修靜觀、幻觀、寂觀三觀,稱為單修三觀,此為三輪。次修「交絡三觀」,即初以靜觀為主而兼修幻、寂二觀,三者交絡成七輪,再依次各以幻觀、寂觀為主而兼修其餘之二觀,如此三個七輪總成為二十一輪。後以圓覺慧圓修三觀,稱為如意圓修觀,此僅一輪,以上總計為二十五輪。〔御註圓覺經卷上、圓覺經大疏卷下之一〕 <六>據觀經疏傳通記卷三舉出三種觀心之法,即:(一)觀矚觀,謂如眼、耳等五識緣五塵之境,矚對現境,顯現分明而無推度計量。(二)觀知觀,謂與意識相應之解知,藉眾相而觀於義。(三)觀行觀,即十三觀等。謂依正定力而行推度境界之觀法。若將此三觀配於三分別,則觀矚觀為自性分別,觀知觀為隨念分別,觀行觀為計度分別。〔淨土法門源流章、傳通記糅鈔卷十六〕(參閱「三分別」531、「五心」1067)
; The three studies, mediatations, or insights. The most general group is that of Thiên Thai: (a) không quán study of all as void, or immaterial; (b) giả quán of all as unreal, transient, or temporal; (c) trung quán as the via media inclusive of both. The Hoa Ngiêm group is chân không quán, lý sự vô ngại quán, chu biến hàm dung quán. The Nam Sơn group is tính không quán, tướng không quán, duy thức quán. The Từ Ân group is hữu quán, không quán, and trung quán.
; Không quán, giả quán, trung quán, do Thiên thai tông kiến lập.
; Theo tông Thiên Thai, có ba loại quán—According to the T'ien-T'ai sect, there are three contemplations (meditations). 1) Quán chân không lìa tướng: The meditation (contemplation) of true emptiness that cuts off marks. 2) Quán lý sự vô ngại: The meditation (contemplation) of the non-obstruction between noumena and phenomena. 3) Quán sự sự vô ngại: The meditation of pervasive inclusiveness—The meditation of non-obstruction between phenomena and phenomena.
tam quán đảnh
Three kinds of baptism—See Tam Chủng Quán Đảnh.
tam quí, ba mùa
The "three seasons" of an Indian year - spring, summer, and winter; a year.
tam quý
Three seasons in India (Spring, Summer and Winter).
tam quĩ
The three rules of the Thiên Thai Lotus school: (a) chân tính quĩ the absolute and real, the chân như or bhùtatathatà;(b) quán chiếu quĩ meditation upon and understanding of it; (c) tư thành quĩ the extension of this understanding to all its workings. In the tam quĩ hoằng kinh the three are traced to the Pháp sư phẩm of the Lotus Sùtra and are developed as: (a) từ bi thất (vào nhà từ bi) the abode of mercy, or to dwell in mercy; (b) nhẫn nhục y (mặc giáp nhẫn nhục) the garment of endurance, or patience under opposition; (c) pháp không tòa (ngồi tòa tánh không) the throne of immateriality (or spirituality), a state of nirvàna tranquility. Mercy to all is an extension of tư thành quĩ, patience of quán chiếu,and nirvàna tranquility of chân tính quĩ.
Tam quả
三果; C: sānguǒ; J: sanka;|1. Là quả vị thứ ba của bốn thánh quả (Tứ quả 四果) được dạy trong Tiểu thừa: quả vị Bất Hoàn (不還), hoặc ba quả vị đầu của Tứ quả; 2. Ba loại hậu quả hoặc ba loại (cách) tái sinh; 3. Trong Thiên Thai tông, đây là quả vị của Tạng (藏, với ý nghĩa Đại tạng), Thông (通) và Biệt (別).
tam quả
Ba quả báo và bốn nhân khiến cho đứa trẻ sanh vào một gia đình nào đó—Three consequences associated with the causes for a child to be born into a certain family: 1) Hiện báo: Current requital—Những tạo tác thiện ác sẽ có quả báo lành dữ ngay trong đời nầy—Transgressions and wholesome deeds we perform, we will receive misfortunes or blessings in this very life. 2) Sanh báo: Birth requital—Những tạo tác thiện ác của đời nầy sẽ có quả báo lành dữ của đời sau—Transgressions and wholesome deeds we perform in this life, we will receive the good or bad results in the next life. 3) Hậu báo: Future requital—Những tạo tác thiện ác đời nầy sẽ có quả báo lành dữ, không phải ngay đời sau, mà có thể là hai, ba, hoặc bốn, hoặc trăm ngàn hay vô lượng kiếp đời sau—Transgressions or wholesome deeds we perform in this life, we will not receive good or bad results in the next life; however, good or bad results can appear in the third, fourth or thousandth lifetime, or until untold eons in the future.
Tam Quốc
(三國): 3 nước phân chia thiên hạ làm ba phần và cạnh tranh lẫn nhau vào thế kỷ thứ 3, gồm nhà Ngụy (魏, 220-265) chiếm cứ lưu vực Hoàng Hà (黃河), nhà Ngô (呉, 222-280) hùng cứ hạ lưu Dương Tử Giang (揚子江) và nhà Thục (蜀, 221-263) chiếm lĩnh thượng lưu Dương Tử Giang. Nó còn là tên gọi thời đại Tam Quốc.
Tam quốc di sự
三國遺事; C: sānguó wèishì; J: sankoku yuiji;|Một tác phẩm bao gồm năm quyển của Cao tăng Hàn quốc Nhất Nhiên (一然; k: iryǒn, 1206-1289), với những mẩu chuyện nói về sự truyền bá và phát triển đạo Phật tại Hàn quốc, đặc biệt chú trọng đến thời kì Tam quốc và Tân La. Tác phẩm này là nền tảng của việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn quốc, đã được dịch sang Anh ngữ năm 1972.
tam quốc di sự
605凡五卷。高麗僧一然(1206~1289)撰。今收於大正藏第四十九冊。為記錄朝鮮三國(新羅、高句麗、百濟)所傳遺聞逸事之史書。在本書著成百五十年前,已有「三國史記」行世,本書係集錄三國史記所遺漏之記事及古代傳承等而成。內含豐富之佛教史料、新羅古代歌謠、檀君說話、駕洛之開國傳說等,凡五卷九門。卷首有三國年表,卷一為紀異第一,卷二為卷一之續篇,卷三有興法第三、塔像第四,卷四為義解第五,卷五有神咒第六、感通第七、避隱第八、孝善第九。本書為朝鮮古代史與佛教史重要史料之一,其分科體例係受我國梁高僧傳之影響。
; (三國遺事) Tác phẩm, 5 quyển, do vị tăng người Cao li là Nhất thiên (1206-1289) soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này ghi chép các truyền thuyết dân gian được truyền tụng ở 3 nước Triều tiên (Tân la, Cao cú li và Bách tế) mà trước đó chưa sách nào ghi chép. Trước tác phẩm này 150 năm đã có bộ Tam quốc sử kí lưu hành ở đời. Sách này do thu chép các kí sự và truyền thừa đời xưa còn thiếu trong Tam quốc sử kí mà thành. Trong sách này bao gồm nhiều tư liệu Phật giáo, ca dao đời cổ ở Tân la, những truyện về Đàn quân, truyền thuyết khai quốc của Giá lạc... tất cả 5 quyển gồm 9 môn. Đầu quyển có Tam quốc niên biểu, quyển 1 làKỉ dị(ghi chép các truyện khác lạ) quyển 2 là phần tiếp tục quyển 1, quyển 3 có các mục Hưng pháp, Tháp tượng, quyển 4 là phần Nghĩa giải, quyển 5 gồm các mục Thần chú, Cảm thông,Tị ẩn, Hiếu thiện... Sách này là 1 trong những sử liệu quan trọng của Triều tiên sử cổ đại và Phật giáo sử. Về cách chia khoa và thể lệ thì sách này chịu ảnh hưởng Lương cao tăng truyện của Trung quốc.
tam quốc phật pháp truyện thông duyên khởi
605凡三卷。日僧凝然撰於應長元年(1311)。乃連亙印、中、日三國,略述各宗傳播之佛教通史。上卷略舉印度佛法傳通概況,次列我國毘曇、成實、戒律等十三宗,中、下二卷敘述流傳日本之三論、法相、華嚴等諸宗。〔諸宗章疏錄卷二〕
; (三國佛法傳通緣起) Tác phẩm 3 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn vào năm 1311. Nội dung sách này lược thuật về thông sử Phật giáo do các tông truyền bá ở 3 nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Quyển thượng trình bày khái quát về tình hình truyền thông Phật pháp ở Ấn độ, kế đó nêu ra 13 tông như Tì đàm, Thành thực, Luật... ở Trung quốc; quyển trung và quyển hạ thì nói về sự lưu truyền của các tông Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm... ở Nhật bản. [X. Chư tông chương sớ lục Q.2].
tam quốc truyện kí
605凡十二卷。日僧玄棟撰。今收於大日本佛教全書卷一四八。本書橫亙印、中、日三國,廣錄佛教各種因緣雜事、著名史實、珍奇傳說等,起自釋迦如來出世、孔子出生、聖德太子誕生等,總計三百五十七條。
tam quốc truyện ký
(三國傳記) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Huyền đống, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 148.Nội dung sách này ghi chép rộng rãi về các nhân duyên tạp sự, sự thực lịch sử nổi tiếng, các truyền thuyết quí lạ... của Phật giáo tại 3 nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, bắt đầu từ đức Thích ca Như lai xuất hiện, Khổng tử ra đời, Thái tử Thánh đức đản sinh... tất cả gồm 357 điều.
tam quỹ
591<一>乃三種軌範之意。天台宗解釋「妙法蓮華經」經題之「妙」字時,說有十妙,其中有三法妙者即為三軌:(一)真性軌,無偽不變之真理性,即真如實相。(二)觀照軌,破迷情,顯真理之智慧作用。(三)資成軌,助成觀照智用(智慧之作用)之萬行。〔法華玄義卷五下、法華玄義釋籤卷十一〕 <二>弘經者之三種軌範,即慈悲室、忍辱衣、法空座等,合稱衣座室三軌。蓋以大慈悲拔苦而予樂,覆護眾生如室;以忍辱之行遮蔽眾生之惡障煩惱如衣;以「一切法空」自安而安他如座。〔法華經文句卷八上〕(參閱「衣座室三軌」2568)
; Three sources of cultivation. 1) Từ Bi: Compassion and pity—See Từ Bi in Vietnamese-English Section. 2) Nhẫn Nhục: Patience—See Nhẫn Nhục, and Nhẫn Nhục Ba La Mật in Vietnamese-English Section. 3) Pháp Không: The emptiness or unreality of all things—See Pháp Không in Vietnamese-English Section.
; (三軌) I. Tam Quĩ. Ba thứ quĩ phạm(khuôn phép để noi theo). Khi giải thích chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, tông Thiên thai có nói về 10 Diệu, trong đó có Tam pháp diệu chính là Tam quĩ. Đó là: 1. Chân tính quĩ: Tính chân lí không hư dối, không thay đổi, tức là chân như thực tướng. 2. Quán chiếu quĩ: Tác dụng của trí tuệ có năng lực phá trừ mê tình, hiển bày chân lí. 3. Tư thành quĩ: Muôn hạnh giúp thành trí dụng(tác dụng của trí tuệ) quán chiếu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.11]. II. Tam Quĩ. Chỉ cho 3 thứ quĩ phạm của người hoằng bá, lưu truyền kinh pháp, đó là nhà từ bi, áo nhẫn nhục và tòa pháp không, gọi chung là Y tòa thất tam quĩ. Vì lòng từ bi cứu khổ ban vui giống như mái nhà che chở chúng sinh, hạnh nhẫn nhục như chiếc áo ngăn ngừa phiền não ác chướng của chúng sinh, tất cả các pháp không như tòa ngồi để tự an ổn và làm cho chúng sinh an ổn. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.8, thượng]. (xt. Y Tòa Thất Tam Quĩ).
Tam sanh
(三生): ba đời, đời trước, đời này và đời sau. Trong dân gian Trung Quốc có câu ngạn ngữ “tam sanh hữu hạnh (三生有幸, ba đời gặp may)”, vốn xuất phát từ câu chuyện của vị cao tăng thời nhà Đường. Lúc bấy giờ, có một Hòa Thượng hiệu là Viên Trạch (圓澤), thông hiểu kinh luận, thâm giao với Lý Nguyên Thiện (李源善). Có hôm nọ, hai người cùng đi ngao du sơn thủy, đến địa phương nọ, chợt thấy một người phụ nữ đang múc nước bên bờ sông, bụng người đó rất lớn, đang mang thai. Viên Trạch đưa tay chỉ người phụ nữ ấy bảo với Lý Nguyên Thiện rằng: “Người ấy mang thai đã ba năm rồi, đang chờ ta chết đi đầu thai vào. Nay gặp bà ấy, ta chẳng biết dùng biện pháp nào để tránh được đây ? Ba ngày sau, khi người phụ nữ ấy sanh con xong, đúng lúc ấy mong người hãy đến nhà bà ta xem thử, như quả thật đứa hài nhi nhìn người mà nở nụ cười, đó chính là ta. Hãy lấy nụ cười đó làm bằng chứng nhé ! Đợi đến mười ba năm sau, vào đêm trăng Trung Thu, ta sẽ chờ người tại Thiên Trúc Tự (天竺寺), Hàng Châu (杭州). Lúc ấy chúng ta lại gặp nhau nhé !” Sau khi hai người chia tay, quả nhiên đêm ấy Viên Trạch viên tịch; đồng thời người phụ nữ kia cũng hạ sanh một hài nhi. Ba hôm sau, nhớ lời dặn của Viên Trạch, Lý Nguyên Thiện đến nhà người phụ nữ kia xem thử hư thực thế nào, và quả nhiên đứa bé nhìn ông nở nụ cười. Vào một đêm trăng sáng Trung Thu của mười ba năm sau, Lý Nguyên Thiện tìm đến Thiên Trúc Tự. Vừa đến cổng chùa, ông thấy có một chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, nghêu ngao hát câu: “Tam sanh thạch thượng cựu tình hồn, thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân, tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, thử thân tuy dị tánh thường tồn (三生石上舊情魂、賞月吟風不要論、慚愧情人遠相訪、此身雖異性常存, ba đời trên đá tình cũ hồn, trăng ngắm gió ngâm chẳng luận bàn, hổ thẹn người xưa xa đến viếng, thân này tuy khác tánh vẫn còn).” Vì vậy, hiện tại người ta thường dùng câu “tam sanh hữu hạnh” để tỷ dụ cho trường hợp có duyên phận rất đặc biệt; hay bạn bè do một cơ duyên ngẫu nhiên nào đó gặp nhau và trở thành tri kỷ. Câu “đản ước bách niên hảo hợp, tam sanh hương hỏa hữu dư duyên (但約百年好合、三生香火有餘緣)” có nghĩa là chỉ ước mong sao trăm năm hòa hợp chung sống với nhau, nay ba năm lo phụng thờ hương khói, dầu đã mãn tang nhưng vẫn còn duyên phận với nhau hoài.
tam sanh
(三生) I. Tam Sinh. Chỉ cho Tiền sinh, Kim sinh, Hậu sinh. 1. Tiền sinh(cũng gọi Tiền thế, Túc thế): Đời sống ở quá khứ. 2. Kim sinh(cũng gọi Hiện thế, Hiện sinh): Đời sống ở hiện tại. 3. Hậu sinh(cũng gọi Hậu thế, Lai thế, Lai sinh): Đời sống trong vị lai. II. Tam Sinh. Gọi đủ: Tam sinh thành Phật. Chúng sinh nhờ thấy và nghe, hiểu và làm, chứng và vào mà trong 3 đời được Viên thành Phật đạo. Đây là giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm. (xt. Tam Sinh Thành Phật).
tam sanh lục thập kiếp
(三生六十劫) Ba đời sáu mươi kiếp. Đây là thời gian mà người tu Thanh văn thừa phải trải qua. Tức là tu quán 16 hành tướng của Tứ đế, dứt hết phiền não trong 3 cõi, chứng được quả A la hán thì nhanh nhất là 3 đời, mà chậm nhất là 60 kiếp. Trong 3 đời thì đời thứ nhất là tính tập tư lương Ngũ đình tâm và Tổng, Biệt niệm trụ... gieo trồng căn lành thuận với Giải thoát phần, đời thứ hai thì nương vào định Vị chí mà phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần, đời thứ ba nương vào định Căn bản, một lần nữa, phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần để vào Kiến đạo. Cũng có thuyết cho rằng đời thứ ba mới phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần. Lí do của việc Thanh văn chứng quả nhập đạo có nhanh có chậm là vì căn cơ có lợi có độn khác nhau. Tuy nhiên, về vấn đề này, các luận thuyết nói không đồng nhất, như Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 41 và Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 4 đều chủ trương 3 đời là lợi căn, 60 kiếp là độn căn; còn Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2, Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập quyển 21 và Câu xá luận quang kí quyển 23 thì, ngược lại, chủ trương chậm là lợi căn, nhanh là độn căn, lí do là vì người lợi căn mới kham nổi việc tu hành lâu dài, như đức Phật đã trải qua thời kỳ tu hành trong 3 tăng kì trăm đại kiếp! [X. luận Đại tì bà sa Q.7, 31; luận Du già sư địa Q.21, luận Hiển dương thánh giáo Q.7; Tam đại bộ bổ chú Q.8 (Tòng nghĩa)]. (xt. Tam Tăng Kì Bách Đại Kiếp).
tam sanh thành phật
(三生成佛) Gọi tắt: Tam sinh. Trải qua 3 đời tu hành có thể thành Phật. Thuyết này do Ngài Trí nghiễm, Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm đề xướng, ngài Pháp tạng tập đại thành. 1. Kiến văn sinh(cũng gọi Kiến văn vị): Quán tưởng thấy cảnh giới Phật, Pháp, Tăng bảo, thiện hữu, kinh điển trong Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm, nghe giáo pháp do Như lai nói và giáo môn do thiện hữu tăng bảo chỉ dạy, huân tập thành chủng tử vô tận vô ngại để thành tựu thiện pháp của Giải thoát phần. 2. Giải hành sinh(cũng gọi Giải hành vị): Trước được thấy nghe cảnh giới Nhất thừa, nhờ đó pháp lực được huân tập, xả bỏ thân trói buộc, cảm được sự thắng giải của Nhất thừa pháp giới, thành tựu viên mãn đại hạnh tự hành. 3. Chứng nhập sinh (cũng gọi Chứng quả sinh, Chứng nhập vị, Chứng quả hải vị): Hành giải đã trọn đủ, chứng được quả Phật bồ đề, tức thành tựu diệu quả viên mãn cùng tột. Trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2, Tam sinh thành Phật được giải thích rộng như sau: 1. Kiến văn sinh: Chúng sinh trong 8 nạn ở đời trước, thấy nghe chính pháp kinh Hoa nghiêm, chẳng những không tin nhận mà còn hủy báng, vì thế bị quả báo 8 nạn, đọa trong địa ngục, chịu các khổ cực. Sau, được đức Như lai phóng ánh sáng công đức thanh tịnh từ luân tướng dưới lòng bàn chân chiếu rọi đến, nhờ hạt giống lành thấy nghe kinh Hoa nghiêm ở đời trước, liền được thoát khổ địa ngục, sinh lên cõi trời Đâu suất, được thành đạo, chỉ nội trong 1 đời vượt lên ngôi Thập địa. 2. Giải hành sinh: Đồng tử Thiện tài đầu tiên yết kiến bồ tát Văn thù ở Phúc thành, nhờ đó được khai phát và khởi tín giải, bồ tát Văn thù bảo Thiện tài đi tham vấn các vị thiện tri thức khác và đi tới đâu cũng được chỉ bày pháp môn tu hành. Cuối cùng, đồng tử Thiện tài tham kiến bồ tát Phổ hiền, ngài Phổ hiền chỉ bảo Thiện tài tu nhân đại nguyện rộng lớn của Bồ tát, viên mãn đạo quả vô thượng của chư Phật. 3. Chứng nhập sinh: Ngài Xá lợi phất bảo 6 nghìn vị tỉ khưu, đứng đầu là tỉ khưu Hải giác, quán tưởng vô lượng công đức của bồ tát Văn thù sư lợi, đầy đủ trang nghiêm, tin hiểu vững chắc, đính lễ ngài Văn thù, đồng thời cùng với ngài Xá lợi phất nói rằng nguyện được sắc thân tướng hảo như bồ tát Văn thù. Bấy giờ, bồ tát Văn thù khai thị diễn nói pháp Đại thừa cho các vị tỉ khưu nghe, khiến họ thành tựu niềm thâm tín, được đại trí tuệ, chỉ trong 1 đời, chứng nhập pháp giới. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm nhất thừa thành Phật diệu nghĩa; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.40].
Tam sinh
三生; C: sānshēng; J: sanshou;|Ba đời sống, ba kiếp sống. I. Kiếp sống trước, hiện tại và tương lai. II. Ba cấp bậc chính trong thời gian thực hiện Phật quả: 1. Phát nguyện, quyết định trở thành một Phật-đà; 2. Tu tập và tích luỹ công đức; 3. Chứng ngộ Phật quả, thành Phật. III. Ba cấp bậc (cuộc sống) được dạy trong tông Thiên Thai, cơ bản cũng như ba cấp bậc trước đây: 1. Chủng (種, cũng gọi là Phát tâm 發心); 2. Thục (熟, chín muồi, có thể gọi là Tu hành 修行) và 3. Giải thoát (解脱). VI. Ba cuộc sống theo Hoa Nghiêm tông: 1. Kiến văn sinh (見聞生), thấy và nghe Phật thuyết pháp trong kiếp sống trước đây; 2. Giải hành sinh (解行生), nghĩa là tu tập đạt giải thoát đời nay và 3. Chứng nhập sinh (證入生), tức là chứng ngộ và nhập đạo trong cuộc đời tương lai.
tam sinh
543<一>指前生、今生、後生。(一)前生,又作前世、宿世。即過去之生涯。(二)今生,又作現世、現生。即現在之生涯。(三)後生,又作後世、來世、來生。即未來之生涯。 <二>三生成佛之略稱。即謂眾生因見聞、解行、證入,而於三生之中即能圓成佛道。此為華嚴宗之教義。(參閱「三生成佛」544)
; Trijāti (S), Tijāti (P).
; The three births, or reincarnations, past, present, future. Thiên Thai has: (a) Chủng planting the seed; (b) Thục ripening; (c) Giải thoát liberating, stripping, or harvesting, i.e. beginning, development and reward of bodhi, a process either gradual or instantaneous. Hoa nghiêm has: (a) Kiến văn sinh a past life of seeing and hearing Buddha-truth; (b) Giải hành sinh liberation in the present life; (c) Chứng nhập sinh realization of life in Buddhahood. This is also called Tam sinh thaành Phật Buddhahood in the course of three lives.
; Three generations (Past, present, and coming).
tam sinh lục thập kiếp
543為聲聞乘修行所須之時間。修四諦十六行相等之觀,斷盡三界之煩惱,證阿羅漢果,其極速者三生,極遲者則經六十劫。三生者,於第一生積集五停心及總別念住等資糧,種順解脫分之善根;於第二生依未至定,起順決擇分之慧;於第三生依根本定,再起順決擇分之慧,以入見道。另有以第三生始起順決擇分之慧者。 聲聞證果入道之所以有速有遲,蓋由於根機之有利有鈍。然關於其遲速利鈍,諸論所說不一,五教章通路記卷四十一、四分律刪補隨機羯磨疏卷四等,均以三生為利根,六十劫為鈍根;華嚴五教章卷二、法華經玄贊要集卷二十一、俱舍論光記卷二十三等則持反論,以遲為利根,以速為鈍根,蓋基於利根者始堪長時修行之故,是以佛最具利根,為無限之大悲,經最長時(三僧祇百大劫)之修行。〔大毘婆沙論卷七、卷三十一、瑜伽師地論卷二十一、顯揚聖教論卷七、三大部補註卷八(從義)〕(參閱「三僧祇百大劫」646)
tam sinh thành phật
544華嚴宗主張經三生即能成佛之說法。略稱三生。即:(一)見聞生,又作見聞位。觀見華嚴別教一乘之佛法僧寶善友經卷之境界,聽聞如來所說之教法、善友僧寶所訓示之教門,熏成無盡無礙之種子,以成就解脫分之善。(二)解行生,又作解行位。先見聞一乘之境界,由是法力熏習,棄捨累縛之身而感得法門之解行身,以獲一乘法界之勝解,圓滿成就自行之大行。(三)證入生,又作證果生、證入位、證果海位。解行既滿,證得佛果菩提,即成就窮極圓滿之妙果。三生成佛之說由智儼首倡,而由法藏集大成。 華嚴經隨疏演義鈔卷二載:(一)見聞生,謂八難眾生宿世見聞華嚴大經正法,不能信受,反生毀謗,故招感八難之報,墮地獄中受諸極苦。後蒙如來放足下輪相,清淨功德光明所照,由其宿有見聞華嚴大經善種,即得脫地獄苦,生兜率天而得成道,於一生內超登十地。(二)解行生,謂善財童子於福城東初見文殊,得蒙開發而啟信解,遂令參問諸善知識,皆獲開示修行法門。乃至最後參見普賢,令其入於毛孔剎中修行菩薩廣大願因,圓滿諸佛無上道果。如此解行,即於一生而得圓滿。(三)證入生,謂舍利弗於逝多林中,令海覺等六千比丘觀察文殊師利無量功德,具足莊嚴。彼諸比丘聞是說已,心意清淨,信解堅固,頂禮文殊,並與之言,願得文殊菩薩所有色身相好。於是文殊為諸比丘開示演說大乘之法,令諸比丘成就深信,獲大智慧,於一生內,證入法界。〔華嚴經探玄記卷十八、華嚴五教章卷二、華嚴一乘成佛妙義、五教章通路記卷四十〕
; Three births to become a Buddha: 1) Kiến văn sinh: A past life of seeing and hearing Buddha-truth. 2) Giải hành sinh: Liberation in the present life. 3) Chứng nhập sinh: Realization of life in Buddhahood.
tam sám
704懺即懺摩,意為悔過。據天台四教儀集註載,懺摩有三種,即:(一)作法懺,謂身禮拜、口稱唱、意思惟,三業依法披陳罪過,求哀懺悔。(二)取相懺,謂定心運想,於道場中,或見佛來摩頂,或見光現,或見花飛,或夢見諸瑞相,或聞空中聲。於此諸相,隨獲一種,罪即消滅。(三)無生懺,一切罪業皆從一念不了心性所生,若了心性本空,罪福無相,則一切法皆悉空寂,罪亦消滅。以上作法、取相二懺為事懺,無生懺為理懺。理懺為正,事懺為助;若正助合行,事理兼運,則無罪不滅,無福不生。
; (三懺) Chỉ cho 3 pháp sám hối. 1. Tác pháp sám: Thân lễ bái, miệng xưng niệm, ý tư duy, 3 nghiệp theo đúng pháp giãi bày tội lỗi, cầu xin sám hối. 2. Thủ tướng sám: Định tâm vận tưởng, ở trong đạo tràng, hoặc thấy Phật đến xoa đầu, hoặc thấy ánh sáng xuất hiện, hoặc thấy hoa bay, hoặc mộng thấy các tướng tốt lành, hoặc nghe tiếng trong hư không. Tùy theo các tướng ấy, hễ thấy được 1 tướng thì tội liền tiêu diệt. 3. Vô sinh sám: Tất cả tội nghiệp đều từ 1 niệm tâm tính không rõ mà sinh, nếu rõ tâm tính vốn không, tội phúc vô tướng thì hết thảy pháp đều rỗng lặng, tội cũng tiêu diệt. Ba pháp sám trên đây thì Tác pháp sám và Thủ tướng sám là Sự sám, còn Vô sinh sám thì là Lí sám. Lí sám là chính yếu, Sự sám là phụ trợ. Nếu chính trợ đều thực hành, Lí sự đều vận dụng thì không tội nào không diệt, không phúc nào không sinh.
tam sĩ giáo
524西藏語 skyes-bu gsum。指上士教、中士教與下士教。又稱三士夫道、三丈夫道論。即阿提沙之菩提道燈論,與宗喀巴之菩提道次第論所言之教說。此教法原為阿提沙所倡導,宗喀巴承襲之,惟二人所說略異。前者乃應上中下之根機而言三士教,後者則就一士夫在修行上必經之次第而言。(一)下士教,即所謂人天乘,信後世之實在,觀死之無常與惡趣之苦,歸依三寶,說業果之理、十善業道。(二)中士教,指二乘教。觀苦集滅道四諦、十二緣起理法,說業與煩惱、律儀戒等。(三)上士教,與大乘教相當,說發菩提心、布施等六波羅蜜、四攝事等。 格魯派認為三士教有四種特色:(一)可解除佛教教理中所見之矛盾。(二)可全盤信順佛典中之教法。(三)易於了解佛陀教法之正義。(四)可避免毀謗正法之罪。〔西藏佛教研究、西藏(多田等觀)、阿提沙教學の歷史的位置(芳村修基,佛教史學二)〕
; (三士教) Tạng: Skyes-bu gsum. Cũng gọi Tam sĩ phu đạo, Tam trượng phu đạo luận. Chỉ cho Thượng sĩ giáo, Trung sĩ giáo và Hạ sĩ giáo, tức là giáo thuyết được chia theo 3 căn cơ thượng, trung, hạ của người (sĩ) tu hành. 1. Hạ sĩ giáo: Tức Nhân thiên thừa, tin thực có đời sau, quán xét sự vô thường của cái chết và nỗi khổ của ác thú, qui y Tam bảo, nói lí nghiệp quả, Thập thiện nghiệp đạo. 2. Trung sĩ giáo: Tức Nhị thừa giáo. Quán xét 4 đế khổ tập diệt đạo, lí pháp 12 nhân duyên, nói nghiệp và phiền não, luật nghi giới... 3. Thượng sĩ giáo: Tương đương với Đại thừa giáo, nói phát tâm Bồ đề, Lục độ, Tứ nhiếp sự... Giáo thuyết trên đây được nói trong luận Bồ đề đăng của ngài A đề sa, vị cao tăng người Ấn độ, được ngài Tông khách ba, nhà cải cách lớn của Phật giáo Tây tạng, tổ thuật trong tác phẩm Bồ đề đạo thứ đệ. Giáo thuyết này vốn do ngài A đề sa khởi xướng và ngài Tông khách ba kế thừa, nhưng quan điểm của 2 ngài có hơi khác nhau: Ngài A đề sa vì thích ứng với các căn cơ thượng, trung, hạ mà nói Tam sĩ giáo, còn ngài Tông khách ba thì nói Tam sĩ giáo làthứ tự tu hành mà 1 sĩ phu phải trải qua.Phái Cách lỗ cho rằng Tam sĩ giáo có 4 đặc sắc: 1. Có thể giải trừ các mâu thuẫn thấy trong giáo lí Phật giáo. 2. Tín thuận toàn bộ giáo pháp trong kinh Phật. 3. Dễ dàng hiểu rõ chính nghĩa của giáo pháp đức Phật. 4. Tránh được tội hủy báng chánh pháp. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; Tây tạng (Đa điền Đẳng quán); A đề sa giáo học chi lịch sử đích vị trí (Phương thôn Tu cơ, Phật giáo sử học 2)].
Tam Sơn Đăng Lai
(三山燈來, Sanzan Tōrai, 1614-1685): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Vi Độ (葦度), hiệu Tam Sơn (三山), xuất thân Điếm Giang (墊江), Trùng Khánh (重慶, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tằng (曾). Đi thi cử không đỗ, ông chuyên tâm nghiên cứu Thiền học, đọc say sưa bộ Cổ Âm Lục (古音錄) cũng như Bình Sơn Lục (平山錄) của Tụ Tuyết Xuy Phương Quảng Chơn (聚雪吹風廣眞) và muốn trở thành con cháu của Tụ Tuyết. Vào năm thứ 6 (1643) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), lúc 30 tuổi, ông theo xuất gia với Nam Triết Nhị (南浙二) ở Phí Nham Sơn (弔嵓山). Năm sau, ông đến trú tại Đông Minh Tự (東明寺) ở Trung Châu (忠州, Tỉnh Tứ Xuyên), rồi chuyển đến Thạch Phong (石峰), tham bái Khánh Trung Thiết Bích Huệ Cơ (慶忠鐵壁慧機), nhưng chẳng khế ngộ, nên ông quay về đất Thục. Đến năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), lúc 35 tuổi, ông trở về tham yết Huệ Cơ lần thứ hai. Vào năm thứ 11 (1654) cùng niên hiệu trên, ông viếng thăm Huệ Cơ ở Trung Nam Ngọc Ấn Sơn (忠南玉印山), kế thừa dòng pháp của vị này và đến trú tại Sùng Thánh Viện (崇聖院), Trung Châu. Sau đó, ông đã từng sống qua một số nơi khác như Hưng Long Viện (興龍院), Ngũ Vân Viện (五雲院) và Ngũ Vân Bổn Viện (五雲本院) ở Huyện Lương Sơn (梁山縣), Phủ Quỳ Châu (夔州府, Tỉnh Tứ Xuyên), Bàn Thạch Sơn Đàm Hoa Viện (磐石山曇華院) ở Huyện Vân Dương (雲陽縣), Phủ Quỳ Châu, Thiên Ninh Viện (天寧院) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 18 tháng 7 năm thứ 24 (1685) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 43 hạ lạp. Tác phẩm của ông để lại có Tam Sơn Lai Thiền Sư Ngữ Lục (三山來禪師語錄) 16 quyển, Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu (五家宗旨纂要) 3 quyển, Cao Phong Tam Sơn Thiền Sư Sớ Ngữ (高峰三山禪師疏語) 3 quyển. Bên cạnh đó, ông có bản tự thuật về hành trạng và Tánh Thống (性統) soạn bản Niên Phổ.
tam sư
Ba loại thầy trong Phật giáo—Three kinds of teachers in Buddhism. 1) Luật Sư: Teacher of Vinaya. 2) Pháp Sư: Teacher of doctrine. 3) Thiền Sư: Teacher of the Intuitive school.
tam sư thất chúng
See Tam Sư Thất Chứng.
tam sư thất chứng
594三師與七證師之並稱。指比丘受具足戒時,戒場中必須具足之戒師人數。又作十師、十僧。三師即:(一)戒和尚,指正授戒律之和尚。乃比丘得戒之根本及其歸投處,故必至誠三請之。凡擔任戒和尚者,其戒臘須在十年以上,並嚴守戒法,具足智慧,堪能教授弟子。(二)羯磨師,即讀羯磨文之阿闍梨,主持白四羯磨授戒儀式。羯磨師為諸比丘受戒之正緣,若無羯磨師秉承聖法,則法界善法無從生起。擔任此職者,其戒臘須在五年以上。(三)教授師,即教授威儀作法,為眾人引導開解者。其戒臘亦須在五年以上。七證師則指證明受戒之七位蒞會比丘。凡此十師均須於受戒前恭請之。 在印度、中國,佛教較盛行而人口較稠密的「中國」地區,因其僧眾極多,故有十師之規定,至於「邊國」地區則僅須有三師二證等五師即可,此稱為「中十邊五」。然據雲雨鈔載,日本雖為海東之邊國,卻行「中國」之十師受戒之法。故日本之東大寺及唐招提寺戒壇,自古即行十師受戒之法。又受五戒時僅須和尚一人,受十戒時則須和尚、羯磨師二人即可。此外,湛然之授菩薩戒儀舉出,大乘菩薩戒之請師法,則異於上述四分律所說。即以釋迦如來為和尚,文殊為羯磨師,彌勒為教授師,一切如來為尊證師,一切菩薩為同學等侶;事實上擔任教授者,唯有傳教師一人。〔毘尼母經卷一、四分律卷三十一、五分律卷十七、摩訶僧祇律卷二十四〕(參閱「中國」1023)
; The three superior monks and a minimum of seven witnesses required for an ordination to full orders; except in outlandish places, when two witnesses are valid.
; Trong nghi thức truyền giới đầy đủ hay đại giới đàn phải có sự chứng minh của ba vị Tăng cao tuổi Hạ và bảy người chứng—For a full ordination or triple platform ordination, it is required three superior monks and a minimum of seven witnesses, except in outlandish places, two witnesses are valid. Witnesses are usually monks. (A) Tam sư gồm A xà lê, Giáo thọ và Hòa thượng trụ trì—Three superior monks include the Dharma master, the teaching spiritual advisor, and the most venerable (head of the ceremony). (B) Thất chứng gồm bảy vị sư: Seven witnesses include seven venerables
; (三師七證) Cũng gọi Thập sư, Thập tăng. Tam sư là 3 vị thầy, Thất chứng là 7 vị chứng minh. Chỉ cho số Giới sư phải có đủ trong giới tràng khi truyền giới Cụ túc cho tỉ khưu. Tam sư gồm: 1. Giới hòa thượng: Chỉ cho Hòa thượng chính trao truyền giới luật, vị này là gốc, là chỗ qui hướng để tỉ khưu được giới, cho nên phải chí thành cung thỉnh 3 lần. Người đảm nhiệm chức vị này phải có từ 10 hạ trở lên, là người nghiêm trì giới luật, đầy đủ trí tuệ, có khả năng dạy bảo đệ tử. 2. Yết ma sư: Vị A xà lê đọc văn Yết ma, chủ trì nghi thức bạch tứ Yết ma truyền giới. Yết ma sư là nhân duyên chính cho việc thụ giới của tỉ khưu; nếu không có Yết ma sư vâng theo thánh pháp thì pháp lành trong pháp giới không từ đâu sinh khởi. Người lãnh trách nhiệm này phải có từ 5 hạ trở lên. 3. Giáo thụ sư: Người dạy về uy nghi tác pháp, hương dẫn, mở đường hiểu biết cho các giới tử. Giáo thụ sư cũng phải có từ 5 hạ trở lên. Còn Thất chứng sư thì chỉ cho 7 vị tỉ khưu họp lại để chứng minh cho việc thụ giới. Tam sư thất chứng đều phải được cung thỉnh trước khi cử hành nghi thức thụ giới. Tại Ấn độ cũng như Trung quốc, ở những khu vực trung quốc (nơi trung tâm văn hóa), Phật giáo thịnh hành hơn, dân chúng cũng đông đúc, chư tăng cũng có nhiều nên mới qui định Thập sư; còn những nơi biên quốc hẻo lánh thì chỉ cần Ngũ sư, tức Tam sư nhị chứng là được, gọi là Trung thập biên ngũ. Nhưng khi thụ Ngũ giới thì chỉ cần 1 vị Hòa thượng, khi thụ Thập giới thì cần 1 vị Hòa thượng và 1 vị Yết ma sư là được. Ngoài ra, pháp Thỉnh sư thụ giới Bồ tát Đại thừa nói trong Thụ bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên khác với phép Thỉnh sư nói trong luật Tứ phần trình bày ở trên. Tức thỉnh đức Thích ca Như lai làm Giới hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma sư và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ sư, hết thảy Như lai làm Tôn chứng sư, tất cả Bồ tát làm bạn đồng học; nhưng trên thực tế thì chỉ có 1 vị Truyền giới sư đảm nhiệm việc giáo thụ. [X. kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.31; luật Ngũ phần Q.17; luật Ma ha tăng kì Q.24]. (xt. Trung Quốc).
tam sắc
550<一>指五根、五境、無表色等三種色法。(一)五根,即眼、耳、鼻、舌、身等五種色根。(二)五境,又稱五塵。乃依五根而取之色、聲、香、味、觸等五種境界。(三)無表色,又作無作色。係由種種行為(業)熏習身體之一種勢用,為無意之習性,此乃招感果報之因;故無表由身體(色性)之業而起,依身體而存在。〔大毘婆沙論卷一四○、大乘義章卷七〕(參閱「五根」1137、「五境」1171、「無表色」5097) <二>三種色之略稱。指顯色、形色、表色等三色。(一)顯色,即明顯可見之色,如青黃赤白、光影、明暗、煙雲塵露、虛空等色。(二)形色,即有形相可見者,如長短、方圓、粗細、高下等。(三)表色,即所行之事有相對之表相可見者,如行住坐臥、取捨、屈伸。〔五蘊論、三藏法數卷十一〕 <三>三藏法數卷十三以可見有對色、不可見有對色、不可見無對色等為三種色。(一)可見有對色,一切色塵,眼則可見,有對於眼。(二)不可見有對色,指五根四塵。眼識不可見而能對色,耳識不可見而能對聲,鼻識不可見而能對香,舌識不可見而能對味,身識不可見而能對觸。此五根皆指勝義根。聲、香、味、觸等四塵皆不可見,而有對於耳、鼻、舌、身,故稱不可見有對色。(三)不可見無對色,指無表色。意識緣於過去所見之境,稱為落謝;五塵雖於意識分別明了,皆不可見,亦無表對。〔雜阿含經卷十三、集異門足論卷三〕
; The three kinds of rùpa, or form-realms: the five organs (of sense), their objects, and invisible perceptions, or ideas.
; Three kinds of rupa—See Sắc (B).
; (三色) I. Tam Sắc. Chỉ cho 3 loại sắc pháp. 1. Ngũ căn: Tức 5 sắc căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. 2. Ngũ cảnh(cũng gọi Ngũ trần). Tức là 5 cảnh giới: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô biểu sắc(cũng gọi Vô tác sắc). Chỉ cho thế dụng của các hành vi(nghiệp)huân tập nơi thân thể, là các thói quen vô thức, mặc dù không biểu hiện ra ngoài, nhưng là nhân chiêu cảm quả báo, nương vào thân thể mà tồn tại. [X. luận Đại tì bà sa Q.140; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Ngũ Căn, Ngũ Cảnh, Vô Biểu Sắc). II. Tam Sắc. Gọi đủ: Tam chủng sắc. 1. Hiển sắc: Sắc rõ ràng trông thấy được, như vàng xanh đỏ trắng, sáng tối, khói mây, bụi sương mù, hư không... 2. Hình sắc: Có các hình tướng trông thấy được, như dài ngắn, vuông tròn, to nhỏ, cao thấp... 3. Biểu sắc: Những việc sở hành có tướng tương đối biểu hiện ra ngoài có thể trông thấy, như đi đứng ngồi nằm, co duỗi, lấy bỏ... [X. luận Ngũ uẩn; Tam tạng pháp số Q.11]. III. Tam Sắc. Chỉ cho 3 loại sắc nói trong Tam tạng pháp số quyển 13, đó là: 1. Khả kiến hữu đối sắc: Tất cả các sắc trần, mắt thấy được(khả kiến), có đối ở trước. 2. Bất khả kiến hữu đối sắc: Chỉ cho 5 căn 4 trần. 3. Bất khả kiến vô đối sắc: Chỉ cho Vô biểu sắc. Ý thức duyên theo cảnh đã thấy trong quá khứ, gọi là Lạc tạ(tàn lụi).[X. kinh Tạp a hàm Q.13, luận Tập dị môn túc Q.3].
tam sở y
567指因緣、增上緣、等無間緣三依。為法相宗之教義。又作三種所依。係心、心所生起作用時,所依靠之三種緣,相當於四緣中所緣緣以外之三緣,即:(一)因緣依(梵 hetu-pratyaya),又作種子依、根本依。指產生心、心所直接因緣之第八阿賴耶識(所依)中之種子。因緣依廣指通於一切有為法,而種子依則僅限於種子。 (二)增上緣依(梵 adhipati-pratyaya),又作俱有依、俱有所依。係指與心、心所同時存在,而為其所依,給予力量起作用之緣。如眼等五根即是。此可分為四依,即:(1)同境依,前五識以五根為同境依。(2)分別依,指第六識,因意識有分別,故稱分別依。(3)染淨依,指第七末那識。諸識之染污、清淨,均依末那識。(4)根本依,指第八阿賴耶識。此識為起諸識之根本。其中,前五識具此四依,第六識具染淨、根本依,第七識僅具根本依,第八識以染淨依為俱有依。但護法認為所依與依之區別在「依」是廣通於一切有為法,而「所依」則僅限於六根。其後歷來諸家大多以之為正義。 (三)等無間緣依(梵 samanantara-pratyaya),又作開導依。指避開現行位,引導後念心、心所,使其順序生起之前滅意根。為八識在前念消滅時之自類心與心所。四緣中之等無間緣廣通於心所,但開導依則僅限於心王。〔瑜伽師地論卷一、成唯識論卷四、成唯識論掌中樞要卷下本、成唯識論了義燈卷四末、成唯識論述記卷四末〕(參閱「開導依」5313)
; (三所依) Cũng gọi Tam chủng sở y. Ba chỗ nương, tức chỉ cho Nhân duyên, Tăng thượng duyên và Đẳng vô gián duyên. Ba loại duyên này là chỗ nương của tâm và tâm sở khi sinh khởi tác dụng. Đây là giáo nghĩa của tông Pháp tướng. 1. Nhân duyên y (Phạm: Hetupratyaya), cũng gọi Chủng tử y, Căn bản y. Chỉ cho chủng tử trong thức A lại da thứ 8 (Sở y) làm nhân duyên trực tiếp sinh ra tâm và tâm sở. Nhân duyên y là chỗ nương chung cho tất cả pháp hữu vi, còn Chủng tử y thì chỉ giới hạn cho chủng tử. 2. Tăng thượng duyên y (Phạm: Adhipati-pratyaya), cũng gọi Câu hữu y, Câu hữu sở y. Chỉ cho các duyên đồng thời tồn tại với tâm và tâm sở, vừa làm chỗ nương vừa cung cấp năng lực cho tâm, tâm sở để sinh khởi tác dụng. Như 5 căn mắt, tai... chính là Tăng thượng duyên y. Duyên này được chia làm 4 y: a. Đồng cảnh y: Năm thức trước lấy 5 căn làm Đồng cảnh y. b. Phân biệt y: Chỉ cho thức thứ 6, vì Ý thức thứ 6 có phân biệt nên gọi là Phân biệt y. c. Nhiễm tịnh y: Chỉ cho thức Mạt na thứ 7. Sự nhiễm ô và thanh tịnh của các thức đều lấy thức Mạt na làm chỗ nương. d. Căn bản y: Chỉ cho thức A lại da thứ 8. Thức này là gốc sinh khởi các thức. Trong đó, 5 thức trước có đủ cả 4 y, thức thứ 6 có Nhiễm tịnh y và Căn bản y, thức thứ 7 chỉ có Căn bản y, thức thứ 8 lấy Nhiễm tịnh y làm Câu hữu y. Nhưng, ngài Hộ pháp cho rằng sự khác nhau giữa Sở y và Y là ở chỗ Y là chung cho tất cả pháp hữu vi, còn Sở y thì chỉ hạn cuộc ở 6 căn. Từ đó về sau, các nhà phần nhiều cho đó là chính nghĩa. 3. Đẳng vô gián duyên y (Phạm: Samanantara-pratyaya), cũng gọi Khai đạo y. Chỉ cho ý căn của niệm trước diệt đi, nhường chỗ cho tâm và tâm sở của niệm sau sinh khởi, không gián đoạn. Đẳng vô gián duyên trong 4 duyên thì chung cho các tâm sở, còn Khai đạo y thì chỉ hạn cuộc ở tâm vương. [X. luận Du già sư địa Q.1; luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần cuối].(xt. Khai Đạo Y).
tam sứ
The three (divine) messengers - birth, sickness, death. Also thiên sứ.
Tam sự
三事; C: sānshì; J: sanji;|Có nhiều cách phân loại: 1. Giới, định và huệ; 2. Tham, sân, si; 3. Uống, ăn và quần áo (ẩm, thực, y phục 飲食衣服); 4. Kinh, luật, luận.
tam sự giới
558據大寶積經卷一一七載,身、言、意三種淨戒,稱為三事戒。(一)身淨戒,謂身受諸戒而無缺漏毀犯。(二)言淨戒,謂一切所說語言無有諛諂虛誑不實。(三)意淨戒,謂捨除惡覺,離諸貪欲。
; The commands relating to body, speech andmind.
; Giới liên hệ tới thân, khẩu và ý—The commands relating to body, speech and mind (thân khẩu và ý).
; (三事戒) Chỉ cho 3 thứ tịnh giới: Thân giới, Ngôn giới và Ý giới nói trong kinh Đại bảo tích quyển 117. 1. Thân tịnh giới: Thân thụ các giới, không thiếu sót, hủy phạm. 2. Ngôn tịnh giới: Tất cả lời nói đều chân thật, không nịnh hót, lừa gạt. 3. Ý tịnh giới: Trừ bỏ ác ý, xa lìa tham dục.
tam sự nhân thắng chư thiên
558據大毘婆沙論卷一七二載,人道勝於天道者有三,即:(一)能勇猛,諸天耽嗜欲樂,不復進修;人雖不見當來之果,而能修諸苦行,精進不怠,勇猛勝於諸天。(二)能憶念,諸天耽嗜欲樂,慧性常惛;人能憶記曩久所作所說之事,了了分明,悉無忘失,憶念勝於諸天。(三)能梵行,諸天耽嗜欲樂,不復增修善業;人初發心時,能種殊勝善根,受持戒律,行業清淨,梵行勝於諸天。
; (三事人勝諸天) Có 3 việc mà cõi người hơn cõi trời theo luận Đại tì bà sa quyển 172. Đó là: 1. Năng dũng mãnh: Các trời đam mê vui sướng, không chịu tiến tu nữa; còn loài người tuy không trông thấy quả ở đương lai, nhưng lại chịu khó tiến tu không biếng nhác, dũng mãnh hơn các trời.2. Năng ức niệm: Các trời mê đắm dục lạc, tuệ tính thường mờ tối, còn loài người có khả năng ghi nhớ những việc làm và lời nói rất lâu, phân biệt rõ ràng, thường không quên mất, nhớ dai hơn các trời. 3. Năng phạm hạnh: Các trời say đắm thú vui, không tu thiện nghiệp thêm nữa; con người khi mới phát tâm, thường vun trồng gốc lành thù thắng, thụ trì giới luật, hành nghiệp thanh tịnh, phạm hạnh hơn các trời.
tam sự nạp
A term for a monk's robe of five, seven, or nine patches.
tam sự thắng ☸ bồ tát sinh đâu suất thiên tam sự thắng
〖出涅槃經〗菩薩當補佛處,故生兜率。梵語兜率,華言知足。謂於五欲境界知止足故。(五欲者,色欲、聲欲、香欲、味欲、觸欲也。)〔一、命勝〕,菩薩已離三界生死,雖不修命業,而於彼天託生。天數壽命四千歲。天壽畢已,降生中國,以補佛處,是名命勝也。(三界者,欲界、色界、無色界也。)〔二、色勝〕,菩薩雖不修色業,既生兜率,而妙色身光明照耀,自然莊嚴,異諸天眾,是名色勝也。〔三、名勝〕,佛本行集經云:菩薩既生兜率,其諸天眾,即喚菩薩名為護明,展轉稱喚,其聲上徹淨居,乃至色界天頂,是名名勝也。(護明,釋迦佛也。從迦葉佛時,護持禁戒,梵行清淨,命終生天,不失本心,不忘宿行,故曰護明。)
tam sự tính tướng
Xem Tam tính.
tam sự vô tận
558據眾德三昧經卷三載,菩薩修道之三種無盡,稱為三事無盡。即:(一)布施無盡,菩薩好為布施,乃至身命亦能施與而心不厭捨。(二)持戒無盡,菩薩護持禁戒,未曾違捨,見犯戒者憐愍悲哀,見奉戒者尊重愛敬。復以戒法化益眾生,心不疲厭。(三)博聞無盡,菩薩思欲化他,博學一切經典,乃至諳練世間藝術,而心永不疲厭。
; (三事無盡) 1. Bố thí vô tận: Bồ tát thích bố thí, cho đến bố thí cả thân mệnh mà tâm cũng không chán bỏ. 2. Trì giới vô tận: Bồ tát hộ trì giới cấm, chưa hề trái phạm, thấy người phạm giới thì thương tiếc xót xa, thấy người giữ giới thì tôn trọng quí kính, lại dùng giới pháp giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, tâm không chán mệt. 3. Bác văn vô tận: Bồ tát muốn giáo hóa chúng sinh, nghe nhiều học rộng tất cả kinh điển, thậm chí luyện tập các nghệ thuật thế gian mà tâm không bao giờ mỏi mệt chán nản.
Tam Tai
(三災): ba loại tai ách, gồm tiểu tam tai và đại tam tai, còn gọi là Tam Tai Kiếp (三災刼). Thế giới nương theo 4 thời kỳ: Thành Kiếp (成刼, thời kỳ thành lập), Trụ Kiếp (住刼, thời kỳ tồn tục), Hoại Kiếp (壞刼, thời kỳ hoại diệt) và Không Kiếp (空刼, thời kỳ trống không) mà tuần hoàn vô cùng tận, không ngừng nghỉ. Trong đó, chúng hữu tình xuất hiện ở thời kỳ nhất định của Trụ Kiếp; đến thời kỳ cuối cùng của Hoại Kiếp thì thế giới hoàn toàn bị hoại diệt. Trong hai thời kỳ Trụ và Hoại, có 3 loại tai ách xảy ra. Theo thuyết của Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 12 có (1) Tiểu Tam Tai (小三災): Trụ Kiếp chia thành 20 thời kỳ, tuổi thọ của loài hữu tình từ 80.000 đến 10 tuổi, tăng giảm lui tới khoảng 20 lần, phát sanh 3 loại tai ách như nạn đao binh chém giết lẫn nhau, tai họa dịch bệnh, nạn đói kém, v.v. (2) Đại Tam Tai (大三災): Hoại Kiếp chia thành 20 thời kỳ, nơi kiếp cuối cùng thế giới bắt đầu hoại diệt và dẫn đến thiên tai như về lửa (phá hoại Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Nhất), nước (cho đến Cõi Thiền Thứ Hai) và gió (hoại diệt cho đến Cõi Thiền Thứ Ba). Như vậy 3 tai ách về lửa, nước và gió được gọi là Kiếp Hỏa (刼火), Kiếp Thủy (刼水) và Kiếp Phong (刼風). Sự phát sanh Tam Tai này theo thứ tự nhất định, nghĩa là trước hết tai ách về lửa hoại diệt 10 lần, sau đó đến tai ách về nước hoại diệt 1 lần, cứ tuần hoàn như vậy trải qua 7 lần, rồi lại bị tai ách về lửa hoại diệt 7 lần nữa và cuối cùng là sự hoại diệt của tai ách về gió. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 1 cho biết: (1) Tiểu Tam Tai có tai ách đói kém (tuổi thọ con người từ 84.000 tuổi, mỗi 100 năm giảm xuống 1 tuổi, cho đến khi còn 30 tuổi thì nảy sinh hạn hán lớn không có mưa, cỏ cây không mọc được, trên đời vô số người chết vì đói khát); tai ách dịch bệnh (tuổi thọ con người giảm xuống còn 20, các bệnh hoạn sinh khởi, trên đời vô số người chết vì dịch bệnh); và tai ách đao binh (khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10, mọi người bắt đầu đấu tranh lẫn nhau, tay cầm cỏ cây cũng thành đao gậy, tàn sát nhau và vô số người chết vì đao binh). (2) Đại Tam Tai có tai ách về lửa (vào thời Hoại Kiếp, đại địa và núi Tu Di dần dần băng hoại, nước của 4 biển lớn cũng từ từ cạn đi, Cõi Dục và Cõi Thiền Thứ Nhất đều bị cháy rụi, chẳng còn chút nào); tai ách về nước (từ Cõi Thiền Thứ Nhất trở xuống trải qua 7 lần bị hỏa tai, thế giới lại hình thành, đến thời Hoại Kiếp có trận mưa lớn, giọt mưa to như trục xe, nước từ trong lòng đất phun ra ồ ạt, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Hai nước tràn đầy, tất cả đều bị hoại diệt); và tai ách về gió (từ Cõi Thiền Thứ Hai trở xuống trải qua 7 lần bị tai ách về nước, rồi thêm 7 lần bị tai ách về lửa, hoàn toàn tiêu diệt, cho đến khi thế giới được hình thành lại, đến thời Hoại Kiếp, có con gió mạnh dấy lên, và do nghiệp của chúng sanh đã hết, nên nơi nơi đều có gió, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Ba đều bị thổi bay tung, quét sạch không còn gì cả).
tam tai
xem ba tai kiếp lớn.
; 554即小三災、大三災。又作三災劫。世界係依成劫(成立期)、住劫(存續期)、壞劫(破壞期)與空劫(空漠期)等四期無窮地循環不息。其中,有情出現於住劫之一定期;至壞劫之終末期,世界全遭破壞。在住、壞二劫中,分別有三種災厄。 <一>據俱舍論卷十二之說。(一)小三災:住劫分二十期,有情之壽命在八萬歲至十歲間反覆增減約二十回(最初為減劫,最後為增劫。每至人壽減至十歲以下,則發生一災厄,共有刀兵災(互用兇器殺害)、疾疫災(惡病流行)、饑饉災(由旱災起饑饉)等三種。 (二)大三災:壞劫分為二十期,於最後一劫世界即開始壞滅而引起天災,即:火災(壞欲界至初禪天)、水災(流失至第二禪天)與風災(破壞至第三禪天)。以上火、水、風,分別稱為劫火、劫水、劫風。三災之發生,其順序一定。即初以火災壞滅七回後,再以水災壞滅一回;如此以火災七回、水災一回,反覆經七次後,再以火災壞滅七回,最後即以風災壞滅殆盡。〔長阿含卷六轉輪聖王修行經、卷二十一「三災品」、起世經卷九、大樓炭經卷五、優婆塞戒經卷七、大毘婆沙論卷一一三、俱舍論光記卷十二〕(參閱「劫」2811) <二>據法苑珠林卷一所載。(一)小三災:(1)饑饉災,人壽由八萬四千歲,每百年減一歲,減至三十歲時,大旱不雨,草菜不生,世間無量人民饑饉而死。(2)疾疫災,人壽減至二十歲時,諸病皆起,世間無量人民疾疫而死。(3)刀兵災,人壽減至十歲時,諸人各起鬥爭,手執草木即成刀杖,互相殘害,世間無量人民死於刀兵。 (二)大三災:(1)火災,壞劫之時,有七日出現,大地須彌山漸漸崩壞,四大海水輾轉消盡,欲界及初禪天皆悉洞燃,無有遺餘。(2)水災,初禪以下經過七回火災,世界復成,又於壞劫之時,漸降大雨,滴如車軸,更兼地下水輪湧沸上騰,欲界乃至二禪天水皆瀰滿,一切壞滅,如水消鹽。(3)風災,二禪以下經過七回水災,又經七回火災壞於世間,至世界復成,又於壞劫之時,從下風輪有猛風起,兼以眾生業力盡故,處處生風,欲界乃至三禪天悉皆飄擊,蕩盡無餘。〔瑜伽師地論卷二〕
; The three calamities; they are of two kinds minor tiểu tai and major đại tai. The minor appearing during a decadent world period, are sword đao binh tai, pestilence tật dịch tai, and famine cơ cẩn tai; the major, for world destruction, are fire hỏa tai, water thủy tai and wind phong tai.
; Three calamities or three final catastrophes: 1) Phong Tai: Storm—See Phong Tai. 2) Thủy Tai: Water—See Thủy Tai. 3) Hỏa Tai: Fire—See Hỏa Tai.
; (三灾) Cũng gọi Tam tai kiếp. Tam tai có 2 thứ là Tiểu tam tai và Đại tam tai. Thế giới tuần hoàn theo 4 chu kì là Thành kiếp(thời kì thành lập), Trụ kiếp(thời kì tồn tục), Hoại kiếp(thời kì phá hoại) và Không kiếp(thời kì rỗng không). Trong đó, loài hữu tình xuất hiện trong 1 thời kì nhất định ở Trụ kiếp, đến thời kì cuối cùng của Hoại kiếp thì thế giới hoàn toàn bị phá hoại. Trong Trụ kiếp và Hoại kiếp lần lượt xảy ra 3 tai ách. I. Theo thuyết của luận Câu xá quyển 12:1. Tiểu tam tai: Kiếp Trụ được chia làm 20 thời kì, tuổi thọ của loài hữu tình từ 8 vạn tuổi giảm dần xuống đến lúc còn 10 tuổi, lại tăng dần lên đến 8 vạn tuổi, cứ như thế tăng giảm lên xuống, lập đi lập lại khoảng 10 lần(đầu tiên là Kiếp giảm, cuối cùng là Kiếp tăng). Mỗi lần tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 10 tuổi, thì xảy ra 1 tai ách, gồm có 3 thứ: Đao binh tai (dùng các thứ vũ khí giết hại lẫn nhau), Tật dịch tai(các loại bệnh dịch lưu hành) và Cơ cận tai(nạn hạn hán mất mùa đói kém)... gọi là Tiểu tam tai. 2. Đại tam tai: Hoại kiếp được chia làm 20 thời kì, vào thời kiếp cuối cùng thì thế giới bắt đầu hoại diệt và sinh ra thiên tai, gồm Hỏa tai(thiêu hủy từ cõi Dục đến các cõi trời Sơ thiền), Thủy tai(nước cuốn trôi và dâng lên đến các cõi trời Nhị thiền) và Phong tai(thổi bay tất cả cho đến các cõi trời Tam thiền). Sự phát sinh Đại tam tai theo 1 trình tự nhất định. Tức đầu tiên là Hỏa tai hủy diệt thế giới 7 lần, sau đó đến Thủy tai hủy diệt 1 lần; cứ như thế lập đi lập lại 7 lần, cuối cùng thì Phong tai thổi bay tất cả, thế giới không còn gì nữa, gọi là Đại tam tai. [X. kinh Chuyển luân vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; phẩm Tam tai trong kinh Trường a hàm Q.21; kinh Khởi thế Q.9; kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.13; Câu xá luận quang kí Q.12]. (xt. Kiếp). II. Theo thuyết trong Pháp uyển châu lâm quyển 1. 1. Tiểu tam tai: a. Cơ cận tai: Nạn đói kém. Con người thọ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm đi 1 tuổi, cho đến khi giảm xuống còn 30 tuổi thì hạn hán xảy ra, trời không mưa, cây cỏ không mọc, vô lượng nhân dân trong thế gian chết vì đói kém. b. Tật dịch tai: các loại bệnh dịch lưu hành. Khi tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 20 tuổi thì các chứng bệnh dịch xảy ra, vô lượng nhân dân ở thế gian phải chết.c. Đao binh tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi thì xảy ra chiến tranh, mọi người dùng dao gậy đánh chém, tàn sát lẫn nhau, vô lượng nhân dân ở thế gian chết vì chiến tranh. 2. Đại tam tai: a. Hỏa tai: Đến kiếp hoại, có 7 mặt trời xuất hiện, mặt đất và núi Tu di dần dần sụp đổ, nước 4 biển lớn cạn hết, cõi Dục và các cõi trời Sơ thiền đều bị cháy tiêu, không sót 1 vật. b. Thủy tai: Từ cõi trời Sơ thiền trở xuống bị lửa thiêu hủy 7 lần, thế giới lại thành, vào thời kiếp Hoại, dần dần có mưa lớn, hạt nước to bằng bánh xe, lại thêm thủy luân dưới đất phun vọt lên, từ cõi Dục đến các tầng trời Nhị thiền đều bị nước tràn ngập, tất cả đều hoại diệt, như hạt muối tan trong biển nước. c. Phong tai: Từ cõi trời Nhị thiền trở xuống trải qua 7 lần thủy tai, rồi lại trải qua 7 lần hỏa tai phá hủy cõi thế gian, đến khi thế giới hình thành trở lại, rồi vào thời kiếp Hoại, từ phía dưới phong luân có gió mạnh nổi lên, cộng thêm với nghiệp lực của chúng sinh đã hết nên mọi nơi đều nổi gió, từ cõi Dục cho đến các tầng trời Tam thiền thảy đều bị thổi bay, hết sạch không sót 1 vật gì. [X. luận Du già sư địa Q.2].
tam tam muội
520梵語 trayaḥ samādhayaḥ,巴利語 tayo samādhī。又稱三三摩地、三等持、三定。指三種三昧。三昧,禪定之異稱。依大乘義章卷十三載,心體寂靜,離於邪亂,稱為三昧。此三昧分有漏、無漏二種,有漏定為三三昧,無漏定為三解脫門。三三昧之分類有下列四種: <一>據增一阿含經卷十六等之說,即:(一)空三昧(梵 śūnyatā-samādhi),即觀一切諸法皆悉空虛,為與苦諦之空、無我二行相相應之三昧,觀諸法為因緣所生,我、我所二者皆空。(二)無相三昧(梵 animitta-samādhi),即一切諸法皆無想念,亦不可見,為與滅諦之滅、靜、妙、離四行相相應之三昧。涅槃離色聲香味觸五法、男女二相,及三有為相之十相,故稱無相。(三)無願三昧(梵 apraṇihita-samādhi),又作無作三昧、無起三昧。對一切諸法無所願求,為與苦諦之苦、無常二行相,集諦之因、集、生、緣四行相相應之三昧。非常、苦、因等可厭患,故道如船筏,必應捨之;能緣彼定故,得無願之名。〔北本大般涅槃經卷二十五、大毘婆沙論卷一○四、俱舍論卷二十八、成唯識論卷八、俱舍論光記卷二十八〕 <二>俱舍論卷二十八所論之三三摩地。即:(一)有尋有伺三摩地(又作有覺有觀三昧),係與尋伺相應之等持,為初靜慮與未至定所攝。(二)無尋唯伺三摩地(又作無覺有觀三昧),係唯與伺相應之等持,為靜慮中間地所攝。(三)無尋無伺三摩地(又作無覺無觀三昧),係不與尋伺相應之等持,由第二靜慮之近分,乃至非想非非想所攝。以上,心之粗者稱為尋,細者則為伺。〔大智度論卷二十三、瑜伽師地論卷十二、順正理論卷七十九〕 <三>成實論卷十二所說之三三昧。即:(一)一分修三昧,修定不修慧,或修慧不修定。(二)共分修三昧,修定亦修慧,為世間三昧,在煖等法之中。(三)聖正三昧,入於法位而能證滅諦之三昧,稱為聖正三昧。行者以定修心,因慧能遮煩惱;以慧修心,因定能遮煩惱。以定慧修心,因性得解脫性;又以定慧一時具足,故稱聖正。 <四>法華經玄義卷四所言之三三昧為:(一)真諦三昧,破見思垢。(二)俗諦三昧,破惡業垢、塵沙垢。(三)中道三三昧,破無明垢。〔佛地經論卷一、雜阿毘曇心論卷七、注維摩經卷四、法華玄義釋籤卷五上、摩訶止觀卷七之上〕(參閱「三昧」580)
; Trayah-samadhayah (S).
; The three samadhis or the samadhi on the three subjects: 1) Không tam muội: Thẩm định về lẽ không—To empty the mind of the ideas of me and mine and suffering, which are unreal. 2) Vô tướng tam muội: Thẩm định về lẽ không có tướng—To get rid of the idea of form, or externals. 3) Nguyện tam muội: Thẩm định về lẽ không nguyện cầu—To get rid of all wish or desire.
; (三三昧) Phạm: Traya# samàdhaya#. Pàli:Tayo samàdhì. Cũng gọi Tam tam ma địa, Tam đẳng trì, Tam định. Chỉ cho 3 loại Tam muội. 1. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 16 thì 3 loại Tam muội là: a). Không tam muội (Phạm: Sùnyatàsamàdhi): Quán xét hết thảy các pháp đều rỗng không, là Tam muội tương ứng với 2 hành tướng Không và Vô ngã của Khổ đế, quán các pháp do nhân duyên sinh, ngã và ngã sở đều là không. b). Vô tướng tam muội (Phạm: Animitta-samàdhi): Tức tất cả các pháp đều không tưởng niệm, cũng không thể thấy, là Tam muội tương ứng với 4 hành tướng diệt, tĩnh, diệu, li của Diệt đế. Niết bàn lìa 5 pháp sắc thanh hương vị xúc, 2 tướng nam, nữ và 10 tướng của 3 tướng hữu vi, cho nên gọi là Vô tướng. c). Vô nguyện tam muội (Phạm: Apraịihita-samàdhi), cũng gọi Vô tác tam muội; Vô khởi tam muội. Nghĩa là đối với tất cả các pháp không có mong cầu gì, là Tam muội tương ứng với 2 hành tướng khổ và vô thường của Khổ đế, với 4 hành tướng nhân, tập, sinh, duyên của Tập đế. Các pháp vô thường, khổ, nhân... đều đáng chán xa, cho nên đạo như thuyền bè cần phải xả bỏ, vì thường xuyên theo định ấy nên có tên là Vô nguyện. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.104; luận Câu xá Q.28; luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.28]. 2. Theo luận Câu xá quyển 28 thì 3 loại Tam muội là: a). Hữu tầm hữu tứ tam ma địa(cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội): Đẳng trì tương ứng với Tầm, Tứ, thuộc về Sơ tĩnh lự và Vị chí định. b). Vô tầm duy tứ tam ma địa (cũng gọi Vô giác hữu quán tam muội): Đẳng trì chỉ tương ứng với Tứ, thuộc về Tĩnh lự trung gian địa. c). Vô tầm vô tứ tam ma địa(cũng gọi Vô giác vô quán tam muội): Đẳng trì không tương ứng với Tầm và Tứ, thuộc về Cận phần của Đệ nhị tĩnh lự cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trên đây, tâm thô gọi là Tầm(tìm cầu), tâm tế gọi là Tứ(dò xét). [X. luận Đại trí độ Q.23, luận Du già sư địa Q.12; luận Thuận chính lí Q.79]. 3. Theo luận Thành thực quyển 12 thì 3 loại Tam muội là: a). Nhất phần tam muội: Tu định không tu tuệ, hoặc tu tuệ không tu định. b). Cộng phần tu tam muội: Vừa tu định vừa tu tuệ, là Tam muội thế gian, thuộc trong các pháp như Noãn (...). c.) Thánh chính tam muội: Tam muội nhập vào pháp vị và chứng được Diệt đế. Hành giả dùng định tu tâm, nhờ tuệ ngăn dứt phiền não; dùng tuệ tu tâm, nhờ định ngăn dứt phiền não. Dùng cả định lẫn tuệ tu tâm, nhờ tính mà được tính giải thoát; lại vì định tuệ cùng lúc đầy đủ, nên gọi là Thánh chính. 4. Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4 thì 3 loại Tam muội là: a). Chân đế tam muội: Phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc cấu uế. b). Tục đế tam muội: Phá trừ ác nghiệp cấu uế, Trần sa cấu uế. c). Trung đạo tam muội: Phá trừ vô minh cấu uế. [X. Phật địa kinh luận Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; Chú duy ma kinh Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.5, thượng; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].
tam tam muội (địa)
The three samàdhi, or the samàdhi on three subjects; also called tam định, tam đẳng trì, tam trị; tam giải thoát môn, tam chủng tam muội; tam chủng đẳng trì. There are two forms of such meditation, that of hữu lậu reincarnational, or temporal, called tam tam muội; and that of vô lậu liberation, or nirvàna called tam giải thoát. The three subjects and objects of the meditation are: (1) Không to empty the mind of the ideas of me and mine and suffering, which are unreal; (2) Vô tướng to get rid the idea of form, or externals, i.e. the thập tướng which are the five senses, male and female, and the three hữu; (3) Vô nguyện to get rid of all wish or desire, also termed vô tác, vô khởi.
tam tam muội da
521梵語 tri-samayaḥ。<一>三者皆為三昧耶之意。三昧耶,平等之義。如謂身、語、意三密等諸種三法平等而圓融無礙,稱為三三昧耶,故又稱三平等。另如心智悲、佛法僧、法報應三身等亦皆稱三三昧耶。〔大日經卷六三三昧耶品、大日經疏鈔卷四、大日經義釋演密鈔卷十〕 <二>三種三昧耶,即密教修胎藏法時之入佛三昧耶、法界生、轉法輪等三部三昧耶之印明。即:(一)入佛三昧耶,表示託佛之聖胎,成為佛子,而入於如來平等戒之義。(二)法界生,表示既具足聖胎,生於佛家,無盡莊嚴悉與如來平等之義。(三)轉法輪,表示佛子生長,成金剛薩埵,具足二利之金剛事業,無盡莊嚴悉與如來等同之義。如是,三種印明皆具平等之義,故稱三三昧耶。三昧耶,又稱三摩耶,具有平等、本誓、除障、驚覺等四義。〔大日經卷二具緣品、大日經疏卷九、胎藏入理鈔卷上〕(參閱「三摩耶」672) <三>三部三昧耶之略稱。指密教胎藏界之蓮華部三昧耶、金剛部三昧耶、佛部三昧耶。(一)蓮華部三昧耶,指自身中本有的清淨菩提心之理,此理雖存於六道四生之生死泥中,然不染不垢,猶如泥中之蓮,故稱蓮華部三昧耶。(二)金剛部三昧耶,指本有理心之智,此智沒在生死海中,雖經無數劫,然不朽不壞,而可破諸煩惱,猶如金剛之破怨敵,故稱金剛部三昧耶。(三)佛部三昧耶,前二部猶屬凡位,故理智未顯;若理智具足,覺道圓滿,則稱佛部。又前二部為在纏之因位,佛部則為出纏之果位。上記係胎藏界之說相,若於金剛界中,則於三部之外,另加寶部、羯磨部,而為五部三昧耶。
; (三三昧耶) Phạm: Tri-samaya#. I. Tam Tam Muội Da. Cả 3 pháp đều là Tam muội da. Tam muội da nghĩa là bình đẳng, như Tam mật thân, ngữ, ý cả 3 pháp đều bình đẳng và viên dung vô ngại, gọi là Tam tam muội da, cũng gọi là Tam bình đẳng. Ngoài ra, tâm trí bi, Phật pháp tăng, pháp báo ứng(3 thân)... cũng đều gọi là Tam tam muội da. [X. phẩm Tam tam muội da trong kinh Đại nhật Q.6; Đại nhật kinh sớ sao Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.10]. II. Tam Tam Muội Da. Chỉ cho 3 loại Tam muội da. Tức là ấn tướng và chân ngôn của 3 bộ Tam muội da: Nhập Phật tam muội da, Pháp giới sinh và Chuyển pháp luân khi tu pháp Thai tạng giới của Mật giáo. 1. Nhập Phật tam muội da: Biểu thị ý nghĩa gá vào thánh thai của Phật, trở thành Phật tử mà nhập vào bình đẳng giới của Như lai. 2. Pháp giới sinh: Biểu thị ý nghĩa thánh thai đã đầy đủ, sinh ra trong nhà Phật, hết thảy đều trang nghiêm và bình đẳng với Như lai. 3. Chuyển pháp luân: Biểu thị ý nghĩa con Phật lớn lên, thành Kim cương tát đỏa, đầy đủ sự nghiệp kim cương tự lợi, lợi tha hết thảy đều trang nghiêm và bình đẳng với Như lai. Ba loại ấn minh trên đều có nghĩa bình đẳng như thế, cho nên gọi là Tam tam muội da. Tam muội da cũng là Tam ma da, có đủ 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và tỉnh biết. [X. Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.9; Thai tạng nhập lí sao Q.thượng]. (xt. Tam Ma Da). III. Tam Tam Ma Da. Gọi đủ: Tam bộ tam muội da. Chỉ cho 3 bộ Tam muội da: Liên hoa, Kim cương và Phật bộ thuộc Thai tạng giới của Mật giáo. 1. Liên hoa bộ tam muội da: Chỉ cho lí tâm bồ đề thanh tịnh vốn có trong thân mình, lí ấy tuy ở trong bùn sinh tử của 4 loài 6 đường nhưng vẫn không bị nhơ nhuốm, giống như hoa sen mọc lên từ vũng bùn mà vẫn thanh khiết, vì thế gọi là Liên hoa bộ tam muội da. 2. Kim cương bộ tam muội da:Chỉ cho trí của lí tâm vốn có, trí này chìm trong biển sinh tử, tuy trải qua vô số kiếp nhưng vẫn không mất, mà lại có năng lực diệt trừ các phiền não, giống như Kim cương có công năng phá tan các vật khác, vì thế gọi là Kim cương bộ tam muội da. 3. Phật bộ tam muội da: Hai bộ Liên hoa và Kim cương ở trên vẫn còn thuộc địa vị phàm phu, lí và trí chưa hiển bày; nếu lí trí đầy đủ, giác đạo viên mãn thì gọi là Phật bộ. Hai bộ trước thuộc nhân vị tại triền(còn trong giai đoạn tu nhân và bị trói buộc), còn Phật bộ thì thuộc quả vị xuất triền.
tam tam pháp môn
519指要門、真門、弘願門三門。係日本淨土真宗依三經、三願、三機、三往生等名數所組織之教理。又作六三分別、六種三法。前二為方便門,後者為真實門。(一)要門,指自己所修各種善行以迴向淨土之教,意謂「依少善根福德因緣之教」,故又稱福德藏。此教出自彌陀四十八願中之第十九願(至心發願願),係觀無量壽經所說;受教對象須具備邪定聚之根機(定散二善之機),而往生彌陀之化土,稱為雙樹林下往生。「雙樹林下」係表彌陀之化土,取自釋尊入滅之沙羅雙樹之名。 (二)真門,指依自己稱念佛名之力以往生淨土之教。意謂「依不可思議功德(即名號)之教」,故又稱功德藏。此教乃出自彌陀四十八願中之第二十願(至心迴向願),係阿彌陀經所說;受教對象須具不定聚之根機(自力念佛之機)而往生於彌陀之化土,稱為難思往生。「難思」意即不可以思量慮及,指依名號功德所感之果,難以思量,由於此一往生較其次之「難思議往生」為淺,故省略一「議」字。 (三)弘願門,指盡捨自力往生淨土之心,而全然依憑彌陀本願之教。意謂「具備佛之福德與智慧二莊嚴之教」,故又稱福智藏。此教乃出自彌陀四十八願中之第十八願(至心信樂願),為無量壽經所說;受教對象須具正定聚之根機(弘願念佛之機),而往生彌陀之報土,稱為難思議往生。「難思議」表示因與果均非凡智所能慮及。
; (三三法門) Cũng gọi Lục tam phân biệt, Lục chủng tam pháp. Chỉ cho 3 môn: Yếu môn, Chân môn, và Hoằng nguyện môn, là giáo lí do Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản dựa theo các danh số như Tam kinh, Tam nguyện, Tam sơ, Tam vãng sinh... mà tổ chức thành. Hai môn trước thuộc về môn Phương tiện, môn thứ 3 thuộc về môn Chân thực. 1. Yếu môn: Chỉ cho giáo pháp do chính mình tu các thiện hạnh để hồi hướng Tịnh độ, nghĩa là Giáo pháp nương vào chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên, nên cũng gọi là Phúc đức tạng. Giáo pháp này xuất phát từ nguyện thứ 19 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, nói trong kinh Quán vô lượng thọ; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Tà định tụ (căn cơ định thiện và tán thiện), vãng sinh về Hóa độ của Phật A di đà, gọi là Song thụ lâm hạ vãng sinh. Song thụ lâm hạ là biểu thị Hóa độ của Phật A di đà, lấy tên từ Sa la song thụ là nơi đức Phật Thích ca nhập diệt. 2. Chân môn: Chỉ cho giáo pháp nương vào tự lực niệm danh hiệu Phật để cầu vãng sinh, nghĩa là giáo pháp nương vào công đức chẳng thể nghĩ bàn (tức là danh hiệu) cho nên cũng gọi là Công đức tạng. Giáo pháp này phát xuất từ nguyện thứ 20 trong 48 nguyện của Phật A di đà, được nói trong kinh A di đà; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Bất định tụ(căn cơ tự lực niệm Phật) và vãng sinh về cõi Hóa độ của Phật A di đà, gọi là Nan tư vãng sinh. Nan tư nghĩa là không thể nghĩ lường, chỉ cho quả nương vào công đức của danh hiệu mà cảm được, khó mà suy lường được, vì sự vãng sinh này nông cạn hơn so với Nan tư nghị vãng sinh kế tiếp, nên bỏ bớt đi chữ Nghị. 3. Hoằng nguyện môn: Chỉ cho giáo pháp bỏ hết tâm tự lực vãng sinh Tịnh độ, mà hoàn toàn nương nhờ vào bản nguyện của Phật A di đà, nghĩa là giáo pháp đầy đủ 2 thứ trang nghiêm phúc đức và trí tuệ của Phật. Vì thế còn gọi là Phúc trí tạng. Giáo pháp này phát xuất từ nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A di đà, được nói trong kinh Vô lượng thọ; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Chính định tụ và vãng sinh về Báo độ của Phật A di đà, gọi là Nan tư nghị vãng sinh. Nan tư nghị có nghĩa là nhân và quả đều không phải cái mà trí lự của phàm phu có thể suy tư đo lường được.
Tam tam-muội
三三昧; C: sān sānmèi; J: sansanmai;|Ba loại tam-muội (Định): 1. Không tam-muội (空三昧); 2. Vô tướng tam-muội (無相三昧); 3. Vô tác tam-muội (無作三昧; theo Kim cương tam-muội kinh 金剛三昧經)
tam thanh
686梵語 liṅga。乃用以區別梵語文法上,名詞、代名詞、形容詞之屬性,又稱三性。一為男聲(梵 puṃl-liṅga),悉曇家稱之為補廬灑(梵 puruṣa-liṅga)。二為女聲(梵 strī-liṅga),悉曇家稱之為悉底履。三為非男非女聲,又稱非二聲。乃中性,悉曇家稱之為納逢素迦(梵 napuṃsaka-liṅga)。
; San-ch'ing (C), Three Pure Ones Sanqing (C)Gồm Tam thiên và Tam thánh.
tam thanh tịnh
Three purities of a Bodhisattva: 1) Thân thanh tịnh: A pure body. 2) Tướng thanh tịnh: Perfectly pure and adorned appearance. 3) Tâm thanh tịnh: A mind free from all impurity.
tam thanh tịnh tâm
615又作三種隨順菩提門法。清淨,離垢離障之義,指遠離障礙菩提之煩惱心。乃依智慧、慈悲、方便三門而發起之三種清淨心,即:(一)無染清淨心,依智慧門,不求自樂,遠離貪著自身之心。(二)安清淨心,依慈悲門,拔除一切眾生之苦,遠離無安眾生之心。(三)樂清淨心,依方便門,憐憫一切眾生,遠離供養恭敬自身之心,而令眾生得菩提常樂。增進此三種心,即可成就妙樂勝真心。〔往生論、往生論註卷下、往生要集卷中末〕
; (三清淨心) Cũng gọi Tam chủng tùy thuận bồ đề môn pháp. Chỉ cho 3 thứ tâm thanh tịnh nương vào 3 môn Trí tuệ, Từ bi và Phương tiện mà phát khởi. Đó là: 1. Vô nhiễm thanh tịnh tâm: Tâm nương theo môn Trí tuệ, không mong cầu sự an vui cho chính mình, xa lìa sự tham đắm tự thân. 2. An thanhtịnh tâm: Tâm nương theo môn Từ bi, dứt trừ các nỗi khổ của tất cả chúng sinh, tránh xa những việc không mang lại sự yên vui cho chúng sinh.3. Lạc thanh tịnh tâm: Tâm nương theo môn Phương tiện, thương xót tất cả chúng sinh, xa lìa sự cúng dường cung kính đối với tự thân mà phải làm cho chúng sinh được bồ đề thường lạc. [X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối].
tam thiên
522泛指一切萬法之總稱。乃天台宗用語。全稱三千法、三千法門、三千世間、三千諸法。由地獄乃至佛之十界,依圓融之理,每一界互含其他界,合為百界。再據百界之每一相乃至本末究竟等十如,合為千如。千如復有眾生、國土、五陰(三世間)之別,三類千如,故總合為三千世間。以三千總攝宇宙萬物(諸法),故稱三千諸法。此三千諸法皆具於眾生日常之剎那心中,以此意義,故稱心具三千。又此三千諸法內含真如本體,故稱理具三千(又作本具三千、性具三千、性德三千)。由於理具三千,隨因緣顯現於現象界,故稱事造三千(又作變造三千、事用三千、修德三千、修起三千)。〔法華玄義卷二上、法華文句卷九、觀音玄義卷上、止觀輔行傳弘決卷五之三〕
; Trisahasra (S). Three thousand; a term used by the Thiên Thai school for nhất thiết chư pháp, i.e. all things, everything in a chiliocosm or Buddha-world.
; (三千) Gọi đủ: Tam thiên pháp, Tam thiên pháp môn, Tam thiên thế gian, Tam thiên chư pháp. Ba nghìn. Tức là từ chỉ chung tất cả muôn pháp, là tiếng dùng của tông Thiên thai.Theo lí viên dung thì 10 giới từ địa ngục giới cho đến Phật giới, trong mỗi giới đều có bao hàm 9 giới kia, hợp làm 100 giới. Rồi mỗi giới trong 100 giới lại có 10 Như, từ Tướng như cho đến Bản mạt cứu cánh như, tổng cộng là 1000 như (thiên như); 1000 như này lại có chúng sinh, quốc độ, ngũ ấm(3 thế gian) khác nhau, thành 3 loại thiên như, cho nên tổng hợp là 3000 thế gian. Vì 3000 tóm thu hết thảy muôn vật (các pháp) trong vũ trụ, cho nên gọi Tam thiên chư pháp (ba nghìn các pháp). Tam thiên chư pháp này đều đầy đủ trong tâm sát na thường ngày của chúng sinh, do ý nghĩa ấy nên gọi là Tâm cụ tam thiên. Lại trong Tam thiên chư pháp này có bao hàm bản thể chân như, cho nên gọi là Lí cụ tam thiên(cũng gọi Bản cụ tam thiên, Tính cụ tam thiên, Tính đức tam thiên). Vì Lí cụ tam thiên theo nhân duyên mà hiển bày ra thế giới hiện tượng, cho nên gọi là Sự tạo tam thiên(cũng gọi Biến tạo tam thiên, Sự dụng tam thiên, Tu đức tam thiên, Tu khởi tam thiên). [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa văn cú Q.9; Quan âm huyền nghĩa Q.thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].
tam thiên chư pháp
524天台宗總賅一切萬有諸法之用語。又稱三千、三千 @間。三千乃為彰顯天台圓教諸法本來一多相即、圓融互具、無增無減之見地而設之數,係將華嚴經之十法界、法華經之十如是、大智度論之三世間等三者相乘之法數。蓋一心具有十法界(地獄、餓鬼、畜生、修羅、人間、天上、聲聞、緣覺、菩薩、佛),十法界又界界相具,是為百界;每一法界具十如是(相、性、體、力、作、因、緣、果、報、本末究竟等),故百界乘十如是,是為千如是;復乘三世間(國土、眾生、五陰),是為三千世間。因而有「一念三千」之說,即於陰妄剎那之一念心中具足三千諸法,故又稱心法三千、心造三千。要之,雖數三千,諸法實則無量,故亙百界千如三千世間,其數量終非言語思想所能及,故知三千實為顯無數量之數量。此外,另有一色三千、一香三千、一聲三千、三千圓具等表示賅攝諸法之詞。摩訶止觀卷五上(大四六‧五四上):「夫一心具十法界,一法界又具十法界、百法界。一界具三十種世間,百法界即具三千種世間。」〔法華玄義卷二上、摩訶止觀卷五上、止觀輔行傳弘決卷五之三、止觀義例隨釋卷二〕(參閱「一念三千」49)
; (三千諸法) Cũng gọi Tam thiên, Tam thiên thế gian.Ba nghìn các pháp. Tiếng dùng của tông Thiên thai, bao quát hết thảy muôn pháp. Tam thiên là con số mà Viên giáo Thiên thai dùng để diễn tả khái niệm các pháp xưa nay vốn Nhất đa tương tức, Viên dung hỗ cụ, Bất tăng bất giảm. Đây là pháp số do nhân 10 pháp giới của kinh Hoa nghiêm, 10 Như thị của kinh Pháp hoa và 3 thế giancủaluận Đại trí độ mà thành. Bởi vì trong 1 tâm có 10 pháp giới (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, tu la, nhân gian, thiên thượng, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật), trong 10 pháp giới mỗi giới lại có đủ 9 giới kia, nên thành là 100 giới; mỗi pháp giới có 10 Như thị (tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu cánh đẳng) vì thế, 100 giới nhân với 10 Như thị thành là 1000 Như thị, rồi lại nhân với 3 thế gian(quốc độ, chúng sinh, ngũ ấm) thành là 3000 thế gian. Do đó mà thuyết Nhất niệm tam thiên (Một niệm ba nghìn), tức là trong 1 niệm tâm của sát na ấm vọng có đủ 3000 các pháp, cho nên cũng gọi là Tâm pháp tam thiên, Tâm tạo tam thiên. Nói tóm lại, tuy dùng con số 3000 nhưng thực ra các pháp là vô lượng, cho nên từ 100 giới suốt đến 1000 Như, cho đến 3000 thế gian, số lượng ấy cuối cùng ngôn ngữ không nói lên được, tư tưởng cũng không tới được, vì thế nên biết 3000 thực ra chỉ là số lượng bày tỏ vô số lượng. Ngoài ra còn có các từ ngữ biểu thị ý nghĩa tóm thu các pháp như: Nhất sắc tam thiên, Nhất hương tam thiên, Nhất thanh tam thiên, Tam thiên viên cụ... Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 54 thượng) nói: Một tâm có 10 pháp giới, 1 pháp giới có đủ 10 pháp giới thành là 100 pháp giới. Một pháp giới có 30 thế gian, 100 pháp giới tức có 3000 thế gian. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3; Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích Q.2].(xt. Nhất Niệm Tam Thiên).
tam thiên oai nghi
A bhiksu's regulations amount to about 250, these are multiplied by four for the conditions of walking, standing, sitting, and sleeping and thus make 1,000; again multiplied by three for past, present, and future, they become 3,000 regulations.
tam thiên phật
523又稱三劫三千佛、三世三千佛。指過去、現在、未來三劫相次出世之三千佛。即莊嚴劫(過去世)一千佛、賢劫(現在世)一千佛與星宿劫(未來世)一千佛之總稱。三千佛之名稱備載於三劫三千佛名經。我國夙有信仰三千佛之習,如佛祖統紀卷三十九隋開皇三年條(大四九‧三五九下):「海陵沙門惠盈六時禮三千佛,救民饑苦之厄。」〔觀藥王藥上二菩薩經、佛祖統紀卷三十〕
; (三千佛) Cũng gọi Tam kiếp tam thiên Phật, Tam thế tam thiên Phật. Chỉ cho ba nghìn đức Phật lần lượt ra đời trong 3 kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là con số gọi chung 1000 đức Phật kiếp Trang nghiêm (đời quá khứ), 1000 đức Phật kiếp Hiền (đời hiện tại) và 1000 đức Phật kiếp Tinh tú (đời vị lai). Danh hiệu của 3000 đức Phật được ghi chép đầy đủ trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Trung quốc đã sớm có tập tục tín ngưỡng Tam thiên Phật, như điều Tùy khai hoàng tam niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 39 (Đại 49, 359 hạ) nói: Sa môn Huệ doanh ở Hải lăng mỗi ngày 6 thời lễ Tam thiên Phật danh để cầu cứu nạn đói cho dân. [X. kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; Phật tổ thống kỉ Q.30].
Tam Thiên Phật Danh Kinh
(三千佛名經), gọi đủ là Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經), thâu lục vào Taishō với 3 quyển riêng biệt là Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (過去莊嚴劫千佛名經, No. 446a, thất dịch) 1 quyển; Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (現在賢劫千佛名經, No. 447a, thất dịch), 1 quyển; Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (未來星宿劫千佛名經, No. 448a, thất dịch), 1 quyển.
tam thiên trần điểm kiếp
524為法華經化城喻品所舉大通智勝佛滅度以來久遠之劫量。彼佛滅度以來,甚大久遠,譬如三千大千世界所有地種(梵 pṛthivī-dhātu)悉磨為墨(梵 maṣi),每經一個大千世界乃下一點,至諸墨俱盡,而所經之國土皆碎為微塵(梵 paramāṇu-rajas),以其一塵為一劫,乃顯大通智勝佛滅度以來久遠之劫量。法華經如來壽量品言釋尊成佛久遠以來,而另立五百塵點劫,或五百億塵點劫之說。〔大智度論卷三十二、法華經玄贊卷九〕(參閱「塵點劫」5765)
; (三千塵點劫) Ba nghìn kiếp chấm mực. Đây là số kiếp ví dụ thời gian lâu xa kể từ khi đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay trong phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa. Đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay đã rất lâu xa, ví như đem tất cả địa chủng (Phạm: Pfthivì-dhàtu, cõi đất) trong thế giới Tam thiên đại thiên nghiền ra làm mực (Phạm:Mawi), cứ trải qua một thế giới đại thiên thì chấm một chấm, chấm đến khi hết số mực ấy; rồi lại nghiền tất cả cõi nước đã trải qua thành bụi nhỏ (Phạm: Paramàịu-rajas), mỗi hạt bụi(trần)tính là một kiếp. Dùng số kiếp chấm mực(điểm) và bụi nhỏ(trần)này để ví dụ thời gian lâu xa từ khi đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay. Khái niệm thời gian này thật không thể tưởng tượng được. Tương tự như thế, phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa có lập thuyết Năm trăm trần điểm kiếp hoặc Năm trăm ức trần kiếp để nói rằng đức Phật Thích ca đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi, chứ chẳng phải mới thành Phật dưới cội Bồ đề cách đây hơn 2500 năm![X. luận Đại trí độ Q.32; Pháp hoa kinh huyền tán Q.9].(xt. Trần Điểm Kiếp).
tam thiên tứ tiên
532乃印度外道之說。三天為:(一)摩醯首羅天,即大自在天。其形相為八臂三眼,騎白牛。信奉此天者以之為萬物之生因。(二)韋紐天,又作毘紐天,即遍聞天。有四臂,執貝,持輪,騎金翅鳥。信奉此天者以之為萬物之生因。(三)鳩摩羅天,即童子天。此天擎雞,持鈴,提赤幡,騎孔雀。三天之中,摩醯首羅天與毘紐天並稱二天。 四仙為:(一)迦毘羅仙,即數論師,計執一。(二)優樓僧佉,即勝論師,計執異。(三)勒沙婆仙,即尼犍子,為苦行外道,計執亦一亦異。(四)若提子,為裸形外道,計執非一非異。四仙之中,迦毘羅仙、優樓僧佉、勒沙婆等三者並稱三仙。〔大智度論卷二、入大乘論卷上、成唯識論卷一〕
; (三天四仙) Ba trời bốn tiên. Tức thuyết của ngoại đạo Ấn độ. Ba trời là: 1. Ma hê thủ la thiên: Tức trời Đại tự tại. Hình tượng vị trời này có 8 tay 3 mắt, cỡi trâu trắng. Những người tin thờ trời này cho rằng Ngài là nhân sinh ra muôn vật.2. Vi nữu thiên (cũng gọi Tì nữu thiên): Tức trời nghe khắp. Vị trời này có 4 tay, cầm vỏ ốc (tù và), bánh xe, cỡi chim cánh vàng. Những người tin thờ, cho vị trời này là nhân sinh ra muôn vật. 3. Cưu ma la thiên: Tức Đồng tử thiên. Vị trời này tay nâng con gà, cầm cái chuông nhỏ, lá phướn đỏ, cỡi chim công. Trong 3 vị trời trên đây, Ma hê thủ la thiên và Tì nữu thiên được gọi chung là Nhị thiên. Bốn vị tiên là: 1. Ca tì la tiên: Tức Số luận sư, chấp các pháp là một. 2. Ưu lâu tăng khư: Tức Thắng luận sư, chấp các pháp là khác. 3. Lặc sa bà tiên: Tức Ni kiền tử, ngoại đạo khổ hạnh, chấp các pháp cũng một cũng khác. 4. Nhã đề tử: Tức ngoại đạo lõa thể, chấp các pháp chẳng phải 1 chẳng phải khác. Trong 4 vị tiên trên, Ca tì la tiên, Ưu lâu tăng khư và Lặc sa bà được gọi chung là Tam tiên. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Nhập đại thừa Q.thượng; luận Thành duy thức Q.1].
tam thiên uy nghi bát vạn tế hạnh
523為佛弟子持守日常威儀之作法。坐作進退有威德儀則,稱為威儀。比丘所應持守之二百五十戒,配以行住坐臥四威儀,合為一千戒,循轉三世(一說三聚淨戒),即成三千威儀。再配以身口七支(殺、盜、淫、兩舌、惡口、妄言、綺語)、貪瞋癡三毒及等分等四種煩惱,共成八萬四千。諸經舉其大數,但稱八萬細行;淨心誡觀法以小乘、大乘之不同著眼,而謂菩薩戒有八萬威儀,聲聞戒有三千威儀。又八宗綱要卷上謂僧戒與尼戒不同,僧有二百五十戒,即三千威儀,六萬細行。尼有三百四十戒,即八萬威儀,十二萬細行。考諸文獻,最早採用三千威儀之名目者,或即襲用自我國古代成語,即中庸之「優優大哉,禮儀三百,威儀三千。」〔大佛頂首楞嚴經卷五、法華三大部補注卷十一、大藏法數卷六十八〕
; (三千威儀八萬細行) Ba nghìn uy nghi tám vạn tế hạnh của tỉ khưu phải ứng xử hàng ngày. Vị tỉ khưu phải giữ 250 giới, đem phối hợp với 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm thì thành 1.000 giới, lưu chuyển theo 3 đời(có thuyết nói Tam tụ tịnh giới) thì thành 3.000 uy nghi. Lại phối với 7 chi thân khẩu (giết hại, trộm cắp, dâm dục, 2 lưỡi, nói ác, nói dối, nói thêu dệt), 3 độc tham, sân, si và 4 thứ phiền não(ngã si, ngã mạn, ngã kiến, ngã ái)cộng chung thành 84.000. Các kinh chỉ nêu số chẵn là 80.000 tế hạnh. Tịnh tâm giới quán pháp dựa vào cách nhận xét khác nhau giữa Tiểu thừa và Đại thừa mà cho rằng giới Bồ tát có 8 vạn uy nghi, giới Thanh văn có 3 nghìn uy nghi. Bát tông cương yếu quyển thượng thì cho rằng giới tăng và giới ni khác nhau, tăng có 250 giới, tức 3 nghìn uy nghi, 6 vạn tế hạnh. Ni có 340 giới, tức 8 vạn uy nghi, 12 vạn tế hạnh. Khảo sát các văn hiến, người ta thấy danh mục Ba nghìn uy nghi được sử dụng sớm nhất, có lẽ đã lấy từ câu thành ngữ cổ đại ở Trung quốc ghi trong sách Trung dung: Ưu ưu đại tai, lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5; Pháp hoa tam đại bộ bổ chú Q.11; Đại tạng pháp số Q.86].
tam thiên viện
524為日本天台宗門跡。位於京都市左京區大原。日本延曆年間(782~806),最澄在比叡山東塔建三千院圓融房,後遷至東坂本梶井里,成為門跡寺。應仁之亂後移至現址。本堂之往生極樂院為源信創建當時之遺構,阿彌陀堂建築為舟底形之天井,殘留有彩畫,本尊阿彌陀三尊之脇士乃最古之藤原佛。
; (三千院) Môn tích của tông Thiên thai. Nhật bản, tọa lạc tại khu Tả kinh ở Kyoto. Khoảng năm 782-806, ngài Tối trừng xây dựng Tam thiên viện ở Đông tháp núi Tỉ duệ, sau dời đến làng Vĩ tỉnh ở phía đông Osaka, trở thành chùa Môn tích. Sau loạn Ứng nhân, chùa được dời về địa chỉ hiện nay. Viện Vãng sinhcực lạc của Bản đường là di tích kiến trúc do ngài Nguyên tín sáng lập vào thời bấygiờ, thiên tỉnh của kiến trúc A di đà đường mang hình đáy thuyền, hiện còn lưugiữ các bức vẽ rất đẹp, tượng Hiếp sĩ của Bản tôn A di đà là tượng Phật xưa nhất của thời Đằng nguyên.
tam thiên đại thiên (Phật chi) thế giới
Một cõi đại thiên thế giới do một vị Phật xuất thế giáo hóa. Cứ một ngàn cõi thế giới hợp thành một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới, lại một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới. Vì tính lên đến ba lần một ngàn nên người ta quen gọi là tam thiên, nhưng thực ra về số lượng thì chỉ là một đại thiên thế giới, gồm 1.000.000.000 thế giới. Cách dịch cũ trước đây là “ba ngàn đại thiên thế giới” xem ra không được chính xác lắm.
Tam thiên đại thiên thế giới
三千大千世界; C: sānqiān dàqiān shìjiè; J: sanzen daisen sekai; S: trisāhasra-mahāsāha-sra-loka-dhātu.|Hàng tỉ thế giới, tạo thành một cõi Phật. Là thế giới bao gồm đục giới và tầng thứ nhất của cung trời thuộc Sắc giới. Một ngàn nhân một ngàn nhân một ngàn là một tỉ thê giới, thường được viết ngắn là Tam thiên thế giới (三千世界). Đây là một cách mô tả tính chất rộng mở mênh mông, xuyên suốt của toàn thể vũ trụ theo vũ trụ quan của người Ấn thời xưa.
tam thiên đại thiên thế giới
523梵語 tri-sāhasra-mahā-sāhasra-loka-dhātu,巴利語 ti-sahassī-mahā-sahassīloka-dhātavo。係為古代印度人之宇宙觀。又作一大三千大千世界、一大三千世界、三千世界。謂以須彌山為中心,周圍環繞四大洲及九山八海,稱為一小世界,乃自色界之初禪天至大地底下之風輪,其間包括日、月、須彌山、四天王、三十三天、夜摩天、兜率天、樂變化天、他化自在天、梵世天等。此一小世界以一千為集,而形成一個小千世界,一千個小千世界集成中千世界,一千個中千世界集成大千世界,此大千世界因由小、中、大三種千世界所集成,故稱三千大千世界。然據正確推定,所謂三千世界實則為十億個小世界,而三千大千世界實為千百億個世界,與一般泛稱無限世界、宇宙全體之模糊概念實有差距。又於佛典之宇宙觀中,三千世界乃一佛所教化之領域,故又稱一佛國。〔觀無量壽經卷十二、俱舍論卷十一、有部毘奈耶雜事卷二、往生要集卷八十四〕
; Tri-sahasra-mahà-sahasra-loka-dhàtu (S). A great chiliocosm. Mt Sumeru and its seven surrounding continents, eight seas and ring of iron mountains form one small world; 1,000 of these form a small chiliocosm tiểu thiên thế giới; 1,000 of these small chiliocosms form a medium chiliocosm trung thiên thế giới; a thousand of these form a great chiliocosm đại thiên thế giới, which thus consists of 1,000,000,000 small worlds. Tam thiên đại thiên thế giới is the same as Đại thiên thế giới which is one Buddha-world.
; (三千大千世界) Phạm: Tri-sàhasra-mahà-sàhasraloka-dhàtu. Pàli: Ti-sahassì-mahà-sahassìloka-dhàtavo. Cũng gọi Nhất đại tam thiên đại thiên thế giới, Nhất đại tam thiên thế giới, Tam thiên thế giới. Ba nghìn thế giới đại thiên. Tức vũ trụ quan của người Ấn độ đời xưa. Nghĩa là lấy núi Tu di làm trung tâm, chung quanh có 4 đại châu và 9 dãy núi, 8 lớp biển bao bọc, gọi là một Tiểu thế giới, tức phạm vi từ trời Sơ thiền của cõi Sắc đến lớp phong luân dưới đáy mặt đất, trong đó bao gồm mặt trời, mặt trăng, núi Tu di, 4 Thiên vương, trời Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại, trời Phạm thế... Một tiểu thế giới này lấy số 1000 làm đơn vị, hình thành một Tiểu thiên thế giới, một nghìn Tiểu thiên thế giới tập hợp thành một Trung thiên thế giới, một nghìn Trung thiên thế giới tập hợp thành một Đại thiên thế giới; Đại thiên thế giới này do Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới tập hợp thành, cho nên gọi là Tam thiên đại thiên thế giới. Nhưng theo sự suy định chính xác thì Tam thiên thế giới thực ra là gồm 10 ức Tiểu thế giới, còn Tam thiên đại thiên thế giới thì gồm nghìn trăm ức thế giới, thực khác xa với các khái niệm mô hồ chung chung như vô hạn thế giới, toàn thể vũ trụ... Theo vũ trụ quan trong kinh điển Phật giáo thì Tam thiên thế giới là lãnh vực do một đức Phật giáo hóa, vì thế cũng gọi là Nhất Phật quốc. [X. kinh Quán vô lượng thọ Q.12; luận Câu xá Q.11; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.2; Vãng sinh yếu tập Q.84].
tam thiếp hoà tán
562為日僧親鸞所著。即淨土、高僧、正像末三部和讚之總稱。親鸞在晚年為使真宗之根本教義易於了解,遂製作此和讚,與「正信偈」同為日本寺院早晚課誦時所用。淨土和讚為讚阿彌陀佛偈、三經、現世利益等一一八首。高僧和讚為讚嘆七高僧(龍樹、天親、曇鸞、道綽、善導、源信、源空),共一一七首。正像末和讚為正像末淨土、疑惑、聖德奉讚、述懷等一○八首。此外尚有帖外和讚,附有和文之「自然法爾章」。
; (三帖和贊) Từ ngữ gọi chung ba bộ hòa tán. Tịnh độ, Cao tăng và Chính tượng mạt, do ngài Thân loan người Nhật bản soạn. Lúc về già, vì muốn cho giáo nghĩa căn bản của Chân tông dễ hiểu hơn, nên ngài Thân loan đã soạn ra các hòa tán này và, cùng với Chính tín kệ, các hòa tán này đều được đọc tụng trong các khóa lễ sớm chiều tại các chùa viện Nhật bản. Tịnh độ hòa tán gồm 118 bài kệ, khen ngợi đức Phật A di đà, Tam kinh(kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà), lợi ích đời hiện tại...; Cao tăng hòa tán gồm 117 bài kệ, khen ngợi 7 vị cao tăng (Long thụ,Thiên thân, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Nguyên tín và Nguyên không); Chính tượng mạt hòa tán gồm 108 bài kệ, nói về Chính tượng mạt Tịnh độ, Nghi hoặc, Thánh đức phụng tán, Thuật hoài... Ngoài ra còn có Thiếp ngoại hòa tán, có phụ thêm Tự nhiên pháp nhĩ chương bằng tiếng Nhật.
tam thiền
Trititya-dhyāna (S), Tṛtiya-dhyāna (S), Tatiya-jhāna (P), Tatiya-jhāna (P)Nền tảng là tâm lạc, gồm 4 đức: Hành xả, Chánh niệm, Chánh huệ, Thọ lạc và Tâm nhất cảnh tánh.
; The third dhyàna heaven of form, the highest paradise of form.
tam thiền thiên
686指色界四禪天中之第三天。又作第三靜慮、第三禪。因離第二禪之喜,更生靜妙之樂,故又稱離喜妙樂地。其為僅有之意識,有樂、捨二受與之相應。此地意識怡悅之相,至極靜妙,故立樂受。於色界十八天中,少淨、無量淨、遍淨等三天即為三禪天。於三地中,屬於無尋無伺地。〔長阿含經卷二十、順正理論卷二十一、俱舍論卷八〕(參閱「色界」2545)
; (三禪天) Cũng gọi Đệ tam tĩnh lự, Đệ tam thiền. Chỉ cho cõi Thiền thứ 3 trong 4 cõi thiền của Sắc giới. Vìlìabỏ hỉ của thiền thứ 2 thì lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cõi thiền này cũng gọi là Li hỉ diệu lạc địa. Cõi này chỉ có ý thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ý thức. Tướng vui thích của ý thức ở cõi này cực kì tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cõi Sắc thì 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên. Trong Tam địa thì Tam thiền thiên thuộc về Vô tầm vô tứ địa. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Thuận chính lí Q.21; luận Câu xá Q.8]. (xt. Sắc Giới).
Tam thiện căn
三善根; C: sān shàngēn; J: san zenkon;|Có hai cách phân chia: 1. Ba thiện căn của Vô tham (無貪), vô sân (無瞋), và vô si (無癡). Chúng được gọi như vậy bởi gì được xem là những tâm trạng căn bản của thiện lành. Theo Du-già hành tông thì tất cả những nhân tố thiện lành đều xuất phát từ ba thiện căn này. 2. Thí (施), Từ (慈) và Huệ (慧). Chúng được xem là đối nghịch với Tam độc (三毒).
tam thiện căn
622梵語 trīṇikuśala-mūlāni,巴利語 tīṇi kusala-mūlāni。指對治三不善根之三種心所。即:(一)無貪善根(梵 a-lobha-kuśala-mūla),又作不貪善根。於五欲之境不貪不著、不愛不樂。此無貪法是善種性,能為無量善法之根本,故稱無貪善根。(二)無瞋善根(梵 a-dveṣa-kuśala-mūla),又作不恚善根。於一切眾生不生憤恚,不欲損惱。此無瞋法是善種性,能為無量善法之根本故稱無瞋善根。(三)無癡善根(梵 a-moha-kuśala-mūla),又作不癡善根。於一切諸法皆悉明了通達,能了知善法、不善法、有罪法、無罪法、應修法、不應修法。此無癡法是善種性,能為無量善法之根本,故稱無癡善根。三善根於一心之中具足可得,通六識及有漏、無漏,遍與一切善心相應俱起,而為諸善之根本。大毘婆沙論卷一一二更以能生善、養善、增善、長善、益善、持善、廣布善法等解為善根之義。〔長阿含經卷八、入阿毘達磨論卷上、俱舍論光記卷十六〕
; Three Wholesome RootsGồm: - Không tham - không sân - không si.
; The three good "roots", the foundation of all moral development, i.e. vô tham, vô sân, vô si no lust (or selfish desire), no ire, no stupidity (or unwillingness to learn). Also thí giving, từ kindness, tuệ moral wisdom.
; (三善根) Phạm: Trìịikuzala-mùlani. Pàli:Tìịi kusala-mùlàni. Chỉ cho 3 loại tâm sở đối trị 3 thứ bất thiện căn. Đó là: 1. Vô tham thiện căn (Phạm:A-lobhakuzala-mùla), cũng gọi Bất tham thiện căn. Nghĩa là đối với các cảnh 5 dục lạc không tham đắm, không ưa thích. Pháp vô tham này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, vì thế gọi là Vô tham thiện căn. 2. Vô sân thiện căn (Phạm: A-dvewakuzala-mùla), cũng gọi Bất khuể thiện căn. Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh không phẫn nộ, không muốn làm tổn não. Pháp vô sân này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, cho nên gọi là Vô sân thiện căn. 3. Vô si thiện căn (Phạm: A-mohakuzala-mùla), cũng gọi Bất si thiện căn. Nghĩa là đối với tất cả các pháp đều hiểu biết thông suốt; có khả năng thấy rõ các pháp thiện, các pháp bất thiện, pháp có tội, pháp không tội, pháp nên tu, pháp không nên tu... Pháp vô si này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, vì thế gọi là Vô si thiện căn. Ba thiện căn này có thể đầy đủ trong một tâm, hiện hữu trong 6 thức và tương ứng với tất cả tâm thiện hữu lậu, vô lậu để cùng khởi, là cội gốc của các điều thiện. Luận Đại tì bà sa quyển 112 giải nghĩa các pháp: Năng sinh thiện (hay sinh điều thiện), tăng thiện(thêm điều thiện), trưởng thiện(nuôi lớn điều thiện), ích thiện(làm cho điều thiện thêm nhiều lên), trì thiện(giữ gìn điều thiện), quảng bá thiện(mở rộng điều thiện)... là thiện căn. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Câu xá luận quang kí Q.16].
tam thiện tri thức
622修行之人欲得道果,必由教授知識以訓誨,同行知識以策勵,外護知識以資養;三者俱備,方能成就其功,故稱善知識。(一)教授善知識,即教授之師。其人內外方便,通塞障礙,皆能決了。(二)同行善知識,修行之人互相策發,切磋琢磨,併心齊志,如乘一船。(三)外護善知識,指營理所須以助修行之人,或有外侮而能扞禦。〔摩訶止觀卷四下〕
; The three types of friends with whom to be intimate, i.e. a teacher (of the Way), a fellow-endeavourer and encourager, and a patron who supports by gifts (dànapati).
; (三善知識) Chỉ cho 3 bậc thiện tri thức chỉ dạy, khích lệ, giúp đỡ người tu hành. Đó là: 1. Giáo thụ thiện tri thức: Tức bậc thầy dạy bảo. Các phương pháp tu học bên ngoài cũng như những chướng ngại bítlấp bên trong... đều được bậc thầy chỉ dạy rõ ràng, dứt khoát, vì thế gọi là Giáo thụ thiện tri thức.2. Đồng hành thiện tri thức: Người tu hành khích lệ lẫn nhau, khuyên răn sách tiến lẫn nhau, đồng tâm nhất chí như đi chung một thuyền, nên gọi là Đồng hành thiện tri thức. 3. Ngoại hộ thiện tri thức: Những tín đồ có khả năng giúp đỡ người xuất gia tu hành về mọi phương diện cần thiết, nếu bị hiếp đáp họ cũng có thể can thiệp, che chở, cho nên gọi là Ngoại hộ thiện tri thức. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, hạ].
tam thiện đạo
622「三惡道」之對稱。又作三善趣。指由三品善業轉生趨向天道、人道、阿修羅道等三種善處。法華經玄義卷二下(大三三‧六九八下):「無明與下品善行合,即起修羅因緣,如畫黃色;無明與中品善行合,即起人因緣,如畫白色;無明與上品善行合,即起天因緣,如畫上上白色。」〔大智度論卷三十、摩訶止觀卷五上、大乘義章卷八末、翻譯名義集卷四〕
; The three good or upward directions or states of existence:thiên the highest class of goodness rewarded with the deva life; nhân the middle class of goodness with a return to human life; a tu la the inferior class of goodness with the asùra state. Also tam thiện thú.
; (三善道) Cũng gọi Tam thiện thú Chỉ cho 3 đường thiện trời, người, a tu la do tu 3 phẩm thiện nghiệp mà hướng tới để sinh về. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 hạ (Đại 33, 698 hạ) nói: Vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm hạ thì khởi nhân duyên Tu la, như bức tranh màu vàng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm trung thì khởi nhân duyên cõi người, như bức tranh màu trắng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm thượng thì khởi nhân duyên cõi trời, như bức tranh màu trắng toát. [X. luận Đại trí độ Q.30; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
tam thoái
603聲聞、緣覺、佛等功德之退失有如下三類:(一)已得退,又作已得法退。謂聖人已斷除惑種,退起現前而失諸功德,起生煩惱。(二)未得退,又作未得法退。謂尚未證得殊勝功德。(三)受用退,又稱習行法退。謂已得之殊勝功德,於受用之時不現在前。此三退中,佛唯有受用退;緣覺、不動羅漢有未得退及受用退,以有利根之故無已得退;其餘退法、思法、護法、安住法、堪達法等五種羅漢有鈍根,故三退皆具。〔俱舍論卷二十五、瑜伽師地論卷六十二、俱舍論頌疏卷二十五、瑜伽論記卷十七、俱舍光記卷二十五〕
; (三退) Ba thứ lui mất. Tức sự lui mất công đức của hàng Thanh văn, Duyên giác và Phật có 3 loại như sau: 1. Dĩ đắc thoái(cũng gọi Dĩ đắc pháp thoái). Nghĩa là bậc Thánh đã dứt trừ hoặc nghiệp rồi lại thoái hóa, khiến phiền não hiện khởi trở lại và làm mất công đức. 2. Vị đắc thoái(cũng gọi Vị đắc pháp thoái). Nghĩa là vẫn chưa chứng được công đức thù thắng. 3. Thụ dụng thoái(cũng gọi Tập hành pháp thoái). Nghĩa là công đức thù thắng đã đạt được, nhưng khi thụ dụng lại không hiện tiền. Trong 3 loại thoái trên đây, Phật chỉ có Thụ dụng thoái; Duyên giác và bậc La hán bất động có Vị đắc thoái và Thụ dụng thoái, nhờ có lợi căn nên không có Dĩ đắc thoái; còn 5 loại La hán: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp thì vì có độn căn nên có cả 3 loại thoái. [X. luận Câu xá Q.25; luận Du già sư địa Q.62; Câu xá luận tụng sớ Q.25; Du già luận kí Q.17; Câu xá luận quang kí Q.25].
tam thoái khuất
604又作三種退屈。乃菩薩五位中,於第一資糧位之間可能產生之三種退屈心;須以三事磨練其心,使其證修勇猛不退。即:(一)菩提廣大屈,無上菩提廣大深遠,菩薩聞而生退屈之心;須思他人已證得菩提而磨練自心。(二)萬行難修屈,布施等波羅蜜,修之甚難,菩薩聞而生退屈之心;須省己初心以磨練自心。(三)轉依難證屈,轉煩惱依菩提、轉生死依涅槃極其難證,菩薩聞而生退屈之心;須思劣善因即得妙果以磨練自心。〔成唯識論卷九〕
; The three feelings of oppression that make for a bodhisattva's recreancy - the vastness of bodhi, the unlimited call to sacrifice, the uncertainty of final perseverance.
; (三退屈) Cũng gọi Tam chủng thoái khuất. Ba lui khuất. Tức chỉ cho ba thứ tâm thoái khuất sinh khởi khi Bồ tát ở vào giai vị Tư lương(giai vị thứ nhất trong 5 giai vị Bồ tát). Đó là: 1. Bồ đề quảng đại khuất: Vô thượng bồ đề rộng lớn sâu xa, Bồ tát nghe thế bèn sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải nghĩ rằng người khác đã chứng được bồ đề để rèn luyện tâm mình. 2. Vạn hạnh nan tu khuất: Sáu hạnh Ba la mật nhưBố thí... rất khó tu, Bồ tát nghe vậy liền sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải xét đến sơ tâm của mình để rèn luyện tự tâm. 3. Chuyển y nan chứng khuất: Việc chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển sinh tử thành Niết bàn cực kì khó chứng, Bồ tát nghe thế liền sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải nghĩ rằng nhân thiện yếu kém cũng có thể chứng được quả vi diệu để rèn luyện tâm mình. [X. luận Thành duy thức Q.9].
tam thuyết thanh
665又作三士。梵語文法中,將說者分為三種,即:(一)自說聲,又作說自聲、上士。指有關說者自身,即第一人稱。(二)說他聲,又作他說聲、中士。指對說者有關之人,即第二人稱。(三)汎說聲,又作下士。指有關第三人,即第三人稱。〔慈恩寺三藏法師傳卷三〕
; (三說聲) Cũng gọi Tam sĩ. Chỉ cho 3 ngôi trong văn pháp tiếng Phạm. 1. Tự thuyết thanh(cũng gọi Thuyết tự thanh, Thượng sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ nhất. 2. Thuyết tha thanh(cũng gọi Tha thuyết thanh, Trung sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ hai. 3. Phiếm thuyết thanh(cũng gọi Hạ sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ ba. [X. Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3].
tam thuật
619指天台宗修禪觀、去魔障所用之內外三種方法。全稱內外三術。謂行者於修畢第八觀「知次位」時,每易為內部之逆緣(強賊)與外部之順緣(軟賊)所擾,致損內德、招名利而自行破敗;為防止此順逆二緣之障,以達於安忍不動之境,遂以內外三術分別對治之。(一)內三術,即以空、假、中三觀對治內心所起之慢、見、煩惱等諸魔障。(二)外三術,對治外來之名譽利養諸障亦有三法,即:(1)對於一切名利,不受不著。(2)縮隱己德,露己缺點。(3)遁迹住於萬里絕域之地。圓頓行者若用此內外三術,安忍於順、逆二緣而不傾動,則能成就十乘觀中第九之能安忍,策進五品而得六根清淨。〔摩訶止觀卷七、止觀輔行傳弘決卷七之四〕
; Three devices in meditation for getting rid of Màra-hindrances ma chướng: within, to get rid of passions and delusion; without, to refuse or to withdraw from external temptation.
; (三術) Gọi đủ: Nội ngoại tam thuật. Chỉ cho 3 phương pháp trong, ngoài được tông Thiên thai sử dụng để trừ khử ma chướng trong lúc tu thiền quán. Nghĩa là hành giả khi tu xong pháp quán thứ 8 Tri thứ vị, thường dễ bị nhiễu loạn bởi nghịch duyên bên trong (giặc cứng mạnh) và thuận duyên bên ngoài(giặc dịu dàng), đến nỗi tổn hại nội đức, rước lấy danh lợi mà tự phá hoại mình. Vì mục đích ngăn chặn 2 chướng duyên thuận và nghịch này để đạt đến cảnh giới an nhẫn bất động, cho nên dùng Nội ngoại tam thuật lần lượt đối trị. 1. Nội tam thuật: Tức dùng 3 quán Không, Giả, Trung để đối trị các ma chướng như Mạn, Kiến, Phiền não... từ trong nội tâm nổi lên. 2. Ngoại tam thuật: Đối trị các chướng danh dự lợi dưỡng đến từbên ngoài cũng có 3 pháp, đó là: a. Không nhận lãnh, không tham đắm tất cả danh lợi. b. Giấu kín đức của mình và để lộ rõ những khuyết điểm của mình. c. Sống ẩn dật ở những nơi vắng vẻ. Những hành giả Viên đốn nếu ứng dụng Nội ngoại tam thuật này, an nhẫn không lay động trước thuận duyên và nghịch duyên thì sẽ thành tựu được Năng an nhẫn thứ 9 trong 10 thừa quán pháp, mau tiến lên Ngũ phẩm mà được 6 căn thanh tịnh. [X. Ma ha chỉ quán Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 4].
tam thuỷ
536指時、非時與觸用之三水,即:(一)時水,從明相(曙光漸明,天空露白之狀)現至午時,得以飲用之水。(二)非時水,過午後得飲用之淨水。(三)觸用水,不論時限而可使用之淨洗用水。〔受用三水要行法〕
; (三水) Chỉ cho 3 thứ nước: Thời, phi thời và xúc dụng. 1. Thời thủy: Nước dùng uống từ khi mặt trời mọc đến giờ Ngọ. 2. Phi thời thủy: Nước sạch dùng để uống từ sau giờ Ngọ. 3. Xúc dụng thủy: Nước để rửa sạch được sử dụng bất cứ vào lúc nào. [X. Thụ dụng tam thủy yếu hành pháp].
tam thánh
642<一>華嚴三聖,即本師毘盧遮那佛及普賢、文殊二大菩薩。(參閱「華嚴三聖」5293) <二>圓頓戒壇之三聖。指受圓頓菩薩戒時之和上(尚)、羯磨、教授等三師。即以釋迦為和上,以文殊為羯磨阿闍梨,以彌勒為教授阿闍梨。(參閱「三師七證」595) <三>佛以外之三聖。據中論卷二觀本際品載,即:五通外道、阿羅漢辟支佛二乘、得神通之大菩薩。 <四>指臨濟義玄之法嗣慧然禪師。師平生久住河北鎮州之三聖院,故世人稱之為三聖,或三聖慧然。(參閱「慧然」6045) <五>日本天台宗之傳教、慈覺、智證三大師。另與安然、慈惠二師合稱三聖二師。 此外,一般稱阿彌陀佛、觀世音菩薩、大勢至菩薩為西方三聖。
; - Hoa Nghiêm Tam Thánh: Phật Thích Ca (Tỳ lô giá na) ở giữa, bên hữu là ngài Phổ Hiền, bên trái là ngài Văn Thù. - Di Đà Tam Thánh: Phật A di đà ở giữa, bên hữu là Đại thế Chí, bên tả là Quan Âm. - Thích Ca Tam Thánh: Phật Thích Ca ở giữa, ngài A Nan bên hữu, ngài Ca Diếp bên tả.
; The three sages, or holy ones, of whom there are several groups. The Hoa Nghiêm have Vairocana Tỳ lô xá na in the centre with Manjusri Văn thù sư lợi on his left and Samantabhadra Phổ Hiền on his right. TheTịnh Độ Pure land sect have Amitàbha in the centre, ăith Avalokitesvara Quán thế Âm on his left and Mahàsthàmapràpta on his right.
; The three sages or holy ones: (A) Tam Thánh Hoa Nghiêm: Ba vị Thánh trong thế giới Hoa Nghiêm—The three divinities in the Flower Ornament world: 1) Phật Tỳ Lô Giá Na ở giữa: Vairocana in the center. 2) Văn Thù bên trái: Manjusri on the left. 3) Phổ Hiền bên phải: Samantabhadra on the right. (B) Thích Ca Tam Thánh: Ba vị Thánh được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm—The three divinities in the Flower Ornament Scriptures: 1) Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa: Sakyamuni Buddha in the center. 2) Same as in (A) (2). 3) Same as in (A) (3). (C) Tam Thánh Di Đà: Ba vị Thánh trong cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Người ta tin rằng ba vị Thánh nầy là những vị đạo sư tiếp dẫn linh hồn của người quá vãng. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, ta thấy ngài Địa Tạng được thay vào chỗ của ngài Đại Thế Chí Bồ Tát—The three Pure Land divinities in the Pure Land Sect. These three divinities are believed to welcome the departed into the Pure Land. In some rare instances, Ksitigarbha Bodhisattva takes the place of Mahasthamaprapta: 1) A Di Đà ở giữa: Amitabha in the center. 2) Quan Âm bên trái: Avalokitesvara (Kuan Yin) on the left. 3) Đại Thế Chí bên phải: Mahasthama-prapta on the right. (D) Tam Thánh Dược Sư—The three divinities, according to the Bhaisajya-guru-vaidurya-prabhasa sutra: 1) Phật Dược Sư ở giữa: Bhaisajya-guru-vaidyrya-Buddha in the centre—See Dược Sư Tam Tôn. 2) Nhật Quang Bồ Tát bên trái: Surya-prabhasana on the left. 3) Nguyệt Quang Bồ Tát bên phải: Candra-prabhasana on the right.
; (三聖) I. Tam Thánh. Ba bậc Thánh của kinh Hoa nghiêm, tức chỉ cho đức Bản sư Tì lô giá na và 2 vị Đại bồ tát Phổ hiền, Văn thù. (xt. Hoa Nghiêm Tam Thánh). II. Tam Thánh. Ba bậc Thánh của giới đàn Viên đốn. Chỉ cho 3 vị thầy: Hòa thượng, Yết ma và Giáo thụ khi truyền thụ giới Bồ tát Viên đốn. Tức tôn đức Thích ca mâu ni làm Hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma A xà lê và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ A xà lê. (xt. Tam Sư Thất Chứng). III. Tam Thánh. Chỉ cho 3 bậc Thánh ngoài đức Phật Thích ca. Cứ theo phẩm Quán bản tế trong Trung luận quyển 2 thì Tam thánh là Ngoại đạo có 5 thần thông, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác và Đại Bồ tát chứng đắc thần thông. IV. Tam Thánh. Chỉ cho Thiền sư Tuệ nhiên, đệ tử nối pháp của ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Vì sư trụ ở viện Tam thánh tại Trấn châu thuộc Hà bắc rất lâu, cho nên người đời gọi sư là Tam thánh, hoặc Tam thánh Tuệ nhiên. (xt. Tuệ Nhiên) V. Tam Thánh. Chỉ cho 3 vị Đại sư thuộc tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản là các ngài: Truyền giáo, Tứ giác và Trí chứng. Ba vị Đại sư này cùng với 2 ngài An nhiên và Từ huệ gọi chung là Tam thánh nhị sư. Ngoài ra, thôngthường, đức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm, bồ tát Đại thế chí được gọi là Tây phương Tam thánh.
Tam Thánh Huệ Nhiên
(三聖慧然, Sanshō Enen, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Đường, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, đã từng trú tại Tam Thánh Viện ở Trấn Châu (鎮州, thuộc Tỉnh Hà Bắc). Ông đắc được huyền chỉ của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨済義玄), sau đi du hóa các nơi, cũng đã từng đến tham yết Ngưỡng Sơn (仰山), Đức Sơn (德山) cũng như Tuyết Phong (雪峰).
; 三聖慧然; C: sānshèng huìràn; J: sanshō enen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ thượng thủ nối pháp của Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng là người biên soạn những pháp ngữ của Lâm Tế trong Lâm Tế ngữ lục.|Sau khi được Lâm Tế ấn khả, Sư chu du khắp nơi, tiếng tăm lừng lẫy. Sư thăm viếng nhiều tùng lâm và đến đâu cũng được tiếp đãi trọng hậu. Công án 49 trong Bích nham lục thuật lại cuộc gặp gỡ của Sư với Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư hỏi: »Cá vàng thoát lưới lấy gì làm thức ăn?« Tuyết Phong đáp: »Ðợi ông ra khỏi lưới rồi đến đây sẽ nói.« Sư bảo: »Là thiện tri thức của 1500 người mà thoại đầu cũng không biết.« Tuyết Phong bèn nói: »Lão tăng trụ trì nhiều việc.«|Ðến gặp Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn. Hương Nghiêm hỏi: »Từ đâu đến?« Sư đáp: »Từ Lâm Tế đến.« Hương Nghiêm hỏi: »Ðem được kiếm của Lâm Tế đến chăng?« Sư chẳng nói, lấy toạ cụ đánh Hương Nghiêm rồi đi. Hương Nghiêm im lặng mỉm cười.|Ðến viếng Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám. Vừa thấy Sư trải toạ cụ ra, Ðức Sơn liền bảo: »Chớ có trải cái khăn phủi bụi, nơi đây không có canh cặn cơm thừa.« Sư đáp: »Dù có cũng không có chỗ đổ.« Ðức Sơn liền đánh, Sư chụp gậy và đẩy thẳng đến giường thiền. Ðức Sơn cười to. Sư nói: »Trời xanh!« rồi xuống nhà tham thiền.|Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch rất mến tài hùng biện của Sư. Lúc mới gặp, Ngưỡng Sơn hỏi: »Ông tên gì?« Sư thưa: »Huệ Tịch.« Ngưỡng Sơn ngạc nhiên bảo: »Huệ Tịch là tên của ta.« Sư liền nói: »Huệ Nhiên.« Ngưỡng Sơn cười lớn.|Một ông quan đến thăm, Ngưỡng Sơn hỏi: »Quan ở vị nào?« Quan thưa: »Dẹp quan.« Ngưỡng Sơn dựng phất tử hỏi: »Lại dẹp được cái này chăng?« Ông quan không đáp được và trong chúng cũng không ai trả lời vừa lòng Ngưỡng Sơn. Lúc đó Sư đang nằm tại Niết-bàn đường (nơi nuôi dưỡng bệnh nhân), Ngưỡng Sơn sai thị giả đến trình. Sư đáp: »Hoà thượng có việc.« Ngưỡng Sơn lại sai thị giả hỏi: »Chưa biết có việc gì?« Sư lại đáp: »Tái phạm chẳng tha.« Nghe vậy Ngưỡng Sơn thầm nhận và có ý định truyền Phất tử của Bách Trượng lại cho Sư (Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải trao cho Hoàng Bá Hi Vận thiền bản bồ đoàn, trao cho Quy Sơn Linh Hựu phất tử, Quy Sơn lại truyền cho Ngưỡng Sơn) nhưng Sư từ chối không nhận vì đã có thầy. Ngưỡng Sơn nhân đây mới biết Sư là môn đệ của Lâm Tế.|Sau, Sư trụ trì tại Viện Tam Thánh, học chúng đến rất đông. Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
tam thánh huệ nhiên
San sheng Hui jen (C), Sansho Yenen (J), Sansho Enen (J), San-sheng Hui-jan (C), Sansheng Huiran (C), Sanshō Enen (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền.
tam thánh kim lân
642禪宗公案名。又作三聖透網金魚、三聖以何為食。敘述三聖慧然禪師藉「透網金麟,以何為食」一語,與雪峰義存禪師就迷悟凡聖之通達針鋒相對,來往挨拶。碧巖錄第四十九則(大四八‧一八四下):「三聖問雪峰:『透網金麟,未審以何為食?』峰云:『待汝出網來,向汝道。』聖云:『一千五百人善知識,話頭也不識!』峰云:『老僧住持事繁。』」蓋「透網金鱗」係喻指自修行證悟之束縛解脫而出之境域。公案中,三聖以剛硬之機鋒,藉透網金麟自比,以之問雪峰,其意概謂「開悟之後,當如何生活」。雪峰答以「待汝出網來,向汝道」,是則意味三聖尚未證悟。然三聖之機鋒絲毫未受挫折,猶以「一千五百人善知識,話頭也不識」咄咄逼人,雪峰亦不為所動,所謂「老僧住持事繁」,表面氣勢彷彿稍減,然實際卻為不著痕跡之圓熟機法。雪竇重顯頌曰:「透網金麟,休云滯水;搖乾蕩坤,振鬣擺尾。千尺鯨噴洪浪飛,一聲雷震清奁起;清奁起,天上人間知幾幾。」〔天童頌古直註卷上、從容錄第三十三則、禪宗頌古聯珠通集卷二十九〕
; (三聖金鱗) Cũng gọi Tam thánh thấu võng kim ngư, Tam thánh dĩ hà vi thực. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này trình bày về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Tam thánh Tuệ nhiên và Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn.Bích nham lục tắc 49 (Đại 48, 184 hạ) ghi:Tam thánh hỏi Tuyết phong: Cá vàng thoát khỏi lưới, không biết lấy gì làm thức ăn?Tuyết phong đáp: Đợi ông ra khỏi lưới, tôi sẽ nói cho ông hay. Tam thánh nói: Là thiện tri thức của 1.500 người mà thoại đầu cũng không biết! Tuyết phong nói: Lão tăng trụ trì bận rộn.[X. Thiên đồng tụng cổ trực chú Q.thượng; Thung dung lục tắc 33; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.29].
tam thánh viên dung quán
642請參閱 寶覺禪師語錄 華嚴宗之觀法。即觀想毘盧遮那佛與普賢、文殊二菩薩等三聖融為一體而無障礙之觀法。其中,毘盧遮那佛為一切德之總體,象徵果分不可說,普賢、文殊二菩薩為毘盧遮那佛之別德,象徵因分可說。 此二菩薩中,普賢係顯示所信之法界及依修行所證之法界真理;對此,文殊則表徵能信法界真理之信心,乃對法界真理之理解及其證法界真理之大智。普賢之「所信」及其「行、理」,文殊之「能信」及其「解、智」,皆各各圓融,而能所不二。如此,二菩薩所表現之法為互即互融而重重無盡,此即表示至佛果之因已完成,故因之立場與果之立場同一而歸屬於佛果之境界,由是三聖乃融為一體。 三聖圓融之法門乃華嚴經所說之深義,故欲依華嚴經修行者,須在自己一念之上觀此法門。此即「心、佛、眾生」三法無差別,所證之「理、證、智」亦不離心。又眾生之心念即是如來藏,在空如來藏之一面為普賢,在不空如來藏之一面則是文殊。又總如來藏之理是毘盧遮那佛,須在此一念之上具足三聖圓融相之觀法。此一觀法為唐代澄觀所倡,惟澄觀以前之李通玄已有此說。〔三聖圓融觀門(澄觀)、華嚴法界義鏡卷上、華嚴經決疑論卷一上、華嚴經合論卷三〕
; (三聖圓融觀) Pháp quán của tông Hoa nghiêm, tức quán tưởng đức Phật Tì lô giá na và 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù dung hòa làm 1 thể không ngăn ngại. Trong đó, Phật Tì lô giá na là thể chung của tất cả mọi đức, tượng trưng cho quả phần bất khả thuyết, còn 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù là đức riêng của Phật Tì lô giá na, tượng trưng cho nhân phần khả thuyết. Trong 2 vị Bồ tát này, ngài Phổ hiền biểu trưng chân lí của pháp giới sở tín và pháp giới do tu hành chứng được; trái lại, ngài Văn thù thì biểu trưng cho tín tâm đối với chân lí của pháp giới năng tín, sự lí giải đối với chân lí của pháp giới và đại trí chứng chân lí của pháp giới ấy. Sở tín cũng như Hành, Lí của ngài Phổ hiền và Năng tín cũng như Giải, Trí của ngài Văn thù mỗi mỗi đều viên dung và năng, sở bất nhị. Như vậy, pháp mà 2 vị Bồ tát biểu hiện là tương tức hỗ dung, trùng trùng vô tận, đó là biểu thị Nhân dẫn đến quả Phật đã hoàn thành, cho nên lập trường của Nhân và lập trường của Quả là đồng nhất và qui thuộc về cảnh giới của quả Phật, do đó mà Tam thánh dung hòa làm 1 thể. Pháp môn Tam Thánh viên dung là nghĩa sâu xa nói trong kinh Hoa nghiêm, cho nên, nếu người muốn tu theo kinh Hoa nghiêm thì phải quán xét pháp môn này trong 1 niệm của chính mình. Đây chính là 3 pháp Tâm, Phật và Chúng sinh không sai khác, lí, chứng và trí sở chứng cũng không lìa tâm. Tâm niệm của chúng sinh chính là Như lai tạng, phương diện Không Như lai tạng là Phổ hiền, phương diện Bất không Như lai tạng là Văn thù. Lại lí chung của Như lai tạng là Phật Tì lô giá na, phải quán tưởng trong 1 niệm có đủ tướng Tam Thánh viên dung. Pháp quán viên dung này do ngài Trừng quán đề xướng vào đời Đường; nhưng thực ra, trước ngài Trừng quán, cư sĩ Lí thông huyền đã có thuyết này rồi. [X. Tam thánh viên dung quán môn (Trừng quán); Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính Q.thượng; Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận Q.1, thượng; Hoa nghiêm kinh hợp luận Q.3].
Tam Thân
(s: tri-kāya, 三身): ba loại thân của Phật, gồm có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), Báo Thân (s: sambhoga-kāya, 報身) và Ứng Thân (s: nirmāṇa-kāya, 應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình mà đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như. Báo Thân là thân Phật có tướng tốt hiển hiện tùy theo hạnh nguyện của nhân vị, tích chứa các hạnh làm nhân để thành Phật và đầy đủ công đức. Ứng Thân là thân Phật hóa hiện ứng theo căn cơ của chúng sanh. Theo Pháp Tướng Tông, Tam Thân là Tự Tánh Thân (自性身), Thọ Dụng Thân (受用身) và Biến Hóa Thân (變化身). Tự Tánh Thân tương đương với Pháp Thân, là thân nương tựa vào Thọ Dụng Thân và Biến Hóa Thân. Thọ Dụng Thân là thân để thọ dụng pháp lạc, gồm có 2 loại: Tự Thọ Dụng Thân (自受用身) và Tha Thọ Dụng Thân (他受用身). Tự Thọ Dụng Thân tương đương với Báo Thân và Tha Thọ Dụng Thân thì ứng với Ứng Thân. Còn Biến Hóa Thân là thân thị hiện đem lại lợi ích cho hàng Bồ Tát trước khi vào Thập Địa cũng như chúng sanh. Trong Thiếu Thất Lục Môn (少室六門, Taishō No. 2009) có giải thích về Tam Thân rằng: “Phật hữu Tam Thân giả, Hóa Thân Báo Thân Pháp Thân; nhược chúng sanh thường tác thiện căn, tức Hóa Thân hiện; tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; giác Vô Vi tức Pháp Thân hiện; phi đằng thập phương tùy nghi cứu tế giả, Hóa Thân Phật dã; đoạn cảm tu thiện Tuyết Sơn thành đạo giả, Báo Thân Phật dã; vô ngôn vô thuyết trạm nhiên thường trú giả, Pháp Thân Phật dã (佛有三身者、化身報身法身、若眾生常作善根、卽化身現、修智慧卽報身現、覺無爲卽法身現、飛騰十方隨宜救濟者、化身佛也、斷惑修善雪山成道者、報身佛也、無言無說湛然常住者、法身佛也, Phật có ba thân là Hóa Thân, Báo Thân, và Pháp Thân; nếu chúng sanh thường tạo căn lành, tức Hóa Thân hiện; nếu tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; hiểu rõ Vô Vi tức Pháp Thân hiện; thân bay cùng khắp mười phương, tùy nghi cứu độ là Hóa Thân Phật; thân đoạn trừ các hoặc, tu thiện và thành đạo ở Tuyết Sơn là Báo Thân Phật; thân không nói lời nào, không thuyết lời nào, vắng lặng thường trú là Pháp Thân Phật).” Tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm, thành phố Huế, có câu đối rằng: “Hương lí kết tường vân Tam Thân viên hiển, hoa khai trình diệu tướng Thập Hiệu hùng tôn (香裡結祥雲三身圓顯、花開呈妙相十號雄尊, trong hương kết mây lành Ba Thân lộ rõ, hoa nở trình tướng báu Mười Hiệu hùng tôn).”
Tam thân
三身; C: sānshēn; J: sanshin; S: trikāya; |Ba thân
tam thân
555梵語 trayaḥ kāyāḥ。又作三身佛、三佛身、三佛。身即聚集之義,聚集諸法而成身,故理法之聚集稱為法身(梵 dharma-kāya),智法之聚集稱為報身(梵 saṃbhoga-kāya),功德法之聚集稱為應身(梵 nirmāṇa-kāya)。又作法身佛報身佛應身佛、法佛報佛應佛、法身報身化身、法身佛報佛化佛、法佛報佛應化佛、真身報身應身、自性身滿資用身化身、自性身應身化身、法身應身化身、法性身受用身變化身、自性身受用身變化身、自性身食身化身、法身佛受用身佛化身佛、正法佛修成佛應化佛、佛所見身菩薩所見身二乘凡夫所見身。 金光明最勝王經疏卷三載,化身佛有化身、父母生身、隨世間身、生身、假名身等五名稱;應身佛有應身、受用身、報身、智慧佛、功德佛、法性生身等六稱;法身佛有法身、自性身、真實身、如如佛、法佛等五稱。另金光明最勝王經玄樞卷四謂,前述之化身五名外,加上釋迦身、二乘凡夫所見身、應身、變化身,共為九名;應身六名加上舍那身、菩薩所見身,共為八名;法身五名加上佛所見身、毘盧遮那,共為七名。各經論所舉三身之名稱與解釋不一。 (一)十地經論等諸經所說之三身,即:(1)法身,為證顯實相真如之理體,無二無別,常住湛然,稱為法身。(2)報身,酬報因行功德而顯現相好莊嚴之身。(3)應身,順應所化眾生之機性而顯現之身。 (二)金光明經所說之三身,即:法身(梵 dharma-kāya)、應身(梵 saṃbhoga-kāya)、化身(梵 nirmāṇa-kāya)。依合部金光明經卷一之三身分別品載,如來昔在因地修行中,為一切眾生修種種法至修行滿,因修行力故,得自在而能隨應眾生現種種身,稱為化身。又諸佛如來為令諸菩薩得通達,並體得生死涅槃一味,以為無邊佛法而作本,故示現此具足三十二相、八十種好、項背圓光之身,稱為應身。為滅除一切諸煩惱等障而具足一切之諸善法故,唯有如如如如智,稱為法身。前二種身為「假名有」,第三身為「真有」,乃為前二身而作本故。又依金光明經言,法報之兩佛是其真身,為化眾生而示現佛身,相好具足、威光殊勝,稱為應身。佛隨眾生現種種形,或人、或天、或龍、或鬼,如同世之色像,稱為化身。此三身以真身為本,依真起應,依應起化,如依煩惱起業行,依業受報。慧遠之觀無量壽經義疏卷末(大三七‧一八三下):「佛具三身,一者真身,謂法與報。二者應身,八相現成。三者化身,隨機現起。」即依此金光明經之意而言。 (三)解深密經卷五所說之三身,即法身、解脫身、化身。其中化身指八相示現之身;解脫身指五分法身;法身指於諸地波羅蜜多,善修出離轉依成滿之妙果。蓋五分法身,聲聞獨覺亦可得之,故單就此身而言,二乘與如來無異。梁譯攝大乘論釋卷十三(大三一‧二四九中):「二乘道究竟果,名解脫知見。二乘解脫知見中無三身,菩薩解脫知見中有三身差別。何以故?二乘不能滅智障,無一切智故,不得圓滿清淨法身,無大慈悲,不行利益他事故,無應化兩身。」故知二乘之解脫身,無法身及應、化等身。 (四)據宗鏡錄卷八十九載,自性身、受用身、變化身稱為三佛身,此即法、報、化三身:(1)自性身,諸佛如來具無邊際真常功德,是一切法平等實性,即此自性,又稱法身。(2)受用身,又分二種:(a)自受用身,諸如來修習無量福慧,起無邊真實功德,恒自受用廣大法樂。(b)他受用身,諸如來由平等智示現微妙淨功德身,居純淨土,為住十地菩薩眾顯現大神通,轉正法輪。(3)變化身,諸如來以不思議神力,變現無量,隨類化身,居淨穢土,為未登地諸菩薩眾及二乘等,稱其機宜,現通說法。同書並舉出轉三心可得三身之說,即:轉根本心(第八識)可得法身,轉依本心(第七識)可得報身,轉起事心(第六識)可得化身。 (五)禪宗六祖慧能以自性來解釋三身:(1)清淨法身佛,謂吾人之身即是如來法身,故吾人之自性本即清淨,並能生出一切諸法。(2)圓滿報身佛,謂自性所生之般若之光若能滌除一切情感欲望,則如一輪明日高懸於萬里晴空之中,光芒萬丈,圓滿無缺。(3)自性化身佛,謂吾人若能堅信自性之力勝於一切化身佛,則此心向惡,便入地獄,若起毒害之心,便變為龍蛇;若此心向善,便生智慧,若起慈悲之心便變為菩薩。〔金光明最勝王經卷二、梁譯攝大乘論釋卷十、瑜伽師地論卷七十八、佛地經論卷七、觀經玄義分傳通記卷六〕(參閱「佛身」2629)
; Pháp thân (bản thể Phật tánh), báo thân (thân tự thọ dụng và tha thọ dụng), ứng hóa thân (vì đ chúng sanh mà biến hiện những thân thích ứng với mọi chúng sanh).
; Trikàya (S). The threefold body or nature of a Buddha, i.e. the Dharmakàya pháp thân, Sambhogakàya báo thân, Nirmànakàya ứng thân.The three are defined as tự tính, thụ dụng, biến hóa, the Buddha body per se, or in its essential nature; his body ođ bliss which he "receives" for his own "use" and enjoyment; and his body of transformation, by which he can appear in any form; i.e. spiritual, or essential; glorified; revealed.
; Pháp thân (bản thể Phật tánh), Báo thân (thân Tự thọ dụng và Tha thọ dụng), Ứng hóa thân (vì độ chúng sanh mà biến hiện những thân thích ứng với chúng sanh).
; (三身) Phạm: Traya# kàyaø#. Cũng gọi Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Chỉ cho Pháp thân, Báo thân và Ứng thân của chư Phật. Thân nghĩa là tụ tập, tụ tập các pháp mà thành thân, vì thế sự tụ tập về lí pháp gọi là Pháp thân (Phạm: Dharma-kàya), sự tụ tập về trí pháp gọi là Báo thân (Phạm: Saôbhoga-kàya), sự tụ tập của các pháp công đức gọi là Ứng thân (Phạm: Nirmàịa-kàya). Hoặc gọi là Pháp thân Phật Báo thân Phật Ứng thân Phật, Pháp Phật Báo Phật Ứng Phật, Pháp thân Ứng thân Hóa thân, Pháp thân Phật Báo Phật Hóa Phật, Pháp Phật Báo Phật Ứng hóa Phật, Chân thân Báo thân Ứng thân, Tự tính thân Mãn tư dụng thân Hóa thân, Tự tính thân Ứng thân Hóa thân, Pháp thân Ứng thân Hóa thân, Pháp tính thân Thụ dụng thân Biến hóa thân, Tự tính thân Thụ dụng thân Biến hóa thân, Tự tính thân Thực thân Biến hóa thân, Pháp thân Phật Thụ dụng thân Phật Hóa thân Phật, Chính pháp Phật Tu thành Phật Ứng hóa Phật, Phật sở kiến thân Bồ tát sở kiến thân Nhị thừa phàm phu sở kiến thân. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 3 cho rằng Hóa thân Phật có 5 tên gọi: Hóa thân, Phụ mẫu sinh thân, Tùy thế gian thân, Sinh thân và Giả danh thân; Ứng thân Phật có 6 tên gọi: Ứng thân, Thụ dụng thân, Báo thân, Trí tuệ thân, Công đức thân và Pháp tính sinh thân; Pháp thân Phật có 5 tên gọi: Pháp thân, Tự tính thân, Chân thực thân, Như như Phật và Pháp Phật.Theo Kim quang minh tối thắng vương kinh huyền xu quyển 4, 5 tên gọi của Hóa thân nói trên, nếu thêm 4 tên nữa là Thích ca thân, Nhị thừa phàm phu sở kiến thân, Ứng thân và Biến hóa thân thì thành tất cả 9 tên; 6 tên gọi của Ứng thân nếu thêm 2 tên nữa là Xá na thân và Bồ tát sở kiến thân thì tất cả là 8 tên; Pháp thân có 5 tên, nếu thêm 2 tên nữa là Phật sở kiến thân và Tì lô giá na thì thành 7 tên. Các kinh luận nêu tên gọi của 3 thân và giải thích rất khác nhau. 1. Ba thân nói trong Phật địa kinh luận: a. Pháp thân: Chứng ngộ và hiển bày lí thể của chân như thực tướng, không 2 không khác, thường trụ vắng lặng, gọi là Pháp thân. b. Báo thân: Thân báo đáp lại những công đức tu hành ở nhân vị và hiển hiện tướng hảo trang nghiêm. c. Ứng thân: Thân ứng theo căn tính của chúng sinh mà hiển hiện để giáo hóa. 2. Ba thân nói trong phẩm Tam thân phân biệt kinh Hợp bộ Kim quang minh quyển 1: a. Hóa thân: Khi còn tu hành ở nhân địa trong quá khứ, đức Như lai đã tu nhiều pháp, đến khi tu hành thành tựu viên mãn, tế độ tất cả chúng sinh, nhờ năng lực tu hành mà được tự tại và tùy theo căn cơ chúng sinh, ứng hiện các loại thân tướng dưới nhiều hình thức để cứu độ, gọi là Hóa thân.b. Ứng thân: Để khiến các Bồ tát được thông suốt, đồng thời thể nhận được sinh tử và Niết bàn là nhất vị, lấy đó làm căn bản cho vô biên Phật pháp, nên chư Phật Như lai thị hiện thân này có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, có vòng hào quang phía sau lưng, gọi là Ứng thân. c. Pháp thân: Để diệt trừ tất cả phiền não chướng mà đầy đủ hết thảy các thiện pháp, nên chỉ có Như như và Như như trí, gọi là Pháp thân. Hai loại thân trước(Hóa thân, Ứng thân) là Giả danh hữu, loại thân thứ ba(Pháp thân) là Chân hữu và là gốc của 2 loại thân trước. 3. Ba thân nói trong kinh Giải thâm mật quyển 5: Tức Pháp thân, Giải thoát thân và Hóa thân. Trong đó, Hóa thân là chỉ cho thân thị hiện 8 tướng; Giải thoát thân chỉ cho Ngũ phần pháp thân; Pháp thân chỉ cho Ba la mật đa ở các Địa, khéo tu diệu quả xuất li chuyển y thành tựu viên mãn. Vì Ngũ phần pháp thân hàng Thanh văn Độc giác cũng có thể chứng được, cho nên nếu chỉ nói theo phạm vi của thân này thôi thì Nhị thừa và Như lai không khác nhau. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 13 (Đại 31, 249 trung) nói: Quả cùng tột củađạo Nhị thừa gọi là Giải thoát tri kiến. Trong Giải thoát tri kiến của Nhị thừa không có 3 thân. Trong Giải thoát tri kiến của Bồ tát có 3 thân khác nhau. Tại sao vậy? Vì Nhị thừa không diệt được trí chướng, không có Nhất thiết trí, không được Pháp thân thanh tịnh viên mãn, không có đại từ bi, không thực hành các việc lợi ích người khác, không có Ứng thân và Hóa thân. Vì thế mà biết Giải thoát thân của Nhị thừa không có Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân. 4. Ba thân nói trong Tông kính lục quyển 89: a. Tự tính thân: Chư Phật Như lai có vô biên tế công đức chân thường, thực tính bình đẳng này của tất cả các pháp chính là Tự tính, cũng gọi Pháp thân. b. Thụ dụng thân: Được chia làm 2 thứ: -Tự thụ dụng thân: Các đức Như lai tu tập vô lượng phúc tuệ, tạo vô biên công đức chân thực, thường tự thụ dụng pháp lạc rộng lớn. -Tha thụ dụng thân: Các đức Như lai do trí bình đẳng thị hiện thân công đức thanh tịnh vi diệu, trụ ở cõi nước thuần tịnh, vì chúng Bồ tát Thập địa mà hiển hiện đại thần thông, quay bánh xe chánh pháp. c. Biến hóa thân: Các đức Như lai dùng thần lực bất tư nghị, biến hiện vô lượng, tùy theo các loài mà hóa thân, trụ ở các cõi tịnh uế, tùy theo cơ nghi của các Bồ tát Địa tiền và Nhị thừa mà hiện thần thông nói pháp. Cũng trong Tông kính lục quyển 89 còn nêu ra thuyết chuyển 3 tâm được 3 thân, tức là: Chuyển Căn bản tâm(thức thứ 8) thì được Pháp thân, chuyển Y bản tâm(thức thứ 7)thì được Báo thân và chuyển Khởi sự tâm (thức thứ 6)thì được Hóa thân. 5. Ba thân theo sự giải thích của Lục tổ Tuệ năng thuộc Thiền tông: a. Thanh tịnh pháp thân Phật: Thân của chúng ta chính là pháp thân Như lai, cho nên tự tính của chúng ta vốn thanh tịnh và có khả năng sinh ra tất cả các pháp. b. Viên mãn báo thân Phật: Ánh sáng Bát nhã do tự tính sinh ra có năng lực trừ sạch tất cả tình cảm dục vọng, giống như vầng mặt trời chói lọi trên cao, chiếu xa muôn dặm, tỏa ánh sáng khắp hư không, xua tan mây mù tăm tối. c. Tự tính hóa thân Phật: Nếu chúng ta tin chắc rằng năng lực của tự tính hơn tất cả hóa thân Phật thì khi tâm này hướng theo ác liền vào địa ngục, nếu khởi tâm độc hại liền biến làm rồng, rắn; nếu tâm này hướng theo thiện thì liền sinh trí tuệ, nếu khởi tâm từ bi thì liền biến làm Bồ tát.[X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.2; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương); luận Du già sư địa Q.78; Phật địa kinh luận Q.7; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.6]. (xt. Phật Thân).
tam thân biến tướng
557華嚴經隨疏演義鈔卷八以虛空、日光、日影三者比喻法、報、化三身,即:(一)法身如虛空遍,謂法性之身本體周遍,譬如虛空,無有障礙。(二)智身如日光遍,智身即報身。謂究竟始覺之智能遍破無明之暗,顯發本有真身,譬如日光,無幽不燭。(三)色身如日影遍,色身即應身。謂究竟始覺之智契於本覺法身之理,則能從體起用,遍應眾機,譬如日影,不擇高下,隨處映現。
; (三身遍相) Tướng bao trùm của 3 thân Phật. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 8 dùng ba thứ là hư không, ánh sáng mặt trời và bóng mặt trời để ví dụ 3 thân Phật là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. 1. Pháp thân như hư không biến: Bản thể của thân Pháp tính trùm khắp, giống như hư không, không có chướng ngại. 2. Trí thân như nhật quang biến: Trí thân tức là Báo thân. Trí thủy giác rốt ráo có năng lực phá tan vô minh tăm tối, hiển bày chân thân sẵn có, giống như ánh sáng mặt trời chiếu rọi khắp nơi, xua tan sự tối tăm.3. Sắc thân như nhật ảnh biến: Sắc thân tức là Ứng thân. Trí thủy giác rốt cùng khế hợp với lí bản giác pháp thân, nên có công năng từ thể khởi dụng, thích ứng với mọi căn cơ, giống như bóng mặt trời, lan tỏa khắp nơi, không phân biệt cao thấp.
tam thân hoa phạm
557又作三如來。即:(一)法身毘盧遮那如來,毘盧遮那,梵名 Vairocana,意為遍一切處。法身性相常然,真如平等,身土無礙,遍一切處。(二)報身盧舍那如來,盧舍那,梵名 Rocana,意為淨滿。報身諸惑淨盡,眾德悉圓,內以智光照真法界,即自報身;外以身光照應大機,即他報身。(三)應身釋迦牟尼如來,釋迦牟尼,梵名 Śākyamuni,意為能仁、寂默。寂默故不住生死,能仁故不住涅槃,隨機普現,說法利生。〔妙法蓮華經文句卷九下〕
; (三身華梵) Cũng gọi Tam Như lai. Tên gọi 3 thân Như lai được ghép chung giữa tiếng Hoa và tiếng Phạm. 1. Pháp thân Tì lô giá na Như lai: Tì lô giá na, Phạm:Vairocana, nghĩa là bao trùm mọi nơi. Tính tướng của Pháp thân là thường hằng tự nhiên, chân như bình đẳng, thân và cõi nước không ngăn ngại, trùm khắp mọi nơi. 2. Báo thân Lô xá na Như lai: Lô xá na, Phạm:Rocana, nghĩa là thanh tịnh viên mãn. Báo thân đã hết sạch các phiền não, mọi đức đều tròn đủ, bên trong dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi pháp giới chân thực, tức Tự báo thân; bên ngoài dùng ánh sáng trên thân chiếu soi ứng hợp đại cơ, tức Tha báo thân. 3. Ứng thân Thích ca Mâu ni Như lai: Thích ca mâu ni, Phạm: Zàkyamuni, nghĩa là Năng nhân(hay làm điều nhân từ), Tịch mặc(ưa thích sự vắng lặng). VìTịch mặc nên không trụ nơi sinh tử, vì Năng nhân nên không trụ nơi Niết bàn, tùy theo các loài mà hiện khắp, thuyết pháp lợi ích chúng sinh. [X. Diệu pháp lien hoa kinh văn cú Q.9, hạ].
tam thân nghiệp
The three physical wrong deeds - killing, robbing, adultery.
tam thân phật
Trikaya (skt)—Ba loại thân Phật. Một vị Phật có ba loại thân hay ba bình diện chơn như—Buddha has a three-fold body. A Buddha has three bodies or planes of reality. (A) Theo triết học Du Già, ba thân là Pháp thân, Báo thân, và Hóa thân—According to the Yogacara philosophy, the Triple Body is Dharmakaya, Sambhogakaya, and Nirmanakaya: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt). a) Pháp (dharma) ở đây có thể được hiểu như là “thực tính,” hoặc là “nguyên lý tạo luật” hay đơn giản hơn là “luật.”—Dharma here may be understood in either way as “reality,” or as “law giving principle,” or simply as “law.” b) Thân (kaya) nghĩa là “thân thể” hay “hệ thống.”—Kaya means “body” or “system.” c) Tập hợp Pháp Thân (Dharmakaya) có nghĩa đen là thân thể hay một người hiện hữu như là nguyên lý, và nay nó có nghĩa là là thực tính tối thượng mà từ đó các sự vật có được sự hiện hữu và luật tắc của chúng, nhưng thực tính nầy tự nó vốn vượt khỏi mọi điều kiện—The combination, dharmakaya, is then literally a body or person that exists as principle, and it has now come to mean the highest reality from which all things derive their being and lawfulness, but which in itself transcends all limiting conditions. d) Tuy nhiên Dharmakaya không phải là một từ triết học suông như khi nó được nêu định bằng từ “kaya” là từ gợi lên ý niệm về nhân tính, đặc biệt là khi nó liên hệ với Phật tính một cách nội tại và một cách thiết yếu, vì không có nó thì Đức Phật mất đi toàn bộ sự hiện hữu của Ngài—However, Dharmakaya is not a mere philosophical word, as is indicated by the term “kaya,” which suggests the idea of personality, especially as it relates to Buddhahood. It belongs to the Buddha, it is what inwardly and essentially constitutes Buddhahood, for without it a Buddha loses altogether his being. e) Pháp Thân cũng còn được gọi là Svabhavakaya, nghĩa là “cái thân thể tự tính” tự tính thân, vì nó trú trong chính nó, nó vẫn giữ như là giự tự tính của nó. Đây chính là ý nghĩa của khía cạnh tuyệt đối của Đức Phật mà trong Ngài sự tịch lặng toàn hảo là thù thắng—Dharmakay is also known as Svabhavakaya, meaning “self-nature-body”, for it abides in itself, it remains as such retaining its nature. It is this sense the absolute aspect of the Buddha, in whom perfect tranquility prevails. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Cái thân thứ hai là Báo Thân, thường được dịch là cái thân của sự đền bù hay sự vui hưởng—The second body is the Sambhogakaya, which is ordinarily translated as Body of Recompense, or Enjoyment. a) Theo nguyên nghĩa “sự vui hưởng: là tốt nhất để dịch “sambhoga” vì nó nó xuất phát từ ngữ căn “bhuj,” nghĩa là “ăn,” hay “vui hưởng,” tiền từ của nó là “sam,” nghĩa là “cùng với nhau” được thêm vào đó—Literally, “enjoyment” is a better word for sambhoga, for it comes originally from the root “bhuj,” which means “to eat” or “to enjoy,” to which the prefix “sam” meaning “together” is added. b) Sambhogakaya được dịch sang Hoa ngữ là “Cộng Dụng Thân” hay “Thọ Dụng Thân,” hay “Thực Thân.”—Thus “sambhogakaya” is often translated into the Chinese as “Kung-Yung-Shên,” or “Shou-Yung-Shen,” or “Chih-Shên.” c) Khi chúng ta có từ Báo Thân, cái thân của sự khen thưởng, đền đáp dành cho nó. Cái thân thọ dụng nầy đạt được như là kết quả hay sự đền đáp cho một chuỗi tu tập tâm linh đã thể hiện xuyên qua rất nhiều kiếp. Cái thân của sự đền đáp, tức là cái thân được an hưởng bởi một vị rất xứng đáng tức là vị Bồ Tát Ma Ha Tát—Since we have the term “sambhogakaya,” recompense or reward body for it. This body of Enjoyment is attained as the result of or as the reward for a series of spiritual discipline carried on through so many kalpas. The body thus realized is the sambhogakaya, body of recompense, which is enjoyed by the well-deserving one, i.e., Bodhisatva-Mahasattva. d) Đức Phật như là cái thân thọ dụng thường được biểu thị như là một hình ảnh bao gồm tất cả sự vinh quang của Phật tính; vì ở trong Ngài, với hình hài, có một thứ tốt đẹp thánh thiện do từ sự toàn hảo của đời sống tâm linh. Những nét đặc trưng của từng vị Phật như thế có thể thay đổi theo các bổn nguyện của Ngài, ví dụ, hoàn cảnh của Ngài, danh tánh, hình tướng, xứ sở và sinh hoạt của Ngài có thể không giống với các vị Phật khác; đức Phật A Di Đà có Tịnh Độ của Ngài ở phương Tây với tất cả mọi tiện nghi như Ngài mong muốn từ lúc khởi đầu sự nghiệp Bồ Tát của Ngài; và Đức Phật A Súc cũng thế, như được miêu tả trong bộ Kinh mang tên Ngài là A Súc Phật Kinh—The Buddha as the Body of Enjoyment is generally represented as a figure enveloped in all the glory of Buddhahood; for in Him incarnated there is everything good and beautiful and holy accruing from the perfection of the spiritual life. The particular features of each such Buddha may vary according to his original vows; for instance, his environment, his name, his form, his country, and his activity may not be the same; Amitabha Buddha has his Pure Land in the West with all the accommodations as he desired in the beginning of his career as Bodhisattva; and so with Akshobhya Buddha as described in the sutra bearing his name. e) Báo Thân thỉnh thoảng cũng được gọi là “Ứng Thân.”—The Body of Recompense is sometimes called “Ying-Shên” or the Responding Body. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt). a) Cái thân thứ ba là Hóa Thân, nghĩa là “thân biến hóa” hay đơn giản là cái thân được mang lấy. Trong khi Pháp Thân là cái thân quá cao vời đối với những chúng sanh bình thường, khiến những chúng sanh nầy khó có thể tiếp xúc tâm linh được với nó, vì nó vượt khỏi mọi hình thức giới hạn nên nó không thể trở thành một đối tượng của giác quan. Những phàm nhân phải chịu sinh tử như chúng ta đây chỉ có thể nhận thức và thông hội với cái thân tuyệt đối này nhờ vào những hình tướng biến hóa của nó mà thôi. Và chúng ta nhận thức những hình tướng nầy theo khả năng của chúng ta về tâm linh, trí tuệ. Những hình tướng nầy xuất hiện với chúng ta không theo cùng một hình thức như nhau. Do đó mà chúng ta thấy trong Kinh Pháp Hoa rằng Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện thành rất nhiều hình tướng khác nhau tùy theo loại chúng sanh mà Ngài thấy cần cứu độ. Kinh Địa Tạng cũng ghi rằng Bồ Tát Địa Tạng mang nhiều hình tướng khác nhau để đáp ứng những nhu cầu của chúng sanh—The third Body is Nirmanakaya, usually translated as “Hua-Shên,” which means “Body of Transformation,” or simply “Assumed Body.” The Dharmakaya is too exalted a body for ordinary mortals to come to any conscious contact with. As it transcends all forms of limitation, it cannot become an object of sense or intellect. We ordinary mortals can perceive and have communion with this body only through its transformed forms. And we perceive them only according to our capacities, moral and spiritual. They do not appear to us in the same form. We thus read in the Saddharma-Pundarika Sutra that the Bodhisattva Avalokitesvara transforms himself into so many different forms according to the kind of beings whose salvation he has in view at the moment. The Kshitigarbha Sutra also mentions that Kshitigarbha Bodhisattva takes upon himself a variety of forms in order to respond to the requirements of different sentient beings. b) Quan niệm về Hóa Thân là quan trọng, vì cái thế giới tương đối nầy đối lập với giá trị tuyệt đối của Như Như là giá trị vốn chỉ đạt được tới bằng cái trí như như. Bản thể của Phật tính là Pháp Thân, nhưng hễ chừng nào Đức Phật vẫn ở trong bản thể của Ngài thì cái thế giới của những đặc thù vẫn không có hy vọng được cứu độ. Vì thế Đức Phật phải từ bỏ trú xứ nguyên bổn của Ngài và mang lấy hình tướng mà các cư dân của trái đất nầy có thể nhận thức và chấp nhận được—The conception of the Nirmanakaya is significant, seeing that this world of relativity stands contrasted with the absolute value of Suchness which can be reached only by means of the knowledge of Suchness or Tathatajnana. The essence of Buddhahood is the Dharmakaya, but as long as the Buddha remains such, there is no hope for the salvation of a world of particulars. Thus the Buddha has to abandon his original abode, and must take upon himself such forms as are conceivable and acceptable to the inhabitants of this world. (B) Theo Thiền Sư D.T. Suzki trong Thiền Luận, Tập III—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, Book III: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—Pháp thân là tự thể của hết thảy chư Phật và chúng sanh. Do Pháp thân mà chư pháp có thể xuất hiện. Không có Pháp thân sẽ không có thế giới. Nhưng đặc biệt, Pháp thân là bản thân yếu tính của hết thảy mọi loài, đã có sẵn từ trước. Theo nghĩa nầy, Pháp thân là Pháp tánh (Dharmata) hay Phật tánh (Buddhata), tức Phật tánh trong hết thảy mọi loài—The Dharmakaya is the essence-being of all the Buddhas and also of all beings. What makes at all possible the existence of anything is the Dharmakaya, without which the world itself is inconceivable. But, especially, the Dharmakaya is the essence-body of all beings which forever is. In this sense it is Dharmata or Buddhata, that is, the Buddha-nature within all beings. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Cũng gọi là Thọ Dụng Thân, là bản thân tâm linh của các Bồ Tát, được Bồ Tát thọ dụng như là kết quả do tu tập các Ba La Mật. Các ngài tự mình thành tựu điều nầy tùy theo định luật nhân quả trên phương diện đạo đức, và trong đây các ngài giải trừ trọn vẹn tất cả những sai lầm và ô nhiễm trong cảnh giới của năm uẩn—The Sambhogakaya is the spiritual body of the Bodhisattvas which is enjoyed by them as the fruit of their self-discipline in all the virtues of perfection. This they acquire for themselves according the law of moral causation, and in this they are delivered at last from all the defects and defilements inherent in the realm of the five Skandhas. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—Cũng gọi là Ứng Hóa Thân hay Biến Hóa Thân, phát sinh từ đại bi tâm (mahakaruna) của chư Phật và chư Bồ Tát. Bằng lý thể của đại bi mà các ngài hướng tới chúng sanh, các ngài không bao giờ thọ dụng những kết quả của các hành vi đạo đức của mình. Chí nguyện thiết tha của các ngài là chia xẻ những kết quả nầy cho tất cả chúng sanh. Nếu Bồ Tát có thể thay thế kẻ phàm phu chịu khổ não, Bồ Tát thực hiện ngay. Nếu kẻ phàm phu có thể được giác ngộ do Bồ Tát hồi hướng công đức cho mình, ngài sẽ thực hiện ngay. Bồ Tát hồi hướng công đức và chịu khổ thay cho chúng sanh nhờ Biến Hóa Thân của ngài. Hóa thân là hình tướng mà Đức Phật đã xử dụng khi muốn dùng thân hình của một con người để đi vào thế giới nầy. Do đó, trong tính cách không gian, Bồ Tát chia thân mình thành trăm nghìn koti vô số thân. Ngài có thể hóa thân làm những loài bò bay máy cựa, làm Thánh, làm Ma vương, nếu ngài thấy đó là cơ duyên thích hợp để cứu vớt thế gian ra khỏi sự kềm tỏa của vô minh, phiền não và đủ mọi thứ nhiễm ô bất tịnh—The Nirmanakaya is born of great loving heart (mahakaruna) of the Buddhas and Bodhisattvas. By reason of this love they have for all beings, they never remain in the self-enjoyment of the fruits of their moral deeds. Their intense desire is to share those fruits with their fellow-beings. If the ignorant could be saved by the Bodhisattva by his vicariously suffering for them, he would do so. If the ignorant could be enlightened by the Bodhisattva by turning his stock of merit over to them, he would do so. This turning over of merit and this vicarious suffering are accomplished by the Bodhisattva by means of his Nirmanakaya, transformation-body. Nirmanakaya is a body assumed by the Buddha in order to establish contact with the world in a human form. In this form, therefore, the Bodhisattva, spatially speaking, divides himself into hundreds of thousands of kotis of bodies. He can then be recognized in the form of a creeping caterpillar, in a sky-scraping mountain, in the saintly figure of Saints, and even in the shape of a world-devouring Evil One (Mara), if he thinks it necessary to take this form in order to save a world that has passed into the hands of ignorance, evil passions, and all kinds of defilements and corruptions. (C) Theo Nhiếp Luận Tông—According to Samparigraha School: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—Bản tánh là lý thể và trí tuệ—Ideal body whose nature is principle and wisdom. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Thọ dụng thân, chỉ thị hiện cho Bồ Tát—Enjoyment or Reward-body which appears only for the Bodhisattva. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—Biểu hiện cho thường nhân để họ tôn sùng. Hóa thân Phật là thân vật chất mà chư Phật thị hiện để cứu độ chúng sanh—Transformation-body which manifests itself for ordinary people for their worship. The transformation body of the Buddha, the body-of-form of all Buddhas which is manifested for the sake of men who cannot yet approach the Dharmakaya (the formless True Body of Buddhahood). (D) Theo Pháp Tướng Tông—According to Dharmalaksana School—See (C) (Vì Nhiếp Luận Tông là tiền thân của Pháp Tướng Tông—For Samparigraha School was a forerunner of the Dharmalaksana School). (E) 1) Sắc thân: The physical body of the Buddha. 2) Pháp môn thân: His psychological body with its vast variety. 3) Thực tướng thân: His real body—Dharmakaya. (F) (F1) Tam Thân Phật theo tông Thiên Thai. Ba thân Phật được coi như là Phật quả; đây là lý thuyết đặc trưng của tông Thiên Thai. Mỗi Đức Phật giác ngộ viên mãn đều được quan niệm là có ba thân—Trikaya. According to the T'ien-T'ai, the Threefold Body of the Buddha is mentioned as Buddhahood. Every Buddha of Perfect Enlightenment is supposed to possess three bodies: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (3). 2) Thọ Dụng Thân: Sambhogakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (2) (a) and (b). 3) Ứng Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (1). (F2) Tam Thân Phật, trong đó Pháp Thân là lãnh vực chuyên môn, Báo Thân với sự luyện tập để thâu thập được lãnh vực chuyên môn nầy, và Hóa Thân với sự áp dụng lãnh vực chuyên môn trong cuộc sống hằng ngày: Trikaya (skt)—Dharmakaya or Dharma body (Law body) is likened to the field of a specific career; the Sambhogakaya or bliss-body is a person's training by which that person acquires the knowledge of that specific career; and the Nirmanakaya or the body of transformation is likened the application of this knowledge in daily life to earn a living. 1) Hóa thân (Ứng thân): Nirmana-kaya (skt)—Ứng thân—Từ ngữ “thân,” theo nghĩa thường rất dễ bị hiểu lầm vì nó gợi ra ý tưởng về một hiện hữu thể xác. Tuy nhiên, theo Thiên Thai tông thì Ứng Hóa Thân là thân thể xuất hiện qua nhiều hình thức hay thân chuyển hóa của chư Phật. Khi muốn cứu độ chúng sanh, một vị Phật có thể hóa thân vào một thân thể, như trường hợp Phật Thích Ca Mâu Ni là hóa thân của Phật Tỳ Lô Giá Na—The term “body” in the ordinary sense is rather misleading because it conveys the idea of a bodily existence. However, according to the T'ien-T'ai Sect, Nirmanakaya means body of manifestation, or the body of transformation (incarnation)—Transformation body or the incarnated body of the Buddha—The body in its various incarnation. In order to benefit certain sentient beings, a Buddha can incarnate himself into an appropriate visual body, such as that of Sakyamuni which is the transformation body of Vairocana Buddha. It is twofold: a) Thân thể chỉ riêng cho các vị Bồ Tát sơ cơ: The body exclusively for Bodhisattvas of primary stage, that is, a superior body of Transformation. b) Thân thể dành cho những chúng sanh dưới hàng Bồ Tát sơ cơ: The body for those who are prior to the primary stage. 2) Báo thân: Sambhogakaya (skt)—Báo thân Phật là báo thân của sự thọ hưởng. Đây là kinh nghiệm về sự cực lạc của giác ngộ, về pháp tâm của Phật và chư tổ, và về sự tu tập tâm linh được truyền từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Phật A Di Đà trong cõi Tây Phương Cực Lạc tượng trưng cho báo thân nầy. Báo thân nầy luôn đang ngự trị trên cõi Tịnh Độ, chỉ hiển hiện trên cõi trời chứ chẳng bao giờ hiển hiện trong cõi trần, báo thân nầy thường được chư Bồ tát giác ngộ tháp tùng. Theo tông Thiên Thai, thọ dụng thân là hiện thân hữu ngã với chứng ngộ chân thật, nghĩa là tự thân đạt được do báo ứng của một tác nhân lâu dài. Thân nầy có hai loại—Potentiality—The reward body of bliss or enjoyment—Celestial body or bliss-body of the Buddha, personification of eternal perfection in its ultimate sense. The experience of the rapture of enlightenment, of the Dharma-mind of the Buddha and the patriarchs, and of the spiritual practices which they have transmitted from generation to generation. Amitabha Buddha in his Western Paradise symbolizes this "bliss-body." It always resides in the Pure Land and never manifests itself in the mundane world, but only in the celestial spheres, acompanied by Enlightened Bodhisattvas. According to the T'ien-T'ai Sect, the Enjoyment or Reward-body is the person embodied with real insight, i.e., the body attained as the value of a long causal action. There are two kinds of Sambhogakaya: a) Tự Thọ Dụng: Vô lượng công đức chân thực và viên tịnh thường biến sắc thân của các Đức Như Lai do ba a tăng kỳ kiếp tu tập vô lượng phước huệ tư lương mà khởi lên—Sambhogakaya for the Buddha's own use, or bliss. b) Tha Thọ Dụng: Vi diệu tịnh công đức thân của các Đức Như Lai do bình đẳng trí thị hiện ra, chư Bồ Tát trụ nơi Thập Địa hiện đại thần thông, chuyển chánh pháp luân, xé rách lưới nghi của chúng sanh khiến họ thọ dụng được pháp lạc Đại Thừa—Sambhogakaya for the spiritual benefit of others. 3) Pháp thân: Dharmakaya—Pháp thân Phật vô sắc, bất biến, siêu việt, không thể nghĩ bàn và đồng nghĩa với “Tánh không.” Đây là kinh nghiệm về tâm thức vũ trụ, về nhất thể ở bên kia mọi khái niệm. Pháp thân được thừa nhận vô điều kiện là bản thể của tánh viên dung và toàn hảo tự do phát sinh ra mọi hình thức hữu sinh hoặc vô sinh và trật tự luân lý. Phật Tỳ Lô Giá Na, tức Quang Minh Biến Chiếu Phật, là hiện thân hình thái nầy của tâm thức vũ trụ. Theo tông Thiên Thai, Pháp thân chính là lý niệm, lý tánh hay chân lý, không có một hiện hữu hữu ngã nào. Nó đồng nhất với “Trung Đạo Đế.”—Essence—Absolute or spiritual body or Law Body—Dharma body of reality which is formless, unchanging, transcendental and inconceivable and synonymous with “Emptiness.” The dharma body includes meditation, wisdom, and nirvana (Thể, trí, dụng). This is the experience of cosmic consciousness, of oneness that is beyond every conception. The unconditioned dharmakaya is the substratum of completeness and perfection out of which arise all animate and inanimate forms and moral order. Vairocana Buddha, the “All-Illuminating One” embodies this aspect of universal consciousness. According to the T'ien-T'ai, Dharmakaya is the idea or Principle or Truth itself without any personal existence.
tam thân tam đức
555三身即法身、報身、應身,三德即法身德、般若德、解脫德。二者配列,則法身為法身之德,報身為般若之德,應身為解脫之德。(參閱「三身」555、「三德」668)
; The tam thân are pháp, báo, ứng; the tam đức are pháp, bát, giải,i.e. the virtue or merit of the (a) pháp thân being absolute, independence, reality; (b) báo thân being bát nhã prajnà or wisdom; (c) ứng thân being giải thoát đức liberation or nirvàna.
; (三身三德) Tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân; Tam đức là Pháp thân đức, Bát nhã đức và Giải thoát đức. Nếu Tam thân và Tam đức được phối hợp với nhau, thì pháp thân là đức của Pháp thân, Báo thân là đức của Bát nhã, Ứng thân là đức của Giải thoát. (xt. Tam Thân, Tam Đức).
tam thân thanh tịnh
Three bodies of pure precepts—Three comprehensive precepts—Three kinds of pure precepts: 1) Không làm các điều ác: Do not do what is evil. 2) Làm các hạnh lành: Do what is good. 3) Luôn làm lợi lạc cho chúng sanh: Be of benefit to all sentient beings.
tam thân thế tục
Three worldly intimate relations: 1) Cha: father. 2) Mẹ: Mother. 3) Anh chị em: Brothers and sisters.
tam thân thọ lượng
557指法、報、應三身之壽量:(一)法身壽量,法身非色質、非心智,強指法性為身,故其壽量非報得命根、非連持之壽,強指不遷不變為壽,此壽非長量、非短量,無在世及滅度,非實非虛。(二)報身壽量,久修業所得智力,慧光照無量,壽命無數劫。(三)應身壽量,智與體冥合,能起大用,隨所應度,處處自說,名字不同,年紀大小不等。〔妙法蓮華經文句卷九下〕
; (三身壽量) Chỉ cho tuổi thọ của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. 1. Pháp thân thọ lượng: Pháp thân chẳng thuộc về sắc chất, không phải tâm trí, cưỡng gọi Pháp tính là thân, cho nên tuổi thọ của Pháp thân chẳng phải mệnh sống do quả báo mà được, chẳng phải tuổi thọ kéo dài liên tục, mà cưỡng gọi cái không dời không đổi là thọ; thọ này chẳng phải trường thọ, chẳng phải đoản thọ, không ở đời và diệt độ, chẳng phải thực, chẳng phải hư. 2. Báo thân thọ lượng: Trí lực do tu lâu mà được, ánh sáng trí tuệ chiếu soi vô lượng, thọ mệnh vô số kiếp 3. Ứng thân thọ lượng: Trí và thể thầm hợp, phát khởi đại dụng, độ những ai có thể độ được, tự thuyết giảng ở khắp mọi nơi, tên gọi khác nhau, tuổi thọ lâu mau bất định. [X. Diệu pháp liên hoa kinh văn cú Q.9, hạ].
tam thí
580<一>大智度論卷十一以財、法、無畏三種施為三施。即:(一)財施,自能持戒,不侵他人財物,又能以己之財施與他人。(二)法施,為人說法,令其開悟。(三)無畏施,持戒之人無殺害之心,令其無畏。 <二>大智度論卷十二以物、供養恭敬、法三種施為三施。即:(一)物施,即財施。(二)供養恭敬施,即信心清淨,恭敬禮拜等。(三)法施,即為人說法。 <三>華嚴經疏鈔卷二以飲食、珍寶、身命三種施為三施。即:(一)飲食施,見饑餓之人,即以飲食濟其困餒,又稱下品施。(二)珍寶施,見貧窮之人,即以財物珍寶周其窘乏,又稱中品施。(三)身命施,復分為二:(1)僅割身肉,濟於饑餓眾生,是為身施。(2)若全身施與,命亦隨盡,是為命施。此等之施,極難極重,故又稱上品施。
; The three forms of giving: (1) (a) Tài thí one's goods; (b) Pháp thí the Law or Truth; (c) Vô úy thí courage or confidence. (2) (a) Vật thí goods; (b) Cúng dường cung kính thí worship; (c) Pháp thí preaching. (3) (a) Ẩm thực thí food; (b) Trân bảo thí valuables; (c) Thân mạng thí life.
; (三施) Chỉ cho ba cách bố thí. Theo luận Đại trí độ quyển 11 thì 3 cách bố thí là: 1. Tài thí: Người giữ giới, không những chẳng xâm phạm tài vật của người khác mà còn đem tài vật của mình bố thí cho người khác. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người khác nghe, khiến họ được khai ngộ. 3. Vô úy thí: Người trì giới, không có tâm giết hại, khiến người và vật không sợ hãi; hoặc khi người và vật gặp tai nạn, mình che chở cho họ khỏi sợ hãi. Theo luận Đại trí độ quyển 12 thì Tam thí là: 1. Vật thí: Tức tài thí. 2. Cúng dường cung kính thí: Tức lòng tin thanh tịnh, cung kính lễ bái. 3. Pháp thí: Tức nói pháp cho người nghe. Theo Hoa nghiêm kinh sớ sao quyển 2 thì Tam thí là: 1. Ẩm thực thí: Thấy người đói khát liền đem thức ăn uống cứu giúp họ qua cơn đói khổ, cũng gọi là Hạ phẩm thí. 2. Trân bảo thí: Thấy người nghèo cùng liền đem tài vật quí báu chu cấp cho họ qua cơn khốn quẫn, cũng gọi là Hạ phẩm thí.3. Thân mệnh thí, được chia làm 2: a. Chỉ cắt 1 ít thịt trên thân thể để cứu chúng sinh trong cơn đói, đó là Thân thí. b. Nếu bố thí toàn thân, sinh mệnh cũng hết thì đó là Mệnh thí. Cách bố thí này rất khó thực hiện nên cũng gọi là Thượng phẩm thí.
tam thô trọng
616又作三麤重。指每一阿僧祇劫次第所斷之皮粗重、膚粗重、骨粗重三種習氣。此三種習氣乃煩惱、所知二障之種子所引無堪任之性,故又稱三障、三煩惱。皮粗重,又作皮障、皮過、皮煩惱障。膚粗重,又作膚障、膚過、肉煩惱障、肉粗重。骨粗重,又作骨障、骨過、心煩惱障、實粗重。 據瑜伽師地論卷四十八等所載,若經三無數大劫之時量,則能斷除一切煩惱障品、所知障品所有之粗重;於三住中可斷煩惱障品所有之粗重,即於「極歡喜住」中,一切惡趣諸煩惱品所有之粗重皆悉永斷,一切上中之諸煩惱品皆不現行;於「無加行、無功用、無相住」之中,一切能障一向清淨無生法忍之諸煩惱品所有之粗重,皆悉永斷,一切煩惱皆不現前;於「最上成滿菩薩住」之中,一切煩惱習氣隨眠障礙悉皆永斷,入於如來住。至於所知障品所有之粗重,則有皮粗重、膚粗重、骨粗重三種,此三者亦可於上述三住中斷除,即於「極歡喜住」中斷除皮粗重,於「無加行、無功用、無相住」中斷除膚粗重,於「如來地」(即最上成滿菩薩住)中斷除骨粗重。 粗重之體性,諸說紛異。瑜伽師地論卷七十三以惡趣不樂品為皮粗重,即由斷除皮粗重而不往惡趣,修加行時不為不樂之所間雜;煩惱障品為膚粗重,即由斷除膚粗重之故,一切種之極微細煩惱不現行,然未永斷一切隨眠;所知障品為心粗重,即由斷除心粗重之故,永斷一切所有隨眠,遍於一切所知之境界而無障礙,智自在而轉。亦即以第二之膚粗重屬煩惱障,第三之心粗重(即骨粗重)屬所知障,而以第一之皮粗重總含二障。成唯識論了義燈卷七末則以煩惱、所知二障各有皮、膚、骨三種粗重而綜論之。〔解深密經卷四、解深密經疏卷九、成唯識論述記卷九末、卷十末、大乘義章卷五本、華嚴經孔目章卷三、大乘法苑義林章卷一末〕
; (三粗重) Ba to nặng. Tức chỉ cho 3 thứ tập khí thô to, nặng nề mà người tu hành phải lần lượt đoạn trừ trong 3 a tăng kì kiếp. Ba thứ tập khí này là hạt giống của Phiền não chướng và Sở tri chướng, cho nên cũng gọi là Tam chướng, Tam phiền não. 1. Bì thô trọng(cũng gọi Bì chướng, Bì quá, Bì phiền não chướng). Nghĩa là tập khí tuy thô trọng nhưng tương đối còn dễ đoạn trừ, ví như bệnh còn ở ngoài da (bì), vì thế gọi là Bì thô trọng. 2. Phu thô trọng(cũng gọi Phu chướng, Phu quá, Nhục phiền não chướng, Nhục thô trọng). Nghĩa là tập khí thô trọng tương đối đã trở nên khó đoạn trừ, ví như bệnh đã thấm vào lớp da mỏng (phu)và thịt (nhục) bên trong, cho nên gọi là Phu thô trọng. 3. Cốt thô trọng(cũng gọi Cốt chướng, Cốt quá, Tâm phiền não chướng, Thực thô trọng). Nghĩa là tập khí thô trọng được xông ướp trong nhiều đời, nhiều kiếp, nên việc đoạn trừ trở nên cực kì khó khăn, ví như bệnh đã thấm vào tận xương(cốt), vì thế gọi là Cốt thô trọng. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 48, nếu trải qua thời gian 3 vô số đại kiếp thì đoạn trừ được tất cả thô trọng của Phiền não chướng và Sở tri chướng; trong Tam trụ thì đoạn được tất cả thô trọng của Phiền não chướng, tức trong Cực hoan hỉ trụ thì tất cả thô trọng của các phiền não trong hết thảy ác thú đều dứt trừ hẳn, tất cả phiền não bậc thượng bậc trung đều không hiện hành; trong Vô gia hạnh, vô công dụng, vô tướng trụ thì thô trọng của tất cả phiền não gây chướng ngại cho Vô sinh pháp nhẫn thanh tịnh thảy đều dứt hẳn, hết thảy phiền não đều không hiện tiền; trong Tối thượng thành mãn bồ tát trụ thì tất cả tập khí phiền não tùy miên chướng ngại hết thảy đều dứt trừ vĩnh viễn mà vào Như lai trụ. Còn về tất cả thô trọng của Sở tri chướng thì có 3 loại: Bì, Phu, Cốt như đã nói trên, cũng được đoạn trừ trong Tam trụ, tức là trong Cực hoan hỉ trụ đoạn trừ Bì thô trọng, trong Vô gia hạnh, vô công dụng, vô tướng trụ đoạn trừ Phu thô trọng, trong Như lai địa(tức Tối thượng thành mãn bồ tát trụ)đoạn trừ Cốt thô trọng. Về thể tính của thô trọng thì có nhiều thuyết khác nhau. Luận Du già sư địa quyển 73 cho rằng Ác thú bất lạc phẩm là Bì thô trọng, tức do đoạn trừ Bì thô trọng mà không rơi váo ác thú, lúc tu gia hạnh không bị những cái không vui(bất lạc) xen lẫn. Phiền não chướng là Phu thô trọng, tức nhờ đoạn trừ Phu thô trọng nên tất cả hạt giống của những phiền não cực vi tế không hiện hành, nhưng chưa dứt hẳn tất cả tùy miên. Sở tri chướng là Tâm thô trọng, tức do đoạn trừ Tâm thô trọng nên vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tùy miên, có mặt ở khắp tất cả cảnh giới sở tri mà không bị ngăn ngại, trí chuyển một cách tự tại. Cũng có nghĩa là Phu thô trọng thuộc về Phiền não chướng, Tâm thô trọng(tức Cốt thô trọng) thuộc Sở tri chướng, còn Bì thô trọng thì bao hàm cả 2 chướng. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 7 phần cuối thì cho rằng Phiền não chướng và Sở tri chướng, mỗi chướng đều có 3 loại thô trọng bì, phu, cốt và bàn chung về 3 loại thô trọng này. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; Giải thâm mật kinh sớ Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối, Q.10, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩalâm chương Q.1].
tam thông
Tevijjā (P).
tam thông lực
619為華嚴經疏卷二十所舉之三種神通力。即:(一)報得通力,三界諸天皆有五種神通,乃至鬼神亦有小通,雖勝劣不同,俱能變現無礙。此神通乃由果報自然感得,故稱報得通力。(二)修得通力,聲聞、緣覺、菩薩由修戒定慧,功行成就之時,發得六種神通,變現自在,隱顯莫測。此神通由修而得,故稱修得通力。(三)變化通力,諸佛菩薩以神通力能作種種變現,乃至現諸身相或勝或劣,現諸國土或淨或穢等,故稱變化通力。
; (三通力) Chỉ cho 3 thứ năng lực thần thông nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 20: 1. Báo đắc thông lực: Chư thiên trong 3 cõi đều có 5 thứ thần thông, cho đến quỉ thần cũng có tiểu thông lực, tuy hơn kém khác nhau nhưng đều biến hiện vô ngại. Loại thần thông này do quả báo tự nhiên cảm được, nên gọi Báo đắc thông lực. 2. Tu đắc thông lực: Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát do tu giới định tuệ, khi công hạnh thanh tịnh thì phát được 6 thứ thần thông, biến hiện tự tại, ẩn hiển khó lường. Loại thần thông này nhờ tu mà có được nên gọi Tu đắc thông lực. 3. Biến hóa thông lực: Chư Phật và Bồ tát dùng năng lực thần thông biến hiện ra các loại thân tướng, hoặc hơn hoặc kém, cho đến hiện ra các quốc độ hoặc sạch hoặc nhơ... cho nên gọi là Biến hóa thông lực.
tam thú
The three animals - hare, horse, elephant - crossing a stream. The sravaka is like the hare who crosses by swimming on the surface; the pratyeka is like the horse who crosses deeper than the hare; the bodhisattva is like the elephant who walks accross on the bottom.
tam thú độ hà
695以兔、馬、象三獸之渡河比喻三乘斷惑修行之深淺。蓋佛陀住世說法四十五年,然因聽聞教法之人根機深淺不同,乃以方便宣說三乘法;教法雖有三乘之別,然皆同屬一味法性,聲聞、緣覺、菩薩以所證有深淺,猶如兔、馬、象三獸之渡河,兔渡則浮,馬渡及半,象乃澈底截流。 法華經玄義卷八下(大三三‧七八一下):「三獸渡河,同入於水,三獸有強弱,河水有底岸,兔馬力弱,雖濟彼岸,浮淺不深,又不到底。大象力強,俱得底岸。三獸喻三人,水喻即空,底喻不空。二乘智少,不能深求,喻如兔馬。菩薩智深,喻如大象,水軟喻空,同見於空,不見不空。底喻實相,菩薩獨到,智者見空及與不空。」即知聲聞悟道最淺,緣覺悟道稍深,菩薩悟道最深。法性之空理,猶如河水,三乘之人雖證同一法性,渡同一生死之流,然因其根機深淺不同而生差別。 (一)象渡河,比喻菩薩之人修六度萬行,利益眾生,斷除見思惑,習氣盡淨而證菩提,如象之渡河,得至其底。(二)馬渡河,比喻緣覺之人修十二因緣,斷除見思惑,雖兼斷習氣,未能淨盡,而證真空之理,如馬之渡河,雖不至底而漸深。(三)兔渡河,比喻聲聞之人修四諦法,斷除見思惑,未能除斷習氣,但證真空之理,如兔之渡河,但浮水而過,不能深入。 於法華經玄義卷八下更分象為大小二種,而以小象比喻別接通之菩薩,以大象比喻圓接通之菩薩。〔北本大般涅槃經卷二十七、優婆塞戒經卷一、大毘婆沙論卷一四三、摩訶止觀卷六上〕
; (三獸渡河) Ba con thú lội qua sông, ví dụ sự tu hành đoạn hoặc của Tam thừa có sâu cạn khác nhau. 1. Voi lội qua sông: Ví dụ hàng Bồ tát tu 6 độ muôn hạnh, lợi ích chúng sinh, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, tập khí sạch hết, chứng được bồ đề giống như voi lội qua sông, chân chạm đến tận đáy. 2. Ngựa lội qua sông: Ví dụ hàng Duyên giác tu 12 nhân duyên, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, tuy đoạn cả tập khí nhưng chưa hết sạch và chỉ chứng lí chân không, như ngựa lội qua sông, tuy chưa đến tận đáy, nhưng đã hơi sâu. 3. Thỏ lội qua sông: Ví dụ hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, chưa đoạn được tập khí, chỉ chứng lí chân không, như thỏ lội qua sông, chỉ nổi trên mặt nước mà qua chứ không lội sâu xuống được. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8 hạ (Đại 33, 781 hạ) nói: Ba con thú lội qua sông, cùng ở trong nước, 3 con thú mạnh yếu, nước có đáy bờ, thỏ và ngựa sức yếu, tuy lội đến bờ bên kia nhưng nổi cạn không sâu, không chạm đến đáy. Voi lớn sức mạnh, đến được bờ kia, lại vừa chạm đáy. Ba con thú ví dụ Tam thừa, nước dụ tức không, đáy dụ bất không. Nhị thừa trí cạn không thể cầu sâu, ví như thỏ và ngựa. Bồ tát trí sâu, giống như voi lớn, sự êm đềm của nước ví dụ với Không, cùng thấy không, chẳng thấy Bất không. Đáy dụ cho thực tướng, chỉ một mình Bồ tát đến được đáy, bậc trí thấy Không và cả Bất không. Qua ví dụ trên cho thấy Thanh văn ngộ đạo cạn nhất, Duyên giác ngộ đạo hơi sâu, còn Bồ tát thì ngộ đạo sâu nhất. Lí không của pháp tính giống như nước sông. Hàng Tam thừa tuy chứng cùng một pháp tính, bơi lội trong cùng một dòng sinh tử, nhưng vì căn cơ có sâu cạn khác nhau mà nảy sinh bất đồng. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8, hạ, còn chia voi 2 loại lớn nhỏ, voi nhỏ dụ cho Bồ tát Biệt tiếp Thông, voi lớn thí dụ cho Bồ tát Viên tiếp Thông. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.27 (bản Bắc); kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại tì bà sa Q.143; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng].
tam thường
608指佛身三種常住。即:(一)本性常,又作自性常、凝然常。指一切諸法之自性身,其身常住,畢竟無漏。(二)不斷常,又作無間常。指一切諸佛之受用身,其身常住,恆受法樂,無有間斷。(三)相續常,指一切諸佛之變化身,其身常住,沒已復現,無有窮盡。佛地經論卷七(大二六‧三二六中):「常有三種,(中略)如是法身雖離一切分別戲論,而無生滅故說名常,二身雖有念念生滅,而依常身無間斷故,恆相續故說名為常。」 成唯識論卷十(大三一‧五七下):「清淨法界無生、無滅,性無變易,故說為常,四智心品所依常故,無斷盡故,亦說為常。非自性常,從因生故。生者歸滅,一向記故。不見色心,非無常故。然四智品由本願力所化有情無盡期故,窮未來際,無斷無盡。」故無斷為不斷常,即自他受用之報身;無盡為相續常;即化身。此為法相宗之意。然法性宗謂自受用身已解脫三種生死,不生不滅,而為自性常。對此說法,道邑之唯識論疏義蘊中謂佛之色身並非自性常,因有生滅,故與其他有情之色身相同。又懷感之釋淨土群疑論卷二則以自性常作為凝然常而論三常(大四七‧三八上):「雖各名常,義有差別,以後二身從生因生,般若論說報化二身生因生故,諸所作皆是無常,若是凝然,應同法身了因所證,又應非陰,亦無緣慮言說動作,以此眾多義理推之,非凝然常也。」〔唐譯攝大乘論釋卷十、成唯識論述記卷十本、華嚴五教章卷二〕
; (三常) Chỉ cho 3 thứ thường trụ của thân Phật. Đó là: 1. Bản tính thường(cũng gọi Tự tính thường, Ngưng nhiên thường): Chỉ cho thân Tự tính của tất cả các pháp, thân này thường trụ, rốt ráo vô lậu. 2. Bất đoạn thường(cũng gọi Vô gián thường): Chỉ cho thân Thụ dụng của hết thảychưPhật; thân này thường trụ, hằng thụ pháp lạc, không lúc nào gián đoạn. 3. Tương tục thường: Chỉ cho thân Biến hóa của tất cả chư Phật, thân này thường trụ, nhập diệt ở nơi này lại thị hiện ở nơi khác, không bao giờ cùng tận. Phật địa kinh luận quyển 7 (Đại 26, 326 trung) nói: Có ba thứ thường, (...) pháp thân này tuy lìa tất cả sinh diệt hí luận mà không sinh diệt nên gọi là Thường, 2 thân tuy có niệm niệm sinh diệt, nhưng nương vào thường thân nên không có gián đoạn, vì hằng tương tục nên gọi là Thường. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Đường); Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].
tam thảo nhị mộc
603以草木之大小喻顯根性之不同。三草,即小藥草、中藥草、大藥草;二木,即小樹、大樹。法華經藥草喻品(大九‧二○上):「或處人天、轉輪聖王、釋梵諸王,是小藥草;知無漏法,能得涅槃,起六神通,及得三明,獨處山林,常行禪定,得緣覺證,是中藥草;求世尊處,我當作佛,行精進定,是上藥草。又諸佛子,專心佛道,常行慈悲,自知作佛,決定無疑,是名小樹;安住神通,轉不退輪,度無量億百千眾生,如是菩薩,名為大樹。」 蓋佛之說教雖平等一味,隨眾生根性而所受不同,一如草木之所稟各異。有關三草二木之配釋,異說殊多。智顗以之配七方便,依序喻指人天乘、二乘、藏教菩薩、通教菩薩、別教菩薩,如是五乘各各隨分受潤。窺基則反之,謂三草無成佛種子,分別喻顯無種性、聲聞種性、緣覺種性,二木得以成佛,分別喻顯不定種性、菩薩種性。亦即智顗以三草二木表示十界皆得成佛之真趣,窺基則以之彰顯五性各別之要旨。〔法華經義記卷六、法華經玄義卷四下、法華文句卷七上、法華義疏卷八、法華玄贊卷七〕
; (三草二木) Dùng cây cỏ lớn, nhỏ để ví dụ các căn tính khác nhau. Tam thảo là cỏ thuốc nhỏ, cỏ thuốc vừa và cỏ thuốc lớn. Nhị mộc là cây nhỏ và cây to. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 thượng) nói: Hoặc ở cõi người, cõi trước, làm Chuyển luân thánh vương, Đế thích, Phạm vương, đó là loại cỏ thuốc nhỏ; rõ biết pháp vô lậu, chứng được Niết bàn, khởi 6 thần thông, có được Tam minh, ở một mình nơi núi rừng, thường tu thiền định chứng quả Duyên giác, đó là cỏ thuốc loại vừa; cầu địa vị Thế tôn, ta sẽ thành Phật, thực hành định tinh tiến, đó là cỏ thuốc loại lớn. Lại các Phật tử, chuyên tâm về Phật đạo, thường tu hạnh từ bi, tự biết mình là Phật, quyết định không nghi, đó là loại cây nhỏ; an trụ trong thần thông, chuyển pháp luân bất thoái, độ vô lượng ức trăm nghìn chúng sinh, Bồ tát như thế gọi là cây lớn. Bởi vì giáo thuyết của Phật tuy bình đẳng nhất vị, nhưng tùy theo căn cơ chúng sinh mà chỗ hấp thụ có khác, giống như cây cỏ thấm nhuần mưa móc khác nhau. Về việc giải thích và phối hợp 3 cỏ 2 cây có nhiều thuyết bất đồng. Ngài Trí khải phối hợp 3 cỏ 2 cây với 7 phương tiện, theo thứ tự ví dụ cho Nhân thiên thừa, Nhị thừa, Tạng giáo bồ tát, Thông giáo bồ tát và Biệt giáo bồ tát, 5 thừa này mỗi thừa tùy phần mà hấp thụ. Ngài Khuy cơ thì, trái lại, cho rằng 3 cỏ không có hạt giống thành Phật và, theo thứ tự, ví dụ cho Vô chủng tính, Thanh văn chủng tính và Duyên giác chủng tính; còn 2 cây thì được thành Phật và lần lượt dụ cho Bất định chủng tính và Bồ tát chủng tính. Tóm lại, ngài Trí khải dùng 3 cỏ 2 cây để biểu thị ý thú Mười cõi đều được thành Phật, còn ngài Khuy cơ thì dùng 3 cỏ 2 cây để hiển bày yếu chỉ Năm tính đều khác(Ngũ tính các biệt). [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, hạ; Pháp hoa văn cú Q.7, thượng; Pháp hoa nghĩa sớ Q.8; Pháp hoa huyền tán Q.7].
Tam thất nhật
三七日; C: sānqī rì; J: sanshichinichi;|1. Một chu kì bao gồm 21 ngày; 2. Ngày thứ hai mươi mốt.
tam thất nhật tư duy
The twenty one days spent by the Buddha, after his enlightenment, in walking round the bodhi-tree and considering how to carry his way of salvation to the world.
tam thần lực
Three supernatural powers.
tam thần thông
Three miracles—See Tam Pháp (xxxxxviii).
tam thập bổng
519乃禪林師家指導學人所用方法之一,棒打之目的在於警策開悟。世有所謂「德山棒」、「臨濟喝」之稱。其中,德山即經常用棒窮追學人,以作為引導開悟之機法。臨濟錄勘辨(大四七‧五○三下):「師聞第二代德山垂示云:『道得也三十棒,道不得也三十棒。』」
; (三十棒) Ba mươi gậy. Dùng gậy đánh là 1 trong những phương pháp mà các Thiền sư sử dụng để tiếp hóa và khai thị người học. Trong Thiền lâm có những từ ngữ như: Đức sơn bổng(gậy của Đức sơn), Lâm tế hát(tiếng hét của Lâm tế), nghĩa là Thiền sư Đức sơn thường dùng cơ pháp đánh và Thiền sư Lâm tế thường dùng cơ pháp hét để chỉ dẫn và khai ngộ người học. Mục Khám biện trong Lâm tế lục (Đại 47, 503 hạ) ghi: Sư nghe ngài Đức sơn đời thứ 2 chỉ dạy rằng: Nói được cũng lãnh 30 gậy, nói không được cũng lãnh 30 gậy!.
tam thập chủng bất tịnh bố thí
Theo Thương Tọa Thích Hải Quang trong Thơ Gửi Người Học Phật, có ba mươi loại bất tịnh bố thí, mà người thí chẳng được phước, cũng chẳng được gọi là “Hảo Tâm Bố Thí Nhân”—According to Venerable Thích Hải Quang in Letters To Buddhist Followers, there are thirty types of giving that are not pure that the givers will neither gain merits, nor will they be called “People who give out of the goodness of their hearts”. 1) Thấy biết điên đảo mà bố thí: Give while having delusional and chaotic views—Tức là bố thí theo kiểu thí cô hồn, mong người nhận rồi đi cho khuất mắt, chứ kỳ thật chẳng có lòng thương xót chi cả. Hoặc là bố thí tùy hứng, nghĩa là vui thì cho, buồn thì không cho, thậm chí còn đòi lại những gì đã cho, hoặc chưởi bới, vân vân—This is similar to giving to “ghosts,” so people will no longer bother them. Otherwise, there is not an ounce of compassion. This also indicates people who give depending on their moods, meaning if they are happy they will give, if they are sad they will not give, or they may ask for it back, or going as far as insulting people while in the process of giving. 2) Bố thí vì báo ân: Tức là trước kia đã lỡ mang ơn người đó rồi nên bây giờ bố thí lại như trừ nợ—Give to return a favor, or to even out a past favor. 3) Bố thí mà chẳng có lòng thương: Tức là bố thí theo kiểu ném liệng vào mặt người—Give without having any compassion. 4) Bố thí vì sắc dục: Give because of form desire—Tức là thấy người đàn bà hay đàn ông có sắc đẹp nên khởi tâm tà dục, muốn giả bộ bố thí để lấy lòng trước, để sau nầy có thể thỏa mãn được dục tâm của mình—This is seeing an individual who is beautiful, and so one pretends to give in hope of gaining sexual relations with that person or give in hope of winning that person as a spouse. 5) Hoặc mưu đồ đe dọa người mà bố thí: Give and then make threats—Tức là bố thí trước rồi hăm dọa sau với ý đồ gài bẫy để hối lộ, làm cho người nhận phải sợ mà làm thinh không dám tố cáo những điều sai quấy của mình trước pháp luật—Make bribes to a person or threaten the person with “blackmail,” so the individual will not dare go to the authorities. 6) Đem đồ ăn có độc ra mà bố thí với mục đích giết hại người: Use poisonous foods to give to someone with the purpose to murder that person. 7) Đem dao gậy, binh khí, súng ống, bom đạn ra mà bố thí, như viện trợ về quân sự: Use knives, daggers, weapons, guns, tanks, bombs, bullets, etc, i.e., military assistance. 8) Vì được khen ngợi mà bố thí, tức là bố thí để cầu danh và muốn được tiếng tăm khen tặng: Give because of praises. 9) Vì ca hát mà bố thí: Thấy ca sĩ đẹp, hát hay mà bố thí để cầu thân, chớ còn xấu xa và hát dở thì không thèm cho một xu—Give because someone has a marvelous voice. 10) Vì xem tướng mà bố thí: Give by basing on someone's physical characteristics—Tức là mình biết tướng, thấy kẻ đó bây giờ tuy còn nghèo, nhưng về sau nầy sẽ trở thành người giàu sang quyền quý, nên bây giờ làm bộ bố thí, trước để lấy lòng, hầu cầu lợi lộc cho mình về sau nầy—These are people who have the unique ability to foretell someone's future based on their physical characteristics. Thus, they may see someone as being poor now but that person's future is promising, so they give now in order to win that person over, hoping in the future that individual will remember them. 11) Vì muốn kết bạn mà bố thí: Give in hope of winning someone's friendship. 12) Vì học nghề mà bố thí: Give in hope to learn the tricks of the trade—Thấy người ấy tuy nghèo nhưng cò nghề hay trong tay, muốn cầu học nghề nên làm bộ bố thí để lấy thiện cảm—These are people who realize a person's talents despite the fact such a person is of “lower status,” so they pretend to give and befriend such an individual hoping to steal that person's ideas to benefit themselves. 13) Bố thí mà nghi ngờ là có quả báo hay không có quả báo: Give but doubt whether there will be retributions or not—Tức là bố thí mà trong lòng còn nghi ngờ, do dự là không biết bố thí như vậy thì sau nầy có được hưởng quả báo tốt đẹp hay không—These are people who give but are still skeptical whether their good deeds will bring them benefits in the future. This is a type of giving in hope of something in return. 14) Trước mắng chửi cho hả hê rồi sau đó mới chịu bố thí: Give but only after insulting someone until gaining contentment. 15) Bố thí rồi mà trong lòng bực bội, ghét tức và hối tiếc: Give but thereafter begin having regrets, resentments, and angers. 16) Bố thí rồi mà nói rằng các người thọ lãnh sau nầy sẽ phải làm thân trâu ngựa, súc vật, tôi tớ để đền trả lại cho mình: Give and then say to the receivers, “in the future you will become servants, slaves, or various animals such as buffaloes and horses to repay the debts you owe me.” 17) Bố thí rồi mà nói rằng sau nầy mình sẽ được thọ phước báo, giàu sang lớn: Give and then say in the future I will reap great meritorious retributions of wealth and luxury 18) Già yếu đau bệnh nên sợ chết mà bố thí: Give out of fear of old age, sickness, and death—Tức là khi còn trẻ đẹp mạnh khỏe thì không có tâm bố thí, đến chừng già yếu, bệnh hoạn mới chịu xuất tiền ra bố thí—Meaning when they are young and healthy, the tought of giving never crosses their minds, but when they are old, weak, bedridden, afaid they will be condemned to hell or hungry ghost, only then are they willing to dispense their fortunes to give, hoping to escape their potential fates. 19) Bố thí mà muốn được nổi danh khắp mọi nơi rằng ta đây là một người đại thí chủ: Tức là bố thí chỉ muốn được nổi danh để hân hạnh, khoe của mà thôi chớ không có tâm từ bi, thương xót ai—Give in hope of being known throughout the land as a “Great Benefactor.” 20) Hoặc ganh ghét ngạo nghễ mà bố thí: Give because of jealousy or to ridicule others—Tức là các người chỉ bố thí có một, chớ ta đây bố thí gấp hai, ba lần hơn cho biết mặt, kỳ thật không có tâm thanh tịnh thương xót chi cả. Đây là loại bố thí vì muốn cạnh tranh sự giàu sang thế lực và hơn thua lẫn nhau mà thôi—This is giving based on ulterior motives, such as 'you only gave one, but I gave tens and thousands more' in order to ridicule someone. Otherwise, there is not any purity or compassion in this charitable act. This type of giving is to show off how much power and wealth one has over another person. 21) Hoặc ham mộ giàu sang, danh vọng mà bố thí: Give because of fondness for wealth and notoriety—Tức là thấy gia đình người ta giàu có, danh vọng, quý phái nên làm bộ bố thí để cầu thân, cầu hôn, như tặng quà cáp, biếu xén, vân vân—This refers to people who notice a family is wealthy and influential, so they pretend to give hoping to get to know or marry into the family, such as buying gifts, doing favors, etc. 22) Vì cầu hôn nhân mà bố thí: Give in hope of marriage—Tức là thấy người ta có con gái hay con trai quý tướng, xinh đẹp, nhưng mà nghèo, muốn cưới về làm vợ làm chồng, nên làm bộ bố thí để lấy lòng—This refers to people who notice another family as having a boy or a girl who is precious, talented, but that family is poor; thus, in wishing to marry the child as a husband or wife, these people pretend to give to the family to win the family over. 23) Mong cầu được con trai, con gái mà bố thí: Give in hope of having a son or a daughter—Tức là người tuy giàu có nhưng không có tâm bố thí, đến chừng lớn tuổi bị hiếm con, hoặc có toàn con trai, nay muốn con gái; hay toàn con gái, nay muốn con trai, nên mới chịu xuất tiền của ra bố thí, mục đích chỉ để cầu được con mà thôi, chớ không có thật lòng từ bi thương xót—This refers to people who despite having wealth are not charitable people. As they get older but have no children or have all girls, but no boys, or all boys but no girls, only then are they willing to dispense their money to give. However, their giving is not genuine or arising from compassion because their only intention is to pray to have a child. 24) Hoặc muốn cầu giàu sang mà bố thí: Give in hope of being wealthy—Tức là đã giàu rồi, lại còn muốn được giàu hơn nữa nên bố thí—This refers to people who are already wealthy, so they give more in hope of being even richer. 25) Hoặc suy nghĩ rằng kiếp nầy ta bố thí để kiếp sau được giàu sang mà bố thí: Give in hope that if I give in this life, in the next life I will be rich—Tức là bố thí với ý định thủ lợi, có tính toán lời lỗ ở kiếp nầy, kiếp sau—This is giving for self-benefit, calculating the loss and gain of this life, the next life, and so forth. 26) Thấy kẻ nghèo không bố thí, mà cứ chăm chỉ bố thí cho người giàu: Do not give to the poor, but spend all of one's focus to give to the rich—Thấy kẻ nghèo đã không bố thì mà còn khi dễ, và chẳng có lòng thương xót—This refers to people who show disrespect and have not the slightest compassion for those less fortunate, yet when they see wealthy and influential people, they give readily in hope of befriending these people. 27) Vì bị cưỡng ép, hăm dọa mà bố thí: Give out of threats and coercion—Tức là người tuy giàu nhưng không chịu bố bố thí, bị kẻ “anh hùng nghĩa hiệp” nửa đêm phi thân đột nhập vào nhà hăm dọa: “Nếu không chịu bố thí thì ta sẽ giết chết,” hoặc là bị chúng nắm được chuyện bí mật riêng tư, dọa sẽ đăng báo, bêu xấu, vân vân, sợ quá nên bất đắc dĩ phải bố thí theo yêu sách của đối phương—This refers to people who are wealthy yet they refuse to give. Only when a more 'powerful' person makes threats 'if you do not give, I will take your life,' are they willing to give. Or if someone discovers 'hidden secrets' and forces them to give, or face the consequence of getting reported to the newspapers, magazines, etc. In fear of being exposed, these people then give as demanded by the opposition. 28) Vì giết hại mà bố thí: Give for killing and harming—Tức là bố thí cho kẻ ác nhân đặng lấy lòng mang ơn của nó, rồi sau đó sai nó đi giết hại kẻ thù của mình—This refers to people who give to wicked and evil beings to win these people over and then later ask them to kill or harm the enemy. 29) Bố thí trong lửa: Give while being under fire—Tức là ngoài mặt thì bố thí, chớ trong lòng thì đầy lửa giận. Ý nói chỉ bị bắt buộc, chớ không có lòng nhân từ, vừa cho vừa quăng ném vào mặt—On the outside, they appear to be giving, but in the inside the fire of anger rages on. Thus, this is referring to people who feel obligated or having no other choice but to give; otherwise there is not the slightest bit of compassion. Therefore as they give, they throw the gift in people's faces, insulting them, etc. 30) Bố thí vì ái dục: Give in water of desire—Bố thí để lấy lòng người đẹp, hy vọng sau nầy có dịp thỏa mãn được tâm ái dục, tà dâm của mình—This is giving in order to win the heart of someone beautiful hoping one day this act will lead to sexual gratification.
tam thập chủng ngoại đạo
519請參閱 現證三昧大教王經 請參閱 唯識三十論頌 係大日經卷一入真言門住心品所列舉外道之分類,即:(一)時外道,即妄計一切萬物皆以「時」為生因。(二)地等變化外道,又作五大外道。即妄計地、水、火、風、空等五大為萬物之因。(三)瑜伽我外道,又作相應外道。即妄計學定者之內心相應之理為真我。(四)建立淨外道,即妄計建立一切法,依此修行為清淨。(五)不建立無淨外道,即妄計不建立一切法,而以無為無修為真我。(六)自在天外道,即妄計自在天為常、自在,為萬物之生因。(七)流出外道,即妄計由手生出一切法。(八)時外道,此與前記之時外道稍異。即妄計「時」為自在天所造作。(九)尊貴外道,即妄計那羅延天湛然常住,為萬物之生因。(十)自然外道,即妄計一切法皆自然而生,無有造作者。(十一)內我外道,即妄計身中別有我性,能運轉此身做各種事。(十二)人量外道,即妄計神我之量,等同人身之大、小。(十三)遍嚴外道,即妄計神我雖能造作諸法,然世間諸尊勝遍嚴之事,則皆我之所為。(十四)壽外道,又作壽者外道。即妄計一切法乃至四大、草木等皆有壽命。(十五)補特伽羅外道,即妄計補特伽羅由今世趣入後世。(十六)識外道,即妄計識遍滿一切處,乃至地、水、火、風、空亦皆遍滿。(十七)阿賴耶外道,即妄計阿賴耶識能持此身,含藏萬象。(十八)知者外道,即妄計身中有知者,能知苦、樂等事。(十九)見者外道,即妄計身中有見者,此見者即為真我。(廿)能執外道,即妄計身中別有能執者為真我。(廿一)所執外道,即妄計所執之境界為真我,此我遍於一切處。(廿二)內知外道,即妄計身中別有內知者為真我。(廿三)外知外道,即妄計別有了知外塵境界之「外知者」為真我。(廿四)社怛梵外道,此與知者外道大致相同。(廿五)意生外道,又作摩奴闍外道。意生(梵 manuja,音譯摩奴闍),譯作人、人生。即妄計人由人而生。(廿六)儒童外道,又作摩納婆外道。儒童(梵 mānava,音譯摩納婆),譯作勝我。即妄計我於身中最為勝妙。此為毘紐天外道之部類。(廿七)常定生外道,即妄計我為常住,不可破壞,自然常生而無更生。(廿八)聲外道,分為二:(1)聲顯外道,即妄計聲之體為本有、常住,以緣而顯之。(2)聲生外道,即妄計聲之體本無,以緣而生,生已,則為常住。(廿九)非聲外道,即妄計撥無聲體及聲字處。大日經之本文原將聲顯、聲生二外道合併為聲外道,而總計二十九種,然大日經疏卷一則將二者別立,總成三十種。此外,大日經疏拾義鈔卷六,將二十九種外道加「總我」,成為三十種外道。〔大智度論卷十二、卷三十五、大毘婆沙論卷一七二、外道小乘涅槃論、成唯識論卷一、大日經疏卷二、大日經疏鈔卷一末、十住心論卷一〕(參閱「外道」1867)
; (三十種外道) Ba mươi thứ ngoại đạo. Tức 30 loại ngoại đạo được liệt kê trong phẩm Nhập chân ngôn môn trụ tâm kinh Đại nhật quyển 1. Đó là: 1. Thời ngoại đạo: Vọng chấp Thời là nhân sinh ra tất cả muôn vật. 2. Địa đẳng biến hóa ngoại đạo(cũng gọi Ngũ đại ngoại đạo): Vọng chấp 5 đại:Đất, nước, lửa, gió và hư không là nhân sinh ra muôn vật. 3. Du già ngã ngoại đạo(cũng gọi Tương ứng ngoại đạo): Vọng chấp lí tương ứng với nội tâm người tu định là Ngã chân thực. 4. Kiến lập tịnh ngoại đạo: Vọng chấp kiến lập tất cả pháp và nương vào những pháp này mà tu hành thì được thanh tịnh. 5. Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo: Vọng chấp không cần kiến lập các pháp, mà lấy vô vi vô tu làm Ngã chân thực. 6. Tự tại thiên ngoại đạo: Vọng chấp trời Tự tại là thường, tự tại, là nhân sinh ra muôn vật. 7. Lưu xuất ngoại đạo: Vọng chấp từ tay sinh ra tất cả pháp. 8. Thời ngoại đạo: Ngoại đạo này và Thời ngoại đạo nói ở trên hơi khác nhau, tức ngoại đạo này vọng chấp Thời là do trời Tự tại tạo ra. 9. Tôn quí ngoại đạo: Vọng chấp trời Na la diên vắng lặng, thường trụ, là nhân sinh ra muôn vật. 10. Tự nhiên ngoại đạo: Vọng chấp tất cả pháp đều tự nhiên sinh ra, chẳng có người nào tạo tác cả. 11. Nội ngã ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có cái Ngã riêng, có năng lực vận chuyển thân này làm các việc. 12. Nhân lượng ngoại đạo: Vọng chấp lượng của Thần ngã bằng với lượng lớn, nhỏ của thân người. 13. Biến nghiêm ngoại đạo: Vọng chấp Thần ngã tuy có năng lực tạo tác các pháp, nhưng các việc tôn thắng trang nghiêm khắp thế gian đều do Ngã làm ra. 14. Thọ ngoại đạo(cũng gọi Thọ giả ngoại đạo): Vọng chấp tất cả pháp cho đến 4 đại, cỏ cây………... đều có thọ mệnh. 15. Bổ đặc già la ngoại đạo: Vọng chấp Bổ đặc già la(Ngã) từ đời nàyđitới đời sau. 16. Thức ngoại đạo: Vọng chấp thức có mặt ở khắp nơi, cho đến đất, nước, lửa, gió, hư không cũng bao trùm mọi chốn. 17. A lại da ngoại đạo: Vọng chấp thức A lại da có công năng giữ gìn thân này, chứa đựng muôn tượng. 18. Tri giả ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người biết, biết được các việc khổ, vui...19. Kiến giả ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người thấy, người thấy này chính là Chân ngã. 20. Năng chấp ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người năng chấp khác, đó tức là Chân ngã. 21. Sở chấp ngoại đạo: Vọng chấp cảnh giới sở chấp là Chân ngã, Chân ngã này có mặt ở khắp mọi nơi. 22. Nội tri ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người biết riêng ở bên trong là Chân ngã.23. Ngoại tri ngoại đạo: Vọng chấp bên ngoài có người rõ biết các cảnh giới ngoại trần là Chân ngã. 24. Xã đát phạm ngoại đạo: Ngoại đạo này đại khái giống với Tri giả ngoại đạo ở trên. 25. Ý sinh ngoại đạo(cũng gọi Ma nô xà ngoại đạo). Ý sinh (Phạm:Manuja, Hán âm: Ma nô xà) nghĩa là người, người sinh. Tức vọng chấp do người sinh ra. 26. Nho đồng ngoại đạo(cũng gọi Ma nạp bà ngoại đạo). Nho đồng (Phạm: Manava, Hán âm: Ma nạp bà) nghĩa là thắng ngã. Tức vọng chấp Ngã ở trong thân là vi diệu, thù thắng nhất. Ngoại đạo này thuộc về bộ loại Tì nữu thiên ngoại đạo. 27. Thường định sinh ngoại đạo: Vọng chấpNgã là thường trụ, không thể phá hoại, tự nhiên thường sinh chứ không sinh lại. 28. Thanh ngoại đạo: Được chia làm 2 loại: a. Thanh hiển ngoại đạo: Vọng chấp thể của âm thanh là vốn đã có sẵn, thường trụ, hễ đủ điều kiệnlàphát ra thành tiếng rõ ràng. b. Thanh sinh ngoại đạo: Vọng chấp thể của âm thanh vốn không có sẵn, nhờ duyên(phát âm) mới sinh, sinh rồi thì thường trụ. 29. Phi thanh ngoại đạo: Vọng chấp bác không có thể của âm thanh và chỗ của chữ âm thanh. Bản văn kinh Đại nhật vốn hợp Thanh hiển ngoại đạo và Thanh sinh ngoại đạo làm 1 là Thanh ngoại đạo, nên tổng cộng có 29 thứ ngoại đạo, nhưng Đại nhật kinh sớ quyển 1 lại chia ra làm 2 thứ nên tổng cộng có 30 loại ngoại đạo. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ thập nghĩa sao quyển 6 đem thêm Tổng ngã ngoại đạo vào 29 thứ ngoại đạo mà thành 30 thứ ngoại đạo. [X. luận Đại trí độ Q.12, 35; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; luận Thành duy thức Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.2; Đại nhật kinh sớ sao Q.1, phần cuối; luận Thập trụ tâm Q.1]. (xt. Ngoại Đạo).
tam thập duy thức
Xem Duy thức Tam thập luận tụng.
tam thập giới xả đọa tỳ kheo ni
Nissaggiya-pacittiya (skt)—Từ Nissaggiya-pacittiya gốc Nam Phạn, có hai phần: phần thứ nhất là Nissaggiya có nghĩa là từ bỏ; phần thứ hai Pacittiya có nghĩa là điều giải trước giáo đoàn. Con người thường có khuynh hướng sa ngã; vì thế dù đã gia nhập vào cuộc sống tự viện, chư Ni vẫn thỉnh thoảng vi phạm luật sống trong tự viện, như chấp nhận quá số vật dụng hằng ngày được Đức Phật quy định cho Ni chúng. Chính vì thế mà Đức Phật đã đặt ra thanh quy tự viện, nhằm giúp chư Ni tránh phạm phải lỗi lầm. Theo Luật Nghi Khất Sĩ được Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang soạn từ Luật Tạng cho Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ, ba mươi giới mà người phạm tội phải giải thích trước giáo đoàn và phải bị phạt cấm phòng sáu bữa—The Nissaggiya-pacittiya has two components: the word Nissaggiya means giving up; and the word Pacittiya means reconciliation or expiation. A person by his or her true nature is subject to lapses; therefore, even after joining the monastic life, the nun sometimes, makes transgression of the monastic rules, i.e., accepting things of daily use in excess of the number allowed by the Buddha is not proper for monks and nuns. Thus, the Buddha set forth rules that help making nuns free from transgressions. According to Rules for Mendicants composed by Most Honerable Master Minh Đăng Quang, thirty offences which require explanation and punishment for the offenders is six-day room retention. 1) Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày: A nun should not wear or keep an extra robe for more than ten days. 2) Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm: a nun should not leave robes and sleeping material in another place, even for one night (nuns should not be away, separated from the three robes, even for one night). 3) Khi áo rách mất, có người cúng dường vải, dù không đúng thời (trai tăng tự tứ) vị Ni vẫn có thể nhận. Khi nhận là phải may cho nhanh; tuy nhiên, nếu không đủ vải may, có thể để dành chờ có thêm, nhưng cấm để dành vải quá một tháng: When robes worn out, and the robe-material is accrued to the nun, even not at the right time, it may be accepted by that nun if she so wish. Having accepted it, it should be made up quickly. But if it is not sufficient for her, that robe-material may be laid aside by that nun for a month at most. 4) Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắt ngặt (khi áo bị mất hay bị hư hại): A nun should not ask a man or woman householder for a robe, except at the right time (robe is stolen or destroyed). 5) Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặc: a nun should not accept more than an inner and upper robes (if a nun is offered robe-material for many robes, then at most she should accept enough for an inner and an upper robe. If she accepts more than that there is an offence of expiation involving forfeiture). 6) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho áo: When there is a householder plans to offer robe-material, or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 7) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho: When there are two or more householders plan to offer robe-material or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 8) Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo Hội may liền: A nun should not obtain robe-fund and urge the Order to make the robe immediately. 9) Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế: A nun should not take gold and silver, nor should she ask another person to take for her. 10) Cấm buôn bán đồ quý báu: A nun should not engage in various transactions in which gold and silver is used. 11) Cấm buôn bán bất luận vật gì: A nun should not engage in any kinds of bartering. 12) Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm mà cái cũ vẫn còn xài được: A nun should not get another new bowl in exchange for the old bowl, even though the old bowl is very old, but is still usable (If a nun should get another new bowl in exchange for a bowl mended in less than five places, there is an offence of expiation involving forfeiture. That bowl is to be forfeited by that nun to the company of nuns, and whatever the last bowl belonging to that company of nuns, that should be given to this nun with the words: “Nun, this is a bowl for you; it should be kept until it breaks.” That is the proper course in this case). 13) Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ dệt áo cho mình khi có người cúng: A nun should not ask a man or a woman householder who is not a relation to weave her robe (saying this robe-matrial is being especially woven for me, please make it long and wide, and make it evenly woven, well woven and well scraped, etc). 14) Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình: A nun should not ask for yarn, or should not have robe-material woven by weavers. 15) Cấm giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another monk and then take it back because she is angry or displeased of that nun. 16) Cấm để dành thuốc, đường, dầu, quá bảy ngày, trừ khi đau bệnh mà có người cúng dường: A nun should not store medicine, sugar, fresh butter, oil, honey, etc. for over seven days, except when she is ill. 17) Cấm đã lãnh áo trước kỳ, mà khi đến lệ lại còn hỏi nữa: A nun should not obtain the robe before the robe-season, lay it aside, and ask again during the robe-season. 18) Cấm lén lấy một món đồ gì của Giáo Hội: A nun should not take any things that belong to the Order. 19) Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông: A nun should not do any shopping for a man. 20) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ người ta cúng cho Giáo Hội: a nun should not take away any thing that is offered to the Order. 21) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo Hội: A nun should not take away anything that another nun offers to the Order. 22) Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác: A nun should not use the donations from lay Buddhists for personal purposes. 23) Cấm nhơn danh Giáo Hội mà sắm đồ riêng cho mình: A nun should not gain any personal gains on behalf of the Order. 24) Cấm có đến hai cái bát để thay đổi: A nun should not keep an extra bowl. 25) Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp: A nun should not store beautiful things, such as art crafts, pictures, etc. 26) Cấm hứa cho một cô khác vải bó rịt trong cơn đau mà không cho: A nun should not brak her promise to give cloth for bandage to another nun. 27) Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo Hội phát (vì áo của thí chủ tốt hơn): A nun should not exchange the robe which is given by the Order for another one from lay Buddhists. 28) Cấm bất bình, giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another nun and then take it back because he is angry or displeased of that nun. 29) Cấm may áo mùa đông đến bốn xấp vải: A nun should not use more than four batches of cloth for heavy (winter) clothes. It is advisable for a nun to bargain for a heavy cloth for four bronzes. If she bargains one worth more than that, she commits the offense of expiation. 30) Cấm may áo mùa hè trên hai xấp rưỡi vải: A nun should not use more than two and a half batches for light (summer) clothes. Bargaining for light clothes should be made for at most two and half bronzes. If she bargains a light cloth worth more than that, she commits an offense of expiation involving forteature.
Tam Thập Lục Bộ
(三十六部): 36 bộ quỷ thần, 36 loại thân hình Ngạ Quỷ. Trong Phật Thuyết Thí Ngạ Quỷ Cam Lồ Vị Đại Đà La Ni Kinh (佛說施餓鬼甘露味大陀羅尼經, Taishō No. 1321) có đề cập đến một số thân Ngạ Quỷ do ác nghiệp mà phải chịu quả báo thân hình như vậy: Bế Lệ Đa Quỷ (薜荔多鬼, Tàu gọi là Ngạ Quỷ [餓鬼, quỷ đói]), Xa Da Quỷ (車耶鬼, Tàu gọi là Ảnh Quỷ [影鬼, quỷ bóng]), Kiện Đà Quỷ (健駄鬼, Tàu gọi là Thực Hương Quỷ [食香鬼, quỷ ăn mùi hương]), Bố Sắt Ba Quỷ (布瑟波鬼, Tàu gọi là Thực Hoa Ngạ Quỷ [食花餓鬼, quỷ đói ăn hoa]), Kệ Bà Da Quỷ (偈婆耶鬼, Tàu gọi là Thai Tàng Quỷ [胎藏鬼, quỷ nằm trong bào thai]), A Thâu Già Quỷ (阿輸遮鬼, Tàu gọi là Bất Tịnh Quỷ [不淨鬼, quỷ bất tịnh]), Bà Đa Quỷ (婆哆鬼, Tàu gọi là Thực Phong Quỷ [食風鬼, quỷ ăn gió]), Ô Đà Ha La Quỷ (烏駄訶羅鬼, còn gọi là Thực Tinh Khí Quỷ [食精氣鬼, quỷ ăn tinh khí]), Đà La Chất Đa Quỷ (駄羅質多鬼, còn gọi là Sân Tất Tâm Quỷ [嗔悉心鬼, quỷ thường nỗi tâm giận dữ]), Chất Đa Quỷ (質多鬼, hay Ác Tâm Quỷ [惡心鬼, quỷ có tâm ác]), Bà Rô Da Quỷ (皤嚕耶鬼, hay Thực Tế Tự Quỷ [食祭祀鬼, quỷ ăn các đồ cúng tế]), Thị Vĩ Đa Quỷ (視尾哆鬼, hay Thực Nhân Thọ Mạng Quỷ [食人壽命鬼, quỷ ăn thịt người có tuổi thọ]), Tỳ Sa Kê Đà Quỷ (芑莎鷄駄鬼, hay Thực Nhục Thực Chỉ Đẳng Quỷ [食肉食脂等鬼, quỷ ăn thịt ăn mỡ, v.v.]), Xà Để Quỷ (蛇底鬼, hay Thực Sơ Sản Tử Quỷ [食初産子鬼, quỷ ăn thịt con nít sơ sinh]), Yết Tra Bố Đơn Na Quỷ (羯吒布單那鬼, hay Kì Xú Quỷ [希臭鬼, quỷ thân hình có mùi hôi thối như xương cháy]), Cưu Bàn Trà Quỷ (鳩盤茶鬼, hay Thủ Cung Quỷ [守宮鬼, quỷ bảo vệ cung điện]), Tất Xá Già Quỷ (畢舍遮鬼, hay Xí Thần [廁神, thần bảo vệ nhà xí, chuyên ăn những đồ bất tịnh]), v.v. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 có liệt kê rất rõ 36 loại như sau: (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), loại này do được người khác mướn đi giết người nên phải chịu quả báo bị sắc nấu trong vạc nước sôi; hoặc được người khác gởi đồ, nhưng chống cự không hoàn trả, cũng chịu quả báo này. (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền mướn người khác thi hành sát hại, nên cổ họng nhỏ như cây kim, thậm chí một giọt nước cũng không lọt được. (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn rồi mữa ra), do chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc không thực hành, tích chứa tài của, bỏn xẻn; nên bị quả báo ăn vào thường nôn mữa ra. (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, quỷ ăn phân), do vợ lừa dối chồng để tự ăn uống một mình, vì ghét bỏ chồng; nên thường bị quả báo ăn phân nhơ nhớp. (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì ngăn cấm lương thực của người, khiến họ phải tự tử; nên phải chịu quả báo khổ sở do lửa bốc cháy, kêu gào đói khát. (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), do tham lam ăn nhiều thức ăn ngon, chẳng chia cho vợ con; nên thường bị khốn khổ, đói khát, chỉ ngửi được hơi thôi. (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà thuyết pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt trong thân tiêu mòn hết do nhòi rút, chỉ mong nhờ nghe chư tăng thuyết pháp mà mạng được tồn tại. (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do vì bán rượu nhạt như nước để lừa người ngu, chẳng giữ gìn trai giới; nên thường bị quả báo bệnh khô nhát. (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do vì tranh đấu giá cả mua bán, lừa dối lấy vật của người khác; nên thường bị bệnh đói khát, luôn trông mong có cúng tế các vong linh đã khuất để được hưởng. (10) Thực Thóa Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy thức ăn không trong sạch lừa gạt người xuất gia; nên thân thường đói khát, hay bị nấu đốt, cầu mong người khác khạt nhổ ra và ăn những đồ bất tịnh. (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì đời trước trộm cắp tràng hoa của Phật để tự làm đẹp cho mình; nếu người gặp việc lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà được hưởng. (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do vì sát sanh để ăn uống máu tanh mà không cho vợ con; nên bị thân quỷ này; nhờ có cúng tế thoa máu huyết mới được thọ hưởng. (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân thể chúng sanh, cắt từng miếng nhỏ đem cân, mua bán dối trá; nên phải chịu quả báo này, nhiều lần dối trá, xấu xa, người khác nhìn thấy ghê tởm. (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn nhang), do vì bán loại nhang xấu, lại lấy giá mắc; nên chịu quả báo chỉ ăn khói nhang, sau cùng bị bần cùng, khốn khổ. (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ chạy nhanh), nếu có người phá giới mà vẫn mặc tăng phục, lừa gạt lấy tài của người khác để hứa giúp bệnh nhân, cuối cùng chẳng làm, đem tự dùng cho mình; nên bị quả báo này, thường ăn đồ bất tịnh, tự đốt cháy thân mình. (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do vì mưu mô, lường gạt lấy tài vật người khác mà không chịu tu tập phước nghiệp, mới chịu quả báo này; lông trên thân thường phát ra lửa, ăn khí lực bất tịnh của người để tồn tại. (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ tối đen), do dùng phương pháp gian xảo để lấy tài của, làm cho người khác phải bị giam cầm trong ngục tù, mắt không trông thấy, thường cất tiếng đau thương; nên bị đọa vào chỗ tối tăm, có rắn độc cùng khắp. (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do trộm cắp vật của người khác, đem cho bạn ác mà không bố thí để tạo phước điền; nên chịu quả báo này, dù có sức mạnh thần thông, nhưng lại bị nhiều khổ não. (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do vì phá thành, cướp giựt, giết hại bá tánh; nên chịu quả báo này, than khóc kêu gào, khắp thân lửa bốc cháy; sau được làm người thì thường bị cướp giựt. (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ rình con nít đại tiểu tiện), do vì giết con nít, tâm sanh giận dữ; nên chịu quả báo này, thường rình dòm người đại tiểu tiện, có thể hại trẻ nít nhỏ. (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do vì thích dâm dục, có được của cải mà không bố thí để tạo phước điền; nên chịu quả báo này, thường du hành trong cõi người, cùng người giao du, giả làm yêu quái để cầu cúng tế được hưởng. (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ cồn biển), do khi đi ngoài đồng trống thấy người bịnh khổ, lường gạt lấy của người; nên sanh nơi cồn biển, chịu khổ nóng lạnh, gấp hơn mười lần người. (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy cho vua Diêm La), do vì đời trước gần gủi quốc vương, đại thần chuyên làm việc hung ác; nên bị quả báo này, bị vua Diêm La sai khiến, làm quỷ cầm gậy. (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn thịt con nít), do vì dùng chú thuật để lường gạt, lấy tài sản của người, giết hại heo, dê, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, thọ quả báo này, thường ăn thịt con nít. (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do vì dối trá bạn thân, bảo rằng ta vì bảo hộ cho ngươi, khiến người dũng mãnh xông trận mà chết, cuối cùng lại chẳng cứu hộ; nên chịu quả báo này. (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ la sát), do vì đời trước giết hại sinh mạng để làm tiệc đại hội; nên bị quả báo đói khát, lửa đốt cháy. (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ ăn lửa cháy), do vì tâm keo kiệt, ganh tỵ, che giấu, ưa ăn vật thực của chúng tăng, trước đọa vào địa ngục, rồi từ địa ngục ra, chịu quả báo làm con quỷ thân hình đốt cháy trong lò lửa. (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm bờ ruộng), do vì đem đồ ăn bất tịnh cúng cho người tu hành Phạm hạnh, nên đọa làm quả báo như vậy, thường ăn đồ nhơ nhớp. (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do vì thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí thức ăn; nên chịu quả báo này, thường bị bịnh đói khát, như cái khổ trong địa ngục. (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ ngục hình, cấm không cho tội nhân ăn uống; nên chịu quả báo này, thường ăn than lửa. (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người khác mất mạng, nên đọa xuống địa ngục, sau đó trở ra làm quỷ, thường chịu đói khát, ăn lửa độc, làm cho đốt cháy thân hình. (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ đồng ruộng), do vì nơi đồng trống có ao hồ được đào lên để cấp nước cho người đi đường, có người thốt lời độc ác quyết phá, khiến cho mọi người chịu khát; nên bị quả báo như vậy, thường bị bịnh đói khát, lửa đốt cháy thân. (33) Trủng Gian Thực Hôi Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ ăn đất tro giữa gò mã), do vì trộm lấy bông hoa cúng Phật đem bán lấy tiền kiếm sống; nên chịu quả báo này, thường ăn tro nóng nơi chỗ thiêu thây người chết. (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do vì thấy người trồng cây để đem bóng mát cho mọi người, nhưng lại ác tâm chặt gãy cây đó, lấy làm đồ dùng cho mình; nên đọa làm quỷ trong cây, thường phải chịu nóng lạnh bức bách. (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ nơi đường giao thông), do trộm cắp lương thực của người đi đường, vì ác nghiệp đó, thường bị cưa sắt cắt thân; nhờ có cúng tế nơi đường giao nhau, lấy thức ăn đó mà tự nuôi sống. (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do vì làm việc tà đạo, không tin chánh pháp, nên đọa làm thân quỷ này, hay phá hoại thiện pháp của người.
Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương
(三十六部鬼王): 36 vị Quỷ Vương. Trong Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, Phẩm Ngạ Quỷ (餓鬼品) cũng như Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 có nêu rõ tên 36 loại Ngạ Quỷ, nhưng tên gọi có khác. Đặc biệt, Pháp Uyển Châu Lâm quyển 6 nêu rõ từng nguyên nhân vì sao bị đọa làm thân quỷ của từng loại như vậy. (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), do được người khác thuê sát sanh, nên bị bỏ vào vạc nước sôi nấu luộc; (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ hôi thối có miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền tài mướn người giết hại, nên bị quả báo cổ họng nhỏ như cây kim, đến nỗi giọt nước cũng không chảy lọt; (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn vào nôn mữa ra), chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc của mà từ chối, tích trữ tài sản, keo kiệt, bỏn xẻn, nên thường ăn vào mà nôn mữa ra; (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, Quỷ Ăn Phân), do vì người vợ lừa dối chồng, tự ăn các thức ăn uống, hiềm ghét chồng, nên ăn rồi mữa ra phân; (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì cấm người khác không cho lương thực, khiến họ tự chết, cho nên bị lửa thiêu đốt, kêu la thất thanh, đói khát khổ sở; (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), ăn nhiều đồ thức ăn ngon, không cho vợ con đang bị đói khát ăn, nên bị quả báo ngửi không khí mà thôi; (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà nói pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt nơi thân tiêu mất dần, chỉ mong chư tăng thuyết pháp thì mạng mới bảo tồn được; (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do bán rượu như nước để phỉnh gạt người ngu, không giữ trai giới, nên thường bị khát nước; (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do mua bán tranh giành giá cả, lừa gạt lấy đồ, nên thường bị đói khát, nhờ cúng tế cho các vong linh đời trước mà được ăn no đủ; (10) Thực Thùy Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy đồ không được trong sạch mà lừa dối người xuất gia, nên thân thường đói khát, luôn bị thiêu đốt, cầu mong người khạc nhổ ra để ăn đồ bất tịnh; (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì vào đời trước, trộm cắp tràng hoa của Phật để tự trang sức cho mình; nên nếu có người lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà có tràng hoa để ăn; (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do giết hại sinh mạng, ăn máu huyết mà không chia cho vợ con, nên phải chịu làm thân quỷ này; chỉ nhờ cúng tế máu mơi được ăn; (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân chúng sanh, băm nhỏ từng miếng rồi đem cân, mua bán lừa đảo, vì vậy phải chịu quả báo này; nhờ cúng tế thịt đủ loại mới có thể ăn được; (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn hương), do vì bán loại hương xấu mà lại được lợi nhiều, nên bị quả báo chỉ ăn hương khói mà thôi; (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ đi nhanh), nếu có phá giới mà lại mang pháp phục tu sĩ, lường gạt, làm mê hoặc để lấy tài của; bảo cúng cho người bệnh, cuối cùng chẳng đưa cho người đó, lại lấy tự ăn một mình, nên bị quả báo thường ăn đồ nhơ nhớp, tự thiêu cháy thân mình; (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do dùng mưu mô, lường gạt lấy tài của mà chẳng tu phước nghiệp, vì vậy mới thọ quả báo này, nơi lông của thân có lửa phát ra, thường ăn khí lực bất tịnh của người để tự tồn tại; (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ đen tối), do vì làm trái pháp luật mà mong cầu tài của, làm cho người khác phải bị vào lao ngục, nên mắt chẳng thấy được, tiếng thường ai oán, bị ở trong chỗ tối tăm có nhiều rắn; (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do vì trộm cắp đồ của người, lại đem cho kẻ ác, nên chịu quả báo này, có sức thần thông lớn, chịu nhiều khổ não; (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do phá thành, lục soát, cướp bóc, sát hại bá tánh, nên chịu quả báo này, thường la hét, khóc than, thân biến bốc lửa cháy; (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ dòm rình con nít đại tiểu tiện), do giết hại con nít, tâm sanh giận dữ, nên chịu quả báo này, thường rình dòm người đại tiểu tiện, và có thể hại con nít; (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do háo dâm, có tài của mà không bố thí để tạo ruộng phước, nên chịu quả báo này, du hành trong cõi người, cùng người giao tiếp, liều làm yêu quái để cầu mạng sống; (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ sống ở cồn biển), do khi đi nơi đồng trống thấy người bệnh khổ, lừa dối người để lấy tài vật, nên bị sanh nơi cồn biển, chịu nỗi khổ nóng lạnh, gấp hơn con người 10 lần; (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy vua Diêm La), do đời trước, từng gần gũi quốc vương đại thần, chuyên làm việc bạo ác, nên chịu quả báo này, làm sứ giả cho nhà vua, làm con quỷ cầm gậy; (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn con nít), do vì nói chú thuật làm mê hoặc, lừa dối lấy tài vật của người, giết hại heo dê, chết rồi đọa Địa Ngục, sau chịu quả báo này, thường ăn thịt con nít; (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do lừa dối là bạn thân, bảo rằng tôi sẽ cứu giúp bạn, khiến người ấy dung sức mạnh xông pha chết trong trận chiến, rốt cuộc không được cứu giúp, nên chịu quả báo này; (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ La Sát), do giết hại sinh mạng để làm đại hội, nên chịu quả báo đói khát, lửa thường bốc cháy; (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ lửa cháy), do tâm keo kiệt, ganh tỵ, ăn đồ chúng tăng, nên trước đọa Địa Ngục, rồi từ Địa Ngục ra, làm thân con quỷ lửa thiêu đốt thân; (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm, bờ ruộng), do lấy đồ bất tịnh này mà cho người Phạm hạnh, nên chịu quả báo này, thường ăn đồ bất tịnh; (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí cho họ thức ăn, nên thường bị đói khát, như cái khổ địa ngục; (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ hình ngục, cấm không cho ăn uống, nên chịu quả báo này, thường ăn than lửa; (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người mất mạng, nên bị đọa Địa Ngục, sau làm thân quỷ, thường đói khát, ăn lửa độc, đốt cháy thân hình; (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ nơi đồng trống), do các ao hồ nơi đồng trống tạo nên để bố thí nước cho người, nhưng vì ác khẩu, quyết phá khiến cho người đi đường phải chịu khát mệt, nên chịu quả báo này, thường bị đói khát, lửa đốt cháy thân hình; (33) Trũng Gian Thực Thán Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ sống nơi gò mã ăn tro đất), do lấy trộm hoa cúng Phật bán để nuôi sống, nên chịu quả báo này, thường ăn người chết, thây chết bốc cháy thành tro nóng; (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do thấy người trồng cây để đem lại bóng mát cho người, lấy ác tâm mà chặt đi, lấy làm tài vật sử dụng, nên bị đọa vào trong thân cây, thường bị nóng lạnh bức thân; (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ sống nơi đường giao thông), do cướp đoạt lương thực người đi đường, nên thường bị cưa sắt cắt thân, nhờ cúng tế nơi ngã tư đường, lấy thức ăn để nuôi sống bản thân; (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do làm việc tà đạo, không tin chân chánh, đọa làm ma quỷ, thường phá pháp lành của người.
tam thập lục bộ thần vương
516又作三十六善神。據傳說,由天帝釋所遣,以保護人並接受男子女人三歸之三十六善神。即:(一)彌栗頭不羅婆(意譯作善光),主疾病。(二)彌栗頭婆呵娑(善明),主頭痛。(三)彌栗頭婆邏波(善方),主寒熱。(四)彌栗頭栴陀羅(善月),主腹滿。(五)彌栗頭陀利奢(善見),主癰腫。(六)彌栗頭阿樓呵(善供),主癲狂。(七)彌栗頭伽婆帝(善捨),主愚癡。(八)彌栗頭悉坻哆(善寂),主瞋恚。(九)彌栗頭菩提薩(善覺),主婬欲。(十)彌栗頭提婆羅(善天),主邪鬼。(十一)彌栗頭呵波帝(善住),主傷亡。(十二)彌栗頭不若羅(善福),主塚墓。(十三)彌栗頭苾闍伽(善術),主四方。(十四)彌栗頭伽麗婆(善帝),主怨家。(十五)彌栗頭羅闍遮(善王),主偷盜。(十六)彌栗頭修乾陀(善香),主債主。(十七)彌栗頭檀那波(善施),主劫賊。(十八)彌栗頭支多那(善意),主疫毒。(十九)彌栗頭羅婆那(善吉),主五溫。(廿)彌栗頭鉢婆馱(善山),主蜚尸。(廿一)彌栗頭三摩陀(善調),主注連。(廿二)彌栗頭戾禘馱(善備),主往復。(廿三)彌栗頭波利陀(善敬),主相引。(廿四)彌栗頭波利那(善淨),主惡黨。(廿五)彌栗頭虔伽地(善品),主蠱毒。(廿六)彌栗頭毘梨馱(善結),主恐怖。(廿七)彌栗頭支陀那(善壽),主厄難。(廿八)彌栗頭伽林摩(善遊),主產乳。(廿九)彌栗頭阿留伽(善願),主縣官。(卅)彌栗頭闍利馱(善因),主口舌。(卅一)彌栗頭阿伽馱(善照),主憂惱。(卅二)彌栗頭阿訶娑(善生),主不安。(卅三)彌栗頭娑和邏(善至),主百怪。(卅四)彌栗頭波利那(善藏),主嫉妒。(卅五)彌栗頭周陀那(善音),主咒咀。(卅六)彌栗頭韋陀羅(善妙),主厭禱。此等善神守護之說由來已久,或受道教思想之影響而致。〔灌頂經卷三、往生要集卷下本、枳橘易土集卷二十五〕
; (三十六部神王) Cũng gọi Tam thập lục thiện thần. Chỉ cho 36 vị thiện thần theo truyền thuyết do trời Đế thích sai xuống nhân gian để che chở cho loài người, đồng thời tiếp nhận Tam qui của thiện nam, tín nữ. Đó là: 1. Di lật đầu bất la bà(Hán dịch: Thiện quang), coi về tật bệnh. 2. Di lật đầu bà ha sa (Thiện minh), chủ việc đau đầu. 3. Di lật đầu bà la ba (Thiện phương), coi về việc lạnh nóng. 4. Di lật đầu chiên đà la (Thiện nguyệt), coi về việc đầy bụng. 5. Di lật đầu đà lợi xa (Thiện kiến), chủ về bệnh ung nhọt. 6. Di lật đầu a lâu ha (Thiện cung), coi về bệnh điên cuồng. 7. Di lật đầu bà già đế(Thiện xả), chủ việc ngu si. 8. Di lật đầu tất đế đá(Thiện tịch), chủ về việc sân khuể. 9. Di lật đầu bồ đề tát(Thiện giác), chủ việc dâm dục. 10. Di lật đầu đề bà la(Thiện thiên), coi về tà quỉ. 11. Di lật đầu ha ba đế(Thiện trụ), chủ về thương vong. 12. Di lật đầu bất nhược la (Thiện phúc), coi về việc mồ mả. 13. Di lật đầu bật xà già(Thiệt thuật), chủ việc4phương. 14. Di lật đầu già lệ bà(Thiện đế), chủ việc oán gia. 15. Di lật đầu la xà già(Thiện vương), coi việc trộm cắp. 16. Di lật đầu tu càn đà(Thiện hương), coi việc nợ nần. 17. Di lật đầu đàn na ba(Thiện thí), coi việc giặc cướp. 18. Di lật đầu chi đa na (Thiện ý), chủ về việc dịch độc. 19. Di lật đầu la ba na(Thiện cát), coi về việc ngũ ôn. 20. Di lật đầu bát bà đà(Thiện sơn), coi việc trùng độc. 21.Di lật đầu tam ma đà(Thiện điều), coi việc chú liên. 22. Di lật đầu lệ đế đà(Thiện bị), coi việc qua lại. 23. Di lật đầu ba lợi đà(Thiện kính), chủ việc dắt dẫn nhau. 24. Di lật đầu ba lợi na(Thiện tịnh), coi về việc các đảng xấu ác. 25. Di lật đầu kiền già địa (Thiện phẩm), coi việc dòi bọ độc hại. 26. Di lật đầu tì lê đà(Thiện kết), chủ việc khủng bố. 27. Di lật đầu chi đà na (Thiện thọ), chủ việc ách nạn. 28. Di lật đầu già lâm ma (Thiện du), chủ việc sinh nở. 29. Di lật đầu a lưu già (Thiện nguyện), chủ việc quan huyện. 30. Di lật đầu xà lợi đà(Thiện nhân), chủ việc miệng lưỡi. 31. Di lật đầu a già đà(Thiện chiếu), chủ việc lo buồn. 32. Di lật đầu a sa ha (Thiện sinh), chủ việc bất an. 33. Di lật đầu sa hòa la(Thiện chí), chủ việc quái gở. 34. Di lật đầu ba lợi na (Thiện tạng), chủ việc ghen ghét. 35. Di lật đầu chu đà na (Thiện âm), chủ việc nguyền rủa. 36. Di lật đầu vi đà la(Thiện diệu), chủ việc yếm đảo. Nguồn gốc thuyết Thiện thần thủ hộ này đã rất lâu xa, có lẽ chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạo giáo mà ra. [X. kinh Quán đính Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.hạ phần đầu; Chỉ quất dịch thổ tập Q.25].
tam thập lục cú
515法華經玄義論及感應道交,由機應相稱所立之三十六句。眾生之機與如來相應,是為機應;眾生之理性與佛無殊,但於眾生為隱,於佛則為顯,機應即就其不一不異而立。機者,可分冥機、顯機、亦冥亦顯機、非冥非顯機;應者,可分冥應、顯應、亦冥亦顯應、非冥非顯應。前四機各配四應,即冥機冥應、冥機顯應、冥機亦冥亦顯應、冥機非冥非顯應;其餘三機復同,共成十六句。機既召應,則應亦成十六句,如冥應冥機、冥應顯機、冥應亦冥亦顯機、冥應非冥非顯機;其餘三應復同,機、應各十六句,合為三十二句。另加亦冥機、顯機、亦冥亦顯機、非冥非顯機之根本四句,共成三十六句。其中,冥為過去,顯為現在,冥顯為過去與現在,非冥非顯則為未來。一人身業之機具三十六,三業具百八機,三世之三業具三百二十四機。又一界三百二十四機,自行化他有六千四百八十機,故亙十法界,凡六萬四千八百機。〔觀音玄義卷下、觀經疏妙宗鈔卷四、仁王護國般若經疏卷二〕(參閱「感應道交」5453)
; (三十六句) Ba mươi sáu câu. Khi bàn về cảm ứng đạo giao, Pháp hoa kinh huyền nghĩa căn cứ vào sự tương xứng giữa Cơ và Ứng mà lập thành 36 câu. Cơ của chúng sinh tương ứng với Như lai, đó là Cơ ứng; lí tính của chúng sinh và lí tính của Phật không khác nhau, nhưng ở chúng sinh thì lí ấy ẩn kín, còn ở Phật thì hiển hiện rõ ràng. Cơ và Ứng được dựa vào tính chẳng 1 chẳng khác ấy mà lập ra. Cơ được chia làm 4 loại: Cơ thầm kín, Cơ hiển hiện, Cơ vừa thầm kín vừa hiển hiện, Cơ chẳng phải thầm kín chẳng phải hiển hiện. Ứng cũng được chia làm 4 loại là Ứng thầm, Ứng hiển, Ứng vừa thầm vừa hiển, Ứng chẳng phải thầm chẳng phải hiển. Bốn cơ trên được phối với 4 ứng: Cơ thầm ứng thầm, cơ thầm ứng hiển, cơ thầm ứng vừa thầm vừa hiển, cơ thầm ứng chẳng phải thầm chẳng phải hiển; ba cơ còn lại cũng giống như thế, cộng tất cả thành 16 câu. Cơ đã triệu Ứng thì ứng cũng thành 16 câu, như ứng thầm cơ thầm, ứng thầm cơ hiển, ứng thầm cơ vừa thầm vừa hiển, ứng thầm cơ chẳng phải thầm chẳng phải hiển; 3 ứng còn lại cũng giống như thế, Cơ và Ứng mỗi thứ đều 16 câu, hợp chung lại là 32 câu. Lại cộng thêm 4 câu gốc: Cơ thầm, Cơ hiển, Cơ vừa thầm vừa hiển, Cơ chẳng phải thầm chẳng phải hiển, thành 36 câu. Trong đó, thầm là quá khứ, hiển là hiện tại, vừa thầm vừa hiển là quá khứ và hiện tại, chẳng phải thầm chẳng phải hiển là vị lai. Cơ của thân nghiệp mỗi người có 36 cơ, 3 nghiệp có 108 cơ, 3 nghiệp trong 3 đời có 324 cơ. Trong 1 cõi(giới) có 324 cơ, tự hành hóa tha có 6480 cơ, bởi thế, trong cả 10 cõi có 64800 cơ. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.hạ; Quán kinh sớ diệu tông sao Q.4; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2]. (xt. Cảm Ứng Đạo Giao).
tam thập lục cầm
517又作三十六時獸、三十六獸。係於晝夜十二辰交互出現以惱亂修禪者之禽獸。每一辰各有三獸,寅時為狸、豹、虎,卯時為狐、兔、貉,辰時為龍、鮫、魚,巳時為蟬、鯉、蛇,午時為鹿、馬、鵇,未時為羊、雁、鷹,申時為狖、猿、猴,酉時為烏、雞、雉,戌時為狗、狼、豺,亥時為豕、荤、豬,子時為貓、鼠、伏翼,丑時為牛、蟹、鱉。寅、卯、辰之九獸屬東方木,巳、午、未之九獸屬南方火,申、酉、戌之九獸屬西方金,亥、子、丑之九獸屬北方水;依時喚名,即可消去媚鬼。又密教列此三十六獸於星曼荼羅。〔摩訶止觀卷八下、止觀輔行傳弘決卷八之三〕
; (三十六禽) Cũng gọi Tam thập lục thời thú, Tam thập lục thú. Chỉ cho 36 cầm thú thay nhau xuất hiện trong 12 thời của 1 ngày đêm để não loạn người tu thiền. Mỗi 1 thời(2 tiếng đồng hồ) đều có 3 con thú, giờ Dần có chồn, báo, hổ; giờ Mão là cáo, thỏ, cầy(lạc); giờ Thìn là rồng, thuồng luồng, cá; giờ Tị là ve sầu, cá chép, rắn; giờ Ngọ là nai, ngựa, hoẵng; giờ Mùi là dê, ngỗng trời, chim ưng; giờ Thân là dứu(1 giống khỉ), vượn, khỉ; giờ Dậu là quạ, gà, trĩ; giờ Tuất là chó, sói, sài; giờ Hợi là lợn, lợn lòi, lợn con; giờ Tí là mèo, chuột, dơi; giờ Sửu là bò, cua, ba ba. Chín con thú vào các giờ Dần, Mão, Thìn thuộc về Mộc ở phương đông; 9 con thú vào các giờ Tị, Ngọ, Mùi thuộc về Hỏa ở phương nam; 9 con thú vào các giờ Thân, Dậu, Tuất thuộc về Kim ở phương tây; 9 con thú vào các giờ Hợi, Tí, Sửu thuộc về Thủy ở phương bắc. Cứ theoThời mà gọi tên những con thú ấy thì tiêu trừ được quỉ mị.Ngoài ra, 36 con thú này được xếp vào Tinh mạn đồ la của Mật giáo. [X. Ma ha chỉ quán Q.8 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần3].
tam thập lục vật
xem ba mươi sáu thứ.
; 516指構成人身之三十六種要素。然關於數目,多有異說。據大明三藏法數卷四十八所舉,三十六物分為外相、身器、內含三類:(一)外相十二物,髮、毛、爪、齒、眵、淚、涎、唾、屎、尿、垢、汗。(二)身器十二物,皮、膚、血、肉、筋、脈、骨、髓、肪、膏、腦、膜。(三)內含十二物,肝、膽、腸、胃、脾、腎、心、肺、生臟、熟臟、赤痰、白痰。雜阿含經卷四十三則列髮、毛、爪、齒、塵垢、流涎、皮、肉、白骨、筋、脈、心、肝、肺、脾、腎、腸、肚、生臟、熟臟、胞、淚、汗、涕、沫、肪、脂、髓、痰、癊、膿、血、腦、汁、屎、溺等三十六種。南本涅槃經卷二十二(大一二‧七四九中):「見凡夫身,三十六物不淨充滿。」故「不淨觀」,即是觀三十六物不淨(自體不淨)。〔增一阿含經卷二十五、大品般若經卷五、坐禪三昧經卷上〕
; The thirty-six physical parts and excretions of the human body, all being unclean, i.e. the vile body.
; (三十六物) Ba mươi sáu vật. Tức chỉ cho 36 yếu tố cấu tạo thành thân người. Tuy nhiên, về số mục thì có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 48 thì 36 vật được chia làm 3 loại là Ngoại tướng, Thân khí và Nội hàm. 1. Ngoại tướng, gồm 12 vật: Tóc, lông, móng, răng, nhử mắt, nước mắt, nước miếng, nước dãi, phân, nước tiểu, ghét gúa, mồ hôi. 2. Thân khí, gồm 12 vật: Da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ lá, mỡ nước, não, màng. 3. Nội hàm, gồm 12 vật: Gan, mật, ruột, dạ dày(bao tử), lá lách, thận, tim, phổi, sinh tạng, thục tạng, đàm đỏ, đàm trắng. Theo kinh Tạp a hàm quyển 43 thì 36 vật là: Tóc, lông, móng, răng, ghét, nước miếng, dạ dày, thịt, xương, gân, mạch, tim, gan, phổi, lá lách, thận, ruột, bao tử, sinh tạng, thục tạng, cái nhau, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước bọt, mỡ lá, mỡ nước, tủy, đàm, ấm, mủ, máu, não, chất nhờn, phân, nước tiểu. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 22 (Đại 12, 749 trung) nói: Thấy thân phàm phu đầy dẫy 36 vật nhơ nhớp. Cho nên Bất tịnh quán chính là quán xét 36 vật nhơ nhớp này(nhơ nhớp từ tự thể). [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.25; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng].
tam thập lục đối
518禪宗六祖慧能咐囑弟子之三十六種相對性概念。又作三科三十六對法門。(一)對法外境,無情五對:天與地對、日與月對、明與暗對、陰與陽對、水與火對。(二)法相語言十二對:語與法對、有與無對、有色與無色對、有相與無相對、有漏與無漏對、色與空對、動與靜對、清與濁對、凡與聖對、僧與俗對、老與少對、大與小對。(三)自性起用十九對:長與短對、邪與正對、癡與慧對、愚與智對、亂與定對、慈與毒對、戒與非對、直與曲對、實與虛對、險與平對、煩惱與菩提對、常與無常對、悲與害對、喜與瞋對、捨與慳對、進與退對、生與滅對、法身與色身對、化身與報身對。 六祖大師法寶壇經(大四八‧三六○中):「此三十六對法,若解用即道貫一切經法,出入即離兩邊,自性動用,共人言語,外於相離相,內於空離空。若全著相,即長邪見,若全執空,即長無明。」 此三十六對均屬兩邊性之邊義,且通貫一切經法教義;蓋凡為經教,其本身並非中道,而全屬因機制宜之邊義權說。然不立邊,則無由見中,故知欲顯中道,必由邊義,此即動用三十六對之作用,猶如學問具有扶持世人之功夫與效果。慧能又謂(大四八‧三六○下):「若有人問汝義,問有將無對,問無將有對,問凡以聖對,問聖以凡對;二道相因,生中道義。」蓋謂凡運用三十六對之際,無論出入,均應即離兩邊,以免使人滯言執義。又所謂中道義,即超越相對之意,即指自性,此乃六祖慧能思想體系中之絕對真理。〔禪學的黃金時代(吳經熊)〕
; (三十六對) Cũng gọi Tam khoa tam thập lục đối pháp môn. Ba mươi sáu đối. Tức 36 khái niệm có tính chất tương đối do Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông phó chúc cho đệ tử. Ba mươi sáu khái niệm này gồm trong 3 khoa: 1. Đối pháp ngoại cảnh: Có 5 cặp đối nhau: Trời đối với đất, mặt trời đối với mặt trăng, sáng đối với tối, âm đối với dương và nước đối với lửa. 2. Pháp tướng ngữ ngôn: Có 12 cặp đối nhau: Ngữ đối với pháp, hữu đối với vô, có sắc đối với không sắc, có tướng đối với không tướng, hữu lậu đối với vô lậu, sắc đối không, động đối với tĩnh, trong đối với đục, phàm đối với thánh, tăng đối với tục, già đối với trẻ và lớn đối với nhỏ. 3. Tự tính khởi dụng: Có 19 cặp đối nhau: Dài đối với ngắn, tà đối với chính, si đối với tuệ, ngu đối với trí, loạn đối với định, lành đối với độc, giới đối với lỗi, thẳng đối với cong, thực đối với hư, hiểm đối với bình, phiền não đối với bồ đề, thường đối với vô thường, bi đối với hại, mừng đối với giận, xả bỏ đối bỏn sẻn, tiến đối với lui, sinh đối với diệt, phápthân đối với sắc thân và hóa thân đối với báo thân... Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 360 trung) nói: Nếu hiểu và ứng dụng được 36 đối pháp này thì hiểu thấu tất cả kinh pháp, ra vào lìa được 2 bên; hoạt động theo tự tính, nói năng với mọi người. Bên ngoài đối với tướng lìa tướng, bên trong đối với không lìa không. Nếu chỉ chấp tướng thì mãi mãi ở trong tà kiến, nếu chỉ chấp không thì mãi mãi sống trong vô minh. Vậy làm thế nào mà ứng dụng đúng 36 đối pháp này để đạt được nghĩa Trung đạo? Đức Lục tổ dạy tiếp (Đại 48, 360 hạ): Nếu có người hỏi về nghĩa lí, hễ họ hỏi hữu thì đáp bằng vô, hỏi vô thì đáp bằng hữu, hỏi phàm thì đáp thánh, hỏi về thánh thì đáp bằng phàm. Hai bên (thiên lệch) làm nhân cho nhau mà phát sinh nghĩa Trung đạo. [X. Thiền học đích hoàng kim thời đại (Ngô kinh hùng)].
tam thập ngũ phật
514常住十方一切世界之三十五佛。據三十五佛名禮懺文所載,計有:(一)釋迦牟尼佛。(二)金剛堅固能摧佛,又作金剛不壞佛。(三)寶焰佛,又作寶光佛。(四)龍自在王佛,又作龍尊王佛。(五)勤勇軍佛,又作精進軍佛。(六)勤勇喜佛,又作精進喜佛。(七)寶火佛。(八)寶月光佛。(九)不空見佛,又作現無愚佛。(十)寶月佛。(十一)無垢佛。(十二)離垢佛。(十三)勇施佛。(十四)淨行佛,又作清淨佛。(十五)梵施佛,又作清淨施佛。(十六)水王佛,又作婆留那佛。(十七)水天佛。(十八)賢吉祥佛,又作堅德佛。(十九)無量威德佛,又作栴檀功德佛。(廿)栴檀吉祥佛,又作無量掬光佛。(廿一)光吉祥佛,又作光德佛。(廿二)無憂吉祥佛,又作無憂德佛。(廿三)那羅延吉祥佛,又作那羅延佛。(廿四)華吉祥佛,又作功德華佛。(廿五)蓮華光遊戲神通佛。(廿六)財吉祥佛,又作財功德佛。(廿七)念吉祥佛,又作德念佛。(廿八)善稱名號吉祥佛,又作善名稱功德如來。(廿九)帝幢幡王佛,又作紅炎幢王如來。(卅)鬥戰勝佛,又作善遊步功德如來。(卅一)勇健吉祥佛,又作传戰勝如來。(卅二)勇健進佛,又作善遊步如來。(卅三)普遍照曜莊嚴吉祥佛,又作周帀(匝)莊嚴功德如來。(卅四)寶蓮華遊步佛,又作寶蓮遊步如來。(卅五)寶蓮華妙住山王佛,又作寶蓮華善住娑羅樹王如來。又同書後記載稱,五天竺大乘修行者,常於六時禮懺三十五佛而不缺。三十五佛之信仰,於今猶盛行於西藏。〔決定毘尼經、大寶積經卷九十優波離會、觀虛空藏菩薩經、法苑珠林卷八十六〕
; (三十五佛) Ba mươi lăm đức Phật thường trụ trong tất cả thế giới ở 10 phương. Theo Tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn thì 35 đức Phật gồm: 1. Phật Thích ca mâu ni. 2. Phật Kim cương kiên cố năng tồi, cũng gọi là Phật Kim cương bất hoại. 3. Phật Bảo diệm, cũng gọi là Phật Bảo quang. 4. Phật Long tự tại vương, cũng gọi là Phật Long tôn vương. 5. Phật Cần dũng quân, cũng gọi Phật Tinh tiến quân. 6. Phật Cần dũng hỉ, cũng gọi Phật Tinh tiến hỉ. 7. Phật Bảo hỏa. 8. Phật Bảo nguyệt quang. 9. Phật Bất không kiến, cũng gọi Phật hiện vô ngu. 10. Phật Bảo nguyệt. 11. Phật Vô cấu. 12. Phật Li cấu. 13. Phật Dũng thí. 14. Phật Tịnh hạnh, cũng gọi Phật Thanh tịnh. 15. Phật Phạm thí, cũng gọi Phật Thanh tịnh thí. 16. Phật Thủy vương, cũng gọi Phật Bà lưu na. 17. Phật Thủy thiên. 18. Phật Hiền cát tường, cũng gọi Phật Kiên đức. 19. Phật Vô lượng uy đức, cũng gọi Phật Chiên đàn công đức. 20. Phật Chiên đàn cát tường, cũng gọi Phật Vô lượng cúc quang. 21. Phật Quang cát tường, cũng gọi Phật Quang đức.22. Phật Vô ưu cát tường, cũng gọi Phật Vô ưu đức. 23. Phật Na la diên cát tường, cũng gọi Phật Na la diên. 24. Phật Hoa cát tường, cũng gọi Phật Công đức hoa. 25. Phật Liên hoa quang du hí thần thông. 26. Phật Tài cát tường, cũng gọi Phật Tài công đức. 27. Phật Niệm cát tường, cũng gọi Phật Đức niệm. 28. Phật Thiện xưng danh hiệu cát tường, cũng gọi Như Lai Thiện xưng danh công đức. 29. Phật Đế chàng phan vương, cũng gọi Như laiHồng viêm chàng vương. 30. PhậtĐấu chiến thắng, cũng gọi Như lai Thiện du bộ công đức. 31. PhậtDũng kiện cát tường, cũng gọi Như lai Đấu chiến thắng. 32.PhậtDũng kiệntiến, cũng gọi Như lai Thiện du bộ. 33.Phật Phổ biến chiếu diệu trang nghiêm cát tường, cũng gọi Như lai Chu táp trang nghiêm công đức. 34. Phật Bảo liên hoa du bộ, cũng gọi Như lai Bảo liên du bộ. 35. Phật Bảo liên hoa diệu trụ sơn vương, cũng gọi Như lai Bảo liên hoa thiện trụ Sa la thụ vương. Lời bạt trong Tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn còn nói rằng những nhà tu hành Đại thừa ở Ngũ thiên trúc thường lễ sám 35 đức Phật này vào 6 thời trong ngày. Hiện nay, tín ngưỡng Tam thập ngũ Phật vẫn còn thịnh hành tại Tây tạng. [X. kinh Quyết định tì ni; hội Ưu ba li trong kinh Đại bảo tích Q.90; kinh Quán hư không tạngbồ tát; Pháp uyển châu lâm Q.86].
tam thập nhất sắc
505合十三種顯色、十種形色、八種表色,共為三十一色。其中青、黃、赤、白、光、影、明、闇、煙、雲、塵、霧、空等十三種為顯色,以其顯現為色;長、短、方、圓、粗、細、高、下、正、不正等十種為形色,以其形量為色;取、捨、屈、伸、行、住、坐、臥等八種為表色,以其表彰為色。(參閱「色」2541)
; (三十一色) Ba mươi mốt loại sắc. Tức cộng chung 13 loại hiển sắc, 10 loại hình sắc và 8 loại biểu sắc thành 31 loại sắc. Trong đó, 13 loại: Xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, bóng, sáng, tối, khói, mây, bụi, móc và hư không là Hiển sắc, vì chúng lấy sự hiện rõ làm sắc; 10 loại: Dài, ngắn, vuông, tròn, to, nhỏ, cao, thấp, ngay ngắn và không ngay ngắn là Hình sắc, vì chúng lấy hình lượng làm sắc, còn 8 thứ là lấy, bỏ, co, duỗi, đi, đứng, ngồi và nằm là Biểu sắc, vì chúng lấy sựbiểu hiện rõ ràng làm sắc. (xt. Sắc).
tam thập nhật phật danh
518又作三十佛名、三十日祕佛。以三十佛菩薩配一個月三十日。此義為經論所無,但據虛堂和尚語錄卷十載,乃五代頃,五祖山師戒禪師所編。其配列之法,即:一日定光佛、二日燃燈佛、三日多寶佛、四日阿閦佛、五日彌勒菩薩、六日二萬燈佛、七日三萬燈佛、八日藥師如來、九日大通智勝佛、十日日月燈明佛、十一日歡喜佛、十二日難勝如來、十三日虛空藏菩薩、十四日普賢菩薩、十五日阿彌陀佛、十六日陀羅尼菩薩、十七日龍樹菩薩、十八日觀世音菩薩、十九日日光菩薩、二十日月光菩薩、二十一日無盡意菩薩、二十二日施無畏菩薩、二十三日得大勢至菩薩、二十四日地藏菩薩、二十五日文殊師利菩薩、二十六日藥上菩薩、二十七日盧舍那如來、二十八日大日如來、二十九日藥王菩薩、三十日釋迦如來。〔禪林象器箋稱呼門、靈像門〕
; (三十日佛名) Cũng gọi Tam thập Phật danh, Tam thập nhật bí Phật. Danh hiệu Phật và 30 ngày. Nghĩa là 30 vị Phật, Bồ tát được phối hợp với 30 ngày trong 1 tháng. Nghĩa này trong các kinh luận không thấy có, nhưng cứ theo Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 10 thì do Thiền sư Sư giới ở núi Ngũ tổ soạn vào khoảng đời Ngũ đại. Cách phối hợp ấy là: -Mồng 1 là PhậtĐịnh quang. -Mồng 2 là Phật Nhiên đăng. -Mồng 3 là Phật Đa bảo. -Mồng 4 là Phật A súc. -Mồng 5 là bồ tát Di lặc. -Mồng 6 là Phật Nhị vạn đăng. -Mồng 7 là Phật Tam vạn đăng. -Mồng 8 là Dược sư Như lai. -Mồng 9 là Phật Đại thông trí thắng. -Mồng 10 là Phật Nhật nguyệt đăng minh. -Ngày 11 là Phật Hoan hỉ. -Ngày 12 là Nan thắng Như lai. -Ngày 13 là bồ tát Hư không tạng. -Ngày 14 là bồ tát Phổ hiền. -Ngày 15 là Phật A di đà. -Ngày 16 là bồ tátĐà la ni. -Ngày 17 là bồ tát Long thụ. -Ngày 18 là bồ tát Quán thế âm. -Ngày 19 là bồ tát Nhật quang. -Ngày 20 là bồ tát Nguyệt quang. -Ngày 21 là bồ tát Vô tận ý. -Ngày 22 là bồ tát Thí vô úy. -Ngày 23 là bồ tát Đắc đại thế chí. -Ngày 24 là bồ tát Địa tạng. -Ngày 25 là bồ tát Văn thù sư lợi. -Ngày 26 là bồ tát Dược thượng. -Ngày 27 là Lô xá na Như lai. -Ngày 28 là Đại nhật Như lai. -Ngày 29 là bồ tát Dược vương. -Ngày 30 là Phật Thích ca mâu ni. [X. môn Xưng hô Thiền lâm tượng khí tiên].
tam thập nhị khí
507菩薩成就之三十二種法;乃用於成辦事理,故稱為器。即:(一)菩提心器,指佛所護持。(二)無偽器,指專心質直。(三)善根器,指增長志意。(四)菩提柱器(又稱菩提根器),指修行於道。(五)多聞器,指正意思念。(六)出道器,指慧。(七)集義器,指進取。(八)大富器,指布施。(九)滿願器,指持戒。(十)三十二丈夫相器,略稱端正器,指忍辱。(十一)一切佛法器,指精進。(十二)練心器,指禪定。(十三)度障器,指智慧。(十四)等諸眾生器,指大慈。(十五)救拔貧窮器,指大悲。(十六)喜樂佛法器,指大喜。(十七)捨離愛恚器,指大捨。(十八)諸善根器,指善知識。(十九)般若波羅蜜器,指修進多聞。(廿)離縛礙器,指出家。(廿一)少事務無惱亂器,指阿練若處,即寂靜處。(廿二)諸禪定神通器,指樂於寂靜。(廿三)化眾生器,指四攝法,即菩薩攝受眾生所行之布施、愛語、利行、同事四種法。(廿四)照明器,指護持諸法。(廿五)聞一切未聞法器,指陀羅尼。(廿六)斷一切疑器,指辯才。(廿七)見諸佛器,略稱見佛器,指念佛。(廿八)護一切善根器,指無惱害心。(廿九)斷我見器,指空法。(卅)捨諸所珍器,指因緣。(卅一)捨諸障礙授記器,指無生法忍。(卅二)無畏器,指緣不退地。〔大樹緊那羅王所問經卷四〕
; (三十二器) Chỉ cho 32 pháp mà Bồ tát thành tựu. Vì 32 pháp này được sử dụng để thành biện sự và lí nên gọi làKhí. 1. Bồ đề tâm khí: Chỉ cho cái được Phật hộ trì. 2. Vô ngụy khí: Chuyên tâm chất phác chính trực. 3. Thiện căn khí: Tăng trưởng ý chí. 4. Bồ đề trụ khí(cũng gọiBồ đề căn khí): Tu tập hành đạo. 5. Đa văn khí: Chính ý tư duy. 6. Xuất đạo khí: Chỉ cho tuệ. 7. Tập nghĩa khí: Chỉ cho sự tiến thủ. 8. Đại phú khí: Chỉ cho sự bố thí. 9. Mãn nguyện khí: Chỉ cho sự giữ giới. 10. Tam thập nhị trượng phu tướng khí(gọi tắt: Đoan chính khí): Chỉ cho nhẫn nhục. 11. Nhất thiết Phật pháp khí: Chỉ cho tinh tiến. 12. Luyện tâm khí: Chỉ cho thiền định. 13. Độ chướng khí: Chỉ cho trí tuệ. 14. Đẳng chư chúng sinh khí: Chỉ cho đại từ. 15. Cứu bạt bần cùng khí: Chỉ cho đại bi. 16. Hỉ lạc Phật pháp khí: Chỉcho đại hỉ. 17. Xả li ái khuể khí: Chỉ cho đại xả. 18. Chư thiện căn khí: Chỉ cho thiện tri thức. 19. Bát nhã ba la mật khí: Chỉ cho tinh tiến đa văn. 20. Li phược ngại khí: Chỉ cho xuất gia.21. Thiểu sự vụ vô não loạn khí: Chỉ cho chỗ A lan nhã, tức nơi yên tĩnh. 22. Chư thiền định thần thông khí: ưa sự tĩnh lặng. 23. Hóa chúng sinh khí: Chỉ cho Tứ nhiếp pháp. 24. Tứ minh khí: Giữ gìn các pháp. 25. Văn nhất thiết vị văn pháp khí: Chỉ cho Đà la ni. 26. Đoạn nhất thiết nghi khí: Chỉ cho biện tài. 27. Kiến chư Phật khí(gọi tắt: Kiến Phật khí): Niệm Phật. 28. Hộ nhất thiết thiện căn khí: Không có tâm não hại. 29. Đoạn ngã kiến khí:Chỉ cho pháp không. 30. Xả chư sở trân khí: Chỉ cho nhân duyên. 31. Xả chư chướng ngại thụ kí khí: Chỉ cho vô sinh pháp nhẫn. 32. Vô úy khí: Địa vị Duyên bất thoái. [X. kinh Đại thụ khẩn na la vương sở vấn Q.4].
tam thập nhị thân
The thirty-two forms of Quán thế Âm and of Phổ Hiền, ranging from that of a Buddha to that of a man, a maid, a raksas; similar to the thirty-three forms named in the Lotus sùtra.
Tam Thập Nhị Tướng
(s: dvatriṃśan-mahāpurisa-lakṣaṇāni, p: dvattiṃsa-mahāpurisa-lakkhaṇāni, 三十二相): 32 loại hình tướng và dung mạo rất thù thắng của vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Phật, còn gọi là 32 tướng của một bậc đại nhân, 32 tướng của bậc đại trượng phu, 32 tướng của bậc đại sĩ. Theotruyền thuyết của Ấn Độ ngày xưa, người nào có đầy đủ các tướng hảo như thế này sẽ trở thành Chuyển Luân Vương thống trị thiên hạ; nếu người ấy xuất gia thì sẽ khai ngộ vô thượng chánh giác. Về thứ tự tên gọi các tướng có nhiều thuyết khác nhau, nay y cứ theo quyển 4 của Đại Trí Độ Luận (大智度論), 32 tướng gồm: (1) Đứng an trụ dưới chân (s: su-pratiṣṭhita-pāda, 足下安平立): có nghĩa rằng lòng bàn chân của bằng phẳng, mềm mại, đứng trụ vững chắc trên mặt đất. Khi đức Phật còn đang hành đạo Bồ Tát, tu sáu ba la mật nên cảm được tướng mầu như vậy. Tướng này dẫn đến công đức có lợi ích. - (2) Dưới bàn chân có hai bánh xe (足下二輪): hay còn gọi là tướng nghìn bánh xe, tướng này có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala). (3) Ngón tay dài (s: dīrghāṅguli, 長指): tức cả hai tay chân đều thon nhỏ, dài và thẳng, đó chính là do nhờ cung kính lễ bái các vị sư trưởng, phá trừ tâm kiêu căng ngã mạn nên cảm được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện tuổi thọ lâu dài, có công đức khiến cho chúng sanh vui thích quy y theo. - (4) Gót chân rộng và bằng phẳng (s: āyata-pāda-pārṣṇi, 足跟廣平): hay còn gọi là tướng gót chân tròn đầy, gót chân dài. Nhờ có giữ giới, nghe pháp, siêng năng tu tập mà có được tướng này. Nó thể hiện công đức hóa độ và làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh cho đến đời tương lai. (5) Ngón tay ngón chân có màng lưới (s: jālāvanaddha-hasta-pāda, 手足指縵綱): hay còn gọi là tướng của vua chim nhạn giữa các ngón tay, nghĩa là giữa mỗi ngón tay và chân đều có lớp màng lưới giao nhau hình hoa văn, giống như vua loài chim nhạn khi dang móng vuốt ra liền hiện tướng này. Nhờ có tu tứ nhiếp pháp mà có được tướng như vậy. Nó có hiện ra hay mất đi một cách tự do tự tại, thể hiện công đức xa lìa phiền não, nghiệp ác, đạt đến bờ vô vi bên kia. - (6) Tay chân mềm mại (s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala, 手足柔軟): nghĩa là tay chân vô cùng mềm mại, như lông mịn. Nhờ có dùng các thức ăn uống cao quý, y cụ cúng dường cho thầy mình, hay khi cha mẹ và thầy bị bệnh hoạn, nhờ hết mình gần gủi chăm sóc, hầu hạ nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức mà đức Phật dùng bàn tay mềm mại từ bi để nhiếp độ những người thân hay xa lạ. (7) Mu bàn chân cao đầy (s: ucchaṅkha-pāda, 足趺高滿): hay còn gọi là mu bàn chân cao bằng, mu bàn chân thẳng dày. Nhờ tu phước, dũng mãnh tinh tấn nên có được tướng này, thể hiện công đức làm lợi ích cho chúng sanh và có tâm đại bi vô thượng. - (8) Bắp đùi tròn mềm như con nai chúa (s: aiṇeya-jaṅgha, 腨鹿王): có nghĩa là xương thịt bắp đùi tròn mềm như con sơn dương, do vì xưa kia chuyên tâm nghe pháp và diễn thuyết, nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức tiêu diệt hết tất cả tội chướng. (9) Đứng thẳng tay dài quá gối (s: sthitānavanata-pralamba-bāhutā, 正立手摩膝): hay còn gọi là tướng tay buông xuống quá gối, đứng thẳng tay quá gối. Tướng này có được là nhờ xa lìa ngã mạn, khéo bố thí, không tham lam. Nó thể hiện công đức hàng phục hết thảy ác ma, thương xót xoa đầu chúng sanh. - (10) Nam căn ẩn kín (s: kośopagata-vasti-guhya, 陰藏): có nghĩa là nam căn dấu kín trong cơ thể như âm vật của con ngựa hay con voi. Tướng này có được là nhờ đoạn trừ tà dâm, cứu giúp các chúng sanh sợ hãi, v.v. Nó thể hiện công đức tuổi thọ lâu dài và có nhiều đệ tử. (11) Thân thể dài rộng (s: nyagrodha-parimaṇḍala, 身廣長等): thân Phật ngang rộng, phải trái, trên dưới, tất cả đều nhau, xung quanh thân tròn đầy, như cây Ni Câu Luật (s: nyagrodha, p: nigrodha, 尼拘律, Ficus indica), do vì ngài thường khuyên chúng sanh hành trì tam muội, làm việc bố thí không sợ hãi nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức tự tại tôn quý của đấng pháp vương. (12) Lông hướng lên trên (s: ūrdhvaṃ-ga-roma, 毛上向): hay lông tóc của thân thể đều hướng về bên phải, có màu xanh nhạt, mềm mại. Tướng này có được do nhờ hành tất cả các pháp, có thể khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng, tâm sanh vui vẻ, có được lợi ích vô lượng. (13) Mỗi lỗ chân lông đều có lông mọc (s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta, 一一孔一毛生): nghĩa là mỗi lỗ chân lông đều có lông mọc ra, lông ấy xanh như màu ngọc lưu ly, và nơi mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng này có được là nhờ tôn trọng, cúng dường hết thảy chúng hữu tình, chỉ bày cho người không biết mệt mỏi, gần gủi người trí, dọn dẹp nhưng con đường gai góc. Người có được ánh sáng từ lỗ chân lông ấy có thể tiêu trừ 20 kiếp tội chướng. - (14) Thân thể vàng rực (s: suvarṇa-varṇa, 金色): hay gọi là có thân tướng vàng rực tuyệt diệu, da thân màu vàng rực, tức là thân Phật cũng như tay chân đều có màu vàng rực, giống như đài vàng tuyệt diệu làm trang nghiêm cho các báu vật. Tướng này có được nhờ xa lìa các sự tức giận, nhìn chúng sanh với con mắt hiền từ. Đức tướng này có thể khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng, chán bỏ vui thích, diệt tội, phát sanh điều thiện. (15) Thân phát ánh sáng lớn (大光): tức thân của Phật có ánh sáng chiếu khắp ba ngàn thế giới, bốn mặt xa đến 1 trượng. Tướng này có được nhờ phát tâm bồ đề lớn và tu tập vô lượng hạnh nguyện. Nó có thể trừ đi các hoặc, phá tan chướng ngại và thể hiện công đức có thể làm cho đầy đủ hết thảy các chí nguyện. (16) Da mềm mỏng (s: sūkṣma-suvarṇacchavi, 細薄皮): tức da mềm mỏng, trơn láng, không bị nhiễm bởi bụi nhơ. Do nhờ lấy các thứ y phục, phòng ốc, lầu gác sạch sẽ cho chúng sanh, xa rời người ác, gần gủi người trí mà có được tướng tốt này. Nó thể hiện sự bình đẳng, không nhơ nhớp của đức Phật, và công đức từ bi lớn hóa độ và làm lợi ích cho chúng sanh. (17) Bảy chỗ tròn đầy (s: saptotsada, 七處隆滿): có nghĩa là 7 chỗ gồm thịt ở hai tay, dưới hai chân, hai vai và cuống cổ đều tròn đầy, mềm mại. Tướng này có được nhờ không tham tiếc đồ vật mình yêu thích, đem cho chúng sanh. Nó thể hiện công đức làm cho hết thảy chúng sanh đạt được tướng này và tiêu diệt tội lỗi, sanh điều thiện. - (18) Dưới hai nách đầy đặn (s: citāntarāṃsa, 兩股下隆滿): hay dưới hai nách bằng phẳng và đầy đặn, có nghĩa rằng xương thịt dưới hai nách của đức Phật đầy đặn không khuyết. Tướng này có được nhờ đức Phật ban cho chúng sanh thuốc men, thức ăn uống và có thể tự khám bệnh cho mình. (19) Thân trên như sư tử (s: siṃha-pūrvārdha-kāya, 上身如師子): tức nữa phần trên của thân đức Phật rộng lớn, đi đứng nằm ngồi đều oai nghiêm, đoan chánh giống như con sư tử. Tướng này có được nhờ đức Phật trong vô lượng thế giới chưa bao giờ nới lời hai lưỡi, dạy người các pháp thiện, thực hành lòng nhân và sự hòa hợp, xa rời ngã mạn. Nó thể hiện công đức có dung mạo cao quý, đầy đủ lòng từ bi. - (20) Thân thẳng to lớn (s: ṛjugātratā, 大直身): có nghĩa rằng trong tất cả thân con người, thân Phật là to lớn nhất mà thẳng. Nhờ cho thuốc, khám bệnh, giữ gìn giới không sát sanh, không trộm cắp, xa rời sự kiêu căng ngã mạn, nên có được tướng tốt như vậy. Nó có thể khiến cho chúng sanh thấy nghe, chấm dứt khổ đau, đạt được chánh niệm, tu 10 điều thiện. (21) Vai tròn to (s: su-saṃvṛta-skandha, 肩圓好): tức hai vai tròn đầy, to lớn, ngay thẳng, thù thắng, tuyệt diệu. Tướng này có được nhờ thường hay làm tượng, tu bổ tháp, ban bố sự không sợ hãi. Nó thể hiện công đức vô lượng của sự diệt trừ các lậu hoặc và tiêu nghiệp chướng. - (22) Có bốn mươi răng (s: catvāriṃśad-danta, 四十齒): tướng này chỉ đức Phật có đầy đủ 40 cái răng, cái nào cũng ngay thẳng, trắng như tuyết. Nhờ xa rời nghiệp không nói lời hai lưỡi, nói lời xấu ác, tâm tức giận, tu tập sự bình đẳng và từ bi nên có được tướng tốt như vậy. Nó thường tỏa ra mùi thơm vi diệu. Tướng tốt này có thể ngăn chận nghiệp nói lời xấu ác của chúng sanh, diệt hết tội vô lượng và thọ nhận sự vui vẻ vô lượng. (23) Răng thẳng (s: sama-danta, 齒齊): nghĩa là răng đều, khít nhau, bằng phẳng, không to không nhỏ, giữa hai răng không có khoảng hở lọt qua một sợi lông. Tướng này có được nhờ lấy 10 điều thiện để hóa độ và làm lợi ích cho chúng sanh, cũng như thường hay tán dương công đức của người khác. Nó thể hiện công đức có thể làm cho được thanh tịnh, hòa thuận, tất cả quyến thuộc đều đồng tâm nhất trí. - (24) Răng trắng như ngà (s: suśukla-danta, 牙白): hay răng trắng như tuyết, ngài 40 cái răng ra, trên dưới đều có 2 răng khác, màu sắc của nó tươi trắng, sáng trong, nhọn sắc như đỉnh núi, cứng rắn như kim cương. Tướng này có được nhờ thường suy nghĩ đến các pháp thiện, tu tập lòng từ. Tướng tốt này có thể giúp phá tan ba thứ độc cứng chắc, ương ngạnh của chúng sanh. (25) Má như sư tử (s: siṃha-hanu, 獅子頰): tức hai má tròn đầy như má của con sư tử. Người thấy tướng này có thể trừ được tội sanh tử trong trăm kiếp và thấy được các đức Phật. - (26) Trong nước miếng có chất thơm ngon (s: rasa-rasāgratā, 味中得上味): ám chỉ trong miệng của đức Phật thường có mùi vị thơm ngon nhất trong các mùi vị. Tướng này có được nhờ thường xem chúng sanh như con mình, và lấy các pháp thiện hồi hướng để trọn thành chánh quả. Nó biểu hiện công đức của Phật mà có thể làm cho đầy đủ chí nguyện của chúng sanh. (27) Lưỡi dài rộng (s: prabhūta-tanu-jihva, 廣長舌): tức đầu lưỡi dài rộng, mềm mỏng, khi thè lưỡi ra có thể chạm đến tóc. Nhờ có tâm phát thệ nguyện rộng lớn, lấy hạnh đại bi mà hồi hướng khắp pháp giới, nên có được tướng tốt như vậy. Khi nhìn thấy được tướng này, người ta có thể diệt trừ được tội sanh tử của 24.000 kiếp, được gặp 80 ức các đức Phật và Bồ Tát thọ ký cho. - (28) Tiếng nói của Phạm Thiên (s: brahma-svara, 梵聲): tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s: karaviṅka, kalaviṅka; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ có nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. (29) Mắt trong xanh (s: abhinīla-netta, 眞青眼): tức mắt Phật có màu trong xanh, như hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], 青 蓮). Nhờ đời đời kiếp kiếp lấy tâm từ bi, con mắt từ bi và tâm hoan hỷ ứng xử đối với người ăn xin, nên có được tướng tốt này. - (30) Lông mi như bò rừng (s: go-pakṣmā, 牛眼睫): tức lông mi ngay thẳng, không tạp loạn. Tướng này có được nhờ quán hết thảy chúng sanh như cha mẹ mình, lấy tâm của người con mà thương xót, yêu mến. (31) Có nhục kế trên đầu (s: uṣṇīṣa-śiraskatā, 頂髻): tức trên đỉnh đầu có nhục kế nhô lên. Tướng này có được nhờ dạy người thọ trì pháp 10 điều thiện và tự bản thân mình cũng thọ trì. - (32) Lông mi trắng (s: ūrṇā-keśa, 白毫): tức giữa hai khoảng cách của lông mày có lông mi trắng, mềm mại như bông Đâu La (s, p: tūla, 兜羅), dài 1 trượng 5 thước, xoắn lại về phía bên phải. Do vì nó thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là hào quang. Do nhờ thấy chúng sanh tu pháp Tam Học mà xưng dương tán thán nên có được tướng tốt như vậy. Trên đây là 32 tướng tốt. Nếu như người nào làm 100 điều thiện mới có được 1 tướng tốt như vậy, cho nên được gọi là “bách phước trang nghiêm (百福莊嚴, trăm phước trang nghiêm”. Như trong Trung A Hàm Kinh (中阿含經), quyển 11, Tam Thập Nhị Tướng Kinh (三十二相經) thứ 2, có đoạn: “Nhược Thế Tôn vị chư Tỳ Kheo thuyết Tam Thập Nhị Tướng giả, chư Tỳ Kheo văn dĩ đương thiện thọ trì (若世尊爲諸比丘說三十二相者、諸比丘聞已當善受持, nếu Thế Tôn vì các Tỳ Kheo nói Ba Mươi Hai Tướng, các Tỳ Kheo nghe xong nên khéo thọ trì).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經), Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) thứ 12 cũng có đoạn: “Phật cáo chư Tỳ Kheo: 'Nhĩ thời vương giả, tắc ngã thân thị, thời tiên nhân giả, kim Đề Bà Đạt Đa thị; do Đề Bà Đạt Đa thiện tri thức cố, linh ngã cụ túc Lục Ba La Mật, từ bi hỷ xả, Tam Thập Nhị Tướng, Bát Thập Chủng Hảo, tử ma kim sắc, Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy, Tứ Nhiếp Pháp, Thập Bát Bất Cọng, thần thông đạo lực, thành Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sanh, giai nhân Đề Bà Đạt Đa thiện tri thức cố' (佛告諸比丘、爾時王者、則我身是、時仙人者、今提婆達多是、由提婆達多善知識故、令我具足六波羅蜜、慈悲喜捨、三十二相、八十種好、紫磨金色、十力、四無所畏、四攝法、十八不共、神通道力、成等正覺、廣度眾生、皆因提婆達多善知識故, Phật bảo các Tỳ Kheo: 'Vị vua lúc bấy giờ tức là thân ta, tiên nhân lúc ấy là Đề Bà Đạt Đa; do vì Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức, khiến cho ta đầy đủ Sáu Ba La Mật, từ bi hỷ xả, Ba Mươi Hai Tướng, Tam Mươi Loại Sắc Đẹp, sắc hình vàng tía, Mười Lực, Bốn Vô Úy, Bốn Nhiếp Pháp, Mười Tám Pháp Bất Cọng, đạo lực thần thông, thành Đẳng Chánh Giác, độ khắp chúng sanh, đều do Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức').”
Tam thập nhị tướng
三十二相; C: sānshíèr xiāng; J: sanjūni sō; S: dvātriṃśan mahā-puruṣa-lakṣaṇāni.|Ba mươi hai tướng đặc thù của một hóa thân Phật. Có nhiều kinh luận khác nhau miêu tả, trình bày ba mươi hai tướng này khác nhau, nhưng một trong những cách trình bày thường gặp nhất được tìm thấy trong Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhū-mi-śāstra) bao gồm: |1. Lòng bàn chân phẳng (túc hạ an bình lập tướng 足下安平立相; s: supratiṣṭhita-pāda); 2. Bánh xe pháp dưới lòng bàn chân (túc hạ nhị luân tướng 足下二輪相; s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala); 3. Ngón tay thon dài (trường chỉ tướng 長指相; s: dīr-ghāṅguli); 4. Bàn chân thon (túc cân phu trường tướng 足跟趺長相; s: āyata-pāda-pārṣṇi); 5. Ngón tay ngón chân cong lại (thủ túc chỉ man võng tướng 手足指縵網相; s: jālāvanaddha-hasta-pāda); 6. Tay chân mềm mại (thủ túc nhu nhuyễn tướng 手足柔軟相; s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala); 7. Sống (mu) chân cong lên (túc phu cao mãn tướng 足趺高滿相; s: ucchaṅkha-pāda); 8. Cặp chân dài thon như chân sơn dương (y-ni-diên-đoán tướng 伊泥延踹相; s: aiṇeya-jaṅgha); 9. Đứng thẳng tay dài quá đầu gối (正立手摩膝相; s: sthi-tānavanata-pralamba-bāhutā); 10. Nam căn ẩn kín (âm tàng tướng 陰藏相; s: kośopagata-vasti-guhya); 11. Dang tay ra rộng dài bằng thân mình (thân quảng trường đẳng tướng 身廣長等相; s: nyagrodha-parimaṇḍala); 12. Lông đứng thẳng (mao thượng hướng tướng 毛上向相; s: ūr-dhvaṃga-roma); 13. Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông (nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng 一一孔一毛生相; s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta); 14. Thân vàng rực (kim sắc tướng 金色相; s: suvarṇa-varṇa); 15. Thân phát sáng (đại quang tướng 大光相); 16. Da mềm mại (tế bạc bì tướng 細薄皮相; s: sūkṣma-suvarṇa-cchavi); 17. Tay, vai và đầu tròn tương xứng (thất xứ long mãn tướng 七處隆滿相; s: sapta-utsada); 18. Hai nách đầy đặn (lưỡng dịch hạ long mãn tướng 兩腋下隆滿相; s: citāntarāṃsa); 19. Thân người như sư tử (thượng thân như sư tử tướng 上身如獅子相; s: siṃha-pūrvārdha-kāya); 20. Thân thẳng đứng (đại trực thân tướng 大直身相; s: ṛjugātratā); 21. Hai vai đầy đặn mạnh mẽ (kiên viên hảo tướng 肩圓好相; susaṃvṛta-skandha); 22. Bốn mươi cái răng (tứ thập xỉ tướng 四十齒相; s: catvāriṃśad-danta); 23. Răng đều (xỉ tề tướng 齒齊相; s: sama-danta); 24. Răng trắng (nha bạch tướng 牙白相; s: suśukla-danta); 25. Hàm sư tử (sư tử giáp tướng 獅子頰相; s: siṃha-hanu); 26. Nước miếng có chất thơm (vị trung đắc thượng vị tướng 味中得上味相; s: rasa-rasāgratā); 27. Lưỡi to dài (đại thiệt tướng 大舌相; s: prabhūta-tanu-jihva); 28. Tiếng nói tao nhã (phạm thanh tướng 梵聲相; s: brahma-svara); 29. Mắt xanh trong (chân thanh nhãn tướng 眞青眼相; s: abhinīla-netra); 30. Mắt giống mắt bò (ngưu nhãn tiệp tướng 牛眼睫相; s: go-pakṣmā); 31. Lông trắng giữa cặp chân mày (bạch mao tướng 白毛相; s: ūrṇā-keśa); 32. Một khối u trên đỉnh đầu (đỉnh kế tướng 頂髻相; s: uṣṇīṣa-śiraskatā).
tam thập nhị tướng
xem ba mươi hai tướng tốt.
; 506梵語 dvātriṃśan mahā-puruṣa-lakṣaṇāni,巴利語 dvattiṃsa mahā-purisa-lakkhaṇāni。係轉輪聖王及佛之應化身所具足之三十二種殊勝容貌與微妙形相。又作三十二大人相、三十二大丈夫相、三十二大士相、大人三十二相。略稱大人相、四八相、大士相、大丈夫相等。與八十種好(微細隱密者)合稱「相好」。 關於三十二相名稱之順序,各有異說,今依大智度論卷四所載,即:(一)足下安平立相(梵 su-pratiṣṭhita-pāda),又作足下平滿相、兩足掌下皆悉平滿相。即足底平直柔軟,安住密著地面之相。係佛於因位行菩薩道時,修六波羅蜜所感得之妙相,此相表引導利益之德。(二)足下二輪相,又作千輻輪相。即足心現一千輻輪寶之肉紋相。此相能摧伏怨敵、惡魔,表照破愚癡與無明之德。或謂「足」亦指手足,故又稱手足輪相(梵 cakrāṅkita-hasta-pāda-tala)、手掌輪相。(三)長指相(梵 dīrghāṅguli),又作指纖長相、指長好相、纖長指相。即兩手、兩足皆纖長端直之相。係由恭敬禮拜諸師長,破除憍慢心所感得之相,表壽命長遠、令眾生愛樂歸依之德。(四)足跟廣平相(梵 āyata-pāda-pārṣṇi),又作足跟圓滿相、足跟長相、腳跟長相。即足踵圓滿廣平,係由持戒、聞法、勤修行業而得之相,表化益盡未來際一切眾生之德。(五)手足指縵網相(梵 jālāvanaddha-hasta-pāda),又作指間雁王相、俱有網鞔相、指網縵相。即手足一一指間,皆有縵網交互連絡之紋樣,如雁王張指則現,不張則不現。此相乃由修四攝法、攝持眾生而有。能出沒自在無礙,表離煩惱惡業、至無為彼岸之德。(六)手足柔軟相(梵 mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala),又作手足如兜羅綿相、手足細軟相。即手足極柔軟,如細劫波毳之相。係以上妙飲食、衣具供養師長,或於父母師長病時,親手為其拭洗等奉事供養而感得之相,表佛以慈悲柔軟之手攝取親疏之德。(七)足趺高滿相(梵 ucchaṅkha-pāda),又作足趺隆起相、足趺端厚相、足趺高平相。即足背高起圓滿之相。乃佛於因位修福、勇猛精進感得之相,表利益眾生、大悲無上之內德。(八)伊泥延
; Dvàtrimsadvaralaksana (S). The thirty two laksanas or physical marks of a cakravarti or wheel-king chuyển luân thánh vương, especially of the Buddha, i.e. level feet, thousand-spoke wheel-sign on feet, long slender fingers, pliant hands and feet, toes and fingers finely webbed, full-sized heels, arched insteps, thighs like a royal stag, hands reaching below the knees, well retracted male organ, height and stretch or arms equal, every hair-root dark coloured, body hair graceful and curly, golden-hued body, a 10 ft. halo around him, soft smooth skin, the thất xứ, i.e. two soles, two palms, two shoulders, and crown well rounded, below the armpits well-filled, lion-shaped body, erect, full shoulders, forty teeth, teeth white even and close, the four canine teeth pure white, lion-jawed, saliva improving the taste of all food, tongue long and broad, voice deep and resonant, eyes deep blue, eyelashes like a royal bull, a whit ùrnà or curl between the eyebrows emitting light, an usnisa or fleshy rotuberance on the crown.
; (三十二相) Phạm: Dvàtriôzan mahà-puruwalakwaịàni. Pàli: Dvattiôsa mahà-parisalakkhaịàni. Cũng gọi Tam thập nhị đại nhân tướng, Tam thập nhị đại trượng phu tướng, Tam thập nhị đại sĩ tướng, Đại nhân tam thập nhị tướng. Gọi tắt: Đại nhân tướng, Tứ bát tướng, Đại sĩ tướng, Đại trượng phu tướng. Chỉ cho 32 dung mạo thù thắng và hình tướng vi diệu của Chuyển luân thánh vương và thân Ứng hóa của Phật. Về thứ tự tên gọi 32 tướng thì có các thuyết khác nhau, ở đây ghi theo thứ tự trong luận Đại trí độ quyển 4 như sau: 1. Túc hạ an bình lập tướng (Phạm: Su-pratiwỉhita-pàda), cũng gọi Túc hạ bình mãn tướng, Lưỡng túc chưởng hạ giai tất bình mãn tướng. Tướng lòng bàn chân bằng phẳng mềm mại, đặt sát mặt đất khít khao, là tướng vi diệucảmđược nhờ Phật tu 6 Ba la mật khi hành đạo Bồ tát ở Nhân vị, tướng này biểu thị đức dắt dẫn, làm lợi ích. 2. Túc hạ nhị luân tướng, cũng gọi Thiên phúc luân tướng. Tướng bánh xe báu nghìn nan hoa bằng những vân thịt hiện ở giữa lòng bàn chân. Tướng này có công năng phá dẹp oán địch, ác ma, biểu trưng đức chiếu phá ngu si và vô minh. Có thuyết cho rằng Túc cũng chỉ cho cả chân lẫn tay, nên còn gọi Thủ túc luân tướng (Phạm: Cakràíkita-hasta-pàda-tala), Thủ chưởng luân tướng. 3. Trường chỉ tướng (Phạm: Dìrghàíguli), cũng gọi Chỉ tiêm trường tướng, Chỉ trường hảo tướng, Tiêm trường chỉ tướng. Chỉ cho tướng các ngón tay thon dài, ngay thẳng, là tướng do cung kính lễ bái Sư trưởng, diệt trừ tâm kiêu ngạo mà cảm được, biểu thị tướng sống lâu, khiến chúng sinh ưa thích qui y. 4. Túc cân quảng bình tướng (Phạm: Àgata-pàda-pafwni), cũng gọi Túc cân viên mãn tướng, Túc cân trường tướng, Cước cân trường tướng. Tướng gót chân đầy đặn tròn trịa, do trì giới, nghe pháp và siêng tu hạnh nghiệp mà được. Tướng này biểu thị cho đức giáo hóa làm lợi ích cho tất cả chúng sinh suốt đời vị lai. 5. Thủ túc chỉ man võng tướng (Phạm: Jàlàvanadha-hasta-pàda), cũng gọiChỉ gian nhạn vương tướng, Câu hữu võng man tướng, Chỉ võng man tướng. Tức giữa khoảng các ngón tay, ngón chân đều có màng nối dính với nhau, như chân ngỗng chúa, hễ xòe ngón tay, ngón chân ra thì thấy màng, không xòe thì không thấy. Tướng này là do tu Tứ nhiếp pháp, nhiếp trì chúng sinh mà cảm được, biểu thị đức lìa phiền não ác nghiệp, ẩn hiện tự tại vô ngại, đến bờ vô vi bên kia. 6. Thủ túc nhu nhuyến tướng (Phạm: Mfdu-taruịa-hasta-pàda-tala), cũng gọi Thủ túc như đâu la miên tướng, Thủ túc tế nhuyến tướng. Tức tướng tay chân rất mềm mại như lông tơ, là tướng có được do cúng dường bậc sư trưởng thức ăn uống thượng diệu, y phục, đồ dùng, hoặc đích thân hầu hạ và làm các việc như lau chùi, tẩy rửa... khi cha mẹ, sư trưởng lâm bệnh. Tướng này biểu thị cái đức dùng tay từ bi mềm mại của Phật nhiếp thủ chúng sinh thân cũng như sơ. 7. Túc phu cao mãn tướng (Phạm: Ucchaíkla-pàda), cũng gọi Túc phu long khởi tướng, Túc phu đoan hậu tướng, Túc phu cao bình tướng. Tức tướng mu bàn chân nổi lên cao tròn đầy đặn, là tướng cảm được nhờ Phật khi còn ở Nhân vị đã dũng mãnh tinh tiến tu phúc. Tướng này biểu thị cái nội đức đại bi vô thượng làm lợi ích cho chúng sinh. 8. Y nê diên thuyển tướng (Phạm: Aiịeya-jaígha), cũng gọi Thuyên như lộc vương tướng, Lộc vương thuyên tướng, Lưỡng thuyên lộc vương tướng. Tức tướng xương bắp đùi tròn nhỏ như xương đùi của nai chúa, là tướng cảm được do các kiếp quá khứ chuyên tâm nghe pháp và nói pháp. Tướng này biểu thị cái đức tất cả tội chướng đều đã tiêu diệt. 9. Chính lập thủ ma đằng tướng (Phạm: Sthitànavanata-pralamba-bàhutà), cũng gọi Thúy thủ quá tất tướng, Thủ quá tất tướng, Bình trụ thủ quá tất tướng. Tức khi đứng ngay ngắn, 2 tay rủ xuống, dài quá đầu gối. Tướng này do lìa ngã mạn, thích bố thí, không tham đắm mà cảm được, biểu thị các đức nhiếp phục tất cả ác ma, thương xót xoa đầu chúng sinh. 10. Âm tàng tướng (Phạm: Kozopagata-vasti-guhya), cũng gọi Mã âm tàng tướng, Âm mã tàng tướng, Tượng mã tàng tướng. Tức tướng nam căn ẩn kín trong mình, giống như sinh thực khí của loài ngựa (hoặc loài voi). Tướng này do đoạn trừ tà dâm và che chở cho chúng sinh trong lúc sợ hãi mà cảm được, biểu thị đức trường thọ và có nhiều đệ tử. 11. Thân quảng trường đẳng tướng (Phạm: Nyagradha-parimaịđala), cũng gọi Thân tung quảng đẳng như ni câu thụ tướng, Viên thân tướng, Ni câu lô đà thân tướng. Chỉ cho thân Phật ngang dọc, phải trái, trên dưới đều có hình lượng quân bình, chung quanh tròn trịa, đầy đặn như cây Ni câu luật. Tướng này do đức Phật thường khuyên chúng sinh tu hành Tam muội và thực hiện Vô úy thí mà cảm được, biểu thị cái đức vô thượng tôn quí tự tại. 12. Mao thượng hướng tướng (Phạm: Ùrdhvaô-ga-roma), cũng gọi Mao thượng toàn tướng, Thân mao hữu toàn tướng. Tất cả lông tóc của Phật từ đầu đến chân đều xoay về bên phải và có màu xanh biếc, rất mềm mại, óng mượt. Tướng này là do tu hành tất cả pháp lành mà cảm được, thường khiến cho chúng sinh chiêm ngưỡng đều sinh tâm hoan hỉ, được vô lượng lợi ích. 13. Nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng (Phạm: Ekaika-roma-pradakwiịàvarta), cũng gọi Mao khổng nhất mao tướng, Khổng sinh nhất mao tướng, Nhất nhất mao tướng, Nhất khổng nhất mao bất tương tạp loạn tướng. Tức tướng mỗi lỗ chân lông mọc 1 sợi lông có màu lưu li xanh, mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng vi diệu này cảm được là nhờ tôn trọng, cúng dường tất cả hữu tình, giáo hóa người không biết mỏi mệt, gần gũi bậc trí, dọn dẹp sạch sẽ đường sá gai gốc; ánh sáng của tướng vi diệu này có năng lực tiêu trừ tội chướng của 20 kiếp. 14. Kim sắc tướng (Phạm: Suvarịa- Varịa), cũng gọi Chân diệu kim sắc tướng, Kim sắc thân tướng, Thân bì kim sắc tướng. Thân Phật và tay chân đều có màu vàng ròng, như đài vàng trang nghiêm bằng các thứ báu vi diệu. Tướng này là do lìa các phẫn nộ, nhìn chúng sinh bằng ánh mắt từ bi mà cảm được. Đức tướng này có năng lực khiến chúng sinh khi chiêm ngưỡng thì chán bỏ ái lạc, diệt tội sinh thiện. 15. Đại quang tướng,cũng gọi Thường quang nhất tầm tướng, Viên quang nhất tầm tướng, Thân quang diện các nhất trượng tướng. Ánh sáng trên thân Phật nhậm vận chiếu soi, 4 phía mỗi phía đều chiếu xa 1 trượng. Tướng này là nhờ phát tâm Đại bồ đề, tu vô lượng hạnh nguyện mà cảm được, có năng lực trừ hoặc phá chướng, biểu thị cái đức tất cả chí nguyện đều viên mãn. 16. Tế bạc bì trướng (Phạm:Sùkwmasuvarịa-echavi), cũng gọi Bì phu tế nhuẫn tướng, Thân bì tế hoạt trần cấu bất trước tướng. Tức da mỏng mịn, bóng láng, tất cả bụi bặm không dính. Tướng này có được là do bố thí y phục, đồ dùng thanh tịnh và phòng xá, lầu gác... cho chúng sinh, xa lìa kẻ ác, gần gũi bậc trí... Tướng này biểu thị cái đức bình đẳng thanh tịnh, dùng đại từ bi giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 17. Thất xứ long mãn tướng (Phạm: Saptotsada), cũng gọi Thất xứ mãn kiên tướng, Thất xứ long tướng. Tức thịt ở 7 chỗ: Hai tay, dưới lòng 2 bàn chân, 2 vai và ở cổ đều đầy đặn, mềm mại. Tướng này là do xả bỏ những thứ mình yêu quí một cách không nuối tiếc để bố thí cho chúng sinh mà cảm được, biểu thị cái đức làm cho tất cả chúng sinh đều được diệt tội sinh thiện. 18. Lưỡng dịch hạ long mãn tướng (Phạm:Citàntaràôsa), cũng gọi Dịch hạ bình mãn tướng, Kiên bác viên mãn tướng. Xương thịt dưới 2 nách của Phật đầy đặn không lõm. Diệu tướng này có được là do Phật đã cho thuốc thang, thức ăn uống và đích thân săn sóc bệnh cho chúng sinh. 19. Thượng thân như sư tử tướng (Phạm: Siôha-purvàrdha-kàya), cũng gọi Thượng thân tướng, Sư tử thân tướng, Thân như sư tử tướng. Nghĩa là nửa thân trên của Phật rộng lớn, uy dung đi đứng ngồi nằm trang nghiêm giống như sư tử chúa. Do đức Phật trong vô lượng thế giới chưa từng nói 2 lưỡi, dạy người các pháp lành, mang lại những điều nhân ái, hòa thuận, xa lìa ngã mạn... mà cảm được tướng này, biểu thị cái đức uy dung cao quí, từ bi quảng đại. 20. Đại trực thân tướng (Phạm: Fjugàtratà), cũng gọi Thân quảng hồng trực tướng, Quảng hồng trực tướng, Đại nhân trực thân tướng. Nghĩa là trong tất cả mọi người, Phật có thân cao lớn, ngay thẳng nhất. Tướng này do cho thuốc, chẩn bệnh, không giết hại, không trộm cắp, xa lìa kiêu mạn mà cảm được; có năng lực khiến cho chúng sinh khi chiêm ngưỡng thì dứt khổ, được chính niệm, tu 10 điều thiện. 21. Kiên viên hảo tướng (Phạm: Susaôvfta-skandha), cũng gọi Kiên viên đại tướng, Lưỡng kiên bình chỉnh tướng. Tức tướng 2 vai tròn trịa, đầy đặn, thù thắng vi diệu. Nhờ tạo tượng, xây tháp, bố thí sự không sợ hãi mà cảm được tướng này, biểu trưng vô lượng công đức diệt trừ phiền não nghiệp chướng. 22. Tứ thập xỉ tướng (Phạm: Cartvàriôzad-danta), cũng gọi Khẩu tứ thập xỉ tướng, Cụ tứ thập xỉ tướng. Nghĩa là Phật có 40 chiếc răng, mỗi mỗi đều bằng nhau, đầy đặn và trắng như tuyết. Tướng này là do không nói 2 lưỡi, không nói ác, không có tâm nóng giận, tu tập từ bi bình đẳng mà cảm được. Từ hàm răng thường thoảng ra mùi thơm thanh tịnh, vi diệu. Diệu tướng này có năng lực ngăn chặn nghiệp ác khẩu của chúng sinh, diệt vô lượng tội, được vô lượng an lạc. 23. Xỉ tề tướng (Phạm:Sama-danta), cũng gọi Xỉ mật tề bình tướng, Chư xỉ tề mật tướng. Nghĩa là các cái răng đều đặn, không to không nhỏ, liền khít khau, không hở 1 mảy may. Do dùng pháp Thập thiện giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, lại thường khen ngợi công đức của người khác mà cảm được tướng răng này; nó biểu thị cái đức có được quyến thuộc thanh tịnh, đồng tâm hòa thuận. 24. Nha bạch tướng (Phạm: Suzukladanta), cũng gọi Tứ nha bạch tịnh tướng, Xỉ bạch như tuyết tướng. Nghĩa là ngoài 40 răng, hàm trên và dưới mỗi hàm đều có 2 chiếc răng nanh màu sắc tươi trắng sáng sạch, sắc bén như mũi nhọn, cứng chắc như kim cương. Có được tướng này là nhờ thường tư duy về các pháp lành và tu các hạnh từ bi. Diệu tướng này có năng lực phá trừ tam độc mạnh mẽ bền chặt của tất cả chúng sinh. 25. Sư tử giáp tướng (Phạm:Siôhahanu), cũng gọi Giáp xa tướng, Giáp sa như sư tử tướng. Tức là 2 má đầy đặn như má sư tử. Người được thấy tướng này thì diệt trừ tội sinh tử trong 100 kiếp và được diện kiến chư Phật. 26. Vị trung đắc thượng vị tướng (Phạm:Rasa-rasàgratà), cũng gọi Đắc thượng vị tướng, Thường đắc thượng vị tướng, Tri vị vị tướng. Nghĩa là trong miệng đức Phật thường có mùi vị tối thượng trong các mùi vị. Tướng này là do coi tất cả chúng sinh như con một, lại đem các pháp lành hồi hướng bồ đề mà cảm được, nó biểu thị cái đức diệu pháp của Phật có năng lực thỏa mãn chí nguyện của tất cả chúng sinh. 27. Đại thiệt tướng (Phạm:Prabhùtatanu-jihva), cũng gọi Quảng trường thiệt tướng, Thiệt quảng bác tướng, Thiệt nhuyến bạc tướng. Tức là tướng đầu lưỡi rộng, dài, mỏng và mềm mại, khi thè ra thì che đến chân tóc. Tướng này là do phát tâm nguyện rộng lớn, đem hạnh đại bi hồi hướng pháp giới mà cảm được. Quán tưởng tướng này thì diệt được tội sinh tử trong trăm ức 8 vạn 4 nghìn kiếp sinh tử và được 80 ức chư Phật, Bồ tát thụ kí. 28. Phạm thanh tướng (Phạm: Brahma-svara), cũng gọi Phạm âm tướng, Thanh như phạm vương tướng. Tức tiếng Phạm âm viên mãn, thanhtịnhcủa Phật, vang dội như tiếng trống trời và êm hòa như tiếng chim Ca lăng tần già. Tướng này là do nói lời chân thật, lời đẹp đẽ, ngăn dứt tất cả lời nói xấu ác mà cảm được. Người nghe tùy theo căn khí đều được lợi ích sinh thiện, Đại thừa, Tiểu thừa, quyền pháp, thực pháp đều được dứt hoặc, trừ nghi.29. Chân thanh nhãn tướng (Phạm: Abhinìla-netra), cũng gọi Mục cám thanh sắc tướng, Cám nhãn tướng, Cám thanh nhãn tướng, Liên mục tướng. Tức mắt Phật có màu biếc như hoa sen xanh. Tướng này do đời đời kiếp kiếp khi bố thí, nhìn những người nhận của bố thí bằng ánh mắt từ bi và lòng hoan hỉ mà cảm được. 30. Ngưu nhãn tiệp tướng (Phạm:Gopakwmà), cũng gọi Nhãn tiệp như ngưu vương tướng, Nhãn như ngưu vương tướng, Ngưu vương tiệp tướng. Tướng lông mi tề chỉnh không tạp loạn. Tướng này do quán tưởng tất cả chúng sinh với tâm từ bi, thương xót che chở như cha mẹ thương nhớ đứa con một mà cảm được. 31. Đỉnh kế tướng (Phạm: Uwịìwaziraskatà), cũng gọi Đính thượng nhục kế tướng, Nhục kế tướng, Ô sắc nị sa tướng. Tướng đỉnh đầu có bướu thịt nổi lên như hình búi tóc. Tướng này do dạy người giữ gìn pháp Thập thiện và tự mình thụ trì mà cảm được. 32. Bạch mao tướng (Phạm: Ùrịàkeza), cũng gọi Bạch hào tướng, Mi gian hào tướng. Tức giữa 2 đầu chân mày có sợi lông trắng, mềm mại như đâu la miên (bông), dài 1 trượng 5 thước, cuộn tròn lại theo chiều bên phải. Vì sợi lông này thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là Hào quang, Mi gian quang. Diệu tướng này do thấy chúng sinh tu giới, định, tuệ thì vui mừng, khen ngợi mà cảm được. Ba mươi hai tướng trên, làm 100 điều thiện thì được 1 diệu tướng gọi là Bách phúc trang nghiêm. [X. kinh Tam thập nhị tướng trong Trung a hàm Q.11; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.381; kinh Bồ tát giới Q.9; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; luận Du già sư địa Q.49].
tam thập nhị ứng
510指觀世音菩薩為濟度眾生,順應各種機類而示現之三十二種形相。全稱妙淨三十二應入國土身。據首楞嚴經卷六載,其示現之相及應化因緣(應以何種身分得度者,即現何種身相為其說法,令彼解脫)為:(一)佛身應,若見諸菩薩入三摩地,進修無漏,勝解現圓時,則於彼前應現佛身,而為說法。(二)獨覺應,若諸有學寂靜妙明,勝妙現圓,則於彼前應現獨覺身,而為說法。(三)緣覺應,已斷十二因緣者,緣斷勝性,勝妙現圓,即於彼前應現緣覺身,而為說法。(四)聲聞應,得四諦空者,修道入滅,勝性現圓,則於彼前應現此身,而為說法。(五)梵王應,若諸眾生,欲心明悟,不犯欲塵,欲身清淨,則應現梵王身,而為說法。(六)帝釋應,若諸眾生欲為天王,統領諸天,則應現此身,而為說法,令彼成就。(七)自在天應,自在天為欲界第五天,若諸眾生欲身自在遊行十方,即於彼前應現此身,而為說法。(八)大自在天應,大自在天為欲界第六天主,若諸眾生欲身自在飛行虛空,則現此身,而為說法,令其成就。(九)天大將軍應,若諸眾生愛統鬼神、救護國土,即現此身而為說法。(十)四天王應,四天王為東方持國天王、南方增長天王、西方廣目天王、北方多聞天王。若諸眾生愛統世界、保護眾生,即於彼前現此身,而為說法。(十一)四天王太子應,若諸眾生愛生天宮,驅使鬼神,則於彼前現此身,而為說法。(十二)人王應,若諸眾生,樂為人王,菩薩即於彼前,應現此身而為說法。(十三)長者應,若諸眾生愛主族姓,世間推讓,即應現此身,而為說法。(十四)居士應,若諸眾生愛談名言,清淨自居,即應現此身,而為說法。(十五)宰官應,若諸眾生愛治國土、剖斷邦邑,即應現此身,而為說法令彼成就。(十六)波羅門應,若諸眾生愛諸數術,攝衛自居,則應現此身,而為說法。(十七)比丘應,若有男子好學出家,持諸戒律,即於彼前應現此身,而為說法。(十八)比丘尼應,若有女人好學出家,持諸禁戒,即於彼前,應現此身,而為說法。(十九)優婆塞應,若有男子樂持五戒,即應現此身,而為說法。(廿)優婆夷應,若有女人,五戒自居,即應現此身,而為說法。(廿一)女主應,女主即天子之后。若有女人,內政立身以修家國,即應現此身,而為說法。(廿二)童男應,若有眾生不壞男根,即應現此身,而為說法。(廿三)童女應,若有處女愛樂處身,不求侵暴,即應現此身,而為說法。(廿四)天應,若有諸天樂出天倫,則應現天身,而為說法。(廿五)龍應,若有諸龍,樂出龍倫,即應現此身,而為說法。(廿六)藥叉應,藥叉,又作夜叉。若有藥叉樂度本倫,即現此身,而為說法。(廿七)乾闥婆應,乾闥婆,即帝釋天之樂神。若有乾闥婆樂脫其倫,即應現此身,而為說法。(廿八)阿修羅應,若阿修羅樂脫其倫,即應現此身,而為說法。(廿九)緊那羅應,緊那羅,又作「人非人」,頭上有角,似人而非人。若緊那羅,樂脫其倫,即應現此身,而為說法。(卅)摩呼羅伽應,摩呼羅伽,即大蟒蛇。若摩呼羅伽,樂脫其倫,即應現此身,而為說法。(卅一)人應,若諸眾生愛樂人身,修人之行,即現人身,而為說法。(卅二)非人應,非人即鬼畜之類。若諸非人有形、無形,有想、無想,樂度其倫,則於彼前應現其身,而為說法,令彼解脫。其中獨覺應、緣覺應重複,四天王應、四天王太子應、女主應皆為集合身而非一身。此三十二應係菩薩以三昧聞薰、聞修、無作之妙力所得之自在成就。與法華經普門品所說之三十三身大同小異。〔大薩遮尼乾子所說經卷十、觀音義疏卷下、法華玄論卷十〕(參閱「三十三身」513)
; (三十二應) Gọi đủ: Diệu tịnh tam thập nhị ứng nhập quốc độ thân. Chỉ cho 32 thân tướng màbồ tát Quán thế âm tùy theo các loại căn cơ ứng hiện ra để tế độ chúng sinh. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 thì tướng thị hiện và nhân duyên ứng hóa(chúng sinh cần loại thân hình nào để được cứu độ thì Bồ tát liền ứng hiện loại thân hình ấy để thuyết pháp, khiến họ giải thoát) của bồ tát Quán thế âm như sau: 1. Phật thân ứng: Nếu khi thấy các Bồ tát vào Tam ma địa, tiến tu vô lậu, thắng giải hiện tiền, thì bồ tát Quán thế âm liền ứng hiện thân Phật ở trước họ để nói pháp cho nghe. 2. Độc giác ứng: Nếu các bậc Hữu học được tịch tĩnh diệu minh, thắng diệu hiển hiện viên mãn thìbồ tát Quán thế âm ứng hiện thân Độc giác ở trước các vị ấy để nói pháp cho nghe. 3. Duyên giác ứng: Đối với những người đã dứt 12 nhân duyên, tính thắng diệu của việc đoạn duyên hiển hiện viên mãn, thìbồ tát Quán thế âm ứng hiện thân Duyên giác trước những người ấy nói pháp cho nghe. 4. Thanh văn ứng: Đối với những người được Tứ đế không, tu đạo nhập diệt, tính thắng diệu hiển hiện viên mãn, Bồ tát liền ứng hiện thân Thanh văn nói pháp cho nghe. 5. Phạm vương ứng: Nếu những chúng sinh muốn tâm được sáng tỏ, không phạm dục trần, muốn thân được thanh tịnh, thì Bồ tát ứng hiện thân Phạm vương để nói pháp. 6.Đế thích ứng: Nếu các chúng sinh muốn làm Thiên vương thống lãnh chư thiên, Bồ tát liền ứng hiện thân Đế thích để nói pháp, khiến họ thành tựu. 7. Tự tại thiên ứng: Tự tại thiên là vị trời ở tầng trời thứ 5 thuộc cõi Dục. Nếu các chúng sinh muốn thân được tự tại du hành 10 phương thì Bồ tát liền ứng hiện thân Tự tại thiên để nói pháp cho nghe. 8. Đại tự tại thiên ứng: Đại tự tại thiên là vị trời đứng đầu tầng trời thứ 6 thuộc cõi Dục. Nếu các chúng sinh muốn mình được tự tại bay đi trong hư không thì Bồ tát liền hiện thân Đại tự tại thiên để nói pháp, khiến họ thành tựu. 9. Thiên đại tướng quân ứng: Nếu các chúng sinh muốn thống lãnh quỉ thần cứu hộ đất nước thì Bồ tát liền ứng hiện thân Thiên đại tướng quân để nói pháp. 10. Tứ thiên vương ứng: Tứ thiên vương là Trì quốc thiên vương ở phương đông, Tăng trưởng thiên vương ở phương nam, Quảng mục thiên vương ở phương tây và Đa văn thiên vương ở phương bắc. Nếu có chúng sinh muốn thống lãnh thế giới để bảo vệ và cứu hộ các chúng sinh thì Bồ tát liền hiện thân Tứ thiên vương nói pháp. 11. Tứ thiên vương thái tử ứng: Nếu các chúng sinh muốn sinh lên cõi trời, sai khiến quỉ thần thì Bồ tát liền ứng hiện thân Tứ thiên vương thái tử để nói pháp. 12. Nhân vương ứng: Nếu các chúng sinh thích làm vua cõi người thì Bồ tát liền ứng hiện thân Nhân vương để nói pháp cho nghe, khiến họ thành tựu. 13. Trưởng giả ứng: Nếu các chúng sinh thích đứng đầu dòng họ, được thế gian suy tôn, thì Bồ tát ứng hiện thân Trưởng giả nói pháp cho nghe. 14. Cư sĩ ứng: Nếu các chúng sinh thích bàn về danh ngôn, sống đời thanh tịnh thì Bồ tát ứng hiện thân cư sĩ nói pháp cho nghe. 15. Tể quan ứng: Nếu các chúng sinh muốn sửa sang đất nước, chỉnh đốn làng ấp, thì Bồ tát ứng hiện thân Tể quan nói pháp cho nghe, khiến họ thành tựu. 16. Bà la môn ứng: Nếu các chúng sinh ưa thích số thuật, sinh hoạt an nhàn thì Bồ tát ứng hiện thân Bà la môn nói pháp cho nghe. 17. Tỉ khưu ứng: Nếu có các thiện nam tử muốn học xuất gia, giữ các giới luật, thì Bồ tát ứng hiện thân tỉ khưu nói phápcho nghe. 18. Tỉ khưu ni ứng: Nếu các người thiện nữ muốn học xuất gia, giữ gìn giới cấm, thì Bồ tát ứng hiện thân tỉ khưu ni nói pháp cho họ nghe. 19. Ưu bà tắc ứng: Nếu có người thiện nam muốn giữ 5 giới, thì Bồ tát ứng hiện thân ưu bà tắc nói pháp cho họ nghe. 20. Ưu bà di ứng: Nếu có người thiện nữ, muốn thụ trì 5 giới thì Bồ tát ứng hiện thân ưu bà di nói pháp cho nghe. 21. Nữ chủ ứng: Nữ chủ tức vợ của Thiên tử. Nếu có người nữ lập thân nội chính để sửa sang nước nhà thì Bồ tát hiện thân Nữ chủ để nói pháp cho họ nghe. 22. Đồng nam ứng: Nếu có chúng sinh không hoại nam căn thì Bồ tát ứng hiện thân đồng nam để nói pháp cho họ nghe. 23. Đồng nữ ứng: Nếu có người xử nữ thích sống độc thân, không muốn lập gia đình thì Bồ tát liền hiện thân đồng nữ để nói pháp cho họ nghe. 24. Thiên ứng: Nếu có chư thiên muốn ra khỏi thiên luân(luân thường thứ bậc của các trời) thì Bồ tát ứng hiện thântrờiđể nói pháp. 25. Long ứng: Nếu có các rồng muốn ra khỏi loài rồng thì Bồ tát thị hiện thân rồng để nói pháp. 26. Dược xoa ứng: Dược xoa cũng gọi Dạ xoa. Nếu có Dược xoa muốn thoát khỏi bản luân (loài giống của mình) thì Bồ tát hiện thân Dược xoa nói pháp. 27. Càn thát bà ứng: Càn thát bà là thần âm nhạc của trời Đế thích. Nếu có Càn thát bà muốn thoát khỏi loài của mình, thì Bồ tát thị hiện thân Càn thát bà nói pháp cho nghe, giúp họ thành tựu nguyện vọng. 28. A tu la ứng: Nếu A tu la muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát ứng hiện thân A tu la để nói pháp cho nghe. 29. Khẩn na la ứng: Khẩn na la cũng gọi Nhân phi nhân, trên đầu có sừng, giống như người nhưng không phải người. Nếu Khẩn na la muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát ứng hiện thân Khẩn na la để nói pháp cho nghe. 30. Ma hầu la già ứng: Ma hầu la già tứclàloài trăn lớn. Nếu Ma hầu la già muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát liền hiện thân Ma hầu la già để nói pháp cho nghe. 31. Nhân ứng: Nếu các chúng sinh muốn làm thân người, tu các hạnh người, thì Bồ tát ứng hiện thân người để nói pháp cho nghe. 32. Phi nhân ứng: Phi nhân tức là loài quỉ, súc sinh... Nếu các phi nhân có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, muốn thoát khỏi loài của mình, thì Bồ tát liền ứng hiện thân phi nhân để nói pháp cho nghe, giúp họ giải thoát. Trong các ứng thân trên đây thì Độc giác ứng, Duyên giác ứng trùngphức, Tứ thiên vương ứng, Tứ thiên vương thái tử ứng, Nữ chủ ứng... đều là thân tập hợp chứ không phải là 1 thân. Ba mươi hai ứng này là do Bồ tát dùng diệu lực của Tam muội văn huân, văn tu và vô tác mà thành tựu được 1 cách tự tại. Ba mươi hai ứng này về đại thể thì giống nhưng về tiểu tiết thì khác với 33 thân nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.10; Quan âm nghĩa sớ Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.10]. (xt. Tam Thập Tam Thân).
tam thập sinh
In each of the thập địa ten states there are three conditions, nhập, trụ, xuất, entry, stay, exit, hence the "thirty lives".
tam thập tam gian đường
513日本佛教名勝。位於京都。本名蓮華王院。屬日本天台宗。院中隔間共有三十三間,故稱三十三間堂。該院在約一百二十公尺之大堂中安置觀音像一千零一尊。日本長寬二年(1164),後白河上皇敕命平清盛營造,堂舍次第建齊,至建長元年(1249)燒燬。建長三年重建,此即目前之建築。本尊千手千眼觀音像為三點三公尺高之巨像,觀音眷屬之二十八部眾二十八尊,形狀甚珍奇,頗能表現鎌倉彫刻之特色。
; (三十三間堂) Ngôi nhà 33 gian, một danh thắng của Phật giáo Nhật bản tại Kyoto. Vốn có tên làViện Liên hoa vương thuộc tông Thiên thai Nhật bản. Vì trong viện được ngăn chia ra làm 33 gian nên gọi là Tam thập tam gian đường. Trong Đại đường khoảng 120m của viện này an trí 1001 pho tượng Quan âm. Vào năm Trường khoan thứ 2 (1164), Thượng hoàng Hậu bạch hà sắc lệnh cho Bình thanh thịnh xây dựng viện này, phòng xá theo thứ tự đều nhau, đến niên hiệu Kiến trường năm đầu (1249) thì bị thiêu hủy. Năm Kiến trường thứ 3 (1251) viện này được tạo dựng lại, đó chính là kiến trúc hiện nay. Tượng bản tôn Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm là pho tượng lớn cao 3,3m, còn 28 pho tượng bộ chúng quyến thuộc củabồ tát Quán thế âm thì có hình dáng rất lạ và quí, biểu hiện nét đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc thời Liêm thương.
tam thập tam quan âm
513觀世音菩薩為攝化而自在示現之三十三種形像。法華經普門品及其他諸種感應傳、持驗記常述之,由此,民間亦流傳此類圖像,較著者有清代卓峰之觀音應化圖三十三幅(現藏於日本東京帝室博物館)。三十三觀音之名稱及形像為:(一)楊柳觀音,踞坐岩上,右手執楊柳,表千手觀音之楊柳手三昧。(二)龍頭觀音,乘雲中之龍,表三十三身之天龍身。(三)持經觀音,箕坐岩上,右手持經卷,表三十三身中之聲聞身。(四)圓光觀音,身邊放光明,表法華經普門品(大九‧五七下)「或遭王難苦,臨刑欲壽終,念彼觀音力,刀尋段段壞」之文意。(五)遊戲觀音,箕坐雲中,表同品(大九‧五七下)「或被惡人逐,墮落金剛山,念彼觀音力,不能損一毛」之文意。(六)白衣觀音,敷草坐岩上,結定印,表三十三身中之比丘、比丘尼身。(七)蓮臥觀音,合掌,左向坐荷葉上,表三十三身中之小王身。(八)瀧見觀音,倚岩視右方之瀑布,表(大九‧五七下)「假使興害意,推落大火坑,念彼觀音力,火坑變成池」之文意。(九)施藥觀音,坐於池邊,注視蓮華,表(大九‧五七下)「或在須彌峰,為人所推墮,念彼觀音力,如日虛空住」之文意。(十)魚籃觀音,乘大魚,浮於水上,表(大九‧五八上)「或遇惡羅剎,毒龍諸鬼等,念彼觀音力,時悉不敢害」之文意。(十一)德王觀音,趺坐岩上,右手執柳枝,表三十三身中之梵王身。(十二)水月觀音,乘蓮瓣,立於水中,注視水中之月,表三十三身中之辟支佛身。(十三)一葉觀音,乘一葉蓮瓣,浮於水上,表三十三身中之宰官身。(十四)青頸觀音,倚岩,左方有瓶,插以柳枝,表三十三身中之佛身。(十五)威德觀 窗A箕坐,左手持蓮,表三十三身中之天大將軍身。(十六)延命觀音,倚水上之岩,右手支頰,表(大九‧五八上)「咒詛諸毒藥,所欲害身者,念彼觀音力,還著於本人」之文意。(十七)眾寶觀音,向左平坐,表三十三身中之長者身。(十八)岩戶觀音,端坐岩窟中,表(大九‧五八上)「蚖蛇及蝮蠍,氣毒煙火燃,念彼觀音力,尋聲自迴去」之文意。(十九)能靜觀音,在岩壁間,兩手按一岩上,表(大九‧五六下)「為求金銀琉璃(中略)等寶,入於大海,假使黑風吹其船舫,飄墮羅剎鬼國,其中若有乃至一人稱觀世音菩薩名者,是諸人等皆得解脫羅剎之難」之文意。(廿)阿耨觀音,坐岩觀海,表(大九‧五七下)「或漂流巨海,龍魚諸鬼難,念彼觀音力,波浪不能沒」之文意。(廿一)阿摩提觀音,箕坐岩上,表三十三身中之毘沙門身。(廿二)葉衣觀音,敷草坐岩上,表三十三身中之帝釋身。(廿三)琉璃觀音,乘蓮瓣,立於水上,兩手持鉢,表三十三身中之自在天身。(廿四)多羅尊觀音,立雲中,表(大九‧五七下)「或值怨賊繞,各執刀加害,念彼觀音力,咸即起慈心」之文意。(廿五)蛤蜊觀音,示現蛤蜊中,表三十三身中之菩薩身。(廿六)六時觀音,右手持梵夾之立像,表三十三身中之居士身。(廿七)普悲觀音,衣端受風之立像,表三十三身中之大自在天身。(廿八)馬郎婦觀音,婦女立像,表三十三身中之婦女身。(廿九)合掌觀音,合掌立像,表三十三身中之婆羅門身。(卅)一如觀音,坐雲中作飛行狀,表(大九‧五八上)「雲雷鼓掣電,降雹澍大雨,念彼觀音力,應時得消散」之文意。(卅一)不二觀音,兩手相叉立荷葉上,表三十三身中之執金剛身。(卅二)持蓮觀音,持一莖之蓮,立荷葉上,表三十三身中之童男童女身。(卅三)灑水觀音,左手持鉢,右手執楊柳枝之立像,表(大九‧五六下)「若為大水所漂,稱其名號,即得淺處」之文意。其中,除白衣、青頸、多羅尊、葉衣、阿摩提等五觀音外,皆為唐代以後民間流傳信奉之觀音形像。〔佛像圖彙卷二〕
; (三十三觀音) Ba mươi ba Quán âm. Tức chỉ cho 33 loại thân tướng màbồ tát Quán thế âm thị hiện để hóa độ chúng sinh. Đó là: 1. Dương liễu Quán âm: Ngồi trên sườn núi, tay phải cầm nhành dương liễu, biểu thị Tam muội dương liễu thủ của Thiên thủ Quán âm (Quán âm nghìn tay). 2. Long đầu Quán âm: Ngồi trên lưng con rồng ở trong đám mây, biểu thị thân Thiên long trong 33 thân tướng. 3. Trì kinh Quán âm: Ngồi trên sườn núi, tay phải cầm quyển kinh, biểu thị thân Thanh văn trong 33 thân tướng. 4. Viên quang Quán âm: Trên thân phóng ra ánh sáng, biểu thị ý Hoặc nạn khổ phép vua, khi hành hình sắp chết, nhờ sức niệm Quán âm, Đao liền gãy từng đoạn(văn phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa).5. Du hí Quán âm: Ngồi trong đám mây biểu thị ý Hoặc bị kẻ ác đuổi, rơi xuống núi Kim cương, nhờ sức niệm Quán âm, không tổn thương một mảy (văn trong Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 6. Bạch y Quán âm: Trải cỏ ngồi trên mỏm đá, tay kết định ấn, biểu thị thân tỉ khưu, tỉ khưu ni trong 33 thân tướng. 7. Liên ngọa Quán âm: Chắp tay, ngồi trên lá sen, xoay mặt về phía trái, biểu thị thân tiểu vương trong 33 thân tướng. 8. Lang kiến Quán âm: Dựa núi, nhìn về dòng thác ở bên phải, biểu thị ý Giả sử khởi ác tâm, xô xuống hố lửa lớn, nhờ sức niệm Quán âm, hố lửa biến thành ao (văn trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 9. Thí dược Quán âm: Ngồi bên bờ ao, chăm chú nhìn hoa sen, biểu thị ý Hoặc ở núi Tu di, bị người xô đẩy xuống; nhờ sức niệm Quán âm, như mặt trời trong không(văn trong phẩm Phổ môn). 10. Ngư lam Quán âm: Ngồi trên lưng con cá lớn, nổi trên mặt nước, biểu thị ý Hoặc gặp ác La sát, rồng độc và quỉ dữ, nhờ sức niệm Quán âm, đều không dám làm hại(văn trong phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa). 11. Đức vương Quán âm: Ngồi xếp bằng trên núi, tay phải cầm nhành liễu, biểu thị thân Phạm vương trong 33 thân tướng. 12. Thủy nguyệt Quán âm: Đứng trên cánh sen nổi trên mặt nước, chăm chú nhìn bóng trăng trong nước, biểu thị thân Bích chiphật trong 33 thân tướng. 13. Nhất diệp Quán âm: Ngồi trong một lá sen nổi trên mặt nước, biểu thị tướng tể quan trong 33 thân tướng. 14. Thanh cảnh Quán âm: Dựa vào núi, bên trái có chiếc bình, trong bình cắm cành dương liễu, biểu thị thân Phật trong 33 thân tướng. 15. Uy đức Quán âm: Ngồi xoạc chân, tay trái cầm hoa sen, biểu thị thân Thiên đại tướng quân trong 33 thân tướng. 16. Diên mệnh Quán âm: Dựa mỏm đá trên bờ nước, tay phải chống vào má, biểu thị ý Nếu người muốn hại mình, bằng thuốc độc, chú thuật, nhờ sức niệm Quán âm, trở lại hại người ấy(văn phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 17. Chúng bảo Quán âm: Ngồi bình thân hướng về bên trái, biểu thị thân trưởng giả trong 33 thân tướng. 18. Nham hộ Quán âm: Ngồi ngay thẳng trong hang núi, biểu thị ý rắn rết cùng bò cạp, phun khói độc và lửa, nhờ sức niệm Quán âm, đều tìm đường bỏ chạy (Văn phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 19. Năng tĩnh Quán âm: Ở khoảng giữa vách núi, 2 tay đặt trên 1 núi, biểu thị ý Nếu có những người rabiển cả để tìm các vật báu như vàng, bạc, lưu li (...), giả sử thuyền bè của họ bị gió bão thổi tấp vào nước quỉ La sát. Trong đó dù chỉ có 1 người xưng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm thì mọi người đều thoát khỏi được nạn La sát(văn phẩm Phổ minh kinh Pháp hoa). 20. A nậu Quán âm: Ngồi trên núi nhìn ra biển, biểu thị ý (Đại 9, 57 hạ) Hoặc trôi giữa biển lớn, gặp các nạn rồng cá, nhờ sức niệm Quán âm, sóng không nhận chìm được. 21. A ma đề Quán âm: Ngồi xoạc chân trên núi, biểu thị thân Tì sa môn trong 33 thân tướng. 22. Diệp y Quán âm: Trải cỏ ngồi trên núi, biểu thị thân Đế thích trong 33 thân tướng. 23. Lưu li Quán âm: Đứng trên cánh hoa sen nổi trên mặt nước, 2 tay cầm bát, biểu thị thân Tự tại thiên trong 33 thân tướng. 24. Đa la tôn Quán âm: Đứng trong đám mây, biểu thị ý (Đại 9, 57 hạ): Hoặc gặp oán giặc vây, cầm dao gậy muốn hại, nhờ sức niệm Quán âm, đều phát khởi lòng từ. 25. Cáp lợi Quán âm: Thị hiện trong con vọp, biểu thị thân Bồ tát trong 33 thân tướng. 26. Lục thời Quán âm: Tượng đứng, tay phải cầm kinh tiếng Phạm, biểu thị thân cư sĩ trong 33 thân tướng. 27. Phổ bi Quán âm: Tượng đứng, chéo áo bay phấp phới, biểu thị thân Đại tự tại thiên trong 33 thân tướng. 28. Mã lang phụ Quán âm: Tượng đứng, hình phụ nữ, biểu thị thân phụ nữ trong 33 thân tướng. 29. Hợp chưởng Quán âm: Tượng đứng, chắp tay, biểu thị thân Bà la môn trong 33 thân tướng. 30. Nhất như Quán âm: Ngồi trong đám mây, dáng đang bay đi, biểu thị ý (Đại 9, 58 thượng): Mây đen sấm sét vang, mưa đá lớn trút xuống, nhờ sức niệm Quán âm, tiêu tan trong chốc lát. 31. Bất nhị Quán âm: Đứng trên lá sen, 2 tay tréo nhau, biểu thị thân Chấp kim cương trong 33 thân tướng. 32. Trì liên Quán âm: Đứng trên lá sen, tay cầm 1 cọng hoa sen, biểu thị thân đồng nam đồng nữ trong 33 thân tướng. 33. Sái thủy Quán âm: Tượng đứng, tay trái cầm bát, tay phải cầm cành dương liễu, biểu thị ý (Đại 9, 56 hạ): Nếu bị nước lớn cuốn trôi mà niệm danh hiệu của Ngài thì liền được đến chỗ cạn. Trong 33 vị Quán âm, trừ 5 vị là: Bạch y, Thanh cảnh, Đa la tôn, Diệp y và A ma đề, còn lại đều là những hình tượng Quán âm được dân gian tin thờ và lưu truyền từ đời Đường về sau. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2].
tam thập tam quá
513因明用語。指新因明所立之三十三種過誤。即就因明論式中,宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)三支不完全而計之宗九過、因十四過、喻十過等三十三過。古因明本立二十三過,陳那之新因明加以汰舊增新,具立二十九過,其後商羯羅主集大成而為三十三過。三十三過大體為與宗、因、喻構成法照應之過失,實具科學分類之本質。三十三過名稱如下:(一)宗九過,現量相違、比量相違、自教相違、世間相違、自語相違、能別不極成、所別不極成、俱不極成、相符極成。(二)因十四過,兩俱不成、隨一不成、猶豫不成、所依不成(以上四不成)、共不定、不共不定、同品一分轉異品徧轉不定、異品一分轉同品徧轉不定、俱品一分轉不定、相違決定不定(以上六不定)、法自相相違、法差別相違、有法自相相違、有法差別相違(以上四相違)。(三)喻十過,能立法不成、所立法不成、俱不成、無合、倒合(以上同喻五過)、所立法不遣、能立法不遣、俱不遣、不離、倒離(以上異喻五過)。〔因明入正理論疏抄卷四十一、因明論疏瑞源記卷八〕(參閱「因十四過」2271、「因明」2276、「宗九過」3145、「喻」4916)
; (三十三過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 33 lỗi của 3 chi Tông (mệnh đề), Nhân(lí do) và Dụ(thí dụ)do Tân nhân minh thành lập. Trong đó, Tông gồm 9 lỗi, Nhân gồm 14 lỗi và Dụ gồm 10 lỗi. 1. Chín lỗi thuộc Tông: a. Năm lỗi tương vi: Hiện lượng tương vi, Tỉ lượng tương vi, Tự giáo tương vi, Thế gian tương vi và Tự ngữ tương vi. b. Bốn lỗi bất cực thành: Năng biệt bất cực thành, Sở biệt bất cực thành, Câu bất cực thành và Tương phù cực thành. 2. Mười bốn lỗi thuộc Nhân: a. Bốn lỗi bất thành: Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Do dự bất thành và Sở y bất thành. b. Sáu lỗi bất định: Cộng bất định, Bất cộng bất định, Đồng phần dị toàn bất định, Dị phần đồng toàn bất định, Câu phần bất định và Tương vi quyết định bất định. c. Bốn lỗi tương vi: Pháp tự tướng tương vi, Pháp sai biệt tương vi, Hữu pháp tự tướng tương vi và Hữu pháp sai biệt tương vi. 3. Mười lỗi thuộc Dụ: a. Năm lỗi thuộc Đồng dụ: Năng lập pháp bất thành, Sở lập pháp bất thành, Câu bất thành, Vô hợp và Đảo hợp. b. Năm lỗi thuộc Dị dụ: Sở lập pháp bất khiển, Năng lập pháp bất khiển, Câu bất khiển, Bất li và Đảo li. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ sao Q.41; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Nhân Thập Tứ Quá, Nhân Minh, Tông Cửu Quá, Dụ).
tam thập tam quán âm
The thirty three forms of Quán âm.
Tam thập tam thiên
xem cõi trời Ba mươi ba.
; 三十三天; C: sānshísān tiān; J: sanjūsan ten; S: trāyastriṃśa.|Ba mươi ba vị Thiên sống trên đỉnh của núi Tu-di, trong tầng trời thứ hai của sáu tầng trời cõi dục (Lục dục thiên 六欲天). Đế-thích thiên ngự tại trung tâm với tám vị Thiên khác ở mỗi hướng trong bốn hướng xung quanh.
tam thập tam thiên
511請參閱 唯識三十頌釋 梵名 Trāyastriṃśat-deva。六欲天之一。又作忉利天。於佛教之宇宙觀中,此天位居欲界第二天之須彌山頂上,四面各為八萬由旬,山頂之四隅各有一峰,高五百由旬,由金剛手藥叉神守護此天。中央之宮殿(善見城)為帝釋天所住,城外周圍有四苑,是諸天眾遊樂之處。城之東北有圓生樹,花開妙香薰遠,城之西南有善法堂,諸天眾群聚於此,評論法理。四方各有八城,加中央一城,合為三十三天城。據正法念經卷二十五載,佛母摩耶夫人命終後登入此天,佛乃至忉利天為母說法三個月。三十三天及焰摩天之信仰,早於印度吠陀時代即已盛行。〔長阿含經卷十八、佛地經論卷五、大智度論卷九、俱舍論卷十一〕(參閱「忉利天」1930)
; Trāiyastrimśas (S), Tāvatiṁsa (P), Tridaśas (S),Heaven of Thirty-Three Gods, Thirty three realms of Gods 33 cảnh trời. Bốn phương, mỗi phương 8 cảnh, hiếp với phương trung ương một cảnh thành 33 cảnh trời Đao lợi. Tất cả đều dưới quyền tổng lãnh của đức Đế Thích. Các vị trong 33 cảnh trời này đều được hưởng đủ mọi sự khoái lạc về ngũ dục nhờ công tu phước lúc ở cõi ngườiXem Đao lợi thiên, Đao lợi thiên cõi.
; Tràiyastrimsas (S). The thirty three heavens, the realm of thirty three gods.
; (三十三天) Phạm: Tràyastriôzat-deva. Cũng gọi Đao lợi thiên. Cõi trời này có 33 tòa thành nên gọi là Tam thập tam thiên, là 1 trong 6 tầng trời thuộc cõi Dục. Theo vũ trụ quan của Phật giáo thì cõi trời này ở trên đỉnh núi Tu di, thuộc tầng trời thứ 2 của cõi Dục, 4 phía mỗi phía đều rộng 8 vạn do tuần, 4 góc trên đỉnh núi mỗi góc đều có 1 ngọn núi cao 500 do tuần; cõi trời này do thần Kim cương thủ dược xoa bảo vệ. Cung điện ở trung ương (thành Thiện kiến) là nơi ở của trời Đế thích, chung quanh phía ngoài thành, có 4 khu vườn là chỗ vui chơi của các người trời. Về mạn đông bắc thành có cây Viên sinh nở hoa rất thơm; phía tây nam thành có tòa nhà Thiện pháp, các chúng trời hội họp ở đây để bàn luận về pháp lí. Bốn phía mỗi phía đều có 8 thành, cộng chung với thành Trung ương là 33 thành, vì thế gọi là Tam thập tam thiên. Cứ theo kinh Chính pháp niệm quyển 25, sau khi mệnh chung, Phật mẫu Ma da phu nhân đã sinh lên cõi trời này, đức Phật đã lên đây nói pháp trong 3 tháng để độ cho mẫu thân. Tín ngưỡng Tam thập tam thiên và Diệm ma thiên đã thịnh hành rất sớm tại Ấn độ vào thời đại Phệ đà. [X. kinh Trường a hàm Q.18; Phật địa kinh luận Q.5; luận Đại trí độ Q.9; luận Câu xá Q.11]. (xt. Đao Lợi Thiên).
tam thập tam thân
512又作三十三應化身。即觀世音菩薩為攝化普益而示現三昧中之三十三種化身。此係法華經觀世音菩薩普門品所舉。其順序為:(一)佛身,(二)辟支佛身,(三)聲聞身,(四)梵王身,(五)帝釋身,(六)自在天身,(七)大自在天身,(八)天大將軍身,(九)毘沙門天身,(十)小王身,(十一)長者身,(十二)居士身,(十三)宰官身,(十四)婆羅門身,(十五)比丘身,(十六)比丘尼身,(十七)優婆塞身,(十八)優婆夷身,(十九)長者婦女身,(廿)居士婦女身,(廿一)宰官婦女身,(廿二)婆羅門婦女身,(廿三)童男身,(廿四)童女身,(廿五)天身,(廿六)龍身,(廿七)夜叉身,(廿八)乾闥婆身,(廿九)阿修羅身,(卅)迦樓羅身,(卅一)緊那羅身,(卅二)摩睺羅伽身,(卅三)執金剛身。 補陀落海會軌無上記中長者婦女身、居士婦女身、宰官婦女身、婆羅門婦女身等四婦女身,而代以人身、非人身、婦女身、童目天女身;大佛頂首楞嚴經卷六則無毘沙門天身、長者婦女身、居士婦女身、宰官婦女身、婆羅門婦女身、迦樓羅身、執金剛身等七身,而另加四天王身、四天王國太子身、女主身、人身、非人身,又將辟支佛身分為獨覺身、緣覺身。另於梵文及西藏文之法華經則僅舉出十六身。法華經卷七妙音菩薩品亦揭出妙音菩薩有三十六應身,梵文及藏文皆僅舉出三十三身。〔大薩遮尼乾子所說經卷十、觀音義疏卷下、法華玄論卷十、法華義疏卷十二〕(參閱「三十二應」511)
; (三十三身) Cũng gọi Tam thập tam ứng hóa thân. Chỉ cho 33 loại hóa thân mà bồ tát Quán thế âm thị hiện trong Tam muội để nhiếp thủ và làm lợi ích cho khắp cả chúng sinh. Ba mươi ba thân này được nói trong phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn kinh Pháp hoa, thứ tự như sau: 1. Thân Phật. 2. Thân Bích chiphật. 3. Thân Thanh văn. 4. Thân Phạm vương. 5. Thân Đế thích. 6. Thân Tự tại thiên. 7. Thân Đại tự tại thiên. 8. Thân Thiên đại tướng quân. 9. Thân Tì sa môn thiên. 10. Thân Tiểu vương. 11. Thân Trưởng giả. 12. Thân Cư sĩ. 13. Thân Tể quan. 14. Thân Bà la môn. 15. Thân Tỉ khưu. 16. Thân Tỉ khưu ni. 17. Thân Ưu bà tắc. 18. Thân Ưu bà di. 19. Thân Trưởng giả phụ nữ. 20. ThânCư sĩ phụ nữ. 21. Thân Tể quan phụ nữ. 22. Thân Bà la môn phụ nữ. 23. Thân Đồng nam. 24. Thân Đồng nữ. 25. Thân Trời. 26. Thân Rồng. 27. Thân Dạ xoa. 28. Thân Càn thát bà. 29. Thân A tu la. 30. Thân Ca lâu la. 31. Thân Khẩn na la. 32. Thân Ma hầu la già. 33. Thân Chấp Kim cương. Trong Bổ đà lạc hải hội vô thượng kí, 4 thân phụ nữ: Trưởng giả phụ nữ, Cư sĩ phụ nữ, Tể quan phụ nữ, Bà la môn phụ nữ được thay bằng 4 thân: Thân người, thân phi nhân, thân phụ nữ và thân đồng mục thiên nữ. Trong kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 thì không có 7 thân sau đây: Thân Tì sa môn thiên, thân Trưởng giả phụ nữ, thân Cư sĩ phụ nữ, thân Tể quan phụ nữ, thân Bà la môn phụ nữ, thân Ca lâu la và thân Chấp kim cương, nhưng lại thêm 5 thân: Thân Tứ thiên vương, thân Tứ thiên vương quốc thái tử, thân Nữ chủ, thân người và thân Phi nhân, rồi lại chia thân Bích chi phật làm 2 thân là thân Độc giác và thân Duyên giác. Còn trong kinh Pháp hoa tiếng Phạm và tiếng Tây tạng thì chỉ nêu có 16 thân. Lại nữa, phẩm Diệu âm bồ tát trong kinh Pháp hoa quyển 7 cũng nói bồ tát Diệu âm có 36 ứng thân, nhưng bản tiếng Phạm và tiếng Tây tạng đều chỉ nói có 33 thân. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.10; Quán âm nghĩa sớ Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.10; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12]. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).
Tam Thập Thiếp Sách Tử
(三十帖册子, Sanjūjōsakushi): còn gọi là Chơn Ngôn Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp (眞言法文策子三十帖), Hoằng Pháp Đại Sư Thỉnh Lai Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp (弘法大師請來法文册子三十帖). Đây là bộ thư tịch quan trọng và có giá trị rất lớn đối với Chơn Ngôn Tông. Khi Không Hải Đại Sư sang nhà Đường, được thầy là Huệ Quả (惠果) truyền trao cho các nghi quỹ, pháp văn, khoảng hơn 140 loại khác nhau. Nhờ nhiều người giúp sức, Đại Sư đã chép thành chữ nhỏ, thâu lại thành khoảng 30 bức thiếp (bề dọc 15.0~18.2, bề ngang khoảng 13.5cm). Trong bản Tam Thập Thiếp Sách Tử Khám Văn (三十帖册子勘文) của Quán Hiền (觀賢) có ghi rõ truyền thừa cũng như ý nghĩa của bộ này, được bảo quản tại Tàng Kinh của Đông Tự (東寺, Tō-ji). Sau đó Chơn Nhiên đưa bộ này nộp vào Tàng Kinh của Cao Dã Sơn. Sau khi ông qua đời, Vô Không (無空), người thay thế chức Tọa Chủ của Thọ Trường (壽長), lấy ra đem theo về Vi Đề Tự (圍堤寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và viên tịch tại đây. Sau này đệ tử của ông cũng không hoàn trả bộ này lại cho Cao Dã Sơn, vì vậy tương truyền rằng Đằng Nguyên Trọng Bình (藤原仲平) đã dùng quyền lực của mình để lấy lại đem nộp vào Đông Tự. Trên nắp đậy cái thùng đựng các bức thiếp này do triều đình ban tặng, có dòng chữ ghi thành 2 hàng rằng: “Nạp Chơn Ngôn A Xà Lê Không Hải Nhập Đường Cầu Đắc Pháp Văn Sách Tử Chi Sương (納眞言阿闍梨空海入唐求得法文册子之箱).” Từ đó về sau, Đông Tự bảo quản bộ này rất nghiêm mật. Đến năm 1186 (niên hiệu Văn Trị [文治] thứ 2), thể theo lời thỉnh cầu của Thân Vương Thủ Giác (守覺) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử lại được cho mượn ra ngoài, cuối cùng không hoàn trả lại cho Đông Tự, và hiện tại trở thành Quốc Bảo của Nhân Hòa Tự. Vào năm 1341 (niên hiệu Lịch Ứng [曆應] thứ 4), Cảo Bảo (杲寶) của Đông Tự tiến hành sao chép lại bộ này; rồi đến năm 1678 (niên hiệu Diên Bảo [延寶] thứ 6), thể theo nguyện vọng của Thật Tú (實秀)—Môn Chủ của Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院) trên Cao Dã Sơn—10 học sinh chép kinh tiến hành sao chép bộ này vào năm sau. Hiện tại bộ này đã được san hành dưới nhiều hình thức khác nhau.
tam thập thiếp sách tử
519為小型之三十帖粘葉本之法語集。乃日本真言宗重要遺物。係弘法大師(774~835)來華時寫得請回之法文經軌連綴而成。又作真言法文策子三十帖、三十帖冊子、三十帖草子。全部三十帖均為紙本墨書,其字體有楷書、行書、草書等多種。收藏於日本仁和寺。
; (三十帖策子) Cũng gọi Chân pháp văn sách tử tam thập thiếp, Tam thập thiếp sách tử, Tam thập thiếp thảo tử. Tập pháp ngữ gồm 30 thếp(giấy bản) theo hình thức nhỏ, là di vật quan trọng của tông Chân ngôn Nhật bản. Đây là tập sách viết bằng mực do Đại sư Hoằng pháp (774-835) chép các kinh quĩ và văn pháp trong thời gian ngài ở Trung quốc rồi mang về Nhật bản. Toàn bộ 30 thếp được viết bằng nhiều thể chữ: Khải thư(viết ngay ngắn, rõ ràng), Hành thư(viết hơi đá thảo), Thảo thư(lối viết nhanh)... Di phẩm này hiện được cất giữ ở chùa Nhân hòa tại Nhật bản.
tam thập thất bồ đề phần pháp
Satta-tiṃsa-bodhipakkhiyā-dhammā (P)Tam thập thất đạo phẩm, Tam thập thất phẩm, Tam thập thất Bồ đề phần pháp, Tam thập thất trợ Bồ đề pháp, Tam thập thất trợ Đạo chi pháp. Gồm: - từ niệm xứ - tứ chánh cần - tứ như ý túc - pháp ngũ căn - pháp ngũ lực - thất giác chi - bát chánh đạoXem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất Bồ-đề phần
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
tam thập thất giác chi
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất giác phần
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
tam thập thất phân pháp
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
tam thập thất phẩm
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
tam thập thất trợ bồ đề pháp
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất trợ đạo chi pháp
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
tam thập thất trợ đạo chi pháp.
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất đạo phẩm
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
; 三十七道品; C: sānshíqī dàopǐn; J: sanjū-nanadōhin;|Ba mươi bảy thành phần hỗ trợ con đường giác ngộ, là những cách tu tập giúp hành giả đạt bồ-đề. Chúng bao gồm: Tứ niệm xứ (四念處), Tứ chính cần (四正勤), Tứ thần túc (四神足), Ngũ căn (五根), Ngũ lực (五力), Thất giác chi (七覺支) và Bát thánh đạo (八聖道).
tam thập thất đạo phẩm
506道品,為梵語 bodhi-pākṣika 之意譯,又作菩提分、覺支,即為追求智慧,進入涅槃境界之三十七種修行方法。又稱三十七覺支、三十七菩提分、三十七助道法、三十七品道法。循此三十七法而修,即可次第趨於菩提,故稱為菩提分法。三十七道品可分七科如下: (一)四念處,又作四念住。(1)身念處,即觀此色身皆是不淨。(2)受念處,觀苦樂等感受悉皆是苦。(3)心念處,觀此識心念念生滅,更無常住。(4)法念處,觀諸法因緣生,無自主自在之性,是為諸法無我。 (二)四正勤,又作四正斷。(1)已生惡令永斷。(2)未生惡令不生。(3)未生善令生。(4)已生善令增長。 (三)四如意足,又作四神足。(1)欲如意足,希慕所修之法能如願滿足。(2)精進如意足,於所修之法,專注一心,無有間雜,而能如願滿足。(3)念如意足,於所修之法,記憶不忘,如願滿足。(4)思惟如意足,心思所修之法,不令忘失,如願滿足。 (四)五根,根,即能生之意,此五根能生一切善法。(1)信根,篤信正道及助道法,則能生出一切無漏禪定解脫。(2)精進根,修於正法,無間無雜。(3)念根,乃於正法記憶不忘。(4)定根,攝心不散,一心寂定,是為定根。(5)慧根,對於諸法觀照明了,是為慧根。 (五)五力,力即力用,能破惡成善。(1)信力,信根增長,能破諸疑惑。(2)精進力,精進根增長,能破身心懈怠。(3)念力,念根增長,能破諸邪念,成就出世正念功德。(4)定力,定根增長,能破諸亂想,發諸禪定。(5)慧力,慧根增長,能遮止三界見思之惑。 (六)七覺分,又作七覺支、七覺意。(1)擇法覺分,能揀擇諸法之真偽。(2)精進覺分,修諸道法,無有間雜。(3)喜覺分,契悟真法,心得歡喜。(4)除覺分,能斷除諸見煩惱。(5)捨覺分,能捨離所見念著之境。(6)定覺分,能覺了所發之禪定。(7)念覺分,能思惟所修之道法。 (七)八正道,又作八聖道、八道諦。(1)正見,能見真理。(2)正思惟,心無邪念。(3)正語,言無虛妄。(4)正業,住於清淨善業。(5)正命,依法乞食活命。(6)正精進,修諸道行,能無間雜。(7)正念,能專心憶念善法。(8)正定,身心寂靜,正住真空之理。〔雜阿含經卷二十六、卷二十七、卷二十八、俱舍論卷二十五、大毘婆沙論卷九十六、法界次第初門卷中之下〕
; Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
; Bodhipaksika (S).The thirty seven conditions leading to Bodhi. Tứ niệm xứ: four objects of mindfulness; Tứ chính cần: four proper lines of exertion; Tứ như ý túc: four steps towards supernatural powers; Ngũ căn: five spiritual faculties; Ngũ lực: their five powers; Thất giác chi: seven branches of enlightenment; Bát chính đạo: eightfold noble path.
; (三十七道品) Đạo phẩm, Phạm: Bodhi-pàkwika. Cũng gọi Tam thập thất giác chi, Tam thập thất bồ đề phần, Tam thập thất trợ đạo pháp, Tam thập thất phẩm đạo pháp. Chỉ cho 37 phương pháp tu hành tiến tới cảnh giới Niết bàn. 37 đạo phẩm được chia làm 7 khoa như sau: 1. Tứ niệm xứ(cũng gọi Tứ niệm trụ): a. Thân niệm xứ: Tức quán tưởng sắc thân này đều là chẳng sạch. b. Thụ niệm xứ: Quán xét các cảm nhận khổ, vui... đều là khổ. c. Tâm niệm xứ: Quán xét tâm thức này niệm niệm sinh diệt, không thường trụ. d. Pháp niệm xứ: Quán xét các pháp do nhân duyên sinh, không có tính cách tự chủ, tự tại, đó là các pháp vô ngã. 2. Tứ chính cần(cũng gọi Tứ chính đoạn): a. Điều ác đã sinh phải diệt trừ hẳn. b. Điều ác chưa sinh không cho sinh ra. c. Điều thiện chưa sinh phải làm cho phát sinh. d. Điều thiện đã sinh phải làm cho tăng trưởng. 3. Tứ như ý túc(cũng gọi Tứ thần túc): a. Dục như ý túc: Mong cầu pháp mình tu được đầy đủ như nguyện. b. Tinh tiến như ý túc: Đối với pháp mình tu 1 lòng chuyên chú, không có xen tạp, được đầy đủ như nguyện. c. Niệm như ý túc: Đối với pháp mình tu ghi nhớ không quên, đầy đủ như nguyện. d. Tư duy như ý túc: Tâm ghi nhớ pháp mình tu không để quên mất, được đầy đủ như nguyện. 4. Ngũ căn, Căn nghĩa là năng sinh; 5 căn này có khả năng sinh ra các thiện pháp. a. Tín căn: Tin sâu chính đạovà pháp trợ đạo thì có thể sinh ra tất cả pháp vô lậu thiền định giải thoát. b. Tinh tiến căn: Đối với chính pháp, tu tập không gián đoạn, không xen tạp. c. Niệm căn: Đối với chính pháp, ghi nhớ không quên. d. Định căn: Thu nhiếp tâm, không để tán loạn, 1 lòng tịch định, đó là định căn. 5. Tuệ căn (Phạm: Prajĩendriya): Ở trong định khởi trí quán, biết rõ chân lí như thực. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 16 thì 5 căn này theo thứ tự còn có tác dụng đối trị với bất tín, giải đãi (biếng nhác), phóng dật (buông thả), trạo cử (xao động) và phiền não vô minh. 5. Ngũ lực, lực tức lực dụng, có công năng phá ác thành thiện. a. Tín lực: Tín căn tăng trưởng, có năng lực phá các nghi hoặc. b. Tinh tiến lực: Tinh tiến căn tăng trưởng, có công năng phá sự biếng nhác của thân tâm. c. Niệm lực: Niệm căn tăng trưởng, có công năng phá các tà niệm, thành tựu công đức chính niệm xuất thế. d. Định lực: Định căn tăng trưởng, có công năng phá các loạn tưởng, phát khởi các thiền định. 6. Thất giác phần(cũng gọi Thất giác chi, Thất giác ý): a. Trạch pháp giác phần: Có khả năng lựa chọn các pháp chân ngụy. b. Tinh tiến giác phần: Tu các đạo pháp, không có gián tạp. c. Hỉ giác phần: Khế ngộ chân như, tâm được hoan hỉ. d. Trừ giác phần: Có khả năng đoạn trừ các phiền não kiến chấp. e. Xả giác phần: Có khả năng lìa bỏ cảnh giới kiến chấp đắm trước. f. Định giác phần: Có khả năng rõ biết thiền định phát được. g. Niệm giác phần: Có khả năng tư duy về đạo pháp mình tu tập. 7. Bát chính đạo(cũng gọi Bát thánh đạo, Bát đạo đế): a. Chính kiến: Có khả năng thấy chân lí. b. Chính tư duy: Tâm không nghĩ điều tà bậy. c.Chính ngữ: Lời nói chân thật không hư dối. d. Chính nghiệp: Trụ nơi thiện nghiệp thanh tịnh. e. Chính mệnh: Theo pháp xin ăn để nuôi thân mệnh. f. Chính tinh tiến: Tu các đạo hạnh không xen lẫn. g. Chính niệm: Chuyên tâm nhớ nghĩ thiện pháp. h. Chính định: Thân tâm vắng lặng trụ nơi lí chân không. [X. kinh Tạp a hàm Q.26, 27, 28; luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.96; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, hạ].
tam thập tứ tâm đoạn kết thành đạo
518即以三十四種剎那之心斷盡煩惱而成就佛道。略稱三十四心。三藏教菩薩,扶惑 磳矷A歷劫具修六度梵行,饒益有情,最後至菩提樹下,一念相應,慧發真無漏智時,以八忍、八智、九無礙、九解脫頓斷見思習氣而成正覺,故稱三十四心斷結成道。依大毘婆沙論等之意,菩薩未坐樹下以前,先以有漏智斷除下八地之修惑,然以有漏智不能斷除見惑及有頂地之惑,故坐金剛座欲將成道時,起無漏智,而以三十四心斷除見惑及有頂地之惑。〔俱舍論卷五、成唯識論述記卷一末、天台四教儀集註卷中末〕
; (三十四心斷結成道) Gọi tắt: Tam thập tứ tâm. Tức dùng 34 thứ tâm sát na dứt hếtphiền não để thành tựu Phật đạo. Bồ tát Tam tạng giáo khi Phù hoặc nhuận sinh(nghĩa là Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn trừ phiền não mà, trái lại, nhờ sự giúp đỡ của phiền não để ở lại trong 3 cõi hầu làm lợi ích cho chúng sinh, nên gọi là Phù hoặc nhuận sinh. Đây là hạnh nguyện của Xiển đề đại bi), trải qua nhiều kiếp tu đủ 6 độ phạm hạnh, nhiêu ích hữu tình, cuối cùng, đến dưới gốc câyBồ đề, 1 niệm tương ứng, tuệ phát chân vô lậu trí thì dứt ngay tập khí Kiến, Tư bằng 8 nhẫn, 8 trí, 9 vô ngại, 9 giải thoát mà thành bậc Chính giác, cho nên gọi là Tam thập tứ tâm đoạn kết thành đạo. Theo luận Đại tì bà sa, trước khi Bồ tát đến ngồi dưới gốc cây bồ đề đã dùng trí Hữu lậu đoạn trừ Tu hoặc của 8 địa dưới, nhưng vì trí Hữu lậu không đoạn trừ được Kiến hoặc và Hoặc của Hữu đính địa, cho nên khi ngồi ở tòa Kim cương sắp thành đạo mới khởi trí vô lậu đoạn trừ Kiến hoặc và Hoặc của Hữu đính địa bằng 34 tâm. [X. luận Câu xá Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần cuối].
Tam thập xả đọa
xem Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
tam thắng học
622據瑜伽師地論卷二十八載,能令戒、定、慧三學增勝者,稱為三勝學。即:(一)增上戒學,謂具足受持大小乘戒,制服過非,成就威儀,於諸戒法而能增勝。(二)增上心學,謂能捨欲界諸不善法,得入初禪乃至入第四禪。於諸定心而能增勝。(三)增上慧學,謂於四聖諦等法能如實了知,於諸聖慧而能增勝。
; (三勝學) Những điều kiện giúp cho 3 môn học Giới, Định, Tuệ được thêm thù thắng hơn.1. Tăng thượng giới học: Thụ trì đầy đủ các giới Đại thừa, Tiểu thừa, khắc phục các lỗi lầm, thành tựu uy nghi, đối với các giới pháp, có năng lực làm cho tăng thắng. 2. Tăng thượng tâm học: Xả bỏ các pháp bất thiện của cõi Dục, tiến vào Sơ thiền cho đến Đệ tứ thiền. Đối với các tâm định, có năng lực làm cho tăng thắng. 3. Tăng thượng tuệ học: Đối với các pháp Tứ thánh đế rõ biết 1 cách như thực và đối với các Thánh tuệ thì có năng lực làm cho tăng thắng. [X. luận Du già sư địa Q.28].
tam thắng nghĩa
622請參閱 無常經 法相宗將真諦分為義、得、正行等三種勝義。妙體離言,超越法相,稱為勝義,又作第一義或真諦,乃世俗之對稱。即:(一)義勝義,義,境界之義;其體為真如。於四種勝義中,攝於第四之真勝義。(二)得勝義,得,證得之義;其體為斷惑所顯之涅槃。於四種勝義中,攝於第三之證得勝義。(三)正行勝義,行,行相之義;其體為行勝境,屬無漏智。於四種勝義中,攝於第二之道理勝義。〔辯中邊論卷中、成唯識論述記卷九本〕(參閱「四種勝義諦」1814)
; (三勝義) Ba thứ nghĩa thù thắng. Tông Pháp tướng chia Chân đế làm Nghĩa thắng nghĩa, Đắc thắng nghĩa, Chính hành thắng nghĩa. Vì 3 nghĩa này lìa lời nói, siêu việt cácpháptướng, cho nên gọi là Thắng nghĩa, cũng gọi Đệ nhất nghĩa, hoặc Chân đế, đối lại với Tục đế. 1. Nghĩa thắng nghĩa: Nghĩa là cảnh giới, thể của cảnh giới này là Chân như. Trong 4 loại thắng nghĩa, Nghĩa thắng nghĩa thuộc về Chân thắng nghĩa thứ 4. 2. Đắc thắng nghĩa: Đắc nghĩa là chứng được; thể của nó là Niết bàn đã diệt sạch phiền não. Trong 4 loại thắng nghĩa, Đắc thắng nghĩa thuộc về Chứng đắc thắng nghĩa thứ 3. 3. Chính hành thắng nghĩa: Hành nghĩa là hành tướng; thể của nó là hành thắng cảnh, thuộc trí vô lậu. Trong 4 loại thắng nghĩa, Chính hành thắng nghĩa thuộc về Đạo lý thắng nghĩa thứ 2. [X. luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu]. (xt. Tứ Chủng Thắng Nghĩa Đế).
Tam thế
xem ba đời.
; 三世; C: sānshì; J: sansei;|Ba thế giới; ba thời; ba thời dĩ vãng, hiện tại và vị lai (s: try-adhvan, try-adhvahak, loka-traya). Cũng gọi là Tam tế (三祭).
tam thế
536梵語 trayo-dhvanaḥ,巴利語 tayo addhā。又作三際、去來今、去來現、已今當。世,為遷流義。乃過去世(梵 atītādhvan,過去、前世、前生、前際)、現在世(梵 pratyutpannādhvā,現在、現世、現生、中際)與未來世(梵 anāgatādhvan,未來、來世、來生、當來、後際)之總稱。現在世與未來世合稱為現當二世。所謂三世,指一個人現在生存之現世、出生以前生存之前世及命終以後生存之來世。又有以現在之一剎那為中心,及其前後稱為三世者。或以劫為單位,賢劫為現在,以此而建立三世。一般佛教均以時為假立者,然勝論外道或時論師則視時為實在者。 至於由過去之業因,所招感之現在果報,此種三世因果應報之理,即稱三世因果;而出現於三世之佛,則稱三世諸佛。小乘主張一世一佛;而大乘認為空間充滿十方諸佛,在時間上普現於三世,此稱十方橫化、三世豎化。總括而言,各宗派對於三世之觀點有下列四說: (一)有部認為色、心等有為法之法體,係徧滿於三世而為實有,故稱「三世實有,法體恒有」。準此而言,則「過去法」與「現在法」無法安立。對此,大多由類、相、位、待之不同,而有種種異說。其中,有部以「位」之不同為正義,而認為法體乃普徧於三世之實在,法體本身雖無三世之差別,但以其作用之標準衡量,未起作用時之法,稱為未來法;現在正起作用者,稱為現在法;而已起作用者,則稱過去法。以上係對「現在即是一剎那」之說而言者。 (二)大眾部與經量部認為,於現在一剎那所起者始為實有,而過去與未來法皆無(非存在)。此即「本無今有,有已還無」之主張。故以過去法為曾有、未來法為當有,而說明三世,此即稱「現在有體,過未無體」。 (三)唯識派以「過未無體」之立場,主張有三種三世:(1)道理三世,在現在法上,有過去曾有之因相與未來當有之果相,故具足過去與未來。(2)神通三世,過去、未來雖非實在,但依宿命智(宿命通)觀過去,依他心智(他心通)觀現在,依生死智(天眼通)觀未來,如此依神通力所顯示之三世,而作為現在剎那心識之相分。(3)唯識三世,係依迷心之虛妄來分別三世,然此僅為現在之心識變現之相分。 (四)華嚴宗立有九世、十世之說。即在三世中各有三世,指過去之過去,乃至未來之未來等九世,彼此相同、彼此和合(相即相入)而歸納於一念之中。九世加上一念,總合為十世,而於十玄門中,立有「十世隔法異成門」。〔六十華嚴卷三十七、大毘婆沙論卷七十六、卷七十七、俱舍論卷二十、卷二十一、異部宗輪論、辯中邊論卷一、法華玄論卷九、華嚴五教章卷四、成唯識論述記卷三末〕(參閱「三世實有」540、「三生」543、「時」4121)
; Traidhātuka (S), Three worldsXem Ba cõi.
; Three periods: past, present, future.
; (三世) Phạm: Trayo-dhvana#. Pàli:Tayo-addhà. Cũng gọi Tam tế, Khứ lai kim, Khứ lai hiện, Dĩ kim đương. Chỉ chung cho 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Nói một cách tổng quát thì quan điểm về 3 đời của các tông phái có 4 Thuyết sau: 1. Hữu bộ cho rằng pháp thể của các pháp hữu vi như sắc, tâm... tràn khắp 3 đời và có thật, cho nên bộ này gọi là Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu. Nói theo quan điểm này thì pháp quá khứ và pháp hiện tại không cách nào an lập được. Về điểm này, phần nhiều do sự bất đồng về chủng loại, tướng trạng, vị trí, sự đối đãi mà có nhiều thuyết khác nhau. Trong đó, Hữu bộ lấy sự bất đồng về vị trí làm chính nghĩa và cho rằng pháp thể là thực tại có thật trùm khắp 3 đời, bản thân pháp thể tuy không có sự sai biệt về 3 đời, nhưng lấy tác dụng của nó làm tiêu chuẩn để lượng định thì pháp khi chưa khởi tác dụng gọi là Vị lai pháp, pháp hiện đang khởi tác dụng gọi là Hiện tại pháp và pháp đã khởi tác dụng thì gọi là Quá khứ pháp. Trên đây là nói theo thuyết Hiện tại tức là một sát na. 2. Đại chúng bộ và Kinh lượng bộ chủ trương chỉ có các pháp sinh khởi 1 sát na hiện tại là có thật, còn các pháp quá khứ và vị lai đều không có. Đó chính là chủ trương Quá khứ không, hiện tại có, có rồi lại không. Vì thế cho pháp quá khứ là đã có, pháp vị lai là sẽ có để thuyết minh 3 đời, đó gọi là Hiện tại có thực thể, quá khứ và vị lai không có thực thể. 3. Phái Duy thức dựa trên lập trường Quá khứ, vị lai không có thực thể mà chủ trương có 3 thứ tam thế: a. Đạo lí tam thế: Về pháp hiện tại, có nhân tướng đã có ở quá khứ và quả tướng sẽ có ở vị lai, cho nên đầy đủ quá khứ và hiện tại. b. Thần thông tam thế: Quá khứ, vị lai tuy chẳng phải có thật nhưng nương vào Túc mệnh trí(Túc mệnh thông)mà quán xét quá khứ, nương vào Tha tâm trí (Tha tâm thông) mà quán xét hiện tại, nương vào sinh tử trí(Thiên nhãn thông) mà quán xét vị lai, như vậy nương vào tam thế được hiển bày do sức thần thông để làm tướng phần của tâm thức ở sát na hiện tại. c. Duythức tam thế: Dựa theo sự hư vọng của tâm mê mà phân biệt tam thế, nhưng đây chỉ là tướng phần do tâm thức của hiện tại biến hiện. 4. Tông Hoa nghiêm lập thuyết Chín đời, Mười đời. Tức trong 3 đời, mỗi đời lại có 3 đời, tổng cộng là 9 đời, như quá khứ của quá khứ, cho đến vị lai của vị lai... đây kia giống nhau, đây kia hòa hợp(tương tức tương nhập) và qui nạp vào trong 1 niệm. Chín đời cộng thêm 1 niệm là 10 đời, cho nên trong 10 huyền môn có lập Thập thế cách pháp dị thành môn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản 60 quyển); luận Đại tì bà sa Q.76, 77; luận Câu xá Q.20, 21; luận Dị bộ tông luân; luận Biện trung biên Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.9; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần cuối]. (xt. Tam Thế Thực Hữu, Tam Sinh, Thời).
tam thế bất khả đắc
538指三世無實體,即過去、現在、未來三際(三世)之種種事物,無一實體之存有,故稱不可得。〔維摩詰經弟子品、金剛經〕(參閱「三世」536)
; Everything past, present, future whether mental or material is intangible, fleeting, and can not be held.
; (三世不可得) Ba đời không có thực thể. Tức là các loại sự vật trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, không có 1 sự tồn tại nào có thực thể, cho nên gọi là bất khả đắc. [X. phẩm Đệ tử kinh Duy ma cật; kinh Kim cương]. (xt. Tam Thế).
tam thế chư phật
540乃統稱全宇宙中之諸佛。即過去、現在、未來等三世之眾多諸佛。又作一切諸佛、十方佛、三世佛。諸經論所列舉之名稱、數目不一,長阿含經卷一、增一阿含經卷四十五、雜阿含經卷三十四等列舉過去七佛之名,彌勒大成佛經、彌勒下生經等說未來彌勒佛之出世,決定毘尼經、三十五佛名禮懺文、大寶積經卷九十等列舉釋迦佛等三十五佛,觀藥王藥上二菩薩經、觀虛空藏菩薩經等列舉普光佛等過去五十三佛,無量壽經卷上列舉錠光佛等過去五十三佛,賢劫經卷六舉出現在賢劫千佛,三千佛名經列舉過去莊嚴劫千佛、現在賢劫千佛、未來星宿劫千佛,五千五百佛名經舉出五千五百佛之名。賢劫經卷八謂,於賢劫千佛出現之後有大名稱劫,其時有千佛出現;大名稱劫之後有喻星宿劫,其時有八萬佛出現;喻星宿劫之後有重清淨劫,其時有八萬四千佛出現。 據吉藏之觀無量壽經義疏載,大乘認為以空間而言,有十方佛之存在;以時間而言,有三世佛之普現。然小乘則不主張十方之說,而僅論及三世佛,且謂一世僅有一佛。〔信佛功德經、觀無量壽經、法華經方便品〕(參閱「三世」536)
; (三世諸佛) Cũng gọi Nhất thiết chư Phật, Thập phương Phật, Tam thế Phật. Chư Phật 3 đời. Tức chỉ chung toàn thể chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai trong vũ trụ. Về tên gọi và số mục chư Phật được liệt kê trong kinh luận có khác nhau. Kinh A hàm quyển 1, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 và kinh Tạp a hàm quyển 34 nêu tên của 7 đức Phật đời quá khứ; kinh Di lặc đại thành Phật và kinh Di lặc há sinh nói về sự ra đời của đức Phật Di lặc ở vị lai; kinh Quyết định tì ni, văn Tam thập ngũ Phật danh lễ sám, kinh Đại bảo tích quyển 90... liệt kê tên của 35 đức Phật như Phật Thích ca...; kinh Quán Dược vương Dược thượng nhịbồ tát, kinh Quán Hư không tạng bồ tát... nêu tên 53 đức Phật đời quá khứ như Phật Phổ quang...; kinh Vô lượng thọ liệt kê 53 đức Phật đời quá khứ như Phật Đĩnh quang...; kinh Hiền kiếp quyển 6 thì liệt kê 1000 vị Phật xuất hiện trong Hiền kiếp; kinh Tam thiên Phật danh liệt kê 1000 vị Phật của kiếp Trang nghiêm ở quá khứ, 1000 vị Phật của Hiền kiếp ở hiện tại và 1000 vị Phật của kiếp Tinh tú trong vị lai; kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh nêu tên của 5 nghìn 5 trăm vị Phật. Kinh Hiền kiếp quyển 8 nói rằng: Sau khi một nghìn đức Phật của Hiền kiếp xuất hiện thì có kiếp Đại danh xưng, trong kiếp ấy sẽ có 1000 vị Phật ra đời; sau kiếp Đại danh xưng, có kiếp Dụ tinh tú, trong kiếp ấy sẽ có 8 vạn vị Phật xuất hiện; sau kiếp Dụ tinh tú lại có kiếp Trùng thanh tịnh, trong kiếp ấy sẽ có 8 vạn 4 nghìn Phật ra đời. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh sớ của ngàiCát tạng, Đại thừa cho rằng: Nói về không gian thì có chư Phật tồn tại ở 10 phương, nói về thời gian thì có chư Phật xuất hiện khắp trong 3đời. Nhưng Tiểu thừa thì không chủ trương thuyết 10 phương, mà chỉ nói về Phật ở3 đời và chủ trương mỗi đời chỉ có 1 vị Phật. [X. Kinh Tín Phật công đức; kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Phương tiện kinh pháp hoa]. (xt. Tam Thế).
tam thế gian
539全稱三種世間。乃世間之三種類別。其說法有下列五種:(一)據大智度論卷七十之說,世間有五陰世間、眾生世間、國土世間等三種。(1)五陰世間,又作五眾世間、五蘊世間。此世間之眾生能成之法,其色受想行識等五蘊各各差別。(2)眾生世間,又作假名世間。指五蘊所成之假名之眾生各各差別。(3)國土世間,又作住處世間。此世間之眾生所依之住處國土各各差別。 (二)據善見律毘婆沙卷四之說,世間有行世間、眾生世間、處世間等三種。(1)行世間,此世間一切眾生由飲食而生。(2)眾生世間,即常與無常之世間。(3)處世間,為日月飛騰所照之世間。 (三)據華嚴經探玄記卷十七之說,世間分為器世間、眾生世間、智正覺世間等三種。(1)器世間,指有情所依之器世界。(2)眾生世間,除正報中之佛外,餘一切眾生皆屬之。如所化之同生眾、異生眾等。(3)智正覺世間,指能化之三身十佛。 (四)據梁譯攝大乘論釋卷十五之說,世間有世間、出世間、出出世間等三種。(1)世間,指三界之苦集者。(2)出世間,指離脫苦集之三界,而具有二乘之無漏功德者。(3)出出世間,指八地至佛地,得成佛者。 (五)據金七十論卷上載,世間有天道、人道、獸道等三種類別。乃數論外道所立。(1)天道,居天界之諸天眾。(2)人道,居大地之人。(3)獸道,居天地之間之禽獸。據同書卷上載,一自性諦(梵 prakṛti)中,以具薩埵(梵 sattva)、羅闍(梵 rajas)、多摩(梵 tamas)三德和合之多寡而有三世間之別;薩埵多者為天道,羅闍多者為人,多摩多者為獸。又天道有梵天、世主、天帝、乾闥婆、阿修羅、夜叉、羅剎、鬼神等八分,獸道有四足生、飛行生、胸行生、傍行生、不行生等五分,人道則唯人一分。〔大智度論卷四十七、十地經論卷十、華嚴經疏卷三、華嚴經孔目章卷三、華嚴五教章卷一、大乘義章卷六〕
; There are two definitions: (1) The realms of khí matter, chúng sinh life, and trí chính giác mind, especially the Buddha's mind. (2) The ngũ ấm psychological realm (mind), chúng sinh life, and quốc độ or khí material realm.
; (三世間) Gọi đủ: Tam chủng thế gian. Ba loại thế gian: có 5 thuyết về Tam thế gian như sau: 1.Theo luận Đại trí độ quyển 70 thì Tam thế gian là: a. Ngũ ấm thế gian(cũng gọi Ngũ chúng thế gian, Ngũ uẩn thế gian): chúng sinh của loại thế gian này được hình thành bởi 5 pháp khác nhau, đó là: sắc, thụ, tưởng, hành và thức. b. Chúng sinh thế gian(cũng gọi Giả danh thế gian): chỉ cho chúng sinh do 5 uẩn giả danh cấu thành mỗi mỗi đều khác nhau. c. Quốc độ thế gian(cũng gọi Trụ xứ thế gian): các cõi nước mà chúng sinh của loại thế gian này nương ở mỗi mỗi đều khác nhau. 2.Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4, Tam thế gian là: a. Hành thế gian: Tất cả chúng sinh thuộc loại thế gian này đều nhờ ăn uống mà sống còn. b. Chúng sanh thế gian: Thế gian thường và vô thường. c. Xứ thế gian: Thế gian được chiếu soi bởi sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. 3. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17, Tam thế gian là: a. Khí thế gian: Chỉ cho khí thế giới là chỗ nương ở sống còn của hữu tình. b. Chúng sinh thế gian: Trong chính báo, chỉ trừ đức Phật, tất cả chúng sinh còn lại đều thuộc chúng sinh thế gian. Như đồng sinh chúng, dị sinh chúng... được Phật giáo hóa. c. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho tam thân, thập Phật năng hóa. 4. Theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương) Tam thế gian là: a. Thế gian: Chỉ cho Khổ, Tập trong 3 cõi.b. Xuất thế gian: Chỉ cho 3 cõi đã thoát khỏi Khổ, Tập. c. Xuất xuất thế gian: Chỉ cho Bát địa đến Phật địa, được thành Phật. 5. Theo luận Kim thất thập quyển thượng, Tam thế gian là: a. Thiên đạo: Chỉ cho chư thiên ở các cõi trời. b. Nhân đạo: Chỉ cho loài người sống trên mặt đất. c. Thú đạo: Chỉ cho loài cầm thú sống ở khoảng giữa trời và đất. Cứ theo luận Kim thất thập quyển thượng, trong Tự tính đế (Phạm: Prakfti) do sự hòa hợp nhiều hay ít của 3 đức: Tát đỏa (Phạm:Sattva), La xà (Phạm:Rajas) và Đa ma (Phạm: Tamas) mà có sự khác nhau về Tam thế gian: Nếu Tát đỏa nhiều thì là Thiên đạo; La xà nhiều thì là Nhân đạo; còn nếu Đa ma nhiều thì là Thú đạo. Thiên đạo chia ra 8 loại: Phạm thiên, Thế chủ, Thiên đế, Càn thát bà, A tu la, Dạ xoa, La sát và Quỉ thần; Thú đạo chia ra 5 loại: Bốn chân, bay, bò, đi, không chân... Nhân đạo thì chỉ có loài người. [X. luận Đại trí độ Q.47; Thập địa kinh luận Q.10; Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
tam thế gian chinh phục thế tự tại thành tựu pháp
Tralokya-vaśaṃkara-lokesvara-sadhana (S).
tam thế giác mẫu
540為文殊菩薩之異稱。文殊主如來之智慧,智慧又為三世諸佛覺悟之源,故稱三世覺母。(參閱「文殊菩薩」1426)
; A name for Mansjusri Văn thù; as guardian of the wisdom of Vairocana, he is the bodhi-mother of all Buddhas, past, present, and future.
; (三世覺母) Tên khác của bồ tát Văn thù. Văn thù đứng đầu về trí tuệ của các đức Như lai, trí tuệ lại là nguồn gốc giác ngộ của chư Phật 3 đời, vì vậy gọi là Tam thế giác mẫu(mẹ của sự giác ngộ trong 3 đời). (xt. Văn Thù Bồ Tát).
tam thế giả thật
The reality or otherwise of things or events past, present and future. Some Hìnayàna schools admit the reality of the present but dispute the reality of the past dĩ hữu and the future đương hữu.
tam thế nghiệp
539指三種世業。乃依業因所造之時而分:(一)過去世業,指過去世所造善惡之業,於過去、現在、未來世受報。(二)現在世業,指現在世所造之業,於現在、未來世受報。(三)未來世業,指未來世所造之業,非現在所作,然眾生煩惱未斷,望於未來,必由身口意造作善惡諸業,是為未來世業。〔大智度論卷二十四、大明三藏法數卷十二〕
; (三世業) Nghiệp ba đời. Tức chỉ cho 3 loại nghiệp phân chia theo thời gian mà nghiệp nhân được tạo ra. Đó là: 1. Quá khứ thế nghiệp: Nghiệp thiện, ác tạo ra ở đời quá khứ, chịu quả báo ở đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 2. Hiện tại thế nghiệp: Nghiệp tạo ra ở đời hiện tại, chịu quả báo ở đời hiện tại, vị lai. 3. Vị lai thế nghiệp: Nghiệp tạo ra ở đời vị lai, không phải tạo ra ở hiện tại, nhưng chúng sinh chưa dứt phiền não, nhìn về vị lai, từ thân khẩu ý chắc chắn sẽ tạo các nghiệp thiện, ác, đó là Vị lai thế nghiệp. [X. luận Đại trí độ Q.24; Đại minh tam tạng pháp số Q.12].
tam thế nhân quả
538綿亙過去、現在、未來三世而立因果業感之理。蓋以過去之業為因,招感現在之果;復由現在之業為因,招感未來之果。如是因果相續,生死無窮,此即迷界流轉之相狀。說一切有部更以三世兩重之因果說解釋十二因緣,即以「無明、行」為過去之因,招感「識、名色、六處、觸、受」等現在之五果;復以「愛、取、有」為現在之三因,招感「生、老死」等未來之兩果。對其他宗教只論現在一世或現在、未來二世,此三世因果實為佛教教理之一大特色。〔南本涅槃經卷三十三、無量壽經卷下、大毘婆沙論卷二十、俱舍論卷六、卷九、成唯識論卷八〕(參閱「十二因緣」337、「三世」536、「因果報應」2295)
; (三世因果) Nhân quả ba đời. Tức lí nhân quả nghiệp cảm được thành lập suốt trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Bởi vì nghiệp tạo ra ở đời quá khứ là nhân, chiêu cảm quả ở hiện tại; rồi lại do nghiệp được tạo ở hiện tại làm nhân, chiêu cảm quả ở vị lai. Cứ như thế nhân quả nối nhau, sinh tử vô cùng, đó chính là tướng trạng lưu chuyển trong thế giới mê vọng. Bởi vậy, Thuyết nhất thiết hữu bộ đã dùng thuyết Nhân quả tam thế lưỡng trùng để giải thích 12 nhân duyên, tức cho rằng Vô minh, hành là nhân quá khứ chiêu cảm 5 quả ở hiện tại là thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, lại lấy ái, thủ, hữu làm 3 nhân ở hiện tại chiêu cảm 2 quả sinh, lão tử ở vị lai. Đối với các tông giáo khác vốn chỉ bàn về 1 đời hiện tại, hoặc 2 đời hiện tại và vị lai, thuyết Tam thế nhân quả này thực là 1 đặc sắc lớn của giáo lí Phật giáo. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Nam); kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.20; luận Câu xá Q.6, 9; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Thế, Nhân Quả, Báo Ứng).
tam thế như lai
538又作三世佛。指彌陀、釋迦、彌勒,配於過去、現在、未來等三世。釋尊為歷史上之佛,故稱現在佛;彌陀如來乃往昔十劫之佛,故為過去佛;彌勒係五十六億七千萬年後,將出現於此娑婆世界之佛,故稱未來佛。〔洞上伽藍雜記〕
; (三世如來) Cũng gọi Tam thế Phật. Như lai trong 3 đời. Tức chỉ cho Phật Di đà, Phật Thích ca, Phật Di lặc được phối với 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đức Thích ca là Phật về mặt lịch sử, cho nên gọi là Hiện tại Phật; đức Di đà là Phật của 10 kiếp đã qua, cho nên là Phật quá khứ; còn đức Di lặc thì trong 56 ức 7 nghìn vạn năm sau đây sẽ là Phật xuất hiện ở thế giới Sa bà này, cho nên gọi là Vị lai Phật. [X. Động thượng già lam tạp kí].
tam thế phái
San-chieh p'ai (C), San-chieh chiao Một học phái Phật giáo ở Trung quốc do Tín Hành khai sáng và phát triển ở đời Tùy và Đường.
tam thế pháp
Tilokiyadhamma (P).
Tam thế Phật
三世佛|Ba thời Phật
tam thế phật
The Buddhas of the past, present and future, i.e. Kàsyapa, Sàkyamuni, and Maitreya.
tam thế tam thiên phật
536指三世各一千佛。即於世界成住壞空之反覆中,過去世莊嚴劫、現在世賢劫、未來世星宿劫各出現一千佛,合計三世三千佛。〔三千佛名經、觀藥王藥上經〕(參閱「三千佛」523)
; The thousand Buddhas of each of the three kalpas - of the past called trang nghiêm kiếp, the present hiền kiếp, and the future tinh tú kiếp.
; (三世三千佛) Ba đời ba nghìn Phật. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, trong mỗi đời đều có 1000 vị Phật. Trong kiếp Trang nghiêm quá khứ, Hiền kiếp ở hiện tại và kiếp Tinh tú ở vị lai, mỗi kiếp đều có 1000 đức Phật, cộng lại thành 3 đời 3 nghìn Phật. [X. kinh Tam thiên Phật danh; kinh Quán Dược vương Dược thượng]. (xt. Tam Thiên Phật).
tam thế thật hữu
540說一切有部所立之教義。意指過去、現在、未來三世真實存在。大毘婆沙論卷七十七載說一切有部四大論師之四種觀點:(一)法救之「類有異」說,主張三世諸法唯有形類之區別,而實質相同。(二)妙音之「相有異」說,主張諸法於世轉時,各有三世相,住過去世時,正與過去相合,於餘二世相不名為離。(三)世友之「位有異」說,主張諸法經歷三世,由位(位置、作用)而有異,非體有異。即諸法經三世位,雖得三名,而其體無別。(四)覺天之「待有異」說,主張諸法與前後相對待,而有三世之名。此四說之論證雖不同,然皆主張三世實有,其中世友之「位有異」說為說一切有部之正統觀點。(參閱「三世」536)
; (三世實有) Ba đời thật có. Tức là 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai thực sự tồn tại. Đây là giáo nghĩa do Thuyết nhất thiết hữu bộ thành lập. Theo luận Đại tì ba sa quyển 77, 4 vị Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ có 4 quan điểm về 4 vấn đế này như sau:1. Thuyết Loại hữu dị của ngài Pháp cứu cho rằng các pháp trong 3 đời chỉ khác nhau về hình loại chứ thực chất thì giống nhau. 2. Thuyết Tướng hữu dị của ngài Diệu âm, chủ trương khi các pháp chuyển biến thì mỗi pháp đều có tướng 3 đời, khi trụ ở đời quá khứ thì chính hợp với tướng quá khứ và lìa tướng của 2 đời kia. 3. Thuyết Vị hữu dị của ngài Thế hữu cho rằng các pháp trải qua 3 đời do vị(vị trí, tác dụng) mà có khác, chẳng phải thể có khác. Tức các pháp trải qua 3 đời tuy tên gọi có khác nhưng thể thì không khác. 4. Thuyết Đãi hữu dị của ngài Giác thiên chủ trương các pháp trước sau đối đãi nhau mà có tên gọi 3 đời. Sự luận chứng của 4 thuyết trên tuy có khác nhau nhưng đều chủ trương 3 đời là có thật, trong đó, thuyết Vị hữu dị của ngài Thế hữu là quan điểm chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. (xt. Tam Thế).
tam thế thật hữu pháp thể hằng hữu
The Sarvàstìvàdah school Nhất thiết hữu bộ maintains that the three states (past, present, future) are real, so the substance of all things is permanent, i.e. time is real, matter is eternal.
tam thế trí
One of a Tathàgata's Như Lai ten kinds of wisdom, i.e. knowledge of past, present, and future.
tam thế tâm
538指過去心、現在心、未來心。心,剎那生滅於過去、現在、未來之任何一世,皆不可得,稱為三世心不可得。金剛經(大八‧七五一中):「過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得。」
; Mind, or thought, past, present, or future, is momentary, always moving, unreal and cannot be laid hold of.
; (三世心) Chỉ cho quá khứ tâm, hiện tại tâm và vị lai tâm. Tâm sinh diệt từng sát na, cho nên ở bất cứ 1 đời nào trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều không thể nắm bắt được tâm, gọi là Tam thế tâm bất khả đắc.Kinh Kim cương (Đại 8, 751 trung) nói: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.
tam thế tâm, tam thế liễu đạt
A Buddha's perfect knowledge of past, present and future.
tam thế tướng
538為預言書之一種。內容通常由佛教之因果應報、因果酬報、善惡業報之因緣說中,摻雜以我國陰陽五行、相生相剋之說而成。依照各人生年月日之干支,以判斷各人之命運、吉凶。此外,由此等道理,以預測世人之三世因果及吉凶,並預言某事物者,亦稱為三世相。此說源自我國。來源有二,一為日人安倍晴明來唐之時,於城刑山麓,有伯道仙人授以「金烏玉兔集」,書中即載有該說。另一為唐太宗時,國師袁天綱所作。三世相之說,日本甚為流行。
tam thế tục
538指三俗諦。<一>法相宗依遍、依、圓三性所立。三種為:(一)假世俗,為遍計所執性。即以世俗為名,無體性而唯有名者。於四俗中相當於第一世間世俗。(二)行世俗,為依他起性。行,即遷流之義。有為之行,其體為世俗。於四俗中相當於第二道理世俗、第三證得世俗。(三)顯了世俗,為圓成實性。即指斷除染污之依他起性及遍計所執性,依此二空門所顯現之真如。於四俗中相當於第四勝義世俗。〔成唯識論卷八、大乘法苑義林章卷二末〕 <二>顯揚聖教論卷六所立之三世俗為:(一)世間俗,謂無實體,假名而安立者,如田宅等。(二)道理俗,謂有實體,依之安立者,如蘊、界、處等。(三)證得俗,謂為達到悟境之方法而安立者,如預流果等。此三世俗相當於四世俗諦中之前三者。〔辯中邊論卷中〕
; (三世俗) I. Tam Thế Tục. Ba pháp thế tục do tông Pháp tướng y cứ vào tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập ra. Đó là: 1. Giả thế tục: Tính Biến kế sở chấp. Tức lấy thế tục làm tên và chỉ có cái tên suông chứ không có thể tính. Tương đương với Đệ nhất thế gian thế tục trong 4 tục. 2. Hành thế tục: Tính Y tha khởi. Hành là nghĩa trôi chảy, đổi dời, là hành hữu vi, thể tính là thế tục. Tương đương với Đệ nhị đạo lí thế tục, Đệ tam chứng đắc thế tục trong 4 tục. 3. Hiển liễu thế tục: Tính Viên thành thực. Tức đoạn trừ sự nhiễm ô của tính Y tha khởi và tính Biến kế sở chấp. Chỉ cho Chân như y cứ vào 2 Không môn này mà hiển bày, tương đương với Đệ tứ thắng nghĩa thế tục trong 4 tục. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2]. II. Tam Thế Tục. Ba thứ thế tục được thành lập trong luận Hiển dương thánh giáo quyển 6: 1. Thế gian tục: Cái không có thực thể, chỉ có giả danh mà an lập, như ruộng vườn, nhà cửa... 2. Đạo lí tục: Cái có thực thể và nương vào thực thể ấy mà an lập như uẩn, giới, xứ... 3. Chứng đắc tục: Phương pháp nhằm đạt đến cảnh giới giác ngộ mà an lập, như quả Dự lưu... Ba thế tục trên đây tương đương với 3 thế tục trước trong 4 thế tục đế. [X. luận Biện trung biên Q.trung].
tam thế vô chướng ngại trí giới
539略稱三戒。又作三昧耶戒、自性本源戒。即住於三三平等之理,以本有之淨菩提心為戒體,法界無量萬德為行相之祕密真言戒。此戒能成就如來清淨之智,三世諸佛由此證得菩提,故稱三世無障礙智戒。真言行者入壇之前,先受此戒以為先導,然後繼行灌頂。受持此戒,住於身、語、意三密平等法門,無量之戲論、邪見得以淨除。〔守護國界主陀羅尼經卷九、大日經卷一具緣品、大日經疏卷五、卷十七〕(參閱「三昧耶戒」583)
; The wisdom-law or moral-law that frees from all impediments past, present and future. Also styled Tam muội da giới, Tự tính bản nguyên giới, Tam bình đẳng giới, Thiện đề tâm giới, Vô vi giới, and Chân pháp giới.
; (三世無障礙智戒) Cũng gọi Tam muội da giới, Tự tính bản nguyên giới. Gọi tắt: Tam giới. Chỉ cho giới Chân ngôn bí mật trụ nơi lí Tam tam bình đẳng, lấy tâm bồ đề thanh tịnhsẵn có làm giới thể và lấy pháp giới vô lượng vạn đức làm hành tướng. Giới này có công năng thành tựu trí thanh tịnh của Như lai, chư Phật 3 đời nhờ giới này mà chứng được bồ đề, cho nên gọi là Tam thế vô chướng ngại trí giới. Trước khi vào đàn, hành giả Chân ngôn thụ giới này để làm người dẫn đường, sau đó mới tiếp tục cử hành nghi thức quán đính. Người thụ trì giới này, trụ trong pháp môn thân, ngữ, ý tam mật bình đẳng thì vô lượng hí luận, tà kiến đều được trừ sạch. [X.kinhThủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5, 17]. (xt. Tam Muội Da Giới).
tam thể
Worship with thân body, khẩu mouth, ý mind.
tam thệ nguyện
Three vows.
Tam thỉnh
三請; C: sānqǐng; J: sanshō;|Ba lời thỉnh cầu. Hỏi ba lần. Trong những bài kinh, đức Phật thường được thỉnh cầu ba lần trước khi ngài thuyết pháp.
tam thỉnh
674指三次請佛說法。法華經卷五如來壽量品(大九‧四二中):「是時菩薩大眾,彌勒為首,合掌白佛言:『世尊!唯願說之,我等當信受佛語。』如是三白已。復言:『唯願說之,我等當信受佛語。』爾時世尊知諸菩薩三請不止,而告之言:『汝等諦聽!』」依法華論卷下載,三請有三種意義:(一)為欲令大眾推覓甚深之佛陀境界。(二)為欲令大眾生起尊重之心,畢竟欲聞。(三)為欲令增上慢者離席而去。〔法華經玄贊卷三末〕
; A request thrice repeated - implying earnest desire.
; (三請) Chỉ cho 3 lần xin đức Phật nói pháp. Phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 42 trung) nói: Lúc bấy giờ, đại chúng Bồ tát, đứng đầu là ngài Di lặc, chắp tay bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Kính xinNgài hãy nói pháp ấy, chúng con sẽ tin nhận lời Ngài.Bạch như thế 3 lần rồi lại nói: Kính xin Phật nói pháp ấy, chúng con sẽ tin nhận lời Ngài. Lúc bấy giờ đức Thế tôn biết các Bồ tát đã 3 lần thỉnh không thôi, Ngài liền bảo rằng: Các ông hãy lắng nghe! Theo luận Pháp hoa quyển hạ thì Tam thỉnh có 3 ý nghĩa: 1. Vì muốn khiến đại chúng tìm cầu cảnh giới Phật sâu xa. 2. Vì muốn khiến đại chúng khởi tâm tôn trọng, chân thật muốn nghe. 3. Vì muốn khiến những người tăng thượng mạn rời khỏi pháp hội. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.3, phần cuối].
tam thị kệ
584又作三諦偈。為龍樹所著中論觀四諦品中之一偈。即(大三○‧三三中):「眾因緣生法,我說即是無,亦為是假名,亦是中道義。」此偈被視為中觀學派有關「中觀」經典之總義。指世間諸法皆由各種因緣所生成,並無固有之自性,人所認識之實在事物,皆為施設之名言概念,自性則空無所有;對因緣所生法既承認其假名之一面,又見及性空之一面,此即中道。隋、唐時代之三論宗、天台宗等,對此偈均頗有發揮,形成各自之體系。
; (三是偈) Cũng gọi Tam đế kệ. Chỉ cho 1 bài kệ của phẩm Quán tứ đế trong Trung luận do ngài Long thụ soạn (Đại 30, 33 trung): Chúng nhân duyên sinh pháp Ngã thuyết tức thị vô Diệc vi thị giả danh Diệc thị Trung đạo nghĩa (Pháp do các duyên sinh Ta nói tức là không Đó chính là giả danh Cũng là nghĩa Trung đạo). Bài kệ này được xem là nghĩa chung của các kinh điển thuộc hệ Trung quán của họcpháiTrung quán. Nghĩa là tất cả các pháp thế gian đều do những thứ nhân duyên kết hợp sinh thành, hoàn toàn không có tự tính cố hữu; những sự vật thực tại mà con người nhận biết chỉ là các danh ngôn, khái niệm rỗng không được bày đặt ra, chứ chẳng có thực chất gì cả. Đối với các pháp do nhân duyên sinh, 1 mặt thừa nhận chúng chỉ là giả danh, mặt khác lại thấy suốt tính không của chúng, đó chính là Trung đạo. Các tông Tam luận, Thiên thai của Trung quốc ở thời đại Tùy, Đường đều đặc biệt phát huy bài kệ này mà hình thành hệ thống của mỗi tông.
Tam thời
三時; C: sānshí; J: sanji;|Ba thời; cách hệ thống hoá, phân chia giáo pháp của Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời đoạn, ba chu kì: Chính pháp (正法); Tượng pháp (像法) và Mạt pháp (末法). Chính tượng mạt (正像末).
tam thời
595<一>指教法發展之正、像、末三時,即正法、像法、末法等三個時期。(參閱「正像末」2002) <二>指「有、空、中」三時。即依照釋尊之說教內容而分有教、空教、中道教三種,依序稱為初時、第二時、第三時說法。法相宗對此三時有三種不同看法:(一)依佛陀實際說法之時間而分,稱為年月三時。(二)由教法內容與意義而分,稱為義類三時。(三)謂佛陀在世說法之時期(在世三時),與入滅後佛教之發展(滅後三時)。(參閱「三時教」596) <三>指種、熟、脫三時,為天台宗及日本日蓮宗之說。係對佛陀教化,眾生蒙益所分之三時。(參閱「種熟脫」5873) <四>指三際時。在印度,將一年分成熱際時、雨際時、寒際時等三種季節。(參閱「曆」6227) <五>印度分一晝夜為六時,即晝三時、夜三時。晨朝、日中、日沒為晝三時,初夜、中夜、後夜為夜三時。晨朝即上午八時頃,日中為正午十二時頃,日沒為下午四時頃;初夜即午後八時頃,中夜為子夜十二時頃,後夜為晨四時頃。(參閱「六時」1283) <六>指過去、現在、未來三時。又作三世。(參閱「三世」536)
; The three periods, after his nirvàna, of every Buddha's teaching. Chính correct or the period of orthodoxy and vigour; Tượng semblance or the period of scholasticism; Mạt end, the period of decline and termination.
; (三時) I. Tam thời. Chỉ cho 3 thời kì chuyển biến, phát triển củagiáo pháp đức Phật, đó là: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. (xt. Chính Tượng Mạt). II. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời Hữu, Không, Trung. Tức chiếu theo nội dung mà chia giáo thuyết của đức Phật làm 3 loại là Hữu giáo, Không giáo, Trung đạo giáo và theo thứ tự gọi là Sơ thời thuyết pháp, Đệ nhị thời thuyết pháp, Đệ tam thời thuyết pháp. Đối với 3 thời này, tông Pháp tướng có 3 cách nhận xét khác nhau: 1. Chia theo thời gian thuyết pháp thực tế của đức Phật, gọi là Niên nguyệt tam thời.2. Chia theo nội dung và ý nghĩa của giáo pháp, gọi là Nghĩa loại tam thời: 3. Chia theo thời kỳ thuyết pháp khi đức Phật còn tại thế(Tại thế tam thời)và sự phát triển của Phật giáo sau khi đức Phật nhập diệt(Diệt hậu tam thời). (xt. Tam Thời Giáo). III. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời: Chủng, Thục, Thoát. Đây là thuyết của tông Thiên thai Trung quốc và của tông Nhật liên, Nhật bản. Ba thời này chia theo sự giáo hóa của đức Phật và chúng sinh được lợi ích. (xt. Chủng Thục Thoát). IV. Tam Thời. Chỉ cho Tam tế thời. Ở Ấn độ, một năm được chia làm 3 mùa: Nhiệt tế thời (mùa nóng), Vũ tế thời(mùa mưa) và Hàn tế thời(mùa lạnh). (xt. Lịch). V. Tam Thời. Ấn độ chia một ngày đêm làm 6 thời, tức ngày 3 thời và đêm 3 thời. Ngày 3 thời là sáng sớm, giữa trưa và chiều hôm, đêm 3 thời là đầu đêm, nửa đêm và cuối đêm. Sáng sớm là khoảng 8 giờ trước ngọ, giữa trưa là 12 giờ đúng ngọ, chiều hôm là khoảng 4 giờ sau ngọ, đầu đêm là khoảng 8 giờ tối sau ngọ, nửa đêm là khoảng 12 giờ giữa đêm, cuối đêm là khoảng 4 giờ sáng. (xt. Lục Thời). VI. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Cũng gọi Tam thế. (xt. Tam Thế).
tam thời chướng
598障礙三時之異熟業。三時,指將得忍位、不還果、無學果。三時障即:(一)由四善根位之頂位將得忍位時,感三惡趣之業,成為極障礙。蓋若達於忍位,則已超越三惡趣之果報。(二)於四果中將得不還果時,其欲界繫之業成為極障礙,唯除隨順現法受業(現在世作業,現在世引生果報)。此因不還果乃不再還來欲界之果位故。(三)將得阿羅漢果時,色、無色繫之業成為極障礙,亦除隨順現法受業。此因阿羅漢果永離脫三界故。蓋如人將離於本來所居住之地,則一切債主皆極為障礙,現欲離於三惡趣、欲界及三界,故有此等障礙。若滅除此障,即得進趣。〔俱舍論卷十八、大毘婆沙論卷六、順正理論卷六十一〕
; (三時障) Nghiệp dị thục làm chướng ngại Tam thời. Tam thời chỉ cho lúc sắp được Nhẫn vị, quả Bất hoàn, quả Vô học. Tam thời chướng là: 1. Khi từ Đính vị của giai vị Tứ thiện căn sắp được Nhẫn vị thì chiêu cảm nghiệp 3 đường ác, trở thành cực chướng ngại. Bởi vì nếu đạt đến Nhẫn vị thì đã vượt qua được quả báo của 3 đường ác. 2. Khi sắp được quả Bất hoàn trong 4 quả thì nghiệp Dục giới hệ trở nên cực chướng ngại, chỉ trừ Tùy thuận hiện pháp thụ nghiệp(tạo nghiệp ở đời hiện tại, chịu quả báo ngay ở đời hiện tại). Đó là vì quả Bất hoàn là quả vị không còn trở lại trong cõi Dục nữa. 3. Khi sắp được quả A la hán thì nghiệp Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ trở nên cực kì chướng ngại, cũng trừ Tùy thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đó là vì quả A la hán vĩnh viễn thoát li 3 cõi. Hệt như người sắp lìa bỏ nơi mình cư trú từ trước đến nay thì các chủ nợ trở thành cực chướng ngại, hiện muốn xa lìa 3 đường ác, cõi Dục và 3 cõi cho nên có các chướng ngại này. Nếu diệt trừ được chướng ngại này thì được tiến tới. [X. luận Câu xá Q.18; luận Đại tì bà sa Q.6; luận Thuận chính lí Q.61].
tam thời giáo
596又作三時教判。指佛陀教法之三時期。依釋尊說法時代之不同與經典內容之深淺,而將佛陀教法分類為三時期。即: <一>法相宗之說,係窺基根據解深密經無自性相品之三時說而立。又作有空中、有空中三時。依大乘法苑義林章卷一本、成唯識論述記卷一之說,(一)第一時教,釋尊於初時為發趨聲聞乘者宣說四諦之理,稱為第一時有教。指阿含經等所說「我空法有」之旨,謂一切存在均由因緣所生滅,故無實體,然實有構成存在之要素,故稱有教,指小乘。(二)第二時教,釋尊為發趨大乘者講說「諸法皆空」之理,如般若經等之說,謂一切萬法本來即為空,此係否定之教法,稱為空教,指大乘空宗。(三)第三時教,釋尊普為發趨一切乘者講說中道之義,如華嚴經、解深密經等,以三性三無性之說,談空之真意,肯定非有非無之中道,故稱中道教,指唯識宗。又此教係從小乘教進入大乘之大乘教,故又稱真大乘教。 此三時教中之初時有教與第二時空教稱為方便未了義教(方便權巧而未圓滿之教法,攝機、教理各有互缺),對前二者,則第三時中道教稱為真實了義教(完全、真實之說教,攝機教理具圓)。三時教判原係印度戒賢論師所立,法相宗對三時亦有不同解釋:有以根據佛陀實際說法之前後時期為別之年月三時說,有以根據教法意義、內容之深淺而別之義類三時說,以及折衷前兩者之年月、義類兼帶三時說。〔成唯識論卷一本、華嚴經探玄記卷一、華嚴經疏卷一〕 <二>三論宗之說。印度智光論師所立。(一)初時教之主觀(心)、客觀(境)均是實在,故是「心境俱有」之小乘教。(二)第二時教為唯有心是實在之「境空心有」之法相大乘。(三)第三時教則為「心境俱空」之無相大乘。其中,以最後之第三時教為真實了義教。〔大乘起信論義記卷上〕(參閱「三時」596、「三教」609)
; (三時教) Cũng gọi Tam thời giáo phán. Chỉ cho 3 thời kì của giáo pháp đức Phật được chia loại theo thời đại đức Phật thuyết pháp khác nhau và ý nghĩa cạn sâu của nội dung kinh điển. 1. Theo thuyết của tông Pháp tướng: Ngài Khuy cơ căn cứ vào phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật mà lập Tam thời giáo là: a. Đệ nhất thời giáo: Lúc đầu, vì những người phát tâm xu hướng Thanh văn thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng lí Tứ đế, gọi là Đệ nhất thời Hữu giáo, chỉ cho lí Ngã không pháp hữu nói trong kinh A hàm. Nghĩa là các pháp tồn tại đều do nhân duyên sinh diệt, cho nên không có thực thể, nhưng những yếu tố cấu thành các pháp tồn tại thì có thật, vì thế gọi là Hữu giáo, chỉ cho Tiểu thừa giáo. b. Đệ nhị thời giáo: Vì những người phát tâm xu hướng Đại thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng lí Các pháp đều không, như nói trong các kinh Bát nhã. Nghĩa là hết thảy các pháp xưa nay vốn là không, đó là giáo pháp phủ định, gọi là Không giáo, chỉ cho Đại thừa không tông. c. Đệ tam thừa giáo: Vì những người phát tâm xu hướng Nhất thiết thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng nghĩa Trung đạo, như kinh Hoa nghiêm, kinh Giải thâm mật..., dùng thuyết Tam tính tam vô tính để bàn về chân ý của Không, khẳng định Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không, cho nên gọi là Trung đạo giáo, chỉ cho Duy thức tông. Giáo này là Đại thừa giáo từ Tiểu thừa giáo tiến vào Đại thừa nên cũng gọi là Chân đại thừa giáo. Đệ nhất thời Hữu giáo và Đệ nhị thời Không giáo trong Tam thời giáo này được gọi là Phương tiện vị liễu nghĩa giáo(giáo pháp phương tiện tạm thời chứ chưa viên mãn, về nhiếp cơ cũng như giáo lí đều có những khiếm khuyết); trái lại, Đệ tam thời Trung đạo giáo được gọi là Chân thực liễu nghĩa giáo(giáo thuyết hoàn toàn, chân thực, cả về nhiếp cơ và giáo lí đều viên mãn). Tam thời giáo phán vốn do Luận sư Giới hiền người Ấn độ thành lập, tông Pháp tướng đối với Tam thời cũng có cách giải thích khác: Có thuyết Niên nguyệt tam thời được chia theo thời kì thuyết pháp thực tế của đức Phật, có thuyết Nghĩa loại tam thời được phán theo nội dung ý nghĩa sâu cạn khác nhau và có thuyết Kiêm đới tam thời chiết trung 2 thuyết Niên nguyệt và Nghĩa loại ở trước. [X. luận Thành duy thức Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. 2. Theo thuyết của tông Tam luận: Luận sư Trí quang người Ấn độ lập Tam thời giáo là: a. Sơ thời giáo: Tâm(chủ quan), cảnh (khách quan) đều là thực tại, vì thế tâm và cảnh đều có, chỉ cho Tiểu thừa giáo. b. Đệ nhị thời giáo: Chỉ có tâm là thực tại, cho nên là cảnh không tâm có, chỉ cho Đại thừa Pháp tướng. c. Đệ tam thời giáo: Tâm và cảnh đều không, chỉ cho Đại thừa vô tướng. Trong Tam thời giáo trên, Đệ tam thời giáo là Chân thực liễu nghĩa giáo. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Tam Thời, Tam Giáo).
Tam thời giáo phán
三時教判; C: sānshí jiāopàn; J: sanji kyōhan;|Cách phân loại giáo lí thành ba thời. Chỉ cách phân loại giáo lí của đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời. Pháp tướng tông (法相宗) chủ trương ba thời giáo: Phật thuyết các pháp đều hiện hữu, đều trống không và Phật thuyết trung đạo. 1. Giáo lí của thời kì đầu (hữu) chủ trương tồn tại trên cơ sở nhân duyên, nhưng những thành phần (pháp) của sự tồn tại này thật sự tồn tại. Giáo lí này được giảng dạy trong những bộ kinh A-hàm và những bộ kinh Tiểu thừa khác; 2. Giáo lí thời kì thứ hai, chủ trương nguồn gốc của tất cả vạn vật đều là trống không. Thời kì này cũng được gọi là »thời kì phủ định«, là thời điểm bắt đầu của giáo lí Đại thừa, chuyển đổi dần từ giáo lí Tiểu thừa. Kinh điển hệ Bát-nhã Ba-la-mật-đa là những ví dụ tiêu biểu cho giáo lí thời kì này; 3. Giáo lí thời kì thứ ba được gọi là »Chân không«: Trung đạo được giải thích một cách xác định trong những bộ kinh như Hoa nghiêm và Giải thâm mật. Thời kì này cũng được gọi là »Chân Đại thừa«.
tam thời giáo phán
The three periods and characteristics of Buddha's teaching as defined by the Dharmalaksana school Pháp tướng tông. They are: (1) Hữu when he taught the thật hữu reality of the skandhas and elements, but denied the common belief in thật ngã real personality, or a permenent soul; this period is represented by the four A hàm kinh Agamas and other Hìnayàna sùtras; (2) Không Sùnya, when he negatived the idea of thật pháp reality of things and advocated that all was không unreal the period of the Bát nhã kinh prajnà sùtras; (3) Trung Madhyama, the mean, that mind or spirit is real, while things are unreal; the period of this school's specific sùtra Giải thâm mật scripture unlocking the mysteries also the Pháp Hoa Lotus sùtra and later sùtras.
tam thời hoa nghiêm
597係菩提流支等就華嚴經九會之說法所立之三種說時。即:(一)九會中前五會之說時,即成道後之初七日。(二)第六會以後之說時,稱為二七日。(三)第九會之說時,稱為後時。此因十地經中有「成道未久第二七日」之說,故定十地品以前之諸會(即前五會)為初七日,第六會十地品以後定為第二七日。又第九會入法界品之說法處祇園精舍,乃佛陀成道之後,歷時數年營建,所化之聲聞等亦為後時得道者,故定第九會為後時。 此三時之說僅係時間上之區分,並未從華嚴經圓融玄旨上加以立論,且其前五會為初七日說,與世親所造十地經論之解釋有出入,故法藏破斥此說。澄觀則就「不壞前後門」成立三時,在形式上雖完全依用菩提流支等所立者,然其立意解釋迥然不同。〔華嚴經探玄記卷二、華嚴經疏鈔卷一〕
tam thời hệ niệm
598為淨土宗念佛法門之一。乃元朝中峰國師所提倡,主要目的在超薦亡靈往生西方極樂世界,永離茫茫業海。近來十分流行,頗有取代焰口之趨勢。三時,一指早晨、日中、日沒之時,一指詮一切有、詮一切空、詮一切中三時。然後世皆將三時連成一塊,在日沒前後一氣做完。繫念,指身、口、意三者觀阿彌陀經經文等而繫念往生彌陀淨土。中峰明本所著有關三時繫念之書有二,一為三時繫念儀範,用於結會自修;一為三時繫念佛事,用於作法度亡。此二者皆由誦經、持名、講演、行道、懺悔、發願、唱讚等七部分組成,且每一時佛事亦包含此七個項目。 第一時,開示行者(包括生亡兩者),極樂世界無有眾苦,道人若要尋歸路,但向塵中了自心。眾生所以受苦無盡,乃從貪欲而起,而貪欲更從忘卻自性、異念紛馳而來。欲離苦得樂,往生淨土,須信、願、行三者具足。故行者宜具深信、發切願,執持阿彌陀佛名號,一心不亂,其人臨命終時,心不顛倒,即得往生阿彌陀佛極樂國土。第二時,開示行者,心、佛、眾生三無差別,開顯唯心淨土、自性彌陀。雖法性湛然如是,然無生而生,業果儼然,故眾生循環諸趣,流轉四生,故行者須發露懺悔,洗除業垢,增長善根,捨此報緣,往生淨土。第三時,開示行者,「南無阿彌陀佛」六字名號之功德。一句阿彌陀佛名號即能坐斷六根,滅除八萬億劫生死重罪。猶如清珠投於濁水,濁水不得不清,故行者但須舉起佛號,一降直下,如太阿劍橫按當軒,斬盡無明煩亂,直到一心不亂、能所兩忘為止。如此三時繫念阿彌陀佛萬德洪名,行願既深,功無虛棄,必能托質蓮胎,永離業海,直證阿鞞跋致(不退),圓滿無上菩提。〔中峰國師三時繫念佛事〕
; (三時繫念) Nhớ nghĩ 3 thời. Tức là một trong các pháp môn niệm Phật của tông Tịnh độ, do Quốc sư Trung phong đời Nguyên đề xướng, mục đích chủ yếu là cầu cho các vong linh được sinh về thế giới Cực lạc phương Tây, vĩnh viễn ra khỏi biển nghiệp mênh mông mờ mịt. Thời gần đây pháp môn này lưu hành rất rộng rãi, có xu hướng muốn thay thế nghi thức cúng thí ngã quỉ. Tam thời, một là chỉ cho buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều; hai là chỉ cho 3 thời: Thuyên nhất thiết hữu, Thuyên nhất thiết không và Thuyên nhất thiết trung. Nhưng người đời sau kết hợp 3 thời này làm một và phải thực hành xong trong khoảng thời gian một buổi chiều. Hệ niệm là 3 nghiệp thân, khẩu, ý quán tưởng văn kinh của kinh A di đà và luôn nhớ nghĩ đến việc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà. Ngài Trung phong Minh bản có soạn 2 cuốn sách về Tam thời hệ niệm: Một là Tam thời hệ niệm nghi phạm, dùng cho việc kết hội tự tu; hai là Tam thời hệ niệm Phật sự, dùng cho việc tác pháp độ vong. Nội dungcủa 2 cuốn sách này đều gồm 7 phần: Tụng kinh, Trì danh, Giảng diễn, Hành đạo, Sám hối, Phát nguyện và Xướng tán, mỗi 1 thời cũng đều bao hàm 7 hạng mục này. Thời thứ nhất: Chỉ bảo cho hành giả (người sống cũng như người chết) biết rằng thế giới Cực lạc không có các nỗi khổ, người tu đạo nếu muốn tìm đường trở về thì chỉ cần nhìn vào cõi trần lao mà rõ tự tâm. Chúng sinh sở dĩ chịu khổ vô tận là từ tham dục mà ra, tham dục lại do quên mất tự tính, vọng tưởng lăng xăng mà có. Muốn lìa khổ được vui, sinh về Tịnh độ thì phải có đầy đủ 3 điều kiện là tín, nguyện và hành. Bởi vậy, hành giả phải có lòng tin sâu xa, nguyện vọng tha thiết và xưng niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, tâm không tán loạn, lúc lâm chung tâm không điên đảo thì chắc chắn được vãng sinh Cực lạc Tịnh độ của Phật A di đà.Thời thứ hai: Chỉ bảo cho hành giả biết rằng tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau, hiển bày Tịnh độ duy tâm, Di đà tự tính. Tuy pháp tính lặng lẽ tự nhiên, nhưng vô sinh mà sinh, nghiệp quả rõ ràng, vì thế chúng sinh vòng quanh trong các nẻo, lăn lộn trong 4 loài, cho nên hành giả phải phát lộ sám hối, tẩy sạch nghiệp nhơ, tăng trưởng căn lành, xả bỏ các duyên nghiệp mà cầu sinh về cõi nước Cực lạc, vĩnh viễn chấm dứt mọi khổ đau.Thời thứ ba: Khai thị cho hành giả biết công đức của 6 chữ hồng danh Nam mô A di đà Phật. Một câu danh hiệu A di đà Phật có năng lực dứt hết 6 căn, diệt trừ trọng tội sinh tử của 8 muôn ức kiếp. Giống như hạt ngọc trong sáng bỏ vào nước đục thì nước đục trong ngay, bởi thế hành giả chỉ cần cất lên một tiếng niệm danh hiệu Phật, bổ thẳng xuống giống như thanh kiếm Thái a chặt đứt hết vô minh phiền não, thẳng đến một lòng không rối loạn, năng sở đều dứt bặt thì thôi. Cứ như trên, 3 thời hệ niệm danh hiệu muôn đức của Phật A di đà, hạnh nguyện đã sâu, công không luống bỏ, thì chắc chắn được thác chất trong thai sen, lìa hẳn biển nghiệp, chứng thẳng A bệ bạt trí(Bất thoái), viên mãn Vô thượng bồ đề. [X. Trung phong quốc sư tam thời hệ niệm Phật sự].
tam thời hệ niệm nghi phạm
598全一卷。元朝中峰明本撰。全稱中峰三時繫念儀範。今收於卍續藏第一二八冊。為三時繫念佛事之儀範。內容初為舉咒、雲集讚、登座偈、提綱、緣起等,次列三時佛事。第一時佛事誦大阿彌陀經上卷,第二時誦大阿彌陀經下卷,第三時誦觀無量壽經,或三時皆誦彌陀經。各時皆依提綱、講演、舉念、懺悔、發願、西方讚和念之順序。第一時佛事與第二時之間,行齋佛儀式,第二時與第三時之間,修彌陀懺儀。書末附有勸人念佛與念佛正因說等文。
; (三時繫念儀範) Gọi đủ: Trung phong tam thời hệ niệm nghi phạm. Tác phẩm, một quyển, do ngài Trung phong Minh bản soạn vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 128. Nội dung sách này, trước hết là các mục: Cử chú, vân tập tán, Đăng tọa kệ, đề cương, duyên khởi... kế đến là trình bày về Tam thời Phật sự. Thời Phật sự thứ nhất tụng kinh Đại a di đà quyển thượng, thời Phật sự thứ hai tụng kinh Đại a di đà quyển hạ, thời Phật sự thứ ba tụng kinh Quán vô lượng thọ, hoặc cả ba thời Phật sự đều tụng kinh Di đà. Mỗi thời đều theo thứ tự: Đề cương, giảng diễn, cử niệm, sám hối, phát nguyện và Tây phương tán hòa niệm. Giữa thời Phật sự thứ nhất và thứ hai, có cử hành nghi thức cúng Phật; giữa thời Phật sự thứ hai và thứ ba thì tu sám nghi Di đà. Cuối sách có phụ thêm bài văn khuyên người niệm Phật và nói về chính nhân niệm Phật...
tam thời học hội
598乃佛學研究團體。創辦人為唯識學者韓清淨。會員以在家眾為中心。民國十一年(1922)五月,韓氏於北京創立北京法相研究會,十六年,改該會為三時學會。「三時」為第三時說法之意,語出解深密經卷二無自性相品,謂在第三時中,佛陀普為發趨一切乘者而說法。該會宗趣於此可見。當時參與該會者,有葉恭綽、梅光羲、徐鴻寶、胡瑞霖、林宰平、朱芾煌、周叔迦等人,除研究法相唯識之學外,並興辦醫院等社會慈善事業。所刻佛書,版本甚善,頗為學界所重。〔三時學會─六十年來的唯識宗之七(獅子吼十五卷七期)〕
tam thời luận môn
598指連亙過去、現在、未來三時而論究一切事法。成實論論門品(大一二‧二四八中):「三時論門,若於此事中,說名為色,若色曾有、當有、今有,皆名為色。識亦如是,若識曾知、當知、今知,皆名為識。如此等,名三時論門。」
; (三時論門) Liên kết 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai để thảo luận và nghiên cứu tất cả sự pháp. Phẩm Luận môn trong luận Thành thực (Đại 12, 248 trung) nói: Tam thời luận môn nghĩa là nếu trong việc này mà nói về sắc, thì nếu sắc đã có, sẽ có, đang có cũng đều gọi là sắc. Thức cũng như thế, nếu thức đã biết, sẽ biết, đang biết, đều gọi là thức. Nói về các pháp như vậy gọi là Tam thời luận môn.
tam thời niên hạn
The three periods of Buddhism - 1,000 years of Chính pháp pure or orthodox doctrine, 1,000 years of Tượng pháp resemblance to purity, and 10,000 years of Mạt pháp decay. Other definitions are Chính and Tượng 500 years each, or Chính 1,000 and Tượng 500, or Chính 500 and Tượng 1,000.
tam thời toạ thiền
596原始佛教有四時坐禪之法,即:(一)黃昏坐禪,約於午後八時。(二)早晨坐禪,約於午前十時。(三)晡時坐禪,約於午後四時。(四)後夜坐禪,於晨朝勤行前之一、二時頃。至後世,則略去後夜坐禪,僅行餘三時之坐禪,稱為三時坐禪。〔禪林象器箋卷九〕
; (三時坐禪) Ba thời ngồi thiền. Tức là Hoàng hôn tọa thiền, Tảo thần tọa thiền và Bô thời tọa thiền. 1. Hoàng hôn tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 8 giờ tối. 2. Tảo thần tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 10 giờ sáng. 3. Bô thời tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 4 giờ chiều. Vào thời đại Phật giáo nguyên thủy có Tứ thời tọa thiền, tức 3 thời trên và thêm thời thứ tư là Hậu dạ tọa thiền(vào khoảng 4 giờ sáng), nhưng đến đời sau chỉ thực hành 3 thời trên, gọi là Tam thời tọa thiền. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.9].
tam thời tọa thiền
The thrice a day meditation -about 10 am, and 4 and 8 pm.
tam thời vô hối
596據天台四教儀集註載,眾生造作五逆等罪,若於欲作、正作、作已三時之中,心無改悔,是為上品極惡,必感地獄之報。三時即:(一)加行心時,即欲作惡業之時。欲作之時,必先起心,方便加行,故稱加行心時。(二)根本心時,即正作惡業時。正作之時,其心決定,不可拔動,故稱根本心時。(三)後起心時,即作惡業已。既已作業,復起心,緣念往所作事,稱為後起心時。
; (三時無悔) Ba thời không ăn năn. Tức trong 3 giai đoạn khởi tâm làm ác mà không một giai đoạn nào sinh tâm hối cải. Cứ theo Thiên thai tứ giáo nghi tập chú, khi chúng sinh tạo tác các tội như ngũ nghịch... vào lúc định làm, đang làm, đã làm mà tâm không một mảy may hối hận thì đó là thượng phẩm cực ác, nhất định chiêu cảm quả báo địa ngục. Tam thời là: 1. Gia hành tâm thời: Muốn gây nghiệp ác thì trước hết khởi tâm tạo nghiệp, kế đến nghĩ phương cách thực hiện, tức chuẩn bị hành động, gọi là Gia hành tâmthời. 2. Căn bản tâm thời: Chính lúc đang gây nghiệp ác, tâm quyết định không lay chuyển, gọi là Căn bản tâm thời. 3. Hậu khởi tâm thời: Tức sau khi đã gây nghiệp ác rồi, lại khởi tâm nhớ lại các việc đã làm, gọi là Hậu khởi tâm thời.
tam thời điện
597為適應春、夏、冬三期所作之宮殿。在印度,一年分為三季,即一月十六日至五月十五日為熱際時(春),五月十六日至九月十五日為雨際時(夏),九月十六日至一月十五日為寒際時(冬)。據傳,釋尊出家以前,其父王為使釋尊過快樂的宮廷生活,嘗建三時殿以適應三季。〔中阿含經卷二十九大品柔軟經〕
; (三時殿) Cung điện được xây cất để thích ứng với 3 thời xuân, hạ và đông. Tại Ấn độ, một năm được chia làm 3 mùa, tức từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 là mùa nóng (xuân), từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 là mùa mưa(hạ), từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 là mùa lạnh (đông). Theo truyền thuyết, khi đức Phật Thích ca còn là Thái tử, vì muốn cho Ngài vui sống trong cung đình mà bỏ chí xuất gia, nên vua cha cho xây dựng Tam thời điện.[X. kinh Đại phẩm nhu nhuyến trong Trung a hàm Q.29].
Tam thụ
三受; C: sānshòu; J: sanju;|Ba cảm thụ, cảm xúc: An vui, đau khổ, và chẳng vui chẳng khổ.
tam thụ
559梵語 tisro vedanāḥ,巴利語 tisso vedanā。又作三痛。受,領納之義。即內之六根,觸對外之六境,所領納之三種感覺。即:(一)苦受(梵 duḥkha-vedanā),又作苦痛。即領納違情之境相,令身心受逼迫。(二)樂受(梵 sukha-vedanā),又作樂痛。即領納順情之境相,令身心適悅。(三)捨受(梵 upekṣā-vedanā),又作不苦不樂受、不苦不樂痛。即領納中容之境相,身心無有逼迫,亦無有適悅。此三受通於眼等六根,亦通有漏無漏。或各自分成兩種,與五識相應者,稱為身受;與意識相應者,稱為心受。〔雜阿含經卷八、成唯識論卷五、阿毘達磨發智論卷十四、成實論卷六〕(參閱「五受」1103、「受」3096)
; The three states of Vedanà, i.e. sensation, are divided into painful khổ, pleasurable lạc, and freedom from both xả.
; Khổ thụ, lạc thụ, bất khổ bất lạc thụ (cũng gọi là xả thụ).
; (三受) Phạm: Tisro-vedanà#. Pàli:Tisso-vedanà. Cũng gọi Tam thống. Chỉ cho ba thứ cảm nhận khi 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh(đối tượng). Đó là: 1. Khổ thụ (Phạm: Du#kha-vedanà), cũng gọi Khổ thống. Nghĩa là lãnh nhận những cảnh tướng trái ý làm cho thân tâm bị bức bách. 2. Lạc thụ (Phạm: Sukha-vedanà), cũng gọi Lạc thống. Nghĩa là nhận lãnh những cảnh tướng như ý khiến cho thân tâm vui thích. 3. Xả thụ (Phạm: Upekwà-vedanà), cũng gọi Bất khổ bất lạc thụ, Bất khổ bất lạc thống. Nghĩa là nhận lãnh những cảnh tướng trung dung, thân tâm không bị bức bách, cũng không vui thích. Tam thụ này thông cả 6 căn mắt, tai... và chung cho hữu lậu, vô lậu. Hoặc mỗi thụ tự chia làm 2 thứ, thứ nào tươngứng với 5 thức thì gọi là Thân thụ, thứ nào tươngứng vớiý thức thì gọi là Tâm thụ. [X. kinh Tạp a hàm Q.8; luận Thành duy thức Q.5; luận A tì đạt ma phát trí Q.14; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Ngũ Thụ, Thụ).
tam thụ nghiệp
559指三種受業。又作三受報業。乃就苦、樂、捨三受,將業分為三類。即:(一)順樂受業(梵 sukha-vedanīya-karma),又作福業、樂報業。為感樂受之業,始自欲界至第三靜慮。今之樂受若為三受門之樂受,則含攝喜受,故此樂受存在第三禪天。(二)順苦受業(梵 duḥkha-vedanīya-karma),又作非福業、苦報業。為感苦受之業,即欲界之一切惡業。(三)順不苦不樂受業(梵 aduḥkhāsukha-vedanīya-karma),又作順非二業、不苦不樂報業。即感第四禪天以上之果業,彼處唯有捨受。然第三禪天以下亦有順不苦不樂受業,若感中間天者,則為中間定業。今就所感之受而言,除感得受之外,尚俱感得色等四蘊。〔發智論卷十一、順正理論卷四十、俱舍論卷十五、瑜伽師地論卷九〕(參閱「三業」638)
; The karma, or results arising from the pursuit of courses that produce pain, pleasure, or freedom from both.
; (三受業) Cũng gọi Tam thụ báo nghiệp. Chỉ cho 3 thứ nghiệp được phân loại theo 3 cảm thụ: Khổ, lạc, xả. Đó là: 1. Thuận lạc thụ (Phạm: Sukhavedanìya-karma), cũng gọi Phúc nghiệp, Lạc báo nghiệp, Nghiệp chiêu cảm lạc thụ, bắt đầu từ cõi Dục đến Đệ tam tĩnh lự. Nếulạc thụ ở đây làlạc thụ trong Tam thụ môn thì bao gồm hỉ thụ, vì thế lạc thụ này tồn tại ở Đệ tam thiền thiên. 2. Thuận khổ thụ nghiệp (Phạm: Du#kha-vadanìya-karma), cũng gọi Phi phúc nghiệp, Khổ báo nghiệp. Nghiệp mang lại cảm giác khổ, tức là tất cả nghiệp ác ở cõi Dục. 3. Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp (Phạm: Adu#khàsukha-vedanìyakarma), cũng gọi Thuận phi nhị nghiệp, Bất khổ bất lạc báo nghiệp. Tức nghiệp chiêu cảm quả báo từ Đệ tứ thiền thiên trở lên, ở cõi này chỉ có Xả thụ. Tuy nhiên, từ Đệ tam thiền thiên trở xuống cũng có Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp, nếu cảm quả ở các cõi trời Trung gian thì gọi là Trung gian định nghiệp. Ở đây nói theo Thụ sở cảm thì ngoài sự chiêu cảm được Thụ ra, còn chiêu cảm được cả 4 uẩn là Sắc, Tưởng, Hành và Thức. [X. luận Phát trí Q.11; luận Thuận chính lí Q.40; luận Câu xá Q.15, luận Du già sư địa Q.9]. (xt. Tam Nghiệp).
tam thức
696<一>類別八識為三種,是為三識。此係四卷楞伽經卷一所說。(一)真識,指自性清淨真淨之識,即淨分之第八阿賴耶識;此識能了別真實之自體。(二)現識,指所藏之種子變現根身與世界之識,即染分之第八阿賴耶識;然亦有以第七末那識能了別妄相,而別為妄識者。(三)分別事識,指起六塵等諸境分別之識,即六、七二識;然亦有以前六識能了別事相,而別為分別事識者。此外,十卷楞伽經卷二亦舉出轉相識、業相識、智相識等三識之說。〔維摩經玄疏卷五、中觀論疏卷七本、大乘起信論義疏卷上之下、大乘義章卷三末、卷十三〕(參閱「八識」316) <二>指天台宗所立九識之後三識,即第九清淨識之阿摩羅識、第八無沒識之阿賴耶識與第七分別識之末那識。金光明經玄義卷上(大三九‧四上):「云何三識?識名為覺了,是智慧之異名爾。菴摩羅識是第九不動識,若分別之,即是佛識;阿梨耶識即是第八無沒識,猶有隨眠煩惱與無明合,別而分之,是菩薩識;(中略)阿陀那識是第七分別識,訶惡生死,欣羨涅槃,別而分之,是二乘識。」又法華玄義卷五下以此三識類通真性、觀照、資成等三軌,且廣亙十種三法,亦即三識、三軌乃至三道,皆同體異名,同為三千三諦圓具之妙法,是故法法圓通融即。〔法華玄義釋籤會本卷五下、止觀輔行傳弘決卷三之一、法華玄義私記卷五末〕(參閱「十種三法」483、「三軌」591、「阿摩羅識」3671)
; The three states of mind or consciousness: chân thức the original unsullied consciousness or Mind, the Tathàgata-garbh, the eighth or àlaya; hiện thức mind or consciousness diversified in contact with or producing phenomena, good and evil; phân biệt thức consciousness discriminating and evolving the objects of the five senses. Also Ý thức manas, Tâm thức àlaya, Vô cấu thức amala.
; (三識) I. Tam Thức. Tám thức được chia làm 3 loại, gọi là Tam thức. Đây là thuyết của kinh Lăng già (bản 4 quyển). Tức là: 1. Chân thức: Chỉ cho thức chân tịnh của tự tính thanh tịnh, tức là thức A lại da thứ 8 của tịnh phần; thức này có khả năng biết rõ tự thể chân thực. 2. Hiện thức: Chỉ cho thức chủng tử sở tàng(được cất chứa) biến hiện ra căn thân và thế giới, tức là thức A lại da thứ 8 của nhiễm phần; nhưng cũng có chỗ cho rằng thức Mạt na thứ 7 có khả năng biết rõ vọng tướng và được xem là một vọng thức khác. 3. Phân biệt sự thức: Chỉ cho thức dấy lên sự phân biệt các cảnh như 6 trần... tức là thức thứ 6 và thức thứ 7; nhưng cũng có chỗ cho 6 thức trước có khả năng rõ biết các sự tướng và xem là một Phân biệt sự thức khác. Ngoài ra, kinh Lăng già quyển 2 (bản 10 quyển) cũng nêu ra thuyết Tam thức: Chuyển tướng thức, Nghiệp tướng thức và Trí tướng thức. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.5; Trung quán luận sớ Q.7, phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối]. (xt. Bát Thức). II. Tam Thức. Chỉ cho thức A ma la(Thanh tịnh thức), thức A lại da(Vô một thức) và thức Mạt na (Phân biệt thức)trong 9 thức do tông Thiên thai thành lập. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng (Đại 39, 4 thượng) ghi: Thế nào là Tam thức? Thức gọi là giác liễu, là tên khác của trí tuệ. Thức A ma la là Bất động thức thứ 9, nếu phân biệt thì đó chính là Phật thức; thức A lê da tức là Vô một thức thứ 8, vẫn còn tùy miên phiền não hợp với vô minh, nếu phân biệt thì đó là Bồ tát thức; (...) thức A đà na là Phân biệt thức thứ 7, chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, nếu phân biệt thì đó là Nhị thừa thức. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, hạ cho Tam thức này là cùng loại với Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu và Tư thành, hơn nữa, thông cả 10 loại Tam pháp, cũng tức là Tam thức, Tam quĩ cho đến Tam đạo đều là cùng thể mà chỉ khác tên, đều là diệu pháp đầy đủ tam thiên tam đế, cho nên tất cả đều viên thông dung tức. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm hội bản Q.5, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.5, phần cuối]. (xt. Thập Chủng Tam Pháp, Tam Quĩ, A La Ma Thức).
tam thức duyên cảnh quảng hiệp
696據宗鏡錄卷三十六及瑜伽師地論卷五十一載,第八、第七、第六等三識所緣之境有廣狹之不同,即:(一)第八識緣境最廣,謂第八識為根本識,染淨同依,能變現種子、根身、器世間等三種境,故緣境最廣。(二)第七識緣境最狹,謂此識無別體相,但依第八識為因而起,復緣第八識見分而為相分,故緣境最狹。(三)第六識緣境次廣,謂此識能緣一切善、不善、無記等三性之境,能分別色心等一切法塵,故緣境次廣。
; (三識緣境廣狹) Cảnh(đối tượng) mà 3 thức thứ 8, thứ 7 và thứ 6 duyên theo có rộng, hẹp khác nhau. Tức là: 1. Cảnh của thức thứ 8 duyên theo rộng nhất: Thức thứ 8 là thức căn bản, là chỗ nương của cả nhiễm lẫn tịnh, có năng lực biến hiện ra 3 cảnh là chủng tử, căn thân và khí thế gian, cho nên cảnh duyên là rộng nhất. 2. Cảnh của thức thứ 7 duyên theo hẹp nhất: Thức thứ 7 không có thể tướng riêng, chỉ nương vào thức thứ 8 làm nhân để sinh khởi, lại duyên theo Kiến phần của thức thứ 8 làm Tướng phần của mình, vì thế cảnh duyên của thức này là hẹp nhất. 3. Cảnh của thức thứ 6 duyên theo rộng vừa: Thức thứ 6 có khả năng duyên theo tất cả cảnh của 3 tính thiện, bất thiện, vô kí..., có năng lực phân biệt tất cả pháp trần như sắc, tâm..., vì thế nên cảnh duyên hơi rộng. [X. Tông kính lục Q.36; luận Du già sư địa Q.51].
Tam Thừa
(s: yāna-traya, tri-yāna, 三乘): ba cỗ xe. Cỗ xe là ví dụ cho giáo lý dẫn dắt chúng sanh đi đến giác ngộ; có Nhất Thừa (一乘) cho đến Ngũ Thừa (五乘); đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh là chậm chạp, trung bình, lanh lợi mà chế ra 3 loại pháp môn khác nhau gọi là Tam Thừa. (1) Thanh Văn Thừa (s: śrāvaka-yāna, 聲聞乘), còn gọi là Tiểu Thừa (小乘); nếu nhanh thì trong 3 đời, chậm thì trong vòng 60 kiếp, tu pháp Không, cuối cùng đến đời này nghe giáp pháp của đức Như Lai, ngộ lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), chứng quả A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢). (2) Duyên Giác Thừa (s: pratyeka-buddha-yāna, 緣覺乘), còn gọi là Trung Thừa (中乘), Bích Chi Phật Thừa (辟支佛乘), Độc Giác Thừa (獨覺乘); nếu nhanh thì trong 4 đời, chậm thì trong 100 kiếp tu pháp Không, vào đời cuối cùng thì không nương vào giáo pháp của Như Lai, mà cảm các ngoại duyên như hoa bay, lá rụng, suối reo, v.v., tự giác ngộ lý Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), và chứng quả Bích Chi Phật (辟支佛). (3) Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘), hay còn gọi là Phật Thừa (佛乘), Đại Thừa (s: mahāyāna, 大乘); trong khoảng thời gian vô số kiếp tu hành hạnh Lục Độ (六度), rồi trong 100 kiếp trồng nhân 32 phước tướng để chứng vô thượng Bồ Đề. Ba cỗ xe này được ví cho xe dê, hươu, xe trâu; hay ví cho ba loại thú là voi, ngựa và thỏ. Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải).” Hay như trong Phẩm Thí Dụ (譬喻品) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có giải thích rằng: “Nhược hữu chúng sanh, nội hữu trí tánh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, dục tốc xuất Tam Giới, tự cầu Niết Bàn, thị danh Thanh Văn Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, cầu tự nhiên tuệ, độc lạc thiện tịch, thâm tri chư pháp nhân duyên, thị danh Bích Chi Phật Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm an lạc, vô lượng chúng sanh, lợi ích nhân thiên, độ thoát nhất thiết, thị danh Đại Thừa (若有眾生、內有智性、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、欲速出三界、自求涅槃、是名聲聞乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、求自然慧、獨樂善寂、深知諸法因緣、是名辟支佛乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、勤修精進、求一切智、佛智、自然智、無師智、如來知見、力、無所畏、愍念安樂、無量眾生、利益天人、度脫一切、是名大乘, Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, muốn mau ra Ba Cõi, tự cầu Niết Bàn, đó là Thanh Văn Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, vui một mình, khéo vắng lặng, biết sâu nhân duyên các pháp, đó là Bích Chi Phật Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng tu tinh tấn, cầu tất cả trí tuệ, trí tuệ Phật, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dạy, tri kiến của Như Lai, năng lực, sự khoogn sợ hãi, niệm thương xót an lạc, vô lượng chúng sanh, làm lợi ích trời người, độ thoát hết thảy, đó là Đại Thừa).” Hoặc như trong Tứ Giáo Nghi Chú (四敎儀註) quyển Thượng cho biết rằng: “Tam Thừa, thừa dĩ vận tải vi nghĩa; Thanh Văn dĩ Tứ Đế vi thừa, Duyên Giác dĩ Thập Nhị Nhân Duyên vi thừa, Bồ Tát dĩ Lục Độ vi thừa, vận xuất Tam Giới quy ư Niết Bàn (三乘、乘以運載爲義、聲聞以四諦爲乘、緣覺以十二因緣爲乘、菩薩以六度爲乘、運出三界歸於涅槃, Ba Thừa, thừa có nghĩa là vận chuyển, Thanh Văn lấy Tứ Đế làm phương tiện vận chuyển, Duyên Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm phương tiện vận chuyển, Bồ Tát lấy Lục Độ làm phương tiện vận chuyển, chở cả Ba Cõi quay về Niết Bàn).” Hai Thừa đầu chỉ có tự lợi, không có lợi tha, nên được gọi là Tiểu Thừa (小乘, cỗ xe nhỏ). Riêng Bồ Tát Thừa thì có đầy đủ cả tự lợi và lợi tha, nên có tên là Đại Thừa (大乘, cỗ xe lớn). Một số kinh điển như Tịch Điều Âm Sở Vấn Kinh (寂調音所問經), Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 127, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 11 gọi Tam Thừa là Hạ Thừa (下乘), Trung Thừa (中乘) và Thượng Thừa (上乘). Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (大乘莊嚴經論) quyển 4, Lương Dịch Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (梁譯攝大乘論釋) quyển 1 gọi chung cả 2 thừa trước là Hạ Thừa, Bồ Tát Thừa là Thượng Thừa. Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông lấy Tam Thừa làm pháp môn phương tiện, cứu cánh đều quy về Nhất Phật Thừa (一佛乘); cho nên hai tông phái này chủ xướng tư tưởng “Tam Thừa Phương Tiện Nhất Thừa Chân Thật (三乘方便一乘眞實, Ba Thừa Phương Tiện Một Thừa Chân Thật).” Trong khi đó, Pháp Tướng Tông lại chủ trương ngược lại là “Tam Thừa Chân Thật Nhất Thừa Phương Tiện (三乘眞實一乘方便, Ba Thừa Chân Thật Một Thừa Phương Tiện).” Bên cạnh đó, Tam Thừa còn có nghĩa là Ba Thừa tùy thời tu tập của vị Bồ Tát, gồm: (1) Thiên Thừa (天乘), tức Sơ Thiền (初禪), Nhị Thiền (二禪), Tam Thiền (三禪) và Tứ Thiền (四禪). (2) Phạm Thừa (梵乘), tức từ, bi, hỷ và xả. (3) Thánh Thừa (聖乘), tức là Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), gồm Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見), Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟), Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語), Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業), Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命), Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進), Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念), và Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定).
Tam thừa
xem Ba thừa.
; 三乘; C: sānshèng; J: sanjō; S: triyāna;|Ba thừa
tam thừa
〖出法華經〗乘,即運載之義。謂聲聞、緣覺、菩薩各以其法為乘,運出三界生死,同到真空涅槃,故名三乘。(三界者,欲界、色界、無色界也。梵語涅槃,華言滅度。)〔一、聲聞眾〕,聞佛聲教而得悟道,故曰聲聞。謂其知苦、斷集、慕滅、修道,故以此四諦為乘也。(四諦者,苦諦、集諦、滅諦、道諦也。)〔二、緣覺乘〕,因觀十二因緣覺真諦理,故名緣覺。謂始觀無明緣乃至老死,此是觀十二因緣生;次觀無明滅乃至老死滅,此是觀十二因緣滅。觀此因緣生滅,即悟非生非滅,故以此十二因緣為乘也。(十二因緣者,一無明、二行、三識、四名色、五六入、六觸、七受、八愛、九取、十有、十一生、十二老死也。)〔三、菩薩乘〕,菩薩,梵語具云菩提薩埵,華言覺有情。謂覺悟一切有情眾生也。菩薩行六度行,廣化眾生出離生死,故以此六度為乘也。(六度者,一布施、二持戒、三忍辱、四精進、五禪定、六智慧也。)
; 592梵語 trīṇi yānāni。即三種交通工具,比喻運載眾生渡越生死到涅槃彼岸之三種法門。<一>就眾生根機之鈍、中、利,佛應之而說聲聞乘、緣覺乘、菩薩乘等三種教法。(一)聲聞乘(梵 śrāvaka-yāna),聞佛聲教而得悟道,故稱聲聞。其知苦斷集、慕滅修道,以此四諦為乘。(二)緣覺乘(梵 pratyeka-buddha-yāna),又作辟支佛乘、獨覺乘。觀十二因緣覺真諦理,故稱緣覺。始觀無明乃至老死,次觀無明滅乃至老死滅,由此因緣生滅,即悟非生非滅,乃以此十二因緣為乘。(三)菩薩乘(梵 bodhisattva-yāna),又作大乘(梵 mahā-yāna)、佛乘、如來乘。求無上菩提,願度一切眾生,修六度萬行,以此六度為乘。 前二乘唯自利,無利他,故總稱小乘,菩薩乘自利利他具足,故為大乘。薩婆多毘尼毘婆沙卷一、究竟一乘寶性論均以小乘所得三乘共知、中乘所得二乘共知、唯佛所得二乘不知等為由,而稱三乘為小乘、中乘、大乘;寂調音所問經、大毘婆沙論卷一二七、大智度論卷十一以於無分別一味法中說上中下而顯三乘差異為由,稱三乘為下乘、中乘、上乘;大乘莊嚴經論卷四、梁譯攝大乘論釋卷一則合稱前二乘為下乘,而稱菩薩乘為上乘。華嚴、天台宗以三乘為方便法門,畢竟歸一佛乘,是為一乘教,即三乘之外別立一佛乘;法相宗則以一乘係對一機而施,是權假之教,三乘則屬真實之教。前者稱「三乘方便一乘真實」,後者則稱「三乘真實一乘方便」。〔大寶積經卷九十四、解深密經卷二、顯揚聖教論卷三、佛性論卷一、佛地經論卷二、華嚴經探玄記卷一、華嚴五教章卷一、法華玄贊卷一、大乘起信論義記卷上〕(參閱「一乘」59、「二乘」206、「四乘」1743) <二>菩薩隨時修集之天乘、梵乘、聖乘。(一)天乘,即初禪、二禪、三禪、四禪。(二)梵乘,即慈、悲、喜、捨。(三)聖乘,即正見、正思惟、正語、正業、正命、正精進、正念、正定。〔大寶積經卷九十四〕
; Trini-yānani (S), Tṛyāna (S), Triyāna (S), Three vehicles Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thừa (tương đương Tiểu thừa, Trung luận thừa và Đại thừa)- Gồm: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. - Tam thừa còn chỉ: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa.
; Triyàna (S) The three vehicles, or conveyances which carry living beings across samsàra, or mortality (birth and death) to the shore of nirvàna. The three are styled: (1) Tiểu thừa Hìnayàna, lesser vehicle; (2) Trung thừa Madhyamayàna, medium vehicle; (3) Đại thừa Mahayàna, greater vehicle.
; (三乘) Phạm:Trìịi yànàni. Chỉ cho 3 loại xe, ví dụ 3 pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn. I. Tam Thừa. Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là độn căn, trung căn và lợi căn, đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa, gọi là Tam thừa.1. Thanh văn thừa (Phạm: Zràvakayàna): Nhờ nghe tiếng nói pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng Thanh văn biết khổ, đoạn tập, ưa diệt, tu đạo, dùng 4 đế ấy làm thừa. 2. Duyên giác thừa (Phạm:Pratyekabuddha-yàna), cũng gọi Bích chi phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ lí chân đế, cho nên gọi là Duyên giác. Bắt đầu quán xét vô minh cho đến lão tử, kế quán vô minh diệt cho đến lão tử diệt, do nhân duyên sinh diệt này mà ngộ chẳng sinh chẳng diệt, cho nên lấy 12 nhân duyên này làm thừa. 3. Bồ tát thừa (Phạm: Boddhisattvayàna), cũng gọi Đại thừa (Phạm: Mahàyàna), Phật thừa, Như lai thừa: Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 độ muôn hạnh, lấy 6 độ này làm thừa. Hai thừa trước chỉ tự lợi, không lợi tha nên gọi chung là Tiểuthừa, còn Bồ tát thừa thì đủ cả tự lợi và lợi tha, cho nên gọi Đại thừa. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 và luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính đều cho rằng chỗ chứng đắc của Tiểu thừa thì Tam thừa đều biết, chỗ chứng đắc của Trung thừa thì Nhị thừa đều biết và chỗ chứng đắc của Phật thì chỉ một mình Phật biết chứ Nhị thừa không biết, đó là lí do để gọi Tam thừa là Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa; kinh Tịch điều âm sở vấn, luận Đại tì bà sa quyển 127 và luận Đại trí độ quyển 11 thì lấy việc trong pháp nhất vị không phân biệt mà nói thượng trung hạ để hiển bày sự sai khác giữa Tam thừa làm lí do gọi Tam thừa là Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa; Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 1 (bản dịch đời Lương) thì gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là Hạ thừa, còn gọi Bồ tát thừa là Thượng thừa. Tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai cho Tam thừa là pháp môn phương tiện, cuối cùng qui về Nhất Phật thừa, đó là Nhất thừa giáo, tức ngoài Tam thừa còn lập riêng Nhất Phật thừa; tông Pháp tướng thì cho rằng Nhất thừa chỉ vì một cơ mà tạm thời đặt ra, thuộc Quyền giáo, còn Tam thừa mới là Thực giáo. Tức tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai chủ trương Tam thừa phương tiện, Nhất thừa chân thực, còn tông Pháp tướng thì, trái lại, chủ trương Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.94; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.3; luận Phật tính Q.1; Phật địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tứ Thừa). II. Tam Thừa. Chỉ cho Thiên thừa, Phạm thừa và Thánh thừa mà Bồ tát tu tập. 1. Thiên thừa: Tức Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. 2. Phạm thừa: Tức từ, bi, hỉ, xả. 3. Thánh thừa: Tức chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến và chính định. [X. kinh Đại bảo tích Q.94].
tam thừa quán môn
593指天台四教中之三藏教之聲聞、緣覺、菩薩等三乘,分別以觀苦諦、集諦、道諦,作為修行之初門。即:(一)聲聞觀苦諦為初門,聲聞其根最鈍,先觀苦果五陰生死之身,以苦諦之觀為初門。(二)緣覺觀集諦為初門,緣覺其根稍利,觀苦果集因之惑業,以集諦之觀為初門。(三)菩薩觀道諦為初門,菩薩其根最利,直觀出世因之道法,以道諦之觀為初門。止觀輔行傳弘決卷一之四(大四六‧一六六下):「若論修行初門不同,故章安云:『聲聞以苦諦為首,緣覺以集諦為首,菩薩以道諦為首。』此約三藏三乘生滅四諦,通菩薩以界內滅諦為首,別菩薩以界外道諦為首,圓菩薩以界外滅諦為首。」〔天台四教儀集註卷上〕
; (三乘觀門) Môn quán của Tam thừa. Tức chỉ cho Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thuộc Tam tạng giáo trong 4 giáo Thiên thai, lần lượt lấy quán khổ đế, quán tập đế, quán đạo đế làm pháp môn tu hành bước đầu. 1. Thanh văn quán khổ đế: Hàng Thanh văn căn cơ chậm lụt nhất, trước hết quán xét thân sinh tử 5 ấm của quả khổ, lấy quán Khổ đế làm môn tu bước đầu.2. Duyên giác quán tập đế: Hàng Duyên giác căn cơ hơi bén nhạy, quán xét hoặc nghiệp là tập nhân của quả khổ, lấy quánTập đế làm môn tu bước đầu. 3. Bồ tát quán đạo đế: Hàng Bồ tát căn cơ nhạy bén nhất, quán thẳng đạo pháp của nhân xuất thế, lấy quán Đạo đế làm môn tu bước đầu. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1, phần 4 (Đại 46, 166 hạ) ghi: Nếu bàn về pháp môn tu hành bước đầu thì có khác nhau, cho nên ngài Chương an nói: Thanh văn lấy Khổ đế làm đầu, Duyên giác lấy Tập đế làm đầu, Bồ tát lấy Đạo đế làm đầu. Đây nói về Tứ đế sinh diệt của Tam thừa thuộc Tam tạng giáo, Bồ tát Thông giáo lấy Diệt đế của giới nội làm đầu, Bồ tát Biệt giáo lấy Đạo đế của giới ngoại làm đầu, Bồ tát Viên giáo lấy Diệt đế của giới ngoại làm đầu. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].
Tam thừa thánh nhân
三乘聖人; C: sānshèngshèngrén; J: sanjō shōnin;|Chỉ ba hàng Thánh nhân của ba cỗ xe: Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka), Duyên Giác (縁覺; s: pratyekabuddha) và Bồ Tát (菩薩; s: bodhisattva).
Tam thừa thập nhị bộ phần giáo
三乘十二部分教|Ba thừa mười hai phần giáo
tam tiêu phục
599消伏三種毒害。即:(一)事消伏,多以散心消伏虎狼、刀劍等之毒害。(二)行消伏,消伏五住地之行毒。即藏、通二乘及藏、通、別之菩薩等,雖能用三觀伏住五住地之煩惱,然與法性隔歷,別修有作之行故,對「所消」之毒害稱為行毒,則「能消」毒害者稱為行消伏。(三)理性消伏,依一心三觀,消伏無染而染之理性之毒害。依請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼咒經之說,至心唱念觀世音菩薩之名,誦持消伏毒害陀羅尼,依觀音之加護,即可消伏三種毒害。〔四明尊者教行錄卷二、請觀音經疏闡義鈔卷一〕(參閱「理毒性毒」4719)
; (三消伏) Tiêu phục 3 thứ độc hại. Đó là: 1. Sự tiêu phục: Dùng tán tâm tiêu phục các thứ độc hại như hổ lang, dao kiếm... 2. Hạnh tiêu phục: Tiêu phục các hạnh độc của Ngũ trụ địa. Tức hàng Nhị thừa Tạng giáo, Thông giáo và hàng bồ tát Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo tuy có khả năng dùng Tam quán để áp phục các phiền não Ngũ trụ địa nhưng vẫn ngăn cách với pháp tính, còn cần phải tu riêng các hạnh hữu tác nên gọi là Hạnh tiêu phục. 3.Lí tính tiêu phục: Nương vào Nhất tâm tam quán để tiêu phục sự độc hại của lí tính không nhiễm mà nhiễm. Theo thuyết trong kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni, nếu dốc lòng xưng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm, tụng trì đà la ni Tiêu phục độc hại thì nhờ sự gia hộ của bồ tát Quán thế âm mà tiêu phục được 3 thứ độc hại. [X. Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2; Thỉnh Quán âm kinh sớ xiển nghĩa sao Q.1]. (xt. Lí Độc Tính Độc).
tam tiệm
The three progressive developments of the Buddha's teaching according to Prajnà school: (a) the Lộc uyển initial stage in the Deer Park; (b) the Phương đẳng period of the eight succeeding years; (c) the Bát nhã Prajnà or wisdom period which succeeded.
tam tiệm thứ
646據大佛頂首楞嚴經卷八載,佛欲說修行地位,先說三等漸次之法以為根本,即:(一)除助因,即祛除眾生助惡之因,如葱、炝、薤、蒜、興渠五種辛菜,食之易引發婬恚,為邪魅所著,令天人遠離,是故修行之人必先斷除此等助惡之因。(二)刳正性,一切盜、妄等惡皆由婬、殺而起,故眾生以婬、殺之性為正性;若欲修菩提,當破除婬、殺之性,勿令毀犯。(三)違現業,修菩提之人既能斷除五辛,不犯婬、殺,則於現前六塵之境違遠而不相涉。
; (三漸次) Chỉ cho 3 pháp thứ bậc căn bản mà đức Phật nói trước khi giảng về các địa vị tu hành. 1. Trừ trợ nhân: Tức trừ bỏ nhân giúp cho điều ác của chúng sinh, như 5 thứ rau cay hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ, hễ ăn chúng thì dễ phát dâm dục, nóng giận, bị tà mị bám sát, khiến trời, người xa lánh, cho nên người tu hành trước phải trừ bỏ những cái nhân giúp phát sinh điều ác này. 2. Phá chính tính: Tất cả việc ác như trộm cắp, nói dối... đều do dâm dục, sát sinh khởi lên, cho nên chúng sinh lấy các tính dâm, sát làm chính tính, nếu muốn tu đạo giác ngộ thì phải phá trừ các tính dâm, sát...3. Trái hiện nghiệp: Người tu đạo giác ngộ đã dứt bỏ 5 món rau cay, không phạm dâm dục, sát sinh thì không còn dính mắc vào cảnh lục trần hiện tiền nữa.
tam tiện
678即指刀賤、衣賤、色賤。為對治貪著之心,僧侶縫製袈裟時,(一)需用普通之布割裁,稱為刀賤。(二)故意以針縫刺成粗惡之衣,稱為衣賤。(三)並以壞色之樹皮染損其原色,稱為色賤。〔善見律毘婆沙卷七〕
; (三賤) Ba thứ tầm thường hèn mọn khi may áo ca sa giúp cho tỉ khưu đối trị được tâm tham nhiễm. Đó là: 1. Đạo tiện: Cắt may áo đơn giản, tầm thường, không kiểu cách. 2. Y tiện: Vải may áo cũng dùng loại thông thường, thô xấu. 3. Sắc tiện: Không dùng màu tươi, sáng mà dùng vỏ cây nấu lên để nhuộm thành hoại sắc. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.7].
tam toan đồ
666乃以儒、道、釋人物為畫題之圖畫。相傳蘇東坡(儒)、黃魯直(道)同赴金山寺訪佛印和尚(釋),訪畢,出而同嚐桃花醋,三人雖同食一物,而滋味各有不同,嚐後皆蹙眉頭,此乃圖上所繪內容,與三教圖同為三教融合之象徵。又有以釋迦、老子、孔子等三聖人為畫中人物之圖,圖中亦由三聖人共嚐一甕醋,而三人所品各異,此類圖像通稱三聖圖。以宋代馬遠、陳清波、顏輝、日人狩野元信、海北友松所繪者較為著名。(參閱「三教圖」612、「三教論衡」612)
; (三酸圖) Bức tranh vẽ 3 nhân vật Nho, Thích, Đạo làm đề tài. Tương truyền, một hôm, Tô đông pha (Nho), Hoàn lỗ trực(Đạo), cùng đến chùa Kim sơn thăm Hòa thượng Phật ấn (Thích). Sau đó, khi ra về, cả 3 vị cùng nếm rượu hoa đào, tuy 3 người cùng uống một loại rượu nhưng mùi vị thì mỗi người đều cảm thấy khác nhau, nếm xong, 3 người đều chau mày, đó là nội dung vẽ trong bức tranh. Bức tranh này và Tam giáo đồ đều tượng trưng cho tinh thần Tam giáo dung hợp.Ngoài ra còn có các bức họa vẽ 3 vị Thánh nhân: Thích ca, Lão tử, Khổng tử, 3 vị cũng cùng nếm một vò rượu nhưng cảm nhận mùi vị khác nhau. Loại tranh này gọi chung là Tam thánh đồ và nổi tiếng hơn cả là tác phẩm của các họa sĩ Mã viễn, Trần thanh ba, Nhan huy người Trung quốc, đời Tống và Thú dã Nguyên tín, Hải bắc Hữu tùng người Nhật bản. (xt. Tam Giáo Đồ, Tam Giáo Luận Hành).
tam toà thuyết pháp
595禪宗公案名。三座,指第三首座。據無門關載,溈仰宗之祖仰山慧寂於夢中往兜率天之彌勒處,坐於第三座,(大四八‧二九六上):「有一尊者白槌云:『今日當第三座說法。』山乃起,白槌云:『摩訶衍法,離四句,絕百非,諦聽!諦聽!』」此則公案中,仰山以四句百非拂除眾生之迷執,俾使悟入無相不可得之理,為一種遮絕妄相以表顯真義之遮詮形式。〔三論玄義檢幽集卷二、科註三論玄義卷二〕
; (三座說法) Tên công án trong Thiền tông. Tam tòa chỉ cho vị Thủ tọa thứ 3. Cứ theo Vô môn quan thì Tổ của tông Qui ngưỡng là ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch nằm mộng thấy mình lên đến chỗ ngài Di lặc trên cung trời Đâu suất, ngồi ở tòa thứ 3 (Đại 48, 296 thượng): Có một tôn giả đánh bạch chùy thưa: Hôm nay do vị Thủ tọa thứ ba thuyết pháp (Đệ tam tòa thuyết pháp). Ngài Ngưỡng sơn bèn đứng dậy, bạch chùy rằng: Pháp Ma ha diễn lìa tứ cú, dứt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe! [X. Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.2; Khoa chú Tam luận huyền nghĩa Q.2].
tam trai
687<一>指牧牛齋等三齋,即:(一)牧牛齋(梵 gopālaka-uposatha),譬如牧牛人求善水草,供其牛飲,至暮思歸,還村時猶殷殷思及明日當往富饒之野畜牧種種之念;若人已受持齋戒,居家則以貪利養身,終日樂著欲過,其念一如牧牛人之意,如是持齋,將不獲大利,亦不得善果。(二)尼犍齋(梵 nigaṇṭha-uposatha),每月十五日伏地受齋戒,禮拜十由旬內之諸神曰(大一‧九一一上):「我今日齋,不敢為惡(中略)妻子、奴婢非是我有。」舉諸虛妄之言,當不得大果之報。(三)聖八支齋(梵 ariya-uposatha),或稱佛法齋,即內道弟子於六齋日受持八戒。〔齋經〕 <二>指三齋日,即每月八日、十四日、十五日所持之清淨戒。 <三>指三長齋月。又稱三善月、三長月、三齋月。即於每年正月、五月、九月等三月之間受持之八齋戒。當此三月之時,冥界之業鏡輪照南洲,若有善惡,鏡中悉現。此三月乃惡鬼得勢之時,故令修善。常修三長齋者,晝夜精勤,一心苦行,可往生西方阿彌陀佛國。〔中阿含經卷五十五、灌頂經卷十二、梵網經卷下、四分律行事鈔資持記卷下之三〕(參閱「三長齋月」575)
; (三齋) I. Tam Trai. Chỉ cho 3 thứ trai là Mục ngưu trai, Ni kiền trai và Thánh bát chi trai. 1. Mục ngưu trai (Phạm: Gopàlakauposatha): Ví như người chăn bò tìm cỏ non nước sạch cho bò ăn uống, đến chiều đắt bò về nhà, lại chăm chăm nghĩ tới việc ngày mai sẽ đưa bò đến cánh đồngcỏtốt tươi cho bò ăn; nếu người đã thụ trì trai giới mà ở nhà thì tham lợi nuôi thân, suốt ngày đắm say dục lạc, ý nghĩa của người này cũng hệt như ý nghĩa của người chăn bò, trì trai như vậy sẽ chẳng được lợi ích gì, cũng không được quả thiện. 2. Ni kiền trai (Phạm: Nigaịỉhauposatha): Vào ngày 15 mỗi tháng nằm đất, thụ trai giới, lễ bái các vị thần trong vòng 10 do tuần, khấn rằng (Đại 1, 911 thượng): Hôm nay con trì trai, không dám làm điều ác (...), vợ con, tôi tớ chẳng phải là của con. Nói những lời hư dối sẽ không được quả báo lớn. 3. Thánh bát chi trai (Phạm:Ariyauposatha), hoặc gọi là Phật pháp trai, tức đệ tử nội đạo thụ trì 8 giới vào 6 ngày trai.[X. Trai kinh]. II. Tam Trai. Cũng gọi Tam thiện nguyệt, Tam trường nguyệt, Tam trai nguyệt. Chỉ cho 3 tháng trường trai. Tức mỗi năm thụ trì 8 trai giới trong 3 tháng là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Trong thời gian 3 tháng này chiếc gương nghiệp ở cõi âm chiếu soi đến châu Nam, những điều thiện, ác sẽ hiện hết trong gương. Vào 3 tháng này là lúc thuận tiện cho các ác quỉ, cho nên phải tu thiện. Những người tu 3 tháng trường trai, ngày đêm chăm chỉ, một lòng khổ hạnh, sẽ được sinh về cõi nước Cực lạc của Phật A di đà ở phương Tây. [X. kinh Trung a hàm Q.55; kinh Quán đính Q.12; kinh Phạm võng Q.hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.1, phần 3]. (xt. Tam Trường Trai Nguyệt). III. Tam Trai. Chỉ cho 3 ngày trai, tức giới thanh tịnh được thụ trì vào các ngày mồng 8, ngày 14 và ngày 15 mỗi tháng.
tam trang nghiêm
617指事、法、人之三種莊嚴。即:(一)事莊嚴,指色、聲、香、味等事物。(二)法莊嚴,指種種勝妙之法音。(三)人莊嚴,指菩薩、聲聞等。大乘義章卷十九(大四四‧八三五下):「此二土(真應)體,莊嚴淨者,是其土相,泛論有三:一人莊嚴,勝善眾生居住其中,土名淨矣,下五住處眾生淨者,即其義也。二法莊嚴,具諸佛法,其土名淨,故地論言:人及諸法莊嚴。三事莊嚴,五欲殊妙。此三種中,地經偏說一事莊嚴,為莊嚴淨。此中有三,一神通莊嚴,一切境界變現無礙;二光明莊嚴,常有光明滅除闇冥;三相莊嚴,眾寶裝飾。」〔大哀經卷二、大樓炭經卷一、大智度論卷五、大唐西域記卷二、法華經玄贊卷八〕
; The three adornments, or glories, of a country: material attractions; religion and learning; men, i.e religious men and bodhisattvas.
; (三莊嚴) Chỉ choba thứ trang nghiêm. 1. Sự trang nghiêm: Chỉ cho các sự vật như sắc, thanh, hương, vị... 2. Pháp trang nghiêm: Chỉ cho các pháp âm thù thắng, vi diệu. 3. Nhân trang nghiêm: Chỉ cho các Bồ tát, Thanh văn... Đại thừa nghĩa chương quyển 19 (Đại 44, 835 hạ) nói: Thể của hai cõi này (Chân, Ứng) trang nghiêm thanh tịnh. Còn tướng của các cõi này nói chung có ba thứ: Một là Nhân trang nghiêm, những chúng sinh thắng thiện cư trú trong đó, tên cõi nước là Tịnh độ. Hai là Pháp trang nghiêm, có đủ các Phật pháp, cõi nước tên là Tịnh độ, cho nên Địa luận nói rằng: Nhân và các Pháp trang nghiêm. Ba là Sự trang nghiêm, ngũ dục thù thắng vi diệu. Trong 3 thứ này, Địa luận chỉ nói nhiều về Sự trang nghiêm, trong đó có 3 thứ: Một làThần thông trang nghiêm, tất cả cảnh giới biến hiện vô ngại. Hai là Quang minh trang nghiêm, thường có ánh sáng diệt trừ bóng tối. Ba là Tướng trang nghiêm, được trang sức toàn bằng các thứ báu. [X. kinh Đại ai Q.2; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Đại trí độ Q.5; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8].
Tam trí
三智; C: sānzhì; J: sanchi;|Ba loại trí huệ. Có nhiều cách phân loại trong nhiều kinh luận khác nhau nên mối liên hệ trong mỗi trường hợp phải được chú ý:|I. 1. Pháp trí (法智), trí huệ hiểu biết chư pháp; 2. Tỉ trí (比智), trí hiểu biết, phân biệt vạn vật sai biệt và 3. Đẳng trí (等智), trí thế tục (theo A-tì-đàm Tì-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論).|II. 1. Nhất thiết trí (一切智), trí huệ hiểu biết tất cả; 2. Đạo chủng trí (道種智), trí biết được những con đường tu tập khác nhau; 3. Nhất thiết trí trí (一切智智), trí thông đạt tất cả những loại trí huệ khác. Ba loại trí này tương quan đến ba Thánh quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註).|III. 1. Văn huệ (trí); 2. Tư huệ và Tu huệ (theo Du-già luận 瑜伽論, Tam huệ).|VI. Ba loại trí được dạy trong Đại trí độ luận (大智度論): 1. Nhất thiết trí (一切智) của hàng Nhị thừa (Thanh Văn), là trí hiểu biết tất cả những khía cạnh khác biệt của chư pháp; 2. Đạo chủng trí (道種智) của hàng Bồ Tát, là trí hiểu biết khía cạnh toàn vẹn của chư pháp và 3. Nhất thiết chủng trí (一切種智) của chư Phật, trí huệ toàn hảo biết được tất cả khía cạnh của các pháp.
tam trí
625<一>指大智度論卷八十四釋三慧品所說之一切智、道種智、一切種智。(一)一切智,即了知一切諸法總相之智。總相即空相。此智乃聲聞、緣覺之智。(二)道種智,又作道種慧、道相智。即了知一切諸法別相之智。別相即種種差別之道法。此智乃菩薩之智。(三)一切種智,又作一切相智。即通達總相與別相之智,即佛智。天台家認為,此三智為空、假、中三觀所成,即一切智為空觀所成,道種智為假觀所成,一切種智為中觀所成。又依空、假、中三觀之義,別立二種三智,即:(一)別相三智,別教菩薩次第修習別相三觀,成就一切智、道種智,乃至修習中道觀,了見佛性,成就一切種智,常住涅槃。(二)一心三智,不依別相之次第,融三諦於一境,即於一心而作三觀,故所發之三智亦於一心中證得,無前後之別。又華嚴經疏卷四亦舉出俗智、真智、中道智三智,其中真智即觀照真諦空理之智,相當於一切智;俗智即觀照俗諦諸法差別之智,相當於道種智;中道智不偏真俗二邊,雙遮雙照,相當於一切種智。〔大品般若經卷一、大智度論卷二十七、摩訶止觀卷三上、觀音玄義卷下〕(參閱「一切智」14、「一切種智」19、「道種智」5655) <二>指菩薩地持經卷三方便處無上菩提品所說之清淨智、一切智、無礙智。(一)清淨智(梵 śuddha-jñāna),即觀第一義,斷除一切煩惱習,而離障無染之智;此乃如來之第一義智。(二)一切智(梵 sarva-jñāna),即了知一切時、一切界、一切事、一切種等一切法相之智;此乃如來世諦之智。(三)無礙智(梵 asaṅga-jñāna),又作無滯智。即於上記四種一切法相,發心即知,不假方便,不假思量,了達無礙之智;此乃如來世諦之智。此三智為三種般若中之觀照般若所攝,亦為一切種智所攝。〔瑜伽師地論卷三十八、大乘義章卷十九〕 <三>指楞伽經卷三所說之世間智、出世間智、出世間上上智。(一)世間智(梵 laukika-jñāna),即凡夫外道之智。凡夫、外道於一切法種種分別,執著有無,而不能出離世間。(二)出世間智(梵 lokottara-jñāna),即聲聞、緣覺之智。聲聞、緣覺修四諦十二因緣,能出離世間。然猶墮自共之相,以為有生死可厭,有涅槃可求。(三)出世間上上智(梵 lokottaratama-jñāna),即諸佛菩薩之智。諸佛菩薩觀一切法寂靜,不生不滅,得如來地,超出聲聞、緣覺之智。 <四>指外智、內智、真智。(一)外智,善能分別明了六根六塵之境、博覽古今、通曉俗事之智。(二)內智,善能滅除無明煩惱、心意寂靜之智。(三)真智,善能通達淨穢同體無別、萬物本自寂靜之智。〔寶藏論離微體淨品〕
; The three kinds of wisdom: (1) (a) Nhất thiết trí sràvaka and pratyeka-buddha knowledge that all the dharmas or laws are void and unreal; (b) Đạo chủng trí bodhisattva-knowledge of all things in their proper discrimination; (c) Nhất thiết chủng trí Buddha-knowledge or perfect knowledge of all things in their every aspect and relationship past, present, and future. Thiên Thai associates the above with Không, Giả, Trung (2) (a) Thế gian trí earthly or ordinary wisdom; (b) Xuất thế gian trí supra-mundane, or spiritual (sràvaka and pratyeka-buddha) wisdom; (c) Xuất thế gian thượng thổ (độ) trí supreme wisdom of bodhisattvas and Buddhas.
; (三智) I. Tam Trí. Chỉ cho 3 thứ trí được nói ở phẩm Thích tam tuệ trong luận Đại trí độ quyển 84.1. Nhất thiết trí: Trí biết rõ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác. 2. Đạo chủng trí(cũng gọi Đạo chủng tuệ, Đạo tướng trí): Trí biết rõ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí của hàng Bồ tát. 3. Nhất thiết chủng trí (cũng gọi Nhất thiết tướng trí): Tức trí biết rõ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Tông Thiên thai cho rằng 3 trí này là do 3 pháp quán Không, Giả, Trung cấu thành, tức Nhất thiết trí do Không quán mà thành, Đạo chủng trí do Giả quán mà thành và Nhất thiết chủng trí do Trung quán mà thành. Rồi các nhà Thiên thai lại dựa theo nghĩa Tam quán (Không, Giả, Trung) mà lập riêng 2 thứ Tam trí là: 1. Biệt tướng tam trí: Bồ tát Biệt giáo lần lượt tu tập Biệt tướng tam quán, thành tựu Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, cho đến tu tập Trung đạo quán mà thấy rõ Phật tính, thành tựu Nhất thiết chủng trí, thường an trụ Niết bàn. 2. Nhất tâm tam trí: Không nương theo thứ tự tướng riêng mà dung hợp 3 đế trong một cảnh, tức tu 3 quán trong một tâm, cho nên khi phát khởi thì 3 trí cũng chứng được trong một tâm, không có trước, sau sai khác. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 4 cũng nêu ra 3 trí là Tục trí, Chân trí và Trung đạo trí, trong đó, Chân trí tức là trí quán chiếu lí không của Chân đế, tương đương với Nhất thiết trí; Tục trí tức là trí quán chiếu các pháp sai khác của Tục đế, tương đương với Đạo chủng trí; còn Trung đạo trí thì không nghiêng về 2 bên Chân, Tục mà là song già song chiếu, tương đương với Nhất thiết chủng trí. [X. kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.27, Ma ha chỉ quán Q.3, thượng; Quán âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Chủng Trí, Đạo Chủng Trí). II. Tam Trí. Chỉ cho Thanh tịnh trí, Nhất thiết trí và Vô ngại trí được nói ở phẩm Phương tiện xứ vô thượng bồ đề trong kinh Bồ tát địa trì quyển 3. 1. Thanh tịnh trí (Phạm: Zuddhajĩàna): Trí quánĐệ nhất nghĩa, đoạn trừ tất cả tập khí phiền não, lìa chướng, vô nhiễm. Đây là trí Đệ nhất nghĩa của Như lai. 2. Nhất thiết trí(Phạm:Sarva-jĩàna): Trí biết rõ tất cả pháp tướng như tất cả thời, tất cả cõi, tất cả việc, tất cả giống loài... Đây là trí thế đế của Như lai. 3. Vô ngại trí(Phạm:Asaíga-jĩàna): cũng gọi Vô trệ trí. Tức trí đối với tất cả pháp tướng trong 4 loại nói trên, hễ phát tâm là biết liền, không nhờ phương tiện, không cần suy nghĩ, rõ suốt không ngại. Đây là trí thế đế của Như lai. Tam trí này thuộc về Quán chiếu bát nhã trong 3 loại Bát nhã, cũng thuộc về Nhất thiết chủng trí. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. III. Tam Trí. Chỉ cho 3 loại trí nói trong Lăng già quyển 3, đó là: 1. Thế gian trí (Phạm: Laukikajĩàna): Tức trí của phàm phu, ngoại đạo. Phàm phu, ngoại đạo đối với tất cả pháp phân biệt theo các quan điểm, chấp trước hữu vô, nên không thể ra khỏi thế gian. 2. Xuất thế gian trí (Phạm:Lokottarajĩàna):Trí của hàng Thanh Văn, Duyên giác. Thanh văn, Duyên giác tu 4 đế, 12 nhân duyên, có khả năng ra khỏi thế gian, nhưng vẫn còn rơi vào cái thấy tự tướng, cộng tướng, cho rằng có sinh tử đáng chán, có Niết bàn để cầu. 3. Xuất thế gian thượng thượng trí (Phạm: Lokottaratama-jĩàna): Trí của chư Phật, Bồ tát. Trí của chư Phật, Bồ tát quán thấy tất cả pháp đều vắng lặng, chẳng sinh chẳng diệt, được địa vị Như lai, vượt trên Thanh văn, Duyên giác. IV. Tam Trí. Chỉ cho 3 thứ trí là Ngoại trí, Nội trí và Chân trí. 1. Ngoại trí: Trí khéo phân biệt rõ ràng các cảnh 6 căn 6 trần, biết suốt cổ, kim, thông hiểu mọi việc thế tục. 2. Nội trí: Trí khéo diệt trừ vô minh phiền não, tâm ý tịch tĩnh. 3. Chân trí: Trí khéo thông suốt tịnh và uế là cùng một thể, không có sai khác, muôn vật vốn tự vắng lặng. [X. phẩm Li vi thể tịnh trong luận Bảo tạng].
tam trùng niệm phật
(三重念佛) Ba thứ phân loại về sự niệm Phật do tông Tịnh độ ở Nhật bản đặt ra. I. Tam Trùng Niệm Phật. Dựa vào việc có phân biệt chính hạnh, tạp hạnh, trợ nghiệp, chính nghiệp hay không mà chia việc niệm Phật làm 3 thứ sau đây: 1. Niệm Phật do các Tổ sư đặt ra: Chỉ cho cách niệm Phật do ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh và ngài Trí khải ở núi Thiên thai lập ra. Phương pháp niệm Phật này chưa phân biệt chính-tạp, trợ-chính, tức muôn hạnh chỉ là một. 2. Bản nguyện niệm Phật: Hạnh niệm Phật do ngài Thiện đạo lập ra. Tức đã phân biệt chính-tạp, trợ-chính và lấy Chính nghiệp xưng danh niệm Phật làm bản nguyện. 3. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật: Do ngài Nguyên không – vị tăng Nhật bản – lập ra. Hai chữ Tuyển trạch(lựa chọn) được thêm vào trước Bản nguyện niệm Phật, lập niệm Phật làm bản nguyện, tức nói rõ kết quả của sự lựa chọn, lấy bỏ. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1]. II. Tam Trùng Niệm Phật. Y cứ vào sự khác nhau về Sự lí quán xưng mà chia niệm Phật thành 3 loại là: 1. Niệm Phật theo Ma ha chỉ quán. 2. Niệm Phật theo Vãng sinh yếu tập. 3. Niệm Phật theo sự khuyến hóa của Đại sư Thiện đạo. [X.Quyết đáp thụ thủ ấn nghi vấn sao Q.thượng; Quyết vấn nghi vấn minh tâm sao Q.thượng].
tam trùng pháp giới
(三重法界) Chỉ cho bản thể của thân tâm tất cả chúng sinh. Tông Hoa nghiêm vốn lập 4 thứ pháp giới, để đối ứng với trí năng quán nên lập riêng Tam trùng pháp giới. Tức là: 1.Lí pháp giới: Lí thể thống nhiếp sự hình thành của muôn vật. Trong thế giới vật chất có muôn tượng sum la nhưng lí thể của nó thì bất biến; nói cách khác, sự pháp giới là những hiện tượng sai khác do nhân duyên sinh khởi, sự sinh diệt biến đổi của nó đều qui về không. Đứng về phương diện bản thể của muôn vật mà nói thì đó là lí thể tuyệt đối, không sinh diệt, không thêm bớt, vĩnh viễn không thay đổi, tức là Lí pháp giới. Lí pháp giới này vượt ra ngoài tư tưởng và ngôn ngữ của con người, chỉ miễn cưỡng gọi là Không, nhưng cái không này cũng chẳng phải là cảnh địa tuyệt đối. 2. Lí sự vô ngại pháp giới: Chỉ cho pháp giới mà bản thể và hiện tượng tương tức tương nhập, cả 2 giao thoa dung hợp lẫn nhân, sự nếu chẳng có lí thì sự không thành, lí nếu chẳng có sự thì lí không hiển, có thể nói sự lí là tên khác của không hữu, tính tướng, do lí và sự dung thông nhiếp nhập mà thành là Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả sự vật trong vũ trụ đều có tính thống nhất, liên tục và bao nhiếp, trong phạm trù này, không có giới hạn thời gian và không gian, pháp với pháp tương dung tương thành. Trong khoảng vũ trụ, mỗi mỗi hiện tượng đều là bản thể, bản thể lại có khả năng trở thành mỗi mỗi hiện tượng, cho nên toàn thể vũ trụ thu nhiếp vào trong một hiện tượng, một tức tất cả, tất cả tức một, tương tức tương nhập, trùng trùng vô tận, vượt ra ngoài quan niệm thị phi thiện ác, mà chỉ còn là cảnh giới viên mãn bình đẳng. (xt. Tứ Pháp Giới).
tam trùng quán môn
(三重觀門) Gọi đủ: Tam trùng pháp giới quán môn. Cũng gọi Tam trùng quán, Pháp giới tam quán. Chỉ cho 3 pháp quán do tông Hoa nghiêm thành lập. Sơ tổ của tông Hoa nghiêm là ngài Đỗ thuận mở ra quán môn tu hành thực tiễn, kiến lập 3 pháp quán để hiển bày quán hạnh, ngộ nhập Nhất chân pháp giới. Ba pháp quán là: 1. Chân không quán: Lí pháp giới trong 4 pháp giới. Chân lấy niệm lự không hư vọng làm chân; Không lấy sắc tướng không hình chất phòng ngại làm không. Vì phàm phu thấy sắc nhận lầm là thật, thấy không nhận lầm là đoạn không, cho nên bị sa vào đường mê, do đó không chứng ngộ được lí này. Nay mở ra pháp quán Chân không, khiến quán sắc chẳng phải thực sắc, toàn thể là chân không, quán không chẳng phải là đoạn không, toàn thể là huyễn sắc, có như thế mới thoát khỏi được sự trói buộc của tất cả tình trần mà đạt đến cảnh giới không sắc vô ngại. 2. Lí sự vô ngại quán: Tức lí sự vô ngại pháp giới. Trước hết đem lí dung hòa với sự, cuối cùng đem sự dung hòa vào lí, khiến cho lí và sự 2 mà chẳng 2, chẳng 2 mà 2, đó là vô ngại. Ta có thể thấy lí chân không, nhưng đối với sự lại chưa thể rõ hết, cho nên mở bày lí sự vô ngại, làm cho cái lí bất khả phân đều có thể viên dung hỗ nhiếp trong một mảy bụi và sự khả phân hạn cũng có thể thông suốt khắp trong pháp giới, mỗi sự lí đều có thể hiển hiện một cách rõ ràng vô ngại, hỗ dung tương tức. Lí sự vô ngại thuộc về phạm vi của cảnh sở quán, còn tâm là chủ thể năng quán. Nếu chỉ quán xét các sự tướng thì sẽ dẫn khởi tâm thế tục, bám dính vào cảnh hưởng lạc. Cũng thế, nếu chỉ quán về lí thì ắt dẫn khởi tâm xuất thế, và e chỉ hạn cuộc ở sự ưa thích cảnh vô lậu tiểu quả. Còn nếu quán cả lí và sự thì đạt đến cảnh giới dung thông vô ngại, khiến tâm không thiên chấp, tự vận dụng cả bi lẫn trí mà thành tựu hạnh vô trụ, chứng nhập Vô trụ xứ niết bàn. 3. Chu biến hàm dung quán: Tức sự sự vô ngại quán. Chu biến là trùm khắp tất cả cõi sắc và phi sắc, hàm dung là bao hàm tất cả, không một pháp nào có thể vượt ra ngoài cõi hư không này. Pháp quán này dùng sự trông sự, khiến quán lí của toàn sự đều có thể tùy pháp đồng sự mà thấy được mỗi mỗi pháp, sự của toàn lí cũng có thể tùy pháp đồng lí mà có thể bao dung tất cả. Nương vào sự sự trùm khắp thì có thể dung nhiếp, giao thoa nhau một cách tự tại, một nhiều không ngại, lớn nhỏ dung thông. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Pháp giới huyền kính Q.thượng; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Tứ Pháp Giới).
tam trùng thất cá pháp môn
(三重七個法門) Cũng gọi Giáo hành chứng tam phần. Bảy pháp môn được lí giải theo 3 lớp Giáo, Hành, Chứng, là giáo pháp khẩu truyền của tông Thiên thai Nhật bản. Thất cá pháp môn(7 cái pháp môn)gồm có 4 pháp khẩu truyền là: Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên, Chỉ quán đại chỉ và Pháp hoa thâm nghĩa. Nội dung của Pháp hoa thâm nghĩa lại được chia làm 3 pháp lớn nữa là: Viên giáo tam thân, Liên hoa nhân quả và Thường tịch quang độ, cộng chung thành 7 pháp môn. Phương pháp để hiểu các pháp môn này gồm Tam trùng là: Giáo trùng(lời dạy của các Tổ sư lưu lại bằng văn tự), Hành trùng(Phương pháp thực hành của các Tổ sư) và Chứng trùng(sự thực hành và thể hội trong nội tâm của hành giả), vì thế nên gọi là Tam trùng thất cá pháp môn.
Tam trú (trụ)
三住; C: sānzhù; J: sanjū; S: trayo vihārāḥ; P: tayo vihārā.|Ba chỗ trú của tâm: Thiên trú, Phạm trú và Huệ trú. Nói một cách khác: Ba chỗ an trú thiện hảo của tâm (theo Du-già luận 瑜伽論).
tam trướng vật
(三長物) Chỉ cho vật dư thừa mà tỉ khưu không nên cất giữ. Đó là: 1. Y trướng vật: Áo dư. Phật qui định người xuất gia chỉ được phép có 3 áo, ngoài ra không được cất giữ. 2. Bát trướng vật: Bát dư. Phật chế định người xuất gia chỉ được phép có một cái bát, ngoài ra không được cất giữ. 3. Dược trướng vật: Thuốc dư. Phật qui định nếu tỉ khưu bị bệnh chỉ được phép cất giữ số thuốc đủ dùng trong 7 ngày, không được quá số đó. Sở dĩ đức Phật chế định điều giới này là vì Lục quần tỉ khưu tích trữ nhiều áo để làm đẹp, trái với phép tắc của người thiểu dục tri túc(ít muốn, biết đủ), đến nỗi khiến người đời chê cười. Bởi vậy, đức Phật qui định trong vòng 10 ngày phải đem các vật dư thừa ngoài 3 áo, 1 bát bố thí cho người khác. [X. luật Ma ha tăng kì Q.8; Tứ phần luậttỉ khưu hàm chú giới bảnQ.thượng; Tứ phần luật sớ hành tông kí Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2].
tam trường trai nguyệt
575又作三長月、三齋月、善月、神足月、神通月、神變月。指正月、五月、九月等三個月長期間持齋。過午不食,稱為齋。外道有以終日不食為戒,世間之人又有飲食無度,放逸自恣者,皆不得中道。佛令比丘日中一食,清淨自活,端肅身心,安禪入道,以為修行之常法。 此等持齋之法,本無月日之數,據釋氏要覽卷下、四天王經等所載,言正、五、九為齋月,因天帝釋及四天王等,於此月察人善惡,人當食素持齋以修善福,此亦如來之隨機攝化善巧方便。(一)正月,天帝釋以大寶鏡,正月照南贍部洲,察人善惡。又北方毘沙門天王巡察四洲,正月在南洲,亦如鏡之所照,故南洲人宜於此月食素持齋修善。(二)五月,天帝釋以大寶鏡,從正月照南贍部洲,二月照西瞿耶尼,三月照北鬱單越,四月照東弗于逮,至五月復照此洲(南贍部洲)。北方毘沙門天王,五月亦復至南洲。(三)九月,天帝釋從五月照南贍部洲,六月、七月、八月次第輪照,察餘之三洲,九月又復照此洲,北方毘沙門天王亦然。據釋門正統卷四載,唐代之時,三長齋之法極為盛行,在此三月,國不行刑,不殺畜類,稱為斷屠月、斷月。〔梵網經卷下、敕修百丈清規卷上祝釐章善月條、四分律行事鈔資持記卷下之三〕
; (三長齋月) Cũng gọi Tam trường nguyệt, Tam trai nguyệt, Thiên nguyệt, Thần túc nguyệt, Thần thông nguyệt, Thần biến nguyệt. Ba tháng trường trai. Chỉ cho tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 âm lịch. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ và kinh Tứ thiên vương... thì tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 là các tháng trai, vì vào các tháng này, trời Đế thích và Tứ thiên vương xuống nhân gian xem xét việc thiện ác của loài người, bởi thế, người ta nên ăn chay trì trai để tu phúc thiện, đây cũng là phương tiện khéo léo tùy cơ nhiếp hóa của Như lai. 1. Tháng giêng: Vào tháng này, trời Đế thích dùng gương báu lớn chiếu soi châu Nam thiệm bộ, xem xét các việc thiện ác của con người. Còn Tì sa môn thiên vương ở phương bắc thì đi tuần tra 4 châu, vào tháng giêng đến châu Nam, cũng dùng gương chiếu soi, vì vậy, vào tháng này, người châu Nam nên ăn chay trì trai tu phúc thiện. 2. Tháng 5: Từ tháng giêng, trời Đế thích dùng gương báu lớn chiếu soi châu Nam thiệm bộ, tháng 2 chiếu soi châu Tây cù da ni, tháng 3 chiếu soi châu Bắc uất đơn việt, tháng 4 chiếu soi châu Đông phất vu đãi, đến tháng 5 thì trở lại chiếu soi châu Nam thiệm bộ lần thứ hai. Tì sa môn thiên vương phươngbắc, tháng 5 cũng trở lại tuần tra châu Nam. 3. Tháng 9: Từ tháng 5, trời Đế thích chiếu soi châu Nam thiệm bộ, tháng 6, tháng 7 và tháng 8 lần lượt chiếu soi 3 châu kia, đến tháng 9 lại trở lại chiếu soi châu Nam, Tì sa môn thiên vương phương bắc cũng thế. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 thì vào đời Đường pháp Tam trường trai nguyệt rất thịnh hành, vào3tháng này, trong nước không thi hành án tử hình, không giết súc vật, gọi là Đoạn đồ nguyệt, Đoạn nguyệt. [X. kinh Phạm võng Q.hạ; điều Thiện nguyệt chương Chúc li Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3].
tam trường vật
575指比丘不該持有之三物。即:(一)衣長物,出家人依佛制只許蓄三衣,三衣之外若更再有,稱為衣長物。(二)鉢長物,出家人依佛制只許蓄一鉢,一鉢之外若更再有,稱為鉢長物。(三)藥長物,出家人若染疾病,依佛制只許預存七日之藥,若更再有,稱為藥長物。 佛之所以制定此一戒律,乃因六群比丘多蓄衣物,以莊嚴其身,與少欲知足之禮儀有違,以致引起世人非議。故佛限定十日之內,將三衣以外多餘之長物施與他人。故凡不屬於自己所有者,稱為說淨;布施之長物,稱為清淨物。〔摩訶僧祇律卷八、四分律比丘含註戒本卷上、四分律疏行宗記卷十二、四分律行事鈔資持記卷中之二〕
tam trọng niệm phật
591日本淨土宗於念佛所作之三種分類。<一>依正行、雜行、助業、正業之分別與否,而將念佛類分為如下三種:(一)諸師所立之念佛,指淨影、天台等所立者。未分別正雜助正,即萬行隨一之念佛。(二)本願念佛,善導所立。即分別正雜助正,以正業稱名念佛為本願之行。(三)選擇本願念佛,日僧源空所立。於本願念佛之上加「選擇」二字,立念佛為本願,即明選擇取捨之結果。〔選擇傳弘決疑鈔卷一〕 <二>依「事理觀稱」之不同,而將念佛分為:(一)摩訶止觀之念佛,(二)往生要集之念佛,(三)善導勸化之念佛等三種類別。〔決答授手印疑問鈔卷上、決問疑問銘心鈔卷上〕
tam trọng pháp giới
592指一切眾生身心之本體。華嚴宗本立四種法界,為與能觀之智對應,故別立三重法界,即:(一)理法界,即統攝萬物形成之理體。物質世界森羅萬象,但其理體不變;換言之,事法界是由因緣生起之差別現象,其生滅變遞皆歸於空。就物之本體而言,是無生滅、無增減,為永劫不變之絕對理體,而宇宙萬有如如不動之本體界即是理法界。此理法界超出人之思慮與言詮,勉強定名為空,然此空亦非絕對之境地。(二)理事無礙法界,即指本體與現象相即相入之法界,二者交相融貫,事若無理則不成,理若無事則不顯,事理可謂空有性相之異稱,由於理事融貫交徹,而成為理事無礙法界。(三)事事無礙法界,即宇宙一切事物均有統一性、延續性與包容性,於此範疇之下,無時空限制,法與法之間互緣融通,相資相成。宇宙間每一現象皆為本體,本體亦可變為一一之現象,則整個宇宙收攝於一個現象之中,一即一切,一切即一,相即相入,重重無盡,超越是非善惡之價值觀,而為圓滿平等之境界。(參閱「四法界」1717)
tam trọng quán môn
592指真空、理事與事事無礙三觀,乃華嚴宗所立。華嚴初祖杜順開顯實踐修行之觀門,建立三觀,用以彰顯觀行,悟入一真法界。全稱三重法界觀門。又作三重觀、法界三觀。即:(一)真空觀,為四法界中之理法界。真者以無虛妄念慮為真,空者以無形質妨礙色相為空。因凡夫見色誤認為實,見空誤認為斷空,以致困於迷途而不證得。今開真空觀,使觀色非實色,而舉體為真空,觀空非斷空,舉體是幻色,始得免除一切情塵之束縛,而達空色無礙之境界。 (二)理事無礙觀,即理事無礙法界。首先以理鎔於事,最後則以事融於理,使理事二而不二,不二而二,是為無礙。對真空之理可見,然對事卻未能盡了,故開啟理事無礙,使不可分之理均能圓融互攝於一塵,而可分限之事亦能通遍於法界,各種事理均能炳現無礙,雙融相即。理事無礙屬於境所觀之範圍,心則為能觀之主體。若僅觀於諸事相,將會引起世俗之心,而執著於享樂之境。若僅觀於理,必引起出世之心,則恐局囿於喜愛無漏小果之境。理與事並觀,以達到鎔融無礙之境界,使心無所偏執,自能悲智相導,而成就無住行,證入無住處。 (三)周遍含容觀,即事事無礙觀。周遍是普及一切色及非色處,含容即包含無外,無一法能超出此虛空之界。此觀以事望事,使觀全事之理均能隨同事法而一一可見,全理之事亦能隨同理法而一一可容。就事事能遍能攝,交參自在,則一多無礙,大小相容。〔華嚴法界觀門、大方廣佛華嚴經疏卷二、法界玄鏡卷上、華嚴經隨疏演義鈔卷十〕(參閱「四法界」1717)
tam trọng thất cá pháp môn
591又作教行證三分。乃根據教、行、證三重而理解之七個法門。係日本天台宗之教法,為與本覺、始覺之口傳同時受到重視之口傳教法。其口傳教法之要目有:一心三觀、一念三千、止觀大旨、法華深義等廣傳四個大事,而法華深義之內容又分為:圓教三身、蓮華因果、常寂光土等略傳三個大事,合計為七個法門。其理解之方法,有根據祖師著述之文字面所知者(教重),與根據祖師著述之實踐法而得知者(行重),以及經過實踐,在內心所體會(證重)等三重,故稱為三重七個法門。
tam tu
594據北本涅槃經卷二載,有勝劣二種三修。(一)劣三修,謂聲聞所修比於菩薩所修為劣,三修即:(1)無常修,聲聞之人不知法身常住之理,而觀三界一切有為之法皆悉生滅無常。(2)非樂修,聲聞之人不知諸法之中本有涅槃寂滅之樂,而觀一切諸法悉皆是苦。(3)無我修,聲聞之人不知自在無礙之真我,而觀五陰等法皆空無我、無我所。 (二)勝三修,菩薩依佛勝教而修,以破聲聞所執之劣修,故稱勝三修。三修即:(1)常修,常即不遷不變。菩薩了知法身之體本來常住,無滅無生。以破聲聞之人所執之無常。(2)樂修,樂即安隱寂滅。菩薩了知諸法之中有涅槃寂滅之樂。以破聲聞之人所執之「一切皆苦」。(3)我修,我即自在無礙。菩薩了知無我法中而有真我,得大自在,無有障礙。以破聲聞之人所執之「無我、無我所」。
; The three ways of discipline, i.e. three sràvaka thanh văn and three bodhisattva ways. The three sràvaka ways are vô thường tu no realization of the eternal, seeing everywhere as transient; phi lạc tu joyless, through only contemplating misery and not realizing the ultimate nirvàna joy; vô ngã tu non ego discipline, seeing only the perishing self and not realizing the immortal self. The bodhisattva three are the opposite of these.
; (三修) Chỉ cho ba lối tu. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) thì Tam tu có 2 thứ: Liệt tam tu và Thắng tam tu. 1. Liệt tam tu: Ba lối tu của hàng Thanh văn yếu kém hơn so vớilối tu của Bồ tát nên gọi là Liệt tam tu. Đó là: a. Vô thường tu: Hàng Thanh văn không biết lí pháp thân thường trụ, cho nên quán hết thảy các pháp hữu vi trong 3 cõi đều là sinh diệt vô thường. b. Phi lạc tu: Hàng Thanh văn không biết rằng trong các pháp vốn có cái vui của Niết bàn tịch diệt, cho nên quán tất cả các pháp thảy đều là khổ. c. Vô ngã tu: Hàng Thanh văn không biết đến cái chân ngã tự tại vô ngại, cho nên quán pháp 5 ấm đều là không, không có ngã và ngã sở. 2. Thắng tam tu: Ba lối tu của hàng Bồ tát theo giáo pháp thù thắng của Phật để phá trừ lối liệt tu mà hàng Thanh văn chấp trước nên gọi Thắng tam tu. Đó là: a. Thường tu: Bồ tát rõ biết thể của pháp thân xưa nay vốn thường trụ bất biến, chẳng diệt chẳng sinh để phá trừ cái vô thường mà Thanh văn chấp trước. b. Lạc tu: Bồ tát rõ biết trong các pháp có niềm vui của Niết bàn vắng lặng, cho nên lạc tu để phá trừ cái thấy tất cả đều khổ mà hàng Thanh văn chấp trước. c. Ngã tu: Bồ tát rõ biết trong các pháp vô ngã có cái chân ngã, được đại tự tại, không có chướng ngại, cho nên ngã tu để phá trừ kiến giải vô ngã, vô ngã sở mà hàng Thanh văn cố chấp.
tam tu học ☸ bồ tát tam tu học
〖出菩薩纓絡本業經〗〔一、百劫頂寂定中修諸三昧〕,劫,梵語具云劫波,華言分別時節。梵語三昧,華言正定。頂寂定者,在眾定之上,故名頂也。謂等覺菩薩住頂寂定,以大願力,住壽百劫,修一切三昧已,入金剛三昧,與一切法性相應相冥而得一合相也。(等覺者,去佛之位一等也。金剛三昧者,金剛最堅至利,謂入此三昧,則一切諸惑無不斷也。)〔二、千劫金剛定中學諸威儀〕,謂等覺菩薩復住壽千劫,學佛一切威儀,象王觀視,師子遊步,修佛無量不可思議神通化導之法,皆現在前,入佛行處,坐佛道場也。〔三、萬劫大寂定中學佛化行〕,謂等覺菩薩復住壽萬劫,學佛教化之行,現諸色相,教化眾生。復現同諸佛常行中道大樂無為也。
tam tuyên tam nhất
579指唐代四分律宗之六宗匠。即相部宗之祖法礪傳道成,道成傳懷素,懷素傳法慎,法慎傳靈一、義宣,而義宣與慧宣、德宣並稱晉陽三宣,靈一與會稽之曇一、閩川之懷一齊名,後世遂稱三宣三一。
; (三宣三一) Ba Tuyên ba Nhất. Chỉ cho 6 vị tông tượng của tông Tứ phần luật đời Đường, Trung quốc. Tam tuyên chi cho 3 vị: Nghĩa tuyên, Tuệ tuyên và Đức tuyên, gọi chung là Tấn dương tam tuyên. Còn tam nhất thì chỉ cho 3 vị: Linh nhất, Đàm nhất và Hoài nhất. Hệ thống truyền thừa như sau: Tổ của Tướng bộ tông là Đại sư Pháp lệ truyền cho ngài Đạo thành, Đạo thành truyền cho ngài Hoài tố, Hoài tố truyền cho ngài Pháp thận, Pháp thận truyền cho ngài Linh nhất và Nghĩa tuyên, Nghĩa tuyên truyền cho ngài Tuệ tuyên và Đức tuyên; còn Linh nhất thì ngang hàng với ngài Đàm nhất ở Cối kê và Hoài nhất ở Mân xuyên, cho nên đời sau mới gọi là Tam tuyên tam nhất.
tam tuệ
The three modes of attaining moral wisdom: Văn tuệ from reading, hearing, instruction; Tư tuệ from reflection, etc.; Tu tuệ from practice (of abstract meditation).
; (三慧) Phạm: Tisra# prajĩà#. Chỉ cho 3 thứ tuệ có khả năng phân biệtsựlí các pháp. Đó là: 1. Văn tuệ (Phạm:Zrutamayì prajĩà): Tuệ do nghe từ 3 tạng 12 phần giáo hoặc từ thiện tri thức mà biết; tuệ này có khả năng sinh ra Thánh tuệ vô lậu, vì thế gọi là Văn sở thành tuệ(tuệ do chỗ nghe mà thành). Đây là tuệ do Thanh văn thành tựu được. 2. Tư tuệ (Phạm:Cintàmayì prajĩà): Thánh tuệ vô lậu sinh ra từ sự tư duy về đạo lí đã nghe, đã thấy. Tuệ này do Duyên giác thành tựu. 3. Tu tuệ (Phạm: Bhàvanàmayì prajĩà): Thánh tuệ vô lậu nương vào sự tu tập mà phát sinh; tuệ này do Bồ tát thành tựu được. Trong Tam tuệ thì Văn tuệ là nhân, nếu chúng sinh thụ trì chuyển đọc, truyền bá rốt ráo các kinh tạng thì phát sinh Tuệ; nương theo Văn tuệ này thì phát sinh Tư tuệ; nương vào Tư tuệ mà có Tu tuệ. Đây là tiến trình đoạn trừ phiền não, chứng đắc Niết bàn, giống như nương vào hạt giống mà nảy mầm, từ mầm mà sinh ra thân, từ thân chuyển sinh ra cành lá, hoa quả. Cho nên 2 tuệ trước là tán trí, chỉ là trợ duyên để phát khởi Tu tuệ; Tu tuệ thì là định trí, có đủ tác dụng đoạn hoặc chứng lí. Nếu nói theo giai vị của Bồ tát Đại thừa thì Thập trụ được Văn tuệ, Thập hành được Tư tuệ và Thập hồi hướng được Tu tuệ. Còn nói theo giới hệ của Tì đàm thì Dục giới có Văn tuệ và Tư tuệ, vì Dục giới là cõi bất định, không phải nơi tu hành, cũng không phải nơi lìa nhiễm, nếu khi muốn tu thì rơi vào Tư tuệ, cho nên Dục giới không có tuệ do tu mà thành. Sắc giới có Văn tuệ và Tu tuệ, còn Vô sắc giới thì chỉ có tuệ do tu mà thành; vì Sắc giới và Vô sắc giới là các cõi định, là những nơi tu hành, cũng là những nơi lìa nhiễm, nếu khi muốn tư duy thì đã rơi vào trong tu rồi, cho nên ở Sắc giới và Vô sắc giới không có tuệ do Tư mà thành. Hơn nữa, ở cõi Vô sắc không dùng căn tai để lắng nghe Phật pháp, cho nên không có tuệ do Văn mà thành. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Du già sư địa Q.28; luận Thành thực Q.16; luận Tập dị môn túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.22; Phật địa kinh luận Q.1].
tam tuệ kinh
(三慧經) Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này do thu chép các nhân duyên, pháp nghĩa trong các kinh luận mà thành, tất cả có hơn 60 điều, có thể làm kim chỉ nam cho sự tu dưỡng của tín đồ Phật giáo. Chính vua Lương vũ đế đã từng giảng kinh này ở chùa Đồng thái. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].
tam tuỳ miên
685又作三使。隨眠,梵語 anuśaya,意即煩惱。菩薩於十地之中所斷除之煩惱,隨其粗細,可分為三種,即:(一)害伴隨眠,又作害伴使煩惱、害伴、害伴使。此煩惱為三者中之最粗者,屬十地中之前五地所斷除。前五地中,諸不俱生現行之煩惱為俱生煩惱現行之助伴,故稱害伴隨眠。據大乘法苑義林章卷一末載,與第六識相應之身見俱起之貪、瞋、癡等煩惱,稱為俱生,其餘之煩惱則稱不(非)俱生;不俱生之煩惱其體稍粗,為俱生煩惱現行之助伴,故稱害伴。(二)羸劣隨眠,又作薄使煩惱、羸使。乃與第六識相應俱生之煩惱、所知二障之現行,亦即於第六、第七二地現行的微細羸劣之煩惱;若起伏道時即不現行,不起伏道時則微細現行。對前之害伴隨眠而言,其相稍微細,故稱羸弱。(三)微細隨眠,又作微細使煩惱、細微使、細使。乃與第七識相應的所知障之現行,即斷除害伴隨眠、羸劣隨眠之後所殘餘之習氣,此煩惱於三者之中最為細微,乃第八地以上所斷除;若此煩惱亦已斷除,則一切煩惱不復現行。〔解深密經卷四、深密解脫經卷五、相續解脫地波羅蜜了義經、瑜伽師地論卷七十八、成唯識論樞要卷上本、唯識章私記卷六末〕(參閱「隨眠」6351)
tam tuỳ phiền não
685謂昏煩惱亂之法,長時隨逐不捨,故稱隨煩惱。據華嚴經隨疏演義鈔卷三十四舉出三種隨煩惱,即:(一)小隨煩惱,指忿、恨、覆、惱、嫉、慳、誑、諂、憍、害等十種煩惱;此十種煩惱各別起行,且僅為局部而起,故稱小隨煩惱。(二)中隨煩惱,指無慚、無愧二種煩惱;此二種煩惱相互俱生,非為各別起行,通於前述之忿、恨、覆、惱等煩惱,然徧於不善法中,故稱中隨煩惱。(三)大隨煩惱,指掉舉、昏沉、不信、懈怠、放逸、散亂、不正、失念等八種煩惱;此八種煩惱不僅相互俱生,且皆徧染,故稱大隨煩惱。
tam tà hạnh
557<一>俱舍論卷十七於色業(即身、語業),別立如下三種邪行:(一)邪語,由瞋、癡所生之語業。(二)邪業,由瞋、癡所生之身業。(三)邪命,由貪欲所生之身、語二業。大毘婆沙論卷一一六(大二七‧六○五中):「云何邪命難可淨除?謂有二法難除難捨,即在家者邪見,及出家者邪命。諸在家人雖極聰慧,受持五戒,若苦所逼,則以種種香花飲食祠禱天神。諸出家人雖極聰慧,受持具戒,資身命緣繫屬他故,見施主時,便整威儀,現親善相,是故別說邪命、正命。」 <二>成實論卷七立三種違背正道之業行,即:(一)身邪行,(二)口邪行,(三)意邪行。成實論卷七邪行品(大三二‧二九五下):「身所造惡,名身邪行。是邪行有二種:一十不善道所攝,如殺、盜、邪婬。二不攝,如鞭杖、繫縛、自婬妻等,及不善道前後惡業(中略)。口所造惡業,名口邪行,是中亦有二種,若人決定問時,現前誑他,是不善道所攝。餘名不攝,貪、恚、邪見等是意邪行。」〔大乘義章卷七〕
; (三邪行) I. Tam Tà Hạnh. Chỉ cho 3 thứ tà hạnh mà luận Câu xá quyển 17 căn cứ vào Sắc nghiệp (tức thân nghiệp, ngữ nghiệp) để lập riêng ra như sau: 1. Tà ngữ: Ngữ nghiệp do sân, si sinh ra. 2. Tà nghiệp: Thân nghiệp do sân, si sinh ra. 3. Tà mệnh: Thân nghiệp, ngữ nghiệp do tham dục sinh ra. Luận Đại tì bà sa quyển 116 (Đại 27, 605 trung) nói: Tại sao tà mệnh khó trừ sạch? Vì có 2 pháp khó bỏ: Tức người tại gia tà kiến và người xuất gia tà mệnh.Người tại gia tuy rất khôn ngoan, thụ trì 5 giới, nhưng nếu bị khổ bức bách thì đem các thứ hương thơm, hoa tươi và thức ăn uống đến cúng tế, cầu đảo trời, thần. Những người xuất gia tuy rất thông minh, thụ trì giới Cụ túc, nhưng vì điều kiện sinh sống lệ thuộc người khác, cho nên khi thấy thí chủ thì uy nghi tề chỉnh, hiện tướng thân thiện, vì thế mà phân biệt tà mệnh và chính mệnh. II. Tam Tà Hạnh. Chỉ cho 3 thứ hành nghiệp trái với chính đạo nói trong luận Thành thực quyển 7. Tức là Thân tà hành, Khẩu tà hành và Ý tà hành. Phẩm Tà hành trong luận Thành thực quyển 7 (Đại 32, 295 hạ) nói: Các việc ác do thân tạo tác gọi là Thân tà hành. Tà hành này có 2 loại: Một là thuộc về 10 đạo bất thiện, như giết hại, trộm cắp, gian dâm... Hai là không thuộc về 10 đạo bất thiện, như roi gậy, trói buộc, làm dâm với vợ mình... và các nghiệp ác khác (...). Các nghiệp ác do miệng gây ra, gọi là Khẩu tà hành, trong đó cũng có 2 loại: Nếu khi người quyết định hỏi thì hiện tiền dối lừa người khác, đó thuộc về đạo bất thiện; còn tham, sân, tà kiến... thì là Ý tà hành. [X. Đại thừa nghĩa chương].
tam tài phối tam thế gian
527即以天、地、人三才配三種世間:(一)天配正覺世間,天道廣大,包萬象以無餘;佛智弘深,極十方而普照,故以天配正覺世間。(二)地配器世間,地能含藏、負載,為世界所依;十方世界無邊剎土,亦為一切有情眾生所依,故以地配器世間。(三)人配眾生世間,人為六道眾生之一,人與眾生皆有覺知之性,故以人配眾生世間。〔華嚴經隨疏演義鈔卷一〕(參閱「三世間」539)
; (三才配三世間) Tam tài là trời, đất và người được phối hợp với 3 loại thế gian. 1. Trời phối với Chính giác thế gian: Đạo trời to lớn, bao quát muôn tượng không sót; trí Phật sâu rộng, chiếu rọi khắp 10 phương, vì thế trời được phối hợp với Chính giác thế gian. 2. Đất phối với khí thế gian: Đất có khả năng chứa đựng, chuyên chở, là chỗ nương của thế giới; thế giới vô biên trong 10 phương cũng là chỗ nương của tất cả hữu tình chúng sinh, vì thế đất được phối hợp với khí thế gian. 3. Người phối với chúng sinh thế gian: Người là 1 trong các loài chúng sinh thuộc 6 đường; người và chúng sinh đều có tính biết, vì thế người được phối hợp với Chúng sinh thế gian. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.1]. (xt. Tam Thế Gián).
tam tánh
Là thiện, ác, vô ký (phi thiện phi ác) gọi chung là tam tánh. Còn tam tánh của Duy-thức tông là biến-kế-chấp (chấp trước), y-tha-khởi (nhân duyên), viên-thành-thật (Phật tánh).
; Là thiện, ác, vô ký (phi thiện, phi ác), gọi chung là tam tánh. Còn tam tánh của Duy Thức tông làm Biến kế chấp (chấp trước), Y tha khởi (nhân duyên), Viên thành thật (Phật tánh).
; Three types of characters. (A) 1) Tốt: good. 2) Xấu: Bad. 3) Trung Tính: Không tốt không xấu—Undefinable (neutral). (B) See Biến Y Viên.
; (三性) Cũng gọi Tam tự tính, Tam tính tướng, Tam chủng tự tướng, Tam tướng. I. Tam Tính. Chỉ cho 3 tính tướng của hết thảy các pháp. Đây là chủ trương trọng yếu của học phái Duy thức tại Ấn độ, là giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng ở Trung quốc. Nghĩa là đứng trên lập trường hữu vô hoặc giả thật mà chia bản tính và trạng thái(tính tướng) của tất cả sự tồn tại làm 3 loại, gọi là Tam tính. Học phái Duy thức ở Ấn độ căn cứ vào sự thuyết minh trong phẩm Nhất thiết pháp tướng của kinh Giải thâm mật quyển 2 mà chủ trương Tam tính không có tự tính và gọi là Tam vô tính. Chủ trương này về sau trở thành một trong các giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng Trung quốc, đồng thời, cũng được tông Hoa nghiêm thu dụng. 1. Theo thuyết của tông Pháp tướng, Tam tính là: a. Biến kế sở chấp tính (Phạm: Parikalpita-svabhàva), cũng gọi Hư vọng phân biệt tướng, Phân biệt tính. Đối với các pháp vốn không có thực thể mà lại cho là thực ngã, thực pháp rồi khởi tâm vọng chấp, đó là Năng biến kế, còn cái đối cảnh bị thức chấp thì gọi là Sở biến kế. Nói cách khác, do thức (Năng biến kế) và cảnh(Sở biến kế) này mà nhận lầm sự tồn tại ngoài tâm có thực thể, sự nhận lầm ấy gọi là Biến kế sở chấp tính. Vì cái tướng trạng tồn tại ấy là do tâm mê mà hiện ra cho nên thuộc về pháp đương tình hiện tướng. Đứng về phương diện chân lí mà nhận xét thì tính này thuộc về pháp tình hữu lí vô chẳng phải có thật, là pháp thể tính đô vô, hoàn toàn không có thực thể. Về tính Biến kế sở chấp, các Luận sư Ấn độ có nhiều thuyết khác nhau, tông Pháp tướng theo quan điểm của ngài Hộ pháp. Về Năng biến kế thì ngài An tuệ cho rằng tất cả 8 thức hữu lậu đều thuộc Năng biến kế, còn ngài Hộ pháp thì chủ trương chỉ có thức thứ 6 và thức thứ 7 thuộc về Năng biến kế mà thôi. Còn về Sở biến kế thì ngài Nan đà cho đó là đương tình hiện tướng của thực ngã thực pháp, nhưng ngài Hộ pháp thì cho đó chỉ là tự ngã tự pháp (dường như ngã dường như pháp) của tính Y tha khởi; nếu nói theo quan điểm đối tượng từ chân như không thể trở thành là mê tình thì không thể coi đó là sở biến kế; nhưng nói theo quan điểm bản thể tồn tại từ Y tha khởi thì cũng có thể gọi là Sở biến kế. Ngoài ra, về Biến kế sở chấp thì ngài An tuệ chủ trương đó là Kiến phần và Tướng phần, còn ngài Hộ pháp thì cho rằng, trong Kiến phần và Tướng phần thì cái đương tình hiện tướng nương vào mê tình mà khởi mới là Biến kế sở chấp. b. Y tha khởi tính (Phạm: Paratantra-svabhàva), cũng gọi Nhân duyên tướng, Y tha tính. Tha tức chỉ cho pháp do các duyên sinh khởi. Vì là pháp duyên hợp thì sinh, duyên hết thì diệt, nên nó hư giả như huyễn, chứ chẳng phải thực tại cố định vĩnh viễn bất biến, bởi thế nói là như huyễn giả có giả có thật không, nhưng đây chẳng phải là mê tình do Biến kế sở chấp mà có, nhưng là nhờ các trợ duyên mà sinh, cũng tức là lí có tình không lìa vọng tình mà tự có. Tính này có 2 phần là Nhiễm phần y tha khởi và Tịnh phần y tha khởi khác nhau. Nhiễm phần chỉ cho tất cả pháp hữu lậu và Tịnh phần chỉ cho tất cả pháp vô lậu. Nhưng Tịnh phần y tha là nói theo ý nghĩa xa lìa phiền não, còn tính Tịnh phần y tha thì bao hàm trong tính Viên thành thực, cho nên Nhiễm phần y tha chính là tính Y tha khởi vậy. c. Viên thành thực tính (Phạm: Pariniwpanna-svabhàra), cũng gọi Đệ nhất nghĩa tướng, Chân thực tướng. Thể chân thực(chân như)của tính Y tha khởi trùm khắp tất cả pháp(viên mãn), chẳng sinh chẳng diệt(thành tựu), thể tính chân thật (chân thực), cho nên gọi là Viên thành thực. Chân như lìa tất cả tướng(vô tướng), bản thể của tất cả pháp thảy đều chân thực, vì thế nên thuộc về Chân không diệu hữu; lại vì tính này chỉ có thể nhờ trí tuệ giác ngộ chân lí mới biết được nên thuộc về lí hữu tình vô. Ba tính trên đây có mối quan hệ bất tức bất li(chẳng tức là nhau cũng chẳng lìa nhau). Nếu dùng 3 vật là con rắn, sợi dây và gai làm ví dụ thì như người ngu (Năng biến kế) trong đêm tối thấy sợi dây, tin đó là con rắn thật(tính Biến kế sở chấp đối với tướng ngã chân thật)nên sinh tâm sợ hãi; sau, được người hiểu biết(Phật, Bồ tát) chỉ bảo cho mới biết chẳng phải rắn(sinh không) mà chỉ là sợi dây giống như con rắn(tức sự có giả của tính Y tha). Lại tiến thêm bước nữa là hiểu rõ thực tế sợi dây mà mình chấp trước(tính Biến kế sở chấp đối với tướng pháp chân thật) cũng không có ý nghĩa thực thể(pháp không) mà bản chất của nó là gai (tính Viên thành thực); sợi dây(tính Y tha khởi) chỉ là hình thái nhân duyên giả hợp do gai bện thành mà thôi. 2. Theo thuyết của tông Hoa nghiêm: Tam tính cũng giống như Tam tính của tông Pháp tướng nhưng lập trường thì khác nhau. Tức tông Pháp tướng đứng trên lập trường Tính tướng cách biệt, nghĩa là căn cứ vào điểm khác nhau giữa tính chất và trạng thái của tất cả sự vật mà lập thuyết Tam tính. Trái lại, tông Hoa nghiêm thì đứng trên lập trường Tính tướng viên dung mà luận về Tam tính. Tức trên căn bản, tông Hoa nghiêm cho rằng hết thảy sự tồn tại(các pháp) đều từ chân như hiển hiện. Tức chân như của tính Viên thành thực có 2 nghĩa là bất biến và tùy duyên. Bất biến nghĩa là xa lìa sự sinh diệt biến hóa, tùy duyên là theo duyên nhiễm tịnh mà mỗi cái tồn tại. Tính Y tha khởi nói về mặt thể thì là chân như, vì nó siêu việt sinh diệt nên thuộc vô tính, nhưng lại do nhân duyên mà sinh, cho nên thuộc tự hữu (tựa như có). Còn tính Biến kế sở chấp là do phàm phu vọng tình chấp trước ngoài tâm có thực ngã thực pháp tồn tại, cho nên thuộc về tình hữu(do mê tình mà có); nhưng tướng ngã, pháp ấy đối với lí thì hoàn toàn không có, nên thuộc lí vô. Bất biến, Vô tính, Lí vô, gọi là Bản tam tính; còn Tùy duyên, Tự hữu, Tình vô gọi là Mạt tam tính. Về sự giống nhau và khác nhau giữa 3 tính, nói theo ý nghĩa Bản tam tính thì tất cả hiện tượng(các pháp) của Chân như tùy duyên tức là Chân như, vì thế Tam tính không khác nhau; còn nói theo ý nghĩa Mạt chân như thì vì chân như theo duyên mà thành các pháp, cho nên Tam tính cũng không khác nhau. Nhưng nếu nói theo ý nghĩa các pháp tức Chân như của Bản tam tính và Chân như tức các pháp của Mạt tam tính thì ý nghĩa tam tính Bản, Mạt có khác nhau. 3. Theo thuyết của luận Nhiếp đại thừa do ngài Chân đế dịch: Tính Phân biệt là chỉ cho cảnh Sở phân biệt, tính Y tha là chỉ cho thức Năng phân biệt, mà cảnh của tính Phân biệt này là Vô, vì thế tính Y tha cũng bất khả đắc, bất khả đắc là tính chân thực của Hữu. [X. kinh Giải thâm mật Q.2; luận Thành duy thức Q.8; Duy thức tam thập tụng; luận Du già sư địa Q.74; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Tam vô tính Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (bản dịch đời Đường); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Tam Vô Tính, Tứ Phần). II. Tam Tính. Về mặt tính chất, tất cả các pháp được chia làm 3 tính là thiện, bất thiện và vô kí. 1. Thiện(Phạm:Kuzala): Pháp có năng lực mang lại lợi ích cho đời này và đời sau. Theo luận Câu xá quyển 13, Thiện có 4 loại:a. Thắng nghĩa thiện: Tức chân giải thoát, trạch diệt niết bàn. Niết bàn an ổn, trong tất cả các pháp, thể của niết bàn là tôn quí nhất. b. Tự tính thiện: Tức hổ, thẹn và 3 căn lành không tham, không sân, không si. Không đợi tương ứng và các đẳng khởi khác mà thể tính vốn đã là thiện, giống như thuốc hay. c. Tương ứng thiện: Không tương ứng với hổ, thẹn... thì không trở thành tính thiện, như nước lẫn với thuốc. d. Đẳng khởi thiện: Pháp do tự tính thiện và tương ứng thiện cùng khởi lên một lượt, như bò uống nước cam thảo cho ra sữa ngon ngọt. Câu xá luận quang kí quyển 2 thì chia Thiện làm 3 loại: Đắc, Gia hành(nghe, suy nghĩ, tu hành) và Vô lậu(học, vô học và thắng nghĩa). 2. Bất thiện (Phạm:A-kuzala), cũng gọi Ác. Chỉ cho pháp có khả năng gây tổn hại cho đời này và đời sau. Theo luận Câu xá quyển 13, Bất thiện có 4 loại: a. Thắng nghĩa bất thiện: Tức pháp sinh tử. Các pháp trong sinh tử đều lấy khổ làm tự tính, rất không an ổn, giống như căn bệnh kinh niên. b. Tự tính bất thiện: Chỉ cho không hổ, không thẹn và 3 căn xấu xa tham, sân, si trong các pháp hữu lậu; thể tính của chúng là ác, giống như thuốc độc. c. Tương ứng bất thiện: Tâm, tâm sở ứng hợp với tự tính ác, giống như trong nước có lẫn chất độc. d. Đẳng khởi bất thiện: Pháp do tự tính bất thiện và tương ứng bất thiện cùng khởi lên một lượt, giống như sữa từ thuốc độc rót ra. 3. Vô kí (Phạm: A-vyàkfta): Chẳng phải thiện, chẳng phải ác, không thể ghi là thiện hay bất thiện, cho nên gọi là Vô kí. Có thuyết cho rằng không thể đưa đến quả dị thục(quả báo thiện, ác), không ghi nhớ quả dị thục, vì thế nên gọi là Vô kí. Nhưng thuyết này chỉ dùng cho pháp hữu lậu mà thôi.Câu xá luận quang kí quyển 2 chia Vô kí làm 2 thứ là Hữu phú và Vô phú, Vô phú lại được chia ra làm 6 loại: Dị thục, uy nghi, công xảo, thông quả, tự tính và thắng nghĩa, nên tổng cộng có 7 loại. Ngoài ra, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 chia Thiện làm 13 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, nhiêu ích, dẫn nhiếp, đối trị, tịch tĩnh và đẳng lưu. Cũng luận này quyển 4 chia Bất thiện làm 12 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền, cúng dường, tổn hại, dẫn nhiếp, sở trị và chướng ngại; chia Vô kí làm 14 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, nhiêu ích, thụ dụng, dẫn nhiếp, đối trị, tịch tĩnh và đẳng lưu. [X. luận Thuận chính lí Q.4; luận Đại tì bà sa Q.51, 144, 197; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu]. (xt. Thiện, Vô Kí). III. Tam Tính. Chỉ cho 3 tính của A la hán nói trong luận Thành thực quyển 14: 1. Đoạn tính: A la hán trụ ở Niết bàn hữu dư đoạn trừ tất cả phiền não. 2. Li dục tính: Xa lìa dục trong ba cõi.3. Diệt tính: Dứt hẳn sự nối tiếp của 5 ấm mà vào Niết bàn vô dư.
tam tánh nghiệp
(三性業) Chỉ cho 3 nghiệp: Thiện, Bất thiện và Vô kí. 1. Thiện nghiệp(cũng gọi An ổn nghiệp): Nghiệp có năng lực mang lại quả dị thục đáng ưa thích(tức quả tốt lành cõi người, cõi trời) và Niết bàn. 2. Bất thiện nghiệp(cũng gọi Bất an ổn nghiệp): Nghiệp có năng lực mang lại quả dị thục chẳng đáng ưa thích(tức quả báo xấu ác trong 3 đường). 3. Vô kí nghiệp: Nghiệp chẳng phải thiện, chẳng phải ác gọi là Vô kí, tức là nghiệp không mang lại kết quả. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Câu xá quyển 15, luận Thành duy thức Q.5; luận Thành duy thức Q.5, Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Tam Tính).
tam tánh nhất tế
(三性一際) Ba tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực thông suốt lẫn nhau từ đầu đến cuối và không sai khác, nên gọi là Tam tính nhất tế. Đây là một trong các giáo nghĩa cơ bản của tông Hoa nghiêm ứng dụng vào việc thuyết minh lí pháp giới duyên khởi. Cứ theo Hoa nghiêm Nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương quyển 4, trong 3 tính mỗi tính đều có 2 nghĩa, 2 nghĩa của Chân (Viên thành thực) là nghĩa Bất biến và nghĩa Tùy duyên, 2 nghĩa của Y tha là nghĩa Tự hữu(tựa như có) và nghĩa Vô tính, 2 nghĩa của Biến kế sở chấp là nghĩa Tình hữu(về mặt tình thì có) và nghĩa Lí vô(về mặt lí thì không). Vì nghĩa bất biến của Viên thành thực, nghĩa vô tính của Y tha khởi và nghĩa lí vô của Biến kế sở chấp đều do không phá hoại Mạt hữu mà nói về Bản của Nhất tâm chân như, cho nên Tam tính nhất tế là giống nhau chứ không khác. Lại nữa, nghĩa tùy duyên của Viên thành thực, nghĩa tự hữu của Y tha khởi và nghĩa tình hữu của Biến kế sở chấp là do Bản của Bất động tâmchânnhư nói về Mạt hữu của thế giới, cho nên 3 nghĩa cũng giống nhau. Theo đó thì Tam tự tính do tông Duy thức đề xướng được giải thích là Tam tính nhất tế, nêu một thu hết, chân vọng dung nhau, tính không ngăn ngại nhằm nói rõ cái trạng huống của pháp giới duyên khởi. Phật giáo dùng lí Pháp giới duyên khởi để thuyết minh chân như và vạn hữu, thế giới bờ bên kia và thế giới bờ bên này đều dung thông hòa nhập lẫn nhau trên cơ sở nhất tâm, không thể tách rời.
tam tánh đối vọng trung đạo
(三性對望中道) Cũng gọi Tam tính tương đối trung đạo, Ngôn thuyên trung đạo. Đối lại: Nhất pháp trung đạo. Nghĩa trung lập được thành lập qua sự đối nhau của 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Đây là nghĩa trung đạo căn bản của tông Pháp tướng. Tông Pháp tướng cho rằng tính Biến kế sở chấp là vọng tình cho nên phán định là không, rằng tính Y tha khởi là do các duyên hòa hợp nên phán định là có giả, rằng tính Viên thành thực là chân thực thường như nên phán định là chân không diệu hữu. Nếu 3 tính này là 3 tính trong một pháp thì pháp ấy tức là Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không; trái lại, nếu y cứ vào mỗi tính mà thiết lập nghĩa Trung đạo thì gọi là Nhất pháp trung đạo. Luận Thành duy thức quyển 7 nói rằng: Ngã, pháp chẳng phải có; không, thức chẳng phải không; lìa có, lìa không nên khế hợp với Trung đạo, đây là thuyết căn bản. Bởi vì ngã và pháp của tính Biến kế sở chấp là tình có lí không, cho nên chẳng phải có, tính Y tha khởi là lí có tình không, tức là cái có giả của các duyên hòa hợp, cho nên chẳng phải không; tính Viên thành thực là chân không diệu hữu, vì thế chẳng phải không. Chẳng phải có chẳng phải không nên khế hợp với Trung đạo.[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tam Tính).
tam táp
541又作三帀。指右旋三周。乃敬禮之一種,源自印度儀式。即對尊者或佛塔,向右旋繞三周,以表仰望之誠。有繞一周,復繞三周者;或因宿願、別請,而隨頂禮者之意數繞之。至後世禪宗公案中,參詣者每於問答後,即禮拜宗師,繞三匝而行。六祖壇經機緣品第七(大四八‧三五七下)即有「繞師三匝,振錫而立」之句。(參閱「右繞」1616)
; (三匝) Đi nhiễu 3 vòng theo chiều bên phải. Đây là 1 trong những hình thức kính lễ, bắt nguồn từ nghi thức của Ấn độ. Tức đi vòng quanh bậc tôn túc hoặc tháp Phật 3 vòng theo chiều tay phải để bày tỏ tâm thành ngưỡng vọng. Có khi đi quanh 1 vòng, có khi đi 3 vòng; hoặc do tâm nguyện, biệt thỉnh mà tùy ý người đính lễ đi quanh nhiều vòng. Đến đời sau, trong công án Thiền tông, thông thường sau khi vấn đáp, người tham vấn liền bái vị Tông sư, đi nhiễu 3 vòng rồi lui ra. Phẩm Cơ duyên trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 357 hạ) có câu: Đi quanh sư 3 vòng rồi đứng chống Tích trượng. (xt. Hữu Nhiễu).
Tam Tâm
(三心): ba loại tâm. (1) Ba tâm phát khởi để cầu vãng sanh Tịnh Độ, gồm: Chí Thành Tâm (至誠心, tâm chí thành), Thâm Tâm (深心, tâm sâu xa) và Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm (廻向發願心, tâm phát nguyện hồi hướng); tương đương với nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Đức Phật Di Đà là Chí Tâm (至心, tâm chí thành), Tín Nhạo Tâm (信樂心, tâm tin tưởng vui mừng) và Dục Sanh Tâm (欲生心, tâm muốn sanh về cõi Cực Lạc). Có nhiều giải thích khác nhau về ba tâm này, như trong Vãng Sanh Lễ Tán Kệ (徃生禮讚偈), Thiện Đạo (善導, 613-681) cho rằng Chí Thành Tâm là thân nghiệp lễ bái đức Phật Di Đà, khẩu nghiệp tán thán Ngài, và ý nghiệp chuyên niệm quán sát Ngài; Ba Nghiệp này phải chân thật; Thâm Tâm tức là tâm tin tưởng một cách chân thật, tin và hiểu được tự thân mình có đầy đủ phiền não của kẻ phàm phu, nay tin hiểu rõ thệ nguyện rộng lớn của đức Phật Di Đà, rồi xưng danh hiệu Ngài, thậm chí ít nhất cho đến 10 tiếng, 1 tiếng, nhất định sẽ được vãng sanh, cho đến trong một niệm mà không có tâm nghi ngờ; Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm nghĩa là hết thảy các thiện căn mình đã tạo nên lâu nay, đầu xin hồi hướng và nguyện vãng sanh. (2) Ba tâm trong 10 Tín phát khởi để thành tựu Bồ Tát, gồm: Trực Tâm (直心), Thâm Tâm (深心), và Đại Bi Tâm (大悲心). Trực Tâm chỉ cho tâm chánh niệm chơn như. Thâm Tâm là tâm vui vẻ tập trung tất cả các hạnh lành. Đại Bi Tâm chỉ cho tâm muốn bạt trừ hết thảy khổ não của chúng sanh. Ba Tâm này tương đồng với Trực Tâm, Thâm Tâm, và Đại Thừa Tâm có đề cập trong Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), Phẩm Phật Quốc (佛國品) của Duy Ma Kinh (維摩經) quyển Thượng. (3) Là ba tâm do vị Bồ Tát từ Sơ Địa (初地) trở lên phát khởi, gồm: Chân Tâm (眞心), Phương Tiện Tâm (方便心) và Nghiệp Thức Tâm (業識心). Chân Tâm, còn gọi là Siêu Việt Tâm (超越心), tức là tâm của trí căn bản, không phân biệt. Phương Tiện Tâm là tâm từ này về sau có được trí tuệ làm lợi ích chúng sanh. Nghiệp Thức Tâm là khi sanh khởi hai trí Căn Bản (根本) và Hậu Đắc (後得), vẫn còn lưu lại tâm sanh diệt vi tế. (4) Ba tâm của người phàm phu chưa nhiếp trừ, gồm: Khởi Sự Tâm (起事心), Y Căn Bản Tâm (依根本心), và Căn Bản Tâm (根本心). (5) Ba tâm của vị Thánh cần phải đoạn trừ, gồm: Giả Danh Tâm (假名心), Pháp Tâm (法心) và Không Tâm (空心). Giả Danh Tâm là tâm chấp trước thật ngã. Pháp Tâm là tâm chấp trước các pháp có thật. Không Tâm là tâm chấp trước ngã, pháp đều không. Khi ba tâm này được chuyển hóa, các nghiệp phiền não tức vĩnh viễn không còn dấy khởi và vào Niết Bàn. (6) Ba tâm có trong mỗi Địa của Thập Địa, gồm: Nhập Tâm (入心), Trú Tâm (住心) và Xuất Tâm (出心).
tam tâm
532指三種心。<一>為往生淨土而發之至誠心、深心、迴向發願心。相當於彌陀四十八願中第十八願之「至心、信樂心、欲生心」。有關三心之解釋,異說殊多。淨影之觀無量壽經義疏卷末謂,誠心者,起行不虛,實心求去;深心者,信樂殷至,欲生彼國;迴向發願心者,直爾趣求,說之為願,挾善趣求,說為迴向。善導之往生禮讚偈則謂,至誠心者,身業禮拜彼佛,口業讚歎稱揚彼佛,意業專念觀察彼佛,凡此三業必須真實;深心者,即真實信心,信知自身是具足煩惱之凡夫,善根薄少,流轉三界,不出火宅,今信知彌陀本弘誓願,及稱名號,下至十聲一聲等,定得往生,乃至一念無有疑心;迴向發願心者,所作一切善根悉皆迴願往生。此外,迦才之淨土論卷上、智光之往生論疏、知禮之觀經疏妙宗鈔卷六等,均以此三心等同大乘起信論所說之直心、深心、大悲心,均係於十信之終心所發者。〔觀無量壽佛經疏卷下、翻譯名義集卷十一、念佛三心要集、念佛名義集卷中〕 <二>十信成就菩薩所發之直心、深心、大悲心。(一)直心,指正念真如之心。(二)深心,指樂集一切諸善行之心。(三)大悲心,指欲拔一切眾生苦之心。係大乘起信論所立,與維摩經卷上佛國品所說之直心、深心、大乘心同。〔淨土論卷上(迦才)、華嚴經疏卷十八〕 <三>初地以上菩薩所發之真心、方便心、業識心。(一)真心,又作超越心,即根本無分別智之心。(二)方便心,即以後得智利益眾生之心。(三)業識心,即生起根本、後得二智時,尚留之微細生滅之心。〔大乘起信論、大乘起信論義疏卷下〕 <四>凡夫所未能祛除之起事心、依根本心、根本心。(一)起事心,四住地所起煩惱粗強,能起業事,障蔽佛之化身之心。菩薩修習伏結之道,伏除此心,故得化身。(二)依根本心,依無明之根本而起四住地惑之心。此心障蔽佛之報身,菩薩修習斷結之道,斷除此心,故得報身。(三)根本心,以四住煩惱為本之無明地之心。此心障蔽佛之法身,菩薩修習勝拔道,滅除此心,故得法身。宗鏡錄卷八十九將此三心依次配於前六識、第七識、第八識。〔金光明最勝王經卷二、大乘義章卷十九、大乘法苑義林章卷七本〕 <五>聖者必須斷滅之假名心、法心、空心。(一)假名心,執著實我之心,乃外道之見。(二)法心,執著實法之心,乃小乘有部之見。(三)空心,執著我法二空之心,謂此心滅時,諸業煩惱即永不起而得入涅槃。〔成實論卷十一假名品〕 <六>十地之每一地各有入、住、出等三心。(一)入心,入地未久住時之心。(二)住心,久住而住地盛時之心。(三)出心,臨久住之末,漸近後勝位之心。〔梁譯攝大乘論釋卷十一、成唯識論述記卷十本〕
; The three minds, or hearts; various groups are given: (1) Three assured ways of reaching the Pure Land, by a-Chí thành tâm perfect sincerity; b-Thâm tâm profound resolve for it; c-Hồi hướng phát nguyện tâm resolve on demitting one's merits to others. (2) a-Căn bản tâm the 8th or àlaya-vijnàna consciousness, the store-house, or source of all seeds of good or evil; b-Y bản tâm the 7th or mano-vijnàna consciousness, the mediating cause of all taint; c-Khởi sự tâm the sadàyatana-vijnàna consciousness, the immediate influence of the six senses. (3) a-Nhập tâm; b-Trụ tâm; c-Xuất tâm. The mind entering into a condition, staying there, departing. (4) A pure, a single, and an undistracted mind.
; The three minds or hearts—Three assured ways of reaching the Pure Land: (A) 1) Chí thành tâm: Perfect sinerity. 2) Thâm tâm: Profound resolve. 3) Hồi hướng phát nguyện: Resolve on demitting one's merits to others. (B) 1) Căn bổn tâm: The 8th Alaya vijnana—The store-house—Nguồn chứa mọi chủng tử thiện ác—Source of all seeds of good or evil. 2) Y bổn tâm: The 7th Mano-vijnana mind—Mạt na thức—The mediating cause of all taint. 3) Khởi sự tâm: The sadayatana mind—The immediate influence of the six senses. (C) 1) Nhập tâm: Entering into a condition. 2) Trụ tâm: Staying in a condition. 3) Xuất tâm: Departing the condition.
; (三心) Ba thứ tâm. I. Tam Tâm. Chỉ cho Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm mà hành giả Tịnh độ phát để cầu được vãng sinh. Tương đương với Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sinh tâm của nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Về sự giải thích Tam tâm có nhiều thuyết khác nhau. Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển cuối của ngài Tịnh ảnh cho rằng: Chí thành tâm là khởi hành bất hư, thực tâm cầu đi đến; Thâm tâm là tin tưởng sâu xa tha thiết, muốn sinh về nước kia; Hồi hướng phát nguyện tâm, cầu thẳng tới gọi là nguyện; cầu tới kèm theo điều thiện là hồi hướng. Trong Vãng sinh lễ tán kệ, ngài Thiện đạo cho rằng: Chí thành tâm là thân nghiệp lễ bái đức Phật A di đà, khẩu nghiệp tán thán công đức của Phật, ý nghiệp chuyên quán niệm danh hiệu Phật, như thế 3 nghiệp đều phải chân thật chí thành; Thâm tâm tức là lòng tin chân thật, tự tin thân mình là thân phàm phu đủ thứ phiền não, thiện căn yếu kém, trôi giạt trong 3 cõi, khó ra khỏi nhà lửa; nay tin thệ nguyện rộng lớn của Phật A di đà và xưng niệm danh hiệu của Ngài, dù chỉ niệm 10 tiếng, 1 tiếng... cũng nhất định được vãng sinh, đó là niền tin sâu xa không 1 mảy ngờ vực; Hồi hướng phát nguyện tâm nghĩa là tất cả thiện căn tu được đều hồi hướng cho việc vãng sinh Tịnh độ. Ngoài ra, luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài, Vãng sinh luận sớ của ngài Trí quang, Quán kinh sớ diệu tông sao quyển 6 của ngài Tri lễ... đều cho rằng 3 tâm này giống với Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín, đều được phát khởi vào lúc đạt đến vị cuối cùng của giai vị Thập tín. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.11; Niệm Phật tam tâm yếu tập; Niệm Phật danh nghĩa tập Q.trung]. II. Tam Tâm. Chỉ cho Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm mà Bồ tát phát khởi khi thành tựu được giai vị Thập tín. 1. Trực tâm: Chỉ cho tâm chình hiệu chân như. 2. Thâm tâm: Chỉ cho tâm ưa thích tích tập tất cả các thiện hạnh. 3. Đại bi tâm: Chỉ cho tâm muốn cứu giúp tất cả các chúng sinh khổ nạn. Ba tâm này do luận Đại thừa khởi tín thành lập, giống với Trực tâm, Thâm tâm và Đại thừa tâm nói trong phẩm Phật quốc kinh Duy ma quyển thượng. [X. luận Tịnh độ Q.thượng (Ca tài); Hoa nghiêm kinh sớ Q.18]. III. Tam Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm do Bồ tát từ Sơ địa trở lên phát khởi, đó là: 1. Chân tâm(cũng gọi Siêu việt tâm): Tức là tâm của trí căn bản vô phân biệt. 2. Phương tiện tâm: Tức là tâm dùng trí hậu đắc làm lợiíchchúng sinh. 3. Nghiệp thức tâm: Tức là tâm còn lưu lại sự sinh diệt nhỏ nhiệm khi sinh khởi 2 trí căn bản và hậu đắc. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.hạ]. IV. Tam Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm mà người phàm phu chưa thể trừ bỏ được. Đó là: 1. Khởi sự tâm: Chỉ cho tâm do phiền não sinh khởi ở Tứ trụ địa thô trọng, mạnh mẽ, có khả năng phát khởi các nghiệp sự ngăn che hóa thân của Phật. Bồ tát tu tập đạo phục kết, đoạn trừ tâm này, cho nên được hóa thân. 2. Y căn bản tâm: Tâm nương vào vô minh căn bản mà sinh phiền não (hoặc) Tứ trụ địa. Tâm này ngăn che báo thân của Phật, Bồ tát tu tập đạo đoạn kết, dứt trừ tâm này, cho nên được báo thân. 3. Căn bản tâm: Tâm vô minh địa lấy phiền não Tứ trụ làm gốc. Tâm này ngăn che pháp thân Phật, Bồ tát tu tập đạo thắng bạt, diệt trừ tâm này cho nên được pháp thân.Tôngkính lục quyển 89, theo thứ tự, phối hợp 3 tâm này với 6 thức trước, thức thứ 7 và thức thứ 8. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2; Đại thừa nghĩa chương Q.19; Đại thừa pháp uyểnnghĩalâm chương Q.7, phần đầu]. V. Tam Tâm. Chỉ cho 3 loại tâm mà bậc Thánh phải diệt trừ. Đó là: 1. Giả danh tâm: Tâm chấp trước thực ngã, làkiến chấp của ngoại đạo. 2. Pháp tâm: Tâm chấp trước thực pháp, làkiến chấp của Hữu bộ Tiểu thừa. 3. Không tâm: Tâm chấp trước pháp không, ngã không, nghĩa là khi tâm này diệt thì các nghiệp phiền não không bao giờ sinh khởi trở lại nữa và được vào Niết bàn.[X. phẩm Giả danh luận Thành thực Q.11]. VI. Tam Tâm. Chỉ cho 3 loại tâm mà mỗi địa trong Thập địa bồ tát đều có, đó là: 1. Nhập tâm: Tâm khi nhập địa chưa trụ lâu. 2. Trụ tâm: Tâm trụ lâu khi trụ địa thịnh. 3. Xuất tâm: Tâm trụ lâu vào lúc cuối, dần dần gần với Hậu thắng vị. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu].
tam tín
577<一>指往生淨土之三種信心:淳心、一心、相續心。(參閱「三信三不」579) <二>又作三心、三信心。為日本淨土真宗之教義。指阿彌陀佛在第十八願中所誓願之至心、信樂心與欲生心,稱為大經三心;此係就分析往生淨土原因之信心內容而言。淨土真宗主張,佛之本願乃為救度罪惡深重之惡人而有,故吾人若捨自力之心而深信佛之救濟力即可得救。聞此本願之意義而毫無疑問之心,稱為信樂。此信樂乃由佛之至心所給與,故其本質真實不虛,此種信心即是阿彌陀佛欲使吾人往生淨土之欲生心。淨土真宗之祖親鸞主張三信即是信心,表示佛陀給與吾人之德性,一心則表示眾生可得救之根本。此信心由自力之立場則難以入信,然一旦入信,則堅信不移,故稱難信金剛信樂。又此係由深廣的佛之救濟力所給與吾人者,故亦稱利他深廣信樂。
; (三信) I. Tam Tín. Chỉ cho 3 thứ tín tâm cầu vãng sinh Tịnh độ: Thuần tâm, Nhất tâm và Tương tục tâm. (xt. Tam Tín Tam Bất). II. Tam Tín. Cũng gọi Tam tâm, Tam tín tâm. Chỉ cho Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sinh tâm do đức Phật A di đà thệ nguyện trong điều nguyện thứ 18 của Ngài, được gọi là Đại kinh tam tâm. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương bản nguyện của Phật là cứu độ những người tội ác sâu nặng, cho nên nếu chúng ta bỏ tâm tự lực mà tin sâu sức cứu độ của Phật thì chắc chắn sẽ được cứu. Nếu người nghe ý nghĩa của bản nguyện này(nguyện thứ 18) mà tâm không sinh một mảy may nghi hoặc thì gọi là Tín nhạo (tin ưa). Sự tín nhạo này là do Chí tâm của Phật ban cho, do đó bản chất của niềm tin ưa ấy là chân thực không hư dối. Lòng tin này chính là tâm Dục sinh của đức Phật A di đà muốn cho chúng ta sinh về cõi Tịnh độ của Ngài. Tổ của Tịnh độ chân tông Nhật bản là ngài Thân loan chủ trương Tam tín tức là Tín tâm, biểu thị đức tín mà Phật A di đà ban cho chúng ta, còn Nhất tâm thì biểu thị điều căn bản là chúng ta có thể được cứu độ. Nếu từ lập trường tự lực thì tín tâm này khó có thể vào được, nhưng một khi đã vào được rồi thì nó trở nên cứng chắc như kim cương, cho nên gọi là Nan tín kim cương tín nhạo. Lòng tin ưa này là do sức cứu độ sâu rộng của Phật A di đà ban cho chúng ta nên cũng gọi là Lợi tha thâm quảng tín nhạo.
tam tín tam bất
578又作三不三信。為我國淨土宗大德曇鸞所揭出。三信指淳心、一心、相續心。往生淨土,須具足此三種信心。(一)淳心,為信心堅固之心。(二)一心,為祇信不疑之心。(三)相續心,為常續不斷之心。反之,信心不淳,信心不一,與信心不相續,稱為三不信。又此三信若配諸三心,則淳心離虛假不實,合於至心;一心乃專一無二,配於信樂;相續心不為異學異見所損,配欲生心。〔往生論註卷下、安樂集卷上、往生論註記卷四〕(參閱「三心」532)
; (三信三不) Cũng gọi Tam bất tam tín. Chỉ cho 3 thứ tâm tin và 3 thứ tâm không tin do ngài Đàm loan thuộc tông Tịnh độ của Phật giáo Trung quốc nêu ra. Tam tín tâm là: 1. Thuần tâm: Tâm có niềm tin bền vững. 2. Nhất tâm: Tâm chỉ tin không nghi. 3. Tương tục tâm: Tâm liên tục không gián đoạn. Trái lại, tín tâm không thuần, tín tâm bấtnhất, tín tâm không tương tục thì gọi là Tam bất tín. Nếu phối hợp Tam tín này với các Tam tâm thì Thuần tâm lìa hư giả không thật, hợp với Chí tâm; Nhất tâm thì chuyên nhất không hai, phối với Tín nhạo; còn Tương tục tâm thì không bị dị học dị kiến làm tổn hại, phối với Dục sinh tâm. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; An lạc tập Q.thượng; Vãng sinh luận chú kí Q.4]. (xt. Tam Tâm).
Tam tính
三性; hoặc Tam tướng; S: trilakṣaṇa; P: ti-lakkhaṇa;|Ba tính
tam tính
563<一>乃印度唯識學派之重要主張,我國法相宗之根本教義。謂一切存在之本性與狀態(性相),從其有無或假實之立場分成三種,稱為三性。說明三性之各別為「無自性空」之道理,則稱為三無性。係以解深密經卷二之一切法相品為根據而說者,為印度唯識學派所主張,後來成為我國法相宗根本教義之一,亦為華嚴宗等所採用。三性又作三自性、三性相、三種自相、三相等。此三者即:遍計所執性、依他起性、圓成實性;三者略稱遍依圓。三無性又作三種無自性性、三無自性或三種無性等。三者即:相無性、生無性、勝義無性。 (一)法相宗之說:(1)遍計所執性(梵 parikalpita-svabhāva),又作虛妄分別相、分別性。對於無實體之存在,計執為「實我」、「實法」而起妄執之心,此為「能遍計」。其被識所計度之對境,稱為「所遍計」。換言之,由此識與境,而誤認心外有實體存在,稱為遍計所執性。以其存在之相狀為迷心所現,故為「當情現相」之法。從真理之觀點而言,此性為無實在的「情有理無」之法,與全無實體的「體性都無」之法。有關遍計所執性,印度論師多有異說,法相宗係採用護法之觀點。就「能遍計」而言,安慧以有漏之全八識為能遍計,護法則主張以第六、第七識為能遍計。就「所遍計」而言,難陀視之為「實我實法」的「當情現相」,護法則以為是「依他起性」之「似我似法」,且以為從真如不可能成為迷情之對象而言,則不能視之為所遍計;但如從「依他起」存在之本體來說,亦可稱為所遍計。此外,就「遍計所執」而言,安慧主張是見相二分,而護法則認為於見相二分上,依迷情所起之「當情現相」方為遍計所執。 (2)依他起性(梵 para-tantra-svabhāva),又作因緣相、依他性。「他」,即指由各種緣所生起之法。因是「緣合則生,緣盡則滅」之法,故如虛如幻,而非固定永遠不變之實在,故說「如幻假有」、「假有實無」,然此並非遍計所執而有之迷情,而係藉種種助緣而生者,亦即離妄情而自存之「理有情無」。此性有染分依他起性與淨分依他起性之別,染分指有漏的一切法;淨分指無漏有為的一切法。然「淨分依他」是從遠離煩惱之意義而言,淨分依他起性則包含在圓成實性中,故染分依他即是依他起性。 (3)圓成實性(梵 pariniṣpanna-svabhāva),又作第一義相、真實相。依他起性的真實之體(真如)乃遍滿一切法(圓滿)、不生不滅(成就)、體性真實(真實)者,故稱圓成實。真如離一切相(無相),一切法之本體悉皆真實,故為「真空妙有」;又此性僅能由覺悟真理之智慧而得知,故為「理有情無」。 以上三性具有不即不離之關係。若以蛇、繩、麻三物為喻,則愚人(能遍計)於黑夜中見繩,信以為真蛇(實我相之遍計所執性),遂心生恐怖;後經覺者(佛、菩薩)教示,而知非蛇(生空),僅為似蛇之繩(指依他起性之假有)。且更進一步了解實際所執著之繩(實法相之遍計所執性)亦不具實體之意義(法空),其本質為麻(圓成實性);繩(依他起性)僅為因緣假合,由麻而成之形態。 三無性乃根據佛之密意所立,即基於三性之說,又恐眾生執有,故顯示三性各具空義。據成唯識論卷九,三無性即: (1)相無性,針對遍計所執性而立。眾生既於世間之相處處計著,執為實有;為除此妄執,遂立「相無性」,謂一切法皆無自性。 (2)生無性,針對依他起性而立。萬法乃從眾緣而生,為虛假之存在(緣生),故其性質不定。而不若佛教以外之學派或凡夫認為是自然生,故亦無如彼等所執之體性,例如幻化之事物。 (3)勝義無性,針對圓成實性而立。真如乃根本無分別智之對象(殊勝之真理),故雖為一切存在之真本質,卻不受任何特定之性質所規定,已離我執、法執,猶如虛空一般。 此三無性之中,「生無性」、「勝義無性」乃針對「依他起」、「圓成實」之二性而說無性,故其體不能謂為空無。關於此二性依據何種觀點而說無自性,日本法相宗有二說。據南寺所傳,其體非無,但因離我法二執,故說意為無執(執空);據北寺所傳,依他起性之體如幻,圓成實性之體離相,由此觀點而言,可謂是虛假空、空寂空。故知二性之體乃超越有無之無(體空)。又生無性之「生」,南寺所傳意指自然生,而北寺所傳則解為緣生之意。 由以上三性三無性之說,而立「非有非空」之中道,即三性具有不即不離之關係,其中遍計所執性是情有理無,依他起性、圓成實性是理有情無,故合三性而明中道,是為三性對望之中道。又三性各具情有理無、假有實無、真空妙有(無相與真實)等性質,故設立每一性之中道,稱為一法中道。又觀三性之存在為唯識無境,稱為唯識三性觀、三性觀行。即遍計所執性為虛妄之唯識性,圓成實性則為真實之唯識性;依他起性為世俗之唯識性,圓成實性則為勝義之唯識性。說明觀此三性之順序、方法者,稱為五重唯識觀。此外,悟入三性之順序有遍依圓、依遍圓、圓依遍三種。 (二)華嚴宗之說:法相宗係以一切事物性質與狀態之相異點,即「性相隔別」之立場而立三性說;對此,華嚴宗則基於「性相圓融」之立場而論三性,從根本上說,認為一切存在(諸法)無非是真如所現。即:圓成實性之真如有「不變」與「隨緣」之二義。「不變」,即遠離生滅變化之義;「隨緣」,即隨染淨之緣而各個存在。依他起性,自其體上言,是為真如,以其超越生滅,故為「無性」,然由因緣而生,故為「似有」。遍計所執性則由凡夫妄情誤執心外有實我實法之存在,故為「情有」;然其「我」、「法」之相,於理不可得,且因真如無妄染,故為「理無」。此不變、無性、理無三者,稱為「本三性」;而隨緣、似有、情無三者,稱為「末三性」。 至於三性之同異,自本三性之意義言,真如隨緣之一切現象(諸法)即真如,故稱三性不異;自末三性之意義言,亦因真如隨緣而成為諸法,故亦說三性不異。然就本三性「諸法即真如」、末三性「真如即諸法」之意義而言,則本末之三性,其義不一。 (三)據真諦所譯攝大乘論之說:分別性意指所分別之境,依他性意指能分別之識,而此分別性之境是無,故依他性亦不可得,其不可得乃為「有」之真實性。〔解深密經卷二、成唯識論卷八、唯識三十頌、瑜伽師地論卷七十四、顯揚聖教論卷六、三無性論卷上、梁譯攝大乘論釋卷五、唐譯攝大乘論釋卷四、華嚴五教章卷四〕(參閱「三無性」627、「四分」1663) <二>就善、不善等之性質,分一切諸法為善、不善、無記等三性。(一)善(梵 kuśala),能順益此世、他世之法。依俱舍論卷十三,善分四種:(1)勝義善,即真解脫、擇滅涅槃。涅槃安穩,於一切法中其體最尊。(2)自性善,即慚、愧及無貪、無瞋、無癡三善根。不待相應及其餘之等起,體性本善,猶如良藥。(3)相應善,不與慚等相應即不成善性,如水之雜藥。(4)等起善,由自性、相應善而等起之法,譬如牛飲甘草之汁而生甘美之乳。俱舍論光記卷二則分善為生得、加行(聞、思、修)、無漏(學、無學、勝義)等三類。 (二)不善(梵 a-kuśala),又作惡。指能違損此世、他世之法。依俱舍論卷十三載,不善有四種:(1)勝義不善,即生死之法。生死中之諸法皆以苦為自性,極不安穩,猶如痼疾。(2)自性不善,指有漏中之無慚、無愧與貪等三不善根;其體不善,猶如毒藥。(3)相應不善,與自性不善相應之心、心所法,如水中摻毒。(4)等起不善,由自性、相應不善所等起之法,如毒藥所引生之乳。俱舍論光記謂不善唯有一種。 (三)無記(梵 a-vyākṛta),非善非不善,不能記為善或惡,故稱無記。或以不能牽引異熟果(善惡之果報),不能記異熟果,故稱無記;惟此說僅適用於有漏法。俱舍論光記卷二分無記為有覆、無覆二種,無覆復分異熟、威儀、工巧、通果、自性、勝義六種,故總為七種。 此外,大乘阿毘達磨雜集論卷三分善為自性、相屬、隨逐、發起、第一義、生得、方便、現前供養、饒益、引攝、對治、寂靜、等流等十三種,卷四分不善為自性、相屬、隨逐、發起、第一義、生得、方便、現前供養、損害、引攝、所治、障礙等十二種,分無記為自性、相屬、隨逐、發起、第一義、生得、方便、現前供養、饒益、受用、引攝、對治、寂靜、等流等十四種。〔順正理論卷四、大毘婆沙論卷五十一、卷一四四、卷一九七、雜阿毘曇心論卷一、成唯識論卷三、成唯識論述記卷五末、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「善」4873、「無記」5107) <三>成實論卷十四所舉阿羅漢之三性,即:(一)斷性,阿羅漢住於有餘涅槃,斷除一切煩惱。(二)離欲性,遠離三界之欲。(三)滅性,斷滅五陰相續,入於無餘涅槃。
; Trayaḥ svabhāvaḥ (S), Svabhāva-lakṣaṇa-traya (S)Tam sự tính tướng.
; Trayah-svabhàvah (S). Three forms of knowledge.
tam tính nghiệp
567指善、不善、無記等三業。即:(一)善業,又作安穩業。能得可愛異熟(人天之善果)及涅槃之業。(二)不善業,又作不安穩業。能招非愛異熟(三途之惡果)之業。(三)無記業,非善、非惡之業,稱為無記,即不招結果之業。〔雜阿含經卷十八、俱舍論卷十五、成唯識論卷五、大乘義章卷七〕(參閱「三性」563)
tam tính ngũ pháp
Xem Ngũ pháp.
tam tính nhất tế
563華嚴宗基本教義之一。用以說明法界緣起。三性即三自性,指攝大乘論中之遍計所執性、依他起性、圓成實性;謂此三者由本、末二方面而言,乃相互交徹而無所差異者,故稱三性一際。據華嚴一乘教義分齊章卷四載,三性各有二義,真(圓成實)中之二義為不變義、隨緣義,依他之二義為似有義、無性義,所執中之二義為情有義、理無義。以為圓成實中之不變義、依他起中之無性義、遍計所執中之理無義,皆由不壞「末有」而說真如一心之「本」,故三性一際,同而無異。又圓成實之隨緣義、依他起之似有義、遍計所執之情有義等,係由不動心真如之「本」說世界「末有」,故三義亦無不同。據此,解釋唯識宗所說之三自性,謂「三性一際,舉一全收,真妄互融,性無障礙」,以表達法界緣起之狀況。佛教用以說明真如與萬有、彼岸世界與此岸世界,均於「一心」之基礎上交互融通,不可分離。
tam tính phân biệt
The differentiation of the three conditions good, evil, and neutral.
tam tính đối vọng trung đạo
567即法相宗所詮顯三性相對之中道(非有非空),為法相宗中道義之根本。與「一法中道」相對稱。又作三性相對中道、言詮中道。即就遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性之對望所立之中道義。法相宗以遍計所執性為妄情,故判為空;以依他所起性為眾緣和合,故判為假有;以圓成實性為真實如常,故判為真空妙有。若此三性為一法上之三性,則其法即為非有非空之中道;反之,若各就其一性立中道之義,則稱一法中道。成唯識論卷七謂,我法非有,空識非無,離有離無,故契中道,此即本說。蓋遍計所執性之我法,為情有理無,故為非有;依他起性為理有情無,即眾緣和合之假有,故非無;圓成實性為真空妙有,故為非無。既非有非無,實與中道契合。〔成唯識論述記卷七末、大乘法苑義林章卷一本〕(參閱「三性」563)
tam tòng
608古代女子一生中所應恪守、遵從之三項德目,即在家從父,出嫁從夫,夫死從子。又作三障、三隔、三監。女子囿於三從,遂令終生難得自由,故以之比喻佛道修行中境遇之困頓,而與五障並稱五障三從,以表女子之劣機。超日明三昧經卷下(大一五‧五四一中):「女有三事隔、五事礙。何謂三?少制父母、出嫁制夫,不得自由,長大難子,是謂三。」〔玉耶女經、賢愚經卷四、無量壽經釋、大藏法數卷十六〕(參閱「五障」1194)
; (三從) Cũng gọi Tam chướng, Tam cách, Tam giam. Chỉ cho 3 đức mục mà người phụ nữ thời xưa phải suốt đời giữ gìn, tuân theo. Tức ở nhà thì theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết thì theo con. Người phụ nữ bị Tam tòng ràng buộc làm cho suốt đời không được tự do, cũng như Ngũ chướng khiến việc tu hành Phật đạo rất khó khăn, cho nên Tam tòng cùng với Ngũ chướng gọi chung là Ngũ chướng tam tòng, dùng để biểu thị căn cơ yếu kém của người phụ nữ. Kinh Siêu nhật minh quyển hạ (Đại 15, 541 trung) nói: Người nữ cóba việc ngăn cách, năm việc chướng ngại. Ba việc ngăn cách là những gì? Còn nhỏ bị cha mẹ chế ngự, khi xuất giá bị chồng ràng buộc mất tự do, khi về già bị con làm khó, đó là 3 việc ngăn cách. [X. kinh Ngọc da nữ; kinh Hiền ngu Q.4; Vô lượng thọ kinh thích; Đại tạng pháp số Q.16]. (xt. Ngũ Chướng).
Tam Tôn
(三尊): hay Tam Tôn Phật (三尊佛); tức lấy đấng Trung Tôn ở giữa làm chủ và có hai vị hầu hai bên. Hình thức này phát xuất từ dạng thức Nhất Quang Tam Tôn (一光三尊) của Ấn Độ. Thông thường, đấng Trung Tôn là Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦), bên trái là Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師), bên phải là Phật Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha; 彌陀). Ngoài ra, còn có hình thức một Phật hai Bồ Tát hay Minh Vương hầu hai bên. Xưa nay Tam Tôn vốn có hình thức nhất định, như Phật Thích Ca cùng với hai vị đệ tử Thanh Văn là Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 迦葉), A Nan (s: Ānanda, 阿難); hay Phật Thích Ca với hai Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) và Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊), được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊). Phật Di Đà với hai Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) và Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) được gọi là Di Đà Tam Tôn (彌陀三尊) hoặc Tây Phương Tam Thánh (西方三聖). Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光), được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊); hoặc Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王) và Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上). Cũng có trường hợp Bát Nhã Bồ Tát (般若菩薩) với hai vị trời Phạm Thiên (s: Braḥma, 梵天) và Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋). Bất Động Minh Vương (s: Acalanātha, 不動明王) với hai đồng tử Chế Tra Ca (s: Ceṭaka, 制吒迦) và Căng Yết La (s: Kiṅkara, 矜羯羅), v.v. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, CBETA No. 1646) quyển 22, phần Dương Thứ Công Vương Mẫn Trọng Truyện (楊次公王敏仲傳) có đoạn: “Quy mạng Chánh Biến Tri, Như Lai diệu pháp tạng, thập phương đại Bồ Tát, Tam Tôn chơn Thánh chúng, ngã kim ư pháp bảo, nguyện tác thắng diệu duyên (歸命正遍知、如來妙法藏、十方大菩薩、三尊真聖眾、我今於法寶、願作勝妙緣, quy kính Chánh Biến Tri, Như Lai pháp tạng mầu, mười phương đại Bồ Tát, Tam Tôn các bậc Thánh, con nay nơi pháp bảo, nguyện tạo nhân duyên lành).”
; Ba bậc đáng tôn kính, chỉ Phật, Pháp, Tăng, xem Tam bảo.
tam tôn
623請參閱 釋三報論 又作三尊佛。以中尊為主,其左右兩側由其他二尊脅侍。此源於印度之一光三尊,中尊一般為釋迦佛,左藥師佛,右彌陀佛;此外又有一佛二菩薩之供奉,如中央為佛,左、右為菩薩或明王等。脅侍,又作脅士、夾侍。一般為菩薩、聲聞、天、童子等。古來三尊有一定形式,即釋迦佛與迦葉、阿難二聲聞弟子;釋迦佛與普賢、文殊二菩薩,稱為釋迦三尊;阿彌陀佛與觀世音、大勢至二菩薩,稱為彌陀三尊,或西方三聖;藥師如來與日光、月光二菩薩,稱為藥師三尊;或藥師佛與藥王、藥上二菩薩;般若菩薩與梵天、帝釋二天;不動明王與制吒迦、矜羯羅二童子等。脅侍係表示中尊之德,例如觀世音表示慈悲,大勢至表示智慧;文殊表示解,普賢表示行。又三尊佛像,若在中央安置一光背,則稱之為一光三尊,其光背通常以舟形光(船後光)之形式表現。〔增一阿含經卷二十八、觀藥王藥上二菩薩經、舊華嚴經卷六十、一切功德莊嚴王經、大唐西域記卷八〕(參閱「光背」2179、「脅士」4290)
; The three honoured ones: Buddha, The Law, The Order. Others are: Amitàbha A di đà, Avalokitesvara Quán thế Âm, and Mahàsthàmapràpta Đại thế Chí. Another group is: Bhaisajya Dược sư, Vairocana Tỳ lô xá na, Candraprabha; and another: Sàkyamuni Thích ca mâu ni, Manjusrì Văn thù sư lợi, and Samantabhadra Phổ Hiền.
; (三尊) Cũng gọi Tam tôn Phật. Cách bài trí 3 pho tượng Phật trong chùa. Trung tôn là chính, 2 bên Trung tôn có 2 vị hiếp thị khác. Cách sắp xếp này bắt nguồn từ Nhất quang tam tôn của Ấn độ, thường thì Trung tôn là Phật Thích ca, bên trái là Phật Dược sư, bên phải là Phật Di đà. Ngoài ra cũng có cách thờ một Phật hai Bồ tát, tức chính giữa là Phật, 2 bên là 2 vị Bồ tát hoặc 2 vị Minh vương. Từ xưa đến nay, Tam tôn có hình thức nhất định, tức Phật Thích ca, 2 vị đệ tử Thanh văn là Ca diếp, A nan; Phật Thích ca và 2 vị bồ tát Phổ hiền, Văn thù, gọi là Thích ca tam tôn; Phật Di đà và 2 bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, gọi là Di đà tam tôn; hoặc Tây phương tam thánh; Dược sư Như lai và 2 bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang, gọi là Dược sư tam tôn; hoặc Phật Dược sư và 2 bồ tát Dược vương, Dược thượng; Bồ tát Bát nhã và 2 vị trời Phạm thiên, Đế thích; Minh vương Bất động và 2 đồng tử Chế tra ca, Căng yết la. Hiếp thị(cũng gọi là Hiếp sĩ, Giáp thị: Đứng hầu 2 bên) là biểu trưng cái đức của vị Trung tôn, như Quán thế âm biểu trưng từ bi, Đại thế chí biểu trưng trí tuệ; Văn thù biểu trưng sự hiểu biết, Phổ hiền biểu trưng sự thực hành. Tượng Tam tôn Phật nếu ở chính giữa an trí chung vầng ánh sáng phía sau lưng thì gọi là Nhất quang Tam tôn, vầng ánh sáng ấy thông thường được biểu hiện bằng hình chiếc thuyền(Thuyền hậu quang). [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm; Đại đường tây vực kí Q.8]. (xt. Quang Bối, Hiếp Sĩ).
tam tôn lai nghênh
623指臨終之際,阿彌陀如來、觀音菩薩、勢至菩薩前來迎接。即應其願現前,接引行者至極樂淨土。(參閱「來迎」3049)
; (三尊來迎) Ba vị Tôn đến đón. Chỉ cho lúc lâm chung, đức Như lai A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí đến đón. Tức ứng theo bản nguyện mà các Ngài hiện ở trước để tiếp dẫn hành giả về Tịnh độ Cực lạc. (xt. Lai Nghinh).
tam tôn phật
The three honoured Buddhas of the West: Amitàbha, Avalokitesvara, Mahàsthàmapràpta. Though bodhisattvas, the two latter are called Buddhas when thus associated with Amitàbha.
tam tông
560<一>華嚴宗之宗密將大乘佛教總分為法相、破相、法性等三宗。(一)法相宗,此宗主張一切有漏妄法及無漏淨法無始以來,各有種子在阿賴耶識中,遇緣熏習。即各從自性而起,都不關涉真如,故於色心諸法建立種種名相,如五位百法、三性二無我、四智三身等教義。即指瑜伽宗、唯識宗等。於華嚴宗之五教判中,法相宗相當於始教之相始教。(二)破相宗,此宗主張凡聖染淨之法一切皆空本無所有,設見一法過涅槃者,亦如夢如幻,故以四句百非、八不中道、無所得等教義破一切之法相,即指三論宗。於五教判中,相當於始教之空始教。(三)法性宗,此宗主張依真起妄,真如不變,不礙隨緣,如云法身流轉五道、如來藏受苦樂等,若悟妄即真,則真妄不二。並謂一切眾生之心非因斷惑方得清淨,而係本來即清淨者,此一眾生心即是法性。指華嚴宗、天台宗。於五教判中,相當於終、頓、圓等三大乘教。宗密更就三宗性質之別而舉出法性、法相之十異,與法性、破相之五異,由之而判定法性宗之超勝於前二宗。〔圓覺經略疏卷上、宗鏡錄卷五〕 <二>指律宗所立之實法宗、假名宗、圓教宗等三宗。(一)實法宗,指薩婆多有部宗,主張一切諸法實有。(二)假名宗,指成實宗,主張諸法假名而非實有。(三)圓教宗,指唯識圓教。(參閱「化教」1327、「制教」3087)
; The three schools of Pháp tướng tông, Phá tướng tông, Pháp tính tông, representing the ideas of không, giả, and bất không giả, i.e. unreality, temporary reality, and neither; or absolute, realtive, and neither.
; (三宗) I. Tam Tông. Ba tông. Tức ngài Tông mật thuộc tông Hoa nghiêm chia Phật giáo Đại thừa làm 3 tông là Pháp tướng, Phá tướng và Pháp tính.1. Pháp tướng tông: Chỉ cho các tông Du già, Duy thức. Tông này chủ trương 6tất cả vọng pháp hữu lậu và tịnh pháp vô lậu từ vô thủy đến nay đều có chủng tử ở trong thức A lại da, gặp duyên thì huân tập(xông ướp). Tức mỗi pháp đều từ tự tính sinh khởi, đều không quan hệ đến chân như, cho nên đối với các pháp sắc tâm kiến lập nhiều danh tướng, như các giáo nghĩa Ngũ vị bách pháp, Tam tính nhị vô ngã, Tứ trí tam thân... Trong Ngũ giáo phán của tông Hoa nghiêm, Pháp tướng tông tương đương với Tướng thủy giáo của Thủy giáo. 2. Phá tướng tông: Chỉ cho tông Tam luận. Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh nhiễm tịnh đều vốn là không, dù thấy một pháp nào vượt hơn cả Niết bàn thì đó cũng như mộng như huyễn, bởi thế tông này dùng giáo nghĩa Tứ cú bách phi, Bát bất trung đạo, Vô sở đắc... để phá tất cả pháp tướng. Trong Ngũ giáo phán, tông này tương đương với Không thủy giáo của Thủy giáo. 3. Pháp tính tông: Chỉ cho các tông Hoa nghiêm, Thiên thai. Tông này chủ trương nương vào chân mà khởi lên vọng, chân như bất biến, vô ngại tùy duyên, như nói pháp thân lưu chuyển trong ngũ đạo, Như lai tạng cảm nhận khổ vui...; nếu tỏ ngộ vọng chính là chân thì chân vọng chẳng phải 2. Đồng thời cho rằng tâm của tất cả chúng sinh không phải do đoạn trừ hết phiền não mới được thanh tịnh, mà tâm ấy xưa nay vốn đã thanh tịnh rồi. Tâm ấy của chúng sinh tức là pháp tính. Trong Ngũ giáo phán, tông này tương đương với 3 giáo: Chung, Đốn, Viên của Đại thừa. Ngài Tông mật còn căn cứ vào tính chất bất đồng giữa 3 tông mà nêu ra 10 điểm khác nhau của pháp tính và pháp tướng, 5 điểm khác nhau giữa pháp tính và phá tướng, từ đó mà phán định rằng Pháp tính tông vượt hơn 2 tông trước. [X. Viên giác kinh lược sớ Q.thượng; Tông kính lục Q.5]. II. Tam Tông. Chỉ cho Thực pháp tông, Giả danh tông và Viên giáo tông do Luật tông thành lập. 1. Thực pháp tông: Tức Tát bà đa Hữu bộ tông, chủ trương tất cả các pháp đều có thật.2. Giả danh tông: Tức tông Thành thực, chủ trương các pháp chỉ có tên giả chứ không có thể thật. 3. Viên giáo tông: Chỉ cho Duy thức viên giáo. (xt. Hóa Giáo, Chế Giáo).
tam tông luận
561南齊周顒撰。書中以真、俗二諦之義,論述空假名、不空假名、假名空等三宗之旨。又空假名、不空假名二宗,為成實論師之說;假名空為周顒之說。本書為復興江南般若三論學之先驅。〔中觀論疏卷二末、二諦章卷下、廣弘明集卷二十四〕
; (三宗論) Tác phẩm, do cư sĩ Chu ngung soạn vào đời Nam Tề. Nội dung sách này dùng nghĩa Chân đế và Tục đế để bàn thuật ý chỉ của 3 tông: Không giả danh, Bất không giả danh và Giả danh không. Không giả danh và Bất không giả danh là thuyết của các Luận sư Thành thực; còn Giả danh không là thuyết của Chu ngung. Sách này là tác phẩm đầu tiên phục hưng Tam luận học bát nhã ở Giang nam. [X. Trung quán luận sớ Q.2, phần cuối; Nhị đế chương Q.hạ; Quảng hoằng minh tập Q.24].
tam tông nhị đế
561指南齊隱士周顒於其所著三宗論中,立真、俗二諦之說,即:(一)不空假名,如經中所說色空,其性實為空,故稱為空;而假色非空,此即性實。空無性實,故是真諦,不空為假名,故是俗諦。(二)空假名,一切諸法皆由眾緣所成,故有假名之體。若將緣加以分析,皆不可得,故其假名之體為俗諦,不可得才是真諦。(三)假名空,假名宛然即是空。 大乘玄論卷一以之相當於四重二諦中之初重二諦。又二諦章卷下謂,不空假名為「鼠嘍栗二諦」,空假名為「案瓜二諦」。假名空乃源自僧肇之(大四二‧二九下)「以物非真物,故是假物;假物故,即是空」而來。〔中觀論疏卷二末〕
; (三宗二諦) Chỉ cho thuyết Chân đế và Tục đế nói trong luận Tam tông của ẩn sĩ Chu ngung đờiNamTề. 1. Bất không giả danh: Như sắc, không nói trong kinh, thực tính của chúng là không, cho nên gọi là Không; còn giả sắc chẳng phải không, đây chính là thực tính. Không không có thực tính, nên là Chân đế, Bất không là giả danh, nên là Tục đế. 2. Không giả danh: Tất cả các pháp đều do nhân duyên mà thành, vì thế nên có cái thể giả danh. Nếu đem các duyên ấy mà phân tích thì đều bất khả đắc, bởi vậy, thể củagiả danh là Tục đế, bất khả đắc mới là Chân đế. 3. Giả danh không: Giả danh thì rõ ràng tức là không. Đại thừa huyền luận quyển 1 cho rằng 2 đế này tương đương với Nhị đế, lớp đầu trong 4 lớp Nhị đế. Còn Nhị đế chương quyển hạ thì cho Bất không giả danh là Thử lâu lật nhị đế, cònKhông giả danh là Án qua nhị đế. Giả danh không có nguồn gốc từ câu nói sau đây của ngài Tăng triệu (Đại 42, 29 hạ): Vì vật chẳng phải vật thật nên là giả vật; vì là giả vật nên tức là không. [X. Trung quán luận sớ Q.2, phần cuối]. (xt. Nhị Đế).
tam tùy miên
(三隨眠) Cũng gọi Tam sử. Tùy miên (Phạm:Anuzaya) là tên khác của phiền não mà Bồ tát ở giai vị Thập địa phải đoạn trừ. Dựa theo tính chất thô tế của chúng mà các Tùy miên được chia làm 3 loại là: 1. Hại bạn tùy miên(cũng gọi Hại bạn sử phiền não, Hại bạn, Hại bạn sử): Phiền não này là thứ thô nhất trong 3 phiền não, là phiền não mà Bồ tát 5 Địa trước trong 10 Địa phải đoạn trừ. Trong 5 Địa trước thì các phiền não hiện hành không cùng sinh một lượt là bạn giúp đỡ cho sự hiện hành của các phiền não sinh cùng một lượt, cho nên gọi là Hại bạn tùy miên. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần cuối thì các phiền não tham, sân, si... cùng khởi một lượtvới thân kiến tương ứngvới thức thứ 6, gọi là Câu sinh (cùng sinh một lượt), các phiền não khác thì gọi là Bấtcâu sinh(không cùng sinh một lượt); thể của các phiền não Bất câu sinh hơi thô, là bạn giúp đỡ cho sự hiện hành của phiền não Câu sinh, cho nên gọi là Hại bạn. 2. Luy liệt tùy miên(cũng gọi Bạc sử phiền não, Luy sử): Sự hiện hành củaPhiền não chướng vàSở tri chướng cùng sinh một lượt tương ứng với thức thứ 6, cũng tức là các phiền não nhỏ nhiệm yếu kém hiện hành ở Đệ lục và Đệ thất địa. Nếu khi khởi Phục đạo thì phiền não này không hiện hành, nhưng lúc không khởi Phục đạo thì nó len lén hiện hành một cách tinh tế. Đối với Hại bạn tùy miên ở trên mà nói thì tướng của Luy liệt tùy miên hơi nhỏ nhiệm tinh tế, cho nên gọi là Luy liệt(yếu kém). 3. Vi tế tùy miên(cũng gọi Vi tế sử phiền não, Vi tế sử, Tế sử): Sự hiện hành của Sở tri chướng tương ứng với thức thứ 7, là tập khí còn sót lại sau khi đã đoạn trừ Hại bạn tùy miên và Luy liệt tùy miên, loại phiền não này là nhỏ nhiệm nhất trong 3 phiền não, là phiền não do Bát địa trởlên đoạn trừ. Nếu phiền não này cũng đã bị đoạn trừ thì tất cả phiền não không còn hiện hành trở lại nữa. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; kinh Thâm mật giải thoát Q.5, kinh Tương tục giải thoát địa ba la mật liễu nghĩa; luận Du già sư địa Q.78; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu; Duy thức chương tư kí Q.6, phần cuối]. (xt. Tùy Miên).
tam tùy phiền não
(三隨煩惱) Chỉ cho 3 thứ Tùy phiền não nói trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 34. 1. Tiểu tùy phiền não: Chỉ cho 10 phiền não là Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Khan, Cuống, Siểm, Kiêu và Hại. Mười phiền não này đều sinh khởi một cách riêng rẽ và vì chúng sinh khởi riêng rẽ, có tính cách cục bộ, cho nên gọi là Tiểu tùy phiền não.2. Trung tùy phiền não: Chỉ cho 2 thứ phiền não Vô tàm (không biết thẹn)và Vô quí(không biết hổ); hai thứ phiền não này cùng nhau sinh ra một lượt, chứ không sinh khởi riêng rẽ và khởi lên trong tất cả các pháp bất thiện, nên gọi là Trung tùy phiền não.3. Đại tùy phiền não: Chỉ cho 8 thứ phiền não là Điệu cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Tán loạn, Bất chính và Thất niệm; 8 thứ phiền não này chẳng những chỉ cùng nhau sinh ra một lượt, mà còn có mặt khắp trong các pháp ô nhiễm, vì thế nên gọi là Đại phiền não.
tam tăng kì bách đại kiếp
646即菩薩發心至佛果之修行時間。又作三祇百劫。為三阿僧祇劫和百大劫之合稱。三阿僧祇,又作三劫,阿僧祇譯作無數,或指數之極;劫乃時間名稱,譯作長遠等,其中有大、中、小之別。三個阿僧祇之大劫稱為三大阿僧祇劫,是菩薩積集菩提資糧之時間;百大劫則是佛果之身得相好莊嚴,為修福業之時間。菩薩為度他而作三阿僧祇劫之修行,更為自己成佛之身感三十二相,而於百大劫間植無量之福德。然瑜伽師地論卷四十八、攝大乘論卷下等唯舉三祇,而未說百劫,故智顗、法藏等諸師皆主張三祇百劫之說為小乘所立。〔菩薩瓔珞本業經卷下、大毘婆沙論卷一七八、俱舍論卷十八、順正理論卷四十四、華嚴五教章卷二〕(參閱「三阿僧祇劫」577、「劫」2811)
tam tăng kỳ bách đại kiếp
(三僧祇百大劫) Cũng gọi Tam kì bách kiếp. Ba tăng kì trăm đại kiếp, từ gọi chung Tam a tăng kì kiếp và Bách đại kiếp, là thời gian vị Bồ tát tu hành từ lúc mới phát tâm đến khi thành quả Phật. Tam a tăng kì cũng gọi là Tam kiếp, a tăng kì dịch là vô số, hoặc chỉ cho sự tột cùng của số; Kiếp là tên gọi thời gian, dịch là lâu xa, lâu dài... trong đó có đại kiếp, trung kiếp, tiểu kiếp khác nhau. Ba cái A tăng kì đại kiếp gọi là Tam đại a tăng kì kiếp, là khoảng thời gian vị Bồ tát tích lũy tư lương bồ đề; còn 100 đại kiếp là thân của quả Phật được tướng hảo trang nghiêm, là thời gian tu phúc nghiệp. Bồ tát vì sự nghiệp độ tha mà tu hành trong 3 a tăng kì kiếp, lại vì chính thân mình thành Phật cảm được 32 tướng mà trong khoảng thời gian 100 đại kiếp vun trồng vô lượng phúc đức. Nhưng luận Du già sư địa quyển 48 và luận Nhiếp đại thừa quyển hạ chỉ nêu Tam kì, chứ không nói Bách kiếp, cho nên các ngài Trí khải, Pháp tạng... đều chủ trương thuyết Tam kì bách kiếp là do Tiểu thừa thành lập. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.178; luận Câu xá Q.18; luận Thuận chính lí Q.44; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp, Kiếp).
tam tăng thượng
Three predominant influences—See Tam Pháp (xxxxxiv).
tam tư
579指三種審慮對境之精神作用。即:(一)對境取正因邪因俱相違等之相,加以審察思慮,稱為審慮思,又作加行思。(二)審慮後,決定其意,稱為決定思。(三)其後,方才發動身、語二業,稱為動發勝思,又作等起思。又以其勢力強勝,故謂之勝。其中,前二思為意業。動發勝思又可分為動身思與發語思,動身思為身業,發語思為語業。配以因等起、剎那等起,則有二說:(一)審慮思與決定思之初念為遠因等起,決定思之最後念為近因等起,動發勝思為剎那等起。(二)前二思為遠因等起,動發勝思之初念為近因等起,第二念以後為剎那等起。〔大乘成業論、成唯識論卷一、成唯識論述記卷二本〕(參閱「思」3807)
; All action and speech have three mental conditions - reflection, judgement, decision.
; (三思) Chỉ cho 3 tác dụng tinh thần suy tư về đối cảnh(đối tượng). 1. Thẩm lự tư(cũng gọi Gia hành tư): Nghĩ xét kĩ về đối cảnh chấp lấy các tướng chính nhân tà nhân đều trái nhau... 2. Quyết định tư: Sau khi đã nghĩ xét kĩ thì ý quyết định. 3. Động phát thắng tư(cũng gọi Đẳng khởi tư): Sau khi đã quyết định, phát động thân nghiệp và ngữ nghiệp. Vì thế lực của Tư này mạnh mẽ hơn nên gọi là Thắng. Trong đó, 2 Tư trước thuộc về Ý nghiệp. Động phát thắng tư lại được chia làm Động thân tư và Phát ngữ tư; Động thân tư thuộc về Thân nghiệp, Phát ngữ tư thuộc về Ngữ nghiệp. Tam tư phối hợp với Nhân đẳng khởi, Sát na đẳng khởi thì có 2 thuyết như sau:1. Ý nghĩ ban đầu của Thẩm lự tư và Quyết định tư là Nhân đẳng khởi xa, ý nghĩ sau cùng của Quyết định tư là Nhân đẳng khởi gần, Phát động thắng tư là Sát na đẳng khởi.2. Hai tư trước là Nhân đẳng khởi xa, ý nghĩ ban đầu của Động phát thắng tư là Nhân đẳng khởi gần, từ ý nghĩ thứ 2 trở về sau là Sát na đẳng khởi. [X. luận Đại thừa thành nghiệp; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu]. (xt. Tư).
tam tương tục
588指世界、眾生與業界之因果,次第遷流、相續不絕。即:(一)世界相續,眾生有業,引起塵勞煩惱,招感風、金、水輪等互為因緣,而成此國土世界,如林木遇火可成土,再絞則成水;山石相擊可成炎,融之則成水。如此交互產生,遞相為種,故成世界相續。(二)眾生相續,眾生因有色、香、味、觸等六妄,故異見成憎,同想成愛,以愛流為種,則交媾發生,吸引同業;隨其所應,而入胎、卵、濕、化等四生,以是因緣,故眾生相續。(三)業果相續,眾生以貪愛為本,結愛不離,故世間父母、子孫相生不斷;以殺貪為本,隨力量強弱而遞相吞食,人食羊,則羊死為人,人死為羊,如是乃至十生之類,死死生生,互來相食。以盜貪為本,則汝負我命,我還汝債,百千劫常在纏縛中,以是因緣而業果相續。此三種顛倒皆由妄見所生,終而復始,相續不斷,故稱三相續。〔楞嚴經卷四〕
; (三相續) Ba thứ tiếp nối nhau, chỉ cho thế giới, chúng sinh và nghiệp quả, lần lượt đổi dời, nối tiếp nhau không dứt. 1. Thế giới tương tục: Chúng sinh gây nghiệp, dẫn đến phiền não trần lao, chiêu cảm phong luân, kim luân, thủy luân... làm nhân duyên lẫn nhau mà tạo thành quốc độ thế giới này, như rừng cây bị cháy thì thành đất, vắt đất thì ra nước; đá núi đập vào nhau thì bắn ra lửa, nung nấu thì tan thành nước. Cứ nhưthế sinh ra lẫn nhau, làm chủng tử cho nhau mà thành thế giới tương tục. 2. Chúng sinh tương tục: Chúng sinh vì có 6 thứ hư vọng như sắc, hương, vị, xúc..., nên hễ thấy khác nhau thì ghét nhau, thấy giống nhau thì yêu mến nhau, lấy yêu mến làm hạt giống nên phát sinh giao cấu, hấp dẫn đồng nghiệp, tùy theo cảm ứng mà vào 4 loài(đẻ bọc, đẻ trứng, đẻ ở chỗ ẩm ướt, tự nhiên hóa sinh), vì nguyên nhân ấy nên chúng sinh tương tục. 3. Nghiệp quả tương tục: Chúng sinh lấy tham ái làm gốc, ái kết không lìa, cho nên cha mẹ, con cháu ở thế gian sinh ra nhau không dứt; lấy tham sát làm gốc, rồi tùy theo sức vóc mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau, người ăn dê thì dê chết thành người, người chết làm dê, cứ như thế cho đến 10 loài sinh, chết chết sống sống, ăn thịt lẫn nhau; lấy tham trộm làm gốc nên người nợ mệnh ta, ta trả nợ người, trăm nghìn kiếp thường ở trong sự trói buộc, vì lí do ấy nên nghiệp quả tương tục. Ba thứ điên đảo trên đây đều do vọng kiến sinh ra, đến cuối cùng thì trở lại từ đầu, nối nhau không dứt, vì thế gọi là Tam tương tục. [X. kinh Lăng nghiêm Q.4].
tam tướng
587即三種相。<一>一切諸法有如下三相:(一)假名相,指唯有假名而無實體之相。(二)法相,指五蘊、十二處、十八界等諸法之相。(三)無相相,指無相之相,即離假名相、法相之相。〔大明三藏法數卷十三〕 <二>事物之上立有三相:(一)標相,如煙為標示火存在之相。(二)形相,如長、短、方、圓之相。(三)體相,即物體自身本質之相,如火以熱為相。〔大明三藏法數卷十三〕 <三>修禪定時有如下三相:(一)發相,對治心之沈滯而起奮發之相。(二)制相,制止心散亂之相。(三)捨相,捨置調適心之相。〔成實論卷十二定相品〕 <四>因明用語。因明三支作法中,因支必備之遍是宗法性、同品定有性、異品遍無性等三個法則,稱為因三相。(參閱「因三相」2271) <五>又作三有為、三有為相。即分別有為法之能相為生相、住異相、滅相三種:(一)生相,能起諸法。(二)住異相,能衰異諸法。(三)滅相,能壞滅諸法。俱舍論卷五(大二九‧二七上):「若法令行三世遷流,此經說為有為之相,令諸有情生厭畏故,謂彼諸行生力所遷,令從未來流入現在,異及滅相力所遷迫,令從現在流入過去,其衰異及壞滅故。傳說如有人處稠林,有三怨敵欲為損害,一從稠林牽之令出,一衰其力,一壞命根。三相於行應知亦爾。住於彼行攝受安立,常樂與彼不相捨離,故不立在有為相中。又無為法有自相住,住相濫彼,故經不說。有謂此經說住與異總合為一,名住異相。何用如是總合說為?住是有情所愛著處,為令厭捨,與異合說。」此蓋以三相會釋四相。〔增一阿含經卷十二、大毘婆沙論卷三十九、順正理論卷十三、俱舍論光記卷五〕(參閱「四相」1732) <六>又作三性。即就有無假實而分一切法之性相為遍計所執性(虛妄分別相)、依他起性(因緣相)、圓成實性(第一義相)等三種。(參閱「三性」563) <七>第八阿賴耶識所具之自相、果相、因相等三相。自相指初阿賴耶,果相指異熟,因相指一切種。(參閱「賴耶三相」6314)
; Xem Ba tínhXem Ba tự tính.
; The three forms or positions: giải thoát tướng nirvàna; ly tướng no nirvàna; diệt tướng or phi hữu phi vô chi trung đạo absence of both, or the "middle way" of neither.
; (三相) I. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng của hết thảy các pháp, đó là: 1. Giả danh tướng: Tức tướng chỉ có tên giả chứ không thể thật. 2. Pháp tướng: Chỉ cho các tướng của 5 uẩn, 12 xứ, 8 giới... 3. Vô tướng tướng: Chỉ cho tướng của vô tướng, là tướng lìa Giả danh tướng và Pháp tướng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13]. II. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng của sự vật. 1. Tiêu tướng: Như khói là tướng chỉ bày cho biết sự tồn tại của lửa. 2. Hình tướng: Như tướng dài, ngắn, vuông, tròn... 3. Thể tướng: Tướng bản chất của tự thân vật thể, như lửa lấy nóng làm tướng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13]. III. Tam Tướng. Ba tướng trị tâm khi tu thiền định. 1. Phát tướng: Tướng phấn phát khởi lên khi đối trị sự trầm trệ của tâm. 2. Chế tướng: Tướng ngăn chặn tâm tán loạn. 3. Xả tướng: Tướng buông bỏ sự điều hòa tâm. [X. phẩm Định tướng trong luận Thành thực Q.12]. VI. Tam Tướng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 chi Nhân minh, chi Nhân phải có đủ 3 điều kiện gọi là Nhân tam tướng, đó là: Nhân phải hoàn toàn quan hệ với Tông, phải có tính cách của Đồng phẩm và tuyệt đối không được xen lẫn tính cách của Dị phẩm. (xt. Nhân Tam Tướng). V. Tam Tướng. Cũng gọi Tam hữu vi, Tam hữu vi tướng. Ba tướng của pháp hữu vi. 1. Sinh tướng: Có năng lực sinh khởi các pháp. 2. Trụ dị tướng: Có năng lực làm cho các pháp biến đổi, suy hoại. 3. Diệt tướng: Có nănglựclàm cho các pháp tan diệt. Luận Câu xá quyển 5 (Đại 29, 27 thượng) nói: Nếu pháp làm cho hành 3 đời trôi chảy đổi dời thì kinh này gọi đó là tướng hữu vi khiến cho các hữu tình sinh tâm chán sợ. Nghĩa là khi các hành đổi dời thì chúng sẽ từ vị lai trôi dời vào hiện tại, rồi bị năng lực của dị tướng và diệt tướng thôi thúc khiến cho từ hiện tại trôi dời vào quá khứ, cứ thế đổi khác và hoại diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; luận Đại tì bà sa Q.39; luận Thuận chính lí Q.13; Câu xá luận quang kí Q.5]. (xt. Tứ Tướng). VI. Tam Tướng. Cũng gọi Tam tính. Tức ý cứ vào tính cách hữu vô giả thực mà chia tính tướng của tất cả pháp làm 3 thứ là Biến kế sở chấp tính(tướng hư vọng, phân biệt), Y tha khởi tính (tướng nhân duyên) và Viên thành thực tướng(tướng Đệ nhất nghĩa). (xt. Tam Tính). VII. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng củathức A lại da: Tự tướng, Quả tướng và Nhân tướng. Tự tướng chỉ cho Sơ a lại da, Quả tướng chỉ cho Dị thục và Nhân tướng chỉ cho Nhất thiết chủng. (xt. Lại Da Tam Tướng).
tam tướng thần
587梵名 Trimūrti。指相互關聯而各具一相之三神。主要指印度教所信奉之梵天、毘濕奴、濕婆三大主神。認為三神分別代表宇宙之創造、護持、毀滅。源於吠陀時期。據梨俱吠陀載,火神阿耆尼有三處,稱為三座(梵 Triṣadhasthā),在地上者為二木片摩擦生火,稱為力之子(梵 Sahasas-putra);在空中者指雲中之電火,稱為水之子(梵 Apputra);在天則太陽為其本處,稱為天火(梵 Divyāgni)。
; (三相神) Phạm:Trimùrti. Chỉ cho 3 vị thần liên quan với nhau nhưng mỗi vị có một tướng. Chủ yếu chỉ cho 3 vị thần lớn mà Ấn độ giáo tin thờ là Phạm thiên, Tì thấp nô và Thấp bà. Người Ấn độ giáo tin rằng 3 vị thần này theo thứ tự đại biểu cho sự sáng tạo, sự duy trì và sự hủy diệt vũ trụ. Tín ngưỡng này bắt nguồn từ thời kì Phệ đà. Cứ theo Lê câu phệ đà thì Hỏa thần A kì ni có 3 chỗ, gọi là Tam tòa (Phạm: Triwadhasthà), chỗ trên mặt đất là 2 miếng gỗ chà xát vào nhau sinh ra lửa, gọi là con của Lực (Phạm: Sahasas-putra); chỗ trong hư không chỉ cho lửa chớp trong mây, gọi là con của nước (Phạm:Apputra); còn chỗ ở trên trời thì thái dương(mặt trời) là bản xứ của thần này, gọi là Thiên hỏa (Phạm:Divyàgni).
tam tướng tục
The three links, or consequences: (a) the worlds with their kingdoms, which arise from the karma of existence; (b) all beings who arise from the five skandhas; (c) rewards and punishments, which arise out of moral karma causes.
tam tưởng
636<一>指三種惡想。又作三惡想、三不善想。即:(一)欲想(梵 kāma-saṃjñā),起貪慾之想。(二)瞋恚想(梵 vyāpāda-saṃjñā),起瞋恚之想。(三)殺害想(梵 vihiṃsā-saṃjñā),又作惱想,起害人之想。依無量壽經連義述文贊卷中之說,不貪名利則不生欲覺,不惱眾生則不生瞋覺,不損物命則不生害覺。故三覺不生,則三想亦必絕之。〔增一阿含經卷十三、異部宗輪論、無量壽經義疏卷上〕 <二>指三種善想。又作三善想。即:(一)出要想(梵 naiṣkramya-saṃjñā),又作出離想。(二)不害想(梵 avihiṃsā-saṃjñā)。(三)不恚想(梵 avyāpāda-saṃjñā)。依增一阿含經卷十三之說,有出離想者,命終時必生於人中;有不害想者,命終時自然生於天上;有不恚想者,命終時斷五下分結,於彼處般涅槃。〔長阿含經卷八〕 <三>依大寶積經卷八十二之說,指在家菩薩見乞者而起之三種心念,即:(一)善知識想。(二)他世富想,又作令後世大富想。(三)菩提基想,又作令得佛道想。〔郁迦羅越問菩薩行經〕 <四>依大智度論卷二十三之說,斷除貪等諸結時所起之三種心念,即:(一)離想,又作離欲想,行者於煖法、頂法、忍法、世間第一法中,欲以正智慧觀想,而遠離諸煩惱。(二)斷想,行者欲得無漏道而斷除諸結使。(三)盡想,又作滅想,入涅槃時,欲滅五受之眾而不復相續。〔大毘婆沙論卷二十九、成實論卷十四、無量壽經集解卷八〕 <五>淨土行者念佛之時所生之三種心念,即:(一)歸命想,本尊向東,行者向佛以歸命。(二)引攝想,本尊向西,行者作隨佛之後過十萬億國土之念。(三)往生想,行者作往生彼國而見佛聞法之念。〔往生要集卷中本、往生要集義記卷中之五〕 <六>據般若經,菩薩欲成無上道,應起平等心,於一切眾生無有偏黨,皆生親愛之想,莫生怨心、中人心,故稱三想。(一)怨想,有人加害於我及害我父母兄弟,亦生親愛之想。(二)親想,於父母兄弟、親戚朋友生親愛之想。(三)中人想,於非怨非親之人,亦生親愛之想。〔大智度論卷七十二〕
; The three evil thoughts are desire, hate, malevolence; the three good thoughts are Oán tưởng thoughts (of love) to enemies, Thân tưởng the same to family and friends, Trung nhân tưởng the same to those who are neither enemies nor friends, i.e. to all.
; (三想) I. Tam Tưởng. Cũng gọi Tam ác tưởng, Tam bất thiện tưởng. 1. Dục tưởng (Phạm:Kàma-saôjĩà): Ý tưởng nổi lên từ sự tham muốn. 2. Sân khuể tưởng (Phạm:Vyàpàdasaôjĩà): Ý tưởng nổi lên từ sự tức giận. 3. Sát hại tưởng (Phạm: Vihiôsàsaôjĩà), cũng gọi Não tưởng. Nghĩa là nổi lên ý tưởng hại người. Cứ theo Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển trung, nếu không tham danh lợi thì không sinh dục giác, không não chúng sinh thì không sinh sân giác, không tổn sự sống của vật thì không sinh hại giác. Do đó, nếu Tam giác không sinh thì Tam tướng cũng diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Di thục bộ tông luận; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. II. Tam Tưởng. Cũng gọi Tam thiện tưởng. Chỉ cho 3 thứ thiện tưởng. 1. Xuất yếu tưởng (Phạm: Naiwkramya-saôjĩà): cũng gọi Xuất li tưởng. Nghĩa là ý tưởng thoát li. Người có ý tưởng này, sau khi chết sẽ sinh vào cõi người. 2. Bất hại tưởng (Phạm:Avihiôsàsaôjĩà): Ý tưởng không làm hại người. Người có ý tưởng này, khi mệnh chung tự nhiên sinh lên cõi trời. 3. Bất khuể tưởng (Phạm:Avỳapàdasaôjĩà): Ý tưởng không sân hận. Người có ý tưởng này, khi mệnh chung sẽ dứt trừ 5 kết sử sau mà nhập Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh Trường a hàm Q.8]. III. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm mà Bồ tát tại gia phát khởi khi thấy người ăn xin. 1. Thiện tri thức tưởng: Ý tưởng được gặp bậc thiện tri thức. 2. Tha thế phú tưởng(cũng gọi Linh hậu thế đại phú tưởng): Ý tưởng nếu bố thí thì đời sau được giàu to. 3. Bồ đề cơ tưởng(cũng gọi Linh đắc Phật đạo tưởng): Khởiýtưởng bố thí là nền tảng để thành Bồ đề. [X. kinh Đại bảo tích Q.82; kinh Úcca la việt vấn Bồ tát hạnh]. IV. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm khởi lên khi đoạn trừ các phiền não tham, sân... 1. Li tưởng(cũng gọi Li dục tưởng): Hành giả ở trong các pháp Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất... muốn dùng chính trí tuệ quán tưởng để xa lìa các phiền não. 2. Đoạn tưởng: Hành giả muốn được đạo vô lậu để đoạn trừ các kết sử. 3. Tận tưởng(cũng gọi Diệt tưởng): Khi vào Niết bàn, hành giả muốn diệt 5 thụ, không cho nối tiếp nữa. [X. luận Đại trí độ Q.33; luận Đại tì bà sa Q.29; luận Thành thực Q.14; Vô lượng thọ kinh tập giải Q.8]. V. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm sinh khởi khi hành giả Tịnh độ niệm Phật. 1. Qui mệnh tưởng: Bản tôn quay về hướng Đông, hành giả hướng về Phật qui mệnh. 2. Dẫn nhiếp tưởng: Bản tôn quay về hướng Tây, hành giả khởi ý niệm theo sau Phật qua 10 vạn ức cõi nước. 3. Vãng sinh tưởng: Tâm niệm tưởng tượng hành giả đã sinh về cõi nước Cực lạc và được thấy Phật nghe pháp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần đầu; Vãng sinh yếu tập nghĩa kí Q.trung, 5]. VI. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm tưởng bình đẳng của Bồ tát đối với tất cả chúng sinh, không phân biệt oán, thân. 1. Oán tưởng: Có người làm hại mình và hại cha mẹ anh em mình, cũng khởi ý tưởng thân ái. 2. Thân tưởng: Đối với cha mẹ, anh em, họ hàng, bạn bè đều khởi ý tưởng thân ái. 3. Trung nhân tưởng: Đối với những người chẳng phải oán chẳng phải thân, cũng sinh khởi ý tưởng thân ái. [X. kinh Bát nhã; luận Đại trí độ Q.72].
tam tại
547即在心、在緣與在決定。此乃曇鸞之往生論註卷上所說。謂若以我人一生犯惡重罪與臨終十念念佛之效相比較,則念佛之效用自較殊勝,故說在心(從心而言,念佛是根據真理,罪惡是根據虛妄)、在緣(從緣而言,念佛是根據真實之佛名,罪惡則由眾生而來)與在決定(臨命終時之念佛,以時機緊迫故心定,而犯惡之心則不起)之三在說。
; (三在) Tại tâm, tại duyên và tại quyết định, được nói trong Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan. Nghĩa là nếu so sánh hiệu lực của việc suốt đời tạo các tội ác và việc niệm Phật 10 niệm lúc hấp hối thì hiệu lực của việc niệm Phật thù thắng hơn vì 3 lẽ: 1. Tại tâm: Nói theo tâm thì niệm Phật là căn cứ chân lí, tội ác là căn cứ hư vọng. 2. Tại duyên: Nói theo duyên thì niệm Phật là căn cứ danh hiệu Phật chân thực, còn tội ác thì do chúng sinh mà có. 3. Tại quyết định: Niệm Phật lúc hấp hối, vì thời cơ cấp bách, có tính cách quyết định, cho nên tâm định, còn tâm tạo tội ác thì lúc đó không khởi lên.
Tam tạng
三藏; S: tripiṭaka; P: tipiṭaka;|I. Là ba phần cốt tuỷ của kinh sách đạo Phật, gồm: Kinh tạng (經藏; s: sūtra-piṭaka; p: sutta-piṭaka), Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka), Luận tạng (論藏; s: abhi-dharma-piṭaka; p: abhidhamma-piṭaka).|Kinh tạng gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử, chia làm năm bộ: Trường bộ kinh (p: dīgha-nikāya), Trung bộ kinh (p: majjhima-nikāya), Tương ưng bộ kinh (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).|Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (s, p: saṅgha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Luận tạng – cũng được gọi là A-tì-đạt-ma – chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự khác biệt giữa các trường phái không đáng kể.|Tam tạng còn được truyền lại trọn vẹn nhất chính là Tam tạng Pā-li, có lẽ xuất phát từ một bản của Trưởng lão bộ (s: sthavira) ở Trung Ấn. Theo truyền thuyết, Kinh tạng và Luật tạng bằng tiếng Pā-li được viết lại trong lần kết tập thứ nhất (năm 480 trước Công nguyên), trong đó Ưu-bà-li nói về Luật và A-nan-đà trình bày giáo pháp. Những lời thuật lại của hai vị đại đệ tử này của Phật (Mười đại đệ tử) đã trở thành cơ sở của hai tạng đó. Theo một số tài liệu thì Luận tạng cũng hình thành ngay sau đó. Ngoài văn hệ Pā-li, ngày nay người ta cũng còn các tạng kinh, luật bằng Phạn ngữ (sanskrit), được Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) lưu truyền, nhất là ở những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ.|Kinh sách của các tông phái khác như Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và Pháp Tạng bộ (s: dhar-maguptaka) ngày nay chỉ còn trong bản chữ Hán. Các kinh sách quan trọng của Phật giáo Trung Quốc và Nhật Bản phần lớn đều xuất phát từ Pháp Tạng bộ. Các bộ này không xếp thành hệ thống nghiêm khắc như những tạng Pā-li và qua thời gian cũng có thay đổi. Danh mục cũ nhất về các Kinh tạng vào năm 518 (sau Công nguyên) ghi lại 2113 tác phẩm. Toàn bộ kinh sách đó được in lại lần đầu trong năm 972 (Ðại chính tân tu đại tạng kinh, Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ).|II. Một danh hiệu dành cho những Cao tăng, những vị Đại sư được xem là tinh thông Tam tạng, như vậy là thông suốt hết tất cả những thánh điển nhà Phật. |III. Một cách gọi kinh điển, giáo lí của hàng Nhị thừa. |VI. Chỉ ba loại hành giả: Hành giả Thanh Văn (聲聞), hành giả Duyên Giác (緣覺) và hành giả Bồ Tát (菩薩).
tam tạng
690梵語 trīṇi piṭakāni,巴利語 tīṇi piṭakāni。又作三法藏。藏,梵語 piṭaka,意謂容器、穀倉、籠等。<一>指經藏、律藏、論藏。係印度佛教聖典之三種分類。據大乘莊嚴經論卷四述求品載,藏,「攝」之義,即總攝一切所應知之意。若依覺音之說,則藏為「諳記」之義,即以諳誦之法而師徒口傳。另據文殊支利普超三昧經卷中載,藏為「器」之義,即容受所應知之一切教法之意。大眾部與其他部派在三藏之外另加雜藏(本生因緣等),犢子部另加咒藏(真言、陀羅尼)而成立四藏。法藏部另加咒藏與菩薩藏,大眾部之一說部另加雜集藏與禁咒藏,成實論加上雜藏與菩薩藏,六波羅蜜經加上般若波羅蜜多藏與陀羅尼藏,五者合稱五藏。此外,經藏與律藏二者,或聲聞藏與菩薩藏兩者,並稱為二藏。 (一)經藏(梵 sūtrānta-piṭaka,巴 sutta-piṭaka),音譯素怛纜藏、修多羅藏,意譯契經藏。佛所說之經典,上契諸佛之理,下契眾生之機;有關佛陀教說之要義,皆屬於經部類。(二)律藏(梵 vinaya-piṭaka,巴同),音 剿i奈耶藏、毘尼藏,意譯調伏藏。佛所制定之律儀,能治眾生之惡,調伏眾生之心性;有關佛所制定教團之生活規則,皆屬於律部類。(三)論藏(梵 abhidharma-piṭaka,巴 abhidhamma-piṭaka),音譯阿毘達磨藏、阿毘曇藏,意譯作對法藏。對佛典經義加以論議,化精簡為詳明,以決擇諸法性相;為佛陀教說之進一步發展,而後人以殊勝之智慧加以組織化、體系化的論議解釋。論藏又稱論部,與摩呾理迦(或摩得勒伽,梵 mātṛkā,巴 mātikā,意譯作本母、論母)、優波提舍(梵 upadeśa,巴 upadesa,意譯作論議)具有密切之關係。 據大毘婆沙論卷一載,三藏之所顯與等流等各異,經藏乃次第之所顯,律藏為緣起之所顯,論藏為性相之所顯;經藏為力之等流,律藏為大悲之等流,論藏為無畏之等流;經藏係種種雜說,律藏係講說諸學處,論藏則分別諸法之自相與共相。 大乘莊嚴經論卷四亦舉出設立三藏之九種原因,即:(一)為對治疑惑,故設立修多羅。(二)為對治受用之二邊,即令遠離樂行之邊、苦行之邊,故設立毘尼。(三)為對治自心之見取,故設立阿毘曇。(四)為說三學,故設立修多羅。(五)為成就戒學、心學,故設立毘尼。(六)為成就慧學,故設立阿毘曇。(七)為講說法及義,故設立修多羅。(八)為成就法及義,故設立毘尼。(九)為通達法及義,故設立阿毘曇。 釋氏要覽卷中亦援引阿毘達磨集論之說,謂經藏乃用以對治疑煩惱,律藏對治受用二邊之隨煩惱,論藏對治自見取執之隨煩惱。此外,西藏喇嘛教以三藏配於三毒,而謂律藏可斷除貪欲,經藏可斷除瞋恙,論藏可斷除愚癡。 有關三藏之次第,迄無定論,或謂若就三藏結集之先後而言,則其次第為經、律、論;若就行修之順序而言,則為律、經、論。 若將此三藏配於三學,則經相當於定學、律相當於戒學、論相當於慧學。同時,經亦包含戒、定、慧三學,律包含戒、定二學,論唯包含慧學。其他尚有由各方面立三藏之別者。原來三藏係指原始佛教及部派佛教之聖典,亦即小乘之三藏教(藏教),其後此語為大乘所引用,三藏遂有下乘(聲聞乘)與上乘(菩薩乘)之別,合此即成為「六藏」。 凡是以經立宗者,如華嚴宗、淨土宗、密宗、日本日蓮宗等,皆稱為經宗;以律立宗者為律宗,如我國南山律宗;以論立宗者為論宗,如俱舍宗、成實宗、三論宗等。又精通三藏之各藏者,分別稱為經師、律師或論師。造論弘揚佛教者,稱為論主或論師。精通三藏之法師稱為三藏法師、三藏比丘、三藏聖師,或單稱三藏。在我國,三藏之翻譯家亦稱三藏,例如稱玄奘三藏、真諦三藏等。〔增一阿含經卷二、十誦律卷六十、分別功德論卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷十一、唐譯攝大乘論釋卷一、大乘起信論義記卷上〕 <二>分別為聲聞、緣覺、菩薩等三乘人所說之教法,即聲聞藏、緣覺藏、菩薩藏,合三者亦稱三藏。(一)聲聞藏,詮釋聲聞之理行果。(二)緣覺藏,又作辟支佛藏,詮釋緣覺之理行果。(三)菩薩藏,詮釋菩薩之理行果。〔文殊支利普超三昧經卷中三藏品、阿闍世王經卷下、入大乘論卷上、大乘義章卷一、大乘起信論義記卷上〕 <三>日本淨土真宗,對淨土三部經所說之教法(法門),亦稱三藏。據「教行信證」一書之說,此三者即福智藏、福德藏、功德藏。(一)「福智藏」意即圓滿成就智慧與福德二種莊嚴,乃指南無阿彌陀佛之名號,從而謂開顯大無量壽經所說弘願真實之第十八願之教。(二)「福德藏」即觀無量壽經所說之定散諸行,從而謂開顯第十九願要門之方便教。(三)「功德藏」即阿彌陀經所說以自力迴向之名號,從而謂開顯第二十願真門之方便教。
; Tripiṭāka (S), Tipiṭaka (P), den sum (T)Nhứ thiết Kinh, Đại tạng KinhTạng Kinh: chỉ chung tất cả kinh điển Phật giáo; 3 tạng kinh: - Kinh tạng (Sutra-pitaka) - Luật tạng (Vinaya-pitaka) - Luận tạng (Sastra-pitaka) Kinh điển có 12 thể loại: khế kinh, trùng tụng, thọ ký, phúng tụng, vô vấn tự thuyết, nhơn duyên, ví dụ, bổn sự, bổn sanh, phương quảng, vị tằng hữu và luận nghị.
; Tripitaka (S). Three Collections of the Buddhist Canon. Three baskets: Basket of sutra, basket of discipline, basket of philosophical treatises
; Tripitakas—Tam Tạng Kinh điển gồm trọn vẹn giáo lý của Đức Phật (bằng 11 lần quyển Thánh Kinh), được viết bằng tiếng Pali trong trường phái Tiểu Thừa và tiếng Phạn trong trường phái Đại Thừa—The three store houses—Three Buddhist Canon Baskets—The three baskets (tripitaka) of Buddhist Teachings which contains the essence of the Buddha's teaching (is estimated to be about eleven times the size of the Bible)—The Theravada canon written in Pali and the Mahayana canon written in Sanskrit. (I) Luật Tạng: Vinaya (skt)—Precepts—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, Luật Tạng được xem là cái neo vững chắc để bảo tồn con thuyền Giáo Hội trong những cơn phong ba bão táp của lịch sử. Phần lớn Luật Tạng đề cập đến giới luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các vị Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, the Vinaya Pitaka, which is regarded as the sheet anchor of the Holy Order, deals mainly with the rules and regulations of the Order of Bhikkhus and Bhikkhunis. 1) Ngót hai mươi năm sau khi thành đạo, Đức Phật không có ban hành giới luật nhứt định để kiểm soát và khép chư Tăng vào kỷ cương. Về sau, mỗi khi có trường hợp xãy đến, Đức Phật đặt ra những điều răn thích hợp—For nearly twenty years after the enlightenment of the Buddha, no definite rules were laid down for the control and discipline of the Sangha. Subsequently as occasion arose, the Buddha promulgated rules for the future discipline of the Sangha. 2) Luật Tạng nêu rõ đầy đủ lý do tại sao và trường hợp nào mà Đức Phật đặc ra một giới, và mô tả rành mạch các nghi thức hành lễ sám hối của chư Tăng—Vinaya Pitaka mentions in details (fully describes) reasons for the promulgation of rules, their various implications, and specific Vinaya ceremonies of the Sangha. 3) Ngoài ra, lịch trình phát triển đạo giáo từ thuở ban sơ, sơ lược đời sống và chức nhiệm của Đức Phật, và những chi tiết về ba lần kết tập Tam Tạng Kinh Điển cũng được đề cập trong Luật Tạng—Besides the history of the gradual development of the Sasana from its very inception, a brief account of the life and ministry of the Buddha, and details of the thee councils are some other additional relevant contents of the Vinaya Pitaka. 4) Tóm lại, đây là những tài liệu hữu ích về lịch sử thời thượng cổ, về các cổ tục ở Ấn Độ, về kiến thức và trình độ thẩm mỹ thời bấy giờ—In summary, Vinaya Pitaka reveals useful information about ancient history, Indian customs, ancient arts and sciences. 5) Luật Tạng gồm năm quyển—The Vinaya Pitaka consists of five books: a) Tội Nặng: Parajika (skt)—Major offences. b) Tội Nhẹ: Pacittiya (skt)—Minor offences. c) Phần lớn: Mahavagga (skt)—Great Section. d) Phần nhỏ: Cullavagga (skt)—Lesser Section. e) Giới luật toát yếu: Parivara (skt)—Epitome of the Vinaya. 6) See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo. (II) Kinh Tạng: Sutra (skt). 1) Kinh Tạng đại để gồm những bài pháp có tính cách khuyên dạy mà Đức Phật giảng cho cả hai, bậc xuất gia và hàng cư sĩ, trong nhiều cơ hội khác nhau. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và A Na Đà cũng được ghép vào Tạng Kinh và cũng được tôn trọng như chính lời Đức Phật vì đã được Đức Phật chấp nhận—The Sutra Pitaka consists chiefly of instructive discourses delivered by the Buddha to both the Sangha and the laity on various occasions. A few discourses expounded by great disciples such as the Venerable Sariputra, Moggallana, and Ananda, are incorporated and are accorded as much veneration as the word of the Buddha himself, since they were approved by him. 2) Phần lớn các bài pháp nầy nhắm vào lợi ích của chư Tỳ Kheo và đề cập đến đời sống cao thượng của bậc xuất gia—Most of the sermons were intended mainly for the benefit of Bhikkhus, and they deal with the holy life and with the exposition of the doctrine. 3) Nhiều bài khác liên quan đến sự tiến bộ vật chất và tinh thần đạo đức của người cư sĩ. Kinh Thi Ca La Việt chẳng hạn, dạy về bổn phận của người tại gia. Ngoài ra, còn có những bài giảng lý thú dành cho trẻ em—There are several other discourses which deal with both the material and the moral progress of his lay-followers. The Sigalaka Sutra, for example, deals mainly with the duties of a layman. There are also a few interesting talks given to children. 4) Tạng Kinh giống như một bộ sách ghi lại nhiều quy tắc để theo đó mà thực hành, vì đó là các bài pháp do Đức Phật giảng ở nhiều trường hợp khác nhau cho nhiều người có căn cơ, trình độ và hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi trường hợp Đức Phật có một lối giải thích để người thính pháp được lãnh hội dễ dàng. Thoáng nghe qua hình như mâu thuẫn, nhưng chúng ta phải nhận định đúng Phật ngôn theo mỗi trường hợp riêng biệt mà Đức Phật dạy điều ấy. Tỷ như trả lời câu hỏi về cái “Ta,” có khi Đức Phật giữ im lặng, có khi Ngài giải thích dông dài. Nếu người vấn đạo chỉ muốn biết để thỏa mãn tánh tọc mạch thì Ngài chỉ lặng thinh không trả lời. Nhưng với người cố tâm tìm hiểu chơn lý thì Ngài giảng dạy rành mạch và đầy đủ—The Sutra Pitaka may be compared to books of prescriptions, since the discourses were expounded on diverse occasions to suit the temperaments of various persons. There may be seemingly contradictory statements, but they should not be misconstrued, as they were uttered by the Buddha to suit a particular purpose; for instance, to the self-same question he would maintain silence, when the inquirer was merely foolishly inquisitive, or give a detailed reply when he knew the inquirer to be an earnest seeker after the truth. 5) Tạng Kinh gồm năm bộ—The Sutra Pitaka consists of five volumes: a) Tên những kinh gọi theo Phật Giáo Nguyên Thủy—Names of the sutras called by the Theravada: i) Trường A Hàm: Digha-Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp dài—Collection of Long iscourses. ii) Trung A Hàm: Majjhima Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses. iii) Tạp A Hàm: Samyutta Nikaya (p)—Ghi chép những câu kinh tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings. iv) Tăng Nhứt A Hàm: Anguttara Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp sắp xếp theo số—Collction of Gradual sayings. v) Tiểu A Hàm: Khuddaka Nikaya (p)—Ghi chép những bài kệ ngắn—Smaller Collection—See Tiểu A Hàm. b) Tên kinh gọi theo Phật Giáo Đại Thừa—Names of the sutras called by the Mahayana: i) Trường Bộ Kinh: See (A) (1). ii) Trung Bộ Kinh: See (A) (2). iii) Tương Ưng Bộ Kinh: See (A) (3). iv) Tăng Chi Bộ Kinh: See (A) (4). v) Tiểu Bộ Kinh: See (A) (5). (III) Luận Tạng: Abhidharma or sastra (skt)—Abhidhamma Pitaka (p)—Commentaries. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, Luận Tạng thâm diệu và quan trọng nhất trong toàn thể giáo pháp, vì đây là phần triết lý cao siêu, so với Kinh tạng giản dị hơn. Đây là tinh hoa của Phật giáo. Đối với một vài học giả, Luận Tạng không phải do Đức Phật mà do các nhà sư uyên bác khởi thảo về sau nầy. Tuy nhiên, đúng theo truyền thống thì chính Đức Phật đã dạy phần chánh yếu của Luận Tạng. Những đoạn gọi là Matika hay Nồng Cốt Nguyên Thủy của giáo lý cao thượng nầy như thiện pháp, bất thiện pháp, và bất định pháp, trong sáu tập của Luận Tạng (trừ tập nói về những điểm tranh luận) đều do Đức Phật dạy—The Abhidhamma Pitaka is the most important and most interesting of the three, containing as it does the profound philosophy of the Buddha's teaching in contrast to the simpler discourses in the Sutta Pitaka. Abhidhamma, the higher doctrine of the Buddha, expounds the quintessence of his profound teachings. According to some scholars, Abhidhamma is not a teaching of the Buddha, but is later elaboration of scholastic monks. Tradition, however, attributes the nucleus of the Abhidhamma to the Buddha himself. The Matika or Matrices of the Abhidhamma such as wholesome states (kusala dhamma), unwholesome states (akusala dhamma), and indeterminate states (abhyakata dhamma), etc., which have been elaborated in the six books, except the Kathavatthu, were expounded by the Buddha a) Ngài Xá Lợi Phất được danh dự lãnh trọng trách giảng rộng và giải thích sâu vào chi tiết—Venerable Sariputta was assigned the honour of having explained all these topics in detail. b) Dầu tác giả, hay các tác giả là ai, chắc chắn Luận Tạng là công trình sáng tác của một bộ óc kỳ tài chỉ có thể so sánh với một vị Phật. Và điểm nầy càng nổi bậc hiển nhiên trong tập Patthana Pakarana, vừa phức tạp vừa tế nhị, diễn tả mối tương quan của luật nhân quả với đầy đủ chi tiết—Whoever the great author or authors may have been, it has to be admitted that the Abhidhamma must be the product of an intellectual genius comparable only to the Buddha. This is evident from the intricate and subtle Patthana Pakarana which describes in detail the various causal relations. c) Đối với bậc thiện tri thức muốn tìm chân lý, Luận Tạng là bộ sách chỉ đạo khẩn yếu, vừa là một bộ khải luận vô giá. Ở đây có đủ thức ăn tinh thần cho học giả muốn mở mang trí tuệ và sống đời lý tưởng của người Phật tử. Luận Tạng không phải là loại sách để đọc qua cầu vui hay giải trí—To the wise truth-seekers, Abhidhamma is an indispensable gide and an intellectual treat. Here is found food for thought for original thinkers and for earnest students who wish to develop wisdom and lead an ideal Buddhist life. Abhidhamma is not a subject of fleeting interest designed for the superficial reader. d) Khoa tâm lý học hiện đại, còn hạn định, vẫn nằm trong phạm vi của Vi Diệu Pháp khi đề cập đến tâm, tư tưởng, tiến trình tư tưởng, các trạng thái tâm. Nhưng Luận Tạng không chấp nhận có một linh hồn, hiểu như một thực thể trường tồn bất biến. Như vậy Vi Diệu Pháp dạy một thứ tâm lý trong đó không có linh hồn—Modern psychology, limited as it is, comes within the scope of Abhidhamma inasmuch as it deals with mind, thoughts, thought-processes, and mental properties; but it does not admit of a psyche or a soul. It teaches a psychology without a psyche. (B) Trong Vi Diệu Pháp, tâm hay tâm vương được định nghĩa rõ ràng. Tư tưởng được phân tích và sắp xếp đại để thành từng loại về phương diện luân lý. Tất cả những trạng thái tâm hay tâm sở đều được lược kê cẩn thận. Thành phần cấu hợp của mỗi loại tâm được kể ra từng chi tiết. Tư tưởng phát sanh như thế nào cũng được mô tả tỉ mỉ. Riêng những chập tư tưởng bhavanga và javana, chỉ được đề cập và giải thích trong Vi Diệu Pháp—Consciousness (citta) is defined. Thoughts are analyzed and classified chiefly from an ethical standpoint. All mental properties (cetasika) are enumerated. The composition of each type of consciousness is set forth in detail. How thoughts arise is minutely described. Bhavanga and javana thought-moments. 1) Trong Vi Diệu Pháp, những vấn đề không liên quan đến giải thoát đều bị gác hẳn qua một bên—Irrelevent problems that interest students and scholars, but have no relation to one's deliverance, are deliberately set aside. 2) Vi Diệu Pháp không nhằm tạo lập một hệ thống tư tưởng về tâm và vật chất, mà chỉ quan sát hai yếu tố cấu tạo nên cái được gọi là chúng sanh để giúp hiểu biết sự vật đúng theo thực tướng—Abhidhamma does not attempt to give a systematized knowledge of mind and matter. It investigates these two composite factors of the so-called being, to help the understanding of things as they truly are. (C) Bà Rhys Davids đã viết: “Vi Diệu Pháp đề cập đến cái gì ở bên trong ta, cái gì ở chung quanh ta, và cái gì ta khao khát thành đạt.”—Mrs. Rhys Davids wrote about Abhidhamma as follows: “Abhidhamma deals with what we find within us, around us, and of what we aspire to find.” (D) Tạng Kinh chứa những giáo lý thông thường, còn Luận Tạng chứa đựng những giáo lý cùng tột—While the Sutta Pitaka contains the conventional teaching, the Abhidhamma Pitaka contains the ultimate teaching. (E) Hầu hết các học giả Phật giáo đều cho rằng muốn thông hiểu Giáo lý của Đức Phật phải có kiến thức về Luận Tạng vì đó là chìa khóa để mở cửa vào “thực tế.”—It is generally admitted by most exponents of the Dhamma that a knowledge of the Abhidhamma is essential to comprehend fully the teachings of the Buddha, as it represents the key that opens the door of reality. (F) Luận Tạng gồm bảy bộ— 1) Pháp Trụ hay Phân Loại Các Pháp: Dhammasanghani (p)—Classification od Dhamma. 3) Phân Biệt hay những tiết mục: Vibhanga (p)—Divisions. 4) Đại Thuyết hay luận giải về các nguyên tố: Dhatukatha (p)—Discourses of Elements. 5) Nhơn Thi Thuyết hay những danh tính cá nhơn: Puggala Pannatti (p)—The Book on Individuals. 6) Thuyết Sự hay những điểm tranh luận: Kathavathu (p)—Points of Controversy. 7) Song Đối hay quyển sách về cặp đôi: Yamaka (p)—The Bok of Pairs. 8) Phát Thú hay quyển sách đề cập đến nhân quả tương quan: Patthana (p)—The Bok of Causal Relations.
; (三藏) Phạm:Trìịi piỉakàni. Pàli:Tìịi piỉakàni. Cũng gọi Tam pháp tạng. Tạng (Phạm:Piỉaka) nghĩa là cái đồ chứa đựng, kho lẫm, hòm đan bằng tre. I. Tam Tạng. Chỉ cho Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.Cứ theo phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Tạng nghĩa là nhiếp, tức là tổng nhiếp tất cả những điều nên biết. Nếu theo thuyết của ngài Giác âm thì tạng nghĩa là am kí(ghi nhớ thành thuộc), tức thầy trò dùng phương pháp tụng thuộc lòng mà truyền miệng cho nhau. Theo kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì Tạng nghĩa là đồ chứa, hàm ý là chứa đựng tất cả các giáo pháp cần phải biết. Đại chúng bộ và các bộ phái khác, ngoài Tạp tạng còn thêm Tam tạng..., Độc tử bộ thêm Chú tạng mà thành lập Tứ tạng; Pháp tạng bộ thêm Chú tạng và Bồ tát tạng, Nhất thuyết bộ trong Đại chúng bộ thì thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng, luận Thành thực thêm Tạp tạng và Bồ tát tạng, kinh Lục ba la mật thì thêm Bát nhã ba la mật đa tạng và Đà la ni tạng. Năm tạng này gọi chung là Ngũ tạng. Ngoài ra, Kinh tạng và Luật tạng, hoặc Thanh văn tạng và Bồ tát tạng, gọi chung là Nhị tạng. 1. Kinh tạng (Phạm: Sùtràntapiỉaka,Pàli: Sutta-piỉaka, Hán âm: Tố đát lãm tạng, Tu đa la tạng, Hán dịch: Khế kinh tạng): Kinh điển do đức Phật nói, trên thì khế hợp với lí nghĩa của chư Phật, dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sinh. Các nghĩa trọng yếu trong giáo thuyết của đức Phật đều thuộc về bộ loại Kinh.2. Luật tạng (Phạm, Pàli:Vinayapiỉaka, Hán âm: Tì nại da tạng, Tì ni tạng, Hán dịch: Điều phục tạng): Những luật nghi do đức Phật chế có công năng sửa trị những cái xấu ác của chúng sinh, điều phục tâm tính chúng sinh; những pháp tắc sinh hoạt của giáo đoàn mà đức Phật qui định đều thuộc về bộ loại Luật. 3. Luận tạng (Phạm: Abhidharmapiỉka, Pàli: Abhidhamma-piỉaka, Hán âm: A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Hán dịch: Đối pháp tạng): Luận bàn thêm về ý nghĩa kinh điển của Phật, làm sáng tỏ những điểm súc tích để quyết định tính tướng các pháp; phát triển giáo thuyết của đức Phật rộng hơn, đến người đời sau lại dùng trí tuệ thù thắng thảo luận, giải thích thêm nữa rồi hệ thống hóa, tổ chức hóa làm cho giáo pháp hoàn chỉnh. Luận tạng cũng gọi là Luận bộ, có quan hệ mật thiết với Ma đát lí ca (hoặc Ma đắc lặc già) (Phạm: Màtfkà,Pàli:Màtikà, Hán dịch: Bản mẫu, Luận mẫu), Ưu ba đề xá (Phạm: Upadeza,Pàli:Upadesa, Hán dịch: Luận nghị). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1 thì những điều mà Tam tạng hiển bày đều khác nhau: Những điều mà Kinh tạng hiển bày là thứ tự, những điều mà Luật tạng hiển bày là duyên khởi, những điều mà Luận tạng hiển bày là tính tướng; Kinh tạng nói về các thuyết khác nhau, Luật tạng giảng về các học xứ, Luận tạng thì phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 cũng nêu ra 9 nguyên nhân thành lập Tam tạng, đó là: 1. Vì đối trị sự ngờ vực nên thiết lập Tu đa la. 2. Để đối trị sự thụ dụng nghiêng hẳn về 2 bên, khiến xa lìa lạc hạnh cũng như khổ hạnh, nên thiết lập Ti ni. 3. Vì đối trị kiến thủ của tự tâm nên thiết lập A tì đàm. 4. Để nói 3 học nên thiết lập Tu đa la. 5. Để thành tựu giới học, tâm học nên thiết lập Tì ni. 6. Vì thành tựu tuệ học nên thiết lập tì đàm. 7. Vì mục đích giảng nói pháp và nghĩa, nên thiết lập Tu đa la. 8. Để thành tựu pháp và nghĩa nên thiết lập Tì ni. 9. Vì mục đích thông suốt pháp và nghĩa nên thiết lập A tì đàm. Thích thị yếu lãm quyển trung cũng viện dẫn thuyết của A tì đạt ma tập, cho rằng dùng Kinh tạng để đối trị phiền não Nghi, dùng Luật tạng để đối trị Tùy phiền não thụ dụng hai bên thiên lệch, dùng Luận tạng để đối trị Tùy phiền não tự kiến thủ chấp. Ngoài ra, Lạt đạt ma giáo Tây tạng đem phối Tam tạng với Tam độc, cho rằng Luật tạng đoạn trừ tham dục, Kinh tạng đoạn trừ sân khuể và Luận tạng đoạn trừ ngu si. Về thứ tự của Tam tạng thì cho đến nay vẫn chưa có luận thuyết nhất định, có thuyết chủ trương nếu nói theo sự kết tập trước sau của Tam tạng, thì thứ tự là Kinh, Luật, Luận, còn nếu nói theo thứ tự tu hành thì là Luật, Kinh, Luận. Nếu phối hợp Tam tạng với Tam học thì Kinh tương đương với Định học, Luật tương đương với Giới học, còn Luận thì tương đương với Tuệ học. Đồng thời, Kinh bao hàm cả giới, định, và tuệ, Luật bao hàm giới và định, còn Luận thì chỉ bao hàm tuệ học mà thôi. Ngoài ra, còn có các phương diện khác nhau về việc thiết lập Tam tạng. Từ xưa đến nay, Tam tạng vốn chỉ cho Thánh điển của Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, cũng tức là Tam tạng giáo(Tạng giáo) của Tiểu thừa, về sau, từ ngữ này được Đại thừa sử dụng, do đó, Tam tạng có Hạ thừa (Thanh văn thừa) và Thượng thừa(Bồ tát thừa) khác nhau, hợp chung lại thì thành Lục tạng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luật Thập tụng Q.60; luận Phân biệt công đức Q.1, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch đời Đường), Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Tam Tạng. Giáo pháp vì hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát mà lần lượt được nói ra, tức là Thanh văn tạng, Duyên giác tạng và Bồ tát tạng, hợp chung lại gọi là Tam tạng. 1. Thanh văn tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Thanh văn. 2. Duyên giác tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Duyên giác. 3. Bồ tát tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Bồ tát. [X. phẩm Tam tạng trong kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội Q.trung; kinh A xà thế vương Q.hạ; luận Nhập đại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. III. Tam Tạng. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản gọi giáo pháp(pháp môn) được nói trong 3 bộ kinh của Tịnh độ là Tam tạng. Cứ theo sách Giáo hành tín chứng nói thì Tam tạng này là Phúc trí tạng, Phúc đức tạng và Công đức tạng. 1. Phúc trí tạng: Tức thành tựu viên mãn 2 thứ trang nghiêm là trí tuệ và phúc đức, là chỉ cho danh hiệu Nam mô a di đà Phật, từ đó mở ra giáo pháp của nguyện thứ 18 thuộc những hoằng nguyện chân thực nói trong kinh Đại vô lượng thọ.2. Phúc đức tạng: Tức các hạnh định thiện, tán thiện được nói trong kinh Quán vô lượng thọ, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 19 thuộc yếu môn. 3. Công đức tạng: Tức dùng danh hiệu tự lực hồi hướng được nói trong kinh A di đà, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 20 thuộc Chân môn.
tam tạng giáo
692請參閱 大慈恩寺三藏法師傳 <一>為佛陀一生教法之總稱。 <二>指小乘教法。亦為天台宗所判化法四教之一。佛陀入滅之年,大迦葉等結集經、律、論三藏,該收小乘一切教理,故稱小乘為三藏教。大乘亦有三藏之別,然非如小乘三藏之部帙整然而分者,故以之為一摩訶衍藏,而與小乘之三藏對稱。 三藏教雖有「有、空、亦有亦空、非有非空」四門,要皆見偏空之理,而說「我空、法有」。其修行之人分為聲聞、緣覺、菩薩,聲聞觀四諦,緣覺觀十二因緣,菩薩修六度,其觀法皆為析空觀,即分析色法為「極微」,分析心法為「剎那」,觀其體「空、無我」。其果位,聲聞有七賢七聖之階位,最後證得阿羅漢果;緣覺證得辟支佛,菩薩證得應身之佛果。然此三種人皆斷盡三界之煩惱,尚有身心之位,為有餘涅槃,最後灰身滅智,歸於空寂之無餘涅槃。〔法華玄義釋籤卷十上、天台四教儀集註卷上、華嚴刊定記卷一、華嚴玄談卷四〕(參閱「三藏」690、「五時八教」1132、「藏教」6608)
; (三藏教) I. Tam Tạng Giáo. Từ ngữ gọi chung giáo pháp của đức Phật.II. Tam Tạng Giáo. Chỉ cho giáo pháp Tiểu thừa, cũng là 1 trong 4 giáo Hóa pháp thuộc phán giáo của tông Thiên thai. Năm đức Phật nhập diệt, ngài Đại ca diếp kết tập Tam tạng Kinh, Luật, Luận gồm thu tất cả giáo lí Tiểu thừa, vì thế nên gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. Đại thừa cũng có Tam tạng riêng, nhưng không chia ra pho bộ rõ ràng như Tam tạng Tiểu thừa, nên lấy đó làm 1 tạng Ma ha diễn để đối lại với Tam tạng của Tiểu thừa.Tam tạng giáo tuy có 4 môn Có, Không, cũng Có cũng Không, chẳng phải Có chẳng phải Không, nhưng chủ yếu đều chấp lí không thiên lệch mà nói Ngã không, Pháp có. Người tu hành được chia làm 3 hạng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát; Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác quán 12 nhân duyên, Bồ tát thì tu 6 độ. Pháp quán của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là Tích không quán, tức phân tích sắc pháp đến cực vi, phân tích tâm pháp đến sát na, quán xét thể của chúng là Không, Vô ngã. Về quả vị thì Thanh văn có Thất hiền, Thất thánh, cuối cùng chứng quả A la hán, Duyên giác chứng được Bích chi phật, Bồ tát thì chứng được quả Phật của Ứng thân. Ba hạng người này tuy đã dứt hết các phiền não trong 3 cõi, nhưng vẫn còn thân tâm, là Niết bàn hữu dư, cuối cùng, thân diệt, trí bặt, trở về Niết bàn vô dư vắng lặng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, thượng; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Hoa nghiêm san định kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. (xt. Tam Tạng, Ngũ Thời Bát Giáo, Tạng Giáo).
tam tạng học giả
A student of Tripitaka.
tam tạng kinh
Piṭakatraya (S), Piṭakattaya (P).
tam tạng kinh điển
Tipiṭāka (P), Tripiṭaka (S).
tam tạng pháp sư
690梵語 tripiṭakācārya。指精通經、律、論三藏之法師。又作三藏聖師、三藏比丘。略稱三藏。印度早已採用此名稱,如摩訶摩耶經卷下(大一二‧一○一三下):「俱睒彌國有三藏比丘,善說法要,徒眾五百。」我國則專指通曉三藏,並從事翻譯經、律、論之高僧,其中以玄奘最為著名,世人每以「玄奘三藏」或「唐三藏」尊稱之,如般若波羅蜜多心經卷首(大八‧八四八下):「唐三藏法師玄奘譯」。另於南傳巴利本彌蘭陀問經(Milinda-pañha)中舉出 tipeṭaka 及 tepiṭaka 一語,意指「通達三藏者」。於巴利語中,ekapiṭaka-dhara 係指「憶持一藏者」,dvipiṭaka-dhara 係指「憶持二藏者」,tipiṭaka-dhara 係指「憶持三藏者」,可見三藏之稱早已通行於印度。〔善見律毘婆沙卷一、出三藏記集卷六、卷十所載後出雜心序、梁高僧傳卷二〕
; Tipeṭaka (P), Master of Tipitaka, Tripiṭāka master, Tipeṭaki (P).
; Master of tripitaka.
; Tu sĩ thông suốt Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, gọi là Tam tạng Pháp sư.
; Tripitaka Dharma Master—Vị Thầy làu thông Kinh Luật Luận—A teacher of the law or a master who is fluent in sutras, precepts and expounding of sutras.
; (三藏法師) Phạm: Tripiỉakàcàrya. Cũng gọi Tam tạng thánh sư, Tam tạng tỉ khưu. Gọi tắt: Tam Tạng. Chỉ cho vị pháp sư tinh thông Tam tạng Kinh, Luật, Luận. Tại Ấn độ, từ ngữ Tam tạng pháp sư đã được sử dụng rất sớm, như trong kinh Ma ha ma da quyển hạ có nói (Đại 12, 1013): Nước Câu thiểm di có vị Tam tạng tỉ khưu thuyết pháp rất hay, có năm trăm đồ chúng. Ở Trung quốc thì danh hiệu này chuyên chỉ cho vị cao tăng thông hiểu Tam tạng, đồng thời, làm việc phiên dịch Kinh, Luật, Luận. Trong số các vị Tam tạng thì ngài Huyền trang nổi tiếng nhất, thường được người đời tôn xưng là Huyền Trang Tam Tạng, hoặc Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong kinh Di lan đà vấn (Milinda-paĩha), bảnPàli thuộc hệ Nam truyền có nêu từ ngữ Tipeỉaka và Tepiỉaka, hàm ý là Người thông suốt Tam tạng. Trong tiếng Pàli, từEkapiỉakadhara là chỉ cho Người nhớ giữ một tạng, Dvipiỉaka-dhara chỉ cho Người nhớ giữ hai tạng, Tipiỉaka-dhara là chỉ cho Người nhớ giữ ba tạng, do đó mà người ta thấy danh từ Tam tạng đã được lưu hành rất sớm tại Ấn độ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.6; Lương cao tăng truyện Q.2].
tam tạng pháp sư cương lương da xá
Xem Cương lương da xá.
tam tạng sư
Tipiṭākadhara (P)Nhà sư tinh thông Tam tạng kinh điển.
tam tạng thiện vô úy
Śubhākara-siṃha (P)Dù bà ca la, Tịnh Sư từMột nhà sư Thiên trúc, đến kinh đô Trường An năm 716, Ngài chuyên về Mật giáo với những môn pháp ấn và chú.
tam tạng thuyên tam học
693三藏即經藏、律藏、論藏,三學即戒學、定學、慧學。三藏具說三學之事理,故稱三藏詮三學。大毘婆沙論卷一、大乘起信論義記卷上,以三藏各詮一學,即:(一)經詮定學,謂阿含等經所明皆是安心之法,依此攝心,即不散亂。又佛凡說經,必先入定,故稱經詮定學。(二)律詮戒學,謂律藏因事制戒,防身口惡法,戒是所詮之行,律是能詮之教,故稱律詮戒學。(三)論詮慧學,謂阿毘曇等論決擇辯論一切法義,皆以智慧分別,故稱論詮慧學。若據大乘阿毘達磨雜集論卷十一、大乘莊嚴經論卷四,則以經藏通詮三學,律藏詮戒、定二學,論藏唯詮慧學。
; (三藏詮三學) Tam tạng tức Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng; Tam học chỉ cho Giới học, Định học và Tuệ học. Tam tạng giải nói đầy đủ và rõ ràng về sự lí của Tam học, vì thế gọi là Tam tạng thuyên tam học. Luận Đại tì bà sa quyển 1 và Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng, cho rằng trong Tam tạng mỗi tạng giảng giải 1 ngành học. 1. Kinh tạng giảng giải Định học: Những điều được giảng nói trong kinh A hàm đều là pháp an tâm, nương vào đó mà thu nhiếp tâm thì tâm không tán loạn. Hơn nữa, trước khi nói Kinh, đức Phật thường nhập định, vì thế nên gọi Kinh giảng giải Định học (Kinh thuyên định học). 2. Luật tạng giảng giải Giới học: Luật tạng nhân sự việc xảy ra mà chế giới, ngăn ngừa việc xấu ác của thân, khẩu; Giới là hạnh sở thuyên, Luật là giáo năng thuyên, vì thế nên nói là Luật giảng giải Giới học (Luật thuyên giới học). 3. Luận tạng giảng giải Tuệ học: Các bộ luận A tì đàm đều biện giải và quyết trạch tất cả pháp nghĩa, dùng trí tuệ phân biệt, vì thế gọi là Luận giảng giải Tuệ học (Luận thuyên tuệ học). Nếu theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 11 và Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Kinh tạng giảng giải cả Tam học, Luật tạng giảng giải Giới học và Định học, còn Luận tạng thì chỉ giảng giải Tuệ học mà thôi.
tam tạo tác pháp
Three active things: 1) Sắc: Material or things which have form. 2) Tâm: Mental. 3) Phi sắc phi tâm: Neith form nor mental.
tam tạp nhiễm
695染污真性,即稱雜染。雜染有如下三種,即:(一)煩惱雜染,又作惑雜染。指身見、邊見及貪瞋癡等一切煩惱能染污真性,令不清淨。包括一切之煩惱與隨煩惱。分類之,有見所斷與修所斷兩大類;或分為欲界繫、色界繫、無色界繫等三大類;或分為薩迦耶見、邊執見、邪見、見取見、戒禁取見、貪、瞋、無明、慢、疑等十種。(二)業雜染,指由煩惱所生,或以煩惱為助緣所生之一切身語意三業,種種造作,染污真性。(三)生雜染,又作苦雜染。因煩惱及業而有生,由此生苦,更有老病死苦、愛別離苦、求不得苦、怨憎會苦等,皆能染污真性,令不清淨。〔顯揚聖教論卷一〕
; The three kasaya—Mixed dyes or infections: (A) 1) Dục vọng: Passion. 2) Nghiệp: Karma. 3) Luân hồi: Reincarnation. (B) 1) Ảo vọng: Illusion. 2) Nghiệp: Karma. 3) Khổ đau: Suffering.
; (三雜染) Chỉ cho 3 thứ tạp nhiễm làm nhơ nhớp chân tính. 1. Phiền não tạp nhiễm(cũng gọi Hoặc tạp nhiễm): Chỉ cho thân kiến, biên kiến và tất cả phiền não như tham sân si... làm ô nhiễm chân tính, khiến mất thanh tịnh. Bao gồm tất cả phiền não và tùy phiền não, được chia làm 2 loại lớn là Kiến sở đoạn và Tu sở đoạn; hoặc chia làm 3 loại lớn là Dục giới hệ, Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ; hoặc chia làm 10 loại là Tát ca da kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tham, Sân, Vô minh, Mạn và Nghi. 2. Nghiệp tạp nhiễm: Chỉ cho tất cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý do phiền não sinh ra, hoặc lấy phiền não làm trợ duyên sinh ra, tạo tác các việc xấu ác, làm nhớp nhúa chân tính. 3. Sinh tạp nhiễm(cũng gọi Khổ tạp nhiễm):Do phiền não và nghiệp mà có sinh, do có sinh nên có khổ, lại thêm các cái khổ như già, bệnh, chết, khổ vì yêu thương mà chia lìa, khổ vì mong cầu mà không được, khổ vì oán ghét nhau mà cứ phải gặp gỡ... tất cả đều làm cho chân tính ô nhiễm, mất hết sự thanh tịnh. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1].
tam tập đế
634集諦,指有關諸苦生起之真諦。法相宗就集諦所顯具之遍計所執等三性而設之三說,即:(一)習氣集,指遍計所執自性之習氣,即執著於我法之習氣;其體性依他,故為諦實性假。(二)等起集,指煩惱業;平等而起,故稱等起。由煩惱起業,由業招果,其煩惱與業乃集之體,又因依他之法,故為諦性俱實。(三)未離繫集,指未離障之真如,假名為集,此圓成之真如為集之體性,故為性實諦假。〔成唯識論卷八、卷九、成唯識論演祕卷七〕
; (三集諦) Chỉ cho 3 thứ Tập đế do tông Pháp tướng thành lập, đó là: 1. Tập khí tập: Chỉ cho tập khí của tự tính Biến kế sở chấp, tức tập khí chấp trước ngã pháp; thể tính của tập khí này là y tha, cho nên thuộc Đế thực tính giả. 2. Đẳng khởi tập: Chỉ cho nghiệp phiền não, khởi lên 1 cách bình đẳng nên gọi là Đẳng khởi. Do phiền não khởi nghiệp, do nghiệp cảm quả; phiền não và nghiệp ấy là thể của Tập, lại vì là pháp Y tha nên thuộc về Đế tính đều thực. 3. Vị li hệ tập: Chỉ cho chân như chưa lìa chướng. Chân như viên thành này là thể tính của Tập, cho nên thuộc về tính thực Đế giả. [X. luận Thành duy thức Q.8, 9; Thành duy thực luận diễn bí Q.7].
Tam Tế
(三際): tức Tam Thế (三世), ba đời; gồm (1) Tiền Tế (s: pūrvānta, 前際), chỉ cho quá khứ; (2) Hậu Tế (s: aparānta, 後際), chỉ tương lai; (3) Trung Tế (s: madhyānta, 中際), chỉ hiện tại. Như trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) quyển Thượng, Phẩm Quán Như Lai (觀如來品) thứ 2 có đoạn: “Quán thân thật tướng, quán Phật diệc nhiên, vô tiền tế, vô hậu tế, vô trung tế, bất trú Tam Tế, bất ly Tam Tế (觀身實相、觀佛亦然、無前際、無後際、無中際、不住三際、不離三際, quán thật tướng của thân, quán Phật cũng như vậy, không quá khứ, không tương lai, không hiện tại, chẳng trú ba đời, chẳng lìa ba đời).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 5 lại có đoạn: “Tam Tế cầu tâm tâm bất kiến, lưỡng nhãn y nhiên đối lưỡng nhãn, bất tu di kiếm khắc chu tầm, tuyết nguyệt phong hoa thường kiến diện (三際求心心不見、兩眼依然對兩眼、不須遺劍刻舟尋、雪月風華常見面, ba đời tìm tâm tâm chẳng thấy, hai mắt như xưa đối hai mắt, chẳng nên mất kiếm khắc thuyền tìm, trăng tuyết gió hoa thường thấy mặt).” Ngoài ra, tại Ấn Độ một năm chia ra ba kỳ, lấy tam tế phối với nhật nguyệt thì có các thuyết khác nhau, như thuyết của Thần Thái (神泰), Chơn Đế (眞諦), Phổ Quang (普光), Huyền Trang (玄奘), v.v.; trong đó, thuyết của Chơn Đế và Huyền Trang thì tương đồng. Tam Tế ở đây là (1) Nhiệt Tế (s: grīṣma-ṛtu, 熱際), từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 5; (2) Vũ Tế (s: varṣa-ṛtu, 雨際), từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 9; (3) Hàn Tế (s: hemanta-ṛtu, 寒際), từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng Giêng. Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 2 lại lấy Tam Tế chia thành 6 thời, gồm: (1) Từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 3, gọi là tạm nhiệt (漸熱, tạm nóng, nóng sơ); (2) Từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5, gọi là thạnh nhiệt (盛熱, nóng gắt); (3) Từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7, gọi là vũ thời (雨時, mùa mưa); (4) Từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9, gọi là mậu thời (茂時, mùa tươi tốt); (5) Từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11, gọi là tạm hàn (漸寒, hơi lạnh); (6) Từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng Giêng, gọi là thạnh hàn (盛寒, lạnh gắt).
Tam tế
三際; C: sānjì; J: sanzai;|»Ba thời kì«. 1. Trước, giữa, và sau hoặc là dĩ vãng, hiện tại và vị lai; 2. Ba thế giới, thời gian vô hạn lượng.
; 三細; C: sānxì; J: sansai;|»Ba tinh tế« hoặc »Ba tướng tinh tế«. Là cách phân chia Vô minh thành ba thành phần tinh tế, được tìm thấy trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論): 1. Vô minh nghiệp tướng (無明業相), tướng vi tế của nghiệp, được thúc đẩy bởi vô minh; 2. Năng kiến tướng (能見相), là tướng vi tế của kẻ nhìn, tâm thức chủ quan; 3. Cảnh giới tướng (境界相), tướng vi tế của thế giới khách quan. Tuỳ người cảm nhận (năng kiến), cảnh giới trình hiện một cách sai lạc. Chức năng của những khía cạnh nêu trên rất vi tế, đối nghịch với Lục thô (六麁), sáu tướng thô trọng (theo Khởi tín luận 起信論).
tam tế
667<一>即三世。(一)前際(梵 pūrvānta),指過去。(二)後際(梵 aparānta),指未來。(三)中際(梵 madhyānta),指現在。仁王護國般若波羅蜜多經卷上(大八‧八三六上):「觀身實相,觀佛亦然。無前際、無後際、無中際,不住三際,不離三際。」〔大毘婆沙論卷二十四、俱舍論卷九〕(參閱「三世」536) <二>係梵語 traya ṛtavaḥ 之意譯,又作三際時。乃印度一年所分之三期。然以三際配於月日,歷來有諸種異說,較重要者有神泰、真諦、普光、玄奘等諸說,其中真諦與玄奘之說相同,即:(一)熱際(梵 grīṣma-rtu),從正月十六日至五月十五日。(二)雨際(梵 varṣa-ṛtu),從五月十六日至九月十五日。(三)寒際(梵 hemanta-rtu),從九月十六日至正月十五日。大唐西域記卷二復將三際分為六時,即:(一)自正月十六日至三月十五日,稱為漸熱。(二)自三月十六日至五月十五日,稱為盛熱。(三)自五月十六日至七月十五日,稱為雨時。(四)自七月十六日至九月十五日,稱為茂時。(五)自九月十六日至十一月十五日,稱為漸寒。(六)自十一月十六日至正月十五日,稱為盛寒。〔俱舍論寶疏卷十一、梵網經古迹記卷下末、大藏法數卷十二〕(參閱「曆」6227)
; Past, present, future, idem tam thế.
; Ba thứ vi tế—Three refined, or subtle conceptions: 1) Vô minh nghiệp tướng: Vô minh hay tình trạng không giác ngộ—Ignorance or the unenlightened condition, considered as in primal action, the stirring of the perceptive faculty, associated with corpus or substance—The objective illusory world. 2) Năng kiến tướng: Có thể thấy được mọi hiện tượng—Ability to perceive phenomena—Perceptive faculties, associated with function—The subjective mind. 3) Cảnh giới tướng: Thế giới hiện tượng bên ngoài, còn gọi là Hiện Tướng hay Hiện Thức—The object perceived, or empirical world, associated with function—The external, or phenomenal world.
; (三際) I. Tam Tế. Tức Tam thế. 1. Tiền tế(Phạm:Pùrvànta): Chỉ cho quá khứ. 2. Hậu tế(Phạm:Aparànta): Chỉ cho vị lai. 3. Trung tế (Phạm: Madhyànta): Chỉ cho hiện tại. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 836 thượng) nói: Quán xét thực tướng của thân, quán Phật cũng thế. Không tiền tế, không hậu tế, không trung tế; chẳng trụ ở tam tế, cũng chẳng lìa tam tế. [X. luận Đại tì bà sa Q.24; luận Câu xá Q.9]. (xt. Tam Thế). II. Tam Tế. Phạm: Traya ftavà#. Cũng gọi Tam tế thời. Tại Ấn độ, 1 năm được chia làm 3 thời kì gọi là Tam tế. Nhưng xưa nay đem tam tế phối hợp với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau, đáng chú ý hơn cả thì có thuyết của các ngài Thần thái, Chân đế, Phổ quang, Huyền trang..., trong đó, thuyết của ngài Chân đế và Huyền trang giống nhau. Đó là: 1. Nhiệt tế(Phạm:Grìsma-rtu, mùa nóng): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 2. Vũ tế(Phạm:Varwa-ftu, mùa mưa): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. 3. Hàn tế (Phạm: Hemanta-rtu, mùa lạnh): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. Đại Đường tây vực kí quyển 2 lại chia Tam tế làm 6 thời: 1. Tiệm nhiệt(nóng dần): Từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch. 2. Thịnh nhiệt(rất nóng): Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 3. Vũ thời(mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch. 4. Mậu thời(mùa cây cối xanh tốt): Từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch.5. Tiệm hàn(lạnh dần): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 âm lịch. 6. Thịnh hàn(rất lạnh): Từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối;Đại tạng pháp số Q.12]. (xt. Lịch).
Tam tế lục thô
三細六麁; C: sānxì liùcū; J: sanzairokuso;|»Ba tướng vi tế và sáu tướng thô thiển« được giảng thuyết trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論).
tam tế lục thô
616語出大乘起信論。根本無明起動真如,現出生滅流轉之妄法(迷之現象),其相狀有三細與六粗(九相)之別。細者,無心王與心所之分,其相微細難測;粗者,心王與心所相應,其作用之相粗顯。 三細即:(一)無明業相,略稱業相。指從真起妄的初動之相。即由根本無明起動真如之最初狀態,乃枝末無明中之第一相,此相尚未能區別主客之狀態。(二)能見相,又稱見相。指見初動之相。又稱轉相。依初動業識,轉成能見之相。此係依前述無明業相所起而認識對象之心(主觀)。(三)境界相,又稱現相、境相。由前轉相,而妄現境界之相。蓋能見相既起,則同時妄現此認識對象(客觀)。 六粗即:(一)智相,依境界相妄起分別染淨,於淨境則愛,於染境則不愛,稱為智相。(二)相續相,依智相分別,於愛境則生樂,於不愛境則生苦;覺心起念,相應不斷,稱為相續相。(三)執取相,依前之相續相,緣念苦樂等境,心起執著,稱為執取相。(四)計名字相,依前之執取相,分別假名言說之相,稱為計名字相。(五)起業相,依前之計名字相,執取生著,造種種業,稱為起業相。(六)業繫苦相,繫於善惡諸業,有生死逼迫之苦,不得自在,稱為業繫苦相。 依此,若由細相進入粗相,即由不相應心之阿賴耶識位進入相應心之六識位,迷之世界乃隨之展開。是故,若欲抵達悟境,須由粗相向細相邁入。凡夫之境界為粗中之粗(六粗後四相)、菩薩之境界為粗中之細(六粗前二相)及細中之粗(三細後二相)、佛之境界則是細中之細(無明業相)。此外,若以三細六粗配五意,則三細依序配業識、轉識、現識,智相配智識,相續相配相續識。若以之配六染心,則三細依序配根本業不相應染、能見心不相應染、不斷相應染,執取相及計名字相配執相應染。若以之配四相,則業相配生相,能見、境界、智、相續等相配住相,執取、計名字等相配異相,起業相配滅相。〔釋摩訶衍論卷四、大乘起信論義疏卷上之下、起信論疏卷上、大乘起信論義記卷中本〕
; (三細六粗) Chỉ cho 3 tướng nhỏ nhiệm, 6 tướng thô to. Đây là 9 tướng trạng của tất cả vọng pháp do vô minh căn bản dấy động chân như mà sinh khởi. Tam tế lục thô là dụng ngữ của luận Đại thừa khởi tín. Tế là giữa tâm vương và tâm sở không có sự phân biệt, tướng trạng của chúng tinh tế khó lường biết; còn Thô là tâm vương và tâm sở tương ứng, tướng tác dụng của chúng rõ rệt dễ thấy. Tam tế gồm: 1. Vô minh nghiệp tướng (gọi tắt: Nghiệp tướng): Chỉ cho tướng dấy động đầu tiên từ chân khởi vọng. Tức là trạng thái đầu tiên do vô minh căn bản khởi động chân như, là tướng thứ nhất trong vô minh chi mạt, tướng này còn chưa phân biệt được trạng thái chủ, khách. 2. Năng kiến tướng(cũng gọi Kiến tướng, Chuyển tướng): Chỉ cho tướng thấy khởi động đầu tiên, tức nương vào nghiệp thức dấy động đầu tiên mà chuyển thành tướng năng kiến. Đó là tâm (chủ quan) nhận thức đối tượng nương vào vô minh nghiệp tướng đã nói ở trên mà khởi lên. 3. Cảnh giới tướng(cũng gọi Hiện tướng, Cảnh tướng): Là tướng nương vào Chuyển tướng đã nói ở trước mà vọng hiện các cảnh giới. Bời vì tướng Năng kiến đã phát khởi thì đồng thời vọng hiện ra đối tượng (khách quan) nhận thức này. Lục thô gồm: 1. Trí tướng: Nương vào cảnh giới tướng mà vọng khởi phân biệt nhiễm tịnh đối với cảnh giới tịnh thì ưa thích, đối với cảnh giới nhiễm thì chán ghét. 2. Tương tục tướng: Nương vào trí tướng phân biệt, đối với cảnh ưa thích thì sinh vui, đối với cảnh chán ghét thì sinh khổ, giác tâm khởi niệm, tương tục không dứt.3. Chấp thủ tướng: Nương vào tướng tương tục ở trước, duyên theo các cảnh khổ vui, khởi tâm chấp trước. 4. Kế danh tự tướng: Nương vào tướng chấp thủ nói trên mà phân biệt tướng ngôn thuyết giả danh. 5. Khởi nghiệp tướng: Nương vào kế danh tự tướng nói trên mà sinh ra đắm trước chấp lấy, tạo tác các thứ nghiệp thiện ác...6. Nghiệp hệ khổ tướng: Vì các nghiệp thiện ác trói buộc nên bị khổ sinh tử bức ngặt, không được tự tại. Dựa vào những điểm trên đây, nếu từ tế tướng tiến vào thô tướng, tức là từ A lại da thức vị của tâm bất tương ứng tiến vào Lục thức vị của tâm tương ứng, thì thế giới mê cũng theo đó mà triển khai. Bởi vậy, nếu muốn đạt đến cảnh giới giác ngộ thì phải cố gắng tiến từ thô tướng vào tế tướng. Cảnh giới của phàm phu là thô trong thô (bốn tướng sau của Lục thô), cảnh giới của Bồ tát là tế trong thô(2 tướng trước của Lục thô) và thô trong tế(2 tướng sau của Tam tế), còn cảnh giới Phật thì là tế trong tế(Vô minh nghiệp tướng). Ngoài ra, nếu phối hợp Tam tế Lục thô với Ngũ ý thì Tam tế theo thứ tự phối với Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí tướng phối với Trí thức và Tương tục tướng phối với Tương tục thức. Nếu phối Tam tế Lục thô với Lục nhiễm tâm, thì Tam tế theo thứ tự phối với Căn bản nghiệp bất tương ứng nhiễm. Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm, Bất đoạn tương ứng nhiễm, Chấp thủ tướng và Kế danh tự tướng phối với Chấp tương ứng nhiễm. Nếu phối hợp Tam tế Lục thô với Tứ tướng, thì Nghiệp tướng phối với Sinh tướng, các tướng: Năng kiến, Cảnh giới, Trí và Tương tục phối với Trụ tướng, các tướng: Chấp thủ và Kế danh tự phối với Dị tướng, còn Khởi nghiệp tướng thì phối với Diệt tướng. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng; Khởi tín luận sớ Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu].
Tam tế tướng
三細相; C: sānxìxiāng; J: sansaisō;|Tam tế (三細).
tam tỉ lượng
535因明用語。又作三量、三支比量。因明立論中,立(立論、主張)敵(問難)雙方攻防上之三種方法。(一)自比量,此為自守之論法,其論式全由立者自己所許之材料組成,並於宗支上有「我」字,於因、喻二支上有「許」字出現。(二)他比量,此為攻擊之論法,其論式全由敵者所許之條件為材料組成,並於宗支上有「汝」字,於因、喻二支上有「許」字出現。(三)共比量,此為共諍之論法,其論式,不以立敵雙方所各自意許之材料組成,並且其宗依必為諍論之主題,而因、喻二支則為共許,論式中無「我」「許」或「汝」「許」之簡別語。每一比量又可再逐項細別為自比量、他比量、共比量三種,合計為九種比量。其中,自自者,於宗、因、喻皆談自許之法;自他者,於宗為自許之法,於因、喻則取用他許之教義;自共者,於宗為自許之法,於因、喻則為自、他共許之法。以上為自比量中之三種,他、共比量二項亦準此而解。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷下末〕(參閱「他比量」1542、「共比量」2194、「自比量」2516)
; (三比量) Cũng gọi Tam lượng, Tam chi tỉ lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Tự tỉ lượng, Tha tỉ lượng và Cộng tỉ lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí Q.hạ, phần cuối]. (xt. Tha Tỉ Lượng, Cộng Tỉ Lượng, Tự Tỉ Lượng).
Tam Tỉnh Tự
(三井寺, Mii-dera) hay Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗), hiện tọa lạc tại số 246 Onjōji-chō (園城寺町), Ōtsu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), nói cho đúng là Trường Đẳng Sơn Viên Thành Tự (長等山園城寺), nhưng thường được gọi là Tam Tỉnh Tự, hay Ngự Tỉnh Tự (御井寺), và rất nổi tiếng là ngôi chùa linh thiêng thứ 14 trong số 33 ngôi danh lam ở vùng Tây Quốc (西國) được mọi người thường đến tham bái. Tượng thờ chính là Di Lặc Bồ Tát. Suốt trong thời gian từ thời Bình An cho đến Liêm Thương, chùa đã từng đối kháng với Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), rồi cùng với Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chùa còn nuôi dưỡng lớp Tăng Binh để tranh đấu với hàng võ môn, là một trong những ngôi tự viện có quyền lực mạnh nhất đương thời. Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) băng hà, chùa bắt đầu được dựng lên bởi vị Hoàng Tử của Hoằng Văn Thiên Hoàng (弘文, Kōbun Tennō) là Đại Hữu Dữ Đa Vương (大友與多王) cúng dường khu đất của ông. Đến năm 859 (Trinh Quán [貞觀] nguyên niên), Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (圓珍, Enchin) tái kiến lại chùa. Có thuyết cho rằng tên gọi Tam Tỉnh Tự vốn phát xuất từ sự việc phía sau Kim Đường của chùa có một cái giếng, người ta thường dùng nước giếng này để hành lễ Tam Bộ Quán Đảnh (三部灌頂), cho nên chùa có tên như vậy. Cũng có thuyết cho rằng chính nước giếng này được dùng để tắm rửa cho ba vị Thiên Hoàng Thiên Trí (天智, Tenchi), Thiên Võ (天武, Temmu) và Trí Thống (持統, Jitō) khi vừa mới sinh ra. Chùa này ngày xưa là ngôi Biệt Viện của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), môn đồ của chùa đã từng tranh đấu với môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) trên Tỷ Duệ Sơn; cuối cùng vào năm 993 (Chánh Lịch [正曆] 4), chùa tách riêng ra trở thành ngôi chùa tổ trung tâm. Đến cuối thời Bình An, chùa có khoảng 80 ngôi đường tháp, 600 tăng phòng; song chùa cũng đã gặp mấy lần hỏa hoạn, bị cháy tan tành. Ngôi già lam hiện tại có thể nói là kiến trúc tái kiến của mấy vị Tướng Quân nổi tiếng đời đầu của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa) là Gia Khang (家康, Ieyasu), Tú Trung (秀忠, Hidetada), v.v. Hiện tại chùa được liệt vào một trong 4 ngôi tự viện lớn nhất Nhật Bản. Một phần rất rộng lớn của chùa nằm trên núi, lấy Quan Âm Đường làm trung tâm; một phần thì nằm dưới chân núi, chủ yếu là phối trí các ngôi đường tháp. Nơi Quan Âm Đường có tôn thờ tượng Như Ý Luân Quan Âm bằng gỗ Chiên Đàn, là một trong 33 chốn linh trường của vùng Tây Quốc. Tương truyền tượng này là tác phẩm của vị Tổ khai sơn Trí Chứng Đại Sư (智証大師). Ngôi đường hiện tại là kiến trúc được xây dựng vào năm 1689. Trong núi có Kim Đường, là kiến trúc được xây dựng vào năm 1252 (Kiến Trường [建長] 4), được xếp vào hạng quốc bảo. Các ngôi Khách Đường ở Khuyến Học Viện cũng như ở Quang Tịnh Viện cũng đều là quốc bảo. Cách đó khoảng 3 cây số về phía Bắc có Tân La Thiên Thần Đường (新羅天神堂), trong đó Tu Di Đàn cũng được xếp hạng quốc bảo. ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có Nhân Vương Môn, Tam Trùng Tháp, Lầu Chuông, Đường Viện, Kinh Đường, Nhà Ăn, Tỳ Sa Môn Đường, v.v., đều là những kiến trúc được xếp hạng tài sản văn hóa trong yếu của quốc gia, và quanh đó cũng có rất nhiều ngôi đường tháp lớn nhỏ. Nơi Kinh Tàng có lưu trữ những bản kinh tạng Cao Lệ (Triều Tiên). Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ vô số các bảo vật khác.
tam tịch mặc
608為身寂默、語寂默、意寂默之總稱。寂默,梵語 mauneya, mauna, maunī,音譯為牟尼。又作三寂靜。三寂默即身、語、意等三煩惱永遠寂滅之狀態。俱舍論卷十六謂,無學(即阿羅漢)之身業稱為身牟尼,語業稱為語牟尼,而無學之意(心王)稱為意牟尼,然不以思心所之意業為意牟尼。〔集異門足論卷六、大毘婆沙論卷一一七、順正理論卷四十一、俱舍論光記卷十六〕
; (三寂默) Tịch mặc, Phạm: Mauneya, Mauna, Maunì. Hán âm: Mâu ni. Cũng gọi Tam tịch tĩnh. Ba vắng lặng. Tức thân vắng lặng, ngữ vắng lặng và ý vắng lặng, nghĩa là trạng thái 3 thứ phiền não của thân, ngữ, ý vắng lặng vĩnh viễn. Luận Câu xá quyển 16 nói rằng: Thân nghiệp của bậc Vô học(tức A la hán) gọi là Thân mâu ni, Ngữ nghiệp gọi là Ngữ mâu ni và Ý(tâm vương) của bậc Vô học gọi là Ý mâu ni, nhưng ý nghiệp của tâm sở Tư không được gọi là Ý mâu ni. [X. luận Tập dị môn túc Q.6; luận Đại tì bà sa Q.117; luận Thuận chính lí Q.41, Câu xá luận quang kí Q.16].
tam tịnh nhân
615又作身器清淨三因。指清淨身心之三種因。即:(一)身心遠離,身不近惡友,心不起惡念。(二)喜足少欲,又稱少欲知足。滿足現前之所得(知足),不多貪求(少欲)。(三)四聖種,對衣服、飲食、臥具有喜足(知足)之心,而願修聖道,以斷煩惱。即指衣服喜足聖種、飲食喜足聖種、臥具喜足聖種、樂斷修聖種等四種,此四者為生起聖道之因種,故稱聖種。〔中阿含經卷二十一、俱舍論卷二十二、大毘婆沙論卷一八一〕
; (三淨因) Cũng gọi Thân khí thanh tịnh tam nhân. Chỉ cho 3 nguyên nhân làm cho thân tâm thanh tịnh. Đó là: 1. Thân tâm viễn li (thân tâm xa lìa): Thân không gần bạn xấu, tâm không khởi niệm ác. 2. Hỉ túc thiểu dục(cũng gọi Thiểu dục tri túc): Ít ham muốn, biết đủ. Nghĩa là thỏa mãn với những cái mình hiện có (biết đủ), không tham cầu nhiều. 3. Tứ thánh chủng: Có tâm hỉ túc(biết đủ)đối với áo mặc, cơm ăn, chăn mền, nguyện tu Thánh đạo để đoạn trừ phiền não. Tức chỉ cho 4 Thánh chủng: Y phục hỉ túc thánh chủng, Ẩm thực hỉ túc thánh chủng, Ngọa cụ hỉ túc thánh chủng và Nhạo đoạn tu thánh chủng. Đây là 4 thứ nhân làm nảy sinh hạt giống Thánh, cho nên gọi là Thánh chủng. [X. kinh Trung a hàm Q.21; luận Câu xá Q. 22; luận Đại tì bà sa Q.181].
tam tịnh nhục
616據十誦律卷三十七載,有三種肉,病者可食,稱為淨肉。(一)眼不見殺,自眼不見是生物為我而殺。(二)耳不聞殺,於可信之人,不聞是生物為我而殺。(三)不疑殺,知此處有屠家,或有自死之生物,故無為我而殺之嫌。(參閱「三不淨肉」530)
; The three kinds ođ "clean" flesh - when a monk has not seen the creature killed, has not heard of its being killed for him, and has no doubt thereon.
; (三淨肉) Ba thứ thịt thanh tịnh mà người bệnh được phép ăn. Theo luận Thập tụng quyển 37, khi vị tỉ khưu bị bệnh, thầy thuốc bảo phải ăn thịt mới chữa được thì 3 trường hợp sau đây, thịt được xem là thanh tịnh và tỉ khưu được phép dùng: 1. Mắt không thấy giết: Chính mắt mình không thấy sinh vật ấy vì mình mà bị giết. 2. Tai không nghe giết: Đối với người đáng tin, không nghe nói sinh vật ấy vì mình mà bị giết. 3. Không nghi giết: Biết nơi đókhông có nhà đồ tể, hoặc sinh vật ấy đã tự chết, vì thế không còn ngờ là vì mình mà sinh vật ấy bị giết. (xt. Tam Bất Tịnh Nhục).
tam tịnh đầu
616指僧堂座席前之床緣一尺處,其處有三種用途,第一用以置袈裟,第二為展鉢盂之處,第三為睡眠時,頭所向之處(以床緣為枕),故稱三淨頭。〔敕修百丈清規卷六日用軌範、禪林象器箋卷一上〕
; (三淨頭) Chỉ chỗ đầu giường trong Tăng đường. Chỗ này có 3 công dụng: Thứ nhất, dùng để cất ca sa, thứ hai, dùng để bình bát và thứ ba, dùng để làm gối khi ngủ(dùng đầu giường làm gối), cho nên gọi là Tam tịnh đầu.[X. điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; Thiền lâm tượng khí tiên Q.1 thượng].
tam tổ tự
601又稱乾元禪寺、山谷寺。位於安徽天柱山中。傳為南朝寶志禪師所創建。後禪宗三祖僧璨遊此,擴建寺院,聲揚大江南北。隋大業二年(606),三祖立化寺中樹下,後人建「立化亭」紀念之。寺東有寶公洞、錫杖井、卓錫泉。據傳,寶公洞為寶志禪師開山時之居處,井、泉乃寶志禪師以錫杖所掘。寺西有石牛古洞,乃宋代黃庭堅之讀書處。寺有一塔,名覺寂。開山以來,香客不絕,文人雅士常集。寺壁留有宋代張同之所題「禪林誰第一?此地冠南洲」之詩句。今僅存藏經樓和偏房數間。
; (三祖寺) Cũng gọi Càn nguyên thiền tự, Sơn cốc tự. Chùa ở núi Thiên trụ, tỉnh An huy, Trung quốc, tương truyền do Thiền sư Bảo chí sáng lập vào thời Nam triều. Về sau, Tổ thứ 3 của Thiền tông là ngài Tăng xán đến đây, xây cất chùa viện rộng thêm, trở nên nổi tiếng cả vùng Giang nam, Giang bắc. Vào năm Đại nghiệp thứ 2 (606) đời Tùy, Tam tổ đứng mà tịch ở gốc cây trong chùa, người đời sau xây đình Lập hóa để kỉ niệm. Phía đông chùa có động Bảo công, giếng Tích trượng, suối Trác tích. Tương truyền, động Bảo công là chỗ ở của Thiền sư Bảo chí lúc sáng lập chùa, giếng và suối là do Thiền sư Bảo chí dùng tích trượng để đào. Phía tây chùa có động Thạch ngưu là nơi đọc sách của Hoàng đình kiên đời Tống. Trong chùa có tòa tháp tên là Giác tịch. Từ khi chùa được sáng lập đến nay, khách đến lễ bái không dứt, văn nhân thi sĩ thường đến thưởng ngoạn và ngâm vịnh. Trên vách chùa có ghi câu thơ của Trương đồng đời Tống: Thiền lâm thùy đệ nhất? Thử địa quán Nam châu. (Rừng thiền ai bậc nhất? Nơi này trùm châu Nam). Hiện nay chỉ còn lầu chứa kinh và vài gian phòng.
Tam Tụ
(三聚): có 4 nghĩa chính. (1) Còn gọi là Tam Định Tụ (三定聚); tức là (a) Chánh Định Tụ (正定聚), (b) Tà Định Tụ (邪定聚), (c) Bất Định Tụ (不定聚). Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 84 dạy rằng cái có thể phá được điên đảo là Chánh Định, cái không phá được điên đảo thì gọi là Tà Định; có được nhân duyên thì có thể phá được, không có nhân duyên thì không phá được, gọi là bất định. Lại theo thuyết của Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論, Taishō Vol. 32, No. 1668) quyển 1 cho biết rằng 10 vị Thánh là Chánh Định Tụ, 3 vị Hiền là Bất Định Tụ, phàm phu là Tà Định Tụ. (2) Lấy ngã (我) và pháp (法) phân làm 3 loại lớn; gồm: (a) Lấy nhân duyên lìa hợp mà nói, phàm cái có đủ tánh chất của sanh diệt thì gọi là Hữu Vi Tụ (有爲聚); (b) Phàm cái không có đủ tánh chất của sanh diệt thì gọi là Vô Vi Tụ (無爲聚); (c) Quy nạp cả hai tụ này không theo nguyên tắc nào, gọi là Phi Nhị Tụ (非二聚). (3) Tất cả các pháp Hữu Vi được phân làm 3 loại: (a) Sắc Pháp (色法), chỉ cho Bốn Đại đất, nước, lửa, gió cấu thành nên vật chất; (b) Tâm Pháp (心法), tức các loại tác dụng tinh thần; (c) Không Sắc Không Tâm, đã không phải sắc pháp cũng chẳng phải tâm pháp, như trong 75 pháp do Pháp Tướng Tông lập ra, 14 pháp Bất Tương Ưng Hành (不相應行) đều thuộc về pháp của Không Sắc Không Tâm. (4) Từ gọi tắt của Tam Tụ Tịnh Giới (s: tri-vidhāni śīlāni, 三聚淨戒); chỉ cho giới pháp của Đại Thừa Bồ Tát; còn gọi là Bồ Tát Tam Tụ Giới (菩薩三聚戒), Tam Tụ Thanh Tịnh Giới (三聚清淨戒), Tam Tụ Viên Giới (三聚圓戒), Tam Tụ Giới (三聚戒). Tụ (聚) ở đây nghĩa là chủng loại. Vì ba loại giới pháp này vô cấu nhiễm, trong sạch, nhiếp hết các giới của Đại Thừa, viên dung vô ngại, nên gọi là Tam Tụ Tịnh Giới, Tam Tụ Viên Giới. Ba loại giới ấy gồm: (a) Nhiếp Luật Nghi Giới (s: saṃvara-śīla, 攝律儀戒), còn gọi là Tự Tánh Giới (自性戒), Nhất Thiết Bồ Tát Giới (一切菩薩戒), xả đoạn hết thảy các điều ác, nhiếp trọn các pháp môn dừng ác của luật nghi; là giới của 7 chúng thọ trì, tùy theo sự khác nhau về tại gia, xuất gia mà phân biệt thành 5 giới, 8 giới, 10 giới, cụ túc giới; cũng có thể tổng quy thành 3 loại là Biệt Giải Thoát Giới (別解脫戒), Định Cọng Giới (定共戒), Đạo Cọng Giới (道共戒). Hơn nữa, giới này là nhân của Pháp Thân, vì Pháp Thân vốn tự thanh tịnh; do đối với điều ác thì che giấu, nên không được lộ ra, nay lìa đoạn các điều ác, thì công thành đức hiện rõ. (2) Nhiếp Thiện Pháp Giới (s: kuśala-dharma-saṃgrāhaka-śīla, 攝善法戒), còn gọi là Thọ Thiện Pháp Giới (受善法戒), Nhiếp Trì Nhất Thiết Bồ Đề Đạo Giới (攝持一切菩提道戒), nghĩa là tu tập tất cả các pháp lành. Đây là pháp môn tu thiện, thuộc về giới luật nghi do vị Bồ Tát tu tập, lấy việc thiện của thân, miệng, ý để hối hướng vô thượng Bồ Đề, như thường siêng năng tinh tấn, cúng dường Tam Bảo, tâm không phóng dật, giữ gìn nhiếp hộ cửa các căn và thực hành Lục Độ Ba La Mật, v.v.; nếu phạm tội thì như pháp sám hối để nuôi dưỡng các pháp lành. Đây chính là nhân của Báo Thân, nhờ dừng điều ác và tu tập việc thiện, nên tạo duyên thành Báo Phật (報佛). (3) Nhiếp Chúng Sanh Giới (s: sattvārtha-kriyā-śīla, 攝眾生戒), còn gọi là Nhiêu Ích Hữu Tình Giới (饒益有情戒), Tác Chúng Sanh Ích Giới (作眾生益戒); nghĩa là lấy tâm từ bi để nhiếp thọ lợi ích chúng sanh; đây là pháp môn làm lợi lạc cho chúng sanh. Bồ Tát Địa Trì Kinh (菩薩地持經, Taishō Vol. 30, No. 1581) quyển 4 nêu ra 11 loại làm lợi lạc, gồm: (1) Các việc làm lợi ích do chúng sanh làm đều cùng làm bạn; (2) Các nỗi khổ do bệnh hoạn của chúng sanh chưa sinh khởi cũng như đã sinh khởi, và người khan bệnh, cùng làm bạn; (3) Vì chúng sanh nói các pháp thế gian, xuất thế gian, hay dùng phương tiện khiến cho họ có được trí tuệ; (4) Biết ơn và báo ơn; (5) Các loại sợ hãi của chúng sanh, thảy đều cứu giúp; (6) Thấy có chúng sanh bần cùng, khốn khổ, bèn cung cấp cho họ những thứ họ cần; (7) Đức hạnh đầy đủ, thọ trì nương tựa, như pháp mà dạy nuôi chúng; (8) Trước dùng lời an ủi, tùy thời mà đến thăm, ban cho thức ăn uống, nói những lời tốt lành của thế gian; (9) Đối với người có thật đức, thì ca tụng, vui mừng; (10) Đối với người tạo điều sai lầm, không tốt, lấy từ tâm mà trách la, phạt xử nghiêm minh, khiến họ hối lỗi, sửa đổi; (11) Lấy oai lực thần thông, thị hiện đường ác, khiến cho chúng sanh kia sợ hãi, xa lìa điều ác, vâng tu theo Phật pháp, hoan hỷ tin mừng, sanh tâm hy hữu. Ba Tu Tịnh Giới này là giới thông cả tăng lẫn tục của Đại Thừa. Tăng sĩ Đại Thừa ban đầu thọ Nhiếp Luật Nghi Giới, tức thọ 250 giới, đây gọi là biệt thọ (別受); sau lại thọ chung Ba Tu Tịnh Giới này, gọi là thông thọ (通受). Như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1220) có đoạn: “Cầu giải thoát giả, năng chuyển Tam Độc, vi Tam Tụ Tịnh Giới, chuyển Lục Tặc vi Lục Ba La Mật, tự nhiên vĩnh ly nhất thiết chư khổ (求解脫者、能轉三毒、爲三聚淨戒、轉六賊為六波羅蜜、自然永離一切諸苦, người cầu giải thoát, có thể chuyển Ba Độc thành Ba Tụ Tịnh Giới, chuyển Sáu Tặc thành Sáu Ba La Mật, tự nhiên mãi lìa hết thảy các khổ).”
Tam tụ
三聚; C: sānjù; J: sanju;|Ba loại hội tụ, ba nhóm: 1. Chính tính định tụ (正性定聚): Nhóm sẽ theo con đường chân chính; 2. Tà tính định tụ (邪性定聚): Nhóm sẽ theo con đường tà và 3. Bất định tụ (不定聚): Nhóm sẽ theo con đường bất định.
tam tụ
665<一>指三種類聚。又稱三定聚。即:(一)正定聚,(二)邪定聚,(三)不定聚。大智度論卷八十四言能破顛倒者,稱為正定;不能破顛倒者,稱為邪定;得因緣能破,不得因緣則不能破者,稱為不定。又依釋摩訶衍論卷一之說,十聖為正定聚,三賢為不定聚,凡夫為邪定聚。〔長阿含經卷八、集異門足論卷四〕(參閱「三定聚」562) <二>將「我」及「法」分為三大類,即:(一)以因緣之離合而言,凡具有生滅之性質者,稱為有為聚。(二)凡不生不滅者,稱為無為聚。(三)無法歸納於前二類者,稱為非二聚。 <三>為一切有為法之三種分類。即:(一)色法,指地、水、火、風等四大所構成之物質。(二)心法,即各種精神作用。(三)非色非心,既非色法亦非心法,如法相宗所立七十五法中,攝屬「不相應行」之十四法均為非色非心之法。 <四>為三聚淨戒之略稱。即攝律儀戒、攝善法戒、攝眾生戒,此三聚淨戒乃無垢清淨,含攝大乘菩薩精神之戒法。(參閱「三聚淨戒」665)
; The three groups, i.e. chính định tụ those decided for the truth; tà định tụ those who are decided for heresy; bất định tụ the undecided. Definitions vary in different schools.
; (三聚) I. Tam Tụ. Cũng gọi Tam định tụ. Ba tụ: Chỉ cho Chính định tụ, Tà định tụ và Bất định tụ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 84 thì hễ phá trừ được điên đảo gọi là Chính định, không phá được điên đảo gọi là Tà định, còn gặp nhân duyên thì phá được, không gặp nhân duyên thì không phá được gọi là Bất định. Ngoài ra, theo Thích ma ha diễn luận quyển 1 thì Thập thánh là Chính định tụ, Tam hiền là Bất định tụ, Phàm phu là Tà định tụ. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Tập dị môn túc Q.4 (xt. Tam Định Tụ). II. Tam Tụ. Ngã và Pháp được chia làm 3 loại lớn gọi là Tam tụ: 1. Hữu vi tụ: Pháp sinh diệt. 2. Vô vi tụ: Pháp không sinh không diệt.3. Phi nhị tu: Các pháp còn lại không thuộc 2 loại pháp trên. III. Tam Tụ. Ba loại pháp hữu vi. 1. Sắc pháp: Chỉ cho các vật chất được cấu tạo thành bởi 4 nguyên tố đất, nước, lửa và gió. 2. Tâm pháp: Chỉ cho các thứ tác dụng tinh thần. 3. Phi sắc phi tâm: Các pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm, như 14 pháp thuộc Bất tương ứng hành trong 75 pháp do tông Câu xá thành lập, đều là pháp phi sắc phi tâm. IV. Tam Tụ. Gọi đủ: Tam tụ tịnh giới. Tức là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sinh giới. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).
tam tụ giới
Xem tam tụ tịnh giới.
tam tụ tịnh giới
665梵語 tri-vidhāni śīlāni。指大乘菩薩之戒法。又作菩薩三聚戒、三聚清淨戒、三聚圓戒。簡稱三聚戒、三聚。聚,種類之意。以此三聚之戒法,無垢清淨,含攝大乘諸戒,圓融無礙,故稱三聚淨戒、三聚圓戒。即:(一)攝律儀戒(梵 saṃvara-śīla),又作自性戒、一切菩薩戒。乃捨斷一切諸惡,含攝諸律儀之止惡門。為七眾所受之戒,隨其在家、出家之異而分別有五戒、八戒、十戒、具足戒等戒條;亦可總歸為別解脫戒、定共戒、道共戒三種。又此戒為法身之因,以法身本自清淨,由於惡覆,故不得顯;今離斷諸惡,則功成德現。 (二)攝善法戒(梵 kuśala-dharma-saṃgrāhaka-śīla),又作受善法戒、攝持一切菩提道戒,謂修習一切善法。此為修善門,係菩薩所修之律儀戒,以修身、口、意之善迴向無上菩提,如常勤精進,供養三寶,心不放逸,守攝根門及行六波羅蜜等,若犯過,則如法懺除,長養諸善法。此即報身之因,以其止惡修善,故成報佛之緣。 (三)攝眾生戒(梵 sattvārtha-kriyā-śīla),又作饒益有情戒、作眾生益戒,即以慈心攝受利益一切眾生,此為利生門。菩薩地持經卷四舉出十一種,即:(1)眾生所作諸饒益事,悉與為伴。(2)眾生已起或未起之病等諸苦及看病者,悉與為伴。(3)為諸眾生說世間、出世間法,或以方便令得智慧。(4)知恩報恩。(5)眾生種種恐怖,悉能救護。若有喪失親屬財物諸難,能為開解令離憂惱。(6)見有眾生貧窮困乏,悉能給予所須之物。(7)德行具足,正受依止,如法畜眾。(8)先語安慰,隨時往返,給施飲食,說世善語。進止非己,去來隨物。(9)對有實德者,稱揚歡悅。(10)對有過惡者,慈心呵責。折伏罰黜,令其悔改。(11)以神通力,示現惡道,令彼眾生畏厭眾惡,奉修佛法,歡喜信樂,生希有心。 此三聚淨戒為大乘僧、俗之通行戒,然大乘僧眾始受攝律儀戒,即受二百五十戒,此謂別受;後再總受三聚淨戒,稱為通受。〔大乘本生心地觀經卷三、解深密經卷四、瑜伽師地論卷四十一、梁譯攝大乘論釋卷十一、梵網經菩薩戒本疏卷一(法藏)〕
; Trividhani-śīlani (S).
; The three cumulative commandments: (a) nhiếp luật nghi giới the formal 5, 8, or 10, and the rest; (b) nhiếp thiện pháp giới whatever works for goodness; (c) nhiêu ích hữu tình giới whatever works for the welfare or salvation of living, sentient beings.
; (三聚淨戒) Phạm:Tri-vidhàni Zìlàni. Cũng gọi: Bồ tát tam tụ giới, Tam tụ thanh tịnh giới, Tam tụ viên giới. Gọi tắt: Tam tụ giới, Tam tụ. Chỉ cho giới pháp của Bồ tát Đại thừa. Tụ nghĩa là chủng loại. Vì 3 loại giới pháp này rất thanh tịnh, bao hàm các giới Đại thừa, viên dung vô ngại, cho nên gọi là Tam tụ tịnh giới, Tam tụ viên giới. Tức là: 1. Nhiếp luật nghi giới (Phạm: Saôvara-zìla), cũng gọi Tự tính giới, Nhất thiết bồ tát giới: Chỉ cho môn ngăn ác, bao hàm mọi luật nghi, dứt bỏ tất cả các điều ác; là giới của 7 chúng thụ trì, tùy theo tại gia, xuất gia khác nhau mà chia ra các giới điều như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc...; cũng có thể qui thành 3 loại chung là Biệt giải thoát giới, Định cộng giới và Đạo cộng giới. Lại nữa, giới này là nhân của Pháp thân, vì Pháp thân vốn tự thanh tịnh, nhưng bị điều ác che lấp nên không hiển lộ ra được; nay dứt lìa các điều ác thì thì công thành đức hiện. 2. Nhiếp thiện pháp giới (Phạm: Kuzala-dharma-saôgràhaka-zìla), cũng gọi Thụ thiện pháp giới, Nhiếp trì nhất thiết bồ tát đạo giới. Nghĩa là tu tập tất cả pháp lành. Đây là môn tu thiện, là luật nghi giới mà Bồ tát tu hành, đem các điều thiện do thân, khẩu, ý tu được hồi hướng về Vô thượng bồ đề, như thường siêng chăm tinh tiến, cúng dường Tam bảo, tâm không buông thả, giữ gìn các căn môn và thực hành 6 ba la mật..., nếu phạm lỗi thì như pháp sám trừ, nuôi lớn các thiện pháp. Đây là nhân của Báo thân, do tu thiện dứt ác nên trở thành duyên của Báo thân Phật.3. Nhiếp chúng sinh giới (Phạm: Sattvàrtha-kriyà-zìla), cũng gọi Nhiêu ích hữu tình giới, Tác chúng sinh ích giới. Nghĩa là vận dụng từ tâm nhiếp thụ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, đây là môn lợi sinh. Kinh Bồ tát địa trì nêu ra 11 thứ lợi ích như sau: -Cùng làm bạn với những việc lợi ích mà chúng sinh thực hiện. -Cùng làm bạn với các bệnh khổ của chúng sinh đã khởi hoặc chưa khởi và người khán bệnh. -Nói pháp thế gian, xuất thế gian cho các chúng sinh nghe, hoặc dùng phương tiện giúp họ đạt được trí tuệ. -Biết ân báo ân. -Chúng sinh gặp các thứ sợ hãi, đều ra tay cứuhộ. Nếu họ bị các tai nạn như mất người thân thích, tài vật thì làm cho họ hết lo buồn. -Thấy có chúng sinh nghèo cùng khốn khó thì chu cấp những vật cần dùng. -Đức hạnh đầy đủ, xứng đáng làm chỗ y chỉ, nuôi chúng đúng pháp. -Trước nói lời an úy, tùy thời qua lại, cấp cho thức ăn uống, nói các lời tốt lành, tới lui thăm viếng... -Đối với những người có thực đức, tâm vui vẻ khen ngợi. -Đối với người có lỗi xấu, dùng từ tâm quở trách, chiết phục xử phạt, khiến họ hối cải. -Dùng sức thần thông, thị hiện đường ác, khiến chúng sinh sợ hãi các điều ác, tu theo Phật pháp, vui mừng tin ưa, sinh tâm hiếm có. Tam tụ định giới này là giới chung của tăng, tục Đại thừa thực hành, nhưng chúng tăng Đại thừa trước hết thụ Nhiếp luật nghi giới, tức thụ 250 giới, đây gọi là Biệt thụ; sau đó lại thụ chung Tam tụ tịnh giới, gọi là Thông thụ. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.3; kinh Giải thâm mật Q.4; luận Du già sư địa Q.41; Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.1 (Pháp tạng)].
tam tức nhất
The three vehicles (Hìnayàna, Madhyamayàna, Mahàyàna) are one, i.e. the three lead to bodhisattvaship and Buddhahood for all.
tam tử
527比喻菩薩、聲聞與一闡提等三種根機如生性各異之三子。典出北本大般涅槃經卷三十三,謂三子之中,其一有信順之心,恭敬父母,利根智慧,於世間事能速疾了知;其二不敬父母,無信順之心,然利根智慧,於世間事亦能速疾了知;其三不敬父母,又無信順之心,鈍根無智。此蓋以初子喻指菩薩,二子喻指聲聞,三子喻指一闡提。天台宗於化教中,即先於華嚴時化導菩薩,其次利益聲聞,最後於涅槃時開導闡提。又同經卷三十三亦有三田、三馬、三器、三病人之譬喻,概亦用顯菩薩、聲聞、闡提等三機之別。〔雜阿含經卷三十二、卷三十三、法華經玄義卷一上、涅槃經會疏卷三十一〕
; The three sons, one filial, wise, and competent; one unfilial but clever and competent; one unfilial, stupid and incompetent; types respectively of bodhisattvas bồ tát, sràvakas thanh văn and icchantikas nhất xiển đề.
; (三子) Chỉ cho ba người con. Tức ví dụ cho 3 loại căn cơ: Bồ tát, Thanh văn và Nhất xiển đề giống như 3 người con có bản tính khác nhau. Điển tích này có xuất xứ từ kinh Đại bát niết bàn quyển 33 (bản Bắc) nói rằng: Trong 3 người con, người con thứ nhất có tâm tín thuận, cung kính cha mẹ, lợi căn trí tuệ, đối với các việc thế gian rõ biết nhanh chóng; người con thứ 2 không có tâm tín thuận, không cung kính cha mẹ, nhưng cũng lợi căn thông minh và đối với các việc thế gian cũng hiểu biết mau chóng; còn người thứ 3 thì đã không có tâm tín thuận, không kính cha mẹ lại ngu si vô trí. Ở đây, người con thứ nhất ví dụ cho Bồ tát, người con thứ 2 ví dụ cho Thanh văn và người con thứ 3 thí dụ cho Xiển đề. Trong Hóa giáo của tông Thiên thai thì vào thời Hoa nghiêm đầu tiên hóa đạo Bồ tát, kế đến là làm lợi ích cho hàng Thanh văn, cuối cùng đến thời Niết bàn mới mở đường tiếp hóa Xiển đề.Cũng kinh Đại bát niết bàn quyển 33 (bản Bắc) còn có các thí dụ như: Tam điền, Tam mã, Tam khí, Tam bệnh nhân... dùng để nói lên sự khác biệt giữa 3 căn cơ Bồ tát, Thanh văn và Nhất Xiển đề. [X. kinh Tạp a hàm Q.32, 33; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, thượng, Niết bàn kinh hội sớ Q.31].
tam tự
550<一>指自調、自淨、自度。大智度論卷六十一將八正道分為三類:(一)自調,指持戒之正語、正業、正命。(二)自淨,指修禪之正念、正定。(三)自度,指智慧之正見、正思、正精進。 <二>為三自一心摩訶衍法之略稱。(參閱「三自一心摩訶衍法」550)
; Three divisions of the eight-fold noble path, the first to the third tự điều self-control, the fourth and fifth tự tịnh self-purification, the last three tự độ self-development in the religious life and in wisdom. Also tự thể, tự tướng, tự dụng, substance, form and function.
; (三自) I. Tam Tự. Chỉ cho 3 tự là Tự điều, Tự tịnh và Tự độ.Luận Đại trí độ quyển 81 chia Bát chính đạo làm 3 loại là: 1. Tự điều: Chỉ cho Chính ngữ, Chính nghiệp và Chính mệnh thuộc về trì giới. 2. Tự tịnh: Chỉ cho Chính niệm và Chính định thuộc về tu thiền. 3.Tự độ: Chỉ cho Chính kiến, Chính tư và Chính tinh tiến thuộc về trí tuệ. II. Tam Tự. Gọi đủ: Tam tự nhất tâm ma ha diễn pháp. (xt. Tam Tự Nhất Tâm Ma Ha Diễn Pháp)
tam tự nhất tâm ma ha diễn pháp
550略稱三自。即具足體、相、用三者之唯一絕對之心。亦即大乘起信論所說之一心。〔辨顯密二教論卷上〕
; (三自一心摩呵衍法) Gọi tắt: Tam tự. Chỉ cho tâm tuyệt đối duy nhất có đủ Thể, Tướng, Dụng, cũng tức là Nhất tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín. [X. luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.thượng].
tam tự thiền
548禪宗公案名。又稱雲門三字禪。禪宗大德雲門文偃接引學人時,常以「顧、鑑、咦」三字說破禪旨。顧,謂自我反省;鑑,謂自我鑑戒;咦,謂言詮不及、意路不到而領略到玄旨,亦指超絕一切,於孤峰頂上宴坐自適之境界。蓋雲門師承睦州道明、雪峰義存,睦州之宗風以峭峻著稱,雪峰之宗風以溫密馳名。雲門深得此二師宗風之妙用,而以機鋒嶮絕獨步禪林,其所說之法語與接化學人之問答,語句簡潔,猶如電光石火,如雲門一字禪、二字禪、三字禪皆為膾炙人口之公案。〔碧巖錄第六則、禪宗頌古聯珠通集卷三十二〕
; (三字禪) Cũng gọi Vân môn tam tự thiền. Tên công án trong Thiền tông. Thiền ba chữ, tức chỉ cho 3 chữ Cố, Giám, Di của Thiền sư Vân môn Văn yển thường dùng để tiếp hóa người học. Cố nghĩa là tự mình phàn tỉnh; Giám nghĩa là tự xem xét, răn giữ mình; còn Di nghĩa là lãnh hội được ý chỉ sâu xa, kín nhiệm mà ngôn ngữ, ý thức không thể đạt tới, tức chỉ cho cảnh giới an nhiên tự tại, siêu vượt tất cả các pháp tương đối. [X. Bích nham lục tắc 6, Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.32].
tam tự tính
Gồm: - biến kế sở chấp tự tính - y tha khởi tự tính - viên thành thực tự tính.
tam tự tính tướng
Pariniśpana (S), Svabhāva-lakṣaṇatraya (S), Pariniśpana (S)Gồm: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính, Viên thành thực tính.
; Svabhàva-laksana-traya (S). The three forms of knowledge biến y viên tam tính the three aspects of the nature of a thing -biến kế sở chấp tính parikalpita, partial, as when a rope is mistaken for a snake; y tha khởi tính paratantra, only partly reliable, i.e. incomplete inference, as when it is considered as mere hemp; viên thành thật tính parinispanna, all round, or perfect when content, form, etc., are all considered.
tam uẩn
705小乘化地部將萬法分成三種,稱為三蘊。即:(一)一念蘊,指剎那生滅之法。(二)一期蘊,指人自生至死間相續之法;五根等屬之。(三)窮生死蘊,指窮生死而至金剛喻定間相續之法。
; The three kinds of skandhas, aggregations, or combinations, into which all life may be expressed according to the Hóa Địa Bộ or Mahìsàsakàh school: nhất niệm uẩn combintion for a moment, momentary existence; nhất kỳ uẩn combination for a period, e.g. a single human life ; cùng sinh tử uẩn the total existence of all beings.
; (三蘊) Ba uẩn. Hóa địa bộ của Tiểu thừa chia vạn pháp thành 3 loại, gọi là Tam uẩn: 1. Nhất niệm uẩn: Chỉ cho các pháp sinh diệt trong sát na. 2. Nhất kì uẩn: Chỉ cho các pháp nối tiếp nhau trong khoảng thời gian từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, như 5 căn... của con người. 3. Cùng sinh tử uẩn: Chỉ cho pháp tiếp tục trong thời gian từ khi hết sinh tử cho đến lúc được Kim cương dụ định.
tam viên mãn
635為瑜伽師地論卷八十五所舉三種圓成滿足之法。即:(一)行圓滿,謂聽聞正法,依法修行,復能為他人如法演說,自利利他之行圓滿。(二)果圓滿,謂由修行證涅槃之果,圓成滿足。(三)師圓滿,師即受道之師。謂能以佛所說之法教誡於我,復能引發一切梵行,令得滿足。
; (三圓滿) Chỉ cho 3 pháp tròn đầy nói trong luận Du già sư địa quyển 85, đó là:1. Hành viên mãn: Lắng nghe chính pháp rồi theo đúng chính pháp mà tu hành, lại vì người khác mà diễn nói chính pháp làm cho việc tự lợi lợi tha được viên mãn.2. Quả viên mãn: Do tu hành mà chứng được quả Niết bàn, thành tựu viên mãn. 3. Sư viên mãn: Tức bậc thầy dùng giáo pháp của Phật để dạy răn ta, làm cho tất cả phạm hạnh của ta được viên mãn.
tam vu
568指三種所依。於,所依之義。三論宗嘉祥大師依三種所依而立三種二諦,即:(一)本於二諦,即空有二諦,乃佛出世前已存有者,為佛二諦之所依。(二)教於二諦,即佛之言教,為空有二諦之所依。(三)末於二諦,指如來出世後所化之迷教二諦,為佛滅後迷惑教於(佛之言說),而執為空、有二見者。〔三論大義鈔卷一〕
tam vô gián nghiệp
(三無間業) Chỉ cho 3 thứ nghiệp cực ác chiêu cảm quả địa ngục Vô gián, đó là giết cha, giết mẹ và giết A la hán. [X. Chính pháp nhãn tạng biệt lập tam thời nghiệp].
Tam vô lậu căn
三無漏根; C: sān wúlòugēn; J: san murō-kon;|Ba căn cơ không bị ô nhiễm: 1. Hiểu được nguyên tắc của Tứ đế (四諦) mà trước đó chưa hề biết; 2. Nghiên cứu thực hiện Tứ đế để tiêu diệt phiền não; 3. Biết là mình đã chứng ngộ được tứ đế (theo Câu-xá luận 倶舎論).
tam vô lậu căn
(三無漏根) Phạm: Trìny anàsravendriyàịi. Gọi tắt: Tam căn. Chỉ cho 3 căn vô lậusau trong 22 căn. Ba căn vô lậu này do lấy 9 căn là ý, lạc, hỉ, xả, tín, cần, niệm, định và tuệ làm thể mà được lập ra, vì 3 căn vô lậu này có lực dụng tăng thượng, không nhiễm ô, không khởi phiền não, có công năng sinh ra Thánh pháp thanh tịnh vô lậu, nên gọi là Căn. Đó là: 1. Vị tri đương tri căn (Phạm: Anàjĩàtàjĩàsyàmìndriya), cũng gọi Vị tri dục tri căn. Căn cơ thuộc giai vị Kiến đạo. Người ở giai vị này từ vô thủy đến nay chưa từng nghe chân lí Tứ đế, vì muốn biết đế lí chân như ấy, liền tu tập giải hành của Địa tiền phương tiện, nên gọi là Vị tri dục tri căn(căn chưa biết muốn biết). 2. Dĩ tri căn(Phạm:Àjĩendriya), cũng gọi Tri căn. Căn cơ thuộc giai vị Tu đạo. Người ở giai vị này đã biết chân lí Tứ đế, đồng thời đã đoạn trừ các hoặc mê lí, nhưng vì muốn đoạn trừ cáchoặcmê sự, nên tiến tới quán lí Tứ đế, biết rõ cảnh Tứ đế, nên gọi là Dĩ tri căn (Căn đã biết). 3. Cụ tri căn (Phạm:Àjĩàtàvìndriya), cũng gọi Tri dĩ căn, Vô tri căn. Căn cơ thuộc địa vị Vô học. Người ở địa vị này đã biết suốt lí Tứ đế một cách đầy đủ, vì đã dứt hết các phiền não, tất cả việc cần làm đã làm xong, nên gọi là Cụ tri căn (Căn biết đầy đủ). Người ở địa vị Vô học này đã được Tận trí và Vô sinh trí. [X. luận Câu xá Q.3; luận Du già sư địa Q.57; luận Phát trí Q.14; luận Thuận chính lí Q.9; Du già luận kí Q.16, thượng].
tam vô lậu học
The three studies, or endeavours, after the passionless life and escape from transmigration: (a) Giới moral discipline; (b) Định meditation, or trance; (c) Tuệ the resulting wisdom.
; (三無漏學) Chỉ cho Giới, Định, Tuệ là Tam học vô lậu của bậc Thánh. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 hạ) nói: Nhiếp tâm là giới, nhân giới sinh định, do định phát tuệ, cho nên gọi là Tam vô lậu học.
tam vô minh
(三無明) Ba thứ vô minh của phàm phu nói trong kinh Phật thuyết quyết định nghĩa. 1. Si vô minh: Phàm phu ngu si ám độn, chẳng hiểu biết gì, đối với chính pháp không tin, chỉ theo tà sư tà giáo, vọng chấp điên đảo nên gọi Si vô minh. 2. Mê vô minh: Phàm phu hôn mê không rõ, bị quyến rũ bởi các cảnh như 5 trần, không xem xét cái hại của chúng, lại khởi tâm tham đắm, nhiễm trước. 3. Điên vô minh: Phàm phu không rõ biết, đối với chính pháp khởi lên cái thấy tà đảo, thường cho là vô thường, vui chấp là chẳng vui, nên gọi là Điên vô minh.
tam vô ngã
(三無我) Chỉ cho 3 thứ Vô ngã do tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế, Y tha và Viên thành mà lập ra. Đó là: 1. Vô tướng vô ngã: Cái thực ngã, thực pháp của tính Biến kế sở chấp là tình có lí không; thể tướng của cái ngã ấy vốn không, cho nên gọi là Vô tướng. 2. Dị tướng vô ngã: Các pháp của tính Y tha khởi là do nhân duyên sinh ra, thể tướng là vô ngã; nhưng tướng này chẳng phải hoàn toàn là không, mà chỉ khác với ngã tướng của tính Biến kế sở chấp, cho nên gọi là Dị tướng. 3. Tự tướng vô ngã: Tính Viên thành thực lấy chân như do vô ngã hiện bày làm tướng, vì thế gọi là Tự tướng vô ngã. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Thành duy thức Q.8].
tam vô ngại
(三無礙) Chỉ cho 3 thứ vô ngại của Bồ tát nói trong kinh Đại bảo tích quyển 14, đó là: 1. Tổng trì vô ngại: Bồ tát được đại tổng trì, đối với các thiện pháp giữ gìn không mất, đối với các pháp ác nắm giữ không để sinh ra, vì thế tất cả ngôn ngữ, các pháp phân biệt đều biết, đều không quên mất, không có điều gì trở ngại. 2. Biện tài vô ngại: Bồ tát được đại biện tài, đối với các pháp Đại, Tiểu thừa, có các khả năng tùy theo căn cơ chúng sinh mà tự tại tuyên giảng, thảy đều thông suốt, không bị ngăn ngại. 3. Đạo pháp vô ngại: Bồ tát được đại trí tuệ, đối với tất cả đạo pháp Đại thừa, Tiểu thừa và các loại ngôn ngữ văn tự của thế gian, thảy đều thông suốt, không hề bị trở ngại.
tam vô sai biệt
The three that are without (essential) difference, i.e. are of the same nature: (a) Tâm the nature of mind is the same in Buddhas and men, and all the living; (b) Phật the nature and enlightenment of all Buddhas is the same; (c) Chúng sinh the nature and enlightenment of all the living is the same.
; (三無差別) Cũng gọi Tam pháp vô sai, Tam tam bình đẳng quán. Chỉ cho 3 thứ tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 1. Tâm vô sai biệt: Tâm thể của một niệm phàm, thánh không hai, đầy đủ pháp 10 giới, 10 như thị, cùng với tính của chư Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 2. Phật vô sai biệt: Chư Phật trong 10 phương do liễu ngộ pháp 10 giới, 10 như thị mà thành Chính giác, tức là ngộ cái sẵn có của bản tâm, ngộ chỗ mê của chúng sinh; mê ngộ tuy khác, nhưng thể thì không sai biệt.3. Chúng sinh vô sai biệt: Chúng sinh trong 9 cõi đều có đầy đủ pháp 10 giới, 10 như thị, chỗ ngộ của chư Phật và cái sẵn có của bản tâm thể không khác nhau. Mật giáo thì cho tam mật Ngã, Phật và Chúng sinh là trông nhau, nên quán Tam tam bình đẳng không sai khác, gọi là Tam tam bình đẳng quán. Ngoài ra, Phật pháp tăng, thân ngữ ý cũng là Tam pháp bình đẳng; 1mà vô lượng, vô lượng mà 1, rốt cuộc không tạp loạn và cũng là Tam pháp vô sai biệt. (xt. Tam Bình Đảng Quán).
tam vô sanh nhẫn
(三無生忍) Ba thứ Vô sinh nhẫn do tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực mà thành lập, đó là: 1. Bản tính vô sinh nhẫn(cũng gọi Bản lai vô sinh nhẫn): Bồ tát quán xét thể tính của Biến kế sở chấp đều là không. 2. Tự nhiên vô sinh nhẫn: Bồ tát quán xét các pháp của Y tha đều do nhân duyên sinh. 3. Hoặc khổ vô sinh nhẫn (cũng gọi Phiền não khổ cấu vô sinh nhẫn): Bồ tát chứng biết thực tính của các pháp là chân như pháp tính, an trụ trong vô vi, không tương ứng với tất cả tạp nhiễm mà vốn tự vắng lặng.Theo luận Hiển dương thánh giáo thì Tam vô sinh nhẫn này ở địa vị Bất thoái (tức Sơ địa trở lên), khi chứng Tam tính thì được Tam nhẫn này. [X. luận Du già sư địa Q.23; luận Thành duy thức Q.8, luận Hiển dương thánh giáo Q.6].
Tam vô số đại kiếp
三無數大劫; C: sānwúshǔdàjié; J: sanmushudaikō;|Ba kiếp lớn vô số kể, Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫).
tam vô thường
(三無常) Ba thứ vô thường. Vô thường nghĩa là các pháp sinh diệt đổi dời, không có thể tính cố định và có thể trình bày qua 3 phương diện. Theo luận Thuận trung quyển hạ của ngài Long thụ thì 3 thứ vô thường là: 1. Niệm niệm hoại diệt vô thường: Khi căn(chủ quan) và trần(khách quan) đối nhau thì tâm niệm dấy lên, niệm trước diệt niệm sau sinh, cứ thế niệm niệm nối nhau không dừng, đó đều là vô thường. 2. Hòa hợp li tán vô thường: Các pháp vốn không có thực thể nhất định, chỉ tùy thuộc nhân duyên (điều kiện): Nhân duyên hòa hợp thì sinh, nhân duyên lìa tan thì diệt.3. Tất cánh như thị vô thường: Các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh, hư giả chẳng thật, rốt cuộc trở về hoại diệt.Ngoài ra, Đại thừa nghĩa chương quyển 2 và quyển 18 cũng nêu ra 3 thứ vô thường, tên gọi tuy khác nhưng ý nghĩa thì đại khái giống với 3 thứ vô thường trên, đó là: 1. Phần đoạn vô thường: Tương đương với Hòa hợp li tán vô thường. 2. Niệm vô thường: Tương đương với Niệm niệm hoại diệt vô thường. 3. Tự tính bất thành vô thường: Tương đương với Tất cánh như thị vô thường. Theo tông Pháp tướng, sự vô thường của Khổ đế có đủ 3 tính nên thành lập 3 thứ vô thường sau đây: 1. Vô tính vô thường(cũng gọi Vô vật vô thường): Biến kế sở chấp thường không có thể tính, cho nên là vô tính. 2. Khởi tận vô thường(cũng gọi Sinh diệt vô thường): Các pháp nương vào vật khác (y tha) mà khởi là do nhân duyên sinh ra, cho nên tùy theo nhân duyên mà khởi, sinh diệt không thôi. 3. Cấu tịnh vô thường(cũng gọi Hữu cấu vô cấu vô thường): Chân như của tính Viên thành thực không có cấu tịnh, nếu ở trong vị sinh tử thì là Hữu cấu chân như; dứt hết sinh tử thì gọi là Vô cấu chân như.[X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Thành duy thức Q.8; luận Trung biên phân biệt Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu].
tam vô tánh
(三無性) Phạm:Trividhà ni#svabhàvatà. Cũng gọi Tam chủng vô tự tính, Tam vô tự tính, Tam chủng vô tính. Ba thứ Vô tính đối lại với 3 pháp hữu tính do tông Pháp tướng thành lập. Tức khi luận cứu về 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực thì thấy chúng đều không có tự tính, nên mới thành lập thuyết Tam vô tính. Đó là: 1. Tướng vô tính (Phạm: Lakwaịani#svabhàvatà), cũng gọi Tướng vô tự tính tính. Đối với tính Biến kế sở chấp mà lập ra tính này. Bởi vì tính Biến kế sở chấp vốn là cái tình có lí không, nghĩa là về mặt mê tình tuy có, nhưng chẳng qua chỉ là giả tướng hiện ra ngay lúc ấy, ví như hoa đốm trong hư không, đứng về phương diện lí mà nói thì thể và tướng đều không có, nên gọi là Tướng vô tính. 2. Sinh vô tính (Phạm: Utpattini#svabhàvatà), cũng gọi Sinh vô tự tính tính. Đối với tính Y tha khởi mà lập ra tính này. Bởi vì các pháp y tha là nhờ nhiều duyên mà sinh, không có thực tính nhất định, ví như việc ảo thuật, nên gọi là Sinh vô tính. 3. Thắng nghĩa vô tính (Phạm: Pramàrtha-ni#svabhàvatà), cũng gọi Thắng nghĩa vô tự tính tính, Vô chân tính, Đệ nhất nghĩa đế vô tự thể tướng. Đối lại với tính Viên thành thực mà lập ra tính này. Chân như là chân lí thù thắng, cũng là đối cảnh của trí căn bản vô phân biệt, vì thế gọi là Thắng nghĩa. Do xa lìa tính Ngã pháp của Biến kế sở chấp ở trước mà giả nói là vô tính chứ chẳng phải hoàn toàn vô tính. Đây chính là chân như, cũng chính là thực tính Duy thức. Nhưng Tam vô tính này được coi là mật ý thuyết chứ chẳng phải liễu nghĩa, vì tính của 2 tự tính sau trong 3 tự tính chẳng phải là không; ở đây tạm nói nó là vô tính để bác bỏ cái thực tính do người thế tục chấp trước. [X.phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2, luận Du già sư địa Q.73, 74; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Tam vô tính]. (xt. Tam Tính).
tam vô tánh luận
(三無性論) Phạm: Try-asvabhàva-prakaraịa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung sách này trước nói về lí do tạo luận, tức giải thuyết ý nghĩa Tam vô tính để nêu tỏ lí pháp không, kế đến trình bày sự khác nhau về công dụng của tính Biến kế sở chấp, cái lí thành lập tính Y tha khởi và thể tướng của nó, về 7 thứ chân như, 4 loại đạo, 2 loại chuyển y... Về tác giả của sách này thì có thuyết cho là ngài Thế thân, lại có thuyết cho là ngài Vô trước, đến nay chưa xác định được. [X. Giải thâm mật kinh sớ; Duyệt tạng tri tân Q.37; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
Tam vô tính
三無性; C: sān wúxìng; J: sanmushō;|Ba loại vô tính. Đối nghịch với Tam tính (Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thật tính), Ba loại vô tính này được kiến lập trên cơ sở các pháp đều không có một cơ sở tự tồn. 1. Tướng vô tính (相無性): Các tướng, các trình hiện, những gì thấy được đều không thật, ví như một sợi dây thừng trông giống như một con rắn; 2. Sinh vô tính (生無性): Sinh thành, tồn tại không có một cơ sở tự tồn nào. Sinh thành trình hiện tuỳ nhân duyên, và sự tồn tại của nó chỉ tạm thời; 3. Thắng nghĩa vô tính (勝義無性): Sự thật tối thượng cũng vô tính.
tam vô tính
The three things without a nature or separate existence of their own: (a) Tướng vô tính form, appearance or seeming, is unreal, i.e. a rope appearing like a snake; (b) Sinh vô tính life ditto, for it is like the rope, which is derived from constituent materials; (c) Thắng nghĩa vô tính the thắng nghĩa, concept of the chân như or bhùtatathatà is unreal, e.g. the hem of which the rope is made; the bhùtatathatà is perfect and eternal. Every representation of it is abstract and unreal.The three are also known as tướng vô tính, vô tự nhiên tính, pháp vô tính.
Tam vô tính luận
三無性論; C: sānwúxìng lùn; J: sanmushō ron;|Luận nói về thuyết Tam vô tính, được Chân Đế dịch sang Hán văn, gồm hai quyển. Tác phẩm này đặc biệt chú trọng đến thuyết Tam vô tính trong hệ thống Du-già hành. Tác giả được xem là Vô Trước (無著) hoặc Thế Thân (世親).
tam vô tận trang nghiêm tạng
The treasury of the three inexhaustible adornments or glories i.e. the thân, khẩu, ý deeds, words, and thoughts of a Buddha.
Tam vô vi
xem Ba pháp vô vi.
tam vô vi
(三無爲) Phạm: Tri-saôskfta. Chỉ cho 3 pháp vô vi: Hư không, Trạch diệt và Phi trạch diệt theo sự phân loại của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Pháp vô vi tức là lí chân không vắng lặng, vốn không tạo tác. Tam vô vi là: 1. Hư không vô vi (Phạm: Àkàzàsaôskfta): Hư không tức vô ngại, nghĩa là lí chân không không bị các hoặc nghiệp ô nhiễm làm chướng ngại, lấy vô ngại làm tính, dung nạp muôn vật và trùm khắp tất cả chỗ. 2. Trạch diệt vô vi (Phạm: Pratisaôkhyà-nirodhàsaôskfta): Hàng Thanh văn dùng trí để lựa chọn hầu xa lìa sự trói buộc của Kiến, Tư hoặc, chứng lí tịch diệt chân không. 3. Phi trạch diệt vô vi (Phạm: Apratisaôkhyà-nirodhàsaôskfta): Hàng Thanh văn sau khi chứng quả thì các hoặc chướng không còn tiếp tục sinh khởi nữa, nên tự nhiên khế ngộ lí tịch diệt chân không mà không cần đến sức lựa chọn. [X. luận Câu xá Q.1; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại tì bà sa Q.32; luận Di bộ tông luận; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ]. (xt. Phi Trạch Diệt Vô Vi, Hư Không Vô Vi, Trạch Diệt).
tam võ (vũ)
The three emperors Vũ who persecuted Buddhism Thái Vũ of Ngụy dynasty A.D. 424-452; Vũ đế of the Chu A.D. 561-578; Vũ tông of Đường A.D. 841-7.
tam vũ nhất tông pháp nan
569指佛教四次法難。乃我國歷史上皇帝迫害佛教最嚴重之四次事蹟:(一)北魏太武帝,聽信司徒崔浩、道士寇謙之之言而壓迫佛教。太平真君七年(446),盡誅長安沙門,破壞一切經典圖像,北魏佛教遂遭毀滅。至文成帝復興之際,始告恢復佛教地位。(二)北周武帝,信納道士張賓與衛元嵩之論,有意廢佛;其時甄鸞、道安、僧勔、靜靄等曾為佛教辯護。建德二年(573),帝即下令廢佛、道二教,毀壞經像,並令沙門、道士還俗,僅選名德者一百二十人安置於通道觀。六年,北周滅北齊,其時雖有慧遠排眾抗辯,然武宗仍對北齊之地行排佛政策。翌年,帝崩,佛道二教始告復興。(三)唐武宗時,宰相李德裕等人排佛,會昌五年(845),帝乃下敕留置若干寺及僧三十名,餘皆廢棄,並令僧尼還俗。將佛像、鐘、磬改鑄為錢幣、農具等物,史稱會昌法難。翌年帝崩,宣宗時再興佛法。(四)後周世宗,顯德二年(955),帝實行排佛政策,詔令廢止寺院三萬三百三十六所(佛祖統紀作三千三百三十六所),又下詔毀佛像,收鐘、磬、鈸、鐸之類鑄錢。其時,鎮州有觀音銅像,靈應頗驗,故雖有詔下,人莫敢近。帝聞之,親往其寺,以斧破銅像面胸,觀者 陘巫虞X。顯德六年,帝於北征途中,胸發瘡疽而殂。其後,宋太祖統一天下,下詔復寺立像,佛教始告復甦。 上述四次法難中,前二次主要係基於思想上之原因,後二次則係基於經濟上之理由。宋朝志磐之佛祖統紀卷四十二將此稱為「四大法難」,或「三武一宗之難」,又宋丞相張商英所著護法論(大五二‧六四○中):「上世雖有三武之君,以徇邪惡下臣之請,銳意剪除,既廢之後,隨而愈興,猶霜風之肅物也。」〔宋高僧傳卷十七、釋氏稽古略卷二、卷三、卷四、歷代三寶紀卷三、古今佛道論衡卷一、魏書釋老志第二十、北史卷二、北周書卷五、舊唐書卷十八〕
; (三武一宗法難) Chỉ cho 4 lần pháp nạn nghiêm trọng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung quốc do các Hoàng đế gây ra. Đó là: 1. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy: Vua nghe theo lời của quan Tư đồ Thôi hạo và Đạo sĩ Khấu khiêm chi mà áp bức Phật giáo. Năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), các sa môn ở thành Trường an bị giết sạch, tất cả kinh sách và tranh tượng Phật đều bị phá hoại, Phật giáo ở Bắc Ngụy lúc đó bị hủy diệt hoàn toàn. Đến khi vua Văn thành đế phục hưng, Phật giáo mới khôi phục địa vị. 2. Vũ đế nhà Bắc Chu: Vua nghe lời của các đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung, có ý muốn phế bỏ Phật giáo. Bấy giờ có các ngài Chân loan, Đạo an, Tăng miến, Tĩnh ái... đứng ra bênh vực Phật giáo. Năm Kiến đức thứ 2 (573), vua ra lệnh phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo, hủy hoại kinh điển và tượng Phật, đồng thời, bắt sa môn, đạo sĩ phải hoàn tục, chỉ chọn 120 vịdanh đức để lại ở Thông đạo quán. Năm Kiến đức thứ 6 (577), Bắc Chu diệt Bắc Tề, lúc ấy tuy cóngàiTuệ viễn nhiều lần biện hộ, nhưng Vũ đế vẫn thi hành chính sách bài Phật ở đất Bắc tề. Năm sau, vua băng, Phật giáo và Đạo giáo mới được phục hưng. 3. Vũ tông nhà Đường: Vua nghe theo lời nhóm người chủ trương chính sách bài Phật, đứng đầu là Tể tướng Lý đức dụ, vào năm Hội xương thứ 5(845), vua ban lệnh chỉ giữ lại một số chùa và 30 vị tăng, còn lại bao nhiêu chùa viện đều bị phá bỏ và tăng ni phải hoàn tục, các tượng Phật và chuông, khánh bằng đồng được dùng vào việc đúc thành tiền và các công cụ... lịch sử gọi biến cố này là Hội Xương Pháp Nạn. Năm sau, Vũ đế băng, Vũ tông lên ngôi, lại cho phục hưng Phật pháp. 4. Thế tông nhà Hậu Chu: Năm Hiển đức thứ 2 (955), vua thi hành chính sách bài Phật, hạ lệnh phá bỏ 3 vạn 336 ngôi chùa viện, (Phật tổ thống kỉ ghi là 3336 ngôi), tịch thu các tượng Phật, chuông, khánh và tất cả pháp khí bằng đồng để đúc tiền, còn bằng các chất liệu khác thì đập phá hết! Thời ấy, ở Trấn châu có pho tượng Quan âm bằng đồng rất linh ứng, cho nên dù có lệnh của vua cũng không ai dám đến gần. Vua nghe tin, đích thân đến chùa này, dùng búa chém vào mặt và ngực tượng đồng, những người đứng xem đều run sợ. Năm Hiển đức thứ 6 (959), trên đường đi chinh phạt miền Bắc, vua phát bệnh nhọt ở ngực và chết. Về sau, vua Thái tổ nhà Tống thống nhất đất nước, ban sắc xây dựng lại các chùa, đúc tạo các tượng, Phật giáo bắt đầu được khôi phục. Trong 4 lần pháp nạn nói trên, nguyên nhân của 2 lần trước chủ yếu là về tư tưởng, còn 2 lần sau là vì lý do kinh tế. Phật tổ thống kỉ quyển 42 của ngài Chí bàn đời Tống gọi đó là Tứ Đại Pháp Nạn, hoặc Tam Vũ Nhất Tông Chi Nạn; còn luận Hộ pháp của Thừa tướng Trương thương anh đời Tống thì nói (Đại 52, 640 trung): Đời trước tuy có 3 vua Vũ nghe lời tâu của các quan tà ác mà quyết chí diệt Phật pháp, nhưng sau khi phế bỏ lại càng hưng thịnh hơn, giống như vạn vật lại càng xanh tốt sau cơn mưa gió. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.2, 3, 4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Cổ kim Phật đạo luận hành Q.1; Ngụy thư thích lão chí 20; Bắc sử Q.2; Bắc chu thư Q.5; Cựu đường thư Q.18].
Tam vật
三物; J: sanmotsu;|Chỉ ba vật mà một vị Lão sư nhận được từ Bản sư của mình sau một thời gian hoằng hoá đạt kết quả tốt đẹp. Ai chính thức được công nhận là Chính sư (j: shōshi) và đã hướng dẫn những người khác trên thiền đạo với kết quả tốt đẹp, người ấy sẽ được trao tam vật trong một buổi lễ. Thời xưa, tiêu chuẩn để được trao tam vật được đặt rất cao, rất nghiêm ngặt.|Trong buổi lễ này, pháp danh của vị được trao tam vật được ghi bằng ba cách khác nhau trên ba tấm giấy (vì vậy mà có tên là tam vật, kích thước khoảng 30x100 cm) và trên ba tấm giấy này, hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca đến người được truyền trao tam vật được ghi lại.
tam vị
The three flavours, or pleasant savours: the monastic life, reading the scriptures, meditation
tam vọng chấp
547又作三劫妄執、三劫惑。略稱三妄、三執、三劫。為密教所立,從生起出離世間之心,至成就佛果位期間,所須超越之世間粗、細、極細等三種煩惱。據大日經疏卷二之說,若以淨菩提心為出離世間之心,則超越世間三妄執係指超越三劫的瑜祇之行;若依一般之解釋,則指歷三阿僧祇劫以至成就正覺。然依密教之說,超越一劫的瑜祇之行(即超越百六十心等之一重粗妄執),稱為一阿僧祇劫;超越二劫的瑜祇之行(即復超越百六十心等之一重細妄執),稱為二阿僧祇劫;真言行者復越一劫(即更超越百六十心等之極細妄執),始得至佛慧之初心。由是,遂有「三阿僧祇劫成佛」之說。然若於一生之中即超越此三妄執,即得一生成佛。 三妄執指:(一)粗妄執,又稱劫初之惑。即執著心外諸法實有之妄心,依此心而執五蘊和合之人體為實有,遂生自他之別。(二)細妄執,又稱二劫之惑。即執於五蘊等法有實性、生死涅槃二法為實有之妄心。(三)極細妄執,又稱三劫之惑。即無明惑,乃執於一切法有能所,而與平等法界相違之妄心。 祕藏記於三妄執之外別立微細妄執,謂三妄執乃十地所斷,微細妄執則佛地所斷,此說異於大日經疏。〔大日經卷一住心品、大日經疏鈔卷一、大日經指心鈔卷一、大經要義鈔卷三、真言名目〕
; (三妄執) Cũng gọi Tam kiếp vọng chấp, Tam kiếp hoặc. Gọi tắt: Tam vọng, Tam chấp, Tam kiếp.Chỉ cho 3 thứ phiền não thô, tế và cực tế do Mật giáo thành lập mà người tu hành từ lúc phát tâm ra khỏi thế gian đến khi thành tựu quả vị Phật phải vượt qua. 1. Thô vọng chấp(cũng gọi Kiếp sơ chi hoặc): Vọng tâm chấp trước các pháp ngoài tâm là cóthật, rồi nương vào tâm này mà chấp thân người do 5 uẩn hòa hợp là có thật, do sinh ra cái thấy mình, người khác nhau. 2. Tế vọng chấp(cũng gọi Nhị kiếp chi hoặc): Vọng tâm chấp trước pháp 5 uẩn có thực tính, 2 pháp sinh tử và niết bàn là có thật.3. Cực tế vọng chấp(cũng gọi Tam kiếp chi hoặc): Tức vô minh hoặc, là vọng tâm chấp trước tất cả pháp có năng, có sở và trái với pháp giới bình đẳng. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 2, nếu lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm tâm xuất li thế gian thì 3 vọng chấp vượt thế gian là chỉ cho sự tu hành trong 3 kiếp, tức từ lúc phát tâm bồ đề cho đến khi thành tựu Chính giác phải trải qua 3 a tăng kì kiếp: Kiếp thứ nhất vượt qua lớp Thô vọng chấp (160 tâm), kiếp thứ 2 vượt qua lớp Tế vọng chấp(cũng 160 tâm), kiếp thứ 3 vượt qua lớp Cực tế vọng chấp mới đạt được Phật tuệ. Tuy nhiên, nếu chỉ trong 1 đời vượt qua 3 vọng chấp, thì trong 1 đời được thành Phật.Bí tạng kí thì ngoài 3 vọng chấp nói trên, còn lập riêng Vi tế vọng chấp thì do Phật địa đoạn trừ, thuyết này khác với thuyết của Đại nhật kinh sớ. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ sao Q.1; Đại nhật kinh chỉ tâm sao Q.1; Đại kinh yếu nghĩa sao Q.3; Chân ngôn danh mục].
Tam xa
三車; C: sānchē; J: sansha;|»Ba cỗ xe«. Một ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa, câu chuyện »căn nhà cháy«, cụ thể như sau: Một vài đứa trẻ đang chơi trong nhà, mà không ngờ nó căn nhà đang cháy. Bố của chúng dụ chúng ra khỏi nhà bằng cách nói bên ngoài có ba chiếc xe, một chiếc xe kéo bởi con dê, một chiếc thứ hai được kéo bởi con hưu và chiếc thứ ba được kéo bởi con bò. Và khi những đứa trẻ ra khỏi nhà, chúng chỉ thấy tất cả chỉ là một chiếc xe bò trắng. Ba cỗ xe này là ví dụ cho Tam thừa: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa. Câu chuyện này được đề ra để giảng giải rằng, mặc dù có Đại thừa Tiểu thừa trong giáo lí nhà Phật, nhưng chung quy thì tất cả những phương tiện đều dẫn đến giác ngộ như nhau. Căn nhà cháy tượng trưng cho biển sinh tử luân hồi, bị vây phủ bởi phiền não vô minh. Những đứa trẻ là hành giả của Tam thừa. Cỗ xe kéo bởi con dê tượng trưng cho Thanh văn thừa, xe với con hưu là Duyên Giác thừa và xe bò tượng trưng cho Bồ Tát thừa. Và khi bọn trẻ ra khỏi nhà thì những cỗ xe bò trắng giống nhau đã được chuẩn bị để trao cho chúng. Đây là những ẩn dụ chỉ lòng đại từ đại bi của đức Phật khi ngài gạt bỏ những phương tiện tam thời, dẫn dắt chúng sinh trở về một Phật thừa duy nhất. Các đại biểu Phật giáo Trung Quốc được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất với quan điểm xe bò trước khi nhóm trẻ thơ ra khỏi nhà và xe bò trắng to (như vậy là xe thứ tư) là một (và như vậy thì chỉ có ba cỗ xe). Thuộc vào nhóm này là tông Pháp tướng và tông Tam luận. Nhóm thứ hai, với tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là đại biểu, quan niệm rằng, cỗ xe trắng lớn sau này khác cỗ xe bò trước đây. Như vậy thì »Tam thừa gia« quan niệm Bồ Tát thừa và Phật thừa như nhau, trong khi »Tứ thừa gia« lại quan niệm chúng khác nhau.
tam xa
〖出法華經〗三車者,車即運載之義。喻三乘之人,各以所乘之法,運出三界,而至涅槃也。(三乘者,菩薩乘、緣覺乘、聲聞乘也。三界者,欲界、色界、無色界也。梵語涅槃,華言滅度。)〔一、羊車〕,羊車者,以羊挽車,故名羊車。喻聲聞之人,修四諦行,求出三界,但欲自度,不顧他人。如羊之奔逸,竟不回顧後群,故以羊車喻之。經云:如彼諸子,為求羊車,出於火宅。是也。(四諦者,苦諦、集諦、滅諦、道諦也。)〔二、鹿車〕,鹿車者,以鹿挽車,故名鹿車。喻緣覺之人,修十二因緣行,求出三界,而略有為他之心,如鹿之馳走,即能回顧後群,故以鹿車喻之。經云:如彼諸子,為求鹿車,出於火宅。是也。(十二因緣者,一無明、二行、三識、四名色、五六入、六觸、七受、八愛、九取、十有、十一生、十二老死。)〔三、牛車〕,牛車者,以牛挽車,故名牛車。喻三藏教菩薩之人,修六度行,但欲度人出於三界,而不求自出,如牛之荷負,安耐一切普運,故以牛車喻之。經云:如彼諸子,為求牛車,出於火宅。是也。(三藏者,經藏、律藏、論藏也。六度者,一布施、二持戒、三忍辱、四精進、五禪定、六智慧也。)
; Triyàna (S). The three vehicles across samsàra into nirvàna, i.e. the cart offered by the father in the Lotus Sùtra to lure his children out of the burning house: (a) goat carts, representing srràvakas; (b) deer carts, pratyeka-buddha; (c) bullock carts, bodhisattvas.
tam xa tứ xa
557車可載物,比喻佛法化度眾生以至涅槃。三車指羊、鹿、牛車,加上大白牛車則為四車。法華經譬喻品有火宅三車之譬喻。(一)羊車,以羊挽車。比喻聲聞之人,修四諦行以求出離三界,但欲自度,不顧他人,如羊之奔逸,竟不回顧後群。(二)鹿車,以鹿挽車。比喻緣覺之人,修十二因緣以求出離三界,略有為他之心,如鹿之馳走,能回顧後群。(三)牛車,以牛挽車。比喻三藏教菩薩之人,修六度行,但欲度人出於三界,而不欲自出,如牛之荷負,安忍普運一切。另以大白牛車比喻一佛乘。 古來有關三車四車之解釋有二大派,其一,將表示菩薩乘之牛車與表示佛乘之大白牛車視為同一者,有三論宗、法相宗,稱為三乘家、三車家。另一派在牛車之外,別立大白牛車者,有天台宗、華嚴宗,稱為一乘家或四車家。〔法華經玄贊卷四本、華嚴五教章卷一、五教章通路記卷三、卷四〕
; (三車四車) Ba xe 4 xe. Xe có thể chuyên chở các vật, ví dụ Phật pháp hóa độ chúng sinh đưa đến Niết bàn. Ba xe chỉ cho xe dê, xe nai và xe bò, nếu thêm xe trâu trắng lớn nữathìlà 4 xe. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa có ví dụ Hỏa trạch tam xa (nhà lửa 3 xe): 1. Xe dê: Xe do dê kéo, ví dụ hàng Thanh văn tu hành Tứ đế, cầu ra khỏi 3 cõi (nhà lửa), nhưng chỉ muốn độ lấy mình chứ không nghĩ đến người khác, như con dê chạy không bao giờ ngoái cổ lại nhìn đàn dê ở phía sau 2. Xe nai: Xe do nai kéo, ví dụ hàng Duyên giác tu 12 nhân duyên cầu ra khỏi 3 cõi, hơi có lòng vị tha, như con nai khi chạy thỉnh thoảng ngó lại nhìn đàn phía sau.3. Xe bò: Xe do bò kéo, ví dụ hàng Bồ tát Tam tạng giáo tu hành Lục độ, nhưng muốn độ người ra khỏi 3 cõi chứ không muốn độ mình, như bò chở vật, chịu khó vận chuyển tất cả. Ngoài ra còn dùng xe trâu trắng lớn kéo ví dụ Nhất Phật thừa. Về sự giải thích Tam xa tứ xa thì xưa nay có 2 phái lớn: Phái thứ nhất coi xe bò biểu thị Bồ tát thừa và xe trâu trắng lớn biểu thị Phật thừa là một, phái này gồm tông Tam luận, tông Pháp tướng, gọi là Tam thừa gia, Tam xa gia. Phái thứ 2, ngoài xe bòcòn lập riêng xe trâu trắng lớn, phái này gồm tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, gọi là Nhất thừa gia, hoặc Tứ xa gia. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.4, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3, 4].
tam xứ a lan nhã
619阿蘭若,乃空寂、最閒處之義,即距離聚落一俱盧舍(即大牛吼聲所不及之處),適宜修行之閒處。依慧苑音義卷上之說,阿蘭若有如下三種:(一)達摩阿蘭若(梵 dharmāraṇya),達摩,法之意。指諸法本來湛寂,無有造作,故稱其處為法阿蘭若處。(二)摩登伽阿蘭若(梵 mātaṅgāraṇya),指塚間之處,距村落一俱盧舍之處。(三)檀陀迦阿蘭若(梵 daṇḍakāraṇya),指沙磧之處。〔十住毘婆沙論卷十六、止觀輔行傳弘決卷四之三、玄應音義卷一〕(參閱「阿蘭若」3697)
; (三處阿蘭若) Ba loại A lan nhã. A lan nhã là nơi vắng vẻ, an nhàn, ở cách xa làng xóm 1 câu lô xá(tức nơi mà tiếng kêu của con bò lớn không vang tới), là nơi thích hợp nhất cho việc tu hành. Theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển thượng thì có 3 loại A lan nhã sau đây: 1. Đạt ma a lan nhã (Phạm: Dharmàraịya): Chỉ cho các pháp xưa nay vốn vắng lặng, không tạo tác, cho nên gọi chỗ vắng vẻ là Pháp a lan nhã xứ. 2. Ma đăng già a lan nhã (Phạm: Màtaígàraịya): Chỉ cho chỗ gò mả, nơi cách làng xóm 1 câu lô xá. 3. Đàn đà ca a lan nhã (Phạm: Daịđakàraịya): Chỉ cho vùng sa mạc. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.16; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3; Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. A Lan Nhã).
tam xứ bất chuyển pháp luân
618謂不為執著於我慢、五欲、邪見之三類人演說教法;此三類人自囿於我慢、五欲、邪見之中猶如居處於高山、淤泥、稠林中,故稱三處。即:(一)我慢高山,謂凡夫及外道我慢貢高,如山峻聳,雖聞正法,非惟不信,復有謗法之過,招感惡報,故不為轉法輪。(二)五欲淤泥,謂凡夫貪著色、聲、香、味、觸五欲之境,沉溺污穢,如在淤泥,不能受法,故不為轉法輪。(三)邪見稠林,謂外道凡夫執種種邪見,如稠林茂密,於正法不能信受,故不為轉法輪。
; (三處不轉法輪) Không quay bánh xe pháp ở 3 nơi. Nghĩa là không diễn nói giáo pháp cho 3 hạng người: Ngã mạn, tà kiến và đam mê ngũ dục. Ba hạng người này tự buộc mình trong vòng ngã mạn, tà kiến, ngũ dục, giống như sống trong 3 nơi: Núi cao, rừng rậm và bùn lầy nên gọi là Tam xứ. 1. Ngã mạn cao sơn: Phàm phu và ngoại đạo kiêu căng cao ngạo, như ngọn núi chót vót, tuy nghe chính pháp chẳng những không tin mà còn phỉ báng, chiêu cảm ác báo, cho nên không thể vì họ mà chuyển pháp luân. 2. Tà kiến trù lâm: Phàm phu, ngoại đạo cố chấp các tà kiến, như rừng rậm um tùm, đối với chính pháp không thể tin nhận, nên không vì họ mà chuyển pháp luân.3. Ngũ dục ứ nê: Phàm phu tham đắm 5 cảnh dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc, nhầy nhụa nhơ nhớp, như sống trong vũng bùn lầy, không thể nhận lãnh chính pháp nên không vì họ mà chuyển pháp luân.
tam xứ mộc xoa
618指護持身、口、意三處之戒。木叉,為波羅提木叉(梵 pratimokṣa)之略稱,意譯作別解脫,即制捨非惡之戒法。即:(一)身處木叉,如節身、時食、清淨自活,不參預世事、不通致使命。(二)口處木叉,如不語咒術、仙藥,或不接近族姓、結好貴人、親厚驕者。(三)意處木叉,如當自端心正念求度、供養知量知足、不得包藏瑕疵、顯異惑眾。〔佛垂般涅槃略說教誡經、遺教經論〕(參閱「波羅提木叉」3444)
; (三處木叉) Chỉ cho giới pháp giữ gìn che chở 3 chỗ thân, khẩu, ý. Mộc xoa, gọi đủ là Ba la đề mộcxoa (Phạm:Pratimokwa), dịch ý là Biệt giải thoát, tức là giới pháp ngăn chặn những điều trái quấy, xấu ác. Tam xứ mộc xoa là: 1. Thân xứ mộc xoa: Như tiết chế tự thân, ăn đúng giờ, sống đơn giản thanh tịnh, không tham gia việc đời, không làm sứ giả cho ai. 2. Khẩu xứ mộc xoa: Như không nói chú thuật, thuốc tiên, không gần gũi giới quí tộc, kết bạn với người giàu sang, thân mật với kẻ kiêu hãnh. 3. Ý xứ mộc xoa: Như tự dốc lòng chính niệm cầu độ, nên tự lượng biết đủ đối với việc cúng dường, không được che giấu lỗi xấu, lập dị gạt người. [X. kinh Phật thùy bát niết bàn lược thuyết giáo giới; Di giáo kinh luận]. (xt. Ba La Đề Mộc Xoa).
tam xứ nhập pháp giới
〖出華嚴經疏〗法界,即一切眾生本有之心,諸佛所證平等之理也,而云三處入者,由菩薩根有利鈍,行有淺深,故所證入先後不定,遂分三處也。〔一、十住初心入法界〕,謂利根菩薩,即於初住位中,破無明惑,證入法界平等之理,得不退轉,是名十住初心入法界也。(十住者,發心住、治地住、修行住、生貴住、方便具足住、正心住、不退住、童真住、法王子住、灌頂住也。)〔二、回向終心入法界〕,謂菩薩於十回向後,心眾行純熟,證入法界,是名回向終心入法界也。(十回向者,救一切眾生離眾生相回向、不壞回向、等一切佛回向、至一切處回向、無盡功德藏回向、隨順平等善根回向、隨順等觀一切眾生回向、真如相回向、無礙解脫回向、法界無量回向也。)〔三、初地入法界〕,謂菩薩於前行向中,功德具足,至於初地,即得證入法界;乃了三德圓融,三身自在,是名初地入法界也。(三德者,法身德、般若德、解脫德也。三身者,法身、報身、應身也。)
; 618法界,指常住不變,一如平等,寂靜聖智之境界。亦即指一切眾生本有之心,與諸佛所證平等之理。菩薩之根性有上、中、下之別,故證入法界之處亦有三種之別:(一)住十初心入法界,為上根菩薩於初住位中破無明惑,證入法界平等之理。(二)迴向終心入法界,為中根菩薩於十迴向之滿位眾行純熟,證入法界之理。(三)初地入法界,為下根菩薩至初地之位證入法界之理。〔大方廣佛華嚴經疏卷七〕
; (三處入法界) Chỉ cho 3 chỗ chứng nhập pháp giới của Bồ tát. Pháp giới là cảnh giới Thánh trí vắng lặng, thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như. Cũng chỉ cho tâm sẵn có của tất cả chúng sinh và lí bình đẳng mà chư Phật chứng được. Vì căn tính của Bồ tát có thượng, trung, hạ khác nhau nên chỗ chứng nhập pháp giới cũng có 3 loại bất đồng: 1. Trụ thập sơ tâm nhập pháp giới: Bồ tát thượng căn ở giai vị Sơ trụ phá trừ hoặc vô minh, chứng nhập lí pháp giới bình đẳng. 2. Hồi hướng chung tâm nhập pháp giới:Bồ tát trung căn ở giai vị Thập hồi hướng, các hạnh thuần thục viên mãn, chứng nhập lí pháp giới bình đẳng. 3. Sơ địa nhập pháp giới: Bồ tát hạ căn ở giai vị Sơ địa chứng nhập lí pháp giới. [X. Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.7].
tam xứ truyện tâm
619禪宗之傳說。謂釋迦牟尼佛於三處傳心於大迦葉:一於靈山之拈花微笑,二於多子塔分半座,三於雙林樹下由棺中出足。
; (三處傳心) Truyền tâm ở 3 nơi. Đây làtruyền thuyết của Thiền tông. Nghĩa là đức Phật Thích ca truyền tâm cho ngài Đại ca diếp ở 3 nơi: Một là trên núi Linh thứu, Phật cầm hoa sen đưa lên, ngài Ca diếp mỉm cười; hai là Phật chia nửa tòa ngồi cho ngài Ca diếp ở trong tháp Đa tử; ba là Phật ló 2 chân ra khỏi kim quan cho ngài Ca diếp thấy khi Ngài nhập diệt ở rừng Sa la song thụ.
Tam y
三衣; S: tricīvara; y phục ba phần, cũng được gọi là »Nạp y« (衲衣; s: kanthā) bộ áo vá chắp;|Y phục của một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni. Phần trong (dưới) được gọi là An-đà-hội (安陀會; s: antaravāsaka) là một mảnh vải vá (năm mảnh vải vá lại) cuộn lại dùng làm đồ lót dưới. Phần ngoài là Uất-đa-la-tăng (鬱多羅僧; s: uttarāsaṅga) cũng là một tấm vải vá dùng để khoác ngoài để đi khất thực. Phần thứ ba là Tăng-già-lê (僧伽梨; s: saṅgāti), một tấm vải khoác ngoài, chỉ được dùng trong những ngày lễ và được vá từ 9-25 mảnh vải nhỏ. Màu của nạp y thường là màu vàng nhưng cũng thay đổi tuỳ theo tông phái, theo truyền thống. Tăng, ni tại Trung Quốc thường mang màu xanh, nâu. Tại Tây Tạng người ta chuộng màu đỏ, tại Nhật màu đen. Tất cả những y phục này đều phải được may từ nhiều mảnh vải để nhấn mạnh truyền thống sống cơ hàn, vô sản của một tỉ-khâu.
tam y
xem ba tấm pháp y.
; 550梵語 trīṇi cīvarāṇi,巴利語 tīṇi cīvarāṇi。乃指印度僧團所准許個人擁有之三種衣服,即:(一)僧伽梨(梵 Saṃghāti,巴同),即大衣、重衣、雜碎衣、高勝衣。為正裝衣,上街托鉢時,或奉召入王宮時所穿之衣,由九至二十五條布片縫製而成。又稱九條衣。(二)鬱多羅僧(梵 uttarāsaṅga,巴同),即上衣、中價衣,又稱入眾衣。為禮拜、聽講、布薩時所穿用,由七條布片縫製而成,故又稱七條衣。(三)安陀會(梵 antarvāsa,巴 antaravāsaka),即著中衣、中宿衣、內衣、五條衣。為日常工作時或就寢時所穿著之貼身衣。 以上皆規定以壞色(梵 kaṣāya)製成,故又稱為袈裟。中日二國,三衣日趨形式化,而有各種袈裟之製作,惟有七條、五條袈裟等仍是依照印度法衣之規定製成。比丘尼在此三衣之外,尚有穿在三衣裏面之左肩與兩腋之僧祇支(梵 saṃkakṣikā,巴 saṅkacchika,覆肩衣),以及覆於腰部之厥修羅(梵 kusūla,下裙),合稱為比丘尼五衣。後逐漸亦准許比丘如此穿著。 三衣之製法,規定頗詳細。即將一整塊布,切割成長短不一之小布片,縱的縫合之後,再以規定之條數作橫的縫合。由此種裁剪樣式觀之,亦稱為田相。此一製法,因部派不同,細節上亦有差異。我國與日本之製法趨向華美化,僅在裁割方法上沿襲舊規。由於其製作特殊,故不為其他地方所採用。穿著此種衣服,可令人捨棄欲望,且不虞被盜。另有不按規定裁製者,稱為縵衣。他人丟棄之穢布洗淨後所縫製之衣,稱為糞掃衣(梵 pāṃsu-kūla,衲衣)。此外,尚有以棄置於墳墓、包裹屍體,及被老鼠咬過之舊衣布料所製成者。〔摩訶僧祇律卷二十三、薩婆多毘尼毘婆沙卷四、大智度論卷六十八、分別功德論卷四、大比丘三千威儀卷上〕(參閱「袈裟」4784)
; Tricīvara (S), Ticīvara (P), Ticīvara (P).
; Tricìvara (S). The three regulation garments of a monk, cà sa kàsàya, i.e.(1) tăng già lê sanghàtì, cửu điều đại y, ceremonial robe; (2) uất đa la tăng uttaràsanga, thất điều thượng y, upper garment worn over the (3) an đà hội antaravàsaka, ngũ điều nội y,inner garm
; Hạ y may năm điều là An đà hội, Trung y may bảy điều là Uất đa la tăng, Thượng y may chín điều đến hai mươi lăm điều là Tăng già lê.
; (三衣) Phạm:Trìịi cìvaràịi. Pàli:Tìịi cìvaràịi. Chỉ cho 3 thứ áo của tỉ khưu. Đó là: 1. Tăng già lê(Phạm,Pàli:Saôphàti), cũng gọi Cửu điều y, Đại y, Trọng y, Tạp toái y, Cao thắng y. Áo mặc chính, gồm 9 đến 25 nẹp vải khâu lạimàthành, mặc mỗi khi vào làng xóm, thành ấp khất thực, hoặc vâng chiếu chỉ vào cung vua. 2. Uất đa la tăng (Phạm, Pàli: Uttarasaíga), cũng gọi Thượng y, Trung giá y, Nhập chúng y, Thất điều y. Áo 7 nẹp, mặc khi lễ bái, nghe giảng, bố tát... 3. An đà hội(Phạm:Antarvàsa,Pàli: Antarvàsaka), cũng gọi Trung y, Trung túc y, Nội y, Ngũ điều y. Áo 5 nẹp, mặc khi làm công việc hoặc khi ngủ. Theo qui định, 3 áo trên đây đều được maybằng loại vải thô xấu và nhuộm bằng hoại sắc (Phạm:Kawàya) vì thế, 3 áo còn có tên là Ca sa. Mặc loại áo này khiến người ta xả bỏ được các dục vọng và không sợ bị lấy trộm, vì nó vô dụng đối với người thế gian, cho nên cũng được gọi là Phẩn tảo y (Phạm:Pàmwu-kula = Áo vá).[X. luật Ma ha tăng kì Q.23; Tát bà đa tì bà sa Q.4; luận Đại trí độ Q.68; luận Phân biệt công đức Q.4; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng]. (xt. Ca Sa).
tam y nhất bát
551乃比丘隨身之物。在比丘六物中特別重要者有安陀會、鬱多羅僧、僧伽梨等三種僧衣及一鉢,為比丘經常隨身所用。摩訶僧祇律卷八(大二二‧二九三下):「出家離第一樂而隨所住處,常三衣俱,持鉢乞食。譬如鳥之兩翼,恒與身俱。」〔大堅固婆羅門緣起經卷下、四分律刪繁補闕行事鈔卷下一、緇門警訓卷三示敬護三衣鉢具法〕(參閱「六物」1274、「私有財產」2985、「長物」3598)
; (三衣一鉢) Ba áo một bát. Trong 6 vật của tỉ khưu, đặc biệt quan trọng là 3 áo: An đà hội, Uất đa la tăng, Tăng già lê và 1 chiếc bát là những vật dụng mà vị tỉ khưu thường mang bên mình. Luật Ma ha tăng kì quyển 8 (Đại 22, 293 hạ) nói: Người xuất gia là vui bậc nhất, bất cứ ở nơi nào cũng thường mang theo 3 áo bên mình, cầm bát đi xin ăn, giống như 2 cánh của con chim, lúc nào cũng dính liền với thân chim. [X. kinh Đại kiên cố bà la môn duyên khởi Q.hạ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; điều Thị kính hộ tam y bát cụ pháp trong Trung môn cảnh huấn Q.3]. (xt. Lục Vật, Tứ Hữu Tài Sản, Trướng Vật).
tam yết-ma
xem bạch tứ-yết-ma.
Tam Yếu
(三要): 3 yếu tố quan trọng, có 2 nghĩa. (1) Đạo gia cho Tam Yếu là tai, mắt và miệng. Như trong Âm Phù Kinh (陰符經) có đoạn: “Cửu Khiếu chi tà, tại hồ Tam Yếu, khả dĩ động tĩnh (九竅之邪、在乎三要、可以動靜, Chín Lỗ sai lầm, ở ba điểm chính, có thể động tĩnh).” Thái Công giải thích rằng: “Tam Yếu giả, nhĩ, mục, khẩu dã (三要者、耳、目、口也, ba nơi trọng yếu là tai, mắt, miệng).” (2) Chỉ cho 3 yếu tố quan trọng trong mỗi một huyền môn, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền cử xướng. Đó là: (a) Trong lời nói không có phân biệt tạo tác; (b) Chư vị thánh đều phải vào thẳng chỗ huyền áo; (c) Dứt bặt ngôn ngữ. Trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1255) giải thích rằng: “Tham Thiền tu cụ tam yếu, nhất hữu đại tín căn, nhị hữu đại phẫn chí, tam hữu đại nghi tình (參禪須具三要、一有大信根、二有大憤志、三有大疑情, tham Thiền phải có đủ ba yếu tố chính, một là có tín căn lớn, hai là có chí giận dữ lớn, ba là có nghi tình lớn).” Hay trong Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299) quyển 6, phần Thị Chúng (示眾), lại có đoạn: “Phù nhất cú ngữ tu cụ Tam Huyền môn, nhất huyền môn tu cụ Tam Yếu, hữu quyền hữu dụng (夫一句語須具三玄門、一玄門須具三要、有權有用, phàm một câu nói phải có Ba Huyền môn, một huyền môn phải có Ba Yếu, có quyền có dụng).”
tam ác
624<一>指人之三種惡心。人有此三惡,故甚難加以教化。即:(一)心性狠毒鄙陋,不能接納善言。(二)器量狹小,常懷嫉妒,畏懼他人優勝於己。(三)若知他人勝己,恥而不加諮問。〔大法炬陀羅尼經卷一〕 <二>地獄、餓鬼、畜生等三惡趣之略稱。〔阿毘達磨雜集論卷七〕(參閱「三惡趣」625)
; Three evil paths of transmigration; also tam ác đạo, tam ác thú, the hells, hungry ghosts, animals.
; (三惡) I. Tam Ác. Ba thứ tâm xấu ác của con người: 1. Tâm tính độc ác xấu xa, không thể tiếp nhận những lời nói lương thiện. 2. Khí lượng nhỏ hẹp, thường ôm lòng ghen ghét, chỉ sợ người khác hơn mình. 3. Nếu biết người khác hơn mình thì hổ thẹn, không chịu thưa hỏi. [X. kinh Đại pháp cự đà la ni Q.1]. II. Tam Ác. Gọi đủ: Tam ác thú. Chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. [X. luận A tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Tam Ác Thú). Chỉ cho 3 thứ cảm giác xấu ác: Dục, giác, Khuể giác và Hại giác. Cứ theo Tông kính lục quyển 81, khi tu định, nếu chỉ tu tập thiền định thế gian thì tuy nói là tu hành, nhưng vẫn sinh 3 thứ ác giác như sau: 1. Dục giác: Phàm phu không rõ biết những cái hại của 5 trần, nên đối với cảnh thích ý thì tham cầu bằng mọi cách mà sinh ra ác giác. 2. Khuể giác: Phàm phu vì không rõ biết những mối họa của 5 trần, nên đối với cảnh trái ý thì nổi giận mà sinh ra các ác giác.3. Hại giác: Phàm phu thường khởi tri giác xâm hại người khác, làm cho sân giác tăng trưởng. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
tam ác giác
xem ba loại tư tưởng xấu ác.
; 625據宗鏡錄卷八十一載,修定之時,若僅修習世禪,雖曰修行,猶生下列三種惡覺,即:(一)欲覺,凡夫不了五塵過患,對順情之境,起種種貪求而生惡覺。(二)恚覺,凡夫不了五塵過患,對違情之境,起種種忿怒而生惡覺。(三)害覺,凡夫常起侵害他人之知覺,使瞋覺增長。〔無量壽經卷上〕
; The three evil mental states: dục desire, sân hate, hại malevolance.
; The three evil mental states: 1) Tham: Desire. 2) Sân: Hate—Anger. 3) Hại: Malevolence.
tam ác hạnh
624梵語 trīṇi duścaritāni,巴利語 tīni duccaritāni。指一切不善之身、語、意三業,為「三妙行」之對稱。即:(一)身惡行,亙通加行、根本、後起及其餘一切不善之身業。(二)語惡行,亙通加行、根本、後起及其餘一切不善之語業。(三)意惡行,即一切不善之思,如貪、瞋、邪見等。〔長阿含經卷八、集異門足論卷三、順正理論卷四十、俱舍論卷十六〕
; Tini-duccaritani (P), Trini-duscaritani (S), Tini-duccaritani (P)Gồm: Thân ác hạnh, Ngữ ác hạnh, ý ác hạnh.
; Theo Kinh Trường Bộ, Phúng Tụng Kinh, có ba ác hạnh—According to the Long Discourses of the Buddha, there are three kinds of wrong conduct. 1) Thân ác hạnh: Wrong conduct in body. 2) Khẩu ác hạnh: Wrong conduct in speech. 3) Ý ác hạnh: Wrong conduct in thought.
; (三惡行) Phạm:Trìni duzcaritàni. Pàli: Tìni duccaritàni. Đối lại: Tam diệu hạnh. Chỉ cho tất cả hành vi bất thiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 1. Thân ác hạnh: Chỉ cho gia hạnh, căn bản, hậu khởi và tất cả hành vi bất thiện khác của thân nghiệp. 2. Ngữ ác hạnh: Chỉ cho gia hạnh, căn bản, hậu khởi và tất cả lời nói bất thiện khác của ngữ nghiệp. 3. Ý ác hạnh: Chỉ cho tất cả ý nghĩ bất thiện như tham, sân, tà kiến... [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Thuận chính lí Q.40; luận Câu xá Q.16].
Tam ác thú
xem Ba đường ác.
tam ác thú
625指地獄、餓鬼、畜生三惡趣。又作三惡道、三塗、三途、三惡。乃眾生造作惡行所感得之世界。即:(一)地獄,在地之下、鐵圍山間,有八寒八熱等地獄,造上品十惡者墮入此趣。(二)餓鬼,造中品十惡者墮入此趣。其中罪重者,積劫不聞漿水之名;其次者,但伺求人間蕩滌膿血糞穢;又其次者,時或一飽。(三)畜生,造下品十惡墮入此趣。有披毛戴角、鱗甲羽毛、四足多足、有足無足、水陸空行等。此三惡趣之次第,增一阿含經卷十三、無量壽經卷上、佛地經等列序為地獄、餓鬼、畜生;法華經卷二、大阿彌陀經卷上、北本大般涅槃經卷十等列序為地獄、畜生、餓鬼。一般於大乘佛教之理論中,畜生勝於餓鬼,此因餓鬼係帶火而行,受苦甚重,頸小腹大,恆患飢渴,若遇清流,猶如猛火;而畜生道中無此等之事,故勝於餓鬼。又瑜伽論略纂卷三載餓鬼有二種,福德之鬼為下品惡業所感,薄福之鬼則是中品惡業所感。〔增一阿含經卷五、正法念處經卷五至卷二十一、隨相論、大乘阿毘達磨雜集論卷七、卷十三〕
; Three evil directions or destinies.
; (三惡趣) Cũng gọi Tam ác đạo, Tam đồ, Tam ác.Chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh.1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiếtvi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo nghiệp Thập ác thượng phẩm sẽ bị đọa vào đường này.2. Ngã quỉ: Những người tạo nghiệp .Thập ác trung phẩm sẽ bị đọa vào đường này. Trong đó, người tội nặng thì nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa thì chỉ tìm kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa thì họa huần lắm mới được 1 bữa ăn no.3. Súc sinh: Những người tạo nghiệp Thập ác hạ phẩm thì rơi vào đường này. Có loài khoác lông, đội sừng, loài có vảy có cánh, 4 chân nhiều chân, có chân không chân, bơi dưới nước, đi trên đất, bay trên không... Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 13, kinh Vô lượng thọ quyển thượng, kinh Phật địa... thứ tự 3 đường là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh; còn theo kinh Pháp hoa quyển 2, kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Đại bát niết bàn quyển 10 (bản Bắc)... thì thứ tự là địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Về nỗi khổ, Phật giáo Đại thừa cho rằng súc sinh đỡ khổ hơn ngã quỉ, là vì ngã quỉ lúc nào thân hình cũng bị lửa đốt, chịu khổ rất nặng nề, cổ thì nhỏ bụng lại to, thường bị đói khát, nếu gặp dòng nước trong thì bỗng biến thành lửa cháy dữ dội; còn trong đường súc sinh thì không có các nỗi khổ này, cho nên còn tốt hơn ngã quỉ. Theo luận Du già lược toản quyển 3 thì ngã quỉ có 2 loại: Loại quỉ có phúc là do ác nghiệp hạ phẩm chiêu cảm, còn loại quỉ bạc phúc thì do ác nghiệp trung phẩm chiêu cảm.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.5-21; luận Tùy tướng; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7, 13].
Tam ác đạo
xem Ba đường ác.
tam ác đạo
Aparāgati (S), Three evil paths Ba đường ác.
; The three evil ways.
; (A) Tam ác thú—Three evil gati, or paths of transmigration—Three hardships or sufferings in the three lower paths of transmigration: 1) Địa ngục: The hells. 2) Ngạ quỷ: The hungry ghosts. 3) Súc sanh: The animals. (B) Ấn Quang Đại Sư khuyên người chuyên nhất niệm Phật cho tâm mình không còn tham luyến chi đến việc trần lao bên ngoài. Đừng quên cái chết đang rình rập bên mình chẳng biết xãy ra lúc nào. Nếu như không chuyên nhất niệm Phật cầu sanh về Tây Phương, thì khi cái chết đến thình lình, chắc chắn là phải bị đọa vào trong tam đồ ác đạo. Nơi đó phải chịu khổ có khi đến vô lượng chư Phật ra đời hết rồi mà vẫn còn bị xoay lăn trong ác đạo, không được thoát ly. Vì thế, hành giả lúc nào cũng phải nghĩ đến thân người mong manh, cái chết thình lình. Đời trước và đời nầy đã tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp, và luôn nghĩ đến sự khổ nơi tam đồ ác đạo đang đợi chúng ta, để luôn tỉnh ngộ mà tâm không còn tham luyến chi đến các cảnh ngũ dục, lục trần ở bên ngoài nữa: Great Master Ying-Kuang reminded Buddhist followers to singlemindedly recite the Buddha's name if they wish for their mind not to be attaching and wandering to the external world. Do not forget that death is lurking and hovering over us, it can strike us at any moment. If we do not wholeheartedly concentrate to practice Buddha Recitation, praying to gain rebirth to the Western Pureland, then if death should come suddenly, we are certain to be condemned to the three unwholesome realms where we must endure innumerable sufferings and sometime infinite Buddhas have in turn appeared in the world, but we are still trapped in the evil paths and unable to find liberation. Thus, cultivators should always ponder the impermanence of a human life, while death could come at any moment without warning. We should always think that we have committed infinite and endles unwholesome karmas in our former life and this life, and the sufferings awaiting for us in the unwholesome realms. Upon thinking all these, we will be awakened in every moment, and we no longer have greed and lust for the pleasures of the five desires and six elements of the external world. 1) Nếu như bị đọa vào địa ngục thì bị cảnh non đao, rừng kiếm, lò lửa, vạc dầu; một ngày đêm sống chết đến vạn lần, sự đau khổ cùng cực không sao tả xiết: If condemned to hell, then we will experience the torturous and agonizing conditions of a moutain of swords, a forest of knives, stoves, frying pans; in each day and night living and dying ten thousand times, the agony of pain and suffering is inconceivable—See Núi Đạo, Rừng Kiếm, and Vạc Dầu. 2) Nếu như bị đọa vào ngạ quỷ thì thân mình xấu xa hôi hám. Bụng lớn như cái trống, còn cổ họng thì nhỏ như cây kim; đói khát mà không ăn uống được. Khi thấy thức ăn nước uống thì các vật ấy đều hóa thành ra than lửa, chịu đói khát khổ sở, lăn lộn, khóc la trong muôn vạn kiếp: If condemned to the path of hungry ghost, then the body is hideously ugly wreaking foul odors. Stomach is large as a drum but neck is as small as a needle; though starving and thirsty, the offenders cannot eat or drink. When seeing food and drinks, these items transform into coals and fires. Thus, they must endure the torture and suffering of famine and thirst, throwing, banging their bodies against everything, crying out in pain and agony for tens and thousands of kalpas. 3) Nếu như bị đọa vào súc sanh thì bị nghiệp chở, kéo, nặng nề, bị người giết mà ăn thịt, hoặc bị cảnh loài mạnh ăn loài yếu, hân tâm kinh sợ, khủng hoảng, không lúc nào yên: If condemned to the animal realm, then they must endure the karmic consequences of carrying and pulling heavy loads, get slaughtered for food, or the strong prey on the weak, mind and body always paranoid, frightened, and fearful of being eaten or killed, without having any moment of peace.
Tam ái
三愛; C: sānài; J: san'ai;|Ba loại luyến ái: 1. Dục ái (欲愛), Sắc ái (色愛, cũng gọi là Hữu ái 有愛) và Vô sắc ái (無色愛 hoặc Vô hữu ái 無有愛); 2. Ba loại ái, đặc biệt trở nên mạnh mẽ khi giờ phút lâm chung đến gần: a. Tự thể ái (自體愛), lưu luyến thân thể đang có, b. Cảnh giới ái (境界愛), lưu luyến gia quyến, vật sở hữu, c. Đương sinh ái (當生愛), lưu luyến những cảnh tượng đã trải qua trong cuộc sống.
tam ái
636指人於臨終所起之三種愛著。即:(一)境界愛,謂臨終時,對妻子、眷屬、家財所起的深重之愛。(二)自體愛,臨終時,對自體身命所起之惜愛。(三)當生愛,臨終時,對當來生處所起之愛。此三種愛為一切有情善惡受身之根本,若愛欲未斷,則命欲盡時,心生愁惱,眾苦相逼,必生此三愛,此即潤未來生之緣,故成唯識論了義燈卷五末(大四三‧七五九下):「臨終有心,必定起愛(中略)潤中有,起自體愛;潤生有,起境界愛。以於死有,不見中有,謂我無有,起自體愛;於中有位,見生處,故起境界愛。」故知境界愛與自體愛為助潤生,當生愛為正潤生。〔釋氏要覽卷下、成唯識論演祕卷四〕
; (I) Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại ái—According to The Long Discourses of the Buddha, there are three kinds of craving. (A) Tam ái—Three kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (skt)—Sensual craving. 2) Hữu ái: Bhava-tanha (skt)—Craving for becoming. 3) Vô hữu ái: Vibhava-tanha (skt)—Craving for extinction. (B) Tam ái khác—Three other kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (skt)—Craving for the world of Sense-Desire. 2) Sắc ái: Rupa-tanha (skt)—Craving for the world of form. 3) Vô sắc ái: Arupa-tanha (skt)—Craving for the formless world. (C) Ba ái khác nữa—Three other kinds of craving: 1) Sắc ái: Craving for the world of form. 2) Vô sắc ái: Craving for the formless world. 3) Diệt ái: Craving for cessation. (II) Three kinds of love—See Nhuận Sinh.
; (三愛) Chỉ cho 3 thứ yêu thương, luyến tiếc khởi lên lúc hấp hối sắp chết. 1. Cảnh giới ái: Yêu thương vợ con, quyến thuộc, gia tài rất sâu nặng và cố sức bám níu lấy. 2. Tự thể ái: Thương tiếc, quyến luyến thân thể của mình, cố sức bám níu lấy. 3. Đương sinh ái: Yêu mến nơi mình sẽ sinh đến. Ba thứ ái này là nguồn gốc thụ thân của tất cả hữu tình thiện cũng như ác; nếu ái dục chưa dứt thì khi mệnh sống sắp hết, tâm sẽ sinh sầu não, các khổ bức bách, bởi thế sinh ba thứ ái trên, đó chính là duyên tưới tẩm cho kiếp sau. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần cuối (Đại 43, 759 hạ) nói: Khi hấp hối mà có tâm thì nhất định khởi lên yêu đắm (...) sự yêu đắm này tưới tẩm Trung hữu, khởi lên yêu đắm tự thể; tưới tẩm Sinh hữu, khởi lên yêu đắm cảnh giới. Vì ở tử hữu (lúc chết), không thấy trung hữu (thân sau khi chết), cho rằng không có ta, nên khởi lên yêu đắm tự thể; ở vị trung hữu, thấy nơi sinh đến, nên khởi lên yêu đắm cảnh giới. Vì thế nên biết yêu đắm cảnh giới và yêu đắm tự thể chỉ trợ giúp sự nhuận sinh (tẩm tưới cho sinh ra ở đời sau), còn yêu đắm chỗ sinh ra ở đời sau mới là sự nhuận sinh chính yếu. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thành duy thức luận diễn bí Q.4].
tam ích
600指修行有三種得益:<一>又作種熟脫。乃就所化實益之因果始終而分三類,亦即眾生始於心田種下佛種,至最後得解脫,可分三階段,即:(一)下種益,以農夫於田圃播下穀種,比喻佛以成佛得道之種子種入眾生心田中,此即與佛法最初之結緣。(二)調熟益,以種子發芽漸熟比喻眾生心田之佛種漸熟。即已入於佛法之行中。(三)解脫益,以穀物成熟可以收割比喻佛種之全部調熟,因圓果滿,得解脫自在。〔俱舍論卷二十三,大毘婆沙論卷一七八、法華文句卷一〕(參閱「種熟脫」5873) <二>菩薩因行六波羅蜜,得一切種智成就佛樹,以葉、花、果三益利益眾生,即:(一)葉益,眾生因菩薩而得離三惡道,是為葉益眾生。(二)花益,眾生因菩薩而得生剎利大姓、婆羅門大姓、居士大家、四天王天處,乃至非有想非無想天處,是為花益眾生。(三)果益,菩薩得一切種智,令眾生得須陀洹果、斯陀含果、阿那含果、阿羅漢果、辟支佛道、佛道。眾生漸漸以三乘法,於無餘涅槃而般涅槃,是為果益眾生。天台家以此三益分別配於圓教觀行即、圓教相似即、圓教分真即。〔大品般若經卷二十二、大智度論卷八十五、摩訶止觀卷七上〕
; (三益) I. Tam Ích. Cũng gọi chủng thục thoát. Chỉ cho 3 thứ lợi ích: Hạ chủng ích, Điều thục ích và Giải thoát ích do tu hành mà có được. 1. Hạ chủng ích: Lợi ích của sự gieo giống. Tức đem việc người nông dân gieo hạt giống xuống ruộng để ví dụ cho việc đức Phật gieo hạt giống đắc đạo thành Phật vào trong ruộng tâm của chúng sinh; đây chính là sự kết duyên đầu tiên của chúng sinh với Phật pháp. 2. Điều phục ích: Lợi ích của hạt giống thành thục. Dùng việc hạt giống nảy mầm rồi dần dần lớn lên và thành thục để ví dụ cho hạt giống Phật trong ruộng tâm của chúng sinh dần dần tăng trưởng và thành tựu.3. Giải thoát ích: Lợi ích của sự giải thoát. Dùng việc hạt giống thành thục và được thu họach để ví dụ cho hạt giống Phật đã hoàn toàn điều thục, nhân viên quả mãn, được tự tại giải thoát. [X. luận Câu xá Q.23; luận Đại tì bà sa Q.178; Pháp hoa văn cú Q.1]. (xt. Chủng Thục Thoát). II. Tam Ích. Chỉ cho 3 thứ lợi ích ví như lá, hoa, quả của cây giác ngộ mà Bồ tát mang lại cho chúng sinh sau khi tu hành thành tựu 6 loại Ba la mật, được Nhất thiết chủng trí. Đó là: 1. Diệp ích: Sự lợi ích của lá. Tức chúng sinh nhờ Bồ tát mà được xa lìa 3 đường ác, đó là Diệp ích chúng sinh. 2. Hoa ích: Sự lợi ích của hoa. Tức chúng sinh nhờ Bồ tát mà được sinh vào các nhà dòng dõi lớn như Sát đế lợi, Bà la môn, Cư sĩ... các cõi trời như cõi Tứ thiên vương cho đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng đó là Hoa ích chúng sinh. 3. Quả ích: Sự lợi ích của quả. Tức Bồ tát được Nhất thiết chủng trí, khiến chúng sinh được các quả như Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi phật, cho đến quả Phật. Nhờ pháp Tam thừa, chúng sinh dần dần tiến vào Niết bàn vô dư, đó là Quả ích chúng sinh. Tông Thiên thai đem Tam ích này theo thứ tự phối hợp với Viên giáo quán hành ích, Viên giáo tương tự ích và Viên giáo phần chân ích. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; luận Đại trí độ Q.85; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng].
Tam Đa
(三多): nhiều ba điều, có những thuyết khác nhau như: (1) Ba điều điện để có văn chương giỏi là đọc sách nhiều, viết nhiều và tư duy nhiều. (2) Ba điều kiện của một học giả gồm đọc sách nhiều, tham luận nhiều và trước tác nhiều. (3) Phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều.
tam đa
547<一>指親近善友、聽聞法音、修不淨觀。〔長阿含經卷九「十上經」〕 <二>指多供養佛、多事善友、於多佛所請問法要。〔天台四教儀集解卷中〕 <三>指天台三觀。(參閱「三觀」706) <四>指作福、供佛與求法。多,表示許多功德之意。
; Three More Dharmas. 1) Thêm bạn tốt: Making more friends with good people. 2) Nghe nhiều Phật pháp: Hearing more of Dharma law. 3) Quán chiếu nhiều hơn về sự bất tịnh: Meditation more on the impure.
; (三多) I. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc mang lại nhiều công đức. Đó là gần gũi bạn tốt, lắng nghe pháp âm và tu Bất tịnh quán. [X. kinh Thập thượng trong Trường a hàm Q.9]. II. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc: Thường cúng dường Phật, thường gần bạn lành, thường thưa hỏi về pháp yếu của Phật. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.trung]. III. Tam Đa. Chỉ cho 3 pháp quán của tông Thiên thai. (xt. Tam Quán). IV. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc: Làm phúc, cúng dường và cầu pháp. Làm tất cả các việc trên đây đều được nhiều công đức nên gọi là Đa.
tam điên đảo
xem ba sự điên đảo.
; The three subversions or subverters: tưởng đảo evil thoughts, kiến đảo false views, tâm đảo deluded mind.
; Ba điên đảo làm cho chúng sanh nghĩ tưởng điên đảo, vô thường cho là thường, khổ cho là lạc, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh—The three subversions or subverters which make beings to apprehend objects that are impermanent, painful, not self, and foul, as permanent, pleasant, self, and beautiful: 1) Tưởng đảo: Evil thoughts. 2) Kiến đảo: False views. 3) Tâm đảo: A deluded mind. ** For more information, please see Tứ Điên Đảo, Thất Điên Đảo, and Bát Điên Đảo in Vietnamese-English Section.
tam điền
544用以比喻菩薩、聲聞、闡提三者。(一)第一田,此田渠流便利,無諸沙滷、瓦石、棘刺,種一得百;比喻菩薩根性猛利,智慧明了,利益眾生無有窮盡。(二)第二田,此田雖無沙滷、瓦石、棘刺,然渠流險難,收實減半;比喻聲聞根性稍鈍,雖得無漏,但能自利,不能度生。(三)第三田,此田渠流險難,多諸沙滷、瓦石、棘刺,種一得一;比喻闡提之人,於佛法無有信心,今為說法,以種後世善種。〔北本大般涅槃經卷三十三〕
; The three "fields" of varaying qualities of fertility, i.e. bodhisattvas, sràvakas, and icchantis, respectively producing a hundred fold, fifty fold, one-fold.
; (三田) Ba loại ruộng được dùng để ví dụ cho 3 hạng người là Bồ tát, Thanh văn và Xiển đề. 1. Loại ruộng thứ nhất: Ruộng này đường mương dẫn nước tiện lợi, không có các thứ cát sỏi, gạch đá, gai gốc gieo trồng một, thu họach trăm; ví dụ cho Bồ tát căn tinh sắc bén, trí tuệ sáng suốt, mang lại lợi ích cho chúng sinh không cùng tận. 2. Loại ruộng thứ hai: Ruộng này tuy không có cát sỏi, gạch đá, gai gốc, nhưng đường mương dẫn nước bị nghẽn lấp, thu họach giảm một nửa; ví dụ cho Thanh văn căn tính hơi chậm lụt, tuy được vô lậu nhưng chỉ có khả năng tự lợi, không thể độ sinh. 3. Loại ruộng thứ ba: Ruộng này không có đường mương dẫn nước, có nhiều sỏi cát, gạch đá, gai gốc, gieo trồng một thu họach một; ví dụ cho hạng người Xiển đề, đối với Phật pháp không có lòng tin, nay nói pháp cho họ nghe để gieo hạt giống lành cho đời sau. [X. kinh Đại bát niết bànQ.33 (bản Bắc)].
tam điều triện hạ thất xích đan tiền
615指禪家僧堂內坐禪之床位。其床橫三尺,頭頂上方有三條椽,故稱三條椽下;於其下坐禪者稱為三條椽下客。又其床深六尺,稱為單前;板厚一尺,合為七尺單前。因尺度之差,而有六尺單、五尺單等。碧巖錄第二十五則(大四八‧一六六下):「爾諸人若見得,與蓮花峰庵主同參。其或未然,三條椽下,七尺單前,試去參詳看!」〔建中靖國續燈錄西禪繼圖禪師章〕
; (三條椽下七尺單前) Phạm:Trìịi sucaritàni. Pàli: Tìịi sucaritàni. Cũng gọi Tam thanh tịnh. Đối lại: Tam ác hạnh. Chỉ cho diệu hạnh của thân, ngữ và ý, đó là: 1. Thân diệu hạnh (Phạm: Kàyasucarita): Chỉ cho tất cả thân nghiệp thiện như gia hạnh, căn bản, hậu đắc... 2. Ngữ diệu hạnh (Phạm: Vàksucarita): Cũng là tất cả ngữ nghiệp thiện gia hạnh, căn bản, hậu đắc... 3. Ý diệu hạnh (Phạm: Mana#- sucarita): Chỉ cho tất cả sự suy nghĩ lương thiện, cũng tức là 3 ý nghiệp không tham, không sân và chính kiến... Giữa Tam diệu hạnh và Thiện nghiệp đạo có sự khác nhau, tức là Nghiệp đạo chỉ dùng căn bản của thô phẩm làm tính, không bao gồm các cái thiện khác; còn Diệu hạnh thì hàm nhiếp tất cả thiện. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp lấy Tư (suy nghĩ) làm thể, chủ trương Tư và Vô tham đều có thể riêng biệt, vì thế lập vô tham, vô sân, chính kiến của Ý nghiệp và Phi nghiệp làm Ý diệu hạnh. Kinh lượng bộ cho rằng vô tham... lìa Tư ra thì không có thể riêng biệt, cho nên vô tham... chính là Ý nghiệp, vì thế, ngoài Ý nghiệp ra, Kinh lượng bộ không lập vô tham... làm Ý diệu hạnh. Ngoài ra, luận Đại tì bà sa quyển 17 cho rằng các thân diệu hạnh tức là thân thanh tịnh, các ngữ diệu hạnh tức là ngữ thanh tịnh, các ý diệu hạnh tức là ý thanh tịnh, cho nên gọi Tam diệu hạnh là Tam thanh tịnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.11; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.112; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.41].
tam điểu xuất võng
621為形容三乘眾生根器各異之譬喻。三乘眾生脫離妄執羈絆,猶如三種鳥由網中飛出,一齊飛入無煩惱、無障礙之自由世界,彼等所處之環境相同,然因種性不同,各自所感之境界即有異。今以三鳥比喻聲聞乘、緣覺乘、菩薩乘等眾生,三者皆已脫離煩惱苦境,趨向無為之解脫境,然由於上、中、下根器之差別,所修得之境界亦各不同。〔仁王護國般若經疏卷二、法華義疏卷三、肇論〕
; (三鳥出網) Ba loại chim bay ra khỏi lưới, ví dụ cho căn khí của chúng sinh Tam thừa đều khác nhau. Các chúng sinh Tam thừa thoát khỏi sự ràng buộc của vọng chấp, giống như 3 loài chim bung ra khỏi lưới, đều bay vào thế giới tự do không phiền não, không chướng ngại; họ đều ở trong hoàn cảnh giống nhau, nhưng vì chủng tính bất đồng nên cảnh giới mà họ cảm được có khác nhau. Ba loại chúng sinh này (Tam thừa) đều đã thoát khỏi cảnh khổ phiền não, hướng tới cảnh giải thoát vô vi, nhưng do căn khí thượng,trung, hạ khác nhau, nên cảnh giới do tu mà chứng được cũng bất đồng. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2; Pháp hoa nghĩa sớ Q.3,Triệu luận].
tam đoạn
〖出阿毘達磨品類足論〗〔一、見所斷〕,謂聲聞初果之人,斷惑見理,名為見道。因斷三界八十八使見惑,故名見所斷。(三界者,欲界、色界、無色界也。八十八使者,一身見、二邊見、三見取、四戒取、五邪見、六貪、七瞋、八癡、九慢、十疑。此十使歷三界四諦下,增減不同,成八十八。謂欲界苦諦十使具足;集、滅二諦各七使,除身見、邊見、戒取;道諦下八使,除身見、邊見。四諦合為三十二。上色界、無色界,每四諦下各除瞋使,餘皆如欲界,故上二界合為五十六。并前欲界三十二,共成八十八使也。)〔二、修所斷〕,謂聲聞第二果、第三果修真斷惑,名為修道。因斷三界十隨眠惑,故名修所斷。(十隨眠者,即是思惑。謂長時隨逐潛伏,覆蔽真性,故名隨眠。欲界有四,謂貪、瞋、癡、慢。色界、無色界各三,謂貪、癡、慢。共為十也。)〔三、非所斷〕,謂聲聞第四果,三界煩惱皆已斷竟,得無漏果,無惑可斷,故名非所斷。
; 〖出宗鏡錄〗〔一、自性斷〕,謂智慧起時,煩惱暗障自性應斷,故名自性斷。〔二、不生斷〕,謂得法空之時,能令三塗惡道苦果永更不生,故名不生斷。(三塗者,火塗、刀塗、血塗也。)〔三、緣縛斷〕,謂但斷心中之惑,則於外塵境,不起貪瞋;於境雖緣,不生染著,故名緣縛斷。
; 687斷,乃斷縛離繫而得證之義。三斷指:<一>(一)見所斷(梵 darśana-heya),即於見道之位所斷之法。又作見道所斷之法、見斷。(二)修所斷(梵 bhāvanā-heya),即於修道之位所斷之法。又作修道所斷之法、修斷。(三)非所斷(梵 a-heya), 即非見道、修道之位所斷之法。又作非所斷之法、非斷。 大、小二乘對三斷之解釋略有出入,茲就小乘之觀點而論,據俱舍論卷二、品類足論卷二等所舉,三斷指:(一)見所斷,謂聲聞初果之人,斷惑見理,稱為見道;因其斷除八十八隨眠,及與之俱有之法與隨行之得,故稱見所斷。(二)修所斷,謂聲聞第二果、第三果之人,修真斷惑,稱為修道;因其斷除十五界(十色界及五識界),及其餘之有漏法(八十一品之惑),及與之俱有之法與隨行之得,故稱修所斷。(三)非所斷,謂聲聞第四果之人,三界煩惱皆已斷竟,證得無漏果,而無惑可斷;亦即有為、無為一切之無漏法,稱為非所斷。又十八界中,意根界、法境界、意識界等三界通於三斷,其餘之十五界唯限於修所斷。 次就大乘之觀點而論,據大乘阿毘達磨雜集論卷四、瑜伽師地論卷六十六等所舉,三斷指:(一)見所斷,即分別所起之染污之見、疑、見處、疑處,及於見等所起之邪行、煩惱、隨煩惱,及見等所發之身語意業,與一切惡趣等之蘊、界、處,是為見所斷。(二)修所斷,即得見道之後,與見所斷不同之諸有漏法;亦即斷除分別所起之染污之見等以外,其餘之諸有漏法,是為修所斷。(三)非所斷,即諸無漏法;亦即以出世聖道之無為法,證得無學位,而於無學身中之清淨自性所發之身、語業,是為非所斷。又十八界中之七心界,及色、聲、法三界通於三斷,其餘之八界則唯有見、修二斷。〔大毘婆沙論卷五十一、卷五十二、順正理論卷六、成唯識論卷五、俱舍論光記卷二〕 <二>就所斷之法的性質,而將斷分為自性斷、不生斷、緣縛斷三種。據宗鏡錄卷七十六所舉,即:(一)自性斷,謂於智慧起時,煩惱闇障之自性應斷。(二)不生斷,謂證得初地法空之時,能令三塗惡道之苦果永不更生。(三)緣縛斷,謂斷除心中之惑,而於外塵境不起貪、瞋之心,雖緣於境,而不染著,是為緣縛斷。三斷之中,自性、不生二者任運能斷,其皆由緣縛一斷,則能令三界之因果不生。 此外,成唯識論了義燈卷五末,於三斷之外加上相應斷,稱為四斷。〔成唯識論卷八、大明三藏法數卷十〕(參閱「四斷」1847)
; The three cutting off or exisions (of hoặc beguiling delusions or perplexities. 1-a-Kiến sở đoạn to cut off delusions of view, of which Hìnayàna has eighty-eight kinds; b-Tu sở đoạn in practice, eighty-one kinds; c-Phi sở đoạn nothing left to cut off, perfect. 2-a-Tự tính đoạn to cut off the nature, or root (of delusion); b-Duyên phược đoạn to cut off the external bonds, or objective causes (of delusions); c-Bất sinh đoạn (delusion) no longer arising, therefore nothing produced to cut off. The third stage in both groups is that of an arhat.
; Ba diệt đoạn—Three cutting off or excisions of beguiling delusions or perplexities: (A) 1) Kiến sở đoạn: To cut off delusions of view. 2) Tu sở đoạn: Practice to cut off delusions. 3) Phi sở đoạn: Nothing left to cut off. (B) 1) Tự tính đoạn: To cut off the nature or roots of delusions. 2) Duyên phược đoạn: To cut off the external bonds, or objective cause of delusion. 3) Bất sinh đoạn: Delusions no longer arise, therfore, nothing produced to cut off. This is the stage of an Arhat. (C) Theo Thanh Tịnh Đạo—The Path of Purification: 1) Ức đoạn: Đoạn trừ bằng cách ức chế như đè cây lau bằng cách đặt trên ngọn cây một cái bình đầy nước có lỗ—Abandoning by supressing. This is like the pressing down of water-weed by placing a porous pot on weed-filled water. 2) Đoạn bằng cách thay vào một pháp ngược lại, giống như thay thế bóng tối bằng ánh sáng: Abandoning by substitution of opposite. It is like the abandning of darkness at night through the means of a light—Please see Thập Bát Tuệ Quán. 3) Đoạn trừ bằng cách cắt đứt: Abandoning by cutting off.
; (三斷) I. Tam Đoạn. Chỉ cho Kiến sở đoạn,Tu sở đoạn và Phi sở đoạn. Đoạn có nghĩa là cắt đứt tất cả sự trói buộc mà được giải thoát, tự do. 1. Kiến sở đoạn (Phạm: Darzanaheya), cũng gọi Kiến đạo sở đoạn chi pháp, Kiến đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu sở đoạn (Phạm: Bhàvanàheya), cũng gọi Tu đạo sở đoạn chi pháp, Tu đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.3. Phi sở đoạn (Phạm:A-heya), cũng gọi Phi sở đoạn chi pháp, Phi đoạn: Tức chẳng phải pháp đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo, Tu đạo. Sự giải thích về Tam đoạn giữa Đại thừa và Tiểu thừa có hơi khác nhau. Theo quan điểm của Tiểu thừa, như luận Câu xá quyển 2 và luận Phẩm loại túc quyển 2, thì Kiến sở đoạn là hàng Thanh văn quả đầu tiên dứt hoặc thấy lí, gọi là Kiến đạo, vì các bậc này đã đoạn trừ 88 Tùy miên (phiền não)và các pháp cùng sinh ra với Tùy miên, nên gọi là Kiến sở đoạn. Tu sở đoạn là hàng Thanh văn quả thứ 2 và quả thứ 3, tu chân đoạn hoặc, gọi là Tu đạo; vì các bậc này đã đoạn trừ 15 giới (10 sắc giới và 5 thức giới) và các phápHữu lậu khác(81 phẩm hoặc), cùng với các pháp do 81 phẩm hoặc sinh ra, cho nên gọi là Tu sở đoạn. Phi sở đoạn là hàng Thanh văn quả thứ 4 đã dứt hết phiền não trong 3 cõi mà chứng được quả vô lậu, không còn hoặc để đoạn, nên gọi là Phi sở đoạn. Ngoài ra, 3 giới là Ý căn giới; Pháp cảnh giới và Ý thức giới trong 18 giới là chung cho cả 3 đoạn, 15 giới còn lại chỉ thuộc Tu sở đoạn mà thôi. Về quan điểm của Đại thừa, như luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, luận Du già sư địa quyển 66..., thì cho rằng Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ... do phân biệt khởi; tà hành, phiền não, tùy phiền não... do Kiến sinh khởi, các nghiệp thuộc thân, ngữ, ý, do Kiến... phát động, cho đến uẩn, xứ, giới... là Kiến sở đoạn. Tu sở đoạn là sau khi đã được Kiến đạo, tiếp tục đoạn trừ tất cả các pháp hữu lậu, là Tu sở đoạn. Còn phi sở đoạn chính là các pháp vô lậu. Cũng tức là dùng pháp vô vi của Thánh đạo xuất thế mà chứng được Vô học vị, thân, ngữ, ý nghiệp đều thanh tịnh, là Phi sở đoạn. Ngoài ra, 7 tâm giới và 3 giới sắc, thanh, pháp trong 18 giới là chung cho cà 3 đoạn, 8 giới còn lại chỉ thuộc 2 đoạn Kiến, Tu mà thôi. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, 52; luận Thuận chính lí Q.6; luận Thành duy thức Q.5; Câu xá luận quang kí Q.2]. II. Tam Đoạn. Căn cứ vào tính chất của các pháp bị đoạn trừ mà đoạn được chia làm 3 thứ là Tự tính đoạn, Bất sinh đoạn và Duyên phược đoạn. Tông kính lục quyển 76 giải thích như sau:1. Tự tính đoạn: Khi trí tuệ phát sinh thì tự tính của các phiền não ám chướng bị đoạn diệt. 2. Bất sinh đoạn: Khi đã chứng được pháp không ở Sơ địa thì khiến cho quả khổ của 3 đường ác không bao giờ sinh lại được nữa.3. Duyên phược đoạn: Đoạn trừ hoặc trong tâm, còn đối với các trần cảnh bên ngoài thì không khởi tâm tham, sân, tuy duyên theo cảnh nhưng không nhiễm trước, đó là Duyên phược đoạn. Trong 3 đoạn thì Tự tính đoạn và Bất sinh đoạn có năng lực đoạn trừ một cách nhậm vận tự nhiên, đó đều do Duyên phược đoạn làm cho nhân quả của 3 cõi không sinh lại nữa. Ngoài ra, Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần cuối, ngoài Tam đoạn còn thêm Tương ứng đoạn, gọi là Tứ đoạn. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.10]. (xt. Tứ Đoạn).
tam đoạn luận
Syllogism.
tam đà la ni
577三種使善法不散,惡法不起之力用。<一>為大智度論卷五所舉五百陀羅尼中之前三種,即:(一)聞持陀羅尼,耳聞而憶持不忘。(二)分別陀羅尼,識別了知客觀界之對象物。(三)入音聲陀羅尼,對他人之惡口或讚辭不動心。 <二>出自法華經勸發品。相當於天台宗所說之空、假、中三觀。(一)旋陀羅尼,旋,旋轉之義。凡夫執著有相,故須令其旋轉差別之假相,以入於平等之空;此即「從假入空」之「空持」。(二)百千萬億陀羅尼,旋轉平等之空,而入於百千萬億法差別之假相(現象界);此即「從空入假」之「假持」。(三)法音方便陀羅尼,以上記空假二持為方便,而入於絕待之中道;此即中道第一義諦之「中持」。 <三>晡時諷經(晚課諷經)所誦之大悲心陀羅尼、佛頂尊勝陀羅尼、消災妙吉祥陀羅尼。〔椙樹林清規卷上日中行事〕
; Ba pháp Đà La Ni hay là ba lực trì giữ trí huệ—Three kinds of Dharani or the power to maintain wisdom or knowledge: 1) Thính trì Đà La Ni: The power to retain all the teaching one hears. 2) Phân biệt Đà La Ni: Unerring powers of discrimination. 3) Nhập Âm thanh Đà La Ni: Power to rise superior to external praise or blame.
; (三陀羅尼) I. Tam Đà La Ni. Chỉ cho 3 Đà la ni đầu tiên của 500 Đà la ni nói trong luận Đại trí độ quyển 5. Đó là: 1. Văn trì đà la ni: Tai nghe và nhớ giữ không quên. 2. Phân biệt đà la ni: Phân biệt và biết rõ các đối tượng của thế giới khách quan. 3. Nhập âm thanh đà la ni: Đối với những lời chê bai hay khen ngợi của người khác không động tâm. II. Tam Đà La Ni. Chỉ cho 3 Đà la ni nói trong phẩm Khuyến phát kinh Pháp hoa. Ba Đà la ni này tương đương với 3 pháp quán Không, Giả, Trung của tông Thiên thai. Đó là: 1. Toàn đà la ni: Toàn nghĩa là xoay chuyển. Phàm phu chấp trước Hữu tướng, nên phải khiến họ xoay chuyển giả tướng sai biệt để thể nhập vào lí Không bình đẳng; đây là Không trì(nắm giữ cái Không) của từ Giả vào Không. 2. Bách thiên vạn ức đà la ni: Xoay chuyển cái Không bình đẳng mà nhập vào cái giả tướng(thế giới hiện tượng)của trăm nghìn muôn ức pháp sai biệt; đây chính là Giả trì của từ Không vào Giả. 3. Pháp âm phương tiện đà la ni: Dùng Không trì và Giả trì nói trên làm phương tiện mà nhập vào Trung đạo tuyệt đối; đây chính là Trung trì của Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. III. Tam Đà La Ni. Chỉ cho Đại bi tâm đà la ni, Phật đính tôn thắng đà la ni và Tiêu tai diệu cát tường đà la ni, được đọc tụng vào thời khóa buổi chiều hàng ngày. [X. điều Nhật trung hành sự trong Xương thụ lâm thanh qui Q.thượng].
Tam Đàn
(三壇): tức Tam Đàn Đại Giới (三壇大戒), là nghi thức thọ giới đặc biệt, phân thành 3 giai đoạn là Sơ Đàn Chánh Thọ (初壇正授), Nhị Đàn Chánh Thọ (二壇正授) và Tam Đàn Chánh Thọ (三壇正授). Đàn đầu tiên thọ giới Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼); đàn thứ hai thọ giới Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘) và Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); đàn thứ ba thọ giới Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩). Như trong Truyền Giới Chánh Phạm (傳戒正範, CBETA No. 1128) có câu: “Tam Đàn quỹ tắc, cự tế hữu điều, thất chúng khoa nghi, tinh tường bất vặn (三壇軌則、巨細有條、七眾科儀、精詳不紊, Ba Đàn nguyên tắc, lớn nhỏ có điều, Bảy Chúng khoa nghi, rõ ràng không rối).”
tam đàn
686指三布施。又稱三施。檀,檀那之略稱,為布施之意。據大智度論卷十四載,即:(一)財施,又作資生施。謂持戒自檢,不侵犯眾生財物,且以己財施與他人。(二)法施,謂為人說法,使其開悟得道;又堅持淨戒,為眾生供養福田,令得無量之福。(三)無畏施,一切眾生皆畏死,故應持戒不加侵害,使其無所怖畏。 又大明三藏法數卷十一以布施功德之優劣而立如下三施:(一)下品施,見人饑餓,以飲食濟之,是為飲食施。(二)中品施,見人貧窮,以財物珍寶濟之,是為珍寶施。(三)上品施,割身肉以濟眾生,捨生命以救他人,是為身命施。〔大乘莊嚴經論卷八、金剛般若論卷三(無著)、維摩經文疏卷八、諸經要集卷十、華嚴隨疏演義鈔卷二十二〕(參閱「布施」1901)
; The three kinds of dàna, i.e. charity; giving of goods, of the dharma, of abhaya or fearlessness. Idem tam thí.
; Tam bố thí—Three kinds of dana—See Tam Bố Thí.
; (三檀) Cũng gọi Tam thí. Đàn nói đủ là Đàn na, nghĩa là bố thí. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 14 thì Tam đàn là: 1. Tài thí(cũng gọi Tư sinh thí): Đem tài vật của mình bố thí cho người. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người khác nghe, giúp họ khai ngộ đắc đạo. 3. Vô uý thí: Nói cho người nghe về sự lợi ích của lòng can đảm, khiến họ không sợ hãi. Ngoài ra, Đại minh tam tạng pháp số quyển 11, căn cứ vào công đức bố thí có hơn kém khác nhau mà lập thành Tam thí như sau: 1. Hạ phẩm thí: Thấy người đói khát, đem thức ăn uống đến cho, đó là Ẩm thực thí.2. Trung phẩm thí: Thấy người nghèo cùng, đem tài vật quí báu đến cho, đó là Trân bảo thí. 3. Thượng phẩm thí: Cắt thịt mình cho chúng sinh, bỏ thân mệnh để cứu người khác, đó là Thân mệnh thí. [X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.8; luận Kim cương bát nhã Q.3 (Vô trước); Duy ma kinh văn sớ Q.8; Chư kinh yếu tập Q.10; Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao Q.22]. (xt. Bố Thí).
tam đàn đại giới
682我國特有之授戒儀式,分初壇正授、二壇正授、三壇正授三階段。初壇授沙彌、沙彌尼戒,二壇授比丘、比丘尼戒,三壇授出家菩薩戒。依據我國佛教界之傳承習慣,有意出家者必須受足此三壇大戒,始被公認為合格之大乘出家人。傳戒日期約三十日至四十日。主事者為十師和尚,其中,得戒和尚一人、羯磨阿闍黎一人、教授阿闍黎一人,是為三師和尚,另有尊證阿闍黎七人,總稱三師七證。 戒期功課時間表大抵為:四時許三板,四時半左右四板,五至六時早課,六時後早粥,其後有作務、講戒、演禮,十一時至十二時午齋,下午二時許以後演禮,五至六時晚課,六時許藥石,七時半以後禮懺、開示,十時養息。首日,新戒集於大殿,由開堂和尚介紹引禮、引贊諸師,續由三師和尚開示,其後即進入為時約一個月之授戒期。 一般傳授三壇大戒,大都出家戒二壇正授畢,在家戒即報到,與出家菩薩戒同時傳授,而同時圓滿出堂。在家戒除開堂外,分三皈五戒與菩薩戒二階段。〔傳授三壇弘戒法儀(法藏)、傳戒正範(讀體)〕(參閱「傳戒」5387)
; (三壇大戒) Nghi thức thụ giới được chia làm 3 giai đoạn gọi là Tam đàn đại giới. Tức là: 1. Sơ đàn chính thụ: Truyền giới Sa di và Sa di ni. 2. Nhị đàn chính thụ: Truyền giới Tỉ khưu và Tỉ khưu ni. 3. Tam đàn chính thụ: Truyền giới Bồ tát xuất gia. Về thời gian truyền giới thì từ khoảng 30 ngày đến 40 ngày. Chủ trì giới đàn gồm có 10 vị Hòa thượng, trong đó, 1 vị Đắc giới hòa thượng, 1 vị Yết ma a xà lê, 1 vị Giáo thụ a xà lê, gọi là Tam sư hòa thượng, cùng với 7 vị Tôn chứng a xà lê, gọi chung là Tam sư thất chứng. Khi truyền giới thì 2 đàn giới xuất gia chính thụ được truyền trước, sau đó, đến giới Bồ tát xuất gia. Cuối cùng đến giới tại gia thì chia làm 2 giai đoạn là Tam qui Ngũ giới và giới Bồ tát. [X. Truyền thụ tam đàn hoằng giới pháp nghi (Pháp tạng); Truyền giới chính phạm (Độc thể)]. (xt. Truyền Giới).
tam đĩnh viện
Three Pillars, The.
Tam đại
三大; C: sāndà; J: sandai;|Là ba sự huyền diệu to lớn đã có sẵn trong tâm bồ-đề của chúng sinh, được dạy trong luận Đại thừa khởi tín. Sự huyền diệu lớn đầu tiên là Thể đại (體大), có tương quan đến chất lượng căn bản của tâm thức là Chân như. Thứ hai là Tướng đại (相大), có liên hệ đến muôn vàn hiện tượng kì diệu xuất phát từ Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), và thứ ba là Dụng đại (用大), liên hệ đến những chức năng có thể thấy được trong việc nỗ lực tu tập để trực chứng tâm bồ-đề. Đại thừa khởi tín luận viết như sau:|云何爲三一者體大謂一切法眞如平等不增減故二者相大謂如來藏具足無量性功徳故三者用大能生一切世間出世間善因果故|Vân hà vi tam? Nhất giả Thể đại vị nhất thiết pháp chân như bình đẳng bất tăng giảm cố. Nhị giả Tướng đại vị Như Lai tạng cụ túc vô lượng tính công đức cố. Tam giả Dụng đại năng sinh nhất thiết thế gian xuất thế gian thiện nhân quả cố.
tam đại
525<一>眾生一心之本體、相狀、作用廣大無限,故稱體大、相大、用大。係大乘起信論所說。(一)體大,真如平等之法常恆不變,一切法不增不減,遍其體性。(二)相大,真如之相狀具足大智慧光明等無量功德。依如來藏之義,功德之相如恆沙無量,故稱相大。(三)用大,真如之作用能生一切世間、出世間善之因果。大乘起信論(大三二‧五七九上):「真如自體相者,一切凡夫、聲聞、緣覺、菩薩、諸佛無有增減,非前際生,非後際滅,畢竟常恆,從本已來,性自滿足一切功德。所謂自體有大智慧光明義故、遍照法界義故、自性清淨心義故、常樂我淨義故、清涼不變自在義故,具足如是過於恆沙不離、不斷、不異、不思議佛法,乃至滿足無有所少義故,名為如來藏,亦名如來法身。」此係起信論就真如緣起所說者。另於小乘教之六因四緣緣起、法相宗之阿賴耶識緣起、華嚴宗之法界緣起等,亦皆立有「三大」之說。〔大乘起信論疏卷上之上、大乘起信論義記卷上、大乘起信論別記〕 <二>密宗就宇宙法界之本體、相狀、作用之廣大無限,亦立三大之說。(一)體大,謂地、水、火、風、空、識等六大遍滿一切有情、非情。(二)相大,謂大曼荼羅、三昧耶曼荼羅、法曼荼羅、羯磨曼荼羅等四曼之相狀歷然。(三)用大,謂身、語、意等三密之作用於深祕中彼此相應。
; The three great characteristics of the chân như bhùtatathatà ìn the Khởi tín luận Awakening of Faith: (1) Thể đại the greatness of the bhùtatathatà in its essence or substance; it is chúng sinh tâm chi thể tính the embodied nature of the mind of all the living, universal, immortal, immutable, eternal; (2) Tướng đại the greatness of its attributes or manifestations, perfect in wisdom and mercy, and every achievement. (3) Dụng đại the greatness of its functions and operations within and without, perfectly transforming all the living to good works and good karma now and hereafter.
; Ba “Đại” được nói đến trong Khởi Tín Luận—The three great characteristics mentioned in the Awakening of Faith: (A) 1) Thể đại: Substance—The greatness of the bhutatathata in its essence or substance. 2) Tướng đại: Form—The greatness of its attributes or manifestations; perfect in wisdom and mercy and every achievement. 3) Dụng đại: Function—The greatness of its functions and operations within and without, perfectly transforming all the living to good works and good karma now and hereafter. (B) Three generations: 1) Ông: Grandfather. 2) Cha: Father, 3) Con: Son.
; (三大) I. Tam Đại. Chỉ cho bản thể, tướng trạng và tác dụng của Chân như theo thuyết trong luận Đại thừa khởi tín. Ba thứ này rất rộng lớn nên gọi là Đại. Đó là: 1. Thể đại: Bản thể của chân như thường hằng bất biến, không thêm không bớt, bao trùm khắp tất cả, nên gọi là Thể đại.2. Tướng đại: Tướng trạng của chân như đầy đủ vô lượng công đức trí tuệ... Theo nghĩa Như lai tạng thì tướng công đức vô lượng như cát sông Hằng nên gọi là Tướng đại.3. Dụng đại: Tác dụng củachân như có năng lực sinh ra hết thảy nhân quả thiện của thế gian và xuất thế gian, nên gọi là Dụng đại. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 579 thượng) nói: Tự thể của chân như trong tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và chư Phật, đều không có thêm bớt, chẳng phải trước sinh, sau diệt mà là rốt ráo thường hằng, từ xưa đến nay, vốn tự đầy đủ tất cả công đức. Tự thể ấy có đại trí tuệ quang minh, chiếu rọi khắp pháp giới; tự tính thanh tịnh tâm, thường lạc ngã tịnh, tự tại bất biến, đầy đủ Phật pháp không lìa, không đoạn, không khác, nhiều hơn số cát sông Hằng, không thể nghĩ bàn; do các nghĩa ấy mà tự thể chân như được gọi là Như lai tạng, cũng gọi là Như lai pháp thân. Đây là thuyết Chân như duyên khởi của luận Đại thừa khởi tín. Ngoài ra, các thuyết Duyên khởi như Lục nhân tứ duyên duyên khởi của Tiểu thừa, A lại da thức duyên khởi của tông Pháp tướng, Pháp giới duyên khởi của tông Hoa nghiêm... đều có lập Tam đại. X. Đại thừa khởi tín luận sớ Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận biệt kí]. II. Tam Đại. Chỉ cho bản thể, tướng trạng và tác dụng rộng lớn vô biên của vũ trụ pháp giới theo thuyết của Mật tông. Đó là: 1. Thể đại: Thể của 6 đại đất, nước, lửa, gió, hư không và thức đều hàm nhiếp trong hết thảy hữu tình và phi tình. 2. Tướng đại: Chỉ cho tướng trạng rõ ràng của 4 mạn đồ la là Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la và Yết ma mạn đồ la. 3. Dụng đại: Chỉ cho tác dụng của Tam mật thân, ngữ, ý ứng hợp với nhau trong nghĩa sâu kín.
tam đại bí pháp
526為日本日蓮宗教義。又作三祕。指三種大祕密之法門,即:(一)本門本尊,(二)本門題目,(三)本門戒壇。此三者微妙深遠,非凡夫所能了知,唯佛與佛所證悟之法。
; (三大秘法) Cũng gọi Tam bí. Chỉ cho 3 pháp môn đại bí mật của tông Nhật liên, Nhật bản. Đó là: 1. Bản môn bản tôn. 2. Bản môn đề mục. 3. Bản môn giới đàn. Ba pháp môn này rất sâu xa, mầu nhiệm, là pháp chứng ngộ giữa Phật với Phật.
tam đại bộ
526<一>又稱天台三大部、法華三大部、三大章疏。乃天台智顗大師所撰,為天台宗之三部根本典籍,即妙法蓮華經文句、妙法蓮華經玄義、摩訶止觀,各十卷,皆為其門人灌頂所筆錄。其中,妙法蓮華經文句講述於隋開皇七年(587)金陵瓦官寺,係闡釋法華經之文句。妙法蓮華經玄義初說於瓦官寺,開皇十三年復說於荊州玉泉寺,係闡明法華之經題及教相。摩訶止觀亦於同時同寺口說,係解說法華之觀心。三大部之註疏,較重要者有:三大部科文十六卷(湛然)、三大部補註十四卷(從義)、三大部讀教記二十卷(法照)。〔法華文句記卷十下、隋天台智者大師別傳、釋門正統卷三弟子志、山家正統學則卷上〕 <二>指南山道宣律師所撰之律宗三大部。即四分律刪繁補闕行事鈔三卷、四分律戒本疏四卷、四分律羯磨疏四卷,此三書為我國四分律宗之根本典籍。此外,另加拾毘尼義鈔三卷、比丘尼鈔三卷,則稱五大部。(參閱「五大部」1059)
; (三大部) I. Tam Đại Bộ. Cũng gọi Thiên thai tam đại bộ, Pháp hoa tam đại bộ, Tam đại chương sớ. Chỉ cho 3 bộ sách căn bản của tông Thiên thai là Diệu pháp liên hoa kinh văn cú 10 quyển, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, 10 quyển và Ma ha chỉ quán, 10 quyển, do Đại sư Trí khải soạn, đệ tử của ngài là sư Quán đính ghi chép. Trong đó, bộ Diệu pháp liên hoa kinh văn cú được ngài Trí khải giảng ở chùa Ngõa quan tại Kim lăng vào năm Khai hoàng thứ 7 (587) đời Tùy, nội dung giải thích rõ câu văn của kinh Pháp hoa; Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa lúc đầu được ngài giảng ở chùa Ngõa quan, sau, vào năm Khai hoàng thứ 13 (593) lại giảng ở chùa Ngọc tuyền tại Kinh châu, nội dung giảng rõ về đề kinh và giáo tướng của Pháp hoa; còn Ma ha chỉ quán cũng do ngài Trí khải giảng cùng thời gian và cũng ở chùa Ngọc tuyền, nội dung giải thích về pháp quán tâm của kinh Pháp hoa. Về các sách chú sớ Tam đại bộ thì có: Tam đại bộ khoa văn 16 quyển (Trạm nhiên), Tam đại bộ bổ chú 14 quyển (Tòng nghĩa) và Tam đại bộ độc giáo kí 20 quyển (Pháp chiếu). [X. Pháp hoa văn cú kí Q.10, thượng; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Đệ tử chí trong Thích môn chính thống Q.3; Sơn gia chính thống học tắc Q.thượng]. . Tam Đại Bộ. Chỉ cho 3 bộ sách lớn của Luật tông do Luật sư Đạo tuyên soạn vào đời Đường, đó là: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao 3 quyển, Tứ phần luật giới bản sớ 4 quyển và Tứ phần luật yết ma sớ 4 quyển. Ba bộ này là sách căn bản của Tứ phần luật tông Trung quốc. Ngoài ra, còn thêm Thập tì ni nghĩa sao 3 quyển và Tỉ khưu ni sao 3 quyển mà gọi là Ngũ đại bộ. (xt. Ngũ Đại Bộ).
tam đại kỳ kiếp
Kỳ kiếp quá khứ là Trang nghiêm kỳ kiếp. Hiện tại kiếp là Hiền kiếp. Vị lai kiếp là Tinh tú kiếp.
tam đại nguyện
526請參閱 法華三大部補注 <一>乃勝鬘夫人於佛陀面前所發之三項大願。又稱三大誓願、三弘願。據勝鬘經三願章載,勝鬘夫人於佛前受十大受(記)畢,繼而發三大願,即:(一)以此實願,安隱(穩)無量無邊眾生;以此善根,願於一切生得正法智。(二)得正法智後,必以無厭心為眾生說法。(三)於所攝受之正法,當捨身、命、財來護持之。發願畢,世尊即記勝鬘之三大誓願,謂如一切色悉入空界。以其三願為真實廣大之誓,故世尊將菩薩所發恆沙諸願,皆攝入此三大願中。〔大寶積經卷一一九、勝鬘寶窟卷上末、勝鬘義疏、勝鬘經疏詳玄記卷六〕 <二>日本日蓮宗之祖日蓮被流放至佐渡時,曾立下三大誓願,即誓願弘揚法華經,使其成為日本之柱、眼與大船。
; (三大願) I. Tam Đại Nguyện. Cũng gọi Tam đại thệ nguyện, Tam hoằng nguyện. Chỉ cho 3 thệ nguyện lớn của phu nhân Thắng man. Cứ theo chương Tam nguyện trong kinh Thắng man, sau khi được đức Phật thụ kí, phu nhân Thắng man liền phát 3 đại nguyện: 1. Dùng thực nguyện này đem lại sự an ổn cho vô lượng vô biên chúng sinh; nhờ căn lành này, nguyện trong tất cả đời được trí chính pháp. 2. Sau khi được trí chính pháp sẽ hết lòng nói pháp chúng sinh nghe mà không bao giờ mỏi mệt, nhàm chán. 3. Đối với chính pháp mình nhiếp thụ sẽ bỏ cả thân mệnh, tài sản để hộ trì. Phu nhân Thắng man phát nguyện xong, đức Thế tôn liền ghi nhận 3 đại thệ nguyện của Bà. Vì 3 nguyện này là những lời thề nguyền chân thực rộng lớn nên đức Phật đem thu nhiếp tất cả các thệ nguyện của các Bồ tát nhiều như số cát sông Hằng vào trong 3 đại nguyện náy, giống như tất cả sắc đều vào cõi không. [X. kinh Đại bảo tích Q.119; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần cuối; Thắng man nghĩa sớ; Thắng man kinh sớ tường huyền kí Q.6]. II. Tam Đại Nguyện. Chỉ cho 3 thệ nguyện lớn của ngài Nhật liên, Tổ khai sáng của tông Nhật liên, Nhật bản, khi ngài bị lưu đày đến đảo Tá độ. Ba thệ nguyện ấy là: 1. Nguyện được làm cột trụ của Nhật bản.2. Nguyện được làm con mắt của Nhật bản.3. Nguyện được làm chiếc thuyền của Nhật bản. Tức nguyện hoằng dương kinh Pháp hoa để thực hiện 3 đại nguyện trên.
tam đại ngũ tiểu bộ
525三大部指天台宗智顗大師諸撰述中,闡發法華思想之三大部典籍,即妙法蓮華經文句、妙法蓮華經玄義與摩訶止觀,各十卷。相對於此,其著作中之觀無量壽佛經疏一卷、金光明經玄義二卷、金光明經文句六卷、觀音玄義二卷、觀音義疏二卷等,稱為五小部。(參閱「三大部」526、「五小部」1062)
; (三大五小部) Tam đại bộ chỉ cho Diệu pháp liên hoa kinh văn cú 10 quyển, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa 10 quyển và Ma ha chỉ quán 10 quyển. Còn Ngũ tiểu bộ thì chỉ cho Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ 1 quyển, Kim quang minh kinh huyền nghĩa 2 quyển, Kim quang minh kinh văn cú 6 quyển, Quán âm huyền nghĩa 2 quyển và Quán âm nghĩa sớ 2 quyển. Tất cả những sách trên đây đều do Đại sư Trí khải thuộc tông Thiên thai soạn vào đời Tùy. (xt. Tam Đại Bộ, Ngũ Tiểu Bộ).
tam đại tai
Ba tai họa lớn—Three major calamities: 1) Thủy tai: Calamities of water. 2) Hỏa tai: Calamities of fires. 3) Phong tai: Calamities of wind.
tam đại tam thiên thế giới
Triple-thousand great-thousand worlds.
Tam Đại Thật Lục
(三代實錄, Sandaijitsuroku): một trong Lục Quốc Sử (六國史), 50 quyển, còn gọi là Nhật Bản Tam Đại Thật Lục (日本三代實錄, Nihonsandaijitsuroku). Đây là bộ sử thư kế thừa sau Văn Đức Thật Lục (文德實錄, Montokujitsuroku), được viết theo thể biên niên, ghi lại những sự kiện trong vòng 30 năm của thời đại của 3 vị Thiên Hoàng là Thanh Hòa (清和, Seiwa), Dương Thành (陽成, Yōsei) và Quang Hiếu (光孝, Kōkō). Công trình này mất trong vòng 30 năm, từ tháng 8 năm 858 (niên hiệu Thiên An [天安] thứ 2) cho đến tháng 8 năm 887 (niên hiệu Nhân Hòa [仁和] thứ 3), do nhóm Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平, Fujiwara-no-Tokihira), Đại Tạng Thiện Hành (大藏善行) phụng sắc chỉ soạn. Vào năm 901 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 1), bộ này được hoàn thành và trình lên triều đình.
tam đại thừa
526指大乘所具之三義。此係金光明經玄義卷上所言。即:(一)性乘,又作理乘。謂理性虛通,自然荷運諸法。(二)隨乘,謂智隨理境,如蓋隨函,隨理荷運。(三)得乘,得,得果得機之意。謂得果,故能自解脫;得機,故能令他解脫。此三大乘皆常樂我淨,故與法身、般若、解脫三德無二無別。又法華玄義卷五之下言及真性(即理乘)、觀照(即隨乘)、資成(即得乘)三軌,與三大乘相類通。三軌即三大乘,廣亙十種三法,交互類通。三大乘、三軌,乃至三道,畢竟同體異名,同為三千三諦圓具之妙法,法法皆融妙自在。〔梁譯攝大乘論釋卷十一、十二門論疏卷一〕
; (三大乘) Chỉ cho 3 nghĩa của Đại thừa nói trong Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng. Đó là: 1. Tính thừa(cũng gọi Lí thừa): Lí tính rỗng không thông suốt, tự nhiên vận chuyển các pháp. 2. Tùy thừa: Trí theo lí cảnh, như nắp theo hộp, tùy lí vận chuyển. 3. Đắc thừa: Đắc nghĩa là được quả, được cơ. Nhờ được quả nên có khả năng tự giải thoát. Tam Đại thừa này là thường, lạc, ngã tịnh nên cùng với 3 đức pháp thân, bát nhã và giải thoát là một, không khác. Lại nữa, Tam quĩ: Chân tính (tức Lí thừa), Quán chiếu(tức Tùy thừa) và Tư thành (tức Đắc thừa) được nói trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5 hạ, cũng tương tự với Tam đại thừa này. Tam đại thừa, Tam quĩ, cho đến Tam đạo rốt cuộc là cùng thể khác tên, đều là diệu pháp có đầy đủ tam thiên tam đế, mỗi mỗi pháp đều dung nhập với nhau một cách mầu nhiệm, tự tại. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Thập nhị môn luận sớ Q.1].
Tam đạo
三道; C: sāndào; J: sandō;|I. Ba thánh đạo (ba con đường lấy giác ngộ làm cơ sở) trong Du-già hành tông: Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Vô học đạo (無學道). II. Ba ác đạo, Tam ác đạo (三惡道). III. Hoặc (惑), Nghiệp (業), Khổ (苦).
tam đạo
644<一>又作三聚。指惑道、業道、苦道;此三者為生死流轉之因果。(一)惑道,又作煩惱道,迷惑惱亂諸法事理之妄心。(二)業道,由妄心所發,乃身口意三業所作。(三)苦道,以惑業為因,招感三界六道之果。道有能通之意,此三者乃由惑起業,由業感苦,於苦復更起惑,輾轉相通,生死不絕,故稱三道;或以輪轉之義,三者輪轉不絕,故亦作三道。金光明玄義卷上以十二因緣配當三道,而謂過去之無明、現在之愛、取等三支為煩惱道,過去之行、現在之有等二支為業道,現在之識、名色、六入、觸、受,及未來之生、老死等七支為苦道。又天台宗就分段、方便、實報等三報而各說三道之別,即以見思之惑為煩惱道,煩惱潤業名為業道,招感界內之生為苦道,此係分段三道;以塵沙惑為煩惱道,無漏之業名為業道,變易生死為苦道,此係方便三道;以無明惑為煩惱道,非漏非無漏之業為業道,彼土變易為苦道,此係實報三道。另據天台圓教之說,三道與法身、般若、解脫等三德,及真性、觀照、資成等三軌,彼此融通,圓妙自在,而共成三千三諦圓具之妙法。〔俱舍論卷九、雜阿毘曇心論卷八、瑜伽師地論卷九十三、華嚴經探玄記卷十三、法華玄義卷五下〕 <二>聲聞、菩薩道位之三階次第,即見道、修道、無學道。(一)見道(梵 darśana-mārga),又作見地。即初見諦理而斷除見惑之階位。(二)修道(梵 bhāvanā-mārga),又作修地、分別地。即數數修習而斷除修惑之階位。(三)無學道(梵 aśaikṣa-mārga),又作無學地。即斷盡諸惑,解脫繫縛之階位。其中,前二道亦稱有學道,見道唯無漏,修道通有漏、無漏。若以此三者配當四向四果,則見道為預流向,修道為後三向及預流、一來、不還三果,無學道即阿羅漢果。若以之配唯識五位,則依序為通達位、修習位、究竟位。若以之配十地,則依序為初地、第二地至第九地、第十地及佛地。〔俱舍論卷二十一、卷二十五、彰所知論卷下、大乘義章卷十、華嚴五教章卷三〕(參閱「五位」1087、「四向四果」1683) <三>十地經論卷十所立之證道、助道、不住道。(一)證道,謂證悟實性之理。「證」有「知得契會」之義;心冥實性,無有分別,契會平等,故稱為證。(二)助道,謂六度等資助之行。「助」有「扶佐資順」之義;扶助諸度等行,而資順菩提,故稱為助。(三)不住道,謂方便、智慧並立,不偏不倚。「不住」有「離著」之義;巧慧雙修,不凝滯於任何一處而遊行徧在,故稱不住。〔大乘義章卷十〕
; (1) The three paths all have to tread; luân hồi tam đạo, tam luân, i.e. (a) phiền não đạo, hoặc đạo the path of misery, illusion, mortality; (b) nghiệp đạo the path of works, action, or doing, productive of karma (c) khổ đạo the resultant path of suffering. As ever recurring they are called the three wheels. (2) Thanh, Duyên, Bồ, sràvakas, pratyeka-buddhas, bodhisattvas.
; (A) Ba con đường mà mọi người chúng ta đều phải đi qua—The three paths all have to tread: 1) Phiền não đạo: The path of misery, illusion, mortality. 2) Nghiệp đạo: The path of works, action or doing, productive of karma. 3) Khổ đạo: The resultant path of suffering. (B) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: Phật giáo đặt nền tảng trên Tam Học (siksa): Giới, Định, Tuệ. Nghĩa là nếu không trì giới thì tâm không định, tâm không định thì không phát tuệ. Định ở đây bao gồm những kết quả vừa tư biện vừa trực quán. Tiếp đó Đạo Phật còn dạy hành giả phải đi vào Tam Đạo là Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo. Đây là ba giai đoạn mà hành giả phải trải qua khi tu tập Kiến Đạo với Tứ Diệu Đế bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo; kế đến, hành giả tu tập Tu Đạo với Thất Giác Chi. Tu đạo ở đây lại có nghĩa là kết quả của suy tư chân chánh; và cuối cùng là thực hiện hoàn toàn bằng Vô Học Đạo. Nói cách khác, không thấy được đạo thì không tu được đạo và không thực hiện được đời sống lý tưởng—Buddhism lays stress on the Threefold Learning (siksa) of Higher Morality, Higher Thought, and Higher Insight. That is to say, without higher morals one cannot get higher thought and without higher thought one cannot attain higher insight. Higher thought here comprises the results of both analytical investigation and meditative intuition. Buddhism further instructs the aspirants, when they are qualified, in the Threefold Way (marga) of Life-View, Life-Culture and Realization of Life-Ideal or No-More Learning. These are three stages to be passed through in the study of the Fourfold Truth by the application of the Eightfold Noble Path; in the second stage it is investigated more fully and actualized by the practice of the Seven Branches of Enlightenment, life-culture here again means the results of right meditation; and in the last stage the Truth is fully realized in the Path of No-More-Learning. In other words, without a right view of life there will be no culture, and without proper culture there will be no realization of life. 1) Kiến Đạo—The Path of Life-View: Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh tử, như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát. Trong Tứ Diệu Đế, Đạo đế với Bát Thánh Đạo mà Đức Phật dạy hàng Thánh giả phải tu tập (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh mạng, chánh định)—The way or stage of beholding the truth of no reincarnation, i.e. that of the Sravakas and the first stage of the Bodhisattvas. In the Fourfold Noble Truth, the Path to Enlightenment with the Eightfold Noble Path which the Buddha taught to be pursued by the Ariya (right view, right thought, right speech, right action, right mindfulness, right endeavor, right livelihood, right concentration)—See Tứ Diệu Đế and Bát Chánh Đạo. 2) Tu Đạo—The Path of Life-Culture (Cultivating the truth): Giai đoạn thứ hai của con đường nầy là con đường tu tập hay Tu Đạo theo Thất Giác Chi (trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, và xả)—The next stage of the path is the Path of Practice and is described as the Seven Branches of Enlightenment (thorough investigation of the Principle, brave effort, joyous thought, peaceful thought, mindfulness, concentration, and equanimity)—See Thất Giác Chi. 3) Vô Học Đạo—The Path of No-More-Learning: Đã hoàn toàn thấu triệt chân lý mà không phải học nữa. Hành giả đi đến giai đoạn sau cùng, tức là con đường không còn gì để học nữa, Vô Học Đạo. Khi đó kết quả mà hành giả hướng đến khi tu tập tứ diệu đế sẽ tự đến. Khi hành giả đạt đến giai đoạn cuối cùng nầy thì trở thành một vị A La Hán. Theo Tiểu Thừa, đó là quả vị giác ngộ cao nhất. Nhưng theo Đại Thừa, A La Hán chỉ mới giác ngộ được một phần mà thôi. Lý tưởng của đạo Phật là hoàn tất đức tính của con người, hay là đưa con người đến Phật quả bằng căn bản trí tuệ giới hạnh, đó là nhân cách cao nhất. Đó là những đặc điểm của đạo Phật—Completely comprehending the truth without further study. Practitioners proceed to the last stage, i.e., the Path of No-More-Learning. Then the firm conviction that they have realized the Fourfold Truth will present itself. When the Ariya reaches this stage, he becomes an arhat. According to the Hinayanistic view this is the perfect state of enlightenment, but according to the Mahayanistic view an arhat is thought to be only partially enlightened. The purpose of Buddhism is to perfect a man's 'haracter, or to let him attain Buddhahood on the basis of wisdom and right cultivation, i.e., the highest personality. Such are the characteristics of Buddhism—See A La Hán. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Hoặc nghiệp Khổ, and Phiền Não Nghiệp Khổ.
; (三道) I. Tam Đạo. Cũng gọi Tam tụ. Chỉ cho Hoặc đạo, Nghiệp đạo và Khổ đạo; ba đạo này là nhân quả của sự sinh tử lưu chuyển. 1. Hoặc đạo(cũng gọi phiền não đạo): Là vọng tâm mê hoặc não loạn sự lí các pháp. 2. Nghiệp đạo: Do vọng tâm phát khởi mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo tác. 3. Khổ đạo: Lấy hoặc nghiệp làm nhân, chiêu cảm quả của 6 đường trong 3 cõi.Đạo có nghĩa là thông suốt; 3 đức này là từ Hoặc Khởi Nghiệp, do nghiệp cảm khổ; rồi trong Khổ lại khởi Hoặc, cứ thế xoay vần lẫn nhau, sinh tử không dứt, vì thế gọi là Tam đạo. Cũng có chỗ giải thích Hoặc, Nghiệp, Khổ như cái bánh xe quay vòng không dứt nên gọi là Tam đạo. Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng đem 12 nhân duyên phối hợp với Tam đạo, cho rằng 3 chi Vô minh ở quá khứ, Ái và Thủ ở hiện tại là Phiền não đạo, 2 chi Hành ở quá khứ và Hữu ở hiện tại là Nghiệp đạo, 7 chi Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ ở hiện tại và Sinh, Lão tử ở vị lai là Khổ đạo. Tông Thiên thai thì y cứ vào Tam báo: Phần đoạn, Phương tiện, và Thực báo mà mỗi báo nói 3 đạo khác nhau, tức cho rằng Kiến hoặc và Tư hoặc là Phiền não đạo phiền não tẩm tưới nghiệp gọi là Nghiệp đạo, chiêu cảm sự sống trong 3 cõi là Khổ đạo, đây là Phần đoạn tam đạo. Trần sa hoặc là Phiền não đạo, nghiệp vô lậu gọi là Nghiệp đạo, biến dịch sinh tử gọi là Khổ đạo, đây là Phương tiện tam đạo. Vô minh là Phiền não đạo, nghiệp chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu là Nghiệp đạo, cõi kia biến hóa đổi dời gọi là Khổ đạo, đây là Thực báo tam đạo. Ngoài ra, theo thuyết Viên giáo của Thiên thai thì Tam đạo và 3 đức pháp thân, bát nhã, giải thoát, cùng với Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu và Tư thành, đều dung hợp lẫn nhau một cách tự tại mầu nhiệm mà cùng thành diệu pháp đầy đủ tam thiên tam đế. [X. luận Câu xá Q.9; luận A tì đàm tâm Q.8; luận Du già sư địa Q.93; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ]. II. Tam Đạo. Chỉ cho 3 giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát là Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo. 1. Kiến đạo (Phạm:Drazana-màrga), cũng gọi Kiến địa: Tức giai vị bắt đầu thấy Tứ đế và đoạn trừ Kiến hoặc. 2. Tu đạo (Phạm: Bhàvanà-màrga), cũng gọi Tu địa, Phân biệt địa: Tức giai vị thường tu tập để đoạn trừ Tu hoặc. 3. Vô học đạo (Phạm: Azaikwamàrga), cũng gọi Vô học địa: Tức giai vị đoạn trừ hết sạch các hoặc, cởi bỏ mọi sự buộc. Trong đó, Kiến đạo và Tu đạo cũng gọi là Hữu học đạo; Kiến đạo chỉ có vô lậu, còn Tu đạo thì có cả hữu lậu và vô lậu. Nếu phối hợp cả 3 đạo này với 4 hướng 4 quả thì Kiến đạo là Dự lưu hướng, Tu đạo là 3 hướng sau và 3 quả Dự lưu, Nhất lai và Bất hoàn, còn Vô học đạo là quả A la hán. Nếu phối hợp 3 đạo với 5 vị của Duy thức thì theo thứ tự là Thông đạt vị, Tu tập vị, và Cứu cánh vị. Nếu phối hợp với Thập địa thì theo thứ tự là Sơ địa, Nhị địa cho đến Cửu địa, Thập địa và Phật địa. X. luận Câu xá Q.21, 25; luận Chương sở tri Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Vị, Tứ Hướng Tứ Quả). III. Tam Đạo. Chỉ cho Chứng đạo, Trợ đạo, và Bất trụ đạo nói trong Thập địa kinh luận quyển 10. Đó là: 1. Chứng đạo: Chứng ngộ lí của thực tính. Chứng có nghĩa là biết được vàkhế hợp; tâm thầm hợp thực tính, không có phân biệt, khế hội bình đẳng, cho nên gọi là Chứng. 2. Trợ đạo: Hạnh giúp đở cho 6 độ. Trợ có nghĩa là nâng đở thuận giúp, hạnh nâng đỡ trợ giúp 6 độ để thành tựu bồ đề, nên gọi là Trợ. 3. Bất trụ đạo: Phương tiện và trí tuệ ngang nhau, không thiên không chếch. Bất trụ có nghĩa là lìa chấp trước; xảo (phương tiện) tuệ (trí tuệ) song tu, không bám dính vào bất cứ chỗ nào mà du hành khắp nơi, vì thế gọi là Bất trụ. X. Đại thừa nghĩa chương Q.10].
tam đạo bảo giai
644指金、銀、琉璃三階。又作三道寶梯。即佛陀從忉利天下降時所用之三道階梯。相傳佛陀曾上昇忉利天為其母摩耶夫人說法三月,其後從天界回地上之際,帝釋天化現金、銀、琉璃等三道階梯,佛陀即依此而降下。阿閦佛國經卷上(大一一‧七五七上):「(阿閦如來)剎以三寶為梯陛。一者金,二者銀,三者琉璃。從忉利天下至閻浮利地,其忉利天欲至阿閦如來所時,從是梯陛下。」據此可知,海龍王經卷三所載海龍王為迎佛及比丘眾諸菩薩至海底宮殿而化作金、銀、琉璃三道寶梯一事,實即佛昇忉利天說法之轉用。〔增一阿含經卷二十八、義足經卷下蓮花色比丘尼經、維摩經卷下見阿閦佛品、高僧法顯傳〕
; (三道寶階) Cũng gọi Tam đạo bảo thê. Ba bậc thềm báu bằng vàng, bạc và lưu li, tức là 3 bậc thềm mà đức Phật bước xuống khi Ngài từ cung trời Đao lợi trở lại nhân gian. Tương truyền, đức Phật từng lên cung trời Đao lợi trong 3 tháng để nói pháp cho thân mẫu là phu nhân Ma da nghe. Sau đó, lúc Ngài từ cõi trời trở về nhân gian, trời Đế thích liền hóa hiện ra 3 bậc thềm bằng vàng, bạc, và lưu li để đức Phật bước xuống, gọi là Tam đạo bảo giai. Kinh A súc Phật quốc quyển thượng (Đại 11, 757 thượng) nói: Cõi Phật A súc dùng 3 thứ báu làm thềm thang, 1 là vàng, 2 là bạc, 3 là lưu li. Khi từ cõi trời Đao lợi xuống cõi Diêm phù hoặc từ cõi trời Đao lợi đến chỗ đức A súc Như lai thì bước từ thềm thang này mà xuống. Như vậy, việc Hải long vương hóa làm 3 bậc thềm báu bằng vàng, bạc, lưu li, để rước đức Phật, chúng tỉ khưu và các Bồ tát đến cung điện dưới đáy biển được ghi trong kinh Hải long vương quyển 3, thực ra đã lấy ý từ câu chuyện đức Phật lên cung trời Đao lợi thuyết pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; phẩm Liên hoa sắc tỉ khưu ni trong kinh Nghĩa túc Q.hạ; phẩm Kiến a súc Phật trong kinh Duy ma Q.hạ; Cao tăng pháp hiển truyện].
Tam đạo quả
xem Ba quả đạo.
tam đạo ☸ thanh văn tam đạo
〖出天台四教儀集註〗〔一、見道〕,謂聲聞因斷三界見惑,見真諦理,故名見道。即初果,須陀洹也。(三界者,欲界、色界、無色界也。見惑者,意根對法塵起諸分別,曰見惑。梵語須陀洹,華言預流。謂預入聖道法流也。)〔二、修道〕,謂聲聞得初果已,復緣真諦之理,斷欲界九品思惑,名為修道。即二果斯陀含、三果阿那含也。(思惑者,五根對五塵,起貪染心口思。九品者,於上中下三品,每一品中又分三品,名為九品。梵語斯陀含,華言一來;謂來欲界一番受生也。梵語阿那含,華言不來,謂不來欲界受生也。)〔三、無學道〕,謂聲聞斷三界見、思惑盡,真諦之理究竟,無法可學,故名無學。即第四果阿羅漢也。(梵語阿羅漢,華言無學。)
tam đạt
Xem tam minh.
; Ba siêu việt của Phật—The three aspects of the omniscience of Buddha: 1) Biết nghiệp tương lai: Knowledge of future karma. 2) Biết nghiệp quá khứ: Knowledge of past karma. 3) Biết phiền não và giải thoát trong hiện tại: Knowledge of present illusion and liberation.
tam đảnh lễ
Three prostrates or prostrating to the Triple Jewel. 1) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo—With one mind I now prostrate: Namo to the end of space of all the infinite dharma realms of the three lifespans of all the ten directions of Buddhas, Dharmas and virtuous Sangha of the Unchanging Triple Jewels. 2) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát—With one mind I now prostrate: Namo the ruler of the Saha World, Sakyamuni Buddha, future born Maitreya Buddha, Great Wisdom Manjusri Maha-Bodhisattva, Great Conduct Samantabhadra Maha-Bodhisattva, Dharma Protectors Maha-Bodhisattvas, Mount Gradhakuta Assembly of Buddha and Maha-Bodhisattvas. 3) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát—With one mind I now prostrate: Namo Western Ultimate Bliss World, the Greatly Compassionate Amitabha Buddha, Greatly Compassionate Avalokitesvara Bodhisattva, Great Strength Mahasthamaprapta, Bodhisattva, Great Vow Ksitigarbha King Bodhisattva, and the Ocean Assembly of Peaceful Bodhisattva.
tam đảo
xem ba sự điên đảo.
tam đắc
Ba loại thọ giới—Three kinds of obtaining the commandments. 1) Đắc Giới: Hiểu và hành trì được theo giới pháp—To attain to the understanding and performance of the moral law—See Đắc Giới. 2) Tác Pháp Đắc: Được truyền giới qua nghi thức—To obtain ordination in a ceremony—See Tác Pháp Đắc. 3) Tự Thệ Đắc: Self-ordination—See Tự Thệ Thọ Giới.
tam đẳng
The three equal and universal characteristics of the one Tathàgata, an esoteric definition: (1) (a) his body thân; (b) discourse ngữ ;(c) mind ý (2) (a) his life or works tu hành; (b) spiritual body pháp thân; (c) salvation độ sinh; in their equal values and universality.
; Ba bình đẳng tánh—Three equal and universal characteristics of the one Tathagata: (A) 1) Thân: Body. 2) Ngữ: Discourse. 3) Ý: Mind. (B) 1) Tu hành: Buddha's life or works. 2) Pháp thân: Spiritual body. 3) Độ sinh: Salvation.
; (三等) I. Tam Đẳng. Cũng gọi Tam bình đẳng, Tam tam muội da. Mật giáo lấy Tam mật(thân mật, ngữ mật, ý mật) bình đẳng làm Tam bình đẳng, đây là 1 trong những giáo nghĩa nền tảng của Mật giáo. Tất cả các hành pháp Chân ngôn đều lấy Tam đẳng này làm căn bản. Đại nhật kinh khai đề (Đại 58, 1 thượng) nói: Lí tam đẳng, kia đây không khác. [X. kinh Đại nhật Q.6]. II. Tam Đẳng. Chư Phật lấy 3 việc tu hành, pháp thân và độ sinh làm bình đẳng. Luận Câu xá quyển 27 (Đại 29, 141 trung) nói: Do 3 việc nên chư Phật đều bình đẳng như nhau, 1 là do Tư lương bình đẳng nên tất cả đều viên mãn; 2 là do pháp thân bình đẳng nên mọi việc đều thành tựu; 3 là do việc lợi tha bình đẳng nên đều được rốt ráo.
tam đẳng chí
(三等至) Cũng gọi Tam định. Chỉ cho 3 tính chất: Vị, tịnh và vô lậu của 8 thứ thiền định căn bản: 1. Vị đẳng chí (Phạm: Àsvàdanasamàpatti): Định tương ứng với phiền não tham mà đắm trước đối với cảnh địa mình đang trụ. Cũng tức là người độn căn tham nhiễm đối với mùi vị công đức của tĩnh lự. 2. Tịnh đẳng chí (Phạm: Zuddhasàmàpatti): Định tương ứng với các pháp thanh tịnh như vô tham... Cũng tức là những người trung căn hoặc lợi căn rõ biết cái tai hại của sự tham đắm mùi vị nên không tương ứng với ái. 3. Vô lậu đẳng chí (Phạm:Anàsravasamàpatti): Định không tương ứng với ái, cũng không đắm nhiễm mùi vị xuất thế. Cũng tức là những người Tùy tín hành, Tùy pháp hành hoặc Bạc trần hành Tam Đạo Bảo Giai quán xét 4 đế, lại tu hiện quán mà vào định vô lậu. Trong 8 thiền định căn bản thì 7 định trước có đủ tướng của Tam đẳng chí. [X. luận Đại trí độ Q.17; luận Đại tì bà sa Q.162; luận Câu xá Q.28; luận Du già sư địa Q.12; luận Hiển dương thánh giáo Q.2]. (xt. Định).
tam đẳng lưu
Three equal or universal currents or consequences, i.e. chân đẳng lưu the certain consequences that follow on a good, evil, or neutral kind of nature, respectively; giả đẳng lưu the temporal or particular fate derived from a previous life's ill deeds, e.g. shortened life from taking life; phân vị đẳng lưu each organ as reincarnated according to its previous deeds, hence the blind.
; Three equal or universal currents or consequences: 1) Chân đẳng lưu: Hậu quả theo sau hành động thiện, bất thiện hay trung tính—The certain consequences that follow on a good, evil or neutral kind of nature respectively. 2) Giả đẳng lưu: Hậu quả đặc biệt của tiền kiếp như giết người thì yểu mệnh—The temporal or particular fate derived from a previous life's ill deeds (shortened life from taking life). 3) Phân vị đẳng lưu: Từng bộ phận khi tái sanh theo hậu quả trước, chẳng hạn mình làm mù mắt ai trong kiếp trước thì kiếp nầy mình mù mắt—Each organ as reincarnated according to its previous deeds (if you had made someone blind in your previous life, you will be blind this or next life).
; (三等流) Chỉ cho 3 tính chất: Chân, Giả, và Phần vị của quả Đẳng lưu trong 5 quả do tông Duy thức thành lập. 1. Chân đẳng lưu: Do nhân thiện, ác, vô kí(không thiện không ác) mà dẫn sinh ra quả thiện ác, vô kí cùng loại. Vì tính chất của nhân và quả là chân thực và lưu loại giống nhau nên gọi là Chân đẳng lưu.2. Giả đẳng lưu: Như đời trước giết hại, rút ngắn mệnh sống của chúng sinh thì đời này mệnh sống của mình cũng ngắn. Quả và nhân này có ý nghĩa giống nhau, vì giả gọi là Đẳng lưu nên có tênGiả đẳng lưu. 3. Phần vị Đẳng lưu: Các thức mắt, tai... đều theo loại của mình mà chuyển biến, như thức mắt từ chủng tử của thức thứ 8 mà sinh, đối với sắc trần gọi là Đẳng lưu quả; nếu thức thứ 6 từ chủng tử thức mà sinh khởi các phân biệt thì cũng gọi là Đẳng lưu quả. Vì phần vị của thức và trần giống nhau nên gọi là Phần vị Đẳng lưu.[X. Tông kính lục Q.71].
Tam đẳng trì
xem ba pháp tam-muội.
tam đẳng trì
Samadhi-equilibrium.
Tam Đế
(三諦, Santai hay Sandai): gồm Không (空), Giả (假), và Trung (中) được Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, c: Zhì-yĭ, j: Chigi, 538-597) triển khai thuyết Chơn Tục Nhị Đế (眞俗二諦) từ tư tưởng Tam Quán (三觀). Có nghĩa rằng nếu đứng trên bình diện phủ định thì hết thảy các tồn tại đều không có thật thể nên được xem là không và gọi là Không Đế (空諦). Tuy thật thể không có, nhưng trên bình diện khẳng định thì hết thảy các pháp đều tồn tại nhờ nhân duyên, nên được xem như là giả và gọi là Giả Đế (假諦). Và nếu đứng về mặt bản thể siêu việt cả không và giả thì cả Không Đế cũng như Giả Đế đều mang tính hiện tượng cả, nên được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế (中道第一義諦). So với Tam Đế của Biệt Giáo, Tam Đế của Viên Giáo được gọi là Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của cái gọi là Tức Không Tức Giả Tức Trung mà dung nhiếp cả Tam Đế vào trong một đế. Như trong Thỉ Chung Tâm Yếu Chú (始終心要注) do Kinh Khê Đại Sư Trạm Nhiên (荊溪大師湛然, 711-782) thuật, có đoạn: “Tam Đế thị nhất pháp, Phật thuyết chủng chủng danh, Long Mãnh ngộ chi nhi tạo luận, Trí Giả đắc chi dĩ khai thác, Kinh Khê truyền chi vi tâm yếu (三諦是一法、佛說種種名、龍猛悟之而造論、智者得之以開拓、荊溪傳之爲心要, Tam Đế là một pháp, Phật thuyết đủ các tên, Long Thọ ngộ nó mà tạo ra luận, Trí Khải đạt được nó mà khai thác, Kinh Khê truyền nó làm tâm yếu).”
Tam đế
三諦; C: sāndì; J: sandai;|»Ba chân lí« hoặc »Chân lí ba phần«. Một thuật ngữ của tông Thiên Thai để giải thích hiện thật qua ba khía cạnh: 1. Không đế (空諦), sự thật của Tính không, nghĩa là tất cả những hiện hữu đều trống không, không có một bản chất nào; 2. Giả đế (假諦), tất cả đều là giả hợp tạm thời. Tất cả những hiện hữu đều do nhân duyên hợp lại mà thành; 3. Trung đế (中諦), sự thật không thể được diễn bày qua phủ định hoặc xác định, mà nằm ở khoảng giữa.
tam đế
683指三種真理。據天台宗,諸法實相之真理分為空、假、中三諦。此係據瓔珞本業經卷上賢聖學觀品與仁王般若經卷上二諦品而來。智顗於法華玄義卷一上、卷二下,摩訶止觀卷一下、卷三上、卷五上等所說者,為:(一)空諦,又作真諦、無諦。諸法本空,眾生不了,執之為實而生妄見。若以空觀對治之,則執情自忘,情忘即能離於諸相,了悟真空之理。(二)假諦,又作俗諦、有諦。諸法雖即本空,然因緣聚時則歷歷宛然,於空中立一切法,故稱假諦。(三)中諦,又作中道第一義諦。以中觀觀之,諸法本來不離二邊、不即二邊、非真非俗、即真即俗,清淨洞徹,圓融無礙,故稱中諦。 三諦雖為化法四教中之別、圓二教所說,但別教之三諦有各種稱法,如隔歷三諦、歷別三諦、次第三諦、不融三諦、別相三諦、邐迤三諦等。即三諦為各個獨立之真理,其中空、假二諦係就現象而言,中諦則就本體而論,故前二諦較劣,後一諦最為殊勝。相對於此,圓教三諦亦有多種名稱,如圓融三諦(又稱三諦圓融)、一境三諦、不次第三諦、非縱非橫三諦、不思議三諦等。然三諦並非彼此孤立,而是三者互融,形成即空、即假、即中之三諦。觀此三諦之真理,有所謂三觀,即圓教之中,觀圓融三諦之三諦圓融觀,而認眾生一念中具足圓融三諦,稱為一心三觀。 天台宗又就別入通、圓入通、別教、圓入別、圓教等五種修行階段之別,而論究三諦之深淺,即:(一)別入通,又作別接通,指通教之人接入別教之機者。此等人聽聞非有漏非無漏之說,遂以有漏為俗諦,以無漏為真諦,以非有漏非無漏為中道。故知其所謂之中道係從通教所說之真俗二諦來領悟中諦,此即為「但中」,僅具「雙非」而無「雙照」之意義。(二)圓入通,又作圓接通,即通教之人接入圓教之機者。此等人所了解之真俗二諦與別入通無異,然聽聞非漏非無漏之說時,兼具雙非、雙照之義,故知其所領悟之中道異於別入通之人,而為一種「不但中」之中道。(三)別教,此等人以有為假諦,以空為真諦,以非有非空為中道,故知其所謂之中道亦為「但中」。(四)圓入別,又作圓接別,即別教之人接入圓教之機者。此等人所了解之二諦與前記三類人無異,然其所領悟之中道為具足一切佛法之「不但中」。(五)圓教,此等人非但了解中道具足一切佛法,且了解其所領悟之真諦俗諦亦皆具足佛法,三諦圓融,一即三,三即一,於五種人之中最為殊勝。 此外,三諦之真理,若因應凡夫之心(情)而作各種說法者,稱為隨情說。若對十信以上之菩薩,說空、假二諦為情,說中諦為悟智者,稱為隨情智說。若對十住以上之菩薩,則說為真智所照之不思議三諦者,稱為隨智說。〔金光明經文句卷二、卷四、卷五、觀音玄義卷四、摩訶止觀卷七上〕(參閱「一心三觀」23)
; (三諦) Chỉ cho Không đế, Giả đế và Trung đế là chân lí của thực tướng các pháp theo thuyết của tông Thiên thai. Cách chia Tam đế này có xuất xứ từ phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Anh lạc bản nghiêp quyển thượng và phẩm Nhị đế trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng. TrongPháp hoa huyền nghĩa quyển 1, thượng, 2 hạ và Ma ha chỉ quán quyển 1, hạ, 3 thượng, 5 thượng... ngài Trí khải nói về Tam đế như sau: 1. Không đế(cũng gọi Chân đế, Vô đế): Các pháp vốn không, chúng sinh không rõ, chấp đó là thực nên sinh ra vọng kiến. Nếu dùng Không quán để đối trị thì tính chấp tự diệt, liền lìa các tướng, tỏ ngộ lí chân không. 2. Giả đế(cũng gọi Tục đế, Hữu đế): Các pháp tuy vốn không nhưng khi nhân duyên hội tụ thì hiện ra có rõ ràng; ở trong chỗ không ấy mà giả lập tất cả pháp, cho nên gọi là Giả đế. 3. Trung đế(cũng gọi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế): Dùng Trung quán mà quán xét thì các pháp xưa nay chẳng lìa 2 bên, chẳng là 2 bên, chẳng phải chân chẳng phải tục, là Chân là Tục, thanh tịnh rỗng suốt, viên dung vô ngại, cho nên gọi là Trung đế. Tam đế tuy là luận thuyết của Biệt giáo và Viên giáo trong 4 giáo Hóa pháp, nhưng Tam đế của Biệt giáo có nhiều cách gọi, như Cách lịch Tam đế, Lịch biệt tam đế, Thứ đệ tam đế, Bất dung tam đế, Biệt tướng tam đế, Lị dĩ tam đế... Tức Tam đế mỗi đế là 1 chân lí độc lập, trong đó, Không đế và Giả đế là nói về hiện tượng, còn Trung đế là bàn về bản thế, cho nên Không đế và Giả đế thì kém hơn, còn Trung đế là thù thắng nhất. Đối lại, Tam đế của Viên giáo cũng có nhiều tên gọi, như Viên dung tam đế (cũng gọi Tam đế viên dung), Nhất cảnh tam đế, Bất thứ đệ tam đế, Phi tung phi hoành tam đế, Bất tư nghị tam đế... Tuy nhiên, Tam đế này chẳng phải hoàn toàn cô lập mà là dung nhập lẫn nhau, hình thành Tam đế Tức không, Tức giả, Tức trung. Pháp tu quán xét về chân lí của Tam đế này gọi là Tam đế viên dung quán của Viên giáo, chủ trương trong 1 niệm của chúng sinh có đầy đủ Tam đế viên dung, gọi là Nhất tâm tam quán. Tông Thiên thai lại y cứ vào 5 giai đoạn tu hành khác nhau là Biệt nhập Thông, Viên nhập Thông, Biệt giáo, Viên nhập Biệt và Viên giáo mà cứu xét về sự sâu cạn của Tam đế, đó là: 1. Biệt nhập Thông(cũng gọi Biệt tiếp Thông): Chỉ cho hàng Thông giáo tiếp vào căn cơ của Biệt giáo. Những người này nghe nói chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, bèn cho hữulậu là Tục đế, vô lậu là Chân đế và chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu là Trung đạo. Cho nên biết rằng cái mà những người Thông giáo tiếp vào căn cơ Biệt giáo gọi là Trung đạo là do họ lãnh ngộ Trung đế từ Chân đế và Tục đế do Thông giáo chủ trương, đây chính là Đãn trung, chỉ có ý nghĩa Song phi chứ không có ý nghĩa Song chiếu. 2. Viên nhập Thông(cũng gọi Viên tiếp Thông): Tức hàng Thông giáo được tiếp vào căn cơ Viên giáo. Chân đế và Tục đế mà những người này hiểu cũng không khác với hàng Biệt nhập Thông, nhưng khi họ nghe nói chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, thì có đủ cả ý nghĩa Song phi và Song chiếu, cho nên biết Trung đạo mà những người này lãnh ngộ khác hẳn với Trung đạo do những người Biệt nhập Thông lãnh ngộ, đây là Trung đạo Bất đãn trung. 3. Biệt giáo: Những người này cho hữu là Giả đế, Không là Chân đế, Phi hữu phi không là Trung đạo, cho nên biết cái mà những người này gọi là Trung đạo cũng là Đãn trung. 4. Viên nhập Biệt(cũng gọi Viên tiếp Biệt): Tức hàng Biệt giáo được tiếp vào căn cơ Viên giáo. Chân đế và Tục đế mà những người này hiểu cũng không khác với 3 hạng người nói trước đó, nhưng Trung đạo mà họ lãnh ngộ là Bất đãn trung đầy đủ tất cả Phật pháp. 5. Viên giáo: Những người này không chỉ hiểu rõ Trung đạo đầy đủ tất cả Phật pháp, mà còn hiểu rõ Chân đế và Tục đế do họ lãnh ngộ cũng đều đầy đủ Phật pháp, 3 đế viên dung, 1 tức 3, 3 tức 1; họ là những người thù thắng nhất trong 5 hạng người nói trên. Ngoài ra, chân lí của Tam đế, nếu phải thích ứng với tâm(tình)của phàm phu mà đặt ra cách nói thì gọi là Tùy tình thuyết. Nếu đối với hàng Bồ tát từ Thập tín trở lên, nói Không đế, Giả đế là tình, nói Trung đế là ngộ trí thì gọi là Tùy tình trí thuyết. Nếu đối với hàng Bồ tát từ Thập trụ trở lên, nói Bất tư nghị tam đế do chân trí chiếu rọi thì gọi là Tùy trí thuyết. [X. Kim quang minh kinh văn cú Q.2, 4, 5; Quán âm huyền nghĩa Q.4; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng]. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).
tam đế thiên thai
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, nếu bạn giả thuyết thật thể là một bản thể trường tồn là bạn hoàn toàn mê hoặc, thế nên tông Thiên Thai đề ra ba chân lý hay tam đế. Theo tông nầy thì cả ba chân lý ấy là ba trong một, một trong ba. Nguyên lý thì là một, nhưng phương pháp diễn nhập lại là ba. Mỗi một trong ba đều có giá trị toàn diện—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, if you suppose noumenon to be such an abiding substance, you will be misled altogether; therefore, the T'ien-T'ai School sets forth the threefold truth. According to this school the three truths are three in one, one in three. The principle is one but the method of explanation is threefold. Each one of the three has the value of all: 1) Không Đế: Chân lý của của Không—The truth of void—Mọi sự thể đều không có hiện thực tính và do đó, tất cả đều không. Vì vậy, khi luận chứng của chúng ta y cứ trên “Không,” chúng ta coi “Không” như là siêu việt tất cả ba. Như vậy, cả thảy đều là “Không.” Và khi một là không thì cả thảy đều là “Không.” (Nhất không nhất thiết không, nhất giả nhất thiết giả, nhất trung nhất thiết trung). Chúng còn được gọi là “Tức không, tức giả, và tứ trung,” hay Viên Dung Tam Đế, ba chân lý đúng hợp tròn đầy, hay là tuyệt đối tam đế, ba chân lý tuyệt đối. Chúng ta không nên coi ba chân lý nầy như là cách biệt nhau, bởi vì cả ba thâm nhập lẫn nhau và cũng tìm thấy sự dung hòa và hợp nhất hoàn toàn. Một sự thể là không nhưng cũng là giả hữu. Nó là giả bởi vi nó không, và rồi, một sự là không, đồng thời là giả cho nên cũng là trung—All things have no reality and, therefore, are void. Therefore, when our argument is based on the void, we deny the existence of both the temporary and the middle, since we consider the void as transcending all. Thus, the three will all be void. And, when one is void, all will be void (When one is void, all will be void; when one is temporary, all is temporary; when one is middle, all will be middle). They are also called the identical void, identical temporary and identical middle. It is also said to be the perfectly harmonious triple truth or the absolute triple truth. We should not consider the three truths as separate because the three penetrate one another and are found perfectly harmonized and united together. A thing is void but is also temporarily existent. It is temporary because it is void, and the fact that everything is void and at the same time temporary is the middle truth. 2) Giả Đế: Chân lý của giả tạm—The truth of temporariness—Dù sự thể có hiện hữu thì cũng chỉ là giả tạm. Giống như khi biện luận về Không Đế, khi một là Giả thì tất cả là Giả—Although things are present at the moment, they have temporary existence. The same will be the case when we argue by means of the temporary truth. 3) Trung Đế: Chân lý của phương tiện—The truth of mean—Sự thể chỉ là phương tiện, hay quảng giữa. Giống như biện luận trên Không Đế, khi một là Trung thì tất cả là Trung. Trung không có nghĩa là ở giữa hai cái phi hữu và giả hữu, mà nó ở trên, nó vượt qua cả hai. Thực ra nó là cả hai bởi vì thực tướng có nghĩa Trung chính là không tướng và giả tướng—They are only mean or middle. The same will be the case when we argue by means of the middle truth. The middle does not mean that it is between the non-existence and temporary existence. In fact, it is over and above the two; nor it is identical with the two, because the true state means that the middle is the very state of being void and temporary.
tam đế tương tức
684指天台圓教之空、假、中三諦圓融不二,以別於別教三諦之隔歷。〔摩訶止觀卷三上〕(參閱「三諦」684)
; (三諦相即) Chỉ cho Tam đế Không, Giả, Trung viên dung bất nhị của Viên giáo Thiên thai, khác với Tam đế cách lịch của Biệt giáo.[X. Ma ha chỉ quánQ.3, thượng]. (xt. Tam Đế).
Tam đế viên dung quán
三諦圓融觀; C: sāndì yuánróng guān; J: sandaienyūkan;|Sự quán sát nguyên tắc hiện thật, giúp hành giả nhận thức được tính viên dung thông suốt của Tam đế: Không, Giả và Trung.
tam đề
The three dogmas. The "middle school" of Thiên Thai says tức không, tức giả, tức trung; (a) by không sùnya is meant that things causally produced are in their essential nature unreal (or immaterial); (b) giả though things are unreal in their essential nature their derived forms are real; (c) trung but both are one, being of the one như or reality. These three dogmas are founded on a verse of Nàgàrjuna: Nhân duyên sở sinh pháp, Ngã thuyết tức thị không, Diệc vi thị giả danh, Diệc thị trung đạo nghĩa. All causally produced phenoma, I say, are unreal, Are but a passing name, and indicate the "mean".
tam đề tương tức
The unity of không, giả, trung, three aspects of the same reality, taught by the viên giáo as distinguished from the biệt giáo which separates them.
Tam địa
三地; C: sāndì; J: sanchi;|Địa vị thứ ba trong Thập địa; được gọi là Phát quang địa (發光地; theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)
tam địa
546<一>指三種所依地,即依尋、伺二心所之有無,分三界為如下三所依地:(一)有尋有伺地,在欲界及初靜慮中。(二)無尋有伺地,在靜慮中間地。(三)無尋無伺地,第二靜慮以上諸地乃至有頂。三地之分別,通於大小乘。又尋、伺為對境所生之粗分別心所與細分別心所。〔俱舍論卷二〕(參閱「伺」2604、「尋」4936) <二>為菩薩所證地位之一,即發光地。此地菩薩同異情見之垢已淨,本覺之慧光明開發,是為三地發光地。
; (三地) I. Tam Địa. Chỉ cho 3 chỗ nương ở trong 3 cõi được chia theo sự Hữu, Vô của 2 tâm sở Tầm và Tứ như sau: 1. Hữu tầm hữu tứ địa: Chỗ nương ở cõi Dục và Sơ tĩnh lự. 2. Vô tầm hữu tứ địa: Chỗ nương ở trong tĩnh lự trung gian. 3. Vô tầm vô tứ địa: Các chỗ nương ở từ Đệ nhị tĩnh lự trở lêncho đến Hữu đính địa. Sự phân biệt Tam địa là chung cho cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Tầm và Tứ là tâm sở phân biệt thô và tâm sở phân biệt tế do đối cảnh sinh ra. [X. luận Câu xá Q.2]. (xt. Tứ, Tầm). II. Tam Địa. Chỉ cho Phát quang địa, là địa thứ 3 trong Thập địa bồ tát. Bồ tát ở địa vị này đã sạch hết tình kiến đồng dị, ánh sáng trí tuệ của bản giác đã khai phát.
tam định
xem ba pháp tam-muội.
; Three Samadhis—See Tam Giải Thoát.
tam định tụ
561梵語 trayo rāśayaḥ,巴利語 tayo rāsī。略稱三聚、三際。「聚」即聚類、聚集之意。此係從求正果之修行立場所作之分類。眾生分為如下三類:正定聚、邪定聚、不定聚。分別而言,三定聚或作正性定聚、邪性定聚、不定性聚,或必正聚、必邪聚、不定聚,或直見際、邪見際、亦不在邪亦不在正見際。略稱為正定、邪定、不定。以上三聚之名稱雖見於阿含經,惟阿含經另說等聚、邪聚、不定聚,或善聚、等聚、定聚等三聚。按俱舍論卷十所稱,見道以後之聖者斷盡見惑等,必定入於擇滅(即涅槃,謂之正性),此即正性定聚;犯五無間業者必定墮入地獄,此即邪性定聚(三惡趣稱為邪性);其餘依緣次第不定者,即為不定性聚。 瑜伽師地論卷六十四中,將三聚各別為本性與方便兩種,共說六聚。依此,法相宗據五性各別之教義加以解釋。華嚴宗從種性、解惑、行業、邪正位、大乘菩薩之得失等五方面加以解釋。又以三聚配於菩薩之階位,釋摩訶衍論卷一中舉出三種說法,其一同於華嚴宗之說,認為十信以前為邪定、十信為不定、十信以後為正定。據無量壽經卷下所載,阿彌陀佛之淨土無邪定聚與不定聚,所住者皆為正定聚(住正定聚)。此即一般所謂之處不退(無退墮惡緣之處)。據此,日本淨土真宗謂,得他力信心之第十八願行者為正定聚,雜行雜修萬善諸行往生淨土之第十九願行者為邪定聚,以自力念佛之第二十願行者為不定聚。唯有正定聚者有真實報土,方能成佛。〔放光般若經卷十三、大毘婆沙論卷一八六、華嚴經探玄記卷三、圓覺經大疏鈔卷三之上〕
; (三定聚) Phạm: Trayo-ràzaya#. Pàli:Tayo ràsì. Gọi tắt: Tam tụ,Tam đế. Chỉ cho 3 loại chúng sinh được chia theo lập trường tu hành cầu chính quả, đó là: Chính định tụ, Tà định tụ, Bất định tụ. Ba loại Định tụ này còn có nhiều tên khác như: Chính tính định tụ, Tà tính định tụ, Bất định tính tụ; hoặc Tất chính tụ, Tất tà tụ, Bất định tụ; hoặc Trực kiến tế, Tà kiến tế, Diệc bất tại tà diệc bất tại chính kiến tế(gọi tắt là Chính định, Tà định, Bất định). Tên gọi của 3 tụ nói trên được thấy trong kinh A hàm; tuy nhiên, kinh A hàm còn nói 3 tụ khác nữa là Đẳng tụ, Tà tụ, Bất định tụ; hoặc Thiện tụ, Đẳng tụ và Định tụ. Cứ theo luận Câu xá quyển 10, các bậc Thánh từ Kiến đạo trở lên dứt hết Kiến hoặc... thì tất định chứng vào Trạch diệt (tức Niết bàn, được gọi là Chính tính), đây là Chính tính định tụ; những người phạm 5 tội Vô gián thì chắc chắn phải đọa vào địa ngục, đây là Tà tính định tụ(ba đường ác gọi là Tà tính); còn các trường hợp khác thì tùy theo thứ tự bất định, đó là Bất định tính tụ. Luận Du già sư địa quyển 64 chia mỗi tụ trong 3 tụ làm 2 loại là Bản tính và Phương tiện mà thành là 6 tụ. Dựa theo đó, tông pháp tướng căn cứ vào giáo nghĩa Ngũ tính các biệt để giải thích. Còn tông Hoa nghiêm thì theo 5 phương diện đắc, thất như chủng tính, giải hoặc, hành nghiệp, tà chính vị và Đại thừa bồ tát để giải thích. Luận Thích ma ha diễn quyển 1, phối hợp 3 tụ với giai vị Bồ tát, cho rằng Thập tín trở xuống là Tà định, Thập tín là Bất định, Thập tín trở lên là Chính định. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì ở cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà không có Tà định tụ và Bất định tụ..., tất cả đều trụ trong Chính định tụ mà thường được gọi là Xứ bất thoái(không còn trở lui để bị rơi vào chỗ ác duyên). Căn cứ vào đây mà Tịnh độ Chân tông của Nhật bản cho rằng hành giả tin vào tha lực theo nguyện thứ 18 là Chính định tụ; hành giả tạp tu muôn điều thiện theo điều nguyện thứ 19 là Tà định tụ; còn những hành giả dùng tự lực niệm Phật theo nguyện thừ 20 là Bất định tụ. Chỉ có các hành giả Chính định tụ được Báo độ chân thực mới có khả năng thành Phật. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.12; luận Đại tì bà sa Q.186; Hoa nghiêm kinh thám huyền nghĩa Q.3; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3, phần đầu].
Tam Đồ
(三途・三塗): ba đường gồm hỏa đồ, đao đồ và huyết đồ, đồng nghĩa với Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh của Ba Đường Ác, do vì các nghiệp ác của thân, miệng và ý gây ra nên dẫn đến kết quả sanh vào ba đường này. (1) Hỏa Đồ (tức đường Địa Ngục): do vì chúng sanh của cõi này thường chịu nỗi khổ bức bách, nóng bỏng của lò sôi, vạc cháy, hoặc do vì nơi ấy lửa tích tụ rất nhiều, nên có tên gọi là Hỏa Đồ. (2) Đao Đồ (tức đường Ngạ Quỷ): do chúng sanh ở cõi này thường chịu cái khổ bức bách của đao gậy nên có tên gọi như vậy. (3) Huyết Đồ (tức đường Súc Sanh): do chúng sanh ở cõi này tranh giành cấu xé lẫn nhau, người mạnh lấn áp kẻ yếu, uống máu ăn thịt nhau, nên có tên gọi như vậy.
Tam đồ
xem Ba đường ác.
tam đồ
636又作三途。即火塗、刀塗、血塗,義同三惡道之地獄、餓鬼、畜生,乃因身口意諸惡業所引生之處。(一)火塗,即地獄道,或以於彼處受苦之眾生常為鑊湯爐炭之熱所苦,或以彼處火聚甚多,故稱火塗。(二)刀塗,即餓鬼道,以於彼處之眾生常受刀杖驅逼等之苦,故稱刀塗。(三)血塗,即畜生道,以於彼處受苦之眾生,強者伏弱,互相吞噉,飲血食肉,故稱血塗。至若「塗」之義有二:一為殘害,如塗炭;一為所趣,即梵本無量壽經之阿波耶伽底(apaya-gati,意譯惡趣、惡道)。〔大明三藏法數卷十一、翻譯名義集卷七、釋氏要覽卷中〕(參閱「三惡趣」625)
; The three unhappy gati or ways: (1) Hỏa đồ to the fire of hell; (2) Huyết đồ to the hell of blood, where as animals they devour each other; (3) Đao đồ the asipattra hell of swords, where the leaves and grasses are sharp-edged swords.
; Ba đường dữ—The three unhappy gati or ways: 1) Hỏa đồ: The hell of fires. 2) Huyết đồ: The hell of blood where animals devour each other. 3) Đao đồ: The hell of swords where the leaves and grasses are sharp-edged swords.
; (三塗) Ba đường. Chỉ cho Hỏa đồ(đường lửa), Đao đồ(đường dao), và Huyết đồ(đường máu), đồng nghĩa với Tam ác đạo là địa ngục, ngã quỉ, và súc sinh, là những nơi do các nghiệp ác của thân, khẩu, ý dẫn đến.1. Hỏa đồ: Tức địa ngục đạo. Chúng sinh ở đây chịu khổ nung nấu như bị bỏ vào vạc dầu sôi, lò than hồng; hoặc ở đây có rất nhiều đống lửa lớn thiêu đốt tội nhân, vì thế gọi là Hỏa đồ. 2. Đao đồ: Tức ngã quỉ đạo. Chúng sinh chịu tội ờ đây thường bị cái khổ đánh chém bằng dao gậy và bức bách xua đuổi, cho nên gọi là Đao đồ. 3. Huyết đồ: Tức súc sinh đạo. Vì chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn nuốt lẫn nhau, uống máu của nhau nên gọi là Huyết đồ.Chữ Đồ ờ đây có 2 nghĩa: Một là tàn hại, như đồ thán, hai là nơi đến, tức A ba da già để (apaya-gati,Hán dịch: Ác thú, ác đạo) nói trong kinh Vô lượng thọ bản tiếng Phạm. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Tam Ác Thú).
tam đồ chi xuyên
619又作三途河、三瀨川、渡河、葬頭河。即一般所謂之奈河津。位於通往冥土之途中;相傳人死後初七日,必須渡過此處,此處有緩急不同之三瀨,即山水瀨、江深淵、有橋渡。由於生前所造業之不同而渡不同之瀨,此三瀨即稱三途。於此河畔有一大樹,大樹名為衣領樹,樹上住有二鬼,即奪衣婆與懸衣翁,專門奪取死者之衣服而懸掛於衣領樹上,由於生前罪過之輕重不同,則樹枝下垂之高低彎度亦因之有別。此為十王經所說。然該經被學界推定為偽經,故此說並非印度所固有。
; (三途之川) Cũng gọi Tam đồ hà, Tam lại xuyên, Độ hà, Táng đầuhà. Chỉ cho bến Nại hà. Bến này nằm ở nửa đường đi đến cõi U minh. Tương truyền, sau khi chết được 7 ngày, vong linh người chết phải đi qua bến này. Ở đây có 3 dòng thác chảy êm đềm, và chảy cuồn cuộn khác nhau, tức thác Sơn thủy, thác Thâm uyên và thác có cầu bắc ngang. Người chết tùy theo nghiệp đã tạo lúc còn sống, phải đi qua 1 trong 3 dòng thác này. Ba dòng thác này gọi là Tam đồ. Trên bờ thác có 1 cái cây rất to gọi là Y lãnh thụ(cây lãnh áo), trên cây có 2 con quỉ cư trú, đó là Đoạt y bà(bà cướp áo) và Huyền y ông (ông treo áo). Khi vong linh người chết đi qua đây, 2 con quỉ này cướp lấy y phục của họ rồi đem treo lên cành cây Y lãnh, tùy theo tội lỗi tạo tác lúc sinh tiền nặng, nhẹ khác nhau mà cành cây rũ xuống cũng có cao, thấp khác nhau. Thuyết này nói trong kinh Thập vương. Nhưng kinh này bị giới nghiên cứu cho là kinh giả, nên thuyết này chẳng phải đã có từ Ấn độ.
tam đồ lục đạo
Ba nẻo sáu đường—Three miserable paths and six realms—See Tam Đồ, Tam đồ Ác đạo and Lục Đạo in Vietnamese-English Section.
tam đồ ác đạo
Ba đường dữ—Three realms (paths) of woe—Three lower paths of the six destinations—The paths of evil deeds—Three evil courses—Three miserable worlds: 1) Địa ngục: The hells. 2) Ngạ quỷ: The world of hungry ghosts. 3) Súc sanh: The world of animals.
tam đồ đối tam độc
620大明三藏法數卷十二謂,火、刀、血三途配瞋、貪、癡三毒。即:(一)火途對瞋忿,眾生若無慈悲心,常懷瞋忿,則將感生地獄道,常為鑊湯爐炭等熱苦所逼。(二)刀途對慳貪,眾生若無惠施心,常懷慳貪,則將感生餓鬼道,常受刀杖驅逼等苦。(三)血途對愚癡,眾生若無智慧,愚癡不了,則將感生畜生道,強者伏弱,互相吞噉,飲血食肉。
; (三途對三毒) Tam đồ được phối hợp với Tam độc. Đại minh Tam tạng pháp số quyển 12 đem Tam đồ phối hợp với Tam độc như sau:1. Hỏa đồ phối với sân hận: Nếu chúng sinh không có tâm từ bi, thường mang lòng sân hận thì sẽcảm sinh vào đường địa ngục, thường xuyên bị bức não bởi cái khổ nung nấu của vạc dầu, lò than. 2. Đao đồ phối với khan tham: Nếu chúng sinh không có tâm huệ thí, thường mang lòng tham lam, bỏn sẻn thì cảm sinh vào đường ngạ quỉ, thường xuyên bị bức não bởi cái khổ của dao gậy, đánh chém, lùa đuổi. 3. Huyết đồ phối với ngu si: Nếu chúng sinh không có trí tuệ, ngu ngơ ngây dại thì sẽ cảm sinh vào đường súc sinh, thường bị bức não bởi cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn thịt, uống máu, nhai nuốt lẫn nhau.
tam đỗng
Three penetrations.
Tam Độc
(三毒): còn gọi là Tam Hỏa (三火), Tam Cấu (三垢), Tam Bất Thiện Căn (三不善根); ba độc, ba loại phiền não, gồm Tham Dục (貪欲), Sân Nhuế (瞋恚) và Ngu Si (愚癡); hay Tham, Sân, Si; Dâm (淫), Nộ (怒), Si (癡); Dục (欲), Sân (瞋), Vô Minh (無明). Hết thảy phiền não đều được gọi là độc; ba loại phiền não này thông nhiếp cả Ba Cõi, làm độc hại thiện tâm của chúng sanh; có thể khiến cho chúng hữu tình vĩnh kiếp chịu khổ, không thể nào lìa ra khỏi được. Ba Độc này là căn nguyên các việc làm ác của thân, miệng và ý. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 34 phân ba độc thành Chánh Tam Độc (正三毒, tức Tham Dục, Sân Nhuế, Ngu Si) và Tà Tam Độc (邪三毒, tức Tà Tham Dục, Tà Sân Nhuế, Tà Kiến Ngu Si). Đối với Tà Tam Độc thì khó độ, Chánh Tam Độc thì dễ độ; cho nên cõi Tịnh Độ của chư Phật chỉ có Chánh Tam Độc mà thôi. Theo Đại Tạng Pháp Số (大藏法數) quyển 15, hàng Nhị Thừa, Bồ Tát đều có Ba Độc. Hàng Nhị Thừa vui mừng cầu Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) là tham dục, chán ghét xa lìa sanh tử là sân nhuế, mê ở trong Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道) là ngu si. Hàng Bồ Tát muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, trách la hàng Nhị Thừa là sân nhuế, và chưa liễu đạt Phật tánh là ngu si. Như trong Đại Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn giải thích về Ba Độc rằng: “Vô Minh chi tâm, tuy hữu bát vạn tứ thiên phiền não tình dục, cập hằng hà sa chúng ác, giai nhân Tam Độc, dĩ vi căn bổn; kỳ Tam Độc giả, Tham Sân Si thị dã; thử Tam Độc tâm, tự năng cụ túc nhất thiết chư ác, do như đại thọ, căn tuy thị nhất, sở sanh chi diệp kỳ số vô biên (無明之心、雖有八萬四千煩惱情欲、及恆河沙眾惡、皆因三毒、以爲根本、其三毒者、貪嗔癡是也、此三毒心、自能具足一切諸惡、猶如大樹、根雖是一、所生枝葉其數無邊, tâm Vô Minh, tuy có tám vạn bốn ngàn phiền não tình dục, và hằng hà sa số các điều ác, đều do Ba Độc, lấy làm căn bản; Ba Độc này chính là Tham Sân Si; tâm Ba Độc này, tự có thể đầy đủ hết thảy các điều ác, giống như cây lớn, gốc tuy là một, các cành lá của nó số lượng vô biên).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Thập Ác Ngũ Nghịch tất băng tiêu, Tam Độc Thất Tình câu tuyết hóa, Ngũ Lậu hóa vi vô lậu, Lục Căn biến tác thiện căn, trượng Nhất Thừa tiến điệu chi công, chỉ Cửu Phẩm vãng sanh chi lộ (十惡五逆悉冰消、三毒七情俱雪懺、五漏化爲無漏、六根變作善根、仗一乘薦悼之功、指九品徃生之路, Mười Ác Năm Nghịch thảy băng tiêu, Ba Độc Bảy Tình đều hóa giải, Năm Lậu hóa thành vô lậu, Sáu Căn biến nên thiện căn, nương Một Thừa dâng cúng công phu, chỉ Chín Phẩm vãng sanh về nẻo).”
Tam độc
三毒; C: sāndú; J: sandoku;|Ba độc.
tam độc
xem ba mũi tên độc.
; 569指貪欲、瞋恚、愚癡(又稱貪瞋癡、淫怒癡、欲瞋無明)三種煩惱。又作三火、三垢。一切煩惱本通稱為毒,然此三種煩惱通攝三界,係毒害眾生出世善心中之最甚者,能令有情長劫受苦而不得出離,故特稱三毒。此三毒又為身、口、意等三惡行之根源,故亦稱三不善根,為根本煩惱之首。 大智度論卷三十四分三毒為正三毒(貪欲、瞋恚、愚癡)與邪三毒(邪貪欲、邪瞋恚、邪見愚癡),以邪三毒者難度,正三毒者易度,故諸佛淨土有正三毒,而無邪三毒。摩訶止觀卷六上以思惑上之貪、瞋、癡為正三毒,見惑上之貪、瞋、癡為邪三毒。又依大藏法數卷十五,二乘及菩薩皆有三毒。二乘之人欣求涅槃為貪欲,厭離生死為瞋恚,迷於中道為愚癡。菩薩欲廣求佛法為貪欲,呵惡二乘為瞋恚,未了佛性為愚癡。〔雜阿含經卷二十三、北本大般涅槃經卷下、大乘義章卷五本、法界次第初門卷上之上〕(參閱「三不善根」530)
; duk sum (T) Three defilements, Three poisonsGồm: tham (desire), sân (anger), si (stupidity). Xem ba độc.
; The three poisons, also styled tam căn. They are Tham concupiscece or wrong desire; Sân anger, hate, or resentment; Si stupidity, ignorance, unintelligence, or unwillingness to accept Buddha-truth; these threes are the source of all the passions and delusions.
; Tức là tham, sân, si.
; Còn gọi là Tam Cấu hay Tam Chướng, là ba thứ độc hại hay ba món phiền não lớn. Đây là những thứ ác căn bản gắn liền trong đời sống khởi sanh đau khổ. Phiền não có rất nhiều, nói rộng thì đến 84 ngàn, nói hẹp thì có 10 loại phiền não gốc, trong có có tam độc tham sân si—Three Poisons—Three sources of all passions and delusions. The fundamental evils inherent in life which give rise to human suffering. The three poisons are regarded as the sources of all illusions and earthly desires. They pollute people's lives. Men worry about many things. Broadly speaking, there are 84,000 worries. But after analysis, we can say there are only 10 serious ones including the three evil roots of greed, hatred, and delusion. 1) Tham: Raga (skt)—Greed—Concupiscience—Lust—Wrong desire—Lòng ham muốn vị kỷ thúc đẩy chúng ta thỏa mãn những gì mình cần cũng như những gì mình không xứng đáng được như ăn uống, nhà cửa, xe cộ, tài sản và danh vọng, vân vân. Mắt thì ham nhìn nơi sắc đẹp không biết chán, tai ham nghe mọi thứ âm thanh du dương, mũi ham mong ngửi mùi hương các loại, lưỡi ham nếm các vị béo bổ ngọt ngon, thân ham những xúc chạm mịn màng, và ý ham các sự ghét thương bỉ thử, vân vân. Lòng tham của con người như thùng không đáy, như biển cả lấy nước liên tục từ trăm ngàn sông hồ to nhỏ, hết ngày nầy qua ngày khác. Trong thời mạt pháp nầy, chúng sanh nói chung và nhân loại nói riêng, đã và đang dùng đủ mọi phương cách, thủ đoạn, mưu chước để lường gạt và tàn hại lẫn nhau. Thế nên cuộc đời của chúng sanh, nhất là nhân loại, vốn dĩ đã đau khổ, lại càng đau khổ hơn. Tất cả đều do nơi tánh tham lam, lòng ích kỷ bỏn xẻn mà ra. Chính bằng mưu gian chước quỷ, dối gạt, phương tiện cũng như lật lọng bằng mọi thủ đoạn để đạt cho bằng được. Lòng tham là mãnh lực tinh thần mạnh mẽ khiến cho người ta đấu tranh giết chóc, lọc lừa dối trá lẫn nhau, ngay cả những hành động tàn độc cũng không chừa—It is a selfish desire for more than we need or deserve, such as food, house, car, wealth, honors, etc. Eyes are longing for viewing beautiful forms without any satisfaction, ears are longing for melodious sounds, nose is longing for fragrance, tongue is longing for delicate tastes, body is longing for soothing touches, and mind is longing for various emotions of love and hate from self and others. Human beings' greediness is like a barrel without bottom. It is just as the great ocean obtaining continuously the water from hundreds and thousands of large and small rivers and lakes everyday. In this Dharma Ending Age, sentient beings, especially human beings use every method to manipulate and harm one another. Sentient beings' lives, especially, those of human beings' are already filled with pain and sufferings, now there are even more pain and sufferings. Through tricks, expedients, and manipulations we try to reach our goal irrespective of whatever happens to others. Greed is a powerful mental force that drives people to fight, kill, cheat, lie and perform various forms of unwholesome deeds. 2) Sân: Pratigha (p)—Dosa or Dvesa (skt)—Anger—Aversion—Hate—Resentment—Sự sân hận đốt cháy trong lòng chúng sanh, gây nên biết bao cảnh trái ý và thù nghịch cho người khác. Người sân hận nói năng thô bỉ không có chút từ bi, tạo nên không biết bao nhiêu là khổ não. Trong Tam Độc, mỗi thứ có một ác tính độc đáo khác nhau; tuy nhiên, sân hận có một tướng trạng vô cùng thô bạo, nó là kẻ thù phá hoại đường tu cũng như công hạnh của người tu Phật mạnh mẽ nhất. Lý do là khi một niệm sân hận đã sanh khởi trong tâm thì liền theo đó có muôn ngàn thứ chướng ngại khác lập tức hiện ra, ngăn trở con đường tu đạo, công hạnh cũng như sự tiến tu của người học đạo. Chính vì thế mà cổ đức có dạy rằng: “Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai.” (có nghĩa là khi một niệm oán thù vừa chớm khởi, thì có ngàn muôn cửa chướng khai mở). Thí dụ như đang lúc ngồi thiền, bỗng chợt nhớ đến người kia bạc ác, xấu xa, gây cho ta nhiều điều cay đắng xưa nay. Do nghĩ nhớ như thế nên tâm ta chẳng những không yên, mà còn sanh ra các sự buồn giận, bức rức. Thân tuy ngồi yên đó mà lòng dẫy đầy phiền não sân hận. Thậm chí có người không thể tiếp tục tọa thiền được nữa, cũng như không thể tiếp tục làm những gì họ đang làm vì tâm họ bị tràn ngập bởi phiền não. Lại có người bực tức đến quên ăn bỏ ngủ, nhiều khi muốn làm gì cho kẻ kia phải chết liền tức khắc mới hả dạ. Qua đó mới biết cái tâm sân hận nó luôn dày xéo tâm can và phá hoại con đường tu tập của người tu như thế nào. Chính vì thấy như thế mà Đức Phật đã dạy cách đối trị sân hận trong Kinh Pháp Hoa như sau: “Lấy đại từ bi làm nhà, lấy nhẫn nhục làm áo giáp, lấy tất cả pháp không làm tòa ngồi.” Chúng ta phải nên nghĩ rằng khi ta khởi tâm giận hờn phiền não là trước tiên tự ta làm khổ ta. Chính ngọn lửa sân hận ấy bên trong thì thiêu đốt nội tâm, còn bên ngoài thì nó khiến thân ta ngồi đứng chẳng yên, than dài, thở vắn. Như thế ấy, chẳng những chúng ta không cải hóa được kẻ thù, mà còn không đem lại chút nào an vui lợi lạc cho chính mình—It is a fire that burns in all human beings, causing a feeling of displeasure or hostility toward others. Angry people speak and act coarsely or pitiless, creating all kinds of sufferings. Of the three great poisons of Greed, Hatred and Ignorance, each has its own unique evil characteristic. However, of these poisons, hatred is unimaginably destructive and is the most powerful enemy of one's cultivated path and wholesome conducts. The reason is that once hatred arises from within the mind, thousands of karmic obstructions will follow to appear immediately, impeding the practitioner from making progress on the cultivated path and learning of the philosophy of Buddhism. Therefore, the ancient virtuous beings taught: “One vindictive thought just barely surfaced, ten thousands doors of obstructions are all open.” Supposing while you were practicing meditation, and your mind suddenly drifted to a person who has often insulted and mistreated you with bitter words. Because of these thoughts, you begin to feel sad, angry, and unable to maintain peace of mind; thus, even though your body is sitting there quietly, your mind is filled with afflictions and hatred. Some may go so far as leaving their seat, stopping meditation, abandoning whatever they are doing, and getting completely caught up in their afflictions. Furthermore, there are those who get so angry and so depressed to the point where they can't eat and sleep; for their satisfaction, sometimes they wish their wicked friend to die right before their eyes. Through these, we know that hatred is capable of trampling the heart and mind, destroying people's cultivated path, and preventing everyone from practicing wholesome deeds. Thus the Buddha taught the way to tame hatred in the Lotus Sutra as follows: “Use great compassion as a home, use peace and tolerance as the armor, use all the Dharma of Emptiness as the sitting throne.” We should think that when we have hatred and afflictions, the first thing that we should be aware of is we are bringing miseries on ourselves. The fire of hatred and afflictions internally burns at our soul, and externally influences our bodies, standing and sitting restlessly, crying, moaning, screaming, etc. In this way, not only are we unable to change and tame the enemy, but also unable to gain any peace and happiness for ourselves. 3) Si: Mudhaya (p)—Moha (skt)—Folly or Ignorance—Stupidity—Delusion—Unwillingness to accept Buddha-truth—Unintelligence—Vì si mê mà người ta không thấy được cái nhìn như thị, không thể phân biệt đúng sai. Ngu si làm cho người ta mù quáng về chấp ngã, chấp pháp là những thứ vô thường, luôn thay đổi và hoại diệt—Due to ignorance, people do not see things as they really are, and cannot distinguish between right and wrong. They become blind under the delusion of self, clinging to things which are impermanent, changeable, and perishable.
; (三毒) Cũng gọi Tam hỏa, Tam cấu. Chỉ cho 3 thứ phiền não: Tham dục, sân khuể, ngu si(cũng gọi tham sân si, dâm nộ si, dục sân vô minh). Tất cả phiền não gọi chung là Độc, nhưng 3 thứ phiền não này có khắp 3 cõi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu tình chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi ác thân, khầu, ý, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền não căn bản. Luận Đại trí độ quyển 34, chia Tam độc thành Chính tam độc (tham dục, sân khuể, ngu si)và Tà tam độc(tà tham dục, tà sân khuể, tà kiến ngu si), cho tà tam độc khó cứu độ, còn chính tam độc thì dễ cứu độ, cho nên trong các cõi Tịnh độ của chư Phật có chính tam độc mà không có tà tam độc. Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng cho tham, sân, si, về phương diện Tư hoặc là Chính tam độc, còn tham, sân, si, về phương diện Kiến hoặc là Tà tam độc. Còn theo Đại tạng pháp số quyển 15 thì Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Hàng Nhị thừa ưa thích Niết bàn là tham dục, nhàm chán sinh tử là sân khuể, mê lí Trung đạo là ngu si. Hàng Bồ tát thì muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, quở trách Nhị thừa là sân khuể, chưa rõ Phật tính là ngu si. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Bất Thiện Căn).
tam độc lợi tiễn
xem ba mũi tên độc.
tam độc tham, sân, si chẳng những gây phiền chuốc não cho ta, mà còn ngăn chận không cho chúng ta hưởng được hương vị thanh lương giải thoát
Three poisons of greed, hatred and ignorance do not only cause our afflictions, but also prevent us from tasting the pure and cool flavor of emancipation (liberation).
tam độc tiễn
xem ba mũi tên độc.
Tam Đức
(三德): tức là Pháp Thân Đức (法身德), Bát Nhã Đức (般若德) và Giải Thoát Đức (解脫德). Căn cứ vào Phẩm Tựa của Kinh Đại Bát Niết Bàn, khi Phật sắp nhập diệt, các Phật tử đã chuẩn bị rất nhiều phẩm vật để dâng lên cúng dường đức Phật và chư Tăng một lần sau cuối. Những thực phẩm rất phong phú, đặc biệt có đầy đủ ba đức tính và sáu hương vị. Nghĩa là những thức ăn dâng cúng cho Phật và tăng thì phải đầy đủ 3 đức tính (yếu tố), gồm: (1) Trong sạch, không nhơ nhớp; (2) Mềm mại, ngon ngọt; (3) Như pháp, tùy thời mà chế biến, làm ra đúng pháp. Tam Đức này tượng trưng cho Ba Thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân) của Phật hoặc ba đức tướng (Trí Đức, Đoạn Đức, Ân Đức) của quả vị Phật. Từ sự kiện lịch sử này, đời sau, các chùa thường thiết lễ Cúng Ngọ và đọc câu “Tam Đức, Lục Vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường (三德六味、供佛及僧、法界有情、普同供養, ba đức, sáu vị, cúng Phật cùng tăng, cùng khắp cúng dường).” Trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 90 có đoạn rằng: “Tại kính tắc Tam Đế viên dung, tại tâm tắc Tam Quán câu vận, tại nhân tắc Tam Đạo tương tục, tại quả tắc Tam Đức châu viên, như thị bản mạt tương thâu, phương nhập Đại Niết Bàn bí mật chi tạng (在境則三諦圓融、在心則三觀俱運、在因則三道相續、在果則三德周圓、如是本末相收、方入大涅槃祕密之藏, nơi kính thì Ba Đế viên dung, nơi tâm thì Ba Quán vận hành, nơi nhân thì Ba Đường liên tục, nơi quả thì Ba Đức tròn khắp, như vậy gốc ngọn cùng thâu, rồi nhập vào kho tàng bí mật của Đại Niết Bàn).” Hay như trong Thiền Môn Yếu Lược (禪門要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 908) cũng có câu: “Hựu Tam Quán thành cố tức Tam Đức mãn, Trung Quán thành tức Pháp Thân mãn, Giả Quán thành tức Bát Nhã mãn, Không Quán thành tức giải thoát mãn, Tam Đức mãn cố danh Bí Mật Tạng (又三觀成故卽三德滿、中觀成卽法身滿、假觀成卽般若滿、空觀成卽解脫滿、三德滿故名秘密藏, lại Ba Quán thành nên Ba Đức tròn, Trung Quán thành tức Pháp Thân tròn, Giả Quán thành tức Bát Nhã tròn, Không Quán thành tức giải thoát tròn, vì Ba Đức tròn nên gọi là Kho Tàng Bí Mật).” Hoặc như trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung lại có câu: “Lịch Ngũ Vị Bồ Đề chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念, trãi qua con đường Bồ Đề Năm Vị, vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn thành Ba Niệm).”
Tam đức
三徳; C: sāndé; J: santoku;|Ba khía canh công đức của một vị Phật: 1. Công đức của lòng bi; 2. Công đức của sự đoạn diệt phiền não và 3. Công đức của trí huệ.
tam đức
668<一>指大涅槃所具之三種德相,即:法身、般若、解脫三者。依南本涅槃經卷二載,三德猶如伊字三點(悉曇伊字為凕)或摩醯首羅(大自在天)之三目(觌)。又據大乘義章卷十八載:(一)法身係指一切存在本來具足之真如,或指以功德法完成之身。(二)解脫即脫離煩惱束縛之謂。(三)般若則指悟之智慧。此三者,三即一,一即三;而在因位時,稱為三佛性;在果位時,稱為三德。又於大般涅槃經玄義卷上,將「摩訶般涅槃那」譯為「大滅度」,此係以「大」為「法身」,以「滅」為「解脫」,以「度」為「般若」。此外,由於因、果之相對,故三德亦有順逆兩種之別,所謂順三德,即:正因佛性之果成就法身之德,了因佛性之果成就般若之德,緣因佛性之果成就解脫之德。反之,若由轉「苦」成就法身德,由轉「惑」成就般若德,由轉「業」完成解脫德,則稱為逆三德。 依天台宗,三德之說曾出現在法華經以前之諸經,但法華圓教之三德係非縱非橫、非三非一,可說大異於前說。同時此三德亦可配於三菩提、三佛性、三寶、三道、三識、三般若、三大乘、三身、三涅槃等。此外,據攝大乘論舉出,轉五蘊可成三德,即:轉色蘊可成法身德,轉受、想、行三蘊可成解脫德,轉識蘊可成般若德。〔摩訶止觀卷三上、止觀輔行傳弘決卷三之一、金光明經玄義卷上、法華玄義卷五下〕 <二>指佛果位所具足之三種德相,即:智德、斷德、恩德。據佛性論卷二所舉:(一)智德,指其所具之德,乃 O從佛之立場觀察一切諸法之智慧。(二)斷德,指滅盡一切煩惱惑業之德。(三)恩德,由於救度眾生之願力,而予眾生以恩惠之德。以上三德配於法、報、應三身,同時智、斷二德具有自利、自行、自覺之內涵,而恩德則具有利他、化他、覺他之內涵。華嚴經疏卷十二(大三五‧五八九下):「佛種不斷,有何相耶?謂成三德。救護眾生,成就恩德;永斷煩惱,成於斷德;了知諸行,成於智德。」〔梁譯攝大乘論釋卷八、彌勒上生經疏卷下〕 <三>指一切事物所具之三種性質。即:(一)薩埵(梵 sattva),表示勇健之德。(二)剌闍(梵 rajas),表示塵坌之德。(三)答摩(梵 tamas),表示闇鈍之德。此係印度數論學派所提倡,見金七十論卷上。此三德依序譯作喜、憂、闇,或勇、塵、闇,或貪、瞋、癡,或樂、苦、捨,或黃、赤、黑,或染、粗、黑等。即二十五諦之第一諦(自性冥諦)所具之德。此德能生各種善惡美醜之物。此外,除神我諦以外,其餘二十三諦皆兼具此三德。〔成唯識論述記卷一本〕 <四>又作三種圓德、三圓德。指如來所具之三種圓滿德相,即:(一)因圓德,謂如來之因行圓滿具足。因行有四修:(1)無餘修,福德與智慧二種資糧具修無遺。(2)長時修,經三大阿僧祇劫而不倦。(3)無間修,精勤勇猛,無剎那廢修。(4)尊重修,恭敬所學,無所顧惜,修而不慢。(二)果圓德,謂如來之果德圓滿具足。有四德:(1)智圓德,具有無師智、一切智、一切種智、無功用智四種。(2)斷圓德,具有一切煩惱斷、一切定障斷、畢竟斷、并習斷四種。(3)威勢圓德,即於外境化變住持之自在威勢;於壽量若延若促之自在威勢;於空、障、極遠、速行、小大相入等自在威勢;令世間種種本性法爾轉勝之希奇威勢。或於難化而必能化;於答難必決疑;立教必出離;於惡黨必能伏之四種威勢。(4)色身圓德,具眾相、具隨好、具大力、及內身骨堅固,超越金剛,外煥神光,踰百千之日。(三)恩圓德,謂如來慈悲哀愍之德圓滿具足,永遠解脫三惡趣與生死之苦,亦令眾生安住於人天之善趣與三乘。〔俱舍論卷二十七、俱舍論光記卷二十七〕
; The three virtues or powers of which three groups are given below: (1) a-Pháp thân đức, The virtue, or potency of the Buddha's eternal, spiritual body, the dharmakàya; b-Bát nhã đức, of his prajnà, or wisdom, knowing all things in their reality; c-Giải thoát đức, of his freedom from all bonds and his sovereign liberty. Each of these has the four qualities of thường, lạc, ngã, tịnh, eternity, joy, ersonality, and purity. (2) a-Trí đức, the potency of his perfect knowledge; b-Ly đức, of his cutting off all illusion and perfecting of supreme nirvàna; the above two are tự lợi for his own advantage; c-Ân đức, of his universal grace and salvation, which tha lợi bestows the benefits he has acquired on others. (3) a-Nhân viên đức, The perfection of his causative or karmaic works during his three great kalpas of preparation; b-Quả viên đức, the perfection of the fruit, or results in his own character and wisdom; c-Ân viên đức, the perfection of his grace in the salvation of others.
; Ba đức của Phật là thường hằng, hỷ lạc, và thanh tịnh (Thường, Lạc, Tịnh)—Three Buddha's virtues or powers which are eternal, joyful, and pure : (A) Theo Đại Thừa, có ba đức của Phật—According to the Mahayana, there are three Buddha's virtues: 1) Pháp thân đức: Pháp thân Phật là vĩnh hằng—Dharmakaya—The virtue or potency of the Buddha's eternal sipritual body. 2) Bát nhã đức: Trí huệ Phật biết được thực tính của chư pháp—Buddha's prjana or wisdom, knowing all things in their reality. 3) Giải thoát đức: Phật giải thoát, không còn vướng mắc nào—Buddha's freedom from all bonds and his sovereign liberty. (B) Theo Kinh Niết Bàn có ba đức của Phật—According to Nirvana Sutra, there are another three Buddha's virtues: 1) Trí đức: Đức toàn giác—The potency of Buddha perfect knowledge. 2) Đoạn đức: Đức đoạn diệt khổ đau và chứng nhập Niết bàn tối thượng—Buddha's ability to cut off all illusion and perfect of supreme nirvana—The power or virtue of bringing to an end all passion and illusion, and enter the perfect nirvana. 3) Ân đức: Đức phổ cứu chúng sanh—Buddha's universal grace and salvation which bestows the benefits he has acquired on others. (C) 1) Nhân viên đức: Qua ba a tăng kỳ kiếp, nhân duyên tròn đầy—The perfection of Buddha's causative or karmaic works during his three great kalpas of preparation. 2) Quả viên đức: Toàn thiện quả vị và trí huệ Phật—The perfection of the fruit or result of Buddha's own character and wisdom. 3) Ân viên đức: Toàn thiện ân cứu độ chúng sanh—The perfection of Buddha's grace in the salvation of others. (D) 1) Trí Đức: All-knowing virtues or qualities of a Buddha. 2) Bi Đức: All-pitying virtues of a Buddha. 3) Định Đức: Contemplative virtues of a Buddha.
; (三德) I. Tam Đức. Chỉ cho 3 đức tướng của Đại niết bàn: Pháp thân, Bát nhã, và Giải thoát Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Nam) thì 3 đức giống như 3 cái chấm của chữ Y (chữ Y tất đàm là( ), hoặc 3 con mắt( )của trời Ma hê thủ la (trời Đại tự tại). Cứ theo Đại thừa nghĩa chương Q.18 thì:1. Pháp thân: Chỉ cho chân như vốn có sẵn của tất cả hiện tượng tồn tại, hoặc chỉ cho thân được hoàn thành bằng pháp công đức. 2. Giải thoát: Tức cởi bỏ tất cả sự trói buộc của phiền não. 3. Bát nhã: Chỉ cho trí tuệ giác ngộ. Sự quan hệ giữa 3 đức này là 3 tức 1, 1 tức 3. Khi còn ở Nhân vị thì gọi là Tam Phật tính; khi đến Quả vị thì gọi là Tam đức.Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa quyển thượng, phiên dịch từ Ma ha bát niết bàn na là Đại diệt độ, cho rằng Đại là Pháp thân, Diệt là Giải thoát và Độ là Bát nhã. Ngoài ra, do nhân và quả đối nhau, nên Tam đức cũng có 2 thứ thuận và nghịch khác nhau. Tam đức thuận là: Quả của Chính nhân Phật tính thành tựu đức của Pháp thân, quả của Liễu nhân Phật tính thành tựu đức của Bát nhã, còn quả của Duyên nhân Phật tính thì thành tựu đức của Giải thoát. Trái lại, nếu do chuyển Khổ mà thành tựu đức Pháp thân, do chuyển Hoặc mà thành tựu đức Bát nhã và do chuyển Nghiệp mà hoàn thành đức Giải thoát thì gọi là Nghịch tam đức. Theo tông Thiên thai thì thuyết Tam đức đã xuất hiện trong các kinh trước kinh Pháp hoa, nhưng Tam đức của Pháp hoa Viên giáo là Phi tung phi hoành, Phi tam phi nhất, có thể nói khác hẳn với các thuyết trước. Đồng thời, Tam đức của Pháp hoa Viên giáo cũng có thể phối hợp với Tam bồ đề, Tam Phật tính, Tam bảo, Tam đạo, Tam thức, Tam bát nhã, Tam đại thừa, Tam thân, Tam niết bàn... Ngoài ra, theo luận Nhiếp đại thừa thì có thể chuyển 5 uẩn thành 3 đức, tức có thể chuyển Sắc uẩn thành đức Pháp thân, chuyển 3 uẩn Thụ, Tưởng, Hành, thành đức Giải thoát, và chuyển Thức uẩn thành đức Bát nhã. [X. Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Pháp hoa huyển nghĩa Q.5, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng]. II. Tam Đức. Chỉ cho 3 thứ đức tướng của quả vị Phật là Trí đức, Đoạn đức và Ân đức. Luận Phật tính quyển 2 giải thích Tam đức này như sau: 1. Trí đức: Chỉ cho trí tuệ của Phật quán xét tất cả các pháp. 2. Đoạn đức: Chỉ cho đức diệt trừ hết tất cả phiền não hoặc nghiệp. 3. Ân đức: Đức do nguyện lực cứu độ chúng sinh mà ban ân huệ cho tất cả chúng sinh.Ba đức trên đây phối với Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, đồng thời, Trí đức và Đoạn đức có nội dung tự lợi, tự hành, và tự giác, còn Ân đức thì mang nội dung lợi tha, hóa tha và giác tha. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 (Đại 35, 589 hạ) nói: Hạt giống Phật không dứt mất có tướng như thế nào? Là thành tựu Tam đức: Cứu độ chúng sinh, thành tựu Ân đức; đoạn hẳn phiền não, thành tựu Đoạn đức; rõ biết các hạnh, thành tựu Trí đức. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.8 (bản dịch đời Lương); Di lặc thướng sinh kinh sớ Q.hạ]. III. Tam Đức. Chỉ cho 3 tính chất của tất cả sự vật. Đó là: 1. Tát đóa(Phạm:Sattva): Biểu thị tính chất mạnh mẽ. 2. Lạt xà (Phạm:Rajas): Biểu thị tính chất bụi bặm. 3. Đáp ma (Phạm: Tamas): Biểu thị tính chất ám độn. Đây là chủ trương của học phái Số luận ở Ấn độ được thấy trong luận Kim thất thập quyển thượng. Ba đức này theo thứ tự được dịch là mừng, lo, mờ tối; hoặc mạnh, bụi, mờ; hoặc tham, sân, si; hoặc vui, khổ, không vui không khổ; hoặc vàng, đỏ, đen; hoặc nhuốm, thô, đen..., tức là đế thứ nhất(Tự tính minh đế) trong 25 đế. Đức này có đức của năng lực sinh ra các vật thiện ác, đẹp, xấu. Ngoài ra, chỉ trừ Thần ngã đế, còn 23 đế kia đều có đủ 3 đức này. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. IV. Tam Đức. Cũng gọiTamchủng viên đức, Tam viên đức. Chỉ cho đức tướng viên mãn của Như lai. Đó là: 1. Nhân viên đức: Nhân hạnh của Như lai hoàn toàn viên mãn. Nhân hạnh này có 4 phương pháp tu hành: a. Vô dư tu: Tu cả 2 thứ tư lương phúc đức và trí tuệ, không bỏ sót. b. Trường thời tu: Trải qua 3 đại a tăng kìkiếp tu hành mà vẫn không mỏi mệt. c. Vô gián tu: Tinh tiến dũng mãnh, tu liên tục, không một sát na gián đoạn. d. Tôn trọng tu: Cung kính những điều học được, không điều nào mà không tôn quí, tu mà không kiêu mạn. 2. Quả viên đức: Quả đức của Như lai viên mãn, đầy đủ. Có 4 đức: a. Trí viên đức: Có đủ 4 loại: Vô sư trí, Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí và Vô công dụng trí. b. Đoạn viên đức: Có 4 loại Nhất thiết phiền não đoạn, Nhất thiết định chướng đoạn, Tất kính đoạn và Tập đoạn. c. Uy thế viên đức: Uy thế được tự tại đối với sự biến hóa của ngoại cảnh; uy thế được tự tại đối với tuổi thọ dài hay ngắn; uy thế được tự tại đối với không, chướng, cực xa, tốc hành, lớn nhỏ, tương nhập...; uy thế hiếm lạ làm cho bản tính của các pháp thế gian chuyển hóa tự nhiên. Hoặc 4 thứ uy thế: Hóa độ được những chúng sinh ương ngạnh khó hóa độ; quyết nghi được những vấn nạn khó quyết nghi; đã lập giáo là chắc chắn xuất li; có khả năng hàng phục được các bè đảng xấu ác. d. Sắc thân viên đức: Đầy đủ các tướng tốt đẹp, có sức lực lớn và gân cốt trong thân cứng chắc hơn kim cương, bên ngoài phóng hào quang rực rỡ hơn trăm nghìn mặt trời. 3. Ân viên đức: Đức từ bi thương xót chúng sinh của Như lai trọn vẹn đầy đủ, vĩnh viễn thoát khỏi cái khổ sinh tử và 3 đường ác; Ngài cũng khiến chúng sinh an trụ trong đường lành trời người và trong Tam thừa. [X. luận Câu xá Q.27; Câu xá luận quang kí Q.27].
tam đức lục vị
(三德六味) Chỉ cho 3 đức, 6 vị. Ba đức là: Mềm mại, sạch sẽ, và đúng phép. Sáu vị là: Đắng cay, ngọt, chua, mặn và lạt. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Đại bát niết bàn quyển 1 (bản Nam), khi đức Phật sắp vào Niết bàn, các Phậttử ưu bà tắc sắm sửa thức ăn uống, dâng cúng Phật và chúng tăng. Thức ăn uống ngon ngọt, có đủ 3 đức, 6 vị. Đến đời sau, 3 đức, 6 vị trở thành những câu kệ được đọc tụng hàng ngày tại các chùa viện mỗi khi thụ trai: Tam đức lục vị, cúng Phật cập tăng. (xt. Thực Tam Đức).
tam ư
(三於) Chỉ cho 3 thứ Sở y(chỗ nương, điểm tựa). Ư nghĩa là chỗ nương. Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận dựa vào 3 thứ sở y mà thành lập 3 thứ Nhị đế: 1. Bản ư nhị đế: Tức Không, Hữu nhị đế, là Nhị đế vốn đã có trước khi đức Phật ra đời, là sở y của Nhị đế của Phật. 2. Giáo ư nhị đế: Tức ngôn giáo của Phật, là sở y của Không, Hữu nhị đế. 3. Mạt ư nhị đế: Chỉ cho Mê giáo nhị đế. Sau khi Phật nhập diệt, vì mê lầm về Giáo (lời dạy của Phật) nên chúng sinh khởi kiến chấp Không và Hữu. [X. Tam luận đại nghĩa sao Q.1].
tam ấn
Three signs or proofs of a Hìnayàna sùtra: 1-Vô thường non permanence; 2-Vô ngã non personality; 3-Niết bàn Nirvàna; without these the sùtra is spurious and the doctrine is of Màra.
; Three signs (usually in Hinayana sutras): 1) Vô thường: Non-permanence. 2) Vô ngã: Non-personality. 3) Niết bàn: Nirvana.
tam ấn nhứt
The three vehicles (Hinayana Tiểu thừa, Madhyamayana Trung Thừa, Mahayana Đại thừa) are one. The three lead to bodhisattvaship and Buddhahood for all.
tam ứng cung dưỡng
686指三種宜供養者,即:(一)如來應供養,此因如來乃自利利他圓滿而為世之最尊者。(二)阿羅漢應供養,因阿羅漢已了盡生死之因而為世之福田者。(三)轉輪聖王應供養,因轉輪聖王以正法治天下而為四海之父母者。〔增一阿含經卷十二〕
; (三應供養) Chỉ cho 3 đối tượng mà chúng sinh nên cúng dường, đó là: 1. Như lai ưng cúng dường: Vì Như lai đã viên mãn việc tự lợi, lợi tha và là bậc tôn quí nhất trong thế gian. 2. A la hán ưng cúng dường: Vì A la hán đã ra khỏi vòng sinh tử và là bậc phúc điền cho thế gian. 3. Chuyển luân thánh vương ưng cúng dường: Vì Chuyển luân thánh vương dùng Chính pháp trị nước và là cha mẹ của thiên hạ.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12].
Tam-da-tam-phật
三耶三佛; C: sānyésānfó; J: sanyasanbut-su;|Tam-miệu Tam-phật-đà.
Tam-da-tam-phật-đà
三耶三佛陀; C: sānyésānfótuó; J: sanya-sanbudda;|Tam-miệu Tam-phật-đà.
Tam-ma-bát-đề
三摩鉢提; C: sānmóbōtí; J: sanmapattei;|Một cách dịch âm của chữ Phạn samāpatti. Tam-ma-bát-để (三摩鉢底).
Tam-ma-bát-để
三摩鉢底; C: sānmóbōdī; J: sanmapattei;|Cách dịch âm của chứ Phạn samāpatti. Một thuật ngữ thiền định. Một trạng thái định. Một tâm thức cân bằng, đạt được qua sự tập trung chuyên nhất, hội tụ những năng lực trong tâm. Được dịch ý là Đẳng chí (等至).
Tam-ma-bạt-đề
(samdhi), tức là Tam-muội, cũng đọc là Tam-ma-đề hay Tam-ma-địa, Hán dịch nghĩa là Thiền định hay Đại định, chỉ pháp tu đạt đến chỗ thân và tâm không còn xao động, dứt hết vọng tưởng, tà kiến, thể nhập Pháp thân của chư Phật.
Tam-ma-đề
xem Tam-ma-bạt-đề.
; 三摩提; C: sānmótí; J: sanmaji;|Một cách phiên âm của chữ Phạn và Pa-li samādhi, cũng được phiên âm là Tam-muội (三昧) và Tam-ma-địa (三摩地). Dịch ý là Định.
Tam-ma-địa
xem Tam-ma-bạt-đề.
Tam-miệu tam-bồ-đề
三藐三菩提; C: sānmiǎo sānpútí; J: sammyaku sambodai;|Cách dịch âm từ chữ Phạn saṃyak-saṃbodhi, có nghĩa là »giác ngộ một cách chân chính«, chỉ sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật; được Hán dịch ý là Đẳng chính giác (等正覺) và Chính đẳng giác (正等覺). Thuật ngữ này thường được thấy trong biểu thị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (阿耨多羅三藐三菩提; s: anuttarā-saṃyak-saṃbodhi).
Tam-miệu-tam-một-đà
三藐三沒馱; C: sānmiǎosānmòtuó; J: san-myakusanbodda;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).
Tam-miệu-tam-phật
三藐三佛; C: sānmiǎosānfó; J: sanmyaku-sanbutsu;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).
Tam-miệu-tam-phật-đà
三藐三佛陀; C: sānmiǎosānfótuó; J: san-myaku sambutta; S: samyak-saṃbuddha; P: sammā-sambuddha;|»Một vị Phật giác ngộ viên mãn«. Một trong Mười danh hiệu của một vị Phật. Cũng được dịch âm là Tam-miệu Tam-một-đà (三藐三沒馱), Tam-da Tam-phật (三耶三佛), Tam-da Tam-phật-đà (三耶三佛陀), và dịch nghĩa là Chính Biến Tri (正遍知), Chính Đẳng Giác (正等覺), Chính Đẳng Giác giả (正等覺者).
Tam-muội
xem Tam-ma-bạt-đề.
; 三昧; C: sānmèi; J: sammai, zammai; S, P: samādhi; J: zan-mai; dịch âm, dịch nghĩa là Ðịnh;|Thuật ngữ dịch âm từ chữ Phạn samādhi, có nghĩa là »Gom lại«, »phối hợp tâm«, »Tĩnh lự một cách chuyên chú«, »Hấp thụ toàn hảo«. Một cấp bậc tập trung thiền định cao. Ðịnh.
Tam-muội chính thụ
三昧正取; C: sānmèi zhèngqǔ; J: sanmai-shōju;|1. Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí của một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu; 2. Định, cấp bậc tập trung cao.
Tam-muội Không
xem ba pháp tam-muội.
Tam-muội Vô tác
xem ba pháp tam-muội.
Tam-muội Vô tướng
xem ba pháp tam-muội.
Tam-muội-da
三昧耶; C: sānmèiyé; J: sanmaiya;|Một cách phiên âm chữ Phạn »samaya«: 1. Thời gian, đặc biệt là một khoảng thời gian đặc thù; 2. Một cuộc hội họp, gặp gỡ; 3. Giáo lí cơ bản của một trường phái.
Tam-muội-da hình
三昧耶形; C: sānmèiyéxíng; J: sanmaiya-gyō;|Một hình ảnh với giá trị biểu tượng. Trong đạo Phật thì đây chính là những biểu tượng tỏ bày lời nguyện ước của chư Phật, chư Bồ Tát như cung, tên, gậy, bình hoặc những thủ Ấn.
Tan-ti-pa
S: tantipa; »Người thợ dệt«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một thợ dệt, có nhiều con. Ðến lúc được 89 tuổi, ông bị con cái lại ruồng bỏ, cho vào ở một túp lều trong vườn. Ngày nọ, một vị Ma-ha Tất-đạt là Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara) đến nhà ông khất thực, được con cái của ông bố thí thức ăn và mời ở lại nghỉ qua đêm. Ông gặp vị Du-già sư này và than: »Cuộc đời thật bạc bẽo, nuôi con cho lớn khôn rồi chúng nó hổ thẹn với người ngoài vì có ông cha già nua, đem dấu trong vườn để không ai phải nhìn.« Ja-lan-đa-ra khuyên ông: »Tất cả những gì chúng ta làm là một trò chơi, một trò chơi có ngày phải chấm dứt; ai bước vào cõi này đều cũng phải chịu đau khổ; tất cả, và thật là tất cả đều là Ảo ảnh, không có tự tính. Niết-bàn mới là tịch tịnh, là hạnh phúc«, rồi hỏi: »Ông có muốn tu tập chuẩn bị đón cái chết không?« Người thợ dệt nhận lời ngay và Ja-lan-đa-ra truyền cho ông bí mật của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và phép thiền quán. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Về sau con cái tình cờ thấy ông được thiên nhân hầu hạ mới biết cha mình đắc đạo. Nhờ phép thần, ông trẻ lại và sống thêm 16 năm nữa. Trong thời gian này, ông giáo hoá rất nhiều người và sau đó được lên cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Thánh đạo ca của Tan-ti-pa như sau:|Căng ngang rồi căng dọc,|là cách dệt thế gian.|Còn ta, với Ðạo sư,|dệt tấm vải chứng thật,|bằng sợi chỉ Năm trí.|Lược là lời Khai thị,|Khung là chính tri kiến,|toàn hảo về tính Không|Dệt chiếc áo Pháp thân,|từ không gian vô tận,|và tri kiến thuần tịnh.
Tan-tra
S: tantra; cũng được gọi theo âm Hán Việt là Ðát-đặc-la (怛特羅), nguyên nghĩa »tấm lưới dệt«, »mối liên hệ«, »sự nối tiếp«, »liên tục thống nhất thể«, đôi lúc được dịch là Nghi quỹ;|Một danh từ trừu tượng, khó dịch nên phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới (Anh, Pháp, Ðức) đều không có từ tương ưng. Trong Phật giáo Tây Tạng, Tan-tra chỉ tất cả các kinh sách về nhiều ngành khác nhau (Tan-tra y học, Tan-tra thiên văn…), nhưng trong nghĩa hẹp Tan-tra chỉ tất cả các sách vở nói về phép tu thiền định của Kim cương thừa và cũng được dùng để chỉ những phép tu thiền định này. Phép tu luyện Tan-tra có tính chất kinh nghiệm cá nhân, và thường dựa trên ba khái niệm: Nhân, Ðạo, Quả. Nhân chính là hành giả, Ðạo là con đường, phương pháp tu luyện, nhằm thanh lọc con người và Quả là tình trạng mà hành giả chứng ngộ. Ba giai đoạn này được Tan-tra chỉ bày trong vô số phương tiện khác nhau. Người ta cho rằng khi Phật Thích-ca thể hiện Phật quả qua dạng Pháp thân (s: dharmakāya) thì Ngài đã hành trì Tan-tra. Vì vậy cũng có người xem đức Phật là người sáng lập Tan-tra.|Truyền thống Tây Tạng chia Tan-tra làm bốn loại để tương ưng với căn cơ của từng người:|1. Tác tan-tra (s: kriyā-tantra): Tan-tra hành động (tác), nghi lễ. Người tu tập Tan-tra này có kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn nhưng chưa quán tưởng, tu tập thiền định;|2. Hành tan-tra (s: caryā-tantra): Tan-tra tu luyện qua hành động hằng ngày, dành cho những người tu tập nhưng không cần hiểu rõ lí tột cùng;|3. Du-già tan-tra (s: yoga-tantra): Tan-tra luyện tâm (thiền định);|4. Vô thượng du-già tan-tra (s: anuttarayoga-tantra): phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này.|Sự khác nhau giữa bốn cấp này xuất phát từ căn cơ của hành giả và tính hiệu quả của các phép tu. Các tác phẩm quan trọng của Vô thượng du-già tan-tra là Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakra-tantra). |Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) lại chia Vô thượng du-già tan-tra làm ba loại: Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (s: anuyoga) và A-tì du-già (s: atiyoga, xem Ðại cứu kính). Những phép Tan-tra này xem tâm thanh tịnh là gốc của mọi phép tu. Ngoài ra, Tan-tra xem việc vượt qua tính nhị nguyên để đạt nhất thể là một nguyên lí quan trọng. Tính nhị nguyên có khi được Tan-tra diễn tả bằng nguyên lí nam tính (s: upāya; khía cạnh Phương tiện) và nữ (s: prajñā; Trí huệ), vì vậy tại phương Tây không ít người hiểu lầm, cho rằng tu tập Tan-tra là thuần tuý liên hệ với tính dục nam nữ.
Tan-tê-pa
S: taṅtepa; »Người mê cờ bạc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông ở xứ Câu-thướng-di (s: kauśāmbī), thuộc giai cấp thấp kém, ham đánh bạc. Khi thua hết gia sản, không còn ai cho mượn tiền đánh bạc, ông buồn rầu rút lui sống trên bãi đốt xác. Một vị Du-già sư đi ngang, khuyên ông tu tập, ông trả lời có phép nào tu tập mà vẫn đánh bạc được thì ông mới chịu tu. Vị này liền dạy ông phép quán tưởng, »xem thế giới trống rỗng như túi tiền của mình, nếu có thể phá tan gia sản bằng con súc sắc, thì cũng thể phá tan khái niệm bằng tri kiến. Sự mất mát chính là niềm vui!« |Như ngươi mất hết tiền,|lúc đánh trò súc sắc,|hãy đánh mất tư duy,|về cả ba cõi giới,|hãy chơi trò súc sắc,|của tâm thức vô niệm.|Như bị con nợ đánh,|hãy đánh hạ tư duy,|vào không gian trống rỗng.|Ngồi trên bãi đốt xác,|mà tự hoà tan mình|trong Ðại lạc mênh mông.||H 51: Tan-tê-pa (taṅtepa) đang trình bày tính Không (s: śūnyatā).|Tan-tê-pa nghe lời tu phép quán niệm và đạt tri kiến. Sau khi đạt Tất-địa, ông biến mất vào thế giới của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Mọi tư duy, tưởng tượng|đã biến mất tan vào,|trong thức vô biên xứ.|Mọi kinh nghiệm hiện tượng,|tan biến trong tính Không.|Trong 84 vị Tất-đạt, Tan-tê-pa (kẻ đánh bạc) làm ta nhớ đến Khát-ga-pa (khaḍgapa), người ăn trộm và Tha-ga-na-pa (thaganapa), người mang tật nói dối.
tang diên tự
4129西藏名 Bsam-yas。全名 Bsam-yas mi-ḥgyur Ihun-gyis grubpaḥi gsug-lag-khaṅ。又稱桑伊寺、桑耶寺。位於拉薩(藏 Lha-sa)東南方,雅魯藏布江(藏 Tsaṅ-po)北側之近郊,為西藏最早創建之寺院。唐大曆元年(766),乞㗚雙提贊(藏 Khri-sroṅ-lde-btsan)為鎮護西藏國而建。一說大曆二年奠基,貞元十五年(799)落成。另一說建於大曆十四年。創建之初,曾受當代高僧寂護(梵 Śāntirakṣita)及蓮華生(梵 Padmasambhava)之援助,據傳蓮華生曾修祕密法,調伏惡魔,奇蹟頗多。 本寺模仿印度歐丹多富離棃寺(梵 Udaṇḍapura)形式,糅合藏、漢與印度之建築風格興建,故又稱三樣寺。其形制,中央為須彌山,外有四大洲、八小洲及日月二輪,最外有垣牆圍繞,四角各建四舍利塔,四門各立四碑。寺中包括一座大殿、四大學院及其他建築,四周圍以高牆,環繞長約二點四公里,牆上有磚塔一千零三十座。正殿大佛像高達十六公尺,寺中所供佛像大多純金鑄成,並飾以珠寶,佛前供器亦大多以金銀造成。寺前方柱形石碑立於乞㗚雙提贊(742~797)時期,鐫有藏文銘文。今寺遭破壞,文物無存。寺中設有譯經院(藏 sgra-bs-gyur lha-khaṅ),內藏有印度原典,惜於一八一○年大部分被燒毀。 印度學僧如桑提卡爾帕(梵 Śāntigarbha)、維休達欣訶(梵 Viśuddhasiṃha)等,以及西藏翻譯僧曲其南巴(藏 Chos-kyi naṅ-pa)、旁德納穆迦(藏 Bande nammkhaḥ)等人,曾於乞㗚雙提贊之庇護下,於本寺從事印度佛典之西藏語翻譯事業,又奉敕與卡烏貝爾旃庫(藏 Ska-ba dpal-brtsegs)、魯意紐保(藏 Kluḥi sñiṅ-po)等人合輯珍藏於闐迦爾(藏 Den-kar)宮殿之經藏目錄。本寺落成之第二年,嘗自印度招請十二名有部律之律僧,依此制度首批藏人出家之七位僧人,號稱七覺士,為西藏第一座佛、法、僧三寶具全之寺院。 本寺於西元九世紀中,吐蕃禁佛教,曾遭封閉。十世紀後半期,佛教恢復。今由薩迦派之喇嘛僧統轄,然寺內之住僧大部分為寧瑪派(藏 Rñiṅ-ma-pa)僧人。所住僧侶約有千人。〔 L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet; Evans-Wentz: The Tibetan Book of the Great Liberation; Tsung-Lien Shen and Shen-Chi Liu: Tibet and the Tibetans; S. Candra Das: Pag Sam Jon Zang; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets(The Religions of Tibet); A. Ferrari: Mk' yen Brtse's Guide to theHoly Places of Central Tibet〕
; (桑鳶寺) Tạng: Bsam-yas. Gọi đủ: Bsam-yas mi-#gyur Ihungyis grupa#i gsug-lag-khaí. Cũng gọi Tang y tự, Tang da tự. Chùa ở ngoại ô, phía đông nam thủ do Lạp tát (Tạng: Lhasa), mạn bắc sông Nhã lỗ tạng bố (Tạng:Tsaí-po), là ngôi chùa đầu tiên ở Tây tạng, do vua Khất lật song đề tán (Tạng:Khri-sroí-lde-btsan) xây dựng vào năm 766. Có thuyết nói chùa này được sáng lập vào năm 779, với sự giúp đỡ của ngài Tịnh hộ (Phạm: Zàntiraksita) và Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava). Chùa này được xây cất phỏng theo chùa Âu đan đa phá lê (Phạm: Udaịđapura), một tổng hợp các phong cách kiến trúc Tây tạng, Trung quốc và Ấn độ, cho nên cũng gọi là Tam dạng tự. Cách bố cục, chính giữa là núi Tu di, phía ngoài có 4 đại châu, 8 tiểu châu và 2 vầng nhật nguyệt, ngoài cùng có tường bao chung quanh, 4 góc đều có xây 4 ngôi tháp Xá lợi, 4 cửa đều dựng 4 tấm bia. Chùa gồm một tòa Đại điện, 4 viện Đại học và các kiến trúc khác, chung quanh xây tường cao, dài khoảng 2,4km, trên tường có 1030 ngôi tháp gạch. Tượng Đại Phật thờ ở chính điện cao 16m, các tượng Phật được tôn trí trong chùa phần nhiều được đúc bằng vàng ròng và trang sức bằng châu báu, các đồ thờ trước Phật đa số cũng được làm bằng vàng bạc. Tấm bia đá hình trụ vuông trước chùa được dựng vào thời vua Ngật lật song đề tán (742-797), có khắc bài minh tiếng Tây tạng. Hiện nay chùa đã bị phá hủy, các di vật văn hóa đều bị mất. Chùa có thiết lập Viện Dịch kinh (Tạng: Sgra-bs-gyur lha-khaí), bên trong tàng trữ các nguyên điển Ấn độ, nhưng rất tiếc phần lớn đã bị thiêu hủy vào năm 1810. Các vị tăng học giả người Ấn độ như Tang đề ca nhĩ phạ (Phạm: Zàntigarbha), Duy hưu đạt hân ha (Phạm: Vizuddha= siôha)... và các vị tăng dịch kinh người Tây tạng như Khúc kì nam ba (Tạng: Choskyi naí-pa), Bàng đức nạp mục ca (Tạng: Bande nammkha#)... từng phiên dịch kinh điển Phật bằng tiếng Phạm sang tiếng Tây tạng tại chùa này dưới sự giúp đỡ của vua Khất lật song đề tán, đồng thời, vâng sắc biên tập bộ Kinh tạngmục lụcđược cất giữ trong cung Điền ca nhĩ (Tạng: Denkar).Vào thế kỉ IX, người Thổ phồn cấm truyền bá Phật giáo, chùa này từng bị đóng cửa. Đến nửa sau của thế kỉ X, Phật giáo mới được khôi phục. Hiện nay chùa này do các vị tăng Lạt ma thuộc phái Tát ca cai quản, nhưng phần lớn trong số 1000 vị tăng hiện tu học ở đây lại thuộc phái Ninh mã (Tạng: Rĩií-ma-pa). [X. The Buddhism of Tibet (L. A. Waddell); The Tibetan Book of the Great Liberation (Evans-Wentz); Tibet and the Tibetans (Tsung-Lien Slen and Shen Chi Liu); Pag Sam Jon Zang (S.Candra Das); Die Religionen Tibet (H.Hoffmann); Mk’ yen Brtse’s Guide to the Holy places of Central Tibet (A. Ferrari)].
tang hi
4128最早翻譯漢文佛經為藏文之譯經師。俗姓巴,傳為金城公主時留藏漢人之後裔。曾為棄隸蹜贊王(704~755)所派遣,往長安取經。返藏時,棄隸蹜贊王已逝,其子乞㗚雙提贊(742~797)幼年即位,因權臣之禁佛,桑希遂藏所攜千餘卷漢文經典於青浦(今桑耶附近)石窟中。及乞㗚雙提贊漸長,桑希與信佛之臣屬共議興佛事宜,桑希乃將所藏佛經進呈藏王,並略述其大意。贊普大悅,命與漢人梅瑪果、迦濕彌羅阿難陀等共譯為藏文。
tang phương sá mã cáp nhã ni khang
4129(Sang Hyang Kamahāyānikan)為古代爪哇之書名。乃大乘聖教之意。其內容係敘述密教瑜伽行者之修道及證果等,由梵文序偈與古代爪哇語之本文組成。序偈有四十二頌,乃勸說修行者住於三世諸佛大乘妙道真言行之理趣,守護三昧耶,得金剛薩埵之加被;知諸法無自性無濁,而於世間開示真言之理趣;自持金剛印契等;尊重與一切諸佛平等之阿闍梨,並供養之;應求達到佛位為目的。本文採用古代爪哇語之問答體,不分章節,然後人分之為四章。第一章略說修行者入波羅蜜行所作有關先行準備之住處及資具之規定。第二章詳說十波羅蜜,即布施等六波羅蜜與慈悲喜捨等四修。第三章則細說修行者在波羅蜜成滿後應練行之瑜伽,並基於鍛練氣息之不二定等,以及揭示祕密之解說、文字音聲之祕釋等,間有援引陳那之說者。第四章之組織甚為錯雜,旨在說明修行者必須到達的諸菩薩、諸在定佛及其妃所具有之祕密意義等。〔 Ch. Eliot: Hinduism and Buddhism, vol. Ⅲ; Arthur Fitz: Buddhism in Java(Peace, 1934)〕
; (桑芳卡馬哈雅尼康) Sang Hyang Kamahàyànikan. Hán dịch: Đại thừa Thánh giáo. Tác phẩm của Phật giáo Java (Indonesie) đời xưa. Nội dung sách này nói về việc tu đạo và chứng quả của hành giả Du già Mật giáo. Toàn sách gồm có phần kệ tựa bằng tiếng Phạm và phần chính văn bằng tiếng Java xưa. Phần kệ tựa gồm 42 bài tụng khuyên người tu hành trụ ở nơi líthú của hạnh Đại thừa diệu đạo chân ngôn của chư Phật 3 đời, giữ gìn Tam muội da, được sự gia bị của Kim cương tát đóa, biết rõ các pháp không tự tính, vốn trong sạch, mở bày lí thú của chân ngôn cho thế gian, tự trì Kim cương ấn khế..., tôn kính A xà lê cũng như tôn kính chư Phật, phải cầu đạt đến quả vị Phật... Phần chính văn sử dụng thể vấn đáp, vốn không chia chương tiết, nhưng người đời sau chia làm 4 chương: 1. Chương thứ nhất: Nói sơ qua các qui định về chỗ ở và các thứ cần dùng mà người tu hành phải chuẩn bị trước khi vào hạnh Ba la mật. 2. Chương thứ hai: Nói rõ về 10 Ba la mật, tức là 6 pháp Ba la mật và 4 pháp từ, bi, hỉ, xả. 3. Chương thứ ba: Nói tỉ mỉ về hạnh Du già mà hành giả phải luyện tập sau khi đã thành tựu đầy đủ các Ba la mật, đồng thời, dựa trên nền tảng của định Bất nhị để rèn luyện hơi thở, cho đến nêu ra các giải thuyết bí mật, giải thích về văn tự âm thanh, trong đó, thỉnh thoảng có trích dẫn thuyết của ngài Trần na. 4. Chương thứ tư: Cách sắp xếp rất lộn xộn, mục đích nhằm thuyết minh ý nghĩa bí mật của các Bồ tát và của chư Phật ở trong định mà hành giảDugià cần phải đạt đến. [X. Hinduism and Buddhism vol. III by Ch. Eliot; Buddhism in Java (Peace, 1934) by Arthur Fitz].
tang đỉnh tự
4129位於西藏山南浪卡子縣境白地湖(羊卓雍湖)南面。係西藏唯一女活佛桑頂多吉帕姆駐錫之所。由瓊波南交之後輩興建,屬西藏佛教迦爾居派香巴迦爾居支派。
tang-môn
xem sa-môn.
tao khang
6483糟,乃取酒後之滓;糠,乃取米後之穀皮。原指粗劣之糧食,而轉喻憍慢之比丘及粗惡之法。法華經方便品(大九‧七下):「眾中之糟糠,佛威德故去,斯人銯福德,不堪受是法。」〔大法皷經卷上〕
; (糟糠) Tao là bã rượu; Khang là cám gạo. Vốn chỉ cho thức ăn hèn mọn, sau được dùng để ví dụ tỉ khưu kiêu mạn và pháp thô xấu.Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 7 hạ) nói: Hạng tao khang trong chúng vì sợ uy đức của Phật nên bỏ đi; những người ấy ít phúc đức không kham nổi pháp này.[X. kinh Đại pháp cổ Q.thượng].
tao tì la
6842即漉水囊(梵 parisrāvaṇa,音譯鉢里薩羅伐拏)。指用以濾水去蟲之布袋。為比丘六物之一,十八物之一。希麟音義卷七:「騷毘羅,此云漉水囊也。」(參閱「漉水囊」5825)
; (騷毘羅) Phạm: Parisràvaịa. Hán âm: Bát lí tát la phạt noa. Chỉ cho cái túi may bằng vải dùng để lọc bỏ những vi trùng trong nước trước khi sử dụng, 1 trong 6, hoặc 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu thường mang bên mình. Hi lân âm nghĩa quyển 7 nói: Tao tì la, Hán dịch là Lộc thủy nang. (xt. Lộc Thủy Nang).
tao đà kì lê
6500請參閱 聲論 請參閱 阿毘達磨俱舍論 [1]梵名 Sodāgiri?。意譯與山。乃世尊於過去世為鸚鵡鳥之名。據佛行集經卷三十一載,於無量劫前,有鸚鵡鳥二兄弟,一名摩羅祁棃,二名臊陀祁棃,彼時弟遭鷹突襲,其兄勉之,謂但啄鷹之要害,精勤莫懶,即得解脫,臊陀祁棃遂猛啄奮抗,終於戰勝鷹而自救;彼鸚鵡者即佛陀之過去身,鷹即波旬之過去身。〔玄應音義卷十九〕
tao đà kỳ lê
(臊陀祁梨) Phạm:Sodàgiri (?). Hán dịch: Dự sơn. Tên của một con chim Anh vũ ở thời quá khứ, là tiền thân của đức Thế tôn. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 31, vô lượng kiếp trước có 2 con chim Anh vũ, chim anh tên là Ma la kì lê, chim em tên là Tao đà kì lê. Bấy giờ, Tao đà kì lê bị chim cắt đánh bất ngờ, chim anh là Ma la kìlêbảo chim em gắng sức mổ vào chỗ hiểm yếu của chim cắt thì sẽ thoát nạn. Tao đà kì lê bèn mổ thật mạnh và chống trả liên tiếp, quyết liệt, cuối cùng chiến thắng chim cắt, tự cứu được mình. Chim Anh vũ kia là tiền thân của đức Phật, còn chim cắt là tiền thân của ma Ba tuần. [X. Huyền ứng am nghĩa Q.19].
Ter-ma
T: terma [gter-ma]; dịch nghĩa là »báu vật«;|Trong Phật giáo Tây Tạng, Ter-ma là kinh sách của thế kỉ thứ 8, trong thời gian mới đầu lúc truyền bá Phật pháp, phải được dấu kín để được khám phá ra lúc cơ duyên chín muồi. Người khám phá ra kinh sách đó được gọi là Ter-ton, và có trách nhiệm truyền bá và giải thích. Ðặc biệt trong giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa) người ta rất tin tưởng các Ter-ma. Việc cất giữ kinh sách trong một chỗ bí mật thật ra là truyền thống Ấn Ðộ. Người ta còn kể lại rằng, Long Thụ đã nhận được kinh điển từ Long vương (s: nāga) trao cho và có trách nhiệm truyền bá giáo pháp ấy.|Tông phái có nhiều Ter-ma nhất của Tây Tạng là Ninh-mã (nyingmapa), mà phần quan trọng nhất do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và nữ đệ tử là Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) truyền lại. Các bí lục này không chỉ gồm giáo pháp từ Ấn Ðộ mà của cả xứ Ô-trượng-na (t: orgyen). Tương truyền Liên Hoa Sinh đã dấu các tác phẩm này trong 108 chỗ bí mật tại Tây Tạng, trong các hang hốc hay tranh tượng. Một trong những bí lục quan trọng đó là hồi kí cuộc đời của Liên Hoa Sinh cũng như bộ Tử thư (t: bardo thodol). Ngoài ra các tài liệu về thiên văn và y học cũng được xem là Ter-ma.|Khoảng giữa thế kỉ 10 và 14, nhiều vị nhận được khải thị tìm thấy Ter-ma, thường thường là khải thị trong giấc mộng hoặc linh ảnh. Các vị đó có trách nhiệm tìm kiếm, xếp đặt lại và luận giải thêm về các Ter-ma đó. Trong trường phái Ninh-mã, người ta rất trọng thị các vị Ter-ton (người tìm ra các Ter-ma), nhất năm vị »vua tìm thấy báu vật« mà một trong năm vị đó là Org-yan Pe-ma Ling-pa (1445-1521), được xem là hậu thân của Long-chen-pa. Có khi một Ter-ma vừa tìm ra được lại phải dấu kín lại vì chưa đến lúc công bố. Các Ter-ma đó được gọi là »của báu phải dấu hai lần.«
Tha
他; C: tā; J: ta;|Có các nghĩa sau: 1. Kia, cái khác (s: para); 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa); 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện, nhân vậy thứ 3 (ông ấy, cô ấy); 4. Tiếng dùng để chuyển âm tha trong tiếng Phạn (sanskrit).
tha
6115悉曇字鎄(cha)。為悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作車、捙、綽、擦、瑳、嗟、撦、蟲、且。其義有數說:(一)為「一切諸法影像不可得」之義,是由梵語 chāyā(音譯車野)有「影」之義而有此說。大日經疏卷七(大三九‧六五二下):「梵音車野是影義。如人影像皆依自身,如是三界萬法唯是識心因緣變似眾境,(中略)或能面見十方諸佛普現色身,亦皆是心之影像。以心本不生故,當知影像亦無所生。無所生故,乃至心無遷變故,影像亦無遷變,所以然者,如影自無定性,行止隨身,心影亦爾。以心動作戲論,無一念住時故,世間萬用亦復為之流轉。若了心如實相時,影亦如實相,故不可得也。」(二)為「欲樂覆性」、「覆陰」之義,是由梵語 chattra(音譯縒怛羅)有「欲」及「蓋」之義而有此說。大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門(大一九‧七○八中):「磋字時,入修行加行藏蓋差別道場般若波羅蜜門,悟一切法欲樂覆性不可得故。」北本大般涅槃經卷八(大一二‧四一三下):「車者,如來覆蔭一切眾生,喻如大蓋。」(三)為「去」之義,是由梵語 gaccha(音譯伽車)有「去」之義故有此說。大智度論卷四十八(大二五‧四○八下):「若聞車字,即知一切法無所去。」此外,經論中另舉有貪欲、覆輪、不覆欲、棄等諸義。〔大品般若經卷八、大方等大集經卷十、方廣大莊嚴經卷四、文殊師利問經卷上字母品、華嚴經普賢行願品卷三十一、文殊問經字母品第十四、放光般若經卷四、普曜經卷三、不空羂索神變真言經卷十四〕
; 1538<一>悉曇字莾(tha)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作佗、陀,或作癉。有三種解釋:(一)瑜伽金剛頂經釋字母品(大一八‧三三八下):「他字門,一切法住處不可得故。」大日經疏卷七謂(大三九‧六五三下):「他字門,一切諸法住處不可得故者。梵音薩他娜,是住處義,亦是住義。如人從此住處昇上某處,其所依處所,說名為住。諸賢聖地位亦如是,約諸行道人心迹所依所止息處,故說種種名。若見他字時,即知一切諸法無不待緣成,故當知悉有所依住處,是為字相。」由上可知「他」字有住處之義,係就梵語薩他娜(梵 sthāna)之住處義而來。(二)又文殊問經字母品(大一四‧五○九下):「稱佗字時,是勢力進無畏聲。」則「他」字係就俗語勢力(梵 thāma-balaṃ)之首字而釋之。(三)又涅槃經卷八如來性品(大一二‧四一三下):「他者,名愚癡義。眾生流轉,生死纏裹,如蠶、蜣蜋。」故知「他」字亦作愚癡之義,即自俗語 thīnaṃ 之釋而來。〔大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門、大般若經卷四九○、大莊嚴經示書品、大智度論卷四十八廣乘品〕 <二>因明用語。於因明之對論法中,以宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)三支作法建立自己之宗者,稱為自(立論者);立論者以外之人,稱為他。他,包括敵者(問難者)與證者。敵者,係指與立論者兩相對立之人。所謂兩相對立,並非特指抱持相反意見而與立論者對諍之人。凡與立論者所持意見未臻一致者,皆歸入敵者之列,故其範圍頗廣,既包括與立論者對諍之人,亦包括質疑問難者,且亦包括於理未明而須立論者為之解釋者。證者,又稱證義者,依印度辯論之慣例,立、敵對諍時,須有第三者判決其是非、勝負,此第三者即為證義者。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; Xem Tối cao.
; Another, other, the other, his, her, its, etc.
; 1) Khác: Another—Other—The other. 2) Mài: To polish. 3) Tha tội: To pardon—To forgive—To condone—To excuse—To condole—To forgive someone. 4) Ông ấy, bà ấy, hay cái ấy: He, she, it.
; (他) I. Tha. Chỉ cho chữ (tha), 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ này có 3 cách giải thích: 1. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Tha nghĩa là trụ xứ của tất cả pháp bất khả đắc. Y cứ vào đây ta biết chữ Tha có nghĩa là trụ xứ là do nghĩa trụ xứ của tiếng Phạm Tát tha na (Phạm:Sthàna) mà ra. 2. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn (Đại 14, 509 hạ) nói: Khi đọc chữ Tha (đà) thì âm thanh ấy có thế lực tiến đến sự vô úy. Chữ Tha ở đây được giải thích theo chữ đầu của chữ thàma-balaô nghĩa là thế lực. 3. Phẩm Như lai tính trong kinh Niết bàn quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Tha nghĩa là ngu si. Chúng sinh trôi lăn, sinh tử trói buộc, như tằm, bọ hung. Do đó mà biết chữ Tha cũng có nghĩa là ngu si, tức giải thích từ tục ngữ thì naô mà ra. [X. phẩm Nhập pháp giới tứ thập nhị tự quán môn trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; kinh Đại bát nhã Q.490; phẩm Thị thư trong kinh Đại trang nghiêm; phẩm Quảng thừa trong luận Đại trí độ Q.48]. II. Tha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, người lập luận dùng tác pháp 3 chi: Tông (mệnh đề), Nhân(lí do), Dụ(thí dụ) để kiến lập Tông của mình, gọi là Tự (người lập luận), còn những người ngoài người lập luận thì gọi là Tha (người khác). Tha bao gồm người vấn nạn và người chứng nghĩa. - Người vấn nạn: là người đối lập với người lập luận. Đối lập ở đây không phải chỉ riêng người có ý kiến tương phản để tranh luận với người lập luận mà phàm những ai còn có ý kiến chưa nhất trí với ý kiến của người lập luận thì đều được xếp vào phía đối lập, vì thế phạm vi của Tha rất rộng, chẳng những chỉ bao gồm người tranh luận với người lập luận mà còn bao gồm cả người chất nghi vấn nạn, lại cũng bao gồm cả người mà đối với lí chưa sáng tỏ, còn cần người lập luận phải giải thích. - Người chứng nghĩa: theo lệ thường của các cuộc biện luận ở Ấn độ thì khi người lập luận và người địch luận tranh biện với nhau, phải có người thứ 3 làm trọng tài để phán quyết phải, trái và thắng, thua; người thứ 3 ấy chính là người Chứng nghĩa.
; (他) Cũng gọi Xa, Xước, Sát, Sa, Ta, Trùng, Thả.Chỉ cho chữ ( ) (cha), 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 tự môn Tất đàm. Có nhiều thuyết về ý nghĩa của chữ này. Nghĩa bóng dáng của tất cả pháp bất khả đắc. Thuyết này là do chữ Phạm Chàyà (Hán âm: Xa dã) có nghĩa là cái bóng mà ra. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 652 hạ) nói: Chữ Phạm Xa dã (Chàyà) nghĩa là cái bóng, như bóng của người ta đều nương vào thân mình, muôn pháp trong 3 cõi cũng như thế chỉ là do nhân duyên tâm thức biến hiện mà giống như có các cảnh (...), hoặc thấy được sắc thân của chư Phật hiển hiện trong 10 phương thì cũng đều là bóng dáng của tâm. Vì tâm vốn không sinh, nên biết bóng dáng cũng không có chỗ sinh; bởi không có chỗ sinh nên tâm chẳng dời đổi, bóng dáng cũng không dời đổi, sở dĩ như thế là vì bóng dáng không có tính chất nhất định, mọi cử chỉ hoàn toàn tùy thuộc nơi thân, bóng dáng của tâm cũng vậy. Vì tâm dong ruổi hí luận, không một niệm dừng nghỉ nên muôn vàn công dụng trong thế gian cũng theo đó mà trôi lăn. Nếu khi rõ được tướng như thực của tâm thì tướng của bóng dáng cũng như thực, cho nên là bất khả đắc. Nghĩa ham muốn thú vui che lấp chân tính. Thuyết này là do chữ Phạm Chattra (Hán âm: Sai đát la) có nghĩa là muốn và che đậy mà ra. Tứ thập nhị tự quán môn trong phẩm Nhập phápgiới, kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm (Đại 19, 708 trung) nói: Khi quán tưởng chữ Tha thì vào môn tu hành gia hạnh tàng cái sai biệt đạo tràng Bát nhã ba la mật, rõ biết tất cả pháp ham muốn các thú vui che lấp chân tính là bất khả đắc. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Chữ Xa có nghĩa Như lai che mát cho tất cả chúng sinh, giống như cây lọng lớn. Nghĩa đi. Thuyết này là do tiếng Phạm Gaccha (Hán âm: Già xa) có nghĩa là đi mà ra. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ) nói: Nếu nghe chữ Xa thì biết tất cả pháp đều không có chỗ đi. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.8; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Phổ diệu Q.3; kinh Bất không quyến sách thần biến chân ngôn Q.14].
tha bảo
Những thứ quý giá của người khác—The valuables of another person—Other valuables.
tha bổng
To discharge—To acquit.
tha cho
See Tha.
tha di phẩm
1544因明用語。異品,指與宗義(命題之意義)相異之品類。於因明論式中,異品若僅立(立論)者所許(認可),而為敵(問難)者所不許,則稱他異品。他異品即自同品。(參閱「共同品」2194、「自同品」2518)
; (他异品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Dị phẩm chỉ cho phẩm loại khác với tông nghĩa (ý nghĩa của mệnh đề). Trong luận thức Nhân minh, Dị phẩm nếu chỉ được người lập luận(Tự) chấp nhận, còn người vấn nạn(Tha) không chấp nhận thì gọi là Tha dị phẩm. Tha dị phẩm chính là Tự đồng phẩm. (xt. Cộng Đồng Phẩm, Tự Đồng Phẩm).
tha duyên
1544「性空緣起」為佛教基本理論之一,蓋一切事物皆無自性,此即「性空」;而所有事物之形成悉由諸緣和合而起,此即「緣起」。於緣起之法中,所起之法為「自」,能起之諸緣為「他」,故稱他緣。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八五六上):「我身屬於他緣,冥冥不知來處。」
; (他緣) Chỉ cho các duyên chủ động (năng) trong thuyết Duyên khởi của Phật giáo. Tính không duyên khởi là 1 trong các lí luận cơ bản của Phật giáo, tất cả sự vật đều không có tự tính, đó là Tính không; tất cả sự vật được hình thành đều do các duyên hòa hợp mà sinh khởi, đó là Duyên khởi. Trong pháp duyên khởi, pháp sở khởi (được khởi lên = bị động) là Tự(mình), các duyên năng khởi(làm cho khởi lên = chủ động) là Tha(người, nó, khác), cho nên gọi là Tha duyên. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 856 thượng) nói: Thân ta thuộc về tha duyên, mờ mịt chẳng biết từ đâu đến.
tha duyên giác tâm
Xem Tha hoá Tự tại Thiên.
tha duyên đại thừa tâm
1544指以無緣之慈悲普遍加被眾生之菩薩心。無緣,即無有任何親疏差別之諸緣。又作他緣大乘住心、無緣乘心。為日本真言宗所立十住心之第六,即超越二乘地之大乘菩薩所住之心。十住心論卷六(大七七‧三三七上):「緣法界有情,故他緣;簡聲獨羊鹿,故大名;運自他乎圓性,故曰乘。此乃君子之行業,菩薩之用心。」大日經卷一(大一八‧三中):「大乘行發無緣乘心,法無自性。」此「無」字之梵語 māpara(音譯莽鉢羅),含有「無」與「他」二義,故有「他緣乘」與無緣乘」二種解釋。空海依「所寄齊」將之配以法相大乘之教意。若就「能寄齊」之真言行者而言,相當於六無畏中第五「法無我無畏」之位,即以如幻等之行法深入法空,住於無緣之心而遠離諸法之扼縛。就十住心而言,於前第五住心之中既已遠離五蘊之扼縛,而尚未發起悲願,於此住心中始入菩薩分,次第覺知「心本不生」之理而漸入第七住心;於其中間之位,即是此第六住心「他緣大乘心」。〔大日經疏卷二、卷三、祕藏寶鑰卷下〕(參閱「十住心」431)
; (他緣大乘心) Cũng gọi Tha duyên đại thừa trụ tâm, Vô duyên thừa tâm. Chỉ cho tâm Bồ tát đem lòng từ bi vô duyên (vô điều kiện) gia bị tất cả chúng sinh, là Trụ tâm thứ 6 trong 10 Trụ tâm do tông Chân ngôn Nhật bản thành lập. Luận Thập trụ tâm quyển 6 (Đại 77, 337 thượng) nói: Duyên các hữu tình trong pháp giới nên gọi là Tha duyên; phân biệt với xe dê, xe nai của Thanh văn, Độc giác nên gọi là Đại; vận chuyển mình và người về tính Viên giác nên gọi là Thừa. Đó là hành nghiệp của người quân tử, là dụng tâm của hàng Bồ tát. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 18, 3 trung) nói: Hạnh Đại thừa phát tâm vô duyên thừa, pháp vô tự tính. Tiếng Phạm của chữ Vô này là màpara (Hán âm: Mãng bát la) bao hàm 2 nghĩa vô và tha, cho nên có 2 cách giải thích là Tha duyên thừa và Vô duyên thừa. Ngài Không hải dựa theo Sở kí tề đem tâm Vô duyên thừa phối hợp với giáo ý của Pháp tướng Đại thừa. Nếu nói theo Năng kí tề của hành giả Chân ngôn thì tâm Vô duyên thừa tương đương với giai vị Pháp vô ngã vô úy, thứ 5 trong 6 Vô úy, tức dùng các pháp tu hành như huyễn mà đi sâu vào pháp không, trụ nơi tâm vô duyên để xa lìa sự trói buộc của các pháp. Nói theo 10 Trụ tâm thì trong Trụ tâm thứ 5 vừa nói trên đã xa lìa sự trói buộc của 5 uẩn, nhưng vẫn chưa phát khởi bi nguyện, đến Trụ tâm này mới vào Bồ tát phần, theo thứ tự biết rõ lí Tâm vốn không sinh mà dần dần tiến lên Trụ tâm thứ 7. Ở giai vị trung gian chính là Tha duyên đại thừa tâm của Trụ tâm thứ 6. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2, 3; Bí tạng bảo thược Q.hạ]. (xt. Thập Trụ Tâm).
tha giới
1544梵語 para-loka。又作他世、他土。指此世界以外之其他世界。依輪迴之說,有情眾生未得解脫時,將遍歷於地獄、餓鬼、畜生、修羅、人間、天上等諸世界中。故對人間世界而言,其他諸世界皆稱為他界。人類由於今世行為之善惡,死後或生於他界。諸佛之淨土雖亦為死後往生之他界,然生於淨土者,將不再轉墮於輪迴之世界。 至於言「生於他界」者,一般即指死後而言。僅有具備神通力者可於生前至他界。例如,僧伽羅剎所集經卷下載,佛陀顯現奇蹟,上三十三天,度過二次雨期之久。雜阿含經卷四十之十,敘述目連上三十三天,為帝釋天說法。此外尚有其他長老、比丘自在往來天上界、地獄等之記載。〔文殊師利般涅槃經、大悲經卷四、印度佛教學研究六の一(前田惠學)〕
; (他界) Phạm: Para-loka. Cũng gọi Tha thế, Tha độ. Chỉ cho các thế giới khác ngoài thế giới này.Theo thuyết luân hồi, khi chúng sinh hữu tình chưa được giải thoát thì phải thụ sinh trong các thế giới địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, Tu la, cõi người và cõi trời. Bởi vậy, đối với thế giới loài người mà nói, các thế giới khác đều gọi là Tha giới. Do những hành vi thiện ác ở đời này mà sau khi chết, con người sẽ thụ sinh trong các thế giới khác (Tha giới), nhưng người đã sinh về Tịnh độ thì sẽ không còn rơi trở lại vào thế giới luân hồi trừ nguyện độ sinh.Thông thường nói sinh về thế giới khác là chỉ cho sau khi chết. Chỉ có những người có đầy đủ năng lực thần thông mới có thể đến các thế giới khác lúc đang còn sống. Như kinh Tăng già la sát sở tập quyển hạ ghi đức Phật đã hiển hiện những việc lạ, Ngài lên cõi trời Đao lợi trải qua 2 mùa mưa; kinh Tạp a hàm quyển 40, phần 10, thuật lại việc ngài Mục liên lên cõi trời Ba mươi ba nói pháp cho trời Đế thích nghe. Ngoài ra còn có các vị Trưởng lão, tỉ khưu qua lại các cõi trời và địa ngục... một cách tự tại. [X. kinh Văn thù sư lợi bát niết bàn; kinh Đại bi Q.4; Ấn độ Phật giáo học nghiên (Tiền điền Huệ học)].
tha hoá thiên
Xem Tha hoá Tự tại Thiên.
Tha hoá tự tại thiên
他化自在天; C: tāhuà zìzài tiān; J: takejizai ten;|Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó có thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi Thiên ma Ba-tuần cư ngụ (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Đó là cõi thứ 6 của Lục dục thiên (六欲天).
tha hoá tự tại thiên
1540他化自在,梵名 Para-nirmita-vaśa-vartin,巴利名 Para-nimmita-vasa-vattin,音譯作波羅尼蜜和耶越致、波羅尼蜜、波羅維摩婆奢、娑舍跋提。又譯作他化樂天、他化自轉天、化應聲天。單稱自在天、他化天、化他天,或第六天。即六欲天之第六天。此天假他所化之樂事以成己樂,故稱他化自在天。大智度論卷九(大二五‧一二二上):「此天奪他所化而自娛樂,故言他化自在。」即於他化之中得自在。 此天為欲界之主,與色界之主摩醯首羅天,皆為嬈害正法之魔王,乃四魔中之天魔,有「第六天魔王」之稱。又據長阿含經卷二十忉利天品載,第六天上別有縱廣六千由旬之天魔宮殿。大智度論卷五(大二五‧九九中):「魔有四種(中略)。四者,他化自在天子魔。」此天位於欲界天之最高所,在距大海百二十八萬由旬虛空密雲之上,縱廣八萬由旬,與忉利天同。於此天界,有優鉢羅花等之水生花及解脫花等之陸生花。 此天有三事勝於閻浮提,即:長壽、端正、多樂。天眾之壽量為一萬六千歲,其一晝夜約為人間一千六百年,但亦有中夭者。其身長十六由旬或一拘盧舍半,衣長三十二由旬,廣十六由旬,然重僅半銖。食自然之食。男女相視成婬,欲求子時,隨念而忽化生於膝上。初生時,如人間十歲之孩童,色貌圓滿,衣服自備。於諸經中,如大阿彌陀經卷上、海龍王經卷四法供養品、商主天子所問經、說無垢稱經卷一序品等皆述及此天之各種莊嚴景象。又於大乘諸經中,華嚴經七處八會中之第六他化自在天宮會、般若經四處十六會中之第十會他化自在天宮說般若理趣分等,即是於此天之天宮中所宣說者。 於密教中,此天位於現圖胎藏界曼荼羅外金剛部院之西北方。其形像,身呈肉色,右手直豎,手中執箭,左手屈三指,手中持弓。種子為:蛥(paṃ)。三昧耶形為荷葉上之弓箭。〔修行本起經卷下出家品、俱舍論卷八、卷十一、立世阿毘曇論卷六、法苑珠林卷二、卷三〕
; Paramimmita-vaśavatti (P), Paramimmitavaśavartin (S), Heaven of Free Enjoyment of Others' Manifestations, Paranirmita-vasavattīdevaloka (P), Vaśavartin (S), Tha hoá thiên Một trong 6 cõi trời Dục giới, đứng đầu là vua trời Tự Tại: - Tứ thiên vương thiên - Đạo lý thiên - Dạ ma thiên - Đâu suất thiên - Hoá lạc thiên - Tha hoá tự tại thiên Tha Duyên giác tâm (1) Tên một cõi giới. (2) Tha Duyên giác tâm cùng Giác tâm bất sinh tâm là hai trong mười trụ tâm.
; (他化自在天) Tha hóa tự tại, Phạm: Para-nirmitavaza-vartin. Pàli: Para-nimmita-vasa-vattin. Hán âm: Ba la ni mật hòa da việt trí, Ba la ni mật, Ba la duy ma bà sa, Sa xá bạt đề. Cũng gọi Tha hóa lạc thiên, Tha hóa tự chuyển thiên, Hóa ứng thanh thiên. Gọi tắt: Tự tại thiên, Tha hóa thiên, Hóa tha thiên. Chỉ cho tầng trời thứ 6 trong 6 tầng trời của cõi Dục. Người cõi trời này lấy những việc vui thú do người khác hóa ra làm niềm vui của mình, cho nên gọi là Tha hóa tự tại thiên. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 122 thượng) nói: Cõi trời này lấy những việc do người khác hóa ra để tự vui, cho nên gọi là Tha hóa tự tại. Tức là được tự tại trong các việc do người khác hóa ra. Vị trời này đứng đầu cõi Dục, cũng như trời Ma hê thủ la đứng đầu cõi Sắc, đều là các ma vương nhiễu hại Chính pháp, là Thiên ma trong 4 loại ma, được gọi là Thiên ma vương thứ 6. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm quyển 20, trên từng trời thứ 6, có riêng một cung điện Thiên ma, rộng 6 nghìn do tuần. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 99 trung) nói: Ma có 4 loại (...), loại thứ 4 là Tha hóa tự tại thiên tử ma..Cõi trời này là cõi cao nhất trong 6 tầng trời của cõi Dục, ở trên tầng mây dày đặc cách mặt biển 128 vạn do tuần, rộng 8 vạn do tuần, đồng với cõi trời Đao lợi. Ở cõi trời này có các loại hoa mọc dưới nước như hoa sen và các loại hoa mọc trên đất liền như hoa giải thoát... Cõi trời này có 3 việc hơn hẳn cõi Diêm phù đề, đó là: Sống lâu, xinh đẹp và nhiều thú vui. Chúng trời cõi này sống tới 16.000 tuổi, 1 ngày đêm ở đây bằng 1.600 năm ở nhân gian. Tuy nhiên, cũng có những người chết yểu nửa chừng. Người cõi trời này cao 16 do tuần, hoặc 1,5 Câu lô xá, áo dài 32 do tuần, rộng 16 do tuần, nhưng chỉ nặng nửa thù (bằng 100 gam). Ăn thức ăn tự nhiên, nam nử chỉ nhìn nhau mà thành dâm; khi muốn có con thì con liền hóa sinh ra trên đầu gối. Lúc mới sinh ra, đứa con này đã to bằng đứa trẻ 10 tuổi ở nhân gian, vóc dáng tròn đầy, y phục có đủ. Theo sự miêu tả trong các kinh thì cảnh tượng của cõi trời này rất trang nghiêm. Hơn nữa, trong 7 nơi 8 hội của kinh Hoa nghiêm thì hội Tha hóa tự tại thiên cung thứ 6 được nói ở cõi trời này; rồi hội Tha hóa tự tại thiên cung thuyết Bát nhã lí thú phần trong 4 nơi 16 hội của kinh Bát nhã cũng được tuyên thuyết ở cõi trời này. Ngoài ra, trong Mật giáo, trời Tha hóa tự tại được an vị ở phía tây bắc của viện Ngoại Kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng là thân màu da người, ngồi xếp bằng, tay phải cầm mũi tên, tay trái co 3 ngón, cầm cung. Chủng tử là (paô), hình Tam muội da là cung tên trên lá sen. [X.phẩm Xuất gia trong kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; luận Câu xá Q.8, 11; luận Lập thế a tì đàm Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.2, 3].
Tha hóa tự tại
xem cõi trời thứ sáu.
tha hóa tự tại thiên
Pranirmita-vasavarti (S). The sixth of the six heavens of of desire, or passion heavens, the last of the six devalokas, the abode of Mahesvara (i.e. Siva) and of Mara.
; Paranirmita-Vasavartin (skt)—Bà Xá Bạt Đề—Bà La Ni Mật Bà Xá Bạt Đề Thiên—Bà Na Hòa Đề—Cõi trời thứ sáu trong sáu cõi trời dục giới (đệ lục thiên), nơi trú ngụ của Ma Hê Thủ La Thiên và Ma vương—The sixth of the six heavens of desire, or passion-heavens, the last of the sixth devalokas, the abode of Mahesvara (Siva), and of Mara.
tha hóa tự tại thiên tử ma
Xem Thiên ma.
Tha hóa tự tại thiên 他化自在天
[ja] タケジザイテン takejizai ten ||| The heaven where one can partake of the pleasures of created in other heavens, and also where Pipanyan, the King of the Maras, resides (para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). It is the sixth of the six heavens of the desire realm 六欲天. => (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó cò thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi thiên ma Ba-tuần (c: Pipanyan) cư ngụ . Đó là cõi trời thứ sáu của Lục dục thiên 六欲天.
tha hồ
As one please—At will—Without control or limitation.
tha hứa
1544因明用語。他,指立論者以外之人,包括敵者(問難者)與證者。許,認可之意。即立論者提出之語句為自己以外之其他人所認可之情形,皆稱他許。(參閱「他」1538)
; (他許) Tiếng dùng trong Nhân minh. Tha chỉ cho người vấn nạn, người chứng nghĩa. Hứa là chấp nhận. Tức những lời nói hoặc ý kiến do người lập luận đưa ra đều được người vấn nạn và người chứng nghĩa chấp nhận thì gọi là Tha hứa.
tha hữu tự vô thể
1543因明用語。因明論式中,體(前陳、主詞)為敵(問難)者認可其實有,而立(立論)者不認可其為實有者,稱為他有自無體。(參閱「有體無體」2461)
; (他有自無體) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Thể (tiền trần, chủ từ) được người vấn nạn thừa nhận là có thật nhưng người lập luận không thừa nhận là có thật, thì gọi là Tha hữu tự vô thể.
tha khánh
6115指西藏佛教格魯派寺院全寺僧眾大會。為寺院中最高級之組織。磋慶,乃大眾之意,指全體喇嘛僧徒而言。其常設機關喇吉負責全寺之日常管理工作,司掌寺內所有關於大眾之事,如諷經、禮佛、集會、講學、飲食等,內設三執事,以司管理監督之責:(一)磋慶協俄,為管理僧眾戒律之教師,權限極大,可指揮所有與會者,及直接處罰拉薩三大寺,一般由哲蚌寺之高僧擔任大法會協俄之職。(二)磋慶吉索,管理大寺院內之錢糧財務。(三)磋慶翁則,為法會中誦經之先導,須遴選嫻熟經句及聲音宏亮者充之。
tha không kiến
1544西藏佛教爵南派之主張。係該派初祖域摩彌覺多吉依如來藏經等所說之「一切眾生皆本具相好莊嚴之佛身,名如來藏」而提出此說。認為事物本具真實體性,故不可謂之「性空」,由於人之虛妄分別而添增者,方可稱為性空。事物本真為「自」,添增其上之虛妄分別為「他」,性空之義僅為他空,而不可稱自空,故稱他空見。此一說法異於西藏佛教之其他教派。
tha kỷ
Người và ta—Another and oneself—Both he and I.
tha lợi lợi tha
1543謂利他有「他利」與「利他」兩種不同之深義。世親之淨土論(大二六‧二三三上):「菩薩如是修五門行,自利利他,速得成就阿耨多羅三藐三菩提故。」曇鸞之往生論註卷下(大四○‧八四三下)釋之:「修五門行,以自利利他成就故,然覈求其本,阿彌陀如來為增上緣。他利之與利他,談有左右,若自佛而言,宜言利他;自眾生而言,宜言他利。」蓋淨土論中所說五功德門之前四門,旨在揭示眾生之自利法門,屬於「入」功德;第五門則揭示利他之法門,即眾生既已往生淨土,更宜迴入娑婆世界,度化苦惱眾生,此乃利他之行成就,屬於「出」功德。曇鸞乃根據此說而謂,眾生之所以能成就自利、利他之行,皆是以阿彌陀佛之本願為增上緣,故知眾生之利他與彌陀廣大之利他有所區別,為不使混同之故,眾生之利他稱為「他利」,彌陀之利他則稱「利他」。上舉淨土論一文,不言「自利他利」,而言「自利利他」者,「他利」係以眾生得利益為主,施者之力難顯;言「利他」則表利益眾生而顯施者之力,此中亦含有佛之慈悲力。又日本淨土真宗,以此為其宗乘論題之一。〔往生論註記卷五、論註服宗記卷六〕(參閱「五念門」1109)
; (他利利他) Người lợi lợi người. Tức làm lợi cho người có 2 ý nghĩa sâu xa là người lợi và lợi người khác nhau. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân (Đại 26, 233 thượng) nói: Bồ tát tu hạnh 5 môn như thực, lợi mình lợi người, mau được Vô thượng chính đẳng chính giác. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan (Đại 40, 843 hạ) giải thích: Tu hạnh 5 môn để thành tựu việc lợi mình lợi người, nhưng xét tìm đến gốc nguồn của việc này thì đức Phật A di đà là tăng thượng duyên. Bàn về tha lợi và lợi tha thì có 2 phương diện. Nếu đứng về phương diện Phật mà bàn thì nên nói là lợi tha; còn đứng về phía chúng sinh mà bàn thì nên nói là tha lợi. Bởi vì 4 môn trước của 5 môn công đức nói trong luận Tịnh độ mục đích là nêu bày pháp môn tự lợi của chúng sinh; thuộc về công đức Nhập; còn môn thứ 5 thì nêu bày pháp môn lợi tha, tức sau khi đã vãng sinh Tịnh độ thì nên trở lại thế giới Sa bà để cứu độ những chúng sinh khổ não, đây là thành tựu hạnh lợi tha, thuộc về công đức Xuất. Ngài Đàm loan căn cứ vào đây mà nói rằng sở dĩ chúng sinh thành tựu hạnh tự lợi, lợi tha đều là nhờ vào việc lấy bản nguyện của đức Phật A di đà làm tăng thượng duyên. Bởi thế biết sự lợi tha của chúng sinh và sự lợi tha rộng lớn của Phật A di đà có khác nhau. Do đó, để phân biệt mới gọi sự lợi tha của chúng sinh là Tha lợi, còn sự lợi tha của đức Phật A di đà thì gọi là Lợi tha. Văn trong luận Tịnh độ nêu trên, không nói Tự lợi, tha lợi mà nói Tự lợi lợi tha. Tha lợi lấy việc chúng sinh được lợi ích làm chính, sức của người thực thi khó hiển bày; còn nói Lợi tha thì nói rõ việc làm lợi ích chúng sinh mà hiển bày sức của người thực thi, trong đó cũng bao hàm sức từ bi của Phật. Tịnh độ chân tông của Nhật bản lấy đây làm 1 trong các luận đề tông thừa của mình. [X. Vãng sinh luận chú kí Q.5; Luận chú phục tông kí Q.6]. (xt. Ngũ Niệm Môn).
Tha lực
他力; C: tālì; J: tariki; là lực từ bên ngoài, lực của người khác;|Tha lực ở đây được hiểu là sức cứu độ của Phật A-di-đà, mà theo quan điểm của Tịnh độ tông là vị sẽ tiếp dẫn những ai cầu xin Ngài. Tha lực được dùng đối ngược lại từ Tự lực (自力). Thiền tông là một môn phái dựa trên tự lực.
tha lực
1538為「自力」之對稱。指自力之外,特依佛、菩薩之力而得度解脫者。淨土宗謂:僅以自力求聖道,而無佛陀之力,亦不能獲得解脫。譬如期待「感應道交」即其一例。又立依從他力以成佛之教,稱為他力教、他力宗,如淨土宗、日本淨土真宗與時宗等。反之,主張以自力得解脫者,稱自力教、自力宗,如天台、華嚴、密、禪、法相、日本日蓮宗等均屬之。又佛之本願力、加被力即是他力,此中尤以彌陀如來之本願力能令眾生成 礡A其誓願即「唯願信我者往生我土,使成佛道」,故捨自力而信彌陀者,與此本願相應;此一信心即是他力。 我國自從往生思想興起後,即逐漸重視他力之解釋,如曇鸞曾就龍樹之「難易二道」而判立難行道與易行道之說,易行道即指乘佛之願力,或佛力加持之他力以往生成佛之修行方法。其後,智顗、善導、懷感等人亦皆著書立說,以提倡他力之教法。淨土論卷中(大四七‧九一上):「彌陀本願為增上緣。」〔大寶積經論卷一、十地經論卷一、淨土十疑論、往生論註卷上(曇鸞)、安樂集卷上〕
; Tariki (S), External power, Other-power.
; Another's strength, especially that of a Buddha, or bodhisattva, obtained through faith in Màhayàna salvation.
; Sức mạnh của người khác, đặc biệt là của Phật và Bồ Tát mà hành giả đạt được bằng niềm tin cứu độ trong giáo lý Đại Thừa—Other power—The power or stregth of another, especially that of a Buddha or Bodhisattva, obtained through faith in Mahayana salvation.
; (他力) Đối lại: Tự lực. Sức giúp đỡ của người khác. Tức ngoài năng lực của chính mình, còn đặc biệt nhờ năng lực cứu giúp của Phật và Bồ tát mà được độ giải thoát. Tông Tịnh độ nói: Chỉ dùng sức mình để cầu Thánh đạo mà không nhờ năng lực của Phật thì không thể nào đạt được giải thoát. Ví như mong được cảm ứng đạo giao cũng là 1 trường hợp về tha lực. Giáo pháp chủ trương nương nhờ tha lực để thành Phật gọi là Tha lực giáo, Tha lực tông, như tông Tịnh độ, Tịnh độ chân tông và Thời tông của Nhật bản. Trái lại, giáo pháp chủ trương dùng tự lực để đạt giải thoát gọi là Tự lực giáo, Tự lực tông, như các tông Thiên thai, Hoa nghiêm, Mật, Thiền, Pháp tướng, Nhật liên Nhật bản... đều là Tự lực tông. Ngoài ra, sức bản nguyện và sức gia bị của Phật chính là Tha lực, trong đó, đặc biệt sức bản nguyện của đức Phật A di đà thường giúp chúng sinh thành Phật. Thệ nguyện của Ngài là: Chỉ nguyện tin ta sẽ được vãng sinh về cõi ta và khiến thành Phật đạo, cho nên người bỏ tự lực mà tin Di đà thì tương ứng với bản nguyện này. Tín tâm này chính là Tha lực. Tại Trung quốc, từ sau khi tư tưởng vãng sinh hưng khởi thì dần dần coi trọng việc giải thích về tha lực, như ngài Đàm loan đã y cứ vào Nan dị nhị đạo của bồ tát Long thụ mà phán lập thuyết Nan hành đạo và Dị hành đạo. Dị hành đạo là phương pháp tu hành nương vào nguyện lực của Phật hoặc tha lực gia trì của Phật lực để vãng sinh thành Phật. Về sau, các ngài Trí khải, Thiện đạo, Hoài cảm... cũng đều soạn sách lập thuyết để đề xướng giáo pháp Tha lực. Luận Tịnh độ quyển trung (Đại 47, 91 thượng) nói: Bản nguyện Di đà là duyên tăng thượng. [X. Đại bảo tích kinh luận Q.1; Thập địa kinh luận Q.1; luận Tịnh độ thập nghi; Vãng sinh luận chú Q.thượng (Đàm loan); An lạc tập Q.thượng].
tha lực bản nguyện
1539謂一切眾生若依賴阿彌陀如來之本願力,即可獲得救度,得生彼土。他力即本願之意。善導之觀經疏散善義(大三七‧二七一中):「決定深信彼阿彌陀佛四十八願,攝受眾生,無疑無慮,乘彼願力,定得往生。」此乃謂阿彌陀佛之四十八願即他力之意。亦有特指依第十八願念佛往生願,得以往生淨土。〔往生論註卷下〕
; (他力本願) Tha lực hàm ý là bản nguyện. Nghĩa là tất cả chúng sinh nếu nương nhờ vào sức bản nguyện của Phật A di đà thì đều được cứu độ, sinh về Cực lạc phương Tây. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo (Đại 37, 271 trung) nói: Một lòng tin sâu 48 nguyện của đức Phật A di đà nhiếp thụ chúng sinh, quyết định không nghi, nương vào nguyện lực của Ngài, chắc chắn được vãng sinh. Đây nói 48 nguyện của Phật A di đà tức là tha lực. Cũng có khi Tha lực bản nguyện là chỉ riêng cho nguyện niệm Phật vãng sinhthứ 18. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
tha lực niệm phật
1540「自力念佛」之對稱。指全力投託於彌陀之本願力,此時之稱名念佛即稱他力念佛;反之,若以自力求開智慧、積功德,則其所作之稱名念佛,或觀念念佛,均稱為自力念佛。
; Trusting to and calling on the Buddha, especially Amitàbha.
; Tin tưởng và niệm hồng danh Phật để vãng sanh, đặc biệt là Phật A Di Đà—Trusting to and calling on the Buddha, especially Amitabha.
; (他力念佛) Đối lại: Tự lực niệm Phật. Dốc toàn lực vào sức bản nguyện của Phật A di đà để xưng danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật như vậy gọi là Tha lực niệm Phật. Trái lại, nếu dùng tự lực để cầu khơi mở trí tuệ, chứa góp công đức, thì xưng danh niệm Phật, hoặc quán niệm niệm Phật như thế đều gọi là Tự lực niệm Phật.
tha lực thất dụ
1539即用以比喻依阿彌陀佛之本願他力而得以往生淨土之七種譬喻;概皆用以喻顯諸佛之不可思議力,猶如下列七事之不能以常情衡量。據安樂集卷上載,所謂七喻:(一)如百人聚薪百年,其高縱然千仞,火焚半日便盡。(二)如船載人,因風帆之勢,一日可達千里。(三)如貧者獲一瑞物,以之貢王而得重賞,頃刻致富。(四)如病弱者甚至無法上於驢背,但若隨從輪王而行,卻可凌空飛騰。(五)如巨大粗索,千人不制,而童子持劍,揮斬即斷。(六)如鴆鳥入水,魚蚌皆死;犀角觸泥,死者還活。故知性命雖斷,若憑不可思議之力,猶可再生。(七)如子安於墳下千年,黃鵠喚之,竟然還活。上述七喻,皆以喻顯一切萬法皆有自力他力、自攝他攝,千開萬閉,無量無邊,不能以有限之識,疑其無礙之法。〔略論安樂淨土義、往生要集卷下〕
; (他力七喻) Chỉ 7 thí dụ về tha lực. Tức dùng 7 thứ thí dụ để ví dụ việc nương nhờ vào tha lực bản nguyện của đức A di đà mà được vãng sinh Tịnh độ. Đại khái 7 thí dụ đều nói lên sức không thể nghĩ bàn của chư Phật, giống như 7 việc sau đây không thể dùng trí của thường tình mà suy lường tính toán được. Theo An lạc tập quyển thượng, 7 thí dụ ấy là: 1. Như trăm người xếp củi thành đống trong 100 năm, cao đến 1000 nhận, nhưng lửa chỉ đốt trong nửa ngày là hết sạch. 2. Như thuyền chở người, nhờ sức gió thổi vào cánh buồm mà 1 ngày có thể đi nghìn dặm. 3. Như người gặp vật quí, đem dâng vua mà được trọng thưởng, bỗng chốc trở nên giàu có. 4. Như người đau yếu, thậm chí không thể leo lên lưngconlừa, nhưng nếu đi tháp tùng Luân vương thì có thể bay lướt trong hư không. 5. Như sợi dây to lớn, cả nghìn người không bứt được, nhưng 1 đứa trẻ cầm kiếm, chặt 1 nhát liền đứt. 6. Như lông con chim trấm rơi xuống nước thì cá tôm đều chết, nhưng con tê ngưu xuống bùn thì cá tôm nào chết đều sống lại, do đó mà biết mệnh sống tuy đã dứt nhưng nếu nương nhờ vào sức bất khả tư nghị thì vẫn có thể sống lại. 7. Như Tử an chết nằm dưới mộ đã nghìn năm, vậy mà Thiên nga gọi thì liền sống lại. Bảy thí dụ nói trên đều hiển bày tất cả muôn pháp đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp, nghìn mở muôn đóng, vô lượng vô biên, không thể dùng kiến thức hữu hạn của con người mà biết được các pháp vô ngại ấy. [X. Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa; Vãng sinh yếu tập Q.hạ].
tha lực tín
Faith of the other-power Tín tâm được tha lực khơi dậy; chúng ta được Phật A Di Đà truyền tâm cho.
tha lực tông
Those who trust to salvation by faith, contrasted with tự lực tông those who seek salvation by works, or by their own strength.
; Tông chỉ của những người tin vào tha lực mà vãng sanh, đối lại với những người tự cứu độ bằng sức của chính mình (Tự Lực Tông)—Those who trust to salvation by faith, contrasted with those who seek salvation by works, or by their own strength.
tha lực vãng sinh
1539乃淨土宗之教義。指眾生可依憑如來之本願他力而得往生之法義。
; (他力往生) Chỉ cho việc chúng sinh nương nhờ vào tha lực bản nguyện của đức Phật A di đà mà được vãng sinh Tịnh độ. Đây là giáo nghĩa tông Tịnh độ.
Tha lực 他力
[ja] タリキ tariki ||| other-power, referring to the reliance on the salvific powers of a great buddha or bodhisattva such as Amitābha 阿彌陀 rather than on the strength of one's own efforts. A Pure Land 淨土宗 concept, usually contrasted with "self-power" 自力. => Năng lực bên ngoài, nói đến sự nương tựa vào nguyện lực cứu độ của Đức Phật A Di Đà hơn là tự nỗ lực vào chính mình. Một ý niệm của Tịnh Độ tông, ngược với Tự lực自力.
tha mạng
To spare someone's life.
tha nga niệm phật
5443日本佛教用語。又作嵯峨大念佛。日本每年於陰曆三月六日至十五日之十日間,在嵯峨清涼寺舉行融通念佛會。相傳爲日本弘安二年(1279)圓覺所創始。念佛時一面敲金鼓、太鼓、鉦,一面念佛;念佛後,戴著假面具演出默劇,在市街上遊行。
; (嵯峨念佛) Cũng gọi Tha nga đại niệm Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tại Nhật bản, hàng năm, trong khoảng thời gian 10 ngày từ ngày mùng 6 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, chùa Thanh lương ở Tha nga, Nhật bản, có cử hành hội niệm Phật dung thông, được gọi là Tha nga niệm Phật, tương truyền do ngài Viên giác sáng lập vào năm 1279. Khi niệm Phật thì vừa niệm vừa đánh trống gõ chiêng. Sau khi niệm Phật thì mang mặt nạ để diễn kịch câm và đi diễu hành trên đường phố.
Tha Nga Thanh Lương Tự
(嵯峨清涼寺, Sagaseiryō-ji) hay Thanh Lương Tự (清涼寺, Seiryō-ji): ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 46 Sagashakadōfujinoki-chō (嵯峨釈迦堂藤ノ木町), Sakyō-ku (右京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Ngũ Đài Sơn (五台山), thường được gọi là Tha Nga Thích Ca Đường (嵯峨釋迦堂). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai (quốc bảo). Ban đầu chùa thuộc về Hoa Nghiêm Tông, rồi sau đến Thiên Thai, Chơn Ngôn, Niệm Phật Tông, nhưng hiện tại thì thuộc về Tịnh Độ Tông. Ngôi chùa này nguyên sơ là sơn trang của Hoàng Tử Nguyên Dung (源融), con của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823), sau đó được cải thành chùa với tên là Thê Hà Tự (棲霞寺). Đến năm 987 (niên hiệu Vĩnh Diên [永延] thứ nhất), vị Tăng Điều Nhiên (奝然) lấy bức tượng Thích Ca đem từ nhà Tống về tôn trí tại đây, sau đó vào năm 1016, khi Điều Nhiên qua đời, thì cao đệ là Thạnh Toán (盛算) mới theo di chí của sư huynh mà tiếp tục khai sáng chùa. Nguyên bản tên chùa Thê Hà Tự hiện vẫn còn lưu lại ở A Di Đà Đường. Tượng Thích Ca đứng bằng gỗ ở chùa này cao 6 mét, có hình tướng đặc dị nhất ở Nhật, tương đương với tượng Phật ở Mathura, Ấn Độ, là loại tượng gỗ bằng Chiêu Đàn. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Phật, một danh tác vào đầu thời đại Đằng Nguyên, được gọi là Tha Nga Quang Phật (嵯峨光佛). Chùa này cũng đã mấy lần bị hỏa tai cháy rụi, các đường vũ hiện tại là những kiến trúc do vị trú trì Nghiêu Trấn Hòa Thượng (堯鎭和上) tái tạo nên theo mệnh lệnh của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) vào khoảng niên hiệu Văn Lộc (文祿, 1592-1596). Quần thể kiến trúc hiện tại của chùa có Chánh Điện, Tàng Kinh Các, Dược Sư Đường, Linh Bảo Tháp, Sơn Môn, Cổ Tháp, v.v. Chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật thuộc dạng quốc bảo hay tài sản văn hóa trọng yếu như tượng đứng Thích Ca Như Lai, bằng gỗ, do Điều Nhiên tạc nên vào năm 985 tại Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Đài Châu (台州), khi đang còn ở bên nhà Tống cầu pháp; tượng ngồi A Di Đà Tam Tôn, bằng gỗ, nguyên lai là tượng thờ chính của Thê Hà Tự, được hoàn thành vào năm 896, nhân lễ Húy Kỵ của Hoàng Tử Nguyên Dung; 16 bức tranh màu trên lụa tượng Thập Lục La Hán, v.v.
Tha Nga Thiên Hoàng
(嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823): vị Thiên Hoàng sống đầu thời Bình An, hoàng tử của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), tục danh là Thần Dã (神野, Kamino). Ông đã từng biên tập bộ Hoằng Nhân Cách Thức (弘仁格式), Tân Soạn Tánh Thị Lục (新撰姓氏錄), rất sở trường về văn chương Hán Thi, và soạn nên bộ Văn Hoa Tú Lệ Tập (文華秀麗集), Lăng Vân Tập (菱雲集). Ngoài ra, ông lại rất giỏi về Thư Đạo.
Tha ngộ
他悟; C: tāwù; J: tago;|Được người khác đánh thức; giác ngộ qua sự giúp đỡ của người khác.
Tha ngộ 他悟
[ja] タゴ tago ||| To be awakened by someone else. => Được khai ngộ nhờ vào người khác. Tha sự 他事 [ja] タジ taji ||| (1) Other matters; other people's affairs. (2) The activities of other things. => Có các nghĩa: 1. Việc khác; chuyện của người khác. 2. Tính hoạt dụng của các yếu tố khác .
tha nhiếp
1545二攝之一。為「自攝」之對稱。攝,即攝持之意。謂由佛菩薩等之他力攝持,成就行法,得證果。與他力同義,然他力乃就其「體」而稱之,此則就其「用」而稱之,一切行法皆有自力他力、自攝他攝。(參閱「他力」1539)
; (他攝) Đối lại: Tự nhiếp. Tha lực thu nhiếp, giữ gìn, 1 trong 2 nhiếp. Nhiếp là nhiếp trì, nghĩa là nhờ tha lực của Phật và Bồ tát nhiếp trì mà thành tựu việc tu hành, chứng được đạo quả. Tha nhiếp đồng nghĩa với Tha lực, nhưng Tha lực là gọi theo thể, còn Tha nhiếp thì gọi theo dụng; tất cả pháp tu hành đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp. (xt. Tha Lực).
tha nhân
other people.
tha phu đế lỗ tư đạt mẫu tháp
1540位於阿富汗北部海巴克城(Haibak)附近,海巴克則位於興都庫什山(Hindu Kush)與阿姆河(Amu Darya)之間。該塔由高約四十八公尺之整座岩丘刻造而成,沿丘頂向下鑿出環形深溝,中央即為覆鉢狀石塔,塔下無基壇,塔頂另有一座八公尺見方之方形建築物,其東南面有拱門通達室內直徑約二公尺之舍利室。石塔外之深溝即形成走廊,由走廊開出三條道路通往岩丘之外,而由岩丘外仰望丘頂,僅隱約可見塔頂之舍利室。又岩丘之北側地勢較低,其南麓建有五座並排之石窟。第一窟盡頭為圓形屋,屋頂雕有蓮花圖案,窟內佛龕上之佛像已無存;第二窟列於第一窟之右,形式最為特殊,窟室向左右延伸,橫長約五十公尺,似為僧院,中有十二根石柱支撐窟頂,室內無佛龕;第三窟為方形,四牆拱形突出;第四、第五窟較小。 該塔之造型自成風格,已大半脫離印度佛教藝術之影響。推測於六、七世紀頃,此地曾興起一支獨特之宗教信仰,並舉行神祕之祭儀,該隱密之石塔即為其信仰中心。
tha phương bạch y bồ tát viện
1542位於印度祇園精舍中。他方世界在家菩薩遠來朝禮世尊時,先居止於此院,後才拜見世尊。〔中天竺舍衛國祇洹寺圖經〕
; (他方白衣菩薩院) Tòa viện ở trong tinh xá Kì viên, Ấn độ.Khi các Bồ tát tại gia ở thế giới phương khác từ xa đến lễ bái đức Thế tôn thì trước vào nghỉ ngơi ở viện này, sau đó mới đến bái kiến Thế tôn. [X. kinh Trung thiên trúc Xá vệ quốc Kì hoàn tự đồ].
tha ra
To let go—To set free—To free.
tha sinh
1543對今生而言,指過去、未來之生。又對自生而言,依其他原因而生者,亦稱為他生。
; Tha Thế—Đời khác hay thế giới khác, hoặc đời trước hoặc đời sau—Another life or another world, either previous or after this.
; (他生) Đối lại: Kim sinh, Tự sinh. Đời khác. Chỉ cho đời quá khứ, vị lai. Không phải tự sinh mà nương vào nguyên nhân khác để tự sinh, cũng gọi là Tha sinh.
Tha sự
他事; C: tāshì; J: taji;|Có các nghĩa: 1. Việc khác, chuyện của người khác; 2. Hoạt động của các yếu tố khác.
tha thiết khuyên răn
To admonish earnestly.
tha thắng tội
Overcome by specific sin: i.e. any of the four parajikas, or sins of excommunication.
; Ba La Di—Tội nặng của Tỳ Kheo (thiện căn bị ác pháp lướt thắng)—Overcome by specific sin, any of the four parajikas, or sins of excommunication.
tha thế
1542指過去或未來之世。為「現世」、「今世」之對稱。觀無量壽經(大一二‧三四二上):「捨身,他世必生淨國,心得無疑。」或為他界之義。(參閱「他界」1544)
; (他世) Đối lại: Hiện thế, Kim thế. Đời khác. Tức chỉ cho đời quá khứ hoặc đời vị lai. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Bỏ mình, đời sau(tha thế) chắc chắn sẽ sinh cõi tịnh, tâm không còn ngờ. (xt. Tha Giới).
tha thọ dụng thân
Body for the sake of beings.
Tha thọ dụng thân 他受用身
[ja] タジュユウシン tajuyūshin ||| (1) The actual manifest body of the Buddha, for the enjoyment of the beings in the world. One of the four bodies of the Buddha. The complement of zi shouyongshen 自受用身.(2) The reward body of the Buddha that causes other beings to receive and enjoy the dharma. (3) The buddha-body that appears and expounds the dharma for bodhisattvas of the first level (bhūmi) and above. Also called the 'response body' 應身 (yingshen). Có các nghĩa sau: 1. Thân thị hiện của Đức Phật, thọ thân người ở thế gian. Một trong bốn thân cuae Đức Phật. Phần kia là Tự thọ dụng thân. 2. Báo thân Phật để khuyến khích chúng sinh hoan hỷ thọ nhận giáo pháp từ sơ địa trở lên.. 3.Thân thị hiện của Đức Phật để giảng pháp cho hàng Bồ-tát. Còn gọi là Ứng thân 應身.Tha 他 [ja] タ ta ||| (1) Other; the other (thing); (para). (2) (An) other person (para-puruṣa). (3) In Chan language, the person besides the one is talking to--the third person: he, she. (4) Used for transliterating the Sanskrit tha sound. => Có các nghĩa sau: 1.Kia, Cái khác (s: para). 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa). 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện– là nhân vật thứ ba: Ông ấy, cô ấy. 4. Tiếng dùng để ghi âm Tha trong tiếng Sanskrit.
tha thọ dụng độ
Báo Độ của Phật trong đó chúng sanh nhận và tuân giữ theo chân lý của Ngài—Reward land of a Buddha or Buddhaksetra, in which all beings receive and obey his truth. ** For more information, please see Báo Độ.
Tha thụ dụng thân
他受用身; C: tā shòuyòng shēn; J: taju-yūshin;|Có các nghĩa sau: 1. Thân hiện tại của đức Phật, xuất hiện vì lợi ích của chúng sinh. Một trong bốn thân của một vị Phật-đà. Là phần bổ sung của Tự thụ dụng thân (自受用身); 2. Thân hiện diện của một vị Phật, khiến chúng sinh nhận thức và an lạc nơi Phật pháp; 3. Thân Phật hiển hiện để thuyết pháp cho những vị Bồ Tát từ địa (Thập địa) thứ nhất trở lên. Cũng được gọi là Ứng thân (應身).
tha thụ dụng độ
1543指他受用身所居之土。屬唯識宗所立佛所居之四土之一。佛於因位之時,依利他之行願,為因應十地菩薩之大小勝劣,並令此等菩薩得以受用法樂所起之土;故此一佛土亦有大小勝劣之別。〔成唯識論卷十〕(參閱「四土」1647)
; That part of the Buddhaksetra, or a reward land of a Buddha in which all beings receive and obey his truth.
; (他受用土) Chỉ cho cõi nước của thân Tha thụ dụng cư trú, thuộc 1 trong 4 cõi nước an trụ của Phật do tông Duy thức thành lập. Khi còn ở địa vị tu nhân, theo hạnh nguyện lợi tha và thích ứng với căn cơ lớn nhỏ, hơn kém của các Bồ tát Thập địa, đức Phật đã kiến lập cõi Thụ dụng này để các vị Bồ tát được thụ dụng pháp lạc. Vì thế nên cõi Phật này cũng có sự lớn nhỏ, hơn kém khác nhau. (X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Tứ Độ).
tha thứ
See Tha.
Tha tác
他作; C: tāzuò; J: tasa;|Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.
tha tác cung dưỡng
1543為「自作供養」之對稱。為十種供養之一。即經由教化、募化、勸說,而令他人供養佛、塔、寺等,其功德與「自作供養」相同。自作供養,即未經他人募化、勸說,而自行供養佛、塔、寺等。大乘義章卷十四(大四四‧七四二中):「他作供養,有小財物,不依懈怠,教化施作。」
; (他作供養) Đối lại: Tự tác cúng dường. Do người khác khuyến hóa mà cúng dường, 1 trong 10 thứ cúng dường. Nghĩa là nhờ sự giáo hóa, kêu gọi, khuyến khích của người khác mà phát tâm cúng dường Phật, tháp, chùa... Còn Tự tác cúng dường là chưa được người khácgiáo hóa, kêu gọi, khuyến khích mà tự mình phát tâm cúng dường Phật, tháp, chùa... Đại thừa nghĩa chương quyển 14 (Đại 44, 742 trung) nói: Tha tác cúng dường, có chút tài vật, không nên giải đãi, giáo hóa người làm.
Tha tác 他作
[ja] タサ tasa ||| Created based upon other things (para-krtā). => Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.
tha tâm luân
Xem Chiên niệm thị hiện.
Tha tâm thông
他心通; C: tāxīntōng; J: tashintsū; S: para-citta-jñāna.|Khả năng siêu nhiên đọc được ý nghĩ của người khác. Một tróng sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通).
tha tâm thông
1541乃五通之一,六通之一。全稱他心智證通(梵 para-cetaḥ-paryāya-jñāna-sākṣātkriyābhijñā)或智心差別智作證通。又作觀心心數法智證通、知他心通、心差別通。即證得他心智,能如實了知他人心中差別相之神通力。相當於十智中之他心智。集異門足論卷十五(大二六‧四三二中):「『云何他心智證通?』答:『於他有情補特伽羅尋伺心等,皆如實知;謂有貪心如實知,有貪心、離貪心如實知。(中略)不解脫心、解脫心皆如實知,是名他心智證通。』」又據俱舍論卷二十七載,欲修他心通者,以色界四根本靜慮為依地,先審查自己身心二相之前後變異輾轉相隨,後更觀他人之身心,如斯加行成就,遂得如實知悉他人之種種心相。〔大毘婆沙論卷十二、大智度論卷五、卷二十八〕
; Paracetah-paryayajāna-saksat-kriyabhijā (S) Biết được tâm của tất cả mọi chúng sanh. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông Trí tâm sai biệt trí tác chứng thông.
; Paracittàjnàna (S). Intuitive knowledge of the minds of all other beings.
; Divine mind—See Lục Thông (3), Ten Kinds of Wisdom, Tứ Thập Bát Nguyện, and Tha Tâm Trí.
; (他心通) Gọi Đủ: Tha tâm trí chứng thông (Phạm: Para-ceta#-paryàya-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), Trí tâm sai biệt trí tác chứng thông. Cũng gọi: Quán tâm tâm số pháp trí chứng thông, Tri tha tâm thông, Tâm sai biệt thông. Chỉ cho năng lực thần thông chứng được trí tha tâm, biết rõ đúng như thực các ý nghĩ sai biệt trong tâm người khác. Tương đương với Tha tâm trí trong 10 trí, là 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Luận Tập dị môn túc quyển 15 (Đại 26, 432 trung) nói: Thế nào là Tha tâm trí chứng thông? Đáp: Đối với tâm tầm tứ (suy xét) của các hữu tình khác đều biết đúng như thực; nghĩa là có tâm tham thì biết đúng là có tâm tham, lìa tâm tham thì biết đúng là lìa tâm tham. (...) Tâm giải thoát, tâm không giải thoát đều biết đúng như thực, đó gọi là Tha tâm trí chứng thông. Theo luận Câu xá quyển 27, người muốn tu Tha tâm thông thì lấy 4 tĩnh lự căn bản của cõi Sắc làm chỗ nương, trước hết phải xét kĩ sự biến đổi trước sau xoay vần theo nhau của 2 tướng thân và tâm nơi chính mình, sau đó lại quán xét thân tâm của người khác, nếu gia hành ấy thành tựu thì biết được đúng như thực tướng tâm của người khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.12; luận Đại trí độ Q.5, 28].
Tha tâm thông 他心通
[ja] タシンツウ tashintsū ||| The supernatural ability to read the minds of others (para-citta-jñāna). One of the six supernatural powers . => Một trong sáu thứ thần thông ( Lục thần thông 六神通)
tha tâm thị hiện
Xem Chiên niệm thị hiện.
Tha tâm trí
Trí tuệ sáng suốt thấy biết được tâm niệm của người khác, cũng gọi là Tha tâm thông, một trong Ngũ thông.
tha tâm trí
1541梵語 para-citta-jñāna。十智之一。又作知他人心智、心差別智。指了知他人心念之智。遠離欲惑而得色界之根本禪定以上者,得發此智;於六通中,稱為他心通。大毘婆沙論卷九十九載,他心智以修慧為自性,以四根本靜慮為依地,於他人之現在欲界繫、色界繫及無漏之心相得以了知,由加行能證得此智。大乘義章卷十五(大四四‧七五七上):「他心智者,非己之慮,稱曰他心,照斯之解,名他心智。」 此智由法智、類智、道智、世俗智所成,通於有漏、無漏,而亦必以同類法為所緣,然不知勝位者之心及過去、未來之心。唯以現在之一念,緣實有之一事而取其自相,不能取他之能緣心及所緣行相。又唯在四禪故,僅知欲、色界繫及無漏法,與非緣於無色界繫者。〔俱舍論卷二十六、大般若經卷四八九、集異門足論卷七、大毘婆沙論卷一○九〕(參閱「十智」472)
; Paracittā-jāna (S), Knowing the other's mind, Cetopariyaāṇa (P) Tha tâm thông Xem Huệ trí.
; Xem tha tâm thông.
; Paracittajnana (skt)—Tên đủ là Trí Tha Tâm Thông hay là trí biết rõ tâm trạng của người khác —Intuitive knowledge or understanding the minds of others (all other beings). 1) Trí thứ tám trong thập trí: The eighth of the ten kinds of wisdom—See Ten Kinds of Wisdom. 2) Thần Thông thứ ba trong Lục Thông: The third of the six transcendental powers—See Lục Thông. 3) Lời nguyện thứ tám trong bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà; Ngài nguyện không thành Phật cho đến khi nào hết thảy chúng sanh đều có được Tha Tâm Trí nầy: The eighth of the Amitabha's forty-eight vows that men and devas in his paradise should all have the joy of this power—See Tứ Thập Bát Nguyện.
; (他心智) Phạm:Para-citta-jĩàna. Cũng gọi Tri tha nhân tâm trí, Tâm sai biệt trí. Trí biết những ý nghĩ trong tâm người khác, 1 trong 10 trí. Những người đã xa lìa dục hoặc và chứng nhập thiền định căn bản của cõi Sắc trở lên thì phát được trí này. Trong 6 thần thông, trí này được gọi là Tha tâm thông. Luận Đại tì bà sa quyển 99 cho rằng Tha tâm trí lấy tutuệ làm tự tính, lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương, biết rõ được Dục giới hệ, Sắc giới hệ và tướng tâm vô lậu của người khác; nhờ gia hành mà chứng được trí này. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 (Đại 44, 757 thượng) nói: Tha tâm trí, sự suy nghĩ chẳng phải của mình gọi là Tha tâm, hiểu suốt sự suy nghĩ ấy, gọi là Tha tâm trí.Trí này do pháp trí, loại trí, đạo trí và thế tục trí cấu tạo thành, chung cho cả hữu lậu, vô lậu và đều lấy pháp đồng loại làm Sở duyên, nhưng không biết được tâm của bậc ở giai vị thù thắng và tâm quá khứ, vị lai. Chỉ dùng 1 niệm hiện tại duyên theo 1 việc có thật mà nắm giữ lấy tự tướng, chứ không thể nắm giữ tâm năng duyên và hành tướng sở duyên của người khác. Lại vì chỉ có Tứ thiền, cho nên chỉ biết Dục giới hệ, Sắc giới hệ và pháp vô lậu, chứ không duyên với Vô sắc giới hệ. [X. luận Câu xá Q.26; kinh Đại bát nhã Q.489; luận Tập dị môn túc Q.7; luận Đại tì bà sa Q.109]. (xt. Thập Trí).
tha tâm trí thông
See Tha Tâm Trí.
tha tâm trí thông nguyện
1542為阿彌陀佛四十八願之第八願。指令極樂國中之人天皆得他心通之願。無量壽經卷上(大一二‧二六八上):「設我得佛,國中人天不得見他心智,下至知百千億那由他諸佛國中眾生心念者,不取正覺。」
; (他心智通願) Chỉ cho thệ nguyện làm cho tất cả người và trời trong nước Cực lạc đều có thần thông biết được tâm niệm của người khác, là nguyện thứ 8 trong 48 thệ nguyện của Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật mà người và trời trong cõi nước của tôi không được trí biết tâm người khác, cho đến biết rõ ý niệm của các chúng sinh trong trăm nghìn ức na do tha cõi nước của chư Phật thì tôi không ở ngôi Chính giác.
Tha tâm trí thông 他心智通
[ja] タシンチツウ tashinchitsū ||| See 他心通. => Xem Tha tâm thông 他心通.
tha tì lị
Xem Trưởng lão.
tha tỉ lượng
1542因明用語。梵語 parārthānumāna。又作他比、為他比量。為因明三比量之一。即以他許(問難者之同意)之法所立之量(論式)。依「自比量」確知自己(立論者)所立之義,更為破他所立之義,而以敵者(問難者)所許之法立量,稱為他比量。作他比量時,必於宗(命題)中置「汝執」等簡別之詞。他比量又可細分為他、自、共三種之別,每一種在對論中各有不同之規定:(一)他比量之「他」法,宗、因(理由)、喻(譬喻)三支皆用他許之法。(二)他比量之「自」法,於三支中,宗用他許之法,因、喻用自許(自己認可)之法。(三)他比量之「共」法,宗及喻用他許之法,因用共許(雙方共同認可)之法。〔因明論疏瑞源記、因明入正理論義纂要〕(參閱「三比量」536、「自比量」2516)
; (他比量) Phạm: Paràrthànumàna. Cũng gọi Tha tỷ, Vi tha tỷ lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tức là Lượng(luận thức) được thành lập theo pháp tha hứa(sự đồng ý của người vấn nạn), 1 trong 3 Tỷ lượng của Nhân minh. Y cứ vào Tự tỷ lượng mà biết 1 cách chính xác về nghĩa do chính mình (người lập luận) lập ra, lại nhằm phá đổ nghĩa do người khác thành lập mà dùng pháp được người vấn nạn đồng ý để lập Lượng thì gọi là Tha tỷ lượng. Khi lập Tha tỷ lượng thì trong Tông(mệnh đề) phải dùng từ ngữ phân biệt như Ông chấp rằng, ông cho rằng... . Tha tỷ lượng lại được chia nhỏ thành 3 loại khác nhau là Tha, Tự, Cộng. Trong đối luận, mỗi loại đều có qui định khác nhau: 1. Pháp Tha trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi Tông, Nhân (lí do), Dụ (thí dụ) đều dùng pháp tha hứa. 2. Pháp Tự trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi thì Tông dùng pháp tha hứa, còn Nhân và Dụ thì dùng pháp tự hứa (mình đồng ý). 3. Pháp Cộng trong Tha tỷ lượng: Tông và Dụ dùng pháp tha hứa, Dùng pháp Cộng hứa (cả đôi bên cùng thừa nhận). [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu]. (xt. Tam Tỷ Lượng, Tự Tỷ Lượng).
tha tội
See Tha.
tha tỳ
Xem Tha tỷ lượng.
tha tỷ lượng
Pararthanumāna (S) Tha tỳ, Vi tha tỷ lượng Luận thức y cứ vào sự đồng ý của người vấn nạn.
tha đồng phẩm
1543因明用語。因明論式中,意義均等之品類稱為同品。同品若為立(立論)者不許(承認),而為敵(問難)者所許,則稱為他同品。他同品即自異品。(參閱「共異品」2197、「自同品」2518、「自異品」2533)
; (他同品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, các phẩm loại có ý nghĩa giống nhau gọi là Đồng phẩm. Nếu Đồng phẩm không được người lập luận chấp nhận mà chỉ có người vấn nạn chấp nhận, thì gọi là Tha đồng phẩm. Tha đồng phẩm tức là Tự dị phẩm. (xt. Cộng Dị Phẩm, Tự Đồng Phẩm, Tự Dị Phẩm).
Tha-ga-na-pa
S: thaganapa; »Người bệnh nói dối«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ 11.|Tha-ga-na-pa là người mang bệnh nói dối, vì vậy mà mọi người đều tránh xa. Lần nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này nghe biết ông nói dối liền khuyên: »Nếu ngươi nói dối thường xuyên và nghiệp báo đến lúc chín muồi, ngươi sẽ tái sinh trong Ðịa ngục. Nói dối nhiều lần sẽ thấy quen và hậu quả là lưỡi bị chẻ làm đôi, hơi thở hôi hám…«. Nghe như vậy ông sợ quá và cũng thú nhận muốn học hỏi nhưng sự dối trá đã trở thành thói quen. Vị Du-già sư dạy ông phép quán tưởng rằng mọi sự trên đời đều là hư dối:|Vì ngươi không hề biết,|hiện tượng là dối trá,|nên ngươi mới dối trá.|Nếu ngươi biết rõ rằng,|vật biết và người biết,|đều cùng giả dối cả,|và sáu căn sáu trần,|đều cũng đang lừa dối,|ngươi tìm đâu sự thật?|Tưởng mê vọng là chân,|nên còn dính sinh tử.|Trẻ không thấy tuồng giả,|tưởng cái giả là thật,|các ngươi quay không nghỉ,|trong bánh xe sinh tử,|chẳng khác bánh xe nước,|đi lên rồi đi xuống.|Hãy quán mọi hiện tượng,|là ảo ảnh, giả tạo.|Mọi sắc thể: giả tướng,|mọi âm thanh: tiếng vọng,|và cuối cùng hãy xem|lòng tin của chính ngươi,|rằng chúng là giả tạo,|lòng tin đó cũng giả!|Sau bảy năm thiền định, vị Du-già sư lại xuất hiện và khuyên ông quán tưởng tự tính mọi sự đều là tính Không (s: śūnyatā). Sau đó Tha-ga-na-pa đạt thánh quả, chứng ngộ được Không. Bài ca ngộ đạo sau của ông bày tỏ phép vận dụng đặc biệt của Kim cương thừa, dĩ độc trị độc:|Muốn nước chảy khỏi tai,|hãy xòt nước vào tai.|Muốn thấy rõ thật tại,|quán hiện tượng đều giả.
thai
Garbha (S). The womb, uterus.
; Garbha (skt)—Foetus—Embryo—The womb—Uterus.
thai cung
3934胎即胎生,宮即宮殿。指以疑惑心修諸功德之行者,雖往生彌陀淨土,卻住於花胎中而不得出,於五百歲中不得見佛、聞法,遠離一切殊勝善根。猶如人處於闇鈍之胎內,故稱胎生;而行者仍自認爲住於宮殿之中,故稱胎宮。據無量壽經卷下謂,其胎生者,所處宮殿,或百由旬,或五百由旬。又大寶積經卷十八無量壽會載,彼等眾生處花胎中,猶如園苑宮殿之想,因清淨無諸穢惡故。〔觀無量壽佛經疏定善義(善導)〕
; Thai Ngục—Thai Tạng hay tử cung được xem như là ngục thất—The womb prison, the womb regarded as a prison.
; (胎宮) Chỉ cho nơi vãng sinh của các hành giả Tịnh độ, tuy tu các công đức nhưng tâm còn ngờ vực. Thai là thai sinh, Cung là cung điện. Những hành giả tu các thiện căn mà tâm nghi hoặc thì tuy được sinh về Tịnh độ Di đà, nhưng phải ở trong hoa sen (thai hoa) chứ không được ra, trong 500 năm không được thấy Phật, nghe pháp, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng, giống như người nằm trong thai mẹ tối tăm, nên gọi là Thai sinh; nhưng hành giảthìvẫn tự cho rằng mình đang ở trong cung điện, nên gọi là Thai cung. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì cung điện mà người thai sinh ở hoặc rộng 100 do tuần, hoặc rộng 500 do tuần. Còn hội Vô lượng thọ trong kinh Đại bảo tích quyển 18 thì cho rằng các chúng sinh ở trongthai hoa có cảm tưởng giống như đang ở trong cung điện vườn rừng, vì trong đó thanh tịnh không có các thứ ô uế.[X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ định thiện nghĩa (Thiện đạo)].
thai hoành
1624台,指天台山之智顗;衡,指南嶽衡山之慧思。慧思為師,智顗為弟子,後人乃順口而並稱二人為台衡,猶如一般習稱之「曹洞」。四教儀集解卷下(卍續一○二‧五七上):「清涼觀師云:『撮台衡三觀之玄趣,使教合亡言之旨,心同諸佛之心,不假更看他面。』」(參閱「智顗」5038、「慧思」6035)
; (台衡) Chỉ cho ngài Trí khải và Đại sư Tuệ tư. Vì ngài Trí khải trụ ở núi Thiên thai, còn Đại sư Tuệ tư thì trụ ở núi Hành sơn thuộc Nam nhạc. Đại sư Tuệ tư là thầy, ngài Trí khải là đệ tử. Vì mối liên hệ ấy, nên người đời sau thường thuận miệng gọi chung 2 ngài là Thai Hành, cũng như người ta quen gọi chung 2 vị Động sơn Lương giới và Tào sơn Bản tịch là Tào Động vậy. Tứ giáo nghi tập giải quyển hạ (Vạn tục 102, 57 thượng) ghi: Đại sư Thanh lương Trừng quán nói rằng: Nắm lấy ý Tam quán huyền diệu của Thai Hành để làm cho Giáo hợp với chỉ thú vong ngôn, tâm đồng với tâm chư Phật, không còn cần phải tìm kiếm bên ngoài. (xt. Trí Khải, Tuệ Tư).
thai hoá tạng
3933爲菩薩處胎經卷七出經品所說八藏之一。藏,含藏之義。佛滅度後,阿難等結集佛所說之經法,總以八藏類攝之,其第一即爲胎化藏,指佛在母胎中現種種教化之法藏,如菩薩處胎經即屬之。〔大明三藏法數卷三十一〕
; (胎化藏) Một trong 8 tạng nói trong phẩm Xuất kinh của kinh Bồ tát xử thai quyển 7. Tạng nghĩa là hàm chứa. Sau khi đức Phật diệt độ, ngài A nan kết tập kinh pháp do Phật thuyết giảng, thu tập vào 8 tạng, trong đó, tạng thứ nhất gọi là Thai hóa tạng, chỉ cho pháp tạng mà Phật đã giáo hóa bằng mọi cách khi Ngài còn ở trong thai mẹ, như kinh Bồ tát xử thai chính là thuộc loại này. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.31].
thai mật
1623指日本天台宗所傳之密教,以叡山延曆寺、園城寺為中心。因別於空海所傳之東寺密教(東密),故稱台密。日本天台宗係承受台、密、禪、律四宗思想而成,其中除發展天台本宗之宗義外,以發展密教為最可觀。其與東密最主要之區別有四:(一)台密以「三乘教」為顯教,以「一乘教」為密教;東密以大日如來法身說教為密教,而以釋迦應身說教為顯教。(二)台密主張「圓密一致」,東密主張「密勝顯劣」。(三)台密認為大日、釋迦二者同體,東密則謂二者別體。(四)台密對金剛、胎藏、蘇悉地三部大法並重,三者之中,尤其重視胎藏與蘇悉地;東密則僅重金剛、胎藏兩部大法。 台密所依用之經典為大日經七卷、金剛頂經三卷、蘇悉地經三卷、一字頂輪王經五卷、瑜祇經一卷,並稱五部密經。其主要流派有三,即:根本大師流、慈覺大師流、智證大師流,各以最澄、圓仁、圓珍為代表。(一)最澄被尊稱為「傳教大師」,唐代時來華,於靈巖寺,從順曉阿闍梨受金胎兩部大法及諸學,返日本後,揉合天台與密宗教義,創立日本天台宗,特以止觀(天台圓教)、遮那(密教)為修學之規矩,提倡「圓密一致」說。(二)第四祖慈覺大師圓仁亦來華,就全雅阿闍梨習金剛界之灌頂,又就元政阿闍梨習金剛界法。另於青龍寺,就義真阿闍梨受胎藏、蘇悉地兩大法,就法全阿闍梨受胎藏大法。其主張與最澄之說略異,謂圓密一致之中應有一分差別,提倡理密事密、理同事別之說,亦即釋迦與大日就理而言,二者相同;就事而言,則有差別。(三)第六祖智證大師圓珍亦曾至我國,從般若怛羅三藏學兩部密印,又從智慧輪三藏習受兩部祕法,從法全阿闍梨受金胎蘇三部大法。其主張與最澄、圓仁之說差異較大,闡明圓密二教之差別,立「顯劣密勝」之說。 最澄、圓仁、圓珍三人分別傳承之密教,稱為根本三流、台密三流。其中,圓仁之弟子安然為台密之集大成者,提倡「理同事勝」之說,以為大日勝於釋迦。圓仁門下又有慈慧大師流(又作川流)、皇慶流(又作谷流)等二流。集事相之大成者為皇慶流,復分出院尊、三昧、佛頂、蓮華、味岡、智泉、穴太、法曼、功德、梨本等分流,合稱台密十三流。此外尚有「山寺六流」之稱者,即上述之三昧、穴太、法曼,與穴太流分出之西山、葉上等二流,再加上智證大師流。〔台密九流相承、阿娑縛抄卷六合灌記、圓密二教名目、密教發達志〕(參閱「東密」3305)
; (台密) Chỉ cho Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền, lấy chùa Diên lịch và chùa Viên thành tại núi Tỉ duệ làm trung tâm. Vì khác với Đông tự Mật giáo (Đông mật) do ngài Không hải truyền nên gọi là Thai mật. TôngThiên thai của Nhật bản được hình thành là do kế thừa tư tưởng của 4 tông: Thai, Mật, Thiền và Luật, trong đó, ngoài việc phát triển tông nghĩa của chính tông Thiên thai ra, thì việc phát triển Mật giáo là đáng chú ý nhất. Giữa Thai mật và Đông mật có 4 điểm khác biệt chủ yếu sau đây: 1. Thai mật cho Tam thừa giáo là Hiển giáo và Nhất thừa giáolà Mật giáo; Đông mật thì cho giáo pháp do Pháp thân Đại nhật Như lai tuyên thuyết là Mật giáo, còn giáo pháp do Ứng thân Thích ca Như lai tuyên thuyết là Hiển giáo. 2. Thai mật chủ trương Viên giáo và Mật giáo là một, còn Đông mật thì chủ trương Mật giáo hơn Hiển giáo kém. 3. Thai mật cho rằng Đại nhật Như lai và Thích ca Như lai là đồng thể, còn Đông mật thì cho 2 vị là khác thể. 4. Thai mật đối với 3 bộ đại pháp: Kim cương, Thai tạng và Tô tất địa đều coi trọng; nhưng Đông mật thì chỉ xem trọng 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Những kinh điển mà Thai mật sử dụng làm y cứ gồm có: Kinh Đại nhật 7 quyển, kinh Kim cương đính 3 quyển, kinh Tô tất địa 3 quyển, Kinh Nhất tự đính luân vương 5 quyển, kinh Du kì 1 quyển, gọi chung là Ngũ bộ mật kinh (5 bộ kinh bí mật).Thai mật có 3 lưu phái chủ yếu là : - Căn bản đại sư lưu, đại biểu là ngài Tối trừng. - Từ giác đại sư lưu, đại biểu là ngài Viên nhân. - Trí chứng đại sư lưu, đại biểu là ngài Viên trân. 1. Ngài Tối trừng được tôn xưng là Truyền giáo đại sư, đến Trung quốc vào đời Đường, theo A xà lê Thuận hiểu nhận lãnh 2 bộ đại pháp Kim cương, Thai tạng và các học thuyết ở chùa Linh nham. Sau khi trở về nước, sư tổng hợp giáo nghĩa Thiên thai và Mật tông làm nền tảng mà sáng lập tông Thiên thai Nhật bản, đặc biệt lấy Chỉ quán(Viên giáo Thiên thai), Già na (Mật giáo) làm qui củ tu học, đề xướng thuyết Viên Mậtnhấttrí(Viên giáo Mật giáo một mối). 2. Tổ thứ 4 của Thai mật là ngài Tứ giác Viên nhân cũng đến Trung quốc, theo A xà lê Toàn nhã nhận lãnh pháp Quán đính của Kim cương giới và theo A xà lê Nguyên chính học tập pháp Kim cương giới. Ngoài ra, sư còn theo A xà lê Nghĩa chân ở chùa Thanh long thụ đại pháp Thai tạng và Tô tất địa, đồng thời, theo A xà lê Pháp toàn thụ đại pháp Thai tạng. Chủ trương của sư hơi khác với thuyết của ngài Tối trừng, tức là trong Viên Mật nhất trí có một phần sai khác, do đó, sư đề xướng thuyết Lí mật sự mật, Lí đồng sựbiệt. Nghĩa là đứng về mặtLí mà nói thì Thích ca Như lai và Đại nhật Như lai là tương đồng, nhưng nói theo phương diện Sự thì có sai khác. 3. Tổ thứ 6 của Thai mật là ngài Trí chứng Viên trân cũng từng đến Trung quốc, sư theo Tam tạng Bát nhã đát la học 2 bộ Mật ấn, rồi theo Tam tạng Trí tuệ luân tu tập 2 bộ bí pháp và theo A xà lê Pháp toàn nhận lãnh 3 bộ đại pháp Thai tạng, Kim cương, Tô tất địa. Chủ trương của sư khác nhiều với thuyết của các ngài Tối trừng và Viên nhân; sư nói rõ sự sai khác giữa Viên giáo và Mật giáo, lập thuyết Hiển liệt Mật thắng (Hiển giáo kém, Mật giáo hơn). Mật giáo do 3 vị Tối trừng, Viên nhân và Viên trân truyền thừa, được gọi là Căn bản tam lưu, Thai mật tam lưu. Trong đó, ngài An nhiên (đệ tử Đại sư Viên nhân) là người tập đại thành Thai mật, sư đề xướng thuyết Lí đồng sự thắng, chủ trương Đại nhật Như lai hơn Thích ca Như lai. Dưới cửa ngài Viên nhân lại có 2 dòng phái là Từ tuệ đại sư lưu (cũng gọi Xuyên lưu) và Hoành khánh lưu(cũng gọi Tục lưu). Hoành khánh lưu là người tập đại thành về sự tướng, dòng này lại tách ra làm 8 lưu phái là: Viện tôn, Tam muội, Phật đính, Liên hoa, Vị cương, Trí tuyền, Huyệt thái, Pháp mạn, Công đức và Lê bản, gọi chung là Thai mật thập tam lưu (13 dòng Thai mật). Ngoài ra còn có danh xưng Sơn tự lục lưu(6 dòng chùa núi), tức là 3 dòng Tam muội, Huyệt thái, Pháp mạn nói trên và 2 dòng Tây sơn, Diệp thượng từ dòng Huyệt thái tách ra cùng với dòng của Đại sư Trí chứng. [X. Thai mật cửu lưu tương thừa; Hợp quán kí trong A sa phược sao; Viên mật nhị giáo danh mục; Mật giáo phát đạt chí]. (xt. Đông Mật).
thai ngoại ngũ vị
3933「胎內五位」之對稱。俱舍論卷十五將人自出生後之一生,分爲五段。即:(一)自出生後至六歲間爲嬰孩,(二)七歲至十五歲爲童子,(三)十六歲至三十歲爲少年,(四)三十一歲至四十歲爲中年,(五)四十一歲以後爲老年。大毘婆沙論卷一一四則謂初生、嬰孩、童子、少壯、衰老爲五位,即將初生與嬰孩分開,合少年與中年爲少壯,計五位。數論外道則將少年時與中年時合稱爲少壯時,故僅有四位。〔南本涅槃經卷三十四、順正理論卷四十、顯宗論卷二十一〕
; Năm giai đoạn sau khi ra khỏi bào thai của một con người—The five periods of a person after birth: 1) Hài nhi: Infancy. 2) Trẻ thơ: Childhood. 3) Thiếu niên: Youth. 4) Trung niên: Middle age. 5) Già lão: Old age.
; (胎外五位) Đối lại: Thai nội ngũ vị. Năm giai đoạn ở ngoài thai. Luận Câu xá quyển 15 chia một đời người từ sau khi sinh ra làm 5 giai đoạn là: 1. Anh hài: Từ lúc sinh ra đến khoảng 6 tuổi. 2. Đồng tử: Từ 7 tuổi đến 15 tuổi. 3. Thiếu niên: Từ 16 tuổi đến 30 tuổi. 4. Trung niên: Từ 31 tuổi đến 40 tuổi. 5. Lão niên: Từ 41 tuổi trở về sau. Luận Đại tì bà sa quyển 114 thì cho rằng Ngũ vị là Sơ sinh, Anh hài, Đồng tử, Thiếu tráng và Suy lão, tức chia ra Sơ sinh và Anh hài, hợp thiếu niên và trung niên làm Thiếu tráng, gồm 5 giai đoạn. Còn ngoại đạo Số luận thì gộp chung 2 thời thiếu niên và thời trung niên làm thời thiếu tráng, cho nên chỉ có 4 giai đoạn. [X. kinh Niết bàn Q.34 (bản Nam); luận Thuận chính lí Q.40; luận Hiển tông Q.21].
thai ngục
3934<一>譬指四生中之胎生者,其於母胎內所受之苦,如處獄中,故稱胎獄。 <二>指胎宮。據觀無量壽佛經疏序(大三七‧一八六中):「金寶之與泥沙,胎獄之望華池。」(參閱「胎宮」3934)
; The womb prison, the womb regarded as a prison. Also thai cung.
; (胎獄) I. Thai Ngục. Chỉ cho Thai sinh trong Tứ sinh. Ví dụ những nỗi khổ mà người còn nằm trong thai mẹ phải chịu cũng giống như các nỗi khổ ở trong ngục tối, cho nên gọi là Thai ngục. II. Thai Ngục. Chỉ cho Thai cung. Bài tựa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Đại 37, 186 trung) nói: Giống như vàng ngọc so với cát bùn, người ở trong thai ngục mà hướng nhìn về ao sen cũng như thế. (xt. Thai Cung).
thai nhi
See Thai.
thai noãn thấp hóa
The four yoni, or modes of birth: womb-born, egg-born, spawn-born, and born by transformation (e.g. moths, certain deities etc.)
; Bốn loại sanh—The four yoni or modes of birth (womb-born, egg-born, spawn-born, and born by transformation). ** For more information, please see Tứ Sanh.
thai nội ngũ vị
3932又作結胎五位。乃「胎外五位」之對稱。傳統佛教對於胎兒自母體中受胎至出生之二六六日間次第分爲五個階段,即:(一)羯剌藍(梵 kalala),又作歌羅羅、羯羅藍。意譯爲凝滑、雜穢。指初受胎後之七日間。(二)頞部曇(梵 arbuda),又作阿部曇。意譯爲皰、皰結。指第二個七日間。(三)閉尸(梵 peśī),又作蔽尸、萆尸。意譯爲凝結、肉段。指第三個七日間。(四)鍵南(梵 ghana),又作健男、羯南。意譯爲凝厚、硬肉。指第四個七日間。(五)鉢羅奢佉(梵 praśākhā)。意譯爲支節、枝枝。乃手足已形成之位,即受胎後第五個七日至第三十八個七日(出生之時)之間。 此外,關於胎內分位之別,印度古來即有數說,瑜伽師地論分之爲八位,化地部、正量部則謂六位,數論外道以第五位攝於第四位,而僅立四位之說。〔增一阿含經卷三十、南本涅槃經卷三十四、大智度論卷四、玄應音義卷二十三、慧琳音義卷十三〕
; Năm giai đoạn trong thai mẹ của một con người—The five periods of the child in the uterus.
; (胎內五位) Cũng gọi Kết thai ngũ vị. Đối lại: Thai ngoại ngũ vị. Chỉ cho 5 giai đoạn ở trong thai. Trong truyền thống Phật giáo, khoảng thời gian 266 ngày kể từ khi thai nhi thụ thai trong bụng mẹ đến lúc sinh ra, được chia làm 5 giai đoạn theo thứ tự như sau: 1. Yết lạt lam (Phạm:Kalala), cũng gọi Ca la la, Yết la lam. Hán dịch: Ngưng hoạt (lùng nhùng, nhơ nhớp): Chỉ cho 7 ngày đầu tiên sau khi thụ thai. 2. Át bộ đàm (Phạm: Arbuda), cũng gọi A bộ đàm. Hán dịch: Pháo, kết pháo (nốt phỏng da mọng nước): Chỉ cho khoảng 7 ngày thứ hai (14 ngày). 3. Bế thi (Phạm:Pezì), cũng gọi Tế thi, Bề thi. Hán dịch: Ngưng kết, nhục đoàn (ngưng kết lại thành cục thịt mềm nhũn): Chỉ cho 7 ngày thứ ba (21 ngày). 4. Kiền nam (Phạm: Ghana), cũng gọi Kiện nam, Yết nam. Hán dịch: Ngưng hậu, Ngạnh nhục(ngưng kết lại thành cục thịt dày và cứng): Chỉ cho 7 ngày thứ tư (28 ngày). 5. Bát la xa khư (Phạm: Prazàkha). Hán dịch: Chi tiết, Chi chi(giai đoạn bắt đầu hình thành tay chân), tức thời gian từ 7 ngày thứ 5 (35 ngày) đến 7 ngày thứ 38 (266 ngày, lúc sinh ra) sau khi thụ thai. Ngoài ra, về sự khác nhau của phần vị trong thai thì ở Ấn độ xưa nay có nhiều thuyết: Luận Du già sư địa chia làm 8 vị, Hóa địa bộ và Chính lượng bộ thì chia làm 6 vị, còn ngoại đạo Số luận thì hợp vị thứ 5 vào với vị thứ 4 mà lập thuyết 4 vị. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; kinh Niết bàn Q.34 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13].
thai nội phật
3933日本佛教用語。木造之佛像,其內中空,以安置相關之小佛像於其胎內。又作體內佛、胎內像。除佛像外,尚有經典、摺佛等,總稱爲胎內物。或有爲求菩提而將所造之小佛像置於佛像內;或將自己之護身佛像置於佛像內。此風盛於平安時代以後。
thai sanh
Jarāyuva (S), Born from foetus Jalābuja (P).
; 1) Một trong tứ sanh, thai sanh là một hình thức sanh ra từ trong thai mẹ. Trước khi có sự phân chia trai gái, chúng sanh đều ở trong tình trạng hóa sanh (về sau nầy do có tình dâm dục mà chia thành trai gái và bắt đầu có thai sanh): Uterine birth or womb-born, one of the four modes of yoni. Uterine birth is a form of viviparous birth, as with mammalia. Before the differentiation of the sexes birth is supposed to have been transformation. 2) Từ ngữ nầy cũng dành cho những người vãng sanh Cực Lạc trong những búp sen vì không có lòng tin nơi Phật A Di Đà, mà chỉ tin vào tự lực niêm Phật. Họ phải ở tại đây trong một thời gian dài mà không thấy Phật, Bồ Tát, hay Thánh chúng; cũng không nghe được giáo thuyết của Phật (kông thấy Tam Bảo). Tình trạng nầy còn được gọi là “thai cung” vì chúng sanh ở trong bụng mẹ không thấy được ánh nhật nguyệt—The term is also applied to beings enclosed in unopened lotuses in paradise, who have not had faith in the Amitabha but trusted to their own strength to attain salvation; there they remain for proportionate periods, happy, but without the presence of the Buddha, or Bodhisattvas, or the sacred host, and do not hear their teaching. The condition is also known as the womb-place.
thai sinh
Uterine-birth, womb-born.
thai sảng thu
3520(1897~ )江蘇東台人。早年赴美,畢業於芝加哥大學,得加利福尼亞大學教育學學位,歸國後任江蘇大學、南京中央大學教授。基於教育者之立場,主張寺廟財產爲教育而開放,自民國十七年(1928)發起廟產興學運動。其時正逢馬克斯主義流行,太虛等即提出反論,並於佛教內設立新教育機關以圖適應新時代;然寺廟仍屢遭破壞,佛教亦受到強烈批判。
thai toà
5901本指規定佛像之位置。其後,依照儀軌,用以襯托佛像者,亦稱臺座。古印度本無佛像,僅以一塊方形板,表佛之存在。後於臺座上雕刻寶輪與鹿,表佛陀在鹿野苑之說法。在經典規定之外,則有師子座。故佛座之表示,並無一定形式。佛教傳入我國後,臺座之制極爲發達,最普遍之形式爲蓮華座,其他種類甚多,如方座,其形式僅單純之一塊板,而無任何裝飾;氈氍座,較方座爲厚,上刻水紋;框座與禮盤座,較前兩者高而中空;盤石座,外形呈不規則狀;不動明王之臺座爲瑟瑟座,係岩石與積木整齊重疊而成者;岩座有多種形狀者稱洲濱座;荷葉座,爲諸天所坐,形狀或向上,或向下;床座、典錄座、圓筒座,係將安樂椅之形式加以裝飾而成。與蓮華座同時定型化者,稱須彌座(宣臺座),此二者俱爲帝王即位時所用之臺座。其他另有以動物爲臺座者,例如鳥獸座(又稱禽獸座)。
thai tông nhị bách đề
1623凡十五卷。日本天台宗僧智周(1659~1743)撰。收錄天台教義要論二○七題,包括:(一)宗要九十四題,有二佛並出、應身八相等論題。(二)義科四十三題,有三身成道、性念處斷惑等論題。(三)問要七十題,有教觀傍正、心法形色等論題。本書以問答體,論述我國天台、荊溪、四明等諸師之說,及日本學者之異說。
; (台宗二百題) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Trí chu (1659-1743) thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Nội dung sách này thu chép tất cả 207 luận đề trọng yếu về giáo nghĩa của tông Thiên thai, bao quát: 1. Tông yếu, 94 luận đề: Gồm các luận đề như: Hai đức Phật cùng xuất hiện, 8 tướng ứng thân... 2. Nghĩa Khoa, 43 luận đề: Gồm các luận đề như: Ba thân thành đạo, tính niệm xứ đoạn hoặc... 3. Vấn yếu, 70 luận đề: Gồm các luận đề như: Giáo quán bàng hệ và chính thống, hình sắc tâm pháp... Sách này được viết theo thể vấn đáp, trình bày về các luận thuyết của các ngài Thiên thai, Kinh khê... người Trung quốc và các thuyết khác của các học giả người Nhật bản.
thai tướng
3934又作胎藏。指四諦、十二因緣等理法。以母胎保育胎兒,比喻真實之理體具有一切功德,可育持吾人;又以胎兒隱於母體中,比喻理體在凡夫煩惱中隱而不現。永平清規(大八二‧三三三中):「佛言:『爲天樂,修梵行,有是過。』佛與還逝多林,廣爲說胎相,難陀因始發心,爲解脫故持戒,後得阿羅漢果。」
; (胎相) Cũng gọi là Thai tạng. Chỉ cho các lí pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Dùng việc thai mẹ giữ gìn nuôi nấng thai nhi để ví dụ cho líthể chân thực có đầy đủ tất cả côngđức, có khả năng nuôi nấng, giữ gìn mọi người; lại dùng việc thai nhi nằm trong bụng mẹ để ví dụ cho lý thể ẩn trong phiền não của phàm phu mà không hiện. Vĩnh bình thanh qui (Đại 82, 333 trung) ghi: Đức Phật dạy: Vì cái vui cõi trời mà tu phạm hạnh nên mắc lỗi ấy. Phật cùng Nan đà trở về rừng Thệ đa, Ngài nói rộng về thai tướng cho Nan đà nghe, nhờ đó Nan đà mới phát tâm, vì cầu giải thoát nên giữ giới và sau được quả A la hán.
thai tạng giới
3934胎藏,梵語 garbha,音譯蘗喇婆;界,梵語 dhātu,音譯馱睹。全稱大悲胎藏生。密教兩界之一。與「金剛界」相對。胎藏有含藏覆護及攝持之義。依大日經疏卷三謂,行者初發一切智心,如識之種子,爲母胎所含藏覆護,至諸根備足,尋誕生發育,習諸技藝,後施行於事業;猶如依眾生本有之理性,學大悲萬行,顯現淨心,發起方便,修治自地,自利利他,究竟圓滿,稱爲大悲胎藏生。故知,胎藏乃指眾生所具之理性,而理平等之法門,稱胎藏界,與金剛界之智差別之法門相對。又胎藏界乃從果向因本覺下轉之化他門,賅約大定、大智、大悲三德,而立佛部、金剛部、蓮華部等三部之法門。〔大日經疏卷五、祕藏記〕
; Gaibhakośa (S), Garbhadhātu (S), Gabbadhātu (P) Thai tạng giới mạn đà la Gồm 5 phương với 5 đức Phật: - trung ương: Phật Tỳ lô Giá na - Đông phương: đức Bửu Phan Như lai - Nam phương: đức Khai Phu hoa vương Như lai - Tây phương: đức A di đà Như lai - Bắc phương: đức Thiên cổ âm Như lai.
; Garbhàdhàtu (S). The womb-treasury, the universal source from which all things are produced; the matrix; the embryo.
; Garbhadhatu (skt)—Tích Phược Câu—Thai tạng là nguồn gốc của sự sản sanh mọi thứ, như đứa trẻ được nuôi dưỡng trong thai mẹ (cả thân tâm được chứa đựng và nuôi dưỡng)—The womb treasury, the universal source from which all things are produced—The womb of all things—The womb in which a child is conceived. Its body, mind, etc. It is container and content; it covers and nourishes; and is the source of all supply. 1) Các nhà triết học Chân Ngôn giáo miêu tả như sau—The Shingon philosophers describe as follows: a) Thai Tạng Giới là cấu trúc và sự phát triển của thế giới tâm linh. Thai Tạng Giới quan niệm thế giới như là một cảnh giới trên đó Đức Tỳ Lô Giá Na an trú trong cái tâm thâm sâu nhất của mỗi chúng sanh mà phát triển những khả năng vốn có của Ngài: Garbhadhatu is the constitution and development of the spiritual world. The Garbhakosa conceives the world as a stage on which Vairocana Buddha residing in the inmost heart of every being develops his inherent possibilities. b) Kim Cang Giới miêu tả Đức Phật trong những biến hóa riêng của Ngài. Trong Kim Cang Giới, những hình ảnh minh họa sơ đồ và quá trình của những phát triển này được gọi là Mạn Đà La: Vajragarbha depicts the Buddha in his own manifestations. In Vajragarbha, the pictures illustrating the scheme and process of these developments are called Madala. 2) Thai Tạng Giới tiêu biểu cho “Lý Tính” về cả hai phương diện yếu tố vật chất và bồ đề thanh tịnh—It represents the fundamental nature, both material elements and pure bodhi, or wisdom in essence or purity: a) Thai tạng là lý: The garbhadhatu as fundamental wisdom. b) Kim Cương tạng là trí: Acquired wisdom or knowledge, the vajradhatu. 3) Thai Tạng giới tiêu biểu cho tâm chúng sanh với tám múi thịt như hình sen tám cánh: The Garbhadhatu represents the eight parts of the human heart as the eight-petal lotus mandala. 4) Thai Tạng giới là cái “bổn giác” (vốn đã giác ngộ rồi), đối lại với Kim Cang giới tiêu biểu cho “thủy giác” (bắt đầu giác ngộ)—Garbhadhatu is the original intellect, or the static intellectuality, in contrast with intellection, the initial or dynamic intellectuality represented in the Vajradhatu. 5) Thai Tạng giới là cái từ quả đến nhân, trong khi Kim Cang giới là cái từ nhân đến quả: The Garbhadhatu is the cause and Vajradhatu is the effect. Though as both are a unity, the reverse may be the rule, the effect being also the cause. 6) Thai Tạng giới tiêu biểu cho sự “lợi tha,” trong khi Kim Cang giới lại tiêu biểu cho “tự lợi.”—The Garbhadhatu is likened to enrich others, as Vajradhatu is to enriching self.
; (胎藏界) Thai tạng, Phạm: Garbha, Hán âm: Nghiệt lạt bà. Giới, Phạm:Dhàtu, Hàn âm: Đà đô. Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh. Đối lại: Kim cương giới. Một trong 2 giới của Mật giáo. Thai tạng có nghĩa hàm chứa, che chở và giữ gìn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì hành giả mới phát tâm Nhất thiết trí, giống như chủng tử của thức được thai mẹ cưu mang che chở, đến khi các căn đầy đủ thì sinh ra, rồi lớn lên, học tập các kĩ nghệ để thực hiện sự nghiệp trong đời; cũng như nương vào lí tính sẵn có của chúng sinh mà học tập muôn hạnh đại bi, hiển hiện tâm thanh tịnh, phát khởi các phương tiện, tu sửa tự thân, lợi mìnhlợi người, rốt ráo viên mãn, gọi là Đại bi thai tạng sinh. Vì thế nên biết Thai tạng là chỉ cho lí tính sẵn có của chúng sinh, còn pháp mônLí bình đẳng thì gọi là Thai tạng giới, đối lại với pháp môn Trí sai biệt của Kim cương giới. Thai tạng giới cũng là Hóa tha môn từ quả hướng tới nhân, bản giác chuyển trở xuống, gồm đủ 3 đức đại định, đại trí, đại bi mà lập ra pháp môn của 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ.[X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí].
thai tạng giới mạn đà la
Xem Thai tạng giới.
thai tạng giới mạn đồ la
3935全稱大悲胎藏生曼荼羅。密教兩界曼荼羅之一。略稱胎藏曼荼羅、大悲曼荼羅。對金剛界曼荼羅而言,又稱因曼荼羅、東曼荼羅、理曼荼羅。胎藏,梵語 garbha,大悲之意。曼荼羅,梵語 maṇḍala,含有發生諸佛、極無比味、輪圓具足等義。胎藏界曼荼羅即是自毘盧遮那如來之大悲胎藏平等心地中所生出之大曼荼羅。蓋胎藏界曼荼羅原係根據大日經具緣品之說所建立,大日經疏復更加以補充,故古來即稱此爲經疏曼荼羅。以圖之上端爲東方而分:(一)中臺八葉院,大日如來住中臺。無量壽、寶幢、開敷華、天鼓等四佛,及文殊、觀音、彌勒、普賢等四菩薩,住八葉。合有九尊。八葉蓮華,表眾生八瓣肉團心,示阿字本不生,顯一切眾生悉有佛性之理趣。此院爲胎藏曼荼羅之總體,其他院爲其別德。(二)遍知院,又稱佛母院。位於中臺八葉院之上方,有佛眼佛母等七尊。此院表諸佛遍知之德與諸佛能生之德。(三)觀音院,位於中臺八葉院之北方,有大勢至等三十七尊。此院表如來大悲下化之德。(四)金剛手院,又稱薩埵院。位於中臺八葉院之南方,有虛空無垢輪持金剛等三十三尊。此院表大智上求之德。(五)持明院,又稱五大院、忿怒院。位於中臺八葉院之下方,有般若菩薩等五尊。此院表折伏攝受二德。(六)釋迦院,位於遍知院之上方,有釋迦牟尼佛等三十九尊。此院表方便攝化之德。以智悲二德,變現爲釋迦如來,濟度眾生。(七)除蓋障院,位於金剛手院之南方,有悲愍菩薩等九尊。此院表由金剛之智門除眾生之蓋障。(八)地藏院,位於觀音院之北方,有地藏等九尊。此院表由觀音之悲門救九界之迷情。(九)虛空藏院,位於持明院之下方,有虛空藏等二十八尊。此院表悲智合一,包藏萬德,能從眾生願授一切寶,兼具智德,而以福德爲本。(十)文殊院,位於釋迦院上方,有文殊菩薩等二十五尊。此院表大日之智慧能斷一切戲論,兼福德而以智德爲本。(十一)蘇悉地院,位於虛空藏院之下方。蘇悉地,意譯妙成就。有十一面觀音等八尊。此院表自他二利成就之德。(十二)外金剛部院,圍繞於胎藏界曼荼羅東西南北四方外層,合四方共有二○五尊。此院表隨類應化之德與聖凡不二之理。(十三)四大護院。現圖略第十三院,而於十二院中,中臺爲佛部,觀音院爲蓮華部,金剛手院爲金剛部,遍、釋、文、持、虛、蘇等六院屬佛部,地藏院屬蓮華部,除蓋障院屬金剛部,外金剛屬三部。玆圖示胎藏現圖曼荼羅如下:〔大日經卷一、卷二、卷四、卷五、尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷下、大日經疏卷一、卷三、卷四、卷五、卷六、胎藏圖像、現圖曼荼羅、陀羅尼門諸部要目〕(參閱「曼荼羅」4400)
; (胎藏界曼荼羅) Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh mạn đồ la. Gọi tắt: Thai tạng mạn đồ la, Đại bi mạn đồ la. Đối lại: Kim cương giới mạn đồ la. Cũng gọi: Nhân mạn đồ la, Đông mạn đồ la, Lí mạn đồ la. Mạn đồ la thuộc Thai tạng giới của Mật giáo.Thai tạng, Phạm: Garbha, hàm nghĩa đại bi. Mạn đồ la, Phạm: Maịđala, bao hàm các nghĩa: Sinh ra chư Phật, ý vị cùng tột không gì sánh bằng, tròn trịa đầy đủ. Mạn đồ laThai tạng giới chính là Đại mạn đồ la sinh ra từ trong tâm địa bình đẳng của Đại bi thai tạng của Tì lô giá na Như lai. Bởi vì Mạn đồ la Thai tạng giới vốn căn cứ vào ý nghĩa nói trong phẩm Cụ duyên, kinh Đại nhật mà được kiến lập, rồi Đại nhật kinh sớ lại bổ sung thêm, vì thế xưa nay thường gọi Mạn đồ la Thai tạng giới này là Kinh sớ mạn đồ la. Lấy phía trên của Mạn đồ la làm phương Đông mà chia ra như sau: 1. Viện Trung Đài Bát Diệp: Đại nhật Như lai trụ ở Trung đài. Bốn đức Phật Vô lượng thọ, Bảo chàng, Khai phu hoa, Thiên cổ và 4 vị Bồ tát Văn thù, Quán âm, Di lặc, Phổ hiền trụ ở Bát diệp (8 cánh sen), tất cả có 9 vị tôn. Hoa sen 8 cánh tượng trưng cho trái tim có 8 khía của chúng sinh, biểu thị ý nghĩa chữ A vốn không sinh, hiển bày lí thú tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Viện Trung đài bát diệp là tổng thể của Thai tạng Mạn đồ la, các viện khác là biệt đức của viện này.2. Viện Biến Tri(cũng gọi Viện Phật Mẫu): Nằm ở phía trên viện Trung Đài Bát Diệp, có 7 vị tôn gồm Phật nhãn, Phật mẫu... Viện này biểu thị cho đức biến tri(biết khắp) và đức năng sinh của chư Phật. 3. Viện Quán âm: Nằm về phía bắc viện Trung Đài Bát Diệp, có 37 vị tôn như bồ tát Đại thế chí... Viện này biểu thị cho đứcđại bi hạ hóa của Như lai. 4. Viện Kim Cương Thủ(cũng gọi Viện Tát Đóa), nằm về phía nam viện Trung Đài Bát Diệp, có 33 vị tôn như Hư không vô cấu luân trì kim cương... Viện này biểu thị cho đức đại trí thượng cầu. 5. Viện Trì Minh(cũng gọi Ngũ đại viện, Phẫn nộ viện): Nằm ở phía dưới viện Trung Đài Bát Diệp, có 5 vị tôn như bồ tát Bát nhã... Viện này biểu thị cho 2 đức chiết phục và nhiếp thụ. 6. Viện Thích ca: Nằm phía trên viện BiếnTri, có 39 vị tôn như đức Phật Thích ca mâu ni... Viện này biểu thị cho đức phương tiện nhiếp hóa. Dùng 2 đức trí và bi biến hiện thành Thích ca Như lai cứu độ chúng sinh. 7. Viện Trừ Cái Chướng: Nằm về phía nam viện Kim cương thủ, có 9 vị tôn, như bồ tát Bi mẫn... Viện này biểu thị cho việc dùng trí môn kim cương để diệt trừ phiền não chướng của chúng sinh. 8. Viện Địa Tạng: Nằm về phía bắc viện Quán Thế Âm, có 9 vị tôn, như bồ tát Địa tạng... Viện này biểu thị việc dùng bi môn của Quán âm để cứu mê tình trong chín cõi. 9. Viện Hư Không Tạng: Nằm ở phía dưới viện Trì minh, có 28 vị tôn, như bồ tát Hư không tạng... Viện này biểu thị cho bi và trí hợp nhất, bao hàm muôn đức, có năng lực tùy theo nguyện vọng của chúng sinh mà ban cho tất cả của báu, đầy đủ trí đức và lấy phúc đức làm gốc. 10. Viện Văn Thù: Nằm ở phía trên viện Thích ca, gồm có 25 vị tôn, như bồ tát Văn thù... Viện này biểu thị cho trí tuệ của đức đại lực, cócôngnăng dứt trừ tất cả hí luận, đầy đủ phúc đức và lấy trí tuệ làm gốc.11. Viện Tô Tất Địa: Nằm phía dưới viện Hư Không Tạng, gồm có 8 vị tôn, như bồ tát Thập nhất diện Quan âm... Viện này biểu thị cho đức thành tựu việc lợi mình lợi người. 12. Viện Ngoại Kim Cương Bộ: Lớp bên ngoài bao quanh 4 phía đông, tây, nam, bắc của Mạn đồ la Thai tạng giới, cộng chung 4 phía có tất cả 205 vị tôn. Viện này biểu thị đức tùy loại ứng hóa và lí phàm thánh bất nhị. 13. Viện Tứ ĐạiHộ: Trong Hiện đồ Mạn đồ la lược bỏ viện thứ 13 này. Còn lại 12 viện thì viện Trung Đài là Phật bộ, viện Quán Âm là Liên hoa bộ, viện Kim Cương Thủ là Kim cương bộ, 6 viện Biến Tri, Thích Ca, Văn Thù, Trì Minh, Hư Không Tạng và Tô Tất Địa thuộc Phật bộ, viện Địa tạng thuộc Liên hoa bộ, viện Trừ Cái Chướng thuộc Kim cương bộ, Ngoại Kim Cương thuộc cả 3 bộ. Nay đồ biểu Thai tạng Hiện đồ Mạn đồ la như sau: [X. kinh Đại nhật Q.1,2,4,5; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.1,3,4,5,6; Thai tạng đồ tượng; Hiện đồ mạn đồ la; Đà la ni môn chư bộ yếu mục]. (xt. Mạn Đồ La).
Thai tạng giới ngũ Phật 胎藏界五佛
[ja] タイゾウカイゴブツ taizōkai gobutsu ||| The five buddhas of the garbhadhātu. See . => Năm vị Phật trong Thai tạng giới. Xem Ngũ Phật五佛.
thai tạng giới pháp
3935即密教修法中,以胎藏界大日如來爲本尊,而供養胎藏曼荼羅諸尊之修法。與「金剛界法」相對稱。全稱大悲胎藏生曼荼羅法。略稱胎藏法。此法主要係修曼荼羅諸尊之三密,與「因、根、究竟」等三句之法門。
; (胎藏界法) Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh mạn đồ la pháp. Gọi tắt: Thai tạng pháp. Đối lại: Kim cương giới pháp. Chỉ cho pháp tu trong Mật giáo thờ đức Đại nhật Như lai của Thai tạng giới làm Bản tôn và cúng dường chư tôn trong Thai tạng mạn đồ la. Pháp này chủ yếu là tu Tam mật của chư tôn trong Mạn đồ la và pháp môn Tam cú Nhân, Căn, Cứu cánh.
Thai tạng giới 胎藏界
[ja] タイゾウカイ taizōkai ||| The womb-container world (garbha-dhātu). A term used in esoteric Buddhism to signify all-inclusiveness and fertility. See 胎藏界曼荼羅. t'aechangkye (k); taizōkai (j); womb-container world (e); garbha-dhātu (s) . => Thuật ngữ thường dùng trong Mật tông Phật giáo biểu hiện sự xuất sinh và hàm chứa rộng khắp mọi hiện tượng trong pháp giới. Xem Thai tạng giới Mạn-đà-la 胎藏界曼荼羅.
thai tạng tứ bộ nghi quỹ
3934凡十一卷。賅攝祕密部大日經諸品之意,並明示胎藏界供養法及諸尊印明之四部儀軌。略稱四部儀軌。現收於大正藏第十八冊。此四部儀軌爲:(一)攝大毘盧遮那成佛神變加持經入蓮華胎藏海會悲生曼荼菓廣大念誦儀軌供養方便會,三卷,唐代輸婆迦羅譯,略稱攝大儀軌。(二)大毘盧遮那經廣大儀軌,三卷,唐代善無畏譯,略稱廣大儀軌。(三)大毘盧遮那成佛神變加持經蓮華胎藏悲生曼荼羅廣大成就儀軌供養方便會,二卷,唐代法全撰,略稱玄法寺儀軌。(四)大毘盧遮那成佛神變加持經蓮華菩提幢標幟普通真言藏廣大成就瑜伽,三卷,唐代法全集,略作青龍儀軌。此四部儀軌中,攝大、廣大兩軌係十方三世諸佛流入大日如來之法界曼荼羅所示妙行;玄法、青龍二軌則爲釋迦牟尼如來於大日如來之法界曼荼羅中,顯示開會之儀相。〔諸阿闍梨真言密教部類總錄卷上、寶冊鈔卷二、祕密儀軌隨聞記卷十八、祕密儀軌傳授口決卷六〕
; (胎藏四部儀軌) Gọi tắt: Tứ bộ nghi quĩ. Nghi quĩ, 11 quyển, là 4 bộ Nghi quĩ bao gồm ý nghĩa các phẩm của kinh Đại nhật thuộc Bí mật bộ, đồng thời chỉ rõ pháp Cúng dường của Thai tạng giới và ấn khế, chân ngôn của chư tôn, được thu vào Đại chính tạngtập 18. Bốn bộ nghi quĩ này là: 1. Nhiếp đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh nhập liên hoa thai tạng hải hội bi sinh mạn đồ la quảng đại niệm tụng nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 3 quyển, do ngài Du bà ca la dịch vào đời Đường, gọi tắt làNhiếp đại nghi quĩ.2. Đại tì lô giá na kinh quảng đại nghi quĩ, 3 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, gọi tắt làQuảng đại nghi quĩ. 3. Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa thai tạng bi sinh mạn đồ la quảng đại thành tựu nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 2 quyển, do ngài Pháp toàn soạn vào đời Đường, gọi tắt làHuyền pháp tự nghi quĩ. 4. Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa bồ đề chàng tiêu xí phổ thông chân ngôn tạng quảng đại thành tựu du già, 3 quyển, do ngài Pháp toàn biên tập vào đời Đường, gọi tắt là Thanh long tự nghi quĩ. Trong 4 bộ nghi quĩ trên, 2 nghi quĩ Nhiếp đại và Quảng đại là diệu hạnh của chư Phật 10 phương 3 đời lưu nhập vào Pháp giới mạn đồ la do đức Đại nhật Như lai hiển hiện ra; còn 2 nghi quĩ Huyền pháp và Thanh long thì là nghi tướng mở hội do đức Thích ca mâu ni Như lai hiển bày trong Pháp giới mạn đồ la của Đại nhật Như lai. [X. Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng; Bảo sách sao Q.2; Bí mật nghi quĩ tùy văn kí Q.18; Bí mật nghi quĩ truyền thụ khẩu quyết Q.6].
thai tạng đồ tượng
3935凡二卷。傳爲唐代善無畏抄錄。此書列胎藏界曼荼羅諸尊之圖像。全稱大毘盧遮那成佛神變加持經中譯出大悲胎藏生祕密曼荼羅主畫像圖。本圖像之版面分上下二段,各段順次圖繪諸尊,其左上角書寫尊名及真言。上卷初,畫一修瑜伽者、香爐、一切空蓮花瓶,次爲中臺八葉院五佛四菩薩之九尊,次有虛空眼乃至降三世之三十六尊,此即現圖曼荼羅遍知院、持明院諸尊之圖,稱爲如來部(佛部)。次爲觀自在菩薩以下始嚩麼歌之四十六尊,此即現圖觀音院諸尊,是爲蓮華部。再次爲執金剛藏菩薩以下,至一切豎囉神三十尊,相當於現圖金剛手院及四大護院諸尊,是爲金剛部。其後,六面尊以下執蓮花杵菩薩二十八尊,即現圖文殊院、除蓋障院、地藏院、虛空藏院諸尊,總名之爲曼殊室利種族,其次畫第二院護門者及普賢菩薩。下卷有□□印菩薩(三昧耶曼荼羅圖稱佛眼)乃至難陀龍王一二四尊,相當於現圖外金剛部院諸天。次繪大壇外根本壇大門、善無畏三藏像、三尊佛十位、門、三股蓮等(善無畏三藏像以下係後人附加),從毘盧遮那如來以下,至難陀龍王,共有三百尊,此圖乃阿闍梨所傳曼荼羅諸尊,加上四大護院,稱之爲四重。〔大日經序(崔牧)、大正新修大藏經圖像部卷二〕
; (胎藏圖像) Gọi đủ: Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh trung dịch xuất đại bi thai tạng sinh bí mật mạn đồ la chủ họa tượng đồ.Đồ tượng, 2 quyển, tương truyền do ngài Thiện vô úy sao chép vào đời Đường. Nội dung sách này sắp xếp tượng vẽ của các vị tôn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Bề mặt của bản đồ tượng này được chia làm 2 đoạn trên, dưới, mỗi đoạn theo thứ tự vẽ hình chư tôn, ở góc phía trên bên trái viết tên và chân ngôn của chư tôn. Ở đầu quyển thượng vẽ 1 vị hành giả tu Du già, lư hương, bình hoa sen Nhất thiết không, kế đến vẽ 9 vị tôn gồm 5 đức Phật, 4 vị Bồ tát thuộc viện Trung đài bát diệp, kế nữa là vẽ 36 vị tôn từ Hư không nhãn cho đến Hàngtam thế; đây chính là bức vẽ chư tôn của 2 viện Biến tri và Trì minh thuộc Hiện đồ mạn đồ la, gọi là Như lai bộ(Phật bộ). Sau đó là 46 vị tôn từ bồ tát Quántự tại trở xuống đến Thủy phạ ma ca, đấy chính là chư tôn viện Quán âm của Hiện đồ mạn đồ la, đó là Liên hoa bộ. Sau nữa là 30 vị tôn từ bồ tát Chấp kim cương tạng trở xuống đến Nhất thiết thụ la thần, tương đương với chư tôn viện Kim cương thủ và viện Tứ đại bộ của Hiện đồ mạn đồ la, đó là Kim cưong bộ. Sau đó là 28 vị tôn từ Lục diện tôn trở xuống đến bồ tát Chấp liên hoa chử, tức là chư tôn thuộc các viện Văn thù, viện Trừ cái chướng, viện Địa tạng và viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la, gọi chung là Mạn thù thất lợi chủng tộc, kế đến, vẽ người giữ cửa của viện thứ 2 và bồ tát Phổ hiền. Quyển hạ có 124 vị tôn, từ...(trong sách thiếu 2 chữ?) Ấn Bồ tát(trong bức vẽ Tam muội da mạn đồ la gọi là Phật nhãn) cho đến Nan đà long vương, tương đương với chư Thiên thuộc viện Ngoại kim cương bộcủa Hiện đồ mạn đồ la. Kế đến, vẽ cửa lớn của đàn căn bản bên ngoài Đại đàn, tượng Tam tạng Thiện vô úy, 10 vị Tam tôn Phật, cửa, sen, 3 chĩa...(từ tượng Tam tạng Thiện vô úy trở xuống là do người đời sau thêm vào); từ Tì lô giá na Như lai trở xuống đến Nan đà long vương có tất cả 300 vị tôn. Đồ tượng này là Chư tôn mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, nếu thêm vào 4 viện Đại hộ thì gọi là Tứ trùng. [X. Đại nhật kinh tự (Thôi mục); Đại chính tân tu Đại tạng kinh đồ tượng bộ Q.2].
thai tức pháp
3934北魏淨土教念佛門高僧曇鸞撰。曇鸞於五臺山見靈跡,故發心出家,精研龍樹之中論、百論等四論,進而立志注釋大集經。著述之時,因病停筆,赴梁求得神仙長壽之法,且承道士陶弘景贈以仙經十卷歸洛陽。更從菩提流支學觀無量壽經,精勤於淨土教義之研究實踐。據傳,曇鸞即根據此經歷而撰成胎息法一書。但據後代學者考證,本書恐係偽作。根據後漢書等記載,所謂胎息乃東漢末年之道士王真所行,爲藉調息以延長生命之術。
; (胎息法) Tác phẩm, do ngài Đàm loan thuộc tông Tịnh độ soạn vào đời Bắc Ngụy. Ngài Đàm loan do trông thấy những dấu tích thiêng liêng ở núi Ngũ đài mà phát tâm xuất gia, chuyên nghiên cứu 4 bộ luận của ngài Long thụ và Đề bà như Trung luận, Bách luận..., còn tiến xa hơn là lập chí chú thích kinh Đại tập. Trong lúc chú thích thì lâm bệnh nên sư phải dừng bút, đến đất Lương cầu được pháp sống lâu của thần tiên, lại được đạo sĩ Đào hoằng cảnh tặng 10 quyển kinh Tiên mang về Lạc dương. Sư lại theo ngài Bồ đề lưu chi học kinh Quán vô lượng thọ, chăm chú nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh độ một cách thực tiễn. Theo truyền thuyết, sư đã dựa vào những kinh nghiệm này mà soạn thành Thai tức pháp(tức thuật điều hòa hơi thở để kéo dài sinh mệnh). Nhưng cứ theo sự khảo chứng của các học giả đời sau thì Thai tức pháp là sách ngụy tác. Căn cứ vào Hậu Hán thư... thì Thai tức (phương pháp điều hòa hơi thở) là do đạo sĩ Vương chân thực hành vào những năm cuối đời Đông Hán.
thai đại nhật
Vairocana in the Garbhadhàtu.
; Đức Đại Nhật Như Lai trong Thai Tạng giới—Vairocana in the Garbhadhatu.
Thai 胎
[ja] タイ tai ||| (1) Conceive, become pregnant. (2) Womb, uterus. (3) Fetus, embryo. (4) Stomach. (5) Beginning. => 1. Thụ thai, có mang. 2. Dạ con, tử cung. 3. Bào thai; phôi thai. 4. Dạ dày, bụng. 5. Khởi đầu.
tham
4792梵語 lobha,rāga 巴利語同;或梵語 abhidhyā,巴利語 abhijjhā。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。欲求五欲、名聲、財物等而無厭足之精神作用。即於己所好之物,生起染污之愛著心,引生五取蘊而產生諸苦。又作貪欲、貪愛、貪著。略稱欲、愛。俱舍論卷二十廣引諸經,謂緣五欲之境而起貪欲,纏縛其心,故稱欲軛。書中又舉出欲貪、欲欲、欲親、欲愛、欲樂、欲悶、欲耽、欲嗜、欲喜、欲藏、欲隨、欲著等十二項冠有「欲」字之異稱。據瑜伽師地論卷五十五載,貪係由取蘊、諸見、未得境界、已得境界、已受用之過去境界、惡行、男女、親友、資具、後有及無有等十事而生,經由以上十事所生起之貪,依序稱為事貪、見貪、貪貪、慳貪、蓋貪、惡行貪、子息貪、親友貪、資具貪、有無有貪。俱舍論卷二十二將貪分為四種;顯色貪、形色貪、妙觸貪、供奉貪,可修各種不淨觀以對治之。貪通於三界,其中,欲界之貪,稱為欲貪,其性不善,為十惡、五蓋、三不善根之一;色界、無色界之貪,稱為有貪,其性有覆無記(能障覆聖道之染污性,然因其過甚輕,作用極弱,故不會招感果報),與欲貪共為六根本煩惱、十隨眠、九結之一,又其性非猛利,故為五鈍使之一。說一切有部以貪為「不定地法」之一,又非緣無漏法而生者,僅與喜、樂二種感受相應,故與隨煩惱及八纏中之無慚、慳、掉舉,六垢中之誑、憍二者為等流。然唯識家則以貪為「煩惱法」之一,於喜、樂二種感受外,若於逆境中亦會與憂、苦兩種感受相應,並與「見」皆同緣無漏法而生。又依俱舍論卷二十二之說,經部以中阿含經卷七分別聖諦品為根據,謂四諦中僅有集諦以「愛」為體,愛乃貪之同體異名。〔俱舍論卷十六、大乘阿毘達磨雜集論卷一、品類足論卷三、顯揚聖教論卷一〕(參閱「愛」5457)
; 4394參謁、參尋、參學、參究之意。即學人謁見師家以問道,如「參師問法」;又修行坐禪,亦稱參,如「參禪辦道」。此外,禪林住持集一山之大眾以開示說教,亦稱為參,即參見住持以求開示。其類頗多,如:詰旦升堂為早參(朝參),晡時(今午後四時)念誦為晚參,晚參前坐禪為坐參,每五日一參為五參上堂,定期上堂為大參,住持不定時集眾問答應酬為小參,大眾同參為廣參等。〔敕修百丈清規卷二住持日用晚參條、祖庭事苑卷八小參條、禪林象器箋叢軌門、垂說門〕
; Lobha (S), Abhidyā (S), Abhidyālu (S), Kāma (S), Abhijjhālu (P), Abhijjhā (P), Kāmacchanda (P), Sensual enjoyment, Sensuous desire, Greed, Greediness Dục, ái thần Một trong 4 pháp trầm luân Xem tham.
; Ràga (S). Abhijjhà (P). Cupidity, greed, covetousness.
; Có tâm mong cầu sự thành công hay đắc vật và muốn thỏa mãn dục vọng của mình đều gọi là tham.
; 1) Chúng Tăng trong thiền môn tập trung lại ngồi thiền hay thuyết pháp tụng kinh. Có ba loại “Tham”—An assembly, or a gathering for the purpose of meditation, preaching, worship. There are three different classes: a) Tảo Tham: Tập họp lại vào buổi sáng sớm—Morning assembly. b) Vãn Tham: Tập họp lại vào buổi chiều—Evening assembly. c) Tiểu Tham: Tập họp tùy thời để bàn luận lý nghĩa sau buổi thuyết pháp—A special meeting; a discussion following an address. 2) Tham lam: Raga (skt)—Passion—Greed—Affection—Vehement longing or desire. Raga is also interpreted as tainted by and in bondage to the five desires—See Ngũ Độn Sử, and Tam Độc (1). 3) Tham quan: To visit superior. 4) Tham vấn: Counsel.
; (貪) Phạm: Abhhidhyà, Lobha, Ràga. Pàli:Abhijjhà,Ràga. Cũng gọi Tham dục, Tham ái, Tham trước. Gọi tắt: Dục, Ái. Sự tham muốn trong 5 món dục lạc, tiếng tăm, tiền của... không biết nhàm chán, không biết bao nhiêumớiđủ, là 1 trong 75 pháp củaCâu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tức đối với những thứ mà mình yêu thích, thèm muốn, khởi tâm đắm trước ô nhiễm, dẫn đến Ngũ thủ uẩn và các khổ não.Luận Câu xá trích dẫn rộng các kinh cho rằng duyên theo cảnh 5 dục mà sinh ra tham muốn, trói buộc tâm mình, cho nên gọi là Dục ách(cái ách của sự tham muốn). Trong luận này còn nêu ra 12 tên gọi khác của Tham có chữ Dục ở đầu, đó là: Dục tham, dục dục, dục thân, dục ái, dục lạc, dục muộn, dục đam, dục thị, dục hỉ, dục tàng, dục tùy và dục trước. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 55 thì Tham nảy sinh là do 10 việc: Thủ uẩn, các kiến chấp, cảnh giới chưa được, cảnh giới đã được, cảnh giới quá khứ đã thụ dụng, ác hạnh, nam nữ, bạn thân, các thứ đồ dùng, hậu hữu và vô hữu. Tâm tham do 10 việc kể trên mà sinh khởi, theo thứ tự gọi là sự tham, kiến tham, tham tham, khan tham, cái tham, ác hạnh tham, tử tức tham, thân hữu tham, tư cụ tham, hữu vô hữu tham. Luận Câu xá quyển 22 chia tham làm 4 loại là Hiển sắc tham, Hình sắc tham, Diệu xúc tham và Cung phụng tham, có thể tu các pháp bất tịnh quán để đối trị. Tham hiện hữu ở cả 3 cõi, trong đó, tham ở cõi Dục gọi là Dục tham, tính chất của tham ở đây là bất thiện, là 1 trong 10 điều ác, 1 trong 5 phiền não, 1 trong 3 căn bất thiện. Tham ở cõi Sắc và cõi Vô sắc gọi là Hữu tham, tính chất của chúng là Hữu phú vô kí (tính nhiễm ô có công năng ngăn che Thánh đạo, nhưng vì lỗi của nó quá nhẹ và tác dụng rất yếu nên không đủ sức mang lại quả báo). Hữu tham và Dục tham đều là 1 trong 6 phiền não căn bản, 1 trong 10 Tùy miên và 1 trong 9 kết; lại vì tính của chúng không nhạy bén nên là 1 trong Ngũ độn sử. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Tham là 1 trong các Bất định địa pháp, vì không phải duyên theo pháp vô lậu mà sinh ra, chỉ tương ứng với 2 thứ cảm thụ là Hỉ và Lạc nên là Đẳng lưu của Tùy phiền não, củavô tàm, trạo cử, khan trong Bát triền và của cuống, kiêu trong Lục cấu. Nhưng các nhà Duy thức thì cho rằng Tham là 1 trong các pháp phiền não, ngoài 2 thứ cảm thụ Hỉ và Lạc, nếu trong nghịch cảnh thì cũng sẽ tương ứng với 2 thứ cảm thụ Ưu và Khổ, đồng thời, cùng với Kiến đều duyên theo pháp vô lậu mà sinh ra. Lại theo thuyết của luận Câu xá quyển 22 thì Kinh bộ lấy phẩm Phân biệt thánh đế trong kinh Trung a hàm quyển 7 làm căncứ, chủ trương trong Tứ đế chỉ có Tập đế lấy Ái làm thể, Ái và Tham là đồng thể mà khác tên. [X. luận Câu xáQ.16, 20; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1]. (xt. Ái).
; (參) Có hàm ý là tham yết, tham tầm, tham vấn, tham học, tham cứu... Tức người học tham yết bậc thầy để hỏi đạo, như Tham sư vấn pháp, tu hành tọa thiền cũng gọi là Tham, như Tham thiền biện đạo. Ngoài ra, vị Trụ trì của Thiền lâm nhóm họp đại chúng toàn chùa để mở bày thuyết pháp, cũng gọi là Tham, tức tham kiến Trụ trì để cầu được khai thị. Tham có rất nhiều chủng loại như Thăng đường vào buổi sáng gọi là Tảo tham (Triêu tham), niệm tụng vào buổi chiều gọi là Vãn tham, ngồi thiền trước lúc vãn tham gọilàTọa tham, cách 5 ngày tham một lần gọi là Ngũ tham thướng đường, thướng đường theo địnhkìgọi là Đại tham, không định ngày giờ trước, vị Trụ trì bỗng nhiên họp chúng hỏi đáp qua lại, gọi là Tiểu tham, đại chúng cùng tham gọi là Quảng tham... [X. điều Trụ trì nhật dụng vãn tham trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; điều Tiểu tham trong Tổ đình sự uyển Q.8; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tham bão
4396禪林用語。又稱飽參。即充分悟得之意。參飽人,則指參學佛法達到徹悟之人,如饑餓者之飽食;又稱飽參客、飽參人、罷參人。從容錄卷一(大四八‧二三五上):「不是飽參人不知,參飽明知無所求。」
; (參飽) Cũng gọi Bão tham. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là giác ngộ đến chỗ cùng tột. Chỉ có người tham học Phật pháp đạt đến triệt ngộ, như người đói được ăn uống no đủ(bão), gọi là Bão thamnhân, Bão tham khách, Bãi tham nhân. Thung dung lục quyển 1 (Đại 48, 235 thượng) nói: Nếu không phải là người bãotham thì không biết, còn bão tham thì biết rõ không có gì để mong cầu.
Tham bão 參飽
[ja] サンポウ sanpō ||| To have gotten one's fill. To fully experience enlightenment and abide in it. => Đã quá no đủ. Chứng ngộ viên mãn và an trú trong đó.
tham bảng
4396請參閱 參寥子集禪林用語。又作參狀、門狀。指參見他人時所出示之拜帖(即今之名片)。闊約六、七寸,內不書文字,自左捲之,以絲束中分(位置稍上),題姓名於其上。禪林象器箋文疏門:「翰墨大全云:『凡榜子用白紙,闊四寸許,就中心寫一行,橫卷之。平常見人,添取覆兩字。其餘賀謝辭違,並臨時於名下改之。』」格式如下:
; (參榜) Cũng gọi Tham trạng, Môn trạng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tấm bái thiếp (tức danh thiếp hiện nay) được xuất trình khi tham kiến người khác. Tấm thiếp rộng khoảng 15 cm, bên trong không ghi chữ mà chỉ cuốn lại từ phía trái, dùng 1 sợi chỉ buộc ngang nó(hơi nhích lên phía trên), rồi đề tên họ lên đó. Môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Hàn mặc đại toàn nói: Nếu là bảng thì dùng giấy trắng, rộng khoảng 4 tấc (khoảng 15 cm), viết một hàng ngay chính giữa, rồi cuốn lại theo chiều ngang. Bình thường yết kiến người thì thêm 2 chữ Thủ phúc. Những việc còn lại như chúc mừng, tạ từ... thì tùy theo trường hợp mà sửa đổi, rồi viết ngay ở dưới tên cho hợp cách.
tham bệnh
4793三病之一。貪愛之心,能病惱有情,害出世之善心。修不淨觀可對治之。〔北本涅槃經卷三十九〕(參閱「三病」600)
; (貪病) Chỉ cho bệnh tham ái. Tâm tham ái thường gây bệnh phiền não cho loài hữu tình, làm hại thiện tâm xuất thế. Phải tu bất tịnh quán để đối trị bệnh này. [X. kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc)]. (xt. Tam Bệnh).
tham chiếu
To refer.
tham của
Greedy for property.
tham cứu
4394即參學究辦。在禪宗,即指參訪師家,致力體得佛法。禪家排斥單方面之知解,以親至師父處參學,求其開示之參禪為一生之大事,亦即強調在正師之處參禪學道。散見於碧巖錄中之參尋、參問、參叩、參玄、參學、參詳等語,皆與參究為同義語。〔碧巖錄第七則〕
; (參究) Tham học, nghiên cứu. Trong Thiền tông, từ ngữ này chỉ cho việc tham vấn sư gia, tận lực thể ngộ Phật pháp. Thiền gia không đánh giá cao sự hiểu biết đơn phương, nhưng lấy việc tham học nơi sư phụ để cầu khai thị làm việc quan trọng của một đời, cũng tức là nhấn mạnh việc tham thiền học đạo nơi bậc thầy chính thức. Các từ ngữ như tham tầm, tham vấn, tham khấu, tham huyền, tham học, tham tường... được thấy rải rác trong Bích nham lục đều là đồng nghĩa với từTham cứu. [X. Bích nham lục tắc 7].
tham danh
Greedy for fame.
tham dục
4793梵語 lobha, rāga,abhidhyā。又稱貪毒。略稱貪。三毒之一,十不善之一,十大煩惱之一。與「渴愛」(梵 tṛṣṇā)同義。即對於自身所好之對境生喜樂之念,而起貪著之心及取得之欲望。與無明共為起三界輪迴苦之根本煩惱。法華經譬喻品(大九‧一五上):「諸苦所因,貪欲為本。」(參閱「貪」4792)
; Kàmaràga (S). Desire for and love of (the things of this life).
; (貪欲) Phạm: Lobha, Ràga, Abhidhyà. Cũng gọi: Tham độc. Gọi tắt: Tham. Đồng nghĩa: Khát ái (Phạm:Tfwịà). Đối với những đối tượng mình yêu thích sinh tâm tham đắm và ước ao muốn chiếm đoạt được, là 1 trong 3 độc, 1 trong 10 điều xấu ác, 1 trong 10 đại phiền não. Tham dục và vô minh đều là phiền não căn bản sinh ra các nỗi khổ luân hồi trong 3 cõi. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 15 thượng): Nguyên nhân của các khổ lấy tham dục làm gốc. (xt. Tham)
tham dục cái
4794梵語 rāga-āvaraṇa。五蓋之一。即貪欲之煩惱能障礙、蓋覆眾生之心識,使不生善法。大毘婆沙論卷四十八解釋蓋之意,以其有障礙聖道及聖道之加行善根之作用,能令有情欲界之心樹破壞墮落,不能生長七覺支花、四沙門果;同書卷四十八又載,貪欲與瞋恚二蓋,均能障三蘊中之戒蘊,唯貪欲蓋因以淨妙相為食,故修不淨觀可為對治。(參閱「五蓋」1194)
; Vaga-āvaraṇa (S), Rāga-āvaraṇa (S) Một trong ngũ cái.
; The cover of desire which overlays the mind and prevents the good from appearing.
; Một trong ngũ cái, những phiền não của lòng tham muốn che lấp tâm thức hữu tình thì không cho phép thiện pháp nẩy sinh—One of the five hindrances, the cover of desire which overlays the mind and prevents the good from appearing—See Ngũ Triền Cái.
; (貪欲蓋) Phạm:Ràga-àvaraịa. Phiền não tham dục có công năng ngăn ngại, che lấp tâm thức của chúng sinh làm cho các pháp lành không sinh ra được, 1 trong Ngũ cái(5 thứ che lấp). Theo sự giải thích trong luận Đại tì bà sa quyển 48 thì Cái có tác dụng chướng ngại Thánh đạo vàthiện căn gia hạnh của Thánh đạo, có công năng phá hoại cây thiện tâm của hữu tình trong cõi Dục, khiến không thể sinh ra hoa Thất giác chi, quả Tứ sa môn. Cũng sách đã dẫn quyển 48 còn nói: Tham dục cái và Sân khuể cái đều làm chướng ngại Giới uẩn trong 3 uẩn, nhưng vì Tham dục cái lấy tịnh diệu tướng làm thức ăn nên có thể tu bất tịnh quán để đối trị. (xt. Ngũ Cái).
tham dục sử
4793指貪欲煩惱。又稱貪使。為十使之一,十根本煩惱之一,十隨眠之一,五鈍使之一。使,為驅使之意。即貪欲之煩惱能驅使眾生之身心,令流轉於三界。(參閱「煩惱」5515)
; Những phiền não của lòng tham muốn xô đẩy sai khiến thân tâm hữu tình khiến cho đắm đuối mãi trong vòng luân hồi sanh tử—The messenger, or temptation of desire which causes clinging to earthly life and things, therefore reincarnation.
; (貪欲使) Cũng gọi Tham sử. Chỉ cho phiền não tham dục, 1 trong 10 Sử, 1 trong 10 phiền não Căn bản, 1 trong 10 Tùy miên. Sử nghĩa là sai khiến, tức phiền não tham dục thường sai khiến, xúi dục thân tâm chúng sinh, làm cho trôi lăn trong 3 cõi.(xt. Phiền Não).
tham dục tam chủng phát tướng
4793據釋禪波羅蜜次第法門卷四舉出,修行人於修禪定時,有下列三種貪欲發相,即:(一)外貪欲相,即修行人於修禪定時,取男或女之容貌,生起貪欲之心,念念不歇而障諸禪定,是為外貪淫結使發相。(二)內外貪欲相,即修行人於修禪定時,欲心忽生,或緣他身相,或緣己身形貌,念念染著,生起貪愛,而障諸禪定,是為內外貪欲煩惱發相。(三)徧一切處貪欲相,即修行人於修禪定時,除貪著上述內外之境,復於一切五塵境界、資生之物等,皆生起貪愛之心而障諸禪定,是為於一切處貪欲發相。
; (貪欲三種發相) Chỉ cho 3 thứ tham dục phát ra tướng. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4, khi hành giả tu thiền định thì có 3 thứ tham dục phát tướng như sau:1. Ngoại tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định nhớ đến dáng dấp của người nữ(hoặc người nam) mà nổi lòng dục, niệm niệm không dứt, làm chướng ngại các thiền định, đó là phiền não tham dâm phát tướng ra bên ngoài.2. Nội ngoại tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định, lòng dục chợt nổi lên, hoặc tưởng nhớ thân hình người khác, hoặc nghĩ về dung mạo của mình, niệm niệm đắm đuối, tham ái khơi dậy, làm chướng ngại các thiền định, đó là phiền não tham dục cả trong lẫn ngoài đều phát ra tướng. 3. Biếnnhất thiết xứ tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định, trừ cảnh tham đắm trong và ngoài nói trên, đối với tất cả 5 trần cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) và các vật dụng trong đời sống hàng ngày... đều khởi tâm tham muốn, làm chướng ngại các thiền định, đó là tham dục phát ra tướng ở khắp mọi nơi.
tham dục tức thị đạo
4794即貪欲之事雖惡,然具法性之實理,故習於貪欲者,可就貪欲而觀法性。類同於「淫欲即是道」。此係基於天台宗所立之性惡法門,即以惡為眾生本具之性德。摩訶止觀卷十下(大四六‧一三六中):「行惡者,執大乘中貪欲即是道、三毒中具一切佛法,如此實語,本滅煩惱,而僻取著還生結業。」〔雜阿含經卷二十一〕(參閱「性善性惡」3237)
; Desire is part of the universal law, and may be used for leading into the truth, a tenet of Thiên Thai.
; Pháp môn tính ác do tông Thiên Thai lập ra. Sự tham dục tuy xấu xa nhưng lại có lý pháp tính. Do vậy, người quen thói tham dục có thể dùng nó mà quán pháp tính—Desire is part of the universal law, and may be used for leading into the truth, a tenet of T'ien-T'ai.
; (貪欲即是道) Đồng nghĩa: Dâm dục tức thị đạo. Tham muốn chính là đạo. Việc tham muốn tuy là xấu ác nhưng vẫn có thực lí của pháp tính, cho nên người quen tham muốn có thể nương ngay vào tham muốn mà quán xét pháp tính. Đây là căn cứ vào pháp môn Tính ác do tông Thiên thai thành lập, tức chủ trương Ác là tính đức sẵn có của chúng sinh. Ma ha chỉ quán quyển 10 hạ (Đại 46, 136 trung) nói: Người làm ác chấp theo lập trường của Đại thừa cho rằng tham dục chính là đạo, trong 3 độc có đầy đủ tất cả Phật pháp, thực ngữ này vốn diệt phiền não, nhưng vì họ không thấu suốt, chỉ chấp chặt một chiều nên lại tạo ra kết nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.21]. (xt. Tính Thiện Tính Ác).
tham dụïc
Greed and Desire. (I) Nghĩa của Tham Dục—The meanings of Greed and desire: 1) Tham muốn của cải trần thế. Hầu hết người đời thường định nghĩa hạnh phúc trần tục như là sự thỏa mãn của mọi tham dục: Desire for and love of the things of this life—Craving (greed, affection, desire). Most people define happiness as the satisfaction of all desires. 2) Tham dục trần thế là vô hạn, nhưng chúng ta lại không có khả năng nhận ra chúng và tham dục không được thỏa mãn thường gây ra khổ đau phiền não cho mình và cho người. Khi chúng ta chỉ phần nào thỏa mãn tham dục, chúng ta luôn có khuynh hướng tiếp tục theo đuổi chúng cho đến khi được thỏa mãn, chính vì vậy mà chúng ta càng gây nên khổ đau cho mình và cho người. Ngay cả khi đã thỏa mãn tham dục, chúng ta cũng khổ đau. Chúng ta chỉ nghiệm được chân hạnh phúc và an nhin tự tại khi chúng ta có ít tham dục. Đây cũng là một trong những bước lớn đến bến bờ giải thoát của chúng ta—The desires are boundless, but our ability to realize them is not, and unfulfilled desires always create suffering. When desires are only partially fulfilled, we have a tendency to continue to pursue until a complete fulfillment is achieved. Thus, we create even more suffering for us and for others. We can only realize the true happiness and a peaceful state of mind when our desires are few. This is one of the great steps towards the shore of liberation. 3) Phật dạy: “Tham dục chính là nguồn gốc của khổ đau. Mọi vật rồi sẽ thay đổi, vì thế không nên luyến ái hay vướng víu vào một thứ gì. Nên nhiếp tâm thanh tịnh tìm chân lý và đạt đến hạnh phúc vĩnh hằng.” Biết tri túc thiểu dục là biết sẽ giúp chúng ta diệt trừ tham dục. Điều nầy có nghĩa là biết thỏa mãn với những điều kiện vật chất khả dĩ giúp cho chúng ta có đầy đủ sức khỏe để tu tập. Đây là phương cách hữu hiệu nhất để cắt đứt lưới tham dục, an ổn thân tâm và có nhiều thì giờ giúp đở tha nhân---Buddha taught: “Craving and desire are the cause of all unhappiness or suffering. Everything sooner or later must change, so do not become attached to anything. Instead devote yourself to clearing your mind and finding the truth, lasting hapiness.” Knowing how to feel satisfied with few possessions help us destroy greed and desire. This means being content with material conditions that allow us to be healthy and strong enough to cultivate. This is an effective way to cut through the net of passions and desires, attain a peaceful state of mind and have more time to help others. (II) Phân loại Tham Dục—Categories of Greed and Desire: Có năm loại Tham Dục—There are five types of Greed and Desire: 1) Tài Tham Dục: Greed and desire for Wealth. 2) Sắc Tham Dục: Greed and desire for Beauty. 3) Danh Tham Dục: Greed and Desire for ambitions. 4) Thực Tham Dục: Greed and desire for finding pleasure in eating. 5) Thùy Tham Dục: Greed and Desire for sleeping or laziness.
tham dự
To take part in—To participate.
tham gia
To join—To adhere to.
tham giàu
Greedy of wealth.
tham huyền nhân
4394指佛道之修行者。參玄,意謂參究修學佛法之玄旨。景德傳燈錄卷三十(大五一‧四五九中):「謹白參玄人,光陰莫虛度。」
; (參玄人) Chỉ cho người tu hành Phật đạo. Tham huyền nghĩa là tham cứu tu học ý thú sâu xa huyền nhiệm của Phật pháp. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 (Đại 51, 459 trung) nói: Kính bạch tham huyền nhân, Thời gian chớ luống phí.
tham hà
4396禪林用語。指禪僧請假出禪院,而於十五日之內歸寺。又作參假。後世稱依止寺院投宿為參暇者,乃昔稱掛搭之訛誤。瑩山清規卷下(大八二‧四四七下):「不請暇而起單人,不可免再參暇。」又掛搭所出之茶禮,稱為參暇茶、入寮茶。小叢林略清規卷上稱呼條(大八一‧六九二上):「諸方眾寮參假扇、參假茶,亦宜稱掛搭扇、入寮茶矣。」(參閱「掛搭」4584、「請假」6162)
; (參暇) Cũng gọi Tham giả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền tăng xin nghỉ ra khỏi Thiền viện trong vòng 15 ngày thì trở về chùa, gọi là Tham hạ. Người đời sau gọi việc tạm trú trong chùa viện là Tham hạ, đó là lầm lẫn với từ ngữ Quải đáp của người xưa thường gọi.Oánh sơn thanh qui quyển hạ (Đại 82, 447 hạ) nói: Người không xin nghỉ mà đi thì không được tái tham hạ. Trà lễ được tổ chức khi quải đáp, gọi là Tham hạ trà, Nhập liêu trà. Điều Xưng hô trong Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển thượng (Đại 81, 692 thượng) nói: Tham hạ phiến, Tham hạ trà của các liêu ở các nơi cũng nên gọi là Quải đáp phiến, Quải đáp trà. (xt. Quải Đáp, Thỉnh Giả).
tham hậu
4395禪林用語。又作參退。為「參前」之對稱。指晚參或放參之後。即晚間之參禪念誦之後,或休止坐禪、行事等之後。敕修百丈清規卷五坐禪條(大四八‧一一四二下):「參後坐禪如常。」古尊宿語錄卷四十三真淨語錄二(卍續一一八‧三六五上):「今日莊主設饡飯,俵䞋錢,參退僧堂內,普請喫茶去。」
; Sau buổi Vãn Tham—After the evening assembly—See Tham (1) (b).
; (參後) Cũng gọi: Tham thoái. Đối lại: Tham tiền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho thời gian sau khi vãn tham hoặc phóng tham, tức thời gian sau khi tham thiền niệm tụng lúc chiều tối, hoặc chỉ cho thời gian sau khi nghỉ ngồi thiền hay thôi làm việc... Điều Tọa thiền trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 hạ) nói: Tham hậu, tọa thiền như thường. Chân tịnh ngữ lục quyển 2 trong Cổ tôn túc ngữ lục quyển 43 (Vạn tục 118, 36 thượng) nói: Hôm nay Trang chủ thiết trai tăng, sau giờ tham thiền buổi chiều tối, thỉnh chư tăng đến Tăng đường uống trà.
tham học
4397全稱參禪學道。指禪者遊訪各禪剎,參訪各家風格、規矩後,隨從明師學習。黃鎮成送澗泉上人游方詩:「直到無生參學畢,逢人遮莫說輪迴。」僧梵琦送天寧謐藏主詩:「曹溪只是箇樵夫,佛法何曾解參學?」又實參實究佛祖嫡傳之正法,亦稱參學。
; (參學) Gọi đủ: Tham thiền học đạo. Chỉ cho việc vị Thiền sinh đi tham vấn các Thiền viện về tông phong và qui củ của những Thiền viện đó, rồi theo minh sư học tập. Thơ của Hoàng trấn thành tiễn chân Thượng nhân Giản tuyền du phương tham học có câu: Tham học Vô sinh khi đến nơi, Gặp người xin chớ nói luân hồi. Còn thơ của vị tăng tên là Phạm kì tiễn đưa Mật tạng chủ chùa Thiên ninh lên đường tham học cũng có câu: Tào khê hái củi mấy năm dư, Phật pháp đã từng tham học ư?. Ngoài ra, việc thực tham, thực cứu Chính pháp đích truyền của Phật tổ, cũng gọi là Tham học.
Tham học 參學
[ja] サンガク sangaku ||| (1) To be involved in study. (2) To get into the practice of Buddhism. => Có hai nghĩa: 1. Lưu tâm vào viẹc học. 2. Tu tập Phật đạo.
tham khảo
To refer—To consult.
tham kiến
The illusion, or false views caused by desire.
; The illusion or false views caused by desire.
tham kết
4794五結之一。指貪欲煩惱。結,梵語 bandhana,即結縛眾生,令不能出離生死之煩惱。謂貪欲之煩惱能使人繫縛於三界之生死,不得解脫,故稱為貪結。(參閱「五結」1163、「結」5179)
; The bond of desire.
; The bond of desire (binding in the chain of transmigration).
; (貪結) Chỉ cho phiền não tham dục, 1 trong 5 kết. Kết, Phạm:Bandhana, nghĩa là phiền não trói buộc chúng sinh, làm cho không thoátkhỏisinh tử. Nói cách khác, phiền não tham dục thường sai khiến, trói buộc chúng sinh sống chết trong 3 cõi, không được giải thoát, nên gọi là Tham kết. (xt. Kết, Ngũ Kết).
tham la vạn tượng
4397又作森羅萬象。參羅,與「森羅」同,形容樹木繁茂並列之狀態。宇宙間各種現象森然羅列於前,稱為參羅萬像;於佛教,特別指與本體相對之現象界,以現象界之千差萬別,而與本體之萬法一如為相對之概念。法句經疏(大八五‧一四三五上):「參羅及萬像,一法之所印。」今所用「森羅萬象」一詞,即源於佛家語。
tham lam
Abhijjha (p)—Greed—Miserly—Lust. (A) Theo Hoà Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp tham lam—According to Most Venerable in The Buddha and His Teachings, there are two conditions that are necessary to complete the evil of covetousness: 1) Vật sở hữu của người khác: Another's possession. 2) Tâm thèm muốn, ước mong được làm chủ vật ấy: Adverting to it, thinking “would this be mine!” (B) Cũng theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, hậu quả tất yếu của tham lam là không bao giờ được mãn nguyện: Also according to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, the inevitable consequence of covetousness is non-fulfillment of one's wishes.
tham lang
4793比喻貪欲之深有如狼之特性。以狼性多貪,故喻多貪者為狼,稱為貪狼。如同狐之本性多疑,故有「狐疑」之語。〔無量壽經卷下〕
; Greedy wolf, wolfish desire or cupidity.
; Tham dục được ví như lòng tham của bầy lang sói—Greedy wolf, wolfish desire or cupidity.
; (貪狼) Sói tham, ví dụ lòng tham không đáy của con người giống như chó sói. Vì loài thú này có bản tính rất tham lam, cho nên người có lòng tham quá độ được ví như chó sói mà gọi là Tham lang. Cũng tương tự như bản tính của loài cáo là đa nghi, bởi thế cũng có từ ngữ Hồ nghi(Hồ là con cáo).[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
tham liêu tử tập
4396凡十二卷。宋代僧道潛撰。又稱參寥子詩集。參寥子為道潛之號。其詩甚能表現其個性,頗少含蓄,然不落俗套。詩集傳世有二種版本,卷帙相同,然順序稍異,一題三學法嗣廣賓訂,另一題法嗣法穎編。詩集中亦有與法穎唱和之詩。〔四庫提要別集類〕
; (參寥子集) Cũng gọi Tham liêu tử thi tập. Tập thơ, 12 quyển, do vị tăng là Đạo tiềm soạn vào đời Tống. Tham liêu tử là hiệu của ngài Đạo tiềm. Thơ của Đạo tiềm biểu hiện rõ cá tính của ngài, tuy không được hàm súc lắm nhưng cũng không rơi vào khuôn sáo thế tục. Tập thơ lưu truyền ở đời có 2 loại bản in, số quyển giống nhau, nhưng thứ tự hơi khác; một bản đề là Tam học pháp tự Quảng tân hiệu đính, còn bản kia thì đề là Pháp tự Pháp dĩnh biên tập. Trong tập thơ cũng có thơ xướng họa của ngài Pháp dĩnh. [X. Tứ khố đề yếu biệt tập loại].
tham luyến
Attached to and fond of.
tham luận
To discuss.
tham lợi
Eager for gain—Greedy for gain.
tham muốn
Rati (S), Lust.
tham muốn của cải vật chất
Greed for material wealth.
tham mê
Rāga (S), Greed, Lobha (S), Tanhā (S).
tham nghệ
Khi lễ bái, người ta tin rằng mình có thể đến học hỏi với chư Thiên hay chư Phật—To approach the gods or Buddhas in worship.
tham nghị
To participate in a discussion
tham nhiễm
4793即耽染取著於五欲、六塵之境。五欲,為色、聲、香、味、觸,或財、色、飲食、名、睡眠。六塵,為色、聲、香、味、觸、法。此外,大毘婆沙論卷二十八載,以無貪善根對治貪染,稱為離染。(參閱「離染」6716)
; The taint of desire or greed.
; Defiled grees---The taint of desire or greed.
; (貪染) Tham nhuốm, tức tham đắm, nhiễm trước các cảnh 5 dục, 6 trần. Năm dục là: Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc giác trơn láng mịn màng; hoặc tiền của, sắc đẹp, thức ăn uống ngon ngọt, danh vọng và ngủ nghỉ. Còn 6 trần là: Sắc, Thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ngoài ra, theo luận Đại tì bà sa quyển28, dùng thiện căn vô tham để đối trị tham nhiễm, gọi là Li tham (lìa tham). (xt. Li Tham).
tham nhuế si
Ràga, dvesa, moha (S). Desire, anger, ignorance.
tham phiền não
4794六大煩惱之一。為根本煩惱之貪欲心。煩惱,梵語 kleśa。即令眾生感到惱、亂、煩、惑、污等精神作用。謂貪欲之心,能惱亂眾生之身心,常令沉淪於苦、樂之境域,使之感受束縛,不得清淨自在,即稱貪煩惱。(參閱「煩惱」5515、「隨眠」6351)
; The klesa, temptation or passion of desire.
; The klesa, temptation or passion of desire.
; (貪煩惱) Chỉ cho tâm tham dục là gốc rễ của phiền não, 1 trong 6 đại phiền não. Phiền não, Phạm:Kleza. Tức là tác dụng tâm lí làm cho chúng sinh cảm thấy buồn bực, phiền muộn, mê loạn, nhơ nhớp... Nghĩa là lòng tham muốn thường khiến cho thân tâm chúng sinh não loạn, đắm chìm trong cảnh khổ, vui, có cảm giác bị ràng buộc, không được thanh thoát, tự tại, nên gọi là Tham phiền não. (xt. Phiền Não, Tùy Miên).
tham phược
Rāga-bandhana (S) Một trong tam phược.
; Sự trói buộc của lòng tham—The tie of desire.
tham phọc
4795梵語 rāga-bandhana。指貪欲煩惱。三縛之一。縛為繫縛之意。即貪欲之不善根,能繫縛眾生令不自在,不得出離生死。樂、苦、捨三受中,於樂受貪縛隨增。(參閱「三縛」683)
; The tie of desire.
; (貪縛) Phạm: Ràga-bandhana. Chỉ cho phiền não tham muốn, 1 trong 3 phược. Phược nghĩa là trói buộc, tức lòng tham muốn thường trói buộc chúng sinh khiến mất tự do, tự tại, không ra khỏi sinh tử. Trong 3 cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui, thì Tham phược gia tăng đối với cảm thụ vui. (xt. Tam Phược).
tham quyền
Greed for power—To love power.
tham sanh
Upādhi (S), Clinging to rebirth.
; To cling to life.
tham sanh úy tử
To cling to life and to fear death—The desire to survive, coupled with fear of death.
tham sân si
4795並稱三火、三毒、三垢、三不善根。又作貪恚癡、婬怒癡。即貪欲、瞋恚、愚癡等三種煩惱。據大智度論卷三十一載,有利益我者生貪欲,違逆我者生瞋恚,此結使不從智生,從狂惑生,故稱為癡。此三者為一切煩惱之根本,荼毒眾生身心甚劇,能壞出世之善心,故稱為三毒。三毒有正、邪之分,如諸佛淨土僅有正三毒,無邪三毒。又大藏法數卷十五區分二乘及菩薩各有三毒,二乘者欣求涅槃為貪欲,厭離生死為瞋恚,迷於中道為愚癡;菩薩廣求佛法為貪欲,呵惡二乘為瞋恚,未了佛性為愚癡。(參閱「三火」536、「三毒」570)
; (貪嗔痴) Cũng gọi Tham khuể si, Dâm nộ si. Chỉ cho 3 thứ phiền não căn bản là Tham dục, Sân khuể và Ngu si, 3 thứ này gọi chung là Tam hỏa (3 thứ lửa), Tam độc (3 cái độc hại), Tam cấu(3 cái nhớp nhúa), Tam bất thiện căn(3 cái gốc xấu ác). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 31, đối với những thứ có lợi ích cho mình thì sinh lòng ham muốn, còn đối với những cái trái với ý muốn của mình thì sinh tâm tức giận, 2 phiền não này không sinh ra từ trí sáng mà từ mê loạn sinh ra, vì thế nên gọi là Si. Ba phiền não này là gốc rễ của tất cả phiền não, đầu độc thân tâm chúng sinh rất nặng nề, có công năng phá hoại thiện tâm xuất thế, cho nên gọi là Tam độc. Tam độc có chính, tà khác nhau, như trong các cõi Tịnh độ của chư Phật chỉ có Chính tam độc chứ không có Tà tam độc. Đại tạng pháp số thì phân biệt Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Nhị thừa ưa thích Niết bàn là Tham dục, nhàm chán sinh tử là Sân khuể, mê mờ đối với Trung đạo là Ngu si; còn Bồ tát thì rộng cầu Phật pháp là Tham dục, chê trách Nhị thừa là Sân khuể và chưa rõ tính Phật là Ngu si. (xt. Tam Hỏa, Tam Độc).
tham sống sợ chết
See Tham sanh úy tử.
tham sử
The messenger, or temptation of desire
Tham Sự
(參事, Sanji): hiện tại ở Nhật Bản, đây là một loại chức danh của viên chức thuộc các cơ quan pháp nhân như Quốc Hội, hành chính độc lập, đoàn thể công cọng địa phương, v.v. Về ngữ nghĩa, Tham Sự có nghĩa là “tham mưu sự việc”, là người tham dự, tham mưu vào sự vụ của các cơ quan pháp lý vốn dưới quyền của Tri Sự (知事), người đại diện và quyết định các cơ quan ấy.
tham sự
1) To take part in an affair—To participate in. 2) Chief clerk.
tham thiên thai ngũ đài sơn kí
4394凡八卷。日僧成尋(1011~1081)撰。又稱善惠大師賜紫成尋記。延久四年(1072),成尋時年六十二歲,偕賴緣、快宗、聖秀、惟觀、心賢、善久、長明等自肥前松浦來宋。翌年六月,巡禮天台山、五臺山等聖蹟,並蒙宋朝之優遇,乃以漢文逐日記載,著成此書,成為後人了解當時中日海路交通、宋代佛教概況,及其文物、風俗等之珍貴資料。全書自日本延久四年從肥前松浦出發時起筆,至宋熙寧六年(1073)六月託送新譯佛經及佛像去日本為止。本書有後人成島讓儉之考證加註而成「刪補天台五臺山記」八卷,以及高楠順次郎以京都東福寺所藏原本為底本,校合多處之抄本,更撰「成尋所記入宋諸師傳考」一卷。本書收於大日本佛教全書卷一一五、改訂史籍集覽卷二十六。
; (參天台五臺山記) Cũng gọi Thiện huệ đại sư Tứ tử thành tầm kí. Du kí, 8 quyển, do ngài Thành tầm (1011-1081), vị tăng người Nhật bản soạn. Năm Diên cửu thứ 4 (1072), ngài Thành tầm lúc ấy đã 62 tuổi, cùng với các vị Lại duyên, Khoái tông, Thánh tú, Duy quán, Tâm hiền, Thiện cửu, Trường minh... từ Phì tiền tùng phố đến Trung quốc (đời Tống). Tháng 6 năm sau, ngài đến chiêm bái các Thánh tích như núi Thiên thai, núi Ngũ đài... rất được triều đình nhà Tống đãi ngộ, nên dùng chữ Hán viết nhật kí mà soạn thành sách này. Đây là tư liệu quí giá giúp người đời sau hiểu rõ sự giao thông bằng đường biển giữa Nhật bản và Trung quốc, tình hình chung của Phật giáo đời Tống, cũng như văn vật, phong tục Trung quốc đương thời. Toàn sách bắt đầu được viết từ lúc phát xuất ở Phì tiền tùng phố vào năm Diên cửu thứ 4 (1072) của Nhật bản cho đến khi gửi tượng Phật và các kinh Phật mới dịch về Nhật bản vào tháng 6 năm Hi ninh thứ 6 (1073) đời Tống của Trung quốc thì dừng. Tác phẩm này được người đời sau là Thành đảo Nhượng kiệm khảo chứng và chú thích mà thành San bổ Thiên thai ngũ đài sơn kí 8 quyển và ông Cao nam Thuận thứ lang dùng nguyên bản được cất giữ ở chùa Đông phúc tại Kyoto làm bản gốc, đối chiếu và hiệu đính bản sao ở nhiều chỗ, rồi lại soạn Thành tầm sở kí nhập Tống chư sư truyện khảo 1 quyển. Sách này được thu vàoĐạinhật bản Phật giáo toàn thư quyển 115, Cải đính sử tịch tập lãm quyển 26.
Tham thiền
參禪; J: sanzen; nghĩa là »đến với Thiền«, »đi đến Thiền«, hoặc Toạ thiền;|Ðến tham vấn một vị Lão sư để nhận sự chỉ dạy. Trong tông Lâm tế tại Nhật Bản thì Tham thiền đồng nghĩa với Ðộc tham (j: dokusan), theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Tham thiền chính là sự tu tập thiền đúng đắn (Tổng tham).
tham thiền
4397禪林用語。參入禪道之意。指於師家之下坐禪修行,引申為於禪定中參究真理。無門關第一則(大四八‧二九二下):「參禪須透祖師關,妙悟要窮心路絕。」正法眼藏三昧王三昧(大八二‧二四三下):「參禪者,身心脫落也,祇管打坐始得,不要燒香、禮拜、念佛、修懺、看經。」又參禪宜在靜處,並節制飲食,放捨諸緣,休息萬事,不思善惡,莫管是非。
; To inquire, discuss, seek religious instruction.
; Tham thiền chẳng phải ngồi thiền, ngồi thiền chẳng phải tham thiền. Tham thiền ở nơi tâm ngộ mà chẳng ở nơi ngồi. Trước đời nhà Tống Trung Quốc (cách đây 60 năm), các Tổ sư mỗi mỗi dùng cơ xảo khiến thiền giả tự khởi nghi tình mà chẳng biết mình đã tham thiền, nên kẻ ngộ nhiều, lại mau ngộ. Từ khi Truyền Đăng Lục (Lịch sử Thiền tông) ra đời, thiền giả đã biết cơ xảo của Tổ sư nên chẳng thể tự khởi nghi tình, Tổ sư bất đắc dĩ phải dạy tham thoại đầu, nên sau này kẻ ngộ ít mà lại chậm ngộ.
; Tham nhập vào đạo thiền, hay tham vấn về thiền tập—To wrap in deep meditation—To enter into meditation—To seek, inquire or discuss religious instruction.
; (參禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho sự tọa thiền tu hành dưới sự chỉ dạy của bậc thầy, sau chuyển sang chỉ cho sự tham cứu chân lí trong Thiền định. Vô môn quan tắc 1 (Đại 48, 292 hạ) nói: Tham thiền phải thấu cửa Tổ sư, Diệu ngộ đường tâm cần dứt bặt. Chính pháp nhãn tạng tam muội vương tam muội (Đại 82, 243 hạ) nói: Tham thiền là thân tâm rỗng rang, chuyên vào một việc ngồi thiền, không cần đốt hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, xem kinh... Ngoài ra, tham thiền nên chọn nơi yên tĩnh, tiết chế việc ăn uống, buông bỏ các duyên, dứt hẳn mọi việc, không nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, gác ngoài thị phi.
tham thoại đầu (công án)
Chữ tham tức là nghi. Đề câu thoại đầu hỏi thầm trong tâm, cảm thấy không hiểu nên sanh khởi nghi tình. Có nghi tình mới gọi là tham thiền. Tham thoại đầu cũng gọi là khán thoại đầu, tức là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh khởi (là vô thủy vô minh) không biết đó là cái gì, phối hợp với câu thoại đầu để tăng thêm nghi tình.
tham thuỷ
4792貪愛之情能吸引諸物,又能滋長惡法,故以水為喻。首楞嚴經卷八(大一九‧一四三下):「是故十方如來,色目多求,同名貪水。菩薩見貪,如避瘴海。」
tham thương
4395指參星與商星。參星位於西南方申之位,商星位於東方卯位。此二星東西遠隔,不能同時望見。故用此語來比喻久別不相遇、兄弟舆牆、存在嚴重齟齬等意。禪源諸詮集都序卷上一(大四八‧四○一上):「禪門要旨無是無非,塗割怨親,不嗔不喜,何以南能北秀水火之嫌,荷澤洪州參商之隙?」
tham thỉnh
4396禪林用語。即弟子向師家請問並受教。亦同參問請益、參禪辨道之意。臨濟錄勘辨(大四七‧五○四中):「徑山有五百眾,少人參請。」又至師家處請問佛法之奧旨,稱為參問。
; Thỉnh ý—To request instruction or discussion.
; (參請) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho việc đệ tử thưa hỏi và nhận lãnh lời chỉ dạy của Thầy, cũng như nghĩa tham vấn thỉnh ích, tham thiền biện đạo. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 504 trung) nói: Ngài Kính sơn có năm trăm chúng, nhưng ít có người tham thỉnh. Ngoài ra, đến chỗ của Thầy thưa hỏi về ý chỉ sâu xa của Phật pháp cũng gọi là Thỉnh vấn.
tham thủy
Desire is like water carrying things along.
; Tham dục ví như dòng nước chuyên chở hết thảy những điều ác—Desire is like water carrying things along.
; (貪水) Nước tham. Tình ái tham dục có sức hấp dẫn mọi vật và nuôi lớn các pháp ác, cho nên được ví dụ như nước mà gọi là Tham thủy.Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Hễ mắt nhìn thấy sắc thì sinh nhiều tham cầu, cho nên các đức Như lai trong mười phương đều gọi đó là Tham thủy. Bồ tát thấy tham thì tránh xa như tránh xa biển độc.
tham tiếc
To begrudge; be unwilling to give.
tham tiền
4395禪林用語。指晚參(晚間之參禪念誦)之前。若無晚參,則指放參以前。敕修百丈清規卷二達磨忌條(大四八‧一一一七下):「來日半齋各具威儀,散忌諷經,參前鳴僧堂鐘。」
; 1) Tham lam tiền bạc: Greed for money. 2) Trước buổi Vãn Tham: Before the evening assembly—See Tham (1) (b).
; (參前) Đối lại: Tham hậu. Chỉ cho thời gian trước Vãn tham (tức là tham thiền niệm tụng vào lúc chiều tối). Nếu không có Vãn tham thì Tham tiền là chỉ cho thời gian phóng tham trở về trước. Điều Đạt ma kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1117, hạ) nói: Ngày hôm sau, sau ngọ trai, đại chúng phải đầy đủ uy nghi, tán kệ tụng kinh, trước vãn tham(tham tiền) thỉnh chuông ở nhà tăng.
Tham triệt 參徹
[ja] サンテツ santetsu ||| To awaken under the guidance of a Buddhist master. => Giác ngộ dưới sự hướng dẫn của một Tăng sĩ Phật giáo.
tham trước
4794多求無厭足為貪;貪心固執而不離為著。指於諸欲染中貪愛執著。貪著係起於邪念,由貪著遂生種種煩惱。遺教經(大一二‧一一一二上):「若有智慧,則無貪著。」〔法華經序品、義足經卷上〕
; The attachment of desire.
; Tham trước là người ta cứ bám vào lòng tham không biết chán—The attachment of desire.
; (貪著) Tham đắm. Mong cầu thật nhiều mà không chán là Tham; tâm tham bám chặt không chịu lìa bỏ là Trước. Tức chỉ cho tâm tham ái chấp trước trong các dục nhiễm. Tham trước là do tà niệm, các thứ phiền não đều do tham trước mà ra. Kinh Di giáo (Đại 12, 1112 thượng) nói: Người có trí tuệ thì không tham trước. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Nghĩa túc Q.thượng].
tham trọc
4795指貪欲之煩惱。即貪欲能污濁、惱亂眾生之身心,故稱貪濁。據隨願往生經載,娑婆世界人多貪濁,信向者少。
; The contamination of desire.
; (貪濁) Tham đục. Chỉ cho phiền não tham dục. Tham dục thường vẩn đục, não loạn thân tâm chúng sinh, vì thế nên gọi Tham trược. Cứ theo kinh Tùy nguyện vãng sinh thì người ở thế giới Sa bà phần nhiều là tham trược, cho nên rất ít người tin vào việc vãng sinh.
tham tài
Greedy (eager) for wealth.
tham tàn
Greedy and harsh.
tham tâm
4792為大日經卷一住心品所說妄心六十心之一。又稱有貪心。即隨順染法,染著前境而污染淨心之心。若觀查貪心實相,得以對治此心。大日經疏卷二(大三九‧五九六中):「云何貪心?謂隨順染法者;謂染著前境,即是染污淨心。」(參閱「六十心」1242)
; (貪心) Cũng gọi Hữu tham tâm. Tâm tham tức là tâm thuận theo các pháp nhơ nhớp, tham đắm các cảnh trước mắt mà làm cho tâm bị ô uế, là 1 trong 60 vọng tâm nói trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại nhật quyển 1. Nếu quán xét thực tướng của tâm tham thì đối trị được tâm này. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 596 trung) ghi: Thế nào là Tham tâm? Là tâm thuận theo các pháp ô nhiễm; tham đắm các cảnh trước mắt, làm ô uế tịnh tâm. (xt. Lục Thập Tâm).
tham tích
4793即眾生愚癡,不知罪福之因果,故貪愛吝惜財物,而無施與他人之心。灌頂經卷十二(大二一‧五三三上):「世人愚癡,但知貪惜,寧自割身肉而噉食之,不肯持錢財布施,求後世之福。」〔無量壽經卷下〕
; (貪惜) Tham tiếc. Tức chúng sinh ngu si, không rõ nhân quả tội phúc nên tham lam sẻn tiếc tài vật, không có lòng thương bố thí cho người khác. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 533 thượng) nói: Người đời ngu si, chỉ biết tham tiếc, thà tự cắt thịt trên thân mình mà ăn còn hơn là đem tiền của bố thí cho người khác để cầu phúc ở đời sau.
tham tú
4396梵名 Ārdrā。音譯頞達囉。意譯濕、米濕、未濕。又稱生眚宿、生養宿。二十八星宿之一。屬於魯達羅(梵 Rudra,意譯音響、暴風雨)。於密教北斗曼荼羅中,位於外院西邊南端,於胎藏現圖曼荼羅,位於外院東方。胎藏現圖曼荼羅之形像為仰右掌,置於臍前,左掌豎起,屈食、中指,持蓮花,蓮上有珠,交腳而坐。〔宿曜經卷上、大孔雀咒王經卷下〕
; (參宿) Phạm:Àrdrà. Hán âm: Át đạt ra. Hán dịch: Thấp, Mễ thấp, Vị thấp. Cũng gọi Sinh sảnh tú, Sinh dưỡng tú. Chỉ cho sao Tham, 1 trong 28 vì sao, thuộc về Lỗ đạt la (Phạm:Rudra, Hán dịch: Âm hưởng, Bạo phong vũ). Trong Mạn đồ la Bắc đẩu của Mật giáo, vị tôn này được an trí ở cực nam phía tây Ngoại viện, còn trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới thì vị này được bày ở phía đông Ngoại viện. Hình tượng vị tôn này trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới ngồi tréo chân, bàn tay phải ngửa lên, để ở trước rốn, bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ và ngón giữa co lại, cầm hoa sen, trên hoa sen có hạt châu. [X. kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ].
tham tập
4794即貪欲之習性。首楞嚴經卷八(大一九‧一四三下):「貪習交計,發於相吸,吸攬不止。」
; The habit of desire, desire become habitual.
; Thói quen của lòng tham (tham mãi thành thói quen)—The habit of desire, desire becomes habitual.
; (貪習) Chỉ cho tính quen tham muốn. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Tham tập với tính quen, phát ra sức hấp dẫn lẫn nhau, lôi quấn mãi không thôi.
tham tập nhân
Habitual cupidity leading to punishment in the cold hells.
; Một trong mười nhơn, thói quen của tham dục khiến người ta bị đọa vào địa ngục lạnh—Habitual cupidity leading to punishment in the cold hells, one of the ten causes—See Thập Nhân Thập Quả (2).
Tham tỉnh
(參省): Tham (參) ở đây nghĩa là xem xét, quan sát; tỉnh (省) là phản tỉnh, nhìn lại chính mình. Từ này vốn xuất xứ từ trong Thiên Khuyến Học (勸學篇) của Tuân Tử (荀子): “Quân tử bác học nhi nhật tham tỉnh hồ kỉ, tắc tri minh nhi hành vô quá hỉ (君子博學而日參省乎己、則知明而行無過矣, người quân tử học rộng mà mỗi ngày kiểm điểm lại mình thì trí tuệ mới sáng suốt và hành vi sẽ không có lỗi lầm).” Đối với Thiền Tông, tham tỉnh có nghĩa là đến tham học Thiền pháp với bậc cao đức nào đó và được vị ấy làm cho tỉnh ngộ; tương đương với nghĩa của tham học (參學), tham vấn (參問). Như trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 17, phần Tương Châu Cốc Ẩn Sơn Uẩn Thông Từ Chiếu Thiền Sư (襄州谷隱山蘊聰慈照禪師) có câu: “Sư ly Bách Trượng, chí Nhữ Châu tham tỉnh Niệm Thiền Sư (師離百丈、至汝州參省念禪師, sư rời Bách Trượng, đến Nhữ Châu tham học với Thiền Sư Niệm).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 30, phần Nhữ Châu Nam Viện Huệ Ngung Thiền Sư (汝州南院慧顒禪師) có đoạn: “Hậu ư Vân Môn hội hạ, văn biệt tăng cử thử thoại, phương ngộ chỉ, khước hồi tham tỉnh, sư dĩ viên tịch, toại lễ Phong Huyệt Hòa Thượng (後於雲門會下、聞別僧舉此話、方悟旨、卻回參省、師已圓寂、遂禮風穴和尚, sau nhân trong hội chúng của Vân Môn, ông nghe có vị tăng nọ nêu ra câu chuyện này, mới ngộ được yếu chỉ; liền quay về tham học, nhưng thầy đã qua đời, ông bèn lạy Hòa Thượng Phong Huyệt làm thầy).”
tham từ tạ hạ
4397禪林用語。即指對統監寺院僧官之辭任、就任,所表示之謝辭及祝賀語。禪苑清規卷三(卍續一一一‧四四五下):「監院一職,總領院門諸事,如官中應副及參辭謝賀。」
; (參辭謝賀) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời cảm tạ và chúc mừng được bày tỏ đối với vị Giám viện từ nhiệm hay tựu chức. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 445 hạ) nói: Chức Giám viện trông coi toàn bộ các công việc trong chùa viện, cũng như vị quan quản trị một vùng, cho nên phải bày tỏ lời tham từ tạ hạ.
tham vấn
To seek instruction - generally as a class.
; Hành giả đi các nơi tham học, hỏi đạo gọi là tham vấn.
; Xin lời hướng dẫn—To seek instruction, generally as a class.
tham vọng
Vedayita (S).
; Desire—Craving for—Ambition.
tham vọng muốn bất tử
The craving for immortality.
tham ái
4794即貪著愛樂五欲之境而不能出離生死輪迴。貪與愛為異名同體。貪,梵語 rāga,俱舍七十五法之一,唯識百法之一。指欲求染污之愛或財物等而無厭足之精神作用;愛,梵語 tṛṣṇā 或 anunaya-saṃyojana,十二因緣或九結之一,指染著於境之貪煩惱。據勝天王般若經卷一載,眾生長夜流轉六道輪迴不息,皆由貪愛。大毘婆沙論卷五十載,愛結為三界之貪,三界之貪於九結中總立為愛結,七隨眠中立二隨眠,即:(一)欲界之貪,稱為欲貪隨眠。(二)色、無色界之貪,稱為有貪隨眠。於其他經典中立有三愛,即欲愛、色愛、無色愛。(參閱「貪」4792、「愛」5457)
; Desire, cupidity.
; Passion—Desire—Cupidity—Tham ái, tham dục đòi hỏi những sự ham muốn về vật chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm ân ái, vân vân, là những khoái lạc về ngũ quan. Con người còn ham muốn để được thỏa mãn những nhu cầu về tinh thần như ham chiếm đoạt, ham phô trương, ham quyền lực, ham lợi lộc. Lòng ham muốn đắm mê không bao giờ biết ngừng, không bao giờ được thỏa mãn cả, như chiếc thùng không đáy. Để thỏa mãn dục vọng mà con người sanh ra vị kỷ, độc ác, làm hại, làm khổ người khác để mình được vui, được sung sướng. Vì lòng tham mà chúng ta không ngại xử dụng mọi thủ đoạn để đạt cho được mục đích, bất kể chuyện gì xãy đến cho người khác. Phật tử chúng ta nên thấy rõ vì không tu nên cõi đời trở thành một đấu trường mà nước mắt đổ như mưa rào, bể khổ dâng lên như nước thủy triều biển khơi—Greed and lust are unrestrained desires for material possessions such as food, sleeping, sexual intercourse, etc., all related to sensual pleasures. We also have a desire for appropriations, showing off, authority, and profits. Since they are like bottomless barrel, neither obsessive greed nor desire can be stopped or satisfied. Through tricks, expedients, and manipulations we try to reach our goal irrespective of whatever happens to others. We Buddhists must see that greedy people are generally selfish, wicked, and prone to cause sufferings to others. As a result, they transform this world into a battlefield where tears are shed like streams, and sufferings rise like an ocean tide.
; (貪愛) Tham đắm yếu thích Ngũ dục nên không thể ra khỏi sinh tử luân hồi. Tham vàái(yêu) là cùng thể khác tên. Tham là sự ham muốn, mong cầu những tài vật nhiễm ô mà không biết nhàm chán. Ái là yêu thích đắm đuối, là 1 trong 12 nhân duyên, hoặc là 1 trong 9 kết. Theo kinh Thắng thiên vương bát nhã quyển 1 thì sở dĩ chúng sinh bị trôi lăn trong 6 đường luân hồi mãi mãi không dứt là đều do Tham ái. Luận Đại tì bà sa quyển 50 cho rằng Ái kết là Tham trong 3 cõi; trong 9 kết, Tham trong 3 cõi được lập chung làm Ái kết, trong 7 Tùy miên lập làm 2 Tùy miên: 1. Tham ở cõi Dục gọi là Dục tham tùy miên. 2. Tham ở cõi sắc, cõi Vô sắc gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh luận khác thì có lập Tam ái: Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái. (xt. Tham, Ái).
tham ái mẫu
Tham ái là mẹ, vô minh là cha sản sanh ra cái “ngã”—Desire as mother and ignorance as father produce the ego.
tham đường
4395禪林用語。禪林中,沙彌新加入為僧堂之一員,稱為參堂。意即「初入堂」。敕修百丈清規卷五新戒參堂條(大四八‧一一三八中):「得度受沙彌戒已,覆住持,於何日參堂?」〔禪林象器箋叢軌門〕
; Bắt đầu những nghi thức hay công việc của một vị Tỳ Kheo vừa mới thọ cụ túc giới—The initiation to the services of one newly ordained.
; (參堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, vị sa di mới gia nhập làm 1 thành viên của Tăng đường thì gọi là Tham đường, ý nói mới được vào nhà tăng. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 trung) nói: Sau khi đã thụ giới, tân Sa di phải đến bạch vị Trụ trì xem ngày nào được tham đường?. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tham đầu
4397為禪林職稱之一。又作參頭和尚。參,參僧之意,即自四方前來參禪習道之僧;頭,頭首之意,即居於首位,並行指導、統理大眾之職稱。參頭,即居新到僧之首位,代行掛搭等各種軌式之人。又分四來參頭及行者參頭二種,前者單稱參頭,即於告香、普說等儀式之時,於新近歸堂之大眾中,推選曾經於此參習而熟諳禮樂儀規之人,以率領大眾行儀進退。敕修百丈清規卷二告香條(大四八‧一一一九下):「每夏前,告香新歸堂者推參頭一人。」又云:「若大眾均預告香,則首座為參頭。」又參頭之下有小參頭,即於三位新到僧之中,推選一人為小參頭。同書卷五謝掛搭條(大四八‧一一四一下):「參頭當具小圖習儀,三人一引,每引一人為小參頭。」 此外,行者之參頭,稱為參頭行者,乃於諸行者中,推選最年長之舊參者任之,其職責如敕修百丈清規卷二訓童行條(大四八‧一一二二上):「參頭行者令喝食行者報各局務,行堂前掛牌報眾。」又輔佐參頭來帶領新到僧之人,稱為副參;副參之候補者,稱為望參。〔禪苑清規卷一、禪林象器箋職位門〕
; Vị khởi đầu để dẫn chúng trong các nghi lễ—One versed in the ceremonies and capable of leading others.
; (參頭) Cũng gọi Tham đầu hòa thượng. Một trong các chức vụ của Tăng trong Thiền lâm. Tham là Tham tăng, tức vị tăng này từ 4 phương đến tham thiền học đạo ở một nơi nào đó; Đầu là Đầu thủ, tức vị tăng đứng đầu, chỉ đạo, trông nom đại chúng. Tham đầu là người đứng đầu trong các vị tăng mới đến, thay cho các vị này để làm các thủ tục nhập chúng. Tham đầu lại được chia làm 2 thứ là Tứ lai tham đầu và Hành giả tham đầu. Tứ lai tham đầu gọi tắt là Tham đầu, tức người đã quen việc tham phỏng và am hiểu phép tắc lễ nhạc trong số các vị tăng mới đến, được tuyển chọn để hướng dẫn các vị ấy về hành nghi tiến thoái trong các nghi thức Cáo hương, Phổ thuyết... Điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 hạ) nói: Trước mỗi hạ, trong số những vị tăng mới đến, phải cử một người Tham đầu hướng dẫn nghi thức Cáo hương (nghi thức người học thắp hương thỉnh sư gia thuyết pháp, khai thị). Nếu đại chúng đều dự Cáo hương thì vị Thủ tọa là Tham đầu. Dưới Tham đầu có Tiểu tham đầu, tức trong 3 vị tăng mới đến chọn lấy 1 người làm Tiểu tham đầu.Điều Tạ quảiđáptrong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ) nói: Tham đầu phải có Tiểu đồ tập nghi, 3 người 1 dẫn, mỗi dẫn có 1 người làm Tiểu tham đầu. Ngoài ra, Tham đầu của các hành giả, gọi là Tham đầu hành giả, trong số các hành giả, chọn 1 người cựu tham lớn tuổi nhất làm chức này, nhiệm vụ của chức này được qui định trong điều Huấn đồng hành, Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1122 thượng): Tham đầu hành giả bảo Hát thực hành giả trình bày mọi việc, trước hành đường treo bảng cáo thị cho đại chúng biết. Người phụ tá Tham đầu trong việc chỉ dẫn các vị tăng mới đến, gọi là Phó tham; người dự bị chức Phó tham, gọi là Vọng tham. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tham đắm danh lợi chẳng khác nào đang đi vào nẻo súc sanh hay ngạ quỷ
To be sunk (attached) to fame and fortune is to head for the realms of animals or hungry ghosts.
tham đồng khế
4394 【參玄語錄→】請參閱 北山錄全一卷。唐代石頭希遷(700~790)撰。係由五言四十四句二百二十字組成之古詩,詮明萬法交參無窮,由本同契,鎔融涉會之義。與洞山良价之寶鏡三昧同為曹洞宗珍視之聖典,每朝必於佛前誦讀。本文撰述動機,依碧巖錄第四則載,石頭因閱肇論,至此會萬物為己處,豁然大悟,而作參同契。題名之由來,或謂假借道士魏伯陽所作「參同契」之書名,以顯佛法奧妙之理,並有矯正當時南北二禪互相排斥之弊病之意;或謂乃後人之命名。 全文如次(大五一‧四五九中):「竺土大仙心,東西密相付。人根有利鈍,道無南北祖。靈源明皎潔,枝派暗流注。執事元是迷,契理亦非悟。門門一切境,迴互不迴互。迴而更相涉,不爾依位住。色本殊質象,聲元異樂苦。暗合上中言,明明清濁句。四大性自復,如子得其母。火熱風動搖,水濕地堅固。眼色耳音聲,鼻香舌鹹醋。然依一一法,依根葉分布。本末須歸宗,尊卑用其語。當明中有暗,勿以暗相遇。當暗中有明,勿以明相睹。明暗各相對,比如前後步。萬物自有功,當言用及處。事存函蓋合,理應箭鋒拄。承言須會宗,勿自立規矩。觸目不會道,運足焉知路?進步非近遠,迷隔山河固。謹白參玄人,光陰莫虛度。」 題名參同契,參者,森羅萬象;同者,萬象之平等本體;契者,二者契調融合,顯差別即平等、平等即差別之理。又本文收於景德傳燈錄卷三十、五燈會元卷五、教外別傳卷十四、佛祖歷代通載卷十九。其註釋書頗多,有明永覺元賢之洞上古轍、日本天桂傳尊之報恩編、面山瑞方之吹唱等。〔景德傳燈錄卷十四、釋氏稽古略卷三、林間錄卷下〕
; (參同契) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thạch đầu Hi thiên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Đây là một bài thơ cổ gồm 44 câu, mỗi câu 5 chữ, tất cả có 220 chữ, giải thích rõ ý nghĩa muôn pháp giao thoa xen lẫn nhau vô cùng, do sự khế hợp với nhau này mà hòa tan dung hợp lẫn nhau. Tập sách này cùng với tác phẩm Bảo kính của Thiền sư Động sơn Lương giới đều là Thánh điển được tông Tào động trân trọng và thường đọc tụng trước bàn Phật vào mỗi buổi sáng.Theo Bích nham lục tắc 4, động cơ sáng tác là lúc ngài Thạch đầu Hi thiên xem Triệu luận đến câu Muôn vật là chỗ của mình thì hoát nhiên đại ngộ, do đó mà soạn Tham đồng khế. Còn nguyên do đặt tên tác phẩm là Tham đồng khế thì có lẽ đã mượn tên sách Tham đồng khế do đạo sĩ Ngụy bá dương soạn để hiển bày lí sâu kín huyền diệu của Phật pháp, đồng thời có ý sửa chữa cái tệ bệnh chê bai lẫn nhau của Thiền Nam tông và Thiền Bắc tông lúc bấy giờ. Cũng có thuyết cho rằng tên Tham đồng khế là do người đời sau đặt. Tham là muôn tượng sum la xen lẫn nhau, dung hợp nhau; Đồng là bản thể bình đẳng của muôn tượng; Khế là khế hợp nhau, in hệt như nhau, hiển bày lí Sai biệt tức Bình đẳng, Bình đẳng tức Sai biệt.Toàn văn tập sách này cũng được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30, Ngũ đăng hội nguyên quyển 5, Giáo ngoại biệt truyền quyển 14 và Phật tổ lịch đại thông tải quyển 19. Toàn văn ấy như sau (Đại 51, 459 trung): Trúc độ đại tiên tâm, Đông tây mật tương phó. Nhân căn hữu lợi độn, Đạo vô Nam Bắc tổ. Linh nguyên minh kiểu thiết, Chi phái ám lưu chú. Chấp sự nguyên thị mê, Khế lí diệc phi ngộ. Môn môn nhất thiết cảnh, Hồi hỗ bất hồi hỗ. Hồi nhi cánh tương thiệp, Bất nhĩ y vị trụ. Sắc bản thù chất tượng, Thanh nguyên dị lạc khổ. Ám hợp thượng trung ngôn, Minh minh thanh trược cú. Tứ đại tính tự phục, Như tử đắc kì mẫu. Hỏa nhiệt phong động dao, Thủy thấp địa kiên cố. Nhãn sắc nhĩ âm thanh, Tị hương thiệt hàm thố. Nhiên y nhất nhất pháp, Y căn diệp phân bố. Bản mạt tu qui tông, Tôn ti dụng kì ngữ. Đương minh trung hữu ám, Vật dĩ ám tương ngộ. Đương ám trung hữu minh, Vật dĩ minh tương đổ. Minh ám các tương đối, Tỉ như tiền hậu bộ. Vạn vật tự hữu công, Đương ngôn dụng cập xứ. Sự tồn hàm cái hợp, Lí ứng tiễn phong trụ. Thừa ngôn tu hội tông, Vật tự lập qui củ. Xúc mục bất hội đạo, Vận túc yên tri lộ? Tiến bộ phi cận viễn, Mê cách sơn hà cố. Cẩn bạch tham huyền nhân, Quang âm mạc hư độ. (Tâm Đại tiên đất Ấn, Đông, Tây thầm truyền nhau. Căn cơ có bén lụt, Tổ đạo không Bắc, Nam. Nguồn thiêng vốn trong sáng, Chia dòng chảy tối tăm. Chấp sự vốn là mê, Khế lí chưa hẳn ngộ. Hết thảy các môn, cảnh, Hòa nhau hay chẳng hòa? Hòa nhau thì dung hợp, Không thì đứng nguyên chỗ. Sắc vốn khác chất tượng, Thanh chẳng giống khổ vui. Lời nói về thầm hợp, Rõ ràng câu đục trong. Tính bốn đại tự về, Như con được gặp mẹ. Lửa nóng, gió lay động, Nước ướt, đất cứng chắc. Mắt sắc, tai âm thanh, Mũi hương, lưỡi nếm vị. Nhưng tùy mỗi mỗi pháp, Phân bố theo ngành ngọn. Ngành ngọn phải về gốc, Tôn ti chia rõ ràng. Ngay trong sáng có tối, Chớ tưởng tối ngoài sáng. Ngay trong tối có sáng, Chớ nghĩ sáng lìa tối. Sáng tối đều đối nhau, Như bước trước, bước sau. Muôn vật tự có công, Nên nói dụng và xứ, Sự tồn, nắp, hộp hợp, Lí ứng, tên, giáo hòa. Nương lời phải hiểu tông, Đừng tự lập qui củ. Trước mắt không thấy đạo, Biết trước đi đường nào? Tiến bước chẳng gần xa, Mê tức cách sông núi. Kính bạch người tham huyền, Chớ luống phí thời gian!) Về sách chú thích Tham đồng khế thì có rất nhiều như: Động thượng cổ triệt của ngài Vĩnh giác Nguyên hiền đời Minh, Báo ân biên của Thiên quế Truyền tôn người Nhật bản, Xuy xướng của Diện sơn Thụy phương... [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Thích thị kê cổ lược Q.3; Lâm gian lục Q.hạ].
tham độc
4793三毒之一。又稱貪欲。即貪欲之心,可令有情之身心受生死輪迴之大苦,能毒害達於清境悟境之善心,故有「貪毒」之稱。三毒指貪、瞋、癡三種煩惱,乃通攝三界之一切煩惱。稱為毒,係以其能毒害眾生,猶如毒蛇、毒龍。又以沈毒為義,即惱壞之甚,故稱沉毒;以其能毒壞出世之善心,故稱為毒。〔大乘義章卷五本、法界次第初門卷上之上〕(參閱「三火」536)
; The poison of desire.
; Một trong tam độc—One of the three poisons. 1) Chất độc của tham dục: The poison of desire. 2) Sự nhiễm uế của tham dục: The contamination of desire.
; (貪毒) Cũng gọi Tham dục. Tâm tham dục làm cho thân tâm loài hữu tình chịu các khổ to lớn trong vòng sinh tử luân hồi, làm độc hại thiện tâm khiến không thể đạt đến cảnh giới giác ngộ thanh tịnh, cho nên gọi là Tham độc, 1 trong 3 độc. Ba độc chỉ cho 3 thứ phiền nãotham, sân, si, bao nhiếp tất cả phiền nãotrong 3 cõi. Gọi là độc, bởi vì chúng thường xuyên gây độc hại cho chúng sinh, như loài rắn độc, rồng độc... Cũng có nghĩa trầm độc, vì chúng rất não hại nên gọi là trầm độc. Vì chúng làm độc hại thiện tâm xuất thế nên gọi là Độc. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Hỏa).
Tham 參
[ja] サン, シン san, shin ||| (1) Three. (2) To mix, to blend, to collate. (3) To come, to reach to. (4) To visit a superior. (5) To convene, to line up. => Có các nghĩa sau: 1. Ba, số ba. 2. Pha trộn, hỗn hợp, đối chiếu. 3. Đến, đến nơi. 4. Tiếp kiến với người có đức hạnh cao. 5. Nhóm họp, sắp thành hàng.
tham, sân, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng đều do si mê ngu muội mà ra cả
Greed, anger, arrogance, doubt, wrong views, killing, stealing, lust, illusive (erroneous) thoughts all stem from ignorrance or delusion.
tham, sân, si
Desire, Anger, Ignorance.
; Greed, anger and ignorrance, binding in the chain of transmigration—See Nhiễm Khuể Si, and Tam Độc.
tham-sân-si-mạn-nghi-tà kiến-sát-đạo-dâm-vọng-thân kiến-biên kiến-giới kiến thủ-giới cấm thủ
Greed—Hatred—Ignorance—Haughtiness—Suspicion—Heretic views—Killing—Stealing—Lewd—Lying speech—Self- concept—One-sided standpoint—Coservative sptandpoint—Uphold forbidden religious practices. 1) Tham—Greed: See Tham Sân Si (1), and Ngũ Giới (2). 2) Sân—Hatred: See Tham Sân Si (2). 3) Si—Ignorance: See Tham Sân Si (3). 4) Mạn—Haughtiness: See Mạn. 5) Nghi—Doubt: See Nghi Cái, and Ngũ Triền Cái. 6) Tà Kiến—Heretic views: See Tà Kiến. 7) Sát—Killing: See Sát, and Ngũ Giới (1). 8) Đạo—Stealing: See Ngũ Giới (2). 9) Dâm—Lewd: See Ngũ Giới (3). 10) Vọng—Lying speech: See Ngũ Giới (4). 11) Thân Kiến—Illusion of the self: See Thân Kiến, Ngã Kiến, Ngũ Kiến Vi Tế, and Tam Kết. 12) Biên Kiến—One-sided standpoint: See Biên Kiến, and Ngũ Kiến Vi Tế. 13) Giới Kiến Thủ—Coservative standpoint: See Giới Kiến Thủ. 14) Giới Cấm Thủ—Upholding forbidden religious practices: See Giới Cấm Thủ Kiến.
than
To complain.
than phiền
See Than.
than thân
To complain about one's lot
than thở
To lament.
than tiếc
To regret.
than vãn
See Than thở.
than ôi!
Alas!
thang
1) Canh: Soup. 2) Nước nóng: Hot liquid—Hot water.
thang danh vọng
Ladder of fame.
thang dược thị giả
5064禪林五侍者之一。又稱侍藥。湯藥,指湯果、藥石。即侍候方丈飯食湯藥之職稱。據敕修百丈清規卷四兩序章西序頭首侍者條所載,湯藥侍者朝暮供奉方丈之湯藥,應接於左右,佐助衣鉢侍者,撫恤近事之行僕。又若暫缺侍者,有客至,凡通覆、燒香等事,或缺人回向時,湯藥侍者皆應助理攝行。一般均以年壯謹慎而富於經驗者擔任之。〔禪林象器箋職位門〕
; (湯藥侍者) Cũng gọi Thị dược. Thị giả coi việc thuốc thang, 1 trong 5 vị Thị giả trong Thiền lâm. Tức chỉ cho người Thị giả vị Trụ trì, chăm lo việc cơm nước, thuốc thang. Cứ theo điều Tây tự đầu thủ thị giả, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4, Thang dược thị giả có bổn phận sớm chiều lo việc cơm nước, thuốc thang (nếu đau ốm) cho vị Trụ trì, ứng tiếp mọi bề, giúp đỡ thị giả Y bát, an úy, nâng đỡ người cận sự giúp việc. Ngoài ra, khi thị giả tạm vắng mà có khách đến, thì mọi việc thông báo, phúc đáp, đốt hương...vịThang dược thị giả đều phải giúp đỡ làm thay. Thông thường, chọn người trẻ tuổi, cẩn thận,giàukinh nghiệm đảm nhiệm chức này. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thang dụng đồng
5062(1892~1965)甘肅人(一說湖北黃梅人),字錫予。為學術界研究中國佛教史學之泰斗。曾留學美國哈佛大學。歷任北京、中央、西南聯大等大學教授,及北京大學文學院院長、中央研究院院士等職。精通梵文、巴利文、英文、日文,熟諳東西哲學與文學,曾在南京支那內學院親近唯識學大師歐陽漸。其佛學造詣深湛,義理、史學皆通達。又所著漢魏兩晉南北朝佛教史、往日雜稿、魏晉玄學論稿、印度哲學史略等書,皆為學術界之上乘作品。其中,尤以漢魏兩晉南北朝佛教史取材豐富,方法嚴謹,在考證、義理上頗多創見,極受國際學界重視。
; (湯用彤) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người tỉnh Cam túc(có thuyết nói là người huyện Hoàng mai, tỉnh Hồ bắc), tự là Tích dư. Ông rất nổi tiếng trong giới học thuật nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc. Ông từng học tại Đại học Harvard của Hoa kì. Lần lượt làm Giáo sư các trường Đại học Bắc kinh, Trung ương, Tây nam liên đại... và giữ các chức vụ Viện trưởng việnVăn học Đại học Bắc kinh,Viện sĩviệnNghiên cứu Trung ương. Ông tinh thông các thứ tiếng Phạm, Pàli, Anh, Nhật, am hiểu triết học và văn học Đông Tây, từng gần gũi Đại sư Duy thức học Âu dương tiệm ở viện Nội học China tại Nam kinh. Trình độ Phật học của ông rất sâu sát, cả về nghĩa lí và sử học đều thông suốt. Các tác phẩm của ông như: Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, Vãng nhật tạp cảo, Ngụy tấn huyền học luận cảo, Ấn độ triết học sử lược... đều là các tác phẩm thượng thừa trong giới học thuật. Trong đó, đặc biệt là bộ Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, tài liệu phong phú, phương pháp chặt chẽ, về mặt khảo chứng và nghĩa lí có khá nhiều sáng kiến, rất được giới học giả quốc tế coi trọng.
Thang giới
(湯界): cõi nước nóng sôi sùng sục, tức chỉ cho Địa Ngục, như trong 18 cõi địa ngục có 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục).
thang quán
5064又稱浴亡。指入棺前,以溫湯為死者洗浴之儀式。據敕修百丈清規卷三住持章遷化條所載,小師、侍者,親隨人等安排洗浴,著衣淨髮,而後入龕。同書卷六亡僧條載,差人擡龕與浴船,安排浴亡,浴畢,淨髮拭浴,酌量衣被,與淨髮人手巾,維那提督為其著衣入龕。南史卷七十六陶弘景傳有「遺令不須沐浴」之語,可知浴亡之儀式,自古有之。關於剃髮,因在家眾生前雖欲剃染,然為俗緣所繫,未能出家、受戒,故於臨終時,剃髮並受法名,表沙門之威儀,以遂平生之願。
; (湯灌) Cũng gọi Dục vong. Tắm vong. Chỉ cho nghi thức tắm rửa cho người chết trước khi bỏ vào quan tài. Cứ theo điều Thiên hóa, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, tiểu sư (vị tăng thụ giới Cụ túc chưa đầy 10 năm), thị giả, người theo hầu... sắp đặt việc tắm rửa, mặc áo, cạo tóc, sau đó nhập khám(đặt vào quan tài). Điều Vong tăng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 nói: Sai người khiêng khám và bồn tắm đến tắm cho người chết, tắm xong, lau khô, cạo tóc, xem xét lại y phục, trao khăn lau cho người cạo tóc, vị Duy na lo việc mặc áo, nhập quan. Truyện Đào hoằng cảnh trong Nam sử quyển 76 có câu: Theo lời trối lại không cần tắm rửa, căn cứ vào đó thì biết nghi thức tắm rửađãcó từ xưa. Về việc cạo tóc, vì người tại gia lúc còn sống muốn xuất gia, thụ giới, nhưng bị duyên trần trói buộc, chưa thực hiện được ý định, nên lúc lâm chung, cạo tóc, nhận lãnh pháp danh, biểu trưng cho uy nghi sa môn để được toại nguyện lúc bình sinh.
thang tuyền tam duyên
5063據大明三藏法數卷十二所載,中天竺迦勝國王問婆舍斯多尊者泉水熱如湯之原因,尊者以如下三緣作答,即:(一)神業,謂神不守其道,妄作禍福以取饗祀,惡業貫盈,故使其煎灼泉水,以償濫祭之過。(二)鬼業,謂鬼於出離罪所而遊於人間時,以其所餘之業力煎灼泉水,以償宿債。(三)熱石,謂熱石之色如金,其性常炎,致使所出之泉水熱如湯。
; (湯泉三緣) Ba lí do khiến cho nước suối nóng như nước đun sôi. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 12 thì vua nước Ca thắng ở Trung thiên trúc hỏi tôn giả Bà xá tư đa về nguyên nhân tại sao nước suối lại nóng như nước đang sôi, tôn giả trả lời do 3 duyên sau đây:1. Thần nghiệp: Thần không giữ đạo của mình, tạo bừa họa phúc để hưởng sự cúng tế, nghiệp ác tràn lan, nên làm cho nước suối nóng lên để đền tội lạm dụng việc cúng tế. 2. Quỉ nghiệp: Nghĩa là quỉ ra khỏi nơi chịu tội, dạo chơi cõi nhân gian, dùng sức nghiệp còn sót lại làm cho nước suối nóng lên để trả nợ kiếp trước. 3. Nhiệt thạch(Đá nóng): Màu của đá nóng như vàng, tính nó thường nóng làm cho nước suối từ chỗ đá nóng ấy chảy ra nóng như nước sôi.
thang xã hội
Social ladder.
thang đầu
5063禪林中,掌理茶湯、藥湯之職稱。石溪心月禪師語錄卷下鎮湯頭條(卍續一二三‧六四上):「甜似黃連微帶澀,苦如甘草略含辛;一回點過一回別,只恐難瞞無舌人。」〔禪林象器箋職位門〕
; Vị sư lo việc nấu nước trong chùa—The monk in charge of the kettles in a monastery.
; (湯頭) Chỉ cho chức vụ coi việc trà nước, thuốc thang trong Thiền lâm. Điều Trấn thang đầu trong Thạch khê Tâm nguyệt thiền sư ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 123, 64 thượng) nói: Ngọt tựa hoàng liên pha tí chát, Đắng như cam thảo lẫn hơi cay. Mỗi lần nếm thử mỗi lần khác, Chỉ sợ khó lừa kẻ lưỡi hư.[X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thang-ton Gyel-po
T: thangtong gyelpo [thaṅ-ston rgyal-po]; »Vua của miền hoang dã«;|Tên của một vị Lạt-ma Tây Tạng, sống ở thế kỉ 15. Tương truyền Sư sống đến 125 tuổi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Sư nói về phép Thiền quán về đức Quán Thế Âm (Nghi quỹ). Ngày nay, bộ luận đó vẫn còn được tu học trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và được nhiều Ðạo sư đời sau luận giải thêm. Sư là người xây những chiếc cầu sắt tại Tây Tạng và tông phái của Sư được gọi là »Thiết kiều tông.« Trong tông Ninh-mã (t: nyingmapa), Sư được xem là người chuyên đi tìm các kinh sách được dấu kín (Ter-ma).
thanh
6493梵語 śabda,巴利語 sadda。音譯攝拕。指具有呼召作用之音響。為耳根所聞、耳識所了別(認識)之對象,眼不能見及,具有障礙之性質,是即「無見有對」之色法。為六境(六塵)之一,十二處(十二入)之一,十八界之一,俱舍七十五法之一,唯識百法之一。就處、界等,而稱聲為聲境、聲塵、聲處、聲入、聲界。 聲之分類,有各種異說。據大毘婆沙論卷十三、俱舍論卷一等載,由發聲之物體有感覺與否,大別為有執受大種因之聲、無執受大種因之聲。執受,為心、心所之異名;有執受,指有情身;大種,即指地、水、火、風四大種。其聲發自有情之四大種者,稱為有執受大種因之聲,如人之言語、拍手之聲音等;發自非情之四大種者,稱為無執受大種因之聲,如化人之言語,或木、石等所發之聲音。其次,再視聲之具有意義、意志與否,各分為有情名之聲、非有情名之聲。更由各聲能否予人快感,又分為可意聲、不可意聲。以上所說計有八種。如表所示: 雜阿毘曇心論卷一將聲分別為因受四大聲(有執受之四大為因)、因不受四大聲(無執受之四大為因)、因俱聲(有執受、無執受兩種四大為因)等三種,而以擊鼓、吹貝所發出之聲音為因俱聲。然俱舍論並不贊成此種說法。 另據大乘阿毘達磨雜集論卷一載,聲有十一種,即:(一)可意聲。(二)不可意聲。(三)俱相違聲,既非可意聲,亦非不可意聲,故特稱為處中之聲。(四)因受大種聲,指有執受大種因之聲。(五)因不受大種聲。(六)因俱大種聲。(七)世所共成聲,指世俗性之聲。(八)成所引聲,指聖者之說。(九)遍計所執聲,指佛教以外之外道之說。(十)聖言所攝聲,即對見、聞、覺、知四者,以見說見,以不見說不見,指如實之音聲。(十一)非聖言所攝聲。 瑜伽師地論卷一則舉出十八種,即:螺貝聲、大小鼓聲、舞聲、歌聲、諸音樂聲、俳戲叫聲、女聲、男聲、風林等聲、明了聲、不明了聲、有義聲、無義聲、下中上聲、江河等聲、鬥諍諠雜聲、受持演說聲、論義決擇聲。此外,密教則將各種音聲加以人格化,稱為金剛歌菩薩,謂此菩薩具有六十四種音聲。〔順正理論卷一、顯揚聖教論卷一、入阿毘達磨論卷上、瑜伽師地論卷三、俱舍論光記卷一、大乘義章卷八末〕
; Śabda (S), Sound, Sadda (P) Âm thanh.
; Nila (S). Blue, dark color; also green, black, or grey; clear.
; 1) Âm thanh: Sabda (skt)—Một trong ngũ căn—Sound—Voice—Tone, one of the five physical senses or sensations. 2) Thanh sắt: A bar of metal. 3) Tiếng thanh: Clear voice. 4) Thanh sắc: Nila (skt)—Màu xanh nước biển—Dark blue coloured; also green, black. 5) Thanh tịnh: Amala (skt)—Pure—Clear—Tranquil—Serene.
; (聲) Phạm: Zabda. Pàli:Sadda. Hán âm: Nhiếp đà. Chỉ cho tiếng, là đối tượng mà tai nghe được, thức tai liễu biệt(nhận biết) được, mắt không thấy được, có tính chất ngăn ngại, tức là sắc pháp Vô kiến hữu đối là 1 trong 6 cảnh (6 trần), 1 trong 12 xứ (12 nhập), 1 trong 18 giới, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Y cứ vào Xứ, Giới mà gọi Thanh là Thanh cảnh, Thanh trần, Thanh xứ, Thanh nhập, Thanh giới. Về cách phân loại Thanh, có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 13 và luận Câu xá quyển 1 thì do Vật thể phát ra tiếng có cảm giác hay không mà chia Thanh làm 2 loại là Thanh hữu chấp thụ đại chủng nhân và Thanh vô chấp thụ đại chủng nhân. Chấp thụ là tên khác của tâm, tâm sở; Hữu chấp thụ, chỉ cho thân của hữu tình; Đại chủng chỉ 4 đại chủng đất, nước, lửa, gió. Tiếng phát ra từ 4 đại chủng của hữu tình, gọi là Thanh hữu chấp thụ đại chủng nhân, như tiếng nói tiếng vỗ tay của người ta; tiếng phát ra từ 4 đại chủng của loài vô tình, gọi là Thanh vô chấp thụ đại chủng nhân, như tiếng nói của người hóa, hoặc tiếng phát ra từ gỗ, đá. Kế đến lại xem tiếng ấy có ý nghĩa, ý chí hay không, mỗi thứ lại chia làm Thanh hữu tình danh và Thanh phi tình danh. Lại do tiếng có làm người khoái cảm hay không màchia làm Tiếng đáng ưa và Tiếng không đáng ưa. Đồ biểu như sau:(xemĐồ biểu cuối trang) Luận Tạp a tì đàm tâm quyển 1 chia Thanh làm 3 loại là: 1. Nhân thụ tứ đại thanh: Tiếng chấp nhận 4 đại chủng làm nhân. 2. Nhân bất thụ tứ đại thanh: Tiếng không chấp nhận 4 đại chủng làm nhân. 3. Nhân câu thanh: Có chấp nhận và không chấp nhận 4 đại chủng làm nhân và lấy tiếng phát ra từ việc đánh trống và thổi tù và làm Nhân câu thanh. Nhưng luận Câu xá không tán đồng thuyết này. Còn theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì Thanh có 11 thứ: 1. Khả ý thanh: Tiếng vừa ý. 2. Bất khả ý thanh: Tiếng không vừa ý. 3. Câu tương vi thanh: Tiếng chẳng vừa ý cũng chẳng phải không vừa ý, cho nên đặc biệt gọi là Tiếng ở chặng giữa (xử trung chi thanh). 4. Nhân thụ đại chủng thanh: Tiếng có chấp nhận đại chủng làm nhân. 5. Nhân bất thụ đại chủng thanh: Tiếng không chấp nhận đại chủng làm nhân. 6. Nhân câu đại chủng thanh: Tiếng vừa chấp nhận đại chủng vừa không chấp nhận đại chủng làm nhân. 7. Thế sở cộng thành thanh: Tiếng có tính chất thế tục. 8. Thành sở dẫn thanh: Chỉ cho lời nói của bậc Thánh. 9. Biến kế sở chấp thanh: Lời nói của ngoại đạo ngoài Phật giáo. 10. Thánh ngôn sở nhiếp thanh: Chỉ Cho những lời nói đúng như thực, tức đối với 4 thứ thấy, nghe, hay, biết, hễ thấy thì nói là thấy, không thấy nói không thấy... 11. Phi thánh ngôn sở nhiếp thanh: Không phải lời nói của bậc Thánh. Luận Du già sư địa quyển 1 thì liệt kê 18 thứ Thanh là: Tiếng tù và tiếng trống, Tiếng có chấp nhận đại chủng nhân Hữu tình danh Phi tình danh Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng nói đáng ưa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng nói đáng ghét Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng vỗ tay đáng ưa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng vỗ tay đáng ghét Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng nói đáng ưa của người hóa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng nói đáng ghét Tiếng không chấp nhận của người hóa đại chủng nhân Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng đáng ưa của gỗ, đá Tiếng không vừa ý –––– Tiếng đáng ghét của gỗ, đá Tiếng lớn nhỏ, tiếng múa, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng tuồng, tiếng nữ, tiếng nam, tiếng gió thổi, tiếng rõ ràng, tiếng không rõ ràng, tiếng có nghĩa, tiếng vô nghĩa, tiếng hạ trung thượng, tiếng nước chảy, tiếng cãi cọ tạp nhạp, tiếng thụ trì giảng nói, tiếng luận nghĩa quyết trạch. Ngoài ra, Mật giáo thì nhân cách hóa các loại âm thanh, gọi là Kim cương ca bồ tát, cho rằng vị Bồ tát này có đến 64 thứ âm thanh. [X. luận Thuận chính lí Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối].
Thanh Biện
清辯; ?-686|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ tư, nối pháp Thiền sư Huệ Nghiêm.|Sư họ Ðỗ, quê ở Cổ Giao, xuất gia năm 12 tuổi với Thiền sư Pháp Ðăng. Khi Pháp Ðăng thị tịch, Sư chuyên trì tụng kinh Kim cương và lấy đó làm sự nghiệp. Một hôm, một vị thiền khách ghé chùa, hỏi Sư: »Kinh này là mẹ của Phật tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai), thầy hiểu ›mẹ Phật‹ thế nào?« Sư đáp: »Tôi từ trước trì tụng kinh này nhưng cũng chư hiểu ý ấy.« Khách hỏi: »Trì tụng đã bao lâu?« Sư thưa: »Tám năm.« Khách bảo: »Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dù trì tụng cả trăm năm cũng chẳng có công dụng gì.«|Nghe lời khuyên của thiền khách, Sư đến tham vấn Thiền sư Huệ Nghiêm tại chùa Sùng Nghiệp. Thấy Sư, Huệ Nghiêm hỏi: »Ngươi đến có việc chi?« Sư thưa: »Ðệ tử trong tâm chưa yên ổn.« Huệ Nghiêm hỏi: »Chưa ổn cái gì?« Sư thuật lại cuộc đàm thoại với thiền khách. Huệ Nghiêm bảo: »Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ câu kinh ›Các Phật tam thế cùng lối pháp Vô thượng chính đẳng chính giác đều xuất xứ ở kinh Kim cương‹, thế chẳng là ›Mẹ của Phật‹ hay sao?« Sư thưa: »Quả thật đệ tử còn mê muội.« Huệ Nghiêm lại hỏi: »Thế kinh ấy ai thuyết.« Sư hỏi: »Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?« Huệ Nghiêm nói: »Trong kinh nói ›Nếu nói Như Lai có thuyết pháp gì thì phỉ báng Như Lai.‹ Câu ấy người ta không giải được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi cứ thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đúng là những lời thuyết pháp của Phật lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ muốn ta trả lời ngay?« Sư suy nghĩ, muốn hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm Phất tử đánh vào miệng. Sư ngay đây tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.|Sau, Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương giáo hoá tông đồ. Năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Thuỳ Cung thứ hai (686), Sư quy tịch.
; 清辯; S: bhāvaviveka, bhavya; C: qīngbiàn; J: shōben;|Một Luận sư quan trọng của tông Trung quán (s: mādhyamika), sống khoảng giữa 490 và 570. Sư sinh tại Nam Ấn Ðộ, theo học giáo lí của Long Thụ (nāgārjuna) tại Ma-kiệt-đà (magadha). Sau đó Sư trở về quê hương và trở thành một luận sư danh tiếng. Trong các tác phẩm được dịch ra chữ Hán và chữ Tây Tạng (phần lớn của nguyên bản Phạn ngữ đã thất truyền), Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) là đối tượng bị Sư chỉ trích. Là người sáng lập hệ phái Trung quán-Y tự khởi (中觀依自起; mādhya-mika-svātantrika, cũng được gọi là Độc lập luận chứng phái 獨立論證派), một trong hai trường phái của Trung quán, Sư cũng đả kích Phật Hộ (s: buddhapālita), người sáng lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; prāsaṅgika-mādhyamika) bằng một phương pháp suy luận biện chứng trên cơ sở nhân minh học (s: hetuvidyā), Nhận thức học (s: pramāṇavāda). Vào thế kỉ thứ 8, trường phái của Sư được Tịch Hộ (s: śānta-rakṣita) biến thành phái Trung quán-Duy thức (mādhyamika-yogācāra).|Các trứ tác của Sư (trích): 1. Ðại thừa chưởng trân luận (mahāyānatālaratnaśāstra), Huyền Trang dịch; 2. Bát-nhã đăng luận thích (prajñāpradīpa, cũng có tên prajñāpradīpa-mūlamadhyamaka-vṛtti), Ba-la-phả Mật-đa dịch; 3. Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 4. Trung quán tâm quang minh biện luận (madhyamaka-hṛdaya-vṛttitarkajvālā), chú giải Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 5. Trung quán nhân duyên luận (madhyamikapratītya-samutpāda-śāstra), Tạng ngữ; 6. Nhập trung quán đăng luận (madhyamakāvatārapradīpa), Tạng ngữ; 7. Nhiếp trung quán nghĩa luận (madhyamārtha-saṃgraha), còn bản Tạng ngữ và Phạn ngữ; 8. Dị bộ tông tinh thích (nikāyabheda-vibhaṅgavyākhyāna), chỉ còn lưu lại trong Tạng ngữ, nói về các tông phái phật giáo sau khi Phật diệt độ đến thời Thanh Biện, rất giống Dị bộ tông luân luận (samayabhedavyū-hacakraśāstra) của Thế Hữu (vasumitra).
thanh biện
4674梵名 Bhāvaviveka,或 Bhavya。音譯婆毘吠伽、婆毘薛迦。又作清辯、明辯、分別明。為六世紀南印度大乘佛教中觀學派之論師。或以師為南方末利耶那國(梵 Malyara)之王族,或為摩伽陀國種姓大士。曾至中印度,師事僧護(梵 Saṃgharakṣita),勤習大乘經典與龍樹(梵 Nāgārjuna)之教說。後返南印度,宣揚空義,與磨羯陀國護法(梵 Dharmapāla)之瑜伽宗展開「空有之諍」。護法承繼無著、世親,說盡空之有;清辨祖述龍樹,主張盡有之空,彼此相破相成。或傳說師返南印度,主持五十餘所伽藍,宣說教法,造中論釋,破斥同為中觀學派的佛護(梵 Buddhapālita)之說,如師所著之般若燈論釋,即可見與佛護之意見相左。晚年隱於馱那羯磔迦國南方山中,口誦真言示寂。主要著作為大乘掌珍論二卷、般若燈論釋十五卷及傳入西藏之中觀心論頌等。〔辯正論卷四、華嚴五教章卷四、大唐西域記卷十馱那羯磔迦國、大慈恩寺三藏法師傳卷四、法華經玄贊要集卷五、印度哲學研究第五、Th. Stcherbatsky: The Conception of Buddhist Nirvāna〕
; Bhàvaviveka (S). A noted Buddhist philosopher circa AD 600, a follower of Nàgàrjuna.
; Bhavaviveka (skt)—Bà Tỳ Phệ Da, một luận sư nổi tiếng (đồng thời với Bồ Tát Hộ Pháp, nhưng bác bỏ thuyết hữu tông của Hộ Pháp), là đệ tử của ngài Long Thọ. Ngài là người cùng thời với Phật Hộ, nhưng trẻ tuổi hơn. Ngài cho rằng , chỉ nêu ra sự sai lầm không chưa đủ, mà còn phải đề ra tự y luận chứng, hoặc luận chứng độc lập hợp lý để khiến kẻ đó phải im tiếng. Ngài đã viết bộ Đại Thừa Chưởng Trân Luận, Trung Quán Tâm Luận, và Trung Luận Yếu Chỉ để chú giải Trung Luận của Ngài Long Thọ—A noted Buddhist philosopher, around 60 A.D., a follower of Nagarjuna. Bhavaviveka was a junior contemporary of Buddhapalita. He maintained that the opponent should not only be reduced to absurdity, but svatantra or independent logical arguments should also be advanced to silence him. He wrote Mahayana-Karatala-ratna sastra, Madhyamikahrdaya with an auto commentary called Tarkajvala, Madhyamartha-Samgraha and Prajna-pradipa, a commentary on the Madhyamaka Sastra of Nagarjuna.
; (清辨) Phạm: Bhàvaviveka, Bhavya. Hán âm: Bà tì phệ già, Bà tì bệ ca. Cũng gọi Minh biện, Phân biệt minh. Cao tăng Ấn độ sống vào thế kỉ VI, Luận sư của học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa tại Nam Ấn độ. Có thuyết cho rằng sư thuộc Vương tộc nước Mạt lợi da na (Phạm: Malyara)ở Nam Ấn độ; lại có thuyết nói sư thuộc chủng tính Sát đế lợi ở nước Ma già đà. Sư từng đến Trung Ấn độ thờ ngài Tăng hộ (Phạm: Saôgharakwita) làm thầy, chuyền cần tu học kinh điển Đại thừa và giáo thuyết của bồ tát Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna). Sau, sư trở về Nam Ấn độ tuyên dương nghĩa Không mở màn cho cuộc tranh luận về Không, Hữu với ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) thuộc tông Du già ở nước Ma yết đà. Ngài Hộ pháp thừa kế học thuyết của các bồ tát Vô trước, Thế thân, chủ trương Hữu là tận cùng của không, ngài Thanh biện thì noi theo học thuyết của bồ tát Long thụ, chủ trương Không là tận cùng của Hữu, 2 bên bác bỏ nhau và thành tựu cho nhau. Hoặc truyền thuyết cho rằng sau khi trở về Nam Ấn độ, sư chủ trì hơn 50 ngôi già lam, tuyên thuyết giáo pháp, soạn Trung luận thích, bác bỏ thuyết của ngài Phật hộ (Phạm:Buddhapàlita), cũng là người thuộc học phái Trung quán, cứ xem Bát nhã đăng luận thích của sư thì thấy ý kiến của sư trái với quan điểm của ngài Phật hộ. Về già, sư ở ẩn trong núi phía nam nước Đà na yết trách ca, đọc tụng chân ngôn rồi thị tịch. Sư soạn các tác phẩm: Luận Đại thừa chưởng trân 2 quyển, Bát nhã đăng luận thích 15 quyển, Trung quán tâm luận tụng (đã được truyền đến Tây tạng). [X. luận Biện chính Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; điều Đà na yết trách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.10; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.5; Ấn độ triết học nghiên cứu 5; The Conception of BuddhistNirvàna by Th. Stcherbatsky].
thanh biện bồ tát
Bhāvaviveka (S) Phân biện minh Bồ tát, Bà tì phệ già Đệ tử Tăng Hộ Bồ tát.
Thanh Biện 清辯
[ja] ショウベン Shōben ||| Bhāvaviveka, also known as Bhavya, ca. 490-570. An influential Mādhyamika 中觀派 scholar. He was originally from South India, but came to Magadha to study the Middle Way teachings of Nāgārjuna 龍樹. He was known for his usage of positive dialectic to support the theory of emptiness. In this he was distinguished from philosophical opponents such as Buddhapālita 佛護 and Candrakīrti 月稱, both of whom denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. Bhāvaviveka's position would be form the basic theme for a branch of Mādhyamika which later developed in the eighth century, called Svātrantika (dulilunzhengpai 獨立論證派). Among his major works are the Zhongguan xinlun song 中觀心論頌, Zhonglunzhu panruodenglun 中論注般若燈論 and the Dasheng zhangzhenlun 大乘掌珍論 => (s: Bhāvaviveka, Bhavya; 490-570). Một cao tăng học giả có ảnh hưởng của Trung quán phái. Sư xuất thân từ miền Nam Ấn Độ, nhưng đến Ma-kiệt-đà để nghiên cứu giáo lý Trung quán của Long Thụ (龍樹s: Nāgārjuna). Sư nổi tiếng vì lối sử dụng pháp biện chứng khẳng định để chứng minh cho học thuyết Tính không. Trong lĩnh vực nầy, sư tỏ ra xuất sắc so với các triết gia đối thủ như Phật Hộ (s: Buddhapālita 佛護) và Nguyệt Xứng (s: Candrakīrti 月稱), cả hai đều phủ nhận giá trị trong việc sử dụng tiền đề luận lý học để kết thúc bất kỳ lập trường khẳng định nào. Quan điểm của Phật Hộ sẽ trở thành chủ đề căn bản của một chi nhánh Trung quán mà về sau được phát triển vào thế kỷ thứ 18, gọi là Độc lập luận chứng phái (獨立論證派s: Svātrantika; c: dulilunzhengpai). Trong các tác phẩm quan trọng của sư có Trung quán tâm luận tụng (c: Zhonglunzhu panruodenglun 中論注般若燈論), Trung quán chú Bát-nhã chứng luận (c: Zhonglunzhu panruodenglun 中論注般若燈論 ) và Đại thừa chưởng trân luận (c: Dasheng zhangzhenlun 大乘掌珍論).
thanh bình
Tranquil—Quiet—Calm—Peaceful.
thanh bình linh tuân
Ching ping Ling tsun (C).
thanh bình tự
4661位於韓國江原道春川郡。號慶雲山。相傳建於新羅時代。根據懶庵普雨之清平寺彌陀幀重修記(收於懶庵集)及清平寺帝釋幀重修記(收於懶庵雜著)之記載,寺中所藏阿彌陀佛畫幅及高麗恭愍王(1352~1374)所畫之帝釋天晝幅,為當時名畫家李君吾所整修。該寺於溪間面南而建,其佛殿、迴廊、門等,今僅存基石。西北隅之極樂殿與南正門之迴轉門為普雨所重修之遺構。〔朝鮮佛教通史卷下(李能和)、李朝佛教(高橋亨)、朝鮮古蹟圖譜(朝鮮總督府)〕
thanh bạch
4662即清白之法、清白業。指佛所顯示之教法。又為無漏善法之總稱。皆取其遠離煩惱垢染之意,而稱為清白。法華經序品列為七善之一。〔如幻三昧經卷下、無量壽經卷上〕
; Pure and white, pure white, as Buddha-truth, or as pure goodness.
; Pure—Honest—Pháp do Đức Phật thuyết ra làm sáng tỏ mọi thiện pháp vô lậu, làm cho người nghe có khả năng rời bỏ phiền não ô trược—Pure and white, as the Buddha-truth, or as pure as goodness.
; (清白) Pháp thanh bạch, nghiệp thanh bạch. Chỉ cho giáo pháp do đức Phật hiển bày, cũng chỉ chung cho các thiện pháp vô lậu. Thanh bạch có nghĩa là xa lìa các phiền não cấu nhiễm. Trong phẩm Tựa của kinh Pháp hoa, Thanh bạch được xếp vào 1trong 7 thiện pháp. [X. kinh Như huyễn tam muội Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thanh bần
Poor but unsullied
thanh ca sa
3703住持示寂後第三日,舉行掛真舉哀佛事時,法嗣小師、侍者等所著之袈裟;以色青,故稱爲青袈裟。〔黃檗清規遷化章〕
; (青袈裟) Chỉ cho áo ca sa mà vị tiểu sư nối pháp, thị giả... mặc khi cử hành Phật sự treo chân dung(ảnh) và nghi thức Cử ai(khóc) vào ngày thứ 3 sau khi vị Trụ trì thị tịch. Vì áo ca sa này màu xanh nên gọi là Thanh ca sa. [X. chương Thiên hóa trong Hoàng bá thanh qui].
Thanh Chuyết Chánh Trừng
(清拙正澄, Seisetsu Shōchō, 1274-1339): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵), thuộc Lâm Tế Tông, vị Tổ khai sáng Phái Đại Giám (大鑑派), hiệu là Thanh Chuyết (清拙), ngoài ra còn có hiệu khác là Tất Cánh Diệt (畢竟滅), thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師); người vùng Phúc Châu (福州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lưu (劉). Năm 15 tuổi, ông theo xuất gia với người bác mình là Nguyệt Khê Viên (月溪圓) ở Báo Ân Tự (報恩寺), năm sau thì thọ Cụ Túc Giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺). Ông đến tham vấn ở pháp tịch của Cổ Sơn Bình Sở Tủng (鼓山平楚聳), rồi đến Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở vùng Triết Giang bái yết Ngu Cực Trí Tuệ (愚極智慧), và sau khi Ngu Cực qua đời thì ông kế thừa dòng pháp của Phương Sơn Văn Bảo (方山文寶). Về sau, ông cũng đã từng đến tham học ở các nơi như Hổ Nham (虎巖) tại Linh Ấn Tự (靈隱寺), Đông Nham (東巖) tại Dục Vương Sơn (育王山), Nguyệt Đình (月庭) ở Tương Sơn (蔣山), cũng như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Ngưỡng Sơn (仰山). Sau đó, ông bắt đầu hóa đạo ở Kê Túc Sơn (雞足山), chuyên tâm báo đáp ơn pháp nhũ của Ngu Cực Trí Tuệ. Đến năm thứ 3 (1326) niên hiệu Thái Định (泰定), nhận lời mời của dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), ông cùng với người đệ tử Vĩnh Kỳ (永錤) sang Nhật Bản. Thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki), ông đến sống tại Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Sau đó, ông đã từng sống qua ở hai chùa Tịnh Trí (淨智) và Viên Giác (圓覺), nhưng sau ông lại trở về dựng ngôi thảo am lấy tên Thiền Cư Am (禪居庵) ở trong khuôn viên Kiến Trường Tự mà sống. Vào năm thứ 3 (1333) niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘), ông chuyển đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở vùng Kinh Đô Kyoto, rồi Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của vị thí chủ Tiểu Lạp Nguyên Trinh Tông (小笠原貞宗), ông đến làm Tổ khai sơn Khai Thiện Tự (開善寺, Kaizen-ji) ở vùng Y Hạ Lương (伊賀良) thuộc Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Nhưng sau ông lại rút lui khỏi đây mà trở về Thiền Am Cư. Tiếp theo sau đó, nhận sắc chỉ của triều đình, lần thứ hai ông trở về sống ở Kiến Nhân Tự, và đến ngày 17 tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Ứng Lịch (應曆), ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời và 53 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư. Trước tác của ông để lại có Thanh Chuyết Hòa Thượng Ngữ Lục (清拙和尚語錄), Đại Giám Thanh Quy (大鑑清規), Đại Giám Tiểu Thanh Quy (大鑑小清規), Thanh Chuyết Hòa Thượng Thiền Cư Tập (清拙和尚前居集), Vô Môn Quan Chú (無門關註). Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵) soạn bài Thanh Chuyết Đại Giám Thiền Sư Tháp Minh (清拙大鑑禪師塔銘).
thanh chuyết hoà thượng thiền cư tập
4662凡二卷。宋末禪僧清拙正澄撰,永錤編。略稱禪居集。禪居為正澄隱居日本建仁寺之菴名。本書以正澄渡日前之述作為前篇,渡日後之諸作蒐集為一篇,以雜著之名納於卷末。內容分為:諸體混、佛祖贊、自贊、小佛事、題跋、銘、記、序,字說、疏、祭文等。
; (清拙和尚禪居集) Gọi tắt: Thiền cư tập. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thanh chuyết Chính trừng soạn vào cuối đời Tống, ngài Vĩnh kì biên tập. Thiền cư là tên ngôi am ở chùa Kiến nhân tại Nhật bản, nơi ngài Chính trừng ở ẩn. Sách này lấy các trứ tác của ngài Chính trừng khi còn ở Trung quốc làm thiên trước, sưu tập các trứ tác của ngài sau khi sang Nhật bản thành 1 thiên và gom các trứ tác lặt vặt khác vào cuối quyển. Nội dung gồm các phần: Chư thể hỗn, Phật tổ tán, Tự tán, Tiểu Phật sự, Đề bạt, Minh, Kí, Tự, Tự thuyết, Sớ, Tế văn...
thanh châu bách vấn
3701全一卷。宋代曹洞宗僧一辯(又稱一辨,1081~1149)問,慈雲覺答,林泉從倫附頌。收於卍續藏第一一九冊。係青州普照寺之一辯和尚,住燕京大萬壽寺時,於宣和年間(1119~1125),聚十方之僧眾,試以室中勘驗揭提宗綱,設百問示眾,眾中十身寺之慈雲覺遂逐一作答。其後,林泉從倫於每一問答之後附頌一首。本書與從容錄同出一轍,皆係曹洞宗之公案集。後世常以之與一辯之門人通玄圓通之通玄百問合稱「通玄青州二百問」,而並行流通。
; (青州百問) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng tông Tào động đời Tống tên là Nhất biện (1081 -1149) hỏi, ngài Từ vân giác đáp, ngài Lâm tuyền Tòng luân phụ thêm kệ tụng, được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Khi Hòa thượng Nhất biện chùa Phổ chiếu ở Thanh châu, trụ trì chùa Đại vạn thọ ở Yên kinh, khoảng năm Tuyên hòa (1119-1125), ngài nhóm họp tăng chúng khắp nơi, thử dùng sự khám nghiệm trong thất để nêu rõ tông cương, đặt ra 100 câu hỏi dạy chúng. Trong chúng có ngài Từ vân giác ở chùa Thập thân lần lượt trả lời từng câu hỏi một. Về sau, ngài Lâm tuyền Tòng luân làm thêm 1 bài tụng sau mỗi câu hỏi đáp. Sách này và bộ Thung dung lục có chung một hình thức, đều là tập Công án của tông Tào động. Người đời sau thường gọi chung tác phẩm này và bộ Thông huyền bách vấn của ngài Thông huyền Viên thông – học trò ngài Nhất biện – là Thông huyền Thanh châu nhị bách vấn và được lưu hành song song.
thanh chúng
4671請參閱 觀音普賢陀羅尼經 請參閱 觀音普賢陀羅尼經指出家教團或於叢林修行之大眾。又稱清淨大海眾、清淨眾。如印度四大河流入於大海,即捨原名,皆成海水;比丘出家,亦捨以前之種姓族名,不分貴賤上下,皆成志求解脫之清淨大眾。〔景德傳燈錄卷六末附禪門規式〕
; (清衆) Cũng gọiThanh tịnh đại hải chúng, Thanh tịnh chúng. Chỉ cho giáo đoàn xuất gia, hoặc đại chúng tu hành trong tùng lâm. Cũng như 4con sông lớn ở Ấn độ, khi chảy ra biển cả thì mất tên sông cũ mà đều là nước biển; tỉ khưu xuất gia cũng bỏ tên hiệu và dòng họ trước kia, không phân biệt sang hèn, trên dưới, đều trở thành đại chúng thanh tịnh, một lòng cầu đạt giải thoát.
thanh chơn giáo
Mahometism Xem Islamism Xem Hồi giáo
thanh cánh quan âm
Xem Thanh Cảnh Quán Thế Âm.
thanh cư
Seikyo (J) Tên một vị sư.
thanh cảnh
Śabda-visaya (S) Thinh cảnh.
thanh cảnh quan âm
3704青頸,梵語 nīlakaṇṭha,音譯抳羅健詑、儞攞建制。又稱青頸觀自在菩薩。乃觀音菩薩化身之一,屬三十三觀音之第十四。若有眾生念此觀音,則遠離怖畏厄難,得解脫諸苦。以此尊爲本尊,爲祈願除病、滅罪、延命等,而修之祕法,稱「青頸觀音法」。其形像,據不空羂索經卷九載,左手執蓮華,右手揚掌,結跏趺坐。又青頸大悲念誦儀軌載,其像爲三面四臂,所持之物爲杖、蓮花、輪、螺四種,身色爲紅白,頸爲青色,表煩惱即菩提之義。此尊之三昧耶形爲蓮花,或輪寶。種子爲???(sa)、???(hrīḥ)。據不空羂索經卷四載,此尊之印契爲合虛掌,二拇指屈入掌中,二食指各覆於拇指第一指節上,二手之中指、無名指、小指皆微屈相拄。真言爲唵(oṃ)鉢頭米(padme,蓮花)儞攞建制(nīlakaṇṭha,青頸)濕縛囉(śvara,自在)步嚕步嚕(bhru bhru)吽(hūṃ)」。〔青頸觀自在菩薩心陀羅尼經、金剛頂瑜伽青頸大悲王觀自在念誦儀軌〕
; (青頸觀音) Thanh cảnh, Phạm: Nìlakaịỉha. Hán âm: Ni la kiện thác, Nễ la kiến chế. Cũng gọi Thanh cảnh Quán tự tại bồ tát. Một trong các hóa thân của bồ tát Quán âm, tức vị Quán âm thứ 14 trong 33 vị Quán âm. Nếu chúng sinh nào niệm danh hiệu của vị Quán âm này thì xa lìa sự sợ hãi ách nạn, thoát khỏi các khổ. Pháp tu thờ vị tôn này làm Bản tôn để cầu trừ bệnh, diệt tội, sống lâu... gọi là Thanh cảnh Quán âm pháp. Về hình tượng, cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, vị tôn này ngồi kiết già, tay trái cầm hoa sen, bàn tay phải đưa lên. Còn theo Thanh cảnh Quán âm niệm tụng nghi quĩ thì hình tượng tôn vị này có 3 hoặc 4 tay, cầm bốn vật là gậy, hoa sen, bánh xe và vỏ ốc, thân màu trắng hồng, cổ màu xanh (thanh cảnh), biểu trưng ý nghĩa phiền não chính là bồ đề. Hình Tam muội da là hoa sen, hoặc bánh xe báu, chủng tử là (sa). Theo kinh Bất không quyên sách quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là chấp tay để rỗng lòng bàn tay, 2 ngón cái co lại để trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ mỗi ngón úp lên lóng thứ nhất của ngón cái, các ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của 2 tay đều hơi co và chấm đầu ngón vào nhau. Chân ngôn là: Án (oô) bát đầu mễ (padme, hoa sen), nễ la kiến chế (nìlakaịỉha, cổ xanh) thấp phạ ra (zvara, tự tại), bộ rô bô (bharu bharu) hồng (hùô). [X. kinh Thanh cảnh Quán tự tại bồ tát tâm đà la ni; Kim cương đính du già Thanh cảnh đại bi vương Quán tự tại niệm tụng nghi quĩ].
thanh cảnh quán âm bồ tát
Nīlakantha (S), Nīlakanthi (S) Tên một vị Bồ tát.
Thanh cảnh 聲境
[ja] ショウキョウ shōkyō ||| (śabda-visaya). 'Sound.' One of the five classes of sense objects. In consciousness-only, an aspect of the auditory consciousness 耳識. The object of the hearing faculty. => (s: śabda-visaya) Một trong 5 loại của trần cảnh (đối tượng của các giác quan). Trong giáo lý Duy thức, đó là một yếu tố của Nhĩ thức, đối tượng của Nhĩ căn.
thanh danh
Renown—Fame—Reputation.
thanh diện kim cang
Vị Thiên vương mặt xanh, làm hộ pháp cho Phật giáo, vua của các loài Dạ Xoa, miệng lúc nào cũng mở to, có móng chó, ba mắt, đeo sọ người trên đầu và đeo rắn trên chân—The blue-faced raja, protector of Buddhism, king of the yaksas, with open mouth, dog's fangs, three eyes, four arms, wearing skulls on his head, serpents on his legs.
thanh diện kim cương
3701即藥叉神。又作大青面金剛、青色大金剛藥叉。據陀羅尼集經卷九大青面金剛藥咒法載,其形像,身色青,一身四手,左上手把三股叉,左下手把棒,右上手掌托一輪,右下手把羂索;大張口,狗牙上出,三眼赤如血,頂戴髑髏,髮如火焰色,並聳豎,項纏大蛇,兩膊各有倒垂一龍,龍頭相向。腰纏二大赤蛇,兩腳腕上亦纏大赤蛇,手所把之棒上亦纏大蛇。以虎皮爲縵袴,腳下各按一鬼。其像左右兩邊各置一青衣童子,髮髻兩角,手執香爐。此尊之印相,有立身印、鉤印等十四種,其中,立身身印係將左手三指直豎,大拇指捻小指甲上,以四指向前之方式叉腰上;左手五指按面上,且面作瞋色。其真言有大咒、心咒、立身咒等,其中以立身咒爲較常用。古來俗將青面金剛與「庚申」混同,而以青面金剛爲庚申之本地,並盛行此尊之祭祀。諸迴向寶鑑卷三守庚申說之條即指摘此等混淆之誣妄。〔青色大金剛藥叉辟鬼魔法、溪嵐拾葉集卷三十五〕
; (青面金剛) Cũng gọi Đại thanh diện kim cương, Thanh sắc đại kim cương dược xoa. Chỉ cho thần Dược xoa. Cứ theo Đại thanh diện kim cương chú pháp trong kinh Đà la ni tập quyển 9, vị tôn này thân màu xanh, có 4 tay, tay trên bên trái cầm cây xoa 3 chĩa, tay dưới bên trái cầm gậy; tay trên bên phải nâng 1 bánh xe, tay dưới bên phải cầm vòng dây lụa; há to miệng, nhe răng nanh trên, 3 mắt đỏ như máu, đội đầu lâu, tóc có màu đỏ rực như tia lửa, dựng lên tua tủa, trên đầu quấn 1 con rắn lớn, mỗi cổ tay có 1 con rồng, đầu rồng hướng vào nhau, quanh lưng quấn 2 con rắn to, màu đỏ, cây gậy cầm tay cũng quấn con rắn to; mặc quần đùi may bằng da hổ(cọp), mỗi chân đạp 1 con quỉ. Ở 2 bên tượng của vị tôn này đều có đồng tử mặc áo màu xanh, tóctết thành 2 búi trên chỏm đầu, tay bưng lò hương. Ấn tướng của vị tôn này có 14 loại như Lập thân ấn, Câu ấn..., trong đó Lập thân ấn, kết như sau: Dựng đứng 3 ngón tay trái, ngón cái bấm vào đầu móng của ngón út, dùng 4 ngón hướng về phía trước chống vào eo; 5 ngón tay phải ấn lên mặt và mặt lộ vẽ giận dữ. Về chân ngôn thì có Đại chú, Tâm chú, Lập thân chú... trong đó chú Lập thân thường được dùng nhiều hơn. Xưa nay, người ta thường lẫn lộn Thanh diện kim cương với thần Canh thân và cho rằng Thanh diện kim cương là bản địa của thần Canh thân, đồng thời, việc cúng tế vị tôn này rất thịnh hành. Điều Thủ canh thân thuyết trong Chư hồi hướng bảo giám quyển 3 tức là phê bình việc trà trộn sai lầm này. [X. Thanh sắc đại kim cương dược xoa tịch quỉ ma pháp; Khê lam thập diệp tập Q.35].
thanh dung phu nhân
Priyadarsika (S).
thanh duyên
6500為聲聞、緣覺二乘之並稱。又作聲獨。聲聞,指聽聞佛陀之聲教,了悟四諦之理,斷除見惑與思惑,而入於涅槃者。緣覺,指觀十二因緣之理而斷惑證理,或因飛花、落葉之外緣而自行覺悟無常,因而斷惑證理者。〔大乘義章卷十七〕(參閱「緣覺」6132、「聲聞」6497)
; See Thanh Văn, and Duyên Giác in Vietnamese-English Section.
; (聲緣) Cũng gọi Thanh độc. Từ gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. Thanh văn chỉ cho người lắng nghe tiếng thuyết giáo của đức Phật mà hiểu rõ lí 4 đế, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, nhập Niết bàn. Duyên giác chỉ cho người quán xét lí 12 nhân duyên mà đoạn hoặc chứng lí, hoặc nhân cảnh duyên bên ngoài như hoa rơi, lá rụng mà tự thấy lẽ vô thường, nhờ đó mà đoạn hoặc chứng lí. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.17]. (xt. Duyên Giác, Thanh Văn).
thanh dương
Clear and resonant.
thanh dương giáo
3703清代高宗乾隆年間(1736~1795)之民間宗教。於每月朔望燒香,誦念歌詞:「奉母親命祖萬篇,安天立地總收元;替父完結立後世,真金女子保團圓。」每晨虔心禮拜太陽,求免災禍及輪迴之苦,企求來世托生爲好人。
; (青陽教) Tông giáo dân gian xuất hiện vào khoảng năm Càn long (1736-1795) đời vua Cao tông nhà Thanh, Trung quốc. Vào ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, đốt hương và tụng niệm lời ca: Phụng mẫu thân mệnh tổ vạn thiên, An nhiên lập địa tổng thâu nguyên. Thế phụ hoàn kết lập hậu thế, Chân kinh nữ tử bảo đoàn viên. (Kính dâng lên mẹ muôn lời, Người đã sinh ra trời đất. Thay cha tạo dựng đời sau, Con cháu xum vầy hạnh phúc). Mỗi buổi sáng thành tâm lễ bái mặt trời (thanh dương), cầu tai qua nạn khỏi và các khổ luân hồi, đời sau được sinh làm người tốt đẹp.
Thanh Dục
(聲欲) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lâm hải, Thai châu (tỉnh Chiết giang), họ Chu, tự Liễu am, hiệu là Nam đường. Năm lên 9 tuổi, sư mồ côi cha, năm 16 tuổi, sư theo ngài Hổ nham Tịnh phục xuất gia, thi kinh được đậu. Nhờ sự khuyên bảo của Hi bạch Minh tạng chủ, sư đến chùa Khai nguyên tại Tô châu tham yết ngài Cổ lâm Thanh mậu, khế ngộ và được nối pháp ngài. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), ngài Thanh mậu cho sư làm Nhập viện thị giả. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sau khi ngài Thanh mậu thị tịch, sư lui về chùa Khai phúc ở Phiêu thủy. Niên hiệu Nguyên thống năm đầu (1333), sư dời đến chùa Bản giác ở Gia hưng, trụ 10 năm, người đương thời tôn sư là Đông nam đại pháp chàng, các sĩ đại phu đến hỏi đạo rất đông và được vua ban cho áo Kim lan với danh hiệu Từ Vân Phổ Tế Thiền Sư. Tháng 8 năm Chí chính 23 (1363), sư thị tịch, thọ 76 tuổi. Sư có các tác phẩm: Liễu am Thanh dục thiền sư ngữ lục 9 quyển, Tập khánh lộ Trung sơn khai phúc tự ngữ lục, Gia hưng lộ Bản giác thiền tự ngữ lục, Bình giang lộ Linh nham thiền tự ngữ lục, Si tuyệt hòa thượng thư ứng am sư tổ pháp ngữ.[X. Tống học sĩ toàn tập bổ di Q.3; Tăng tập tục truyền đăng lục Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.11; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Mặc tích tổ sư truyện Q.thượng; Thiền lâm mặc tích giải thuyết (Điền sơn Phương nam)].
thanh dục
6496請參閱 聲論 為五欲之一。因心染著於色、聲、香、味、觸等五境,而生起五種情欲,稱為五欲。其中,聲欲即以嬌媚妖詞、淫聲染語、絲竹絃管、環釧鈴珮等音聲滿足耳欲。〔摩訶止觀卷四下〕(參閱「五欲」1149)
; 4664(1288~1363)元代禪僧。台州(浙江)臨海人,俗姓朱。字了庵,號南堂。以墨蹟揚名海外。九歲喪父。十六歲從虎岩淨伏出家,試經得度。以希白明藏主之勸,往蘇州開元寺參訪古林清茂,遂契悟而嗣其法。皇慶元年(1312),清茂再住開元寺之際,師乃任入院侍者。其後歸返徑山,任虛谷希陵之後堂首座。另於其師清茂入住建康保寧寺後,任分座第一座。天曆二年(1329)清茂示寂後,退隱於漂水開福寺。元統元年(1333)遷至嘉興本覺寺,居十年,時人尊為東南大法幢,士大夫問道者甚眾,並蒙帝賜金襴衣及「慈雲普濟禪師」之號。後退隱於南堂。至正五年(1345)一度居於吳中(江蘇吳縣)靈巖寺,後遇兵火,與弟子祖
; (聲欲) Làm thỏa mãn lỗ tai bằng các âm thanh như những lời nỉ non, nũng nịu, dịu dàng dễ thương, những lời khiêu gợi lòng dục ô nhiễm, những tiếng đàn sáo trầm bổng du dương, những giọng hát ngọt ngào ấm áp... 1 trong 5 dục. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 hạ]. (xt. Ngũ Dục).
Thanh giá
(聲價): bên cạnh ý nghĩa thanh danh và giá trị, nó còn có nghĩa là sự bình phẩm, mến chuộng, yêu thích. Cho nên trong cuốn Thượng Hàn Kinh Châu Thư (上韓荊州書) của Lý Bạch (李白) có đoạn rằng: "Nhất đăng Long Môn, thanh giá thập bội" (一登龍門、聲價十倍, Một lần lên Long Môn thì yêu thích gấp mười lần).
thanh giá
Danh giá—Fame and dignity.
thanh giác
4676(1043~1121)宋代僧。洛陽登封人,俗姓孔。號本然。自幼習儒,二十七歲時,閱法華經,乃志求佛道,從汝州龍門山寶應寺海慧剃髮。既而南遊,參謁嘉州峨嵋山千歲和尚,後至淮西舒州浮山,結庵於太守巖,歷二十年。元祐七年(1092)遊歷浙江,翌年,赴杭州靈隱寺,參謁圓明童之會下,隨眾居止。其後,以隨師之學侶日多,遂居於寺後之白雲山庵,唱道新義,效仿佛經立四果十地,分大小二乘,專以破斥禪宗為旨。晨夕持誦,躬自耕作,從者漸多,稱師為白雲和尚、白雲導師,其徒自稱「白雲菜」,即所謂白雲宗。後又移居餘杭龍門山,結福地庵,蔚成寶應寺,以三歸五戒接引四方學眾。又受道俗之請,於正濟寺講華嚴經。時論難師之新義者輩出,師乃作證宗論、三教編、十地歌等加以申辯。大觀元年(1107),於湖州千金市營建十地庵,次至烏程菁山結出塵庵而居。時有覺海愚等以師之說亂正道,忤朝政,訴諸官府,政和六年(1116),師潛往廣南恩州。宣和二年(1120),弟子政布等十人至京陳謝,乃獲赦。翌年示寂,世壽七十九。弟子慧能遵遺命,為之葬於餘杭南山,塔稱白雲,院號普安,後改普寧。著作除上記外,另有正行集、初學記等,現今皆存,收於卍續藏中。正行集係自儒釋道三教一致之立場闡論德行孝敬之道,初學記則為示導門人開佛知見以入於三乘實地之要法。〔釋門正統卷四、佛祖統紀卷四十六、釋氏稽古略卷四〕
; (清覺) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Đăng phong, Lạc dương, họ Khổng, hiệu là Bản nhiên. Thủa nhỏ, sư theo Nho học. Năm 27 tuổi, sư xem kinh Pháp hoa liền phát tâm cầu Phật đạo, sư lễ ngài Tuệ hải chùa Bảo ứng ở núi Long môn tại Nhữ châu xin xuất gia. Sau đó, sư xuống miền Nam tham yết Hòa thượng Thiên tuế ở núi Nga mi tại Gia châu, rồi đến núi Phù sơn ở Thư châu lập am tĩnh tu trong 20 năm. Năm Nguyên hựu thứ 7 (1092), sư đến tỉnh Chiết giang, năm sau, đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu tham yết ngài Viên minh đồng, theo chúng tu học. Về sau, người đến theo học ngày càng đông nên sư ra trụ ở am Bạch vân sơn phía sau chùa và đề xướng nghĩa mới, phỏng theo kinh Phật lập Tứ quả, Thập địa, cũng chia Đại thừa, Tiểu thừa, lấy việc bài bác Thiền tông làm mục đích. Sớm chiều trì tụng, tự mình cày cấy, người theo ngày càng đông, họ gọi sư là Bạch vân hòa thượng, Bạch vân đại sư, đồ đệ của sư tự xưng là Bạch vân thái, đó chính là Bạch vân tông. Sau, sư lại dời đến núi Long môn tại Dư hàng, lập am Phúc địa, phát triển dần thành chùa Bảo ứng, dùng Tam qui ngũ giới để dẫn dắt học chúng khắp nơi. Sư lại nhận lời thỉnh của tăng tục giảng kinh Hoa nghiêm ở chùa Chính tế. Bấy giờ, rất nhiều người bắt bẻ nghĩa mới của sư, sư bèn soạn Chứng tông luận, Tam giáo biên, Thập địa ca... để biện giải. Niên hiệu Đại quan năm đầu (1107), sư cất am Thập địa ở phố Thiên kim tại Hồ châu, kế đó đến núi Ô trình thanh cất am Xuất trần và cư ngụ ở đó. Bấy giờ, có Giác hải ngu... cho rằng thuyết của sư làm loạn chính đạo, trái triều chính, nên tố cáo lên các quan địa phương. Do đó, năm Chính hòa thứ 6 (1116), sư đến ẩn náu ở Ân châu tại Quảng nam. Năm Tuyên hòa thứ 2 (1120), 10 người đệ tử của sư do Chính bố dẫn đầu về kinh đô trình bày sự việc và xin tạ lỗi, sư mới được bỏ qua. Năm sau, sư thị tịch, thọ 79 tuổi. Đệ tử là Tuệ năng tuân theo di chúc an táng ở núi Nam sơn thuộc huyện Dư hàng, tháp tên là Bạch vân, viện hiệu là Phổ an, sau đổi là Phổ ninh. Sư có các tác phẩm: Chứng tông luận, Tam giáo biên, Chính hành tập, Sơ học kí, Thập địa ca. [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.46; Thích thị kê cổ lược Q.4].
thanh giác tự
4677位於臺灣臺東卑南鄉龍泉山知本溫泉風景區內。創建於民國四十四年(1955),初由潘妙玄負責,至五十六年慈琛晉任住持。五十九年敦請煮雲任導師,經其策畫成立清覺寺重建委員會,工程分三期進行。六十一年農曆二月,開始舉辦精進佛七,倡導淨土宗精修之法門。六十九年重建工程完成。
thanh giáo
6496教法由音聲而宣說,故稱聲教。佛有六塵說法,此即為聲塵說法。摩訶止觀卷七下(大四六‧九七下):「即是漸、頓、不定、祕密、藏、通、別、圓,若得此意,聲教開合,化道可知。」〔四分律含注戒本疏行宗記卷一上〕(參閱「聲塵得道」6497)
; Giáo pháp dạy bằng cách nói thành tiếng—Vocal teaching.
; (聲教) Giáo pháp nhờ âm thanh mà được giảng nói, vì thế gọi là Thanh giáo. Phật có lục trần thuyết pháp, đây chính là Thanh trần thuyết pháp. Ma ha chỉ quán quyển 7 hạ (Đại 46, 97 hạ) nói: ... Tức là Tiệm, Đốn, Bất định, Bí mật, Tạng, Thông, Biệt, Viên, nếu biết được ý này thì biết được sự khai hợp, hóa đạo của Thanh giáo. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí Q.1, thượng]. (xt. Thanh Trần Đắc Đạo).
thanh giáp
3700又作青行。七條衣(七條袈裟)之一種。即青色條葉所成之甲袈裟。多爲「凡僧」所著用。日本將七條衣分爲衲、甲、平三種袈裟,其中甲袈裟因條葉顯著,紋如龜甲,故有此稱。甲袈裟之周邊爲黑色,復依其間條葉之顏色不同而分爲青甲、櫨甲、紫甲、赤甲等。〔山門僧服考〕
; (青甲) Cũng gọi Thanh hành. Một trong các loại áo 7 điều (ca sa 7 nẹp). Tức giáp ca sa được may bằng những nẹp(điều)vải màu xanh, thường được các phàm tăng mặc. Nhật bản chia áo 7 điều thành 3 loại ca sa là Nạp, Giáp, Bình, trong đó, Giáp ca sa vì các nẹp(điều)nổi rõ lên, giống như những đường vân trên mai (giáp)rùa nên gọi là Giáp ca sa. Đường viền chung quanh Giáp ca sa có màu đen và căn cứ vào màu sắc khác nhau mà chia làm thanh giáp(màu xanh), lô giáp(màu vàng), tử giáp(màu tía) và xích giáp(ca sa màu đỏ). [X. Sơn môn tăng phục khảo].
thanh hiển luận
Abhivyakti-vada (S) Một tông của Phệ đà giáo.
thanh hoà cô
4662(1890~1980)福建南安人,俗姓陳。年十四,於惠安三慈寺帶髮修行,苦修十餘載。後往普陀山普濟寺受戒。二十八歲,隻身南渡至菲律賓,於馬尼拉創建隱秀寺,禮請名德駐錫宏法,宣揚佛教教法與中國文化,普結善緣,度人無數,隱秀寺遂成為馬尼拉華人佛教之重要道場。氏所創辦之慈航季刊,發行海內外,頗獲各界好評。民國六十九年逝世,享年九十一。
thanh hoát quy sơn
4674禪宗公案名。宋代漳州保福院清豁禪師(?~972),自知臨終時期,於入寂前,路過苧橋,曾遺偈言(大五一‧三八四中):「世人休說路行難,鳥道羊腸咫尺間,珍重苧谿谿畔水,汝歸滄海我歸山。」上引歸山之「山」,即象徵古來禪師本來面目,係表示諸法實相。〔景德傳燈錄卷二十二保福清豁章〕
; (清豁歸山) Tên công án trong Thiền tông. Thanh hoát về núi. Tức Thiền sư Thanh hoát (?-972) ở viện Bảo phúc tại Chương châu đời Tống tự biết giờ lâm chung, trước khi tịch, sư đi qua cái cầu gai, có để lại bài kệ như sau (Đại 51, 384 trung). Thế nhân hưu thuyết lộ hành nan, Điểu đạo dương trường chỉ xích gian. Trân trọng trữ khê khê bạn thủy, Nhữ qui thương hải, ngã qui san. (Chớ nói đường đi lắm gian nan, Thẳng tắp, quanh co chỉ tấc gang. Chia tay bờ cỏ bên giòng nước, Biển cả bạn về, tớ lên ngàn). Ngàn(núi) tượng trưng cho bản lai diện mục, biểu thị ý nghĩa Thực tướng. [X. chương Bảo phúc Thanh hoát trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.22].
thanh hà
Vanksu or Vaksu (skt). • Dòng sông có nước trong xanh: The blue or clear river. • Dòng Oxus: The Oxus.
Thanh Hòa Thiên Hoàng
(清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 4 của Văn Đức Thiên Hoàng (文德天皇, Montoku Tennō), mẹ là Đằng Nguyên Minh Tử (藤原明子), tên là Duy Nhân (惟仁, Korehito), còn gọi là Thủy Vĩ Đế (水尾帝). Khi ông lên ngôi còn nhỏ tuổi, nên ông ngoại là Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa) làm Nhiếp Chính. Ông quy y theo Phật Giáo và xuất gia năm 879 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] thứ 3), với pháp húy là Tố Chơn (素眞).
Thanh Hư Đại Đế
(清虛大帝): một trong Tam Quan (三官), là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), gọi đủ là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế (中元二品赦罪地官清虛大帝); lệ thuộc Thượng Thanh Cảnh (上清境). Địa Quan do khí nguyên động hỗn linh hòa với tinh màu vàng kết thành, chủ quản tất cả các cõi thần tiên của Ngũ Đế, Ngũ Nhạc. Ngày đản sanh của vị này là Rằm tháng Bảy. Vào ngày này, Địa Quan xuống nhân gian, chỉnh đốn tội phước và ân xá tội cho người; nên được gọi là Địa Quan Xá Tội (地官赦罪).
thanh hải kí
3702西藏名略稱 Mtsho-sngon gyi lo-rgyus。清代青海僧耶舍帕宙(藏 Ye-shes dpal-'byor, 1704~1788)撰,書成於乾隆五十一年(1786)。耶舍受和碩特蒙古顧實汗之後裔所請,而作此書,因以顧實汗家族史爲主幹,記述青海史事。全書分四章,分別敘述青海在安多(藏 A-mdo) 地區之方位,十七、十八世紀間青海及與青海有關之西藏、蒙古、我國內地等之史事,並附錄西藏、準噶爾與清朝之史地關係,於西藏地理部分尤爲詳盡。 有關本書之研究,如:一九六○年新德里 International Academy of Indian Culture 將原書重抄刊印,附於 Satapiṭaka vol. 12(2);日本山口瑞鳳撰「顧實汗のチベット支配に至る經緯」,收入岩井博士古稀紀念論文集;我國楊和
thanh hải mạn đồ la
4664又作超昇寺曼荼羅。淨土曼荼羅之一。清海,日本平安中期人,大和超昇寺僧。據說清海曼荼羅係清水寺觀音授予清海之淨土變相,然原本已失逸。今奈良極樂寺所藏之清海曼荼羅,係作於鎌倉初期者。其圖類於智光曼荼羅,然較為複雜;又模寫本極多。
; (清海曼荼羅) Cũng gọi Siêu thăng tự mạn đồ la. Một trong các Mạn đồ la Tịnh độ. Thanh hải là tên vị tăng người Nhật bản ở chùa Siêu thăng tại Đại hòa, sống vào giữa thời đại Bình an, Nhật bản. Theo truyền thuyết, Thanh hải mạn đồ la là Tịnh độ biến tướng do bồ tát Quan âm chùa Thanh thủy trao cho ngài Thanh hải, nhưng bản gốc đã bị thất lạc. Thanh hải mạn đồ la được cất giữ ở chùa Cực lạc tại Nại lương hiện nay là tác phẩm được vẽ lại vào đầu thời đại Liêm thương. Bức vẽ này giống như Trí quang mạn đồ la, nhưng phức tạp hơn. Ngoài ra cũng có rất nhiều bản mô tả theo Thanh hải mạn đồ la.
Thanh Học
清學; C: qīngxué; J: shōgaku; K: ch'ŏnghak, 1570-1654.|Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường đại sư văn tập (詠月堂大師文集; k: yŏngwŏldang taesa munjip).
Thanh Học 清學
[ja] ショウガク Shōgaku ||| Ch'ŏnghak (1570-1654) Chosŏn Sŏn monk. Author of the Yŏngwŏldang Taesa munjip 詠月堂大師文集. => (k: Ch'ŏnghak; j: Shōgaku ; 1570-1654) Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường Đại sư văn tập (Yŏngwŏldang Taesa munjip 詠月堂大師文集).
thanh khiết
Pure and clean.
thanh liêm
Upright—Honest.
Thanh Liên
(青蓮, Shōren, ?-?): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, húy là Thanh Liên (青蓮), thông xưng là A Ba Thượng Nhân (阿波上人), Bán Quyền Hiện (半權現); xuất thân vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]). Ông xuất gia lúc 7 tuổi, học về Mật Giáo, thông đạt pháp môn Du Già, từng đến tham bái đền thờ Hùng Dã (熊野, Kumano) và đạt ngộ. Vào năm 1114, ông gặp được Giác Noan (覺鑁) tại Căn Bản Đại Tháp trên Cao Dã Sơn, và kết tình đạo lữ. Đến cuối đời, ông lập Thanh Liên Viện (青蓮院) và lui về ẩn cư, chuyên tâm tu niệm.
Thanh liên
(青蓮): hoa sen xanh, từ ý dịch của Ưu Bát La (s: utpala, p: uppala, 優鉢羅), hay Ô Bát La (烏鉢羅), Âu Bát La (漚鉢羅), Ưu Bát Lạt (優鉢剌), Ôn Bát La (殟鉢羅); tên khoa học là Nymphaca tetragona. Bên cạnh đó, nếu thêm tính từ nīla vào, ta có loại hoa sen xanh khác tên nīlotpala (Nê Lô Bát La [泥廬鉢羅], loại hoa của Bồ Tát Văn Thù [s: Mañjuśrī, 文殊) hay cầm). Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 ghi rằng: “Ôn Bát La hoa vi thanh liên hoa (殟鉢羅華爲青蓮華, Ôn Bát La hoa là hoa sen xanh)”. Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 3 gọi loại hoa này là Đại Hoa (黛花, hoa xanh đậm). Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết loài hoa này có hai màu: đỏ và trắng; bên cạnh đó còn có loại không đỏ không trắng, hình như hoa Nê Lô Bát La. Do đó, phần lớn hoa Ưu Bát La được xem là có màu xanh, hơn nữa màu này rất nổi bật và khác lạ. Lý Bạch (李白, 701-762), đại thi hào theo chủ nghĩa lãng mạn, sống dưới thời nhà Đường, cũng có hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士). Trong bài Túc Long Hưng Tự (宿龍興寺) của Kì Vô Tiềm (綦毋潛, 691-756) nhà Đường có câu: “Hương sát dạ vong quy, tùng thanh cổ điện bài, đăng minh Phương Trượng thất, châu hệ Tỳ Kheo y, bạch nhật truyền tâm tĩnh, thanh liên dụ pháp vi, thiên hoa lạc bất tận, xứ cứ điểu hàm phi (香剎夜忘歸、松青古殿扉、燈明方丈室、珠繫比丘衣、白日傳心靜、青蓮喻法微、天花落不盡、處處鳥銜飛, hương ngát đêm quên về, tùng xanh cửa điện xưa, đèn sáng Phương Trượng thất, châu buộc Tỳ Kheo y, ban ngày truyền tâm lắng, sen xanh dụ pháp quy, hoa trời rơi bất tận, chốn chốn chim tha đi).”
thanh liên
Upala (S), Cyan lotus Uất ba la.
; Utpala (S). Blue lotus.
; Utpala (skt)—Ưu Bát La—Hoa sen xanh—Blue lotus.
thanh liên giáo
3704又稱五行十地佛教。爲清代仁宗嘉慶(1796~1820)以後之民間宗教。尊奉達摩祖師、無生老母,念誦「無上妙品經」,行三皈、五戒之儀式,宣傳水、兵、刀、火等大劫將到來。教中分吃素之青家、不吃素之紅家、從事武力之裏家,而盛行於四川、陝西、兩湖等地。道光二十五年(1845),曾於四川組織教徒舉事。
; (青蓮教) Cũng gọi Ngũ hành thập địa Phật giáo. Tông giáo dân gian ở Trung quốc xuất hiện khoảng năm Gia khánh (1796-1820) đời vua Nhân tông nhà Thanh. Tông giáo này tôn thờ Tổ sư Đạt ma và Vô sinh lão mẫu, tụng niệm kinh Vô thượng phẩm, thực hành nghi thức tam qui, ngũ giới, tuyên truyền các đại kiếp thủy(nước dâng), binh(chiến tranh), đao(giết chóc lẫn nhau) và hỏa(nạn lửa đốt)... sẽ đến. Người trong tông giáo này được chia làm 3 hạng: 1. Thanh gia: Chỉ cho những người ăn chay.2. Hồng gia: Chỉ cho những người không ăn chay. 3. Lí gia: Chỉ cho những người theo việc vũ lực. Tông giáo này thịnh hành ở các vùng như Tứ xuyên, Thiểm tây, Hồ nam, Hồ bắc... Năm Đạo quang 25 (1845), các giáo đồ từng tổ chức cuộc nổi dậy ở tỉnh Tứ xuyên.
thanh liên long vương
Utpalaka (S) Ưu ba la Long vương Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
thanh liên viện
3703日本天台宗延曆寺三門跡之一。位於京都市東山區粟田口町。別稱粟田御所、粟田宮。天養元年(1144),行玄大僧正創建,至鳥羽法皇勅遷至今址,成爲仙洞御所之祈願所。其後慈鎮和尚再度興修,遂成爲擁有廣大寺域之道場。淨土真宗開祖親鸞即於此剃髮出家,故後世歷代之本願寺法王得度時,必於此寺剃髮。歷代法親王亦住於此,以繼承天台座主之職。應仁之亂時,遭兵火焚毀,至室町末期加以修建。明治二十六年(1893),本堂、寢殿等又燒毀。二十八年修復。青蓮院宸殿之襖繪爲桃山式之金碧畫。其庭園相傳係相阿彌所作。該寺之寺寶「青不動」爲平安末期之作,係現存不動圖中之最高傑作。
thanh liễu chơn yết thiền sư
Thiền sư Thanh Liễu Chơn Yết sanh năm 1089 tại tỉnh Tứ Xuyên. Sư xuất gia năm mười một tuổi, đến năm mười tám tuổi sư thi đậu Kinh Pháp Hoa. Sau đó sư tiếp tục đi đến Thành Đô tiếp tục học tập kinh điển—Xing-Liao-Zhen-Yieh was born in 1089 in Si-Chuan province. He left home at the age of eleven and passed his scriptural examinations on the Lotus Sutra at the age of eighteen. He then traveled to Cheng-Tu, where he continued his scriptural study. • Một lần trên đường vân du, sư gặp thiền sư Đơn Hà. Đơn Hà hỏi sư: “Thế nào là chính mình trước không kiếp?” Sư suy nghĩ để trả lời, thì Đơn Hà đã chận lại bảo: “Ngươi còn ồn ào thế sao, hãy đi đi!”—One time on the way of traveling, he met Tan-Xia. Tan-Xia asked him: “What is the self before the empty eon?” When Xing-Liao began to answer, Tan-Xia stopped him and said: “You are disturbed now. Go!” • Một hôm sư lên ngọn Bát-Vu, bỗng nhiên khế ngộ. Trên đường sư trở về gặp Đơn Hà, thì Đơn Hà đã biết, tát ông một cái và nói: “Đã nói là ông sẽ chạy về đây nói cho ta biết mà.” Sư lễ bái rồi lui ra. Hôm sau, Đơn Hà thượng đường nói kệ: “Nhật soi cô phong biếc, Nguyệt đến nước trong khe, Tổ sư huyền diệu quyết, Chớ hướng tất lòng an.” Nói xong Đơn Hà liền xuống tòa. Thanh Liễu bèn tiến đến trước tòa thưa: “Ngày nay đăng tòa lại chẳng lừa được con.” Đơn Hà hỏi: “Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng tòa xem?” Sư im lặng giây lâu. Đơn Hà bảo: “Sẽ nói ông khắp đất.” Sư liền đi ra. One day he went to nearby Bo-Yu Peak, he suddenly experienced enlightenment. Upon returning to see Tan-Xia, his teacher immediately knew what had transpired. Before Tan-Xia could speak, Tan-Xia slapped him saying: “You were going to tell me what you know!” He bowed and retreated. The next day, Tan-Xia entered the hall and said to the monks this verse: “The sun shines on a solitary green peak, The moon reflects in the cold creek water. The sublime mystery of the ancestors, Is not found in the small mind.” Tan-Xia then got down from the seat. Xing-Liao came forward and said: “A talk like the one you gave today won't deceive me again.” Tan-Xia said: “Then explain it to me and we will see if you understand.” Xing-Liao was silent. Tan-Xia said: “I will say you caught a glimpse of it.” Xing-Liao then went out. • Có vị Tăng hỏi: “Chư Phật ba đời nhằm trong đống lửa xoay bánh xe đại pháp, lại quả thực đấy chăng?”Thanh Liễu bảo: “Ta lại nghi đấy.” Vị Tăng bảo: “Hòa Thượng vì sao lại nghi?” Sư đáp: “Hoa đồng thơm đầy đất, chim rừng chẳng biết thơm.”—A monk asked Xing-Liao: “All the Buddhas in the three worlds have turned the great wheel of Dharma into the flames. Has this ceased or not?” Xing-Liao laughed out loud and said: “I have doubts about it.” The monk said: “Master, why do you have doubts about this?” Xing-Liao said: “The fragrance of wild flowers fills the road. The secluded bird does not know it's spring.” • Vị Tăng thưa: “Chẳng rơi phong thể lại nhận chuyên thân hay không?” Sư đáp: “Chỗ đi người đá chẳng đồng công.”—A monk asked: “Without letting go of wind and color, is it still possible to pivot oneself or not?” Xing-Liao said: “Whre the stone person walks, there is no other activity.” • Một hôm sư vào nhà trù xem làm bún, chợt thùng thông lủng đáy. Tăng chúng la hoảng: “Uổng lắm!” Sư bảo: “Thùng thông lủng đáy tự nên vui mừng, vì sao lại phiền não?” Tăng chúng thưa: “Hòa Thượng thì được.” Sư nói: “Quả thực đáng tiếc một thùng bún.”—One day Xing-Liao went into the kitchen and saw a pot of boiling noodles. Suddenly, the bottom fell out of the pot. The monks there were crestfallen, saying: “Oh, what a waste!” Xing-Liao said: “An overturned bucket is a joy. Why are you disturbed?” the monks said: “The master can take delight in it.” Xing-Liao said: “Really, it's a shame to waste a pot of noodles!” • Thiền sư Thanh Liễu thị tịch năm 1151, ngài được vua ban danh hiệu “Ngộ Không Thiền Sư.”—Xing-Liao died in 1151. He received the posthumous name “Zen Master Enlightened Emptiness.”
Thanh Long
(青龍): tên gọi của cây đao báu được Quan Công thường đeo bên mình, còn gọi là Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Nhờ cây đao này, Quan Công đã từng tạo những chiến công hiển hách như chém Hoa Hùng (華雄), Phách Nhan Lương (劈顏良), Tru Văn Xú (誅文醜), v.v.; cho nên người Trung Quốc cũng thần thánh hóa và xem nó như là Tướng Quân Võ Thánh. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), hai người con của Quan Công là Quan Hưng (關興) và Quan Sách (關索) cũng cầm cây đao này. Như trong bài thơ Quá Ngũ Quan Trảm Lục Tướng (過五關斬六將) có câu: “Quải ấn phong kim từ Hán tướng, tầm huynh diêu vọng viễn đồ hoàn, mã kỵ Xích Thố hành thiên lý, đao yển Thanh Long xuất ngũ quan (掛印封金辭漢相、尋兄遙望遠途還、馬騎赤兔行千里、刀偃青龍出五關, treo ấn niêm phong thôi Hán tướng, tìm anh xa tít muôn dặm đàng, cỡi ngựa Xích Thố đi vạn nẻo, Thanh Long đao xếp ra cửa quan).” Sau này, khi điêu khắc hay tạc vẽ hình tượng của Quan Công đều có hình tay cầm cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao này. Ngoài ra, Thanh Long còn gọi là Thương Long (蒼龍). Trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc, Thanh Long là một trong Tứ Tượng (四象). Căn cứ học thuyết Ngũ Hành, Thanh Long đại biểu cho loại linh thú ở phương Đông, là con rồng có màu xanh. Phương vị của sao này nằm ở phương Đông, đại biểu cho mùa Xuân. Trong 28 chùm sao theo quan niệm của Trung Quốc, Thanh Long là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Đông, gồm: Giác (角), Cang (亢), Để (氐), Phòng (房), Tâm (心), Vĩ (尾) và Ky (箕). Hình trạng của 7 ngôi sao này rất giống một con rồng. Trong phần Tạp Ứng (雜應) của Bão Phác Tử (抱朴子) có đề cập đến Tiên Kinh (仙經) chỉ dẫn cho cách khi vẽ hình Thái Thượng Lão Quân thì bên trái phải có 12 con Thanh Long, bên phải có 26 con Bạch Hổ, phía trước 24 con Châu Tước và phía sau là 72 Huyền Võ. Sau này, Tứ Tượng được nhân cách hóa và phong hiệu như vậy. Theo Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) cho biết rằng Thanh Long hiệu là “Mạnh Chương Thần Quân (孟章神君)”, Bạch Hổ hiệu “Giám Binh Thần Quân (監兵神君)”, Châu Tước là “Lăng Quang Thần Quân (陵光神君)” và Huyền Võ là “Chấp Minh Thần Quân (執明神君).” Trong cuốn Nhạc Dương Phong Thổ Ký (岳陽風土記) của Phạm Trí Năng (範致能) nhà Tống có đoạn rằng: “Lão Tử từ hữu nhị thần tượng, vị Thanh Long, Bạch Hổ dã (老子祠有二神像、謂青龍、白虎也, tại đền thờ Lão Tử có hai tượng thần là Thanh Long và Bạch Hổ).” Bên cạnh đó, trong Thường Thục Tư Chí (常熟私志), Thiên Thư Tự Quan (舒寺觀篇) của Diêu Tông Nghi (姚宗儀) cũng có ghi rằng: “Trí Đạo Quán sơn môn nhị đại thần, tả vi Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, hữu vi Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân (致道觀山門二大神、左爲青龍孟章神君、右爲白虎監兵神君, đặt tại sơn môn của Đạo Quán hai tượng thần lớn, bên trái là Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, bên phải là Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân).” Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 nhà Minh gọi 7 ngôi sao Thanh Long ở phương Đông là “Giác Tú Thiên Môn Tinh Quân (角宿天門星君), Cang Tú Đình Đình Tinh Quân (亢宿庭庭星君), Đê Tú Thiên Phủ Tinh Quân (氐宿天府星君), Phòng Tú Thiên Tứ Tinh Quân (房宿天駟星君), Tâm Tú Thiên Vương Tinh Quân (心宿天王星君), Vĩ Tú Thiên Kê Tinh Quân (尾宿天雞星君), và Ky Tú Thiên Luật Tinh Quân (箕宿天律星君)”. Về hình tượng của Thanh Long, Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Rồng nhả mây nuốt khí, phun sấm sét phát ra tiếng, bay khắp Tám Cực, chu du Tứ Minh.” Lại nữa, bộ Linh Cấp Thất Thiêm (靈笈七籖) quyển 72 có dẫn rằng: “Thanh Long là Giáp, Ất, Mộc, Thủy, Ngân ở phương Đông, lắng trong mà không chút gợn, quậy lên mà không đục, đến gần không thể lấy được, cách xa chẳng thể bỏ qua, tiềm tàng biến hóa vô tận, nên gọi là rồng”. Tục ngữ có câu rằng: “Nam tánh sanh thực khí vô âm mao, tại quá khứ dã khiếu thanh long (男性生殖器無陰毛、在過去也叫青龍, người nam sanh ra dương vật không có lông, tại vì đời trước gào thét Thanh Long).” Ngoài ra, dân gian thường cho rằng rồng có tánh dâm, nên khi nó hòa hợp với bò thì sinh ra kỳ lân, với con heo thì sinh ra con voi.
thanh long
Rồng xanh—Blue or green dragon.
thanh long sớ
3705<一>指御注金剛般若波羅蜜經宣演,凡六卷,今存二卷。本書係唐代青龍寺沙門道氤,奉玄宗詔,所作金剛經之注疏。收於大正藏第八十五冊。 <二>指新譯仁王經疏,凡三卷,今存一卷。係唐代青龍寺譯經沙門良賁,奉玄宗之詔所作。收於大正藏第八十五冊。
; (青龍疏) I. Thanh Long Sớ. Chỉ cho Ngự chú Kim cương bát nhã ba la mật kinh tuyên diễn, 6 quyển, hiện nay còn 2 quyển. Sách này là bản chú sớ kinh Kim cương do sa môn Đạo nhân chùa Thanh long vâng sắc vua Huyền tông soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. II. Thanh Long Sớ. Chỉ cho Tân dịch Nhân vương kinh sớ, 3 quyển, nay còn 1 quyển, do sa môn Lương bôn ở chùa Thanh long vâng sắc vua Huyền tông soạn vào đời Đường,được thu vào Đại chính tạng tập 85.
thanh long tự
3704位於陝西長安西南約四公里處。爲我國唐代密宗之根本道場,日本真言宗之發源地。建於隋代開皇二年(582),初名靈感寺。唐代武德四年(621)被廢。龍朔二年(662),城陽公主奏請復興,改名觀音寺。景雲二年(711),更名青龍寺。會昌五年(845)滅佛時被廢。次年重興,改名護國寺。大中九年(855),恢復青龍本名。北宋元祐元年(1086)後,寺院被毀。 唐德宗至唐穆宗時,惠果、義操、法全等住本寺傳揚密宗。另唐代住寺高僧,如道世、道氤、法朗、光儀、曇壁諸師或以著述,或以持咒、修禪觀有成而留名於教史。日僧空海、圓行、圓仁、圓珍、慧遠、圓載、宗睿等均曾受學於此。空海來唐,曾於永貞元年(805)至青龍寺,隨惠果學胎藏、金剛兩部法,並在東塔院受傳法阿闍梨位之灌頂;回日本後創立真言宗。
; (青龍寺) Chùa nằm cách huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây khoảng 4km về phía tây nam. Chùa này là đạo tràng căn bản của Mật tông Trung quốc ở đời Đường và là nơi phát nguyên của tông Chân ngôn Nhật bản. Chùa được xây cất vào năm Khai hoàng thứ 2 (582) đời Tùy, ban đầu được đặt tên là Linh cảm tự. Năm Vũ đức thứ 4 (621) đời Đường, chùa bị hoang phế. Đến năm Long sóc thứ 2 (662), công chúa Thành dương tâu xin phục hưng, đổi tên là Quan âm tự. Năm Cảnh vân thứ 2 (711) lại đổi là Thanh long tự. Đến Pháp nạn Hội xương (845), chùa lại bị hoang phế. Năm Hội xương thứ 6, chùa lại được xây dựng lại, đổi tên là Hộ quốc tự.Năm Đại trung thứ 9 (855), tên cũ Thanh long lại được khôi phục. Sau niên hiệu Nguyên hựu năm đầu (1086), đời Bắc Tống, chùa bị phá hủy. Vào thời vua Đức tông đến vua Mục tông nhà Đường, các ngài Huệ quả, Nghĩa tháo, Pháp toàn... trụ ở chùa này tuyên dương Mật tông. Ngoài ra còn có các vị cao tăng đời Đường như các ngài Đạo thế, Đạo nhân, Pháp lãng, Quang nghi, Đàm bích... cũng từng trụ ở chùa này để soạn thuật, hoặc trì chú, hoặc tu thiền quán... đều đã lưu danh trong giáo sử. Các vị danh tăng Nhật bản như Không hải, Viên hạnh, Viên nhân, Viên trân, Tuệ viễn, Viên tải, Tông duệ... đều đã từng theo học ở đây. Riêng ngài Không hải, vào niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805) đến chùa Thanh long theo Tổ Huệ quả học pháp của 2 bộ Thai tạng và Kim cương, đồng thời thụ Quán đính. Truyền pháp a xà lê vị ở viện Đông tháp; sau khi trở về Nhật bản, ngài Không hải đã sáng lập tông Chân ngôn.
thanh lung quyền hiện
4675又作青龍權現、清涼權現。婆揭羅龍王之第三女,即善女龍王。密教尊崇為如意輪觀音之化身。住印度無熱池,為密教守護神。唐時,為長安青龍寺之鎮守。後為空海請回日本,供奉於高雄山,又移至京都醍醐山。據說原依寺名而號青龍,因渡海至日本,故加水旁。清瀧之名,經軌中無記載,又為青龍寺鎮守之事實不詳,故疑乃始於日本之供奉。〔乳味鈔卷一、醍醐寺緣起〕
; (清瀧權現) Cũng gọi Thanh long quyền hiện, Thanh lương quyền hiện. Chỉ cho Long vương thiện nữ, con gái thứ 3 của Long vương Bà yết la. Mật giáo tôn thờ vị này làm Quan âm Như ý luân hóa hiện, là thần Thủ hộ của Mật giáo, trụ trong ao Vô nhiệt tại Ấn độ. Vào đời Đường, Trung quốc, vị tôn này là thần trấn giữ chùa Thanh long ở Trường an. Sau, được ngài Không hải thỉnh về Nhật bản, thờ ở núi Cao hùng, rồi lại được dời đến núi Đề hồ tại Tokyo. Theo truyền thuyết, vốn theo tên chùa mà gọi là Thanh long......, vì vượt biển đến Nhật bản nên có thêm bộ thủy bên cạnh mà thành Thanh lang ( ,nghĩa là nước trong chảy xiết). Tên Thanh lang trong các kinh quĩ không thấy ghi, mà sự thực của việc trấn giữ chùa Thanh long cũng không được rõ, cho nên ngờ là sự thờ phụng này mới bắt đầu ở Nhật bản. [X. Nhũ vị sao Q.1; Đề hồ tự duyên khởi].
thanh luận
6500指計執「聲為常住」之主張。又稱聲常住論、聲論師。為印度哲學之一派系,主張觀念之恆常性,而計執聲之常住;謂聲音為宇宙「實在」(reality)之存在,而吾人之語言,係由宇宙實在之聲音而發顯者,並非人為性之符號。 此說本起源於梵書時代之祈禱,即祈禱有力量左右(支配)神之作用,因而構成祈禱之語言,有無限絕對之神祕力量。蓋於印度之吠陀思想中,即主張吠陀乃先天常住,為一絕對真實者,故詮表吠陀之聲亦為唯一之常住不變者,為諸法認識之規準,能決定所說之是非。此說自古即流行於婆羅門之間,特為波爾尼(梵 Pāṇini)以後文典派之重要依據,及至彌曼蹉派(梵 Mīmāṃsā)、吠檀多派(梵 Vedānta)等諸學派興起,立聲常住論,而衍生出聲顯論、聲生論兩派,主張一切聲皆為常住不變。其中,聲生論(梵 Janma-vāda,即聲之生起論)主張並無本來實有之聲性,待音響(梵 nāda)等緣而發生,生起之聲稱為聲音;既發生之後,即成為常住。聲顯論(梵 Abhivyakti-vāda,即聲之顯論)則認為聲之性本來實有常住,待音響等緣而顯現;即謂聲為常住,聲音則為無常。依因明家、唯識家之說,此兩派由計體多、計體一、計全分常(內外聲皆常)、計一分常(內聲常,外聲無常),而各有四派,總計聲論有八派之別。 聲顯論為彌曼蹉派所說,攝於外道十六宗之第二「從緣顯了宗」。有關聲生論,或謂為彌曼蹉之一說,或為派名不詳之某一學派所立,或謂勝論派所說等,並無定論。以上兩派曾與勝論派、數論派、正理派及佛教等之聲無常論相抗爭,尤與勝論派之論爭最為著稱。佛教中如無著、世親、陳那、護法等諸大論師皆曾駁破其說。如因明家駁聲生論,即以「所作性之因」而論破之;駁聲顯論,則以「勤勇無間所發性之因」而論破之。 彌曼蹉派、勝論派等所說之聲,具有多義。聲生論謂聲有響音、聲性、能詮三類,響音為無常,後二者為常;聲顯論認為聲僅有能詮之義,計其為常住;勝論派則謂聲僅為響音之義,主張其無常。由於對聲之常、無常,論點互異,因而爭論不已。降至後世,真言家倡導「聲字實相義」,可能即受聲常住論之影響。 關於常住之聲,其本性為何,於彌曼蹉經中未見說明。五世紀頃,吠檀多學者烏帕巴耳夏(梵 Upavarṣa)認為字音(梵 varṇa)及聲之本性,此種說法為彌曼蹉派學者薩跋羅斯馬米(梵 Śabarasvāmin)與後來之吠檀多學派所接受。又彌曼蹉學派主張聲及其所表示之意義,二者之結合關係(梵 śabda-artha-sambandha)為本性,而非為權巧之習慣性。又各個字音既為語之本體,則此字音何以能表示意義,對於此一問題,彌曼蹉派並無充分之考證。直至槃達闍里大疏(梵 Patañjali Mahābhāṣya)以來,被文典派視為教條之史波達說(梵 sphoṭa),始觸及此一問題。所謂史波達,係由音聲而開顯(梵 sphuṭyate),同時亦開顯(梵 sphuṭati)意義之超感覺之原理,由此原理而言,音聲乃意義之媒介;槃達闍里即以史波達為聲之本質。六、七世紀頃,文典家伐㮹呵利(梵 Bhartṛhari)採取吠檀多思想,認為史波達係潛藏在現象內之超越的實在,亦即視史波達與梵同一。 此外,有關聲所表示之意義,亦為聲論者重要之課題。或謂其表示個物,或謂其表示「類」,或採兩者折衷之說;彌曼蹉經則反對聲係表示個物,主張聲表示「類」之意。 如上所述,聲論乃思辨聲之本質、聲表示之意義等之「語言哲學」,異於佛教所說聲為外六處之一、聲音為聽覺之對象者。而由陳那所創唱,法稱、寶稱等所展開之「離(梵 apoha)說」,係以聲論者之思辨為背景而成立,是故成為聲論者與佛教徒間之一大論爭。聲論者主張聲與其所表示之意義,兩者間有肯定之關係,離說則持相反看法。以「牛」之聲為例,此聲非指個別之牛而言,乃表示牛之一類 ,然而離說並不直接、肯定的表示此意,而係否定非牛者(馬等),自馬等分離後,始得其所表示者。〔成唯識論卷一、方便心論、瑜伽師地論卷六、顯揚聖教論卷九、因明入正理論、因明正理門論、成唯識論述記卷一末、大乘法苑義林章卷一本、因明入正理論疏卷上末、卷中末、Pramāṇasamuccaya; Pramāṇavārttika; Tattvasaṃgraha; Apohasiddhi; Sarvadarśanasaṃgraha; Radhakrishnan: Indian Philosophy, vol. 2、印度中世精神史上(金倉圓照)、哲裇的思索の印度的展開(中村元)〕
; (聲論) Cũng gọi Thanh thường trụ luận, Thanh luận sư. Chỉ cho chủ trương chấp trước âm thanh là thường còn, là 1 hệ phái triết học ở Ấn độ, chủ trương quan niệm là thường hằng và âm thanh là thường trụ. Nghĩa là chủ trương cho âm thanh là sự tồn tại thực tại (reality) của vũ trụ, còn tiếng nói của con người là từ âm thanh thực tại của vũ trụ mà phát rõ ra, chứ không phải con người là phù hiệu của tính âm thanh. Thuyết này bắt nguồn từ sự cầu đảo ở thời đại Phạm thư, tức sự cầu đảo có tác dụng của sức thần linh chi phối, do đó cấu thành ngôn ngữ cầu đảo, có sức thần bí vô hạn tuyệt đối. Trong tư tưởng Phệ đà của Ấn độ, Phệ đà được cho là tiên thiên thường trụ, là 1 thực tại chân thực tuyệt đối, cho nên âm thanh của Phệ đà cũng được giải thích là 1 thực thể tuyệt đối bất biến, là chuẩn tắc nhận thức các pháp, có năng lực quyết định sự đúng, sai của những điều được nói ra. Thuyết này từ xưa đã lưu hành trong giới Bà la môn, đặc biệt nó là chỗ y cứ quan trọng của phái văn điển Ba nhĩ ni (Phạm:Pàịini) về sau, cho đến khi các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta)... hưng khởi, lập ra Thanh thường trụ luận, rồi từ đó diễn sinh 2 phái là Thanh hiển luận và Thanh sinh luận, cho rằng tất cả âm thanh đều là thường trụ bất biến. Trong đó, Thanh sinh luận (Phạm: Janma-vàda, tức luận thuyết về sự sinh khởi của âm thanh), chủ trương âm thanh vốn không có, chỉ do sau khi phát âm mới có và từ đó cứ thường còn mãi. Thanh hiển luận (Phạm: Abhivyakti-vàda), cho rằng trước khi phát âm thì âm thanh đã có rồi, đến khi phát âm mới hiển rõ ra, tức âm thanh là thường trụ. Thanh hiển luận là chủ trương của phái Di mạn sai, là tông Tòng duyên hiển liễu trong 16 tông ngoại đạo. Còn về Thanh sinh luận thì có nhiều thuyết, hoặc cho là thuyết của phái Di mạn sai, hoặc cho rằng do 1 phái không rõ tên nào đó lập ra, hoặc cho là thuyết của phái Thắng luận... Hai phái trên đây thường tranh luận với phái Thắng luận, phái Số luận, phái Chính lí, và cả với Phật giáo vốn chủ trương âm thanh là vô thường, đặc biệt tranh luận với phái Thắng luận là nổi tiếng nhất. Các vị Đại luận sư của Phật giáo như Vô trước, Thế thân, Trần na, Hộ pháp... đều bác bỏ thuyết Âm thanh thường trụ. Như các nhà Nhân minh dùng Nhân được tạo tác ra để bác bỏ Thanh sinh luận và dùng Nhân do sự cần dũng không gián đoạn phát ra để bác bỏ Thanh hiển luận. [X. luận Thành duy thức Q.1; luận Phương tiện tâm; luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; luận Nhân minh nhập chính lí; luận Nhân minh chính lí môn; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần cuối; Ấn độ trung thế tinh thần sử thượng (Kim thương Viên chiếu); Triết học đích tư sách chi Ấn độ chi triển khai (Trung thôn nguyên)].
Thanh Lâm Sư Kiền
(青林師虔, Seirin Shiken, ?-904): họ Trần (陳), xuất thân Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), đã từng đắc pháp với Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Ông trú tại Thanh Lâm (青林), Hán Đông (漢東), sau đó làm vị tổ đời thứ 3 của Động Sơn (洞山, Tỉnh Giang Tây). Vào năm đầu niên hiệu Thiên Hựu (天祐), ông thị tịch. Trước tác của ông có Huyền Cơ Thị Hối Tập (玄機示誨集).
thanh lãng
Sound wave.
thanh lưu
Clear current.
Thanh Lương
清涼; C: qīngliáng; J: shōryō;|Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn Văn Ích.
thanh lương
Clear and cool; clear, pure.
; Trong sạch và tươi mát, ý nói thanh tịnh—Clear and fresh (cool)—Clean and pure.
thanh lương nguyệt
4665請參閱 金陵清涼院文益禪師語錄 比喻菩薩之悲德如妙月清淨。即以菩薩內證離障,是為淨智;能以淨智攝照萬物,是為光明,故以之比喻菩薩之悲德。六十華嚴經離世間品(大九‧六七○下):「菩薩清涼月,遊於畢竟空。」
; The pure moon, i.e. the Buddha.
; Mặt trăng thanh tịnh, ý nói Đức Phật—The pure moon, i.e., the Buddha.
; (清凉月) Trăng trong mát, ví dụ đức từ bi của Bồ tát giống như vầng trăng trong sáng mát mẻ. Tức nội chứng của Bồ tát đã lìa chướng, đó là tịnh trí; thường dùng tịnh trí chiếu soi muôn vật, đó là ánh sáng, cho nên dùng ánh sáng của vầng trăng để ví dụ cho đức từ bi của Bồ tát. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) (Đại 9, 670 hạ) nói: Bồ tát thanh lương nguyệt, Du ư tất cánh không (Bồ tát như vầng trăng mát rượi, Thường dạo chơi trong rốt ráo không).
thanh lương quốc sư
Pure-minded preceptor of the state, tittle of the fourth patriarch of the Hoa Nghiêm school.
; Vị quốc sư giới luật thanh tịnh, danh hiệu của vị tổ thứ tư của tông Hoa Nghiêm (húy Trừng Quán, tự Đại Hưu, họ Hạ Hầu, người đất Sơn Âm, xuất gia năm 11 tuổi, trụ trì tại Ngũ Đài Sơn, được vua Đường Đức Tông tôn làm Thanh Lương Quốc Sư. Ngài thị tịch năm 120 tuổi)—Pure-minded preceptor of the State, title of the fourth patriarch of the Hua-Yen school.
thanh lương sơn
4664<一>山西五臺山之別稱。此山歲積堅冰,夏仍飛雪,無炎暑,故稱清涼。〔華嚴探玄記卷十五〕(參閱「五臺山」1192) <二>又稱石頭山。位於南京市西清涼門內。山腰有清涼寺,西有掃葉樓,山顛有翠微亭,乃金陵名勝之一。(參閱「清涼寺」4665) <三>位於陝西延安東北。山中有唐、宋所雕鑿之石窟寺萬佛洞,內有數以萬計之大小佛像、菩薩像、力士像等,神態各異,生動逼真。另有歷代名人學者之摩崖題刻五十多處。
; A name for Ngũ đài sơn in north Shansi Sơn Tây.
; • Tên của núi Ngũ Đài Sơn, nằm về phía bắc tỉnh Sơn Tây, nơi trú ngụ của các vị Bồ Tát—A name for Wu-T'ai-Shan in north Shan-Si, the abode of Bodhisattvas. • Nơi trú ngụ của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, về phía đông của vũ trụ: The abode of Manjusri Bodhisattva, in the north-east of the universe.
Thanh Lương Thái Khâm
(清涼泰欽, Shōryō Taikin, ?-974): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hồ Bắc). Ông đến tham vấn Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó ông đến sống tại Song Lâm Viện (雙林院) ở vùng Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây), rồi chuyển đến Thanh Lương Tự (清涼寺) ở Kim Lăng (金陵, Nam Kinh). Pháp từ của ông có Vân Cư Đạo Tề (雲居道齊) là nhân vật kiệt xuất. Ông thị tịch vào ngày 24 tháng 6 năm thứ 7 niên hiệu Khai Bảo (開寳) và được ban cho thụy hiệu là Pháp Đăng Thiền Sư (法燈禪師).
thanh lương trì
4666比喻涅槃之無熱惱。大智度論卷二十二(大二五‧二二一下):「人大熱悶,得入清涼池中,冷然清了,無復熱惱。」或指阿耨達龍王所住之阿耨達池。居於此池,無閻浮提龍王所患之熱惱苦。華嚴經疏卷七(大三五‧五五○中):「此無熱龍住清涼池,出香美水。」〔法華玄義卷二、卷四〕
; Hồ thanh tịnh, dùng để ví với cảnh niết bàn, nơi không có sóng gió và nhiễm trược phiền não—The pure lake or pool, i.e., nirvana.
; (清凉池) Ao mát mẻ, ví dụ Niết bàn không có nhiệt não. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 221 hạ) nói: Người đang nóng bức phiền muộn mà được vào trong ao Thanh lương thì liền mát mẻ thanh tịnh, không còn nhiệt não. Thanh lương trì cũng chỉ cho ao A nậu đạt là nơi cư trú của Long vương A nậu đạt. Ở trong ao A nậu đạt thì không còn bị cái khổ nhiệt não như Long vương ở cõi Diêm phù đề thường phải chịu đựng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7 (Đại 35, 550 trung) nói: Ao thanh lương này là nơi cư trú của rồng Vô nhiệt não, thường chảy ra nước thơm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, 4].
Thanh Lương Trừng Quán
(清涼澄觀, Shōryō Chōkan, 738-839): vị tổ thứ 4 của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người Sơn Âm (山陰), Việt Châu (越州, Thiệu Hưng, Triết Giang), họ Hạ Hầu (夏候), tự Đại Hưu (大休), hiệu Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師), Hoa Nghiêm Bồ Tát (華嚴菩薩), Hoa Nghiêm Sớ Chủ (華嚴疏主). Năm 11 tuổi, ông xuất gia với Bái Thiền Sư (霈禪師) ở Bảo Lâm Tự (寳林寺) và đến năm 14 tuổi thọ giới đắc độ. Từ năm đầu (758) niên hiệu Càn Nguyên (乾元) trở về sau, ông theo Lễ Luật Sư (醴律師) ở Thê Hà Tự (棲霞寺) vùng Nhuận Châu (潤州) học về Luật; rồi lại nương theo Huyền Bích (玄璧) ở Kim Lăng (金陵) học về Tam Luận. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông học Đại Thừa Khởi Tín Luận, Niết Bàn Kinh ở Ngõa Quan Tự (瓦官寺). Bên cạnh đó, ông còn theo Hoài Nam Pháp Tạng (淮南法藏) học Hoa Nghiêm Kinh. Năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch, ông đến Diệm Khê (剡溪) theo Huệ Lượng (慧量) ở Thành Đô (城都) học Tam Luận lần nữa. Đến năm thứ 10 cùng niên hiệu trên, ông đến Giang Tô (江蘇), theo Trạm Nhiên (湛然) học Thiên Thai Chỉ Quán, Pháp Hoa Kinh, Duy Ma Kinh, v.v. Ông còn tham yết Duy Trung (惟忠) ở Ngưu Đầu Sơn (牛頭山), Đạo Khâm (道欽) ở Kính Sơn (徑山), v.v., để học về Thiền pháp của Nam Tông, rồi học Thiền pháp của Bắc Tông với Huệ Vân (慧雲). Ngoài ra, ông còn thông cả Phệ Đà, Ngũ Minh, nghi thức bí chú, v.v. Vào năm thứ 11 niên hiệu Đại Lịch, ông đi ngao du Ngũ Đài Sơn (五台山), Nga Mi Sơn (峨嵋山), sau trở về sống tại Đại Hoa Nghiêm Tự (大華嚴寺) trên Ngũ Đài Sơn, chuyên tu Phương Đẳng Sám Pháp. Ông thường giảng tông chỉ Hoa Nghiêm tại chùa này và Sùng Phước Tự (崇福寺), danh tiếng vang khắp kinh đô. Đến năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), thể theo lời mời của vua Đức Tông, ông vào Trường An (長安), cùng với Tam Tạng Bát Nhã (三藏般若) người Kế Tân (罽賓) dịch Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh (四十華嚴經) do quốc vương Ô Trà (烏茶) dâng cống, rồi đem dâng lên cho triều đình; nhân đó nhà vua rất vui mừng, ban cho Tử Y và hiệu Giáo Thọ Hòa Thượng (敎授和尚). Ngoài ra, ông còn phụng sắc chỉ triều đình chế 10 quyển kinh sớ tại Thảo Đường Tự (草堂寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山) và đây chính là bản Trinh Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ (貞元新華嚴經疏). Vào năm thứ 15 (có thuyết cho là 11) niên hiệu Trinh Nguyên, nhân dịp sinh nhật, vua Đức Tông mời ông vào nội điện, diễn thuyết tông chỉ Hoa Nghiêm, nhờ vậy nhà vua mới giác ngộ, bảo rằng: “nhờ diệu pháp mà làm cho trong sạch, mát mẻ tâm của Trẫm”, cho nên ban cho ông hiệu là Thanh Lương Quốc Sư. Ông đã từng lập ra 10 thệ nguyện để tự khuyên răn mình, cho nên người ta gọi là Thanh Lương Thập Nguyện. Đến khi vua Thuận Tông lên ngôi, vua cũng lấy lễ bái ông làm Quốc Sư, trong triều đình ngoài dân dã đều mến mộ cao phong của ông. Vào năm thứ 5 (810) niên hiệu Nguyên Hòa (元和) đời vua Hiến Tông, ông trả lời các câu vấn đáp của nhà vua, giảng rõ về nghĩa của pháp giới Hoa Nghiêm, được vua hài lòng, bèn tặng cho ông hiệu là Tăng Thống Thanh Lương Quốc Sư (僧統清涼國師). Đến năm thứ 4 niên hiệu Khai Thành (開成), ông thị tịch, hưởng thọ 102 tuổi. Có thuyết cho là ông mất trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được táng trong thạch thất trên Chung Nam Sơn và Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休) soạn bia văn. Ông đã trãi qua 9 triều đại, từng giảng kinh cho 7 đời vua, đệ tử có Tông Mật (宗密), Tăng Duệ (僧叡), Pháp Ấn (法印), Tịch Quang (寂光), và đệ tử đắc pháp có hơn 100 người. Trước tác của ông có rất nhiều như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ (大方廣佛華嚴經疏) 60 quyển, Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao (隨疏演義鈔) 90 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Cương Yếu (華嚴經綱要) 3 quyển, Ngũ Uẩn Quán (五蘊觀), Tam Thánh Viên Dung Quán Môn (三聖圓融觀門), v.v.
Thanh Lương Tự
(清涼寺, Seiryō-ji): xem Tha Nga Thanh Lương Tự (嵯峨清涼寺, Sagaseiryō-ji) bên trên.
thanh lương tự
4665請參閱 華嚴玄談<一>位於山西五臺山中臺之清涼谷。北魏孝文帝(471~499)所創建。著「華嚴論」一○○卷之靈辨(477~522)曾來此祈求文殊菩薩之加持。武則天長安二年(702)大德感禪師奉敕來寺主持。開成四年(839),日本圓仁來寺參禮,於其入唐求法巡禮記中敘述頗詳;該書謂清涼寺乃五臺山最初建立之梵剎。然一般卻以中臺大浮寺為最初建立之寺院。現清涼寺已荒廢,僅存清涼石及千佛塔。 <二>位於南京市西清涼門內石頭山腰。又稱清涼報恩禪院。別稱興教寺、廣慧寺。唐中和四年(884)創建,初為休復(悟空)所居,其後清涼泰欽、欽山文邃亦住此。〔大明一統志卷六,金陵梵剎志卷十九〕 <三>位於江蘇常熟之虞山中,漢月法藏開山,明萬曆年間(1573~1615)創建,舊稱三峰禪院,康熙三十八年(1699)敕賜「三峰清涼禪寺」之匾額。 <四>位於臺灣臺中縣太平鄉。煮雲法師創建於民國七十二年(1983),為頗具規模之淨土宗道場。曾於七十四年創辦淨土專宗佛學院。 <五>位於日本京都市右京區嵯峨町。屬淨土宗,俗稱釋迦堂。本尊為釋迦像,乃奝然於宋時從我國請去。此釋迦如來立像及紙本著色融通念佛緣起二卷、釋迦堂緣起(清涼寺緣起)等,皆被指定為日本國寶。
; A monastery at Ngũ đài sơn.
; Tên của một tự viện trên núi Ngũ Đài Sơn, được ngài Thanh Lương Quốc Sư xây dựng vào thời nhà Đường—A monastery at Wu-T'ai-Shan, built by preceptor of the State Sin-Liang during the T'ang Dynasty.
thanh lương tự duyên khởi
4665凡六卷。藏於日本清涼寺中。為描繪栴檀佛像由來之圖繪與詞書(文字說明)。清涼寺位於日本京都,俗稱釋迦堂,故本書又稱釋迦堂緣起、清涼寺栴檀瑞像緣起。其詞書係由青蓮院尊應准后所撰,其像則為狩野元信所繪。永正十二年(1515)作。內容為有關自三國時流傳之本尊緣起、奝然攜回日本,及開創該寺之經過事蹟。
thanh lịch
Refined—Fine—Elegant.
Thanh Minh
(s: śadha-vidhyā, j: shōmyō, 聲明): trong các kinh điển Hán dịch, nó là một trong Ngũ Minh, là hình thức văn pháp học. Nó còn được gọi là Phạn Bối (梵唄, bonbai), một hình thức âm nhạc cổ điển theo nghi thức Phật Giáo, có thêm âm tiết vào trong chơn ngôn (thần chú) cũng như kinh văn để xướng tụng. Hình thức này được truyền từ Trung Quốc vào Nhật Bản, sau này hình thức do Không Hải (空海, Kūkai) truyền vào là thuộc Dòng Nam Sơn Tấn (南山進流) của Chơn Ngôn Tông. Còn hình thức do Viên Nhân (圓仁, Ennin) truyền thừa là Đại Nguyên Ngư Sơn Thanh Minh (大原魚山聲明) của Thiên Thai Tông. Đa số các Thanh Minh Khúc do Viên Nhân truyền vào được phân chia ra các phái để lưu truyền, và đến thời Lương Nhẫn (良忍, Ryōnin) thì Thanh Minh Học đã hình thành hệ thống rõ rệt. Vào đầu thời Liêm Thương, Trạm Trí (湛智, Tanchi) thuộc Phái Cách Tân xác lập luận lý cùng với Tịnh Tâm (淨心, Jōshin) thuộc Phái Bảo Thủ trọng thị khẩu xướng, đã xuất hiện rồi tranh nhau về chủ trương của họ; thế nhưng không bao lâu thì Phái Bảo Thủ điêu tàn và Phái Cách Tân hưng thịnh. Thanh Minh được tổ chức từ 3 loại, 5 âm, 7 thanh và 12 luật. Năm âm là Cung (宮), Thương (商), Giác (角) Trưng (徴) và Vũ (羽), có cùng tính cách với Do, Re, Mi của âm nhạc phương Tây. Bảy thanh gồm 5 âm kể trên cọng thêm vào nữa âm trên dưới hai âm Anh (嬰) và Biến (變) để hình thành nên. Ba loại gồm Lữ (呂), Luật (律) và Trung (中); nếu thêm Biến Cung (變宮) và Biến Trưng (變徴) vào 5 âm thì hình thành Lữ Khúc (呂曲); chỉ riêng 5 âm được gọi là Luật Khúc (律曲); hơn nữa, nếu thêm Anh Thương (嬰商), Anh Vũ (嬰羽) vào thì gọi là Trung Khúc (中曲). Mười hai luật là 12 âm vị được gắn thêm vào giữa một quãng tám độ sai khoảng nữa âm, có tên gọi là Nhất Việt (一越), Đoạn Kim (斷金), Bình Điệu (平調), v.v. Thanh Minh có đặc chất của từng âm trong Ngũ Âm; hơn nữa, ngoài hai khúc Lữ Luật của Nhã Nhạc ra, nó còn phối thêm 3 loại Trung Khúc, v.v., và được xem như là nguyên lưu của âm nhạc Nhật Bản.
thanh minh
6495<一>梵語 śabda-vidyā。音譯攝拖苾馱。為印度五明之一。指文字、音韻及語法之學。有關其要目,瑜伽師地論卷十五概分為六項:(一)法施設建立相,謂聲明為名、句、文身等,及與不鄙陋、輕易、雄朗、相應、義善等五德相應之音聲為體。(二)義施設建立相,謂所詮之義。即六根、四大種、業、尋求、非法、法、興盛、衰損、受用、守護等十義,及自性、因、果、作用、差別相應、轉等六義。(三)補特伽羅施設建立相,謂言語之性別。即男、女、中性,及其轉聲之變化。(四)時施設建立相,謂時之差別。即遠過去、近過去,乃至遠未來、近未來等之變化。(五)數施設建立相,謂數之差別。即單數、二數、複數等之別。(六)處所根栽施設建立相,即有關造語、造頌之法。又瑜伽師地論略纂卷六於解釋處所根栽施設建立時,謂聲明之「根本處所」有四論,即梵王百萬頌、帝釋十萬頌、迦單沒羅仙一萬二千頌、波膩尼仙八千頌;註釋凡五論,即字體根栽聲明論三百頌、聲明略本頌一千頌、八界論八百頌、聞釋迦論一千五百頌、溫那地論二千五百頌。 蓋聲明為五明之一,印度一般皆研習之,然於我國則因經論等既皆漢譯,訓詁、文法等與印度大相逕庭,是故多不行聲明講習。及至唐代,玄奘等傳梵學,加以密教流傳,梵字悉曇之學遂勃興一時,有關之著述亦於焉問世。日本方面,則於日僧最澄、空海等諸師來華,傳悉曇法,其學乃逐漸興盛。〔瑜伽師地論卷三十八、大乘莊嚴經論卷五、成唯識論掌中樞要卷上末、南海寄歸內法傳卷四西方學法、翻譯名義集卷五〕(參閱「五明」1112) <二>指諷誦吟詠偈頌等。即附音譜,諷詠偈頌、名號等之法。與「梵唄」同義。五明中之聲明係窮究三聲八轉等義,此聲明則專論音曲歌詠之法。蓋歌詠偈頌等,早在印度古吠陀時代即已盛行,而後佛教亦採用其法,佛陀允許比丘作聲唄,但禁止依婆羅門歌詠之法,行引聲誦經。於我國,梵唄之法早已傳入,出三藏記集卷十二法苑雜緣原始集目錄中,揭舉陳思王感魚山梵聲制唄記、支謙製連句梵唄記、康僧會傳泥洹唄記等目;又梁高僧傳卷十三略述其興行之事實。〔毘尼母經卷六、十誦律卷三十七、有部毘奈耶雜事卷六、元亨釋書卷二十九音藝志、聲明源流記〕(參閱「梵唄」4635)
; Śabdavidyā (S), Subdavidyā (S) Một trong Ngũ minh của Vệ đà kinh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh Đề cao về ngôn ngữ, văn tự. Một trong ngũ minh: - thinh minh - công xảo minh - y phương minh - nhân minh - nội minh.
; Clear and bright.
; 1) Trong sáng: Clear and bright. 2) Giải thích rõ ràng: To explain or to state clearly. 3) Ngày lễ Thanh Minh sau Tết, thường vào ngày rằm tháng ba Âm lịch, ngày lễ dành cho những vong linh. Các dân tộc Đông Á như Tàu, Nhựt, Đại Hàn và Việt Nam, thường cử hành lễ nầy bằng cách đi đến các nghĩa trang để vãy cỏ và làm sạch mộ tổ tiên, cũng như dâng cúng thực phẩm và hoa quả: The Chinese festival or a festival after Spring, usually on 15th of the third lunar month, when honour is paid to departed spirits. East Asian peoples such as Chinese, Japanese, Korean, Vietnamese, often celebrate this festival by going to the cemetery to cut grasses, clean and offer food and fruits on their ancestors' tombs. 4) Thanh Minh có nghĩa là truyền tin, một trong Ngũ Minh: The learning of communication, one of the five sciences—Đức Phật đã nhìn thấy sự quan trọng của truyền tin, vì vậy Ngài đã đặt nó lên hàng đầu. Vì nếu không có kỹ thuật truyền tin thì các môn học khác sẽ không phát huy được. Khoa truyền tin tự cổ chí kim chịu ảnh hưởng của chữ viết hay lời nói. Đức Phật khuyến khích con người hãy học cách diễn đạt và làm cho người khác hiểu rõ mình. Vì vậy, ngoài tiếng mẹ đẻ ra, chúng ta cần phải học thêm những sinh ngữ thông dụng để có thể truyền đạt và hiểu rõ tư tưởng của các dân tộc khác, từ đó cải thiện cuộc sống về cả vật chất lẫn tinh thần—The Buddha realized the importance of communication; therefore, he made it the first of the “Five Great Learning.” For without adequate means of communication, all other learning types cannot be carried out. From ancient time till now, communication can be effected by written languages or by speech. The Buddha encouraged people to learn how to express themselves and make themselves understood. Thus, we should learn not only our own languages, but also learn other living and popular languages to communicate with and understand other peoples' ideas and thoughts to improve our physical and spiritual life—See Ngũ Minh. a) Truyền đạt bằng lời nói—Communication by speech: Lời nói vừa là phương tiện truyền thông chính, vừa cũng là phương tiện phá tan những rào cản khác biệt về tư tưởng—Speech is not only a main means of communication, but it is also a means to destroy barriers of different ideas and thoughts. b) Truyền đạt bằng chữ viết—Communication by writing: Sự tiến triển của văn minh tùy thuộc vào sách vở của các bậc tiền bối để lại. Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ nên tất cả các kinh điển đều được viết bằng Phạn ngữ. Sau đó, kinh điển được dịch sang tiếng Hoa. Hiện tại tại Việt Nam kinh điển được dịch sang Việt ngữ từ Phạn hay Hoa ngữ—The advancement of civilization depends on the scriptures left to us by the ancient sages. Buddhism originated from India; therefore, all scriptures were written in either Sanskrit or Pali. Later, they were translated into Chinese. Nowadays, Vietnamese Buddhist monks and nuns are translating these scriptures into Vietnamese, either from Sanskrit, Pali, or Chinese. c) Truyền đạt bằng những phương cách khác—Communication by other media: Chắc chắn có người cho rằng chân lý tối thượng của Đức Phật không thể giải thích bằng ngôn ngữ, nhưng nếu không dùng ngôn ngữ thì không thể nào diễn đạt được Phật Pháp, tức là chân lý tối thượng của Đức Phật, nó siêu việt lên trên mọi hình thức, tuy nhiên phải dùng tới phương tiện của hình thức thì mới có thể thực hiện được bằng các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, và hành động, như các tông phài Mật Tông đã ứng dụng. Trong Thiền Tông, sự truyền đạt trí huệ cao siêu được thực hiện bằng tâm truyền tâm. Tuy nhiên, với đa số đại chúng với căn cơ trình độ khác nhau, thì sự truyền đạt bằng ngôn ngữ và hình ảnh chân thật vẫn phổ thông và hữu hiệu hơn nhiều—Of course some may argue that the law has no speech; however, without speech it cannot be expressed. The ultimate truth of the Buddha transcends form, yet only by means of form can it be understood. Doctrinal transmission can also be accomplished by arts, such as painting, sculpture, music, and actions, as is the case with the esoteric sects of Buddhism. While in Zen the transmission of high wisdom is carried out from mind to mind. However, the masses with different levels of faculties, the transmission by way of speech and real pictures is much more popular and effective.
; (聲明) I. Thanh Minh. Phạm:Zabda-vidyà. Hán âm: Nhiếp đà bí đà. Chỉ cho môn học về văn tự, âm vận và ngữ pháp, 1 trong 5 minh của Ấn độ. Luận Du già sư địa quyển 15 chia Thanh minh làm 6 hạng mục chủ yếu như sau: 1. Pháp thi thiết kiến lập tướng: Thanh minh là danh (tên gọi), cú(câu), văn thân(văn chương)... và lấy những âm thanh tương ứng với 5 đức: Bất bỉ lậu (không thô bỉ), khinh dị(hờ hững xem là dễ dàng), hùng lãng(mạnh mẽ, sáng sủa), tương ứng(ứng hợp với nhau) và nghĩa thiện làm thể. 2. Nghĩa thi thiết kiến lập tướng: Tức nghĩa được bao hàm phải rõ ràng. Có 10 nghĩa: Sáu căn, 4 đại chủng, nghiệp, sự tìm cầu, trái pháp, pháp, hưng thịnh, suy tổn, thụ dụng và thủ hộ, cùng 6 nghĩa: Tự tính, nhân, quả, tác dụng, sai biệt tương ứng và chuyển. 3. Bổ đặc già la thi thiết kiến lập tướng: Tính khác nhau của ngôn ngữ. Tức tính nam, tính nữ(giống đực, giống cái), trung tính và sự biến hóa của chuyển thanh. 4. Thời thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về thời gian. Tức sự biến hóa về quá khứ xa, quá khứ gần, cho đến vị lai xa, vị lai gần... 5. Số thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về số lượng. Tức số đơn, số 2, số nhiều... 6. Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập tướng: Pháp nói về cách soạn lời, soạn tụng. Khi giải thích về Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập, Du già sư địa luận lược toản quyển 6 nói như sau: Xứ sở căn bản của Thanh minh gồm có 4 luận, đó là: Phạm vương bách vạn tụng, Đế thích thập vạn tụng, Ca đơn một la tiên nhất vạn nhị thiên tụng và Ba nị ni tiên bát thiên tụng và 5 luận chú thích là: Tự thể căn tài Thanh minh luận (300 bài tụng), Thanh minh lược bản tụng (1000 bài tụng), Bát giới luận (800 bài tụng), Văn Thích ca luận (1500 bài tụng) và Ôn na địa luận (2500 bài tụng). Vì Thanh minh là 1 trong 5 môn học (Ngũ minh) của Ấn độ nên nói chung người Ấn độ đều học tập nghiên cứu, còn ở Trung quốc thì vì kinh luận đều đã được phiên dịch ra chữ Hán mà văn pháp rất khác với văn pháp tiếng Phạm, cho nên phần nhiều Thanh minh không được giảng dạy học tập. Mãi đến đời Đường, ngài Huyền trang truyền tiếng Phạm, thêm vào đó Mật giáo cũng lưu truyền nên môn học Phạm tự Tất đàm bỗng rộ lên một thời, các trứ tác về Tất đàm học cũng xuất hiện vào thời ấy. Tại Nhật bản, các vị cao tăng như Tối trừng, Không hải... đến Trung quốc tham học, sau khi về nước cũng truyền pháp Tất đàm, do đó Tất đàm học cũng dần dần hưng thịnh. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5]. (xt. Ngũ Minh). II. Thanh Minh. Đồng nghĩa: Phạm bái. Chỉ cho sự phúng tụng, ngâm vịnh các bài kệ, tức phương pháp có phụ thêm sự phổ âm để ca và ngâm kệ tụng, danh hiệu... Thanh minh trong 5 minh nghiên cứu tận cùng nghĩa Tam thanh bát chuyển (thuộc văn pháp tiếng Phạm), còn Thanh minh này thì chuyên nói về phương pháp hòa âm, phổ nhạc, ca hát, ngâm vịnh... Sự ngâm vịnh các bài tán ca, kệ tụng đã thịnh hành ở Ấn độ xưa ngay từ thời đại Phệ đà, về sau, Phật giáo cũng sử dụng phương pháp ấy, đức Phật cho phép các tỉ khưu được thanh bái(đọc canh, tán), nhưng không được theo cách ca vịnh của Bà la môn để hòa âm tụng kinh. Ở Trung quốc, phương pháp Phạm bái(đọc canh, tán tụng) đã được truyền vào từ sớm, trong Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, có liệt kê các mục như: Trần tư vương cảm Ngư sơn Phạm thanh chế bái kí, Chi khiêm chế liên cú Phạm bái kí; Khang tăng hội truyền Nê hoàn bái kí...; còn Lương cao tăng truyện quyển 33 có trình bày sơ qua về sự thịnh hành Phạm bái. [X. kinh Tì ni mẫu Q.6; luật Thập tụng Q.37; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.6; Âm nghệ chí trong nguyên hanh thích thư Q.29; Thanh minh nguyên lưu kí]. (xt. Phạm Bái).
Thanh minh ký luận
xem Tỳ-già-la.
thanh minh luận
Śabdavidyā śāstra (S) Xem Thọ ký.
; Sabdavidya-sastra (skt)—Bộ luận về chữ và nghĩa—A treatise on the words and meanings.
thanh minh nguyên lưu kí
6495 請參閱 毘伽羅論全一卷。日本華嚴宗僧凝然述。收於大正藏第八十四冊。內容記述日本梵唄之由來、源流及師資相承之次第。享保四年(1719)二月付梓,有蓮光院光薰之跋。
; (聲明源流記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ngưng nhiên thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này nói về nguyên do, nguồn gốc của Phạm bái và thứ tự truyền thừa giữa thầy và trò ở Nhật bản. Tác phẩm này được khắc in vào tháng 2 năm Hưởng bảo thứ 4 (1719), có lời bạt của ngài Quang huân ở viện Liên quang.
thanh miêu hội
3701爲禪宗祈求青苗成熟之法會。我國自宋代以降,於每年播種之際,必於禪寺舉行青苗會,會中拜讀華嚴經。勅修百丈清規卷七之月分須知條(大四八‧一一五五上):「五月,端午日早晨,知事僧堂內燒香,點菖蒲茶,住持上堂次第建青苗會,堂司預出諸寮看經誦經單,直歲點檢諸處整漏,疏浚溝渠,方丈詣諸寮諸庵塔,各作一日點茶溫存,僧堂內掛帳。」由此可知青苗會係與端午之活動聯合。〔禪林備用清規卷十、幻住庵清規、叢林校定清規總要卷二、吉祥山永平寺小清規卷二、禪林象器箋報禱門〕
; (青苗會) Hội lúa xanh non. Tức pháp hội trong Thiền tông cầu cho lúa xanh được thành thục.Ở Trung quốc, từ đời Tống về sau, hằng năm vào mùa gieo mạ thì các tự viện Thiền tông cử hành Thanh miêu hội, tụng đọc kinh Hoa nghiêm. Điều nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) nói: Vào lúc sáng sớm ngày Đoan ngọ tháng 5, vị Tri sự thắp hương trong Tăng đường, châm trà xương bồ, vị Trụ trì thướng đường lần lượt kiến lập Thanh miêu hội, vị Đường ti dự bị đưa ra danh sách xem kinh tụng kinh của các liêu, vị Trực tuế kiểm điểm các nơi có gọn gàng ngăn nắp không, nạo vét các cống rãnh, vị Trụ trì đến các liêu, các am tháp, mỗi nơi đều pha trà, tiếp đãi trong một ngày, treo màn trong Tăng đường. Qua đây ta có thể biết Thanh miêu hội được liên kết với các hoạt động trong ngày Đoan ngọ. [X. Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.10; Huyễn trụ am thanh qui; Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu Q.2; Cát tường sơn Vĩnh bình tự tiểu thanh qui Q.2; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thanh Mậu
(清茂) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lạc thanh, Ôn châu (Chiết giang), họ Lâm, tự là Cổ lâm, hiệu là Kim cương chàng, Lâm cư tẩu, người ta thường gọi là Mậu cổ lâm, rất nổi tiếng về mặc tích(viết chữ đẹp). Năm 12 tuổi, sư theo ngài Cô nham khải, chùa Quốc thanh, núi Thiên thai xuất gia, thi kinh được đậu. Sau đó, bất chấp sự khó khăn trong lúc đầu nhà Nguyên, sư vân du khắp trong nước, lần lượt tham yết các ngài Giản ông kính ở núi Tuyết đậu tại Minh châu, Thạch lâm củng ở Nam bình, Giác an chân ở Thừa thiên... Cuối cùng, sư tham học ngài Hoành xuyên Như củng chùa Năng nhân tại Nhạn hoành, tinh tiến nghiên tu và được nối pháp lúc sư 19 tuổi. Sau, sư trở về chùa Quốc thanh. Năm Đại đức thứ 2 (1298) đời Nguyên, sư ẩn cư ở chùa Bạch vân, núi Thiên bình, phủ Bình giang, được 9 năm thì dời đến chùa Khai nguyên, không bao lâu sư lui về tháp viện Thiệu long ở núi Hổ khâu, niêm lại 100 tắc tụng cổ của ngài Tuyết đậu Trùng hiển. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), sư lại trụ chùa Khai nguyên lần thứ 2; bấy giờ, do lời tâu xin của Dương quốc công, sư được vua ban cho danh hiệu Phù Tông Phổ Giác Phật Tính Thiền Sư. Về già, vâng mệnh triều đình, sư đến tham dự Đại hội Kim sơn, được vua và các Đại thần tôn sùng, người đến cầu pháp ngữ tới số vài nghìn. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử nối pháp có các vị: Liễu amThanh, Trọng mưu Lương du, Trúc tiên Phạm tiên... Sau, sư Trúc tiên sang Nhật bản, khai sáng phái Mặc tích của ngài Thanh Mậu Trúc tiên, là 1 trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản. Sư có các tác phẩm: Cổ lâm Thanh mậu thiền sư ngữ lục 5 quyển, Cổlâm Thanh mậu thiền sư thập di kệ tụng 2 quyển, Sơ trụ Bình giang phủ Thiên bình sơn Bạch vân thiền tự ngữ lục, Khai nguyên thiền tự ngữ lục. [X. Tăng tập tục truyền đăng lục Q.5; Tục đăng tồn cảo Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.21; Mặc tích tổ sư truyện Q.thượng; Thiền lâm mặc tích giải thuyết (Điềnsơn Phương nam)].
thanh mậu
4662(1262~1329)元代禪僧。溫州(浙江)樂清人,俗姓林。字古林,號金剛幢、休居叟。一般稱為茂古林。以墨蹟揚名海外。十二歲從天台山國清寺之孤巖啟出家,試經得度。及後,不顧元初之難,遊方天下,先後參訪明州雪竇山簡翁敬、南屏石林鞏、承天覺庵真。又於當時已退隱之鴈宏能仁寺橫川如珙之下,精進研修,十九歲時即嗣其法。其後歸返國清寺。元大德二年(1298)隱居於平江府天平山白雲寺,九年後遷至開元寺,未久,退隱虎丘山紹隆之塔院,重拈雪竇重顯之百則頌古。皇慶元年(1312)再住開元寺,時因楊國公之請,蒙賜扶宗普覺佛性禪師之號。延祐二年(1315)移居饒州(江西鄱陽縣)永福寺,另於建康鳳臺山保寧寺居六年。晚年奉朝廷之命,列席金山大會,備受王臣大夫等尊崇,士庶求法語者不下數千人。天曆二年示寂,世壽六十八。嗣其法者有了庵清欲、仲謀良猷、竺仙梵僊。梵僊東渡日本,開創日本禪宗二十四流中之竺仙派。師之語錄有古林清茂禪師語錄五卷、古林清茂禪師拾遺偈頌二卷、初住平江府天平山白雲禪寺語錄、開元禪寺語錄。其墨蹟較著名者有別源圓旨送別偈泰定二年九月二日一幅、月林道號泰定四年三月望日一幅、馮子振保寧寺賦跋等。〔增集續傳燈錄卷五、續燈存槀卷六、五燈嚴統卷二十一、墨蹟祖師傳卷上、禪林墨蹟解說(田山方南)〕
thanh mục
3700梵名 Piṅgalanetra。音譯賓伽羅、賓頭羅伽。四世紀頃之印度人。爲注釋龍樹「中論」之論師。大乘玄論卷二載,師於佛陀入滅後一千年出世。僧叡中論序(大三○‧一上):「其染翰申釋者,甚亦不少。今所出者,是天竺梵志名賓伽羅,秦言青目之所釋也。其人雖信解深法,而辭不雅中,其中乖闕煩重者,法師皆裁而裨之。」又據近代學者考證,謂青目即提婆之別名。〔中觀論疏卷一本(吉藏)、三論玄疏文義要卷二、出三藏記集卷十一、J. Takakusu: Notes on Chinese Buddhist Books(J.R.A.S., 1903)〕
; Piṅgalanetra (S) Tỳ kheo thế kỷ IV.
; Pingala (S).
; (青目) Phạm: Piígalanetra. Hán âm: Tân già la, Tần la già. Cao tăng Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ IV, chú thích bộ Trung luận của ngài Long thụ. Theo Đại thừa huyền luận quyển 2 thì sư ra đời vào khoảng 1000 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Bài tựa Trung luận của ngài Tăng duệ (Đại 30, 1 thượng) nói: Những nhà chú thích Trung luận thật không ít. Bản chú thích được nêu ra ở đây là do Phạm chí người Thiên trúc tên là Tân già la, Hán dịch là Thanh mục, soạn. So với các bản chú thích khác thì bản chú thích này của Phạm chí rất đầy đủ. Theo sự khảo chứng của các học giả cận đại thì Thanh mục tức là tên khác của ngài Đề bà. [X. Trungquánluận sớ Q.1, phần đầu (Cát tạng); Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.11; Notes on Chinese Buddhist Books (J.R.A.S.1903) by J.Tanakusu].
thanh nghiêm
4676(1924~1970)湖北隨邑人。俗姓黃,名興華。十二歲,禮黃陂古潭寺聖祥法師出家,字果華。年二十,受具足戒於漢陽歸元寺。民國三十四年(1945),任漢口古德寺知客,並協辦市佛教會務。其後,曾赴杭州靈隱寺、廣州六榕寺。四十三年,由港來臺,住十普寺,任知客、維那等職。越三年,創立永明寺於嘉義,講誦修持。又四年於新店碧潭橋畔,改民宅興建海藏寺。其間曾任中國佛教會理事、監事、重建大陸佛教組織計劃委員會委員、臺北縣佛教支會顧問等職。世壽四十七,僧臘三十五,戒臘二十七。生前曾囑咐弟子,示寂後,於寺內院地合甖六載,然後開視。後於臺北市吳興街山中塔藏六載,六十五年元月二十一日當眾開缸,見師合目端坐,如入禪定,皮膚光澤,呈琥珀色,宛如生前,一時轟動道俗,傳為佳話。為臺灣地區繼汐止慈航法師全身舍利後,肉身不壞之又一人。
; (清嚴) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Dân quốc, người ở Tùy ấp, tỉnh Hồ bắc, họ Hoàng, tên Hưng hoa. Năm 12 tuổi, sư lễ ngài Thánh tường chùa Cổ đàm ở Hoàng pha xin xuất gia, được đặt pháp danh là Quả hoa. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Qui nguyên tại Hán dương. Năm Dân quốc 34 (1945), sư làm chức Tri khách chùa Cổ đức ở Hán khẩu. Năm Dân quốc 43 (1954), sư từ Hương cảng đến Đài loan, trụ ở chùa Thập phổ, làm các chức Tri khách, Duy na... Ba năm sau, sư sáng lập chùa Vĩnh minh ở Gia nghĩa, mở các khóa giảng kinh và tu trì. Sư từng giữ các chức Lí sự, Giám sự của hội Phật giáo Trung quốc, Cố vấn Chi hội Phật giáo Đài bắc. Sư thị tịch năm 1970, hưởng dương 47 tuổi, tăng lạp 35, giới lạp 27. lúc sinh tiền, sư từng dặn dò đệ tử sau khi sư thị tịch thì bỏ di hài vào cái chum, đậy lại và chôn trong đất chùa, 6 năm sau hãy mở ra xem. Theo di chúc, vào ngày 21 tháng giêng năm Dân quốc 65 (1970), đại chúng mở chum ra xem thì thấy sư nhắm mắt ngồi ngay thẳng như đang nhập thiền định, da dẻ tươi sáng, màu hổ phách, hệt như lúc sống, làm chấn động dư luận một thời và truyền thành giai thoại. Sư là 1 trong những vị có nhục thân bất hoại kế sau toàn thân xá lợi của Pháp sư Từ hàng ở Tịch chỉ tại Đài loan.
thanh nguyên duy tín
Seigen Ishin (J), Ching yuan Wei hsin (C) Seigen Ishin (J) Tên một vị sư.
Thanh Nguyên Hành Tư
(青原行思, Seigen Gyōshi, ?-740): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, người vùng An Thành (安城), Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), họ là Lưu (劉). Ông xuất gia hồi còn nhỏ, sau đến tham học với Lục Tổ Huệ Năng và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông cùng với Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) được gọi là hai vị đại đệ tử của Lục Tổ. Từ khi ông đến sống tại Tĩnh Cư Tự (靜居寺) thuộc Thanh Nguyên Sơn (青原山), chúng môn đồ vân tập đến tham học rất đông, và sau này ba pháp hệ thuộc đời cháu là Vân Môn Tông, Tào Động Tông và Pháp Nhãn Tông liên tục xuất hiện. Vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông thị tịch, có thuyết cho là ông thọ 68 tuổi, và được vua Hy Tông ban cho thụy hiệu là Hoằng Tế Đại Sư (弘濟大師).
; 青原行思; C: qīngyuán xíngsī; J: seigen gyōshi; 660-740;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Từ dòng thiền của Sư xuất phát ra ba tông trong Ngũ gia thất tông mặc dù Sư chỉ có một đệ tử đắc pháp là Thạch Ðầu Hi Thiên.|Sư họ Lưu, quê ở Kiết Châu, An Thành, xuất gia từ nhỏ. Nhân nghe Lục tổ dạy chúng ở Tào Khê, Sư đến tham học. Sư được Lục tổ ấn khả và trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.|Thiền sư Hà Trạch Thần Hội đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Thần Hội đáp: »Từ Tào Khê đến.« Sư hỏi: »Ý chỉ Tào Khê thế nào?« Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: »Vẫn còn đeo ngói gạch.« Thần Hội hỏi: »Ở đây Hoà thượng có vàng ròng chăng?« Sư đáp: »Giả sử có cho, ông để chỗ nào?«|Sau khi truyền pháp cho Hi Thiên xong, ngày 13 tháng 12 năm Canh Thìn, đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28, Sư từ biệt chúng lên pháp đường viên tịch. Vua Ðường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.
thanh nguyên hành tư
Ching yuan Hsing szu (C) Seigen Gyoshi (J) Tên một vị sư.
thanh nguyên hành tư thiền sư
Zen master Xing-Si-Qing-Yuan—See Hành Tư Thanh Nguyên Thiền Sư.
thanh nguyên hạ
3701爲我國禪宗之一派。青原,指唐代之青原行思禪師;下,派下之意。即六祖慧能之法嗣青原行思之法系,相對於同是六祖弟子之南嶽懷讓所衍出之「南嶽下」系統。行思得法之後,住於江西吉州青原山之靜居寺,闡揚禪旨,其法嗣石頭希遷於南嶽結庵接化後學,撰著「參同契」舉揚宗風,世人尊稱爲「石頭大師」,其門下高足有天皇道悟、丹霞天然、藥山惟儼等。天皇之系統次第有龍潭崇信、德山宣鑑、雪峰義存、雲門文偃。其中,雲門文偃於韶州(廣東曲江)雲門山闡發宗趣,門人多達千餘人,其法系即是我國禪宗五家七宗中之雲門宗。又雪峰義存於福州雪峰山大振禪法,四方來依止者多達一千五百餘人,其門下除雲門文偃外,次第有玄沙師備、羅漢桂琛、法眼文益。法眼文益居於金陵(江蘇江寧)清涼寺,發展獨特之禪法,其法系即是五家七宗中之法眼宗。而藥山惟儼之法系則次第有雲巖曇晟、洞山良价、曹山本寂、雲居道膺,良价與本寂之法系即是五家七宗中之曹洞宗。故總括雲門、法眼、曹洞三宗之系統皆稱爲青原下。 三宗之中,雲門宗自五代至北宋,從廣東逐漸擴展至江蘇、浙江、福建等地,並以之爲中心地,展開其教法。法眼宗則隨雪峰義存教團之隆盛而發展,並曾獲得閩王錢氏之皈依。又此宗中之天台德韶、永明延壽、永安道原等,皆是諸宗共尊之高僧,德韶且有「智顗再來」之美稱。此外,祖堂集、景德傳燈錄(道原纂)、宗鏡錄(延壽集)等重要禪籍亦先後成立。曹洞宗於洞山良价之後,於南宋及明清兩代有雲居道膺之法系繼之,而與南嶽懷讓法系下之臨濟宗各樹一幟,尤以宏智正覺鼓吹「默照禪」,而與臨濟宗之大慧宗杲所唱道之「看話禪」並稱於世。(參閱「南嶽下」3753)
; (青原下) Một trong các phái của Thiền tông Trung quốc. Thanh nguyên chỉ cho Thiền sư Thanh nguyên Hành tư đời Đường; Hạ hàm ý là phái dưới. Tức là pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư, đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng, đối lại với Nam nhạc hạ là pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng, cũng là đệ tử của Lục tổ. Sau khi đắc pháp, ngài Hành tư trụ ở chùa Tĩnh cư, núi Thanh nguyên tại Cát châu thuộc tỉnh Giang tây, hoằng dương Thiền pháp. Pháp tự của ngài là Thạch đầu Hi thiên trụ ở núi Nam nhạc, tiếp hóa hậu học, soạn ra Tham đồng khế mở rộng tông phong, người đời tôn xưng là Thạch đầu đại sư; đệ tử ưu tú của sư có các vị Thiên hoàng Đạo ngộ, Đơn hà Thiên nhiên, Dược sơn Duy nghiễm... Hệ thống của ngài Thiên hoàng lần lượt có các vị: Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn, Vân môn Văn yển... Trong đó, ngài Vân môn Văn yển trụ ở núi Vân môn tại Thiều châu (huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông) phát triển tông thú, môn hạ có tới 1000 người, pháp hệ của sư chính là tông Vân môn trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Còn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì mở mang Thiền pháp ở núi Tuyết phong tại Phúc châu, có tới hơn 1500 người từ khắp nơi qui tụ về tham học. Môn hạ của sư lần lượt có các vị: Huyền sa Sư bị, La hán Quế sâm, Pháp nhãn Văn ích... Trong đó, ngài Pháp nhãn Văn ích ở chùa Thanh lương tại Kim lăng (nay là huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô), phát triển Thiền pháp một cách độc đáo. Pháp hệ của sư chính là tông Pháp nhãn trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Còn pháp hệ của ngài Dược sơn Duy nghiễm thì lần lượt có các vị: Vân nham Đàm thạnh, Động sơn Lương giới, Tào sơn Bản tịch, Vân cư Đạo ưng. Trong đó, pháp hệ của các ngài Lương giới và Bản tịch chính là tông Tào động trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Cho nên, hệ thống của 3 tông Vân môn, Pháp nhãn và Tào động đều được gọi là Thanh nguyên hạ. Trong 3 tông trên thì tông Vân môn từ đời Ngũ đại đến đời Tống, từ Quảng đông dần dần mở rộng phạm vi đến các tỉnh Giang tô, Chiết giang, Phúc kiến... và lấy đó làm trung tâm phát triển giáo pháp. Tông Pháp nhãn thì theo sự hưng thịnh của giáo đoàn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn mà phát triển và được Mân vương họ Tiền qui y. Các vị Thiên thai Đức thiều, Vĩnh minh Diên thọ, Vĩnh an Đạo nguyên... của tông Pháp nhãn đều được các tông tôn là Cao tăng, ngài Đức thiều còn được khen là Trí khải tái thế. Ngoài ra, các tác phẩm quan trọng của Thiền như Tổ đường tập, Cảnh đức truyền đăng lục (do ngài Đạo nguyên soạn), Tông kính lục (do ngài Diên thọ biên tập)... cũng lần lượt được thành lập. Tông Tào động, sau ngài Động sơn Lương giới, vào các đời Nam Tống, Minh, Thanh thì có pháp hệ của ngài Vân cư Đạo ưng truyền nối, song song với tông Lâm tế thuộc pháp hệ Nam nhạc hạ đều nêu cao tông phong của mình, nhất là ngài Hoành trí Chính giác đề xướng Mặc chiếu thiền, đối lại với Khán thoại thiền do ngài Đại tuệ Tông cảo của tông Lâm tế chủ trương cùng nổi tiếng ở đời. (xt. Nam Nhạc Hạ).
thanh nguyên sơn
3702位於江西廬陵(今吉安)東南十五公里處。又稱青原安隱山。山中有駱駝峰、鷓鴣嶺等,高聳入雲,另有雷泉、錫泉、虎咆泉等,遠近馳名。我國禪宗七祖行思禪師(?~740)嘗於此山開創靜居寺,北宋治平三年(1066),受賜「安隱寺岔B,至清太宗崇德年間(1636~1643)恢復舊名。元末燒燬,明末復修爲叢林,於今尚存,俗稱大廟。寺中有天王殿、大雄殿、毘盧閣等建築,供奉四大金剛、十八羅漢、觀音菩薩等,又有千人銅鍋、百斤香爐、千斤大鐘等古物,寺之正門鐫刻文天祥手書之「青原山」三字。 此外,山中另有名勝古蹟多處,如七祖塔、飛來塔、涅槃城、斷碣塔室、青又庵、華蓋山方廣寺、雞岡山青原岸鹿苑、西度庵藏盧、資福寺等。繼行思之後,有青原齊、青原惟信、本寂真元、顓愚觀衡、眉菴行秀、笑峰大然等高僧先後住此。 清代之笑峰大然曾編輯「青原山志略」,後由施閏章補輯,共成十三卷,於康熙四十一年(1702)刊行,其內收錄自青原行思入山開創以來千餘年間,住於山中之禪師、居士、文人墨客之詩文、疏、碑銘、遊記、紀事等。〔大明一統志卷四十六、大清一統志卷二四九、青原山志略〕
; (青原山) Cũng gọi Thanh nguyên an ẩn sơn. Núi ở cách Lư lăng (nay là huyện Cát an) 15 km về phía đông nam thuộc tỉnh Giang tây. Trong núi có ngọn Lạc đà, dãy Chá cô cao đến tận mây, lại có các suối Lôi tuyền, Tích tuyền, Hổ bào tuyền, nổi tiếng xa gần. Thiền sư Hành tư (?-740), Tổ thứ 7 của Thiền tông Trung quốc từng khai sáng chùa Tĩnh cư ở núi này, năm Trị bình thứ 3 (1066) đời Bắc Tống được vua ban tấm biển hiệu là An Ẩn Tự, đến khoảng năm Sùng đức (1636-1643) đời vua Thái tông nhà Thanh, chùa được khôi phục lại tên cũ là Tĩnh cư. Cuối đời Nguyên, chùa bị thiêu hủy; cuối đời Minh được sửa lại làm tùng lâm, hiện nay vẫn còn, người đời gọi là Đại miếu. Trong chùa có điện Thiên vương, điện Đại hùng, gác Tì lô... thờ 4 vị Kim cương, 18 vị La hán, bồ tát Quán âm..., còn có các cổ vật như nồi đồng nghìn người ăn, lò hương nặng trăm cân, chuông lớn nặng nghìn cân, trên cửa chính của chùa có khắc chữ: Thanh Nguyên Sơn do Văn thiên tường viết. Ngoài ra, trong núi còn có các di tích cổ nổi tiếng như tháp Thất tổ, tháp Phi lai, thành Niết bàn, nhà tháp, am Thanh hựu, chùa Phương quảng ở núi Hoa cái, chùa Tư phúc... Kế tiếp sau ngài Hành tư, có các vị cao tăng lần lượt cư trụ núi này như ngài Thanh nguyên tề, Thanh nguyên Duy tín, Bản tịch Chân nguyên, Chuyên ngu Quán hành, Mi am Hành tú, Tiếu phong Đại nhiên... Ngài Tiếu phong Đại nhiên đời Thanh có biên tập Thanh nguyên sơn chí lược, sau do ngài Thi nhuận chương biên tập bổ sung, tất cả 13 quyển, được ấn hành vào năm Khang hi 41 (1702), nội dung ghi chép thơ văn, sớ, bia minh, du kí, kỉ sự... của các vị Thiền sư, cư sĩ, văn nhân, mặc khách cư trụ hoặc du ngoạn núi này để lại trong khoảng hơn 1000 năm từ khi ngài Thanh nguyên Hành tư vào núi khai sáng về sau. [X. Đại minh nhất thống chí Q.46; Đại thanh nhất thống chí Q.249; Thanh nguyên sơn chí lược].
thanh nhàn
Unoccupied.
thanh nhã
Grace—Refined—Elegant—Courteous.
thanh nhập
6493為十二入之一。即指音聲。入,涉入之意。眼、耳、鼻、舌、身、意六根,與色、聲、香、味、觸、法六塵互相涉入,稱為十二入。即一切可聞之聲,對於耳,稱為聲入。〔法界次第初門卷上之上〕(參閱「十二處」343)
; (聲入) Chỉ cho âm thanh, 1 trong 12 nhập. Nhập là vào. Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhập vào lẫn nhau, gọi là 12 nhập. Nghĩa là tất cả âm thanh nghe được, đối với lỗ tai gọi là Thanh nhập. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Thập Nhị Xứ).
thanh niệm tụng
6495為金剛界大法對受記卷六所載五種念誦之一。謂發出長短分明之音聲而念誦,使自他皆能聽聞。(參閱「五種念誦」1178)
; Tụng niệm ra tiếng—Vocal intonation.
; (聲念誦) Niệm tụng bằng cách phát ra âm thanh dài, ngắn rõ ràng, khiến cho mình và người khác đều nghe được, là 1 trong 6 phương pháp niệm tụng nói trong Kim cương giới đại pháp đối thụ kí quyển 6. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).
Thanh Phong Truyền Sở
(青峰傳楚, Seihō Denso, ?-?): vị Thiền tăng sống vào cuối đời nhà Đường, người vùng Kinh Châu (涇州, Tỉnh Cam Túc), người kế thừa dòng pháp của Lạc Phổ Nguyên An (樂普元安). Ông đã từng sống tại Thanh Phong Sơn (青峰山) thuộc Phủ Phong Tường (風翔府).
thanh phạm
Pure Sanskrit; Buddha's resonant voice, or pure enunciation.
thanh phạn
• Phạn ngữ là ngôn ngữ của thanh tịnh: Pure Sanskrit. • Tiếng Phật thanh tịnh: Buddha's resonant voice, or pure enunciation.
thanh phẩu hưng dương thiền sư
Zen master Qing-Pou-Xing-Yang—Thiền sư Thanh Phẩu Hưng Dương là đệ tử của Thiền sư Đại Dương. Tuy vậy ông không may chết trước Đại Dương và không có Pháp từ nào để nối dõi Tào Động—Zen master Qing-Pou-Xing-Yang was a disciple of Zen master T'a-Yang. Although he was a successor of T'a-Yang, he unfortunately did not outlive his teacher, nor did he have any Dharma heirs to carry on the Cao-T'ong line. • Sau khi trụ ở Hưng Dương, sư thượng đường dạy chúng: “Đại đạo từ Tây sang, lý bặt bách phi, trong câu hợp cơ toàn trái diệu chỉ, bất đắc dĩ mà có làm cong vạy tông Tổ Sư, huống là lăng xăng có lợi ích gì? Tuy nhiên như thế, việc không phải một chiều, hãy ở trong cửa xướng giáo mở một con đường cùng toàn thể thương lượng.”—After becoming the abbot of a temple, Xing-yang entered the hall and addressed the monks, saying: “The principle of the great way that came from the west cuts off the hundred negations. Words that accord with the essential teaching go on without end. But what benefit could there be in just arduously submitting to the teachings of our school? Although it's like this, there are many different affairs to deal with. But in the teaching of our school, there is only one path that passes through. Everyone discuss this!” • Có vị Tăng hỏi: “Rồng Ta Kiệt ra khỏi biển thì càn khôn chấn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào?” Sư đáp: “Chim Đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu?” Vị Tăng hỏi: “Nếu khi gặp người xuất đầu thì làm sao?” Sư đáp: “Giống như chim cắt anh không tin, trước sọ khô nghiệm mới biết thật.” Vị Tăng hỏi: “Thế ấy thì khoanh tay bày ngực lui ba bước?” Sư đáp: “Dưới tòa Tu Di con rùa quạ, chớ đợi điểm trán lần thứ hai.”—A monk asked Xing-Yang-Qing-Pou: “When the Sagara Dragon emerges from the sea, the entire universe shudders. At just such a time, how is this expressed?” Qing-Pou said: “The Garuda King confronts the universe! Among you here, who can come forth?” The monk asked: “If suddenly someone comes forth, then what?” Qing-Pou said: “It's like a falcon striking a pigeon. You don't believe me. If you can experience it behind your skull, then you'll at last realize the truth.” The monk said: “In that case, I'll just fold my hands on my chest and retreat three steps.” Qing-Pou said: “The tortoise that upholds Mount Sumeru won't tolerate another one going back with a dot on its forehead!” • Sư bệnh, Đại Dương đến hỏi: “Thân nầy như bọt huyễn, trong bọt huyễn thành tựu. Nếu không có cái bọt huyễn thì đại sự không do đâu mà hiện. Nếu cần đại sự xong, biết cái bọt huyễn này làm gì?” Sư thưa: “Vẫn là việc bên này.” Đại Dương bảo: “Việc bên kia thế nào?” Sư thưa: “Khắp đất vầng hồng suốt, đáy biển chẳng trồng hoa.” Đại Dương cười: “Là người tỉnh chăng?” Sư hét: “Nói! Sẽ bảo tôi mất rồi.” Nói xong thầy thị tịch—When Qing-Pou was ill in bed, T'a-Yang said to him: “The body is an illusion, and within this illusion affairs are carried out. If not for this illusion, the great matter would have no place from which to be undertaken. If the great matter is undertaken, it is seen to be an illusion. What do you say?” Qing-Pou said: “There is still this matter here.” T'a-Yang said: “And what is that matter?” Qing-Pou said: “Encircling the earth, the lustrous crimson orb. At ocean bottom, not planting flowers.” Qing-Pou paused and closed his eyes. T'a-Yang smile and said: “Are you awake?” Qing-Pou said: “I've forgotten what I was about to say.” He then passed away.
thanh phật sự
6495 請參閱 聲字實相義 日本佛教用語。以音聲作佛事之意。即謂音聲之功德能成就佛事。維摩經略疏卷十(大三八‧六九九下):「此間耳根利故,用聲塵起之。未必但有聲塵,便無五塵,如此間以聲為佛事,亦放光明,亦香雲、香蓋、衣服等,以為佛事。但從勝者為正,其餘是傍,故的判聲為佛事。」又據淨土五會念佛略法事儀讚序載,以彌陀法王四十八願之名號為佛事。蓋由讀誦、唱名等而得往生之益,又聞法音,自然不生起塵勞、垢習,凡此皆為聲佛事之例證。至後世,乃至以歌舞音曲等之供養,亦為聲佛事之一種。〔維摩經卷下菩薩行品〕
; (聲佛事) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Dùng âm thanh để làm các Phật sự, tức công đức của âm thanh có khả năng thành tựu các Phật sự. Duy ma kinh lược sớ quyển 10 (Đại 38, 699 hạ) nói: Trong lúc đó nhĩ căn là nhạy bén, cho nên dùng thanh trần để phát khởi. Không hẳn chỉ có thanh trần mà không có 5 trần, như trong đây dùng thanh làm Phật sự, cũng phóng ánh sáng, cũng mây thơm, lọng thơm, y phục... để làm Phật sự. Nhưng dùng thứ thù thắng là chính, ngoài ra là phụ, cho nên quyết định dùng âm thanh làm Phật sự. Lại theo bài tựa Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán thì dùng danh hiệu của 48 nguyện Di đà pháp vương làm Phật sự. Vì nhờ đọc tụng, xưng danh mà được lợi ích vãng sinh, lại nghe pháp âm thì tự nhiên không sinh khởi trần lao, cấu nhiễm, tất cả việc đó đều là thí dụ chứng minh cho Thanh Phật sự. Đến đời sau, thậm chídùng ca múa, kĩ nhạc để cúng dường, cũng là 1 trong các Thanh Phật sự. [X. phẩm Bồ tát hạnh trong kinh Duy ma Q.hạ].
thanh quan
Honest officials.
thanh quang
Pure and bright.
Thanh quy
清規; J: shingi; nghĩa là »Quy luật rõ ràng«;|Danh từ chỉ những quy luật cho tăng, ni và Cư sĩ trong cũng như ngoài những Thiền viện. Trong những tác phẩm nói về quy luật, người ta thường gắn hai chữ Thanh quy phía sau, ví dụ như Bách Trượng thanh quy của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, Vĩnh Bình thanh quy của chùa Vĩnh Bình tại Nhật Bản.
thanh quy
4672指禪宗寺院(叢林)組織規程及寺眾(清眾)日常生活之規則。即禪家僧堂關於大眾行、住、坐、臥等威儀所定之僧制,為叢林眾僧所必須遵守之儀則。清,為清淨大海眾之略稱;規,為規矩準繩之意。又以所立之儀軌能清淨大眾,故稱清規。禪宗自達磨東來後三百年中,禪僧多依住律院或巖穴、樹下,尚未營立禪剎。至唐代洪州百丈山之懷海禪師為使禪僧之說法住持得以合法,始營建禪剎,並參照大小乘經律,制定叢林規矩,撰清規二卷,廣為流行,世稱古規、古清規、百丈清規。此為禪家清規之始。 百丈清規一書包括叢林之一切事務,諸如法堂、僧堂、方丈之設置,並由僧眾之中選擇十賢眾擔任十職,十職分為西序:首座(前堂、後堂)、書記、知藏、知客、知浴;東序:監寺、維那、副寺、典座、直歲。更設置寮元、堂主、化主、莊主、知殿等,一切事皆有專職負責之人。凡大眾之朝參、夕聚、齋粥、普請等皆有規定。學眾聚居僧堂,依受戒年次安排;並設長連床,供坐禪偃息。而住持須為兼具道眼及德行者,居住於方丈之中,時時出法堂,上堂陞座、小參垂示,以御大眾。凡此種種遂成為叢林新例,而與律法不同。世人即稱為百丈清規。此後天下叢林皆依準此規為寺院生活之儀則。然後世亦有以禪林清規係違背佛制之戒律,而加以詆毀者。 百丈清規一書歷經唐末、五代逐漸散佚,今部分見於楊億之禪門規式及百丈規繩頌兩書之中。百丈清規之後,我國陸續撰出之清規有:宋代宗賾作禪苑清規(崇寧清規)十卷、瑞嚴之無量宗壽禪師作日用小清規(入眾日用清規、入眾清規、日用規範)一卷、婺州金華之惟勉禪師作叢林校定清規總要(咸淳清規、校定清規、婺州清規)二卷、元代東林澤山之弌咸禪師作禪林備用清規(至大清規、澤山清規、東林清規)十卷、中峰明本禪師作幻住庵清規一卷、江西百丈山住持德輝奉敕重編敕修百丈清規二卷、道齊作禪苑清規總要二卷、繼洪作村寺清規一卷、明代壽昌下第三祖天界之道盛禪師作壽昌清規一卷。其中敕修百丈清規係將崇寧、咸淳、至大三本及幻住清規等加以刪繁補缺,重新詮次,分成九章,釐為二卷。從明迄今皆通行此本,雖其名仍為百丈清規,然內容精神已去古清規益遠。九章中,前四章規定有關祝聖、國忌、祈禱、佛誕節、涅槃節、達摩忌、百丈忌及各寺歷代諸祖忌等儀式。此皆律所未定,古規所缺者。五至九章,則為叢林本身之規章制度。此外,其他宗派亦仿傚清規所制定之規制,如律宗之省悟作律苑事規三卷,天台宗之自慶作教苑清規一卷。明代後,教門之規制混亂,叢林之行法亦隨之廢弛。 在日本,關於清規之撰述,有曹洞宗所依用之道元禪師作永平清規、紹瑾禪師作瑩山清規、即中玄透作永平小清規,臨濟宗所依用之清拙正澂作大鑒清規、東漸易公作叢林拾遺略清規、無著道忠作小叢林清規。至德川時代則有黃檗宗之隱元隆琦作黃檗清規、妙心派之小叢林略清規、曹洞宗面山作僧堂清規等。另有淨土宗慈空之蓮門清規、日蓮宗日燈之草山清規等。 現代叢林中實行清規之主要項目,有:(一)結夏與結冬,叢林極重視之四大節為結夏、解夏、冬至、年朝。結夏,即結夏安居,亦稱結制,期日原為每年陰曆四月或五月之十五日,解夏則於七月或八月之十五日,然自元代以來,各提前一日,講習禮儀,以便期內專心修道;結冬則於十月十五日至次年正月十五日之間,結制安居,專修禪法。即所謂冬參夏講。(二)安單,凡曾受具足戒之比丘,若衣鉢戒牒俱全,遊方各寺,皆可掛單暫住。如掛單已久,知其行履可以共住者,即送入禪堂,稱為安單。(三)大請職,即一寺之人事安排。為叢林冬期重要行事,一般於每年八月十五日舉行。(四)貼單,通常於每年陰曆十月十五日公布一寺職事及常住人員名單。(五)打七,禪眾為剋期取悟,叢林中每年自陰曆十月十五日至次年正月七日舉行禪七,每七天為一期,或打七,或打十七,不定。此為結冬中重要行事。(六)普請,即普遍邀約大眾勞作之謂,又稱出坡。(七)歲計,為叢林歲末會計報告。(八)肅眾,對僧眾違犯清規之處分。(九)榜狀牌示,指叢林行事通知方式,通常有知單,貼榜、書狀、牌示等。(十)鐘鼓法器,為叢林號令之器具〔禪籍志卷上、大宋僧史略卷上傳禪規法條、景德傳燈錄卷六末附禪門規式、禪宗叢林制度與中國社會(南懷瑾)〕
; Luật thanh tịnh—Pure rules.
; (清規) Chỉ cho những qui tắc sinh hoạt hằng ngày của chúng tăng(thanh chúng) trong các chùa viện(tùng lâm) của Thiền tông. Tức là các phép tắc được đặt ra để qui định uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm của đại chúng trong tùng lâm mà chúng tăng phải tuân thủ. Thanh gọi đủ làThanh tịnh đại hải chúng. Qui nghĩa là khuôn phép mực thước. Khuôn phép mực thước được đặt ra này có năng lực làm cho đại chúng thanh tịnh, cho nên gọi là Thanh qui. Các Thiền tăng trong khoảng 300 năm từ sau khi Tổ Đạt ma đến Trung quốc, phần nhiều cư trú trong các luật viện, hoặc hang núi, gốc cây, chứ chưa xây dựng các Thiền viện. Đến đời Đường, vì muốn cho Thiền tăng có chỗ an trú để tu hành, thuyết giảng đúng pháp, nên Thiền sư Hoài hải ở núi Bách trượng tại Hồng châu mới thiết lập Thiền viện, đồng thời tham chiếu các kinh luật Đại, Tiểu thừa chế định các nghi tắc tùng lâm, soạn ra Thanh qui 2 quyển lưu hành rộng rãi, người đời gọi là Cổ qui, Cổ thanh qui, Bách trượng thanh qui. Đây là Thanh qui đầu tiên của Thiền tông. Bộ Bách trượng thanh qui bao gồm tất cả các việc trong tùng lâm và các thiết trí như Pháp đường, Tăng đường, Phương trượng, đồng thời từ trong tăng chúng chọn ra 10 Hiền chúng để đảm nhiệm 10 chức, được chia làm Tây tự và Đông tự. Tây tự gồm: Thủ tọa (Tiền đường, Hậu đường), Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục; Đông tự gồm: Giám tự, Duy na, Phó tự, Điển tọa, Trực tuế. Ngoài ra còn đặt các chức vụ như Liêu nguyên, Đường chủ, Hóa chủ, Trang chủ, Tri điện..., tóm lại, tất cả mọi việc trong tùng lâm đều có người chuyên môn chịu trách nhiệm. Tất cả các việc triêu tham(tham thiền buổi sáng), tịch tụ(nhóm họp buổi tối), trai chúc(cơm cháo), phổ thỉnh(thỉnh toàn thể chư tăng)... của đại chúng đều có qui định. Học chúng nhóm họp ở Tăng đường, thứ tự chỗ ngồi được sắp xếp theo năm thụ giới; đồng thời đặt những chiếc giường dài liền nhau để ngồi thiền và nghỉ ngơi. Còn Trụ trì thì phải là người có đủ đạo nhãn và đức hạnh, cư trụ trong Phương trượng, thường lên Pháp đường nói pháp, hỏi đạo, chỉ dạy để nhắc nhở và điều phục đại chúng. Những việc như vậy đã trở thành nếp mới trong tùng lâm, nhưng khác với luật pháp. Người đời gọi nếp sinh hoạt mới này là Bách trượng thanh qui. Từ đó về sau, các tùng lâm trong nước đều y theo thanh qui này mà làm phép tắc sinh hoạt tự viện. Tuy nhiên, đời sau cũng có người cho rằng Thiền lâm thanh qui là trái với giới luật Phật chế, nên tỏ thái độ chê bai. Trải qua thời gian cuối đời Đường, sang đời Ngũ đại thì bộ Bách trượng thanh qui dần dần bị thất lạc, hiện nay chỉ còn thấy một phần trong 2 sách Thiền môn qui thức và Bách trượng qui thằng tụng của Dương ức. Sau Bách trượng thanh qui, ở Trung quốc có những thanh qui khác lần lượt được soạn ra như sau: 1. Thiền uyển thanh qui (Sùng ninh thanh qui), 10 quyển, do ngài Tông trách soạn vào đời Tống. 2. Nhật dụng tiểu thanh qui (Nhập chúng nhật dụng thanh qui; Nhập chúng thanh qui, Nhật dụng qui phạm), 1 quyển, do Thiền sư Vô lượng Tông thọ ở Thụy nghiêm soạn. 3. Tùng lâm giáo định thanh qui tổng yếu(Hàm thuần thanh qui, Giáo định thanh qui, Vụ châu thanh qui), 2 quyển, do Thiền sư Duy miễn ở Kim hoa, Vụ châu soạn. 4. Thiền lâm bị dụng thanh qui (Chí đại thanh qui, Trạch sơn thanh qui, Đông lâm thanh qui), 10 quyển, do Thiền sư Nhất hàm ở Trạch sơn thuộc Đông lâm soạn vào đời Nguyên. 5. Huyễn trụ am thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Trung phong Minh bản soạn. 6. Thiền uyển thanh qui tổng yếu, 2 quyển, do Thiền sư Đạo tề soạn. 7. Thôn tự thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Kế hồng soạn. 8. Thọ xương thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Đạo thịnh soạn vào đời Minh. Ngoài ra, Thiền sư Đức huy trụ trì núi Bách trượng, tỉnh Giang tây, vâng sắc vua, đem 4 bản Sùng ninh thanh qui, Hàm thuần thanh qui, Chí đại thanh qui và Huyễn trụ am thanh qui, lược bỏ bớt những chỗ rườm rà, bù thêm vào những chỗ thiếu sót mà biên soạn lại bộSắc tu Bách trượng thanh qui 2 quyển, chia ra làm 9 chương, sửa lại làm 2 quyển. Từ đời Minh đến nay, bản này rất thông dụng, tuy tên gọi vẫn là Bách trượng thanh qui nhưng tinh thần nội dung thì đã cách Cổ thanh qui xa lắm. Trong 9 chương, 4 chương đầu qui định về các nghi thức chúc thánh, quốc kị, kì đảo, Phật đản tiết, Niết bàn tiết, Đạt ma kị, Bách trượng kị và Kị chư Tổ nhiều đời của các chùa, đây đều là các nghi thức mà trong luật không qui định hoặc trong Cổ thanh qui còn thiếu. Từ chương 5 đến chương 9 là những qui chương chế độ của chính tùng lâm. Ngoài ra, các tông phái khác cũng phỏng theo qui chế trong thanh qui này mà soạn ra các thanh qui của tông phái mình, như ngài Tỉnh ngộ thuộc Luật tông soạn Luật uyển sự qui 3 quyển, ngài Tự khánh tông Thiên thai soạn Giáo uyển thanh qui 1 quyển... Từ sau đời Minh, qui chế của Giáo môn rơi vào tình trạng hỗn loạn, các hành pháp trong tùng lâm cũng lỏng lẻo theo. Ở Nhật bản, về việc soạn thuật thanh qui thì có Thiền sư Đạo nguyên soạn Vĩnh bình thanh qui, Thiền sư Thiệu cẩn soạn Oánh sơn thanh qui, ngài Tức trung Huyền thấu soạn Vĩnh bình tiểu thanh qui, ngài Thanh chuyết Chính trừng soạn Đạo giám thanh qui, ngài Đông tiệm Dị công soạn Tùng lâm thập di lược thanh qui, ngài Vô trước Đạo trung soạn Tiểu tùng lâm thanh qui... Đến thời đại Đức xuyên thì có ngài Ẩn nguyên Long kì soạn Hoàng bá thanh qui, Tiểu tùng lâm lược thanh qui của phái Diệu tâm, ngài Diện sơn thuộc tông Tào động soạn Tăng đường thanh qui... Ngoài ra còn có ngài Từ không thuộc tông Tịnh độ soạn Liên môn thanh qui, ngài Nhật đăng tông Nhật liên soạn Thảo sơn thanh qui... Về các điều mục chủ yếu được thực hành trong các tùng lâm hiện đại thì có: 1. Kết hạ và kết đông: Bốn lễ lớn được tùng lâm rất xem trọng là Kết hạ, Giải hạ, Đông chí và Niên triêu. Kết hạ tức kết hạ an cư, cũng gọi kết chế, vốn bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 hoặc tháng 5 hằng năm theo âm lịch; Giải hạ thì vào ngày 15 tháng 7 hoặc tháng 8, nhưng từ đời Nguyên về sau thì trước 1 ngày có giảng tập lễ nghi để tiện cho việc chuyên tâm tu đạo trong 3 tháng; Kết đông thì trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng năm sau, kết chế an cư, chuyên tu Thiền pháp. Tức thường gọi là Đông tham hạ giảng. 2. An đơn: Tỉ khưu đã thụ giới Cụ túc, nếu y bát giới điệp đều đủ, khi hành cước(đi tham học) đến các chùa đều có thể quải đơn tạm trú. Nếu quải đơn (ở tạm) đã lâu, biết là người có hạnh kiểm tốt có thể sống chung thì cho vào Thiền đường, gọi là An đơn (được chính thức an trụ).3. Đại thỉnh chức: Tức việc sắp xếp nhân sự trong một chùa. Đây là sự kiện quan trọng vào mùa đông trong tùng lâm, thông thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 hằng năm. 4. Thiếp đơn: Chỉ cho việc công bố danh sách các chức sự và nhân viên thường trú của một chùa, thường thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 hằng năm. 5. Đả thất: Cầu hẹn ngày chứng ngộ, mỗi năm từ ngày 15 tháng 10 âm lịch đến ngày mồng 7 tháng giêng năm sau, Thiền chúng trong tùng lâm cử hành Thiền thất, cứ 7 (thất) ngày là 1 kì, hoặc đả thất (7 ngày), hoặc đả thập thất (70 ngày) không nhất định. Đây là việc làm quan trọng trong kì Kết đông. 6. Phổ thỉnh(cũng gọi Xuất pha): Thỉnh toàn thểđại chúng làm việc. 7. Tuế kế: Báo cáo tổng kết việc chi thu trong năm của tùng lâm. 8. Túc chúng: Phân xử những vị tăng vi phạm thanh qui. 9. Bảng trạng bài thị: Chỉ cho phương thức thông tri hành sự trong tùng lâm, tức thông báo cho đại chúng trong tùng lâm biết các việc bằng cách viết yết thị lên bảng gỗ treo ở các nơi như Pháp đường, Tăng đường, chúng liêu... 10. Chung cổ pháp khí: Chuông trống pháp khí dùng làm hiệu lệnh trong tùng lâm.[X.Thiền tịch chí Q.thượng; điều Truyền thiền qui pháp trong Đại tống tăng sử lược; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, phần cuối; Thiền tông tùng lâm chế độ dã Trung quốc xã hội]. (xt. Nam Hoài Cẩn).
thanh quỷ
Loại quỷ xanh, luôn miệng trách mắng tội nhân trong địa ngục—Blue or green demons who abuse the sufferers in Hades.
thanh sinh niệm tụng
6494為祕藏記所載五種念誦之一。又作生念誦。謂於心中觀想法螺,念想由此發出妙音聲,隨聲而誦。(參閱「五種念誦」1178)
; (聲生念誦) Cũng gọi Sinh niệm tụng. Một trong 5 cách niệm tụng nói trong Bí tạng kí. Nghĩa là trong tâm quán tưởng pháp loa, niệm tưởng từ pháp loa này phát ra âm thanh mầu nhiệm, rồi theo âm thanh ấy mà tụng. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).
thanh sách
3700西藏名全稱 Bod-kyi yul-du chos daṅ chos-smra-ba ji-ltar byuṅ-baḥi rim-pa deb-ther sṅon-po。意爲西藏教法流通與教說者出現順序之青冊。略稱 Deb-ther sṅon-po,意爲青色書冊。爲西藏佛教史籍之一。又稱青史。著者爲廓譯師雄努剖(藏 Ḥgos-lotsā-ba Gshon-nu-dpal,1392~1481,又稱童子吉祥)。本書爲西藏佛教史書中最可信憑者,所述自松贊崗薄時代迄成書年代(1478)止,共歷八百四十八年。現存者爲功德林(藏 Kun-bde-gliṅ)版青史,計四八五頁,分十五章。內容始自印度及西藏古代期之佛教弘通史,並述及各派教義及其傳承概況。其最大特色爲採用一○二七年傳入西藏之干支曆(藏 rab-ḥbyuṇ)。此外,亦以敘述客觀及年代正確著稱。該書不僅爲佛教史籍,且對王統、政治史、社會史等之記述亦極詳確,奇蹟色彩較淡。書中徵引之古代文獻頗多失傳者,故透過該書可獲知若干古代之重要記錄。其中資料,有不少參照漢文史料者。又該書之古代史部分,其所計算之年代,脫落干支曆一週期。本書現有英譯本及日譯本。〔西藏撰述佛典目錄、略述西藏史籍─青史(林傳芳,內明雜誌第十一期)〕
; (青册) Tạng (gọi đủ): Bod-kyi yul-du chos daí chos-smra-ba ji-ltar byuí-ba#i rim-pa deb-ther síon-po. Gọi tắt:Deb-ther síon-po. Cũng gọi: Thanh sử. Bộ sử nói về sự lưu thông giáo pháp ở Tây tạng và thứ tự xuất hiện của các giáo thuyết. Tác giả là Khuếch dịch sư hùng nỗ phẫu (Tạng: Fgos-lotsà-ba Gshon-nudpal, 1392-1481, cũng gọi Đồng tử Cát tường). Đây là bộ sử đáng tin cậy nhất trong các sách sử của Phật giáo Tây tạng. Nội dung nói về các sự kiện từ thời đại Tùng tán cương bạc đến năm hoàn thành sách này (1478) thì dừng, tức khoảng thời gian 848 năm. Bản hiện còn là bản Thanh sử của Công đức lâm (Tạng: Kun-bde-glií) gồm 485 trang, chia làm 15 chương. Nội dung bắt đầu từ lịch sử hoằng thông Phật giáo ở Ấn độ và Tây tạng thời xưa, đồng thời trình bày khái quát về giáo nghĩa và sự truyền thừa của các phái. Đặc sắc lớn nhất của sách này là sử dụng lịch Can chi (Tạng:Rab-#byuị) được truyền vào Tây tạng năm 1027. Ngoài ra, sách này cũng nhờ trình bày một cách khách quan và niên đại chính xác mà được nổi tiếng. Sách này không những chỉ là lịch sử Phật giáo mà còn ghi chép về các Vương triều cũng như lịch sử chính trị, xã hội một cách rất rõ ràng, xác thực, màu sắc huyền thoại rất mờ nhạt. Những văn hiến cổ đại được trưng dẫn trong sách phần lớn đã bị thất truyền, do đó, qua sách này, người ta có thể biết được một số ghi chép quan trọng của thời xưa. Về phần sử liệu thì tác giả cũng tham chiếu rất nhiều sử liệu Hán văn. Còn sự tính toán về niên đại của phần lịch sử cổ đại trong sách này thì sót mất một chu kì lịch Can chi. Sách này hiện có các bản dịch tiếng Anh và tiếng Nhật. [X. Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục; Lược thuật Tây tạng sử tịch – Thanh sử (Lâm truyền phương, Nội minh tạp chí số 11)].
thanh sơn thiền viện
3699位於香港青山(古稱屯門山)之古剎。唐宋之時已有此寺,時稱杯渡庵、杯渡寺,原爲紀念杯渡禪師而建立。寺之正殿後方右側有石佛巖,稱爲杯渡洞,洞前有杯渡之石彫像。此處景色絕佳,風光明媚,爲香港佛教最古之遺蹟。(參閱「杯渡山」3314)
; (青山禪院) Tên ngôi chùa cổ ở núi Thanh sơn (xưa gọi là núi Đồn môn) tại Hương cảng. Chùa này đã có từ đời Đường, bấy giờ gọi là am Bôi độ, chùa Bôi độ, vốn được xây cất để kỉ niệm Thiền sư Bôi độ. Ở bên phải phía sau chính điện của chùa có động Thạch Phật gọi là động Bôi độ, phía trước động có tượng Thiền sư Bôi độ khắc bằng đá. Cảnh sắc nơi này rất đẹp, gió mát trăng thanh, là di tích xưa nhất của Phật giáo ở Hương cảng. (xt. Bôi Độ Sơn).
thanh sơn tự
4660位於臺灣南投名間鄉。創建於清道光年間(1821~1850)。由陳姓祖先自福建漳州赤水延壽寺迎請清水祖師來臺奉祀,至清咸豐五年(1855),始集資募建,改稱清山寺,供奉地藏菩薩,香火鼎盛。日據時期,改建學校,寺產受侵,年久失修,幾至荒廢。民國六十年(1971),演空尼師晉任住持,籌劃重建。六十四年大殿落成,殿宇宏偉,寺貌肅穆莊嚴。
thanh sắc thanh quang
Green colored of green light.
thanh sử
History book.
thanh tao
Noble—Elevated.
thanh thanh
Greenish.
thanh thoát
Spontaneously.
thanh thuỷ giáo
4661清代民間宗教之一,白蓮教分支。山東兗州壽張黨家莊王倫(?~1774)繼張既成,而為教首,以穀陽縣為根據地,自稱曾遇異人傳授符籙,能召鬼神,又聲稱黑風劫將至,入教即可避禍。廣招徒眾,奉彌勒佛、無生聖母,聲稱聖母降生,刀槍不入。教內分文、武兩場,文場之徒眾稱為文弟子,習運氣練功,不許退教;武場之弟子稱為武弟子,習拳棒,可半途退教,稱為太平去。該教流傳於山東、河北等地,乾隆初年,即於山東省西方農村中召集信徒,舉行宗教集會。乾隆三十九年(1774)王倫曾領導徒眾作亂,稱為清水教之亂,或稱王倫之亂。〔勦捕臨清逆匪紀略、聖武記(魏源)〕
thanh thuỷ nham tự
4661位於臺灣彰化社頭鄉東大武山西麓。清雍正六年(1728)泉州僧覺通初結草庵,至乾隆二十三年(1758)以募化所得改建寺宇,迄今已三百餘年,為本省著名古剎之一。民國六十五年(1976)三月,該寺與日本神奈川縣箱根福壽院締結兄弟寺。
thanh thuỷ tự
4660位於臺灣高雄林園鄉。創建於清康熙五年(1666)。初僅茅蓬數間,至道光十四年(1834)始擴建為莊嚴寺宇,民國十六年(1927)一度重修,後於五十三年再度改建。
thanh thái quốc
4663即阿彌陀佛所居之國土名。意指清淨舒泰之國。阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經載,阿彌陀佛之國土,號清泰,其與父母、諸聖眾共住於國中。然無量壽經等則廣宣說阿彌陀佛為西方極樂世界之教主,常住其中,與前者所載阿彌陀佛所居國土名為清泰、有父母等眷屬,兩說迥異,故古來對此二土及其報化等有諸種論說。安樂集卷上以為極樂為淨土,彌陀報身所居;清泰為穢土,彌陀化身所居。大乘法苑義林章卷七末載,清泰、極樂係為同處,更就報、化之配屬有二說,一說以為經中所說有父母等眷屬,乃作為西方極樂通於化土之證明,另一說則以為所謂有父母等,係為他受用身之示現,實無此等事,故彼土唯報非化。另據釋淨土群疑論卷六亦有三說,前二說以清泰、極樂為同處,第三說以為清泰為穢土、極樂為淨土,阿彌陀佛於清泰受胎生,於極樂成正覺。〔法華經玄贊卷七、阿彌陀經疏(元曉)〕
; Xem Cực lạc quốc.
; (清泰國) Tên cõi nước Phật A di đà cư trụ. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh thư thái. Kinh A di đà cổ âm thanh vương đà la ni ghi rằng: Cõi nước của Phật A di đà hiệu là Thanh thái, Ngài và cha mẹ cùng các Thánh chúng đều an trụ trong cõi nước ấy.Nhưng kinh Vô lượng thọ thì nói đức Phật A di đà là Giáo chủ của thế giới Cực lạc ở phương Tây, Ngài thường an trụ trong thế giới ấy, như vậy, thuyết này khác xa với thuyết trên cho rằng cõi nước đức Phật A di đà cư trụ tên là Thanh thái, có quyến thuộc như cha mẹ, Thánh chúng..., vì thế xưa nay đã có các luận thuyết khác nhau về 2 cõi nước này và về Báo thân, Hóa thân của Phật. Đối với vấn đề này, quan điểm của tác giả An lạc tập quyển thượng cho rằng Cực lạc là Tịnh độ, do Báo thân của Phật A di đà cư trụ; còn Thanh thái là Uế độ, do Hóa thân Phật A di đà cư trú. Còn Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7, phần cuối, thì cho rằng Thanh thái và Cực lạc là cùng một chỗ, nếu dựa theo sự phối hợp giữa Báo thân và Hóa thân thì có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trong kinh nói có quyến thuộc như cha mẹ là để chứng minh Cực lạc ở phương Tây chung cho cả Hóa độ; thuyết thứ 2 thì cho rằng kinh nói có cha mẹ là sự thị hiện của Tha thụ dụng thân chứ thực tế thì không có việc này, cho nên cõi ấy chỉ có Báo thân, không có Hóa thân. Ngoài ra, luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 6 cũng nêu ra 3 thuyết: Hai thuyết trước chủ trương Thanh thái và Cực lạc là cùng một chỗ, còn thuyết thứ 3 thì cho rằng Thanh thái là Uế độ, đức Phật A di đà chịu thai sinh ở cõi Thanh thái và thành Chính giác ở Cực lạc. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.7; A di đà kinh sớ (Nguyên hiểu)].
thanh thường trú
Mimansaka (S) Một tôn phái ngoại đạo thời thế kỷ VII.
thanh thản
Serene.
thanh thế
Prestige—Fame and influence.
thanh thế tông
4661(1678~1735)聖祖第四子,名胤禎。在位十四年(1722~1735)。少時受章嘉活佛(章嘉呼圖克圖)之教,又隨迦陵性音習禪,自號圓明居士。即位後嚴禁基督教。於拉薩設置駐藏大臣,與王公大臣同參禪。極為重視雲棲袾宏(1535~1615)之淨土教。著御撰語錄十九卷,另撰有揀魔辨異錄八卷以駁斥三~派(臨濟禪一派)之說,且於雍正十一年(1733)禁絕該派。(參閱「三~派」594)
; (清世宗) Vua Thế tông nhà Thanh, con thứ 4 của Thánh tổ, tên Dận chân. Ông làm vua trong 14 năm (từ năm 1722 đến năm 1735). Lúc còn trẻ, ông được Phật sống Chương gia (Chương gia hô đồ khắc đồ) giáo hóa, lại theo ngài Ca lăng Tính âm tu tập thiền định, tự lấy hiệu là Viên minh Cư sĩ. Sau khi lên ngôi, ông nghiêm cấm mọi hoạt động của Cơ đốc giáo. Ông đặt một vị Sứ thần ở Lha-sa, Tây tạng, cùng với các Vương công Đại thần đồng tham thiền. Ông rất coi trọng Tịnh độ giáo của ngài Vân thê Châu hoành (1535-1615). Nhà vua có các tác phẩm: Ngự soạn ngữ lục 19 quyển, Giản ma biện dị lục 8 quyển. Tác phẩm sau nhằm bác bỏ thuyết phái Tam phong(một phái thuộc tông Lâm tế) và đến năm Ung chính 11 (1733) thì cấm hẳn phái này không được sinh hoạt. (xt. Tam PhongPhái).
thanh thỏ
Quiet—Calm.
thanh thủy giáo
(清水教) Một trong các tông giáo dân gian Trung quốc ở đời Thanh, một chi phái của Bạch liên giáo, do Vương luân (?-1774) kế thừa Trương kí thành ở Duyện châu, tỉnh Sơn đông làmgiáothủ, lấy huyện Cốc dương làm căn cứ địa, tự xưng gặp được dị nhân truyền cho bùa phép, có thể triệu thỉnh quỉ thần, lại tung tin rằng kiếp Hắc phong sắp đến, nếu theo đạo thì tránh được tai họa. Vương luân lại kêu gọi đồ chúng thờ Phật Di lặc, Vô sinh thánh mẫu, phao tin Thánh mẫu giáng sinh, dao chém không đứt, giáo đâm không thủng. Trong đạo chia làm 2 ban văn, vũ; đồ chúng của ban văn gọi là Văn đệ tử, luyện tập khí công, không được bỏ đạo; đồ chúng ban vũ gọi là Vũ đệ tử, học tập võ thuật, được phép bỏ đạo nửa chừng, gọi là Thái bình khứ. Tông giáo này lưu hành ở các vùng Sơn đông, Hà bắc... Vào những năm đầu niên hiệu Càn long, phái này triệu tập tín đồ vùng nông thôn ở phía tây tỉnh Sơn đông, cử hành Đại hội tông giáo. Năm Càn long 39 (1774), Vương luân lãnh đạo đồ chúng nổi loạn, gọi là loạn Thanh thủy giáo, hoặc loạn Vương luân.[X. Tiễu bộ lâm thanh nghịch phỉ kỉ lược; Thanh vũ kí (Ngụy nguyên)].
Thanh Thủy Tự
(清水寺, Kiyomizu-dera hay Seisui-ji): ngôi chùa trung tâm của Bắc Pháp Tướng Tông, tọa lạc tại số 1-294 Kiyomizu (清水), Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Âm Vũ Sơn (音羽山), nơi tham bái hành hương thứ 16 trong suốt 33 nơi tham bái chính ở vùng Tây Quốc (西國, Saikoku). Tượng thờ chính của chùa là Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音). Vào năm 796, ngôi Quan Âm Tự (觀音寺) được dời đến vùng đất này, rồi đệ tử của Báo Ân Đại Sư (報恩大師) là Diên Trấn (延鎭) mới làm Tổ khai sơn chùa, còn hào tộc Điền Thôn Ma Lữ (田村麻呂) thì có công khai sáng chùa. Mấy năm sau các đường vũ của chùa được dựng lên và chùa trở thành ngôi chùa sắc nguyện của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), với tên gọi là Thanh Thủy Tự. Vào năm 811, chùa trở thành đạo tràng trấn hộ quốc gia, triều đình và hoàng thất quy y theo rất nhiều, nên chùa rất hưng thạnh. Sau đó, chùa phụ thuộc vào Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chuyên tu cả Chơn Ngôn và Pháp Tướng, nhưng do chùa bị lôi cuốn vào cuộc phân tranh với Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), nên cũng bao lần bị đốt cháy. Sau cuộc loạn Bình Nguyên (平源) thì chùa hoàn toàn suy thối, nhưng trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Cửu (建久, 1190-1198) thì chùa lại được tái kiến. Vào thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi) thì Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) cúng dường đất xây chùa nên các đường vũ mới được tạo dựng nên. Sau đó chùa lại trải qua đến ba lần bị cháy rụi, rồi đến năm 1633 thì được Tướng Quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu) tái kiến lại. Hiện tại có Thành Tựu Viện (成就院), Thái Sản Tự (泰産寺), Từ Tâm Viện (慈心院), Lai Nghênh Viện (來迎院), v.v. Chánh điện của chùa được tái kiến lại do sự hỗ trợ của Đức Xuyên Gia Quang, vẫn còn bảo trì cho đến ngày nay. Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở kinh đô Kyoto.
thanh tiền nhất cú thiên thánh bất truyền
(聲前一句千聖不傳) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thanh tiền nhất cú(một câu trước tiếng nói) chỉ cho một câu nói khi chưa phát ra âm thanh, một câu nói khi cha mẹ chưa sinh, đây là Chính pháp nhãn tạng, Niết bản diệu tâm của Phật tổ. Thiên thánh (nghìn bậc Thánh) là chỉ cho chư Phật, chư Tổ trước đã ra đời. Nghĩa là một câu Chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm này chẳng phải lời, chẳng phải câu, cũng chẳng phải điều mà nghìn Phật muôn Tổ có thể truyền được. Nhóm từ này hiển bày ý nghĩa là đại sự tông thừa hướng thượng (chân lí thiền) chẳng phải cái mà người khác có thể trao truyền, mà phải do chính mình thực tế thể ngộ chứng đắc. Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 thượng) nói: Thanh tiền nhất cú, thiên thánh bất truyền, chính mình chưa từng thấy thì như cách muôn trùng. Cho dù có biện biệt được trước khi phát ra âm thanh, có cắt đứt đầu lưỡi của mọi người trong thiên hạ thì cũng chưa hẳn là kẻ đã thấy tính.
thanh tiền nhất cú thiên thánh bất truyện
6496禪林用語。聲前一句,指未發出音聲以前之一句、父母未生以前之一句,此為佛祖之「正法眼藏,涅槃妙心」。千聖,指前所出世之諸佛列祖。即意謂此「正法眼藏,涅槃妙心」之一句,既非「語」亦非「句」,亦非千佛萬祖能傳者;表示向上宗乘之大事亦非他人所能傳授,而須由自身實際體悟證得。碧巖錄第七則(大四八‧一四七上):「聲前一句,千聖不傳,未曾親覲,如隔大千。設使向聲前辨得,截斷天下人舌頭,亦未是性懆漢。」
thanh toán
To liquidate.
thanh tra
To inspect.
thanh trai
4675清淨之持齋。齋,莊嚴潔淨之意,尤指飲食、動作、思慮、意念而言。據釋氏要覽卷下載,民間有辰刻飲一杯水,終日不食之俗,稱為清齋。又指茹素戒葷,或指淨室之意。
; Giữ trai giới thanh tịnh—Pure observance of monastic rules for food; to eat purely, i.e. vegetarian food; fasting.
; (清齋) Trì trai thanh tịnh. Trai nghĩa là trang nghiêm thanh khiết, nhất là chỉ cho thức uống ăn, động tác, tư duy, ý niệm... Trong Phật giáo, từ 12 giờ trưa đến sáng sớm hôm sau không ăn, gọi là Trai. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ thì dân gian có phong tục uống một chén nước vào giờ Thìn và suốt ngày không ăn, gọi là Thanh trai. Thanh trai cũng chỉ cho ăn chay, kiêng các loại rau cay nồng như hành, tỏi... hoặc chỉ căn tịnh thất.
thanh trà môn giáo
4664明末至清中葉民間宗教之一。為明末聞香教主王森之子孫所創。教徒吃素,奉彌勒、觀音、無生老母等神佛。初一上香,供清茶三杯,並誦經卷。收徒時除授三皈五戒外,並授各種咒語。招收徒眾對象多以貧苦農民、低生產者及無業遊民為主。教徒拜見師父及王姓者皆須磕頭獻錢,稱為朝上。每逢正月、十二月定期獻錢一次,稱為根基錢或福果錢,意即種下彌勒下凡時代之根基與幸福。該派主要經卷有九蓮如意皇極寶卷真經、元亨利貞鑰匙經、三教應劫總觀通書等。其中後者內藏明顯之反清復明思想,對清代民間起義有很大之影響,二百年來潛伏傳播於冀、晉、豫、鄂、皖、蘇等地,清嘉慶十八年(1813)後,清廷大力鎮壓,王氏家族被殺戮放逐,始告衰微。
; (清茶門教) Một trong các tông giáo dân gian lưu hành vào cuối đời Minh đến giữa đời Thanh, Trung quốc, do con cháu của Vương sâm(Giáo chủ Văn hương giáo cuối đời Minh)sáng lập. Giáo đồ tông giáo này ăn chay, thờ thần Phật như Di lặc, Quan âm, Vô sinh lão mẫu... Ngày mồng 1 dâng hương, cúng 3 tách trà xanh (Thanh trà) và tụng kinh. Lúc thu nhận tín đồ, ngoài việc truyền thụ Tam qui, Ngũ giới còn truyền các chú ngữ. Đối tượng đồ chúng được thu nhận phần nhiều là thành phần nông dân nghèo khổ, những người có cuộc sống thấp kém và dân lang thang vô nghề nghiệp là chính. Những giáo đồ bái kiến Giáo chủ và người mang họ Vương đều phải lạy sátđầu xuống đất và dâng hiến tiền bạc, gọi là Triều thướng (dâng Thiên tử). Hàng năm vào tháng giêng và tháng chạp theo định kì dâng hiến tiền bạc một lần, gọi là Căn cơ tiền hoặc Phúc quả tiền, hàm ý là gieo trồng hạt giống nền tảng và hạnh phúc vào thời ngài Di lặc giáng sinh. Kinh điển chủ yếu của phái này gồm có Cửu liên như ý hoàng cực bảo quyển chân kinh, Nguyên hanh lợi trinh thược thỉ kinh, Tam giáo ứng kiếp tổng quan thông thư... Trong đó, Tam giáo ứng kiếp tổng quan thông thư bên trong chứa đựng tư tưởng phản Thanh phục Minh rõ ràng, có ảnh hưởng rất lớn đối với các cuộc khởi nghĩa của nông dân đời Thanh, khoảng 200nămtrở lại đây vẫn ngấm ngầm truyền bá tại các vùng như Kí, Tấn, Dự, Ngạc, Hoàn, Tô..., từ sau năm Gia khánh 18 (1813), triều đình nhà Thanh ra sức trấn áp, gia tộc họ Vương bị giết hại và lưu đày, từ đó Thanh trà môn giáo mới suy tàn.
thanh trước
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, Nam Việt Nam. Ban đầu chùa có tên là Phật Linh do các mục đồng dựng lên năm 1826. Đến năm 1851, Hòa Thượng Quý Chơn Hội đứng ra xây chùa và lấy tên là Thanh Trước Tự. Chùa đã trải qua bảy đời truyền thừa. Năm 1896, Hòa Thượng Hải Tràng cho trùng tu lần thứ nhất. Từ năm 1941, Hòa Thượng Hoằng Thông đã cho trùng tu các năm 1946 và 1958—Name of a famous ancient pagoda located in Gò Tre hamlet, Long Thuận village, Gò Công town, South Vietnam. The pagoda was built by some herdsmen in 1826 and called Phật Linh. Up to 1851, Most Venerable Quý Chơn Hội took responsibility of rebuilding the pagoda and remaned it Thanh Trước. It has been headed by seven successors. In 1896, Most Venerable Hải Tràng had it restored for the first time. Since 1941, Most Venerable Hoằng Thông, Head of the pagoda, had the pagoda rebuilt in 1946, 1958.
thanh trượng
6495即錫杖。錫杖上端為金屬製成,上懸鐶,振之則發出聲響,禽獸等類聞聲自然警覺避開,故稱聲杖。據十誦律卷五十六載,佛陀往昔住於寒園林中,有諸多腹行毒蟲,嚙咬諸比丘,佛陀即言應製作有聲之杖,以驅遣毒蟲。(參閱「錫杖」6324)
; Cây gậy đã được Đức Phật cho thọ giới, dùng để đuổi những loại côn trùng độc—The sounding or rattling staff, said to have been ordained by the Buddha to drive away crawling poisonoue insects.
; (聲杖) Chỉ cho tích trượng. Đầu trên của tích trượng được làm bằng kim loại, có treo những cái vòng, khi rung gậy thì phát ra âm thanh, các loài cầm thú nghe tiếng giật mình bỏ chạy, vì thế gọi là Thanh trượng (gậy phát ra tiếng). Cứ theo luật Thập tụng quyển 56 thì thủa xưa, lúc đức Phật trụ ở trong rừng Hàn viên(vườn lạnh) có rất nhiều trùng độc bò sát cắn các tỉ khưu, do đó Phật liền dạy nên làm gậy phát ra tiếng để xua đuổi trùng độc. (xt. Tích Trượng).
thanh trượng vương
Nīladaṇḍa (S) Nễ la nan noa vương Một trong Thập Phẫn nộ vương.
thanh trạch mãn chi
4674(1863~1903)日本真宗大谷派教育家。名古屋藩士之子,於學醫中途入僧籍。由本山派遣至東京進修,自文科大學哲學科畢業後,又於大學院專攻宗教哲學。其後,任真宗京都中學校長兼高倉學寮講師。患肺病靜養期間,深究阿含經,並與青年求道者談論信仰,又在東京本鄉設浩浩洞,出版精神界月刊。曾任真宗大學學監。著有精神講話、懺悔錄、宗教哲學骸骨等書,總為清澤全集,凡三卷。
thanh trần
Saddarammana (skt)—The audible object.
thanh trần đắc đạo
6497指依音聲而得道。聲,為耳根之對象,屬六塵(六境)之一,故又作聲塵。即聽聞佛、菩薩說法,乃至歌唄等音聲,由此證入佛道。大佛頂首楞嚴經卷六載有觀世音菩薩之音聲圓通(大一九‧一三○下):「我今白世尊:佛出娑婆界,此方真教體,清淨在音聞;欲取三摩提,實以聞中入,離苦得解脫。」故知觀音大士以娑婆世界之眾生耳根偏利,音聲得道最易,故以聲塵為教體,化導娑婆之眾生。 天台宗以聲塵得道為論題,認為一般初學佛者以聲塵因緣為限。日本以讚唄、唸佛號及歌舞音曲等之供養稱為聲佛事,即由此義而來。〔法華經玄義卷六下、仁王護國般若經疏卷一、起信論疏筆削記卷三、首楞嚴經義海卷十八、宋高僧傳卷三十〕(參閱「聲佛事」6495)
; (聲塵得道) Nương theo âm thanh mà được đạo. Thanh(tiếng nói)là đối tượng của nhĩ căn (lỗ tai), thuộc 1 trong 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), cho nên cũng gọi là Thanh trần. Tức lắng nghe Phật, Bồ tát nói pháp, cho đến nghe các âm thanh tán tụng Phạm bái... nhờ đó mà chứng nhập Phật đạo. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 nói về âm thanh viên thông của bồ tát Quán âm như sau (Đại 19, 130 hạ): Nay con bạch Thế tôn, Phật hiện cõi Sa bà. Chân giáo thể phương này, Thanh tịnh nhờ nghe tiếng. Muốn chứng tam ma đề, Thực phải từ tính nghe. Lìa khổ được giải thoát. Do đây mà biết bồ tát Quán âm cho rằng nhĩ căn của chúng sinh ở thế giới Sa bà đặc biệt nhạy bén, dùng âm thanh được đạo dễ nhất, cho nên Ngài lấy Thanh trần làm giáo thể để dìu dắt chúng sinh cõi Sa bà. Tông Thiên thai dùng từ ngữ Thanh trần đắc đạo làm luận đề, chủ trương người bắt đầu học Phật nên lấy nhân duyên Thanh trần làm giới hạn. Nhật bản gọi tán bái, niệm danh hiệu Phật và cúng dường ca múa, âm nhạc... là Thanh Phật sự, chính đã do ý nghĩa này mà ra. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 hạ; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.1; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.3; Thủ lăng nghiêm kinh nghĩa hải Q.18; Tống cao tăng truyện Q.30]. (xt. Thanh Phật Sự).
thanh trừ
To eliminate.
Thanh Trừng Tự
(清澄寺, Seichō-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 322-1 Seichō (清澄), Kamogawa-shi (鴨川市), Chiba-ken (千葉縣); hiệu núi là Thiên Quang Sơn (千光山), người thế gian thường gọi là Thanh Trừng Sơn (清澄山, Kiyosumiyama). Tượng thờ chính của chùa là Pháp Hoa Mạn Trà La (法華曼荼羅). Đây được xem là ngôi chùa nơi Nhật Liên xuất gia thọ giới, nên hiện tại nó gắn liền rất mật thiết với Nhật Liên Tông; nhưng nguyên gốc chùa thì không phải như vậy. Theo truyền thuyết của chùa, vào năm 771 (Bảo Quy [寶龜] 2) dưới thời đại Nại Lương, có vị Pháp Sư tên Bất Tư Nghì (不思議) đến thăm địa phương này, rồi lấy cây bách mà khắc thành tượng Hư Không Tạng Bồ Tát, từ đó nó trở thành tượng thờ chính của chùa. Sau đó, Từ Giác Đại Sư (慈覺大師) cũng đến đây rồi khắc bức tượng Bất Động Minh Vương, và từ nhân duyên đó chùa trở thành nơi của Dòng Thiên Thai Từ Giác. Theo như bài minh nơi pho Đại Hồng Chung được đúc vào năm 1392 vốn hiện còn lưu giữ trong nhà kho, có dòng chữ “Thiên Quang Sơn Thanh Trừng Tự ở Phòng Châu do Từ Giác Đại Sư sáng lập”, ta có thể biết được rằng dưới thời Nam Bắc Triều thì Viên Nhân (圓仁, Ennin) là người khai cơ chùa này. Nhưng hiện tại Thanh Trừng Tự là linh địa của Nhật Liên Tông. Khi mới bước vào cửa Sơn Môn, trong khuôn viên chùa ta sẽ thấy có tượng Hư Không Tạng Bồ Tát đứng trên đài cao phía bên tay trái, và chung quanh với rất nhiều cây đại thụ. Lúc còn nhỏ, Nhật Liên thường đến trước tượng này cầu nguyện rằng: “xin cho con trở thành bậc trí giả số một của Nhật Bản” suốt trong 37 ngày liên tục, đến sáng hôm sau thì nằm mộng thấy có vị lão tăng hiện đến ban cho xâu chuỗi ngọc. Chính điều này, Nhật Liên có ghi lại trong di văn của ông, và ngay trước bức tượng Hư Không Tạng này, có những cây tre thấm máu, tương truyền rằng đây là dấu hiệu chứng tỏ ngày Nhật Liên được mãn nguyện, ông thổ máu và máu ấy thấm vào cây này. Khoảng cuối thời đại Thất Đinh, chùa thuộc về Phái Trí Sơn của Chơn Ngôn Tông, nhưng sau đó thì hoàn toàn quy về Nhật Liên Tông.
thanh trừng tự
4674位於日本千葉縣安房郡清澄山上。號千光山金剛寶院。本屬真言宗,戰後改屬日蓮宗。傳說於寶龜二年(771)為不思議法師創建,圓仁再興後改隸天台宗。江戶初期時由智山派之門徒中興,而改宗為真言宗。寺內有日蓮宗始祖日蓮之登山宣布開宗宣言之遺蹟。
thanh tuyền
Limpid spring.
thanh tâm
3699爲靜慮二字之簡略字。係採「靜」字之「青」,採「慮」字之「心」,合而稱青心。靜慮,寂靜審慮之意。即住心一境,正審思慮、定慧均等之狀態。大毘婆沙論卷一四一(大二七‧七二六下):「靜謂寂靜,慮謂籌慮。此四地中定慧平等,故稱靜慮。餘隨有闕,不得此名。」瑜伽師地論卷三十三(大三○‧四六七下):「言靜慮者,於一所緣繫念寂靜,正審思慮,故名靜慮。」
; An unperturbed mind.
; Không không uế nhiễm—An unperturbed mind—Pure heart.
; (青心) Từ rút gọn của 2 chữ Tĩnh Lự, nghĩa là lấy chữ Thanh (...) trong chữ Tĩnh ( ...)và lấy chữ Tâm ( )trong chữ Lự ( ...)gọi chung là Thanh tâm. Tĩnh lự nghĩa là lắng tâm yên lặng, chỉ chuyên chú vào một cảnh(đối tượng) duy nhất để quán xét tư duy, tức là trạng thái định và tuệ ngang bằng nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 141 (Đại 27, 726 hạ) nói: Tĩnh nghĩa là vắng lặng, Lự nghĩa là tính liệu. Trong 4 địa này định tuệ ngang nhau, cho nên gọi là Tĩnh lự. Còn các địa khác thì có khuyết nên không được gọi là Tĩnh lự. Luận Du già sư địa quyển 33 (Đại 30, 467 hạ) nói: Tĩnh lự nghĩa là trước một đối tượng(sở duyên)nào đó, phải lắng tâm yên lặng để quán sát tư duy, cho nên gọi là Tĩnh lự.
thanh tân
Pure and fresh.
thanh tín nam
Upàsaka (S). Male lay devotee.
; Upasaka (skt)—Ưu Bà Tắc—Male lay devotees—See Upasaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Tắc in Vietnamese-English Section.
thanh tín nữ
Upàsikà (S). Female lay devotee.
; Upasika (skt)—Ưu Bà Di—Female lay devotees—See Upasika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Di in Vietnamese-English Section.
thanh tú
Beautiful—Elegant.
thanh tạng
4675清代開版之大藏經。分有三種:(一)龍藏,清世宗雍正十三年(1735)敕刊於北京,於乾隆三年(1738)完成。係以明代北藏為底本,而有所增減。凡一六六二部,七一六八卷,始自大乘經般若部以迄西土賢聖撰集,全依北藏之編次,另附目錄。版式為一行十七字,一面五行之折本。經板由武英殿移藏於北京柏林寺。清末慈禧太后贈與日本之龍藏,藏於日本龍谷大學圖書館。 (二)百衲藏,又稱百衲本。清穆宗同治五年(1866)楊仁山於金陵發起刻經,主張全國各大寺院分刻全藏。因集合北平、天津、金陵、江北、揚州、毘陵、蘇州及杭州諸刻經本而成,故稱百衲本。所收經論較龍藏略少,版式多從徑山本,然大小不一,至今未齊。 (三)頻伽藏,清宣統年間,上海頻伽精舍以日本弘教書院編印縮刷藏經為底本,改以四號活字印刷,為我國第一部用活版印刷之大藏經,裝為四十函,四一四冊,以千字文編函號,有總目一冊。本藏經雖據弘教藏,然弘教藏之精華「校勘記」,卻被全部刪除,故招致去菁華、取糟粕之諷。〔大清重刻龍藏彙記、佛典泛論(呂澂)、中國藏經譯印史(道安)、佛教聖典概論(深浦正文)〕(參閱「中文大藏經」1001)
; (清藏) Đại tạng kinh khắc bản vào đời Thanh, được chia làm 3 loại: 1. Long tạng: Do vua Thế tông nhà Thanh ban sắc khắc bản in tại Bắc kinh vào năm Ung chính 13 (1735), đến năm Càn long thứ 3 (1738) thì hoàn thành. Bản khắc này lấy Bắc tạng đời Minh làm bản gốc, có chỗ thêm bớt, gồm 1662 bộ, 7168 quyển, bắt đầu từ Bát nhã bộ thuộc kinh Đại thừa đến các soạn tập của các bậc Hiền Thánh ở Tây vực, hoàn toàn y theo thứ tự biên tập của Bắc tạng, ngoài ra có phụ thêm mục lục. Hình thức theo kiểu Chiết bản, mỗi dòng 17 chữ, mỗi mặt 5 dòng. Bản gỗ khắc kinh từ điện Vũ anh được dời về cất giữ ở chùa Bách lâm tại Bắc kinh. Long tạng do bà Thái hậu Từ hi tặng cho Nhật bản vào cuối đời Thanh được cất giữ ở thư viện của trường Đại học Đại cốc, Nhật bản. 2. Bách nạp tạng(cũng gọi Bách nạp bản): Do Dương nhân sơn phát khởi khắc kinh ở Kim lăng vào năm Đồng trị thứ 5 (1866) đời vua Mục tông nhà Thanh, chủ trương các chùa lớn trên toàn quốc chia nhau khắc trọn bộ Đại tạng. Tạng kinh này là do tập hợp các bản kinh khắc từ các nơi như Bắc bình, Thiên tân, Kim lăng, Giang bắc, Dương châu, Tì lăng, Tô châu và Hàng châu mà thành, vì thế nên gọi là Bách nạp bản. Các kinh luận được thu chép trong tạng này tương đối hơi ít hơn so với Long tạng; kiểu bản phần nhiều theo bản Kính sơn, nhưng khuôn khổ lớn nhỏ không giống nhau, cho đến nay vẫn chưa được sửa đổi. 3. Tần già tạng: Khoảng năm Tuyên thống đời Thanh, tinh xá Tần già ở Thượng hải, dùng tạng kinh rút gọn do thư viện Hoằng pháp của Nhật bản biên tập và ấn hành làm bản mẫu, thay đổi bằng cách in chữ rời cỡ 4, là bộ Đại tạng kinh đầu tiên của Trung quốc được ấn loát bằng hoạt bản, gồm 40 hòm, 414 tập, các hòm được đánh số theo thiên tự văn, có 1 tập Tổng mục lục. Tạng này tuy y cứ theo Hoằng giáo tạng, nhưng tinh hoa của Hoằng giáo tạng là phần Giáo Khám Kí thì lại bị cắt bỏ toàn bộ, đến nổi bị chê là bỏ tinh túy, giữ cặn bã. [X. Đại thanh trùng khắc Long tạng vậng kí; Phật điển phiếm luận (Lữ trừng); Trung quốc tạng kinh dịch ấn sử (Đạo an); Phật giáo thánh điển khái luận (Thâm phố Chính văn)]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
Thanh tịnh
清淨; C: qīngjìng; J: shōjō; S: pariśuddha|1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm; 2. Được làm trong sạch, làm an định; 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong; 4. Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với nhiễm (染), ô (汚).
thanh tịnh
4667梵語 śuddha, viśuddha, pariśuddha,巴利語 suddha, visuddha, parisuddha。音譯毘輸陀、輸陀、尾戍馱、戍馱。略稱淨。或作梵摩(梵 brahma,巴同)。指遠離因惡行所致之過失煩惱。一般常用身語意三種清淨。 有關清淨之種類,於諸經論中,均有詳載,如下:(一)無性之攝大乘論釋卷二就煩惱之伏斷述及二種清淨:(1)世間清淨,由有漏道之修行能暫時壓抑現行之煩惱,稱為世間清淨。(2)出世間清淨,由無漏道之修行能完全滅盡煩惱,稱為出世間清淨。⑵世親淨土論則分為:(1)器世間清淨,令環境變成清淨。(2)眾生世間清淨,住於其地眾生變為聖眾。二者係顯依、正二報皆清淨。(三)大智度論卷七十三列舉三種清淨,即:(1)心清淨,修學般若不起染心、瞋心等。(2)身清淨,心既清淨常得化生,故身清淨。(3)相清淨,得具足相好莊嚴身。(四)梁譯攝大乘論卷中謂四種清淨,即:本來自性清淨、無垢清淨、至得道清淨與道生境界清淨。(五)究竟一乘寶性論卷四說二種清淨,謂本來自性清淨分為二,即:(1)自性清淨,萬法皆空,本來即清淨。(2)離垢清淨,離煩惱而成為清淨。(六)顯揚聖教論卷三列舉尸羅、心、見、度疑、道非道智見、行智見、行斷智見、無緣寂滅、國土等九種清淨。(七)大乘本生心地觀經卷七列舉三昧、智慧、神通、現身、多聞等各有八種清淨。〔大品般若經卷十二歎淨品、大寶積經卷十四、卷三十九、無上依經卷上、集異門足論卷六、釋淨土群疑論卷一〕
; Viśuddhi (S), Purity, Subha (P), Śuddha (S) Tịnh Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili. Xem vô cấu.
; Parisuddhi, visuddhi (S). Pure and clean, free from evil and defilement, perfectly clean.
; Visuddhi (p)—Parisudhi or Visudhi (skt)—Purity—Purification. (I) Nghĩa của Thanh Tịnh—The meanings of Purity: 1) Dứt bỏ mọi sai phạm tà ác và nhiễm trược: Free from evil and defilement. 2) Hoàn toàn thanh tịnh: Pure—Chaste—Calm—Quiet—Purity—To purify (v)—To become purity—Serenity—Pure and clean—Perfectly clean. (II) Phân loại Thanh Tịnh—Categories of Purity: (A) Nhị chủng Thanh Tịnh—There are two kinds of purity: 1) Tự tánh thanh tịnh: Natural purity—Chân như. 2) Ly cấu thanh tịnh: Acquired purity through avoiding pollution. (B) Tam chủng Thanh Tịnh—Three kinds of purity: See Tam Thanh Tịnh in Vietnamese-English Section.
; (清淨) Phạm: Zuddha, Vizuddha, Parizu= ddha. Thanh Thế TôngPàli: Suddha, Visuddha, Parisuddha. Hán âm: Tì du đà, Du đà, Vĩ thú đà, Thú đà. Gọi tắt: Tịnh. Cũng gọi: Phạm ma (Phạm: Brahma). Trong sạch, tức đã xa lìa lỗi lầm phiền não do các việc làm xấu ác gây ra. Phổ thông thường dùng 3 thứ thanh tịnh là: Thân thanh tịnh, Khẩu thanh tịnh và Ý thanh tịnh, tức việc làm, lời nói và ý nghĩ đều trong sạch. Về chủng loại thanh tịnh, trong các kinh luận đều có nói rõ như sau: 1. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2 của ngài Vô tính nêu 2 loại thanh tịnh trong việc áp phục và đoạn trừ phiền não: a. Thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo hữu lậu, có thể tạm thời đè nén sự hiện hành của phiền não, không cho trỗi dậy, gọi là Thế gian thanh tịnh. b. Xuất thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo vô lậu, có năng lực diệt hết sạch phiền não, gọi là Xuất thế gian thanh tịnh. 2. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân nêu ra 2 thứ thanh tịnh: a. Khí thế gian thanh tịnh: Làm cho hoàn cảnh trở nên thanh tịnh. b. Chúng sinh thế gian thanh tịnh: Một khi khí thế gian đã thanh tịnh, thì chúng sinh ở trong đó biến thành Thánh chúng. Hai thế gian trên đây hiển bày nghĩa Y báo và Chính báo đều thanh tịnh. 3. Luận Đại trí độ quyển 73 nêu 3 thứ thanh tịnh: a. Tâm thanh tịnh: Người tu học Bát nhã sẽ không dấy lên tâm ô nhiễm và tâm sân hận. b. Thân thanh tịnh: Tâm đã thanh tịnh thì thường được hóa sinh, cho nên thân thanh tịnh. c. Tướng thanh tịnh: Thân được đầy đủ các tướng tốt đẹp, trang nghiêm. 4. Luận Nhiếp đại thừa quyển trung (bản dịch đời Lương) nêu 4 thứ thanh tịnh: a. Bản lai tự tính thanh tịnh. b. Vô cấu thanh tịnh. c. Chí đắc đạo thanh tịnh. d. Đạo sinh cảnh giới thanh tịnh. 5. Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4 nêu 2 thứ thanh tịnh, tức Bản lai tự tính thanh tịnh được chia làm 2: a. Tự tính thanh tịnh: Muôn pháp đều không, xưa nay vốn tức thanh tịnh. b. Li cấu thanh tịnh: Tách khỏi phiền não mà thành thanh tịnh. 6. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 liệt kê 9 thứ thanh tịnh: Thi la(tức giới) thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến thanh tịnh, Độ nghi thanh tịnh(hết ngờ vực), Đạo phi đạo trí kiến thanh tịnh, Hành trí kiến thanh tịnh, Hành đoạn trí kiến thanh tịnh, Vô duyên tịch diệt thanh tịnh và Quốc độ thanh tịnh. 7. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 7 liệt kê 8 thứ thanh tịnh: Tam muội thanh tịnh, Trí tuệ thanh tịnh, Thần thông thanh tịnh, Hiện thân thanh tịnh và Đa văn thanh tịnh... [X. phẩm Thán tịnh trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 12; kinh Đại bảo tích Q.14, 39; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Tập dị môn túc Q.6, luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1].
thanh tịnh biện tài
Purity of intellectual powers.
thanh tịnh bản nhiên
4668禪宗公案名。係宋代長水子璿禪師就「清淨本然,云何忽生山河大地」一語,請問瑯琊慧覺禪師(汾陽善昭禪師之法嗣),所引發之公案。又作瑯琊清淨本然、瑯琊山河。從容錄第一○○則(大四八‧二九一下):「僧問瑯琊覺和尚:『清淨本然,云何忽生山河大地?』覺云:『清淨本然,云何忽生山河大地?』」。此公案乃根據唐代般剌密帝所譯之首楞嚴經卷四載,富樓那問佛(大一九‧一一九下):「世尊!若復世間一切根、塵、陰、處、界等,皆如來藏,清淨本然,云何忽生山河大地諸有為相,次第遷流,終而復始?」蓋以山河大地清淨本然之貌,表示無分別之見,無取捨憎愛之真意。〔五燈會元卷十二長水章、普燈錄卷三〕
; Purely and naturally so, spontaneous.
; (清淨本然) Cũng gọi Lang gia thanh tịnh bản nhiên, Lang gia sơn hà. Tên công án trong Thiền tông. Công án này phát sinh từ câu Thanh tịnh bản nhiên(tự nhiên vốn thanh tịnh), thế tại sao bỗng sinh núi sông đất liền? do Thiền sư Trường thủy Tử tuyền đời Tống hỏi Thiền sư Lang gia Tuệ giác. Thung dung lục tắc 100 (Đại 48, 291 hạ) ghi: Vị tăng hỏi Hòa thượng Lang gia giác: Thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra núi sông đất liền? Hòa thượng đáp: Thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra núi sông đất liền? Công án này căn cứ vào kinh Thủ lăng nghiêm quyển 4 do ngài Bát lạt mật đế dịch vào đời Đường, trong đó, ngài Phú lâu na hỏi đức Phật (Đại 19, 119) hạ: Bạch Thế tôn! Nếu tất cả căn, trần, ấm, xứ, giới ở thế gian đều là Như lai tạng, thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra các tướng hữu vi núi sông, đất liền, lần lượt xoay vần dời đổi, cứ đến cuối thì trở lại đầu? [X. chương Trường thủy trong Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Phổ đăng lục Q.3].
thanh tịnh bổn nhiên
Purely and naturally so—Spontaneous.
Thanh tịnh chân chư
清淨眞如; C: qīngjìng zhēnrú; J: shōjō shinnyo;|Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong 7 loại chân như (七種眞如).
thanh tịnh chân như
One of the seven chân như.
; The pure bhutatathata.
Thanh tịnh chân như 清淨眞如
[ja] ショウジョウシンニョ shōjō shinnyo ||| The suchness of purity, which is a reference to the noble truth of cessation of suffering. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong bảy loại chân như.
thanh tịnh công đức
4668極樂淨土二十九種莊嚴中,十七種國土功德之一。謂彼土為畢竟安樂之大清淨處,非如三界之顛倒不淨。蓋彼淨土依法藏菩薩之智慧清淨業而起,順應法性、不違真俗二諦,永離顛倒不淨之相,得畢竟安樂大清淨處,亦攝受眾生令入畢竟之清淨。〔往生論註卷上〕
; (清淨功德) Công đức thanh tịnh, 1 trong 17 thứ công đức về đất nước trong 29 thứ trang nghiêm cõi Cực lạc tịnh độ. Nghĩa là cõi Cực lạc tịnh độ kia là nơi đại thanh tịnh, tuyệt đối yên vui, chứ không như 3 cõi là nơi điên đảo bất tịnh và bất an. Bởi vì Tịnh độ ấy được hình thành theo nghiệp trí tuệ thanh tịnh của bồ tát Pháp tạng, ứng hợp với pháp tính, thuận theo chân đế, tục đế, vĩnh viễn xa lìa tướng điên đảo bất tịnh, là nơi được đại thanh tịnh, rốt ráo yên vui, cũng thu nhiếp chúng sinh khiến vào nơi thanh tịnh cùng tột. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
thanh tịnh giác hải
4671比喻清淨之本覺,深廣如海。圓覺經(大一七‧九二○上〕:「求善知識不墮邪見,若於所求別生憎愛,則不能入清淨覺海。」又「清淨覺相」一詞,係指本覺之真相(正體),遠離染垢。(參閱「清淨」4667)
; The pure ocean of enlightenment.
; Bản giác thanh tịnh rộng sâu như biển cả, không chứa đựng những phiền trược của cuộc đời (như biển cả không chứa rác rưởi, mà rác rưởi phải bị sóng tấp vào bờ)—The pure ocean of enlightenment, which underlies the disturbed life of all.
; (清淨覺海) Ví dụ bản giác thanh tịnh sâu rộng như biển. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Cầu thiện tri thức không rơi vào tà kiến, nếu đối với sở cầu mà sinh tâm yêu ghét thì khôngvàođược biển giác thanh tịnh (thanh tịnh giác hải). Còn từ ngữ Thanh tịnh giác tướng là chỉ cho chân tướng(chính thể) của bản giác, xa lìa cáu bẩn, nhơ nhớp. (xt. Thanh Tịnh).
thanh tịnh giải thoát tam muội
4670請參閱 清淨毘尼方廣經 請參閱 清淨毘尼方廣經 指遠離一切繫縛之禪定。此三昧,為無垢清淨,遠離一切繫縛而得自在之境地,故稱清淨解脫三昧。住此三昧,能於一念間供養無量諸佛而不失定意。〔無量壽經卷上〕
; A samàdhi free from all impurity and in which complete freedom is obtained.
; Tam muội sở không có ô nhiễm, thoát ly mọi hệ lụy ràng buộc, và hoàn toàn thanh thản tự tại—A samadhi free from all impurity and in which complete freedom is obtained.
; (清淨解脫三昧) Chỉ cho Thiền định xa lìa tất cả sự trói buộc. Tam muội này trong sạch không cáu bẩn, là cảnh giới xa lìa tất cả sự trói buộc mà được tự tại, cho nên gọi là Thanh tịnh giải thoát tam muội. Người trụ trong Tam muội này, chỉ trong khoảng một niệm cũng có thể cúng dường vô lượng chư Phật mà không mất định ý. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thanh tịnh giới
Śīla-visuddhi (S).
Thanh Tịnh Hoa Viện
(清淨華院, Shōjōke-in): một trong 4 ngôi chùa bổn sơn trung tâm của Tịnh Độ Tông; hiện tọa lạc tại Teramachidōri (寺町通), Jōkyō-ku (上京區), Kyoto-shi (京都市), không có hiệu chùa cũng như hiệu núi. Tượng thờ chính là Pháp Nhiên Thượng Nhân. Tương truyền theo sắc nguyện của Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876), ngôi viện vốn phát xuất từ đạo tràng nhỏ do Viên Nhân (圓仁, Ennin) sáng lập, rồi vị khai Tổ của Tịnh Độ Tông là Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) mới khai sáng ra ngôi viện này; nhưng thật tế người khai sơn viện này chính là Hướng A Chứng Hiền (向阿証賢), vào khoảng đầu thế kỷ 14. Đầu tiên nó nằm ở vùng Cao Thương (高倉, Takakura), nhưng đến năm 1339 thì Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) mới dựng lên Đẳng Trì Tự (等持寺) và dời về chùa này. Hơn nữa, trong khoảng niên hiệu Thiên Chánh (天正, 1573-1592), do chính sách cải cách kinh đô của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), nên chùa được dời về vị trí hiện tại. Với tư cách là cứ điểm của Phái Nhất Điều (一條派) thuộc Tịnh Độ Tông, chùa đã hưng thạnh rực rỡ, rồi được hàng ngũ công khanh cũng như Hoàng Thất quy y theo rất nhiều; nhưng trong hai vụ Loạn Ứng Nhân (應仁) và Văn Minh (文明) thì vận chùa bị suy thối, nhưng đến khoảng đầu thế kỷ thứ 17 thì chùa lại được phục hưng. Nguyên lai chùa này vốn là đạo tràng trong cung cấm nên hiện tại trong khuôn viên chùa vẫn còn nhiều ngôi mộ của các Hoàng Tử, Hoàng Nữ, Công Chúa, v.v.
Thanh tịnh huệ
清淨慧; C: qīng jìng huì; J: shōjōe;|Tên của 1 trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như là 1 đương cơ trong phẩm thứ 6 trong kinh Viên Giác.
thanh tịnh huệ bồ tát
4671梵名 Visuddha-mati。音譯尾戍馱摩帝。相當於大日經密印品之生念處菩薩。不空羂索經卷九載,形像為左手持蓮華,蓮臺上豎螺,右手揚掌,半跏趺坐。真言為:南麼三曼多勃馱南(namaḥ samanta buddānām,歸命普遍諸佛)達磨(dharma,法)三婆縛(sambhava,生)莎縛訶(svāhā,成就)。大日經疏卷十三釋此真言,謂此菩薩得自在,同佛境界,從法而生,故稱法生,即從自性清淨之法而生之意。〔大日經具緣品〕
; Viśuddha-mati (S) Tên một vị Bồ tát.
; (清淨慧菩薩) Phạm: Visuddha-mati. Hán âm: Vĩ thú đà ma đế. Chỉ cho bồ tát Thanh tịnh tuệ, tương đương với bồ tát Sinh niệm xứ nói trong phẩm Mật ấn kinh Đạinhật. Theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 thì hình tượng vị tôn này ngồi bán già, tay trái cầm hoa sen, trên đài sen códựng cái vỏ óc(tù và), bàn tay phải giơ lên. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nam (nama# samata buddànàm, Qui mệnh phổ biến chư Phật) đạt ma (dharma, pháp) tam bà phạ (sambhava, sinh) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu). Đại nhật kinh sớ quyển 13 giải thích chân ngôn trên là: Bồ tát này được tự tại, đồng cảnh giới với Phật, từ pháp sinh ra, cho nên gọi là Pháp sinh, ý nói từ pháp tự tính thanh tịnh mà sinh ra. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật].
Thanh tịnh huệ 清淨慧
[ja] ショウジョウエ shōjōe ||| 'Pure Wisdom.' The name of one of the twelve bodhisattvas who appears as an interlocutor in the sixth chapter of the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經). => Tên của một trong 12 vị Bồ-tát xuất hiện như là một đương cơ trong phẩm thứ sáu trong kinh Viên Giác.
thanh tịnh nghiệp xứ
The state which one who has a pure karma reaches.
; Trạng thái thanh tịnh mà những người có thiện nghiệp đạt đến (đất Phật thanh tịnh kỳ diệu, nơi sanh của những người có nghiệp thuần lành)—The state which one who has a pure karma reaches.
thanh tịnh nhân
4667<一>諸佛之通稱。諸佛遠離煩惱之垢染,三業清淨,故稱清淨人。成唯識論卷一則稱為滿清淨者。〔方廣大莊嚴經卷十一、顯揚聖教論卷十三、成唯識論述記卷一本〕 <二>阿彌陀佛之德號。十住毘婆沙論卷五易行品讚歎彌陀之功德(大二六‧四三下):「諸佛無量劫,讚揚其功德,猶尚不能盡,歸命清淨人。」世親之淨土論更以彌陀能滿足器世間與眾生世間兩種清淨,而稱之為清淨人。
; The pure and clean man, especially the Buddha.
; Bậc thanh tịnh, đặc biệt ám chỉ Đức Phật—The pure and clean man, especially the Buddha.
; (清淨人) I. Thanh Tịnh Nhân. Người trong sạch. Chỉ chung cho chư Phật. Chư Phật đã xa lìa các phiền não ô nhiễm, 3 nghiệp đều trong sạch, cho nên gọi là Thanh tịnh nhân. Luận Thành duy thức quyển 1 thì gọi là Mãn thanh tịnh giả (người thanh tịnh đầy đủ). [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu].II. Thanh Tịnh Nhân. Chỉ cho đức hiệu của Phật A di đà. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 khen ngợi công đức của Phật A di đà như sau (Đại 26, 43 hạ). Chư Phật vô lượng kiếp, Tán dương công đức Ngài; Cũng vẫn chưa thể hết, Kính lễ Thanh tịnh nhân. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân thì cho rằng vì đức Phật A di đà có đủ cả 2 thứ thanh tịnh của Khí thế gian và Chúng sinh thế gian, cho nên gọi là Thanh tịnh nhân.
thanh tịnh pháp
Dharma-viraja (S). Pure truth.
; Dharmaviraja (skt)—Chân lý thanh tịnh—Pure truth.
Thanh tịnh pháp giới
清淨法界; C: qīngjìng făjiè; J: shōjōhōkai;|Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. Chân như.
thanh tịnh pháp giới
4669又作淨法界。佛所證之真體。清淨者,真如之體,離一切煩惱之垢染;法界者,一切世間、出世間功德之所依。據佛地經論卷三載,淨法界者,即是真如無為功德。依七佛經載,佛有清淨法界,證真覺智,無不了知。又淨法界之印相:以左右手為拳,二拇指入掌中,伸二食指。其真言為:南謨三曼多佛陀南(歸命普遍諸佛)達摩馱都(法界)薩嚩婆嚩(自性)俱唅(我),又作法界生真言。其中法界,即是佛身;我,即是法界。行者雖未能即體真性,但作此印、誦真言,亦同於體法界。淨法界之另一真言為:???(唵)???(㘕),其中唵字,為金剛界之歸命語,三身等之義如常;㘕字,據瑜伽蓮華部念誦法載,若觸穢處,當於頂上觀有法界生字,放赤色光,即所謂㘕字。於所食之物如加持此字,即不成穢觸。於一切供養香華等,皆加持此字,放白色光,即無穢觸,所供養物則遍法界。〔大日經密印品、大日經疏卷十三〕
; The pure Buddha-truth (realm).
; Pháp giới thanh tịnh hay chân thể mà Đức Phật đã chứng được—The pure Buddha-truth or realm.
; (清淨法界) Cũng gọi Tịnh pháp giới. Chỉ cho thể chân thực do đức Phật chứng được. Thanh tịnh là thể của chân như, lìa tất cả phiền não nhơ nhớp; Pháp giới là chỗ nương của tất cả công đức thế gian và xuất thế gian. Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 3 thì thanh tịnh pháp giới tức là công đức chân như vô vi. Còn theo kinh Thất Phật thì đức Phật có thanh tịnh pháp giới, trí chứng chân giác, biết rõ tất cả. Ấn tướng của Tịnh pháp giới là: Hai tay nắm lại, để 2 ngón cái vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ duỗi thẳng. Chân ngôn là: Nam mô tam mạn đa Phật đà nam (Qui mệnh phổ biến chư Phật) đạt ma đà đô(pháp giới) tát phạ bà phạ(tự tính)câu hàm(ngã). Chân ngôn này cũng được gọi là Pháp giới sinh chân ngôn. Trong đó, pháp giới chính là thân Phật; ngã tức là pháp giới. Tuy hành giả chưathểnhập được chân tính, nhưng kết ấn và tụng chân ngôn này cũng đồng với thể nhập pháp giới. Một chân ngôn khác của Tịnh pháp giới là: (Án) (Lam). Trong đó, chữ Án là lời qui mệnh Kim cương giới, nghĩa của 3 thân như thường; còn chữ Lam, theo Du già liên hoa bộ niệm tụng pháp, nếu tiếp xúc với chỗ ô uế thì quán chữ Pháp giới sinh ở trên đỉnh đầu, phóng ra ánh sáng màu đỏ, đó là chữ Lam. Nếu gia trì chữ này vào các thức ăn thì không trở thành ô uế. Nếu gia trì chữ Lam vào tất cả vật cúng dường như hương, hoa... thì phóng ra ánh sáng màu trắng liền không còn ô uế, những vật cúng dường sẽ biến khắp pháp giới. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.13].
Thanh tịnh pháp giới thân Tỳ-lô-giá-na tâm địa pháp môn thành tựu nhất thiết đà-la-ni tam chủng tất địa 清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地
[ja] ショウジョウホウシンビルシャナシンジホウモンジョウジュウイッサイダラニサンシュシッチ Shōjō hosshin Birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi ||| The Qingjing fashen Piluzhena xindi famen chengjiu yiqie tuoluo ni sanzhong xidi (Accomplishing All Dhāraṇīs and the Three Siddhis through the Dharma-Gate of the Mental Ground of Vairocana, the Pure Dharma-Body). 1 fasc. (T 899.20.776-781), tr. unknown (Thought to be at least partially composed or translated by an Indian -- cf. IB 330). KI (mb) 3 => (Qingjing fashen Piluzhena xindi famen chengjiu yiqie tuoluo ni sanzhong xidi; e: Accomplishing All Dhāraṇīs and the Three Siddhis through the Dharma-Gate of the Mental Ground of Vairocana, the Pure Dharma-Body). Một quyển; Dịch giả vô danh (Có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).
Thanh tịnh pháp giới 清淨法界
[ja] ショウジョウホッカイ shōjōhōkai ||| The pure dharma realm. The objective realm of the enlightened wisdom of the Buddha. The realm of pure noumenal principle. The basis of all merits. "Suchness." => Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. “Chân như”.
thanh tịnh pháp hành kinh
4669全一卷。今已不傳,故內容不詳。據傳,本經以老子、孔子及顏回為摩訶迦葉等所應化之說而著名。又廣弘明集卷八所載,後周道安之二教論、法琳之破邪論卷上、維摩經玄疏卷一、止觀輔行傳弘決卷六之三等有關派遣三聖之說,皆明示承自此經,由此亦可察知,此說盛行於我國南北朝。或因時代、經文之更改,各經論所載釋家人物與所應化之儒、道人物,略有出入。如二教論所引,係以老子為摩訶迦葉,孔子為儒童菩薩,顏回為光淨菩薩之應生。而止觀輔行傳弘決所引則以老子為迦葉,孔子為光淨菩薩,顏回為月光菩薩之應化。據考證,此經係偽經,乃對應西晉祭酒王浮所撰老子化胡經而造,約在梁代以前所撰述。〔歷代三寶紀卷十二、卷十三、辯正論卷五、卷六、出三藏記集卷四〕
; (清淨法行經) Kinh, 1 quyển, nay đã thất truyền nên không rõđượcnội dung. Cứ theo truyền thuyết thì kinh này rất nổi tiếng vì cho rằng các ngài Lão tử, Khổng tử và Nhan hồi là thân Ứng hóa của ngài Đại ca diếp. Lại theo Quảng hoằng minh tập quyển 8 thì thuyết Phái khiển Tam thánh (sai phái 3 vị Thánh) trong luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Hậu Chu, luận Phá tà quyển thượng của ngài Pháp lâm, Duy ma kinh huyền sớ quyển 1 và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 6 phần 3, đều cho thấy đã thừa kế từkinh này, do đó ta có thể xét biết thuyết này đã thịnh hành vào thời Nam Bắc triều ở Trung quốc. Có lẽ đã do sự thay đổi của thời đại hoặc văn kinh mà các nhân vật của Phật giáo được ghi trong kinh luận và các nhân vật của Nho gia, Đạo gia mà các vị ấy ứng hóa ra có hơi khác nhau. Như luận Nhị giáo cho rằng ngài Lão tử là sự ứng sinh của ngài Ma ha ca diếp, ngài Khổng tử là sự ứng sinh của bồ tát Nhođồng, ngài Nhan hồi là sự ứng sinh của bồ tát Quang tịnh. Còn Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết thì chủ trương Lão tử là sự ứng hóa của ngài Ca diếp, Khổng tử là sự ứng hóa của bồ tát Quang tịnh và Nhan hồi là sự ứng hóa của bồ tát Nguyệt quang. Theo sự khảo chứng của các học giả thì kinh này là ngụy tạo, được soạn ra nhằm đối lại với kinh Lão tử hóa Hồ do quan Tế tửu đời Tây Tấn là Vương phù soạn. Kinh Thanh tịnh pháp hành này có lẽ đã được soạn vào khoảng đời Lương trở về trước. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12, 13; luận Biện chính Q.5, 6; Xuất tam tạng kí tập Q.4].
thanh tịnh pháp nhãn
Pháp nhãn thanh tịnh (pháp nhãn là một trong năm nhãn). Ở bậc Thanh Văn Duyên Giác thấy được Tứ Thánh Đế; còn các bậc Bồ Tát Đại Thừa, có trí lực thấy được ngã không và lý không của vạn hữu—The pure dharma-eye (one of the five eyes) with which one discerns the four noble truths and the unreality of self or things (Hinayans disciple first discerns the four noble truths, and the Mahayana disciple discerns the unreality of self and things). **For more information, please see Ngũ Nhãn.
thanh tịnh pháp nhẫn
The pure dharma-eye.
thanh tịnh pháp thân phật
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy về Thanh Tịnh Pháp Thân Phật như sau: “Nầy thiện tri thức! Sao gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật? Người đời bản tánh là thanh tịnh, muôn pháp từ nơi tánh mà sanh, suy nghĩ tất cả việc ác tức sanh hạnh ác, suy nghĩ tất cả việc lành tức sanh hạnh lành. Như thế các pháp ở trong tự tánh như trời thường trong, mặt trời mặt trăng thường sáng, vì mây che phủ nên ở trên sáng, ở dưới tối, chợt gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng, vạn tượng đều hiện. Tánh của người đời thường phù du như là mây trên trời kia. Nầy thiện tri thức! Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng, do bên ngoài chấp cảnh nên bi mây nổi vọng niệm che phủ tự tánh không được sáng suốt. Nếu gặp thiện tri thức, nghe được pháp chơn chánh, tự trừ mê vọng, trong ngoài đều sáng suốt, nơi tự tánh muôn pháp đều hiện. Người thấy tánh cũng lại như thế, ấy gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.”—According to The Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisor! What is the clear, pure Dharma-body Buddha? The worldly person's nature is basically clear and pure, and the ten thousand dharmas are produced from it. The thought of evil produces evil actions and the thought of good produces good actions. Thus all dharmas exist within self-nature. This is like the sky which is always clear, and the sun and moon which are always bright, so that if they are obscured by floating clouds it is bright above the clouds and dark below them. But if the wind suddenly blows and scatters the clouds, there is brightness above and below, and the myriad forms appear. The worldly peson's nature constantly drifts like those clouds in the sky. Good Knowing Advisors, intelligence is like the sun and wisdom is like the moon. Intelligence and wisdom are constantly bright, but if you are attached to external states, the floating clouds of false thought cover the self-nature so that it cannot shine. If you meet a Good Knowing Advisor, if you listen to the true and right Dharma and destroy your own confusion and falseness, then inside and out there will be penetrating brightness, and within the self-nature all the ten thousand dharmas will appear. That is how it is with those who see their own nature. It is called the clear, pure Dharma-body of the Buddha.”
Thanh tịnh pháp thân Tì-lô-giá-na tâm địa pháp môn thành tựu nhất thiết đà-la-ni tam chủng tất địa
清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地; C: qīngjìng făshēn pílúzhēnă xīndì fămén chéngjiù yīqiè tuóluó ní sānzhŏng xīdì; J: shōjō hosshin birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi;|1 quyển; Dịch giả khuyết danh (có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).
thanh tịnh pháp tràng cao phong quán tam muội
4670即安住於???(a,阿)字本不生之三昧。全稱滿一切願出廣長舌相遍覆一切佛剎清淨法幢高峰觀三昧。又作法幢高峰觀三昧、法幢高峰觀加持三昧。清淨法幢,指淨菩提心。比喻如建立軍隊之幢旗於高峰上以指揮軍隊,而建立萬行之首(淨菩提心)的法幢於中道第一義諦之高峰,普觀十方、擁護眾生、護持正法,稱為清淨法幢高峰觀三昧。〔大日經具緣品、大日經疏卷九、大日經疏演奧鈔卷三十一〕
; (清淨法幢高峰觀三昧) Gọi đủ: Mãn nhất thiết nguyện xuất quảng trường thiệt tướng biến phú nhất thiết Phật sát thanh tịnh pháp chàng cao phong quán tam muội. Cũng gọi: Cao phong pháp chàng quán tam muội, Pháp chàng cao phong quán gia trì tam muội. Tức Tam muội an trụ trong chữ (a) vốn chẳng sinh. Thanh tịnh pháp chàng chỉ cho tâm bồ đề thanh tịnh. Như dựng ngọn cờ quân đội trên ngọn núi cao để chỉ huy binh sĩ, dựng ngọn cờ pháp đứng đầu muôn hạnh(tâm bồ đề thanh tịnh) trên ngọn núi cao Đệ nhất nghĩa đế, quán khắp 10 phương, ủng hộ chúng sinh, giữ gìn chính pháp, gọi là Thanh tịnh pháp chàng cao phong quán tam muội. [X. phẩm Cụduyên kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.9; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.31].
Thanh tịnh phẩm
清淨品; C: qīngjìngpĭn; J: shōjōhon;|Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.
Thanh tịnh phẩm 清淨品
[ja] ショウジョウホン shōjōhon ||| The category of purity, as distinguished from the category of defilement 染品. 〔瑜伽論T 1579.30.657a〕 => Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.
thanh tịnh quang minh thân
The pure, shining body, or appearance (of the Buddha)
; Thân thanh tịnh chiếu sáng của Đức Phật—The pure, shining body or appearance of the Buddha.
thanh tịnh quang tự
4669日本時宗總本山。別稱藤澤道場、無量光院、遊行寺。位於神奈川縣藤澤市。為一遍上人所開創(一說為四世吞海所開創)。曾受足利、上杉、武田、北條、德川各氏之保護,數次遇火;明治四十四年(1911)一遍上人繪詞傳(藤澤本)亦被焚燬。今設有時宗教務所,統轄末寺三百五十九所。
Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-la-ni kinh
清淨觀世音普賢陀羅尼經; C: qīngjìng guānshìyīn pŭxián tuóluóní jīng; J: shōjō kanzeion fugen darani kyō;|Xem Quán tự tại Bồ Tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (觀自在菩薩説普賢陀羅尼經)
Thanh tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-la-ni kinh 清淨觀世音普賢陀羅尼經
[ja] ショウジョウカンセイオンフケンダラニキョウ Shōjō kanzeion fugen darani kyō ||| The Qingjing guanshiyin puxian tuoluoni jing (T 1038.20.21-23); see Guanzizai pusa shuo puxian tuoluoni jing 觀自在菩薩説普賢陀羅尼經 => (c: Qingjing guanshiyin puxian tuoluoni jing ). Xem Quán tự tại Bồ-tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (c: Guanzizai pusa shuo puxian tuoluoni jing 觀自在菩薩説普賢陀羅尼經).
thanh tịnh tam muội
Prāsādavati (S), Prāsādavati samādhi (S) Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
thanh tịnh tam nghiệp
4668據菩薩瓔珞經卷十一載,須菩提請問佛之色身如何,佛以三業清淨作答,即:(一)身業清淨,謂身之所行能防塞一切不善之法。(二)口業清淨,謂凡所言說者,皆為真實誠信,永離邪妄之語。(三)意業清淨,謂收攝身心,常居寂定而別無異念。
; (清淨三業) Chỉ cho 3 nghiệp trong sạch. Cứ theo kinh Bồ tát anh lạc quyển 11, ngài Tu bồ đề thưa hỏi thế nào là sắc thân Phật? Phật trả lời: Sắc thân Phật là 3 nghiệp thanh tịnh. 1. Thân nghiệp thanh tịnh: Những việc làm của thân đều có năng lực chặn đứng tất cả các pháp bất thiện. 2. Khẩu nghiệp thanh tịnh: Những lời nói từ miệng thốt ra đều là những lời chân thật thành tín, vĩnh viễn xa lìa tà vọng. 3. Ý nghiệp thanh tịnh: Thu nhiếp thân tâm, thường trụ trong thiền định vắng lặng, không có ý niệm nào khác.
thanh tịnh thành
Sobbavati (S) Vương thành nơi gia đình Phật Kim Tịch lúc chưa xuất gia đã từng lưu ngụ..
thanh tịnh thân
4669形容佛身清淨,無諸染垢。法華經法師品所說之清淨光明身、新華嚴經卷四十二所說之清淨法身即是。華嚴經探玄記卷八(大三五‧二七五下):「淨德內充,名清淨身。」〔華嚴經隨疏演義鈔卷四〕
; (清淨身) Chỉ cho thân Phật thanh tịnh, không có cấu nhiễm. Thân quang minh thanh tịnh nói trong phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa và Pháp thân thanh tịnh nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) đều thuộc Thanh tịnh thân. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 8 (Đại 35, 275 hạ) nói: Bên sung mãn tịnh đức, gọi là Thanh tịnh thân [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].
thanh tịnh thân tâm
To purify the body and mind.
thanh tịnh thí
4670指行布施時,於施者、受者、施物三者,不執著為實有,而達到空之境界,稱為清淨施。〔寶雨經卷一〕(參閱「三輪體空」681)
; (清淨施) Bố thí với tâm thanh tịnh. Nghĩa là khi thực hành bố thí, đối với người thí, người nhận và vật thí đều không mảy may nghĩ đó là có thật, màđạtđến cảnh giới Không, gọi là Thanh tịnh thí.
thanh tịnh thế giới
Pure world; purity of world.
thanh tịnh thức
Xem Như lai tạng.
; Amalavijnàna (S). Pure, uncontaminated knowledge; earlier regarded as the ninth, later as the eighth or àlayavijnàna.
; Amalavijnana (skt)—Thức thanh tịnh, trước đây gọi là thức thứ chín, về sau nầy gọi là thức thứ tám hay A-Lại-Da thức—Pure and uncontaminated knowledge, earlier regarded as the ninth, later as the eighth or alaya-vijnana.
thanh tịnh trai
Pure observance of monastic rules for food, i.e. vegetarian food; fasting.
thanh tịnh trang nghiêm
Purely adorned.
thanh tịnh tri kiến
Purification of Knowledge.
thanh tịnh trí
Śuddha-jāna (S).
; Undefiled knowledge.
; Vô lậu trí hay trí không nhuốm phiền não—Undefiled knowledge.
thanh tịnh tâm
4668指無疑淨信之心、遠離煩惱之無垢心、自性清淨之心。又金剛經(大八‧七四九下):「諸菩薩摩訶薩應如是生清淨心,不應住色生心,不應住聲、香、味、觸、法生心。」即指無執著之心。〔中阿含經卷四十一、勝鬘寶窟卷上本〕
; Purification of mind.
; Cittàdrisyadhàràvisuddhi (S). A pure mind free from doubt or defilement. Purity of mind.
; 1) Tâm địa trong sạch không nhuốm não phiền: A pure mind free from doubt or defilement. 2) Làm cho tâm địa trong sạch: To purify the mind.
; (清淨心) Chỉ cho tâm tin trong sạch, không mảy may nghi ngờ, tâm xa lìa phiền não ô nhiễm, tâm tự tính thanh tịnh. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 hạ) nói: Các đại Bồ tát nên sinh tâm thanh tịnh như thế, không nên trụ vào sắc sinh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm. Tức chỉ cho tâm không chấp trước, không để bị dính mắc vào bất cứ vật gì. [X. kinh Trung a hàm Q.141; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu].
thanh tịnh tì ni phương quảng kinh
4670全一卷。後秦鳩摩羅什(或謂竺法護)譯。又稱清淨毘奈耶方廣經、清淨毘尼經、毘尼方廣經。收於大正藏第二十四冊。本經敘述方廣大乘之淨戒,以寂調伏音天子與文殊之問答為其架構。就聲聞及菩薩律行之不同,提出十七種對比。本經之異本有宋代法海所譯之寂調音所問經一卷;西晉竺法護所譯文殊師利淨律經一卷,又稱淨律經、淨經、文殊淨律經等。〔開元釋教錄卷十二、大唐內典錄卷六〕
; (清淨毗尼方廣經) Cũng gọi Thanh tịnh tỳ nại da phương quảng kinh, Thanh tịnh tỳ ni kinh, Tỳ ni phương quảng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập (hoặc Trúc pháp hộ) dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Kinh này nói về giới thanh tịnh của Đại thừa phương quảng, lấy cuộc vấn đáp giữa Tịch điều phục âm thiên tử và ngài Văn thù làm trung tâm, nêu ra 17 điểm so sánh đối chiếu sự khác nhau giữa luật hạnh Thanh văn và luật hạnh Bồ tát. Các bảndịch khác của kinh này gồm có: -Tịch điều âm sở vấn kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hải dịch vào đời Tống. -Văn thù sư lợi tịnh luật kinh, 1 quyển (cũng gọi Tịnh luật kinh, Tịnh kinh, Văn thù tịnh luật kinh), do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Đại đường nội điển lục Q.6].
thanh tịnh tích
4671佛所具妙德四神三昧之一。指清淨無染污之一切功德的積集。所謂「四神三昧」,即佛所具之四種妙德,即指無形、無量意、清淨積、不退轉等。〔法華文句卷一下〕(參閱「四神三昧」1751)
; (清淨積) Chỉ cho sự chứa góp tất cả công đức thanh tịnh không nhiễm ô, là 1 trong Tứ thần tam muội thuộc diệu đức của Phật. Tứthần tam muội tức chỉ cho 4 đức vi diệu của Phật, đó là: Vô hình, vô lượng ý, thanh tịnh tích và bất thoái chuyển. [X. Pháp hoa văn cú Q.1, hạ]. (xt. Tứ Thần Tam Muội).
thanh tịnh tỉ khâu
4668即密教不動明王使者八大童子中之第六位。由不動真言歸命句中之???(va,嚩)字生出,主不動尊之寶波羅蜜福德心行。係表示比丘能守護法寶,故稱此使者為清淨比丘。其形像為剃髮著袈裟,左手執梵篋,右手當心而持五股杵,露出右肩,腰繫赤裳,面貌非少非老,目如青蓮,口邊有牙向下顯出。種子為???。印契為梵篋印,即仰左掌指頭向右,右掌指頭向左,覆於左掌之上。真言為:唵(oṃ,歸命)摩尼(maṇi,寶珠)尾輸馱達摩俱嚕(viśuddha dharma guru,清淨法師)羅乞叉達摩(raksa dharma,護法)嚩(va)。〔聖無動尊八大童子祕要法〕
; (清淨比丘) Chỉ cho vị thứ 6 trong 8 vị đại Đồng tử sứ giả của Minh vương Bất động thuộc Mật giáo.Vị tôn này sinh ra từ chữ (va) trong câu Chân ngôn Qui mệnh Bất động, đứng đầu về tâm hạnh phúc đức Bảo ba la mật của Bất động tôn. Vì vị sứ giả này tượng trưng cho tỉ khưu giữ gìn pháp bảo, nên gọi là Thanh tịnh tỷ khưu. Hình tượng vị tôn này là cạo tóc, mặc ca sa, tay trái cầm quyển kinh tiếng Phạm, tay phải cầm chày 5 chĩa để ngay ngực, vai phải để trần, eo quấnxiêm màu đỏ, nét mặt không trẻ không già, mắt giống hoa sen xanh, khóe miệng có răng nanh chìa ra ngoài Chủng tử là . Ấn khế dùng ấn Phạm khiếp, tức bàn tay trái ngửa lên, các đầu ngón hướng về phía bên phải, bàn tay phải đầu ngón hướng về phía trái, úp lên trên bàn tay trái. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) ma ni (maịi, bảo châu) vĩ du đà đạt ma câu rô (vizuddha dharma guru, thanh tịnh pháp sư) la khất xoa đạt ma (raksa dharma, hộ pháp) phạ (va). [X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp].
thanh tịnh tối thắng
Perfect purity and peace.
thanh tịnh viên
Pure garden, or garden of purity, i.e. a monastery or convent.
; Vườn Thanh Tịnh, một trong mười tên dùng để gọi tự viện—Pure garden, or garden of purity, i.e. monastery or convent, one of the ten names for a monastery.
thanh tịnh đại nhiếp thụ
4668阿彌陀佛三十七種名號之一。曇鸞之讚阿彌陀偈中有(大四七‧四二三上)「稽首清淨大攝受」一語。此有多種解釋:清淨,謂畢竟清淨涅槃之德;攝受,謂四十八攝受眾生之德;其德廣大周遍,故稱大。或謂彌陀三德圓滿之淨土為清淨,乃攝受一切凡聖不可思議身土,故稱為清淨大攝受。〔淨土和讚望溟記(法霖)、淨土和讚略解(仰誓)〕
; (清淨大攝受) Một trong 37 danh hiệu của đức Phật A di đà. Trong tán A di đà kệ của ngài Đàm loan có câu (Đại 47, 423 thượng): Khể thủ thanh tịnh đại nhiếp thụ(Cúi đầu đính lễ đức Đại nhiếp thụ thanh tịnh). Về danh hiệu này có nhiều cách giải thích: Thanh tịnh nghĩa là đức của Niết bàn rốt ráo thanh tịnh; Nhiếp thụ là 48 đức thu nhiếp chúng sinh; đức của Phật A di đà rộng lớn trùm khắp nên gọi là Đại. Hoặc giải thích rằng Tịnh độ tròn đầy 3 đức của Phật A di đà là Thanh tịnh, là thân độ nhiếp thụ tất cả phàm thánh không thể nghĩ bàn nên gọi là Thanh tịnh đại nhiếp thụ.[X. Tịnh độ hòa tán vọng minh kí (Pháp lâm); Tịnh độ hòa tán lược giải (Ngưỡng thệ)].
Thanh tịnh đạo
清淨道; P: visuddhi-magga; nghĩa là con »Ðường dẫn đến thanh tịnh«;|Tên của một bộ luận cơ bản của Thượng toạ bộ (p: theravāda), được Phật Âm (p: bud-dhaghosa) soạn trong khoảng thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên. Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí của Ðại Tự (p: mahāvihāra), một trong những trường phái Pā-li.|Bộ luận này gồm có 3 phần với 23 chương: chương 1-2 nói về Giới (p: sīla), chương 3-13 nói về Ðịnh (s, p: samādhi) và chương 14-23 nói về Trí huệ (p: pañña). Phần nói về Ðịnh trình bày rõ các phương pháp và đối tượng quán niệm của Thượng toạ bộ, khả năng phát triển và thánh quả của các phép thiền định. Trong phần Huệ, Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí cơ bản của đạo Phật như Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên, Bát chính đạo…|Thanh tịnh đạo là một bộ luận tuyệt hảo, gần như là một bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo và được rất nhiều Phật tử chú trọng đến, không phân biệt Tiểu hay Ðại thừa. Nhà Phật học danh tiếng của châu Âu, Ed-ward Con-ze có lần nói rằng, nếu ông chỉ được mang theo một quyển sách ra một hòn đảo hoang vắng thì đó là quyển Thanh tịnh đạo.
thanh tịnh đạo
Viśuddhi-magga (P), Way of Purity Thanh tịnh đạo luận Một trong những bộ chú giải kinh điển quan trọng bằng tiếng Pali.
; Visuddhi-màrga (S). The path of purity.
; The way of purification.
thanh tịnh đạo luận
4671巴利名 Visuddhimagga。凡三卷。係五世紀中葉印度高僧佛音(梵 Buddhaghosa)所作。收於南傳大藏經第六十二至六十四冊。為南傳佛教上座部之重要論著。近由日本水野弘元譯成日文(1937~1940)。民國七十四年(1985)五月,由葉均(了參)譯成中文出版。全書計二十三品,系統地闡釋上座部之教義,其組織次序與內容類似解脫道論,中亦雜有論駁該書之見解。本論依戒、定、慧之順序敘述。一、二品論戒;三至十三品論定,並詳析一系列之修習方法;十四至二十三品論慧,其中十四至十七品主述五蘊、四諦、八正道、十二因緣等。此外,並概述無常、苦、無我之三相等。書之前後有造論因緣之敘述,及以戒、定、慧三學達到清淨涅槃道之結語。本書乃南傳佛教最高權威之論書,其百科全書式之內容,堪與上座有部之大毘婆沙論匹敵。 此外,注釋書有達磨波羅(巴 Dhammapāla)所撰之真諦筐(巴 Paramattha-mañjūsā,又作大注 Mahā-ṭīkā)。〔Malalasekera:The Pali Literature of Ceylon, 1928; P.V. Bapat: Vimuttimagga and Visuddhimagga, Poona, 1937、解脫道論と清淨道論の比較研究(水野弘元,佛教研究第三卷第二號)〕(參閱「南傳佛教」3750)
; Xem Thanh Tịnh đạo.
; (清淨道論) Pàli: Visuddhimagga. Luận, 3 quyển, do vị Cao tăng Ấn độ là Phật âm (Phạm:Buddhaghosa) soạn vào thế kỉ V, được thu vào Đại tạng kinh phương Nam tập 62 đến 64. Đây là bộ luận trọng yếu của Thượng tọa bộ thuộc Phật giáo Nam truyền. Thời gần đây, học giả Nhật bản là ông Thủy dã Hoằng nguyên đã dịch ra tiếng Nhật (1937-1940). Tháng 5 năm 1958, ông Diệp quân (Liễu tham) dịch ra tiếng Trung quốc và xuất bản. Toàn sách gồm 23 phẩm, giải thích một cách có hệ thống về giáo nghĩa của Thượng tọa bộ, thứ tự tổ chức và nộidung cũng giống như luận Giải thoát đạo, nhưng trong đó lại có xen lẫn quan điểm phản bác luận ấy. Tác phẩm này trình bày theo thứ tự Giới, Định, Tuệ. Phẩm 1,2 nói về Giới; phẩm 3 đến 13 nói về Định, đồng thời phân tích tỉ mỉ một loạt phương pháp tu tập; từ phẩm 14 đến phẩm 23 nói về Tuệ, trong đó, từ phẩm 14 đến phẩm 17 chủ yếu trình bày về 5 uẩn, 4 đế, 8 chính đạo, 12 nhân duyên..., đồng thời nói khái quát về 3 tướng Vô thường, khổ, vô ngã. Đầu sách cũng như cuối sách trình bày về lí do soạn thuật và kết luận rằng Giới, Định, Tuệ là con đường dẫn đến Niết bàn thanh tịnh. Đây là bộ luận có giá trị rất cao đối với Phật giáo Nam truyền, nội dung với hình thức một bộ Bách khoa toàn thư có thể sánh với luận Đại tì bà sa của Thượng tọa hữu bộ. Ngoài ra, sách chú thích bộ luận này có: Chấn đế khuông (Pàli:Paramatthamaĩjusà), cũng gọi Đại chú (Mahà-ỉìkà), do ngài Đạt ma ba la (Pàli:Dhammapàla) soạn. [X. ThePàli Literature of Ceylon, 1928, byMalalasekera; Vimutimagga and Visuddhimagga, Poona, 1937, by P.V.Bapat; Giải thoát đạo luận dữ Thanh tịnh đạo luận chi tỉ giảo nghiên cứu (Thủy dã Hoằng nguyên, Phật giáo nghiên cứu Q.3, số 2)]. (xt. Nam Truyền Phật Giáo).
Thanh tịnh 清淨
[ja] ショウジョウ shōjō ||| (pariśuddha). (1) Clear, pure, undefiled. Lacking evil (samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Lacking an object or motive. (2) Clarified, settled. (3) To purify, to cleanse; purification. (4) A purified person (tathāgata). The opposite concept is "defilement" or "pollution" 染、 汚. => (s: pariśuddha) 1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm. 2. Làm cho trong sạch, làm cho an định. 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong. 4 Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với 'nhiễm染', 'ô汚'.
thanh tủng
4672五代僧。台州(浙江天台)人。天台宗第十四祖。從元琇受業,潛修天台十乘三觀之法,日夜不懈。未久,繼元琇之後住持國清寺。時錢氏建吳越國,頗仰慕師之德行,極力護持,故免受兵火之災,師乃勵志,長日臨座,高論不已,眾不敢有倦色,故有「高論尊者」之號。生卒年不詳。門人有義寂、志因、覺珍等。〔釋門正統卷二、佛祖統紀卷八〕
; (清竦) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tần, Hậu Hán và Hậu Chu), người ở Thai châu (huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang), Tổ thứ 14 của tông Thiên thai. Sư theo ngài Nguyên tú xuất gia, chuyên tu Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai, ngày đêm tinh tiến. Không bao lâu sau, sư kế thừa ngài Nguyên tú trụ trì chùa Quốc thanh. Bấy giờ, họ Tiền dựng nước Ngô việt, rất ngưỡng mộ đức hạnh của sư, tận lực hộ trì, nhờ đó tránh khỏi tai họa binh lửa, sư bèn gắng chí, suốt ngày lên tòa, giảng nói không ngừng, đại chúng không dám tỏ dấu hiệu mệt mỏi, vì thế sư có biệt hiệu là Cao Luận Tôn Giả. Đệ tử có các vị: Nghĩa tịch, Chí nhân, Giác trân... [X. Thích môn chính thống Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.8].
Thanh tự bảo tướng nghĩa 聲字實相義
[ja] ショウジジツソウギ Shōji jissō gi ||| Shoji jissō gi, Meaning and sound/word/reality; 1 fasc, T 2429.77.401-404 by Kūkai 空海 in 817 CE. An examination of esoteric discourse, which begins: "The teachings of the Tathāgata are propagated by means of text; and text is constituted from the six realms of the senses." 夫如來説法必藉文字。文字所在六塵其體。 Such discourse develops in terms of sound/word/reality, the distilled essence (maṇdā 曼荼) of all sentient beings. Sound is identified as the essential characteristic of resonance 響必申聲, which originates in contacts between the elements. Words depend on sounds; exhalation is the word a 阿字, the name of the Dharma Embodied 法身佛, which stands for non-creation. Then follows a definition of "true words" (mantra 眞言): "what do these mantras denote? They can denote even the reality of dharmas without error or falsehood. Thus, we call them 'true words'." 此眞言詮何物。能呼諸法實相不謬不妄。故名眞言。 The discussion concludes with a summary in verse: "The five states of matter resonate 五大皆有響 / The ten worlds speak their languages 十界具言語 / The six senses are identical with text 六塵悉文字 / The Dharma Embodied is reality 法身是實相 => Sŏngja silsang ŭi (k); Shoji jissō gi (j); Meaning and sound/word/reality (e); Một quyển; của Không Hải (Kūkai 空海 ) vào năm 817. Là chuyên luận giải thích về mật pháp. Mở đầu như sau: “Như Lai thuyết pháp tất phải nhờ vào văn tự; văn tự lại được cấu thành từ thể của sáu trần; 夫如來説法必藉文字。文字所在六塵其體 – Phù Như Lai thuyết pháp tất tạ văn tự, văn tự sở tại lục trần kỳ thể.” Thế nên giáo pháp phát triển trên nghĩa của âm thanh, là thể tính (mạn-trà, s: maṇdā 曼荼 ) của mọi chúng sinh. Âm thanh được đồng nhất với yếu tính của âm hưởng (hưởng tất thân thanh 響必申聲), khơỉ nguyên từ sự tiếp xúc nhau của các yếu tố vật chất (đại). Ngôn từ lại dựa vào âm thanh, hơi thở là chữ A 阿字, là tên của Pháp thân Phật (e: Dharma Embodied 法身佛), biểu tưởng cho ý nghĩa không tạo tác. Tiếp theo là định nghiã về 'chân ngôn' (mantra 眞言): "Những chân ngôn nầy chứng tỏ điều gì? Nó có khả năng chỉ bày rõ thực tại của các pháp không có chút sai lầm, hư vọng nào. Nên gọi là chân ngôn; 此眞言詮何物。能呼諸法實相不謬不妄。故名眞言– Thử chân ngôn thuyên hà vật? năng hồ chư pháp bảo tướng bất mậu bất vọng. Cố danh chân ngôn.” Cuốn luận nầy kết thúc với bài kệ tóm tắt: “Ngũ đại giai hữu hưởng, thập giới cụ ngôn ngữ, lục trần tất văn tự, pháp thân thị bảo tướng 五大皆有響;十界具言語;六塵悉文字;法身是實相 – Năm đại đều có âm hưởng, mười giới đều có đầy đủ ngôn ngữ, lục trần chính là văn tự, pháp thân là thực tại.” Thành tựu 成就 [ja] ジョウシュウ jōshū ||| (yukta, anvita, samanvāgama, samanvaya, siddhi, siddha). (1) Possessed in the body. (2) Achievement, accomplishment. (3) One type of benefit; acquisition, possession. (4) Completion, perfection. (5) Achievement of a wish or aim. => (s: yukta, anvita, samanvāgama, samanvaya, siddhi, siddha). 1. (Đức tính) vốn có trong thân. 2. Sự thành tựu, sự hoàn tất. 3. Một dạng phúc lợi; sự đạt được, sự có được. 4. Sự hoàn thành, sự hoàn thiện. 5. Đạt được ước nguyện hay mục đích. Thanh văn thừa 聲聞乘 [ja] ショウブンジョウ shōbunjō ||| The vehicle of the Buddhist disciples--śrāvaka-yāna. See sansheng 三乘. => śrāvaka-yāna. Xem Tam thừa (c: sansheng 三乘).
thanh tự kinh quán
4662將大藏經翻譯成滿洲文字之處。據嘯亭續錄卷一載,乾隆三十七年(1772),高宗以佛教大藏經已有西藏文、漢文、蒙古文等諸種翻譯,然禪悟深邃,漢譯藏經中之咒偈雖代有翻切,並未得其祕旨,而滿洲之文,句意明暢,反可得其三昧,故設清字經館於西華門內,命章嘉國師綜理其事,達天、蓮筏諸僧助之。先後十餘年,大藏告成,四體字經始備。經版初存於館中,其後清字經館改為「實錄館」,遂移其版木於五鳳樓。(參閱「四體字經典」1856)
; (清字經館) Nơi phiên dịch Đại tạng kinh Phật giáo sang tiếng Mãn châu. Cứ theo Khiếu đình tục lục quyển 1, vào năm Càn long 37 (1772) đời Thanh, vua Nhân tông cho rằng Đại tạng kinh Phật giáo đã được phiên dịch thành tiếng Tây tạng, tiếng Hán, tiếng Mông cổ..., nhưng Thiền ngộ sâu thẳm, các kệ chú trong tạng kinh Hán dịch tuy có thay bằng phiên thiết, nhưng vẫn không thể hiện được ý chỉ kín nhiệm, còn tiếng Mãn châu thì văn ý rõ ràng, thông suốt, lại có thể chứng được Tam muội, vì thế thiết lập Thanh Tự Kinh Quán ở phía trong cửa Tây hoa, ban sắc giao cho Quốc sư Chương gia trông coi tổng quát công việc này với sự phụ tá của chư tăng như Đạt thiên, Liên phiệt... Ròng rã hơn 10 năm, Đại tạng kinh được hoàn thành, đầy đủ 4 thứ tiếng (Hán, Mãn, Mông, Tạng). Bản khắc gỗ lúc đầu được cất giữ trong quán. Về sau, Thanh tự kinh quán đổi làm Thực Lục Quán, cho nên các bản gỗ ấy mới được dời về lầuNgũ phượng. (xt. Tứ Thể Tự Kinh Điển).
thanh tự thật tướng
6494 請參閱 聲字實相義為日本真言宗教義之一。謂聲字即實相之體;亦即一切音聲文字之自體不外是實相。自如來之三密而言,身、語、意三業原本平等,遍滿宇宙全體,即森羅萬象悉具如來之三密,此乃本有之佛,唯因眾生不自覺,故如來以音聲說教,以文字悟教。故知聲字為如來之語密,與如來之身密(實相,即事物本來之面目)全然平等,故聲字即其本來實相。又五大悉具一切音響,十界皆具言語,六塵悉有文字,法身即是實相,故聲字實相乃表「法佛平等」之三密,亦為眾生本具之曼荼羅。〔聲字實相義(空海)〕
; (聲字實相) Chỉ cho thực tướng của âm thanh, văn tự, 1 trong các giáo nghĩa của tông Chân ngôn Nhật bản. Tức âm thanh, văn tự chính là thể của thực tướng, cũng tức là tự thể của tất cả âm thanh, văn tự đều không ngoài thực tướng này. Đứng về phương diện Tam mật của Như lai mà nói thì 3 nghiệp thân, ngữ, ý vốn là bình đẳng, trùm khắp toàn thể vũ trụ, tức hết thảy sum la muôn tượng đều đầy đủ Tam mật của Như lai, đây là Phật sẵn có, chỉ vì chúng sinh không tự biết, cho nên đức Như lai mới phải dùng âm thanh nói pháp, dùng văn tự để chỉ dạy cho chúng sinh tỉnh ngộ mà tự nhận ra Phật sẵn có của mình. Vì thế biết âm thanh, văn tự là Ngữ mật của Như lai, hoàn toàn bình đẳng với Thân mật(thực tướng, tức bản lai diện mục của sự vật) của Như lai, cho nên âm thanh và văn tự chính là thực tướng sẵn có của Thân mật ấy. Lại 5 đại đầy đủ tất cả âm hưởng, 10 cõi đều đầy đủ ngôn ngữ, 6 trần có đầy đủ văn tự, Pháp thân chính là thực tướng, vì thế thực tướng âm thanh, văn tự là Tam mật biểu thị Phật pháp bình đẳng, cũng là Mạn đồ la sẵn có của chúng sinh. [X. Thanh tự thực tướng nghĩa (Không hải)].
thanh tự thật tướng nghĩa
6494全一卷。略稱聲字義、聲字實義。日僧空海撰。收於大正藏第七十七冊。本書自真言密教之立場闡明聲字實相(一切音聲文字與實相相即)之義,為教相學上重要之典籍。係依據大日經卷二具緣品之「等正覺真言」一頌而展開;謂「聲字即實相」乃三密中之語密,故進一步說明語密之實相,並藉此開示三密平等之最高旨趣。
; (聲字實相義) Gọi tắt: Thanh tự nghĩa, Thanh tự thực nghĩa. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Không hải người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này nói rõ về ý nghĩa thực tướng của tất cả âm thanh và văn tự theo lập trường của Chân ngôn Mật giáo, y cứ vào bài tụng Đẳng chính giác chân ngôn trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật mà triển khai; cho rằng âm thanh, văn tự tức là thựctướng, là Ngữ mật trong Tam mật, cho nên lại tiến thêm bước nữa mà thuyết minh thực tướng của Ngữ mật, đồng thời căn cứ vào đó mà hiển bày ý chỉ tột cùng của Tam mật bình đẳng. Đây là tác phẩm trọng yếu về mặt giáo tướng.
thanh u
Calm—Silent—Quiet.
thanh uy
Fame and pretige.
thanh vi giáo thể
6497為小乘說一切有部之教義。謂佛之教法以音聲為體,使聞者得道;亦即以聲為經。法華經玄義卷八上(大三三‧七七六下):「如佛在世,金口演說,但有聲音詮辯,聽者得道,故以聲為經。」〔俱舍論卷一、成唯識論述記卷一本、大乘起信論義記卷上〕
; (聲爲教體) Âm thanh là thể của giáo pháp. Đây là giáo nghĩa của Thuyết nhất thiếthữu bộ thuộc Tiểu thừa. Nghĩa là giáo pháp của Phật lấy âm thanh làm thể, khiến người nghe được đạo. Cũng tức là lấy âm thanh làm kinh. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 thượng (Đại 33, 776 hạ) nói: Như lúc đức Phật còn tại thế, miệng vàng diễn nói, chỉ giải thích bằng âm thanh, người nghe được đạo, cho nên dùng âm thanh làm kinh. [X. luận Câu xá Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].
thanh vi phật sự
6497凡發揚佛德之事,皆稱為佛事。聲為佛事,謂以音聲演說教法,因而濟度眾生。維摩經略疏卷二(大三八‧五八九下):「菩薩觀眾生眼等六根,何根偏利?若耳根偏利,即聲為佛事。」(參閱「聲佛事」6495)
; (聲爲佛事) Âm thanh làm việc Phật. Phàm các việc phát huy công đức của Phật đều gọi là Phật sự. Thanh vi Phật sự nghĩa là dùng âm thanh giảng nói giáo pháp nhờ đó mà tế độ chúng sinh, mang lại lợi ích cho họ. Duy ma kinh lược sớ quyển 2 (Đại 38, 589 hạ) nói: Bồ tát quán tưởng 6 căn mắt, tai... của chúng sinh xem căn nào nhạy bén? Nếu căn tai nhạy bén thì dùng âm thanh làm Phật sự. (xt. Thanh Phật Sự).
thanh viên tự
3703位於江蘇南京市郊覆舟山麓。東晉恭思皇后褚氏所創。竺道生嘗住此講頓悟成佛之義。劉宋景平元年(423),佛殿震動,傳有龍昇天,遂改名龍光寺。寶林、法寶、慧生等相繼來住。唐會昌年間(841~846)廢。未久,於咸通二年(861)重興,勅頒「龍光院」之額。南唐昇元二年(938)重修,澄忋、泰欽等住寺弘揚禪法。〔出三藏記集卷二、卷十五、歷代三寶紀卷十、佛祖統紀卷三十六、金陵梵剎志卷四十八〕
; (青園寺) Chùa nằm ở chân núi Phúc chu, gần thành phố Nam kinh, tỉnh Giang tô, do Hoàng hậu Chử cung tư sáng lập vào đời Đông Tấn. Ngài Trúc đạo sinh từng trụ ở chùa này giảng nói về nghĩa đốn ngộ thành Phật. Vào niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, điện Phật bị rúng động, tương truyền có con rồng bay lên trời, từ đó mới đổi tên là chùa Long quang. Các ngài Bảo lâm, Pháp bảo, Tuệ sinh... nối tiếp nhau đến trụ trì. Khoảng năm Hội xương (841-846) chùa rơi vào tình trạng hoang tàn. Không bao lâu, vào năm Hàm thông thứ 2 (861), chùa được xây dựng lại, vua ban biển hiệu là Long Quang Viện. Năm Thăng nguyên thứ 2 (938) đời Nam Đường, chùa được trùng tu, các ngài Trừng cải, Thái khâm... lần lượt trụ trì, hoằng dương Thiền pháp. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12, 15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.36; Kim lăng phạm sát chí Q.48].
Thanh Viễn Phật Nhãn
清遠佛眼; ?-1120|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Huệ Cần Phật Giám dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Lí, quê ở Lâm Ngang, phong cách nghiêm chỉnh, ít nói. Năm lên 14, Sư xuất gia học luật. Nhân lúc đọc kinh Pháp hoa đến câu »Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu«, Sư hỏi giảng sư. Giảng sư không giải được, Sư thất vọng tự than: »Nghĩa học danh tướng không phải nguyên nhân liễu việc lớn sinh tử.« Sư bèn sửa soạn hành lí đến phương Nam tham vấn các thiền gia.|Ðến Pháp Diễn tại chùa Thái Bình, Thô Châu, Sư nhập hội. Nhân một hôm làm công tác, Sư có chút ngộ nhập bèn đến Pháp Diễn trình bày. Nói lời gì Pháp Diễn cũng bảo »Ta chẳng bằng ông, ông tự hội được thì tốt«, hoặc »Ta chẳng hội, ông hội được thì tốt.« Sư càng nghi ngờ liền đến Thủ toạ hỏi. Thủ toạ nắm lỗ tai Sư đi quanh lò mấy vòng, vừa đi vừa nói: »Ông tự hội được thì tốt.« Sư thưa: »Có lòng mong khai phát có phải đùa với nhau sao?« Thủ toạ bảo: »Ông về sau ngộ rồi mới rõ được việc khúc chiết ngày nay.« Nghe tin Pháp Diễn đến Hải Hội, Sư bèn từ giã ra đi.|Nhân gặp được Thiền sư Linh Nguyên, Linh Nguyên khuyên Sư trở về học với Pháp Diễn. Sư nghe lời trở về, được Pháp Diễn cử làm Ðiển toạ. Gặp lúc đêm lạnh, Sư vạch trong lò thấy một đóm lửa bằng hạt đậu bỗng nhiên mừng rỡ nói: »Vạch sâu thấy đóm lửa nhỏ xíu, việc bình sinh chỉ như đây.« Sư đứng dậy đến bàn mở bộ Cảnh Ðức truyền đăng lục, đọc đến nhân duyên của sư Phá Táo Ðọa bỗng nhiên triệt ngộ, liền làm kệ:|刀刀林鳥啼。披衣終夜坐|撥火悟平生。窮神歸破墮|事皎人自迷。曲淡誰能和|念之永不忘。門開少人過|Ðao đao lâm điểu đề|Phi y chung dạ toạ|Bát hoả ngộ bình sinh|Cùng thần quy Phá Ðọa|Sự hiểu nhân tự mê|Khúc đạm thuỳ năng hoà|Niệm chi vĩnh bất vong|Môn khai thiểu nhân quá|*Líu lo chim rừng hót|Khoác áo ngồi đêm thâu|Vạch lửa, bình sinh tỏ|Quẫn trí về Phá Ðọa|Việc rõ người tự mê|Nhạc khúc ai hoà được|Nghĩ đó khăng khăng nhớ|Cửa mở, ít người qua.|Sư trước trụ trì chùa Vạn Thọ, sau chùa Long Môn. Danh tiếng của sư vang khắp nơi.|Sư dạy chúng: »Nói ngàn nói muôn không bằng chính mặt thấy, dù chẳng nói cũng tự phân minh. Dụ đao báu vương tử, dụ đám mù sờ voi, trong thiền học việc cách sông đưa tay ngoắt, việc trông châu đình thấy nhau, việc xa bặt chỗ không người, việc chỗ núi sâu bờ cao, đây đều chính mặt thấy đó, chẳng ở nói suông vậy.«|Sắp tịch, Sư ngồi Kết già bảo đồ chúng: »Những bậc lão túc các nơi sắp tịch để kệ từ biệt thế gian, thế gian có thể từ biệt sao? Sắp đi an ổn!« Nói xong Sư vui vẻ chắp tay viên tịch.
Thanh Văn
(s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞): âm dịch là Xá La Bà Ca (舍羅婆迦), ý dịch là Tác Đệ Tử (作弟子); là một trong Nhị Thừa, Tam Thừa; chỉ cho hàng đệ tử xuất gia lắng nghe giáo pháp của đức Phật mà chứng ngộ. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 17, giải thích danh nghĩa Thanh Văn có 3: (1) Theo nhân duyên đắc đạo mà giải thích, nghĩa là nghe lời dạy của đức Phật mà giải ngộ đắc đạo, nên được gọi là Thanh Văn; (2) Theo pháp môn quán sát mà giải thích, như Thập Địa Kinh Luận (十地經論, Taishō Vol. 26, No. 1522) quyển 4 dạy rằng ngã, chúng sanh, v.v., đều có tên, nên được gọi là thanh (âm thanh, tiếng); nhờ âm thanh mà giải ngộ, nên gọi là Thanh Văn; (3) Nhân sự lợi lạc hóa độ tha nhân mà giải thích, như trong Phẩm Tín Giải của Kinh Pháp Hoa dạy rằng nhờ Phật đạo nghe mà khiến cho tất cả được nghe, nên gọi là Thanh Văn. Trong 3 giải thích trên, hai giải thích đầu là thanh văn của Phật Giáo Nguyên Thủy; loại thứ ba là Bồ Tát, tùy nghi mà gọi là Thanh Văn. Nguyên lai, Thanh Văn chỉ cho các đệ tử của đức Phật khi còn tại thế, về sau đối với Duyên Giác, Bồ Tát mà thành ra Nhị Thừa, Tam Thừa. Thanh Văn là vị quán lý Tứ Đế, tu 37 phẩm trợ đạo, đoạn hai hoặc kiến và tu, rồi dần dần chứng được 4 quả Sa Môn, và nhập vào Vô Dư Niết Bàn (無餘涅槃). Thanh Văn Thừa (聲聞乘) là giáo pháp chuyên thuyết về Thanh Văn. Thanh Văn Tạng (聲聞藏) là kinh điển xiển dương giáo thuyết của Thanh Văn. Trong các kinh luận, Thanh Văn có hai loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại. Theo Phẩm Vô Tự Tánh Tướng (無自性相品) của Giải Thâm Mật Kinh (解深密經, Taishō Vol. 16, No. 676) quyển 2, có 2 loại Thanh Văn là Nhất Hướng Thú Tịch Thanh Văn (一向趣寂聲聞) và Hồi Hướng Bồ Đề Thanh Văn (迴向菩提聲聞). Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 671) quyển 4 lại nêu ra 3 loại Thanh Văn khác là Quyết Định Tịch Diệt Thanh Văn (決定寂滅聲聞), Phát Bồ Đề Nguyện Thiện Căn Danh Thiện Căn Thanh Văn (發菩提願善根名善根聲聞), Hóa Ứng Hóa Thanh Văn (化應化聲聞). Du Già Sư Địa Luận (Taishō Vol. 30, No. 1579 瑜伽師地論) quyển 73 lại nêu ra 3 loại khác: Biến Hóa Thanh Văn (變化聲聞), Thệ Nguyện Thanh Văn (誓願聲聞), Pháp Tánh Thanh Văn (法性聲聞). Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá (妙法蓮華經憂波提舍, Taishō Vol. 26, No. 1519) quyển Hạ, Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) chia Thanh Văn làm 4 loại là Quyết Định Thanh Văn (決定聲聞), Tăng Thượng Mạn Thanh Văn (增上慢聲聞), Thối Bồ Đề Tâm Thanh Văn (退菩提心聲聞), Ứng Hóa Thanh Văn (應化聲聞). Bên cạnh đó, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú (妙法蓮華經文句, Taishō Vol. 34, No. 1718) quyển 4 chia Thanh Văn thành 5 loại, gồm: (1) Quyết Định Thanh Văn (決定聲聞), nghĩa là tu tập tiểu thừa đã lâu, muôn kiếp đạo chín muồi mà chứng đắc quả nhỏ; (2) Thối Bồ Đề Tâm Thanh Văn (退菩提心聲聞), vị này vốn tu tập Đại Thừa, muôn kiếp tu đạo, tuy nhiên giữa chừng vì chán ghét sanh tử mà thối đạo tâm lớn, chỉ chứng quả nhỏ thôi; (3) Ứng Hóa Thanh Văn (應化聲聞), nghĩa là các Bồ Tát vì hóa độ hai loại Thanh Văn vừa nêu, nên bên trong thì có đủ hạnh của chư Phật Bồ Tát, ngoại hình thì hiện thân Thanh Văn, để khuyến dụ hàng Tiểu Thừa, khiến cho nhập vào Đại Thừa; (4) Tăng Thượng Mạn Thanh Văn (增上慢聲聞), nghĩa là vì chán ghét sanh tử, vui mừng Niết Bàn, tu tập pháp Tiểu Thừa, chứng đắc pháp nhỏ mà đã thấy đầy đủ, chưa đạt mà cho đã đạt, chưa chứng mà bảo đã chứng; (5) Đại Thừa Thanh Văn (大乘聲聞), vị này lấy âm thanh của Phật đạo, khiến cho hết thảy người được nghe không trú vào thành hóa hiện (tỷ dụ cho cõi Niết Bàn của Tiểu Thừa), mà thảy đều quay về với lý của thật tướng Đại Thừa. Ngoài ra, trong các kinh điển của hệ A Hàm thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy, từ Thanh Văn đều chỉ chung cho hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Về sau, khi giáo đoàn Phật Giáo được xác lập, từ này được dùng chủ yếu chỉ cho các tăng sĩ xuất gia tu hành. Trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Tu Phạm hạnh, đoạn trần tập chi căn nguyên; hiện bệnh hạnh, khế Thanh Văn chi hóa thành (修梵行、斷塵習之根源、現病行、憩聲聞之化城, tu Phạm hạnh, dứt tập khí ấy nguồn căn; hiện bệnh hạnh, nghỉ Thanh Văn ấy hóa thành).”
Thanh văn
聲聞; S: śrāvaka; nghĩa là »người nghe«;|Lúc đầu, Thanh văn có nghĩa là học trò của đức Phật. Dần dần, trong Ðại thừa, người ta cũng dùng từ Thanh văn để chỉ tất cả những ai nhờ nghe pháp và nhờ cố gắng cá nhân mà đạt đến giác ngộ, chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng. Mục đích cao nhất của Thanh văn là đạt Vô dư Niết-bàn (s: nirupadhiśeṣa-nirvāṇa), lúc đó Thanh văn trở thành A-la-hán.
thanh văn
6497梵語 śrāvaka,巴利語 sāvaka。音譯舍羅婆迦。又意譯作弟子。為二乘之一,三乘之一。指聽聞佛陀聲教而證悟之出家弟子。大乘義章卷十七本解釋聲聞之名義有三,即:(一)就得道之因緣而釋,聞佛之聲教而悟解得道,稱為聲聞。(二)就所觀之法門而釋,如十地經論卷四說,我眾生等,但有名故,說之為聲,於聲悟解,故稱聲聞。(三)就化他之記說而釋,如法華經卷二信解品載說,以佛道聲,令一切聞,故稱聲聞。此三釋中,前二者為小乘之聲聞,第三則為菩薩,隨義而稱為聲聞。 聲聞原指佛陀在世時之諸弟子,後與緣覺、菩薩相對,而為二乘、三乘之一。即觀四諦之理,修三十七道品,斷見、修二惑而次第證得四沙門果,期入於「灰身滅智」之無餘涅槃者。聲聞乘,乃專為聲聞所說之教法。聲聞藏,則為闡述其教說之經典。 於諸經論中,聲聞之種類有二種、三種、四種、五種之別。據解深密經卷二無自性相品載,有:一向趣寂聲聞、迴向菩提聲聞等二種聲聞。入楞伽經卷四載,有:決定寂滅聲聞、發菩提願善根名善根聲聞、化應化聲聞等三種聲聞。瑜伽師地論卷七十三有:變化聲聞、誓願聲聞、法性聲聞等三種聲聞。世親之法華論卷下則將聲聞分類為決定聲聞、增上慢聲聞、退菩提心聲聞、應化聲聞等四種。 另據法華文句卷四上所舉,將聲聞類分為五,稱為五種聲聞,即:(一)決定聲聞,謂久習小乘,積劫道熟而證得小果。(二)退菩提聲聞,謂此聲聞本習大乘,積劫修道,然中間為厭生死,退大道心,取證小果。(三)應化聲聞,謂諸佛菩薩為度化前二種聲聞,故內祕佛菩薩之行,外現聲聞之形,以勸誘小乘,令入大乘。(四)增上慢聲聞,謂厭離生死,欣樂涅槃,修習小乘而以得少為滿足,未得謂得,未證謂證。(五)大乘聲聞,謂以佛道之聲,令一切聞者不住於化城(喻小乘涅槃),終歸大乘實相之理。 以上所舉,皆基於大乘教義所作之分類,然諸部阿含經典及發智論、六足論等諸論之中,則不持此等說法,彼所謂之聲聞,僅指上述之趣寂聲聞一種而已。此外,聲聞一語,於阿含等原始聖典中,兼指出家與在家弟子;然至後世,則專指佛教教團確立後之出家修行僧。〔雜阿含經卷三十一、長阿含經卷一、瑜伽師地論卷六十七、卷八十、法華玄論卷一、卷四、卷七、大乘義章卷十七末、大乘法苑義林章卷二、法華文句卷一上〕
; Voice hearer, Nyan thos (T), rāvaka (S), Sāvaka (P), Nyan thos (T), Śrāvika (S), Sāvika (P) Đệ tử xuất gia nghe âm thanh Phật mà chứng ngộ. Xá la bà ca. Bậc nghe pháp. Những đễ tử theo Phật nghe pháp, tham thiền đoạn diệt phiền não đác các quả vị khác. Quả vị cao nhất của hàng Thanh văn là quả vị A la hán, thấp hơn quả vị Duyên giác, Độc giác Phật, Bồ tát và Phật. Có 4 bậc Thanh văn: -Thâu tịch Thanh văn: bậc nghe pháp rồi, tìm chỗ thanh văng tịch tu thành La hán, nhập Niết bàn. - Thối Bồ đề tâm Thanh văn: Ban đầu tu theo hạnh Bồ tát, trở lại tu Tứ diệu đế rồi nhập diệt. - Ứng hóa Thanh văn: Vốn là Bồ tát hay Phật thuở xưa, hớa thân thành Thanh văn hay Bồ tát để hỗ trợ Phật. - Tăng thượng mạn Thanh văn: Bậc tu hành tuy có thần thông nhưng chưa đắc quả La hán mà cũng tự xưng là Thanh văn La hán.
; Sràvaka (S). Hearer.
; Văn Phật thanh giáo, nghĩa là nghe Phật thuyết Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) mà giác ngộ đạo Tiểu thừa.
; Savaka (p)—Sravaka (skt)—Sound hearer. • Thanh Văn quán Tứ Đế mà tu hành và mức độ phát triển bị hạn hẹp. Mục tiêu chỉ là giác ngộ cá nhân mà thôi. Chính vì thế mà trong Pháp Hội Hoa Nghiêm trong rừng Thệ Đa, Hết thảy các đại Thanh Văn, kể cả các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, vân vân, không có phước quả, không có tuệ nhãn, không có tam muội , không có giải thoát, không có thần lực biến hóa, không có uy lực, không có tự chủ, không có trụ xứ, không có cảnh giới để họ bước vào chúng hội của Bồ Tát và tham dự vào cuộc diễn xuất tâm linh diễn ra trong rừng Thệ Đa. Vì họ đã riêng tầm cầu giải thoát theo thừa và đạo của Thanh Văn; những gì họ thành tựu đã không vượt ngoài quả vị Thanh Văn. Quả thực, họ đã đạt được trí tuệ làm hiển lộ chân lý, an trụ trong biên tế của thực tại (bhutakoti), hưởng thụ tịch diệt cứu cánh, nhưng họ không có tâm đại bi rộng lớn đối với hết thảy chúng sanh, vì họ chỉ chuyên tâm vào những hành nghiệp của riêng mình, không có tâm chứa nhóm trí tuệ Bồ Tát và tự mình tu tập theo đó. Họ có riêng sự chứng ngộ và giải thoát, nhung họ không mong cầu, không phát nguyện làm cho kẻ khác cũng tìm thấy chỗ an trụ trong đó. Như thế họ không hiểu thế nào là thần lực bất khả tư nghì của Như Lai: Hearer of the four noble truths and limited to that degree of development. The objective is personal salvation. Therefore, in the assembly of the Gandavyuha in the Jetavana, all the great Sravakas, including Sariputra and Maudgalyayana, etc., have no stock of merit, no wisdom-eye, no samadhi, no emancipation, no power of transformation, no sovereignty, no energy, no mastery, no abode, no realm, which enable them to get into the assemblage of the Bodhisattvas and participate in the performance of the greatspiritual drama that is going on in Jetavana. As they have sought their deliverance according to the vehicle and way of Sravakahood, what they have accomplished does not go beyond Sravakahood. They have indeed gained the knowledge whereby the truth is made manifest, they are abiding in the limit of reality (bhutakoti), they are enjoying the serenity of the ultimate (atyantasanti); but they have no great compassionate all-embracing heart for all beings, for they are too intently occupied with their own doings (atmakarya) and have no mind to accumulate the Bodhisattva-knowledge and to discipline themselves in it. They have their own realization and emancipation, but they have no desire, make no vows to make others also find their resting abode in it. They do not thus understand what is really meant by the inconceivable power of the Tathagata. • Chữ Sravaka có nghĩa là kẻ nghe giảng, dùng để gọi những đệ tử Phật, có thể là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni hay cận sự nam nữ, văn kinh thính pháp và tu tập theo lời Phật dạy mà đạt được đạo quả Niết Bàn. Người ấy cũng có lúc độ tha, nhưng khả năng rất hạn hẹp. Hàng Thanh Văn còn chịu khuất phục dưới nghiệp chướng nặng nề; họ không thể hoài bảo những tâm nguyện lớn lao như các vị Bồ Tát để làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh; sở kiến của họ không đủ sáng và không đủ sâu nên họ không nhìn thấy tất cả những bí ẩn của sự sống, họ chưa hề khai mở con mắt trí tuệ (see Tuệ Nhãn)—Sound-hearer—The word 'Sravaka' literally means 'hearer.' This name was given to the disciple of the Buddha, may be a monk, a nun, a layman or a laywoman, bent on his or her liberation. A Sravaka hears and learns the truth from the Buddha, then follows and practices the teachings of the Buddha and finally attains Nirvana. He or she also serves others, but his or her capacity to do so is limited. Sravakas are yet under the covering of too great a karma-hindrance; they are unable to cherish such great vows are made by the Bodhisattvas for the spiritual welfare of all beings; their insight is not clear and penetrating deep enough to see all the secrets of life; they have not yet opened the wisdom-eye.
; (聲聞) Phạm:Zràvaka. Pàli:Sàvaka. Hán âm: Xá la bà ca. Hán dịch: Đệ tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà chứng ngộ, là 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu thì có 3 cách giải thích về ý nghĩa tên gọi Thanh văn, đó là: 1. Giải thích theo nhân duyên đắc đạo: Nghe âm thanh thuyết giáo của Phật mà tỏ ngộ được đạo, gọi là Thanh văn. 2. Giải thích theo pháp môn được quán xét: Như Thập địa kinh luận quyển 4 nói: Ngã, chúng sinh... chỉ có tên suông, gọi là Thanh(tiếng), nhờ Thanh mà được tỏ ngộ, gọi là Thanh văn. 3. Giải thích theo phương diện hóa tha: Như phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 nói: Dùng âm thanh Phật đạo khiến tất cả đều nghe, nên gọi là Thanh văn. Trong 3 cách giải thích trên, 2 giải thích đầu là Thanh văn của Tiểu thừa, còn giải thích thứ 3 thì thuộc Bồ tát, theo nghĩa nên gọi là Thanh văn. Thanh văn vốn chỉ cho các đệ tử lúc đứcPhật còn tại thế, về sau, đối lại với Duyên giác, Bồ tát mà trở thành 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Thanh văn là những người quán xét lí của 4 đế, tu phẩm trợ đạo, dứt trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lần lượt chứng được 4 quả sa môn, chờ mong vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí. Thanh văn thừa là giáo pháp chỉ được nói cho hàng Thanh văn. Còn Thanh văn tạng là những kinh điển trình bày rõ về giáo pháp ấy. Về chủng loại của Thanh văn thì trong cáckinh luận có 2 loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại khác nhau. Theo phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật quyển 2 thì có 2 loại Thanh văn là Hướng thú tịch thanh văn và Hồi hướng bồ đề thanh văn. Theo kinh Nhập lăng già quyển 4 thì có 3 loại Thanh văn là Quyết định tịch diệt thanh văn, Phát bồ đề nguyện thiện căn danh Thiện căn thanh văn và Hóa ứng hóa thanh văn. Theo luận Du già sư địa quyển 73 thì có 3 loại Thanh văn là Biến hóa thanh văn, Thệ nguyện thanh văn và Pháp tính thanh văn. Cứ theo luận Pháp hoa quyển hạ của ngài Thế thân thì có 4 loại Thanh văn là Quyết định thanh văn, Tăng thượng mạn thanh văn, Thoái bồ đề tâm thanh văn và Ứng hóa thanh văn. Còn Pháp hoa văn cú quyển 4thượng thì chia Thanh văn làm 5 loại, gọi là Ngũ chủng thanh văn như sau: 1. Quyết định thanh văn: Tu tập Tiểu thừa đã lâu, trải qua nhiều kiếp đạo lực thành thục, chứng được tiểu quả. 2. Thoái bồ đề thanh văn: Loại Thanh văn này vốn tu tập Đại thừa, trải qua nhiều kiếp tu đạo, nhưngnửa chừng vì nhàm chán sinh tử mà lùi bỏ tâm Đại đạo để chứng lấy tiểu quả. 3. Ứng hóa thanh văn: Vì hóa độ 2 loại Thanh văn trên nên chư Phật, Bồ tát, bên trong ẩn hạnh Phật, Bồ tát, bên ngoài hiện hình tướng Thanh văn để khuyên dụ Tiểu thừa nhập vào Đại thừa. 4. Tăng thượng mạn thanh văn: Loại Thanh văn ngạo mạn vì chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, tu tập Tiểu thừa chỉ mới được chút ít đã tự cho là đủ, chưa được nói là được, chưa chứng bảo đã chứng. 5. Đại thừa thanh văn: Dùng âm thanh Phật đạo, khiến tất cả người nghe không trụ ở hóa thành(ví dụ cho Niết bàn Tiểu thừa) mà cuối cùng trở về lí thực tướng của Đại thừa. Sự phân loại trên đây là căn cứ theo giáo nghĩa Đại thừa, nhưng các bộ kinh A hàm và các luận như luận Phát trí, luận Lục túc... thì không theo thuyết này; Thanh văn, theo các kinh luận này, chỉ có 1 loại là Thú tịch thanh văn nói trên mà thôi. Ngoài ra, trong Thánh điển nguyên thủy như kinh A hàm... từ ngữ Thanh văn là chỉ chung cho cả đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Nhưng đến đời sau, khi giáo đoàn Phật giáo đã được xác lập, thì Thanh văn chuyên chỉ cho chư tăng xuất gia tu hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Trường a hàm Q.1; luận Du già sư địa Q.67, 80; Pháp hoa huyền luận Q.1, 4, 7; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩalâmchương Q.2; Pháp hoa văn cú Q.1, thượng].
thanh văn (nữ)
Sāvika (P), Śrāvika (S).
thanh văn bồ đề
6499為三種菩提之一。菩提,指果上之智慧。聲聞果之智慧為聽法之結果,與緣覺、佛之智慧分別由思惟、無師自修而得者不同,稱為聲聞菩提。優婆塞戒經卷一「三種菩提品」(大二四‧一○三八上):「若得菩提,名為佛者,何以故,聲聞、辟支佛人不名為佛?(中略)聲聞之人,從聞得故,不名為佛;辟支佛人,從思惟已少分覺故,名辟支佛;如來無師,不依聞思,從修而得,覺悟一切,是故名佛。」〔出生菩提心經〕(參閱「三菩提」631)
; (聲聞菩提) Chỉ cho trí tuệ của quả Thanh văn, 1 trong 3 loại bồ đề. Trí tuệ của quả Thanh văn là kết quả của sự nghe pháp, khác với trí tuệ của hàng Duyên giác do tư duy quán xét mà được, cũng khác với trí tuệ của Phật là trí vô sư, không do thầy chỉ dạy mà do tự tu đạt được. Vì khác nhau như thế nên gọi là Thanh văn bồ đề để phân biệt. Phẩm Tam chủng bồ đề trong Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1038 thượng) nói: Nếu người nào được bồ đề thì gọi là Phật. Vì sao Thanh văn và Bích chi Phật không được gọi là Phật? (...) Vì Thanh văn do nghe mà được, nên không gọi là Phật; Bích chi phật do tư duy mà được một phần giác, nên gọi là Bích chiphật; Như lai không có thầy, không do nghe, không do tư duy, nhưng do tu mà được, biết rõ tất cả, nên gọi là Phật. [X. kinh Xuất sinh bồ đề tâm]. (xt. Tam Bồ Đề).
thanh văn giác
Śrāvaka-bodhi (S).
thanh văn giới
6499為十法界之一。又作聲聞法界。指聽聞佛之聲教,觀察四諦之理而證得阿羅漢果,入於灰身滅智之無餘涅槃之境界。〔法華經玄義卷二上、摩訶止觀卷五上〕(參閱「十界」457)
; (聲聞界) Cũng gọi Thanh văn pháp giới. Một trong 10 pháp giới. Chỉ cho cảnh giới của những người nghe âm thanh thuyết giáo của Phật, quán xét lí 4 đế mà chứng được quả A la hán, nhập vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí, đó là cảnh giới của Thanh văn. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, thượng; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng]. (xt. Thập Giới).
thanh văn hình
6498為佛像造型之一種。又作比丘形、僧形。即剃髮、披袈裟之相。釋迦十大弟子與地藏菩薩等之造像,皆作聲聞形。
; (聲聞形) Cũng gọi Tỉ khưu hình, Tăng hình. Một trong các loạitạohình tượng Phật. Tức là tượng có hình tướng cạo tóc, khoác áo ca sa. Tượng của các đệ tử Phật và tượng bồ tát Địa tạng đều được tạo theo hình tướng Thanh văn.
thanh văn thuyết
6499五類說法之一。指聲聞之說法。係就能說華嚴經之人所作之分類。即指華嚴經入法界品之初,為聲聞人承佛力加被而說者。〔華嚴經疏卷一〕(參閱「五類說法」1211)
; (聲聞說) Chỉ cho sự thuyết pháp của Thanh văn, 1 trong 5 loại thuyết pháp. Cách phân loại này là y cứ vào những người có khả năng nói kinh Hoa nghiêm. Tức chỉ cho phần đầu của phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm là do hàng Thanh văn nhờ sức gia bị của Phật mà nói pháp. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. (xt.Ngũ Loại Thuyết Pháp).
thanh văn thân
6498梵語 śrāvaka-kāya。為解境十佛之一。指聲聞之果位。即觀苦、集、滅、道四聖諦而求涅槃解脫者。〔舊華嚴經卷二十六、華嚴玄談卷三〕(參閱「解境十佛」5605)
; (聲聞身) Phạm:Zràvaka-kàya. Chỉ cho quả vị Thanh văn. Tức là người quán xét 4 Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo để cầu Niết bàn giải thoát, 1 trong Giải cảnh thập Phật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm huyền đàm Q.3]. (xt. Giải Cảnh Thập Phật).
thanh văn thập lục hành
6497又作四諦十六行相。指小乘聲聞修行者入聖位見道之前,於四善根位(即煖、頂、忍、世第一法)觀察四諦,因每諦各有四種行相,合計十六行相。即觀苦諦有非常、苦、空、非我四行相,觀集諦有因、集、生、緣四行相,觀滅諦有滅、靜、妙、離四行相,觀道諦有道、如、行、出四行相。〔坐禪三昧經卷下、大毘婆沙論卷七十九〕(參閱「四諦」1840)
; (聲聞十六行) Cũng gọi Tứ đế thập lục hành tướng. Chỉ cho 16 hành tướng quán sát của Thanh văn. Ở giai vị Tứ thiện căn(tức Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp), trước khi tiến vào Thánh vị kiến đạo, hàng Thanh văn tiểu thừa quán xét lí 4 đế, vì mỗi đế đều có 4 thứ hành tướng, nên cộng lại thành 16 hànhtướng. Tức quán Khổ đế có 4 hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã; quán Tập đế có 4 hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; quán Diệt đế có 4 hành tướng: Diệt, tĩnh, diệu, li; quán Đạo đế có 4 hành tướng: Đạo, như, hành, xuất. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.79]. (xt. Tứ Đế).
Thanh văn thừa
xem Ba thừa.
; 聲聞乘; S: śrāvakayāna;|Dùng chỉ »cỗ xe« đầu tiên của ba cỗ xe (Ba thừa; s: triyāna) có thể đưa đến Niết-bàn. Thanh văn thừa đưa đến thánh quả A-la-hán và được xem là Tiểu thừa.
thanh văn thừa
6499為二乘之一,三乘之一,五乘之一。指能成就聲聞果之四諦法門。乘,為運載之意,指能乘載眾生至彼岸者;即指佛陀之教法。聲聞之人由觀四諦之理而出離生死,以達涅槃,故稱四諦法門為聲聞乘。又指聲聞之機類。〔稱讚大乘功德經、法華玄論卷七、大乘法苑義林章卷一末〕(參閱「二乘」206)
; Sāvakayāna (P), Śrāvaka-yāna (S) Một trong Ngũ thừa. Giáo pháp dạy về Tứ đế, độ người tu học đắc quả La hán. Là một trong tam thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa la Tiểu thừa.
; See Sravakayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (聲聞乘) Chỉ cho pháp môn Tứ đế đưa người đến quả Thanh văn, 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa, 1 trong 5 thừa. Thừa nghĩa là vận chuyển, chỉ cho sự chuyên chở chúng sinh đến bờ bên kia, tức chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Hàng Thanh văn nhờ quán xét lí Tứ đế mà ra khỏi sinh tử, đạt đến Niết bàn, cho nên gọipháp môn Tứ đế là Thanh văn thừa. Thanh văn thừa cũng chỉ cho căn cơ chủng loại Thanh văn. [X. kinh Xưng tán đại thừa công đức; Pháp hoa huyền luận Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối]. (xt. Nhị Thừa).
thanh văn thừa (thặng)
Sràvakayàna (S). Vehicle ơođ Hearer.
thanh văn thừa giáo
6499光宅四乘之一。光宅,即指南朝梁代光宅寺之法雲法師。師依法華經譬喻品所說之羊、鹿、牛、大白牛等四車,判釋佛陀一代之教說為四乘教,而以羊車比喻聲聞乘教。謂聲聞之人以「析空觀」觀於生滅四諦,破除見思煩惱,證真諦理,得離三界生死,如乘羊車出於火宅。〔華嚴五教章卷一、法華義記卷四〕(參閱「光宅四乘」2171)
; (聲聞乘教) Một trong 4 thừa giáo do ngài Quang trạch phán thích. Quang trạch chỉ cho Pháp sư Pháp vân chùa Quang trạch, sống vào đời Lương thuộc Nam triều. Ngài Pháp vân căn cứ vào 4 xe: Dê, nai, bò, trâu trắng lớn nói trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa mà chia giáo pháp của đức Phật làm 4 thừa giáo, lấy xe do dê kéo để ví dụ cho Thanh văn thừa giáo. Nghĩa là hàng Thanh văn dùng Tích không quán để quán xét sinh diệt Tứ đế, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng lí Chân đế, lìa được sinh tử trong 3 cõi, như ngồi xe dê ra khỏi nhà lửa. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa nghĩa kí Q.4]. (xt. Quang Trạch Tứ Thừa).
thanh văn thừa thập địa
Xem thập địa.
thanh văn tăng
6499二種僧之一,三種僧之一。指剃髮染衣,現沙門之形相,而修習戒、定、慧三學者。大智度論卷三十四舉出聲聞僧、菩薩僧二種;大乘本生心地觀經卷二則舉出菩薩僧、聲聞僧、凡夫僧等三種。如舍利弗、目犍連等,即為聲聞僧。(參閱「僧伽」5718)
; (聲聞僧) Chỉ cho những người cạo tóc, mặc áo ca sa, hiện hình tướng sa môn, tu học giới định, tuệ, 1 trong 2 loại tăng, 1 trong 3 loại tăng.Luận Đại trí độ quyển 34 nêu 2 loại tăng là Thanh văn tăng và Bồ tát tăng. Còn kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 thì nêu 3 loại tăng là Bồ tát tăng, Thanh văn tăng và Phàm phu tăng. Như các tôn giả Xá lợi phất, Mục kiền liên... chính là Thanh văn tăng. (xt. Tăng Già).
thanh văn tạng
6499二藏之一,三藏之一。指釋尊為聲聞所說之四諦、十二因緣等教說。為菩薩所說之六度等教法,則稱菩薩藏。聲聞藏一語係出自菩薩地持經卷十二。隋代慧遠及唐代吉藏、善導等諸師,均將經典分類為二藏,並加以批判。於文殊支利普超三昧經卷中則舉聲聞、緣覺、菩薩三藏之說。若僅稱聲聞、菩薩二藏時,聲聞藏中則已包含有緣覺藏。此二藏之分類,與所謂大小二乘、半滿二教為同義。〔入大乘論卷上、大乘義章卷一〕(參閱「二藏」250)
; The Sravaka—Hinayana Canon.
; (聲聞藏) Chỉ cho các giáo pháp 4 đế, 12 nhân duyên mà đức Thích tôn nói cho hàng Thanh văn nghe, là 1 trong 2 tạng, 1 trong 3 tạng. Còn giáo pháp 6 độ mà đức Thích tôn nói cho Bồ tát nghe thì gọi là Bồ tát tạng. Từ ngữ Thanh văn tạng có xuất xứ từ kinh Bồ tát địa trì quyển 12. Ngài Tuệ viễn đời Tùy và các ngài Cát tạng, Thiện đạo đời Đường đều chia loại kinh điển thành 2 tạng để nghiên cứu, phân tích. Kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì nêu thuyết Ba tạng: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Nếu khi chỉ nói đến 2 tạng Thanh văn và Bồ tát thì trong tạng Thanh văn đã bao hàm cả tạng Duyên giác rồi. Cách phân loại 2 tạng này đồng nghĩa với Nhị thừa (Đại thừa, Tiểu thừa), Nhị giáo(Bán giáo, Mãn giáo). [X. luận Nhậpđại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Nhị Tạng).
thanh văn uý khổ chướng
6498謂聲聞之人,畏怖世間生死輪迴之苦,樂著涅槃,反為證佛果之障礙。涅槃宗要(大三八‧二四六上):「聲聞畏苦,障於樂德,不知彼苦即是大樂故。」
; (聲聞畏苦障) Hàng Thanh văn bị phiền não sợ khổ làm chướng ngại. Nghĩa là hàng Thanh văn sợ hãi nỗi khổ sinh tử luân hồi ở thế gian, ưa đắm Niết bàn, lại bị ngay nỗi sợ hãi và niềm ưa đắm ấy làm chướng ngại việc chứng đắc quả Phật. Niết bàn tông yếu (Đại 38, 246 thượng) nói: Thanh văn sợ khổ, chướng ngại đức vui, không biết khổ ấy chính là vui lớn.
thanh văn ứng
6499為觀世音菩薩三十二應之第四。觀世音菩薩為教化眾生,示現三十二種身相,以應同各種機類;聲聞應即以聲聞之身應現於眾生。大佛頂首楞嚴經卷六謂,若諸有學證得四諦之空,修道入滅,勝性現圓,菩薩即於彼前現聲聞之身,為其說法,使得解脫。(參閱「三十二應」511)
; (聲聞應) Ứng thân thứ 4 trong 32 ứng thân của bồ tát Quán thế âm. Vì giáo hóa chúng sinh nên bồ tát Quán thế âm thị hiện 32 thân tướng để thích hợp với các căn cơ chủng loại. Thanh văn ứng tức là dùng thân Thanh văn ứng hiện trước chúng sinh.Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 ghi: Nếu các vị Hữu học chứng được lí không của Tứ đế, tu đạo nhập diệt, thắng tính hiện tròn đủ, thì Bồ tát liền hiện ra thân Thanh văn ở trước vị ấy, nói pháp cho nghe, khiến được giải thoát. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).
Thanh văn 聲聞
[ja] ショウモン shōmon ||| śrāvaka. 'voice-hearer'; originally, a disciple of the Buddha (who heard his voice); later, a follower of Hīnayāna who contemplates the principle of the four noble truths to attain nirvāna. In Mahayana texts, the śrāvaka is considered along with the pratyekabuddha 辟支佛, to be a practitioner of the two lesser vehicles (二乘、小乘), inferior in insight and compassion to the bodhisattva 菩薩. (2) A monk. śrāvaka (s); voice-hearer (e); => 1. Ban đầu là chỉ cho đệ tử của Đức Phật (những ai nghe được giáo lý của Ngài); về sau, chỉ cho đệ tử của Tiểu thừa tu tập tứ diệu đế để đạt đến niết-bàn. Theo kinh điển Đại thừa, Thanh văn được xem như cùng với Bích chi Phật (s: pratyekabuddha 辟支佛) là những vị tu theo pháp Nhị thừa (二乘、小乘), ít phát triển trí huệ và lòng từ bi hơn là pháp tu của hàng Bồ-tát. 2. Tăng sĩ Phật giáo.
thanh vắng
Deserted and silent.
thanh âm các
4663位於四川峨眉。創建於四世紀,唐時稱牛心寺,明洪武元年(1368),廣濟禪師加以修復後,改名為清音閣。寺院附近滿佈清澈溪流、瀑布,景緻奇佳,故為峨眉十景之一,為文人所雅好。架於深淵上之石橋對面,有一紅色之「雙橋清音」匾額,循急陡之石階上行,可至白衣觀音樓。重要建築有雙飛亭、牛心亭、紅色六角亭等。
thanh đàm
4674指東漢末年至魏初之際,知識階層所形成「藉談辯而達治學、求理目的」之社會風氣。此風盛行於魏、晉兩朝(202~419)。清談純屬哲學思辨之理趣範圍,如人生論、宇宙論、本體論、知識論、樂理、倫理、美學、語言語意學等,而不涉及現實、功利之官場政治或營生之術,故當時之社會意識普遍呈現追求清純之風尚。同一時期,另有玄談之風,其主題僅限於清談中之純粹宇宙論、本體論,及如何配合此宇宙論之部分人生論,應屬形而上學,故範圍較窄。當時名士如王弼、向秀等,大多以談玄相尚,提倡老莊之學,是以玄風大熾。玄學之士雖被評為空理、空論之徒,然佛教入傳之初即是藉由清談、玄談而得以向知識分子傳播。
; (清談) Bàn luận về lí cao xa, trống không. Chỉ cho cái phong khí xã hội Trung quốc được hình thành vào cuối đời Đông Hán đến đầu đời Ngụy, trong đó, giai tầng trí thức muợn sự đàm luận biện biệt để cầu đạt chân lí. Phong khí này thịnh hành vào đời Ngụy và Tấn (202-419). Thanh đàm thuần túy thuộc phạm vi tư tưởng triết học, như Nhân sinh luận, Vũ trụ luận, Bản thể luận, Tri thức luận, Nhạc lí, Luân lí, Mĩ học, Ngữ ngôn ngữ ý học... chứ không dính dáng gì đến chính trị, công danh, lợi lộc hoặc thuật mưu sinh..., cho nên ý thức xã hội đương thời biểu hiện phong cách tìm cầu sự thanh khiết. Cũng thời kì này, còn có phong khí Huyền đàm (bàn về lí sâu xa, kín nhiệm)mà chủ đề chỉ giới hạn ở Vũ trụ luận và Bản thể luận thuần túy trong Thanh đàm và làm thế nào để phối hợp phần Vũ trụ luận này với Nhân sinh luận. Các danh sĩ đương thời như Vương bật, Hướng tú... phần nhiều chuộng Huyền đàm, đề cao học thuyết Lão Trang, do đó Huyền đàm rất thịnh. Các danh sĩ Huyền học tuy bị chê là những người theo lí suông, bàn suông nhưng lúc Phật giáo truyền vào thì chính cũng nhờ Huyền đàm, Thanh đàm mà truyền bá đến được các phần tử trí thức.
thanh đạm
Slight—Frugal.
thanh đầu quán âm
• Vị Quán Âm đầu xanh, ngồi trên vách đá dựng đứng: The blue-head Kuan-Yin, seated on a steep cliff. • Vị Quán Âm cổ xanh, có ba mặt: The blue-knech Kuan-Yin, with three faces.
thanh đề nữ
The mother of Maudgalyàyana, noted for her meanness.
; Mẹ của Mục Kiền Liên trong một tiền kiếp, nổi tiếng về sự bần tiện của bà—The mother of Maugalyaya na in a former incarnation, noted for her meanness.
Thanh 聲
[ja] ショウ shō ||| (1) Voice, words, speech, sound. A necessity for the auditory consciousness 耳識. (2) To listen. (3) Name, fame.(4) Teaching, education, instruction. => 1. Tiếng nói, lời nói, ngôn từ, âm thanh. Yếu tố cần thiết đối với nhĩ thức 耳識. 2. Lắng nghe. 3. Tiếng tăm, danh tiếng. 4. Giáo lý, sự giáo dục, lời chỉ dẫn.
thao dượt
To manoeuver—To exercise.
thao luyện
To drill—To exercise.
thao láo
To be wide-open (eyes).
thao quang am
6726位於浙江杭縣靈隱山與北高峰之間。原名廣嚴院。唐穆宗(821~824 在位)時,有高僧結茅於巢枸塢,自稱韜光,與當時杭州刺史白樂天邀詩唱和,自此稱為韜光庵。
thao thao bất tuyệt
Volubly and interminably (speaking).
thao thiết
瑜伽八十四卷十六頁云:饕餮者:謂希望未來所得受用事故。二解法蘊足論八卷十五頁云:云何饕餮?謂有一類、分財利時,捨一取一,情貪無定;是名為饕。前後食時,往飲食所,甞此歠彼,好惡不定;是名為餮。此卽及前、總名饕餮。
thao thực nhi thủ
如不與取者相中說。
thao túng
To do as one pleases, hold or release whenever one can benefit.
Thạch Sương Khánh Chư
(石霜慶諸, Sekisō Keisho, 807-888): xuất thân vùng Tân Cam (新淦), Cổ Châu (古州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Năm lên 13 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Tây Sơn Thiệu Giám (西山紹鑑) ở Hồng Châu (洪州, thuộc Huyện Nam Xương, Tỉnh Triết Giang), rồi thọ cụ túc giới với Tung Nhạc (嵩岳) và học về giới luật. Sau đó, ông đến tham yết Đạo Ngô Viên Trí (道吾圓智) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông đến sống ở Thạch Sương Sơn (石霜山) trong vòng 10 năm, và chính trong khoảng thời gian nầy, ông đã cùng với môn đệ mình chuyên tâm ngồi Thiền mà không hề nằm nghỉ như cây khô, nên người đời thường gọi họ là Người Cây Khô. Vua Hy Tông (僖宗) nhà Đường nghe được đạo phong của ông nên ban cho Tử Y, nhưng ông cố từ không thọ nhận. Vào ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân (888, năm đầu niên hiệu Văn Đức), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời và 59 hạ lạp. Ông được sắc phong thụy hiệu là Phổ Hội Đại Sư (普會大師).
then chốt
1) Latch and bolt. 2) Essential—Important.
theo
1) According to—In accordance with. 2) To follow—To go (come) after—To accompany someone.
theo bén gót
To follow close behind.
theo bản năng
Instinctively.
theo dõi
To observe—To watch.
theo dấu
To track—To trail—To trace.
theo gót
To follow someone closely.
theo kinh pháp cú, câu 183, đức phật dạy
“Chớ làm các điều ác, gắng làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch. Ấy lời chư Phật dạy.”—According to the Dharmapada Sutra, verse 183, the Buddha taught: Not to do evil, to do good, to purify one's mind, this is the teaching of the Buddhas.”
theo kịp
To catch (come) up with.
theo như
In accordance with.
theo phe
To take sides with.
theo quan niệm
Conceptually
theo riết
See Theo gót.
theo sau
To go after—To follow.
theo sự sắp đặt
Structurally.
theo truyền thống thiền tông
To follow the Zen Practice—To be a follower of Zen.
theo đuổi
To pursue—Chase after.
theo đuổi dục vọng
Chase after pleasures.
theo đòi
To imitate.
theo đúng con đường giác ngộ
To follow the right way of Enlightenment.
thi
A corpse; to manage.
; 1) Bố thí (cho): To give—To offer—To donate. 2) Đi thi: To go in (sit) for an examination. 3) Tử thi: Dead body—Corpse (of a murder person). 4) Thơ: Poetry.
thi ba la mật
Sìlapàramità (S) Morality, the second of the pàramitàs.
Thi ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là ỵla-pramit, hay Thi-la ba-la-mật, tức Giới ba-la-mật, hay Trì giới ba-la-mật, cũng gọi là Giới độ.
Thi ba-la-mật 尸波羅蜜
[ja] シハラミツ shiharamitsu ||| A transliteration of śīla-pāramitā--the bodhisattva's unattached practice of moral discipline. => Phiên âm chữ śīla-pāramitā—nghĩa là Bồ-tát không chấp trước vào việc hành trì giới luật.
thi bà đàn ni
Sītapāni (S)Một Đại luận sư phái Hữu bộ.
thi bán thi
941指尸咒與半尸咒。印度古代與西域等地,有用咒法以死屍殺人者,若用全尸殺人,稱為尸咒;用無頭之尸殺人,則稱半尸咒。瑜伽論記卷十七上(大四二‧六八八下):「泰云:有人欲殺他,咒令死身長,令殺怨家,故名尸咒。無頭尸不作言語,令殺他人,故名半尸。測云:有人欲殺他,以咒咒鬼,令鬼殺他,或將令尸殺眾生,故名為尸。或將尸手足等殺有情,故名半尸。」(參閱「毘陀羅鬼」3851)
; Giết người bằng phương pháp Tỳ Đà La, nghĩa là lấy ma lực bằng cách luyện chú trên một thây ma. Nếu là thây không đầu hay từng phần của thây thì gọi là “Bán Thi.” Nếu là toàn thây thì gọi là “Thi.”—To kill a person by the Vetala Method of obtaining magic power by incantations on a dead body; when a headless corpse, or some part of the body is use, it is called “Half-Corpse Vetala.” When the corpse is used, it is called “Whole-Corpse Vetala.”
; (尸半尸) Chỉ cho Thi chú và Bán thi chú. Tức ở Ấn độ và miền Tây vực đời xưa, người ta dùng chú thuật sai khiến tử thi đi giết người. Nếu dùng toàn bộ tử thi để giết người thì gọi là Thi chú; nếu dùng tử thi không có đầu đi giết người thì gọi là Bán thi chú. Du già luận kí quyển 17, phần đầu (Đại 42, 688 hạ) ghi: Thái nói: Có kẻ muốn giết người, dùng chú thuật sai toàn thân xác chết đi giết oan gia, nên gọi là Thi chú; sai xác chết không có đầu, không nói được, đi giết người, nên gọi là Bán thi.Trắc nói: Có kẻ muốn giết người, dùng bùa chú sai quỉ giết người, hoặc sai tử thi giết hại chúng sinh, cho nên gọi là Thi. Hoặc dùng tay chân của tử thi giết hữu tình, cho nên gọi là Bán thi.
thi ca
943悉曇字渷(ska)。悉曇四十二字門之一。又作塞迦、娑迦、歌。光讚般若經卷七、大品般若經卷五均取梵語 skandha(意譯聚、蘊)之字首,而將 ska 解釋為「一切諸法不得五陰」、「諸法聚不可得」等義;放光般若經卷四則釋之為「法性」。六十華嚴卷五十七謂,唱尸迦字時,入於般若波羅蜜門,稱為諸地滿足無著無礙解脫光明遍照(梵 bhūmi-garbhāsaṃga-pratisamvit-prabha-cakra-spharaṇa)。〔大般若經卷四一五、守護國界主陀羅尼經卷三陀羅尼品、大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門、大智度論卷四十八〕
; (尸迦) Cũng gọiTắc ca, Sa ca, Ca. Tức chữ (ska) trong 42 chữ cái Tất đàm.Kinh Quang tán bát nhã quyển 7 và kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 đều theo chữ đầu trong tiếng Phạm Skandha (Hán dịch là Tụ, Uẩn) mà giải thích Skanghĩa là Tất cả các pháp không có 5 uẩn, Các pháp tụ bất khả đắc... Kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 thì giải thích là pháp tính. Kinh Hoa nghiêm quyển 57 (bản 60 quyển) nói rằng: Khi xướng chữ Thi ca thì nhập vào môn Bát nhã ba la mật, gọi là Chư địa mãn túc vô trước vô ngại giải thoát quang minh biến chiếu (Phạm: Bhùmigarbhàsaôga-pratisamvit-prabhacakra-spharaịa).
thi ca cung đình
Kavya (S).
thi ca la việt
Xem Thiện Sanh.
; Sigàlovada (P).
; Tu Xà Đà, con trai của một vị trưởng giả trong thành Vương Xá—Sujata, son of an elder of Rajagrha.
thi ca la việt bồ tát
Sigalavada (S)Thiện Sanh Bồ tátMột vị Bồ tát tại gia.
thi ca la việt kinh
Sigalovāda-sŪtra (S), Sigalovāda-sutta (P)Bài Kinh Phật giảng về lễ lục phương tức là tôn trọng sáu cái bổn phận đối với: cha mẹ, thầy dạy học, vợ chồng, bằng hữu, tôi tớ, thầy dạy pháp cho hàng cư sĩ tại gia.
; Sigàlovada-sutta (P). Also Thiện sinh kinh.
thi hoa la sát nữ
Xem Hoa Sĩ La sát nữ.
thi hành
To carry out—To execute—To perform or fulfil (a promise)—To give effect to (decree)—To enforce (the law)—To achieve (work).
thi hào
Great poet.
thi họa
Poetry and painting.
thi hộ
Dānapāla (S)Tên một vị sư. Tỳ kheo thế kỷ X, đời Tống, sang Trung quốc dịch kinh.
Thi Hộ 施護
[ja] セゴ Sego ||| Dānapāla, an Indian scholar monk who was active as a translator in the Northern Song. => (s: Dānapāla). Tăng sĩ học giả Ấn Độ, là một dịch giả vào thời Bắc Tống.
thi khí
Sikhi (S)Là Đại Phạm Thiên vương, còn gọi là Phạm vương, hay Thế Chủ (Prajapati).
; Sikkhin (S). (1) The 999th Buddha of the last kalpa, whom Sàkyamuni is said to have met. (2) The second of the seven Buddhas of antiquity.
; Sikhin (skt)—Thức Khí—Thức Cật—Crested or flame, explained by fire. 1) Trong Câu Xá Luận bản cũ gọi là Lạt Na Thi Khí: Called Ratnasikhin in Abhidharma, Kosa sastra old version. 2) Trong Bản Hạnh Kinh gọi là Loa Kết: Called “A Shell-like tuft of hair” in the Orginal Practice Sutra. 3) Vị Phật thứ 999 của kiếp cuối cùng mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng gặp, cũng là vị Phật thứ nhì trong bảy vị cổ Phật: The 999th Buddha of the last (preceeding) kalpa, whom Sakyamuni is said to have met, the second of the Sapta Buddha. 4) Vị Phật thứ hai trong bảy vị Phật quá khứ, sanh tại Quang Tướng Thành—The second of the seven Buddhas of antiquity, born in Prabhadvaja as a Ksatriya. 5) Thi Khí còn là tên gọi của Đại Phạm Thiên Vương, nghĩa là “Đỉnh Kết” hay “Hỏa Tai Đỉnh” (đại hỏa tai thời kiếp mạt). Vì nhập Hỏa Quang Định mà đoạn lìa dục hoặc mà trở về theo giới đức—A Mahabrahma, whose name Sikhin is defined as having a flame tuft on his head; connected with the world-destruction by fire. Sikhin is also described as a flame or a flaming head and as the god of fire, styled also “Suddha Pure.” He observed the Fire Dhyana, broke the lures of the ralm of desire, and followed virtue.
Thi Khí Phật
(s: Śikhin-buddha, p: Sikhin-buddha, 尸棄佛): ý dịch là Đảnh Kế (頂髻), Trì Kế (持髻), Hữu Đảnh (有髻), vị thứ 2 trong 7 vị phật thời quá khứ. Vào thời quá khứ 31 kiếp, khi con người có tuổi thọ 70.000, vị Phật này ra đoìư trong dòng dõi Sát Đế Lợi (刹帝利) của Thành Quang Tướng (光相城). Ngài có họ là Cù Đàm Câu Lân Nhã (瞿曇拘隣若), cha tên Minh Tướng (明相), mẹ là Quang Diệu (光妙). Ngài thành đạo dưới gốc cây Phân Đà Lợi (分陀利), thuyết pháp 3 hội và độ được hơn 200.000 người.
thi khí phật
944梵名 Śikhi-buddha,巴利名 Sikhi-buddha。指過去七佛之第二佛。又作式佛、式詰佛、式棄佛、式棄那佛。意譯頂髻、有髻、火首、最上。依長阿含經卷一大本經之說,尸棄佛生於過去三十一劫之時,其時人壽七萬歲,姓拘利若(巴 Koṇḍañña),為剎帝利種明相(巴 Aruṇa)之子,母名為光曜(巴 Pathāvatī)。於分陀利(巴 puṇḍarīka)樹下成正覺。初會說法度比丘十萬人,二會說法度眾八萬人、三會說法度眾七萬人。其上首弟子為阿毘浮(巴 Abhibhū),第二弟子為三婆婆(巴 Sambhava),執事弟子為忍行(巴 Khemankara)。另於增一阿含經卷四十五、七佛父母姓字經、佛名經卷十九等均有此佛之記載,惟所載之當世人壽、父母弟子姓名、度眾人數等各有異說。又據四分律比丘戒本載,尸棄佛嘗說戒經(大二二‧一○二二中):「譬如明眼人,能避嶮惡道;世有聰明人,能遠離諸惡。」〔增一阿含經卷四十四、七佛經、毘婆尸佛經卷下〕(參閱「七佛」96)
; Ṣikhin (S), Sikhi-buddha (S)Đức Phật thứ 999 thuộc Trang nghiêm Kiếp.
; See Thi Khí (3) and (4).
; (尸棄佛) Phạm: Zikhi-buddha. Pàli:Sikhi-buddha. Cũng gọi Thức Phật, Thức cật Phật, Thức khí Phật, Thức khí na Phật. Hán dịch: Đính kế, Hữu kế, Hỏa thủ, Tối thượng. Theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1, đức Phật Thi khí ra đời vào kiếp thứ 31 ở quá khứ, bấy giờ con người sống lâu 7 vạn tuổi, họ của ngài là Câu lợi nhã (Pàli: Koịđaĩĩa), cha là Minh tướng (Pàli:Aruịa) thuộc dòng Sátđếlợi, mẹ tên là Quang diệu (Pàli:Pathàvatì). Ngài thành Chính giác dưới gốc cây Phân đà lợi (Pàli:Puịđarìka). Hội thuyết pháp đầu tiên độ 18 vạn tỉ khưu, hội thứ hai thuyết pháp độ 8 vạn người, hội thứ 3 thuyết pháp độ 7 vạn người. Đệ tử thượng thủ là A tì phù (Pàli:Abhibhù), đệ tử thứ 2 là Tam bà bà (Pàli:Sambhava), đệ tử chấp sự là Nhẫn hành (Pàli: Khemankara). Ngoài ra, các kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự và kinh Phật danh quyển 19... đều có nói về đức Phật này, nhưng về tuổi thọ con người đương thời, tên họ cha mẹ, đệ tử, số người được độ... đều có khác nhau. Còn theo Tứ phần luật tỉ khưu giới bản thì đức Phật Thi khí từng nói Giới kinh (Đại 22, 1022 trung): Ví như người mắt sáng, tránh được đường nguy hiểm, đời có người thông minh, thường xa lìa điều ác.
Thi Khí Phật 尸棄佛
[ja] シキブツ Shiki butsu ||| Śikhin, the second of the seven buddhas of the past 過去七佛. The tradition says that he was born at a time when the normal life span was 70,000 years. He was born in the kṣatriya caste and attained enlightenment under a lotus plant. 〔華嚴經 T 278.9.717c9〕 => Đức Phật thứ hai trong bảy Đức Phật quá khứ. Theo truyền thuyết Đức Phật ra đời khi mạng sống của con người là 70.000 năm. Ngài sinh ra trong gia đình thuộc giai cấp Sát-đế-lợi (s: kṣatriya) và thành đạo trong một đài sen.
thi khí thiên
Xem Đại Phạm thiên.
thi khí tỳ
tên một vị trời phụ trách về âm nhạc ở Thiên Đường Đông Độ—A deva of music located in the Eastern Paradise.
thi khí đại phạm
943請參閱 六方禮經請參閱 六方禮經 梵名 Śikhi-brahman。為色界初禪天之天主。尸棄(梵 śikhin),意譯為頂髻、火。此王本修火光定,破除欲界之惑,故從德而立名。又據大般若經卷五七○現相品,以持髻梵王為堪忍界之天主;法華玄贊卷二本,則以為持髻梵王即尸棄大梵。而堪忍界即娑婆世界,則尸棄大梵為娑婆世界四禪天之天主。近代有學者認為,尸棄大梵係表示過去七佛之第二尸棄佛與梵天思想之混合。大乘所謂現在佛出現之說,亦從梵天思想而來。〔法華經卷一、法華文句卷二下、法華義疏卷一(吉藏)〕(參閱「尸棄佛」944)
; Sikhi-brahman (S).
; (尸棄大梵) Phạm: Zikhi-brahman. Thi khí, Phạm: Zikhin. Hán dịch: Đính kế, Hỏa. Vị trời đứng đầu Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Vị trời này tu định Hỏa quang phá trừ hoặc lậu cõi Dục, cho nên có tên là Hỏa. Phẩm Hiện tướng trong kinh Đại bát nhã quyển 570 cho rằng Trì kế Phạm vương đứng đầu thế giới Kham nhẫn; Pháp hoa huyền tán quyển 2, phần đầu, thì cho rằng Trì kế Phạm vương chính là Thi khí Đại phạm, đứng đầu cõi trời Tứ thiền thuộc thế giới Kham nhẫn(tức thế giới Sa bà).Các học giả cận đại cho rằng Thi khí Đại phạm là biểu thị sự hỗn hợp về tư tưởng giữa đức Phật Thi khí thứ 2 trong 7 đức Phật quá khứ và Phạm thiên. Thuyết của Đại thừa chủ trương Phật hiện tại xuất hiện cũng từ tư tưởng Phạm thiên mà ra.
Thi Khí 尸棄
[ja] シキ shiki ||| (1) The name of a brahman king in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.24b14〕 (2) Śikhin Buddha. See 尸棄佛. => 1. Tên một vị vua Bà-la-môn trong kinh Pháp Hoa. 2. Phật Thi Khí (s: Śikhin Buddha). Xem Thi Khí Phật尸棄佛.
thi la
944梵語 śīla,原由動詞語根 śīl(履行之義)轉來之名詞,含有行為、習慣、性格、道德、虔敬等諸義。為六波羅蜜中之「戒行」,乃佛陀所制定,令佛弟子受持,以為防過止惡之用。其語意,除上舉之外,據雜阿毘曇心論卷十載,另有:修習、正順、三昧、清涼、安眠等義。大毘婆沙論卷四十四則舉出:清涼、安眠、數習、得定、隧嶝、嚴具、明鏡、階陛、增上、頭首等十義。就「清涼」一義而言,蓋身、口、意三業之罪能使修行者焚燒熱惱,戒則能止息熱惱,令得安適,故稱清涼。此外,其他經論亦有異解,然大抵皆以防過止惡為其本義。大智度論卷十三(大二五‧一五三中):「尸羅,好行善道,不自放逸,是名尸羅。或受戒行善,或不受戒行善,皆名尸羅。」阿毘達磨俱舍論卷十四(大二九‧七三上):「能平險業,故名尸羅,訓釋詞者,謂清涼故,如伽他言,受持戒樂,身無熱惱,故名尸羅。」〔發菩提心經論卷上、菩提資糧論卷一、玄應音義卷十四〕(參閱「戒」2896、「律」3789)
; Xem Giới.
; Sìla (S). Restraint, or keeping the commandments. The second pàramità, moral purity.
; Sila (skt)—Thi Đát La. 1) Thanh lương: Pure and cool. 2) Giới: Commandments—Restraint or keeping the commandments. 3) Ba La Mật thứ nhì trong Lục Ba La Mật, thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý: It is the second of the six paramitas, moral purity of thought, word, and deed. 4) Bốn nghĩa hay bốn điều kiện của giới—Four meanings or four conditions of sila: a) Thanh lương: Chaste (pure and cool). b) Yên ổn: Calm. c) Yên tĩnh: Quiet. d) Tịch Diệt: Extinguished (Nirvana). 5) Năm giới đầu trong thập giới là dành cho tất cả Phật tử: The first five or panca-sila, of the ten sila or commandments are for all Buddhists. ** For more information, please see Giới.
; (尸羅) Phạm:Zìla. Gốc của danh từ này là từ động tựzìl (thực hành) mà ra, bao gồm các nghĩa hành vi, tập quán, tính cách, đạo đức, cung kính..., cũng chỉ cho giới hạnh trong 6 .Ba la mật do đức Phật chế định để các đệ tử giữ gìn khiến ngăn ngừa điều lỗi. Về ngữ ý của danh từ này, ngoài các nghĩađãnêu trên, theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 10, còn có các nghĩa khác như tu tập, chính thuận, tam muội, thanh lương(mát mẻ), an miên(ngủ yên giấc)... Luận Đại tì bà sa quyển 44 thì nêu ra các nghĩa: Thanh lương, an miên, sác tập (tập luôn luôn), đắc định, nghiêm cụ(đồ dùng để trang nghiêm), minh kính(gương sáng), tăng thượng(thêm lên), đầu thủ... Tội lỗi do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra làm cho người tu hành bị thiêu đốt nóng bức; Giới có công năng chấm dứt nóng bức khiến được yên vui thoải mái, cho nên gọi là Thanh lương. Các kinh luận khác cũng có những giải thích khác nhưng đại khái đều lấy việc ngăn ngừa điều lỗi làm nghĩa gốc.Luận Đại trí độ quyển 13 (Đại 25, 53 trung) nói: Thích tu hành thiện đạo, không tự buông thả, gọi là Thi la. Hoặc thụ giới làm thiện, hoặc không thụ giới mà làm thiện đều gọi là Thi la. Luận A tì đạt ma câu xá quyển 14 (Đại 29, 73 thượng) nói: Có năng lực diệt trừ các nghiệp ác nên gọi là Thi la.
thi la a điệt đa
Siladitya (skt)—Giới Nhật—Son of Pratapaditya and brother of Rajyavardhana. Under the spiritual auspices of Avalokitesvara, he became king of Kanyakubja, 606 A.D. and conquered India and the Punjab. He was merciful to all creatures, strained drinking water for horses and elephants, he was most liberal patron of Buddhism, re-established the great quinquennial assembly, built many stupas, showed special favour to Silabhadra and Hsuan-Tsang, and composed the Astama-hasri-Caitya-Samskrta-Strota (Bát Đại Linh Tháp Phạm Tán). He reigned about 40 years.
thi la ba la mật
Xem Trì giới Ba la mật.
; Xem Thi ba la mật.
; Silaparamita (skt)—Hạnh trì một trong sáu hay mười giới Ba La Mật—Morality—The second of the six or ten paramitas. ** For more information, please see Giới.
thi la bát phả
Silaprabha (skt)—Giới Quang là tên Phạn của Pháp Sư Đạo Lâm ở Thiên Trúc—The Sanskrit name of a learned monk (T'ao-Lin) in India.
thi la bí đà la
Silabhadra (S). Also Giới Hiền luận sư.
thi la bạt đà la
Xem Giới Hiền Luận sư.
; Silabhadra (skt)—Một danh Tăng tại tu viện Na Lan Đà, thầy của Huyền Trang, vào khoảng năm 625 sau tây Lịch—A famously learned monk of Nalanda, teacher of Hsuan-Tsang, 625 A.D.
thi la bạt đà đề
Silabhadra (skt)—Tên của một vương tử trong Kinh Hiền Ngu quyển 6—Name of a prince.
thi la bất thanh tịnh
Impure commandments—Nếu giới bất tịnh, không ai vào được tam muội—If the sila, or moral state, is not pure, none can enter samadhi.
thi la thanh tịnh
Moral purity, essential to enter into samàdhi
; Thanh Tịnh Giới, cấp thiết cho việc nhập định—Moral purity, essential to enter into samadhi.
thi la tàng
Màn làm bằng đá quý thanh lương—A curtain made of chaste precious stones.
thi la tứ nghĩa
944尸羅,為防過止惡之意。其四義即:(一)清涼之義,乃遠離內心之熱惱憂苦,令其安適。(二)安穩之義,能為他世安樂之因。(三)安靜之義,能建立止觀。⑷寂滅之義,能為得涅槃之樂因。此等諸義,皆就戒之功用所轉釋而來。然「尸羅」一詞,不限於上舉四義,諸經論中亦多所解說,要皆以防過止惡為其本義。〔成實論卷九、瑜伽師地論卷四十二、大乘法苑義林章卷三末〕(參閱「尸羅」944)
; (尸羅四義) Chỉ cho 4 nghĩa chính của Thi la (giới), được giải thích theo công dụng. 1. Thanh lương: Xa lìa sự lo khổ nhiệt não trong lòng mà được mát mẻ, thoải mái.2. An ổn: Là nhân của sự an vui đời sau.3. An tỉnh: Kiến lập được chỉ quán. 4. Tịch diệt: Là nhân chứng đắc Niết bàn.
thi la đạt ma
945唐代于闐國人。又稱戒法。精通華胡語。唐貞元年中(785~?),受節度使楊襲古之請,於北庭(新疆孚遠)龍興寺譯出十地經九卷。由師親自宣讀梵文,並語譯,而由沙門大震筆受,入竺僧悟空證梵文。又譯出迴向輪經一卷。此二經於貞元十五年(799)入藏。其餘事蹟不詳。〔貞元新定釋教目錄卷十七〕
; Siladharma (skt)—Giới Pháp, tên một vị sa môn nước Vu Điền—Name of a sramana of Khotan.
; (尸羅達摩) Cũng gọi Giới pháp. Danh tăng nước Vu điền đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đường. Sư thông thạo tiếng Trung quốc, Ấn độ. Trong năm Trinh nguyên (785-?), sư nhận lời thỉnh cầu của quan Tiết độ sứ là Dương tập cổ, dịch kinh Thập địa 9 quyển ở chùa Long hưng tại Bắc đình (nay là huyện Phu viễn, tỉnh Tân cương), do sa môn Đại chấn ghi chép, ngài Ngộ không kiểm chứng tiếng Phạm. Sau đó, sư lại dịch kinh Hồi hướng luân 1quyển. Hai kinh này được nhập tạng vào năm Trinh nguyên 15 (799).
thi lại nã phạt để
Hiranyavati (skt)—Kim Hà hay sông Vàng, tên của con sông trong lãnh thổ Né-Pal, bây giờ là Gandaki, gần nơi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn—The gold river, a river of Nepal, now called Gandaki, near which Sakyamuni is said to have entered nirvana.
thi lợi
Sri (S). Also sư lợi, thất lợi, thất li, tu lợi; (1) Fortune, prosperity; high rank, success, good fortune, virtues. (2) The wife of Visnu. (3) An honorific prefix or affix to names of gods, great men, and books. (4) An exclamation at the head of liturgies. (5) An abbreviation for Manjusri.
; Cũng còn được gọi là (also called) Sư Lợi, Thất Lợi, Thất Ly, Thất Lý, Tu Lợi, Tất Lợi. 1) Danh từ Phạn ngữ có bốn nghĩa—A Sanskrit term with four meanings: • Thủ (đầu): High rank. • Thắng (trội hơn, tốt đẹp hơn): Success. • Cát Tường (tốt lành): Good—Good fortune—Prosperity. • Đức: Virtues. 2) Tên vắn tắt của Ngài Văn Thù Sư Lợi: An abbreviation for the name of Manjusri. 3) Một tiếp đầu ngữ hay tiếp vĩ ngữ có nghĩa là danh dự hay được tôn vinh trước tên các vị Thần, các bậc vĩ nhân, hay những quyển sách quý: An honorific prefix or affix to names of gods, great men, and books. 4) Tên của vợ của Thần Visnu: Name of the wife of Visnu.
thi lợi ca (già) na
Sriguna (skt)—Hậu Đức, một danh hiệu của Phật—Abundantly virtuous, a title of a Buddha.
thi lợi cúc đa
Srigupta (skt)—Thi Lợi Quật Đa—Thất Lợi Cúc Đa—Tên một vị trưởng giả ở thành Vương Xá, người đã dùng hầm lửa và cơm trộn thuốc độc định hại Phật, nhưng không thành. Ông bèn quy y theo Phật—An elder in Rajagrha, who tried to kill the Buddha with fire and poison, but he failed. He then took refuge in the Triratna.
thi lợi dạ
Sriyasas (skt)—Vị Thần mang đến sự kiết tường—A god who bestows good luck.
thi lợi mật đa la
Srimitra (skt)—Một hoàng thái tử Ấn Độ, người đã thoái vị nhường ngôi cho em mình, rồi xuất gia đi tu, sang Tàu, dịch bộ “Quán Đảnh” và các kinh khác—An Indian prince who resigned his throne to his younger brother, became a monk, came to China, translated the Summit of Contemplation and other books.
thi lợi phật thệ
Sribhuja (skt)—Tên nước Châu Mạt La Du tức nước Thi Lợi Phật Thệ ngày nay—Name of Malaya which is now Sribhuja.
thi lợi sa
Sirisa (P)Gốc cây nơi Phật Câu lưu tôn thành đạo.
; Sirisa—Acacia Sirissa (skt)—Also called Thi Lợi Sắc, Sá Lợi Sa, Dạ Hợp Thụ, Hợp Hôn Thụ—Sa La Thụ—Cây Hợp Hôn, có hai loại—The marriage tree. There are two kinds: 1) Thi Lợi Sa: Loại có lá và quả to—Described as with large leaves and fruit. 2) Thi Lợi Sử: Loại có lá và quả nhỏ—Described as with small leaves and fruit.
thi lợi sa ca
Sirisaka (skt)—Tên của một vị sư—Name of a monk.
thi lợi sa thụ
942尸利沙,梵語 śirīṣa,巴利語 sirīsa。又作尸利灑樹、師利沙樹、舍離沙樹。意譯為合歡樹、夜合樹、合昏樹,乃吉祥之意。學名 Acacia sirissa,為產於印度之一種香木,其樹膠可製香藥。金光明最勝王經卷七舉其為三十二味香藥中之第六位。據玄應音義卷三載,該樹種類有二:(一)尸利沙,葉果較大。(二)尸利駛,葉果較小。另據南本涅槃經卷三十二載,尸利沙之果實,初無形質,直至昂星出時,其果自出,長有五寸。慧琳音義謂,尸利沙果又稱似頭果,故尸利沙有「頭」之義。此樹為拘樓孫佛(過去七佛之第四佛)之道場樹。〔陀羅尼集經卷十、慧琳音義卷八、枳橘易土集卷十二〕
; (尸利沙樹) Thi lợi sa, Phạm:Zirìwa,Pàli:Sirìsa. Cũng gọi Thi lợi sái thụ, Sư lợi sa thụ, Xá li sa thụ. Hán dịch: Hợp hoan thụ, Dạ hợp thụ, Hợp hôn thụ. Tên khoa học: Acacia sirissa. Loại cây mọc ở Ấn độ, có nghĩa là tốt lành, thường tiết ra chất nhựa dùng để chế thuốc thơm. Kinh Kim quang tối thắng vương quyển 7 cho rằng hương thơm của cây này đứng vào hàng thứ 6 trong 32 vị thuốc thơm. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 3 thì cây này có 2 chủng loại, đó là: 1. Thi lợi sa: Lá và quả tương đối lớn. 2. Thi lợi sử: Lá và quả nhỏ hơn loại trên.Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Nam) cho rằng khi sao Mão xuất hiện thì quả Thi lợi sa mới hình thành, dài 5 tấc. Tuệ lâm âm nghĩa nói rằng quả Thi lợi sa giống như ái đầu, vì thế Thi lợi sa còn có nghĩa là đầu. Cây này là cây đạo tràng của đức Phật Câu lâu tôn(đức Phật thứ 4 trong 7 đức Phật ở quá khứ).
thi ma xá na
Smasana (skt) or Asmasayana (skt)—Một nghĩa địa trong vùng Thi Đà Lâm—A cemetery in Sitavana.
thi phật
5607唐代王維之別稱。王維信佛甚篤,素持長齋,且對佛學造詣亦深,每爲詩文,輒寓佛理禪機於其中,故世有詩佛之譽。其後預知將入寂,遂作書遍寄知友,書成乃擲筆坐逝。〔舊唐書卷一九○、唐書卷二○二〕(參閱「王維」1513)
; (詩佛) Từ ngữ tôn xưng thi hào Vương duy đời Đường. Ông rất kính tin Phật pháp, ăn hay trường. Kiến thức của ông về Phật học rất sâu sắc, mỗi khi làm thơ đều có ngụ Phật lí, thiền cơ, nên được người đời khen là Thi Phật. Về già, ông biết trước giờ lâm chung, bèn làm thơ gởi các bạn, viết xong, buông bút, ngồi yên lặng mà qua đời.
thi phệ đa ba nga phược để
Xem Bạch thân quán tự tại Bồ tát.
Thi quyền 施權
[ja] シゴン shigon ||| Provisionally established. An expedient. => Thiết lập tạm thời. Một phương tiện .
thi quỷ
Quỷ tử thi, được dựng dậy và sai đi giết hại kẻ thù (đây là một thứ chú thuật của ngoại đạo)—A corpse-ghost, called up to kill an enemy.
thi thiết luận
Prajāpti-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
thi thiết luận bộ
Xem Thuyết giả bộ.
Thi thiết 施設
[ja] セセツ sesetsu ||| (1) A provisionally established method or system. Synonymous with 安立 (anli). To set forth, produce. The various teaching methods, such as sutras, śāstras, meditation and kōan analysis. (2) Hypothesize, assume. (3) To establish something that is not truly existent (prajñapti, prajñapta, upacāra, vijñapti). => 1. Phương pháp hoặc hệ thống được lập tạm thời. Đồng nghĩa với An lập 安立. Trình bày, đưa ra. Các pháp môn khác nhau, như Kinh, Luận, Thiền và tham công án. 2. Giả định, giả lập. 3. Lập ra một điều gì đó không có thực trong thực tế (s: prajñapti, prajñapta, upacāra, vijñapti).
thi thiền nhất trí thuyết
5607謂詩道與禪道相互一致之說。據滄浪詩話載,禪家者流,乘有大小,宗有南北,道有邪正,學者須從最上乘,具正法眼,悟第一義;若小乘禪、聲聞、辟支果等,皆非正宗。論詩如論禪,漢魏晉與盛唐之詩,則爲第一義;代宗大曆以降之詩,則屬小乘禪,已落第二義。準此而說,晚唐之詩,應屬聲聞、辟支果之類。大抵禪道唯在妙悟,詩道亦有妙悟,且孟浩然學力下韓愈甚遠,而其詩獨出韓愈之上者,唯在一味妙悟而已。明代文人都穆即以「學詩渾似學參禪,不悟真乘枉百年;功莫嘔心並剔肺,須知妙悟出天然」之詩,作爲此說之最佳註腳。
; (詩禪一致說) Thuyết cho rằng thi đạo và thiền đạo cùng tương quan nhau và qui về một mối. Cứ theo Thương Lãng thi thoại thì dòng phái nhà Thiền, thừa thì có Đại Tiểu, tông thì có Nam Bắc, đạo thì có chính tà, người học phải theo Tối thượng thừa, có chính pháp nhãn, ngộ Đệ nhất nghĩa; như Tiểu thừa thiền, Thanh văn, Bích chi quả... đều chẳng phải chính tông. Bàn về thơ như bàn về thiền, thơ đời Hán, Ngụy, Tấn vàthịnh Đường thì thuộc về Đệ nhất nghĩa; còn thơ Đại tông, Đại lịch về sau thì thuộc về Tiểu thừa thiền, đã rơi vào Đệ nhị nghĩa. Theo đây thì thơ vãn Đường thuộc loại Thanh văn, Bích chi quả. Nói một cách tổng quát thì mục đích của thiền đạo là diệu ngộ, thi đạo cũng có diệu ngộ. Chẳng hạn như học lực của Mạnh hạo nhiên kém Hàn dũ rất xa, nhưng thơ họ Mạnh lại vượt trội hơn họ Hàn rất nhiều, đó chỉ do một vịdiệu ngộ mà thôi. Văn nhân đời Minh là Đô mục cho bài thơ sau đây là cước chú đẹp nhất cho thuyết này: Học thi hồn tự học tham thiền, Bất ngộ chân thừa uổng bách niên; Công mạc ẩu tâm tinh dịch phế, Tu tri diệu ngộ xuất thiên nhiên. Tạm dịch: Học thơ cũng hệt học tham thiền, Chẳng ngộ chân thừa uổng bách niên; Đâu phải vò tim và xé phổi, Chỉ cần diệu ngộ vượt thiên nhiên.
thi thu ma la sơn thôn
Sisumāragira (S), Simsumaragira (P).
thi thành
Kusinagara or Kusigramaka (skt)—Tên tắt của thành Câu Thi Na, thuộc Vương Quốc cổ Ấn Độ, gần thành Kasiah, nơi Đức Phật nhập diệt, và cũng là nơi sanh của chín học giả nổi tiếng ở Ấn Độ—Belonged to an ancient Indian Kingdom, near Kasiah, the place where Sakyamuni died, also the birth place of nine famous scholars.
thi thâu ma la sơn thôn
942梵名 Śiśumāragira,巴利名 Siṃsumāragira。為印度之古地名,位於婆伽國(巴 Bhaggā)。又作設首婆羅山、失收魔羅山。意譯作鼉山、膠魚山。有部毘奈耶卷四十二(大二三‧八五七上):「佛在室羅伐城逝多林給孤獨園,時憍閃毘(巴 Kosambī)失收摩羅山,於此山下多諸聚落。」此外,雜阿含卷五、卷十九、卷三十七、中部經八十五菩提王子經、增支部經七‧五七等,皆有此村之名。為佛陀及佛弟子遊化人間時所多次居止之處。〔中阿含第八十三經長老上尊睡眠經〕
; (尸收摩羅山村) Phạm: Zizumàragira. Pàli:Siôsumàragira. Cũng gọi Thi thiết thủ bà la sơn, Thất thu ma la sơn. Hán dịch:Đà sơn, Giao ngư ơn. Tên vùng đất xưa ởẤn độ, thuộc nước Bà già. Hữu bộ tì nại da quyển 42 (Đại 23, 857 thượng) nói; Khi đức Phật trụ ở vườn Cấp cô độc, rừng Thệ đa, thành Thất la phạt, thì ở chân núi Thất thu ma la thuộc Kiêu thiểm tì (Pàli:Kosambì) có nhiều thôn làng. Ngoài ra, Tạp a hàm quyển 5, 19, 37, kinh Bồ đề vương tử trong Trường bộ 85, Tăng chi bộ 7, 57... đều nói thôn này là nơi mà đức Phật và các đệ tử từng nhiều lần nghỉ lại khi các Ngài du hóa nhân gian.
Thi thư
(詩書): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho Thi Kinh (詩經) và Thượng Thư (尚書). Như trong Tả Truyện (左傳), thiên Hi Công Nhị Thập Thất Niên (僖公二十七年), có đoạn: “Thi, Thư, nghĩa chi phủ dã; Lễ, Nhạc, đức chi tắc dã (詩、書、義之府也、禮、樂、德之則也, Thi và Thư là tủ sách chứa đựng nghĩa; Lễ và Nhạc là khuôn phép của đức).” (2) Chỉ chung cho các thư tịch, sách vở. Như trong bài thơ Văn Quan Quân Thu Hà Nam Hà Bắc (聞官軍收河南河北) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Khước khan thê tử sầu hà tại, mạn quyển thi thư hỷ dục cuồng (卻看妻子愁何在、漫卷詩書喜欲狂, nhìn lại vợ con buồn cớ lẽ, bao quyển văn thư vui muốn điên).” (3) Làm thơ và thư pháp. Như trong Tống Thư (宋書), Truyện Tạ Linh Vận (謝靈運傳), có đoạn nhận xét rằng: “Linh Vận thi thư giai kiêm độc tuyệt, mỗi văn cánh, thủ tự tả chi, Văn Đế xưng vi nhị bảo (靈運詩書皆兼獨絕、每文竟、手自寫之、文帝稱爲二寶, cả thơ và thư pháp của Tạ Linh Vận [385-433] đều độc đáo, có một không hai; mỗi cuối đoạn văn, tự tay ông viết, vua Văn Đế [tại vị 424-353] gọi đó là hai báu vật).”
thi thố
To perform—To realize.
thi tì vương
942尸毘,梵名 Śibi,巴利名 Sivi。古代印度代鴿捨身餵鷹之聖王,為佛陀於過去世修菩薩行時之名。又稱濕鞞王、尸毘迦王。「捨身餵鷹」為佛陀各種本生故事中頗著名之故事。關於此王之傳說,流傳甚廣,散見於印度古代之文學。於佛教經典中,菩薩本生鬘論卷一、賢愚經卷一、大莊嚴論卷十二、大智度論卷四等皆載其事蹟,據謂過去世時,閻浮提有一尸毘迦王,一日遇一鷹飛逐一鴿鳥,欲撲食之,鴿鳥飛避王之腋下,王以慈悲之故,乃自割身,以代鴿肉。傳云,鴿為火神所變,鷹為帝釋天之變化身,係為試探王之慈心而行此舉。法顯佛國記中所載之宿呵多國即其遺跡,於此地所建之塔,號稱印度四大塔之一。又大唐西域記卷二烏仗那國條亦述及此事,所指之地點與佛國記所載者一致,約在犍陀羅東北。六度集經卷一亦說及該王之事蹟,惟所載之名不一,謂王之名為薩婆達(梵 Sarva-datta),即「一切施」之義。又撰集百緣經亦詳載此事,然異於上述者為「剜眼施鷲」而非「割肉餵鷹」。此一著名本生故事,自古即有各種雕刻繪畫之變相,於今印度阿摩羅婆提(梵 Amarāvatī)大塔之欄楯,其四面皆雕有精緻之浮雕,第一面為鴿鳥飛避至王腋下之圖,第二面為鷹盤旋於王之上空,第三、四面為王割股截肉之狀。此外,阿旃多(Ajanta)第十七窟、爪哇婆羅浮圖、敦煌石窟、新疆庫車之基錫爾(Qyzil)廢寺等處,均存有此一故事之變相圖。〔大智度論卷一、大唐西域記卷三、洛陽伽藍記卷五〕
; (尸毗王) Thi tỳ, Phạm:Zibi;Pàli:Sibi. Cũng gọi Thấp tì vương, Thi tì ca vương. Vị Thánh vương ở Ấn độ thời xưa cắt thịt trên thân mình cho chim ưng ăn để cứu mạng chim bồ câu, cũng là tiền thân của Phật Thích ca khi còn tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ. Cắt thịt trên thân mình cho chim ưng ăn là sự tích rất nổi tiếng trong các sự tích bản sinh của đức Phật. Truyền thuyết về vị vua này được lưu hành rất rộng, thấy rải rác trong văn học cổ đại của Ấn độ. Trong các kinh luận của Phật giáo thì như luận Bồ tát bản si nh m an quyển 1, kinh Hiền ngu quyển 1, luận Đại trang nghiêm quyển 12, luận Đại trí độ quyển 4... đều có ghi sự tích này. Truyền thuyết kể rằng: Thủa xưa, ở cõi Diêm phù đề có vị vua Thi tì ca, một hôm, có con chim ưng đuổi bắt con chim bồ câu, chim bồ câu bay vào núp trong lòng vua, vì tâm từ bi nên vua tự cắt thịt của mình cho chim ưng ăn để thế mạng cho chim bồ câu. Truyền thuyết cho rằng bồ câu là do thần Lửa biến ra, còn chim ưng là hóa thân của trời Đế thích, vì muốn thử lòng từ bi của nhà vua mà sắp đặt việc này. Nước Túc ha đa nói trong Phật quốc kí của ngài Pháp hiển chính là nơi diễn ra sự kiện này, ở đây có ngôi tháp kỉ niệm, là 1 trong 4 ngôi tháp lớn ở Ấn độ. Điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 2 cũng có nói đến sự tích này và địa điểm cũng nhất trí với địa điểm ghi trong Phật quốc kí, nghĩa là ở phía Đông bắc nước Kiện đà la. Theo Lục độ tập kinh quyển 1 thì tên vị vua này là Tát bà đạt (Phạm: Sarvadatta), nghĩa là Nhất thiết thí(cho tất cả). Còn theo kinh Soạn tập bách duyên thì nhà vua khoét mắt cho chim ưng chứ không phải cắt thịt cho chim ưng. Từ xưa, sự tích bản sinh nổi tiếng này đã có rất nhiều biến tướng điêu khắc và hội họa miêu tả, như trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì), ở hang 17 tại A chiên đa (Phạm:Ajantà) tại Ấn độ, ở Bà la phù đồ tại Java, Indonesia, ở Đôn hoàng, Tân cương, Trung quốc...
thi tăng
5607通曉文藝,善於詩作之僧。又稱文僧。一般特指唐代江左之詩僧。所謂江左,即江蘇、浙江一帶,係繼長安、洛陽之後,自中唐以降成爲文藝中心地。於唐音癸籤卷三十之方外部中所收錄唐代詩僧之作品集,計有僧惠頤(八卷)、玄範(二十卷)、法琳(三十卷)、靈澈(十卷)、皎然(十卷)、靈一(一卷)、懷浦(一卷)、無可(一卷)、栖白(一卷)、尚顏(荊門集五卷)、子蘭(一卷)、齊己(白蓮集十卷、外編十卷)、貫休(三十卷)、虛中(碧雲集一卷)、修睦(東林集一卷)、處默(詩一卷)、可明(玉腼集十卷)、曇域(龍華集十卷)、庆光(詩一卷)、自牧(括囊集十卷)、楚巒(詩一卷)、無顏(一卷)、應之(一卷)、智暹(一卷)、康白(詩一卷)、寒山子(詩七卷)、智閑(偈頌一卷二百餘篇)。又於全唐詩收有一一五人、二九一三首之作品。唐代詩僧以皎然、靈澈、貫休等人爲代表人物。至宋代,雖有參寥子道潛、覺範慧洪等傑出詩僧,然彼等之作品猶不如一般士大夫之作,故於當世頗有酸餡之譏。較值得注意者爲明代之詩僧。於錢謙益之列朝詩集中收錄元末至明末詩僧一○七人之小傳及作品。〔全唐文卷九一九、全唐詩話、詩人玉屑卷二十、唐書藝文志〕
; (詩僧) Cũng gọi Văn tăng. Vị tăng thông hiểu văn nghệ, giỏi thi ca. Đặc biệt chỉ cho các vị thi tăng ở Giang tả sống vào đời Đường. Giang tả tức vùng Giang tô, Chiết giang. Từ giữa đời Đường về sau, vùng này trở thành nơi trung tâm văn nghệ, kế sau Trường an và Lạc dương. Các thi tăng đời Đường có tác phẩm được thu chép vào Phương ngoại bộ trong Đường âm quí tiêm quyển 30, gồm có: Huệ di(8 quyển), Huyền phạm(20 quyển), Pháp lâm(30 quyển), Linh triệt(10 quyển), Kiểu nhiên(10 quyển), Linh nhất(1 quyển), Hoài phố(1 quyển), Vô khả (1 quyển), Thê bạch(1 quyển), Thượng nhan (Kinh môn tập 5 quyển), Tử lan(1 quyển), Tề kỉ(Bạch liên tập 10 quyển, Ngoại biên tập 10 quyển), Quán hưu(30 quyển), Hư trung (Bích vân tập 1 quyển), Tu lục(Đông lâm tập 1 quyển), Xử mặc(Thơ, 1 quyển), Khả minh (10 quyển), Đàm vực(Long hoa tập 10 quyển), Tự mục(Quát nang tập 10 quyển), Sở loan (Thơ, 1 quyển), Vô nhan(1 quyển), Ứng chi (1 quyển), Trí tiên(1 quyển), Khang bạch (Thơ, 1 quyển), Hàn sơn tử(Thơ, 7 quyển), Trí nhàn(Kệ tụng 1 quyển, hơn 200 thiên). Còn trong Toàn đường thi thì thu chép tác phẩm của 115 vị, gồm 2913 bài. Trong các vị thi tăng đời Đường thì các ngài Kiểu nhiên, Linh triệt, Quán hưu... là những nhân vật đại biểu. Đến đời Tống, tuy có các vị thi tăng xuất chúng như Tham liêu tử Đạo tiềm, Giác phạm Tuệ hồng... nhưng tác phẩm của các vị này không giống tác phẩm của các sĩ đại phu, cho nên bị người đương thời chê bai. Đáng chú ý hơn là các vị thi tăng đời Minh. Trong Liệt triều thi tập của Tiền khiêm ích có thu chép tiểu truyện và tác phẩm của 107 vị thi tăng từ cuối đời Nguyên đến cuối đời Minh.
thi tỳ ca
Sivi (skt)—Thi Tỳ Già—Theo Đại Trí Độ Luận, Thi Tỳ Ca là một trong những tiền thân của Đức Phật, người đã từng cắt thịt mình bố thí cho chim bồ câu—According to the sastra on Prajna-Paramita Sutra, Sivi was one of Sakyamuni's former incarnations, when to save a life of a dove he cut off and gave his own flesh to an eagle which pursued it, which eagle was Siva transformed in order to test him.
thi tỳ vương
Sibi (S), Sivi (P).
thi ân
To grant (do) a favour.
thi ân bất cầu báo, còn cầu báo là thi ân có mưu đồ và sự thi ân như vậy sẽ đưa tới ham muốn danh lợi
One should not wish to be repaid for good deeds. Doing good deeds with an intention of getting repayment will lead to greed for fame and fortune.
thi đa bà na
Sitavana (skt)—Tên vùng Thi Đà Lâm ở Bắc Ấn Độ—A place named Sitavana in Northern India.
thi đà lâm
942梵名 śītavana,巴利名 Sīta-vana。又作屍陀林、寒林、尸多婆那林、尸摩賒那林、深摩舍那林。為位於中印度摩揭陀國王舍城北方之森林。林中幽邃且寒,初為該城人民棄屍之所,後為罪人之居地。其後泛稱棄置死屍之所為寒林。〔雜阿含經卷二十三、卷三十九、大寒林聖難拏陀羅尼經、大智度論卷三、大唐西域記卷九〕
; Sitavana (S)Khu rừng rậm bắc thành Vương Xá, nơi dân trong thành bỏ tử thi người chết.
; Sitavana (skt)—Còn gọi là Thi Đà Bà, Thi Đa Bà Na, An Đà Lâm, Trú Ám Lâm, Khủng Tỳ Lâm, Khủng Úy Lâm, Hàn Lâm—Rừng lạnh, nơi bỏ xác người chết hay là nghĩa địa (chính âm là Thi Đa Bà Na, có nghĩa là Hàn Lâm hay rừng lạnh. Rừng nầy nằm sâu trong rừng thẳm lạnh lẽo. Lúc Phật còn tại thế thì khu rừng nầy nằm cạnh thành Vương Xá, xác người chết được đem bỏ vào đó cho kên kên rỉa thịt)—Cold grove, a place for exposing corpses, a cemetery.
; (尸陀林) Phạm: Zìtavana. Pàli:Sìta-vana. Cũng gọi Hàn lâm, Thi đa bà na lâm, Thâm ma xá na lâm, Thi ma xa na lâm. Khu rừng rậm nằm về phía bắc thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Rừng này âm u lạnh lẽo, vốn là nơi dân chúng trong thành bỏ tử thi; về sau là nơi ở của tội nhân.
Thi 尸
[ja] シ shi ||| (1) Corpse, dead body. (2) A medium who receives the spirit of one's ancestors. (3) To group together, to arrange, connect. => 1. Thi hài, xác chết. 2. Xác đồng cốt nhận linh hồn của tổ tiên. 3. Họp lại thành nhóm, sắp đặt, nối lại.
Thi-khí-na 尸棄那
[ja] シキナ shikina ||| See 尸棄佛. => Xem Thi-khí Phật尸棄佛.
Thi-la ba-la-mật
xem Thi ba-la-mật.
Thi-la Đạt-ma 尸羅達摩
[ja] シラタツマ Shiradatsuma ||| Śīladharma, a scholar-monk from Khotan who stayed at Long-hsing-ssu 龍興寺 monastery from 785-804, where he translated the Shidijing 十地經 and the Huixianglun jing 廻向輪經. Later on, he returned to his homeland. His name is translated into Chinese according to its meaning as 戒法. => (s: Śīladharma), Một vị tăng học giả từ nước Kế Tân (Khotan) đến Trung Hoa ở tại chùa Long Hưng từ năm 785-804, dịch kinh Thập địa 十地經 và Hồi hướng luân kinh 廻向輪經. Sau đó, sư trở về nước. Tên Sư được dich sang tiếng Hán theo nghĩa tiếng Sanskrit là Giới Pháp戒法.
Thi-la 尸羅
[ja] シラ shira ||| A transliteration of the Sanskrit term śīla, which means moral discipline, usually translated into Chinese as 戒. The prohibitions against immoral behavior which are practiced by monks and nuns. One of the "three practices" 三學. => Phiên âm chữ śīla trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là giới luật, Hán văn thường dịch là giới. Là những điều ngăn cấm phòng ngừa những hành vi bất thiện mà hàng tăng ni phải giữ. Một trong Tam học 三學.
Thi-lạt-noa-phạt-để
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
thi-lỵ-sa
tên một loại cây, phiên âm từ Phạn ngữ là Śiriṣa, dịch nghĩa là hợp hôn thọ (合昏樹), cũng dịch là hợp hoan thọ (合歡樹).
thin thít
To keep (hold) silent.
thinh
1) Sound—Voice. 2) To keep silent—To hold one's tongue.
thinh cảnh
Xem Thanh cảnh.
thinh danh
Thanh danh—Fame—Renown.
thinh danh bất chánh
Xem Da Xá trưởng lão.
thinh vận tinh nghĩa kinh
Saddaśaratthajalini (S)Tên một bộ kinh.
thiu thiu
To sleep lightly.
thiêm
6911<一>用竹或木所製之尖細物。即頭端尖銳,可貫穿物品之具。有部毘奈耶雜事卷三(大二四‧二一八上):「諸苾芻刺三衣時,便以竹籤,或用鳥翮,衣遂損壞。佛言:『應可用針。』」同書卷三十亦載有後母嫉妒前妻生兒,懷毒惡心,遂以竹籤刺兒喉內,子患痛楚,極苦號啼,其兒因此命終。〔根本薩婆多部律攝卷五、慧琳音義卷六十〕 <二>書寫文字、符號等作為標記之竹片或紙條。即名牌或書籍之標題等。作此義時,與「箋」、「簽」通用。唐代湛然之法華玄義釋籤卷一上,自述作法華玄義注疏之緣由(大三三‧八一五中):「昔於台嶺,隨諸問者,籤下所錄,不暇尋究文勢生起,亦未委細分節句逗,晚還毘壇,輒添膚飾,裨以管見。」〔玄應音義卷十三、玄義私類聚卷一〕 <三>扁平長方形或為扁平細長之棒。即棒之上部穿孔以通紐,其頭端呈札狀,上可註明書目、年號、要目等,繫於書籍上或夾於卷本,以供檢出之便。大唐內典錄卷八入藏錄序(大五五‧三○二中):「依別入藏,架閣相持,帙軸籤牓,標顯名目,須便抽撿,絕於紛亂。」 此外,求神占卜吉凶所用之竹片,亦為籤之一種。俗以竹籤置於筒中,祈神時抽取之,以判斷吉凶。
; Thêm vào—To add—To increase—Additional.
thiêm phẩm
Phẩm được thêm vào—Additional chapter or chapters.
thiêm phẩm diệu pháp liên hoa kinh
4716凡七卷。又作添品法華經。收於大正藏第九冊。隋仁壽元年(601),闍那崛多與笈多共譯於長安大興善寺。法華經之漢譯本,依經錄所載,共有六譯,然僅存本經及妙法華、正法華三本。(參閱「妙法蓮華經」2847)
; (添品妙法蓮華經) Cũng gọi Thiêm phẩm pháp hoa kinh. Kinh, 7 quyển, do 2 ngài Xà na quật đa và Cấp đa cùng dịch ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an vào niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Cứ theo Kinh lục thì kinh Pháp hoa gồm 6 bản Hán dịch, nhưng hiện chỉ còn 3 bản là kinh này, kinh Diệu pháp hoa và kinh Chính pháp hoa.
thiêm thiếp
To be asleep.
Thiên
天; S, P: deva; nguyên nghĩa »người sáng rọi«; |Chỉ chư Thiên, chỉ chúng sinh sống trong thiện đạo (Lục đạo), trong một tình trạng hạnh phúc, tuy nhiên vẫn nằm trong Luân hồi (saṃsāra). Nhờ những nghiệp tốt đã tạo, chư thiên có thọ mệnh rất dài và rất sung sướng. Nhưng chính hạnh phúc này là chướng ngại trên đường giải thoát vì họ không hiểu được khổ đế trong Tứ diệu đế.|Theo Phật giáo, có 28 cõi thiên, gồm có 6 thuộc Dục giới (s, p: kāmaloka, kāmadhātu), 18 thuộc Sắc giới (s, p: rūpaloka, rūpadhātu) và 4 thuộc Vô sắc giới (s, p: arūpaloka, arūpadhātu, xem Ba thế giới; s: triloka).|Trong Dục giới có: 1. Tứ thiên vương (四天王; s: caturmahārājika-deva), sống gần núi Tu-di; 2. Tam thập tam thiên (三十三; s: trāyastriṃśa-deva), chư thiên sống trên đỉnh Tu-di; 3. Dạ-ma thiên (夜摩; s: yāma-, suyāma-deva), sống hạnh phúc trường cửu; 4. Ðâu-suất thiên (兜率天; s: tuṣita-deva), cõi của thiên nhân »có niềm vui thầm lặng«, chỗ Phật Di-lặc đang giáo hoá; 5. Hoá lạc thiên (化樂天; s: nirmāṇarati-deva), loài thiên nhân thấy niềm vui nơi sự biến hoá; 6. Tha hoá tự tại thiên (他化自在天; paranirmita-vaśavarti-deva), các chư thiên của dục giới còn tham ái xác thịt.|Sinh trong sắc giới là các vị đạt Tứ thiền, đã diệt tận tham ái xác thịt, nhưng vẫn còn sắc thân. Các vị Phạm thiên (brahma) sống trong cấp thấp của sắc giới. Các vị đạt Bốn xứ sẽ sinh trong vô sắc giới, các vị này đã giải thoát khỏi sắc uẩn nhưng vẫn còn có bốn uẩn thụ, tưởng, hành thức (Ngũ uẩn).
; 偏; C: piān; J: hen;|Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt; 2. Đôi lúc do những nét viết giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp; 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
thiên
1330梵語 deva-loka。音譯作提婆。與天上、天有、天趣、天道、天界、天上界等同義。指在迷界之五趣及六趣中,最高最勝之有情,或指彼等所居之世界;若指有情自體時,稱為天人、天部(複數)、天眾(複數),相當於通俗所謂「神」一詞。此外,說明死後生天之因(十善、四禪、八定)之教,稱為天乘。在初期佛教中,其教法以涅槃為中心,對在家信徒之教說,則以生天為主,謂依道德行善,即可生天。最古之經典經集(巴 Sutta-nipāta)有云,如施食予沙門、婆羅門、乞食者,死後即可生天。其後,施論、戒論、生天論等成為對在家信徒宣教之三大論。天之原語,除 deve-loka 外,另有 devanagara, sagga, saggapatha, saggapada 等,均為單數型,亦即天僅為一,而無詳細內容之規定與階層等區別。此「天」之思想,並非佛教所獨有者,乃係當時印度一般民眾之信仰,後為佛教所沿用。 據佛經之記載,天之世界,乃於距離地上遙遠之上方;由下向上,依次為四大王眾天(又稱四天王;持國天、增長天、廣目天、多聞天等及其眷屬之住所)、三十三天(又稱忉利天;此天之主稱釋提桓因,即帝釋天)、夜摩天(又稱焰摩天、第三焰天)、睹史多天(又稱兜率天)、樂變化天(又稱化樂天)、他化自在天(又稱第六天、魔天),合稱「六欲天」,為「屬欲界六天」之意。 其次,屬色界之天可大別為四禪天,總有十七天(或十六天、十八天)。即初禪天,有梵眾天、梵輔天、大梵天等三天。第二禪天,有少光天、無量光天、極光淨天等三天。第三禪天,有少淨天、無量淨天、遍淨天等三天。第四禪天,有無雲天、福生天、廣果天、無煩天、無熱天、善現天、善見天、色究竟天(阿迦尼吒天)等八天。若稱十六天,是以大梵天包含於梵輔天之中;若稱十八天,則是於廣果天上別立無想天。屬初禪天、第二禪天、第三禪天之九天,均為生樂受樂之天,故稱樂生天。大梵天又稱梵天、大梵天王,與帝釋天並稱為「釋梵」;若再加四天王,則稱「釋梵四王」,均為守護佛法之善神。又如四天王、帝釋天及大梵天率領眾多天眾,故稱天王。 以上諸天中之四大王眾天與三十三天,住於須彌山之上部,故稱地居天。夜摩天以上則住於空中,故稱空居天。此等諸天所住之宮殿,稱天宮、天堂。諸天所居愈在上方,則天眾身體愈大,壽命亦次第增長,肉體條件也愈加殊勝。 此外,屬無色界之諸天,乃由空無邊處天、識無邊處天、無所有處天、非想非非想處天(有頂天)等四無色天形成。此等諸天均屬無色(超越物質)之天,故無住處。在四大王眾天或三十三天中,若因起瞋心或耽迷遊戲之樂,而失正念者,則自天界墮落。前者稱意憤天(意憤恚天),後者則稱戲忘天(戲忘念天)。 北本涅槃經卷二十二亦舉出四種天,即:(一)世間天,又作名天、世天。謂十方世界一切剎土中,諸大國王雖居人世卻享受天福,故稱為世間天。(二)生天,一切眾生修行五戒十善之因,則受其果報,生欲界天、色界天或無色界天,稱為生天。(三)淨天,謂聲聞、緣覺二乘斷除諸煩惱,獲大神通,變化自在,清淨無染,稱為淨天。(四)義天,謂十住菩薩善解諸法之要義,稱為義天。此四天若加第一義天(即佛),則為五天。佛為淨天中之最尊者,故稱天中天、天中最勝尊、天人師。 此外,尚有地天、水天、火天、風天、伊舍那天、帝釋天、焰摩天、梵天、毘沙門天、羅剎天、日天、月天等十二天(護世界、護世之天部)。在密教亦有金剛面天等二十天。 天人命終時,身體必現五種衰相,稱為五衰(天人五衰)。歷來對此有各種異說,今舉其一:(一)衣服垢,(二)頭頂花冠枯萎,(三)身體發臭,(四)腋下流汗,(五)不樂其位等五衰。此外,六欲天之行婬事,四大王眾天及三十三天,與人類同樣以肉體相交,夜摩天則為兩手互執,睹史多天為憶念,樂變化天為熟視,他化自在天則為共語。以上稱為「欲天五婬」。〔雜阿含經卷三十、卷三十一、中阿含卷九地動經、卷四十三意行經、大樓炭經卷四、佛為首迦長者說業報差別經、北本大般涅槃經卷十八、大般若經卷四○三、大佛頂首楞嚴經卷九、大教王經卷十、十誦律卷三十六、俱舍論卷八、大智度論卷十六、大毘婆沙論卷一七二、立世阿毘曇論卷六、瑜伽師地論卷四、分別功德論卷三〕(參閱「天人五衰」1333)
; Deva (S, P), T'ien (C).
; Heaven; the sky; a day. A deva or divine being, deity. Tam chủng thiên, the three classes of devas: (1) Danh thiên, famous rulers on earth styled thiên vương, thiên tử; (2) Sinh thiên, the highest incarnations of the six paths; (3) Tịnh thiên, the pure, or the saints, from sravakas to pratyekabuddhas. The four classes of devas include (1),(2),(3) above and (4) Nghĩa thiên, all bodhisattvas above the ten stages thập trụ. Đệ nhất nghĩa thiên: a supreme heaven with bodhisattvas and Buddhas in eternal immutability.
; I) Bài văn hay quyển sách: A Text or a book. II) Nghiêng về một bên hay thiên lệch: On one side—Biased—Partial—Prejudiced—Deflected—One-sided. III) See Deva. IV) Dọn đi: To move—To remove. V) Từ mà người Đông Á dùng để gọi Trời: A term which Eastern Asian peoples used to call “Heaven.” VI) The sky—The heavens of the gods—The Pure Buddha-Land—Sahasra (thousand). There are many different heavens: (A) Sơ Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên in Vietnamese-English Section): 1) Phạm Phụ thiên: Brahma-parisadya (p)—The realm of Brahma's retinue. 2) Phạm Chúng thiên: Brahma-purohita (p)—The realm of Brahma' ministers. 3) Đại Phạm thiên: Mahabrahma (p)—The realm of the great Brahmas. (B) Nhị Thiền Thiên (See Tứ Thiền Thiên): 4) Diệu Quang thiên hay Thiểu Quang Thiên: Parittabha (p)—Cõi trời có ít ánh sáng nhất trong cõi Nhị Thiền—Minor Light—The realm of minor lustre. 5) Vô Lượng Quang thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có ánh sáng vô cùng và vô hạn định—Apramanabha (p)—Infinite Light—The realm of infinite lustre. 6) Cực Quang Tịnh thiên: Quang Âm Thiên—Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có ánh sáng rực rỡ sáng lòa hơn hai cõi trời trên, chiếu khắp mọi nơi. Ở đấy không nghe thấy âm thanh nào; khi các cư dân muốn nói chuyện, một tia sáng thanh tịnh thoát ra khỏi miệng được dùng như ngôn ngữ—Abhasvara—Utmost Light-Purity—The realm of the radiant Brahmas. There are no sounds heard in this heaven; when the inhabitants wish to talk, a ray of pure light comes out of the mouth, which serves as speech. (C) Tam Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên): 7) Thiểu Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang nhỏ—Parittasubha (p)—Minor Purity—The realm of the Brahmas of minor aura. 8) Vô Lượng Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang vô cùng, vô hạn định—Apramanasubha (p)—Infinite Purity—The realm of the Brahmas of infinite aura. 9) Biến Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang vững chắc không lay động—Subhakrusna (p)—Universal Purity—The realm of the Brahmas of steady aura. (D) Tứ Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên): 10) Phúc Sanh thiên: Punyaprasava—Felicitous birth. 11) Vô Vân thiên: Anabhraka—Cloudless. 12) Quảng Quả thiên: Cảnh trời của những vị Phạm Thiên hưởng quả rộng lớn—Brhatphala—Vehapphala (p)—Large fruitage—The realm of the Brahmas of great reward. 13) Vô Phiền thiên:Asanjnisattva—No vexations, or free of trouble. 14) Vô Nhiệt thiên: Avrha—No heat. 15) Thiện Kiến thiên: Atapa—Beautiful to see. 16) Thiện Hiện thiên: Sudrsa—Sudassa (p)—Beautiful appearing—The beautiful realm. 17) Sắc Cứu Cánh thiên: Sudarsana—The end of form. 18) Vô Tưởng thiên: Akanistha—The heaven above thought—The realm of mindless beings. (E) Chư thiên khác: Other devas: 19) Quang Âm thiên: Abhasvara—Light-sound heavens. 20) Cực Quang Tịnh thiên: The heavens of utmost light and purity (one of the second dhyana heavens). 21) Địa Cư Thiên: Indra's heaven on the top of Sumeru. 22) Không Cư Thiên: Heaven in space. 23) Tự Tại Thiên: Isvaradeva—King of the devas—God of Free Will—God of Free Movement. 24) Diệu Hỷ Túc thiên: The heaven full of wonderful joy. 25) Biện Tài Thiên Nữ: Goddess of eloquence. 26) Diệu Âm Nhạc Thiên: Sarasvati—The wife or female energy of Brahma—Biện Tài Thiên Nữ. 27) Đại Kiết Tường thiên: Mahasri. ** For more information, please see Tam Chủng Thiên.
; (天) Phạm: Deva-loka. Hán âm:Đề bà. Đồng nghĩa: Thiên thượng, Thiên hữu, Thiên thú, Thiên đạo, Thiên giới, Thiênthượng giới. Trời, chỉ cho loài hữu tình tối cao, tối thắng trong 5 đường, 6 đường của cõi mê, hoặc chỉ thế giới(cõi trời)mà loài hữu tình ấy cư trụ. Nếu khi chỉ cho tự thể hữu tình thì gọi là Thiên nhân(người trời),Thiên bộ (số nhiều), Thiên chúng(số đông), tương đương với danh từ Thần mà người thế tục thường gọi. Ngoài ra, giáo pháp nói về nguyên nhân(thập thiện, tứ thiền, bát định) sau khi chết được sinh lên cõi trời gọi là Thiên thừa. Giáo pháp của Phật giáo ở thời kì đầu lấy Niết bàn làm trung tâm, giáo thuyết đối với tín đồ tại gia thì lấy việc sinh lên cõi trời làm chính, nghĩa là y theo đạo đứcmà làm điều thiện thì được sinh lên cõi trời. Như Kinh tập (Pàli:Sutta-nipatà) là bộ kinh xưa nhất có nói: Nếu bố thí thức ăn cho Sa môn, Bà la môn, người xin ăn thì sau khi chết được sinh lên cõi trời. Về sau, Thí luận, Giới luận, và Sinh thiên luận trở thành 3 bộ luận lớn để giảng dạy cho tín đồ tại gia. Vềnguyên ngữ của Thiên, ngoài Devaloka còn có Devanagara, Sagga, Saggapatha Saggapada... đều thuộc về số ít, Thiên chỉ là một, chứ không qui định nội dung tỉ mỉ và sự sai khác về tầng bậc. Tư tưởng Thiên này chẳng phải chỉ Phật giáo mới có, mà là tín ngưỡng của dân chúng ởẤn độ đương thời, về sau Phật giáo cũng sử dụng. Cứ theo kinh Phật, thế giới của Thiên ở phương trên cách mặt đất rất xa; từ dưới lên trên theo thứ tự là: Tứ đại vương chúng thiên(cũng gọi Tứ thiên vương, là nơi ở của Trì quốc thiên, Tăng trưởng thiên, Quảng mục thiên, Đa văn thiên và quyến thuộc của các vị Thiên này), Tam thập tam thiên(cũng gọi Đao lợi thiên; đứng đầu cõi trời này là Thích đề hoàn nhân, tức Đế thích thiên); Dạ ma thiên(cũng gọi Diệm ma thiên, Đệ tam diệm thiên), Đổ sử đa thiên(cũng gọi Đâu suất thiên), Lạc biến hóa thiên(cũnggọi Hóa lạc thiên) và Tha hóa tự tại thiên(cũng gọi Đệ lục thiên, Ma thiên), gọi chung là Lục dục thiên, tức là 6 tầng trời cõi Dục. Kế đó, các Thiên thuộc cõi Sắc được chia làm Tứ thiền thiên, gồm có 17 tầng trời(hoặc 16 tầng trời, 18 tầng trời), đó là: -Sơ thiền thiên, có 3 tầng trời: Trời Phạm chúng, trời Phạm phụ và trời Đại phạm. -Đệ nhị thiền thiên, có 3 tầng trời, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang và trời Cực quang. -Đệ tam thiền thiên, có 3 tầng trời: Trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh và trời Biến tịnh.-Đệ tứ thiền thiên, có 8 tầng trời: Trời Vô vân, trời Phúc sinh, trời Quảng quả, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện và trời Sắc cứu cánh(trời A ca ni tra). Nếu gọi Thập lục thiên thì đem Đại phạm thiên xếp chung vào Phạm phụ thiên; nếu gọi Thập bát thiên thì trên Quảng quả thiên lập thêm Vô tưởng thiên. Chín tầng trời thuộc Sơ thiền, Đệ nhị thiền và Đệ tam thiền đều là các tầng trời sinh lạc thụ lạc, cho nên gọi là Lạc sinh thiên(tầng trời sinh ra và thụ hưởng sự vui thú). Đại Phạm thiên cũng gọi là Phạm thiên, Đại phạm thiên vương, cùng với trời Đế thích được gọi chung là Thích Phạm; nếu lại thêm Tứ thiên vương thì gọi là Thích Phạm tứ vương, đều là những vị Thiện thần giữ gìn Phật pháp. Trong các Thiên nói trên thì Tứ đại vương chúng thiên và Tam thập tam thiên ở tại phần trên núi Tu di, cho nên gọi là Địa cư thiên, từ Dạ ma thiên trở lên thì trụ ởhưkhông, nên gọi là Không cư thiên. Cung điện của các vị trời này gọi là Thiên cung, Thiên đường. Các trời càng ở cao thì thân thể càng lớn, tuổi thọ cũng theo thứ tự tăng lên, điều kiện nhục thể càng thêm thù thắng. Chư thiên thuộc cõi Vô sắc do Tứ vô sắc thiên hình thành, đó là: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên (Hữu đính thiên). Vì là thuộc cõi Vô sắc cho nên chư thiên này không có trụ xứ.Trong Tứ đại vương chúng thiên hoặc trong Tam thập tam thiên, nếu các trời vì khởi sân tâm hoặc đam mê các thú vui mà mất chính niệm thì bị rơi xuống. Các trời khởi sân tâm gọi là Ýphẫn thiên(Ýphẫn khuể thiên), còn các trời đam mê thú vui thì gọi là Hí vong thiên(Hí vong niệm thiên). Kinh Niết bàn quyển 22 (bản Bắc) cũng nêu 4 loại thiên là: 1. Thế gian thiên(cũng gọi Danh thiên, Thế thiên): Tức các đại quốc vương trong tất cả đất nướcở10 phương thế giới, tuy ở thế gian nhưng lại hưởng phúc trời nên gọi là Thế gian thiên (trời ở thế gian). 2. Sinh thiên: Tất cả chúng sinh nhờ nhân tu hành giữ 5 giới cấm, làm 10 điều thiện nên được quả báo sinh lên các tầng trời thuộc cõi Dục, cõi Sắc hoặc cõi Vô sắc, cho nên gọi là Sinh thiên. 3. Tịnh thiên: Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác dứt trừ các phiền não, được đại thần thông, biến hóa tự tại, thanh tịnh vô nhiễm, gọi là Tịnh thiên. 4. Nghĩa thiên: Hàng Bồ tát Thập trụ khéo hiểu yếu nghĩa của các pháp, gọi là Nghĩa thiên. Trong 4 thứ Thiên trên đây, nếu thêm Đệ nhất nghĩa thiên(tức Phật) thì thành 5 thứThiên. Đức Phật là bậc tôn quí nhất trong Tịnh thiên, cho nên gọi là Thiên trung thiên, Thiên trung tối thắng tôn, Thiên nhân sư. Ngoài ra còn có 12 loại thiên(Thiên bộ giữ gìn thế giới, che chở thế gian), đó là: Địa thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phong thiên, Y xá na thiên, Đế thích thiên, Diệm ma thiên, Phạm thiên, Tì sa môn thiên, La sát thiên, Nhật thiên và Nguyệt thiên. Trong Mật giáo cũng có 20 vị trời như Kim cương diện thiên... Khi chư thiên sắp mệnh chung thì thân thể hiện ra 5 tướng suy, gọi là Ngũ suy (Thiên nhân ngũ suy). Về vấn đề này, xưa nay có nhiều thuyết khác nhau, ở đây chỉ nêu 1 thuyết về Ngũ suy: 1. Y phục cấu: Xiêm áo dơ bẩn. 2. Đầu đính hoa khô nuy: Chiếc mũ kết bằng hoa trên đầu khô héo. 3. Thân thể phát xú: Thân thể toát ra mùi hôi hám. 4. Dịch hạ lưu hãn: Đổ mồ hôi nách. 5. Bất nhạo kì vị: Không thích chỗ ngồi của mình. Ngoài ra, việc hành dâm của Lục dục thiên, Tứ đại vương chúng thiên và Tam thập tam thiên thì giống với loài người, nghĩa là nhục thể giao nhau, Dạ ma thiên thì nắm tay nhau, Đổ sử đa thiên thì nhớ nghĩ đến nhau, Lạc biến hóa thiên thì nhìn nhau, Tha hóa tự tại thiên thì nói với nhau là đã thành dâm, trên đây gọi là Dục thiên ngũ dâm(năm cách hành dâm của các trời cõi Dục).
Thiên biểu
(阡表): tấm bia dựng trước ngôi mộ.
thiên bách ức hóa thân phật
The hundred thousand myriad Transformation bodies of the Buddha—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy về Thiên Bách Ức Hóa Thân Phật như sau: “Này thiện tri thức! Sao gọi là Thiên Bách Ức Hóa Thân? Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh vốn như không, một niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác là hóa làm địa ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên đường, độc hại thì hóa làm rồng rắn, từ bi thì hóa làm Bồ Tát, trí huệ thì hóa làm thượng giới, ngu si thì hóa làm hạ giới. Tự tánh biến hóa rất là nhiều, người mê không hay tỉnh giác, mỗi niệm khởi ác thường đi trong con đường ác, xoay về một niệm thiện, trí huệ liền sanh, đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật.”—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisors! What are the hundred thousand myriad Transformation bodies of the Buddha? If you are free of any thought of the ten thousand dharmas, then your nature is basically like emptiness, but in one thought of calculation, transformation occurs. Evil thoughts are being tranformed into hell-beings and good thoughts into heavenly beings. Viciousness is transformed into dragons and snakes, and compassion into Bodhisattvas. Wisdom is transformed into the upper realms, and delusion into the lower realms. The transformations of the self-nature are extremely many, and yet the confused person, unawakened to that truth, continually gives rise to evil and walks evil paths. Turn a single thought back to goodness, and wisdom is produced. That is the Transformation-body of the Buddha within your self-nature.”
Thiên bát kinh 千鉢經
[ja] センパツキョウ Senpatsu kyō ||| The Qianbo jing, 10 fasc. (T 1177A.20.724-776); an abbreviated title of the Dasheng yujia jingang xinghai manshushīi qianbi qianbo dajiaowangjing 大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經 => Tên gọi tắt của Đại thừa Du già Kim Cương tính hải Mạn thù thất lợi thiên tý thiên bát đại giáo vương kinh. 大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經. Gồm 10 quyển.
thiên bình
T'ien-P'ing (C), Tianping (C), Tempyo (J)(Vào thế kỷ 8 - 9) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn.
Thiên Bình Tùng Y
(天平從漪, Tempei Shūi, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, pháp từ của Thanh Khê Hồng Tấn (清谿洪進). Ông đã từng sống tại Thiên Bình Sơn (天平山), Tương Châu (相州, Tỉnh Hà Nam).
thiên bình tả kinh
1346請參閱 圓頓止觀 請參閱 觀無量壽佛經疏指日本天平年間之寫經。又為奈良朝時代寫經之總稱。此時之寫經,大多於寫經所中製作完成。官設寫經所之創始情形不詳,僅知天平六年(734)已有寫經司,十三年頃改為寫經所,十六年頃置有專供寫作注疏之寫疏所。十八年頃專指寫作法華、最勝王經之處為寫經所;而將兩經以外的經律論之寫經所稱作「寫後經所」。其後寫疏所漸趨衰微,東大寺寫經所、內道場之奉寫御執經所興起,另有金字經所及寺家、貴族之寫經所,存續至奈良朝末期。寫經所中設立監督者、檢校,其下尚有經生(寫字者)、校生(校正者)、裝潢(表裝者)、題師(題字者)等。天平寫經迄今仍存者,分藏於日本各地。其中,一切經之遺本有天平六年聖武天皇御願經、天平十二年藤原夫人發願經(其中大部分現存於正倉院聖語藏)、天平十二年光明皇后御願經、天平十五年光明皇后御願經、天平勝寶七年(755)六人部東人發願經、天平神護二年(766)吉備由利發願經、神護景雲二年(768)孝謙天皇御願經等。
; (天平寫經) Chỉ cho các bản kinh chép tay vào khoảng niên hiệu Thiên bình ở Nhật bản, cũng là từ gọi chung của các kinh chép tay của triều đại Nại lương. Kinh chép tay vào thời này phần lớn được hoàn thành trong sở Tả kinh. Tình hình sáng lập sở Tả kinh của nhà nước không được rõ, chỉ biết vào năm Thiên bình thứ 6 (734) đã có ti Tả kinh, đến khoảng năm Thiên bình 13 đổi làm sở Tả kinh; khoảng năm Thiên bình 16 thì thành lập sở Tả sớ để chuyên viết chép các tác phẩm chú sớ. Khoảng năm Thiên bình 18 (746) thì chuyên gọi nơi chép kinh Pháp hoa và kinh Tối thắng vương là sở Tả kinh, còn gọi nơi viết chép các kinh, luật, luận khác là sở Tả hậu kinh. Về sau, Tả sớ dần dần suy vi và các sở Tả kinh Đông đại tự, sở Phụng tả ngự chấp kinh của Nội đạo tràng hưng khởi, lại có các sở Tả kinh của các chùa, của các nhà quí tộc tiếp tục tồn tại cho đến cuối thời kì Nại lương. Trong sở Tả kinh đặt vị Giám đốc, vị Kiểm giáo, dưới 2 chức vụ này là Kinh sinh(người viết chữ), Giáo sinh(người sửa chữa), Trang hoàng (người trang hoàng bên ngoài), Đề sư(người viết tựa đề)... Những kinh được viết chép vào thời Thiên bình hiện nay vẫn còn, được chia ra cất giữ ở các địa phương tại Nhật bản. Trong đó, di bản Nhất thiết kinh có: Thiên bình lục niên Thánh vũ Thiên hoàng ngự nguyện kinh, Thiên bình thập nhị niên Đằng nguyên phu nhân phát nguyện kinh (trong đó, phần lớn hiện được cất giữ trong tạng Thánh ngữ ở viện Chính thương), Thiên bình thập nhị niên Quang minh hoàng hậu ngự nguyện kinh, Thiên bình thập ngũ niên Quang minh Hoàng hậu ngự nguyện kinh, Thiên bình thắng bảo thất niên (755) Lục nhân Bộ đông nhân phát nguyện kinh, Thiên bình thần hộ nhị niên (766) Cát bị Do lợi phát nguyện kinhvà Thần hộ cảnh vân nhị niên (768), Hiếu liêm Thiên hoàng ngự nguyện kinh...
thiên bẩm
Inborn—Innate.
thiên bệnh
4374指眾生所起之有無、斷常等偏邪見解。眾生抱存此等偏邪見解,不得諸法之實相,而起迷倒之業,輪迴於生死,故喻之為病。三論玄義(大四五‧七中):「正有三種:一、對偏病,目之為正,名對偏正。(中略)三、偏病既去,正亦不留。」
; (偏病) Chỉ cho các kiến giải thiên lệch, tà vạy của chúng sinh đối với sự lí, như hữu vô, đoạn thường... Vì các tà kiến này không thấy được thực tướng của các pháp, mà chỉ khởi nghiệp mê hoặc, điên đảo, luân hồi sinh tử, cho nên ví dụ là bệnh. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 trung) nói: Chính có 3 loại: Một là đối thiên bệnh mà gọi là Chính, đó là đôi Thiên chính (...) ba là Thiên bệnh đã trừ thì Chính cũng chẳng giữ.
thiên bộ
1358指住於天界者。乃佛教圖像分類之一。又稱諸天部。內含各類佛像。佛教以外之神大多被奉為護法神,例如密教外金剛部(金剛界曼荼羅之外眾)之尊,本為住於天界之「天」。毘沙門天(多聞天)等四天王與帝釋天、十二神將、金剛力士等神王形亦披著中國式之甲冑。另有自然神格化之諸天,彼等身裹天衣,呈天女形,例如吉祥天、辯才天、梵天、日天、月天、伎藝天等。又如天龍八部、迦樓羅天、深沙大將等異類之姿態種類亦極多。
; The classes of devas; the host of devas, the host of heaven.
; The classes of devas—The host of devas—The host of heaven.
; (天部) Cũng gọi Chư thiên bộ. Chỉ cho những hữu tình ở cõi trời. Một trong các phân loại về tranh tượng của Phật giáo. Các vị thần ngoài Phật giáo phần nhiều được thờ làm thần Hộ pháp, chẳng hạn như các vị tôn thuộc Ngoại kim cương bộ(ngoại chúng của Mạn đồ la Kim cương giới) của Mật giáo, vốn là chư Thiên ở cõi trời. Tứ thiên vương như Tì sa môn thiên (Đa văn thiên)... và những vị có hình tướng thần vương như Đế thích thiên, Thập nhị thần tướng, Kim cương lực sĩ... cũng mặc áo, đội mũ trụ theo kiểu Trung quốc. Lại có chư thiên do thần cách hóa tự nhiên mà hình thành, những vị này mình mặc áo trời, mang hình Thiên nữ, như Cát tường thiên, Biện tài thiên, Phạm thiên, Nhật thiên, Nguyệt thiên, Kĩ nghệ thiên... Lại tư thái thuộc các loại khác như Thiên long bát bộ, Ca lâu la thiên, Thâm sa đại tướng... cũng rất nhiều.
thiên bộ hội
740日本佛教用語。又作千僧讀經、千部經。為祈願與追思供養,而將同一經典讀誦一千遍之法會。即招請眾多僧人,令各讀誦一遍、十遍,乃至五十遍,誦滿一千遍,則稱為千部會。亦有招集五百人、一千人之例。此風在日本,自平安時代即已盛行,至江戶時代,亦有專為追悼祖先而修者。此外,日本另有萬部會、三百部會之設。
; (千部會) Cũng gọi Thiên tăng độc kinh, Thiên bộ kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội trong đó 1 bộ kinh được tụng 1000 biến để cầu vãng sinh cho vong linh tổ tiên. Nghĩa là thỉnh nhiều chúng tăng, mời mỗi vị tụng 1 biến, 10 biến, cho đến 50 biến, tụng đủ 1000 biến thì gọi là Thiên bộ hội. Cũng có trường hợp thỉnh 500 vị, 1000 vị. Phong tập này ở Nhật bản đã thịnh hành từ thời đại Bình an đến thời đại Giang hộ. Ngoài ra còn có Vạn bộ hội, Tam bách bộ hội...
thiên bộ luận sư
Ngài Long Thọ Bồ Tát viết 1000 (thiên) bộ luận. Thế Thân hay Thiên Thân Bồ Tát căn cứ vào Tiểu Thừa mà viết 500 bộ luận Tiểu Thừa, rồi sau đó lại viết thêm 500 bộ luận Đại Thừa—Master of a thousand sastras, a title for Nagarjuna (Long Thọ) and Vasubandhu (Thế Thân Bồ Tát).
thiên bộ thiện thần
1358指守護佛法之天界善神,如梵天、帝釋天、四天王(持國天王、增長天王、廣目天王、多聞天王)等。
; Brahmà, Indra, the Four Devaloka-ràjas, and the other spirit guardians of Buddhism.
; Thiên bộ thiện thần gồm Phạm thiên, Trời Đế Thích, Tứ thiên vương và các vị long thần hộ pháp khác—Brahma, Indra, the four devaloka-rajas, and the other spirit guardians of Buddhism.
; (天部善神) Chỉ cho các vị thiện thần cõi trời thủ hộ Phật pháp, như Phạm thiên, Đế thích thiên, Tứ thiên vương (Trì quốc thiên vương, Tăng trưởng thiên vương, Quảng mục thiên vương, Đa văn văn thiên vương)...
Thiên Bức Luân Tướng
(p: heṭṭhā pāda-talesu cakkāni jātāni, 千輻輪相): chỉ cho tướng tốt vi diệu có đầy đủ ngàn bánh xe dưới chân, thuộc một trong 32 tướng tốt, còn gọi là Túc Hạ Thiên Bức Luân Tướng (足下千輻輪相), Thường Hiện Thiên Bức Luân Tướng (常現千輻輪相), Song Túc Hạ Hiện Thiên Bức Luân Triển Chuyển Chúng Tướng (雙足下現千輻輪輾轉眾相). Tướng này chỉ cho các hoa văn dưới lòng bàn chân Phật có hình dáng cả ngàn bánh xe rõ ràng. Tướng này do nghiệp nhân mà cảm được, do thời quá khứ đức Phật đã từng cúng dường, bố thí các thứ cho cha mẹ, sư trưởng, bạn tốt cho đến hết thảy chúng sanh. Tướng này không những chỉ thấy hiện nơi chân Phật, mà còn có cả nơi hai bàn tay Ngài. Tướng ngàn bánh xe còn thể hiện cho sự chuyển bánh xe giáo pháp của ngài; nếu hiện dưới chân là thể hiện cho việc du hóa khắp mọi nơi để chuyển pháp luân; khi thuyết pháp thì tướng này hiện ra nơi lòng bàn tay. Tướng này có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala). Từ ngàn xưa đã có truyền thống lễ bái dưới lòng bàn chân Phật rồi. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 9, phần Xuất Thai Bộ (出胎部) có câu: “Thân biên tắc quang sắc nhất trượng, mi gian tắc bạch hào ngũ xích, khai Vạn tự ư hung tiền, nhiếp thiên luân ư túc hạ (身邊則光色一丈、眉间则白毫五尺。眉間則白毫五尺、开万字于胸前。開萬字於胸前、蹑千轮于足下。躡千輪於足下, bên thân sắc ánh sáng một trượng, giữa lông mi có lông mày trắng năm tấc, mở chữ Vạn nơi trước ngực, hiện ngàn bánh xe ở dưới chân).” Hay trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō No. 377) quyển hạ có đoạn: “Thế Tôn đại bi tức hiện nhị túc thiên bức luân tướng, xuất ư quan ngoại hồi thị Ca Diếp, tùng thiên bức luân phóng thiên quang minh, biến chiếu thập phương nhất thiết thế giới (世尊大悲卽現二足千輻輪相、出於棺外迴示迦葉、從千輻輪放千光明、遍照十方一切世界, Thế Tôn có lòng thương xót lớn, tức hiện tướng hai bàn chân có ngàn bánh xe, ra bên ngoài quan tài cho Ca Diếp biết rõ, từ ngàn bánh xe ấy phong ra ngàn ánh sáng, chiếu khắp mười phương hết thảy các thế giới).” Hoặc như trong Biệt Thích Tạp A Hàm Kinh (別譯雜阿含經, Taishō No. 100) quyển 13 cũng có đoạn rằng: “Thời hữu nhất Bà La Môn tánh viết Yên thị, tại Phật hậu lai, kiến Phật tích trung thiên bức luân tướng quái vị tằng hữu, tức tự tư duy, ngã vị kiến nhân hữu như thọ tích (時有一婆羅門姓曰煙氏、在佛後來、見佛跡中千輻輪相怪未曾有、卽自思惟、我未見人有如是跡, lúc bấy giờ có một Bà La Môn họ Yên, từ phía sau Phật đến, thấy trong dấu chân Phật có hình tướng ngàn bánh xe, lấy làm lạ chưa từng có, bèn tự suy nghĩ rằng ta chưa hề thấy người nào có dấu chân như vậy).”
Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm bồ-tát chú 千轉陀羅尼觀世音菩薩呪
[ja] センテンダラニカンセイオンボサツジュ Senten darani kanzeon bosatsu ju ||| The Qianzhuan tuoluoni guanshiyin pusa zhō; Skt. [ārya-]Sahasrāvarta[-nāma-]dhāraṇī; Tib. stong 'gur shes bya ba'i gzungs [To.710/930, P.216/555].; (Dhāraṇī of a Thousand Turns [A Spell of the Bodhisattva who Heeds the Sounds of the World]). Three Chinese versions are extant: (1) 1 fasc. (T 1034.20.17), Dhāraṇī of the Five-Headed One's Spell Which Can Destroy Crimes and a Thousand Turns 呪五首能滅衆罪千轉陀羅尼經 tr. Xuanzang, abbr. Spell of the Five-Headed One 呪五首. (2) from the Dhāraṇī Compendium (T 901). (3) 1 fasc. (T 1035.20.17-18), Dhāraṇī of a Thousand Turns, Spell of the Bodhisattva who Heeds the Sounds of the World 千轉陀羅尼觀世音菩薩呪, tr. Zhitong 智通. BGBT4/131-2. => s: [ārya-]Sahasrāvarta[-nāma-]dhāraṇī; t: stong 'gur shes bya ba'i gzungs. Có 3 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành: 1. Chú ngũ thủ năng diệt chúng tội thiên chuyển đà-la-ni kinh. Huyền Trang dịch. 1 quyển .Gọi tắt là Chú ngũ thủ. 2. Trích từ Tinh yếu đà-la-ni. 3. Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm bồ-tát chú, 1 quyển. Trí Thông 智通 c: Zhitong dịch.
thiên chân
1356謂天然而不假造作之真理。止觀輔行傳弘決卷一(大四六‧一四三下):「理非造作,故曰天真。」
; Bhùtatathatà (S). Permanent reality underlying all phenomena, pure and unchanging. e.g. the sea in contrast with the waves; nature, the natural.
; Bhutatathata (skt). 1) Chân lý tự nhiên, không phải do con người tạo ra; chân như hay bản tánh thật thường hằng nơi vạn hữu, thanh tịnh và không thay đổi, như biển đối nghịch lại với sóng (bản chất cố hữu của nước là phẳng lặng và thanh tịnh chứ không dập dồn như sóng)—Permanent reality underlying all phenomena, pure and unchanged, such as the sea in contrast with the waves. 2) Nghĩa lý về cái “không” của Tiểu Thừa chỉ thiên lệch về một bên chứ không siêu việt như cái “không” của Đại Thừa: The Hinayana doctrine of unreality, a one-sided dogma in contrast with transcendental reality of Mahayana.
; (天真) Chân lí tự nhiên không do tạo tác. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 (Đại 46, 143 hạ) nói: Lí chẳng phải tạo tác cho nên gọi là Thiên chân.
thiên chân chi lí
4374指「證寂然界菩薩」所證得人法二空之理。此類菩薩雖已證悟五蘊、十二處、十八界之無性空,捨離部分法執,然尚不了知唯心所觀,捨「有」入「空」,偏觀單空,故所入真理尚非「有空不二」之體。相對於其他緣乘所證「有空不二」中道之理,稱此為偏真之理。大日經疏卷二(大三九‧六○二上):「然所觀人法俱空,與成實諸宗未甚懸絕,猶約偏真之理,作此平等觀耳。」(參閱「寂然界」4504)
; (偏真之理) Chân lí thiên lệch. Tức chỉ cho líNhân không, Pháp không mà bậc Chứng tịch nhiên giới Bồ tát chứng được. Bồ tát này tuy đã ngộ 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... là vô tính không, lìa bỏ 1 phần pháp chấp, nhưng lại bỏ Hữu vào Không, chỉ quán Khôngmột cách thiên lệch, vẫn chưa rõ biết duy tâm sở quán, cho nên chân lí sở nhập vẫn chưa phải là thể của Hữu, Không chẳng hai. Vì đối lại với lí Trung đạo Hữu, Không chẳng hai nên gọi lí này là Thiên chân chi lí. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 602 thượng) nói: ... Nhưng đối tượng quán xét là nhân, pháp đều không chưa cách xa các tông Thành thực... vẫn y theo lí thiên chân mà thực hành pháp quán bình đẳng này.
thiên chân phật
The real or ultimate Buddha.
; 1) Chân Như: The Bhutatathata—The real or ultimate Buddha. 2) Tên khác của Pháp thân Phật: Another name for the Dharmakaya, the source of all life.
thiên chân viên chân
4374指偏真之理與圓真之理。天台宗所判藏、通、別、圓四教中,以藏、通二教所入所證之空理,稱為偏真之理;以別、圓二教所入所證中道之理,稱為圓真之理。四教義卷三(大四六‧七三○上):「一、明三藏四門、通教四門,同入偏真之理者,各因四門同入偏真第一義,得二種涅槃是同也。理雖是一,而門有異者,既有巧拙兩度之殊,故有兩種四門能通之別也。(中略)二、明別教四門、圓教四門,同入中道實相真性理者,各因四門而入見實相佛性,得常樂涅槃是一也。理雖是同而門有異,教門既有偏圓之殊,故有兩種四門能通之異也。」(參閱「四教四門」1761)
; (偏真圓真) Chỉ cho líThiên chân và lí Viên chân (lí thiên lệch và lí tròn đủ). Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thái phán lập thì lí Không mà Tạng giáo và Thông giáo chứng nhập, gọi là lí Thiên chân; còn lí Trung đạo mà Biệt giáo và Viên giáo chứng nhập thì gọi là lí Viên chân. Tứ giáo nghĩa quyển 3 (Đại 46, 730 thượng) ghi: Một là nói rõ 4 môn của Tạng giáo và 4 môn của Thông giáo cùng vào lí thiên chân: Nghĩa là cả 2 giáo đều nhờ 4 môn mà cùng vào Thiên chân đệ nhất nghĩa, cùng được 2 thứ Niết bàn. Lí tuy là một nhưng môn thì có khéo, vụng khác nhau, cho nên mới có 2 loại 4 môn năng thông khác nhau. (...) Hai là nói rõ 4 môn của Biệt giáo và 4 môn của Viên giáo, cùng vào lí Trung đạo thực tướng: Nghĩa là cả 2 giáo đều nhờ 4 môn mà chứng thấy thực tướng Phật tính, cùng được Niết bàn thường lạc. Lí tuy đồng nhưng môn có khác, tức giáo môn đã có thiên, viên khác nhau cho nên có 2 loại 4 môn năng thông bất đồng.
thiên chân độc lãng
1356謂了悟不生無作之本體,超越生死差別而朗然大覺。天台宗甚為重視,指為止觀圓滿之語,唐代道邃和尚傳授日僧最澄觀心口訣時用之。禪宗亦使用此語。摩訶止觀卷一(大四六‧一上):「法門浩妙,為天 u獨朗,為從藍而青。」〔止觀輔行傳弘決卷一、顯戒論卷一〕
; Chân như là sự chiếu sáng duy nhứt. Đây là lời tuyên bố quả quyết của Đạo Thúy thời nhà Đường với nhà sư Nhật Bản Truyền Giáo. Hiểu được cơ bản của chân như sẽ làm sáng tỏ mọi thứ, kể cả Phật quả—The fundamental reality, or the bhutatathata, is the only illumination. It is a dictum of Tao-Sui of the T'ang to the famous Japanese monk Dengyo. The apprehension of this fundamental reality makes all things clear, including the universality of Buddhahood.
; (天真獨朗) Chân lí tự nhiên sáng chói một mình. Nghĩa là bậc Đại giác đã tỏ ngộ bản thể chẳng sinh chẳng diệt, không tạo tác, vượt ra ngoài vòng sinh tử sai biệt mà thấu suốt tất cả. Tông Thiên thai rất coi trọng từ ngữ này, dùng nó để biểu thị Chỉ quán viên mãn. Hòa thượng Đạo thúy đời Đường, lúc truyền trao Quán tâm khẩu quyết cho ngài Tối trừng của Nhật bản cũng dùng từ ngữ này. Thiền tông cũng thường sử dụng. Ma ha chỉ quán quyển 1 (Đại 46, 1 thượng) nói: Pháp môn rộng lớn nhiệm mầu, là thiên chân độc lãng.
Thiên chân 天眞
[ja] テンシン tenshin ||| Something as it originally is, without artificiality. => Cái có từ căn nguyên, không phải do tạo ra.
Thiên chính
偏正; C: piānzhèng; J: henshō;|Thành kiến và công bằng. Sai và đúng.
Thiên chính 偏正
[ja]ヘンショウ henshō ||| Prejudiced and impartial. Incorrect and correct. => Thành kiến và công bằng. Sai và đúng.
thiên chúa giáo
Catholic or Christianity—Hai mươi thế kỷ trước, chúa Giê Su đã sáng lập ra Thiên Chúa giáo, và tín đồ Thiên Chúa xem chúa Giê Su như là con của Thượng đế. Đây là tôn giáo cải cách từ Do Thái giáo, theo đó họ xem Đức Chúa Trời là vị duy nhất sanh ra trời, đất, và vạn vật. Theo bộ Tân và Cựu Ước thì vũ trụ trước đây là một khoảng mênh mông mù mịt. Nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời mà trong bảy ngày đã tạo thành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đất, nước, sông, cây cối, người và vật. Vào ngày thứ bảy, Ngài lấy chút đất hà hơi thành ra ông A Đam, đồng thời lấy chút đất khác cùng một miếng xương sườn rồi hà hơi vào thành ra bà Ê Và. Hai người ấy lấy nhau và sống như vợ chồng trong Vườn Địa Đàng. Sau vì phạm tội ăn trái cấm trong vườn nên cả hai bị đày xuống cõi trần làm thủy tổ loài người. Từ đó con cháu loài người đều bị bó buộc trong tội tổ tông truyền. Theo giáo lý đạo Thiên Chúa thì ai biết tôn trọng, kính thờ, và vâng lời Chúa sẽ được lên Thiên Đàng đời đời sống hạnh phúc; trái lại sẽ bị đọa xuống địa ngục—Twenty centuries ago, Jesus Christ, the founder of Christianity and regarded by Christians as the son of God, reformed an old Hebrew religion according to which God is the only creator of the universe and sentient beings. From the Old and New Testaments, it is said that the universe at the start was a dark and immense expanse. God with His supernatural powers and magic created within seven days the sun, moon, stars, earth, water, mountains, vegetation, man, and animals. On the seventh day of creation, God breathed into the dust of the earth to create Adam. He also created Eve by breathing into some dust mixed with the rib of Adam. They were told to dwell in the Garden of Eden as husband and wife. But after they had eaten the forbidden fruit of the Tree of Knowledge of Good and Evil, they were evicted from the Garden and condemned to live on earth as originators of mankind. From that time, mankind had to suffer from the original sin. According to the Catholic doctrine, whoever knows how to respect, venerate and obey God will be saved to live happily in Heaven forever; those who do not will be banished into Hell.
thiên chúng
The host of heaven, Brahma, Indra, and all their host.
; The host of heaven, includes Brahma, Indra, and all their host.
thiên chúng ngũ tướng
Năm dấu hiệu tiến gần về sự chết của chư thiên—The five signs of approaching demise (death) among the devas—See Ngũ Suy.
Thiên chấp
偏執; C: piānzhí; J: henshu;|Khuynh hướng, sự thiên về, thành kiến. Không chịu thay đổi quan niệm của mình.
thiên chấp
4375即偏僻固執某一方而不通達他方之意。梁高僧傳卷三(大五○‧三四二上):「諸論各異端,修行理無二;偏執有是非,達者無違諍。」廣百論釋論卷十(大三○‧二四九中):「偏執如來破相空教,非毀所說顯實法門。」又執著於此類偏頗之見解,稱為偏執見、偏見。
; Chấp về một phía—To hold firmly to a one-sided interpretation.
; (偏執) Cố chấp nghiêng về một mặt nào đó mà không thấy rõ được mặt khác. Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 342 thượng) nói: Các luận tuy có nhiều thuyết khác nhau, nhưng lí tu hành thì chỉ là một; vì thiên chấp nên có phải, quấy; người thông đạt thì không tranh cãi. Quảng bách luận thích luận quyển 10 (Đại 30, 249 trung) ghi: Thiên chấp không giáo phá tướng, chẳng phải là hủy báng pháp môn hiển thực do đức Như lai nói ra.
Thiên chấp 偏執
[ja] ヘンシュ henshu ||| Bias. Refusing to change one's viewpoint. => Khuynh hướng, sự thiên về, thành kiến. Không chịu thay đổi quan niệm của mình.
thiên chủ
1336<一>大自在天之別名。為大自在天外道之主神。(參閱「大自在天」783) <二>指帝釋天。帝釋天為忉利天之主,故稱天主,又稱天帝。〔大智度論卷四、維摩經疏(淨影)〕(參閱「帝釋天」3776) <三>人名。梵名 Śaṃkara-svāmin 之意譯,音譯作商羯羅主。商羯羅為大自在天之別名,其父母祈請大自在天而得子,故名之為商羯羅主。係陳那之弟子,博通因明,祖述陳那之因明正理門論,著有因明入正理論一卷。〔因明入正理論疏卷上〕(參閱「商羯羅主」4410)
; Xem Thiên vương Bồ tát.Xem Đại thánhXem Đế Thích thiên.
; Devapati (S). The Lord of devas, a tittle of Indra.
; Devapati (skt)—Thiên chủ của chư Thiên, danh hiệu của trời Đế Thích, thiên chủ của cõi trời dục thiên thứ sáu—The lord of devas, a title of Indra—Lord of the sixth heaven of desire. He is also opposing the Buddha-truth.
; (天主) I. Thiên Chủ. Là tên khác của trời Đại tự tại; là vị thần chính của ngoại đạo Đại tự tại thiên. II. Thiên Chủ. Cũng gọi Thiên đế. Chỉ cho trời Đế thích. Đế thích thiên đứng đầu cõi trời Đao lợi nên gọi là Thiên chủIII. Thiên Chủ. Phạm: Zaôkara-svàmin. Hán âm: Thương yết la chủ. Thương yết la là tên khác của trời Đại tự tại, vì cha mẹ ngài cầu xin trời Đại tự tại mà sinh được ngài, cho nên đặt tên là Thương yết la chủ. Sư là đệ tử của ngài Trần na, rất giỏi Nhân minh học, sư giải thích luận Nhân minh chính lí môn của ngài Trần na và soạn luận Nhân minh nhập chính lí, 1 quyển. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Thương Yết La Chủ).
thiên chủ giáo pháp
Devendra-samaya (skt)—Giáo pháp của Thiên Chủ—Doctrinal method of the lord of devas—A work on royalty in the possession of a son of Rajabalendraketu.
thiên chủ tam mục
1336謂大自在天之面上具有三目。其排列不縱不橫,恰如悉曇字凕(i,伊)之三點,乃以之與伊字三點共喻指涅槃之法身、般若、解脫等三德圓具。南本涅槃經卷二哀歎品(大一二‧六一六中):「何等名為祕密之藏?猶如伊字,三點若並,則不成伊,縱亦不成。如摩醯首羅面上三目,乃得成伊,三點若別,亦不得成。我亦如是,解脫之法亦非涅槃,如來之身亦非涅槃,摩訶般若亦非涅槃,三法各異亦非涅槃。我今安住如是三法,為眾生故,名入涅槃,如世伊字。」(參閱「伊字三點」2153)
; (天主三目) Ba con mắt trên mặt của trời Đại tự tại. Vị trí của ba con mắt này được sắp đặt không dọc không ngang, giống như 3 cái chấm của chữ (i) Tất đàm, 3 mắt này là 3 chấm của chữ i cùng đượcdùngđểví dụ Niết bàn có đầy đủ 3 đức là Pháp thân, Bát nhã và Giải thích. Phẩm Ai thán trong kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 2 (Đại 12, 616 trung) ghi: Thế nào gọi là những tạng bí mật? Giống như chữ (i), nếu3chấm xếp thành hàng ngang thì không thành chữ i, mà xếp dọc cũng không thành. Như 3 con mắt trên mặt của trời Ma hê thủ la mới thành chữ i, nếu 3 cái chấm được sắp xếp khác đi thì cũng không thành. Ta cũng như thế, pháp giải thoát cũng chẳng phải niết bàn, thân Như lai cũng chẳng phải niết bàn, Ma ha bát nhã cũng chẳng phải niết bàn, 3 pháp khác nhau cũng chẳng phải niết bàn. Nay ta an trụ 3 pháp như thế, vì chúng sinh mà gọi là Nhập niết bàn, như chữ i ở thế gian.
Thiên chủ 天主
[ja]テンシュ tenshu ||| A transcription of Śakra Devānām-indra. See . => Dịch chữ Śakra Devānām-indra trong tiếng Sanskrit. Xem Đế thích thiên帝釋天.
thiên chức
Natural duty.
Thiên Cung
(s: deva-pura, 天宮): âm dịch là Nê Phược Bổ La (泥縛補羅), là cung điện của trời cư trú, hay chỉ cung điện của Trời Đế Thích (帝釋天). Từ đó, nó có nghĩa là trời, trời xanh. Như trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō No. 842) có đoạn rằng: “Chúng sanh quốc độ, đồng nhất pháp tánh, Địa Ngục Thiên Cung, giai vi Tịnh Độ, hữu tánh vô tánh, tề thành Phật đạo (眾生國土、同一法性、地獄天宮、皆爲淨土、有性無性、齊成佛道, chúng sanh quốc độ, cùng một pháp tánh, Địa Ngục Thiên Cung, đều là Tịnh Độ, có tánh không tánh, đều thành Phật đạo).” Hay trong Phật Thuyết Thiện Sanh Tử Kinh (佛說善生子經, Taishō No. 17) cũng có câu: “Dữ thân chúng tòa an, như Thích xử Thiên Cung (與親眾座安、如釋處天宮, cùng chúng thân ngồi yên, như trời ngự Thiên Cung).”
thiên cung
1354梵語 deva-pura 之意譯。音譯作泥縛補羅。指天人所住之宮殿。或指帝釋天之宮殿。〔圓覺經、善生子經〕
; 1335為虹之異名。又作帝弓、天帝弓。往生要集卷中(大八四‧五三下):「雙眉皎淨,似天帝弓。」〔玄應音義卷二十一〕
; Deva-pura (S).
; Devapura, devaloka (S). The palace of devas, the abode of the gods.
; 1) Cung của cõi trời: The deva bow—The rainbow. 2) Devapura—Devaloka—The palace of devas—The abode of the gods—Heavenly palace. 3) Cung trời thứ sáu nằm trên núi Tu Di, giữa thế giới và Phạm Thiên giới—The six celestial world situated above the Meru, between the earth and the Brahmalokas. 4) The deva-bow—The rainbow. ** For more information, please see Thiên—Tam Chủng Thiên—Tứ Chủng Thiên—Ngũ Chủng Thiên.
; (天宮) Phạm: Deva-pura. Hán âm: Ne phạ bổ la. Cung điện của chư Thiên, hoặc chỉ riêng cho cung điện của trời Đế thích.
; (天弓) Cũng gọi Đế cung, Thiên đế cung. Cầu vồng. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 53 hạ) nói: Đôi lông mày sáng óng thanh tịnh, giống như Thiên đế cung.
thiên cung bảo tạng
1355經藏之異名。據傳,佛入滅後,法藏隱沒於天宮與龍宮二處。依釋門正統卷三所載,龍宮海藏乃就龍樹入海而言,天宮寶藏則附彌勒菩薩之居處而說。
; A library of the sùtras. The treasury of all the sùtras in the Tusita Heaven in Maitreya's palace. Another collection is said to be in the Long cung or Dragon's palace, but is associated with Nagàrjuna.
; Thư viện chứa kinh tạng—Tàng kinh các—Tàng kinh các nơi cung trời Đâu Suất trong cung của Đức Di Lặc—A library of the sutras—The treasury of all the sutras in the Tusita Heaven in Maitreya's palace.
; (天宮寶藏) Tên gọi khác của Kinh tạng. Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật nhập diệt, Pháp tạng được cất giữ ở 2 nơi là Thiên cung và Long cung. Theo Thích môn chính thống quyển 3 thì Long cung hải tạng(tạng kinh được cất giữ ở cung điện của vua rồng dưới đáy biển) là nói theo việc ngài Long thụ xuống biển; còn Thiên cung bảo tạng(tạng kinh được cất giữ ở cung điện của trời) là nói theo nơi ở của Bồ tát Di lặc.
thiên cung sự
1354巴利名 Vimāna-vatthu。巴利小部經(Khuddaka-nikāya)之一。略稱毘麻那(巴 Vimāna)。係收集說諸天勝報及生天因行之短頌經典,凡分七品八十五天宮。在敘述各天宮之初,皆有目揵連(巴 Moggallāna)等對住在該天宮之天子或天女,讚其依、正二報之殊勝,並問其得到該種果報之因行。其次,天子或天女敘述過去世在地上所行生天之因。經中所述諸天宮,以三十三天居多,少有述及化樂天、梵天界及四大王天。各品之終均附有攝頌。據大王統史(巴 Mahāvaṃsa, XIV)、善見律毘婆沙卷二載,阿育王子摩哂陀在錫蘭開教之初,為宮中大夫人阿㝹羅及五百夫人說餓鬼本生經與天宮事,由此可知本經最晚之成立年代。本經有原文出版 P.T.S. 1886、英譯本 SBBIZ, Minor Anthologies IV, Jean Kennedy, 1942,及日譯本(南傳大藏經第二十四卷)。〔B.C. Law:A History of Pāli Literature〕
; Vimāna (S)Gọi tắt của VimảnavatthuXem Chuyện thiên cung.
; (天宮事) Pàli:Vimàna-vatthu. Gọi tắt: Tì ma na (Pàli:Vimàna). Một phần trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli, nội dung thu tập các bài tụng ngắn nói về quả báo thù thắng của chư Thiên và nhân hạnh vãng sinh cõi trời. Toàn bộ chia làm 7 phẩm, 85 thiên cung.Ởđầu mỗi phần nói về Thiên cung đều có lời tán thán sự thù thắng về chính báo, y báo của Thiên tử hoặc Thiên nữ ở Thiên cung ấy của ngài Mục kiền liên (Pàli:Moggallàna)... đồng thời hỏi về nhân hạnh để đạt được quả báo ấy. Sau đó là lời trình bày của Thiên tử hoặc Thiên nữ về nhân sinh lên cõi trời mà mình đã gieo trong quá khứ khi còn sống ởnhângian. Các Thiên cung được nói trong kinh phần nhiều là Tam thập tam thiên, ít nói đến Hóa lạc thiên, Phạm thiên giới và Tứ thiên vương. Cuối mỗi phẩm đều có phụ thêm phần kệ tụng tóm tắt. Cứ theo Đại vương thống sử (Pàli:Mahàvaôsa, XIV) và Thiện kiến luậttì bà sa quyển 2 thì ngài Ma hi đà con vua A dục, lúc mở giáo tại Tích lan, trước tiên giảng nói về kinh Ngã quỉ bản sinh và Thiên cung sự cho Hoàng hậu A nâu la và 500 phu nhân trong cung nghe; căn cứ vào đó mà biết được niên đại thành lập kinh này là muộn nhất. Nguyên văn kinh này được P.T.S. (Pàli Text Society), xuất bản năm 1886, bản Anh dịch do SBBIZ, Minor Anthologies IV, Jean Kenenedy, 1942 và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 24).
Thiên Cung Tự
(天宮寺): ngôi bảo sát được kiến lập dưới thời nhà Đường, hiện tọa lạc tại Phủ Lạc Dương (洛陽府), Hà Nam (河南). Nguyên lai chùa là tư gia của vua Thái Tông (太宗, tại vị 626~649); đến năm 632 (Trinh Quán [貞觀] 6), nhà vua hạ chiếu cải gia vi tự. Vào năm 638 (Trinh Quán 12), Pháp Hộ (法護, ?-?) được sắc chỉ trú trì chùa này. Từ đó trở đi, chư vị cao đức, tiếng tăm đến đây cư trú mỗi ngày một nhiều; chùa trở thành ngôi danh sát ở Đông Đô. Vua Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) nhà Đường đã từng thân chinh đến đây thiết trai cúng dường. Vào năm 692 (Trường Thọ [長壽] 2) đời Võ Hậu, Tam Tạng Pháp Sư của nước Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅) là A Nhĩ Chơn Na (阿儞眞那, Bảo Tư Duy [寶思惟]) đến Lạc Dương, phụng sắc chỉ trú tại chùa này, dịch một số kinh điển như Cầu Tức Đắc Tự Tại Đà La Ni Kinh (求得自在陀羅尼經), Bất Không Quyên Sách Đà La Ni Tự Tại Vương Chú Kinh (不空羂索陀羅尼自在王咒經), v.v. Lúc bấy giờ, Huệ Tú (慧秀) cũng trú tại đây, chuyên trì giới kiên cố, thông đạt Thiền định. Mỗi khi Võ Hậu đến Đông Đô, đều mời ông đến để tham vấn pháp yếu. Đặc biệt, Thần Tú (神秀, 605-706) đã từng truyền bá Bắc Tông Thiền tại ngôi già lam này. Sau này có Quảng Tế (廣濟) đến trú, cùng với Bát Nhã Tam Tạng (s: Prajñā, 般若三藏, 734-?) tham gia công tác phiên dịch bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm. Dưới thời Ngũ Đại, có Tùng Ẩn (從隱) trú trì tại đây, rất nổi tiếng với Tánh Tướng Học. Về sau, chùa hưng thịnh thế nào không rõ và cuối cùng phải chịu số phận phế tuyệt.
thiên cung tự
1354位於河南省河南府(洛陽)。原係唐太宗舊宅。貞觀六年(632)詔改為寺。十二年,以法護為寺主。大德至此者多,為東都名剎。唐高宗曾臨幸設齋。武后長壽二年(692),迦濕彌羅國三藏阿儞真那(寶思惟)來洛陽,奉敕入本寺,譯出隨求即得自在陀羅尼經、不空羂索陀羅尼自在王咒經等數部。時慧秀亦住本寺,持戒堅固,通達禪定。武后幸東都,每召其問法要。尋有神秀,在本寺宏揚北宗禪。後有廣濟來住,參與貞元十四年(798)般若三藏四十華嚴譯場,擔任譯語。五代間,從隱住此,以性相學聞名。其後沿革不詳,終告廢絕。〔續古今譯經圖紀、續高僧傳卷十三、卷二十二、佛祖統紀卷三十九、舊唐書高宗本紀第四〕
; (天宮寺) Chùa ở phủ Hà nam (Lạc dương), tỉnh Hà nam, Trung quốc, vốn là nhà cũ của vua ĐườngThái tông, năm Trinh quán thứ 6 (632), vua ban chiếu chỉ đổi làm chùa, năm Trinh quán 12 (638) tôn ngài Pháp hộ làm Tự chủ. Các vị Đại đức đến chùa này rất đông, là ngôi chùa nổi tiếng tại Đông đô. Vua Đường cao tông từng thiết trai cúng dường ở đây. Năm Trường thọ thứ 2 (692), Tam tạng nước Ca thấp di la là ngài A nễ chân na (Bảo tư duy) đến Lạc dương, vâng sắc trụ chùa này dịch nhiều bộ kinh như: Kinh Tùy cầu tức đắc tự tại đà la ni, kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú... Bấy giờ ngài Tuệ tú cũng trụ ở chùa này, ngài kiên trì giới luật, thông suốt thiền định, mỗi lần Vũ hậu đến Đông đô đều triệu ngài vào cung để hỏi pháp yếu. Sau lại có ngài Thần tú xiển dương thiền Bắc tông ở chùa này. Rồi vào năm Trinh nguyên 14 (798), ngài Quảng tế đến đây tham dự dịch trường của Tam tạng bát nhã, đảm nhiệm phần dịch ngữ kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển). Khoảng thời Ngũ đại, ngài Tòng ẩn trụ ở đây, nhờ Tính tướng học mà nổi tiếng. Về sau,chùatrải qua nhiều thay đổi và cuối cùng bị hoang phế.
thiên cái
1366又稱華蓋、懸蓋。印度由於日射強烈,故使用傘蓋以遮陽,後成為佛像之莊嚴具。其上飾以寶珠、寶網、瓔珞、幡等。形狀有方形、六角、八角、圓形等。僧侶行道時,亦使用長柄之天蓋,例如我國求法僧玄奘,於西行時,即曾用之。此外,密教行灌頂時,例如三昧耶戒壇、金剛界大壇、胎藏界大壇等,均需設置天蓋。用於金剛界大壇者,即稱金天蓋;用於胎藏界大壇者,即稱胎天蓋。又覆於行法之阿闍梨頭上及懸於佛堂禮盤上之天蓋,皆稱人天蓋;專用以遮翳佛像者,則稱為佛天蓋。〔觀佛三昧海經卷四、卷六、大寶積經卷十一密迹金剛力士會、阿閦佛國經卷上、密教法具便覽〕
; A Buddha's canopy, or umbrella; a nimbus of rays of light, a halo.
; A Buddha's canopy, or umbrella—A nimbus of rays of light—A halo.
; (天蓋) Cũng gọi Hoa cái, Huyền cái. Lọng trời. Tức cái lọng ở Ấn độ dùng để che nắng. Về sau trở thành pháp cụ để trang nghiêm tượng Phật. Trên lọng có trang sức bảo châu, lưới báu, chuỗi anh lạc, phan, phướn... Về hình dáng thì có vuông, lục giác, bát giác, tròn... Lúc chư tăng hành đạo(đi nhiễu) cũng sử dụng Thiên cái có cán dài để che, chẳng hạn như ngài Huyền trang khi đi Ấn độ cầu pháp cũng từng dùng. Ngoài ra, trong Mật giáo khi cử hành Quán đính, như Tam muội da giới đàn, Kim cương giới đại đàn, Thai tạng giới đại đàn... đều có dùng Thiên cái. Thiên cái được sử dụng ở Kim cương giới đại đàn, gọi là Kim thiên cái; được dùng ở Thai tạng giới đại đàn, gọi là Thai thiên cái. Còn Thiên cái dùng để che trên đầu vị A xà lê lúc hành pháp và che trên mâm lễ trong Phật đường, đều gọi là Nhân thiên cái; Thiên cái chuyên được dùng để che tượng Phật thì gọi là Phật thiên cái.
thiên cát tường
1346請參閱 中峰和尚廣錄 中印度摩竭陀國那爛陀寺僧。約於宋仁宗皇祐三年(1051)至太平興國寺,參與日稱三藏之譯場。四年於蘇州補苗振之楞嚴經白傘蓋真言之遺闕,翌年四月將梵漢本合併,於杭州雕印之。哲宗紹聖二年(1095),師仍住太平興國寺傳法院從事譯經。賜號「廣梵大師」。其餘事蹟不詳。〔刪補參天台五台山記卷四〕
; (天吉祥) Danh tăng Ấn độ ở chùa Na lan đà, người nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Vào khoảng năm Hoàng hựu thứ 3 (1051) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư đến chùa Thái bình hưng quốc tham dự dịch trường của Tam tạng Nhật xứng. Năm Hoàng hựu thứ 4 (1052) tại Tô châu, sư bổ xung những chỗ thiếu sót trong Lăng nghiêm kinh Bạch tản cái chân ngôn của ngài Miêu chấn. Tháng 4 năm sau, sư hợp chung bản Phạm và Hán rồi cho khắc in ở Hàng châu. Năm Thiệu thánh thứ 2 (1095) sư vẫn trụ ở viện Truyền pháp của chùa Thái bình hưng quốc chuyên việc dịch kinh. Sư được vua ban hiệu là Quảng Phạm Đại Sư.[X. San bổ tham thiên thai ngũ đài sơn kí Q.4].
thiên có kệ
Devatā-samyutta (P)Tên một bộ kinh.
thiên công
Eternalists believe that there exists a so-called Creator who created all creatures.
thiên căn
1356大自在天之標幟。即雄偉之男根。為印度教濕婆派(梵 Śiva)之神體,謂諸有趣皆由此而生,故敬之。〔續高僧傳玄奘傳〕
; Tượng Dương Vật của Thần Siva, mà Huyền Trang đã tìm thấy trong các đình miếu ở Ấn Độ; ông nói rằng những người Ấn Giáo đã “sùng bái tượng nầy không biết ngượng”—The phallic emblem of Siva, which Hsuan-Tsang found in the emples of India; he says the Hindus “worship it without being ashamed.”
; (天根) Nam căn lớn của trời Đại tự tại, cũng là biểu trưng của vị trời này. Là thần thể của phái Thấp bà (Phạm:Ziva) thuộc Ấn độ giáo, vì 6 đường đều do thiên cănnàysinh ra nên phải tôn kính. [X.truyện ngài Huyền trang trong Tục cao tăng truyện].
thiên cơ
1367<一>天然之機感。或謂天之機密,猶言天意。亦指天性而言。 <二>(1942~ )臺灣屏東人,俗姓李。法名印證,別號天機。民國五十一年(1962)於屏東東山寺依圓融尼師出家,同年於舊超峰寺受具足戒。v嘗赴美國、加拿大訪問當地佛教,並至新加坡、馬來西亞弘法,協助屏東離島小琉球成立正信念佛會,長期講經說法,又創辦東山幼稚園、圓融慈善會,以服務社會。歷任屏東佛教支會理事長、臺灣省分會理事、東山寺住持、東山佛學院院長。
; Natural capacity; the nature bestowed by Heaven.
; Natural capacity—The nature bestowed by Heaven.
; (天機) Cơ trời. Tức là sự cơ cảm mầu nhiệm, hoặc là sự cơ mật của trời. Cũng chỉ cho Thiên tính hoặc Thiên ý.
thiên cư
1) The abode of the gods. 2) To change one's residence.
thiên cẩu
1349我國稱彗星、流星之類為天狗,印度則將彗星稱為憂流迦(梵 Ulkā),故正法念處經卷十九畜生品之註,以梵語憂流迦配當天狗。又據山海經卷二載,天狗為怪獸名,其狀如狸而首白,其音如榴榴,可禦禍凶。日本自中古以來,民間視天狗為天魔之一種,謂天狗住於深山,為人形、高鼻而有翼,飛行自在,著僧服或修驗者之服裝。並有說天狗為我執憍慢之出家人所墮落之魔道者。〔大日經疏卷五、史記天官書第五、古事談卷三、寂照堂谷響集卷二〕
; Ulka (skt)—The heavenly dog—A meteor—A star in Argo.
; (天狗) Người Trung quốc gọi loại sao chổi, sao băng là Thiên cẩu(chó trời). Cứ theo kinh Sơn hải quyển 2 thì Thiên cẩu là tên một loài thú quáidị, hình dáng giống như con chồn, mà đầu trắng, tiếng sủa gâu! gâu!có thể ngăn được tai họa xấu ác. Ấn độ thì gọi sao chổi là Ưu lưu ca (Phạm:Ulka), vì thế phần chú thích trong phẩm Súc sinh kinh Chính pháp niệm xứ quyển 19, phối hợp chữ Phạm Ulka với Thiên cẩu. Còn ở Nhật bản thì từ đời Trung cổ trở về sau, dân gian coi Thiên cẩu là 1 loại Thiên ma, cho rằng Thiên cẩu trụ ở trong núi sâu, là hình người, mũi cao, có cánh, bay đi tự tại, mặc tăng phục hoặc phục trang của người Tu nghiệm. Lại có thuyết cho rằng Thiên cẩu là người xuất gia chấp ngã, kiêu mạn, bị rơi vào ma đạo. [X. Đạinhậtkinh sớ Q.5; Sử kí thiên quan thư Q.5; Cổ sự đàm Q.3; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.2].
thiên cổ
1363指置於忉利天善法堂之大鼓。此鼓由天之業報生得,不擊而能自出妙音,警醒放逸之天眾,聞者皆生慎惡好善之心。此外,又稱天人所持之鼓為天鼓。復因天鼓音聲無主無作,無起無滅,能利益無量眾生,故用以比喻佛之說法。據法華義疏卷一載,賊來賊去之際,天鼓皆鳴,而諸天心勇,修羅懼怖;眾生煩惱之應來應去,佛皆說法,而弟子心勇,諸魔懼怖。天鼓無心能為四事,如來雖說,亦復無心,故以天鼓喻顯佛之音聲說法。〔新譯華嚴經卷十五、卷五十一、過去現在因果經卷三、法華經卷五如來壽量品、三卷本大般涅槃經卷上、法華經玄義卷六下〕
; The divine drum in the Thiện pháp đường Good Law Hall of the Trayas-trimsas heavens, which sounds of itself, warning the inhabitants of the thirty three heavens that even their life is impermanent and subject to karma; at the sound of the drum Indra preaches against excess.
; 1) Cổ xưa lâu đời: Antiquity. 2) Trống trời: Theo Phẩm 15 Kinh Hoa Nghiêm, ở Thiện Pháp Đường nơi cõi Trời Đao Lợi có một cái trống chẳng đánh mà tự nhiên phát diệu âm, cảnh báo chúng thiên trên cõi Trời nầy rằng đời vô thường và luôn bị nghiệp báo chi phối. Chư Thiên trên tầng trời nầy nghe tiếng trống bèn kéo nhau nghe Trời Đế Thích nói pháp vi diệu khiến họ đều phát tâm làm lành lánh dữ. Do vậy chư Phật còn có danh hiệu là Thiên Cổ hay Trống Trời. Lúc trống trời vang lên thì chúng ma đều sợ hãi bỏ chạy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 15, in the Good Law Hall of Trayas-trimsas heavens, there is a deva-drum which sounds of itseft, warning the inhabitants of the thirty-three heavens that even their life is impermanent and subject to karma; at the sound of the drum Indra preaches against excess. Hence it is a title of Buddhas as the geat law-drum, who warns, exhorts, and encourages the good and freightens the evil and demons. .
; (天鼓) Trống trời.Tức chỉ cho quả trống lớn đặt ở Thiện pháp đường trên cõi trời Đao lợi. Trống này do nghiệp báo của chư thiên mà có, không cần đánh mà tự phát ra âm thanh vi diệu, cảnh tỉnh các thiên chúng biếng nhác, buông thả, các vị trời nghe đềusinh tâm thích thiện, ghét ác. Vì âm thanh của Thiên cổ không có chủ, không tạo tác, không khởi, không diệt, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, cho nên được dùng để ví dụ việc thuyết pháp của đức Phật. Cứ theo Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1 thì lúc có giặc đến, giặc đi, Thiên cổ đều vang lên, làm cho tâm chư thiên mạnh mẽ, A tu la thì sợ hãi;chúngsinh phiền não đến hay đi, Phật đều thuyết pháp, khiến tâm đệ tử mạnh mẽ, các ma sợ hãi. Thiên cổ vô tâm mà có thể làmđược4 việc, Như laituynói nhưng cũng vô tâm, cho nênThiên cổ được dùng để ví dụ âm thanh thuyết pháp của đức Phật.
thiên cổ lôi âm phật
1363天鼓雷音,梵名 Divyadundubhi meghanirghoṣa。又稱鼓音如來、鼓音佛、鼓音王。密教胎藏界曼荼羅中臺八葉院之北方如來(四方四佛之一)。大日經具緣品、大日經疏卷四載,此佛住寂定之相,主大涅槃之德,故依義稱為不動。而此大般涅槃異於二乘之永寂而無妙用,實如天鼓都無形相而能演說如來法音,成辦事業,故本名鼓音如來。其形像周身金色,左手作拳安於臍下,右手指端觸地,結觸地印,跏坐寶蓮華。密號不動金剛,種子為奥(aḥ)字或絥(haṃ)字,三昧耶形為萬德莊嚴印或寶螺。或謂此佛與金剛界東方阿閦如來為同尊。〔大日經卷五祕密八印品、入祕密漫荼羅位品、攝大儀軌卷二、廣大儀軌卷下、大日經疏卷十七、卷二十、祕藏記〕
; Divyadundubhi-meghanirghoṣa (S)Cổ Âm Như Lai, Cổ Âm PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; Cổ Âm Như Lai—Divyadundubhimeghanirghosa (skt)—Một trong năm vị Phật trong Thai Tạng Giới Mạn Đà La, ở phía bắc của nhóm trung tâm. Người ta nói đây là pháp thân hay “Đẳng Lưu” thân của Phật Thích Ca. Vị Phật nầy cũng được biết đến như là Bất Động Tôn tương ứng với A Súc Bệ Phật—One of the five Buddhas in the Garbhadhatu mandala, on the north of the central group; said to be one of the dharmakaya of Sakyamuni or his universal emanation body; it is known as Immutably-Honoured One corresponding with Aksobhya.
; (天鼓雷音佛) Thiên cổ lôi âm, Phạm: Divyadundubhi meghanirghowa. Cũng gọi Cổ âm Như lai, Cổ âm Phật, Cổ âm vương. Chỉ cho đức Như lai ở phương bắc (1 trong 4 đức Phật ở 4 phương) ngồi trong viện Trung đài Bát diệp thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì đức Phật này an trụ trong tướng tịch định, chủ về đức Đại niết bàn, cho nên căn cứ theo nghĩa mà gọi là Bất động. Nhưng Đại niết bàn này khác với niết bàn vĩnh tịch, không có diệu dụng của Nhị thừa, giống như Thiên cổ không có hình tướng mà thường diễn nói pháp âm của Như lai, thành tựu mọi sự nghiệp, cho nên gọi là Cổ âm Như lai. Về hình tượng thì toàn thân Ngài màu vàng ròng, tay trái nắm lại để ở dưới rốn, các đầu ngón tay phải chấm đất, kết ấn Xúc địa(chạm đất), ngồi kết già trên hoa sen báu, mật hiệu là Bất động kim cương, chủng tử là (a#) hoặc (haô), hình Tam muội da là Vạn đức trang nghiêm ấn hoặc Bảo loa(vỏ ốc báu). Có thuyết cho rằng đức Phật này và đức A súc Như lai ở phương đông thuộc Kim cương giới cùng là 1 vị tôn.[X. phẩm Bí mật bát ấn trong kinh Đại nhật Q.5; phẩm Nhập bí mật mạn đồ la vị trong kinh Đại nhật Q.5; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2; Quảng đại nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.17, 20; Bí tạng kí].
Thiên cổ lôi âm 天鼓雷音
[ja] テンクライオン Tenkuraion ||| See 天鼓雷音佛. => Xem Thiên cổ Lôi âm Phật 天鼓雷音佛.
thiên cổ âm
Vân Tự Tại Đăng Vương—Dundubhisvara-raja (skt)—Lord of the sound of celestial drums, such as thunder. Name of each of 2,000 kotis of Buddhas who attained Buddhahood.
Thiên cổ 天鼓
[ja] テンコ tenko ||| (1) A drum in the Hall of Good Dharma of Trāyastrimśa Heaven, which emits sublime sounds by itself without being struck. (2) An epithet of the Buddha. => 1. Trống của Thiện pháp đường trên cung trời Đao lợi, tự phát ra âm thanh vi diệu mà không cần phải đánh vào. 2. Một danh hiệu dành cho Đức Phật.
Thiên Diệp
(千葉, Chiba): tên gọi của một dòng họ, chi lưu của Lương Văn (良文, Yoshifumi) thuộc họ Hoàn Võ Bình (桓武平). Vào thời Trung Đại, dòng họ này vốn là hào tộc, đến sinh sống ở Quận Thiên Diệp (千葉郡, Chiba-gun), Hạ Tổng (下總, Shimōsa), rồi lấy tên vùng này làm họ của mình. Sau đó, dòng họ này đi theo dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), và cuối cùng bị dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi) tuyệt diệt.
thiên diệp liên hoa
742指千瓣蓮華。(一)為供養佛之用。大般若經卷一序品(大八‧二一八中):「爾時寶積佛以千葉金色蓮花與普明菩薩,而告之曰:『善男子!汝以此花散釋迦牟尼佛上。』」依大智度論卷十之說,蓮華有三種:(1)人華,有十餘葉。(2)天華,有百葉。(3)菩薩華,有千葉。又寶積佛所住之多寶世界,亦有金色光明之千葉蓮華。 (二)為佛所坐之蓮臺。大乘本生心地觀經卷二(大三‧二九八下):「第一佛身坐百葉蓮華,為初地菩薩說百法明門。(中略)第二佛身坐千葉蓮華,為二地菩薩說千法明門。(中略)第三佛身坐萬葉蓮華,為三地菩薩說萬法明門。」另據梵網經載,盧舍那佛所坐之蓮華臺,周圍遍生千華葉,示現千釋迦,其一一華葉皆有百億之國,一國示現一釋迦皆坐於菩提樹下,一時成道。天台宗以梵網經所說千華葉為四教中別教之佛所坐之蓮華臺,法華玄義(會本)卷七上稱其為寂滅道場之七寶華,諦觀之天台四教儀則稱其為蓮華藏世果七寶菩提樹下大寶華王座。〔蓱沙王五願經〕
; (千葉蓮華) I. Thiên Diệp Liên Hoa. Hoa sen nghìn cánh dùng để cúng dường Phật. Phẩm tựa trong Đại bát nhã quyển 1 (Đại 8, 218 trung) nói: Bấy giờ, đức Phật Bảo tích đưa đóa hoa sen nghìn cánh cho bồ tát Phổ minh và dạy rằng: Thiện nam tử !Ông hãy đem hoa này rải trên đức Phật Thích ca mâu ni. Theo luận Đại trí độ quyển 10 thì có 3 loại hoa sen: 1. Nhân hoa: Có hơn 10 cánh. 2. Thiên hoa: Có 100 cánh. 3. Bồ tát hoa: Có 1000 cánh. Thế giớiĐa bảo nơi Phật Bảo tích an trụ cũng có hoasennghìn cánh màu vàng ròngsángóng ánh. II. Thiên Diệp Liên Hoa. Đài hoa nghìn cánh dùng làm tòa ngồi của đức Phật. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 298) hạ) ghi: Thân Phật thứ nhất ngồi trên hoa sen trăm cánh giảng nói pháp minh môn cho Bồ tát Sơ địa nghe. (...) Thân Phật thứ hai ngồi trên hoa sen nghìn cánh giảng nói Thiên bách minh môn cho Bồ tát Nhị địa nghe. (...) Thân Phật thứ ba ngồi trên hoa sen vạn cánh giảng nói vạnpháp minh môn cho Bồ tát Tam địa nghe. Ngoài ra, cứ theo kinh Phạm võng thì đài sen trên đó đứcPhậtLô xá na ngồi chung quanh có 1000 cánh, thị hiện nghìn Phật Thích ca, mỗi một cánh hoa đều có trămức cõi nước, mỗi cõi nước thị hiện một Phật Thích ca đều ngồi dưới gốc cây Bồ đề, thành đạo cùng lúc. Tông Thiên thai cho rằng nghìn cánh hoa sen nói trong kinh Phạm võng là đài hoa sen mà đức Phật của Biệtgiáo trong 4 giáo ngồi, Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) quyển 7, phần đầu, gọi đó là Thất bảo hoa ở đạo tràng Tịch diệt; còn Thiên thai tứ giáo nghi của ngàiĐế quán thì gọi đó là Liên hoa tạng thế giới thất bảo Bồ đề thụ hạđại bảo hoa vương tọa (Tòa hoa báu lớn dưới gốc cây Bồ đề bảy báu ở thế giới Liên hoa tạng).
Thiên Diệp Thị Dận
(千葉氏胤, Chiba Ujitane, 1337-1365): vị Võ Tướng dưới thời đại Nam Bắc Triều; Đương Chủ đời thứ 13 của dòng họ Thiên Diệp; con trai thứ của Thiên Diệp Trinh Dận (千葉貞胤, Chiba Sadatane); thân mẫu là cháu của Tằng Cốc Giáo Tín (曾谷敎信, Soya Kyōshin). Ông kế thừa làm chức Thủ Hộ 3 tiểu quốc: Thượng Tổng (上總, Kazusa), Hạ Tổng (下總, Shimōsa) và Y Hạ (伊賀, Iga). Ông đã từng lập khá nhiều chiến công trong trận mạc. Vào năm 1365, ông nhuốm bệnh ở kinh đô Kyoto, và trên đường về cố hương, ông qua đời tại Mỹ Nùng (美濃, Mino), hưởng dương 29 tuổi. Con trai ông, Thánh Thông (聖聰, Shōsō), là vị Tăng của Tịnh Độ Tông và cũng là người có công trong việc sáng kiến Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji).
thiên dân
Chư Thiên cư ngụ trên các cõi trời—Heavenly beings or beings who live in the various Heavens—See Thiên.
thiên dữ
Xem Đề bà đạt đa.
Thiên gia
(天家): có hai nghĩa chính. (1) Từ xưng hô đối với thiên tử. Như trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Hán có giải thích rằng: “Thiên gia, bách quan tiểu lại chi sở xưng, thiên tử vô ngoại, dĩ thiên hạ vi gia, cố xưng thiên gia (天家、百官小吏之所稱、天子無外、以天下爲家、故稱天家, thiên gia là từ xưng hô của trăm quan lại, thiên tử không ngoại lệ, lấy thiên hạ làm nhà, nên gọi là thiên gia [nhà trời]).” Hay trong bài thơ Tri Phủ Tôn Học Sĩ Kiến Thị Ngũ Thủ Nhân Dĩ Xuyết Thiên (知府孫學士見示五首因以綴篇) của Phạm Trọng Yêm (范仲淹, 989-1052) nhà Tống có câu: “Hồng hà lục trúc vong cơ địa, vị miễn thiên gia hạ chiếu cầu (紅霞綠竹忘機地、未免天家下詔求, ráng hồng trúc biếc quên vạn sự, chẳng khỏi vương gia hạ chiếu tìm).” (2) Chỉ nhà đế vương. Như trong Tấn Thư (晉書), Truyện Hồ Phấn (胡奮傳), có câu: “Lịch quán tiền đại, dữ thiên gia hôn (歷觀前代、與天家婚, xét khắp các đời trước, đều cùng với nhà đế vương kết hôn).”
thiên giáo
4375為「圓教」之對稱。二教之一。指偏於一方之教,一般多指小乘教,或指大乘教中之權教。例如以天台宗之立場而言,法華經乃真實不滅之實教,其餘諸經均為方便施設之權教。(參閱「圓教」5406、「權實二教」6895)
; 1) Quyền giáo: Partial or relative teaching. 2) Tông Thiên Thai cho rằng giáo thuyết Thiên Thai là “Viên Giáo,” bao gồm hết tất cả những lời Phật dạy, trong khi Pháp Tướng và Tam Luận chỉ là Quyền giáo. Tông nầy cũng xem ba giáo Tạng, Thông, Biệt là quyền giáo—Partial or relative teaching; T'ien-T'ai regarded its own teaching as the complete, or final and all-embracing teaching of the Buddha, while that of Madhyamika school of Nagarjuna and Dharmalaksana schools were partial and imperfect; in like manner, the three schools of Pitaka, Intermediate, and Separate were also partial and imperfect. ** For more information, please see Quyền Giáo in Vietnamese-English Section.
; (偏教) Đối lại: Viên giáo. Giáo pháp thiên về 1 bên, thông thường phần nhiều chỉ cho Tiểu thừa giáo, hoặc chỉ cho Quyền giáo trong Đại thừa. Chẳng hạn như tông Thiên thai chủ trương kinh Pháp hoa là giáo pháp chân thực bất diệt, còn tất cả các kinh khác đều là giáo pháp phương tiện quyền biến bày đặt tạm thời.
thiên giới
Heaven.
; See Thiên Đạo.
thiên giới lực sĩ
See Thiên Đạo.
Thiên Giới Tự
(天界寺, Tenkai-ji): hiện tọa lạc tại phía Nam Kim Lăng (金陵, Nam Kinh), Phủ Giang Ninh (江寧府, Tỉnh Giang Tô), trên núi Phụng Sơn (鳳山), tên cũ là Long Tường Tập Khánh Tự (龍翔集慶寺), còn gọi là Đại Long Tường (大龍翔), một trong những danh lam của Trung Quốc. Vào năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (天曆), vua Văn Tông nhà Nguyên bỏ ly cung của mình ở phía bắc Cầu Đại Thị (大市橋) trong Thành Kim Lăng (金陵城) và biến nơi đây thành chùa; năm sau nhà vua cung thỉnh Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) ở Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺), Hàng Châu (杭州) đến làm tổ khai sơn chùa này. Đến năm thứ 9 (1349) niên hiệu Chí Chánh (至正), Phù Trung Hoài Tín (孚中懷信) đến trú tại đây và làm cho chùa hưng thịnh. Vào năm thứ 17 (1357) cùng niên hiệu trên, Giác Nguyên Huệ Đàm (覺源慧曇) đến trú trì và theo sắc chỉ chùa được đổi tên thành Đại Thiên Giới Tự (大天界寺). Đến tháng 3 năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武) đời vua Thái Tổ nhà Minh, nhà vua cho kiến lập Thiện Thế Viện (善世院) trong khuôn viên chùa, cử Huệ Đàm trú trì nơi đây và quản lý toàn thể Phật Giáo. Cũng vào lúc này, chùa được đổi tên thành Thiên Giới Thiện Thế Thiền Tự (天界善世禪寺) và xếp lên trên cả hệ thống Ngũ Sơn. Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) của Nhật Bản do Quy Sơn Pháp Hoàng (龜山法皇) kiến lập được liệt trên Ngũ Sơn cũng bắt chước theo trường hợp này. Vào năm thứ 21 (1388) cùng niên hiệu trên, chùa bị lửa thiêu cháy tan tành nên được dời về vị trí hiện tại; đến năm thứ 23 (1390), chùa được trùng tu lại và có tên là Thiên Giới Thiện Thế Thiền Viện (天界善世禪院). Sau đó, vào năm thứ 30 (1397) niên hiệu Hồng Võ, Thứu Phong Đạo Thành (鷲峰道成) đến trú trì chùa; ngoài ra, trong khoảng thời gian niên hiệu Sùng Trinh (崇禎, 1628-1644), Vô Dị Nguyên Lai (無異元來) cũng như Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛) thay nhau làm trú trì và nỗ lực cử xướng tông phong của họ. Vào năm thứ 17 (1660) niên hiệu Thuận Trị (順治), chùa nhất thời bị hoang phế, nhưng sau đó thì được trùng tu lại.
thiên giới tự
1353<一>位於江蘇江寧聚寶門外善世橋之南。元代文宗天曆元年(1328,一說至順元年,1330),捨金陵潛邸為寺,號「大龍翔集慶寺」。次年,以杭州中天竺寺 之笑隱大訢為開山第一世。翌年,敕召趙世延以金泥書寫無量壽經千部及佛經一藏。順帝至正十七年(1357),敕改寺名為「大天界寺」。二十七年頒予「天界第一禪林」之額。後屢改寺名,明洪武十五年(1382)改名「善世院」。寺內曾置僧錄司。日本國僧原要曾至此留學。二十一年罹火災,諸堂悉毀,乃移至今地。二十三年再興,稱為天界善世禪院(一說善世法門)。崇禎年中,博山艤禪師於本寺開法,覺浪盛禪師繼其後,宗風大振。清世祖順治十七年(1660)一度重修,迄今猶存。〔佛祖歷代通載卷三十八、元史本紀第三十三、古今圖書集成職方典第六六一、金陵梵剎志卷十六、卷三十九〕 <二>位於福建廈門獅山醉仙岩上。始建年代不詳。清乾隆年間月松和尚募化重建。
Thiên giới 天界
[ja] テンカイ テンガイ tenkai tengai ||| Heavenly realm; the realm of spiritual, godly existence, experienced as the result of good practices. Same as 天上and 天上界. => Cõi trời, cõi giới chư thiên. Thiên hữu. Cuộc sống ở cõi giới nhờ kết quả tu thiện nghiệp. Đồng nghĩa với Thiên thượng天上, Thiên thượng giới天上界.
thiên hi
741(1307~1382)高麗僧。慶尚北道慶州人。號雪山。十三歲,投華嚴 s社主之一非,十九歲,參究禪旨。恭愍王十三年(1364)至元,留杭州休休庵,時年五十八。至正二十六年(1366),參謁聖安寺之萬峰時蔚,受袈裟、禪棒。歸國後,住雉岳,受封國師。恭愍王二十一年,於浮石創伽藍,廣傳法門。辛荦王八年示寂,世壽七十六。諡號「真覺國師」。著有三寶一鏡觀。〔朝鮮金石總覽卷上水原彰聖寺真覺國師大覺圓照塔銘〕
thiên hoa
1361請參閱 闢妄救略說 請參閱 從容錄 梵語 divya-puṣpa,巴利語 deva-puppha。指天上之妙華。又指法會時,散於佛前,以紙作狀如蓮花瓣者。據法華經卷一序品所載,佛說法華經已,入無量義處三昧,身心不動。是時,天雨曼陀羅華、摩訶曼陀羅華、曼殊沙華、摩訶曼殊沙華等四種天華,而散於佛及諸大眾身上。大乘本生心地觀經卷一序品則舉十二種天華,除上列四種天華外,復加優鉢羅華(梵 utpala)、波頭摩華(梵 padma,巴同)、拘物頭華(梵 kumuda,巴同)、芬陀利華(梵 puṇḍarīka,巴同)、瞻蔔迦華(梵 campaka)、阿提目多華(梵 atimuktaka)、波利尸迦華(梵 vārṣika)、蘇摩那華(梵 sumanas)等八種。 此外,在古代印度,習慣將諸種美好之物稱作「天物」,人中之好華如天物者,亦稱天華。大智度論卷九(大二五‧一二三上):「云何為天華?天華芬熏,香氣逆風。(中略)復次,天竺國法,名諸好物,皆名天物;是人華非人華,雖非天上華,以其妙好,故名為天華。」〔法華經卷七化城喻品、無量義經卷二、三卷本大般涅槃經卷上〕
; Deva-puppha (P), Divya-puspa (S)Diệu hoaHoa cõi trời.
; Divine flowers, stated in the Lotus sùtra as of four kinds, mạn đà la mandàras, ma ha mạn đà la mahàmandàras, mạn thù sa manjùsakas, ma ha mạn thù sa mahàmanjùsakas, the first two white, the last two red.
; Thiên hoa được kể trong Kinh Pháp Hoa có bốn loại—Deva or divine flowers, stated in the Lotus Sutra as of four kinds: 1) Mạn Đà La (màu trắng): Mandaras (white in color). 2) Ma Ha Mạn Đà La (màu trắng): Mahamandaras (white in color). 3) Mạn Thù Sa (màu đỏ): Manjusakas (red in color). 4) Ma Ha Mạn Thù Sa (màu đỏ): Mahamanjusakas (red in color).
; (天華) Phạm: Divya-puwpa. Pàli: Deva-puppha. Hoa vi diệu trên cõi trời, hoặc chỉ cho những cánh hoa sen làm bằng giấy rải ở trước Phật trong pháp hội. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1 thì lúc đức Phật giảng nói kinh Pháp hoa xong rồi, Ngài vào tam muội Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm bất động. Bấy giờ, từ trên trời mưa xuống 4 thứ hoa là hoa Mạn đà la, hoa Đại mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Đại mạn thù sa, rải ở trước Phật và trên thân đại chúng. Phẩm Tựa kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1 thì nêu 12 thứ thiên hoa, ngoài 4 thứ nói trên còn thêm8 thứ nữa là: HoaƯu bát la (Phạm:Utpala), hoa Ba đầu ma (Phạm, Pàli: Padma), hoa Phân đà lợi (Phạm,Pàli:Puịđarìka), hoa Câu vật đầu (Phạm,Pàli:Kumuda), hoa Chiêm bặc ca (Phạm: Campaka), hoa A đề mục đa (Phạm:Atimuktaka), hoa Ba lợi thi ca (Phạm:Vàrwika) và hoa Tô ma na (Phạm: Sumanas). Ngoài ra, người Ấn độ đời xưa quen gọi các vật đẹp là Thiên vật, các loại hoa đẹp trong cõi người như thiên vật cũng gọi là Thiên hoa.
thiên hoa phái
741乃我國南山律宗之一派,以江蘇句容縣寶華山隆昌寺為重鎮。唐代道宣為此派高祖,明代如馨為太祖,寂光為寶華山中興第一祖。千華之名,係由寂光在隆昌寺所結蓮社之稱號而來。 本派之傳承:從第一世道宣傳至第十三世慧雲如馨,如馨再傳三昧寂光,為寶華山第一代。本派太祖如馨於參詣五臺山時,觀見文殊菩薩而頓悟律旨,一生致力於弘揚戒律,世稱「中興律祖」,著有經律戒相布薩軌儀一卷。其門下弟子甚多,其中,性理、性璞二人繼承南京古林寺(如馨弘戒之發源地)所傳之法統,稱為古林派。又三昧寂光傳承如馨之法,著有梵網經直解四卷,大垂法化,重興寶華山隆昌寺為律宗之道場,且將此地所結之蓮社命名為千華,此即千華派之由來。寂光為寶華山第一世,讀體為第二世,再依次傳德基、真義、常松、實
; (千華派) Một phái thuộc Nam sơn Luật tông của Trung quốc, lấy chùa Long xương, núi Bảo hoa, huyện Cú dung, tỉnh Giang tô làm trung tâm. Ngài Đạo tuyên đời Đường là Cao tổ của phái này, ngài Như hinh đời Minh là Thái tổ, ngài Tịch quang là tổ Trung hưng thứ nhất ở núi Bảo hoa. Danh từ Thiên hoa lấy từ tên của Liên xã do ngài Tịch quang sáng lập ở chùa Long xương. Sự truyền thừa của phái này như sau: Từ ngài Đạo tuyên đời thứ nhất truyền đến đời thứ 13 là ngài Tuệ vân Như hinh, ngài Như hinh lại truyền cho ngài Tam muội Tịch quang, là đời thứ nhất của Bảo hoa sơn. Thái tổ của phái này là ngài Như hinh, khi lên núi Ngũ đài lễ bái, quán thấy bồ tát Phổ hiền mà đốn ngộ ý chỉ của Luật, từ đó cho đến trọn đời tận lực hoằng dương giới luật, người đời gọi ngài là Trung Hưng Luật Tổ, có soạn Kinh Luật giới tướng Bồ tát quĩ nghi 1 quyển. Đệ tử ngài rất đông, trong đó, 2 vị Tính lí và Tính phúc kế thừa pháp thống chùa Cổ lâm(là nơi hoằng giới của ngài Như hinh) ở Nam kinh, gọi là Cổ lâm phái. Còn ngài Tam muội Tịch quang truyền thừa pháp của ngài Như hinh, có soạn Phạm võng kinh trực giải 4 quyển, giáo hóa rất rộng, trùng hưng chùa Long xương ở núi Bảo hoa thành đạo tràng của Luật tông và đặt Liên xã được sáng lập ở đây là Thiên hoa, đó chính là nguồn gốc của Thiên hoa phái. Ngài Tịch quang là đời thứ nhất của núi Bảo hoa, ngài Độc thể là người thứ 2, rồi theo thứ tự truyền đến các ngài Đức cơ, Chân nghĩa, Thường tùng, Thực vĩnh, Phúc tụ... lần lượt truyền thừa cho đến đời gần đây, giới luật được truyền nối khắp trong thiên hạ, khiến cho Bảo hoa sơn chẳng những là nơi qui tụ của những người cầu giới từ 4 phương mà còn là khuôn phép cho sự truyền giới ở các nơi. Phái này lấy 2 môn Chỉ trì và Tác trì làm tông. Chỉ trì nghĩa là không làm các điều ác; Tác trì nghĩa là làm tất cả việc thiện. Tông chỉ của phái này tương đồng với Tướng bộ tông, nhưng trong Nhị trì thì phái này nhấn mạnh việc tuyên dương nghĩa Tác trì. Ngoài ra, Tứ phần luật phần thông Đại thừa mà phái này chủ trương cũng gần giống với tông Nam sơn, tức cho rằng Tứ phần luật và Đại thừa là đồng chế, trên hình thức tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung thì thuộc Đại thừa. Phái này rất coi trọng kinh Phạm võng. Học trò của ngài Độc thể là Thư ngọc có soạn Phạm võng Bồ tát giới sơ tân 8 quyển là thí dụ chứng minh. Lại tượng Bản tôn thờ trong điện Tì lô chùa Long xương ở Bảo hoa sơn cũng căn cứ vào tướng được nói trong kinh Phạm võng; viên quang phía sau tượng Bản tôn có nhiều tượng Phật Thích ca nhỏ.
thiên hoa trước xá lợi phất y
1361據維摩經觀眾生品載,中印度毘舍離城之長者維摩詰為諸菩薩、舍利弗等大弟子及諸天人說法,時有天女散天華於會眾之身,因菩薩已斷一切分別想,故天華不著諸菩薩,大弟子等則未絕分別想,猶畏生死,色、聲、香、味、觸等五欲得其便,故天華著於彼等之衣,神力亦不能去之。
; (天華著舍利弗衣) Hoa trời dính vào áo của ngài Xá lợi phất.Theo phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma, Trưởng giả Duy ma cật ở thành Tì xá li, Trung Ấn độ, nói pháp cho các Bồ tát, các vị đại đệ tử như Xá lợi phất... và chư thiên nghe, bấy giờ có vị thiên nữ rải hoa trời trên thân của hội chúng, vì Bồ tát đã dứt tất cả tưởng phân biệt nên thiên hoa không dính thân, riêng các vị đại đệ tử thì vì chưa dứt tưởng phân biệt, vẫn còn sợ sinh tử, 5 dục sắc, thanh, hương, vị, xúc được cơ hội quấy nhiễu, cho nên thiên hoa mới dính vào áo, dùng thần lực cũng không thể phủi đi được.
thiên hoàng
Deva-king.
thiên hoàng tự
1353 位於湖北江陵。建於南朝梁代,時法論曾住止本寺教導弟子。北周武帝時,法難波及荊楚之地,以寺中有僧繇所繪孔子之像,乃改為國庠,倖免拆燬。唐德宗時,寺主靈鑒迎石頭希遷之法嗣道悟禪師至本寺,修葺堂宇,盛弘佛法。宋代初名太平興國寺,後改乾明寺。明代洪武年間(1368~1398)重建。
; Chùa Thiên Hoàng nơi trụ trì của Sư Đạo Ngộ dưới thời nhà Đường—T'ien-Huang monastery where Tao-Wu master resided during the T'ang dynasty.
Thiên Hoàng Ðạo Ngộ
天皇道悟; C: tiānhuáng dàowù; J: tennō dōgo; 738/748-807; |Thiền sư Trung Quốc thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên. Nối pháp của Sư là Long Ðàm Sùng Tín.|Sư họ Trương, quê ở Ðông Dương Vụ Châu, xuất gia với Ðại đức Minh Châu. Sư còn nhỏ mà đã nổi danh dũng mãnh phi phàm, mưa gió mà vẫn dám thiền nơi gò mã. Lúc đầu, Sư có tham vấn Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và Mã Tổ, nhân đây có chút sở đắc.|Sau Sư đến yết kiến Thạch Ðầu, hỏi: »Lìa định, huệ, Hoà thượng lấy gì dạy người?« Thạch Ðầu đáp: »Ta trong ấy không tôi tớ, lìa cái gì?« Sư hỏi: »Làm sao rõ được?« Thạch Ðầu hỏi lại: »Ông bắt được hư không chăng?« Sư đáp: »Thế ấy ắt chẳng từ ngày nay đi.« Thạch Ðầu bảo: »Chưa biết ông bao giờ từ bên kia đến?« Sư thưa: »Ðạo Ngộ chẳng phải từ bên kia đến.« Thạch Ðầu: »Ta đã biết chỗ ông đến.« Sư hỏi: »Sao thầy lại lấy tang vật vu khống người?« Thạch Ðầu đáp: »Thân ông hiện tại.« Sư hỏi lại: »Tuy nhiên như thế, rốt ráo vì người sau thế nào?« Thạch Ðầu hỏi vặn lại: »Ông hãy nói, ai là người sau?« Sư nhân câu hỏi này triệt ngộ, mọi thắc mắc nghi ngờ đều tan biến.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là nói huyền diệu?« Sư bảo: »Chớ bảo ta hiểu nhiều Phật pháp.« Tăng thưa: »Nỡ để học nhân nghi mãi sao?« Sư hỏi lại: »Sao chẳng hỏi Lão tăng?« Tăng đáp: »Tức nay hỏi rồi.« Sư quát: »Ði! Chẳng phải chỗ ông nương tựa.«
Thiên Hoàng Đạo Ngộ
(天皇道悟, Tennō Dōgo, 748-807): vị Thiền tăng xuất thân Huyện Kim Hoa (金華), Tỉnh Triết Giang (浙江, thuộc Vụ Châu), họ là Trương (張). Năm lên 14 tuổi, ông đã có chí xuất gia, rồi sau xuống tóc xuất gia với vị Đại Đức ở Minh Châu (明州, thuộc Tỉnh Triết Giang); đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại Trúc Lâm Tự (竹林寺) ở Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông chuyên tâm tu tập phạm hạnh. Có hôm nọ, ông ngao du Dư Hàng, tham yết Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽) và theo hầu vị này trong vòng 5 năm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Lịch (大歷, 766-779), ông vào tu trong Đại Mai Sơn (大梅山), rồi vào khoảng đầu niên hiệu Kiến Trung (建中, 780-783), ông đến vùng Chung Lăng (鍾陵, Tỉnh Giang Tây), tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), và lưu lại với vị này được 2 năm. Cuối cùng ông đến tham bái Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến sống tại Sài Tử (柴紫) thuộc Đương Dương (當陽), Kinh Châu (荆州), học đồ theo ông rất đông. Sau đó, ông chuyển đến sống tại Thiên Hoàng Tự (天皇寺) ở Thành Đông, Kinh Châu. Vào ngày 30 tháng 4 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời và 35 hạ lạp.
thiên hoàng đạo ngộ
Tien huang Tao wu (C), Tennō Dōgo (J), TianhuangDaowu (C)Tên một vị sư. (748-807) đệ tử của Thạch Đầu Hi- thiên.
Thiên hoá
遷化; J: senge; có thể dịch là »bước vào cõi biến hoá«;|Một danh từ chỉ cái chết của một người (Tử), đặc biệt là cái chết của một Cao tăng. Qua danh từ »Thiên hoá« này người ta có thể thấy rằng, Phật giáo không có quan niệm rằng, cái chết (Tử) không phải là sự chấm dứt, mà chỉ là một sự biến chuyển của chư Pháp, sắc tướng; Phật tính của mỗi người đều trường tồn, vượt thời gian và không gian.
thiên hoá
6320略作化。指僧侶之示寂,有遷移化滅之義。或謂有德之人於此土教化眾生之緣已盡,而遷移於他方世界度化眾生。與涅槃、圓寂、滅度、順世、歸真等同義。據續高僧傳卷十四載,唐代慧持臨終之際云(大五○‧五三八上):「吾欲往他方教化。」梁高僧傳卷五曇戒傳(大五○‧三五六下):「有光照于身,容貌更悅,遂奄爾遷化。」 此外,在家人亦用遷化之語。如漢武帝於李夫人卒後,為其作賦:「忽遷化而不返兮,魄放逸以飛揚。」曹丕之典論論文:「日月遊於上,體貌衰於下,忽然與萬物遷化,斯亦志士之大痛也。」蓋僧俗二眾之入寂者,皆同用遷化一詞。〔大乘義章卷五本、華嚴經傳記卷四、釋氏要覽卷下、漢書外戚傳、禪林象器箋喪薦門〕
; 733指密教千葉蓮花臺上之釋迦化佛。據梵網經卷下載,盧舍那佛所坐之蓮花臺,周匝千花上復現千釋迦,一花為一百億國,一國為一釋迦,各坐菩提樹,一時成佛道,皆是千百億盧舍那之本身。
; (遷化) Gọi tắt: Hóa. Đồng nghĩa: Niết bàn, Viên tịch, Diệt độ, Thuận thế, Qui chân. Thiên hóa là dời đổi, hóa diệt, tức chỉ cho sự thị tịch của chư tăng. Hoặc có thuyết giải thích rằng những vị có đức sau khi đã hết duyên giáo hóa chúng sinh ở cõi này thì dời(thiên)đến hóa độ(hóa)chúng sinh ở thế giới khác, gọi là Thiên hóa. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 14 thì ngài Tuệ trì đời Đường lúc lâm chung có nói (Đại 50, 538 thượng): Tôi muốn đi đến phương khác để giáo hóa. Truyện ngài Đàm giới trong Lương cao tăng truyện quyển 5 (Đại 50, 356 hạ) nói: Có ánh sáng chiếu nơi thân, dung mạo vui hòa, bỗng nhiên thiên hóa.. Ngoài ra, từ ngữ thiên hóa cũngđược dùng cho người tại gia, như sau khi Lí phu nhân qua đời, Hán vũ đế làm bài phú có câu Bỗng thiên hóa mà không trở lại, hồn phách nhẹ nhàng bay lên.
; (千化) Chỉ cho đức Hóa Phật Thích ca ngồi trên hoa sen 1000 cánh của Mật giáo. Cứ theo kinh Phạm võng quyển hạ thì đài hoa sen mà đức Phật Lô xá na ngồi, chung quanh có 1000 đóa hoa, trên mỗi đóa hoa lại hiện 1000 Phật Thích ca, mỗi đóa hoa là 100 ức cõi nước, mỗi cõi nước là một Phật Thích ca, tất cả đều ngồi ở gốc cây Bồ đề, cùng một lúc chứng thành Phật đạo. Những Phật Thích ca này đều là bản thân của nghìn trăm ức Lô xá na.
thiên huệ thật triệt
1366(?~1745)清代臨濟宗僧。江蘇興化人,俗姓唐。十九歲出家。天隱圓修下靈鷲誠禪師之法嗣,行腳三十年。清世宗雍正十一年(1733)應帝招請上呈奏對,蒙受紫衣。翌年奉敕住磬山聖月寺。十三年移揚州(江蘇省江都縣)高旻寺,闡示圓相符號之禪要,法席極盛。門弟子有了凡際聖、霈霖際源等。乾隆十年示寂,遺有天慧徹禪師語錄二卷。〔正源略集卷十四〕
Thiên huống
(天貺): ân sủng trời ban. Như trong Thông Dịch Luận (通易論) của Nguyễn Tịch (阮籍, ?-?) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Chiêu minh kỳ đạo, dĩ đáp thiên huống (昭明其道、以答天貺, sáng tỏ đạo ấy, để đáp ơn trời).” Hay trong bài Thành Quân Phúng (成均諷) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường lại có câu: “Cố dĩ cảm động thiên huống, cương kỷ nhân luân (故以感動天貺、紀綱人倫, nên lấy sự cảm động ơn trời ban để làm kỷ cương luân lý con người).” Hiện tại dân gian Trung Quốc vẫn còn lưu hành Thiên Huống Tiết (天貺節) vào ngày mồng 6 tháng 6 Âm Lịch. Thời xưa, dân gian Hoài An (淮安) thuộc Tỉnh Giang Tô (江蘇省) có tập tục gọi là Sái Hồng Lục (曬紅綠) vào ngày mồng 6 tháng 6. Tương truyền tập tục này xuất phát từ thời nhà Đường (唐, 618-907). Huyền Trang (玄奘, 602-664), cao tăng nhà Đường, sang Tây Thiên thỉnh kinh, trên đường trở về nước, khi đi ngang qua biển, một số kinh điển bị rơi xuống biển, ẩm ướt, nên vào ngày mồng 6 tháng 6 này người ta lấy kinh văn ra để phơi khô. Từ đó, ngày này trở thành ngày tốt lành. Khởi đầu, vào ngày này trong hoàng cung tiến hành phơi Long Bào của nhà vua, sau đó tập tục này được lưu truyền ra dân gian. Vào đúng ngày này, nhà nào cũng đem áo quần ra phơi nơi cổng nhà. Vì vậy, ở Dương Châu (揚州) vẫn có câu ngạn ngữ rằng: “Lục nguyệt lục gia gia sái hồng lục (六月六家家曬紅綠, mồng sáu tháng sáu nhà nhà phơi áo quần).”
thiên hành
1348為菩薩所修五行之一。天者,第一義天,指天然實相之理。菩薩由天然之理而成就妙行,故稱天行。依天台別教之意,天行為地前之內證;圓教則以法華經所說之如來座為圓天行。〔北本涅槃經卷十一聖行品、法華經玄義卷三下、卷四下〕(參閱「五行」1085)
; (天行) Thiên là Đệ nhất nghĩa thiên, chỉ cho lí thực tướng thiên nhiên. Bồ tát nhờ tu lí thiên nhiên mà thành tựu diệu hạnh nên gọi là Thiên hạnh, là 1 trong 5 hạnh tu của Bồ tát. Theo Biệt giáo của Thiên thai thì Thiên hạnh là nội chứng của Địa tiền; Viên giáo thì lấy Như lai tòa nói trong kinh Pháp hoa làm Viên thiên hạnh.
thiên hình vạn trạng
Multiform.
thiên hóa
Chết—To pass away—To be taken away—To die.
Thiên hư 天虚
[ja] テンコ tenko ||| (1) The Great Void; the universe; unlimited (realm). (2) Completely empty and void. => 1. Đại không; vũ trụ, vô giới hạn (cõi giới). 2. Hoàn toàn trống không.
thiên hưng
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chưa biết thời điểm xây dựng chùa, chỉ biết năm Minh Mạng thứ 6 (1825), chùa Thiên Hưng chỉ là một thảo am. Năm 1893, chùa được sư Thanh Chân, tức là đại sư Viên Giác sau nầy, phát nguyện trùng tu, với sự hỗ trợ của một mệnh phụ tên là Tôn Nữ Thanh Lương. Do đó chùa đã thay đổi cảnh sắc và qui mô, chuyển tranh thành ngói, và có pháp khí tốt đẹp, tượng đồng được đúc, tượng gỗ được thếp vàng lại, làm cho cảnh chùa sáng sủa hơn. Năm 1911, Hòa Thượng Thanh Tú cùng với đồ đệ và giáo hội đã trùng tu lại chùa, khiến cho cảnh chùa uy nghi tráng lệ hơn xưa. Vào năm 1927, Hòa Thượng Quảng Tu trùng tu chánh điện. Năm 1935, chùa được ban biển ngạch sắc tứ và Hòa Thượng được ban giới đạo độ điệp. Chùa Thiên Hưng hiện vẫn còn giữ được hệ thống tượng thờ từ cuối thế kỷ thứ 19—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The date of building of the temple is unknown. It is merely recorded that in the sixth year of king Minh Mạng's reign, Thiên Hưng temple was only a thatched house. In 1893, a monk named Thanh Chân, later he became great master Viên Giác, committed himself to rebuild the temple with the assistance of a noble lady named Tôn Nữ Thanh Lương. As a result, the appearance and structure of the temple were changed considerably. Thatch was changed to tiles, bronze statues were introduced and some wooden statues were gilded, giving the temple a brighter look. In 1911, Most Venerable Thanh Tú together with his disciples and the congregation, rebuilt the temple, giving it a more impressive and magnificent appearance. In 1927, Most Venerable Quảng Tu rebuilt the main hall. In 1935, Thiên Hưng temple was recognized as national temple by the throne and Most Venerable Quảng Tu was honoured by the king with “Giới Đạo Độ Điệp.” The temple still remains its system of statues from the late nineteenth century.
thiên hương
1354天上之香。或指人間之妙香。法華經法師功德品(大九‧四八中):「持是經者,雖住於此,亦聞天上諸天之香。」
; Deva incense, divine or excellent incense.
; Deva incense—Celestial perfume—Divine or excellent incense.
; (天香) Hương trên cõi trời, hoặc chỉ cho hương vi diệu của nhân gian. Phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 48 trung) nói: Người trì kinh này, tuy ở nơi đây nhưng cũng ngửi thấy mùi hương của chư thiên trên cõi trời.
thiên hướng
Tendency—Inclination.
thiên hạ
The world; here below; on earth.
; People—The whole world.
thiên hạnh
A bodhisattva's natural or spontaneous correspondence with fundamental law; one of the ngũ hạnh of the Niết Bàn kinh.
; A bodhisattva's natural or spontaneous correspondence with fundamental law. One of the five natures of Bodhisattvas in the Nirvana Sutra (Kinh Niết Bàn).
Thiên Hải
(天海, Tenkai, 1536-1643): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山) và đầu thời Giang Hộ, vị tổ thời Trung Hưng của Thiên Thai Tông, húy là Tùy Phong (隨風), Thiên Hải (天海), hiệu Nam Quang Phường (南光坊) và Trí Lạc Viện (智樂院), thụy hiệu là Từ Nhãn Đại Sư (慈眼大師), xuất thân vùng Fukushima-ken (福島縣). Ông xuất gia lúc 11 tuổi, đến năm 14 tuổi thì lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo học Thiên Thai với Thật Toàn (實全), Câu Xá với Tôn Thật (尊實), rồi Tam Luận và Pháp Tướng với Thật Không (實空). Sau khi Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) đốt cháy toàn bộ Tỷ Duệ Sơn, ông dẫn đồ chúng đến nương náu nơi Võ Điền Tín Huyền (武田信玄, Takeda Harunobu) ở vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai). Từ đó về sau, ông từng đến trú ở Bất Động Viện (不動院), rồi Hỷ Đa Viện (喜多院) vùng Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]). Đến năm 1607, ông trở về sống tại Nam Quang Phường trên Tỷ Duệ Sơn, rồi nỗ lực tập trung cho việc phục hưng Sơn Môn. Năm 1616, ông được cử làm Đại Tăng Chánh, rồi cùng năm đó, ông lấy nghi Nhất Thật Thần Đạo để làm lễ an táng cho Gia Khang (家康, Ieyasu). Vào năm 1624, ông kiến lập Khoan Vĩnh Tự (寬永寺) ở Đông Duệ Sơn (東叡山) và làm tổ khai sơn của chùa này. Ông được sự tín nhiệm của 3 đời Tướng Quân Gia Khang, Tú Trung và Gia Quang; nên thường tham gia bàn chính sự trong Mạc Phủ, và lần đầu tiên đã thống chế các phái của Thiên Thai Tông Nhật Bản. Trước tác của ông để lại có Nhất Thật Thần Đạo Bí Quyết (一實神道秘決) 1 quyển, Dị Bộ Kiến Văn Thuật Ký Định Thư (異部見聞述記掟書) 1 quyển, v.v.
thiên hải
1356(1536~1643)日本天台宗僧。為寬永寺之開祖。會津人。號南光坊。早歲出家,遊歷比叡山、園城寺、南都,研習華嚴、天台、唯識、密教、禪學。關原之役以後,頗受德川家康之知遇。曾於宮中講學,蒙賜日光山。家康歿後,復受秀忠、家光之信任,而歷任政治顧問之職。其後企劃刊行大藏經,共歷十一年始有木活字天海版藏經之完成。寬永二十年入寂,世壽一○八。後光明天皇敕諡「慈眼大師」。〔東叡開山慈眼大師傳記、日光山門跡次第、東國高僧傳卷十〕
thiên hậu
Queen of Heaven.
thiên họa
Deva lines or pictures.
thiên học sơ chinh
1367全一卷。智旭述。明末,天主教傳入我國,萬曆十年(1582)耶穌會至澳門,以利瑪竇(Matteo Ricci)為中心進行宣教,出版天主實義二卷,主張儒家之天與天主教之天一致,而責難佛教與聖賢之道相悖。袾宏乃作天說四篇(收於竹窓三筆一書中)反駁之;智旭亦作天(主)學初徵(詰),指出天主教之矛盾二十二條,復作天學再徵,列舉評破二十八條。智旭二著稱為天學二徵,收錄於闢邪集二卷中。本書所論包含創造主宰、降生贖罪、奉事拜察、靈魂不滅、天堂地獄、臨終翻悔等問題。
; (天學初征) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí húc soạn.Cuối đời Minh, Thiên chúa giáo truyền vào Trung quốc. Năm Vạn lịch thứ 10 (1582), hội Da tô đếnÁo môn, lấy Lợi mã đậu (Matteo Ricci) làm trung tâm tiến hành tuyên giáo, xuất bản Thiên chúa thực nghĩa 2 quyển, chủ trương Thiên của Nho gia và Thiên của Thiên chúa giáo là đồng nhất và chê trách Phật giáo là trái với đạo Thánh hiền. Ngài Trí húc bèn soạn Thiên học sơ trưng(Chê trách Thiên chúa giáo lần đầu), chỉ rõ ra 22 điều mâu thuẫn của Thiên chúa giáo. Sau đó, ngài lại soạn Thiên học tái trưng(Chê trách Thiên chúa giáo lần thứ hai), liệt kê 28 điều phê phán, bác bỏ. Hai tác phẩm trên đây của ngài Trí húc gọi là Thiên học nhị trưng, được thu chép vào Tịch tà tập. Nội dung gồm các vấn đề: Chúa tể sáng tạo, giáng sinh chuộc tội, phụng thờ lễ bái, linh hồn bất diệt, thiên đường địa ngục, sắp chết hối hận...
thiên hỏa
Cosmic fire.
thiên hữu
1348七有之一。謂依過去之戒定等因,而感得現在之天界樂果。以其果報存在,故稱為有。〔長阿含十報法經卷上、大毘婆沙論卷六十、俱舍論卷八」(參閱「七有」96)
; Xem Bà tu mật.
; Existence and joy as a deva, derived from previous devotion, the fourth of the seven forms of existence.
; (天有) Nghĩa là nhờ vào nhân giới, định... quá khứ mà hiện tạicảmđược quả vui cõi trời. Quả báo tồn tại, có thật nên gọi là Hữu. Một trong Thất hữu.
thiên hữu chấp
4372即認為萬法為「有」之執著。主張萬法為「有」者,自佛教立場觀之,可分三種層次,即:(一)如一般世俗之人,以為萬事萬物凡有形體、音聲、冷熱等可憑藉之物質者,均為真實之存在。(二)如小乘說一切有部(即薩婆多部),認為諸法乃各種因緣和合所生,故為「有」,主張「「三世實有,法體恆有」;對於有情眾生之看法,此部派亦視之為五蘊之假和合,而提倡生有、本有、死有、中有之「四有」說。乃屬機械之實在論。(三)大乘中之法相宗,基於緣起論,亦主張諸法之性為實有,其體遍常,無有生滅;然此一主張與上記說一切有部判然有別,蓋其所強調諸法之性者乃屬圓成實性,一般多稱為真如,故雖主張「有」,實係真有、妙有之有,而為大乘佛教重要思想之一。故知偏於「有」之執著者,係指一般世俗見解及說一切有部等之主張。
; Kiến giải thiên về một bên cho vạn hữu là có và chấp chặt vào đó—Strong attachment to the idea of a real existence of all things.
; (偏有執) Chấp trước vạn pháp là Hữu(có thật). Theo quan điểm của Phật giáo thì chủ trương Vạn pháp là Hữu có thể chia làm 3 bậc: 1. Người thế gian nói chung cho rằng hễ vật nào có hình thể, âm thanh, lạnh nóng... có thể nương gá được thì đều tồn tại chân thực. 2. Thuyết nhất thiết hữu bộ(tức Tát bà đa bộ) thuộc Tiểu thừa cho rằng các pháp do nhiều nhân duyên hòa hợp mà sinh, cho nên thuộc về Hữu, chủ trương Ba đời có thật, pháp thể hằng có. Về cách nhận xét đối với chúng sinh hữu tình thì bộ phái này cũng xem đó là sự giả hòa hợp của 5 uẩn và đề xướng thuyết Tứ hữu: Sinh hữu, Bản hữu, Tử hữu và Trung hữu. Thuyết này thuộc về Thực tại luận cơ giới. 3. TôngPháp tướng thuộc Đại thừa, đặt nền tảng trên Duyên khởi luận, cũng chủ trương tính của các pháp là thực Hữu, thể của nó cùng khắp và thường hằng không diệt. Tuy nhiên, chủ trương này hoàn toàn khác với quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ nói trên; bởi vì tính của các pháp mà tông Pháp tướng chủ trương là thuộc về tính Viên thành thực mà thông thường gọi là Chân như, cho nên tuy chủ trương Hữu nhưng thực ra là Hữu của Chân hữu, Diệu hữu, vốn là 1 trong các tư tưởng quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Vì thế biết, chấp trước thiên về Hữu là chỉ cho cái thấy biết của người thế tục nói chung và chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ...
Thiên hữu 天有
[ja] テンウ tenu ||| Heavenly existence. Life in a heavenly realm as the result of one's good practices. See 天, 天上, etc. => Cõi trời. Cuộc sống ở cõi giới nhờ kết quả tu thiện nghiệp. Xem Thiên天, , Thiên thượng天上.
thiên không
4373指小乘所談之空理。以其所說之理偏於空之一邊,故稱為偏空。又作偏真、單空、偏真空理。天台四教儀(大四六‧七七八上):「此教三乘因同果異,證果雖異,(中略)同證偏真。然於菩薩中有二種,謂利、鈍,鈍則但見偏空,不見不空。」
; (偏空) Cũng gọi Thiên chân, Đơn không, Thiên chân không lí. Chỉ cholíKhông của Tiểu thừa, vì lí Không thiên về bên Không nên gọi là Thiên không. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 778 thượng) nói:Ba thừa của giáo này nhân giống nhau nhưng quả thì khác, chứng quả tuy khác (...) nhưng cùng ngộ lí thiênchân. Còn trong Bồ tát thì có 2 loại lợi và độn, độn thì chỉ thấy thiên không, chứ chẳng thấy bất không.
thiên khải
1357梵語 śruti。印度婆羅門教用語。原意為「聽」,引申為「神的啟示」。婆羅門教謂吠陀乃聖人受神之啟示而誦出者,故為神聖之知識,由是,四吠陀素來皆被視為一部典型之天啟著作。
; (天啓) Phạm:Zruti. Trời mở bày. Tiếng dùng của Bà la môn ở Ấn độ, vốn có nghĩa là nghe, về sau triển khai thành nghĩa sự mở bày của thần. Bà la môn giáo cho rằng kinh Phệ đà là Thánh nhân được thần mở bày mà tụng ra, cho nên là tri thức của thần thánh. Do đó, từ xưa đến nay, 4 Phệ đà được xem là một bộ trứ tác thiên khải điển hình.
thiên khải kinh
Srauta sŪtra (S)Kinh Bà la môn giáo.
thiên khẩu
1334指火。古代印度婆羅門之法以火為天之口,火燒供物,香氣上達而諸天得食。此係密教修護摩供之由來。百論疏卷上之中引俱舍論之說,謂有天從火中發出語言,又諸天口中有光明,謂言是火,故外道以火為天口。〔涅槃經會疏卷三十二〕
; Miệng Trời—Phép của Bà La Môn coi lửa là miệng trời, hỏa thiêu vật cúng thì chư Thiên được ăn. Đây là nguồn gốc của Hộ Ma Cúng—The mouth of Brahma, or the gods, a synonym for fire, as that element devours the offerings; to this the homa, or fire altar cult is attributed, fire becoming the object of worship for good fortune. Fire is also said to speak for or tell the will of the gods.
; (天口) Miệng của trời. Chỉ cho lửa. Bà la môn ở Ấn độ đời xưa cho lửa là miệng của trời, lửa đốt các vật cúng tế, mùi thơm bay lên, do đó mà chư thiên được ăn. Đây chính là nguồn gốc của pháp tu Hộ ma cúng trong Mật giáo. Trong Bách luận sớ có dẫn thuyết của luận Câu xá cho rằng có vị trời từ trong lửa phát ra tiếng nói. Lại trong miệng chư thiên có ánh sáng, bèn cho là lửa, bởi vậy ngoại đạo cho lửa là Thiên khẩu.
thiên kiến
Partial idea.
thiên kiến luận chú
Samantapasadika (S)Nhất Thiết Thiện Kiến luật chú.
thiên kỳ thụy
Tien chi Shui (C).
thiên la quốc
1369天羅,梵名 Devala,音譯提婆羅。乃斑足王之國。據鳩摩羅什所譯仁王經護國品載,斑足王之足有斑駁,其為天羅國太子時,稱斑足太子,曾受邪師之教,後聞四非常偈,而得空三昧。參閱「斑足王」4977)
; Devala (S).
; The kingdom of the king with kalmasapada (with spotted or striped feet).
; (天羅國) Thiên la, Phạm: Devala. Hán âm: Đề bà la. Đất nước của vua Ban túc. Cứ theo phẩm Hộ quốc trong kinh Nhân vương do ngài Cưu ma la thập dịch thì chân (túc) của nhà vua Ban túc bị loang lổ(ban), cho nên khi ông còn là Thái tử nước Thiên la, ông được gọi là Thái tử Ban túc. Ông từng được tà sư giáo hóa, sau nghe Tứ vô thường kệ mà chứng được Không tam muội.
Thiên Long
(天龍, Tenryū, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Ông kế thừa dòng pháp của Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), môn hạ của Mã Tổ. Khi có ai hỏi điều gì ông thường hay đưa một ngón tay lên. Chính ông là người đã đả thông cho Câu Chi (倶胝) ở Kim Hoa Sơn (金華山). Phong cách Thiền gọi là một ngón tay (Nhất Chỉ Thiền, 一指禪) của ông rất nổi tiếng, nhưng truyền ký về những lần ông thăng đường thuyết pháp cũng như ngôn ngữ vấn đáp thì quá ít.
thiên long
1367<一>即天龍山。位於山西省太原縣境。以石窟聞名於世。(參閱「天龍山」1368、「石窟」2118) <二>謂諸天與龍神等八部眾。法華經序品(大九‧三上):「天龍恭敬,不以為喜。」(參閱「天龍八部」1368)
; Tien lung (C), Tenryu (J).
; Devas, including Brahmà, Indra, and the devas, together with the nàgas.
; Thiên Long bao gồm—Devas and nagas includes: 1) Chư Long Thiên: Nagas together with the Devas. 2) Phạm Thiên: Brahma. 3) Đế Thích: Indra.
; (天龍) I. Thiên Long. Núi ở huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Nhờ có các hang đá mà núi này nổi tiếng ở đời. II. Thiên Long. Chư thiên và long thần trong 8 bộ chúng. Phẩm Tựa kinh pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Thiên long cung kính, không lấy làm vui
thiên long bát bộ
1367又稱八部眾。即:天(梵 deva)、龍(梵 nāga)、夜叉(梵 yakṣa)、阿修羅(梵 asura)、迦樓羅(梵 garuḍa)、乾闥婆(梵 gandharva)、緊那羅(梵 kiṃnara)、摩睺羅迦(梵 mahoraga)。為守護佛法而有大力之諸神。八部眾中,以天、龍二眾為上首,故標舉其名,統稱天龍八部。〔無量壽經卷上、法華經卷四〕(參閱「八部眾」296)
; Thiên, Long, Dạ Xoa (quỷ dũng mãnh), Càn-Thác-Bà (hương thần), A-Tu-La (phi thiên), Ca-Lâu-La (Kiêm-Xí-Điểu), Khẩn-Na-La (phi nhơn), Ma-Hầu-La-già (Đại-mãng-Xà)Xem bát bộ.
; Devas, nàgas and others of the eight classes: thiên, devas; long, nàgas; dạ xoa, yaksas; càn thát bà, gandharas; a tu la, asuras; ca lâu la, garudas; khẩn na la, kinnaras; ma hầu la già, mahoragas.
; Thiên, long, dạ, xoa (Quỷ dũng mãnh), Càn thát bà (Hương thần), A tu la (Phi thiên), Câu lâu na (Kim xí điểu), Khẩn na la (Phi nhơn), Ma hầu la già (Đại mãng xà), gọi chung là Bát bộ chúng.
; (A) Thiên long và các chúng khác trong bát bộ, đã có trong truyền thuyết cổ Ấn Độ; tuy nhiên, thường được dùng trong Kinh điển Phật giáo—Devas, nagas and others of the eight classes—The eight groups of demon followers which existed in ancient Indian legends; however, they were often utilized in Buddhist sutras to suggest the diversity of the Buddha's audiences. (B) Bát bộ chúng hay tám loại chúng gồm chư thiên, hay phi nhân được xem như là những thiên long hộ pháp, hay những vị cùng đến tham dự những buổi pháp hội của Phật—Eight classes of divinities, or eight kinds of gods and demi-gods. These are various classes of non-human beings that are regarded as protectors of Buddhist Dharma and Buddhism as part of the audience attending the Buddha's sermons. (C) Phân loại—Categories: 1) Thiên chúng: Deva (skr)—Chư Thiên trong các cõi trời (sáu cõi trời Dục Giới, bốn trời Tứ Thiền Sắc Giới, Tứ Không Xứ)—Devas, gods, or angels in the Heavens. 2) Long chúng: Nagas (skt)—Rồng—Dragons—Heavenly dragons. 3) Dạ Xoa chúng: Yaksas (skt)—Quỷ bay cực nhanh, giữ các cửa trời, có liên hệ tới trời Đâu Suất, nhưng thường thấy nơi cõi người—Extremely fast demons that guard Heaven's Gates, sometimes associated with the Tusita Heaven, but usually located on the human plane (realm). 4) Càn Thát Bà chúng: Gandharvas (skt)—Thần âm nhạc nơi cõi trời Đế Thích—Musician Angels for the Cakra Heaven Kings. 5) A Tu La chúng: Asuras (skt)—Thần chiến đấu thường ở núi và đáy biển quanh những triền bọc quanh núi Tu Di, bên dưới cõi trời Tứ Thiên Vương—War gods, or evil spirits which live on the slopes of Mount Meru, below the lowest heavenly sphere, that of the four Guardian Kings. 6) Ca Lâu La chúng: Garudas (skt)—Thần chim đại bàng cánh vàng, dài đến 3.360.000 dặm—Heavenly (celestial) birds with golden wing spans of approximately 3,360,000 miles. 7) Khẩn Na La chúng: Kinnaras (skt)—Nửa giống người nửa giống thần, có tài trổi nhạc—Heavenly beings with human bodies and animal heads (half-horse, half-men). 8) Ma Hầu La Già chúng: Mahoragas (skt)—Thần mãng xà (rắn lớn) có thân dài trên 100 dậm—Serpent or Snake gods with body length over 100 miles.
; (天龍八部) Cũng gọi Bát bộ chúng. Chỉ cho 8 bộ trời, rồng. Đó là: Thiên (Phạm:Deva), Long (Phạm:Nàga), Dạ xoa (Phạm:Yakwa), A tu la (Phạm: Asura), Ca lâu la (Phạm:Garuđa), Càn thát bà (Phạm: Gandharva), Khẩn na la (Phạm: Kiônara), Ma hầu la ca (Phạm: Mahoraga). Trong 8 bộ chúng thì 2 chúng Thiên và Long là thượng thủ, cho nên nêu tên của 2 chúng này đại diện cho cả 8 bộ, vì thế mà gọi là Thiên long Bát bộ.
Thiên long bát bộ chúng 天龍八部衆
[ja] テンリュウハチブシュウ tenryū hachibushū ||| See 八部衆. => Xem Bát bộ chúng八部衆 .
Thiên long bát bộ 天龍八部
[ja] テンリュウハチブ tenryūhachibu ||| The eight groups of transmundane beings that are usually present at Mahāyāna sutra convocations: deva 天, nāga 龍, yakṣa 夜叉, gandharva 乾闥婆, asura 阿修羅, garuda 迦樓羅, kimnara 緊那羅 and mahoraga 摩睺羅伽. All of these are considered to be protectors of the buddhadharma. => Tám nhóm phi nhân thường xuất hiện trong kinh Đại thừa: Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già. Tất cả đều là hộ pháp.
thiên long dạ xoa
1369指諸天、龍神、夜叉。為八部眾中之三者,其中,夜叉乃住於空中或地上,以威勢惱害人或守護正法之鬼類。
; Devas, nagas, yaksas.
; (天龍夜叉) Chỉ cho chư thiên,long thần,dạ xoa, là 3 bộ trong 8 bộ chúng. Trong đó,dạ xoa là loài quỉ ở hư không, hoặc ở trên mặt đất, dùng uy thế não hại người, hoặc giữ gìn chính pháp.
Thiên long Dạ-xoa 天龍夜叉
[ja] テンリュウヤサ tenryūtasha ||| Three of the eight groups of beings than are usually present at Mahāyāna sutra convocations: devas 諸天, nāgas and yakṣas => Ba trong Tám bộ chúng thường xuật hiện trong các pháp hội giảng kinh Đại thừa. Gồm Chư thiên諸天, Rồng ( Long 龍), Dạ-xoa夜叉.
thiên long sơn
1368位於山西省太原西方,與響堂山同為北齊佛教文化之代表,以石窟聞名於世,稱為天龍山石窟。自北齊文宣帝之佛巖石窟寺、孝昭帝之天龍石窟寺開始,歷代相繼營造石窟寺。本山規模遠不及雲岡、龍門,主要共有二十一窟,而以漫山閣及九連洞著稱。二十一窟之中,北齊造四窟、隋造三窟,其餘十四窟造於初唐。造像技術繼承北魏,風格亦受北魏影響,日本飛鳥時代之建築、雕刻且有與其相通者。與敦煌千佛洞、大同雲岡、洛陽龍門等,同屬我國著名之佛教石窟。又山麓有寺,名天龍寺,又稱聖壽寺。〔建築學雜誌第三八四、古賢の跡へ第一、支那佛教史蹟評解第三〕(參閱「天龍寺」1368、「石窟」2118)
; (天龍山) Núi ở phía tây huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Núi này và núi Hưởng đường đều là đại biểu cho văn hóa Phật giáo Bắc Tề, nổi tiếng về các chùa Hang đá. Từ các chùa do vua Văn tuyên và vua Toàn cảnh hang đá núi Thiên long Hiếu chiêu nhà Bắc Tề tạo mở, núi Thiên long trải qua các đời vẫn tiếp tục được đục mở các chùa Hang(Thạch quật tự). Núi này có tất cả 21 hang động, nổi tiếng nhất là gác Mạn sơn và động Cửu Liên. Trong 21 hang, nhà Bắc Tề mở 4 hang, nhà Tùy mở 3 hang, 14hangcòn lại được đục mở vào đầu đời Đường. Nghệ thuật tạo tượng ở đây kế thừa nghệ thuật đời Bắc Ngụy, phong cách cũng chịu ảnh hưởng phong cách Bắc Ngụy. Những hang động ở đây và các hang động ở Đôn hoàng, ở Vân cương Đại đồng, ở Long môn Lạc dương... đều là những hang động nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Ở chân núi Thiên long có ngôi chùa gọi là Thiên long tự, cũng gọi là Thánh thọ tự.
Thiên Long Tự
(天龍寺, Tenryu-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thiên Long Tự (天龍寺派) thuộc Lâm Tế Tông, ngôi Thiền Tự được xây dựng vào đời đại Nam Bắc Triều, tọa lạc tại số 68 Sagatennōjisusukinobabachō (嵯峨天龍寺芒ノ馬場町), Ukyō-ku (右京区), Kyoto-shi (京都市), Kyoto-fu (京都府); hiệu núi là Linh Quy Sơn (靈龜山), còn gọi là Thiên Long Tư Thánh Thiền Tự (天龍資聖禪寺); tên chính thức là Linh Quy Sơn Thiên Long Tư Thánh Thiền Tự (靈龜山天龍資聖禪寺). Lúc ban đầu mới thành lập thì chùa được gọi là Lịch Ứng Tự (曆應寺), nhưng không bao lâu thì tên này được sửa đổi. Đây là ngôi chùa đứng hàng đầu nổi tiếng trong năm ngôi bảo sát ở vùng kinh đô Kyoto. Nơi vùng đất chùa ngày xưa có Đàn Lâm Tự (檀林寺), rồi có Tiên Động Ngự Sở của Hậu Tha Nga Thượng Hoàng (後嵯峨上皇), và Ly Cung của Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō). Vào năm thứ 4 (1339) niên hiệu Diên Nguyên (延元), khi Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) băng hà ở vùng Cát Dã (吉野, Yoshino), theo lời khuyên của Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石), Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) mới nhận chiếu chỉ và khai sáng chùa này. Chính bản thân Mộng Song và Túc Lợi đã tự mình bưng đất cát xây chùa, rồi cho đến năm thứ 6 (1345) niên hiệu Hưng Quốc (興國) thì chùa được hoàn thành, và Mộng Song trở thành vị Tổ khai sơn chùa này. Kế đến bảy ngôi đường vũ già lam cũng đều được hoàn bị. Về sau, chùa cũng đã nhiều lần bị nạn binh hỏa, các ngôi đường vũ dần dần bị cháy tan tành. Đến trong khoảng niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1427), khuôn viên chùa được nới rộng ra thêm, có đến khoảng 110 ngôi tháp. Kiến trúc hiện còn lại là Tổng Môn, Sắc Tứ Môn, Chánh Điện, Pháp Đường, Thư Viện, Đại Phương Trượng, Tuyển Phật Trường, Tàng Kinh, Sơn Môn, v.v. Phần lớn những kiến trúc này đều được xây dựng lại dưới thời Minh Trị trở về sau. Chánh Điện chùa được gọi là Đa Vũ Điện (多宇殿), nơi đây an trí tôn bia của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng. Còn ở trên trần nhà của Pháp Đường có vẽ hình rồng ẩn trong mây, là thư bút nổi tiếng của Linh Mộc Tùng Niên (鈴木松年). Trong khuôn viên chùa còn có rất nhiều tòa viện và chùa nhỏ như Kim Cang Viện (金剛院), Bảo Thọ Viện (寶壽院), Từ Tế Viện (慈濟院), Diệu Trí Viện (妙智院), Tùng Nham Tự (松岩院), Lộc Vương Viện (鹿王院), Tây Phương Tự (西芳寺), Địa Tạng Viện (地藏院), v.v. Đình viên Tào Nguyên Trì (曹源池) của chùa được công nhận là thắng cảnh nổi tiếng, tương truyền do tay Mộng Song Sơ Thạch làm ra.
Thiên Long tự
天龍寺; J: tenryū-ji;|Một trong những Thiền viện lớn của Kinh Ðô (kyōto), Nhật Bản. Thiền viện này được kiến lập với sự hỗ trợ của vị Tướng quân (j: shōgun) Túc Lợi Tôn Thị (ashikaga takauji) và sự chỉ đạo của Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki), được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô. Thiền viện này nổi danh với một vườn cảnh tuyệt đẹp do chính tay Quốc sư Mộng Song xếp đặt.
thiên long tự
1368<一>位於山西省太原天龍山麓。又稱聖壽寺。建於北齊,其後久經廢絕。至明代乃重興。寺中有隋代塑像數尊,與浮雕、佛像、壁畫等無數。諸堂之中,天王殿置有四天王及二王像,大雄寶殿奉祀藥師佛、二脅侍、十二神將及觀音、文殊、普賢等,毘盧殿安置毘盧遮那佛及藥師佛、阿彌陀佛等。寺之南北均有著名堂塔,如徹證老人容像塔、大喇嘛塔、玄悟棲巖禪師塔等。 <二>日本臨濟宗天龍寺派大本山。位於京都市右京區嵯峨町。寺內藏有夢窓國師頂相、佛畫、策彥周良之入明記錄類等。〔天龍寺供養記、天龍雜志〕
; (天龍寺) Cũng gọi Thánh thọ tự. Chùa ở chân núi Thiên long, huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào đời Bắc Tề, về sau, qua nhiều đời bị hoang phế, đến đời Minh được kiến thiết lại. Trong chùa có mấy pho tượng được đắp vào đời Tùy và vô số phù điêu, tượng Phật, bích họa... Trong các điện đường, có điện Thiên vương thờ tượng Tứ thiên vương và tượng 2 vị vua. Trong Đại hùng bảo điện thờ tượng Phật Dược sư, tượng 2bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang đứng hầu 2 bên, tượng 12 thần tướng và tượng cácbồ tát Quán âm, Văn thù, Phổ hiền..., điện Tì lô thì thờ tượng Phật Tì lô giá na, Phật Dược sư và Phật Di đà. Phía bắc và phía nam chùa đều có những ngôi tháp nổi tiếng như tháp thờ Triệt chứng Lão nhân, tháp Đại lạt ma, tháp Thiền sư Huyền ngộ Thê nham...
thiên long tự thuyền
1368又稱天龍船。指日本室町時代,與我國往來交易之商船。日本曆應二年(1339)八月,後醍醐天皇崩,足利尊氏應夢窓疏石之勸,為其造寺以薦冥福,並採夢窓之議,遣船通商於元,以貿易之所得建天龍寺,其船世稱天龍寺船。至明代仍通商不輟,改稱貿易船。〔天龍寺造營記錄、續本朝通鑑卷五十五曆應四年十二月朔條〕
Thiên luân
(天倫): (1) Đạo lý tự nhiên. (2) Chỉ mối quan hệ thân thiết của cha con, anh em; cho nên có thuật ngữ “thiên luân chi lạc (天倫之樂)” được dùng để chỉ niềm lạc thú của gia đình, sự đoàn tụ của mọi người trong nhà. Như trong bài Xuân Dạ Yến Tùng Đệ Đào Hoa Viên Tự (春夜宴從弟桃花園序) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Hội đào hoa chi phương viên, tự thiên luân chi lạc sự (會桃花之芳園、序天倫之樂事, gặp chốn vườn thơm đào hoa, bày chuyện vui thú gia đình).” Hay như trong hồi thứ 17, 18 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Điền xá chi gia, tuy tê diêm bố bạch, chung năng tụ thiên luân chi lạc (田舍之家、雖虀鹽布帛、終能聚天倫之樂, nhà nghèo nàn, tuy ăn dưa muối, mặc vải bố, nhưng cuối cùng vẫn có thể tập trung niềm vui thú gia đình).” Câu “sanh tắc đồng bào, thường đốc thiên luân chi ái (生則同胞、常篤天倫之愛)” có nghĩa là sanh cùng một bào thai, nên thường phải khuyến khích nhau tình thương yêu của anh em ruột thịt.
thiên lôi
God of thunder.
Thiên Lợi Hưu
(千利休, Sen-no-Rikyū, 1522-1591): vị tổ khai sáng ra Trà Đạo Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Chiến Quốc (戰國, Sengoku) và An Thổ Đào Sơn (安土桃山, Azuchimomoyama), húy là Tông Dị (宗易), hiệu Lợi Hưu (利休), Phao Thuyên Trai (抛筌齋), Bất Thẩm Am (不審庵), xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]). Ban đầu ông theo học với mấy nhân vật nỗi tiếng về trà như Đạo Trần (道陳) và Thiệu Âu (紹鷗) ở vùng Hòa Tuyền, kế đến tham vấn Thiền với Đại Lâm Tông Sáo (大林宗套), Tiếu Lãnh Tông Hân (笑嶺宗訢), và thành công trong việc sáng tạo ra loại hình thức uống trà trong tĩnh lặng gọi là Wabicha (侘茶) để thấu triệt tận cùng tinh thần của Thiền. Ông cũng đã từng phục vụ cho hai Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) và Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) với tư cách là Thiền tăng pha trà. Đến năm 1587, ông đã cùng với Kim Tỉnh Tông Cửu (今井宗久), Tân Điền Tông Cập (津田宗及) đóng vai trò người ngồi hầu sau lưng Tú Cát trong Đại Hội Trà Bắc Dã, và được xem như là bậc trà tượng số một trong thiên hạ. Vào năm 1589, theo lời khuyên của Cổ Khê Tông Trần (古溪宗陳), ông đem an trí tiêu tượng của mình ở Sơn Môn Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji). Tương truyền rằng cũng chính vì việc làm nầy mà ông tạo nên mối nghi ngờ cho Tú Cát, nên ông đã dùng đao tự vẫn.
thiên lệch
Partial.
thiên lực sĩ
See Thiên Đạo.
thiên ma
Deva-putra-māra (S)Thiên tử ma, Tha hóa Tự tại Thiên tử maMa vương và quyến thuộc ở tầng thứ 6 cõi Dục, chuyên làm chướng ngại thiện pháp, ghét than1h hiền, gây não loạn không cho thành tựu thiện căn xuất thế. Thiên ma là ngoại ma duy nhất trong Tứ maXem Ma ba tuần.
; Deva Màra (S). One of the four màras tứ ma who dwells in the sixth heaven, Paranirmita-vasa-vartin, at the top of the Kàmadhàtu, with his inumerable host , whence he constantly obstruct the Buddha truth and its followers. He is also styled Sát giả the slayer; also Ba tuần explained by ác ái sinful love or desire as he sends his daughters to seduce the saints.
; Deva Mara (skt). 1) Một trong tứ ma trên cõi trời thứ sáu, thường che lấp hay cản trở chơn lý Phật giáo—Celestial demons—Demons in heavens—One of the four maras who dwells in the sixth heaven (Paranirmita-vasavartin), at the top of the Kamadhatu, with his innumerable host, whence he constantly obstructs the Buddha-truth and followers. 2) Danh từ nầy tiêu biểu cho những người lý tưởng luôn tìm cách quấy phá Đạo Phật—This symbolizes idealistic people who disturb Buddhism. 3) Sát Giả: Thường làm những chuyện phóng dật hại thân—The slayer. 4) Ba Tuần: Còn gọi là Ác Ái (là loại ma vương xuất hiện trong thời Phật còn tại thế)—The mara who is sinful of love or desire, as he sends his daughters to seduce the saints. 5) Ba Ty Dạ: Papiyan (skt)—Một loại ma vương đặc biệt hồi Phật còn tại thế—The evil one. He is the special Mara of the Sakyamuni period.
thiên ma ba tuần
1369天魔,指欲界第六天(他化自在天)之魔王,名為波旬,常嬈亂釋尊之修行。蓋諸佛出世,常有與其同世之魔障難其修行成道,且魔各有不同。波旬乃釋迦佛出世時之魔王,有無量眷屬,常障害佛道。又據慧琳一切經音義卷十所載,波旬一詞,應作波旬,「旬」恐係自古訛傳之字。〔四十二章經、玄應音義卷二十三〕(參閱「波旬」3437)
; Sreshtha (S)Tên của chúa loài Thiên ma thường thử thách Phật và người tu Phật.
; (天魔波旬) Thiên ma chỉ choma vương ở tầng trời thứ 6(Tha hóa tự tại thiên) thuộc cõi Dục, tên là Ba tuần, thường nhiễu loạn việc tu hành của đức Thích tôn. Bởi vì chư Phật ra đời thường có ma chướng đồng thời gây khó khăn cho việc tu hành thành đạo và mỗi đức Phật đều có ma chướng khác nhau, Ba tuần là ma vương của thời đại Phật Thích ca xuất thế, có vô lượng quyến thuộc, thường chướng hại Phật đạo.
thiên ma ngoại đạo
1369指天魔與外道,為害佛道者。梵網經卷上(大二四‧一○○二下):「天魔外道,相視如父母。」〔黃檗斷際禪師宛陵錄〕
; Màras and heretics.
; Thiên ma và ngoại đạo đều là kẻ thù của chân lý—Maras and heretics are both enemies of Buddha-truth.
; (天魔外道) Chỉ chothiên ma và ngoại đạo, thường phá hại Phật đạo. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 1002 hạ) nói: Thiên ma ngoại đạo, xem nhau như cha mẹ.
thiên môn
4373為「正門」之對稱。又作傍門。禪林中,凡有犯罪者,即從此門驅出。敕修百丈清規卷二肅眾條(大四八‧一一二一下):「或彼有所犯,即以拄杖杖之,集眾燒衣鉢道具,遣逐偏門而出者,示恥辱也。」〔禪林象器箋卷一殿堂門〕
; Cửa hông, cửa mà tội nhân bị tống khứ (nói về cửa hông của địa ngục)—A side door, one through which offenders are expelled.
; (偏門) Cũng gọi: Bàng môn. Đối lại: Chính môn. Cửa nách. Trong Thiền lâm, hễ người phạm tội thì khi ra vào phải đi qua cửa nách chứ không được đi qua cửa chính. Điều Túc chúng trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1121 hạ) nói: Nếu có kẻ phạm tội thì dùng gậy đánh, rồi tập hợp chúng đốt áo bát, đạo cụ, đuổi ra khỏi cửa nách để cho thấy nỗi sỉ nhục.
thiên mệnh
Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Thiên mệnh”—Externalists believe that there exists so called “Decree of God and destiny (fate).”
thiên mụ
Chùa Thiên Mụ ở Huế, Trung Việt, là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam với hơn 500 năm lịch sử. Chùa được xây vào khoảng thế kỷ thứ 15, tọa lạc trên bờ bắc sông Hương, cách Huế khoảng 10 cây số về phía tây. Năm 1601, khi chúa Nguyễn Hoàng từ Quảng Trị vào tuần du Hóa Châu, thì chùa chỉ còn là phế tích. Chúa bèn cho trùng tu lại nhưng vẫn giữ tên là Thiên Mụ. Năm 1664, chúa Nguyễn Phước Tần cho trùng tu lần nữa. Năm 1695, Hòa Thượng Thạch Liêm đã ghé lại đây vài tháng trong khi chờ thuận gió để trở về Trung Quốc. Năm 1710, chúa Nguyễn Phước Châu cho đúc đại hồng chung nặng 3.284 cân và đích thân làm bài minh khắc trên chuông. Đây là một trong những đại hồng chung lớn nhất ở Việt Nam. Năm 1714, chúa cho trùng tu chùa lần nữa. Có lẽ vì quá hâm mộ thầy bổn sư là Hòa Thượng Thạch Liêm nên chúa cho khắc long vị và tôn là Hòa Thượng khai sơn của chùa dù chùa có đã lâu trước khi Hòa Thượng đến Việt Nam. Năm 1815, vua Gia Long cho trùng tu chùa lần nữa và cử Hòa Thượng Đạo Trung làm trụ trì. Năm 1831, vua Minh Mạng cho trùng tu chùa. Năm 1844, vua Thiệu Trị cho trùng tu chùa. Năm 1892, vua Thành Thái cho trùng tu chùa lần nữa. Sau năm 1945, Hòa Thượng Đôn Hậu được cử làm trụ trì chùa, ngài đã cho trùng tu lại chùa trên qui mô rộng lớn như chúng ta thấy ngày nay—A temple in Hue, Central Vietnam, one of the famous temples in Vietnam with more than 500 year-long- history. The temple was built in the fifteenth century, located at the north side of the Perfume River, about 10 kilometers west of Huế. In 1601, when Lord Nguyễn Hoàng from Quảng Trị came to Hóa Châu, now Hue, the temple had been ruined completely. The Lord had the temple rebuilt with its old name. In 1664, Lord Nguyễn Phước Tần had it rebuilt again. In 1695, Most Venerable Thạch Liêm stayed here for several months while awaiting the monsoon favorable for his return to China by sea. In 1710, Lord Nguyễn Phước Châu ordered to cast a great-size bell, about 3,285 pounds, and he himself composed the eulogy to be carved on the bell. This is one of the biggest bells in Vietnam. In 1714, Lord Nguyễn had it rebuilt again. It might be because of Lord Nguyễn Phước Châu's admiration for Most Venerable Thạch Liêm, his original master, so he recognized the monk as the founder of the temple, despite the fact that the temple had actually been built a long time before the arrival of Thạch Liêm. In 1815, king Gia Long had the temple rebuilt again and assigned Most Venerable Đạo Trung the head of the temple. In 1831, king Minh Mạng had it rebuilt. In 1844, king Thiệu Trị ordered to build a seven-storey stupa named Phước Duyên. In 1892, king Thành Thái had it rebuilt again. After 1945, Most Venerable Đôn Hậu was designated head monk of the temple. He carried out a large scale reconstruction giving the temple its vitality as we can see now.
Thiên Mục
(天目, Temmoku, 1245-1308 hay 1337 [?]): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, húy là Thiên Mục (天目), Nhật Thạnh (日盛); hiệu là Mỹ Nùng A Xà Lê (美濃阿闍梨), Thượng Pháp Phòng (上法房); xuất thân vùng Tĩnh Cương (靜岡, Shizuoka). Năm 1281, ông theo xuất gia với Nhật Liên, rồi sau khi thầy qua đời; ông chủ xướng về Nghĩa Bổn Tích Thắng Liệt, và luận nạn với 6 vị lão Tăng hàng đầu của Nhật Liên. Sau ông khai sáng ra Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở vùng Tá Dã (佐野, Sano), Hạ Dã (下野, Shimotsuke); Diệu Quốc Tự (妙國寺) ở Phẩm Xuyên (品川, Shinagawa), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Tokyo), và Bổn Môn Tự (本門寺) ở Tiểu Thắng (小勝), Thường Lục (常陸, Hitachi). Đời sau mới lấy mấy chùa này làm cứ điểm cho Phái Nhất Mục mà hóa đạo. Trước tác của ông có Viên Cực Thật Nghĩa Sao (圓通極實義抄) 2 quyển, Bổn Tích Vấn Đáp Thất Trùng Nghĩa (本迹問答七重義).
thiên mục
Đề mục—A subject or text exposed on a slip.
thiên mục mãn
Tien mu Man (C)Tên một vị sư.
thiên mục sơn
1346位於浙江臨安縣西北,與安徽省境銜接。古稱浮玉山。山有兩目,東天目位於臨安縣西北約二十九公里處,高一五二○公尺,有大山、將軍、寶珠等諸峰,洗眼、浮玉、白龍、煉丹等諸池,瀑布、玉劍等諸泉。西天目位於潛縣北約二十六公里處,高一五四七公尺,有十二龍潭、三十六洞,其餘峻峰、巖洞、石室、冷泉無數。東西兩目延袤約三一七公里,處處峰巒池泉,崖嶺竦疊,千年古木,飛瀑泉石,景緻之勝,堪稱東南之冠。本山自古為著名佛、道勝地,歷來所置寺觀甚多,較著名者有東天目山之昭明禪寺,西天目山之禪源寺、獅子正宗禪寺、大覺正等禪寺等。〔天目中峰和尚廣錄卷三十、釋氏稽古略續集卷二、大清一統志卷二一六、天目山名勝志(錢文選)〕(參閱「大覺寺」912、「昭明禪寺」3836、「獅子正宗禪寺」5525、「禪源寺」6480)
Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục
(天目中峰和尚廣錄, Temmokuchūhōoshōkōroku): xem Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục (中峰和尚廣錄, Chūhōoshōkōroku) bên dưới.
thiên nga
Haṃsa (S), Mythical swan.
thiên nghiệp thí dụ
1362梵名 Divyāvadāna。據推定,係編於三世紀初之梵文譬喻故事集。書中引用巴利聖典中之長部(Dīgha-Nikāya)、長老偈(Theragāthā)、馬鳴之大莊嚴論經等。為研究大乘佛教成立過程的重要經典之一。現由英國印度學學者喀畏爾(Cowell)與奈爾(Neil)共同整理出版。
; Divyavadāna (S)Tác phẩm được biên soạn vào thế kỷ III.
; (天業譬喻) Phạm:Dìvyàvadàna. Tác phẩm sưu tập các truyện cổ thí dụ bằng tiếng Phạm, mà theo sự suy đoán, đã được biên tập vào đầu thế kỉ III. Trong sách có dẫn dụng Trường bộ kinh (Dìghanikàya), Trưởng lão kệ (Theragàthà) trong Thánh điểnPàli và Đại trang nghiêm luận kinh của ngài Mã minh. Đây là 1 trong các bộ kinh điển quan trọng cho việc nghiên cứu quá trình thành lập Phật giáo Đại thừa. Hiện đã được các học giả Ấn độ, học giả người Anh là Cowell và Neil cùng chỉnh lí và xuất bản.
thiên ngục
The heavens and hells—Devalokas and purgatories.
thiên ngữ
1366指梵語。古代印度婆羅門自謂所用之梵語為梵天之語,故稱天語。〔釋迦方誌卷上〕
; The deva language, i.e. that of the Brahman, Sanskrit.
; Tiếng Trời chỉ tiếng Phạn, Bà La Môn tự cho tiếng Phạn là tiếng Trời—The deva language (the language of Brahma or Sanskrit).
; (天語) Ngôn ngữ của trời. Tức chỉ cho tiếng Phạm. Người Bà la môn ở Ấn độ đời xưa tự cho rằng tiếng Phạm mà họ sử dụng là tiếng nói của Phạm thiên, vì thế gọi là Thiên ngữ.
Thiên Nham Nguyên Trường
(千巖元長, Sengan Genchō, 1284-1357): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu Thiên Nham (千巖), tự là Vô Minh (無明), xuất thân Tiêu Sơn (蕭山), Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), họ Đổng (董). Năm lên 7 tuổi, ông cùng với Tỳ Kheo Đàm Phương (曇芳) nhập môn Pháp Môn Viện (法門院) ở Phú Dương (富陽, Tỉnh Triết Giang), rồi đến năm 19 tuổi thì xuất gia và thọ giới Cụ Túc. Sau đó, ông học về giới luật ở Linh Chi Tự (靈芝寺), Võ Lâm Sơn (武林山, Tỉnh Triết Giang) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本). Từ đó, ông bắt đầu giáo hóa ở Vô Minh Tự (無明寺) thuộc Phục Long Sơn (伏龍山), Ô Thương (烏傷). Vào tháng 10 năm thứ 4 (1327) niên hiệu Thái Định (泰定), ông tiến hành tu sửa Thánh Thọ Tự (聖壽寺) và làm trú trì chùa này. Ông được ban tặng cho một số danh hiệu như Phổ Ứng Diệu Trí Hoằng Biện (普應妙智弘辯), Phật Huệ Viên Giám Đại Nguyên Phổ Tế (佛慧圓鑑大元普濟), Phật Huệ Viên Minh Quảng Chiếu Vô Biên Phổ Lợi Đại Thiền Sư (佛慧圓明廣照無邊普利大禪師). Đến ngày 14 tháng 6 năm thứ 17 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông có để lại tác phẩm Thiên Nham Hòa Thượng Ngữ Lục (千巖和尚語錄) 1 quyển.
thiên nhiên
1358(739~824)唐代僧。石頭希遷之門人。初習儒業,後遇禪僧而悟,投南嶽石頭門下,服役三年,剃髮受戒。尋謁江西馬大師,受天然之法號。居天台華頂峰三年,更往徑山參拜國一禪師。其後,大振法錫於南陽丹霞山。長慶四年示寂,世壽八十六。敕諡「智通禪師」。塔號妙覺。〔宋高僧傳卷十一、景德傳燈錄卷十四、五燈會元卷五〕
; Natural.
thiên nhiên chân như-phi nhân tạo tác
Thiên nhiên chi chân như, phi nhân tạo tác giả—Nature—Natural reality, not of human creation.
thiên nhiệt
Xem Đề bà đạt đa.
Thiên Nhiệt 天熱
[ja] テンネツ Tennetsu ||| Chinese translation of the name Devadatta; see . => Hán dịch tên Devadatta; xem Đề-bà-đạt-đa提婆達多.
thiên nhân
1332又作天眾。即住於欲界六天及色界諸天之有情。亦指住於天界或人界之眾生。據經典記載,天人歡喜讚歎佛事,奏天樂,散天花,薰天香,飛行於虛空。以多披掛瓔珞,飛於天空,故稱為飛天,自印度以來,佛教多用以表現其莊嚴。於諸經中,甚少有關色界天人之記載,然欲界六天之記述則頗為詳備。欲界天有火、金、青、赤、白、黃、黑等七種身色光明,清淨微妙,無皮肉筋脈脂血髓骨等,可隨意變現各種長短大小粗細等形象。其髮柔軟潤澤,其齒白淨方密。其去來行步,無邊無礙,緩急自如。兩目清澈,久視不瞬。欲界諸天仍有婬欲,其成婬事之法,夜摩諸天互執兩手,兜率天彼此憶念,化樂諸天相互熟視,他化自在天則須共語,魔身諸天僅須相視。諸天之壽量竭盡時,必呈五種衰敗之相,稱天人五衰。有關天人之圖像迄今仍存者,有印度秣菟羅博物館所藏之「石造釋迦說法像」,像中佛陀光背上刻有二飛天。敦煌千佛洞之壁畫中,亦有散花奏樂之飛天圖繪。浙江普陀落山法雨寺玉佛殿三尊像之後光中亦刻有飛天像,其天衣宛如火燄,栩栩如生。日本法隆寺、藥師寺、岡寺、法界寺、平等院等名剎亦大多存有天人圖像之壁畫、屏風等。〔起世經卷七之三十三天品、法華經卷五如來壽量品、阿閦佛國經卷上〕(參閱「天」1330、「天人五衰」1333)
; Devas and men.
; Devas and men—Superior persons.
; (天人) Cũng gọi Thiên chúng. Người và Trời. Tức chỉ cho các hữu tình trụ ở 6 tầng trời cõi Dục và cõi Sắc, hoặc chỉ cho chúng sinh ở cõi Trời, cõi người. Cứ theo kinh điển thì Thiên nhân thường vui mừng khen ngợi Phật sự, tấu nhạc trời, rải hoa trời, xông hương trời, bay đi trong hư không. Vì phần nhiều chư thiên đeochuỗi anh lạc, bay trong hư không nên gọi là Phi thiên. Trong các kinh nói về thiên nhân cõi Sắc rất ít, mà nói về thiên nhân ở 6 tầng trời cõi Dục thì rất rõ ràng, đầy đủ. Sắc thân của chư thiên cõi Dục có 7 loại ánh sáng là: Màu lửa, màu vàng ròng, màu xanh, màu đỏ, màu trắng, màu vàng và màu đen, rất thanh tịnh vi diệu, không có da thịt gân mạch mỡ máu tủy xương... có năng lực biến hiện các loại hình tượng cao thấp lớn nhỏ thô tế... tùy theo ý muốn; tóc mềm mại bóng mượt, răng trắng sạch, vuông khít; đi đứng tới lui vô ngại, nhanh chậm tùy ý; hai mắt trong suốt, nhìn lâu không chớp. Chư thiên cõi Dục vẫn còn có dâm dục. Về cách hành dâm thì chư thiên cõi trời Dạ ma nắm tay nhau là thành dâm, cõi trời Đâu suất thì nhớ nghĩ đến nhau, chư thiên cõi trời Hóa lạc thì ngắm nhìn nhau, chư thiên cõi Tha hóa tự tại thì chỉ cần nói với nhau và chư thiên cõi trời Lạc biến hóa thì chỉ cần thoáng nhìn nhau là thành dâm. Khi tuổi thọ của chư thiên sắp hết thì thân sẽ hiện ra 5 tướng suy, gọi là Thiên nhân ngũ suy. Về hình tượng của Thiên nhân thì hiện nay còn hình 2 vị Phi thiên được khắc trên viên quang phía sau tượng đức Phật Thích ca thuyết pháp bằng đá, cất giữ ở viện bảo tàng Mạt thố la tại Ấn độ. Còn trong các bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, Trung quốc, cũng có bức vẽ Phi thiên rải hoa và tấu nhạc. Trong vòng hào quang phía sau của 3 tôn tượng ở điện Ngọc Phật của chùa Pháp vũ tại núi Phổ đà thuộc tỉnh Chiết giang, Trung quốc, cũng có khắc tượng Phi thiên(trời bay), áo của vị Phi thiên này giống như những ngọn lửa, trông như sống. Trong các chùa viện nổi tiếng ở Nhật như chùa Pháp long, chùa Dược sư, chùa Cương, chùa Pháp giới, viện Bình đẳng... cũng còn có những bích họa, bình phong... vẽ tượng Thiên nhân
thiên nhân bất động chúng
1332指極樂淨土之大眾。極樂淨土實無天人之存在,然以順應他方世界之故,存天人之名。其大眾實乃一生補處菩薩,為證得涅槃之妙理者,成就大乘根性,絕無傾動退墮,故稱不動。〔淨土論(世親)〕
; (天人不動衆) Chỉ cho đại chúng ở Tịnh độ cực lạc. Thực ra, ở Tịnh độ cực lạc không có Thiên nhân tồn tại, nhưng vì thuận theo thế giới ở các phương khác nên có tên gọi Thiên nhân. Đại chúng thiên nhân này đúng ra là các vị Bồ tát Nhất sinh bổ xứ (chờ thành Phật), đã chứng diệu lí Niết bàn, thành tựu căn tính Đại thừa, hoàn toàn không còn lay động, lui sụt, cho nên gọi là Bất động.
thiên nhân ngũ suy
1333指欲界、色界、無色界之天人,於壽命將盡時所表現之五種異像。通常分大小二者。大五衰相為:(一)衣服垢穢,謂諸天眾銖衣妙服光潔常鮮,於福盡壽終之時,自生垢穢。(二)頭上華萎,謂諸天眾寶冠珠翠彩色鮮明,於福盡壽終之時,頭上冠華自然萎悴。(三)腋下汗流,謂諸天眾勝體微妙,輕清潔淨,於福盡壽終之時,兩腋自然流汗。(四)身體臭穢,謂諸天眾妙身殊異,香潔自然,於福盡壽終之時,忽生臭穢。(五)不樂本座,謂諸天眾最勝最樂,非世所有,於福盡壽終之時,自然厭居本座。以上五種大衰相顯現時,天人將死亡。 小五衰相為:(一)樂聲不起,謂諸天音樂不鼓自鳴,於衰相現時,其聲自然不起。(二)身光忽滅,謂諸天眾身光赫弈,晝夜昭然,於衰相現時,其光不現。(三)浴水著身,謂諸天眾肌膚香膩,妙若蓮花,不染於水,但衰相現時,浴水霑身,停住不乾。(四)著境不捨,謂諸天眾欲境殊勝,自然無有耽戀,於衰相現時,取著不捨。(五)眼目數瞬,謂諸天眾天眼無礙,普觀大千,於衰相現時,其目數瞬。以上五種小衰相雖已顯現,如遇殊勝之善根,仍有轉機之可能。〔增一阿含經卷二十四、北本大般涅槃經卷十九、大毘婆沙論卷七十、俱舍論卷十〕
; (天人五衰) Năm tướng suy của người trời. Thiên nhân ở các cõi Dục, Sắc và Vô sắc, khi tuổi thọ sắp hết thì 5 tướng suy xuất hiện. Năm tướng này thông thường được chia làm 2 loại: Đại ngũ suy tướng và Tiểu ngũ suy tướng. I. Đại Ngũ Suy Tướng: 1. Y phục cấu uế:Áo xiêm dơ bẩn. Nghĩa là áo xiêm của chư thiên vốn nhẹ nhàng, tươi sáng, sạch sẽ, nhưng khi phúc báo và tuổi thọ sắp hết thì tự nhiên dơ bẩn.2. Đầu thượng hoa nuy: Hoa trên đầu héo úa. Nghĩa là hoa trang điểm trên mũ báu của thiên chúng vốn có màu sắc tươi sáng, nhưng khi hết phúc báo và tuổi thọ thì những hoa ấy tự nhiên phai nhạt và khô héo. 3. Dịch hạ hãn lưu: Nách chảy mồ hôi. Nghĩa là thân thể của thiên chúng vốn nhẹ nhàng, sáng sủa, sạch sẽ, nhưng khi phúc báo và tuổi thọ gần hết thì 2 nách tự nhiên đổ mồ hôi. 4. Thân thể xú uế: Thân thể dơ bẩn, hôi hám. Nghĩa là thân thể của thiên chúng thường sạch sẽ và tự nhiên thoảng ra mùi thơm, nhưng khi sắp hết phúc báo và tuổi thọ thì dơ bẩn, hôi hám. 5. Bất nhạo bản tọa: Không thích chỗ ngồi cũ. Nghĩa là chỗ ngồi của các người trời là đẹp nhất, sướng nhất, thế gian không thể sánh bằng; nhưng khi phúc báo và tuổi thọ gần hết thì thiên chúng thường chán cả chỗ ngồi của mình. Khi 5 tướng đại suy trên đây xuất hiện thì vị thiên nhân ấy sắp chết. II. Tiểu Ngũ Suy Tướng: 1. Nhạc thanh bất khởi: Tiếng nhạc không khởi. Nghĩa là âm nhạc của chư thiên không đánh tự kêu, nhưng khi tướng suy xuất hiện thì tự nhiên tiếng nhạc không khởi.2. Thân quang hốt diệt:Ánh sáng trên thân bỗng tắt. Nghĩa là ánh sáng trên thân vị trời bay (ở động Thiên Phật tại Khắc tư nhĩ)các thiên chúng vốn rực rỡ, ngày đêm soi chiếu, nhưng khi tướng suy xuất hiện thì ánh sáng ấy tự nhiên tan biến. 3. Dục thủy trước thân: Nước tắm dính thân. Nghĩa là các thiên chúng có làn da thơm ngát, tươi đẹp như hoa sen, không dính nước; nhưng khi tướng suy hiển hiện thì nước tắm đẵm thân, đọng mãi không khô.4. Trước cảnh bất xả: Đắm cảnh không bỏ. Nghĩa là dục cảnh các thiên chúng thù thắng, tự nhiên không đắm đuối, nhưng khi tướng suy xuất hiện, thì bám níu không buông bỏ. 5. Nhãn mục sác thuấn: Thường nháy mắt luôn. Nghĩa là mắt của các thiên chúng vô ngại, thấy khắp 3 nghìn thế giới, nhưng khi tướng suyhiểnhiện, thì con mắt chớp luôn.Khi 5 loại tướng tiểu suy trên đây đã hiển hiện, nhưng nếu gặp thiện căn thù thắng thì vẫn còn có khả năng xoay chuyển cơ duyên.
Thiên Nhân Sư
(s: śāstā deva-manuṣyāṇāṃ, p: satthā deva-manussānaṃ, 天人師): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Xá Đa Đề Bà Ma Nậu Xá Nam (舍多提婆魔㝹舍喃); còn gọi là Thiên Nhân Giáo Sư (天人敎師); nghĩa đức Phật là thầy dạy của chư thiên và loài người, dẫn dắt và chỉ cho biết hết thảy những điều gì nên làm và không nên làm, đâu là thiện và bất thiện; nếu có thể vâng theo lời dạy mà thực hành, không bỏ đạo pháp, có thể được báo ứng giải thoát phiền não; nên gọi là Thiên Nhân Sư. Như trong Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3 có đoạn rằng: “Kim thử phu nhân tất sanh Thái Tử, cụ chư tướng hảo, nhược tại vương cung tác Chuyển Luân Vương, nhược thị xuất gia tu chư Phạm hạnh, thành Chánh Đẳng Giác hiệu Thiên Nhân Sư (今此夫人必生太子、具諸相好、若在王宮作轉輪王、若是出家修諸梵行、成正等覺號天人師, nay phu nhân này sẽ sanh Thái Tử, đủ các tướng tốt, nếu ở vương cung thì làm Chuyển Luân Vương, nếu là xuất gia tu Phạm hạnh, thì thành Chánh Đẳng Giác hiệu là Thiên Nhân Sư [thầy trời người]).” Hay trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) cũng có đoạn rằng: “Đại xả phòng phi nhẫn vô quyện, nhất tâm phương tiện chánh tuệ lực, tự lợi lợi tha tất viên mãn, cố hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư (大捨防非忍無倦、一心方便正慧力、自利利他悉圓滿、故號調御天人師, xả bỏ ngừa sai nhẫn không mệt, nhất tâm phương tiện sức trí tuệ, tự lợi lợi tha đều viên mãn, nên hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư).”
thiên nhân sư
1334梵語 śāstā deva-manuṣyāṇāṃ,巴利語 satthā deva-manussānaṃ。音譯作舍多提婆魔㝹舍喃。為如來十號之一。又作天人教師。謂佛陀為諸天與人類之教師,示導一切應作不應作、是善是不善,若能依教而行,不捨道法,能得解脫煩惱之報,故稱天人師。又以佛陀度天、人者眾,度餘道者寡,故稱為天人師。〔大智度論卷二〕(參閱「十號」480)
; Most Honoured One among human and heavenly beings, Śastā-deva-manusyānam (S), Teacher of devas and men Một trong 10 danh hiệu Phật.
; Sasta Devamanusyànàm (S). Teacher of devas and men, one of the ten epithet of a Buddha.
; Sasta Deva-manusyanam (skt)—Xá Đa Đề Bà Ma Thố Xá Nam—Xá Đa Đề Bà Ma Mâu Nam. 1) Vị giáo sư bậc thầy của trời và người: An Unequaled teacher of Humans and Heavenly beings. He reveals goodness and morality, and he is able to save. 2) Một trong các danh hiệu của Phật: One of the ten titles (epithets) of a Buddha.
; (天人師) Phạm: Zàstà deva-manuwyàịaô. Pàli: Satthà deva-manussanaô. Hán âm: Xáđa đề bà ma nâu xá nẫm. Cũng gọi Thiên nhân giáo sư. Là bậcThầy của các trời và loài người, 1 trong 10 hiệu của Như lai. Đức Phật chỉ dạy cho trời và người những việc nên làm, những việc không nên làm, điều gì là thiện, điều gì là bất thiện, nếu y theo lời chỉ dạy của Ngài mà làm thì sẽ không bỏ đạo pháp và được quả báo giải thoát khỏi các phiền não, nên gọi là Thiên nhân sư.
Thiên nhân sư 天人師
[ja] テンニンシ tenninshi ||| Teacher of gods and men; one the the ten epithets 十號 of the Buddha. => Bậc đạo sư của trời và người. Một trong 10 danh hiệu của Đức Phật.
thiên nhân trí kính nguyện
1333彌陀四十八願中之第三十七願。又稱人天致敬願。即誓願凡聞彌陀之名號即心生歡喜者可得諸天及世人等之尊敬。魏譯無量壽經卷上(大一二‧二六八下):「設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸天人民聞我名字,五體投地,稽首作禮,歡喜信樂,修菩薩行,諸天世人莫不致敬。若不爾者,不取正覺。」(參閱「四十八願」1640)
; (天人致敬願) Cũng gọi Nhân thiên trí kính nguyện. Nguyện trời và người đều cung kính, là nguyện thứ 37 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Tức thệ nguyện nếu ai nghe được danh hiệu của Phật A di đà mà sinh tâm hoan hỉ thì sẽ được chư thiên và người đời tôn kính. Kinh Vô lượng thọ (bản dịch đời Ngụy) quyển thượng (Đại 12, 268 hạ) nói: Nếu tôi thành Phật mà nhân dân và chư thiên trong các thế giới của vô lượng bất khả tư nghị chư Phật ở 10 phương nghe danh hiệu của tôi, 5 thể gieo sát đất, cúi đầu lễ bái, vui mừng tin ưa, tu hạnh Bồ tát, được chư thiên và người đời thảy đều cung kính, nếu không như thế thì tôi không giữ ngôi Chính giác.
thiên nhân tán hoa thi thượng
1334指天人散花於其故身。據天尊說阿育王譬喻經載,有一天人,其故身於生時孝順父母,忠信事君,敬奉三尊,復能稟承師教,而令其神得生天上,故散花以報故身之恩德。
; (天人散花尸上) Người trời rải hoa lên thân cũ của mình. Cứ theo kinh Thiên tôn thuyết A dục vương thí dụ, có 1 vị người trời lúc sinh tiền là người hiếu thuận cha mẹ, trung tín thờ vua, kính phụng Tam tôn, lại thường vâng lời thầy dạy, nên sau khi chết thần thức được sinh lên cõi trời làm thiên nhân, chonên nay rải hoa để đền đáp ân đức thân cũ của mình.
thiên nhân tán hoa thân thượng
The story of a man who saw a disembodied ghost beating a corpse which he said was his body that had led him into all sins, and further on an angel stroking and scattering flowers on a corpse, which he said was the body he had just left, always his friend.
thiên nhân đạo sư
See Thiên Nhân Sư in Vietnamese-English Section.
thiên nhãn
Divine eye.
; Divyacaksus (S). The deva-eye; the first of abhijnà lục thông; one of the five classes of eyes; divine sight unlimited vision; all things are open to it, large and small, near and distant, the destiny of all beings in future rebirths.
; Divyacaksus (skt)— 1) Mắt trời hay là mắt của thiên thú, thần thông thứ nhứt. Thiên nhãn là mắt không bị giới hạn, thấy tất cả mọi thứ lớn nhỏ, xa gần, thấy tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo. Thiên nhãn có thể đạt được bằng “tu đắc” qua thiền định hay “báo đắc” do tu phước mà được—Divine eyes, the first abhijna. Divine sight is unlimited vision which all things are open to it, large and small, near and distant, the destiny of all beings in future rebirths. It may be obtained among men by their human eyes through the practice of meditation, and as a reward or natural possession by those born in the deva heavens. 2) Một trong năm loại Nhãn: One of the five classes of eyes.
thiên nhãn a na luật
Divine sight of Aniruddha. • Thời Đức Phật còn tại thế, có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ ngài A Na Luật cúi đầu lễ và hỏi, “Thưa ngài A Na Luật! Thiên nhãn của ngài thấy xa được bao nhiêu?”—At the time of the Buddha, a Brahma called 'The Gloriously Pure' together with an entourage of ten thousand devas sent off rays of light, came to Aniruddha's place, bowed their heads to salute him and asked: “How far does your deva eye see?” • A Na Luật liền đáp, 'Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên Thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy trái Am ma lặc trong bàn tay vậy.” Aniruddha replied: “Virtuous one, I see the land of Sakyamuni Buddha in the great chiliocosm like an amala fruit held in my hand.” • Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với A Na Luật: “Thưa ngài A Na Luật! Thiên nhãn của ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy? Nếu như làm ra tướng mà thấy thì khác gì ngũ thông của ngoại đạo? Nếu không làm ra tướng mà thấy thì là vô vi, lẽ ra không thấy chứ?”—Vimalakirti (suddenly) came and said: “Aniruddha, when your deva eye sees, does it see form or formlessness? If it sees form, you are no better than those heretics who have won five supernatural powers. If you see formlessness, your deva eye is non-active (we wei) and should be unseeing.' • Lúc ấy A Na Luật nín lặng—Aniruddha kept silent. • Các vị Phạm Thiên nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liền làm lễ hỏi ông rằng: “Bạch ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhãn?”—And the devas praised Vimalakirti for what they had not heard before, They then paid reverence and asked him: “Is there anyone in this world who has realized the real deva eye?” • Trưởng giả Duy Ma Cật đáp: “Có Phật Thế Tôn được chơn Thiên nhãn, thường ở tam muội, thấy suốt các cõi Phật không có hai tướng.”—Vimalakirti replied: “There is the Buddha who has realized the real deva eye; He is always in the state of samadhi and sees all Buddha lands without (giving raise to) the duality (of subjective eye and objective form).”
thiên nhãn lực
The power of the celestial or deva eye, one of the ten powers of a Buddha.
; Một trong mười lực của Phật—The power of the celestial or deva eye, one of the ten powers of a Buddha.
thiên nhãn minh
1357梵語 cyuty-upapāda-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā。阿羅漢所得三明之一。又作生死智證明、死生智明、天眼智。即於一切眾生之死時生時、善色惡色、上色下色,皆悉了知,並了知眾生依身、口、意三業成就之善行、惡行,由正法或邪法因緣,命終之後生於善趣或惡趣。據大毘婆沙論卷一○二載,天眼明可徹見未來之事而生厭離之心,能除斷見,引無願解脫門。〔雜阿含經卷三十一、長阿含經卷八〕(參閱「三明」569)
; Cyuty-upapada-jānasak-satkriya-vidyā (S), Cutupapataāṇa (P)Trí huệ biết các tướng trạng của sanh tửSự tri giác hiện tượng diệt sanh của chúng sinh. Đấy là tuệ giác thứ nhì mà đức Phật chứng đắắc vào canh giữa đêm thành đạo.
; One of the three enlightenments tam minh, or clear vision of the saints, which enables him to know the future rebirths of himselfand all beings.
; Thiên nhãn của một vị Thánh, khiến vị nầy có thể thấy được những kiếp tái sanh của chính mình và chúng sanh, đây là một trong tam minh—Clear vision of the saint, or supernatural insight which enables him to know the future rebirths of himself and all beings (future mortal conditions), one of the three enlightenments.
; (天眼明) Phạm:Cyuty-upapàda-jĩàna-sàkwàtkriya-vidya. Cũng gọi Sinh tử trí chứng minh, Tử sinh trí minh, Thiên nhãn trí. Chỉ cho trí tuệ sáng suốt, biết rõ tướng trạng của sự sống chết, là 1 trong 3 trí sáng của bậc A la hán chứng được. Tức đối với lúc tử lúc sinh, thiện sắc ác sắc, thượng sắc hạ sắc của tất cả chúng sinh đều rõ biết, đồng thời biết rõ chúng sinh do 3 nghiệp thân, khẩu, ý mà có hạnh thiện, hạnh ác, do nhân duyên chính pháp hoặc tà pháp mà sau khi chết sẽ sinh vào đường lành hay đường ác. Theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Thiên nhãn minh thấy suốt các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, có năng lực dứt trừ đoạn kiến, đưa đến cửa Vô nguyện giải thoát.
thiên nhãn thiên
Deva who has thousand eyes
thiên nhãn thiên tí quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú kinh
740凡二卷。唐代智通譯。今收於大正藏第二十冊。內容記載千手觀音之印咒法及壇法等。首敘觀世音菩薩以大悲心,為後五百年之福薄眾生,敘述其過去無量劫所受持之千眼千臂觀世音陀羅尼法門;次舉總攝身印等十二印及諸修持法、十三印咒法。本經係智通譯自北印度僧所奉進之梵本經典。又菩提流志所譯之千手千眼觀世音菩薩姥陀羅尼身經一卷為本經之異譯。(參閱「千手經」733)
; (千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經) Kinh, 2 quyển, do ngài Trí thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nói về pháp ấn chú của bồ tát Thiên thủ Quán âm và cách lập đàn. Trước hết nói về bồ tát Quán thế âm đem lòng đại bi vì các chúng sinh bạc phúc ở 500 năm sau, nói về pháp môn Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm đà la ni mà Ngài đã thụ trì trong vô lượng kiếp quá khứ; kế đến nêu 12 ấn như ấn Tổng nhiếp thân... và các pháp tu trì, 13 pháp ấn chú. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát mỗ đà la ni thân, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch là bản dịch khác của kinh này.
thiên nhãn thông
1357梵語 divya-cakṣur-jñāna-sākṣātkriyābhiiñā。五通之一,六通之一。謂以天眼照了欲色二界色處之通力。又作天眼智通、天眼通證、天眼智證通。據大毘婆沙論卷一四一、大智度論卷五所載,以四根本靜慮為依地,證得色界四大種所造淨色之眼根,稱為天眼。以此眼能照見自地及下地六道中之遠近粗細等諸物,稱為天眼通,以眼識相應之慧為體,其性無記,攝於十智中之有漏世俗智。 天眼有修得與報得二種,凡於人界修四禪定而得淨眼者,稱為修得;生於色界諸天而自得淨眼者,稱為報得。五通中之天眼唯由修得,五眼中之天眼則通修、報二種。又天眼通復能引起死生智,與死生智共知有情之死此生彼,故又稱死生智證通(梵 cyuty-upapatti-jñānābhijñā),略稱死生智通。〔長阿含卷九增一經、大薩遮尼乾子所說經卷七、新華嚴經卷四十四、集異門足論卷十五、俱舍論卷二十七、瑜伽師地論卷三十七〕(參閱「五通」1153、「六神通」1290、「天眼明」1357)
; Dibbacakkhu (P), Divyacakṣu (S), Devine hearing, Divya-cakṣus-jāna-saksatkriya-bhijā (S)Thấy mọi vật trong vũ trụ không kễ xa gần. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thôngNăng lực thần thông thấy rõ các cõi Xem thần thông.
; Diviyacaksu (S)Divine eye.
; 1) Có khả năng thấy được những diễn biến từ xa, cũng như thấy được luân hồi sanh tử của chúng sanh—Celestial (Divine) Eye—Can see death and rebirth—Power to see anywhere any time—The eye with which we can see very distant things—Ability to see things and events at great distance—Ability to see the births and deaths of sentient beings everywhere. 2) Mắt của những người thực tập thôi miên: The vision of those who practice hypnotism.
; (天眼通) Phạm: Divya-cakwur-jĩànasàksàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Thiên nhãn trí thông, Thiên nhãn thông chứng, Thiên nhãn trí chứng thông. Năng lực thần thông dùng thiên nhãn (mắt trời)chiếu soi rõ sắc xứ của cõi Dục và cõi Sắc, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 141 và luận Đại trí độ quyển 5 thì dùng 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương mà chứng được nhãn căn tịnh sắc do 4 đại chủng của cõi Sắc tạo ra, gọi là Thiên nhãn. Vì nhãn căn này có năng lực soi thấy các vật xa gần, thô tế... của tự địa và trong 6 đường của hạ địa, cho nên gọilàThiên nhãn thông, lấytuệ tương ứng với nhãn thức làm thể, tính nó vô kí, thuộc vềtríthế tục hữu lậu trong 10 trí. Thiên nhãn có 2 loại là Tu đắc và Báo đắc.Ởcõi người, nhờ tu 4 thiền định mà được tịnh nhãn, gọi là Tu đắc; còn chư thiên sinh về cõi sắc mà tự được tịnh nhãn thì gọi là Báo đắc. Thiên nhãn trong Ngũ thông chỉ do Tu đắc, còn Thiên nhãn trong Ngũ nhãn thì chung cho cả Tu đắc và Báo đắc. Ngoài ra, Thiên nhãn thông còn có năng lực dẫn phát sinh tử trí; Thiên nhãn thông và Sinh tử trí cùng biết rõ trạng huống chết đây sinh kia của hữu tình nên cũng gọi là Tử sinh trí chứng (Phạm: Cyuty-upapatti-jĩànàbhijĩà), gọi tắt là Tử sinh trí thông.
Thiên nhãn thông 天眼通
[ja] テンゲンツウ tengentsū ||| The supernatural power of divine vision (divyaṃ-cakṣus), with which the buddhas are able to hear all the words of suffering and joy experienced by living beings in the six destinies. See . => Năng lực thần thông của thiên nhãn (s: divyaṃ-cakṣus), qua đó, Đức Phật nghe được mọi âm thanh khổ vui của toàn thể chúng sinh trong lục đạo. Xem Lục thần thông六神通.
thiên nhãn trí
The wisdom obtained by the deava eye.
; The wisdom obtained by the deva eye.
thiên nhãn trí chứng thông
The complete universal knowledge and assurance of the deva eye.
; Theo Câu Xá Luận, lục thông đều lấy trí làm thể, làm lực dụng chứng tri sự phân biệt và thông đạt vô ngại. Thiên nhãn trí chứng thông là dựa vào trí tuệ được khởi lên bởi thiên nhãn—According to the Kosa sastra, the wisdom or knowledge that can see things as they really are is the complete universal knowledge and assurance of the deva eye.
thiên nhãn trí thông nguyện
The sixth of Amitàbha's forty eight vows, that he would not enter the final stage until all beings had obtained this divine vision.
; Lời nguyện thứ sáu trong 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, ngài sẽ chẳng thành Phật cho đến khi nào pháp giới chúng sanh đều đạt được thiên nhãn—The sixth of Amitabha's forty-eight vows, that he would not enter the final stage until all beings had obtained this divine vision.
Thiên nhãn đệ nhất 天眼第一
[ja]テンゲンダイイチ tengendaiichi ||| Most eminent in terms of possession of the divine eye. A name given to Śākyamuni's disciple Aniruddha 阿那律. => Người lỗi lạc nhất có thiên nhãn. Danh hiệu để gọi A-na-luật (s: Aniruddha 阿那律), đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni
Thiên nhãn 千眼
[ja]センゲン sengen ||| Thousand eyes. A name of Śakra Devānām-indra. See . => Ngàn mắt. Tên của Thích đề hoàn nhân; s: Śakra Devānām-indra. Xem Đế thích thiên帝釋天.
Thiên nhãn 天眼
[ja] テンゲン tengen ||| "Heavenly vision." or "spiritual eyes." Visual power that is unobstructed by physical matter. The second of the five levels of vision 五眼 (wuyuan) (divya-cakṣus). => Tầm nhìn không bị ngăn ngại bởi những yếu tố vật lý. Món thứ hai trong Ngũ nhãn (五眼c: wuyuan; s: divya-cakṣus). Thiện nhân 善人 [ja] ゼンジン zenjin ||| A good person. When the rebirth into a human body is noted as one of the "six (or five) destinies," it is usually meant as indicative of a predominance of good karma, and is thus, relative to the three lower rebirths, a positive reward. => Người tốt. Khi tái sinh làm thân người, được kể là sinh vào 1 trong “sáu (hoặc 5) đường”. thường có nghĩa ngụ ý biểu hiện thiện nghiệp, và như thế, có liên quan ớngự tái sinh trong ba đường thấp kém, biểu hiện cho nghiệp bất thiện.
thiên nhĩ
1348色界諸天人以四根本靜慮為依地,得色界四大種所造淨色之耳根,稱為天耳。能聞人聲、非人聲,及遠近、粗細等一切音聲。〔大智度論卷五、集異門足論卷十五〕
; Divyasrotra (S). Deva ear, divine ear; celestial ear.
; (天耳) Tai trời. Tức các người trời ở cõi Sắc lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương, được nhĩ căn tịnh sắc do 4 đại chủng cõi Sắc tạo thành, gọi là Thiên nhĩ. Thiên nhĩ có năng lực nghe được tất cả âm thanh của người, của phi nhân, xa gần, thô tế...
thiên nhĩ thông
1348梵語 divya-śrotra-jñāna-sākṣātkriyābhijñā。五通之一,六通之一。謂以天耳緣欲色二界聲處之通力。又作天耳智通、天耳智證通、天耳通證。據集異門足論卷十五、大智度論卷五所載,以四根本靜慮為依地,得色界四大種所造淨色之耳根,稱為天耳。以此天耳能聞自地及下地之天聲、人聲、非人聲及遠近等一切之音聲,稱為天耳通。乃以耳識相應之慧為體,其性無記,攝於十智中之有漏世俗智。天耳通有修得、報得二種,凡於人界修四禪定,由定力發得色界四大清淨造色,而得天耳之作用者,稱為修得;由生四禪天所得之果報,稱為報得。〔大毘婆沙論卷一四一、法界次第卷中上〕(參閱「五通」1153、「六神通」1290)
; Dibbasota (P), Dibbasotam (P), Divine ears, Divyaśrotra (S), Divya-śrotra-jāna-saksatkriyabhijā (S)Nghe mọi thứ tiếng trong vũ trụ bất kễ xa gần. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông.
; The second of the abhijnàs lục thông, by which devas in the form-world, certain arhats through the fourth dhyàna, and others can hear all sounds and understand all languages in the realm of form, with resulting wisdom.
; Divyasrotra (skt)—Một trong lục thông, nghe và hiểu mọi ngôn ngữ—The Divine (Celestial—Deva) Ear—Supernatural or transcendental hearing—Power to hear and understand all languages—One of the six miraculous powers—Ability to hear the sounds of human and nonhumans, distant and near sounds.
; (天耳通) Phạm: Divya-zrotra-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Thiên nhĩ trí thông, Thiên nhĩ trí chứng thông, Thiên nhĩ thông chứng. Chỉ cho năng lực thần thông dùng Thiên nhĩ duyên theo thanh xứ của cõi Dục và cõi Sắc, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Tập dị môn túc quyển 15 và luận Đại trí độ quyển 5 thì lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ y cứ mà được nhĩ căn tịnh sắc do 4 đại chủng cõi Sắc tạo ra, gọi là Thiên nhĩ. Vì Thiên nhĩ này có năng lực nghe được tiếng trời, tiếng người, tiếng phi nhân và tất cả âm thanh xa gần... của tự địa và hạ địa, cho nên gọi là Thiên nhĩ thông, vốn lấy tuệ tương ứng với nhĩ thức làm thể, tính nó vô kí, thuộc về trí thế tục hữu lậu trong 10 trí. Thiên nhĩ thông có 2 loại là Tu đắc và Báo đắc, nếu ở cõi người tu 4 thiền định, nhờ định lực phát được 4 đại tạo sắc thanh tịnh của cõi Sắc mà có tác dụng Thiên nhĩ thì gọi là Tu đắc; còn quả báo nhờ sinh vào Tứ thiền thiên mà được thì gọi là Báo đắc.
thiên nhĩ trí
1348梵語 divya-śrotra-abhijñā。指天耳與識相應之智慧。與「天耳通」同義。(參閱「天耳通」1348)
; Divya-śrotra-bhijā (S)
; (天耳智) Phạm:Divya-zrotra-bhijĩà. Đồng nghĩa: Thiên nhĩ thông. Chỉ cho Thiên nhĩ vàtrí tuệ tương ứng với thức.
thiên nhĩ trí chứng thông
The complete universal knowledge and assurance of the deva ear.
; See Thiên Nhĩ Trí Thông.
thiên nhĩ trí thông
Thần thông thứ nhì trong lục thông, có khả năng nghe và hiểu tiếng nói trong sắc giới—The second of the six abhijnas (lục thông) by which devas in the form-world, certain arhats through the fourth dhyana, and others can hear all sounds and understand all languages in the realms of form, with resulting wisdom.
thiên nhĩ trí thông nguyện
The seventh of the forty eight vows of Amitàbha, not to become Buddha until all obtained the divine ear.
; Lời nguyện thứ bảy trong bốn mươi tám lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện chẳng thành Phật cho đến khi nào tất cả chúng sanh đều có được Thiên Nhĩ Thông—The seventh of the forty-eight vows of Amitabha, not to become Buddha until all obtain the divine ear.
thiên nhơn sư
Một trong 10 danh hiệu của đức Phật, nghĩa là Bậc thầy của cõi trời và người.
thiên nhơn viên
Ṛṣipatana (S), Isipatana (P)Lộc uyển, Lộc dã viên, Chư thiên đoạ xứ1- Vườn cây của các vị tiên. 2- Gần thành Ba la nại (Benares), nay là Sarnath, có một khu vườn gọi là Thiên nhơn viên vì có các vị tiên thường đến tu hành, trong vườn có nhiều hươu nên còn gọi là Lộc uyển hay Lộc dã viên, là nơi Đức Phật giảng kinh Chuyển pháp luân.
Thiên Như Duy Tắc
(天如惟則, Tenjo Isoku, ?-1354): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thiên Như (天如), người vùng Vĩnh Tân (永新), Cát An (吉安, Tỉnh Giang Tây), họ Đàm (譚). Lúc nhỏ ông lên Hương Sơn (香山), xuống tóc xuất gia, rồi đến tham học với Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) ở Thiên Mục Sơn (天目山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông dừng chân trú tại Sư Tử Lâm (師子林) ngoài Thành Cô Tô (姑蘇城), Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô) và cổ xướng Thiền phong của mình. Ông có bộ Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục (師子林天如和尚語錄) 9 quyển, và được ban tặng hiệu là Phật Tâm Phổ Tế Văn Huệ Đại Biện Thiền Sư (佛心普濟文慧大辨禪師). Vào năm thứ 14 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch. Trong Tịnh Độ Đàm Chung (淨土曇鐘) 10 có thâu lục các tác phẩm của ông như Lăng Già Kinh Viên Thông Sớ (楞伽經圓通疏), Thiền Tông Ngữ Lục (禪宗語錄), Tịnh Độ Hoặc Vấn (淨土或問), Thập Pháp Giới Đồ Thuyết (十法界圖說), v.v.
thiên như duy tắc
Tien ju Wei tse (C)Tên một vị sư.
thiên như thị
736為天台宗融攝一切諸法而立三千數目時之用語。「如是」,表示指示之詞。天台宗賅攝萬法,上自佛界,下至地獄界,總有十界,十界之性各具十界,相乘而為百界,其百界一一具有「相、性、體、力、作、因、緣、果、報、本末究竟等」十種如是,故稱千如是。再以之乘三種世間,則有三千,乃成天台宗所立諸法實相之數。然百界千如並非固定數量之語,因理實各具諸法無量,故百千之數即顯示畢竟無數之量;又因十如是能以三轉讀顯證三諦之圓理,而百界千如即三諦實相,故亦可表示圓融三諦之理。〔法華玄義卷二〕(參閱「十如是」427、「三轉讀文」695)
; (千如是) Nghìn như thế, là tiếngtôngThiên thai sử dụng để lập số mục 3000 dung nhiếp tất cả các pháp. Tông Thiên thai thu nhiếp tất cả các pháp, từ cõi Phật đến cõi địa ngục, cộng chung là 10 cõi, tính của mỗi cõi có đủ 10 cõi, nhân với nhau thành 100 cõi; mỗi một cõi trong 100 cõi đều có 10 như thị: Tướng, Tính, Thể, Lực, Tác, Nhân, Duyên, Quả, Báo và Cứu cánh bản mạt, cho nên gọi Thiên như thị. Lại nhân 1000 như thị này với 3 thế gian thì thành 3000, là con số thực tướng của các pháp do tông Thiên thai lập ra. Tuy nhiên, 100 cõi, 1000 như hoàn toàn không phải là số lượng cố định, bởi vì thực lí thì mỗi mỗi đều đầy đủ vô lượng các pháp, cho nên 100 hay 1000 chính là hiển bày rốt ráo vô số, vô lượng. Lại vì 10 như thị có thể dùng Tam chuyển độc để hiển bày sự chứng ngộ viên lí của Tam đế, còn 100 hay 1000 như thị chính là thực tướng tam đế, vì thế cũng có thể biểu thị lí Tam đế viên dung.
thiên nhạc
Heavenly music, the music of the inhabitants of the heavens.
; 1) Nhạc trời hay nhạc của chư Thiên—Heavenly (Celestial) music—The music of the inhabitants of the heavens. 2) Một trong ba thứ hỷ lạc của chư Thiên: One of the three “joys” of that of those in the heavens.
thiên nhật nghệ
734日本佛教用語。又作千日參。即在千日之間,連續到神社、佛寺參拜祈願。相傳日本自平安末期即行此風。到後世,若於特定之日前往參拜,亦有千日參拜之功德;所詣之日,即稱千日詣。如七月十日為清水寺之千日詣,六月二十四日為愛宕神社之千日詣等,在大阪四天王寺,每年七月二十四、二十五日則聚集信徒念佛。
; (千日詣) Cũng gọi Thiên nhật tham. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức trong khoảng 1000 ngày liên tục đến các thần xã, chùa viện tham bái cầu nguyện. Tương truyền, phong tục này thịnh hành từ cuối thời kì Bình an ở Nhật bản.Đến đời sau, nếu đối với những ngày qui định đặc biệt nào mà đi tham bái thì cũng có công đức của mộtnghìn ngày tham bái. Những ngày đặc định ấy tức cũng gọi là Thiên nhật nghệ. Như ngày mùng 10 tháng 7 là Thiên nhật nghệ của chùa Thanh thủy, ngày 24 tháng 6 là Thiên nhật nghệ của thần xãÁi đãng...
Thiên nhị bách ngũ thập nhân
(千二百五十人): tức là 1.250 người. Đây là số lượng chúng đệ tử thường đi theo đức Phật. Trong số đó, có các đệ tử của ba vị Ca Diếp: 500 người của Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, p: Uruvela-kassapa, 優樓頻螺迦葉), 250 người của Ca Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉), 250 người của Na Đề Ca Diếp (s: Nadī-kāśyapa, p: Nadī-kassapa, 那提迦葉); cọng thêm 200 người đồ chúng đồng môn của Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連); và 50 người đệ tử của Da Xá (s: Yaśa, Yaśoda, 耶舍), tổng cọng là 1.250 người. Tất cả đều một dạ chí thành theo Phật hầu hạ, nghe pháp, tu tập, làm Phật sự, tận lực suốt đời, thường xuyên bên Ngài, cho đến khi Ngài nhập diệt mới phân tán.
thiên nhị bách ngũ thập nhân
〖出因果經〗謂耶舍長者子,朋黨五十人。優樓頻螺迦葉,師徒五百人。那提迦葉,師徒二百五十人。伽耶迦葉,師徒二百五十人。舍利弗,師徒一百人。大目犍連,師徒一百人。此千二百五十人,並先事外道,勤苦累劫而無所證,承佛化導,即得證果,於是感佛之恩,一一法會,常隨不捨。故諸經首,列眾皆云千二百五十人俱者,以此也。(梵語優樓頻螺迦葉,華言木瓜林。梵語那提迦葉,華言河。梵語伽耶迦葉,華言城。梵語舍利弗,華言身子。梵語大目犍連,華言采蔣氏。)
; 732指耶舍長者子朋黨五十人、優樓頻螺迦葉師徒五百人、那提迦葉師徒二百五十人、伽耶迦葉師徒二百五十人、舍利弗師徒一百人、大目犍連師徒一百人,共一千二百五十人。此千二百五十人先事外道,勤苦累劫而無所證,後承佛化導,即得證果,於是感佛之恩,遂於一一法會常隨不捨,稱為常隨眾,故諸經之首列眾皆稱千二百五十人。〔過去現在因果經卷四、普曜經卷八〕
; (千二百五十人) Chỉ cho 1250 người, gồm 50 người đồng bạn của con Trưởng giả Da xá, 500 thầy Trò Ưu lâu tần loa ca diếp, 250 thầy trò Na đề ca diếp, 250 thầy trò Già da ca diếp, 100 thầy trò Xá lợi phất và 100 thầy trò Đại mục kiền liên, tổng cộng 1250 người. Một nghìn hai trăm năm mươi vị này trước thờ ngoại đạo, siêng năng khổ tu trong nhiều kiếp mà không chứng ngộ, sau được Phật hóa độ liền được chứng quả, do thâm cảm ân đức của Phật, nên trong pháp hội nào 1250 vị này cũng tham dự không bỏ, gọi là Thường tùy chúng, cho nên ở đầu các kinh liệt kê thính chúng đều nêu 1250 vị.
thiên ninh tự
1364<一>位於江蘇江都縣天寧門外。據江都縣志所載,寺址原為東晉謝安之別墅。義熙年間,有梵僧佛馱跋陀羅尊者譯華嚴經,請司空謝琰啟建興嚴寺。北宋政和年中(1111~1118)改今名,為江都八大叢林之一。另據梁高僧傳卷二所載,華嚴經係義熙十四年(418)於楊都(建康)司空謝石所立道場寺譯出者,故道場寺迄今猶有華嚴堂。 <二>在北平外城廣安門外。建於北魏孝文帝時代(471~499),時稱光林寺,後幾經易名,明成祖擴大規模,宣十德年(1435)改名天寧寺。正統十年(1445)在此置戒壇,稱廣善戒壇,招請宗師十人,每年四月下旬集僧徒受戒說法,稱為圓戒,傳當時聚集僧尼近萬。本寺諸堂以磚塔為中心,塔為八角十三層,高逾六十公尺,在施以裝飾彫刻的二重基壇上立塔身,第二層以上之塔身較低,予人以安定之感。塔內置有二千餘尊佛像。此外,本寺藏有明嘉靖四年(1525)鑄造之銅鐘 A堪稱明代之代表作。〔續高僧傳卷三十六、廣弘明集卷十七、帝京景物略卷三、日下舊聞考卷九十一〕 <三>位於山西交城縣北三公里處。創建於唐貞觀六年(632),歷代均有擴建和重修。現存者多為明清之建築。 <四>位於江蘇武進。建於唐天復年間(901~904),舊名廣福寺,後改為崇寧寺,宋政和年中復改為天寧寺。殿堂宏麗、堂寮萬間、僧田千畝,富甲一方。明末之神異僧海寶,即曾住於天寧寺。清初時香雪戒潤亦曾住此,彼乃金陵寶華山三昧寂光之門下,因與同門之見月讀體意見相左,故離寶華山,而入住於本寺,大弘律宗,著楞嚴經貫珠十卷。入寂後,於寺內建塔。其後,復有金山江天寺之大曉實徹禪師來住,法緣大盛,學人萬餘,匯聚參修,雍睦嚴肅,為當世之冠。爾後,本寺即傳臨濟宗之法燈,而與金山江天寺、揚州高旻寺並稱為江蘇省三大禪林。乾隆二十七年(1762)高宗南巡之際,曾賜天寧寺御聯一對、匾額一方。寺內有大雄寶殿、天王殿、塵外樓、九蓮閣等。境內林茂竹多,堪為勝景。〔新續高僧傳卷三十五、卷四十四、大清一統志卷六十、中國佛教史卷四(蔣維喬)〕 <五>位於廣東海康縣西關外。建於唐朝,舊稱報恩寺。其山門有蘇東坡手書「萬山第一」四字。歷代為雅士名流所好,李綱、趙鼎、胡銓等南謫之時,皆曾棲止本寺。 <六>位於河南濬縣城東南大伾山(又稱黎山)上。始建年代不詳。寺內有五代後周顯德六年(959)鐫刻「准敕不停廢」記碑,乃大伾山中最早之碑,亦為研究後周滅佛之重要史料。寺後一石佛坐像,高二十七公尺,北魏時曾建樓保護,後毀於兵火。明代重建,計分三樓,因佛高於樓,故有八丈石佛七丈樓之佳話。石佛附近有唐代著名「大伾山銘」摩崖題記以及藏經閣等。 <七>位於浙江金華市。舊名大藏院。創建於北宋大中祥符年間,政和年間賜名「天寧萬壽禪寺」。元延祐五年(1318)重建。
; Tien ning (C)Tên một ngôi chùa.
; (天寧寺) Chùa ở ngoài cửa Quảng an, ngoại thành Bắc Bình, được xây dựng vào thời Hiếu văn đế (ở ngôi 471-499) nhà Bắc Ngụy, bấy giờ gọi là chùa Quang lâm, sau mấy năm thì đổi tên. Đến đời vua Thành tổ nhà Minh, qui mô chùa được mở rộng và vào năm Tuyên đức thứ 10 (1435), chùa được đổi tên là chùa Thiên ninh. Năm Chính thống thứ 10 (1445), Giới đàn được thiết lập, gọi là Quảng thiện giới đàn, thỉnh 10 vịĐại đức làm Tông sư; hằng năm vào hạ tuần tháng 4, nhóm tập tăng đồ thụ giới thuyết pháp, gọi là Viên giới, theo truyền thuyết, đương thời tu tập tăng ni tới gần 1 vạn vị. Các điện đường ở chùa này lấy ngôi tháp gạch làm trung tâm, tháp hình bát giác, gồm 13 tầng, cao hơn 600 mét, thân tháp được xây trên 2 lớp nền, có điêu khắc tinh xảo, thân tháp từ lớp thứ 2 trở lên hơi thấp. Bên trong tháp có tôn trí hơn 2 nghìn pho tượng Phật. Ngoài ra, chùa này còn giữ được quả chuông đồng đúc vào năm Gia tĩnh thứ 4 (1525), xứng đáng được gọi là tác phẩm đại biểu của đời Minh.
thiên nữ
1335梵語 devakanyā。音譯作泥縛迦儞。指欲界天之女性。色界以上之諸天無淫欲,故亦無男女之相。
; Devī (S), Goddess Nữ thiênNam gọi là Deva.
; Devakanyà, apsaras (S). Goddess in general.
; Devakanya or Apsaras (skt)—Goddess—Female deity—Attendants on the regents of the sun and the moon—Wives of Gandharvas.
; (天女) Phạm: Devakanyà. Hán âm: Nệ phạ ca nhĩ. Chỉ cho người nữ ở các tầng trời cõi Dục. Những người trời từ cõi Sắc trở lên không có dâm dục, cho nên cũng không có tướng nam nữ.
thiên nữ biện tài
Sarasvati (S).
thiên nữ hình
1335佛像形態之一種。為面容慈悲,呈女性豐麗之姿的菩薩與天部(如辯才天、吉祥天)。
; (天女形) Chỉ cho tượng Bồ tát và chư thiên có nét mặt từ bi, dáng dấp xinh đẹp của nữ tính(Như Biện tài thiên, Cát tường thiên).
thiên nữ tán hoa
1335據維摩經觀眾生品載,天女散華(花)於諸菩薩及舍利弗等,然以舍利弗等尚未泯絕思慮分別,故天華不著諸菩薩,僅著於舍利弗等之體。(參閱「天華著舍利弗衣」1362)
; (天女散華) Thiên nữ rải hoa. Cứ theo phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duyma thì Thiên nữ rải hoa lên thân các Bồ tát và ngài Xá lợi phất... nhưng vì ngài Xá lợi phất vẫn chưa dứt hết tưởng phân biệt nên hoa dính thân, còn các vị Bồ tát thì không bị dính.
thiên pháp minh môn
740明門,智慧之異稱。通達千種法之智慧,稱為千法明門,為第二地菩薩所修者。仁王護國般若波羅蜜多經卷上(大八‧八三七上):「若菩薩摩訶薩住千佛剎,作忉利天王,修千法明門,說十善道,化一切眾生。」
; (千法明門) Minh môn là tên khác của trí tuệ, trí tuệ thông suốt nghìn pháp, gọi là Thiên pháp minh môn, là pháp tu của Bồ tát Đệ nhị địa. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 thượng) nói:Bồ tát ma ha tát trụ ở nghìn cõi Phật, làm vua cõi trờiĐao lợi, tu Thiên pháp minh môn, giảng nói 10 điều lành, giáo hóa tất cả chúng sinh.
thiên phú
Inborn—Innate—Connate.
thiên phúc luân tướng
743指具足千輻輪之妙相,乃佛三十二相之一。又稱足下輪相(巴 heṭṭhā pāda-talesu cakkāni jātāni)、足下千輻輪相、常現千輻輪相、雙足下現千輻輪輞轂眾相。即佛足下紋樣分明之千輻輪寶妙相,其精巧微妙,非妙業天子所能擬造。此相感得之業因,乃佛於過去世為父母、師長、善友乃至一切眾生,往返奔走,作種種供養及布施之事。此相不僅現於足底,亦可見於佛之雙手。又千輻輪相係象徵佛之轉法輪,現於足下,表示遊化諸處之轉法輪;說法時,則顯現於手掌上之轉法輪印,用以指示種種事物;現於齒面,則表示佛說法所宣吐之教理。又自古即有禮拜佛足石之習慣。〔雜阿含經卷四、無上依經卷下如來功德品、觀佛三昧海經卷一、四分律卷五十一〕(參閱「三十二相」507)
; (千輻輪相 ) Cũng gọi Túc hạ luân tướng (Pàli: Hetthà pàda-talesu cakkàni jàtàni), Túc hạ thiên bức luân tướng, Thường hiện thiên bức luân tướng, Song túc hạ hiện thiên bức luân võng cốc chúng tướng. Chỉ cho tướng quí có hình bánh xe nghìn nan hoa do các đường vân hiện thành dưới lòng bàn chân của Phật, là 1 trong 32 tướng của đức Phật. Tướng này rất vi diệu, nếu chẳng phải là bậc Thiên tử có phúc nghiệp thù thắng thì không thể có được. Nghiệp nhân cảm được tướng này là do thuở xưa đức Phật đã vì cha mẹ, sư trưởng, bạn lành cho đến tất cả chúng sinh bôn tẩu ngược xuôi mà làm các việc cúng dường, bố thí. Tướng này không những chỉ hiện ở dưới bàn chân mà còn thấy ở trong 2 bàn tay của Phật. Thiên bức luân tướng là tượng trưng cho việc đức Phật chuyển bánh xe pháp, hiện dưới lòng bàn chân là biểu thị việc đức Phật du hành các nơi thuyết pháp giáo hóa; lúc Phật quay bánh xe pháp thì ấn Chuyển pháp luân hiện trên bàn tay, dùng để chỉ rõ các sự vật; hiện ở răng thì biểu thị cho giáo lí đức Phật tuyên thuyết.
thiên phúc tự
742位於陝西長安安定坊之古寺。唐高宗咸亨四年(673),章懷太子捨宅為寺。善導之門人懷感住之,時四方同好之士來投者日多。開元末年,楚金住之,一日誦法華經,至寶塔品,忽現寶塔,乃禪坐六年,發誓建塔。帝書「多寶塔」之額,並賜縑緡。天寶三年(744)造塔,集大德於塔下,修法華三昧。時,飛錫奉敕自終南山草堂移駐該寺法華道場,前後三十載。上元二年(761),肅宗招慧忠至宮廷,執師弟之禮,令彼住該寺西禪院。永泰元年(765)四月,寺僧法崇、飛錫共同參與不空主持之仁王護國般若經譯經工作。其後,憲宗時,雲邃奉敕為該寺上座,經其整飭,綱紀肅然。會昌法難期間,遭受毀壞。尋於宣宗大中六年(852)復興,改名「興元寺」。其後漸次衰微,終至於廢絕。〔兩京寺記卷二、景德傳燈錄卷五、長安志卷十、西安府志卷六十一〕
; Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa còn có tên là Sùng Phúc Tự hay chùa Bộc. Chùa được xây dựng từ rất lâu, là nơi thanh vắng, giữa rừng tĩnh mịch. Đời vua Lê Hy Tông, năm 1676, có vị Tăng tên Trương Trung Bá cùng với nhân dân trong vùng đứng lên xây lại chùa sau khi bị chiến tranh tàn phá. Chùa lại được trùng tu vào năm 1792, năm Quang Trung năm thứ tư, và được đổi tên là Thiên Phúc. Trước năm 1945, Hòa Thượng Chính Công đã khai trường thuyết pháp, đa phần Tăng Ni tài giỏi đều xuất thân từ chùa nầy—Name of an ancient temple, located in Khương Thượng quarter, Đống Đa district, Hanoi City, North Vietnam. It is also called Sùng Phúc Tự, or Chùa Bộc. It was built a long time ago in a beautiful, deserted place in the middle of an iron-wood forest (exythrophloeum fordii). In the Lê Hy Tông dynasty, in 1676, Ch'an Master Trương Trung Bá and local people rebuilt the temple that was damaged by the war. It was rebuilt again in 1792, the fourth Quang Trung year and renamed Thiên Phúc Temple. Before 1945, Most Venerable Chính Công was Head of the temple. He organized a school to propagate the Buddha's Dharma in decades. Lots of monks and nuns were students of this school.
; (千福寺) Ngôi chùa cổ nằm ở phường An định, huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây. Năm Hàm hanh thứ 4 (673), Thái tử Chương hoài sửa dinh thự của mình thành chùa, thỉnh ngài Hoài cảm làm Trụ trì, người từ khắp nơi đến cầu học mỗi ngày một đông. Vào cuối năm Khai nguyên, ngài Sở kim trụ trì chùa này. Một hôm, ngài tụng kinh Pháp hoa, lúc đến phẩm Bảo tháp thì chợt thấy tháp báu hiển hiện, ngài bèn tọa thiền trong 6 năm phát nguyện xây tháp. Vua tự tay viết 3 chữ Đa Bảo Tháp trên tấm biển hiệu, đồng thời ban cho tơ lụa. Năm Thiên bảo thứ 3 (744) bắt đầu xây tháp, tập họp các vị Đại đức ở dưới tháp tu Tam muội Pháp hoa. Bấy giờ, ngài Phi tích vâng sắc từ thảo đường ở núi Chung nam dời đến trụ ở đạo tràng Pháp hoa của chùa này, trước sau 30 năm. Năm Thượng nguyên thứ 2 (761), vua Túc tông thỉnh ngài Tuệ trung đến cung đình, lễ tôn ngài làm thầy và thỉnh ngài trụ ở viện Tây thiền chùa này. Tháng 4 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (766), các ngài Pháp tông, Phi tích ở chùa này cùng tham dự việc dịch kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã do Tam tạng Bất không chủ trì. Về sau, thời vua Hiến tông, ngài Vân thúy vâng sắc làm Thượng tọa, nhờ sự chấn chỉnh của ngài mà kỉ cương được trang nghiêm. Trong thời gian Pháp nạn Hội xương, chùa bị hủy hoại. Đến năm Đại trung thứ 6 (852) đời vua Tuyên tông, chùa được phục hưng và đổi tên là chùa Hưng nguyên. Về sau, lại dần dần suy vi và cuối cùng bị hoang phế hoàn toàn.
thiên phật
736乃指同時期出現之一千尊佛。法華經藥王菩薩本事品(大九‧五四下):「汝之功德,千佛(梵 buddha-sahasra)共說,不能令盡。」同經另有若干梵文寫本以 buddha-śata-sahasra 為千佛之原語,意即百千之佛;西藏譯本兩處皆作 saṅs-rgyas brgya-stoṅ,亦指百千之佛;然依經之原意應指賢劫千佛。千佛之種類,有綿亙過、現、未之拘留孫佛等賢劫千佛,另有華光佛等之過去莊嚴劫千佛,及日光佛等未來星宿劫千佛,於各種佛名經之中,皆有列名。(參閱「星宿劫」3837、「莊嚴劫」4778、「賢劫千佛」6176)
; Buddha-sahasra (S).
; (千佛) Chỉ cho 1000 đức Phật cùng xuất hiện trong một thời kì. Phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 54 hạ) nói: Công đức của ông dù có nghìn Phật (thiên Phật (Phạm: Buddha-sahasra) cùng nói cũng không thể hết được. Một số bản chép tay bằng tiếng Phạm cho rằng Buddha-zata-sahasra là nguyên ngữ của Thiên Phật,nghĩa là trăm ghìn vị Phật. Trong bản dịch của Tây tạng có 2 chỗ đều ghi là Saís-rgyyas brgya-stoí, cũng chỉ cho trăm nghìn vị Phật. Tuy nhiên, theo nguyên ý trong kinh thì Thiên Phật là chỉ cho 1000 đức Phật kiếp Hiền. Về Thiên Phật thì có Thiên Phật kiếp Hiền như Phật Câu lưu tôn... nối tiếp nhau từ quá khứ, hiện tại cho đến vị lai; lại có Thiên Phật kiếp trang nghiêm thời quá khứ như Phật Hoa quang và Thiên Phật kiếp Tinh tú thời vị lai như Phật Nhật quang..., trong các kinh Phật danh đều có liệt kê danh hiệu của các Ngài.
thiên phật nham
736位於四川宜賓北郊岷江南岸翠屏山。山勢小巧秀麗,嫵媚清幽。拾級登山,松柏夾道;綠柳幽篁,橙林橘苑,一片蔥郁。樓亭池閣,起伏錯落,點綴其間。古翠屏書院位於山腰,有鼓亭,「翠屏晚鐘」為宜賓八景之一。北宋詩人黃庭堅於元符年間謫居宜賓時,有「山繞樓臺鐘鼓晚」之詩句寫景。千佛岩(又稱千佛臺)即位於書院不遠處,刻浮雕小佛像五百四十六尊,造像端莊渾厚,傳為唐宋間所鑿。登臨峰頂,但見兩江環抱城郭,群山疊翠,白帆點點,煙波浩渺,無限景色。
thiên phật sơn
736位於山東濟南城南。山壁鑿有凸形佛像,大小不下千餘,故有此稱。原名歷山,相傳昔時虞舜曾於此耕作,故又稱舜耕山。山腰廟宇甚多,間有亭臺,在此遠眺黃河,俯瞰省城,歷歷在目,為邑境名勝之一。千佛山入山處有一座牌坊,從牌坊登山則是興國寺(興國寺始建於唐貞觀年間)。隋文帝開皇年間,開始在山上開鑿石窟,刻造佛像千餘尊,經千餘年來,所造之像已多數風化,寺中之懸岩猶有幾十尊,面目依稀可辨。千佛山黃石崖另有幾處北魏石窟造像,及一尊唐代之巨大石佛,極具歷史意義與藝術價值。
; (千佛山) Núi nằm về phía nam thành Tế nam, tỉnh Sơn đông.Vì trên vách núi có tạc 1000 tượng Phật lớn nhỏ nên gọi là Thiên Phật sơn. Tên cũ vốn là Lịch sơn, tương truyền thủa xưa vua Ngu thuấn từng cày cấy ở đây, cho nên còn gọi là núi Thuấn canh. Ởlưng chừng núi có nhiều miếu, am, khoảng giữa có đình đài, từ đây, trông xa xa là dòng sông Hoàng, nhìn xuống là tỉnh thành, là một trong những thắng cảnh ở địa phương. Khoảng năm Khai hoàng, vua Văn đế nhà Tùy bắt đầu đục mở hang đá trên núi, khắc tạo hơn 1000 pho tượng Phật, trải hơn nghìn năm, các pho tượng Bức vẽ khung trang trí lọng tròn ở hang số 2 mới của động Thiên Phật ở Thố mộc khổ lạt Động Thiên Phật ở Khố tư ca cáp Quần thể tượng Phật trên Thiên Phật sơn phần nhiều đã bị nắng mưa, sương gió xói mòn, chỉ còn vài mươi pho trong chùa trên sườn núi cheo leo, bộ diện chỉ còn lờ mờ khó phân biệt được. Trên sườn Hoàng thạch của núi Thiên Phật, vài nơi còn những pho tượng đá khắc tạo vào thời Bắc Ngụy và 1 pho tượng Phật rất lớn được tạo lập vào đời Đường, rất cóýnghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật.
thiên phật động
737<一>甘肅敦煌縣東南有鳴沙山,其麓有三界寺(共三寺,俗稱上寺、中寺、下寺)。寺旁石室甚多,舊名莫高窟,俗稱千佛洞。相傳始建於苻秦建元二年(366),現存最早之洞窟,其開鑿年代應為北涼(五世紀初),此後歷經北魏、西魏、北周、隋、唐、五代、宋、西夏至元,始終建造不輟,保存至今者總計四九二窟。中有壁畫,總面積達四萬五千多平方公尺,彩塑達二千四百多尊。全部壁畫分為佛經故事與佛像兩大類,並繪出耕作、婚喪、醫卜等生活情狀,反映出中國由五、六世紀至十四世紀之部分社會生活及歷代造型藝術之發展情形。 清光緒二十六年(1900),擬加修葺,掃除砂礫,發現一室為書庫(此室外有複壁,至其傾壞,始知為書庫)。內藏書籍、碑版及其他美術品甚富,而佛經尤多,且多為唐人之手寫本,蓋係西夏兵革時保存於此者。光緒三十三年,英人史坦因(M. Aurel Stein)至此地搜羅寫本、圖畫、繡品等三十餘箱而去,陳列於英國倫敦博物館。法人伯希和(Paul Pelliot)繼之,運藏巴黎國家圖書館者至千餘卷之多。迨民國十九年(1930),始為我政府所聞,前往搜求,舉所剩餘物,悉運至京師圖書館,而精好者已喪失殆盡。書庫內之書籍、經卷與碑版中,宗教方面有佛教、道教、摩尼教、景教等各教之記載;文字方面,有漢文、法盧文、回鶻文、康居文、古和闐文、龜茲文、西藏文等。其內容,上自經史正典,下至里巷小說、小曲曲譜之流,無不兼容並蓄,不僅為世界現存規模最大之佛教藝術寶庫,亦為我國文化之珍貴寶藏。(參閱「敦煌石窟」4964) <二>指河北房山縣石經山之石經洞,亦稱千佛洞。(參閱「石經」2134) <三>指龜茲千佛洞。又稱克孜爾千佛洞,位於新疆拜城縣之東五十公里,即木札特河之北岸,東西綿延二公里,共有石窟三群及二百多座石洞,開鑿年代由四世紀迄八、九世紀。此處石窟以長方形洞窟居多,乃仿自印度支提堂而建造。佛像大多為塑造,壁畫之色彩十分鮮艷,以粉紅、黃、白綠、鮮藍為主。壁畫之內容除以佛教為主題外,尚摻雜世俗之人物、風俗、裝飾、花紋等形態,大多受印度犍陀羅、希臘、波斯薩桑等壁畫風格之影響。以佛教為主題之壁畫,多以佛傳及本生圖為重點,如說法圖、涅槃圖、荼毘圖、分舍利圖及燈明王本生、捨身飼虎圖等,此為龜茲壁畫之最大特色。 <四>指吐魯番之貝沙克魯克千佛洞。貝沙克魯克,意為「具有美麗裝飾之房屋」,開鑿於流經火焰山山麓之木頭溝河西岸斷崖上,連同上遊之石窟,共有五十七窟。此處石窟大都開鑿於九、十世紀,洞窟形式多模仿龜茲之長方洞及方形洞。壁畫多半描繪授記之誓願圖,及各種變相圖。此外,有以供養者自居之維吾兒貴族、摩尼教聖者、景教教徒之壁畫,內容極富變化,一般通稱為回紇樣式,深具藝術價值。 <五>指庫車附近之庫木吐喇千佛洞。與龜茲洞窟同享盛名,約有一百座石窟寺院,其中大部分為開鑿於七世紀之方形窟,窟頂飾以庫車特有之孔雀羽狀圓蓋,周圍並列置模仿印度三段屈法塑造之菩薩群像。洞中多為中國樣式佛像,衣裳飄揚、姿態自然,充分顯出唐畫之精湛技巧。壁畫之主題,有大畫面之經變圖,及中國式之山水圖等,尤以涅槃洞、飛天洞及金翅鳥洞最具代表性。至於中國式壁畫之製作年代,分別為唐玄宗開元十五年(727),武宗會昌三年(843)、昭宗乾寧元年(894)。 此外,尚有位於庫車東方之辛辛千佛洞,及北方之庫茲卡哈千佛洞(約四十窟),其壁畫和塑像多為西域及中國樣式之風格。
; (千佛洞) I. Thiên Phật Động. Ở chân núi Minh sa phía đông nam huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, có ngôi chùa Tam giới (gồm 3 chùa Thượng, Trung, Hạ); phía bên phải chùa có rất nhiều hang đá mà xưa gọi là hang Mạc cao, người đời thì gọi là Thiên Phật động. Tương truyền những hang động này được bắt đầu đục mở vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Phù Tần, là những hang động xưa nhất hiện còn. Nhưng niên đại đục mở những hang động này có lẽ là vào đời Bắc Lương (đầu thế kỉ V). Từ đó về sau, trải qua các đời Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường, Ngũ đại, Tống, Tây hạ, cho đến đời Nguyên nối nhau khai tạc không dừng; số hang động được bảo tồn đến nay tổng cộng có 492 hang. Trong đó, những bích họa chiếm tổng diện tích hơn 45.000 m2, có hơn 2.400 pho tượng đắp, sơn màu. Đề tài toàn bộ bích họa chia làm 2 loại lớn là sự tích trong kinh Phật và tượng Phật, đồng thời miêu tả tình hình sinh hoạt như cày cấy, hôn lễ, tang lễ, thuốc thang, bói toán... phản ánh phần nào các sinh hoạt xã hội của Trung quốc từ các thế kỉ V, VI, cho đến thế kỉ XIV và tình hình phát triển nghệ thuật tạo hình qua các thời đại. Năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh, ngườita dự định sửa chữa lại, nhưng khi quét dọn sỏi đá thì phát hiện1hang đá, bên trong cất chứa sách vở, bia đá và rất nhiều tác phẩm mĩ thuật khác, trong đó có khá nhiều kinh Phật và phần lớnlàcác bản chép tay của người đời Đường, là những thứ được cất giữ ở đây trong thời chiến tranh với quân Tây Hạ. Năm Quang tự 33 (1907), Sử thản nhân (M. Aurel Stein) người Anh đến nơi đây sưu tập hơn 30 hòm(rương), các bản chép tay, tranh vẽ, nghệ phẩm thêu... mang về trưng bày ở bảo tàng viện Luân đôn nước Anh.Sau đó, Bá hi hòa (P.Pelliot) người Pháp lại tiếp tục lấy lén hơn 1000 quyển kinh sách đem về trưng bày ở thư viện Quốc gia tại Paris nước Pháp. Mãi đến năm Dân quốc 19 (1930), chính phủ Trung quốc mới biết việc này, nên đến tìm kiếm, lượm lặt cácvật còn sót lại đem về lưu giữ tại thư viện ở Bắc kinh, nhưng những vật quí tốt thì đã bị mất gần hết. Trong các sách vở, kinh điển và bia đá tìm được, về phương diện tông giáo thì có Phật giáo, Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo...; về mặt văn tựthì có chữ Hán, chữ Pháp lô, chữ Hồi cốt, chữ Khang cư, chữ Hòa điền xưa, chữ Cưu tư, chữ Tây tạng... Còn về nội dung thì trên từ kinh sử chính điển, dưới đến tiểu thuyết bình dân, ca khúc, điệu nhạc dân gian... đủ các loại. Đây chẳng những là kho báu của nghệ thuật Phật giáo với qui mô lớn nhất trên thế giới hiện còn, mà cũng là kho tàng quí giá của văn hóa Trung quốc. (xt. ĐônHoàng ThạchQuật). II. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thạch kinh ở núi Thạch kinh tại huyện Phòng sơn thuộc tỉnh Hà bắc, Trung quốc, cũng gọi là Thiên Phật động. III. Thiên Phật Động. Cũng gọi Khắc tư nhĩ thiên Phật động. Chỉ cho động Thiên Phật ở nước Cưu tư, nằm về phía đông cách huyện Bái thành, tỉnh Tân cương 50km. Chiều dài của động này từ đông sang tây 2km, tất cả gồm có 3 quần thể hang đá với hơn 200 hang động, được đục mở từ thế kỉ IV đến thế kỉ VIII, IX. Trong các hang đá ở đây thì các hang hình chữ nhật chiếm đa số và được tạo lập .Một góc của hang đá Mạc cao tại Đôn hoàng Bích họa đời Đường ở Đôn hoàng vẽ cảnh xuống tóc xuất gia theo kiểu Chi đề (Phạm:Caitya) ở Ấn độ. Tượng Phật phần nhiều là tượng đắp, sắc thái của các bức bích họa rất tươi đẹp với các màu chính là hồng, vàng, trắng, xanh lục, lam tươi. Nội dung bích họa, ngoài chủ đề Phật giáo còn xen lẫn hình thái nhân vật, phong tục, trang sức, hoa văn... của thế tục, phần lớn chịu ảnh hưởng phong cách bích họa của Kiện đà la thuộc Ấn độ, của Hy lạp, Ba tư tát tang... Bích họa lấy Phật giáo làm chủ đề thì phần nhiều dùng truyện tích Phật và tranh bản sinh làm trọng điểm, như tranh thuyết pháp, tranh niết bàn, tranh trà tì, tranh chia xá lợi, tranh bản sinh Đăng minh vương và tranh xả thân cho cọp ăn... IV. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thiên Phật ở Bối sa khắc lỗ khắc tại Thổ lỗ phiên, được đục mở trên sườn núi bên bờ tây sông Mộc đầu câu chảy qua chân núi Hỏa diệm. Những hang động ở đây gồm có 57 hang, phần lớn được đục mở vào các thế kỉ IX, X; về hình thức thì phần nhiều mô phỏng kiểu hang động hình vuông và hình chữ nhật của Cưu Tư. Về bích họa thì quá nửa vẽ tranh thệ nguyện thụ kí và các loại tranh biến tướng. Ngoài ra còn có các bích họa của dòng quí tộc Duy ngô nhi sống với hạnh cúng dường, Thánh giả Ma ni giáo, tín đồ Cảnh giao. Nội dung rất giàu tính biến hóa, thường gọi chung là kiểu Hồi hột, rất có giá trị nghệ thuật. V. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thiên Phật ở Khố mộc thổ lạt gần Khố xa, nổi tiếng ngang với các hang động ở Cưu Tư, có khoảng 100 tự viện thạch quật, trong đó phần lớn là hang hình vuông được đục mở vào thế kỉ VII, Tranh Phi thiên tấu nhạc trong hang thứ 8 của động Thiên Phật tại Cưu tư Động Thiên Phật ở Bối sa khắc lỗ khắc Bích họa vẽ thệ nguyện thụ kí ở Bối sa khắc lỗ khắc trên trần nóc hang được trang sức bằng chiếc lọng tròn dáng lông cánh chim công đặc biệt ở Khố xa. Chung quanh có hàng tượng Bồ tát mô phỏng tượng đắp ở Ấn độ. Tượng Phật trong hang động phần nhiều theo kiểu tượng Trung quốc, xiêm y nhẹ nhàng phơi phới, tư thái tự nhiên, biểu hiện đầy đủ đường nét tinh vi của các bức họa đời Đường. Về chủ đề bích họa thì có tranh biến tướng của kinh, tranh sơn thủy kiểu Trung quốc, nhất là động Niết bàn, động Phi thiên và động chim cánh vàng, rất có tính đại biểu. Niên đại tạocác bích họa kiểu Trung quốc, theo thứ tự là năm Khai nguyên 15 (727) đời vua Huyền tông nhà Đường, năm Hội xương thứ 3 (843) đời vua Vũ tông và niên hiệuCàn ninh năm đầu (894) đời vua Chiêu tông. Ngoài ra còn có Tân tân Thiên Phật động ở phía đông Khố xa và Khố tư ca cáp Thiên Phật động(có khoảng 40 hang) ở phía bắc Khố xa. Các bích họa và tượng đắp ở đây phần nhiều có phong cách Tây vực và Trung quốc.
Thiên Quan
(天官): tên gọi của một trong ba vị Tam Quan Đại Đế (三官大帝), tức Thiên Quan Đại Đế (天官大帝), còn gọi là Thượng Nguyên Tứ Phước Thiên Quan Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế (上元賜福天官一品紫微大帝), và hai vị kia là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế (下元解厄水官三品洞陰大帝). Từ thời Thượng Cổ, tại Trung Quốc đã có nghi lễ tế trời, đất và nước rồi. Ba vị Đại Đế này được thần cách hóa chỉ dưới Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝) một bậc, chuyên chưởng quản việc phước lộc, tội ác và giải trừ tai ách của con người. Trong dân gian vẫn truyền tụng rằng: “Thiên Quan hảo lạc, Địa Quan hảo nhân, Thủy Quan hảo đăng (天官好樂、地官好人、水官好燈, Thiên Quan thích vui, Địa Quan thích người, Thủy Quan thích đèn).” Thượng Nguyên (上元, rằm tháng giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng bảy) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng mười) là ba ngày tế hội của ba vị Đại Đế này. Thiên Quan Đại Đế lệ thuộc vào Ngọc Thanh Cảnh (玉清境), do 3 khí xanh, vàng, trắng mà kết hợp thành, tổng chủ quản các đế vương trên trời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng giêng, vị này thường giáng phàm xem xét tội phước của con người, nên có tên là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福, Quan Trời Ban Phước). Có nhiều truyền thuyết khác nhau liên quan đến vị này. Có thuyết cho rằng ông là Nghiêu Đế (堯帝); do vì nhà vua có lòng nhân lớn nên được phong làm Thiên Quan, phụng mạng Ngọc Hoàng Thượng Đế, xem xét việc tốt xấu của con người. Nghiêu Đế họ là Y Kì (伊祁), tên Phóng Huân (放勳), con vua Khốc (嚳), em của vua Chí (摰). Khi Chí lên ngôi vua thì phong cho Nghiêu là (陶侯), rồi đổi tên là Đường (唐); nên được gọi là Đào Đường (陶唐). Tương truyền Đường Nghiêu (唐堯) có dung mạo rất quái dị, lông mày có 8 sắc màu, tai có 3 lỗ thông. Khi vua Chí nhường ngôi cho Nghiêu thì bốn phương xuất hiện hung thần, ác khí, làm nguy hại đến tánh mạng của bá tánh. Nhà vua bèn sai Hậu Nghệ (后羿) đến hàng phục hung thần kia. Ông tóm thâu gió lớn nơi sông hồ, chém chết mãnh thú ven hồ Động Đình (洞庭), thâu tóm độc xà và làm cho dân chúng được yên ổn. Vua Nghiêu lại vẽ ra bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, chế định một năm có 12 tháng. Sau khi tại vị được 98 năm, vua Nghiêu truyền ngôi vị lại cho Thuấn (舜), hưởng thọ 177 tuổi; được tôn xưng là Thiên Quan Tứ Phước Thần (天官大帝賜福神). Trong Đạo Giáo tôn sùng ông là Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên Quan Đại Đế (上元一品賜福天官大帝). Thuyết khác cho rằng Thiên Quan là vị quan thường tâu những lời can gián lên nhà vua tên Đường Hoằng (唐宏) dưới thời Chu U Vương (周幽王, tại vị 781-771 tcn). Ông cùng với Cát Ung (葛雍), Chu Thật (周實) từ quan và sống cuộc đời vui thú điền viên. Đến thời Tống Chơn Tông (宋眞宗, tại vị 997-1022), cả ba được phong làm Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và được tế tự hàng năm. Cũng có truyền thuyết giải thích rằng từ khi Trương Thiên Sư (張天師, 34-156, tức Trương Đạo Lục [張道陵], tự là Phụ Hán [輔漢], cháu đời thứ 8 của Trương Lương [張良], xuất thân Phong Huyện [豐縣], Tỉnh Giang Tô [江蘇省]) khai sáng Đạo Giáo về sau, dân gian mới bắt đầu biết cúng tế ba vị Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngoài ra, có thuyết lại cho rằng Ngôn Vương Gia (言王爺) có 3 người con gái, đem gả cho Trần Tử Thung (陳子摏) làm vợ; mỗi người lại hạ sinh một người con, có bẩm tính khác thường. Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho 3 người này làm Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và ra lệnh cho họ cai quản ba cõi. Trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經), phần Thiên Quan Bảo Cáo (天官寶誥) của Đạo Giáo có đoạn: “Chí tâm quy mạng lễ: Huyền Đô Nguyên Dương, Tử Vi Cung trung, bộ Tam Thập Lục Tào, giai cửu thiên vạn chúng, khảo hiệu đại thiên thế giới chi nội, lục tịch thập phương quốc độ chi trung; phước bị vạn linh, chủ kiêm sanh thiện ác chi tịch; ân đàm Tam Giới, trí chư tiên thăng giáng chi ty, trừ vô vọng chi tai, giải thích túc ương, thoát sanh tử chi thú, cứu bạt u khổ, quần sanh thị lại, xuẩn động hàm khang, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Thượng Nguyên Cửu Khí, Tứ Phước Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân (志心皈命禮、玄都元陽、紫微宮中、部三十六曹、偕九千萬眾、考較大千世界之內、錄籍十方國土之中、福被萬靈、主兼生善惡之籍、恩覃三界、致諸仙升降之司、除無妄之災、解釋宿殃、脫生死之趣、救拔幽苦、群生是賴、蠢動咸康、大悲大願、太聖大慈、上元九氣、賜福天官、曜靈元陽大帝、紫微帝君, Một lòng quy mạng lễ: Huyền Đô Nguyên Dương, trong Tử Vi Cung, cai quản 36 bộ quan, nhiếp chín ngàn vạn chúng, giám sát trong khắp thế giới đại thiên, xét hồ sơ mười phương quốc độ, chủ quản hồ sơ thiện ác con người, phước nhuần vạn sinh, chủ kiểm soát hồ sơ thiện ác; ơn ban Ba Cõi, quản lý chư tiên lên xuống, trừ các tai họa, giải trừ oan khiên đời trước, thoát khỏi đường sanh tử, cứu bạt khổ ách, chúng sanh nương tựa, động vật đều yên, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Thượng Nguyên Cửu Khí, Tứ Phước Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân).”
thiên quan
A deva crown, surpassing human thought.
thiên quan quán tự tại
Xem Thiên thủ Thiên nhãn Quán Tự tại.
thiên quan tự
Makutabandhanacetiya (S)Tên ngôi chùa của dòng họ Mạt la (Malla) nơi di thể đức Phật được an trí để hỏa táng.
thiên quang thiền tự
735<一>位於臺灣嘉義縣水上鄉。創建於清道光年間,前稱善德佛堂,同治三年(1864)及光緒七年(1881)曾兩度修建,民國二十一年(1932)信眾亦鳩資重建。數十年來,歷盡風雨剝蝕,地震毀壞,信眾為續佛慧命,護持正法,決議覓地遷建,於五十五年購置現寺址,翌年開工,五十七年改稱「千光寺」。 <二>位於高雄市壽山公園頂,民國五十五年由郭馬發起創建,風景幽美、為清修弘法之所。
thiên quán
1353又作寶冠。乃諸天頭上所戴之冠,或類似諸天之冠的微妙之冠。以其精微殊妙,非人中所有,故稱天冠。〔大法鼓經卷上、廣博嚴淨不退轉輪經卷六〕
; (天冠) Mũ đội đầu của chư thiên, hoặc chỉ cho chiếc mũ vi diệu như mũ của chư thiên mà ở nhân gian khôngthểcó.
Thiên Quế Truyền Tôn
(天桂傳尊, Tenkei Denson, 1648-1735): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, tự là Thiên Quế (天桂), thường gọi là Đồng Nhãn Lâu (瞳眼樓), Diệt Tông (滅宗), Lão Loa Cáp (老螺蛤), Lão Mễ Trùng (老米虫), họ là Đại Nguyên (大原), xuất thân vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣] ngày nay). Năm lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Truyền Cung (傳弓) ở Song Dự Tự (窻譽寺) vùng Kỷ Y; đến năm 18 tuổi thì lên đường hành cước tu tập, đã từng đến tham vấn chư vị tôn túc như Tổ Hải (祖海) ở Vạn Tùng Tự (萬松寺), Xung Thiên (衝天) ở Khả Thùy Trai (可睡濟), Long Bàn (龍蟠) ở Hưng Thánh Tự (興聖寺). Đến năm thứ 5 (1677) niên hiệu Diên Bảo (延寳), ông đến tham yết Ngũ Phong Hải Âm (五峰海音) ở Tĩnh Cư Tự (静居寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông sống ở chùa này, rồi đến năm thứ 2 (1689) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), ông được Phùng Tu Hạ Hầu (蜂修賀候) quy y theo, và chuyển đến sống tại Đại Vân Tự (大雲寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Thêm vào đó, ông còn di chuyển đến Tàng Lộ Am (藏鷺庵) ở vùng Lãng Hoa (浪華, thuộc Ōsaka ngày nay), Trượng Lục Tự (丈六寺) vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣] ngày nay); và cuối cùng vào năm thứ 6 (1721) niên hiệu Hưởng Bảo (享保), ông lui về sống tại Thối Tàng Phong (退藏峰, tức Dương Tùng Am) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Ōsaka ngày nay). Vào ngày mồng 10 tháng 12 năm thứ 20 niên hiệu Hưởng Bảo, ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi.
thiên quỷ
1357指六趣中之天趣與鬼趣。天趣,指欲界、色界、無色界之諸天,為諸趣中最勝、最樂、最善、最妙、最高者。鬼趣則指餓鬼、夜叉、羅剎等鬼類之世界。
; 1) Chư Thiên và ma quỷ: Devas and demons. 2) Tái sanh vào cõi chư Thiên và quỷ: Reincarnation among devas and demons.
; (天鬼) Chỉ cho cõi trời và cõi quỉ trong 6 đường. Cõi trời chỉ chochưthiên ở các tầng trời cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, là các cõi hơn hết, vui nhất, tốt lành nhất, vi diệu nhất, cao nhất trong tất cả các cõi. Còn cõi quỉ là chỉ cho thế giới các loàiquỉnhư quỉ đói, quỉ Dạ xoa, quỉ La sát...
Thiên sai 千差
[ja] センシャ sensa ||| Innumerable differences. => Sự khác biệt nhau nhiều không tính kể được.
thiên sam
4373袈裟類之法衣,為僧尼之上服。又作褊衫、編衫、徧衫、偏袖。即縫合僧祇支與覆肩衣,另加襟而成為一種具有兩袖、前後面皆開,而於背面交叉之上衣,交叉處以紐釦釦合。又相當於袍服、鈍色之上衣。據佛制比丘六物圖載,我國古代之僧人即有披著僧祇支之習慣,至後魏時,始加右袖,縫合兩邊,稱為偏衫,其形制,截領開裾,猶存本相,故知偏衫之左肩即原本之僧祇支,右邊即覆肩衣。又據大宋僧史略卷上服章法式條、敕修百丈清規卷五辨道具條等之記載,後魏之時,請僧人於宮中自恣,宮人見僧偏袒右肩,不以為善,乃作偏袒肩衣,縫於僧祇支之上,稱為偏衫。釋氏要覽卷上(大五四‧二七○中):「偏衫,古僧依律制,只有僧祇支(此名覆膞,亦名掩腋衣),此長覆左膞及掩右掖,蓋儭三衣故,即天竺之儀也。竺道袒魏錄云:魏宮人見僧袒一肘,不以為善,乃作偏袒,縫於僧祇支上,相從因名偏衫(今開脊接領者,蓋遺魏制也)。」 蓋印度之習俗,於禮拜佛、師僧,或從事作務時,比丘皆得偏袒右肩;我國由於氣候較寒,加以袒肩露臂不合禮俗,故模擬覆肩之制,別製上狹下寬之小衫,著於右肩,此即偏衫之起源,約始於後魏,盛於隋唐。據四分律搜玄錄載,右肩之偏衫乃後魏之慧光律師所裁製者。然兩袖皆偏衫則不知何人所創製。〔法苑珠林卷二十致敬篇、四分律行事鈔資持記卷下一之二〕(參閱「偏袒右肩」4374)
; Loại áo của chư Tăng mặc phủ qua một vai, có người nói phủ vai phải, lại có người nói phải phủ vai trái (tất cả chỉ là hình tướng bên ngoài, nội tâm mới là phần quan trọng)—The monk's toga, or robe, thrown over one shoulder, some say the right, others the left.
; (偏衫) Cũng gọi Biên sam, Biến sam, Thiên tụ. Pháp y của tăng ni, giống như áo tràng. Nghĩa là Tăng kì chi và Phú kiên y may chung lại với nhau, rồi thêm vạt nữa mà trở thành 1 loại áo có 2 tay, vạt trước vạt sau và phần trên thì giao nhau với mặt sau lưng, ở chỗ giao nhau cột lại bằng những cái nút. Cứ theo Phật chế tỉ khưu lục vật đồ thì chư tăng đời xưa ở Trung quốc đã có tập quán mặc Tăng kì chi, đến đời Hậu Ngụy mới có thêm tay áo bên phải, khâu dính 2 mép lại gọi là Thiên sam. Về cách may thì cổ áo mở theo hình tướng xưa, cho nên biết vai trái của thiên sam chính là Tăng kì chi cũ, còn vai phải chính là Phú kiên y. Lại cứ theo điều Phục chương pháp thức trong Đại tống tăng sử lược quyển thượng và điều Biện đạo cụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, vào thời Hậu Ngụy, chư tăng được thỉnh vào cung vua làm lễ tự tứ, những người trong cung thấy chư tăng mặc áo để lộ vai bên phải cho là không tốt, vì thế mới may Thiên đản kiên y chồng lên Tăng kì chi, gọi là Thiên sam. Theo phong tục người Ấn độ, khi lễ Phật, Sư tăng, hoặc làm các việc thì tỉ khưu đều được mặc áo để lộ vai bên phải. Trung quốc do khí hậu tương đối lạnh, vả lại, mặc áo để lộ vai và cánh tay thì không hợp lễ tục, cho nên phỏng theo hình thức trùm kín vai mà chế ra 1 loại tiểu sam đặc biệt là trên hẹp dưới rộng để vắt lên vai bên phải, đây chính là nguồn gốc của Thiên sam, được bắt đầu vào khoảng đời Hậu Ngụy, rồi thịnh hành vào đời Tùy, Đường. Tứ phần luật sưu huyền lục ghi: Thiên sam che vai bên phải là do Luật sư Tuệ quang đời Hậu Ngụy sáng chế. Nhưng 2 tay áo đều là thiên sam thì không rõ ai chế ra.
thiên sơn
732原名千華山,又稱積翠山、千朵蓮花山。位於遼東省鞍山市東二十公里處。海拔七百餘公尺,面積三百餘平方公里。山中奇峰迭起,塔寺棋布,山巒凡九百九十九座,以其近千,故稱千山,為東北三大名山之一。以仙人臺為第一高峰,五佛頂為第二高峰。自古有「無峰不奇,無石不峭,無寺不古」之譽。山中除以峰巒奇秀著稱外,尚有遼金以來名勝古跡多處。隋、唐以降,在此建有「九宮、八觀、五大禪林、十大道觀和十二庵」,其中以五大禪林和十大道觀最著名。五大禪林為香巖、祖越、龍泉、中會、大安,均創建於宋景德年間(1004~1007),以龍泉寺為巨擘。大安、中會二寺建築極為古雅,兩寺之間,復有懸崖羅漢洞之勝;祖越寺背後斷崖上鐫有「獨鎮群峽」四字,香巖寺旁有唐太宗所建之古碑。龍泉寺之石門高大,門僅容身,門內豁然開朗,殿宇壯麗,樓閣連天,清高宗曾駐蹕於此,寺中原有墨寶甚多,然迭遭兵亂,今已殆盡無餘。
thiên sư
1355<一>佛陀十號之一。〔菩薩本業經〕 <二>天子之師。佛祖統紀卷五十一(大四九‧四五四上):「沙門一行,號稱天師。」
; 1) Thầy dạy của vua: Preceptor of the emperor. 2) Danh hiệu của Sư Nhất Hành: A title of the monk I-Hsing. 3) Danh hiệu của giáo chủ Lão Giáo: A title of Taoist Pope.
; (天師) I. Thiên Sư. Một trong 10 hiệu của đức Phật. II. Thiên Sư. Thầy của Thiên tử. Phật tổ thống kỉ quyển 51 (Đại 49, 454 thượng) nói: Sa mônNhất hạnh hiệu là Thiên sư.
thiên sư đạo
1355即五斗米道,其開祖張陵自稱天師,故又稱天師道。北魏時寇謙之改良五斗米道,加入佛教儀禮,提倡新天師道,頗見重於太武帝。(參閱「五斗米道」1070)
; (天師道) Chỉ cho Ngũ đẩu mễ đạo, tổ khai sáng là Trương lăng, vì ông này tự xưng là Thiên sư nên gọi là Thiên sư đạo.
Thiên sứ
天使; S: devadūta; nghĩa là »Sứ giả của chư thiên«; |Danh từ này được dùng để chỉ Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Các Thiên sứ này có nhiệm vụ giúp đỡ, nhắc nhở loài người nhận thức được tính chất Vô thường và Khổ đau của cuộc sống, tìm con đường giải thoát.
thiên sứ
1349指閻魔王之使者。天者自然之義,以發自自然之業道而警醒世人,故譬之為天使。正法念處經卷十九舉出老、病、死等三天使。佛說閻羅王五天使者經則舉出生、老、病、死、王法之牢獄等五天使,亦稱為五大使者。〔起世經卷四〕(參閱「五大使者」1058)
; DŪta (S), Deva messenger.
; Divine messengers, especially those of Yama; also his tam thiên sứ old age, sickness and death.
; Deva-messegers—Divine (heaven) messengers, especially those of Yama—See Tam Thiên Sứ and Ngũ Đại Sứ Giả.
; (天使) Chỉ cho sứ giả của vua Diêm ma. Thiên nghĩa là tự nhiên, vì xuất phát từ nghiệp đạo tự nhiên để cảnh tỉnh người đời, cho nênđượcví dụ là Thiên sứ. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 19 nêu 3 Thiên sứ là: Lão, bệnh và tử. Kinh Phật thuyết Diêm ma vương ngũ thiên sứ giả thì nêu ra 5 Thiên sứ là: Sinh, lão, bệnh, tử và vương pháp lao ngục, cũng gọi là Ngũ đại sứ giả.
thiên tai
Calamity—Disaster.
thiên thai
The T'ien T'ai or Heavenly terrace mountain.
thiên thai bát giáo
See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.
thiên thai bát giáo đại ý
(天臺八教大意) Cũng gọi Bát giáo đại ý. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Quán đính soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này trình bày đại cương về 8 giáo(4 giáo hóa nghi và 4 giáo hóa pháp), trong giáo phán của tông Thiên thai. Trước hết, phối hợp 4 giáo hóa nghi với 5 thời như Hoa nghiêm... và nói sơ qua về sự phối hợp ấy; sau đó là nói về danh nghĩa, căn cơ, hành vị, đắc quả của 4 giáo hóa pháp, nói về 4 môn quán hành và quán pháp 10 thừa, đồng thời, nói rõ về sự thông, biệt và quyền thực... của 5 thời.
Thiên Thai bát giáo đại ý 天台八教大意
[ja] テンダイハッキョウダイイ Tendai hakkyō daii ||| Tiantai bajiao dayi; 1 fasc., by Guanding 灌頂. T 1930.46.769a-773b. Giới (c: Tiantai bajiao dayi; 1 quyển, của Quán Đảnh (灌頂c: Guanding).
thiên thai cửu tổ
Chín vị Tổ liên tiếp của Tông Thiên Thai—The sucession of the nine founders of the T'ien-T'ai Sect—The nine patriarchs of the T'ien-T'ai Sect: 1) Long Thọ: Long Thọ được xem là Cao Tổ của tông Thiên Thai—Nagarjuna was considered as the founder of the T'ien-T'ai School—See Nagarjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Huệ Văn (505-577): Nhị Tổ—Hui-Wen—See Huệ Văn. 3) Huệ Tư: Tam Tổ Huệ Tư—Hui-Su—See Huệ Tư. 4) Trí Giả: Tứ Tổ Trí Khải—Chih-Chê (Chih-I)—See Trí Khải. 5) Quán Đảnh: Ngũ Tổ Quán Đảnh—Kuan-Ting—See Quán Đảnh (3). 6) Pháp Hoa: Lục Tổ Pháp Hoa—Fa-Hua. 7) Thiên Cung: Thất Tổ Thiên Cung—T'ien-Kung. 8) Tả Khê: Bát Tổ Tả Khê—Tso-Ch'i. 9) Trạm Nhiên: Cửu Tổ Trạm Nhiên—Chan-Jan—See Trạm Nhiên.
; (天臺九祖) Chỉ cho 9 vịTổ của tông Thiên thai, đó là: Tổ thứ nhất bồ tát Long thụ, tổ thứ 2 Bắc tề Tuệ văn, tổ thứ 3 Nam nhạc Tuệ tư, tổ thứ 4 Thiên thai Trí khải, tổ thứ 5 Chương an Quán đính, tổ thứ 6 Pháp hoa Trí uy, tổ thứ 7 Thiên cung Tuệ uy, tổ thứ 8 Tả khê Huyền lãng và tổ thứ 9 Kinh khê Trạm nhiên. Bồ tát Long thụ tuy sinh ở Ấn độ, nhưng ngài Tuệ văn đời Bắc Tề y cứ vào luận Trung quán của Bồ tát để chứng minh diệu chỉ Nhất tâm tam quán, cho nên thờ Bồ tát làm vị Tổ thứ nhất. Tuy nhiên, cũng có khi gọi ngài Tuệ văn đời Bắc Tề là Sơ tổ tông Thiên thai, lí do là vìbồ tát Long thụ là người Ấn độ cho nên không được liệt vào số các Tổ.
thiên thai cửu tổ truyện
(天臺九祖傳) Truyện kí, 1 quyển, do sa môn Sĩ hành biên soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này trình bày sơ lược truyện của 9 đời Tổ sư tông Thiên thai là Cao tổ Long thụ người Ấn độ, Nhị tổ Tuệ văn đời Bắc Tề, Tam tổ Tuệ tư ở Nam nhạc, Tứ tổ Thiên thai Trí khải, Ngũ tổ Chương an Quán đính, Lục tổ Pháp hoa Trí uy, Thất tổ Thiên cung Tuệ uy, Bát tổ Tả khê Huyền lãng và Cửu tổ là Kinh khê Trạm nhiên.
thiên thai hóa nghi tứ giáo
Bốn giáo pháp được định nghĩa bởi tông Thiên Thai—The four modes of teaching, defined by the T'ien-T'ai: 1) Đốn Giáo: Direct Teaching. 2) Tiệm Giáo: Gradual Teaching. 3) Mật Giáo: Esoteric Teaching. 4) Bất Định Giáo: Indefinite Teaching.
thiên thai hóa pháp tứ giáo
The four periods of teaching. 1) Tạng Giáo: Tạng Giáo Tiểu Thừa—The Tripitaka Teaching, or the Pitaka School was that of Hinayana. 2) Thông Giáo: Thông Giáo là giai đoạn phát triển đầu tiên của Phật Giáo Đại Thừa với đầy đủ Tam Thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát). Giáo thuyết triển khai của Thông giáo nối liền Thông Giáo với Biệt Giáo và Viên Giáo—Interrelated Teaching, or intermediate school, was the first stage of Mahayana, having in it elements of all the three vehicles (sravaka, pratyekabuddha, and bodhisattva). Its developing doctrine linked it with Hinayana on the one hand and on the other hand with the two further developments of the “separate” or “differentiated” Mahayana teaching, and perfect teaching. 3) Biệt Giáo: Differentiated Teaching. 4) Viên Giáo: Tên khác của Bí Mật giáo—Complete, Perfect, or Final Teaching; a name for the esoteric sect.
thiên thai luật
Luật của tông Thiên Thai hay còn gọi là Đại Thừa Viên Đốn Giới—The laws (which are ascribed as the Mahayana perfect and immediate moral precepts) of the T'ien-T'ai sect as given in: 1) Luật đã được Phật nói tới trong Kinh Pháp Hoa: The commandments which the Buddha mentioned in the Lotus Sutra. 2) Mười Giới trọng: The ten primary commandments in the Brahma's Net Sutra—See Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng. 3) Bốn Mươi Tám Giới Khinh (Kinh Phạm Võng): Forty-eight secondary commandments of the Brahma's net Sutra (Brahmajala)—See Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
thiên thai ngũ hối
(天臺五悔) Cũng gọi Lục thời ngũ hối. Chỉ cho 5 pháp môn mà hành giả tông Thiên thai ngày đêm 6 thời tu tập để sám hối cầu diệt tội sinh phúc. Pháp tu này do ngài Trí khải y cứ vào kinh Di lặc vấn, kinh Chiêm sát, kinh Phổ hiền quán... mà lập ra. Đó là: 1. Sám hối: Phát lộ và hối cải các tội lỗi mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý đã tạo ra từ vô thủy đến nay. 2. Khuyến thỉnh: Khuyến thỉnh chư Phật trong 10 phương trụ lâu ở thế gian và thường chuyển bánh xe pháp để cứu độ chúng sinh. 3. Tùy hỉ: Trừ bỏ các ý niệm ganh ghét, khen ngợi tất cả các thiện căn của mình và người đã tu tập được. 4. Hồi hướng: Đem tất cả thiện căn của mình hồi hướng về Bồ đề. 5. Phát nguyện: Phát 4 thệ nguyện lớn để thể hiện 4 hạnh nói trên thành sự thật. Năm pháp trên đây đều là các pháp hối tội diệt ác, cho nên đều gọi là Hối pháp. Tông Thiên thai dùng Ngũ hối làm trợ duyên cho việc tu hành Pháp hoa. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 7, phần cuối thì ngày đêm 6 thời phải tu 5 pháp này. Sám hối có năng lực phá được tội nghiệp đại ác, Khuyến thỉnh phá được tội phỉ báng pháp, Tùy hỉ phá được tội ghen ghét, Hồi hướng thì phá được tội chấp các Hữu (sở hữu), công đức có được không thể hạn lượng. Phần nhiều đã bị nắng mưa, sương gióxói mòn, chỉ còn vài mươi pho trong chùa trên sườn núi cheo leo, bộ diện chỉ còn lờ mờ khó phân biệt được. Trên sườn Hoàng thạch của núi Thiên Phật, vài nơi còn những pho tượng đá khắc tạo vào thời Bắc Ngụy và 1 pho tượng Phật rất lớn được tạo lập vào đời Đường, rất có ý nghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật.
thiên thai ngũ thời
(天臺五時) Đại sư Trí Giả tông Thiên Thai dùng ví dụ Mặt trời chiếu soi muôn vật để chia thánh giáo trong 1 đời giáo hóa của Phật làm 5 thời, gọi là Thiên thai ngũ thời. Đó là: 1. Thời Hoa nghiêm: Theo tên kinh mà lập danh. Đầu tiên, đức Như lai nói Hoa nghiêm cho những người mà căn cơ Đại thừa đã thuần thục nghe, giống như mặt trời mới mọc chiếu trên núi cao. Thời này nói về pháp giới vô tận, tính hải viên dung, không hữu đều hiển, sắc-tâm đều nhập, lặng lẽ sâu thẳm trùm hải ấn(ví dụ Phật trí), hiện cõi nước trên đầu lông, dùng thời kinh này hóa độ hàng Bồ tát Đại thừa. 2. Thời Lộc uyển: Căn cứ vào địa điểm mà lập danh. Nghĩa là sau thời Hoa nghiêm, Như lai giảng nói kinh A hàm, như lúc mặt trời chiếu vào hang tối. Thời này, Như lai vì hàng Tiểu thừa đối với đại pháp Hoa nghiêm như điếc, như mù, không nghe, không thấy, cho nên ẩn đi đại hóa mà thi hành tiểu hóa, nói pháp Tứ đế, giảng nói kinh A hàm trong vườn Lộc uyển. 3. Thời Phương đẳng: Theo pháp được nói mà lập danh. Phương là rộng lớn bao trùm khắp hết các căn cơ; Đẳng là nói chung cả 4 giáo(Tạng, Thông, Biệt, Viên). Sau thời Lộc uyển, Như lai nói các kinh Phương đẳng, như lúc mặt trời chiếu trên đồng bằng. Ở vườn Lộc uyển, Như lai nói pháp Tiểu thừa, hàng Nhị thừa mới được chút ít đã cho là đủ, Như lai bèn giả ra cư sĩ Duy ma để quở trách, khiến cho họ hổ thẹn Tiểu thừa mà mến mộ Đại pháp, cho nên giảng nói kinh Duy ma, kinh Lăng già... 4. Thời Bát nhã: Căn cứ vào tên kinh mà lập danh. Sau thời Phương đẳng, Như lai nói kinh Bát nhã, như lúc mặt trời chiếu vào giờ Tị (9-11 giờ), Tiểu thừađã bị chê trách, hồi tâm hướng Đại, nhưng tình chấp vẫn chưa dứt liền, Như lai bèn nói pháp Bát nhã không tuệ để rửa sạch tình chấp ấy. 5. Thời Pháp hoa Niết bàn: Căn cứ vào kinh để lập danh. Nghĩa là sau thời Bát nhã, Như lai chính thức giảng nói kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn, như mặt trời chiếu đúng ngọ. Ở 4 thời giáo trước, Như lai đã điều phục các căn cơ thuần thục, cho nên trong hội Linh sơn, đức Như lai giảng thuyết xứng tính, khiến từ quyền (tạm thời) vào thực(chân thật), rõ vọng tức chân, nói về tuổi thọ lâu dài, hiển bày sự xa thẳm của Chí đạo, thượng trung hạ căn đều được thụ kí, đây chính là lí do đức Như lai tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Tuy nhiên vẫn còn các căn cơ khác nên đức Phật lại nói kinh Niết bàn để thu nhặt hết, không bỏ sót. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
thiên thai ngũ thời bát giáo
(Five Periods and Eight Teachings of the T'ien T'ai school)—Đây là cách xếp loại những lời Phật dạy theo quan điểm của phái Thiên Thai, do Trí Giả Đại Sư người Trung Quốc thiết lập. Phái Thiên Thai, học thuyết dựa vào Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và thừa nhận Ngài Long Thọ Bồ tát làm trưởng lão đầu tiên của mình. Trường phái nầy lợi dụng tất cả mọi phương tiện nhằm đạt tới đại giác. Qua việc phân loại tiến trình giảng kinh và học thuyết Phật thành năm thời kỳ và Tám Giáo Lý (bốn loại giáo lý cộng thêm bốn phương pháp giảng giải) chứng tỏ trường phái nầy hệ thống hóa sự thuyết giảng của Phật—A classification of the Buddha's teachings from the standpoint of the T'ien-T'ai sect, made by its Chinese founder Chih-I. The school of Celestial Platform of which doctrine is based on the Lotus Sutra and sees Nagarjuna as its first patriarch. This sect takes advantage of all expedients to practice to attain enlightenment. The classification of sutras and the teachings of Buddha into five periods (or five stages) and eight teachings (four doctrines plus four methods of expounding them) represents and attempt to systematize the teachings of Buddha: A) Năm Thời Kỳ, trong đó thời Hoa Nghiêm kéo dài 21 ngày, thời A Hàm kéo dài 12 năm, thời Phương Quảng kéo dài 8 năm, thời Bát Nhã kéo dài 22 năm, và thời Niết Bàn kéo dài 8 năm—Five Periods in which the Avatamsaka period lasted for twenty-one days, the Agama period for twelve years, the Vaipulya period for eight years, the Prajna period for twenty-two years, and the Nirvana period for eight years: 1) Thời kỳ Hoa Nghiêm: Thời Hoa Nghiêm không phải là thuần viên vì nó gồm cả biệt giáo. Thời kỳ nầy kéo dài ba tuần lễ và Phật đã thuyết giảng ngay sau khi Ngài đạt được đại giác. Với giáo thuyết nầy, Đức Phật muốn đánh thức các đệ tử của Ngài, nhưng vì giáo pháp quá thậm thâm nên đa phần các đệ tử của Ngài đã không hiểu được những lời thuyết giảng nầy, tức là ý tưởng cho rằng vũ trụ là biểu hiện của cái tuyệt đối. Nói chung, giáo lý được giảng dạy trong thời kỳ nầy là pháp tự chứng của Phật trong sự đại giác của Ngài, nghĩa là khai thị về sự giác ngộ của Ngài. Thính chúng không thể thấu triệt nổi nên họ như câm như điếc—The Time of the Wreath is not yet pure 'round' because it includes the Distinct Doctrine. The period of the Buddhavatamsaka-Sutra, which lasted for three weeks and the Buddha taught immediately after his enlightenment. With this teaching, the Buddha awoke his disciples to the greatness of Buddhism; however, it was too profound for them to grasp and most of his disciples did not understand the principal idea of the sutra, that the universe is the expression of the absolute. Generally speaking, the first period was was the Time of Wreath. The doctrine taught in this period was what the Buddha had conceived in his Great Enlightenment, i.e., the elucidation of his Enlightenment itself. His disciples could not understand him at all and they stood as if they were “deaf and dumb.” 2) Thời kỳ A Hàm: Thời kỳ thứ hai còn gọi là thời Lộc Uyển. Thời Lộc Uyển chỉ phiến diện vì chỉ giảng các kiến giải Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật thấy rằng không đệ tử nào của Ngài sẳn sàng tiếp nhận và hiểu nổi kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật bèn giảng các kinh A Hàm nguyên thủy để khế hợp với những kẻ căn tánh thấp kém. Chúng đệ tử của Ngài bây giờ có thể tuân theo lời dạy của Ngài và thực hành một cách xứng lý để đạt được quả vị A La Hán. Thời kỳ nầy còn được gọi là thời dụ dẫn, tức là thời kỳ mà mỗi người được dẫn dụ để đi đến giáo lý cao hơn. Trong giai đoạn nầy, Đức Phật không dạy toàn bộ giáo điển nữa, mà Ngài chỉ dạy những gì mà các môn đồ có thể hiểu được. Ngài trình bày về khổ, không, vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo và Thập nhị nhân duyên, vân vân, nhằm giúp chúng sanh giải thoát khỏi tam đồ lục đạo. Giai đoạn nầy kéo dài 12 năm. Giáo thuyết nầy tương xứng với giáo thuyết của Phật giáo Nguyên Thủy—The second period, also called the “Time of the Deer Park.” The Time of the Deer Park is only one-sided as it teaches only Hinayanistic views. Perceiving that his disciples were not yet ready for the teachings of the Avatamsaka Sutra, the Buddha next preached the early Agamas to suit the people of the inferior capacity. His disciples were now able to follow his teaching and practiced accordingly in order to attain the fruition of arhat or saintly position. This period is also called the Time of Inducement, or a period in which the people were attracted to the higher doctrine. In the period of the Agama-Sutra. In this period, the Buddha did not teach the complete truth, but only what his disciples could understand. He presented the truths of suffering, emptiness, impermanence, egolessness, the four noble truths, the eightfold noble path and conditioned arising, etc., which help free people from the three realms and six paths. This phase lasted twelve years. The teachings in this period correspond to the Theravada teachings. 3) Thời kỳ Phương Quảng hay thời kỳ phôi thai của Phật giáo Đại Thừa: Thời Phương Đẳng giảng cùng lúc cả bốn giáo thuyết nhưng vẫn còn tương đối. Trong giai đoạn kéo dài tám năm nầy, Đức Phật bác bỏ sự luyến chấp vào Tiểu Thừa và hướng dẫn đệ tử đi vào nẻo Đại Thừa. Đức Phật bắt đầu thuyết giảng về Đại thừa và tính ưu việt của Bồ tát, cũng như làm sáng tỏ sự thống nhất giữa Phật và người, giữa cái tuyệt đối và tương đối. Đây là thời kỳ mà những người Tiểu Thừa quy đầu sang giáo lý Đại Thừa và vì mục đích nầy mà Đức Phật đã giảng các kinh Phương Đẳng, tức triển khai, kinh Đại Nhật Như Lai và kinh Duy Ma Cật. Vì Phật thường hay khiển trách các vị La Hán do tà kiến hay thiên kiến của họ, nên thời kỳ nầy còn được gọi là thời “Đàn Ha.” Các vị Tiểu Thừa, theo giảng luận của Phật, thức tỉnh về những thiên kiến của mình và học hỏi để thấy giá trị Đại Thừa—The period of the Vaipulya-Sutra or the period of the introductory Mahayana. The Time of Development teaches all four doctrines together and therefore is still relative. In this eight-year period, the Buddha taught the first level of the Mahayana. During this phase the Buddha refuted his disciples' attachment to the Lesser Vehicle and directed them toward provisional Mahayana. He stressed the superiority of a bodhisattva. He clarified the unity of Buddha and sentient beings, of absolute and relative. This was the time when the Hinayanistic people were converted to the Mahayana doctrine and for that purpose the Buddha preached what we call “Vaipulya” or developed texts, Maha-Vairocana and Vimalakirti Sutras. As the Buddha often rebuked the arhats for their wrong or short-sighted views, this period is called the Time of Rebuke. The Hinayanists, after the Buddha's reasoning, became aware of the short-sightedness and learned to appreciate Mahayana. 4) Thời kỳ Bát Nhã hay Liên Hoa: Thời Bát Nhã chủ yếu giảng Viên giáo nhưng còn liên hệ Thông giáo và Biệt giáo. Do đó nó chưa hoàn toàn viên mãn. Trong 22 năm của thời kỳ nầy, Đức Phật thuyết giảng giáo pháp Đại Thừa ở cấp cao hơn và bác bỏ sự luyến chấp Tiểu Đại của các hàng đệ tử. Đức Phật đã giảng về tính hư không trong Kinh Bát Nhã. Trong thời kỳ nầy, Đức Phật giảng thuyết kinh Bát Nhã và mọi ý niệm biện biệt và chấp thủ đều bị quyết liệt loại bỏ. Bởi vậy, nó được gọi là thời “Đào Thải.” Suốt trong thời kỳ nầy, giáo lý về “không” được giảng dạy, nhưng chính “không” lại bị phủ nhận. Do đó, thời Bát Nhã cũng được gọi là thời “Hội Nhất Thiết Pháp,” nghĩa là bác bỏ mọi phân tích và thống nhất chúng lại—The period of Prajnaparamita-Sutra or Lotus-Sutra. The Time of Wisdom mainly teaches the Round Doctrine and yet is linked with the Common and Distinct Doctrines. Therefore, it is not quite perfect or complete. This phase lasted twenty-two years, in which the Buddha expounded a higher level of provisional Mahayana and refuted his disciples' attachment to the distinction between Theravada and Mahayana by teaching the doctrine non-substantiality or emptiness. He taught the teachings of shunyata in the Prajnaparamita-sutra, and all the ideas of distinction and acquisition were mercilessly rejected. It is therefore, called the Tome of Selection. During this period, the doctrine of “Void” was taught but the “Void” itself was again negated. In the end everything reverts to the ultimate Void. So the time of Priajna was also called the Time of Exploring and Uniting of the Dharmas, denying all analysis and unifying them all in one. 5) Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn: Trong tám năm cuối đời, Đức Phật thuyết giảng trực tiếp từ những kinh nghiệm mà Ngài đã giác ngộ. Ngài đã giảng về tính đồng nhứt tuyệt đối giữa các mặt đối lập và về sự hạn hẹp của Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) nên Ngài đã chỉ dạy cách hòa lẫn nhau thành Nhất thừa (một cỗ xe duy nhất): Phật thừa. Thời kỳ nầy còn gọi là thời Pháp Hoa. Trong thời kỳ nầy, sự truy cứu hay phân tích và dung hợp về các học thuyết được giảng dạy. Quan điểm về Tam thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát có thể đạt được Thánh quả chỉ là một giáo thuyết “khai mở” tạm thời để cuối cùng cả ba đều được “hội” về Phật Thừa. Như thế thời thứ năm đặc biệt được gọi là thời “Khai Hội.” Nhân duyên xuất hiện ở thế gian của Phật là cứu độ tất cả chúng sanh và nhân duyên ấy chỉ có thể được hoàn thành bởi Kinh Pháp Hoa. Do đó Pháp Hoa là giáo lý rốt ráo trong tất cả những giáo lý của Phật, và là vua của tất cả các kinh. Thời kỳ Pháp Hoa là thời kỳ thuần “Viên” và tối thượng. Vì ở đây nhân duyên xuất hiện thế gian của Phật được biểu lộ đầy đủ. Kinh phụ thuộc, Niết Bàn, tóm tắt những gì Phật đã dạy trong suốt cả cuộc đời của Ngài, nghĩa là Tam thừa và Tứ giáo đều được xóa bỏ do hội tam thừa về nhất thừa và hợp tứ giáo thành viên giáo cứu cánh. Như vậy, tất cả giáo lý của Phật sau cùng đều quy tụ vào Pháp Hoa mà tông Thiên Thai coi như là giáo lý tối thượng của Phật giáo—The period of the Mahaparinirvana-Sutra, also called the period of the Lotus-Sutra. In the last eight years of his life, the Buddha taught directly from his own enlightenment, fully revealing the truth. He emphasized the absolute identity of all opposites and the temporary and provisional nature of the three vehicles of Sravakas, Pratyeka-buddhas and Bodhisattvas. Then he taught how to validify and merge them into a single vehicle or Ekayana or Buddhayana. This period was also called the Time of the Lotus. Here the exploring or analyzing and the uniting of the doctrines are taught. The view that the three Vehicles of Hearers, Self-Enlightened Ones and Would-Be Buddhas can obtain saintly fruition was only an exploring, a temporary teaching, but the three finally were united into one Vehicle, or “Uniting.” Thus the fifth period is especially called the Time of “Opening and Meeting.” The object of the appearance of the Buddha was to save all beings and that object can be accomplished only by the Lotus. Therefore, the Lotus is the ultimate doctrine among all the Buddha's teachings and is the king of all the sutras. The Time of the Lotus alone is purely 'round' and superlatively excellent, wherein the purpose of the Buddha's advent on earth is fully and completely expressed. The supplementary Nirvana Sutra summarizes that the Buddha had preached during his whole life, i.e., the three Vehicles and the four doctrines were dismissed by converting the three Vehicles to One Vehicle and combining the four doctrines with the one ultimate Round Doctrine. Thus, all teachings of the Buddha are absorbed finally into the Lotus which is considered by the T'ien-T'ai to be the Supreme Doctrine of all Buddhism. B) Bát giáo—Eight methods: Tám giáo còn gọi là Bát Giáo, tức là tám khoa hay tám phương thức giáo hóa của Phật dạy cho chúng sanh tu hành. Bát Giáo chia ra làm bốn về phương pháp và bốn về nội dung—Eight Doctrines are eight methods or means used by the Buddha to teach sentient beings to cultivate. Eight teachings, four of which are methods, and the rest four are contents: a) Bốn phương pháp—Four methods: 1) Đốn giáo—Instantaneous Doctrine: Ở đây Đức Phật tuyên thuyết về sở chứng của Ngài mà không cần đến phương tiện nào cả, đây là thời Hoa Nghiêm. Phương pháp đốn giáo nầy được những người thượng căn thượng trí áp dụng, vì những người nầy có khả năng hiểu được chân lý bằng trực giác. Đốn giáo là giáo pháp đốn ngộ hay ngộ cấp kỳ tức là pháp môn trực chỉ dành cho những hành giả thượng căn trong nhà Thiền—The Sudden (Abrupt) Doctrine, in which the Buddha preached what he had conceived without using any expediency, this is the time of the Wreath. This sudden method or the method of the Buddhavatamsaka-Sutra, which is to be used with the most talented students who understand the truth directly. Instantaneous or Sudden Doctrine is Dharma teachings which will lead to a fast awakening and enlightenment such as Zen Buddhism, reserved for those at the highest level of cultivators. 2) Tiệm giáo—Gradual or Deliberate Doctrine: Đức Phật dùng “Tiệm Giáo” dẫn dụ mọi người đi lần vào sự tư duy sâu thẳm, dùng tất cả mọi phương tiện, đây là thời Lộc Uyển, Phương Đẳng và Bát Nhã. Phương pháp “Tiệm Giáo” nầy được đại đa số áp dụng vì nó đi từ thấp đến cao, từ căn bản đến phức tạp như Pháp Môn Tịnh Độ. Phương pháp nầy bao hàm các thời kỳ A Hàm, Phương Quảng và Bát Nhã—The Buddha utilized the “Gradual Doctrine” to induce people gradually into deeper thinking, using all sorts of measures, this is the time of the Deer Park, of Development and of Wisdom. The Gradual Doctrine teaches cultivators to gain enlightenment gradually from lower to higher levels such as the Pureland Dharma Door. This gradual method or the method of Agama, Vaipulya and Parinirvana-sutras. This method is utilized by the majority of people because it progresses from the elementary to more complex teachings. 3) Mật giáo—Esoteric Doctrine: Trên thực tế, đây là giáo lý bí mật bất định, nó không nhất định và biến thiên vì thính giả khuất lấp nhau bởi sức thần thông của Phật và mỗi người nghĩ rằng Phật chỉ giảng cho riêng mình mà thôi. Phương pháp bí truyền chỉ được Phật dùng khi nói riêng với một người và chỉ có người đó hiểu được. Khác với Thông giáo, Mật giáo dạy về nghĩa thâm mật của Phật giáo. Phương pháp dạy hành giả về cách bắt ấn, trì chú, tam mật tương ưng, tức thân thành Phật. Thân khẩu ý của hành giả tương ưng với thân khẩu ý của Phật—The Secret Teaching. In fact, it is a mystical indeterminate doctrine. It is indeterminate and varied because many a listener is concealed from another by the Buddha's supernatural power and each thinks that the Buddha is teaching him alone. Thus all hear separately and variously. Such indeterminacy exists from the time of the Wreath to the time of Wisdom. The secret method, which was used by the Buddha only when addressing to one person, in which case the Buddha was understood by this only person. Opposite to the Common Doctrine, this Dharma is passed on at a hidden level and has the characteristics of the deepest and most profound meanings of Buddhism. This doctrine teaches cultivators to recite mantras, make Buddha seals with hands, etc. If the three karmas of the cultivators become one with the Buddha, then the cultivators will attain Buddhahood. Meaning if the cultivators' Mind, Spech and Body is similar to that of the Buddha, then Buddhahood is attained. 4) Bất Định giáo—Indefinite or Indeterminate Doctrine: Giáo lý bất định, không bí mật mà Phật dùng khi có mặt nhiều đệ tử khác trình độ nhau, nhưng đều hiểu lời Phật giảng. Giáo pháp mà Phật tùy theo căn cơ nghi thuyết dạy, chớ không nhứt định là phải thuộc riêng về một căn cơ nào cả—The Indeterminate Doctrine, non-mystical indeterminate doctrine, in which though the students have different levels, they still understood his words in different ways (all listeners know that all are hearing together and yet they hear differently and understand vaiously). The Buddha used Indefinte Doctrine to teach sentient beings with different levels of understanding. b) Bốn nội dung—Four contents: 5) Tiểu Thừa hay Tạng Giáo—Pitaka Doctrine: Tạng giáo là các pháp môn tu học có dạy chung trong Tam Tạng kinh luật và luận. A Hàm và tất cả giáo lý Tiểu Thừa, như được thấy trong văn học Tỳ Bà Sa, thích hợp với Thanh văn và Duyên giác—The Doctrine of Tripitaka teaching (Scriptures) or Pitaka (Storage) Doctrine includes various Dharma Doors of cultivation taught to all in the Tripitaka or 'Three Storages.' (Sutra, Precept Pitaka, and Upadesa Pitaka or commentary of Sutra). Agamas or traditions of discourses and all Hinayana doctrines, such as those found in the Vaibhasika literature, appropriate for Sravakas and Pratyeka-buddhas. 6) Thông Giáo—Common Doctrine: Chung cho tất cả ba thừa và là giáo lý sơ cơ của Đại Thừa. Trong khi một vị sơ tâm Bồ Tát theo những tu tập như các vị trong tam thừa, thì một đại Bồ Tát thâm nhập cảnh giới của Biệt Giáo và Viên Giáo. Đây là giáo thuyết tổng quát, dành cho cả Tiểu lẫn Đại thừa, nhằm chỉ dạy cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát trong giai đoạn phát triển đầu tiên. Giáo pháp nầy dạy chung cho tất cả ba căn cơ thượng trung hạ và cả ba thừa Tiểu Trung Đại: The Doctrine Common to All or the connecting teaching. It is common to the three Vehicles and is elementary doctrine of Mahayana. While an inferior Bodhisattva follows the same practices as the people of the three Vehicles, a superior Bodhisattva will penetrate into “Distinct Doctrine” and “Doctrine of Perfection.” This general teaching, which is for both Hinayana and Mahayana. And is meant for Sravakas, Pratyeka-buddhas and Bodhisattvas in their first level of progress. The Common Doctrine or Apparent Doctrine refers to the teachings used collectively to reach all three levels of sentient beings High, Intermediate, and Low. 7) Biệt Giáo—Specific Doctrine: Đây là học thuyết thuần nhất Đại Thừa và chỉ dành riêng cho Bồ Tát. Tạng giáo và Thông giáo chỉ giảng về cái “không” phiến diện hay “thiên không,” Biệt giáo giảng về Trung Đạo, và do đó nó riêng biệt. Có người nói Biệt Giáo là pháp dạy riêng cho mỗi căn cơ hoặc Thượng, hoặc Trung, hoặc Hạ, cùng ba thừa, hoặc riêng cho Tiểu Thừa Thanh Văn, hoặc riêng cho Trung Thừa Duyên Giác, hoặc riêng cho Đại Thừa Bồ Tát—The Distinct Doctrine or special teaching for Mahayana Bodhisattvas. The Doctrine of Pitakas and the Doctrine Common to all teach the simple one-sided “Void” while this doctrine teaches the Middle Path, and, therefore, is distinct and separate. Someone says that Specific Doctrine include teachings geared specifically to each level of High, Intermediate, or Low of the three vehicles which include Sravakas or Lesser Vehicle, or Pratyeka-Buddhas or Intermediate Vehicle, or Mahayana Bodhisattvas or Greater Vehicle. 8) Viên giáo—Perfect Doctrine: Học thuyết hoàn hảo hay tròn đầy, thuyết giảng con đường giữa. Viên có nghĩa là toàn thiện, biến mãn, viên mãn, viên thông. Biệt giáo giảng về một “trung đạo” độc lập và cách biệt, và chỉ một phương tiện riêng biệt, còn Viên giáo là giáo pháp tròn đầy, giảng vể Trung Đạo của viên thông và quán triệt. Do đó, nó không phải là một trung đạo cách biệt, phiến diện, mà là một trung đạo thực thể, hoàn toàn hòa hợp , trên lý thuyết cũng như thực tế. Như thế “Viên” có nghĩa là một pháp chứa đựng tất cả các pháp, nghĩa là “Nhất tức nhất thiết và nhất thiết tức nhất.” Viên giáo còn gọi là “Đại Thừa Giáo Pháp Tối Thượng Thừa” như giáo pháp trong Kinh Hoa Nghiêm chỉ chuyên dạy cho các hàng Bố Tát Đại Sĩ Pháp Thân, từ Thập Trụ đến Thập Địa Bồ Tát—The complete, round teaching, or perfect teaching that of the Middle-Way. “Round” means perfection, all pervading, all fulfilling, all permeating. The Distinct Doctrine teaches an independent and separate Middle Path and is simple-separate mean, while the Round Doctrine, the most complete and penetrating which teaches the Middle Path of perfect permeation and mutual identification. Therefore, it is not a separate, one-sided Middle Path, but the Middle Path as noumenon, perfectly harmonious, theoretically and practically. Thus “round” means that one element contains all elements, i.e., the principle of “One is all and all is one.” The Perfect Doctrine is also called the ultimate teaching of Mahayana Buddhism. It is the most complete and penetrating teaching used to teach the Maha-Bodhisattvas, or Enlightened Beings striving to attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood, such as the teachings in the Avatamsaka Sutra, which were taught specifically for the Great Strength Dharma Body Maha-Bodhisattvas from Ten-Entrances to Ten-Grounds Maha-Bodhisattvas.
thiên thai nhị ứng thân
Tông Thiên Thai lập ra hai loại thân—T'ien-T'ai sect has the distinction of two kinds of nirmanakaya. 1) Thắng Ứng Thân: Superior or supernatural Nirmanakaya. 2) Liệt Ứng Thân: Inferior or natural Nirmanakaya.
thiên thai sơn
Mt. T'ien-t'ai.
; Núi Thiên Thai, nơi xuất phát của tông phái Thiên Thai. Tên Thiên Thai dùng để chỉ chân núi Tiên Hà Lĩnh, Thai Châu, miền Nam Trung Hoa, nơi có “Tam Đài Lục Tinh,” nơi mà Chih-I (Trí Khải) hay Đại Sư Thiên Thai đã xây dựng những tự viện và sáng lập ra tông phái nầy—The T'ien-T'ai or Heavenly Terrace mountain, T'ai-Chou, South China, the location of the T'ien-T'ai sect; its name is attributed to the “Three Stairs Six Stars” at the foot of Ursa Major, under which it is supposed to be, but more likely because of its height and appearance. It gives its name to a hsien in the Chekiang T'aichow prefecture, southwest of Ningpo. The monastery, or group of monasteries was founded there by Chih-I, who is known as the T'ien-T'ai Great Master.
; (天臺山) Cũng gọi Thiên thê sơn, Thai nhạc. Núi ở phía đông bắc dãy Phật hà lãnh sơn, phủ Thai châu (nay là huyện Thiên thai) tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Hình thể núi như đóa sen 8 cánh úp xuống, có 8 nhánh, 8 khe, Thượng thai, Trung thai, Hạ thai, giống như chòm sao Thai có 3 sao, vì thế gọi là Thiên thai. Núi này do 8 ngọn hợp thành, tức các ngọn: Đồng bách, Xích thành, Bộc bố, Phật lũng, Hương lô, La hán, Đông thương và Hoa đính, trong đó, ngọn Hoa đính cao 1136 mét, là ngọn cao nhất. Theo truyền thuyết, núi này tên cũ là Nam nhạc, con vua Linh vương nhà Chu là Thái tử Tấn đến đây ở, sau khi chết, hồn ông trở thành thần núi, báo mộng cho các quan tả hữu bảo đổi tên núi là Thiên thai sơn. Núi rất quanh co nhiều lớp, có các núi Chiêu hiền, Kim đôn..., các ngọn Trích tinh, Ngọc nữ..., các hang Bách trượng, Sư tử..., các động Lưu nguyễn, Đơn hà... ; các khe Náo, Tú..., các đầm Huệ trạch, Linh trạch, Bách trượng, các hồ Tuyền, Mặc... Còn có suối nước ngọt, suối Trí giả, suối Tích trượng, ao mực, ao phóng sinh, đá 500 La hán... từ xưa đã rất nổi tiếng. Đây cũng là nơi ở ẩn của các Đạo sĩ, ẩn sĩ như Ba di, Thúc tề, Bành tông, Nguyễn triệu, Hứa mại, Cát huyền, Cố hoan, Diệp pháp thiện, Tư mã Thừa trinh, Lã đồng tân, Trương tử dương... Tương truyền, Phật giáo đến núi này khoảng năm Xích ô (238-251) đời Ngô thời Tam quốc, đầu tiên xây chùa Thanh hóa, am Thúy bình, không bao lâu, có các ngài Chi độn, Vu pháp lan, Đàm quang, Trúc đàmdu... lần lượt sáng lập các chùa như chùa Thê quang, chùa Ẩn nhạc, chùa Trung nham... Về sau, ngài Pháp thuận sáng lập chùa Bộc bố, ngài Tuệ minh sáng lập chùa Ngọa Phật. Ngài Tăng hộ ở Thạch thành phát nguyện tạo lập tượng Phật Di lặc bằng đá, các ngài Tăng thục, Tăng hựu nối tiếp sự nghiệp này và đến năm Thiên giám 15 (516) đời Lương thì tượng được hoàn thành. Ngoài ra, ngài Trí đạt sáng lập chùa Thêthiền, tôn giả Thiên hoa xây chùa Khai nghiêm, ngài Tăng hựu cũng cất chùa Bạch nham. Đến năm Thái kiến thứ 7 (575) đời Trần Tuyên đế thuộc Nam triều, ngài Trí khải dựng chùa Tu thiền (sau gọi là chùa Thiền lâm) ở ngọn Phật lũng, từ đó chùa Tu thiền trở thành đạo tràng căn bản của tông Thiên thai. Lúc về già, ngài Trí khải được Tấn vương (vua Dạng đế nhà Tùy sau này) xây dựng Thiên thai sơn tự để ngài an trụ và vào niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605), vua ban biển hiệu Quốc Thanh Tự, lịch đại Tổ sư tông Thiên thai đều trụ ở chùa này. Sau lại xây thêm chùa Bình điền. Năm Trinh quán thứ 6 (632) đời Đường, ngài Quán đính nhập tịch ở chùa Quốc thanh. Về sau, có các ngài Trí việt, Phổ minh, Trí uy... nối tiếp nhau trụ trì chùa này. Tương truyền, khi ngài Phong can trụ ở Quốc thanh thì ngài Thập đắc làm điển tọa, lúc đó thi sĩ Hàn sơn trụ ở hang Hàn nham thường đến chùa này xin ăn, giao du rất thân mật với ngài Thập đắc, làm hơn 300 bài thơ kệ. Sau, các ngài Huyền lãng, Trạm nhiên kế tiếp nhau đến trụ ở chùa này. Năm Kiến trung thứ 3 (782), ngài Trạm nhiên thị tịch ở đạo tràng Phật lũng, các đệ tử xây tháp thờ toàn thân xá lợi của ngài ở góc phía nam khu tháp của ngài Trí khải. Năm Trinh nguyên 20 (804) đời Đường, các vị tăng người Nhật bản là Tối trừng,Nghĩa chân... đến Thiền viện Trí giả (chùa Chân giác) theo học giáo pháp tông Thiên thai nơi các ngài Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi về nước sáng lập tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản. Trong Pháp nạn Hội Xương (841-846), Vũ tông nhà Đường phá hoại Phật giáo, phần lớn chùa tháp ở núi Thiên thai bị hủy hoại. Thiền viện do sư Tối trừng của Nhật bản sáng lập trong chùa Thiền lâm nơi sư đã học Thiền với ngài Tiêu nhiên từ năm 804 cũng đã bị hoang phế. Sau, các ngài Viên trân, Viên giác đến Trung quốc lưu học xây dựng lại Thiền viện này và đặt tên là: Thiên thai sơn Quốc thanh tự Nhật bản quốc đại đức tăng viện(Tăng viện của các Đại đức Nhật bản ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai). Các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc du học phần nhiều thường lên chiêm bái núi Thiên thai. Trong các năm Long đức đời Hậu Lương, các ngài Đức thiều, Sư uẩn trụ ở Vân cư, nhận sự qui y của Ngô Việt vương và phục hưng lại các di tích cũ của ngài Trí khải. Từ cuối đời Đường về sau, Thiền tông hưng thịnh, cho nên các Thiền tự ở núi Thiên thai đặc biệt được xây cất rất nhiều. Vào thời Ngũ đại, các ngài Đức thiều, Nghĩa tịch phục hưng. Đến đời Tống, các ngài Tri lễ, Tuân thức dời trung tâm của giáo học Thiên thai đến núi Tứ minh, Tây hồ, về sau, núi Thiên thai dần dần suy vi. Đời Nguyên có ngài Vô kiến Tiên đổ trụ ở núi Thiên thai; đời Minh thì có các ngài Đàm ngạc, Tượng tiên Chân thỉnh, Dịch am Như thông, Nguyệt đình Minh đắc... trụ núi này. Nhưng đến khoảng các năm Hoằng trị, Chính đức đời Minh thì giáo tích của tông Thiên thai ở núi này hầu như đã suy diệt. Trong núi Thiên thai vốn có 72 ngôi chùa Phật, đến khoảng năm Vạn lịch đời Minh thì đã bị phá phân nửa, còn phân nửa. Hiện nay còn các chùa: Quốc thanh, Chân giác, Cao minh, Đại Phật, Hoa đính, Thượng phương quảng, Hạ phương quảng, Vạn niên, Bảo tướng... Trong đó, chùa Quốc thanh là đạo tràng căn bản, các điện đường còn nguyên vẹn, nổi tiếng nhất. Chùa Chân giác là nơi an táng ngài Tríkhải, trước tháp có 2 tòa tháp bằng đá, hiệu là Định tuệ chân thân tháp viện. Chùa Cao minh còn lưu giữ di tích ngài Trí khải giảng kinh Tịnh danh, hiệu là Trí giả U khê đạo tràng.Chùa Bảo tướng cũng gọi là chùa Xích thành, chùa Đại Phật là nơi ngài Trí khải thị tịch, thời Ngô Việt vương, ngài Đức thiều xây dựng điệnđường, hiệu là Bảo quốc Hoa nghiêm viện, đến đời Tống mới đổi tên như hiện nay. Trên đỉnh núi có ngôi tháp gạch gồm 7 tầng cao 20 trượng, do Vương phi Nhạc dương xây cất vào đời Lương, hiện nay chỉ còn 4 tầng. Ngoài ra, còn có 5 động là Phi hà, Ngọc kinh, Xan hà, Hoa dương và Tử dương. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.thượng; Lương cao tăng truyện Q.11, 13, 14; Quốc thanh bách lục Q.2, 3, 4; Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, Thiên thai sơn phương ngoại chí; Pháp hoa trì nghiệm kí Q.thượng; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 121-126; Chức phương điển 995-1000, 1002; Thiên thai hà tiêu Q.5, phần 4; Chi na Phật giáo sử tích bình giải Q.4].
thiên thai tam giáo
Ba giáo của Thiên Thai tông. Theo tông Thiên Thai thì giáo thuyết của Phật Thích Ca được chia làm ba loại—Three modes of Sakyamuni's teaching, according to the T'ien T'ai: (A) Đại Cương Tam Giáo: 1) Đốn giáo: Tức thì khai ngộ—The sudden or immediate teaching, by which the learner is taught the whole truth at once. 2) Tiệm giáo: Từ từ khai ngộ—The gradual teaching. 3) Bất định giáo: The undetermined or variable method whereby he is taught what he is capable of receiving. (B) Quyền Môn Tam Giáo: 1) Tiệm Giáo: Gradual Teaching. 2) Đốn Giáo Immediate Teaching. 3) Viên Giáo: Perfect teaching—The last being found in the final or complete doctrine of the Lotus Sutra. (C) 1) Tam Tạng Giáo: The Tripitaka doctrine or orthodox Hinayana. 2) Thông Giáo: Intermediate, or interrelated doctrine, such as Hinayana-cum-Mahayana. 3) Biệt Giáo: Differentiated or separated doctrine, such as the early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana.
; (天臺三教) Chỉ cho 3 giáo trong phán giáo của tông Thiên thai. Gồm 3 loại: 1. Đại cương tam giáo: Đốn giáo, Tiệm giáo và Bất định giáo. Ngoài Bí mật giáo trong 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai, 3 giáo này thu nhiếp các kinh trước khi kinh Pháp hoa xuất hiện. 2. Quyền môn tam giáo: Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo trong 4 giáo Hóa pháp. 3. Chỉ cho Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo: Tổng nhiếp giáo pháp 1 đời của đức Thích tôn. Viên giáo tức chỉ cho kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa kinh khoa chú Q.1, phần cuối].
thiên thai tam sinh
(天臺三生) Ba giai đoạn biểu thị tướng thành tựu Phật đạo do tông Thiên thai lập ra. Đó là: 1. Chủng: Gieo giống. Tức đầu tiên phải gieo giống thành Phật đắc đạo. 2. Thục: Chín mùi. Tức tu hành theo thứ tự cho đến thành thục. 3. Thoát: Giải thoát. Tức việc tu hành đã thành tựu, nhân viên quả mãn. Ba giai đoạn này hoặc phối hợpvớilâu xa, trung bình và đời này, hoặc lập trong1 đời, 1 niệm. Tam sinh chỉ hiển bày sự khác nhau giữa 3 giai đoạn mà thôi. [X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.1]. (xt. Chủng Thục Thoát).
thiên thai tam thời giáo
Theo tông Thiên Thai, giáo thuyết của Đức Phật có thể chia làm ba thời kỳ, thí, khai, và phế—According to the T'ien-T'ai sect, Buddha's teaching can be divided into three periods of bestowing, opening, and abrogating—See Thí Khai Phế.
thiên thai thiều quốc sư
Thiên Thai Thiều Quốc Sư là một Tăng sĩ đã phục hưng tông phái Thiên Thai bằng cách du hành sang Cao Ly để ghi chép lại Thiên Thai Tam Bộ còn giữ được nguyên bản của Ngài Trí Giả, rồi trở về xây dựng chùa chiền và chấn hưng tông phái. Ngài được Tiền Chu (960-997 sau Tây Lịch), lúc bấy giờ là vua của nước Ngô Việt mà kinh đô ở Hàng Châu phong cho ngài làm Quốc Sư—T'ien-T'ai Shao Kuo Shih, a Chekiang priest who revived the T'ien-T'ai sect by journeying to Korea, where the only copy of Chih-I's works existed, copied them, and returned to revive the T'ien-T'ai school. Ch'en-Shu (960-997 AD), ruler of Wu-Yueh, whose capital was at Hangchow, entitled him Imperial Teacher.
thiên thai thập tổ
Mười vị Tổ của tông phái Thiên Thai—The ten patriarchs of the T'ien-T'ai sect: 1) Từ tổ thứ nhất đến tổ thứ 9 đã nói trong Thiên Thai Cửu Tổ—From 1 to 9 already mentioned in the nine patriarchs of the T'ien-T'ai sect—See Thiên-Thai Cửu Tổ. 10) Tổ thứ mười của tông phái Thiên Thai là ngài Đạo Thúy. Ngài được xem là tổ thứ mười tại Nhật Bổn, vì ngài là người đã mang giáo pháp Thiên Thai truyền qua Nhật vào thế kỷ thứ chín và là thầy của Tuyền Giáo Đại Sư (sơ tổ tông Thiên Thai tại Nhật)—The ten patriarch was Tao-Sui. He was considered a patriarch in Japan, because he was the teacher of Dengyo Daishi who brought the Tendai system to that country in the ninth century.
thiên thai thập định
The T'ien-T'ai's ten fields of meditation or concentration—See Chỉ Quán Thập Định.
thiên thai tiểu chỉ quán
(天臺小止觀) Cũng gọi Đồng mông chỉ quán. Tác phẩm, 1 quyển, do Đại sư Thiên thai Trí khải soạn, có 2 loại bản, trong đó, bản Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu được thu vào Đại chính tạng tập 64. Tiểu chỉ quán là đối lại với Đại chỉ quán (tức bộ Ma ha chỉ quán 10 quyển). Sách này tuy nhỏ nhưng thuyết minh về yếu nghĩa của Chỉ quán, cho nên được gọi chung là Tiểu chỉ quán. Lạivìnhững điều đượcnói trong Ma ha chỉ quán phần nhiều sâu xa, kín nhiệm, còn Tiểu chỉ quán rất mộc mạc, bình dị nên gọi là Đồng mông (con trẻ cũng đọc được). Nội dung nói về tácphápvà dụng tâm tọa thiền, là cuốn sách chỉ nam về tọa thiền. Nội đề và soạn hiệu của Thiên thai chỉ quán có 2 loại: Một là Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu, do sa môn Trí khải chùa Tu thiền núi Thiên thai soạn; hai là Lược minh khai mông sơ học tọa thiền chỉ quán yếu môn, do Khải thiền sư núi Thiên thai giảng, sa môn nước Tề là Tịnh biện ghi lại. Hai sách trên tuy là cùng bản nhưng nội dungcó rất nhiều chỗ khác nhau và bản Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu được lưu hành rộng rãi hơn. [X. Tùy Thiên thaiTrí giả đại sư biệt truyện; Khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Duyệt tạng tri tân Q.39].
thiên thai truyện phật tâm ấn kí
(天臺傳佛心印記) Cũng gọi Phật tâm ấn kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoài tắc soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này thuyết minh về pháp Phật tâm ấn Tính cụ tính ác do tông Thiên thai truyền, đồng thời bài bác các nghĩa: Truyền riêng ngoài giáo, thấy tính thành Phật của Thiền tông; Định tính Nhị thừa của Tướng tông và Vô Phật tính của Tính tông. Sách chú thích có Thiên thai truyền Phật tâm ấn kí chú, 2 quyển, do ngài Truyền đăng soạn vào đời Minh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.24; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].
thiên thai trí giả
Trí Khải, his tự is Đức An and his surname is Trần, AD 538-597. Studying under Huệ Tư, he was greatly influenced by his teaching; and found in the Lotus sùtra, the real interpretation of Mahàyànism. In 575 he first came to Thiên Thai Sơn or Heavenly Terrace mountain and establish his school, which in turn was the foundation of important Buddhist shools in Korea and Japan.
Thiên Thai Tông
(天台宗, Tendai-shū): tên gọi của một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái lấy Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trí Khải (天台智者大師智顗, 538-597) của Trung Quốc làm vị Cao Tổ, lấy Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng (傳敎大師最澄, Saichō, 767-822) của Nhật làm Tông Tổ. Tông này còn được gọi là Pháp Hoa Viên Tông (法華圓宗) hay Thiên Thai Pháp Hoa Tông (天台法華宗). Chính vị tổ sư của tông này là Trí Khải đã từng sống ở núi Thiên Thai, nên lấy tên núi này đặt tên cho tông phái của mình. Tông này dựa trên tông chỉ của Pháp Hoa Kinh, lấy Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎) làm giáo tướng, rồi lấy Thập Thừa Quán Pháp (十乘觀法), Nhất Niệm Tam Thiên (一念三千), Thập Giới Hỗ Cụ (十界互具), Chư Pháp Thật Tướng (諸法實相) làm quán tâm mà tu tập. Ở Trung Quốc,trước thời Trí Khải có Huệ Văn (慧文) và Huệ Tư (慧思), sau này Trí Khải đã để lại rất nhiều trước tác như Tam Đại Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (三大部法華玄義), Pháp Hoa Văn Cú(法華文句), Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀),v.v. Tiếp theo đó trải qua các đời của Quán Đảnh (觀頂), Trí Uy (智威), Huệ Uy (慧 威), Huyền Lãng (玄朗), cho đến Lục Tổ Kinh Khê Trạm Nhiên (湛然) đã tiến hành chú thích rất nhiều kinh điển và làm cho tông này hưng thịnh tột độ. Đến dưới thời vị tổ thứ 12 là Thanh Tủng (清竦) có hai nhân vật Nghĩa Tịch (義寂) và Chí Nhân (志因); từ đó tông này chia thành 2 phái là Sơn Gia (山家) và Sơn Ngoại (山外). Phái Sơn Gia có Trí Lễ (智禮) xuất hiện và đã nỗ lực phục hưng tông phong. Đối với trường hợp Nhật Bản thì cả 3 bộ kinh luận của Thiên Thai Đại Sư đều được truyền vào nhưng không phát triển cho mấy; sau này Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng mới học giáo lý này, sang nhà Đường cầu pháp và trực tiếp được chân truyền, vì thế ông được xem như là vị tổ khai sáng ra Thiên Thai Tông Nhật Bản. Đối với Thiên Thai Tông của Nhật, ngoài Thiên Thai Viên Giáo ra còn có sự hợp nhất của Thiền pháp, Viên Đốn Giới, và Mật Giáo nữa. Đây chính là đặc thù nỗi bật nhất của Thiên Thai Tông Nhật Bản, khác với Thiên Thai Tông của Trung Quốc. Đặc biệt từ sau thời của Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) và Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (智証大師圓珍) thì yếu tố mang tính Mật Giáolại càng mạnh thêm. Tuy nhiên, về sau Phái Sơn Môn (山門派) của Từ Giác (慈覺) lấy trung tâm là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) trên Tỷ Duệ Sơn, còn Phái Tự Môn (寺門派) của Trí Chứng (智証) lấy Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) làm trung tâm, bắt đầu phân liệt và tranh giành nhau thế lực. Bên cạnh đó lại xuất hiện Thiên Thai Luật Tông (天台律宗) của Phái Chơn Thạnh (眞盛派), bắt đầu tách riêng ra khỏi sơn môn vào cuối thế kỷ thứ 15. Chính Đạo Nguyên (道元, Dōgen), Vinh Tây (榮西, Eisai), v.v., tổ sư khai sáng các tông phái Thiền của Nhật sau này, cũng đã từng xuất gia theo Thiên Thai Tông, và cũng từ đây mà chuyển hướng sang Thiền. Sau khi vị Tông Tổ qua đời, nội bộ mâu thuẩn nhau và các dòng phái phân chia rõ rệt. Trong đó, có ba dòng căn bản nhất của Thai Mật là Dòng Căn Bản Đại Sư (根本大師流), Dòng Từ Giác Đại Sư (慈覺大師流) và Dòng Trí Chứng Đại Sư (智証大師流). Trong ba dòng trên thì dòng của Từ Giác Đại Sư là dòng hưng thạnh nhất, rồi từ hai dòng nầy lại xuất hiện ra hai nhân vật nổi tiếng là Hoàng Khánh (皇慶) ở Đông Tháp Nam Cốc và Giác Siêu (覺超) ở Hoành Xuyên (横川). Sau nầy, hai vị nầy lại phân chia thành hai dòng khác gọi là Dòng Cốc (谷流) và Dòng Xuyên (川流). rồi từ hai dòng nầy, lại phân chia thành 13 chi nhánh nhỏ khác, gọi chung là 13 dòng Thai Mật. Đồng thời với sự phân phái mạnh mẽ của Thiên Thai Mật Giáo thì Thiên Thai Viên Giáo vốn lấy giáo học của vị Tông Tổ làm trung tâm đã phát triển rõ rệt. Khởi đầu là hai vị môn hạ tuyệt bích của Từ Huệ Đại Sư Lương Nguyên (良源) là Huệ Tâm Viện Nguyên Tín (慧心院源信) và Đàn Na Viện Giác Vận (檀那院覺運). Họ lấy tên mình đặt cho hai dòng phái là Dòng Huệ Tâm và Đàn Na. Hai dòng nầy lại phân chia thành 8 dòng khác, gọi là Huệ Đàn Bát Lưu (慧檀八流). Theo bản Tôn Giáo Niên Giám (宗敎年鑑, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản, hiện tại trong hệ Thiên Thai có các tông phái như sau: (1) Thiên Thai Tông (天台宗, 3,349 ngôi chùa), (2) Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗, 235 ngôi chùa), (3) Thiên Thai Chơn Thạnh Tông (天台眞盛宗, 426 ngôi chùa), (4) Bổn Sơn Tu Nghiệm Tông (本山修驗宗, 218 ngôi chùa), (5) Kim Phong Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (金峰山修驗本宗, 211 ngôi chùa), (6) Hòa Tông (和宗, 29 ngôi chùa), (7) Phấn Hà Quan Âm Tông (粉河觀音宗, 5 ngôi chùa), (8) Vũ Hắc Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (羽黑山修驗本宗, 23 ngôi chùa), (9) Thánh Quan Âm Tông (聖觀音宗, 26 ngôi chùa). Một số ngôi chùa trung tâm nổi tiếng của tông này là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji, Shiga-ken), Trung Tôn Tự (中尊寺, Chūson-ji, Iwate-ken), Luân Vương Tự (輪王寺, Rinnō-ji, Tōchigi-ken), Khoan Vĩnh Tự (寛永寺, Kanei-ji, Tōkyō-to), Thiện Quang Tự (善光寺, Zenkō-ji, Nagano-ken), Tư Hạ Viện (滋賀院, Shiga-in), Diệu Pháp Viện (妙法院, Myōhō-in, Kyōto-shi), Tam Thiên Viện (三千院, Sanzen-in, Kyōto-shi), Thanh Liên Viện (青蓮院, Shōren-in, Kyōto-shi), Mạn Thù Viện (曼殊院, Manshu-in, Kyōto-shi), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂, Bishamon-dō, ), Mao Việt Tự (毛越寺, Mōtsū-ji, Iwate-ken), Thâm Đại Tự (深大寺, Jindai-ji, Tōkyō-to), Quang Tiền Tự (光前寺, Kōzen-ji, Nagano-ken), Thủy Gian Tự (水間寺, Mizuma-dera, Ōsaka-fu), (圓敎寺, Engyō-ji, Hyōgo-ken), v.v.
Thiên Thai tông
天台宗; C: tiāntāi-zōng; J: tendai-shū;|Một tông phái Phật giáo Trung Quốc do Trí Khải (538-597) sáng lập. Giáo pháp của tông phái này dựa trên kinh Diệu pháp liên hoa.|Thiên Thai tông xem Long Thụ (s: nāgār-juna) là Sơ tổ vì ba quan điểm chính (Ba chân lí) của tông phái này dựa trên giáo lí của Long Thụ – đó là: tất cả mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thật chất của chúng là tính Không (s: śūnyatā). Mọi hiện tượng là biểu hiện của một thể tuyệt đối, đó là Chân như (s: tathatā). Tông phái này gọi ba chân lí đó là không (空), giả (假) và trung (中):|1. Chân lí thứ nhất cho rằng mọi Pháp (s: dharma) không có thật thể và vì vậy trống rỗng;|2. Chân lí thứ hai cho rằng, tuy thế, các pháp vẫn có một dạng tồn tại tạm thời với thời gian và giác quan con người có thể nắm bắt được;|3. Chân lí thứ ba tổng hợp hai chân lí đầu, cho rằng thể của sự vật lại không nằm ngoài tướng, không thể bỏ hiện tượng để tìm bản chất, thể và tướng là một.|Quan điểm này nhấn mạnh tính toàn thể và xuyên suốt của sự vật. Cái toàn thể và cái riêng lẻ là một. Toàn bộ các pháp có khác nhau nhưng chúng đan lồng vào nhau, cái này chứa đựng cái kia. Không, giả và trung chỉ là một và từ một mà ra.|Các Ðại sư của tông phái này hay nói »toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải« hay »một ý niệm là ba ngàn thế giới.« Tổ thứ hai của tông này là Huệ Văn, Tổ thứ ba là Huệ Tư và Tổ thứ tư là Trí Khải. Dưới sự lĩnh đạo của Ðại sư Trí Khải, giáo lí của tông Thiên Thai đã đạt đến tuyệt đỉnh.|Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ-Quán, và chứa đựng các yếu tố mật tông như Man-tra (thần chú) và Man-đa-la (s: maṇḍala). Tông này sau được Truyền Giáo Ðại sư Tối Trừng (767-822), đệ tử của Tổ thứ 10 Thiên thai tông, truyền qua Nhật trong thế kỉ thứ 9. Tại đây, Thiên Thai tông đóng một vai trò quan trọng.|Thiên Thai tông được xem như một tông phái rộng rãi vì nó tổng hợp, chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác. Sự tổng hợp này phản ánh trong quan điểm »năm thời, tám giáo« (五時八教; Ngũ thời bát giáo), trong quan niệm mọi loài đều có Phật tính và vì vậy Thiên Thai tông có đầy đủ phương tiện đưa đến giác ngộ. Các bộ luận quan trọng của Thiên Thai tông là: Ma-ha Chỉ-Quán (s: mahā-śamatha-vipāśyanā), Lục diệu pháp môn và những bài luận của Trí Khải về kinh Diệu pháp liên hoa.|Phép Chỉ-Quán có hai mặt: Chỉ là chú tâm và qua đó thấy rằng mọi pháp đều không. Nhờ đó không còn ảo giác xuất hiện. Quán giúp hành giả thấy rằng, tuy mọi pháp đều không, nhưng chúng có một dạng tồn tại tạm thời, một sự xuất hiện giả tướng và lại có một chức năng nhất định. Trí Khải phân chia kinh sách thành »năm thời và tám giáo« với mục đích hệ thống hoá Phật giáo theo trình tự thời gian và theo nội dung giáo pháp. Sự phân chia đó cũng giúp giải thích các vấn đề siêu hình. Hơn các tông phái khác, Thiên Thai tông là phái tìm cách thống nhất mọi giáo pháp trong hệ thống của mình bằng cách dành cho mọi kinh sách một chỗ đứng và xem Tiểu thừa cũng như Ðại thừa đều là những lời dạy của chính đức Phật.|Sự phân chia làm năm thời dựa trên trình tự thời gian như sau: 1. Thời giáo Hoa nghiêm, 2. Thời giáo A-hàm, 3. Thời giáo Phương đẳng, 4. Thời giáo Bát-nhã ba-la-mật-đa và 5. Thời giáo Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn.|Thời giáo thứ nhất chỉ kéo dài 3 tuần, theo Trí Khải, dựa trên Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) là giai đoạn giáo hoá của Phật ngay sau khi Ngài đắc đạo. Kinh Hoa nghiêm chỉ rõ, toàn thể vũ trụ chỉ là phát biểu của cái Tuyệt đối. Thời đó các vị đệ tử của Phật chưa lĩnh hội được điều này. Vì thế mà Phật bắt đầu giảng các kinh A-hàm (s: āgama), thời giáo thứ hai. Trong giai đoạn này, Phật chưa nói hết tất cả, chỉ thuyết những điều mà đệ tử có thể hiểu nổi. Ngài thuyết Tứ diệu đế, Bát chính đạo và thuyết Mười hai nhân duyên. Thời giáo này kéo dài 12 năm. Trong thời giáo thứ ba, Phật bắt đầu giảng giai đoạn sơ khởi của Ðại thừa. Ngài nhắc đến tính ưu việt của một vị Bồ Tát nếu so sánh với một vị A-la-hán và nhấn mạnh đến sự đồng nhất giữa Phật và chúng sinh, giữa Tương đối và Tuyệt đối. Thời giáo thứ tư, kéo dài 22 năm, chứa đựng giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là nói đến tính Không của vạn sự và cái ảo tưởng giả tạo của mọi hiện tượng nhị nguyên. Thời giáo cuối cùng, thời giáo thứ năm, bao gồm 8 năm cuối đời đức Phật. Trong thời giáo này, Phật thuyết về thể tính duy nhất của mọi hiện tượng tưởng chừng rất khác biệt. Ba thừa là Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát thừa chỉ có giá trị tạm thời và nằm chung trong một thừa duy nhất, đó là Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa (s: buddhayāna). Trong thời giáo cuối cùng này, thời giáo của kinh Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn, Phật đã nói rõ và trọn vẹn nhất giáo lí của mình. Ðó là năm thời giáo theo thứ tự thời gian.|Thiên Thai tông cũng chia giáo pháp đức Phật ra làm tám hệ thống, trong đó bốn hệ thống dựa trên phương pháp và bốn dựa trên tính chất. Bốn hệ thống có tính phương pháp luận là: 1. Phương pháp đốn ngộ, dành cho hạng đệ tử xuất sắc nhất có khả năng tiếp cận sự thật nhanh chóng. Ðó là phương pháp của kinh Hoa nghiêm; 2. Phương pháp tiệm ngộ, đi từ giản đơn đến phức tạp, là phương pháp của các kinh A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Còn kinh Diệu pháp liên hoa lại không thuộc »đốn« hay »tiệm« mà chứa đựng sự thật cuối cùng; 3. Phương pháp mật giáo, là cách Phật dạy cho một người nhất định và chỉ người đó được lĩnh hội. Phương pháp này có thể được Phật áp dụng trong chốn đông người, nhưng nhờ thần thông của Phật chỉ có người đó được hiểu; 4. Phương pháp bất định, là phương pháp Phật dùng dạy cho nhiều người, nhưng mỗi người nghe hiểu khác nhau. Hai phương pháp 3 và 4 được Phật áp dụng khi người nghe có trình độ không đồng đều.|Bốn hệ thống có tính chất luận là: 1. Giáo pháp Tiểu thừa, dành cho Thanh văn và Ðộc giác Phật, 2. Giáo pháp tổng quát, bao gồm Tiểu thừa và Ðại thừa, dành cho Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát cấp thấp. 3. Giáo pháp đặc biệt dành cho Bồ Tát và 4. Giáo pháp viên mãn, tức là giáo pháp trung quán phá bỏ mọi chấp trước. Kinh Hoa nghiêm đại diện cho giáo pháp 3 và 4. Kinh A-hàm là kinh của Tiểu thừa. Các kinh Phương đẳng chứa đựng cả 4 giáo pháp. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa chứa giáo pháp 2, 3, 4. Cuối cùng thì chỉ có kinh Diệu pháp liên hoa chứa giáo pháp viên mãn.
thiên thai tông
Tendai (J), T'ien-t'ai (C), T'ien-t'ai Tsoung (C), Tendai shŪ (J)Tên một tông phái.
; The T'ien T'ai or Tendai sect đounded by Trí Khải. It bases its tenets on the Lotus sùtra.
; T'ien-T'ai School. (I) Thiên Thai tông Trung Quốc—Chinese T'ien-T'ai: (A) Lịch sử tông Thiên Thai—The history of the T'ien-T'ai School: Tông Thiên Thai là tông phái Phật giáo duy nhất còn tồn tại ngày nay tại Trung Quốc. Thiên Thai là tên của một hòn núi ở Thai Châu, miền nam Trung Hoa. Tông Thiên Thai được Đại Sư Trí Giả đời Tùy sáng lập, lấy tên núi đặt tên cho tông phái. Trí Giả Đại Sư đã trú ngụ tại núi Thiên Thai và giảng dạy đồ chúng suốt thời nhà Trần và Tùy. Tông phái do ông thành lập thường được gọi là Thiên Thai theo tên núi, nhưng đúng tên của nó là Pháp Hoa vì tông nầy lấy Kinh Pháp Hoa làm bản kinh. Tông phái chủ trương khai mở chân lý vạn pháp bằng thiền quán. Tông cực thịnh vào đời nhà Đường. Dưới thời nhà Tống khi tông phái nầy suy vi, thì Sư Tứ Minh khởi lên trung hưng tông nầy và hiển dương chính tông của Sơn Gia, trong khi Sơn Ngoại thì có Sư Ngộ Ân, nhưng về sau nầy phái Sơn Ngoại bị mai một, còn phái Sơn Gia với giáo thuyết thâm sâu và sự trung hưng của Sư Tứ Minh, nên đã lan truyền qua đến Nhật Bản—T'ien-T'ai is the only living Buddhist school in China today. T'ien-T'ai is the name of a mountain in T'ai-Chou, South China. This school was founded by Great Master Chih-Chê (or Chih-I). The T'ien-T'ai or Tendai Sect was named after the name of the mountain. Chih-I lived on the mountain and taught his disciples during the Ch'ên and Sui Dynasties. The school founded by him was generally called the T'ien-T'ai (after the name of the mountain), but was properly named the Fa-Hua after the title of the text Saddharma-pundarika from which the doctrine of the school is derived. It maintains the identity of the Absolute and the world of phenomena, and attempts to unlock the secrets of all phenomena by means of meditation. It flourished during the T'ang dynasty. Under the Sung, when the school was decadent, arose Ssu-Ming, under whom there came the division of Hill or T'ien-T'ai School and the School outside, the later following Wu-ên and in time dying out; the former, a more profound school, adhered to Ssu-Ming; it was from this school that the T'ien-T'ai doctrine spread to Japan. Thiên Thai Tam Bộ (gồm Kinh Pháp Hoa với Luận Trí Độ, Kinh Niết bàn và Đại Phẩm Kinh). (B) Triết lý và kinh luận—Philosophy and chief works: a) Triết lý—Philosophy: Tuy là những bộ phái Phật giáo đều có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng sự miệt mài nghiên cứu kinh điển Phật giáo của các học giả Trung Hoa đã làm xuất hiện những dạng thức tu hành hoàn toàn mới mẽ, dường như phát sanh ra từ bối cảnh Trung Hoa hơn là Ấn Độ. Ngài Trí Khải lập ra một hệ 'Tam Quán' có tên là Chí Quán hay sự quán triệt hoàn toàn. Hệ tam quán nầy gồm 'Không-Giả-Trung' (see Không Giả Trung): Although these Buddhist schools in China had their origin in Indian Buddhism, but the ceaseless study of the Buddhist texts by the Chinese schools resulted in completely new religious experiences which seem to have grown out of the historical background of China rather than of India. Chi-K'ai established a threefold system of comprehension which is called Chi-Kuan, or 'Perfect Comprehension.' This system consists of three comprehensions, namely, empty, hypothetical, and medial (see Không Giả Trung). b) Kinh luận—Main texts: các kinh sách chính của tông phái nầy gồm có kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Trí Độ Luận, kinh Niết Bàn, kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa: The main texts of the T'ien-T'ai sect include the The Wonderful Dharma of the Lotus Sutra (Saddharma-Pundarika-Sutra),the Mahaprajna-paramita-sastra, the Mahanirvana sutra, and the Mahaprajnaparamita sutra. c) Tác phẩm—Chief works: Ngài Trí Giả đã thuyết giảng Tam Bộ: Huyền Nghĩa (nói về giáo tướng), Văn Cú (nói về kinh văn), và Chỉ Quán (chỉ rõ nhất tâm quán hành): The three principal works of the T'ien-T'ai founder are called The Tri-Sutras of the T'ien-T'ai (Thiên Thai Tam Bộ), such as the exposition of the deeper meaning of the Lotus Sutra (Pháp Hoa Huyền Nghĩa), Exposition of its text (Văn Cú), and meditation which stressed on the “inner light” (Chỉ Quán). (II) Thiên Thai tông Nhật Bản—Japanese T'ien-T'ai: (A) Lịch sử tông Thiên Thai Nhật Bản—The history of the Japanese T'ien-T'ai: Tông Thiên Thai Nhật Bản được Đại sư Tối Trừng (Saicho) sáng lập tại Nhật vào năm 804. Ông thường được biết nhiều qua tên Dengyo-Daishi. Ông gia nhập Tăng đoàn khi còn trẻ và đi đến Trung Hoa để nghiên cứu thêm về đạo Phật. Tại đây ông được các luận sư của trường phái Thiên Thai nổi tiếng truyền dạy Chánh Pháp. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, thì Tối Trừng được Đạo Toại truyền cho học thuyết Thiên Thai và Bồ Tát giới, được Thuận Giáo truyền cho học thuyết Chân Ngôn tông, và Tu Nhiên truyền cho Thiền tông. Sau một năm lưu trú ở Trung Hoa, ông trở về Nhật Bản để truyền bá giáo lý mới nầy tại chùa Enryakuji trên núi Tỷ Duệ (Hiei). Ngôi chùa nầy chẳng bao lâu đã phát triển thành một trung tâm quan trọng cho tất cả mọi công cuộc nghiên cứu và tu tập Phật giáo tại Nhật—The T'ien-T'ai (Tendai) sect was founded in Japan in 804 A.D. by Saicho, who was better known as Dengyo-Daishi. He entered the Order young and went for further study to China, where he received instruction in the Dharma from teachers at the famous T'ien-T'ai school. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, he received the T'ien-T'ai doctrine and the Bodhisattva ordination from Tao-Sui, the mystic doctrines (mantra) from Shun-Chiao, and the Zen meditation from Hsiu-Jan. On his return to Japan, he propagated the new doctrine in the temple called Enryakuji on Mount Hiei. This temple soon grew to be an important center of all Buddhist studies and practices in Japan. (B) Triết lý tông Thiên Thai—The philosophy of the Japanese T'ien-T'ai school: Dù rằng tông Thiên Thai Nhật Bản và Trung Quốc đều căn cứ chủ yếu vào kinh sách của Đại Thừa là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và Ngũ thời Bát giáo, tông phái nầy khác với Thiên Thai Trung Hoa ở đường lối thực hành. Đại sư Tối Trừng đã đề ra phương pháp hành trì gọi là 'Trực giác của tâm.'—Even though both Chinese and Japanese T'ien-T'ai sects base themselves essentially on the Mahayana texts, i.e., the Saddharma-pundarika, and the T'ien-T'ai's Five Periods and Eight Doctrines, the Japanese T'ien-T'ai differs from the Chinese T'ien-T'ai in its practical approach. Dengyo Daishi also introduced a practical method called 'intuition of the mind' (kwanjin)—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. (C) Sự phát triển của tông Thiên Thai tại Nhật Bản—The development of the Tendai sect in Japan: Trung tâm giảng huấn trên núi Tỷ Duệ do đại sư Tối Trừng thành lập đã trở thành trung tâm lớn của nhành Phật học tại Nhật. Một thời đã có 3.000 tự viện làm túc xá cho học chúng, qui tụ tất cả mọi ngành Phật học hiển và mật. Hiện tại có ba chi phái của tông Thiên Thai, đó là Sơn Môn (Sammon), Tự Môn (Jinon), và Chân Thạnh (Shinsei). Chi phái sau nầy là Tịnh Độ. Những tự viện thuộc ba chi phái nầy hiện thời tính khoảng trên 4.000—The educational headquarters on Mount Hiei was established by Saicho and became the greatest center of Buddhist learning in Japan. Once there were some 3,000 monasteries to house the students thronging there from all branches of Buddhism, exoteric and esoteric. At present there are three branches of the Tendai in Japan; namely, Samon, Jimon, and Shinsei, the last being an Amita-pietism. The monasteries belonging to the three branches number more than 4,000 at the present time. *** For more information, please see Thiên Thai Sơn and Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.
; (天臺宗) Cũng gọi Pháp hoa tông, Thiên thai pháp hoa tông, Thai tông, Viên tông, Thai gia.Tông phái lớn của Phật giáo Trung quốc, lấy giáo chỉ kinh Pháp hoa làm nền tảng, doĐại sư Trí khảitrụ ở núi Thiên thai sáng lập, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Ngài Trí khải vốn thờ Thiền sư Tuệ tư (511- 577) ở núi Nam nhạc làm thầy, tu tập 3 loại pháp Chỉ quán; Thiền sư Tuệ tư kế thừa yếu chỉ Nhất tâm tam trí nơi Thiền sư Tuệ văn đời Bắc Tề. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 1,phần đầu thì Thiền sư Tuệ văn nương vào luận Đại trí độ mà tu được pháp quán tâm, lại nêu bài kệ Trung luận làm nền tảng cho nhất tâm tam quán, sau khi ngài Tuệ tư học được pháp quán tâm ấy liền khai phát tam muội Pháp hoa, soạn ra Pháp hoa kinh an lạc hành nghi, Tùy tự ý tam muội, Chư pháp vô tránh tam pháp môn... Vào niên hiệu Thiên gia năm đầu (560) đời Trần, ngài Trí khải yết kiến Thiền sư Tuệ tư, thụ họctam muội Pháp hoa, 4 hạnh an lạc, đọc kinh Pháp hoa đến câu Thị chân tinh tiến, thị danh chân pháp cúng dường (là tinh tiến chân thực, đó gọi là pháp cúng dường chân thực), liền bừng tỉnh tỏ ngộ. Sau, sư đến chùa Ngõa quan ở Kim lăng dùng khai đề của kinh Pháp hoa để diễn giảng luận Đại trí độ, giải thích Thứ đệ thiền môn. Năm Thái kiến thứ 7 (575), ngài Trí khải đến núi Thiên thai, ở ẩn trong 10 năm. Sư soạn Pháp hoa huyền nghĩa, Ma ha chỉ quán và Pháp hoa văn cú, được gọi là Thiên thai tam đại bộ. Đầu đời Đường, sư đến chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu giảng Pháp hoa huyền nghĩa, thuyết Ma ha chỉ quán, cho nên tông Thiên thai tuy tônồ tát Long thụ làm Sơ tổ, ngài Trí khải là tổ thứ 4, nhưng y cứ vào việc tập đại thành tư tưởng truyền thừa thì đúng ra ngài Trí khải mới là Tổ khai sáng của tông Thiên thai. Học trò của sư rất đông, đệ tử nối pháp thì có 32 vị, trong đó, ngài Quán đính (561- 632), thờ Đại sư Trí khải hơn 20 năm, có khả năng nhận lãnh và truyền trì di giáo của Đại sư. Ngài Quán đính soạn Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa cập sớ, Quán tâm luận sớ... vài mươi quyển, là Tổ thứ 2. Rồi truyền thừa đến Tổ thứ 3 Trí uy, Tổ thứ 4 Tuệ uy, Tổ thứ 5 Huyền lãng, dưới ngài Huyền lãng có Tổ thứ 6 Trạm nhiên (711- 782) vốn tu tập Thai học hơn 20 năm. Sư mở rộng giáo pháp Thiên thai, từng được sắc triệu của 3 vị vua như Huyền tông... nhưng sư đều tạ từ. Sư chuyên việc soạn thuật và diễn giảng, được tôn xưng là Tổ trung hưng của tông Thiên thai. Soạn phẩm của sư gồm hơn 20 bộ như Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa văn cú kí, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, Chỉ quán nghĩa lệ, Kim cương ti... Sư đề xướng các nghĩa Phi tình Phật tính, Vô tình hữu tính, chủ trương cây cỏ, gạch đá cũng có tính Phật. Ngoài ra, sư còn dung hợp tư tưởng của tông này với thuyết của luận Đại thừa khởi tín để xác lập nền tảng cho giáo học Thiên thai đời Tống. Đệ tử của sư có các vị Đạo thúy, Hành mãn, Nguyên hạo, Đạo xiêm, Minh khoáng... ngài Đạo thúy lại truyền cho các vị Tông dĩnh, Lương tư. Không bao lâu xảy ra pháp nạn Hội Xương và các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại kéo dài, đã làm cho phần lớn sách vở chương sớ của tông Thiên thai bi thất lạc, do đó tông này dần dần rơi vào tình trạng suy vi. Sau, có vị tăng nước Cao li là ngài Đế quán, đáp lời thỉnh cầu của Trung ý vương nước Ngô Việt, mang 1 lượng lớn kinh sách Thiên thai đến Trung quốc, tông Thiên thai nhờ đó dần dần được phục hưng. Ngài Nghĩa thông từ nước Cao li đến thờ Tổ Nghĩa tịch thứ 12 của tông Thiên thai làm thầy, hoằng dương giáo quán, đó là Tổ thứ 13. Học trò của sư Nghĩa thông có các vị Tứ minh Tri lễ (960-1028), Từ vân Tuân thức..., ngài Tri lễ soạn Chi yếu sao, Diệu tông sao, cùng với hệ thống ngài Tuân thức đều cùng phái Thiên thai sơn gia. Một vị đệ tử khác của ngài Nghĩa tịch là Từ quang Chí nhân, truyền xuống cho các vị Ngô ân, Nguyên thanh, Hồng mẫn, Cô sơn Trí viên (976-1022), Phạm thiên Khánh chiêu (963-1017)... Hệ thống này gọi là phái Sơn ngoại. Cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại bắt nguồn từ vấn đề chân, ngụy liên quan đến quảng bản Kim quang minh huyền nghĩa của Đại sư Trí khải, từ đó dần dần diễn biến thành cuộc tranh luận đối lập giữa Duy tâm luận và Thực tướng luận. Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia từng đối lại với thuyết Chân tâm quán của ngài Ngô ân thuộc phái Sơn ngoại mà soạn Phù tông thích nạn đề xướng thuyết Vọng tâm quán đã làm cho cuộc luận chiến giữa 2 phái kéo dài đến 40 năm! Về phái Sơn ngoại, học trò ngài Khánh chiêu có các vị Hàm nhuận, Kế tề... tiếp nối. Học thuyết của phái Sơn ngoại thường bị chê trách là không thuần túy, cho nên chẳng bao lâu bị suy vi. Pháp hệ của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia thì rất phồn thịnh, có 3 vị đệ tử là Quảng trí Thượng hiền, Thần chiếu Bản như và Nam bình Phạm trăn được gọi là Tứ minh tam gia. Đến đời Nguyên thì thế lực tông Thiên thai quá suy yếu, khó vực dậy được. Sang đời Minh, các ngài U khê, Truyền đăng, Chân giác... mở rộng Sơn gia chính tông. Đến ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) thì viện dẫn Duy thức, yếu chỉ Thiền tông để hỗ trợ cho việc phát huy giáo quán Thiên thai. Nhưng cũng vì đề xướng thuyết Tính, Tướng dung hợp, Thiền, Tịnh nhất trí mà tự rước lấy vận suy. Tông Thiên thai Nhật bản thì tôn Truyền giáo Đại sư Tối trừng làm Sơ tổ. Sư từng đến Trung quốc vào đời Đường thụ pháp nơi các vị đệ tử ngài Trạm nhiên như Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi trở về Nhật bản, sư khai sáng yếu chỉ nhất trí giữa 4 tông: Viên giáo, Thiền, Viên giới và Mật giáo ở núi Tỉ duệ, khác với tông Thiên thai của Trung quốc. Rồi đệ tử của ngài Tối trừng là sư Viên nhân và đệ tử của ngài Nghĩa chân là sư Viên trân cũng lần lượt đến Trung quốc vào đời Đường thờ các ngài Tông dĩnh, Lương tư làm thầy, học giáo pháp Thiên thai, lại còn thụ học các pháp bí yếu của 3 bộ Kim, Thai, đại pháp Tô tất địa và các kinh quĩ tân dịch, làm cho giáo học Mật giáo Thiên thai được phát triển phổ biến. Đến thời ngài An nhiên thì tông Thiên thai của Nhật bản đã được Mật giáo hóa một cách cực đoan. Từ ngài Nghĩa chân về sau, vị Tọa chủ Thiên thai thống trị một tông, nhưng đến các ngài Viên nhân, Viên trân trở đi thì pháp hệ tách ra làm hai. Đồ chúng của ngài Viên trân đi ra khỏi núi Tỉ duệ, trụ ở chùa Viên thành(chùa Tam tỉnh) gọi là Tự môn; núi Tỉ duệ thì gọi là Sơn môn. Sơn môn đến thời ngài Lương nguyên, giáo học lấy Viên giáo sẵn có làm tông chỉ, các đệ tử ưu tú xuất hiện rất đông và thế lực tông này nổi lên khá mạnh. Đệ tử ngài Lương nguyên là Nguyên tín thì cổ xúy tư tưởng Tịnh độ, lập ra dòng Huệ tâm; một vị đệ tử khác là Giác vận thì lập dòng Đàn na, gọi chung là Huệ Đàn Nhị Lưu (Hai dòng Huệ-Đàn). Cộng chung, hệ thống Thai mật(Mật giáo thuộc tông Thiên thai) đến đời sau, có tất cả 13 dòng phái thuộc tông Thiên thai. Đến cuối thời kì Bình an về sau thì các dòng phái thuộc tông Thiên thai nói trên dần dần xem trọng khẩu truyền, do đó sinh ra chủ trương Khẩu truyền pháp môn. Trái lại, phương diện giáo học thì dần dần suy vi. Ngoài ra, sự vùng dậy của tăng binh, sự tranh cướp của chính quyền, cộng với việc đốt phá của Chức điền Tín trường... đều đã góp phần đưa núi Tỉ duệ đến thời sụp đổ. Cho mãi đến thời đại Giang hộ, núi Đông duệ, núi Nhật quang lần lượt được khai sáng mới phục hồi được sự hưng thịnh như xưa. Lại nhờ Mạc phủ đương thời khuyến khích việc học vấn nên giáohọc cũng dần dần phục hưng. Hiện nay có các tông phái như: Tông Thiên thai (chùa Diên lịch, núi Tỉ duệ), tông Thiên thai tự môn(chùa Viên thành), tông Thiên thai chân thịnh (chùa Tây giáo)... Giáo nghĩa của tông Thiên thai có thể lược chia ra các khoa: Tam đế viên dung, Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán, Lục tức...Tông này lại dùng 5 thời 8 giáo để phán thích Thánh giáo một đời của đức Phật.Từ đời Dân quốc (1912) về sau, Thiên thai học được phục hưng nhờ sự nỗ lực của Đại sư Đế nhàn (1858-1932), ngài sáng lập Quán tông nghiên cứu xã, chuyên môn giáo dục người học Thiên Thai, nhân tài xuất hiện rất nhiều, như các vị tôn túc: Nhân sơn, Thường tỉnh, Bảo tĩnh, Tĩnh tu,Đàm hư, Thiên định, Khả đoan... [X. Phật tổ thống kỉ Q.5-22; Thiên thai cửu tổ truyện; Thiên thai sơn phương ngoại chí; Bát tông cương yếu Q.hạ; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.12]. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại; Ngũ Thời Bát Giáo, Thai Mật, Tam Đế, Nhất Niệm, Tam Thiên, Nhất Tâm Tam Quán, Lục Tức).
thiên thai tông toàn thư
(天臺宗全書) Tùng thư, 25 tập, do hội Thiên thai tông điển san hành của Nhật bản biên soạn, được ấn hành từ tháng 4 năm Chiêu hòa thứ 10 (1935) đến tháng 5 năm Chiêu hòa 12 (1937). Nội dung bộ tùng thư này sưu tập rất rộng, bao gồm các chú thích về văn hiến của tông Thiên thai Trung quốc, Nhật bản và các chương sớ của Hiển giáo, Mật giáo, do chùa Chân thịnh và hội xuất bản Đại tạng tại Tokyo phát hành.
Thiên Thai tông 天台宗
[ja] テンダイシュウ Tendaishū. ||| Tiantai zong; one of the thirteen schools of Buddhism in China 十三宗, and Japan. Also called the "Lotus Sutra School" 法華宗. (1) China: A Mahāyāna school established by Zhiyi 智顗 of Tiantai mountain. Zhiyi, taking the Lotus Sutra 法華經 as his basis, classified the other Buddhist sutras into five periods 五時 and eight types of teachings; he discussed the theory of perfect interpenetration of the triple truth 三諦 and taught the rapid attainment of Buddhahood through the practice of observing the mind. The Chinese line of transmission starts with Huiwen 慧文 of the Northern Chi and follows with Huisi 慧思. Next Zhiyi explained the three great scriptures of the school 法華三部 emphasizing both scriptural study and practice. The sixth patriarch, Jingqi 荊溪 also popularized the sect through his commentaries on these three scriptures. (2) Korea: Tiantai was introduced to Korea as Ch'ŏnt'ae a couple of times during earlier periods, but was not firmly established until the time of Ŭich'ŏn 義天 (1055-1101) who established Ch'ŏnt'ae in the Koryŏ as an independent sect. Due to Ŭich'ŏn's influence, it came to be a major force in the world of Koryŏ Buddhism. After he returned from Song China in 1086, Ŭich'ŏn sought to ease conflict between the doctrinal 教 schools and Sŏn 禪 schools, believing that the Ch'ŏnt'ae doctrine would be effective to this end. Ch'ŏnt'ae would eventually die out in Korea, its teachings being absorbed into the Chogye Sŏn 曹溪tradition. (3) Japan: The Tiantai teaching was brought to Japan by Jianshen 鑑眞 in the middle of the 8th century, but it was not widely accepted. In 805, Saichō 最澄 brought back the Tendai teachings from China and made the temple that he had built on Mt. Hiei 比叡山, the Enryakuji, a center for the study and practice of Tendai. However, what he had transmitted from China was not exclusively Tendai, but also included Zen 禪, Esoteric 密教 and Monastic Discipline 戒律 teachings. This tendency became more marked in the doctrines of his successors, such as Ennin 圓仁 and Enchin 圓珍. The Tendai sect flourished under the patronage of the imperial family and nobility in Japan. => (j: Tendaishū; c: Tiantai zong); một trong 13 tông phái Phật giáo ở Trung Hoa và Nhật Bản . Còn gọi là Pháp hoa tông. 1. Ở Trung Hoa: Đại thừa Phật giáo do Trí Khải ở núi Thiên Thai khai sáng, sư dùng kinh Pháp hoa làm tông chỉ, phân loại các kinh điỉen Phật giáo làm Ngũ thời Bát giáo; sư đề ra giáo lý viên dung về Tam đế, và dạy phương pháp đốn ngộ Phật tính thông qua pháp quán tâm. Sự truyền thừa dòng Thiên Thai ở Trung Hoa bắt đầu từ Huệ Văn (c: Huiwen 慧文), người Bắc Tề và được kế thừa bởi Huệ Tư (c: Huisi 慧思). Trí Khải còn giải thích Pháp hoa tam bộ, chú trọng cả nghiên cứu lẫn thực hành. Vị tổ thứ sáu của tông nầy, Hình Khê (c: Jingqi 荊溪) cũng truyền bá tông phong qua việc chú giải ba bộ kinh nầy. 2. Triều Tiên: Tông Thiên Thai được du nhập vào Triều Tiên với tên gọi Ch'ŏnt'ae một vài lần trong thời kỳ trước, nhưng không được củng cố vữmh chắc mãi cho đến khi Nghĩa Thiên (k: Ŭich'ŏn 義天 ; 1055-1101), người đã sáng lập tông Thiên Thai ở Cao Lệ (k: Koryŏ) như một tông pgái độc lập. Nhờ ảnh hưởng của Nghĩa Thiên, tông Thiên Thai trở thành một dòng chính trong thế giới quan Phật giáo Cao Lệ. Sau khi Sư từ Trung Hoa, thời nhà Tống, năm 1086, trở về Triều Tiên, Sư thấy không còn căng thẳng giữa giáo và thiền, tin rằng giáo lý tông Thiên Thai sẽ có ảnh hưởng đến thời mạt pháp nầy. Tông Thiên Thai cuối cùng lại suy tàn ở Triều Tiên, người ta chuyển sang ham thích giáo lý tông Tào Khê (k: Chogye Sŏn 曹溪). 3. Nhật Bản: Giáo lý tông Thiên Thai được truyền sang Nhật Bản do Giám Chân (j: Jianshen 鑑眞) vào giữa thế kỷ thứ tám, nhưng không được công nhận rộng rãi. Năm 805, Tối Trừng (j: Saichō 最澄) lại mang giáo lý tông Thiên Thai từ Trung Hoa trở về và biến ngôi chùa Enryakuji do Sư sáng lập trên núi Tỉ-duệ (j: Hiei 比叡山), làm trung tâm nghiên cứu và tu tập của tông Thiên Thai. Tuy nhiên, những điều sư được truyền thừa từ Trung Hoa không phải là giáo lý chính phẩm của tông Thiên Thai, mà bao gồm cả giáo lý Thiền, Mật, và Luật. Khuynh hướng nầy càng trở nên rõ nét hơn trong giáo lý của các môn đệ như Viên Nhân (j: Ennin 圓仁 ) và Viên Trân (j: Enchin 圓珍). Tông Thiên Thai phát triển dưới sự bảo trợ của những gia đình hoàng tộc và quý phái ở Nhật Bản.
thiên thai tứ giáo
The four types each of method and doctrine, as defined by T'ien-T'ai school—See Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo.
; (天臺四教) Bốn giáo Thiên thai. Tức chỉ cho 4 giáo hóa pháp và 4 giáo hóa nghi trong phán giáo của tông Thiên thai. Đó là: 1. Bốn giáo hóa pháp: Tức nội dung thuyết pháp của Phật chia làm 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên. 2. Bốn giáo hóa nghi: Tức hình thức thuyết pháp của Phật chia làm 4 giáo: Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
thiên thai tứ giáo nghi
(天臺四教儀) Cũng gọi Tứ giáo nghi, Đế quán Lục. Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng Cao li là ngài Đế quán soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là bộ sách nhập môn nghiên cứu về đại cương giáo nghĩa Thiên thai và yếu lược của pháp quán tâm(tu hành thực tiễn). Nội dung do thêm bớt từ bộ Thiên thai bát giáo đại ý của ngài Quán đính mà thành, lấy các thí dụ như thí dụ trong phẩm Tín giải kinh Pháp hoa, thí dụ 5 vị trong kinh Niết bàn, thí dụ 3 chiếu soi trong kinh Hoa nghiêm... làm trung tâm mà chia ra 5 thời giáo và 4 giáo hóa nghi Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định, đồng thời trình bày sơ lược về danh nghĩa của 4 giáo hóa pháp Tạng, Thông, Biệt, Viên, về giáo thuyết, hành nhân, hành vị, chứng quả...; lại dùng 25 phương tiện của Ma ha chỉ quán để nói qua về Thập thừa quán pháp của Viên giáo. Về sau, ngài Trí húc cho rằng quan điểm của sách này quá sơ lược, cho nên mới nảy ra ý định soạn bộ Giáo quán cương tông. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích, nhưng có 3 bộ quan trọng hơn cả là: -Tứ giáo nghi tập giải, 3 quyển, do ngài Tòng nghĩa soạn vào đời Tống. -Tứ giáo nghi bị thích, 2 quyển, do ngài Nguyên túy soạn vào đời Nam Tống. -Tứ giáo nghi tập chú, 3 quyển, do ngài Mông nhuận soạn vào đời Nguyên. [X. Phật tổ thống kỉ quyển 10; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].
thiên thai tứ giáo nghi tập chú
(天臺四教儀集注) Gọi tắt: Tứ giáo nghi tập chú. Tác phẩm, 3 quyển(hoặc 10 quyển), do ngài Mông nhuận soạn vào đời Nguyên, được thu vào Tạng đời Minh. Nội dung sách này căn cứ theo chính nghĩa của phái Sơn gia mà giải thích rõ về 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai, là con đường tắt của người mới học. Sách này có rất nhiều sách chú thích như: Thiên thai tứ giáo nghi tập chú khoa văn 1 quyển của ngài Mông nhuận, Chú vậng bổ phụ hoành kí 20 quyển của ngài Tính quyền đời Thanh... [X. Đại minh tam tạngThánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Phật điển sớ sao mục lục Q.hạ].
thiên thai tứ giáo nghi tập giải
(天臺四教儀集解) Cũng gọi Tứ giáo nghi tập giải, Tứ giáo tập giải, Thiên thai tứ giáo nghi khoa giải. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tòng nghĩa tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 102. Nội dung sách này giải thích rõ bộ Thiên thai tứ giáo nghi của ngài Đế quán.
Thiên Thai tứ giáo nghi 天台 ... 教...
[ja] テンダイシキョウギ Tendai shikyōgi ||| Tiantai sijiao yi; 1 fasc., by Chegwan 諦觀; T 1931.46.774c-780c. => (c: Tiantai sijiao yi); 1quyển, của Đế Quán (c: Chegwan 諦觀).
thiên thai tứ thích
(天臺四釋) Cũng gọi Thiên thai tứ đại thích lệ, Tứ đại thích lệ, Tứ chủng tiêu thích, Tứ chủng tiêu văn. Chỉ cho 4 phương pháp mà Đại sư Trí khải tông Thiên thai sử dụng trong việc giải thích kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Nhân duyên thích (cũng gọi Cảm ứng thích): Tức căn cứ vào quan hệ nhân duyên giữa Phật và chúng sinh mà giải thích. Giáo pháp là do cảm ứng đạo giao mà hưng khởi, dùng 4 tất đàn làm nhân duyên mà lập ra 4 cách thích nghĩa: a) Thế giới tất đàn: Khiến cho chúng sinh ưa muốn. b) Cáccácvị nhân tất đàn: Làm cho chúng sinh sinh lòng tin. c) Đối trị tất đàn: Phá trừ thói chấp ác. d) Đệ nhất nghĩa tất đàn: Đưa chúng sinh vào thực tướng. 2. Ước giáo thích: Căn cứ vào nghĩa của 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên, mà giải thích văn kinh từ cạn đến sâu. 3. Bản tích thích: Chỉbàyrõ sự khác nhau giữa Bản và Tích, căn cứ vào 2 môn Bản địa và Thùy tích mà giải thích pháp nghĩa. 4. Quán tâm thích: Hiểu rõ pháp nghĩa, nhưng nếu sự tu hành không ăn khớp với hiểu biết ấy thì chẳng lợi ích gì cho mình, bởi vậylạiphải dùng từng câu văn làmđối cảnhquántâm, quán xét sự cao rộng của tâm mình. Về 4 cách giải thích trên đây nếu liên quan đếnviệc làm củaPhật và cácvịđệ tử thì thường dùng Nhân duyên thích; đối với các giáo nghĩa như Như thị ngã văn... thì thường dùngƯớc giáo thích; về sự tích của đức Phật và bản thân của các đệ tử thì thường dùng Bản tích thích; còn về tên đất như thành Vương xá và các danh số thì thường dùng Quán tâm thích. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.1, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.1, phần đầu].
thiên thai tứ tương thừa
(天臺四相承) Chỉ cho 4 loại truyền thừa theo chủ trương của tông Thiên thai, đó là: 1. Viên đốn giới tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa giới Bồ tát Đại thừa. 2. Chỉ quán nghiệp tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của tông Thiên thai. 3. Già na nghiệp tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của Mật giáo. 4. Đạt ma thiền tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của Thiền tông.
thiên thai tự
Tên của một ngôi tự viện tọa lạc trên đường lên núi Châu Tiên, cạnh Đình Bà Cố, trong xã Tam An, huyện Long Đất, Vũng Tàu Bà Rịa, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Thanh Kế Huệ Đăng xây năm 1909. Điện thờ Phật được xây như một trụ đá bốn mặt. Một mặt là chánh điện có tôn trí xá lợi Đức Phật. Hai mặt hai bên là điện thờ Bồ Tát Chuẩn Đề và Bồ Tát Quán Thế Âm. Năm 1931, Hòa Thượng Huệ Đăng thành lập Thiên Thai Thiền Giáo tông, Liên Hữu hội và cho xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm, một cơ quan ngôn luận của Phật giáo thời bấy giờ—Name of a pagoda located on the way to Mount Châu Tiên by Bà Cố Palace, in Tam An village, Long Đất district, Bà Rịa Vũng Tàu, South Vietnam. It was built in 1909. The Buddha Shrine was built with four sides of square stone pillar. The Main Hall is on the front side. The Shrine of Cundi and Avalokitesvara Bodhisattvas are placed on both sides of the Buddha shrine. The former patriarchs are worshipped at the rear part. In 1931, Most Venerable Huệ Đăng established T'ien-T'ai Dhyana Sect, Liên Hữu Association and had Bát Nhã Âm Reviews, the Buddhism Press of that time, published. In the back yard, there stands Thiên Bảo Stupa of Patriarch Huệ Đăng.
Thiên Thai Ðức Thiều
天台得韶; C: tiāntāi déshōo; J: tendai tokushō; 881-972; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Người nối pháp của Sư là Vĩnh Minh Diên Thọ và Ðạo Nguyên, người đã soạn bộ sử kí danh tiếng nhất của Thiền tông là Cảnh Ðức truyền đăng lục.|Sư họ Trần quê ở Long Tuyền, Xử Châu. Năm Sư 15 tuổi, một vị tăng lạ đến vỗ vai Sư nói: »Ông nên xuất gia, trần tục không phải là chỗ của ông.« Sư xuất gia năm 17 tuổi, năm 18 tuổi đến chùa Khai Nguyên ở Tín Châu thụ giới.|Sau, Sư cất bước du phương, lúc đầu đến tham vấn Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng có chút tỉnh. Sau Sư đến Thiền sư Long Nha Cư Độn, hỏi: »Bậc tôn hùng hùng vĩ sao gần chẳng được?« Long Nha đáp: »Như lửa với lửa.« Sư lại hỏi: »Bỗng gặp nước đến thì sao?« Long Nha bảo: »Ði! Ông chẳng hội lời ta nói.« Sư hỏi tiếp: »Trời chẳng che, đất chẳng chở là lí gì?« Long Nha đáp: »Ðạo giả nên như thế.« Cứ hỏi như thế nhiều lần mà Sư vẫn không thông, Long Nha bèn nói: »Ðạo giả, ông về sau tự hội lấy.«|Sau khi rời Long Nha, Sư còn tham vấn rất nhiều vị Thiền sư khác nhưng vẫn chưa triệt ngộ, cuối cùng dừng chân tại hội của Pháp Nhãn. Sư vì mệt chán nên chẳng buồn thưa hỏi. Một hôm nghe vị tăng hỏi Pháp Nhãn: »Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?« Pháp Nhãn trả lời: »Là một giọt nước nguồn Tào.« Tăng mờ mịt thối lui nhưng Sư nhân đây đại ngộ. Sư đem chỗ sở đắc trình Pháp Nhãn. Pháp Nhãn khen nói: »Ông sau làm thầy của vua, làm Tổ đạo sáng ngời, ta chẳng bằng.«|Sư đến núi Thiên Thai thăm những di tích của Ðại sư Trí Khải, có cảm giác là chỗ ở cũ. Vì họ của Sư (Trần) cũng như Trí Khải nên thời nhân nói Sư là hậu thân của Trí Khải Ðại sư.|Sư thượng đường dạy chúng: »Phật pháp hiện hành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói ›viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư.‹ Nếu như thế thì cái gì thiếu, cái gì dư, cái gì phải, cái gì quấy? Ai là người hội, ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi Ðông cũng cũng là Thượng toạ, đi Tây cũng là thượng toạ, đi Nam cũng là Thượng toạ, đi Bắc cũng là Thượng toạ. Thượng toạ lại sao được thành Ðông, Tây, Nam, Bắc? Nếu hội được tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì Pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri, đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt. Chư thượng toạ! Kẻ xuất gia làm gì? Cái lí bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. ›Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.‹ Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng toạ đứng lâu, trân trọng.«|Niên hiệu Khai Bảo thứ tư, ngày 28 tháng sáu, Sư có chút bệnh, họp chúng từ giã rồi ngồi kết già viên tịch, thọ 82 tuổi, 65 tuổi hạ.
thiên thai đại sư
The actual founder of the Thiên Thai school, Trí Khải.
; T'ien-T'ai Great Master—Chih-I (Thạch Khải)—Vị sư đã sáng lập ra tông phái Thiên Thai, ngài tên Đức An, họ Trần (538-597 sau Tây Lịch). Ngài theo học tu và chịu ảnh hưởng rất lớn với Sư Huệ Tư ở Hồ Nam. Ngài thấy được trong Kinh Pháp Hoa một lối diễn giảng đúng nghĩa của Đại Thừa Giáo. Vào năm 575 sau Tây Lịch, lần đầu tiên ngài đến núi Thiên Thai và sáng lập tông phái nầy tại đó. Giáo thuyết của tông phái nầy trở thành căn bản cho các trường phái Phật giáo tại Đại Hàn và Nhật Bản sau nầy—The monk who founded T'ien-T'ai Sect—The actual founder of the T'ien-T'ai school, Chih-I, his name was Tê-An, and his surname Ch'ên (538-597 AD). He studied under Hui-Ssu of Hunan, he was greatly influenced by his teaching; and found in the Lotus Sutra the real interpretation of Mahayanism. In 575 AD, he first came to T'ien-T'ai and established his school, which in turn was the foundation of important Buddhist schools in Korea and Japan—See Thiên Thai Sơn.
; (天臺大師) Biệt hiệu của đại sư Trígiả, người Hoa dung, Kinh châu (nay là huyện Hoa dung, tỉnh Hồ nam), họ Trần, tự Đức an, tên là Trí khải. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Quả nguyện tại Tương châu. Sau, sư đến núi Đại tô ở Quang châu theo ngài Tuệ tư tu tập 4 hạnh an lạc.ỞKim lăng, sư lần lượt giảng kinh Pháp hoa, luận Đại trí độ và xiển dương Thiền pháp. Năm Thái kiến thứ 7 (575), sư đến núi Thiên thai, tăng tục theo về rất đông. Năm Khai hoàng 11 (591), sư truyền giới Bồ tát cho Tấn vương Quảng (tức vua Tùy Dạng đế sau này) ở Dươngchâu, vương ban cho sư hiệu Trí Giả. Tháng 11 năm Khai hoàng 17 (597), sư thị tịch, thọ 60 tuổi, người đời gọi sư là Thiên thai Đại sư. Một đời sư xây dựng 36 ngôi chùa, viết được 15 tạng kinh, tạo 10 vạn tôn tượng(có thuyết nói 80 vạn tôn), độ trên 1000 vị tăng, 32 vị học sĩ được truyền nghiệp. Trong số đệ tử của sư, các ngài Quán đính, Trí việt, Trí tảo... là nổi tiếng hơn cả. Sư để lại các tác phẩm: -Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, 20 quyển. -Diệu pháp liên hoa kinh văn cú, 20 quyển. -Duy ma kinh lược sớ, 10 quyển. -Kim quang minh kinh văn cú, 6 quyển. -Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ, 5 quyển. -Bồ tát giới nghĩa sớ, 2 quyển. -Ma ha chỉ quán, 10 quyển.
Thiên Thai Đức Thiều
(天台德韶, Tendai Tokushō, 891-972): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người vùng Long Tuyền (龍泉), Xử Châu (處州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Năm lên 17 tuổi, ông đến xuất gia tại Long Quy Tự (龍歸寺) ở trong vùng, rồi trong khoảng niên hiệu Khai Bình (開平, 907-910), ông đi du hóa khắp nơi, tham bái Đầu Tử Đại Đồng (投子大同), Long Nha Cư Độn (龍牙居遁), nhưng sau đến tham yết Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) ở Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông lên Thiên Thai Sơn, chấn hưng lại di tích của Trí Khải Đại Sư, và vào năm đầu (948) niên hiệu Càn Hựu (乾祐), ông được vua Trung Ý Vương (忠懿王) của Ngô Việt (呉越) đãi ngộ như là Quốc Sư. Vào ngày 28 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Khai Bảo (開寳) nhà Bắc Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi.
thiên thai đức thiều
T'ien-T'ai Te-shao (C), Tendai Tokushō (J)(891-972) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Pháp Nhãn Văn ích.
thiên thai đức thiều thiền sư
Zen master T'ien-Te-Shao—See Đức Thiều Thiền Sư.
thiên thanh tự
1357位於河南開封。五代周太祖建,初名國相寺,又稱白雲寺。寺有塔,六面九級,宏偉莊嚴,通稱繁塔,故俗稱繁塔寺。明末毀於水患,僅存一殿一塔,塔復折斷,僅餘三級。清乾隆中(1736~1795),重修之,前臨惠濟河,後依古吹臺,碧水綠楊,景物佳美。民國十七年(1928),馮玉祥毀像驅僧,改為農林實驗場。
thiên thu
A thousand autumns—Eternity.
Thiên Thánh Quảng Đăng Lục
(天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku): gọi tắt là Quảng Đăng Lục (廣燈錄, Kōtōroku), 30 quyển, do Lý Tuân Úc (李遵勗) biên tập, san hành năm thứ 18 (1148) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興) nhà Tống. Lý Tuân Úc có tự là Công Võ (公武), là người đã từng đến tham vấn Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰) của Lâm Tế Tông và có chỗ sở ngộ. Vào năm thứ 7 (1029) niên hiệu Thiên Thánh (天聖) đời vua Tống Nhân Tông, khi bộ này được soạn ra và dâng trình lên nhà vua, nó được xem như là bản tục biên của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), được lấy niên hiệu lúc bấy giờ và đặt tên là Thiên Thánh Quảng Đăng Lục. Tác phẩm này nêu lên khoảng 370 truyền ký cũng như cơ duyên từ thời đức Phật Thích Ca trở đi cho đến 27 vị tổ Tây Thiên, 6 vị tổ Đông Độ, trải qua 9 đời của môn hạ Nam Nhạc (南岳), 12 đời của môn hạ Thanh Nguyên (青原). Đặc biệt điều quý nhất là thư tịch này đã tường thuật rõ chư vị Thiền sư thuộc môn hạ Nam Nhạc và hầu hết các Ngữ Lục của chư vị tổ sư từ thời Mã Tổ (馬祖) trở về sau đều được thâu lục vào đây.
thiên thánh quảng đăng lục
1363凡三十卷。宋代鎮國軍節度使李遵勗(?~1038)編,高宗紹興十八年(1148)刊行。收於卍續藏第一三五冊。天聖七年(1029),遵勗獻廣燈錄於仁宗,仁宗賜「天聖」二字並序。本書繼景德傳燈錄之後,收錄釋尊、西天二十七祖、東土六祖、南嶽下九世、青原下十二世,約三百七十餘人之略傳及機緣。而於南嶽下禪師之敘述特別詳細,馬祖以後之諸師語錄幾乎全部收錄。
; (天聖廣燈錄) Lục, 30 quyển, do quan Trấn quốc quân Tiết độ sứ đời Tống là Lí tuân úc (?-1038) biên tập, ấn hành vào năm Thiệu hưng 18 (1148) đời vua Cao tông, được thu vào Vạn tụctạngtập 135. Năm Thiên thánh thứ 7 (1029), quan Trấn quốc dâng Quảng đăng lục lên vua Nhân tông. Vua Nhân tông liền ban 2 chữ Thiên thánh và viết bài tựa. Sách này được soạn kế sau Cảnh đức truyền đăng lục, thu chép lược truyện và cơ duyên ngữ cú của hơn 370 vị từ đời đức Phật Thích tôn cho đến 27 vị Tổ Tây thiên (Ấn độ), 6 vị Tổ Đông độ(Trung quốc), 9 đời thuộc hệ thống Nam nhạc bắt đầu từ ngài Hoài nhượng và 12 đời thuộc hệ thống Thanh nguyên bắt đầu từ ngài Hành tư trở xuống. Phần trình bày về các Thiền sư thuộc hệ thống ngài Nam nhạc đặc biệt tỉ mỉ, rõ ràng và ngữ lục của các Thiền sư từ ngài Mã tổ về sau gần như được thu chép toàn bộ.
thiên thánh thích giáo tổng lục
1363凡三冊。北宋惟淨等編修。內容係錄出東漢至北宋天聖五年(1027)之漢譯經典及我國撰述入藏之佛典。現存之金藏本有所缺漏,難窺全貌。據載,本錄載錄唐代智昇之開元釋教錄(入藏錄)、新入藏諸典、唐代圓照之大唐貞元續開元釋教錄、北宋楊億之大中祥符法寶錄等所載之佛典等,總計一四九六部,六二○八卷,六○二帙。本書夙佚失傳,但近時在山西省趙城廣勝寺發現中下二冊之殘缺本,今影印收載於宋藏遺珍第六冊。〔佛祖統紀卷四十五天聖五年條〕
; (天聖釋教總錄) Lục, 3 tập, do ngài Duy tịnh biên tu vào đời Bắc Tống. Nội dung sách này thu chép những kinh điển Hán dịch từ đời Đông Hán đến năm Thiên thánh thứ 5 (1027) và các soạn phẩm Phật điển của Trung quốc được nhập tạng. Bản Kim tạng hiện còn có chỗ thiếu sót, khó thấy được toàn diện. Căn cứ theo nội dung thì bộ lục này ghi chép các kinh điển trong Khai nguyên thích giáo lục(nhập tạng lục) của ngài Trí thăng đời Đường, các kinh sách mới được đưa vào tạng, Đại đường trinh nguyên tục Khai nguyên thích giáo lục của ngài Viên chiếu đời Đường, Đại trung tường phù pháp bảo lục của ông Dương Úc đời Bắc Tống..., tổng cộng gồm 1496 bộ, 6208 quyển, 602 pho. Sách này bị thất truyền đã lâu, mãi đến thời gần đây người ta mới tìm thấy 1 bản không hoàn chỉnh gồm 2 tập trung và hạ ở chùa Quảng thắng tại Triệu thành, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, hiện nay được chụp in và thu chép vào Tống tạng di trân tập thứ 6. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45 (điều Thiên thánh ngũ niên)].
thiên thân
Vasubandhu, younger brother of Asanga, wrote Câu Xá Luận, Duy Thức Luận, etc. He was the twenty first Indian patriarch.
; Tên Bà Tẩu Bàn Đậu (Vasubandhu), người Peshawar, sanh 900 năm sau ngày Phật nhập Niết bàn. Sáng tác nổi tiếng của Ngài là Abhidharmakosa. Ông đã được người anh là Vô Trước (Asanga) giúp chuyển tu từ Tiểu Thừa sang Đại Thừa. Vào ngày lễ đổi tông phái ấy, ông muốn cắt bỏ cái lưỡi đã phỉ báng Đại Thừa, nhưng ngài Vô Trước đã can ngăn và khuyên ông nên dùng chính cái lưỡi ấy chuộc lỗi. Ông đã viết bộ Duy Thức Học và những tác phẩm Đại Thừa khác. Ông là tổ thứ 21 của dòng Thiền Ấn Độ—Vasubandhu (a native of Peshawar, born 900 years after the Buddha's nirvana). Vasubandhu's great work, Abhidharmakosa. He was converted from Hinayana to Mahayana by his brother, Asanga. On his conversion he would have cut out his tongue for its past heresy, but he was dissuaded by his brother, who bade him use the same tongue to correct his errors, whereupon he wrote “The Teaching of the Nature of the Eight Consciousnesses” (Duy Thức Học) and other Mahayanist works. He is called the twenty-first patriarch.
thiên thân bồ tát
Xem Thế Thân Bồ tát.
Thiên Thân 天親
[ja] テンジン Tenjin ||| An alternative Chinese rendering for Vasubandhu 世親, which is also transcribed as Transliterated as Popandou 婆槃豆. => Một tên gọi khác của Thế Thân (s: Vasubandhu 世親), còn được phiên âm cũng như chuyển tự là Bà-bàn-đậu (c: Popandou 婆槃豆).
thiên thê sơn
1) Núi Thang Lên Trời: The ladder-to-heaven hill or monastery. 2) Núi Thiên Thai: T'ien-T'ai mountain in Chekiang.
Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên
(天垂寳蓋、地湧金蓮): trên trời rũ lọng báu xuống, dưới đất vọt lên hoa sen vàng ròng. Trong Độ Kiều Khoa Ngân Kiều Nghi (度橋科銀橋儀) của Đạo Giáo có đoạn: “Thiên thùy bảo cái trùng trùng hiện, địa dõng kim liên đóa đóa tiên, sám hối do như liên thủy xuất, siêu thăng hảo tợ nguyệt đương viên (天垂寳蓋重重現、地湧金蓮朵朵鮮、懺悔猶如蓮出水,超升好似月當圓, Trời buông lọng báu lớp lớp hiện, đất vọt sen vàng đóa đóa nguyên, sám hối giống như sen khỏi nước, siêu thăng nào khác nguyệt đang viên).” Hay trong Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục (佛日普照慧辯楚石禪師語錄, Taishō No. 1420) quyển 1 cũng có câu: “Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, nhất cú vô tư, như hà chúc tán (天垂寶蓋、地湧金蓮、一句無私、如何祝贊, trời buông lọng báu, đất vọt sen vàng, một câu vô tư, làm sao chúc tán ?).” Trong văn cúng thỉnh Phật an vị cũng có đoạn rằng: “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh: thiên hoa đài thượng, bách bảo quang trung, Tam Thập Nhị Tướng chi Năng Nhân, Bát Thập Chủng Hảo chi Đại Giác, quá hiện vị lai vô lượng Phật Đà Gia. Duy nguyện: thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, quang giáng đạo tràng, chứng minh công đức (南無一心奉請、千花臺上、百寳光中、三十二相之能仁、八十種好之大覺、過現未來無量佛陀耶。惟願、天垂寶蓋、地湧金蓮、光降道塲、證明功德, Kính thành một lòng phụng thỉnh: trên đài ngàn hoa, trăm báu ánh sáng, Ba Hai Tướng Tốt đấng Năng Nhân, Tám Mươi Vẻ Đẹp bậc Đại Giác, quá khứ, hiện tại, tương lai vô lượng các đức Phật. Cúi mong: trời ban lọng báu, đất nỗi sen vàng, giáng xuống đạo tràng, chứng minh công đức).”
thiên thú
Xem Thiên đạo.
; See Thiên Đạo.
Thiên thú 天趣
[ja] テンシュ tenshu ||| Heavenly destiny; rebirth as a god as a result of good practices in a previous lifetime. Same as 天道, one of the six destinies => Cõi trời; nơi được tái sinh nhờ kết quả tu thiện nghiệp ở kiếp trước. Đồng nghĩa Thiên đạo, một trong Lục thú六趣.
thiên thượng
1334為六道之一。住於欲界(性欲、食欲較強烈者所居之世界)、色界(已離欲望,無男女之別,且無言語之世界)、無色界(無各種形狀,由受、想、行、識等四蘊所成之世界)等諸天之天人,總稱天上。又指天之世界或神之世界。
; The heavens above.
; Những tầng trời bên trên, như lục dục Thiên, lục sắc Thiên và lục vô sắc Thiên—The heavens above, such as the six devalokas, six rupalokas and six arupalokas.
; (天上) Trên trời. Tức chỉ cho các người trời sống trong 3 cõi Dục, Sắc, và Vô sắc, là 1 trong 6 đường. Ngoài ra, Thiên thượng cũng chỉ cho thế giớicủacác thần.
Thiên thượng giới 天上界
[ja] テンジョウカイ tenjōkai ||| The heavenly realm, which is one of the ten realms 十界. Same as 天, 天上, 天界, etc. => Cõi trời, 1 trong Thập giới. Đồng nghĩa Thiên天 , Thiên thượng天上, Thiên giới天界.
thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn
1334巴利語 aggo'ham asmi lokassa。略稱唯我獨尊。為釋尊誕生時,向四方行七步,舉右手而唱詠之偈句。意即「吾為此世之最上者」。上述記載,見於長阿含經卷一、佛本行集經卷八、太子瑞應本起經卷上、誕生偈等。後世灌佛會中安置之釋尊誕生像,皆舉右手而垂左手,即表此一儀相。〔修行本起經卷上、方廣大莊嚴經卷三、有部毘奈耶雜事卷二十〕
; The first words attributed to Sàkyamuni after his first seven steps when born from his mother's right side: "In the heavens above and (earth) beneath I alone is the honoured one." This announcement is ascribed to every Buddha.
; “Trên trời dưới trời, riêng ta cao nhất. Trên trời dưới trời riêng ta tôn quý nhất.” Đó là lời Đức Phật lúc Ngài mới giáng sanh từ bên sườn phải Hoàng Hậu Ma Da và bước bảy bước đầu tiên. Đây không phải là một câu nói cao ngạo mà là câu nói để chứng tỏ rồi đây Ngài sẽ hiểu được sự đồng nhứt của bản tánh thật của toàn vũ trụ, chứ không phải là bản ngã theo thế tục. Lời tuyên bố nầy cũng là thường pháp của chư Phật ba đời. Đối với Đại Thừa, Ngài là tiêu biểu cho vô lượng chư Phật trong vô lượng kiếp—The first words attributed to Sakyamuni after his first seven steps when born from his mother's right side: “In the heavens above and earth beneath I alone am the honoured one.” This is not an arrogant speaking, it bears witness to an awareness of the identity of I, the one's own true nature or Buddha-nature with the true nature of the universe, not the earthly ego. This announcement is ascribed to every Buddha, as are also the same special characteristics attributed to every Buddha, hence he is the Tathagata come in the manner of all Buddhas. In Mahayanism he is the type of countless other Buddhas in countless realms and periods.
Thiên thượng 天上
[ja] テンジョウ tenjō ||| (1) The 'heavenly realm' also expressed with the single character 天. The "heavens above," i.e., the six devalokas: 六欲天 of the region of the desire and the form and formless realms. dyaus, svarga (2) Where the gods live; above the sky. (3) The rebirth as a god in the five (or six) destinies 五趣, or as one of the ten realms 十界. => 1. Cõi trời, còn được gọi đơn giản là Thiên. Các cõi trời, nghĩa là Lục dục thiên (六欲天), gồm cõi Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. 2. Nơi chư Thiên sinh sống, ở trên cõi trời. 3. Được sinh làm chư Thiên trong Lục thú hoặc Ngũ thú五趣, hay 1 trong Thập giới 十界.
thiên thần
Deva, Devatà (S). (1) Brahmà and the gods in genaral, including the inhabitants of the devalokas, all sbject to metempsychosis; (2) The fifteenth patriarch, disciple of Nàgàrjuna, also styled Devabodhisattva Đề Bà Bồ tát, Aryadeva Thánh Thiên and Nilanetra Thanh Mục blue eyed.
; Deva (skt)—Đề Bà—Celestial (Heaven) spirit—God of heaven. 1) Tổ thứ 15 dòng Thiền Ấn Độ, gốc người Tích Lan, là đệ tử của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Ông cũng được gọi là Đề Bà Bồ Tát, Thánh Thiên và Thanh Mục. Ông là tác giả của chín tác phẩm và là một người nổi tiếng về chống lại Bà La Môn—The fifteen patriarch, a native of South India, or ceylon, and disciple of Nagarjuna; he is also styled as Devabodhisattva, Aryadeva, and Nilanetra. He was the author of the nine works and a famous antagonist of Brahmanism. 2) Chư thiên, kể cả chư thiên cư ngụ trên cung trời dục giới: Deva and gods in general, including the inhabitants of the the devalokas, all subject to metempsychosis.
thiên thần địa kì
1357天神,梵語 devatā,音譯泥縛多,指天上之諸神,即為梵天、帝釋等之通稱。地祇,指居住於地之鬼神,即堅牢地神、八大龍王等。此外,色界以下諸天眾之屬隸,及欲界之夜叉等,亦總稱天神地祇。
; The spirits Thiên thần are Indra and his retenue; devas in general; and Địa kì are the earth spirits, nàgas, demons, ghosts, etc.
; (天神地祇) Thiên thân, Phạm: Devatà. Hán âm: Nê phạ đa.Chỉ cho các vị thần trên trời, tứctừchỉ chung Phạm thiên, Đế thích... Còn Địa kì thì chỉ cho các quỉ thần sống trên mặt đất, tức Kiên lao địa thần, Bát đại long vương... Ngoài ra, các Thiên chúng lệ thuộc từ cõi Sắc trở xuống và các Dạ xoa... của cõi Dục, cũng gọi chung là Thiên thần đia kì.
thiên thần địa kỳ
1) Thiên Thần: Devas. 2) Địa Kỳ: Earth spirits, nagas, demons, ghosts, etc.
thiên thể
Celestial body.
thiên thể sùng bái
1369視日、月、星辰諸天體為神靈或神靈之居所而加以崇拜。流行於許多古代宗教中,美索不達米亞宗教與埃及宗教中均有,我國自古亦有之。一般主張天體崇拜始於游牧時期。由於太陽對作物生長及對氣象之關係重大,以太陽或太陽神為對象之崇拜,在農耕時期尤獲得普遍之發展。
; (天體崇拜) Xem các thiên thể như mặt trời, mặt trăng, những ngôi sao như thần linh, hoặc chỗ ở của thần linh và dốc lòng kính tin, sùng bái, gọi là Thiên thể sùng bái. Thiên thể sùng bái đã lưu hành trong rất nhiều tông giáo đời xưa. Trong các tông giáo ở Mesopotamia, Ai cập và Trung quốc thời cổ đại đều có tín ngưỡng này. Thông thường cho rằng Thiên thể sùng bái bắt đầu ở thời kì du mục, do mối tương quan trọng đại giữa mặt trời và sự sinh trưởng của muôn vật cũng như mọi khí tượng trong vũ trụ, bởi thế lấy mặt trời hoặc thần mặt trời làm đối tượng sùng bái là điều tự nhiên, nhất là vào thời kì canh nông thì tín ngưỡng này càng phát triển mạnh và phổ biến.
Thiên thỉnh vấn kinh 天請問經
[ja] テンショウモンキョウ Ten shōmon kyō ||| The Tian qingwen jing; Devatā sūtra (Questioning Devas Sutra); one fascicle, T 593.15.125-127. Translated by Xuanzang 玄奘 in 647 at Hongfu Monastery. => (c: Tian qingwen jing; s: Devatā sūtra; e: Questioning Devas Sutra); 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 647 tại Hoằng Phúc tự.
thiên thọ
Xem Đề bà đạt đa.
; Heaven-bestowed—A name of Devadatta.
thiên thọ quốc tú trướng
1364日本古物。又稱天壽國曼荼羅。日本推古天皇三十年(622),聖德太子薨後,妃橘大女郎欲觀太子往生天壽國之情狀,遂奏請天皇,敕由采女作成繡帳二幅。繡帳原長五公尺餘,寬一公尺餘,上有銘文四百字,分別繡於一百龜甲上,此銘文即上宮聖德法王帝說之全文。現存斷片六個,色彩鮮明,刺繡精巧,為日本此類遺品中之最古者。天壽國或即無量壽佛國(極樂淨土),一說為兜率天宮。〔聖譽鈔卷下、上宮太子拾遺記卷五、天壽國新曼荼羅裏書、觀古雜帖〕
; (天壽國綉帳) Cũng gọi Thiên thọ quốc mạn đồ la. Chỉ cho bức màn thêu nước Thiên thọ, một cổ vật của Nhật bản. Vào năm Suy cổ Thiên hoàng 30 (622), sau khi Thái tử Thánh đức qua đời, vợ Thái tử là Quất đại nữ lang muốn thấy quang cảnh vãng sinh về nước Thiên thọ của Thái tử, nên tâu xin Thiên hoàng ban sắc cho các thể nữ thêu 2 bức màn. Màn thêu dài hơn 5m, rộng hơn 1m, phía trên có bài minh 400 chữ, theo thứ lớp thêu trên mai 100 con rùa, toàn văn bài minh này do chính Thượng cung Thánh đức Pháp vương thuyết. Hiện còn 6 mảnh, màu sắc tươi sáng, mũi thêu tinh xảo, là di phẩm xưa nhất thuộc loại này của Nhật bản. Nước Thiên thọ có lẽ là cõi nước của đức Phật Vô lượng thọ, cũng có thuyết cho rằng nước Thiên thọ là cung trời Đâu suất. [X. Thánh dự sao Q.hạ; Thượng cung thái tử thập di kí Q.5; Thiên thọ quốc tân mạn đồ la lí thư; Quan cổ tạp thiếp].
thiên thọ vương
The parijata tree which grown in front of Indra's palace—The king among the heavenly trees.
Thiên Thọ 天授
[ja] テンジュ tenju ||| Chinese translation of the name of Devadatta; see => Hán dịch tên Devadatta; xem Đề-bà-đạt-đa提婆達多..
thiên thụ vương
The pàrijàta tree ba lợi chất đa, which grows in front of Indra's palace - the king among the heavenly tree.
thiên thủ kinh
733請參閱 大悲懺法 請參閱 大悲心陀羅尼經 即記載關於千手觀音之經典,共有四本。即: <一>千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經。全一卷。唐代伽梵達摩譯。收於大正藏第二十冊。略稱千手千眼大悲心經、千手陀羅尼經、千手觀音大悲心陀羅尼經、大悲總持經、千手經。內容述說因由、發願、十五善生、不受十五惡死等之功德、千手陀羅尼、受持之功德、咒詛法、四十二手各各之功德,日光月光二菩薩擁護之咒等。又於卷首附加御製序。一般稱為千手經者,即指此經。 <二>千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼。全一卷。唐代不空譯。收於大正藏第二十冊。略稱千手觀音大悲心陀羅尼、大悲心陀羅尼經。內容乃擷取伽梵達摩所譯千手經之精華,從發願以下之陀羅尼、四十二手各各之功德等,皆一一擷取之,另加上四十二手之圖與真言。此經為前述千手經之異譯。 <三>千手千眼觀世音菩薩姥陀羅尼身經。全一卷。唐代菩提流志譯。收於大正藏第二十冊。略稱千手觀音姥陀羅尼身經、千手經。內容初述姥陀羅尼與功德,次述總攝身、總持陀羅尼、諸佛三昧等之十二印明,又述千手觀音畫壇法與咒詛法,後述辯才、成等正覺、神變自在、請千眼觀音王心印咒等之十三印明。 <四>千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經。凡二卷。唐代智通譯。收於大正藏第二十冊。略稱千眼觀音陀羅尼神咒經。內容述說千手觀音之印咒法及壇法等。此經為前述菩提流志譯本之異譯。此二譯本所載之二十五種印咒法大同小異,然大身咒及曼荼羅壇法則互有差異。本經之梵本,係於唐貞觀年中,北印度僧所奉進者。
; (千手經) Chỉ cho những kinh điển ghi chép về bồ tát Thiên thủ Quan âm, gồm có 4 bàn, đó là: 1. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni(gọi tắt: Kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm, kinh Thiên thủ đà la ni, kinh Thiên thủ Quan âm đại bi tâm đà la ni, kinh Đại bi tổng trì, kinh Thiên thủ): Có 1 quyển, do ngài Già phạm đạt ma dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Nội dung kinh này nói về nguyên do, phát nguyện, 15 thứ thiện sinh, công đức không bị 15 thứ chết dữ, Đà la la ni nghìn tay, công đức thụ trì, pháp chú trớ, công đức của mỗi tay trong 42 tay, chú ủng hộ củabồ tát Nhật quang vàbồ tát Nguyệt quang... Ở đầu quyển có phụ thêm bài tựa do vua soạn. Thông thường, gọi kinh Thiên thủ chính là chỉ cho kinh này. 2. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni(gọi tắt: Thiên thủ Quán âm đại bi tâm đà la ni, Đại bi tâm đà la ni kinh): Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này trích lấy tinh túy kinh Thiên thủ do ngài Già phạm đạt ma dịch, Đà la ni từ phần phát nguyện trở xuống đến công đức mỗi tay trong 42 tay..., ngoài ra còn có thêm hình vẽ 42 tay và chân ngôn. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thiên thủ ở trên. 3. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đà la ni thân(gọi tắt: kinh Thiên thủ Quán âm mỗ đà la ni thân, kinh Thiên thủ): Có 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Nội dung kinh này trước hết nói về Mỗ đà la ni và công đức, kế đến nói về Tổng nhiếp thân, Tổng trì đà la ni, về 12 ấn minh tam muội của chư Phật, kế nữa, nói về cách vẽ đàn Thiên thủ Quán âm và pháp chú trớ, sau cùng, nói về 13 ấn minh(ấn khế và chân ngôn) như Biện tài, Thành đẳng chính giác, Thần biến tự tại, Thỉnh thiên nhãn Quán âm vương tâm ấn chú... 4. Kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đa la ni thần chú(gọi tắt: kinh Thiên nhãn Quán thế âm đà la ni thần chú): Gồm 2 quyển, do ngài Trí thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về phép ấn chú và đàn pháp của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thiên thủ do ngài Bồ đề lưu chi dịch ở trên. Hai mươi lăm pháp ấn chú nói trong 2 bản dịch này về phần tổng quát thì giống nhau, nhưng về chi tiết Đại thân chú và Mạn đồ la đàn pháp thì có khác nhau. Bản tiếng Phạm của kinh này là do vị tăng người Bắc Ấn độ đem đến dâng cho vua nhà Đường trong niên hiệu Trinh quán.
thiên thủ quan âm
733六觀音之一。全稱千手千眼觀自在(梵 Avalokiteśvara-sahasrabhuja-locana)。又作千手千眼觀音、千眼千臂觀音、千手聖觀自在(梵 Sahasra-bhujāryāvalokiteśvara)、千臂觀音、千光觀自在、千眼千首千足千舌千臂觀自在。據千手千眼大悲心經載,觀自在菩薩於往昔聞廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼,為利益一切眾生,乃發具足千手千眼之願,而即刻得其身。 諸經所載形像不一,有身作檀金色,一面千臂者;有身作黃金色,半跏坐於赤蓮花上,十一面四十手,前三面呈菩薩相,本面有三眼,右三面白牙向上,左三面為忿怒相,後一面暴笑,頂上一面現如來相者;有身作金色,千臂千眼五百面者。於密教現圖胎藏界曼荼羅為二十七面千臂,跏坐於寶蓮花上,千手中有四十(或四十二)臂持器杖。又依千光眼觀自在菩薩祕密法經,千手係表以四十手各濟度二十五有,故千臂非必具足,但有四十手即可,乃表觀音菩薩廣大慈悲之化用,故多以千臂稱之;且各面各手所代表之功德成就法及印言,亦隨各尊本誓之不同而異。 其千眼係於千手之掌中各有一眼。然若為四十手者,則僅有四十眼。據大悲心陀羅尼經載,四十手所持之物或所呈之手相各為:施無畏、日精摩尼、月精摩尼、寶弓、寶箭、軍持(瓶)、楊柳枝、白拂、寶瓶、傍牌、鉞斧、髑髏寶杖、數珠、寶劍、金剛杵、俱尸鐵鉤、錫杖、白蓮花、青蓮花、紫蓮花、紅蓮花、寶鏡、寶印、頂上化佛、合掌、寶篋、五色雲、寶戟、寶螺、如意寶珠、羂索、寶鉢、玉環、寶鐸、跋折羅、化佛、化宮殿、寶經、不退轉金輪、蒲桃,另有加上甘露手而合為四十一手者。各手之功德成就法及印言等,一一具載於經軌中。 於蓮華部諸尊之中,此尊為最勝之尊,故又稱蓮華王。其種子為逳(hrīḥ),係嵔髙喐奥(ha ra ī aḥ)四字所合成之字,表示貪(ra)瞋(ī)癡(ha)三毒轉入涅槃(aḥ)之義。據千手儀軌所載,此尊之根本印係以二手作金剛合掌,手背稍曲相離,二中指相合,二拇指、二小指分開豎直。此印又稱蓮華五古印、九山八海印、補陀落九峰印。其餘經軌另載有二十四種印、二十五種印之說。結根本印時,則誦根本陀羅尼,而有如下四種成就:(一)息災,(二)增益,(三)降伏,(四)敬愛鉤召等。然以其陀羅尼較長,故一般皆誦念小咒,即:唵(oṃ,歸命)嚩日羅(vajra,金剛)達摩(dharma,法)紇哩(hrīḥ,種子)。據千手千眼大悲心陀羅尼經等載,誦持此尊之陀羅尼者,可免受飢餓死、惡獸殘害死、樹崖墜落死等十五種之惡死,而得眷屬和順、財食豐足、道心純熟等十五種之善生;或治諸種疾病、蟲毒、難產死產、夫婦和合、延命、滅罪等。 有關此尊之儀軌及圖像等,至唐朝時始傳至我國。據千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經之序所載,武德年中(618~626),中天竺僧瞿多提婆齎來此尊之形像及結壇手印之經本;貞觀年中(627~649),另有北天竺僧以千臂千眼陀羅尼之梵本奉進,後由智通譯成漢文。故有關此尊之信仰,至七世紀已逐漸形成。 近代學者考察此尊之信仰於印度形成之情形,發現於印度神話中,相當於此尊之神格有因陀羅(梵 Indra)、原人(梵 Puruṣa)、濕婆(梵 Śiva)、毘紐(梵 Viṣṇu)等,此等諸神均有千眼之說。又大教王經卷九亦記載大自在天有千手千面之說。近代學者於西域等地探險,曾發現不少千手觀音畫像之斷片及曼荼羅等。〔千光眼觀自在菩薩祕密法經、千手觀音姥陀羅尼身經、補陀落海會軌、密教發達志卷二、Le Coq: Die buddhistische Sp⑤tantike in Mittelasien; A. Stein: The Thousand Buddhas〕
; (千手觀音) Gọi đủ: Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại (Phạm:Avalokitesvara-sahasrabhujalocana) Cũng gọi Thiên thủ thiên nhãn Quán âm, Thiên nhãn thiên tí Quán âm, Thiên thủ thánh Quán tự tại (Phạm: Sahasrabhujàryàvalokitesvara), Thiên tí Quán âm, Thiên quang Quán tự tại, Thiên nhãn thiên thủ thiên túc thiên thiệt thiên tí Quán tự tại. Một trong 6 loại Quan âm. Cứ theo Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm kinh thì bồ tát Quán tự tại ở quá khứ nghe Đà la ni Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm, vì muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên phát nguyện có đủ nghìn tay nghìn mắt, liền tức khắc được thân này.Về hình tượng của vị Bồ tát này các kinh ghi chép có khác nhau. Có kinh nói vị Bồ tát này thân màu vàng Diêm phù đàn, một mặt, nghìn cánh tay; có kinh nói thân Ngài màu vàng ròng, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, có 11 mặt 40 tay, 3 mặt trước hiện tướng Bồ tát, mặt chính có 3 mắt, 3 mặt bên phải có răng nanh chìa ra hướng lên trên, 3mặt bên trái hiện tướnggiận dữ, một mặt phía sau hiện vẻ cười dữ tợn, một mặt trên đỉnh đầu hiện tướng Như lai; có kinh thì nói rằng thân Ngài màu vàng, có nghìn tay nghìn mắt 500 mặt. Hình tượng vị Bồ tát này trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì có 27 mặt 1000 tay, ngồi kết già trên hoa sen báu; trong 1000 tay, có 40 (hoặc 42) tay cầm các khí trượng. Lại theo kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp thì 1000 tay là con số tượng trưng, vì dùng 40 tay, mỗi tay tế độ 25 Hữu, nhân lên thành con số 1000, vì thế không cần phải đủ 1000 tay, chỉ cần 40 tay cũng được, biểu thị cho hóa dụng từ bi rộng lớn của bồ tát Quán thế âm, cho nên thường gọi Ngài là Thiên tí (1000 tay); vả lại, pháp công đức thành tựu mà mỗi mặt, mỗi tay biểu thị và ấn ngôn cũng tùy theo bản thệ bất đồng cỉa mỗi vị tôn mà có khác nhau. Nghìn mắt là trong lòng tay của 1000 tay đều có 1 mắt, nhưng nếu là 40 tay thì chỉ có 40 mắt. Cứ theo kinh Đại bi tâm đà la ni thì các vật cầm ở 40 tay hoặc tướng tay biểu thị ở 40 tay là: Thí vô úy, nhật tinh ma ni, nguyệt tinh ma ni, cung(nỏ) báu, tên báu, bình báu, nhành dương liễu, phất trần trắng, bình nước, tấm khiên(lá chắn), rìu búa, gậy báu đầu lâu, xâu chuỗi, kiếm báu, chày kim cương, móc sắt câu thi, gậy tích, hoa sen trắng, hoa sen xanh, hoa sen tía, hoa sen đỏ, gương báu, ấn báu, hóa Phật trên đỉnh đầu, tay chắp, hộp báu, mây 5 sắc, kích báu, vỏ ốc báu, ngọc báu như ý, dây lụa, bát báu, xuyến báu, chuông báu, Kim cương, Hóa Phật, cung điện hóa, kinh báu, bất thoái chuyển Kim luân và chùm nho, lại thêm tay cam lộ cộng chung là 41 tay. Pháp thành tựu công đức của mỗi tay và ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) có nói đầy đủ trong kinh quĩ. Trong các tôn vị thuộc Liên hoa bộ thì vị tôn này là tối thắng, cho nên còn gọi là Liên hoa vương. Chủng tử là chữ (hrì#), là chữ do 4 chữ (ha ra ì a#) hợp thành, biểu thị cho nghĩa 3 độc tham (ra) sân (ì) si (ha) chuyển vào Niết bàn (a#). Theo Thiên thủ nghi quĩ thì ấn căn bản của vị tôn này là 2 tay chắp lại thành Kim cương hợp chưởng, lưng bàn tay hơi cong, 2 ngón giữa hợp vào nhau, 2 ngón cái, 2 ngón út cách ra và dựng thẳng. Ấn này cũng gọi là ấn hoa sen 5 chĩa, ấn 9 núi 8 biển, ấn 9 ngọn Bổ đà lạc. Các kinh quĩ khác còn có những thuyết 24 loại ấn, 25 loại ấn... Khi kết ấn căn bản thì tụng Đà là ni căn bản và được 4 thứ thành tựu như sau: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục và Kính ái câu triệu. Nhưng vì Đà la ni tương đối dài nên thông thường chỉ tụng niệm tiểu chú là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra, kim cương) đạt ma (dharma, pháp) hột lí (hrì#, chủng tử). Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm đà la ni thì tụng trì Đà la ni của vị tôn này có thể tránh khỏi 15 trường hợp chết thảm như chết đói, chết vì các loại thú cắn xé, chết vì ngã cây ngã núi... và được 15 điều sống an lành như họ hàng hòa thuận, ăn mặc đầy đủ, của cải dồi dào, đạo tâm thuần thục... hoặc chữa khỏi các chứng tật bệnh, trùng độc, chết vì khó sinh nở, vợ chồng hòa thuận, sống lâu, diệt tội... Về nghi quĩ và cách vẽ tượng của vị tôn này, đến đời Đường mới truyền đến Trung quốc. Cứ theo bài tựa trong kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú thì trong năm Vũ đức (618- 626), vị tăng Trung thiên trúc là ngài Cù đa đề bà mang hình tượng vị tôn này và các bản kinh kết đàn thủ ấn đến Trung quốc. Trong năm Trinh quán (627-649), lại có vị tăng Bắc Thiên trúc mang bản tiếng Phạm của Đà la ni Thiên tí thiên nhãn đến dâng lên vua nhà Đường, sau được ngài Trí thông dịch ra chữ Hán. Do đó, tín ngưỡng về vị tôn này đến thế kỉ VII đã dần dần hình thành. Khi khảo sát vềviệchình thành tín ngưỡng vị tôn này ởẤn độ, các học giả cận đại đã phát hiện ra những thần cách trong thần thoạiẤn độ tương đương với vị tôn này thì có: Nhân đà la ni (Phạm: Indra), Nguyên nhân (Phạm: Pusawa), Thấp bà (Phạm:Ziva), Tì nữu noa (Phạm:Viwịu)... các vị thần này đều có thuyết nghìn mắt. Kinh Đại giáo vương quyển 9 cũng có ghi thuyết trời Đại tự tại có nghìn tay nghìn mặt. Khi thám hiểm vùng Tây vực, các học giảthờigần đây cũng đã tìm thấy nhiều mảnh tượng vẽ Quán âm nghìn mắt nghìn tay và Mạn đồ la... [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; kinh Thiên thủ Quán âm mỗ đà la ni thân; Bổ đà lạc hải hội quĩ; Mật giáo phát đạt chí Q.2; Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien by Le cop; The Thousand Buddhas, by A. Stein].
thiên thủ thiên nhãn quán thế âm
SahasrabhŪjāry-Āvalokiteśvara (S), Sahasra-bhŪjāsahasraneta (S), SahasrabhŪjāsahas-raneta (S),One-thousand Arms and Eyes World Listerner Xem Thiên thủ Thiên nhãn Quán Tự tại.
; Sahasrabhùjàriy-Avalokitesvara (S). Avalokitesvara with a thousand hands and a thousand eyes.
thiên thủ thiên nhãn quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh
Ch'ien-shou ch 'ien-yen kuan-shih-yin p'u-sa kuang-ta t 'u-man wu-ai ta-fei-hsin t'o-lo-ni ching (C), Mahā-karuṇā-dhāraṇī (S)Thiên Thủ kinh Xem Đại bi Tâm Đà la ni.
Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni chú bản. 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼呪本
[ja] センシュセンゲンカンセイオンボサツコウダイエンマンムゲダイヒシンダラニジュホン Senju sengen kanjizai bosatsu kōdai emman muge daihi shin darani juhon ||| Skt. Avalokiteśvara[-nāma]-dhāraṇī; Tib. 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug thugs rje chen po'i gzungs phan yon mdor bsdus pa shes bya ba [To.723, P.380]; (Dhāraṇī Spellbook of the Thousand-Eyed, Thousand-Armed Bodhisattva Who Regards the World's Sounds with a Vast, Wholly Perfect, Unimpeded, Greatly Compassionate Heart) 1 fasc. (T 1061.20.112-113), tr. Vajrabodhi 金剛智. BGBT4/133-4. => s: Avalokiteśvara[-nāma]-dhāraṇī; t: 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug thugs rje chen po'i gzungs phan yon mdor bsdus pa shes bya ba. Một quyển. Kim Cương Trí 金剛智dịch.
thiên thủ thiên nhãn quán tự tại bồ tát
Avalokiteśvara-sahasrabhuja-locana (S)Thiên Thủ Thiên nhãn Quán âm, Thiên Quan Quán Tự TạiTên một vị Bồ tát.
thiên thủ thiên nhãn đại bi quán thế âm bồ tát
Thousand-Hand Thousand-Eye Great Mercy Avalokitesvara Bodhisattva.
Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm chú hành pháp 千手眼大悲心呪行法
[ja] センシュゲンダイヒシンジュコウホウ Senshugan daihishinju kouhou ||| The Qianshouyan dabeixinzhou xingfa; T 1950.46.973a-978a. => c: Qianshouyan dabeixinzhou xingfa; T 1950.46.973a-978a. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát đại bi tâm đà-la-ni. 千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼 [ja] センシュセンゲンカンセイオンボサツダイヒシンダラニ Senju sengen kanzeon bosatsu daihishin darani ||| (Nīlakaṇṭha-dhāraṇī). Dhāraṇī of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds with Great Compassion. A dhāraṇī devoted to Avalokiteśvara. It is still used among laymen and monks in Chinese Buddhism. Seven Chinese translations are extant: (1) 2 fasc. (T 1057.20.83-96), Dhāraṇī Incantation of the Thousand-Eyed, Thousand-Armed One Who Regards the World's Sounds 千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神呪經, tr. Zhitong 智通. (2) 1 fasc. (T 1058.20.96-103), Dhāraṇī Incantation of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds 千手千眼觀世音菩薩姥陀羅尼身經, tr. Bodhiruci 菩提流志. (3) 1 fasc. (T 1060.20.105-112), Dhāraṇī of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds and Feels Vast, Complete, Unimpeded Great Compassion 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經, tr. Bhagavaddharma 伽梵達摩. Jpn. comm.: Shōjin's 定深 Explanation of the Twenty-Eight Chiefs of the Thousand Hands Sutra 千手經 二十八部衆釋 (T 2243). (4) 1 fasc. (T 1062a.20.113-114), Spell of the Bodhisattva with a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds 千手千眼觀世音菩薩大身呪本, tr. Vajrabodhi 金剛智 in 731 CE. (5) 1 fasc. (T 1062b.20.114-115) Saint Honoured in the Worlds, the Bodhisattva of Spontaneous Vision With a Thousand Eyes, Arms, Heads, Feet, Tongues and Arms 世尊聖者千眼千首千足千舌千臂觀自在菩提薩怛廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼, tr. unknown. (6) 1 fasc. (T 1063.20.114-115) Great Compassion Incantation 番大悲神呪, tr. unknown. (7) 1 fasc. (T 1064.20.115-119) Dhāraṇī of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds with Great Compassion 千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼, tr. Amoghavajra 不空. For an English translation of one version (T 1060), illustrated with an English commentary, see Hua (1976); for a study of the Chinese versions (T 1057, 1058, 1060, 1061), see Lèvi (1912).[To. 690, P.368; To. 691, P. 369]; BGBT4/133n.293 (s: Nīlakaṇṭha-dhāraṇī). => Đà-la-ni có nội dung cầu nguyện Bồ-tát Quán Thế Âm, được chư tăng cũng như cư sĩ Phật giáo Trung Hoa sử dụng. Hiện lưu hành bảy bản dịch tiếng Hán: 1. Thiên thủ thiên tý Quán thế âm Bồ-tát đà la ni thần chú kinh. 1 quyển , Trí Thông 智通c: Zhitong dịch. 2. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát mẫu đà la ni thân kinh. 1 quyển. Bồ đề Lưu chí dịch. 3. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh. 1 quyển . Già-phạm Đạt-ma dịch. Chú giải bằng tiếng Nhật của Định Thâm 定深 j: Shōjin's nhan đề Thiên thủ kinh nhị thập bát bộ chúng thích. 4. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát đại thân chú bản, 1 quyển . Kim Cương Trí dịch năm 731. 5. Thế Tôn thánh giả thiên nhãn thiên thủ thiên túc thiên thiệt thiên tý Quán tự tại bồ đề tát đản quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, 1 quyển. Dịch giả vô danh. 6. Phiên đại bi thần chú, 1 quyển. Dịch giả vô danh. 7.Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát đại bi tâm đà la ni, 1 quyển . Bất Không dịch. Về bản tiếng Anh của Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni cùng minh hoạ, xin xem bản dịch của Hoà Thượng Tuyên Hoá (Hua, 1976); muốn nghiên cứu bản tiếng Hán , xin xem bản của Lévi (1912)
thiên thủ thánh quán tự tại
Xem Thiên thủ Thiên nhãn Quán âm.
thiên thức
1369指吾人之本性、真如。劉禹錫曹溪六祖大鑒禪師第二碑:「能使學者還其天識。」
; Chân Như—Natural perception or wisdom—The primal endowment in men—The Bhutatathata (chân như).
; (天識) Thức trời. Tức chỉ cho bản tính thiên chân của người ta. Lưu vũ Tích Tào khê Lục tổ Đại giám thiền sư đệ nhị bi ghi: ...Khiến cho học giả trở về với thiên thức của mình.
thiên thừa
Devayāna (S)Một trong Ngũ thừa.
; Devayana (skt)—Một trong ngũ thừa, có công năng đưa những người tu tập thiện nghiệp đến một trong sáu cõi trời dục giới, cũng như đưa những người tu tập thiền định đến những cảnh trời sắc giới hay vô sắc giới cao hơn—The deva vehicle—Divine Vehicle—One of the five vehicles—It transports observers of the ten good qualities (thập thiện) to one of the six deva realms of desire, and those who observe dhyana meditation to the higher heavens of form and non-form.
thiên thừa (thặng)
Devayàna (S). The deva vehicle, one of the five vehicles. It transports observers of the ten good qualities thập thiện to one ođ the six deva realms of desire.
thiên thực
1354指天界之妙食。即人界所無與倫比之美味妙食。起世經卷七(大一‧三四五下):「四天王天并諸天眾,皆用彼天須陀之味。(中略)念欲食時,即於其前有眾寶器,自然成滿天須陀味種種異色。諸天子中有勝業者,其須陀味色最白淨。若彼天子果報中者,其須陀味色則稍赤。若彼天子福德下者,其須陀味色則稍黑。時彼天子以手把取天須陀味內其口中,此須陀味既入口已,即自漸漸消融變化,譬 p酥及生酥擲置火中。」
; Sudhà (S). Food of the gods, sweet dew, ambrosia, nectar.
; Sudha (skt)—Thực phẩm của chư Thiên gồm nước cam lộ, nước hồ đào và trường sanh bất tử—Food of the gods include sweet dew, nectar and ambrosia: (A) Thực phẩm cho chư Thiên cao cấp màu trắng: White-coloured Food for gods of higher ranks. (B) Thực phẩm cho chư Thiên cấp thấp hơn thì có nhiều màu (xanh, vàng, đỏ): Coloured Food for gods of lower ranks (blue—yellow—red).
; (天食) Chỉ cho thức ăn thơm ngon vi diệu của cõi trời màởnhân gian không có mùi vị nào sánh bằng. Kinh Khởi thế quyển 7 (Đại 1, 345 hạ) nói: Tứ thiên vương và các thiên chúng đều dùng vị thiên tu đà ấy. (...) khi khởi tâm muốn ăn thì ở ngay trước mặt đã có các đồ đựng quí báu, tự nhiên đựng đầy các vị thiên tu đà với nhiều màu sắc khác nhau. Trong các Thiên tử, ai có thắng nghiệp thì màu sắc vị tu đà của người ấy trắng sạch nhất. Nếu quả báo của Thiên tử ấy trung bình thì màu sắc vị tu đà của người ấy hơi đỏ. Còn nếu phúc đức củaThiên tử ấy ở mức thấp thì màu sắc của vị tu đà của người ấy hơi đen. Khi Thiên tử ấy dùng tay cầm vị tu đà bỏ vào trong miệng thì vị tu đà tự tan ra và biến hóa dần dần, giống như vị tô và sinh tô bỏ vào lửa vậy.
thiên tiên
1336梵語 devaṛṣi。泛指天人與神仙。據理趣分述讚卷中謂,五趣之極,稱為天;人而有神德者,稱為仙。
; Deva-ṛṣi (S).
; Deva-rsis (S). Immortals.
; Deva-Rsis (skt)—Deva and rsis—Heavenly fairies—Immortals—Deva genii—Thiên Tiên có nghĩa là những người tu tiên đắc đạo được lên cõi trời—Heavenly Fairies are people who cultivate and attain the Taoist path so that they are reborn in Heavens. 1) Ngài Long Thọ Bồ Tát đưa ra mười loại Tiên có đời sống đến 100.000 năm mới đi đầu thai—Nagarjuna gives ten classes of rsis whose lifetime is 100,000 years, the they reincarnated. 2) Năm loại Tiên khác—Another category is fivefold: • Thiên Tiên: Thiên Tiên ở quanh núi Tu Di—Deva-rsis in the mountain round Sumeru. • Thần Tiên: Những vị Tiên bay vút trên không trung—Spirit-rsis who roam the air. • Nhân Tiên: Những người đã đạt được năng lực trường sanh bất tử—Humans who have attained the powers of immortals. • Địa Tiên: Earth-rsis, subterranean. • Quỷ Tiên: Pretas, or malevolent rsis.
; (天仙) Phạm: Devafwi. Chỉ chung cho người trời và thần tiên. Cứ theo Lí thú phân thuật tán quyển trung thì loài hữu tình cao tột trong 5 đường gọi là Thiên; còn người có thần đức thì gọi là Tiên.
thiên tiểu
4372指小乘之教理。以其理偏於空,故法門狹小,就大乘教義之立場而言,稱為偏小。止觀大意(大四六‧ |六○中):「如是方離偏小邪外,所以居在十法之首。」此外,亦有指專執小乘教者之意。
; Nghiêng về cái nhỏ, chỉ sự thuyết pháp của Đức Phật trong 12 năm sau khi thành đạo (người ta cho rằng nghĩa lý mà Đức Phật thuyết giảng trong thời kỳ nầy chỉ mới là bước đầu hạn hẹp)—The partial and minor teaching of the Buddha during the first twelve years of his ministry.
; (偏小) Chỉ cho giáo lí của Tiểu thừa, nghĩa là giáo lí này nghiêng hẳn về bên không, thành là pháp môn nhỏ hẹp. Đứng trên lập trường của giáo nghĩa Đại thừa mà nói, thì giáo lí ấy gọi là Thiên tiểu. Chỉ quán đại ý (Đại 46, 460 trung) nói: Như thế mới có thể xa lìa thiên tiểu và tà ngoại, cho nên đứng đầu trong 10 pháp. Ngoài ra, Thiên tiểu cũng có khi chỉ cho người chuyên chấp trước Tiểu thừa.
thiên tiểu tình
4372謂小乘於人法二空中,僅知人空而未知法空之淺薄偏見。小乘雖體認眾生之身為五蘊之假和合,但以為五蘊生滅之法為實有,故怖畏生死、妄取涅槃。華嚴經孔目章卷三人法二空章載,人空通小乘,而未清淨,至三乘方得清淨;法空在三乘尚未清淨,至一乘方能究竟清淨。
; Tư tưởng thiên lệch nhỏ hẹp, cho rằng dù ngã giả, nhưng chư pháp là thật—The partial or narrower idea that thought the ego is unreal, things are real.
; (偏小情) Chỉ cho sự thấy biết nông nổi, hẹp hòi, chỉ biết nhân không chứ chưa biết pháp không. Tức làkiến chấp Tiểu thừa. Tiểu thừa tuy nhận ra rằng thân chúng sinh là do 5 uẩn giả hòa hợp, nhưng lại cho pháp 5 uẩn sinh diệt là có thật, cho nên sợ sinh tử, vọng cầu Niết bàn. Chương Nhân pháp nhị không trong Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 nói rằng: Nhân không chung cho Tiểu thừa, nhưng chưa được thanh tịnh, đến Tam thừa mới thanh tịnh. Nhưng kinh Pháp hoa thì cho rằng Tam thừa vẫn chưa thanh tịnh, đến Nhất thừa mới được thanh tịnh rốt ráo.
thiên toạ
4373坐法之一種,即立單膝而坐。或同於偏跏。阿吒薄俱元帥儀軌經卷下(大二一‧二○一下):「若敕鬼神,即偏坐,以左手托跨。」
; (偏坐) Ngồi lệnh, 1 trong các cách ngồi. Tức ngồi 1 chân xếp bằng, 1 chân đầu gối dựng đứng. Hoặc có thuyết cho rằng cách ngồi này giống với Thiên già(kết già một bên). Kinh A tra bạc câu nguyên súy nghi quĩ quyển hạ (Đại 21, 201 hạ) nói: Nếu sai khiến quỉ thần thì nênthiên tọa, tay trái để ở bẹn.
Thiên Trung Thiên
Một tôn hiệu của Phật, xưng tụng Phật là vị chẳng những được loài người lễ bái, lại được tất cả chư thiên trong Ba cõi đều tôn trọng hơn hết, là bậc cao trổi nhất trong hàng chư thiên.
thiên trung thiên
1335梵語 devātideva,巴利語同。謂諸天中之最勝者。又作天人中尊、天中王。為佛尊號之一。以釋尊誕生之後,曾受諸天禮拜,故而有此尊號。〔修行本起經卷上菩薩降身品、佛本行經卷一梵志占相品、阿閦佛國經卷上、釋氏要覽卷中〕
; Devātideva (S).
; Devàtideva (S). Deva of devas, the name given to Siddhartha when, on his presentation in the temple of Thiên Vương Mahesvara (Siva), the statues of all the gods prostrated themselves before him.
; Tôn hiệu của Đức Phật (Thiên là đấng được người tôn kính, Phật là đấng được Thiên tôn kính, nên gọi là Thiên Trung Thiên). Phật được danh hiệu nầy khi Ngài thuyết pháp trên cung Thiên Vương. Ngày nay chúng ta còn thấy hình tượng chư Thiên quỳ mọp trước mặt Ngài—Devatideva (skt)—Deva of devas. The name given to Siddhartha (Sakyamuni) when, on his presentation in the temple of Mahesvara (Siva), the statues of all the gods prostrated themselves before him.
; (天中天) Phạm,Pàli:Devàtideva. Cũng gọi là Thiên nhân trung tôn, Thiên trung vương. Bậc tối thắng trong hàng chư thiên, 1 trong các tôn hiệu của Phật. Vì sau khi giáng sinh, đức Thích tôn từng được chư thiên lễ bái, cho nên có tôn hiệu này. [X. phẩm Bồ tát giáng sinh trong kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; phẩm Phạm chí chiêm tướng trong kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh A súc Phật quốc Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q.trung].
thiên trung vô nhất
732指雜修之失。意謂雜修之人,往生極樂者甚稀,千人之中無有一人。雜修者,雜緣亂動,易失正念,與佛之本願不相應,無有懺悔之心,又常與名利相應,不親近同行善知識,而自障、障他往生正行,故選擇本願念佛集(大八三‧四中)稱:「修雜不至心者,千中無一。」此一思想,係出自善導之往生禮讚。〔六要鈔卷六末(存覺)〕(參閱「專雜二修」4514)
; (千中無一) Trong một nghìn người không được một người, đây là tiếng dùng chỉ cho lỗi của sự tu hành tạp nhạp. Ý nói những người tu hành tạp nhạp được vãng sinh Cực lạc rất ít, trong 1000 người không có được 1 người. Những người tạp tu, các duyên tạp nhạp loạn động, dễ mất chính niệm, không ứng hợp với bản nguyện của Phật, không có tâm sám hối, lại thường đi theo danh lợi, không gần gũi thiện hữu cùng chí hướng, gây chướng ngại cho chính hạnh vãng sinh của mình và người. Cho nên, trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập (Đại 83, 4 trung) mới nói: Người tạp tu không dốc lòng, trong nghìn người không được một (thiên trung vô nhất). Tư tưởng này có xuất xứ từ Vãng sinh lễ tán của Đại sư Thiện đạo đời Đường. [X. Lục yếu sao Q.6, phần cuối (Tồn giác)]. (xt. Chuyên Tạp Nhị Tu).
thiên trí
Devaprajā (S)Đề vân bát nhãTên một vị sư.
Thiên Trù
(天厨): Bếp Trời. Từ này có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của một vì sao, như trong phần Thiên Văn Chí Thượng (天文志上) của Tấn Thư (晉書) có câu: “Tử Vi thản, đông bắc duy ngoại lục tinh viết Thiên Trù, chủ thịnh soạn (紫微垣、東北維外六星曰天廚、主盛饌, trong khu vực sao Tử Vi, sáu ngôi sao ngoài phương đông bắc gọi là Thiên Trù, chủ quản về cỗ ăn uống).” (2) Nhà Bếp của Thiên Đình, như trong bài thơ Đề Tuyên Luật Sư Họa Tượng (題宣律師畫像) của Lục Du (陸游, 1125-1210) nhà Tống có câu: “Bình sanh nhất ngõa bát, hà xứ hữu Thiên Trù (平生一瓦缽、何處有天廚, bình sanh một bình bát, nơi đâu có Bếp Trời).” Hay trong bài Mai Hoa Am Đồng Lâm Nhã Phủ Thoại Vũ Liên Cú (梅花庵同林若撫話雨聯句) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1672) nhà Thanh lại có câu: “Tiên lạc Thanh Thương thái, Thiên Trù pháp tửu triêm (仙樂清商奏、天廚法酒霑, tiên vui Thanh Thương rộn, Bếp Trời rượu thấm ngon).” (3) Nhà Bếp của Hoàng Đế, như trong bài Nguyên Hựu Bát Niên Sanh Nhật Tạ Biểu (元祐八年生日謝表) của Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có đoạn: “Lão phùng đản nhật, khấp dưỡng thân chi vô tùng, tứ xuất Thiên Trù, quý quân tư chi mạc báo (老逢誕日、泣養親之無從、賜出天廚、愧君恩之莫報, già gặp ngày sinh nhật, khóc xót nuôi song thân không được toại nguyện, nhận ân sủng Nhà Bếp triều đình, thẹn ơn nhà vua chưa báo đáp).” Trong Phật Giáo, có những câu chuyện của các vị thần tăng đã từng được trời cúng dường cho thức ăn như trong Ngọc Thanh Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh (玉清無極總眞文昌大洞仙經) quyển 6 của Đạo Giáo có đoạn rằng: “Tích hữu tăng tọa Thiền, văn Hương Tích chi khí, tâm niệm viết tất thị trai cúng, hoặc kiến thiên tiên lai thỉnh phó Thiên Trù cúng, tăng ư định trung tiện khứ, nhật mỗi như thị; hoặc nhật minh, nhãn sư kiến chi, vị viết: 'Nhữ đọa nhất xí trung hỉ'. Tăng bất tín, toại linh tái phó cúng, hồi, sư thủ xí trung nhất trùng sát chi, tăng phương ngộ (昔有僧坐禪、聞香積之炁、心念曰必是齋供、或見天仙來請赴天厨供、僧於定中便去、日每如是、或日明、眼師見之、謂曰汝墮一廁中矣、僧不信、遂令再赴供、回、師取廁中一蟲殺之、僧方悟, xưa kia có vị tăng đang ngồi Thiền, chợt nghe mùi thơm xứ Hương Tích, tâm niệm cho rằng đó là đồ chay cúng dường, hoặc có khi thấy tiên trên trời đến mời dự cúng dường trên Thiên Trù, vị ấy trong định mà đi; mỗi ngày đều như vậy; có hôm nọ lúc trời sáng, thầy ông thấy vậy, bảo rằng: 'Ngươi đọa vào trong nhà xí rồi !' Vị tăng chẳng tin, lại tiếp tục đi tham dự lễ cúng dường; đến khi trở về, thầy ông lấy trong nhà xí ra một con trùng và giết đi; khi ấy vị tăng mới tỉnh ngộ).” Hay như trong Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064) quyển 6, truyện Khuy Cơ (窺基) có đoạn kể rằng: “Sơ Nam Sơn Tuyên Luật Sư, dĩ hoằng luật danh chấn Ngũ Đại, cảm thiên trù cúng soạn; Cơ thường phỏng Tuyên, kỳ nhật quá ngọ nhi thiên soạn bất chí, cập Cơ từ khứ Thiên Thần nãi giáng, Tuyên trách dĩ hậu thời, Thiên viết: 'Thích kiến Đại Thừa Bồ Tát tại thử dực vệ nghiêm thậm, cố vô tự nhi nhập.' Tuyên văn chi đại kinh (初南山宣律師、以弘律名震五天、感天廚供饌、基嘗訪宣、其日過午而天饌不至、及基辭去天神乃降、宣責以後時、天曰、適見大乘菩薩在此翊衛嚴甚、故無自而入、宣聞之大驚, lúc ban đầu Nam Sơn Đạo Tuyên Luật Sư truyền bá Luật Tông danh thanh vang khắp mọi nơi, cảm động khiến cho trời dâng cúng thức ăn; Khuy Cơ thường đến thăm Đạo Tuyên, có hôm nọ đến quá ngọ mà cơm trời vẫn chưa đến, khi Khuy Cơ chuẩn bị ra về thì Thiên Thần giáng xuống; Đạo Tuyên phiền trách vì sao đến trễ; Thiên Thần thưa rằng: 'Tôi thấy có các vị Bồ Tát Đại Thừa canh giữ nơi đây rất nghiêm mật, nên không tự tiện vào.' Đạo Tuyên nghe vậy rất kinh sợ).” Trong Thiền môn có các bài tán về Thiên Trù Cúng như “Thiên Trù cúng, Thuần Đà tối hậu lai, cơ xan ma mạch sung bì đại, tiên nhân hựu hiến trai thực tại, song song mục nữ hiến hương mi, Tứ Thiên Vương bổng bát, diêu vọng Linh Sơn bái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (天厨供、淳陀最後來、飢飡麻麥充皮袋、仙人又献齋食在、雙雙牧女献香糜、四天王捧鉢、遙望靈山拜、南無香供養菩薩, món trời cúng, Thuần Đà đến cuối cùng, đói khát mè thóc cũng no đủ, tiên nhân lại dâng thức chay đến, hai hàng mục nữ cúng cháo thơm, Tứ Thiên Vương nâng bát, xa hướng Linh Sơn vái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát)”; hay “Thiền duyệt Tô Đà, tạo xuất Thiên Trù cúng, thành đạo đương sơ, mục nữ tiền lai tống Lão Mẫu, phó thác tại kim bàn, phụng hiến thượng Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát (禪悅酥酡、造出天厨供、成道當初、牧女前來送老母、付托在金盤、奉献上如來、賢聖無邊眾。南無禪悅藏菩薩, Thiền vui Tô Đà, tạo nên món trời cúng, thành đạo ban sơ, mục nữ đến trước dâng Lão Mẫu, phó thác tại bàn vàng, dâng cúng lên Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát)”, v.v. Từ đó, chúng ta thấy rằng Thiên Trù Cúng còn có nghĩa là món thức ăn trân quý do trời cúng, hay món thức ăn cao quý đem dâng cúng cho các bậc cao tăng, thạc đức.
thiên trù
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong làng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 38 dậm. Chùa Thiên Trù được xây dựng dưới triều vua Lê Hy Tông, nhưng bị sụp đổ năm 1947. Hiện chùa đang được xây lại. Chùa nằm trong một khu vực rộng lớn đẹp dẽ, có khe suối, có rừng và hang động. Trong sân chùa có tấm bia cổ được dựng lên từ năm 1686, nói về việc Sư Viên Quang có công sang sửa hang động Hương Tích và xây dựng ngôi chùa. Chùa Hương và động Hương Tích là một danh lam thắng cảnh của Việt Nam—Name of a temple which located in Hương Sơn village, Mỹ Đức district, Hà Tây province, about 38 miles from Hanoi. Thiên Trù temple was established under Emperor Lê Hy Tông; however, it was collapsed in 1947. It has been being rebuilt recently. The temple covers a large area with beautiful sceneries as streams, springs, mountains, forests, and caves, etc. In the yard, there is an ancient stele, set up in 1686, recording the event of restoration of Hương Tích by the monk named Vien Quang. Hương Sơn Temple and Hương Tích cave are most famous and beautiful sceneries in Vietnam.
Thiên Trúc
một tên gọi khác của nước Ấn Độ thời cổ.
thiên trúc
1349<一>印度之古稱。又作天篤、天督、天毒、身毒。後漢書西域傳載:「天竺國,一名身毒,在月氏之東南數千里,俗與月氏同。」大唐西域記卷二(大五一‧八七五中):「天竺之稱,異議哗紛,舊云身毒,或曰賢豆,今從正音,宜云印度,(中略)印度者,唐言月,月有多名,斯其一稱,(中略)良以其土聖賢繼軌,導凡御物,如月照臨,由是義故,謂之印度。」括地志載:「天竺國有東、西、南、北、中央五國,即今五印度也。」(參閱「印度」2209) <二>天竺寺之略稱。位於浙江杭縣。有三座,在白雲峰北者,稱上天竺寺;在稽留峰北者,稱中天竺寺;在飛來峰之麓,稱下天竺寺。上、中、下三天竺寺分別於五代吳越、隋、東晉時所建。(參閱「天竺寺」1351)
; Sindhu (S), Tenjiku (J)Tín độ quốc, Tín độ hàNước Ấn độXem Ấn độ.
; India.
; Hiền Đậu—Ấn Độ—India—Hindu.
; (天竺) I.Thiên trúc Cũng gọi Thiên đốc, Thiên độc, Thân độc.Tên gọi xưa của nước Ấn độ. Tây vực truyện trong Hậu Hán thư ghi: Nước Thiên trúc còn có tên khác là Thân độc, ở cách nước Nguyệt thị vào nghìn dặm về phía đông nam, tục cho là đồng với nước Nguyệt thị. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 875 trung) nói: Đối với tên gọi nước Thiên trúc có rất nhiều ý kiến khác nhau, xưa gọi là Thân độc, hoặc gọi là Hiền đậu, nay theo chính âm Indu thì nên đọc là Ấn độ, (...) Ấn độ đời Đường dịch là Nguyệt, Nguyệt có nhiều tên, ở đây là 1 tên trong đó, (...) Bởi vì ở nước này Thánh hiền kế tiếp nhau ra đời, dắt dẫn chúng sinh phàm phu, như mặt trăng(Nguyệt) soi đến, do nghĩa ấy nên gọi là Ấn độ. Quát địa chí ghi: Thiên trúc có 5 nước: Đông thiên trúc, Tây thiên trúc, Nam thiên trúc, Bắc thiên trúcvà Trung thiên trúc, tức là Ngũ Ấn độ hiện nay. (xt. Ấn Độ). II. Thiên Trúc. Gọi đủ: Thiên trúc tự. Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Có 3 ngôi: Ngôi ở phía bắc ngọn Bạch vân gọi là chùa Thượng thiên trúc; ngôi ở phía bắc ngọn Kê lưu gọi là chùa Trung thiên trúc và ngôi ở chân ngọn Phi lai gọi là chùa Hạ thiên trúc. Chùa Thượng thiên trúc được sáng lập vào đời Ngô Việt thuộc Ngũ đại, chùa Trung thiên trúc được sáng lập vàođời Tùy và chùa Hạ thiên trúc được sáng lập vào đời Đông Tấn. (xt. Thiên Trúc Tự).
thiên trúc cửu nghi
1350印度古代九種致敬之禮法。即:(一)發言慰問,(二)俯首示敬,(三)舉手高揖,(四)合掌平拱,(五)屈膝,(六)長跪,(七)手膝踞地,(八)五輪俱屈,(九)五體投地。〔大唐西域記卷二〕
; The nine forms of etiquette of India—See Cửu Nghi.
; (天竺九儀) Chín phép tắc của Thiên trúc. Tức chỉ cho 9 cách lễ bày tỏ lòng tôn kính của người Ấn độ đời xưa. Đó là: 1. Nói lời thăm hỏi ân cần. 2. Cúi đầu bày tỏ lòng tôn kính. 3. Giơ tay vái chào. 4. Chắp tay ngang ngực. 5. Co đầu gối. 6. Quì thẳng lưng. 7. Tay và đầu gối sát đất. 8. Năm ngón tay đều co lại. 9. Đầu, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đặt sát đất.[X. Đại đường tây vực kí Q.2]. THIÊN TRÚC DẠNG Cũng gọi Đại Phật dạng. Tiếng dùng trong kiến trúc của Nhật bản, là kiểu dáng kiến trúc được truyền đến Nhật bản vào thời đại Liêm thương. Vào thời chùa Đông đại được phục hưng, Tuấn thừa phường Trọng nguyên du nhập kiểu dáng kiến trúc mới của đời Nam Tống ở Trung quốc để xây dựng lại điện Đại Phật, đó là khởi nguồn cho Thiên trúc dạng ở Nhật bản. Thiên trúc vốn chỉ cho Ấn độ, ở đây, để phân biệt với Đường dạng(kiểu kiến trúc của Trung quốc vào đời Đường) vốn đã sớm được du nhập Nhật bản, cho nên gọi là Thiên trúc dạng, chứ thực tế thì chính là kiểu dáng kiến trúc đời Nam Tống.
thiên trúc dạng
1352日本建築用語。又作大佛樣。為鎌倉時代傳入日本之建築樣式。東大寺再興之時,俊乘坊重源引入我國南宋之新式樣,重建大佛殿,此為日本天竺樣之起源。天竺本指印度,此處為別於早先輸入日本之「唐樣」,故稱為「天竺樣」,實際乃為南宋之建築樣式。其主要特色係採用差肘木。
thiên trúc lục thời
Sáu mùa trong năm ở Ấn Độ—Six seasons of a year in India: 1) Tiệm Nhiệt Thời: Vasanta (skt)—Mùa nóng dần từ 16 tháng giêng đến 15 tháng ba—Entering hot season, from the first month, sixteenth day, to the third month, fifteenth. 2) Nhiệt Thời: Grisma (skt)—Mùa nóng từ 16 tháng 3 đến 15 tháng 5—From the third month, sixteenth day, to the fifth month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (1). 3) Vũ Thời: Varsakala (skt)—Mùa mưa từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 7—From the fifth month, the sixteenth day, to the seventh month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (2). 4) Mậu Thời: Sarada (skt)—Mùa tươi tốt từ 16 tháng bảy đến 15 tháng chín—Verdant season, from the seventh month, the sixteenth day, to the ninth month, fifteenth. 5) Tiệm Hàn Thời: Hemanta (skt)—Mùa lạnh dần từ 16 tháng chín đến 15 tháng mười một—From the ninth month, the sixteenth day, to the eleventh month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (3). 6) Thịnh Hàn Thời: Sisira (skt)—Mùa cực lạnh từ 16 tháng mười một đến 15 tháng giêng—Very-cold season, from the eleventh month, the sixteenth day, to the first month, fifteenth.
thiên trúc ngũ sơn
Năm núi ở Ấn Độ, những nơi mà Phật hội họp chúng đệ tử của Ngài—The five mountains of India on which the Buddha assembled his disciples: 1) Bề Ba La Bạt Thứ: Vaibhara. 2) Tát Đa Bát Na Cầu Ha: Nam Sơn Thạch Thất—Saptaparnaguha. 3) Nhân Đà La Thế La Cầu Ha: Indrasailaguha. 4) Tát Pha Thứ Hồn trực Ca Bát Ba La: Sarpiskundika-pragbhara. 5) Kỳ Xà Quật: Grdhrakuta.
thiên trúc quốc
1) Ấn Độ: India. 2) Thân Độc: Sindhu. 3) Hiền Đậu: Hindu. 4) Ấn Trì Già La hay Ấn Đà La Bà Tha Na: Indravadana or Indrabhavana (skt)—Nơi cư ngụ của Trời Đế ThíchThe region where Indra dwells.
thiên trúc tam thời
Ba mùa trong một năm ở Ấn Độ—Three seasons of an Indian year: 1) Nhiệt Thì: Grisma (skt)—Mùa nóng từ 16 tháng giêng đến 15 tháng năm—The hot season, from first month sixteenth day, to fifth month, fifteenth. 2) Vũ Thì: Varsakala (skt)—Mùa mưa từ 16 tháng năm đến 15 tháng chín—The rainy season, from fifth month, sixteenth, to ninth month, fifteenth. 3) Hàn Thì: Hemanta (skt)—Mùa lạnh từ 16 tháng chín đến 15 tháng giêng—The cold season, from ninth month sixteenth, to first month fifteenth.
thiên trúc tam tế
1350印度分一年為三期,稱為三際(梵 traya ṛtavaḥ)。又作三時。即熱際(梵 grīṣma-rtu)、雨際(梵 varṣa-rtu)、寒際(梵 hemanta-rtu)。三際之起迄時間,依印度各地風俗之不同而有異說。依俱舍論光記卷十一載,神泰以二月十六日至六月十五日為熱際,六月十六日至十月十五日為雨際,十月十六日至二月十五日為寒際。真諦則謂正月十六日至五月十五日為熱際,五月十六日至九月十五日為雨際,九月十六日至正月十五日為寒際。大唐西域記卷二亦同真諦之說,且更分三際為六時,即以正月十六日至三月十五日為漸熱時,三月十六日至五月十五日為盛熱時,五月十六日至七月十五日為雨時,七月十六日至九月十五日為茂時,九月十六日至十一月十五日為漸寒時,十一月十六日至正月十五日為盛寒時。此六時配於制怛羅月(梵 Caitra)、吠舍佉月(梵 Vaiśākha)、逝瑟吒月(梵 Jyaiṣṭha)、頞沙荼月(梵 Āṣāḍha)、室羅伐拏月(梵 Śrāvaṇa)、婆達羅鉢陀月(梵 Bhādrapada)、頞濕縛庾闍月(梵 Aśvayuja)、迦剌底迦月(梵 Kārttika)、末伽始羅月(梵 Mārgaśīrṣa)、報沙月(梵 Pauṣa)、磨伽月(梵 Māgha)、頗勒窶拏月(梵 Phālguna)等十二月。〔俱舍論卷十二、俱舍論寶疏卷十一、翻譯名義集卷五、大藏法數卷十二、梵網經古迹記卷下末、大乘法相宗名目卷六下〕
; (天竺三際) Cũng gọi Tam thời. Chỉ cho 3 mùa ở Ấn độ. Ấn độ chia 1 năm làm 3 mùa nóng, mưa, lạnh gọi là Tam tế (Phạm:Traya ftava#). Đó là: Nhiệt tế (Phạm:Grìwma-rtu), Vũ tế (Phạm:Varwartu) và Hàn tế (Phạm:Hemanta-rtu). Thời gian bắt đầu và kết thúc Tam tế, tùy theo phong tục bất đồng của mỗi địa phương tại Ấn độ mà có nhiều thuyết khác nhau. Theo Câu xá luận quang kí quyển 11, ngài Thần thái cho rằng từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 15 tháng 6 là Nhiệt tế; từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10 là Vũ tế; từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 2 năm sau là Hàn tế. Còn ngài Chân đế thì cho rằng từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 5 là Nhiệt tế; từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 là Vũ tế và từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng giêng năm sau là Hàn tế. Thuyết trong Đại đường tây vực kí quyển 2 cũng giống với thuyết của ngài Chân đế và lại chia Tam tế làm 6 thời, tức từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là Tiệm nhiệt thời(thời gian nóng dần); từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 là Thịnh nhiệt thời(thời gian nóng dữ); từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 là Vũ thời (thời gian mưa); từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 là Mậu thời(thời gian cây cỏ tốt tươi); từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 là Tiệm hàn thời(thời gian lạnh dần) và từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng giêng năm sau là Thịnh hàn thời(thời gian lạnh dữ). Sáu thời này được phối hợp với 12 tháng: Tháng Chế đát la (Phạm: Caitra), tháng Phệ xá khư (Phạm:Vaizàkha), tháng Phệ sắt tra (Phạm:Jyaiwỉha), tháng Át sa đồ (Phạm:Àwàđha), tháng Thất la phạt noa (Phạm:Zràvaịa), tháng Bà đạt la bát đà (Phạm:Bhàdrapada), tháng Át thấp phạ dữu xà (Phạm: Azvayuja), tháng Ca lạt để ca (Phạm:Kàrttìka), tháng Mạt già thủy la (Phạm:Màrgasìrwa), tháng Báo sa (Phạm: Pauwa), tháng Ma già (Phạm: Màgha) và tháng Phả lặc lũ noa (Phạm: Phàlguna). [X.luận Câu xá Q.12; Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5; Đại tạng pháp số Q.12; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.6, hạ].
thiên trúc tam tự
1350指古代印度佛寺之三種類別。古代印度佛寺就其所學,分為三類,或專學大乘,稱為一向大乘寺;或專學小乘,稱為一向小乘寺;或大小二乘兼學,稱為大小兼行寺。大乘寺以文殊為上座,小乘寺以賓頭盧為上座,大小兼行寺則奉文殊、賓頭盧等二上座。〔顯戒論卷上〕
; (天竺三寺) Chỉ cho 3 loại chùa khác nhau ở Ấn độ đời xưa. Căn cứ vào sở học, các chùa ở Ấn độ thời xưa được chia làm 3 loại. Nếu chúng tăng chùa nào chuyên học Đại thừa thì chùa ấy được gọi là chùa Nhất hướng Đại thừa; hoặc chuyên học Tiểu thừa thì gọi là chùa Nhất hướng Tiểu thừa; hoặc học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa thì gọi là chùa Đại tiểu kiêm hành. Các chùaĐạithừa tôn bồ tát Văn thù làmThượng tọa; các chùa Tiểu thừa tôn ngài Tân đầu lô làm Thượng tọa, còn các chùa Đại tiểu kiêm hành thì tôn cả 2 ngài Văn thù và Tân đầu lô làm Thượng tọa.[X.luận Hiển giới Q.thượng].
thiên trúc thập nhị nguyệt
Mười hai tháng trong năm ở Ấn Độ—The twelve months of a year in India: 1) Tháng Giêng: Caitra (skt)—January. 2) Tháng Hai: Vaisakha (skt)—February. 3) Tháng Ba: Jyaistha (skt)—March. 4) Tháng Tư: Asadha (skt)—April. 5) Tháng Năm: Sravana (skt)—May. 6) Tháng sáu: Bhadrapada (skt)—June. 7) Tháng Bảy: Asvayuja (skt)—July. 8) Tháng Tám: Karttika (skt)—August. 9) Tháng Chín: Margasirsa (skt)—September. 10) Tháng Mười: Pausa (skt)—October. 11) Tháng Mười Một: Magha (skt)—November. 12) Tháng Mười Hai: Phalguna (skt)—December.
thiên trúc tự
1351位於浙江杭縣。由下天竺、中天竺、上天竺等三寺合成,以下天竺寺為最古,中天竺、上天竺次之。(一)下天竺寺今稱法鏡寺,位於靈隱山(飛來峰)之麓。東晉咸和初年,西天竺僧慧理於此建一宇,仿王舍城靈鷲山之一嶺,乃稱靈 l寺。隋開皇十五年(595),真觀、道安同至此地修頭陀行,並於虎林山建寺,稱南天竺寺。唐大曆年間,法詵、澄觀、道標等先後住此。道標擅長詞章,與相國李吉甫及白居易等論交,貞元年中於西嶺下結一草堂,退隱山林,世稱西嶺和尚。貞元二十一年(805),本寺開講華嚴經,顯種種奇瑞,蒙賜「後天竺靈山寺」之額,繁榮一時。至唐末罹於兵火,其後吳越王錢鏐復興之,號五百羅漢院。宋真宗大中祥符年間(1008~1016),天台宗山家派慈雲遵式入寺,大張天台教綱,世稱天竺懺主,慈雲懺主。宋高宗時,改寺名為思薦福寺,寧宗慶元三年(1197),又恢復後天竺靈山寺之舊稱。嘉定初年,日僧俊芿曾寓本寺,學習天台教學。本寺原為天台宗道場,後改屬臨濟宗。 (二)中天竺寺又稱法淨寺,銜接下天竺寺之南與稽留峰之北。隋開皇十七年中天竺僧寶掌所建, 另謂建於唐貞觀十五年(641)。宋初,名崇壽院。徽宗時改稱「天寧永祚禪寺」,至元代,改稱「天曆永祚禪寺」。於錢塘四百佛寺中,與靈隱寺、淨慈寺同為著名禪院。 (三)上天竺寺現稱法喜寺,位於中天竺寺之南,白雲峰之北。後晉天福年間(936~944),道翊結廬於此,一夕得奇木,刻成觀音像。後漢隱帝乾祐二年(949),有僧崇勳,自洛陽持古佛舍利,置頂中,妙相咸備,晝放白光。時吳越王錢弘俶感得觀音靈告,乃興一寺,稱天竺看經院,是為上天竺寺之草創。嘉祐七年(1062),仁宗賜大藏五三三○卷,遂建經藏藏之。當時屢有觀音之靈應,福佑天下,澤被生民,英宗治平二年(1065)獲頒「天竺靈感觀音院」之額。歷經神宗、哲宗、高宗之世,寺運大興,常設水陸大齋,帝屢臨幸,曾賜「白雲堂」之印,以統領天下禪、教、律諸宗。三天竺寺皆以觀音為本尊,每年陽春之際,蘇、浙二省仕女群集進香者,以百萬計。〔續高僧傳卷三十、宋高僧傳卷五、卷十五、卷二十九、續佛祖統紀、大明高僧傳卷一、卷三、泉涌寺不可棄法師傳、浙江通志、古今圖書集成神異典第一一○〕
; (天竺寺) Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, do 3 chùa Hạ thiên trúc, Trung thiên trúc và Thượng thiên trúc hợp thành. Hạ thiên trúc là ngôi chùa xưa nhất kế đó là Trung thiên trúc, Thượng thiên trúc. 1. Hạ thiên trúc tự: Hiện nay gọi là Pháp kính tự, ở chân núi Linh ẩn(ngọn Phi lai). Vào đầu năm Hàm hòa đời Đông Tấn, vị tăng người Tây Thiên trúc là ngài Tuệ lí xây 1 ngôi chùa ở đây, phỏng theo ngọn núi Linh thứu ở thành Vương xá mà đặt tên là chùa Linh thứu. Năm Khai hoàng 15 (595) đời Tùy, các ngài Chân quán, Đạo an cùng đến nơi này tu hạnh đầu đà, đồng thời xây chùa ở núi Hổ lâm gọi là chùa Nam Thiên trúc. Khoảng năm Đại lịch đời Đường, các ngài Pháp sân, Trừng quán và Đạo tiêu lần lượt đến trụ chùa này. Ngài Đạo tiêu giỏi về văn chương, thường đàm luận với Tướng quốc Lí cát phủ và thi nhân Bạch cư dị. Trong năm Trinh nguyên, ngài Đạo tiêu dựng một thảo am dưới Tây lãnh, lui về ở ẩn nơi rừng núi, người đời gọi ngài là Tây lãnh Hòa thượng. Năm Trinh nguyên 21 (805), chùa này có khai giảng kinh Hoa nghiêm, hiện ra nhiều điềm lành, được vua ban bảng hiệu là Hậu Thiên Trúc Linh Sơn Tự, hưng thịnh một thời. Đến cuối đời Đường, chùa bị tàn phá trong binh lửa, về sau, được Ngô Việt vương Tiền lưu xây dựng lại, đặt tên là Ngũ bách La hán viện. Khoảng năm Đại trung tường phù (1008-1016) đời vua Chân tông nhà Tống, ngài Từ vân Tuân thức thuộc phái Sơn gia tông Thiên thai, phát huy giáo cương tông Thiên thai ở chùa này, người đời gọi ngài là Thiên trúc sám chủ, Từ vân sám chủ. Thời vua Cao tông nhà Tống, chùa được đổi tên là Tư tiến phúc tự, đến năm Khánh nguyên thứ 3 (1197), lại khôi phục tên cũ là Hậu Thiên trúc Linh sơn tự. Vào đầu năm Gia định, vị tăng người Nhật bản là Tuấn nhưng từng ngụ chùa này, học tập giáo học Thiên thai. Chùa này vốn là đạo tràng của tông Thiên thai, sau thuộc về tông Lâm tế. 2. Trung thiên trúc tự: Cũng gọi Pháp tịnh tự, ở phía nam chùa Hạ thiên trúc và phía bắc ngọn Kê lưu. Chùa này do vị tăng người Thiên trúc xây dựng vào năm Khai hoàng 17 đời Tùy, có thuyết nói được xây cất vào năm Trinh quán 15 (641) đời Đường. Vào đầu đời Tống, chùa được gọi là Sùng thọ viện. Đến thời vua Huy tông, đổi là Thiên minh vĩnh tộ thiền tự; đến đời Nguyên lại được đổi là Thiên lịch vĩnh tộ thiền tự. Trong 400 ngôi chùa Phật ở Tiền đường, chùa này cùng với chùa Linh ẩn và chùa Tịnh từ đều là những Thiền viện nổi tiếng. 3. Thượng thiên trúc tự: Hiện nay gọi là chùa Pháp hỉ, ở phía nam chùa Trung thiên trúc, phía bắc ngọn Bạch vân. Khoảng năm Thiên phúc (936-941) đời Hậu Tấn, ngài Đạo dực kết am tranh ở đây, một hôm được khúc gỗ lạ, ngài khắc thành tượng Quán âm. Năm Càn hựu thứ 2 (949) đời Ẩn đế nhà Hậu Hán, có vị tăng tên là Sùng huân, từ Lạc dương mang xá lợi của Cổ Phật để trên đỉnh đầu, diệu tướng đầy đủ, ban ngày phóng ra ánh sáng trắng. Bấy giờ, Ngô Việt vương Tiên hoằng thúc cảm được sự mách bảo củabồ tát Quán âm nên xây một ngôi chùa, gọi là Thiên trúc khán kinh viện, đó là đầu mối việc sáng lập Thượng thiên trúc tự. Năm Gia hựu thứ 7 (1062), vua Nhân tông nhà Tống ban cho bộ Đại tạng gồm 5330 quyển, bèn xây kinh lâu để cất chứa. Năm Trị bình thứ 2 (1065), vua Anh tông ban biển hiệu Thiên trúc linh cảm Quán âm viện. Trải qua các đời vua: Thần tông, Triết tông, Cao tông...vận chùa thịnh lớn, vua ban ấn Bạch vân đường để thống lãnh các tông Thiền, Giáo, Luật trong nước. Cảba chùa Thiên trúc đều thờ bồ tát Quán âm làm Bản tôn, hằng năm vào tiết Dương xuân, có hàng trăm vạn nam, nữ ở 2 tỉnh Giang tô vàChiết giang về chùa này dâng hương. [X. Tục cao tăng truyện Q.30; Tống cao tăng truyện Q.5, 15, 29; Tục Phật tổ thống kỉ, Đại minh cao tăng truyện Q.1, 3, Tuyền dũng tự bất khả khí pháp sư truyện, Chiết giang thông chí; Cổ kim đồ thư lập thành thần dị điển thứ 110].
thiên trúc tự nguyên
1350凡七卷。全稱景祐天竺字源。北宋惟淨、法護等撰。即分類梵字,並解明其音義。首先略解十二轉聲、三十四字母、五音及生字之意義,其次立四章廣分別之。所出之梵字異於一般悉曇字,近於尼波羅梵夾之文體。宋景祐二年(1035)九月敕板,另有刊時不詳之覆刻本。〔佛祖統紀卷四十五、卷四十六、廣清涼傳卷中〕
; (天竺字源) Cũng gọi Cảnh hựu thiên trúc tự nguyên. Tác phẩm, 7 quyển, do 2 ngài Duy tịnh và Pháp hộ soạn vào đời Bắc Tống. Nội dung sách này là chia loại các chữ Phạm, đồng thời giải thích rõ về âm và nghĩa của các chữ ấy. Trước hết giải thích sơ lược về 13 chuyển thanh, 34 chữ cái, 5 âm và sinh tự, kế đến lập 4 chương để phân biệt rộng. Những chữ Phạm được nêu ra trong sách này khác với các chữ Tất đàm phổ thông, gần với văn thể của Ni ba la Phạm giáp. Sách này được vua ban sắc khắc in vào tháng 9 năm Cảnh hựu thứ 2 (1035) đời Tống, sau đó có bản khắc lại, nhưng không rõ năm ấn hành. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45, 46; Quảng thanh lương truyện Q.trung].
Thiên Trúc tự 天竺寺
[ja] テンチクジ Tenjikuji ||| "India Temple." Located in the present-day Chekiang province in Hangzhou 杭州. Originally established in 595. => “Chùa Ấn Độ ”. Hiện nay toạ lạc ở tỉnh Triết Giang (c: Chekiang), Hàng Châu (c: Hangzhou 杭州).
thiên trúc y
1351指唐朝義淨三藏自天竺傳來之正制三衣。為不用鐶鉤之袈裟。舊律南山家之三衣,則稱南山衣,須佩鐶鉤。〔畫像須知〕(參閱「南山衣」3736)
; (天竺衣) Chỉ cho 3 áo đúng như luật Phật chế định do Tam tạng Nghĩa tịnh đời Đường truyền về Trung quốc. Đây là loại áo ca sa không dùng vòng và móc. Ba áo của Nam sơn luật tông theo luật cũ thì gọi là Nam sơn y, phải dùng vòng và móc để phân biệt với Thiên trúc y. [X. Họa tượng tu tri]. (xt. Nam Sơn Y).
Thiên Trúc 天竺
[ja] テンジク tenjiku ||| A translation for sindhu, an ancient name for India. => Hán dịch chữ Sindhu, một tên gọi cổ xưa của Ấn Độ.
thiên trước
Xem Ấn độ.
thiên trụ sùng huệ
Tien chu Chung hui (C)Tên một vị sư.
thiên trụ tập
1353全一卷。又作竺仙和尚天柱集。元代臨濟宗楊岐派僧竺仙梵僊(1292~1348)撰。收於大正藏第八十冊竺仙和尚語錄內。文宗天曆二年(1329),梵僊赴日本弘法,本集即收錄其在日本之偈頌、自贊、雜著等。偈頌包括寄與春屋、別源、中岩、明極、物外、無用等門人,及當代耆宿、幕府將軍足利尊之法語等。雜著包括與夢窓國師書、與當代武將書、序、跋、化疏、東明慧日塔銘等。
; (天柱集) Cũng gọi Trúc tiên hòa thượng thiên trụ tập. Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng phái Dương kì thuộc tông Lâm tế là Trúc tiên Phạm tiên (1292-1348) soạn vào đời Nguyên, được thu vào Trúc tiên hòa thượng ngữ lục trong Đại chính tạng tập 80. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329 đời Văn tông, ngài Phạm tiên đến Nhật bản hoằng pháp. Nội dungtậpsách này là thu chép các bài kệ tụng, tựtán, tạp trứ...mà sư đã soạn và trứ tác tại Nhật bản. Phần kệ tụng bao gồm những bài kệ gửi cho các học trò của sư nhưXuân ốc, Biệt nguyên, Trung nham, Minh cực, Vật ngoại, Vô dụng... và các pháp ngữ gửi các bậc kì túc đương thời, Mạc phủ tướng quân Túc lợi tôn. Phần tạp trứ bao gồm thư gửi Quốc sư Mộng song, thư gửi vũ tướng đương thời, lời tựa, lời bạt, hóa sớ, bài minh trên tháp ngài Đông minh Tuệ nhật...
thiên tu bồ đề
1362須菩提,梵名 Subhūti。佛弟子之一。此人於五百世中常上生化應聲天,下生王者之家,故稱天須菩提。又食福自然而不匱乏,常著好衣,故於聲聞中稱「著好衣第一」。〔增一阿含經卷三、分別功德論卷五〕
; Deva-Subhuti (skt)—Một trong ba vị đệ tử Phật có tên là Thiên Tu Bồ Đề, vị nầy thì thích ăn mặc áo quần tươm tất và sống đời tịnh hạnh—One of the three Subhutis, disciples of the Buddha; said to have been so called because of his love of fine clothing and purity of life.
; (天須菩提) Tu bồ đề, Phạm:Subhùti. Chỉ cho vịA la hán đệ tử đức Phật. Vì trong 500 đời, ngài Tu bồ đề thường sinh lên cõi trời, rồi lại sinh xuống nhân gian vào nhà vương giả, cho nên gọi là Thiên tu bồ đề. Lại vì phúc báo tự nhiên, việc uống ăn không thiếu thốn, thường mặc áo tốt đẹp, cho nên ngài được gọi là Trước hảo y đệ nhất(mặc áo tốt bậc nhất) trong hàng Thanh văn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; luận Phân biệt công đức Q.5].
thiên tà quỷ
1349乃毘沙門天腹部之鬼面名。本名為河伯面、河伯,或海若,皆為水神之名。後世將毘沙門天足踏之異形鬼稱為「耐薰」。一般人將忤逆人意之各種事情,亦以天邪鬼稱之。
; (天邪鬼) Cũng gọi Hà bá diện, Hà bá, Hải nhược. Tên thần sông. Chỉ cho mặt quỉ ở phần bụng của trời Tì sa môn. Ngoài ra, người đời cũng gọi những kẻ ngỗ nghịch là Thiên tà quỉ.
thiên tài
Genius.
thiên tào
The court of Heaven.
thiên tâm
Partial mind (heart)—Partiality.
thiên tí quán thế âm
Sahasrabhujasa-harenetra (S)Tên một vị Bồ tát.
thiên tính
Nature.
Thiên Tôn
(天尊): có hai nghĩa chính: (1) Tôn xưng cao quý nhất trong chư vị thiên thần của Đạo Giáo; như Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Ngọc Hoàng Thiên Tôn (玉皇天尊), v.v. (2) Phật Giáo gọi đức Phật là Thiên Tôn. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Kim nhật Thế Tôn trú kỳ đặc pháp, kim nhật Thế Hùng trú Phật sở trú, kim nhật Thế Nhãn trú đạo sư hành, kim nhật Thế Anh trú tối thắng đạo, kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai đức (今日世尊住奇特法、今日世雄住佛所住、今日世眼住導師行、今日世英住最勝道、今日天尊行如來德, hôm nay đức Thế Tôn trú nơi pháp đặc biệt, hôm nay đấng Thế Hùng trú nơi Phật thường trú, hôm nay đấng Thế Nhãn trú nơi hạnh của đạo sư, hôm nay đấng Thế Anh trú nơi đạo tối thắng, hôm nay đấng Thiên Tôn trú nơi đức của Như Lai).” Hay trong Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (一切智光明仙人慈心因緣不食肉經, Taishō Vol. 3, No. 183) cũng có đoạn: “Thế Tôn ! Như thử đồng tử, uy nghi tường tự, quang minh vô lượng, dữ Phật vô dị, ư hà Phật sở, sơ phát đạo tâm, thọ trì thùy kinh; duy nguyện Thiên Tôn, vị ngã giải thuyết (世尊、如此童子、威儀庠序、光明無量、與佛無異、於何佛所、初發道心、受持誰經、唯願天尊、爲我解說, Thế Tôn ! Đồng tử như vậy, oai nghi rõ ràng, ánh sáng vô lượng, với Phật không khác, ở nơi Phật nào, mới phát đạo tâm, thọ trì kinh gì; cúi mong Thiên Tôn, vì con nói rõ).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) còn giải thích rằng: “Thế hữu Tam Tôn đồng hưu thiên hạ, Phật viết Thế Tôn, Đạo viết Thiên Tôn, đế viết Chí Tôn (世有三尊同休天下、佛曰世尊、道曰天尊、帝曰至尊, trên đời có ba đấng tôn kính cùng làm yên thiên hạ, Phật gọi là Thế Tôn, Đạo gọi là Thiên Tôn, nhà vua gọi là Chí Tôn).”
thiên tôn
The most honoured among devas, a tittle of a Buddha, i.e. the highest of divine beings.
; 1) Bậc tôn quý nhứt của chư Thiên—The most honoured among devas—The highest of divine beings. 2) Thiên vương hộ pháp và những bậc tôn quý khác của chư Thiên—The Maharaja protectors of Buddhism and others in the sense of honoured devas. 3) Những bậc Thần Thánh của những người theo Lão Giáo: Title applied by the Taosits to their divinities. 4) Danh hiệu của Đức Phật: A title of the Buddha.
thiên tôn phật
740即指造佛供養時,將同樣大小之佛像並排繪畫或雕刻之。印度、西域之石窟寺壁面上即有無數同型佛像並排著,俗稱千佛洞。臺灣佛教亦有此風,高雄佛光山大雄寶殿、大悲殿、臺中霧峰萬佛寺等地即有此類佛像。此外,一般寺院日課時之常念同一佛號,其意義與千尊佛相同。
; (千尊佛) Một nghìn tôn Phật. Tức khi tạo tượng Phật cúng dường thì xếp đặt các tôn tượng Phật lớn nhỏ cùng kiểu ngang nhau để vẽ hoặc khắc. Trên mặt vách trong các chùa hang đá ở Ấn độ và vùng Tây vực có vô số tượng Phật cùng kiểu được xếp ngang nhau, thường được gọi là Thiên Phật Động(hang động nghìn Phật), Phật giáo Đài loan cũng có phong khí này, như các tượng Phật trong điện Đại bi, trong Đại hùng Bảo điện của Phật quang sơn tại Cao hùng, ở chùa Vạn Phật tại Vụ phong, Trung đài... Ngoài ra, vào thời khóa hàng ngày trong các chùa viện thường niệm cùng một danh hiệu Phật, ý nghĩa ấy giống với Thiên tôn Phật.
thiên tùng bút kí
737全一卷。明代僧大韶著,明末刊行。收於卍續藏第一一四冊。輯錄大韶住辨山千松禪院時所記述之千松筆記、禪宗合論、楞嚴擊節、雜著等四篇,而以卷首之千松筆記作為題名。內容揭示參禪悟道可於世間法內檢出出世間法,於出世間法內檢出世間法。或謂本書原係五篇,尚有金剛正眼一篇;然卍續藏並未刊錄。
; (千松筆記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đại thiều soạn và ấn hành vào cuối đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Sách này gồmcó4 thiên: Thiên tùng bút kí, Thiền tông hợp luận, Lăng nghiêm kinh tiết và Tạp trứ, thu chép các kí thuật của ngài Đại thiều lúc trụ ở Thiền viện Thiên tùng tại núi Biện sơn. Nội dung nêu rõ sự tham thiền ngộ đạo có thể ở trong pháp thế gian mà tìm ra pháp xuất thế gian, ở trong pháp xuất thế gian mà tìm ra pháp xuất thế gian. Cóthuyết nói sách này vốn có 5 thiên, tức còn có 1 thiên Kim cương chính nhẫn, nhưng Vạn tục tạng không ghi chép.
thiên tý thành
Devadarsita or Devadista (skt)—Nơi cư ngụ của ngài Thiện Giác Trưởng Giả, là cha của Hoàng hậu Ma Da (mẹ của Đức Phật)—Deva-arm city, the residence of Suprabhuddha, father of Maya (who is the mother of the Buddha).
thiên tăng cung dưỡng
742又作千僧齋、千僧會。即同時供養一千名僧侶之法會。據大智度論卷二、卷三載,釋尊之時,頻婆娑羅王曾供養千位比丘。又佛陀入滅之後,摩訶迦葉亦曾招集千人,舉行經藏之結集大會。我國自南北朝以來,即甚為盛行,王侯貴族常舉行之。如陳後主至德四年(586),詔請智顗大師為皇太子授菩薩戒,設千僧齋;唐貞觀八年(634),為穆太后設千僧齋;文宗開成二年(837),於開元寺設齋,供養五百僧;懿宗咸通十二年(871),於禁中設萬僧齋;後唐莊宗同光元年(923),亦曾於內殿設千僧齋。近年(1969)以來,臺灣亦漸倡行供僧齋會,多在農曆七月十五日舉行。又此類法會所供養之僧侶數目並不限定一千人,亦有五百人,或五千人、一萬人者。該法會尚有無遮會、懺法、講經、年忌法要等項目。〔隋天台智者大師別傳、佛祖統紀卷四十二、日本書紀卷二十五〕
; (千僧供養) Cũng gọi Thiên tăng trai, Thiên tăng hội.Pháp hội cúng dường cùng lúc một nghìn vị tăng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2, 3, Thiên sam thời đức Thích tôn tại thế, vua Tần bà sa la từng cúng dường 1000 vị tăng một lượt. Sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Ma ha ca diếp cũng từng triệu tập 1000 vị tỉ khưu để tổ chức đại hội kết tập tạng kinh. Ở Trung quốc, từ thời Nam Bắc triều, Thiên tăng cúng dường rất thịnh hành, hàng vương hầu quí tộc thường có tổ chức. Như vào năm Chí đức thứ 4 (586), Trần hậu chủ ban sắc thỉnh đại sư Trí khải truyền giới Bồ tát cho Hoàng thái tử, thiết Thiên tăng trai cúng dường. Năm Trinh quán thứ 8 (634) đời Đường, vua vì Thái hậu thiết Thiên tăng trai; năm Khai thành thứ 2 (837), vua Văn tông thiết trai ở chùa Khai nguyên cúng dường 500 vị tăng; năm Hàm thông 12 (871) vua Ý tông thiết Vạn tăng trai cúng dường 10.000 vị tăng trong cung. Niên hiệu Đồng quang năm đầu (923), vua Trang tông nhà Hậu Đường cũng từng thiết Thiên tăng trai trong nội điện. Những năm gần đây, từ năm 1969 về sau, Đài loan cũng cử hành Thiên tăng trai, thường là vào ngày 15 tháng 7 âm lịch. Số tăng dự trong pháp hội này không hạn định 1000 vị, mà cũng có khi 500 vị, hoặc 5.000 vị, hoặc 10.000 vị. Pháp hội này còn có các hạng mục khác như hội Vô già, Sám pháp, Giảng kinh, Niên kị pháp yếu...
thiên tư
Innate gift.
thiên tải
One thousand years.
Thiên Tải Tập
(千載集, Senzaishū): hay còn gọi là Thiên Tải Hòa Ca Tập (千載和歌集), một trong những bộ Sắc Soạn Hòa Ca Tập (勅撰和歌集), bộ thứ 7 trong Bát Đại Tập (八代集), gồm 20 quyển. Năm 1183, vâng sắc chỉ của Hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (後白河法皇), Đằng Nguyên Tuấn Thành (藤原俊成, Fujiwara-no-Toshinari) soạn nên tập này. Đây là ca tập thể hiện cảnh giới u tịch trong sắc thái ôn nhã, diêm tuyệt.
thiên tắc
Natural principle.
thiên tịch
Xem Hiền Tịch.
thiên tịch vấn
4375汾陽十八問之一。宋代之汾陽善昭禪師將歷來禪林中,學人請教師家之問題,依其性質,分類為十八種,稱為「汾陽十八問」,「偏僻問」即其中之第五。乃學人以偏僻之見解、言語,探試師家眼目正否,所提出之質問。人天眼目卷二(大四八‧三○七下):「問芭蕉:『盡大地是箇眼晴,乞師指示。』蕉云:『貧兒遇餿飯。』」
; (偏僻問) Nghĩa là người học nêu ra các vấn đề có tính chất thiên lệch, quanh co để hỏi thầy, nhằm mục đích thử thăm dò trình độ kiến thức của thầy. Là 1 trong Phần dương thập bát vấn. Nhân thiên nhãn mục quyển 2 (Đại 48, 307 hạ) ghi: Hỏi ngài Ba tiêu: Khắp đại địa là con mắt, xin thầy chỉ dạy. Ngài Ba tiêu nói:Đứa bé nghèo gặp cơm thiu.
Thiên Tịch 天寂
[ja] テンジャク Tenjaku ||| The Indian monk Devakṣema. See 提婆設摩. => Tên gọi một vị tăng sĩ Ấn Độ Devakṣema. Xem Đề-bà Thiết-ma 提婆設摩.
thiên tụ
6119指戒律。比丘、比丘尼所學之戒律,因有五篇、六聚、七聚之分,故稱篇聚。具足戒類別為篇門與聚門,篇門係依結成之罪果及急要之義而區別為五篇;聚門則類聚其罪性及因罪而為六聚、七聚、八聚。(參閱「五篇」1197)
; (A) Nghĩa của Thiên Tụ—The meanings of “Thiên Tụ: 1) Làm sai: Wrong doing. (B) Phân loại Thiên Tụ—Categories of “Wrong-doing” 1) Ngũ Thiên Tụ: Năm loại làm sai—Five kinds of wrong doing—See Ngũ Thiên Tụ. 2) Lục Thiên Tụ: Six kinds of wrong doing-See Lục Thiên Tụ. 3) Thất Thiên Tụ: Seven kinds of wrong doing—See Thất Thiên Tụ.
; (篇聚) Chỉ cho giới luật. Vì giới luật mà các tỉ khưu, tỉ khưu ni tu học có chia ra từng thiên, từng tụ nên gọi chung là Thiên tụ. Giới Cụ túc được chia làm Thiên môn và Tụ môn; Thiên môn căn cứ vào tội quả kết thành và tính cách cấp yếu mà chia ra 5 thiên; còn Tụ môn thì gom tội tính và nhân nơi tội mà chia loại thành 6 tụ, 7 tụ, 8 tụ... (xt. Ngũ Thiên).
thiên tức tai
1355(?~1000)北天竺迦濕彌羅國僧。原住中印度惹爛陀國密林寺。宋太宗太平興國五年(980)二月,偕施護來汴京。帝召見,賜紫衣,敕同閱梵夾。時帝方銳意翻傳,乃命中使鄭守均於太平興國寺之西偏營建譯經院。七年六月,譯經院成,詔天息災居之,與施護、法天等共同從事譯經,賜號「明教大師」。七月,天息災上新譯聖佛母小字般若波羅蜜多經一卷。翌年,譯大乘莊嚴寶王經四卷,並奏請令兩街選童子五十人教習梵學。此後譯經不輟。雍熙二年(985),帝授「朝散大夫試鴻臚少卿」,次年賜御製三藏聖教序。據大中祥符法寶錄卷六載,雍熙四年奉詔改名法賢。 自太平興國七年七月至雍熙四年十月,天息災所譯之經共有十八部五十七卷,入藏開板,施行天下。端拱以後,復陵續譯出眾許摩訶帝經十三卷、妙吉祥最勝根本大教王經三卷、妙吉祥瑜伽大教金剛陪囉嚩輪觀想成就儀軌經一卷、頻婆娑羅王經一卷等。後於咸平三年八月示寂,年壽不詳。諡號「慧辯」。〔佛祖統紀卷四十三、卷四十四、佛祖歷代通載卷二十六、補續高僧傳卷一〕
thiên từ
miếu, đền thờ các vị thiên thần trong đạo Bà-la-môn.
; 1357梵語 deva-kula。印度祭祠大自在天等天部諸神之所。〔方廣大莊嚴經卷四〕
; Deva-kula (S)Đền thờ trời.
; Devàlaya, Devatàgàra (S). Brahminical temples.
; Devalaya—Devatagara—Devatagrha (skt)—Đình miếu Bà La Môn—Brahminical temples.
; (天祠) Phạm: Deva-kula. Đền thờ trời. Tức nơi thờ cúng các vị thần thuộc Thiên bộ như trời Đại tự tại... ở Ấn độ. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4].
thiên tử
tên gọi chung của chư thiên, khác với từ thiên tử dùng để chỉ vị vua ở cõi người.
; 1335<一>謂於人中為王,而蒙諸天護持者。此乃前世修中、下品之十善所得之果報。金光明經卷三(大一六‧三四七上):「雖在人中,生為人王,以天護故,復稱天子。」 <二>指欲界第六天之魔王,即他化自在天子魔。 <三>指諸天之天人。
; A son of Heavens, the Emperor-Princes.
; Son of heaven king—A son of heaven. 1) Vua hay Thái tử, những người đã từng tu tập thập thiện trong đời trước và kết quả là đời nầy sanh ra làm vua hay thái tử—Emperor or Princes, those who in previous incarnations have kept the middle and lower grades of the ten good qualities (thập thiện), and in consequence, are born here as princes or kings. 2) Thiên Tử Nghiệp Ma: Tên của một loài ma vương của cõi trời dục giới thứ sáu, chuyên chống lại chân lý nhà Phật—The title of one of the four maras, who is the lord of the sixth heaven of desire, who also opposes the Buddha-truth.
; (天子) I. Thiên Tử. Con trời. Tức ông vua trong cõi người được các trời hộ trì. Đây là quả báo do đời trước làm 10 điều thiện hạ phẩm mà được. Kinh Kim quang minh quyển 3 (16, 347 thượng) nói: Tuy sinh trong cõi người, làm vua thế gian, nhưng được trời hộ trì, nên gọi là Thiên tử. II. Thiên Tử. Chỉ cho Ma vương ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục, tức là Tha hóa tự tại Thiên tử ma. III. Thiên Tử. Chỉ cho người trời ở các cõi trời. THIÊN TỬ MA Phạm: Deva-putra-màra. Gọi đủ: Tha hóa tự tại thiên tử ma. Cũng gọi: Thiên ma. Chỉ cho Ma vương và quyến thuộc trụ ở tầng trời thứ 6 cõi Dục, 1 trong 4 loại ma.Thiên tử ma này hay làm chướng ngại pháp lành của người, ghen ghét pháp của hiền thánh, đồng thời thường gây sự nhiễu loạn, cản trở thiện căn xuất thế không cho thành tựu. Loài ma này là do nghiệp đời trước mà cảm được quả báo này, cho nên cũng gọi là Thiên tử nghiệp ma, là ngoại ma duy nhất trong 4 ma. [X. Luận Đại trí độ Q.5, 56, 68]. (xt. Tha Hóa Tự Tại Thiên, Tứ Ma). THIÊN TỨC TAI (?-1000) Cao tăng nước Ca thấp di la thuộc Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời nhàTống. Sư vốn trụ ở chùa Mật lâm tại nước Nhạ lan đà, Trung Ấn độ. Vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời Tống, sư cùng với ngài Thí hộ đến Biện kinh. Vua mời vào yết kiến, ban cho sư áo đỏ và ban sắc cùng xem kinh Phật bản tiếng Phạm. Bấy giờ vua mới quyết định cho phiên dịch và truyền bá kinh Phật và sai quan Trung sứ là Trịnh thủ quân xây viện Dịch kinh ở mé tây chùa Thái bình hưng quốc. Tháng 6 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), Viện Dịch kinh được hoàn thành, vua liền ban sắc thỉnh các ngài Thiên tức tai, Thí hộ và Pháp thiên cùng đến ở trong viện và chuyên việc dịch kinh, vua ban hiệu cho ngài Thiên tức tai là Minh Giáo Đại Sư. Tháng 7 cùng năm, sư dâng lên vua kinh Tân dịch Thánh Phật mẫu tiểu tự bát nhã ba la mật đa 1 quyển. Năm sau, sư dịch kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương 4 quyển, đồng thời, sư tâu xin vua lệnh cho Lưỡng nhai tuyển chọn 50 đồng tử để học tập tiếng Phạm. Từ đó, sư dịch kinh không nghỉ. Năm Ung hi thứ 2 (985), vua ban Triều tán Đại phu thí Hồng lô thiếu khanh cho sư, năm sau, vua soạn Ngự chế Tam tạng Thánh giáo tự. Cứ theo Đại trung tường phù pháp bảo lục quyển 6 thì vào năm Ung hi thứ 4 (987), sư vâng chiếu đổi tên là Pháp hiền. Từ tháng 7 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982) đến tháng 10 năm Ung hi thứ 4 (985), ngài Thiên tức tai dịch tất cả 18 bộ 57 quyển kinh, nhập tạng khắc in lưu hành khắp trong nước. Sau đó, sư tiếp tục phiên dịch được các kinh quĩ như: Kinh Chúng hứa ma ha đế 13 quyển, kinh Diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo vương 3 quyển, kinh Diệu cát tường du già đại giáo kim cương bồi ra phạ luân quán tưởng thành tựu nghi quĩ, kinh Tần bà sa la vương 1 quyển... Tháng 8 năm Hàm bình thứ 3 (1000), sư thị tịch, thụy hiệu Tuệ biện. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43, 44; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26; Bổ tục cao tăng truyện Q.1]. THIÊN TÝ THIÊN BÁT MẠN THÙ THẤT LỢI BỒ TÁT Gọi đủ: Ngũ đính ngũ trí tôn thiên tý thiên thủ thiên bát thiên Phật Thích ca mạn thù thất lợi bồ tát. Gọi tắt: Thiên bát văn thù. Bồ tát Văn thù nghìn tay nghìn bát, là 1 trong Ngũ tựVăn thù. Trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng có 2 loại bích họa về vị Bồ tát này. Theo sự biên chép của ông Bá hi hòa (P.Pelliot) thì ở động thứ 6 còn giữ được bức bích họa vẽ bồ tát Văn thù ngồi kết già trên hoa sen báu lớn ở núi Tu di, trên đầu có 5 búi tóc, chính giữa mũ báu có 1 đức Phật, trang sức bằng trăm thứ báu anh lạc, vòng xuyến, áo trời, tay phải tay tráí thứ nhất co lại để ở trước ngực, tay trái cầm bát, trong bát đặt Phật Thích ca, ngón thứ nhất, ngón thứ hai của tay phải ấn cạnh miệng bát; tay phải tay trái thứ 2 kết ấn pháp giới định đặt ở trước rốn, giữa lòng bàn tay để bát, trong bát cũng có Phật Thích ca; nghìn cánh tay còn lại chia làm 6 tầng vây quanh toàn thân, tạo thành 1 vòng tròn ánh sáng lớn, tất cả có 200 cánh tay, 200 chiếc bát. Còn bức họa ở động thứ 72 cũng giống như bức trước, đội mũ báu Ngũ Phật, có khoảng 350 cánh tay, tầng tầng vây quanh, tạo thành 1 vòng tròn lớn, cực kì hoành tráng, mĩ lệ. Hai bức bích họa này đều được vẽ vào cuối thời Ngũ đại đầu đời Tống và được liệt vào hàng đẹp nhất trong các bích họa ở động Thiên Phật.[X.kinh Đại thừa du già kim cương tính hải Mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.1, 5; Les Grottes de Touen- Houang, I, II, by Pelliot].
thiên tử cù bà già
Gopaka (S).
thiên tử ma
1335梵語 deva-putra-māra。四魔之一。全稱他化自在天子魔。又作天魔。即住於欲界第六天之魔王及其眷屬,能妨礙人之勝善,憎嫉賢聖之法,並能作種種擾亂,不成就出世之善根。此魔乃因前世之業感此果報,故又稱天子業魔。乃四魔中唯一之外魔。〔大智度論卷五、卷五十六、卷六十八〕(參閱「他化自在天」1540、「四魔」1854)
; Xem Thiên ma.
thiên tử nghiệp ma
See Thiên Chủ.
Thiên tử 天子
[ja] テンシ tenshi ||| (1) In classical literature, the emperor or "son of heaven." (2) In Buddhist sutras, the lowest level of gods (devatā). (3) Chīdren of gods (deva-pātra). => 1. Trong văn học cổ điển, vua được gọi là Thiên tử (con trời). 2. Trong kinh Phật, Thiên tử là hàng chư thiên thấp nhất (s: devatā). 3. Con của chư thiên (s: deva-pātra).
thiên tửu
xem cam lộ.
; Xem cam lộ.
thiên viên
4375判釋教理勝劣之用語。偏者,偏僻之理,偏於空乃至中;圓者,圓滿具足一切。就大、小乘而言,則小乘為偏,大乘為圓。然大乘之中,亦有偏圓之別,如華嚴、天台所謂五教、三教中之圓教獨為圓,其他之藏、通、別三教(天台),及終、頓二教(華嚴)則為偏教。〔摩訶止觀卷三下〕
; Thiên là thiên hướng một bên, viên là đầy khắp không gian thời gian. Tương đối là thiên, tuyệt đối là viên. Thiên có giới hạn, viên chẳng có giới hạn.
; 1) Tương đối còn nghiêng lệch và viên mãn: Relative and complete. 2) Cái tương đối thiên lệch của Tiểu Thừa và cái viên mãn của Đại Thừa: Partial and all-embracing, i.e. Hinayana and Mahayana. 3) Thông giáo và Viên giáo của tông Thiên Thai: The intermediate schools and perfect schools (between Hinayana and Mahayana) of T'ien-T'ai sect.
; (偏圓) Từ ngữ được sử dụng để phân biệt sự hơn, kém của giáo lí. Thiên là lí thiên lệch, hẹp hòi, nghiêng hẳn về bên Không cho đến Trung; còn Viên là lí tròn đủ tất cả. Nói theo Đại thừa, Tiểu thừa thì Tiểu thừa là Thiên, Đại thừa là Viên. Tuy nhiên, trong Đại thừa cũng có Thiên, Viên khác nhau, như chỉ cho Viên giáo trong 5 giáo của Hoa nghiêm và Viên giáo trong 4 giáo hóa pháp của Thiên thai là Viên giáo, còn 3 giáo Tạng, Thông, Biệt(Thiên thai) và 2 giáo Chung, Đốn(Hoa nghiêm) thì đều là Thiên giáo.[X. Ma ha chỉ quán Q.3 hạ].
thiên vô nhất thất
741指無所漏失。淨土宗專修報土往生正業之弘願念佛者,執心牢固,定生極樂之國。雜修行者,執心不牢,墮於懈慢之邦,故雜修者,千人之中無有一人得以往生極樂淨土;專修者則千人中有千人得以往生。〔釋淨土群疑論卷四〕(參閱「千中無一」733、「專雜二修」4514)
; (千無一失) Nghìn người không sót một. Theo tông Tịnh độ, người niệm Phật hoằng nguyện chuyên tu chính nghiệp vãng sinh Báo độ, giữ tâm bền chắc, nhất định sẽ được sinh về nước Cực lạc, một nghìn người không sót một. Còn những người tu tạp nhạp thì trong một nghìn người không có được một người vãng sinh Tịnh độ. [X.luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4]. (xt. Thiên Trung Vô Nhất, Chuyên Tạp Nhị Tu).
Thiên Võ Thiên Hoàng
(天武天皇, Temmu Tennō, tại vị 672-686): vị Thiên Hoàng sống vào hậu bán thế kỷ thứ 7, tên là Thiên Đình Trung Nguyên Doanh Chân Nhân (天渟中原瀛眞人), hay còn gọi là Đại Hải Nhân (大海人), vị Hoàng Tử thứ 3 của Thư Minh Thiên Hoàng (舒明天皇, Jomei Tennō, tại vị 629-641). Năm 671, ông xuất gia, rồi ẩn cư tại vùng Cát Dã (吉野). Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671) băng hà, ông giành được thắng lợi dẹp yên vụ loạn năm Nhâm Thân (672), đến năm sau thì lên ngôi ở Tịnh Ngự Nguyên Cung (淨御原宮). Chính nhà vua đã cải định lại giai phẩm trong triều, chế ra luật lịnh mới, và biên sửa lại Quốc Sử.
thiên võng
Heaven's net.
thiên văn
Astronomy.
thiên văn pháp loạn
1335指日本十六世紀之法亂。又作天文法華亂、天文法難。京都之日蓮宗自日像創寺弘教以來,教勢逐漸擴張。至室町時代,進而與公家連結,計擁有二十一山,乃遭致比叡山徒眾之嫉妒。天文五年(1536)三月,日蓮宗徒松本久吉詰難比叡山僧華王房之說法,為兩方爭端之始。七月二十三日,比叡山徒眾襲擊洛中之日蓮宗諸寺,戰鬥四晝夜後,二十一本山悉數燒毀。京都市街亦三分之一毀於火。殉難者千餘人(另說數千人),殘餘徒眾遁至和泉國堺。此予日蓮宗之打擊甚重。直至天文十六年,雙方始漸妥協。此後,本能寺、本國寺、本法寺等十六寺乃逐漸再興。〔天文法亂書、天文法亂雜記、天文法亂興記〕
Thiên vương
天王; S: devarāja; C: tiānwáng; J: tennō;|Ðược xem như là người canh giữ thế giới, thường được thờ trong các chùa. Truyền thuyết cho rằng các Thiên vương sống trên núi Tu-di (s: meru), canh giữ thế giới và Phật pháp. Các vị đó chiến đấu chống cái ác và bảo vệ những nơi Phật pháp được truyền bá. Thân thể các vị đó được áo giáp che chở, đầu mang giáp sắt.|Có bốn vị Thiên vương (Tứ Thiên vương; s: catur-mahārāja) ở bốn hướng: |1. Bắc Thiên vương với tên là Ða văn thiên (多聞天; s: vaiśravaṇa) có thân màu lục, tay trái cầm cờ chiến thắng, tay phải mang tượng chùa hoặc một bảo tháp (mà trong đó – theo truyền thuyết – Long Thụ đã tìm được những bộ kinh dưới Long cung), hoặc một con chuột mầu bạc phun ngọc. Vị Bắc Thiên vương là vị quan trọng nhất trong bốn vị Thiên vương;|2. Nam Thiên vương là Tăng trưởng thiên (增長天; virūḍhaka) có thân màu xanh, cầm gươm chém Vô minh. Vị này chuyên giữ gìn những chủng tử tốt đẹp trong con người; |3. Ðông Thiên vương là Trì quốc thiên (持國天; dhṛtarāṣṭra) có thân trắng, tay cầm đàn, tiếng đàn sẽ làm tâm thức con người trở nên thanh tịnh;|4. Tây Thiên vương tên Quảng mục thiên (廣目天; virūpākṣa) có thân màu đỏ, tay phải cầm rắn (s: nāga) nhưng không cho nó chiếm giữ Như ý châu (ngọc như ý). Ngọc như ý chỉ chuyên dành cho những bậc giác ngộ và rắn chỉ là người canh giữ viên ngọc đó.|Truyền thuyết Trung Quốc đã nhắc các vị này từ thế kỉ thứ 4, nhưng đến đời Ðường (thế kỉ thứ 7) người ta mới thật sự thờ cúng các vị Thiên vương. Mỗi vị này có 91 con trai và 8 tướng quân, giúp canh giữ mười phương thế giới. Tương truyền rằng, năm 742, Ðại sư Bất Không Kim Cương (s: amoghavajra, Mật tông) niệm chú Ðà-la-ni gọi các vị Thiên tướng xuống giúp chống ngoại xâm. Vị Bắc Thiên vương và Tây Thiên vương hiện xuống đẩy lùi giặc, nhà vua nhớ ơn cho xây tượng các vị trong chùa chiền.
thiên vương
Tennō (J), Devaloka-rāja (S), Deva King, King of the devas.Tứ thiên vương ở cõi trời dục giới.
; Maharàja devas (S). Tứ thiên vương, Catur-mahàràja, The four deva kings in the first or lowest devakoka, on its four sides. East Trì quốc Thiên vương Dhrtaràstra; South Tăng trưởng Thiên vương, Virùdhaka; West Quảng mục
; Bốn nhân vật có hình dáng như quỷ. Theo truyền thuyết thì họ sống bên trên núi Tu Di, họ là những thần hộ pháp, họ chiến đấu chống lại cái ác và bảo vệ cái thiện, mỗi thiên vương canh giữ một phương—Mahasvara—Maharaja-devas—There are four demonic-looking-figures deva kings in the first lowest devaloka (Tứ Thiên Vương). According to the myth, they dwell on the world mountain Meru and are guardians of the four quarters of the world and the Buddha teaching. They fight against evil and protect places where goodness is taught: 1) Trì Quốc Thiên Vương: Dhartarastra (skt)—Deva king in the East. 2) Tăng Trưởng Thiên Vương: Virudhaka (skt)—Deva king in the South. 3) Quảng Mục Thiên Vương: Virupaksa (skt)—Deva king in the West. 4) Đa Văn Thiên Vương: Dhanada or Vaisravana (skt)—Deva king in the North.
thiên vương bồ tát
Devarāja (S)Thiên chủ, Thiên đế, Thiên vương PhậtÔng Đề bà đạt đa dù đố kỵ và ác tâm nhưng nhở công đức vô lượng cũng được Phật thọ ký thành Phật vị lai có tên hiệu Thiên vương, cõi giới là Thiên đạo.
thiên vương như lai
1335<一>提婆達多比丘未來成道時之佛名。據法華經提婆達多品所說,提婆達多犯五逆罪,墮無間地獄,佛陀告諸菩薩及天人四眾,謂提婆達多往昔曾為其師,彼實非惡人,為權誡世人而作逆罪,墮於地獄,未來必當成道,號天王如來。 <二>過去以俗形成佛之佛名。據自在王菩薩經卷下載,此佛為過去燃燈佛、威德佛、提沙佛、光明佛以前之佛,其與眷屬等,皆不著袈裟,而著自生淨妙天衣,亦無結惑,乃成佛之特例。
; Deva-ràja Tathàgata (S). The name by which Devadatta, the enemy of Sàkyamuni, will be known on his future appearance as a Buddha in the universe called Thiên Đạo Devasopàna.
; Devaraja-Tathagata (skt)—Tên của vị Phật mà tiền thân là Đề Bà Đạt Đa, kẻ đã nhiều lần hãm hại Phật—The name on which Devadatta, the enemy of Sakyamuni Buddha, will be known on his future appearance as a Buddha in the universe called Devasopana (Devadatta's present residence in hell being temporary for his karmaic expurgation).
; (天王如來) I. Thiên Vương Như Lai. Danh hiệu của tỉ khưu Đề bà đạt đa khi ông thành Phật ở đời vị lai. Cứ theo phẩmĐề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa thì Đề bà đạt đa phạm tội ngũ nghịch, đọa địa ngục Vô gián, đức Phật bảo các vị Bồ tát và 4 chúng người, trời rằng: Đề bà đạt đa thủa xưa từng đã là thầy của ta, vì phương tiện quyền biến mà tạo ra tội nghịch, đọa vào địa ngục để răn dạy người đời, chứ thực ra ông ấy không phải là người ác. Trong đời vị lai Đề bà đạt đa sẽ thành đạo hiệu là Thiên vương Như lai. II. Thiên Vương Như Lai. Tên của vị Phật quá khứ dùng thân hình thế tục mà thành Phật. Cứ theo kinh Tự tại vương bồ tát quyển hạ thì đây là vị Phật ở đời quá khứ trước các đức Phật Nhiên đăng, Uy đức, Đề sa, Quang minh. Vị Phật này và các quyến thuộc đều không mặc ca sa, mà mặc áo trời thanh tịnh, vi diệu tự sinh, cũng không có kết hoặc, là những trường hợp đặc biệt của việc thành Phật.
thiên vương phật
Xem Thiên vương Bồ tát.
thiên vương đường
The hall of the deva kings.
Thiên vương 天王
[ja] テンノウ tennō ||| (1) A king of heaven; a king of a spiritual realm. (2) A reference to the four heavenly kings of the six heavens of the desire realm 四天王. => 1. Vua cõi trời, vua của cõi giới chư thiên. 2.Thuật ngữ nói đến Tứ thiên vương trong Lục dục thiên.
thiên vận
Course of nature.
thiên vị
Partial.
thiên xứ hà
Mandākinī (S)Tên một con sông ở cõi trời.
thiên y
1348<一>天人之衣。據長阿含經卷二十載,四天王衣重半兩,忉利天衣重六銖。即謂天人之衣重量甚輕之意。 <二>指羽衣。往生要集卷中引度諸佛境界經(大八四‧六三上)云:「若於十方世界微塵等諸佛及聲聞眾,施百味飲食、微妙天衣,日日不廢,滿恆沙劫。」此所謂之天衣,即指羽衣。
; Deva garments of extreme lightness.
; Deva garment, of extreme lightness.
; (天衣) I. Thiên Y. Áo của người trời. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 20 thì áo của Tứ thiên vương nặng nửa lạng, áo của các người trời cõi Đao lợi nặng 6 thù (¼lạng). Nghĩa là áo của các người trời có trọng lượng rất nhẹ. II. Thiên Y. Chỉ cho vũ y, tức áo được may bằng lông cánh của loài chim. Vãng sinh yếu tập quyển trung dẫn lời trong kinh Chư Phật cảnh giới (Đại 84, 63 thượng) nói: Nếu bố thí trăm vị thức ăn uống, áo trời vi diệu cho chư Phật và chúng Thanh văn nhiều như bụi nhỏ của các thế giới trong 10 phương, ngày ngày không quên,trải qua số kiếp như cát sông Hằng (...). Áo trời nói ở đây tức chỉ cho vũ y.
thiên y huệ thông
Tien i Hui tsung (C)Tên một vị sư.
Thiên Y Nghĩa Hoài
(天衣義懷, Tenne Gie, 993-1064): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người Huyện Lạc Thanh (樂清縣), Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Hồi nhỏ ông đã theo cha làm nghề đánh cá, nhưng tương truyền bắt được bao nhiêu cá ông đều thả hết. Sau được cha mẹ cho phép, ông theo học với vị tăng trong quận và xuất gia trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Thánh (天聖, 1023-1031). Đầu tiên ông đến tham bái Pháp Hoa Chí Ngôn (法華志言), rồi Kim Loan Thiện (金鑾善) và Diệp Huyện Quy Tỉnh (葉縣歸省). Cuối cùng ông đến tham yết Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) ở Thúy Phong Tự (翠峰寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông diễn xướng pháp môn của mình tại Thiên Y Sơn (天衣山) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau lui về ẩn cư tại Sam Sơn Am (杉山庵) vùng Trì Châu (池州, Tỉnh An Huy). Vào ngày 25 tháng 9 năm đầu niên hiệu Trị Bình (治平), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 46 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Chấn Tông Đại Sư (振宗大師).
; 天衣義懷; C: tiānyī yìhuái; tk. 11;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân Môn. Sư là môn đệ đắc pháp của sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển và là thầy của hai vị Viên Chiếu Tông Bản và Viên Thông Pháp Tú.|Sư họ Trần, quê ở Lạc Thanh, Vĩnh Gia. Mẹ Sư nằm mộng thấy ngôi sao rơi vào nhà liền có thai Sư. Thuở bé, Sư theo cha đi đánh cá. Cha bắt được con cá nào thì Sư lén thả hết và an nhiên chịu đòn khi bị cha đánh. Lớn lên, Sư đến chùa Cảnh Ðức xuất gia.|Một hôm, đang lúc đi trong chợ có một vị tăng lạ vỗ vai Sư nói: »Vân Môn, Lâm Tế.« Sư nghe vậy liền đi đến yết kiến nhiều vị Thiền sư bấy giờ nhưng không khế hợp.|Sau, Sư đến Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (lúc này còn đang hoằng hoá tại Thuý Phong, chưa dời sang Tuyết Ðậu). Tuyết Ðậu hỏi Sư: »Ngươi tên gì?« Sư thưa: »Nghĩa Hoài.« Tuyết Ðậu hỏi: »Sao chẳng đặt là Hoài Nghĩa?« Sư thưa: »Bây giờ sẽ được.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ai vì ngươi đặt tên?« Sư thưa: »Thụ giới đến bây giờ đã mười lăm năm.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ngươi hành cước đã rách bao nhiêu đôi giày?« Sư thưa: »Hoà thượng chớ có lừa người tốt.« Tuyết Ðậu bảo: »Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao?« Sư không đáp được, Tuyết Ðậu bảo: »Kẻ rỗng nói suông đi đi!«|Sư vào thất, Tuyết Ðậu trông thấy bảo: »Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy cũng chẳng được.« Sư suy nghĩ, Tuyết Ðậu đánh đuổi ra. Cứ như thế Sư bị ăn gậy bốn lần. Một hôm, Sư đang gánh nước bỗng nhiên đòn gánh gẫy đánh rơi cặp thùng. Sư nhân đây đại ngộ, liền làm bài kệ:|一二三四五六七。萬仞峰頭獨足立|驪龍頷下奪明珠。一言勘破維摩詰|Nhất nhị tam tứ ngũ lục thất|Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập|Li Long hạm hạ đoạt minh châu|Nhất ngôn khám phá Duy-ma-cật.|*Một hai ba bốn năm sáu bảy|Chót núi muôn nhẫn một chân đứng|Dưới hàm Li long đoạt minh châu|Một lời phá được Duy-ma-cật.|Tuyết Ðậu nghe kệ vỗ bàn khen hay.|Sư thượng đường: »Nạp tăng nói ngang nói dọc mà chưa biết có con mắt trên trán.« Một vị tăng bước ra hỏi: »Thế nào là con mắt trên trán?« Sư đáp: »Áo rách bày xương gầy, nhà lủng thấy trăng sao.«|Sư trụ trì tất cả bảy đạo trường, giáo hoá rất nhiều người và tông phong của Vân Môn rất thịnh. Lúc sắp tịch, Sư sai gọi đệ tử là Trí Tài về gấp. Vừa thấy Trí Tài về, Sư bảo: »Ðến giờ đi đây« và nói kệ:|紅日照扶桑,寒雲封華嶽|三更過鐵圍,拶折驪龍角|Hồng nhật chiếu phù tang|Hàng vân phong hoa nhạc|Tam canh quá thiết vi|Tạt chiết Li long giác.|*Ðất Nhật trời hồng soi|Ðảnh đỉnh hoa mây lạnh quấn|Canh ba vượt thiết vi|Sừng Li long bẻ gẫy.|Trí Tài hỏi: »Tháp trứng đã thành, thế nào là việc cứu kính?« Sư nắm tay chỉ đó và đến bên giường, xô gối rồi viên tịch.
thiên y nghĩa hoài
See Nghĩa Hoài Thiền Sư.
thiên y phái
1349梵名 Digambara。又作裸體派、空衣派、空衣外道、露形外道。印度耆那教派別之一。西元一世紀時形成。主張耆那教徒不應擁有私產,甚至衣服亦不應有,以天為衣,故有此名。以其裸體生活,無所羞恥,故又稱無慚外道。或有教徒僅繫一腰帶,長度不得超過一公尺半。本派教徒手持孔雀毛作之撣子,用以清除路上小蟲,以防傷害,住於寺廟或遠離俗人之處,乞食為生,日食一餐,鄙視婦女,流行於北印度。後分為毘娑般提(梵 Bīsapanthī)、達羅那般提(梵 Tāraṇapanthī)、德帕般提(梵 Topāpanthī)、鳩摩那般提(梵 Gumanapanthī)等派,此後續有分裂。
; Digambara (S)Loã Thể pháiThuộc Kỳ na giáo, Ấn độ.
; (天衣派) Phạm: Digambara. Cũng gọi Khỏa thể phái, Không y phái, Không y ngoại đạo, Lộ hình ngoại đạo. Ngoại đạo khỏa thân, 1 trong các phái của Kì na giáo ở Ấn độ, hình thành vào thế kỉ I Tây lịch. Phái này chủ trương giáo đồ Kì na giáo không nên có tài sản riêng, thậm chí không nên có cả quần áo, lấy trời làm áo, vì thế mới đặt tên là Thiên y phái(phái áo trời). Vì họ sống cuộc sống trần truồng mà không cảm thấy hỗ thẹn nên gọi là Vô tàm ngoại đạo (ngoại đạo không hổ thẹn). Hoặc có giáo đồ chỉ buộc 1 dây lưng dài không quá nửa mét. Giáo đồ phái này tay cầm cây phất trần làm bằng lông chim công, dùng để xua đuổi những côn trùng nhỏ trên đường đi để khỏi bị chúng làm thương tổn, họ ở trong các chùa miếu hoặc nơi cách xa làng xóm, xin ăn để sống, ngày ăn một bữa, coi thường phụ nữ.Giáo phái Thiên y lưu hành ở Bắc Ấn độ, sau lại chia ra các chi phái như: -Tì sa bát đề (Phạm:Bìsapanthì). -Đạt la na bát đề (Phạm:Tàraịapanthì). -Đức phạ bát đề (Phạm: Topapanthì). -Cưu ma na bát đề (Phạm: Gumanapanthì). Về sau, còn tiếp tục phân chia nhiều phái nữa.
thiên y phất thiên tuế
1348表示時間長久之譬喻。大智度論卷五載,譬如有座四十里之石山,有長壽人,每百年持細軟衣一拂拭,至石山盡淨,而劫猶未盡。〔菩薩瓔珞本業經卷下〕
; Áo trời ngàn năm—Thí dụ lấy một tảng đá một dặm, hai dặm, vẩn đến mười dặm vuông, rồi lấy áo trời chỉ nặng ba thù, cứ ba năm thì lấy áo quẹt đá một lần, quẹt mãi cho đến khi mòn hết đá. Số thời gian áo trời quẹt mòn hết tảng đá gọi là một tiểu kiếp—An illustration of the length of a small kalpa: if a great rock, let it be one, two, or even 40 li-square, be dusted with a deva garment once in a hundred years till the rock be worn away, the kalpa would still be unfinished.
; (天衣拂千歲) Dùng áo trời lau phủi nghìn năm, đây là thí dụ biểu thị thời gian lâu dài. Luận Đại trí độ quyển 5 nói rằng: Ví như có tòa ngồi bằng đá rộng 40 dặm, có người sống lâu thường ngồi trên đó, cứ mỗi nghìn năm, người ấy dùng áo trời mỏng nhẹ mềm mại lau tòa đámột lần, cho đến khi tòa đá bị mòn hết sạch, mà kiếp số vẫn chưa hết! [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ]. THIÊN Y VÔ PHÙNG Áo trời không cần cắt may, không khâu dính nên không có dấu vết chắp nối, nên gọi là Thiên y vô phùng(phùng nghĩa là may áo, vá áo). Áo của những người các cõi trời mặc trọng lượng rất nhẹ, các tầng trời càng cao thì áo càng nhẹ. Luận Đại trí độ quyển 34 (Đại 25, 310 hạ) nói: Thiên y cõi Sắc không có trọng lượng, thiên y ở cõi Dục từ bên cây sinh ra không đan không dệt. Theo đó có thể biết được thiên y rất thù thắng, không cần cắt may, thêu dệt, cũng không có dấu vết khâu ráp. Ngoài ra, nguyện thứ 38 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật thì trời, người trong cõi nước của tôi, hễ muốn có áo mặc thì áo mặcliền hiện, đúng như Phật khen ngợi, áo mầu nhiệm ứng theo pháp, tự nhiên mặc ở thân; nếu phải cắt may, nhuộm giặt thì tôi không ở ngôi Chính giác. Trời, người đều có áo vi diệu, không cần cắt may, tự nhiên mà được là điểm trọng yếu của điều nguyện này. Đến đời sau, ví dụ việc này không để lại dấu vết, hoặc hình dung thi ca, văn chương lưu loát, hoặc việc làm tự nhiên trôi chảy... đều gọi là Thiên y vô phùng.
thiên y thiền sư
Zen Master Tian-Yi-Yi-Huai—See Nghĩa Hoài Thiền Sư.
Thiên Y Tông Bổn
(天衣宗本, Tenne Sōhon, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Minh, hiệu là Nhất Nguyên (一元) hay Thiên Y (天衣), xuất thân Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ Trần (陳). Năm 15 tuổi, nhân gặp một vị tăng nơi quán trà, ông được phó chúc cho phép 10 Pháp Giới và chuyên tâm sống với pháp môn Niệm Phật. Ông có viết bộ Quy Nguyên Trực Chỉ Tập (歸元直指集) tại Diên Thọ Giảng Tự (延壽講寺), Tứ Minh vào năm thứ 32 (1553) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) với chủ trương tổng hợp Thiền và Niệm Phật.
thiên y vô phùng
1349天衣乃指天人所穿著之衣服,其重量極輕,且天愈高,衣則愈輕。大智度論卷三十四(大二五‧三一○下):「色界天衣無重相,欲界天衣從樹邊生,無縷無織。」準此,則可知天衣殊勝而無須織縫,是亦無縫合之痕跡可言。此外,阿彌陀佛四十八願中之第三十八願謂(大一二‧二六九上):「設我得佛,國中人、天,欲得衣服,隨念即至,如佛所讚,應法妙服,自然在身;若有裁縫、染治、浣濯者,不取正覺。」此願即是以人、天俱有自然而得之無縫妙衣為誓願要點。至後世,則比喻事無跡象可尋;又形容詩歌、文章、或行事自然、貼切而流暢者,皆稱為「天衣無縫」。
thiên ái
1362梵語 devānāṃ-priya,巴利語 devānaṃ piyo。諸天所愛者之意。孔雀王朝時代,為表王者之威嚴,即敬稱其為「天愛」,如阿育王亦稱天愛喜見王。其後又轉用為譏罵愚人時之稱。〔中阿含卷三十八鸚鵡經、俱舍論卷四、成唯識論卷五、成唯識論掌中樞要卷上末〕
; Devanāṁpriya (S), Preferred by Devas Điều chư thiên ưa thích.
; Devanampriya—Beloved of the gods (natural fools, simpletons, or the ignorants).
; (天愛) Phạm: Devànàô-priya. Pàli: Devànaô piyo. Người được trời yêu thương. VàothờiVương triều Khổng tước ở Ấn độ, từ ngữ này biểu trưng cho sự uy nghiêm của nhà vua, tức kính xưng vua là Thiên ái, như vua A dục cũng được gọi là Thiên ái hỉ kiến vương(vị vua được trời thương yêu mà ai thấy cũng mừng). Về sau, từ Thiên ái được chuyển dụng với nghĩa chê mắng người ngu.
thiên ái đế tu vương
1362(247 B.C.~207 B.C.或 307 B.C.~267 B.C.)天愛帝須,巴利名 Devānaṃpiya-tissa。為錫蘭(今斯里蘭卡)之名王,首先接受佛教信仰,並大力弘傳之。 依據大史(巴 Mahāvaṃsa)一、七之二十、佛音論師(巴 Buddha-ghosa)之律藏註一切善見序等所載,天愛帝須王初即位時,印度之阿育王遣子摩哂陀(巴 Mahinda)、沙彌修摩那(巴 Sumana)等至錫蘭,於眉沙伽山(巴 Missaka,今 Mihintale)為王說咒羅訶象譬經(巴 Cūḷa-hatthipadūpamā-suttanta),並於七日內度化八千五百人。王遂於大眉伽林營建大寺(巴 Mahā-vihāra),於支帝耶山(巴 Cetiya-pabbata)鑿立六十八座石窟寺,又造塔園(巴 Thūpārāma)以供奉佛陀舍利。未久,王之弟無畏(巴 Mattābhaya)與三萬人同時出家,王即於塔園營建精舍供養之。 其後,天愛帝須受摩哂陀之導引而皈依三寶,並請摩哂陀在全國各地建立戒壇(巴 Sīmā)傳授戒法,度化大眾出家。〔善見律毘婆沙卷一、島王統史十一之四〕
; Devanāṁpriya-tissa (S)Vị vua Tích Lan đầu tiên tiếp nhận Phật giáo và tận lực hoằng truyền.
; (天愛帝須王) (247-207, hoặc 307-267 tr.Tây lịch) Thiên ái đế tu, Pàli:Devànaôpiyatissa. Vua nước Tích lan (nay là Sri Lanka), người đầu tiên tiếp nhận tín ngưỡng Phật giáo và tận lực hoằng truyền. Cứ theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa) 1, 7-20 và bài tựa trong Luật tạng chú nhất thiết thiện kiến của Luận sư Phật âm (Pàli:Buddha-ghosa) thì khi vua Thiên ái đế tu mới lên ngôi, vua A dục của Ấn độ sai con là Ma hi đà (Pàli:Mahinda) và Sa di Tu ma na (Pàli:Sumana)... đến Tích lan giảng kinh Chú la ha tượngthí (Pàli:Cùơahatthipadùpamà-suttanta) ở núi Mi sa già (Pàli:Missaka, nay làMihintale) cho vua nghe, đồng thời, trong 7 ngày hóa độ cho 8.500 người. Sau, nhà vua xây dựng Đại tự (Pàli:Mahà-Vihàra) ở rừng Đại mi già, rồi đục mở 68 hang động ở núi Chi đế da (Pàli:Cetiya-pabbata) và xây Tháp viên (Pàli:Thùpàsàma) để thờ xá lợi của đức Phật. Không bao lâu, em của vua là Vô úy (Pàli:Mattàbhaya) và 3 vạn người cùng xuất gia, vua bèn xây tinh xá ở Tháp viên để cúng dường. Về sau, vua Thiên ái đế tu được ngài Ma hi đà hướng dẫn qui y Tam bảo, vua thỉnh ngài Ma hi đà lập đàn giới (Sìmà) ở khắp nơi trong nước để truyền trao giáo pháp, độ cho đại chúng xuất gia.
thiên ân
1355(1926~1980)越南扶越(Hae)人。原名段萬恩(Doan-van-an),字源秀。曾留學日本早稻田大學,獲文學博士。回國後創辦萬行 j學。一九六六年至美國弘法,初擔任加州大學教授。一九七○年創辦國際佛教禪學中心,致力佛教教義之研究,並教導禪定之修習。三年後,與美國學者協力創辦東方大學,推動研究東方文化及佛學。一九七五年興建美國第一座越南佛寺,給予越南難民精神上之寄託。師發大悲心,全力救度越南民眾,成為美國越南難民之精神領袖。一九八○年十一月二十三日示寂,享年五十五。著有越南之佛教與禪、禪之理論與實踐等。
; Hòa Thượng Thích Thiên Ân, một trong những danh Tăng Việt Nam tại Hoa Kỳ trong thời cận đại. Ông thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Vào năm 1966, ông sang Hoa Kỳ thuyết giảng tại Đại Học UCLA. Năm 1967, ông bắt đầu giảng dạy tại Trung Tâm Thiền Phật Giáo Thế Giới tại Hollywood. Năm 1973, trường nầy trở thành trường Đại Học Đông Phương. Sau cuộc thay đổi chính trị tại Việt Nam vào năm 1975, ông hoạt động rất tích cực giúp đở những người tỵ nạn trên đất Mỹ—Most Venerable Thích Thiên Ân, one of the most outstanding Vietnamese monks in the United States in the modern era. He was trained in the Lin-Chi Lineage. He came to the USA in 1966 to lecture at UCLA. In 1967, he began to teach at Hollywood Founded International Buddhist Meditation Center, later in 1973 it became a college and University of Oriental Studies in Los Angeles. After the political change over in Vietnam in 1975, he was active in helping Vietnamese refugees in the USA.
Thiên Ðồng Như Tịnh
天童如淨; C: tiāntóng rújìng; J: tendō nyojō; 1163-1228; |Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Trúc Am Trí Giám. Pháp tự nổi danh của Sư là Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền, vị Tổ thứ nhất tông Tào Ðộng Nhật Bản.
thiên ý thụ
1362天上之如意樹。此樹隨天意而轉,悉遂所求。〔慧琳音義卷二十五〕
; The tree in each devaloka (tầng trời) which produces whatever the devas desire—See Thiên Đức Bình (3).
; (天意樹) Chỉ cho cây như ý trên cõi trời. Cây này chuyển biến theo ý muốn của các người trời, hễ mong cầu điều gì thì đều được như ý cả.
thiên đao lợi
See Trời Đao Lợi.
thiên đài bát giáo đại ý
1337全一卷。隋代灌頂撰。又稱八教大意。收於大正藏第四十六冊。本書略述天台教判化儀、化法等八教之大綱。先將化儀四教配於華嚴等五時而略說之,次敘化法四教之名義、機根、行位、得果,及觀行四門與十乘觀法,並明五時之通別權實等。明藏收之,另有清順治十八年(1661)之刊本。高麗諦觀刪補本書,製述天台四教儀一卷。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、閱藏知津卷四十二〕
thiên đài cửu tổ
1336指天台宗第一祖龍樹菩薩、第二祖北齊慧文、第三祖南嶽慧思、第四祖天台智顗、第五祖章安灌頂、第六祖法華智威、第七祖天宮慧威、第八祖左溪玄朗、第九祖荊溪湛然。龍樹菩薩雖生於印度,然北齊慧文依其中觀論而證明一心三觀之妙旨,故奉為第一祖。然亦有稱北齊慧文為天台初祖者,蓋以龍樹為印度人,故未予計入。〔佛祖統紀卷六、卷七〕
thiên đài cửu tổ truyện
1336全一卷。南宋沙門士衡編。收於大正藏第五十一冊。記述天台宗九世祖師之傳記。九祖即:高祖印度龍樹、二祖北齊慧文、三祖南嶽慧思、四祖天台智顗、五祖章安灌頂、六祖法華智威、七祖天宮慧威、八祖左溪玄朗、九祖荊溪湛然。
thiên đài ngũ hối
1338指天台家依五門順序修滅罪法之行事。此五法於晝夜六時修之,稱為六時五悔。乃智顗依彌勒問經、占察經、普賢觀經等而立者。即:(一)懺悔,發露無始已來身、口、意三業所造之罪過而悔改之。(二)勸請,勸請十方諸佛留身久住,恆轉法輪,救護眾生。(三)隨喜,捨遣嫉妒之念,讚嘆自他一切諸善根。(四)迴向,以所有之善根迴向菩提。(五)發願,發四弘誓願,利導前四行。 此五種通為悔罪滅惡者,故皆名悔法。天台家以五悔為法華修行之助行。據摩訶止觀卷七下載,日夜六時行之,懺悔能破大惡業罪,勸請破謗法罪,隨喜破嫉妒罪,迴向則破諸有罪,所得功德不可限量。〔合部金光明經卷二、修懺要旨、止觀輔行傳弘決卷七之四、法華三昧懺儀、占察善惡業報經行法〕
thiên đài ngũ thời
1340天台智者大師將如來之一代聖教,用太陽照物之比喻,分判為五時,稱為天台五時。據天台四教儀載,如來於成道最初,為大菩薩說華嚴經;次於鹿苑,為接引二乘而說四阿含等經;次說方等大經,如楞伽經等,令諸二乘迴小向大;次說般若經,遣除二乘執情;後說法華、涅槃二經,以開示眾生,咸得作佛,故稱為五時。即: (一)華嚴時,係以經題而立名。謂如來初為大乘根熟者首談此經,如日照高山之時。此時乃無盡法界,性海圓融,空有齊彰,色心俱入,湛深羅於海印(喻佛智),現剎土於毫端,以此化度大乘菩薩。(二)鹿苑時,係就地點而立名。謂如來次說阿含等經,如日照幽谷之時。此時乃如來因小乘於華嚴大法不見不聞,猶如聾瞽,故隱大化而施小化,遂於鹿苑之中說四諦法,演四阿含等經。(三)方等時,係就所說之法而立名。方,為眾機普被;等,指四教(藏、通、別、圓)並談。謂如來次說方等諸經,如日照平地之時。如來於鹿苑中說小乘法,二乘之人以得少為滿足,如來遂假維摩居士以呵斥之,使其恥小乘而慕大法,故說維摩、楞伽等經。(四)般若時,係就經題而立名。謂如來次說此經,如日照禺中之時(巳時)。小乘既被彈呵,迴心向大,然其執情未能頓泯,如來遂廣談般若空慧之法以滌蕩之。(五)法華涅槃時,係就經題而立名。謂如來正說法華、涅槃經,如日輪當午之時。如來於前四時調機純熟,故於靈山會上稱性而談,令其會權歸實,了妄即真,演長遠之壽量,顯至道之幽微,上中下根咸蒙授記,此乃如來宣說法華經之因;然猶有餘機未盡,故又說涅槃經以收拾遺餘。(參閱「五時八教」1132)
thiên đài sơn
1338位於浙江台州府(天台縣)佛霞嶺山脈東北端。又稱天梯山,或稱台嶽。以山形如八葉覆蓮,有八支八溪及上台、中台、下台等,似三星之台宿,故稱天台。共由桐柏、赤城、瀑布、佛隴、香爐、羅漢、東蒼、華頂等八峰組成,最高之華頂峰高一一三六公尺。另傳本稱南嶽,周靈王太子晉居此,其魂為山神,命左右公改稱天台。峰巒甚多,有招賢、金墩等諸山,摘星、玉女等諸峰,百丈、獅子等諸巖,劉阮、丹霞等諸洞,鬧、秀等諸溪,惠澤、靈澤、百丈等諸潭,泉、墨等諸湖。又有醴泉井、智者泉、錫杖泉、墨池、放生池,五百羅漢石等,自古即頗負盛名,為道士、隱士棲隱之地,如伯夷、叔齊、彭宗、阮肇、許邁、葛玄、顧歡、葉法善、司馬承禎、呂洞賓、張紫陽等,皆曾居此,山中之道觀、佛寺特多。 佛教開拓此山,相傳約於吳赤烏年中(238~251),首建清化寺、翠屏菴,未久,有支遁、于法蘭、曇光、竺曇猷等人,先後創建棲光寺、隱岳寺、中巖寺等。其後,法順創建瀑布寺,慧明創建臥佛寺。僧護居於石城,發願造彌勒石像,僧淑、僧祐繼其業,於梁天監十五年(516)竣工。此外,智達開創棲禪寺,天花尊者建開嚴寺,僧祐亦建白巖寺。至南朝陳宣帝太建七年(575),智顗定為修禪之地,遂於佛隴峰建修禪寺(後稱禪林寺),自此乃為天台宗之根本道場。智顗晚年時,晉王廣(煬帝)建天台山寺,大業元年(605)賜額「國清寺」,天台宗歷代祖師皆住於此。後又增建平田寺。唐貞觀六年(632)灌頂入寂於國清寺,其後智越、普明、智威等相繼住之。據傳豐干居國清寺時,拾得為典座,寒山住寒巖幽窟中,常來該寺乞食,與拾得相交遊,賦詩頌三百餘首。後玄朗、湛然相繼至此。建中三年(782)湛然入寂於佛隴道場,門人奉全身塔於智顗塋兆之南隅,元浩纂輯其教法,號天台中興之祖。唐貞元二十年(804),日僧最澄、義真等至智者禪院(真覺寺)從道邃、行滿習天台宗教法,又從修禪寺翛然傳牛頭禪一派,返國後創立日本佛教天台宗。唐武宗會昌廢佛後,天台山寺塔多被毀壞。最澄於禪林寺中草創之院,亦告荒廢。後圓珍、圓覺再興之,就國清寺建止觀堂,號天台山國清寺日本國大德僧院。日本留學僧每多巡拜天台山。後梁龍德年中,德韶、師蘊住雲居,受吳越王之歸依,復興智顗舊蹟。 唐末以來,禪宗興盛,故天台山禪寺特多。五代時,德韶、義寂再興。至宋代,知禮、遵式等人將天台教學遷至四明山、西湖,其後天台山逐漸衰微。元代時有無見先睹住之,明代有曇噩、象先真請、易菴如通、月亭明得等人棲止於此,然至明代弘治、正德年間幾已衰滅。天台山原有佛寺七十二,明萬曆年中,存廢相半。現存國清寺、真覺寺、高明寺、大佛寺、華頂寺、上方廣寺、下方廣寺、萬年寺、寶相寺等。其中以國清寺為根本道場,伽藍俱備,最為著名。真覺寺為埋葬智顗之地。龕前有雙石塔,號定慧真身塔院。高明寺留有智顗講淨名經之遺蹟,號智者幽溪道場。寶相寺又稱赤城寺,大佛寺為智顗入滅之處,吳越王時,德韶創建堂舍,號寶國華嚴院,宋代始改為今名。山頂有七級二十丈之磚塔,係梁岳陽王妃所建,今存四級。其他有飛霞、玉京、餐霞、華陽、紫陽等五洞。〔天台四教儀集解卷上、梁高僧傳卷十一、卷十三、卷十四、國清百錄卷二、卷三、卷四、隋天台智者大師別傳、天台山方外志、法華持驗記卷上、古今圖書集成山川典第一二一至第一二六、職方典第九九五、第一○○○、第一○○二、天台霞標卷五之四、支那佛教史蹟評解卷四〕
thiên đài tam giáo
1337指天台判教中之三教。<一>大綱三教。乃天台宗化儀四教中,祕密教以外之頓教、漸教、不定教。此三教收攝法華經應世前之諸經。〔法華玄義卷十〕 <二>權門三教。乃化法四教中,除圓教以外之藏教、通教、別教。〔法華經科註卷一下〕 <三>指總攝釋尊一代教法之漸、頓、圓三教。圓教即指法華經。
thiên đài tam sinh
1337請參閱 十疑論 請參閱 法華三大部補注 天台家以種、熟、脫等三階段表示佛道成就之相,稱為天台三生。種,即下種,謂初種成佛得道之種子。熟,即調熟,謂修行漸次成熟。脫,即解脫,謂修行已成,因圓果滿。此三階段或配於久遠、中間、今世,或於一生一念之中立之。三生者,僅示三位之別而已。〔法華文句(會本)卷一〕(參閱「種熟脫」5873)
thiên đài tiểu chỉ quán
1337全一卷。又稱童蒙止觀。天台大師智顗撰。係相對於十卷摩訶止觀(大止觀)而名。本書僅以一卷之小冊說示止觀法門之要義,故一般通稱為小止觀。復因摩訶止觀所說多深遠幽玄,而小止觀則極其素朴平明,故名「童蒙」。其內容乃有關坐禪作法與坐禪用心,為一本坐禪指南書。天台小止觀之內題及撰號有二種,一為「修習止觀坐禪法要 天台山修禪寺沙門智顗述」,一為「略明開朦初學坐禪止觀要門 天台山顗禪師說 齊國沙門淨辨私記」,二書雖為同本,而內容頗多出入,一般流布本為修習止觀坐禪法要一卷,收於大正藏第四十六冊。〔隋天台智者大師別傳、起信論義記卷下末、閱藏知津卷三十九〕
thiên đài truyện phật tâm ấn kí
1345請參閱 法華文句記 請參閱 智者大師別傳全一卷。元代懷則撰述。又作佛心印記。收於大正藏第四十六冊。說明天台宗所傳佛心印「性具性惡」之法,並破斥禪家之「教外別傳,見性成佛」、相宗之定性二乘、性宗之無佛性等義。註書有明代傳燈所著之天台傳佛心印記註二卷等。〔佛祖統紀卷二十四、大明三藏聖教北藏目錄卷四、閱藏知津卷四十二〕
thiên đài tông
1342請參閱 菩薩戒義疏 請參閱 菩薩戒義疏 又作法華宗、天台法華宗、台宗、圓宗、台家。我國十三宗之一,日本八宗之一。六朝時,智顗大師棲止天台山,倡立一宗之教觀,世稱天台大師,遂以所立之宗稱為天台宗,或台教。天台宗之僧徒,即被稱為台徒;天台宗之道法,稱為台道。又此宗依法華經以判一代時教,且最尊崇法華經,故又稱法華宗。本宗即是以天台智者大師為開祖,以法華經教旨為基礎判立五時八教之教相,提倡三諦圓融之理,依觀心之法以期「速疾頓成」之大乘宗派。 智顗原師事南嶽慧思(515~577),修習三種止觀之法,慧思嘗就北齊之慧文受「一心三智」之旨。據摩訶止觀卷一上載,慧文依大智度論修得觀心之法,又揭示中論之偈以為一心三觀之基礎,慧思受彼觀心法後,啟發法華三昧,著法華經安樂行儀、隨自意三昧、諸法無諍三法門等。智顗於陳天嘉元年(560)謁見慧思,受法華三昧、四安樂行,讀法華經至「是真精進,是名真法供養」之文,豁然開悟。後赴金陵瓦官寺以法華經開題宣講大智度論,闡釋次第禪門。太建七年(575)入天台山,隱棲十年。所著法華玄義、摩訶止觀、法華文句,被奉為「天台三大部」。隋初入荊州玉泉寺,講法華玄義,說摩訶止觀,故本宗雖以龍樹為高祖,而以智顗為第四祖,然就思想傳承之集大成而言,智顗實為本宗之開祖。其門人頗多,受法弟子有三十二人。其中,灌頂(561~632)師事智顗二十餘年,頗能領持其遺教,撰有大般涅槃經玄義及疏、觀心論疏等數十卷,是為第二祖。其後傳承三祖智威、四祖慧威、五祖玄朗,玄朗之下有六祖湛然(711~782),夙習台學二十年,對當時華嚴、法相、律、禪、密等諸宗,大張天台教綱,嘗蒙玄宗等三帝之敕召,屢辭而專事著作與講法,號稱本宗中興之祖,著有法華玄義釋籤、法華文句記、止觀輔行傳弘決、止觀義例、金剛錍等二十餘部。提倡「非情佛性」、「無情有性」之義,主張草木磚石亦有佛性。此外又糅合大乘起信論之說,確立宋代天台教學之基礎。其弟子有道邃、行滿、元皓、道暹、明曠等,道邃再傳宗穎、良諝。未久,會昌法難及唐末五代之戰亂,天台之典籍章疏大多散逸,天台宗乃漸衰微。後有高麗僧諦觀應吳越國忠懿王之請,攜大批天台典籍至華,天台宗衰頹之機乃得扭轉。十二祖義寂之門人義通亦由高麗國來師事義寂,弘揚教觀,是為十三祖。其門下有四明知禮(960~1028)及慈雲遵式等諸哲。知禮作指要鈔、妙宗鈔等,與遵式之系統同為天台山家派。義寂之另一弟子慈光志因,下傳晤恩、源清、洪敏、孤山智圓(976~1022)、梵天慶昭(963~1017)等,此系統稱為山外派。兩派之爭端,起於對智顗「金光明玄義」廣本之真偽問題,由之並逐漸演成唯心論與實相論之對立論爭。知禮曾針對晤恩之「真心觀」,而製「扶宗釋難」,倡導「妄心觀」之說,而後兩派往復論戰凡四十年,是為山家、山外之爭。於山外派,慶昭之門下有咸潤、繼齊等人繼之。山外派之學說每被斥為不純,不久衰微。山家派四明知禮之法系則頗為興榮,其門下之廣智尚賢、神照本如、南屏梵臻等三人被稱為「四明三家」。至元代,天台之勢不振。至明代,幽溪、傳燈、真覺等盛弘山家正宗。至蕅益智旭(1599~1655),援引唯識、禪宗之旨,以資發揮天台教觀,惟亦因倡導性相、禪淨融會,而招致衰運。 日本天台宗則以傳教大師最澄為始祖,曾來唐,受法於湛然之弟子道邃、行滿。返日本後,於比叡山創圓教、禪、圓戒、密教等四宗一致之旨,異於我國天台宗。又最澄之弟子圓仁,及義真之弟子圓珍亦先後來唐,分別師事宗穎、良諝學台教,復從諸師受金胎、蘇悉地大法、三部之祕要及新譯經軌等密法,致使天台密教教學得以普遍發展。至安然時,日本天台宗已極端密教化。最澄之弟子義真以來,天台座主統治一宗,然至圓仁、圓珍以後,法系分裂為二。圓珍之徒眾脫離比叡山,住於園城寺(三井寺),稱為寺門;比叡山則稱為山門。山門至良源時,教學以固有之圓教為宗旨,高徒輩出,宗勢大起。良源之弟子源信則鼓吹淨土思想,興起惠心流;其另一弟子覺運則立檀那流,合稱為惠檀二流。總計台密系統,至後世共有十三流派。院政時期淨土思想極其普遍,如良忍之融通念佛宗。鎌倉時代有源空之淨土宗,其弟子親鸞復創立淨土真宗。禪宗方面有榮西之臨濟宗、道元之曹洞宗。圓教方面有日蓮之日蓮宗。圓戒則有真盛主張「戒稱一致」之真盛派。上述天台宗諸宗派至平安末期以後,逐漸重視口傳,故有所謂「口傳法門」產生。反之,教學方面則逐漸衰微。此外,僧兵之崛起、政權之爭奪、織田信長之燒討,皆造成比叡山之沒落。直至江戶時代,東叡山、日光山先後開創,乃復其舊觀。又因當時幕府獎勵學問,教學亦漸復興。現有天台宗(比叡山延曆寺)、天台寺門宗(園城寺)、天台真盛宗(西教寺)等宗派。 本宗教義可略分為三諦圓融、一念三千、一心三觀、六即等科:(一)三諦圓融,本宗教義以諸法實相論為中心,諸法實相即法華經所謂佛所成就第一希有難解之法,唯佛與佛方能究竟諸法實相,即十如是等。三諦者,空諦、假諦、中諦,或稱真諦、俗諦、中諦,一法上之德用差別即是三諦,三諦一一皆圓融相即,是為三諦圓融,亦即空不離假中,假不缺空中,中亦然。(二)一念三千,即一念心具三千諸法。天台宗旨不論三性漏、無漏,介爾有心,其心即具足三千迷悟諸法。三千者,總攝宇宙一切之名,同時表諸法之融攝。(三)一心三觀,即於一己內身之心識上,觀念修習三千三諦之妙理。法界森羅諸法,皆三千三諦,三千三諦皆性具,故色心因果,總皆是一種三千,心佛眾生三無差別,同具三千諸法,然以佛法太高,眾生法太廣,對初心之行者實難教化,故若欲應用此三千三諦之教理於實際,與其遠擇高廣之境界,不如近觀己心。所謂觀己心者,即觀介爾陰妄之一念,而日常之妄心,即第六意識之一念。觀此現前陰妄一剎那心,印日夜起滅之一念心具三千諸法,即空即假即中,是為一心三觀。(四)六即,自凡夫至佛之六種階位,有理即、名字即、觀行即、相似即、分證即、究竟即等。(1)理即,一切眾生皆有佛性,有佛無佛,性相常住,然理雖即是,日用不知,以未聞三諦,全不識佛法。(2)名字即,或從善知識,或從經卷,聞見三諦圓融之妙理,於名字中通達了解,知一切法皆是佛法,然但聞名口說,如蟲食木,偶得成字。(3)觀行即,既知名字,即起觀行,心觀明了,理慧相應,所行如所言,所言如所行。(4)相似即,觀慧稍進,於三諦之妙境發相似解;觀慧轉明,登初住位,如將至火,先覺暖氣。(5)分證即,觀慧倍增,初破一分無明惑,見佛性理,其後分破四十一品無明,入於薩婆若(一切智)海。(6)究竟即,斷第四十二品無明,發究竟圓滿之覺智。 本宗更以五時八教判釋佛陀一代聖教。五時者,將佛陀一代五十年間,應眾生之根機,應病與藥所說之教法,分為華嚴時,鹿苑時、方等時、般若時、法華涅槃時;八教分化儀四教、化法四教。化儀者,佛教化眾生所用之法有頓、漸、祕密、不定等四種;化法者,佛教化眾生之教法內容有藏、通、別、圓等四種。 民國以後,天台學之復興得力於諦閑大師(1858~1932),彼創立觀宗研究社,為作育天台學者之專門學府,一時人材蔚起,有仁山、常惺、寶靜、靜修、倓虛、禪定、可端等諸尊宿。〔佛祖統紀卷五至卷二十二、天台九祖傳、天台山方外志、八宗綱要卷下、五教章通路記卷十二〕(參閱「山家山外」949、「五時八教」1132、「台密」1624)
; Tien tai tsung (C), Tendai-shu (J)Một tông phái ở Nhật do ngài Truyền giáo Đại sư sáng lập hồi thế kỷ thứ 9, theo giáo lý Thiên thai tông ở Tàu. = Thiên thai tông ở Trung quốc.
; Tendai-shu (J). Xem Thiên Thai.
thiên đài tông toàn thư
1342凡二十五冊。日本天台宗典刊行會編纂。係日本撰述之天台宗宗典之叢書。其內容搜羅甚廣,包括中、日天台文獻之注釋及顯密二教之章疏。昭和十年(1935)四月至十二年五月刊行,由東京真盛寺內同會事務所、東京大藏出版株式會社發行。
thiên đài tứ giáo
1341指天台宗之判教。天台宗之教相判釋,有化法四教與化儀四教二類:(一)佛說法之內容(化法),分為藏、通、別、圓等四教。(二)佛說法之形式(化儀),分為頓、漸、祕密、不定等四教。(參閱「五時八教」1132)
thiên đài tứ giáo nghi
1341全一卷。又作四教儀、諦觀錄。高麗僧諦觀撰。收於大正藏第四十六冊。宋初,諦觀應吳越王之請,攜帶天台三大部至我國,投於螺溪義寂門下,深研天台之學,十年後示寂,同門於其故篋中,發現本書,為研究天台教義大綱與觀心(實踐修行)要略之入門書。內容係刪補灌頂之「天台八教大意」而成,以法華經信解品之譬喻與涅槃經之五味、華嚴經之三照等譬喻為中心,判別天台五時,及頓、漸、祕密、不定等化儀四教,並略述藏、通、別、圓等化法四教之名義、教說、行人、行位、證果等,復以摩訶止觀之二十五方便略述圓教之十乘觀法。其後智旭以本書觀點過於簡略,乃萌發述作「教觀綱宗」之動機。本書之註釋書極多,歷來以宋朝從義之四教儀集解三卷、南宋元粹之四教儀備釋二卷與元朝蒙潤之四教儀集註三卷為本書三大註釋書。〔佛祖統紀卷十、新編諸宗教藏總錄卷三、大明三藏聖教北藏目錄卷四、閱藏知津卷四十二〕
thiên đài tứ giáo nghi tập chú
1341請參閱 天台四教儀集解 凡三卷(一說十卷)。元代蒙潤撰。略稱四教儀集註。本書依據山家派正義,詳釋天台四教儀,釋義精密,繁簡得當,為初學之捷徑。明藏收之。註疏頗多,有蒙潤之天台四教儀集註科文一卷、清代性權之註彙補輔宏記二十卷等。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、佛典疏鈔目錄卷下〕
thiên đài tứ giáo nghi tập giải
1342凡三卷。宋代天台宗僧從義撰。又作四教儀集解、四教集解、天台四教儀科解。闡解諦觀之天台四教儀。今收於卍續藏第一○二冊。〔新編諸宗教藏總錄卷三〕
thiên đài tứ thích
1342天台宗智顗大師解釋法華經所用之四種方法。又作天台四大釋例、四大釋例、四種消釋、四種消文。即:(一)因緣釋,又稱感應釋。就佛與眾生之關係因緣而作解釋。謂教法係由感應道交而興起,以四種悉檀為因緣,作四種釋義:(1)世界悉檀,謂引眾生之樂欲。(2)各各為人悉檀,謂使眾生生信。(3)對治悉檀,謂破除惡執。(4)第一義悉檀,謂使眾生入於實相。(二)約教釋,就藏、通、別、圓四教之義,由淺至深解釋經文。(三)本跡釋,示本跡之別,依本地與垂跡二門而解法義。(四)觀心釋,了解法義,但行未隨解,於己無益,故再以一一之文句為觀心之對境,觀己心之高廣。 有關佛及弟子之行事等多用因緣釋,如是我聞等之教義多用約教釋,有關佛及弟子本身事跡者多用本跡釋,王舍城等地名及名數則多用觀心釋。〔法華經文句卷一上、法華文句記卷一上、卷一中〕
thiên đài tứ tương thừa
1340天台宗有三種相承、四種相承之說。四種相承即:(一)圓頓戒相承,指大乘菩薩戒之傳承。(二)止觀業相承,指天台宗之傳承。(三)遮那業相承,指密教之傳承。(四)達磨禪相承,指禪宗之傳承。三種相承即:(一)金口相承,謂受佛金口之記而次第相承,指摩訶迦葉至師子比丘等二十三祖。(二)今師相承,指龍樹、慧文、慧思、智顗等四祖。(三)九祖相承,指龍樹、慧文、慧思、智顗、灌頂、智威、慧威、玄朗、湛然等九祖。
thiên đài đại sư
1337(538~597)乃智者大師之別稱。荊州華容(湖南華容)人,俗姓陳。字德安。名智顗。十八歲出家於湘州果願寺。後入光州大蘇山,從慧思習四安樂行。曾於金陵先後開講法華經、大智度論,並宏闡禪法。後於太建七年(575)入天台山,緇白風從。開皇十一年(591),於揚州為晉王廣(即後之隋煬帝)授菩薩戒,王賜予「智者」之號。開皇十七年十一月入寂,享年六十,世稱天台大師。師一生造寺三十六所,寫經十五藏,造像十萬尊(一說八十萬尊),度僧千餘人,傳業之學士三十二人。弟子中以灌頂、智越、智璪為最著。其著述甚多,有妙法蓮華經玄義二十卷、妙法蓮華經文句二十卷、維摩經略疏十卷、金光明經文句六卷、仁王護國般若經疏五卷、菩薩戒義疏二卷、摩訶止觀十卷等。〔隋天台智者大師別傳、唐高僧傳卷十七、大唐內典錄卷十〕(參閱「智顗」5038)
thiên đàng
Heaven.
thiên đô
To move the capital.
thiên đăng hội
743燃千燈以供佛之法會。旨在懺悔、滅罪,而以千燈供養佛陀或菩薩,以求得證三藐三菩提。中日佛教界皆有此風。
; (千燈會) Pháp hội thắp một nghìn ngọn đèn để cúng dường đức Phật. Mục đích của việc thắp một nghìn ngọn đèn cúng dường Phật hoặc Bồ tát là để sám hối diệt tội, cầu chứng Vô thượng chính đẳng chính giác. Giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản đều có phong tập này.
Thiên Đường
(天堂): hay Thiên Quốc (天國), chỉ cho trú xứ hay quốc độ trên trời, là cung điện của thiên chúng, đối lập với Địa Ngục. Theo đa số các tôn giáo cũng như triết học tâm linh đều công nhận đây là nơi tồn tại hình thức sinh mạng con người sau khi chết. Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, Thiên Đường, Thiên Quốc, Thiên Giới (天界), Thần Giới (神界), v.v., đều cùng ngữ nghĩa với nhau, chỉ cho cảnh giới thần tiên do Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝) thống quản. Nhân gian tin rằng con người sau khi chết sẽ lên Trời, tổ tiên của mỗi cá nhân đều ở trên đó nhìn mình, và linh hồn tổ tiên luôn hộ trì, che chở cho con cháu mình dưới trần thế. Do đó, người Trung Quốc có truyền thống kính Trời và thờ cúng tổ tiên. Thần và người đều giữ đạo riêng của mình. Thần tiên có khả năng hạ phàm xuống cõi người. Theo Đạo Giáo, người nào đắc đạo, đều có thể thành thần tiên. Thái Bình Kinh (太平經), kinh thư trọng yếu của tôn giáo này, giải thích rằng: “Thượng thiện chi nhân, tử hậu Âm Tào Phán Quan trước thiện tịch chi văn, danh chi vi thiện nhân chi tịch, hành ngưỡng thiện, dữ thiên địa Tứ Thời Ngũ Hành hợp tín, chư thần tương ái … cọng tấn ư thiên thần (上善之人、死後陰曹判官著善籍之文、名之爲善人之籍、行仰善、與天地四時五行合信、諸神相愛…共進於天神, người mà lương thiện, sau khi chết Âm Tào Phán Quan viết văn sổ lương thiện, đó gọi là sổ người lương thiện; làm và kính trọng việc thiện, cùng hợp niềm tin với Bốn Thời, Ngũ Hành của trời đất, các thần đều thương … cùng phong làm thiên thần).” Thanh Thành (青城), nơi phát xuất Đạo Giáo Trung Quốc, được xem như là đô thành Thiên Quốc trên cõi thế. Cho nên tác phẩm Quảng Hoàng Đế Bản Hạnh Ký (廣黃帝本行記) có ghi rằng: “Thanh Thành, Thiên Quốc chi đô (青城、天國之都, Thanh Thành là kinh đô của Thiên Quốc).” Theo tín ngưỡng dân gian, Ngọc Hoàng Đại Đế là vua của các Thần; nhưng trong Đạo Giáo thì chức năng của Ngài là thừa mạng của Tam Thanh (三清), tức Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Đạo Đức Thiên Tôn (道德天尊, Thái Thượng Lão Quân [太上老君]) và Linh Bảo Thiên Tôn (靈寶天尊, Thượng Thanh Đại Đế [上清大帝]). Căn cứ vào tác phẩm Vân Cấp Thất Tiêm (雲笈七籤), phần Thiên Địa Bộ (天地部) cho biết rằng Trời có 36 tầng. Trong bài kệ thỉnh chuông chiều có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ (洪鐘初扣、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府, chuông chùa mới đánh, kệ báu ngâm vang, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ).” Cho nên, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1116) quyển Thượng có giải thích rằng: “Kim minh chung thời, trượng Tam Bảo uy lực, nhi linh thử thanh, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ, giai đắc văn dã (今鳴鐘時、仗三寶威力、而令此聲、上徹天堂、下通地府、皆得聞也, nay khi đánh chuông, nương nhờ oai lực Tam Bảo, mà có âm thanh này, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ, thảy đều được nghe).” Trong Đạt Ma Đại Sư Huyết Mạch Luận (達磨大師血脈論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1218) có cho biết rằng: “Thiện ác lịch nhiên, nhân quả phân minh, Thiên Đường Địa Ngục chỉ tại nhãn tiền (善惡歷然、因果分明、天堂地獄只在眼前, thiện ác sáng tỏ, nhân quả rõ ràng, Thiên Đường Địa Ngục chỉ tại trước mắt).”
thiên đường
1357指天眾所住之宮殿。又作天宮。與「地獄」對稱。即善人死後,依其善業所至受福樂之處所。
; Svarga (S), Svarga (S), Sagga (P), Devakhan (S), Paradise, Heaven.
; The mansions of the devas, located between the earth and the Brahmalokas; the heavenly halls; heaven.
; Chỗ ở của người cõi trời chỉ thọ vui chẳng thọ khổ, phước lớn chừng nào thì tuổi thọ cao chừng nấy.
; The mansions of the devas, located between the earth and the Brahmalokas—The heaven halls—Heaven.
thiên đường địa ngục
The heavens and the hells, places of reward or punishment for moral conduct.
; The heavens and the hells, places of reward or punishment for moral conduct.
Thiên đường 天堂
[ja] テンドウ tendō ||| Literally, "celestial palace." The heavenly realm 天上界, where one may be reborn as a result of good actions. One of the six destinies 六道, the various heavens of the form 色界 and formless realms 無色界. => Nói nôm na là “cõi thiên đàng”. Thiên thượng giới, nơi được tái sinh nhờ kết quả tu thiện nghiệp. Là một trong Lục đạo六道, là cõi trời khác với các cõi trời ở Sắc giới 色界và Vô sắc giới無色界.
thiên đại tướng quân
Deva-guardian.
thiên đạo
1363六道之一,三善道之一。指住於欲界、色界、無色界等三界之天人。亦指自然之道、主宰天地之神、日月星辰、太陽等。〔無量壽經卷下、大度智論卷五十四〕(參閱「天上」1334)
; Deva-gati (S), Devasoppāna (S)Đường trời; cõi trời (1) Sáu cảnh tiên dục giới (2) Tên cõi giới của Phật Thiên vương, hậu thân Đề bà đạt đa (3) thiên lý, lẽ công bằng thiêng liêngTên cõi giới của Phật Thiên vương, hậu thân ngài Đề bà đạt đa.
; Devagati, devasopàna (S). The highest of the six paths lục đạo, the realm of devas, i.e. the eighteen heavens of form and four of formlessness. A place of enjoyment but not a place of progress toward bodhisattva perfection.
; Deva-gati—Devasopana (skt). 1) Cõi trời, cảnh giới cao nhất trong lục đạo, gồm 18 tầng trời sắc giới và bốn tầng trời vô sắc giới. Một nơi hưởng phước, nhưng không là nơi để tiến lên quả vị Bồ Tát—The highest of the six paths—The realm of devas includes the eighteen heavens of form and four of formlessness. A place of enjoyment, where the meritorious enjoy the fruits of good karma, but not a place of progress toward bodhisattva perfection. 2) Đạo Trời: Đạo tự nhiên, lý tự nhiên, hay qui luật tự nhiên—The Tao of Heaven—According to the Taoists, natural law or cosmic energy is the origin and law of all things.
; (天道) Chỉ cho chư thiên ở trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, 1 trong 6 đạo, 1 trong 3 thiện đạo. Hoặc chỉ cho đạo tự nhiên, vị thần chúa tể trời đất, mặt trời, mặt trăng, các vì sao...
thiên đạo giới
Xem Thiên đạo, Xem Thiên vương Bồ tát.
Thiên đạo 天道
[ja] テンドウ tendō ||| (1) The path of the gods. (2) One of the six destinies 六道 (also written 天趣); one of the three good destinies. The gods who dwell in the realms of desire, form and formlessness. Divine existence. Also a reference to the heavenly bodies such as the sun, moon and stars. See also 天上. (3) As one of the six destinies, rebirth as a god is generally considered to be the result of the karma of positive acts in a previous lifetime (svarga). Thus it is, relatively speaking, a fortuitous rebirth. But it is nonetheless a karma-based rebirth, and falls far short of the existence of arhats, pratyekabuddhas and bodhisattvas. Some explanations also point out that while rebirth in a heavenly state is the result of a predominance of good karma, there is still a degree of causation by subtle evil. (4) The sun. => 1. Con đường tu tập của chư thiên. 2. Một trong Lục đạo (còn gọi là Lục thú); một trong 3 cõi giới lành. Chư thiên sống trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Cõi trời. Đề cập đến các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. 3. Là một trong Lục đạo, được tái sinh làm chư thiên thường được xem là kết quả do tu tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: svarga). Do vậy nói một cách tương đối, đó chỉ là sự tái sinh ngẫu nhiên mà thôi. Nhưng dù sao cũng là sự tái sinh do nghiệp, và còn xa cõi giới của A-la-hán, Bích-chi Phật và Bồ-tát. Có một số kinh luận giải thích rằng tái sinh vào cảnh giới chư thiên là do kết quả ưu việt của thiện nghiệp, nhưng vẫn còn do một mức độ vi tế của nghiệp bất thiện. 4. Mặt trời.
thiên đản
Hở một bên vai, như mặc áo cà sa choàng qua vai phải và để hở vai trái. Đây là dấu hiệu của sự tôn kính—Bare on one side, i.e. to wear the toga, or robe, over the right shoulder, baring the other as a mark of respect.
Thiên đản hữu kiên
偏袒右肩; C: piāntăn yòujiān; J: hendan'u-ken;|Vạch y bày vai bên phải (hướng về phía đức Phật). Nghi thức Ấn Độ biểu hiện lòng tôn kính bậc Đạo sư.
thiên đản hữu kiên
4374梵語 ekāṃsam uttarāsaṅgaṃ kṛtvā,巴利語 ekaṃsaṃuttarāsaṅgaṃ karoti。又作偏露右肩、偏袒一肩、偏露一膊。略稱偏袒。為「通肩」一詞之相對語。即披著袈裟時袒露右肩,覆蓋左肩。原為古代印度表示尊敬之禮法,佛教沿用之,即於比丘拜見佛陀或問訊師僧時,須偏袒,以從事拂床、灑掃等工作,故偏袒右肩即意謂便於服勞、聽令使役,亦即以偏袒為敬禮之標幟。佛像中,有偏袒右肩形及通肩形,於密教胎藏界曼荼羅中臺八葉院之天鼓雷音如來、寶幢如來、釋迦院之釋迦牟尼如來、阿難、迦栴延等均作偏袒右肩形。〔舍利弗問經、無量壽經卷上、大比丘三千威儀卷上、釋氏要覽卷中、慧琳音義卷十〕
; (偏袒右肩) Phạm: Ekàôsam uttaràsaígaô kftvà. Pàli: Ekaôsaô uttaràsôgaô korati. Cũng gọi Thiên lộ hữu kiên, Thiên đản nhất kiên, Thiên lộ nhất bác. Gọi tắt: Thiên đản. Đối lại: Thông kiên. Mặc áo ca sa đểlộvai bên phải. Đây vốn là lễ phép biểu thị sự tôn kính của ngườiẤn độ đời xưa, sau được Phật giáo dùng theo. Tức khi vị tỉ khưu lễ bái đức Phật hoặc thăm hỏi bậc thầy thì phải để lộ vai phải để làm các việc như phủi bụi giường chiếu, lau chùi, quét dọn... cho nên Thiên đản hữu kiên là để tiện cho việc phục vụ, sẵn sàng để được sai bảo làm việc, cũng tức là dùng Thiên đản để bày tỏ sự kính lễ. Trong các tượng Phật, có tượng thiên đản hữu kiên, có tượng thông kiên(che kín 2 vai), như Thiên cổ lôi âm Như lai, Bảo chàng Như lai trong viện Trung đài Bát diệp và Thích ca mâu ni Như lai, A nan, Ca chiên diên... trong viện Thích ca thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo đều là tượng Thiên đản hữu kiên.
Thiên đản hữu kiên 偏袒右肩
[ja] ヘンダンウゲン hendan'uken ||| To bare the right shoulder and turn it toward (the Buddha). An Indian ritual for showing respect to a sagely teacher. => Vạch y bày vai bên phải (hướng về phía Đức Phật). Nghi thức của ấn Độ biểu hiện lòng tôn kính bậc Đạo sư.
thiên đản phái
4374巴利名 Ekaṃsikanikāya。緬甸上座部佛教之派別。形成於十八世紀初。起源於緬甸東部登那村(Tunna)一位名為瞿那毘楞伽羅(巴 Guṇābhilañkāra)之上座,依據自錫蘭返國之妙法行長老(巴 Saddhammacāra)之教導,命沙彌們出寺或入市邑時,著衣當偏袒右肩,不必持多羅葉遮頭,但可用多羅扇遮陽,人稱其僧團為登那派(巴 Tunna-guṇa) 此派側重阿毘達磨(論),對於經、律及注釋均不多研究。此舉引起該地其他上座如佛陀拘羅(巴 Buddhaṅkura)、質多(巴 Citta)、須難多(巴 Sunanta)、迦耶那(巴 Kalyāṇa)等之非難,彼等主張偏袒右肩僅可行之於對佛陀及僧長禮敬之時,除此必須被覆兩肩,尤其在出佛寺之外時。遂形成對立之兩派,論爭不已,歷久不得解決。後至孟雲王(Bodawpaya, 1782~1819 在位)時,著衣之論爭復趨激烈,王遂下令雙方進行辯論,結果偏袒派所據論典不實,遂為王所禁,此派乃逐漸衰亡,結束歷時七十五年(1708~1783)之爭。
; Ekamsikanikāya (S)Tên một chi phái Thượng tọa bộ ở Miến điện vào thế kỷ 18.
; Ekamsika (S)Tên một tông phái. Thế kỷ thứ 19.
; (偏袒派) Pàli: Ekaôsikanikàya. Một chi phái củaPhậtgiáo Thượng tọa bộ ở Miến điện hình thành vào đầu thế kỉ XVIII, do Thượng tọa Cù na tì lăng già la (Pàli:Guịàbhilaĩkàra) ở thôn Đăng na (Tunna) tại Đông Miến điện khởi xướng. Thượng tọa Cù na tì lăng giàlavốn theo học Trưởng lão Diệu pháp hành (Pàli: Saddhammacàra) tại Tích lan, khi trở về Miến điện, y cứ theo sự chỉ dạy của Trưởng lão Diệu pháp hành, Thượng tọa Cù na chủ trương khi ra khỏi chùa hoặc vào làng ấp,chư tăng nên mặc áo để lộ vai bên phải (thiên đản hữu kiên), không cần phải cầm lá đalache đầu, nhưng dùng quạt đa lađể che nắng, người đời gọi tăng đoàn này là Đăng na phái (Pàli:Tunna-guịa). Phái này xem trọng A tì đạt ma (luận), ít nghiên cứu kinh, luật và chú thích. Việc này làm cho các Thượng tọa khác ở trong vùng như Phật đà câu la (Pàli: Buddhaíkura), Chất đa (Pàli:Citta), Tu nan đa (Pàli:Sunanta), Ca da na (Pàli: Kalyàịa)... chê trách.Các vị này chủ trương việc mặc áođể lộ vai phải chỉ được thực hành khi lễ bái trước đức Phật hoặc tăng trưởng để tỏ lòng cung kính, còn ngoài ra phải che kín cả 2 vai, nhất là khi ra khỏi chùa. Từ đó hình thành 2 phái đối lập, tranh luận mãi mà không được giải quyết. Sau, đến đời vua Mạnh vân (Bodawpaya, ở ngôi 1782-1819) cuộc tranh luận về cách mặc áo lại bùng lên một cách sôi động, nhà vua bèn ra lệnh đôi bên tiến hành biện luận. Kết quả, luận điển mà phái Thiên đản y cứ là không đúng, cho nên bị vua cấm chỉ, phái này từ đó dần dầnsuy vong, kết thúc cuộc tranh luận kéo dài 75 năm (1708-1785).
thiên đế
King, or Emperor of Heaven, i.e. Nhân đà la Indra, Đế Thích Sakra king of the devaloka.
; 1) Vua của cõi Trời: King or emperor of Heaven—Heaven. 2) Nhân Đà La: Thích Ca—Thích Ca Bà—Indra. 3) Vua Trời Đế Thích, vua của cung trời Đao Lợi, một trong những vị trời của Ấn Độ thời cổ. Vua cõi trời chiến đấu chống lại ma quỷ bằng kim cang chùy. Phật giáo xem vị nầy như là vị trời hộ pháp, thấp hơn Phật và các vị đã chứng ngộ Bồ Đề: Sakra, king of the devaloka. One of the ancient gods of India, the god of the sky who fights the demons with his vajra or thunderbolt. He is inferior to the trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, having taken the place of Varuna or sky. Buddhism adopted him as its defender, though, like all the gods, he is considered inferior to a Buddha or any who have attained bodhi.
thiên đế sinh lư thai
1353法句譬喻經卷一載,昔有天帝,自知命終之後必墮畜類,生於陶匠家之驢胎,乃詣佛所,歸依於佛,稽首伏地,然於未起之際已剎時命終,墮於驢胎。母驢分娩時,因疼痛而疾走,踐壞陶器;器主怒打之,遂傷驢胎;神識復歸天帝身中,後並證得初果。〔止觀輔行傳弘決卷四〕
; Thiên Đế thác sanh vào thai lừa—Theo Kinh Pháp Cú kể lại, thì có một truyện tích kể lại vụ trời Đế Thích biết mình sắp thác sanh vào thai lừa nên lòng buồn bã không nguôi. Người khác bảo rằng muốn thoát khỏi cảnh nầy chỉ có cách là tin Phật. Trước khi ông tới được Phật thì đã thác và thấy mình tái sanh vào bụng lừa. Tuy nhiên, lời nguyện của ông đã có hiệu quả vì chủ lừa đánh lừa mẹ quá mạnh đến sẩy thai và Thiên Đế được trở về kiếp cũ và lên gặp Phật—According to the Dharmapada Sutra, Lord of devas, born in the womb of an ass, a Buddhist fable, that Indra knowing he was to be reborn from the womb of an ass, in sorrow sought to escape his fate, and was told that trust in Buddha was the only way. Before he reached Buddha his life came to an end and he found himself in the ass. His resolve, however, had proved effective, for the master of the ass beat her so hard that she dropped her foal dead. Thus Indra returned to his former existence and began his ascent to Buddha.
; (天帝生驢胎) Thiên đếđầu thai vào con lừa. Kinh Pháp cú thí dụ quyển 1 nói rằng: Thuở xưa, có vị Thiên đế biết mình sau khi chết sẽ đọa vào thai con lừa của nhà thợ gốm, liền đến chỗ đức Phật quì sát đất đính lễ qui y, nhưng chưa kịp đứng lên thì đã mệnh chung, trong giây lát đọa vào thai con lừa. Khi sắp sinh, lừa mẹ chuyển dạ, vì đau đớn nênchạylồng lên, làm vỡ đồ gốm, người chủ tức giận đánh nó sẩy thai; thần thức trở lại trong thân Thiên đế và sau chứng được Sơ quả.
thiên đế thích
Xem Đế Thích thiên.
; Đế Thích Thiên—Trời Đế Thích, vị chúa tể của cung trời Đao Lợi cùng họ với Phật Thích Ca—Sakra, king of the devaloka.
thiên đế thích thành
Còn gọi là Hỷ Kiến Thành hay Thiên Kiến Thành, thành của Thiên Đế, vua của chư thiên. Thủ phủ của ba mươi ba tầng Trời Đế Thích. Cũng gọi là Thiện Kiến Thành hay Hỷ Kiến Thành—The city of beautiful, or the city of Sakra, the Lord of devas. The chief city or capital of the thirty-three Indra-heavens. Also called the Sudarsana city good to behold, or city a joy to behold.
Thiên Đế thích 天帝釋
[ja]テンタイシャク Ten taishaku ||| A transcription of Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. => Hán dịch chữ Śakra Devānām-indra. Xem Đế thích thiên帝釋天.
thiên địa bát dương thần chú kinh
1347全一卷。唐代義淨譯。收於大正藏第八十五冊。乃疑偽經之一。係載佛說此經之名義,及讀誦受持此經之福報與功德,並排斥殯葬、婚嫁之論吉凶日。〔朝鮮佛教總書刊行豫定書目〕
; (天地八陽神咒經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về danh nghĩa việc đức Phật nói kinh này và về phúc báo, công đức của việc thụ trì, đọc tụng, đồng thời bài bác việc xem ngày giờ tốt, xấu trong việc tang ma, cưới hỏi... Kinh này bị xem lànghi ngụy kinh.
thiên địa hội
1347請參閱 立世阿毘曇論 請參閱 立世阿毘曇論 乃受道、佛二教影響而興之政治性祕密結社。又稱三合會、三點會、添弟會。清初,清軍攻福建福州九連山少林寺,火燒伽藍,多數僧侶戰死。其時,倖免於此難之五僧遂祭天地,奉明崇禎帝之孫為幼帝,自稱洪軍,與清兵交戰敗後,幼帝亦失其行衛,但其鬥志未挫,詩以「五人分解一首詩,身上洪英無人知;此事傳得眾兄弟,後來相會團圓時」為黨員之證,一時隱入山澤以養勢力。此會被視為明代遺臣反清運動團體之一。初以福建為根據地,乾隆五十一年(1786),臺灣天地會會首林爽文起兵佔領彰化(此謂北路),南部莊大田與其呼應而掠取鳳山(此謂南路),且得臺灣高山同胞之協助,一時勢力頗振,但翌年即為清軍及鄉勇所敗,其後蔓延及浙江、廣東、廣西、湖南、南洋諸島。道光十一年(1831),湖南、兩粵之天地會員與土著猺族相爭,另方面又煽動猺族與清軍交戰。至道光三十年,又與太平天國互通聲氣。光緒十二年(1868),黨員三千人在廣東惠州反抗官憲。二十六年,頭目鄭弼臣與興中會會長孫文共同起義於惠州。 該會黨員奉道教及佛教,互稱洪家兄弟,以祕密口號及圖樣為會員證。會規包括三十六誓、二十一則、十禁、十刑等。頭目稱大元帥或總理,二頭目稱香主或二哥,三頭目稱白扇、先生或三哥,四頭目稱先鋒,五頭目稱紅棍。普通會員則稱為草鞋,以下階層之役人、兵卒、手工業者、失業農民等為多數。是故一般稱天地會與白蓮教為清末反政府之二大祕密結會。〔清史稿卷十五、中國祕密社會史(平山周)、J.S.M. Ward and W.G. Stirling: The Hung Society or the Society of Heaven and Earth, 3 vols. 1925〕
thiên địa kính
1347指仁王般若波羅蜜經。比喻仁王經為照天地實相之明鏡。與「護國珠」同為仁王經之譬喻。〔仁王般若波羅蜜經卷下、仁王般若經疏卷六〕
; The mirror of heaven and earth (The Prajna-paramita sutra).
; (天地鏡) Gương trời đất. Tức chỉ cho kinh Nhân vương bát nhã ba la mật, vì kinh này được ví dụ như chiếc gương sáng chiếu soi thực tướng của trời đất. Thiên địa kính và Hộ quốc châu(hạt châu che chở đất nước) đều là ví dụ cho kinh Nhân vương.
thiên địa tam dương hội
1347明代民間宗教。神宗萬曆年間(1573~1619)由王鐸創立。王鐸自稱三陽會首,建三陽殿,造混元主佛,宣揚大劫來臨。信徒達六千餘人。萬曆七年王鐸被捕殺。
; (天地三陽會) Tông giáo dân gian ở đời Minh, Trung quốc, do Vương đạc sáng lập vào khoảng năm Vạn lịch (1573-1619). Vương đạc tự xưng là Tam dương hội thủ, xây điệnTam dương, tạo Hỗn nguyên chủ Phật, tuyên cáo đại kiếp đã đến. Tín đồ có tới hơn 6.000 người. Năm Vạn lịch thứ 7 (1590) Vương đạc bị bắt rồi bị giết.
thiên định
Externalists believe in a so-called Determinism: everything is predetermined by God.
thiên đốc
Một hình thức viết sai của người Trung Hoa về chữ Ấn Độ—T'ien-Tu, an erroneous form of Yin-Tu or India.
thiên đồng
1358<一>指天神之子。守護佛法之諸天,常以童子形出現於人界,以服侍人類,稱為天童。 <二>即天童寺。位於浙江鄞縣。(參閱「天童寺」1360)
; Thiên đồng hộ pháp, những thiên đồng sứ giả của chư Phật và chư Bồ Tát—Divine youths, such as deva guardians of the Buddha-law who appear as Mercuries, or youthful messengers of the Buddhas and Bodhisattvas.
; (天童) I. Thiên Đồng. Chư thiên hộ trì Phật pháp, thường dùng hình đồng tử xuất hiện ở nhân gian để phục vụ loài người, gọi là Thiên đồng (con thiên thần). II. Thiên Đồng. Chỉ cho chùa Thiên đồng nằm ở huyện Ngân, tỉnh Chiết giang.
thiên đồng chính giác
1359(1091~1157)宋代曹洞宗僧。山西隰州人,俗姓李。為河南南陽府鄧州丹霞山子淳禪師之法嗣,與臨濟宗大慧宗杲,同被譽為當時二大甘露門。曾住長蘆寺,後住浙江鄞縣天童山,凡三十年。萬松行秀嘗以頌古百則為基礎,另著從容錄。其禪風稱默照禪,與宗杲之看話禪 菑騇荂A即不採用公案,而主張以坐禪獲致內在自由之境地。南宋紹興二十七年十月入寂,世壽六十七。詔諡「宏智禪師」。塔名妙光。〔五燈會元卷十四、佛祖歷代通載卷三十、續傳燈錄卷十七〕(參閱「正覺」2005)
; (天童正覺) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động sống vào đời Tống, người ởThấp châu, tỉnh Sơn tây, họ Lí, là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tử thuần ở núi Đan hà, tại Đặng châu, phủ Nam dương, tỉnh Hà nam. Sư từng trụ ở chùa Trường lư, sau trụ núi Thiên đồng trong 30 năm.Sư lấy Thung dung lụclàmcơ sở mà soạn 100 tắc tụng cổ. Thiền phong của sư gọi là Mặc chiếu thiền(thiền lặng soi), đối lại với Khán thoại thiền(thiền tham cứu công án), chủ trương ngồi thiền để đạt được tự tại trong nội tâm. Tháng 10 năm Thiệu hưng 27 (1157) đời Tống, sư nhập tịch, thọ 67 tuổi, thụy hiệu là Hoành Trí Thiền Sư, tên tháp là Diệu quang.
thiên đồng chính giác thiền sư quảng lục
1359凡九卷。宋代正覺禪師之語錄。宗法、集成等編。又稱宏智禪師廣錄、普照覺和尚語錄、宏智廣錄、宏智錄。今收於大正藏第四十八冊。天童正覺禪師為河南南陽府鄧州丹霞山子淳禪師之法嗣,與臨濟宗之大慧宗杲,同被譽為當時二大甘露門。鼓吹默照禪。默照禪之要旨於卷八處處可見,而非大慧宗杲所謂之枯木寒灰禪或默默冷坐禪。本書即集錄其於浙江明州天童山景德禪寺上堂之語錄而成。九卷之中包括上堂、頌古、拈古、小參、法語、真贊、偈頌等。卷一及卷五,收錄有關於雲門、臨濟、曹洞、法眼、溈仰五家宗風之語。又卷五之明州天童山覺和尚小參,又稱天童小參錄、宏智古佛小參錄,有別行本傳世。〔禪學大系祖錄部卷二、禪籍目錄、禪學思想史下卷(忽滑谷快天)〕
; (天童正覺禪師廣錄) Cũng gọi Hoành trí thiền sư quảng lục, Phổ chiếu giác hòa thượng ngữ lục, Hoành trí lục. Ngữ lục, 9 quyển, do Thiền sư Chính giác soạn vào đời Tống, các ngài Pháp tông, Tập thành... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này thu chép các ngữ lục thướng đường khi sư trụ ở Cảnh đức thiền tự tại núi Thiên đồng, Minh châu, tỉnh Chiết giang. Trong quyển 9 bao gồm: Thướng đường, tụng cổ, niêm cổ, tiểu tham, pháp ngữ, chân tán, kệ tụng... Quyển 1 và quyển 5 thu chép tông phong của Vân môn, Lâm tế, Tào động, Pháp nhãn và Qui ngưỡng. Phần Minh châu Thiên đồng sơn Giác hòa thượng tiểu tham cũng gọi là Thiên đồng tiểu tham lục, Hoành trí cổ Phật tiểu tham lục có bản lưu hành riêng.
Thiên Đồng Như Tịnh
(天童如淨, Tendō Nyojō, 1163-1228): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, vì tánh tình của ông hào sảng vui vẻ nên trong tùng lâm đương thời thường gọi ông là Tịnh Trưởng (淨長), sau này thì gọi là Trưởng Ông (長翁), sinh ngày mồng 7 tháng 7 năm đầu (1163) niên hiệu Long Hưng (隆興) ở vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), còn năm tháng ông xuất gia và thọ cụ túc thì không rõ. Sau khi xuất gia, ông chuyên tâm học giáo lý, đến năm 19 tuổi thì đến tham vấn Túc Am Trí Giám (足菴智鑑) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山). Ông khai ngộ với câu chuyện cây bá trước sân của Trí Giám, và được chấp thuận cho tu tập tại đây. Sau đó, ông trãi qua hơn 20 năm du lãng giang hồ, đến năm thứ 3 (1210) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông đến trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺) thuộc Phủ Kiến Giang (建江府, Tỉnh Giang Tô). Về sau, ông đã từng sống qua các chùa như Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Nam Sơn Tịnh Từ Tự (南山淨慈寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Thoại Nham Tự ở Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau đó lại quay trở về Tịnh Từ Tự. Nhận được di thư của Phái Vô Tế Liễu (無濟了派) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), vào năm thứ 17 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông đến trú trì Thái Bạch Sơn Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (太白山天童景德禪寺) vùng Minh Châu. Chính trong khoảng thời gian này thì Đạo Nguyên (道元) của Nhật sang tham vấn và được chân truyền pháp môn tu gọi là Thân Tâm Thoát Lạc (身心脫落), Chỉ Quản Đả Tọa (只管打坐). Trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) do Đạo Nguyên sáng tác sau này đã thể hiện đầy đủ phong cách và dung mạo của Như Tịnh. Vào ngày 17 tháng 7 năm đầu niên hiệu Thiệu Định (紹定) nhà Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Ông có để lại bài kệ là “Lục thập lục niên, tội phạm di thiên, đả cá bột khiêu, hoạt hãm Huỳnh Tuyền. Di ! Tùng lai sanh tử bất tương cán (六十六年、罪犯彌天、打箇臉跳、活陷黃泉、咦、從來生死不相干, Sáu mươi sáu năm, phạm tội ngất trời, nhảy nhót lung tung, rơi xuống suối vàng. Ôi chà ! Xưa nay sống chết chẳng hề hấn gì !).” Trước tác của ông để lại có Như Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục (如淨禪師語錄) 2 quyển, Như Tịnh Thiền Sư Tục Ngữ Lục (如淨禪師續語錄) 1 quyển.
thiên đồng như tịnh
1359(1163~1228)宋代曹洞宗僧。明州葦江(即今浙江鄞縣)人,俗姓俞。為足菴智鑑之法嗣。歷住華藏褒忠寺、建康清涼寺、明州瑞巖寺等,後奉敕住持天童山景德寺。日僧道元渡海入宋後,學於天童如淨,並嗣其法。理宗紹定元年七月示寂,世壽六十六。嗣法者除道元之外,另有鹿門覺、雪菴從瑾、石林秀、孤蟾瑩等人。〔繼燈錄卷一、續燈存稾卷十一、五燈會元續略卷一、南宋元明禪林僧寶傳卷七〕
; Tendō Nyojō (J)Tên một vị sư.
; (天童如淨) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động, sống vào đời Tống, người ở Vi giang, Minh châu(nay là huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), họ Du, là đệ tử nối pháp của ngài Túc am Trí giám. Sư lần lượt trụ ở các chùa Hoa tạng Bao trung, chùa Thanh lương ở Kiến khang, chùa Thụy nham ở Minh châu, sau sư vâng sắc trụ trì chùa Cảnh đức ở núi Thiên đồng. Ngài Đạo nguyên người Nhật bản đã tham học sư và được nối pháp. Tháng 7 niên hiệu Thiệu định năm đầu (1228) sư thị tịch, thọ 66 tuổi. Đệ tử nối pháp: Đạo nguyên, Lộc môn giác, Tuyết amTòng cẩn, Thạch lâm tú, Cô thiềm oánh...
thiên đồng sơn
1358又稱天潼山。我國禪宗五山之一。位於浙江鄞縣(舊稱寧波府)東約三十五公里處,為太白山之一峰。西晉永康元年(300),義興開山結庵。唐開元二十年(732),法璿(太白禪師)再與之,於山東麓建太白精舍,此即古天童寺。肅宗至德二年(757)宗弼等移寺現址,並整備諸堂。乾元二年(759)賜名天童
; Tendō-zan (J).
; Một nhóm tự viện nổi tiếng gần núi Thiên Đồng, cũng được gọi là núi Thái Bạch; đây là một trong năm núi nổi tiếng của Trung Quốc—A famous group of monasteries in the mountain near Ningpo, also called Venus planet mountain; this is one of the five famous mountains of China.
; (天童山) Núi nằm cách huyện Ngân(xưa gọi là phủ Ninh ba), tỉnh Chiết giang khoảng 35 km về mạn đông, là 1 trong các ngọn của núi Thái bạch, cũng là 1 trong 5 ngọn núi của Thiềntông.
Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự
(天童山景德禪寺): hay Thiên Đồng Tự (天童寺), Thiên Đồng Thiền Tự (天童禪寺); hiệu là Đông Nam Phật Quốc (東南佛國); là ngôi tự viện Thiền Tông trứ danh, được xếp hạng thứ 2 trong 5 ngôi chùa nổi tiếng của Thiền Tông Trung Quốc; hiện tọa lạc tại sườn núi Thái Bạch Sơn (太白山), Ngân Huyện (鄞縣), Phố Ninh Ba (寧波市), Tỉnh Triết Giang Thánh địa này có liên quan mật thiết với Thiền Tông Nhật Bản, Tào Động Tông nước này xem nơi đây là Tổ Đình. Vào năm 1983, chùa được Quốc Vụ Viện công nhận là ngôi tự viện trọng yếu thuộc địa khu Hán tộc của Phật Giáo toàn quốc. Thiên Đồng Tự được sáng kiến dưới thời nhà Tấn, tương truyền do vị tăng vân du tên Nghĩa Hưng (義興) từng kết thảo am tu tập tại đây vào năm đầu (300) niên hiệu Vĩnh Khang (永康) nhà Tây Tấn. Vào năm đầu nhà Đường (唐, 618-907), chùa được dời về vị trí hiện tại. Đến năm thứ 2 (759) niên hiệu Càn Nguyên (乾元) nhà Đường, vua Túc Tông (肅宗, tại vị 756-762) ban cho tên chùa là Thiên Đồng Linh Lung Tự (天童玲瓏寺). Năm thứ 10 (869) niên hiệu Hàm Thông (咸通) nhà Đường, vua Ý Tông (懿宗, tại vị 859-873) sắc phong tên chùa là Thiên Thọ Tự (天壽寺). Đến năm thứ 4 (1007) niên hiệu Cảnh Đức (景德) nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) ban cho chùa tên Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (天童景德禪寺). Vào năm 1125, Thiền Sư Như Tịnh (如淨, 1163-1228), vị Tổ đời thứ 13 của Tào Động Tông Trung Quốc, đến trú trì chùa này. Lúc bấy giờ, có Đạo Nguyên (道元, Dōgen) của Nhật bản đến tham học và sau khi trở về nước thì sáng lập Tào Động Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 5 (1178) niên hiệu Thuần Hy (淳熙) nhà Tống, vua Hiếu Tông (孝宗, tại vị 1162-1189) ban cho 4 chữ Thái Bạch Danh Sơn (太白名山). Năm thứ 4 (1134) niên hiệu Thiệu Quang (紹光) nhà Tống, ngôi Đại Điện ở phía Đông Nam được mở rộng thêm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Định (嘉定, 1208-1224) nhà Tống, chùa được liệt vào hàng thứ 3 trong Thiền Viện Ngũ Sơn Thập Sát. Sau đó, Chu Nguyên Chương (朱元璋, tức vua Thái Tổ [太祖, tại vị 1368-1398]) nhà Minh sắc phong chùa là Thiên Hạ Danh Tự (天下名寺), xếp chùa vào hàng thứ 2 trong Thiên Hạ Thiền Tông Ngũ Sơn (天下禪宗五山). Về sau, vua Ung Chính (雍正, tức vua Thế Tông [世宗, tại vị 1722-1735]) nhà Thanh ban cho chùa tấm biển Từ Vân Mật Bố (慈雲密布). Về xuất xứ tên chùa, tương truyền khi Nghĩa Hưng đến đây lập thảo am tu hành thì có sao Thái Bạch (太白) xuất hiện, biến thành đồng tử, hằng ngày hái củi, gánh nước cúng dường; nên cảm niệm ơn đó, Nghĩa Hưng đặt tên cho ngọn núi này là Thiên Đồng Sơn. Ngoài Đạo Nguyên ra, Minh Toàn (明全, Myōzen), Vinh Tây (榮西, Eisai) cũng đã từng đến đây tham bái.
Thiên Đồng Thiền Tự
(天童禪寺): xem Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự (天童山景德禪寺) bên trên.
Thiên Đồng Tự
(天童寺): xem Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự (天童山景德禪寺) bên trên.
thiên đồng tự
1360請參閱 如淨和尚語錄 位於浙江四明天童山,距鄞縣(舊稱寧波府)東約三十五公里處。西晉永康年中,義興於會稽郡鄮縣東南約十七公里之山間巖上草創一宇居之,因感太白星幻化為童子,日供薪、水,遂以太白為山名,寺號天童。東晉隆安三年(399),寺毀於火災。唐玄宗開元年間,法璿於山之東麓,依故迹建寺,稱太白精舍,又於寺之西南隅造多寶塔,日日誦讀法華經。肅宗至德二年(757),宗弼等移寺基至今地。歷唐武宗、唐懿宗、宋真宗等數百年間,曾先後賜號改稱為「天童
; (天童寺) Chùa ở núi Thiên đồng, Tứ minh, Chiết giang, cách huyện Ngân(xưa gọi là phủ Ninh ba) 35 km về phía đông. Trong năm Vĩnh khang đời Tây Tấn, ngài Nghĩa hưng sáng lập 1 ngôi am trên sườn đá giữa khe núi cách huyện Mậu, quận Cối kê khoảng 17 km về phía đông nam để ở, nhân cảm được sao Thái bạch hóa làm đồng tử hàng ngày mang củi, nước đến dâng, cho nên đặt tênnúilà Thái bạch, đặt tên chùa là Thiên đồng. Năm Long an thứ 3 (399) đời Đông Tấn, chùa bị thiêu hủy trong hỏa hoạn. Khoảng năm Khai nguyên đời vua Huyền tông nhà Đường, ngài Pháp tuyền cất chùa trên nền cũ đặt tên là tinh xá Thái bạch và xây tháp Đa bảo ở góc tây nam chùa, hằng ngày đọc tụng kinh Pháp hoa. Năm Chí đức thứ 2 (757), ngài Tông bật... dời chùa về địa chỉ hiện nay. Trong khoảng vài trăm năm, trải qua các đời vua Đường vũ tông, Đường ý tông, Tống chân tông... chùa lần lượt được ban hiệu là Thiên đồng linh lung tự, Thiên thọ tự, Cảnh đức thiền tự... trở thành trọng tâm của các tùng lâm trong 10 phương, đồng thời có các bậc danh tăng như ngài Hoài thanh, Bảo kiên, Phổ giao... đến cư trụ, ngài Hoành trí Chính giác cũng trụ ở chùa này suốt 30 năm, đổi tam môn thành đại các, xây 7 ngôi tháp, sửa chữa tăng đường, các liêu, lại lập chế độ tự sản, cảnh quan chùa mỗi ngày một đổi mới, chư tăng từ khắp nơi tụ tập rất đông, có tới hơn 1000 vị. Lại có các vị tăng người Nhật như Minh am Vinh tây, Hi huyền Đạo nguyên, Hàn nham Nghĩa doãn, Triệt thông Nghĩa giới, Tây giản Tử đàm, Tuyết chu Đẳng dương..lần lượt đến đây tham học. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631) đời vua Tư tông nhà Minh, Thiền sư Mật vân Viên ngộ trụ trì chùa này,mở rộng tông phong Lâm tế.Mỗi lần tổ chức pháp hội giảng kinh, tín đồ tham dự thường lên đến con số trên 3 vạn người, giới vương công, danh sĩ đến hỏi đạo cũng rất đông. Đến đời Thanh, vua Thế tông ban biển hiệu Từ Vân Mật Bố. Chùa có các kiến trúc như: Khánh điện, Già lam đường, Vân thủy đường, Thiền đường, Phương trượng, Thiên vương điện, Phật điện, Pháp đường... đáng gọi là Đại thiền sát của 1 dòng ở Trung quốc.
thiên đồng tự chí
1360凡十卷,卷首另成一卷。清朝聞性道、德介合撰。今收於中國佛寺史志彙刊第一輯。天童寺為浙江鄞縣天童山之名寺,為四明第一佛教聖地;自晉永康以來,海內禪宗群尊為祖庭。明嘉靖年間,楊明輯「天童寺集」七卷,崇禎五年(1632),張客卿等纂「天童寺志」,崇禎十四年黃毓祺重纂之。聞性道、德介乃參稽舊志,為襪D志,卷首為序、山圖、寺圖與凡例;下分十考:山川、建置、先覺、盛典、雲蹤、法要、塔像、表貽、轄麗附莊產、附餘等,各一卷,共十卷,乃集天童寺文獻之大成。
; (天童寺志) Cũng gọi Thiên cung. Đối lại: Địa ngục. Chỉ cho cung điện của các trời, là nơi hưởng phúc lạc mà những người tạo nghiệp thiện sau khi chết sẽ sinh về.
thiên đức bình
1) Bình chứa công đức của chư thiên: The vase of deva (divine) virtue, i.e. the bodhi heart, all that one desires comes from it. 2) Như Ý Châu: The talismanic pearl. 3) Thiên Ý Thụ: Mỗi cõi trời dục giới đều có một cây Thiên Ý, sanh ra tất cả những gì mà chư thiên mong muốn—The deva tree, the tree in each devaloka which produces whatever the devas desire.
thiên đức giáo
1366全名天德聖教,簡稱德教。為我國新興宗教之一。民國六十三年(1974),由王德溥所創。崇奉無形古佛一权宗主。該教章程,計分十章四十六條,為該教之根本大法,總會設於臺北市。其宗旨取儒教之忠恕、釋教之慈悲、道教之感應、耶教之博愛及回教之清真,合為「忠恕廉明德,正義信忍公,博孝仁慈覺,節儉真禮和」等二十字。亦即以各教之成法與精神為宗,師法人類過去之仙佛聖賢及一切偉人,並以「慈悲救人,教人為善」為其教義。據云該教教名乃為其宗主第七次臨凡之蕭昌明所制定。此一教派以正己化人,報國淑世,倡導宗教大同為其使命及理想。在該教佛堂中,不供佛像,唯供一塊黃布,並認為佛法平等,故不專供一佛。早晚唯誦前述之二十字經,並用以修心治病。
thiên đức đại long vương
Great Dragon King Heavenly Virtue, The Tên một vị thiên.
thiên ương
See Tai Ương.
thiên ất
1330(1924~1980)臺灣高雄人。世出名門,早歲留學日本,二十二歲畢業於東京昭和大學文科,歸國後,披剃於屏東東山寺,受戒於臺南大仙寺。曾親近白聖法師等諸大德,歷任臺北圓通學苑、彰化白雲寺、嘉義紫雲寺、高雄興隆寺住持,歷年說法布教,弘範毘尼。民國六十九年入寂,享年五十七。
Thiên Ẩn Viên Tu
(天隱圓修, Tenin Enshū, 1575-1635): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thiên Ẩn (天隱), xuất thân Nghi Hưng (宜興), Kinh Khê (荆溪, Tỉnh Giang Tô), họ Mẫn (閔). Năm 24 tuổi, ông xuất gia với Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳) ở Long Trì Viện (龍池院), rồi được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 4 (1620) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đến trú tại Khánh Sơn (磬山), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), và sau đó sống qua một số nơi như Pháp Tế Thiền Viện (法濟禪院), Báo Ân Thiền Viện (報恩禪院) ở Võ Khang (武康, Tỉnh Triết Giang), v.v. Đến ngày 23 tháng 9 năm thứ 8 niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 37 hạ lạp. Ông có để lại bộ Thiên Ẩn Hòa Thượng Ngữ Lục (天隱和尚語錄) 15 quyển. Trương Ngọc (張玉) soạn bài minh tháp của ông.
Thiên 偏
[ja] ヘン hen ||| (1) Inclined to one side. Leaning, partial, prejudiced. Determined, in a bad sense. (2) Sometimes, due to graphical similarities, this word is also used for its exact opposite 遍 and 徧, meaning whole, perfect, universal. (3) To transform, overturn, change. => Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt. 2. Đôi lúc do những nét giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp. 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
; [ja] ヘン hen ||| (1) Inclined to one side. Leaning, partial, prejudiced. Determined, in a bad sense. (2) Sometimes, due to graphical similarities, this word is also used for its exact opposite 遍 and 徧, meaning whole, perfect, universal. (3) To transform, overturn, change. => Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt. 2. Đôi lúc do những nét giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp. 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
Thiên 天
[ja] テン ten ||| (1) Heaven (divya). Also expressed as 天上, 天有, 天界, 天上界. (2) A heavenly being--a god (deva); the highest of the six kinds of rebirth天趣, 天道. (3) The eight kinds of spirit beings . (4) A being who possesses superhuman powers. => 1. Trời (s: divya). Còn được gọi là Thiên thượng, Thiên hữu, Thiên giới , Thiên thượng giới. 2. Chúng sinh ở cõi trời—chư Thiên (s: deva); cảnh giới cao nhất trong 6 nẻo luân hồi (Thiên thú, Thiên đạo). 3. Tám loại thần. 4. Loài có được năng lực siêu phàm.
thiêng liêng
Sacred.
thiêu
1) Hỏa Thiêu: To cremate. 2) Thiêu Đốt: To burn.
thiêu chích địa ngục
Xem Viêm nhiệt địa ngục.
thiêu chỉ
6262又稱燃指。即燃燒手指,表示信仰之誠摰。佛教有以身體供養佛者,燒指即屬此類,稱為燒指供養,或燃指供養。據法華經藥王菩薩本事品載,藥王菩薩在過去世為一切眾生喜見菩薩時,曾焚身以供養佛。故謂燃手指乃至一足趾供養佛塔,遠勝以國城、妻子及三千大千國土、山林、河池、諸珍寶物供養者。 燒指之實例,如弘贊法華傳卷七隋慧斌、宋高僧傳卷二十三後晉息塵、唐無染,及梁高僧傳卷十二劉宋僧慶、續高僧傳卷二十七南齊法凝與北周僧崔等諸師之傳記中,皆載有燒指供養之行。 關於燒身、燒指之贊同與否,頗有論諍。以法華文句記卷十下第三十八釋藥王品之記載為例,謂有人以「律法規定燒身者得偷蘭遮罪,燒指者得突吉羅罪」責難燒身之事;贊同者揭示,小乘以燒身為過,大乘則允之,故梵網經卷下有言不行燒身者,非出家菩薩。認可者即謂,此乃依大小二乘及在家之制而有異。〔法華義疏卷十一、法華經三大部補注卷十、南海寄歸內法傳卷四燒身不合、釋氏要覽卷中捨身〕
; (燒指) Cũng gọi Nhiên chỉ. Đốt ngón tay, bày tỏ lòng tín ngưỡng chân thành. Trong Phật giáo có việc dùng thân thể để phát đại nguyện cứu khổ cứu nạn cho dân hoặc để cúng dường Phật. Thiêu chỉ chính là thuộc loại này, gọi là Thiêu chỉ cúng dường hoặc là Nhiên chỉ cúng dường. Cứ theo phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa thì ở đời quá khi bồ tát Dược vương còn là bồ tát Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến, ngài đã từng đốt thân để cúng dường Phật. Những trường hợp thiêu chỉ có thật như truyện kí về các ngài Tuệ bân đời Tùy trong Hoằng tán pháp hoa truyện quyển 7, ngài Tức trần đời Hậu Tấn trong Tống cao tăng truyện quyển 23, ngài Vô nhiễm đời Đường, ngài Tăng khánh đời Lưu Tống trong Lương cao tăng truyện quyển 12, ngài Pháp ngưng đời Nam Tề trong Tục cao tăng truyện quyển 27 và ngài Tăng thôi đời Bắc Chu đều có ghi hạnh thiêu chỉ cúng dường của các ngài.Về thiêu thân, thiêu chỉ đã gây ra nhiều tranh luận và có phái tán đồng, phái không tán đồng. Phái không tán đồng thì dẫn chứng phẩm Thích dược vương trong Pháp hoa văn cú quyển hạ nêu rõ qui định Người thiêu thân phạm tội Thâu lan giá, người thiêu chỉ phạm tội Đột cát la để chê trách việc thiêu thân. Còn phái tán đồng thì dẫn chứng kinh Phạm võng quyển hạ có nói người không thực hành thiêu thân không phải là Bồ tát xuất gia để bênh vực cho hạnh thiêu thân, thiêu chỉ.[X.Pháp hoa nghĩa sớ Q.11; Pháp hoa kinh tam đại bộ bổ chú Q.10; mục Thiêu thân bất hợp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; mục Xả thân trong Thích thị yếu lãm Q.trung].
thiêu cứu địa ngục
Địa ngục đốt nóng, một trong bát đại nhiệt địa ngục—The burning, blistering hell, one of the eight great hot hells. ** For more information, please see Bát Đại Nhiệt Địa Ngục.
thiêu hương
6263梵語 dhūpana,巴利語同。謂於諸佛、菩薩、祖師像前燃燒各種香。又稱拈香、捻香、焚香、炷香。初於印度,以氣候酷熱,時人皆塗香去除身上之垢臭。據大智度論卷三十載,天寒時多行燒香,塗香則通於寒時、熱時。其後,以燒香用於迎請、供養佛菩薩之行事中。 諸經中多有燒香供養之記載。據長阿含卷二遊行經載,為如來起大堂舍,整治處所,並灑掃、燒香。據法華經卷四法師功德品載,受持、讀誦,或解說、書寫法華經者,當受種種供養,如供養花、香、瓔珞、末香、塗香、燒香、繒蓋、幢幡、衣服、伎樂(十種供養)等。據無量壽經卷下載,行者當懸繒、燃燈,及散華、燒香,以此迴向,願生彼國。又據宋元明三本之賢愚經卷六富那奇緣品載,富那奇與兄辦足供養,持香爐共登高樓,遙向祇洹精舍燒香,祈願歸命佛及聖僧,唯願佛明日臨顧該國,開悟愚盲之眾生。香煙即如其意,乘虛空往至世尊之頂,相結聚合成一煙蓋。據大日經卷八載,燒香,乃遍至法界之義,如天之樹王開敷時,香氣隨逆風、順風而自然遍布。 於密教中,胎藏界三部所燒之香有別。據蘇悉地羯囉經卷上分別燒香品載,佛部燃燒沈水香,金剛部燃燒白檀香,蓮華部燃燒鬱金香。或混合三種香通用於三部,或以一種香通於三部。 諸香中,室唎吠瑟吒迦樹汁香,通用於三部,亦以之獻與諸天,安悉香獻與藥叉,薰陸香獻與諸天天女,娑折囉娑香獻與地居天,娑落翅香獻與女使者,乾陀囉娑香獻與男使者等。又龍腦、乾陀囉娑、娑折囉娑、薰陸、安悉、娑落翅、室唎吠瑟吒迦等香,稱為七膠香,為最勝上者,和合而燒之,可通用於九種(三部之息災、增益、降伏等三種法)。 另據蕤呬耶經卷中請供養品所載,於一般供養法中,應以白檀香混合沈水香供養佛部,以尸利稗瑟多迦(室唎吠瑟吒迦)等諸樹汁香供養蓮華部,而以黑沈水、安悉香供養金剛部。 又以白檀香、沈水香、龍腦香、蘇合香、薰陸香、尸利稗瑟多迦樹汁香、薩闍羅沙香、安悉香、娑羅枳香、烏尸羅香、摩勒迦香、香附子香、甘松香、閼伽跢哩香、柏木香、天木香、鉢地夜香等,與砂糖混合,稱為普通和合,可隨意取用,以供養諸尊。 據蘇悉地羯囉經卷上分別燒香品載,因所修之法不同,而於燒香之種類亦有差異,如修扇底迦法(息災法)應焚擣丸香,修阿毘遮嚕迦法(降伏法)應焚塵末香,修補瑟徵迦法(增益法)應焚作丸香。據不空三藏之佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌載,於息災法應焚沈水香,於增益法應焚白檀香,於降伏法應焚安悉香,於敬愛法應焚蘇合香。另於金剛頂瑜伽千手千眼觀自在菩薩修行儀軌經卷下及金剛壽命陀羅尼經法等亦有上記之說法。 此外,密教又以燒香與閼伽、塗香、花鬘、燈明、飲食等合為六種供養。於禪林中,稱燒香為拈香,或炷香。在法會中持香盒者,稱為燒香侍者。關於燒香之作法,禪苑清規卷五堂頭煎點條中有詳明之記述。〔增一阿含經卷十三、三卷本大般涅槃經卷中、觀佛三昧海經卷十、大日經卷二具緣品、十一面觀自在菩薩心密言念誦儀軌經卷上、大比丘三千威儀卷下、四分律行事鈔卷下之三行香咒願法、敕修百丈清規卷四西序頭首條、南海寄歸內法傳卷一受齋軌則、大宋僧史略卷中、法苑珠林卷三十六〕(參閱「上香」718、「拈香」3265)
; Đốt hương cúng Phật, một trong năm loại cúng dường—To burn incense, one of the five kinds of offering. ** For more information, please see Ngũ Cúng Dường.
; (燒香) Phạm,Pàli:Dhùpana. Cũng gọi Niệm hương, Niệp hương, Phần hương, Chú hương. Đốt hương. Tức là đốt các loại hương trước tượng chư Phật, Bồ tát, Tổ sư. Ban đầu, ở Ấn độ, vì khí hậu rất nóng bức nên dân chúng đều thoa hương để trừ khử mùi hôi trên thân thể. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 30 thì lúc trời lạnh người ta thường đốt hương, còn thoa hương thì làm cả lúc trời nóng và trời lạnh. Về sau, thiêu hương được dùng trong các việc rước mời và cúng dường Phật, Bồ tát. Trong các kinh phần nhiều có ghi chép việc thiêu hương cúng dường. Theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 thì vì Như lai mà xây cất nhà lớn sửa sang chỗ ở, đồng thời lau rửa, quét dọn và thiêu hương cúng dường. Theo phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa quyển 4, nếu người thụ trì, đọc tụng, hoặc giảng nói, viết chép kinh Pháphoa thì nên nhận các thứ cúng dường như hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương hoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, y phục, kĩ nhạc (10 thứ cúng dường)... Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ hành giả nên treo phan, đốt đèn, rải hoa,thiêu hương... hồi hướng các thứ cúng dường này để nguyện sinh về Tịnh độ cực lạc. Còn theo phẩm Phú na kì duyên trong kinh Hiền ngu quyển 6 (bản Tống, Nguyên, Minh) thì ông Phú na kì và người anh bưng lô hương cùng bước lên lầu cao, trông xa hướng về tinh xá Kì hoàn, thiêu hương cúng dường, nguyện cầu qui mệnh đức Phật và thánh tăng, kính xin đức Phật như mặt trời sáng chiếu soi đến đất nước của ông để khai ngộ cho chúng sinh ngu muội. Khói hương liền theo ý 2 người, nương hư không bay đến trên đỉnh đầu đức Thế tôn rồi kết tụ lại hợp thành 1 chiếc lọng khói. Theo kinh Đại nhật quyển 8 thì thiêu hương có ý nghĩa là đi đến khắp pháp giới, như khi hoa cây Thụ vương trên cõi trời nở thì mùi thơm tự nhiên bay khắp theo chiều gió xuôi cũng như ngược. Trong Mật giáo, hương được dùng cho 3 bộ Thai tạng giới có khác nhau. Theo phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng thì Phật bộ đốt hương trầm thủy, Kim cương bộ đốt hương bạch đàn và Liên hoa bộ thì đốt hương uất kim. Hoặc trộnlẫn 3 thứ hương trên để dùng chung cho 3 bộ; hoặc chỉ dùng 1 thứ chung cho cả 3 bộ. Trong các loại hương thì loại được chế bằng nhựa của cây Thất lị phệ sắt tra ca, được dùng chung cho 3 bộ, cũng có thể dùng loại hương này cho chư Thiên; còn hương an tức thì dùng cho Dược xoa, hương huân lục dùng cho chư thiên và thiên nữ, hương chiết ra sa dùng cho Địa cư thiên, hương sa lạc sí dùng cho nữ sứ giả, hương càn đà ra sa dùng cho nam sứ giả... Bảy thứ hương như long não, càn đà ra sa, sa chiết ra sa, huân lục, an tức, sa lạc sí và thất lị phệ sắt tra ca được gọi chung là Thất giao hương(7 thứ hương chế bằng nhựa cây), là hương tốt hơn hết, trộn lẫn với nhau để đốt thì có thể dùng chung cho 9 loại (ba pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục của 3 bộ). Còn theo phẩm Thỉnh cúng dường trong kinh Nhuy hi da quyển trung thì trong pháp cúng dường phổ thông, phải dùng hương bạch đàn trộn lẫn với hương trầm thủy để cúng dường Phật bộ, dùng hương chế bằng nhựa của các thứ cây như cây Thi lợi tì sắt đa ca(Thất lị phệ sắt tra ca)... để cúng dường Liên hoa bộ, dùng hương hắc trầm thủy và an tức để cúng dường Kim cương bộ. Còn dùng các loại hương như: Bạch đàn, trầm thủy, long não, tô hợp, huân lục, thi lợi tì sắt đa ca, tát xà la sa, an tức, sa la chỉ, ô thi la, ma lặc ca, hương phụ tử, cam tùng, át già đá lí, bách mộc, thiên mộc, bát địa dạ... trộn chung với đường cát, gọi là Phổ thông hòa hợp, có thể tùy ý sử dụng cúng dường chư tôn.Cứ theo phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng, thì vì các loại pháp tu có khác nhau, cho nên những thứ hương được đốt cũng bất đồng, như tu pháp Phiến để ca (pháp Tức tai)thì đốt hương viên (hương liệu được nghiền ra bột rồi vo lại thành viên), tu pháp A tì gia rô ca(pháp Hàng phục), phải đốt hương bột, tu pháp Bổ sắt trưng ca (pháp Tăng ích) cũng đốt hương viên. Cứ theo Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng Nghi quĩ của ngài Tam tạng Bất không thì tu pháp Tức tai phải đốt hương trầm thủy, tu pháp Tăng ích phải đốt hương bạch đàn, tu pháp Hàng phục phải đốt hương an tức và tu pháp Kính ái thì phải đốt hương Tô hợp. Còn kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ và Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh pháp cũng có nói như trên. Ngoài ra, Mật giáo còn hợp chung 6 thứ: Hương đốt, nước trong(át già), hương thoa, tràng hoa, đèn sángvà thức uống ăn thành Lục chủng cúng dường. Trong Thiền lâm thiêu hương được gọi là niêm hương, hoặc chú hương. Trong pháp hội, người bưng hộp hương, gọi là Thiêu hương thị giả. Về cách thiêu hương thì điều Đường đầu tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui quyển 5 có nói rất rõ ràng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); kinh Quán Phật tam muội hải Q.10; phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2; kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tam hành hương chú nguyện pháp trong Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ; điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q.4; mục Thụ trai pháp tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Pháp uyên châu lâm Q.36]. (xt. Thướng Hương, Niêm Hương).
thiêu hương thị giả
6263為五侍者之一。又稱侍香。於禪林中,任此僧職者須於法會中持香盒司掌燒香行禮,及記錄住持於上堂、小參、普說、念誦、節臘、掛搭等行禮之法語。〔敕修百丈清規卷四西序頭首條、禪苑清規卷二上堂〕
; (燒香侍者) Cũng gọi Thị hương. Thị giả phụ trách việc cầm hộp hương và thiêu hương, 1 trong 5 thị giả. Trong Thiền lâm, Thiêu hương thị giả có nhiệm vụ cầm hộp hương và đốt hương hành lễ trong pháp hội. Vị này còn kiêm cảviệc ghi chép pháp ngữ của vị Trụ trì trong các buổi thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, niệm tụng, tiết lạp, quải đáp... [X. Điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4, Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui Q.2.
thiêu hủy
To destroy completely by fire—To burn down.
Thiệu Âu
(紹鷗, Jōō, 1504-1555): một trà nhân sống vào khoảng cuối thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), xưa kia họ Võ Điền (武田, Takeda), sau đổi sang họ Võ Dã (武野, Takeno), hiệu Nhất Nhàn Cư Sĩ (一閑居士), Đại Hắc Am (大黒庵). Ông đã từng theo học Trà Đạo với môn nhân của Châu Quang (珠光) là Tông Trần (宗陳), Tông Ngộ (宗悟), rồi tạo nên cốt cách của Wabicha và truyền lại cho Lợi Hưu (利休).
thiến môn ngũ tông
Five Ch'an schools: Lâm tế, Qui ngưỡng, Vân môn, Pháp nhãn and Tào động.
Thiếp
(帖): một loại danh thiếp dùng để đáp lễ qua lại trong ứng xử hằng ngày, như Thỉnh Thiếp (請帖, thiệp mời), Tạ Thiếp (謝帖, thiệp cám ơn), v.v. Có một số loại Thiếp thông dụng như: (1) Báo Thiếp (報帖), là loại thiệp dùng để thông báo; như trong Kinh Bản Thông Tục Tiểu Thuyết (京本通俗小說), phần Bồ Tát Man (菩薩蠻) có câu: “Kính đáo Tây Sơn Linh Ẩn Tự, tiên hữu báo thiếp báo tri, Trưởng Lão dẫn chúng tăng minh chung lụy cổ, tiếp Quận Vương thượng điện thiêu hương (逕到西山靈隱寺、先有報帖報知、長老引眾僧鳴鐘擂鼓、接郡王上殿燒香, đến thẳng Tây Sơn Linh Ẩn Tự, có thiệp thông báo trước, nên Trưởng Lão dẫn chúng tăng đánh chuông gióng trống, tiếp đón Quận Vương lên Chánh Điện dâng hương).” (2) Thỉnh Thiếp (請帖), thiệp dùng để cung thỉnh hay mời ai đó đến tham dự buổi lễ hay yến tiệc, v.v. (3) Tạ Thiếp (謝帖), thiệp bày tỏ sự tri ân sau khi đã hoàn thành xong một việc nào đó. (4) Bát Tự Thiếp (八字帖), xưa kia khi bàn chuyện hôn nhân, cả hai nhà gái và trai đều dùng tấm thiệp viết 8 chữ ngày giờ sinh, trao đổi qua lại để xem thử có xung khắc thế nào không; còn gọi là Bát Tự Toàn Thiếp (八字全帖), Canh Thiếp (庚帖). (5) Bái Thiếp (拜帖), thời xưa, đây là một tấm thiếp dùng thông báo đến thăm ai đó. Như trong tác phẩm Nghi Diệu (疑耀) quyển 4 của Trương Huyên (張萱) nhà Minh, phần Bái Thiếp Bất Cổ (拜帖不古) có giải thích rằng: “Cổ nhân thư khải vãng lai, cập tánh danh tương thông, giai dĩ mộc trúc vi chi, sở vị thứ dã; chí Tống thời, Vương Kinh Công cư Bán Sơn Tự, mỗi dĩ kim tất mộc bản tả kinh thư danh mục, vãng tự tăng xứ tá kinh; thời nhân toại dĩ kim tất bản đại thư thiếp, dĩ nhi khủng hữu tuyên tiết, hựu tác lưỡng bản tương hợp, dĩ phiến chỉ phong kỳ tế; cửu chi, kỳ chế tiệm tinh; kim chi Bái Thiếp dụng chỉ, cái khởi vu Hy Ninh dã (古人書啟往來、及姓名相通、皆以木竹為之、所謂刺也、至宋時、王荊公居半山寺、每以金漆木版寫經書名目、往寺僧處借經、時人遂以金漆版代書帖、已而恐有宣洩、又作兩版相合、以片紙封其際、久之、其製漸精…今之拜帖用紙、蓋起于熙寧也, người xưa thư từ qua lại, đến nỗi tên họ biết rõ nhau, đều lấy thẻ tre để viết vào, gọi là thứ; cho đến thời nhà Tống, Vương Kinh Công [tức Vương An Thạch, 1021-1086] từng sống ở Bán Sơn Tự, cứ mỗi lần lấy bản gỗ bằng sơn mạ vàng chép danh mục kinh, đều qua chỗ chư tăng ở để mượn kinh; do đó người đương thời bèn lấy bản gỗ sơn mạ vàng thay thế để viết thiệp, xong rồi sợ bị truyền lan ra, lại làm thành hai bản giống nhau, lấy giấy phong kín ở đầu bìa; trãi qua thời gian lâu, sự chế tạo dần dần tinh xảo …, loại giấy dùng cho Bái Thiếp ngày nay, vốn xuất phát từ thời Hy Ninh [1068-1077]).” (6) Báo Tang Thiếp (報喪帖) là tấm thiệp dùng trong tang lễ ngày xưa để thông báo cho bà con, thân hữu biết có người đã từ trần; khác với bản Cáo Phó. (7) Bảng Thiếp (榜帖, 牓帖) là tấm cáo thị để chiêu dụ bá tánh, hay là bảng niêm yết danh tánh của các thí sinh thi đỗ. Như trong bài Từ Tương Châu Bi (徐襄州碑) của Lý Chất (李騭) nhà Đường có câu: “Tê Bảng Thiếp tiên chí Giang Tây, an tồn bá tánh (齎榜帖先至江西、安存百姓, trước hết mang tấm Bảng Thiếp đến Giang Tây để làm yên lòng bá tánh).” Trong Công Văn Đàn Tràng, một số Thiếp được dùng như Tịnh Trù Thiếp (淨廚帖), Cấp Thủy Thiếp (汲水帖), Tứ Sanh Lục Đạo Thiếp (四生六道帖), Tam Bảo Thiếp (三寶帖), v.v.
thiếp
Phụ thêm vào—To add—To attach to.
thiếp khố
5276禪院內負責物品整理、出入之職稱。〔黃檗清規禮法章〕
; (貼庫) Giữ kho. Chỉ cho chức vụ phụ trách việc xuất, nhập các phẩm vật trong Thiền viện.[X. chương Lễ pháp trong Hoàng bá thanh qui].
thiếp sân
Daksina (skt)—Bố thí cúng dường—Offerings—Donations.
thiếp đan
5276指公佈一寺職事及常住人員名單。一般於每年十月十五日舉行。事先客堂與維那將全寺人員及其戒臘久近開具清單,送與住持,經分配職序後,將職稱及任職僧眾之法名寫成單票。十月十四日,客堂掛出「貼單」牌。次日,住持入堂說法,爲首座貼單,其餘由維那貼,其順序按照職事大小及戒臘先後,復按名位順次送單。
; (貼單) Chỉ cho việc công bố các chức sự và nhân viên thường trụ trong 1 ngôi chùa, được cử hành vào ngày 15 tháng 10 hàng năm. Trước hết, vịKhách đường và Duy na ghi tên và tuổi hạ của chúng tăng trong toàn chùa, dù đã ở lâu hay mới đến, rồi đưa nạp cho vị Trụ trì. Sau khi phân phối các chức vụ thì viết các chức vụ và pháp danh của chúng tăng nhậm chức thành đơn phiếu. Ngày 14 tháng 10, vị Khách đường treo bảng Thiếp đơn. Hôm sau, vị Trụ trì vào tăng đường nói pháp, dán thiếp đơn của vị Thủ tọa, các chức vụ còn lại thì do vị Duy na dán, thứ tự trước sau xếp theo chức sự lớn nhỏ và tuổi hạ nhiều ít.
thiết
1) Cắt—To cut—To carve. 2) Giả thiết: Suppose—Assume. 3) Sắt: Iron. 4) Thiết lập: To set up—To establish—To institute—To arrage.
thiết bát
6879鐵製之鉢。鉢,梵語 pātra(鉢多羅)之略稱,乃比丘六物之一,意譯作應量器,即應於各自之食量而受施食之器物。依佛制鉢法,佛聽比丘蓄二種鉢,即瓦鉢與鐵鉢,唯佛獨用石鉢。(參閱「鉢」5687)
; Bát bằng sắt—Iron patra, or almsbowl.
; (鐵鉢) Bát được làm bằng sắt, 1 trong 6 vật dụng của tỉ khưu. Bát gọi đủ là Bát ta la (Phạm: Pàtra, Hán dịch là Ứng lượng khí), tức khí vật tùy theo thực lượng của mỗi người mà nhận thức ăn. Theo Phật chế định, tỉ khưu được dùng 2 loại bátlà bát đất nung và bát sắt, chỉ có Phật mới được dùng bát đá. (xt. Bát).
thiết bích cơ thiền sư ngữ lục
6879凡二十卷。全稱慶忠鐵壁機禪師語錄。明末臨濟宗僧鐵壁慧機(1603~1668)撰,幻敏重編。清代浙江嘉興府楞嚴寺重刊。內含:上堂、秉拂、普說、小參、示眾、茶話、法語、機緣、問答、鞭策語、佛事、像讚、自讚、詩、頌、偈、聯芳、歌、銘、頌古(拈、別、評、徵、代)、雜著、書問、請啟、行狀、塔銘、祭文,並附錄年譜一篇。卷首則有熊汝學於明崇禎十五年(1642)所撰之序、行弘悟所撰之引。本語錄係廣錄性質,故亦收錄三山燈來於明崇禎十五年所編刊之三卷鐵壁機禪師語錄。
; (鐵壁機禪師語錄) Gọi đủ: Khánh trung Thiết bích cơ thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 20 quyển, do ngài Thiết bích Tuệ cơ (1603-1668) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Minh,ngài Huyễn mẫnbiên tập lại và chùa Lăng nghiêm ở phủ Gia hưng, tỉnh Chiết giang tái bản vào đời Thanh. Nội dung bộ ngữ lục này gồm: Thướng đường, bỉnh phất, phổ thuyết, tiểu tham, thị chúng, trà thoại, pháp ngữ, cơ duyên, vấn đáp, tiên sách ngữ, Phật sự, tượng tán, tự tán, thi, tụng, kệ,liên phương, ca, minh, tụng cổ(niêm, biệt, bình, trưng, đại), tạp trứ, thư vấn, thỉnh khải, hành trạng,tháp minh, tế văn và phụ thêm Niên phổ 1 thiên. Đầu sách có bài tựa của Hùng nhữ học và lời dẫn của Hành hoằng ngộ soạn vào năm Sùng trinh 15 (1642) đời Minh. Bộ ngữ lục này có tính chất của 1 loại quảng lục, cho nên cũng thu chép tất cả bộ Thiết bích cơ thiền sư ngữ lực (bản 3 quyển) do Tam sơn Đăng lai biên tập và ấn hành vào nămSùng trinh 15 (1642).
thiết bích ngân sơn
6879禪林用語。又作銀山鐵壁。其意有二:(一)形容本具之靈性孤峻獨絕,猶如銀山鐵壁之難以攀爬。(二)比喻行者修禪至某一境地,生起無法透脫之苦時,形容其挫敗心情之詞。意謂行人至此,已感技窮,而無法打破鐵壁,踏上銀山。〔碧巖錄第四十二則、天目山中峰和尚廣錄卷十二中〕
; (鐵壁銀山) Cũng gọi Ngân sơn thiết bích. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho vách sắt, núi bạc. Có 2 ý: Mô tả tính linh sẵn có của chúng sinh cao vòi vọi, giống như núi bạc, vách sắt khó có thể bám vào được. 2. Ví dụ hành giả tu thiền, khi đến 1 cảnh giới nào đó thì sinh khởi nỗi khổ không cách nào thấu thoát. Nghĩa là lúc hành giả đến trình độ này thì đã cảm nhận được chỗtận cùng của kĩ năng, nhưng không thể phá tan vách sắt, đạp lên núi bạc được. [X. Bích nham lục tắc 42; Thiên mục sơn Trung phong hòa thượng quảng lục Q.12].
Thiết Chi Đan
(切支丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.
thiết chuỷ trùng
6879阿鼻地獄中之毒蟲。據大智度論卷十六載,阿鼻地獄有鐵嘴毒蟲,從罪人之鼻中入、腳底出,或從足下入、口中出。〔六波羅蜜多經不退轉品〕
; (鐵嘴蟲) Trùng mồm sắt. Chỉ cho loại trùng độc trong địa ngục A tị. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16 thì ở địa ngục A tị có loại trùng mồm sắt bò qua mũi của tội nhân mà vào, rồi ra ở chân; hoặc bò từ dưới chân vào rồi ra đàng mồm. [X.phẩm Bất thoái chuyển trong kinh Lục ba la mật đa].
thiết chuỷ đại điểu
如近邊那落迦中說。
thiết chủy giác
Tesshikaku (J), Tich tsui Chiao (C), Tesshikaku (J).
thiết cơ địa ngục
6880以鐵機懲處罪人之地獄。為不孝父母、不敬師長、不順善教、殺害眾生者所墮之處。此獄有一大鐵牀,縱廣四百由旬,上安諸鐵萨,萨間有萬億鐵弩,鐵弩之鏃頭具百億鋒刃。罪人命終生大鐵機上,動諸鐵萨,無量鐵弩同時皆張,一一鐵箭射罪人之心,於一日夜間,死生六百億遍。罪畢,生畜生中,經五百世,還生人間,貧窮下賤,後遇善知識而發菩提心。〔觀佛三昧海經卷五〕
; (鐵機地獄) Địa ngục máy sắt. Nghĩa là địa ngục trong đó tội nhân bị trừng trị bằng máy sắt. Những kẻ bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính sư trưởng, không nghe theo lời dạy bảo, giết hại chúng sinh... thì sau khi chết bị đọa vào địa ngục này. Ở đây có 1 chiếc giường sắt lớn, rộng 400 do tuần, trên giường có để muôn ức cái nỏ sắt, đầu mỗi nỏ sắt có trăm ức mũi dao nhọn. Tội nhân sau khi chết sinh trên chiếc máy sắt lớn, làm lay động những cái nỏ và vô lượng nỏ sắt đều cùng lúc căng dây, trăm nghìn mũi tên sắt bắn vào tim của tội nhân, trong khoảng thời gian 1 ngày 1 đêm, chết đi sống lại 600 ức lần. Chịu tội xong, lại sinh làm loài súc sinh, trải qua 500 đời, mới được sinh làm người, nhưng nghèo cùng, hèn hạ, sau gặp thiện tri thức mới phát tâm bồ đề. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
Thiết Cước Ứng Phu
(鐵脚應夫, Tekkyaku Ōfu, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, người vùng Thanh Lưu (清流), Trừ Châu (滁州, Tỉnh An Huy), họ là Tương (蔣). Ông nương theo Thừa Thái (承泰) ở Bảo Ninh Thiền Viện (保寧禪院) thuộc Phủ Giang Ninh (江寧府, Tỉnh Giang Tô) xuất gia và thọ Cụ Túc giới. Sau đến tham học với Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu ông đến trú tại Cam Lồ (甘露) ở Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô), kế đến là Sùng Phước Thiền Viện (崇福禪院) ở Trường Lô Sơn (長蘆山), thuộc Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô). Ông được ban cho hiệu là Quảng Chiếu Thiền Sư (廣照禪師).
thiết giáp địa ngục
6879鉀,即甲、鎧。即鐵鉀著身,不能動彈而受苦痛之地獄。
; (鐵鉀地獄) Chỉ cho địa ngục, trong đó, tội nhân mình mặc áo giáp bằng sắt, không cử động được, đau đớn vô cùng.
thiết hoàn địa ngục
6876鐵丸擊打罪人之地獄。為毀辱布施、說布施無果報者所墮之處。此地獄縱廣八十由旬,中有鐵城八十八鬲,一一鬲中有五刀山覆於其上,下有十八大惡鐵蛇,蛇舌出鐵劍,劍頭火燃。罪人命終,生鐵城中,鐵蛇繞身,節頭火燃,復雨大熱鐵丸,從頂而入,自足而出。罪畢,乃生為貧窮孤獨喑啞之人,後遇善知識,始發菩提心。〔觀佛三昧海經卷五〕
; (鐵丸地獄) Địa ngục mà tội nhân bị trừng trị bằng cách bắt nuốt các viên sắt nóng. Những người hủy nhục sự bố thí, cho rằng bố thí không có quả báo, sẽ bị đọavào địa ngục này. Chu vi địa ngục này rộng 80 do tuần, trong đó có 88 tòathành sắt, trong mỗi thành sắt có 5 núi dao che phủ ở trên, phía dưới thì có 18 con rắn sắt rất độc, lưỡi nó phun ra kiếm sắt, đầu kiếm lửa cháy đỏ rực, tội nhân chết rồi sinh vào thành sắt, rắn sắt quấn thân, trên đầu lửa đốt, lại mưa xuống những viên sắt nóng lớn; từ đỉnh đầu vào, từ dưới chân ra. Chịu tội xong, lại sinh làm người nghèo cùng trơ trọi câm ngọng, sau gặp được thiện tri thức mới phát tâmbồ đề. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
thiết luân
Cakravala (skt). 1) Bánh xe bằng sắt: The iron wheel. 2) See Thiết Vi Sơn.
thiết luân vương
Người trị vì cõi Nam Diêm Phù Đề, một trong tứ Luân Vương—Iron-Wheel King, ruler of the South and of Jambudvipa, one of the four Cakravala kings. **For more information, please see Tứ Luân.
thiết lập
Samāropa (S).
; To found—To establish—To errect—To form—To constitute.
thiết lợi la
Sarira (skt)—Xá lợi—Relics or remains—See Xá Lợi.
thiết lợi phất đát la
Sariputra (skt)—See Xá Lợi Phất.
thiết lỵ la
Xem xá lợi.
thiết ma lão tự ngưu
6880禪宗公案名。又作劉鐵磨老牸牛、鐵磨到溈山、溈山劉鐵磨。為溈山靈祐與會下老尼劉鐵磨之問答。碧巖錄第二十四則(大四八‧一六五上):「劉鐵磨到溈山,山云:『老牸牛,汝來也。』磨云:『來日臺山大會齋,和尚還去麽?』溈山放身臥,磨便出去。」蓋溈山自稱水牯牛,於此稱鐵磨為老牸牛,乃與其自稱相對,而讚許鐵磨有不尋常之機鋒。對鐵磨之問,溈山放身臥而不答,表無心裡之活處;鐵磨出去,則示歸家穩坐之落處。二人於問答之間,皆自守本份,往來無礙,故此一公案即顯示二人為同得同證之知音之意。〔禪宗頌古聯珠通集卷十五、聯燈會要卷七、五燈會元卷九〕
; (鐵磨老牸牛) Cũng gọi làLưu thiết ma lão tự ngưu, Thiết ma đáo qui sơn, Qui sơn Lưu thiết ma.Tên công án trong Thiền lâm. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Qui sơn Linh hựu và Lão ni Lưu thiết ma. Bích nham lục tắc 24 (Đại 48, 165 thượng) ghi: Lưu thiết ma đến chỗ Qui sơn, ngài Qui sơn nói: Lão tự ngưu (con trâu cái già)đến đấy à? Lưu thiết ma hỏi: Mai đây, Đài sơn có đại hội trai, Hoà thượng có đến dự không? Qui sơn ngã mình nằm xuống, Thiết ma liền bỏ đi. Ngài Qui sơn thường tự xưng là trâu đực(thủy cổ ngưu), ở đây, ngài gọi Lão ni Thiết ma là trâu cái già, là đối chọi với cái mình tự xưng để khen Thiết ma có cơ phong ngang với mình chứ không tầm thường. Đối với câu hỏi của Thiết ma, ngài Qui sơn ngả mình nằm xuống thay vì trả lời là biểu thị sống trong trạng thái vô tâm; còn Thiết ma bỏ đi là biểu thị trạng thái về nhà yên ổn ngồi định. Trong lúc hỏi đáp, 2 người đều tự giữ phận mình, qua lại không ngại. Bởi vậy, công án này là hiển bày ý vị 2 người là tri âm cùng đắc cùng chứng. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.15; Liên đăng hội yếu Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].
thiết nghĩ
To think.
thiết ngưu
6877河南陝府城外有大鐵牛,傳說是禹王為防黃河泛濫所鑄,為黃河之守護神。禪宗「鐵牛之機」一語,即謂其「體」不動、「用」無應迹而自在之大機用;又用來形容無相之佛心印。碧巖錄第三十八則(大四八‧一七五下):「祖師心印,狀似鐵牛之機。」
; (鐵牛) Trâu sắt, tương truyền do vua Vũ đúc ở ngoài thành phủ Thiểm, tỉnh Hà nam, Trung quốc, để phòng nước sông Hoàng gây lũ lụt, là thần thủ hộ của Hoàng hà. Thiền tông có từ ngữ Thiết ngưu chi cơ(máy trâu sắt), tức đại cơ dụng tự tại, thể thì bất động, còn dụng thì không dấu vết; cũng được sử dụng để hình dung tâm ấn của Phật là vô tướng. Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 175 hạ) nói: Tâm ấn của Tổ sư, hình dáng giống như máy trâu sắt.
thiết ngưu đạo cơ
6877(1628~1700)日本黃檗宗僧。石見(島根縣)人,俗姓藤原。字鐵牛。號自牧子。曾遍訪諸國尋師修學,後皈依隱元隆琦,並受木菴性瑫之印記,此後即致力於協助黃檗宗之開宗,復至各地弘化,建立寺院六十餘。元祿十三年示寂,世壽七十三。敕諡「大慈普應國師」。著有七會語錄、自牧摘稿、鐵牛禪師語錄。
; (鐵牛道機) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá, người ở Thạch kiến (huyện Đảo căn), họ Đằng nguyên, tự Thiết ngưu, hiệu Tự mục tử. Sư từng đến nhiều nơi tìm thầy học đạo, sau qui y ngài Ẩn nguyên Long kì, đồng thời được ngài Mộc am Tính thao ấn kí. Sau đó, sư hết sức giúp đỡ việc khai sáng tông Hoàng bá, lại đi các nơi hoằng hóa, xây hơn 60 chùa viện. Năm Nguyên lộc 13 (1700) sư thị tịch, thọ 73 tuổi, được vua ban thụy hiệu Đại Từ PhổỨng Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Thất hội ngữ lục, Tự mục trích cảo, Thiết ngưu thiền sư ngữ lục.
thiết nhãn tạng
6877日本開版之大藏經。即黃檗版,為日本黃檗宗鐵眼道光於宇治萬福寺開版(1669~1681)。共收一六一八部,七三三四卷。其版木存於山城(京都府)宇治黃檗山萬福寺之塔頭寶藏院。(參閱「中文大藏經」1001)
; (鐵眼藏) Đại tạng kinh do Nhật bản khắc in, tức bản Hoàng bá, do ngài Thiết nhãn Đạo quang, thuộc tông Hoàng bá Nhật bản khắc bản(1669-1681) ở chùa Vạn phúc tại Vũ trị. Toàn tạng gồm 1618 bộ, 7334 quyển. Bản gỗ của bản này hiện còn được cất giữ ởviện Tháp đầu bảo tạng của chùa Vạn phúc, núi Hoàng bátạiVũ trị. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
thiết nhãn đạo quang
6877(1630~1682)日本黃檗宗僧。肥後(熊本縣)人,俗姓佐伯。字鐵眼。十三歲出家。二十六歲參訪隱元隆琦,師事木菴性瑫。其後致力於大藏經之翻刻,以萬福寺寶藏院為其根據地,並巡遊諸國,廣受布施,歷十餘年始竟其功,世稱鐵眼藏、黃檗版藏經。由於救濟畿內饑饉,幾度間斷翻刻工作,亦因而著稱天下。天和二年示寂,世壽五十三。敕諡「寶藏國師」。
; (鐵眼道光) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá, người ở Phì hậu (huyện Hùng bản) họ Tá bá, hiệu Thiết nhãn. Sư xuất gia năm 13 tuổi, 26 tuổi đến tham yết ngài Ẩn nguyên Long kì, thờ ngài Mộc am Tính thao làm thầy. Về sau, sư dốc sức vào việc phiên dịch và khắc bản Đại tạng kinh ở viện Bảo tạng tại chùa Vạn phúc, đồng thời, sư đi các nơi khuyến hóa và nhận được nhiều sự giúp đỡ, trải qua hơn 10 năm phiên dịch và ấn loát Đại tạng kinh mới được hoàn thành, người đời gọi làThiết nhãn tạng, Hoàng bá bản tạng kinh, cũng nhân đó mà sư nổi tiếng ở trong nước. Năm Thiên hòathứ 2 (1682) sư thị tịch, thọ 53 tuổi, vua ban thụy hiệu Bảo Tạng Quốc Sư.
thiết phược lý minh phi
Sobari (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở đông bắc cung.
thiết quyết tử
6880禪林用語。指無從下手、無法咬嚼者,比喻無可奈何之事。碧巖錄第四十四則(大四八‧一八○下):「禾山垂語云:『習學謂之聞,絕學謂之鄰。』(天下衲僧跳不出,無孔鐵鎚,一個鐵橛子)」〔無盡燈論卷上〕
; (鐵橛子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây cọc sắt. TrongThiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho việc không bám dính vào đâu được. Bích nham lục tắc 44 (Đại 48, 180 hạ) ghi: Ngài Hòasơn dạy rằng: Học tập gọi là Văn, tuyệt học gọi là Lân (Nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi, dùi sắt không có lỗ, một cây cọc sắt. [X.luận Vô tận đăng Q.thượng].
thiết quật địa ngục
6878在鐵窟中懲處罪人之地獄。凡慳貪縛著,不布施父母、妻子、奴婢、親友,視師長如糞穢者所墮之處。此獄係一大鐵山,縱廣二十五由旬,山上有五百萬億大熱鐵丸,山間復有百千刀劍。罪人命終,生火山上,窟中劍蟲、刀蟲唼食其軀,煙熏其眼,目不能視,東西馳走,受鐵丸擊身、鐵山撞頭之苦。後生餓鬼中,咽細如針,腹大如山,備受痛苦。復生人中,亦貧窮卑賤,得遇善知識後,始發菩提心。〔觀佛三昧海經卷五〕
; (鐵窟地獄) Địa ngục hang sắt. Những kẻ tham lam keo kiệt, không bố thí cho cha mẹ, vợ con, người giúp việc trong nhà, bạn bè thân thuộc, coi sư trưởng như phân dơ... thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục này. Đây là 1 núi sắt lớn, chu vi rộng 25 do tuần; trên núi có năm trăm vạn ức viên sắt nóng lớn, giữa núi lại có một trăm nghìn vạn dao kiếm. Tội nhân chết rồi, sinh trên núi lửa, trong hang thì trùng kiếm, trùng dao cắn rỉa tội nhân, khói hun mắt tội nhân, không trông thấy gì, sợ hãi chạy tứ tung, chịu khổ những viên sắt nóng bắn vào thân, núi sắt va vào đầu. Sau, sinh trong loài quỉ đói, cổ nhỏ như kim, bụng to như núi, khổ đau vô hạn. Nếu được sinh làm người thì nghèo cùng hèn hạ, sau được gặp thiện trí thức mới phát tâm bồ đề. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
thiết sơn quỳnh
6876南宋臨濟宗僧。湘潭(湖南)人。十三歲時,因一僧之教導知有佛法,遂以誦經禮佛為事,學習坐禪。二十二歲(一說十八歲)出家,二十四歲受具足戒,至仰山參謁雪巖禪師,豁然大悟。復往廬山謁禮東巖,巖舉問(卍續一三八‧四六四下):「心不是佛,智不是道,作麽生?」師云:「抱贓叫屈。」巖又問:「不是心,不是佛,不是物,是如何?」師云:「眉間逆出遼天鶻。」高麗國王欽師之德,遣使備具禮幣,專請至彼國,得度者甚夥。後至袁州(江西)慈化寺大弘法化。寂年與世壽均不詳。建塔於觀音閣後。〔增集續傳燈錄卷五、五燈會元續略卷四〕
thiết thiết lạp mạt lê lâm
如近邊那落迦中說。
thiết thành
6877梵語 ayaḥ-prākāra。即指地獄。據經典記載,若人不孝順父母、不敬事沙門道人、不畏禁戒、不畏今世後世,死後將墮鐵城。〔鐵城泥犁經〕
; Thành bằng sắt hay địa ngục—The iron city or the hell.
; (鐵城) Phạm:Aya#-pràkarà. Địa ngục thành sắt. Theo kinh luận chép thì nếu người không hiếu thuận với cha mẹ, không kính thờ sư trưởng, không sợ giới cấm, không sợ đời này, đời sau thì sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục Thiết thành. [X.kinh Thiết thành nê lê].
thiết tháp
6878指南印度之鐵塔,收藏金剛頂經等。據金剛頂經義訣載,佛陀入滅後數百年間,無人能開此塔,後有大德(龍猛菩薩)誦持大毘盧遮那真言,並得毘盧遮那佛現身說念誦法要,持寸口:誦成就,願開此塔。於七日中遶塔念誦,以白芥子七粒打此塔門,乃開此塔,得金剛頂經廣本。此說由金剛智三藏口傳,其弟子智藏載入金剛頂經義訣。又據日僧空海所著教王經開題載,金剛頂經及大日經皆龍猛菩薩於南天竺鐵塔中所誦出者。 密教「鐵塔相承」之說,即謂龍猛開此鐵塔,由金剛薩埵相承密教。日本東密基於空海之說,以金剛及大日兩部為塔內相承;台密則依海雲之兩部大法相承師資付法記之說,以兩部皆為塔外相承。
; Tháp bằng sắt—Iron-stupa.
; (鐵塔) Tháp sắt. Tức chỉ cho tòa tháp sắt ở Nam Ấn độ, trong đó có cất chứa kinh Kim cương đính... Cứ theo Kim cương đính kinh nghĩa quyết thì sau khi đức Phật nhập diệt khoảng vài trăm năm, không một ai đã mở được tháp này. Về sau, có vị Đại đức (bồ tát Long mãnh) tụng trì chân ngôn Đại tì lô giá na, đồng thời được Phật Tì lô giá na hiện thân giảng nói niệm tụng pháp yếu, trì tụng thành tựu, nguyện mở tháp này. Trong 7 ngày, Đại đức đi quanh tháp niệm tụng, dùng 7 hạt cải trắng rải ở cửa tháp này, cửa tháp liền mở ra và ngài được thấy bộ kinh Kim cương đính quảng bản. Thuyết này do Tam tạng Kim cương trí truyền miệng, đệ tử của ngài là Trí tạng ghi vào Kim cương đính nghĩa quyết. Lại theo Giáo vương kinh khai đề, do ngài Không hải người Nhật soạn, thì kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật đều do bồ tát Long mãnhtụng ra trong tháp sắt ở Nam Thiên trúc. Thuyết Thiết tháp tương thừa của Mật giáo cho rằngbồ tát Long mãnh mở cửa tháp sắt này và được kế thừa Mật giáo từ ngài Kim cương tát đỏa. Đông mật ở Nhật bản(Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật bản truyền)căn cứ vào thuyết của ngài Không hải, cho rằng kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật đều được truyền nối từ bên trong thápsắt; còn Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền) thì dựa theo thuyết trong Lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí của ngài Hải vân mà chủ trương 2 bộ đều được truyền nối bên ngoài tháp sắt.
thiết thích lâm địa ngục
6877犯邪淫者所墮之地獄。獄中有大刺樹,上有大毒蛇,化作善女,誘引罪人。罪人上此樹時,刺皆向下貫刺罪人。既至樹上,化女還復蛇身,破頭入腰,處處穿穴。〔大智度論卷十七〕
; (鐵刺林地獄) Địa ngục rừng gai sắt. Những người phạm tội tà dâm phải đọa địa ngục này. Trong ngục này có cây gai lớn, trên có rắn độc, hóa làm người nữ hiền lành, xinh đẹp, cám dỗ tội nhân. Khi tội nhân leo lên cây này, thì gai đều tủa xuống đâm vào tội nhân. Nhưng lúc leo lên đến nơi thì người nữ hóa kia lại biếnthành thân rắn độc rất lớn, cắn phá đầu, bụng tội nhân, toàn thân bị đâm nát. [X.luận Đại trí độ Q.17].
thiết thưởng ca
Sasanka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Thưởng Ca, quốc vương của xứ Karnasuvarna, người đã cố tình hủy hoại Bồ Đề Thọ thiêng liêng. Về sau ông bị Siladitya sát hại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Sasanka, a king of Karnasuvarna, who tried to destroy the sacred Bodhidruma. Later he was destroyed by Siladitya.
thiết thắng
Một danh hiệu của Ngài Mã Minh Bồ Tát—A title of Asvaghosa Bodhisattva.
thiết thụ
6880禪林用語。以鐵樹無花無果,比喻無心、無作之妙用,絕了思慮分別。禪宗以「鐵樹華開世界香」之語,比喻盡法界一切物即由無心無作之妙用所顯現者。又無憎愛、無取捨、無能所,而天真爛漫地開展,為鐵樹之本來面目,以此形容衲僧之不染污、沒蹤跡之行履。又「鐵樹開花」一語,表示被視為固定不變而實有變化之理。若配於體用,則鐵樹為體,開花為用,表示由死而顯活、由靜而發動之無為無作之功用。〔碧巖錄第四十則〕
; Cây sắt—Không hy vọng nở hoa kết trái được—Iron tree.
; (鐵樹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây sắt. Dùng cây sắt không hoa, không quả để ví dụ sự diệu dụng của vô tâm, vô tác, dứt hẳn tư duy, phân biệt. Thiền tông dùng câu Thiết thụ khai hoa thế giới hương(cây sắt nở hoa thế giới thơm)để ví dụ tất cả vạn vật trong tận cùng pháp giới đều do sự diệu dụng của vô tâm, vô tác biến hiện ra. Không yêu ghét, không lấy bỏ, không mình người, không năng sở mà cõi thiên chân cứ tự nhiên rộngmở, đó là bản lai diện mục của thiết thụ, dùng đó để nói về hành tung không nhiễm ô, không tăm hơi, dấu vết của nạp tăng. Câu Thiết thụ khai hoa(cây sắt nở hoa)được xem như lí cố định, bất biến, nhưng thực ra thì có biến hóa. Nếu được phối với thể dụng thì thiết thụ là thể, khai hoa là dụng, biểu thị công dụng vô vi, vô tác, từ cái chết mà hiển hiện sự sống, từ tĩnh mà phát động. [X. Bích nham lục tắc 40].
thiết thực
Realistic.
thiết toả kim toả
6881身受繫縛之喻。鎖為束縛之具,金、鐵品質有高低,然其不自由之義則無差別。蓋金鎖譬喻無漏之所知障,鐵鎖則譬喻有漏之煩惱障。
; (鐵鎖金鎖) Khóa sắt, khóa vàng. Ví dụ thân bị trói buộc. Tỏa là dụng cụ để trói buộc. Vàng (kim) sắt(thiết) phẩm chất có cao, thấp khác nhau, nhưng ý nghĩa mất tự do thì như nhau. Tức dù trói buộc bằng khóa vàng hay khóa sắt thì cũng là mất tự do. Ở đây, Thiết tỏa là dụ cho phiền não chướng hữu lậu, còn Kim tỏa thì dụ cho sở tri chướng vô lậu.
thiết trát
Sổ sách bằng sắt ở dưới âm phủ, dùng để ghi tội và công của mỗi người—Iron tablets in hades, on which are recorded each person's crimes and merits.
thiết trụ
Trụ sắt—The iron-pilar.
thiết tuấn hãm
6880禪林用語。鐵製之饅頭。與「鐵酸豏」同義。謂吞下鐵饅頭乃不可能之事,以此比喻難解難透之一關。碧巖錄第七則(大四八‧一四七上):「法眼云:『汝是慧超。』(依模脫出,鐵餕饀,就身打劫)」
thiết tát la
6881劉宋比丘尼。師子國人。文帝元嘉十年(433),率比丘尼十人至建康(今南京),於南林寺創立戒壇,請印度僧僧伽跋摩為傳戒師,共為尼眾三百餘人重受具足戒,創中國比丘尼如法受戒之始。據傳,當時曾在建康建鐵薩羅寺,以紀念此事。〔梁高僧傳卷三、比丘尼傳卷二〕
; (鐵薩羅) Vị tỉ khưuniđời Lưu Tống, người nước Sư tử (Tích lan). Năm Nguyên gia thứ 10 (433), Ni sư hướng dẫn 10 vị tỉ khưu ni đến Kiến khang (nay là Nam kinh), sáng lập giới đàn ở chùa Nam lâm, thỉnh ngài Tăng già bạt ma người Ấn độ làm Truyền giới sư, thụ giới Cụ túc cho hơn 300 ni chúng, mở đầu việc truyền giới đúng như pháp cho Ni giới Trung quốc. Tương truyền, chùa Thiết tát la đã được xây dựng ở Kiến khang để ghi nhớ việc này. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Tỉ khưu ni truyện Q.2].
thiết tật lê
6879禪林用語。<一>蒺藜為一種藥草,蔓生,果實有銳刺五對。鐵蒺藜,即以鐵作蒺藜果之形,用為防敵之武器,轉用以比喻禪宗師家之指導嚴密難侵。碧巖錄第十二則(大四八‧一五二下):「僧問洞山:『如何是佛?』(鐵蒺藜,天下衲僧跳不出)」 <二>全一卷。明代別傳道經撰,元賢、元晃等編。全稱廬山別傳禪師鐵蒺藜。該書揭示碧巖錄百則之本文,並附頌。
; (鐵蒺藜) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thiết Tật Lê. Tật lê làmộtloại cỏ thuốc, bò lan trên mặt đất, quả có 5 gai nhọn chìa ra. Thiết tật lê là một thứ vũ khí bằng sắt, hình dáng giống quả tật lê, dùng để chống kẻ địch. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được mượn dùng để chỉ cho sự dạy đạo nghiêm khắc của sư gia. Bích nham lục tắc 12 (Đại 48, 152 hạ) ghi: Vị tăng hỏi người Động sơn: Thế nào là Phật? Quả tật lê bằng sắt (thiết tật lê), nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi. II. Thiết tật lê. Gọi đủ: Lô sơn Biệt truyền thiền sư thiết tật lê. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Biệt truyền soạn vào đời Minh, các ngài Nguyên hiền và Nguyên hoảng biên tập. Nội dung sách này nêu rõ bản văn của 100 tắc trong bộ Bích nham lục, đồng thời có phụ thêm kệ tụng.
thiết tế
Biên tế của các vị Thiết Luân Vương—The boundary of the Cakravalas.
Thiết Tử Đan
(切死丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.
thiết vi
Vimalasvabhāva (S), Cakravāla (S), Sumeru (S), Cakravāḍa (S), Adamantine Mountains, Mount Sumeru, Iron Mountain Tu di sơn. Thiết vi sơn, Thước ca la, Chước ca bà laMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Vòng núi bằng sắt bên ngoài cùng bao bọc cõi giới chúng ta, núi này cao 600 do tuầnXem Thiết vi.
thiết vi kết tập
6878請參閱 鐵圍結集即鐵圍山大乘結集。據大智度論卷一○○所載,佛陀入滅後,文殊、彌勒等大菩薩率阿難於鐵圍山結集大乘經,稱為菩薩藏。然此說當屬大乘佛教興起以後之傳說。有關大乘經之結集,另有多種說法。(參閱「結集」5187)
; (鐵圍結集) Chỉ cho việc kết tập kinh Đại thừa ở núi Thiết vi. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 100 thì sau khi đức Phật nhập diệt, các vị Đại bồ tát như Văn thù, Di lặc... cùng ngài A nan vào núi Thiết vi kết tập các kinh Đại thừa, gọi là Bồ tát tạng. Nhưng đây có lẽ thuộc truyền thuyết từ khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi về sau. Về việc kết tập kinh Đại thừa còn có nhiều thuyết khác nhau. (xt. Kết Tập).
thiết vi sơn
6878梵名 Cakravāḍa-parvata,巴利名 Cakkavāḷa-pabbata。又作鐵輪圍山、輪圍山、金剛山、金剛圍山。佛教之世界觀以須彌山為中心,其周圍共有八山八海圍繞,最外側為鐵所成之山,稱鐵圍山。即圍繞須彌四洲外海之山。 或謂大中小三千世界,各有大中小之鐵圍山環繞。據大毘婆沙論卷一三三載,此世界之中央為須彌山,由四寶所成,其周圍由健達羅乃至尼民達羅等七金山圍繞,諸山之間各有一海,圍繞尼民達羅山之第八海即鹹海,閻浮四洲位於此海中。此鹹海之周圍有山,如牆繞之,故稱輪圍;又因其由鐵所成,故稱鐵圍山。〔起世經卷一閻浮洲品、卷二地獄品、立世阿毘曇論卷二數量品、彰所知論卷上器世界品〕(參閱「九山八海」127、「大鐵圍山」914)
; The great circular iron enclosure.
; Cakravala (skt)—Cakravada (skt)—Núi Thiết Vi hay núi sắt bao quanh thế giới. Núi Tu Di là trung tâm, bên ngoài có tứ châu, bảy núi và tám biển—The Iron Ring Mountain, supposed to encircle the earth, forming the periphery of a world. Mount Meru is the centre and between it and the Iron Mountains are four continents, seven metal-mountains and the eight seas.
; (鐵圍山) Phạm: Cakravàđa-parvata. Pàli:Cakkavàơa-pabbata. Cũng gọi Thiết luân vi sơn, Luân vi sơn, Kim cương sơn, Kim cương vi sơn. Thế giới quan Phật giáo lấy núi Tu di làm trung tâm, chung quanh có 8 núi và 8 biển bao bọc, dãy núi bao bọc ngoài cùng được cấu tạo bằng sắt, cho nên gọi là Thiết vi sơn, tức dãy núi phía ngoài Hàm hải bao bọc núi Tu di và 4 châu. Có thuyết cho rằng Tam thiên thế giới Đại Trung Tiểu đều có núi Thiết vi Đại Trung Tiểu bao quanh. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 133 thì chính giữa thế giới này là núi Tu di, do 4 thứ báu cấu tạo thành, chung quanh núi Tu di có 7 núi vàng từ Kiện đạt la đến Ni dân đạt la bao bọc, khoảng giữa mỗi núi đều có 1 biển, biển thứ 8 bao quanh núi Ni dân đạt la chính là Hàm hải (biển nước mặn), 4 châu Diêm phù nằm trong biển này. Chung quanh Hàm hải có núi bao bọc, giống như bức tường, nên gọi là Luân vi; lại vì núi này được cấu tạo bằng sắt nên cũng gọi là Thiết vi. [X. phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế Q.1; phẩm Địa ngục trong kinh Khởi thế Q.2; phẩm Số lượng trong luận Lập thế a tì đàm Q.2; phẩm Khí thế giới trong luận Chương sở tri Q.thượng]. (xt. Cửu Sơn, Bát Hải, Đại Thiết Vi Sơn).
thiết võng địa ngục
6879在鐵網間懲處罪人之地獄。為邪心諂曲、妖媚惑人之虛妄眾生所墮之處。此獄有八十九重諸鐵羅網,一一網間有百億鐵針,每一鐵針各有五關萨。罪人命終,生鐵網間,動五關萨,無數鐵針射入毛孔。如是輾轉諸鐵網間,忽死忽生。罪畢,生於邊地無佛法處,雖生人中,亦為惡道所攝;經無量劫,始遇善知識,雖得聞佛法,卻心不能解了。〔觀佛三昧海經卷五〕
; (鐵網地獄) Địa ngục lưới sắt. Tức địa ngục trong đó tội nhân bị trừng phạt bằng cách bắt nằm trên lưới sắt nóng, là nơi mà những chúng sinh giả dối, tàtâm dua nịnh, dùng thuật yêu mị mê hoặc người đời thì sau khi chết phải đọa vào. Địa ngục này có giăng 89 lớp lưới sắt, giữa mỗi lớp có trăm ức cây kim sắt, mỗi kim sắt có 1 cái nảy. Khi tội nhân chết, sinh vào lưới sắt, động đến cái nảy, lập tức trăm nghìn cây kim bắn vào lỗ chân lông của tội nhân. Cứ như thế xoay chuyển giữa các lớp lưới sắt, thoắt chết thoắt sống, đau đớn vô cùng. Khi hết tội, được sinh làm người, nhưng ở nơi biên địa, không có Phật pháp, cũng như sinh trong ác đạo; trải qua vô lượng kiếp mới được gặp thiện tri thức, dẫu được nghe Phật pháp nhưng tâm không hiểu rõ. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
thiết xí công đức
4791即設置廁所,與人便利而有功德。據分別業報略經載,造廁除眾穢,令身心常清淨,緣此離諸垢,究竟獲大安。福田經載,佛陀因往昔安設圊廁之功德,得以世世清淨,穢染不汙,食自消化,無便利患。釋氏要覽卷下載,虛空藏經謂,若懺罪人,治廁八百日,能滅罪垢。〔增一阿含經卷十〕
; (設厠功德) Công đức làm nhà xí cho người ta dùng. Theo kinh Phân biệt nghiệp báo lược thì xây dựng nhà xí, quét dọn các thứ dơ bẩn khiến thân tâm thường thanh tịnh, nhờ đó xa lìa các cấu nhiễm, rốt ráo được an vui. Kinh Phúc điền nói rằng: Nhờ công đức thiết trí nhà xí thủa xa xưa mà nay đức Phật được đời đời thanh tịnh, các thứ nhơ nhớp không làm bẩn được, thức ăn tự tiêu hóa, không bị các bệnh về tiêu hóa. Còn Thích thị yếu lãm quyển hạ và kinh Hư không tạng thì nói rằng: Nếu người nào sám hối tội lỗi, dọn dẹp nhà xí 800 ngày thì trừ diệt sạch tội cấu. [X.kinh Tăng nhất a hàm Q.10].
thiết yếu nhứt
Most essentially.
thiết đa đồ lô
4790梵名 Śatadru。位於北印度磔迦國東南。又稱設怛荼盧。大唐西域記卷四謂,王城之內外有伽藍十所,庭宇荒涼,僧徒甚少,遺有高二百餘尺之阿育王塔一座。據推定舊城址位於今旁遮普省魯德希納市(Ludhiana)之東南。其名稱或依北印度五河之一「薩特日」河(Sutlej)之古名。
; (設多圖盧) Phạm: Zatadru. Cũng gọi là Thiết đát đồ lô. Tên một đô thành ở phía đông nam nước Trách ca, BắcẤn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì ở trong và ngoài vương thành này có 10 ngôi già lam, điện đường hoang vắng, rất ít chúng tăng, chỉ còn 1 tòa tháp cao hơn 200 thước (Tàu) do vua A dục xây dựng. Theo suy đoán thì nền thành xưa nằm về phía đông nam thành phố Lỗ đức hi nạp (Ludhiana) ở tỉnh Bàng già phổ (Punjab) hiện nay. Tên gọi thành phố này có lẽ đã y cứ vào tên cũ của sông Tát đặc nhật (Sutlej), 1 trong 5 con sông ở Bắc Ấn độ.
thiết đa đồ lư
Satadru (skt). 1) Sông Sutlej thuộc vùng bắc Ấn Độ: The River Sutlej in northern India. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Đa Đồ Lư là một vương quốc cổ về phía bắc Ấn Độ, nổi tiếng giàu khoáng sản. Vị trí chính xác của vương quốc nầy cho tới hiện nay vẫn chưa ai biết—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Satadru is an ancient kingdom in northern India, noted for its mineral wealth. Exact position is unknown.
thiết đô lô
4791梵語 śatru。意譯怨家。即與我結怨,於一切善法作冤害者。又作設睹嚧、設咄嚧、捨睹嚧、爍睹嚧、娑訥嚕、窣睹喚。無量壽經卷下載,怨家債主,焚漂劫奪。遺教經載,諸煩惱賊,常伺殺人,甚於怨家。〔希麟音義卷六〕
; (設都嚧) Phạm:Zatru. Hán dịch: Oán gia. Cũng gọi Thiết đổ lô, Thiết đốt rô, Xả đổ lô, Thước đổ lô, Sa nột rô, Tốt đổ hoán. Chỉ cho người kết oán với mình, gây oan hại đối với tất cả thiện pháp. KinhVô lượng thọ nói rằng: Oan gia trái chủ, đốt phá cướp giật. Kinh Di giáo thì nói: Bọn giặc phiền não thường rình rập hại người, còn hơn cả oan gia. [X. Hi lân âm nghĩa Q.6].
thiết địch đảo xuy
6878凡二卷。天明三年(1783),日本曹洞宗僧玄樓奧龍撰。本書仿碧巖錄,選集公案百則,加以評唱,並附頌古。上卷收文殊入門至義忠陞座等五十則,下卷收保福佛殿至溈山方丈等五十則。
; (鐵笛倒吹) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Huyền lâu Áo long thuộc tông Tào động Nhật bản soạn vào năm Thiên minh thứ 3 (1783). Nội dung sách này phỏng theo Bích nham lục, tuyển tập 100 tắc công án, có phần bình xướng và thêm tụng cổ. Quyển thượng thu chép 50 tắc từ Văn thù nhập môn đến Nghĩa trung thăng tòa; quyển hạ thu chép 50 tắc từ Bảo phúc Phật điện đến Qui sơn phương trượng...
thiết đổ lỗ
Satru (skt)—Kẻ thù—An enemy—A destroyer.
thiếu
1) To want—To lack—To be short of something. 2) Deficiency—Want—Lack. 3) To owe. 4) Almost—Nearly (thiếu chút nữa).
thiếu hụt
Shortage—Deficiency.
thiếu khang
1381(?~805)唐代淨土宗僧。為淨土宗第五祖。縉雲(浙江)仙都 s人,俗姓周。七歲出家,十五歲受戒於越州嘉祥寺,廣誦經論。後於洛陽白馬寺讀善導西方化導文,遂決心專修念佛。將乞食所得之錢,令孩童念阿彌陀佛一聲,即與一錢,一年後凡男女見康,即皆稱念阿彌陀佛。後至睦州烏龍山開淨土道場集眾念佛,每念佛一聲,口隨出一佛,念十聲出十佛,時稱之為後善導,貞元二十一年示寂。著有二十四讚、瑞應刪傳各一卷。〔宋高僧傳卷二十五、佛祖統紀卷二十六、蓮宗寶鑑卷四〕
; (少康) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đường, Tổ thứ 5 tông Tịnh độ, người ở núi Tiên đô tại Tấn vân (Chiết Giang), họ Chu. Sư xuất gia năm 7 tuổi, 15 tuổi thụ giới ở chùa Gia tường tại Việt châu, đọc nhiều kinh luận. Sau, nhân đọc bài Tây phương hóa đạo văn của ngài Thiện đạo ở chùa Bạch mã tại Lạc dương mà sư quyết tâm chuyên tu niệm Phật. Khi đi khất thực, sư thường được tiền, sư bảo trẻ con niệm A di đà Phật, cứ niệm 1 tiếng thì sư cho 1 đồng tiền; 1 năm sau, hễ nam nữ thấy sư đều niệm A di đà Phật. Sau sư đến núi Ô long tại Lục châu mở đạo tràng Tịnh độ nhóm họp chúng niệm Phật, mỗi lần sư niệm Phật 1 tiếng thì từ miệng sư bay ra 1 đức Phật, niệm 10 tiếng ra 10 đức Phật, người đương thời gọi sư là Hậu Thiện đạo.Năm Trinh nguyên 20 (805) sư thị tịch. Sư có các tác phẩm: Nhị thập tứ tán 1 quyển, Thụy ứng san truyện 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.25, Phật tổ thống kỉ Q.26; Liên tông bảo giám Q.4]. Ngài Thiếu khang
thiếu khang đại sư
Shao-Kang—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Thiếu Khang Đại Sư là Liên Tông Ngũ Tổ. Ngài họ Châu, người đời nhà Đường, quê vùng Tiên Đô thuộc xứ Tấn Vân. Từ buổi sơ sinh, ngài lặng im không nói. Năm lên bảy tuổi, nhân lễ trai hội, ngài theo mẹ vào chùa lễ Phật. Bà chỉ Phật hỏi đùa cùng ngài rằng, “Con có biết đó là ai chăng?” Ngài bỗng nhiên ứng tiếng đáp rằng: “Đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.” Biết con có duyên lành đối với Phật pháp, song thân ngài liền cho phép ngài xuất gia. Ngài căn cơ và trí huệ rất linh mẫn, sau khi xuất gia đến năm 15 tuổi, ngài đã thông suốt năm bộ kinh điển. Niên hiệu Trinh Nguyên nguyên niên (năm đầu), đại sư đến viếng chùa Bạch Mã tại Lạc Dương. Thấy chỗ để kinh sách trong đại điện phóng ánh quang minh, ngài lại tìm xem thì thấy quang minh ấy phát xuất từ nơi tập văn Tây Phương Hóa Đạo của Hòa Thượng Thiện Đạo, ngài liền quỳ xuống khấn rằng: “Nếu tôi có nhân duyên với Tịnh Độ, xin nguyện cho tập văn nầy phóng quang minh thêm một lần nữa.” Ngài vừa dứt lời nguyện thì ánh sáng lại càng chiếu ra rực rỡ, trong ấy có ẩn hiện hình dạng các hóa Bồ Tát. Ngài chấp tay nói: “Kiếp đá có thể mòn, nguyện nầy thề không dời đổi.” Nhân đó đại sư đến Trường An, chiêm lễ di tượng của Hòa Thượng Thiện Đạo. Đang khi lễ, tượng của Nhị Tổ bỗng bay lên cao, bảo với ngài rằng: “Ông nên y theo lời dạy của ta mà phổ độ chúng sanh, ngày kia công quả đắc thành, sẽ được sanh về Cực Lạc.” Sau đó ngài đi ngang qua miền Giang Lăng, bỗng gặp một sư cụ bảo rằng: “Ông muốn hoằng hóa, nên sang qua xứ Tân Định, cơ duyên ở tại nơi đó.” Nói xong sư cụ biến mất. Sau thời gian ấy, đại sư đến Tân Định. Thấy người xứ nầy chưa biết niệm Phật là gì cả, ngài mới dùng phương tiện. Ban sơ ngài quyên tiền dẫn dụ trẻ con niệm Phật. Nếu đứa nào niệm được một câu thì ngài thưởng cho một đồng tiền. Như thế hơn một năm sau, không cần thưởng tiền nữa mà chúng cũng tự niệm. Về sau quen lần, lúc gặp đại sư, dù ở trong nhà hay ngoài đường, chúng cũng vẫn cứ niệm Phật. Từ đó nam, nữ, già, trẻ, bất cứ ai hễ gặp ngài đều niệm: “A Di Đà Phật.” Nhờ đó dân chúng trong vùng lần lượt phát tâm thờ cúng và niệm Phật rất nhiều. Thấy cơ duyên đã có phần thành thục, đại sư mới thành lập Tịnh Độ Đạo Tràng ở Ô Long, xây đàn tam cấp. Cứ đến ngày trai, vài ba ngàn thiện nam tín nữ đều họp lại đó để niệm Phật, nghe pháp. Mỗi khi thăng tòa, ngài chắp tay niệm Phật to tiếng thì đại chúng ở dưới đều xướng niệm hòa theo. Có lúc đại sư xưng một câu Phật hiệu, hội chúng thấy có một Đức Phật từ trong miệng ngài bay ra. Niệm đến mười câu, trăm câu, ngàn câu đều có mười, trăm, ngàn vị Phật bay ra, liên tiếp như xâu chuỗi. Đại sư bảo: “Quí vị đã được thấy Phật, chắc chắn đều sẽ được vãng sanh.” Mọi người nghe ngài nói như vậy đều có cảm niệm vui mừng, an ủi. Năm Trinh Nguyên thứ 21, vào tháng mười, đại sư họp chúng đệ tử Tăng Tục đến dặn bảo rằng: “Các vị nên phát tâm chán lìa cõi Ta Bà ác trược, khởi lòng ưa thích miền Tịnh Độ an vui mà cố gắng tu hành tinh tấn.” Giờ phút nầy ai thấy được quang minh của ta thì kẻ ấy mới thật là hàng đệ tử của ta. Nói xong, ngài phóng ra vài tia sáng lạ, đẹp, dài, rồi ngồi yên lặng mà thoát hóa. Đại chúng xây tháp thờ ngài ở Đài Nham, tôn hiệu của ngài là Đài Nham Pháp Sư—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Shao-Kang was the Fifth Patriarch of Pureland Buddhism. His family's name was Châu. He was from T'ien-Do Mountain of the Tan-Van region, lived during the T'ang Dynasty. He remained mute from birth until he turned seven. Then during the celebation of Buddhist Memorial Day, he followed his mother to the temple to prostrate to Buddha. His mother pointed at the Buddha's statue and playfully asked him: "Do you know who that is?" He unexpectedly spoke for the first time: “That is the statue of Sakyamuni Buddha.” Knowing their son had a great destined connection with the Buddha-Dharma, his parents immediately allowed him to leave home to join the order. His intelligence and wisdom were extraordinary. After becoming a Bhiksu at the age of fifteen, he had completely understood and deeply penetrated the hidden meanings of the five collections of sutras. In the first year of the Trinh Nguyên reign period, he visited White Horse Temple at Luo-Yang. Seeing lights radiating from the collection of sutras kept in the prayer hall, he investigated and saw the source of light came from the written text, “Propagation of the Western Pureland's Teachings” written by the Great Venerable Master Shen-T'ao; he immediately knelt down and prayed: “If I have a special destiny with Pureland Buddhism, I ask for this book to emit light once more.” As soon as he finished his prayer, the luminous light from within the book became even brighter, clearer, and shone further; within it were appearances of various transformation Bodhisattvas. He put his palms together and said: “A 'rock kalpa' will wear down and come to pass, but this vow is unchanging and unwavering.” For this reason, he came to the Imperial Capital Ch'ang-An to pay homage and to prostrate to the statue of the Great Venerable Master Shen-T'ao sculptured by those before him. As he was in the process of prostrating himself, the statue of the Second Patriarch suddenly flew straight into the air, and spoke: “You should follow according to what I taught to help and guide sentient beings everywhere; one day when the fruit of your accomplishments ripens, you shall gain rebirth to the Ultimate Bliss World.” Thereafter, when he passed by the Jiang-Lang region, he encountered unexpectedly an elderly woman; she told him: “If you want to prostrate Buddhism, go to Tsin-Ting region; you are destined for that area.” Finished speaking, the elderly woman disappeared. Following this advice, he came to Tsin-Ting region. When he saw the local residents did not know what it meant to practice Buddha Recitation, he began making applications of a skillful means. In the beginning, he would “bribe” the children to recite Buddha's name. Whoever recited the Buddha's name one time, he would give that child one coin. He continued this practice, and over a year later, even if he did not give them money, the children continued to practice Buddha Recitation on their own. This practice became a natural habit, and eventually whenever seeing him, whether they were inside their houses or out playing on the streets, they continued to practice Buddha Recitation. From that time on, men, women, children, young, and old, no matter who they were, as soon as they saw him, they would put their hands together to recite respectfully “Amitabha Buddha.” Through his skillful means of transformation, gradually, many residents from the area began worshiping and practicing Buddha Recitation. Seeing the time was right, he established a Pureland Congregation at Ou-Lung Mountain, which was built three steps above the ground. Each time a vegeterian day came, several thousand good men and faithful women assembled there to pratice Buddha Recitation and to listen to the Dharma. Each time getting on the throne to preach the Dharma, he would loudly recite Buddha's name and then the great assembly would harmoniously follow him. Sometimes when he recited Buddha' name, with each recitation, the assembly would witness a Buddha soaring out of his mouth. If he recited ten, hundred, or thousand recitations, there would be ten, hundred, or thousand Buddhas soaring out of his mouth, continuously like counting prayer beads. The Great Master then taught: "Now that all of you have witnessed Buddha, you are guaranteed to gain rebirth.” Upon hearing him say this, everyone felt contented and satisfied. In October of the twenty first year of Trinh Nguyên reign period, the Great Master gathered all his disciples, ordained and lay, and instructed them: “Everyone must develop the mind to be tired of this Saha World of evils and turbidities, begin yearning for the blissful existence of the Pureland in order to cultivate with vigor and diligence. At this moment, if anyone is able to see my aura then such an individual is truly a disciple of mine.” After he spoke, several long, unique and beautiful beams of light from the Great Master's body shone and then he sat there silently to gain rebirth. The great assembly built a pagoda to worship the Great Master at Dai-Nham. They honored him with the title: “Dai-Nham Dharma Master.”
thiếu lâm
Shao-lin (C), Shaolinsi (C), Shōrin-ji (J), Shao-lin ssu (C)Tu viện Phật do hoàng đế Hiếu Văn triều Bắc Ngụy xây trên núi Tung sơn vào năm 477, nơi Bồ Đề Lưu Chi đã ở để dịch kinh điển vào đầu thế kỷ thứ 6. Cũng nơi đây Bồ Đề Đạt Ma đã ẩn tu trong nửa đầu thế kỷ ấy.
Thiếu Lâm Tự
(少林寺): còn gọi là Trắc Hỗ Tự (陟岵寺), là ngôi cổ sát nổi tiếng của trung quốc, ngôi tổ đình tiếng tăm lừng lẫy của Thiền Tông, nơi phát xuất công phu Thiếu Lâm; hiện tọa lạc tại Huyện Đăng Phong (登封縣), sườn núi phía Tây Tung Sơn (嵩山), Tỉnh Hà Nam (河南省); thuộc một trong Ngũ Nhạc (五岳). Chùa được vua Hiếu Văn Đế (孝文帝, tại vị 471-499) kiến lập vào năm thứ 19 (495) niên hiệu Thái Hòa (太和) nhà Bắc Ngụy (北魏), cho vị cao tăng người Thiên Trúc là Phật Đà (佛陀). Vị này từng dịch kinh ở tại đây, rồi Đạo Phòng (道房), Đạo Bằng (道憑), hay Phật Quang (佛光), Tăng Trù (僧稠), Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727), Lặc Na Ma Đề (s: Ratnamati, 勒那摩提, ?-?), Huệ Viễn (慧遠, 523-592) của Tịnh Ảnh Tự (淨影寺), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., cũng đã từng dừng chân tại chùa này. Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) đã từng quay mặt vào tường chùa 9 năm, và truyền thuyết Huệ Khả (慧可, 487-593) chặt tay dâng cho Đạt Ma để cầo đạo cũng phát xuất từ Thánh địa này. Sau đó, bốn phương tăng chúng quy tụ về đây để tu tập theo Thiền phong của Đạt Ma, nên chùa đã từng một thời cực thịnh. Tuy nhiên, chùa lại gặp phải tai ách Bài Phật Phế Thích của vua Võ Đế (武帝, tại vị 560-578) nhà Bắc Chu (北周), nên ngôi già lam dã bị phá hủy tan tành. Đến thời nhà Tùy, chùa được phục hưng lại, đổi tên thành Trắc Hỗ Tự; song đến thời vua Văn Đế (文帝, tại vị 581-604) nhà Tùy, chùa được đổi tên lại như xưa. Từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589) cho đến đầu thời nhà Đường (唐, 618~907), nơi đây đã từng là căn cứ địa của Đạo Giáo. Vào khoảng cuối niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-616), chùa lại bị sơn tặc đốt cháy tan tành, may thay còn sót lại các ngôi linh tháp. Dưới thời nhà Đường, chùa được sự sùng kính của Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) cũng như Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后, tại vị 684-705), nên ngôi già lam được trùng hưng, chỉnh đốn lại toàn bộ. Sau đó, đến cuối thời nhà Đường, do vì loạn Ngũ Đại mà chùa lại bị suy vong; nhưng vào năm 1245, vâng mệnh vua Thế Tổ (世祖, tại vị 1260-1294) nhà Nguyên; Tuyết Đình Phước Dụ (雪庭福裕, 1203-1275) đến trú trì nơi đây và phục hưng lại chùa rất nhiều. Đệ tử ông có có các vị đã từng trú trì tại đây như Linh Ẩn Văn Thái (靈隱文泰), Cổ Nham Phổ Tựu (古巖普就), Tức Am Nghĩa Nhượng (卽菴義讓), Thuần Chuyết Văn Tài (淳拙文才), Ngưng Nhiên Liễu Cải (凝然了改), Câu Không Khế Bân (倶空契斌), Huyễn Hưu Thường Nhuận (幻休常潤), Vô Ngôn Chánh Đạo (無言正道), Tâm Duyệt Tuệ Hỷ (心悅慧喜), v.v. Sau đó vào năm 1735, vua Thế Tông (世宗, tại vị 1722-1735) nhà Thanh lại cho trùng tu chùa. Hiện tại, quần thể kiến trúc chùa có Sơn Môn, Thiên Vương Điện, Đại Hùng Điện, Bạt Đà Điện, Diêm Vương Điện, v.v. Ở bên phải phía Tây chùa có tảng đá Diện Bích của Đại Sư Đạt Ma; tại địa điểm cách chùa 3 dặm có Am Diện Bích. Trong khuôn viên chùa có rất nhiều ngôi tháp, văn bia của các vị vua của nhiều triều đại, cũng như của bao nhân vật nổi tiếng ngày xưa.
Thiếu Lâm tự
少林寺; C: shàolín-sì; J: shōrin-ji;|Một ngôi chùa nổi danh nằm trên ngọn Thiếu Thất thuộc dãy Tung sơn. Chùa này do vua Hiếu Văn Ðế nhà Hậu Nguỵ xây dựng cho một vị sư là Phật-đà Thiền sư người Thiên Trúc (Ấn Ðộ). Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Lưu-chi có dừng chân tại đây và phiên dịch rất nhiều kinh sách. Sau, Bồ-đề Ðạt-ma cũng đến đây vì Ngài thấy thời hoằng hoá chưa đến. Tương truyền rằng, Bồ-đề Ðạt-ma lưu lại đây chín năm và trong thời gian này chỉ xoay mặt vào tường Toạ thiền.|Bây giờ khi nhắc đến Thiếu Lâm tự, người ta chỉ thường nghĩ đến những môn võ công của chùa này. Theo truyền thuyết thì võ công, một dạng của khí công được các vị Cao tăng tại đây sáng tạo và phát triển. Câu chuyện sau đây thường được nhắc lại khi nói đến võ công chùa Thiếu Lâm: »Một hôm, chùa bị giặc Hoàng Cân tấn công, tăng chúng sợ quá muốn tan. Chợt có một vị tăng cao tuổi làm đầu bếp múa gậy chạy ra bảo chúng ›Các vị chớ lo, Lão tăng chỉ một gậy là đuổi chúng chạy hết‹. Nghe như vậy ai cũng phì cười vì cho là nói khoát. Vị tăng đó liền múa gậy xông vào đám giặc, tên nào bị ăn gậy đều kinh khiếp chạy loạn. Cuối cùng giặc tan, vị tăng này truyền lại cho chúng võ nghệ rồi sau đó ẩn mất. Người sau cho rằng đó là hiện thân của Khẩn-na-la Phật.«
thiếu lâm tự
1379<一>位於河南登封縣西北之少室山北麓之五乳峰下。少室山乃嵩山之西峰。北魏太和二十年(496,一說二十一年),孝文帝為天竺僧佛陀禪師所建。佛陀禪師時,寺之西臺建有舍利塔,塔後造翻經臺。未久有勒那摩提抵寺翻譯經論。孝昌三年(527)印度僧人菩提達摩於寺面壁九年修定,傳法慧可,創建禪宗,史稱達摩為中土之初祖,少林為祖庭。由是緇素雲集,禪法盛行。 佛陀禪師之後,由弟子僧稠住持塔廟。後因北周武帝建德年中排佛法難,伽藍毀廢。靜帝大象年中復興之,號陟岵寺,置菩薩僧百二十人。隋文帝時敕復舊寺名(一說文帝改名陟艰,唐復名少林)。至大業末年,除靈塔外,全寺悉為山賊所毀。唐初少林寺僧眾佐唐太宗開國有功,從此僧眾常習拳術,禪宗和少林拳負有盛名,廣為流傳。高宗、則天武后等均甚崇敬,整備伽藍,其後歷經唐末五代之亂,寺漸衰微。南宋淳祐五年(1245),雪庭福裕奉元世祖之命董寺,大興寺門,其弟子靈隱文泰及古岩普就、息庵義讓、淳拙文才等諸師相繼住持,各振玄風,傳洞上之正脈。清世宗雍正十三年(1735)一度重修。 少林寺於晚唐五代之際,為臨濟宗所住;金、元以降,乃成為曹洞宗道場,迄今猶然。民國十八年(1929),軍閥馮玉祥、樊鍾秀等縱兵洗劫,寺幾全毀。二十一年,林森、戴傳賢、杜月笙等復集資重修之。 寺內現存有山門、客堂、達摩亭、白衣殿、地藏殿、千佛殿等建築。千佛殿又名毘盧閣,內有明代五百羅漢朝毘盧遮那佛壁畫,約三百餘平方公尺。白衣殿內有清代少林寺拳譜及十三僧眾救唐王壁畫。達摩亭為慧可斷臂立雪候達摩傳法處,又名立雪亭。初祖庵、二祖庵均在附近。寺中尚保存有許多石刻,著名者有「秦王告少林寺主教碑」、「武后詩書碑」、「靈運禪師功德塔銘」、「息庵禪師碑」等。〔續高僧傳卷四、卷十六、廣弘明集卷十、大慈恩寺三藏法師傳卷九、景德傳燈錄卷三、卷四、釋氏稽古略卷二、續燈存稾卷十一、少林寺志、魏書卷一一四〕 <二>位於河北省薊縣西北盤山之紫蓋峰下。元至正年中(1341~1367)所建。其東山上有多寶塔,西山上有華嚴洞,皆頗著名。
; Shao lin (C). The monastery at Thiếu thất, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.
; Một trong những đại tự viện ở Trung Quốc, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma ngồi diện bích trong 9 năm—One of the great monasteries in China, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.
; (少林寺) I. Thiếu Lâm Tự. Chùa nằm dưới ngọn Ngũ nhũ, chân núi phía bắc núi Thiếu thất, ở phía tây bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, do vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy xây dựng vào năm Thái hòa 20 (496, có thuyết nói năm Thái hòa 21) để cúng dường Thiền sư Phật đà người Thiên trúc. Thời Thiền sư Phật đà, ở phía tây chùa có xây tháp xá lợi, phía sau tháp, xây Phiên kinh đài. Không bao lâu, có ngài Lặc na ma đề đến chùa này phiên dịch kinh luận. Năm Hiếu xương thứ 3 (527), ngài Bồ đề đạt ma người Ấn độ đến chùa này, ngồi xoay mặt vào vách mà tu định 9 năm, truyền pháp cho ngài Tuệ khả, sáng lập Thiền tông, sử gọi ngài Đạt ma là Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc, chùa Thiếu lâm là Tổ đình. Từ đó, tăng tục nhóm họp rất đông, thiền pháp hưng thịnh. Sau Thiền sư Phật đà, đệ tử ngài là Tăng trù trụ trì chùa này. Sau vì pháp nạn bài Phật của Vũ đế nhà Bắc Chu xảy ra trong năm Kiến đức nên chùa đã bị phá hủy. Trong năm Đại tượng, Tĩnh đế xây dựng lại chùa, đặt tên là Trắc hỗ tự(chùa nhớ đến cha, tức Vũ đế) và thờ 120 vị Bồ tát tăng. Đời Tùy, vua Văn đế ban sắc khôi phục tên cũ(nhưng có thuyết nói Văn đế đổi tên là Trắc hỗ, đời Đường mới lấy lại tên Thiếu lâm). Đến cuối năm Đại nghiệp đời Tùy, trừ ngôi Linh pháp, còn toàn chùa đều bị bọn giặc núi phá hủy. Đầu đời Đường, chúng tăng chùa Thiếu lâm có công giúp Thái tông dựng nước, từ đó, chúng tăng thường luyện tập quyền thuật, Thiền tông và quyền thuật Thiếu lâm trở nên nổi tiếng, được lưu truyền rất rộng. Vua Cao tông và Vũ hậu Tắc thiên đều rất sùng kính, sửa sang cảnh chùa Thiếu lâm trang nghiêm thanh tịnh. Về sau, trải qua các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, vận chùa dần dần sa sút. Năm Thuần hựu thứ 5 (1245) đời Nam Tống, ngài Tuyết đình Phúc dụ vâng mệnh vua Thế tổ đến trông nom chùa, xây dựng cổng chùa, các vị đệ tử của ngài là Linh ẩn Văn thái, Cổ nham Phổ tựu, Tức am Nghĩa nhượng, Thuần chuyết Văn tài... nối tiếp nhau trụ trì, mỗi vị đều chấn hưng Thiền phong, truyền thừa chính mạch Chùa Thiếu lâm Tháp lâm– mộ tháp ở bên ngoài cổng chùa Thiếu lâmĐộng thượng. Năm Ung chính 13 (1735) đời vua Thế tông nhà Thanh, chùa được trùng tu. Vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, chùa Thiếu lâm thuộcvềtông Lâm tế, từ các đời Kim, Nguyên về sau lại trở thành đạo tràng của tông Tào động, đến nay vẫn thế. Năm Dân quốc 18 (1929), bọn quân phiệt Phùng ngọc tường, Phàn chung tú... xua quân lính đến cướp phá, chùa hầu như bị hủy hoàn toàn. Năm Dân quốc 21 (1932), các ông Lâm sâm, Đới truyền hiền, Đỗ nguyệt sênh... góp công của trùng tu. Hiện nay trong chùa còn các kiến trúc như: Cổng chùa (Tam quan), nhà khách, đình Đạt ma, điện Bạch y, điện Địa tạng, điện Thiên Phật... Điện Thiên Phậtcũng gọi gác Tì lô, trong có bức bích họa vẽ 500 vị La hán triều bái đức Phật Tì lô giá na, rộng khoảng hơn 300m2, là tác phẩm đời Minh. Trong điện Bạch y có bức vẽ quyền phổ chùa Thiếu lâm và 13 vị tăng cứu vua Đường, là tác phẩm đời Thanh. Đình Đạt ma là nơi ngài Tuệ khả chặt cánh tay đứng trên tuyết để chờ đợi Tổ Đạt ma truyền pháp, cho nên cũng gọi là Lập tuyết đình. Am Sơ tổ và am Nhị tổ đều ở gần đó. Trong chùa vẫn còn bảo tồn được nhiều thạch khắc, nổi tiếng thì có: Tần vương cáoThiếu lâm tự chủ giáo bi, Vũ hậu thi thư bi, Linh vận Thiền sư công đức tháp minh, Tức am thiền sư bi... [X. Tục cao tăng truyện Q.4, 16; Quảng hoằng minh tập Q.10; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3, 4; Thích thị kê cổ lược Q.2; Tục đăng tồn cảo Q.11; Thiếu lâm tự chí, Ngụy thư Q.114]. II. Thiếu Lâm Tự. Chùa ở dưới ngọn Tử cái thuộc dãy Bàn sơn, nằm về phía bắc huyện Kế, tỉnh Hà bắc, Trung quốc, được xây dựng trong năm Chí chính (1341-1367) đời Nguyên. Trên núi phía đông chùa có nhiều bảo tháp; trên núi phía tây chùa có động Hoa nghiêm rất nổi tiếng.
thiếu lâm vô khổng địch
1379凡六卷。全稱東陽和尚少林無孔笛。又作東陽和尚語錄。日本臨濟宗僧東陽英朝(1428~1504)撰。收於大正藏第八十一冊。收錄其於龍興寺、大德寺、妙心寺、瑞泉寺、少林寺、定慧寺、大仙寺等處之上堂、小參、示眾、佛事、偈頌、像贊、道號、雜著等。無孔笛之意,係指禪宗悟境無法以文字或言語來傳達,如無法吹鳴之無孔笛。另有無著道忠撰少林無孔笛考證一卷。
; (少林無孔笛) Gọi đủ:Đông dương Hòa thượng thiếu lâm vô khổng định. Cũng gọi Đông dương Hòa thượng ngữ lục.Ngữ lục, 6 quyển, do ngài Đông dương Anh triều (1428- 1540) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ thướng đường, tiểu tham, thị chúng, Phật sự, kệ tụng, tượng tán, đạo hiệu, tạp trứ... do Hòa thượng Đông dương giảng tại các chùa: Long hưng, Đại đức, Diệu tâm, Thụy tuyền, Thiếu lâm, Định tuệ, Đại tiên... Vô khổng địch(ống sáo không có lỗ) chỉ cho cảnh giới giác ngộ của Thiền tông, không thể dùng văn tự hay ngôn ngữ để truyền đạt, giống như ống sáo không có lỗ thì không cách nào thổi được. Ngoài ra, còn có Thiếu lâm vô khổng địch khảo chứng 1 quyển, do ngài Vô trước Đạo trung soạn. Cổng chùa Thiếu lâm THIẾU THẤT LỤC MÔN TẬP Cũng gọi Tiểu thất lục môn. Tác phẩm,1 quyển, do ngài Bồ đề đạt ma soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này nói về yếu chỉ của Thiền gia, chia làm 6 môn: Tâm kinh tụng, Phá tướng luận, Nhị chủng nhập, An tâm pháp môn, Ngộ tính luận và Huyết mạch luận. Ngoại trừ thiên thứ 3 (Nhị chủng nhập), 5 thiên còn lại có lẽ do người đời sau ngụy tạo. [X. Thiền tịch chí Q.thượng].
thiếu lâm võ (vũ) nghệ
Một vị Tăng từng là đầu bếp của chùa Thiếu Lâm, đã được coi như là người chỉ dùng gậy ba thước mà dẹp tan được loạn Hoàng Cân (Khăn Vàng); tên ngài được đặt cho trường phái võ Thiếu Lâm, mà về sau nầy có 13 vị có công giúp nhà Đường dẹp loạn Vương Thế Sung—Shao-Lin Wu-I, a cook of the Shao-Lin monastery, who is said single-handed to have driven off the Yellow Turban rebels with three-foot staff, and who was posthumously rewarded with the rank of “general”; a school of adepts of the quarter-staff was called after him, of whom thirteen were far-famed.
thiếu nhi
Young child.
thiếu niên
Young man.
thiếu năng lực
Unqualified.
thiếu nợ
To be in debt.
thiếu nữ
Young girl.
thiếu sót
Deficiency.
thiếu sống động
Lifeless
thiếu thất
Shao-shih (C). A hill on the Tung Sơn where Bodhidharma set up his Thiếu lâm tự.
thiếu thất lục môn
Six brief treatises attributed to Bodhidharma.
thiếu thất lục môn tập
1381全一卷。又稱小室六門。梁代菩提達磨作,編者不詳。收於大正藏第四十八冊。本集記述禪家要諦,分為心經頌、破相論、二種入、安心法門、悟性論、血脈論等六門,除第三篇二種入外、其餘五篇疑係後人之偽作。〔禪籍志卷上〕
thiếu thất sơn
1381位於河南登封縣西北。又作季室山、負黍山、御砦山、御塞山。為嵩山之西峰,與太室山相望,然較太室為小,高二七五二公尺,下有石室,並有朝嶽、望洛、太陽、少陽、白鹿等三十六峰。北魏孝文帝嘗為天竺佛陀禪師建寺於少室北麓,即少林寺。其後,菩提達磨、慧可等皆住錫於此,禪法甚盛,為嵩山諸寺中之最著名者。〔三才圖會嵩嶽圖考、古今圖書集成山川典第五十六至第六十二〕
; (少室山) Cũng gọi Quí thất sơn, Phụ thử sơn, Ngự trại sơn, Ngự tái sơn. Núi nằm về phía tây bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, là ngọn phía tây của Tung sơn, đối diện với núi Thái thất, nhưng nhỏ hơn. Núi cao 2752m, dưới chân núi có thạch thất, đồng thời có 36 ngọn như Triêu nhạc, Vọng lạc, Thái dương, Thiếu dương, Bạch lộc... Vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy từng xây chùa cúng dường Thiền sư Phật đà người Thiên trúc ở chân núi phía bắc Thiếu thất, tức chùa Thiếu lâm. Về sau, ngài Bồ đề đạt ma và Tuệ khả đều trụ ở chùa này, Thiền pháp rất thịnh, là ngôi chùa nổi tiếng nhất trong các chùa ở Tung sơn. [X. Tam tài đồ hội Tung nhạc đồ khảo; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 56-62].
thiếu thốn
Privation—Want—Lack.
thiếu thời
Early youth.
thiếu thực phẩm
Insufficient food.
thiếu từ bi
Lack of compassion.
thiếu độ lượng
Intolerance—Intolerance is the greatest enemy of any one.
Thiềm quang
(蟾光): tức chỉ cho ánh sáng mặt trăng, vì trong văn hóa cổ đại của Trung Quốc thường lấy con thiềm thừ (蟾蜍, con cóc) để thay thế cho mặt trăng. Cho nên cổ nhân thường dùng từ “ngân thiềm quang mãn (銀蟾光滿, trăng bạc sáng tròn).” Đạo Giáo Trung Quốc dùng chữ thiềm quang để chỉ cho huệ quang (慧光, ánh sáng trí tuệ); còn Khí Công thì chỉ cho ánh sáng vàng ròng. Trong bài thơ Khê Thượng Nguyệt (溪上月) của thi tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Thiềm quang tán phố tự, tố ảnh động luân liên (蟾光散浦溆、素影動淪漣, ánh trăng tan bến nước, bóng trắng động sóng chìm).” Hay như trong bài từ Tình Cửu Trường (情久長) của Lữ Vị Lão (呂渭老, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Tuế hoa mộ, thiềm quang xạ tuyết, bích ngõa phiêu sương, trần bất động, hàn vô tế (歲華暮、蟾光射雪、碧瓦飄霜、塵不動、寒無際, dịp cuối năm, ánh trăng bắn tuyết, ngói biếc bay sương, bụi chẳng động, lạnh vô cùng).” Trong bài Túy Bồng Lai Cửu Nguyệt Thập Bát Nhật Tây Quắc Lưu Thị Tiếu (醉蓬萊九月十八日西虢劉氏醮) của Khưu Xứ Cơ (丘處機, 1148-1227) nhà Nguyên có câu: “Nhạn ảnh trầm sa, thiềm quang chiếu dạ, huân huân đồng túy (雁影沉沙、蟾光照夜、醺醺同醉, bóng nhạn chìm cát, ánh trăng chiếu đêm, vui vẻ say mèn).” Bản Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chí Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 cũng có đoạn: “Thanh sơn lục thủy, dữ ngã hà thù, kim sanh Lệ thủy, thiềm quang mãn thái hư (青山綠水、與我何殊、金生麗水、蟾光滿太虛, núi xanh nước biếc, cùng ta khác gì, vàng sanh sông Lệ, ánh trăng khắp hư không).” Hoặc như trong Chứng Đạo Ca Tụng (證道歌頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1291) lại có câu: “Lục Độ vạn hạnh thể trung viên, chân thể vô lao biện đồng biệt, vạn thủy thiềm quang nhậm khứ lưu, kiểu kiểu thiên tâm duy nhất nguyệt (六度萬行體中圓、眞體無勞辨同別、萬水蟾光任去留、皎皎天心唯一月, Sáu Độ muôn hạnh thể tròn đầy, thật thể chẳng cần phân khác giống, muôn dòng trăng sáng mặc cuốn trôi, vằng vặc giữa trời trăng một đóa).”
Thiền
禪; hoặc Thiền-na (禪那); S: dhyāna; P: jhāna; C: chánnà, chán; J: zenna, zen; Anh ngữ: medita-tion; cũng được dịch nghĩa là Tĩnh lự (靜慮);|Một danh từ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm »Tỉnh giác«, »Giải thoát«, »Giác ngộ.« Trong những trường phái tu tập mật giáo – »mật« (e: esoteric) ở đây có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, không để ý đến những cái rườm rà bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là »bí truyền« – các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên. Nếu người ta hiểu »Tôn giáo« là câu trả lời, giải đáp cho những cái »không hoàn hảo«, »không trọn vẹn«, cái »bệnh« của con người thì Thiền chính là liều thuốc trị những bệnh đó.|Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau như luyện tập uốn nắn thân thể theo Ha-tha Du-già (s: haṭhayoga), sự tập trung vào một tấm tranh, một Thăng-ka hoặc âm thanh như Man-tra, một Công án…|Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng Bất nhị, nơi mà những ý nghĩ nhị nguyên như »ta đây vật đó« được chuyển hoá; hành giả đạt sự thống nhất với »Thượng đế«, với cái »Tuyệt đối«, những khái niệm về không gian và thời gian đều được chuyển biến thành cái »hiện tại trường hằng«, hành giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và hành giả áp dụng nó vào những hành động của cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là »Giải thoát«.|Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về Thiền và Phi thiền: »Thiền không có nghĩa là: ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.«|Theo đạo Phật, hành giả nhờ Ðịnh (s: samā-dhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (s: rūpadhātu; xem Ba thế giới), đạt được Lục thông (s: abhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi Ô nhiễm (s: āśrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ.|Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.|Tại Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở (p: ānāpānasati), Bốn niệm xứ (p: sa-tipaṭṭhāna)… với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ phép Thiền do Bồ-đề Ðạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã phát triển rất mạnh (Thiền tông).|Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả – kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Ðó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện.
thiền
6450梵語 dhyāna,巴利語 jhāna。又作禪那、馱衍那、持阿那。意譯作靜慮(止他想,繫念專注一境,正審思慮)、思惟修習、棄惡(捨欲界五蓋等一切諸惡)、功德叢林(以禪為因,能生智慧、神通、四無量等功德)。寂靜審慮之意。指將心專注於某一對象,極寂靜以詳密思惟之定慧均等之狀態。禪為大乘、小乘、外道、凡夫所共修,然其目的及思惟對象則各異。禪及其他諸定,泛稱為禪定;又或以禪為一種定,故將修禪沈思稱為禪思。 蓋佛道修行之綱要為戒定慧三學,持戒清淨始可得禪定寂靜,禪定寂靜始能得真智開發。因禪定為佛教之主要修行,故大小乘經論皆廣為說示之,而其種類亦繁多。在阿含及部派佛教,將禪以尋、伺、喜、樂之有無,而分初禪、二禪、三禪、四禪等四種。色界四禪天乃修四禪者所生之處;為生於四禪天而修之四禪,稱定靜慮;生而即有,先天所得之四禪,則稱生靜慮。又有漏靜慮與無漏靜慮混合共修,謂雜修靜慮,俱舍論卷二十四主張此乃限於阿羅漢或不還果位者所修。 於大乘中,禪為六波羅蜜、十波羅蜜之一,即禪波羅蜜(禪定波羅蜜、靜慮波羅蜜)。乃菩薩為獲般若之實智,或為得神通所修者。關於菩薩之禪波羅蜜之修相及靜慮之種別,可見之於諸經論,如菩薩地持經卷六及瑜伽師地論卷四十三等載,禪波羅蜜有九種相:(一)自性禪,又作自性靜慮。指靜慮之自性,即將心集中於一對象之心一境性;或指由觀心之自性所得之禪。(二)一切禪,又作一切靜慮。為攝盡自行化他一切法之禪。(三)難禪,又作難行靜慮。難修之禪之意,為利益無量之有情,捨去禪定之樂,還生欲界,乃至依止靜慮,證悟無上菩提。(四)一切門禪,又作一切門靜慮。門乃出入之意。一切禪定以此四禪為門,而自此出與入。(五)善人禪,又作善士靜慮。不愛著禪定之樂,而與四無量心俱行之禪。此乃具有殊勝善根之眾生所修,故稱善人禪。(六)一切行禪,又作一切種靜慮。攝盡大乘一切行,故稱一切行禪。此有善禪、無記化化禪、止分禪、觀分禪、自他利禪、正念禪、出生神通力功德禪、名緣禪、義緣禪、止相緣禪、舉相緣禪、捨相緣禪、現法樂住第一義禪等十三種。(七)除煩惱禪,又作遂求靜慮。除去眾生種種苦惱之禪。(八)此世他世樂禪,又作此世他世樂靜慮。使眾生得現在、未來一切快樂之禪。(九)清淨淨禪,又作清淨靜慮。已斷盡一切惑、業,得大菩提果,故謂清淨,此又分為世間清淨淨不味不染污禪乃至煩惱智障斷清淨淨禪等十種。以上唯菩薩所修之殊勝禪,稱九種大禪。 金光明最勝王經卷四最淨地陀羅尼品載,成就靜慮波羅蜜有五種相:(一)攝諸善法,令之不散。(二)常願解脫,不執著於二邊。(三)願得神通,成就眾生諸善根。(四)為淨法界,蠲除心垢。(五)為斷眾生煩惱根本。此乃說明菩薩修靜慮波羅蜜時所期之意願。 法華玄義卷四上載有世間禪、出世間禪、出世間上上禪等三種禪之說。其中,出世間上上禪復分為九種,即九種大禪。對此,出世間禪有如下四種禪:(一)觀禪,如九想、八背捨、八勝處、十一切處等,皆為觀禪。即觀照不淨等境相之禪。(二)練禪,如九次第定。即鍛鍊有漏之禪,使其成為清淨之無漏禪。(三)薰禪,如師子奮迅三昧。即薰熟諸禪,使其通達無礙、轉變自在。(四)修禪,又作頂禪。即順逆自在,超入超出之超越三昧。以上之四種禪簡稱為觀練薰修。其中以修禪為最殊勝。又同書將根本舊禪、練禪、薰禪、修禪、九大禪等比喻為乳乃至醍醐等五味,而稱四禪、四無量、四無色等三種禪定為十二門禪(天台宗僅言「味等至」為十二門禪)。此十二門禪為世間禪中之根本味禪;對此,天台宗以六妙門、十六特勝、通明禪(又作通明觀、通明觀禪。通觀息、色、心三者,使之明淨,又得六通與三明之四禪、四無色、滅盡定等九者)為世間之根本淨禪。 大乘入楞伽經卷三集一切法品謂,禪分四種:(一)聲聞悟「人無我」之理,所修之「愚夫所行禪」。(二)菩薩悟「法無我」之理,而觀察其義之「觀察義禪」。(三)超越思慮及分別,心不起作用,立即如實悟真如之「攀緣真如禪」。(四)入如來之菩提,為眾生而顯示其不可思議作用之「諸如來禪」等。此外,華嚴宗五祖圭峰宗密(780~841)之禪源諸詮集都序卷上載,禪可分為外道禪、凡夫禪、小乘禪、大乘禪、最上上禪等五種。注維摩詰經卷九舉鳩摩羅什之說,謂禪有大乘禪、小乘禪、外道禪三種。 中國各宗派均各依其教理而修禪定,另亦有行菩提達磨所傳之禪。後者係源於楞伽經等之思想,主張「教外別傳,不立文字」;其宗旨在於闡揚經典以外,釋尊以來以心傳心之法。意即不依經典文字,專以坐禪及棒喝等方法,令眾生悟其本來面目。此即禪傳入中國後所成立之禪宗。唐代有牛頭禪、北宗禪、南宗禪等流派;其後,南宗禪曾盛極一時。至臨濟、曹洞等宗,則各有其獨特之宗風。依此,宗密分唐代之禪宗為三派(禪三宗):(一)麽息妄修心宗,謂不顧外境,藉觀內心,以滅除妄念之宗。(二)泯絕無寄宗,主張凡聖等一切法如夢如幻,而達於「無」之智亦不可得,故心無所寄,而本來為無;體達此理,即得解脫。(三)直顯心性宗,體達一切現象之空、有悉為真如本性之宗。 又宗密自教禪一致之立場,而主張菩提達磨所傳之禪為最上上禪,或稱如來清淨禪。但主張教外別傳之禪門祖師認為稱呼達磨所傳之禪為如來禪並不適當。蓋自中唐以降,達磨禪為祖師傳祖師之禪,依之則可謂祖師禪;又稱為一味禪,意為純粹之禪。而將宗密所立,貶為如來禪、五味禪。又祖師禪之徒,將諸善萬行悉貶斥為有相,然亦因此產生反動思想,而有事理雙修、禪淨共行之主張。 禪宗各派有互評宗風者,如臨濟大慧宗杲批評曹洞宏智正覺固守默念不動之禪風,缺乏活潑銳利之作用,乃為一種默照禪;而宏智則批評宗杲之禪風為滯於公案工夫之看話禪。宋末時,以坐禪期待開悟之待悟禪盛行,然宏智及日本之永平道元均教誡此風,認為坐禪即為佛行,乃是第一義。又如木頭愚癡坐禪,唯默然而坐,心地未開者,被評為癡禪。〔道行般若經卷二、六度集經卷七、六十華嚴卷三十八、大智度論卷十七、瑜伽師地論卷十二、卷六十三、俱舍論卷二十八、摩訶止觀卷九上、卷九下、卷十上、敕修百丈清規卷四大眾章、宗鏡錄卷三十六、萬善同歸集卷一、卷二、往生集卷下〕(參閱「四禪」1843、「如來禪」2360、「定」3171)
; Son (K), Meditation, Ch'an (C), Zen (J), Dhyāna (S), Jhāna (P)Viết tắt của từ Zenna hay Zenno, lối phiên âm của người Nhật dùng cho từ Ch'anna (hay Ch'an) của Trung quốc. Từ Ch'an lại phiên âm từ tiếng Phạn là dhyana.
; To level a place for an altar, to sacrifice to the hills and mountains; to abdicate. Adopted by Buddhists for dhyàna thiền na, i.e. meditation, abstraction, trance. Dhyàna is "meditation, thought, reflection, especially profound and abstract religious contemplation". It was intp. as "getting rid of evil" , etc., later as tĩnh lự quiet meditation. It is a form of Định but that word is more closely allied with samàdhi.
; Jhana (p)—Dhyana (skt)—Tịnh lự hay đình chỉ các tư tưởng khác, chỉ chuyên chú suy nghĩ vào một cảnh)—To meditate—To enter into meditation. Những lời Phật dạy về “Thiền” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Dhyana” in the Dharmapada Sutra: 1) Tu Du-già thì trí phát, bỏ Du-già thì tuệ tiêu. Biết rõ hay lẽ này thế nào là đắc thất, rồi nỗ lực thực hành, sẽ tăng trưởng thêm trí tuệ—From meditation arises wisdom. Lack of meditation wisdom is gone. One who knows this twofold road of gain and loss, will conduct himself to increase his wisdom (Dharmapada 282). 2) Gìn giữ tay chân và ngôn ngữ, gìn giữ cái đầu cao, tâm mến thích thiền định, riêng ở một mình, thanh tịnh và tự biết đầy đủ, ấy là bậc Tỳ kheo—He who controls his hands and legs; he who controls his speech; and in the highest, he who delights in meditation; he who is alone, serene and contented with himself. He is truly called a Bhikhshu (Dharmapada 362). 3) Này các Tỳ Kheo, hãy mau tu thiền định! Chớ buông lung, chớ mê hoặc theo dục ái. Đừng đợi đến khi nuốt hườn sắt nóng, mới ăn năn than thở—Meditate monk! Meditate! Be not heedless. Do not let your mind whirl on sensual pleasures. Don't wait until you swallow a red-hot iron ball, then cry, “This is sorrow!” (Dharmapada 371). 4) Ai nhập vào thiền định, an trụ chỗ ly trần, sự tu hành viên mãn, phiền não lậu dứt sạch, chứng cảnh giới tối cao, Ta gọi họ là Bà-la-môn—He who is meditative, stainless and secluded; he who has done his duty and is free from afflictions; he who has attained the highest goal, I call him a Brahmana (Dharmapada 386). ** For more information, please see Thiền Định and Thiền Na.
; (禪) Phạm: Dhyàna. Pàli:Jhàna. Cũng gọi Thiền na, Đà diễn na, Trì a na.Hán dịch: Tĩnh lự, Tư duy tu tập, Khí ác, Công đức tùng lâm. Chỉ cho trạng thái định tuệ đồng đều, tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó, rất vắng lặng để tư duy một cách sâu sắc, rõ ràng. Thiền là pháp tu chung cho cả Đại thừa, Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu... nhưng mục đích đạt đến và đối tượng tư duy thì đều khác nhau. Thiền và các thứ định khác gọi chung là Thiền định; cũng có thuyết cho Thiền là 1 loại định, cho nên gọi tu thiền trầm tư là Thiền tư. Cương yếu của việc tu hành Phật đạo là tam học giới, định, tuệ, giữ giới thanh tịnh mới có được sự vắng lặng của thiền định; có được sự vắng lặng của thiền định thì chân trí mới khai phát. Vì thiền định là phương pháp tu hành của Phật giáo, cho nên các kinh luận của Đại thừa cũng như của Tiểu thừa, đều có nói rõ và chủng loại Thiền cũng rất nhiều. Trong kinh A hàm căn cứ vào việc có hay không có Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc(tìm kiếm, dò xét, mừng rỡ, vui vẻ)mà chia Thiền làm 4 loại: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Tứ thiền thiên của cõi Sắc là nơi những người tu Tứ thiền sẽ sinh đến; Tứ thiền được tu để cầu sinh về Tứ thiền Thiên gọi là Định tĩnh lự; còn Tứ thiền khi sinh ra đã có, được một cách tự nhiên thì gọi là Sinh tĩnh lự. Lại nữa, Hữu lậu tĩnh lự và Vô lậu tĩnh lự cùng tu lẫn lộn thì gọi là Tạp tu tĩnh lự, luận Câu xá quyển 24 chủ trương đây là pháp tu của A la hán hoặc quả vị Bất hoàn. Trong Đạithừathì Thiền là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật, tức Thiền ba la mật(Thiền định ba la mật, Tĩnh lự ba la mật). Thiền là pháp Bồ tát tu để chứng được thực trí Bát nhã hoặc thần thông. Về tướng tu Thiền ba la mật của Bồ tát và các loại tĩnh lự khác nhau, ta có thể thấy trong các kinh luận, như theo kinh Bồ tát địa trì quyển 6 và luận Du già sư địa quyển 43 thì Thiền ba la mật có 9 tướng sau đây: 1. Tự tính thiền(cũng gọi Tự tính tĩnh lự): Chỉ cho tự tính của tĩnh lự, tứcTâm nhất cảnh tính trong đó tâm hoàn toàn tập trung vào 1 đối tượng duy nhất; hoặc chỉ cho Thiền do quán xét tự tính của tâm mà đạt được. 2. Nhất thiết thiền(cũng gọi Nhất thiết tĩnh lự): Chỉ cho Thiền thu nhiếp hết thảy pháp tự hành hóa tha. 3. Nan thiền(cũng gọi Nan hành tĩnh lự): Loại Thiền khó tu.Vì muốn làm lợi ích cho vô lượng hữu tình mà bỏ niềm vui thiền định, sinh lại cõi Dục, cho đến y chỉ tĩnh lự để chứng ngộvô thượng. 4. Nhất thiết môn thiền(cũng gọi Nhất thiết môn tĩnh lự): Môn là cửa ra vào. Tất cả thiền định đều dùng 4 loạiThiền này làm cửa, từ đó ra và vào. 5. Thiệnnhân thiền(cũng gọi Thiện sĩ tĩnh lự): Thiền không đắm trước niềm vui thiền định, đi đôi với 4 tâm vô lượng. Loại thiền này do các chúng sinh có thiện căn thù thắng tu hành nên gọi là Thiện nhân thiền. 6. Nhất thiết hạnh thiền(cũng gọi Nhất thiết chủng tĩnh lự): Thiền thu nhiếp hết thảy hạnh Đại thừa, cho nên gọi là Nhất thiết hạnh thiền. Thiền này có 13 loại là Thiện thiền, Vô kí hóa hóa thiền, Chỉ phần thiền, Quán phần thiền, Tự tha lợi thiền, Chính niệm thiền, Xuất sinh thần thông lực công đức thiền, Danh duyên thiền, Nghĩa duyên thiền, Chỉ tướng duyên thiền, Cử tướng duyên thiền, Xả tướng duyên thiền và Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền. 7. Trừ phiền não thiền(cũng gọi Toại cầu tĩnh lự): Thiền diệt trừ các thứ khổ não của chúng sinh. 8. Thử thế tha thế lạc thiền(cũng gọi Thử thế tha thế lạc tĩnh lự): Thiền mang lại sự khoái lạc cho tất cả chúng sinh trong hiện tại và vị lai. 9. Thanh tịnh tịnh thiền (cũng gọi Thanh tịnh tĩnh lự): Đã dứt hết tất cả hoặc, nghiệp, được quả đại Bồ đề, cho nên gọi là thanh tịnh. Thiền này lại được chia ra làm10 loại như Thiền thế gian thanh tịnh tịnh bất vị bất nhiễm ô, cho đến Thiền phiền não trí chướng đoạn thanh tịnh tịnh... Chín loại thiền nói trên chỉ là Thiền thù thắng do các Bồ tát tu hành, nên gọi là Cửu chủng đại thiền. Theo phẩm Tối tịnh địa đà la ni trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 4 thì thành tựu tĩnh lự Ba la mật có 5 tướng, đó là: 1. Nhiếp các thiện pháp, không để cho tán thất. 2. Thường nguyện giải thoát, không chấp trước 2 bên. 3. Nguyện được thần thông, thành tựu các căn lành cho chúng sinh. 4. Vì làm cho pháp giới thanh tịnh nên diệt trừ tâm cấu. 5. Diệt trừ phiền não căn bản của chúng sinh.Trên đây là nói rõ các ý nguyện mong cầu của Bồ tát khi tu tĩnh lự Ba la mật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 thượng có nói về 3 thứ Thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền, trong đó, Xuất thế gian thượng thượng thiền lại được chia làm 9 thứ, tức là Cửu chủng đại thiền. Đối lại, Xuất thế gian thiền có 4 thứ sau đây:1. Quán thiền: Như Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... đều là Quán thiền. Tức làThiền quán chiếu các cảnh tướng bất tịnh. 2. Luyện thiền: Như Cửu thứ đệ định. Tức rèn luyện thiền Hữu lậu khiến trở thành thiền Vô lậu. 3. Huân thiền: Như tam muội Sư tử phấn tấn. Tức hun đúc cácThiền, khiến thông suốt vô ngại, chuyển biến tự tại. 4. Tu thiền(cũng gọi Đính thiền): Tức xuôi ngược tự tại, tam muội siêu việt vượt vào vượt ra. Bốn thứ Thiền trên đây gọi tắt là Quán luyện huân tu, trong đó Tu thiền là thù thắng nhất. Cũng trong Pháp hoa huyền nghĩa còn ví dụ Căn bản cựu thiền, Luyện thiền, Huân thiền, Tu thiền, Cửu đại thiền với 5 vị(từ sữa cho đến đề hồ) và gọi 3 loại thiền định là Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ vô sắc là Thập nhị môn thiền (tông Thiên thai chỉ gọi Vị đẳng chí là Thập nhị môn thiền). Thập nhị môn thiền này là Căn bản vị thiền trong Thế gian thiền. Đối lại, tông Thiên thai lấy Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền(cũng gọi Thông minh quán, Thông minh quán thiền. Tức quán chung 3 thứ hơi thở, sắc, tâm làm cho chúng sáng suốt, thanh tịnh, lại được 9 thứ gồm 4Thiền, 4Vô sắc, Diệt tận định của Lục thông và Tam minh) làm Căn bản tịnh thiền của thế gian. Phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3, chiaThiền làm 4 loại: 1. Ngu phu sở hành thiền: Thiền của hàng Thanh văn tu hành sau khi ngộ lí Nhân vô ngã. 2. Quán sát nghĩa thiền: Thiền của hàng Bồ tát tu hành sau khi ngộ lí Pháp vô ngã. 3. Phan duyên chân như thiền: Thiền siêu việt tư lự và phân biệt, tâm không khởi tác dụng, tức khắc ngộ chân như như thực.4. Chư Như lai thiền: Thiền ngộ nhập bồ đề của Như lai, vì chúng sinh mà hiển bày tác dụng không thể nghĩ bàn của loại Thiền này. Ngoài ra, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng của ngài Khuê phong Tông mật chia Thiền làm 5 loại là Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượng thượng thiền. Chú Duy ma cật kinh quyển 9 thì nêu thuyết của ngài Cưu ma la thập, chia Thiền làm 3 loại là Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Ngoại đạo thiền. Ở Trung quốc, trong các tông phái, mỗi tông đều y cứ theo giáo lí của tông mình mà tu Thiền định, nhưng cũng có tông phái tu Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền. LoạiThiền này bắt nguồn từ tư tưởng kinh Lăng già, chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự. Tông chỉ của Thiền này là dùng tâm truyền tâm từ đức Thích tôn đến nay, tức không y cứ vào chữ nghĩa trong kinh điển, chỉ chuyên dùng phương pháp ngồi thiền, đánh hét... làm cho chúng sinh tỏ ngộ bản lai diện mục của mình. Đó chính là Thiền tông được thành lập sau khi loại Thiền này được truyền đến Trung quốc. Ởđời Đường có các lưu phái thiền Ngưu đầu, thiền Bắc tông, thiền Nam tông...Về sau, thiền Nam tông từng cực thịnh một thời. Đến các tông Lâm tế, Tào động thì mỗi tông đều có tông phong đặc biệt riêng của mình. Ngài Tông mật căn cứ vào đó mà chia Thiền tông đời Đường làm 3 phái (Thiền tam tông), đó là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông này không quan tâm đến các cảnh tượng bên ngoài, mà chỉ chuyên quán xét nội tâm để diệt trừ các vọng niệm. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh đềunhư mộng như huyễn, đến cả trí Không cũng chẳng có, khiến cho tâm hoàn toàn dứt bặt (mẫn tuyệt), không một mảy may ý niệm gì (vô kí), vì xưa nay vốn không. Thấu suốt lí này liền được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông này trực ngộ được tính Không, Hữu của tất cả hiện tượng đều là bản tính chân như. Từ lập trường Giáo, Thiền nhất trí, ngài Tông mật chủ trương Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền là Tối thượng thượng thiền, hoặc gọi là Như lai thanhtịnhthiền. Nhưng các Tổ sư Thiền môn chủ trương truyền riêng ngoài giáo thì cho rằng gọi Thiền do Tổ Đạt ma truyền là Như lai thiền thì hoàn toàn không thích đáng. Bởi vì từ giữa đời Đường về sau, thiền Đạt ma là thiền Tổ sư truyền cho Tổ sư, y cứ vào đó thì có thể gọi là Tổ sư thiền, cũng gọi là Nhất vị thiền, ý nói là Thiền thuần túy, còn gọi chung Thiền do ngài Tông mật lập ra là Như lai thiền, Ngũ vị thiền. Ngoài ra, đồ chúng của Tổ sư thiền thường chê bai các hạnh thiện là hữu tướng, nhưng cũng do đó mà nảy sinh tư tưởng phản động, chủ trương sự lí song tu, Thiền tịnh cộng hành. Các phái Thiền tông có khi phê bình tông phong của nhau, như ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc tông Lâm tế phê bình Thiền phong cố thủ mặc niệm bất động của ngài Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động là thiếu tác dụng hoạt bát bén nhạy chỉ là một loại Mặc chiếu thiền. Còn ngài Hoành trí thì phê bình Thiền phong của ngài Tông cảo là loại Khán thoại thiền, bị kẹt trong công phu tham cứu công án. Cuối đời Tống, Đãi ngộ thiền lấy việc ngồi thiền mong được khai ngộ rất thịnh hành và các ngài Hoành trí cùng ngài Vĩnh bình Đạo nguyên người Nhật bản đều dạy loại Thiền này, cho rằng ngồi thiền là hạnh của Phật, là Đệ nhất nghĩa. Ngoài ra, ngồi thiền một cách ngu si như khúc gỗ, chỉ biết ngồi yên lặng mà tâm địa không mở tỏ thì bị chê là Si thiền. [X.kinh Đạo hành bát nhã Q.2; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản 60 quyển); luận Đại trí độ Q.17; luận Du già sư địa Q.12, 63; luận Câu xá Q.28; Ma ha chỉ quán Q.9, thượng, Q.9 hạ, Q.10 thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tông kính lục Q.36; Vạn thiện đồng qui tập Q.1, 2; Vãng sinh tập Q.hạ]. (xt. Tứ Thiền, Như Lai Thiền, Định).
thiền ba
6471請參閱 禪法要解 或 禪要經 禪定中之妄想。若將禪定譬喻為靜止不動之水,則禪定中之妄想即為波。〔性靈集卷九〕
; Những lượn sóng hay tư tưởng khuấy động trong lúc hành thiền—Disturbing waves, or thoughts during meditation.
; (禪波) Sóng thiền, chỉ cho vọng tưởng trong thiền định. Nếu ví dụ thiền định là mặt nước phẳng lặng bất động thì vọng tưởng là những gợn sóng lăn tăn. [X. Tính linh tập Q.9].
thiền ba la mật
Dhyàna-paramita (S). Perfection of the meditation.
; Dhyana-paramita (skt)—Thiền định là hành pháp giúp chúng sanh đạt hoàn toàn tịnh lự, vượt thoát sanh tử, đáo bỉ ngạn. Đây là Ba La Mật thứ năm trong Lục Độ Ba La Mật—The attainment of perfection in the mystic trance, crossing the shore of birth and death. This is the fifth of the six paramitas. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.
Thiền ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là Dhyna-pramit, gọi đủ là Thiền-na ba-la-mật, tức Thiền định ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật. Cũng gọi là Thiền độ.
Thiền ba-la-mật 禪波羅蜜
[ja] ゼンハラミッタ zen haramitta ||| See 禪波羅蜜. => (s: dhyāna-pāramitā). Pháp thiền đưa đến sự an tĩnh rốt ráo của tâm. Còn gọi là Tĩnh lự ba-la-mật 靜慮波羅蜜. Là một trong Lục độ ba-la-mật và Thập ba-la-mật.
thiền bardo
Bardo meditation Intermediate State Meditation.
thiền buổi tối
Yaza (J), Evening meditation.
thiền bí yếu pháp kinh
6478凡三卷。姚秦鳩摩羅什等譯。又稱禪經祕要法、禪祕要法。收於大正藏第十五冊。內容記述坐禪時,調心、調息、觀法等要法。
; (禪秘要法經) Cũng gọi Thiền kinh bí yếu pháp, Thiền bí yếu pháp. Kinh, 3 quyển, do ngài Cưu mala thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này nói về phương pháp trọng yếu được áp dụng trong lúc ngồi thiền như: Điều hòacác hoạt động tâm lí, điều hòahơi thở và cách quán xét...
Thiền bản
禪版; J: zemban;|Một tấm gỗ được các thiền sinh thời xưa sử dụng. Trong thời gian tu tập, Toạ thiền lâu dài, thiền sinh thường để thiền bản vào hai bàn tay và chống cằm lên để khỏi ngục đầu xuống ngủ.|Thiền bản cũng đóng một vai trò giáo hoá trong các Công án. Bích nham lục ghi lại trong công án 20 với tên »Thuý Vi thiền bản«:|Thiền sư Long Nha đến Thuý Vi Vô Học, hỏi: »Thế nào là Tây lai ý?« Thuý Vi bảo: »Ðưa thiền bản đây!« Long Nha đưa thiền bản, Thuý Vi cầm thiền bản đập Long Nha. Long Nha la lớn: »Ðánh thì cứ đánh, không có ý của Tổ sư sang.«
thiền bản
6470又作禪版、倚版。僧眾坐禪時,為消除疲勞,用以安手或靠身之板。一般長五十四公分,寬六公分,厚約一公分,上穿小圓孔。用繩貫穿小圓孔,縛於繩床後背之橫繩,使板面稍斜,可以倚身;安手時,則把禪板橫放在兩膝上。〔碧巖錄第二十則、洞上伽藍雜記禪版、禪林象器箋器物門〕
; Kyosaku (J), Zemban (J), Meditation plank.
; (禪板) Cũng gọiỶbản. Tấm bảng chúng tăng dùng để gác tay hoặc dựa lưng cho đỡ mệt lúc ngồi thiền. Thông thường thiền bản dài 54cm, rộng 6cm và dày khoảng 1cm, phía trên có khoan một lỗ tròn nhỏ. Dùng dây xỏ qua lỗ tròn, buộc vào sợi dây nằm ngang ở sau lưng giường dây để mặt bảng hơi nghiêng, có thể dựa lưng; lúc gác tay thì đặt thiền bản nằm ngang trên 2 đầu gối. [X. Bích nham lục tắc 20;Động thượng già lam tạp kí thiền bản; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền bắc tông
Beizongchan (C), HokushŪ-zen (J), Pei-tsung ch'an (C), Beizongchan (C).
Thiền bệnh
禪病; J: zenbyō, zembyō;|Có hai nghĩa chính: 1. Chỉ những cảnh giới kinh dị, Ma cảnh xuất hiện trong lúc hành giả Toạ thiền; 2. Sự bám chặt vào kinh nghiệm Kiến tính cũng như tâm thức chấp Không, để tâm trạng rơi vào hư vô. Một dạng nặng của thiền bệnh chính là sự phô trương quá đáng kinh nghiệm đạt được trên con đường tu tập và cho đó là một cái gì »đặc biệt.« Người mang những dấu hiệu của sự ngộ nhập (Ngộ tích) cũng được gọi là »mắc thiền bệnh.«
thiền bệnh
6478參禪者因未體得參禪之真訣而修禪所招致之各種疾病。禪病有身、心方面之各種疾病,特以陷入妄想妄見者為多。圓覺經(大一七‧九二○上):「大悲世尊!快說禪病,令諸大眾得未曾有,心意蕩然,獲大安隱。」又藏經中有治禪病祕要法二卷,詳述禪病之病相及其治法;首楞嚴經則載五蘊魔境,詳述各種身心上之禪病。〔續高僧傳卷十九釋法應章〕
; The ills of meditation, i.e. wandewing thoughts, illusions. The illusions and nervous troubles of the mystic.
; Đứng về lập trường Tổ Sư Thiền, phàm có thể chướng ngại sự kiến tánh đều gọi là thiền bệnh. Nói tóm lại, phàm có sở trụ gọi là bệnh, như trụ nơi có, không, động, tịnh, nói, nín… nói cách khác lọt vào tương đối đều là bệnh.
; Các loại bệnh gây ra bởi người tham thiền mà không hiểu rõ về thiền như vọng tưởng hay vọng kiến—The illnesses of meditation, i.e. wandering thoughts, illusions, or the illusions and nervous troubles of the mystic.
; (禪病) Những người tu thiền vì chưa hiểu rõ bí quyết chân thực của việc tham thiền nên thường phát sinh các thứ bệnh khi tu thiền. Thiền bệnh có 2 loại thân và tâm mà phần nhiều là rơi vào vọng tưởng vọng kiến. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Bạch đức Thế tôn đại bi! XinNgài hãy nói về Thiềnbệnh khiến cácđại chúng đượcđiều chưa từng có, tâm ý thanh tịnh, được sự an ổn hoàn toàn. Trong tạng kinh có bộ Trị thiền bệnh bí yếu pháp 2 quyển, nói rất rõ ràng về các triệu chứng của Thiền bệnh và những phương pháp chữa trị; kinh Thủ lăng nghiêm thì nêu ra cảnh ma 5 uẩn và trình bày rõ các chứng Thiền bệnh về mặt thân và tâm. [X. chương Thích pháp ứng trong Tục cao tăng truyện Q.19].
thiền chi
6465請參閱 清拙和尚禪居集 <一>比喻禪之智慧。[1] <二>枝,為支撐、輔助之意。指輔助坐禪之助力、助緣。鞞婆沙論卷十「四禪處」(大二八‧四八四中):「『何以故說禪枝?禪枝有何義?』答曰:『順義是枝義,助行義是枝義,攝義是枝義。』」 <三>指禪支。枝,為支之意。解脫道論卷四(大三二‧四一六上):「外行成就入初禪;禪枝,謂覺、觀、喜、樂,一心也。」 <四>指禪門之枝葉。比喻禪宗發展之繁茂旺盛;或指禪門之分派。續高僧傳卷三釋慧淨章(大五○‧四四三中):「而慧炬夙明,禪枝早茂。」
; 6454禪,禪定;支,部分之義。四禪定計十八支:初禪有覺、觀、喜、樂、一心等五支;第二禪有內淨、喜、樂、一心等四支;第三禪有捨、念、慧(智)、樂、一心等五支;第四禪有不苦不樂、捨、念、一心等四支。〔雜阿毘曇心論卷七〕(參閱「四禪」1843)
; (禪枝) I. Thiền Chi. Cành thiền, ví dụ trí tuệ của thiền. II. Thiền Chi. Chi là chống đỡ, là phụ trợ. Chỉ cho sự giúp sức, tạo điều kiện cho việc tọa thiền. Phần Tứ thiền xứ trong luận Tì bà sa quyển 10 (Đại 28, 484 trung) nói: Vì sao nói Thiền chi ? Thiền chi cónghĩagì ? Đáp: Thuận theo nghĩa là Chi, giúp sức nghĩa là Chi, nhiếp thủ nghĩa là Chi. III. Thiền Chi. Chỉ cho các chi phần của thiền, như giác, quán... Luận Giải thoát đạo quyển 4 (Đại 32, 416 thượng) nói: Thành tựu hạnh ngoài vào Sơ thiền; Thiền chi là giác, quán, hỉ, lạc và nhất tâm. IV. Thiền Chi. Chỉ cho các nghành, dòng trong Thiền môn, tức ví dụ sự đông đúc, thịnh vượng trong sự phát triển của Thiền tông; hoặc chỉ cho sự phân phái trong Thiền môn. Chương Thích tuệ tịnh trong Tục cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 443 trung) nói: Đuốc tuệ vốn sáng soi, Thiền chi sớm xanh tốt.
; (禪支) Thiền làthiền định; Chi là chi phần. Bốn thiền định có tất cả là 18 chi; Sơ thiền gồm 5 chi: Giác, quán, hỉ, lạc và nhất tâm; Nhị thiền gồm 4 chi: Nội tịnh, hỉ, lạc, và nhất tâm; Tam thiền gồm 5 chi: Xả, niệm, tuệ(trí), lạc và nhất tâm; Tứ thiền gồm 4 chi: Bất khổ bất lạc, xả, niệm, và nhất tâm.[X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.7]. (xt. Tứ Thiền).
thiền chỉ
Serenity meditation.
thiền chứng
Xem Đẳng chí.
thiền cuồng
Mad Zen—See Cuồng Thiền.
thiền các
6481<一>禪宗之寺院。梁高僧傳卷三曇摩蜜多章(大五○‧三四二下):「以宋元嘉元年,展轉至蜀,俄而出峽止荊州,於長沙寺造立禪閣。」 <二>又作禪閤。日本攝政、關白入佛門者,稱為禪閣。又稱禪定殿下。〔初祖道元禪師和尚行錄〕
; (禪閣) I. Thiền các. Gác thiền, tức chỉ cho chùa viện của Thiền tông. Chương Đàm ma mật đa trong Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 342 hạ) nói: Vào niên hiệu Nguyên gianăm đầu đời Tống, sư (Đàm ma mật đa) đi dần đến đất Thục,không bao lâu ra khỏi khe núi, sư dừng lại ở Kinh châu, tạo lập Thiền các tại chùa Trường sa. II. Thiền Các. Cũng gọi Thiền cáp(cửa nách). Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tại Nhật bản, các vị quan Nhiếp chính hay Quan bạch vào chùa xuất gia thì được gọi là Thiền các, hoặc gọi là Thiền điện hạ. [X. Sơ tổ Đạo nguyên thiền sư hòa thượng hành lục].
thiền cân
6454禪僧所被之頭巾。又稱頭袖。畫像中維摩居士所被者即是。禪林象器箋服章門:「偈云:『頭戴禪巾居丈室,當機一默坐千差;文殊舉眾同聲讚,天女空中雨寶花。』」
; (禪巾) Cũng gọiĐầu tụ. Chỉ cho chiếc khăn của các vị Thiền tăng dùng để chít đầu. Chiếc khăn mà Cư sĩ Duy ma đội trong bức tượng vẽ chính là Thiền cân. Môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Kệ rằng: Đầu đội khăn thiền ngồi phương trượng.Đương cơ im lặng khác nghìn trùng; Văn thù cử chúng cùng khen ngợi, Thiên nữ tung hoa giữa cõi không.
thiền cúc
6479又作禪鞠。即毛毬(球)。坐禪中如有瞌睡者,則用禪?投擲之,以資警戒令覺。十誦律卷四十(大二三‧二八九上):「諸比丘故睡,共相謂言:『佛聽我等以毱擲者善。』是事白佛,佛言:『聽以毱擲,擲已後日還歸。』後日諸比丘不知與誰。佛言:『歸本擲主。若擲主不在,與然燈者;然燈者不在,與執作者;執作者不在,應著堂中央地覆上。(中略)有五法以毱擲他:一者憐愍,二者不惱他,三者睡,四者頭倚壁,五者舒腳。』」釋氏要覽卷下(大五四‧二九七中):「毛毬也,有睡者,擲之令覺。」〔大智度論卷九十一、四分律刪繁補闕行事鈔卷下二、四分律行事鈔資持記卷下二、法苑珠林卷三十二〕
; (禪毱) Tức quả cầu lông. Nếu người tọa thiền mà ngủ gật thì bị némbằngquả cầu lông cho tỉnh ngủ. Theo luật Thập tụng quyển 40 thì có 15 trường hợp được ném cầu lông vào người khác: Một làvìthương xót, hai là không để người ấy làm não người khác, ba là ngủ gật, bốn là dựa đầu vào vách, năm là duỗi chân. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Cầu lông dùng để ném người ngũ gật khiến họ tỉnh ngủ. [X. luận Đại trí độ Q.91; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 2; Pháp uyển châu lâm Q.32].
thiền cư
A meditation abode; to dwell in meditation; a hermitage; a hermit monk.
; 1) Một nơi để tu tập thiền định: A meditation abode—See Thiền Đường. 2) Vào Thiền: To dwell in meditation. 3) Thiền Tăng: A hermit monk.
thiền cầu
Quả cầu lông dùng để ném đánh thức người tu thiền ngủ gật (trong Luật Thập Tụng, Đức Phật dạy: “Có thầy tu ngủ gật trong lúc tọa thiền, hãy lấy nước gội đầu. Nếu cứ ngủ gật nữa thì lấy quả cầu lông mà ném. Nếu vẫn cứ còn ngủ gật thì lấy Thiền trượng mà đánh)—A ball of hair or feather used to throw at and awaken those who fell asleep during meditation.
thiền du
6479(?~1561)日本臨濟宗僧。京都人,俗姓源。字龜年。幼年出家,禮特芳和尚剃髮受具足戒,偏遊諸山,親近建仁寺桂月舟、瑾雪嶺二師。後依大休禪師悟臨濟心法,奉敕住持妙心寺。後奈良天皇崇仰其道化,屢召入宮問法,賜號「照天祖鑑國師」。晚年隱居退藏院。〔延寶傳燈錄卷三十一、本朝高僧傳卷四十四〕
thiền duyệt
6477入於禪定者,其心愉悅自適之謂。如華嚴經淨行品(大九‧四三二中):「若嚥食時,當願眾生,禪悅為食,法喜充滿。」維摩經方便品(大一四‧五三九上):「現有眷屬,常樂遠離。雖服寶飾,而以相好嚴身;雖復飲食,而以禪悅為味。」
; Joy of the mystic trance; joy derived from meditation.
; Tâm thần khoan khoái vui thích của người nhập vào thiền định—Joy of the mystic trance.
; (禪悅) Niềm vui trongthiền định. Người vào thiền định, tâm được tự tại, an vui. Phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm (Đại 9, 432 trung) nói: Nếu khi thụ trai, nên nguyện cho chúng sinh thiền duyệt là thức ăn, tràn đầy pháp hỉ. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 thượng) nói: Hiện có quyến thuộc, thường ưa xa lìa; tuy mặc đồ trang sức quí giá nhưng dùng tướng hảo nghiêm thân; tuy vẫn ăn uống nhưng lấy thiền duyệt làm vị.
thiền duyệt thực
6477二食之一,九食之一。入於禪定,身心適悅,能長養肉體,資益慧命,一如食物之能長養肉體,存續精神,故稱禪悅食。法華經五百弟子受記品(大九‧二七下):「其國眾生常以二食,一者法喜食,二者禪悅食。」心地觀經卷五(大三‧三一四下):「唯有法喜禪悅食,乃是聖賢所食者。」(參閱「九食」143、「二食」206)
; Nourishing powers from meditation.
; Sức mạnh nuôi dưỡng tâm thức của Thiền, khi nhập vào thiền định thì thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái giúp trưởng dưỡng thân thể và huệ mạng—The nourishing powers and the joy of the mystic trance of Zen.
; (禪悅食) Thức ăn bằng niềm vui thiền định, 1 trong 2 thứ thức ăn, 1 trong 9 thứ thức ăn.Người vào thiền định, thân tâm an vui tự tại, có công năng trưởng dưỡng nhục thể, giúp ích tuệ mệnh, giống như thực vật có công năng nuôi lớn thể xác, duy trì tinh thần, cho nên gọi là Thiền duyệt thực. Phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 27 hạ) nói: Chúng sinh ở cõi nước ấy thường dùng 2 thứ thức ăn: Một là pháp hỉ thực, hai là thiền duyệt thực. Tức ăn bằng niềm vui pháp và niềm vui thiền định. KinhTâm địaquánquyển 5 (Đại 3, 314 hạ) nói: Chỉ có pháp hỉ thiền duyệt thực là thức ăn của các bậc Thánh hiền. (xt. Cửu Thực, Nhị Thực).
Thiền duyệt 禪悦
[ja] ゼンエツ zen'etsu ||| The bliss one experiences in meditation. => Niềm vui và an lạc hưởng được khi tu tập thiền.
thiền gia
Thiền Tông—Thiền Môn. 1) Người tu thiền: Meditator. 2) Phật Tử: Buddhist. 3) Thiền Tông: The Ch'an Sect.
thiền gia cao đài quý thủ
6476請參閱 禪要經 [1]全一卷。朝鮮清虛休靜撰。收於卍續藏第一一二冊。書中載明參禪工夫之要旨,並附略解。其內容係論述一物不生不滅、心佛眾生、教禪二途、祖師公案、話頭工夫、無生空、戒定慧、布施持戒忍辱精進、持咒禮拜念佛、聽經看經、出家修道、無常、懺悔、臨終、宗師、五家家風、臨濟宗旨等八十餘條,並附評語或偈頌。全書所引有關經說及諸師之說極多,例如虛空藏經、思益經,涅槃經、梵網經、因果經、傳燈錄、莊子等諸典,及六祖、神會、永嘉、仰山、雲門、百丈、黃檗等諸師之說。本書卷首有明代嘉靖四十三年(1564)之自序,卷末則有萬曆七年(1579)弟子松雲惟政之跋。本書被視為休靜之代表作,為朝鮮習禪者所不可缺少之入門書。休靜之遺作,除本書外,另有儒家龜鑑與道家龜鑑,與本書合稱三家龜鑑。〔禪籍志卷下、李朝佛教(高橋亨)〕
thiền gia qui giám
(禪家龜鑑) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng người Triều tiên là ngài Thanh hư Hưu tĩnh soạn, được thu vào Vạn tụctạngtập 112. Sách này nói về yếu chỉ của công phu tham thiền và có phụ thêm phần lược giải. Nội dung trình bày về hơn 80 điều mục như: Nhất vật bất sinh bất diệt, Tâm Phật chúng sinh, Thiền giáo nhị đồ, Tổ sư công án, Thoại đầu công phu, Vô sinh không, Giới định tuệ, Bố thí trì giới nhẫn nhục tinh tiến, Trì chú lễ bái niệm Phật, Thính kinh khán kinh; Xuất gia tu đạo, Vô thường, Sám hối, Lâm chung, Tông sư, Ngũ gia gia phong, Lâm tế tông chỉ... Toàn sách có trưng dẫn các kinh và rất nhiều luận thuyết của các nhà; chẳng hạn như kinh Hư không tạng, kinh Tư ích, kinh Niết bàn, kinh Phạm võng, kinh Nhân quả, Truyền đăng lục, các sách của Trang tử và thuyết của các Thiền sư: Lục tổ, Thần hội, Vĩnh gia, Ngưỡng sơn, Vân môn, Bách trượng, Hoàng bá... Ở đầu quyển có lời tựa của soạn giả được viết vào năm Gia tĩnh 43 (1564) đời Minh, ở cuối quyển thì có lời bạt của đệ tử soạn giả là Tùng vân Duy chính được viết vào năm Vạn lịch thứ 7 (1579) đời Minh. Sách này được xem là tác phẩm tiêu biểu của ngài Hưu tĩnh, là sách nhập môn không thể thiếu đối với những người tu Thiền tạiTriều tiên. Ngoài ra, ngài Hưu tĩnh còn soạn Nho gia qui giám, Đạo gia qui giám, cùng với Thiền gia qui giám được gọi chung là Tam Gia Qui Giám. [X. Thiền tịch chí; Lí triều Phật giáo (Cao kiều hanh)].
Thiền Gia Quy Giám 禪家龜鑑
[ja] ゼンケキカン Zenke kikan ||| Sŏn'ga kwigam by Hyujŏng 休靜; HPC 7.634c-646a. A collection of teachings and aphorisms from classical Chan and pre-Chan literature offering instruction on Chan practice, along with commentary by Hyujŏng. An important practice manual in Korean Sŏn Buddhism. => Zenke kikan (j); Sŏn'ga kwigam (k); Của ngài Hưu Tịnh (k: Hyujŏng 休靜). Sưu tập những lời dạy và chỉ thị từ các kinh điển Thiền và các tác phẩm văn học trước Thiền tông Cao ly , kèm theo chú giải của ngài Hưu Tịnh nhằm đáp ứng cho việc tu thiền. Đây là cuốn cẩm nang thực hành rất quan trọng trong Phật giáo Thiền tông Cao Ly.
thiền gian
6479介於初禪天根本定與二禪天近分定中間之定。得此中間定之觀、喜、樂、一心等四支之禪定,稱為「禪間無覺有觀定」;得第四禪之不苦不樂、捨、念、一心等四支之禪定,則稱為「禪間無覺無觀定」。〔舍利弗阿毘曇論卷十五、卷十六〕
; (禪間) Chỉ cho định Trung gian giữa định Căn bản của Sơ thiền thiên và định Cận phần của Nhị thiền thiên. Thiền định đạt được 4 chi quán, hỉ, lạc và nhất tâm của định Trung gian này thì được gọi là Định Thiền gian vô giác hữu quán; còn Thiền định đạt được 4 chi bất khổ bất lạc, xả, niệm và nhất tâm của Đệ tứ thiền thì gọi là Định Thiền gian vô giác vô quán. [X.luận Xá lợi phất a tì đàm Q.15, 16].
thiền giáo
6479<一>禪宗之教法。即闡揚禪之宗旨「直指人心,見性成佛」之教說。〔續高僧傳卷十六〕 <二>禪與教之並稱。即禪宗與教宗。指主張不立文字之禪宗與以學解為主之教宗二者。或三藏所詮之法門為教,教外別傳之宗旨為禪。〔三國佛法傳通緣起卷上〕
; The teaching of Thiền tông. Also thiền the esoteric tradition and giáo the teaching of the scriptures.
; 1) Giáo pháp nhà Thiền: Giáo thuyết xiển dương tông chỉ nhà Thiền (trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật)—The teaching of the Ch'an (Zen) sect. 2) Thiền và Giáo: Thiền Tông (bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền) và Giáo Tông (lấy học và hiểu làm chính yếu)—The esoteric tradition and the teaching of the scriptures.
; (禪教) I. Thiền Giáo. Giáo pháp của Thiền tông. Tức chỉ cho giáo thuyết phát huy yếu chỉ Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật của Thiền. [X. Tục cao tăng truyện Q.16] II. Thiền Giáo. Từ ngữ gọi chung Thiền và Giáo. Tức là Thiền tông và Giáo tông. Chỉ cho Thiền tông chủ trương bất lập văn tự và Giáo tông lấy học vấn làm cốt lõi. Hoặc chỉ cho pháp môn được thuyết minh trong 3 tạng là Giáo và tông chỉ được truyền riêng ngoài giáo là Thiền. [X. Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi Q.thượng].
thiền giới
6454禪門所傳之戒律。又稱達磨一心戒、達磨一乘戒、禪門大戒、禪門戒、佛祖正傳菩薩戒。即西天二十八祖次第相承遞傳之大乘菩薩戒。又曹洞宗以三歸依戒、三聚淨戒、十重禁戒等十六條為禪戒內容,故又稱十六條戒。 禪戒之由來,以梵網經為開端,具體內容則係根據達磨之一心戒文。據宋代宗賾之禪苑清規卷一受戒條載,參禪問道以戒律為先。我國唐代即有禪戒之說,宋代宗賾等復倡受戒之說;永明延壽亦倡導戒行,為四眾授菩薩戒;此皆為禪戒弘傳之證。 戒律原為一種道德規律,然於禪戒,又謂佛心即戒,而有佛心戒、佛性戒等稱,即以修習坐禪來持戒;若就此禪戒一致之義而言,禪戒並不意味禪宗之戒法。此外,禪定與戒律,或禪宗與律宗,皆併稱為禪戒。〔萬善同歸集卷六、永明自覺禪師自行錄、宋高僧傳卷八、沙彌律儀要略〕
; (禪戒) Cũng gọi Đạt ma nhất tâm giới, Đạt ma nhất thừa giới, Thiền môn đại giới, Thiền môn giới, Phật tổ chính truyền bồ tát giới. Chỉ cho giới luật do Thiền môn truyền, tức là giới Bồ tát Đại thừado 28 vị Tổ ở Ấn độ theo thứ tự trao truyền cho nhau. Còn tông Tào động thì lấy 3 giới Qui y, 3 giới Tụ tịnh và 10 giới Trọng cấm gồm 16 điều làm nội dung Thiền giới, cho nên cũng gọi là Thập lục điều giới. Thiền giới bắt nguồn từ kinh Phạm võng, nội dung cụ thể thì lấy Nhất tâm giới văn của Tổ Đạt ma làm căn cứ. Theo điều Thụ giới trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 của ngài Tông trách đời Tống thì tham thiền hỏi đạo lấy giới luật làm đầu. Vào đời Đường, Trung quốc đã có thuyết Thiền giới, ngài Tông trách đời Tống lại đề xướng thuyết thụ giới; ngài Vĩnh minh Diên thọ cũng đề xướng giới hạnh, truyền giới Bồ tát cho 4 chúng, đây đều là những bằng chứng về việc hoằng truyền Thiền giới.Giới luật vốn là 1 loại qui luật đạo đức, nhưng đối với Thiền giới lại chủ trương Phật tâm tức giới, nên mới có Phật tâm giới, Phật tính giới... tức lấy tu tập tọa thiền làm việc trì giới; nếu nói theo nghĩa Thiền giới nhất trí thì Thiền giới hoàn toàn không mang ý vị giới pháp của Thiền tông. Ngoài ra, Thiền định và Giới luật, hoặc Thiền tông và Giới luật đều gọi chung là Thiền giới.[X. Vạn thiện đồng qui tập Q.6; Vĩnh minh tự giác thiền sư tự hành lục; Tống cao tăng truyện Q.8; Sa di luật nghi yếu lược].
thiền hoà
6455禪和子、禪和者之略稱。即參禪者。禪關策進(大四八‧一一○三下):「兄弟開口便道:『我是禪和。』及問他:『如何是禪?』便東覷西覷,口如扁擔相似。」
thiền hoá
6454禪門之化導、教化。梁高僧傳卷十一釋玄高章(大五○‧三九七下):「燾舅陽平王社請高同還偽都,既達平城,大流禪化,偽太子拓跋晃事高為師。」〔蘭溪和尚行實〕
; (禪化) Sự hóa đạo, giáo hóa trong Thiền môn. Chương Thích huyền cao trong Lương cao tăng truyện quyển 11 (Đại 50, 397 hạ) nói: Đảo cữu Dương bình vương xã thỉnh ngài Huyền cao cùng về kinh đô nước Ngụy, sau khi đến Bình thành thì mở rộng Thiền hóa; Thái tử nước Ngụy là Thác bạt thờ ngài Huyền cao làmthầy. [X. Lan khê Hòa thượng hành thực].
thiền huệ
6481禪定與智慧。依此二者能攝一切之證行。無量壽經卷上(大一二‧二六六中):「以甚深禪慧,開導眾人。」〔止觀輔行傳弘決卷一〕
; Dhyāna-Prajā (S), Dhyana wisdom Thiền trí, Thiền định và trí huệ.
; Thiền dịnh và trí huệ (y vào hai món nầy thì có thể nhiếp hết thảy các hành chứng)—The mystic trance and wisdom.
; (禪慧) Thiền định và trí tuệ, nương nhờ 2 pháp này thì nhiếp được tất cả hành chứng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Dùng thiền tuệ sâu xa để mở đường cho mọi người. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1].
thiền hà
6470<一>印度尼連禪河之略稱。(參閱「尼連禪河」1891)[1] <二>即禪定。因禪定之水,能滅心火(煩惱),故喻之於河,而稱禪河。累積禪行,次第澄心,能消滅心火。傳述一心戒文卷下(大七四‧六五二下):「使長流法海,洗幽冥而不竭;永注禪河,滌煩籠而無盡。」
; The dhyàna river.
; 1) Thiền định được ví như dòng sông Thiền dập tắt lửa tâm: The dhyana river, i.e. the mystic trance like a river extinguishes the fires of the mind. 2) Sông Ni Liên Thiền chảy ngang qua Bồ Đề Đạo Tràng: The river Nairanjana (Niladyan), which flows past Gaya.
; (禪河) I. Thiền Hà. Gọi đủ:Ấn độ ni liên thiền hà. (xt. Ni Liên Thiền Hà). II. Thiền Hà. Chỉ chothiền định. Vì nước thiền định có nănglựcdiệt tắt lửa lòng(tức phiền não), cho nên ví dụ với sông mà gọi là Thiền hà. Tích lũy Thiền hạnh, lắng tâm dần dần có thể tiêu diệt lửa tâm. Truyền thuật nhất tâm giới văn quyển hạ (Đại 74, 652 hạ) nói: Biển pháp chảy hoài, cuốn trôi lưới vô minh mà không cạn; sông Thiền(Thiền hà) chảy mãi, nhận chìm lòng phiền não màkhôngkhô.
thiền hành
Cankramāna (S), Cankamana (P)Đi quanh một nơi theo một chiều nhất định, đi một cách thong thả để giữ cho thân tâm an tĩnh.
; The methods employed in meditation; the practices or discipline of Thiền tông. Zen sect.Walking meditation.
; Hành pháp tọa thiền hay hành nghi của thiền gia—The methods employed in meditation; the practices, or disciplines, of the Ch'an school.
Thiền hòa
(禪和): còn gọi là Thiền hòa tử (禪和子), Thiền hòa giả (禪和者); tức chỉ cho người tham Thiền. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20, phần Tổ Sư Cơ Duyên (祖師機緣), có đoạn: “Tằng đáo khiết trà khứ, vị đáo khiết trà khứ, Triệu Châu lão Thiền hòa, khẩu điềm tâm lí khổ (曾到喫茶去、未到喫茶去、趙州老禪和、口甜心裏苦, từng đến [bảo] uống trà đi, chưa đến [cũng bảo] uống trà đi, Triệu Châu lão Thiền sư, miệng ngọt trong tâm đắng).” Hay trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, bài Kết Hạ (結夏), lại có đoạn: “Nhất bách Thiền hòa tam thập châu, vô thằng tự phược vạn sơn đầu, thùy thị hộ thân thùy thị sát, bạch vân ảnh lí thiết thuyền phù (一百禪和三十州、無繩自縛萬山頭、誰是護身誰是殺、白雲影裏鐵船浮, một trăm Thiền tăng ba mươi châu, không thừng tự buộc vạn non đầu, ai kẻ hộ thân ai là giết, trắng mây trong bóng thuyền sắt trôi).”
thiền hòa
Thiền Hòa Giả—Thiền Hòa Tử—Bạn đồng tu thiền (lời xưng hô thân tình đạo vị)—Meditation-associates, or fellow monks.
thiền hòa giả
See Thiền Hòa.
thiền hòa tử
See Thiền Hòa.
thiền hóa
The transforming character of Thiền.
; Tánh chất chuyển hóa của Thiền—The transforming character of Ch'an.
Thiền Hải Thập Trân
(禪海十珍, Zenkaijicchin): 1 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈) nhà Minh biên tập, san hành năm thứ 26 (1687) niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh. Vi Lâm Đạo Bái—pháp từ của Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢)—đặc biệt soạn ra 10 thiên từ trong Thiền Hải Pháp Bảo (禪海法寶), ghi lời niêm vào trong cương tông và luận bình về yếu chỉ của chúng với mục đích làm sách gối đầu cho những người sơ tâm tham học. Mười thiên gồm: Thất Phật Truyền Pháp Kệ (七佛傳法偈), Nhập Đạo Tứ Hành (入道四行) của Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨), Tín Tâm Minh (信心銘) của Tam Tổ Tăng Xán (僧璨), Nhị Chủng Tam Muội (二種三昧) của Lục Tổ Huệ Năng (慧能), Chứng Đạo Ca (證道歌) của Vĩnh Gia (永嘉), Tham Đồng Khế (參同契) của Thạch Đầu (石頭), pháp ngữ của Lâm Tế (臨濟), Bảo Kính Tam Muội (寶鏡三昧) của Động Sơn (洞山), Thập Huyền Đàm (十玄談) của Đồng An (同安), và Cửu Đới (九帯) của Phù Sơn (浮山). Tác phẩm này được san hành tại Thánh Tiễn Đường (聖箭堂) ở Cổ Sơn (鼓山) và tại Nhật có bản san hành vào năm thứ 8 (1695) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿).
thiền hải thập trân
6478全一卷。全稱為霖禪師禪海十珍。明代僧為霖道霈編,清代康熙二十六年(1687)刊行。收於卍續藏第一二六冊。道霈摘錄七佛偈、初祖之「入道四行」、三祖之「信心銘」、六祖之「二種三昧」、永嘉之「證道歌」、石頭之「參同契」、臨濟之法語、洞山之「寶鏡三昧」、同安之「十玄談」、浮山之「九帶」等十種禪林法寶中之綱宗旨要,一一附論,以揭示學人參禪學道之標準。
; (禪海十珍) Gọi đủ: Vi lâm thiền sư thiền hải thập trân.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vi lâm Đạo bái biên tập vào đời Minh, được ấn hành vào năm Khang hi 26 (1687) đời Thanh và được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này trích lục cương tông chỉ yếu trong 10 loại pháp bảo của thiền lâm (Thiền hải thập trân): Thất Phật kệ, Nhập đạo tứ hành của Sơ tổ, Tín tâm minh của Tam tổ, Nhị chủng tam muội của Lục tổ, Chứng đạo ca của ngài Vĩnh gia, Tham đồng khế của ngài Thạch đầu, Pháp ngữ của ngài Lâm tế, Bảo kính tam muội của ngài Động sơn, Thập huyền đàm của ngài Đồng an và Cửu đới của ngài Phù sơn, mỗi loại đều có phụ thêm lời bàn để nêu rõ tiêu chuẩn cho người tham thiền học đạo. THIỀN HÒA Gọi đủ: Thiền hòa tử, Thiền hòa giả. Chỉ cho người tham thiền. Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1103 hạ) ghi: Anh em hễ mở miệng liền nói: Ta là Thiền hòa, nhưng nếubị người khác hỏi: Thế nào là Thiền? Thì trông đông, ngó tây, giống như kẻ vác biển, miệng chẳng biết nói gì.
thiền học
6481禪家之學,見性成道之法。即在文字言句上講禪或加以解釋之書。
; Zen study.
; (禪學) Chỉ cho sự học của Thiền gia, chính là pháp để thấy tính thành Phật. Tức những sách vở giảng về Thiền hoặc để giải thích thêm về mặt văn tự ngôn cú.
thiền học đại hệ
6481凡八卷。日本禪學大系編纂局編。明治四十三年至大正四年(1910~1915)刊行。本書係分經論、戒法、祖錄、清規、傳記、批判、雜等七部門,收錄有關於禪之代表性經錄等。
; (禪學大系) Tác phẩm, 8 quyển, do Thiền học đại hệ biên soạn cục của Nhật bảnbiênsoạn, được ấn hành từ năm Minh trị 43 đến năm Đại chính thứ 4 (1910-1915). Nội dung sách này chia làm 7 bộ môn: Kinh luận, Giới nhập, Tổ lục, Thanh qui, Truyện kí, Phê phán và Tạp, thu chép các kinh lục có tính đại biểu cho Thiền.
thiền khách
6474<一>指參禪者,並不限於禪僧,亦包括俗家參禪修行者。臨濟錄(大四七‧五○六上):「師云:『老和尚瞌睡作麽?』嚴云:『作家禪客,宛爾不同。』」 <二>禪寺中住持上堂說法時,由僧眾中選一辯才出眾者與住持問答,此開問者,稱為禪客。敕修百丈清規卷二上堂條(大四八‧一一一九中):「古之學者,蓋為決疑,故有問答。初不滯於語言,近日號名禪客,多昧因果,增長惡習,以為戲劇。」宋代以後,各禪剎皆置禪客一職,大剎置二人,小剎置一人。〔禪林象器箋職位門〕
; Zen guest.
; (禪客) I. Thiền Khách. Chỉ cho người tham thiền, nhưng không phải chỉ giới hạn ở Thiền tăng, mà cũng bao gồm cả những người tại gia tu hành tham thiền. Lâm tế lục (Đại 47, 506 thượng) ghi: Sư hỏi: Lão hòa thượng ngủ đấy à? - Nghiêm đáp: Làm trang Thiền khách rõ ràng chẳng giống. II. Thiền Khách. Trong các chùa viện Thiền tông, khi vị Trụ trì lên tòa giảng pháp, thì trong chúng tăng chọn lấy 1 vị có tài biện luận hơn người để cùng hỏi đáp với vị Trụ trì, người được tuyển chọn này gọi là Thiền khách. Điều Thướng đườngtrong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 trung) nói: Những người học thời xưa, vì để giải quyết các nghi vấn nên có hỏi đáp, ban đầu không bị vướng mắc vào ngôn ngữ. Nhưng thời gian gần đây, những người gọi là Thiền khách phần nhiều không rõ nhân quả, tăng thêm thói xấu, lấy việc vấn đáp làm trò vui đùa. Từ đời Tống về sau, các chùa Thiền tông đều đặt ra chức Thiền khách, chùa lớn 2 người, chùa nhỏ 1 người. [X.môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền khâm
6482禪僧自稱之詞,著禪衣之義。又指僧眾。
; (禪襟) Từ tự xưng của thiền tăng, nghĩa là người mặc áo nhà Thiền. Ngoài ra, từ ngữ này cũng chỉ cho chúng tăng.
thiền kinh tu hành phương tiện
Xem Đạt Ma Đa la thiền kinh.
thiền kệ
6478禪門善知識開示坐禪之方法與境界等,而以偈頌形式表現者。禪源諸詮集都序卷上之一(大四八‧三九九下):「教也者,諸佛菩薩所留經論也;禪也者,諸善知識所述句偈也。但佛經開張,羅大千八部之眾;禪偈撮略,就此方一類之機。羅眾則渀蕩難依,就機即指的易用。」
; (禪偈) Những câu kệ tụng do các thiện tri thức trong Thiền môn làm ra để chỉ bày phương pháp và cảnh giới tọa thiền. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1 (Đại 48, 399 hạ) nói: Giáo là do chư Phật và Bồ tát để lại; Thiền là những câu kệ do cácthiện tri thức soạn thuật. Nhưng kinh Phật thì mở rộng, bao trùm cả 8 bộ chúng trong cõi Đại thiên; còn Thiền kệ thì thu gọn, chỉ y cứ theo 1 loại căn cơ ở phương này(tức Trung quốc- ND). Bao trùm 8 chúng thì mông mênh khó dựa, còn thu gọn vào một căn cơ thì mục đích dễ đạt.
thiền luật
Thiền Tông và Luật Tông—The Ch'an and Vinaya sects, i.e. the Meditative and Disciplinary schools. ** For more information, please see Thiền Tông and Luật Tông.
Thiền lâm
(禪林): tên gọi khác của Thiền Viện (禪院), Thiền Tự (禪寺), Tùng Lâm (叢林); là đạo tràng chuyên tu tập Thiền pháp, là nơi học đồ, đồng đạo ở khắp nơi tập trung về, cùng nhau khích lệ, tinh tấn học đạo. Như trong bài Thiểm Châu Hoằng Nông Quận Ngũ Trương Tự Kinh Tạng Bi (陝州弘農郡五張寺經藏碑) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có đoạn: “Xuân viên liễu lộ, biến nhập Thiền lâm, tàm nguyệt tang tân, hồi thành Định thủy (春園柳路、變入禪林、蠶月桑津、迴成定水, vườn xuân đường liễu, nhập vào rừng Thiền, trăng tơ bến dâu, trở thành nước Định).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 lại có đoạn: “Bách Trượng Thanh Quy, thiên hạ Thiền lâm, tuân nhi hành chi (百丈清規、天下禪林、遵而行之, Bách Trượng Thanh Quy, các Thiền lâm trong thiên hạ, tuân theo mà thực hành).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 1, phần Thích Ca Sinh Nhật (釋迦生日), cũng có đoạn: “Thích Viêm Đế thanh hòa chi hầu, nãi Như Lai giáng đản chi thời, tường quang xán xán ái Thiền lâm, thụy ái thông thông lung Phạm vũ, kiền sư thành khổn, đặc triển hạ nghi (適炎帝清和之候、乃如來降誕之時、祥光燦燦靄禪林、瑞靄蔥蔥籠梵宇、虔攄誠悃、特展賀儀, đúng Viêm Đế thanh hòa gặp lúc, là Như Lai khánh đản thời kỳ, hào quang rực rỡ ngút Thiền lâm, điềm lành lung linh bao Phạm vũ, cúi thỏa tấc thành, kính bày nghi cúng).” Một số thư tịch liên quan đến Thiền lâm như Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299), 20 quyển, do Đạo Thái (道泰), Trí Cảnh (智境) nhà Nguyên biên tập; Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266), 3 quyển, do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262), 1 quyển, do Tỳ Kheo Đại Kiến (大建) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1560), 30 quyển, do Huệ Hồng Giác Phạm (慧洪覺範, 1071-1128) nhà Tống soạn; Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Vĩnh Giác Nguyên Hiền (石鼓主人永覺元賢, 1578-1657) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250), 10 quyển, do Tỳ Kheo Nhất Hàm (壹咸) nhà Nguyên biên soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寶訓合註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263), 4 quyển, do Trương Văn Gia (張文嘉) hiệu đính, Trương Văn Hiến (張文憲) nhà Thanh tham duyệt; Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562), 15 quyển, do Sa Môn Tự Dung (自融) ở Tử Thác Sơn (紫籜山) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Thuận Chu (禪林寶訓順硃, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1265), 4 quyển, do Thánh Khả Đức Ngọc (聖可德玉) nhà Thanh soạn, v.v.
; 禪林; J: zenrin;|Một tên khác của Thiền viện, cũng được dùng chỉ giới thiền.
thiền lâm
6465<一>即禪院、禪寺。又稱叢林。為禪法之修行道場;即諸方學徒、同道參集,互相激勵學道之處。譬喻修行者眾,多如林樹,故稱為林。 <二>即禪宗、禪門。
; Zenrin (J), A forest for meditation.
; Grove of meditation, i.e. a monastery. Monasteries are numerous as trees in a forest.
; 1) Rừng Thiền: Meditation forest or grove of meditation. 2) Tự viện hay Thiền viện: Pagoda or a monastery. 3) Tự viện hay Thiền viện nhiều như cây trên rừng: Monasteries as numerous as trees in a forest.
; (禪林) I. Thiền Lâm. Cũng gọi Tùng lâm. Tức làthiền viện, thiền tự, là đạo tràng tu hànhthiền pháp; là nơi mà người học từ khắp nơi tụhọpvề để khích lệ nhau tham thiền, học đạo. Ví dụ người về chùa viện tu hành, nhiều như cây trong rừng, nên gọi là Lâm. II. Thiền Lâm. Tức chỉ cho Thiền tông, Thiền môn. THIỀN LÂM BẢO HUẤN Cũng gọi Thiền môn bảo huấn, Thiền môn bảo huấn tập. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện tịnh biên soạn lại vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung thu chép các di ngữ giáo huấn của các Thiền sư đời Tống, từ ngài Hoàng long Huệ nam đời thứ 11 đến ngài Phật chiếu Chuyết am đời thứ 16, thuộc hệ thống Nam nhạc, gồm 300 thiên, cuối mỗi thiên đềucóghi rõ xuất xứ. Sách này đầu tiên do 2 Thiền sư Diệu hỉ Phổ giác và Trúc am Sĩ khuê thu chép ở chùa Vân môn tại tỉnh Giang tây, trải qua nhiều năm bị thất tán, đến khoảng năm Thuần hi (1174-1189) đời Nam Tống, ngài Tịnh thiện được 1 vị Lão tăng là Tổ an tặng cho bộ sách này. Nhưng rất tiếc vì quá lâu năm, đã bị mọt làm tổn hại, đầu đuôi thiếu sót, nên ngài Tịnh thiện phải sưu tầm trong các ngữ lục, truyện kí thêm vào để biên soạn lại, tức là bộ Thiền lâm bảo huấn hiện hành. Sách này có các bộ chú thích như Thiền lâm bảo huấn hợp chú 4 quyển, do Trương văn gia kiểm xét đính chính lại, Thiền lâm bảo huấn niêm tụng 1 quyển, do ngài Hành thịnh soạn, Thiền lâm bảo huấn bút thuyết 3 quyển, do ngài Trí tường soạn... Sách này xưa nay rất thịnh hành trong Thiền lâm, thường được xếp vào loại sách nhập môn cho các sa di mới học.[X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Thiền tịch chí Q.hạ]. THIỀN LÂM BỊ DỤNG THANH QUI Cũng gọi Bị dụng thanh qui, Trạch sơn thanh qui, Chí đại thanh qui, Bị qui.Thanh qui, 10 quyển, do ngài Trạch sơn Nhất hàm biên soạn, hoàn thành vào năm Chí đại thứ 4 (1311) đời vua Vũ tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 112.Nội dung sách này gồm có 169 hạng mục nói về các nghi qui, lễ pháp... trong Thiền lâm xưa nay như: Thánh tiết thăng tòa phúng kinh, Tọa thiền, Lăng nghiêm hội, Chuyên sứ thỉnh Trụ trì, Bách trượng qui kính văn, Trì phạm quĩ nghi, Đương đại trụ trì niết bàn, Nhật dụng thanh qui... [X. Thiền tịch chí Q.thượng]. THIỀN LÂM CHỨC VỊ Chỉ cho ngôi thứ các chức vụ được thiết lập trong các chùa viện của Thiền tông, bất luận trên hay dưới đều theo pháp phổ thỉnh, đều tham gia lao động để tự cung, tự cấp, phân công chức vụ để cùng làm.Cứ theo Thiền lâm loại tụ quyển 9 thì các chức vị chấp sự được đặt ra trong thanh qui ngày xưa gồm có: Thủ tọa, điện chủ, Tạng chủ, Trang chủ, Điển tọa, Duy na, Giám viện, Thị giả... Nhưng sự tổ chức của các chùa viện đời sau mỗi ngày thêm to lớn hơn, gia phong mỗi chùa không giống nhau, vị Trụ trì của 1 chùa phần nhiều tùy thời mà đặt ra, tự lập các chấp sự, cho nên danh mục rất nhiều, có tới 23 cho đến 80 loại.Ở Trung quốc, từ đời Diêu Tần về sau, dần dần hình thành chế độ quản lí chùa viện, tùy theo công việc trong chùa mà đặt ra các chức vị như: Thượng tọa, Tự chủ và Duy na, gọi là Tam cương. Trong đó, Thượng tọa là vị Trưởng lão trongđại chúng tỉ khưu, Tự chủ phụ trách công việc xây dựng, quản lí điện đường, còn Duy na thì chiếu theo thanh qui của chùa, chỉ huy các việc hàng ngày. Từ đời Đường về sau, chức vị trong các chùa viện Thiền tông thêm nhiều, người chủ quản 1 chùa tức biểu thị ý nghĩa giữ cho chính pháp trụ lâu ở thế gian, gọi là Trụ trì, hoặc Phương trượng, Đường đầu hòa thượng... Dưới vị Trụ trì là các chấp sự; người làm các việc trong chùa và theo hầu bên cạnh vị Trụ trì, gọi là Thị giả. Theo chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 thìtrong các chùa viện lớn của Thiền tông có đặt ra 6 vị Tri sự Đông tự và 6 vị Đầu thủ Tây tự. Các chức vị được xếp bên đông Pháp đường, gọi chung là Tri sự; các chức vị được xếp bêntây Pháp đường, gọi chung là Đầu thủ. Tri sự có nghĩa là người làm các việc, cũng gọi là Chủ sự, Chấp sự. Sáutri sự tức chỉ cho 6 chức vị làĐô tự, Giám tự, Phó tự, Duy na,Điển tọa và Trực tuế. 1. Đô tự(cũng gọi Đô tổng, Đô giám tự, Đô quản, Khố tư): Tức là chức vị cao nhất trông coi tổng quát mọi việc trong chùa. 2. Giám tự(cũng gọi Giám viện, Viện chủ, Tự chủ, Viện tể, Chủ thủ, Quyền quản): Chức vị kế sauĐô tự, có nhiệm vụ giám sát các việc trong chùa. 3. Phó tự(cũng gọi là Khố đầu, Tri khố, Quĩ đầu, Tài bạch, Chưởng tài): Người trông coi, tính toán việc chi thu. Chức vị trên Duy na gọi là Thượng phó tự; chức vị dưới Duy na gọi là Hạ phó tự. 4. Duy na: Gọi tắt của 2 từ Cương duy và Yết ma đà na (Phạm:Karma-dàna, Hán dịch là Thụ sự, cũng gọi làĐô duy na, Hán dịch là Duyệt chúng). Tức là chức vị coi về uy nghi tiến thoáicủa chúng tăng. 5. Điển tọa: Người phụ trách các việc ăn uống,giường tòa... 6. Trực tuế: Người coi về các việc xây cất, cày cấy...; chức vị này tuy hàm ý nghĩa nhiệm kì 1 năm, nhưng cũng có khi nhiệm kì không nhất định là 1 năm. Ngoài ra, trong 6 Tri sự, trừ Đô tự, 5 chức vị còn lại gọi là Ngũ tri sự. Bốn chức: Giám tự, Duy na, Điển tọa và Trực tuế, gọi là Chủ sự tứ viên. Ở giữa Đô tự và Giám tự có đặt thêm 1 chức Đô văn. Người chuyên môn quản lí việc chi thu tiền bạc, thóc gạo... của thường trụ, gọi là Đề điểm. Đầu thủcó nghĩa là người đứng đầu lãnh đạo. SáuĐầu thủ tức là chỉ cho 6 chức vị: Thủ tọa, Thư kí, Tạng chủ, Tri khách, Tri dục và Tri điện. 1.Thủ tọa(cũng gọiĐệ nhất tòa, Tọa nguyên, Thiền đầu, Thủ chúng): Đồng nghĩa với Thượng tọa; chỉ cho người ở địa vị đầu trong đại chúng mà về mặt nghi biểu xứng đáng làm khuôn phép cho đại chúng. Trong đó, người lãnh chúng ở phía trước bản xuất nhập trong Tăng đường(bản này được đặt ở 2 bên khám thờ tượng Thánh tăng ở chính giữa Tăng đường), gọi là Tiền đường thủ tọa; còn người lãnh chúng ở phía sau bản xuất nhập thì gọi là Hậu đường thủ tọa. Trong 2 vị này, lấy Tiền đường thủ tọa làm địa vị cao nhất. Nhưng tại Nhật bản, từ thời đại Đức xuyên về sau, Tiền đường thủ tọa gọi là Tiền đường, Đơn liêu, hoặc Tọa nguyên, còn Hậu đường thủ tọa thì gọi tắt là Thủ tọa. Từ trong các vị Tiền đường thủ tọa chọn ra 1 vị có đức cao vọng trọng, gọi là Danh đức thủ tọa. Vị có đức ngoài các vị Thủ tọa đầu thủ được nghinh thỉnh làm người chỉ đạo đại chúng, gọi là Lập tăng thủ tọa. Các vị tôn túc như Trụ trì thuộc các sơn môn khác được đón mời đến để đảm nhiệm chức vị Thủ tọa, gọi là Khước lai thủ tọa. 2. Thư kí(cũng gọi Ngoại sử, Ngoại kí, Kí thất): Tức người phụ trách việc văn thư. Đối lại, Thư trạng thị giả cũng gọi Nội sử, Nội kí. 3. Tạng chủ(cũng gọi Tri tạng, Tạng ti, Kính tạng đường chủ): Chỉ cho người trông coi việc thu cất tạng kinh như tranh tượng, kinh sách... 4. Tri khách(cũng gọiĐiển khách,Điển tân, Khách ti): Tức người phụ trách việc tiếp đãi các tân khách từ các nơi đến. 5. Tri dục(cũng gọi Dục chủ): Người coi về nhà tắm và việc tắm gội, dưới quyền có chức Dục đầu phụ tá. 6. Tri điện(cũng gọi Điện chủ): Người chuyên trách việc đèn hương và quét tước trên điện Phật và Pháp đường. Trong 6 chức vị Đầu thủ, ngoài Tri điện ra, 6 chức còn lại gọi là Ngũ đầu thủ. Trong đó, 5 vị: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ và Thư kí, được thay thế vị Trụ trì phụ trách việc Tiểu tham, vì vậy, 5 vị này cũng gọi là Bỉnh phất ngũ đầu thủ(Bình phất nghĩa là tay cầm cây phất trần, tượng trưng cho việc thuyết pháp khai thị). Khi thiền tăng cử hành pháp hội trên điện Phật, hoặc ở Pháp đường, thì vị Trụ trì đứng chính giữa, còn 6 vị Tri sự và 6 vị Đầu thủ chia ban đứng xếp hàng 2 bên. Sáu Tri sự là Đông tự, 6 Đầu thủ là Tây tự, gọi chung là Lưỡng tự, hoặc gọi là Lưỡng ban. Nhưng theo Hoàng bá thanh qui của Nhật bản thì Thủ tọa, Tây đường, Hậu đường, Đường chủ, Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Trượng thị và Giám thu là Tây tự; còn Đô tự, Giám tự, Duy na, Phó tự, Điển tọa, Trực tuế, Duyệt chúng, Khách đường chủ, Kì cựu và Cư sĩ là Đông tự. Trong Thiền lâm, chức vi Thị giả tùy theo tính chất của công việc mà có các tên gọi khác nhau. Nếu theo hầu Thánh tăng thờ ở Tăng đường thì gọi là Thánh tăng thị giả; theo hầu bên cạnh vị Trụ trì thì gọi là Phương trượng thị giả. Trong các Phương trượng thị giả, người theo hầu vị Trụ trì để ghi chép pháp ngữ trong các buổi thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thị, niệm tụng... thì gọi là Thiêu hương thị giả, cũng gọi Thị hương; người phụ trách việc thư tín, văn thư... của vị Trụ trì, gọi là Thư trạng thị giả; người tiếp đãi tân khách của vịTrụ trì, gọi là Thỉnh khách thị giả, hoặc gọi là Thị khách; người chuyên trách việc ăn uống của vị Trụ trì, gọi là Thang dược thị giả, hoặc gọi là Thị dược; người quản lí các tài vật của vị Trụ trì, gọi là Y bát thị giả, hoặc gọi là Thị y. Năm chức vụ nói trên, gọi là Ngũ thị giả. Trong đó, 3 vị thị giả: Thiêu hương, Thư trạng và Thỉnh khách, được gọi chung là Sơn môn tam đại thị giả. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Cân bình, Ứng khách, Thư lục, Y bát, Trà phạn, Cán biện là 6 thị giả. Khi cử hành pháp hội, các vị thị giả: Thiêu hương, Thư trạng, Thỉnh khách và Thang dược, được xếp kế sau Tây tự đầu thủ, gọi là Lập ban tiểu đầu thủ; còn các vị: Đường đầu thị giả(Phương trượng thị giả), Thánh tăng thị giả, Diên thọ đường chủ, Lô đầu, Chúng liêu liêu chủ... thì gọi là Viện trung tiểu đầu thủ. Lại người ở trongliêu thị giả mà không đảm nhiệm 1 chức vụ nhất định nào, thì gọi là Bất li vụ thị giả. Ngoài ra còn có Bỉnh phất thị giả (do Thánh tăng thị giả kiêm nhiệm), Thị chân thị giả(hầu hạ vong linh các bậc cao đức)... Trong các chức nói trên, thì Đô tự, Duy na, Thiêu hương thị giả là các chức quan trọng, được gọi là Sơn môn tam đại thiền sư. Những vị nghỉ chức Tri sự và những vị thôi chức Thị giả, Tạng chủ và Thư trạng, được gọi là Cần cựu. Kế sau, là Liêu nguyên, người trông coi các liêu. Dưới Liêu nguyên, có Liêu trưởng, Liêu chủ(Tri liêu), Phó liêu, Vọng liêu... Đại chúng sở thuộc các Liêu chủ gọi là Động cước. Từ Liêu nguyên đến người phụ trách các việc lặt vặt, gọi chung là Biện sự. Y cứ vào chức vụ phụ trách, người Biện sự thông thường được gọi là Chủ, hoặc Đầu(tức đứng đầu một việc nào đó). Chẳng hạn như: Các chủ, Tháp chủ(Thị chân), Diên thọ đường chủ (Đường chủ, Niết bàn đường đầu), Phạn đầu, Chúc đầu, Thang đầu, Trà đầu, Thái đầu, Khương đầu, Tương đầu, Mễ đầu, Mạch đầu, Ma đầu, Cốc đầu, Viên đầu(hoặc gọi làViên chủ), Ma đầu(Ma chủ), Thủy đầu, Hỏa đầu, Sài đầu, Khôi đầu, Lô đầu, Oa đầu, Đăng đầu, Dũng đầu, Thụ đầu, Chung đầu, Tịnh đầu(hoặc gọilàTrì tịnh), Trang chủ(cũng gọi Đô trang), Giám thu, Giải viện chủ, Nhai phường hóa chủ... Nghĩa là: Các chủ là người phụ trách trông nom gác để kinh sách, Tháp chủ là người phụ trách việc đèn hương, quét tước tháp Phật và tháp các vị Tổ sư; Diên thọ đường chủ là người phụ trách trông coi nhà dưỡng bệnh, dưỡng lão; Phạn đầu là người phụ trách việc cơm nước; Chúc đầu phụ trách bữa ăn cháo sáng; Thang đầu phụ trách lấy nước nóng; Trà đầu phụ trách việc pha trà, Thái đầu phụ trách hái, nhặt rau; Khương đầu phụ trách việc lấy gừng; Tương đầu phụ trách việc cung cấp nước tương; Mễ đầu trông coi về gạo; Mạch đầu trông coi về lúa; Ma đầu trông coi về vừng (mè), Cốc đầu trông coi về ngũ cốc, Viên đầu phụ trách việc làm vườn, Ma đầu phụ trách việc xay thóc, giã gạo; Thủy đầu phụ trách việc gánh nước, Hỏa đầu phụ trách việc đun nấu, Sài đầu phụ trách việc củi đóm, Khôi đầu phụ trách việc lấy than, Lô đầu phụ trách việc đốt lò sưởi, Oa đầu phụ trách việc rửa cọ nồi niêu xoong chảo..., Đăng đầu phụ trách việc đốt đèn các liêu phòng; Dũng đầu phụ trách việc đóng và bảo quản các loại thùng để lấy và chứa nước, Thụ đầu phụ trách việc chăm sóc cây cảnh..., Chung đầu phụ trách thỉnh chuông, Tịnh đầu phụ trách việc dọn dẹp, quét tước nhà cầu xí; Viên chủ phụ trách việc làm vườn trồng rau; Trang chủ phụ trách việc cày cấy; Giải viện chủ phụ trách việc mua bán, tiếp đãi các quan chức... Nhai phương hóa chủ, tức người đi khuyến hóa trong phố phường, làng xóm để có được các vật dụng về cung cấp cho chúng tăng.Nơi quản lí các việc xây cất, tạo tác gọi là Tu tạo cục, dưới cục này có Giám tác (người giám sát công việc) và Tác đầu(người thực hiện công trình). Chức vị coi sóc giữ gìn giưòng chiếu, áo bát của chúng tăng trong Tăng đường, gọi là Trực đường. Trực ban vào tháng nào, ngày nào theo thứ tự gọi là Trực nguyệt, Trực nhật. Khi cáo hương phổ thuyết, người thuộc lòng các nghi lễ, lãnh đạo những người mới đến tham học, đứng đầu thay thế họ cử hành nghi thức, gọi là Tứ lai tham đầu, hoặc gọi tắt là Tham đầu. Nếu là nghi thức thuộc đại chúng cùng tham gia một lượt thì do vị Thủ tọa đảm nhiệm, người tham đầu phụ tá, gọi là Phó tham, người bổ sung sau, gọi là Vọng tham. Dưới vị Tham đầu, chức vị đứng đầu 1 tổ 3 người, gọi là Tiểu tham đầu. Tham đầu hành giả (Tham đầu của các hành giả) là tên gọi của người chỉ huy ở địa vị đầu trong các hành giả, nhưng khác với Tham đầu. Người đảm nhiệm việc tụng chú trong hội Lăng nghiêm, gọi là Lăng nghiêm đầu; cứ đó suy ra thì còn có Bát nhã đầu, Hoa nghiêm đầu, Di đà đầu... Ngoài ra, khi quan lại đến chùa thỉnh cầu vị Trụ trì thuyết pháp, thì chọn ra 1 người từ trong chúng, thay mặt đại chúng để hỏi đáp với vị Trụ trì, người ấy được gọi là Thiền khách; người tạm thời được bổ sung để hỏi đáp với vị Trụ trì, gọi là Phóng thiền khách. Người luân phiên chấp hành việc chùa gọi là Trực sảnh(sảnh là nơi làm việc chung trong chùa viện). Người đi tuần tra lúc nửa đêm, gọi là Tuần canh. Người được sai đi làm các việc ở ngoài, gọi là Chuyên sứ. Người coi về bếp núc gọi là Hỏa khách, Hỏa điền, Hỏa bạn. Người khiêng kiệu gọi là Kiệu phan. Ngoài ra, những chức phục vụ trong chùa viện, cũng được gọi là Hành giả. Nơi ở của các Hành giả gọi là Hành đường; người đứng đầu Hành đường, gọi là Hành đường chủ, hoặc gọi tắt là Đường chủ. Hành giả có những người đã cạo tóc, cũng có những người để tóc và mang theo gia quyến, rất nhiều chủng loại. Chẳng hạn như Tham đầu hành giả; Phó tham hành giả, Chấp cục hành giả(gọi chung Phương trượng hành giả, Lục cục hành giả...), Khố ti hành giả(phụ tá Đô tự), Đường ti hành giả(phụ tá Duy na), Khố tử(hành giả ở liêu Phó tự), Khách đầu hành giả, Trà đầu hành giả, Hát thực hành giả(tên gọi người xướng các thức ăn và nước uống trong bữa ăn. Hát nghĩa là xướng), Cung đầu hành giả(cũng gọi Cung quá hành giả) tức người phân phối các thức ăn uống), Trực điện hành giả, Chúng liêu hành giả, Môn đầu hành giả. Những hành giả trẻ tuổi gọi là Đồng hành, Đạo giả, Đồng thị, Tăng đồng, hoặc gọi là Khu ô sa di, Sa hát(người xướng các thức ăn uống, tương đương với vị sa di Hát thực), Thính khiếu. Cùng loại với Hành giả là những Tịnh nhân(cũng gọi Khổ hạnh), chỉ cho người tại gia chuyên phục vụ chúng tăng.Trong Thiền lâm có khá nhiều chức vị, giống như 2 ban Văn, Võ của triều đình, để cùng nhau gìn giữ pháp mệnh của chùa viện. Nhưng chế độ chức vị này, từ đời Tống về sau, các tông dung hợp, đối với các chùa viện tương đối lớn nói chung đều theo chế độ này, còn các chùa viện nhỏ thì không có được 1 phần nhỏ của chế độ này. [X.chương Đại chúng trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q.4; Thiền uyển thanh qui Q.2, 3, 4, 8; Bách trượng thanh qui chứng nghĩa kí Q.6; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Phật Giáo Giáo Chế, Tùng Lâm).
Thiền Lâm Bảo Huấn
(禪林寳訓, Zenrinhōkun): 2 quyển, do Tịnh Thiện (淨善) nhà Tống thâu tập, san hành vào năm thứ 11 (1378) niên hiệu Hồng Võ (洪武). Ban đầu nó có tên gọi là Thiền Môn Bảo Huấn (禪門寳訓) và chẳng biết khi nào sau đó được đổi thành Thiền Lâm Bảo Huấn. Từ các truyền ký, Ngữ Lục chư vị thánh đức xưa kia, của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) và Trúc Am Sĩ Khuê (竹菴士珪) đã biên soạn hơn 100 sự việc đáng làm mô phạm cho hàng học nhân, sau đó Tịnh Thiện bổ sung, biên tập lại làm thành hơn 300 thiên và chia bộ này thành 2 quyển thượng, hạ. Vốn xưa nay tác phẩm này được lưu hành rộng rãi trong Thiền lâm, trong phần cuối sách có Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寳訓音義, Tục Tạng 2, 18, 2) Đại Kiến (大建) nhà Minh hiệu đính, Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寳訓合注, Tục Tạng 2, 18, 2) do Trương Văn Gia (張文嘉) nhà Thanh hiệu đính, Thiền Lâm Bảo Huấn Niêm Tụng (禪林寳訓拈頌, Tục Tạng 2, 18, 2) do Hành Thạnh (行盛) nhà Thanh soạn, Thiền Lâm Bảo Huấn Thuận Chu (禪林寳訓順硃, Tục Tạng 2, 18, 2) do Thánh Khả Đức Ngọc (聖德可玉) nhà Thanh soạn và Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寳訓筆說, Tục Tạng 2, 18, 4) do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn, v.v.
thiền lâm bảo huấn
6470凡四卷。南宋淨善重編。又稱禪門寶訓、禪門寶訓集。收於大正藏第四十八冊。收錄南嶽下十一世黃龍惠南至十六世佛照拙菴等宋代諸禪師之遺語教訓,凡三百篇,各篇終皆記其出典。本書始為妙喜普覺、竹菴士珪二禪師於江西雲門寺所輯錄,經年散逸,南宋淳熙年間(1174~1189),淨善得之於老僧祖安,因惜其年深蠹損,首尾不備,乃尋之語錄傳記,加以重集,即現行之禪林寶訓。本書之注釋書有張文嘉校定之禪林寶訓合註四卷、行盛著之禪林寶訓拈頌一卷,智祥之禪林寶訓筆說三卷等。此書古來即盛行於禪林,每被列為初學沙彌之入門書。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、禪籍志卷下〕
thiền lâm bị dụng thanh quy
6465凡十卷。又稱備用清規、澤山清規、至大清規、備規。元代僧澤山弌咸於武宗至大四年(1311)編成。收於卍續藏第一一二冊。弌咸彙集古來禪林叢規、禮法等,列舉聖節陞座諷經、坐禪、楞嚴會、專使請住持、百丈龜鏡文、持犯軌儀、當代住持涅槃、日用清規等,計一六九項禪門規儀。〔禪籍志卷上〕
thiền lâm chức vị
6466請參閱 禪門鍛鍊說指禪宗寺院中所設立之職務位次。即一寺中之僧眾,無論上下,皆行普請法,均令參加勞動以自給;為分配職務、分工合作之法。據禪林類聚卷九所載,古規所設之執事,有首座、殿主、藏主、莊主、典座、維那、監院、侍者等名目。然後世寺院組織日漸龐大,各寺家風不同,一寺之住持者,多因時制宜,自立執事,名目層出不窮,而有二十三種乃至八十種之多。 我國自姚秦以後,逐漸形成寺院管理制度,從事寺務之執事,置有上座、寺主、維那,稱為三綱。其中,上座為比丘大眾中之長老,寺主負責堂宇之營造、管理等,維那則按寺規指揮日常諸事。唐代以後,禪宗寺院之職位繁多,主管一寺者,即表持法永住之意,稱為住持,或稱方丈、堂頭和尚等。住持以下為諸執事;從事寺務而隨侍於住持身邊者,稱為侍者。據敕修百丈清規卷四兩序章載,於大禪宗寺院設有東序六知事、西序六頭首等。序列於法堂東側之職位,總稱為知事;而序列於法堂西側之職位,則總稱為頭首。 知事:即執事務者之意,又作主事、執事。六知事,即指都寺、監寺、副寺、維那、典座、直歲等六種職位。即:(一)都寺,又稱都總、都監寺、都管、庫司,即統轄事務之最上位者。(二)監寺,又稱監院、院主、寺主、院宰、主首、權管,位於都寺之次,為監督全盤事務者。(三)副寺,又稱庫頭、知庫、櫃頭、財帛、掌財,即掌理會計出納者。維那之上位稱上副寺,下位稱下副寺。(四)維那,為綱維與羯磨陀那(梵 karma-dāna,意譯授事)二字之略稱,又作都維那,意譯悅眾,即掌僧眾威儀進退之職者。(五)典座,掌理飲食、床座之事。(六)直歲,掌理有關營繕、耕作等作務,其職稱雖表「一年當值者」之意,然亦有任期不限一年者。此外,六知事中除都寺外,餘者稱為五知事。監寺、維那、典座、直歲四者,稱為主事四員。在都寺以下、監寺以上,另置有都文(都聞)一職;又專門掌管常住金錢、穀物等之出納者,稱為提點。 頭首:即率先領導者之意。六頭首,即指首座、書記、藏主、知客、知浴、知殿等六種職位。即:(一)首座,又稱第一座、座元、禪頭、首眾,與「上座」同義,指居大眾中之首位,儀表堪為大眾典範者。其中,於僧堂出入板(置於僧堂中央所設聖僧像龕之左右)前方領眾者,稱為前堂首座;於後方領眾者,則稱為後堂首座。此二者中,以前堂首座為最上位。然於日本,自德川時代以降,前堂首座稱為前堂、單寮或座元;後堂首座單稱首座。由前堂首座中選出德高望重者,稱為名德首座。迎接首座頭首以外的有德者,以為大眾之指導者,稱為立僧首座。迎他山住持等尊宿擔任首座,稱為卻來首座。(二)書記,又稱外史、外記、記室,即掌理文書者;對此,書狀侍者又稱內史、內記。(三)藏主,又稱知藏、藏司、經藏堂主,即掌管經藏等圖書之收藏者。(四)知客,又稱典客、典賓、客司,掌理有關外賓之事宜。(五)知浴,又稱浴主,即掌理浴室者,其下設有浴頭,從事此項職務。(六)知殿,又稱殿主,即掌理佛殿、法堂之香燈等。此外,六頭首中除知殿外,餘者稱為五頭首。其中,前堂首座、後堂首座、東藏主、西藏主,書記等,可代替住持行使小參之責,故又稱為秉拂五頭首(秉拂,手持拂子之意)。 禪僧於佛殿、法堂等處修建法會時,住持位居中央,六知事、六頭首分列左右。六知事為東序,六頭首為西序,合稱為兩序,或稱兩班。然據日本黃檗清規所載,首座、西堂、後堂、堂主、書記、知藏、知客、知浴、丈侍、監收等為西序,都寺、監寺、維那、副寺、典座、直歲、悅眾、客堂主、耆舊、居士等為東序。 禪林中,侍者依所任職務性質之別,而有不同之稱謂。若隨侍僧堂所安置之聖僧,稱為聖僧侍者。隨侍住持身邊者,稱為方丈侍者。於方丈侍者中,隨侍記錄上堂、小參、普說、開室、念誦等法語者,稱為燒香侍者,又稱侍香;負責有關住持之書函、文書等事者,稱為書狀侍者;應接住持之賓客者,稱為請客侍者,又稱侍客;專司住持飲食方面之事者,稱為湯藥侍者,又稱侍藥;掌理住持所有之資財者,稱為衣鉢侍者,又稱侍衣。以上稱為五侍者。其中,燒香、書狀、請客三侍者,合稱為山門三大侍者。此外,或以巾瓶、應客、書錄、衣鉢、茶飯、幹辨等為六侍者。又燒香、書狀、請客、湯藥各侍者,於修法會之際,列於西序頭首之次,稱為立班小頭首;而堂頭侍者(方丈侍者)、聖僧侍者、延壽堂主、爐頭、眾寮寮主等,稱為院中小頭首。又在侍者寮(侍司、擇木寮)無擔任定職者,稱為不釐務侍者。其他尚有秉拂侍者(聖僧侍者兼任)、侍真侍者(服侍德高之亡靈)等。 以上諸職中,以都寺、維那、燒香侍者為要職,稱為山門三大禪師。知事之退職者,及侍者、藏主、書狀之退職者,稱為勤舊。其次,寮元為掌理眾寮者,其下有寮長、寮主(知寮)、副寮、望寮等。各寮主所屬之大眾,稱為洞腳。從寮元以至從事各種雜務者,通稱為辦事。辦事者依其負責之職務,一般稱為某某主、某某頭等。例如:閣主、塔主(侍真)、延壽堂主(堂主、涅槃堂頭)、飯頭、粥頭、湯頭、茶頭、菜頭、薑頭、醬頭、米頭、麥頭、麻頭、穀頭、園頭(又稱園主,專掌理菜園。其下勞動之大眾稱為園夫)、磨頭(磨主)、水頭、火頭、柴頭、炭頭、爐頭、鍋頭、燈頭、桶頭、樹頭、鐘頭、淨頭(又作持淨,擔任掃除廁所之職)、莊主(又作都莊,即寺地之管理者。其副手稱為副莊,耕作之工頭稱為甲幹或莊甲,其餘耕作者稱為莊佃、莊客或地客)、監收、都場、都倉、廨院主(擔任購賣、接待、官廳等事務)、街坊化主(又作街坊、化主、供養主,指在市中托鉢者。依其所化之物,有粥街坊、米麥街坊、菜街坊、醬街坊等)等。 掌理各種營繕作業之所在,稱為修造局,其下有監作與作頭。在僧堂內看守僧眾之床位、衣鉢者,稱為直堂。某月、某日之值班,分別稱為直月、直日。於告香普說之際,熟諳儀禮,率領新參,居首位而代行儀式者,稱為四來參頭,或單稱參頭;若屬大眾一同參加之儀式,則由首座擔任。輔佐參頭者,稱為副參,後補者稱為望參。參頭之下,三人一組之首位,稱為小參頭。又參頭行者(行者之參頭)為行者中居首位指揮者之稱,而與參頭有別。擔任楞嚴會上誦咒之職者,稱為楞嚴頭;依此類推,亦有般若頭、華嚴頭、彌陀頭等。此外,於官吏等來寺請求住持說法時,預定一人,代表大眾與住持問答,稱為禪客;臨時充任問答者,則稱放禪客。執行寺務之輪值者,稱為直廳(廳,指寺院內辦公之處所)。夜半巡邏者,稱為巡更。出使外務者,稱為專使。掌管灶火者,稱為火客、火佃、火伴。扛轎者,稱為轎番。 此外,寺院中從事諸職服務者,亦有所謂行者。行者之居所稱為行堂,行堂之主首稱行堂主,或單稱堂主。行者有剃髮者,亦有未剃髮而攜帶家眷者,種類繁多,例如,參頭行者、副參行者、執局行者(方丈行者、六局行者等之總稱)、庫司行者(隨從都寺)、堂司行者(隨從維那)、庫子(副寺寮之行者)、客頭行者、茶頭行者、喝食行者(飲食時,唱報飯食、湯等名稱者。喝,即唱之意)、供頭行者(又作供過行者,即分配飯食者)、直殿行者、眾寮行者、門頭行者等。年少之行者,稱為童行、道者、童侍、僧童,或稱驅烏沙彌、沙喝(飯食時之嚮導,相當於充任喝食沙彌之意)、聽叫。類同於行者,有所謂淨人(又作苦行),指不剃髮而專為僧眾服務者。 蓋禪林職位之繁多,猶如朝廷之文武兩班,以共維繫寺院之法命。然此職位制度,自宋代以降,諸宗融合,於一般較大之寺院皆循此制,而小寺院則無此細分。〔敕修百丈清規卷四大眾章、禪苑清規卷二、卷三、卷四、卷八、百丈清規證義記卷六、禪林象器箋職位門〕(參閱「佛教教制」2683、「叢林」6552)
thiền lâm loại tụ
6466凡二十卷。元代道泰、智境編。收於卍續藏第一一七冊。本書係就諸祖語錄、傳燈錄等,收集禪家諸師之機緣語要而成,內容包括帝王、宰臣、儒士、佛祖、法身、佛像、伽藍、殿堂、塔廟、丈室、門戶、禪定、經教、尼女、戒律、禮拜、緣化、神異、問疾、服飾、法器、齋粥、香燈、獅子像、龜魚等一○二類。其中有關禪家之示眾、師家與學人之問答商量、參究之問話、禪家之行實等收錄最多,亦散見釋尊行蹟、佛弟子之問法、印度諸師之議論問答等。〔禪籍志卷上〕
; (禪林類聚) Ngữ lục, 20 quyển, do các ngài Đạo thái, Trí cảnh biên tập vào đời Nguyên được thu vàoVạn tụctạng tập 117. Sách này căn cứ vào các ngữ lục của chư Tổ, Truyền đăng lục... thu chép những cơ duyên ngữ yếu của các Thiền sư mà thành. Nội dung sách này gồm 102 loại như: Đế vương, Tế thần, Nho sĩ, Phật tổ, Pháp thân, Phật tượng, Già lam, Điện đường, Tháp miếu, Trượng thất, Môn hộ, Thiền định, Kinh giáo, Ni nữ, Giới luật, Lễ bái, Duyên hóa, Thần dị, Vấn tật, Phục sức, Pháp khí, Trai chúc, Hương đăng, Sư tử tượng, Qui ngư(rùa, cá)... Trong đó, phần lớn thu chép về sự thị chúng của Thiền gia, sự vấn đáp, thương lượng giữa sư gia và người học, vấn thoại tham cứu, hành thực của Thiền gia... Ngoài ra, trong sách cũng thấy rải rác hành tích của đức Thích tôn, sự hỏi pháp của đệ tử Phật, sự vấn đáp, nghị luận giữa các sư Ấn độ... [X.Thiền tịch chí Q.thượng].
thiền lâm tăng bảo truyện
6466凡三十卷。略稱僧寶傳。宋代慧洪覺範(1071~1128)撰。收於卍續藏第一三七冊。為唐、宋兩代禪僧八十一人之傳記。據石門文字禪卷二十三所載僧寶傳序,此書係就達觀曇穎禪師所著之五家傳增補者,復收嘉祐以後至政和年間雲門、臨濟二宗之傑出者而成。卷末附錄有舟峰庵慶老所撰之補禪林僧寶傳一卷,記法演、悟新、懷志三師。又續補本書之作,另有祖琇撰著之僧寶正續傳七卷、清代自融所撰之南宋元明禪林僧寶傳十五卷,皆收於卍續藏第一三七冊。〔佛祖統紀卷四十六、佛祖歷代通載卷二十九、釋氏稽古略卷四、禪籍志卷上〕
; (禪林僧寶傳) Gọi tắt: Tăng bảo truyện. Truyện kí, 30 quyển, do ngài Tuệ hồng Giác phạm (1071-1128) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 137.Sách này ghi chép truyện kí của 81 vị Thiền tăng đờiĐường và Tống. Cứ theo bài tựa Tăng bảo truyện trong Thạch môn văn tự thiền quyển 23 thì sách này đã y cứ vào Ngũ gia truyện do Thiền sư Đạt quán Đàm dĩnh soạn mà bổ sung thêm, rồi lại thu chép truyện kí của các vị tăng kiệt xuất thuộc 2 tông Vân môn, Lâm tế mà thành. Cuối sách có phụ thêm Bổ thiền lâm tăng bảo truyện 1 quyển, do ngài Chu phong Am khánh lão soạn, nói về 3 vị: Pháp diễn, Ngộ tân và Hoài chí. Về những tác phẩm tiếp theo để bổ túc cho sách này thì có: Tăng bảo chính tục truyện, 7 quyển, do ngài Tổ tú soạn, Nam Tống Nguyên Minh Thiền lâm tăng bảo truyện, 15 quyển, do ngài Tự dung soạn vào đời Thanh, đều được thu vào Vạn tục tạng tập 137. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền tịch chí Q.thượng].
thiền lâm tượng khí tiên
6466請參閱 禪苑蒙求瑤林 [1]凡二十卷,目錄一卷。又稱禪宗辭典禪林象器箋。日僧無著道忠(1653~1744)編,日本寬保元年(1741)刊行。係蒐集百丈懷海古清規以下各清規有關禪林之規矩、行事、機構、器物等用語、名目之起源、沿革以至現行之意義,一一加以闡明詳釋。共分二十九類,總計一七二四條。本書援引經、律、論、疏、僧史、禪燈史、詩偈、清規、禪家語錄等內典,共四八四部,與經、史、子、集及中日有關佛教事相之外典著作,共二八六部,不偏於臨濟、曹洞等任何宗派,而廣通一般禪林,為初學者極佳之參考書。 其二十九類為:區界、殿堂、座位、節時、靈像、稱呼、職位、身肢、叢軌、禮則、垂說、參請、執務、雜行、罪責、報禱、諷唱、祭供、喪薦、言語、經錄、文疏、簿券、圖牌、飲啖、服章、唄器、器物、錢財等。
; (禪林象器箋) Cũng gọi Thiền tông từ điển thiền lâm tượng khí tiên. Tác phẩm, 20 quyển, mục lục 1 quyển, do ngài Vô trước Đạo trung (1653-1744) người Nhật bản soạn, ấn hành vào năm 1741. Nội dung sách này sưu tập các dụng ngữ liên quan đến quicủ, hành sự, cơ cấu, khí vật... trong Thiền lâm, từ khởi nguồn, biến đổi cho đến ý nghĩa hiện hành của các danh mục trong Bách trượng Hoài hải cổ thanh qui cho đến các thanh qui sau này, mỗi danh mục đều có giải thích rõ ràng, tất cả có 29 loại, gồm 1724 điều. Sách này viện dẫn tất cả 484 bộ nội điển như kinh, luật, luận, sớ, tăng sử, thiềnđăng sử, thi kệ, thanh qui, Thiền gia ngữ lục... và 286 bộ ngoại điển như kinh, sử, tử, tập cùng với các tác phẩm của Trung quốc, Nhật bản về sự tướng Phật giáo, không thiên vị bất cứ tông giáo nào, Lâm tế hay Tào động. Hai mươi chín loại là: Khu giới, điện đường, tọa vị, tiết thời, linh tượng, xưng hô, chức vị, thân chi, tùng quĩ, lễ tắc, thùy thuyết, tham thỉnh, chức vụ, tạp hành, tội trách, báo đảo, phúng xướng, tế cúng, tang tiến, ngôn ngữ, kinh lục, văn sớ, bộ khoán, đồ bài, ẩm đạm, phục chương, bát khí, khí vật và tiền tài.
Thiền Lâm Tự
(禪林寺, Zenrin-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông; hiện tọa lạc tại Ichinomiya-shi (一宮市), Aichi-ken (愛知縣). Vào năm 970 (Thiên Lộc [天祿] nguyên niên), để hồi hướng công đức cầu nguyện siêu độ cho Đằng Nguyên Thật Lại (藤原實賴, Fujiwara-no-Saneyori), quan Chánh Nhất Vị của Tiểu Dã Cung (小野宮), Vĩ Trương (尾張, Owari), người ta đã cho tạc tượng Dược Sư Như Lai và kiến lập một ngôi chùa, lấy tên là Tiểu Dã Viện Cực Lạc Tự (小野院極樂寺). Đương thời chùa này thuộc về Thiên Thai Tông; người khai cơ là Hòa Thượng Hoa Quốc (花國). Vào năm 1019 (Khoan Nhân [寛仁] 3), nhà công khanh Đằng Nguyên Tư Bình (藤原資平, Fujiwara-no-Sukehira) mô phong theo Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), xây dựng ngay trước cổng chùa đền thờ Nhật Cát Thần Xã (日吉神社, Hiyoshi Jinja) để trấn hộ. Đến năm 1525 (Đại Vĩnh [大永] 5), Thiền Sư Tuyên Tẩu Đàm Châu (宣叟曇周) tái hưng chùa, chuyển sang Tào Động Tông và giữ mãi cho đến hôm nay. Tượng thờ chính của chùa là Dược Sư Như Lai, được an trí tại Dược Sư Đường, tương truyền do Tăng Đô Huệ Tín (惠信) tạc nên, là bảo vật vô giá của chùa.
; (禪林寺, Zenrin-ji): còn gọi là Thánh Chúng Lai Nghênh Sơn (聖眾來迎山), tục xưng là Vĩnh Quán Đường (永觀堂), là ngôi chùa trung tâm của Phái Tây Sơn (西山派) thuộc Tịnh Độ Tông; hiện tọa lạc tại Yōgandō-chō (永觀堂町), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市). Vào năm 855 (niên hiệu Tề Hành [齊衡] thứ 2), Chơn Thiệu (眞紹) cải biến ngôi sơn trang của Đằng Nguyên Quan Hùng (藤原關雄) thành Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院), làm đạo tràng cầu nguyện trấn hộ quốc gia. Sau đó, vào năm 863 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 5), chùa được ban sắc phong của triều đình với tên gọi là Thiền Lâm Tự; đến năm 877 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] nguyên niên), Ngự Nguyện Đường (御願堂) được xây dựng, lãnh vức của chùa cũng được mở rộng thêm. Chư vị danh đức như Tông Duệ (宗叡), Thâm Giác (深覺), Tĩnh Biến (靜遍) thay nhau làm cho tông phong của chùa hưng thạnh; nhưng trong khoảng thời gian niên hiệu Thừa Lịch (承曆, 1077-1080), khi Luật Sư Vĩnh Quán (永觀) của Tam Luận Tông đến trú trì chùa, kiến lập Đông Nam Viện (東南院) để giảng thuyết về Tam Luận và tuyên dương pháp môn Niệm Phật. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Phật có câu chuyện liên quan đến Vĩnh Quán. Sau đó, Tịnh Âm (淨音) của Phái Tây Sơn thuộc Tịnh Độ Tông đến đây trú trì, cải đổi chùa thành đạo tràng Niệm Phật; và từ đó trở đi, chùa trở thành thánh địa của phái này. Trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁), chùa cũng bị suy tàn, nhưng đến thời đại Giang Hộ thì phục hưng lại. Bảo vật của chùa liên quan đến Tịnh Độ Giáo có rất nhiều như Sơn Việt A Di Đà Đồ (山越阿彌陀圖), Lai Nghênh Đồ (來迎圖), Đương Ma Mạn Trà La Đồ (當麻曼荼羅圖), Dung Thông Niệm Phật Duyên Khởi (融通念佛緣起), Thích Ca Tam Tôn, 3 bức Thập Đại Đệ Tử, 16 bức Thập Lục La Hán, v.v.
thiền lâm tự
6465<一>位於臺灣嘉義梅山鄉。開慧法師創建於民國四十五年(1956),工程艱鉅,迨至六十年始告完成。續又增建寮房、山門等。鄰近有梅山公園,為嘉義之觀光名勝,故每逢假日,遊客、信眾往來如織。 <二>位於日本京都市左京區永觀堂町。日本淨土宗西山禪林寺派之總本山。山號聖眾來迎山,舊號無量壽院,通稱永觀堂。為齊衡二年(855),空海弟子真紹所建,為鎮護國家之道場。後為敕願寺,受賜號禪林寺。承曆年中(1077~1080),永觀至寺專修念佛,為本寺中興之祖,後皈依淨土宗。明應六年(1497),敕令增建祖師堂、書院、鎮守堂等。本寺以楓葉著稱,並藏有山越阿彌陀圖、來迎圖(二種),以及傳為張思恭所繪之釋迦十大弟子像、佛涅槃圖、十六羅漢像、十界圖等佛畫,及波濤圖十二幅;另藏有當麻曼荼羅緣起一卷、融通念佛緣起二卷等淨土美術品。
; tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa là ngôi chùa cổ thứ hai thuộc hệ phái Tào Động, do Hòa Thượng Như Tư Khắc Huyền khai sơn vào cuối thế kỷ thứ 17. Duới thời chúa Nguyễn Phước Hoạt, chùa đã được trùng tu bằng vật liệu kiên cố và vị tổ thứ ba của chùa được ban sắc tứ danh hiệu Thanh Thận Chiêu Quả đại lão Hòa Thượng. Vào đầu thời vua Gia Long, Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long) đã cúng dường ngân khoản để trùng tu chùa dưới sự trông nom của Hòa Thượng Mật Hoằng. Dưới triều vua Thành Thái, người Pháp mở đường Nam Giao Tân Lộ, chùa lại phải dời vào mé tây khuôn viên cũ. Cho đến hôm nay, trải qua hơn 50 năm, chùa trở thành chùa tư và theo kiểu truyền tử lưu tôn nên ngày càng trở nên hoang phế. Năm 1957, chùa được Giáo Hội Phật Giáo trùng tu lại—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. This is the second in age among the temples belonging to the T'ao-T'ung Zen Sect in Huế. It was first built by Most Venerable Như Tư Khắc Huyền in the late 17th century. During the reign of Lord Nguyễn Phước Hoạt, the temple was already enlarged with solid construction materials, and the third patriarch of the temple was recognized by the Lord with honourable name Thanh Thận Chiêu Quả Great Most Venerable. During the early years of king Gia Long's reign, Queen Thừa Thiên Cao dedicated fund for the reconstruction of the temple under the supervision of Most Venerable Mật Hoằng. During the reign of king Thành Thái, the French opened the Nam Giao New Highway, so the temple had to be moved to the western part of its ground. Up to the present time, for more than fifty years, Thiền Lâm has been a private temple, changing hands according to familial traditions. It was rebuilt by the Buddhist Congregation in 1957.
Thiền Lão
禪老; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư kế thừa Thiền sư Ða Bảo và truyền pháp cho đệ tử là Quảng Trí. Vua Lí Thái Tông cũng được xem là môn đệ đắc pháp của Sư.|Không biết tên họ và nơi sinh của Sư ở đâu, chỉ biết Sư đến chùa Kiến Sơ yết kiến Thiền sư Ða Bảo và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư đến Từ Sơn trụ trì chùa Trùng Minh trên núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du. Tông phong của thiền Vô Ngôn Thông nhờ đạo hạnh của Sư cao vút, học chúng quy tụ lại rất đông.|Vua Lí Thái Tông thường viếng chùa và vấn đạo. Ban đầu, vua hỏi: »Hoà thượng trụ núi này đã bao lâu?« Sư đáp: |但知今日月。誰識舊春秋|»Ðãn tri kim nhật nguyệt|Thuỳ thức cựu xuân thu«|*»Chỉ biết ngày tháng này|Ai rành xuân thu trước«.|Vua hỏi: »Hằng ngày Hoà thượng làm gì?« Sư đáp: |翠竹黃花非外境。白雲明月露全真|»Thuý trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh|Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân«.|*»Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác|Trăng trong mây bạc hiện toàn chân«.|Vua lại hỏi: »Có ý chỉ gì?« Sư đáp: »Lời nhiều sau vô ích.« Vua nhân đây lĩnh hội ý chỉ.|Sau khi về cung, vua sai sứ giả đến chùa rước Sư vào triều làm cố vấn. Khi đến nơi, Sư đã viên tịch. Vua mến tiếc sai trung sứ đến cúng và tặng lễ, sau đó thu cốt xây tháp cúng dường.
thiền lão
Zen Master Thiền Lão—Tên của một nhà sư Việt Nam, có lẽ quê ở miền Bắc Việt Nam; tuy nhiên, quê quán của ngài không ai biết ở đâu. Sư đến chùa Kiến Sơ gặp và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Đa Bảo. Thiền sư Thiền Lão là pháp tử đời thứ sáu của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau khi Thiền sư Đa Bảo thị tịch, ngài dời về núi Thiên Phúc tại quận Tiên Du và trụ tại chùa Trùng Minh. Lúc ấy tiếng tăm của ngài trải khắp tứ phương. Vua Lý Thái Tông chiếu sắc chỉ triệu ngài về kinh đô làm cố vấn, nhưng khi sắc chỉ vừa đến thì ngài đã thị tịch. Để tôn vinh ngài vua đã cho trùng tu lại ngôi chùa sư ở, xây tháp thờ sư tại phía trước chùa—Name of a Vietnamese monk, probably from North Vietnam; however, his origin was unknown. He went to Kiến Sơ Temple to meet and become one of the most outstanding disciples of Zen Master Đa Bảo. He was the dharma heir of the sixth lineage of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. After Zen master Đa Bảo passed away he moved to Mount Thiên Phúc in Tiên Du district to stay at Trung Minh Temple. His reputation spread all over the place. Later King Lý Thái Tổ sent an Imperial Order to recall him to the capital to be the king's advisor, but when the Imperial Order arrived he had already passed away. To honour him, the king ordered his local mandarin to build a stupa right at the foot of the mountain and to rebuild the temple where he used to stay.
Thiền lưu
(禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).”
; (禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).”
thiền lạc
Joy and peace of the abstract meditation.
; Sự hỷ lạc trong thiền định—The joy of abstract meditation.
thiền lễ
6482坐禪與禮懺。禪宗行者依坐禪及禮拜三寶二者,以懺悔罪障。續高僧傳卷二十釋志超章(大五○‧五九二上):「眾感其言,心期遂爽,准式禪禮,課時無輟。」〔唯識樞要卷上〕
; (禪禮) Từ gọi chung tọa thiền và lễ sám. Hành giả Thiền tông nương vào tọa thiền và lễ bái Tam bảo để sám hối tội chướng. Chương Thích chí siêu trong Tục cao tăng truyện quyển 20 (Đại 50, 592 thượng) ghi: Chúng tăng thâm cảm lời nói ấy, trong tâm sảng khoái, thực hành đúng theo thiền lễ, thời khóa không bỏ. [X. Duy thức xu yếu Q.thượng].
thiền lục
6481 【禪錄】指禪門之諸語錄。即記錄禪門宗師開示說法之作。
; The records of Thiền tông.
; Ký lục của Thiền Tông—The records of the Ch'an sect.
thiền lữ
Fellow-meditators; fellow-monks.
; 1) Bạn đồng tu Thiền: Fellow-meditators. 2) Tăng lữ đồng tu: Fellow-monks.
thiền minh sát
Vipaśyana meditation Xem Minh sát tuệ.
Thiền môn
(禪門): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Pháp môn Thiền định. (2) Thuộc vào Định Học (定學) trong Tam Học (三學), cũng chỉ Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜) trong Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度). Như trong Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序) quyển Thượng có đoạn: “Vạn hạnh bất xuất Lục Ba La Mật, Thiền môn đản thị lục trung chi nhất, đương kỳ đệ ngũ (, vạn hạnh không ra ngoài Sáu Ba La Mật, Thiền môn chỉ là một trong sáu pháp đó).” (3) Chỉ cho pháp môn của Thiền Tông, còn gọi là Thiền Tông Môn Lưu (禪宗門流), Thiền Tông (禪宗), Phật Tâm Tông (佛心宗), Thiền Gia (禪家). (4) Là từ gọi tắt của Thiền Định Môn (禪定門) trong Phật Giáo Nhật Bản, còn gọi là Thiền Thất (禪室).
thiền môn
6471請參閱 釋禪波羅蜜次第法門<一>禪定之法門。指根本四禪、十六特勝、通明、九想、八背捨、大不淨、慈心、因緣、念佛、神通等十門。 <二>屬三學中之定學,亦指六度中之禪波羅蜜。禪源諸詮集都序卷上(大四八‧三九九中):「萬行不出六波羅蜜,禪門但是六中之一,當其第五,豈可都目真性為一禪行哉?」(參閱「禪」6451) <三>指禪宗之法門。又作禪宗門流、禪宗、佛心宗、禪家。(參閱「禪宗」6455) <四>為日本佛教用語「禪定門」之略稱。又稱禪室。謂修禪定之門侶。即歸依佛門,剃髮染衣之男子,稱禪定門;女子則稱禪定尼、禪尼。在日本,剃髮入佛門之天皇,專稱禪定法皇。攝政、關白剃髮者,稱為禪定殿下、禪閣。(參閱「禪定門」6464)
; The meditative method in general. The intuitional school established in China by Bodhidharma.
; 1) Pháp Môn Thiền Định nói chung: The meditative method in general. 2) Thiền Ba La Mật: Dhyana paramita—See Lục Độ Ba La Mật. 3) Thiền Tông được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc, tâm tâm tương truyền như một trường phái mật giáo: The intuitional school established in China according to tradition by Bodhidharma, personally propagated from mind to mind as an esoteric school.
; (禪門) I. Thiền Môn. Pháp môn thiền định. Chỉ cho 10 môn: Căn bản tứ thiền, Thập lục đặc thắng, thông minh, Cửu tưởng, Bát bối xả, Đại bất tịnh, Từ tâm, Nhân duyên, Niệm Phật và Thần thông. II. Thiền Môn. Một trong Tam học Giới, Định, Tuệ, Thiền môn thuộc về Định học, cũng chỉ cho Thiền ba la mật trong Lục độ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 399 trung) nói: Muôn hạnh không ngoài 6 Ba la mật, Thiền môn chỉ là độ thứ 5 trong 6 độ ấy, há có thể coi chân tính chỉ là1 hạnh Thiền này thôi sao? (xt. Thiền). III. Thiền Môn. Cũng gọi Thiền tông môn lưu, Thiền tông, Phật tâm tông, Thiền gia. Chỉ cho pháp môn của Thiền tông. (xt. Thiền Tông). IV. Thiền Môn. Cũng gọi Thiền thất. Gọi đủ: Thiền định môn. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. (xt. Thiền Định Môn).
thiền môn bí yếu quyết
6473全一卷。唐代僧永嘉玄覺(?~713)撰。其內容與玄覺所撰之證道歌一致,可推知或即證道歌之雛形。文中所提「西天二十八祖、東土六代」之說,似為後人所增添。標題下有「招覺大師一宿覺」七字,「一宿覺」係指玄覺,因其曾於六祖慧能處,一夜間開悟,遂有此美稱;而「招覺大師」顯然亦指玄覺。本書之敦煌本史坦因第二一六五號、四○三七號僅抄錄本書之一部分;伯希和第二一○四號、二一○五號則全部抄錄。〔禪思想史研究第二(鈴木大拙)〕
; (禪門秘要訣) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh gia Huyền giác (?-713) soạn vào đời Đường. Nội dung giống với Chứng đạo ca cũng của ngài Huyền giác; như vậy; có lẽ Thiền môn bí yếu quyết là bản phác họacủa Chứng đạo ca? Thuyết Tây thiên tứ thất,Đông độ nhị tam(tức 28 Tổ sư Thiền tôngẤn độ và 6 Tổ sư Thiền tông Trung quốc) được nêu ra trong sách này có lẽ đã do người đời sau thêm thắt vào. Dưới tiêu đề có 7 chữ Chiêu giác Đại sư nhất túc giác là chỉ cho ngài Huyền giác, vì ngài Huyền giác được khai ngộ trong 1 đêm ở nơi Lục tổ Tuệ năng, cho nên được khen ngợi là Nhất túc giác(giác ngộ trong 1 đêm). Còn Chiêu giácĐại sư thì rõ ràng cũng chỉ cho ngài Huyền giác. Bản Đôn hoàng số 2165 và số 4037 của ông A. Stein chỉ sao chép 1 phần sách này; còn các bản số 2104 và 2105 của ông P. Pelliot thì sao chép toàn bộ. [X. Thiền tư tưởng sử nghiên cứu thứ 2 (Linh mộc Đại chuyết-D.T.Suzuki).
thiền môn bảo tạng lục
6474 【禪門寶訓→】請參閱 禪林寶訓 請參閱 禪林寶訓 凡三卷。朝鮮僧天頙撰,成書於元代世祖至元三十年(1293)左右。明代世宗嘉靖十一年(1532)與禪門綱要集合併刊行。收於卍續藏第一一三冊及禪門撮要卷下。係天頙摘錄景德傳燈錄、嘉泰普燈錄、傳法正宗記等諸燈錄中之宗乘質疑問答語要。內容包括禪教對辨門二十五則、諸講歸伏門二十五則、君臣崇信門三十九則等。又據朝鮮僧幻如覺岸(1820~1894)所撰之東師列傳卷一載,由年代與思想方面考證,本書作者應為真靜法庵。〔禪籍目錄〕
; (禪門寶藏錄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiên sách người Triều tiên soạn vào khoảng năm Chí nguyên 30 (1293) đời vua Thế tổ nhà Nguyên. Năm Gia tĩnh 11 (1532) đời vua Thế tông nhà Minh, sách này được ấn hành chung với Thiền môn cương yếu tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 113 và Thiền môn toát yếu quyển hạ. Sách này trích lục các ngữ yếu vấn đáp chất nghi về tông thừa trong các bộ Đăng lục như: Cảnh đức truyền đăng lục, Gia thái phổ đăng lục,Truyền pháp chính tông kí... Nội dung bao gồm Thiền giáo đối biện môn 25 tắc, Chư giảng qui phục môn 25 tắc, Quân thần sùng tín môn 39 tắc... Cứ theoĐông sưliệt truyện quyển 1 do ngài Huyễn như Giác ngạn (1820-1894) người Triều tiên soạn, nếu theo phương diện niên đại và tư tưởng mà khảo chứng thì tác giả của sách này có lẽ là ngài Chân tĩnh Pháp am.[X. Thiền tịch mục lục].
thiền môn chư tổ sư kệ tụng
6473凡四卷。宋代子昇、如祐編。收於卍續藏第一一六冊。輯錄佛祖傳法偈、信心銘、玄中銘、雪子吟、坐禪銘、五位頌、禪月龜鑑、志公藥方、仁宗皇帝贊僧、勉佛果行腳、真性頌等,計八十餘項古德垂誡、宗乘偈頌。
; (禪門諸祖師偈頌) Tác phẩm, 4 quyển, do các vị Tử thăng và Như hựu biên soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 16. Nội dung sách này thu chép các bài kệ truyền pháp của chư Tổ như: Tín tâm minh, Huyền trung minh, Tuyết tử ngâm, Tọa thiền minh, Ngũ vị tụng, Thiền nguyệt qui giám, Chí công dược phương, Nhân tông hoàng đế tán tăng, Miễn Phật quả hành cước, Chântính tụng... tất cả hơn 80 hạng mục gồm lời răn dạy của các bậc cổ đức và những bài kệ tụng về tông thừa.
thiền môn cửu sơn
6471又作禪宗九山、九山門、九山禪門。朝鮮新羅末期,九名新羅僧先後來華學禪,返國後開創九禪剎,總稱禪門九山。其所屬之宗名,古稱禪寂宗,後稱曹溪宗。(一)迦智山派,道義於新羅宣德王五年(784)來唐,居止三十七年,從馬祖道一之門人西堂智藏習南宗禪,歸國後於全羅南道長興郡迦智山寶林寺弘揚南頓之旨,門弟子有英惠、清奐等八百餘人。 (二)實相山派,洪陟於憲德王(809~825)時來唐,嗣西堂智藏之法。歸國後,於興德王三年(828)開創本派。本山即全羅北道南原郡智異山實相寺,門弟子有秀徹、片雲等。 (三)闍崛山派,梵日於興德王六年來唐,從馬祖之門人鹽官齊安、滄州神鑑習法。文聖王九年(847)歸國,於江原道江陵郡闍崛山崛山寺創立本派,為禪門九山中門庭最盛之一派,門弟子有朗圓、朗空等。 (四)桐裏山派,慧哲(又作惠哲)於憲德王六年來唐,師事西堂智藏。神武王元年(839)歸國,於全羅南道谷城郡桐裏山開創泰(太)安寺。門弟子有道詵、如大師等數百人。 (五)聖住山派,無染來唐後,於終南山至相寺學華嚴,後受馬祖之弟子麻谷寶徹印可。文聖王七年歸國,住於忠清南道保寧郡聖住寺,撰「無舌土論」以宣揚宗風。門弟子有圓藏、靈源、玄影等二千餘人。 (六)師子山派,道允於憲德王十七年來唐,從南泉普願習禪法。文聖王九年歸國,住於全羅道雙峰寺。其弟子折中於江原道原州郡師子山創建法興寺。 (七)曦陽山派(又作羲陽山派),智詵初從梵體習華嚴之學,後從四祖道信之玄孫惠隱習禪。於慶尚北道聞慶郡羲陽山鳳嚴寺開創本派。門弟子有性蠲、敏休、楊孚等數百人。 (八)鳳林山派,玄昱於憲德王十六年來唐,受馬祖之門人章敬懷暉之印可。歸國後,於慧目山開創高達寺。於景文王八年(868)示寂後,其弟子審希(855~923) 於慶尚南道昌原郡開創鳳林寺,久之蔚成一派。 (九)須彌山派,利嚴於真聖王七年(894)來唐,受洞山良价之弟子雲居道膺之印可。孝恭王十四年(911)歸國。奉高麗太祖之命,於黃海道海州郡須彌山開創廣照寺。門弟子有處光、道忍等數百人。〔禪門九山來歷(金包光)、朝鮮佛教通史、朝鮮禪教史、朝鮮仏教の寺と歷史(鎌田茂雄)〕
; (禪門九山) Cũng gọi Thiền tông cửu sơn, Cửu sơn môn, Cửu sơn thiền môn. Chỉ cho 9 phái Thiền của nước Triều tiên. Vào cuối thời đại Tân la ở Triều tiên, có 9 vị tăng lần lượt đến Trung quốc học đạo, sau khi về nước, sáng lập 9 ngôi chùa Thiền, cũng tức là mở đầu cho 9 phái Thiền, gọi chung là Thiền môn cửu sơn. Tên tông mà 9 phái này qui thuộc trước gọi là Thiền tịch tông, sau gọi là Tào khê tông. Chín phái là: 1. Phái Ca trí sơn: Ngài Đạo nghĩa đến Trung quốc vào năm 784 đời Đường, ở lại đây 37 năm, theo ngài Tây đường Trí tạng –đệ tử Thiền sư Mã tổ Đạo nhất– học tập Thiền Nam tông. Sau khi về nước, sư hoằng dương yếu chỉ Nam đốn ở chùa Bảo lâm, núi Ca trí, quận Trường hưng, tỉnh Toàn la nam, có hơn 800 đệ tử như các vị Anh huệ, Thanh hoán... 2. Phái Thực tướng sơn: Ngài Hồng trắc đến Trung quốc vào khoảng 809-825 đời Đường, nối pháp ngài Tây đường Trí tạng. Sau khi trở về nước, sư khai sáng phái này vào năm 828. Bản sơn là chùa Thực tướng ở núi Trí dị, quận Nam nguyên, tỉnh Toàn la bắc. Đệ tử có các vị Tú triệt, Phiến vân... 3. Phái Xà quật sơn: Ngài Phạm nhật đến Trung quốc vào đời Đường, theo các ngài Diêm quan Tề an và Thương châu Thần giám –đệ tử Thiền sư Mã tổ Đạo nhất– tập thiền.Năm 846, sư trở về nước, sư sáng lập phái này ở chùa Quật sơn, núi Xà quật, quận Giang lăng, tỉnh Giang nguyên. Môn đình phái này thịnh nhất trong Thiền môn cửu sơn. Đệ tử có các vị Lãng viên, Lãng không... 4. Phái đồng lí sơn: Ngài Tuệ triết(cũng gọi Huệ triết) đến Trung quốc vào đời Đường, thờ ngài Tây đường Trí tạng làm thầy. Sư trở về nước năm 839, sáng lập chùa Thái an ở núi Đồng lí, quận Cốc thành, tỉnh Toàn la nam. Đệ tử có vài trăm vị như Đạo sân, Như đại sư... 5. Phái Thánh trụ sơn: Ngài Vô nhiễm đến Trung quốc vào đời Đường, học Hoa nghiêm ở chùa Chí tướng, núi Chung nam, sau được đệ tử Thiền sư Mã tổ là ngài Ma cốc Bảo triệt ấn khả. Sau khi trở về nước, sư ở chùa Thánh trụ, quận Bảo ninh, tỉnh Trung thanh nam, soạn Vô thuật độ luận để xiển dương tông phong. Sư có hơn 2000 đệ tử như các vị: Viên tạng, Linh nguyên, Huyền ảnh... 6.Phái sư tử sơn: Ngài Đạo doãn đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Nam truyền Phổ nguyện tu tập thiền pháp. Sau khi trở về nước, sư trụ chùa Song phong, tỉnh Toàn la nam. Đệ tử sư là ngài Chiết trung sáng lập chùa Pháp hưng ở quận Nguyên châu, tỉnh Giang nguyên. 7. Phái Hi dương sơn: Ban đầu, ngài Trí sân theo Đại sư Phạm thể học tập Hoa nghiêm, sau lại theo ngài Huệ ẩn là huyền tôn của Tứ tổ Đạo tín học Thiền. Sư khai sáng phái này ở chùa Phụng nghiêm, núi Hi dương, quận Văn thánh, tỉnh Khánh thượng bắc. Có vài trăm đệ tử như các vị: Tính quyên, Mẫn hưu, Dương phu... 8. Phái Phụng lâm sơn: Ngài Huyền dực đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Chương kính Hoài huy –đệ tử Thiền sư Mã tổ– họcThiền và được ấn khả. Sau khi trở về nước, sư sáng lập chùa Cao đạt ở núi Tuệ mục. Sau khi sư thị tịch vào năm 868, đệ tử của sư là ngài Thẩm hi (855- 923), khai sáng chùa Phụng lâm ở quận Xương nguyên, tỉnh Khánh thượng nam, lâu trở thành 1 phái. 9. Phái Tu di sơn: Ngài Lợi nghiêm đến Trung quốc vào năm 894 đời Đường, theo ngài Vân cư Đạo ưng –đệ tử Thiền sư Động sơn Lương giới– tập Thiền và được ấn khả. Sau khi sư trở về nước vào năm 911, vâng sắc vua Thái tổ nước Cao li, sáng lập chùa Quảng chiếu ở núi Tu di, quận Hải châu, tỉnh Hoàng hải. Có vài trăm đệ tử như các vị: Xử quang, Đạo nhẫn... [X. Thiền môn cửu sơn lai lịch; Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên thiền giáo sử; Triều tiên Phật giáo đích tự dữ lịch sử].
thiền môn ngũ tông
Năm tông phái Thiền (Từ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Tông Trung Quốc vẫn là một tông duy nhất, nhưng sau đó được chia làm năm tông)—The five Ch'an schools. 1) Lâm Tế Tông: Tông Lâm Tế vẫn còn tồn tại đến hôm nay và rất thành công. Dưới thời nhà Tống, tông nầy chia làm hai nhánh là Dương Kỳ và Hoàng Long—Lin-Ji Sect, which remains and is very successful until this day. During the Sung dynasty, it divided into two sects of Yang-Qi and Hung-Lung. 2) Quy Ngưỡng Tông (đã bị mai một): Kui-Yang Sect, disappeared. 3) Vân Môn Tông (vẫn còn tồn tại đến nay): Yun-Men Sect, remains until this day. 4) Pháp Nhãn Tông (đã du nhập Cao Ly): Fa-Yan Sect, which was removed to Korea. 5) Tào Động Tông (vẫn còn tồn tại đến nay): Tsao-Tung Sect, remains until this day. ** The second already disappeared; the fourth was removed to Koea; the other three remained, the first being the most successful.
thiền môn nhật tụng
6471凡二卷。原作者及刊行年代不詳。有清道光十四年(1834)刊本、清光緒十二年(1886)福建鼓山湧泉寺能成募刊本、光緒二十六年序刊本、浙江天童寺原本之金陵刻經處重刊本等,而諸版本之內容略有出入,其內容除收錄禪門諸師之法要、法語、警策、問對、訓誨文之外,又大量收錄一般寺院常用之經、律、偈、儀文、咒等,如大佛頂首楞嚴神咒、般若心經、念佛起止儀等。因明、清時代各宗各派趨於融合,尤以禪、淨二宗為然,故本書雖名為禪門日誦,已非純粹禪門選集。
; (禪門日誦) Tác phẩm, 2 quyển, tác giả cũng như niên đại ấn hành lần đầu tiên đều không rõ. Chỉ được biết có các bản in vào năm Đạo quang 14 (1834) đời Thanh, bản của chùa Dũng tuyền, Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến in vào năm Quang tự 12 (1886) đời Thanh, bản in vào năm Quang tự 26 (1900) có bài tựa và bản do Kim lăng khắc kinh xứ in lại nguyên bản của chùa Thiên đồng, tỉnh Chiết giang...nhưng nội dung các bản in trên đều hơi khác nhau. Nội dung sách này, ngoài việc thu chép các pháp yếu, pháp ngữ, cảnh sách, vấn đối, huấn hối văn...của cácĐại sư trong Thiền môn, còn thu chép 1 lượng lớn kinh, luật, kệ, nghi văn, chú...thường dùng trong các chùa việnnói chung, như thần chú Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, Bát nhã tâm kinh, Niệm Phật khởi chỉ nghi... Vì thời đại Minh, Thanh các tông phái có xu hướng dung hợp, nhất là 2 tông Thiền và Tịnh độ lại càng rõ ràng. Do đó, tác phẩm này tuy mệnh danh là Thiền môn nhật tụng (khóa tụng hàng ngày trong Thiền môn) nhưng thực thì không còn là Thiền môn thuần túy nữa.
thiền môn niêm tụng tập
6472[1] 【禪門拾遺錄→】請參閱 雪堂拾遺錄凡三十卷。高麗慧諶、真訓等編。係集自釋尊以來至唐宋諸師,其間禪家機緣語句,拈頌之大成。本書以景德傳燈錄等之通集,及諸家之語錄別集等為基礎,選錄自釋尊以下至達磨第二十一世長靈守卓之法嗣育王介諶等之機緣語句,凡一一二五則,並附有諸家拈古、頌古、普說、小參等。雖與宋代慧嚴宗永之宗門統要十卷及元代古林清茂之宗門統要續集二十二卷同一性質,但唯本書存有所傳之機緣語與拈頌,故頗為珍貴。編者真覺國師慧諶,係曹溪宗之祖知訥之弟子,住於曹溪山修禪社,與門人真訓等編輯是書。〔禪籍目錄、朝鮮禪教史(忽滑谷快天)〕
; (禪門拈頌集) Tác phẩm, 30 quyển, do 2 ngài Tuệ trạm và Chân huấn người Cao li biên tập, là sách tập đại thành các ngữ cú cơ duyên, niệm tụng của Thiền gia trong khoảng thời gian từ đức Thích tôn về sau cho đến các Đại sư đời Đường, Tống. Sách này lấy các thông tập như Cảnh đức truyền đăng lục... và các biệt tập như ngữ lục của các Thiền sư... làm nền tảng, chọn lựa ghi chép các cơ duyên ngữ cú của các bậc Thiền giả từ đức Thích tôn trở xuống đến ngài Dục vương Giới thầm, đệ tử nối pháp Thiền sư Trường linh Thủ trác thuộc đời thứ 21 của hệ thống Tổ Đạt ma, gồm 1125 tắc, đồng thời có phụ thêm niêm cổ, tụng cổ, phổ thuyết, tiểu tham... của các nhà. Tuy cùng một tính chất với Tông môn thống yếu 10 quyển của ngài Tuệ nghiêm Tông vĩnh đời Tống và Tông môn thống yếu tục tập 22 quyển của ngài Cổ lâm Thanh mậu đời Nguyên, nhưng chỉ sách này là còn truyền cơ duyên ngữ cú và niêm tụng, cho nên rất được trân trọng. [X. Thiền tịch mục lục; Triều tiên thiền giáo sử (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].
Thiền môn niêm tụng tập 禪門拈頌集
[ja] ゼンモンネンショウシュウ Zenmon nenji shū ||| The Sŏnmun yŏmsongjip (Compilation of Examinations of and Verses on Ancient Precedents). By Hyesim 慧諶, who was the most prominent student of Chinul 知訥; HPC 5.1-925.A massive collection of edifying ancient precedents from Chan and pre-Ch'an Buddhist literature which comprises the entire fifth volume of the HPC. => Zenmon nenji shū (j); Sŏnmun yŏmsongjip (k); Compilation of Examinations of and Verses on Ancient Precedents (e); Của Huệ Kham (k: Hyesim 慧諶), là đệ tử xuất sắc của ngài Trí Nột (Chinul 知訥). Là một tập hợp đồ sộ những lời dạy của các bậc cổ đức trong Thiền tông và từ nền văn học Phật giáo trước thiền tông, được kết tập trọn vẹn vào cuốn thứ 5 của bộ HPC.
thiền môn qui củ
The monastic routine.
thiền môn sư tư thừa tập đồ
6472全一卷。唐代圭峰宗密(780~841)撰。又作裴休拾遺問。內題中華傳心地禪門師資承襲圖、內供奉沙門宗密答裴相國問。收於卍續藏第一一○冊。係對唐宰相裴休(797~870)之問,由宗密敘說初期禪宗諸派之沿革、言教之深淺得失等、內容初標「裴休相國問」,次標「宗密禪師答」,次為本文。本文不分章節,但略可分為以下三段:(一)述諸宗由來,(二)說諸宗教旨,(三)批判諸宗教旨。其中諸宗由來略示慧融(法融)之牛頭宗、神秀之北宗、慧能之南宗、神會之荷澤宗、道一之洪州宗等傳承,而主張以荷澤宗為禪宗之正統。更為明瞭其傳承,舉如下之系譜:達磨、慧可、僧璨、道信、弘忍、慧能、神會、智如、南印,並附記諸師之嗣法。此外,略示北宗(附無相之淨眾宗、無住之保唐宗)、洪州宗、牛頭宗、荷澤宗之教旨,對前三宗加以短評。至於批判教旨,初以不變與隨緣論諸宗,總結(卍續一一○‧四三七下):「若認得明珠是能現之體,永無變易(荷澤)。但云黑是珠(洪州宗),或擬離黑覓珠(北宗),或言明黑都無者(牛頭宗),皆是未見珠也。」更示荷澤宗之立義,次以頓悟與漸修論諸宗,以顯明荷澤宗頓悟之意。〔法集別行錄節要、禪思想史研究第二(鈴木大拙)、中華傳心地禪門師資承襲圖の佚文につぃて(宇井伯壽,第三禪宗史研究)〕
; (禪門師資承襲圖) Cũng gọi Bùi hưu thập di vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khuê phong Tông mật (780-841) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 110. Trangtrongsách này đề là: Trung hoa truyền tâm địa Thiền môn sư tư thừa tập đồ, Nội cung phụng sa môn Tông mật đáp Bùi tướng quốc vấn. Tức sách này là ngài Tông mật trả lời những câu hỏi của quan Tể tướng nhà Đường là Bùi hưu (797-870) về sự truyền thừa và ngôn giáo cạn, sâu của các phái Thiền tông ở thời kì đầu tại Trung quốc. Nội dung sách này, trước nêu Tướng quốc Bùi hưu hỏi, kếnêuThiền sư Tông mật trả lời, sau cùng đến bản văn. Bản văn không chia ra chương tiết, nhưng nay có thể chia làm 3 đoạn để khảo sát như sau:1. Trình bày về nguồn gốc các tông. 2. Nói về giáo chỉ của các tông. 3. Phê bình giáo chỉ các tông. Trong đó, phần nguồn gốc các tông có nói sơ qua sự truyền thừa của các tông như: Tông Ngưu đầu của ngài Tuệ dung (Pháp dung), Bắc tông của ngài Thần tú, Nam tông của ngài Tuệ năng, tông Hà trạch của ngài Thần hội, tông Hồng châu của ngài Đạo nhất... và chủ trương tông Hà trạch là chính thống của Thiền tông. Để thấy rõ hơn về sự truyền thừa ấy nên sách này lại nêu ra hệ phổ như sau: Đạt ma, Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín, Hoằng nhẫn, Tuệ năng, Thần hội, Trí như, Nam ấn, đồng thời ghi thêm đệ tử nối pháp của các nhà. Ngoài ra, sách này lược ghi giáo chỉ của Bắc tông(phụ thêm tông Tịnh chúng của ngài Vô tướng, tông Bảo đường của ngài Vô trụ), tông Hồng châu, tông Ngưu đầu và tông Hà trạch, đối với 3 tông trước có lời bình luận ngắn. Đến việc phê phán giáo chỉ thì trước hết lấy tính chất bất biến và tùy duyên để bàn về các tông, rồi tổng kết (Vạn tục 110, 43 hạ): Nếu nhận ra được minh châu là thể năng hiện thì vĩnh viễn không thay đổi(Hà trạch). Nhưng nói tối là(minh) châu (tông Hồng châu), hoặc chủ trương lìa tối tìm châu (Bắc tông) hoặc nói châu(sáng) và tối đều là không(tông Ngưu đầu), thì đều là chưa thấy châu. Lại y cứ vào sự lập nghĩa của tông Hà trạch mà bàn về đốn ngộ và tiệm tu của các tông để hiển bày ý nghĩa đốn ngộ của tông Hà trạch. [X. Pháp tập biệt hành lục tiết yếu; Thiền sư tưởng sử nghiên cứu 2 (Linh mộc Đại chuyết) – D.T.Suzuki)].
thiền môn toát yếu
6473凡二卷。朝鮮僧清虛堂休靜(1520~1604)編,朝鮮隆熙元年(1907),慶尚北道清道郡虎踞山雲門寺開板。集載中國及朝鮮之禪錄十五種。卷上為中國之著述,即禪宗初祖達磨大師之血脈論、觀心論、四行論,及五祖弘忍大師最上乘論、黃檗斷際禪師宛陵錄、黃檗山斷際禪師傳心法要、皖山正凝禪師示蒙山法語、博山無異禪師禪警語。卷下為朝鮮之撰述,即普照禪師修心訣、普照禪師真心直說、普照禪師勸修定慧結社文、普照禪師看話決疑論、真靜大師天頙編集禪門寶藏錄、清風長老禪門綱要集、西山清虛禪教釋。其中,卷上所收之中國撰述,另亦收於光緒九年(1883)甘露社之葆光居士劉雲所編集開板之「法海寶筏」。卷下所收之朝鮮撰述有多種刊本,其中之勸修定慧結社文,看話決疑論、禪門綱要集等三書為從來未刊之書。〔積翠軒文庫善本目錄解題(川瀨一馬)、朝鮮舊書考(黑田亮)〕
; (禪門撮要) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thanh hư đường Hưu tĩnh người Triều tiên biên soạn, do chùa Vân môn, núi Hổ cứ, quận Thanh đạo, tỉnh Khánh thượng bắc khắc bản in vào năm 1907. Nội dung thu chép những Thiền lục của Trung quốc và Triều tiên.Quyển thượng gồm các trứ thuật của Trung quốc, tức luận Huyết mạch, luận Quán tâm, luận Tứ hành của Sơ tổ Đạt ma, luận Tối thượng thừa của Ngũ tổ Hoằng nhẫn, Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục, Hoàng bá sơn Đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu, Hoàn sơn Chính ngưng thiền sư thị mông sơn pháp ngữ, Bác sơn Vô dị thiền sư thiền cảnh ngữ. Quyển hạ là các soạn thuật của Triều tiên, tức Phổ chiếu thiền sư tu tâm quyết, Phổ chiếu thiền sư chân tâm trực thuyết, Phổ chiếu thiền sư cần tu định tuệ kết xã văn, Phổ chiếu thiền sư khán thoại quyết nghi luận, Chân tĩnh đại sư thiên sách biên tập thiền môn bảo tạng lục, Thanh phong Trưởng lão thiền môn cương yếu tập, Tây sơn thanh hư thiền giáo thích. Trong đó, phần soạn thuậtcủaTrung quốc ở quyển thượng cũng được thu chép vào Pháp hải bảo phiệt do cư sĩ Bảo quang Lưu vân thuộc Cam lộ xã biên tập và khắc in vào năm Quang tự thứ 9 (1883). Còn phần soạn thuật của Triều tiên ở quyển hạ thì có nhiều loại bản khắc in, trong đó 3 sách: Khuyến tu định tuệkếtxã văn, Khán thoại quyết nghi luận và Thiền môn cương yếu tập là những sách mà từ trước đến nay chưa bao giờ được khắc bản. [X. Tích thúyhiên văn khố thiện bản mục lục giải đề (Xuyên lại Nhất mã); Triều tiên cựu thư khảo (Hắc điền lượng)].
thiền môn đoán luyện thuyết
6474全一卷。又稱禪林鍛鍊說、鍛鍊說十三篇。明代僧晦山戒顯著,清代穆宗同治十一年(1872)刊行。收於卍續藏第一一二冊。戒顯以為鍛鍊禪眾應如孫武用兵,書中列舉鍛鍊禪眾之方法,次第為堅誓忍苦、辨器授話、入室搜刮、落堂開導、垂手鍛鍊、機權策發、寄巧回換、斬關開眼、研究綱宗、精嚴操履、磨治學業、簡練才能、謹嚴付授等十三項。
; (禪門鍛煉說) Cũng gọi Thiền lâm đoán luyện thuyết, Đoán luyện thuyết thập tam thiên. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hối sơn Giới hiển soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Đồng trị 11 (1872) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Giới hiển cho rằng rèn luyện Thiền chúng phải như Tôn vũ dụng binh, trong sách ngài liệt kê những phương pháp rèn luyện Thiền chúng gồm 13 hạng mục, theo thứ tự là: Kiên thệ nhẫn khổ, Biện khí thụ thoại, Nhập thất sưu quát, Lạc đường khai đạo, Thùy thủ đoán luyện, Cơ quyền sách phát, Kí xảo hồi hoán, Trảm quan khai nhãn, Nghiên cứu cương tông, Tinh nghiêm thao lí, Ma trị học nghiệp, Giản luyện tài năng và Cẩn nghiêm phó thụ.
Thiền Mông Cầu
(禪蒙求, Zenmōkyū): xem Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求, Zennenmōkyū) bên dưới.
Thiền Mặc Chiếu
(黙照禪): đương thời có từ gọi là Mặc Chiếu Tà Sư (黙照邪師) hay Mặc Chiếu Tà Thiền (黙照邪禪) mà Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) dùng để phê phán khuynh hướng đang hiện hành trong Thiền Tông. Đây chính là ngôn từ nhằm phê phán những người không nhắm mục đích giác ngộ mà chỉ chuyên im lặng ngồi Thiền, và vì trước tác của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺), tức cuốn Mặc Chiếu Minh (黙照銘), nên đối tượng phê phán của Đại Huệ hẳn nhiên là những người thuộc Phái Hoằng Trí. Tuy nhiên, giữa Đại Huệ và Hoằng Trí vốn có mối thâm giao, cho nên đối tượng phê phán không phải là trực tiếp Hoằng Trí mà là các huynh đệ đệ tử của ông như nhóm Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了). Có điều dầu sao đi nữa, sự phê phán này rõ ràng là tiền đề nói lên sự khác nhau giữa Thiền phong của Lâm Tế và Tào Động. Vẫn có ít nhiều dị luận, song chúng ta cũng khó phủ định được rằng chính Thiền của Đạo Nguyên (道元) bên Nhật Bản vốn chủ trương "chỉ quản đả tọa" (只管打坐, Shikantaza) đã nối tiếp hệ thống của Thiền Mặc Chiếu này. Nếu từ ý nghĩa ấy mà xét, chúng ta có thể nói rằng đó là nguyên nhân vì sao Đạo Nguyên đã phê phán kịch liệt Đại Huệ.
thiền na
Meditation, Zenjō (J), Zenna (J), Dhyāna (S), Jhāna (P), Ch'an na (C)Xem định.
; Dhyàna (S). Abstract contemplation.
; Là thiền quán tịch diệt, quán các pháp phi không phi giả mà vô trụ, như âm thanh ẩn trong chuông trống.
; Dhyana (skt). (A) Thiền Na là thuật ngữ Trung Hoa, do từ tiếng Phạn “Dhyana” mà ra. Thiền Na chỉ sự tập trung tinh thần và sự tĩnh tâm, trong đó mọi sự phân biệt nhị nguyên đều biến mất—Ch'an-na is a Chinese version from the Sanskrit word “Dhyana,” which refers to collectedness of mind or meditative absorption in which all dualistic distinctions disappear. (B) Tịnh lự—Làm vắng lặng dòng suy tưởng. Thiền Na là Ba La Mật thứ năm trong lục độ Ba La Mật (thực tập thiền na để được trí huệ Bát Nhã), trong đó tất cả mọi biện biệt giữa chủ thể và đối tượng, giữa thật và giả, đều bị xóa bỏ—Quiet thought—Quiet meditation—The fifth paramita (to practice dhyana to obtain real wisdom or prajna). In dhyana all dualistic distinctions like subject, object, true, false are eliminated. • Abstract. • Meditation. • Thought. • Reflection. • Profound and abstract religious contemplation. • Get rid of evil. • Quiet meditation. (C) Theo Bách Khoa Từ Điển Minh Triết Phương Đông, có hai định nghĩa về Thiền—According to The Encyclopedia of Eastern Philosophy and Religion, Zen can be defined as both exoterically and esoterically. 1) Theo quan điểm công truyền: Thiền là một phái của Phật giáo Đại Thừa, phát triển ở các thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, nhờ sự hòa trộn Phật giáo Thiền do tổ Bồ Đề Đạt Ma du nhập vào Trung Quốc và Đạo giáo. Hiểu theo nghĩa nầy, Thiền là một tôn giáo mang học thuyết và các phương pháp nhằm mục đích đưa tới chỗ nhìn thấy được bản tính riêng của chúng ta, và tới giác ngộ hoàn toàn, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua dưới cội Bồ Đề sau một thời kỳ thiền định mãnh liệt. Hơn bất cứ một phái Phật giáo nào, Thiền đặt lên hàng đầu sự thể nghiệm đại giác và nhấn mạnh tới tính vô ích của các nghi lễ tôn giáo. Con đường ngắn hơn nhưng gay go trong tu hành là “tọa thiền.”—Exoterically regarded, Zen, or Ch'an as it is called when referring to its history in China, is a school of Mahayana Buddhism, which developed in China in the 6th and 7th centuries from the meeting of Dhyana Buddhism, which was brought to China by Bodhidharma, and Taoism. In this sense, Ch'an is a religion, the teachings, and practices of which are directed toward self-realization and lead finally to complete awakening or enlightenment as experienced by Sakyamuni Buddha after intensive meditative self-discipline under the Bodhi-tree. More than any other school, Ch'an stresses the prime importance of the enlightenment experience and the useless of ritual religious practices and intellectual analysis of doctrine for the attainment of liberation. Ch'an teaches the practice of sitting in meditative absorption as the shortest, but also steepest, way to awakening. ** Những đặc trưng của Thiền có thể tóm tắt bằng bốn nguyên lý sau đây—The essential nature of Ch'an can be summarized in four short statements: a) Giáo ngoại biệt truyền: Special transmission outside the orthodox teaching. b) Bất lập văn tự: Nondependence on sacred writings. c) Trực chỉ nhân tâm: Direct pointing to the human heart. d) Kiến tánh thành Phật: Leading to realization of one's own nature and becoming a Buddha. ** For more information, please see Thiền Định Ba La Mật, Dhyana, and Tứ Thiền. 2) Theo quan điểm bí truyền: Thiền không phải là một tôn giáo, mà là một nguồn gốc không thể xác định được và không thể truyền thụ được. Người ta chỉ có thể tự mình thể nghiệm. Thiền không mang một cái tên nào, không có một từ nào, không có một khái niệm nào, nó là nguồn của tất cả các tôn giáo, và các tôn giáo chỉ là những hình thức biểu hiện của cùng một sự thể nghiệm giống nhau. Theo nghĩa nầy, Thiền không liên hệ với một truyền thống tôn giáo riêng biệt nào, kể cả Phật giáo. Thiền là “sự hoàn thiện nguyên lai” của mọi sự vật và mọi thực thể, giống với sự thể nghiệm của tất cả các Đại Thánh, các nhà hiền triết và các nhà tiên tri thuộc tất cả mọi tôn giáo, dù có dùng những tên gọi khác nhau đến mấy để chỉ sự thể nghiệm ấy. Trong Phật giáo, người ta gọi nó là “sự đồng nhất của Sanh tử và Niết bàn.” Thiền không phải là một phương pháp cho phép đi đến sự giải thoát đối với một người sống trong vô minh, mà là biểu hiện trực tiếp, là sự cập nhật hóa sự hoàn thiện vốn có trong từng người ở bất cứ lúc nào—Esoterically regarded, Ch'an is not a religion, but rather an indefinable, incommunicable root, free from all names, descriptions, and concepts, that can only be experienced by each individual for him or herself. From expressed forms of this, all religions have sprung. In this sense, Ch'an is not bound to any religion, including Buddhism. It is the primor-dial perfection of everything existing, designated by the most various names, experienced by all great sages, and founders of religions of all cultures and times. Buddhism has referred to it as the “identity of Samsara and Nirvana.” From this point of view, Ch'an is not a method that brings people living in ignorance to the goal of liberation; rather it is the immediate expression and actualization of the perfection present in every person at every moment.
thiền na phật
Jina (S), Dhyāna Buddha (S), Conqueror Kỳ NaTên một vị Phật hay Như Lai. 1- Thiền na Phật. 2- bậc Đại hùngXem Ngũ Phật Tại Định.
thiền nam tông
See Southern school.
Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự
(禪源諸詮集都序, Zengenshosenshūtojo): 2 quyển, trước tác của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) nhà Đường, được san hành vào năm thứ 7 (1062) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐) nhà Tống, là tác phẩm thâu tập các yếu ngữ, kệ tụng có liên quan đến huyền nghĩa của Thiền môn từ các trước thuật của chư vị trong hệ thống Thiền Tông, lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập (禪源諸詮集), xem đây như là kho tàng của Thiền với ý nghĩa “Đô Tự (都序)”. Nó còn có tên gọi khác là Thiền Na Lý Hành Chư Thuyên Tập (禪那理行諸詮集), có nghĩa là tập giải thích kỹ lưỡng đạo lý căn nguyên của Thiền. Nói tóm lại, nó luận rõ bản nguyên của Thiền là bản giác chơn tánh của tất cả chúng sanh, chứng được bản nguyên ấy gọi là Tuệ, tu tập bản nguyên ấy gọi là Định và trải qua quá trình lý của Thiền, hành của Thiền và thể của Thiền. Hơn nữa, Thiền có 5 loại: Ngoại Đạo Thiền (外道禪), Phàm Phu Thiền (凡夫禪), Tiểu Thừa Thiền (小乘禪), Đại Thừa Thiền (大乘禪), và Tối Thượng Thừa Thiền (最上乘禪). Về Tối Thượng Thừa Thiền, tác phẩm này giải thích rằng: “Tối Thượng Thừa Thiền diệc danh Như Lai Thanh Tịnh Thiền, diệc danh Nhất Hành Tam Muội, diệc danh Chơn Như Tam Muội, thử thị nhất thiết tam muội căn bản, nhược năng niệm niệm tu tập, tự nhiên tiệm đắc bách thiên tam muội, Đạt Ma môn hạ triển chuyển tương truyền giả, thị thử Thiền dã (最上乘禪亦名如來清淨禪、亦名一行三昧、亦名眞如三昧、此是一切三昧根本、若能念念修習、自然漸得百千三昧、達磨門下展轉相傳者、是此禪也, Tối Thượng Thừa Thiền còn có tên gọi khác là Như Lai Thanh Tịnh Thiền, cũng có tên là Nhất Hành Tam Muội, lại có tên là Chơn Như Tam Muội; đây là căn bản của tất cả tam muội, nếu có thể mỗi niệm tu tập nó, tự nhiên dần dần đạt được trăm ngàn tam muội; pháp môn mà môn hạ của Đạt Ma thay nhau truyền thừa chính là Thiền này)”. Đối với Thiền, Khuê Phong thuộc môn hạ của Hà Trạch Tông (荷澤宗) và từng kế thừa dòng pháp của Toại Châu Đạo Viên (遂州道圓); nhưng đồng thời đối với Hoa Nghiêm Tông (華嚴宗), ông lại kế thừa Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀) và trở thành vị tổ thứ 5; cho nên ông là nhân vật dung hợp cả Giáo và Thiền. Do đó, trong tác phẩm này ông đã tạo sự điều hòa cuộc đấu tranh giữa các nhà Giáo gia cũng như Thiền gia, làm sáng tỏ cả Giáo và Thiền đều có 2 phương diện đốn tiệm như nhau và phải nói rằng ông là luận giả hệ thống hóa nhất trí tư tưởng Thiền và Giáo. Theo bản Trùng Khắc Thiền Nguyên Thuyên Tự (重刻禪源詮序) của Cổ Nhữ Chu (賈汝舟) với tên gọi Minh Tàng Bản (明藏本), chúng ta biết có bản ấn tạo vào năm thứ 8 (tức năm thứ 7 [1062] niên hiệu Gia Hựu [嘉祐]) niên hiệu Thanh Ninh (清寧). Ngoài ra, còn có bản năm thứ 7 (1303) niên hiệu Đại Đức (大德), Phúc Tống Bản (覆宋版) do Triều Tiên khai bản vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), v.v. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 3 (1358) niên hiệu Diên Văn (延文) và năm thứ 11 (1698) niên hiệu Nguyên Lộc (玄祿). Sách chú thích có Thiền Nguyên Tập Đô Tự Trước Bính (禪源集都序着柄) của Hối Am Đại Sư Định Tuệ (晦庵大師定慧) người Triều Tiên, Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự Khoa Mục Tinh Nhập Tư Ký (禪源諸詮集都序科目幷入私記) của Liên Đàm Hữu Nhất (蓮潭有一), v.v.
thiền nguyên chư thuyên tập đô tự
6480凡二卷或四卷。唐代宗密(780~841)著。收於大正藏第四十八冊。初宗密著有禪源諸詮集一書,收錄禪宗諸家之言句偈頌,別稱禪那理行諸詮集,凡百卷,後遇會昌法難(845)與唐末五代之亂而佚失,今僅殘存都序,即是本書。宗密同屬禪宗(荷澤禪)與華嚴宗,故主張教禪一致,本書即為提倡此一主張之代表作,為佛教思想史上之要典。本書將一切眾生之根源稱為本覺真性、佛性、心地,以此為主題而展開之理論,即是教義;依之修證開悟,便是禪;此即禪之本源,故稱禪源。著者又多處徵引大乘起信論之心真如、心生滅等,而將禪之實踐分成五種,即外道禪、凡夫禪、小乘禪、大乘禪、最上乘禪。於教禪一致之主張中,作者將教、禪各分為三種,互相發明融合,示其一致。教三種為:(一)密意依性說相教,(二)密意破相顯性教,(三)顯示真心即性教。禪三宗為:(一)息妄修心宗,(二)泯絕無寄宗,(三)直顯心性宗。
; (禪源諸詮集都序) Tác phẩm, 2 quyển hoặc 4 quyển, do ngài Tông Mật (780-841) soạn vào đời Đường được thu vào Đại chính tạng tập 48.Ban đầu, ngài Tông mật có soạn 1 bộ Thiền nguyên chư thuyên tập (cũng gọi Thiền na lí hành chư thuyên tập) 100 quyển, thu chép những ngôn cú kệ tụng của các nhà Thiền tông, sau vì gặp pháp nạn Hội xương (845) và chiến loạn ở cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại nên đã bị thất lạc, nay chỉ còn sót lại phần Đô tự, tức là sách này. Ngài Tông mật vốn thuộc cả Thiền tông (Thiền Hà trạch) và Hoa nghiêm tông, cho nênchủ trương Giáo Thiền nhất trí, sách này chính là tác phẩm đại biểu đề xướng chủ trương ấy, là tác phẩm trọng yếu về mặt lịch sử tư tưởng Phật giáo. Sách này gọi nguồn gốc của hết thảy chúng sinh là Bản giác chân tính, Phật tính, Tâm địa và lấy đây làm chủ đề mà triển khai lí luận, tức là phần giáo nghĩa; nương vào giáo nghĩa này để tu chứng khai ngộ chính là Thiền; đây là cội nguồn của Thiền, vì thế gọi là Thiền nguyên.Ởnhiều chỗ, soạn giả lại trưng dẫn Tâm chân như, Tâm sinh diệt...trong luận Đại thừa khởi tín mà chia Thiền thực tiễn làm 5 loại làthiền Ngoại đạo, thiền Phàm phu, thiền Tiểu thừa, thiền Đại thừa và thiền Tối thượng thừa. Về chủ trương Giáo Thiền nhất trí thì soạn giả chia mỗi thứ Giáo và Thiền làm 3 loại, phát minh dung hợp lẫn nhau để chỉ rõ sự nhất trí ấy. Baloại Giáo là: 1. Mật ý y tính thuyết tướng giáo: Giáo y cứ vào tính để nói về tướng. 2. Mật ý phá tướng hiển tính giáo: Giáo phá tướng để hiển bày tính. 3. Hiển thị chân tâm tức tính giáo: Giáo nêu rõ chân tâm chính là tính. Ba tông của Thiền là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông diệt vọng niệm tu chân tâm. 2. Mẫn duyệt vô kí tông: Tông dứt bặt không dấu vết. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông chỉ thẳng chân tâm thấy tính thành thật.
Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự 禪源諸詮集都序
[ja] ゼンゲンショセンシュウトジョ Zengen shosenshū tojo ||| The Chanyuan zhujuan ji duxu (Preface to the Collection of Chan Sources). This preface is all that remains of the Chanyuan zhuquan ji 禪源諸詮集, which was an in-depth analysis by Zongmi 宗密 of the Chinese Chan schools of his time. Composed around 833. T 2015.48.399a-413c. => Zengen shosenshū tojo (j); Chanyuan zhujuan ji duxu (c); Preface to the Collection of Chan Sources (e). Bài tựa còn lưu lại với tên là Thiền nguyên chư thuyên tập (c: Chanyuan zhuquan ji 禪源諸詮集), là lời giải thích rất sâu sắc của ngài Tông Mật (c: Zongmi 宗密) về thiền tông Trung Hoa vào trong thời kỳ của ngài.
thiền nguyên tự
6480請參閱 禪苑蒙求瑤林 位於浙江西天目山昭明、旭日、翠微、陽和諸峰下。清代康熙四年(1665),浙直宰官請玉琳國師至西天目山重修高峰之道場。雍正十一年(1733),賜額「禪源寺」。〔天目山名勝志(錢文選)〕(參閱「天目山」1346)
thiền nguyệt tập
6454凡三十卷,補遺一卷。唐代貫休述,由弟子曇域編其詩文而成。原本三十卷中,文集五卷已佚,僅存詩集二十五卷。明代毛晉作補遺一卷。內容包括:樂府古題雜言一卷、古風雜言古意五卷、五言律詩十二卷、七言律詩及七言絕句六卷、七言律詩一卷。〔四庫提要(集、別集類)〕
; (禪月集) Tác phẩm, 30 quyển, bổ di 1 quyển, do ngài Quán hưu thuật vào đời Đường, đệ tử ngài làĐàm vực biên tập thi văn của ngài mà thành. Trong nguyên bản 30 quyển thì Văn tập 5 quyển đã thất lạc, chỉ còn Thi tập 25 quyển. Ông Mao tấn đời Minh soạn Bổ di 1 quyển. Nội dung gồm: Nhạc phủ cổ đề tạp ngôn, 1 quyển, Cổ phong tạp ngôn cổ ý 5 quyển, Ngũ ngôn luật thi 12 quyển, Thất ngôn luật thi và Thất ngôn tuyệt cú 6 quyển, Thất ngôn luật thi 1 quyển. [X. Tứ khố đề yếu (tập, biệt tập loại)].
Thiền Nham
禪巖; 1093-1163|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Pháp.|Sư tên Khương Thông, dáng vẻ quắc thước, tiếng nói trong thanh, gia thế vốn làm tăng quan.|Khi triều đình mở khoa thi về Kinh điển Ðại thừa, Sư dự thi và đỗ thủ khoa. Sư tìm đến chùa Ðắc Thành tham vấn Thiền sư Ðạo Pháp và chỉ qua một câu nói, Sư lĩnh hội ngay yếu chỉ. Sư nhân đây mới xuất gia.|Ban đầu, Sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, đói thì ăn lá cây, khát thì uống nước suối và cứ như thế sáu năm liên tục. Sau đó, Sư trở về quê trùng tu chùa Trí Quả làng Cổ Châu, Long Biên. Vì Sư cầu mưa linh nghiệm nên vua Lí Thần Tông rất tôn trọng.|Năm Chính Long Bảo Ứng thứ nhất, khoảng giữa xuân, Sư đốt hương từ biệt mọi người ngồi an nhiên thị tịch, tho 71 tuổi.
thiền nham
Thiền sư Thiền Nham (1093-1163)—Zen Master Thiền Nham—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Sau khi thi đỗ Giáp Khoa của triều đình, ngài đến chùa Thành Đạo để tham vấn với Thiền sư Pháp Y. Chỉ sau một câu của thầy, ngài liền lãnh hội, nên xin làm đệ tử. Ngài là Pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ban đầu, ngài trụ tại chùa Thiên Phúc trên núi Tiên Du. Về sau ngài trở về quê trùng tu chùa Trí Quả ở Cổ Châu, Long Biên. Trong khoảng niên hiệu Thiên Thuận, triều đình gửi chiếu chỉ triệu hồi ngài về kinh đô cầu mưa. Ngài đã thành công trong việc cầu mưa và tiếng tăm vang vội. Một ngày năm 1163, ngài đốt nến, từ biệt đệ tử, rồi thị tịch, lúc ấy ngài 71 tuổi—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. After passing the National First Laureate, he came to Thành Đạo Temple to discuss with Zen master Pháp Y. Only after one sentence from the master, he awakened and insisted to be his disciple. He was the Dharma heir of the thirteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. At first, he stayed at Thiên Phúc Temple on Mount Tiên Du. Later, he returned to his home town to rebuild Trí Quả Temple in Cổ Châu, Long Biên. During the reign of King Thiên Thuận, the Royal Court sent an Imperial Order to summon him to the capital for rain-making praying. He was successful and became famous after this event. One day in 1163, he lit an incense, said good-bye to his disciples, then passed away, at the age of 71.
thiền nhân
6451專修禪定之人。又稱禪者。興禪護國論卷上(大八○‧七上):「此宗以戒為初,以禪為究,若破戒者,悔心止惡,則號禪人也。」〔摩訶止觀卷五上〕
; Một thành viên của Thiền phái—A member of the Ch'an (Zen) (Meditative or Intuitive) sect.
; (禪人) Cũng gọi Thiền giả. Chỉ cho người chuyên tu thiền định. Luận Hưng thiền hộ quốc quyển thượng (Đại 80, 7 thượng) nói: Tông này lấy giới làm đầu, lấy Thiền làm điểm rốt ráo, nếu người phá giới mà khởi tâm sám hối, dứt bỏ điều ác thì gọi là Thiền nhân. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
thiền ni
Ni Cô—A nun.
thiền niệm
6464<一>傾心於禪定,喜樂禪定之心念。即厭棄世塵煩累之念慮。續高僧傳卷十八釋慧歡章(大五○‧五七七中):「嘗經行山頂,誤墮高巖,乃在石上端居,不忘禪念,其感靈如此。」 <二>禪定與 智慧。安樂行道轉經願生淨土法事讚卷下(大四八‧四三五中):「或教福慧雙除障,或教禪念坐思量,種種法門皆解脫,無過念佛往西方。」
; (禪念) I. Thiền Niệm. Tâm hướng về thiền định, vui thích với tâm niệm thiền định. Tức tâm niệm chán bỏ mọi phiền lụy ở cõi trần. Chương Thích tuệ hoan trong Tục cao tăng truyện quyển 18 (Đại 50, 577 trung) nói: Sư từng kinh hành trên đỉnh núi, lỡ rơi xuống từ sườn núi cao, liền ngồi ngay trên phiến đá, không quên Thiền niệm, sự linh cảm như thế. II. Thiền Niệm.Chỉ cho thiền định và trí tuệ. An lạc hành đạo chuyển kinh nguyện sinh tịnh độ pháp sự tán quyển hạ (Đại 48, 435 trung) nói: Hoặc dạy dùng phúc tuệ diệt chướng, Hoặc dạy Thiền niệm ngồi suy lường; Tất cả pháp môn đều giải thoát, Đặc biệt niệm Phật về Tây phương.
thiền nội quán
Vipassanā-bhāvana (S), Insight-meditation, Vipaśyana (S), lhak tong (T), Vipassana (P).
Thiền phong
(禪風): gia phong hay phương pháp đặc biệt để cử xướng Thiền, thường chỉ về người hay tông phái, còn gọi là gia phong, tông phong, môn phong.
thiền phái nhật bản
Japanese Zen sects: (A) Lịch sử Thiền phái Nhật Bản—The history of Japanese Zen sects: Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thiền du nhập vào Nhật Bản bằng nhiều đợt—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Zen was introduced to Japan several times: 1) Đệ tử của Huyền Trang là Đạo Chiêu (Doshô 629-700), đến Trung Quốc vào năm 654, lần đầu tiên mang Thiền về truyền bá tại Thiền đường Gangôji ở Nara: Hsuan-Tsang's pupil, Dosho, who went to China in 654 A.D., introduced and taught Zen for the first time in the Zen Hall of Gangôji, Nara. 2) Kế đến là Đạo Tuấn (Dosen), một vị luật sư Trung Hoa, đến Nara năm 710 và truyền Bắc Tông. Ngài truyền pháp cho Hành Biểu (Giôhyô) năm 733 và Hành Biểu truyền cho Tối Trừng: Next, Tao-Hsuan, a Chinese Vinaya (discipline) master, came to Nara in 710 A.D. and taught the Zen of the Northern School. He transmitted it to Giôhyô in 733 A.D., who in turn taught it to Saicho (Dengyô Daishi). 3) Một vị Thiền sư Nam tông là Nghĩa Không (Giku), là đệ tử của Diêm Quan Tề An (Enkwan Saian) đến Kyoto và giảng Thiền từ năm 851 đến 858 tại chùa Đàn Lâm Tự (Danrinji) do hoàng hậu của Ta Nga Thiên Hoàng (Danrin) lập nên. Ông thành công mỹ mãn trong công cuộc truyền bá giáo pháp của ông: A special Zen instructor of the Southern School, Giku, a pupil of Ch'i-An, came to Kyoto and taught Zen from 851 to 858 A.D. in Danrinji Temple built by the Empress Danrin. He was successful in his teaching. ***Trong những trường hợp kể trên, sự truyền bá đều được triều đình ủng hộ nhưng không bền lâu. Vị thiền sư sau cùng phải thất vọng bỏ về Trung Quốc năm 858, để lại một thành tích là Lã Sanh Môn (Rashomon), Kyoto, ghi chứng một kỷ lục về sự truyền bá Thiền tại Nhật Bản: In all the above cases the propagation was assisted by the Court but did not continue long. The last-mentioned teacher went home disappointed in 858 A.D., leaving a monument at Rashomon, Kyoto, inscribed: “A record of the propagation of Zen in Japan.” (B) Triết lý Thiền—Zen philosophy: Cốt lõi của Thiền tông được tóm lược như sau: “Cứ nhìn vào trong tâm thì sẽ thấy được Phật quả.” Tông phái nầy nhấn mạnh vào sự thiền định hay thiền quán mà chỉ riêng một điều nầy đã có thể dẫn đến giác ngộ. Thiền sư Dogen, một trong những hình ảnh tiêu biểu của Thiền tông Nhật Bản. Ông đã bắt đầu cuộc sống tu sĩ với sự tìm lời giả đáp cho câu hỏi: “Vì sao có nhiều vị Phật phải hành trì con đường giác ngộ cho mình như thế, trong khi tất cả chúng sanh đều đã sẵn có Phật quả nơi họ?” Không tìm được người nào ở Nhật Bản có thể giải đáp thỏa đáng cho mình, ông đã đi đến Trung Quốc để tìm sự soi sáng. Tại đây, ông đã được giác ngộ bởi một tu sĩ Phật giáo Thiền tông. Khi trở về Nhật Bản, ông truyền bá chủ thuyết: “Tất cả mọi người đều đã được giác ngộ. Về bản chất, họ là những vị Phật. Hành Thiền chính là một hành động của Phật.”—The essence of Zen Buddhism is summed up as follows: “Look into the mind and you will find Buddhahood,” this sect lays great stress on meditation or contemplation which alone can lead one to enlightenment. Zen master Dogen, one of the most important and representative features of Zen Buddhism. Dogen started his monastic life as a monk seeking an answer to the question: “Why did so many Buddhas practise the way of self-enlightenment, although all living beings, by their very nature, already had Buddhahood in them." As nobody in Japan could satisfy him with a convincing answer, he went to China to seek light. There he attained enlightenment under the instruction of a Zen Buddhist monk. On his return to Japan he propagated the following doctrine: “All human beings have already been enlightened. They are Buddhas by nature. The practice of meditation is nothing but the Buddha's act itself.” (C) Các Thiền phái Nhật Bản—Japanese Zen sects: 1) Phái Chân Ngôn: Shingon Sect—Các giáo lý và phương pháp tu tập của phái nầy được đưa vào Nhật Bản từ Trung Quốc bởi Kukai (hay Hoằng Pháp Đại Sư vì ông được biết qua danh hiệu nầy nhiều hơn) vào thế kỷ thứ IX. Pháp môn tu hành của phái Chân Ngôn xoay quanh ba phương thức quán tưởng: mạn đà la, mật chú, và thủ ấn—The doctrines and practices of this sect were brought from China to Japan in the ninth century by Kukai (or Kobo-daishi, as he is more popularly known). Shingon discipline and practice revolve around three meditational devices: the mandala, the mantra, and the mudra. 2) Phái Lâm Tế: Lin-Chi sect—Giáo lý phái Lâm Tế được Vinh Tây Minh Am (1141-1215) thiết lập vững chắc ở Nhật. Phái Lâm Tế đặc biệt mạnh ở Kyoto, nơi có nhiều chùa và tự viện hàng đầu của phái nầy—The teachings of Lin-Chi sect were firmly established in Japan by Fisai Myoan (1141-1215). The Lin-Chi sect is particularly strong in Kyoto, where many of its head temples and monasteries are located. 3) Phái Hoàng Bá: Huang-Po Sect—Thiền phái nầy được Ấn Nguyên đại sư đưa vào Nhật Bản năm 1654. Tổ đình phái nầy xây theo kiểu Trung Quốc là chùa Mampuku gần Kyoto. Phái Hoàng Bá là thiền phái ít có ảnh hưởng nhất ngày nay tại Nhật Bản—This Zen sect was introduced into Japan from China in 1654 by Zen master Yin-Yuan. Its head temple built in the Chinese style, is Mampukuji, near Kyoto. Huang-Po sect is the least influential of the Zen sects in present-day Japan. 4) Phái Tào Động: Ts'ao-Tung sect—Một trong hai thiền phái có thế lực hơn cả ở Nhật Bản, phái kia là Lâm Tế. Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của cái tên “Tào Động.” Một cho rằng đây là chữ đầu của tên của hai vị thiền sư Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bổn Tịch. Thuyết khác cho rằng chữ Tào chỉ Lục Tổ, vì ngài cũng được biết qua tên Tào Khê Huệ Năng—One of the two dominant Zen sects in Japan, the other being the Lin-Chi. There are several theories as to the origin of the names of Ts'ao-Tung. One is that it stems from the first character in the names of two masters in China, Tung-Shan-Liang-Chih and Ts'ao-Shan-Pen-Chi. Another theory is that the Ts'ao refers to the Sixth Patriarch, who was also known in Japan as Ts'ao-Tzi-Hui-Neng.
thiền pháp
6470禪那之法門。指禪宗,或指禪之宗旨。佛於靈山會上拈花示眾,百萬人天不解其意,唯獨摩訶迦葉破顏微笑而領悟佛旨,佛言「我付汝以涅槃之妙心」,此即後世如來禪之所源,故稱為佛心宗。常言「禪法」者,即指此佛心宗之禪。〔楞伽師資記序〕
; Methods of meditation.
; Pháp môn hay tông chỉ nhà Thiền được tìm thấy trong Như Lai Thiền trong các kinh điển, và Tổ Sư Thiền hay Đạt Ma Thiền được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc (phép thiền mầu nhiệm được truyền cho nhau bằng tâm ý giữa các vị tổ sư)—Methods of mysticism as found in the dhyanas records in the sutras (Tathagata-dhyanas) and traditional dhyana, or the intuitional method brought to China by Bodhidharma.
; (禪法) Pháp môn Thiền na. Chỉ cho Thiền tông, hoặc chỉ cho tông chỉ của Thiền. Trong hội Linh sơn, đức Phật đưa cành hoa lên dạy đại chúng, trăm vạn ngườivàtrời chẳng ai hiểu được ý của Ngài, chỉ một mình tôn giả Ma haCa diếp mỉm cười, lãnh ngộ ý chỉ của Phật, Phật nói Ta trao cho ông diệu tâm Niết bàn, đây chính là nguồn gốc của Như lai thiền ở đời sau, vì thế gọi là Phật tâm tông. Cái thường được gọi là Thiền pháp chính là chỉ cho Thiền của Phật tâm tông này.
thiền pháp yếu giải
6470請參閱 坐禪三昧經凡二卷。鳩摩羅什等譯於姚秦弘始四年至十四年(402~412)。又稱禪法要解經、禪要經。收於大正藏第十五冊。本經旨在解說菩薩習禪之要法,初敘淨觀、不淨觀,次述除五蓋修四禪之相,次說明慈、悲、喜、捨等四無量心,及四空定、四諦觀之修習;並述心專正、質直、慚愧等十事,及四如意足、五神通之法。北涼沮渠京聲(?~464)亦譯有禪法要解一書,凡二卷。現已不存。〔歷代三寶紀卷九、出三藏記集卷二、開元釋教錄卷四、卷十五、法經錄卷二〕
; (禪法要解) Cũng gọi Thiền pháp yếu giải kinh, Thiền yếu kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy thứ 4 đến năm 14 (402-412) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này giải thích yếu pháp tu thiền của Bồ tát, trước hết nói về Tịnh quán, Bất tịnh quán, kế đến nói về tướng trừ Ngũ cái, tu Tứ thiền, kế nữa nói rõ về 4 tâm vô lượng Từ, Bi, Hỉ, Xả và sự tu tập Tứ không định, Tứ đế quán; đồng thời nói về 10 việc như tâm chuyên chính, chất trực, tàm quí... và nói về pháp 4như ý túc, 5 thần thông. Cư sĩ Thư cừ Kinh thanh (?- 464) đời Bắc Lương cũng có dịch bộ Thiền pháp yếu giải 2 quyển, nhưng hiện nay không còn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, 15; Pháp kinh lục Q.2].
Thiền pháp 禪法
[ja] ゼンホウ zenpō ||| The path of meditation of which there are generally two kinds. The first is called the 'bodhisattva meditation' as first transmitted by Kumārajīva 鳩摩羅什 and analyzed in detail by Zhiyi 智顗. This is the method as explained by the scriptures. The second is the meditation outside the scriptures that is transmitted from mind to mind as in the Chan tradition of Bodhidharma. => Phương pháp tu thiền, thông thường có 2 dạng. Loại đầu được gọi là 'Bồ-tát thiền' mà đầu tiên được truyền bá bởi ngài Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva 鳩摩羅什 ) và được ngài Trí Khải (Zhiyi 智顗) phân tích chi tiết. Đây là phương pháp được giải thích qua kinh điển. Loại thứ nhì là phương pháp siêu việt kinh điển, dùng tâm truyền tâm, là Thiền tông mà Bồ-đề Đạt-ma truyền dạy.
thiền phòng
6464修禪者所居之靜室。善見律毘婆沙卷二(大二四‧六八三上):「是時,太子往到禪房,至曇無德比丘所,求欲出家。」
; 1) Nơi hành thiền: Meditation abode, a room for meditation, a cell, a hermitage—See Thiền Đường. 2) Tên thường dùng để gọi “Tự Viện”—A common name for a monastery.
; (禪房) Tĩnh thất của người tu Thiền ở. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 (Đại 24, 683 thượng) nói: Bấy giờ, Thái tử đi đến Thiền phòng, chỗ của tỉ khưu Đàm vô đức để cầu xin xuất gia.
thiền phạm thiên
6479色界中有四重天處,皆為修禪定者所生之處,故稱禪天。禪梵天即指色界初禪之三天(大梵天、梵輔天、梵眾天)。法苑珠林卷三(大五三‧二八八下):「初禪廣如小千世界,乃至第四禪地廣無邊者,未知於他大千之上,為當共有初禪梵天,乃至共有色究竟天。」(參閱「四禪天」1846)
; The three Brahmaloka heavens of the first dhyàna.
; Ba cõi trời Phạm Thiên trong cõi Sơ Thiền sắc giới—The three Brahmaloka heavens of the first dhyana. ** For more information, please see Thiên (III) (A).
; (禪梵天) Chỉ cho 3 tầng trời Phạm (Đại phạm thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên) thuộc Sơ thiền thiên cõi Sắc. Cõi Sắc có 4 tầng trời đều là những nơi mà người tu Thiền định sẽ sinh về, nên gọi là Thiền thiên. Pháp uyển châu lâm quyển 3 (Đại 53, 288hạ) nói: CõiSơ thiền rộng bằng Tiểu thiên thế giới, đến cõi Thiền thứ 4 thì rộng lớn vô biên; nhưng chưa biết trênĐại thiên thế giới khác cũng có Phạm thiên cõi Sơ thiền, cho đến cũng có Sắc cứu cánh thiên hay không? (xt. Tứ Thiền Thiên).
thiền quan
6482<一>禪法之關門。釋門正統卷三(卍續一三○‧三九○下):「然啟禪關者,雖分宗不同,挹流尋源,亦不越乎經論之禪定,一度與今家之定聖一行也。」 <二>坐禪之道場,即禪林。景德傳燈錄卷十八(大五一‧三五一上):「白四羯磨後,全體戒定慧,豈準繩而可拘也?於是杖錫遍叩禪關。」
; (禪關) I. Thiền Quan. Ngưỡng cửa của Thiền. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 390 hạ) nói: Người mới bước vào ngưỡng cửa của Thiền, tuy thấy phân chia tông phái khác nhau, nhưng nếu theo dòng tìm về cội nguồn, thì thấy cũng không ngoài thiền định được nói trong các kinh luận, có khi cũng chỉ là một hạnh Thánh định như Thiền gia ngày nay mà thôi. II. Thiền Quan. Chỉ cho đạo tràng tọa thiền, tức là Thiền lâm.Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 351 thượng) nói: Sau khi bạch Tứ yết ma(tức sau khi thụ đại giới – ND),toàn thể giới định tuệ há bị câu thúc bởi những chuẩn mực? Bấy giờ, tích trượng gõ khắp Thiền quan.
thiền quan sách tiến
6482全一卷。明代雲棲袾宏(1532~1615)著。收於大正藏第四十八冊。本書前集收錄諸祖法語節要三十九章、諸祖苦功節略二十四章,後集收錄諸經引證節略。諸祖法語節要收錄黃檗希運、玄沙師備、鵝湖大義、永明延壽等三十九位祖師之示眾、普說。諸祖苦功節略係敘述祖師苦行與開悟之經過,內容包括懸崖坐樹、引錐自刺、誓不展被、無時異緣、口體俱忘、以頭觸柱等要目。諸經引證節略則引用經典中有關修行者精進努力之事項。本書流行甚廣,為修禪者必讀之精進總集。除收於大正藏外,另亦收於雲棲法彙第十四冊。
; (禪關策進) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vân thê Châu hoành (1532-1615) soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 48 và Vân thêphápvậng tập 14. Nội dung sách này phần trước thu chép những pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư gồm 39 chương, tóm lược sự khổ công của chư Tổ gồm 24 chương; phần sau thì thu chép sơ lược các dẫn chứng trong kinh. Phần pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư thì thu chép những lời dạy chúng, phổ thuyết của 29 vị Tổ sư như Hoàng bá Hi vận, Huyền sa Sư bị, Nga hồ Đại nghĩa, Vĩnh minhDiên thọ... Phần tóm lược sự khổ công của chư Tổ thì trình bày về sự khổ hạnh và quá trình khai ngộ của các vị Tổ sư, như ngồi trên cành cây là là ra sườn núi, cầm dùi tự đâm, thề không ngủ nghỉ, không theo các duyên, thân miệng đều quên, húc đầu vào cột...; còn phần thu chép sơ lược các dẫn chứng trong kinh thì dẫn dụng các việc nói trong kinh về những người gắng sức tinh tiến tu hành. Sách này lưu hành rất rộng, nói nhiều về hạnh tinh tiến mà người tu thiền nào cũng cần phải đọc.
thiền quyền
6477即左拳。釋迦如來像有兩脅士,左為表禪定之普賢菩薩,右為表智慧之文殊菩薩,因以智慧配於右,禪定配於左,故左拳即稱為禪拳。
; The meditation fist (musti), the sign of meditation shown by the left fist, the right indicating wisdom.
; Musti (skt)—Dấu hiệu của thiền định được tượng trưng bởi nắm tay trái, tay phải tượng trưng cho trí tuệ (Tượng Đức Phật Thích Ca có hai vị hộ pháp, bên trái là Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho thiền định, bên phải là Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho trí huệ)—The meditation fist, the sign of meditation shown by the left fist, the right indicating wisdom. ** For more information, please see Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Văn Thù Sư Lợi in Vietnamese-English Section.
; (禪拳) Nắm tay trái. Tượng đức Phật Thích ca có 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên, bên trái là bồ tát Phổ hiền, biểu trưng cho Thiền định; bên phải làbồ tát Văn thù, biểu trưng cho Trí tuệ. Bởi vì trí tuệ được phối hợp với bên phải, thiền định được phối hợp với bên trái, cho nên tả quyền tức gọi là Thiền quyền.
thiền quán
6483坐禪觀法。指坐禪時修行種種觀法。景德傳燈錄卷二師子尊者章(大五一‧二一四下):「有波利迦者,本習禪觀。」
; Dhyàna-contemplation.
; Dhyana-contemplation—Visualization—Calling to attention—Imagining in the mind.
; (禪觀) Pháp quán tọa thiền. Chỉ cho các pháp quán tu hành khi ngồi thiền. Chương Sư tử tôn giả trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2 (Đại 51, 214 hạ) nói: Có ngài Ba lợi ca vốn tu Thiền quán.
thiền quán a di đà
Amitābha meditation.
thiền quán và niệm phật
Thiền quán là phương cách khó thực tập. Phật dạy người tu Thiền trước tiên phải tu phép “Tứ Niệm Xứ,” quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Khi đã biết thân, thọ, tâm, pháp đều không sạch, khổ, vô thường và vô ngã, đều giả dối như mộng huyễn, thì chơn tánh sẽ tự hiển bày. Vài người cố gắng thật nhiều để tập trung tư tưởng và loại bỏ những lôi cuốn bên ngoài, nhưng tâm họ vẫn bận bịu đủ thứ. Tuy nhiên, nếu họ cố gắng niệm Phật thì họ có thể dễ dàng đạt đến nhất tâm bất loạn. Hơn nữa, Kinh điển Tịnh Độ đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hành. Nếu có đầy đủ tín, hạnh nguyện và dụng công niệm Phật, thì Phật A Di Đà và Thánh chúng sẽ gia hộ tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc—Meditation is a difficult way to practise. The Buddha taught: “Zen practitioners who want to cultivate must, first of all, practice the Four Foundations of Mindfulness, to contemplate the body is impure, all feelings as suffering, the ordinary mind as impermanent and all phenomena as lacking self-nature. When we realize that body, feelings, mind and phenomena are impure, the source of suffering, impermanent, without self-nature, false, dream-like and illusory, the True Thusness Nature will manifest itself. Some people have tried very hard to concentrate and abandon all distractions, their mind is still preoccupied with all delusions. However, if they try to focus on recitation the Buddha's name, they can reach single-mindedness. Furthermore, the Pure Land Sutras are simple and easy to understand and practice. If you are utterly sincere in your faith, conducts and vows with all efforts, you will be welcome by Amitabha Buddha and other Saints in the Western Pure Land.
thiền quán về tâm
Meditation on the mind—Qua thiền tập liên tục chúng ta có thể thấy được tâm thanh tịnh. Chỉ có thiền tập liên tục, chúng ta có thể vượt qua trạng thái tâm dong ruổi và xả bỏ những loạn động. Cùng lúc chính nhờ thiền tập mà chúng ta có thể tập trung tư tưởng để quán sát những gì khởi lên trong tư tưởng, trong thân, trong cảm thọ, nghe, nếm, ngửi và tưởng tượng, vân vân. Qua thiền tập liên tục, chúng ta có thể quán sát rằng tất cả là vô thường, từ đó chúng ta có khả năng buông bỏ, và Niết bàn hiển hiện ngay lúc chúng ta buông bỏ tất cả—Through continuous meditation we can perceive our mind clearly and purely. Only through continuous meditation we can gradually overcome mental wandering and abandon conceptual distractions. At the same time we can focus our mind within and observe whatever arises (thoughts, sensations of body, hearing, smelling, tasting and images). Through continuous meditation we are able to contemplate that they all are impermanent, we then develop the ability to let go of everything. Nirvana appears right at the moment we let go of everything.
thiền quán về tâm xả
Meditation on equanimity—Chúng ta nên thực tập thiền quán về tâm xả để giảm thiểu sự phát triển của sân giận người nầy và luyến ái người kia—We should try to achieve equanimity through meditation to reduce developing of anger toward one person and attachment toward another person.
thiền quật
6480修禪者所住之巖窟。即禪僧之住居。後轉指禪宗寺院。法華經分別功德品(大九‧四五下):「園林浴池,經行禪窟。」
; Hang động để hành thiền hay an cư—A cell, or cave, for meditation, or retirement from the world.
; (禪窟) Chỉ cho hang núi, nơi người tu Thiền ở. Tức là nơi cư trú của Thiền tăng. Về sau, từ ngữ Thiền quật được chuyển dụng để chỉ cho các chùa viện của Thiền tông. Phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 45 hạ) nói: Ở nơi vườn rừng, tắm chỗ ao hồ, đi dạo trong Thiền quật.
thiền sinh
Meditator or Zen student.
Thiền sàng
(禪床): giường ngồi của tu sĩ, giường để ngồi Thiền, như trong bài thơ Tống Thiên Thai Tăng (送天台僧) của Giả Đảo (賈島, 779-843) nhà Đường có câu: “Hàn sơ tu tịnh thực, dạ lãng động Thiền sàng (寒蔬修淨食、夜浪動禪床, rau lạnh ăn lót dạ, sóng đêm động giường Thiền).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 20 có đoạn kể vị thị giả hỏi Hòa Thượng Triệu Châu rằng: “Hòa Thượng kiến Đại Vương lai bất hạ Thiền sàng, kim nhật Tướng Quân lai, vi thậm ma khước hạ Thiền sàng. Sư viết: 'Phi nhữ sở tri, đệ nhất đẳng nhân lai, Thiền sàng thượng tiếp, trung đẳng nhân lai, hạ Thiền sàng tiếp, mạt đẳng nhân lai, Tam Môn ngoại tiếp' (和尚見大王來不下禪床、今日將軍來、爲甚麼卻下禪床、師曰、非汝所知、第一等人來、禪床上接、中等人來、下禪床接、末等人來、三門外接, Hòa Thượng thấy Đại Vương đến mà chẳng bước xuống giường Thiền, hôm nay Tướng Quân đến, vì sao Ngài lại bước xuống giường Thiền mà tiếp. Hòa Thượng bảo: 'Ngươi không hiểu đâu, người hạng nhất thì ta tiếp trên giường Thiền; người hạng trung thì ta bước xuống giường Thiền tiếp; người thuộc hạng cùng mạt thì ta ra tận ngoài cửa Tam Quan tiếp').”
Thiền Sơ địa
cũng viết: Sơ thiền, Sơ thiền định, Đệ nhất thiền. Xem Bốn thiền.
Thiền sư
禪師; C: chánshī; J: zenji; |Danh hiệu dành cho những vị đã Giác ngộ và hoằng hoá trong Thiền tông. Thường thường các bậc tôn túc được ban danh hiệu này sau khi viên tịch nhưng cũng có nhiều người được mang danh hiệu trong lúc còn giáo hoá.
thiền sư
6477梵語 dhyāyin,巴利語 jhāyin。通達禪定之比丘。原始佛教時代,阿羅漢為通曉一切禪法者;以後至部派佛教時代,比丘間產生各種專門人才,如經師、律師、論師、三藏師、法師、禪師等。其中專意坐禪,通曉禪定者,稱禪師。在中國,禪師之稱,不限用於禪宗名德,於天台宗、淨土宗、三階教等專習坐禪者,亦稱禪師。續高僧傳習禪篇收載之達磨禪師、慧文禪師、慧思禪師、保誌禪師、道綽禪師、信行禪師等即屬其例。 後朝廷亦賜有德之僧予禪師號,中國以禪宗北宗之祖神秀獲諡「大通禪師」為最早。後有南宗之祖慧能於示寂後百餘年獲諡「大鑑禪師」。生前即有賜號者,以宋代宗杲之受賜「大慧禪師」為嚆矢。
; Dhyana master, Zen master, Dyayin (S), Jhayin (P), Butto Kokushi (J), Jakuhitsu Genko (J), Zenji (J), Son (K), Ch'an shi (C), Chanshī (C).
; A master, or teacher, of meditation, or of Thiền tông.
; Kammatthanacariya (p)—A Zen Master—A meditation teacher. 1) Một vị Thầy dạy Thiền nói chung: A master, or teacher, of meditation, or of the Ch'an school in general. 2) Một vị Thầy đã chứng ngộ và dạy thiền: A Zen master who has already attained self-realization or enlightenment. He was allowed to teach Zen to his disciples. 3) Bậc Thầy Thiền vĩ đại hay danh tiếng. Danh hiệu nầy thường được phong tặng sau khi vị thầy đã viên tịch, mặc dù một vài bậc thầy đã đạt được danh hiệu nầy ngay trong lúc còn sống: A great or renowned Zen master. The title is usually conferred posthumously, though some masters have achieved this distinction during their life time.
; (禪師) Phạm:Dhyàyin. Pàli:Jhàyin. Chỉ cho vị tỉ khưu thông suốt Thiền định. Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy, các vị A la hán đều là những người thông hiểu tất cả pháp Thiền; về sau đến thời đại Phật giáo bộ phái, thì giữa các tỉ khưu sản sinh ra các loại nhân tài chuyên môn như: Kinh sư, Luận sư, Luật sư, Tam tạng sư, Pháp sư, Thiền sư... Trong đó, người chuyên tâm chú ý tọa thiền, thông hiểu thiền định, gọi là Thiền sư. Ở Trung quốc, danh hiệu Thiền sư, không phải chỉ chuyên dùng cho các bậc danh đức của Thiền tông, mà các sư thuộc tông Thiên thai, tông Tịnh độ, Tam giai giáo... chuyên tu tọa thiền cũng gọi là Thiền sư. Chẳng hạn như thiên Tập thiền trong Tục cao tăng truyện đã thu chép Đạt ma thiền sư, Tuệ văn thiền sư, Tuệ tư thiền sư, Bảo chí thiền sư, Đạo xước thiền sư, Tín hành thiền sư... Về sau, triều đình cũng ban danh hiệu Thiền sư cho các bậc cao tăng danh đức, như trường hợp Tổ Thần tú của Thiền Bắc tông là người đầu tiên đã được ban thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư. Sau, Tổ Tuệ năng của Thiền Nam tông, sau khi thị tịch hơn 100 năm, được ban thụy hiệu Đại Giám Thiền Sư. Lúc còn sống mà được ban hiệu thì có ngài Tông cảo đời Tống là người đầu tiên được ban hiệu Đại Tuệ Thiền Sư.
thiền sư vạn hạnh
Ngày sanh của Thiền Sư không ai biết. Lúc thiếu thời ông đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ phi thường. Ông xuất gia năm 21 tuổi. Ông thị tịch vào đêm trăng tròn năm 1018—Zen Master Vạn Hạnh's date of birth was unknown. At the young age, he was extraordinarily intelligent. He left home at the age of 21. He died on the full moon night of 1018—The author of this poem: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô! Our life is a simple lightning which comes and goes (appears then disappears). As springtime offers blossoms, only to fade (wither) in the fall. Earthly flourish and decline, O friends, do not fear at all. They are nothing but a drop of dew on the grass of morning!
thiền sắc giới
RŪpa-jhāna (P), RŪpa-dhyāna (S).
thiền tam muội
6453即禪那與三昧之並稱。禪那,梵語 dhyāna, 意譯作思惟修習;三昧,梵語 samādhi,意譯作定,二者同體異名。法苑珠林卷八十四(大五三‧九○四上):「菩薩修定復有十法,不與二乘共。何等為十?(中略)八、修定其心寂滅,勝於二乘諸禪三昧故。」
; Dhyāna meditation, sam ten (T), Dhyana-Samadhi (S)Thiền na Tam muội, Thiền Tam muội, Thiền định: tham thiền và nhập định.
; Dhyàna and samàdhi, dhyàna considered as tư duy meditating, samàdhi as định abstraction.
; Thiền na và tam muội—Dhyana and samadhi (skt). 1) Thiền na dịch là “tư duy.” Tư duy trong cõi sắc giới thì gọi là thiền—Dhyana is considered meditating. Meditation in the visible or known is called Dhyana. 2) Tam muội dịch là “định.” Tư duy trong cõi vô sắc giới thì gọi là Tam Muội—Samadhi is considered as abstraction. Concentration on the invisible, or supermundane is called Samadhi.
; (禪三昧) Chỉ cho Thiền na và Tam muội. Thiền na, Phạm: Dhyàna, Hán dịch: Tư duy, Tu tập. Tam muội, Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Định. Thiền na và Tam muội là cùng 1 thể mà khác tên. Pháp uyển châu lâm quyển 84 (Đại 53, 904 thượng) nói: Bồ tát tu định lại có 10 pháp, không giống với Nhị thừa. Những gì là 10? (...) thứ 8, tu định thì tâm vắng lặng, hơn hẳn các Thiền tam muội của Nhị thừa.
thiền tam tông
6453華嚴宗五祖圭峰宗密(780~841)於其所著禪源諸詮集都序、中華傳心地禪門師資承襲圖之中,將禪宗諸派總分為息妄修心宗、泯絕無寄宗、直顯心性宗,而主張自屬之荷澤宗為最優。 息妄修心宗係指南侁、北秀、保唐、宣什等之門下,及牛頭、天台、惠稠、求那等倡導之禪。此宗主張外境與內心各有分限,如能背境觀心,即可息滅妄念;能息妄念,即覺悟而無所不知。此即指北宗禪。 泯絕無寄宗係指石頭、牛頭,以迄徑山等一派之主張。彼等主張凡聖等法,皆如夢幻,故須了脫一切執著,怨親苦樂一切無礙,了達本來無事,遠離顛倒,證得解脫。 直顯心性宗係指洪州宗、荷澤宗,主張有、空皆唯真性(即會相歸性)。此又分二類:(一)謂語言動作、貪瞋慈忍、善惡苦樂等,皆即佛性,此外別無佛。主張不斷不修,即為解脫。(二)謂妄念本寂,塵境本空,此空寂之心即靈知不昧,為我真性;知之一字即眾妙之門。頓悟此空寂之知,知其眾念無形,雖備修萬行,以無念為宗,則罪業自然斷除,功用自然增進。
; (禪三宗) Chỉ cho 3 tông Thiền theo cách tổng phân loại của ngài Khuê phong Tông mật. Trong các tác phẩm Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự và Trung hoatruyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ, ngài Khuê phongTông Mật (780-841), Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm, chia chung các phái Thiền tông làm 3 tông là: Tức vọng tu tâm tông, Mẫn tuyệt vô kí tông và Trực hiển tâm tính tông. 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông dứt vọng niệm tu chân tâm. Tông thiền này do đệ tử của các ngài Nam sân, Bắc tú, Bảo đường, Tuyên thập...và các vị Ngưu đầu, Thiên thai, Huệ trù, Cầu na...đề xướng. Tông này chủ trương ngoại cảnh và nội tâm đều có phần hạn, nếu bỏ quên cảnh mà quán xét tâm thì có thể diệt được các vọng niệm; hễ diệt được vọng niệm thì liền giác ngộ, rõ suốt tất cả. Đây là chỉ cho Thiền bắc tông. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông dứt bặt không dấu vết. Chỉ cho tông phái của các ngài Thạch đầu, Ngưu đầu, Kính sơn... Tông này chủ trương các pháp phàm thánh đều như mộng huyễn, cho nên phải thoát li tất cả chấp trước, oán thân, vui khổ, tất cả vô ngại, rõ suốt xưa nay vốn vô sự, xa lìa điên đảo, chứng được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông chỉ thẳng chân tâm thấy tính thành Phật. Chỉ cho tông Hồng châu và tông Hà trạch. Các tông này chủ trương Hữu, Không đều là chân tính(tức qui tướng vào tính). Chủ trương này lại chia làm 2 loại: a. Cho rằng ngôn ngữ động tác, tham sân từ nhẫn, thiện ác khổ lạc... đều là Phật tính, ngoài những thứ này ra, không có Phật nào khác. Chủ trương không dứt (ác), không tu(thiện) chính là giải thoát. b. Cho rằng vọng niệm vốn vắng lặng, cảnh trần vốn không, tâm rỗng lặng này chính là cái Biết thiêng liêng, mầu nhiệm, sáng suốt vô cùng, đó là chân tính của ta; 1 chữ Biết này chính là cửa của các cái huyền diệu. Đốn ngộ được cái Biết rỗng lặng này thì biết rằng mọi ý niệm đều vô hình; tuy tu đủ muôn hạnh mà lấy vô niệm làm tông, thì tội nghiệp tự nhiên dứt trừ, công dụng tự nhiên tăng tiến.
thiền thiên
Dhyāna Heaven (S)Có bốn cõi trời thiền trong cõi trời sắc giới.
; Dhyàna heavens, four in numbers. where those who practise meditation may be reborn.
; Có bốn Thiền Thiên, nơi mà các bậc tu thiền có thể tái sanh về (cõi sắc giới có bốn tầng trời mà người tu thiền sẽ được sanh về đấy)—Dhyana heavens, four in number, where those who practice meditation may be reborn. ** For more information, please see Tứ Thiền.
thiền thiên ma
6454為日本日蓮宗四箇格言之一。日蓮擇取當時所盛行諸宗之中最具勢力,且有違自家宗旨之四宗加以批判,而立四箇格言。其中第二之禪天魔即指斥禪宗之標榜「教外別傳,不立文字」,謂不依經典乃否定佛所說法,故視禪宗為天魔外道之法。(參閱「四格言」1749)
; (禪天魔) Một trong 4 câu cách ngôn của tông Nhật liên, Nhật bản. Ngài Nhật liên chọn lấy 4 tông trái với tông chỉ của mình, nhưng có thế lực nhất trong các tông thịnh hành ở đương thời để phê bình mà lập ra 4 câu cách ngôn. Trong đó, Thiền thiên ma là câu thứ 2, tức chỉ trích chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự của Thiền tông, cho rằng không nương theo kinh điển là phủ định giáo pháp do đức Phật nói, vì thế coi Thiền tông là pháp của Thiên ma ngoại đạo. (xt. Tứ Cách Ngôn).
thiền tháp
6480 請參閱 坐禪三昧經 [1]請參閱 達摩多羅禪經 [1]請參閱 禪祕要法經又稱禪床。即坐禪時之席位。榻者,即坐臺或寢臺,較床為低短細長。禪林中僧堂之座位稱為單,又稱單位,其形狀雖異於禪座,然兩者俱為坐禪時之席位。單者,因於僧堂座位壁上,貼以上記有自己名字之紙片,入僧堂即尋名單之位置坐下,故稱單位。〔敕修百丈清規卷五坐禪條〕
; (禪榻) Cũng gọi Thiền sàng. Chỉ cho chỗ ngồi khi tọa thiền. Tháp là cái ghế hẹp và dài nhưng thấp hơn giường, dùng để ngồi hoặc ngủ. Vật dùng để ngồi ở Tăng đường trong Thiền lâm, gọi là Đơn, hoặc gọi là Đơn vị, hình dáng tuy khácThiền sàng, nhưng cả 2 đều là những vật dùng khi tọa thiền. Đơn vị nghĩa là các chỗ ngồi trong Tăng đường có viết tên mỗi người trên mảnh giấy rồi dán lên vách, lúc vào Tăng đường thì tìm chỗ có dán tên mình trên vách mà ngồi, cho nên họ gọi là Đơn vị. [X. Điều Tọa thiền trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].
thiền thất
6474<一>指修行坐禪之處。〔梁高僧傳卷三求那跋摩章〕[1] <二>住持之居室,即方丈。或轉申為住持之代稱。〔法苑珠林卷十八〕
; Meditation hall or room; other similar terms are thiền quán, thiền phòng, thiền viện, thiền đường, thiền cư.
; Thiền Cư—Thiền Đường—Thiền Phòng—Thiện Viện—Meditation hall or room. ** For more information, please see Thiền Đường.
; (禪室) I. Thiền Thất. Nhà Thiền. Tức chỉ cho nơi tu hành tọa thiền. [X. chương Cầu na bạt ma trong Lương cao tăng truyện Q.3]. II. Thiền Thất. Nơi ở của vị Trụ trì, tức phương trượng. Hoặc được chuyển dụng để gọi thay cho vị Trụ trì. [X. Pháp uyển châu lâm Q.18].
thiền thực
See Thiền Duyệt Thực.
thiền toản
6483鑽,鑽研。禪鑽,研究禪理之意。諷刺人以禪理為鑽營之器,謀進身之階。瑯琊代醉編卷三十一:「呂申公素喜釋氏之學,及為相,務簡靜,罕與士大夫接,惟能談禪者多得從遊,於是好進之徒往往幅巾道袍,日遊禪寺,隨僧齋粥,談說理性,覬以自售,時人謂之禪鑽。」
; (禪鑽) Toản là dùi, Thiền toản là dùi mài nghiên cứu lí thiền. Từ ngữ này được sử dụng để châm biếm người coi thiền lí như một món đồ để dùi mài hòng mưu việc tiến thân. Lang gia đại túy thiên quyển 31 nói: Lã thân công vốn ưa cái học của Thích, đến khi làm Tướng, thích sự vắng lặng, ít tiếp xúc vớicácsĩ đại phu, chỉ giao du với những người có khả năng đàm luận về Thiền, do đó, những kẻ muốn tiến thân, thường thường khăn đóng, áo đạo, lân la cửa Thiền, theo tăng thụ trai, luận bàn lí tính, mong được bán mình, người đời gọi họ là Thiền toản.
thiền trai
6482齋,靜肅之室。禪齋,即禪室。釋氏要覽卷上(大五四‧二六三下):「又有呼為禪齋,齋者,肅靜義也,如儒中靜室,謂之書齋。」
; (禪齋) Chỉ cho Thiền thất. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 263 hạ) nói: Lại có cái gọi là Thiền trai. Trai nghĩa là trang nghiêm, yên tĩnh, như nhà Nho gọi là Tĩnh thất, hoặc gọi là Thư trai.
thiền trí
Xem Thiền huệ.
; Meditation and wisdom.
; Thiền định và trí huệ—Meditation and wisdom. ** For more information, please see Thiền Quyền, Samantabhadra, and Văn Thù Sư Lợi.
thiền trượng
6454坐禪時,用以警策昏睡者之杖。以竹、葦作成,一端用布等物包裹。釋氏要覽卷下(大五四‧二九七中):「禪杖,以竹、葦為之,用物包一頭,令下座執行,坐禪昏睡,以軟頭點之。」今則泛稱僧所用之杖。〔十誦律卷四十、四分律刪繁補闕行事鈔卷下二、禪林象器箋器物門〕
; A staff or pole for touching those who fall asleep while assembled in meditation. Bonze's crosier.
; Cây gậy dùng đánh thức người hôn trầm khi ngồi tọa thiền (được làm bằng trúc hoặc sậy)—A staff or pole for touching those who fall asleep while assembled in the meditation.
; (禪杖) Cây gậy được sử dụng để chống ngủ gật lúc tọa thiền. Gậy làm bằng tre hoặc lau, một đầu được bọc lại bằng vải. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền trượng được làm bằng tre hay lau, dùng vật bọc một đầu, sai vị Hạ tọa cầm đi tuần tra, nếu người tọa thiền ngủ gật thì dùng đầu gậy có bao bọc đánh nhẹ vào lưng cho tỉnh ngủ. Ngày nay Thiền trượng là chỉ chung cho cây gậy của chúng tăng dùng. [X. luận Thập tụng Q.40; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền trấn
6482坐禪時,安置於頭上,用以警覺睡眠之道具。釋氏要覽卷下(大五四‧二九七中):「禪鎮,木版為之,形量似笏,中作孔,施細串於耳下,頭戴去額四指。坐禪人若昏睡頭傾,則墮以自警。」佛言一墮聽舒一足,二墮舒二足,三墮應起經行。天台大師智顗之畫像即安置此類禪鎮。〔十誦律卷四十、大智度論卷九十一、釋禪波羅蜜次第法門卷二、四分律刪繁補闕行事鈔卷下二、四分律行事鈔資持記卷下二、法苑珠林卷三十二、禪林象器箋器物門〕
; Một miếng gỗ dùng để gõ đầu vị sư ngủ gục trong lúc hành thiền—The meditation-warden, a piece of wood so hung as to strike the monk's head when he nodded in sleep. ** For more information, please see Thiền Cầu and Thiền Trượng.
; (禪鎮) Một thứ đạocụđược đặt ở trên đầu dùng để chống ngủ gật lúc tọa thiền. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền trấn được làm bằng thanh gỗ, dùi một cái lỗ ở giữa, xỏ sợi dây nhỏ quàng vào tai, để ở trên đầu cách trán 4 đốt ngón tay. Nếu người tọa thiền ngủ gật thì đầu nghiêng, Thiền trấn sẽ rơi làm cho tỉnh ngủ. Đức Phật dạy: Nếu rơi1 lần cho duỗi 1chân, nếu rơi 2 lần cho duỗi 2 chân, nếu rơi 3 lần thì cho đứng dậy đi dạo. Tượng vẽ Đại sư Thiên thai Trí khải có đặt loại Thiền trấn này. [X.luật Thập tụng Q.40; luận Đại trí độ Q.41; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 2; Pháp uyển châu Q.32; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền tuệ
Dhyàna and Wisdom.
; See Thiền Huệ.
thiền tuỷ
6482<一>禪道之精髓。景德傳燈錄卷三(大五一‧二一九中):「迄九年已,欲西返天竺,乃命門人曰:『時將至矣!汝等蓋各言所得乎?』時門人道副對曰:『如我所見,不執文字,不離文字,而為道用。』師曰:『汝得吾皮。』尼總持曰:『我今所解,如慶喜見阿閦佛國,一見更不再見。』師曰:『汝得吾肉。』道育曰:『四大本空,五陰非有,而我見處,無一法可得。』師曰:『汝得吾骨。』最後慧可禮拜後,依位而立。師曰:『汝得吾髓。』」 <二>楞嚴經之別稱。〔楞嚴文句講錄卷一〕
; (禪髓) I. Thiền Tủy. Chỉ cho cốt tủy của đạo Thiền. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 trung) nói: Sau 9 năm, muốn trở về Thiên trúc, sư(tức Tổ sư Đạt ma) mới bảo các đệ tử: Đã đến lúc, các ngươi mỗi người hãy nói sở đắc của mình. Bấy giờ, đệ tử là Đạo phó thưa rằng: Như chỗ thấy của con thì không chấp văn tự, cũng không lìa văn tự, đó là đạo dụng. Sư nói: Ông được phần da của ta. Ni Tổng trì thưa: Nay chỗ hiểu của con như ngài Khánh hỉ thấy cõi Phật A súc, một khi thấy rồi không còn thấy lại nữa. Sư nói: Ngươi được phần thịt của ta. Ngài Đạo dục thưa: Bốn đại vốn không, 5 ấm chẳng phải có, như chỗ thấy của con thì không có một pháp nào để được cả. Sư nói: Ông được phần xương của ta. Cuối cùng, ngài Tuệ khả sau khi lễ bái, đứng yên tại chỗ. Sư nói: Ông được phần tủy của ta. II. Thiền Tủy. Tên khác của kinh Lăng nghiêm. [X. Lăng nghiêm cú giảng lục Q.1].
thiền tâm
6454謂禪定非思量之心,即心專注於一之狀態。又指依禪定所得之本來清淨心。〔禪源諸詮集都序〕
; The mind in a state of abstraction.
; Zen mind—Empty mind is Zen mind: Vô tâm là thiền tâm.
; (禪心) Chỉ cho tất cả tâm, tâm sở thiện tương ứng với 2 pháp tàm, quí và 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si mà khởi lên. Kinh Na tiên tỉ khưu quyển thượng (Đại 32, 697 thượng) nói: Dùng thiện tâm nhớ nghĩ chính pháp. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6]. THIÊN THẾ THIỀN SƯ Tên chức Tăng quan được đặt ra ở đời Minh. Niên hiệu Hồng vũ năm đầu (1368) đời vua Thái tổ nhà Minh, viện Thiện thế được thiết lập ở chùa Thiên giới tại Nam kinh để quản lí công việc Phật giáo. Ngài Tuệ đàm là Thiện thế thiền sư đời thứ nhất. Hai chức Tả thiện thế và Hữu thiện thế Chánh lục phẩm được đặt ra vào nămHồng vũ 14 (1381) để giám sát các vị tăng phạm giới pháp trong các chùa viện. Vào năm Hồng vũ 22 (1389), vua hạ chiếu ban cho Thiện thế thiền sư chức quyền trông coi các chùa trong nước với mục đích lớn nhất là giúp vua giữ gìn giềng mối và hộ trì đạo pháp. [X. Thích giám kê cổ lượctụctập Q.2].
Thiền Tông
(禪宗, Zen-shū): lược xưng của Tọa Thiền Tông (坐禪宗, Zazen-shū), đối ứng với Giáo Tông, có ý nghĩa là tông phái chuyên tu ngộ đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Nó còn được gọi là Phật Tâm Tông (佛心宗, Busshin-shū) hay Đạt Ma Tông (達磨宗, Daruma-shū), thuộc một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc và ở Nhật cũng vậy. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người chuyên tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai Tông và Tam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, mà đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy chỉ có một mình Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, 摩訶迦葉) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bèn dạy rằng: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp", và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền (以心傳心、敎外別傳)”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó truyền pháp này lại cho A Nan (s: Ānanda, 阿難), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (s: Śāṇakavāsa,商那和修), Ưu Bà Cúc Đa (s: Upagupta, 優婆毱多), Đề Đa Ca (s: Dhṛtaka, 提多迦), Di Giá Ca (s: Miccaka, 彌遮迦), Bà Tu Mật (s: Vasumitra, 婆須蜜), Phật Đà Nan Đề (s: Buddhanandi, 佛陀難提), Phục Đà Mật Đa (s: Buddhamitra, 伏駄蜜多), Ba Lật Thấp Bà (s: Pārśvika, 波栗濕婆), Phú Na Dạ Xà (s: Puṇyayaśas, 富那夜奢), A Na Bồ Đề (s: Aśvaghoṣa, 阿那菩提, tức Mã Minh [馬鳴]), Ca Tỳ Ma La (s: Kapiñdjala, 迦毘摩羅), Na Già Yên Thích Thọ Na (s: Nāgārjuna, 那伽閼刺樹那, tức Long Thọ [龍樹]), Ca Na Đề Bà (s: Kāṇadeva, 迦那提婆, tức Thánh Thiên [聖天]), La Hầu La Đa (s: Rāhulata, 羅詭羅多), Tăng Già Nan Đề (s: Sañghānandi, 僧伽難提), Ca Da Xá Đa (s: Gayāśata, 迦耶舍多), Cưu Ma La Đa (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅多), Xà Dạ Đa (s: Gayata, 闍夜多), Bà Tu Bàn Đầu (s: Vasubandhu, 婆修盤頭, tức Thế Thân [世親]), Ma Nã La (s: Manorhita, 摩拏羅), Hạc Lặc Na (s: Haklenayaśas, 鶴勒那), Sư Tử Bồ Tát (s: Siṁhabhikśu, 師子菩薩), Bà Xá Tư Đa (s: Basiasita, 婆舍斯多), Bất Như Mật Đa (s: Purjamitra, 不如蜜 多), Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西天二十八祖). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (慧可), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) cho đến Huệ Năng (慧能). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (東土六祖).
; (禪宗): lược xưng của Tọa Thiền Tông (坐禪宗, Zazen-shū), còn gọi là Phật Tâm Tông (佛心宗), Đạt Ma Tông (達磨宗), Vô Môn Tông (無門宗); chỉ tông phái của Phật Giáo Đại Thừa, lấy Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨, ?-495, 346-495, ?-528, ?-536) làm sơ Tổ, tham cứu bản nguyên của tâm tánh với yếu chỉ “kiến tánh thành Phật (見性成佛, thấy tánh thành Phật)”, chuyên tu ngộ đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Đây là một trong 13 tông phái của Phật Giáo Trung Quốc, và cũng là một trong 13 tông phái của Phật Giáo Nhật Bản. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người chuyên tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai Tông và Tam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy chỉ có một mình tôn giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, 摩訶迦葉) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bảo với tôn giả rằng: “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, phó chúc dữ nhữ (我有正法眼藏、涅槃妙心、實相無相、微妙法門、付囑與汝, ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, phó chúc cho ngươi)”, và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Phẩm Niêm Hoa (拈華品) thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền (以心傳心、敎外別傳)”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó truyền pháp này lại cho A Nan (s: Ānanda, 阿難), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (s: Śāṇakavāsa,商那和修), Ưu Bà Cúc Đa (s: Upagupta, 優婆毱多), Đề Đa Ca (s: Dhṛtaka, 提多迦), Di Giá Ca (s: Miccaka, 彌遮迦), Bà Tu Mật (s: Vasumitra, 婆須蜜), Phật Đà Nan Đề (s: Buddhanandi, 佛陀難提), Phục Đà Mật Đa (s: Buddhamitra, 伏駄蜜多), Ba Lật Thấp Bà (s: Pārśvika, 波栗濕婆), Phú Na Dạ Xà (s: Puṇyayaśas, 富那夜奢), A Na Bồ Đề (s: Aśvaghoṣa, 阿那菩提, tức Mã Minh [馬鳴]), Ca Tỳ Ma La (s: Kapiñdjala, 迦毘摩羅), Na Già Yên Thích Thọ Na (s: Nāgārjuna, 那伽閼刺樹那, tức Long Thọ [龍樹]), Ca Na Đề Bà (s: Kāṇadeva, 迦那提婆, tức Thánh Thiên [聖天]), La Hầu La Đa (s: Rāhulata, 羅詭羅多), Tăng Già Nan Đề (s: Sañghānandi, 僧伽難提), Ca Da Xá Đa (s: Gayāśata, 迦耶舍多), Cưu Ma La Đa (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅多), Xà Dạ Đa (s: Gayata, 闍夜多), Bà Tu Bàn Đầu (s: Vasubandhu, 婆修盤頭, tức Thế Thân [世親]), Ma Nã La (s: Manorhita, 摩拏羅), Hạc Lặc Na (s: Haklenayaśas, 鶴勒那), Sư Tử Bồ Tát (s: Siṁhabhikśu, 師子菩薩), Bà Xá Tư Đa (s: Basiasita, 婆舍斯多), Bất Như Mật Đa (s: Purjamitra, 不如蜜多), Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西天二十八祖, Hai Tám Vị Tổ Ấn Độ). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (慧可), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) cho đến Huệ Năng (慧能). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (東土六祖, Sáu Vị Tổ Trung Hoa). Cụ thể, vào trong khoảng niên hiệu Phổ Thông (普通, 520-527) đời vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-449) nhà Lương, Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Nam Thiên Trúc (南天竺) đến Kiến Nghiệp (建業, Nam Kinh [南京] ngày nay), truyền tông này vào Trung Hoa; nên được gọi là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Ban đầu, Đại Sư đến yết kiến vua Lương Võ Đế, nhưng không khế hợp cơ duyên, bèn vào Thiếu Lâm Tự (少林寺) ở Tung Sơn (嵩山) ngồi xoay mặt vào tường 9 năm; vì vậy người đời gọi Đại Sư là Bích Quán Bà La Môn (壁觀婆羅門). Kế đến, Thần Quang (神光, tức Huệ Khả [慧可]) đứng ngoài tuyết lạnh chặt cánh tay dâng lên để bày tỏ ý chí cầu đạo, cuối cùng được Tổ Sư Đạt Ma truyền tâm ấn cho, làm Tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. Huệ Khả truyền cho Tăng Xán (僧璨); Tăng Xán truyền cho Đạo Tín (道信) và làm cho tong này hưng thịnh. Môn hạ của Đạo Tín có hai nhân vật kiệt xuất là Hoằng Nhẫn (弘忍) và Pháp Dung (法融). Môn hạ của Pháp Dung thì có Trí Nghiễm (智儼), Huệ Phương (慧方), Pháp Trì (法持), v.v. Vì pháp hệ này trú tại Ngưu Đầu Sơn (牛頭山) ở Kim Lăng (金陵), thế gian gọi là Ngưu Đầu Thiền (牛頭禪) với yếu chỉ là “dục đắc tâm tịnh, vô tâm dụng công (欲得心淨、無心用功, muốn được tâm tịnh, dụng công với vô tâm).” Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trú tại Hoàng Mai Sơn (黃梅山), Kì Châu (蘄州, Hồ Bắc [湖北]), xiển dương áo chỉ của Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (s: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛般若波羅蜜經); có một số môn đệ xuất sắc như Ngọc Tuyền Thần Tú (玉泉神秀), Đại Giám Huệ Năng (大鑑慧能), Tung Sơn Huệ An (嵩山慧安), Mông Sơn Đạo Minh (蒙山道明), Tư Châu Trí Tiển (資州智侁), v.v. Trong số đồ chúng của Ngũ Tổ, Thần Tú được xem như là thượng thủ, nên gọi là Tú Thượng Tọa (秀上座). Sau khi Ngũ Tổ qua đời, Thần Tú chấn tích ở phương Bắc, vì vậy có tên là Bắc Tú (北秀); được tôn xưng là Tổ của Bắc Tông Thiền (北宗禪). Thiền phái này lấy Trường An (長安), Lạc Dương (洛陽) làm trung tâm, xiển dương đạo pháp và hưng thịnh trong vòng khoảng 100 năm. Môn hạ của Thần Tú có Tung Sơn Phổ Tịch (嵩山普寂), Kinh Triệu Nghĩa Phước (京兆義福), v.v., truyền thừa được 4, 5 đời thì tuyệt dứt. Ngoài ra, Tung Sơn Huệ An khai sáng Lão An Thiền (老安禪); còn Tư Châu Trí Tiển thì cổ xướng Nam Tiển Thiền (南侁禪). Về trường hợp Đại Giám Huệ Năng, nhân một bài kệ mà được Ngũ Tổ ấn khả, truyền cho ý bát, kế thừa làm Lục Tổ. Sau đó, sư đi lánh nạn ở phương Nam, trú tại Tào Khê (曹溪), Thiều Dương (韶陽, Quảng Đông [廣東]), cử xướng Thiền phong, được tôn sùng là Tổ của Nam Tông Thiền (南宗禪). Vì tông phong của Nam Tông và Bắc Tông có khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸). Đệ tử nối dòng pháp của Huệ Năng có hơn 40 người; các nhân vật trứ danh phải kể đến là Nam Nhạc Hoài Nhượng (南嶽懷讓), Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠), Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺), Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會), v.v. Trong đó, Hà Trạch Thần Hội thì khai sáng Hà Trạch Tông (荷澤宗), tận lực đề xướng pháp môn Đốn Ngộ, lấy “nhất niệm bất khởi (一念不起, một niệm không dấy khởi)” để ngồi, và “liễu kiến bản tánh (了見本性, thấy rõ bản tánh)” để Thiền. Nam Nhạc Hoài Nhượng thọ tâm ấn từ Lục Tổ, đến trú tại Bát Nhã Tự (般若寺), tiếp hóa đồ chúng trong vòng 30 năm; kế thừa dòng pháp có 9 vị và Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) được xem như là bậc nhất. Về sau, Mã Tổ cử xướng Thiền pháp tại Cung Công Sơn (龔公山), Giang Tây (江西), cơ phong sắc bén, khai sáng Thiền phong đánh hét độc đáo, được thế gian gọi là Hồng Châu Tông (洪州宗). Mã Tổ chủ trương rằng những hoạt động thường ngày như khởi tâm động niệm, dương lông mày, chớp mắt, v.v., đều là Phật tánh; nên có thuyết gọi là “kiến tánh thị Phật (見性是佛, thấy tánh là Phật)” hay “tánh tại tác dụng (性在作用, tánh ở nơi tác dụng).” Môn hạ của Mã Tổ có hơn 100 người, có các Thiền kiệt xuất như Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉), Đại Châu Huệ Hải (大珠慧海), v.v. Kể từ khi Hoài Hải sáng kiến Thiền sát, lập ra Thanh Quy, Thiền Tông bắt đầu thoát ly khỏi chế độ các Thiền tăng phải nương náu vào chùa Luật Tông. Môn lưu của Bách Trượng có Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), v.v. Đệ tử của Hy Vận thì có Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄). Sau này, Nghĩa Huyền chủ xướng ra Tam Huyền Tam Yếu (三玄三要), Tứ Liệu Giản (四料簡), v.v., để tiếp hóa đồ chúng, cơ phong nghiêm mật; môn đồ theo rất đông, hình thành Lâm Tế Tông (臨濟宗). Lúc bấy giờ thuộc cuối thời nhà Đường. Đến nhà Tống, từ Lâm Tế Nghĩa Huyền kinh qua Hưng Hóa Tồn Tương (興化存獎), Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒), Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼), Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), Phần Dương Thiện Chiểu (汾陽善沼), truyền cho đến Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓). Trong khi đó, môn hạ Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南), Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) lại hình thành hai phái Hoàng Long và Dương Kì, cùng tồn tại với Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門). Riêng Quy Sơn Linh Hựu thì trú tại Đàm Châu (潭州, Hồ Nam [湖南]), người đến tham học lên đến 1.500; trong đó, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂) là nổi tiếng nhất, được gọi là Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗). Môn hạ của Thanh Nguyên Hành Tư có Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), soạn bản Tham Đồng Khế (參同契); cùng với Mã Tổ được gọi là hai bậc long tượng vĩ đại. Đệ tử của Thạch Đầu lại có Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟). Hệ phái của Dược Sơn xuất hiện Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), Động Sơn Lương Giới (洞山良价), Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺), Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂), v.v., hình thành nên Tào Động Tông (曹洞宗). Thiên Hoàng Đạo Ngộ thì truyền xuống 3 đời đến Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), chấn tích ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山), Phúc Châu (福州); từ pháp có hơn 50 vị; trong số đó có Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) là người phát huy Thiền phong độc diệu, hình thành nên Vân Môn Tông (雲門宗). Bên cạnh đó, có Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), truyền xuống cho La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Văn Ích trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺), Kim Lăng (金陵), khai sáng Pháp Nhãn Tông (法眼宗). Hệ thống này có các cao tăng như Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽), Vĩnh An Đạo Nguyên (永安道原), v.v. Trong đó, Đức Thiều được xem như là Trí Khải tái lai; Diên Thọ thì soạn bộ Tông Kính Lục (宗鏡錄), xem trọng giáo học; còn Đạo Nguyên thì viết bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), làm sáng tỏ hệ phổ của Đạt Ma Thiền. Trừ các tông phái đã nêu trên, theo Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序, Taishō Vol. 48, No. 2015) của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) cho biết, các giáo phái Thiền Tông dưới thời nhà Đường có Hồng Châu (洪州), Hà Trạch (荷澤), Bắc Tú (北秀), Nam Tiển (南侁), Ngưu Đầu (牛頭), Thạch Đầu (石頭), Bảo Đường (保唐), Tuyên Thập (宣什, Thiền niệm Phật), Huệ Trù (惠稠), Cầu Na (求那), Thiên Thai (天台), v.v. Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) của Tông Mật có nêu ra 7 tông là Bắc Tông Thiền (北宗禪), Trí Tiển Thiền (智侁禪), Lão An Thiền (老安禪), Nam Nhạc Thiền (南嶽禪), Ngưu Đầu Thiền (牛頭禪), Nam Sơn Niệm Phật Môn Thiền (南山念佛門禪), Hà Trạch Thiền (荷澤禪), v.v. Chủ yếu, từ Đạt Ma cho đến Huệ Năng, trong vòng khoảng 250 năm, Thiền phong của được cử xướng chỉ mang một phong cách duy nhất; Ngữ Lục các Tổ sư thường dẫn cứ kinh điển, nêu rõ thể cách Phật pháp, không bị mắc kẹt vào những đối lập của tông phái; cho nên có thể nói rằng đây là thời kỳ thành lập Thiền Tông. Từ Nam Nhạc, Thanh Nguyên cho đến thời Ngũ Đại cuối nhà Đường, trong khoảng 250 năm, riêng một nhánh Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ; nếu nói về mặt tư tưởng, họ đã kiến lập nên tinh thần gọi là “tức tâm thị Phật (卽心是佛, ngay tâm này là Phật)”, “bình thường tâm thị đạo (平常心是道, tâm bình thường là đạo).” Còn về mặt sinh hoạt thực tế, thiết lập quy tắc Thiền viện lấy Tăng Đường làm trung tâm; về phương diện hoằng truyền lưu bố Thiền pháp, họ lấy cách hoạt động linh hoạt để tiếp độ học đồ, lấy cơ dụng đánh hét để tuyên xướng Thiền phong. Dần dà, Ngũ Gia (五家) được thành lập. Thời kỳ này có thể nói là giai đoạn phát triển của Thiền Tông. Trong vòng 320 năm của hai triều đại nhà Tống, Lâm Tế Tông lại cho ra đời hai chi phái Hoàng Long và Dương Kì; hình thành nên hệ thống Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗). Trong đó, Phái Hoàng Long được Vinh Tây (榮西, Eisai) truyền vào Nhật Bản; còn về Phái Dương Kì, sau thời Dương Kì Phương Hội có Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), v.v., tận lực xiển dương Thiền chỉ, tạo thành chủ lưu của Thiền. Trong khi đó, Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) của hệ thống Tào Động Tông cùng với Đại Huệ Tông Cảo của Lâm Tế Tông mỗi bên đều cử xướng Mặc Chiếu Thiền (默照禪) và Khán Thoại Thiền (看話禪). Chính trong thời kỳ này, các đạo giáo dung hợp, hình thành khuynh hướng Tam Giáo Nhất Trí (三敎一致), Giáo Thiền Điều Hợp (敎禪調合), Thiền Tịnh Song Tu (禪淨雙修). Vì vậy, Thiền Tông dần dần mất đi tính cách độc lập, trở thành thời kỳ thủ vệ. Từ thời nhà Nguyên, Minh cho đến triều vua Càn Long (乾隆, tại vị 1735-1796) nhà Thanh, trong khoảng 450 năm, là thời kỳ suy yếu của Thiền Tông. Trong thời gian này tuy có Hải Vân Ấn Giản (海雲印簡), Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀), Pháp Am Tổ Tiên (破菴祖先), Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), v.v., nhưng cũng chỉ thể hiện tư tưởng Nho Thích Điều Hợp, Giáo Thiền Nhất Trí mà thôi. Thiền Tông thời Cận Đại có Hòa Thượng Hư Vân (虛雲, 1839-1958), thọ đến 120 tuổi, một đời hoằng pháp không mệt mỏi, sáng lập tùng lâm rất nhiều, tận lực quảng bá tông phong, là cao tăng thuộc pháp phái của Lục Tổ Huệ Năng. Thiền Tông của Hàn Quốc thì có Cửu Sơn Thiền Môn (九山禪門). Phần lớn chư vị khai tong lập phái đều sang nhà Đường cầu pháp, rồi trở về nước tuyên xướng Thiền phong, tận lực giáo hóa, hình thành 9 tông phái chính. (1) Thời Thiện Đức Nữ Vương (善德女王, tại vị 632-647) của Tân La (新羅), có Pháp Lãng (法朗) sang nhà Đường, theo hầu Tứ Tổ Đạo Tín, sau truyền pháp ở Hải Đông (海東). Dưới thời Huệ Cung Vương (惠恭王, tại vị 765-780), có Thần Hành (神行) sang nhà Đường cầu pháp, tham yết Chí Không (志空), chứng đắc tâm ấn, sau trở về nước hoằng truyền Bắc Tông Thiền ở Đoạn Tục Tự (斷俗寺), vùng Đơn Thành (丹城). Môn hạ của Thần Hành, từ Tuân Phạm (遵範), Huệ Ẩn (惠隱) cho đến thời của Trí Tiển (智侁), được Cảnh Văn Vương (景文王, tại vị 861-875) quy y theo, khai sáng Hi Dương Sơn Phái (曦陽山派). (2) Vào năm thứ 5 (784) đời Tuyên Đức Vương (宣德王, tại vị 781-785), Kê Lâm Đạo Nghĩa (雞林道義) sang nhà Đường, thọ pháp với môn hạ của Mã Tổ là Tây Đường Trí Tàng và Bách Trượng Hoài Hải, thực hành yếu chỉ Nam Đốn, lưu lại bên đó 37 năm; sau đó trở về nước truyền pháp, hoằng hóa; môn hạ theo rất đông, lập ra Ca Trí Sơn Phái (迦智山派). (3) Dưới thời của Hiến Đức Vương (憲德王, tại vị 810-826), có Hồng Trắc (洪陟) sang nhà Đường tham học, nối tiếp dòng pháp của Tây Đường; sau khi về nước thì dừng chân trú tại Nam Nhạc (南岳). Vào năm thứ 3 (828) đời Hưng Đức Vương (興德王, tại vị 827-836), sư khai sáng Thật Tướng Tự (實相寺), cử xướng Thiền phong; môn hạ theo tham học lên đến hơn ngàn người, và hình thành nên Thật Tướng Sơn Phái (實相山派). (4) Nhân vật đồng thời với Đạo Nghĩa sang nhà Đường cầu pháp, có Chơn Giám Huệ Chiểu (眞鑒慧沼), sư được ấn khả của Thương Châu Thần Giám (滄州神鑑), môn hạ của Mã Tổ; sau khi về nước thì sáng lập Song Khê Tự (雙溪寺). Vào năm thứ 6 (814) đời Hiến Đức Vương, Tịch Nhẫn Huệ Triết (寂忍惠哲) cũng sang nhà Đường, thọ pháp của Tây Đường, rồi trở về nước và hoằng pháp, độ chúng ở Đại An Tự (大安寺) thuộc Đồng Lí Sơn (桐裏山), Võ Châu (武州). Pháp hệ do Huệ Chiểu và Huệ Triết truyền thừa được gọi là Đồng Lí Sơn Phái (桐裏山派). (5) Vô Nhiễm (無染) sang nhà Đường cầu pháp, được tâm ấn của Bảo Triệt (寶徹), rồi về nước vào năm thứ 7 (846) đời Văn Thánh Vương (文聖王, tại vị 840-858) và tận lực cổ xúy Thiền pháp. Nhờ đức độ của sư, Hiến An Vương (憲安王, tại vị 858-861), Cảnh Văn Vương đều quy y theo, nên sư sáng lập Thánh Trú Sơn Phái (聖住山派). (6) Vào năm thứ 6 (831) đời Hưng Đức Vương, có Thông Hiểu Phạn Nhật (通曉梵日) sang nhà Đường, theo học Thiền với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安), pháp từ của Mã Tổ, được ấn khả của vị này; sau đó trở về nước và khai sáng Xà Quật Sơn Phái (闍崛山派) trên Thiên Thai Sơn (天台山). Về sau, môn nhân của Phạn Nhật là Lãng Không (朗空) cũng theo bước chân thầy sang nhà Đường, tham học với Thạch Sương Khánh Chư (石霜慶諸), pháp hệ của Thanh Nguyên Hành Tư; vị này trở về nước, trú tại Thật Tế Tự (實際寺) ở Nam Sơn (南山) và xiển dương Thiền chỉ. Đây được xem như là truyền thừa sớm nhất của hệ thống pháp phái Thanh Nguyên sang Hàn Quốc. (7) Song Phong Đạo Duẫn (雙峰道允) sang nhà Đường, thọ pháp với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), môn nhân của Mã Tổ, được vị này ấn chứng cho, và trở về nước cùng năm với Phạn Nhật. Sau này, môn nhân của Đạo Duẫn là Trừng Quán Chiết Trung (澄觀折中) cũng có dịp sang nhà Đường, tham vấn Phổ Nguyện, rồi trở về nước và trú tại Hưng Ninh Thiền Viện (興寧禪院) thuộc Sư Tử Sơn (師子山). Pháp hệ của Đạo Duẫn và Chiết Trung được gọi là Sư Tử Sơn Phái (師子山派). (8) Dưới thời Cảnh Văn Vương, có Liễu Ngộ Thuận Chi (了悟順之) sang nhà Đường, tham học với Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, sau trở về nước, trú tại Thụy Vân Tự (瑞雲寺) hoằng bố Thiền pháp. Đến năm thứ 16 (824) đời Hiến Đức Vương, Viên Giám Huyền Dục (圓鑑玄昱) sang nhà Đường, học Thiền của Mã Tổ với Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉); sau khi trở về nước thì được 4 đời vua Mẫn Ai (閔哀, ?-839), Thần Võ (神武, ?-839), Văn Thánh (文聖, tại vị 840-858) và Hiến An (憲安) đãi ngộ. pháp từ của sư sáng lập ra Phụng Lâm Tự (鳳林寺) và hình thành Phụng Lâm Sơn Phái (鳳林山派). (9) Vào thời kỳ cuối của triều đình Tân La, có Khánh Du (慶猷), Quýnh Vi (迥微) liên tục sang nhà Đường cầu pháp, được yếu chỉ của Vân Cư Đạo Ưng; sau khi về nước thì tận lực cổ xướng Thiền phong, và đây chính là sơ truyền của Tào Động Tông vào đất nước này. Đến triều đình Cao Lệ (高麗), lại có các cao tăng như Lợi Nghiêm (利嚴), Lệ Nghiêm (麗嚴), Khánh Phủ (慶甫), Căng Nhượng (兢讓), Xán U (璨幽), v.v., kế tục hoằng truyền huyền chỉ tông môn. Trong số đó, Lợi Nghiêm đã từng sang nhà Đường, theo làm môn hạ của Đạo Ưng, được ấn khả tâm truyền; sau khi trở về nước, sư được vua Thái Tổ (太祖, tại vị 918-943) quy y theo, kiến lập Quảng Chiếu Tự (廣照寺) ở Tu Di Sơn (須彌山), Hải Châu (須彌山). Đây chính là khai thỉ của Tu Di Sơn Phái (須彌山派). Chín Thiền phái nêu trên được gọi chung là Tào Khê Tông (曹溪宗). Nhờ sự sùng kính Phật pháp của Thái Tổ, sau này các đời vua khác như Định Tông (定宗, tại vị 945-949), Quang Tông (光宗, tại vị 949-975), Văn Tông (文宗, tại vị 1046-1083), Tuyên Tông (宣宗, tại vị 1083-1094), Thần Tông (神宗, tại vị 1197-1204), v.v., liên tiếp hộ trì; nên Thiền Tông nhất thời hưng thịnh cao độ. Tuy nhiên, đến thời Trung Liệt Vương (忠烈王, tại vị 1274-1298, 1298-1308) trở về sau, quốc thế suy yếu, Thiền Tông cũng theo đó mà bị ảnh hưởng, dẫn đến trầm trệ. Về Thiền Tông của Nhật Bản, đầu tiên vào năm thứ 4 (653) niên hiệu Bạch Trĩ (白雉) đời Hiếu Đức Thiên Hoàng (孝德天皇, Kōtoku Tennō, tại vị 645-654), Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) sang nhà Đường cầu pháp. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), Đạo Tuyền (道璿) của Trung Hoa sang Nhật, hoằng truyền Bắc Tông Thiền. Trong thời gian Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) ở ngôi, có đặc phái cung thỉnh Nghĩa Không (義空) sang Nhật truyền bá Nam Tông Thiền, và bắt đầu mở ra phong thái Thiền Tông Nhật Bản. Đến năm thứ 3 (1187), niên hiệu Văn Trị (文治), Minh Am Vinh Tây (明庵榮西, Myōan Eisai) sang nhà Tống cầu pháp, theo hầu Hư Am Hoài Sưởng (虛菴懷敞), lấy pháp của Phái Hoàng Long truyền vào và khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 2 (1223) niên hiệu Trinh Ứng (貞應), Vĩnh Bình Đạo Nguyên (永平道元, Eisai Dōgen) sang nhà Tống, được ấn khả của Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨), rồi quay về nước và trở thành Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản. Môn hạ của Đạo Nguyên có Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介, Tettō Gikai), Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹, Kangan Giin); cả hai cũng đã từng sang nhà Tống, sau đó về nước, tận lực cử xướng Thiền phong và lập ra Hàn Nham Phái (寒巖派, còn gọi là Pháp Hoàng Phái [法皇派]). Năm đầu (1235) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓, Enni Benen) sang nhà Tống, đến Kính Sơn (徑山) tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), được tâm ấn của vị này; sau khi trở về nước thì sáng lập Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyoto và hoằng pháp bố giáo. Đến năm tứ 4 (1246), niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji); nhờ vậy Thiền phong ở địa phương Quan Đông (關東, Kantō) nhất thời cực thịnh. Vào năm thứ 4 (1267) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明, Nampo Shōmyō) sang nhà Tống, được Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) ấn chứng cho và trở về bổn quốc. Hai năm sau (1269), cao tăng Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念) của Trung Hoa sang Nhật, trú ở hai chùa Kiến Trường (建長, Enchō) và Viên Giác (圓覺, Enkaku), được triều đình cũng như dân chúng kính ngưỡng. Sau đó, một số cao tăng khác sang Nhật truyền đạo như Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧), Tây Giản Tử Đàm (西磵子曇), Đông Lí Hoằng Hội (東里弘會), Viễn Khê Tổ Hùng (遠谿祖雄), Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱), v.v. Cuối cùng 24 dòng phái của Thiền Tông Nhật Bản được hình thành; gồm (1) Phái Thiên Quang (千光派, Vinh Tây), (2) Phái Đạo Nguyên (道元派, Đạo Nguyên), (3) Phái Thánh Nhất (聖一派, Viên Nhĩ), (4) Phái Pháp Đăng (法燈派, Giác Tâm [覺心]), (5) Phái Đại Giác (大覺派, Đạo Long), (6) Phái Ngột Am (兀庵派, Phổ Ninh [普寧]), (7) Phái Đại Hưu (大休派, Chánh Niệm), (8) Phái Pháp Hải (法海派, Tĩnh Chiếu [靜照]), (9) Phái Vô Học (無學派, Tổ Nguyên [祖元]), (10) Phái Nhất Sơn (一山派, Nhất Sơn Nhất Ninh), (11) Phái Đại Ứng (大應派, Nam Phố Thiệu Minh), (12) Phái Tây Giản (西磵派, Tây Giản Tử Đàm), (13) Phái Kính Đường (鏡堂派, Kính Đường Giác Viên [鏡堂覺圓]), (14) Phái Phật Huệ (佛慧派, Linh Sơn Đạo Ẩn), (15) Phái Đông Minh (東明派, Đông Minh Huệ Nhật [東明慧日]), (16) Phái Thanh Chuyết (清拙派, Thanh Chuyết Chánh Trừng [清拙正澄]), (17) Phái Minh Cực (明極派, Minh Cực Sở Tuấn [明極楚俊]), (18) Phái Ngu Trung (愚中派, Ngu Trung Châu Cập [愚中周及]), (19) Phái Trúc Tiên (竺僊派, Trúc Tiên Phạn Tiên [竺僊梵仙]), (20) Phái Biệt Truyền (別傳派, Biệt Truyền Minh Dận [別傳明胤]), (21) Phái Cổ Tiên (古先派, Cổ Tiên Ấn Nguyên [古先印元]), (22) Phái Đại Chuyết (大拙派, Đại Chuyết Tổ Năng [大拙祖能]), (23) Phái Trung Nham (中巖派, Trung Nham Viên Nguyệt [中巖圓月]), (24) Phái Đông Lăng (東陵派, Đông Lăng Vĩnh Dư [東陵永璵]). Trong số đó, trừ 3 phái Đạo Nguyên, Đông Minh, Đông Lăng thuộc về Tào Động Tông, 21 phái khác thuộc Lâm Tế Tông. Ngoài ra, vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應), Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Hoàng Bá Tông (黃檗宗), cùng với Tào Động, Lâm Tế hình thành thế chân vạc của Thiền Nhật Bản. Trong bài tựa của Thiền Tông Chánh Mạch (禪宗正脈, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1593) quyển 1 có đoạn rằng: “Thiền Tông nhất tông, biến mãn hoàn vũ, Phật Tổ dĩ hạ, đắc kỳ truyền giả, tự nhất đăng dĩ chí vô tận đăng yên, ngật kim đãi nhị thiên tự (禪宗一宗、遍滿寰宇、佛祖以下、得其傳者、自一燈以至無盡燈焉、迄今逮二千祀, một tông phái Thiền Tông, đầy khắp hoàn vũ, từ Phật Tổ trở xuống, có người truyền thừa, từ một ngọn đèn đến vô tận ngọn đèn vậy, đến nay đã hai ngàn năm).”
Thiền tông
禪宗; C: chán-zōng; J: zen-shū;|Một tông phái của Phật giáo Ðại thừa tại Trung Quốc. Thiền tông sinh ra trong khoảng thế kỉ thứ 6, thứ 7, khi Bồ-đề Ðạt-ma đưa phép Thiền của đạo Phật vào Trung Quốc, hấp thụ một phần nào của đạo Lão. Tại đây, Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ, như Thích-ca Mâu-ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề. Thiền tông là môn phái quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh nhất mọi nghi thức tôn giáo và mọi lí luận về giáo pháp. Thiền tông chỉ khuyên hành giả Toạ thiền (j: zazen), là con đường ngắn nhất, đồng thời cũng là con đường khó nhất. Những nét đặc trưng của Thiền tông có thể tóm tắt được như sau:|教外別傳。不立文字。直指人心。見性成佛|Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, Kiến tính thành Phật|1. Truyền giáo pháp ngoài kinh điển; 2. Không lập văn tự; 3. Chỉ thẳng tâm người; 4. Thấy tính thành Phật.||H 65: Ðức Phật cầm hoa (拈花; Niêm hoa), Ca-diếp mỉm cười (微笑; vi tiếu). Phật Thích-ca khai sáng một tông mới nằm ngoài giáo pháp, chỉ tâm truyền tâm. Vì vậy mà Thiền tông cũng có tên là Phật tâm tông (佛心宗) hay gọi tắt là Tâm tông.|Bốn tính chất rất rõ ràng dễ nhập tâm này được xem là do Bồ-đề Ðạt-ma nêu lên, nhưng cũng có người cho rằng chúng xuất phát từ Thiền sư đời sau là Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願; 749-835), một môn đệ của Mã Tổ. Truyền thuyết cho rằng quan điểm »Truyền pháp ngoài kinh điển« đã do đức Thích-ca áp dụng trên núi Linh Thứu (s: gṛdhrakūṭa). Trong pháp hội đó, Ngài im lặng đưa lên một cành hoa và chỉ có Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa), một Ðại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ của cách »Dĩ tâm truyền tâm« (以心傳心; xem Niêm hoa vi tiếu). Ðức Thích-ca ấn chứng cho Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ. Từ đó, Thiền tông coi trọng tính chất Ðốn ngộ (頓悟; giác ngộ ngay tức khắc) trên con đường tu học.|Thiền tông Ấn Ðộ truyền đến đời thứ 28 là Bồ-đề Ðạt-ma. Ngày nay, người ta không còn tư liệu gì cụ thể về lịch sử các vị Tổ Thiền tông Ấn Ðộ, và thật sự thì điều đó không quan trọng trong giới Thiền. Ðiều hệ trọng nhất của Thiền tông là »tại đây« và »bây giờ.« Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Ðạt-ma sang Trung Quốc và được xem là Sơ tổ của Thiền tông tại đây. Trong suốt thời gian từ đó đến Lục tổ Huệ Năng (慧能; 638-713), Phật giáo và Lão giáo đã có nhiều trộn lẫn với nhau, nhất là trong phái Thiền đốn ngộ của Huệ Năng, phát triển miền Nam Trung Quốc. Một phái Thiền khác ở phía Bắc, do Thần Tú (神秀) chủ trương, chấp nhận »tiệm ngộ« (漸悟) – tức là ngộ theo cấp bậc – không kéo dài được lâu. Phái Thiền của Huệ Năng phát triển như một ngọn đuốc chói sáng, nhất là trong đời Ðường, đầu đời Tống và sản sinh vô số những vị Thiền sư danh tiếng như Mã Tổ Ðạo Nhất (馬祖道一), Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Triệu Châu Tòng Thẩm (趙州從諗), Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) … và truyền ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam (Phật giáo). Thiền phương Nam dần dần chia thành Ngũ gia thất tông (五家七宗; năm nhà, bảy tông), đó là những tông phái thường chỉ khác nhau về cách giáo hoá, không khác về nội dung đích thật của Thiền. Ngũ gia thất tông gồm Tào Ðộng (曹洞), Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼), Quy Ngưỡng (潙仰), Lâm Tế và hai bộ phái của Lâm Tế là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍; xem các biểu đồ cuối sách).|Trong các tông này thì có hai tông Lâm Tế và Tào Ðộng du nhập qua Nhật trong thế kỉ 12, đầu thế kỉ 13, đến nay vẫn sinh động và còn ảnh hưởng lớn cho Thiền thời nay. Khoảng đến đời nhà Tống thì Thiền tông Trung Quốc bắt đầu suy tàn và trộn lẫn với Tịnh độ tông trong thời nhà Minh (thế kỉ thứ 15). Trong thời gian đó, Thiền tông đúng nghĩa với tính chất »dĩ tâm truyền tâm« được xem như là chấm dứt. Lúc đó tại Nhật, Thiền tông lại sống dậy mạnh mẽ. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄), người đã đưa tông Tào Ðộng qua Nhật, cũng như Thiền sư Minh Am Vinh Tây (明菴榮西), Tâm Ðịa Giác Tâm (心地覺心), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) và nhiều vị khác thuộc phái Lâm Tế đã có công thiết lập dòng Thiền Nhật Bản. Giữa thế kỉ 17, Thiền sư Trung Quốc là Ẩn Nguyên Long Kì (隱元隆琦) sang Nhật thành lập dòng Hoàng Bá, ngày nay không còn ảnh hưởng. Vị Thiền sư Nhật xuất chúng nhất phải kể là Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴), thuộc dòng Lâm Tế, là người đã phục hưng Thiền Nhật Bản trong thế kỉ 18.|Thiền tông Trung Quốc được sáng lập trong thời kì Phật pháp đang là đối tượng tranh cãi của các tông phái. Ðể đối lại khuynh hướng »triết lí hoá«, phân tích chi li Phật giáo của các tông khác, các vị Thiền sư bèn đặt tên cho tông mình là »Thiền« để nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp Toạ thiền để trực ngộ yếu chỉ.|Thiền bắt nguồn từ Ấn Ðộ nhưng đã trở thành một tông phái độc lập khi được truyền sang Trung Quốc, đặc biệt là sau thời của Lục tổ Huệ Năng. Nơi đây, Thiền tông đã hấp thụ cốt tuỷ của nền văn hoá, triết lí Trung Quốc. Nhà Ấn Ðộ học và Phật học danh tiếng của Ðức H. W. Schumann viết như sau trong tác phẩm Ðại thừa Phật giáo (Mahāyāna-Buddhismus): »Thiền tông có một người cha Ấn Ðộ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc. Cái ›dễ thương‹, cái hấp dẫn của Thiền tông chính là những thành phần văn hoá nghệ thuật, những đặc điểm sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Ðộ. Những gì Phật giáo mang đến Trung Quốc – với tư tưởng giải thoát tuyệt đối, trình bày một cách nghiêm nghị khắc khe với một ngón tay trỏ chỉ thẳng – những điều đó được các vị Thiền sư thừa nhận, hấp thụ với một nụ cười thầm lặng đầy thi vị. Thành tựu lớn lao của các Ðại luận sư Ấn Ðộ là nhét ›con ngỗng triết lí‹ vào lọ, thì – chính nơi đây, tại Trung Quốc – con ngỗng này được thả về với thiên nhiên mà không hề mang thương tích.«|Thiền như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên, không hẳn là sự phản đối truyền thống như những học giả sau này thường xác định. Thiền tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, tinh hoa của chúng. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lí, hai học thuyết nền tảng của Ðại thừa Ấn Ðộ, đó là Trung quán (中觀; s: madhyamaka) và Duy thức (唯識; s: vijñānavāda). Người ta có thể hiểu phần nào những hành động, lời nói, phương pháp hoằng hoá »mâu thuẫn«, »nghịch lí« của các vị Thiền sư nếu nắm được giáo lí của Trung quán và Duy thức. Trong các tập công án của Thiền tông, người ta có thể nhận ra hai loại: 1. Những công án xoay quanh thuyết Thật tướng (實相) của Trung quán tông (s: mādhyamika), tức là tất cả đều là Không (s: śūn-yatā) và 2. Những công án với khái niệm »Vạn pháp duy tâm« (萬法唯心; s: cittamātra) của Duy thức tông.|Công án danh tiếng nhất với thuyết tính Không là Con chó của Triệu Châu (Vô môn quan 1): Tăng hỏi Triệu Châu: »Con chó có Phật tính không?« Triệu Châu trả lời: »Không!« (無).|Một công án không kém danh tiếng theo thuyết Duy thức (Vô môn quan 29): Hai ông tăng cãi nhau về phướn (một loại cờ). Một ông nói: »Phướn động.« Ông khác nói: »Gió động«, và cứ thế tranh cãi. Lục tổ Huệ Năng liền nói: »Chẳng phải gió, chẳng phải phướn, tâm các ông động.« Nghe câu này, hai vị giật mình run sợ.|Tuy không bao giờ trở lại thời vàng son của thế kỉ thứ 7, thứ 8, Thiền tông vẫn luôn luôn gây được một sức thu hút mãnh liệt nơi tín đồ Phật giáo và đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật Ðông Á. Khoảng vài mươi năm nay, Thiền tông bắt đầu có ảnh hưởng tại phương Tây và Mĩ.
thiền tông
6455請參閱 禪源諸詮集都序 又稱佛心宗、達磨宗、無門宗。指以菩提達磨為初祖,探究心性本源,以期「見性成佛」之大乘宗派。中國十三宗之一,日本十三宗之一。中國自古以專意坐禪者之系統為禪宗,兼含天台、三論二系,而不限於達磨宗;唐中葉以降,達磨宗興盛,禪宗遂專指達磨宗而言。 本宗傳承,中國以釋尊在靈山會上拈花、迦葉微笑為其濫觴。蓋此說雖無史實根據,然為強調六祖以來之禪「以心傳心」、「教外別傳」,故特重此迦葉付法相承之說。迦葉以後,經阿難、商那和修、優婆毱多、提多迦、彌遮迦、婆須蜜、佛陀難提、伏馱蜜多、婆栗濕婆、富那夜奢、阿那菩提、迦毘摩羅、那伽閼剌樹那、迦那提婆、羅睺羅多、僧伽難提、伽耶舍多、鳩摩羅多、闍夜多、婆須槃頭、摩拏羅、鶴勒那、師子菩提、婆舍斯多、不如蜜多、般若多羅,至菩提達磨,凡二十八人,是即本宗西天二十八祖。菩提達磨於梁武帝普通年間(520~527)自南天竺抵建業(今南京),傳本宗入我國,故亦為我國禪宗初祖。 達磨初來中國,謁梁武帝,然不契機,遂至嵩山少林寺面壁九年,人稱壁觀婆羅門,神光(慧可)立雪斷臂,志求佛法,終得達磨所傳心印,為中國禪宗第二祖。慧可傳僧璨,僧璨傳道信,本宗漸盛。道信之下有弘忍、法融二傑。法融之下有智儼、慧方、法持等,此法系以住於金陵牛頭山之故,世稱牛頭禪;以「欲得心淨,無心用功」為其要旨。五祖弘忍住蘄州(湖北)黃梅山,闡揚金剛般若經奧旨,門下俊秀輩出,有玉泉神秀、大鑑慧能、嵩山慧安、蒙山道明、資州智侁等。 五祖之門人中,以神秀為第一上首,稱「秀上座」。五祖示寂後,神秀於北方振錫,故亦稱「北秀」,門下俊秀輩出,被尊為北宗禪之祖。北宗以長安、洛陽為中心,法運昌隆約一百年,主張以篤踐實履之精神修行禪法。神秀之下有嵩山普寂、京兆義福等,傳四、五世即告斷絕。此外,嵩山慧安開出「老安禪」,資州智侁開出「南侁禪」。大鑑慧能因一偈受五祖印可、傳衣鉢,繼為第六祖。其後避難南方,住韶陽(廣東)曹溪,大振禪風,是為南宗禪之祖。以南、北二宗宗風之異,遂有「南頓北漸」之說。慧能之嗣法弟子有四十餘人,以南嶽懷讓、青原行思、南陽慧忠、永嘉玄覺、荷澤神會為著名。其中,荷澤神會開出「荷澤宗」,極力提倡頓悟法門,而以「一念不起」為「坐」,「了見本性」為「禪」。 南嶽懷讓從六祖蒙受心印,住般若寺,接化達三十年,嗣法弟子有九人,以馬祖道一居首座。馬祖於江西龔公山舉揚禪法,機鋒峻烈,開喝棒豎拂之禪風,世稱「洪州宗」。主張起心動念、揚眉瞬目等日常身心活動皆為佛性,而有「見性是佛」、「性在作用」之說。馬祖門下百餘人,以百丈懷海、南泉普願、西堂智藏、大梅法常、章敬懷暉、大珠慧海為著。 自懷海於百丈山創建禪剎、訂立清規之後,禪宗始脫離禪僧寄住律寺之制。百丈之下有黃檗希運、溈山靈祐等,希運之下有臨濟義玄。義玄設立三玄三要、四料簡等接化徒眾,機鋒峻嚴,門徒眾多,蔚成臨濟宗,此時已是晚唐。及至宋代,又自臨濟義玄,經興化存獎、南院慧顒、風穴延沼、首山省念、汾陽善沼,七傳至石霜楚圓,門下黃龍慧南、楊岐方會復各衍出黃龍、楊岐二派,而與曹洞、雲門等宗並立。溈山靈祐獨棲潭州(湖南),參學者多達一千五百人,門下以仰山慧寂為最著名,此系即稱溈仰宗。 青原行思之下有石頭希遷,撰「參同契」,與馬祖並稱當世二大龍象,門下有藥山惟儼、丹霞天然、天皇道悟。藥山一系出雲巖曇晟、洞山良价、雲居道膺、曹山本寂等,遂成曹洞宗。天皇道悟三傳至雪峰義存,振錫於福州雪峰山,法嗣五十餘人,其中,雲門文偃發揮獨妙之宗致,形成雲門宗;另有玄沙師備,下傳羅漢桂琛、法眼文益。文益住金陵清涼寺,開法眼宗,此系統有天台德韶、永明延壽、永安道原等高僧輩出。其中,德韶被稱智顗再來;延壽撰有宗鏡錄,重視教學;道原著景德傳燈錄,明示達磨禪之系譜。 除上舉各宗派外,據圭峰宗密之禪源諸詮集都序所載,唐代之禪宗教派共有洪州、荷澤、北秀、南侁、牛頭、石頭、保唐、宣什(念佛門禪)、惠稠、求那、天台等諸派;宗密之圓覺經疏抄又舉出北宗禪、智侁禪、老安禪、南嶽禪、牛頭禪、南山念佛門禪、荷澤禪等七宗;宗密之拾遺門又另作分類,計有牛頭宗、北宗、南宗、荷澤宗、洪州宗等五家。宗密所謂之「五家」、「七宗」自不同於後代禪宗所稱之五家七宗,此因宗密所處之時代,及其自身屬於荷澤宗,故所見禪宗教派亦不同於後世之禪宗史料。 要之,達磨至慧能,其間二百五十年,本宗所舉揚之禪風獨樹一格,祖師語錄常引經據典,提示整體佛法,不墮於宗派之對立,可稱為禪宗之成立時期。南嶽、青原以至唐末五代,其間二百五十年,南宗禪一枝獨秀,於思想層面而言,摒除語言文字之葛藤,建立「即心是佛」、「平常心是道」之精神;於實際生活上,建立以僧堂為中心之禪院規制;於禪法之弘傳、演布方面,更以靈活生動之機法接引學人,以棒喝拂拳之機用宣揚宗風。久之,乃漸成五家之分立。此一時期,可稱為禪宗之發達時期。兩宋三百二十年,臨濟宗復衍出黃龍、楊岐二派,而成為我國禪宗之「五家七宗」。其中,黃龍派後來由榮西傳至日本;楊岐派自楊岐方會後,陸續有五祖法演、圜悟克勤、大慧宗杲等大揚禪旨,蔚為禪之主流。又曹洞宗系統之宏智正覺與臨濟宗系統之大慧宗杲各倡默照禪、看話禪。於此一時期,諸教融合導致三教一致、教禪調合、禪淨雙修之傾向,本宗漸失其獨立性格,是為禪宗之守成時期。元明乃至清乾隆之世,其間四百五十年,為禪宗之衰頹期。其間雖有海雲印簡、萬松行秀、破菴祖先、無準師範等一代宗師相繼崛起,然就一宗之大勢而言,畢竟已呈儒釋調合、教禪一致之定局。近代禪宗大師首推虛雲和尚(1839~1958),於其百二十高壽中,一生弘法不懈,廣建叢林,竭力振興禪宗,維繫六祖以來之法脈;傳世著述有虛雲和尚法彙、虛雲和尚禪七開示錄等。 韓國禪宗素有「九山禪門」之稱,其開宗立派者大多於唐代時來華習禪,歸國後大演教化,久之門庭繁茂,蔚成宗派。此九派之成立如下:(一)新羅善德王時(我國唐太宗時),法朗來唐,師事四祖道信,遂傳其法於海東。惠恭王之時,神行來唐,參謁志空,得證心印,返國後於丹城斷俗寺弘傳北宗禪;神行之下,經遵範、惠隱,至智侁之時,受景文王之皈依,開創曦陽山派。(二)宣德王五年(784),雞林道義來唐,受傳於馬祖門下之西堂智藏及百丈懷海,習南頓之旨,在唐三十七年,歸國後傳法弘化,門下頗盛,立迦智山派。(三)憲德王時,來唐遊學之洪陟,嗣法西堂,歸國後棲止南岳,於興德王三年(828)創建實相寺,大振宗風,門下多達千餘人,是為實相山派。(四)與道義同時期來唐者另有真鑒慧沼,受馬祖門下之滄州神鑑印可,歸國後創建雙溪寺;憲德王六年(814),寂忍惠哲亦來唐習西堂之法,返國後於武州桐裏山大安寺弘法度眾。慧沼、惠哲所傳之法系即稱桐裏山派。(五)無染亦來唐遊學,後得寶徹心印,於文聖王七年歸國,大弘禪法,得憲安王、景文王之皈依,創立聖住山派。(六)興德王六年,通曉梵日亦來唐,從馬祖之門人鹽官齊安習禪,得其印可,返國後於天台山中開闍崛山派。梵日之門人朗空亦來唐,參學於青原行思系統下之石霜慶諸座下,歸國後住於南山實際寺闡揚禪旨;此乃青原之法統最早傳至韓國者。(七)雙峰道允來唐,受傳於馬祖之門人南泉普願,得其心法,與梵日同年歸國弘化;其後道允之門人澄觀折中亦來唐,參謁普願,歸國後住師子山興寧禪院。道允與折中之法統即稱為師子山派。(八)景文王之時,了悟順之來唐,參學於仰山慧寂座下,歸國後住於瑞雲寺弘布禪法;憲德王十六年(824),圓鑑玄昱來唐,就章敬懷暉受馬祖之禪,歸國後備受閔哀、神武、文聖、憲安四王之禮遇,其法嗣審希創立鳳林寺,開鳳林山一派。(九)於新羅朝末期,慶猷、迥微相繼來唐,得雲居道膺之心要,歸國後大力弘布,此即曹洞禪初傳於海東者。至高麗朝,更有利嚴、麗嚴、慶甫、兢讓、璨幽等諸師繼之宣演玄旨。其中,利嚴曾來唐依止於道膺座下,得其心傳,歸國後太祖以師禮事之,後於海洲構建須彌山廣照寺,是為須彌山派之始。以上九山總稱曹溪宗。由於太祖之崇佛,及其後之定宗、光宗、文宗、宣宗、神宗等之相繼護持,禪宗遂得隆盛一時;然至忠烈王以後,國勢漸弱,禪風亦隨之衰頹不振。 日本禪宗之流傳,始於孝德天皇白雉四年(653)道昭之入唐求法。天平八年(736),我國之道璿東渡日本,弘傳北宗禪;嵯峨天皇在位時,派遣專使招請義空赴日弘傳南宗禪,開日本禪宗之風。文治三年(1187),明菴榮西來宋,師事虛菴懷敞,將黃龍一脈之法傳入日本,開日本臨濟宗之端。貞應二年(1223),永平道元來宋,得天童如淨之印可返日,為日本曹洞宗之祖。其門下之徹通義价、寒巖義尹嘗兩度來宋,歸國後大弘法道,其後別開寒巖派(亦稱法皇派)。嘉禎元年(1235),圓爾辨圓來宋,至徑山參謁無準師範,得傳心印,歸國後於京都創建東福寺,弘法布化。寬元四年(1246),我國之蘭溪道隆東渡日本,為建長寺初祖,關東禪風因之大振。文永四年(1267),南浦紹明來宋,得虛堂智愚之法而歸。文永六年,我國之大休正念赴日,住建長、圓覺等寺,頗受朝野之歸崇。其後我國又有一山一寧、西磵子曇、東里弘會、遠谿祖雄、靈山道隱等諸師相繼東赴日本弘傳大法,各揭禪風,大振法道,蔚成日本禪宗二十四流之盛況,包括千光派(榮西)、道元派(道元)、聖一派(圓爾)、法燈派(覺心)、大覺派(道隆)、兀庵派(普寧)、大休派(正念)、法海派(靜照)、無學派(祖元)、一山派(一山一寧)、大應派(南浦紹明)、西磵派(西磵子曇)、鏡堂派(鏡堂覺圓)、佛慧派(靈山道隱)、東明派(東明慧日)、清拙派(清拙正澄)、明極派(明極楚俊)、愚中派(愚中周及)、竺僊派(竺僊梵仙)、別傳派(別傳明胤)、古先派(古先印元)、大拙派(大拙祖能)、中巖派(中巖圓月)、東陵派(東陵永璵)。其中,除道元、東明、東陵三流屬曹洞禪,其餘二十一流均屬臨濟禪。又二十一流中,榮西一派(千光派)傳承黃龍之法脈,其他皆繼燃楊岐之法燈。另於承應三年(1654),我國之隱元隆琦亦東渡日本,開黃檗一宗,迄今猶與臨濟、曹洞成鼎足之勢。 蓋「禪」起源於印度,其原意即指靜坐斂心、正思審慮,以達定慧均等之狀態。於釋尊之前,印度即有以生天為坐禪目的之思想;至釋尊時,始展開遠離苦樂兩邊,以達中道涅槃為目的之禪。印度佛教之禪觀思想乃漸次發達,並產生無數之禪經。隨佛典之傳譯,自漢末,禪法已傳入中國,惟最初均為小乘系統之禪觀思想。東晉鳩摩羅什以後,介紹各種禪法,尤以念佛法門為要。至劉宋求那跋陀羅譯出四卷楞伽經,列舉愚夫所行禪、觀察義禪、攀緣如禪、如來禪等四種禪之說,乃激發當時講究禪法者另闢途徑,如後世所說之五類禪,即是依於楞伽經四種禪之說而來;又肇啟中國禪宗之菩提達磨,雖即禪經(二卷,東晉佛陀跋陀羅譯)中之達磨多羅禪師,然其所傳之如來自性清淨禪即是基於楞伽經所說者。此外,慧可、僧璨均被稱為楞伽師,道信、弘忍更受大乘起信論影響,提倡一行三昧之說,至六祖慧能方以金剛般若經為正宗;蓋彼時楞伽經已偏重文句疏解,不免名相支離之故。至中唐以後,盛行拳拳棒喝之機法,禪之意義擴大,不必靜坐斂心才是禪,即搬柴運水、吃飯穿衣等平常動作亦可稱之為禪。 要之,本宗與其他諸宗之相異處,在於不立正依之經典,即使引用經典亦為一時之方便施設,最主要者莫過於依佛心,不立文字,教外別傳,以期「直指人心,見性成佛」。然為在不涉思惟計度之情形下,外加學問修證之功,以明取本心之故,乃有清規之創設。尊宿、大眾於一定之規矩下,定時起臥、打坐;尊宿為大眾開示諸佛列祖之機緣以提撕之。又閱讀經典雖非要務,然仍以楞伽、維摩、金剛般若、首楞嚴等諸經為眾經之核心。古來尊宿亦多遺有語錄,成為後世禪徒習禪悟道之重要參考資料。〔禪門師資承襲圖、祖堂集卷十七、卷二十、景德傳燈錄、傳法正宗記、五燈會元、禪門寶藏錄卷上、卷中、八宗綱要卷下、朝鮮禪教考、日本禪宗史要、禪學思想史、日本佛教要覽〕(參閱「五家七宗」1128)
; ZenshŪ (J), Ch'an-tsung (C), Changzong (C), Chan School, Zen sect, Zen School.
; Zen Buddhism.
; Phật giáo Trung Quốc chia làm năm nhánh là: Thiền, Giáo, Tịnh, Mật, Luật. Tất cả đều có thiền riêng nhưng không xưng là Thiền tông, chỉ có Tổ Sư Thiền mới xưng là Thiền tông, cũng gọi là Tông Môn Thiền.
; The Zen Sect. (I) Thiền Tông Trung Hoa—The Zen Sect in China: (A) Thiền tông, Phật Tâm tông, hay Vô Môn tông, được Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Tổ thứ 28 ở Ấn Độ, mang vào Trung Quốc. Thiền được coi như là một trường phái quan trọng của Phật giáo. Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa vào khoảng năm 470 và trở thành người sáng lập ra phái Mật Tông và Thiền Tông ở đây. Người ta nói ngài đã hành thiền trước một bức tường của Thiếu Lâm tự trong chín năm. Những đệ tử của Bồ Đề Đạt Ma hoạt động mạnh mẽ ở mọi nơi và đã hoàn toàn chiến thắng các tôn giáo bản địa để rồi cuối cùng Thiền tông được đánh giá rất cao ở Trung Quốc—The Ch'an (Zen), meditative or intuitional, sect usually said to have been established in China by Bodhidharma, the twenty-eighth patriarch, who brought the tradition of the Buddha-mind from India. Ch'an is considered as an important school of Buddhism. Bodhidharma came to China about 470 A.D. and became the founder of esoteric and Zen schools there. It is said that he had practised meditation against the wall of the Shao-Lin-Tzu monastery for nine years. The followers of Bodhidharma were active everywhere, and were completely victorious over the native religions with the result that the teachings of Zen have come to be highly respected everywhere in China. • Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma: The first patriarch Bodhidharma. • Nhị Tổ Huệ Khả: The successor of Bodhidharma or the second patriarch was Hui-K'o. • Tam Tổ Tăng Sán: The third patriarch was Sêng-Ts'an. • Tứ Tổ Đạo Tín: The fourth patriarch was T'ao-Hsin. • Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: The fifth patriarch was Hung-Jên. • Lục Tổ Huệ Năng: The sixth patriarch was Hui-Neng. (B) Triết lý Thiền—Philosophical Zen: a) Theo triết lý chính của Thiền tông, nhìn vào nội tâm, chứ không phải nhìn ra bên ngoài, là cách duy nhất để đạt đến sự giác ngộ mà trong tâm trí con người thì cũng giống như là Phật quả vậy. Hệ tư tưởng nầy chú trọng vào 'trực cảm,' với một đặc điểm là không có ngôn từ nào để tự diễn đạt, không có một phương thức nào để tự giải thích, không có sự chứng minh dài dòng nào về chân lý riêng của mình một cách thuyết phục. Nếu có sự diễn đạt thì chỉ diễn đạt bằng ký hiệu và hình ảnh. Qua một thời gian, hệ tư tưởng nầy đã phát triển triết lý trực cảm của nó đến một mức độ khiến nó vẫn còn là một triết lý độc đáo cho đến ngày nay: According to the Zen sect, the key theory of Zen, to look inwards and not to look outwards, is the only way to achieve enlightenment, which to the human mind is ultimately the same as Buddhahood. In this system, the emphasis is upon 'intuition,' its peculiarity being that it has no words in which to express itself, no method to reason itself out, no extended demonstration of its own truth in a logically convincing manner. If it expresses itself at all, it does so in symbols and images. In the course of time this system developed its philosophy of intuition to such a degree that it remains unique to this day. b) Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy—Thiền tông nặng về triết lý nhưng không phải là một nền triết học theo nghĩa hạn hẹp của nó. Đây là một học phái có chất tôn giáo hơn tất cả mọi học phái Phật giáo, nhưng lại không phải là một tôn giáo theo nghĩa thông thường của danh từ nầy. Thiền tông không có kinh điển Phật nào, cũng không trì giữ một luật nghi nào do Phật đặc chế ra. Nếu như không kinh, không luật, thì không một học phái nào có thể ra vẻ Phật giáo. Tuy nhiên, theo ý nghĩa của Thiền, ai mà còn chấp trước vào danh ngôn hay luật lệ thì không bao giờ có thể thấu đáo hoàn toàn ý nghĩa chân thật của người nói. Lý tưởng hay chân lý mà Đức Phật chứng ngộ chắc chắn khác hẳn với những gì mà Ngài đã giảng dạy, bởi vì giáo thuyết nhất thiết bị ước định bởi ngôn từ mà Ngài dùng, bởi thính chúng mà Ngài giáo hóa, và bởi hoàn cảnh xãy ra cho người nói và người nghe. Cái mà Thiền nhắm đến là lý tưởng của Phật, minh nhiên và không bị ước định. Học phái nầy còn được gọi là “Phật Tâm Tông.” Phật tâm vốn cũng chỉ là tâm người thường. Chỉ cần nhìn thẳng vào tâm địa đó là có thể đưa hành giả đến giác ngộ viên mãn. Nhưng bằng cách nào? Chủ ý chung của Phật pháp là để hành giả tự thấy đúng và tự đi đúng—Zen has much philosophy, but is not a philosophy in the strict sense of the term. It is the most religious school of all and yet not a religion in the ordinary sense of the word. It has no scripture of the Buddha, nor does it hold any dicipline of the Buddha. Without a sutra (discourse) or a vinaya (Discipline) text, no school or sect would seem to be Buddhistic. However, according to the ideas of Zen, those who cling to words, letters or rules can never fully comprehend the speaker's true idea. The ideal or truth conceived by the Buddha should be different from those taught by him because the teaching was necessarily conditioned by the language he used, by the hearers whom he was addressing, and by the environment in which the speaker and hearers were placed. What Zen aims at is the Buddha's ideal, pure and unconditioned. The school is otherwise called 'the School of the Buddha's Mind.” The Buddha's mind is after all a human mind. An introspection of the human mind alone can bring aspirant to a perfect enlightenment. But how? The general purport of Buddhism is to let one see rightly and walk rightly. c) Thấy đúng hay kiến đạo: Darsana-marga (skt)—Thấy đúng khác biệt với đi đúng. Để phán đoán con đường sắp đi có đúng hay không, trước nhất học vấn hay khoa học là quan trọng—The way of viewing is different from the way of walking. To judge whether the path we are going to take is right or not, first of all, science is important. d) Đi đúng hay tu đạo: Bhavana-marga (skt)—Người ta thường đi mà không thấy. Tôn giáo chú trọng trên thực hành, tức là đi như thế nào, nhưng lại sao lãng việc giáo hóa những hoạt động trí thức để xác định con đường tu tập chân chính, tức là thấy như thế nào: The way of walking or the way of cultivation. People often walk without seeing the way. Religions generally lay importance on practice, that is, how to walk, but neglect teaching the intellectuall activity with which to determine the right way, that is, how to see. e) Với Thiền—With Zen: Càng đi chúng ta càng khám phá ra rằng triết lý quan trọng hơn tất cả những thứ khác. Trong trường hợp mà khoa học không cung ứng một giải đáp thỏa đáng, thì chúng ta phải trông cậy vào phương pháp tư duy của Thiền để soi tỏ vào bất cứ vấn đề nào được nêu ra: As we go on, we discover that philosophy is much more important than anything else. In case science and philosophy do not give a satisfactory result, we must resort to the meditative method of Zen in order to get insight into any given problem. • Trước tiên, hành giả phải tìm thấy con đường rồi bắt đầu đi trên đó. Mỗi bước tiến nhờ vào tư duy sẽ đưa người vượt qua lớp sóng của nhân sinh, tiến lần đến cõi hư không của thiên giới và cuối cùng đạt đến giác ngộ viên mãn như Đức Phật: First, find out your way and begin to walk on it. The foot acquired by meditation can carry you across the wave-flux of human life, and over and above the air region of the heavenly world and finally make you perfect and enlightened like the Buddha. • Quán là con mắt trực thị và đồng thời là bước chân trên con đường chân thực: Contemplation is the eye which gives insight, and, at the same time, the foot which procures a proper walk. • Thiền định và quán là thấu kính trong đó những đối tượng bên ngoài bị hội tụ để rồi phân tán và khắc ấn tượng lên mặt của những âm bản bên trong: Zen (meditation and concentration) is the lens on which diverse objects outside will be concentrated and again dispersed and impressed on the surface of the negative plates inside. • Sự tập trung vào thấu kính nầy chính là định (samadhi) và định càng sâu thì giác ngộ càng mau chóng: The concentration on the lens itself is concentration (samadhi) and the deeper the concentration is, the quicker the awakening of intuitive intellect. • Những gì khắc đậm hơn vào lớp phim âm bản là huệ (prajna) và là căn bản của những hoạt động trí thức. Qua ánh sáng trí huệ rọi ra bên ngoài, hành giả nhìn và thấy lại cái ngoại giới sai biệt lần nữa rồi theo đó mà hành sự thích nghi vào cuộc sống thực tế: The further impression on the negative film is wisdom (prajna) and this is the basis of intellectual activity. Through the light of reflection (prajna) outwardly, i.e., insight, we see and review the outer world of diversity once again so as to function or act appropriately toward actual life. (C) Cương yếu Thiền Tông—Preliminary of the Zen Sect: 1) Theo Kinh Lăng Già, Thiền tông tin vào đốn ngộ, chứ không qua nghi lễ hay kinh điển. Tu thiền trực ngộ bằng tuệ giác bên trong. Truyền thống truyền thừa Mật giáo lấy câu chuyện Đức Phật trong hội Linh Sơn giơ bông hoa, và ngài Ca Diếp trực ngộ bằng cái mỉm cười làm nguồn gốc (dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền)—According to the Lankavatara Sutra, the Zen sects believe in direct enlightenment, disregarded ritual and sutras and depended upon the inner light and personal influence for the propagation of its tenets, founding itself on the esoteric tradition supposed to have been imparted to Kasyapa by the Buddha, who indicated his meaning by plucking a flower without further explanation. Kasyapa smiled in apprehension and is supposed to have passed on this mystic method to the patriarchs. 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Ấn Độ có truyền thống tư duy thực hành trong tất cả các trường phái triết học cũng như tôn giáo do thừa kế giòng Aryan cổ đại. Trong số các trường phái nầy, Du Già là một phái đặc biệt chuyên về tư duy hay tập trung tư tưởng. Hệ thống Du Già là khía cạnh thực hành của triết lý Số Luận (Sankhya), vốn là Nhị Nguyên Luận. Theo Số Luận, thần ngã (atman) và Tự tánh (Prakriti), một đàng thì mù một đàng thì què, không thể hành sự nếu không được hợp nhất. Ngã có tác dụng tri thức, nhưng không thể hoạt động nếu không có tác dụng chất thể của Tự tánh. Khi cả hai hợp lại, mới thấy được con đường và hoạt động tùy ý. Ngã, như kẻ tổ chức một tuồng hát, chỉ chăm sóc diễn viên trình diễn và hoạt động trong vở kịch mà lại nghĩ rằng chính mình đang diễn vở kịch đó, dầu trên thực tế, chỉ có Tự tánh là vận hành và chu tất. Chỉ có tự tu tập mới mang lại tự do, nghĩa là, độc lập của ngã. Phương pháp tự tu tập thực ra là hệ thống Du Già của Patanjali vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch. Hệ thống Số Luận nguyên lai thuộc tà đạo vì Vô Thần, chỉ thừa nhận sự hiện hữu của Tự Ngã (Atman) mà không nhận có Đại Ngã (Mahatman). Nhưng khi thực hành về tư duy trừu tượng, đối tượng của sự tập trung tư tưởng rất cần thiết và do đó học thuyết này chấp nhận một hình thức của tự nhiên Thần giáo, nhưng không phải là Hữu Thần giáo. Đến giai đoạn sau cùng nầy của tư duy khi sự tách rời hoàn toàn giữa Ngã và Tự tánh đã có hiệu quả, thì đối tượng của tư duy, Brahman, Đại Ngã hay Thượng đế, bất cứ là gì, không còn cần thiết nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, as an inheritance from the ancient Aryan race, India has had the habit of meditation practiced in all schools of philosophy as well as in religion. There are six systems of Indian philosophy, one of which called Yoga, is especially devoted to meditation or concentration. The Yoga system is the practical side of the Sankhya philosophy, which is dualistic. In Sankhya, Self (Atman) and Nature (Prakriti), one blind as it were, and the other lame, cannot function without being united. Self has the intellectual function, but cannot move without the physical function of Nature. When the two combine together, they see the way and move at will. Self, like the promoter of a theatrical play, simply looks on his mate's acting and moving vut curiously thinks that he himself is acting in the moving, though in reality only Nature is moving and achieving. Only self-culture brings about freedom, that is, dependence of Self. The method of self-culture is practically the Yoga system of Patanjali in the second century B.C. The Sankhya system, originally heterodox since it was atheistic, asserted only the existence of the individual Self (Atman) and not of Universal Self (Mahatman). But in the practice of abstract meditation an object of self-concentration was necessary and so the doctrine assumes the form of deism, but not theism. At the end of meditation, when the absolute separation of Self from Nature has been effected, the object of meditation, Brahman, Paramatman or God, whatever it is, is no longer used. 3) Tầm quan trọng của Thiền định trong hệ thống Du Già ở chỗ phát triển và phục hồi những nguyên lý nhị nguyên, và giải thoát trọn vẹn Thần Ngã khỏi Tự tánh, trong khi phái Du Già Duy Tâm Luận của Phật Giáo đặt trọng tâm nơi sự nhất thống của thế giới bên trong và bên ngoài, tổng hợp các hiện hữu nhân quả và giả tạm của chúng ta, và từ đó mà khám phá ra một cách tiêu cực trạng thái Chân Như (Tathata). Dĩ nhiên, Phật giáo có một học thuyết đặc biệt về Thiền. Mặc dù chiều sâu và chiều rộng của thiền quán tùy thuộc nơi căn tính cá nhân, nhưng phương pháp hay nội dung của thiền định do Đức Phật giảng thuyết ở Tiểu và Đại Thừa đều giống nhau. Loại Thiền đặc biệt nầy được gọi là Như Lai Thiền, vì nó là một phần của Thánh giáo. Phát triển cao độ nhất trong Thiền nầy tìm thấy trong chỉ quán (samathavipasyana) của tông Thiên Thai và trong bí mật Du Già của tông Chân Ngôn: The importance of the abstract meditation of the Yoga system is laid upon the evolution and reversion of the dual principles and upon the final liberation of Self from Nature, while that of the idealistic Yogacara School of Buddhism is centered on the unification of the world within and without, on the synthesizing of our causal and illusory existences, and thus negatively discovering the state of Thusness (Tathata). Buddhism, has, of course, a special doctrine of meditation. Although the depth and width of contemplation depend upon one's personal character, the methods or contents of meditation taught by the Buddha are similar in Hinayana and Mahayana. This special meditation is generally called 'Tathagata meditation,' as it forms one part of the sacred teaching. The highest development of it is seen in the perfect 'calmness and insight' (samathavipasyana) of the T'ien-T'ai School and in the mystical Yogacara of the Shingon School. (D) Tập trung tư tưởng—Concentration of thoughts: See Tám Yếu Tố Tập Trung Tư Tưởng. (II) Thiền tông Việt Nam—Vietnamese Zen: Chính ra Khương Tăng Hội là vị Thiền sư Việt Nam đầu tiên; tuy nhiên, thiền phái Việt Nam chỉ bắt đầu được thành lập từ thời Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà thôi. Phật giáo Thiền tông có nhiều nhánh tại Việt Nam, là phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Vô Ngôn Thông, và phái Thảo Đường—Hjiang-Jing-Hui was the first Vietnamese Zen master; however, Vietnamese Zen sects only developed at the time of Zen master Vinitaruci. Zen Buddhism has several branches in Vietnam, namely, the Vinitaruci, the Wu-Yun-T'ung, and the Tsao-T'ang. 1) Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen sect: Dòng thứ nhất là dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, được khai sáng bởi một vị Tăng Ấn Độ, đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán—The first branch was founded in Vietnam by an Indian monk named Vinitaruci, who was one of the great disciples of the third patriarch, Seng-Ts'an—See Tỳ Ni Đa Lưu Chi and Tăng Xán. 2) Phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T'ung Zen sect: Dòng Thiền thứ nhì là dòng Vô Ngôn Thông, được khai sáng bởi Thiền sư Vô Ngôn Thông, một Thiền sư Trung Hoa, đệ tử của Tổ Bách Trượng Hoài Hải—The second branch was founded by a Chinese Zen master named Wu-Yun-T'ung, a great disciple of Pai-Ch'ang-Huai-Hai—See Vô Ngôn Thông, and Bách Trượng Hoài Hải. 3) Phái Thảo Đường—Tsao-T'ang Zen sect: Dòng Thiền thứ ba là dòng Thảo Đường, được khai sáng bởi Thiền sư Thảo Đường, đệ tử của Đức Sơn Tuyên Giám—The third branch was founded by Tsao-T'ang, a disciple of Te-Shan—See Thảo Đường Thiền Sư and Đức Sơn Tuyên Giám. 4) Phái Trúc Lâm—Trúc Lâm Zen sect: Dòng Thiền Trúc Lâm do sơ Tổ Trần Nhân Tông khai sáng—Trúc Lâm Zen sect was founded by the first patriarch Trần Nhân Tông—See Trần Nhân Tông. 5) Phái Lâm Tế—Lin-Chi Zen sect: Phái Lâm Tế được truyền thẳng từ Trung Hoa từ tổ Lâm Tế—The Lin Chi Zen sect was transmitted directly from China from Lin Chi Patriarch. 6) Phái Tào Động—T'ao-T'ung Zen sect: Phái Tào Động được truyền thẳng từ Thiền phái của Lục Tổ ở Tào Khê, Trung Quốc—T'ao-T'ung Zen sect was transmitted directly from T'ao-Tsi, China. (III) Thiền phái Nhật Bản—Japanese Zen sects: Phật giáo Thiền tông có ba nhánh tại Nhật Bản, gọi là Lâm Tế (Rinzai), Tào Động (Soto), và Hoàng Bá (Obaku)—Zen Buddhism has three branches in Japan, namely, the Rinzai, the Soto, and the Obaku—See Thiền Phái Nhật Bản.
; (禪宗) Cũng gọi Phật tâm tông, Đạt ma tông, Vô môn tông. Chỉ cho tông phái Đại thừa tôn ngài Bồ đề đạt ma làm Sơ tổ, tham cứu cội nguồn tâm tính để mong được thấy tính thành Phật, là 1 trong 13 tông của Trung quốc, 1 trong 13 tông của Nhật bản. Từ xưa, Trung quốc lấy hệ thống những người chuyên tâm tọa thiền làm Thiền tông, trong đó bao hàm cả 2 hệ thống Thiên thai và Tam luận, chứ không chỉ giới hạn ở Đạt ma tông; từ giữa đời Đường về sau, Đạt ma tông hưng thịnh, nên khi đề cập đến Thiền tông thì tức là chuyên chỉ cho Đạt ma tông. Về sự truyền thừa của tông này thì Trung quốc lấy việc đức Thích tôn trong hội Linh sơn đưa cành hoa sen lên để dạy chúng và ngài Ca diếp mỉm cười làm khởi nguồn. Thuyết này tuy không có căn cứ sử thực, nhưng Thiền từ Lục tổ Tuệ năng về sau nhấn mạnh việc dùng tâm truyền tâm, truyền riêng ngoài giáo, cho nên đặc biệt coi trọng thuyết Ca diếp phó pháp tương thừa này. Sau ngài Ca diếp, qua các ngài: A nan, Thương na hòa tu, Ưu bà cúc đa, Đề đa ca, Di già ca, Bà tu mật, Phật đà nan đề, Phục đà mật đa, Bà lật thấp bà, Phú na dạ xa, A na bồ đề, Ca tì ma la, Na già ứ lạt thụ na, Ca na đề bà, La hầu la đa, Tăng già nan đề, Già da xá đa, Cưu ma la đa, Xà dạ đa, Bà tu bàn đầu, Ma noa la, Hạc lặc, Sư tử bồ đề, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma, tất cả 28 vị, tức là 28 vị Tổ Tây thiên (Ấn độ) của tông này. Ngài Bồ đề đạt ma truyền Thiền pháp đến Trung quốc vào khoảng năm Phổ thông (520-527) đời Lương vũ đế và trở thành Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc. Sau, ngài Đạt ma truyền pháp cho ngài Tuệ khả (Thần quang), Tuệ khả truyền cho Tăng xán, Tăng xán truyền cho Đạo tín. Dưới ngài Đạo tín có 2 vị tài trí hơn người là Hoằng nhẫn và Pháp dung. Dưới Pháp dung có Trí nghiễm, Tuệ phương và Pháp trì, vì Pháp hệ này trụ ở núi Ngưu đầu tại Kim lăng, nên người đời gọi là Ngưu đầu thiền, lấy ý muốn được tâm tịnh thì phải vô tâm dụng công làm yếu chỉ. Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Hoàng mai tại Kì châu (tỉnh Hồ bắc) xiển dương ý chỉ sâu xa của kinh Kim cương bát nhã, dưới cửa của sư xuất hiện rất nhiều bậc tài trí như: Ngọc tuyền Thần tú, Đại giám Tuệ năng, Tung sơn Tuệ an, Mông sơn Đạo minh, Tư châu Trí sân... Trong các đệ tử của Ngũ tổ thì ngài Thần tú là Đệ nhất thượng thủ, gọi là Tú thượng tọa. Sau khi Ngũ tổ thị tịch, ngài Thần tú truyền bá Thiền pháp ở phương Bắc, vì thế cũng gọi là Bắc Tú, sư có nhiều đệ tử tài giỏi và được tôn làm Tổ của Thiền Bắc tông. Bắc tông lấy Trường an và Lạc dương làm trung tâm, pháp vận hưng thịnh được chừng 100 năm, chủ trương tập trung tinh thần vào việc tu hành Thiền pháp một cách thực tiễn. Dưới ngài Thần tú có các vị Tung sơn Phổ tịch, Kinh triệu Nghĩa phúc... truyền được 4-5 đời thì đoạn tuyệt. Ngoài ra, ngài Tung sơn Tuệ an khai sáng Lão an thiền, còn ngài Tú châu Trí sân thì cũng mở ra Nam sân thiền. Ngài Đại giám Tuệ năng thì nhờ 1 bài kệ mà được Ngũ tổ ấn khả và truyền áo bát cho, kế thừa ngôi vị Đệ lục tổ. Về sau, sư lánh nạn xuống phương nam; trụ ở Tào khê tại Thiều dương (tỉnh Quảng đông), phát huy Thiền phong rất rực rỡ, đó chính là Tổ của Thiền Nam tông. Vì tông phong của 2 tông Nam, Bắc khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm. Đệ tử nối pháp của ngài Tuệ năng có hơn 40 vị, trong đó nổi tiếng hơn cả là các vị: Nam nhạc Hoài nhượng, Thanh nguyên Hành tư, Nam dương Tuệ trung, Vĩnh gia Huyền giác, Hà trạch Thần hội... Trong các vị này, ngài Hà trạch Thần hội mở ra Hà trạch tông, cực lực chủ trương pháp môn đốn ngộ, lấy một niệm không khởi làm tọa và thấy rõ bản tính làm Thiền. Ngài Nam nhạc Hoài nhượng được Lục tổ truyền tâm ấn, trụ ở chùa Bát nhã tiếp hóa người học suốt 30 năm, đệ tử nối pháp có 9 vị, đứng đầu là ngài Mã tổ Đạo nhất. Ngài Mã tổ Đạo nhất hoằng dương Thiền pháp ở núi Cung công, tỉnh Giang tây, cơ phong cao vút, mạnh mẽ, khai sáng thiền phong đánh hét, dựng phất trần, người đời gọi là Hồng châu tông. Tông này chủ trương những sinh hoạt hàng ngày của thân tâm như khởi tâm động niệm, nhướng mày, chớp mắt... đều là Phật tính, từ đó có thuyết Kiến tính thị Phật, Tính tại tác dụng. Đệ tử của ngài Mã tổ có hơn trăm vị, nổi tiếng thì có các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Tây đường Trí tạng, Đại mai Pháp thường, Chương kính Hoài huy và Đại châu Tuệ hải.Từ sau khi ngài Hoài hải sáng lập Thiền viện, đặt ra thanh qui ở núi Bách trượng thì Thiền tông mới thóat li các chế độ Thiền tăng phải ở nhờ trong các chùa Luật. Dưới ngài Bách trượng có các vị Hoàng bá Hi vận, Qui sơn Linh hựu...; dưới ngài Hi vận có Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Nghĩa huyền lập ra Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản... để tiếp hóa đồ chúng, cơ phong nghiêm khắc, môn đồ đông đúc, tự phát triển thành tông Lâm tế, bấy giờ đã là cuối đời Đường. Sang đến đời Tống, lại từ ngài Lâm tế Nghĩa huyền, trải qua các vị: Hưng hóa Tồn tưởng, Nam viện Tuệ ngung, Phong huyệt Diên chiểu, Thủ sơn Tỉnh niệm, Phần dương Thiện chiêu, truyền đến đời thứ 7 là ngài Thạch sương Sở viên, đệ tử của ngài Sở viên là Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội lại diễn sinh 2 phái Hoàng long và Dương kì, đứng ngang hàng với các tông Vân môn, Tào động. Một mình ngài Qui sơn Linh hựu trụ ở Đàm châu (tỉnh Hồ nam), người đến tham học có tới 1.500, đệ tử thì ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch là nổi tiếng hơn cả. Dưới Thiền sư Thanh nguyên Hành tư có ngài Thạch đầu Hi thiên soạn Tham đồng khế, sư và ngài Mã tổ được tôn xưng là Nhị đại Long Tượng (2 bậc Rồng Voi) ở đương thời. Đệ tử ngài Thạch đầu Hi thiên có các vị Dược sơn Duy nghiễm, Đơn hà Thiên nhiên và Thiền hoàng Đạo ngộ. Hệ thống ngài Dược sơn có các vị Vân nham Đàm thịnh, Động sơn Lương giới, Vân cư Đạo ưng, Tào sơn Bản tịch... phát triển thànhtông Tào động. Ngài Thiên hoàng Đạo ngộ truyền được 3 đời đến ngài Tuyết phong Nghĩa tồn, trụ ở núi Tuyết phong Phúc châu, đệ tử nối pháp có hơn 50 người, trong đó, ngài Vân môn Văn yển, phát huy tông trí hình thành tông Vân môn; một vị đệ tử khác của ngài Tuyết phong là Huyền sa Sư bị truyền xuốngđến các vị La hán Quế sâm và Pháp nhãn Văn ích. Ngài Văn ích trụ chùa Thanh lương ở Kim lăng, xiển dương Thiền chỉ, khai sáng ra tông Pháp nhãn, hệ thống này có các vị cao tăng xuất hiện như: Thiên thai Đức thiều, Vĩnh minh Diên thọ, Vĩnh an Đạo nguyên... Trong đó, ngài Đức thiều được gọi là Trí khải tái sinh; ngài Diên thọ soạn Tôngkính lục, xem trọng giáo học; ngài Đạo nguyên soạn Cảnh đức truyền đăng lục, cho biết rõ về hệ phổ của Đạt ma thiền. Trừ các tông phái nêu trên ra, theo Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự của ngài Khuê phong Tông mật thì các giáo phái Thiền tông ở đời Đường gồm có các phái: Hồng châu, Hà trạch, Bắc tú, Nam sân, Ngưu đầu, Thạch đầu, Bảo đường, Tuyên thập(Thiền môn niệm Phật), Huệ trù, Cầu na, Thiên thai... Trong Viên giác sớ sao, ngài Tông mật cũng nêu 7 tông là: Bắc tông thiền, Trí sân thiền, Lão an thiền, Nam nhạc thiền, Ngưu đầu thiền, Nam sơn niệm Phật môn thiền và Hà trạch thiền. Trong Thập di môn, ngài Tông mật lại phân loại làm 5 nhà: Ngưu đầu tông, Bắc tông, Nam tông, Hà trạch tông và Hồng châu tông. Cái mà ngài Tông mật gọi là Ngũ gia, Thất tông tự khác với Ngũ gia, Thất tông do Thiền tông đời sau phân loại, điều này là do thời đại ngài Tông mật sống và bản thân ngài thuộc về tông Hà trạch, cho nên các giáo phái Thiền tông mà ngài thấy lúc bấy giờ cũng khác với các sử liệu Thiền tông đời sau. Tóm lại, từ ngài Đạt ma đến ngài Tuệ năng, trong khoảng thời gian 250 năm, Thiền phong mà tông này nêu cao có 1 phongcách đặc biệt riêng, ngữ lục của các Tổ sư thường trích dẫn và y cứ vào kinh điển mà nêu rõ Phật pháp chỉnh thể, không rơi vào sự đối lập tông phái, có thể gọi đó là thời kì thành lập của Thiền tông. Từ các ngài Nam nhạc, Thanh nguyên cho đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, trong khoảng thời gian 250nămấy, chỉ có Thiền Nam tông độc tôn. Về mặt tư tưởng thì loại bỏ sắn bìm ngôn ngữ văn tự mà kiến lập tinh thần Tức tâm thị Phật, Bình thường tâm thị đạo; về mặt sinh hoạt thực tế thì kiến lập qui chế Thiền viện lấy Tăng đường làm trung tâm. Đối với việc hoằng truyền Thiền pháp, về mặt diễn thuyết thì dùng các cơ pháp linh hoạt sống động để tiếp dẫn người học, dùng các cơ dụng đánh, hét, dựng phất trần, để tuyên dương tông phong. Lâu ngày dần dần phân lập thành Ngũ gia (5 nhà), thời kì này có thể gọi là sự phát đạt của Thiền tông. Trong thời gian 320 năm của 2 đời Bắc Tống và Nam Tống, từtông Lâm tế lại diễn sinh ra 2 phái Hoàng long và Dương kì mà thành là Ngũ gia thất tông (5 nhà 7 tông) của Thiền tông Trung quốc. Trong đó, phái Hoàng long sau được ngài Vinh tây truyền đến Nhật bản; còn phái Dương kì thì sau ngài Dương kì Phương hội, có các cao tăng như Ngũ tổ Pháp diễn, Viên ngộ Khắc cần, Đại tuệ Tông cảo... mở mang Thiền chỉ, hình thành dòng chính của Thiền. Ngoài ra, ngài Hoành trí Chính giác thuộc hệ thống tông Tào động đề xướng Mặc chiếu thiền, còn ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc hệ thống tông Lâm tế thì đề xướng Khán thoại thiền. Vào thời kì này, các giáo dung hợp, đưa đến khuynh hướng Tam giáo nhất trí, Giáo thiền điều hợp, Thiền tịnh song tu, tông này dần dần mất tính cách độc lập của mình, đó là thời kì giữ vững sự thành tựu của Thiền tông. Từ Nguyên, Minh cho đến đời vua Càn long nhà Thanh, trong khoảng thời gian 450 năm là thời kì suy đồi của Thiền tông. Trong thời kì này tuy có các vị tông sư 1 đời như Hải vânẤn giản, Vạn tùng Hành tú, Phá am Tố tiên, Vô chuẩn Sư phạm... nối tiếp nhau quật khởi, nhưng nói theo thế mạnh của 1 tông thì kết cục đã rõ là Nho Thích điều hợp, Giáo Thiền nhất trí. Trong các bậc Đại sư Thiền tông thời cận đại thì Hòa thượng Hư vân (1839-1958) là người được suy tôn đứng đầu, với 120 tuổi thọ, một đời hoằng pháp không mỏi mệt, xây dựng nhiều tùng lâm, tận lực chấn hưng Thiền tông, giữ gìn pháp mạch từ thời Lục tổ về sau; soạn các tác phẩm lưu truyền ở đời như: Hư vân hòa thượng pháp vậng, Hư vân hòa thượng thiền thất khai thị lục... Tại Nhật bản, sự lưu truyền Thiền tông bắt đầu với việc ngài Đạo chiêu đến Trung quốc vào đời Đường cầu pháp vào năm Bạch trĩ thứ 4 (653) đời Thiên hoàng Hiếu đức. Năm Thiên bình thứ 8 (732), ngài Đạo tuyền người Trung quốc đến Nhật bản hoằng truyền Thiền Bắc tông; thời Thiên hoàng Sa nga ở ngôi, có sai sứ đến Trung quốc thỉnh ngài Nghĩa không sang Nhật bản hoằng truyền Thiền Nam tông, mở ra tông phong của Thiền tông Nhật bản. Năm Văn trị thứ 3 (1187), ngài Minh am Vinh tây đến Trung quốc vào đời Tống, thờ ngài Hư am Hoài sưởng làm thầy, truyền phápThiền của phái Hoàng long về Nhật bản, mở đầu cho tông Lâm tế ở Nhật bản. Năm Trinh ứng thứ 2 (1223), ngài Vĩnh bình Đạo nguyên đến Trung quốc vào đời Tống, sau khi được ngài Thiên đồng Như tịnh ấn khả, ngài Đạo nguyên trở về Nhật bản, trở thành Tổ của tông Tào động Nhật bản. Đệ tử của sư là các vị Triệt thông Nghĩa giới và Hàm nham Nghĩa doãn, 2 lần đến Trung quốc, sau khi về nước, các ngài truyền pháp rất rộng, về sau, khai sáng riêng phái Hàn nham (cũng gọi phái Pháp hoàng). Niên hiệu Gia trinh năm đầu (1235), ngài Viên nhĩ Biện viên đến Trung quốc tới Kính sơn tham yết ngài Vô chuẩn Sư phạm, được ngài truyền tâm ấn, sau khi trở về Nhật bản, sư sáng lập chùa Đông phúc ở kinh đô (Kyoto), truyền bá Thiền pháp. Năm Khoan nguyên thứ 4 (1246), ngài Lan khê Đạo long người Trung quốc đến Nhật bản, làm Sơ tổ chùa Kiến trường, nhờ đó nên Thiền phong ở Quan đông hưng thịnh. Năm Văn vĩnh thứ 4 (1267), ngài Nam phố Thiệu minh đến Trung quốc, được ngài Hư đường Trí ngu ấn khả rồi trởvềnước hoằng pháp. Năm Văn vĩnh thứ 6 (1269), ngài Đại hưu Chính niệm người Trung quốc đến Nhật bản, trụ các chùa Kiến trường, Viên giác, được triều đình và dân chúng qui kính. Về sau lại có các Đại sư Trung quốc như: Nhất sơn Nhất ninh, Tây giản Tử đàm, Đông lí Hoằng hội, Viễn khê Tổ hùng, Linh sơn Đạo ẩn... nối tiếp nhau đến Nhật bản hoằng truyền đại pháp, nêu cao Thiền phong, mở rộng Thiền pháp, phát triển thành 24 dòng Thiền tông Nhật bản; bao gồm các dòng phái như: Thiên quang (Vinh tây), Đạo nguyên, Thánh nhất(Viên nhĩ), Pháp đăng (Giác tâm), Đại giác(Đạo long), Ngột am (Phổ ninh), Đại hưu(Chính niệm), Pháp hải (Tĩnh chiếu), Vô học(Tổ nguyên), Nhất sơn (Nhất sơn Nhất ninh), Đại ứng(Nam phố Thiệu minh), Tây giản(Tây giản Tử đàm), Kính đường(Kính đường Giác viên), Phật tuệ(Linh sơn Đạo ẩn), Đông minh (Đông minh Tuệ nhật), Thanh chuyết (Thanh chuyết Chính trừng), Minh cực(Minh cực Sở tuấn), Ngu trung(Ngu trung Chu cập), Trúc tiên(Trúc tiên Phạm tiên), Biệt truyền (Biệt truyền Minh dận), Cổ tiên(Cổ tiên Ấn nguyên), Đại chuyết(Đại chuyết Tổ năng), Trung nham (Trung nham Viên nguyệt) và phái Đông lăng (tức Đông lăng Vĩnh dư). Trong đó, trừ 3 dòng phái Đạo nguyên, Đông minh và Đông lăng thuộc Tào động thiền, 21 dòng phái còn lại đều thuộc Lâm tế thiền. Trong 21 dòng phái thì phái Vinh tây(phái Thiên quang) truyền thừa pháp mạch của ngài Hoàng long, còn các phái khác đều kế thừa pháp đăng của ngài Dương kì. Năm Thừa ứng thứ 3 (1654), ngài Ẩn nguyên Long kì cũng từ Trung quốc đến Nhật bản, sáng lập tông Hoàng bá, đến nay vẫn đứng ngang hàng với tông Lâm tế và Tào động thành thế chân vạc. Thiền khởi nguồn từ Ấn độ, nghĩa gốc của Thiền là ngồi nhiếp tâm tĩnh lặng, tư duy thẩm xét để đạt đến trạng thái định tuệ cân bằng. Trước đức Thích tôn, Ấn độ đã có tư tưởng lấy việc sinh lên cõi trời làm mục đích tọa thiền. Đến thời đức Thích tôn mới triển khai loại Thiền lấy việc xa lìa 2 bên khổ, vui để đạt đến niết bàn Trung đạo làm mục đích. Tư tưởng thiền quán của Phật giáo Ấn độ từ đó dần dần phát đạt, đồng thời xuất hiện vô số kinh Thiền. Theo với đà truyền dịch kinh điển, từ cuối đời Đông Hán, Thiền pháp đã truyền vào Trung quốc, nhưng lúc đầu đều là tư tưởng Thiền quán thuộc hệ thống Tiểu thừa. Từ thời ngài Cưu ma la thập đời Đông Tấn về sau, các loại Thiền pháp được truyền vào, đặc biệt lấy pháp môn niệm Phật làm chủ yếu. Đến đời Lưu Tống, ngài Cầu na bạt đà la dịch kinh Lăng già (bản 4 quyển), trong đó nêu ra thuyết 4 loại thiền: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phạm duyên như thiền và Như lai thiền, kích phát những người nghiên cứu, giảng thuyết Thiền pháp đương thời mở ra con đường khác như 5 loại thiền do người đời sau chủ trương, đó chính là thuyết đã dựa vào thuyết 4 loại thiền trong kinh Lăng già mà ra. Lại nữa, ngài Bồ đề Đạt ma là người khai sáng Thiền tông Trung quốc, tuy chủ yếu y cứ vào Thiền kinh (2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn) nhưng Như lai tự tính thanh tịnh thiền mà ngài Đạt ma truyền, chính lại dựa vào thuyết nói trong kinh Lăng già. Ngoài ra, các ngài Tuệ khả, Tăng xán đều được gọi là Lăng già sư, còn các ngài Đạo tín, Hoằng nhẫn lại chịu ảnh hưởng của luận Đại thừa khởi tín, đề xướng thuyết Nhất hạnh tam muội, đến Lục tổ Tuệ năng mới lấy kinh Kim cương bát nhã làm chính tông, bởi vì vào thời ấy kinh Lăng già đã nghiêng nặng về mặt văn cú sớ giải, nên không tránh khỏi bị sa vào vòng danh tướng chi li. Từ giữa đời đường về sau, cơ pháp đánh, hét, dựng phất trần thịnh hành, phạm vi ý nghĩa Thiền được mở rộng, thì không hẳn cứ nhiếp tâm ngồi yên lặng mới là Thiền, mà những động tác bình thường hàng ngày như bổ củi, gánh nước, mặc áo, ăn cơm, uống trà... cũng có thể gọi là Thiền. Tóm lại, sự khácnhaugiữa Thiền tông và các tông khác là ở chỗ Thiền tông không lập kinh điển chính y, mà cho dù có dẫn dụ kinh điển đi nữa thì đó cũng chỉ là phương tiện nhất thời, còn điều chủ yếu nhất là y cứ vào tâm Phật, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo để mong chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật. Tuy vậy, các Thiền sinh vẫn phải trau dồi học vấn và sự tu chứng để sáng tỏ bản tâm. Và để tránh cho Thiền sinh khỏi bị vướng mắc vào vòng suy tư tính lường, nên trong các tùng lâm có đặt ra thanh qui. Theo 1 qui củ nhất định, các vị Tôn túc và đại chúng ấn định thời gian sinh hoạt tọa thiền; các vị Tôn túc mở bày cơ duyên của chư Phật liệt Tổ để dắt dẫn đại chúng. Đọc tụng kinh điển tuy không phải là việc chủ yếu, nhưng vẫn lấy các kinh Lăng già, Duy ma, Kim cương bát nhã, Thủ lăng nghiêm... làm các kinh quan trọng. Xưa nay các bậc Tôn túc phần nhiều cũng để lại ngữ lục mà đã trở thành các tư liệu tham khảo thiết yếu cho Thiền đồ tu thiền ngộ đạo ở đời sau. [X. Thiền môn sư tư thừa tập đồ; Tổ đường tập Q.17, 20; Cảnh đức truyền đăng lục; Truyền pháp chính tông kí; Ngũ đăng hội nguyên; Thiền môn bảo tạng lục Q.thượng, trung; Bát tông cương yếu Q.hạ; Nhật bản thiền tông sử yếu; Thiền học tư tưởng sử; Nhật bản Phật giáo yếu lãm]. (xt. Ngũ Gia Thất Tông).
thiền tông chính mạch
6455凡十卷(或二十卷)。明代如巹集。收於卍續藏第一四六冊。本書係節略宋代普濟所編之五燈會元而成。因五燈會元卷冊浩繁難讀,機緣峻險,如壁立萬仞,致上根之人咋舌,下根之人無所措,故唯取其顯明簡直,編成此書,俾使人人皆得易解。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、閱藏知津卷四十二〕
; (禪宗正脉) Tác phẩm, 10 quyển, (hoặc 20 quyển), do ngài Như cẩn biên tập vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 146. Sách này do lược bớt bộ Ngũ đăng hội nguyên của ngài Phổ tế soạn vào đời Tống mà thành. VìNgũ đăng hội nguyên nhiều tập, đồ sộ khó đọc, cơ duyên lại chót vót hiểm hóc, như vách núi đứng cao vạn nhận, đến nổi bậc thượng căn phải chặc lưỡi, còn người hạ căn cũng chẳng biết bám vào đâu, cho nên ngài Như cẩn chỉ chọn lấy những chỗ ngắn gọn, sáng sủa mà biên soạn thành sách này, hầu giúp mọi người hiểu được một cách dễ dàng. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].
thiền tông nghệ thuật
6461請參閱 聯燈會要 請參閱 禪林象器箋佛教東傳,對中國及日本之文化、思想、藝術等各方面影響至鉅,其中尤以禪宗對兩國在藝術上之影響最具特色。 (一)中國:禪宗渾簡鋒利、超然特立之思想,為中國畫壇開啟一種筆節形具、氣韻有致的禪畫之風。東漢至六朝之五百年間,有張僧繇、顧愷之、陸探微、宗少文等,為「墨戲」、「畫禪」之先河。禪畫正式始於唐代,有南北二宗之別。北宗以李思訓父子為首,筆法工整,色彩濃烈,莊嚴而典麗。南宗則尊詩佛王維為始祖,王維首創潑墨山水,以渲染畫法一變歷來之鉤研畫法,蔚為時風,其傳人有張璪、王墨等。世評此二宗之別為:「李派朴細,無士氣;王派虛和蕭散。」 迨至宋代,禪畫更臻於心物合一之空靈境界,畫風超然象外,大膽運用空白,呈現空靈清淨之悟境。此期以荊浩、關同、董源、巨然、米芾父子等為代表,皆承南宗之風。另有范寬、江參、郭忠恕等亦為南宗健將。其中以米芾父子獨創之「無根樹」、「蒙鴻雲」等畫法最為特出。另有馬遠,自樹「一角」畫法,對日本藝術影響匪淺。北宗於此時則逐漸式微。 入元後之禪畫以蕭疏簡放為時尚,不但繪畫領域及繪畫技巧更為充實,且亦建立系統性之繪畫理論。至明清之際,佛教衰微,畫壇興起擬古之風,唯缺創新,但於理論之探討,卻更深湛廣泛。此期以清初之石濤和尚為代表。晚近禪宗不振,故畫壇亦趨於冷落。 (二)日本:大抵而言,日本受禪宗之影響較中國更為廣泛,舉如繪畫、俳句、園藝、茶道、建築、能劇、劍道、箭藝等無不披靡。禪宗文化於鎌倉中期(中國宋元之際)隨著中國藝術品傳入日本,並與日本之武家思想融合,普為大眾所接受。鎌倉末期至室町初期之室町美術以鑑賞及模寫畫為主流。 禪宗美術早期以祖師肖像、宗教人物畫及頂相畫(禪高僧畫像)為主。鎌倉以後,逐漸盛行一種將所體悟之禪機,形繪於畫面,將禪之精神予以造形化之「禪機畫」,並從禪宗之自然觀及生活中,逐漸演釋成一種新的山水畫,即用簡素之墨色與線條,及「空白」之技巧運用,寓禪之意境於簡單樸素之畫面中。又因受南宋畫家馬遠「一角」畫法之影響,而形成一股參差不齊、不拘形式之繪畫特徵,日後亦成為日本禪宗藝術之主流。然若從如拙、明兆、周文、雪舟等名家繪畫系統之發展歷程觀之,可了解此時已由模倣中國繪畫時代演至獨樹日本禪畫畫風之時代。 此外,日本於茶道中,將禪之精神融入,成為一種無斧鑿痕跡的自然生活之道。於傳統能劇藝術中,簡潔之對白,單純之舞臺和布景,亦無不暗含禪之哲理。於著名的俳句文學中,更有深遠之影響,此可以十七世紀偉大詩人芭蕉之作品為代表。於庭園藝術,由於將禪理融入傳統山水庭園之組合規則中,而將庭園藝術帶入頂峰,室町時代所造之龍安寺之石園可說最具代表性。其他如劍道、建築、箭藝等亦然,凡是受禪啟示之藝術,莫不皆以其本身之藝術特性,對世界當下直觀,作生動而又活潑之表現。
; (禪宗藝術) Nền nghệ thuật của Phật giáo Thiền tông.Phật giáo truyền sang phươngĐông, đối với các phương diện văn hóa, tư tưởng, văn nghệ... của Trung quốc và Nhật bản có ảnh hưởng rất lớn, trong đó, đặc sắc nổi bật nhất là ảnh hưởng của Thiền tông đối với nền nghệ thuật của 2 nước này. 1. Trung quốc: Tư tưởng hàm súc, ngắn gọn, sắc bén, siêu nhiên độc lập của Thiền tông, đã mở ra cho nền hội họa của Trung quốc 1 thứ họa phong Thiền với những nét chấm phá có khí vận đặc biệt. Trong khoảng thời gian 500 năm từ đời Đông Hán đến đời Lục triều, có các họa sĩ Trương tăng diêu, Cố khải chi, Lục thám vi, Tông thiếu văn... là những người mở đường cho Mặc hí, Họa thiền. Thiền họa chính thức bắt đầu vào đời Đường, có Nam tông và Bắc tông khác nhau. Bắc tông có cha con Lí tư huấn đứng đầu, nét vẽ tề chỉnh, tinh tế, màu sắc đậm đà, vừa trang nghiêm vừa diễm lệ. Còn Nam tông thì tôn Thi Phật Vương duy làm Thủy tổ, Vương duy là người đầu tiên khai sáng trường phái Bát mặc sơn thủy. Kế thừa trường phái này có các họa sĩ Trương tảo và Vương mặc. Người đời phê bình về sự khác nhau giữa 2 trường phái là: Phái Lí tư huấn thì nét vẽ mộc mạc, tinh tế; còn phái Vương duy thì nét vẽ tịch mịch, nửa hư nửa thực. Đến đời Tống thì Thiền họalại đạt đến cảnh giới hư linh rỗng rang, tâm vật hợp làm một, phong cách vẽ siêu nhiên tượng ngoại, vận dụng những khoảng trống, diễn đạt cảnh giới giác ngộ linh diệu, vắng lặng rỗng rang. Thời kì này có các họa sĩ tiêu biểu như: Kinh hạo, Quan đồng, Đổng nguyên, Cự nhiên, cha con Mễ phất... tất cả đều thừa kế họa phong của Nam tông. Ngoài ra còn có Phạm khoan, Giang tham, Quách trung thứ... cũng là những kiện tướng của Nam tông. Trong đó, cha con Mễ phất sáng tạo cách vẽ Vô căn thụ Mông hồng vân, là nổi bật nhất. Lại có Mã viễn với cách vẽ từ một góc cái cây, có ảnh hưởng sâu đậmđốivới nghệ thuật Nhật bản. Đến thời này thì Bắc tông dần dần suy vi. Sang đời Nguyên thì Thiền họa lấy nét tiêu sơ phóng khoáng làm thời thượng. Không nhữngtronglãnh vực hội họa và kĩ xảo hội họa đầy đủ hơn, mà còn kiến lập lí luận hội họa có tính cách hệ thống hơn. Đến đời Minh, Thanh thì Phật giáo suy đồi, họa đàn hứng khởi phong cách phỏng cổ, thiếu hẳn tinh thần sáng tạo, nhưng về mặt nghiên cứu lí luận thì có phần sâu xa bao quát hơn. Đại biểu cho thời kì này có Hòa thượng Thạch đào sống vào đầu đời Thanh. Thời gần đây Thiền tông không chấn hưng lên được, cho nên họa đàn cũng dần dần vắng vẻ. 2. Nhật Bản: Nói một cách đại khái, nghệ thuật Nhật bản chịu ảnh hưởng của Thiền tông sâu rộng hơn so với Trung quốc, tất cả mọi lãnh vực như hội họa, hát tuồng, nghề làm vườn, trà đạo, kiến trúc, kịch nghệ, kiếm đạo, nghề bắn tên... đều thấy ảnh hưởng của Thiền. Văn hóa Thiền tông theo các tác phẩm nghệ thuật Trung quốc được truyền đến Nhật bản vào giữa đời Liêm thương(ngang với thời Tống, Nguyên ở Trung quốc), đồng thời dung hợp với tư tưởng Vũ gia Nhật bản, được quảng đại quần chúng tiếp nhận. Nền mĩ thuật cuối thời Liêm thương đến đầu thời Thất đinh thì lấy hội họa làm chính. Mĩ thuật Thiền tông ở thời kì đầu, lấy chân dung các Tổ sư, những nhân vật tông giáo và Đính tướng họa(vẽ hình tượng các vị cao tăng Thiền tông) làm chủ yếu. Từ thời Liêm thương về sau, 1 loại Thiền cơ họa dần dần thịnh hành, tức đem cáiThiền cơ mà mình đã thể ngộ được vẽ lên bức tranh để tạo hình hóa và cụ thể hóa cái tinh thần của Thiền; đồng thời, từ trong tự nhiên quan và sinh hoạt của Thiền tông dần dần diễn dịch thành 1 loại tranh sơn thủy mới, tức sử dụng màu mực và đường nét đơn giản và dùng kĩ xảo không bạch(khoảng trống) để ngụ ý cảnh của Thiền trong bức tranh mộc mạc, đơn sơ. Lại vì chịu ảnh hưởng cách vẽ một góc của nhà hội họa Mã viễn đời Nam Tống, Trung quốc, nên đã hình thành đặc trưng của 1 loại hội họa so le không đều, không câu nê hình thức mà về sau cũngđãtrở thành dòng chính của nghệ thuật Thiền tông Nhật bản. Nhưng nếu nhìn vào lịch trình phát triển hệ thống hội họa của các danh gia như Như chuyết, Minh triệu, Chu văn, Tuyết chu... thì ta có thể hiểu rõ thời kì này đã do mô phỏng phong cách hội họa của Trung quốc mà dần dần diễn biến thành Thiền họa riêng của Nhật bản. Ngoài ra, trà đạo của Nhật bản đã được dung nhập với tinh thần Thiền mà trở thành đạo sinh hoạt tự nhiên. Trong nghệ thuật kịch nói truyền thống thì những lời đối thoại ngắn gọn, trong sáng, sân khấu và bối cảnh đơn thuần cũng đều ngầm bao hàm triết lí Thiền. Đối với văn học hát bộ nổi tiếng lại càng có ảnh hưởng sâu xa của Thiền, đại biểu là tác phẩm của Ba tiêu, một thi nhân vĩ đại sống vào thế kỉ XVII. Ngoài ra như kiếm đạo, kiến trúc, nghệ thuật bắn tên...cũng thế, hễ nghệ thuật nào được sự khơi mở của Thiền thì đều do đặc tính của chính nghệ thuật ấy mà biểu hiện sự sống động và hoạt bát.
thiền tông ngữ lục
Records of the Zen sect.
thiền tông quyết nghi tập
6460請參閱 永嘉集 [1]全一卷。元代斷雲智徹述。收於大正藏第四十八冊。本書係四川夔府智徹(臨濟宗雲峰妙高之法嗣)以自身之體驗講說學道者用心之功夫,並闡明實踐修道之方法,以究佛道玄旨,開顯本來面目。全篇分為源湛流清門、離塵精進門、卻步復陞門、退墮策勵門、懈怠勉勤門、執礙決疑門、失正究竟門、徹底窮淵門、指本還真門、順息免患門、上根利器門、禪林靜慮門、幽居正派門、祇園聖眾門、覺悟玄宗門、歸源實際門、體用雙修陰翊王化、雙林遺戒眾等遵依、懺悔法門菩提行願、憶昔出塵承兄警誡、復懲懈惰止境息迷等二十一門。文中多論及趙州從諗之事。及後,袾宏之禪關策進及濟能之角虎集卷下每多引用智徹之語要。據云,除本書之外,淨土晨鐘卷二中之淨土據要亦為智徹之作。本書曾編入明北藏續入藏諸集,此外另有清康熙六年(1667)、康熙三十九年、日本延寶八年(1680)、民國九年(1920)等刊本。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、藏版經直畫一目錄、禪籍志卷上、新纂禪籍目錄(駒澤大學圖書館編)〕
; (禪宗决疑集) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đoạn vân Trí triệt soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Sách này do ngài Trí triệt(đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân phong Diệu cao tông Lâm tế) ở phủ Quì, tỉnh Tứ xuyên, đem sự thể nghiệm của chính mình giảng nói cho những người học đạo nghe về công phu dụng tâm và thuyết minh phương pháp tu đạo thực tiễn, để thấu suốt ý chỉ sâu xa của đạo Phật, mong mở tỏ được bản lai diện mục. Toàn thiên chia làm 21 môn: Nguyên trạm lưu thanh môn, Li trần tinh tiến môn, Khước bộ phục thăng môn, Thoái đọa sách lệ môn, Giải đãi miễn cần môn, Chấp ngại quyết nghi môn, Thất chính cứu cánh môn, Triệt để cùng uyên môn, Chỉ bản hoàn chân môn, Thuận tức miễn hoạn môn, Thượng căn lợi khí môn, Thiền lâm tĩnh lự môn, U cư chính mạch môn, Kì viên thánh chúng môn, Giác ngộ huyền tông môn, Qui nguyên thực tế môn, Thể dụng song tu ấm dực vương hóa, Song lâm di giới chúng đẳng tuân y, Sám hối pháp môn Bồ-đề hành nguyện, Ức tích xuất trần thừa huynh cảnh giới và Phục trưng giải nọa chỉ cảnh tức mê. Trong sách bàn nhiều về việc của ngài Triệu châu Tùng thẩm. Sau này, Thiền quan sách tiến của ngài Châu hoành và Hổ giác tập quyển hạ của ngài Tế năng thường dẫn dụng ngữ yếu của ngài Trí triệt. Cứ theo truyền thì ngoài sách này, Tịnh độ cứ yếu trong Tịnh độ thần chung quyển 2 cũng là tác phẩm của ngài Trí triệt. Sách này từng được thu vào Bắc tạng tục nhập tạng chư tập đời Minh, ngoài ra cũng có các bản in vào các năm Khang hi thứ 6 (1667) Khang hi năm 39 (1700) đời Thanh, năm Diên bảo thứ 8 (1680) Nhật bản và Trung hoa Dân quốc năm thứ 9 (1920). [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Tạng bản kinh trực họa nhất mục lục; Thiền tịch chí Q.thượng;Tân soạn thiền tịch mục lục (Câu trạch Đại học đồ thư quán biên)].
thiền tông trứ thuật
Tch'an-tsoung Tchou-chou (C)Một trong hai bộ kinh căn bản của Thiền tông Trung hoa: Thiền tông trứ thuật và Thiền tông ngữ lục do chư tổ và đại đức Tàu biên tập do gom góp trong nhiều triều đại từ nhà Tống, Nguyên, Minh đến Thanh.
thiền tông trực chỉ
6460全一卷。清代石成金(字天基,號惺齋)撰,其子峷年、嵩年校刻。收於卍續藏第一一二冊。係石成金所著傳家寶四集中之一部分。內題傳家寶禪宗直指,內題之下附有「明心見性須知,成佛成祖要法」十二字;故知本書旨在闡說明心見性、成佛作祖之要法。內容初以密傳參禪要法四十六項,詳細論述悟道功夫之法門;次以密傳佛法通旨十項,釋明世人對佛法之若干質難。
; (禪宗直指) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Thạch thánh kim (tự Thiên cơ, hiệu Tỉnh trai) soạn vào đời Thanh, các con ông là Tân niên và Tung niên kiểm xét lại và khắc bản, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Sách này là 1 phần trong tác phẩm Truyền gia bảo 4 tập của Thạch thành kim, trang trong đề là Truyền gia bảo thiền tông trực chỉ, dưới đề mục này có ghi thêm 12 chữ Minh tâm kiến tính tu tri, thành Phật thành Tổ yếu pháp(Rõ tâm thấy tính cần biết, yếu pháp thành Phật tác Tổ). Cho nên biết mục đích sách này là nói rộng về pháp cốt yếu rõ tâm thấy tính, thành Phật tác Tổ. Nội dung trước hết là 46 mục yếu pháp nói về mật truyền tham thiền, trong đó trình bày tỉ mỉ rõ ràng về pháp môn dụng công ngộ đạo; kế đến là 10 mục thông chỉ mật truyền Phật pháp, giải thích rõ một số chất vấn của người đời đối với Phật pháp.
thiền tông tạp độc hải
6461請參閱 廣燈錄 凡二卷。又作大慧禪師禪宗雜毒海、普覺宗杲禪師語錄、大慧普覺禪師語錄。法宏、道謙編,宋高宗紹興元年(1131)刊行。收於卍續藏第一二一冊。本書之名係由大慧之語「參禪不得,多是雜毒入心」而來。內容輯錄先德之機緣法語、參禪居士追憶記、方外道友讚、佛祖讚等。其後,明代僧仲猷祖闡將本書增編為十卷,廣蒐諸師之偈頌,包括佛誕、成道、初祖、眾讚等,計三十餘項,七三二首,刊行於洪武十七年(1384)。清順治十一年(1654),梅谷行悅繼祖闡之後又增八七○餘首。康熙年間,臨濟宗僧迦陵性音將十卷刪減,重編為八卷,收於卍續藏第一一四冊。其內容次第為佛讚、雜讚、投機、鈔化、雜偈、道號、山居等,卷八附錄普明牧牛十頌及梁山牧牛十頌。刊行於康熙五十三年(1714)。為宋、元偈頌之集大成者。
; (禪宗雜毒海) Cũng gọi Đại tuệ thiền sư thiền tông tạp độc hải, Phổ giác Tông Cảo thiền sư ngữ lục, Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do các ngài Pháp hoành và Đạo khiêm biên tập, ấn hành vào niên hiệu Thiệu hưng năm đầu (1131) đời vua Cao tôngnhàTống, được thu vào Vạn tục tạng tập 121. Tên của sách này là từ câu nói của ngài Đại tuệ Tham thiền chẳng được phần nhiều là do tạp độc nhập tâm mà ra. Nội dung sách này thu chép cơ duyên ngữ cú của các bậc tiên đức, Tham thiền cư sĩ truy ức kí, Phương ngoại đạo hữu tán, Phật tổ tán... Về sau, ngài Trọng du Tổ xiển đời Minh biên tập thêm sách này thành 10 quyển, sưu tập nhiều kệ tụng của các Thiền sư, bao gồm Phật đản, Thành đạo, Sơ tổ, Chúng tán... tất cả hơn 30 hạng mục, 732 bài, ấn hành vào năm Hồng vũ 17 (1384), đời Minh. Đến năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, ngài Mai cốc Hành duyệt tiếp nối sau ngài Tổ xiển, lại biên tập thêm hơn 870 bài nữa. Khoảng năm Khang hi, ngài Ca lăng Tính âm thuộc tông Lâm tế, rút bớt 10 quyển biên tập lại thành 8 quyển và được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Nội dung theo thứ tự là: Phật tán, Tạp tán, Đầu cơ, Sao hóa, Tạp kệ, Đạo hiệu, Sơn cư... Quyển 8 có phụ lục 10 bài tụng Phổ minh chăn trâu và 10 bài tụng Lương sơn chăn trâu, ấn hành vào năm Khang hi 53 (1714), là sách tập đại thành các kệ tụng đời Tống, Nguyên.
thiền tông tụng cổ liên châu thông tập
6461請參閱 無門關 [1]凡四十卷。南宋法應集,元代普會續集。收於卍續藏第一一五冊。係編集古來禪家諸祖頌古之作。內容共收世尊機緣二十四則、菩薩機緣三十則及大乘經偈六十二則、祖師機緣七○二則。舉凡增續及續收均冠以續收二字,與原集區別。〔閱藏知津卷四十二、禪籍志卷上〕
; (禪宗頌古聯珠通集) Tác phẩm, 40 quyển, do ngài Pháp ứng biên tập vào đời Nam Tống, ngài Phổ hội biên tập vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 115. Đây là tác phẩm biên tập các bài tụng cổ của các bậc Tổ sư trong Thiền gia xưa nay. Nội dung thu chép Thế tôn cơ duyên 24 tắc, Bồ tát cơ duyên 30 tắc, kệ trong các kinh Đại thừa 62 tắc và Tổ sư duyên 72 tắc. Tất cả các phần biên tập và thêm vào sau này đều có đề 2 chữ Tục thu trên đầu để phân biệt với nguyên bản. [X. Duyệt tạng tri tân Q.42; Thiền tịch chí Q.thượng].
Thiền Tông Vô Môn Quan
(禪宗無門關, Zenshūmumonkan): xem Vô Môn Quan (無門關, Mumonkan) bên dưới.
Thiền tông Vĩnh Gia tập khoa chú thuyết nghi 禪宗永嘉集科註説誼
[ja] ゼンシュウヨウカシュウカチュウセツギ Zenshū Youkashū kachūsetsugi ||| The Sŏnjong Yŏnggajip kwaju sŏrŭi. (Annotated Redaction of the Text and Commentaries to the Compilation of Yung-chia of the Chan school 禪宗永嘉集). by Kihwa 己和HPC 7.170-216. => (c); Zenshū Youkashū kachūsetsugi ||| Sŏnjong Yŏnggajip kwaju sŏrŭi (k); Annotated Redaction of the Text and Commentaries to the Compilation of Yung-chia of the Chan school (e); của Ngài Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和). Thiền tông Vĩnh Gia tập 禪宗永嘉集 [ja] ゼンシュウヨウカシュウ Zenshūyōkashū ||| The Chanzong yongjia ji, one fascicle, T 2013.48.387b-395c, by Xuanjue 玄覺 of Yongjia 永嘉, a disciple of Huineng 慧能. The text discusses practice and enlightenment in ten gradually deepening stages. Its preface is by the Qing governor . It explains the positions of Southern Chan, mixed in with Tiantai and Huayan doctrine. This text was popular in Korean Sŏn, where it was commented on by Kihwa 己和 (HPC vol. 7, see below). The text is popularly known by the short title of Yongjia ji 永嘉集. => Zenshūyōkashū (j); Chanzong yongjia ji (c); Một quyển. Huyền Giác (Xuanjue 玄覺) ở Vĩnh Gia (c:Yongjia 永嘉), đệ tử của Lục tổ Huệ Năng (c: Huineng 慧能) soạn. Tập sách đề cập đến việc tu tập giác ngộ qua 10 giai đoạn từ cạn đến sâu. Lời tựa do Nguỵ Tĩnh (c:Weijing 魏静), một vị quan triều Thanh soạn. Sách giải thích vị trí của Thiền tông phương Nam, trong sự phối hợp với giáo lý tông Thiên Thai và tông Hoa Nghiêm. Tập sách nầy rất thông dụng trong Thiền tông Triều Tiên, đã được ngài Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和 ) chú giải (HPC vol. 7, xem mục từ ở dưới). Tập sách nầy thường được quen gọi là Vĩnh Gia tập (Yongjia ji 永嘉集.)
Thiền tông 禪宗
[ja] ゼンシュウ Zenshū ||| The meditational school of East Asian Buddhism, a comprehensive rubric for a wide variety of sects which developed in China, Vietnam, Korean and Japan. Known in Chinese as Chan zong, in Korean as Sŏnjong and in Japanese as Zenshū. The Chinese Chan school's own historical accounts indicate that the school was founded with the arrival of a somewhat legendary Indian monk named Bodhidharma 達摩, ostensibly the twenty-eighth patriarch in a lineage that extended all the way back to Śākyamuni. Bodhidharma is recorded as having come to China to teach a "separate transmission outside of the texts" which "did not rely upon textuality." His special new form of religion was then transmitted to through a series of Chinese patriarchs, the most famous of whom was the Sixth Patriarch, Huineng 慧能. It is more likely however, in terms of history, that Chan began to develop gradually in different regions of China as a grass-roots movement which was reacting to what was perceived as an imbalance in Chinese Buddhism towards the blind pursuit of textual scholarship with a concomitant neglect of the original essence of Buddhist practice--meditation and the cultivation of the right view. After the time of Huineng, Chinese Chan began to branch off into numerous different schools, each with their own special emphasis, but all of which kept the same basic focus on meditational practice, personal instruction and grounded personal experience. During the late Tang and the Song periods, the tradition truly flowered, as a wide number of eminent teachers, such as Mazu 馬祖, Baijang 百丈, Yunmen 雲門 and Linji 臨濟 developed specialized teaching methods, which would become characteristic in each of the "five houses" 五家 of mature Chinese Chan. Later on, the teaching styles and words of these classical masters were recorded in such important Chan texts as the Biyan lu 碧巖録 (Blue Cliff Record) and the Wumen guan 無門關 (Gateless Barrier) which would be studied by later generations of students down to the present. Chan continued to be influential, along with Pure Land as a Buddhist religious force in China, although some energy was lost with the revival of Confucianism from the Song onward. Chan was mostly eliminated in China in the modern era with the appearance of the People's Republic, but still continues to hold a significant following in Taiwan. Chan was gradually transmitted into Korea during the late Silla period (8th and 9th) centuries) as Korean monks of predominantly Hwaŏm 華嚴 and Consciousness-only 唯識 background began to travel to China to learn the newly developing tradition. The first transmission of Chan into Korea is attributed to a monk named Pŏmnang 法朗, but he was soon followed by a throng of Sŏn students, who later returned to Korea to establish the "nine mountain" 九山 schools, with "nine mountains" becoming a nickname for Korean Sŏn which survives down to the present. Korean Sŏn received its most significant impetus and consolidation from the Koryŏ monk Chinul 知訥, who established the Songgwangsa 松廣寺 as a new center of pure practice. It is from the time of Chinul that the predominant single meditational sect in Korea becomes the Chogye 曹溪, which survives down to the present in basically the same status. Toward the end of the Koryŏ and during the Chosŏn period the Chogye school would first be combined with the scholarly 教 schools, and then suffer from persecution at the hands of a Confucian influenced polity. Nonetheless, there would be a series of important teachers during the next several centuries, such as Hyegŭn 慧勤, T'aego 太古, Kihwa 己和 and Hyujŏng 休靜, who continued to developed the basic mold of Korean meditational Buddhism established by Chinul. Sŏn continues to be practiced in Korea today at a number of major monastic centers. Despite the fact that Japanese Buddhists were aware of the development of the Chan school in China from a fairly early date, no formal schools were established until the 12-13th centuries, when Eisai 榮西 and Dōgen 道元 established the Rinzai 臨濟 and Sōtō 曹洞 schools, respectively. The Zen movement in Japan was fortunate to receive the patronage of the growing new force in Japanese politics, the military bakufu, and so both schools developed and throve for several centuries. But although the Shogunate of the Edo period supported Zen as an official religion, tight government control of the sect limited its creativity. Nonetheless, the Japanese schools of Zen produced a number of significant creative teachers, including such figures as Ikkyū 一休, Bankei and Hakuin 白隱. There are still a number of famous Zen monasteries preserved to the modern day in Japan, although the number of actual practicing Zen monks has declined sharply. => Tông phái Thiền Phật giáo ở Á đông, là một nét son toàn diện đối với các tông phái lớn và đa dạng đã phát triển ở Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản. ở Trung Hoa được gọi là Thiền tông (Chan zong), ở Triều Tiên là Sŏnjong và Nhật Bản gọi là Zenshū. Thiền tông Trung Hoa được thành lập bởi một nhân vật từ Ấn Độ đến, có mang chút huyền thoại, tên là Bồ-đề Đạt-ma (Bodhidharma 達摩), là vị tổ thứ 28 được truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bồ-đề Đạt-ma được ghi lại là đến Trung Hoa để truyền dạy pháp môn “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền.” Giáo pháp mới đặc biệt của Ngài lúc ấy truyền được cho một loạt các vị tổ Trung Hoa, nổi bật nhất là Lục tổ Huệ Năng. Tuy vậy, về mặt lịch sử có thể ghi nhận rõ hơn, Thiền tông bắt đầu phát triển dần đến khắp mọi miền Trung Hoa như cuộc vận động của giới bình dân phản ứng lại khi nhận biết những sự mất quân bình trong Phật giáo Trung Hoa khi nhắm mắt theo đuổi cái học theo kinh điển đi kèm với sự quên lãng cốt tuỷ tu tập Phật pháp – thiền định và tu tập chánh kiến. Sau thời của Huệ Năng, Thiền tông Trung Hoa bắt đầu phân thành vô số trường phái khác nhau, mỗi nhánh đều có những điểm chính yếu khác nhau, nhưng tất cả đều duy trì nền tảng chung là tập trung vào toạ thiền, khai thị của bậc thầy đã chứng ngộ và y cứ vào kinh nghiệm cá nhân. Vào cuối đời Đường và Tống, Thiền tông thực sự trổ hoa, qua một loạt các Thiền sư nổi tiếng như Mã Tổ, Bách Trượng, Vân Môn, Lâm Tế, đã phát triển thích ứng phương pháp truyền dạy thiền, nên đã trở thành đặc điểm riêng biệt trong sự chín muồi của Ngũ gia tông phái trong Thiền tông Trung Hoa. Về sau, lối truyền dạy và ngữ lục của các bậc thầy ưu tú nầy được ghi lại qua các ngữ lục quan trọng của Thiền tông như Bích nham lục (碧巖録c: Biyan lu; e: Blue Cliff Record), Vô môn quan (無門關j: Wumen guan; c: Gateless Barrier), đã được các thế hệ sau nghiên cứu thực hành mãi cho đến ngày nay. Thiền tông vẫn tiếp tục có ảnh hưởng cùng với Tịnh độ tông, như là một sức mạnh của Phật giáo Trung Hoa, cho dù có vài sinh lực bị thất thoát do sự phục hồi của Khổng giáo từ thời Tống trở đi. Thiền tông hầu như bị loại trừ ra khỏi Trung Hoa trong thời hiện đại với sự xuất hiện của chế độ Cộng Hoà Nhân Dân, nhưng Thiền tông vẫn tiếp tục duy trì số tín đồ đáng kể ở Đài Loan. Thiền tông dần dần được truyền sang Triều Tiên và cuối thời kỳ Tân La (thế kỷ thứ 8-9) do phần lớn các vị tăng học giả người Cao ly thuộc các tông Hoa Nghiêm và Duy thức bắt đầu sang Trung Hoa để nghiên cứu về sự phát triển mới mẻ của tông phái nầy. Sự truyền bá Thiền tông ban đầu vào Triều Tiên được gán cho ngài Pháp Lãng (Pŏmnang 法朗), nhưng chẳng bao lâu sau, một số đông các Thiền sinh đã theo bước nầy, rồi họ trở về Cao Ly lập ra phong trào “Cửu sơn”. Từ đó “Cửu sơn” trở nên như một biệt danh để gọi Thiền tông Cao Ly mãi cho đến bây giờ. Thiền tông Cao Ly còn nhận được sự thúc đẩy và sự củng cố đáng kể của Thiền sư Trí Nột (Chinul 知訥), người đã sáng lập Tùng Quảng Tự (Songgwangsa 松廣寺) như là một trung tâm mới chỉ dành cho việc tu tập. Vào thời ngài Trí Nột, phái Thiền duy nhất chiếm ưu thế nầy trở thành Tào Khê tông (c: Chogye 曹溪), vẫn tồn tại nguyên trạng cho đến ngày nay. Từ cuối thời kỳ Koryŏ đến Chosŏn, Tào Khê tông trước tiên kết hợp với Giáo tông, rồi bị sự ngược đãi bởi chính quyền ảnh hưởng Nho giáo. Tuy nhiên, vẫn có một loạt các Thiền sư nổi bật trong suốt vài thế kỷ tiếp theo như Huệ Cần (Hyegŭn 慧勤), Thái Cổ (Hyegŭn 慧勤), Kỷ Hoà (Kihwa 己和), và Hưu Tịnh (Hyujŏng 休靜), là những vị vẫn tiếp tục phát huy bản sắc Thiền Phật giáo Cao Ly đã được Trí Nột Thiền sư sáng lập. Thiền tông ngày nay vẫn được tu tập ở Triều Tiên tại một số tu viện lớn trung tâm. Dù thực tế là Phật giáo Nhật Bản được biết đến rất sớm qua sự phát triển của Thiền tông Trung Hoa, nhưng không có một tông phái chính thức nào được lập ở Nhật Bản mãi cho đến thế kỷ thứ 12-13, Thiền sư Vinh Tây (Eisai 榮) Lâm Tế (Rinzai 臨濟) và Đạo Nguyên (Dōgen 道元) mới sáng lập tông Tào Động (Sōtō 曹洞). Thiền tông Nhật Bản may mắn nhận được sự ủng hộ của thế lực chính trị mới ở Nhật Bản, đó là quân đội Bafuku, thế nên cả 2 tông phái thiền đều phát triển mạnh mẽ suốt trong vài thế kỷ. Mặc dù giai đoạn Tướng quân nắm quyền vào thời Giang Hộ (Edo) đã ủng hộ Thiền như là quốc giáo, nhưng chính quyền hà khắc kiểm soát các tông phái đã hạn chế sức sáng tạo của Thiền tông. Tuy vậy, Thiền tông Nhật Bản đã xuất sinh nhiều vị Thiền sư lỗi lạc như Nhất Hưu (Ikkyū 一休), Bàn Khuê (Bankei), Bạch Ẩn (Hakuin 白隱). Hiện vẫn còn một số các Thiền viện nổi tiếng tồn tại đến ngày nay, dù cho số lượng tăng sĩ tu Thiền có giảm sút đáng kể.
thiền tăng
A monk of Thiền tông Ch'an sect; a monk in meditation.
; Một vị sư của Thiền Tông hay một vị sư tu Thiền—A monk of the Zen (Ch'an) sect, a monk in meditation.
thiền tĩnh
6481 【禪靜】梵語 dhyāna。音譯禪那,略作禪。意譯定、靜慮。取音譯與意譯並稱之,即作禪靜。謂令心住於一境,以詳密思惟之寂靜狀態。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八六一下):「或樂禪靜,則以禮拜為麤疎。」又適於坐禪之閑靜所在,稱為禪靜坐處,或稱禪處、禪所。〔頂生王故事經、法苑珠林卷七十一〕
; Meditation and quietness.
; (禪靜) Phạm: Dhyàna. Hán âm: Thiền na. Gọi tắt: Thiền. Hán dịch: Định, Tĩnh lự. Từ ngữ hợp chung cả âm(thiền na) và nghĩa(tĩnh) của tiếng PhạmDhyàna. Chỉ cho trạng thái vắng lặng khiến tâm chuyên chú vào 1 đối tượng để suy tư một cách sâu sắc. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 861 hạ) nói: Hoặc ưa thiền tĩnh thì cho việc lễ bái là thô sơ. Nơi yên lặng thích hợp cho việc tọa thiền, gọi là Thiền tĩnh tọa xứ, hoặc gọi là Thiền xứ, Thiền sở. [X. kinh Đính sinh vương cố sự; Pháp uyển châu lâm Q.71].
thiền tư
6475即禪定。寂靜思惟之義。禪苑清規卷九(卍續一一一‧四六三上):「非時不食,非法不言,精勤思義,溫故知新,坐則禪思,起則諷誦。」〔無量壽經卷下、釋門歸敬儀卷中〕
; Những tư tưởng kỳ bí về thiền—Meditation thoughts; the mystic trance.
; (禪思) Chỉ cho Thiền định. Nghĩa là tư duy trong sự vắng lặng. Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 463 thượng) nói: Phi thời không ăn, phi pháp chẳng nói, siêng năng suy nghĩ về nghĩa lí, ôn cũ biết mới, ngồi thì thiền tư, dậy thì phúng tụng. [X.kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thích môn qui kính nghi Q.trung].
thiền tư tưởng sử nghiên cứu
6475全一冊。日本鈴木大拙(1870~1966)著,日本昭和十八年(1943)刊行。內分七篇,主要闡明日本臨濟宗僧盤珪永琢(1622~1693)「不生禪」之意義與重要性,指出日本臨濟宗內同時並行兩股性質迥異之流派,即「不生禪」與「白隱禪」。並對「公案禪」、「道元禪」等諸派思想發展之過種,一一加以探討。 鈴木大拙又著禪思想史研究第二(一冊),昭和二十六年刊行,內亦分七篇,前六篇分別從二入四行論長卷子、絕觀論、無心論、觀門、楞伽師資記、修心要論、六祖壇經等文,論述我國禪宗自達磨至道信、弘忍、慧能等祖師之特異風格,及早期禪宗之思想背景。第七篇則列舉北平、倫敦、巴黎等地所藏敦煌出土有關禪宗之文獻七種,並加以嚴格之校勘,學人由此得以解釋若干初期禪思想史上的疑難。本書之增訂版收於鈴木大拙全集第二卷。
; (禪思想史研究) Tác phẩm, 1 tập, do ông Linh mộc Đại chuyết (D.T. Suzuki) người Nhật bản soạn, được ấn hành vào năm Chiêu hòa 18 (1943). Nội dung tác phẩm này chia làm 7 thiên, chủ yếu nói rõ sự sai khác về ý nghĩa và tính chất trọng yếu giữa 2 dòng phái trong nội bộ tông Lâm tế Nhật bản, tức là Bất sinh thiền của ngài Bàn khuê Vĩnh trác (1622-1693) và Bạch ẩn thiền. Đồng thời cũng tìm hiểu quá trình phát triển tư tưởng của các phái Công án thiền, Đạo nguyện thiền... Ông Linh mộc Đại chuyết còn soạn bộ Thiền tư tưởng sử nghiên cứu 2 (1 tập) ấn hành vào năm Chiêu hòa 26 (1951) nội dung cũng chia làm 7 thiên, 6 thiên trước theo thứ tự các luận văn như: Nhị nhập tứ hành luận, Tuyệt quán luận, Vô tâm luận, Quán môn, Lăng già sư tư kí, Tu tâm yếu luận, Lục tổ đàn kinh... trình bày về phong cách đặc thù của các Tổ sư từ ngài Đạt ma đến các ngài Đạo tín, Hoằng nhẫn, Tuệ năng... của Thiền tông Trung quốc về bối cảnh tư tưởng của Thiền tông ở thời kì đầu. Còn thiên thứ 7 thì liệt kê 7 loại văn hiến có liên quan đến Thiền tông tìm thấy ở Đôn hoàng và hiện được cất giữ tại Bắc bình, London, Paris..., đồng thời kiểm xét lại rất kĩ lưỡng, nhờ đó mà người học giải tỏa được một số thắc mắc về lịch sử tư tưởng Thiền ở thời kì đầu. Bản sửa chữa thêm của sách này được thu vào Linh mộc Đại chuyết toàn tập quyển 2.
thiền tập
Xem Thành tựu pháp.
; The practice of meditation; the practice of religion through the mystic trance.
; Tu hành bằng cách thực tập thiền—The practice of religion through the mystic trance.
Thiền tịch
(禪席): chỗ ngồi để tham học Thiền, hành Thiền; từ đó chỉ chung cho nơi tham vấn Thiền, hay cũng là tên gọi khác của Thiền Viện (禪院). Như trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 73, phần Nam Nhạc Hạ Tam Thập Ngũ Thế Tùy Lục (南嶽下三十五世隨錄), Quảng Nhuận Cự Linh Tự Dung Thiền Sư (廣潤巨靈自融禪師), có câu: “Nãi biến lịch chư Thiền tịch, hậu yết Sơn Ông Mân đắc pháp (乃遍歷諸禪席、後謁山翁忞得法, Thiền Sư bèn đi khắp các Thiền đường, sau tham yết Sơn Ông Đạo Mân và đắc pháp [của vị này]).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262) lại có đoạn: “Thị thời nội sứ Lý Doãn Ninh, tấu thí Biện trạch nhất khu, sáng lập Thiền tịch, tứ ngạch Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (是時內使李允寧、奏施汴宅一區、創立禪席、賜額十方淨因禪院, lúc bấy giờ nội sứ Lý Doãn Ninh, tâu lên nhà vua xin cho một khu nhà ở đất Biện, sáng lập nơi tu Thiền, ban cho biển ngạch là Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện).” Hoặc trong Tân Tu Khoa Phần Lục Học Tăng Truyện (新修科分六學僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1522) quyển 20, phần Đường Kiểu Nhiên (唐皎然), cũng có đoạn: “Trung niên biến phỏng Thiền tịch, Nam Năng Bắc Tú chi chỉ, giai sở tham khấu (中年遍訪禪席、南能北秀之指、皆所參扣, tuổi trung niên sư đi khắp các Thiền viện, yếu chỉ của Huệ Năng ở phương Nam và Thần Tú ở phương Bắc, đều đã từng tham học qua).”
thiền tịch chí
6482凡二卷。日本臨濟宗僧義諦撰。列舉中、日之禪籍凡二四四部,並加略解。計分單錄禪要、把斷公案、宗門全史、宗門略史、叢林禮範、禪教總史、宗門隨筆、禪教雜說、宗師註經及禪籍志拾遺等類。收於大正二年(1913)一月刊行之大日本佛教全書。
; (禪籍志) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Diệu đế thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư ấn hành vào tháng giêng năm Đại chính thứ 2 (1913). Nội dung liệt kê 244 bộ sách Thiền của Trung quốc và Nhật bản, đồng thời có giải thích sơ lược, gồm các loại: Đơn lục thiền yếu, Bả đoạn công án, Tông môn toàn sử, Tông môn lược sử, Tùng lâm lễ phạm, Thiền giáo tổng sử, Tông môn tùy bút, Thiền giáo tạp thuyết, Tông sư chú kinh và Thiền tịch chí thập di.
thiền tịnh
1) Thiền Tông và Tịnh Độ Tông: The Zen and the Pure Land sects. 2) Thiền tịnh dịch sang Hoa ngữ có nghĩa là thiền tịnh lự hay yên lặng, kiểm soát tư tưởng: Dhyana in Chinese means quiet or silent meditation, or quieting of thoughts (controlling of thoughts).
thiền tọa
To sit cross-legged in meditation.
; Tọa thiền (kiết già)—To sit (cross-legged) in meditation.
thiền tủy
The marrow of meditation - a term for the Lankavatara sùtra.
; Kinh Lăng Già dùng từ nầy với nghĩa là tinh túy hay cốt tủy của đạo Thiền, (sau 9 năm diện bích, Tổ Bồ Đề Đạt Ma muốn trở về Ấn Độ; trước lúc ra đi ngài kêu chúng đệ tử lại hỏi: “Về sau nầy nếu có ai hỏi về sở đắc của mình, các ngươi có thể nói được chăng?” Phó Đạo thưa: “Theo con là không chấp văn tự, mà chỉ vận dụng theo đạo.” Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần da của ta.” Ni Tổng Trì thưa: “Theo con hiểu như ngài Khánh Hỷ chỉ thấy Phật A Súc một lần rồi không thấy nữa.” Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần thịt của ta.” Đạo Dục thưa: “Tứ đại đất nước lửa gió vốn không, ngũ ấm chẳng có, nên con thấy không có một pháp nào khả đắc.” Tổ nói: “Ngươi đã được phần xương của ta.” Huệ Khả từ ngoài bước vào làm lễ, rồi đứng đó chớ không nói năng gì cả. Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần tủy của ta rồi vậy.”)—The Lankavara Sutra uses the term with the meaning of the marrow of meditation.
thiền tứ
6480指官府所立之禪宗寺院。據續高僧傳卷十六僧稠傳載,北齊天保三年(552),敕令於鄴城西南八十里龍山之陽為僧稠建精舍,稱為雲門寺,並敕令於國內諸州別立禪肆,以利弘法講頌。
; (禪肆) Chỉ cho các chùa viện Thiền tông do quan phủ lập ra. Cứ theo truyện ngài Tăng trù trong Tục Cao tăng truyện quyển 16 thì vào năm Thiên bảo thứ 3 (552) đời Bắc Tề, vua ban sắclệnh xâytinh xá cho ngài Tăng trù ởtại phía nam Long sơn, cách Nghiệp thành 80 dặm vềphía tây nam, gọi là Vân môn tự, đồng thời hạ chiếu chỉ lập riêng Thiền tứ ở các châu trong khắp nước để tiện lợi cho việc hoằng pháp giảng kinh.
Thiền tử
(禪子): tên gọi khác của người tin Phật, tăng lữ, hay chỉ cho người hành Thiền. Như trong bài thơ Văn Chung (聞鐘) của tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Vĩnh dạ nhất Thiền tử, linh nhiên tâm cảnh trung (永夜一禪子、泠然心境中, suốt đêm một Thiền khách, an nhiên tâm cảnh trong).” Hay trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 1, phần Vân Cư Ngữ Lục (雲居語錄), có đoạn: “Thiền tử lâm xuyên hóa đạo quy, nhập môn nhất tiếu triển song mi, phá vi trần xuất đại kinh quyển, đả cổ chùy chung báo chúng tri (禪子臨川化導歸、入門一笑展雙眉、破微塵出大經卷、打鼓椎鐘報眾知, Thiền giả đến sông hóa đạo về, mỉm cười vào cửa dương hàng mi, phá bụi trần tung bao kinh quyển, đánh trống rung chuông báo chúng hay).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 7, bài Thứ Vận Tống Mãn Trấn Thành Khang Tứ Thượng Nhân (次韻送滿鎭成康四上人), lại có đoạn: “Thiền tử tâm như mãn nguyệt minh, định càn khôn cú hợp tướng trình, tam thiên lí ngoại thân huề thủ, cửu khúc Hoàng Hà triệt để thanh (禪子心如滿月明、定乾坤句合相呈、三千里外親攜手、九曲黃河徹底清, Thiền tăng tâm như trăng sáng tinh, định càn khôn câu hợp tướng trình, ba ngàn dặm ngoài cùng tay nắm, chín khúc Hoàng Hà tận đáy trong).”
thiền tự
Xem Thiền viện.
Thiền Uyển Dao Lâm
(禪苑瑤林, Zennenyōrin): xem Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求, Zennenmōkyū) bên dưới.
Thiền Uyển Mông Cầu
(禪苑蒙求, Zennenmōkyū): còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (禪苑瑤林, Zennenyōrin), Thiền Mông Cầu (禪蒙求, Zenmōkyū), 3 quyển, do Thác Am Chí Minh (錯庵志明) nhà Tống soạn, Tuyết Đường Đức Gián (雪堂德諫) nhà Nguyên chú, Vương Khê (王溪) san hành vào năm thứ 3 (1255) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐) nhà Nam Tống. Thác Am Chí Minh, người xuất thân từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺) ở Hà Nam (河南), bắt chước bộ Mông Cầu (蒙求) của Lý Cán (李澣) nhà Đường, biên thuật thành tác phẩm này để cho hàng sơ tâm cầu học biết rõ hành trạng của chư Phật tổ trong vườn Thiền, làm tư lương để soi sáng tâm mình và tìm thấy đạo. Với hình thức đối ngẫu vận ngữ, hai câu 5-6, tổng số chữ là 2.248, từ đức Thế Tôn cho đến Thủ Sơn Tỉnh Niệm (守山省念), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪), v.v., mỗi hành trạng của mỗi vị đều có 2 câu thêm vào, đây là sách giáo huấn hữu ích cho Thiền môn. Vào năm thứ 3 niên hiệu Bảo Hựu, khi Vương Khê có ý định san hành bộ này, Tuyết Đường Đức Gián (雪堂德諫)―đệ tử của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀)―viết lời chú giải tường tận về tác phẩm này và giao cho Vương Khê; nhân đó, Vương Khê kết hợp luôn cả phần chú giải này và cho san hành. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 16 (1639) và 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永).
thiền uyển mông cầu dao lâm
6475凡三卷。金‧志明撰,元代德諫注。又稱禪苑瑤林注、禪苑瑤林、禪苑蒙求、禪林蒙求、禪蒙求。收於卍續藏第一四八冊。志明仿效唐代李瀚之蒙求,引用史傳,依準祖錄,蒐集禪宗諸家之行業,作為初發心學者辦道修業之參考,後由德諫加以注釋。本書為四言一句之韻文體,共收釋迦以下至宋代慧洪覺範、首山省念禪師等,共五六二則,德諫之注釋,係引用普曜經、景德傳燈錄、五燈會元、人天眼目等諸書,頗稱詳盡。繼本書之後,有禪苑蒙求拾遺一卷,計收「少林斥相」以下至「大溈念誦」,亦為四言一句之韻文,共一四四則,引用碧巖錄、人天寶鑑、林間錄等諸書加以注釋,撰者不詳,然自所引之書,推知係宋人之作,亦收於卍續藏第一四八冊。〔禪籍志卷下〕
; (禪苑蒙求瑤林) Cũng gọi Thiền uyển dao lâm chú, Thiền uyển dao lâm, Thiền uyển mông cầu, Thiền lâm mông cầu, Thiền mông cầu.Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Chí minh soạn vào đời Kim, ngài Đức gián chú thích vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Soạn giả Chí minh phỏng theo Mông cầu của Lí hàn đời Đường, dẫn dụng sử truyện, y theo Tổ lục, sưu tập hành nghiệp của các nhà Thiền tông để làm sách tham khảo cho những người mới phát tâm học đạo tu nghiệp, về sau được ngài Đức gián chú thích thêm. Sách này được biên soạn theo thể văn vần mỗi câu 4 chữ, thu chép từ đức Thích ca trở xuống đến các Thiền sư đời Tống như ngài Tuệ hồng Giác phạm, Thủ sơn Tỉnh niệm... tất cả gồm 562 tắc, phần chú thích của ngài Đức gián dẫn dụng các kinh sách như kinh Phổ diệu, Cảnh đức truyền đăng lục, Ngũ đăng hội nguyên, Nhân thiên nhãn mục... rất tường tận. Kế sau sách này, có Thiền uyển mông cầu thập di 1 quyển, thu chép từ Thiếu lâm xích tướng trở xuống đến Đại qui niệm tụng, cũng theo thể văn vần, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 144 tắc, dẫn dụng Bích nham lục, Nhân thiên bảo giám, Lâm gian lục... và có chú thích thêm. Tên soạn giả không được rõ, nhưng căn cứ vào những sách được dẫn dụng thì có thể suy đoán đây là tác phẩm của người đời Tống, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 148.
Thiền Uyển Thanh Quy
(禪苑清規, Zennenshingi): 10 quyển, do Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆) soạn, bản san hành đề năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧). Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) lần đầu tiên chế ra quy cũ Thiền môn qua bộ Bách Trượng Thanh Quy (百丈清規), nhưng bộ này bị tán thất và đến thời Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống thì không còn thấy bóng dáng nó nữa. Thấy vậy, Tông Trách rất cảm hoài, nên mới đi tìm lại những dấu vết về cách thức hành pháp vốn hiện tại đang còn hành trì tại các ngôi chùa xưa lúc bấy giờ, rồi ông biên tập lại thành bản quy định về quy cũ Thiền môn. Vì bản này được hình thành vào năm thứ 2 niên hiệu Sùng Ninh nhà Tống, nên còn được gọi là Sùng Ninh Thanh Quy (崇寧清規). Trong các bản Thanh Quy hiện tồn thì đây được xem như là bản xưa nhất, có thể giúp chúng ta hồi tưởng lại những quy cũ ngày xưa thời Bách Trượng như thế nào, và trở thành bản chuẩn cứ cho các bản Thanh Quy sau này ra đời. Bản này giải thích rất rõ từng chi tiết về hành vi của vị Thiền tăng, các chức vụ, cũng như tác pháp oai nghi tế hạnh hằng ngày. Trong đó còn có những đoạn văn như Quy Kính Văn (龜敬文), Tọa Thiền Nghi (坐禪儀), Tự Cảnh Văn (自警文), v.v. Vào năm thứ 2 (1202) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), Ngu Tường (虞翔) cho tái san hành; đến năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寶祐), Bản Cao Lệ (高麗本, Triều Tiên) bắt đầu xuất hiện. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn (五山本) được san hành dưới thời Nam Bắc Triều (1336-1392), bản ghi năm thứ 6 (1709) niên hiệu Bảo Vĩnh (寶永), bản ghi năm thứ 8 (1796) niên hiệu Khoan Chính (寛政); và tả bản của Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko) thuộc giữa thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333).
thiền uyển thanh quy
6475凡十卷。宋代禪僧長蘆宗賾集。於崇寧二年(1103)完成。又稱崇寧清規、重雕補註禪苑清規、禪規。收於卍續藏第一一一冊。有關禪院之組織規程及僧眾日常生活之規定,稱為清規;最早有唐代百丈懷海(720~814)所撰述之「百丈古清規」。至北宋時代古清規已散逸,禪林規則紊亂,宗賾為再興百丈清規之精神,遂蒐集殘存於諸山之行法偈頌,編撰本清規。其後,中國、日本所制定之清規,皆以本清規為標準。
; (禪苑清規) Cũng gọi Sùng ninh thanh qui, Trùng khắc bổ chú thiền uyển thanh qui, Thiền qui.Thanh qui, 10 quyển, do ngài Trường lôTôngtrách biên tập vào đời Tống, hoàn thành năm Sùng ninh thứ 2 (1103), được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Thanh qui có nghĩa là những qui định về qui trình tổ chức và các sinh hoạt hàng ngày của chúng tăng trong Thiền viện. Bộ Thanh qui đầu tiên là Bách trượng cổ thanh qui do Thiền sư Hoài hải (720-814) ở núi Bách trượng soạn vào đời Đường. Đến đời Bắc Tống, bộ Cổ thanh qui đã bị thất lạc, qui tắc Thiền lâm rối loạn, cho nên ngái Tông trách phục hưng tinh thần Bách trượng thanh qui bằng cách sưu tập hành pháp,kệ tụng của cáctùng lâm còn sót lại mà biên soạn lại thành bộThanh qui này. Về sau, các thanh qui do Trung quốc và Nhật bản chế định, đều lấy bộ thanh qui này làm mẫu mực.
Thiền uyển tập anh
禪苑集英|Tên của một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam, nói về các »Anh tú vườn thiền«, các vị Thiền sư Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ sáu đến đầu thế kỉ thứ 13. Ðây là tài liệu lịch sử Phật giáo cổ nhất hiện còn tại Việt Nam. Người ta không biết rõ tác giả của Thiền uyển tập anh là ai, nhưng có thể xác định được rằng, nó là một tác phẩm được hình thành qua nhiều giai đoạn và Thiền sư Thông Biện (?-1134) chính là người khởi thảo.|Theo dịch giả của Thiền uyển tập anh là Ngô Ðức Thọ và những manh mối được tìm thấy trong chính quyển sách này, người ta có thể xác định được Quốc sư Thông Biện chính là người khởi thảo bản đầu của quyển sách này, bởi vì Sư đã trình bày, chứng tỏ kiến thức quảng bác của mình trong một buổi đàm luận với Linh Nhân Hoàng thái hậu vào năm 1096. Ðoạn trả lời của Thông Biện được ghi lại trong Thiền uyển tập anh không dài lắm nhưng nó chính là một pho sử vô cùng quý báu về Phật giáo của Việt Nam được thâu gọn trong tầm kiến thức của vị Thiền sư lỗi lạc này và bản thảo của Thiền uyển tập anh – có thể mang tên Chiếu đối lục. Sau đó, Thông Biện giao phó công việc biên sửa Chiếu đối lục cho một đệ tử người gốc Trung Quốc là Biện Tài. Nơi truyện của Thiền sư Thần Nghi, người ta có thể biết được rằng, Thiền sư Thường Chiếu – thầy của Thần Nghi – sử dụng Chiếu đối lục để giảng nghĩa hệ thống truyền thừa của Thiền tông tại Việt Nam cho đệ tử trước khi viên tịch. Chiếu đối lục của Thông Biện đến tay Thường Chiếu như thế nào thì không rõ lắm nhưng sau đó, Thường Chiếu có soạn một quyển sách mang tên Nam tông tự pháp đồ – nay đã thất truyền nhưng được ghi lại trong các tác phẩm khác – có lẽ với nội dung tương tự như Thiền uyển tập anh và biểu đồ truyền thừa. Thiền sư Thần Nghi đã nhận hai bộ sách quý này từ chính vị thầy và truyền lại cho đệ tử mình là Thiền sư Ẩn Không. Với những tài liệu còn lại và sự đối chiếu mạch lạc, người ta có thể xác định được rằng, Thiền uyển tập anh được hoàn tất dưới tay Thiền sư Ẩn Không đầu đời Trần.
Thiền viện
禪院; J: zen'en;|Là nơi tu tập của những người theo Thiền tông. Thiền sư Bách Trượng là người đầu tiên sáng lập Thiền viện và những quy củ tổ chức ở đây.
thiền viện
6478請參閱 禪祕要法經專修禪觀之寺院。又稱禪寺、禪剎。為「教院」、「律院」之對稱。稱禪剎者,剎為塔之意,古代寺院皆建有塔,故寺院又稱為剎。據禪苑清規卷十百丈規繩頌條所載,禪院之設置始於唐代百丈懷海禪師,降至宋代,教、禪之涇渭愈明,禪院之制亦愈趨完備。又禪林寶訓筆說卷上、佛祖統紀卷四十五宋元豐三年條中,均載有禪院建立之實例。〔宋高僧傳卷十、佛祖統紀卷四十一、佛祖歷代通載卷二十、禪林寶訓合註卷一〕
; Zenke (J), Zen-en (J), Zen monastery, Zen templeThiền tự.
; See Thiền Đường.
; (禪院) Cũng gọi: Thiền tự, Thiền sát. Đối lại: Giáo viện, Luật viện. Chỉ chochùa viện chuyên tu thiền quán. Gọi Thiền sát thì Sát nghĩa là Tháp. Các chùa viện đời xưa đều có xây tháp, cho nên chùa viện cũng gọi là Sát. Theo điều Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui quyển 10, việc thiết lập Thiền viện bắt đầu từ Thiền sư Bách trượng Hoài hải đời Đường, đến đời Tống thì sự phân biệt Giáo và Thiền càng rõ, cho nên chế độ Thiền viện cũng dần dần hoàn bị. Trong Thiền lâm bảo huấn bút thuyết quyển thượng và điều Tống nguyên phong tam niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 45, việc xây dựng Thiền viện đều được ghi chép rõ ràng. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.41; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thiền lâm bảo huấn hợp chú Q.1].
thiền và tịnh độ
Zen and Pure Land—Thiền và Tịnh độ không hai. Nếu liễu ngộ thì liễu ngộ cả hai; ví bằng mê mờ thì mê mờ cả hai, vì dù thiền hay tịnh độ cũng đều quy tâm, ngoài tâm không pháp—Zen and Pure Land have always been non-dual. If we thoroughly understand one, we thoroughly understand both. If we fail to understand one, we will fail on both, Zen or Pure Land focus on “Mind.” There are no dharmas outside the mind.
thiền vân tự
6479位於韓國全羅北道高敞郡雅山面。為修者(雲水僧)雲集之處,故名之為禪雲寺。義雲國師創建於百濟威德王二十四年(577),當時號稱有分寺一九八座。後遭戰火,又經重修,現存建築物傳係光海君王六年(1614)元俊再建,其中李朝所建之大雄寶殿,為韓國國寶之一。
thiền vô sắc
ArŪpa-jāna (S), Immaterial absorption.
thiền vị
6455入於禪定時,身心適悅、輕安寂靜之妙味;即禪樂,禪定之法悅。大乘無生方便門(大八五‧一二七四中):「貪著禪味,墮二乘。」
; Meditation flavour; the mysterious taste or sensation experienced by one who enters abstract mediatation.
; Mùi vị của Thiền khi nhập vào thiền định, thân tâm có cảm giác mùi vị tuyệt vời, nhẹ nhàng khoan khoái, tịch tĩnh—Meditation-flavour, the mysterious taste or sensation experienced by one who enter abstract meditation.
; (禪味) Cái diệu vi nhẹ nhàng, vắng lặng, thân tâm thanh thản mà Thiền giả cảm nhận khi nhập thiền định, tức niềm vui thiền, là pháp duyệt thiền định. Đại thừa vô sinh phương tiện môn (Đại 85, 1274 trung) nói: Tham đắm thiền vị, rơi vào Nhị thừa.
thiền xá
6478指四禪定中第三禪之捨離「喜」受。於第三禪定中,對最上樂不生偏頗之心,不起好惡之念,此種捨離即稱為禪捨。蓋於第二禪定中,「尋」與「伺」之心已止息,內在純淨而心性專一,遂由其中生出「喜」與「樂」之感受;至第三禪定時,由於更進一步捨離「喜」之感受,故稱禪捨。 雜阿含經卷十四(大二‧九七上):「離喜捨心,住正念正智,身心受樂,聖說及捨,具足第三禪。」〔清淨道論四、解脫道論卷五〕
; (禪舍) Chỉ cho sự xả bỏ Hỉ thụ(cảm giác mừng vui), của Đệ tam thiền. Đối với niềm vui mừng vi diệu của Đệ tam thiền, không sinh tâm thiên chấp, không khởi niệm ưa thích, gọi là Thiền xả. Vì trong Đệ nhị thiền, Tầm (tìm kiếm) và Tứ(dò xét), đã dứt bặt, nội tâm thuần tịnh và chuyên nhất, liền sinh ra cảm thụ Hỉ và Lạc. Khi đến Đệ tam thiền, do tiến thêm 1 bước mà xả bỏ cảm thụ Hỉ cho nên gọi là Thiền xả. Kinh Tạp a hàm quyển 14 (Đại 2, 97 thượng) nói: Lìa bỏ tâm Hỉ, trụ ở chính trí chính niệm, tiến lên xả li, đầy đủ Đệ tam thiền. [X. Thanh tịnh đạo luận 4 ; Giải thóat đạo luận Q.5].
Thiền Xương Tự
(禪昌寺, Zenshō-ji): ngôi chùa của Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派) thuộc Lâm Tế Tông; hiệu núi là Long Trạch Sơn (龍澤山); hiện tọa lạc tại Gero-shi (下呂市), Gifu-ken (岐阜縣). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai, Dược Sư Như Lai, Quan Thế Âm Bồ Tát. Huệ Tâm Tăng Đô Nguyên Tín (惠心僧都源信) là người khai sáng ra chùa. Đến khoảng niên hiệu Vĩnh Hòa (永和, 1375-1379), Trúc Xử Sùng Viên (竹處崇圓) là người khai sơn, lấy tên là Đại Hùng Sơn Viên Thông Tự (大雄山圓通寺). Sau đó, do vì gặp hỏa tai nên chùa trở thành hoang phế; nhưng đến năm 1716 thì Tam Mộc Trực Lại (三木直賴, Mitsuki Naoyori) mới cung thỉnh Minh Thục Khánh Tuấn (明叔慶俊) đến tái kiến lại chùa này, rồi đổi tên hiệu chùa và lưu truyền cho đến nay.
thiền yếu kinh
6475請參閱 禪苑蒙求瑤林 請參閱 禪苑蒙求瑤林 請參閱 禪苑蒙求瑤林 請參閱 治禪病祕要法 請參閱 禪要經 [1] <一>全一卷。譯於東漢時代,譯者佚名。又稱禪要經訶欲品、禪要訶欲經。收於大正藏第十五冊。本經示行者於修定時,應作不淨觀,以期離欲,得空清淨智觀;亦即觀眾生之六欲:色欲、形容欲、威儀欲、言聲欲、細滑欲、人相欲,依前五欲觀不淨相,依人相欲觀白骨人相。又本經相當於鳩摩羅什等所譯禪法要解之最初部分。 <二>凡二卷。鳩摩羅什等譯於姚秦弘始四年至十四年(402~412)。又稱禪法要解、禪法要解經。收於大正藏第十五冊。(參閱「禪法要解」6471) <三>全一卷。為中唐時代之偽經。書題禪門經,卷首慧光之序謂其又稱禪要經。由於當代達磨系之禪者感於小乘禪經之缺點,故作本經,欲以大乘禪經彌補小乘禪經之不足。本經採取經典之形式,內容標榜初期禪宗之思想及立場。開元釋教錄將本經列入偽經之中,然曆代法寶記、頓悟要門等禪錄皆引用本經,由此可知本經係流行於唐代至五代之禪林間。又敦煌文獻中發現本經之完本,編為史坦因第五五三二號;日本學者柳田聖山據此重新校訂,收於「塚本博士頌壽記念佛教史學論集」。
; (禪要經) I. Thiền Yếu Kinh. Cũng gọi Thiền yếu kinh ha dục phẩm, Thiền yếu ha dục kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Đông Hán(không rõ tên người dịch) thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này dạy hành giả lúc tu định nên thực hành Bất tịnh quán để mong lìa dục và được trí quán thanh tịnh; cũng chính là quán xét về 6 cái ham muốn của chúng sinh đối với người khác giới tính. Đó là: Ham muốn về nhan sắc, ham muốn về dáng dấp, ham muốn về cách đi đứng, và cử chỉ yểu điệu, ham muốn về giọng nói, ham muốn về làn da mịn màng trơn láng và ham muốn về hình tướng người. Đối với 5 cái ham muốn trước thì nên quán xét về tính chất dơ bẩn nhớp nhúa; còn đối với ham muốn về tướng người thì nên quán tưởng những đống xương trắng của người nằm vương vãi trên mặt đất. Kinh này tương đương với phần đầu của Thiền pháp yếu giải do Cưu ma la thập dịch.II. Thiền Yếu kinh. Cũng gọi Thiền pháp yếu giải, Thiền pháp yếu giải kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy thứ 4-14 (403-412) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. (xt. Thiền Pháp Yếu Giải). III. Thiền Yếu Kinh. Kinh, 1 quyển, làngụy kinh ở giữa đời Đường. Sách tên là Thiền môn kinh, bài tựa của ngài Tuệ quang ở đầu quyển nói rằng sách này cũng gọi là Thiền yếu kinh. Vì những Thiền giả thuộc hệ thống ngài Đạt ma nhận thấy những khuyết điểm trong các kinh Thiền Tiểu thừa, nên mới soạn ra kinh này, muốn dùng kinh Thiền Đại thừa để bổ túc cho những khuyết điểm của kinh ThiềnTiểu thừa. Kinh này sử dụng hình thức kinh điển, nội dung nêu lên tư tưởng và lập trường của Thiền tông thời kì đầu. Khai nguyên thích giáo lục xếp kinh này vào loại ngụy kinh, tuy nhiên, các Thiền lục như Lịch đại pháp bảo kí, Đốn ngộ yếu môn...đều có trích dẫn kinh này, vì thế mà biết kinh này được lưu hành trong Thiền lâm từ đời Đường đến đời Ngũ đại. Còn trong các kinh sách đào được ở Đôn hoàng, người ta thấy có bản hoàn chỉnh của kinh này, mang số hiệu A.Stein 5532. Học giả Nhật bản là ông Liễu điền Thánh sơn căn cứ vào bản này mà sửa chữalạirồi xếp vào Trủng bản bác sĩ tụng thọ kí niệm Phật giáo sử luận tập.
Thiền Ông
禪翁; 902-979, cũng được gọi là Thiền Ông Ðạo giả|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư xuất gia và đắc pháp nơi Thiền sư La Quý An. Hai đệ tử danh tiếng của Sư là Vạn Hạnh và Ðịnh Huệ.|Sư trụ trì chùa Song Lâm ở làng Phù Ninh, phủ Thiên Ðức và tịch năm Kỉ Mão, niên hiệu Thái Bình thứ 10, thọ 78 tuổi.
thiền ông đạo giả
Thiền Sư Thiền Ông (902-979)—Thiền Sư Thiền Ông quê làng Cổ Pháp, từ thuở còn rất nhỏ sư đã không thích cuộc đời trần tục. Sư xuất gia và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Đinh Trưởng Lão. Sư là Pháp tử đời thứ mười một dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư thị tịch năm 979, thọ 78 tuổi—Zen Master Thiền Ông (902-979)—A Vietnamese monk from Cổ Pháp. He did not like secular life since he was very young. He left home and became one of the most outstanding disciples of Đinh Trưởng Lão. He was the Dharma heir of the eleventh lineage of the Vinitaruci Zen Sect. He passed away in 979, at the age of 78.
thiền đà ca vương
6474禪陀迦,梵名 Jñātaka。南天竺之國王名。龍樹菩薩嘗以偈述十善、七覺支、十二因緣之旨贈之,稱為禪陀迦王偈。藏經中有「龍樹菩薩為禪陀迦王說法要偈」。又此王之名號,另有娑多婆訶、優陀延等。(參閱「娑多婆訶王」4076)
; Jātaka (S).
; (禪陀迦王) Thiền đà ca, Phạm:Jĩàtaka. Tên một vị quốc vương ở Nam Thiên Trúc. Bồ tát Long thụ từng dùng kệ tụng trình bày ý chỉ Thập thiện, Thất giác chi, Thập nhị nhân duyên để tặng vị vua này, gọi là Thiền đà ca vương kệ. Trong tạng kinh có Long thụ Bồ tát vị Thiền đà ca vương thuyết pháp yếu kệ. Vị vua này còn có các tên hiệu như: Sa đa bà ha,Ưu đà diên... (xt. Sa Đa Bà Ha Vương).
Thiền đáo bỉ ngạn 禪到彼岸
[ja] ゼントウヒガン zen tōhigan ||| The perfection of concentration. See 禪波羅蜜. => Thành tựu rốt ráo viên mãn của thiền định. Xem Thiền ba-la-mật, 禪波羅蜜.
thiền đăng thế phả
6481凡九卷。明代僧山翁道忞編,吳侗集,崇禎五年(1632)刊行。收於卍續藏第一四七冊。初時,道忞欲蒐錄諸傳燈錄、碑銘殘簡等,以編集禪宗祖師之世系,偶知閩人吳侗亦有類似之撰述,道忞遂合二人之作,加以修訂成書。內容係以圖表列述自釋迦牟尼以下,南嶽、溈仰、臨濟、黃龍、楊岐、虎丘、雲門、法眼、青原、曹洞等諸正脈,旁出嗣法傳承之源流。清順治十一年(1654),介庵悟進(1612~1673)刊行所編之佛祖宗派世譜八卷,因其內容、形式與本書頗多雷同,故卍續藏僅收錄其與本書有出入之卷一、卷五、卷六等小部分,並附於本書之後。
; (禪燈世譜) Tác phẩm, 9 quyển, do ngài Sơn ông Đạo mân soạn vào đời Minh, ông Ngô đồng biên tập và ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 5 (1632), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Lúc đầu, ngài Đạo mân định sưu tầm các bộ Truyền đăng lục, các bài minh bia đứt đoạn, chắp vá để biên tập các thế hệ Tổ sư Thiền tông, thì tình cờ gặp ông Ngô đồng, người đất Mân (Phúc kiến) cũng đang soạn thuật tác phẩm tương tự như thế, ngài Đạo mân liền hợp tác với ông Ngô đồng rồi sửa chữa thành bộ sách này. Nội dung sách dùng đồ biểu trình bày từ đức Phật Thích ca Mâu ni trở xuống, cho đến các tông phái: Nam nhạc, Qui ngưỡng, Lâm tế, Hoàng long, Dương kì, Hổ khâu, Vân môn, Pháp nhãn, Thanh nguyên, Tào động tất cả các dòng phái nối pháp truyền thừa chính thống và không chính thống. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, ngài Giới am Ngộ tiến (1612-1673) biên soạn và ấn hành bộ Phật tổ tông phái thế phổ 8 quyển mà nội dung phần nhiều rất giống với bộ Thiền đăng thế phổ này của ngài Đạo mân. Vì thế nên Vạn tục tạng chỉ thu chép 1 phần nhỏ những chỗ sai khác với Thiền đăng thế phổ như quyển 1, quyển 5, quyển 6... rồi để vào phần phụ ở sau Thiền đăng thế phổ này.
Thiền Đăng Thế Phổ
(禪燈世譜, Zentōsefu): 9 quyển, do Sơn Ông Đạo Mân (山翁道忞) nhà Minh biên tập, san hành vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應). Đây là bộ truyền đăng hệ phổ do Mộc Trần Đạo Mân (木陳道忞), pháp từ của Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), biên tập vào năm thứ 4 (1631) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞). Ban đầu, Đạo Mân có ý muốn biên tập lịch sử truyền đăng kể từ thời nhà Nguyên trở về sau, nhưng các bài minh văn bia bị khuyết mất khá nhiều, định làm thế phổ để thay thế, nhân thỉnh thoảng ông đến Huyện Mân (閩, Tỉnh Phúc Kiến), bắt gặp cuốn thế phổ do Ngô Đồng (呉侗) biên soạn, nương vào các Truyền Đăng Lục để hiệu đính những đúng sai trong đó và hình thành nên bộ sách này. Nó làm sáng tỏ hệ phổ truyền đăng từ thời đức Thích Tôn cho đến 5 tông phái ở Trung Quốc và rất tiện lợi về thông tin mối quan hệ truyền thừa trong Thiền Tông. Tuy nhiên, do vì người ta nhận lầm Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟) thành Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) là pháp từ của Mã Tổ (馬祖), cho nên đã phạm phải sai lầm liệt chung cả 2 tông Vân Môn và Pháp Nhãn đều thuộc môn hạ của Nam Nhạc (南岳).
Thiền đường
禪堂; J: zendō;|Là nơi các vị tăng Toạ thiền trong một Thiền viện. Cũng được dùng chỉ một Thiền viện.
thiền đường
6478<一>坐禪堂之略稱。亦作僧堂。(參閱「僧堂」5739)[1] <二>係為與僧堂有所區別而稱禪堂。僧堂為行坐禪、睡眠,飲食等之道場,禪堂則專指坐禪之道場。 <三>無僧堂之寺院,於法堂坐禪,維那以下眾僧之居處,稱為禪堂。
; Xem Viễn Công.
; Meditation hall of Thiền tông. A common name of the monastic hall.
; Thiền đường là một căn phòng căn nhà lớn trong tự viện hay thiền viện. Tại các chùa lớn, thường Thiền Đường là một kiến trúc biệt lập chỉ để thực hành tọa thiền, chứ không có các nghi lễ khác—Buddhist meditation hall (center)—Buddhist temple or Zen hall (room) or meditation hall of the Ch'an sect. In large temples, meditation hall is a separate structure, where only meditation is practiced without any other ceremonies.
; (禪堂) I. Thiền Đường. Gọi đủ: Tọa thiền đường. Cũng gọi Tăng đường. (xt. Tăng Đường). II. Thiền Đường. Để phân biệt với Tăng đường nên gọi là Thiền đường. Tăng đường là đạo tràng để ngồi thiền, ngủ nghỉ, ăn uống... còn Thiền đường là đạo tràng chỉ được sử dụng cho việc tọa thiền. III. Thiền Đường. Chỉ cho chùa viện không có Tăng đường, chư tăng tọa thiền ở Pháp đường; chỗ ở của chúng tăng từ vị Duy na trở xuống, gọi là Thiền đường.
thiền đại thừa
Mahayana Meditation—Đây là phương pháp tu thiền định dựa trên kinh điển Đại Thừa. Thiền Đại Thừa là loại thiền đốn ngộ hay thượng thừa thiền. Thiền Đại Thừa nhấn mạnh: “Ai cũng có thể thiền định, đi đến đại ngộ và đạt thành Phật Quả.”—This is the method of practicing meditation which is based on the Mahayana Sutras. Mahayana Meditation is considered as “Instant Awakening Meditation,” or “Supreme Meditation.” Mahayana Meditation emphasizes: “Everyone is able to meditate, is able to be awakened instantly and attain the Buddhahood.”
thiền đầu
6481<一>禪林之首座。大鑑清規(大八一‧六二一下):「僧堂坐禪號令,權在首座,不在住持,首座謂之禪頭。」 <二>為梵語 jantu 之音譯。又作禪豆、禪兜、繕都、禪㿡。即眾生之義。〔雜阿含經卷十三、玄應音義卷一〕
; Xem Thiền đậu.
; (禪頭) I. Thiền Đầu. Vị Thủ tọa của Thiền lâm. Đại quán thanh qui (Đại 81, 612 hạ) nói: Hiệu lệnh tọathiền của Tăng đường là do Thủ tọa đưa ra, chứ không phải do vị Trụ trì, cho nên vị Thủ tọa được gọi là Thiền đầu. II. Thiền Đầu. Phạm:Jantu. Cũng gọi Thiền đậu, Thiền đâu, Thiện đô.Từ dịch âm của tiếng Phạm Jantu, có nghĩa là chúng sinh. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, Huyền ứng âm nghĩa Q.1].
thiền đậu
Jantu (S)Thiền đầu, Thức thần- Thức thần: Loài có sinh mạng.
Thiền định
xem Tam-ma-bạt-đề.
thiền định
6461<一>禪,為梵語 dhyāna 之音譯;定,為梵語 samādhi 之意譯。禪與定皆為令心專注於某一對象,而達於不散亂之狀態。或謂禪為 dhyāna 之音譯,定為其意譯,梵漢並稱作禪定。又色界之四禪與無色界之四定,合稱四禪八定。〔法華經提婆達多品〕(參閱「定」3171、「禪」6451) <二>與坐禪同義。五家參詳要路門附錄(大八一‧六一五上):「夫修禪定者,先須厚敷蒲團,結跏趺坐。」(參閱「坐禪」2838)
; Absorption, Meditation, Dhyāna (S), Jhānna (P), Jhānaṃ (P)Thiền na, định, định tâm, tịnh lự, tĩnh lự1- Tâm quan sát chuyên chú về một cảnh (sự, hay ý) mà không lìa tán. Định là một sở tu học trong ba sở tu học là giới - định - huệ. 2- Định thông thường gọi là thiền na. Định cao hơn gọi là đại định. 3- Tĩnh lự: Sau khi định tâm (Dharana) thì tập trung quán niệm. Một trong 8 pháp thật tu có đề cập trong Du già kinh.
; One of the six pàramitàs. There are numerous methods and subjects of meditation. Thiền is dhyàna, Định is an interpretation of samàdhi. Thiền is one element of định, which covers the whole ground of meditation, concentration abstraction, reaching to the ultimate beyond emotion or thinking.
; Dhyana and Samadhi (skt). (I) Nghĩa của Thiền Định—The meanings of Samadhi: a) Thiền theo tiếng Phạn là Dhyana. Thiền là một yếu tố của Định; tuy nhiên, cả hai từ được dùng gần như lẫn lộn với nhau: Dhyana is Meditation (Zen), probably a transliteration. Meditation is an element of Concentration; however, the two words (dhyana and samadhi) are loosely used. b) Định theo tiếng Phạn là Samadhi. Định bao trùm toàn bộ bối cảnh của Thiền, để tâm chuyên chú vào một đối tượng mà đạt tới trạng thái tịch tĩnh không tán loạn—Concentration is an interpretation of Samadhi. Samadhi covers the whole ground of meditation, concentration or abstraction, reaching to the ultimate beyond emotion or thinking. ** Có nhiều định nghĩa về Thiền Định—There are several different definitions for Dhyana and Samadhi: 1) Thiền định hay sự phát triển tâm linh, hay quán chiếu về khổ, vô thường và vô ngã. Thiền định trong các trường phái Phật giáo tuy có khác nhau về hình thức và phương pháp, nhưng cùng có một mục tiêu chung là làm tinh thần tập trung, thanh thản và trong suốt như một dòng sông nước trong mà người ta có thể nhìn thấy tận đáy, từ đó ý thức biết được sự thể nghiệm về ngộ, giải thoát và đại giác. Ngoài ra, cố gắng thực tập thiền định thường xuyên nếu hành giả chưa nhập vào chân lý thì ít ra cũng sẽ giúp chúng ta xa rời nhị nguyên phân biệt—Meditation or Mental development, or to meditate upon the implications or disciplines of pain, unreality, impermanence, and the non-ego. Although different in forms and methods in different Buddhist schools, but has the same goal is to concentrate the mind of the cultivators, to calm and to clarify it as one would calm and clarify the surface of a turbulent body of water, so that the bottom of which can be seen. Once the surface of that turbulent water is pacified, one can see it's bottom as when the mind is pacified, one can come to an expierence or a state of awakening, liberation or enlightenment. In addition, diligent repetition of practice of meditation, if the cultivator has not yet become one with the “absolute truth,” dualistic state of mind and distinction between subject and object disappeared in that person. 2) Thiền cũng là quá trình tập trung và thấm nhập nhờ đó mà tâm được yên tĩnh và nhất tâm bất loạn (qui nhất), rồi đi đến giác ngộ: Zen is also a process of concentration and absorption by which the mind is first tranquilized and brought to one-pointedness, and then awakened. 3) Một trong lục Ba La Mật: “Dhyana” is one of the six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật and Tứ Thiền. 4) Thiền định để chỉ những giáo lý thiền thuộc về Phật giáo, nhưng áp dụng đặc biệt vào Thiền Tông—The term “Dhyana” connotes Buddhism and Buddhist things in general, but has special application to the Zen (Ch'an) sects. 5) Là một tông phái Phật giáo Đại Thừa, Thiền là một tôn giáo thoát khỏi giáo điều mà chỉ hướng thẳng đến sự tự chứng ngộ. Tỷ như sự tự chứng ngộ của Đức Phật Thích Ca dưới cội cây Bồ Đề sau khi nỗ lực tu tập. Thiền tông Việt Nam bao gồm các phái Lâm Tế, Tào Động, và Trúc Lâm—As a Mahayana Buddhist sect, Zen is a religious free of dogmas or creeds whose teachings and disciplines are directed toward self-consummation. For example, the full awakening that Sakyamuni Buddha himself experienced under the Bodhi-tree after strenuous self-discipline. In Vietnam, Zen sects comprise of Lin-Chi, T'ao-Tung, and Ch'u-Lin. (II) Mục đích của việc hành Thiền—The purposes of Meditation Practices: 1) Thiền không phải là trầm tư mặc tưởng. Ngộ không cốt tạo ra một điều kiện nào đó theo chủ tâm đã định trước bằng cách tập trung tư tưởng mạnh vào đó. Trái lại, Thiền là sự nhận chân một năng lực tâm linh mới có thể phán đoán sự vật trên một quan điểm mới. Pháp tu Thiền với mục đích là dứt khoát lật đổ ngôi nhà giả tạo mà mình đang có để dựng lên cái khác trên một nền móng hoàn toàn mới. Cơ cấu cũ gọi là vô minh, và ngôi nhà mới gọi là giác ngộ. Do đó trong Thiền không hề có việc trầm tư về những câu nói tượng trưng hoặc siêu hình nào thuộc về sản phẩm của ý thức hay cơ trí: Meditation is not a state of self-suggestion. Enlightenment does not consist in producing a certain premeditated condition by intensely thinking of it. Meditation is the growing conscious of a new power in the mind, which enabled it to judge things from a new point of view. The cultivation of Zen consists in upsetting the existing artificially constructed framework once for all and in remodeling it on an entirely new basis. The older frame is call 'ignorance' and the new one 'enlightenment.' It is evident that no products of our relative consciousness or intelligent faculty can play any part in Zen. 2) Phật tử tu tập Thiền định để huấn luyện tâm và kỷ luật tự giác bằng cách nhìn vào chính mình: Buddhists practise meditation for mind-training and self-discipline by looking within ourselves. 3) Tu tập thiền định là tìm cách hiểu rõ bản chất của tâm và sử dụng nó một cách hữu hiệu trong cuộc sống hằng ngày, vì tâm là chìa khóa của hạnh phúc, mà cũng là chìa khóa của khổ đau phiền não: To meditate is to try to understand the nature of the mind and to use it effectively in daily life. The mind is the key to happiness, and also the key to sufferings. 4) Tu tập thiền định trong cuộc sống hằng ngày là giải thoát tinh thần ra khỏi những trói buộc của tư tưởng cũng như những nhiễm ô loạn động: To practice meditation daily will help free the mind from bondage to any thought-fetters, defilements, as well as distractions in daily life. 5) Tu tập thiền định là con đường trực tiếp nhất để đạt tới đại giác: Practicing meditation is the most direct way to reach enlightenment. (III) Những đặc điểm của Thiền—Some characteristics of Zen: 1) Ý niệm căn bản của Thiền tông là đồng nhất tính của hữu và vô. “Chân tướng vô tướng,” “Pháp môn vô môn,” “Thánh trí vô trí.” Sự hỗ tương đồng hóa giữa hai ý tưởng đối lập như đen và trắng, thiện và bất thiện, thanh tịnh và nhiễm ô, vân vân, là kết quả của thâm nhập thiền tư duy sâu thẳm. “Pháp thân không tướng, nhưng hóa hiện mọi hình tướng.” “Kim khẩu không lời, nhưng phát hiện mọi lời.” Những ý niệm cùng loại đó thường bắt gặp trong Thiền tông: The basic idea of Zen is the identity of becoming and non-becoming. “The true state is no special state;” “The gate of Dharma is no gate;” “Holy knowledge is no knowledge.” The mutual identification of two opposed ideas, such as black and white, good and evil, pure and impure, or the like, results from deep meditation. “The ideal body has no form, yet any form may come out of it.” “The golden mouth has no word, yet any word may come out of it.” Ideas of a similar nature are often encountered. 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có một quá trình riêng biệt nơi Thiền tông. Khi định tâm vào tư duy tịnh mặc, một 'công án' được đặt ra cho hành giả để trắc nghiệm khả năng tiến bộ đến tỏ ngộ. Khi nhận một công án, hành giả bắt đầu tĩnh tọa nơi thiền đường. Ngồi thoải mái, chân kiết già, thân ngay ngắn và thẳng lưng, tay kiết thiền ấn, mắt mở nửa chừng. Đây gọi là tọa thiền, có thể kéo dài trong nhiều ngày đêm. Những sinh hoạt hằng ngày như ở, ăn, ngủ, tăm, vân vân đều được giữ có chừng mực. Im lặng được tuyệt đối tuân giữ; tức là khi tọa thiền, thọ thực hay tẩy trần, không ai được nói lời nào cũng như không gây ra tiếng động nào. Thỉnh thoảng có xảy ra cuộc đối thoại gọi là 'vấn đáp' giữa hành giả và thiền sư được mệnh danh là tu học thiền hay 'vân thủy,' hành giả nêu những thắc mắc và vị thiền sư trả lời hoặc bằng ẩn dụ hay quát mắng. Khi hành giả đã sẵn sàng để giải quyết vấn đề, ông ta đến viếng sư phụ nơi phương trượng, trình bày những gì đã thấu hiểu và xin được giải quyết công án. Nếu thiền sư đắc ý, ngài sẽ nhận cho là đắc đạo; nếu không, hành giả lại tiếp tục thiền quán thêm nữa: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there is a peculiar process in Zen. To concentrate one's mind in silent meditation, a koan (public theme) is given to an aspirant to test his qualification for progress towards enlightenment. On receiving a theme, one sits in silence in the Zen hall. One must sit at ease, cross-legged and well-posed with upright body, with his hands in the meditating sign, and with his eyes neither open nor quite closed. This is called sitting and meditating, which may go on for several days and nights. So the daily life, lodging, eating, sleeping, and bathing should be regulated properly. Silence is strictly required and kept; that is, while meditating, dining or bathing, no word should be uttered and no noise should be made. Sometimes a public dialogue called 'question and answer' takes place (also called 'the cloud and water,' the name used for traveling student). The aspirant will ask questions of the teacher who gives answers, hints or scoldings. When a student or any aspirant thinks that he is prepared on the problem, he pays a private visit to the teacher's retreat, explains what he understands and proposes to resolve the question. When the teacher is satisfied, he will give sanction; if not, the candidate must continue meditation. (IV) Lợi ích của Thiền Tập—Benefits of meditation practices—Theo Tỳ Kheo Piyananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, hành thiền có những lợi ích sau đây—According to Bhikkhu Piyananda in The Gems of Buddhism Wisdom, meditation practices have the folowing benefits: 1) Thiền tập diệt trừ được si mê và phát sanh trí tuệ. Ngoài ra, thiền tập còn giúp mang lại sức khỏe, hạnh phúc, và sự lạc quan: Practicing meditation can help practitioners eradicate dullness and bring about wisdom. Besides, meditation also brings about health, happiness, and optimism. 2) Nếu bạn là người bận bịu, thiền tập giúp bạn quét sạch căng thẳng và tìm thấy thư giãn: If you are a busy person, meditation practices can help you to get rid of tension and to find some relaxation. 3) Nếu bạn là người hay lo lắng, thiền tập giúp bạn bình tĩnh và thấy thanh bình dài lâu hay tạm thời: If you are a worried person, meditation practices can help to calm and help you to find either permanent or temporary peace. 4) Nếu bạn là người có quá nhiều vấn đề, thiền tập giúp bạn có can đảm và sức mạnh để đương đầu và khắc phục các vấn đề ấy: If you are a person who has endless problems, meditation practices can help you to develop courage and strength to face and overcome problems. 5) Nếu bạn thiếu tự tin, thiền tập sẽ giúp bạn lấy lại tự tin mà bạn cần. Lòng tự tin là bí quyết của thành công: If you lack self-confidence, meditation practices can help you gain the self-confidence you need. This self-confidence is the secret of success. 6) Nếu bạn sợ hãi trong lòng, thiền có thể giúp bạn hiểu rõ bản chất thực sự của đối tượng làm bạn sợ hãi, từ đó có thể khắc phục được sợ hãi trong lòng: If you have fear in your heart, meditation practices can help you understand the real nature of the objects that are making you afraid, then you can overcome the fear in your mind. 7) Nếu bạn lúc nào cũng bất mãn với mọi thứ, không có thứ gì trên đời nầy vừa ý bạn, thiền tập sẽ giúp bạn có cơ hội để phát triển và duy trì sự “tri túc” nội tâm: If you are always dissatisfied with everything; nothing in life seems to be satisfactory; meditation practices will give you the chance to develop and maintain some inner satisfaction. 8) Nếu bạn hoài nghi và không lưu tâm đến tôn giáo, thiền tập sẽ giúp bạn vượt qua tính hoài nghi và nhìn thấy giá trị thực tiễn trong giáo lý: If you are skeptical and disinterested in religion, meditation practices can help you go beyond your own skepticism and to see some practical value in religious guidance. 9) Nếu bạn thất vọng và thất tình do sự thiếu hiểu biết bản chất về đời sống và thế giới, thiền tập sẽ hướng dẫn và giúp bạn hiểu điều đã làm xáo trộn bạn bởi những thứ không cần thiết: If you are frustrated and heart-broken due to lack of understanding of the nature of life and the world, meditation practices will truly guide and help you understand that you are disturbed by unnecessary things. 10) Nếu bạn là một người giàu có, thiền tập sẽ giúp bạn nhận thức được bản chất thật sự của của cải cũng như cách sử dụng của cải cho hạnh phúc của chính bạn và những người chung quanh: If you are a rich man, meditation practices can help you realize the true nature of your wealth and how to make use of your wealth for your own happiness as well as for others. 11) Nếu bạn là người nghèo, thiền tập sẽ giúp bạn đạt sự mãn ý, không nuôi dưỡng ganh tỵ với những người giàu có: If you are a poor man, meditation practices can help you have some contentment and not to harbour jealousy towards those who have more than you. 12) Nếu bạn là người trẻ đang đứng trước những ngã rẽ cuộc đời, bạn không biết phải bước vào ngã nào, thiền tập sẽ giúp bạn hiểu biết con đường phải đi để tiến tới mục đích mà bạn nhắm tới: If you are a young man at the cross-roads of your life, and do not know which way to turn, meditation practices will help you understand which is the road for you to travel to reach your proper goal. 13) Nếu bạn là người già yếu chán chường cuộc sống, thiền tập sẽ mang lại cho bạn sự hiểu biết sâu xa hơn về cuộc đời; sự hiểu biết này sẽ giảm thiểu nỗi đau đớn của cuộc sống và làm tăng sự vui sống: If you are an elderly man who is fed-up with life, meditation practices will bring you to a deeper understanding of life; this understanding in turn will relieve you from the pains of life and will increase the joy of living. 14) Nếu bạn là người nóng nảy, thiền tập có thể giúp bạn phát triển sức mạnh để khắc phục những yếu điểm nóng giận, hận thù và bất mãn: If you are hot-tempered, meditation practices can help you develop the strength to overcome these weaknesses of anger, hatred and resentment. 15) Nếu bạn hay ganh ghét, thiền tập có thể giúp bạn hiểu được cái nguy hiểm của sự ganh ghét: If you are jealous, meditation practices can help you understand the danger of your jealousy. 16) Nếu bạn là người nô lệ cho năm giác quan, thiền tập có thể giúp bạn học hỏi cách trở nên chủ tể của những giác quan tham dục nầy: If you are a slave to your five senses, meditation practices can help you learn how to become the master of your sense-desires. 17) Nếu bạn nghiện rượu, thuốc lá hay ma túy, bạn có thể nhận thức được cách vượt qua được những thói xấu nguy hiểm nầy: If you are addicted to wine, tobacco, or drugs, meditation practices can help you realize how to overcome the dangerous habits which have enslaved you. 18) Nếu bạn là người ám muội, thiền tập sẽ cho bạn cơ hội trau dồi kiến thức hữu dụng và lợi ích cho cả bạn lẫn bạn bè và gia đình: If you are an ignorant person, meditation practices will give you a chance to cultivate some knowledge that will be useful and beneficial both to you and to your friends and family. 19) Nếu bạn là người tâm tư suy nhược, thiền tập sẽ giúp làm tăng sức mạnh cho tâm bạn để phát triển sức mạnh ý chí hầu khắc phục được những nhược điểm của bạn: If you are a weak-minded person, meditation practices can help strengthen your mind to develop your will-power in order to overcome your weaknesses. 20) Nếu bạn là người trí, thiền tập sẽ mang bạn tới giác ngộ tối thượng. Bạn sẽ nhìn thấy sự vật một cách như thị: If you are a wise person, meditation practices will take you to supreme enlightenment. Then you will see things as they are, and not as they appear to be. (V) Trước khi Thiền quán—Before Meditation: 1) Ăn uống—Foods and Drinks: Nên ăn đồ nhẹ hợp với cơ thể, tránh những chất có nhiều dầu mỡ, chất cay, kích thích thần kinh như cà phê, rượu, thuốc hút, vân vân—Just take light diet, avoid browned, fried, or hot foods, especially those stimulants such as coffee, alcohol or cigarettes, etc. 2) Y phục—Clothing: Y phục phải hợp với thời tiết, tránh đồ bít bùng, chật bó cứng làm máu huyết khó lưu thông điều hòa—Clothes must be fitting to the weather, avoid tight clothes that would make the circulatory system difficult. 3) Nơi chốn—Place: Nơi thiền tập phải an tịnh, không bị loạn động như trong góc phòng, vân vân. Ngày xưa, thường thường thiền đường được xây trong khu rừng xa vắng—Should be quiet, and without distraction such as a quiet corner of the house, etc. In the old days, generally Zen halls were built in a remote forest far away from the real world. 4) Giờ giấc thiền tập—Time for meditation: Buổi tối từ 9 đến 10 giờ hay buổi sáng sớm khoảng từ 5 đến 6 giờ. Đây chỉ là giờ giấc đề nghị, hành giả có thể tập thiền bất cứ lúc nào trong ngày—At night from 9 to 10 p.m., or early in the morning from 5 to 6 a.m. This schedule is only a recommended schedule, practitioners can practice meditation at any time during the day. 5) Thân thể—body: Thân thể phải sạch sẽ. Nếu có thể được nên tắm rữa 15 phút trước giờ thiền tập—Body must be clean. If possible, practitioners should have a bath 15 minutes before meditation. 6) Thế ngồi—Posture: Có hai cách ngồi—There are two types. a) Bán già—Half crossed-legged: • Hàng ma bán già: gác bàn chân mặt lên đùi bên trái như thế ngồi của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Half crossed-legged posture, put the right leg on the left thigh like the posture of Manjusri Bodhisattva. • Kiết tường bán già: gác bàn chân trái lên đùi mặt như thế ngồi của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát—Half crossed-legged posture, put the left leg on the right thigh like the posture of Samantabhadra Bodhisattva. b) Kiết già hay Kim Cang tọa: Để bàn chân trái lên đùi phải, gác bàn chân phải lên đùi trái, gót hai bàn chân đều sát vào bụng. Ngồi kiết già khó tập, lúc mới bắt đầu dễ bị mệt mỏi, nhưng tập dần sẽ quen, và khi quen sẽ ngồi được nhiều giờ hơn—Crossed-legged posture, put the left foot on the right thigh, the right foot on the left thigh, both heels close to the abdomen. This posture is difficult to practice at the beginning, but with time it can be done and it would help us to continue sitting for many hours. 7) Vị trí của hai cánh tay—Position of the two arms: Hai cánh tay vòng xuôi, để bàn tay mặt trên bàn tay trái—Join both hands with the open palm of the right hand on that of the left one. 8) Thế lưng—The posture of the back: Luôn giữ cho lưng thẳng—Always keep the back straight. 9) Thế cổ—Neck posture: Cổ phải thẳng nhưng và đầu hơi nghiêng về phía trước—The neck must be straight, but the head slightly inclined forward. 10) Mắt—Eyes: Đôi mắt hơi hé mở, vì nếu mắt mở to thì chúng ta dễ bị ánh sáng và cảnh vật bên ngoài làm nhiễu loạn, còn nếu mắt nhắm thì chúng ta dễ bị hôn trầm—Both eyes slightly open; if widely open we would easily be disturbed; if closed, we could easily feel drowsy. 11) Miệng—Mouth: Miệng ngậm lại, chót lưỡi để trên chân răng hàm trên, răng để thong thả chứ không cắn vào nhau—Close the mouth with the tip of the tongue touching the palate; do not clench your teeth. 12) Điều hòa hơi thở—Normalizing the breathing: Hít không khí sâu vào bằng mũi, rồi thở từ từ ra bằng miệng, chỉ cần thở đều—Deeply inhale the air through the nose and exhale it slowly through the mouth. Just breath regularly. (VI) Xả Thiền—Releasing meditation: Khi xả thiền bạn phải làm ngược lại tất cả, nghĩa là trước hết phải xả tâm, xả tức, rồi xả thân. Sau mỗi lần thiền định mà thấy thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt, tức là buổi thực tập đó có kết quả. Khi thực tập mà thấy thân tâm có gì khác thường nên hỏi chuyện với thầy hoặc thiện hữu tri thức để khỏi lạc vào tà pháp—You must reverse the whole process, that is, you must release your mind, then your breathing, and finally your body. Each time you perform the meditation session, you should feel at ease; this means that it has produced good effect. On the contrary, you must ask your master or good knowing advisors why you do not feel good after meditation. 1) Xả Tâm—Release the mind: Phải nhớ lại coi mình đang ngồi ở đâu? Thời gian qua mình làm gì? Mình có bị tán loạn hay hôn trầm hay không?—You should try to remember where you sat, what you did, were you disturbed or drowsy? 2) Xả Tức—Releasing the breathing: Mở miệng thở ra vài hơi thật dài cho khí nóng trong người giảm bớt và để phục hồi lại trạng thái bình thường—Open your mouth and exhale deeply to let out all the heat inside your body and to recover your normal state. 3) Xả Thân—Releasing the body: Từ từ duỗi hai tay, xoa nhẹ lên nhau, rồi áp lên mắt. Nhúc nhích nhẹ cổ và lưng. Uốn lưỡi một vài lần và nuốt chút nước miếng. Sau đó lấy tay xoa lên hai bắp đùi, rồi tháo lần hai chân ra, xoa hai bắp chuối, hai bàn chân. Khi xong nên nhè nhẹ đứng dậy, đi tới đi lui vài vòng sẽ cảm thấy thân khoan khoái, tâm nhẹ nhàng—Slowly stretch out both arms, slightly rub both hands and press them on your eyes. Stir a little bit your neck and back. Curve your tongue a few times and swallow the saliva. Then rub thighs, calves, and feet; extend both legs. After that, slowly stand up and walk a few rounds; you will feel at ease. (VII) Các loại Thiền—Categories of meditation: Có nhiều loại Thiền; tuy nhiên, căn bản có hai loại—There are many sorts of meditation; however, basically there are two kinds. 1) Như Lai Thiền: The Tathagata Zen—See Như Lai Thiền. 2) Tổ Sư Thiền: Patriarchal Zen—See Tổ Sư Thiền.
; (禪定) I. Thiền Định. Thiền (Phạm:Dhyàna) và Định (Phạm: Samàdhi) đều là trạng thái không tán loạn, để tâm chuyên chú vào 1 đối tượng. Hoặc có thuyết cho rằng Thiền là phiên âm tiếng Phạmdhyàna, còn Định là dịch ý của dhyàna, dùng chung cả Phạm và Hán mà gọi là Thiền định. Lại 4 thiền của cõi Sắc và 4 định của cõi Vô sắc hợp chung lại gọi là Tứ thiền bát định. [X. phẩm Đề bà đạt đa kinh Pháp hoa]. (xt. Định, Thiền). II. Thiền Định. Đồng nghĩa: Tọa thiền. Ngũ gia tham tường yếu lộ môn phụ lục (Đại 81, 615 thượng) nói: Nếu người tu thiền định thì trước phải trải bồ đoàn, ngồi kết già. (xt. Tọa Thiền).
thiền định ba la mật
Dhyāna-pāramitā (S), Dhyana Perfection Thiền độMột trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mật Ba hạnh của thiền định Ba la mật là: - an trụ tĩnh lự: các loạn tưởng chẳng khởi lên, vào sâu trong thiền định. - dẫn phát tĩnh lự: Nhờ tĩnh lự, trí huệ phát sinh, sanh ra công đức. - biện sự tĩnh lự: công hạnh thanh tựu tốt đẹp, dung thiền định mà làm lợi ích chúng.
; Dhyana-paramita (skt)—Thiền định Ba La Mật là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta đạt đến định tỉnh cũng như những nội lực thâm diệu, và cũng nhờ đó mà chúng ta có thể dạy dỗ và hướng dẫn những chúng sanh có tâm trí tán loạn—Dhyana paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we accomplish all balanced states of dhyana and wonderfully profound powers, and we teach and guide distracted living beings. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.
Thiền định ba-la-mật
xem Thiền ba-la-mật.
thiền định kiên cố
6464為大集經所說五種堅固之一。佛陀入滅後第二個五百年間為禪定堅固時期,於此期間,諸比丘修禪定得住堅固。大集經卷五十五(大一三‧三六三上):「於我滅後五百年中,諸比丘等猶於我法解脫堅固;次五百年,我之正法禪定三昧,得住堅固。」(參閱「五五百年」1065)
; (禪定堅固) Thiền định vững chắc, 1 trong 5 thứ kiên cố nói trong kinh Đại tập. Khoảng 500 năm thứ 2 sau đức Phật nhập diệt là thời kìThiền định kiên cố, ở thời kì này, các tỉ khưu tu hành trụ trong thiền định kiên cố. Kinh Đại tập quyển 55 (Đại 13, 363 thượng) nói: Trong khoảng 500 năm sau khi ta nhập diệt, các tỉ khưu vẫn được giải thoát kiên cố trong chính pháp của ta; đến 500 năm thứ 2 thì trụ trong thiền định kiên cố trong chính pháp của ta. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
thiền định lực bất khả tư nghị
6463五不可思議之一。謂修行禪定,發神境通,得以飛行自在,巡遊諸佛淨土,為不可思議之事。如入菩薩定,能起一種不可思議之神通,而達一念十方世界。〔舊譯華嚴經卷七、大智度論卷三十、往生論註卷下〕(參閱「五不可思議」1064)
; (禪定力不可思議) Năng lực củathiền định không thể nghĩ bàn, 1 trong 5 thứ bất khả tư nghị. Nghĩa là tu hành thiền định, phát được Thần cảnh thông, bay đi tự tại, du hành khắp các Tịnh độ của chư Phật, đó là việc bất khả tư nghị. Nếu vào định Bồ tát thì có thể phát khởi 1 loại thần thông bất khả tư nghị, chỉ trong 1 niệm, có năng lực đạt đến khắp các thế giới trong 10 phương. [X. kinh Hoa nghiêm Q.7 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Bất Khả Tư Nghị).
thiền định môn
6464又稱禪門。<一>禪定之門關。[1] <二>日本佛教用語。又稱禪室。指入禪定門之人。意為禪定之門侶。即歸依佛門,剃髮染衣之男子稱禪定門,女子稱禪定尼。又轉用於亡者戒名之稱號;禪定尼則為對女子戒名之稱。在日本,剃髮入佛門之天皇,專稱禪定法皇。攝政、關白剃髮者,稱禪定殿下或禪閣。(參閱「禪門」6471)
; (禪定門) Cũng gọi Thiền môn. I. Thiền Định Môn. Cửa củathiền định. II. Thiền Định Môn. Cũng gọi Thiền thất. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho người nhập Thiền định môn, nghĩa là chư tăng tu thiền định. Người nam cạo tóc, nhuộm áo xuất gia vào Phật môn, gọi là Thiền định môn, người nữ gọi là Thiền định ni. Về sau đượcchuyển dụng để gọi tên của tăng ni đã qua đời. Tại Nhật bản, các vị Thiên hoàng xuất gia vào cửa Phật, chuyên gọi là Thiền địnhPháp hoàng; còn các vị Nhiếp chính, Quan bạch cạo tóc xuất gia thì gọi là Thiền định điện hạ, hoặc gọi là Thiền các. (xt. Thiền Môn).
thiền định quật
6464比丘修禪定之洞窟。佛與弟子多於山林巖窟中坐禪,故有此稱。又禪者之居所,亦可稱禪定窟。南本涅槃經卷二十八(大一二‧七九二上):「『如來今於此拘尸那城入大三昧深禪定窟,眾不見故,名大涅槃。』師子吼言:『如來何故入禪定窟?』『善男子!為欲度脫諸眾生故。(中略)為令眾生尊重所聞禪定法故,以是因緣入禪定窟。』」
; (禪定窟) Chỉ cho hang động để tu thiền định của các tỉ khưu. Vì Phật và các đệ tử thường tọa thiền trong các hang động nơi núi rừng nên gọi là Thiền định quật. Chỗ ở của người tu thiền cũng được gọi là Thiền định quật. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 28 (Đại 12, 792 thượng) nói: Nay đức Như lai ở thành Câu thi na này vào Đại tam muội thiền định quật sâu xa, vì chúng tăng không thấy nên gọi là Đại Niết bàn. Ngài Sư tử hống thưa: Vì sao Như lai nhập Thiền định quật? Nàythiện nam tử! Vì muốn độ thoát các chúng sinh (...) vì khiến cho chúng sinh tôn trọng pháp thiền định đã được nghe, do nhân duyên ấy nên nhập Thiền định quật.
thiền định thập chủng lợi ích
6463修菩薩行者,善能修習禪定,則萬緣俱息,定性現前,能獲以下十種利益:(一)安住儀式,菩薩習諸禪定必須整肅威儀,一遵法式而行,既久,則諸根寂靜,正定現前,自然安住而無所勉強。(二)行慈境界,菩薩習諸禪定,常存慈愛之心,無傷殺之念,於諸眾生悉使安穩。(三)無煩惱,菩薩習諸禪定,諸根寂靜,則貪瞋癡等一切煩惱,自然不生。(四)守護諸根,菩薩習諸禪定,常當守護眼等諸根,不為色等諸塵所動。(五)無食喜樂,菩薩習諸禪定,既得禪悅之味以資道體,故雖無飲食之奉,亦自然欣悅。(六)遠離愛欲,菩薩修習禪定,寂默一心,不使散亂,則一切愛欲之境悉無染著。(七)修禪不空,菩薩習諸禪定,雖獲諸禪之功德,證真空之理,然不墮於斷滅之空。(八)解脫魔羂,菩薩習諸禪定,則能遠離生死,一切魔網悉皆不能纏縛。(九)安住佛境,菩薩習諸禪定,開發無量之智慧,通達甚深之法義,於佛知見自然明了,故心寂滅,住持不動。(十)解脫成熟,菩薩習諸禪定,一切惑業皆不能迷亂,行之既久,則無礙解脫,自然圓熟。〔月燈三昧經卷六〕
; (禪定十種利益) Mười thứ lợi ích của việc tu thiền định. Người tu hạnh Bồ tát, nếu khéo tu tập thiền định thì muôn duyên đều dứt, định tính hiện tiền, được 10 thứ lợi ích sau đây: 1. An trụ nghi thức: Bồ tát tập các thiền định cần phải chỉnh túc uy nghi, tu hành đúng theo pháp thức, lâu rồi thì các căn tịnh lặng, chính định hiện tiền, tự nhiên an trụ mà không cần gắng sức. 2. Hành từ cảnh giới: Bồ tát tập các thiền định, thường giữ tâm từ ái, không khởi niệm tưởng sát hại, đối với các chúng sinh đều giúp cho được an ổn. 3. Vô phiền não: Bồ tát tập các thiền định, các căn tịch tĩnh, thì tất cả phiền não như tham, sân, si... tự nhiên không sinh. 4. Thủ hộ chư căn: Bồ tát tập các thiền định, thường nên giữ gìn các căn như mắt, tai... không để bị các trần như sắc, thanh... lay động. 5. Vô thực hỉ lạc: Bồ tát tập các thiền định, đã được vị thiền duyệt để nuôi đạo thể, cho nên tuy không có việc ăn uống cũng vẫn tự nhiên an vui. 6. Viễn li ái dục: Bồ tát tu tập thiền định, một lòng tịch lặng thì đối với tất cả cảnh ái dục đều không nhiễm trước. 7. Tu thiền bất không: Bồ tát tu tập thiền định, tuy được công đức của các thiền, chứng lí chân không, nhưng không rơi vào cáikhông đoạn diệt. 8. Giải thoát ma quyên: Bồ tát tập các thiền định thì xa lìa được sinh tử, tất cả lưới ma đều không thể trói buộc. 9. An trụ Phật cảnh: Bồ tát tập các thiền định, khai phát vô lượng trí tuệ thông suốt pháp nghĩa rất sâu, đối với tri kiến của Phật tự nhiên sáng tỏ, cho nên tâm vắng lặng, an trụ bất động. 10. Giải thoát thành thục: Bồ tát tập các thiền định, tất cả hoặc nghiệp đều không thể làm cho Bồ tát mê loạn, thực hành đã lâu thì giải thoát vô ngại tự nhiên viên mãn, thành thục. [X.kinh Nguyệt đăng tam muội Q.6].
thiền định tinh tấn
Dhyana and Virya (skt)—Meditation balance and diligence—Hai trong sáu Ba la mật—Two of the six paramitas.
thiền định tự
6463<一>位於陝西長安。隋代文帝仁壽年間(601~604),曾召僧定之門人保恭為寺主,以檢校僧尼。唐代武德二年(619),改稱大莊嚴寺。續有神迴、道哲、智興、慧詮等名德住持本寺,顯揚法門。 <二>西藏名 Co-ne。音譯卓尼寺。為位於甘肅西南洮州之南的喇嘛教寺院。其創建年代不詳,但據考證明初即已存在。此寺藏有西藏大藏經甘珠爾(藏 Bkaḥ-ḥgyur,佛說部)、丹珠爾(藏 Bstan-ḥgyur,論疏部)之版木,稱為卓尼版,其年代僅次於奈塘版(藏 Snar-thaṅ)。〔蒙藏佛教史(妙舟)〕
thiền định và trí huệ
Xem Thiền huệ.
Thiền định độ
xem bờ bên kia.
Thiền định 禪定
[ja] ゼンジョウ zenjō ||| (dhyāna, jana, śamatha, samādhi): 'meditation', 'concentration.' This word is a combination of two characters where the first is used for transliteration, and the second is used for its meaning. (1) The mind in silent meditation or introspection. A general term for meditative concentration practices, both Buddhist and non-Buddhist. (2) The fifth of the six perfections. => (s: dhyāna, jana, śamatha, samādhi): (e: meditation, concentration.) Từ nầy bao gồm hai chữ, mà chữ đầu là để phiên âm, chữ sau là ý nghĩa: 1. Tâm ở trong trạng thái trầm tư mặc tưởng hoặc an tịnh nội quán. Là thuật ngữ gọi chung sự tu tập thiền định, cả trong Phật giáo lẫn không phải Phật giáo. 2. Món thứ 5 trong Lục độ Ba-la-mật.
thiền đốn ngộ
Sudden-enlightened Zen. • Thiền phái được truyền từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, sự phân hóa dưới thời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn thành hai tông phái của Huệ Năng và Thần Tú giúp cơ duyên cho Thiền phát triển thuần túy hơn bằng cách tước bỏ những yếu tố không cần thiết, hoặc nói đúng hơn, những yếu tố không tiêu hóa được. Rốt cùng phái Thiền Đốn ngộ của Huệ Năng tồn tại vượt qua Thần Tú, chứng tỏ Thiền Đốn Ngộ ứng hợp một cách tuyệt hảo nhất với nếp tâm lý và cảm nghĩ của người Trung Hoa—Zen sect transmitted from Bodhidharma. According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, the differentiation of two schools under the fifth patriarch, by Hui-Neng and Shen-Hsiu, helped the further progress of pure Zen by eliminating unessential or rather undigested elements. Eventually the school of Hui-Neng survived the other proves that his Zen was in perfect accord with Chinese psychology and modes of thinking. • Thiền đốn ngộ có bốn đặc tính đặc thù Sudden-enlightened Zen is distinguished by four characteristics: 1) Bất Lập Văn Tự: It is not established by words. 2) Giáo Ngoại Biệt Truyền: It is a special transmission outside the teachings. 3) Trực Chỉ Nhơn Tâm: It directly points to the human mind. 4) Kiến Tánh Thành Phật: Through it one sees one's own nature and becomes a Buddha.
Thiền đồ 禪圖
[ja]ゼンズ Zenzu ||| The Chantu (Chan Chart); Abbreviated title of the Zhonghua chuan xindi chanmen shizicheng xitu 中華傳心地禪門師資承襲圖. => k: Sŏnto j: Zenzu; e: Chantu (Chan Chart); Viết tắt của Trung Hoa truyền tâm địa Thiền môn sư tư thừa tập đồ 中華傳心地禪門師資承襲圖).
Thiền độ
xem Thiền ba-la-mật.
thiền độ
Xem Thiền định ba la mật.
; Dhyana-paramita (S). Xem thiền ba la mật.
thiền đới
6476又作善助。坐禪時所使用之帶,纏於腰間,防腹部受涼。據四分律卷四十一載,於露地坐,有患背痛者,故作禪帶護之。五分律卷四第十一捨墮法(大二二‧二九上):「爾時,眾僧多得縷施,即共分之,諸比丘用縫僧伽梨、優多羅僧、安陀會、一切餘衣,又作腰繩禪帶,乃至戶紐。」 釋氏要覽卷下有關禪帶之製作及用法(大五四‧二九七中):「禪帶,此坐禪資具也,經云:用韋為之(熟皮曰韋),廣一尺,長八尺,頭有鉤,從後轉向前,拘兩膝,令不動故,為乍習坐禪易倦,用此檢身助力故,名善助。用罷屏處藏之。」 此外,釋氏要覽謂禪帶為檢身助力之具,其說未見於諸律,故禪林象器箋依之,以五分律所說為別種物,遂將五分律之文列於服章門,而將釋氏要覽之文列於器物門。〔大比丘三千威儀卷上、五分律卷二十、四分律卷九、十誦律卷八、四分律刪繁補闕行事鈔卷下一〕
; (禪帶) Cũng gọi Thiện trợ. Sợi dây lưng dùng lúc tọa thiền, thắt ở ngangeo để đề phòng bụng bị lạnh. Cứ theo luật Tứ phần quyển 41 thì ngồi ở chỗ đất trống thường bị đau lưng cho nên may thiền đới phòng hộ. Pháp Xả đọa trong luật Ngũ phần quyển 41 (Đại 22, 29 thượng) nói: Bấy giờ, chúng tăng được nhiều vải bố thí, liền chia cho nhau; các tỉ khưu dùng may tăng già lê, ưu đa la tăng, an đà hội và các áo khác, cũng may thiền đới thắt lưng, cho đến tết các nút áo.Về cách may và sử dụng thiền đới, Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền đới là vật dùng trong lúc ngồi thiền. Kinh chép: Thiền đới nên làm bằng da thuộc, rộng 1 thước, dài 8 thước, đầu có móc, từ sau lưng quấn vòng về phía trước và móc vào 2 đầu gối, để nó không động đậy; vì người mới tập ngồi thiền dễ bị mỏi mệt, cần dùng thiền đới giúp sức để kiểm xét thân, cho nên gọi là Thiện trợ. Dùng xong, phải cất vào chỗ khuất. Thích thị yếu lãm cho rằng thiền đới là vật giúp sức để kiểm xét thân, nhưng thuyết này không thấy nói trong các luật, bởi vậy, Thiền lâm tượng khí tiên y cứ theo đó mà cho rằng vật nói trong luật Ngũ phần là 1 vật khác và đem xếp vào môn Phục chương, còn vật nói trong Thích thị yếu lãm thì được xếp vào môn Khí vật. [X. Đại tỉ khưu uy nghi Q.thượng; luật Ngũ phần Q.20; luật Tứ phần Q.9; luật Thập tụng Q.8; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1].
Thiền 禪
[ja] ゼン zen ||| The pre-Buddhist Chinese meaning of this term was a royal ceremony for the consecration of the land. In Buddhism: (1) meditation, concentration, meditative concentration (dhyāna). (2) A reference to the Four Meditation Heavens within the world of form. (3) Seated meditation; zazen (坐禪). (4) A reference to the Chan (Sŏn, Zen) sect. (5) The teachings of the Chan school of Buddhism. => k: sŏn j: zen Trước thời kỳ Phật giáo Trung Hoa, từ nầy có nghĩa là sự ban tặng, chu cấp bổng lộc bằng đất đai của triều đình. Trong Phật giáo, từ nầy có nghĩa là: 1. Thiền, định, thiền-na (s: dhyāna). 2. Chỉ cho Tứ thiền thiên trong Sắc giới. 3. Ngồi thiền, toạ thiền (j: zazen 坐禪). 4. Chỉ cho Thiền tông (c: Chan; k: Sŏn; j: Zen). 5. Giáo pháp Thiền tông Phật giáo.
Thiền-na ba-la-mật
xem Thiền ba-la-mật.
Thiền-na 禪那
[ja] ゼンナ zen'na ||| A transliteration of the Sanskrit dhyāna. while having the general meaning of meditation or calm abiding (静慮, 定), can also have other specific connotations, depending on the context. For instance, in the Yuanjue jing 圓覺經, dhyāna meditation is clearly distinguished from the standard definitions of śamatha (止) and vipaśyanā (觀), being a third type of meditation which both combines and transcends the other two. => Phiên âm từ chữ dhyāna trong tiếng Sanskrit. Trong khi nó có nghĩa chung là trầm tư mặc tưởng hoặc tĩnh lự (静慮, 定), nó còn có ý nghĩa rộng hơn tuỳ theo trong từng ngữ cảnh. Chẳng hạn, trong kinh Viên Giác, Thiền-na được phân biệt rõ ràng với hai định nghĩa chuẩn mực về Chỉ (s: śamatha 止) và Quán (s: vipaśyanā觀), Thiền-na là loại thứ ba, phối hợp và siêu việt cả hai dạng trên.
thiều quang
Beautiful light of spring time.
thiểm
Syamaca (S)Thiểm Ma, Thiểm Ma Ca, Thương Mạc CaTên của đức Thế Tôn khi còn tu hạnh Bồ tát.
; 1) Ánh sáng lấp lóe: Flash. 2) Tránh hay lách sang một bên: To get out of the way.
thiểm di
5537梵語 śamī。又作苫弭、貰彌。意譯作枸啬。陀羅尼集經卷十(大一八‧八七六下):「貰彌木,此云枸啬。」玄應音義卷二十二:「睒彌葉,其葉苦也。」〔最勝王經卷七〕
; (睒彌) Phạm: Zamì. Cũng gọi Thiêm nhị, Thế di. Hán dịch: Cẩukỉ. Loại cây lá có vị đắng, dùng làm thuốc. Kinh Đà la ni tập quyển 10 (Đại 18, 876) nói: Cây Thế di, Hán dịch là Cẩu kỉ.
thiểm ma
Xem Thiểm.
thiểm ma ca
Xem Thiểm.
thiểm đa
4336梵語 preta 之訛譯。即餓鬼。正確譯作閉多。又作畢利多、薜荔多、彌荔多。為八部鬼眾之一。〔立世阿毘曇論卷六〕
; Quỷ—A demon, one of Yama's names.
; (閃多) Cũng gọi Tất lợi đa, Bệ lệ đa, Di lệ đa. Là từ dịch âm lầm của chữ Phạm Preta, tức ngã quỉ. Nếu dịch âm đúng thì phải là Bế đa. Là một trong Bát bộ quỉ chúng.
thiểm điện quang
4337比喻情勢之神速、猛烈。五燈會元卷七(卍續一三八‧一二七下):「此事如擊石火,似閃電光,搆得搆不得,未免喪身失命。」
; Ánh chớp lóe lên, dùng để ví với sự mau lẹ mãnh liệt của sự việc—Lightening-flashing, therefore awe-inspiring.
; (閃電光) Ánh chớp lóe sáng rồi tắt liền, ví dụ tình hình mau lẹ, mãnh liệt. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục tập 138, 127 hạ) nói: Việc này như đập đá xẹt lửa, như tia chớp lóe sáng(thiểm điện quang), hiểu được hay không hiểu được đều không khỏi táng thân mất mạng.
thiển
1) Cạn—Shallow—Superficial. 2) Đơn giản: Simple—Easy. 3) Màu lợt: Light in color.
thiển cận
See Thiển.
thiển học
Cái học nông cạn—Shallow (slight) knowledge.
thiển kiến
Ý kiến nông cạn—Shallow opinion.
thiển lược
Những vấn đề thô thiển và giản lược (ý nói những vấn đề mà Mật giáo ám chỉ Hiển giáo)—Superficial—Simple—Not profound.
thiển lược thâm bí
4678即淺略及深祕之並稱。全稱淺略釋深祕釋。十六玄門之一。密教解釋經文之義分此二門:(一)淺略釋,世間通途之釋義。(二)深祕釋,詮釋密教獨特深理之釋義。大日經疏卷三(大三九‧六一一下):「以解二種義故,得阿闍梨名,所謂淺略、深奧分。若觀前人,未有深解之機,則順常途隨文為釋;若已成就利根智慧,則當演暢深密而教授之。」據同疏卷七載,淺略釋為隨他意語,深秘釋為隨自意語;亦即以淺略為隨順機情之隨他意語,深祕為順佛之自意之隨自意語。又深祕釋中更分三重之淺深,即祕密釋、祕密中祕釋、祕祕中祕釋,加前之淺略總立為四重。(參閱「十六玄門」386)
; (淺略深秘) Gọi đủ: Thiển lược thích thâm bí thích. Nhóm từ gọi chung cho Thiển lược(cạn cợt, sơ lược) và Thâm bí(sâu xa, kín đáo) 1 trong 16 huyền môn. Mật giáo giải thích nghĩa của văn kinh chia làm 2 môn: 1. Thiển lược thích: Giải thích một cách nông cạn, sơ lược. Đây là cách giải thích theo lối thông thường ở thế gian. 2. Thâm bí thích: Giải thích một cách sâu xa, kín nhiệm. Đây là cách giải thích nghĩa lí sâu xa, huyền diệu đặc biệt của Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 611) nói: Vì hiểu 2 thứ nghĩa nên được gọi là A xà lê, nghĩa là người phân biệt được 2 thứ thiển lược và thâm bí. Nếu xét thấy người đối thoại chưa đủ trình độ hiểu được cách giải thích thâm bí, thì thuận theo văn mà giải thích theo lối thiển lược thông thường. Còn nếu người đã thành tựu lợi căn trí tuệ thì nên diễn bày lí sâu xa, kín nhiệm để truyền dạy họ. Theo sách đã dẫn quyển 7 thì Thiển lược thích là lời theo ý người khác, còn Thâm bí thích là lời theo ýcủamình. Trong Thâm bí thích lại chia ra 3 lớp cạn sâu, tức Bí mật thích, Bí mật trung bí thích, Bí bí trung bí thích, thêm Thiển lược thích chung ở trên thành 4 lớp. (xt. Thập Lục Huyền Môn).
thiển lạp
Kém tuổi đạo, chỉ các vị Tỳ Kheo tuổi hạ còn ít—Of few years, i.e. youthful in monastic years.
thiển nghĩ
Theo ý kiến thô thiển của tôi—In my humble opinion.
thiển thâm
Cạn và sâu—Shallow and deep.
thiển thảo biệt viện
4677位於日本東京市區。屬於日本真宗大谷派之別院。俗稱淺草門跡、淺草本願寺。係德川家康捐地所建,初名光瑞寺,前後移建三次。江戶時代屢為朝鮮使節館舍。
thiển thảo tự
4677原屬日本天台宗,後獨立為聖觀音宗。位於日本東京都台東區淺草公園。山號為金龍山,別稱傳法院,俗稱淺草觀音。依寺傳,推古天皇三十六年(628)土師臣中知之家臣檜熊濱成、檜熊武成,共於宮戶川(隅田川下游)下漁網,獲觀音像,遂改宅建香堂以安置之,此為建寺之始。天長元年(824),圓仁至東國巡化之途中宿於此寺,蒙三社權現之靈示,乃建造堂舍,安奉一尺八寸之觀音像。寺中藏有元版大藏經五四二八卷。現本寺計有本堂(觀音堂),山門、五重塔、輪藏、二天門、藥師堂、閻羅殿、淡島神明、大寶殿、念佛三昧堂、錢瓶辯天祠、錢塚地、傳法院等。
; (淺草寺) Chùa Thiển thảo, vốn thuộc tông Thiên thai Nhật bản, sau độc lập và trở thành tông Quán thế âm. Vị trí chùa ở công viên Thiển thảo, khu Đài đông, Đông kinh, Nhật bản, hiệu sơn môn là Kim long sơn, tên gọi khác là Truyền pháp viện, quen gọi là Thiển thảo Quán âm. Tương truyền, vào năm Thiền hoàng Suy cổ 36 (628), gia thần của Thổ sư thần trung tri là Cối hùng tân thành và Cối hùng vũ thành cùng thả lưới trên sông Cung hộ(vùng hạ du sông Ngung điền), vớt được tượng Quán âm, bèn sửa nhà thành Hương đường để thờ, đây là việc xây chùa đầu tiên ở Nhật bản. Niên hiệu Thiên trường năm đầu (824), trên đường du hóa đến Đông quốc, ngài Viên nhân đã nghỉ đêm ở chùa này, được sự linh ứng chỉ dạy của Tam xã quyền hiện, liền xây dựng điện đường để thờ tượng Quán âm cao 1 thước 8 tấc (Tàu). Trong chùa có cất giữ Đại tạng kinh bản đời Nguyên gồm 5428 quyển. Hiện nay, chùa này có các kiến trúc như: Bản đường (Quán âm đường), Sơn môn, tháp 5 tầng, Luân tạng, Nhị thiên môn, Dược sư đường, Diêm la điện, Đạm đảo Bản đường của chùa Thiển thảo thần minh, Đại bảo điện, Niệm Phật tam muội đường, Tiền bình biện thiên từ, Tiền trủng địa, Truyền pháp viện...
Thiển trí
淺智; C: qiăn zhì; J: senchi; S: alpa-buddhi.|Dạng trí thức nông cạn, để đối chiếu với trí huệ sâu mầu của Đức Phật.
thiển trí
Trí mọn—Shallow (superficial) mind.
Thiển trí 淺智
[ja] センチ senchi ||| (alpa-buddhi). A shallow kind of wisdom, as compared with the profound wisdom of the Buddha. (s: alpa-buddhi). => Dạng trí thức nông cạn, để đối chiếu với trí huệ sâu mầu của Đức Phật.
thiển tài
Tài mọn—Slight (shallow) talent.
thiển văn
See Thiển học.
thiển ý
Shallow opinion—In my humble opinion.
thiểu
Few.
; 1) Một ít: Few. 2) Giảm thiểu: To decrease—To diminish—To lessen.
thiểu (thiếu) lâm tự
Ngôi tự viện tại Thiếu Thất, thuộc huyện Đăng Phong, tỉnh Hồ Nam, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã diện bích chín năm—The monastery at Shao-Shih in Têng-Fêng district, Hunan province, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.
thiểu (thiếu) thất lục môn tập
Six brief treatises attributed to Bodhidharma , but their authenticity is denied.
thiểu dục
Alpecha (S)Đối với vật chưa được thì khởi tâm tham dục quá phần.
thiểu dục tri túc
1382指節制物欲。又作喜足少欲、無欲知足。即將欲望減少而知滿足之意。分別言之,於未得之物不起過分之貪欲,稱為少欲(梵 alpeccha);對既得之物,不嫌其少,不生悔恨,稱為知足(梵 saṃtuṣṭa)。少欲知足為修道之要諦,俱舍論視之為身器清淨三因(三淨因)之一,中阿含卷十八「八念經」、八大人覺經等則以之為八大人覺中最初之二法。〔北本大般涅槃經卷二十七、大毘婆沙論卷四十一〕
; Content with few desires.
; Thiểu dục là có ít dục lạc; tri túc là biết đủ. Thiểu dục tri túc là ít ham muốn mà thường hay biết đủ. Tri túc là bằng lòng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tạm đủ để sống mạnh khỏe tiến tu. Tri túc là một phương pháp hữu hiệu nhất để phá lưới tham dục, để đạt được sự thảnh thơi của thân tâm và hoàn thành mục tiêu tối hậu của sự nghiệp tu tập—Content with few desires. “Thiểu Dục” means having few desires; “tri túc” means being content. Knowing how to feel satisfied with few possessions means being content with material conditions that allow us to be healthy and strong enough to practice the Way. “Knowing how to feel satisfied and being content with material conditions” is an effective way to cut through the net of passions and desires, attain a peaceful state of body and mind and accomplish our supreme goal of cultivation.
; (少欲知足) Cũng gọi Hỉ túc thiểu dục, Vô dục tri túc.Ít muốn biết đủ. Chỉ cho sự tiết chế vật dục. Nghĩa là giảm thiểu dục vọng và biết thỏa mãn với những gì mình đã có. Nếu giải thích từng vế thì Thiểu dục (Phạm: Alpeccha) là đối với những vật chưa được không khởi tâm tham muốn quá phần; còn Tri túc (Phạm:Saôtuwỉa) là đối với những vật đã được thì không chê ít, không sinh tâm hối hận. Thiểu dục tri túc là điều kiện cốt yếu của việc tu đạo, luận Câu xá coi đó là 1 trong 3 cái nhân làm cho thân thanh tịnh(Tam tịnh nhân); kinh Bát nhã niệm trong Trung a hàm quyển 18 và kinh Bát đại nhân giác thì lấy đó làm 2 pháp đầu tiên trong 8 điều giác ngộ của bậc đại nhân. [X. Đại bát niết bàn Q.27 (bảnBắc); luận Đại tì bà sa Q.41].
thiểu khang
Một nhà sư nổi tiếng đời Đường, là đệ tử của Ngài Thiện Đạo—Shao-K'ang, a famous monk of the T'ang dynasty, known as Shan-Tao's disciple—See Thiếu Khang Đại Sư.
thiểu não
Sorrowful—Sad.
Thiểu phần phiền não 少分煩惱
[ja] ショウブンボンノウ shōbun bonnō ||| Secondary afflictions. Same as 〔攝大乘論 T 1593.31.116a7〕 => Phiền não thừ yếu. Đồng nghĩa với Tuỳ phiền não隨煩惱..
Thiểu phần 少分
[ja] ショウブン shōbun ||| (1) Partial; a part; a small amount. (2) Secondary. => 1. Một phần nhỏ, một phần; một số lượng nhỏ. 2. Thứ yếu, không quan trọng.
thiểu quang
Minor light.
thiểu quang thiên
1379少光,梵名 Parīttābha,音譯波栗阿婆、波利答、波梨陀。又作光曜天、少梵天、水行天。為色界十八天之一,即色界二禪天中之第一天。此天於二禪天中光明最小,故稱少光。七識住中,攝於第三身一想異識住。其天眾乃由二禪下品相應之業而生於此天,身量二由旬,壽量二大劫。〔長阿含經卷二十、順正理論卷二十一、卷二十二、四阿鋡暮抄解卷下〕
; Parinimmitavasavatti-deva (S), Parīttābha (S)hào quang hạn lượngMột trong 3 cõi trời Nhị thiền. Tầng này ánh sáng rất ít.
; Parittàbha (P). A heaven.
; Parittabhas (skt)—Trời Tứ Phạm hay đệ nhứt thiên trong nhị thiền thiên—The fourth Brahmaloka or the first region of the second dhyana heavens.
; (少光天) Thiểu quang, Phạm: Parìttàbha. Hán âm: Ba lật a bà, Ba lợi đáp, Ba lê đà. Cũng gọi Thiểu diệu thiên, Thiểu phạm thiên, Thủy hành thiên. Một trong 18 tầng trời thuộc cõi Sắc, tức chỉ cho tầng trời thứ nhất trong Nhị thiền thiên của cõi Sắc. Tầng trời này có ít ánh sáng nhất trong Nhị thiền thiên, cho nên gọi là Thiểu quang thiên. Trong Thất thức trụ (7 chỗ an trụ của tâm thức) thì Thiểu quang thiên thuộc về Đệ tam thân nhất tưởng dị thức trụ. Thiên chúng ở tầng trời này là do nghiệp tương ứng vớihạ phẩm của Nhị thiền mà sinh về đây, thân cao 2 do tuần, tuổi thọ 2 đại kiếp. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Thuận chính lí Q.21, 22; Tứ a hàm mộ sao giải Q.hạ].
Thiểu quang thiên 少光天
[ja]ショウコウテン shōkō ten ||| The heaven of lesser light (Parītta-ābha). The first level of the three heavens in the second dhyāna heaven 二禪天, listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời Thiểu quang (s: Parītta-ābha). Cõi đầu tiên trong 3 tầng trời thuộc Nhị thiền thiên, được xếp vào một trong 17 cõi trời thuộc Sắc giới.
thiểu số
Minority.
thiểu thiện căn
1382梵語 avaramātraka-kuśalamūla。又作少善。謂薄少之善根。即指念佛以外之各種雜善。依阿彌陀經之意,一日乃至七日執持彌陀名號而能一心不亂者,稱為多善根,其他諸善,則稱少善根,不可以少善根福德因緣得生阿彌陀佛極樂國土。又據元曉之阿彌陀經疏載,菩提心為正因多善根,執持名號則為助因。〔法事讚卷下、阿彌陀經義疏卷下〕
; Avaramatraka-kuśalamŪla (S).
; (少善根) Phạm: Avaramàtraka-kuzalamùla. Cũng gọi Thiểu thiện. Nghĩa là căn lành ít ỏi, mỏnh manh. Tức chỉ cho các điều thiện khác ngoài việc niệm Phật. Theo kinh A di đà thì từ 1 ngày cho đến 7 ngày niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, một lòng không tán loạn, gọi là Đa thiện căn, còn các điều thiện khác thì gọi Thiểu thiện căn, không thể nhờ vào chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên mà được sinh về cõi nước Cực lạc của Phật A di đà. Nhưng theo A di đà kinh sớ của ngài Nguyên hiểu thì tâm bồ đề là chính nhân đa thiện căn, còn niệm danh hiệu chỉ là trợ nhân giúp thêm mà thôi. [X. Pháp sự tán Q.hạ; A di đà kinh nghĩa sớ Q.hạ].
thiểu thuỷ ngư
1379指棲於少量水中之魚。又作小水魚。譬喻人生之無常迅速。法句經卷上無常品(大四‧五五九上)云:「是日已過,命則隨減,如少水魚,斯有何樂?」〔出曜經卷三、敕修百丈清規卷二住持章〕
thiểu thất
Trên núi Tung Sơn, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma xây dựng ngôi Thiếu Lâm Tự—Shao-Shih, a hill on the Sung-Shan where Bodhidharma set up his monastery.
thiểu thủy ngư
(少水魚) Cũng gọi Tiểu thủy ngư. Cá ít nước. Nghĩa là con cá sống ở nơi chỉ còn chút ít nước, chưa biết chết lúc nào. Nhóm từ này được dùng để ví dụ sự vô thường nhanh chóng của kiếp người. Phẩm Vô thường trong kinh Pháp cú quyển thượng (Đại 4, 559 thượng) nói: Hôm nay qua rồi, mệnh sống giảm theo; như cá ít nước, làm sao vui được? [X.kinh Xuất diệu Q.3; chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2].
thiểu tài quỷ
1381為阿毘達磨順正理論所說三類餓鬼之一。彼等僅能獲得微量之食物,故稱少財鬼。又分成鍼毛、臭毛、癭等三種:(一)身毛剛硬如針,內鑽自體,外射他身,僅得少許不淨食者,稱為鍼毛鬼。(二)身毛臭穢,熏爛肌骨,蒸坌腸胃者,稱為臭毛鬼。(三)咽部生大癭(瘤),熱疼難堪,僅食膿血者,稱為癭鬼。〔阿毘達磨順正理論卷三十一〕(參閱「餓鬼」6366)
; Quỷ đói thường ăn cắp vì thiếu thức ăn—Hungry ghosts who pilfer (ăn cắp vặt) because they are poor and get but little food.
; (少財鬼) Quỉ ít của. Tên của 1 trong 3 loại quỉ đói nói trong luận A tì đạt ma thuận chính lí. Vì loại quỉ này chỉ có được chút ít thức ăn, cho nên gọi là Thiểu tài quỉ; lại được chia làm 3 loại là Châm mao, Xú mao và Anh.1. Châm mao quỉ: Quỉ lông kim. Nghĩa là loải quỉ này trên thân có lông cứng nhọn như kim, bên trong thì đâm vào mình, bên ngoài bắn vào người khác, chỉ kiếm được chút ít thức ăn dơ bẩn. 2. Xú mao quỉ: Quỉ lông hôi. Nghĩa là loài quỉ trên thân có mùi hôi thối, da xương, ruột già, dạ dày...như nung nấu, mùi hôi hám xông ra khắp mình. 3. Anh quỉ: Quỉ bướu cổ. Nghĩa là loài quỉ này ở cổ mọc cái bướurất lớn, đau đớn khó chịu nổi, chỉ ăn máu mủ từ cái bứu ấy chảy ra. [X.luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.31]. (xt. Ngã Quỉ).
thiểu tại thuộc vô
1379以數量之少而視之為「無」。又作少是屬無。即從多分上而論大體。如俱舍論卷二十二載,於烏豆堆中置少許綠豆,以少從多,故稱烏豆聚。
; (少在屬無) Cũng gọi Thiểu thị thuộc vô. Ít thuộc về không. Nghĩa là vì số lượng quá ít nên xem như không có. Tức đứng về phương diện phần nhiều mà bàn về đại thể. Như luận Câu xá quyển 22 nói: Đem một ít đậu xanh đổ vào trong đống đậu đen, vì íttùythuộc vào nhiều nên gọi là đống đậu đen.
thiểu tịnh thiên
1382少淨,梵名 Parīttaśubhadeva,音譯作波栗多首婆、波利多首、波栗羞訶。又作約淨天。色界十八天之一。指第三禪天之第一天。於此天之中,意識受淨妙之樂,故名淨;又於第三禪天中,此天所受淨妙之樂最少,故名少淨。在七識住中,攝於第四身一想一識住。其天眾由下品三禪相應之業而生此天,身量十六由旬,壽量十六大劫。〔長阿含卷二十忉利天品、俱舍論卷八、立世阿毘曇論卷六、卷七、順正理論卷二十一〕(參閱「十八生處」351)
; Parīttaśubha (P), Parittaśubhadeva (P)Một trong 3 tầng trời cõi Tam thiền. Sự lạc thọ trong ý thức của chư thiên cõi này là thanh tịnhMột trong 3 cõi trời Tam thiền.
; Parittasubhas (S). The first and smallest heaven in the third dhyàna region of form.
; Parttasubhas—Đệ nhất thiên thuộc đệ tam thiền ở cõi sắc giới—The first and smallest heaven (brahmaloka) in the third dhyana region of form.
; (少淨天) Thiểu tịnh, Phạm:Parìttazubhadeva. Hán âm: Ba lật đa thủ bà, Ba lợi đa thủ, Ba lật tu ha. Cũng gọi Ước tịnh thiên. Một trong 18 tầng trời thuộccõi Sắc, chỉ cho tầng trời thứ nhất của Đệ tam thiền thiên. Trong tầng trời này, ý thức cảm nhận niềm vui vi diệu thanh tịnh, vì thế gọi là Tịnh; còn trong Đệ tam thiền thiên thì tầng trời này cảm nhận niềm vui thanh tịnh ít nhất, cho nên gọi là Thiểu tịnh. Trong thất thức trụ thì Thiểu tịnh thiên thuộc về Đệ tứ thân nhất tưởng nhất thức trụ. Thiên chúng ở tầng trời này là do nghiệp tương ứng vớihạ phẩm của Đệ tam thiền mà được sinh về đây, thân cao 16 do tuần, tuổi thọ 16 đại kiếp. [X.phẩm Đao lợi thiên trong Trường a hàm Q.20; luận Câu xá Q.8; luận Lập thế a tì đàm Q.6, 7; luận Thuận chính lí Q.21]. (xt. Thập Bát Sinh Xứ).
Thiểu tịnh thiên 少淨天
[ja]ショウジョウテン shōjō ten ||| The heaven of lesser purity (Parītta-śubhāḥ), which is the first of the three heavens included in the third meditation heaven . Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời Thiểu tịnh (s: Parītta-śubhāḥ), Cõi đầu tiên trong 3 tầng trời thuộc Tam thiền thiên, được xếp vào một trong 17 cõi trời thuộc Sắc giới.
thiệm
Trợ cấp—To supply—Supplied.
thiệm ba
Sona (S)Một chi nhánh của sông Hằng vùng hạ lưu.
thiệm bộ
Xem Nam Thiệm Bộ Châu.
; Jambu (skt)—Một loại cây ăn trái ở Ấn Độ (hồng táo)—A fruit tree in India (a rose apple).
thiệm bộ châu
Xem Diêm phù đềXem Diêm phù châu.
; See Thiệm Bộ Đề.
thiệm bộ kim
Jambunada (skt)—Dòng sông Jambunadi sản sanh ra vàng—The produce of gold from the River Jambunadi.
thiệm bộ nại đà kim
6817梵語 jambūnadasuvarṇa。又作閻浮檀金。贍部,為樹名;捺陀,為江、河之義。謂流經贍部樹大森林之河中所出之金。〔玄應音義卷二十一〕(參閱「閻浮檀金」6337)
; Jambunada-suvarna (skt)—Diêm Phù Na Tha—Diêm Phù Tàn Kim—Vàng nơi sông Thiệm Bộ Nại Đà—The gold from the Jambunadi river.
; (贍部捺陀金) Phạm: Jambùnadasuvarịa. Cũng gọi Diêm phù đàn kim. Thiệm bộ là tên cây; Nại đà nghĩa là sông. Tức vàng được sản xuất từ con sông chảy ngang qua khu rừng cây Thiệm bộ.
thiệm bộ quang tượng
Tôn tượng rực rỡ, đặc biệt là tôn tượng của Phật Thích Ca được Ngài Cấp Cô Độc cho đúc—An image of gold glory, especially the image of Sakyamuni attributed to Anathapindaka.
thiệm bộ đề
See Nam Thiệm Bộ Châu in Vietnamese-English Section, and Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
thiệm bộ ảnh tượng
6817以贍部捺陀金所造之佛像。又作贍部光像。據有部尼陀那卷五載,釋尊未與眾相處時,眾無威肅,故給孤獨長者請願作像,得釋尊之允許,遂作贍部影像。〔南海寄歸內法傳卷四〕(參閱「贍部捺陀金」6817)
; (贍部影像) Cũng gọi Thiệm bộ quang tượng. Chỉ cho tượng Phật đúc bằng vàng Thiệm bộ nại đà. Cứ theo Hữu bộ ni đà na quyển 5, khi đức Thích tôn chưa ở cùng đại chúng thì đại chúng không có uy đức trang nghiêm, cho nên Trưởng giả Cấp cô độc xin được đúc tượng đức Thích tôn, Ngài cho phép. Trưởng giả bèn dùng vàng Thiệm bộ đúc tượng Như lai.
Thiện
善; C: shàn; J: zen; S: kuśala; P: kusala; |Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh, đạo đức tốt, tính tốt, điều thiện, đức tính tốt (s: kusala, kuśala, kalyāna; t: dge ba); 2. Tài giỏi, thông thạo, từng trải, khéo léo; 3. Làm cho hoàn thiện.|[Phật học] 1. Có thể chấp nhận, chính đáng, đúng, chính xác, hài lòng; 2. Việc lành, việc làm tốt lành và quả báo của nó (thiện nghiệp 善業; s: śubham karma, śubha); 3. Như một trạng từ, có nghĩa là hay, giỏi, khéo léo, hoàn thiện; 4. Theo giáo lí của tông Duy thức, »thiện« lập thành 1 trong 5 nhóm thuộc phạm trù »Tâm sở pháp«, gồm 11 »thiện« pháp trong nhóm ấy. Đó là: 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; a-pramāda).
thiện
4873梵語 Kuśala,巴利語 kusala。指其性安穩,能於現在世、未來世中,給與自他利益之白淨法。與不善、無記(非善亦非不善)合稱三性。其中,善為白法(清淨之意),不善為黑法(汙濁之意)。廣義言之,「善」指與善心相應之一切思想行為,凡契合佛教教理者均屬之;狹義則指法相宗心所法之一,包括信、慚、愧、無貪、無瞋、無癡、精進、輕安、不放逸、行捨、不害。 據經論之記載,善有多種,以下臚舉數說。<一>二善:(一)指有漏善與無漏善。前者為白法,後者為淨法。依俱舍論卷四、成唯識論述記卷十、大乘玄論卷二等載,有漏善為未斷煩惱之世間善,包括五戒、十善等,依此能招未來樂之果報。有漏善與法性無相之理相異,為取自他之差別相所修之有相善,故亦稱相善。無漏善則為斷除煩惱之出世間善,依此並不招感未來之果報。此無漏善亦為得涅槃菩提之善。(二)指止善、行善。據智顗法界次第初門卷上之意,止息惡行,稱為止善,屬消極之善;反之,積極修行勝德,稱為行善。前者如不殺生、不偷盜,後者如放生、布施等。(三)指定善、散善。據觀無量壽經疏卷本、善導之觀經疏玄義分等載,心志集中而止住妄念,依此定心所修之善根,稱為定善;反之,以散亂之平常心,廢惡所修之善根,稱為散善。善導以日觀等十三觀為定善,而以三福、九品之行為散善。 <二>三善:(一)指世福、戒福、行福等三福。又作世善(世俗善),戒善、行善。依善導觀經疏序分義載,世福指忠信孝悌之道,戒福指戒法,行福指大乘自行化他之行。(二)指初善、中善、後善。有各種解釋,大方廣寶篋經卷中列舉聲聞之三善,以身、口、意三善行為初善,戒、定、慧等三學行為中善,空、無相、無願等三三昧解脫法門為後善。另如法華經之序分、正宗分、流通分等三分(三段)亦為三善。 <三>四種善。據俱舍論卷十三載,四種善即:(一)勝義善,指涅槃。(二)自性善,謂本質之自體善,即指無貪、無瞋、無癡之三善根及慚、愧。(三)相應善,指與自性善相應之善心、心所。(四)等起善,指與自性善相應所引起而成為身、語二業之善,及四相、得、二無心定。與四種善相反者,則為四種不善,即勝義不善、自性不善,相應不善、等起不善。 <四>七種善。(一)據俱舍論光記卷二載,七種善即:(1)生得善,指先天之善。(2)聞善,指由聞法所得之善。(3)思善,指由思惟所得之善。(4)修善,指由禪定所得之善。以上之善均屬加行得善。(5)學善,指有學位所起之善。(6)無學善,指無學位所起之善。(7)勝義善,即指涅槃。此中,前四者乃見道(初生無漏智之位)前凡夫所起之善,即有漏善;後三者為見道以後之聖者所起之善,即無漏善。(二)法華文句(會本)卷七舉出頓教之七種善,即:(1)時善,又作時節善。指頓教之序分、正宗分、流通分之善。(2)義善,指頓教了義之理,具有意義深遠之善。(3)語善,指頓教之說法,具有言語巧妙之善。(4)獨一善,指頓教為純一無雜而不共二乘之教。(5)圓滿善,指頓教總含界內、界外之法,為完全圓滿之教。(6)調柔善,指頓教不極端而偏頗於一方之善。(7)無緣慈善,指頓教具有清淨、無緣之慈悲相。 <五>十一善。為大乘唯識宗所立十一種善之心所。即信、慚、愧、無貪、無瞋、無癡、勤、輕安、不放逸、行捨、不害。 <六>十三善。據大乘阿毘達磨雜集論卷三所舉,十三善即:(一)自性善,指前述信、慚、愧等十一善。(二)相屬善,指與自性善相應之其他心所法。(三)隨逐善,指善法之習氣。(四)發起善,指身語二業之善。(五)第一義善,指真如。(六)生得善,指由思惟加行而起之善。(七)方便善,指聞正法而生如理作意之善。(八)現前供養善,指供養如來之善。(九)饒益善,指以四攝法饒益有情之善。(十)引攝善,指以施戒等福業來引攝生天之異熟,或得涅槃之因之善。(十一)對治善,指厭壞對治、斷對治、持對治、遠分對治等各種對治。(十二)寂靜善,指斷盡一切煩惱,得涅槃寂靜之無漏善。(十三)等流善,指由寂靜之增上力,而發起神通等之功德法。 此外,凡夫所修得之善根,雜有貪、瞋、癡等煩惱之毒,故稱為雜毒善。又淨土宗對於他力念佛以外,凡自力之善根,均稱之為雜善。〔雜阿含經卷二十九、法華經卷一序品,大毘婆沙論卷五十一、卷一四四、成唯識論卷五、卷十、品類足論卷六、大智度論卷三十七、阿毘曇甘露味論卷上、雜阿毘曇心論卷三、俱舍論卷十五、順正理論卷三十六、梁譯攝大乘論釋卷十三、菩薩戒義疏卷上、大乘義章卷七〕
; Kuśala (P), Wholesome.
; Su, sàdhu, bhadra, kusala (S). Good, virtuous, well; good at; skilful.
; Kusala, Su, Sadhu, or Bhadra (skt). (I) Nghĩa của “Thiện”—The meanings of “Kusala” 1) Thiện là trái với ác: Những hành pháp hữu lậu và vô lậu thuận ích cho đời nầy và đời khác (trên thông với Bồ Tát và Phật, dưới thấu trời và người)—Kusala (skt)—Good—Proper—Right—Wholesome. 2) Đức Hạnh: Virtuous. 3) Giỏi về cái gì: Well—Good at. 4) Sắp lại cho có thứ tự: To put in order. 5) Sửa chữa: To repair. 6) Thiện xảo: Skillful. (II) Những lời Phật dạy về “Thiện” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Kusala” in the Dharmapada Sutra: 1) Như thứ hoa tươi đẹp chỉ phô trương màu sắc mà chẳng có hương thơm, những người chỉ biết nói điều lành mà không làm điều lành chẳng đem lại ích lợi—As a flower that is colorful and beautiful, but without scent, even so fruitless is the well-spoken words of one who does not practice it (Dharmapada 51). 2) Như thứ hoa tươi đẹp, vừa có màu sắc, lại có hương thơm, những người nói điều lành và làm được điều lành sẽ đưa lại kết quả tốt—As the flower that is colorful, beautiful, and full of scent, even so fruitful is the well-spoken words of one who practices it (Dharmapada 52). 3) Như từ đống hoa có thể làm nên nhiều tràng hoa, từ nơi thân người có thể tạo nên nhiều việc thiện—As from a heap of flowers many a garland is made, even so many good deeds should be done by one born to the mortal lot (Dharmapada 53).
; (善) Phạm: Kuzala. Pàli:Kusala. Chỉ cho pháp bạch tịnh(thanh tịnh), có tính an ổn, có năng lực mang lại lợi ích cho mình và người trong đời hiện tại và đời vị lai. Thiện, bất thiện và vô kí(chẳng phải thiện cũng chẳng phải bất thiện)gọi chung là Tam tính. Trong đó, Thiện là bạch pháp (nghĩa là pháp thanh tịnh), Bất thiện là hắc pháp(nghĩa là pháp nhơ nhớp). Nói theo nghĩa rộng thì Thiện chỉ cho tất cả tư tưởng hành vi tương ứng với tâm thiện, hễ hợp với giáo lí Phật giáo thì đều được gọi là Thiện; còn nói theo nghĩa hẹp thì Thiện chỉ cho 1 trong các pháp Tâm sở của tông Pháp tướng, bao gồm: Tín (tin), tàm(thẹn), quí(hổ), vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến(gắng sức tiến lên), khinh an(nhẹ nhàng an ổn), bất phóng dật(không buông thả, lêu lổng), hành xả(xả bỏ tiền của giúp đỡ người khác) và bất hại(không làm hại người và sinh vật). Cứ theo các kinh luận thì Thiện có nhiều loại, sau đây sẽ nêu mấy thuyết: I. Nhị Thiện. 1.Chỉ cho hữu lậu thiện và vô lậu thiện. Hữu lậu thiện là bạch pháp, vô lậu thiện là tịnh pháp. Theo luận Câu xá quyển 4, Thành duy thức luận thuật kí quyển 10 và Đại thừa huyền luận quyển 2 thì hữu lậu thiện là thiện thế gian chưa đoạn trừ phiền não, bao gồm 5 giới cấm, 10 điều thiện... y theo các pháp thiện này mà tu thì có thể được quả báo vui ở vị lai. Hữu lậu thiện khác với lí pháp tính vô tướng. Hữu lậu thiện là Thiện tu theo tâm chấp tướng sai biệt giữa mình và người, cho nên cũng gọi là Tướng thiện. Vô lậu thiện thì là thiện xuất thế gian đoạn trừ phiền não, tu theo pháp thiện này thì không mang lại quả báo ở vị lai. Vô lậu thiện nàycũng làthiện đạt được Bồ đềniết bàn. 2. Chỉ cho Chỉ thiện và Hành thiện: Theo pháp giới thứ đệ sơ môn của ngài Trí khải thì chấm dứt hành vi xấu xa, tội ác gọi là Chỉ thiện, thuộc về thiện tiêu cực; trái lại, tích cực tu hành các thắng đức gọi là Hành thiện. Chỉ thiện như không giết hại, không trộm cướp, còn Hành thiện thìnhư phóng sinh, bố thí... 3. Chỉ cho Định thiện và Tán thiện: Theo Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển đầu và Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo...thì tập trung tâmchí để ngăn dứt vọng niệm, thiện căn nhờ tâm định này mà tu được gọi là Định thiện; trái lại, thiện căn do tâm bình thường tán loạn bỏ ác mà tu được thì gọi là Tán thiện. Ngài Thiện đạo cho 13 pháp quán là Định thiện, cho 3 phúc, 9 phẩm là Tán thiện. II. Tam Thiện. 1. Chỉ cho tam phúc: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. Cũng gọi Thế thiện (Thế tục thiện), Giới thiện và Hành thiện. Theo Quán kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo thì Thế phúc là chỉ cho đạo trung tín hiếu đễ, Giới phúc là chỉ cho giới pháp, còn Hành phúc là chỉ cho hạnh tự hành hóa tha của Đại thừa. 2. Chỉ cho Sơ thiện, Trung thiện và Hậu thiện. Có nhiều cách giải thích. Kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển trung nêu 3 loại thiện của Thanh văn, cho rằng Tam thiện hạnh thuộc thân, khẩu, ý là Sơ thiện, Tam học hạnh giới, định, tuệ là Trung thiện và Tam tam muội giải thoát pháp môn Không,Vô tướng,Vô nguyện là Hậu thiện. Lại như 3 phần(3 đoạn) là phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông của kinh Pháp hoa cũng là Tam thiện. III. Tứ Chủng Thiện. Theo luận Câu xá quyển 13 thì Tứ chủng thiện là: 1. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. 2. Tự tính thiện: Tự thể của bản chất thiện, tức chỉ cho Tam thiện căn vô tham, vô sân, vô si và tàm quí. 3. Tương ứng thiện: Chỉ tâm, tâm sở thiện tương ứng với tự tính thiện. 4. Đẳng khởi thiện: Chỉ cho thiện tương ứng với tự tính thiện mà dẫn khởi thiện của thân nghiệp, ngữ nghiệp và 4 tướng, đắc và 2 định vô tâm. Trái với Tứ chủng thiện là Tứ chủng bất thiện, tức Thắng nghĩa bất thiện, Tự tính bất thiện, Tương ứng bất thiện và Đẳng khởi bất thiện. IV. Thất Chủng Thiện. A. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 2 thì Thất chủng thiện là: 1. Sinh đắc thiện: Chỉ cho cái thiện tiên thiên. 2. Văn thiện: Chỉ cho thiện do nghe pháp mà được. 3. Tư thiện: Chỉ cho thiện do suy tư mà được. 4. Tu thiện: Chỉ cho thiện nhờ tu hành mà được. 5. Học thiện: Chỉ cho thiện sinh khởi ở bậc Hữu học. 6. Vô học thiện: Chỉ cho thiện khởilên ở bậc Vô học. 7. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. Trong 7 loại thiện trên đây, 4 loại đầu là các loại thiện sinh khởi ở địa vị phàm phu trước Kiến đạo(địa vị mới sinh trí vô lậu), tức Hữu lậu thiện; 3 loại sau cùng là các loại thiện sinh khởi ở địa vị Thánh nhân từ Kiến đạo trở lên, tức Vô lậu thiện. B. Pháp hoa văn cú quyển 7 (hội bản) nêu 7 thứ thiện của Đốn giáo: 1. Thời thiện(cũng gọi Thời tiết thiện): Chỉ cho thiện của Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần thuộc Đốn giáo. 2. Nghĩa thiện: Chỉ cho lí liễu nghĩa của Đốn giáo, là cái thiện có đầy đủ ý nghĩa sâu xa. 3. Ngữ thiện: Chỉ cho sự thuyết pháp thuộc Đốn giáo, là cái thiện có đủ ngôn ngữ xảo diệu. 4. Độc nhất thiện: Chỉ cho Đốn giáo là giáo thuần nhất không pha trộn, là không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Chỉ cho Đốn giáo là pháp bao hàm cả giới nội, giới ngoại, là giáo viên mãn hoàn toàn. 6. Điều nhu thiện: Chỉ cho Đốn giáo không cực đoan, là cái thiện không thiên lệch về một phía. 7. Vô duyêntừthiện: Chỉ cho Đốn giáo có đầy đủ tướng từ bi, thanh tịnh, vô duyên. V. Thập Nhất Thiện. Tông Duy thức Đại thừa lập ra 11 thứ tâm sở thiện, đó là: Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại. VII. Thập Tam Thiện. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 thì Thập tam thiện là: 1. Tự tính thiện: Chỉ cho 11 thứ thiện như: Tín, tàm, quí...nói trên. 2. Tương thuộc thiện: Chỉ cho các pháp tâm sở khác tương ứng với tự tính thiện. 3. Tùy trục thiện: Chỉ cho tập khí của thiện pháp. 4. Phát khởi thiện: Chỉ cho cái thiện của thân nghiệp và ngữ nghiệp. 5. Đệ nhất nghĩa thiện: Chỉ cho chân như. 6. Sinh đắc thiện: Chỉ cho thứ thiện do tư duy gia hành mà sinh khởi. 7. Phương tiện thiện: Chỉ cho thứ thiện do nghe pháp mà sinh ra tác ý như lí. 8. Hiện tiền cúng dường thiện: Chỉ cho thứ thiện cúng dường Như lai. 9. Nhiêu ích thiện: Chỉ cho loại thiện dùng pháp Tứ nhiếp làm lợi ích cho hữu tình.10. Dẫn nhiếp thiện: Chỉ cho loại thiện dị thục dùng phúc nghiệp bố thí, trì giới... để nhiếp dẫn chúng sinh sinh lên cõi trời, hoặc dùng làm nhân để được Niết bàn. 11. Đối trị thiện: Chỉ cho các loại đối trị như yếm hoại đối trị, Đoạn đối trị, trì đối trị, viễn phần đối trị... 12. Tịnh tĩnh thiện: Chỉ cho vô lậu thiện đoạn hết tất cả phiền não, được Niết bàn vắng lặng. 13. Đẳng lưu thiện: Nhờ năng lực tăng thượng tịch tĩnh mà phát khởi các pháp công đức như thần thông... Ngoài ra, thiện căn mà hàng phàm phu tu được có lẫn lộn cái độc chất của phiền não tham, sân, si... cho nên gọi là Tạp độc thiện. Còn tông Tịnh độ thì ngoài loại thiện niệm Phật tha lực ra, tất cả thiện căn tự lực khác đều gọi là Tạp độc thiện. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.51, 44; luận Thành duy thức Q.5, 10; luận Phẩm loại túc Q.6; luận Đại trí độ Q.37; luận A tì đàm cam lộ vị Q.thượng; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.36; luận Nhiếp đại thừa Q.13 (bản dịch đời Lương); Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.7].
thiện an trụ tháp
Xem Thiện Kiến Lập Chi đề.
thiện biến nhất xứ bồ tát
Xem Kim Cang Nghiệp Bồ tát.
thiện bình
Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.
thiện bản
Good stock, or roots, planting good seed or roots; good in the root of enlightenment.
thiện bản đức bản
4877善本與德本之並稱。一般指功德善根之本。此二者之意義,有同與不同二說。又「本」字解為「原因」之義時,得勝果之善根、功德,稱為善本、德本;解為「根本」之義時,以一切善法、功德之根本,稱為善本、德本。長阿含經卷九、法華經卷八等,皆以善根功德之積集為善本、德本;法華經卷一及阿閦佛國經卷下,則以實相真如或稱念佛名為善本、德本,意為眾善萬德之根本,即分別表示此二義 蓋天台宗係以般若(能證之智)照明、實相真如(所證之理)為善本、德本。而在日本淨土真宗,則以阿彌陀佛之名號為一切善法之本,故稱善本;又至德成滿、眾禍皆轉,故亦稱德本。即關於阿彌陀佛之名號,雖有聖道門、淨土門等自力、他力之差別,然於諸善萬德之根本則並無二致。日本淨土真宗即根據無量壽經所說之「善本德本」,而以之為阿彌陀佛四十八願中,第二十係念定生願之真門修行者所修之名號,專賴此一善本德本之功能,以達其往生之願。〔法華文句(會本)卷十二、卷三十、顯淨土方便化身土文類〕
; (善本德本) Từ ngữ gọi chung thiện bản và đức bản, Thông thường chỉ cho cái gốc của thiện căn,công đức. Ý nghĩa của 2 từ này có 2 thuyết đồng và bất đồng. Khi chữ Bản được hiểu là nghĩa, nguyên nhân, nhờ đó màcó đượccác thiện căn, công đức của thắng quả, nêngọi là Thiện bản, Đức bản; còn khi chữ Bảnđược hiểu là nghĩa căn bản thì vì nó là cộirễ của tất cả thiện pháp, công đức nên gọi làThiện bản, Đức bản. Kinh Trường a hàm quyển 9 và kinh Pháp hoa quyển 8 đều cho rằng sự chứa góp các công đức, thiện căn là thiện bản, đức bản, ý nói là căn bản của các điều thiện và muôn đức, tức chỉ rõ sự phân biệt 2 nghĩa thiện bản, đức bản. Tông Thiên thai thì lấy Bát nhã(trí năng chứng) chiếu sáng và Chân như thực tướng (lí sở chứng) làm thiện bản, đức bản. Còn Tịnh độchân tông ở Nhật bản thì cho rằng danh hiệu của Phật A di đà là gốc của tất cả thiện pháp, cho nên gọi là Thiện bản; lại vì đức tột bực được thành tựu viên mãn, mọi tai họa đều được chuyển hóa, cho nên cũng gọi là Đức bản. Tức về danh hiệu của Phật A di đà thì tuy có Tự lực Thánh đạo môn và Tha lực Tịnh độ môn khác nhau, nhưng về cội rễ của các thiện muôn đức thì hoàn toàn giống nhau. Tịnh độ chân tôngcủa Nhật bảncăn cứ vào Thiện bản đức bản nói trong kinh Vô lượng thọ, cho rằng đó là tên của điều nguyện Hệ niệm định sinh(nguyện thứ 20 trong 48 điều nguyện của đức Phật A di đà), mà hành giả Chân môn tu theo, chỉ nhờ vào năng lực của Thiện bản đức này để đạt được nguyện vãng sinh.[X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.12, 30; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại].
thiện bẩm
Thiện tánh bẩm sinh—Endowment—Innate prospensity.
thiện bổn
1) Thiện căn: Good stock, or roots. 2) Gieo trồng thiện căn: Planting good seed or roots. 3) Thiện căn giác ngộ: Good in the root of enlightenment.
thiện chi
Xem Đại Mãn.
thiện chiêu
4886(947~1024)宋代臨濟宗僧。太原(山西)人,俗姓俞。少有大智,於一切文字常能自然通曉。十四歲時父母相繼去世,遂剃髮受具足戒,遊歷諸方,參訪七十一位碩德尊宿,至汝州首山參省念禪師而大悟,嗣其法。後遊衡湘、襄沔之間,郡首力邀,請住諸名剎,師皆不允。及首山省念入寂,方應西河道俗之請,住汾陽太子院,廣說宗要,以三句四句、三訣、十八唱等機用接化學人,名震一時。師足不出戶達三十年之久,道俗益重,不敢直呼其名,而以「汾陽」稱之。宋仁宗天聖二年示寂,世壽七十八。諡號「無德禪師」。有汾陽無德禪師語錄、汾陽昭禪師語錄、汾陽昭禪師語要等傳世。〔景德傳燈錄卷十三、天聖廣燈錄卷十六、建中靖國續燈錄卷一、禪林僧寶傳卷三、聯燈會要卷十一、五燈會元卷十一、佛祖歷代通載卷十八〕
; (善昭) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, họ Du. Sư thông minh từ thuở nhỏ, đối với tất cả văn tự thường thông hiểu một cách tự nhiên. Lúc sư 14 tuổi, cha mẹ kế tiếp nhau qua đời, sư liền phát tâm xuất gia, thụ giới Cụ túc, tham học 71 vị thạc đức tôn túc ở khắp các nơi. Khi sư đến tham kiến Thiền sư Tỉnh niệm ở núi Thủ sơn tại Nhữ châu thì đại ngộ và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư tiếp tục du phương đến Hành tương, Tương miện, quan Quận thú hết sức thỉnh sư về trụ các chùa danh tiếng nhưng sư đều từ chối. Đến khi ngài Thủ sơn Tỉnh niệm thị tịch, sư mới thể theo lời thỉnh của tăng tục Tây hà về trụ ở viện Thái tử tại Phần dương, giảng rộng tông yếu, sử dụng các cơ pháp như Tam cú, tứ cú, Tam quyết, Thập bát xướng... để tiếp dẫn người học, nổi danh một thời. Suốt 30 năm sư không ra khỏi cửa, tăng tục rất tôn kính sư, không dám gọi thẳng tên mà dùng từ Phần dương để gọi thay.Năm Thiên thánh thứ 2 (1024) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư thị tịch, thọ 78 tuổi, thụy hiệu Vô Đức Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Phần dương Vô đức thiền sư ngữ lục, Phần dương Chiêu thiền sư ngữ lục, Phần dương Chiêu thiền sư ngữ yếu.[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiên thánh quảng đăng lục Q.16; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.3; Liên đăng hội yếu Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.11; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18].
thiện chung
Natural death—Death of old age.
Thiện Châu
善珠; C: shànzhū; J: zenjū, 727-797. |Tăng sĩ tông Pháp tướng Nhật bản, đệ tử của Huyền Phảng (玄昉; j: genbō), là học giả Du-già hành tông cũng như Nhân minh học (因明). Sau khi sư sáng lập chùa Akishino, sư trứ tác nhiều tác phẩm về cả Pháp tướng lẫn Nhân minh. Sư phần nào tin rằng mình là tái sinh của Khuy Cơ.
thiện châu phần dương thiền sư
Shan-Chou-Fen-Yang—See Phần Dương Thiện Châu.
Thiện Châu 善珠
[ja] ゼンジュ Zenjū|||Zenjū (727-797). A Japanese Hossō monk, disciple of Genbō 玄昉, who was a scholar of Yogācāra as well as . Afterwards he founded Akishino Temple. He wrote many works on both Hossō and hetu-vidyā. He was believed by some to have been a reincarnation of Kuiji. => j: Zenjū (727-797). Tăng sĩ tông Pháp tướng Nhật bản, đệ tử của Huyền Phảng (玄昉; j: Genbō), là học giả Du-già hành tông cũng như Nhân minh học (hetu-vidyā 因明). Sau khi sư sáng lập chùa Akishino, sư trứ tác nhiều tác phẩm về cả Pháp tướng lẫn Nhân minh. Sư phần nào tin rằng mình là tái sinh của Khuy Cơ.
thiện chí
Xem Cãp Cô Độc.
; Avyapada-samkappa (p)—Good will.
thiện chính
Good policy.
thiện cát
Xem Tu bồ đề.
Thiện căn
善根; C: shàngēn; J: zengon; |Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lí của A-tì-đạt-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (s: kuśala-mūla; p: kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Tam thiện căn (三善根).
thiện căn
4887梵語 kuśala-mūla,巴利語 kusala-mūla。又作善本、德本。即產生諸善法之根本。據中阿含卷七大拘絺羅經載,比丘知善、知善根,是謂成就見、得正見,於法得不壞淨,入於正法中。無貪、無瞋、無癡三者為善根之體,合稱為三善根。不善根(梵 akuśala-mūla)則為善根之相反,貪、瞋、癡等,即稱三不善根,或稱三毒。又善法為得善果之根本,故亦可稱為善根。〔大品般若經卷一序品、無量壽經卷上、佛本行經卷五降象品、悲華經卷八、舊華嚴經卷四盧舍那佛品、大寶積經卷七十八具善根品、入阿毘達磨論卷上、梁譯攝大乘論釋卷七〕(參閱「三善根」622)
; Kuśala-mŪla (S), Good roots.
; Kusala-mùla (S). Good roots, good qualities, good seed sown by a good life to be reaped later.
; Là chủng tử Phật tánh.
; Kusala-mula (skt)—Cái thiện của ba nghiệp thân, khẩu, ý có thể sinh ra diệu quả về sau nầy—Good roots—Good qualities (of body, speech and mind), good seed sown by a good life to be reaped later.
; (善根) Phạm: Kuzala-mùla. Pàli:Kusala-mùla. Cũng gọi Thiện bản, Đức bản. Tức là cội rễ sinh ra các pháp lành. Cứ theo kinh Đại câu hi la trong Trung a hàm quyển 7 thì tỉ khưu biết thiện, biết thiện căn, đó gọi là thành tựu kiến, đối với phápđược bất hoại tịnh, được chính kiến, vào trong chính pháp. Ba tính vô tham, vô sân, vô si là thể của thiện căn, gọi chung là Tam thiện căn. Còn Bất thiện căn (Phạm: Akuzala-mùla) thì là tương phản với Thiện căn;tham, sân, si gọi là Tam bất thiện căn, hoặc gọi là Tam độc. Lại vì pháp lành là cội gốc để được quả lành, cho nên cũng có thể được gọi là Thiện căn. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hàng tượng trong kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Bi hoa Q.8; phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); phẩm Cụ thiện căn trong kinh Đại bảo tích Q.78; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7]. (xt. Tam Thiện Căn).
thiện căn ma
4888為十魔之一。即貪著自己所修之善法而不再精進之意。此魔能障礙正道,使修行者喪失智慧眼,故舊華嚴經卷四十二離世間品謂(大九‧六六三上):「失善根魔,心不悔故。」(參閱「十魔」504)
; (善根魔) Tham đắm pháp lành mà mình đang tu hành, cứ muốn ở lại đó chứ không chịu tiến lên nữa, là 1 tong 10 loại ma. Loại ma này có năng lực làmchướng ngại chính đạo, làm cho người tu hành không còn conmắt trí tuệ, cho nên phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 42 (Đại 9, 663 thượng) nói: Mất ma thiện căn, tâm không hối tiếc. (xt. Thập Ma).
Thiện căn 善根
[ja] ゼンコン zengon ||| 'Good roots,' 'virtuous roots.' Good causal actions that bring good rewards. Good actions, with the roots of a tree used as a metaphor for goodness. In Abhidharma-kośa theory, the basis for the entrance into the "Path of Seeing" 見道 by the practitioner, where she/he arises undefiled wisdom (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). There are generally considered to be three of these: absence of covetousness 貪, absence of antipathy 瞋, and absence of ignorance 癡. See => Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lý của A-tỳ-đat-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Xem Tam thiện căn三善根..
thiện cương
4894日本佛教用語。即可引導至善處之繩索。如舉行開帳、常念佛、萬日供養等法會時,自佛像手上牽引五色絲,一端引至堂外(有時與堂前之角塔婆相連),令觸者結宿緣,稱為善綱。意謂能得善根之繩索,或謂善人才得親近之繩索。據傳,五色絲係源自印度以來之風習,即自阿彌陀佛像之手上垂繫五彩幡,令臨終者執之;表示接引願往生淨土者到達西方淨土之意。此外,在葬禮中,繫於棺木上之繩索,亦稱善綱,多用紅白色。
thiện cảm
Sympathy.
thiện cảm sâu xa
Profound sympathy.
thiện cử
Charitable work.
thiện dung
Xem Bạc câu la.
Thiện duyên
(善緣): duyên lành, duyên tốt. (1) Có duyên với Phật pháp. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có câu: “Túc tạo chư thiện duyên, bách kiếp nhi bất hủ (宿造諸善緣、百劫而不朽, xưa tạo các duyên lành, trăm kiếp vẫn bất hủ).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, phần Kết Chế (結制), lại có câu: “Nghiệp sơn phiên vi phước hải, ma chướng chuyển tác thiện duyên (業山翻爲福海、魔障轉作善緣, núi nghiệp biến thành biển phước, ma chướng chuyển làm duyên lành).” (2) Chỉ chung cho những nhân duyên tốt. Như trong tác phẩm Âu Bắc Thi Thoại (甌北詩話), phần Tra Sơ Bạch Thi (查初白詩), của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh, có câu: “Yếm phùng tục khách đàm thi sự, nhàn dữ hương nhân kết thiện duyên (厭逢俗客談時事、閒與鄉人結善緣, chán gặp khách tục bàn thơ chuyện, nhàn với dân làng kết duyên lành).”
Thiện dạ kinh
善夜經; C: shànyè jīng; J: zenya kyō; S: bhadrakalātrī; T: mtshan mo bzang po.|Nghĩa Tịnh dịch, 1 quyển.
thiện dạ kinh
4881全一卷。唐代義淨譯。收於大正藏第二十一冊。此經係因三十三天中之栴檀天子為利益眾生,遂教比丘至佛處請說,使聞者咸斷煩惱,速證菩提。「善夜」之名,謂此經之功德能令惡夢、險難等不祥遠離。
; (善夜經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này thuật lại việc Thiên tửChiên đàn ở cõi trời Tam thập tam, vì muốn làm lợi ích chúng sinh nên phái tỉ khưu đến chỗ Phật xin Ngài nói pháp, khiến người nghe đều đoạn trừ phiền não, mau chứngbồ đề. Do đó, đức Phật mới nói kinh này. Danh từ Thiện dạ(đêm tốt lành) nghĩa là công đứccủakinh này có năng lực làm cho những điều bất tường như ác mộng, hiểm nạn đều xa lìa.
Thiện dạ kinh 善夜經
[ja] ゼンヤキョウ Zenya kyō ||| The Shanye jing; Skt. Bhadrakalātrī; Tib. mtshan mo bzang po [To.313, 617, 974]; (Sutra of Fine Night). 1 fasc. (T 1362.21.881-882), trans. => Kinh Thiện dạ (S: Bhadrakalātrī; Tib. mtshan mo bzang po). Nghĩa Tịnh 義淨. dịch, 1 quyển.
thiện giác
See Suprabuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
thiện giác vương
4898善覺,梵名 Suprabuddha,巴利名 Suppabuddha,音譯作酥鉢囉沒馱、須波佛、須波弗。又作善悟王。諸經關於善覺王之記載各異,據眾許摩訶帝經卷二等所載,善覺王為印度迦毘羅衛國附近之天臂城主,其妃龍弭禰(梵 Lumbinī)生有二女,長女摩耶(梵 Māyā)、次女摩訶摩耶(梵 Mahāmāyā),其後二女共適迦毘羅衛城淨飯王,摩耶夫人生悉達多太子。 另據大史(巴 Mahā-vaṃsa, ii)等南傳資料所載,善覺王為拘利族(巴 Koḷiya)天臂城王安闍難(巴 Añjana)之子,摩耶與波闍波提(巴 Pajāpati)二女之兄,執杖(巴 Daṇḍapāṇi)王子之弟,娶師子頰王之女甘露(巴 Amita)為妃,其後甘露生耶輸陀羅(巴 Bhaddakaccānā)與提婆達多(巴 Devadatta),耶輸陀羅即悉達多太子之妃。〔佛本行集經卷五、修行本起經卷上試藝品、眾許摩訶帝經卷三、卷六、釋迦譜卷二〕
; Supra-Buddha (S), Suppabuddha (S)Một vị vương họ Thích thành Ca tỳ la vệ, phụ thân công chúa Da du đà la.
; King Suppabuddha, father of the princess Yasodhara.
thiện giả thiện báo
A good turn deserves another.
thiện giới
Good realms.
thiện hiền
Śubhadrā (S), Subhadda (P)Tu bạt đà la, Tu bạt đà, Tô bạt đà la, Thiện HiềnVị đệ tử cuối cùng của đức Phật, người ngoại đạo, đã 120 tuổi, được qui y tam bảo ngày Phật nhập diệt. Ngay sau đó đắc A la hán, do không nỡ nhìn Phật nhập Niết bàn, được đức Phật đồng ý, ông dùng Tam muội chân hỏa nhập Niết bàn trước Phật.
; Subhadra (S). The last disciple of the Buddha. Also Tu bạt đà la.
thiện hiện
Xem Tu Bồ Đề.
; Well-appearing, name of Subhùti.
; Sudrsa (skt). 1) Vẻ đẹp đẽ mạnh khỏe hiện ra bên ngoài: Beautiful appearing—Well being—Welfare—Well Manifest—Good manifestation—Healthy in appearance. 2) Tên của Ngài Tu Bồ Đề: Name of Subhuti (Tu Bồ Đề). 3) Ái Thân Thiên: Vị Trời ở cõi dục giới có thân hình tuyệt diệu—The heaven of lovely form in the desire-realm, but said to be above the devalokas. 4) Sudrsa (skt)—Cõi trời thứ bảy trong Phạm giới Thiên—The seventh Brahmaloka, eighth of the Dhyana heavens.
thiện hiện dược vương
4890產於喜馬拉雅山之藥名,能治一切病。舊華嚴經卷三十七離世間品載,雪山善現藥王,以眼見之者,眼得清淨;以耳聞之者,耳得清淨;以鼻聞香者,鼻得清淨;以舌嘗味者,舌得清淨;以身觸之者,身得清淨;若取其地之土,則能除治百病,安穩快樂。〔往生要集卷上末〕
; (善現藥王) Tên loại cây thuốc mọc ở Hi mã lạp sơn (núi Tuyết) có khả năng chữa trị tất cả các bệnh. Theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 37 (bản dịch cũ) thì cây thuốc Thiện hiện dược vương trên núi Tuyết, hễ người nào mắt trông thấy cây thuốc này thì mắt được thanh tịnh; tai nghe tên cây thuốc này thì tai được thanh tịnh; mũi ngửi mùi thơm cây thuốc này thì mũi được thanh tịnh; lưỡi nếm vị thuốc này thì lưỡi được thanh tịnh; thân chạm vào cây thuốc này thì thân được thanh tịnh; nếu lấy đất ở chỗ cây thuốc này mọc về chữa bệnh, thì bệnh gì cũng khỏi, được khỏe khoắn, khoái lạc.[X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng, phần cuối].
Thiện hiện hạnh
善現行; C: shànxiàn xíng; J: zengen gyō; |Theo kinh Hoa Nghiêm, là giai vị thứ 6 trong Thập hạnh của hàng Bồ Tát.
Thiện hiện hạnh 善現行
[ja] ゼンゲンギョウ zengen gyō ||| 'skillful appearance.' The sixth of the ten practices 十行 stages of bodhisattvahood, according to the Avataṃsaka-sūtra. => Theo kinh Hoa Nghiêm, là giai vị thứ sáu trong Thập hạnh của hàng Bồ-tát.
thiện hiện sắc
Sudrsa (skt)—See Thiện Hiện Thiên.
Thiện hiện thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
; 善現天; C: shànxiàn tiān; J: zengen ten; |Cõi trời Thiện hiện (s: sudṛśāḥ), cõi trời thứ 6 trong 8 cõi trời trong Tứ thiền thiên (四禪天) của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.
thiện hiện thiên
4890善現,梵名 Sudṛśa,巴利名 Sudassa,音譯作修提舍、須武。又作善觀天、善好見天、妙見天、快見天、無比天、假使天。為色界十八天之一,五淨居天之第三。即色界第四禪中第三位之天。此天天眾已得上品之雜修靜慮,果德易彰,故稱善現。立世阿毘曇論卷七(大三二‧二○四中):「由最上品四禪相應業,恭敬勤修,無背常修行,雜覺分之所熏修,因此業故,生善現天。」據雜阿毘曇心論卷二、彰所知論卷上載,其天眾壽量為四千劫,身量為四千由旬。另有三千劫、二千大劫等說。〔長阿含經卷二十忉利天品、大樓炭經卷一、起世因本經卷一、卷七、立世阿毘曇論卷六、順正理論卷二十一、集異門足論卷十四、大毘婆沙論卷一三六〕(參閱「五淨居天」1150、「色界」2545)
; Sudassadeva (P), Sudarśana (S), Sudassi (P), Sudassana (P), Sudassa (P), Sudṛsa (S)Thiện kiến thiên1- Tên một trong 9 tầng trời Tứ thiền thiên. Cõi này không có chướng ngại. 2- Thiện kiến sơn: Tên một trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 6.000 do tuần. (3) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi IsigiliThiện kiến thiênChư thiên ở cõi Thiện Hiện thiên.
; Sudrsa (S). The seventh Brahmaloka; the eighth region of the fourth dhyàna.
; Sudrsa (skt)—Cõi Trời thứ ba trong Ngũ Tịnh Cư Thiên—Heaven of Beautiful Presentation, the third heaven in the five pure-dwelling heavens. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên.
; (善現天) Thiện hiện, Phạm:Sudfza. Pàli:Sudassa. Hán âm: Tu đề xá, Tu vũ. Cũng gọi Thiện quan thiên, Thiện hảo kiến thiên, Diệu kiến thiên, Khoái kiến thiên, Vô tỉ thiên, Giả sử thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, tầng trời thứ 3 trong 5 tầng trời Tịnh cư, tức là tầng trời thứ 3 trong Đệ tứ thiền cõi Sắc. Thiên chúngở cõi trời này đã được Tạp tu tĩnh lự thượng phẩm, quả đức dễ hiện bày, cho nên gọi là Thiện hiện. Luận Lập thế a tì đàm quyển 7 (Đại 32, 204 trung)nói: Do nghiệp tương ứng với Tứ thiền thượng phẩm, cung kính siêng tu, không trái với hạnh thường tu, huân tu bởi tạp giác phần, nhờ nghiệp này mà được sinh về Thiện hiện thiên. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng thì tuổi thọ của thiên chúng cõi trời này là 4 nghìn kiếp, thân cao 4 nghìn do tuần. Còn có các thuyết 3 nghìn kiếp, 2 nghìn đại kiếp... [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.1, 7; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; luận Tập dị môn túc Q.14; luận Đại tì bà sa Q.136]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).
Thiện hiện thiên 善現天
[ja]ゼンゲンテン zengen ten ||| The heaven of skillful manifestation (sudṛśāḥ), which is the sixth of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời Thiện hiện (sudṛśāḥ), cõi trời thứ sáu trong tám cõi trời trong Tứ thiền thiên 四禪天.của Sắc giới. Cũng được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới色界十七天.
thiện hiện tỉ khâu
4890梵名 Su-darśana。為善財童子所參五十五善知識之一。又作善見比丘。住於救度國。〔華嚴經探玄記卷十九〕
; (善現比丘) Phạm: Su-derzana. Cũng gọi Thiện kiến tỉ khưu. Vị tỉ khưu trụ ở nước Cứu độ, là 1 trong 55 thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham học. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.19].
thiện hoan hỷ
Xem Bạt nan đà.
thiện hoá tự
4875位於山西大同南隅。俗稱南寺。創建於唐開元年間(713~741),原稱開元寺,五代晉初改稱大普恩寺。後遇遼保大之亂,寺中建築大半毀於兵火。至金大定年間(1161~1189),圓滿和尚重修,共修復三大殿、東西兩殿、羅漢堂、文殊閣、普賢殿、前殿、山門等八十餘間。明正統十年(1445),大用和尚奏請藏經,又加整修,改名善化寺。本寺正殿大雄寶殿為遼代遺物,由殿內中央五間佛壇上之五方佛及二十四諸天塑像手法觀之,可推定亦為遼、金時代遺物。山門為金代天會、皇統年間(1123~1148)所建,山門左右各塑二天王像,門內東北側有金大定十六年重修大普恩寺之碑記。
thiện huệ
4895(1881~1945)臺灣基隆人,俗姓江。字常覺,別號露堂。幼值甲午戰亂之際,因感世事無常,十六歲即隨母皈依龍華教。光緒三十年(1904),內渡大陸,依景峰和尚出家,受具足戒,並繼承曹洞宗法脈。半年後,返回臺灣。次年,與善智著手創建靈泉寺於基隆月眉山。嗣後,任該寺住持,致力於創辦佛教中學林(泰北中學之前身),並招選青年僧伽赴日留學。其後,曾赴日本、印度、南洋等地傳戒弘法。抗日期間,一度任上海佛教會會長。民國三十四年十二月示寂,世壽六十五,僧臘四十二。有心經直解一書傳世。
thiện huệ bồ tát
Sujāna (J).
Thiện huệ địa
xem Mười địa vị.
; 善慧地; C: shànhuìdì; J: zeneji; S: sādhu-matī; T: legs paḥi blo gros.|Giai vị thứ 9 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Trong giai vị nầy, trí tuệ của Bồ Tát trở nên viên mãn khi chứng đạt được Tứ vô ngại giải (四無礙解), do vậy nên có khả năng giảng pháp khắp mọi nơi, bằng mọi ngôn ngữ mà không ngăn ngại.
thiện huệ địa
4895請參閱 傅大士錄 請參閱 傅大士錄梵語 sādhumatī-bhūmi。為菩薩十地中之第九地。此地已得法無礙解、義無礙解、詞無礙解、樂說無礙解等四無礙解,能遍十方,以一音演說一切善法,使聞者生歡喜心;又於力波羅蜜行中,斷除利他門中之不欲行障,證得智自在所依真如。〔新譯仁王經卷下、成唯識論卷九〕(參閱「十地」419)
; Sadhumati-bhŪmi (S), Good-Thought stage Địa thứ 9 trong 10 Bồ tát địa.
; Sadhumati (skt)—See Thập Địa Phật Thừa (9).
; (善慧地) Phạm: Sàdhummatì-bhùmi. Địa thứ 9 trong 10 địa vị Bồ tát. Địa này đã được 4Vô ngại giải: Pháp vô ngại giải, Nghĩa vô ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải,có năng lực ở khắp 10 phương dùng 1 âm thanh diễn nói tất cả thiện pháp, khiến người nghe đều sinh tâm vui mừng. Lại ở trong hạnh Lực ba la mật, dứt trừ chướng ngại không muốn thực hành việc mang lại lợi ích cho người khác, đồng thời chứng được Chân như là chỗ nương của trí tự tại. [X. kinh Nhân vương Q.hạ (bản dịch mới); luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Địa).
Thiện huệ địa 善慧地
[ja] ゼンエジ zeneji ||| The stage of excellent wisdom (Skt. sādhu-matī; Tib. legs paḥi blo gros), which is the ninth of the ten stages of the bodhisattva path 十地. In this stage the bodhisattva's wisdom becomes complete in the attainment of the four kinds of unobstructed understanding 四無礙解, and is therefore able to articulate the dharma in all places and all languages without error. => (Skt. sādhu-matī; Tib. legs paḥi blo gros). Giai vị thứ chín trong Thập địa của hàng Bồ-tát. Trong giai vị nầy, trí tuệ của Bồ-tát trở nên viên mãn khi chứng đạt được Tứ vô ngại giải四無礙解, do vậy nên có khả năng giảng pháp khắp mọi nơi, bằng mọi ngôn ngữ mà không ngăn ngại. Thiện căn善根 [ja] ゼンコン zengon ||| 'Good roots,' 'virtuous roots.' Good causal actions that bring good rewards. Good actions, with the roots of a tree used as a metaphor for goodness. In Abhidharma-kośa theory, the basis for the entrance into the "Path of Seeing" 見道 by the practitioner, where she/he arises undefiled wisdom (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). There are generally considered to be three of these: absence of covetousness 貪, absence of antipathy 瞋, and absence of ignorance 癡. See 三善根. => Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lý của A-tỳ-đat-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Xem Tam thiện căn三善根. .
thiện hành
Good deeds.
thiện hóa thiên vương
Sunirmita-devarāja (S)Vị vua trời cai quản cõi trời Hóa Lạc thiên.
thiện hạnh
Good deed, virtuous act.
thiện hỉ
Upananda (S). Name
Thiện Hội
善會|1. Thiền sư Trung Quốc, Giáp Sơn Thiện Hội|2. ?-900; Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ hai. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Cảm Thành và sau truyền lại cho đệ tử là Vân Phong.|Sư quê ở Dữ Lãnh, xuất gia từ nhỏ và có hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, Sư vân du đây đó tham học, sau lại đến chùa Kiến Sơ thụ giáo nơi Thiền sư Cảm Thành. Ở đây, Sư hầu hạ thầy hết lòng suốt mười năm.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Trong kinh có nói: Ðức Thích-ca Như Lai đã từng tu hành trải vô số kiếp mới được thành Phật. Nay Thầy dạy rằng: Tâm tức là Phật, con chưa hiểu lẽ đó, cúi xin thầy một phen khai ngộ cho.« Cảm Thành hỏi: »Trong kinh người nào thuyết pháp?« Sư thưa: »Ðâu không phải là Phật thuyết ư?« Cảm Thành bảo: »Nếu là Phật thuyết, tại sao kinh Văn-thù lại nói: ›Ta trụ ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ dạy người.‹ Cổ đức nói: ›Người tìm nơi văn, chấp nơi chứng càng thêm trệ; khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo; chấp tâm cầu Phật là ma.‹« Sư hỏi: »Như thế, tâm ấy cái gì chẳng phải Phật, cái gì là Phật?« Cảm Thành bảo: »Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: ›Tâm tức là Phật, tâm nào là Phật?‹ Tổ bảo: ›Ông nghi cái nào không phải là Phật chỉ xem?‹ Người kia không đáp được, Tổ dạy: ›Ðạt thì khắp tất cả cảnh đều là Phật, chẳng ngộ thì trái xa.‹ Chỉ câu nói nay, ngươi lại hội chăng?« Ngay đây, Sư thưa: »Nay con hội rồi.« Cảm Thành hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư thưa: »Khắp mọi chỗ không đâu chẳng phải tâm Phật.« và quì xuống lễ bái. Cảm Thành bảo: »Thế là ngươi hiểu đúng rồi!« Nhân đây, Cảm Thành ban hiệu cho Sư là Thiện Hội.|Sau, Sư trụ trì hoằng hoá tại chùa Ðịnh Thiền ở làng Siêu Loại và tịch tại đây năm thứ 3 niên hiệu Quang Hoá đời Ðường.
thiện hội
4892(805~881)唐代禪僧。廣州峴亭人,俗姓廖。九歲於潭州(湖南長沙)龍牙山剃度,二十歲受具足戒。未久往江陵,專研經論,又至禪會處參學。初住潤州(江蘇鎮江)京口之鶴林寺,時值道吾從襄州關南來,與之相互問答,大有所得。後依道吾之勸,赴淛中(江蘇)華亭縣,參謁船子德誠,師資道契,遂嗣其法。唐懿宗咸通十一年(870),居湖南澧州之夾山,大揚禪風。僖宗中和元年十一月七日示寂,世壽七十七,法臘五十七。敕諡「傳明大師」。〔景德傳燈錄卷十五、聯燈會要卷二十一、佛祖歷代通載卷十七、卷二十四、五燈會元卷五、釋氏稽古略卷三、五燈嚴統卷五〕
; (善會) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Hiện đình, Quảng châu, họ Liêu. Năm 9 tuổi, sư cạo tóc ở núi Long nha tạiĐàm châu (huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam), năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau đó không lâu, sư đến Giang lăng chuyên tâm nghiên cứu kinh luận, lại đến các nơi Thiền hội tham học. Ban đầu, sư trụ ở chùa Hạc lâm tại Kinh khẩu thuộc Nhuận châu (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), lúc đó sưgặp ngài Đạo ngô từ Quan nam, Tương châu đến, cùng vấn đáp qua lại với nhau, có rất nhiều chỗ tâm đắc. Sau,theolời khuyên của ngài Đạo ngô, sư đến tham yết ngài Thuyền tử Đức thành ở huyện Hoa đình tại Chế trung (Giang tô), thầy trò khế hợp, sư được nối pháp. Năm Hàm thông 11 (870) đời vua Ý tôngnhà Đường, sư trụ ở Giáp sơn, Lễ châu, Hồ nam mở rộng Thiền phong. Niên hiệu Trung hòanăm đầu (881), sư thị tịch, thọ 77 tuổi, pháp lạp 57, vua ban thụy hiệu Truyền Minh Đại Sư. [X. Cảnh đức truyền đănglụcQ.15; Liên đăng hội yếu Q.21; Phật tổ lịchđạithông tải Q.17, 24; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.5].
thiện hội thiền sư
Zen Master Shan-Hui—Thiền Sư Thiẹân Hội sanh năm 805, sư xuất gia lúc 9 tuổi và thọ cụ túc giới năm 20 tuồi. Sau khi Thiền sư Đạo Ngô Viên Trí đề nghị sư đến gặp Thuyền Tử, sư đến Hoa Đình làm đệ tử Thuyền Tử. Sư được công nhận là Pháp Tử của Hoa Đình Thuyền Tử—Zen master Shan-Hui was born in 805. He left home at the age of nine and received full ordain at the age of twenty. Following Zen Master T'ao-Wu Yuan-Zhi's recommendation, he came to Hua-Ting to become Chuan-Tzi's disciple. He was recognized as Chuan-Tzi's Dharma heir. • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Từ có Tổ đến đây người ta hiểu lầm, nối nhau đến nay đều lấy lời Phật, Tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng hay người vô trí rồi còn gì. Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi 'Không pháp vốn là đạo, đạo không một pháp; không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể xả.' Cho nên nói 'Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt.' (mục tiền vô pháp, ý tại mục tiền). Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật, Tổ mà học, người nầy chưa có mắt tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do. Ngàn muôn dậm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chơn chánh hằng thoát khỏi hư dối, định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay thật không? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát. Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung, bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà an định? Sẽ nhận lấy chỗ nào? Lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây: “Lao trì sanh tử pháp Duy hướng Phật biên cầu. Mục tiền mê chánh lý Bác hỏa mích phù âu.” (Nhọc gìn pháp sanh tử Chỉ nhằm bên Phật cầu. Trước mắt lầm lý chánh Trong lửa bọt có đâu). One day Shan-Hui entered the hall and addressed the monks, saying: “Since the time of the ancestors there have been those who misunderstand what has been passed down. Right up to now they have used the words of the Buddhas and ancestors and made them models for study. If people do this then they'll go crazy and have no wisdom at all. The Buddhas and ancestors have instructed you that the dharmaless root is the Way. The way is without even a single Dharma. There is no Buddha that you can become. There is no way that can be attained. Nor is there any Dharma that can be grasped or let go of. Therefore, the ancients said: 'Before the eyes there is no Dharma, but the meaning is before the eyes.' Those who want to study the Buddhas and ancestors haven't opened their eyes. Why do they want to submit to something else and not attain their own freedom? Basicaly it's because they are confused about life and death. They realize they don't have a bit of freedom, so they go thousands of miles to seek our some great teacher. Those people must attain the true eye, not spend their time grasping and discarding spurious views. But are there any here among you of definite attainment who can really hold forth about existence and nonexistence? If there's someone who's definite about this then I invite you to speak out.' 'When persons of high ability hear these words they are clear about what's being said. Those of middle or low ability continue rushing around. Why do't you just directly face life and death? Don't tell me you still want the Buddhas and ancestors to live and die in your place! People who understand will laugh at you. If you still don't get it, then listen to this verse: “Belaboring life and death, Just seeking Buddha's quarter. Confused about the truth before your eyes, Poking a fire to find a cool spot.” • Vị Tăng hỏi: “Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ nầy Hòa Thượng nói không?” Sư đáp: “Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói, tại sao con chẳng ngộ?” Chỉ vì ngộ mê đuổi Xà Lê. Sư bèn nói kệ: “Minh minh vô ngộ pháp Ngộ pháp khước mê nhơn Trường thơ lưỡng cước thùy Vô ngụy diệt vô chơn.” (Rõ ràng không pháp ngộ Pháp ngộ đuổi người mê Duỗi thẳng hai chân ngủ Không ngụy cũng không chơn). • A monk asked: “There has always been meaning attributed to the teaching of the Buddhas and ancestors. Why does the master say there isn't any?” Shan-Hui said: “Don't eat for three years and you won't see anyone hungry.” The monk said: “If no one is hungry, why can't I gain awakening?” Shan-Hui said: “Because awakening has confused you.” Shan-Hui then recited this verse to make his point: “Clear and luminous, no Dharma of awakening, Awakening confuses people. In paradise with two feet and eyes, Nothing false, and nothing true.” • Vào ngày 7 tháng 11 năm 881, sư gọi Tăng chúng lại bảo: “Ta đã nói pháp trong nhiều năm. Mỗi người các ngươi phải nên tự biết mình. Bây giờ ta không còn gì nữa, đã đến lúc ta đi đây. Giữ lấy pháp như lúc ta còn vậy.” Nói xong sư thị tịch, thọ 77 tuổi, được vua phong hiệu “Truyền Minh Đại Sư.”—On the seventh day of eleventh month in the year 881, Shan-Hui called together his principal monks and said: “I've talked extensively for many years. Each of you should know for yourself. Now I'm just an empty form. My time is up and I must go. Take care of the teaching as if I were still here.” Upon saying these words, Shan-Hui suddenly passed away. He received posthumous name "Great Teacher Transmitting Clarity.”
thiện hội thiền sư (việt nam)
Shen-Hui (?-900)—Thiện Hội (?-900), đời thứ hai dòng Vô Ngôn Thông. Ông là một thiền sư nổi tiếng của Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ thứ 10. Ông quê tại Điển Lãnh. Thuở nhỏ ông theo sư Tiệm Nguyên với Pháp hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, sư vân du khắp nơi để tìm minh sư tham học. Khi đến chùa Kiến Sơ, sư gặp Thiền sư Cảm Thành và trở thành một trong những đệ tử nổi tiếng của sư Cảm Thành. Sư ở lại chùa Kiến Sơ phục vụ Thầy trên mười năm. Một hôm sư hỏi Thầy: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng tu hành trải qua vô lượng kiếp mới thành Phật. Nay thầy dạy 'tức tâm tức Phật.' Con không hiểu lẽ đó. Xin thầy khai ngộ cho con.” Sư Cảm Thành hỏi: “Trong kinh người nào nói?” Thiện Hội thưa: “Nếu con không lầm thì tất cả kinh điển đều do Phật dạy.” Sư Cảm Thành nói: “Nếu vậy sao ngài Văn Thù Sư Lợi lại nói rằng Đức Phật trong suốt 49 năm hoằng hóa chưa nói một lời? Con phải luôn nhớ rằng nếu con chấp vào văn tự, con sẽ phải đi vòng vòng mãi chứ không bao giờ thấy Phật.” Qua đó Thiện Hội ngộ và sụp lạy Thầy. Sau khi Thầy Cảm Thành thị tịch, sư tiếp tục hoằng hóa đến khi viên tịch vào năm 900 sau Tây Lịch—Shen-Hui, seond lineage of the Wu-Yun-T'ung Sect. He was a famous Zen Master of the Vietnamese Buddhism in the tenth century. He was from Điển Lãnh. When he was young, he studied with Master Tiệm Nguyên at Đông Lâm Temple with his Dharma name Tổ Phong. When he grew up, he wandered all over the country to seek the right master. When he arrived at Kiến Sơ Temple, he met Zen Master Cảm Thành and became one of the latter's most outstanding disciples. He stayed to serve his master for over ten years. One day he asked his master: “Sakyamuni Buddha had cultivated innumerable aeons to become a Buddha. Now you say that 'Mind is Buddha.' I really don't understand. Please awaken me so that I can be clear.” Zen Master Cảm Thành said: “Who said so in the sutra?” Shen-Hui replied: “The Buddha teach in all the sutras, am I right?” Zen Master Cảm Thành said: “But why Manjusri declared that the Buddha never teachs a word during 49 years. You should always remember that if you attach to words, you will have to go around and around forever, you will never find the Buddha.” Shen Hui awakened right after this instruction. He bowed down to prostrate his Master. Zen Master Cảm Thành gave his name Shen-Hui since that time. After his Master passed away, Zen Master Shen-Hui continued to expand the Buddha dharma until he died in 900.
thiện hữu
dịch từ Phạn ngữ kalynamitra, không chỉ đơn giản là người bạn lành, bạn tốt, mà chỉ chung những người giúp chúng ta sanh khởi các hạnh lành. Sách Tham huyền ký, quyển 6 nói: “Khởi ngã hạnh cố danh thiện hữu.” (Làm sanh khởi công hạnh của ta nên gọi là thiện hữu.)
; Xem Đạo sư.
; Kalyànamitra (S). A friend of virtue, a religious counseller; a friend in the good life, or one who stimulates to goodness.
; Kalyanamitra (skt)—A friend of virtue—The good companion—A friend in good life or one who stimulates to goodness—A religious counselor. ** For more information, please see Thiện Hữu Tri Thức.
thiện hữu thất sự
4875指菩薩示現於世間,為利樂一切眾生所為之七事。善友,正直而有德行之友。四分律卷四十一即列舉此等善友之七法,特稱為「親友利益慈愍」。楞嚴經疏卷十七有詳細之闡論,即:(一)遭苦不捨,指菩薩運大悲心,憐憫六道眾生受諸苦惱,故隨類現形以開示之,助眾生脫離苦惱,並於替代眾生受苦時,其心亦無棄捨。(二)貧賤不輕,指菩薩運平等心,見眾生雖無功德、法財以自莊嚴,然知其本有之法身,實無德不備,故心常愛念而不生輕慢。(三)密事相告,指菩薩見眾生本性圓明,然被一切客塵煩惱所隱覆而不彰顯,故委婉相告,令其覺知本性。(四)遞相覆藏,指菩薩見眾生善根未臻成熟,不能深信實道,故示以權宜之法,待其善根成熟時,則以真如實理示之。(五)難作能作,指菩薩為誘導眾生,於人所難為者,皆能為之,故雖身著弊衣、手執糞器而不以為貧賤。(六)難與能與,指菩薩以所體悟之真理,方便教化一切眾生,而心無吝惜。(七)難忍能忍,指菩薩見眾生因作不善業而墮於惡道,即起哀愍之心,方便度脫之,雖經多劫之長時間而心無退轉。
; (善友七事) Bảy việc của người bạn lành. Tức chỉ cho 7 việc mà các Bồ tát thực hành để làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh khi các ngài thị hiện ở thế gian. Thiện hữu là người bạn ngay thẳng, có đức hạnh. Luật Tứ phần quyển 41 có nêu ra 7 pháp của thiện hữu và đặc biệt gọi là Thân hữu lợi ích từ mẫn. Lăng nghiêm kinh sớ quyển 17 có giải thích rõ ràng tỉ mỉ 7 pháp ấy như sau: 1. Tao khổ bất xả:Gặp khổ không bỏ. Bồ tát vận dụng tâm Từ bi, thương xót chúng sinh chịu các khổ nãotrong 6 đường, cho nên tùy loại hiện thân để chỉ dạy họ, giúp chúng sinh thoát khỏi khổ não và khi thay thế chúng sinh để chịu khổ thì tâm Bồ tát cũng không xả bỏ. 2. Bần tiện bất khinh: Nghèo hèn không khinh rẻ. Bồ tát vận dụng tâm bình đẳng, thấy chúng sinh tuy không có công đức, không có pháp tài để tự trang nghiêm, nhưng biết họvốnsẵn có pháp thân, đầy đủ mọi công đức, cho nên tâm Bồ tát thường thương xót, nhớ nghĩ mà không sinh tâm khinh mạn. 3. Mật sự tương cáo: Việc kín nói cho nhau biết. Bồ tát thấy bản tính của các chúng sinh tròn sáng, nhưng vì tất cả khách trần phiền não che lấp nên không lộ rõ ra được, bởi thế Bồ tát dùng lời dịu dàng nói cho họ biết giúp họ nhận ra bản tính của chính họ. 4. Đệ tương phú tàng: Che giấu cho nhau. Bồ tát nhận thấy thiện căn của chúng sinh chưa thuần thục, chưa thể tin sâu đạo chân thực, cho nên Bồ tát dùng pháp phương tiện tạm thời chỉ dạy cho họ đợi đến khi thiện căn của họ thành thục, bấy giờ sẽ chỉ cho họ thấyrõlíChân như đích thực.5. Nan tác năng tác: Làm được việc khó làm. Vì dắt dẫnchúng sinh nên Bồ tát làm được những việc mà người khác khó làm, như thân mặc áo rách, tay cầm đồ hốt phân mà không xem đó là việc hèn hạ.6. Nan dữ năng dữ: Cho được những gì khó cho. Bồ tát đem chân lí mà mình đã thể ngộ, phương tiện giáo hóa tất cả chúng sinh mà tâm không sẻn tiếc. 7. Nan nhẫn năng nhẫn: Chịu đựng được những điều khó chịu đựng. Bồ tát thấy chúng sinh vì tạo nghiệp bất thiện nên phải đọa vào đường ác, liền khởi tâm thương xót, dùng phương tiện cứu thoát, dù trải qua thời gian nhiều kiếp đằng đẵng nhưng tâm không mảy may lui sụt.
thiện hữu tri thức
Kalyana-mitra (skt). (I) Nghĩa của Thiện Hữu Tri Thức—The meanings of Good-Knowing Friend (Advisor): • Thiện có nghĩa là hiền và đạo đức, Tri là sự hiểu biết chơn chánh, còn Thức là thức tỉnh, không mê muội và tham đắm nơi các duyên đời nữa. Thế nên, thiện tri thức là người hiền, hiểu đạo, và có khả năng làm lợi lạc cho mình và cho người: Good is kind and virtuous, Friend is a person who is worthy of giving others advice, Knowledgeable means having a broad and proper understanding of the truths, Awakened means no longer mesmerized by destinies of life. Thus, Good Knowledgeable (knowing) Friend or Advisor is a good person who has certain degree of knowledge of Buddhism and has the ability to benefit himself and others. • Người bạn đạo hạnh, người thầy gương mẫu, sống đời đạo hạnh, cũng như giúp đỡ khuyến tấn người khác sống đời đạo hạnh. Người bạn đạo tốt, thực thà, chân thật, có kiến thức thâm hậu về Phật pháp và đang tu tập Phật pháp—Good friend—A good knowing advisor—A friend in virtue, or a teacher who exemplifies the virtuous life and helps and inspires other to live a virtuous life too—Good-Knowing advisor (good and wise advisor—Enlightened teachers or advisors)—A good friend who has a good and deep knowledge of the Buddha's teaching and who is currently practicing the law. Someone with knowledge, wisdom and experience in Buddha's teaching and practicing. A wise counsel, spiritual guide, or honest and pure friend in cultivation. • Đức Phật đã nói về thiện hữu tri thức trong đạo Phật như sau: “Nói đến Thiện Hữu Tri Thức là nói đến Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và Bích Chi Phật, cùng với những người kính tin giáo lý và kinh điển Phật giáo. Hàng thiện hữu tri thức là người có thể chỉ dạy cho chúng sanh xa lìa mười điều ác và tu tập mười điều lành (see Thập Thiện Nghiệp, and Thập Ác). Lại nữa, hàng thiện hữu tri thức có lời nói đúng như pháp, thực hành đúng như lời nói, chính là tự mình chẳng sát sanh cùng bảo người khác chẳng sát sanh, nhẫn đến tự mình có sự thấy biết chơn thật (chánh kiến) và đem sự thấy biết đó ra mà chỉ dạy cho người. Hàng thiện hữu tri thức luôn có thiện pháp, tức là những việc của mình thực hành ra chẳng mong cầu tự vui cho mình, mà thường vì cầu vui cho tất cả chúng sanh, chẳng nói ra lỗi của người, mà luôn nói các việc thuần thiện. Gần gũi các bậc thiện hữu tri thức có nhiều điều lợi ích, ví như mặt trăng từ đêm mồng một đến rằm, ngày càng lớn, sáng và đầy đủ. Cũng vậy, thiện hữu tri thức làm cho những người học đạo lần lần xa lìa ác pháp, và thêm lớn pháp lành: The Buddha talked about being a Good Knowing Advisor in Buddhism as follows: “When speaking of the good knowledgeable advisors, this is referring to the Buddhas, Bodhisattvas, Sound Hearers, Pratyeka-Buddhas, as well as those who have faith in the doctrine and sutras of Buddhism. The good knowledgeable advisors are those capable of teaching sentient beings to abandon the ten evils or ten unwholesome deeds, and to cultivate the ten wholesome deeds. Moreover, the good knowledgeable advisors' speech is true to the dharma and their actions are genuine and consistent with their speech. Thus, not only do they not kill living creatures, they also tell others not to kill living things; not only will hey have the proper view, they also will use that proper view to teach others. The good knowledgeable advisors always have the dharma of goodness, meaning whatever actions they may undertake, they do not seek for their own happiness, but for the happiness of all sentient beings. They do not speak of others' mistakes, but speak of virtues and goodness. There are many advantages and benefits to being close to the good knowledgeable advisors, just as from the first to the fifteenth lunar calendar, the moon will gradually become larger, brighter and more complete. Similarly, the good knowledgeable advisors are able to help and influence the learners of the Way to abandon gradually the various unwholesome dharma and to increase greatly wholesome dharma. (II) Cổ đức có dạy, “Thời nay muốn tìm minh sư, hay thiện hữu tri thức để gần gũi theo học, còn có chăng trong sách vở hay gương Thánh hiền, chứ còn trong vòng nhân tình đời nay, quả là hiếm có vô cùng.” Các ngài còn dạy thêm năm điều về thiện hữu tri thức như sau—Ancients taught, “Nowadays, if one wishes to find kind friends and virtuous teachers to learn and to be close to them, they may find these people in the shining examples in old books. Otherwise, if one searches among the living, it would be extraordinary hard to find a single person.” They also reminded us five things about good-knowing advisor as follows: 1) Đời nay trong 1.000 người mới tìm ra được một người lành: Nowadays, in 1,000 people, there is one good person. 2) Trong 1.000 người lành mới có một người biết đạo: In a thousand good people, there is one person who knows religion. 3) Trong 1.000 người biết đạo, mới có được một người tin chịu tu hành: In one thousand people who know religion, there is one person who has enough faith to practice religion. 4) Trong 1.000 người tu hành mới có được một người tu hành chân chánh: In one thousand people who practice religion, there is one person who cultivates in a genuine and honest manner. 5) Vậy thì trong 4.000 người mới tìm ra được bốn người tốt: Thus, out of four thousand people, we would find only four good people. (III) Phân loại Thiện Hữu Tri Thức—Categories of Good Knowing Advisors: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, có hai loại thiện hữu tri thức—According to Venerable Thích Hải Quang in the Leters to Buddhist Followers, there are two kinds of Good Knowing Advisors: 1) Nhơn gian thiện tri thức—Worldly good knowing advisors: a) Không tham, sân, xấu ác: There is no greed, hatred, evil, and wickedness. b) Giới hạnh tinh chuyên, đầy đủ oai nghi trong đi, đứng, ngồi, nằm: Maintain the precepts one vows to maintain; is always honorable and proper in every aspects of standing, walking, sitting, or lying down. c) Không tham lam tài, sắc, danh, thực, thùy, cũng như lợi lộc, tiền tài, của cải, và xa xỉ: Not to have greed for talent, form, fame, food, sleep, as well as profit, money, wealth, and luxury. d) Không tật đố ganh ghét: Not to have jealousy and envy. e) Không luyến ái xa hoa vật chất như chùa cao miễu rộng, xe cộ, ruộng vườn: Not to have attachment toward luxuries, such as great temples, fancy cars, large lands, etc. f) Tâm thường bình đẳng, nghĩa là xem người thân và kẻ oán như nhau: Mind is always fair and just. This is to say to look upon relatives and enemies as equal. g) Có pháp làm lợi cho mình, tức là hành đúng theo lời Phật dạy, ngôn hành tương ưng, hay nói và làm giống nhau: Having the proper dharma knowledge to benefit self. This is to say to be able to carry out conducts that are true to the Buddha's teachings, speech and action are consistent, or do what is said. h) Có pháp làm lợi cho người, nghĩa là đem chánh pháp của Phật giảng rộng ra và khuyến dắt người người tu niệm: Having proper dharma knowledge to benefit others. That is to say, capable of elaborating on the Buddha Dharma to guide and encourage others to practice and cultivate. i) Tùy theo căn tánh của mỗi người mà dùng pháp thích hợp để giáo hóa cho họ biết rõ phương tiện thiện xảo: Depending on each individual's level of cultivation, use the most appropriate and agreeable dharma to teach and guide that person to know how to apply the skillful means. j) Đủ pháp tổng trì, nghĩa là giữ điều thiện đừng để cho mất; và ngăn điều ác, không cho chúng sanh khởi: Have enough Dharma knowledge to have awareness and mindfulness. This means never lose sight of goodness and never allow evil to surface. k) Lòng luôn luôn nghĩ tưởng tốt hay tùy hỷ với mọi người: The mind always has good and kind thoughts toward others, or rejoices in others' wholesome accomplishments. l) Tu hành trong sạch, không phạm vào giới luật của Phật mà mình đã thọ: Cultivate with purity, do not violate the precepts established by the Buddha that we have vowed to maintain. m) Thân khẩu ý chẳng lầm lỗi: Mind, body and speech do not create transgressions. n) Thuyết pháp hay giảng luận nghĩa lý chi cũng đều khế hợp với ý kinh: Whether expounding the dharma, or explaining the meanings of anything, this should always be consistent and harmonious with the sutra teachings. o) Đặc biệt nhứt là khi thi ân cho người, chẳng cầu báo đáp, vì có cầu báo đáp thì chẳng phải là thi ân, mà là tính toán: Most importantly, when helping others never wish for that favor to be reciprocated, because to do so is not called helping, but is called planning for self-benefits. 2) Chân chánh đại thiện tri thức—Truly great knowing advisor: a) Có trí huệ hơn người: Have greater wisdom than anyone. b) Là người phước đức siêu quần: Are superior in virtues and merits. c) Tuyệt đối không một chỗ nào là không tốt lành cả: Absolutely nothing falls short of goodness and wholesomeness. This means everything they do is aimed toward goodness. d) Không một pháp nào là không biết hay không hiểu: There is no dharma that is not known and understood. e) Làm Thầy Tổ, và làm tai mắt cho cõi Trời Người: Is the Master and Patriarch, and is the eyes and ears for Gods and men. f) Là bậc trụ cột trong Phật pháp: Is the pillar in the Buddha Dharma. g) Cầm chân Đức Phật, là nhà lãnh đạo hay Tổ trong chốn tông môn: Holding on to the Buddha's feet, a leader or Patriarch in a particular dharma tradition. h) Mở cửa chánh đạo: Opens the door to the proper path. i) Trừ dẹp xấu ác: Eliminates evil and wickedness. j) Nối truyền cho Phật pháp ngày một thêm hưng thịnh: Continues the teachings of Buddha and makes the teachings more glorious with each day. k) Trí tuệ siêu quần hơn tất cả tam giới: Wisdom is greater than anyone in the three worlds. l) Giới đức thơm ngát tỏa khắp mọi nơi, người người đều kính ngưỡng: The incense fragrance of that person's virtues is everywhere, admired and respected by many. m) Lấy giáo pháp thậm thâm của Phật mà tuyên lưu đến tha nhân, khiến cho hạt giống Phật được trường tồn: Uses the Buddha's profound teachings to pass on to others; help maintain the Buddha's seeds eternally. n) Là một bậc đại căn, nghĩa là không ai hơn được về tài đức, công đức, và phước đức: At the Highest Cultivated Level. This means unrivaled in talents, virtues, and merits. o) Là một bậc đại hạnh: A great practitioner. p) Là một bậc đại nguyện: A great vow maker. q) Đầy đủ hai phần oai và đức khiến cho trời người trong ba cõi kính yêu: Has both the components of Majesty and Virtues, earning the love and respect of Gods and Men. (IV) Những lời Phật dạy về “Thiện Hữu Tri Thức” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Good Knowing Advisors” in the Dharmapada Sutra: 1) Nếu gặp được người hiền trí thường chỉ bày lầm lỗi và khiển trách mình những chỗ bất toàn, hãy nên kết thân cùng họ và xem như bậâc trí thức đã chỉ kho tàng bảo vật. Kết thân với người trí thì lành mà không dữ—Should you see an intelligent man who points out faults and blames what is blame-worthy, you should associate with such a wise person. It should be better, not worse for you to associate such a person (Dharmapada 76). 2) Những người hay khuyên răn dạy dỗ, cản ngăn tội lỗi kẻ khác, được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu—Those who advise, teach or dissuade one from evil-doing, will be beloved and admired by the good, but they will be hated by the bad (Dharmapada 77). 3) Chớ nên làm bạn với người ác, chớ nên làm bạn với người kém hèn, hãy nên làm bạn với người lành, với người chí khí cao thượng—Do not associate or make friends with evil friends; do not associate with mean men. Associate with good friends; associate with noble men (Dharmapada 78). 4) Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng, ưa nghe Thánh nhơn thuyết pháp—Those who drink the Dharma, live in happiness with a pacified mind; the wise man ever rejoices in the Dharma expounded by the sages (Dharmapada 79). 5) Nếu gặp bạn đồng hành hiền lương cẩn trọng, giàu trí lự, hàng phục được gian nguy, thì hãy vui mừng mà đi cùng họ—If you get a prudent and good companion who is pure, wise and overcoming all dangers to walk with, let nothing hold you back. Let find delight and instruction in his companion (Dharmapada 328). 6) Nếu không gặp được bạn đồng hành hiền lương, giàu trí lự, thì hãy như vua tránh nước loạn như voi bỏ về rừng—If you do not get a prudent and good companion who is pure, wise and overcoming all dangers to walk with; then like a king who has renounced a conquered kingdom, you should walk alone as an elephant does in the elephant forest (Dharmapada 329). 7) Thà ở riêng một mình hơn cùng người ngu kết bạn. Ở một mình còn rảnh rang khỏi điều ác dục như voi một mình thênh thang giữa rừng sâu—It is better to live alone than to be fellowship with the ignorant (the fool). To live alone doing no evil, just like an elephant roaming in the elephant forest (Dharmapada (330).
thiện kiên
4889(?~1493)明代臨濟宗僧。雲南昆明人,俗姓丁。字古庭。十一歲於五華寺出家,法名善賢。初至金陵參謁無際明悟,得示「萬法歸一」之語;一日閱圓覺經,豁然有悟。十九歲時參禮柏巖,遂改今名。宣德十年(1435),至貴州雍蘿山,並入四川。正統年間(1436~1449)復至隆恩寺參無際,得其心印。歷住河北大容山、金陵天界寺等諸名剎,後歸四川,創建歸化寺。弘治六年示寂,世壽八十餘,世稱旃檀尊者。著有雲水石集、古庭祖師語錄輯略四卷傳世。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
; (善堅) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế sống vào đờiMinh, ngườiởCôn minh, tỉnh Vân nam, họ Đinh, tự là Cổ đình. Năm 11 tuổi, sư xuất gia ở chùa Ngũ hoa, pháp danh là Thiện hiền. Đầu tiên, sư đến Kim lăng tham yết ngài Vô tế Minh ngộ, được dạy câu Vạn pháp qui nhất; một hôm, sư xem kinh Viên giác, thoắt nhiên tỉnh ngộ. Năm 19 tuổi, sư tham lễ ngài Bá nham mới đổi tên là Thiện kiên. Năm Thiên đức thứ 10 (1435), sư đến núi Ung la ở Quí châu và từ đó đi vào Tứ xuyên. Khoảng năm Chính thống (1436-1449), sư lại đến chùa Long ân tham yết ngài Vô tế và được truyền tâm ấn. Sư từng trụ các chùa nổi tiếng như Đại dung sơn ở Hà bắc, chùa Thiên giới ở Kim lăng... sau, sư về Tứ xuyên sáng lập chùa Qui hóa.Năm Hoằng trị thứ 6 (1493), sư thị tịch, thọ hơn 80 tuổi, người đời gọi sư là Chiên đàn tôn giả. Sư để lại các tác phẩm: Vân thủy thạch tập, Cổ đình tổ sư ngữ lục tập lược 4 quyển. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
thiện kiến
Xem A xà Thế.
; Sudarsana (S). Good to see, good for seeing, belle vue, etc. Another name of A xà thế Ajatasatru.
; Sudarsana (skt)—Beautiful to see—Good to see. ** For more information, please see Tô Đạt Lê Xá Na.
thiện kiến luật tì sa sa
4880巴利名 Samantapāsādikā。凡十八卷。南齊僧伽跋陀羅譯。又稱善見論、毘婆沙律。收於大正藏第二十四冊。本書為小乘律部五論之一,注釋錫蘭上座部所傳之律藏。卷一至卷四敘述第一、二、三次經典之結集,及律藏之傳持與阿育王之子摩哂陀至錫蘭布教之事。卷四以下主要注釋四分律,分比丘戒、比丘尼戒、騫陀伽、大德舍利弗問優波離律污出品等四篇。 本書與南傳巴利本一切善見律(Samantapāsādikā,即巴利律藏之注釋書,係西元五世紀初,佛音論師於錫蘭撰述而成)比照之下,不一致之處頗多,故不宜直接以巴利本一切善見律視為本書之原本,但可確定本書係基於巴利本一切善見律而來,概為巴利本之抄譯本。又由本書所記之波逸提法有九十條,在眾學法中又附記有關佛塔之條文,顯見係受四分律之影響而增加者。或謂本書即為注釋四分律者。但因本書注釋之語句常與四分律不相吻合,故學者間亦有持反對意見者。 據歷代三寶紀卷十一載,三藏法師(或係指佛音)曾攜律藏至廣州,付予弟子僧伽跋陀羅,永明六年(488),僧伽跋陀羅與沙門僧猗共譯於竹林寺。是即本書傳譯之始末。該書並謂僧伽跋陀羅以香花供養律藏,而點下一點(表一年),共得九七五點,即所謂「眾聖點記」之說。此外,巴利本一切善見律於日本大正十三年(1924)以後,由高楠順次郎、長井真琴合力校訂出版。其注疏有巴利本之 Sāratthadīpani-ṭīkā。〔出三藏記集卷二、卷十一、法經錄卷五、開元釋教錄卷六、大藏聖教法寶標目卷八、至元法寶勘同總錄卷八、律宗綱要卷下、根本佛典の研究(長井真琴)〕
; (善見律毗娑沙) Pàli:Samantapàsàdikà. Cũng gọi Thiện kiến luận, Tì bà sa luật. Luật, 18 quyển, do ngài Tăng già bạt đà la dịch vào đời Nam Tề, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Sách này là 1 trong 5 bộ luận của luật bộ Tiểu thừa, nội dung chú thích tạng luật do Thượng tọa bộ Tích lan truyền. Quyển 1 đến quyển 4 nói về các cuộc kết tập kinh điển lần 1, lần 2, lần 3; về sự truyền trì tạng Luật và về việc ngài Ma hi đà –con vua A dục– đến Tích lan truyền đạo. Từ quyển 4 trở đi, chủ yếu là chú thích luật Tứ phần, chia làm 4 thiên: Tỉ khưu giới, Tỉ khưu ni giới, Khiên đà già và Đại đức Xá lợi phất vấn Ưu bali luật ô xuất phẩm. So sánh bộ luật này với bộ luật Nhất thiết thiện kiến (Samantapàsàdikà, tức sách chú thích tạng LuậtPàli, do Luận sư Phật âm soạn ở Tích lan vào đầu thế kỉ V, Tây lịch) bảnPàli Nam truyền thì thấy có rất nhiều chỗ không nhất trí với nhau, vì thế không nên trực tiếp coi Nhất thiết thiện kiến luật bảnPàli là nguyên bản của bộ luật này, chỉ có thể xác định bộ luật này đã căn cứ vào Nhất thiết thiện kiến luật bản Pàli mà có, đại khái là bản sao dịch từ bản Pàli. Lại nữa, pháp Ba dật đề được ghi trong bộ luật này gồm 90 điều và trong pháp Chúng học có phụ thêm những điều về tháp Phật, do đó mà thấy rõ bộ luật này đã chịu ảnh hưởng của luật Tứ phần. Cũng có thuyết cho rằng sách này chính là sách chú thích luật Tứ phần. Tuy nhiên, những câu văn chú thích trong sách này thường không ăn khớp với luật Tứ phần, cho nên giữa các học giả cũng có người không đồng ý. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11 thì Tam tạng Pháp sư(có lẽ chỉ cho ngài Phật âm ?), từng mang tạng Luật đến Quảng châu giao cho đệ tử là Tăng già bạt đà la. Năm Vĩnh minh thứ 6 (488), ngài Tăng già bạt đà la và sa môn Tăng y cùng dịch ra chữ Hán ở chùa Trúc lâm. Đồng thời, sách này ghi rằng khi dịch xong, ngài Tăng già bạt đà la đem hoa thơm cúng dường tạng Luật, rồi chấm một chấm(biểu thị một năm), bấy giờ cộng tất cả đã được 975 chấm, đây chính là thuyết Chúngthánh điểm kí(các Thánh ghi chấm). Ngoài ra, từ năm 1924 về sau, Nhất thiết thiện kiến luật bảnPàli được 2 học giả người Nhật bản là Cao nam Thuận thứ lang và Trường tỉnh Chân cầm cùng chung sức kiểm xét, sửa chữa và xuất bản. Về chú sớ thì có bảnPàli:Sàratthadìpaniỉìkà.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 11; Pháp kinhlục Q.5, Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8; Luật tông cương yếu; Căn bản Phật điển nghiên cứu (Trường tỉnh Chân cầm).
thiện kiến lập chi đề
Suppatittha-cetiya (S)Thiện An trụ tháp, Thân sắt tri lâmRừng gậy, nơi có lần Phật thuyết pháp cho vua Tần bà sa la và quần thần.
Thiện kiến thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
; 善見天; C: shànjiàn tiān; J: zenken ten; S: sudarśanāḥ.|»Tầng trời của cái nhìn thiện«. Tầng trời thứ 7 trong 8 cõi trời thuộc Tứ thiền thiên của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.
thiện kiến thiên
4879善見,梵名 Sudarśana,巴利名 Sudassana,音譯作修提舍那、須陀施尼、須達梨舍那、須陀尸。為色界十八天之一,五淨居天之第四。又作大善見天、善好見天、善觀天、快見天、妙見天。指色界第四禪中第二位之天。此天以定力殊勝而所見清澈,故稱善見。又指帝釋所居善見城之宮殿。據立世阿毘曇論卷七載,由最上品四禪相應之業,恭敬勤修,雜覺分之所薰修,因此業而生善現天,十倍於此,則生於善見天。雜阿毘曇心論卷二、彰所知論卷上等,謂此天壽量達八千劫,身長八千由旬。諸經論中另有壽長四千劫、四十劫、千五百大劫等說。〔長阿含經卷二十忉利天品、大樓炭經卷一、卷四、起世經卷一、卷七、立世阿毘曇論卷六、順正理論卷二十一、集異門足論卷十四〕(參閱「五淨居天」1150、「色界」2545)
; Sudṛsa (S), Sudassana (P), Sudassideva (P), Sudassi (P)Tên một trong 9 cõi trời Tứ thiền.Chư thiên thấy được thế giới trong 10 phương, không có bụi nhơThiện Hiện thiênChư thiên ở cõi Thiện HiệnXem Tu đới thiên.
; Sudarsana (S). A heaven of the fourth dhyàna in the Realm of Form.
; (善見天) Thiện kiến, Phạm: Sudarzana. Pàli:Sudassana. Hán âm: Tu đề xá na, Tu đà thi ni, Tu đạt lê xá na, Tu đà thi. Cũng gọi Đại thiện kiến thiên, Thiện hảo kiến thiên, Thiện quán thiên, Khoái kiến thiên, Diệu kiến thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, chỉ cho tầng trời thứ 4 trong 5 tầng trời Tịnh cư, tức là tầng trời thứ 2 trong Đệ tứ thiền cõi Sắc. Chư thiên ở cõi trời này nhờ có định lực thù thắng mà cái thấy được rõ suốt, nên gọi là Thiện kiến. Cũng chỉ cho cung điện trong thành Thiện kiến, là nơi ở của trời Đế thích. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì do nghiệp tương ứng với Tứ thiền tối thượng phẩm, cung kính siêng tu, được huân tập bởi tạp giác phần, nhờ nghiệp này mà được sinh về cõi trời Thiện hiện, nếu nhiều hơn gấp 10 lần thì sinh lên cõi trời Thiện kiến. Luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng cho rằng thiên chúng ở cõi trời này sống tới 8 nghìn kiếp, thân cao 8 nghìn do tuần. Trong các kinh luận cũng có chỗ nói thọ 4 nghìn kiếp, 40 kiếp, 1500 đại kiếp... [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại lâu thán Q.1, 4; kinh Khởi thế Q.1, 7; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; luận Tập dị môn túc Q.14]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).
Thiện kiến thiên 善見天
[ja]ゼンケンテン zenken ten ||| The heaven of good sight (sudarśanāḥ), which is the seventh of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => (s: sudarśanāḥ). Tầng trời thứ bảy trong tám cõi trời thuộc Tứ thiền thiên của Sắc giới. Cũng được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
thiện kiến thành
4880位於須彌山頂忉利天之中央,為帝釋天所住之宮城。又作喜見城、天帝釋城。據大毘婆沙論卷一三三、俱舍論卷十一載,善見城四面縱廣各二千五百由旬,高一由旬半。其地平坦,乃真金所成,以各種雜寶嚴飾,地面柔軟如兜羅綿,微風吹去萎花,散布新花。城有千門,由五百青衣藥叉神防守。城中有大殊勝殿,以種種妙寶莊嚴。城之四隅有四臺觀,由金銀等四寶所成。城外有眾車、粗惡、雜林、喜林四苑,周環各千由旬,為諸天遊戲之處。城外西南並有善法堂,諸天眾於三齋日齊集此堂,辨明人、天之善惡,並制服阿修羅。〔長阿含經卷二十、起世經卷六、正法念處經卷二十六、優婆塞戒經卷一、瑜伽師地論卷四〕
; Sudarsana (skt)—A Good-To-Behold City—See Thiên Đế Thích Thành.
; (善見城) Cũng gọi Hỉ kiến thành, Thiên đế thích thành. Chỉ chocungthành ở chính giữa cõi trời Đao lợi trên đỉnh núi Tu di, là nơi cư trú của trời Đế thích. Cứ theo luận Đại tì ba sa quyển 133 và luận Câu xá quyển 11 thì 4 mặt thành Thiện kiến mỗi bề rộng 2500 do tuần, cao 1,5 do tuần, đất đai bằng phẳng, được tạo thành bằng vàng ròng và trang nghiêm bằng các thứ báu; mặt đất mềm mại như bông đâu la, gió nhẹ thổi hoa héo đi, rồi rải hoa mới tươi tắn. Thành có nghìn cửa, do 500 vị thần Dược xoa mặc áo màu xanh canh giữ. Trong thành có điện Đại thù thắng, được trang trí bằng các thứ báu vi diệu. Ở 4 góc thành có 4 đài quán, do 4 thứ báu như vàng, bạc... tạo thành. Phía ngoài thành, có 4 khu vườn là: Chúng xa, Thô ác, Tạp lâm, Hỉ lâm, mỗi khu đều chu vi 1000 do tuần, là những nơi chư thiên vui chơi. Ở phía tây nam bên ngoài thành có Thiện pháp đường, là nơi các thiên chúng nhóm họp vào 3 ngày trai để bàn luận rõ việc thiện ác ở cõi người và cõi trời, đồng thời chế phục A tu la. [X.kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.6; kinh Chính pháp niệm xứ Q.26, kinhƯu bà tắc giới Q.1; luận Du già sư địa Q.4].
thiện kiến vương
Piyadasi (P)Tức vua A dục.
thiện kiếp
Bhadrakalpa (S). A good kalpa, especially that in which we now live.
; Bhadrakalpa (skt)—Tên khác của Hiền Kiếp—A good kalpa, especially that in which we live—See Hiền Kiếp.
thiện kế
4898元代僧。越(浙江)諸暨人,俗姓婁。號幻滅。生即能言,見其母稱誦佛號,輒合掌和之。元大德年間(1297~1306)出家,從天竺大山恢法師學習天台教法。後往南天竺禮謁湛堂性澄,深受器重。晚年專修淨業,一心念佛,晝夜不輟,示寂荼毘後,其舌根不壞。相傳師為宋初永明延壽之後身,而明代翰林宋學士則為師之後身。師曾刺血繕寫大方廣佛華嚴經(今仍完整保存於蘇州半塘壽聖寺)。宋學士之母初夢異僧,手寫是經,謂母曰:吾乃永明延壽,宜假一室以終此卷。夢醒而生學士。及學士年長,偶見此經,乃頓悟前事,遂燃香發花,以申供養,香雲結為寶網,遍覆於經上,學士感此靈瑞,作贊詞附於經後以誌之。〔增訂佛祖道影卷四(虛雲)〕
thiện lai
4881<一>梵語 svāgata,巴利語 sāgata。音譯作沙竭陀、莎揭哆、娑婆揭多。為印度比丘歡迎來客所用之客套語,即「其來正好」之意。南海寄歸內法傳卷三客舊相遇條記載印度寺眾之禮法,凡弟子門人等應先對來客說「莎揭哆」;客即答「窣莎揭哆」(梵 susvāgata,譯作極善來)。 佛陀對比丘稱「善來比丘」時,該比丘即得具足戒,此謂「善來得」,為十種得戒緣之一,係限於釋尊一人特授之作法。即由彼人之願力與佛陀之威神力,佛向欲出家之人稱「善來比丘」,彼人即為沙門,具備剃髮與著袈裟之相,得具足戒。「善來比丘」一語始用於憍陳如等五比丘歸依釋尊時。據善見律毘婆沙卷七載,佛世時依此法而得戒者,凡一千三百四十一人。四分律載有名字比丘、相似比丘、自稱比丘、善來比丘、乞求比丘、著割截衣比丘、破結使比丘、受大戒百四羯磨如法成就得處所比丘等八種比丘,此列第四,為具足戒作法制定前出家型態之一。增一阿含經卷十五(大二‧六二一下):「諸佛常法,若稱善來比丘,便成沙門。是時世尊告迦葉曰:『善來比丘!此法微妙,善修梵行。』是時迦葉及五百弟子所著衣裳盡變作袈裟,頭髮自落,如似剃髮,以經七日。」〔中阿含卷九手長者經、佛本行集經卷三十四、毘尼母經卷一、四分律卷三十二、五分律卷十五、摩訶僧祇律卷二十三、十誦律卷五十六、薩婆多毘尼毘婆沙卷二、俱舍論卷十四〕 <二>梵名 Svāgata,巴利名 Sāgata。又作娑婆揭多、沙伽陀、修伽陀。佛世之比丘名,為憍閃毘國(巴 Kosambī)失收摩羅山(梵 Suṃsumāragira)浮圖長者(梵 Bodha)之子。以資性薄福,蕩盡家產,賴行乞維生,人稱惡來(梵 Durāgata)。後遇釋尊,釋尊教其以青蓮花供僧,乃憶前生曾修青處觀。其後又聞釋尊演說妙法,證得初果,遂剃髮出家,發勇猛心,終證阿羅漢果。釋尊命其至失收摩羅山調伏毒龍,師至龍處,入火光定,以神通力調伏之。後至室羅伐城,受一婆羅門供養,不知飲漿中羼酒,飲之醉臥於地,釋尊為說飲酒之過,此即制飲酒戒之起因。〔增一阿含經卷三、無量壽經卷上、阿羅漢具德經、沙曷比丘功德經、有部毘奈耶卷四十二飲酒學處、四分律卷十六〕
; Susyagata (S), Svāgata (S), Sagata (P)Sa yết đà, Tô yết đà, Tu đà giàTên một vị sư.
; Svàgata, susvàgata (S). "Welcome"; well come, a title of Buddha.
; Svagata, or Suvagata (skt)—Welcome! 1) Từ mà các vị Tỳ Kheo Ấn Độ dùng để hoan nghênh những người đến chùa: The term which Indian Bhiksus used to welcome those who come to the monastery. 2) Trong kinh điển Pali có ghi lại, xưa khi muốn nhận ai vào Tăng đoàn, Phật chỉ nói “Thiện lai, Tỳ kheo!”—The Pali scriptures say that the Buddha once accepted his followers into the monkhood, simply by saying “Welcome, monk!” 3) Danh hiệu của Phật: A title of a Buddha—See Thiện Thệ.
; (善來) I. Thiên Lai. Phạm:Svàgata. Pàli:Sàgata. Hán âm: Sa kiệt đà, Sa yết đa, Sa bà yết đa. Lời khách sáo mà các vị tỉ khưu ở Ấn độ dùng để đón khách đến, có nghĩa là: Thật quí hóa ông đã đến!. ĐiềuKhách cựu tương ngộ trong Nam hải kí qui nội pháp truyện nói rằng: Theo lễ phép của chúng tăng trong các chùa ở Ấn độ, khi có khách đến thì đệ tử, học trò phải nói trước với khách là Sa yết đa, khách liền đáp Tốt sa yết đa (Phạm: Susvàgata, Hán dịch: Cực thiện lai). Khi đức Phật gọi tỉ khưu là Thiện lai tỉ khưu thì vị tỉ khưu ấy liền được giới Cụ túc, đó gọi là Thiện lai đắc, là 1 trong 10 thứ nhân duyên được giới; đây là tác pháp đặc biệt chỉ một mình đức Thích tôn truyền trao được mà thôi. Tức là do nguyện lực của người ấy và sức uy thần của Phật, Phật hướng về phía người muốn xuất gia gọi Thiện lai tỉ khưu thì người ấy liền là sa môn, đầy đủ tướng cạo tóc, mặc ca sa, được giới Cụ túc. Từ ngữ Thiện lai tỉ khưu được sử dụng lần đầu tiên khi 5 vị tỉ khưu đứng đầu là ngài Kiều trần như qui y đức Thích tôn. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 7 thì lúc đức Phật còn tại thế, những người đắc giới theo tác pháp này gồm 1341 người. Còn theo luật Tứ phần thì trong 8 loại tỉ khưu: Danh tự tỉ khưu, Tương tự tỉ khưu, Tự xưng tỉ khưu, Thiện lai tỉ khưu, Khất cầu tỉ khưu, Trước cát tiệt y tỉ khưu, Phá kết sử tỉ khưu và Thụ đại giới bạch tứ yết ma như pháp thành tựu đắc xứ sở tỉ khưu, loại Thiện lai tỉ khưu được xếp vào hàng thứ 4, là 1 trong các hình thức xuất gia khi chưa chế định tác pháp thụ giới Cụ túc. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 15 (Đại 2, 621 hạ) nói: Theo pháp thường của chư giờ, đức Thế tôn bảo ngài Ca diếp rằng: Thiện lai tỉ khưu! Pháp này vi diệu, khéo tu phạm hạnh. Lúc ấy, tất cả áo xiêm mà ngài Ca diếp và 500 đệ tử mặc trên mình đều biếnlàm ca sa, tóc trên đầu tự rụng, giống như mới cạo tóc được 7 ngày. [X. kinh Thủ trưởng giả trong Trung a hàm Q.9; kinh Phật bản hành tập Q.34; kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.32; luật Ngũ phần Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.23; luật Thập tụng Q.56; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.2; luận Câu xá Q.14]. II.Thiện Lai. Phạm:Svàgata. Pàli:Sàgata. Cũng gọi Sa bà yết đa, Sa già đà, Tu già đà. Tên vị tỉ khưu ở thời đức Phật, là con của Trưởng giả Phù đồ (Phạm: Bodha) ở núi Thất thu ma la (Phạm: Suôsumàragira) thuộc nước Kiêu thiểm tì (Pàli:Kosambì). Vì bẩm tính bạc phúc, phá tán hết gia sản, cuối cùng phải đixin ăn để sống còn, nên người đời gọi sư là Ác lai (Phạm:Duràgata). Về sau này, sư được gặp đức Thích tôn, Ngài bảo đem hoa sen xanh cúng dường chúng tăng, sư liền nhớ lại đời trước mình từng tu Thánh xứ quán. Sau, sư lại được nghe đức Thích tôn giảng nói diệu pháp, chứng được Sơ quả, bèn cạo tóc xuất gia, phát tâm mạnh mẽ, cuối cùng chứng được quả A la hán. Đức Thích tôn bảo sư đến núi Thất thu ma la hàng phục con rồng dữ, sư đến chỗ con rồng, nhập định Hỏa quang, dùng sức thần thông điều phục con rồng. Có lần, sư đến thành Thất la phiệt nhận sự cúng dường của 1 nhà Bà la môn, không biết trong nước có lẫn rượu, nên khi sư uống vào bị say nằm lăn ra đất; đức Phật liền giảng nói về lỗi uống rượu, đây chính là nguyên nhân đức Phật chế giới cấm uống rượu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh A la hán cụ đức; kinh Sa hạt tỉ khưu công đức;Ẩm tửu học xứ trong Hữu bộ tì nại da Q.42; luật Tứ phần Q.16].
Thiện Loan
(善鸞, Zenran, ?-1286 [1296]): vị Tăng của Chơn Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời kỳ Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 2 của Hào Nhiếp Tự (毫攝寺) thuộc Phái Xuất Vân Tự (出雲寺派); húy là Thiện Loan (善鸞), thông xưng là Cung Nội Khanh (宮內卿); hiệu Từ Tín Phòng (慈信房), con của Thân Loan (親鸞, Shinran). Sau khi Thân Loan lên kinh đô, thì xảy ra cuộc dao động trong chúng môn đệ của ông ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), nên ông mới cử Thiện Loan làm sứ xuống vùng này để trấn an, nhưng sau đó thì Thiện Loan đã trở thành nhân vật trung tâm của nhóm môn đệ ấy, tạo ra rất nhiều điều dị nghị, rồi tố cáo việc làm sai trái của môn đệ lên chính quyền Mạc Phủ ở Liêm Thương. Chính vì lẽ đó, vào năm 1256, Thân Loan đã đoạn tuyệt tình cha con với ông. Về sau, ông làm thủ lãnh của nhóm thầy cúng cầu đảo. Về năm mất của ông, có nhiều thuyết khác nhau, hiện vẫn chưa nhất trí.
thiện luật nghi
4885善之律儀。又稱律儀(梵 saṃvara)、善戒。為「惡律儀」之對稱。律儀,指律法儀式、戒律。善律儀,即指受戒者所得之無表色,有防非止惡之功能。比丘戒、比丘尼戒、六法、沙彌戒、沙彌尼戒、優婆塞戒、優婆夷戒、八齋戒等別解脫律儀,能遮止各種不律儀;定共戒及道共戒二者,能斷欲纏之惡戒及能起惡戒之煩惱,此三者總稱為善律儀。據大毘婆沙論卷九十六載,善律儀僅存於欲、色二界,不存於無色界。此因三界之中,僅在欲界、色界具有各種惡戒之法,無色界則因相對於欲界之惡戒而言,具有所依遠、所緣遠、行相遠、對治遠等「四遠」作用,故無惡戒之法;既無惡戒,亦無所謂「對治」之事,隨之亦無善戒可言。〔大毘婆沙論卷一一七、俱舍論卷十四、卷十五、雜阿毘曇心論卷三、順正理論卷三十六、卷三十九、四分律刪繁補闕行事鈔卷中一、大乘義章卷十二〕
; Xem Cấm giới.
; Good rules and customs.
; (善律儀) Cũng gọi Luật nghi (Phạm: Saôvara), Thiện giới. Đối lại:Ác luật nghi. Luật nghi thiện. Luật nghi, chỉ cho nghi thức giới luật. Thiện luật nghi chỉ cho Vô biểu sắc mà người thụ giới có được, có công năng ngăn dứt điều sai trái, xấu ác. Các Biệt giải thoát luật nghi như giới Tỉ khưu, giới Tỉ khưu ni, 6 pháp, giới Sa di, giới Sa di ni, giới Ưu bà tắc, giới Ưu bà di, giới Bát quan trai... đều có công năng ngăn ngừa các thứ bất luật nghi; hai loại Định cộng giới và Đạo cộng giới có công năng dứt ác giới dục triền và các phiền não có công năng sinh khởi ác giới; Biệt giải thoát luật nghi, Định cộng giới và Đạo cộng giới được gọi chung là Thiện luật nghi. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 96 thì Thiện luật nghi chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ khôngcóở cõi Vô sắc. Điều này là vì trong 3 cõi, chỉ ở cõi Dục và cõi Sắc là có đủ các loại pháp ác giới, còn cõi Vô sắc thì do đối lại với ác giới cõi Dục, có đủ tác dụng của Tứ viễn là sở y viễn, sở duyên viễn, hành tướng viễn và đối trị viễn, cho nên không có các pháp ác giới; vì không có ác giới nên cũng không có việc đối trị, do đó cũng không có thiện giới. [X. Luận Đại tì bà sa Q.117; luận Câu xá Q.14, 15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Thuận chính lí Q.36, 39; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết Q.trung, phần 1; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
thiện lân quốc bảo kí
4896凡三卷。日本臨濟宗僧瑞谿周鳳撰。蒐集中、韓、日三國交通之始,以迄日本後小松天皇明德三年(1392)之記事及往來之文書而成。卷中之部分記載,係後人加以追補者。續篇有續善鄰國寶記一卷、續善鄰國寶外記一卷、善鄰國寶別記一卷等。本書與續善鄰國寶記、續善鄰國寶外記二書,皆收於改定史籍集覽第二十一冊、續群書類從第三十輯上。〔倭版書籍考第四、群書備考第十七、本朝高僧傳卷四十二〕
; (善鄰國寶記) Tác phẩm, 3 quyển, do vị tăng tông Lâm tế Nhật bản là Thụy khê Chu phụng soạn. Nội dung sách này sưu tập các kí sự và văn thư qua lại giữa Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản từ khi 3 nước bắt đầu giao thông với nhau cho đến năm Minh đức thứ 3 (1392) đời Thiên hoàng Hậu tiểu tùng của Nhật bản. Phần ghi chép trong quyển trung là do người đời sau bổ sung thêm. Về những sách tiếp theo sách này thì có: Tục thiện lân quốc bảo kí 1 quyển, Tục thiện lân quốc bảo ngoại kí 1 quyển và Thiện lân quốc bảo biệt kí 1 quyển. Sách này và 2 tác phẩm Tục thiện lân quốc bảo kí, Tục thiện lân quốc bảo ngoại kí đều được thu vào Cải định sử tịch tập lãm tập thứ 21, Tục quần thư loại từ tập 30 trở lên. [X. Nuy bản thư tịch khảo 4; Quần thư bị khảo 17; Bản triều cao tăng truyện Q.42].
thiện lập định vương tam muội
Xem Tam muội vương an lập Tam muội.
thiện ma mạt lạt nam
Janma-marana (skt)—Sanh tử—Birth and death. ** For more information, please see Sanh Tử and Nhị Chủng Sanh Tử.
thiện mỹ
Beautiful.
thiện nam
Xem Ưu bà tắc.
; Xem Ưu bà tắc.
thiện nam thiện nữ
4879為善男子(梵 kula-putra)、善女人(梵 kula-duhitri, kula-dhītā)之簡稱。即指良家之男子、女子。經典中稱呼在家眾常用此稱,「善」係對信佛聞法而行善業者之美稱。勝鬘經中強調善男子、善女人之條件為捨離我執、我意,至心歸命於佛;窺基之阿彌陀經通贊謂,善男子、善女人乃梵語之優婆塞、優婆夷,即持五戒之在家男女。另有異說,如雜阿含經卷三十中即對比丘亦稱善男子。又大乘經典中,對菩薩稱「善男子」,對比丘則稱其名,其例甚多,但有時亦以「善男子」稱呼比丘。 明代祩宏於阿彌陀經疏中,就「善」字舉出二義,一為宿生之善因,一為今生之善類,「男女」通指緇素利鈍及六道中一切有情之眾生。此因一切男女,今得聽法者,必因宿世中積修善根,故稱善男、善女。後之注釋家多依此二說。又善男善女通常亦稱「善男信女」,今為一般信徒之通稱。〔雜阿含經卷三十一、十法經、勝鬘師子吼一乘大方便方廣經真子章、無量壽經卷下、梵文法華經授學無學人記品〕
; (善男善女) Gọi đủ: Thiện nam tử (Phạm: Kulaputra), thiện nữ nhân (Phạm: Kuladuhitri,Kula-duhìtà). Chỉ cho người nam, người nữ có tâm lương thiện. Trong kinh điển, tiếng xưng hô này thường được dùng đối với chúng tại gia. Thiện là từ khen ngợi những người do tin Phật nghe pháp mà tu các thiện nghiệp. Theo kinh Thắng man thì những điều kiện để trở thành thiện nam tử, thiện nữ nhân là xả bỏ ngã chấp, ngã ý, chí tâm qui y đức Phật. Trong A di đà kinh thông tán, ngài Khuy cơ nói rằng: Thiện nam tử,thiện nữ nhân là Ưu bà tắc, Ưu bà di trong tiếng Phạm, tức là những người nam, nữ tại gia giữ gìn 5 giới. Cũng có các thuyết khác, như trong kinh Tạp a hàm quyển 30, các tỉ khưu cũng được gọi là Thiện nam tử. Còn trong kinh điển Đại thừa thì đối với Bồ tát thì gọi là Thiện nam tử, đối với tỉ khưu thì phần nhiều gọi tên, nhưng cũng có khi gọi tỉ khưu là Thiện nam tử. Trong A di đà kinh sớ, ngài Chu hoành đời Minh nêu ra 2 nghĩa của chữ Thiện, một là thiện nhân đời trước, hai là thiện loại đời này, nam nữ chỉ chung cho tăng tục lợi độn và tất cả chúng sinh hữu tình trong 6 đường. Đó là vì hết thảy nam nữ, ngày nay được nghe pháp là nhờ đời trước đã tu nhiều thiện căn, nên gọi là thiện nam, thiện nữ. Các nhà chú thích đời sau phần nhiều y cứ theo 2 thuyết này. Thiện nam, thiện nữ thông thường cũng gọi là thiện nam, tín nữ nay là từ gọi chung các tín đồ.[X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Thập pháp; chương Chân tử trong kinh Thắng man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm Thụ học vô học trong kinh Pháp hoa (bản tiếng Phạm)].
thiện nam tín nữ
Good men and believing women.
; Good men and believing (good) women—Good son and good daughter—Believers in Buddhism.
Thiện nam tử
善男子; C: shàn nánzí; J: zennanshi; |Có các nghĩa sau: 1. Người con trai có căn lành, hoặc con trai của gia đình có thiện căn, một trong những danh xưng đức Phật thường gọi đệ tử, tương tự như »người cao quý«. Người có niềm tin chân chính (s: kula-putra); 2. Được dùng để gọi chúng sinh hữu tình hơn là gọi tăng sĩ Phật giáo; 3. Ông, anh.
thiện nam tử
Kulaputri (S).
; Good sons, or sons of good families. one of the Buddha's term of address to his disciples, somewhat resembling "gentlemen".
; Những đứa con của những gia đình tốt; từ Đức Phật dùng để gọi những người tại gia hay xuất gia mà tín tâm nghe và hành trì Phật pháp—Good sons—Sons of good families—Gentlemen—One of the Buddha's terms to address to his disciples.
thiện nam tử thiện nữõ nhân
Good men and believing women—See Thiện Nam Tử.
Thiện nam tử 善男子
[ja] ゼンナンシ zennanshi ||| (1) "Good sons," or "sons of good families;" one of the Buddha's terms of address to his disciples, similar to "gentlemen." One possessing correct faith (kula-putra). (2) Used in addressing bodhisattvas rather than Buddhist priests. (3) You. => Có các nghĩa sau: 1. Người con trai có căn lành, hoặc con trai của gia đình có thiện căn, một trong những danh xưng đức Phật thường gọi đệ tử, tương tự như “người cao quý”. Người có niềm tin chân chính (s: kula-putra). 2. Dùng để gọi chúng sinh hữu tình hơn là gọi tăng sĩ Phật giáo. 3. Ông, anh.
Thiện nghiệp
善業; C: shànyè; J: zengyō;|Việc làm tốt, hành động tốt lành, nghiệp lành. Hành xử theo cách để đêm lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Thực hành năm giới hay Mười việc thiện (s: sucarita, śubhaṃ-karma; t: dge baḥi las).
thiện nghiệp
4893指善之作業。為「惡業」、「不善業」之對稱。即能招感善果之身、口、意業。據瑜伽師地論卷九十載,善業之建立,係依如理作意,如實了知所緣之境,並明其結果。反之,惡業即依邪執著之心,於所緣之境不能如實了知所致。一般有五戒、十善等不同種類。〔大毘婆沙論卷二十四、卷二十九、俱舍論卷十五、卷十六、雜阿毘曇心論卷三、瑜伽師地論卷八十九、大乘阿毘達磨雜集論卷八、俱舍論光記卷十五〕(參閱「十善十惡」468、「善」4873)
; Kuśala kamma (P), Kuśala-karma (S)Xem Tu bồ đề.
; Punyakarma (S). Meritorious action. Also Nghiệp lành.
; Wholesome karma—Good karma—Good deeds—Skillful action—Kusala karma.
; (善業) Đối lại:Ác nghiệp, Bất thiện nghiệp. Chỉ cho nghiệp thiện. Tức các nghiệp do thân, khẩu, ý tạo tác, có công năng manglại quả thiện. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 90 thì sự kiến tạo nghiệp thiệnlày theo như lí tác ý, như thực biết rõ cảnh sở duyên, đồng thời rõ biếtkết quả. Trái lại, nghiệp ác thì y theo tà tâm chấp trước, đối với cảnh sở duyên không rõ biết đúng như thực. Thông thường có các loại Thiện nghiệp khác nhau như 5 giới cấm, 10 việc thiện... [X. luận Đại tì bà sa Q.24, 29; luận Câu xá Q.15, 16; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Du già sư địa Q.89; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; Câu xá luận quang kí Q.15]. (xt. Thập Thiện Thập ác, Thiện).
Thiện nghiệp 善業
[ja] ゼンギョウ zengyō ||| Good actions; wholesome activity; good karma. To act in such a way as to bring positive results in the future. To practice the five precepts 五戒, or ten wholesome actions 十善. (Skt. sucarita, śubhaṃ-karma; Tib. dge baḥi las. 〔華嚴經, T 278.9.395a-788b〕 => Việc làm tốt, hành động tốt lành, nghiệp lành. Hành xử theo cách để đêm lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Thực hành năm giới hay Mười việc thiện (Skt. sucarita, śubhaṃ-karma; Tib. dge baḥi las).
thiện nghệ
To have experience in one's profession—To be skilled in one's trade.
thiện nguyệt
4876<一>指一年中正月、五月、九月等三長齋月。於此三月間持長齋、行善事,故稱善月。據敕修百丈清規卷上祝釐章善月條載,禪院於善月之前一日,維那應令堂司行者覆報住持、庫司,掛善月牌於殿門前,並置備經單、輪差僧簿等,每日鳴大鐘,登殿看經祝贊,竟月而畢。(參閱「三齋」687、「神通月」4252) <二>(1149~1241)南宋天台宗僧。四明定海(浙江鎮海)人,俗姓方。字光遠,號柏庭,「善月」為其法名。(參閱「柏庭」3846)
; Ba tháng tốt để ăn trường chay như tháng giêng, tháng năm và tháng chín; vì trong ba tháng nầy quỷ thần sẽ đi rảo để báo cáo về hành vi của thế nhân—Good months, i.e. the first, fifth and ninth; because they are the most important in which to do good works and thus obtain a good report in the spirit realm.
; (善月) I. Thiện Nguyệt. Tháng lành. Tức chỉ cho 3 tháng ăn chay trường trong 1 năm, đó là tháng 1, 5, 9. Trong khoảng thời gian 3 tháng này giữ trường trai, làm việc thiện, vì thế gọi là Thiện nguyệt. Theo điềuThiện nguyệt, chương Chúc li trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển thượng thì 1 ngày trước Thiện nguyệt, trong Thiền viện, vị Duy na phải bảo vị Đường tư hành giả đến thưa vị Trụ trì, Khố ti và treo bảng Thiện nguyệt trước cửa điện, đồng thời sắp đặtđầy đủkinh đơn, sổ ghi luân phiên của chư tăng...; mỗi ngày dóng chuông lớn, lên điện đọc kinh chúc tán, hết tháng mới xong. (xt. Tam Trai, Thần Thông Nguyệt). II. Thiện Nguyệt (1149-1241) Danh tăng Trung quốc thuộc tông Thiên thai sống vào đời Nam Tống, người ở Định hải, Tứ minh (Trấn hải, Chiết giang), họ Phương, tự Quang viễn, hiệu Bách đình. (xt. Bách Đình).
thiện ngôn
Good word.
; Good words.
thiện nha
Sudāna (S), (S, P).
; Sudàna (S). A former name of the Buddha. Also Tô đạt nã.
; Sudanta (skt)—Good teeth.
Thiện nhân
善人; C: shànrén; J: zenjin;|Người tốt. Khi tái sinh làm thân người, được kể là sinh vào 1 trong »sáu (hoặc 5) đường«. Thường có nghĩa ngụ ý biểu hiện thiện nghiệp, và như thế, có liên quan đến sự tái sinh trong ba đường thấp kém, biểu hiện cho nghiệp bất thiện.
thiện nhân
A good man, especially one who believes in Buddhist ideas of causality and lives a good life.
; 1) Nhân do thiện căn mà tạo ra thiện quả: A wholesome cause will produce a wholesome result (good fruit). 2) Một người tốt, tin theo thuyết nhân quả của Phật Giáo và sống một đời thiện lành: A good man—An honest man, especially one who believes in Buddhist ideas of causality and lives a good life.
thiện nhân thiền
4873為九種大乘禪之第五種。能含攝一切善法,為大善根眾生所修之禪定。分為五種:(一)不味著,謂此禪定不樂著於禪定之味。(二)慈心俱,謂愛念眾生之心與禪定同時產生。(三)悲心俱,謂悲愍眾生之心與禪定同時產生。(四)喜心俱,謂歡喜眾生離苦得樂之心與禪定同時產生。(五)捨心俱,謂無憎無愛之平等心與禪定同時產生。〔法華玄義卷四上、法界次第初門卷下〕(參閱「九種大禪」152)
; (善人禪) Thiền của những người có thiện căn tu, là thứ 5 trong 9 thứ Thiền Đạithừa. Thiền định này bao nhiếp tất cả thiện pháp, được chia làm 5 thứ: 1. Bất vị trước: Không đắm vị. Nghĩa là loại thiền này không tham đắm vị của Thiền định. 2. Từ tâm câu: Từ tâm cùng lúc. Nghĩa là tâm thương nhớ chúng sinh đồng thời sinh khởi với Thiền định. 3. Bi tâm câu: Bi tâm cùng lúc. Nghĩa là tâm thương xót chúng sinh khởi lên đồng thời với Thiền định. 4. Hỉ tâm câu: Tâm mừng rỡ cùng lúc. Nghĩa là tâm mừng rỡ khi thấy chúng sinh lìa khổ được vui khởi lên đồng thời với Thiền định. 5. Xả tâm câu: Tâm không thương không ghét cùng lúc. Nghĩa là tâm bình đẳng sinh khởi đồng thời với Thiền định. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, thượng; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ]. (xt. Cửu Chủng Đại Thiền).
thiện nhân tự
4878位於察哈爾多倫諾爾城西北端,鄰近彙宗寺。又稱西廟、青寺。據大清一統志卷四○九之二載,此寺係清世宗於雍正五年(1727)追懷聖祖駐蹕前跡而建。第十五世章嘉呼圖克圖羅賴畢多爾吉(藏 Rol-paḥi rdo-rje)首任該寺住持,曾與登基前之高宗親交,編輯大藏全咒等。第十六、十七、十九世兼管善因、彙宗兩寺。寺之建置概同於彙宗寺,有大雄寶殿、天王殿、鐘樓、鼓樓等。大雄寶殿奉置本尊釋迦像、宗喀巴像及羯磨曼荼羅四壇,殿前八角堂並收有雍正帝御製碑。附屬於該寺之佛倉(呼圖克圖之住屋),計有那木喀呼圖克圖倉、洞濶爾呼圖克圖倉、俄木希呼畢勒罕倉等三倉;官倉(司掌寺之財政、法要等)則有大吉瓦倉、圖木圖倉、涝林倉、農仍倉、桑兌倉等五倉。〔內蒙黃教調查記(天純)、蒙藏佛教史(妙舟)、滿蒙の喇嘛教美術解說(逸見梅榮、仲野半四郎)、蒙古の喇嘛教(橋本光寶)、蒙古學問寺(長尾雅人)〕(參閱「彙宗寺」5443)
Thiện Như
(善如, Zennyo, 1333-1389): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ kế thế đời thứ 4 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Tuấn Huyền (俊玄), tục danh là Bá Kỳ Thủ Tông Khang (伯耆守宗康), tên lúc nhỏ là Quang Dưỡng Hoàn (光養丸), thông xưng là Đại Nạp Ngôn (大納言), hiệu là Thiện Như (善如); xuất thân từ vùng Kyoto, con trai đầu của Tùng Giác (從覺, người con thứ 2 của Giác Như). Năm1346, ông sao bổn lại bức tranh Thân Loan Truyện Hội (親鸞傳繪). Năm 1351 thì kế chức trú trì Bổn NguyệnTự. Đến năm 1360, ông sao chép cuốn Giáo Hành Tín Chứng Diên Thư (敎行信証延書). Cùng năm đó thì Tùng Giác qua đời, ông vẽ hình tượng cha mình, rồi nhờ Tồn Giác (存覺, Zonkaku) ghi bài tán vào. Năm1375, ông nhường chức lại cho Xước Như (綽如, Shakunyo), rồi năm 1381 thì viết sớ quyên tiền tu sửa miếu đường ở vùng Đại Cốc (大谷).
thiện nữ
Xem Ưu bà di.
thiện nữ nhân
Kuladuhitra (S), Kuladhita (S).
thiện nữ nhân truyện
4875凡二卷。清代彭際清撰。收於卍續藏第一五○冊。輯錄古來婦女皈依三寶,而貽有嘉譽者之事蹟。卷上收楊苕華、紀氏等八十人;卷下收仁孝徐星皇后、夏雲英等五十八人。
; (善女人傳) Truyện kí, 2 quyển, do ôngBành tế thanh soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này thu chép sự tích các phụ nữ xưa nay qui y Tam bảo, có để lại những việc tốt đẹp. Quyển thượng thu chép sự tích của 80 người như Dương thiều hoa, Kỉ thị... Quyển hạ thu chép sự tích của 50 người như Hoàng hậu Nhân hiếu Từ tinh, Hạ vân anh...
thiện pháp
4882梵語 kuśalā dharmāḥ。指合乎於「善」之一切道理,即指五戒、十善、三學、六度。為「惡法」之對稱。五戒、十善為世間之善法,三學、六度為出世間之善法,二者雖有深淺之差異,而皆為順理益世之法,故稱為善法。根本說一切有部毘奈耶雜事卷三十五(大二四‧三八二下):「國界人民,日見增長,善法無損。」〔往生要集卷中〕
; Kuśala-dharma (S), Kusala-dhamma (P).
; Kusala-dharma (S). Meritorious action, good dharma.
; Good method—Good law—Good ways.
; (善法) Phạm: Kuzalà dharmà#. Đối lại:Ác pháp. Từ ngữ gọi chung tất cả đạo lí hợp với lẽ Thiện, tức chỉ cho Ngũ giới, Thập thiện, Tam học, Lục độ... Ngũ giới, Thập thiện là thiện pháp thế gian, Tam học, Lục độ là thiện pháp xuất thế gian. Hai loại thiện pháp này tuy có sâu, cạn khác nhau, nhưng đều là các pháp thuận với đạo, ích cho đời, vì thế gọi là Thiện pháp. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 35 (Đại 24, 382 hạ) nói: Nhân dân trong nước mỗi ngày thấy tăng lên, thiện pháp thì không tổn giảm. [X. Vãng sinh yếu tập Q.trung].
thiện pháp dục
4883梵語 kuśalo dharma-cchandaḥ。指緣無漏法而起之貪欲。俱舍論卷十九(大二九‧一○二中):「若緣無漏,便非過失,如善法欲,不應捨離。(中略)住下地,心求上地,是善法欲,非謂隨眠。」然窺基之成唯識論述記卷六末(大四三‧四四四上):「薩婆多師緣無漏貪,是善法欲;今大乘說,愛佛、貪滅,皆染污收。」即以善法欲為小乘之善,大乘則認為皆係染污。〔瑜伽師地論卷二十一〕
; Kuśalo-dharma-cchanda (S)Tham dục khởi lên do duyên theo pháp vô lậu.
; (善法欲) Phạm: Kuzalo dharma-cchanda#. Chỉ cho tham dục duyên theo pháp vô lậu mà khởi. Luận Câu xá quyển 19 (Đại 29, 102 trung) nói: Nếu duyên vô lậu thì chẳng phải là lỗi, như thiện pháp dục, không nên lìa bỏ (...) Trụ ở cõi dưới mà tâm cầu cõi trên, đó là thiện pháp dục, chứ không phải thụy miên. Nhưng, trong Thành dy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối, ngài Khuy cơ nói (Đại 43, 444 thượng): Các sư Tát ba đa cho rằng duyên Vô lậu tham là thiện pháp dục; nay Đại thừa chủ trương yêu thương Phật, tham tịch diệt đều thuộc nhiễm ô. Tức cho rằng thiện pháp dục là thiện của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì cho đó là nhiễm ô. [X. luận Du già sư địa Q.21].
Thiện pháp hạnh
善法行; C: shànfăxíng; J: zenhōgyō;|Giai vị thứ 9 trong Thập hạnh (十行) của Bồ Tát đạo.
Thiện pháp hạnh 善法行
[ja] ゼンホウギョウ zenhōgyō ||| 'Skillfully teaching the dharma.' The ninth of the 'ten practices' 十行 stages in the path of bodhisattvahood. => Giai vị thứ chín trong Thập hạnh của Bồ-tát đạo.
thiện pháp hữu lậu
Good deeds done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another mortal body.
thiện pháp mạ
4884假藉善事來毀辱人或諷刺人,稱為善法罵,如說「你是大善人」。反之,以惡法罵人者,稱為惡法罵,如說「你是畜生」。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷中三之一〕
; (善法駡) Giả mượn danh nghĩa việc thiện để hủy nhục người, hoặc để chê bai, châm biếm người, gọi là Thiện pháp mạ, như nói Ông thực là đại thiện nhân. Trái lại, dùng ác pháp để mắng nhiếc, sỉ vả người gọi là Ác pháp mạ, như nói Mi là đồ súc sinh! . [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 3].
thiện pháp phái
4883巴利名 Saddhammanikāya。為緬甸上座部佛教派別。前身為全纏派,得名於孟雲王(Bodawpaya, 1782~1819 在位)召開之善法法師會議。敏東王(Mindon, 1853~1878 在位)時期,稱為永派、阿雲派、大眾派、甘派。後於施泊王(Thibaw, 1878~1885 在位)時期,與瑞琴派分裂而正式成立,迄今仍為緬甸最大之佛教派別。其教義特重積德行善及業報,戒律較寬,可穿絲綢或非以碎布拼製成之僧衣,亦可接受信徒布施之錢財。最高機構為善法法師會議。
; Saddhammaikāya (P)Một tông phái Phật giáo ở Miến điện từ giữa thế kỳ 18.
; (善法派) Pàli: Saddhammanikàya. Một phái khác của Phật giáo Thượng tọa bộ ở Miến điện, tiền thân là phái Toàn triền(phái mặc ca sa che kín cả 2 vai), tên gọi này có từ hội nghị Thiện pháp pháp sư do vua Mạnh vân (Bodawpaya, ở ngôi 1782-1819) triệu tập và khai mạc. Thời vua Mẫn đông (Mindon, ở ngôi 1853- 1878), phái này được gọi là Vĩnh phái, A vân phái, Đại chúng phái, Cam phái. Sau, vào thời vua Thi bạc (Thibaw, ở ngôi 1878- 1885) phái này cùng phái Thụy cầm chia ra và chínhthức thành lập, cho đến nay vẫn là 1 phái Phật giáo lớn nhất ở Miến điện. Giáo nghĩa của phái này đặc biệt xem trọng việc tích đức, làm thiện và nghiệp báo; giới luật tương đối rộng rãi, được phép mặc áo bằng tơ lụa, hoặc áo không phải đượcmay bằng những mảnh vải vụn, cũng được nhận tiền tài do tín đồ bố thí. Cơ quan cao nhất của phái này là Hội nghị Thiện pháp pháp sư.
Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh
善法方便陀羅尼經; C: shànfă fāngbiàn tuóluóníjīng; J: zembō hōben daranikyō; S: sumukha-dhāraṇī; T: sgo bzang po shes bya ba'i gzungs.|Hiện đang lưu hành 5 bản dịch tiếng Hán:|1. Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh (善法方便陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2a. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh (金剛祕密善門陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2b. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni chú kinh (金剛祕密善門陀羅尼呪經); 1 quyển, dịch giả Vô danh.|3. Hộ mệnh pháp môn thần chú kinh (護命法門神呪經), 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chí (菩提流志) dịch.|4. Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh (延壽妙門陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Hiền (法賢) dịch.
Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh 善法方便陀羅尼經
[ja] ゼンボウホウベンダラニキョウ Zembō hōben daranikyō ||| The Shanfa fangbian tuoluonijing; Skt. Sumukha-dhāraṇī; Tib. sgo bzang po shes bya ba'i gzungs [To.614/915, P.309/540]; (Dhāraṇī of the Fine Means of Access). Five Chinese translations are extant: (1) 1 fasc. (T 1137.20.580-581), Dhāraṇī of the Fine Means 善法方便陀羅尼經, trans. unknown. (2a) 1 fasc. (T 1138a.20.581-583), Dhāraṇī of the Adamantine Secret of the Fine Portal 金剛祕密善門陀羅尼經, trans. unknown. (2a) 1 fasc. (T 1138b.20.583-584), Dhāraṇī Spell of the Adamantine Secret of the Fine Portal 金剛祕密善門陀羅尼呪經, trans. unknown. (3) 1 fasc. (T 1139.20.584-587), Incantation of the Dharma-Door to Preserving One's Life 護命法門神呪經, trans. Bodhiruci 菩提流志. (4) 1 fasc. (T 1140.20.587-590), Dhāraṇī of the Superb Door to an Extended Lifespan 延壽妙門陀羅尼經, trans. Faxian 法賢. BGBT4/107-9. => Skt. Sumukha-dhāraṇī; Tib. sgo bzang po shes bya ba'i gzungs. Hiện đang lưu hành 5 bản dịch tiếng Hán: 1. Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh; 1 quyển, , dịch giả Vô danh. 2a). Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh; 1quyển, dịch giả Vô danh. (2a). Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni chú kinh; 1quyển, dịch giả Vô danh. 3. Hộ mạng pháp môn thần chú kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chí dịch. Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh; 1quyển, Pháp Hiền dịch.
thiện pháp đường
4883位於須彌山頂善見城外之西南角,為忉利天諸天眾之集會所。每逢三齋日,天眾集於此堂,詳論人、天之善惡,並制服阿修羅。依起世經卷六所載,此堂縱廣各五百由旬,有七重欄楯、七重鈴網,皆為七寶所成,四方諸門皆樓櫓臺觀,亦為七寶所成,其地為青琉璃寶,柔軟細滑,觸之如迦旃鄰提衣。堂中央有一寶柱,高二十由旬,柱下設帝釋天之座,高一由旬,方半由旬,左右各有十六小天王之座。又大唐西域記卷四載,如來往昔曾居於此堂,為其母說法。〔長阿含經卷二十、北本大般涅槃經卷十二、俱舍論卷十一、碧巖錄第八十九則〕
; (善法堂) Tòanhà nằm ở góctây nam ngoại thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, là nơi các Thiên chúng cõi trờiĐao lợi hội họp. Cứ vào 3 ngày trai thì chư thiên họp ở tòa nhà này để thảo luận về các việc thiện, ác ở cõi người và cõi trời, đồng thời chế phục A tu la. Theo kinh Khởithế quyển 6 thì tòa nhà này mỗi bề rộng 500 do tuần, có 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng đều được cấu tạo bằng 7 thứ báu, các cửa ở 4 phía đều có lầu gác đài quán, cũng làm bằng 7 báu, mặt đất trong nhà là ngọc lưu li màu xanh, mềm mại mịn màng như áo Ca chiên lân đề. Chính giữa nhà có 1 cây trụ báu, cao 20 do tuần, dưới trụ đăt tòa ngồi của trời Đế thích, cao 1 do tuần, vuông vức mỗi bề 1,5 do tuần, 2 bên đều đặt tòa ngồi của 16 vị Tiểu thiên vương. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì thuở xưa đức Phật từng ở trong nhà này thuyết pháp cho mẫu hậu nghe. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại bátniết bàn Q.12 (bản Bắc); luận Câu xá Q.11; Bích nham lục tắc Q.89].
Thiện Phục
(善伏, Zempuku, ?-660): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Nghĩa Hưng (義興), Giang Tô (江蘇), họ Tương (蔣), thường gọi là Đẳng Chiếu (等照). Năm lên 5 tuổi, ông xuất gia ở An Quốc Tự (安國寺), mặc áo vải thô sơ, ăn uống bần cùng, hằng ngày tụng kinh. Vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông đi du lịch khắp bốn phương, học pháp hành quán Tịnh Độ với Siêu Pháp Sư (超法師) của Thiên Thai Tông, đến các vùng Quế Châu (桂州), Quảng Châu (廣州), Tuần Châu (循州), v.v., sau cùng gặp Tứ Tổ Đạo Tín (道信), được vị này khai thị pháp môn phương tiện. Vào năm thứ 5 (660) niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), ông trú ở Hành Nhạc (衡嶽), một hôm nọ bảo đại chúng rằng: “Nhất thiết vô thường, khí tức nan bảo, dạ thâm các tán, duyên tận thường ly (一切無常、氣息難保、夜深各散、緣盡常離, hết thảy vô thường, hơi thở khó toàn, đêm dày chia tan, duyên hết thường lìa)”. Ngay đêm ấy, ông ngồi xếp bằng ngay ngắn mà thị tịch.
thiện phục
4878請參 優婆塞五戒經 (?~660)唐代禪僧。江蘇義興人,俗姓蔣。又稱等照。五歲出家於安國寺。布衣疏食,日誦經卷,一聞不忘。貞觀三年(629)辭州學,遊歷諸方,於浙江敏法師處,周覽經教,頗涉幽微。復於天台超法師處學淨土觀行,並遊桂州、廣州、循州等地,後於湖北晉見四祖道信,道信示以入道方便法門。顯慶五年往衡嶽,一日告眾曰(大五○‧六○三中):「一切無常,氣息難保;夜深各散,緣盡當離。」是夜端坐示寂,世壽不詳。〔續高僧傳卷二十一、釋氏六帖卷十一〕
thiện quang tự
4878位於日本長野市。山號定額山。原屬天台宗、淨土宗。又稱南命山無量寺、不捨山如來寺、北空山雲上寺。寺中所奉之本尊係欽明天皇十三年(552),從印度、中國、百濟等三國輾轉傳來之阿彌陀佛像,為日本最古之佛像。推古天皇十四年(606),信濃國伊奈郡宇招村麻績里人本田善光,自難波遷阿彌陀佛像歸鄉里,安置於家中;皇極天皇元年(642)移至水內郡芋井鄉(今長野現址),是為建寺之濫觴。今之堂舍乃以德川氏為其外護所建,有金堂、山門、仁王門、經藏、鐘樓、忠靈殿、大勸進、大本願等殿宇。其中,大勸進位於山門之西,為僧院,屬天台宗,內佛殿安置金銅前立之本尊;大本願位於仁王門西側,為尼院,屬淨土宗,本誓殿安置阿彌陀如來。中世以後,本寺以阿彌陀佛之信仰超越其他宗派之上,今由大勸進與大本願共同管理。〔拾芥抄卷下、源平盛衰記卷九、寺鑑卷上、善光寺草創考(喜田貞吉,歷史地理第三十四之六、第三十五之二)〕
thiện quán thiên
Xem Tu đới thiên.
thiện quả
Good fruit from thiện nhân; good fortune in life resulting from previous goodness.
; Kết quả thiện diệu nhờ nương vào thiện nghiệp—Good fruit from good cause; good fortune in life resulting from previous goodness. ** For more information, please see Thiện Nhân (1).
thiện quỷ
See Thiện Thần, and Thiên Long Bát Bộ.
thiện quỷ thần
4888指天地之善神,能護持佛法、擁護國土。包括梵天、帝釋、地祇、龍王、十六善神等。為「惡鬼神」之對稱。據金光明經鬼神品載,金剛密迹鬼神之諸王、散脂大將、禪那英鬼、緊那羅、阿耨達龍王、沙竭羅龍王、阿修羅王、迦樓羅王、大辯天神、功德天等皆為善鬼神。此善鬼神皆能自在變化,力大而勇猛,常守護世間,晝夜不離。〔無量壽經卷下、金光明經文句(會本)卷七〕
; (善鬼神) Đối lại:Ác quỉ thần. Chỉ cho các vịthiệnthần trong trời đất, giữ gìn Phật pháp, che chở đất nước, bao gồm Phạm thiên, Đế thích, Địa kì, Long vương, 16 thiện thần... Cứ theo phẩm Quỉ thần trong kinh Kim quang minh thì các vua quỉ thần Kim cương mật tích, Đại tướngTán chi,quỉThiềnna anh, Khẩn na la, Long vương A nậu đạt, Long vương Sa kiệt la, Vua A tu la, vua Ca lâu la, Thiên thần Đại biện, Thiên thần Công đức... đều là Thiện quỉ thần. Những Thiện quỉ thần này đều có năng lực biến hóa tự tại, có sức rất mạnh mẽ, thường giữ gìn, che chở cho thế gian, hằng đêm không xao lãng. [X.kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Kim quang minhkinh văn cú (hội bản) Q.7].
thiện sanh
Singalaka (S)Con một trưởng già thời Phật tại thếXem Tu xà đa.
; 1) Sujata (skt)—Sanh ra trong dòng hoàng tộc—Well-born, of high birth. 2) Susambhava (skt)—Tiền thân của Đức Phật Thích Ca—A former incarnation of Sakyamuni.
thiện sanh bồ tát
Xem Thi ca la việt Bồ tát.
thiện sanh kinh
Sujata sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; See Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A.
thiện sinh
4877梵名 Sīṅgālaka。音譯尸迦羅越。為佛陀時代印度王舍城長者之子,俗稱善生童子。佛見其學婆羅門每朝洗浴禮拜六方之法,遂教以佛法之六方禮。〔善生子經〕
; Sujàta (S). Well born, of high birth. Also Susambhava, a former incarnation of Sàkyamuni.
; (善生) Phạm:Sìígàlaka. Hán âm: Thi ca la việt. Cũng gọi Thiện sinh đồng tử. Con của 1 Trưởng giả ở thành Vương xá,Ấn độ, vào thời đức Phật. Phật thấy cậu học pháp của Bà la môn, cứ mỗi buổi sáng, tắm rửa sạch sẽ rồi lễ bái 6 phương, Ngài bèn dạy cậu lễ 6 phương theo Phật pháp. [X. kinh Thiện sinh tử].
thiện sinh kinh
Sigàlovàda-sutta (P). Name of a sùtra. Also Thi ca la việt kinh.
thiện sự
Good act.
thiện tai
4885梵語 sādhu,巴利語同。音譯作沙度、娑度、薩。為契合我意之稱歎語。又作好、善、善成、勝、完、正。玄應音義卷十七以「薩」為「娑度」之訛略。古印度於開會議決之際,表示贊成時皆用此語;又釋尊或其他諸佛於贊同其弟子之意見時,亦發此語,如無量壽經卷上(大一二‧二六六下):「佛言:『善哉!阿難,所問甚快!』」此外,持戒作法時亦用之,根本說一切有部百一羯磨卷一(大二四‧四五六上):「娑度(譯為善,凡是作法了時,及隨時白事皆如是作,若不說者,得越法罪)。」〔法華經卷七妙音品、大品般若經卷二「三假品」、根本說一切有部百一羯磨卷八、大智度論卷五十三、南海寄歸內法傳卷一、玄應音義卷二十、翻譯名義集卷五〕
; Sadhu (S)Lành thayQuí hóa thay! Lành thay!.
; Sàdhu (S). Good! Excellent!
; Sadhu (skt)—Lành Thay! Quý hóa thay! (từ dùng để tán thán hay khen ngợi)—Good—Excellent!—See Thiện Lai.
; (善哉) Phạm,Pàli:Sàdhu. Hán âm: Sa độ, Tát. Cũng gọi: Hảo, Thiện, Thiện thành, Thắng, Hoàn, Chính. Lành thay! Tức là lời khen khi hợpvới ý mình. Huyền ứng âm nghĩa quyển 17 cho rằng Tát là tiếng gọi tắt sai lầm của từ Sa độ. Ngày xưa, ở Ấn độ, trong hội nghị, khi biểu quyết1vấn đề gì, đều dùng từ ngữ này để bày tỏ sựtán thành. Đức Thích tôn, hoặc các đức Phật khác, khi tán đồng ý kiến của đệ tử, cũng nói Thiện tai! Như kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) ghi: Phật nói: Thiện tai! A nan, điều ông hỏi rất hay!. Ngoài ra, khi tác pháp trì giới cũng dùng Thiện tai. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 1 (Đại 24, 456 thượng) nói: Sa độ (Hán dịch: Thiện), hễ khi tác pháp, hoặc tùy thời tác bạch việc gì, đều nói Thiện tai, nếu không, sẽ phạm tộiviệt pháp. [X. phẩm Diệu âm trong kinh Pháp hoa Q.7; phẩm Tam giả trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma Q.8; luận Đại trí độ Q.53; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.20; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].
thiện thanh tịnh bồ tát
Xem Kim Cang Pháp Bồ tát.
thiện thay! thiện thay!
Lành thay! Lành thay!—Sadhu (skt)—Good! Excellent!
thiện thiện quốc
6192西域之古國。又稱樓蘭、禪善、納縛波。位於新疆羅布泊(Lob-nor)西方,即位於古代天山南路東端,為東西交通要衝。盛產玉石,人民以畜牧為生,信仰佛教。據高僧法顯傳載,東晉時法顯至該國,國王信奉佛法,有僧眾四千餘,皆學小乘。又據洛陽伽藍記卷五載,北魏時宋雲、惠生等,由吐谷渾西行三千五百里而達鄯善。又上記納縛波之稱,僅見於大唐西域記卷十二。 鄯善自前漢經曹魏、西晉、苻秦,至北魏,皆遣使來朝。後為吐谷渾吞併。隋代時於扞泥城置鄯善鎮,後因隋亂,其城遂廢。唐時改稱石城鎮,隸屬沙州。 依史書記載,鄯善國除有扞泥城之外,另有伊循城。根據英國史坦因(A. Stein)於西元一八○六年之勘查,及依北魏酈道元之水經注卷二所引釋氏西域記等記載,推定今車爾成河(Charchan)與塔里木河(Tarim)交流處西南之卡克里克(Charkhlikoasis),即古之伊循城;而其東方約四十八公里之彌朗(Miran) 廢墟,即扞泥城。然亦有謂卡克里克為扞泥城,彌朗為伊循城,或更以扞泥城與伊循城實為一地。 此外,從彌朗之堡壘及佛寺、佛塔之故址中,發現經典、泥像、壁畫等古代遺物,其壁畫中含有被推斷為西元三世紀之作品,此為中央亞細亞所發現之最古遺物。〔大寶積經卷十密迹金剛力士會、出三藏記集卷十五智猛傳、大慈恩寺三藏法師傳卷五、漢書西域傳第六十六上、魏書列傳第九十、唐書地理志第三十三下、古今圖書集成邊裔典第五十二、西域考古圖譜卷上、東西交涉史の研究西域篇、鄯善國都考(大谷勝真,市村博士古稀記念東洋史論叢)、T. Watters: On Yuan Chwang, vol. II; A. Stein: Ruins of Desert Cathay, vol. I; Serindia, vol. I、樓蘭鄯善問題(馮承鈞)〕
; (鄯善國) Cũng gọi Lâu lan, Thiền thiện, Nạp phược ba. Tên một nước thời xưa ở Tây vực, nằm về mạn tây La bố bạc (Lob-nor) thuộc Tân cương, tức phía cực đông của con đường NamThiên sơn đời cổ, là điểm xung yếu của trục giao thông Đông Tây. Nước này sản xuất nhiều đá ngọc, dân chúng thì sống bằng nghề chăn nuôi, tin theo Phật giáo. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì vào đời Đông Tấn ngài Pháp hiển có đến nước này, Quốc vương tin thờ Phật pháp, có hơn 4 nghìn tăng đều tu học Tiểu thừa giáo. Còn theoLạcdươnggià lam kí quyển 5 thì vào thời Bắc Ngụy, các ngài Tống vân, Huệ sinh... từ Thổ cốc hồn đi về phía tây 3 nghìn 5 trăm dặm thì đến nước Thiện thiện. Lại tên gọi Nạp phược ba nói trên chỉ thấy ghi trong Đại đường tây vực kí quyển 12. Nước Thiện thiện từ thời Tiền Hán qua các đời Tào Ngụy, Tây Tấn, Phù Tần, cho đến Bắc Ngụy đều sai sứ đến triều cống Trung quốc. Sau, nước này bị Thổ cốc hồn thôn tính. Đời Tùy đặt trấn Thiện thiện ở thành Hãn nê, sau vì nhà Tùy rối ren nên thành Hãn nê cũng hoang phế. Đến đời Đường, trấn Thiện thiện được đổi thành trấn Thạch thành, lệ thuộc Sa châu. Theo sử chép thì nước Thiện thiện ngoài thành Hãn nê còn có thành Y tuần. Căn cứ theo sự điều tra vào năm 1806 Tây lịch của học giả người Anh tên là A. Stein (Sử thản nhân) và theo Thích thị Tây vực kí được trích dẫn trong Thủy kinh chú quyển 2 của Lịch đạo nguyên, đã suy đoán rằng Ca khắc lí khắc (charkhlik oasis) ở phía tây nam, chỗ giao lưu giữa sông Xa nhĩ thành (Charchan) và sông Tháp lí mộc (Tarim) hiện nay chính là thành Y tuần ngày xưa, còn gò hoang Di lãng (Miran) nằm cách thành này 48km về phía đông thì chính là thành Hãn nê. Nhưng cũng cóthuyết cho rằng Ca khắc lí khắc là thành Hãn nê, Di lãng là thành Y tuần; lại có thuyết chủ trương thành Hãn nê và thành Y tuần thực rachỉlà một. Ngoài ra, từ trong thành lũy của Di lãng và nền cũ của các chùa Phật, tháp Phật, có nhiều cổ vật như kinh điển, tượng đất, bích họa... được phát hiện. Trong cácbức bích họa, có nhiều bức được suy đoán là những tác phẩm của thế kỉ III Tây lịch. [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.10; truyện ngài Trí mãnh trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Hán thư Tây vực truyện 66 thượng; Ngụy thư liệt truyện 90; Đường thư địa lí chí 33 hạ; Cổ kim đồ thư tập thành duệ điển 52; Tây vực khảo cổ đồ phổ Q.thượng; thiên Tây tạng trong Đông tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; Thiện thiện quốc đô khảo (Đại cốc Thắng chân, Thị thôn bác sĩ cổ hi kỉ niệm đông dương sử luận tùng) On Yuan Chwang, vol. II, by T. Watters; Ruins of Desert Cathay Vol. I, by A. Stein; Serindia, Vol. I; Lâu lan thiện thiện vấn đề (Phùng thừa quân).
thiện thuyết nhất thiết giáo phái nguyên lưu cập giáo nghĩa tinh kính sử
4894西藏名 Grub mthaḥ thams cad kyi khuṅs daṅ ḥdod tshul ston pa legs bśad śel gyi me loṅ。又作一切宗義綱要正說水晶鏡、一切宗義明鏡、宗教流派鏡史、土觀宗派源流。係藏文佛教史籍。由清代土觀卻吉尼瑪(藏 Thuḥu bkvan blobzaṅ chos kyi ñi ma, 1737~1802,意譯作善慧法日),於仁宗嘉慶六年(1801)撰成。內分十二章,簡介各派宗教,即:(一)印度外道、佛教諸派。(二)西藏前弘期佛教、後弘期佛教、密咒古派(藏 Gsaṅ sṅags rñiṅ ma)。(三)迦當派(藏 Bkaḥ gdams pa)。(四)迦爾居派(藏 Bkaḥ brgyud pa)。(五)希解派(藏 Shi byed pa)。(六)薩迦派(藏 Sa skya pa)。(七)爵南派(藏 Jo naṅ pa)。(八)額爾德派(藏 Dge lugs pa)。(九)棒教(藏 Bon po)。(十)中國之儒教、道教。(十一)中國佛教諸派。(十二)蒙古、和闐以及傳說中仙巴拉(Shambhala)等地之佛教諸派。其中,西藏佛教部分,除記述各派之起源、歷史發展、教義綱要等外,並以作者所信仰之額爾德派觀點,對諸派作批判與比較,間或論及其他諸派之歷史發展、教義等與額爾德派之關係。 尼瑪鑑於賈揚歇巴多吉(藏 Ḥjam dbyaṅs bshad paḥi rdo rje, 1648~1721)所撰之宗義講說(藏 Grub mthaḥ rnam bśad)、十五世章嘉羅巴多吉(藏 Lcaṅ kya rol pahi rdo rje, 1717~1786)撰之宗義講說(藏 Grub mthaḥ rnam bshag)二書內容皆限於印度佛教系統,論述範圍較狹;又憂慮當時額爾德派在政治上之絕對優勢將導致此教派漸趨僵化,失去宗教自覺之能力,故作本書。今有藏文木刻本拉薩版、德格版等傳世。〔西藏佛教宗義研究(立川武藏)〕
; (善說一切教派源流及教義晶鏡史) Tạng: Grub mthaḥ thams cad kyi khuṅs daṅ ḥdod tshul ston pa legs bśad śel gyi me loṅ. Cũng gọi Nhất thiết tông nghĩa cương yếu chính thuyết thủy tinh kính, Nhất thiết tông nghĩa minh kính, Tông giáo lưu phái kính sử, Độ quán tông phái nguyên lưu.Tác phẩm, tiếng Tây tạng, nói về lịch sử Phật giáo, do ngài Độ quán khước cát ni mã (Tạng: Thuḥu bkvan blobzaṅ chos kyi ñi ma, 1737-1802, dịch ý là Thiện tuệ Pháp nhật) soạn vào năm Gia khánh thứ 6 (1801) đời vua Nhân tông nhà Thanh. Nội dung sách này chia làm 12 chương, giới thiệu sơ lược các phái tông giáo, 12 chương gồm: 1. Ngoại đạo và các phái Phật giáo ở Ấn độ. Phật giáo Tây tạng thời kì hoằng truyền trước và thời kì hoằng truyền sau, Cổ phái Mật chú (Tạng: Gsaí síags rĩií ma). 3. Phái Ca đương (Tạng: Bka# gdams pa).4. Phái Ca nhĩ cư (Tạng: Bka# brgyud pa).5. Phái Hi giải (Tạng:Shi byed pa). 6. Phái Tát ca (Tạng: Sa skya pa). 7. Phái Tước nam (Tạng: Jo naí pa). 8. Phái Ngạch nhĩ đức (Tạng: Dge lugs pa).9. Bổng giáo (Tạng:Bon po). 10. Nho giáo, Đạo giáo Trung quốc. 11. Các phái Phật giáo Trung quốc. 12.Các phái Phật giáo ở Mông cổ, Hòa Điền và các địa khu trong truyền thuyết như Tiên ba lạp (Shambhala)... Trong đó, về phần Phật giáo Tây tạng, ngoài việc trình bày về nguồn gốc các phái, lịch sử phát triển, giáo nghĩa cương yếu... tác giả còn đứng trên quan điểm của phái Ngạch nhĩ đức mà tác giả tin theo để phê bình và so sánh các phái khác, đôi khi tác giả cũng nói đến lịch sử phát triển, giáo lí... của các phái khác có quan hệ với phái Ngạch nhĩ đức. Tác giả Ni mã nhận thấy nội dung 2 bộ Tông nghĩa giảng thuyết (Tạng: Grub mtha# rnam bzad) do ngài Giả dương hiết ba đa cát (Tạng: Fjam dbyaís bshad pa#i rdo rje, 1648-1721) soạn và Tông nghĩa giảng thuyết (Grab mtha# rnam bzad) do ngài Chương gia la ba đa cát (Tạng: Lcaí kya rol pahi rdo rje, 1717- 1786) đời thứ 15 soạn, đều giới hạn ở hệ thống Phật giáoẤn độ, phạm vi trình bày tương đối hẹp, lại nghĩ đến ưu thế chính trị tuyệt đối của phái Nghạch nhĩ đức lúc bấy giờ sẽ đưa dần giáo phái này đến tình trạng suy bại, mất năng lực tự giác tông giáo, đó là những lí do khiến tác giả soạn sách này. Hiện nay có bản Lạp tát (Lhasa), bản Cách đức khắc gỗbằngtiếng Tây tạng lưu hành ở đời.
thiện thí
Xem Tu đạt Đa.
; Sudatta (S). Name. Also Tô đạt đa.
Thiện thông
善通; C: shàntōng; J: zentsū; |Thông đạt, tương giao mật thiết với nhau không ngăn ngại.
Thiện Thông Tự
(善通寺, Zentsū-ji): ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Thiện Thông Tự (善通寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại 615 Zentsūji-chō (善通寺町), Zentsūji-shi (善通寺市), Kagawa-ken (香川縣), hiệu núi là Bình Phong Phố Ngũ Nhạc Sơn (屏風浦五岳山); tên gọi chính thức là Bình Phong Phố Ngũ Nhạc Sơn Đản Sanh Viện Thiện Thông Tự (屏風浦五岳山誕生院善通寺). Vốn là nơi linh địa chốn đản sanh của Hoằng Pháp Đại Sư, nên danh hiệu viện được đặt như vậy; còn tên chùa là Thiện Thông Tự. Tên chùa này vốn xuất phát từ tên của người cha Đại Sư là Tá Bá Thiện Thông (佐伯善通). Trong thời kỳ chiến tranh, nơi vùng đất đản sanh của Hoằng Pháp Đại Sư này lại rất nổi tiếng với doanh đô của quân lính; cho nên khi nghe tên Thiện Thông Tự, có nhiều người lại nghĩ đến tên của quân đội hay tên của nơi đóng quân hơn là tên chùa. Vào năm thứ 16 niên hiệu Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), theo mệnh lệnh của quân đội, khi toàn thể Chơn Ngôn Tông hợp nhất lại thành một khối, Thiện Thông Tự này cũng đã từng trở thành Tổng Bản Sơn của toàn bộ Tông phái. Điều này cũng có liên quan đến nguồn gốc ra đời của Đại Sư vậy. Vào ngày 15 tháng 6 năm thứ 5 (774) niên hiệu Bảo Quy (寶龜), Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai) ra đời ở vùng đất này, là con của Tá Bá Thiện Thông. Sau đó, Đại Sư sang nhà đường cầu pháp, rồi sau khi trở về nước thì nhận được sắc chỉ của triều đình cho phép khai Tông lập giáo Chơn Ngôn Tông vào năm 807, lúc ấy phụ thân của Đại Sư mới lấy nhà của ông mà dâng cúng để làm nên ngôi chùa này. Đây là ngôi chùa tối cổ của Chơn Ngôn Tông và thậm chí còn xưa hơn cả Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) nữa. Từ năm đầu (1229) niên hiệu Khoan Hỷ (寛喜) trở đi, chùa phụ thuộc vào Đông Tự (東寺, Tō-ji), có đầy đủ cả Kim Đường, Giảng Đường, Hộ Ma Đường và rất hưng thạnh; nhưng vào khoảng thời gian 1275-80 thì lại suy thối, và được Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō) phục hưng lại. Sau đó, vào năm 1340 thì chùa bị cháy rụi, và vị Tổ thời Trung Hưng của chùa là Hựu Phạm (宥範, Yūhan) đã bỏ hết 22 năm để trùng hưng lại ngôi chùa này. Việc này tương truyền là nhờ sự trợ lực của những nhân vật có quyền thế đương thời như Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏), Trực Nghĩa (直義) và Nghĩa Mãn (義滿), v.v. Tuy nhiên, các đường tháp cũng như già lam của chùa lại một lần nữa bị cháy tan tành do vụ binh loạn giữa hai dòng họ Tam Hảo (三好) và Hương Xuyên (香川) vào năm 1558. Các đường tháp hiện tại là do sự ngoại hộ của các vị lãnh chúa của vùng đất này qua nhiều đời. Ngoài các vị lãnh chúa ra thì lịch đại những vị Thiên Hoàng cũng rất sùng tín với chùa. Nơi Kim Đường của chùa tôn trí bức tượng Dược Sư Như Lai dạng ngồi. Nơi Ngự Ảnh Đường tương truyền là ngự điện của mẹ Đại Sư. Còn chánh điện của chùa thì cũng không lớn lắm, nhưng là kiến trúc điển hình của đầu thời kỳ Giang Hộ. Ngôi Ngũ Trùng Tháp tương truyền do Hoằng Pháp Đại Sư kiến lập nên, nhưng rồi lại bị hỏa tai nên cháy rụi và trải qua một thời gian khá lâu không phục hưng lại, mãi đến năm 1884, nhân lúc Húy Kỵ lần thứ 1050 năm của Đại Sư thì ngôi tháp này mới được làm lễ lạc thành.
Thiện thông 善通
[ja] ゼンツウ zentsū ||| To commune well; to communicate with each other without hindrance. 〔二障義HPC 1.793a〕 => Thông đạt, tương giao mật thiết với nhau không ngăn ngại.
Thiện thú
善趣; C: shànqù; J: zenshu; |Cõi giới lành. Tái sinh vào cảnh giới trong lành có được từ kết quả tích tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: sugati-gati). Tái sinh làm người, hay chư thiên trong sáu đường (lục đạo 六道). Ngược lại là tái sinh trong các đường dữ (ác đạo 惡道). Một số truyền thống xem tái sinh làm a-tu-la là một trong các đường lành.
thiện thú
4895梵語 svarga-gati。謂由善之業因而趣往之所在,即指天界等。又稱善處、善道。相對於惡趣(梵 dur-gati)、惡處、惡道。中阿含卷十二(大一‧五○三上):「爾時,世尊告諸比丘:『我以淨天眼出過於人,見此眾生死時好色、惡色,或妙、不妙,往來善處及不善處,隨此眾生之所作業,見其如真。若此眾生成就身惡行、口意惡行,誹謗聖人,邪見成就邪見業,彼因緣此,身壞命終,必至惡處,生地獄中。若此眾生成就身妙行、口意妙行,不誹謗聖人,正見成就正見業,彼因緣此,身壞命終,必昇善處,乃生天上。』」故知生於善趣或惡趣,皆以善、惡之行業為基準。關於善惡趣之範圍,大智度論卷三十謂,六道中,地獄、畜生、餓鬼等,屬於惡趣;天、人、阿修羅等,屬於善趣。此為通說。俱舍論卷十八則以人、天二者為善趣。〔雜阿含經卷四十二、大寶積經卷三十八菩薩藏會、菩薩行方便境界神通變化經卷中、法華經卷三藥草喻品、不退轉法輪經卷一序品、大毘婆沙論卷一七六〕
; (善趣) Phạm: Svarga-gati. Cũng gọi Thiện xứ, Thiện đạo. Đối lại:Ác thú (Phạm:Dur-gati),Ác xứ,Ác ạo. Chỉ cho các cõi nước tốt lành mà những người tạo nghiệp nhân thiện sinh ới. Trung A hàm quyển 12 (Đại 1, 503 thượng) ghi: Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các tỉ khưu: Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh trông xa hơn người, thấy chúng sinh ấy lúc chết có sắc tốt, sắc xấu, tinh diệu, không tinh diệu, đi đến chỗ thiện, chỗ bất thiện, tùy theo nghiệp nhân mà chúng sinh ấy đã tạo tác, ta thấy đúng như thực. Nếu chúng sinh ấy thành tựu thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, phỉ báng thánh nhân, tà kiến thành tựu nghiệp tà kiến, do nhân duyên này, những chúng sinh ấy, khi thân hoại mệnh chungthì chắc chắn sẽ đi tới ác xứ, sinh vào địa ngục. Trái lại, nếu chúng sinh ấy thành tựu thân diệu hạnh, khẩu diệu hạnh, không phỉ báng thánh nhân, chính kiến thành tựu nghiệp chính kiến, do nhân duyên này, những chúng sinh ấy, khi thân hoại mệnh chung, chắc chắn sẽ đến thiện xứ, sinh lên cõi trời. Vì thế nên biết sinh vào thiện thú hay ácthúđều lấy hành nghiệp thiện, ác làm nền tảng. Về phạm vi của Thiện thú vàÁc thú thì luận Đại trí độ quyển 30 cho rằng trong 6 đường, địa ngục, súc sinh, ngã quỉ thuộc về Ác thú; cõi trời, cõi người và A tu la thuộc về Thiện thú. Đây là thuyết phổ thông. Luận Câu xá quyển 18 cho 2 cõi trời và người là Thiện thú.. [X.kinh Tạp a hàm Q.42; hội Bồ tát tạng trong kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Bồ tát hành phương tiện cảnh giới hần thông biến hóa Q.trung; phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; hẩm Tựa kinh Bất thoái chuyển pháp luân Q.1; luận Đại tì bà sa Q.176].
Thiện thú 善趣
[ja] ゼンシュ zenshu ||| Good destiny. A rebirth into a positive situation that comes as the result of the accumulation of good karma from previous lifetimes (sugati-gati). The rebirths as human 人 or god 天 among the six destinies 六道. As contrasted with evil destiny 惡道. Some traditions also consider rebirth as an asura 修羅 to be one of the positive destinies. 〔瑜伽論T 1579.30.367b29〕 => Cõi giới lành. Tái sinh vào cảnh giới trong lành có được từ kết quả tích tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: sugati-gati). Tái sinh làm người, hay chư thiên trong sáu đường (lục đạo). Ngược lại là tái sinh trong các đường dữ (ác đạo). Một số truyền thống xem tái sinh làm a-tu-la (s: asura 修羅) là một trong các các cõi giới lành.
thiện thư
4886即宣說倫理道德而勸人為善之書。其內容以佛、儒、道三教之因果報應、勸善懲惡等思想為主,歷來普遍流行於我國民間。其性質極具庶民性,故比佛、儒、道之正規經典更易為民眾接受,並依之確立其倫理目標及生活規範。 善書之修文、編纂、注解、印刷出版等之工作者,多為知識階級或地方士紳,故通常被稱為「善人」。於善書中,有署名者,亦有假託由神仙降臨之乩筆所成而不署名者。其中以太上感應篇、文昌帝君陰騭文、關聖帝君覺世真經等三書流通最廣,號稱民間宗教之「三聖經」。三書之中,又以太上感應篇最具代表性。此三書於明清之後,漸成為中國人精神生活與宗教信仰之重要支柱;而將三聖經中所說之德目實踐化者,即為「功過格」一類之善書。功過格類之善書中,以「太微仙君功過格」最具傳統權威性。此外,袁了凡(1535~1608)之陰騭錄(又稱了凡四訓)則為實踐功過格之實際記錄,對於明清以來之民間宗教信仰,具有極深遠之影響。 一部合刊出版之善書,若具足上舉之三聖經、太微仙君功過格,及陰騭錄,則堪稱為具有代表性之善書。歷代以來所流傳之善書,多達千萬種,乾隆五十四年(1789),善人劉山英編輯發行「信心應驗錄」,其內彙輯各種重要之善書,共分九卷,所收善書約一五○種,此種彙編而成之善書叢書極受民間歡迎。又明代以後所刊行之善書,大多汲取當時盛行於民間之「變文」,而廣為流布。
; (善書) Sách lành. Tức chỉ cho loại sách nói về luân lí, đạo đức để khuyên người làm việc thiện. Nội dung lấytư tưởngnhân quả báo ứng, khuyến thiện trừng ác của 3 giáo Phật, Nho, Đạo làm chính, xưa nay vốn đã lưu hành phổ cập khắp trong dân gian Trung quốc. Tính chất của loại sách này rất mộc mạc, bình dị, cho nên dễ được dân chúng tiếp nhận hơn so với kinh điển chính qui của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, đồng thời y cứ vào đóđểxác lập mục tiêu luân lí và qui phạm sinh hoạt. Công việc sửa văn, biên soạn, chú giải, ấn loát xuất bản... Thiện thư, phần nhiều do giai cấp trí thức hoặc thân sĩ địa phương thực hiện, cho nên thông thường họ được gọi là Thiện nhân. Trong Thiện thư, có truyện đề tên tác giả, cũng có truyện mượn danh thần tiên do cầu cơ giáng bút mà thành nên không có tên tác giả. Trong đó, 3 sách: Thái thượng cảm ứng thiên, Văn xương đế quân âm chất văn và Quan thánh đế quân giác thế chân kinh được lưu thông rộng nhất và được tôn xưng là Ba kinh Thánh của tông giáo dân gian. Trong 3 sách, Thái thượng cảm ứng thiên có tính cách đại biểu nhất. Sau các đời Minh, Thanh, 3 sách này dần dần trở thành trụ cột quan trọng đối với sự sinh hoạt tinh thần và tín ngưỡng tông giáo của người Trung quốc và các Thiện thư thực tiễn hóa các đức mục được nói trong 3 kinh Thánh kể trên chính là loại Công quá cách. Trong các Thiện thư thuộc loại Công quá cách thì Thái vi tiên quân công quá cách, là có tính cách truyền thống nhất. Ngoài ra, Âm chất lục (cũng gọi làLiễu phàm tứ huấn) của Viên liễu phàm (1535- 1608) thì ghi chép một cách cụ thể về sự thực hành Công quá cách, đã có ảnh hưởng rất sâu xa đối với tín ngưỡngtông giáo dân gian từ đời Minh, Thanh về sau. Nếu 1 bộ Thiện thư được ấn loát xuất bản chung mà có đủ 3 kinh Thánh nói trên cộng với Thái vi tiên quân công quá cách và Âm chất lục thì đáng gọi là bộ Thiện thư có đầy đủ tính cách đại biểu. Các Thiện thư được lưu truyền từ trước đến nay có rất nhiều loại. Năm Càn long 50 (1789), Thiện nhân Lưu sơn anh biên tập và phát hành Tín tâm ứng nghiệm lục, nội dung vậng tập các loại Thiện thư trọng yếu, chia làm 9 quyển, thu gom khoảng 150 loại Thiện thư. Loạitùng thư về Thiện thư này Rất được dân gian đón nhận. Còn các Thiện thư được ấn hành từ đời Minh về sau, phần nhiều là nhờ có hấp thu Biến văn thịnh hành trong dân gian đương thời mà được lưu thông rộng rãi.
Thiện thần
(善神): tên gọi chung những vị hộ trì chánh pháp trong Tám Bộ chúng. Như trong Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026) có câu: “Bi mẫn cứu hộ nhất thiết chúng sanh, chư thiên thiện thần thường lai thủ hộ (悲愍救護一切眾生、諸天善神常來守護, thương xót cứu giúp hết thảy chúng sanh, chư thiên thiện thần thường đến bảo vệ).” Hay trong Thiên Địa Bát Dương Thần Chú Kinh (天地八陽神咒經, Taishō Vol. 85, No. 2897) cũng có đoạn: “Nhược văn thử kinh, tín thọ bất nghịch, tức đắc giải thoát chư tội chi nạn, xuất ư khổ hải, thiện thần gia hộ, vô chư chướng ngại, diên niên ích thọ (若聞此經、信受不逆、卽得解脫諸罪之難、出於苦海、善神加護、無諸障礙、延年益壽, nếu nghe kinh này, tin nhận không trái, tức được giải thoát ách nạn các tội, ra khỏi biển khổ, thiện thần gia hộ, không có chướng ngại, sống lâu thêm thọ).”
thiện thần
The good devas, or spirits, who protect Buddhism.
; Các vị thần hộ trì Chánh Pháp—The good devas or spirits who protect Buddhism—Fortune saints. ** For more information, please see Thiên Long Bát Bộ.
thiện thế thiền sư
4876為明代僧官之名稱。太祖洪武元年(1368),於南京天界寺設立善世院,以管理佛教事務。慧曇為第一代之善世禪師。洪武十四年六月,設有正六品官左、右善世二員,以督鑑寺院僧眾之違法犯過者。又於洪武二十二年,下詔賦予善世禪師綱治天下諸山之職權,蓋以「佐王綱而理道」為其最大目的。〔釋鑑稽古略續集卷二〕
thiện thế viện
4876明初統領佛教之機構。據太祖實錄卷二十五載,洪武元年(1368)正月設立善世院,以臨濟宗大慧派僧慧曇覺原統領釋教之事,並立玄教院,以道士經善悅統領道教之事。蓋善世院設於南京龍河大龍翔集慶寺內,該寺於同時改稱大天界寺(通稱天界寺),有太祖所書「天下第一禪林」之寺額。慧曇受從二品與「演梵善世利國崇教大禪師」之號,任天界寺住持,服紫衣,統領諸山釋教之事。 洪武四年,天界寺改稱天界善世禪院,洪武五年改稱善世法門。至洪武十四年十二月改革善世院,於十五年併入新成立之僧錄司;同年寺名亦改稱善世院,寺內設置僧錄司,以戒資任左善世,宗泐任右善世。洪武二十一年天界寺遭大火,僧錄司乃移至天禧寺,天界寺之寺址亦移至城南,仍稱天界善世禪院。〔金陵梵剎志卷十六、卷三十九、釋鑑稽古略續集卷二、明高僧傳、古今圖書集成博物彙編神異典第六十四釋教部彙考六、明代の僧官(龍池清,支那佛教史學四之三)〕
; (善世院) Cơ quan thống lãnh Phật giáo Trung quốc ở đầu đời Minh. Cứ theo Thái tổ thực lục quyển 25 thì vào tháng giêng niên hiệu Hồng vũ năm đầu (1368) thiết lập viện Thiện thế, ngài Tuệ đàm Giác nguyên, vị tăng phái Đại tuệ thuộc tông Lâm tế, thống lãnh các việc của Phật giáo, đồng thời lập viện Huyền giáo do đạo sĩ Kinh thiện duyệt thống lãnh công việc của Đạo giáo. Thiện thế viện được đặt ở chùa Đại long tường tập khánh tại Long hà, Nam kinh, cho nên chùa này cùng lúc được đổi tên là chùa Đại thiên giới (thường gọi là chùa Thiên giới) với bảng hiệu Thiên Hạ Đệ Nhất Thiền Lâm do vua Thái tổ viết. Ngài Tuệ đàm được ban cho hiệu Diễn Phạm Thiện Thế Lợi Quốc Sùng Giáo Đại Thiền Sư với chức quan Tòng nhị phẩm, đảm nhiệm chức Trụ trì chùa Thiên giới, mặc áo đỏ, thống lãnh mọi việc của Phật giáo và các chùa trong nước. Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), chùa Thiên giới được đổi tên là Thiên giới thiện thế thiền viện, năm sau được đổi là Thiện thế pháp môn. Đến tháng 12 năm Hồng vũ 14 (1381), chùa lại được đổi là Thiện thế viện, năm sau sáp nhập với Tăng lục ti mới được thành lập và tên chùa cũng được đổi là Thiện thế viện cùng năm đó. Trong chùa đặt Ti tăng lục, ngài Giới tư giữ chức Tả thiện thế và ngài Tông lặc giữ chức Hữu thiện thế. Năm Hồng vũ 21 (1388), chùa Thiên giới bị nạn lửa thiêu hủy, nên Ti tăng lục phải dời đến chùa Thiên hi, địa chỉ chùa Thiên giới cũng được dời đến Thành nam, nhưng vẫn gọi là Thiên giới thiện thế thiền viện.[X. Kim lăng phạm sát chí Q.16, 39; Thích giám kê cổ lược tục tập Q.2; Minh cao tăng truyện; Cổ kim đồ thư tập thành bác vật vậng biên thần dị điển 64 Thích giáo bộ vậngkhảo 6; Minh đại tăng quan (Long trì thanh, Chi na Phật giáo sử học 4 phần 3)].
Thiện Thệ
(s, p: sugata, 善逝): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tu Già Đà (修伽陀), Tô Yết Đa (蘇揭多), Tu Già Đa (修伽多); còn gọi là Thiện Khứ (善去), Thiện Giải (善解), Thiện Thuyết Vô Hoạn (善說無患), Hảo Thuyết (好說), Hảo Khứ (好去). Như Lai (s, p: tathāgata, 如來) nghĩa là cỡi đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà (s, p: sahā, j: saba, 娑婆) này; Thiện Thệ là như thật đi qua bờ bên kia, không còn trở lại biển sanh tử chìm đắm nữa. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: “Phật nhất thiết trí vi đại xa, Bát Chánh Đạo hành nhập Niết Bàn, thị danh Hảo Khứ (佛一切智爲大車、八正道行入涅槃、是名好去, tất cả trí của đức Phật là xe lớn, Bát Chánh Đạo đi vào Niết Bàn, đó là Hảo Khứ [khéo đi vào]).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 50 có đoạn rằng: “Thập phương sở hữu chư thế giới, tất năng chấn động vô hữu dư, vị tằng khủng bố nhất chúng sanh, Thiện Thệ uy thần lực như thị (十方所有諸世界、悉能震動無有餘、未曾恐怖一眾生、善逝威神力如是, mười phương vốn có các thế giới, có thể chấn động không có dư, chưa từng khủng bố một chúng sanh, Thiện Thệ oai thần lực như vậy).”
Thiện thệ
danh hiệu tôn xưng đức Phật. Thiện thệ là một trong 10 danh hiệu tôn xưng đức Phật. Thiện nghĩa là tốt lành; thệ nghĩa là đi qua, không còn trở lại. Thiện thệ nghĩa là bậc đã viên mãn mọi điều tốt lành, mãi mãi không còn chịu nghiệp quả thọ sanh trong luân hồi.
; 善逝; C: shàn shì; J: zenzei; S: sugata.|Một trong 10 danh hiệu của chư Phật. Người hoàn tất việc của mình một cách thiện hảo (tự giác), người đã làm xong tất cả mọi việc (giác tha, giác hạnh viên mãn).
thiện thệ
4890梵語 sugata,巴利語同。為佛十號之一。音譯作修伽陀、蘇揭多、修伽多。又作善去、善解、善說無患、好說、好去。意即進入種種甚深三摩提與無量妙智慧中。「好說」之意,謂佛陀如諸法之實相而說,不著於法愛而說,並能觀察弟子之智慧力,或說布施,或說涅槃,乃至說五蘊、十二因緣、四諦等諸法,而導引入於佛道。十號之中,第一為如來,第五為善逝。如來,即乘如實之道,而善來此娑婆世界之義;善逝,即如實去往彼岸,不再退沒於生死海之義。此二名用以顯示諸佛來往自在之德。〔雜阿含經卷十八、坐禪三昧經卷上、菩薩地持經卷一、大智度論卷二、瑜伽師地論卷八十三、清淨道論卷七、大乘義章卷二十〕
; Well-gone, Sugata (S)Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật. Thệ: đi luôn không trở lại, đi tới nơi tới chốn. Nghĩa là bậc đã đi đến bờ bên kia, bậc đã làm xong những việc phải làm, không còn trở lại cõi thế, không còn vào vòng luân hồi sanh tử.
; Sugata (S). Well departed, gone as he should go; a tittle of Buddha.
; Sugata (skt)—Đấng Thiện Thệ, một danh hiệu của Phật—The Blessed One—Well departed—A title of a Buddha.
; (善逝) Phạm,Pàli:Sugata. Hán âm: Tu già đà, Tô yết đa, Tu già đa. Cũng gọi Thiện khứ, Thiện giải, Thiện thuyết vô hoạn, Hảo thuyết, Hảo khứ. Một trong 10 hiệu của Phật. Ý nói tiến vào các Tam ma đề (thiền định) rất sâu xa và vô lượng trí tuệ vi diệu. Hảo thuyết nghĩa là đức Phật nói đúng như thực tướng các pháp, đồng thời thường xem xét năng lực trí tuệ của các đệ tử, rồi tùy theo đó mà nóicác pháp thích hợp như: Bố thí, Niết bàn, cho đến 5 uẩn, 12 nhân duyên, 4 đế... để dắt dẫn họ vào Phật đạo. Trong 10 hiệu của Phật thì thứ nhất là Như lai, thứ 5 là Thiện thệ. Như lai nghĩa là nương theo đạo như thực, khéo đến thế giới Sa bà này; Thiện thệ nghĩa là thực sự đến bờ bến kia, không còn lui lại biển sinh tử nữa. Hai từ Như lai và Thiện thệ được sử dụng để nêu tỏ cái đức đi, đến tự tại của chư Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Toạ thiền tam muội Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Đại trí độ Q.2; luận Du già sư địa Q.83; luận Thanh tịnh đạo Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.20].
thiện thệ tạng
Sugatagarbha (S), der sheg nying po (T), Tathāgatagarbha (S).
Thiện thệ 善逝
[ja] ゼンゼイ zenzei ||| (sugata). "Well done;" "well gone;" "well-finished." One of the ten epithets 十號 of the Buddha. A person who has skillfully finished the job; who has completed the work leaving nothing undone. 〔法華經 T 262.9.19b11〕 => Một trong 10 danh hiệu của chư Phật. Người khéo léo hoàn tất việc của mình (tự giác), người đã làm xong tất cả mọi việc (giác tha, giác hạnh viên mãn).
Thiện thủ
善取; C: shànqŭ; J: zenshu;| Khéo thông hiểu nghĩa lí.
thiện thủ
To be skilful with one's hands.
thiện thủ bồ tát
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
Thiện thủ 善取
[ja] ゼンシュ zenshu ||| To grasp well. => Khéo thông hiểu nghĩa lý.
thiện tinh
4886梵名 Sunakṣatra,巴利名 Suna-kkhatta。音譯作須那呵多、須那剎多羅。又作善宿。係釋尊為太子時所生之子。出家後,斷欲界之煩惱,發得第四禪定。後因親近惡友,退失所得之解脫,認為無涅槃之法,起否定因果之邪見,且對佛陀起惡心,以生身墮於無間地獄,故稱為闡提(即不成佛之意)比丘,又稱四禪比丘。法華玄贊卷一末(大三四‧六七一下):「又經云:『佛有三子,一、善星,二、優婆摩耶,三、羅睺。』故涅槃云:『善星比丘,菩薩在家之子。』」〔北本大般涅槃經卷三十三〕
; Zensho (J), Shan hsing (J), PradhanaśŪra (S), Shan hsing (C), Zensho (J), Suna-kkhatta (P), Suna-ksatra (S)Tên một vị sư.
; (善星) Phạm: Sunakwatra. Pàli:Suna-kkhatta. Hán âm: Tu na ha đa, Tu na sát đa la. Cũng gọi Thiện tú. Con của đức Thích tôn khi ngài còn là Thái tử. Sau khi xuất gia, Thiện tinh đã đoạn trừ hết phiền não cõi Dục, phát được Thiền định thứ 4. Sau, vì gần gũi bạn xấu, sư bị trụy lạc, đánh mất giải thoát và cho rằng không có pháp Niết bàn; lại sinh khởi tà kiến phủ định nhân quả. Hơn nữa, đối với đức Phật sinh ác tâm, cho nên còn sống mà đã đọa vào địa ngục Vô gián, vì thế gọi là Xiển đề tỉ khưu(tức tỉ khưu không thể thành Phật), cũng gọi Tứ thiền tỉ khưu. Pháp hoa huyềntán quyển 1, phần cuối (Đại 34, 671 hạ) ghi: Kinh nói: Phật có3 người con, một là Thiện tinh, hai là Ưu bà ma da, ba là La hầu la. Cho nên kinh Niết bàn nói: Thiện tinh tỉ khưu là con của Bồ tát khi còn tại gia. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc)].
thiện tinh ly-xa tử
Sunakkhatta Licchaviputta (P).
thiện tri
Vibhāvana (S, P).
; Vibhàvana (S). Clear and deep understanding.
; Vibhavana (skt)—Nhận biết rõ ràng—Clear perception.
Thiện tri thức
善知識; C: shàn zhīshì; J: zenchishiki; S: kalyā-ṇamitra; P: kalyānamitta; hoặc Thiện hữu (善友), Ðạo hữu (道友);|Danh từ chỉ một người bạn đạo. Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, danh từ này được dùng để chỉ một vị tăng đầy đủ những đạo hạnh như nắm vững lí thuyết Phật pháp và tinh thông thiền định, có thể giúp đỡ những vị khác trên con đường tu học.|Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni rất quý trọng tình bạn trên con đường giải thoát. Ngài dạy như sau: »Cả một cuộc đời tầm đạo đều lấy tình bạn làm căn bản… Một Tỉ-khâu, một Thiện tri thức, một người bạn đồng hành – từ một vị này người ta có thể mong đợi rằng, ông ta sẽ tinh cần tu học Bát chính đạo để đạt giải thoát cho chính mình và những người bạn đồng hành.«|Dần dần, danh từ này cũng thường được sử dụng để chỉ những người tìm đạo, trong giới Cư sĩ và cả trong Tăng già. Trong những bài thuyết pháp, các vị Thiền sư thường dùng các biểu thị Thiện tri thức, Ðạo lưu… để chỉ những người hâm mộ Phật pháp đang chú tâm lắng nghe.|Người ta thường phân Thiện tri thức thành ba hạng: 1. Giáo thụ thiện tri thức (教授善知識), là những người có khả năng hướng dẫn, dạy dỗ trên con đường tu hành, là bậc thầy; 2. Ðồng hạnh thiện tri thức (同行善知識), là những người đồng chí, đồng hạnh, tức là người bạn tốt, trung thành; 3. Ngoại hộ thiện tri thức (外護善知識), là những người giúp cho những tiện nghi, tạo điều kiện tốt cho người tu hành.
thiện tri thức
4884梵語 kalyāṇamitra,巴利語 kalyāṇa-mitta。音譯作迦羅蜜、迦里也曩蜜怛羅。指正直而有德行,能教導正道之人。又作知識、善友、親友、勝友、善親友。反之,教導邪道之人,稱為惡知識。據大品般若經卷二十七常啼品載,能說空、無相、無作、無生、無滅之法及一切種智,而使人歡喜信樂者,稱為善知識。華嚴經入法界品記述善財童子於求道過程中,共參訪五十五位善知識(一般作五十三位善知識),即上至佛、菩薩,下至人、天,不論以何種姿態出現,凡能引導眾生捨惡修善、入於佛道者,均可稱為善知識。又釋氏要覽卷上引瑜伽師地論,舉出善知識具有調伏、寂靜、惑除、德增、有勇、經富、覺真、善說、悲深、離退等十種功德。另據四分律卷四十一載,善親友須具備難與能與、難作能作、難忍能忍、密事相告、遞相覆藏、遭苦不捨、貧賤不輕等七個條件,即所謂「善友七事」。 經論中臚舉善知識之各種類別,據智顗之摩訶止觀卷四下載,善知識有如下三種:(一)外護,指從外護育,使能安穩修道。(二)同行,指行動與共,相互策勵。(三)教授,指善巧說法。據圓暉之俱舍論頌疏卷二十九載,與法者為上親友,與財、法者為中親友,僅與財者為下親友,以上稱為三友。華嚴經探玄記卷十八亦舉出人、法、人法合辨等三種善知識。 舊華嚴經卷三十六離世間品則說十種善知識,即:能令安住菩提心善知識、能令修習善根善知識、能令究竟諸波羅蜜善知識、能令分別解說一切法善知識、能令安住成熟一切眾生善知識、能令具足辯才隨問能答善知識、能令不著一切生死善知識、能令於一切劫行菩薩行心無厭倦善知識、能令安住普賢行善知識、能令深入一切佛智善知識。〔雜阿含經卷二十七、卷三十六、卷四十五、中阿含卷十即為比丘說經、長阿含卷五闍尼沙經,增一阿含經卷十一善知識品、尸迦羅越六方禮經、南本大般涅槃經卷二十三、法華經卷七妙莊嚴王本事品、大智度論卷七十一、卷九十六〕(參閱「知識」3466)
; Kalyāṇamitta (P), Maitrayani (S), Zen-chishiki (J), Good friend Kalyāṇamitta (P)Đạo hữu.Di đa la ni.
; A good friend or intimate, one well known and intimate.
; Tiếng xưng hô người đủ chánh tri chánh kiến.
; Kalyanamitta (p)—Kalyanamitra (skt)—Good-knowing advisor—A friend of vitue—A well wishing friend—A learned master—A good friend or intimate, one well known and intimate—See Thiện Hữu Tri Thức in Vietnamese-English Section.
; (善知識) Phạm: Kalyàịamitra. Pàli:Kalyàịa-mitta. Hán âm: Ca la mật, Ca lí dã nẵng mật đát la. Cũng gọi Tri thức, Thiện hữu, Thân hữu, Thắng hữu, Thiện thân hữu. Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dắt dẫn ta đi vào tà đạo thì gọi là Ác hữu.Cứ theo phẩm Thường đề trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27 thì người có khả năng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô diệt và Nhất thiết chủng trí, khiến người nghe vui vẻ tin ưa, gọi là Thiện tri thức. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm ghi rằng trong quá trình cầu đạo, đồng tử Thiện tài đã tham phỏng 55 vị Thiện tri thức(thông thường nói chỉ có 53 vị Thiện tri thức), tức trên từ chư Phật, Bồ tát, dưới đến người, trời... bất luận xuất hiện dưới hình thức nào, hễ có năng lực dắt dẫn chúng sinh đi theo con đường bỏ ác, tu thiện để bước vào đạo Phật, thì đều có thể được gọi là Thiện tri thức. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì trích dẫn luận Du già sư địa nêu lên 10 thứ công đức của Thiện tri thức là: Điều phục, tịch tĩnh, trừ hoặc, tăng đức, dũng mãnh, kinh phú, giác chân, thiện thuyết, bi thâm và li thoái. Lại theo Luật Tứ phần quyển 41 thì Thiện thân hữu phải có đủ 7 điều kiện là: Cho được cái khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, đem việc kín bảo cho nhau biết, khuyên nhau không che giấu điều lỗi, gặp khổ nạn không bỏ nhau và nghèo hèn không khinh nhau, gọi là Thiện hữu thất sự(bảy việc của người bạn lành). Trong kinh luận có nêu các loại Thiện tri thức khác nhau, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 hạ của ngài Trí khải thì có 3 loại Thiện tri thức dưới đây: 1. Ngoại hộ: Giúp đỡ ở bên ngoài để bạn được an ổn tu đạo. 2. Đồng hành: Cùng nhau hành động, khích lệ lẫn nhau. 3. Giáo thụ: Nói pháp khéo léo. Theo Câu xá luận tụng sớ quyển 29 của ngài Viên huy thì người bạn cho pháp là Thượng thân hữu, người cho của và pháp là Trung thân hữu, còn người chỉ cho của không thôi thì là Hạ thân hữu; trên đây gọi là Tam hữu. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 cũng nêu ra 3 loại Thiện tri thức là Nhận, Pháp và Nhân pháp hợp biện.Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ) thì có 10 loại Thiện tri thức đó là: 1. Thiện tri thức thường giúp đỡ bạn an trụ nơi tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức có năng lực khiến bạn tu tập các căn lành. 3. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu cácBa la mật một cách rốt ráo. 4. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn phân biệt giảng nói tất cả pháp. 5. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ và thành thục tất cả chúng sinh. 6. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn có đủ biện tài giải đáp được các nghi vấn. 7. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn không bám níu tất cả sinh tử. 8. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu hạnh Bồ tát trong tất cả kiếp mà tâm không chán mỏi. 9. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ nơi hạnh Phổ hiền. 10. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tiến sâu vào tất cả trí của Phật. [X.kinh Tạp a hàm Q.27, 36, 45; kinh Tức vị tỉ khưu thuyết trong Trung a hàm Q.10; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Thiện tri thức trong kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Thi a la việt lục phương lễ; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Nam); phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.71, 96]. (xt. TriThức).
thiện tri thức ma
4884為十魔之一。謂於自己所得之法,起執著慳吝之念,而不能開導於人者。舊華嚴經卷四十二離世間品(大九‧六六三上):「善知識魔,於彼生著心故。」(參閱「十魔」504)
; (善知識魔) Ma thiện tri thức, 1 trong 10 thứ ma. Nghĩa là đối với pháp tự mình đã chứng ngộ, khởi ý niệm đắm trước, bỏn sẻn, không chịu mở bày, chỉ dẫn người khác. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 42 (Đại 9, 663 thượng) nói: Thiện tri thức ma là đối với pháp chứng được sinh tâm đắm trước. (xt. Thập Ma).
Thiện tri thức 善知識
[ja] ゼンチシキ zenchishiki ||| (kalyāna-mitra). 'Good knowledge', or 'a good and virtuous friend'; a good friend or teacher who leads one to the Buddhist way. => (s: kalyāna-mitra). Người thầy hay bạn tốt hướng dẫn tu tập Phật đạo.
thiện trí
4892請參閱 諸經要集請參閱 參天台五臺山記 請參閱 正恭敬經(?~607)隋代僧。西河介休(山西)人,俗姓宋。曾與兄本濟同入三階教祖信行門下,盡得其學,並制定三階教儀規,著有頓教一乘二十卷。煬帝大業三年示寂,弟子葬之於信行墓右側。
; (善智) Cao tăng Trung quốc thuộc Tam giai giáo, sống vào đời Tùy, người ở Giới hưu (Sơn tây) Tây hà, họ Tống. Sư cùng với người anh là Bản tế cùng học ngài Tín hành–Tổ khai sáng của Tam giai giáo–sau, được nối pháp. Sư đặt ra các nghi thức và qui củ của Tam giai giáo, soạn bộ Đốn giáo Nhất thừa 20quyển. Sư tịch vào năm Đại nghiệp thứ 3 (607) đời Tùy Dạng đế, đệ tử antáng sư bên cạnh mộ ngài Tín hành.
thiện trụ
4878請參閱 菩薩善戒經<一>梵語 supratiṣṭhita。安定、安住之意。如常念「廣大寶樓閣善住祕密陀羅尼」者,由於此陀羅尼具有大威神力之故,能成就殊勝功德;並使聞此陀羅尼之眾生,常獲安樂,遠離諸惡趣。〔廣大寶樓閣善住祕密陀羅尼經卷上〕 (二)元代僧。字無住,別號雲屋。曾居於吳都之報恩寺,閉關念佛,修淨土行。著有安養傳。又工於詩,每與仇遠、白挺、虞集、宋旡諸人往返酬唱,有谷響集行世。〔四庫提要卷一六六〕
; Supratisthita (S)An định, an trụ.
; (善住) I. Thiện Trụ. Phạm:Supratiwỉhita. An định, an trụ. Như người thường niệm Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni, nhờ Đà la ni này có sức đại uy thần nên thành tựu được các công đức thù thắng, đồng thời khiến chúng sinh nghe Đà la ni này, thường được an ổn, xa lìa các nẻo ác. [X.kinh Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.thượng]. II. Thiện Trụ. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, tự Vô trụ, biệt hiệu Vân ốc. Sư từng nhập thất niệm Phật, tu hạnh Tịnh độ ở chùa Báo ân tại quận Ngô. Sư lại giỏi làm thơ, thường qua lại xướng họa với các thi nhân như Cừu viễn, Bạch đĩnh, Ngu tập, Tống vô... Sư có các trứ tác: An lạc truyện, Cốc hưởng tập. [X. Tứ khố đề yếu Q.166].
Thiện trụ bí mật kinh
善住祕密經; C: shànzhù mìmì jīng; J: zenjū himitsu kyō;|Tên gọi tắt của Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà-la-ni kinh (大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經).
Thiện trụ bí mật kinh 善住祕密經
[ja] ゼンジュウヒミツキョウ Zenjū himitsu kyō ||| The Shanzhu mimi jing; see Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經 => Tên gọi tắt của kinh Đại quảng bác lầu các thiện trụ bí mật kinh. 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經.
thiện trụ thiên tử
4879為忉利天諸天子之一。據佛頂尊勝陀羅尼經載,善住天子與諸大天人、天女於園觀遊樂,是夜,空中有聲,謂善住天子七日後必死,將七返閻浮提受生為畜生,復受地獄眾苦。天子聞之,大感驚怖,請示於帝釋天。帝釋天以種種花鬘、天衣等廣大供養,至祇園精舍求救於佛,佛乃為其說佛頂尊勝陀羅尼,令善住天子誦之,以延壽轉難。
; (善住天子) Một trong các vị Thiên tử của cõi trời Đao lợi. Cứ theo kinh Phật đính tôn thắng đà la ni thì Thiện trụ thiên tử cùng với các đại thiên nhân, thiên nữ đang dạo chơi trong vườn, đêm ấy, trong hư không có tiếng nói, bảo rằng 7 ngày nữa Thiện trụ thiên tử sẽ chết, 7 lần thụ sinh làm súc sinh ở cõi Diêm phù đề, rồi lại phải chịukhổ trong địa ngục. Thiên tử nghe xong, cảm thấy rất kinh sợ và xin trời Đế thích chỉ bảo. Trời Đế thích bèn đem các vòng hoa to lớn, áo trời... đến tinh xá Kì viên cúng dường và cầu đức Phật cứu độ, Phật liền nói Phật đính tôn thắng đà la ni, bảo Thiên tử Thiện trụ đọc tụng để được thoát nạn và kéo dài tuổi thọ.
Thiện tu
善修; C: shànxiū; J: zenshu;|Tu hành chân chính.
thiện tu
4886(1543~1615)朝鮮禪僧。右帶方獒樹(全羅北道南原)人,俗姓金。號浮休。據白谷處能之弘覺登階碑銘并序(收於朝鮮佛教通史上編)載,師幼隨頭流山(智異山)之信明法師出家,參謁芙蓉靈觀而得證。其人身長腹大,修眉豐頰,然僅存左手。得法後,遍覽相國盧守慎之藏書。又善書道,墨蹟強勁俊秀,與松雲惟政齊名,時人稱為「二難」。 豐臣秀吉入侵之時,隱於德裕山,亂平後赴伽肾山海印寺,會明將李宗城。曾為國王光海君講說法要,王賜以紫襴方袍、碧綾長袗、緣綺重襦、金剛念珠等,並於奉印寺設齋為證。齋畢歸山,僧俗爭相問道者達七百餘人。光海君七年(1614,明神宗萬曆四十二年),從曹溪之松廣寺遷居七佛寺,翌年示寂,世壽七十三。門人荼毘之,並於海印、松廣、七佛、百丈等四處建塔,安置靈骨。碧巖覺性受師付法,為之編輯詩文集,即浮休堂集五卷。李朝中期以後之朝鮮禪宗系統僅限於西山、浮休兩師之法系。近年來,浮休之法系傳承於智異山等處。〔松廣寺嗣院事蹟碑(收於朝鮮金石總覽下)、朝鮮禪教史(忽滑谷快天),李朝佛教(高橋亨)〕
Thiện tu 善修
[ja] ゼンシュ zenshu ||| Correct practice. => Tu hành đúng đắn.
thiện tuệ địa
Sàdhumati (S)
; Sadhumati (skt)—See Thập Địa Phật Thừa (9).
thiện tài
Skillful.
Thiện Tài Đồng Tử
(s: Sudhana-śreṣṭhi-dāraka, 善財童子): là vị Bồ Tát cầu đạo trong Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Kinh Hoa Nghiêm, từng đi về phía Nam tham vấn 53 vị thiện tri thức, cho đến Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) thì thành tựu Phật đạo. Phật Giáo Đại Thừa lấy trường hợp này làm bằng chứng của Tức Thân Thành Phật (卽身成佛); quá trình cầu pháp của Đồng Tử thể hiện các giai đoạn nhập vào pháp giới Hoa Nghiêm. Căn cứ vào Phẩm Nhập Pháp Giới của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (舊華嚴經) quyển 45, Thiện Tài Đồng Tử là con tai của trưởng giả Phước Thành (福城), lúc vào bào thai và hạ sanh, có các loại trân bảo tự nhiên hiện ra, nên có tên là Thiện Tài (善財). Về sau, Đồng Tử được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) dạy dỗ, rồi ngao du đến các nước phương Nam. Ban đầu, Đồng Tử đến Khả Lạc Quốc (可樂國), tham vấn Tỳ Kheo Công Đức Vân (功德雲), nhận pháp môn Niệm Phật Tam Muội (念佛三昧). Tiếp theo, Đồng Tử đã từng tham vấn qua đủ các hạng người như Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đồng tử, đồng nữ, Dạ Thiên, Thiên Nữ, Bà La Môn, Trưởng Giả, thầy thuốc, người lái thuyền, quốc vương, tiên nhân, Phật mẫu, vương phi, Thần Đất, Thần Cây, v.v.; lắng nghe và thọ nhận đủ loại pháp môn; cuối cùng đến đạo tràng của Bồ Tát Phổ Hiền thì chứng vào Pháp Giới Vô Sanh (無生法界). Theo Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 cho biết, hành chứng của Đồng Tử thông với Tam Sanh (三生, ba đời) là thấy nghe (đời trước), hành giải (đời này), chứng nhập (đời sau); tức biểu thị trong một đời này, Thiện Tài tu đủ những pháp hành của 5 vị là Thập Tín (十信), Thập Trụ (十住), Thập Hành (十行), Thập Hồi Hướng (十迴向), Thập Địa (十地). Đây chính là nghĩa “Tam Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Ba Đời).” Tuy nhiên, Hoa Nghiêm Tông chỉ có thuyết Nhất Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Một Đời); cho nên khi nói ba đời ở đây biểu thị sự phân vị của pháp môn, thật tế thì trong một đời một niệm đã có ba đời; vì vậy chủ trương ba đời thấy nghe, hành giải, chứng nhập có thể trong một đời mà thành Phật. Do đó, việc thành Phật của Thiện Tài Đồng Tử có hai thuyết là Tam Sanh Thành Phật và Nhất Sanh Thành Phật. Ngoài ra, việc Đồng Tử tham vấn các thiện tri thức biểu thị thứ tự trước sau của nhân quả tiệm chứng (因果漸證, chứng ngộ từ từ theo nhân quả). Có nhiều kệ tán cũng như hình tượng liên quan đến lịch trình cầu đạo của Thiện Tài Đồng Tử, như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Tán (大方廣佛華嚴經入法界品讚) của Dương Kiệt (楊傑, hậu bán thế kỷ 11) nhà Bắc Tống, được tìm thấy trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22; tỷ dụ bài Diệu Đức Viên Mãn Chủ Dạ Thần Tán (妙德圓滿主夜神讚) rằng: “Lâu các trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên vi nhiễu hóa môn khai, Tỳ Lô Hải Tạng ngô thân nhập, tằng kiến Thế Tôn Đâu Suất lai (樓閣莊嚴接善財、諸天圍遶化門開、毗盧海藏吾親入、曾見世尊兜率來, lầu gác trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên quanh nhiễu hóa cửa khai, Tỳ Lô biển tánh ta vào thẳng, từng thấy Thế Tôn Đâu Suất [đến] đây).” Hay tác phẩm Ngũ Tướng Trí Thức Tụng (五相智識頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1022) của Trung Sư (忠師); như bài tụng rằng: “Kỳ tai bất động Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định thì, cố vấn Thiện Tài hoàn kiến phủ, nhất luân minh nguyệt ấn thiên trì (奇哉不動優婆夷、神變多能出定時、顧問善財還見否、一輪明月印天池, lạ thay Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định khi, muốn hỏi Thiện Tài thấy chăng nhỉ, một vầng trăng sáng giữa hồ trời).” Bên cạnh đó, Thiền Sư Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白, ?-?), tu sĩ của Vân Môn Tông sống dưới thời Bắc Tống, cũng có bản Phật Quốc Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán (佛國文殊指南圖讚, Taishō Vol. 45, No. 1891), v.v. Tại các tự viện Thiền Tông, thông thường bên tay trái của Bồ Tát Quán Thế Âm thường có an trí tượng Thiện Tài Đồng Tử. Trong Thiền môn có bài tán về Thiện Tài rằng: “Thiện Tài Đồng Tử, ngũ thập tam tham, siêu sanh tử độ cô hồn, tảo vãng Tây phương, nhược nhơn quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, bất đọa Tam Đồ (善財童子、五十三參、超生死度孤魂、早往西方、若人歸依、佛法僧三寶、不墮三途, Thiện Tài Đồng Tử, năm ba lần tham, vượt sanh tử độ cô hồn, sớm qua Tây phương, nếu người quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, không đọa Ba Đường).”
thiện tài đồng tử
4888梵名 Sudhana-śreṣṭhi-dāraka。為華嚴經入法界品中之求道菩薩,曾南行參訪五十五位善知識,遇普賢菩薩而成就佛道。大乘佛教用以作為即身成佛之例證,其求法過程,則表示華嚴入法界之各階段。據舊華嚴經卷四十五入法界品載,善財童子為福城長者之子,於入胎及出生時,種種珍寶自然湧現,故稱之為善財。其後受文殊師利菩薩之教誨,遍遊南方諸國。先至可樂國參訪功德雲比丘,受念佛三昧門。繼之,歷訪菩薩、比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷、童子、童女、夜天、天女、婆羅門、長者、醫師、船師、國王、仙人、佛母、王妃、地神、樹神等,聽受種種法門,終至普賢菩薩道場,證入無生法界。 據華嚴經探玄記卷十八載,善財童子參訪善知識具有八意,即:善知識為軌範、為勝行之緣、破見慢、離細魔、寄成行、寄顯位、顯深廣、顯緣起。又謂其行證通於見聞(前生)、解行(此生)、證入(來生)等三生,而以善財童子之此生為解行生;即表示善財於此一生之中,具修十信、十住、十行、十迴向、十地等五位之行法,此即「三生成佛」之義,乃約隔生果報而說三生。但華嚴宗另有「一生成佛」之說,謂「三生」為表示法門分位之語,實則一生一念中亦有三生,故主張見聞、解行、證入三生可各自其一生而成佛。準此,善財童子之成佛遂有三生成佛、一生成佛二說。此外,其參訪諸善知識係表示因果漸證之先後順序。其中,初遇文殊以後至第四十一人,表示寄位修行之相,即寄十信行及三賢、十聖之位。其後十一人表示會緣入實之相,即總會前述階位差別之緣,而同入於實相之理,指親證妙覺。其次遇第五十三位之彌勒菩薩,表示攝德成因之相,即攝此會緣入實之德,而為一生補處之正因。其次再遇文殊菩薩,表示智照無二之相,即初遇文殊菩薩為「信智」之表徵,第五十四次之參訪又再遇文殊,為「證智」之表徵。至此,即表示善財遍求法門之結果已與本智相應,冥合而無二,已離能、所的分別之相,得以照體而獨立。最後遇普賢菩薩,表示顯因廣大之相,即既已達智證無二,故言亡慮絕,觸物皆道,法法全真,依正渾融,重重無盡,舉一法即是圓因,一切諸法莫不如此,是即普賢廣大之境界。 有關善財童子求道歷程之偈贊與圖繪極多,如北宋楊傑之大方廣華嚴入法界品讚、忠師之五相知識頌、惟白之文殊指南圖讚等皆是,亦常被用為佛教文學上之題材。又禪宗寺院常於觀世音菩薩左側,設置善財童子像,即取材自其歷訪名師之過程中,參謁觀世音而受教化一事。〔華嚴經疏卷五十五、華嚴經隨疏演義鈔卷三、卷八十五、華嚴五教章卷二、禪林象器箋第五類靈像門〕(參閱「五十三參」1048、「五十五善知識」1053)
; Sudhana-sresthi-daraka (S), Sudhana (S), Good Wealth.
; Sudhana (S). A disciple mentioned in the Hoa Nghiêm Kinh.
; Sudhana (skt)—Thiện Tài Đồng Tử (trong các chùa , bên trái tượng Quan Âm Bồ Tát có đặt tượng Thiện Tài Đồng Tử), một Phật tử được nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm. Tên ông là Sudhana có nghĩa là “Thiện Tài” và lý do ông có tên nầy là vì lúc ông vừa mới sanh ra thì đột nhiên châu báu xuất hiện trong nhà cha ông. Ông là nhân vật chính trong chương cuối cùng và cũng là chương dài nhất trong Kinh Hoa Nghiêm. Trong khi tìm cầu giác ngộ, ông đã viếng thăm và tòng học với 53 vị thiện hữu tri thức và đã trở thành ngang hàng hay bình đẳng với Phật trong một đời (Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới: “Ngài Văn Thù ở trong khu rừng trang nghiêm có 500 vị đồng tử, mà Thiện Tài là một người phát tâm trong số 500 vị ấy. Thiện Tài sau đó đi về phương nam tham học cùng 53 vị tri thức và chứng nhập pháp giới)—A disciple mentioned in the Avatamsaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm). His name means “Good Wealth” and the reason for him to obtain such name was that when he was born, myriad treasures suddenly appeared in his father's home. The main protagonist in the last and longest chapter of the Avatamsaka Sutra. In seeking enlightenment, he tried to visit and study with fifty-three spiritual advisors and became equal with the Buddha in just one lifetime.
; (善財童子) Phạm: Sudhana-Zrewỉhi-dàraka. Vị Bồ tát cầu đạo nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, từng đi về phương nam tham vấn 55 vị thiện tri thức, gặp bồ tát Phổ hiền thì thành tựu Phật đạo. Phật giáo Đại thừa dùng trường hợp này làm ví dụ để chứng minh nghĩa Tức thân thành Phật, còn quá trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài thì biểu trưng cho các giai đoạn đi vào pháp giới của Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch cũ), đồng tử Thiện tài là con của 1 vị trưởng giả ở Phúc thành, từ khi đầu thai đến lúc sinh ra, có rất nhiều thứ trân bảo tự nhiên xuất hiện, vì thế đặt tênlàThiện tài(của cải tốt lành). Về sau, được sự dạy bảo của bồ tát Văn thù, đồng tử Thiện tài đi khắp các nước ở phương nam. Đầu tiên, Thiện tài đến nước Khả lạc tham vấn tỉ khưu Công đức vân, học được môn tam muội Niệm Phật. Sau đó, lần lượt tham vấn các vị Bồ tát, Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Đồng tử, Đồng nữ,Dạ thiên, Thiên nữ, Bà la môn, Trưởng giả, Y sư, Thuyền sư, Quốc vương, Tiên nhân, Phật mẫu, Vương phi, Địa thần, Thụ thần... lắng nghe và lãnh thụ các loại pháp môn, cuối cùng đến đạo tràng Bồ tát Phổ hiền thì Thiện tài chứng nhập pháp giới Vô sinh. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì việc đồngtửThiện tài tham vấn các thiện tri thức có 8 ý nghĩa, đó là: Thiện tri thức là khuôn phép, là duyên thắng hạnh, phá kiến chấp kiêu mạn, xa lìa ma vi tế, nương thành hạnh, nương hiển vị, hiển bày sự sâu rộng và nêu rõ duyên khởi. Sách đã dẫn cũng cho rằng hành chứng của đồng tử Thiện tài suốt cả 3 đời: Kiến văn(đời trước), Giải hành(đời này) và Chứng nhập(đời sau) và lấy đời này của đồng tử Thiện tài làm Giải hành sinh, biểu thị Thiện tài trong 1 đời này tu đủ hành pháp của 5 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa, đây chính là nghĩa Tam sinh thành Phật (ba đời thành Phật), là y cứ vào quả báo cách đời mà nói 3 đời. Nhưng tông Hoa nghiêm còn có thuyết Nhất sinh thành Phật (thành Phật trong 1 đời), cho rằng ba đời (tam sinh) chỉ là từ ngữ biểu thị phần vị pháp môn, chứ thực ra trong một đời 1 niệm cũng có 3 đời, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương 3 đời kiến văn, giải hành, chứng nhập có thể mỗi đời đều tự trong1đời ấy mà thành Phật. Theo đây, việc thành Phật của đồng tử Thiện tài có 2 thuyết: Ba đời thành Phật và một đời thành Phật.Ngoài ra, việc đồng tử Thiện tài tham vấn các thiện tri thức là biểu thị thứ tự trước sau về nhân quả chứng ngộ tiệm tiến. Trong đó, từ lần đầu tiên gặp ngài Văn thù về sau đến vị thiện tri thức thứ 41, là biểu thị nương vào tướng tu hành của các giai vị Tam hiền, Thập thánh. Mười một vị tiếp sau là biểu thị cho tướng hội duyên nhập thực, tức tổng hợp các duyên sai biệt của các giai vị nói ở trước mà cùng vào lí thực tướng, chỉ cho thân chứng Diệu giác. Kế đó, gặp vị thứ 53 là bồ tát Di lặc, là biểu thị tướng nhiếp đức thành nhân, tức là thu nhiếp đức hội duyên nhập thực này để làm chính nhân cho Nhất sinh bổ xứ. Kế nữa là gặp lại bồ tát Văn thù là biểu thị tướng trí chiếu vô nhị, tức gặp bồ tát Văn thù lần đầu là tượng trưng cho Tín trí, sau khi đã tham vấn lần thứ 54, lại gặp bồ tát Văn thù lần thứ 2 là tượng trưng cho Chứng trí. Đến đây, tức biểu thị kết quả sự tầm cầu khắp các pháp môn của đồng tử Thiện tài đã tương ứng với bản trí, thầm hợp không hai, đã lìa tướng phân biệt năng và sở, được chiếu thể và độc lập. Sau cùng, đồng tử Thiện tài gặp bồ tát Phổ hiền là biểu thị tướng hiển bày nhân rộng lớn, tức đã đạt đến Trí, Chứng không hai, cho nên dứt ý quên lời, tất cả đều là Đạo, pháp pháp toàn chân, y chính dung hợp, lớp lớp vô tận, nêu 1 pháp tức viên nhân, hết thảy các pháp đều như thế, đó chính là cảnh giới Phổ hiền rộng lớn. Có rất nhiều kệ tán tụng và tranh vẽ về lịch trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài, như Đại phương quảng Hoa nghiêm nhập pháp giới phẩm tán của cư sĩ Dương kiệt đời Bắc Tống, Ngũ tướng tri thức tụng của ngài Trung sư, Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch... Những tác phẩm này cũng thường được dùng làm đề tài văn học Phật giáo. Còn trong các chùa viện thuộc Thiền tông thì tượng của đồng tử Thiện tài thường được đặtởbên trái tượng bồ tát Quán thế âm, tức lấy đề tài từ việc đồng tử Thiện tài được bồ tát Quán thế âm giáo hóa khi đồng tử đến bái yết Ngài trong quá trình tham vấn các bậc danh sư. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3, 85; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiện tánh
Bản tánh thiện, một trong tam tánh—Good nature—Good in nature, or in fundamental quality, one of the three types of characters. **For more information, please see Tam Tánh.
Thiện tánh 善性
[ja] ゼンショウ zenshō ||| The quality of (moral) goodness. One of the three qualities 三性 of all activities (karma), the other two being unwholesomeness 不善性, and moral neutrality . 〔瑜伽論 T 1579.30.308c22〕 => Phẩm chất đạo đức tốt. Một trong 3 tánh của mọi hành nghiệp, hai tánh kia là Bất thiện tánh và Vô ký tánh無記性.
thiện tát hành
5215請參閱 菩薩地持經 請參閱 菩薩善戒經 請參閱 菩薩地持經指修行者爲成佛道而修六度之行。如釋迦牟尼佛於成道前曾就諸仙修種種苦行,於前世現種種身,修布施、忍辱等行,即稱菩薩行。本生經所述即爲佛陀前世五百身之修行。
thiện tâm
4875指與慚、愧二法及無貪、無瞋、無癡等三善根相應而起之一切心、心所。那先比丘經卷上即有(大三二‧六九七上)「以善心念正法」一語。〔大方便佛報恩經卷六〕
; Kuśala citta (P), Suhada (S), Good-hearted.
; A good heart, or mind.
; a) Tâm thiện lành với những tư tưởng thiện lành: Wholesome mind (good heart—Good mind) withgood thoughts. b) Tâm thiện lành bao gồm những việc làm thiện lành đối với tha nhân, từ bi, bố thí, nhẫn nhục, ái ngữ, yêu thương, tín tâm, luôn nguyện cứu độ tha nhân—Benevolence—Good mind includes beneficial intentions towards others, compassion, loving-kindness, generosity, patience, good speech, tolerance, love, faith, wishing to help others, etc. c) Thiện tâm giúp đẩy lùi những tâm tiêu cực: Wholesome mind can be used to dispel negative minds.
; (善心) Tâm thiền định không suy lường, tức chỉ cho trạng thái tâm chuyên chú vào 1 đối tượng. Ngoài ra, cũng chỉ cho tâm xưa nay vốn thanh tịnh nhờ vào thiền định mà có được. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự].
thiện tâm quán
Contemplation on good heart. 1) Thiện Tâm Quán hay quán yêu thương có thể tẩy trừ sân hận: Contemplation on love can be used to dispel anger. 2) Ganh tỵ có thể vượt qua bằng cách quán sát lòng biết ơn và sự hoan hỷ của tha nhân: Jealousy can be overcome by contemplating on appreciation and rejoicing in the good qualities of others.
thiện tích
Xem Tu di.
Thiện tín
(善信): niềm tin chí thành vào Phật pháp, hay chỉ cho người có niềm tin như vậy. Như trong Kim Cang Kinh Thạch Chú (金剛經石注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 497) có đoạn: “Đản hữu thiện tín chi nhân, giai tri độc tụng Kim Cang tôn kinh, cập khấu kỳ nghĩa lý vân hà (但有善信之人、皆知讀誦金剛尊經、及叩其義理云何, chỉ có người có niềm tin chí thành, đều biết đọc tụng Kim Cang tôn kinh, và hỏi nghĩa lý kinh như thế nào).” Hay trong Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Lược Sớ (梵網經菩薩戒略疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 695) quyển 6 lại có đoạn: “Cố tu thường sanh thiện tín, tín ngã cập chúng sanh, thị đương thành chi Phật, chư Phật thị dĩ thành chi Phật (故須常生善信、信我及眾生、是當成之佛、諸佛是已成之佛, vì vậy nên thường sanh niềm tin chí thành, tin ta và chúng sanh, là vị Phật sẽ thành, chư Phật là vị Phật đã thành).” Hoặc trong Thời Thời Háo Niệm Phật (時時好念佛, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1200) cũng có câu: “Thiện tín kiến văn tâm hoan hỷ, ác nhân đỗ lí khởi phong ba (善信見聞心歡喜、惡人肚裏起風波, khéo tin thấy nghe tâm hoan hỷ, người ác trong ruột nỗi phong ba).”
thiện tín
Good faith—Believers in Buddhism.
thiện tín ni
4885為日本第一位比丘尼。大和鞍部村主司馬達等之女,俗名島。敏達天皇十三年(584),師十一歲,從高麗僧惠便得度。大臣蘇我馬子曾營造佛殿,迎新羅傳來之彌勒菩薩一尊,供於寺中,聘其主之。後遇物部守屋、中臣勝海等廢佛,師力奪三衣,曾受禁錮笞打。其後嘗至百濟學習戒律。返日後,居於櫻井寺,度化尼眾。寂年不詳。〔日本書紀第二十、第二十一、元亨釋書卷十八〕
; (善信尼) Vị tỉ khưu ni đầu tiên ở Nhật bản, con gái của Tư mã Đạt đẳng, người đứng đầu thônAn bộở Đại hòa, tên tục là Đảo. Năm Thiên hoàng Mẫn đạt 13 (584), Ni sư 11 tuổi, theo vị tăng người Cao Li tên là Huệ tiện xuất gia. Đại thần Tô ngã Mã tử từng kiến tạo tượng Phật, thỉnh một pho tượng Bồ tát Di lặc từ nước Tân la truyền đến về thờ trong chùa, rồi thỉnh Ni sư về làm Trụ trì. Sau, gặp nạn Vật bộ Thủ ốc, Trung thần Thắng hải... hủy diệt Phật pháp, Ni sư tận lực lấy lại 3 tấm ca sa, từng bị giam cầm đánh đập. Về sau, Ni sư đến nước Bách tế học tập giới luật. Sau khi trở về Nhật bản, Ni sư ở chùa Anh tỉnh hóa độ ni chúng. [X. Nhật bản thư kỉ 20, 21; Nguyên hanh thích thư Q.18].
Thiện tính
善性; C: shànxìng; J: zenshō;|Phẩm chất đạo đức tốt. Một trong ba tính của mọi hành nghiệp, hai tính kia là Bất thiện tính (不善性) và Vô kí tính (無記性).
thiện tính
4882<一>為三性之一。又作善。指一切諸法性質之分類中,其性質為善者。據成唯識論卷五載,凡能順益此世及他世者,稱為善,至如人、天之樂果雖能順益此世,但不能順益他世,故不稱為善。於六轉識(眼、耳、鼻、舌、身、意六識)中,凡與信、慚、愧、無貪、無瞋、無癡、精進、輕安、不放逸、行捨、不害等相應者,均屬善性。俱舍論卷十三亦舉出善性有四類,其中,勝義善指擇滅涅槃,自性善指慚、愧及無貪、無瞋、無癡等三善根,相應善指與自性善相應而起乃成善性之心王、心所,等起善指由自性善及相應善所引起之善性。〔大毘婆沙論卷五十一、成唯識論卷三、順正理論卷四、俱舍論光記卷十三〕(參閱「三性」563、「善」4873) <二>凡夫二種性質之一。為「惡性」之對稱。即指性質善良,堪入於世間、出世間之道者。大智度論卷八十八謂,善惡二性之果報大別,惡性墮於地獄、餓鬼、畜生等三惡道,善性則得人、天、阿修羅、涅槃道之果報。善導於觀念法門一書中舉出善性人分為五種,即捨惡行善、捨邪行正、捨虛行實、捨非行是、捨偽行真,並謂此五種人設若歸依佛法,則能自利利他。
; Good nature, good in nature, or in fundamental quality.
; (善性) I. Thiện Tính. Cũng gọi Thiện. Chỉ cho pháp có tính chất thiện, 1 trong 3 tính. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 5 thì bất cứ pháp nào thuận theo lợi ích đời này và đời sau, đều gọi là Thiện, còn như quả vui cõi trời, cõi người tuy thuận theo lợi ích đời này nhưng không thuận theo lợi ích đời sau thì không được gọi là Thiện. Trong 6 chuyển thức(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)bất cứ thức nào, hễ tương ứng với tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại... đều thuộc tính thiện. Luận Câu xá quyển 13 cũng nhân ra 4 loại tính Thiện, trong đó, Thắng nghĩa thiện là chỉ cho Trạch diệt niết bàn, Tự tính thiện chỉ cho tàm, quí và 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si, Tương ứng thiện là chỉ tâm vương, tâm sở tương ứng với Tự tính thiện mà khởi lên và trở thành Thiện tính, còn Đẳng khởi Thiện thì chỉ cho Thiện tính khởi lên từ Tự tính thiện và Tương ứng thiện. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, luận Thành duy thức Q.3; luậnThuận chính lí Q.4; Câu xá luận quang kí Q.13]. (xt. Tam Tính, Thiện). II. Thiện Tính. Đối lại: Ác tính. Một trong hai tính chất của phàm phu. Tức chỉ cho tính chất lương thiện có thể hòa nhập với đạo thế gian và xuất thế gian. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 88 thì quả báo sai khác giữa tính thiện và tính ác là: Quả báo của tính ác phải đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ và súc sinh, còn quả báo của tính thiện thì được sinh vào cõi người, cõi trời, A tu la và được đạo Niết bàn. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo chia người có tính thiện làm 5 loại, tức bỏ ác làm thiện, bỏtà làm chính, bỏ hư làm thật, bỏ trái làm phải và bỏ ngụy làmchân, đồng thời cho rằng 5 loại người này nếu qui y Phật pháp thì có năng lực làm lợi mình, lợi người.
thiện tú
Xem Thiện Tinh.
thiện tú (túc)
Abiding in goodness, disciples who keep eight commandments, upavasatha, posadha.
thiện túc
Upavasa (S)Cận trụ nam, Cận trụ nữ, Ưu ba bà sa, Ưu ba bà bà1- Xa lánh những nơi bất thiện. 2- Cư sĩ thọ trì bát trai giới.
; Upavasatha, or Posadha (skt). 1) Chỉ trú ngụ nơi điều thiện—Abiding in goodness. 2) Một vị Phật tử (tại gia) giữ được tám giới (bát quan trai giới): A disciple who keeps eight commandments.
thiện túc bồ tát
Madrajyotis (S).
thiện tư đồng tử kinh
4885凡二卷。隋代闍那崛多譯。收於大正藏第十四冊。本經記載佛陀入毘耶離城乞食,至毘摩羅詰離車家,有善思童子,以其宿根所熏,獻花禮佛,誓成菩提。佛陀乃為其說法,偈答往還,童子遂證無生忍。此外,西晉竺法護所譯之大方等頂王經及梁代月婆首那譯之大乘頂王經,皆為本經之同本異譯。
; (善思童子經) Kinh, 2 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật vào thành Tì da li khất thực, Ngài đến nhà Tì ma la cật li xa, có đồng tử Thiện tư, nhờ căn lực đời trước huân tập, nên dâng hoa lễ Phật, nguyện thành bồ đề. Đức Phật liền nói pháp cho đồng tử nghe, nói kệ đối đáp qua lại, đồng tử bèn chứng được vô sinh nhẫn. Ngoài ra, kinh Đại phương đẳng đính vương, do ngài Pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn và kinh Đại thừa đính vương, do ngài Nguyệt bà thủ na dịch vào đời Lương đều là các bản dịch khác của kinh này. THIÊN VÔ ÚY (637-735) Phạm: Zubhakara-siôha. Hán âm: Thú bà yết la tăng ha, Thâu bà ca la. Hán dịch: Tịnh sư tử. Cũng gọi Vô úy tam tạng. Một trong các vị Tổ sư của Mật giáo. Sư và 2 vị Kim cương trí, Bất không được gọi chung là Khai nguyên tam đại sĩ. Sư là người ở nước Ô đồ ở Đông Ấn độ, thuộc dòng Sát đế lợi, là hậu duệ của Cam lộ phạn vương(chú út của đức Thích tôn). Năm 13 tuổi sư lên nối ngôi vua cha, nhưng vì nội loạn nên nhường ngôi xuất gia, đến bờ biển phía nam, gặp ngài Thù thắng Chiêu đề, ngộ được Tam muội Pháp hoa. Sư lại đến chùa Na lan đà, Trung Ấn Độ, theo ngài Đạt ma cúc đa (Phạm: Dharmagupta) học pháp Tam mật du già, được nối pháp và thụ Quán đính làm Thiên nhân sư. Năm Khai nguyên thứ 4 (716) đời Đường, sư vâng mệnh thầy, đi qua Trung á đến Trường an, vua Huyền tông tôn làm Quốc sư, ban sắc cho sư trụ ở viện Nam tháp chùa Hưng phúc, sau, sư dời đến chùa Tây minh. Năm sau, sư vâng sắc dịch kinh ở chùa Bồ đề, dịch kinh Hư không tạng bồ tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà la ni cầu văn trì pháp 1 quyển, sa môn Tát đạt đảm nhiệm phần dịch ngữ, ngài Vô trước sửa văn và ghi chép. Sư là người đầu tiên truyền Mật giáo đến Trung quốc, cùng ngài Kim cương trí đặt nền tảng vững chắc cho Mật giáo. Kinh Đại nhật (kinhĐại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì), thánh điển căn bản của Mật giáo, chính đã do sư nói lại, ngài Nhất hạnh ghi chép mà thành. Về sau, ngài Nhất hạnh biên soạn và chú thích thêm, gọi là Đại nhật kinh sớ, 20 quyển. Ngoài ra, sư còn dịch các kinh quan trọng của Mật giáo như: Kinh Tô bà hô đồng tử (3 quyển), kinh Tô tất địa yết ra (3 quyển)... đồng thời sư giới thiệu phương pháp tu hành Quán đính. Các Mật chú trong kinh Đại nhật đều viết bằng tiếng Phạm, sư cũng dịch ra Hán âm. Vì Mật giáo xem trọng văn tự để tụng niệm, quán tưởng chính xác nên sư sáng chế ra cách dịch âm này. Do đó có thể biết lúc bấy giờ sư truyền thụ Mật giáo, nhưng cũng đồng thời dạy cách ghép tiếng Phạm, mở đầu cho việc học chữ Tất đàm, đây là sự kiệntronglịch sử Phật giáo Trung quốc đáng được xem trọng. Sư cũng giỏi về công xảo nghệ thuật, tương truyền sư tự chế ra mô hình, đúc tạo linh tháp bằng đồng pha vàng cực kì trang nghiêm, đặc biệt các Mạn đồ la do sư vẽ rất khéo và đẹp. Năm Khai nguyên20 (732), sư dâng biểu xin trở về Ấn độ, nhưng không được chấp thuận. Đến ngày mồng 7 tháng 11 năm Khai nguyên 23 (735), sư thị tịch tại Thiền thất, thọ 99 tuổi, pháp lạp 80. Vua Huyền tông rất thương tiếc, truy tặng sư chức Hồng lô khanh và ban sắc an táng sư ở chùa Quảng kỉ, núi Tây sơn, Long môn. Đệ tử nối pháp có các vị Bảo tư, Nhất hạnh, Huyền siêu, Nghĩa lâm, Trí nghiêm, Hỉ vô úy, Bất khả tư nghị (người Tân la, tức nay là Triều tiên), Đạo từ(người Nhật bản)... [X. Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.thượng; Đại đường đông đô Đại thánh thiện tự cố Trung thiên trúc quốc Thiện vô úy tam tạng hòa thượng bi minh tinh tự; Tục cổ kinh dịch kinh đồ kỉ; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Phật tổ thống kỉ Q.29, 40; Tống cao tăng truyện Q.2].
thiện tịch phật
4889為過去佛之名。佛藏經卷下(大一五‧七九七下):「於第七百阿僧祇劫中,得值六十二佛,皆號善寂。」
; (善寂佛) Tên đức Phật ở đời quá khứ. Kinh Phật tạng quyển hạ (Đại 15, 797) nói: Trong kiếp A tăng kì thứ 700, được gặp 62 đức Phật đều có danh hiệu là Thiện tịch.
Thiện tịnh
善淨; C: shànjìng; J: zenjō;|Thanh tịnh (s: viśuddha).
thiện tịnh cõi giới
Suvisudda (S)Ngài Phú la nâu (Purna) được Phật Thích Ca thọ ký vể vị lai sẽ thành Phật có hiệu này, cõi thế giới của Ngài là Thiện Tịnh, kỳ kiếp là Bảo Minh.
Thiện tịnh 善淨
[ja] ゼンジョウ zenjō ||| Well-purified (viśuddha). => Thanh tịnh (s: viśuddha).
thiện vô lậu pháp
Kuśalanāsravāḥ (S).
; Kusalanàsravàh (S). Good things free from evil flowings
; Kusalanasrava (skt)—Các đức tính tốt thoát khỏi các lậu hoặc mà hành giả có trí tuệ hưởng được khi họ đắm mình sâu trong hạnh phúc của Thiền định và an trú trong sự hiện hữu như thị (đúng như sự hiện hữu)—Good virtues free from evil flowings by the wise cultivators when they are deeply drunk in the the bliss of the samadhi and abiding in the bliss of existence as it is.
Thiện Vô Uý
善無畏; C: shàn wúwèi; J: zemmui; S: śubhā-karasiṃha, 637-735. |Học giả Ấn Độ truyền bá Mật tông Phật giáo sang Trung Hoa. Được xem là một trong 8 vị tổ của giáo lí Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của Chân ngôn tông. Sinh trong một hoàng tộc thuộc vùng Orissa, kế thừa ngôi vào năm 13 tuổi, nhưng sư từ bỏ khi các người anh khởi binh bạo loạn tranh quyền kế vị. Sư xuất gia làm Tăng tại Trúc lâm tinh xá (竹林精舎, s: veṇuvanavihāra) trong chùa Na-lan-đà (那爛陀寺). Theo chỉ đạy của thầy là Đạt-ma Cúc-đa (達磨掬多, s: dharma-gupta), sư dấn thân vào cuộc hành trình sang Trung Hoa qua đường Thổ Phồn (吐蕃, e: turfan), đến nơi vào năm 716. Sư được vua Huyền Tông (玄宗) tiếp kiến năm 717, và bắt đầu dịch kinh tại chùa Tây Minh (西明寺). Khi vua trùng tu lại chùa năm 724, sư dời đến chùa Đại Phúc Tiên (大福先寺) ở Lạc Dương, cộng tác với Nhất Hạnh (一行) dịch Đại Nhật kinh (大日經, s: vairoca-nābhisambodhi). Dù đã nổi tiếng với việc dịch kinh ấy, sư còn dịch những nhiều kinh văn Mật tông quan trọng khác như kinh Tô-tất-địa (蘇悉地經; s: susiddhi). Sư còn tổ chức những nghi lễ cho triều đình và giảng thuyết; một trong những pháp ngữ nầy là Vô Uý tam tạng thiền yếu (無畏三藏禪要). Một số kinh văn khác được soạn ở Trung Hoa dưới sự hướng dẫn của sư. Đồ hình »Ngũ bộ tâm quán« (五部心観) có kể đến hành trạng của Thiện Vô Uý. Cho đến cuối đời, sư thỉnh nguyện được trở về Ấn Độ, nhưng bị từ chối, và sư viên tịch ở Lạc Dương. Sau khi an táng sư trên đồi quanh Long môn vào năm 740, tín đồ Phật tử vẫn tiếp tục thờ phụng nhục thân của sư.
thiện vô uý
4892(637~735)梵名 Śubhakara-siṃha。音譯作戍婆揭羅僧訶、輸波迦羅。意譯作淨師子。又稱無畏三藏。為密教祖師之一,與金剛智、不空,並稱開元三大士。為東印度烏荼國人,屬剎帝利種姓,釋尊季父甘露飯王之後裔。十三歲嗣位,因內亂而讓位出家,至南方海濱,遇殊勝招提,得悟法華三昧。復至中印度那爛陀寺,投達摩鞠多(梵 Dharmagupta)座下,學瑜伽三密之法,盡得其傳,受灌頂為天人師。唐代開元四年(716),奉師命,經中亞至長安,玄宗禮為國師,詔住興福寺南塔院,後移西明寺。翌年,奉詔譯經於菩提寺,譯出虛空藏菩薩能滿諸願最勝心陀羅尼求聞持法一卷,沙門悉達擔任譯語,無著綴文筆受。此後即致力譯經。 師為將密教傳至中國之先河,與金剛智共同奠定密教之基礎。密教之根本聖典大日經(大毘盧遮那成佛神變加持經),即由善無畏口述,一行記錄而成。後由一行編纂,並加以註釋,稱大日經疏,凡二十卷。此外,尚譯有蘇婆呼童子經(三卷)、蘇悉地羯囉經(三卷)等密教重要經典,並介紹灌頂之修行方法。又大日經內之密咒,皆寫出梵字,逐字以漢音對譯。此係因密教重視文字,為求念誦、觀想精確,故創此例。由此可知師當時傳授密教,已同時教授梵文拼法,開始講求「悉曇」之學,此為我國佛教史上值得重視之事。師亦擅長工巧藝術,相傳其自製模型,鑄造金銅靈塔,備極莊嚴;其所畫曼荼羅尤為精妙。 師於開元二十年表請歸國,未得准許。二十三年十一月七日示寂於禪室,世壽九十九,法臘八十。玄宗甚表哀悼,追贈鴻臚卿,葬於龍門西山之廣紀寺。付法弟子有寶思、一行、玄超、義林、智嚴、喜無畏、不可思議(新羅僧)、道慈(日僧)等。〔大日經供養次第法疏卷上、大唐東都大聖善寺故中天竺國善無畏三藏和尚碑銘並序、續古今譯經圖紀、開元釋教錄卷十二、貞元新定釋教目錄卷十四、佛祖統紀卷二十九、卷四十、宋高僧傳卷二〕
Thiện Vô Uý 善無畏
[ja] ゼンムイ Zemmui ||| Śubhākarasiṃha (637-735). Indian paṇḍit who propagated Buddhist esotericism in China, acknowledged as one of the eight patriarchs of the doctrine 傅授八祖 in Shingon lineages. Born into a royal family of Orissa, he inherited the throne at age thirteen, but renounced it when his brothers began a violent struggle over the succession. He became a Buddhist monk, settling in the Veṇuvanavihāra 竹林精舎 at Nālanda monastery 那爛陀寺. At the behest of his master Dharmagupta 達磨掬多, he embarked on a journey to China via Turfan 吐蕃, arriving in 716. He was met by the emperor Xuanzong 玄宗 in 717, and began translating texts at Siming temple. When the emperor relocated in 724, he moved to Tafusien temple at Loyang, working there with Yixing 一行 on the translation of the Vairocanābhisambodhi 大日經 [T 848]. Though best known for translating that work, he translated a number of important esoteric texts such as the Susiddhi 蘇悉地經 [T 894] as well. He also performed rituals for the state and gave lectures; some of these are recorded in 'Master Śubha's Guide to Meditation' 無畏三藏禪要 [T 917]. Another text drafted in China under his guidance, the iconographic 'Essential Meditations on the Five Families' 五部心観, carries a portrait of Śubhakarāsiṃḥa. Towards the end of his life, he requested permission to return to India, but was refused, and he passed away in Loyang. After his burial in the hils around Longmen 龍門 in 740, devotees continued to worship his corpse. => Śubhākarasiṃha (637-735). Học giả Ấn Độ truyền bá Mật tông Phật giáo sang Trung Hoa. Được xem là một trong tám vị tổ của giáo lý Truyền thụ bát tổ của Chân ngôn tông. Được sinh trong hoàng tộc thuộc vùng Orissa, kề thừa ngôi vào năm 13 tuổi, nhưng ông từ bỏ khi người anh khởi binh bạo loạn dành quyền kế vị. Ông xuất gia làm Tăng tại Trúc lâm tinh xá trong chùa Na-lan-đà. Theo chỉ đạy của thầy là Đạt-ma Cúc-đa, sư dấn thân vào cuộc hành trình sang Trung Hoa qua đường Thổ Phồn (Turfan 吐蕃), đến nơi vào năm 716. Sư được vua Huyền Tông tiếp kiến năm 717, và bắt đầu dịch kinh tại chùa Siming. Khi vua trùng tu lại chùa năm 724, sư dời đến chùa Tafusien ở Lạc Dương, cộng tác với ngài Nhất Hạnh dịch Đại nhật kinh (大日經, s: Vairocanābhisambodhi). Dù đã nổi tiếng với việc dịch kinh ấy, sư còn dịch những nhiều kinh văn Mật tông quan trọng khác như kinh Tô tất địa (蘇悉地經; s: Susiddhi). Sư còn tổ chức những nghi lễ cho triều đình và giảng thuyết; một trong những pháp ngữ nầy là Vô Uý Tam tạng thiền yếu. Một số kinh văn khác được soạn ở Trung Hoa dưới sự hướng dẫn của sư. Đồ hình 'Ngũ bộ tâm quán'có mang dáng dấp của Thiện Vô Uý. Cho đến cuối đời, sư thỉnh nguyện được trở về Ấn Độ, nhưng bị từ chối, và sư viên tịch ở Lạc Dương. Sau khi an táng sư trên đồi quanh Long môn vào năm 740, tín đồ Phật tử vẫn tiếp tục thờ phụng thi hài của sư.
Thiện Vô Úy
(s: Śubhakarasiṃha, j: Zemmui, 善無畏, 637-735): âm dịch là Thú Bà Yết La (戍婆掲羅), Thâu Bà Ca La (輸婆迦羅), ý dịch là Tịnh Sư Tử (淨師子), thường được gọi là Vô Úy Tam Tạng (無畏三藏), là sơ tổ của Mật Giáo; cùng với Kim Cang Trí (s: Vajrabodhi, 金剛智) và Bất Không (s: Amoghavajra, 不空) được gọi là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ (開元大士). Tương truyền là vương tử của nước Ô Trà (s: Orissa, 烏茶) ở Đông Ấn hay vương tử của Trung Ấn. Ông từ bỏ vương vị, quy đầu về cửa Phật, học Đại Thừa Phật Giáo ở tu viện Nālandā (娜爛陀寺, Na Lan Đà Tự) và được Đạt Ma Cúc Đa (s: Dharmagupta, 達摩鞠多) truyền trao Mật Giáo cho. Thể theo lời khuyên của thầy, năm 80 tuổi, ông đến kinh đô Trường An (長安) của Trung Quốc; tại đây ông được triều đình rất tin tưởng và tận lực phiên dịch cũng như lưu bố Mật Giáo. Ông đã phiên dịch khá nhiều kinh điển Mật Giáo quan trọng sang Hán ngữ như Đại Nhật Kinh (大日經) 7 quyển, Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh (蘇婆呼童子經) 3 quyển, Tô Tất Địa Yết Ra Kinh (蘇悉地羯囉經) 3 quyển, v.v. Ngoài ra, trước tác Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) 20 quyển của ông cũng rất nổi tiếng. Ông được xem như là vị tổ truyền trì thứ 6 của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản.
thiện vô úy
Subhàkarasimha (S). A famous Indian monk, came to China in 716 to propagate the Esoteric Buddhism.
; Vị đầu tiên là Thiện Vô Úy (Subhakarasimha 637-735)—Subhakarasimha (637-735). • Ông từng là một vị vua của xứ Orissa. Ông xuất gia làm Tăng và đến đại học Na Lan Đà nơi Pháp Mật trụ trì. Ông thâm hiểu Du Già, chân ngôn, và ấn quyết, ông khởi hành đi Kasmir và Tây Tạng, và cuối cùng đến Trường An vào năm 716, nơi đó ông được vua Huyền Tôn (685-762) tiếp đón nồng hậu. Ông là người sáng lập ra Mật Tông vào khoảng năm 720: The first arrival was Subhakararimha (637-735), who had been king of Orissa. He joined the Sangha and went to the Nalanda University over which Dharmagupta presided. Well versed in Buddhist concentration (yoga), mystical verses (dharani) and fingers at last came to Ch'ang-An in 716, where he was well received by the Emperor Hsuan-Tsung (685-762). He was the founder of the Tantra School (the secret teaching of Yoga) around 720 A.D.—See Mật Tông. • Vô Hành, một học giả Trung Hoa, du hành sang Ấn Độ, gặp Nghĩa Tịnh tại Na Lan Đà và thâu thập nhiều bản kinh Phạn văn. Ông mất trên đường hồi hương, nhưng những tài liệu thâu thập của ông vẫn được đưa đến chùa Hoa Nghiêm ở Trường An. Khi hay tin đó, Thiện Vô Úy bèn cùng Nghĩa Tịnh chọn lựa vài bản kinh quan trọng, và vào năm 725, khởi dịch kinh Đại Nhật và các kinh khác. Thiện Vô Úy muốn trở về Ấn Độ nhưng không đuợc phép khởi hành, và mất tại Trung Quốc vào năm 735: Wu-Hsing, a learned Chinese, who traveled in India, met I-Ching at Nalanda and collected various Sanskrit texts. He died on his way home, but his collection reached Hua-Yen Monastery in Ch'ang-An. On hearing this Subhakarasimha together with I-Ching selected some of the important texts and in 725 translated the “Great Sun” text (Mahavairocana) and others. He wanted to return to India, but was not allowed to depart and died in 735.
thiện vô úy sa môn
Śubhakara (S).
Thiện xảo
善巧; C: shàn qiăo; J: zengyō; S: upāya-(kauśalya).|»(Phương tiện) thiện xảo«. Hướng dẫn chúng sinh tuỳ theo căn tính của họ một cách khéo léo (phương tiện 方便).
thiện xảo
4877善良巧妙之意。指佛菩薩教化眾生之方法巧妙。又作善權。為善巧方便(梵 upāya-kauśalya,音譯作傴和俱舍羅)之略稱。佛菩薩為順應眾生之能力素質,而運用種種方便(化他之說法方法),巧妙攝取教化眾生,稱為善巧攝化。為適應眾生,而巧妙運用種種方法以救度之,此種方法,則稱善巧方便。〔大寶積經卷五十一、法華義疏卷四上〕(參閱「方便」1435)
; Clever, skilful, adroit, apt.
; 1) Xảo Diệu: Clever—Skillful. 2) Phương Tiện Thiện Xảo: Skillful means.
; (善巧) Cũng gọi Thiện quyền. Gọi đủ: Thiện xảo phương tiện (Phạm: Upàya-kausalya, Hán âm: Âu hòacâu xá la).Tốt lành, khéo léo. Tức chỉ cho phương pháp xảo diệu mà Phật và Bồ tát ứng dụng để giáo hóa chúng sinh. Phật và Bồ tát thuận theo năng lực và căn tính của chúng sinh mà vận dụng mọi phương tiện (phương pháp nói pháp giáo hóa người khác) khéo léo, nhiếp thủ giáo hóa chúng sinh, gọi là Thiện xảo nhiếp hóa. Vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà vận dụng một cách khéo léo các pháp để cứu độ, thì những phương pháp ấy gọi là Thiện xảo phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.51; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 thượng]. (xt. Phương Tiện).
thiện xảo an tâm
4877天台宗十乘觀法之第三種。為善巧安心止觀之略稱。謂巧妙運用止觀,使心安住於法性之中。此一觀法,除上根者外,為中下二根必修觀法之一。〔摩訶止觀卷五上〕(參閱「十乘觀法」463)
; (善巧安心) Gọi đủ: Thiện xảo an tâm chỉ quán. Pháp quán thứ 3 trong Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai. Nghĩa là vận dụng chỉ quán một cách khéo léo khiến cho tâm an trụ trong pháp tính. Pháp quán này, ngoài bậc thượng căn ra, cũng còn là 1 trong các pháp quán mà hàng trung căn và hạ căn phải tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
thiện xảo phương tiện
Upāya-kuśala (S), Upāya-kuśala (P), Skillful means.
Thiện xảo 善巧
[ja] ゼンギョウ zengyō ||| Skt. (upāya-)kauśalya. 'skillful (means).' Skillfully guiding sentient beings according to their capabilities (fangbian 方便). 〔對法論T 1606.31.764a4〕 => Skt. (upāya-)kauśalya. 'Phương tiện thiện xảo'. Phương tiện khéo léo để hướng dẫn chúng sinh tuỳ theo căn tính của họ. Còn gọi là phương tiện 方便.
thiện xứ
Good abode, realm.
thiện ác
4890指善與惡。若再加上無記,則合稱為「三性」。一般而言,善指順理,惡指違理。然於經論中有多種不同說法,依成唯識論卷五之意,能順益此世、他世之有漏與無漏行法為善;反之,於此世、他世有違損之有漏行法為惡。其善惡之分際,在順益與違損之差別。且善惡二者皆須貫串此世與他世,否則即為無記。如人、天之樂果,於此世雖為順益,於他世則不為順益,故非為善,而為無記性。又如惡趣之苦果,於此世雖為違損,於他世則不為違損,故亦非惡,而為無記性。 淨影寺慧遠於大乘義章卷十二中,就人、天、二乘、菩薩、佛等五乘,以闡釋善惡之名。即:(一)順益為善,違損為惡。即以五乘所修之善法為善;能招感三途果報之因,及人、天中苦果之別報業等,稱為惡。(二)順理為善,違理為惡。理,指無相空性。佛、菩薩及二乘所修之善法為善;人、天所修之善法是為有相行,故為惡。(三)體順為善,體違為惡。體,為己之自體,即指法界之真性。依此義,五乘所緣修之一切善行皆為惡。 天台宗所立之善惡有六種,即:(一)人、天之善。指五戒、十善等之事善。但因於人、天之果報盡時,仍將墮於三途(地獄、餓鬼、畜生)等惡道之中,故亦為惡。(二)二乘之善。二乘人能遠離三界(欲界、色界、無色界)之苦,故為善;但二乘人雖能自度,而不能度他,故亦為惡。(三)小乘菩薩之善。小乘菩薩慈悲兼濟,故為善;但因於自身之中,未斷任何煩惱,故亦為惡。(四)通教三乘之善。三乘同斷見忍之煩惱,故為善;但因未見別教中道之理,未斷一分之無明,故亦為惡。(五)別教菩薩之善。別教菩薩能見中道之理,故為善;但因所見之中道為隔歷之中道(隔離而不融通之中道),而非圓教之圓融中道,故其所行帶有方便,不合於理,是亦為惡。(六)圓教菩薩之善。圓教菩薩所見之圓妙之理,本為至極之善,但由「順、背」及「達、著」等二義而言,則亦為惡。「順、背」,謂順實相之圓理為善,背之則為惡;「達、著」,謂達此圓理為善,而於圓理生起執著,則為惡。其中之第二義,係以達、著二者判別善惡,為天台宗獨特之說。〔菩薩瓔珞本業經卷下、大乘義章卷七、法界次第初門卷上、摩訶止觀卷二之三〕(參閱「善」4873、「惡」4944)
; Good and evil; good, inter alia, is defined as thuận lí to accord with the right, evil as nghịch lí to disobey the right.
; Kusala and akusala (skt)—Good and evil. (I) Nghĩa của “Thiện Ác”—The meanings of “Good and Evil” 1) Thiện là thuận lý: Good is defined as to accord with the right. 2) Ác là nghịch lý: Bad is defined as to disobey the right. (II) Những lời Phật dạy về “Thiện Ác”—The Buddha's teachings on “Good and Evil” 1) Ở chỗ nầy ăn năn, tiếp ở chỗ khác cũng ăn năn, kẻ làm điều ác nghiệp, cả hai nơi đều ăn năn; vì thấy ác nghiệp mình gây ra, kẻ kia sanh ra ăn năn và chết mòn—The evil-doer grieves in this world and in the next; he grieves in both. He grieves and suffers when he perceives the evil of his own deeds (Dharmapada 15). 2) Ở chỗ nầy vui, tiếp ở chỗ khác cũng vui; kẻ làm điều thiện nghiệp, cả hai nơi đều an vui; vì thấy thiện nghiệp mình gây ra, người kia sanh ra an lạc và cực lạc—The virtuous man rejoices in this world, and in the next. He is happy in both worlds. He rejoices and delights when he perceives the purity of his own deeds (Dharmapada 16). 3) Ở chỗ nầy than buồn, tiếp ở chỗ khác cũng than buồn, kẻ gây điều ác nghiệp, cả hai nơi đều than buồn: nghĩ rằng “tôi đã tạo ác” vì vậy nên nó than buồn. Hơn nữa còn than buồn vì phải đọa vào cõi khổ—The evil man suffers in this world and in the next. He suffers everywhere. He suffers whenever he thinks of the evil deeds he has done. Furthermore he suffers even more when he has gone to a woeful path (Dharmapada 17). 4) Ở chỗ nầy hoan hỷ, tiếp ở chỗ khác cũng hoan hỷ, kẻ tu hành phước nghiệp, cả hai nơi đều hoan hỷ: nghĩ rằng “tôi đã tạo phước” vì vậy nên nó hoan hỷ. Hơn nữa còn hoan hỷ vì được sanh vào cõi lành—The virtuous man is happy here in this world, and he is happy there in the next. He is happy everywhere. He is happy when he thinks of the good deeds he has done. Furthermore, he is even happier when he has gone to a blissful path (Dharmapada 18). 5) Hãy gấp rút làm lành, chế chỉ tâm tội ác. Hễ biếng nhác việc lành giờ phút nào thì tâm ưa chuyện ác giờ phút nấy—Let's hasten up to do good. Let's restrain our minds from evil thoughts, for the minds of those who are slow in doing good actions delight in evil (Dharmapada 116). 6) Nếu đã lỡ làm ác chớ nên thường làm hoài, chớ vui làm việc ác; hễ chứa ác nhứt định thọ khổ—If a person commits evil, let him not do it again and again; he should not rejoice therein, sorrow is the outcome of evil (Dharmapada 117). 7) Nếu đã làm việc lành hãy nên thường làm mãi, nên vui làm việc lành; hễ chứa lành nhứt định thọ lạc—If a person does a meritorious deed, he should do it habitually, he should find pleasures therein, happiness is the outcome of merit (Dharmapada 118). 8) Khi nghiệp ác chưa thành thục, kẻ ác cho là vui, đến khi nghiệp ác thành thục kẻ ác mới hay là ác—Even an evil-doer sees good as long as evil deed has not yet ripened; but when his evil deed has ripened, then he sees the evil results (Dharmapada 119). 9) Khi nghiệp lành chưa thành thục, người lành cho là khổ, đến khi nghiệp lành thành thục, người lành mới biết là lành—Even a good person sees evil as long as his good deed has not yet ripened; but when his good deed has ripened, then he sees the good results (Dharmapada 120). 10) Chớ khinh điều ác nhỏ, cho rằng “chẳng đưa lại quả báo cho ta.” Phải biết giọt nước nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ ngu phu sở dĩ đầy tội ác bởi chứa dồn từng khi ít mà nên—Do not disregard (underestimate) small evil, saying, “it will not matter to me.” By the falling of drop by drop, a water-jar is filled; likewise, the fool becomes full of evil, even if he gathers it little by little (Dharmapada 121). 11) Chớ nên khinh điều lành nhỏ, cho rằng “chẳng đưa lại quả báo cho ta.” Phải biết giọt nước nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ trí sở dĩ toàn thiện bởi chứa dồn từng khi ít mà nên—Do not disregard small good, saying, “it will not matter to me.” Even by the falling of drop by drop, a water-jar is filled; likewise, the wise man, gathers his merit little by little (Dharmapada 122). 12) Người đi buôn mang nhiều của báu mà thiếu bạn đồng hành, tránh xa con đường nguy hiểm làm sao, như kẻ tham sống tránh xa thuốc độc thế nào, thì các ngươi cũng phải tránh xa điều ác thế ấy—A merchant with great wealth but lacks of companions, avoids a dangerous route, just as one desiring to live avoids poison, one should shun evil things in the same manner (Dharmapada 123). 13) Với bàn tay không thương tích, có thể nắm thuốc độc mà không bị nhiễm độc, với người không làm ác thì không bao giờ bị ác—With a hand without wound, one can touch poison; the poison does not afftect one who has no wound; nor is there ill for him who does no wrong (Dharmapada 124). 14) Đem ác ý xâm phạm đến người không tà vạy, thanh tịnh và vô nhiễm, tội ác sẽ trở lại kẻ làm ác như ngược gió tung bụi—Whoever harms a harmless person who is pure and guiltless, the evil falls back upon that fool, like dust thrown against the wind (Dharmapada 125). 15) Một số sinh ra từ bào thai, kẻ ác thì đọa vào địa ngục, người chính trực thì sinh lên chư thiên, nhưng cõi Niết bàn chỉ dành riêng cho những ai đã diệt sạch nghiệp sanh tử—Some are born in a womb; evil-doers are reborn in hells; the righteous people go to blissful states; the undefiled ones pass away into Nirvana (Dharmapada 126). 16) Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẳm, dù tìm khắp thế gian nầy, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây—Neither in the sky, nor in mid-ocean, nor in mountain cave, nowhere on earth where one can escape from the consequences of his evil deeds (Dharmapada 127). 17) Kẻ ngu phu tạo các ác nghiệp vẫn không tự biết có quả báo gì chăng ? Người ngu tự tạo ra nghiệp để chịu khổ, chẳng khác nào tự lấy lửa đốt mình—A fool does not realize when he commits wrong deeds; by his own deeds the stupid man is tormented, like one is lighting fires wherein he must be burnt one day (Dharmapada 136). 18) Việc hung ác thì dễ làm nhưng chẳng lợi gì cho ta, trái lại việc từ thiện có lợi cho ta thì lại rất khó làm—Bad deeds are easy to do, but they are harmful, not beneficial to oneself. On the contrary, it is very difficult to do that which is beneficial and good for oneself (Dharmapada 163). 19) Những người ác tuệ ngu si, vì tâm tà kiến mà vu miệt giáo pháp A-la-hán, vu miệt người lành Chánh đạo và giáo pháp đức Như Lai để tự mang lấy bại hoại, như giống cỏ cách-tha hễ sinh hoa quả xong liền tiêu diệt—The foolish man who slanders the teachings of the Arhats, of the righteous and the Noble Ones. He follows false doctrine, ripens like the kashta reed, only for its own destruction (Dharmapada 164). 20) Làm dữ bởi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta, làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được—By oneself the evil is done, by oneself one is defiled or purified. Purity or impurity depend on oneself. No one can purify another (Dharmapada 165).
; (善惡) Chỉ cho thiện và ác. Nếu thêm vô kí thì gọi chung là Tam tính. Nói cách thông thường thìThiện chỉ cho thuận lí,Ác chỉ cho trái lí. Nhưng, trong các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Thành duy thức quyển 5 thì hành pháp hữu lậu và vô lậu có năng lực thuận ích cho đời này và đời sau thì là Thiện; trái lại, hành pháp trái nghịch gây tổn hại cho đời này, đời sau thì làÁc. Ranh giới phân chia giữa thiện và ác là ở chỗ thuận ích và trái tổn khác nhau. Hơn nữa, thiện và ác phải xuyên suốt đời này và đời sau, nếu không thì là vô kí(không phải thiện cũng chẳng phải ác). Như quả báo vui ở cõi người, cõi trời, đối với đời này tuy là thuận ích nhưng đối với đời sau lại không là thuận ích, vì thế chẳng phải là thiện, mà là tính vô kí. Lại như quả báo khổ ở ác thú, đối với đời này tuy là trái tổn nhưng đối với đời sau lại không là trái tổn, cho nên cũng chẳng phải ác, mà là tính vô kí. Trong Đại thừa nghĩa chương quyển 12, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh đã y cứ vào 5 thừa Nhân, Thiên, Nhị thừa, Bồ tát và Phật để giải thích rõ về danh từ thiện, ác. Đó là: 1. Thuận ích là thiện, trái tổn là ác. Tức cho thiện pháp mà 5 thừa tu hành thuộc về thiện; còn cái nguyên nhân có năng lực dẫn đến quả báo trong 3 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh)và chiêu cảm nghiệp báo riêng của quả khổ ở cõi trời, cõi người thì thuộc về ác. 2. Thuận lí là thiện, trái lí là ác. Lí chỉ cho tính không vô tướng. Thiện pháp mà Phật, Bồ tát và Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác)tu hành là thuộc về thiện; còn thiện pháp mà người và trời tu hành là Hữu tướng hành, cho nên thuộc về ác. 3. Thể thuận là thiện, thể trái là ác. Thể là tự thể của mình, tức chỉ cho chân tính của pháp giới. Theo nghĩa này thì tất cả thiện hạnh mà5 thừa duyên tu đều thuộc về ác. Tông Thiên thai lập6 loại thiện ác: 1. Thiện của người, trời: Chỉ cho các việc thiện như 5 giới cấm, 10 điều thiện. Nhưng vì khi quả báo cõi người, cõi trời hết rồi thì vẫn lại đọa vào 3 đường ác(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh), cho nên cũng thuộc về ác. 2. Thiện của Nhị thừa: Hàng Nhị thừa có năng lực xa lìa cái khổ trong 3 cõi(Dục, Sắc và Vô sắc) cho nên thuộc về thiện; nhưng hàng Nhị thừa tuy có khả năng tự độ mà không thể độ tha, vì thế cũng là ác. 3. Thiện của Bồ tát Tiểu thừa: Hàng Bồ tát Tiểu thừa có tâm từ bi cứu giúp tất cả, cho nên thuộc về thiện; nhưng vì tự thân vẫn chưa dứt hết phiền não nên cũng thuộc về ác. 4. Thiện của Tam thừa Thông giáo: Tam thừa Thông giáo cùng đoạn phiền não kiến nhẫn nên thuộc về thiện; nhưng vì chưa thấy được lí Trung đạo của Biệt giáo, chưa diệt được một phần vô minh nào, vì thế cũng thuộc về ác. 5. Thiện của Bồ tát Biệt giáo: Bồ tát Biệt giáo có năng lực thấy lí Trung đạo, cho nên thuộc về thiện; nhưng vì Trung đạo mà hàng Bồ tát này thấy là Trung đạo cách lịch(Trung đạo cách lịch chứ không dung thông), chứ không phải Trung đạo viên dung của Viên giáo, cho nên hạnh tu của các vị Bồ tát này còn vướng phương tiện, không hợp với lí, đó cũng thuộc về ác. 6. Thiện của Bồ tát Viên giáo: Chân lí mà hàng Bồ tát Viên giáo thấy được là lí viên dung vi diệu, vốn là thiện tột bậc; nhưng nói theo 2 nghĩa thuận, bội và đạt, trước thì cũng thuộc về ác. Thuận, bội nghĩa là thuận theo viên lí thực tướng là thiện, còn trái ngược lại(bội) thì là ác; Đạt, trước nghĩa là đạt được viên lí này là thiện, còn sinh khởi chấp trước viên lí này thì là ác. Trong đó, dùng nghĩa thứ 2 là đạt, trước để phân biệt thiện ác là thuyết đặc biệt của tông Thiên thai. [X.kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng; Ma ha chỉ quán Q.2, phần 3]. (xt. Thiện,Ác).
thiện ác bất nhị
4891謂善、惡(同於「不善」)二者,皆由因緣而生,其中並無實體,而係空性平等,無所差別,亦即不二、一如之意。維摩詰所說經卷中入不二法門品(大一四‧五五○下):「善、不善為二,若不起善、不善,入無相際而通達者,是為入不二法門。」一般雖將善惡分別為二,謂善為順理,惡為背理,或謂善能順益現在與未來,惡則能違損,而招致苦果。然以般若(智慧)之立場觀之,一切諸法皆無實體,乃因緣所生。可知善、惡皆為空性,並非對立,而為平等一如。若自覺悟境地之不二立場觀之,在相對之世界中,善、不善之對立,並無任何實質可言,僅為虛妄分別,故以智慧滅除善與不善相對分別之執著,則通達一切法無相平等,乃至於善、不善不二之境地,即稱「入不二法門」。所謂善惡不二,即是般若通達覺悟之境界。
; Good and evil are not dualism—See Bất Nhị.
; (善惡不二) Thiện vá ác chẳng phải hai. Nghĩa là thiện và ác(bất thiện)đều do nhân duyên mà sinh, trong đó đều không có thực thể, mà là tính không bình đẳng, không có sai khác, cũng tức là chẳng hai, là như nhau. Phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 550 hạ) nói: Thiện, Bất thiện là hai, nếu không khởi thiện, bất thiện mà vô tướng thông suốt thì đó là vào pháp môn Bất nhị. Thông thường, tuy chia thiện ác làm hai, cho thiện là thuận lí, ác là trái lí, hoặc cho rằng thiện có năng lực mang lại thuận ích cho hiện tại và vị lai, còn ác thì trái tổn, đưa đến quả khổ. Nhưng, đứng trên lập trường bát nhã(trí tuệ)mà nhận xét, thì tất cả các pháp đều không có thực thể, đều do nhân duyên sinh. Do đó mà biếtthiện, ác đều là tính không, đều chẳng phải đối lập, mà là bình đẳng như nhau. Nếu nhìn theo lập trường bất nhị của cảnh giới giác ngộ, thì sự đối lập giữa thiện và bất thiện trong thế giới tương đối hoàn toàn không có ý nghĩa thực chất nào, chỉ là sự phân biệt hư dối. Cho nên, nếu dùng trí tuệ diệt trừ sự chấp trước phân biệt tương đối giữa thiện và bất thiện thì thông suốt tất cả pháp đều vô tướng bình đẳng. Cái gọi là Thiện ác bất nhị chính là cảnh giới Bát nhã giác ngộ thông suốt vậy.
thiện ác tứ vị
4892即由過去之善惡作用,於今聞法有四位之別。此四位為:(一)惡用偏增,此位不得聞法。如法華經卷七所說,增上慢之人,於二百億劫中,常不聞法。(二)善用偏增,此位常聞法。如十住以上之大菩薩等。(三)善惡交際,謂捨凡入聖時,此位中有一類人聞法甚難,偶爾聞之即悟,如常啼菩薩、須達長者家之老婢等,雖或為魔所障,或為自惑所障而隔聞見,但不久即悟。(四)善惡容預,此位之善惡,同為生死流轉之法,故多難聞法,但因惡用不增,故亦非從不聞法;又非善惡交際,故雖能聞法,而不能獲得大益。六趣(地獄、餓鬼、畜生、阿修羅、人、天)、四生(胎生、卵生、濕生、化生)即是此類。由此可知,上根之人中,有難聞佛法者;凡愚之中,亦有能聞佛法者。〔往生要集卷下末〕
; (善惡四位) Bốn ngôi thứ khác nhau của người nghe pháp. Do tác dụng thiện ác ở đời quá khứ mà ngày nay nghe pháp có 4 ngôi thứ khác nhau: 1. Tác dụng ác thêm nhiều: Ngôi thứ này không được nghe pháp. Như kinh Pháp hoa quyển 7 nói rằng người tăng thượng mạn, trong 200 ức kiếp thường không được nghe pháp. 2. Tác dụng thiện thêm nhiều: Ngôi thứ này thường được nghe pháp. Như các vị Đạibồ tát từ hàng Thập trụ trở lên. 3. Thiện ác giao tế: Lúcbỏ phàm vào thánh, hạng người trong ngôi thứ này nghe pháp rất khó, tình cờ nghe liền ngộ, như bồ tát Thường đề, người tì nữgiàtrong nhà trưởng giả Tu đạt... dù bị ma chướng cản trở, hoặc do hoặc nghiệp của chính mình ngăn ngại sự thấy nghe, nhưng không bao lâu liền ngộ. 4. Thiện ác dung nhau: Thiện ác ở ngôi thứ này, cùng là pháp sinh tử lưu chuyển, cho nên phần nhiều khó được nghe pháp, nhưng nhờ tác dụng ác không tăng thêm, cho nên chẳng phải không nghe pháp, cũng chẳng phải thiện ác giao tế, vì thế tuy được nghe pháp mà không được lợi ích lớn. Sáu đường(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, và trời), 4 loài sinh(đẻ bọc, đẻ trứng, đẻ ở chỗ ẩm ướt, tự nhiên hóa sinh), chính là loại này. Căn cứ vào 4 ngôi thứ trên đây, ta có thể biết, trong hạng người thượng căn, có người khó được nghePhậtpháp; còn trong giới phàmphu cũng có người có khả năng nghePhậtpháp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ, phần cuối].
thiện ý
Good intention—Good will—Good faith.
thiện ý bồ tát
Dantamati (S)Tên một vị Bồ tát.
thiện đô
Jantu (skt)—Thiền Đầu—Thiền Đậu—Thiền Đâu—Chúng sanh—All living beings.
Thiện Đạo
(善導, Shàn-dào, Zendō, 613-681): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người hình thành nên Tịnh Độ Giáo Trung Quốc, vị tổ thứ 3 của Tịnh Độ Tông và được liệt vào hàng thứ 5 trong 7 vị cao tăng của Chơn Tông Nhật Bản. Ông xuất thân Lâm Truy (臨淄), Sơn Đông (山東), họ Chu (朱), hiệu Chung Nam Đại Sư (終南大師). Trước khi ông ra đời là thời đại của Văn Đế (文帝), vị vua rất sùng ngưỡng Phật Giáo; vị tổ khai sáng Thiên Thai là Trí Khải Đại Sư (智顗大師) thị tịch trước khi ông ra đời 16 năm; còn Đạo Xước (道綽) thì quy y với Tịnh Độ Giáo trước khi ông sinh ra 4 năm. Nhà dịch kinh nổi tiếng Huyền Trang (玄奘) thì hoạt động cùng thời đại với ông. Lúc nhỏ ông theo xuất gia với Minh Thắng Pháp Sư (明勝法師) ở Mật Châu (密州), tinh thông các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, v.v. Vào năm thứ 15 (641) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) đời vua Thái Tông nhà Đường, ông đến Huyền Trung Tự (玄中寺) ở Tây Hà (西河), yết kiến Đạo Xước (道綽), tu học sám pháp Phương Đẳng và nghe giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經). Từ đó về sau, ông chuyên tâm niệm Phật, tinh tấn vượt qua mọi khổ nhọc, cuối cùng đạt được Niệm Phật Tam Muội và trong giấc mơ thấy được cảnh giới trang nghiêm của Tịnh Độ. Sau khi Đạo Xước qua đời, ông chuyển đến Ngộ Chơn Tự (悟眞寺) ở phía Nam Chung Nam Sơn (終南山) và nỗ lực tu tập Tịnh Độ. Về sau, ông đến Quang Minh Tự (光明寺) ở Trường An (長安), truyền bá pháp môn này. Ông thường hành trì nghiêm mật, hằng ngày ngồi xếp bằng chấp tay, nhất tâm niệm Phật cho đến khi nào hết sức mới thôi. Trong vòng hơn 30 năm trường, ông không hề nằm ngủ, chẳng mắt nhìn người nữ, không nhận lễ bái của Sa Di, xa lánh danh lợi, chẳng thọ nhận cúng dường, tất cả quần áo đẹp cũng như thức ăn ngon ông đều đem đưa nhà trù cúng cho chúng tăng. Đạo phong của ông vang khắp các châu, mọi người đều ngưỡng mộ, được gọi là Di Đà hóa thân. Ngoài ra, ông cũng đã từng luận tranh với Kim Cang Pháp Sư (金剛法師) về những ưu khuyết của pháp môn Niệm Phật. Dưới thời vua Cao Tông, ông làm chức kiểm tra trong công trình tạo lập tượng Đại Lô Xá Na Phật (大盧舍那佛) ở Long Môn (龍門), Lạc Dương (洛陽). Ông đã từng sống qua một số chùa ở Trường An như Quang Minh Tự (光明寺), Huệ Ân Tự (慈恩寺), Thật Tế Tự (實際寺), v.v. Vào ngày 14 (có thuyết cho là ngày 27) tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Long (永隆), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Môn nhân của ông có Hoài Cảm (懷感), Hoài Uẩn (懷惲), Tịnh Nghiệp (淨業), v.v. Trước tác của ông để lại có 5 bộ 9 quyển gồm Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (觀無量壽經疏) 4 quyển, Tịnh Độ Pháp Sự Tán (淨土法事讚) 2 quyển, và Quán Niệm Pháp Môn (觀念法門) 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán Kệ (徃生禮讚偈) 1 quyển, Ban Chu Tán (般舟讚) 1 quyển, Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên Nghĩa (五種增上緣義), v.v., là những tác phẩm do ông trước tác trong thời gian ở Trường An.
; 善導; C: shàndăo; J: zendō; 613-681. |Vị thứ 3 trong 5 vị tổ Tịnh độ tông và là vị thứ 5 trong 7 vị tổ của Tịnh độ chân tông. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi và tu tập thiền quán tưởng A-di-đà và Tịnh độ. Khi nghe tiếng Đạo Xước (道綽), Thiện Đạo đến gặp và nhận giáo lí Tịnh độ từ vị này. Suốt đời Thiện Đạo hiến mình tu tập và hoằng truyền giáo lí nầy. Tương truyền sư đã chép kinh A-di-đà hơn 100.000 lần và vẽ hơn 300 bức tranh về Tịnh độ. Ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, sư còn tiền hành các thời khoá thiền quán tưởng đức Phật A-di-đà và Cực lạc quốc của Ngài. Thiện Đạo còn trứ tác 5 tác phẩm trong 9 cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng (光明寺和尚), Chung Nam Đại sư (終南大師)…
thiện đạo
4896(613~681)唐代僧。山東臨淄(一說安徽盱眙)人,俗姓朱。號終南大師。為淨土宗第三祖。亦即淨土宗曇鸞、道綽派之集大成者。幼年投密州明勝法師出家,誦法華、維摩等經。後得觀無量壽經,悲喜交集,乃修習十六觀。唐太宗貞觀十五年(641),赴西河玄中寺,謁見道綽,修學方等懺法,又聽講觀無量壽經。此後專事念佛,篤勤精苦,遂得念佛三昧,於定中親見淨土之莊嚴。其後入長安光明寺,傳淨土法門。師行持精嚴,日常合掌胡坐,一心念佛,至力竭方休。三十餘年中,不別定寢處,不舉目視女子,亦不受沙彌禮拜,並遠避名利,不受供養,好衣美食皆送大廚供養大眾,自食皆粗惡。以所受之䞋施書寫阿彌陀經十萬卷,及淨土變相三百幅,見塔廟伽藍損壞者,必修復之。道化京華諸州,眾皆仰慕其德,或有誦彌陀經十萬至三十萬遍者,或有日課稱名一萬乃至十萬遍者,或有得念佛三昧而往生淨土者,或有投身高嶺、命寄深泉,捨命焚身者,遂被稱為「彌陀化身」。此外,師曾與金剛法師論說念佛之勝劣。高宗時,於洛陽龍門造立大盧舍那佛像,師擔任檢校之職。永隆二年三月十四日(一說二十七日)示寂,世壽六十九。一說係於光明寺前之柳樹上自縊捨生。葬於長安城南之神禾原。門人有懷感、懷惲、淨業等。著有觀無量壽佛經疏四卷、淨土法事讚二卷,及觀念法門、往生禮讚偈、般舟讚、五種增上緣義等各一卷,甚受淨土宗重視,故經其闡揚而確立之淨土宗,特稱善導流,為唐代佛教特色之一,對淨土宗影響至鉅。 西元一九○九年,日本學者橘瑞超等,於東土耳其斯坦吐峪溝(Toyuk,為高昌故址)附近,發現往生禮讚偈及阿彌陀經之斷片,後者且附有師之發願文,或即師所書寫之阿彌陀經十萬卷之一。又觀無量壽佛經疏亦稱觀經四帖疏,於八世紀時傳入日本,流傳甚廣,日僧法然(源空)即依該書創立日本淨土宗,並尊師為高祖。〔續高僧傳卷二十七、往生淨土瑞應刪傳、念佛鏡、佛祖統紀卷二十六、卷二十七、淨土往生傳卷中、龍舒增廣淨土文卷五、樂邦文類卷二、神僧傳卷五、往生集卷上、釋氏稽古略卷三、淨土聖賢錄卷二、類聚淨土五祖傳、金石萃編第七十三、第八十六〕
; Shan tao (C).
; Good way, good direction.
; 1) Con đường thiện lành: Fortunate realm—White path. 2) Sư Thiện Đạo, người đã giảng giải các bộ luận của Tịnh Độ Tông, ngài cũng giảng về phép tu “lục thời vãng sanh.” Ngài là một trong những cao Tăng vào khoảng năm 681 sau Tây Lịch vào thời nhà Đường. Trong niên hiệu Trinh Quán, nhân thấy bài văn Tịnh Độ Cửu Phẩm Đạo Tràng của ngài Đạo Xước Thiền Sư ở Tây Hà, ngài rất mừng, bảo rằng: “Đây mới chính thật là cửa mầu để đi vào cảnh Phật. Tu các hạnh nghiệp khác xa vời, quanh quất khó thành. Duy có pháp môn nầy mau thoát tử.” Từ đó ngài tinh cần sớm hôm lễ tụng. Ít lâu sau Đại sư đến kinh sư khuyến khích các hàng tứ chúng niệm Phật. Mỗi khi ngài vào thất quỳ niệm Phật, nếu chưa đến lúc kiệt sức, thời quyết không chịu nghỉ ngơi. Lúc ra thất, ngài vì đại chúng mà diễn nói pháp môn Tịnh Độ. Hơn 30 năm, ngài vừa hóa đạo, vừa chuyên tu chưa từng ngủ nghỉ. Hằng ngày đại sư nghiêm trì giới hạnh, không để sai phạm mảy may. Khi được cúng dường thức ăn ngon quý, ngài đem dâng hết cho đại chúng, còn ngài chỉ dùng các món ăn thô dở mà thôi. Tài vật của đàn na tín thí cúng dường, ngài dùng để viết hơn 100.000 ngàn quyển kinh A Di Đà; họa hơn 300 cảnh Tịnh Độ. Số tiền còn lại ngài dùng vào việc trùng tu chùa viện, mua đèn thắp sáng, chứ không để dư. Đệ tử Tăng Tục của ngài lên đến hàng vạn, trong đó có nhiều người hiện tiền chứng được “Niệm Phật Tam Muội,” lúc lâm chung được thoại ứng vãng sanh, số nhiều không kể xiết. Một hôm, ngài bỗng bảo với tứ chúng rằng: “Thân nầy đáng chán, ta sắp về Tây.” Nói xong ngài leo lên cây liễu trước chùa, chắp tay hướng về phương Tây mà chúc nguyện rằng: “Xin Phật và Bồ Tát tiếp dẫn con, khiến cho con không mất chánh niệm, để được sanh về Cực Lạc.” Nguyện xong, ngài gieo mình xuống đất, nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, ngồi kiết già ngay thẳng trên mặt đất. Đại chúng vội đến xem, thì ngài đã viên tịch—A monk named Shan-T'ao, in about 681 A.D., during the T'ang Dynasty, a writer of commentaries on the sastras of the Pure Land sect, and one of its literary men. In the Trinh Quán reign period, reading the Pureland text “Nine Levels of Gaining Rebirth” written by Zen Master T'ao-Xuo of Tsi-He region brought him great joy, as he said: “This is truly the magnificent door to enter the Buddha's world. Cultivating other conducts and practices is long and convoluted making them much more difficult to achieve. Only this Dharma Door of Pureland Buddhism will lead to an expedient liberation from the cycle of rebirths.” From that time, the Great Master cultivated and practiced Pureland Buddhism vigorously and diligently. Not long thereafter, the Great Master came to the capital city to encourage all Buddhists to practice Buddha Recitation. Each time he entered his cottage to kneel and practice Buddha Recitation, if he had not exhausted his strength, he did not rest. After completing his practice, for the benefit of great following. He taught and explained the Dharma Door of Pureland Buddhism. For more than thirty years, he cultivated and propagated Pureland Teachings diligently without a day of rest or sleep. Each day he maintained his precepts purely without violating the smallest precept. When receiving offerings of goods and rare delicates, he would give them to his disciples. For himself, he ate only the less desirable foods. With the monetary wealth he received from offerings made by faithful followers. He had over one hundred thousand Amitabha Buddha Sutras hand-copies. He had over 300 pictures of the Pureland drawn. Additionally, with whatever was left of that money, he used for renovating the temple, pagoda, or buying candles to keep the shrine lighted continuously. Thus, he never saved anything he received. His disciples, those of religious ranks as well as lay Buddhists, who followed his virtuous ways were great in number, may be several hundred thousand. Among these people, many attained the “Buddha Recitation Samadhi” during their lifetime, and upon death countless others achieved observable signs and characteristis of them gaining rebirth to the Amitabha Buddha's Pureland. One day, all of a sudden, he said to his mass following: “This body is filled with sufferings, I will soon go West.” After speaking, he climbed on a willow tree in front of the temple. Facing the Western direction with his palms together and made this prayer: “I ask the Buddha and the Bodhisattvas to rescue and deliver me, to aid me so I will not lose my pure mind to gain rebirth to the Ultimate Bliss World.” Immediately following this prayer, light as a leaf falling from a tree, he threw his body to the ground, and sat in the lotus position. Everyone rushed over to see him and that was when he took his last breath.
; (善導) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Lâm chuy, tỉnh Sơn đông (có thuyết nói người ở Hu di, tỉnh An huy), họ Chu, hiệu Chung nam Đại sư. Sư là Tổ thứ 3 của tông Tịnh độ; cũng chính là người tập đại thành pháiĐàm loan, Đạo xước thuộc tông Tịnh độ. Lúc tuổi nhỏ, sư theo ngài Minh thắng ở Mật châu xuất gia, tụng các kinh Pháp hoa, Duy ma... Sau, sư được đọc kinh Quán vô lượng thọ, vui buồn lẫn lộn, sư liền tu tập 16 pháp quán nói trong kinh này. Năm Trinh quán 15 (641) đời vua Thái tông nhà Đường, sư đến chùa Huyền trung ở Hà tây, yết kiến ngài Đạo xước, tu học Phương đẳng sám pháp và nghe giảng kinh Quán vô lượng thọ. Từ đó về sau, sư chuyên việc niệm Phật, dốc lòng tinh tiến, khổ hạnh, chứng được Niệm Phật tam muội, ở trong định thấy được cảnh trang nghiêm của Tịnh độ. Về sau, sư vào Trường an trụ ở chùa Quang minh, truyền bá pháp môn Tịnh độ.Sư hành trì tinh nghiêm, hàng ngày chắp tay ngồi theo kiểu của người Hồ(người các nước Tây vực), nhất tâm niệm Phật, đến khi mỏi mệt mới thôi. Trong hơn 30 năm, sư không có chỗ ngủ nhất định nào khác, không nhận sự lễ bái của sa di. Sư dùng của cúng dường vào việc viết chép 10 vạn quyển kinh A di đà và vẽ 300 bức tranh Tịnh độ biến tướng; sửa chữa, làm lại các tháp miếu, già lam đã hư hoại. Sư đi hóa đạo ở các châu, mọi người đều ngưỡng mộ đức của sư; hoặc có người tụng kinh A di đà 10 vạn đến 30 vạn biến; hoặc có người trong thời khóa hàng ngày xưng danh hiệu Phật A di đà từ 1 vạn đến 10 vạn biến; hoặc có người chứng được Niệm Phật tam muội vàvãng sinh Tịnh độ. Ngày 14 tháng 3 năm Vĩnh long thứ 2 (681) sư thị tịch, thọ 69 tuổi, đệ tử có các vị Hoài cảm, Hoài huy, Tịnh nghiệp... Sư có các tác phẩm: Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ 4 quyển, Tịnh độ pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển, Vãng sinh lễ tán kệ 1 quyển, Bát chu tán 1 quyển, Ngũ chủng tăng thượng duyên nghĩa 1 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.27; Vãng sinh tịnh độ thụy ứng san truyện; Niệm Phật kính; Phật tổ thống kỉ Q.26, 27; Tịnh độ vãngsinhtruyện Q.trung; Long thư tăng quảng tịnh độ văn Q.5; Lạc bang văn loại Q.2; Thần tăng truyện Q.5; Vãng sinh tập Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.3; Tịnh độ thánh hiền lục Q.2; Loại tụ tịnh độ ngũ tổ truyện; Kim thạch tụy biên 73, 86].
thiện đạo lưu
4897淨土教三流之一。指唐代善導(613~681)所立之淨土教派。係由曇鸞(476~542)、道綽(562~645)相承而來,依初祖曇鸞之住處,又稱雁門流。曇鸞從菩提流支受觀無量壽經,並註釋其所譯之淨土論而成往生論註二卷;其中兼及觀經所說之十念往生,愈能顯發曇鸞之教義。然 ]觀經之宗旨與其時新興之宗義頗為相近,故地論宗之慧遠、天台宗之智顗、三論宗之吉藏等諸師,皆基於自宗之見解,而判認觀經係以觀佛三昧為其宗旨;加之陳代真諦譯出無著、世親之攝大乘論及論釋,開攝論宗,倡導別時意趣,而破斥觀經十念往生為唯願無行之方便教。至此,淨土教遂告頓挫,觀經所被之根機為上根之行人,身土為應化身與應土等說,僅由曇鸞而暫露曙光而已。其後,道綽偶至玄中寺,觀曇鸞之碑文,而入念佛法門,依觀經撰安樂集一書,評破諸說謬見;其弟子善導亦因諸師未解經義,視觀經係以觀念為主,以迴向願生為旨,而非直接教示凡夫往生,故撰著觀經四帖疏,楷定古今,淨土教因此復興。故此一流派雖肇端於曇鸞,而弘揚實為善導,故稱為善導流。 善導之其他著作,如觀念法門、往生禮讚、法事讚、般舟讚等,其內容均在闡發觀經疏之義蘊。其主張為觀經初說要門,以導引淨土未熟之根機,其後則廢除要門,而顯示弘願;即判定觀經要門方便、弘願真實之旨,揭闡觀經雖以觀佛、念佛為主,其本意則在於念佛。並謂稱名之行為正定業,乃五種正行之一;其餘讀誦、觀察、禮拜、讚歎供養四者,則為助業,雖附隨於稱名,但並非往生之正因。〔觀經疏散善義〕
; (善導流) Dòng Thiện đạo. Chỉ cho dòng phái Tịnh độ do ngài Thiện đạo lập ra vào đời Đường, 1 trong 3 dòng phái của Tịnh độ giáo. Y cứ theo chỗ ở của Sơ tổ Đàm loan (476-542), nên cũng gọi là Nhạn môn lưu. Ngài Đàmloantruyền cho ngài Đạo xước (562-645). Ngài Đàm loan học kinh Quán vô lượng thọ từ ngài Bồ đề lưu chi, đồng thời chú thích luận Tịnh độ do ngài Lưu chidịch thành Vãng sinh luận chú 2 quyển; Trong đó, bao gồm cả Thập niệm vãng sinh nói trong Quán kinh lại càng hiển bày rõ giáo nghĩa của ngài Đàm loan. Nhưng vì tông chỉ của Quán kinh rất gần gũi với tông nghĩa tân hưng lúc bấy giờ, cho nên các Đại sư như ngài Tuệ viễn tông Địa luận, ngài Trí khải tông Thiên thai, ngài Cát tạng tông Tam luận...đều dựa vào kiến giải của tông mình mà thừa nhận rằng Quán kinh lấy Quán Phật tam muội làm tông chỉ. Thêm nữa, ngài Chân đế đời Trần dịch luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước và Luận thích của ngài Thế thân, mở ra tông nhiếp luận, đề xướng Biệt thời ý thú, bài xích Thập niệm vãng sinh của Quán kinh là Phương tiện giáo chỉ có nguyện suông chứ không cóthực hành. Đến đây thì Tịnh độ giáo bỗng khựng lại. Các thuyết như căn cơ tu theo Quán kinh là những hành giả thượng căn, thân độ làỨng hóa thân vàỨng độ...giờ đây chỉ còn nhờ Sơ tổ Đàm loan mà tạm thời lóe ra chút ánh sáng. Về sau, ngài Đạo xước tình cờ đến chùa Huyền trung xem văn bia của ngài Đàm loan mà đi vào pháp mônNiệm Phật và y theo Quán kinh mà soạn bộ An lạc tập, phê bình và bác bỏ các kiến chấp sai lầm; đệ tử của sư là ngài Thiện đạo cũng vì các nhà chưa hiểu nghĩa kinh, xem Quán kinh là lấy quán niệm làm chính, lấy hồi hướng nguyện sinh làm tông chỉ, chứ không phải trực tiếp chỉ dạy hạng phàm phu vãng sinh, cho nên mới soạn Quán kinh tứ thiếp sớ, qui định khuôn phép xưa nay, Tịnh độ giáo nhờ đó được phục hưng. Cho nên, dòng phái này tuy bắt đầu là ngài Đàm loan, rồi ngài Đạo xước kế thừa, nhưng thực ra thì người hoằng dương là ngài Thiện đạo, vì thế gọi là Thiện đạo lưu. Các trứ tác khác của ngài Thiện đạo như Quán niệm pháp môn, Vãng sinh lễ tán, Pháp sự tán, Ban chu tán... đều nhằm mục đích phát huy ý nghĩa sâu xa trong Quán kinh sớ. Ngài Thiện đạo chủ trương Quán kinh đầu tiên nói về yếu môn để dắt dẫn những căn cơ Tịnh độ chưa thuần thục, về sau thì bỏ yếu môn mà hiển bày hoằng nguyện. Tức phán định tông chỉ Quán kinh yếu môn là phương tiện, hoằng nguyện là chân thực, nói rõ Quán kinh tuy lấyquán Phật, niệm Phật làm chính, nhưng mục đích là niệm Phật. Đồng thời, ngài Thiện đạo cho rằng hạnh xưng danh là chính định nghiệp, 1 trong 5 chính hạnh; 4 hạnh còn lại: Đọc tụng, quán sát, lễ bái, tán thán cúng dường thì là trợ nghiệp, tuy giúp thêm cho việc xưng danh nhưng không phải chính nhân của sự vãng sinh. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
thiện đạo niệm phật giáo chỉ
Theo Ngài Thiện Đạo, hành giả tu theo Pháp môn Tịnh Độ nên biết những điều quan trọng sau đây—According to the Great Master San-Tao, Pureland cultivators should always remember the followings 1) Ngay khi chúng ta đau yếu, dù nặng hay dù nhẹ đi nữa, cũng đều nên khởi tâm nghĩ đến sự vô thường, bởi vì cái chết là một điều tất nhiên, từ vô thỉ đến nay, hoặc trẻ, hoặc già, hoặc trời, người, ma, quỷ hay súc sanh, vân vân, không ai qua khỏi được. Đây là điều tiên quyết cần phải khởi tâm suy nghĩ trước hết: When first coming down with an illness, whether terminal or not, cultivators should immediately reflect upon the matter of impermanence. The reason is death is a natural part of life; from aeons ago untill now, whether young or old, Heavenly or human beings, ghosts, demons, or animals, etc., no one has been able to escape this fate. This is the most important point and should be thought of first. 2) Kế đến là phải một lòng niệm Phật chờ lâm chung: Next, the cultivator must recite the Buddha's name with one mind to wait to die. 3) Lại nữa cũng phải dặn người thân cận, khi có ai đến thăm bệnh thì khuyên họ nên ngồi kế bên niệm Phật, chớ đừng nên bàn nói các chuyện tạp nhạp của thế gian: Moreover, it is necessary to inform those closest to the cultivators if anyone comes to visit, tell him or her to sit by and to recite the Buddha's name; do not indulge in futile discussions of the world, i.e., gossips, politics, etc. 4) Nếu bệnh trở nặng sắp chết, thì phải dặn thân quyến cùng với các người chung quanh không ai được khóc lóc cả: If illness becomes terminal, remind family and relatives as well as those nearby not to cry. a) Ngược lại, phải đồng thanh niệm Phật để hộ niệm cho thần thức của kẻ lâm chung: On the contrary, they must all loudly and purely chant the Buddha's name to aid the recitation of the cultivator's soul. b) Khi nào người bệnh đã qua đời, gia đình phải đợi cho đến khi nào trong mình người lâm chung hoàn toàn dứt hết hơi nóng, cả mình lạnh hết, tức là thần thức đã lìa khỏi thân tứ đại, chừng đó ai muốn khóc thì cứ khóc. Khi người chết, thần thức hay a lại a thức có thể vẫn lẩn quẩn quanh thân xác chừng vài tiếng đồng hồ: After the cultivator has died, family members must wait until all body heat has dissipated completely, until the body has turned cold, then at that time it is alright to cry. If someone has died, the last of that person's consciousness (alaya consciousness) may linger on within the body for several hous or more before leaving. *** See Hộ Niệm.
thiện đạo tông
Shan-tao School.
thiện đạo tự
4896位於臺灣臺北市。創於民國十四年(1925),由全省佛教信徒捐建而成。臺灣光復後,達超法師任住持,然全寺大部分寮舍為臺北市政府所徵用。三十七年始由李子寬、孫張清揚鼎力護持,乃得逐漸成為屬於佛教文化活動中心之寺宇,中國佛教會亦設於此。寺內有大雄寶殿、彌陀殿、觀照堂、太虛圖書館等建築。初由李子寬掌管寺務,曾先後聘請大醒、章嘉、印順、南亭等人任導師。歷任住持有印順、演培、默如、道安、悟一、雲霞等法師。現任住持為了中法師。
Thiện Đạo 善導
[ja] ゼンドウ Zendō ||| Shandao (613-681). The third of the five Pure Land 淨土 masters and the fifth of the seven patriarchs in the tradition of the True Pure Land sect. He entered the priesthood when young, and practiced meditation on Amitābha and his Pure Land. When he heard of Daochuo 道綽, Shandao went to see him and received the Pure Land teaching from him. The rest of his life was dedicated to the practice and dissemination of this teaching. He is said to have copied the Amitābha-sūtra more than 100,000 times and made more than 300 paintings of the Pure Land. Besides chanting sutras and reciting the nianfo 念佛 constantly, he successfully performed meditation in which he visualized Amitābha and his land. He wrote five works in nine fascicles, including commentaries on different sections of the Guan wuliangshou jing 觀無量壽經 ('The Sutra of Meditation on the Buddha of Infinite Life '). He was popularly known as The 'master of the Kuang ming ssu' 光明寺和尚, The 'Great Master of Zhongnan' 終南大師, etc. => c: Shandao (613-681). Vị thứ ba trong năm vị tổ Tịnh độ và là vị thứ năm trong bảy vị tổ của Chân ngôn tông. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi và tu tập thiền quán tưởng A-di-đà và Tịnh độ. Khi Ngài nghe tiếng Đạo Xước (c: Daochuo 道綽), Thiện Đạo đến gặp và nhận giáo lý Tịnh độ từ Ngài. Suốt đời Thiện Đạo hiền mình tu tập và hoằng truyền giáo lý nầy. Tương truyền ngài đã chép kinh A-di-đà hơn 100.000 lần và vẽ hơn 300 bức tranh về cõi Tịnh độ. Ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, ngài còn tu tập các thời khoá thiền quán tưởng đức Phật A-di-đà và cõi nước của Ngài. Thiện Đạo còn trứ tác năm tác phẩm, trong chín cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng光明寺和尚, Chung Nam Đại sư終南大師...
thiện định
4882指一般修行者自我修行,次第修學佛道,而證得色界之禪定與無色界之禪定。色界天與無色界天皆各有四種禪定境界,合稱為四禪八定。〔解脫道論卷二〕(參閱「四禪」1843、「四禪八定」1845)
; (善定) Chỉ cho những người tu hành từ khi xuất gia theo thứ tự tu học Phật đạo mà lần lượt chứng đượcthiền định của cõi Sắc vàthiền định của cõi Vô sắc. Trời cõi Sắc vàtrờicõi Vô sắc mỗi cõi đều có 4 cảnh giới thiền định, hợp lại gọi chung là Tứ thiền bát định(4 thiền 8 định). [X. Luận Giải thoát đạo Q.2]. (xt. Tứ Thiền Bát Định). THIÊN GIÁC VƯƠNG Thiện giác, Phạm: Suprabuddha. Pàli: Suppabudha. Hán âm: Tô bát ra một đà, Tu ba phật, Tu ba phất. Cũng gọi Thiện ngộ vương. Về vị vua này, các kinh ghi chép đều khác nhau, theo kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 2 thì Thiện giác vương là chủ của thành Thiên tí, ở gần nước Ca tì la vệ thuộc Ấn độ xưa, phu nhân là Long nhĩ nễ (Phạm: Lumbinì), sinh được 2 người con gái, cô chị là Ma da (Phạm: Màyà), cô em là Ma ha ma da (Phạm: Mahàmàyà), về sau 2 chị em cùng là phu nhân của vua Tịnh phạn thành Ca tì la vệ, phu nhân Ma da sinh ra Thái tử Tất đạt đa. Còn theo tư liệu Nam truyền như Đại sử (Pàli:Mahà-vaôsa ii)...thì Thiện giác vương là con của vua An xà nan (Pàli: Aĩjana) thuộc chủng tộc Câu lợi (Pàli: Koơiya) ở thành Thiên tí, là anh của 2 bà Ma da và Ba xà ba đề (Pàli:Pajàpati), em của Vương tử Chấp trượng (Pàli: Daịđapànì) lấy con gái của vua Sư tử giáp tên là Cam lộ (Pàli:Amita) làm vợ; về sau, Cam lộ sinh ra Da duđà la (Pàli: Bhaddakaccànà) vàĐề bà đạt đa (Pàli: Devadatta), Da du đà la tức là phu nhân của Thái tử Tất đạt đa. [X. kinh Phật bản hành tập Q.5; phẩm Thí nghệ trong kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.3, 6; Thích ca phổ Q.2].
thiện đức
Morality, virtue.
thiện đức thiền viện
4895位於臺灣彰化社頭鄉。妙修法師創建於民國二十四年(1935)。歷年續有增建。妙修入寂後,由弟子達錦法師接任住持。四十六年聘請聖印法師為導師,經常講經弘法,信眾日增。五十九年重建後殿,六十一年落成。
thiện đức tự
4894位於臺灣臺南鹽水鎮。創建於清道光三年(1823)。光緒五年(1879)第一次重建,民國四十四年(1955)再次重建,寺宇煥然一新。六十二年增建寮舍,創辦崇德幼稚園、托兒所。寺中建築物有大殿、妙蓮寶塔等。
Thiện 善
[ja] ゼン zen ||| (1) Good, virtuous, goodness, right, virtue. (2) Apt, familiar with, well-versed, skilled in. (3) To perfect, to make good. [Buddhism] (1) Allowable, justifiable, correct, right, satisfactory (Skt. kusala, kuśala, kalyāna; Tib. dge ba). (2) Good action, good deeds; morally good action and its rewards (善業 śubham karma, śubha). (3) As an adverb, well, skillfully, thoroughly. (4) In the doctrine of the Yogācāra school, 'goodness' constitutes one of the five groups of elements falling under the category of 'mental function' elements, containing eleven 'good' elements in its group. These are: faith, effort, conscience, shame, not coveting, non-anger, no delusion, pliancy, no laxity, equanimity, and non-injury. => Có các nghĩa sau: Đức hạnh, đạo đức tốt, tính tốt, điều thiện, đức tính tốt. Tài giỏi, thông thạo, từng trải, khéo léo. Làm cho hoàn thiện, [Phật học] 1. Có thể chấp nhận, chính đáng, đúng, chính xác, hài lòng 2. Việc lành, , việc làm tốt lành và quả báo của nó (thiện nghiệp 善業; śubham karma, śubha). Như một trang từ, có nghĩa là hay, giỏi, khéo léo, hoàn thiện. Theo giáo lý của tông Duy thức, “thiện” lập thành 1 trong 5 nhóm thuộc phạm trù 'Tâm sở pháp', gồm 11 'thiện' pháp trong nhóm ấy. Đó là: tín, tinh tấn, quý, tàm, vô tham, vô sân, vô si, khinh an , bất phóng dật, hành xả, bất hại.
Thiệp
渉; C: shè; J: shō;|Có sự liên quan với. Có sự quen thuộc với; thân tình với.
thiệp cảnh tâm
4158又作分別心。即對現前之事物產生是非、善惡、人我、大小、美醜、好壞等種種之差別觀感,此種取捨分別之心乃障礙佛道修行之妄想情執。
; (涉境心) Cũng gọi Phân biệt tâm. Tâm phân biệt. Tức đối với sự vật hiện tiền khởi tâm phân biệt sai khác, như phải trái, thiện ác, mình người, lớn nhỏ, đẹp xấu...; tâm phân biệt, thủ xả này là những vọng tưởng tình chấp gây chướng ngạicho việc tu hành Phật đạo.
thiệp tật
Xem Dạ xoa.
Thiệp 渉
[ja] ショウ shō ||| To have a relationship with; to be related. To be aquainted with; to be familiar with. 〔二障義 HPC 1.813b〕 => Có sự liên quan với. Có sự quen thuộc với; thân tình với.
thiệt
Jihvà (S). The tongue.
; 1) Lưỡi: Jihva (skt)—Tongue. 2) Thật: Real—Genuine. 3) Thiệt mất: To lose—To suffer loss. 4) Thiệt hại: Damaged.
thiệt bất lạn
Lưỡi không cháy mất, một từ dùng cho ngài Cưu Ma La Thập. Người ta nói khi hỏa táng, cái lưỡi của ngài không bị cháy—Tongue unconsumed, a term for Kumarajiva, on his cremation his tongue is said to have remained unconsumed.
thiệt căn
2540梵語 jihvendriya,巴利語 jivhendriya。五根之一,六根之一,十二處之一,十八界之一,二十二根之一。舌識之所依,取味境之無見有對之淨色,稱為舌根。梵語 jihvā,原意火焰,即能嘗之義,謂祭神時投供物於火中,火焰即神之能嘗。於無色界,舌根不能成就,唯欲、色界有之。於十二處,舌根稱為舌處(梵 jihvāyatana);於十八界,則稱舌界(梵 jihvā-dhātu)。〔大毘婆沙論卷九十、卷一四二、卷一四五、俱舍論卷一、卷二、瑜伽師地論卷五十四、顯揚聖教論卷一、品類足論卷一、成唯識論卷八〕(參閱「二十二根」171、「十二處」343、「十八界」356、「五根」1137)
; Jihvendriya (S)Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
; The organ of taste.
; The organ of taste.
; (舌根) Phạm: Jihvendriya. Pàli:Jivhendriya. Chỉ cho chỗ nương của thức lưỡi, duyên theo vị cảnh, gọi là Thiệt căn, 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Nói nôm na là cái lưỡi dùng để nếm mùi vị. Nghĩa gốc của chữ Phạmjihvàlà ngọn lửa, tức hàm ý là hay nếm, nghĩa là lúc tế thần bỏ các vật dụng cúng vào trong lửa, ngọn lửa tức là sự nếm của thần.Ởcõi vô sắc không có thiệt căn, chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc. Trong 12 xứ, Thiệt căn gọi là Thiệt xứ (Phạm:Jihvàyatana); trong 18 giới thì gọi là Thiệt giới (Phạm:Jihvà-dhàtu). [X.luận Đại tì bà sa Q.90, 142, 145; luận Câu xá Q.1, 2; luận Du già sư địa Q.54; luận Hiển dương tánh giáo Q.1; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Nhị Thập Nhị Căn, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Căn).
Thiệt căn 舌根
[ja] ゼツコン zetsukon ||| (jihvā-indriya). One of the five (or six) faculties. The basis of taste consciousness. That which by connection with objects of taste gives rise to perception of taste. => (s: jihvā-indriya). Một trong 6 giác quan. Căn cứ của thiệt thức. Là nơi khi tiếp xúc với mùi vị sẽ phát sinh ra sự nhận biết của vị giác.
thiệt hiền đại sư
Sua-Sen—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Thiệt Hiền Đại Sư tự là Tự Tế, hiệu là Tỉnh Am, con nhà họ Thời ở đất Thường Thục. Ngài sống vào đời nhà Thanh. Ngay từ khi còn bé, ngài đã không ăn cá thịt. Sau khi xuất gia, ngài tham cứu câu “Phật Là Ai?” Ngài được tỉnh ngộ và nói rằng: “Tôi đã tỉnh giấc mơ.” Kế tiếp, ngài đóng cửa thất ba năm ở chùa Chân Tịch. Ban ngày duyệt tam tạng kinh điển, ban đêm chuyên trì Phật hiệu. Sau khi ra thất, ngài đến Mậu Sơn lễ xá lợi tháp A Dục Vương. Nhằm ngày Phật nhập Niết Bàn, ngài họp chúng, sắm lễ cúng dường, rồi đốt ngón tay trước tượng Phật, phát bốn mươi tám lời nguyện. Lúc ấy cảm được xá lợi Phật phóng ánh quang minh rực rỡ. Trong phần giáo chúng, ngài thường dạy rằng: “Một chữ nguyện bao gồm cả Tín và Hạnh (see Tín Hạnh Nguyên, and Lục Tín). Lúc lớn tuổi, ngài về trụ trì tại chùa Phạm Thiên, còn gọi là chùa Tiên Lâm ở Hàng Châu. Năm Ung Chánh thứ bảy, ngài thành lập Liên Xả, làm văn phát thệ giữa đại chúng, lấy tôn chỉ “Trọn đời tinh tấn tu Tịnh nghiệp làm kỳ hạn.” Ngài chia khóa tu hằng ngày ra làm “Hai mươi phần trì danh,” “Chín phần quán tưởng,” và một phần lễ sám” cho đại chúng nương theo đó mà tu tập. Có nhà tu Thiền hỏi về đường lối quan yếu của pháp môn Niệm Phật, ngài liền dùng lời kệ khai thị rằng: “Một câu A Di Đà, Là việc đầu công án. Không thương lượng chi khác, Thẳng ngay liền quyết đoán. Ví như đống lửa lớn, Nhảy vào liền cháy tan. Lại như gươm Thái A (bảo kiếm) Xông vào liền đứt đoạn. Sáu chữ gồm nhiếp thâu, Tám muôn tư pháp tạng. Một câu giải quyết xong, Ngàn bảy trăm công án. Mặc ai không thích nghe, Ta tự tâm-tâm niệm. Xin chớ có nhiều lời, Giữ một lòng không loạn.” Niên hiệu Ung Chánh thứ 11, ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch, ngài bảo đại chúng rằng: “Tháng tư sang năm ta sẽ đi xa.” Rồi ngài đóng cửa thất, mỗi ngày niệm 100.000 câu Phật hiệu. Sang năm, ngày 12 tháng 4, ngài bảo cùng với các môn đồ rằng: “Từ đầu tháng đến nay ta đã hai lần thấy “Tây Phương Tam Thánh,” chắc là đến lúc vãng sanh. Nói xong, liền làm bài kệ từ giã đại chúng. Qua hôm sau ngày 13 tháng 4, ngài không ăn uống, cứ nhắm mắt ngồi thẳng. Đến canh năm, ngài tắm rửa, thay y hậu. Bữa ấy, nhằm 14, gần giờ ngọ, ngài ngồi nhắm mắt, day mặt về phương Tây, yên lặng. Hàng đạo tục khắp nơi nghe tin, hội về đông như chợ. Đại sư bỗng mở mắt ra, nói: “Tôi về Cực Lạc, không bao lâu sẽ trở lại. Thoát ly sống chết là việc lớn, mỗi người nên cố gắng thanh tịnh niệm Phật.” Dặn dò xong, ngài chắp tay, xướng hồng danh A Di Đà Phật rồi thị tịch. Ngài hưởng dương 49 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Master Sua-Sen, the Eleventh Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His self-given name was Tự-Tế and he was also known as Hsing-An. He was a son of the Thời Family of the Thường-Thục region. He lived during the Ch'ing Dynasty. Even as an infant, he never ate fish or meat. After taking the religious path, he examined the concept “Who is Buddha?” Once he became awakened, he said: “I have awakened from a dream.” Thereafter, he went into a three-year retreat at Chân Tịch Temple. During the day he studied and examined the Tripitaka, and at night he engaged in Buddha recitation. After coming out of his retreat, he went to Mậu Sơn to worship the Cari at a pagoda called Ajatasatrou. On the Memorial Day of the Buddha entering Maha-Nirvana, he had a great gathering of Buddhists to worship and to make offerings. Thereafter, he burned a finger before the Buddha' statue and made forty-eight great vows. At that moment his action led the Cari to emit bright lights. While guiding his disciples, he often taught: “The single word Vow encompasses both Faith and Practice.” (see Tín Hạnh Nguyện, and Lục Tín). On December 8th, lunar year, of the eleventh year of Ung-Chánh reign period, he told the great assembly: “In April of next year, I will go far away.” Thereafter, he went into retreat, daily reciting Buddha's name one hundred thousand times. On April 12th of the following year, he told his disciples: “From the beginning of the moth until now, on two separate occasions I have seen Three Saints of the Western Pureland, perhaps my time to gain rebirth is near.” After speaking, he composed a poem to bid farewell to the great assembly. Next day, April 13th, he did not eat or drink, but continued to sit straight with his eyes closed. Then at five in the morning, he bathed and cleaned himself and changed his robe. On that day, the 14th, nearing the noon hour, he sat with his eyes closed peacefully facing the Western direction. Hearing this news, religious rank and lay Buddhists from everywhere gathered in great numbers. The Great Master suddenly opened his eyes and said: “I'm going to the Ultimate Bliss World, it will not be long before I shall return. Finding liberation from life and death is a very important matter, everyone must be diligent in reciting Buddha peacefully and purely.” After giving this instruction, he put his palms together, chanted the virtuous name Amitabha Buddha and then took his last breath. He was only 49 years old.
thiệt hại
Damage—Loss—Harm.
thiệt mạng
To lose one's life—To die.
thiệt thân
To lose one's life.
thiệt thòi
To be detriment of oneself—To suffer loss.
thiệt thức
2540梵語 jihvā-vijñāna,巴利語 jivhā-viññāna。五識之一,六識之一,八識之一。以舌根為所依,以味境為所緣,而產生「味」之了別作用,稱為舌識。(參閱「八識」316、「五識」1209、「六識」1312)
; Jihvā-vijāna (S).
; Tongue-perception.
; Thiệt thức phát sinh liền khi thiệt căn tiếp xúc với một vị nào đó, lúc ấy chúng ta mới kinh qua phân biệt giữa vị nầy với vị khác, cũng từ đó dục vọng khởi sinh—Taste consciousness—Tongue consciousness or perception—Gustatory consciousness—The tongue consciousness develops immediately through the dominant condition of the tongue when the tongue faculty focuses on a certain taste. At that very moment, we experience and distinguish between tastes and desire arises.
; (舌識) Phạm:Jihvà-vijĩàna. Pàli:Jivhà-viĩĩàna. Lấy Thiệt căn(cái lưỡi)làm chỗ nương, duyên theo vị cảnh(mùi vị)mà sinh ra tác dụng phân biệt mùi vị, gọi là Thiệt thức (thức lưỡi). Một trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 8 thức. (xt. Bát Thức, Ngũ Thức, Lục Thức).
thiệt tình
Sincere.
thiệt tướng
2540<一>為諸佛與轉輪聖王三十二相之第二十七相,即廣長舌相(梵 prabhūta-jihvatā)。諸佛與轉輪聖王之舌廣長而柔軟細薄,能覆至髮際,乃「語必真實」與「辯說無窮」之表徵。〔大智度論卷八十八〕(參閱「廣長舌相」5993) <二>法之相。用以形容說法時辯才無礙之態。
; PrabhŪtatanu-jihvata (S), Pahuta-jihva (S), PrabhŪta-jihvata (S), Prabhutatanu-jihvata (S), Pahuta-jihva (P)Tướng chân thật.
; The broad, long tongue of a Buddha, one of the thirty two physical signs.
; Tướng lưỡi rộng dài của Đức Phật, một trong ba mươi hai hảo tướng của Ngài (ý nói không nói dối)—The broad, long tongue of a Buddha, one of the thirty-two physical signs.
; (舌相) I. Thiệt Tướng. Tướng lưỡi, là tướng thứ 27 trong 32 tướng của chư Phật và Chuyển luân thánh vương, tức tướng lưỡi rộng dài (Phạm: Prabhùta-jihvatà). Lưỡi của chư Phật và Chuyển luân thánh vương rộng dài, mềm mại và mịn mỏng, khi thè ra thì che cả mặt và chạm đến chân tóc trên trán, là biểu tượng của sự Nói ắt chân thật và Biện thuyết vô cùng. [X.luận Đại trí độ Q.88]. (xt. Quảng Trường Thiệt Tướng). II. Thiệt Tướng. Tướng thuyết pháp. Tức khi thuyết pháp thì biện tài vô ngại, thao thao bất tuyệt.
thiệt uẩn
Jivha-viāṇa (P), Tasting-consciousness.
thiệu
1) Giới thiệu: To introduce—To present. 2) Tiếp nối: To continue. 3) Truyền trao: To hand down.
thiệu kỳ sở sơn
See Sở Sơn Thiệu Kỳ.
thiệu loan
Shao-luan (C)Tên một vị sư.
thiệu long
4768<一>謂承繼正法並使之光大隆盛。如「紹隆三寶」,即繼承佛、法、僧三寶並使興隆之意。〔維摩經佛國品〕 <二>(1077?~1136)宋代臨濟宗僧。和州(安徽)含山人。九歲入佛慧院,精研律藏。曾參謁長蘆之淨照崇信,歷訪寶峰之湛堂文準、黃龍山之死心悟新。後赴夾山(湖南),隨侍臨濟宗楊岐派高僧圜悟克勤,凡二十年,並嗣其法。建炎四年(1130),居平江之虎丘山雲巖禪寺,大振圜悟之禪風,世稱虎丘紹隆,久之遂成一派,即虎丘派。圜悟示寂後,與若平共編圜悟之語錄。紹興六年示寂,世壽六十(一說六十五)。門人嗣端編纂虎丘隆和尚語錄一卷,徐林撰塔銘。於日本,其法系亦頗隆盛。〔釋氏稽古略卷四。大明高僧傳卷五、續傳燈錄卷二十七、嘉泰普燈錄卷十四〕
; Nối pháp làm cho ngày thêm hưng thịnh—To continue or perpetuate and prosper Buddhist truth, or the Triratna.
; (紹隆) I. Thiệu Long. Thừa kế chính pháp và làm cho chính pháp phát huy rực rỡ. Như Thiệu long Tam bảo, nghĩa là kế thừa Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và làm cho Tam bảo hưng thịnh. [X.phẩm Phật quốc kinh Duy ma]. II. Thiệu Long (1077 ?-1136). Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Hàm sơn, Hòa châu (tỉnh An huy), Trung quốc. Năm 9 tuổi, sư đã vào viện Phật tuệ chuyên nghiên cứu Luật tạng. Sư từng tham yết ngài Tịnh chiếu Sùng tín ở Trường lô, rồi lần lượt tham phỏng các ngài Trạm đường Văn chuẩn ở núi Bảo phong và Tử tâm Ngộ tân ở núi Hoàng long. Sau, sư đến Giáp sơn (tỉnh Hồ nam) theo hầu ngài Viên ngộ Khắc cần - vị cao tăng của phái Dương kì thuộc tông Lâm tế, trong 20 năm, đồng thời nối pháp của ngài. Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), sư trụ Vân nham thiền tự ở núi Hổ khâu tại Bình giang, mở rộng Thiền phong của ngài Viên ngộ, người đương thời gọi sư là Hổ khâu Thiệu long, lâu ngày bèn trở thành một phái, tức phái Hổ khâu. Sau khi Thiền sư Viên ngộ Khắc cần thị tịch, sư cùng ngài Nhã bình biên tập ngữ lục của Thiền sư Viên ngộ. Năm Thiệu hưng thứ 6 (1136), sư thị tịch, thọ 60 tuổi(có thuyết nói 65 tuổi). Học trò là Tự thụy biên soạn Hổ khâu Long hòa thượng ngữ lục 1 quyển, ngài Từ lâm soạn bài minh tháp. Ở Nhật bản, pháp hệ của sư cũng rất hưng thịnh. Chân núi Thiếu thất THIÊU NGUYÊN (?-?) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Hoa nghiêm, sống vào đời Tống. Sách Pháp giới quán môn trí đăng sớ 1 quyển hiện còn là do sư soạn để chú thích bộ Pháp giới quán môn doHòa thượng Đỗ nhuận, Sơ tổ tông Hoa nghiêm soạn vào đời Đường.
thiệu minh
Shōmyō (J)Tên một vị sư.
thiệu nguyên
4768宋代華嚴宗學僧。生卒年與籍貫、俗姓均不詳。現存其所撰之法界觀門智燈疏一書,係華嚴宗第一祖唐代杜順和尚所作「法界觀門」一卷之注釋書。
thiệu thỉnh
1618指勸請佛菩薩或召致人眾。又稱請召、迎請。大日經卷七(大一八‧四八下):「召請如本教。」密教中,於修法時召請本尊或聖眾至壇上所結誦之印明,稱為迎請聖眾印、請聖眾降壇印。若修護摩法,直接於護摩壇上修供養法時召請本尊聖眾至護摩壇上即可;若於大壇修供養法,則須先召請至大壇,其後再由大壇召請至護摩壇。召請所用之印明,諸經軌所說不一,略有下列數種:(一)結誦本尊之本印明,或加用大鉤召印明。(二)用佛部、蓮華部、金剛部等三部各別之召請印明。(三)用曼荼羅主之真言及各部辦事明王、部母之真言。通常,諸部諸尊通用之召請係用大鉤召法,或以此印明召請聖眾,或加用本尊之本印明,此即如來鉤。〔無量壽如來修觀行供養儀軌〕(參閱「召請方便真言」1618)
thiệu thỉnh phương tiện chân ngôn
1618密教表示如來攝召之德之真言。亦為迎請聖眾或各部諸尊降臨修法壇所誦之真言。又作如來鉤、金剛鉤。即:南麼三曼多勃陀喃(歸命一切諸佛)阿(行也)薩嚩怛囉(二合)鉢囉底訶多(一切所害)怛他揭多(如來)央俱舍(鉤)菩提折哩也(菩提行)鉢唎布囉迦(滿足)莎訶(成就)。關於其結印之法,係先以左手拇指壓其餘四指指頭,令如環狀,次以右手中、無名、小指等三指入左手之環中,右拇指加於左拇指之外,而屈入左掌內,捻右手三指,亦令如環狀,舒展右手食指,而微屈第三節,令如鉤形以召請之。〔大日經疏卷十三〕
thiệu thỉnh đồng tử
1618梵名 Ākarṣāya 或 Ākarṣaṇī。音譯作阿羯囉灑也、阿迦羅灑尼。又作招請童子、招召童子、鉤召童子。為密教八大童子之一,亦為文殊五使者之一。位居胎藏界曼荼羅文殊院文殊菩薩左邊第五位。密號普集金剛。主「召請眾生至於菩提道」之德。其形像,呈童子形,或童女形。頂有三髻,全身黃色,右手置於胸前,持獨股戟,左手持細葉青蓮花,跏坐於赤蓮上。其三昧耶形為鉤,係表召請鉤引之義。其印相,右手作蓮華拳,食指微屈如鉤。真言為歸命阿羯羅灑也(ākarṣāya,召請、鉤來)薩鍐矩魯(sarvaṃkri,一切作)阿然(ājñā,教敕)炬忙羅寫(kumārasya,童子)莎訶(svāhā)。〔大日經疏卷五、卷十三〕
thiệu tu long tế thiền sư
Zen master Shao-Xiu-Long-Ji—Thiền sư Thiệu Tu là đệ tử của Thiền sư Quế Sâm, và là sư đệ của thiền sư Văn Ích Pháp Nhãn—Zen master was a disciple of Zen master Kui-Chen, and a Dharma brother of Wen-Yi-Fa-Yan. • Ba vị từ Quế Sâm đi hành hương, trên đường cùng bàn chuyện. Pháp Nhãn chợt hỏi: “người xưa nói: 'Ở trong vạn tượng riêng bày thân' là vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Sư đáp: “Chẳng vạch vạn tượng.” Pháp Nhãn bảo: “Nói cái gì là vạch chẳng vạch?” Sư mờ mịt, trở lại Viện Địa Tạng. Quế Sâm thấy sư trở lại hỏi: “Ngươi đi chưa bao lâu tại sao trở lại?” Sư đáp: “Có việc chưa giải quyết đâu yên leo non vượt suối.” Quế Sâm bảo: “Ngươi leo vượt bao nhiêu non suối, lại chẳng ưa?” Sư chưa hiểu lời dạy bảo, liền hỏi: “Cổ nhơn nói: 'Ở trong vạn tượng riêng bày thân,' ý chỉ thế nào?” Quế Sâm đáp: “ngươi nói người xưa vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Sư thưa: “Chẳng vạch.” Quế Sâm bảo: “Hai cái.” Sư kinh hãi lặng thinh, lại hỏi: “Chưa biết cổ nhơn vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Quế Sâm bảo: “Ngươi nói cái gì là vạn tượng?” Sư liền tỉnh ngộ, lại từ biệt Quế Sâm đi đến chỗ Pháp Nhãn—While traveling with two other friends from Kui-Lin, Fa-Yan suddenly asked Shao-Xiu a question, saying: “The ancients said that the single body is revealed in the ten thousand forms. Did they thus dispel the ten thousand forms or not?” Shao-Xiu said: “They didn't dispel them.” Fa-Yan said: “What do you say dispels or doesn't dispel them?” Shao-Xiu was confused and returned to see Kui-Chen. Kui-Chen asked him: “You haven't been gone long, why have you come back?” Shao-Xiu said: “There's an unresolved matter, so I'm not willing to go traveling to mountains and rivers until it's resolved.” Kui-Chen said: “It's not bad that you travel to difficult mountains and rivers.” But Sha-Xiu did not understand Kui-Chen's meaning, so he asked: “The single body is revealed in the ten thousand forms. What does this mean?” Kui-Chen said: “Do you say the ancients dispelled the ten thousand forms or not?” Shao-Xiu said: “They didn't dispel them.” Kui-Chen said: “It's two.” For a time, Sha-Xiu was lost in thought, and then he said: “I don't know whether the ancients dispelled the ten thousand forms or not.” Kui-Chen said: “What is it you call the ten thousand forms?” Shao-Xiu thereupon attained enlightenment. • Sư thượng đường dạy chúng: “Pháp đầy đủ nơi phàm phu chẳng biết, pháp đầy đủ nơi Thánh nhơn mà Thánh nhơn chẳng biết. Thánh nhơn nếu biết tức là phàm phu, phàm phu nếu biết tức là Thánh nhơn. Hai câu nói nầy một lý mà hai nghĩa. Nếu người biện biệt được chẳng ngại ở trong Phật pháp có chỗ vào. Nếu người biện biệt chẳng, chớ nói không nghi—Zen master Shao-Xiu entered the hall and addressed the monks, saying: “Ordinary people possess it completely but they don't know it. The saints possess it completely but don't understand it. If the saint understands it, then he or she is an ordinary person. If ordinary people understand it, then they are saints. In these forms of speech there is one principle and two meanings. If a person can distinguish this principle, then he will have no hindrance to finding an entrance to the essential doctrine. If he can't distinguish it, then he can't say he has no doubt. Take care!” • Sư hỏi một vị Tăng mới đến: “Ở đâu đến?” Vị Tăng thưa: “Ở Thúy Nham.” Sư hỏi: “Thúy Nham có lời gì dạy đồ chúng?” Vị Tăng thưa: “Bình thường nói 'Ra cửa gặp Di Lặc, vào cửa thấy Thích Ca.'” Sư nói: “Nói thế ấy làm sao được?” Vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng nói thế nào?” Sư nói: “Ra cửa gặp ai? Vào cửa thấy ai?” Vị Tăng nghe xong liền tỉnh ngộ—Zen master Shao-Xiu asked a monk: “Where have you come from?” The monk said: “From Shui-Yan.” Shao-Xiu asked: “What does Shui-Yan say to provide instruction to his disciples?” The monk said: “He often say 'Going out—meeting Matreya Buddha. Going in—seeing Sakyamuni.'” Shao-Xiu said: “How can he talk like that?” The monk asked: “What do you say, Master?” Shao-Xiu said: “Going out—who do you meet? Going in—who do you see?” At these words the monk had an insight.
thiệu tội
1617又作鉤罪。密教中,行者為摧破無始以來之罪業,須召請諸尊聖者淨除其罪業,稱為召罪。蓋若就法體而言,三業之罪障即法界本具之功德,乃不可摧破者;然若自「始覺修生」之觀點而言,眾生欲捨斷迷障情執,仍須藉修法始能滅除諸種罪業。密教乃就此而有各種滅除業障之修法,並於教王經卷上、觀自在王修行法、略出經卷四等各經軌中,詳載有關此等修法所應結誦之印明。又所謂始覺,係指斷破無始以來不覺之妄染,以彰顯本覺(眾生所具足本來常住之覺體)之德;修生,則指藉由修行之功而衍生始覺之德。
thoa
To rub.
thoai thoải
Gentle slope.
thoang thoáng
Vaguely.
thoang thoảng
Faint perfume.
thoi
1) Một miếng: A piece (of gold)—A bar—A stick. 2) Con thoi (chạy tới chạy lui): Shuttle. 3) Cú đấm bằng tay: To blow—To punch.
thoi thóp
To breath very lightly.
thon
Slim—Slender—Thin.
thong dong
To walk leisurely—Not in a hurry.
Thong dong lục
從容錄; C: cóngróng-lù; J: shōyō-roku;|Tên của một tập Công án, được hai vị Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác và Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀; c: wànsōng xíngxiù, 1166-1246) biên soạn trong thế kỉ 12.|Tập công án này được biên soạn vài thập niên sau Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần. Thiền sư Hành Tú sử dụng 100 tắc công án và kệ tụng của sư Chính Giác dưới tên Tụng cổ bách tắc làm căn bản và thêm vào Trước ngữ, Bình xướng và vì vậy, mỗi tắc bao gồm 5 phần. Sư sử dụng tập này để dạy tăng chúng tại am Thung Dung (cũng đọc Thong Dong) và vì vậy tập công án này được truyền lại dưới tên này. Năm tắc được trích từ trong kinh sách, phần còn lại là những pháp thoại của các vị Thiền sư đời Ðường, thuộc về Ngũ gia thất tông. Tập này được xuất bản đầu tiên năm 1224, gần một thế kỉ sau Bích nham lục. Hơn hai phần ba của Thong dong lục trùng hợp với Bích nham lục và Vô môn quan và có lẽ vì vậy mà tập này ít được nhắc đến.
thong dong lục
Ts'ung-Jung-Lu—Tập sách 100 công án do Hoàng Trí Chánh Giác, một thiền sư danh tiếng phái Tào Động Trung Quốc biên tập. Nhan đề lấy theo tên của “Am Thong Dong”—Record of Great Serenity—A book of one hundred koans compiled by Hung-Chih-Chêng-Chueh, a reputed Chinese T'ao-Tung Zen master. The title is derived from the name of the Hermitage of Great Serenity.
thong thả
Leisurely.
thoái
Retire, withdraw, backslide, recede, yield.
; To retire—To backslide—To withdraw—To yield—To move (step) back—See Thối.
thoái bồ đề thanh văn
4334四種聲聞之一。求佛道之中途,退大乘而取小果,然猶發大菩提心,如舍利弗等不定種性之類。相當於法華文句卷四所說之退大聲聞。出於天親之法華論卷下。〔法華玄贊卷一、卷五〕(參閱「四種聲聞」1823)
; (退菩提聲聞) Một trong 4 loại Thanh văn. Trên đường cầu Phật đạo, giữa đường lui khỏi Đại thừa mà theo Tiểu thừa, nhưng vẫn phát tâm Đại bồ đề, như ngài Xá lợi phất... là hàng chủng tính bất định, tương đương với Thoái đại Thanh văn nói trong Pháp hoa văn cú quyển 4.Danh từ này có xuất xứ từ Pháp hoa quyển hạ của ngài Thiên thân. [X. Pháp hoa huyềntán Q.1,5].
thoái bộ
See Thoái.
thoái chuyển
4334又作退墮、退失。略稱作退。即於求佛道之中途,退失菩提心,而墮於二乘凡夫之地;或退失已證得之行位。有關退位之說,諸經論所舉各異,懷感之釋淨土群疑論卷四總括為四說:(一)信退,指十信位中之前五心位,此五心位猶有退轉心,故易生邪見,斷滅善根。(二)位退,指十住位中之前六心位,此六心位猶會退轉為二乘。(三)證退,指十地以前之諸凡夫位。(四)行退,指七地以前之心位,彼等於所聞所行尚生怯劣之心,不能修學,不能於念念中恆修勝行,故易退轉。此外,小乘諸部於四沙門果之退轉情形亦有異說,說一切有部主張初果必不退,後三果則可能退轉。經量部則謂,初果與第四果不退,中間二果可能退轉。大眾部及化地部均以為,初三果有退,唯第四果為不退。〔大寶積經卷三、菩薩瓔珞本業經卷上賢聖學觀品、俱舍論卷二十五、異部宗輪論〕
; To withdraw and turn back i.e. from any position attained.
; Thối lui làm mất cái mà mình đã tu chứng được—To withdraw and turn back from any position attained.
; (退轉) Gọi tắt: Thoái. Cũng gọi Thoái đọa, Thoái thất. Chỉ cho hạng người trên đường cầu Phật đạo, đến nửa đường thì tâm bồ đề lui sụt mà rơi vào hàng Nhị thừa phàm phu; hoặc chỉ cho hạng người lui mất giai vị tu hành mà mình đã chứng được. Về thuyết thoái vị, các kinh luận nói đều khác nhau, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 4, ngài Hoài cảm đã thu tóm làm 4 thuyết: 1. Tín thoái: Chỉ cho giai vị của 5 tâm trước trong giai vị Thập tín. Vì giai vị 5 tâm này vẫn còn có tâm thoái chuyển, nên dễ sinh tà kiến, dứt mất thiện tâm. 2. Vị thoái: Chỉ cho giai vị của 6 tâm trước trong giai vị Thập trụ. Vì giai vị 6 tâm này vẫn còn có thể thoái chuyển thành Nhị thừa. 3. Chứng thoái: Chỉ cho cácgiai vị phàm phu dưới Thập địa. 4. Hành thoái: Chỉ cho các tâm vị dưới Thất địa, vì các tâm vị này đối với những pháp được nghe còn sinh khiếp nhược, không có năng lực tu học, không thể hằng tu thắng hạnh trong từng niệm, cho nên dễ bị lui sụt. Ngoài ra, về trường hợp thoái chuyển đối với 4 quả Thanh văn, giữa các bộ phái Tiểu thừa cũng có những thuyết khác nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Sơ quả chắc chắn không trở lui, 3 quả sau thì có khả năng lui sụt. Kinh lượng bộ thì cho rằng Sơ quả và Tứ quả không thoái chuyển, 2 quả trung gian thì có thể thoái chuyển. Còn Đại chúng bộ và Hóa địa bộ thì đều chủ trương 3 quả đầu có lui sụt, chỉ có 1quả thứ 4 thì không. [X.kinh Đại bảo tích Q.3; phẩm Hiền thánh họcquán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Câu xá Q.25; luận Dị bộ tông luân].
thoái chí
Thối chí—Broken-spirited—Discouraged.
thoái duyên
4334退轉之因緣。即妨礙佛道之修行,或使行位退轉之障礙惡緣等。俱舍論光記卷三、大毘婆沙論卷六十舉出阿羅漢之五種退緣:(一)多營事業,(二)樂諸戲論,(三)好和鬥爭,(四)喜涉長途,(五)身恆多病。成唯識論了義燈卷四亦列舉五項退緣:(一)僧事,(二)和諍,(三)遠行,(四)多病,(五)樂誦經。迦才之淨土論則謂,凡夫之人若在娑婆穢土,由於五種退緣,故易退轉;若生西方,則無五退緣,故不退轉。其所舉之五退緣即:(一)短命多病,(二)有女人及生染六塵,(三)惡知識,(四)不善及無記心,(五)常不值佛。
; (退緣) Nhân duyên thoái chuyển. Tức chỉ cho những ác duyên gây chướng ngại cho việc tu hành Phật đạo, hoặc khiến phải lui khỏi giai vị tu hành. Câu xá luận quang kí quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 60 nêu ra 5 thứ thoái duyên của bậc A la hán như sau: 1. Đa doanh sự nghiệp: Quá lo toan về sự nghiệp. 2. Nhạo chư hí luận: Ưa thích sự bàn luận chỉ bàn để mà chơi. 3. Hiếu hòa đấu tranh: Thích giảng hòa về việc đấu tranh. 4. Hỉ thiệp trường đồ: Thích đi xa 5. Thân hằng đa bệnh: Thân thường đau ốm. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 4 cũng nêu 5 thứ thoái duyên: Việc tăng,Giàn hòa việctranh cãi,Đi xa,Nhiều bệnh, Thích tụng kinh. Luận Tịnh độ của ngài Ca tài thì cho rằng, người phàm phu vì sống ở thế giới Sa bà, do có 5 thứ thoái duyên nên dễ bị thoái chuyển; còn nếu sinh về Tịnh độ phương Tây thì không có 5 thoái duyên nên không thoái chuyển. Năm thoái duyên là: 1. Sự sống ngắn ngủi, nhiều bệnh. 2. Có người nữ và tiêm nhiễm 6 trần. 3. Kết bạn với người xấu ác. 4. Tâm bất thiện và vô kí. 5. Thường không được gặp Phật.
thoái hóa
To retrogress—To retrograde—To degenerate.
thoái khuất
4333即退步屈服之心。菩薩修行有三種退屈心之難關,即菩提廣大屈、萬行難修屈、轉依難證屈。對治此三退屈者,稱為三練磨。〔成唯識論卷九〕(參閱「三退屈」604)
; To recede or yield, as is possible to a Bodhisattva facing the hardships of further progress.
; (退屈) Chỉ cho tâm lùi bước, khuất phục. Bồ tát tu hành có 3 thứ cửa ải khó khăn khiến tâm thoái khuất.Đó là:Bồ đề quảng đại khuất, Chuyển y nan chứng khuất. Pháp đối trị 3 thứ thoái khuấtnày gọi là Tam luyện ma. [X.luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Thoái Khuất).
thoái khước
To withdraw—To draw back.
thoái lui
To step (draw) back.
thoái một
4333由上地墮於下地,或由樂地墮於苦處之謂。四分律刪繁補闕行事鈔卷中(大四○‧四六下):「一者退沒,由犯此戒,道果無分故。」〔往生論註卷上〕
; To be reborn in a lower stage of existence.
; Tái sanh vào cảnh giới thấp—To be reborn in a lower stage of existence.
; (退沒) Lui mất. Tức từ cõi trên rơi xuống cõi dưới, hoặc từ chỗ vui rơi vào chỗ khổ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung (Đại 40, 46 hạ) nói: Thứ nhất là thoái một, vì phạm giới này mà không có phần đạo quả [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
thoái nhượng
To give way—To yield.
thoái phàm hạ thừa
4333位於靈鷲山山麓之佛塔。乃頻毘娑羅王所建。據大唐西域記卷九載,如來御世垂五十年,多居於靈鷲山廣說妙法,頻毘娑羅王為聞法之故,興發人徒,由山麓至山峰,跨谷凌巖,編石為階,廣十餘步,長五、六里,而於中路建有二小率堵婆,一稱「下乘」,王至此下車徒步;一稱「退凡」,即禁止一般凡俗之人同往。
; (退凡下乘) Phàm tục phải lui, ngồi xe thì xuống. Tức chỉ cho 2 ngôi tháp nhỏ có tên là Thoái phàm và Hạ thừa, do vua Tần bà sa la xây dựng ở chân núi Linh thứu. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9, lúc còn tại thế, phần nhiều đức Phật nói diệu pháp trên núi Linh thứu, vua Tần bà sa la thường lên nghe pháp. Vì đường lên núi khó đi nên vua cho mở 1con đường nhỏ rộng hơn 10 bước, dài khoảng 5, 6 dặm, xếp thành những bậc đá. Ở khoảng giữa con đường này có xây 2 cây tháp nhỏ, 1 gọi là Hạ thừa, nhà vua đến đây thì xuống xe để đi bộ; 1 gọi là Thoái phàm, người phàm tục đến đây thì phải lui lại, cấm không được đi cùng với vua.
thoái pháp
Parihana-dharman (P).
thoái pháp a la hán
4333退法,梵語 parihāṇa-dharman。六種阿羅漢之一,九無學之一。乃證得阿羅漢果中,最鈍根之羅漢,彼等逢疾病等惡緣即退失所證之果。〔俱舍論卷二十五〕(參閱「九無學」147)
; (退法阿羅漢) Thoái pháp, Phạm: Parihàịadharma. Chỉ cho các vị độn căn nhất trong các vị đã chứng được quả A la hán; các vị này vì gặp ác duyên như tật bệnh...mà lui mất quả đã chứng được. Là 1 trong 6 loại A la hán, 1 trong 9 Vô học. [X. luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học).
thoái quả
4333退無學果為有學果之謂。通於九無學中之前五法,即退法、思法、護法、安住法、堪達法。成唯識論卷三舉出使阿羅漢退果之五種因緣:(一)好作務,(二)好讀誦,(三)好裁決俗論,(四)好遠行,(五)長病。
; (退果) Lui mất quả vị đã chứng. Tức lui mất quả vị Vô học mà nhận lấy quả vị Hữu học, chỉ chung cho 5 pháp trước trong 9 Vô học. Đó là: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp. Theo luận Thành duy thức quyển 3 thì A la hán thoái quả vì có 5 nguyên nhân: 1. Thích bận bịu với công việc. 2. Ham đọc tụng kinh điển. 3. Thích phân tích, quyết đoán các luận thuyết của thế tục. 4. Thích đi xa. 5. Luôn đau ốm.
thoái sơ tâm
To recede the initial mind.
thoái tam muội da tội
4332退失三昧耶之罪,為密教三種重罪之一。三昧耶即自己之本誓。謂已受法之修行人退失自己之本誓。依大日經疏卷十一內文之意,即真言行者應勤修行門而不中斷,若在中路退廢,即非精進之相,當得者不得,已得者退失,於道有礙,故行者一心精進,如救頭燃。因精進不放逸,便能於此生得佛知見;反之,若不能一心精進而中途退廢者,則犯退三昧耶罪。〔大日經卷七、大日經疏演奧鈔卷一〕
; (退三昧耶罪) Tội lui mất Tam muội da, 1 trong 3 trọng tội của Mật giáo. Tam muội da tức là bản thệ của chính mình, người thụ giới tu hành mà phạm tội Tam muội da thì tức đã lui mất bản thệ của chính mình. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 11 thì hành giả Chân ngôn phải siêng tu pháp môn của mình, không nên gián đoạn; nếu nửa chừng mà bỏ thì đó chẳng phải tướng tinh tiến, như vậy là cái đáng được sẽ không được, cái được rồi thì lui mất, đối với đạo có trở ngại. Bởi thế hành giả phải nhất tâm tinh tiến, như cứu lửa đang cháy trên đầu. Nhờ tinh tiến không phóng túng, buông thả thì có thể đạt được tri kiến Phật ngay ở đời nay. Trái lại, không siêng năng tiến tới mà nửa chừng bỏ dở thì phạm tội Thoái tam muội da. [X.kinh Đại nhật Q.7; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.1].
thoái thác
To find a pretext (way) to refuse.
thoái toà
4334又作退席。法會、佛事等儀式終了後,各自歸於寮舍。
; (退座) Cũng gọi Thoái tịch. Lui khỏi tòa ngồi. Nghĩa là sau khi kết thúc các nghi thức như pháp hội, Phật sự... thì mỗi người đều trở về liêu phòng của mình, gọi là Thoái tọa.
thoái tọa
Rời chỗ ngồi—To withdraw from one' seat.
thoái viện
4334禪院住持之隱退。或稱退居。依敕修百丈清規卷三住持章載,住持若年老有疾,或心力疲倦,或諸緣不順,自宜知退時,須將常住錢物、方丈什物點交清楚,又備單目兩份,以寺記印押,住持、庫司各收一本為照。至退日,公請一人看守方丈,遂上堂敘謝,辭眾下座,待撾鼓三下而退。住持之制,始創於我國,出世入院之例,或住持生活之清潔、經濟等,皆有明文規定,故所謂退院,亦須按規遵行。
; (退院) Cũng gọi Thoái cư. Vị Trụ trì thiền viện lui về ẩn tu. Theo chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, nếu vị Trụ trì tuổi đã già yếu, tâm lực mỏi mệt, hoặc các duyên không thuận, thì nên tự biết thời rút lui, phải đem tiền của thường trụ, những đồ vật của Phương trượng bàn giao rõ ràng, phải ghi danh mục các vật vào 2 tờ giấy, đóng dấu, kí tên, rồi Trụ trì, Khố tư mỗi người giữ một bản để làm bằng. Đến ngày thoái viện, mời một người trông coi Phương trượng, vị Trụ trì lên Tăng đường từ tạ, từ giã đại chúng rồi xuống tòa, đợi đánh 3 tiếng trống thì lui về. Chế độ Trụ trì được khai sáng ở Trung quốc, luật lệ xuất thế, nhập viện, hoặc sự sinh hoạt trong sạch của Trụ trì cũng như nền kinh tế của Thiền viện đều có qui định rõ ràng bằng minh văn, cho nên việc thoái viện cũng phải được tuân hành theo qui định.
thoái vị
4333「不退位」之對稱。菩薩行佛道時,既證見一分真理,即為不退位;在此之前則為退位。因無退轉之憂,故初地以上之菩薩均屬不退位;反之,地前之十住、十行、十迴向等階位之菩薩仍有退位之虞。〔安樂集卷上〕
; (退位) Đối lại: Bất thoái vị. Khi Bồ tát tu hành Phật đạo, đến lúc đã chứng và thấy được 1 phần chân lí thì đó là Bất thoái vị; trước giai đoạn này thì là Thoái vị. Vì không còn nỗi lo thoái chuyển, nên các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đều thuộc về Bất thoái vị. Trái lại, hàng Bồ tát ở các giai vị dưới Thập địa như Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng...vẫn còn mối lo thoái vị. [X. An lạc tập Q.thượng].
thoái đại
4333退失大乘而墮於二乘。(參閱「退大聲聞」4333)
; To backslide from Mahàyàna (and revert to Hìnayàna)
; Lui bước trước Đại Thừa để chuyển bước sang Tiểu Thừa—To backside from Mahayana and revert to Hinayana.
thoái đại thanh văn
4333五種聲聞之一。本習大乘,積劫修行,後遇惡緣,疲厭生死,退轉大乘,而取小果者,稱為退大聲聞。相當於法華論卷下所舉之退菩提聲聞。如舍利弗發心修習菩薩道,後遇婆羅門乞眼,慨歎菩薩道之難行,遂退失大乘而取小果。〔法華文句卷四〕(參閱「聲聞」6497)
; (退大聲聞) Một trong 5 loại Thanh văn. Người vốn đã nhiều kiếp tu tập Đại thừa, nhưng sau vì gặp ác duyên, nhàm chán sinh tử nên lui khỏi Đại thừa, tu theo Tiểu thừa, gọi là Thoái đại Thanh văn, tương đương với Thoái bồ đề Thanh văn nói trong luận Pháp hoa quyển hạ. Như trường hợp ngài Xá lợi phất phát tâm tu tập đạo Bồ tát, sau gặp người Bà la môn xin mắt, ngài than rằng đạo Bồ tát khó thực hành nên rút lui khỏi Đại thừa để nhận lấy quả vị Tiểu thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.4]. (xt. Thanh Văn).
thoái định
To backslide from meditation.
thoán
To usurp (a throne or high position).
thoán truyện
Tuan-chuan (C), Commentary on the Decision Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
thoáng
1) Thoáng: Ventilated—Well-aired. 2) Thoáng qua: Vaguely.
thoáng thấy
To catch sight of.
thoát
1) Giải thoát: To avoid—To let go. 2) Lóc thịt: To take the flesh from the bones. 3) Thoát y: To strip—To undress. 4) Trốn thoát: To escape.
thoát chết
To escape from death.
thoát giam
To escape from prison.
thoát hiểm
Thoát khỏi nguy hiểm—To get out of danger.
thoát khỏi
Vivarjana (S). Abandoning, abstainimg from.
thoát khỏi phiền trược
To succeed in disentangling the tangle.
thoát ly
To separate.
Thoát lạc 脱落
[ja] ダツラク datsuraku ||| "To escape and let go of." To drop off. To be free from delusion. Liberation (解脱). => Buông bỏ sạch. Thoát khỏi mọi phiền não Tự tại, giải thoát (解脱).
thoát nạn
To escape from (get out of) danger.
thoát phàm
To disincarnate.
thoát thai
To be born.
thoát thân
To escape from danger—To run away.
thoát thể
Rũ bỏ nhục thân—To get rid of the body.
Thoát thể 脱體
[ja] ダッタイ dattai ||| (1) Actual, frank, candid, unexaggerated. (2) The whole, all, completely. (3) To raise one's entire mind and spirit. (4) Liberation. => 1. Thực tế, ngay thực, ngay thẳng, không nói quá. 2. Toàn thể, tất cả, hoàn toàn. 3. Khởi phát toàn tâm toàn ý. 4. Tự tại.
thoát trân trước tệ
Cởi bỏ mọi đồ trang sức thơm tho sạch sẽ, để khoác lấy cái áo dính nhiễm bụi dơ, dùng để ví việc Đức Thích Ca Như Lai ẩn tàng báo thân, hiển hiện ứng thân—To doff jewels and don rags, as did the Buddha on leaving home, or putting off of his celestial body for an incarnate, earthly body.
thoát trần
To enter into religion.
thoát tẩu
Tẩu thoát—To flee—To run away.
thoát xà
Dhvaja (skt)—Dịch là phướn—A banner—A flag.
thoát đào
To run away—To flee—To slip away.
Thoát 脱
[ja] ダツ datsu ||| (1) To become thin. (2) To remove, take off, to shed. (3) To untie, release, escape, separate from, be freed from. 解 [Buddhism] Emancipation, especially from suffering; to be free of anxiety. Liberation, nirvāna. (mukta, parimukta, vimocana, nirmokṣa). See jietuo 解脱. => 1. Trở nên mỏng ra, loãng đi. 2. Tháo ra, xoá bỏ đi, lột bỏ. 3. Cởi trói, giải thoát, thoát khỏi, tách rời ra, thoát ra. [Phật học] Ghép với chữ Giải 解, có nghĩa Giải thoát, đặc biệt thoát khỏi khổ đau, thoát khỏi lo âu phiền não. Tự tại, niết-bàn (nirvāna, mukta, parimukta, vimocana, nirmokṣa). Xem Giải thoát 解脱 .
thoï
(A) Nghĩa của “Thọ”—The meanings of “Feelings” 1) Cho hay bố thí: Vedana (p & skt)—To give—To confer—To deliver—To hand down. 2) Sống lâu: Jivita (skt)—To live long—Longevity—Long life—Age. 3) Feeling or sensation: Vedanta (p & skt)—To receive—To bear—Thọ là pháp tâm sở nhận lãnh dung nạp cái cảnh mà mình tiếp xúc. Thọ cũng là cái tâm nếm qua những vui, khổ hay dửng dưng (vừa ý, không vừa ý, không vừa ý mà cũng không không vừa ý). Khi chúng ta gặp những đối tượng hấp dẫn, chúng ta liền phát khởi những cảm giác vui sướng và luyến ái. Khi gặp phải những đối tượng không hấp dẫn, thì chúng ta sinh ra cảm giác khó chịu; nếu đối tượng không đẹp không xấu thì chúng ta cảm thấy dửng dưng. Tất cả mọi tạo tác của chúng ta từ thân, khẩu và ý cũng đều được kinh qua nhờ cảm giác, Phật giáo gọi đó là “thọ” và Phật khẳng định trong Thập Nhị nhân duyên rằng “thọ” tạo nghiệp luân hồi sanh tử—Feeling is knowledge obtained by the senses, feeling sensation. It is defined as mental reaction to the object, but in general it means receptivity, or sensation. Feeling is also a mind which experiences either pleasure, unpleasure or indifference (pleasant, unpleasant, neither pleasant nor unpleasant). When we meet attractive objects, we develop pleasurable feelings and attachment which create karma for us to be reborn in samsara. In the contrary, when we meet undesirable objects, we develop painful or unpleasurable feelings which also create karma for us to be reborn in samsara. When we meet objects that are neither attractive nor unattractive, we develop indifferent feelings which develop ignorant self-grasping, also create karma for us to be reborn in samsara. All actions performed by our body, speech and mind are felt and experienced, Buddhism calls this “Feeling” and the Buddha confirmed in the Twelve Nidanas that “Feeling” creates karma, either positive or negative, which causes rebirths in samsara. (B) “Thọ” như những đối tượng của thiền tập—“Feelings” as objects of meditation practices: • Quán chiếu những loại cảm thọ như lạc thọ, khổ thọ và trung tính thọ: To contemplate various kinds of feelings such as pleasant, unpleasant and neutral feelings. • Thấu hiểu những thọ nầy đến đi thế nào: To understand thoroughly how these feelings arise, develop after their arising, and pass away. • Quán chiếu thọ chỉ nẩy sanh khi nào có sự tiếp xúc giữa những giác quan mà thôi (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý): To contemplate that “feelings” only arise when there is contact between the senses. • Quán chiếu những điều trên để thấy rõ rằng dù thọ vui, thọ khổ hay thọ trung tính, hậu quả của chúng đều là “khổ”: To contemplate all of the above to have a better understanding of “feelings.” No matter what kinds of feelings, pleasant, unpleasant or iddiference, they all lead to sufferings. (C) Phân loại Thọ—Categories of Feeling: 1) Thân Thọ: Những thứ lãnh nạp nơi thân hay tam thọ (khổ, lạc, phi khổ phi lạc)—Sensation of physical objects, or three states of sensation (vedana)—Karma of pleasure and pain of the physical body—See Tam Thọ. 2) Tâm Thọ: Những thứ lãnh nạp nơi tâm như ưu và hỷ—Sensation of mental objects—Karma of the mental or the mind, i.e. anxiety, joy, etc.
thoăn thoắt
Very quickly.
Thọ Ông Tông Bật
(授翁宗弼, Juō Sōhitsu, 1296-1380): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Nam Bắc Triều, húy Tông Bật (宗弼), tục danh Đằng Nguyên Đằng Phòng (藤原藤房), đạo hiệu Thọ Ông (授翁), thụy hiệu là Thần Quang Tịch Chiếu Thiền Sư (神光寂照禪師), Viên Giám Quốc Sư (圓鑑國師), Vi Diệu Đại Sư (微妙大師), xuất thân kinh đô Kyoto, con của vị Quyền Đại Nạp Ngôn Đằng Nguyên Tuyên Phòng (藤原宣房). Trước kia ông đã từng phục vụ cho Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō), làm đến chức Trung Nạp Ngôn (中納言), ngoài công vụ ra ông còn đến tham Thiền với Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊). Ông được Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超) truyền trao cho y bát và pháp hiệu, và đến năm 1334 thì xuất gia. Khi Huệ Huyền (慧玄) khai sáng Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), ông theo hầu và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau khi thầy mình qua đời, ông làm trú trì đời thứ hai chùa nầy.
thoại
1) Chữ: Words. 2) Cuộc đàm thoại: Conversation—Talking. 3) Kiết tường: Điềm lành—Auspicious. 4) Ngọc quý: A precious stone—A jade token. 5) Ngôn ngữ: Language.
Thoại Nham Sư Ngạn
(瑞巖師彦, Zuigan Shigen, ?-?): nhân vật sống vào cuối thời nhà Đường, người vùng Mân Việt (閩越, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Hứa (許). Lúc còn nhỏ ông có chí xuất gia, nên mặc áo ca sa và nghiêm trì giới luật. Ông đến tham vấn Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Thoại Nham Viện (瑞巖院) vùng Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang) và đã từng quy y cho cả dòng họ của Võ Túc Vương Tiền (武肅王錢).
Thoại Tuyền Tự
(瑞泉寺, Zuisen-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Đại Cốc (大谷派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 3050 Inami (井波), Nanto-shi (南砺市), Toyama-ken (富山縣); hiệu là Sam Cốc Sơn (杉谷山), hay còn gọi là Tỉnh Ba Đại Ngự Phường (井波大御坊), Tỉnh Ba Biệt Viện (井波別院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1390 (Minh Đức [明德] nguyên niên), Xước Như (綽如, Shakunyo), vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), khai sáng chùa này, sau chùa trở thành nơi cầu nguyện của Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (後小松天皇, Gokomatsu Tennō). Đến năm 1581 (Thiên Chánh [天正] 9), chùa gặp phải nạn binh hỏa, bị thiêu cháy tan tành; đến năm 1596 (Khánh Trường [慶長] nguyên niên), nhờ sự hỗ trợ của Tướng Quân Tú Cát (秀吉, Hideyoshi), ông cho dựng nên một ngôi chánh điện tạm thời; tuy nhiên, sau đó thì chùa lại gặp phải biết bao lần hỏa hoạn, song cũng được tái thiết rất nguy nga cho đến ngày nay. Trước ngôi nhà Thái Tử Đường có tấm bia Hậu Tiểu Tùng Đế Tụng Đức (後小松帝頌德), còn lưu lại nét bút của Xước Như. Trong vườn chùa có Đại Cốc Miếu Đường, nơi an trí di cốt của Xước Như. Tượng thờ chính của chùa, A Di Đà Như Lai, là tác phẩm của Thái Trừng (泰澄) dưới thời Bình An. Nơi Thái Tử Đường còn có an trí bức tượng tranh Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) năm lên 2 tuổi. Hằng năm người ta mở cửa ngôi nhà này và tổ chức thuyết giảng về nguồn gốc bức tranh.
thoại tướng
Dấu kiết tường—Auspicious—Auspicious sign, or aspect.
thoại tượng
Theo Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, thì đây là tượng kiết tường, đặc biệt là bức tượng đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm bằng gỗ đàn hương bởi vua Udayana của nước Câu Đàm Thi, một người sống cùng thời với Đức Phật—According to The Great T'ang Chronicles of the western World, composed by Hsuan-Tsang, this is an auspicious image, especially the first image of Sakyamuni made of sandalwood and attributed to Udayana, king of Kausambi, a contemporary of sakyamuni.
thoại tắc
5608說話之法則,轉指古人悟道之因緣、古則公案。又稱話頭、話柄、話路、話霸(
; Lời nói của Phật trở thành pháp tắc trong tự viện—Word-norm, the spoken words of the Buddha the norm of conduct.
; (話則) Cũng gọi Thoại đầu, Thoại bính, Thoại bộ, Thoại bá, Thoại đề, Thoại, Tắc. Pháp tắc nói chuyện, được chuyển dụng để chỉ cho Cổ tắc công án và nhân duyên ngộ đạo của người xưa. Tất cả lời nói cơ duyên của Phật tổ vànhân duyên ngộ đạo của cổ nhân đều là những pháp tắc tu hành tham thiền của người đời sau. Bởi thế, trong Thiền lâm, ở dưới tên công án thường thêm 1 chữ Thoại như Đạt ma khuếch nhiên thoại, Triệu châu bá thụ tử thoại, Nam tuyền trảm miêu thoại... Môn Kinh lục trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Lời nói của Phật tổ là phép tắc cho người học, vì thế gọi là Thoại tắc. Ngoài ra, công án được tạo thành bởi lời nói của các bậc tông tượng trong Thiền lâm, gọi là Thoại đầu công án. [X.phần Bình xướng, tắc 12, Bích nham lục; tắc 1 trong Tổ đình sự uyển Q.7; phần Bình xướng, tắc 21 trong Thung dung lục]. (xt. CôngÁn].
Thoại vân
(瑞雲): hiện tượng xảy ra khi đám mây đi ngang qua gần mặt trời, tạo thành 5 sắc màu trắng, đen, đỏ, vàng, xanh lục; còn gọi là thái vân (彩雲), khánh vân (慶雲), cảnh vân (景雲). Từ xa xưa, thoại vân được xem như là điềm lành, nhưng thực tế là hiện tượng khí tượng mà thôi. Trong Phật Giáo, thoại vân còn được gọi là nhật vựng (日暈, vừng sáng của mặt trời), là hiện tượng thường xảy ra trong những lúc đại lễ quan trọng như Lạc Thành, Khai Nhãn Tượng Phật, v.v.; và có tên gọi là Ngũ Sắc Thái Vân (五色彩雲), Ngũ Sắc Thoại Vân (五色瑞雲), v.v. Hơn nữa, trong các bức tranh Lai Nghênh Đồ (來迎圖), v.v., thường có vẽ hình đức Phật A Di Đà cùng với chư Bồ Tát từ Tây Phương Cực Lạc Tịnh Độ lướt trên đám mây lành năm sắc này đến tiếp rước. Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Chú Giải (地藏本願經科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384) quyển 6 có đoạn rằng: “Tây Kinh Tạp Ký vân: 'Thoại vân viết khánh vân, viết cảnh vân; vân ngũ sắc viết khánh, hoặc viết khanh; thử biểu ly Ngũ Trú Phiền Não, hiển Ngũ Phần Pháp Thân chi tường chưng dã' (西京雜記云、瑞雲、曰慶雲、曰景雲、雲五色曰慶、或曰卿、此表離五住煩惱、顯五分法身之祥徵也, Tây Kinh Tạp Ký giải thích rằng: 'Thoại vân còn gọi là khánh vân, cảnh vân; mây năm sắc gọi là khánh, hay khanh; nó biểu hiện cho sự xa lìa Ngũ Trú Phiền Não và hiển lộ điềm lành Năm Phần Pháp Thân').” Trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 22, có đoạn: “Huyền Tông mộng không trung Sở Kim nhị tự, cật triều phỏng vấn, hàm dĩ sư đối, nãi thân chế Đa Bảo Tháp ngạch tứ kiêm mân vi trợ, công tất chi nhật ngũ sắc thoại vân ngưng ư tháp thượng (玄宗夢空中楚金二字、詰朝訪問、咸以師對、乃親製多寶塔額賜縑緡爲助、功畢之日五色瑞雲凝於塔上, vua Huyền Tông mơ thấy trên không có hai chữ 'Sở Kim', mới hỏi triều thần, tất cả đều nhờ sư trả lời; nhà vua bèn ngự chế ban sắc ngạch trợ giúp lụa tiền dựng Tháp Đa Bảo; ngày hoàn tất công trình có đám mây lành năm sắc đọng trên tháp).”
Thoại đầu
話頭; C: huàtóu; J: wato;|Chỉ cái trọng yếu, trung tâm, »chữ đầu« của một Công án. Một công án có thể có một hoặc nhiều thoại đầu và một thoại đầu có thể chỉ là một chữ duy nhất (xem Nhất tự quan).
thoại đầu
Hau tou (C), Watō (J).
; Xem công án.
; Trước khi chưa khởi niệm muốn nói câu thoại, tức là khi một niệm chưa sanh khởi, gọi là thoại đầu. Nếu có khởi niệm cho là nên, cho là không nên, cho là đúng, cho là không đúng, phàm có hai chữ cho là đều chẳng phải thoại đầu.
thoại ứng
Triệu chứng báo trước sự tốt đẹp và sau này sẽ ứng nghiệm đúng với triệu chứng đó, gọi là thoại ứng.
; 1) Đáp ứng điềm lành: Auspicious response. 2) Tên của loài hoa Ưu Đàm: Name of the Udumbara flower. 3) Triệu chứng tốt về vãng sanh, như thấy Phật, Bồ Tát, Thánh chúng hiện thân tiếp rước, hoặc nghe Thiên nhạc, hoặc thấy phướn, lọng, hay hương thơm tỏa khắp, vân vân—Signs and characteristics of gaining rebirth at the last moments, the cultivator is able to see Buddha, Bodhisattvas, and many other enlightened beings surround him or her, or hearing heavenly music playing, banners, or rare incense filling the air, etc.
thoạt
As soon as.
thoạt kỳ thủy
See Thoạt đầu.
thoạt tiên
See Thoạt đầu.
thoạt trông
At first sight.
thoạt đầu
At the commencement (beginning).
thoải
To be gentle (slope).
thoải mái
Ease
thoảng
1) Bay nhè nhẹ trong không khí: To move lightly in the air (perfume). 2) Có lúc: Now and then—From time to time.
thrisong deutsen
Thrisong Deutsen (T).
thu
1) Cò đầu trọc: A stork. 2) Mùa thu: Autumn—Fall. 3) Thu góp: To collect—To gather. 4) Trả nợ: To pay one's due.
thu ba
Clear and bright eyes of a girl.
thu ba ca la
Subhakarasimha (skt)—Thiện Vô Úy Tam Tạng là tên của một vị Tăng nổi tiếng người Ấn Độ—Name of a famous Indian monk.
thu bà ca la
See Thu Ba Ca La.
thu câu lư na
Suklodana (skt)—Một vị thái tử của thành Ca Tỳ La Vệ, em vua Tịnh Phạn, là cha của Tisya, Đề Bà Đạt Đa, và Nandika—A prince of Kapilavastu, younger brother of Suddhodana, and father of Tisya, Devadatta, and Nandika.
Thu duyên
(收緣): kết liễu các duyên trước, chấm dứt mọi duyên, cũng có nghĩa là chấm dứt mạng sống. Như trong hồi thứ 41 của Tái Sanh Duyên (再生緣) có câu: “Thượng Bản tằng ngôn Khuê Bích tử, Nam Lao tứ bạch dĩ thu duyên (上本曾言奎璧死、南牢賜帛已收緣, Thượng Bản từng bảo rằng Khuê Bích chết, Nam Lao ban cho lụa rồi kết liễu mọi duyên).” Hay trong Kim Cang Tân Nhãn Sớ Kinh Kệ Hợp Thích (金剛新眼疏經偈合釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 487) quyển 1 có đoạn: “Cự nhĩ thu duyên tẩy túc, phu tòa nhi tọa, nhất niệm bất sanh, vạn lự giai vong, ngũ uẩn ký không, tứ tướng hà hữu, thử hựu Như Lai mật thị hàng tâm pháp dã (遽爾收緣洗足、敷座而坐、一念不生、萬慮皆亡、五蘊旣空、四相何有、此又如來密示降心法也, gấp rút thu duyên rửa chân, trãi tòa mà ngồi, một niệm không sanh, vạn lo đều không, Năm Uẩn đã không, Bốn Tướng sao có, đây là pháp hàng phục tâm do đức Như Lai bí mật dạy cho).”
thu gọn
To put in order.
thu hồi
To take back—To revoke—To withdraw—To recall.
thu kim cang bồ tát
Sarada-vajrah (S)Tên một vị Bồ tát.
thu kim cương
3923梵名 Śarada-vajraḥ。密教金剛薩埵曼荼羅菩薩之一。此尊常以智燈破諸黑暗,亦以方便授與眾生,起無量光明,供養雲海;以其空色清爽,莫如秋時,依智光之體,故稱秋金剛。〔理趣釋經卷上〕
; (秋金剛) Phạm: Zarada-vajra#. Một trong các vị Bồtát thuộc Mạn đồ la Kim cương tát đỏa của Mật giáo. Vị tôn này thường dùng đèn trí tuệ phá tan bóng tối vô minh, cũng dùng phương tiện trao cho chúng sinh, phóng ra vô lượng ánh sáng, cúng dường rộng khắp; vì thân vị Bồ tát này trong sáng như bầu trời mùa thu, ở đây theo nghĩa ánh sáng trí tuệ, cho nên gọi là Thukimcương. [X. kinh Lí thú thích Q. thượng].
thu la
1) Sula (skt)—Thu Na—Mũi tên—A dart—A lance. 2) Sura (skt)—Anh hùng—Hero—Heroic.
thu lộ tử
Sariputra (skt)—See Xá Lợi Phất in Vietnamese-English Section.
thu nguyệt long mân
3923(1921~ )日本禪宗學者。宮崎市人。一九五一年畢業於東京大學文學部哲學科。有志於傳統禪之修行,故歷參宮田東珉、古川堯道、苧坂光龍、大森曹玄等諸師,並以居士身分嗣法臨濟正宗。曾任財團法人禪文化研究所禪宗學所員,並主編月刊誌「大乘禪」。此外,又主持在家禪會真人會、お茶の水女子掬水會、私塾龍膽禪塾等。著有:「公案」、「禪門の異流」、「鈴木大拙の言葉と思想」等書。
thu nhận
See Thu Nạp.
thu nhặt
To gather—To collect.
thu nhỏ
To reduce (in size)—To make something smaller.
thu nạp
To accept—To admit—To receive.
thu phương
3923以春夏秋冬配於東西南北等四方,其秋之方爲西,故秋方即指西方。
; (秋方) Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông được phối hợp với bốn phương Đông Tây Nam Bắc, trong đó, mùa thu được phối với phương Tây, vì thế Thu phương tức chỉ cho phương Tây.
thu phục
To win the heart of the people.
thu thanh
To record.
thu vén
To put in order—To arrange.
thu xếp
To settle (a matter).
thu đoạt
To take hold of—To seize.
thua
To lose.
thua kiện
To lose a lawsuit.
thua kém
To be inferior.
thua thiệt
To suffer loss.
thua tài
Inferior in talent.
thui
Very black.
thui thủi
Lonely—Alone.
thum thủm
To smell bad.
thung dung
Easy—Free and easy.
thung dung lục
Shōyō roku (J)Tên một bộ sưu tập.
; (從容錄) Cũng gọi Vạn tùng lão nhân bình xướng Thiên đồng hòa thượng tụng cổ Thung dung am lục, Thiênđồng Giác hòa thượng tụng cổ thung dung am lục. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Vạn tùng Hànhtú soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này gồm 100 tắc tụng cổ của Thiền sư Hoành trí Chínhgiác núi Thiênđồng và thêm phần thị chúng, trứ ngữ, bình xướng... của ngài Vạntùng Hành tú mà thành. Thung dung là tên ngôi am mà ngài Hànhtú ở lúc về già. Ban đầu, học trò ngài Hànhtú là Da luật Sởtài –Quân sư của vua Thái Tổ nhà Nguyên là Thành cát Tưhãn– tùy tòng Tháitổ chinh phạt các nước phía tây, buồn vì phải xa cách thầy mình nên Sởtài thường gửi thư xin thầy bình xướng những bài tụng cổ của ngài Thiênđồng. Do đó, ngài Hành tú mới soạn sách này ở am Thung dung, chùa Báoân tại Yên kinh, bảo thị giả là Li tri ghi chép. Năm Nguyên thái tổ thứ 8 (1223), ngài Hànhtú gửi sách này cho Sở tài, năm sau, Sởtài soạn bài tựa. Đó là lí do hình thành tập sách này. Các tắc trong sách đều chia làm 4 phần: Thị chúng, Bản tắc (công án), Tụng cổ (trong văn phụ thêm lời bình ngắn và trứ ngữ) và Bình xướng. Phần thị chúng tương đương với Thùy thị trong Bích nham lục, là phần thuyết minh tông chỉ của mỗi tắc; Bản tắc là cổ tắc công án, trình bày về nhân duyên chứng ngộ của người xưa; Tụng cổ là phần ngài Hoành trí dùng kệ tụng niêm đề, nói rõ về tông chỉ của Bản tắc; Trứ ngữ là phần giải thích và có lời bình ngắn gọn về các ngữ cú của Bản tắc, Tụng cổ; còn phần Bình xướng là bộ phận trọng điểm của sách này. Sách này và Bích nham lục được xem là 2 viên ngọc quí trong Thiền môn, Bích nham lục thuộc hệ thống tông Lâmtế, còn sách này thì thuộc hệ thống tông Tàođộng. Về chú sớ của sách này thì có: - Thung dung lục tụng giải, 1 quyển, của ngài Mặcthiệu. - Thung dung lục sự lược, 17 quyển, của ngài Tùngvân. - Thung dung lục tiếp chủy lục, 2 quyển, của ngài Đỉnhtam. - Thung dung lục bút tước, 1 quyển của ngài Phạmđính.
Thung huyên
(椿萱): Thung hay xuân (椿) là loại cây cao lá rụng thuộc Khoa Chiên Đàn (栴檀), gỗ cứng, thường dùng làm khí cụ rất tốt. Trong Trang Tử (莊子), phần Tiêu Dao Du (逍遙遊) có đoạn rằng: “Thượng cổ hữu đại Thung giả, dĩ bát thiên tuế vi Xuân, bát thiên tuế vi Thu (上古有大椿者、以八千歳爲春、八千歳爲秋, thời xưa có cây thung lớn, lấy tám ngàn năm làm một mùa Xuân, tám ngàn năm làm một mùa Thu)”; vì vậy sau này cây Thung được dùng thể hiện sự trường thọ và mượn thay thế cho người cha. Nơi người cha ở được gọi là Thung Đình (椿庭), Thung Đường (椿堂) hay Thung Phủ (椿府); cho nên người ta hay dùng câu “Thung Đường Trường Thanh (椿堂長青, Cha Lành Sống Mãi [nhà có cây thung xanh mãi])” để chúc thọ cho phụ thân. Bên cạnh đó, Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Nếu như cả cha lẫn mẹ đều song toàn, tức vẫn còn sống thọ, thế gian vẫn thường dùng câu chúc thọ là “Thung Huyên Tinh Mậu (椿萱並茂, Cha Mẹ Cùng Thọ [cây Thung và cây Huyên cùng tươi tốt])”. Trong bài thơ Tống Từ Hạo (送徐浩) của Mâu Dung (牟融) nhà Đường có câu: “Tri quân thử khứ tình thiên cấp, đường thượng thung huyên tuyết mãn đầu (知君此去情偏急、堂上椿萱雪滿頭, Biết người đi mãi tình ngăn cách, nhà vắng mẹ cha tóc bạc đầu)”. Hay trong Nhất Chi Hoa (一枝花), Tử Đệ Mỗi Tâm Kí Thanh Lâu Thọ Nhân Khúc (子弟毎寄青樓受人曲) của Thang Thức (湯式) nhà Minh có đoạn: “Thung huyên suy mại, tùng cúc tiêu điều (椿萱衰邁、松菊蕭條, Mẹ cha suy yếu, tùng cúc tiêu điều)”. Hoặc trong bài Mẫu Đơn Đình (牡丹亭) của Thang Hiển Tổ (湯顯祖) nhà Minh cũng có câu: “Đương kim sanh hoa khai nhất hồng, nguyện lai sanh bả huyên thung tái phụng (當今生花開一紅、願來生把萱椿再奉, Ngày nay đơm hoa nở nụ hồng, nguyện đời sau gặp mẹ cha cung phụng).”
thung huyên
Father and mother.
Thung Đình
(椿庭): chỉ cho người cha, hay nơi người cha ở; vì cây thung (椿, hay xuân) tượng trưng cho sự trường thọ. Như trong phần Hội Giảng (會講) thuộc Kinh Xoa Ký (荊釵記) của Chu Quyền (朱權, 1378-1448) nhà Minh có câu rằng: “Bất hạnh Thung Đình vẫn táng, thâm lại Huyên Đường huấn hối thành nhân (不幸椿庭殞喪、深賴萱堂訓誨成人, không may cha lành qua đời, thảy nhờ mẹ hiền dạy dỗ nên người).” Từ đó, có một số câu được dùng để chúc tụng người cha như: “Thung Đình nhật noãn (椿庭日暖, Thung Đình mỗi ngày một ấm áp, nghĩa là người cha mỗi ngày một mạnh khỏe)”, “Thung Đình trường thanh (椿庭長青, Thung Đình xanh tươi mãi, nghĩa là cha lành vẫn sống mãi)”, v.v.
thuyên
1) Cái nơm cá—A bamboo fishing-trap. 2) Phân giải: To expound—To explain—Discourse.
thuyên biện
1) Bình luận: To comment. 2) Giải thích: To explain.
thuyên chuyển
To transfer.
thuyên chỉ
5609爲法相宗之常用語。詮,爲「依詮談旨」之意,即透過言語、文字、思慮等之詮門而談說其旨義。例如「真如」爲佛教重要諦理,永離言詮,無可名之,然爲使人悟其體義,乃強立「真如」之名,藉以談說其真實如常之旨。旨,爲「廢詮談旨」之意,即摒絕言語、文字、思慮,而以正智於內心證會其理旨,相當於大乘起信論所說之「離言真如」。例如法相宗所立真俗四重之二諦,第四重之真諦即「一真法界」,乃不能以言語詮顯,而須以聖智內證者。
; Giải thích nghĩa lý—To explain the meaning.
; (詮旨) Dụng ngữ của tông Pháp tướng. Thuyên là nương theo lời giải thích mà bàn về ý chỉ sâu xa, tức thông qua cửa ngôn ngữ, văn tự, tư duy... mà nói rõ nghĩa Bảo châu có hình tia lửa lí của tông chỉ. Chẳng hạn Chân như là đế lí trọng yếu của Phật giáo, không thể giải thích bằng lời nói, không thể gọi bằng tên, nhưng vì muốn cho người ta hiểu rõ thể tính và nghĩa lí của nó nên mới cưỡng lập ra tên gọi Chân như, nhờ đó để nói rõ về ý chỉ chân thực thường như bất biến. Còn Chỉ là Phế thuyên đàm chỉ, nghĩa là dứt bỏ ngôn ngữ, văn tự, tư duy, dùng chính trí chứng ngộ ý chỉ chân lí trong nội tâm, tương đương với Li ngôn chân như(Chân như lìa lời nói)trong luận Đại thừa khởi tín. Chẳng hạn như Nhị đế trong 4 lớp chân tục do tông Pháp tướng lập ra, thì Chân đế của lớp thứ 4 chính là Nhất chân pháp giới là loại Chân đế không thể giải thích bằng lời nói, câu văn, mà phải trực chứng bằng Thánh trí nội chứng.
thuyên giảm
To lessen—To diminish—To recede.
Thuyên ngư
筌魚; J: sengyo; là cái nơm cá; |Một biểu thị thường được sử dụng trong Thiền tông, vốn xuất phát từ Trang Tử, một hiền triết của Ðạo giáo. Trang Tử viết như sau trong Trang Tử nam hoa chân kinh (Nguyễn Duy Cần dịch):|筌者所以在魚。得魚而忘筌。蹄者所以在兔。得兔而忘蹄。言者所以在意。得意而忘言。吾安得夫忘言之人而與之言哉|Thuyên giả sở dĩ tại ngư, đắc ngư nhi vong thuyên. Ðề giả sở dĩ tại thố, đắc thố nhi vong đề. Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn. Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân nhi dữ chi ngôn tai.|*Có nơm là vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý, đặng ý hãy quên lời. Ta sao tìm đặng người biết quên lời hầu cùng ta bàn luận!|Như vậy có nghĩa là: hành giả không nên bám chặt vào văn tự và phương pháp bởi vì mục đích không nằm trong đó. Chúng chỉ là những phương tiện nhất thời nhằm hướng dẫn hành giả vượt qua nó để đạt đến đích. Vì thế nên mọi người đều phải quên đi những phương tiện này để có thể trực chứng được đạo, để đạo có cơ hội tự hiển hiện. Chính đức Phật cũng khuyên các đệ tử không nên bám vào ngón tay chỉ trăng mà cho nó là sự thật. Cái nơm của Trang Tử và ngón tay chỉ trăng của đức Phật được nêu ra là cũng vì những lí do trên. Thuyết »Bất lập văn tự« của Thiền tông được lập ra chính là dựa trên cơ sở này.
thuyên ngư
5176筌,為捕魚之工具,亦泛指為達目的所需之道具;魚,即泛指以工具來完成之目的。佛典中常以「荃」比喻能詮之經文語句,以「魚」比喻所詮之義理內涵。以經文語句來詮釋經旨,彰顯佛法大義,故有筌魚之喻。
; Kinh văn năng thuyên ví như cái nơm, nghĩa lý sở thuyên ví như con cá—Trap and fish, a difficult passage in a book and its interpretation.
; (筌魚) Nơm cá. Nơm là công cụ để bắt cá, cũng chỉ chung cho các phương tiện để đạt đến cứu cánh; Cá tức cứu cánh mà phương tiện được dùng để hoàn thành. Trong kinh Phật, Thuyên thường được dùng để ví dụ kinh văn ngữ cú năng thuyên, còn Ngư được dùng để ví dụ nghĩa lí nội hàm sở thuyên. Tức dùng văn tự ngôn ngữ giải thích rõ ý chỉ để nêu bày đại nghĩa của Phật pháp, cho nên dùng thuyên đề để ví dụ. Nhưng văn tự ngôn ngữ chỉ là phương tiện, khi đã nắm bắt được ý chỉ rồi thì không nên chấp trước văn tự, cũng tức là khi đã đạt được cứu cánh thì cần buông bỏ phương tiện mới được giải thoát, giống như đã bắt được cá thì không cần nơm nữa.
thuyên tu
5609清代僧。崑山(江蘇松江)人,俗姓李。名子柴,字二勝,自號蒙泉道人。原爲明朝諸生,奉母至孝。明亡之後,乃剃髮爲僧。工詩及畫,尤善人物花鳥,又工八分書。生卒年不詳。〔國朝畫識卷十四、國朝書人輯略卷十一〕
thuyên đề
5176又作筌〖⿱
; (筌蹄) Cũng gọi Thuyên đệ. Thuyên là cái nơm dùng để bắt cá; Đề là cái lưới để bắt thỏ. Tức ví dụ cho cái công cụ hoặc thủ đoạn được ứng dụng để đạt đến một mục đích nào đó. Trong Phật giáo, Thuyên đề được ví dụ cho kinh luận hoặc văn tự ngôn ngữ đều là những phương tiện dắt dẫn người tu hành đạt đến cảnh giới Phật, một khi đã đạt mục đích thì nên bỏ phương tiện. Pháp hoa văn cú quyển 1 thượng (Đại 34, 2 trung) nói: Hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc quyền hoặc thực, đều là thuyên đề để đạt Phật đạo. [X.bàiTựa Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí].
thuyết
To speak, say, talk, discourse, expound; speech, etc.
; 1) Học thuyết: Doctrine—Theory. 2) Thuyết giảng: To speak—To say—To tell. 3) Thuyết phục: To persuade—To convince.
thuyết biến hóa
Evolutionism
thuyết biến thập xứ
5926據華嚴經隨疏演義鈔卷三載,毘盧遮那如來示現法界無盡身雲,周遍微塵剎海,於下列十處常說華嚴大經,令眾生皆歸性海。即: (一)如來於閻浮提之七處九會,爲大眾演說此法,而遍滿十方法界之閻浮提,亦同於一時而說,是爲說遍閻浮提。(二)如來於一百億世界說法時,一一世界之中,皆各有百億之閻浮提,乃至百億之色究竟天,於此之時,悉見如來演說此法,是爲說遍百億同類一界。(三)如來遍於樹形、江河形、迴轉形等一切異類形相不同之世界中說法,是爲說遍異類樹形等剎。(四)如來遍於普照十方熾然寶光明世界說法,此世界含攝二十重佛剎微塵數世界,乃至不可說之佛剎微塵數世界,爲世界之種,是爲說遍剎種。(五)如來往昔於因位中修行嚴淨,故於華藏世界恆說此經,是爲說遍華藏。(六)華藏世界之外,如來遍於十方無盡法界剎海中,常演說此經,是爲說遍餘剎海。(七)上述六類剎土之一一塵中,皆有佛剎,如來遍於此等塵內剎中演說此經,是爲說遍前六類剎塵。(八)如來遍於盡虛空界之無邊剎海中,常轉法輪,是爲說遍盡虛空界。(九)如來遍於塵塵不盡之諸剎塵中演說此法,猶如帝釋殿上之珠網交光而重重無盡,是爲說遍猶帝網。(十)如來遍於上述九類微塵剎海中,常演說此法,調伏眾生,令眾生皆歸性海;一佛如此,其餘十方諸佛亦復如是,皆遍於諸剎海而恆演此法,是爲餘佛同。
; (說遍十處) Phật thuyết kinh Hoa nnghiêm ở 10 nơi, từ 10 nơi này vang khắp pháp giới trong 10 phương. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 3, đức Tì lô giá na Như lai thị hiện vô tận thân nhiều như mây trong pháp giới, trùm khắp các cõi nước nhiều như bụi nhỏ, thường nói Đại kinh Hoa nghiêm ở 10 nơi sau đây để khiến chúng sinh trở về biển tính. Đó là: 1. Thuyết biến Diêm phù đề: Nói khắp các cõi Diêm phù đề. Nghĩa là ở 7 nơi tại cõi Diêm phùđề, Như lai nói 9 hội kinh này cho đại chúng nghe và ở các cõi Diêm phùđề trong pháp giới khắp 10 phương, Như lai cũng cùng một lúc giảng nói kinh này.2. Thuyết biến bách ức đồng loại nhất giới: Nói khắp trăm ức cõi cùng một loại. Nghĩa là khi đức Như lai giảng nói kinh này trong 100 ức thế giới thì trong mỗi thế giới đều có 100 ức cõi Diêm phù đề, cho đến 10 ức cõi trời Sắc cứu cánh, lúc bấy giờ các chúng sinh đều thấy Như lai giảng nói kinh này. 3. Thuyết biến bị loại thụ hình đẳng sát: Nói khắp bằng các loại hình tướng khác nhau. Nghĩa là đức Như lai biến hiện khắp trong các thế giới bằng tất cả các loại hình tướng khác nhau, như hình cây, hình sông ngòi, hình hồi chuyển, để thuyết pháp. 4. Thuyết biến sát chủng: Nói khắp trong các chủng loại cõi nước. Nghĩa là đức Như lai nói pháp ở thế giới Phổchiếu thập phương xí nhiên bảo quang(Thế giới ánh sáng rực rỡ chiếu soi khắp 10 phương), thế giới này bao hàm 20 lớp thế giới cõi Phật nhiều như bụi nhỏ, cho đến thế giới cõi Phật nhiều như bụi nhỏ bất khả thuyết, là chủng loại của thế giới. 5. Thuyết biến hoa tạng: Nói khắp Hoa tạng. Nghĩa là thủa xưa khi đức Như lai còn ở nhân vị, tu hành nghiêm tịnh, nên thường nói kinh này ở thế giới Hoa tạng.6. Thuyết biến dư sát hải: Nói khắp trong các cõi khác nhiều như nước biển. Nghĩa là ngoài thế giới Hoa tạng ra, đức Như lai còn ở trong các cõi vô tận ở khắp pháp giới trong 10 phương nhiều như các giọt nước biển, thường giảng nói kinh này. 7. Thuyết biến tiền lục loại sát trần: Thuyền tử Hòa thượng Nói khắp trong các cõi nhiều như bụi nhỏ trong 6 loại cõi nước trên. Nghĩa là trong mỗi hạt bụi của 6 loại cõi nước nói trên đều có cõi Phật, Nhưlai diễn nói kinh này ở khắp các cõi Phật ấy. 8. Thuyết biến tận hư không giới: Nói khắp trong các pháp giới cùng tận cõi hư không. Nghĩa là đức Nhưlai thường chuyển pháp luân khắp trong các cõi nước vô biên nhiều như những giọt nước biển trong tận cùng cõi hư không. 9. Thuyết biến do đế võng: Nói khắp như ánh sáng lan tỏa của mành lưới Đế thích. Nghĩa là đức Nhưlai giảng nói kinh này trong các cõi nước nhiều bất tận như bụi nhỏ, giống như ánh sáng của mành lưới trên cung điện trời Đế thích tỏa ra và đan xen nhau lớp lớp vô tận. 10. Dư Phật đồng: Các Phật giống nhau. Nghĩa là đức Như lai thường giảng nói kinh này trong 9 loại cõi nước nhiều như bụi nhỏ, như những giọt nước biển nói trên để điều phục chúng sinh, khiến họ trở về biển tính; một đức Phật như thế, các đức Phật khác trong 10 phương cũng như thế, đều giảng nói kinh này trong vô lượng, vô số, vô biên bất khả thuyết cõi nước.
thuyết chuyên tu vô gián
The doctrine of “Exclusive and uninterrupted practice.”
thuyết chuyển bộ
Saṃkantikah (P), Saṃkrantivadah (S)Một trong 20 bộ phái Tiểu thừaXem Kinh lượng bộ.
; Samkràntivàdin (S). Name of a sect.
; See Kinh Lượng Bộ.
thuyết chân lý duy tâm
The doctrine of the truth of mind-only.
Thuyết chướng đạo vô sở úy
xem Bốn đức chẳng sợ.
thuyết dục
5924比丘欲成受戒、說戒等僧事者,因有他事以致無法出席時,則將自己贊同而隨意其事之希望,囑託其他比丘於僧眾中陳說之,稱爲說欲。將其欲意授於其他出席之比丘,稱爲與欲;其比丘受彼委託,稱爲受欲。〔薩婆多部毘尼摩得勒伽卷六、十誦律卷五十六〕
; (說欲) Theo luật qui định, các việc tăng như thụ giới, thuyết giới... các tỉ khưu bắt buộc phải tham dự, nhưng vì bận việc khác cần thiết, không thể tham dự được thì phải nói ý mong muốn tán đồng của mình với 1 vị tỉ khưu khác, nhờ vị ấy đem ra trình bày trước chúng tăng, gọi là Thuyết dục. Vị tỉ khưu trao ý muốn tán đồng của mình cho 1 vị tỉ khưu khác để nhờ đưa ra nói trước đại chúng, gọi là Dữ dục, còn vị tỉ khưu nhận sự ủy thác ấy, gọi là Thụ dục. [X. Tát bà đa bộ tì ni ma đắc lặc già Q.6; luật Thập tụng Q.56].
thuyết giả bộ
5924梵名 Prajñāpti-vādin,巴利名 Paññatti-vādā。音譯鉢蠟若帝婆耶那、波羅若底婆拖。又作施設論部、假說部、假名部。又稱分別說部(梵 Vibhajya-vādin)、多聞分別部。爲小乘二十部之一。據異部宗輪論載,此派係於佛陀入滅後二百年,自大眾部分出。其教理既不同於說出世部之主張出世間法皆真實,亦不同於一說部之主張世出世法唯一假名,皆無實體;而主張世法、出世法皆有少分是假,十二處、十八界爲積聚之法,則皆爲假,以此立名,稱爲說假部。 依三論玄義檢幽集卷六所引「部執異論疏」載,大迦旃延曾在佛世時造論,分別解說佛之教法,其後佛入滅二百年中,大迦旃延自阿耨達池至摩訶陀國,於大眾部中出世,以十二處、十八界爲假名,以五蘊爲實義,來分別三藏聖教,眾中有信受與不信受者,信受者自成分別說部。準此,則說假部即大迦旃延之弟子所弘揚者。但南傳典籍論事中,未載說假部之名,島史及西藏所傳清辨(梵 Bhavya)之第三說,則謂說假部係由雞胤部所分出。法華經玄贊卷一本以此派之說配於小乘六宗中之現通假實宗。〔舍利弗問經、文殊師利問經卷下分部品、十八部論、異部宗輪論述記、大乘法苑義林章卷一本、華嚴五教章卷一、出三藏記集卷三〕(參閱「小乘二十部」928)
; Trajaptivadinah (S), Paṇṇat-tivāda (P), Paṇṇattivādin (P), Prajāptivada (S), Prajāptivadinah (S), Prajāptivadin (S)Đa văn Phân biệt bộ, Thi thiết Luận bộ, Giả Danh bộ, A tỳ đạt ma Thi thiết túc luận Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa hồi thế kỷ thứ II B.C.
; Prajnàptivàdinah (S). A branch of Màhàsanghikàh, which took the view of phenomenality and reality.
; (說假部) Phạm: Prajñāpti-vādin. Pàli: Paññatti-vādā. Hán âm: Bát lạp nhã đế bà da na, Bà la nhã để bà đà. Cũng gọi Thi thiết luận bộ, Giả thuyết bộ, Giả danh bộ, Phân biệt thuyết bộ. (Phạm: Vibhajya-vàdin), Đa văn phân biệt bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Cứ theo luận Dị bộ tông luân thì phái này chia ra từ Đại chúng bộ khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Phái này chủ trương pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều có 1 phần nhỏ là giả, 12 xứ, 18 giới là các pháp tích tụ, thì đều là giả, y cứ vào đó mà đặt tên, gọi là Thuyết giả bộ. Chủ trương của phái này khác với Thuyết xuất thế bộ chủ trương các pháp xuất thế gian đều là chân thực, đồng thời cũng khác với Nhất thuyết bộ vốn cho rằng các pháp thế gian và xuất thế gian chỉ là giả danh, không có thực thể. Cứ theo Bộ chấp dị luận sớ được dẫn trong Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập quyển 6 thì ngài Đại ca chiên diên từng soạn luận vào thời đức Phật còn tại thế để phân biệt, giải thích giáo pháp của Phật, khoảng 200 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Đại Ca chiên diên từ ao A nậu đạt đến nước Ma ha đà, ra đời trong Đại chúng bộ, cho rằng 12 xứ, 18 giới là giả danh, 5 uẩn là thực nghĩa để phân biệt 3 tạng Thánh giáo, trong chúng có người tin nhận, có người không tin nhận, trong đó, những người tin nhận tự trở thành Phân biệt thuyết bộ. Theo đây thì Thuyết giả bộ là bộ phái do các vị đệ tử của ngài Đại ca chiên diên hoằng dương. Nhưng trong Luận sự của Nam truyền thì không thấy nói đến tên của Thuyết giả bộ, còn Đảo sử và thuyết thứ 3 của ngài Thanh Biện (Phạm: Bhavya) do Tây tạng lưu truyền thì cho rằng Thuyết giả bộ là từ Kê dận bộ tách ra. Pháp hoa kinh huyền tán quyển 1, phần đầu thì đem thuyết của phái này phối hợp với Hiện thông giả thực tông trong 6 tông Tiểu thừa. [X. kinh Xálợiphất vấn; phẩm Phân bộ trong kinh Vănthù sư lợi vấn Q. hạ; luận Thập bát bộ; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.3]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ). THUYẾT GIỚI Giảng nói giới luật cho người thụ giới nghe. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho sự giải thích giới pháp thông thường. 2. Cứ mỗi nửa tháng, vào ngày Bốtát, lúc vị tỉ khưu Thượng tọa tụng đọc giới bản, nếu trong chúng có tỉ khưu nào phạm tội thì phải ra trước chúng sám hối, cũng gọi là Thuyết giới, những người chưa thụ giới Cụ túc thì không được nghe. Trường hợp thứ 2 này, nếu nói theo phương diện Bố tát thì gọi là Thuyết giới, còn nói theo phương diện tỉ khưu phạm giới sám hối thì gọi là Thuyết tội. Trong 20 Kiền độ của luật Tứ phần, có thiết lập Kiền độ Thuyết giới. (xt. Bố Tát).
thuyết giảng
Desanà (S). To preach.
; To preach—Sermon
thuyết giới
5921指爲受戒者講解戒律。有二義,或單指解說戒法;或於每半月布薩之日,上座比丘誦讀戒本時,諸比丘中若有犯戒者,須於眾前懺悔,亦稱說戒,未受具足戒者不得聽之。後者就布薩日之作爲而稱爲說戒;若就比丘之懺悔而言,則稱說罪。四分律二十犍度中即有說戒犍度之設立。(參閱「布薩」1910)
; The bi-monthly reading of the prohibitions for the order and of mutual confession.
; Tụng giới mỗi nửa tháng (ngày rằm và 30). Tăng chúng tập hợp lại đọc giới kinh, nói ra những tội lỗi phạm phải và phát lồ sám hối những tội lỗi nầy (tiếng Phạn là “Bố Tát,” làm như vậy sẽ giúp tăng trưởng điều thiện, trừ bỏ điều ác. Tuy nhiên, chỉ những chư Tăng đã thọ cụ túc giới rồi mới được tham dự, còn những vị chưa thọ cụ túc giới thì không)—The bi-monthly reading of the prohibitions for the order and of mutual confession.
thuyết giới kiền độ
5922爲二十犍度之一。又作布薩法、布薩犍度(梵 uposatha-khandaka)。犍度,爲篇章之義。律中聚集布薩之法於一處者,稱爲布薩犍度,四分律稱之爲說戒犍度。說戒,係就其作法而名;布薩,則就其功能而名。此一犍度中,規定布薩說戒日時之算定、說戒堂之施設、說戒之種別、關於病比丘之與欲及與清淨、能誦者之資格、於說戒日之犯罪及說戒,乃至於規定在戒場中客比丘與舊比丘之關係。亦即僧團每半月一次,僧眾相集,宣讀戒本,就半月間所犯之罪,於他人面前發露懺悔,說明此等之作法者,稱爲說戒犍度。〔四分律卷三十五、卷三十六、五分律卷十八〕(參閱「二十犍度」181)
; Uposatha-khandaka (S)Bố tát kiền độ.
; (說戒犍度) Cũng gọi Bố tát pháp, Bố tát kiền độ (Phạm: Uposatha-khandaka). Một trong 20 kiền độ. Kiền độ nghĩa là thiên, chương. Pháp bố tát trong luật được thu gom vào 1 thiên, hoặc 1 chương, gọi là Bố tát kiền độ, luật Tứ phần gọi Bố tát kiền độ là Thuyết giới kiền độ. Thuyết giới là y cứ theo tác pháp mà đặt tên, còn Bố tát thì dựa vào công năng mà đặt tên. Trong Kiền độ này có qui định các việc như định ngày giờ thuyết giới bố tát, việc sắp đặt nơi chỗ thuyết giới, chủng loại khác nhau của việc thuyết giới, về sự dữ dục và dữ thanh tịnh của tỉ khưu bị bệnh, tư cách của người tụng giới, sự phạm tội và thuyết giới vào ngày thuyết giới, cho đến qui định về sự quan hệ giữa khách tỉ khưu và cựu tỉ khưu trong giới tràng. Cũng tức là phần nói rõ về các tác pháp trong tăng đoàn cứ nửa tháng 1 lần, tăng chúng nhóm họp nhau, tuyên đọc giới bản, phát lộ sám hối các tội mình đã phạm trong nửa tháng vừa qua... gọi là Thuyết giới kiền độ.[X. luật Tứ phần Q.35, 36; luật Ngũ phần Q.18]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).
thuyết giới nhật
5922舉行說戒儀式之日。亦即布薩日。印度曆法,分每一月爲白月與黑月兩半,白月即月盈至於滿之間,黑月即月虧至於晦之間;於白月、黑月之最末一日行說戒之儀式。相當於我國陰曆每月十五日與三十日。
; (說戒日) Ngày cử hành nghi thức thuyết giới, cũng tức là ngày Bố tát. Lịch pháp Ấn độ chia mỗi tháng ra làm 2 phần là Bạch nguyệt và Hắc nguyệt. Bạch nguyệt là khoảng thời gian từ khi trăng mới nhú đến khi trăng tròn(từ ngày mồng 1 đến ngày 15 âm lịch); Hắc nguyệt là khoảng thời gian từ khi trăng bắt đầu khuyết đến khi tối đen(tức từ ngày 16 đến ngày 29 hoặc 30 âm lịch). Nghi thức thuyết giới được cử hành vào ngày cuối cùng của Bạch nguyệt và Hắc nguyệt. Tương đương với ngày 15 và 30 mỗi tháng theo âm lịch của Trung quốc.
thuyết giới sư
5922於每半月一次之說戒日宣讀戒本者。通常由一座之長老任說戒師。
; (說戒師) Chỉ cho vị tỉ khưu đọc tụng giới bản vào ngày thuyết giới mỗi nửa tháng. Thông thường, một vị tỉ khưu Trưởng lão được thỉnh cử làm Thuyết giới sư.
thuyết hư vô
See Nihilism.
thuyết hội mạn đồ la
5925請參閱 說無垢稱經疏 [1]指於如來說法之會座中,說法者與對告眾(聽法者)之集會,或指有關此一說法集會之圖繪。於密教中,多指大日經之說法會及其圖繪。又稱能說曼荼羅。據理趣經載,教主大日如來說法之會座下,繞有以金剛手等八大菩薩爲上首之八十俱胝菩薩眾,此即說會曼荼羅之例。
; (說會曼荼羅) Cũng gọi Năng thuyết mạn đồ la. Chỉ cho sự nhóm họp người nói pháp và người nghe pháp(đối cáo chúng)trong hội thuyết pháp của Nhưlai, hoặc chỉ cho bức vẽ về cuộc nhóm hợp thuyết pháp này. Trong Mật giáo, Thuyết hội mạn đồ la phần nhiều chỉ cho hội thuyết pháp của kinh Đại nhật và bức tranh vẽ hội thuyết pháp ấy. Cứ theo kinh Lí thú thì trong hội thuyết pháp của đức Giáo chủ Đại nhật Như lai có 80 câu chi Bồtát chúng, trong đó có 8 vị Đại Bồtát như Kim Cương Thủ là bậc Thượng thủ vây bọc chung quanh, đó chính là Thuyết hội mạn đồ la.
thuyết kinh
5926即講說經典之義理。其後轉指講說俗謠。我國自唐代以後,盛行將佛教教說或因緣譚等,以平易之文字配以音曲,而成爲「謠」,如變文即屬之。日本平安朝時代,已有「說經師」之稱,即講釋經文、教義而教化於人者。至鎌倉時代以後,則產生職業化之說經師。(參閱「說法」5922)
; To expound the sùtra.
; To expound the sutras.
; (說經) Giảng nói nghĩa lí kinh điển. Về sau chỉ cho việc giảng nói về các câu vè phổ thông trong nhân gian. Ở Trung quốc, từ đời Đường về sau thịnh hành việc dùng văn tự bình thường, dễ dãi để phối hợp giáo thuyết hoặc những truyện tích trong Phật giáo thành âm khúc mà trở thành văn vè, như các Biến văn thuộc về loại này. Ở Nhật bản thì vào thời Bình an đã có danh xưng Thuyết kinh sư, tức là người giảng giải văn kinh và giáo nghĩa để giáo hóa dân chúng. Từ đời Liêm thương về sau thì Thuyết kinh sư được chức nghiệp hóa. (xt. Thuyết Pháp).
thuyết luân hồi
Metempsychosis.
thuyết minh
To explain clearly.
thuyết minh lý duy tâm
The doctrine of Elucidates the truth of mind-only.
thuyết mạn đà la pháp kinh
Dharma-maṇdala sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
thuyết mặc
5927說爲說法,默爲不說。若依因緣則應說,依理體則應默,此二者乃菩薩之聖行。思益梵天所問經卷三(大一五‧五○下):「汝等集會,當行二事,若說法,若聖默然。」摩訶止觀卷一上(大四六‧三中):「若競說默,不解教意,去理逾遠。離說無理,離理無說。即說無說,無說即說。無二無別,即事而真。」
; Speech and silence.
; Thuyết minh ra là thuyết pháp, mặc dù không nói ra (rời thuyết thì không có lý, rời lý thì không có thuyết. Phật tử chân thuần phải luôn đi trên đường “Trung Đạo.” Lúc nào cần thuyết thì thuyết, lúa nào cần mặc thì mặc)—Speech and silence.
; (說默) Nói pháp và im lặng. Nếu theo nhân duyên thì nên nói, còn nếu theo lí thể thì nên im lặng, 2 thái độ này là Thánh hạnh của Bồ tát. Kinh Tưích phạm thiên sở vấn quyển 3 (Đại 15, 50 hạ) nói: Các ông nhóm họp nên làm 2 việc: Hoặc là nói pháp, hoặc giữ im lặng như bậc Thánh. Ma ha chỉ quán quyển 1, thượng (Đại 46, 3 trung) nói: Nếu ganh nhau nói, nín mà không hiểu giáo ý thì càng cách xa với lí. Lìa nói thì không lí, lìa lí thì không nói. Ngay chỗ nói mà không nói, không nói tức nói. Không hai không khác, ngay nơi sự là chân.
thuyết nghiệp báo
Teaching on karma.
thuyết nhân bộ
Hetuvidyāh (S), Hetuvāda (S), HetuvādapŪrva, Sthavirāḥ (S)Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa hay 11 bộ phái của Thượng tọa bộ.
; Hetuvàdinah (S). Idem Sarvàstivàdàh.
; Hetu-vadinah (skt)—Tương tự như Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ—Similar to Sarvastivadah—See Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ.
thuyết nhất thiết hữu bộ
5919梵名 Sarvāsti-vādin,巴利名 Sabbattivāda。音譯薩婆阿私底婆地。略稱爲薩婆帝婆、薩婆多、薩衛。全稱阿離耶暮攞薩婆悉底婆拖(梵 Ārya-mūla-sarvāsti-vāda)。意譯聖根本說一切有部。略稱有部、有部宗、有宗。又稱說因部(梵 Hetu-vidyāḥ)。爲小乘二十部派之一。約於佛滅後三百年之初,自根本上座部分出。以主張三世一切法皆是實有,故稱說一切有部。創始者爲迦多衍尼子(梵 Kātyāyanīputra,紀元前後。又作迦旃延尼子)。據異部宗輪論、三論玄義等載,佛滅後,上座部由迦葉、阿難至優婆掘多,皆唯弘經教,至富樓那始稍偏重毘曇,至迦多衍尼子則以毘曇爲最勝,而專弘阿毘曇,遂與上座弟子對立,導致分裂。蓋上座部各派一般以經、律爲主要依據,此派則主要以阿毘達磨論書爲依據。 迦多衍尼子著有阿毘達磨發智論,立八犍度,判明諸法性相,爲此派著名論師。其後有五百阿羅漢結集大毘婆沙論二百卷,解釋阿毘達磨發智論之文義,集此派教義之大成。復因大毘婆沙論文義廣汎,卷帙繁多,後世遂有其簡略本及綱目書之創作,現存中譯本綱目書有:尊者法勝所著之阿毘曇心論、優波扇多之阿毘曇心論經、尊者法救之雜阿毘曇心論十一卷、世親之阿毘曇俱舍論三十卷、眾賢之阿毘達磨順正理論八十卷及阿毘達磨顯宗論四十卷等。其中,俱舍論係以經部之義批判大毘婆沙論之說;順正理論與顯宗論則祖述舊義而破世親之說。此外,眾賢之師悟入著有入阿毘達磨論一卷,佛陀馱娑、德慧、安慧、稱友、增滿諸師亦各作俱舍釋論,顯彰此派教義。此派之根本阿毘達磨七論,即指集異門足論(作者舍利弗)、法蘊足論(目犍連)、施設足論(迦旃延)、識身足論(提婆設摩)、界身足論(世友)、品類足論(世友)、發智論。其中前六論稱爲「六足論」,發智論則稱爲「身論」。在三藏中,除特別側重阿毘達磨之外,另亦傳持十誦律;此律典由後秦弗若多羅、鳩摩羅什共譯之,凡六十一卷。此外,由我國所譯出之薩婆多毘尼毘婆沙九卷、薩婆多毘尼摩得勒伽十卷、根本說一切有部毘奈耶五十卷、根本說一切有部苾蒭尼毘奈耶二十卷等,亦屬此部派之律。 此派之傳承,依三論玄義所載,優婆掘多以下,富樓那、寐者柯、迦多衍尼子等次第相承;出三藏記集卷十二薩婆多部佛大跋陀羅師宗相承略傳中,則列舉阿難、末田地、舍那婆斯、優波掘至佛馱悉達等五十四人。上舉雖未必依照出世年代之順序排列,但依之亦可略窺其傳承之梗概。其主要教說爲「三世實有,法體恆有」。「三世實有」,即「時一切有」,謂過去、未來與現在相同,皆有實體。「法體恆有」,即「法一切有」,以五位(色法、心法、心所有法、心不相應行法、無爲法)七十五法分別諸法之種類,認爲色法、心法、心所有法、心不相應行法四者皆屬有生滅變化之有爲法;而擇滅無爲(涅槃)、非擇滅無爲及虛空無爲則爲超越時空、無生滅變化之無爲法,有爲法與無爲法均有實體。又主張佛之生身定爲有漏,且佛之說法中有無記語,唯以八正道爲正法輪之體,反對佛身有量、數、因之三無邊,謂出現於伽耶之身,化緣盡時,則永入寂滅。復謂菩薩滿三祇百劫,漸至忍位,一剎那之心能知四諦,但僅能知其總相,而不知其差別相。此外又主張初果無退、後三果有退,謂阿羅漢亦有「退」之義,及反對心性本淨等。 此派以迦濕彌羅國爲中心,於健馱羅、中西印度及西域等地,皆曾盛極一時,爲小乘二十部中最具優勢之一派。此派之論書,我國傳譯甚早,南北朝時代稱之爲毘曇宗,與代之而起之俱舍宗同爲小乘佛教之代表。〔文殊師利問經卷下分部品、舍利弗問經、大方等大集經卷二十二、十八部論、部執異論、四諦論卷一、佛性論卷一、出三藏記集卷三、異部宗輪論述記、大乘法苑義林章卷一本、俱舍論寶疏卷一、南海寄歸內法傳卷一、巴利文論事(Kathā vatthu)〕(參閱「上座部」719、「小乘二十部」928)
; Saivastivāda (S)Một trong 11 bộ phái của Thượng tọa bộ, còn gọi là Thuyết nhân bộ (Hetuvada).
; Sarvàstivàdàh (S). The realistic school.
; (說一切有部) Phạm:Survàsti-vàdin. Pàli:Sabbattivàda. Hán âm: Tát bà a tư để bà địa. Gọi tắt: Tát bà đế ba, Tát bà đa, Tát vệ. Gọi đủ: A li da mộ la tát bà tất để bà đà (Phạm:Àrya-mùla-savarsti-vàda). Hán dịch: Thánh căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ. Gọi tắt: Hữu bộ, Hữu bộ tông, Hữu tông.Cũng gọi Thuyết nhân bộ (Phạm: Hetuvidyà#). Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Phái này từ Căn bản Thượng tọa bộ tách ra khoảng thời gian đầu của 100 năm thứ 3 sau khi đức Phật nhập diệt. Vì bộ phái này chủ trương tất cả các pháp trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều thật có nên gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ. Người sáng lập bộ phái này là ngài Ca đa diễn ni tử (Phạm: Kàtyàyanìputra, trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch. Cũng gọi Ca chiên diên ni tử). Theo luận Dị bộ tông luân và Tam luận huyền nghĩa thì sau khi đức Phật nhập diệt, Thượng tọa bộ, từ các ngài Ca diếp, A nan đến ngài Ưu bà quật đa đều chỉ hoằng truyền kinh giáo, đến ngài Phú lâu na mới bắt đầu hơi nghiêng nặng về Tì đàm (luận), đến ngài Ca đa diễn ni tử thì cho Tì đàm là hơn hết và chuyên hoằng truyền A tì đàm, từ đó đối lập với các đệ tử của các bậc Thượng tọa và dẫn đến việc phân hóa. Bởi vì các phái Thượng tọa bộ nói chung đều lấy kinh, luật làm chỗ y cứ then chốt, còn phái này thì chủ yếu lấy các sách luận A tì đàm làm y cứ. Ngài Ca đa diễn ni tử có soạn bộ luận A tì đạt ma phát trí, lập ra 8 kiền độ, phân tích tính tướng các pháp một cách rõ ràng, là vị Luận sư nổi tiếng của phái này. Về sau, có 500 vị A la hán kết tập luận Đại tì bà sa 200 quyển để giải thích văn nghĩa của luận A tì đạt ma phát trí mà tập đại thành giáo nghĩa của phái này. Lại vì văn nghĩa luận Đại tì bà sa quá bao la, pho quyển thì đồ sộ, nên đời sau đã sáng tác các bản giản lược và sách cương mục, trong các sách cương mục bản Hán dịch hiện còn thì có: Luận A tì đàm tâm do ngài Pháp thắng soạn, A tì đàm tâm luận kinh do ngài Ưu ba phiến đa soạn, luận Tạp a tì đàm tâm 11 quyển do ngài Pháp cứu soạn, luận A tì đàm Câu xá 30 quyển do ngài Thế thân soạn, luận A tì đạt ma thuận chính lí 80 quyển và luận A tì đạt ma hiển tông 40 quyển do ngài Chúng hiền soạn. Trong đó, luận Câu xá y cứ vào nghĩa của Kinh bộ mà phê bình thuyết của luận Đại tì bà sa; luận Thuận chính lí và luận Hiển tông thì theo nghĩa cũ mà bài bác thuyết của ngài Thế thân. Ngoài ra, ngài Ngộ nhập soạn luận Nhập a tì đạt ma 1 quyển, các ngài Phật đà đà sa, Đức tuệ, An tuệ, Xứng hữu, Tăng mãn cũng đều soạn Câu xá thích luận để làm sáng tỏ giáo nghĩa của phái này. Bảy bộ luận A tì đạt ma căn bản của phái này là chỉ cho Tập dị môn túc luận củangàiXá lợi phất, Pháp uẩn túc luận của ngài Mục kiền liên, Thi thiết túc luận của ngài Ca chiên diên, Thức thân túc luận của ngài Đề bà thiết ma, Giới thân túc luận của ngài Thế hữu, Phẩm loại túc luận của ngài Thế hữu và Phát trí luận của ngài Ca đa diễn ni tử. Trong đó, 6 bộ luận trước được gọi là Lục túc luận (6 luận chân), còn luận Phát trí thì được gọi là Thân luận (luận mình). Trong 3 tạng, ngoài điểm đặc biệt nghiêng nặng về A tì đạt ma cũng còn truyền trì bộ luật Thập tụng; bộ luật này do 2 ngài Phấtnhã đa la và Cưu ma la thập cùng dịch vào đời Hậu Tần, gồm 61 quyển. Ngoài ra, các bộ luật Hán dịch khác như: Tát bà đa tì ni tì bà sa 9 quyển, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da 50 quyển, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bật sô ni tì nại da 20 quyển... cũng đều là các luật thuộc bộ phái này. Theo Tam luận huyền nghĩa thì sự truyền thừa của phái này là từ ngài Ưu bà quật đa trở xuống đến các ngài Phú lâu na, Mị giả ca, Ca đa diễn ni tử... lần lượt truyền nối nhau; còn Tát bà đa bộ Phật đại bạt đà la sư tông tương thừa lược truyện trong Xuất tam tạng kí tập quyển 20 thì liệt kê 54 vị từ các ngài A nan, Mạt điền địa, Xá na bà tư, Ưu ba quật đến Phật đà tất đạt... Những vị đựơc nêu trên đây tuy chưa hẳn đã được sắp xếp theo thứ tự niên đại ra đời, nhưng dựa vào đó ta cũng có thể thấy một cách đại khái về sự truyền thừa của bộ phái này. Giáo thuyết chủ yếu của bộ phái này là Ba đời có thật, pháp thể hằng có. Ba đời có thật nghĩa là quá khứ, vị lai và hiện tại giống nhau, đều có thực thể. Pháp thể hằng có nghĩa là tất cả các pháp sắc, tâm, tâm sở, hữu vi, vô vi... đều có thực thể. Phái này cũng chủ trương sinh thân của đức Phật là hữu lậu và Phật nói pháp có vô kí ngữ, chỉ lấy Bát chính đạo làm thể của chính pháp luân, phản đối thân Phật có 3 thứ vô biên(lượng, số và nhân), nghĩa là thân Phật xuất hiện ở Già da, khi hóa duyên đã hết thì vĩnh viễn vào Niết bàn tịch diệt. Phái này còn cho rằng Bồ tát phải tu đủ 3 kỳ 100 kiếp mới biết được 4 đế, nhưng chỉ biết tướng chung chứ khôngbiếttướng sai biệt của 4 đế. Ngoài ra, phái này lại chủ trương Sơ quả không thoái chuyển, còn 3 quả sau thì có thoái chuyển, nghĩa là A la hán cũng có thoái chuyển. Phái này cũng phản đối thuyết Tâm tính vốn trong sạch. Thuyết nhất thiết hữu bộ lấy nước Ca thấp di la làm trung tâm, tại Kiện đà la Trung Ấnđộ và các nước vùng Tâyvực, phái này từng đã cực thịnh một thời, là phái có ưu thế nhất trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Các bộ luận của phái này được truyền dịch ở Trung quốc rất sớm, vào thời đại Nam Bắc triều, phái này được gọi là Tì đàm tông. Tông này và tông Câu xá hưng khởi thay cho tông này đều được xem là đại biểu cho Phật giáo Tiểu thừa. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q. hạ; kinh Xálợiphất vấn; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; luận Thập bát bộ; luận Bộ chấp dị; luận Tứ đế Q.1; luận Phật tính Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Luận sự tiếngPàli (Katthà vatthu)]. (xt. Thượng Tọa Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
thuyết nhất thiết hữu bộ giới thân tức luận
Xem A tỳ đạt ma Giới Thân Tức Luận.
Thuyết nhất thiết trí
(說一切智) [tạp]: trong 48 lời nguyện của Kinh Vô Lượng Thọ (無量壽經) có lời nguyện thứ 25 là nguyện nói về trí tuệ hiểu biết hết tất cả. Kinh dạy rằng: “Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất năng diễn thuyết nhất thiết trí giả, bất thủ chánh giác (設我得佛、國中菩薩不能演說一切智者、不取正覺, nếu như ta thành Phật mà các vị Bồ Tát trong nước của ta không thể nào diễn nói trí tuệ hiểu biết hết tất cả, ta sẽ không thành chánh giác).”
thuyết nhất thừa kinh
Ekayāna-nirdeśa (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
thuyết nhị nguyên
Theological Dualism.
thuyết nhứt thiết hữu bộ
Sarvastivadah (skt)—Gọi tắt là Hữu Bộ, một trong 20 bộ phái Tiểu Thừa, là trường phái dạy về sự hiện hữu hay thực hữu của chư pháp hữu vi và vô vi, trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Trường phái nầy đã phát triển bên Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, sau lan truyền rộng rãi qua Trung Hoa và Nhật Bản—Realistic school, Prajnaptivadinah, a branch of the Mahasanghikah (Đại Chúng Bộ), one of the twenty Hinayana sects, the School which preaches the Existence of All Things which held that dharmas have a real existence in the past, present and future. This school took the view of phenomenality and reality, founded on the Prajnapti-sastra. This school flourished in India for many centuries and was widely studied in China and Japan.
thuyết pháp
5922梵語 dharma-deśanā,巴利語 dhamma-desanā。即宣說佛法,以化導利益眾生。與說教、說經、演說、法施、法讀、法談、談義、讚歎、勸化、唱導等同義。佛之說法乃應眾生之能力、根機等,各施以適當之教法,以達完全效果。又於一座說法中,佛以一音演說教法,聽者各依其根機而理解之深淺互異。據思益梵天所問經卷二載,佛以五力而有五種說法情況,即:(一)言說,指以契合真理之言說,說三世、世間與出世間、有罪無罪、有漏無漏等法。(二)隨宜,指隨應眾生之能力、性質而說偏圓、漸頓之教法。(三)方便,即善巧方便,說布施能得大富、持戒能升天等,使眾生修之,而得以脫離苦海。(四)法門,即宣說殊勝法,顯示菩提之道。(五)大悲,指爲救度眾生,以大悲心導引之,爲執著於「無」者說「有」、執著於瞋恚者說慈悲等。 宣說經論者有五種人,稱爲五說或五種說人。據大智度論卷二所舉,五種說人爲佛、佛弟子、仙人、諸天、化人(佛、菩薩或羅漢等,隱其本相,示現種種形像而說法者)。善導之觀經疏玄義分則舉出佛、聖弟子、天仙、鬼神、變化等五種。在佛十大弟子中,富樓那尊者即被譽爲「說法第一」。此外,據澄觀之華嚴經疏卷一所舉,佛、菩薩、聲聞、眾生、器界(山河、大地等)五種,宣說華嚴經中之教法,稱爲五類說或五類說法。又據一行之大日經疏卷七所舉,說真言者,有如來、菩薩金剛、二乘、諸天、地居天等五種。 說法屬於法施,爲出家者應行之布施行爲。又據五分律卷二十六載,於自恣之終夜,應行說法、經唄(配合節拍歌詠經文)等教團行事。有關說法所應注意之事項,據法華經卷四法師品所載,說法者應入如來之室(大慈悲之意)、著如來之衣(柔和忍辱之意)、坐如來之座(諸法空之意)。優婆塞戒經卷二亦舉出時說、至心說、次第說、和合說、隨義說等十六事。有關說法之儀式,詳見佛本行集經卷四十九說法儀式品。此外,經論中亦載有聽法者所應注意之事;凡說者與聽者須注意之事項,統稱爲說聽方軌。 據優婆塞戒經卷二載,說法有清淨、不清淨二種。凡先施食而後說法,或爲增長三寶、斷自他煩惱、分別正邪、使聽法者得最勝而說法,稱爲清淨說法;反之,凡存有利己心、與他人競爭之心,或爲報、爲世報,或有疑而說法,均爲不淨說法。我國舉行齋會時之說法,稱爲唱導;梁高僧傳卷十三即載有善於唱導之高僧傳記。 日本自平安朝後期以降,出現專門以唱導技術爲家業者,其中部分逐漸俗化,與說經祭文、佛寺緣起等配合節拍而宣說,復配以三絃而歌詠之。〔大品般若經卷二十四「四攝品」、法華經卷七觀世音菩薩普門品、四分律卷五十二、五分律卷十八、十住毘婆沙論卷七、瑜伽師地論卷四十五、大智度論卷一、卷二十八、顯揚聖教論卷十七、法華經玄義卷六上、法苑珠林卷二十三〕(參閱「唱導」4418)
; Dharma-desanà (S). To tell or expound the law, or doctrine; to preach. Also Giảng đạo, Pháp thí.
; To teach—To preach—To sermon—To lecture on the Dharma—To tell or expound the law, or doctrine. a) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Mục Kiền Liên vào trong thành Tỳ Xá Lê, ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo rằng—According to the Vimalakirti Sutra, one day when Maudgalyayana came to Vaisali to expound the Dharma to lay Buddhists in the street there, Vimalakirti came to him and said: • “Nầy ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu; Pháp không có ngã, lìa ngã cấu; Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ; Pháp không nói năng, lìa giác quán; Pháp không hình tướng, như hư không; Pháp không hý luận, rốt ráo là không; Pháp không ngã sở, lìa ngã sở; Pháp không phân biệt, lìa các thức; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên; Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp; Pháp tùy nơi như không có chỗ tùy; Pháp trụ thực tế, các bên hữu, vô thường, đoạn, không động được; Pháp không lay động, không nương sáu trần; Pháp không tới lui, thường không dừng trụ; Pháp thuận 'không,' tùy 'vô tướng,' ứng 'vô tác;' Pháp lìa tốt xấu; Pháp không thêm bớt; Pháp không sanh diệt; Pháp không chỗ về; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp; Pháp thường trụ không động; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa ngài Đại Mục Kiền Liên! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư?—“Maudgalyayana! When expounding the Dharma to these upasakas, you should not preach like that for what you teach should agree with the absolute Dharma which is free from the (illusion of) living beings; is free from the self for it is beyond an ego; from life for it is beyond birth and death and from the concept of a man which lacks continuity (thought seemingly continuous, like a torch whirled around); is always still for it is beyond (stirring) phenomena; is above form for it is causeless; is inexpressible for it is beyond word and speech; is inexplainable for it is beyond intellection; is formless like empty space; is beyond sophistry for it is immaterial; is egoless for it is beyond (the duality of) subject and object; is free from discrimination for it is beyond consciousness; is without compare for it is beyond all relativities; is beyond cause for it is causeless; is identical with Dharmata (or Dharma-nature), the underlying nature (of all things); is in line with the absolute for it is independent; dwells in the region of absolute reality, being above and beyond all dualities; is unmovable for it does not rely on the six objects of sense; neither comes nor goes for it does not stay anywhere; is in line with voidness, formlessness and inactivity; is beyond beauty and ugliness; neither increases nor decreases; is beyond creation and destruction; does not return to anywhere; is above the six sense organs of eye, ear, nose, tongue, body and mind; is neither up nor down; is eternal and immutable; and is beyond contemplation and practice. “Maudgalyayana, such being the characteristics of the Dharma, how can it be expounded?” • Vả chăng người nói Pháp, không nói, không dạy; còn người nghe, cũng không nghe, không được. Ví như nhà huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi có độn, khéo nơi tri kiến không bị ngăn ngại, lấy tâm đại bi khen ngợi Pháp Đại Thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật, chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp—For expounding it is beyond speech and indication, and listening to it is above hearing and grasping. This is like a conjurer expounding the Dharma to illusory men, and you should always bear all this in mind when expounding the Dharma. You should be clear about the sharp or dull roots of your audience and have a good knowledge of this to avoid all sorts of hindrance. Before expounding the Dharma you should use your great compassion (for all living beings) to extol Mahayana to them, and think of repaying your own debt of gratitude to the Buddha by striving to preserve the three treasures (of Buddha, Dharma and Sangha) for ever. b) Cũng theo Kinh Duy Ma Cật, ông Duy Ma Cật đã nhắc nhở Phú Lâu Na về nói pháp phải tùy căn cơ chúng sanh như sau—Also according to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Purna that expounding Dharma should always be in accordance with sentient beings' faculties: • “Thưa Phú Lâu Na! Ngài nên nhập định trước để quan sát tâm địa của những người nầy, rồi sau mới nói đến nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ Kheo nầy, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh. Ngài không biết được căn nguyên của chúng sanh, chớ nên dùng Pháp Tiểu Thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm—“Purnamaitraynaiputra, you should first enter the state of samadhi to examine the minds of your listeners before expounding the Dharma to them. Do not put rotten food in precious bowls. You should know their minds and do not take their (precious crystal for (ordinary) glass. If you do not know their propensities, do not teach them Hinayana. They have no wounds, so do not hurt them. To those who want to tread the wide path do not show narrow tracks. Do not enclose the great sea in the print of an ox's foot; do not liken sunlight to the dim glow of a firefly.” • “Ngài Phú Lâu Na! Những vị Tỳ Kheo nầy đã phát tâm Đại Thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay sao lại lấy Pháp Tiểu Thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng Tiểu Thừa trí huệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.”—“Purnamaitryaniputra, these bhiksus have long ago developed the Mahayana mind but they now forget all about it; how can you teach them Hinayana? Wisdom as taught by Hinayana is shallow; it is like a blind man who cannot discern the sharp from the dull roots of living beings.” c) Theo Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết khi ông Ca Chiên Diên diễn nói lại lời Phật thuyết pháp về vô thường, khổ, không và vô ngã, Duy Ma Cật đã nhắc ông Ma Ha Ca Chiên Diên rằng chớ nên đem tâm sanh diệt ra mà nói Pháp thực tướng như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Mahakatyayana not to use mortal mind to preach immortal reality as follows: • “Thưa ngài Ca Chiên Diên! Ngài chớ nên đem tâm hạnh sanh diệt mà nói Pháp thực tướng. Ngài Ca Chiên Diên! Các Pháp rốt ráo không sanh, không diệt, là nghĩa vô thường, năm ấm rỗng không, không chỗ khởi là nghĩa khổ; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa không; ngã và vô ngã không hai, là nghĩa vô ngã; Pháp trước không sanh, nay cũng không diệt, là nghĩa tịch diệt.”—Mahakatyayana said: “Vimalakirti came and said: 'Mahakatyayana, do not use your mortal mind to preach immortal reality. Mahakatyayana, all things are fundamentally above creation and destruction; this is what impermanence means. The five aggregates are perceived as void and not arising; this is what suffering means. All things are basically non-existent; this is what voidness means. Ego and its absence are not a duality; this is what egolessness means. All things basically are not what they seem to be, they cannot be subject to extinction now; this is what nirvana means.”
; (說法) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Đồng nghĩa: Thuyết giáo, Thuyết kinh, Diễn thuyết, Pháp thí, Pháp độc, Pháp đàm, Đàm nghĩa, Tán thán, Khuyến hóa, Xướng đạo.Giảng nói Phật pháp để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Việc thuyết pháp của đức Phật là tùy theo năng lực, căn cơ... chúng sinh mà ban cho họ giáo pháp thích hợp để đạt đến hiệu quả trọn vẹn. Trong một hội thuyết pháp, Phật dùng một âm thanh diễn nói giáo pháp, người nghe tùy theo căn cơ mà hiểu sâu, cạn khác nhau. Cứ theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì Phật dùng 5 lực dụng mà nói pháp trong 5 trường hợp sau đây: 1. Ngôn thuyết: Lời nói. Nghĩa là Phật dùng lời nói khế hợp với chân lí để nói về các pháp 3 đời, pháp thế gian và xuất thế gian, pháp có tội không tội, pháp hữu lậu vô lậu... 2. Tùy nghi: Nghĩa là Phật tùy theo năng lực, căn tính... của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn... 3. Phương tiện: Nghĩa là Phật dùng phương tiện khéo léo như nói bố thí sẽ được phúc lớn, giữ giới sẽ được sinh lên cõi trời... để khuyến khích chúng sinh tu thiện mà ra khỏi biển khổ. 4. Pháp môn: Nghĩa là đức Phật nói pháp thù thắng để hiển bày đạoBồ đề. 5. Đại bi: Vì cứu độ chúng sinh nên Phật dùng tâm đại bi dắt dẫn họ, đối với người chấp không thì nói có, với người hay oán giận thì nói từ bi... Về tư cách thuyết pháp thì có 5 hạng người gọi là Ngũ thuyết, hoặc Ngũ chủng thuyết nhân. Theo luận Đại trí độ quyển 2, Ngũ chủng thuyết nhân là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân (Phật, Bồ tát hoặc La hán... ẩn tướng chân thực mà hiển hiện dưới mọi hình tượng để thuyết pháp). Trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo thì nêu Ngũ chủng nhân là: Phật, Thánh đệ tử, Thiên tiên, Quỉ thần và biến hóa. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán thì nêu: Phật, Bồ tát, Thanh văn, chúng sinh và khí giới(núi, sông, đất đai...) giảng nói giáo pháp trong kinh Hoa nghiêm, gọi là Ngũ loại thuyết hoặc Ngũ loại thuyết pháp. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 của ngài Nhất hạnh thì Ngũ chủng thuyết chân ngôn là: Như lai, Kim cương tát đỏa, Nhị thừa, chư thiên và Địa cư thiên. Thuyết pháp thuộc về pháp lí, là việc mà người xuất gia phải làm. Theo phẩm Phápsư trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì người thuyết pháp phải vào nhà Như lai (có nghĩa là đại từ bi), mặc áo Như lai(nhu hòa nhịn nhục), ngồi tòa Như lai(các pháp không). Kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 cũng nêu 16 việc liên quan đến thuyết pháp như: Thời thuyết, Chí tâm thuyết, Thứ đệ thuyết, Hòa hợp thuyết, Tùy nghĩa thuyết... [X. phẩm Tứ nhiếp trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; phẩm Quán thếâm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa Q.7; luật Tứ phần Q.52; luật Ngũ phần Q.18; luận Thập trụ tì bà sa Q.7; luận Du già sư địa Q.45; luận Đại trí độ Q.1, 28; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 thượng; Pháp uyển châu lâm Q.23]. (xt. Xướng Đạo).
thuyết pháp diệu
5924天台宗所立迹門十妙之一。指如來演說十二部法、小部法、大部法、逗緣法、所詮法、圓妙法等大小偏圓之教法,俱使眾生悟入佛之知見。以融妙自在之說法,故稱說法妙。〔法華經玄義卷二上〕(參閱「十妙」436)
; (說法妙) Một trong 10 Diệu thuộc Tích môn Pháp hoa do tông Thiênthai lập ra. Chỉ cho các giáo pháp Đại, Tiểu, thiên, viên do đức Như lai diễn nói như: Thập nhị bộ pháp, Tiểu bộ pháp, Đại bộ pháp, Đậu duyên pháp, Sở thuyên pháp, Viên diệu pháp... đều làm cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật. Vì các giáo pháp cao siêu, vi diệu mà đức Phật nói một cách thung dung tự tại nên gọi là Thuyết pháp diệu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 thượng]. (xt. Thập Diệu).
thuyết pháp không hợp cơ, làm cho chúng sanh tiếp tục chìm sâu trong biển khổ là một đại tội
If we preach not in accordance with the times and the capacities of sentient beings, which cause them to continue to sink in the sea of sufferings, is a grave sin.
thuyết pháp minh nhãn luận
5924全一卷。日本圓通居士撰。旨在解說說法者之心得、法要之次第及佛之三身等。內容計有著衣品、入道場品、禮三寶品、燒香品、坐高座品、梵唄品、散華品、梵音品、錫杖品、開眼品、神分品、表白品、釋法身品、報身品、應身品等十五品,其中釋法身品係說明法之邪正、時教之不同、法之緣起、三性義、無相之理、無生藏、文殊之智、普賢之行、觀音之慈悲、和合之三聖等,實爲全書之中心。又撰號圓通,據良定之說法明眼論端書載,聖德太子(574~622)前生在南嶽時,住於圓通院,故稱圓通。蓋係以本書爲聖德太子所撰。本書之內容,與太子三經義疏之釋意亦相通。但自全面而言,本書被認爲是確立本地垂跡說之鎌倉時代(十二、三世紀)中期以後之作品,非太子之真作,而係後人所偽作者。〔淨土真宗教典志卷一〕
; (說法明眼論) Luận, 1 quyển, do cư sĩ Viên thông người Nhật bản soạn. Mục đích của luận này là nói về tâm đắc của người thuyết pháp, về thứ tự pháp yếu và 3 thân của Phật. Nội dung luận này gồm có 15 phẩm: Trước y, Nhập đạo tràng, Lễ Tam bảo, Thiêu hương, Tọa cao tòa, Phạm bái, Tán hoa, Phạm âm, Tích trượng, Khai nhãn, Thần phân, Biểu bạch, Thích pháp thân, Báo thân và phẩm Ứng thân. Trong đó, phẩm Thích pháp thân là nói rõ pháp tà, pháp chính, sự khác nhau về thời giáo, duyên khởi các pháp, nghĩa 3 tính, lí vô tướng, tạng vô sinh, trí Văn thù, hạnh Phổ hiền, từ bi của bồ tát Quán âm, Tam thánh hòa hợp... là trung tâm của toàn sách. Về pháp hiệu Viên thông của soạn giả, cứ theo lời đầu sách trong Thuyết pháp minh nhãn luận do Lương định viết thì lúc còn sống, Thái tử Thánh đức (574-622) có trụ ở viện Viên thông tại Nam nhạc, vì thế cho rằng sách này là do Thái tử soạn. Nội dung sách này và ý nghĩa chú thích trong Tam kinh nghĩa sớ của Thái tử cũng giống nhau. Nhưng xét theo toàn diện thì sách này được cho là tác phẩm viết vào giữa thời Liêm thương (thế kỷ XII, XIII) về sau, xác lập thuyết Bản địa thùy tích, không phải tác phẩm của Thái tử Thánh đức mà là do người đời sau soạn. [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.1].]
thuyết pháp ngũ đức
5922賢者說法時所得之五種福德。即:(一)長壽,賢者宣說善法要義,令好殺之人聞法而止殺,故得長壽。(二)大富,賢者宣說善法要義,令盜竊者聞法止盜而行布施,故得大富。(三)端正無比,賢者宣說善法要義,令聞法者和氣安心、顏色愉悅而生光澤,故得端正無比。(四)名譽遠聞,賢者宣說善法要義,令聞法者恭敬佛、法、僧三寶,故得名譽遠聞。(五)聰明大智,賢者宣說善法要義,令聞法者開解妙慧,故得聰明大智。〔賢者五福德經〕
; (說法五德) Chỉ cho 5 thứ phúc đức mà Hiền giả có được khi thuyết pháp. Đó là: 1. Trường thọ: Sống lâu. Nghĩa là Hiền giả giảng nói về nghĩa then chốt của các pháp lành, làm cho người thích sát sinh nghe pháp rồi, thôi không giết hại nữa, cho nên được sống lâu. 2. Đại phú:Giàu có. Nghĩa là Hiền giả nói về nghĩa quan trọng của các pháp lành, kẻ trộm nghe pháp không ăn trộm nữa mà làm việc bố thí, nên được giàu có. 3. Đoan chính vô tỉ: Xinh đẹp không ai sánh bằng. Nghĩa là Hiền giả nói các thiện pháp, khiến người nghe pháp được hòa khí an tâm, nhan sắc trở nên rạng rỡ, cho nên đẹp đẽ vô song. 4. Danh dựviễn văn: Tiếng tăm lừng lẫy. Nghĩa là Hiền giả nói yếu nghĩa của các pháp lành, khiến người nghe pháp khởi tâm cung kính Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng cho nên tiếng tăm vang xa. 5. Thông minh đại trí:Trí tuệ sáng suốt. Nghĩa là Hiền giả giảng nói các thiện pháp, khiến người nghe pháp, mở tỏ diệu tuệ, cho nên được trí tuệ sáng suốt. [X. kinh Hiền giả ngũ phúc đức].
thuyết pháp phẩm
5924天台宗所立五品弟子位之第三位。即圓頓之修行者於觀行即(六即位之第三)之位,受持讀誦法華經之外,復說法利導於人,其化導之功歸於自己,而觀解倍勝於前者。〔法華經卷五分別功德品〕(參閱「五品弟子位」1118、「六即」1275)
; (說法品) Vị thứ 3 trong Ngũ phẩm đệ tử vị do tông Thiênthai lập ra. Tức người tu hành pháp Viên đốn ở địa vị Quán hành tức(giai vị thứ 3 trong Lục tức vị), ngoài việc thụ trì đọc tụng kinh Pháphoa, còn thuyết pháp giáo hóa người khác, công đức hóa đạo ấy đều qui về chính mình, cho nên quán giải trở thành thù thắng bội phần hơn giai vị trước. [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5]. (xt. Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị, Lục Tức).
thuyết pháp thuỵ
5924爲佛陀講說法華經前所現瑞相之一。法華經乃佛陀講說「出世本懷」之大經,故先現六種祥瑞之相,稱爲法華六瑞,說法瑞爲其中之第一瑞相。即佛陀於宣說法華經前先敘說無量義經,作爲法華經之緣起。〔法華經卷一序品、法華經文句卷二下〕
thuyết pháp thụy
(說法瑞) Điềm lành thuyết pháp, 1 trong các điềm tướng tốt lành xuất hiện trước khi đức Phật giảng nói kinh Pháphoa. Kinh Pháphoa là bộ Đại kinh mà đức Phật giảng nói về hoài bão ra đời của Ngài, cho nên trước khi nói hiện 6 tướng điềm lành, gọi là Pháp hoa lục thụy; trong đó, Thuyết pháp thụy là tướng điềm lành thứ nhất. Tức trước khi tuyên thuyết Đại kinh Pháp hoa, đức Phật nói kinhVô lượng nghĩa để làm duyên khởi cho kinh Pháp hoa. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh văn cú Q.2, hạ]
thuyết pháp tứ báng
5923據華嚴經隨疏演義鈔卷五十所舉,說法者若不了知真如之理,則會產生如下四謗,即:(一)增益謗,謂不知真如之理乃離相寂滅,性本不有,而說真如爲定有者,是爲增益謗。(二)損減謗,謂不知真如之理乃不可變壞,性本不空,而說真如爲定無者,是爲損減謗。(三)相違謗,謂不知真如之理乃即有之空,即空之有,而說真如爲亦有亦無,二邊共執者,是爲相違謗。(四)戲論謗,謂不知真如之理乃具有、無之德,而說真如爲非有非無,二邊不定者,是爲戲論謗。
; (說法四謗) Bốn thứ hủy báng vì không hiểu mà nói pháp. Cứ theo Hoanghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 50, nếu người nói pháp không biết rõ chân như, thì sẽ sinh ra 4 thứ hủy báng sau đây: 1. Tăng ích báng: Hủy báng do làm Cho thêm lên. Nghĩa là không biết lí chân như vắng lặng lìa tướng, tính vốn không có mà lại nói chân như nhất định có, do đó đã hủy báng làm cho chân như thêm lên, cho nên gọi là Tăng ích báng. 2. Tổn giảm báng: Hủy báng do làm cho bớt đi. Nghĩa là chẳng biết lí chân như không thể biến hoại, tính vốn chẳng không mà lại nói là chân như nhất định không, do đó đã hủy báng bằng cách làm cho chân như bớt đi, nên gọi là Tổn giảm báng. 3. Tương vi báng: Hủy báng trái ngược nhau. Nghĩa là chẳng biết lí chân như là cái không tức có, cái có tức không, mà lại nói là chân như cũng có cũng không, chấp cả hai bên trái ngược nhau, cho nên gọi là Tương vi báng. 4. Hí luận báng:Hủy báng bằng cách bàn chơi. Nghĩa là chẳng biết lí chân như đủ 2 đức tính có và không, mà lại nói chân như chẳng phải có chẳng phải không, hai bên đều bất định, cho nên gọi là Hí luận báng.
thuyết pháp vô tận
To be able to preach forever—To be able to explain virtues forever.
thuyết phục
To persuade—To convince.
thuyết quy củ
5925禪林用語。指對年少之修行僧說示禪門之規則禮度,以資警誡。如勅修百丈清規、禪林備用清規等所載之訓童行即是。〔禪林象器箋垂說門〕
; (說規矩) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nói về khuôn mẫu, phép tắc. Nghĩa là chỉ dạy cho vị tăng trẻ tuổi về các phép tắc, lễ độ trong nhà Thiền, như Huấn đồng hành ghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui, trong Thiền lâm bị dụng thanh qui... thuộc về loại này. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thuyết quái
Sho-kua (C), Discussion of the Trigrams Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
thuyết sự luận
Kathàvatthu (P). Book of controversies.
thuyết thính phương quỹ
5927即說法者與聽法者所應注意之事項。佛所說之法門可使眾生轉迷開悟,故說法者與聽法者皆應專心致意。據思益梵天所問經卷二載,佛稱有二種人能得無量之福,其一爲專精說法者,其二爲一心聽受者。又十地經論卷一載,說法者以名字、聲音之二事而說,聽法者亦以此二事而聽聞。 有關說法與聽法之行儀,依優婆塞戒經卷二載,具足法智、義智等八智之人,其說法具如下十六事,即:時說、至心說、次第說、和合說、隨義說、喜樂說、隨意說、不輕眾說、不訶眾說、如法說、自他利說、不散亂說、合義說、真正說、說已不生憍慢、說已不求來世報。而聽法之人亦具十六事,即:時聽、樂聽、至心聽、恭敬聽、不求過聽、不爲論議聽,不爲勝聽、聽時不輕說者、聽時不輕於法,聽時終不自輕、聽時遠離五蓋、聽時爲受持讀誦、聽時爲除五欲、聽時爲具信心、聽時爲調眾生、聽時爲斷闇根。 此外,據大法炬陀羅尼經卷十三載,說法師對眾生應具忍默、悲愍、愛語、謙下之心;若懷瞋妒或勝負之心,將獲大重罪,若以慈心說法,則能成就大功德,使佛法久住於世。又無量壽經卷下對聽法者之資格亦略有說明,謂無善根之人,不得聽聞此經;持戒清淨者方可聞正法。〔大法炬陀羅尼經卷十七、安樂集卷上(道綽)、法苑珠林卷二十三、釋氏要覽卷下〕(參閱「說法」5922)
; (說聽方軌) Những điều mà người nói pháp cũng như người nghe pháp cần lưu ý. Những pháp môn do đức Phật nói có năng lực làm cho chúng sinh chuyển mê khai ngộ, cho nên người nói pháp và người nghe pháp đều phải lưu tâm chú ý. Theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì đức Phật dạy có 2 hạng người có thể được phúc vô lượng, một là người chuyên một việc nói pháp, hai là người nhất tâm nghe nhận. Còn Thập địa kinh luận quyển 1 thì cho rằng người nói pháp dùng 2 thứ danh tự và âm thanh để nói, người nghe pháp cũng dùng 2 thứ ấy để nghe. Về hành nghi của sự nói pháp và sự nghe pháp, theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 2, nếu người có đủ 8 trí như Pháp trí, Nghĩa trí... thì sự nói pháp của họ có đủ 16 việc như sau: Tùy thời mà nói, hết lòng mà nói, nói pháp theo thứ tự, nói pháp một cách hòa hợp, theo nghĩa mà nói, nói pháp một cách hoan hỷ, theo ý mà nói, nói pháp không khinh thường thính chúng, nói pháp không la mắng thính chúng, nói đúng như pháp, nói pháp lợi mình lợi người, nói pháp không tán loạn, nói pháp hợp nghĩa, nói pháp chân chính, nói pháp rồi không sinh kiêu mạn và nói rồi không cầu quả báo đời sau. Còn người nghe pháp cũng đủ 16 việc: Nghe tùy thời, vui nghe, chí tâm nghe, cung kính nghe, không nghe để tìm lỗi, không nghe vì nghị luận, không vì hơn thua mà nghe, khi nghe không khinh thường người nói, khi nghe không khinh thường pháp, nghe xong không tự khinh mình, khi nghe phải xa lìa 5 loại phiền não, nghe vì thụ trì đọc tụng, nghe vì diệt trừ 5 dục, nghe vì bồi đắp tín tâm, nghe vì điều phục chúng sinh và nghe vì đoạn trừ các căn ám độn. Ngoài ra, theo kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 13, Thuyết pháp sư phải có tâm nín nhịn, thương xót, dịu dàng, nhún nhường..., nếu ôm lòng ganh ghét, hơn thua thì sẽ bị đại trọng tội. Nếu đem lòng từ bi nói pháp thì sẽ thành tựu đại công đức, làm cho Phật pháp tồn tại lâu ở đời. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ cũng nói sơ qua về tư cách người nghe pháp, cho rằng người không có căn lành thì không được nghe kinh này; chỉ có những người giữ giới thanh tịnh mới được nghe chính pháp. [X. kinh Đại pháp cự đà la ni Q.17; An lạc tập Q. thượng (Đạoxước); Pháp uyển châu lâm Q.23; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Thuyết Pháp).
thuyết thính tứ cú
5927即以唯說無聽、唯聽無說,說聽雙存、說聽雙寂四句,分別佛之說法與眾生聽法之相。語出澄觀之華嚴玄談卷七。此四句有同教與別教二種,就同教而言:(一)唯說無聽,謂佛之真心之外,別無眾生,以眾生之真心即佛之真心,故所說之教,唯佛之所現。(二)唯聽無說,謂眾生之心外,更別無佛,以佛之真心即眾生之真心,故所說之教,即眾生之自現。(三)說聽雙存,謂佛之真心顯現時,不妨礙眾生之真心顯現,故說聽雙存,二教齊立。(四)說聽雙寂,謂佛即眾生,故非佛;眾生即佛,故非眾生;互奪雙亡,故說法者無說無示,聽法者亦無聞無得。以上係針對同教所作之解釋,屬事理無礙之說。次就別教而言:(一)唯說無聽,謂眾生全在諸佛心中,則果門攝法而無遺,故所說之教,唯佛之所現。(二)唯聽無說,謂佛全在眾生心中,則因門攝法而無遺,故所說之教,即爲眾生之心所自現。(三)說聽雙存,謂眾生與佛互在,各實而不虛,則因果交徹,隨一聖教,全在二心,故眾生心中之佛爲佛心中之眾生而說法,佛心中之眾生則聽眾生心中之佛說法。(四)說聽雙寂,謂眾生全在佛時,則與佛同,而非眾生;佛全在眾生時,則與眾生同,而非佛;兩相形奪,二位齊融,則隨一聖教,俱非二心,故佛心中之眾生無聽,眾生心中之佛亦無說。以上係就別教所作之解釋,屬事事無礙之說。〔大明三藏法數卷十四〕
; (說聽四句) Chỉ cho 4 câu: Duy thuyết vô thính, Duy thính vô thuyết, Thuyết thính song tồn, Thuyết thính song tịch. Ý nghĩa của 4 câu này là phân biệt sự nói pháp của Phật và sự nghe pháp của chúng sinh. Dụng ngữ này được thấy trong Hoa nghiêm huyền đàm của ngài Trừng quán. Bốn câu này có 2 loại là Đồng giáo và Biệt giáo.A. Nói theo Đồng giáo: 1. Duy thuyết vô thính: Chỉ nói mà không có nghe. Nghĩa là ngoài chân tâm của Phật không có chúng sinh riêng khác, vì chân tâm của chúng sinh chính là chân tâm của Phật, cho nên giáo pháp được nói ra chỉ là sở hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết: Chỉ có nghe mà không có nói. Nghĩa là ngoài tâm của chúng sinh, không có Phật nào khác, vì chân tâm của Phật chính là chân tâm của chúng sinh, cho nên giáo pháp được nói ra, chỉ là do chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn: Có nói và có nghe. Nghĩa là khi chân tâm của Phật hiển hiện thì không cản trở việc hiển hiện của chân tâm chúng sinh, cho nên nói và nghe, cả 2 giáo đều lập. 4. Thuyết thính song tịch: Không có nói cũng chẳng có nghe. Nghĩa là Phật chính là chúng sinh, vì thế chẳng phải Phật; chúng sinh chính là Phật, vì thế chẳng phải chúng sinh; cả hai đều lặng bặt, cho nên người nói pháp không nói, không dạy, người nghe pháp cũng không nghe, không nhận. Trên đây là sự giải thích theo Đồng giáo, thuộc về thuyết Sự lí vô ngại. B. Nói theo Biệt giáo: 1. Duy thuyết vô thính: Chúng sinh hoàn toàn ở trong tâm chư Phật, Quả môn thu nhiếp tất cả pháp không sót, vì thế giáo pháp được nói chỉ là sở hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết: Phật hoàn toàn ở trong tâm chúng sinh, Nhân môn thu nhiếp tất cả pháp không sót, cho nên giáo pháp được nói chính là do tâm của chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn: Chúng sinh và Phật ở trong nhau, mỗi bên đều chân thực, không hư dối, nhân quả giao xen, tùy mỗi Thánh giáo đều ở trong 2 tâm, cho nên Phật trong tâm chúng sinh nói pháp cho chúng sinh trong tâm Phật nghe, còn chúng sinh trong tâm Phật thì nghe Phật nói pháp trong tâm chúng sinh. 4. Thuyết thính song tịch: Khi chúng sinh hoàn toàn ở trong Phật thì chúng sinh giống với Phật chứ chẳng phải chúng sinh; khi Phật hoàn toàn ở trong chúng sinh thì Phật giống với chúng sinh chứ chẳng phải Phật, 2 tướng đều mất, 2 vị đều dung nhau thì tùy mỗi Thánh giáo, đều chẳng phải 2 tâm, cho nên chúng sinh trong tâm Phật không nghe và Phật trong tâm chúng sinh cũng không nói. Trên đây là sự giải thích theo Biệt giáo, thuộc về thuyết Sự sự vô ngại. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.14].
thuyết thông
5925即向大眾說法而能通達無礙。亦即致力於化導眾生之化他門、向下門。與「宗通」共爲一切聲聞、緣覺、菩薩之二種通相。宗通,即指自身能了悟宗旨。〔楞伽經卷三〕(參閱「宗通說通」3163)
; To expound thoroughly, penetrative exposition.
; Khả năng thuyết pháp không trở ngại gọi là “Thuyết Thông” (khả năng giác ngộ tông chỉ thì gọi là “Tông Thông”)—To expound thoroughly, penetrating exposition.
; (說通) Thuyết pháp cho đại chúng nghe một cách thông suốt vô ngại, cũng tức là môn Hóa tha, môn Hướng hạ, tận lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh. Thuyết thông và Tông thông đều là 2 thông tướng của tất cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Tông thông chỉ cho tự thân tỏ ngộ được tông chỉ. [X. kinh Lănggià Q.3]. (xt. Tông Thông Thuyết Tông).
thuyết thị
5921即說教法以示人。據慧遠(淨影)維摩經疏載,將言對法,謂之說;以言對人,謂之示。
; To tell and indicate.
; To tell and indicate.
; (說示) Giảng giải giáo pháp để chỉ dạy người. Cứ theo Duyma kinh sớ của ngài Tuệ viễn(chùa Tịnh ảnh) thì dùng lời giảng nói giáo pháp, gọi là Thuyết; dùng lời nói chỉ dạy người, gọi là Thị.
thuyết trình
briefing.
thuyết tâm thuyết tánh
Expounding the Mind and Expounding the Nature.
thuyết tương đối
The theory of relativity.
Thuyết tận khổ đạo vô sở úy
xem Bốn đức chẳng sợ.
thuyết tội
5926梵語 āpatti-pratideśana。音譯痾鉢底鉢喇底提舍那。阿鉢底,罪過之義;鉢喇底提舍那,對他說之義。即於說戒日或自恣日,陳述自己所犯之罪行以求得清淨。南海寄歸內法傳卷二(大五四‧二一七下):「梵云痾鉢底鉢喇底提舍那。痾鉢底者,罪過也;鉢喇底提舍那,即對他說也。說己之非,冀令清淨。自須各依局分,則罪滅可期,若總相談愆,非律所許。舊云懺悔,非關說罪。」(參閱「懺悔」6772)
; To confess sin or wrong doing.
; Nói ra những tội lỗi mình đã phạm trước chúng Tăng để phát lồ sám hối—To confess sins, or wrong-doing—See Thuyết Giới.
; (說罪) Phạm: Àpatti-pratidezana. Hán âm: A bát để bát lạt bát lạt để đề xá na. A bát để là tội lỗi; bát đạt để đề xá na là đối trước ngưới khác mà nói. Nghĩa là tự nói tội lỗi của mình trước đại chúng để cầu sám hối. Tức vào ngày thuyết giới hoặc ngày tự tứ, tỉ khưu trình bày tội lỗi mà mình đã phạm để cầu được thanh tịnh. Namhải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 217 hạ) nói: Tiếng Phạm là A bát để bát lạt để đề xá na. A bát để là tội lỗi; bát lạt để đề xá na là đối trước người khác mà nói. Nghĩa là nói tội lỗi của mình trước người khác để cầu được thanh tịnh. Tự mình phải nói ra từng tội một thì mới mong tội diệt; nếu nói chung chung thì luật không chấp nhận. Xưa dịch là sám hối thì không liên quan đến thuyết tội.
thuyết tứ chúng quá giới
5921十重禁戒之第六戒。即爲防患談說比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷等四眾之過誤所制立之禁戒。又作說四眾名德犯過戒、說在家出家菩薩戒、說他罪過戒。略稱說過戒。梵網經菩薩戒本疏卷二說明此戒之制意,謂說四眾之過,能壞信心、招致重釁、背三寶之恩德,故宜制戒以禁之。優婆塞戒經卷三受戒品以此戒爲優婆塞六重法之第五,第六爲酤酒戒;依義寂菩薩經菩薩戒本疏卷上之意,此戒與酤酒戒對在家菩薩而言,是爲重戒,對出家之比丘而言,則屬輕罪。〔梵網經卷下、菩薩瓔珞本業經、菩薩戒義疏卷下、梵網經菩薩戒本述記卷二〕(參閱「十重禁戒」461)
; (說四衆過戒) Cũng gọi Thuyết tứ chúng danh đức phạm quá giới, Thuyết tại gia xuất gia Bồ tát giới, Thuyết tha tội quá giới. Gọi tắt: Thuyết quá giới. Giới nói lỗi của 4 chúng. Tức giới thứ 6 trong 10 giới nặng cấm không được rêu rao, bàn tán về lỗi lầm của 4 chúng tỉ khưu, tỉ khưu ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di. Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 2 có nói rõ lí do Phật chế giới này, cho rằng nói lỗi của 4 chúng có thể hư hoại lòng tin, gây ra hiềm khích, phản bội ân đức Tam bảo, vì thế Phật chế giới này để ngăn cấm việc đó. Phẩm Thụ giới trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 xếp giới này vào trọng pháp thứ 5 trong 6 trọng pháp của Ưu bà tắc, trọng pháp thứ 6 là giới bán rượu. Theo ý của ngài Nghĩatịch nói trong Bồ tát kinh bồ tát giới bản sớ quyển thượng thì giới này và giới bán rượu là các giới trọng của Bồ tát tại gia, còn đối với tỉ khưu xuất gia thì thuộc về tội khinh. [X. kinh Phạm võng Q. hạ; kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp; Bồtát giới nghĩa sớ Q. hạ; Phạm võng kinh Bồtát giới bản thuật kí Q.2]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
thuyết vãng sanh
The doctrine of rebirth.
thuyết vô cấu xưng kinh sớ
5925凡六卷或十二卷。唐代窺基(632~682)撰於咸亨三年至五年(672~674)。又稱說無垢稱經贊、說無垢稱經贊疏。收於大正藏第三十八冊。本書係玄奘所譯說無垢稱經(與鳩摩羅什所譯之維摩詰所說經爲同本異譯)之注釋書。書中基於法相宗之教判(三時教、八宗),而將說無垢稱經與三時教中之第二時(空)、第三時(中)及八宗中之第七(勝義皆空宗)、第八(應理圓實宗)配合;並以該經作爲天台宗第二時教至第三時教間之過渡時期之教說,其闡述由「空理」展開,漸次述及「中道」。本書所作注釋以忠於原經文著稱。
; (說無垢稱經疏) Cũng gọi Thuyết vô cấu xưng kinh tán, Thuyết vô cấu xưng kinh tán sớ. Kinh sớ, 6 quyển (hoặc 12 quyển) do ngài Khuycơ (632-674) soạn vào khoảng từ năm Hàm hanh thứ 3 đến thứ 5 (672- 674) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 38. Đây là sách chú thích kinh Thuyết vô cấu xưng (bản dịch khác của kinh Duy ma cật sở thuyết do ngài Cưumalathập dịch) do ngài Huyềntrang dịch. Sách này y cứ vào giáo phán(Ba thời giáo, Tám tông)của tông Pháp tướng mà phối hợp kinh Vô cấu xưng với thời thứ 2(Không), thời thứ 3(Trung đạo) trong 3 thời và với tông thứ 7(Thắng nghĩa giai không tông), tông thứ 8(Ứng li viên thục tông) trong 8 tông; đồng thời dùng kinh này làm giáo thuyết cho thời kì quá độ giữa thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 của tông Thiênthai, bắt đầu mở rộng từ lí Không dần dần tiến đến Trung đạo. Sách này nổi tiếng nhờ chú thích trung thành với nguyên văn của kinh.
thuyết vô phân biệt pháp
To preach the Dharma which is without distinction.
thuyết vô thần
Atheism.
thuyết xuất thế bộ
5919 【說一切有部法蘊足論→】請參閱 阿毘達磨法蘊足論 請參閱 阿毘達磨品類足論 [1]請參閱 阿毘達磨界身足論 [1]請參閱 阿毘達磨發智論 [1]請參閱 阿毘達磨集異門足論 [1]請參閱 阿毘達磨識身足論請參閱 大樹緊那羅王所問經 [1]請參閱 不空羂索神變真言經梵名 Lokottara-vāda。音譯盧俱多羅婆拖、盧迦尉多羅,或盧俱多羅婆地(梵 Lokottara-vādin)。又作出世說部、出世間語言部、出世間說部、超出世間家、出世部。爲小乘二十部派之一。佛陀入滅後二百年自大眾部分出。據異部宗輪論述記所載,此派與說一切有部主張「三世實有」相反,認爲世間法但有假名,都無實體,唯有出世法(涅槃等精神境界)方爲真實。即以苦、集二諦之世間法爲假名,道、滅二諦之出世法爲真實。窺基、法藏等以此派配於小乘六宗中之俗妄真實宗。一說此派原與雞胤部爲同一部派,以其認爲世間有漏爲假,而強調佛之出世無漏,故又稱說出世部,後因其說漸有變化,遂成爲一獨立部派。南傳典籍及多羅那他(梵 Tāranātha)印度佛教史大眾部傳、正量部傳,與西藏所傳清辨(梵 Bhavya)第三說中,均未載列此派之名稱。〔文殊師利問經卷下分部品、異部宗輪論、部執異論、十八部論、三論玄義、俱舍論寶疏卷一、華嚴五教章卷一〕
; Lokottaravāda (S), Lokottaravavadina (S), Lokottaravadinah (S)Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa hay 9 bộ phái của Đại chúng bộ.
; Lokottaravàdinah (S). A branch of the Màhàsanghikàh, which held the view that all in the world is merely phenomenal and that reality exists outside it. Also Xuất thế bộ, Lư câu đa bà thi bộ.
; Lokottaravadinah (skt)—Một trong 20 bộ phái Tiểu Thừa, tách ra từ Đại Chúng Bộ, bộ nầy cho rằng các pháp thế gian là kết quả sinh ra do điên đảo hoặc nghiệp, chúng là giả danh, không có thực thể. Chỉ có các pháp xuất thế là không do điên đảo mà khởi—One of the twenty Hinayana sects, a branch of Mahasanghikah, which held the view that all in the world is merely phenomenal and that reality exists outside it.
; (說出世部) Phạm: Lokottara-vàda. Hán âm: Lô câu đa la bà đà, Lô ca úy đa la, Lô câu ba la bà địa (Phạm: Lokottaravàdin). Cũng gọi Xuất thế thuyết bộ, Xuất thế gian ngữ ngôn bộ; Xuất thế gian thuyết bộ, Siêu xuất thế gian gia, Xuất thế bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Đại chúng bộ sau khi đứcPhật nhập diệt được 200 năm. Cứ theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, trái với chủ trương Ba đời có thật của Thuyết nhất thiết hữu bộ, phái này cho rằng các pháp thế gian chỉ có tên giả chứ khôngcóthể thật, chỉ có pháp xuất thế gian(Niết bàn) mới là chân thực. Tức chủ trương pháp thế gian như Khổ đế và Tập đế là tên giả, pháp xuất thế gian như Đạo đế và Diệt đế là chân thực. Các ngài Khuy cơ và Pháptạng phối hợp phái này với Tục vọng chân thực tông trong 6 tông Tiểu thừa. Có thuyết cho rằng Thuyết xuất thế bộ vốn là cùng một bộ phái với Kê dận bộ, vì chủ trương thế gian hữu lậu là giả, còn xuất thế vô lậu làthật, cho nên cũng gọi là Xuất thế bộ. Sau, vì học thuyết của phái này biến hóa nên dần dần trở thành một bộ phái độc lập. Trong các sách vở Nam truyền cũng như trong Đại chúng bộ truyện, Kinh lượng bộ truyện trong Ấnđộ Phật giáo sử của Đa la na tha (Phạm:Tàranàtha) và trong thuyết thứ 3 của ngài Thanhbiện (Phạm:Bhavya) do Tâytạng truyền... đều không thấy nói đến tên của bộ phái này. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn Thù sư lợi vấn Q. hạ; luận Dị bộ tông luân; luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; Tam luận huyền nghĩa; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương Q.1].
thuyết đoạn diệt
Annihilationism—See Đoạn Diệt.
thuyết đạo
5926示說正道之意。法華經卷三藥草喻品載如來諸名號中,其一即爲說道者(梵 mārgadeśika)。
; (說道) Nghĩa là hiển bày, giảng nói chính đạo. Cứ theo phẩm Dược thảo dụ, kinh Pháp hoa quyển 3 thì 1 trong các danh hiệu của đức Như lai là Thuyết đạo giả (Phạm: Màrgadezika).
thuyết định mạng
Determinism—Fatalism
thuyết độ bộ
Xem Kinh lượng bộ.
; Xem Kinh lượng bộ.
thuyền
Boat, junk, ship, vessel. Buddha's Teaching.
; A boat—A ship.
thuyền bát nhã
Prajna boat—The boat of wisdom—Attaining nirvana.
thuyền phiệt
Ý nói Phật giáo như chiếc bè hay chiếc phao cho chúng sanh đang lặn hụp trong biển luân hồi sanh tử—A raft, or a boat, i.e. Buddhism.
thuyền sư
người có khả năng chỉ huy con tàu vượt biển, cũng như thuyền trưởng ngày nay. Xem Đại thuyền sư.
; 4773佛陀之異稱。佛陀教化眾生,令渡生死之海,而至涅槃彼岸;猶如船師,能運載眾生渡海,由此岸至彼岸,故喻稱為船師。又佛陀度化眾生之教法,則喻稱為船筏。〔無量壽經、晉譯華嚴經卷二十〕
; Ship-master, skipper. Buddha.
; Thuyền trưởng, ý nói Đức Phật là vị thuyền trưởng cứu độ chúng sanh đáo bỉ ngạn—Captain, i.e. the Buddha as captain of salvation, ferrying across to the nirvana shore.
; (船師) Tên gọi khác của đức Phật. Đức Phật giáo hóa chúng sinh khiến họ vượt qua biển sinh tử mà đến bờ Niết bàn bên kia, giống như vị Thuyền sư (Thuyền trưởng) chuyên chở mọi người vượt biển, từ bờ này đến bờ kia, cho nên ví dụ Phật như Thuyền sư. Còn giáo pháp đức Phật dùng để giáo hóa chúng sinh thì được ví dụ như thuyền bè. [X. kinh Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.20 (bản dịch đời Tấn)].
thuyền tôn
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại ấp Ngũ Tây, làng An Cựu. Chùa Thuyền Tôn là ngôi Tổ Đình lớn, gắn liền với sự khai sáng của Tổ Liễu Quán. Vào năm 1708, chùa chỉ là một mái thảo am mà Tổ dựng lên để tu thiền. Sau khi Tổ viên tịch, ngôi thảo am được xây làm tháp mộ của Tổ, và vào năm 1746 chùa được dựng lên về bên trong khoảng 500 mét. Năm 1808, chùa được Hòa Thượng Đạo Tâm Trung Hậu trùng tu với sự trợ giúp tiền bạc của tín nữ Lê Thị Ta. Sau đó chùa lại bị đổ nát với thời gian. Mãi đến năm 1937, Hòa Thượng Trừng Thủy Giác Nhiên ra sức đại trùng tu toàn diện, gồm chánh điện, tiền đường, đông phòng, tây xá, tạo nên qui mô như ngày nay—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is located at Ngũ Tây hamlet, An Cựu village. This Patriarchal temple was opened by Patriarch Liễu Quán. In 1708, it was only a small thatched temple the patriarch temporarily built for his practice of meditation. After the Patriarch's death, his stupa was built right on the old site of the thatched temple, and in 1746 the temple was rebuilt at a new site, about 500 meters to the back. In 1808, the temple was rebuilt by Most Venerable Đạo Tâm Trung Hậu with the assistance of money from a lay woman named Lê Thị Ta. Later, the temple was ruined with time. Until 1937, Most Venerable Trừng Thủy Giác Nhiên tried his best to rebuild the temple with an overall reconstruction for the main hall, the antechamber, the east-side and west-side rooms, giving the temple the appearance it has today.
thuyền tử hoà thượng
4773唐代禪僧。籍貫、生卒年均不詳。名德誠。隨侍藥山惟儼三十年,為其法嗣。嘗至浙江華亭,泛小舟隨緣接化往來之人,世稱船子和尚。傳法予夾山善會禪師後,自覆舟而逝。有關師傳法夾山善會之因緣,禪林中稱為「船子得鱗」。鱗,指有金色鱗之魚,比喻眾中之大力者。師雖得藥山之法,然以性好山水,而致日久仍無嗣法之弟子以報師恩,後因道吾而得夾山善會,善會並從師之問答教示而得開悟,後蒙印可,成為嗣法弟子。〔祖堂集卷五、景德傳燈錄卷十四、釋氏稽古略卷三〕
; (船子和尚) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, pháp danh là Đức thành. Sư theo hầu ngài Dược sơn Duy nghiễm 30 năm và được nối pháp của ngài. Sư thường đến Hoa đình thuộc tỉnh Chiết Giang, dong chiếc thuyền con tùy duyên tiếp hóa khách qua lại, người đời gọi sự là Thuyền tử Hòa thượng. Sau khi truyền pháp cho Thiền sư Giáp sơn Thiện hội, sư tự lật úp thuyền mà thị tịch. Về nhân duyên sư truyền pháp cho ngài Giáp sơn Thiện hội, giới Thiền lâm gọi là Thuyền tử đắc lân(Thuyền tử được cá). Lân ở đây chỉ cho con cá có vảy màu vàng, ví dụ người ưu việt trong chúng. Tuy được pháp nơi ngài Dược sơn nhưng tính ưa ngao du sơn thủy, nên đã lâu mà sư vẫn không có đệ tử nối pháp để đền đáp ơn thầy, sau nhân ngài Đạo ngô mà được Giáp sơn Thiện hội, ngài Thiện hội nhờ sự hỏi đáp, dạy bảo của sư mà được mở tỏ, sau được ấn khả, trở thành đệ tử nối pháp của sư. [X. Tổ đường tập Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Thích thị kê cổ lược Q.3].
Thuyền Tử Ðức Thành
船字德誠; C: chuánzǐ déchéng; J: sensu tokujō; tk. 8-9;|Thiền sư Trung Quốc, đạt yếu chỉ nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư chỉ có một người đệ tử ngộ đạo là Giáp Sơn Thiện Hội.|Sư là người tiết tháo độ lượng, làm bạn cùng với Ðạo Ngô Viên Trí và Vân Nham Ðàm Thạnh. Sau khi từ giã thầy và hai bạn, Sư đến bến Hoa Ðình ở sông Ngô Tú Châu sắm thuyền đưa người qua sông. Người ở đó không biết tung tích Sư nên gọi là Hoà thượng Thuyền Tử. Thiền sư Thiện Hội nhân được Ðạo Ngô mách đến yết kiến Sư. Vừa thấy đến Sư liền hỏi: »Ðại đức trụ trì nơi nào?« Thiện Hội đáp: »Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.« Sư hỏi: »Chẳng giống, giống cái gì?« Thiện Hội đáp: »Chẳng pháp trước mắt.« Sư hỏi: »Ở đâu học được nó?« Thiện Hội trả lời: »Chẳng phải chỗ tai mắt đến.« Sư cười bảo: »Một câu dù lĩnh hội, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng bị Sư đánh một chèo té xuống nước. Vừa mới leo lên thuyền Sư lại thúc: »Nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng lại bị Sư đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ.|Sư căn dặn Thiện Hội: »Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy trọn một cái, nửa cái còn lại không thể đoạn đứt.«|Ngay sau khi Ấn khả cho Thiện Hội, Sư tự lật úp thuyền viên tịch.
thuyền tử đức thành
Sensu Tokujō (J)Tên một vị sư.
thuê
To lease—To rent—To hire.
thuê lại
To sub-lease.
thuï
1) Cây: Vrksa (skt)—Tree. 2) Chịu đựng: To endure—To suffer—To bear. 3) Nhận: To receive.
thuý bích nham tự
5897位於臺灣新竹市郊。創建於清道光十一年(1831),至民國十八年(1919)第一次重建,寺貌煥然一新。民國三十八年開始,由信慈法師住持迄今。五十六年全部重修改建,寺貌堂皇,四境茂林修竹環繞,清雅怡人。本寺爲闡揚「禪淨共修」之道場。六十八年冬,樹立戒幢,啟建千佛三壇大戒,傳授戒法。
thuý nham
5897五代僧。又作翠嵒。法號令參。湖州(浙江吳興)人。雪峰義存之法嗣。嘗住明州(浙江鄞縣東)翠巖山,大張法席,其「翠巖夏末示眾」爲著名之禪宗公案。吳越王錢氏對師甚欽仰,嘗請師至杭州龍冊寺,賜號永明大師。生卒年不詳。〔景德傳燈錄卷十八、五燈會元卷七〕
; (翠岩) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Ngũ đại, pháp hiệu Linh tham, người Hồ châu (Ngôhưng, Chiếtgiang), là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Sư từng trụ núi Thúynham ở Minhchâu (phía đông huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), phát huy Thiền pháp. Thúy nham hạ mạt thị chúng là công án thiền nổi tiếng của sư. Vua nước Ngô Việt họ Tiền rất kính ngưỡng sư, từng thỉnh sư đến chùa Long sách ở Hàng châu, ban hiệu Vĩnh Minh ĐạiSư. [X. Cảnh Đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].
thuý nham hạ mạt thị chúng
5897禪宗公案名。又作翠巖眉毛。五代之翠巖(嵒)禪師於夏安居之最末一天,以一夏以來爲同門說法,或許已觸犯佛法,而問同門「眉毛落了也未」,由此顯示禪宗靈活運用之機法。 碧巖錄第八則(大四八‧一四八中):「翠嵒夏末示眾云:『一夏以來,爲兄弟說話,看翠嵒眉毛在麼?』保福云:『作賊人心虛。』長慶云:『生也。』雲門云:『關。』」 禪林間傳說,若誤說佛法,其罪將致眉鬚脫落,翠巖回顧過去九十天夏安居期間,常向大眾說法,恐其所有說法,已落第二義門之言語葛藤中,則罪過不亞於招致眉鬚脫落之言語過失,故有此一問。蓋佛法第一義門乃窮極之真理,既非言語所能表詮,亦非思惟概念所能析別,故所有談論,無論說心說性,說頓說漸,僅因提撕學人方才權假施設,皆屬落於言詮之第二義門。翠巖深知此理,然爲化導大眾,不得不廣說教法玄旨,惟亦不欲學人死守言語葛藤,遂自設「眉毛落了也未」之問,以巧妙示現禪機靈活之蘊底。而翠巖之問語,又引發雪峰義存門下三大弟子之不同答詞。保福從展謂翠巖自知罪過,一如作賊心虛,未待質問,先自設詞以求脫罪。長慶慧稜謂翠巖下此問語,儼然翻轉險勢,非但無眉鬚脫落之虞,反而因此滋生繁茂。雲門文偃之「關」則爲歷來參禪者最費心血之語,蓋此「關」有譏誚前三人之意,意謂若不全盤了知佛法真義,一味參玄論旨,剖析是非,則不如截斷眾流,緊閉關門。或謂雲門之語,嚴峻如刀,誠是蘊積滴滴鮮血之修爲所然。 雪竇重顯頌曰(大四八‧一四八下):「翠巖示徒,千古無對,關字相酬,失錢遭罪。潦倒保福,抑揚難得。嘮嘮翠巖,分明是賊。白圭無玷,誰辨真假?長慶相諳,眉毛生也。」〔景德傳燈錄卷十八、五燈會元卷七、從容錄第七十一則〕
; (翠岩夏末示衆) Cũng gọi Thúy nham mi mao. Tên công án trong Thiền tông. Vào ngày cuối cùng của hạ an cư (hạ mạt), Thiền sư Thúynham thời Ngũ đại, nói pháp cho các đồng môn nghe về việc từ đầu hạ đến nay có lẽ đã vi phạm Phật pháp và hỏi các đồng môn Lông mày đã rụng hay chưa, do đó hiển bày cơ pháp của Thiền tông được vận dụng một cách linh hoạt. Bích nham lục tắc 8 (Đại 48, 148 trung) ghi: Vào cuối hạ, ngài Thúy nham dạy chúng rằng: Từ đầu hạ đến giờ, Thúynham đã nói chuyện cho các huynh đệ nghe, hãy xem lông mày Thúy nham còn không? Sư Bảophúc nói: Anh trộm nhẹ dạ! Sư Trường khánh nói: Mọc tốt. Sư Vânmôn nói: Đóng cửa!. Truyền thuyết trong Thiền lâm cho rằng nếu ai nói sai Phật pháp thì mắc tội đến rụng hết lông mày. Ngài Thúy nham nhìn lại thời gian 90 ngày hạ an cư vừa qua, sư thường nói pháp cho đại chúng nghe, e rằng có chỗ nói đã rơi vào Đệ nhị nghĩa môn, nên có thể bị tội rụng lông mày. Bởi vì Phật pháp Đệ nhất nghĩa môn là chân lí rốt ráo, cùng tột, không thể dùng lời nói mà diễn đạt được, cũng không chia chẻ, phân biệt bằng những khái niệm tư duy, do đó bất luận nói tâm, nói tính, nói đốn, nói tiệm... cũng chỉ vì muốn giúp người học mà giả đặt đó thôi, đều là Đệ nhị nghĩa môn cả. Nhưng vì hóa đạo đại chúng không thể không nói rộng ý chỉ sâu xa của giáo pháp, chỉ có điều không muốn người học chấp trước vào lời nói để bị kẹt trong đó, cho nên tự đặt câu hỏi lông mày rụng chưa để khéo léo hiển bày chỗ sâu xa của cơ thiền linh hoạt. Nhưng câu hỏi của sư Thúy nham lại dẫn đến những câu trả lời khác nhau giữa 3 vị đệ tử lớn của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Sư Bảo phúc cho rằng Thúy nham tự biết tội lỗi, như 1 kẻ trộm nhẹ dạ, người ta chưa hỏi mà tự mình đã lựa lời nói trước để cầu thoát tội. Sư Trường khánh thì bảo nhờ câu hỏi đó mà sư Thúy nham đã xoay chuyển được tình thế hiểm nghèo, chẳng những đã không có mối lo rụng hết lông mày, trái lại, còn nhờ thế mà lông mày mọc tốt thêm! Đến câu Đóng cửa của sư Vân môn Văn yển đã khiến các nhà tham thiền xưa nay suy nghĩ nhiều nhất. Bởi vì đóng cửa ở đây có ý chê trách cả 3 vị trước, ý nói nếu không hoàn toàn biết rõ nghĩa chân thực của Phật pháp mà cứ bàn cãi lẽ sâu xa, chia chẻ việc phải trái, thì tốt hơn là cắt đứt mọi dòng, đóng chặt cửa lại! [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Thung dung lục tắc 71].
thuý vi tự
5896<一>位於陝西西安南方約二十九公里處之終南山。又稱永慶寺。原爲唐高祖於武德八年(625)所設之太和宮,後廢。貞觀二十一年(647),太宗予以復興,名爲翠微宮。元和年中(806~820),改爲寺,稱翠微寺。丹霞天然之法嗣無學得法後曾住此。宋代太平興國三年(978),改稱永慶寺。〔大清一統志卷一七九〕 <二>在黃山翠微峰下。創建於唐代中和三年(883)。寺後有翠微峰,峰上有翠微洞。寺左有青牛溪,附近有探水石、袈裟地等。
Thuý Vi Vô Học
翠微無學; C: cuìwēi wúxué; J: suibi mugaku; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðan Hà Thiên Nhiên. Sử sách không ghi lại nhiều về Sư, chỉ kể lại là Sư hoằng hoá giống như thầy mình là Ðan Hà, chẳng để ý gì đến tục lệ, chẳng coi trọng hiểu biết sách vở, chỉ tuỳ cơ dạy chúng nên tự xưng mình là Vô Học. Sư có năm người nối pháp và một trong những người đó là Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng.
thuấn
Shun (S)Vua Thuấn (2255-2205/ 2233-2184 B.C.E.) Một trong năm vị vua huyền thoại (Ngũ đế) và là nối ngôi vua Nghiêu. Người nối ngôi ngài là vua Đại Vũ.
thuấn nhã
Sùnya (S). Emptiness. Also không.
thuấn nhã đa
Sùnyatà (S). State of Emptiness, state of being devoid. Không.
thuấn nhã đa thần
5198舜若多,梵名 Śūnyatā,巴利名 Suññatā,意譯為空性。乃虛空之神。又指無色界天。祖庭事苑卷七蓮華峰錄(卍續一一三‧九七上):「舜若多神,此云空,即主空神也。無色界天亦是此類,隨其所主亦無色質,既為風質者,此約體不可見,故云元無,以佛力故,故曰能暫見,亦顯有定自在色無業色也。無色界天淚下如雨,正同此事。」
; (舜若多神) Thuấn nhã đa, Phạm:Zùnyatà. Pàli:Suĩĩatà. Hán dịch: Không tính. Chỉ cho thần Hư không. Cũng chỉ cho trời cõi Vô sắc. Liên hoa phong lục trong Tổ đình sự uyển quyển 7 (Vạn tục 113, 97 thượng) nói: Thuấn nhã đa thần, Hán dịch là Không, tức vị thần chủ về hư không. Trời cõi Vô sắc cũng thuộc loại thần này; những gì thuộc về sở hữu của loại thần này cũng không có sắc chất; đã là chất gió thì thể cũng không thấy được, cho nên nói là vốn không, nhờ thần lực của Phật nên có thể tạm thấy. Như vậy rõ ràng cũng có thứ định Tự tại sắc và Vô nghiệp sắc. Nói chư thiên cõi Vô sắc rơi lệ như mưa thì cũng giống như thế.
thuần
One-coloured, unadulterated, pure, sincere.
; 1) Thuần hạnh: Không phạm tà dâm—Unadulterated. 2) Thuần nhất: Không pha tạp, chỉ có một chứ không có hai. Thuần nhứt có nghĩa là thuần một thứ chứ không pha tạp—Pure—Unmixed—Solely—Simply—Entirely. 3) Thuần sắc: Chỉ một màu—One-coloured. 4) Thuần tịnh: Pure—Sincere—Unmixed—Entirely.
thuần chân
1) Thành thật: Sincere—True. 2) Tên của một vị khi nghe pháp hỏi Phật những câu hỏi để Phật giải đáp trong kinh: Name of a man who asked the Buddha questions which are replied to in a sutra.
thuần chân thiền sư
Zen Master Thuần Chân (?-1101)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Cửu Ông, huyện Tế Giang, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Pháp Bảo tại chùa Quang Tịnh, và trở thành Pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau, ngài trụ tại chùa Hoa Quang để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo. Ngài thị tịch năm 1101—A Vietnamese Zen master from Cửu Ông, Tế Giang district, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen master Pháp Bảo at Quang Tịnh Temple, and became the Dharma heir of the twelfth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later he stayed at Hoa Quang Temple to revive and expand Buddhism. He passed away in 1101.
thuần chính
Honest—Chaste—Pure.
Thuần Hòa Thiên Hoàng
(淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, con thứ 7 của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), tên là Đại Bạn (大伴) hay còn gọi là Tây Viện Đế (西院帝, Saiin-no-mikado). Ông rất giỏi về Hán Thi, đã từng ra lệnh cho nhóm Lương Sầm An Thế (良岑安世) soạn ra Kinh Quốc Tập (經國集).
thuần hóa
To tame.
thuần hạo
4657(1925~ )臺灣苗栗人,俗姓吳。幼具宿慧,十四歲開始茹素學佛,及長,剃髮出家。師不僅通達佛法,亦長於醫藥與堪輿之學。民國五十一年(1962),應信眾之請,於桃園市東北郊會稽山西麓,購地興建宏善寺。該寺有地千坪,於山環水抱之間,竹木挺秀,景色怡人。師後任中國佛教會桃園縣支會理事長。
Thuần Hựu
(淳祐, Shunnyū, 890-953): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, húy là Thuần Hựu (淳祐), thông xưng là Thạch Sơn Nội Cúng (石山內供), Phổ Hiền Viện Nội Cúng (普賢院內供); xuất thân kinh đô Kyoto, con của quan Hữu Trung Biện Quản Nguyên Thuần Mậu (右中辯菅原淳茂). Ông theo xuất gia với Quán Hiền (觀賢) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), thọ giới ở Giới Đàn của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và đến năm 925 thì nhận Truyền Pháp Quán Đảnh của Quán Hiền. Ông được suy cử chức Tọa Chủ Đề Hồ Tự, nhưng vì biết thân mang nhiều bệnh tật, không thể làm việc được nhiều, nên khước từ và lui về ẩn cư ở Thạch Sơn Tự (石山寺), trú tại Phổ Hiền Viện. Tương truyền ông theo hầu Quán Hiền lên Cao Dã Sơn để thông báo cho đại chúng biết việc triều đình hứa khả ban thụy hiệu cho Không Hải Đại Sư vào năm 921, khi ấy ông chạm tay vào đùi gối của Không Hải, đến lúc thả tay ra thì mùi hương thơm vẫn tỏa ngát mãi cho đến suốt đời. Ông đã cho tiến hành nghiên cứu kinh điển và hoàn thành vai trò rất lớn trong việc làm cho Đông Mật phát triển. Đệ tử phú pháp của ông có Nguyên Cảo (元杲), Cứu Thế (救世), Khoan Trung (寬忠), v.v. Trước tác ông để lại có Thai Tạng Tập Ký (胎藏集記) 10 quyển, Thai Tạng Thất Tập (胎藏七集) 3 quyển, Kim Cang Giới Thất Tập (金剛界七集) 2 quyển, Kim Cang Giới Thứ Đệ Pháp (金剛界次第法) 4 quyển, v.v.
thuần khiết
Parisuddhi (S). Purity. Also trong sạch.
; Pure.
thuần kim
Pure gold.
thuần lý
Rational.
thuần lý chủ nghĩa
Rationalism.
thuần mật tạp mật
4277就密教諸經中,說其本、支之區別,純密乃大日如來住本地法身,於法界宮殿中,對內眷屬所說之祕密法門,即大日經、金剛頂經,其支分為諸尊瑜伽之密軌。雜密者為垂迹應化身之釋迦如來,於塵道世界所說之顯密糅合之諸經。純密為祕密瑜伽乘所廣說之純一法門,雜密則以顯教為主,附說密乘而已,如法華經之陀羅尼品等即屬附說之真言陀羅尼。此外,又有以金剛、胎藏兩部大法為純密,而以其餘之雜部密教為雜密者。
; (純密雜密) Thuần túy bí mật và tạp nhạp bí mật. Chỉ cho các kinh của Mật giáo. Trong Mật giáo, các kinh quĩ được chia làm 2 thứ là Bản(gốc) và Chi(nhánh)khác nhau. Thuần mật thuộc về Bản là pháp môn bí mật do đức Đạinhật Nhưlai trụ Bản địa pháp thân giảng nói cho Nội quyến thuộc nghe trong cung điệnPháp giới, tức là kinh Đạinhật và kinh Kim cương đính; Thuần mật thuộc về Chi thì là các Mật quĩ của các vịtôn Dugià. Còn Tạp mật là các kinh lẫn lộn cả Hiển và Mật do đức Thích ca Nhưlai trong thân Thùy tích ứng hóa giảng nói ở thế giới trần tục. Thuần mật là pháp môn bí mật thuần nhất của Du già thừa được nói rộng ra; còn Tạp mật thì lấy Hiển giáo làm chính, Mật thừa chỉ là nói phụ thêm mà thôi, như phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa... tức là Chân ngôn đà la ni thuộc phần phụ. Ngoài ra, Đại pháp của Kim cương giới và Thai tạng giới là Thuần mật, còn các tạp bộ Mật giáo là Tạp mật.
thuần nhất
Pure, unmixed, solely, simply, entirely.
; See Thuần (2).
thuần phong
Good morals.
thuần thành
Vatava (p)—Devout.
thuần thục
Used to—Accustomed to—Fruit—Fruition (chín mùi).
thuần túy
See Thuần.
thuần viên độc diệu
4278天台宗以法華之妙異相對於「爾前」帶粗之妙,乃為純一無雜之醍醐妙味,故稱純圓獨妙。所謂爾前,乃天台宗於五時八教之判教中,將前四時總稱為爾前,意指佛陀宣說法華經以前之前四時。天台宗認為,於爾前四時之教中,「華嚴時」圓中兼別,於「鹿苑時」但(僅)說小乘,「方等時」則廣為對說四教,「般若時」別、圓二教通帶而說。以所謂「兼、但、對、帶」之說,判其粗妙,則華嚴一粗一妙,鹿苑但粗無妙,方等三粗一妙,般若二粗一妙,故爾前所說之圓教乃帶粗之妙,非純一無雜之妙;然第五「法華時」所說之圓教,開顯圓故,是為純妙。故謂法華經開前四味「兼、但、對、帶」之粗,而顯一佛乘純圓之妙,以成就純圓獨妙之義。〔法華玄義釋籤卷一、教觀綱宗卷上(智旭)、天台四教儀(諦觀)〕
; (純圓獨妙) Tông Thiên Thai cho cái tinh diệu của Pháphoa so với cái thô diệu của Nhĩ tiền(các kinh Phật nói trước kinh Pháphoa) là diệu vị đề hồ thuần nhất vô tạp, cho nên gọi là Thuần viên độc diệu. Nhĩ tiền nghĩa là trong phán giáo, tông Thiênthai gọi 4 thời trước trong 5 thời 8 giáo là Nhĩ tiền, tức chỉ cho 4 thời trước khi đức Phật nói kinh Pháp hoa. Tông Thiênthai chủ trương trong 4 thời giáo Nhĩ tiền thì thời Hoa nghiêm trong Viên gồm (kiêm) cả Biệt, thời Lộc uyển thì chỉ(đãn) nói Tiểu thừa, thời Phương đẳng thì nói rộng đối(đối) với 4 giáo, thời Bátnhã thì nói cả(đới) 2 giáo Biệt, Viên. Nếu dựa vào thuyết Kiêm, Đãn, Đối, Đới này mà phân biệt tính chất thô, diệu thì Hoa nghiêm 1 thô 1 diệu, Lộc uyển chỉ thô không diệu, Phương đẳng 3 thô 1 diệu, Bát nhã 2 thô 1 diệu, cho nên Viên giáo được nói ở Nhĩ tiền là cái diệu có lẫn thô, chứ không phải cái diệu thuần nhất vô tạp. Còn Viên giáo được nói ở thời thứ 5 là Pháphoa thì mở bày Viên, đó là Thuần diệu. Cho nên nói kinh Pháphoa xóa bỏ cái Thô của 4 vị trước là Kiêm, Đãn, Đối, Đới, mà hiển bày cái Diệu của Nhất Phật thừa thuần viên để thành tựu ý nghĩa Thuần viên độc diệu.
thuần đà
4277梵名 Cunda,巴利名同。又作准陀、淳陀、周那。為佛世時中印度波婆城(梵 Pāvā,巴同)之鐵匠,乃最後供養佛陀者。據長阿含卷三遊行經記載,彼以旃檀樹耳供養佛陀。其所供養食物之旃檀樹耳(巴 sūkaramaddava),概為一種菌類,於我國稱木耳。長阿含經隨此說,涅槃經等之譯本則言美飯食。近世西洋學者根據巴利文大般涅槃經之記載,謂純陀所供養佛陀者乃為豕肉。〔雜阿含經卷三十七、大毘婆沙論卷六十六、大唐西域記卷六拘尸那揭羅國條〕
; Cunda (S)Người thợ rèn xứ Pava cúng dường Phật và chư Tăng một bữa cơm. Đó là bữa cơm cuối cùng của đức Phật, nhờ đó mà được hưởng vô lượng công đức, trọn vẹn đạo Bồ tát. Thời Phật Ca Diếp, Thuần Đà là đệ tử Phật Ca Diếp, khi Phật Ca Diếp thọ ký người thành Phật kế tiếp là Thích Ca Mâu Ni, ngài Thuần Đà có phát nguyện 'phụng thí ẩm thực lần cuối cùng'.
; Cunda (S). Who is believed to have supplied Sàkyamuni with his last meal.
; Cunda or Chunda (skt)—Còn gọi là Chu Na, Chuẩn Đa, một người thợ rèn trong thành Câu Thi Na, người đã cúng dường bữa cơm cuối cùng cho Đức Phật. Theo Đức Phật thì những ai cúng dường Đức Phật bữa cơm đầu tiên ngay trước khi Ngài thành đạo, hay bữa cơm sau cùng trước khi Ngài nhập Niết Bàn, sẽ được vô lượng công đức—A metal worker (blacksmith) in Kusinagara, who offered the Buddha the last meal to the Buddha (or from whom the Buddha accepted his last meal). According to the Buddha, those who offered the first meal before He became a Buddha and the last meal before He passed away would have the most meritorious merit.
; (純陀) Phạm,Pàli:Cunda. Cũng gọi Chuẩnđà, Chuna. Tên người thợ rèn ở thành Ba bà (Phạm, Pàli:Pàva)thuộc Trung Ấnđộ vào thời đức Phật còn tại thế, ông là người cuối cùng cúng dường Phật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 thì Thuần đà dâng nấm cây chiên đàn cúng dường Phật. Nấm cây chiên đàn (Pàli: Sùkaramaddava) mà Thuần đà cúng dường Phật đại khái là một loại nấm ở Trung quốc gọi là Mộc nhĩ. Kinh Trường a hàm theo thuyết này, còn các bản dịch như kinh Niết bàn... thì cho là thức ăn thơm ngon. Các học giả phương Tây thời gần đây, căn cứ theo kinh Đại bát niết bàn tiếngPàli, cho rằng thức ăn mà Thuần đà cúng dường Phật thủa ấy là thịt lợn. [X. kinh Tạp a hàm Q.37; luận Đại tì bà sa Q.66; điều Câu thi na yết la quốc trong Đạiđườngtây vực kí Q.6].
Thuần-đà
phiên âm từ Phạn ngữ là Cunda, Hán dịch là “giải diệu nghĩa”, nghĩa là hiểu được nghĩa lý vi diệu.
thuẫn
1) Hậu thuẫn—Support. 2) Mâu thuẫn—To contradict.
thuận
Accord with, comply, yield, obey, agreeable.
; 1) Đồng ý, đối lại với “nghịch”: To agree—To consent—To accord with—To comply—To obey—To yield, in contrast with “to resist.”. 2) Tán thành: To be favourable.
thuận buồm xuôi gió
To sail before the wind.
thuận bà bà
5356指老婆心切之景德順禪師。順禪師,係宋代臨濟宗黃龍派之祖慧南之法嗣,以其具有慈愛心,故叢林中皆稱之爲順婆婆。〔禪林口實混名集卷下〕
; (順婆婆) Chỉ cho thiền sư Cảnh đức thuận có tâm lão bà tha thiết. Thiền sư Thuận là đệ tử nối pháp của ngài Tuệnam, Tổ khai sáng phái Hoànglong thuộc tông Lâmtế đời Tống. Vì sư có tấm lòng từ ái, thương quí tất cả mọi người nên trong tùng lâm đều gọi sư là Thuận bà bà. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q. hạ].
thuận bất khổ bất lạc thọ nghiệp
Aduḥkha-sukha-vedaniya-karma (S)Bất khổ bất lạc báo nghiệp.
thuận bất định thụ nghiệp
5351四業之一。又稱不定受業、不定業。謂所造作之善惡業,因其勢力微弱,尚無法決定將於何世受果報,此業即稱順不定受業。〔大毘婆沙論卷一二四、瑜伽師地論卷六十〕(參閱「四業」1782、「定業不定業」3182)
; (順不定受業) Cũng gọi Bất định thụ nghiệp, Bất định nghiệp. Nghiệp chưa được quyết định, 1 trong 4 nghiệp. Vì nghiệp thiện ác đã tạo thế lực quá yếu kém nên chưa quyết định sẽ phải chịu quả báo vào thời gian nào(hiện tại, quá khứ hay vị lai?).Loại nghiệp này được gọi là Thuận bất định thụ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.124; luận Du già sư địa Q.60]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
thuận chi
5352新羅溈仰宗僧。或作順支。新羅浿江(平安南道)人,俗姓朴。於五冠山(京畿道長湍府)剃髮,於俗離山(忠清北道報恩郡)受具足戒。憲安王二年(858)來華,師事仰山慧寂禪師。唐代僖宗乾符元年(874),返回新羅,住於五冠山龍嚴寺(後改名瑞雲寺),弘揚教法。享年六十五,諡號「了悟禪師」。〔祖堂集卷二十、景德傳燈錄卷十二〕
thuận chu
5354又作述朱。朱,朱墨;將先人之言教、行履,以朱墨記錄於簿本。順朱,謂仿照先人之言教而行。古尊宿語錄卷三十九(卍續一一八‧三三二上):「問:『如何是如來禪?』師云:『橫擔拄杖,緊繫草鞋。』問:『如何是祖師禪?』師云:『上大人!』又云:『會麼?』僧云:『不會!』師云:『不會且順朱。』」
; (順朱) Cũng gọi Thuậtchu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chu là mực đỏ(son); dùng mực đỏ ghi lại lời dạy, việc làm của bậc tiền bối vào sách vở. Thuận chu nghĩa là làm theo lời dạy của bậc tiên hiền. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 39 (Vạn tục 118, 332 thượng) ghi: Hỏi: Nhưlai thiền là thế nào? Sư đáp: Vác ngang cây gậy, buộc chặt giày cỏ. Tăng lại hỏi: Tổ sư thiền là thế nào? Sư đáp: Thượng đại nhân! Rồi nói: Hiểu không? Tăng thưa: Không hiểu! Sư nói: Không hiểu thì hãy làm theo lời dạy của cổ đức (Thuận chu)!.
thuận chuyển
5358即向右轉。禪林中,大眾排班歸寮房,或經行、遶行之時,若須轉身,須以左肩向右而轉,稱爲順轉。入眾日用(卍續一一一‧四七二上):「或茶堂經行次第歸鉢位,以上肩順轉,不得背入。(上肩乃左肩也)」然上記引文中之「上肩」除順轉之情形外,未必皆指左肩。(參閱「上肩」716)
; (順轉) Xoay về bên phải. Trong Thiền lâm, khi đại chúng sắp hàng trở về phòng liêu, hoặc đi nhiễu, kinh hành, nếu phải xoay mình thì xoay từ vai trái sang vai phải, gọi là Thuận chuyển. Nhập chúng nhật dụng (Vạn tục 111, 472 thượng) nói: Hoặc kinh hành trong trà đường theo thứ tự trở về chỗ để bát, thuận chuyển theo vai trên, không được xoay lưng mà vào(vai trên là vai trái). Nhưng vai trên trong câu văn trích dẫn trên đây, ngoài trường hợp thuận chuyển, không hẳn đều chỉ cho vai trái. (xt. Thượng Kiên).
thuận chánh luận
Xem A tỳ đạt ma Thuận chánh luận.
thuận chánh lý luận
Abhidharmanyā-yānusāra (S)Tên một bộ luận kinh.
thuận cảnh
5357爲「逆境」之對稱。指隨順己意之情境,即感樂之境界。反之,與自己身心相違悖,以致引起痛苦不快或瞋恚之環境,則稱逆境、違境。境本無差別,然由於眾生迷惑之心,故有違順之分,而順境易於使人起貪欲之煩惱。法界次第卷上之上(大四六‧六六七下):「若以迷心對一切順情之境,引取無厭,即是貪毒。」
; Favourable circumstances.
; (順境) Đối lại: Nghịch cảnh. Chỉ cho hoàn cảnh thuận theo ý của mình, tức là cảnh giới mình cảm thấy vui sướng. Trái lại, hoàn cảnh trái với thân tâm mình, khiến sinh khởi những cảm giác khổ đau hoặc oán giận thì gọi là Nghịch cảnh, Vi cảnh. Cảnh vốn không có sai khác, nhưng vì tâm mê hoặc của chúng sinh, nên mới phân biệt thuận, nghịch; mà thuận cảnh thì dễ khiến con người sinh ra phiền não tham dục. Pháp giới thứ đệ quyển thượng, phần đầu (Đại 46, 667 hạ) nói: Nếu tâm mê, bám víu lấy tất cả cảnh thuận tình, không nhàm chán thì đó là tham độc.
thuận duyên
5358爲「逆緣」之對稱。一般謂以供養佛、讚歎法等信順之善事爲緣,蒙化益而向善趣入佛之教法者爲順緣;反之,以毀謗佛法等惡事爲入道之事緣,則稱逆緣(違緣)。故善緣爲順緣,惡緣爲逆緣。據釋摩訶衍論卷七載,遇順緣,則進向善趣;遇逆緣,則退失道心,趣入惡道,此一情形,猶如羽毛之隨風飄動,而轉向西東。此外,在日本,晚輩爲已故長輩所修之佛事稱爲順緣或順修;反之則爲逆緣或逆修。〔新譯華嚴經卷七十五、大佛頂首楞嚴經卷六、起信論疏筆削記卷五〕
; The accordant cause in contrast with the resisting accessory cause (nghịch duyên).
; (順緣) Đối lại: Nghịch duyên. Thông thường cho rằng lấy việc thiện tín thuận như cúng dường Phật, tán thán pháp... làm duyên để mong được lợi ích giáo hóa mà hướng thiện, thú nhập Phật pháp là Thuận duyên. Trái lại, lấy những việc ác như hủy báng Phật pháp để làm duyên vào đạo thì gọi là Nghịch duyên (Vi duyên). Bởi thế, thiện duyên là Thuận duyên, còn ác duyên là Nghịch duyên. Cứ theo luận Thích ma ha diễn quyển 7, hễ gặp thuận duyên thì tiến tới thiện thú; còn gặp nghịch duyên thì lui mất đạo tâm mà hướng tới ác thú, giống như mảy lông bị cuốn theo chiều gió mà bay sang đông hoặc sang tây. Ngoài ra, ở Nhậtbản, người trẻ tu các Phật sự để cầu phúc hồi hướng cho người già, gọi là Thuận duyên hoặc Thuận tu; trái lại thì là Nghịch duyên, Nghịch tu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.75 (bản dịch mới); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; Khởi tín luận sơ bút trước kí Q.5].
thuận dụ
5357順,隨順;喻,譬喻。即隨順世諦,自小而大,次第作喻。北本涅槃經卷二十九列舉八種譬喻之法,順喻乃其中之第一喻。引用此一喻法時,係以物之次第生起爲其喻說之準則。如謂天降大雨,溝瀆必滿;溝瀆既滿,小坑則隨之滿;小坑既滿,乃至小河滿,繼之大河滿;諸大河均滿,則大海亦漸滿。即以此類次第變化之事物喻指如來之法雨,待眾生戒滿,乃至解脫滿,則涅槃滿亦隨之而圓成。〔法華經卷一方便品、大品般若經卷十五、卷二十三、卷二十六、法華經文句卷五上〕(參閱「譬喻」6809)
; (順喻) Thuận là tùy thuận, Dụ là thí dụ. Tức tùy thuận thế đế, theo thứ tự mà dụ từ nhỏ đến lớn. Kinh Niết bàn quyển 29 (bản Bắc) liệt kê 8 pháp thí dụ, trong đó thí dụ thứ Nhất là Thuận dụ. Khi dẫn dụng dụ pháp này là lấy thứ tự sinh khởi của vật làm qui tắc tiêu chuẩn cho thí dụ. Như nói khi trời mưa to thì khe ngòi đầy; khe ngòi đã đầy thì ao nhỏ đầy theo; ao nhỏ đầy rồi thì đến sông nhỏ đầy, kế đến sông lớn đầy; các sông lớn đều đầy; các sông lớn đã đầy thì biển lớn dần dần cũng đầy. Tức dùng việc biến hóa theo thứ tự này để dụ cho mưa pháp của Như lai, đợi cho giới pháp của chúng sinh đầy đủ, cho đến giải thoát đầy đủ thì Niết bàn đầy đủ cũng viên thành theo.[X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Đạibát nhã Q.15, 25, 26; Pháp hoa kinh văn cú Q.5 thượng]. (xt. Thí Dụ).
thuận gió
Favourable wind.
Thuận Hiểu
(順曉, Junkyō, ?-?): vị tăng Mật Giáo Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, không rõ xuất thân quê quán, môn hạ của Thiện Vô Úy (s: Śubhakarasiṃha, 善無畏), theo Nghĩa Lâm (義林) của Tân La (新羅, Triều Tiên) học tập mật pháp của Chơn Ngôn. Ban đầu ông trú tại Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Thái Nhạc (泰嶽), sau chuyển đến Long Hưng Tự (龍興寺) ở Việt Châu (越州). Vào tháng 4 năm 805 (niên hiệu Vĩnh Trinh [永貞] nguyên niên), nhân hai vị tăng Nhật Bản là Tối Trừng (最澄, Saichō) và Nghĩa Chơn (義眞, Gishin) đến Long Hưng Tự tham bái, ông truyền thọ phép Quán Đảnh cho họ và trao các đồ hình Tam Muội Da (三昧耶), pháp môn niệm tụng, khế ấn, đạo cụ, v.v. Người đời thường gọi ông là Trấn Quốc Đạo Tràng Đại Đức A Xà Lê (鎭國道塲大德阿闍梨).
thuận hiểu
5358唐代僧。生卒年、籍貫不詳。爲善無畏三藏之門人。嘗就新羅之義林學習真言密法。住泰嶽靈巖寺,後移住越州龍興寺。永貞元年(805)四月,日僧最澄及義真至龍興寺謁師,師爲彼等授祕密灌頂,並付三耶三昧耶圖樣、念誦法門、契印、道具等。世稱爲鎮國道場大德阿闍梨。〔叡山大師傳、傳教大師行業記、元亨釋書卷一〕
thuận hiện pháp thụ nghiệp
5357梵語 dṛṣṭadharma-vedanīya-karma,巴利語 diṭṭhadhamma-vedanīya-kamma。爲三時業之一,四業之一。又稱順現報受業、順現業、順現報受、現在受業、現報。意謂現在世所造作之善惡業於現在世受果報,此業即稱爲順現法受業。〔大毘婆沙論卷一一四〕(參閱「四業」1782、「定業不定業」3182)
thuận hoá
5353 請參閱 順中論 <一>係「逆化」之對稱。佛菩薩以順當之方法化益眾生,稱爲順化;而對於不服之眾生,則以強迫之方法教化之,稱爲逆化。如諸佛菩薩之應機而化,皆屬順化。又於密教,佛之三種輪身中,以正法輪身所化稱順化,以教令輪身所化稱逆化。〔法華經卷七、法華文句記卷十中〕(參閱「化」1321) <二>指僧之喪亡。又作順世、順寂、順去。取其順世道而死化、示滅之義。據釋氏要覽卷下記載,佛門中稱「死」爲涅槃、圓寂、歸真、歸寂、滅度、遷化、順世等,其意義皆同。〔佛祖統紀卷二十八、禪苑清規卷七亡僧〕(參閱「遷化」6320)
; (順化) I. Thuận Hóa. Đối lại: Nghịch hóa. Phật, Bồtát dùng phương pháp thuận hợp, thích đáng để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, gọi là Thuận hóa; còn đối với các chúng sinh ương ngạnh, khó dạy thì dùng phương pháp cưỡng bức để giáo hóa thì gọi là Nghịch hóa. Như Phật, Bồ tát ứng theo cơ nghi mà giáo hóa, đều thuộc Thuận hóa. Lại như trong Mật giáo, đức Phật có 3 thứ luân thân, khi ngài dùng Chính pháp luân thân để giáo hóa chúng sinh, gọi là Thuận hóa; trái lại, Ngài dùng Giáo lệnh luân thân để giáo hóa thì gọi là Nghịch hóa. [X. kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa văn cú kí Q. 10, trung]. (xt. Hóa). II. Thuận Hóa. Cũng gọi là Thuận thế, Thuận tịch, Thuận khứ. Chỉ cho sự qua đời của vị tăng. Đó là nói theo ý nghĩa của đạo lí thế gian mà tử hóa, thị hiện diệt độ. Thích thị yếu lãm quyển hạ nói: Phật giáo gọi chết là niết bàn, viên tịch, qui chân, qui tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế. [X. Phật tổ thống kỉ Q.28; điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7]. (xt. ThiênHóa).
thuận hòa
Harmony—Concord.
thuận hóa
To accord with one's lessons; to follow the customs; to die.
; 1) Thuận theo đạo đời mà giáo hóa chúng sanh: To accord with one's lessons; to follow the custom. 2) Thị tịch (vị Tăng): To die.
thuận hạ phần kết
The five ties in the lower realm, which hold the individual in the realms of desire, i.e. desire, resentment, egoism, false tenets and doubt.
; Còn gọi là Ngũ Hạ Phần Kết—Also called the five ties in the lower realm—See Ngũ Thuận Hạ Phần Kết, and Ngũ Hạ Phần Kết.
thuận hậu thứ thụ nghiệp
5355梵語 aparaparyāya-vedanīya-karma,巴利語 aparāpariya-vedanīya-kamma。爲三時業之一,四業之一。略稱順後受業、順後次受、順後業。謂現在世所造作之善惡業將於次次生(第三生)以後受果報,此業即稱爲順後次受業。〔大毘婆沙論卷一一四〕(參閱「四業」1782、「定業不定業」3182)
; (順後次受業) Phạm: Aparaparyàya-vedanìya- Karma. Kamma. Gọi tắt: Thuận hậu thụ nghiệp, Thuận hậu thứ thụ, Thuận hậu nghiệp. Nghiệp chịu quả báo từ đời thứ 3 về sau, 1 trong 3 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. Tức nghiệp thiện ác đã tạo ra ở đời hiện tại, đến đời thứ 3 trở đi mới chịu quả báo, gọi là Thuận hậu thứ thụ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp). THUẬN HIÊN PHÁP THỤ NGHIÊP Phạm: Dfwỉadharma-vedanìyakarma. Pàli: Dỉỉhadhamma-vedanìyakamma. Cũng gọi là Thuận hiện báo thụ nghiệp, Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện báo thụ, Hiện tại thụ nghiệp, Hiện báo. Nghiệp thiện ác tạo tác ở đời hiện tại chịu quả báo ngay ở đời hiện tại, gọi là Thuận hiện pháp thụ nghiệp, là 1 trong 3 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
thuận hỷ thọ nghiệp
Saunanasya-vedaniya-karma (S).
thuận khổ thọ nghiệp
Dukha-vedaniya-karma (S)Khổ báo nghiệp.
thuận liệt
5353於授戒會之時,爲訂定戒脈之順序,令戒子們依序排列整齊,稱爲順列。又於直壇寮有列記諸戒子姓名之帳簿,作爲齋食時點名之用,該帳簿又稱順列帳。直壇,爲授戒會中負責有關戒會、戒場、戒子之一切事務之職稱,其居處即稱直壇寮。〔行持軌範卷二授戒會作法〕
; (順列) Xếp hàng theo thứ tự. Khi có pháp hội truyền giới, các giới tử phải đứng xếp hàng theo thứ tự để ấn định thứ tự giới mạch, gọi là Thuận liệt. Quyển sổ ghi họ tên các giới tử dùng để điểm danh khi thụ trai, gọi là Thuận liệt trướng. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.2].
thuận lòng
To agree—To consent.
thuận lưu
5355梵語 anusroto-gāmin,巴利語 anusota-gāmin。又作隨流。爲「逆流」之對稱。謂眾生隨順三界、六道生死之流,而輪轉於迷界。如眾生起惑造業,隨順生死之流,違背涅槃之道;即爲流轉生死之因果。反之,斷三界惑障,違逆生死之流,趣入涅槃之道,則稱爲逆流;即爲還滅之因果。又據摩訶止觀卷四上載,修行之人因「順流十心」而顛倒造惡,積集重累,流轉生死,須以「逆流十心」對治此等過失。順流十心即:(一)無明昏闇心,眾生內心爲無明所迷惑,妄計人我執,起顛倒妄想,廣造眾業,流轉生死。(二)外順惡友心,指眾生內具煩惱,外爲惡友迷惑而失正行之心。(三)無隨喜心,謂對他人之善行不能隨喜。(四)縱恣三業心,謂任意造身口意三業罪。(五)徧一切處起惡心,眾生所造惡事雖不廣,然爲惡之心遍布一切處。(六)常念惡事心,眾生唯起惡心,增長惡事,晝夜不絕。(七)覆藏罪心,掩蔽己過,無悔改心。(八)不畏惡道心,謂魯鈍無識,不畏趣入惡道。(九)無慚無愧心,造諸惡業,而無慚愧心。(十)一闡提心,謂否定一切因果道理。〔北本涅槃經卷三十六、俱舍論卷十二、止觀輔行傳弘決卷四之二〕(參閱「逆流」4327、「逆流十心」4327)
; Anusrotogamin (S), Anusot-agamin (P)Tùy thuận theo dòng sanh tử trôi lăn trong cõi mê.
; Going with the stream, i.e. of transmigration, customs, etc.
; Xuôi theo dòng luân hồi không ngừng nghỉ—To flow with it in continual re-incarnation, or going with the stream of transmigration.
; (順流) Phạm: Anusroto-gàmin. Pàli:Anusota-gàmin. Cũng gọi: Tùy lưu. Đối lại: Nghịch lưu. Xuôi dòng. Nghĩa là chúng sinh thuận theo dòng sinh tử của 3 cõi, 6 đường, trôi lăn trong cõi mê. Nếu chúng sinh khởi phiền não, tạo các nghiệp, thuận theo dòng sinh tử, trái với đạo Niết bàn, thì gọi là Thuận lưu, tức là nhân quả sinh tử lưu chuyển. Trái lại, dứt hoặc chướng trong 3 cõi, ngược với dòng sinh tử, hướng tới đạo Niết bàn, thì gọi là Nghịch lưu, tức là nhân quả hoàn diệt. Theo Ma ha chỉ quán quyển 4 thì người tu hành vì Mười tâm thuận lưu nên điên đảo tạo ác, tích tập khổ lụy sâu nặng, lưu chuyển trong dòng sinh tử, phải dùng 10 tâm nghịch lưu để đối trị những lầm lỗi ấy. Mười tâm thuận lưu gồm: 1. Tâm vô minh tối tăm: Trong tâm chúng sinh bị vô minh làm mê hoặc, vọng chấp nhân ngã, khởi vọng tưởng điên đảo, tạo tác các nghiệp, trôi lăn trong dòng sinh tử. 2. Tâm thuận theo bạn ác bên ngoài: Chúng sinh bên trong có đủ các thứ phiền não, bên ngoài bị bạn ác mê hoặc làm cho mất tâm chính hạnh. 3. Tâm không tùy hỷ: Nghĩa là đối với việc thiện người khác làm, tâm không vui mừng làm theo. 4. Tâm phóng túng 3 nghiệp: Nghĩa là mặc ý tạo các tội ác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 5. Tâm khởi ác trùm khắp mọi nơi: Những việc ác do chúng sinh tạo ra tuy không rộng, nhưng tâm ác thì bao trùm khắp nơi. 6. Tâm thường nghĩ việc ác: Chúng sinh chỉ khởi tâm ác, tăng trưởng việc ác, ngày đêm không dứt. 7. Tâm giấu kín tội lỗi: Che lấp lỗi của mình, không có tâm hối cải. 8. Tâm không sợ ác đạo: Chúng sinh ngu độn không biết, không sợ bị rơi vào đường ác. 9. Tâm không hổ thẹn: Tạo các nghiệp xấu ác mà tâm không biết hổ thẹn. 10. Tâm nhất xiển đề: Nghĩa là phủ định tất cả đạo lí nhân quả. [X. kinh Niếtbàn Q.36 (bảnBắc); luận Câuxá Q.12; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 2]. (xt. Nghịch Lưu, Nghịch Lưu Thập Tâm).
thuận lạc thọ nghiệp
Sukha-vedaniya-karma (S)Lạc báo nghiệp.
thuận lợi
Favored.
thuận minh châu
5355又作同異珠。爲「獨明珠」之對稱。釋摩訶衍論卷二闡釋真如、生滅二法二門時,共列舉十名,其第九名爲「中實」,意指第一義諦,又分爲等住中實、別住中實兩種,並分別以獨明珠、順明珠比喻之。其中,別住中實乃「生滅所入」之別名。蓋順明珠係指隨順差別而爍現色彩之珠,以各種異物置於此珠之前,此珠即隨順各物種種之色而映現種種色,故以之比喻隨順差別法之「生滅所入」。同理,獨明珠即用以比喻萬法一如之「真如所入」。(參閱「別住中實」2795、「獨明珠」6266)
; (順明珠) Cũng gọi Đồng dị châu. Đối lại: Độc minh châu. Hạt minh châu tùy thuận màu sắc của các vật nó chiếu mà ánh hiện các màu sắc khác nhau. Luận Ma ha diễn quyển 2, khi giải thích về Chân như môn và Sinh diệt môn, có nêu ra 10 tên mà tên thứ 9 là Trung thực, chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế. Trung thực lại được chia làm 2 thứ là Đẳng trụ trung thực và Biệt trụ trung thực, đồng thời, dùng Độc minh châu và Thuận minh châu để làm thí dụ. Trong đó, Biệt thụ trung thực là tên khác của Sinh diệt sở nhập. Bởi vì Thuận minh châu là hạt châu tùy thuận sự sai khác mà ánh hiện các màu sắc; nếu đem các vật khác nhau đặt trước hạt châu này thì nó liền thuận theo màu sắc của mỗi vật mà ánh hiện các màu sắc khác nhau; cho nên dùng nó để ví dụ Sinh diệt sở nhập của sự tùy thuận các pháp sai biệt. Cũng thế, Độc minh châu được dùng để dụ cho Chân như sở nhập của vạn pháp nhất như.(xt. Biệt Trụ Trung Thực, Độc Minh Châu).
thuận mệnh
To obey an order.
thuận nghịch
5356隨順、違逆之並稱。又作逆順。即因緣化益等事皆各有其隨順、違逆二種分別。如以佛菩薩教化眾生之方便,有順化、逆化;以法之次第而立,有順次、逆次;以觀之次第分順逆,則有順觀、逆觀;就境之違順,稱順境、逆境。此外,另有順修、逆修、順流逆流、順緣逆緣等。〔大佛頂首楞嚴經卷六、華手經卷八逆順品、大智度論卷四十七、華嚴五教章卷四、摩訶止觀卷五上〕
; Xuôi theo hay ngược lại, như xuôi theo luân hồi sanh tử hay đi ngược lại để về cõi Niết Bàn—Favourable and contrary—To go with or to resist, e.g. the stream to reincarnation, or to nirvana.
; (順逆) Cũng gọi Nghịch thuận. Thuận theo và trái ngược. Tức những việc như nhân duyên giáo hóa, làm lợi ích... mỗi việc đều có 2 khía cạnh là thuận theo và trái ngược nhau. Chẳng hạn như phương tiện giáo hóa chúng sinh của Phật, Bồtát, có thuận hóa và nghịch hóa khác nhau; lập thứ tự các pháp thì có thuận thứ, nghịch thứ; phân biệt thứ tự các pháp quán thì có thuận quán, nghịch quán; về thuận nghịch của các cảnh ngộ thì có thuận cảnh, nghịch cảnh... Ngoài ra còn có thuận tu, nghịch tu, thuận lưu, nghịch lưu, thuận duyên, nghịch duyên... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; phẩm Nghịch thuận trong kinh Hoa thủ Q.8; luận Đại trí độ Q.47; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
thuận nghịch tung hoành
5356又作逆順縱橫。順逆,指順境、逆境。謂不論遭遇順境、逆境,皆能任運自在,而心不動搖。碧巖錄第一則(大四八‧一四○上):「至於截斷眾流,東涌西沒,逆順縱橫,與奪自在。」
; (順逆縱橫) Cũng gọi Nghịch thuận tung hoành. Xuôi ngược dọc ngang. Nghĩa là dù trong cảnh ngộ nào, thuận hay nghịch, đều được tự do tự tại, thanh thản tự nhiên, tâm không dao động. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng) nói: Dẫu cho cắt đứt các dòng, đông hiện tây ẩn, xuôi ngược dọc ngang, cho lấy tự tại.
thuận nhẫn
The third of the five bodhisattva stages of endurance, i.e. from the fourth to sixth stage.
; Endurance of obedient following—Giai đoạn thứ ba trong năm giai đoạn nhẫn nhục của Bồ Tát—Là cửa ngõ hào quang chư pháp, vì nhờ thuận nhẫn mà chúng ta chịu tuân thủ lời dạy của chư Phật—The third of the five Bodhisattva stages of endurance. Endurance is a gate of Dharma illumination; for with it we obey the Dharma of all the Buddhas.
thuận phận
To follow out one's duties; to accord with one's calling; to carry out the line of bodhisattva progress according to plan.
; Làm theo nhiệm vụ của một vị Bồ Tát—To follow out one's duty; to accord with one's calling; to carry out the line of Bodhisattva progress according to plan.
thuận quyền phương tiện kinh
5358 請參閱 順權方便經梵名 Strīvivarta-vyākaraṇa-sūtra。凡二卷。西晉竺法護譯。又稱順權方便品經、轉女身菩薩經、轉女菩薩所問授決經。收於大正藏第十四冊。經名「順權方便」,意爲隨順眾生之意樂,而發導道意。本經重點在於釋尊之弟子須菩提與一大乘女菩薩間之對答,內容係闡明大乘之微妙法。全經承受維摩經之思想甚爲濃厚。本經之異譯有曇摩耶舍譯之樂瓔珞莊嚴方便品經一卷。
; Strivi-varta-vyākaraṅa sŪtra (S)Chuyển Nữ thân Bồ tát kinh, Chuyển nữ Bồ tát Sở vấn Thọ quyết kinhTên một bộ kinh.
; (順權方便經) Phạm:Strìvivarta-vyàkaraịa-sùtra. Cũng gọi Thuận quyền phương tiện phẩm kinh, Chuyển nữ thân bồ tát kinh, Chuyển nữbồ tát sở vấn thụ quyết kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Trúc pháphộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Tên kinh Thuận quyền phương tiện nghĩa là thuận theo ý ưa thích của chúng sinh mà làm cho đạo tâm của họ phát khởi. Trọng tâm của kinh này là những lời đối đáp giữa đệ tử của đức Phật là ngài Tu bồ đề và một vị nữ Bồ tát Đại thừa, nội dung nói rõ pháp màu nhiệm của Đại thừa. Toàn kinh mang đậm sắc thái tư tưởng kinh Duy ma. Bản dịch khác của kinh này là kinh Nhạo anh lạc trang nghiêm phương tiện phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm ma da xá dịch.
thuận quán
5358依順序觀十二因緣、四諦及佛三十二相等,稱爲順觀。反之,若逆次而觀,則稱逆觀。據聞釋尊即由順、逆觀十二因緣而開悟。據大毘婆沙論等之解釋,其順觀即從無明觀至老死,亦即由因向果,順次作觀;逆觀乃從老死觀至無明,即由果向因,順次逆觀。此外,從頭至足觀佛之三十二相,其觀法稱爲順觀;從足至頭觀之,則稱爲逆觀。於密教,從阿字本不生觀至諸法無因,稱爲順觀旋轉;從諸法無因觀至本不生,稱逆觀旋轉。〔大毘婆沙論卷二十三、大乘阿毘達磨雜集論卷四、大日經疏卷七、大乘義章卷四、摩訶止觀卷二上〕
; (順觀) Tức theo thứ tự thuậnmàquán xét 12 nhân duyên, 4 thánh đế, 32 tướng của Phật... gọi là Thuận quán. Trái lại, nếu quán theo thứ tự ngược thì gọi là Nghịch quán. Đức Thích tôn nhờ thuận quán, nghịch quán 12 nhân duyên mà khai ngộ. Theo sự giải thích của luận Đại tì bà sa thì Thuận quán là từ Vô minh quán đến Lão tử, cững tức là từ nhân tới quả quán theo thứ tự thuận. Còn Nghịch quán thì từ Lão tử quán đến Vô minh, tức từ quả tới nhân quán theo thứ tự ngược. Ngoài ra, quán tưởng 32 tướng của đức Phật từ đầu đến chân, gọi là Thuận quán; trái lại, quán tưởng từ chân đến đầu thì gọi là Nghịch quán. Trong Mật giáo, từ chữ A vốn chẳng sinh quán đến các pháp không có nhân, gọi là Thuận quán toàn chuyển; từ các pháp không nhân quán đến vốn chẳng sinh, gọi là Nghịch quán toàn chuyển. [X. luận Đại tì bà sa Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.4; Ma ha chỉ quán Q.2, thượng].
thuận tam phần thiện
5351指順福分善(梵 puṇya-bhāgīya)、順解脫分善(梵 mokṣa-bhāgīya)、順抉擇分善(梵 nirvedha-bhāgīya)。順,順益之意;分,部分之意。順益其所順法之部分,稱爲順分。(一)順福分善,乃持五戒十善,而感世間可愛之果或人天善趣等之有漏善根。以其爲能順益感此果之善,故稱順福分善。(二)順解脫分善,因厭離生死,欣求涅槃,而修諸善根,遂感解脫之善果。如眾生欲出三界,斷除煩惱惑業,而證真空涅槃之理,必修「七方便」。而順解脫分善即如「七方便」中之前三位,亦即五停心、別相念住、總相念住等三賢位之善。蓋住此位之菩薩雖未能伏滅煩惱、所知二障,然已對唯識之性深生信解,並修二利勝行,故稱順解脫分善。(三)順抉擇分善,抉擇,意爲見四諦理之無漏勝慧;即順於無漏抉擇之聖道,而感「見道」無漏智之果。如「七方便」中之後四位,即煖、頂、忍、世第一法等四善根。以此四善根接近見道,能順其勝慧一分之見道抉擇智,觀察四聖諦,作十六行相,能緣世第一法之無間,引發無漏智,即順益彼之智,此稱爲順抉擇分善。故聲聞乘中之極速者,三生方得解脫;亦即第一生起順解脫分,第二生起順抉擇分,第三生始入於見道,乃至得究竟之解脫。 此外,依俱舍論校註記載,分,有分段之意,即福中一分或抉擇中一分等義。又瑜伽師地論卷三以此三善,合無漏善立爲四種善。大乘阿毘達磨雜集論卷十三,並分順解脫分爲四種:依憑順解脫分、勝解順解脫分、愛樂順解脫分、趣證順解脫分。復分順決擇分爲六種:隨順順決擇分、勝進順決擇分、通達順決擇分、餘轉順決擇分、一生順決擇分、一座順決擇分。〔俱舍論卷十八、卷二十二、卷二十三、大毘婆沙論卷五至卷七、成唯識論卷九、順正理論卷六十一、顯揚聖教論卷十七、俱舍論光記卷二十三、成唯識論述記卷九末、大乘法相宗名目卷一中、卷六中〕(參閱「七賢」120、「見道」3000)
; (順三分善) Chỉ cho Thuận phúc phần thiện, Thuận giải thoát phần thiện và Thuận quyết trạch phần thiện. Thuận là thuận ích; Phần là bộ phận. Thuận phần là thuận ích của bộ phận pháp mà người ta giữ gìn, noi theo. 1. Thuận phúc phần thiện (Phạm: Puịya-bhàgiya): Giữ gìn 5 giới, làm 10 việc thiện, cảm được quả báo tốt đẹp ở thế gian, hoặc thiện căn hữu lậu như các đường lành trời, người... Vì 5 giới, 10 việc thiện là những điều lành có năng lực thuận ích mang lại quả báo tốt đẹp này, cho nên gọi là Thuận phúc phần thiện. 2. Thuận giải thoát phần thiện (Phạm: Mokwa-bhàgìya): Vì nhàm chán sinh tử, ưa thích Niết bàn nên tu các căn lành mà cảm được quả thiện giải thoát. Nếu các chúng sinh muốn ra khỏi 3 cõi, đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp, chứng lí Niết bàn chân không, thì phải tu bảy phương tiện. Mà Thuận giải thoát phần thiện chính là 3 phương tiện đầu trong 7 phương tiện, cũng là Thiện của 3 bậc hiền: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ. Vì Bồ tát ở địa vị này tuy chưa hàng phục, diệt trừ được phiền não chướng và sở tri chướng, nhưng đã sinh tâm tin hiểu sâu xa đối với tính Duy thức, đồng thời tu các hạnh thù thắng tự lợi, lợi tha, cho nên gọi là Thuận giải thoát phần thiện. 3. Thuận quyết trạch phần thiện (Phạm:Nirvedha-bhàgiya): Quyết trạch là trí tuệ vô lậu thù thắng thấy lí 4 đế; tức thuận với Thánh đạo vô lậu quyết trạch mà cảm được quả của trí Kiến đạo vô lậu. Như 4 Phương tiện sau trong 7 Phương tiện chính là 4 thiện căn Noãn, Đính, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp. Dùng 4 thiện căn này tiếp cận Kiến đạo, có thể thuận với trí quyết trạch Kiến đạo của 1 phần thắng tuệ ấy, quán xét 4 thánh đế, tu 16 hành tướng, có khả năng duyên theo vô gián của Thế đệ nhất pháp, phát sinh trí vô lậu, đây gọi là Thuận quyết trạch phần thiện. Cho nên hàng Thanh văn tu mau nhất cũng phải 3 đời mới được giải thoát; cũng tức là đời thứ nhất sinh khởi Thuận giải thoát phần, đời thứ 2 sinh khởi Thuận quyết trạch phần và đời thứ 3 mới vào Kiến đạo, cho đến được giải thoát rốt ráo.Ngoài ra, theo Câu xá luận hiệu chú thì Phần có nghĩa là phần đoạn, tức 1 phần trong các phúc, hoặc 1 phần trong các quyết trạch... Còn luận Du già sư địa quyển 3 thì hợp 3 thiện này với thiện Vô lậu mà lập thành 4 thiện. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 13 lại chia Thuận giải thoát phần làm 4 thứ: Y bằng thuận giải thoát phần, Thắng giải thuận giải thoát phần, Ái nhạo thuận giải thoát phần và Thú chứng thuận giải thoát phần. Rồi lại chia Thuận quyết trạch phần làm 6 thứ: Tùy thuận thuận quyết trạch phần, Thắng tiến thuận quyết trạch phần, Thông đạt thuận quyết trạch phần,Dư chuyển thuận quyết trạch phần, Nhất sinh thuận quyết trạch phần và Nhất tòa thuận quyết trạch phần. [X. luận Câu xá Q.18, 22, 23; luận Đại tì bà sa Q.5-7; luận Thành duy thức Q.9; luận Thuận chính lí Q.61; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Câu xá luận quang kí Q.23; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.1, 6]. (xt. Thất Hiền, Kiến Đạo).
thuận theo
See Thuận lòng.
thuận thành
5355因明用語。因明論式中,以「同喻體」來完成論證之舉證作用,稱爲順成。同喻體之任務在於爲能證與所證之間建立一種相屬不離之關係。例如立「聲爲無常(宗,命題),所作性故(因,理由);若謂所作,見彼無常(同喻體),譬如瓶等(同喻依)」之論式,「聲爲無常」乃所欲證明者(所證),「所作性故」乃所用以證明者(能證)。所作性之後必有無常性隨逐而來,故所作性爲所隨,無常性則爲能隨。必先有所隨者而後才有能隨者,若不先有所隨者,能隨者便失其隨逐之對象。故所隨者居前,能隨者居後,乃爲自然而不可移易之順序。上記論式以「若謂所作,見彼無常」爲同喻體,即是順此一自然順序,闡明兩者有必然隨逐之關係,因明學者稱此一作用爲順成。〔因明正理門論、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; (順成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Đồng dụ thể được dùng để hoàn thành tác dụngnêu chứng cứ cho luận chứng, gọi là Thuận thành. Nhiệm vụ của Đồng thể dụ là kiến lập 1 thứ quan hệ tương thuộc bất li giữa năng chứng và sở chứng. Như luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác mà có ra. Nếu nói cái được tạo tác ra là vô thường (Đồng dụ thể), ví như cái bình (Đồng dụ y) thì câu Âm thanh là vô thường là cái muốn được chứng minh(Sở chứng), câu Vì nó được tạo tác mà có ra là cái được dùng để chứng minh (Năng chứng). Sau câu Vì nó được tạo tác mà có ra phải có câu ...là vô thường tiếp theo sau để hoàn thành tác dụng nêu chứng cứ luận chứng, đó là thứ tự tất nhiên không thể đổi dời. Luận thức đầy đủ như sau: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác mà có ra. Dụ: Những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường,ví như cái bình. Như vậy, mối quan hệ giữa Những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường là mối quan hệ tự nhiên bất di bất dịch. Các học giả Nhân minh gọi đây là tác dụng Thuận thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
thuận thượng phần kết
The five ties in the higher realm which hold the individual in the realms of form and formless: desire for form, desire for formlessness, restlessness, pride and ignorance.
; Còn gọi là Ngũ Thượng Phần Kết—Also called the five ties in the higher realm—See Ngũ Thuận Thượng Phần Kết, and Ngũ Thượng Phần Kết.
thuận thảo
Concord.
thuận thế
To accord with the world, its way and customs; to die.
; 1) Thị tịch (vị Tăng): To die. 2) Xuôi theo dòng đời—To accord with the world, its ways and customs.
thuận thế ngoại đạo
5353請參閱 阿毘達磨順正理論梵名 Lokāyata 或 Lokāyatika。音譯路伽耶派、盧迦耶陀派、路歌夜多派、路迦也底迦派。又作順世派。爲古印度婆羅門教之支派,主張隨順世俗,倡導唯物論之快樂主義。此派與阿耆毘伽派同爲古印度自由思想之代表學派。此派以唯物論之立場,主張地、水、火、風等四元素合成吾人身心,人若命終,四大亦隨之離散,五官之能力亦還歸虛空,故吾人死後一切歸無,靈魂亦不存在。因此,此派否認輪迴、業,復否認祭祀、供儀、布施之意義。於認識論上主張感覺論,於實踐生活上主張快樂論。並反對婆羅門所主張之祭祀萬能主義,而傾向於詭辯之思想。 除「吾人身心係由四大和合而成」之主張,此派復認爲世間一切之生物、無生物亦皆由四大所構成;四大可分析至「極微」(即物質之最小單位),而於極微之外,世間即無任何餘物。並進而論定:人雖有精神作用,然所謂精神作用亦不過物質之結合所產生之狀態而已,故人生之目的乃在於追求快樂。此一見解,於佛教所說「斷、常」二邪見中,屬於「常見外道」。 據成唯識論演祕卷一末載,順世外道所說之極微可分爲三類,即:(一)極精虛,指心與心所。(二)清淨,指眼、耳、鼻、舌等諸根。(三)非虛淨,指色、聲、香、味等之外法。極微之說,非僅爲順世外道所獨有,六派哲學中之勝論學派亦有此說,然兩者所說互異,順世外道謂「極微之外,世間即無餘物」,勝論學派則於四大種之極微外,另立「德」、「業」等諸諦。又於佛教中之小乘,如說一切有部、經量部等亦有極微之說,然與順世外道大異其趣者,在於肯定極微之外,另有心、心所等精神作用之存在。 此類唯物論快樂主義,於古印度吠陀、梵書、奧義書之時代即已萌芽。在當時,崇奉此類主張者,被稱爲「迦爾瓦卡(梵 cārvāka)之徒」。至於何時始蔚成一大思想流派,則迄今已不可考,僅知約與佛陀同時代或於佛陀之前。或謂梵名 Lokāyata Cārvāka(路伽耶迦爾瓦卡)即其教祖之名。此教派並無經典流傳後世,今所知有關此派之思想主張大多散見於佛教或當代其他學派之典籍,如長阿含卷十七沙門果經所載之「阿夷陀翅舍欽婆羅」、大毘婆沙論卷二○○所載之「不蘭迦葉」均爲順世外道之典型。 據慈恩寺三藏法師傳卷四載,玄奘西遊天竺,寓止摩揭陀國那爛陀寺時,曾有順世外道前來論難,可知在七世紀時,該教派之思想風潮猶盛行不衰。此外,於法華經卷五安樂行品記載諸外道梵志尼犍子之類時,舉出「路伽耶陀、逆路伽耶陀」之名,智顗大師之法華文句卷八下加以闡釋。蓋逆路伽耶陀又稱左順世外道,係順世外道之分派,意指自順世外道而陷於左道者。〔入楞伽經卷六盧伽耶陀品、大乘廣百論釋論卷二、卷三、成唯識論卷一、成唯識論述記卷一末、慧琳音義卷十五〕
; (順世外道) Phạm: Lokàyata, Lokàyatika. Hán âm: Lộ già da phái, Lô ca da đà phái, Lộ ca dạ đa phái, Lộ ca dã để ca phái. Cũng gọi Thuận thế phái. Một chi phái thuộc Bà la môn giáo ở Ấn Độ thời xưa, chủ trương thuận theo thế tục, đề xướng chủ nghĩa khoái lạc theo Duy vật luận. Phái này và phái A kìtì già đều là các học phái đại biểu cho tư tưởng tự do ở Ấn độ cổ đại. Phái này theo lập trường Duy vật luận, cho rằng 4 nguyên tố đất, nước, lửa, gió hợp lại tạo thành thân tâm con người, sau khi người ta chết, 4 nguyên tố này cũng lìa tan, năng lực của các cảm quan cũng trở về hư không, cho nên con người sau khi chết, tất cả đều trở về hư vô, linh hồn cũng chẳng tồn tại. Cho nên phái này phủ nhận tất cả ý nghĩa về luân hồi, nghiệp báo, phủ nhận việc cúng tế, bố thí, cúng dường... Về phương diện nhận thức thì phái này chủ trương Cảm giác luận, về sinh hoạt thực tiễn thì theo chủ nghĩa khoái lạc, đồng thời, phản đối chủ nghĩa tế tự vạn năng của Bà la môn và có khuynh hướng tư tưởng quỉ biện. Ngoài chủ trương cho thân tâm con người do 4 nguyên tố tạo thành, phái này còn cho rằng tất cả sinh vật, vô sinh vật trong thế gian cũng đều do 4 nguyên tố này tạo thành; 4 nguyên tố có thể được phân tích đến cực vi (đơn vị nhỏ nhất của vật chất) và ngoài cực vi ra trên thế gian không còn bất cứ vật gì khác. Đồng thời lập luận: Con người tuy có tác dụng tinh thần, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là cái trạng thái do sự kết hợp của vật chất mà sinh ra, không hơn không kém, cho nên mục đích cao nhất của đời người là truy cầu khoái lạc. Trong 2 thứ tà kiến đoạn, thường nói trong Phật giáo thì kiến giải của phái này thuộc về Đoạn kiến ngoại đạo. Cứ theo Thành duy thức luận diễn bí quyển 1 phần cuối thìCực vi do ngoại đạo Thuận thế chủ trương có thể được chia làm 3 loại: 1. Cực tinh hư: Chỉ cho tâm và tâm sở. 2. Thanh tịnh: Chỉ cho các căn mắt, tai, mũi, lưỡi... 3. Phi hư tịnh: Chỉ cho các pháp bên ngoài như sắc, thanh, hương, vị... ThuyếtCực vi không phải chỉ ngoại đạo Thuận thế mới có mà học phái Thắng luận trong 6 pháiTriết học cũng có thuyết này, nhưng 2 phái nói đều khác nhau. Ngoại đạo Thuận thế cho rằng ngoài cực vi ra, trên thế gian không còn bất cứ vật gì khác; còn học phái Thắng luận thì ngoài cực vi của 4 đại chủng(4 nguyên tố) ra còn lập các đế Đức, Nghiệp...Lại trong các bộ phái như Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ... của Phật giáo Tiểu thừa cũng có thuyết Cực vi, nhưng rất khác với thuyếtCực vi của ngoại đạo Thuận thế, ngoài việc khẳng địnhcực vi ra, các bộ phái Phật giáo nói trên còn thừa nhận có tác dụng tinh thần tâm, tâm sở tồn tại. Loại chủ nghĩa khoái lạc Duy vật này đã manh nha ngay từ các thời đại Phệ đà, Phạm thư và Áo nghĩa thư ở Ấn độ thời xưa. Bấy giờ, những người tôn thờ chủ nghĩa này được gọi là tín đồ của Ca nhĩ ngoã ca (Phạm: Càrvàka). Đến nay vẫn chưa khảo chứng được vào thời gian nào ngoại đạo Thuận thế mới trở thành một dòng phái có tư tưởng lớn, chỉ biết một cách đại khái là đồng thời, hoặc trước đức Phật một chút. Có thuyết cho rằng tiếng PhạmLokàyata Càrvàka (Lộ già da ca nhĩ ngõa ca) là tên vị Giáo tổ của giáo phái này. Giáo phái này hoàn toàn không có kinh điển lưu truyền cho đời sau, ngày nay những điều có liên quan đến chủ trương tư tưởng của phái này mà ta được biết, phần lớn thấy rải rác trong kinh điển Phật giáo hoặc sách vở của các học phái khác ở đương thời. Như kinh Sa môn quả trong Trường a hàm quyển 17 có ghi A di đà sí xá khâm bà la hay như Bất lan ca diếp ghi trong luận Đại tì bà sa quyển200 đều là điển hình của ngoại đạo Thuận thế.Cứ theo Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 thì khi ngài Huyền trang đến Thiên trúc, trụ ở chùa Na lan đà tại nước Ma yết đà từng có ngoại đạo Thuận thế đến tranh luận, do đó có thể biết vào thế kỷ VII phong trào tư tưởng của phái này vẫn còn thịnh. Ngoài ra, phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa quyển 5, khi ghi chép về các loại ngoại đạo Phạm chí ni kiền tử, có nêu các tên Lộ già da đà, Nghịch lộ già da đà mà trong Pháp hoa văn cú quyển 8 hạ, ngài Trí khải có giải thích rất rõ. Nghịch lộ già da đà còn gọi là Tả thuận thế ngoại đạo, là một nhánh của ngoại đạo Thuận thế, nghĩa là từ ngoại đạo Thuận thế rơi vào Tả đạo. [X. phẩm Lô già da đà trong kinh Nhập lăng già Q.6; Đại thừa quảng bách luận thích luận Q.2, 3; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.15].
thuận thế phái
Lokayatika (S)Phái ngoại đạo tu hành theo thế tục, không có tính xuất thế và giải thoát.
thuận thời
Timely—At the right time—Opportune—Seasonable.
thuận thủ cốt đoá
5353又作伏手骨朵。骨
thuận thứ
According to order or rank, one after another, the next life in Paradise to follow immediately after this without intervening stages.
; 1) Theo thứ tự cấp trật hay tuổi hạ trong giáo đoàn—According to order or rank, one after the other. 2) Vãng sanh về cõi Cực Lạc ngay đời kế tiếp không gián đoạn: The next life in Paradise to follow immediately after this without intervening stages.
thuận thứ sinh thụ nghiệp
5354梵語 upapadya-vedanīya-karma,巴利語 upapajja-vedanīya-kamma。爲三時業之一,四業之一。略稱順生受業、順次業、順生業、順次生受。謂現在世所造作之善惡業將於次生受果報,此業即稱順次生受業。〔大毘婆沙論卷一一四〕(參閱「四業」1782、「定業不定業」3182)
; (順次生受業) Phạm: Upapadya-vedanìya-karma. Pàli: Upapajja-vedanìya-kamma. Gọi tắt: Thuận sinh thụ nghiệp, Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ. Các nghiệp thiện, ác tạo tác trong đời hiện tại sẽ chịu quả báo ở đời sau, 1 trong 2 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, ĐịnhNghiệp, BấtĐịnhNghiệp).
thuận thứ vãng sinh
5355順次,指此生之次。謂於次生往生;即今生命終之後,直接往生極樂淨土。於俱舍論卷十五所載三決定業(順現法受業、順次生受業、順後次受業)之中,順次往生即屬順次生受業;乃此生造作,於第二生即受異熟果之業,而非更待他生始受果報。日本淨土宗多以無量壽經四十八願中之第十八願係屬順次往生之願,第二十願則屬順後往生之願。(參閱「三決定業」554)
; (順次往生) Vãng sinh vào đời kế tiếp đời này, tức là sau khi đời này mệnh chung thì vãng sinh ngay về Tịnh độ cực lạc. Trong 3 nghiệp quyết định(tức Thuận hiện pháp thụ nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp)nói trong luận Câu xá quyển 15 thì Thuận thứ vãng sinh tức thuộc Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Tức nghiệp tạo tác ở đời này thì vào đời kế tiếp chịu quả dị thục, chứ không phải đợi đến đời khác mới chịu quả báo. Tông Tịnh độ của Phật giáo Nhậtbản phần nhiều cho rằng nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà là nguyện thuộc Thuận thứ vãng sinh, còn nguyện thứ 20 là nguyện thuộc Thuận hậu vãng sinh. (xt. Tam Quyết Định Nghiệp).
thuận tiện
Suitable—Favourable—Convenient.
thuận toàn chuyển nghịch toàn chuyển
5357爲密教八種旋轉釋之一,十六玄門之一。於觀悉曇五十字門之字相字義,或觀字輪觀之真言字義時,順著諸字之義而觀,稱順旋轉、順觀旋轉;逆次而觀,稱逆旋轉、逆觀旋轉。如於??? ??? ??? ??? ???(阿嚩囉訶佉)五字字輪觀,「阿」字本不生,故「嚩」字言說不可得;嚩字言說不可得,故「囉」字塵垢不可得;囉字塵垢不可得,故「訶」字因業不可得;訶字因業不可得,故「佉」字等空不可得;如是以五字順次而觀,稱順旋轉。反之,則逆旋轉爲「佉」字等空不可得,故「訶」字因業不可得等,亦如是逆次而觀。〔大日經疏卷七、梵字真言十六玄門義、吽字義旋陀羅尼門釋〕
; (順旋轉逆旋轉) Một trong 8 thứ Toàn chuyển thích của Mật giáo, 1 trong 16 huyền môn. Khi quán xét về tướng chữ và nghĩa chữ của 50 chữ cái Tất đàm, hoặc quán nghĩa các chữ chân ngôn thuộc Tự luân quán thì quán thuận theo nghĩa của các chữ, gọi là Thuận toàn chuyển, Thuận quán toàn chuyển; còn quán ngược thứ tự thì gọi là Nghịch toàn chuyển, Nghịch quán toàn chuyển. Như khi quán 5 chữ (a phạ ra ha khư) thuộc Ngũ tự luân quán thì quán vì chữ A vốn chẳng sinh nên chữ Phạ là ngôn thuyết bất khả đắc(không thể nói năng), vì chữ Phạ ngôn thuyết bất khả đắc nên chữ Ra là trần cấu bất khả đắc(không có bụi nhơ); vì chữ Ra trần cấu bất khả đắc nên chữ Ha là nhân nghiệp bất khả đắc(không có nghiệp nhân); vì chữ Ha nhân nghiệp bất khả đắc nên chữ Khư là đẳng không bất không bất khả đắc(giống như hư không). Cứ như thế quán xét thuận theo thứ tựcủa 5 chữ, gọi là Thuận toàn chuyển. Trái lại, Nghịch toàn chuyển là quán chữ Khư đẳng không bất khả đắc nên chữ Ha nhân nghiệp bất khả đắc, cũng thế quán theo thứ tự ngược lên đến chữ A. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Hồng tự nghĩa toàn đà la ni môn nghĩa].
thuận trung luận
5352凡二卷。龍勝(梵 Nāgārjuna,龍樹)菩薩造,無著菩薩釋,北魏般若流支譯。全名順中論義入大般若波羅蜜經初品法門。收於大正藏第三十冊。本論係解釋龍樹所造中論一書中之根本問題「八不」及「戲論」之要義,並破斥偏執空、有二端之迷執。〔中觀論疏卷一本、開元釋教錄卷六、卷十二、歷代三寶紀卷九、法經錄卷五、貞元新定釋教目錄卷九〕
; (順中論) Gọi đủ: Thuận trung luận nghĩa nhập đại bát nhã ba la mật kinh sơ phẩm pháp môn. Luận, 2 quyển, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjana) soạn, ngài Vô trước giải thích, ngài Bát nhã lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung sách này giải thích ý nghĩa chủ yếu của Bát bất và Hí luận vốn là các vấn đề then chốt trong bộ Trung luận do Bồtát Longthụ soạn, đồng thời phá bỏ các thiên chấp Không, Hữu. [X. Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, 12; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Pháp kinh lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].
thuận tu nghịch tu
5356捨離迷執而趣向真理之修行,稱爲順修;反之,趣向迷執而遠離真理者,稱爲逆修。又逆修一語,亦指生前預先爲自己死後修佛事,以祈求死後之冥福,亦稱爲預修。此一風尚,於宋代甚爲盛行,日本迄今仍普遍流傳。此外,日本有於生前取法名(逆名),或青年先死而由老人爲之祈求冥福修佛事,或一般爲死者祈求冥福而修佛事等,皆稱爲逆修。(參閱「順緣」5358)
; (順修逆修) Sự tu hành xa lìa mê chấp, hướng tới chân lí, gọi là Thuận tu; trái lại, sự tu hành hướng tới mê chấp mà lìa bỏ chân lí thì gọi là Nghịch tu. Từ ngữ Nghịch tu cũng chỉ cho những người lúc còn sống dự tu trước các Phật sự cho mình để cầu phúc thầm sau khi chết, cũng gọi là Dự tu. Phong tục này rất thịnh hành ở đời Tống, Trung quốc; tại Nhật bản đến nay vẫn còn lưu truyền phổ biến. Ngoài ra, ở Nhật bản còn có việc nhận pháp danh(nghịch danh) lúc còn sống, hoặc người trẻ chết trước, người già làm Phật sự để cầu phúc thầm cho, hoặc tu Phật sự cầu phúc thầm cho người chết nói chung... đều gọi là Nghịch tu.
thuận tâm
See Thuận lòng.
thuận tình
See Thuận lòng.
Thuận Tín
(順信, Junshin, ?-1250): vị Tăng của Chơn Tông sống vào giữa thời Liêm Thương, một trong 24 đệ tử xuất sắc của Thân Loan (親鸞), húy là Tín Hải (信海), hiệu là Thuận Tín Phòng (順信房), xuất thân vùng Ibaraki-ken (茨城縣). Tương truyền vì có điềm linh nghiệm rằng vị Minh Thần của Lộc Đảo (鹿島) quy y theo Thân Loan, nên Đại Cung Ty Tín Thân (信親) mới cho con mình là Tín Quảng (信廣) xuất gia theo Thân Loan. Rồi sau đó, ông đến làm trú trì Vô Lượng Thọ Tự (無量壽寺) ở Điểu Sài (鳥梄). Sau khi Thân Loan qua đời, ông truyền xướng cao phong của thầy mình ở các địa phương phía đông, và cùng với môn đồ Cao Điền (高田) duy trì giáo đoàn. Trước tác của ông có Hạ Dã Duyên Khởi (下野緣起) 2 quyển.
thuận xả thọ nghiệp
Upekśā-vedaniya-karma (S).
thuận đạo
5357東晉僧。籍貫不詳。誓弘教法,以慈忍濟度眾生,徧歷全國,誨人不倦。東晉咸安二年(372),奉前秦苻堅之命,與使者齎佛像、經典至高句麗平壤城。該國君臣奉迎於省門,頗以禮敬重之。然師以機緣未熟,不能宣暢佛法。四年後,神僧阿道自魏至,高句麗始於省門創省門寺(後稱興國寺),順道即居此;並創伊弗蘭寺(後稱興福寺),令阿道居之;此爲朝鮮佛教之始。〔三國史記卷十八、東國通鑑卷四、東史會綱卷一、海東高僧傳卷一、三國遺事卷三、朝鮮禪教考、朝鮮佛教通史卷上〕
; To confirm the doctrine.
thuận ưu thọ nghiệp
Daurmanasya-vedaniya-karma (S).
thuật
1) Kỹ thuật: Way or method. 2) Nghệ thuật: Art. 3) Thuật lại: To relate—To tell—To recount—To narrate—Narration.
thuật bà ca
Subhakara (skt)—Một ngư dân đã bị lửa ái dục của chính mình đốt cháy rụi—A fisherman who was burnt up by his own sexual love.
thuật ngữ
Technical terms.
thuật sĩ
Magician, prestidigitator.
thuốc
Agadas (P).
; Bhaisajya (S). Medecine, medicament, remedy. Also dược.
thuốc giải độc
Antidote.
thuốc không quý tiện, lành bịnh là thuốc hay; pháp môn không cao thấp, an lạc là pháp môn đúng
A drug is not good or bad in itself, if it can cure a disease, it is a good medicine; there are no such low-high Dharma-doors, the one which makes your life happier and more peaceful, that's the right dharma-door for you.
thuốc mạnh
Strong medicine.
thuốc tiên
Efficacious medicine.
thuốc trường sanh
Pills of immortality.
thuộc
1) Thuộc lòng: To memorize—To know by heart—To know thoroughly. 2) Thuộc về: To belong to.
thuộc chủ tương ưng ngôn luận
瑜伽十六卷三頁云:屬主相應言論者:謂諸言論、配屬於主,方解其相;非不屬主。如說生時,此誰之生?待所屬主,起此言論。謂色之生,受想行識之生。非說色時、此誰之色、待所屬主、起此言論。如生,如是老、住、無常等、心不相應行,隨其所應,盡當知。是名屬主相應言論。若於是處,起此言論;當知此處、是假相有。
Thuộc nhĩ 屬耳
[ja] ゾクニ zokuni ||| To listen with full attention. 〔攝大乘論 T 1593.31.114b29〕 => Lắng nghe với sự chú tâm.
thuộc về nghiệp
Karmic.
thuở nay
Up to now.
thuở trước
Former times—Formerly.
thuở ấy
At that time.
thuợng phẩm hạ sanh
The lowest rank or quality of the highest stage in the Pure Land.
Thuỳ
垂; C: chuí; J: sui;|Có các nghĩa sau: 1. Treo lơ lững, rủ xuống, cúi xuống, hạ xuống, lòng thòng; 2. Chùng xuống, nhỏ từng giọt, chảy từng giọt; 3. Để lại, di tặng, ban cho; 4. Đến sát gần; kết thúc; 5. Chiếu cố; có thiện chí.
thuỳ miên
Xem Thụy miên.
Thuỳ miên 睡眠
[ja] スイミン suimin ||| (Skt. middha; Pali middha) 'drowsiness.' (1) The mental function of the mind to darken, or become drowsy. One of the 'undetermined (nature) elements' 不定地法 in the Abhidharma-kośa-bhāsya. (2) To sleep. (3) Delusion. (stīna-middha) => (s: middha; p: middha) 'uể oải, thờ thẩn'. 1. Tâm sở buồn phiền, hay trở nên đờ đẫn. Là một trong các bất định địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. 2. Ngủ. 3. Ảo giác (s: stīna-middha)
thuỳ phát
3129謂頭髮垂下兩肩。於佛菩薩等之圖像中,一般呈現菩薩形者,除頂上之髻外,常有餘髮垂下兩肩,如大日經卷一具緣品所述之不動明王,其形像爲:頭髮垂於左肩,一目諦觀,現威怒之身,具有猛焰。然出家剃髮,依律典中規定,以蓄留二指長度爲限,罕有蓄長髮者。(參閱「剃髮」3727)
thuỳ thị
3128指垂說示眾。又作垂語、垂說、示眾。於禪林,師家對弟子大眾開示宗要,稱爲垂示。又於說示法要時,先以簡明語句標示所說之要諦,亦稱垂示,如碧巖錄、從容錄等,均先垂示,次揭本則,後再評唱。又於垂示之後,師家接受學人之請問,爲彼等解疑釋難,稱爲索語、索話,或稱鉤語、鉤話。〔六祖大師法寶壇經定慧品、臨濟義玄禪師語錄、禪林寶訓卷三、禪林象器箋垂說門〕
thuỳ thủ
3128禪林中,師家接化學人時,立於「向下門」(即第二義門),親親切切,殷殷懇懇,加以指導,一如父母垂下雙手撫愛幼兒,故稱垂手。此類用語極多,如入鄽垂手、垂手爲人等,皆用以形容師家斟酌學人根機之高下,特以第二義門權巧接引之情形。與垂手相對者,稱爲不垂手,謂心中僅有「上求菩提」之意,而無「下化眾生」之願。故若將不垂手與垂手二詞並稱爲「垂手不垂手」,即成爲「出世不出世」之代用語。此外,僧職之東西兩班位,亦稱垂手位;蓋以兩班位於住持之左右兩側,猶如住持下垂之雙手。〔碧巖錄第二則、第四十三則〕
thuỳ tích
3128謂由佛菩薩之本體示現種種身以濟度眾生。此種思想係源於法華經之「本迹二門」,與大日經之「本地加持」說,如法華經壽量品、大日經胎藏界四重曼陀羅所說即爲此一思想之具現。蓋佛三身中之法身、報身爲本地,化身爲垂迹。以垂而言,如大日經胎藏界第四重外金剛院所攝之印度古來諸天諸神,皆是大日如來之垂迹。 另如日本佛教特別強調此類「本地垂迹」之思想;蓋佛教初傳入日本時,爲與日本傳統固有之神道信仰相融合,遂有行基、最澄、空海等諸高僧提倡此一思想,謂佛教之佛、菩薩乃「本地」佛,而日本神道之諸神則爲「垂迹」佛,此即日本佛教「神佛習合」思想之濫觴。此一情形,與佛教初傳我國時相同。彼時佛教爲避免受固有的儒家思想排斥,遂有部分高僧,將儒釋兩家之基本信條相融互攝,如以「五戒」配合仁義禮智信等「五常」。 注維摩詰經序(大三八‧三二七上):「然幽關難啟,聖應不同,非本無以垂迹,非迹無以顯本,本迹雖殊,而不思議一也。」(參閱「本地垂迹」1956)
thuỳ tích mĩ thuật
3129以佛教「本地垂迹」說爲基礎之日本美術。日本原無偶像崇拜,然受佛教影響,神社亦漸供有神像。故自平安初期以來,權現、明神等名稱極爲普遍。如懸佛稱爲御正體,即以說明本地佛爲主要目的。繪畫方面,有日本化之曼荼羅,如春日神社若宮曼荼羅、日吉山王曼荼羅。此外,神社建築亦受佛寺影響,由簡單趨向複雜,如祇園造、權現造等。(參閱「權現」6893)
Thuỳ 垂
[ja] スイ sui ||| (1) To suspend, hang down, droop, lower, dangle. (2) Sag, drip, trickle. (3) Leave behind, give, confer. (4) Be on the verge of; be close to. (5) To condescend; be favorable to. => Có các nghĩa sau: 1. Treo lơ lững, rủ xuống, cúi xuống, hạ xuống, lòng thòng. 2. Chùng xuống, nhỏ từng giọt, chảy từng giọt. 3. Để lại, di tặng, ban cho 4. Đến sát gần; kết thúc. 5. Chiếu cố; có thiện chí.
Thuỳ 睡
[ja] スイ sui ||| To sleep, to doze.(śayita) => Ngủ, ngủ lơ mơ (s: śayita)
thuỵ
5525梵語 nimitta,巴利語同。全稱瑞相(梵 pūrva-nimitta,巴 pubba-nimitta)。又稱瑞應、奇瑞、祥瑞、靈瑞。即顯現嘉祥之兆。佛陀誕生、成道、說法及涅槃等皆顯現種種之奇瑞,以令眾生生起崇仰佛陀、愛樂正法之心。現瑞之記事,散見大小乘諸經。如普曜經卷二之三十二瑞相品載,佛陀誕生之當夜有三十二瑞現;過去現在因果經卷一載,佛陀誕生七日之後,現出五祥瑞等。又如佛說法華經時,先說無量義經,其聽眾爲聞後說的法華經而不離座,時見釋尊入無量義處三昧,現出說法瑞、入定瑞、雨花瑞、地動瑞、眾喜瑞、放光瑞等六種瑞相(法華六瑞)。說無量壽經時,釋尊入大寂定,特現出如來之五德(五德現瑞)。 現出瑞相時,大地搖動者,有「六種震動」之說,又作六變震動、六返震動、六震、六動等。據新譯華嚴經卷十六,從搖動之形狀與其時所發之音聲來分,共有:動、起、涌、震、吼、擊等六種(各再細別爲三種,共爲十八種震動相)。按大品般若經卷一所載,計有東涌西沒、西涌東沒、南涌北沒、北涌南沒、邊涌中沒、中涌邊沒等六種動相。據長阿含經卷二載,佛自託胎、出生以至悟道、說法、涅槃等,皆現各種奇瑞之相。除上述之外,歷史上亦不乏有道高僧或正信之人,於誕生或臨終時,現出各種瑞兆者。〔長阿含卷三遊行經、法華經序品、無量壽經卷上、法華經義記卷一〕
Thuỵ Châu Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục 瑞州洞山良价禪師語録
[ja] ズイシュウドウサンリョウガイゼンシゴロク Zuishū tōzan ryōkai zenshi goroku ||| Ruizhou Zongshan Liangjie chanshi yulu; 1 fasc., T 1986b.47.519b-526b. Abbreviated as Zongshan Liangjie chanshi yulu 洞山良价禪師語録. => (c: Ruizhou Zongshan Liangjie chanshi yulu); 1 quyển. Viết tắt là Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục洞山良价禪師語録.
thuỵ cầm phái
5526(Shwegyin)緬甸上座部佛教派別。又譯作瑞景派。於施泊王(Thibaw, 1878~1885 在位)時期與善法派分裂而獨立。西元一八五九年由瑞琴法師(原名吳扎伽拉,1822~1893)得敏東王(Mindon)之支持,創建於瑞琴地區。總部設於曼德勒,主要分上緬甸與下緬甸兩大派。組織嚴密,比丘須隨身攜帶證書,每一寺廟總寺皆有世代相傳之比丘名冊,每年呈報中央總部。中央最高權力機構爲高僧委員會,設主席一人,另分設戒律、公共關係、情報、接待等部門,下設教派中心、區、總寺等各級機構。戒律較嚴,須度過七個雨季安居方能成爲比丘,不得接受錢財,不許穿用化學顏料所染之僧衣,過午不許嚼檳榔,不准吸煙。反對拜佛像,主張尊崇佛陀之精神,儀式上不敲打法器。其傳承主要代表有吳尼耶那、吳埃伽達摩等。
thuỵ kim
5525(1904~ )福建晉江人,俗姓蔡。字寂聲,號誰真。十二歲於南安小雪峰寺,從轉敬老和尚出家,年二十受具足戒於莆田梅峰光孝寺。遍參太虛、常惺、興慈、弘一諸師。並曾入安徽迎江佛學院,爲常惺之入室弟子。後執教於鷺江初期閩南佛學院。曾與覺三創辦南山小學於漳州南山寺,開閩南佛教界創辦國民教育之風氣。民國十九年(1930)創辦養正院於南普陀寺。其後嘗與慧雲、廣洽諸師刊行佛教公論雜誌,並任小雪峰寺住持及南安佛教會會長。民國二十九年以後,南渡馬尼拉任菲律賓信願、華藏二寺住持多年,熱心於弘法、慈濟事業,參與創辦能仁學校,並受請赴韓傳授菩薩戒。四十一年成立世界佛教徒聯誼會菲律賓分會,並出任會長。對菲律賓佛教貢獻頗多。
thuỵ miên
5538梵語 middha。略稱眠。心所(心之作用)之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。由於心中本有之闇昧而於憊懶、疏忽之狀態下所具有之本性。客觀觀察一睡眠者,而知其時彼人觀察外界對象之作用已消失,與覺醒時之心相反。其時意識闇昧模糊,但與失神、無意識之狀況有所別。因睡眠可恢復身心精力與消除疲勞,故可視爲與「休息」同義。俱舍宗將心所(四十六種)分爲六類,睡眠即屬「不定地法」之一。唯識宗亦將心所(五十一種)分爲六類,睡眠屬於「不定法」之一。此外,染有煩惱之睡眠可令心中闇昧,障礙善心;其與「大煩惱地法」中之惛沈,合稱「惛眠」,爲五蓋之一,稱惛眠蓋、睡眠蓋;亦爲十纏之一。廣義而言,與「煩惱」同義。〔大毘婆沙論卷四十八、俱舍論卷二十一、成唯識論卷七、法蘊足論卷六〕
; Thīnamiddha (P), Dullness and drowsiness Hôn miên cái, Hôn trầm dã dượiBiếng nhác, mê ngủ, hôn trầm.
thuỵ miên cái
5538梵語 styāna-middha-āvaraṇa。五蓋之一。又作惛沈睡眠蓋、惛眠蓋。蓋,煩惱之異名。睡眠蓋,即睡眠與惛沈之並稱。謂眾生爲其睡眠煩惱或惛沈覆心識,不能進於善法,反而沈淪三界,無有出期,故稱爲蓋。〔雜阿含經卷二十六、大毘婆沙論卷四十八〕
thuỵ miên dục
5538五欲之一,又爲欲界三欲之一。謂凡夫不圖精進,怠惰放縱,唯耽睡眠,溺於樂著。〔大明三藏法數卷二十四〕
thuỵ nham
5528唐代僧。爲青原行思法系(南宗禪)下之第六世。閩越(福建)人,俗姓許。法名師彥。自幼出家,持戒嚴謹。初禮頭全奯禪師,未久居於台州(浙江)瑞巖院,坐磐石終日如愚,每自喚「主人公」,復自應諾,乃曰:「惺惺著!他後莫受人謾!」其異迹頗多。武肅王錢氏嘗歸依之。示寂後建塔於本山,諡號「空照禪師」。〔宋高僧傳卷十三、景德傳燈錄卷十七、聯燈會要卷二十三、五燈會元卷七〕
Thuỵ Nham Sư Ngạn
瑞巖師彥; C: ruìyán shīyàn; J: zuigan shigen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát.|Sư họ Hứa, quê ở Mân Việt, xuất gia từ nhỏ. Sư đến tham vấn Nham Ðầu, hỏi: »Thế nào là lí bản thường?« Nham Ðầu đáp: »Ðộng.« Sư thưa: »Khi động thế nào?« Nham Ðầu đáp: »Chẳng phải lí bản thường.« Sư trầm ngâm dây lâu. Nham Ðầu bảo: »Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, chẳng chấp nhận tức hằng chìm sinh tử.« Nghe câu này, Sư lĩnh hội.|Sư đến Ðan Khưu, suốt ngày ngồi trên bàn đá làm như kẻ ngu, hàng ngày tự gọi: »Ông chủ!« Rồi tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Tỉnh táo nhé!« Tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Mai kia mốt nọ đừng để người gạt!« Rồi tự đáp: »Dạ, dạ« (Vô môn quan, công án 12).|Một hôm, có bà lão đến lễ Sư. Sư bảo: »Bà về mau cứu mấy ngàn sinh mệnh.« Bà lão về đến nhà, thấy con dâu xách một giỏ ốc từ ngoài đồng mang về. Bà liền đem xuống hồ thả hết.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.
thuỵ nham tự
5528位於日本宮城縣宮城郡松島町。屬日本臨濟宗寺。山號青龍山。舊稱圓福寺。通稱松島寺。圓仁於承和五年(838)創建,時爲天台宗寺。其後北條時賴加以改建。至伊達政宗,改稱爲菩提寺,爲松島之名勝。其本堂、庫裡、五大堂等,均爲華麗之桃山建築。
thuỵ tiên
5526宋代僧。會稽(浙江紹興)人,生卒年與俗姓均不詳。弱冠出家,試經得度。初習律藏,其次探研天台,深領三觀十乘之旨。後又轉慕教外別傳之旨,專究諸法從何生、父母未生前之面目等,遂登投子山謁廣鑑禪師,言下有省,乃嗣其法。開法於紹興慈氏院,後終於本山。〔大明高僧傳卷七〕
thuỵ tượng
5526諸佛菩薩之造像大多祥瑞圓滿,稱爲瑞像。如大唐西域記卷五載,世尊成正覺後,上昇忉利天宮爲母說法,三月不還,優填王朝暮思慕,乃請尊者沒特伽羅子以神通力接工人上天宮,親睹世尊妙相,而以旃檀雕刻之,是爲歷史上佛像雕刻之始。〔增一阿含經卷二十八〕
thuỵ đức cung phật tháp
5527(Shwe Dagon)位於緬甸仰光市(Rangoon)北部之塔。又稱仰光大金塔、大金瓦寺。塔名含有黃金瑞塔之意,爲緬甸境內最大之塔。根據緬甸佛教史所記載,嗒拉因(Talaing)出身之兩兄弟提謂(巴 Tapussa)、波利(巴 Bhallika)於佛陀成道之初,蒙受佛陀教化。其後,佛陀賜以佛髮八根,且囑咐其必置於保存過去三佛遺物之先哥多羅(Seingouttara)之山丘。兩兄弟歸國之後,經底斤(Deckina)等諸天之指示,乃確定山丘之位置。復藉國人之支援,而創建一塔以安置佛髮,此即該塔之濫觴。其後,蒲甘王朝(849~1287)又累有增修,至庇古王頻耶宇(Binngau, 1353~1385 在位)於西元一三六二年重修之,高度由九公尺增至二十多公尺。至庇古女王信修浮(Shinsawbu, 1453~1472 在位)退位之後,又增修該塔,以黃金鑄造塔頂,周圍建築約十五公尺高之露臺,闊達二百七十餘公尺,護以石欄,安裝石磴,四周遍植棕櫚。至後代,復迭有增建。 該塔依山丘之自然地形而分築兩段,上段約五十公尺,每邊中央爲階梯,下方置有巨獅子像一對。臺階上有屋蓋,其內之橫樑及板壁皆繪有佛傳、佛弟子傳、惡魔等圖像。上段中央建一大塔,旁有四佛殿、無數小塔、小佛屋、高柱(tagundaing)、鐘、墳墓等。全塔高約一一一公尺,塔身及傘蓋全飾以金箔,塔頂爲黃金鑄造,飾以鑽石五千餘顆、寶石千餘顆,四周懸掛金鈴、銀鈴,夕照及月夜之下,尤爲絢爛。四佛殿內皆置有巨型鍍金釋迦坐像,其周圍另有大小數百尊石膏及磚造、木造之釋迦立像、坐像、臥像。塔之西北角有一古鐘,重二十五噸,乃新固王於一七七八年鑄造,緬甸人視之爲幸福之象徵。大塔南方有泰國國王爲其人民所建之休憩所。該塔不僅爲緬甸佛教中心,每年亦有無數朝禮者來自泰國、錫蘭、高棉等地。二次大戰中(一九四三年二月)該塔曾遭受轟炸。〔G.E. Harvey: History of Burma; Marray:Handbook India Burma and Ceylon、印度古佛國遊記(李俊承)〕
thuỵ ứng hoa
5528請參閱 太子瑞應本起經 [1]梵語 udumbara。音譯作優曇波羅。又作優曇華、優曇花。爲佛書中常提及之花。此花之出現,爲祥瑞與希有之象徵。法華文句卷四上(大三四‧四九中):「優曇花者,此言靈瑞。三千年一現,現則金輪王出。」(參閱「優曇跋羅華」6413)
thuỵ ứng san truyện
5527 請參閱 太子瑞應本起經 [1]全一卷。唐代少康、文諗共撰。收於大正藏第五十一冊。全稱往生西方淨土瑞應刪傳。別名西方往生瑞應傳。略稱瑞應傳。本書集錄自東晉慧遠至唐代邵願保等四十八人願生西方之事蹟。
Thuỷ
水; C: shuĭ; J: sui;|Nước, sông, biển hay đại dương. Một trong Tứ đại (四大).
thuỷ ba
1488以水、波雖有二名而實為一體,比喻物之不一不異。以靜態而言,名之為水;以動態而言,名之為波。故知水與波,所異者,僅在名稱與狀態而已,其本體始終不變。
thuỷ bình
1491梵語 kuṇdikā。音譯作軍持。又作澡罐。貯水之器具。為比丘隨身攜行十八物之一。可分淨、觸二種,其貯淨水者稱為淨瓶,須淨手方能持之,必置於淨處,觸者則為便利之所須,隨觸手執用,必置於觸處。此外,為便於攜行,乃有瓶袋之制。〔南海寄歸內法傳卷一、禪林象器箋器物門〕(參閱「瓶」5534)
thuỷ chung lưỡng ích
3140係始益與終益之並稱。指念佛行者於現生、往生所蒙受之特殊利益。始益者,於此土得滅罪、生善、攝取不捨等利益;終益者,乃往生淨土,於彼土常見彌陀之益。蓋依諸善萬行雖亦得往生,終較念佛往生爲迂迴,故道綽於安樂集中特別舉揚念佛之益。〔選擇本願念佛集〕
thuỷ chung tâm yếu
3139全一卷。唐朝荊溪湛然述。收於卍續藏第一○○冊。內容闡論天台宗之教義要旨,如三諦(真諦、俗諦、中諦)、三觀(空觀、假觀、中觀)、三惑(見思惑、塵沙惑、無明惑)、三智(一切智、道種智、一切種智)、三德(般若德、解脫德、法身德)等。謂三諦乃天然自存之性德,眾生若於三諦產生迷執,必生起三惑;其對治之法,可依三觀而破除三惑,破除三惑以成就三智,復依三智而證得三德。其文甚短,然雖僅寥寥數語,亦足以窺知天台圓宗之綱要。 天台大師智顗一生之教學體系,係將「一心三觀」之內容、作用、成就等重加安排,而成爲天台宗特有之修行理論。然由於牽涉過多,體系龐雜,學人不易理出頭緒。湛然乃擷取其精粹,撰成本書。書名之「始」,指圓觀之起,即作用;「終」,指圓觀之終,即成就。前者爲因,後者爲果。然若自天台圓觀之真意而言,此「始終」一詞,實指貫穿、總攝整個圓觀過程而言,非僅指起始與終了之二端。註釋書有:淨岳之科文、從義之註、慈等之姆訓、妙立之大義、光謙之異解、本純之箋註等,均各一卷。
thuỷ cát tường bồ tát
1487水吉祥,梵名 Daka-śrī。又稱大水吉祥菩薩。為密教現圖胎藏界曼荼羅觀音院外列上方(東)第五位之尊。密號潤生金剛,種子為逘(sa)字,三昧耶形為蓮花。其形像,身呈白黃色,左手持未開蓮花,右手結施無畏印,坐於赤蓮花上,左右各為燒香供養使者與塗香供養使者。〔不空羂索神變真言經卷九、卷十五、尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷下、大日經疏卷六、卷十六〕
thuỷ cốc hạnh chính
1488(1928~ )日本佛教學者。三重縣人。龍谷大學畢業。現任佛教大學校長。著有印度佛教史等書。
thuỷ diệu
1493梵名 Budha。七曜之一,九曜之一。又作水星、滴星、水大曜、水精。於密教中,位列胎藏現圖曼荼羅外院西方,其形像為二手合掌,交腳而坐。另於胎藏圖像中,左手持瓶,右手持數珠,半跏坐於蓮花上。又梵天火羅九曜圖中,水曜為婦人形,頭戴猴冠,二手分執紙與筆。北斗曼荼羅中,水曜位於內院北方。大日經疏卷四則以深祕解釋執曜,而以水曜配曼荼羅右方之蓮華部。〔北斗護摩法B宿曜儀軌〕
thuỷ dã hoằng nguyên
1488(1901~ )日本佛教學者。昭和三年(1928)於東京大學文學部印度哲學科畢業。昭和十五年始,歷任駒澤大學教授、東京大學教授、慶應義塾大學講師、曹洞宗天祐寺住持。一九八二年出任駒澤大學總長。主要著作有原始佛教、巴利語文法、巴利語辭典、南傳大藏經總索引三冊、以巴利佛教為中心之佛教心識論、釋尊之生涯、修證義的佛教等;譯書有經集、清淨道論等。
thuỷ dụ bồ tát thập chủng thiện pháp
1489據除蓋障菩薩所問經卷六載,菩薩惑業清淨,身心寂靜,能以法水普濟群生,令其善根增長,罪垢蕩除,離生死之熱惱,息貪愛之枯渴,以成就菩提,超登覺岸;猶如水之淨德,本體清淨,澄湛凝寂,尤能滋長萬物,滌除眾垢,炎熱遇之而清涼,枯渴飲之而沃潤,故取之為譬喻。即: (一)流潤赴下,謂菩薩常行平等之慈,柔和善順,能以清淨法水調熟眾生,普得沾溉,令其一切善根悉皆增長;譬如大水,徧行地中,流潤於下,一切萌芽無不滋長。(二)植善法種,菩薩廣植一切菩提種子,常以定水灌溉,令得增長而成妙果;譬如大地種植一切藥樹穀果,由水滋溉增長,然後繁茂而結實。(三)信樂歡喜,菩薩自性信順三寶,樂求出世間法,因心清淨,即生歡喜,復能令一切有情亦皆信樂而生歡喜;譬如大水,自性流潤,復能潤物。(四)壞煩惱根,菩薩以禪定之水浸漬一切有情煩惱根種,悉令敗壞,無復續生;譬如大水,浸漬大地,而草木諸根悉皆壞爛。(五)自體無雜清淨,菩薩為離貪、瞋、癡等雜染之法,守護諸根,悉令清淨;譬如大水,其源不雜,而本清淨。(六)息煩惱熱,菩薩以清涼法水悉除一切有情煩惱炎熱逼迫之苦;譬如夏月,地極炎蒸,人亦煩熱,若得水除解,悉皆清涼。(七)止欲渴愛,菩薩因一切有情於諸塵境而生愛著,如渴而思飲漿水,為渴愛所逼,故為其開示,令其於欲塵之境不生愛著;譬如清涼之水,能除一切焦渴之苦。(八)深廣無涯,菩薩由修一切善法,得勝智積集,深廣無涯,諸魔外道皆不能測其邊際;譬如大水,眾流會合,既深且廣,無能知其涯涘。(九)高下充滿,菩薩以大悲心,於一切有情,隨其根器高下方便開示,悉使獲益,充溢滿足,而無損惱;譬如大水,流注一切處,隨其高下,悉能充足而無所損害。(十)息諸塵坋,菩薩以定慧之水普潤一切有情,令其去粗惡之習,而發柔軟之心,永息煩惱之塵,同入清淨之境;譬如大水,流潤一切塵坋粗惡地方,悉使潤澤而復清淨。
thuỷ dụ chân tâm thập nghĩa
1489據宗鏡錄卷七載,眾生真如之心本自清淨,無有垢染,湛然不動,不生亦不滅;猶如水之淨性,本體清淨,澄湛凝寂,故取之為譬喻。即: (一)水體澄清,謂眾生真如之心,自性清淨,圓湛明徹,本來無染;猶如水之澄清。(二)得泥成濁,謂眾生真如之心,性雖清淨,但為無明所染污,由覺成不覺;猶如水本清淨,得泥成濁。(三)雖濁不失淨性,謂眾生真如之心,雖為無明所染,然清淨本然之性,初不變異;猶如水雖混濁,然其淨性則不失。(四)泥澄淨現,謂眾生真如之心,為無明所覆,其體昏昧,若能除去無明之惑,則本然清淨之性自然澄現;猶如水之混濁,澄去其泥,則淨體自現。(五)遇冷成冰,而有硬用。謂眾生真如之心,與無明合時,則能隨諸染緣,變造九界之法,而成本識(第八識)之用;猶如水之遇冷成冰,而有堅硬之用。(六)雖成硬用,不失濡性。謂眾生真如之心,雖隨無明之緣起諸染用,然即事恒真,其不變之性未始不存;猶如水雖成堅硬之用,然其濡性未嘗有失。(七)暖融成濡,謂眾生真如之心,雖隨無明之緣而起染用,然無明若盡,則本識還淨;猶如水之成冰,遇暖而融,濡性自成。(八)隨風波動,不改靜性。謂眾生真如之心,隨無明風而波浪起滅,然其不生不滅之性則自然不變;猶如水之隨風波動,而靜性不改。(九)高下流注,不動自性。謂眾生真如之心,隨緣流注,而性常湛然不動;猶如水隨地高下,排引流注,而不動自性。(十)隨器方圓,不失自性。謂眾生真如之心,普遍於諸有為法,而自性不失;猶如水之隨器方圓,而不失自性。
thuỷ giác
3140爲「本覺」之對稱。大乘起信論謂阿賴耶識有覺、不覺二義,覺又有始覺、本覺之別。其中,經過後天之修習,漸次斷破無始以來之妄染,而覺知先天之心源,稱爲始覺,亦即發心修行,次第生起斷惑之智,斷破無明,歸返本覺清淨之體性。蓋大乘認爲人心本來寂靜不動,無生無滅而清淨無染,稱爲本覺(本來覺知之離念心體);後由無明風動,產生世俗之意識活動,從而有世間種種差別,此稱不覺;及至受聞佛法,啟發本覺,薰習不覺,並與本覺融合爲一,即稱始覺。 大乘起信論又將始覺分爲四位,並以之配合大乘菩薩修行之各種階段,即:(一)不覺,謂十信位(外凡位)之人雖已覺知惡業所招致之苦果,而不再造作身、口之惡,然尚未生起斷惑之智。(二)相似覺,謂二乘之人及三賢位之菩薩雖已遠離我執,覺知「我空」之理,而斷滅貪、瞋、見、愛等煩惱,然尚未捨離法執分別之念。(三)隨分覺,謂初地以上至第九地之菩薩已遠離法執之念,了知一切諸法唯心所現;即隨修證境地之轉昇而逐地增悟一分對真如法身之理的覺知。(四)究竟覺,謂第十地之菩薩既已滿足因行,以相應於一念之慧覺知心之初起,並遠離微細之念,透見全心性。 於密教教義,依據釋摩訶衍論,亦將「覺性」分爲四種,其中前二種即本覺與始覺,復各就染、淨之別而分爲清淨本覺、染淨本覺、清淨始覺、染淨始覺等,並一一加以闡論,其論旨意趣異於上記大乘起信論之說。又密教稱顯教爲始覺宗,而稱自宗爲本覺宗。蓋密教認爲顯教須歷經多劫修行,方能覺悟本真,遮遣迷情,而歸於無相真理之故。〔釋摩訶衍論卷三、大乘起信論義記卷中本〕(參閱「本覺」1979)
Thuỷ giác 始覺
[ja] シガク shigaku ||| "initial enlightenment." The first phenomenal actualization of enlightenment in this lifetime, as contrasted to pen-chiao 本覺 "original enlightenment" which is the basic Buddha-nature of sentient beings. The concepts of initial enlightenment and original enlightenment are elucidated at length in the Awakening of Mahāyāna Faith 大乘起信論. => Trạng thái giác ngộ đầu tiên đạt được trong đời nầy, ngược với bản giác (c: 本覺c: pen-chiao; e: original enlightenment), là Phật tính bản hữu của mọi chúng sinh. Khái niệm về Thuỷ giác và Bản giác được giải thích chi tiết trong luận Đại thừa khởi tín.
thuỷ giáo
3139即大乘始教,有大乘初門之意。爲華嚴宗所立五教(小乘教、大乘始教、大乘終教、頓教、圓教)判釋中之第二。又作分教、生教、權教。此教可分空、相二門,即:(一)空始教,爲滅除有所得之執著,而說一切皆空,相當於三論宗之教義。(二)相始教,廣分別諸法之性相,以事理未融而說五性各別,相當於法相宗之教義。華嚴宗三祖法藏乃隨宜此空、相二門,用以闡釋始教,係融合解深密經之第二、第三時教而立者。 據華嚴經探玄記卷一載,解深密經中所說第二時、第三時之教,皆顯示始教教義;另據華嚴五教章卷一載,第二時之教顯示始教教義,第三時之教顯示終教教義。蓋彼第二時教闡論空義,空爲大乘之初門,第三時教雖未說空義,卻肯定說三乘,而未顯一極,故共得初教之名。又此二時之教俱不許定性二乘成佛,故亦稱分教。 以華嚴宗之始教與天台宗藏、通、別、圓四教中之通教相較,二者皆依般若說三乘通入。其相異之處,有:(一)通教說六識,始教說八識。(二)通教主張三乘共十地,始教說不共之十地。(三)始教論釋始門、終門,又論法相差別、迴心與直進、界外變易、佛果常住等,通教則未論及該類義理。(參閱「五教十宗」1146)
thuỷ giới
1488<一>四大中水大之別名。水大以濕潤為性,通一切物質濕性之部分,故稱水界。具能攝引物質之用。〔中阿含卷四十二分別六界經、俱舍論卷一〕 <二>結界中四種自然界之一。與水之深淺無關,而以水常流之處為界。如於船上布薩下歼,須離陸地,而不得繫著於岸上或水中之樹根等。(參閱「結界」5181)
thuỷ hoả định
1486水定與火定。於水得自在之禪定,稱為水定;由自身出火之禪定,稱為火定。法苑珠林載有後梁南襄陽景空寺僧法聰入水火定一事。
thuỷ hành nhân
3139修習佛道之時日尚淺,稱爲初修業;此等初迴心懺悔,勤習佛法之修行者,即稱始行人。至於進入佛道日久所積累之修行,則稱久修業;此等修行者,即稱久行人。
thuỷ hữu kiến lập huân
3139爲「無始自然薰」之對稱。又稱始有薰。謂依修行外緣之力,顯現本有之因果,以薰習而起淨法。據釋摩訶衍論卷五載,因修行之力而有因、果之二位者,稱始有薰。〔釋摩訶衍論記卷五〕
thuỷ khí
1492即灑水器。為密教於護摩之修法或作灌頂法時,盛裝灑水之器物。
thuỷ luân
1492梵語 jala-maṇḍala。三輪之一。佛教之宇宙觀中,謂器世界成立之初,由下至上,依次由風、水、金等三輪固持之。水輪即居於風輪之上、金輪之下。或謂其深十一億二萬由旬,廣十二億三千四百五十由旬,周圍三十六億一萬三百五十由旬;然有關三輪之淺深廣狹,諸經頗有異說。〔長阿含經卷十八、俱舍論卷十一〕(參閱「須彌山」5346)
thuỷ luân tam muội
1492五輪三昧之一。乃由修禪定而得之功德。水具有潤漬生長、體性柔軟等二德。修行者於地輪中,若證水輪三昧,即發諸禪種種功德,定水潤心,善根增長,即潤漬之義;由得定之故,身心濡軟,折伏高慢,隨順善法,即柔軟之義。〔次第禪門卷三上〕
thuỷ lão hạc
1487又稱水潦鶴、水白鶴、水白鷺。為珍奇難遇之鳥。依毘奈耶雜事卷四十載,有一苾芻於竹林園中說偈(大二四‧四○九下):「若人壽百歲,不見水白鶴;不如一日生,得見水白鶴。」阿難聞之,乃告彼苾芻佛世尊之說:「若人壽百歲,不了於生滅;不如一日生,得了於生滅。」彼苾芻告知其師,其師謂阿難忘失記憶,不可依信。轉喻世間之人多忘失自身之錯誤,反謂正說之教法有誤。
thuỷ lục hội
1489施餓鬼會之一。又作水陸齋、水陸道場、悲齋會。即施齋食供養水陸有情,以救拔諸鬼之法會。據釋門正統卷四載,所謂水陸者,取「諸仙致食於流水,鬼致食於淨地」之義。又因梁武帝蕭衍夜夢神僧教設水陸齋,普濟六道四生群靈,帝乃披覽經論,依阿難遇面然鬼王一事,建立平等斛食之意,製作儀文,修水陸齋於金山寺。佛祖統紀卷三十三亦出此說,以金山寺水陸會始修於梁天監四年(505)。後此儀文散佚,齋會亦告中絕。唐咸亨年中,長安法海寺道英依異人指點而得其科儀,乃於山北寺再興修設之。 宋元祐八年(1093),蘇軾作水陸法像贊十六篇,供養上下各八位,稱眉山水陸。南宋魏公史浩慕金山水陸之舊儀,於東湖月波山建四時普度大齋,並作儀文四卷,志磐復草成法界聖凡水陸勝會修齋儀軌六卷,畫繪像㡧二十六軸,大興普度之道;相對金山儀文之稱北水陸,此謂南水陸。明代雲棲祩宏亦專行此儀。清代咫觀則撰寫法界聖凡水陸大齋普利道場性相通論九卷、法界聖凡大齋法輪寶懺十卷等。〔佛 玨峎魒髐T十七、卷四十六、淨土聖賢錄卷五、釋氏稽古略卷二、禪林象器箋喪薦門〕(參閱「施餓鬼會」3831)
thuỷ lục trai nghi
1489修水陸齋之儀式或儀文。據事物紀原卷八載,梁武帝蕭衍夢僧教設水陸齋,覺而求其儀,然世無其說,於是自行撰集,於天監七年(508)修設水陸齋於金山。其修設之年代,與佛祖統紀卷三十三天監四年始修水陸齋之說有異。(參閱「水陸會」1489)
thuỷ mạt bào diệm
1488指水沫、水泡、陽焰。水沫與水泡均為虛妄而須臾破滅之物。陽焰乃曠野中飛動之風塵,於日光下視之,如見水,如見野馬,如見男女相,皆係不牢非真之物相,比喻世間法之虛假不實與人身之空幻無常。〔維摩經卷上方便品、注維摩詰經卷二〕
thuỷ mục sơn
1487位於雲南祥雲縣治之南。據大清一統志卷三七八大理府載,水目山係在雲南縣(祥雲縣)南二十五里處。大明一統志則稱「寶華山」。山上有佛剎,山頂有泉,其深難測。山上始建佛寺,係在段氏之後大理國時代(1097~1252),淨妙澄與普濟慶光二人共同為段氏而建者。山上本無泉,慶光以錫杖卓地,遂有泉湧出,故稱卓錫泉,且得水目山之名。慶光於該寺開堂弘法,歸依者頗多。至明末,楊岐宗虎丘派無住洪如(1592~1664)於該山創寶華寺,與弟子普行非相(1604~1690)相繼於此弘揚律禪,官民歸依者甚眾。至近代,水目、寶華兩寺漸凋零,海瑞(?~1920)有感於此,遂集資復修之,迄今香火猶盛。〔滇釋紀卷一至卷三、新續高僧傳卷五十九〕
Thuỷ nga
水鵝; C: shuĭé; J: suiga; |Ngỗng chúa (s: haṃsa), có khả năng rút sữa từ trong nước ra để uống.
Thuỷ nga 水鵝
[ja] スイガ suiga ||| The haṃsa goose, who, when drinking, extracts milk from water. 〔攝大乘論 T 1593.31.117b02〕 => Ngỗng chúa, có khả năng rút sữa từ trong nước ra để uống.
thuỷ nguyệt
1485<一>梵語 udaka-candra。又作水中月。大乘十喻之一,十緣生句之一。水中之月乃月之影現,並無月之實體,以此比喻諸法無自性,凡夫妄執心水中所現我我所之相,而著於諸法,實則諸法了無實體。大智度論卷六(大二五‧一○一下):「解了諸法,如幻,如焰,如水中月,(中略)如鏡中像,如化。」(參閱「十喻」470) <二>明代臨濟宗僧。常德(湖南)人,俗姓王。生卒年不詳。少習儒學,偶閱金剛般若經至「凡所有相皆是虛妄」句,若有所省。十六歲乃投古林出家,專心致志研探生死究竟之法,乃遍參諸方,後至峨眉,忽獲證琉璃三昧,乃大悟,晚見雪嶠圓信,呈證所悟,得證心印。遂結庵於雞足山弘揚祖風,題為水月庵,並以為名。一日集眾勉以法道為重,語畢,端坐而逝,世壽六十四。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕 <三>(1928~ )河北昌黎人。法名聖禾。民國五十九年(1970)於湛然寺依慧峰法師出家,同年於臨濟寺受具足戒。師覃思因明,學識豐富,曾於東方、東山、淨覺、蓮華諸佛學院及華梵佛學研究所授課。一九七九年榮獲美江大學名譽哲學博士學位。師並創刊因明雜誌。有因明之論著約七十篇散見各佛教刊物。
thuỷ nguyệt quan âm
1486請參閱 指月錄 三十三觀音之一。我國寺院所供奉之觀音塑畫像,作觀水中月影狀。或謂即胎藏界曼荼羅觀音院之水吉祥菩薩。有各種形像,據圖像鈔卷七所說,水月觀音坐於大海中之岩石上,垂左足,右足豎膝,與左膝相叉鉤,面部微仰,作思惟之相。另有三面六臂像,左三手分別持寶蓮花、金輪、孔雀尾,右三手分別持利劍、寶珠、青蓮花,身色如日光,坐於寶山上。又其圖像於尊容鈔載為,跏坐於岩石上之蓮座,左手持未開蓮花,右手結與願印,由掌中出水。〔佛像圖彙卷二〕
thuỷ nhũ
1488以水與乳之混合相融,比喻事物之和合相冥。最勝王經卷六(大一六‧四二八上):「上下和穆,猶如水乳。」(參閱「乳水」3037)
thuỷ phạn
1491指澆拌湯水之飯。又作水粥、寒粥。禪林以之供作點心。〔敕修百丈清規卷二住持日用〕
thuỷ quán
1493<一>十六觀之一。出於觀無量壽經。又作水想觀、水相觀。見冰之映徹之相,而觀想極樂國土之琉璃地,即先觀水之澄清,次起冰想,見冰之映徹而作琉璃想,觀想淨土琉璃地之內外映徹。(參閱「十六觀」396) <二>觀水之意。又稱水三昧、水輪觀。即觀身中涕、唾、便利等與水性同一,與香水海並無差別。若觀法成就,則於水得自然,能隨意於身之內外現出水,稱為水定。〔大佛頂首楞嚴經卷五〕
; 1488禪家所用之冠。長一尺餘,呈半圓筒形,前額部位附有水字之襞褶,故稱水冠。又因其形似蟬,俗稱蟬帽子,通常以黑布製成,故亦稱烏帽子。〔啟蒙隨錄、禪林象器箋服章門〕
thuỷ sinh thiên hữu ngũ chủng tướng
3139據正法念處經卷三十九載,人初生天時有五種相,即:(一)光明覆身相,謂光明覆身而身無衣物,若起羞慚之念,不欲令他天見其裸露,此念一起,他天見之,即見有衣覆身,然實無衣,此乃因念起而感之者。(二)欲見園林相,謂見天上各種事物後,生起希有之心;然於園林等處則未曾見及,故於起欲見園林之念時,則得徧爲觀賞。(三)見天女生慚相,謂見天女時,面現羞慚而未敢正視。(四)見天生疑相,謂見他天時,雖欲前近,然心生疑慮而意志不定。(五)升空生怖相,謂欲升虛空時心生怖畏,或飛不高、去不遠,或傍於城壁、依附於地。
thuỷ sám
1493唐代悟達國師以三昧水洗瘡而濯除累世冤業之懺法。又作水懺法、三昧水懺、慈悲水懺、慈悲水懺法。悟達於過去世為袁盎時,曾斬晁錯;其後十世中,袁盎轉為戒律精嚴之高僧,故晁錯累世雖思報復而無機會。後因懿宗之禮遇,師名利心起,招損其德,冤業乃乘機而入,於其膝上生人面瘡,眉目口齒俱備,每以飲食餵之,則開口吞啖,與人無異,雖遍召名醫而無效。後蒙迦諾迦尊者之助,以三昧法水洗瘡,瘡乃癒。師為啟後人懺悔之門,更作懺文三卷(慈悲水懺法,又略稱水懺),令眾生至誠懺罪,以消釋宿世冤業。〔慈悲道場水懺序〕
thuỷ sĩ
3138請參閱嫉妒新婦經 即菩薩。取其始發心之義。涅槃經疏三德指歸卷二(卍續五八‧一九六上):「菩提薩埵,(中略)安師翻爲開士、始士。」蓋菩薩於無始以來即發菩提心,精勤修習六度萬行,以救拔苦海眾生。
thuỷ tai
1487梵語 ap-saṃvartanī。大三災之一。於成、住、壞、空四劫中,壞劫之最末,火、水、風三災次第而起,以蕩盡世界。水災起於七度火災之後,自無間地獄至色界之第二禪天以下悉皆浸瀾。經此一度之水災,復起七度火災,其後更有一度之水災,及歷八次七度火災、一次七度水災之後,則起一度風災。〔俱舍論卷十二〕(參閱「三災」554)
Thuỷ thiên
水天; C: shuĭtiān; J: suiten;|Là Varuṇa trong thần thoại Ấn Độ. Là 1 vị thần lão luyện trong tín ngưỡng Vệ-đà, nhân cách hoá của Thượng đế, là đấng sáng tạo và giữ gìn vũ trụ. Sau trở thành chuá tể cuả các thần mặt trời, rồi thành thần của sông biển. Còn được dịch là Thuỷ thân (水神) và Thuỷ vương (水王). Phiên âm là Hoà luân (和輪) và Bà-lâu-na (婆樓那).
thuỷ thiên
1484梵名 Varuṇa。音譯作縛嚕拏、縛樓那、婆樓那、伐樓拿。密教十二天之一,護世八方天之一。為西方之守護神,乃龍族之王。本為古代印度婆羅門教的天空之神,河川之主,主管祭祀,維持道德,賞善罰惡。於密教胎藏現圖曼荼羅中,水天有二:(一)位於外金剛部院西門之北側,身為赤色,頭上有九龍頭(形狀似蛇),右手當胸,持輪索,左掌覆腰。或謂此乃水天后,而以頭上有七龍頭,左拳叉腰者為水天。(二)位於西門之南側,右手執劍,左手持蓮,蓮上有星。一般或疑為水曜之誤。在金剛界曼荼羅外金剛部中,水天位於北方右手持龍索,左拳安腰,身坐荷葉。一般常用之水天形像,為略本瑜伽護摩軌、十二天軌之說,水天住於水中,頭戴五龍冠,乘龜,左手持龍索,右手執劍。此外,為請雨等,以水天為本尊所修之法,稱為水天法。〔大日經卷一具緣品、卷五秘密漫荼羅品、陀羅尼集經卷十一、大雲輪請雨經卷上、兩部曼荼羅義記卷三〕(參閱「八方天」278、「十二天」331)
thuỷ thiên hậu
1484梵名 Varuṇānī。又稱龍王妃。為密教十二天中水天之后。於密教各曼荼羅中,水天與水天后、水天眷屬及妃眷屬每相混同,於胎藏現圖曼荼羅外院西門之北列有水天、水天后、水天眷屬等三位,其中水天后頭戴七蛇,右手執龍索,左拳覆腰,或謂此像為水天,而以其傍頭戴九蛇,左掌安腰者為水天后。胎藏圖像及胎藏舊圖樣則舉出后、妃二位,水天后乘摩竭魚,左手執蛇,右手持花。〔諸說不同記卷十〕
thuỷ thiên pháp
1485水天之供養法。又作水天供。即密教以水天為本尊,為請雨祈願所修之法。係依陀羅尼集經卷十一所說之水天印咒法、供養十二大威德天報恩品等而修者。
thuỷ thiên quyến thuộc
1485為密教十二天中水天之眷屬。列位於胎藏曼荼羅外院。於現圖曼荼羅中,西門之南北各有稱為水天者,侍從門南之尊者,雙手合持三股戟,跪坐圓座;侍從門北之尊者,或稱水天妃眷屬,頭戴八蛇,右手執鋒,左手持蛇索,置於腰部,交腳坐於圓座。
Thuỷ thiên 水天
[ja] スイオウ suiō ||| A translation of the Sanskrit Varuṇa; see 水天. [ja] スイジン suijin ||| A Chinese translation of the Sanskrit name of the god Varuṇa; see 水天[ja] スイテン suiten ||| The Chinese translation of "water god" which is Varuṇa in Indian mythology. One of the oldest Vedic gods, the personification of the heavens, who is the creator and preserver of the universe. He later became the lord of the sun gods, and still later became the god of the oceans and rivers. Also translated as 水紳 and 水王; transcribed as 和輪 and 婆樓那. (s: Varuṇa) Hán dịch chữ "water god", là thần Varuṇa trong thần thoại Ấn Độ. Là một vị thần lão luyện trong tín ngưỡng Vệ-đà, nhân cách hoá của Thượng đế, là đấng sáng tạo và giữ gìn vũ trụ. Sau trở thành chuá tể cuả các thần mặt trời, rồi thành thần của sông biển. Còn được dịch là Thuỷ thân 水紳 và Thuỷ vương 水王. Phiên âm là Hoà luân 和輪 và Bà-lâu-na 婆樓那.
thuỷ thiện kị
3140指人死後最初七日,其親屬爲之行追善供養之忌福。又作初(所)願忌、哭添忌。據優婆塞戒經卷五、盂蘭盆經疏卷上等載,爲亡者行追善供養,免於墮入餓鬼中,而得無量福德。〔諸回向清規卷四追忌名數之次第〕(參閱「年忌」2420)
thuỷ thoa hoa
1488魚之隱語。僧眾禁食酒肉葷腥,故特作隱語呼之。以魚游於水中,往來如梭似花,故有此稱。東坡志林:「僧謂酒為般若湯,魚為水梭花,雞為鑽籬菜。」〔書言故事水族類〕
thuỷ thuyết kệ
1492憍梵波提入於水定而涅槃時所說之偈。據大智度論卷二載,憍梵波提為舍利弗之弟子,住於天上尼利沙樹園,佛陀入滅後,摩訶迦葉為結集三藏而召請之。憍梵波提聞佛及舍利弗、摩訶目犍連俱已滅度,乃入禪定,身中出水,流至大迦葉之所,而於水中發聲說偈云(大二五‧六九上):「憍梵鉢提稽首禮,妙眾第一大德僧;聞佛滅度我隨去,如大象去象子隨。」另於阿彌陀經通贊疏卷上所載之水說偈略異,其偈云(大三七‧三三六中):「憍梵波提頭面禮,妙眾端嚴第一像;象王既去象子隨,大師入滅我亦滅。」
thuỷ thượng bào
1484比喻諸法之無常與變轉。諸法為因緣和合所成,非恆常而不變者,猶如虛而不實,瞬間消失之水上泡。〔維摩經觀眾生品〕
Thuỷ thần
水神; C: shuĭshén; J: suijin; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).
thuỷ thần
Nāgavajra (S)Xem Bà lâu na Long vương. Ở phương Tây.
Thuỷ tinh
水晶(精); C: shuĭjīng; J: suishō; S: sphaṭika. |Pha lê, là một trong bảy thứ châu báu (Thất bảo 七寶).
thuỷ tinh
1492梵語 sphaṭika。音譯頗梨、頗致迦。又作白珠、水晶。增廣本草綱目卷八舉之,以其晶瑩如水,堅硬如玉,故又稱水玉。然慧琳音義則謂頗梨古譯水精為非,舉出頗梨有紫、白、紅、碧等色,瑩淨通明,為寶中之極品,其中紅、碧最珍,紫、白次之。〔慧琳音義卷四、玄應音義卷六〕(參閱「頗梨」5949)
; Xem Thủy diệu.
Thuỷ tinh 水晶
[ja]スイショウ suishō ||| Crystal, which is one of the seven jewels 七寶. => (s: sphaṭika). Pha lê, là một trong bảy thứ châu báu (Thất bảo 七寶).Còn viết 水精
thuỷ trung nguyệt dụ
Udaka-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như bóng trăng dưới nước.
thuỷ trần
1492微塵之一種,較兔毛塵小七分。能於水中通行無礙,故稱為水塵。
thuỷ táng
1491四種葬法之一。又作河葬。印度之葬法有火葬、水葬、土葬、林葬四種,其中,投屍於江流,使之流沈漂散者,稱為水葬,此法至今仍為印度教徒所沿用。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷下四〕
thuỷ tưởng quán
1490觀無量壽經所說十六觀之第二。又略稱水想、水觀。行此一觀法時,先作水想,見水之清澄,繼作冰想,以冰之晶瑩剔透,乃起琉璃之想,琉璃想既成,則極樂淨土之琉璃地內外映徹,宛然現前。〔觀無量壽經義疏卷上(慧遠)、觀經定善義〕(參閱「十六觀」396)
thuỷ tịnh thực
1488為佛制五種淨食之一。比丘取用由水中漂流而來之食物,不犯戒律,稱為水淨。
Thuỷ vương
水王; C: shuĭwáng; J: suiō; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).
thuỷ yên
1491本名火珠。又作水圓、珠圓。為置於塔上九輪之頂之火焰形寶珠。俗忌火,故稱水煙。〔谷響集卷一〕
thuỷ đàn
1492密教護摩壇之一種。密教之護摩法本須在七日之中擇地、擇時、掘地、治地,灑香水而加持之,然若於急病或兵亂等災變起時,僅須灑水淨地,於一日中即可建壇,稱為水壇;又以土築壇,故亦稱土壇。此外,木壇亦行灑水加持,且無場所限制,能自由持行,如水之流動自在,故亦稱水壇。
thuỷ đại
1484梵語 ab-dhātu。為構成一切色法的四種要素之一。其性濕,能為物所攝收,故稱為水;其體寬廣,周遍於一切色法,故稱為大。〔中阿含卷七象跡喻經、大毘婆沙論卷一二七〕(參閱「六大」1251、「四大」1649)
thuỷ đầu
1492又作水看。禪林中司掌汲水、燒熱水供大眾盥洗之職稱。禪苑清規卷八(卍續一一一‧四六○上):「湯水不足、寒暖失宜,非浴主、水頭所以浣眾也。」〔五燈會元卷十六〕
thuỷ định
1488指修習水觀而得之禪定。即一心觀想水,於水得自在,能隨意使身之內外現為水。(參閱「水觀」1493)
Thuỷ 水
[ja] スイ sui ||| Water, river(s), seas or oceans. One of the four gross elements 四大. => Nước, sông, biển hay đại dương. Một trong Tứ đại四大.
thà
Better—Rather.
Thành
城; C: chéng; J: jō;|Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ; 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.
thành
Complete, finish, perfect, become.
; 1) Hoàn thành: Hoàn tất—To complete—To perfect—To finish. 2) Thành nội: Citadel—A walled town. 3) Thành thực: Sincere—Frank—Truthful—True—Real—Sincerity. 4) Thành trì: A defensive wall. 5) Trở thành: To become—To grow.
thành báu Chánh pháp
(Chánh pháp bảo thành): Chánh pháp do Phật thuyết dạy ví như thành quách xây dựng bằng các món báu.
thành bại
Win or lose—Success or failure.
thành bất nhị luận
Advayasiddhi (S) Tên một bộ luận kinh.
thành bồ đề bổ quyết
2931密教修法中,在???(ṅa)、???(ña)、???(ṇa)、???(na)、???(ma)等五字之上各加???(aṃ,暗點),並於心中作布字觀法。暗點係大空點,表示證菩提之義。作此布字觀時,以三部字輪之印加持心,其次口誦真言即可。真言為:曩莫(namaḥ,歸命)三滿多(samanta,普遍)沒馱喃(buddhānām,諸佛)三冒馱(saṃboddhā,正覺)暗(aṃ,成菩提之種子)娑嚩賀(svāhā,成就)。〔大日經字輪品、攝大儀〕(參閱「空點」3484)
; (成菩提補闕) Trong pháp tu của Mật giáo, trên 5 chữ: (ía), (ĩa), (ịa), (na), (ma) đều thêm (aô, chấm am), đồng thời quán tưởng phân bố 5 chữ ấy trong tâm hành giả. Chấm aô là chấm Đại không, biểu thị ý nghĩa chứng bồ đề. Khi quán tưởng phân bố 5 chữ trên thì dùng ấn Tự luân của 3 bộ để gia trì tâm, sau đó tụng chân ngôn. Chân ngôn là: Nẵng mạc (nama#, qui mệnh) tam mãn đa (samanta, phổ biến) một đà nẫm (buddhànà, chư Phật) tam mạo đà (saôboddhà, chính giác), ám (aô, thành bồ đề chủng tử) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu).[X. phẩm Tự luân trong kinh Đại nhật, Nhiếp đại nghi]. (xt. Không Điểm).
thành bồ đề tâm
2931略稱成菩提。即密教用以顯發一切眾生本有之大菩提心,以資自他共成菩提之印明。密教修法之際,結誦召罪、摧罪、除業障等各種印明,可滅除諸罪障,使身心清淨,堪能成就菩提;又以結誦此等印言,是為自證成佛之究竟,故有此稱。此等印明與五相成身觀互有廣略相倚共成之關係,就橫而言,成菩提心乃自證圓極之位,其所具足之功德分為五相;就豎而言,則依次第修顯而成就五相成身(通達菩提心、修菩提心、成金剛心、證金剛身、佛身圓滿)。 印契為蓮華三昧耶印,即作虛心合掌(手印的印母之一),合豎二拇指、二小指。三十卷教王經稱此印為大明印、月光印。又此印為八葉蓮華印,即以二食指、二中指、二無名指等六指開立,呈六葉之狀,另以二拇指、小指合立,呈二葉之狀;共同表示八葉開敷之心蓮。以此印安之於頭頂之左,蓋「左」方表示金剛之智,故以蓮花之理印加持之,表示顯發本有菩提心智之義。真言為:唵(oṃ,歸命)戰捺嚧多黎(candrottare,月上)三漫多婆捺羅(samantabhadra,普賢)枳羅尼(kirāni,諸作)摩訶縛日哩尼(mahāvajriṇi,如大金剛)吽(hūṃ,我)。意即「我願與諸有情共成月上之普賢,如大金剛」。〔二卷教王經卷上、金剛三密鈔卷一、諸儀軌稟承錄卷六、卷十三〕
; (成菩提心) Gọi tắt: Thành bồ đề. Chỉ cho ấn minh(ấn khế và chân ngôn) mà Mật giáo sử dụng để hiển phát tâm đại bồ đề sẵn có của tất cả chúng sinh hầu giúp mình và người đều thành bồ đề. Trong Mật giáo, lúc tu pháp, hành giả kết tụng các loại ấn minh như Triệu tội, Tồi tội, Trừ nghiệp chướng... có năng lực diệt trừ các tội chướng, làm cho thân tâm thanh tịnh thì mới có thể thành tựu bồ đề. Lại vì kết tụng các loại ấn ngôn này là chỗ rốt ráo của việc tự chứng thành bồ đề nên gọi là Thành bồ đề tâm. Ấn minh này và Ngũ tướng thành thân quán có sự quan hệ hỗ tương, nương tựa lẫn nhau, thành tựu cho nhau. Nói theo không gian thì Thành bồ đề tâm là tự chứng quả vị viên cực (viên mãn cùng tột), công đức đầy đủ của quả vị này được chia làm 5 tướng; còn nói theo thời gian thì y cứ vào thứ tự tu hiển mà thành tựu Ngũ tướng thành thân (Thông đạt bồ đề tâm, Tu bồ đề tâm, Thành kim cương tâm, Chứng kim cương thân, Phật thân viên mãn). Ấn khế này là ấn Liên hoa tam muội da, tức chắp 2 tay để ở giữa rỗng(là một trong các ấn mẫu của Thủ ấn), 2 ngón cái, 2 ngón út chấm đầu vào nhau dựng đứng. Kinh Giáo vương (bản 30 quyển) gọi ấn này là Đại minh ấn, Nguyệt quang ấn. Ấn này cũng là ấn Bát diệp liên hoa, tức 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa, 2 ngón vô danh mở ra thẳng đứng, giống như 6 cánh hoa, còn 2 ngón cái và 2 ngón út sáp đầu vào nhau dựng đứng, giống như 2 cánh hoa. Cả 8 cánh hoa này đều tượng trưng cho 8 cánh sen tâm nở rộ. Dùng ấn này đặt ở bên trái đỉnh đầu, vì phía trái tượng trưng cho trí kim cương nên dùng lí ấn hoa sen để gia trì, biểu thị hiển phát trí của tâm bồ đề sẵn có. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) chiến nại lô đa lê (candrottare, nguyệt thượng) tam mạn đa bà nại la (samantabhadra, Phổ hiền) chỉ la ni (kèsani, chư tác) ma ha phạ nhật lí ni (mahàvajriịi, như đại kim cương) hồng (hùô, ngã). Đại ý là Tôi nguyện cùng các hữu tình đồng thành Phổ hiền trên vầng trăng, như Đại kim cương. [X. kinh Giáo vương Q.thượng (bản2 quyển); Kim cương tam mật sao Q.1; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.6, 13].
thành ca tỳ la vệ
See Kapilavastu in Pali/Sanskrit Section.
thành chiêm-ba
Campā (P).
Thành Chiếu Tự
(誠照寺, Jōshō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thành Chiếu Tự (誠照寺派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 3-2 Hon-chō (本町), Sabae-shi (鯖江市), Fukui-ken (福井縣), hiệu là Thượng Dã Sơn (上野山), thường được gọi là Chinh Giang Bản Sơn (鯖江本山), là một trong 4 ngôi chùa Tổ trung tâm ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai. Phái Thành Chiếu Tự là một trong 10 phái lớn của Chơn Tông. Khi Thân Loan bị lưu đày đến vùng Việt Tiền, thể theo lời thỉnh cầu của vị hào tộc vùng này, ông thăng tòa thuyết pháp, nên người ta dựng cho ông một ngôi nhà trú ngụ tại đây. Từ đó, Đạo Tánh (道性) cùng với con là Như Giác (如覺) mới thành lập Chơn Chiếu Tự (眞照寺), và đến năm 1438 (Vĩnh Hưởng [永享] 10) thì chùa nhận được sắc phong của Hậu Hoa Viên Thiên Hoàng (後花園天皇, Gohanazono Tennō) với tên gọi cũng như hiệu chùa như hiện tại. Cũng có thuyết cho rằng Như Giác thành lập chúng môn đồ Sabae, rồi dựng nên chùa này. Vào năm 1583 (Thiên Chánh [天正] 11), trong vụ binh hỏa do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) gây ra, chùa bị thiêu cháy tan tành, nhưng sau đó vị Tổ thứ đời thứ 14 và 15 của chùa là Tú Sơn (秀山), Tú Thành (秀誠) đã phục hưng lại được. Quần thể kiến trúc hiện tại được tái kiến vào năm 1877 (Minh Trị [明治] 10). Đến thời đại Giang Hộ, chùa phụ thuộc vào sự quản lý của Nhật Quang Luân Vương Tự (日光輪王寺), rồi đến thời Minh Trị thì bị lệ thuộc Thiên Thai Tông; nhưng sau đó chùa tách riêng ra và thành lập Phái Thành Chiếu Tự cho đến ngày nay.
thành chánh giác
See Thành Chánh Quả.
thành chánh quả
Thành chánh giác—To attain to perfect enlightenment—To become Buddha.
Thành chương 成章
[ja] ジョウショウ jōshō ||| A complete affair. => Một công việc thành tựu.
thành cát tư hãn
2921(Chinggis Khan, 1167~1227)蒙古帝國始祖。廟號太祖,原名鐵木真(Temüjin)。於十三世紀初期,統一蒙古諸部,率軍西征,版圖遠及中亞地區及南俄。據推斷,成吉思汗之前,蒙古人與其四方各民族大多信奉崇拜鬼靈之薩滿教;其當政之際,除薩滿教外,似尚有部分天主教徒與回教徒。關於元代以前蒙古人是否已接受喇嘛教,則無定論,惟成吉思汗在征服西藏全境後,必與喇嘛教有所接觸。據傳其特別尊崇西藏薩迦派第二世孔迦寧保(1092~1158),並供養三寶。或謂其中具有政治意圖,然亦可見其對喇嘛教寄予相當之關切。〔元史卷一太祖紀、新元史卷一序紀、卷二至卷三太祖紀、W. Barthold: Turkestan down to the Mongol Invasion, 1928、チンギス汗(小林高四郎,1960)〕
; (成吉思汗) Chinggi Khan (1167-1227). Thủy tổ của đế quốc Mông cổ, miếu hiệu là Thái tổ, vốn tên là Thiết mộc chân (Temümjin). Vào đầu thế kỉXIII, ông thống nhất các bộ lạc Mông cổ, rồi đem quân đi đánh các nước phía tây, bản đồ trải khắp vùng Trung á đến tận phía nam nước Nga. Theo suy đoán thì trước Thành cát tư hãn, người Mông cổ và các dân tộc chung quanh, phần lớn tôn thờ Tát mãn giáo, sùng bái quỉ linh. Lúc Thành cát tư hãn đang cầm quyền chính thì ngoài Tát mãn giáo, dường như còn có một số tín đồ Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Về việc trước đời Nguyên, người Mông cổ đã tiếp nhận Lạt ma giáo hay chưa thì không có một luận thuyết nhất định nào, nhưng điều chắc chắn là sau khi chinh phục toàn cõi Tây tạng thì hẳn nhiên Thành cát tư hãn đã có tiếp xúc với Lạt ma giáo. Theo truyền thuyết, ông đặc biệt tôn sùng ngài Khổng ca ninh bảo (1092-1158) thuộc đời thứ 2 của phái Tát ca, Tây tạng, đồng thời cúng dường Tam bảo. Có thuyết cho rằng điều đó mang ý đồ chính trị, tuy nhiên, nó cũng cho thấy sự quan tâm mật thiết của ông đối với Lạt ma giáo. [X. Thái tổ kỉ trong Nguyên sử Q.1; Tự kỉ trong Tân nguyên sử Q.1; Thái tổ kỉ Q.2- 3; Turkestan down to the Mongol Invasion, 1928, by W.Barthold].
thành công
Success
thành công trong sự cám dỗ
To succeed in tempting.
thành danh
To become famous.
thành duy thức bảo sinh luận
2928凡五卷。護法撰,唐代義淨譯。又稱二十唯識順釋論、二十唯識頌釋論、唯識導論。收於大正藏第三十一冊。為世親所著二十唯識論之注釋書。印度有關二十唯識論之注釋書雖多,但傳譯於我國者僅有本書,其中義淨對二十唯識之頌所作之翻譯,多承襲玄奘所譯之唯識二十論。窺基所撰唯識二十論述記二卷,其說與本書相通處亦不少。〔唯識二十論述記卷上〕
; (成唯識寶生論) Cũng gọi Nhị thập duy thức thuận thích luận, Nhị thập duy thức tụng thích luận, Duy thức đạo luận. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích bộ luận Nhị thập duy thức của ngài Thế thân. Ở Ấn độ có rất nhiều sách chú thích bộ luận Nhị thập duy thức, nhưng ở Trung quốc thì chỉ có bản chú thích này của ngài Thành Cát Tư Hãn - Hộ pháp là được truyền dịch. Trong đó, phần kệ tụng Nhị thập duy thức phần nhiều ngài Nghĩa tịnh đã noi theo Duy thức nhị thập luận do ngài Huyền trang dịch. Trong Duy thức nhị thập luận thuật kí do ngài Khuy cơ soạn cũng có nhiều chỗ giống với sách này. [X. Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng].
Thành duy thức luận
成唯識論; S: vijñāptimātratāsiddhi; |Huyền Trang
thành duy thức luận
2925梵名 Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra。凡十卷。護法等造,唐代玄奘譯。又稱唯識論、淨唯識論。收於大正藏第三十一冊。為唯識三十論頌之注釋書,乃法相宗所依據之重要論書之一。西元四五○年頃,世親作唯識三十論頌。至五五七年頃,以護法(梵 Dharmapāla)為主之唯識十大論師,對唯識三十論頌各作注釋十卷,共計百卷。及至高宗顯慶四年(659),玄奘翻譯該論時,採弟子窺基之主張,以護法之觀點為主,糅譯諸師學說,集成此書。 內容論說人類存在之根本依處即阿賴耶識,其中所藏之種子,由於緣起而形成現在,同時又造作未來,因而展開宇宙之一切,期以觀萬法唯心所現,體證諸法之真理。今略述之:(一)卷一至卷二前段,論釋「由假說我法」等頌,破斥執著於實我、實法之外道及小乘。(二)卷二中至卷四中,論釋「初阿賴耶識」等頌,闡明阿賴耶識之相。(三)卷四中至卷五中,論釋「次第二能變」等頌,闡明末那識之相。(四)卷五中至卷七中,論釋「次第三能變、此心所遍行、依止根本識」等頌,次第闡明六識能變之相、六識相應之心所、諸識現起之分位等。(五)卷七中至卷八中,論釋「是諸識轉變、由一切種識、由諸業習氣」等頌,次第闡明一切唯識之義、諸識輾轉之因果、生死相續之理等。(六)卷八中至卷末,論釋「由彼彼遍計」等頌,闡明遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性之義。(七)卷九,論釋「即依此三性」等頌,闡明三無性之義。(八)卷十,論釋「乃至未起識」等頌,闡明五位之相;五位,乃悟入唯識相性之次第。文中並多處引用其他瑜伽行派論師如難陀、陳那等之學說。 近代學者將十大論師中安慧所撰唯識三十論頌之注釋書與成唯識論相較,發現除少部分歧異外,大部分之旨趣極為一致;且論中常言及之四分說,在護法之其他著作中卻未見提及,故謂本論似非以護法之學說為基準。又由論文中,處處可見玄奘遊學印度之心得反映。故本論非僅為譯書,亦可視為玄奘之述作。 本論不僅為法相宗所依之論典,亦為一般佛教研究者所必研習之書。注釋書甚多,如窺基所撰之成唯識論述記二十卷、成唯識論掌中樞要四卷、成唯識論別抄十卷,慧沼所撰之成唯識論了義燈十三卷,智周所撰之成唯識論演祕十四卷等不下三十種。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷十二、閱藏知津卷三十九、新編諸宗教藏總錄卷三、印度哲學研究卷五(宇井伯壽)、唯識學典籍(結城令聞)〕
; Vijnāptimātrata-siddhi-śāstra (S), Vijāptimātra-siddhi-śāstra (S) Do ngài Pháp Hộ biên soạn Xem Duy thức Tam thập luận tụng.
; Vidyà-màtra-siddhi-sàstra (S).
; Vijnaptimatrata-siddhi-sastra (skt)—Pháp Tướng Tông mặc dù là Duy Thức, nhưng lại khác với Nhiếp Luận Tông vốn chỉ là Duy Thức tượng trưng, và sau đó được Pháp Tướng thay thế tại Trung Hoa. Các nhà Duy Thức của Pháp Tướng tông nhìn nhận là truyền thừa về hệ thống chánh thống của ngài Thế Thân, nhưng trên thực tế quả là khó cả quyết. Tam Thập Tụng Duy Thức, bản luận căn bản của tông Pháp Tướng, gồm 30 bài luận được ngài Thế Thân Bồ Tát biên soạn và ngài Huyền Trang đời Đường biên tập gộp lại còn 10 quyển—The Dharmalaksana school, though idealistic, is different from the Samparigraha school, which was representative idealism and was later replaced by the Dharmalaksana (Fa-Hsiang) School in China. The Dharmalaksana idealists profess to have transmitted the orthodox system of Vasubandhu, but in reality this is rather uncertain. Vasubandhu's Trimsika was annotated by ten authorities of whom Hsuan-Tsang and his pupil Ki followed chiefly the opinions of Dharmapala of Nalanda. The Vijnaptimatrata-siddhi-sastra, which is the fundamental treatise of the Dharmalaksana School, was composed by Vasubandhu in 30 books and Hsuan-Tsang during the T'ang dynasty reduced to 10 books.
; (成唯識論) Phạm:Vijĩaptimàtratàsidhi-zàstra. Cũng gọi Duy thức luận, Tịnh duy thức luận.Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích bộ Duy thức tam thập luận tụng, là 1 trong các sách y cứ trọng yếu của tông Pháp tướng. Khoảng năm 450 Tây lịch, ngài Thế thân soạn Duy thức tam thập luận tụng. Đến khoảng năm 557, 10 vị Đại luận sư Duy thức trong đó ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) là chính, mỗi vị đều chú thích Duy thức tam thập luận tụng thành 10 quyển, cộng chung là 100 quyển. Đến năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang phiên dịch Duy thức tam thập luận tụng, theo chủ trương của đệ tử là Khuy cơ, lấy quan điểm của ngài Hộ pháp làm chính, phiên dịch tổng hợp học thuyết của 10 vị Luận sư mà tập thành bộThành duy thức luận này. Nội dung luận này cho rằng thức A lại da là chỗ nương tựa căn bản của sự tồn tại của con người, trong thức A lại da có chứa đựng các chủng tử(hạt giống), do duyên khởi mà hình thành hiện tại, đồng thời lại tạo tác vị lai, do đó triển khai tất cả vũ trụ, chủ trương quán muôn pháp do tâm biến hiện để thể chứng chân lí của các pháp. Nay lược thuật về nội dung ấy như sau:1. Từ quyển 1 đến đoạn trước của quyển 2 là giải thích các bài tụng Do giả nói ngã pháp nhằm bác bỏ sự chấp trước của ngoại đạo và Tiểu thừa cho ngã và pháp là có thật. 2. Từ giữa quyển 2 đến giữa quyển 4 giải thích các bài tụng Sơ A lại gia thức, nói rõ về tướng của thức A lại da. 3. Từ giữa quyển 4 đến giữa quyển 5 giải thích các bài tụng Kế, năng biến thứ 2, nói rõ về tướng của thức Mạt na. 4. Từ giữa quyển 5 đến quyển 7 giải thích các bài tụng Kế, năng biến thứ 3, tâm sở biến hành này, nương nơi thức căn bản, lần lượt nói rõ về tướng năng biến của 6 thức, tâm sở tương ứng của 6 thức, phần vị hiện khởi của các thức... 5. Từ giữa quyển 7 đến giữa quyển 8 giải thích các bài tụng Các thức này chuyển biến, do thức Nhất thiết chủng, do tập khí các nghiệp, lần lượt nói rõ về ý nghĩa tất cả duy thức, về nhân quả của các thức chuyển biến, về lí sinh tử tương tục...6. Từ giữa đến cuối quyển 8 các bài tụng Do các biến kế ấy, nói rõ nghĩa của 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. 7. Quyển 9, giải thích các bài tụng Tức nương ba tính này, nói rõ về ý nghĩa của 3 vô tính. 8. Quyển 10, giải thích các bài tụng Cho đến chưa khởi thức, nói rõ về tướng của 5 vị. Năm vị tức là thứ tự ngộ nhập tính, tướng Duy thức. Trong nội dung luận này có nhiều chỗ dẫn dụng học thuyết của các vị Luận sư khác thuộc Du già hành phái như Nan đà, Trần na... Các học giả thời cận đại đem sách chú thích Duy thức tam thập luận tụng của ngài An tuệ, 1 trong 10 vị Đại luận sư, so sánh với luận Thành duy thức thì thấy ngoài một phần nhỏ khác nhau, còn chỉ thú thì phần lớn rất giống nhau. Ngoài ra, luận này thường nói đến thuyết Tứ phần (Tướng phần, Kiến phần, Tự chứng phần, Chứng tự chứng phần), nhưng trong các tác phẩm khác của ngài Hộ pháp lại không thấy đề cập đến. Do đó, các học giả cho rằng luận Thành duy thức chưa hẳn đã lấy học thuyết của ngài Hộ pháp làm tiêu chuẩn cơ bản. Hơn nữa, trong luận, chỗ nào cũng thấy phản ánh sự tâm đắc của ngài Huyền trang khi ngài du học Ấn độ, vì thế luận này không phải chỉ là sách dịch thuần túy, mà cũng có thể được xem là tác phẩm soạn thuật của ngài Huyền trang. Luận Thành duy thức không những chỉ là bộ luận y cứ của tông Pháp tướng, mà còn là sách cần thiết cho các nhà nghiên cứu Phật giáo. Luận này có rất nhiều sách chú thích như: Thành duy thức luận thuật kí 20 quyển, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu 4 quyển và Thành duy thức luận biệt sao 10 quyển, do ngài Khuy cơ soạn; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng 13 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn; Thành duy thức luận diễn bí 14 quyển, do ngài Trí chu soạn... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Duyệt trạng tri tân Q.39; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.5 (Vũ tỉnh Bá thọ); Duy thức học điển tịch (Kết thành Linh văn)].
thành duy thức luận chưởng trung xu yếu
2926請參閱 成唯識論述記 凡四卷。唐代窺基撰。略稱成唯識論樞要、唯識論樞要、唯識樞要。或單稱樞要。收於大正藏第四十三冊。係唯識三種注疏之一,與成唯識論演祕、成唯識論了義燈並稱為唯識三疏,或唯識三個疏。本書初敘成唯識論之成立、傳來、糅譯等因緣,次釋本論之題目及所被之根機,其次解釋論文,於成唯識論述記所說之未詳盡處,更詳釋之,特別對唯識三十頌科段、五種姓義、三類境等重要問題,均廣泛解其論意。文中處處揭有「如疏」或「如唯識章說」之語,可知本書似完成於成唯識論述記及大乘法苑義林章之後,然述記中亦有「如樞要說」或「如別章」等語;故可推知本書及述記應於同時完成者。注釋書有唐代智周之成唯識論樞要記二卷、憬興之成唯識論樞要記二卷等。〔新編諸宗教藏總錄卷三、諸宗章疏錄卷一〕
; (成唯識論掌中樞要) Gọi tắt: Thành duy thức luận xu yếu, Duy thức luận xu yếu, Duy thức xu yếu, Xu yếu. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là 1 trong 3 bộ chú sớ về Duy thức. Bộ luận sớ này cùng với Thành duy thức luận diễn bí (Trí chu) và Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng (Tuệ chiểu) được gọi chung là Duy thức tam sớ, hoặcDuy thức tam cá sớ. Nội dung sách này, trước hết, trình bày về các nhân duyên như: Sự thành lập truyền nhập, phiên dịch... của luận Thành duy thức, kế đến, giải thích đề mục của luận này và căn cơ được giáo hóa, sau cùng là giải thích chính văn. Trong phần này, những chỗ nào chưa được Thành duy thức luận thuật kí giải thích tường tận thì sách này giải thích lạichorõ ràng hơn, đặc biệt đối với những vấn đề trọng yếu như khoa đoạn trong Duy thức tam thập tụng, nghĩa 5 chủng tính, 3 loại cảnh... đều được giải thích một cách rộng rãi. Trong sách nhiều chỗ có nêu các từ ngữ như như sớ hoặc như Duy thức chương thuyết..., dựa vào đó ta có thể biết sách này dường như hoàn thành sau Thành duy thức luận thuật kí và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương. Tuy nhiên, trong Thuật kí lại cũng có các từ ngữ như như Xu yếu thuyết hoặc như Biệt chương... Như vậy, cứ đó mà suy thì biết sách này và Thuật kí phải là đồng thời hoàn thành. Về sách chú thích thì có: Thành duy thức luận xu yếu kí 2 quyển, do ngài Trí chu soạn vào đời Đường; Thành duy thức luận xu yếu kí 2 quyển, do ngài Cảnh hưng soạn vào đời Đường. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Chư tông chương sớ lục Q.1].
thành duy thức luận diễn bí
2927凡七卷,或十四卷。唐代智周撰。略稱唯識演祕、演祕。收於大正藏第四十三冊。乃注解成唯識論及成唯識論述記之書。係唯識三疏之一。撰者為我國法相宗第三祖,書中宣揚法相深義,發揮論、述記之幽旨,字句易解,為初學者所不可或缺者。
; (成唯識論演秘) Gọi tắt: Duy thức diễn bí, Diễn bí. Tác phẩm, 7 quyển, hoặc 10 quyển, do ngài Trí chu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Đây là sách chú thích luận Thành duy thức và Thành duy thức luận thuật kí, là 1 trong 3 bộ sớ về Duy thức. Soạn giả là Tổ thứ 3 của tông Pháp tướng, Trung quốc. Trong sách xiển dương thâm nghĩa của pháp tướng, phát huy ý chỉ sâu xa của Luận, Thuật kí, lời văn dễ hiểu, là bộ sách cần thiết cho những người mới học.
Thành Duy thức luận diễn bí 成唯識論演秘
[ja] ジョウユイシキロンエンビ Jōyuishikiron enbi ||| The Cheng weishi lun yanmi; 14 fasc., by Zhizhou 智周. Commonly referred to by the abbreviated title of Yanmi 演秘. T 1833.43.811-978. => (c: Cheng weishi lun yanmi); 14 quyển; của Trí Châu (c: Zhizhou 智周). Thường được biết với tên gọi tắt là Diễn Bí (c: Yanmi 演秘).
thành duy thức luận học kí
2927請參閱 成唯識論掌中樞要 凡八卷。唐代新羅僧太賢集。收於卍續藏第八十冊。係注釋玄奘所譯成唯識論之作。內容包括:(一)顯宗出體門,闡示護法、清辨二師之空、有論爭,而以護法所述唯識中道之境、行、果三者為成唯識論之宗旨,並論「出體」等。(二)題名分別門,說明題號、造論者等。(三)解釋文義門,逐次注釋教起因緣分、聖教正說分、結名迴施分等。本書卷首錄有「菩薩藏阿毘達磨古迹記卷第三本」等字,推知其或屬古迹記之一部分。
; (成唯識論學記) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Thái hiền, vị tăng nước Tân la sống vào đời Đường biên tập, được thu vào Vạn tục tạngtập 80. Đây là sách chú thích bộ luận Thành duy thức do ngài Huyền trang dịch. Nội dung chia làm 3 môn: 1. Hiển tông xuất thể môn: Tường thuật lại cuộc tranh luận về Không, Hữu giữa 2 Luận sư Hộ pháp và Thanh biện, lấy 3 thứ Cảnh, Hành, Quả của Duy thức trung đạo do ngài Hộ pháp trình bày làm tông chỉ của luận Thành duy thức, đồng thời bàn về Xuất thể. 2. Đề danh phân biệt môn: Nói rõ về tên sách, người tạo luận... 3. Giải thích văn nghĩa môn: Lần lượt chú thích các phần như: Giáo khởi nhân duyên phần, Thánh giáo chính thuyết phần, Kết danh hồi thí phần... Ở đầu quyển sách này có ghi hàng chữ Bồ tát tạng A tì đạt ma cổ tích kí quyển 3, phần đầu, do đó mà suy đoán có lẽ sách này là 1 phần của Cổ tích kí.
Thành Duy thức luận khu yếu 成唯識論樞要
[ja] ジョウユイシキロンスウヨウ jō yuishikiron sūyō ||| The Cheng weishi lun shouyao; 4 fasc., by Kuiji 窺基; T 1831.43.607-658. Commonly known by the shorted title Shouyao 樞要. => (c: Cheng weishi lun shouyao); 4 quyển; của Khuy Cơ (c: Kuiji 窺基). Thường được gọi tắt là Khu Yếu (c: Shouyao 樞要).
thành duy thức luận liễu nghĩa đăng
2925凡十三卷,或七卷。唐代慧沼撰。略稱唯識論義燈、唯識了義燈、了義燈、義燈。收於大正藏第四十三冊。為唯識三疏之一。本書係破斥有關解釋成唯識論中之異說者,並闡明原論正義。撰者乃我國法相宗第二祖,書中祖述窺基之說,責難圓測、圓義、普光、慧觀等之異義,一一評斥諸家之異說,包括西明云、要集云、有說、有釋、有人云、有解、有云、未詳決等名目。其中,有說指窺基、有釋指圓測、有人云指普光、有解指慧觀、有云指玄範、未詳決指義寂等之說。自古以來,本書即為唯識論注疏中之最難解者。
; (成唯識論了義燈) Gọi tắt: Duy thức luận nghĩa đăng, Duy thức liễu nghĩa đăng, Liễu nghĩa đăng, Nghĩa đăng. Tác phẩm, 13 quyển, hoặc 7 quyển, do ngài Tuệchiểusoạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43, là 1 trong 3 bộ sớ của Duy thức. Sách này bác bỏ các dị thuyết khi giải thích luận Thành duy thức, đồng thời trình bày rõ nghĩa chân chính của nguyên tác. Soạn giả là Tổ thứ 2 của tông Pháp tướng, Trung quốc, trong sách phỏng theo học thuyết của ngài Khuy cơ mà chê trách dị nghĩa của các ngài Viên trắc, Viên nghĩa, Phổ quang, Tuệ quán..., phê bình phản bác từng dị thuyết của các nhà, bao gồm các danh mục: Tây minh vân, Yếu tập vân, Hữu thuyết, Hữu thích, Hữu nhân vân, Hữu giải, Hữu vân, Vị tường quyết... Trong đó, Hữu thuyết là chỉ cho thuyết của ngài Khuy cơ, Hữu thích chỉ cho thuyết của ngài Viên trắc, Hữu nhân vân chỉ cho thuyết của ngài Phổ quang, Hữu giải chỉ cho thuyết của ngài Tuệ quán, Hữu vân chỉ cho thuyết của ngài Huyền phạm và Vị tường quyết là chỉ cho thuyết của Nghĩa tịch. Từ xưa đến nay, sách này là sách khó hiểu nhất trong các bộ chú sớ luận Thành duy thức.
thành duy thức luận nghĩa uẩn
2927凡五卷,或十卷。唐代道邑述。又作成唯識論蘊、成唯識論述記義蘊記、成唯識論述記義蘊、成唯識論疏義蘊、唯識義蘊。收於卍續藏第七十八冊。本書為窺基所著成唯識論述記之注釋書,摘出述記卷一至卷九之重要文句,加以注釋。
; (成唯識論義蘊) Cũng gọi Thành duy thức luận uẩn, Thành duy thức luận thuật kí nghĩa uẩn kí, Thành duy thức luận thuật kí nghĩa uẩn, Thành duy thức luận sớ nghĩa uẩn, Duy thức nghĩa uẩn. Tác phẩm, 5 quyển, hoặc 10 quyển, do ngài Đạo ấp soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 78. Đây là sách chú sớ bộ Thành duy thức luận thuật kí do ngài Khuy cơ soạn, nội dung trích lấy những câu văn quan trọng trong thuật kí từ quyển 1 đến quyển 9 rồi chú thích.
Thành Duy thức luận nghĩa đăng 成唯識論了義燈
[ja] ジョウユイシキロンリョウギトウ Jouyuishikiron ryougitou ||| The Cheng weishi lun liaoyideng, 13 fasc., by Huizhao 慧沼. T 1832.43.659-811. => (j: Jouyuishikiron ryougitou ;c: Cheng weishi lun liaoyideng), 13 quyển; của Huệ Chiểu (c: Huizhao 慧沼).
thành duy thức luận quán tâm pháp yếu
2927凡十卷。明代僧智旭(1599~1655)撰。收於卍續藏第八十二冊。又作唯識心要。為闡釋成唯識論之著作。唐中葉,法相宗已逐漸衰落,智旭乃依據雲峰之唯識開蒙問答二卷以研究唯識義之梗概,並援引大疏鈔、宗鏡錄等;更溯及瑜伽、顯揚等諸論,且根據明代所撰之集解、證義、音義、合響等注釋書而著成本書。全書旨在確立唯識觀之道理,故題為觀心法要。內容初敘緣起,並舉凡例,次述論名、造頌者、造論者、譯者,並逐次解釋本頌及長行,跋語置於書末。
; (成唯識論觀心法要) Cũng gọi Duy thức tâm yếu. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 82. Đây là sách chú thích rộng về luận Thành duy thứcVào giữa đời Đường, tông Pháp tướng đã dần dần suy, ngài Trí húc y cứ vào Duy thức khai mông vấn đáp 2 quyển của ngài Vân phong nghiên cứu một cách khái quát về nghĩa Duy thức, đồng thời viện dẫn Đại sớ sao, Tông kính lục..., lại tham khảo thêm các luận Du già, Hiển dương, rồi căn cứ vào các sách chú thích như Tập giải, Chứng nghĩa, Âm nghĩa, Hợp hưởng... được soạn vào đời Minh mà soạn thành sách này. Mục đích toàn sách là xác lập đạo lí Duy thức quán, vì thế mới lấy tên là Quán tâm pháp yếu. Nội dung sách này trước hết nói về duyên khởi và nêu phàm lệ, kế đến là trình bày về tên luận, người làm kệ tụng, người soạn luận, người phiên dịch, sau cùng là lần lượt giải thích bản tụng và trường hàng, cuối sách có lời bạt.
thành duy thức luận thuật kí
2926凡十卷,或二十卷。唐代窺基(632~682)撰。又稱成唯識論疏、唯識論述記、唯識述記、述記。收於大正藏第四十三冊。係注解成唯識論一書之著作。撰者為我國法相宗初祖,於書中以佛教論理學(因明)破斥小乘、外道,並說明萬法乃由人類存在之根本依處─阿賴耶識之所現,以此而組織佛教教學。本書問世以降,成為我國唯識學之根本聖典;在日本亦為法相宗與各宗之要典,極受推崇重視。 本書內容分為五門,即:(一)教時機,分為說教時會與教所被機兩種。(二)論宗體,以唯識為宗而謂其體有四重。(三)藏乘所攝,謂成唯識論為一乘之所攝,並為三藏中之菩薩藏所攝。(四)說教年主,以慧愷之俱舍論序論說世親與十大論師之年代。(五)本文判釋,即就本文述釋其義。注釋書有唐代道邑之成唯識論義蘊五卷、如理之成唯識論疏義演二十六卷、靈泰之成唯識論疏鈔十八卷等。 本書另有六十卷之單行本。蓋自元代以來,本書即告失傳,清末楊文會得之於日本,遂集緇素之力,鋟板刊行。
; (成唯識論述記) Cũng gọi Thành duy thức luận sớ, Duy thức luận thuật kí, Duy thức thuật kí, Thuật kí. Tác phẩm, 10 quyển, hoặc 20 quyển, do ngài Khuy cơ (632-682) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Đây là sách chú thích luận Thành duy thức. Soạn giả là Sơ tổ của tông Pháp tướng, Trung quốc. Trong sách dùng Luận lí học (Nhân minh) của Phật giáo để phê bình, phản bác Tiểu thừa, ngoại đạo, đồng thời thuyết minh vạn pháp do thức A lại da hiển hiện, dùng thức này để tổ chức nền giáo học Phật giáo. Từ khi xuất hiện về sau, sách này đã trở thành Thánh điển căn bản của Duy thức học ở Trung quốc, đồng thời, tại Nhật bản sách này cũng rất được xem trọng và là yếu điển của tông Pháp tướng và các tông khác. Nội dung sách được chia làm 5 môn: 1. Giáo thời cơ: Chia làm 2 thứ là Thuyết giáo thời hội và Giáo sở bị cơ. 2. Luận tông thể: Lấy Duy thức làm tông và chủ trương thể của Duy thức có 4 lớp.3. Tạng thừa sở nhiếp: Luận Thành duy thức thuộc pháp Nhất thừa và trong 3 tạng thuộc tạng Bồ tát. 4. Thuyết giáo niên chủ: Dùng bài tựa luận Câu xá của ngài Tuệ khải để bàn về niên đại ngài Thế thân và 10 vị đại Luận sư. 5. Bản văn phán thích: Tức theo chính văn mà giải thích ý nghĩa. Về sách chú thích tác phẩm này thì có: Thành duy thức luận nghĩa uẩn 5 quyển của ngài Đạo ấp, Thành duy thức luận nghĩa sớ diễn 26 quyển của ngài Như lí, Thành duy thức luận nghĩa sớ sao 18 quyển của ngài Linh phong... Sách này còn có bản lưu hành đơn gồm 26 quyển. Vì từ đời Nguyên về sau, sách này bị thất truyền, nên sau khi ông Dương văn hội cuối đời Thanh tìm được sách này ở Nhật bản, liền kêu gọi tăng tục góp sức khắc bản in để lưu hành.
Thành Duy thức luận thuật ký 成唯識論述記
[ja] ジョウユイシキロンジュッキ Jō yuishikiron jukki ||| Cheng weishīun shouji A commentary on the Cheng weishīun 成唯識論, by Kuiji 窺基. 20 fasc., T 1830.43.229a-606c. Cf. T 1585, 1832, 1833, 2260, 2266. Often referred to by its abbreviated title of Shuji 述記. => (c: Cheng weishīun shouji). Chú giải của Khuy Cơ về Thành Duy thức luận. Gồm 20 quyển. Thường được biết với tên gọi tắt là Thuật Ký (c: Shuji 述記).
thành duy thức luận tuỳ chú
2927請參閱 成唯識論隨註 凡十卷。又作成唯識論隨疏。明代高原大師原著。有比丘明善者,受業於高原,於法席之次,啟請隨文疏釋其義,高原允之,述至第七卷而明善逝世,由法嗣慧善續成之。吳淳齋父子刻行後,龔定菴(盦)亦曾修補印行。武林錢伊菴因此疏而著唯識隨疏翼二卷。
; (成唯識論隨注) Cũng gọi Thành duy thức luận tùy sớ. Tác phẩm, 10 quyển, nguyên tác của Đại sư Cao nguyên đời Minh. Có tỉ khưu Minh thiện theo học ngài Cao nguyên, có lần trong pháp hội, Minh thiện xin phép được chú thích theo văn sớ, ngài Cao nguyên chấp thuận, nhưng khi ngài Minh thiện soạn đến quyển thứ 7 thì qua đời, đệ tử nối pháp là Tuệ thiện tiếp tục hoàn thành.Sau khi cha con ông Ngô thuần trai khắc bản lưu hành thì Cung định am cũng từngtu bổ ấn hành. Vu lâm Tiền y am nhân bộ sớ này mà soạn Duy thức tùy sớ dực 2 quyển.
Thành duy thức luận 成唯識論
[ja] ジョウユイシキロン Jō yuishiki ron ||| Cheng weishi lun; The "Discourse on the Theory of Consciousness-only." (Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra) 10 fasc., T 1585.31.1a-59a. This is mainly a translation by Xuanzang 玄奘 of Dharmapāla's 護法 commentary on the Thirty Verses on Consciousness-only, by Vasubandhu 世親, but it also includes edited translations of other master's works on the same verses. It is the primary text of the Faxiang 法相 school. Kuiji's 窺基 linkage of this text with Dharmapāla is problematic (see Chap. 15 in Lusthaus (2000). This is the only translation by Xuanzang that is not a direct translation of a text, but instead a selective, evaluative editorial drawing on several (traditionally ten) distinct texts. Since Kuiji aligned himself with this text while assuming the role of Xuanzang's successor, the East Asian tradition has treated the Cheng weishi lun as the pivotal exemplar of Xuanzang's teachings. Vall Poussin's French translation incorporates material from the Saeki edition and the commentaries by Kuiji while embedding his reading in a heavily idealistic interpretation. Wei Tat's English rendition of Vallée Poussin's translation omits most of Vallée Poussin's extensive explanatory notes. Ganguly offers an abridged version of the Cheng weishi lun. => (c: Cheng weishi lun; e: The "Discourse on the Theory of Consciousness-only." S: Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra); 10 quyển. Đây là dịch phẩm chính của Huyền Trang từ luận giải của Hộ Pháp (s: Dharmapāla's 護法) về Duy thức tam thập tụng của Thế Thân, nhưng nó cũng bao gồm nhiều ghi chú về bản dịch của nhiều bậc thầy khác về các bài tụng ấy. Đây là luận chính của Pháp tướng tông. Việc Khuy Cơ kết nối luận nầy với luận giải của Hộ Pháp là vấn đề cần phải bàn thêm (xem Chương 15 trong tác phẩm của Lusthaus (2000). Đây chỉ là bản dịch của Huyền Trang, không phải là dịch trực tiếp toàn bộ luận giải, mà thay vào đó là một sự tuyển chọn, biên tập rồi rút ra vài chương riêng biệt (theo truyền thống là 10 chương). Do Khuy Cơ tự ghép mình vào luận nầy trong khi khoác lấy vai trò môn đệ của Huyền Trang, nên truyền thống Đông Phương xem Thành duy thức luận (成唯識論 c: Cheng weishi lun) là mẫu mực chính yếu của giáo lý Huyền Trang. Bản dịch tiếng Pháp của Vall Poussin kết hợp chặt chẽ tái liệu từ ấn bản của Saeki và luận giải của Khuy Cơ trong khi đưa ra cách giải thích của ông theo quan điểm thiên về duy tâm. Bản tiếng Anh của Wei Tat dịch từ bản tiếng Pháp của Vallée Poussin thì bỏ qua phần nhiều chú giải mở rộng của Vallée Poussin. Ganguly thì đưa ra một bản tóm tắt về Thành duy thức luận.
thành gia thất
To get married—To marry.
Thành Hoàng
(城隍): có hai nghĩa khác nhau. (1) Đường hào bảo vệ chung quanh thành quách. Từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong thư tịch Dịch Kinh (易經), phần Thái Quái (泰卦): “Thành phục ư hoàng (城復於隍, thành lại ở trong hào).” Thuyết Văn Giải Tự (說文解字) giải thích rằng: “Thành, dĩ thạnh dân chi (城、以盛民也, thành trì để bảo vệ dân)” và “Hoàng, thành trì dã (隍、城池也, hoàng là cái hào bảo vệ thành)”, hay “vô thủy viết hoàng (無水曰隍, nơi không có nước gọi là hoàng).” Như vậy, theo nghĩa xa xưa, từ thành hoàng là con sông, cái hào bảo vệ thành quách. Nhân đó, Ban Cố có đoạn văn rằng: “Tu cung thất, tuấn thành hoàng (修宮室、浚城隍, sửa cung thất, đào hào thành).” (2) Tên gọi của vị thần bảo vệ thành trì hay quốc gia, hộ trì dân chúng. Với tư cách là vị thần, từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong Bắc Tề Thư (北齊書), Truyện Mộ Dung Nghiễm (慕容儼傳): “Thành trung tiên hữu thần từ nhất sở, tục hiệu Thành Hoàng Thần, công tư mỗi hữu kỳ đảo (城中先有神祠一所、俗號城隍神、公私每有祈禱, trong thành có một chỗ thờ thần, thế gian thường gọi là Thần Thành Hoàng, công tư mỗi người đều có cầu nguyện).” Sau thời Tùy Đường (隋唐, 581-907), việc sùng bái Thành Hoàng bắt đầu lưu hành rộng rãi. Trong điều Tuyên Châu Ty Hộ (宣州司戶) của Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) gọi Thành Hoàng là úy quỷ (畏鬼, quỷ sợ), cho nên nhận xét rằng: “Mỗi châu huyện tất hữu Thần Thành Hoàng (每州縣必有城隍神, mỗi châu huyện đều có Thần Thành Hoàng).” Đến thời Ngũ Đại (五代, 907-960), Thần Thành Hoàng đã được sắc phong. Tỷ dụ như Thần Thành Hoàng ở Hàng Châu (杭州) được phong là Thuận Nghĩa Bảo Ninh Vương (順義保寧王), ở Hồ Châu (湖州) là Phụ Tục An Thành Vương (阜俗安城王), ở Mông Châu (蒙州) là Linh Cảm Vương (靈感王), v.v. Dưới thời nhà Tống (宋, 960-1127), việc sùng bái Thành Hoàng trở thành tế điển quốc gia. Như trong Tân Thối Lục (賓退錄) của Triệu Dữ Thời (趙與時, ?-?) có đoạn rằng: “Kim kỳ tự cơ biến thiên hạ, triều gia hoặc tứ miếu ngạch, hoặc ban phong tước, vị danh giả hoặc tập lân quận chi xưng, hoặc thừa lưu tục sở truyền, quận dị nhi huyện bất đồng (今其祀幾遍天下、朝家或賜廟額、或頒封爵、未名者或襲鄰郡之稱、或承流俗所傳、郡異而縣不同, ngày nay việc cúng tế Thành Hoàng cùng khắp thiên hạ, triều đình hoặc ban ngạch cho miếu vũ, hay ban phong tước; nơi nào chưa có tên thì hoặc lấy theo tên gọi của quận lân bang, hay theo truyền thuyết lưu truyền ngoài đời, quận khác mà huyện chẳng giống).” Kế thừa nhà Tống đến thời nhà Nguyên (元, 1206-1368), khắp nơi từ trong triều nội cho đến ngoài dân dã đều có thiết lập miếu thời Thần Thành Hoàng; vị thần ở kinh đô được tôn xưng là Hựu Thánh Vương (佑聖王). Đến thời nhà Minh (明, 1368-1662), tín ngưỡng sùng bái Thành Hoàng trở nên cực thịnh. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武), vua Minh Thái Tổ (明太祖, tại vị 1368-1398), phong cho Thành Hoàng ở kinh đô là Thừa Thiên Giám Quốc Ty Dân Thăng Phước Minh Linh Vương (承天鑒國司民升福明靈王), phong cho Thành Hoàng ở Khai Phong (開封), Lâm Hào (臨濠), Thái Bình (太平), Hòa Châu (和州), Trừ Châu (滁州) là Chánh Nhất Phẩm (正一品); cho Thành Hoàng ở các phủ khác là Chánh Nhị Phẩm (正二品); cho Thành Hoàng ở các châu là Chánh Tam Phẩm (正三品); cho Thành Hoàng ở các huyện là Hiển Hựu Bá (顯佑伯), Tứ Phẩm (四品). Chức trách của Thần Thành Hoàng chủ yếu bảo hộ bá tánh trong thành được an toàn, sức khỏe, cũng như giám sát công lao các quan viên trên cõi thế, thay Trời trị ác trừ hung, hộ trì quốc gia, phán quyết việc sống chết, ban việc phước thọ cho con người. Trong phần Quần Tự Khảo (群祀考) của tác phẩm Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) có dẫn lời của Minh Thái Tổ rằng: “Trẫm thiết Kinh Sư Thành Hoàng, tỷ thống các Phủ Châu Huyện chi thần, dĩ giám sát dân chi thiện ác nhi họa phước chi (朕設京師城隍、俾統各府州縣之神、以鑒察民之善惡而禍福之, Trẫm thiết lập Thần Thành Hoàng ở kinh đô để thống lãnh chư vị thần ở các Phủ Châu Huyện, để giám sát việc tốt xấu của muôn dân mà ban cho họa phước).” Về việc cúng tế Thần Thành Hoàng, theo Chư Thần Thánh Đản Nhật Ngọc Hạp Ký (諸神聖誕日玉匣記), nhà Minh quy định ngày 11 tháng 5 Âm Lịch là ngày đản sinh của Thành Hoàng. Tuy nhiên, do vì Thành Hoàng ở các địa phương có công với người dân, nên ngày đản sinh cũng có khác nhau. Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thành Hoàng cũng đã thịnh hành từ xa xưa. Giống như Táo Công và Thổ Công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam, tục thờ Thành Hoàng đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn.” Ngài là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tùy theo sự tích mỗi vùng. Ngài có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v. Hay có khi là các yêu thần, tà thần, v.v., với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên, có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành Hoàng sống. Truyền thống tín ngưỡng, cúng tế Thành Hoàng đã thật sự bám sâu vào gốc rễ tâm linh, văn hóa của người dân Việt, như trong tập truyện ngắn Cái Ve của Khái Hưng (1896-1947) có câu chuyện Tế Thành Hoàng: “Người ta đồn ông Thành Hoàng làng Tiền thiêng lắm. Mỗi lần rước Ngài là một lần vất vả khổ sở cho dân Ngài: nào Ngài bay, nào Ngài lùi, nào Ngài quay, có khi Ngài lại đứng ỳ ra nữa. Các quan viên tha hồ xuýt xoa van lạy, khấn khứa ngài đủ các câu, Ngài vẫn làm ngơ như không nghe thấy gì hết. Những lúc ấy nếu không đốt một tràng pháo thật dài để mừng Ngài, thì khó lòng Ngài chịu đi cho. Thế mà năm nào ra giêng vào đám, vẫn hai lượt dân làng Tiền phải rước Ngài, một lượt từ miếu ra đình để ngài chứng kiến việc hội họp ăn uống, và một lượt từ đình trở về miếu để Ngài an nghỉ. Khó khăn nhất, mệt nhọc nhất cho bọn khiêng kiệu là quãng đường qua đình Tràng. Ngài nô giỡn, Ngài chạy cuồng, Ngài nhảy cẫng như vui thích khoái trá về một điều gì. Người ta nói vì đức Thánh Đình Tràng là một vị nữ thần mà Ngài nghịch ngợm thích trêu ghẹo chơi. Dân làng Tiền cũng không ai phàn nàn về cái thiêng của Ngài. Trái lại, người ta còn lấy làm hãnh diện được thờ một vị thần mà khắp vùng đều kinh sợ. Không phải sợ bóng sợ vía, nhưng sợ những sự tác oai hiển hiện trước mắt. Một lần, một đứa trẻ chăn trâu trèo lên cây muỗm trước miếu, đã bị Ngài quật ngã chết tươi. Lại một lần một con bé bế em đi xem rước giơ tay chỉ trỏ kiệu Ngài, bị Ngài hành cho một trận ốm thập tử nhất sinh…”
thành hoàng
4073為民間傳說中,神界之地方司法官,而非佛教供奉之神祇。俗謂仁人君子死後可主其事。每於祭典時出巡全境,前有謝必安(七爺)、范無救(八爺)二將軍為其開道。此名詞出自周易「城復于隍,勿用師」之句,初指保護城市之防禦工事。三國時,始建廟塑像。唐時已相當普遍。至明太祖更按京都、府、州、縣之城隍,依序晉封為王、公、侯、伯等爵位。至清代,則將祭祀城隍列入祀典。新官到任,並得前往舉行就任奉告典禮,始行視事。據臺灣省通志禮俗篇載,清朝視臺灣為難治之區,故一入版圖,即於府治設城隍廟,假借神道以補治化之不足。
; Ch'eng-Huang (C), Chenghuang (C) Một vị thần bảo hộ.
; (城隍) Chỉ cho vị quan Tư pháp địa phương trong cõi Thần linh theo truyền thuyết nhân gian, không phải loại thần kì được thờ phụng trong Phật giáo. Tục cho rằng người quân tử có lòng nhân từ sau khi chết thì có thể trở thành vị thần này. Vào các dịp cúng tế, vị thần này đi tuần tra toàn phạm vi dưới quyền quản trị của mình, phía trước có 2 vị tướng quân là Tạ tất an(Thất gia) và Phạm vô cứu(Bát gia) đi mở đường. Danh từ Thành hoàng này có xuất xứ từ câu Thành phục vuhoàng, vật dụng sư trong sách Chu dịch, lúc đầu chỉ cho công sự phòng ngự để bảo vệ thành thị. Đến đời Tam quốc, dân gian mới bắt đầu xây miếu, đắp tượng phụng thờ, đến đời Đường thì phong tục này khá phổ biến. Đến đời Minh, vua Thái tổ lại xét các Thành hoàng ở kinh đô, phủ, châu, huyện, rồi theo thứ tự tấn phong các tước vị: Vương, Công, Hầu, Bá... Đến đời Thanh thì việc cúng tế Thành hoàng được đưa vào Tế điển. Các quan mới đến nhậm chức đều được đưa đến làm lễ ra mắt Thành hoàng trước, sau đó mới bắt đầu thi hành nhiệm vụ. Cứ theo Đài loan tỉnh thông chí lễ tục thiên, triều đình nhà Thanh xem Đài loan như một khu khó cai trị, nên khi vừa đưa vào bản đồ liền xây miều thờ Thành hoàng ở các phủ trị, mượn Thần đạo để bổ túc cho việc cai trị giáo hóa.
thành hoàng thần
Vị Thần bảo vệ thành—The city god, protector of the wall and moat and all they contain.
thành hình
To take form—To make shape—To form.
thành khẩn
Sincere—Sincerely
Thành kinh
Tức là Bát thành kinh (八城經), nằm trong bộ Trung A hàm (60 quyển) thuộc Hán tạng, bản Đại Chánh tân tu, quyển 1, kinh số 26.
thành kiến
Prejudice—Biases.
thành kiếp
2923梵語 vivarta-kalpa。為四劫之一。據諸經論載,器世間全壞之終,由有情業之增上力故,生微風,成立風、水、金三輪,於金輪上生出諸海山洲(須彌山、七金山、四大洲等),為四王天、忉利天(此二天稱地居天)、人類、傍生等之住處;其次成立夜摩天、兜率天、樂變化天、他化自在天(此四天稱空居天)等,又自空居天至無間地獄,有情次第降生。此等器世間、有情世間形成之時期,即稱為成劫。〔大毘婆沙論卷一三三、卷一三四〕(參閱「四劫」1694)
; Vivarta-kalpa (S), Kṛta-yuga (P), Satya-yuga (S) Một trong 4 đại kiếp: thành, trụ, hoại, không.
; Vivarta-kalpa (S). One of the four kalpas, consisting of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed. Cosmic period of the creation of the world.
; Vivarta kalpa (skt)—Một trong tứ kiếp, gồm hai mươi tiểu kiếp, thời gian thành lập thế giới---One of the four kalpas, consisting of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed (other kalpas are Trụ: Vivarta-siddha kalpa, kalpa of abiding or existence; Hoại: Samvarta kalpa, kalpa of destruction, consisting of sixty four small kalpas when fire, water and wind destroyed everything except the fourth dhyana; Không: Samvarta-siddha kalpa, kalpa of annihilation). ** For more information, please see Tứ Kiếp.
; (成劫) Phạm: Vivarta-kalpa. Chỉ cho kiếp Thành, 1 trong 4 đại kiếp theo quan điểm của Phật giáo. Theo các kinh luận, cuối cùng, khi khí thếgian hoàn toàn hoại diệt, do sức nghiệp của loài hữu tình tăng lên mà sinh ra gió nhẹ, thành lập 3 luân: Phong luân, Thủy luân và Kim luân, trên lớp Kim luân sinh ra các biển, núi, châu(núi Tu di, 7 núi vàng, 4 đại châu...), là chỗ ở của Tứ vương thiên, Đao lợi thiên (2 tầng trời này gọi là Địa cư thiên), nhân loại, bàng sinh; kế đến, thành lập Dạ ma thiên, Đâusuất thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên(4 tầng trời này gọi là Không cư thiên); từ Không cư thiên đếnđịa ngục Vô gián, các loài hữu tình tùy theo nghiệp đã tạo, sẽ lần lượt sinh đến các nơi đó. Thời kì hình thành khí thế gian và hữu tình thế gian này gọi làThành kiếp. [X. luận Đại tì bà sa Q.133, 134]. (xt. Tứ Kiếp).
thành kính
Sincere respect.
thành luận đại thừa sư
2936指主張鳩摩羅什所譯之成實論為大乘論書之學者,特指南朝梁代成實學派之學者。因三論宗嘉祥大師吉藏、天台智顗等師以為成實論應屬小乘論書;故稱主張該書屬大乘論之諸師為成論大乘師,以表示批判之意。
; (成論大乘師) Chỉ cho các học giả chủ trương luận Thành thực do ngài Cưu ma la thập dịch là bộ luận Đại thừa, đặc biệt chỉ cho các học giả thuộc học phái Thành thực ở đời Lương (Nam triều). Vì ngài Gia tường Cát tạng, ngài Thiên thai Trí khải... cho rằng luận Thành thực thuộc Tiểu thừa, cho nên những vị chủ trương luận này là luận Đại thừa, được gọi là Thành luận Đại thừa sư, để bày tỏ ý phê phán.
thành lập
To establish—To form—To create.
Thành lập 成立 =>
[ja] ジョウリツ jōryū ||| (1) To consist of, be composed of; be formed with. (2) To materialize, be realized; be concluded, be effected. (3) To establish, develop, complete, accomplish. (siddhi) 〔瑜伽論T 1579.30.501a〕(4) To achieve one's goal. (5) To posit in discourse. (sādhana) => 1. Gồm có, được tạo thành bởi, được thành hình từ. 2. Cụ thể hoá, thực hiện, thu xếp 3. Thiết lập, phát triển, làm xong, hoàn thành (s: siddhi) 4. Đạt được mục đích. 5. Điều ấn định trong luận thuyết (s: sādhana) .
Thành mãn bồ-tát trú 成滿菩薩住
[ja] ジョウマンボサツジュウ jōman bosatsujū ||| See 最上成滿菩薩住中. => Xem Tối thượng Thành mãn Bồ-tát trú trung 最上成滿菩薩住中.
Thành nghiệp luận 成業論
[ja] ジョウゴウロン Jōgō ron ||| Shortened title of the 大乘成業論. => Tên gọi tắt của Đại thừa thành nghiệp luận大乘成業論.
Thành nghiệp 成業
[ja] ジョウゴウ jōgō ||| To create karma, develop karma. 〔二障義HPC 1.796c〕 => Tạo nghiệp, tác nghiệp.
thành ngữ
Idiom.
thành nhân
A grown up person—Adult.
thành nhất
2920(1914~ )江蘇泰縣人,俗姓王,名汝康。字覺因,別號壽民。十五歲因病感悟人生多苦,從縣屬觀音禪寺春遠和尚出家。三年後入該縣光孝佛學院就學。民國二十九年(1940),受具足戒於寶華山妙柔和尚。三十一年考取上海中醫學院。畢業後,於上海玉佛寺創辦佛教施診所,以醫術濟世。三十七年渡海來臺。四十一年隨師祖南亭和尚於臺北市創辦華嚴蓮社。隨後曾任頭城念佛會會長、宜蘭縣佛教會會長,主編覺世旬刊,創建僑愛佛教講堂,宣講淨土三經,出席世界佛教僧伽大會等。六十一年繼南亭和尚出任蓮社住持。 師除弘法之外,並從事教育、文化、醫藥學術研究,參與智光商工建校、創辦華嚴專宗學院、領導中國藥用植物學會等事業。曾於七十三年五月榮獲美國東方大學頒贈名譽哲學博士學位。現任新中藥季刊、萬行月刊發行人、華岡佛學研究所副所長、華嚴專宗學院院長、智光商工學校董事長、華嚴蓮社董事長等職。著有慧日集三冊、為什麼要念佛、環島弘法日記等書。
thành nhất đạo
Cheng-i tao (C), Way of Right Unity.
thành niên
Of full age.
thành phần
Components
Thành Phật
成佛; J: jōbutsu;|Một cách trình bày sự chứng ngộ tự tính, Phật tính. Theo Thiền tông thì người ta không thể thành Phật được bởi vì người ta là Phật, nghĩa là chân tính của họ đồng với Phật tính, là Phật tính. Tuy nhiên, phàm phu không tự biết được sự việc tối trọng này và có cảm tưởng như là mình trở thành Phật khi nếm được kinh nghiệm Kiến tính lần đầu. Ðồng nghĩa với »Thành Phật« là »Thành Ðạo«, »Ðạt Ðạo.«
thành phật
2922梵語 buddho bhavati,西藏語 ḥtshaṅ-rgya-ba。指菩薩於多劫中滿足因行,完成自利、利他之德,而至究極之境界。又作作佛、得佛、成道、得道、成正覺、成菩提、證菩提、現等覺、得佛果。其原語不一,有 bodhiṃ spṛśate(證最上菩提之義)、abhisaṃbudhyate(現等覺之義)、buddhatvam avāpnoti(得佛之性義)、bodhiṃ labhate、bodhi-prapta(得最上菩提之義)、buddho vibudhyate(覺悟而成為佛陀之義)等。 小乘如大毘婆沙論卷一四三、卷一七六等主張在聲聞、緣覺、菩薩三乘之中,唯有菩薩能成佛。大乘之三乘教亦立「五姓各別」說,謂聲聞及緣覺無法成佛;然法華經、涅槃經等一乘教則允許二乘作佛之說,且謂謗法、闡提之眾生亦可成佛。又中阿含卷二十八瞿曇彌經、五分律卷二十九等謂女子有五障,不得成佛;相對於此,道行般若經卷六、維摩詰經卷下、法華經卷四等則有轉女成男之說,謂女子亦可能成佛,此乃大乘特有之教旨。此外,小乘教僅論依修行始可成佛(修得),大乘教則認為眾生成佛之因乃本來所具(性得),故謂眾生均有成佛之可能。 成佛,須經極長之年月及種種修行階位,稱為歷劫成佛。小乘認為須經三阿僧祇劫及百大劫,據大毘婆沙論卷一七六載,菩薩於三無數劫中修各種菩提分法及波羅蜜多行,復於百大劫中修相好業(修三十二相、八十種好之福業),永斷染污及不染污等一切之癡,覺了自利利他而成佛。大乘則認為須經三、七或三十三阿僧祇劫始成。依梁譯攝大乘論釋卷九、卷十一之意,大乘立十地乃至四十位等行位,主張於三十三無數大劫等積集福智之資糧,修十波羅蜜等行,成就大菩提,盡未來際利樂無窮。 天台宗認為「別教」必經長時年月,始可漸進成佛;然「圓教」於十住中之初住(發信住)即可成佛。 華嚴宗依勝身、見聞、一時、一念、無念等,而有五種疾得成佛之說。依勝身,即依輪王之子或兜率天子等之勝身,而於現身成佛;依見聞,即見聞妙法,諦信決定,證得佛之十力而得菩提;依一時,即如善財童子於善知識處,一時獲得普賢法;依一念,即依俗諦之念,於一念中契證普賢法;依無念,即解了一切法不生不滅而見真佛。又有約位(入十解之位即成佛)、約行(不依位之順序,而於每一行完成即成佛)、約理(由理而言,眾生本來即佛)等三種成佛之說,及見聞生(見聞教法之信位)、解行生(得智慧而修行之階位)、證入生(得最高佛果之位)等三生成佛之說。 另據占察善惡業報經卷下載,菩薩修行之每一階位,均為佛,故十信滿位之境地,稱為信滿成佛;十住滿位之境地,稱為解滿成佛;完成十地滿位菩薩之修行,稱為行滿成佛;完全達到佛果之境地,則稱證滿成佛。以上四者即稱四滿成佛。 在密教,則有理具成佛、加持成佛、顯得成佛等三種「即身成佛」之說。禪宗則主張「直指人心,見性成佛」,亦即以坐禪徹見現實之自心,如此則可開成佛之端緒。又有「草木成佛」之說,天台家與密家分別依「一色一香無非中道」之義、「六大緣起皆入阿字」之說,而論非情成佛。 日本淨土真宗有往生即成佛之說,謂往生阿彌陀佛淨土之同時即成佛。日蓮宗則認為,唱念題目即可受持成佛。〔增一阿含經卷十六、法華經卷一方便品、卷五如來壽量品、維摩詰經卷下、大毘婆沙論卷一七七、大乘莊嚴經論卷七、成唯識論卷七、俱舍論卷十二、法華玄義卷五下、華嚴孔目章卷四、華嚴經探玄記卷三、華嚴五教章卷二、大乘法苑義林章卷七本〕(參閱「三生成佛」544、「即身成佛」3760)
; Jōbutsu (J), Buddho-bavati (S) Bồ tát tu hành trong nhiều kiếp, đầy đủ nhân hạnh, hoàn thành công đức tự lợi, lợi tha, đạt đến cảnh giới cứu cánh.
; To become Buddha, as a Bodhisattva does on reaching supreme perfect bodhi.
; Bồ Tát ở ngôi nhân vị, tu hành vạn hạnh, cuối cùng chứng đắc A Nậu Đa La Ta Miệu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) hay Phật giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử—To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality—To become Buddha, as a Bodhisattva does on reaching supreme perfect bodhi.
; (成佛) Phạm: Buddho bhavati. Tạng: Ftshaí-rgya-ba. Cũng gọi Tác Phật, Đắc Phật, Thành đạo, Đắc đạo, Thành chính giác, Thành bồ đề, Chứng bồ đề, Hiện đẳng giác, Đắc Phật quả. Chỉ cho Bồ tát tu hành trong nhiều kiếp, nhân hạnh tròn đầy, hoàn thành đức lợi mình, lợi người mà đạt đến ngôi vị cùng tột.Trong tiếng Phạm, Thành Phật có các từ khác nhau như: Bodhiô spfzate Miếu Thành Hoàng được vẽ trong Tục kỉ văn đời Thanh (nghĩa là chứng Bồ đề tối thượng), Abhisaôbudhyate (nghĩa là hiện Đẳng giác),Buddhatvam avàpnoti (nghĩa là được tính Phật), Bodhiôlabhate, Bodhiprapta(nghĩa là được Bồ đề tối thượng), Buddho vibudhyate(nghĩa là giác ngộvà trở thành Phật)... Tiểu thừa giáo, như luận Đại tì bà sa quyển 143 quyển 176... cho rằng trong 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thì chỉ có Bồ tát là có khả năng thành Phật. Tam thừa giáo trong Đại thừa cũng lập thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương Thanh văn và Duyên giác không thể trở thành Phật. Nhưng Nhất thừa giáo như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn thì cho rằng Nhị thừa đều thành Phật, hơn nữa, còn chủ trương ngay cả những người phỉ báng Phật pháp như Nhất xiển đề... cũng có thể thành Phật. Lại kinh Cù đàm di trong kinh Trung a hàm quyển 28 và luật Ngũ phần quyển 29, cho rằng người nữ có 5 chướng, không thành Phật được; trái lại, kinh Đạo hành bát nhã quyển 6, kinh Duy ma cật quyển hạ và kinh Pháp hoa quyển 4 thì có thuyết Chuyển nữ thành nam, nghĩa là người nữ cũng có khả năng thành Phật, đây là giáo chỉ đặc hữu của Đại thừa. Ngoài ra, Tiểu thừa giáo chỉ bàn vấn đề nhờ có tu hành mới thành Phật(tu đắc), nhưng Đại thừa giáo thì chủ trương chúng sinh vốn có sẵn nhân thành Phật(tính đắc), do đó cho rằng chúng sinh đều có khả năng thành Phật.Thành Phật phải trải qua thời gian rất lâu dài và qua nhiều thứ bậc khác nhau. Tiểu thừa chủ trương phải qua 3 a tăng kì kiếp và 100 đại kiếp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 176 thì Bồ tát trong 3 vô số kiếp tu các pháp Bồ đề phần và các hạnh Ba la mật đa, rồi lại trong 100 đại kiếp tu nghiệp tướng hảo(tu phúc nghiệp 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp), vĩnh viễn đoạn trừ tất cả si mê nhiễrn ô và bất nhiễm ô, biết rõ tất cả hạnh tự lợi, lợi tha mới thành Phật. Còn Đại thừa thì cho rằng tu hành phải trải qua 3,7 hoặc 33 a tăng kì kiếp mới thành Phật. TheoNhiếp đại thừa luận thích quyển 9,11 (bản dịch đời Lương), Đại thừa lập các giai vị tu hành từ Thập địa cho đến 40 giai vị, trong 33 vô số đại kiếp chứa góp tư lương phúc đức, trí tuệ, tu 10 hạnh Ba la mật... thành tựu đại bồ đề, hết cõi vị lai lợi lạc vô cùng. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo phải trải qua thời gian lâu dài mới tiến dần đến quả Phật; nhưng Viên giáo thì ở ngay Sơ trụ(Phát tín trụ)trong Thập trụ cũng có thể thành Phật tức khắc. Tông Hoa nghiêm thì y cứ vào Thắng thân, Kiến văn, Nhất thời, Nhất niệm và Vô niệm mà chủ trương 5 trường hợp thành Phật mau chóng. Đó là: 1. Y cứ vào thắng thân: Tức nhờ vào thân thù thắng của con Luân vương hoặc Đâu suất thiên tử mà thành Phật ngay nơi thân hiện tại. 2. Y cứ vào kiến văn: Tức thấy nghe diệu pháp, tin chắc quyết định, chứng đắc 10 lực của Phật mà được Bồ đề. 3. Y cứ vào nhất thời: Tức như đồng tử Thiện tài ở nơi thiện tri thức, chỉ trong nhất thời chứng được pháp Phổ hiền. 4. Y cứ vào nhất niệm: Tức y cứ vào niệm tục đế, chỉ trong một niệm khế hợp, chứng được pháp Phổ hiền. 5. Y cứ vào vô niệm: Tức hiểu rõ tất cả pháp chẳng sinh chẳng diệt và thấy được Phật chân thực. Ngoài ra, tông Hoa nghiêm còn có thuyết Tam chủng thành Phật. 1. Nói về vị: Vào giai vị Thập giải liền thành Phật. 2. Nói về hạnh: Không theo thứ tự giai vị mà đối với mỗi hạnh được hoàn thành thì liền thành Phật. 3. Nói về lí: Nói theo lí thì xưa nay chúng sinh vốn tức là Phật. Và thuyết Tam sinh thành Phật: 1. Kiến văn sinh: Giai vị Tín thấy nghe giáo pháp. 2. Giải hành sinh: Giai vị tu hành mà được trí tuệ. 3. Chứng nhập sinh: Giai vị được quả Phật tột cùng. Còn kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển hạ thì cho rằng mỗi một giai vị tu hành của Bồ tát đều là Phật, cho nên cảnh giới Thập tín mãn vị gọi là Tín mãn thành Phật; cảnh giới Thập trụ mãn vị gọi làGiải mãn thành Phật; Bồ tát tu hành hoàn thành Thập địa mãn vị gọi là Hành mãn thành Phật; hoàn toàn đạt đến cảnh giới của quả Phật thì gọi là Chứng mãn thành Phật. Bốn giai vị trên đây được gọi là Tứ mãn thành Phật. Trong Mật giáo thì có 3 thuyết Tức thân thành Phật là Lí cụ thành Phật, Gia trì thành Phật và Hiển đắc thành Phật. Thiền tông thì chủ trương Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, cũng tức là dùng việc tọa thiền thấy suốt tự tâm hiện thực, như vậy thì có thể mở ra manh mối thành Phật. Lại có thuyết Cây cỏ thành Phật. Các nhà Thiên thai y cứ vào nghĩa Nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo và các nhàMật giáo thì y cứ vào thuyết Lục đại duyên khởi mà luận về Phi tình thành Phật. Tại Nhật bản thì Tịnh độ chân tông có thuyết Vãng sinh tức thành Phật, cho rằng cùng lúc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà tức là thành Phật. Tông Nhật liên thì chủ trương xướng niệm đề mục (tên kinh Diệu pháp liên hoa) tức có thể thụ trì thành Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; kinh Duy ma cật Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.177; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.7; luận Câu xá Q.12; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu]. (xt. Tam Sinh Thành Phật, Tức Thân Thành Phật).
thành phật giải thoát
To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality.
thành phật ngoại tích kệ
2922 為大日經卷二所說之偈頌。密教大日如來入於一體速疾力三昧,闡明成就菩提之實義時,最先宣說此偈。偈文為(大一八‧九中):「我昔坐道場,降伏於四魔;以大勤勇聲,除眾生怖畏。是時梵天等,心喜共稱說;由此諸世間,號名大勤勇。」上記引文中,大勤勇之聲,謂以誠實之言音來降伏四魔,袪除眾生之怖畏,故稱成佛之外迹。〔五部祕經傳授要路卷二〕
; (成佛外迹偈) Chỉ cho bài kệ tụng nói trong kinh Đại nhật quyển 2. Khi đức Đại nhật Như lai của Mật giáo vào tam muội Nhất thể tốc tật lực để nói rõ về nghĩa chân thực thành tựu bồ đề thì trước tiên Ngài tuyên thuyết bài kệ này. Văn kệ như sau (Đại 18, 9 trung): Ngã tích tọa đạo tràng, Hàng phục ư tứ ma; Dĩ đại cần dũng thanh, Trừ chúng sinh bố úy. Thị thời Phạm thiên đẳng, Tâm hỉ cộng xưng thuyết; Do thử chư thế gian, Hiệu danh Đại cần dũng. (Xưa ta ngồi đạo tràng, Hàng phục bốn loài ma; Dùng tiếng đại cần dũng, Khiến chúng sinh hết sợ. Bấy giờ các Phạm thiên, Mừng vui cùng khen ngợi. Do đó, người thế gian, Gọi ta Đại cần dũng). [X. Ngũ bộ bí kinh truyền thụ yếu lộ Q.2].
thành phật tự
2923位於韓國黃海道董州郡州南面之正(政)方山。又稱千聖山、千成山。為韓國佛教三十一本山之一。新羅末期,道詵創建。高麗辛缮二年(1376)至英祖二十六年(1750),歷經懶翁慧勤、雪崇大師、贊訓大師等重新整修。西元一九二四年,李寶潭修復冥府殿、香爐殿、清風樓、極樂殿、應真殿等,寺觀一新。〔朝鮮金石總覽下、朝鮮寺剎史料下、成佛寺事蹟碑銘〕
Thành Phật đạo 成佛道
[ja] ジョウフツドウ jōbutsudō ||| To perfect enlightenment (bodha). => Thành tựu giác ngộ giải thoát (s: bodha).
Thành Phật 成佛
[ja] ジョウブツ jōbutsu ||| "Becoming a buddha," "accomplishing buddhahood," i.e., the whole point of Buddhism, its teachings and practices. (1) The awakening of Śākyamuni at Buddhagayā (bodhir-prāpta-bodhimanda-niśidana). (2) Entering into enlightenment. The supreme enlightenment of every person--becoming a buddha (abhisaṃbuddha). => “Trở thành một đức Phật”, “thành tựu quả vị Phật” nghĩa là thành tựu hoàn toàn, thông đạt giáo lý và công hạnh tu đạo. 1. Sự giác ngộ của Đức Phật tại Bồ-đề đạo tràng (s: bodhir-prāpta-bodhimanda-niśidana). 2. Đạt được giải thoát. Sự giác ngộ tối thượng của mọi người – là thành Phật (abhisaṃbuddha).
thành phố trên núi
Giurinaraga (S), A mountain city.
thành phố trên trời
Gagananagara (S), Town in the ky.
thành quả
Fruit—Result.
Thành sở tác trí
成所作智; S: kṛtyānuṣṭhāna-jñāna;|Năm trí
thành sở tác trí
2924梵語 kṛtyānuṣṭhāna-jñāna。又作作事智。為四智之一,五智之一。即轉前五識(眼識、耳識、鼻識、舌識、身識)所得之智。蓋自證化他之二利應作,故稱所作;大悲隨類應同之妙業必得成就,故稱成。密教五佛中之不空成就如來配當此智。(參閱「五智」1161、「四智」1769)
; Kṛtyanuthana-jāna (S) Tác sự trí.
; (成所作智) Phạm:Kftyànuwỉhàna-jĩàna. Cũng gọi Tác sự trí. Chỉ cho trí tuệ do chuyển 5 thức trước (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân)mà có được, là 1 trong 4 trí, là 1 trong 5 trí.Vì 2 cái lợi là tự chứng và hóa tha mà làm nên gọi là Sở tác; vì diệu nghiệp đại bi tùy loại ứng đồng đều được thành tựu nên gọi là Thành. Đức Như lai Bất không thành tựu trong 5 đức Phật của Mật giáo được phối hợp với trí này. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí).
thành sự
To accomplish—To succeed.
thành thánh
To sanctify.
thành thân
See Thành Gia Thất.
thành thân hội
2924<一>為密教金剛界九界曼荼羅中央之根本會。又稱金剛界大曼荼羅、羯磨會、根本會、根本成身會。此會圖繪諸尊之威儀事業、相好具足之羯磨身,為四種曼荼羅中之大曼荼羅。其中包含五佛、四波羅蜜、十六大菩薩、八供養、四攝、賢劫千佛、外金剛部二十天、四大神等,總計一○六一尊。 此曼荼羅朝向東南方,方壇之中央以金剛杵為界,畫一大圓輪,圓輪內有五月輪,中間之月輪有大日如來及金、寶、法、業等四波羅蜜菩薩,四方之月輪則分別為阿閦、寶生、阿彌陀、不空成就等四佛及四親近(即十六大菩薩)。五月輪之四隅皆有寶珠,表示供養之義。於大圓輪之四隅有嬉、鬘、歌、舞等內四供養,輪外之四隅則有地、水、火、風等四大神,皆作持輪之狀。於成身會之外院,四隅分別為香、華、燈、塗等外四供養,四方則有鉤、索、鎖、鈴等四攝菩薩。於此八尊之中,賢劫千佛臚列其間。最後於外院之外,安上二十天。 於密教各種修法中,阿闍梨將弟子引入曼荼羅會場,預備傳授灌頂時,須先開啟弟子之心眼,此成身會曼荼羅即是阿闍梨開啟弟子心中本具之曼荼羅時所特用者。 <二>為密教金剛界修法中,各別修曼荼羅諸會時之一節段。此一節段係自金剛界法次第之五相成身迄振鈴之時為止。此節段乃以五相三密之祕觀成就佛身,故亦稱成就會。
; Căn Bản Hội—Yết Ma Hội—Mạn Đà La thuộc hội thứ nhất trong chín hội Mạn Đà La Kim Cương Giới—The first group in the nine Vajradhatu groups. ** For more information, please see Yết Ma Hội.
; (成身會) I. Thành Thân Hội. Cũng gọi Kim cương giới đại mạn đồ la, Yết ma hội, Căn bản hội, Căn bản thành thân hội. Hội căn bản ở chính giữa Cửu giới mạn đồ la thuộc Kim cương giới của Mật giáo. Hội này vẽ uy nghi sự nghiệp và thân yết ma đầy đủ tướng tốt đẹp của các vị tôn, là Đại mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Trong Mạn đồ la này gồm có 5 đức Phật, 4 bồ tát Ba la mật, 16 vị Đại bồ tát, 8 bồ tát Cúng dường, 4 Nhiếp bồ tát, 1.000 đức Phật kiếp Hiền, 20 vị trời thuộc Ngoại kim cương bộ và 4 vị thần lớn, tổng cộng có 1061 vị tôn. Mạn đồ la này nhìn về hướng Đông nam, chính giữa đàn vuông dùng chày Kim cương làm ranh giới, vẽ một vòng tròn lớn, trong vòng tròn có 5 nguyệt luân, nguyệt luân chính giữa có Đại nhật Như lai và 4 bồ tát Ba la mật Kim, Bảo, Pháp, Nghiệp, còn nguyệt luân ở 4 phía thì lần lượt là 4 đức Phật A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu với 4 vị Bồ tát thân cận(tức 16 vị Đại bồ tát). Ở 4 góc của 5 nguyệt luân đều có bảo châu, biểu thị ý nghĩa cúng dường. Ở 4 góc của vòng tròn lớn có 4 vị bồ tát Nội cúng dường Hi, Man, Ca, Vũ; 4 góc bên ngoài vòng tròn lớn thì có 4 vị đại thần là thần Đất, thần Nước, thần Lửa và thần Gió, đều ở trong tư thế đang nâng giữ lấy vòng tròn. Ở 4 góc Ngoại viện của hội Thành thân, có 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường Hương, Hoa, Đăng, Đồ; ở 4 phía có 4 Nhiếp bồ tát Câu, Sách, Tỏa, Linh. Một nghìn vị Phật của kiếp Hiền được bày xếp ở khoảng giữa 8 vị Bồ tát này. Sau cùng, ở phía ngoài của Ngoại viện đặt 20 vị trời. Trong các pháp tu của Mật giáo, khi vị A xà lê dẫn đệ tử vào đàn tràng hội Mạn đồ la để chuẩn bị truyền trao quán đính thì trước phải khai mở tâm nhãn của đệ tử. Mạn đồ la hội Thành thân này chính là Mạn đồ la được vị A xà lê đặc biệt sử dụng để khơi mở Mạn đồ la vốn có sẵn trong tâm của đệ tử.II. Thành Thân Hội. Một trong các tiết đoạn khi tu các hội Mạn đồ la khác nhau trong pháp tu Kim cương giới của Mật giáo. Tiết đoạn này bắt đầu từ Ngũ tướng thành thân của Kim cương giới pháp thứ đệ đến khi rung chuông thì dừng. Tiết đoạn này dùng bí quán Ngũ tướng tam mật để thành tựu Phật thân, nên cũng gọi là Thành thân hội.
thành thần
To become a spirit (genii).
thành thật
Completely true, or reliable, pefect truth. An abbreviation for thành thật tông, thành thật luận, thành thật sư.
; Candid—Frank—Sincere—Honest—Fair—Completely true—Perfect truth.
thành thật luận
2932梵名 Satyasiddhi-śāstra。凡十六卷,或二十卷。又作誠實論。訶梨跋摩(梵 Harivarman)著,鳩摩羅什於姚秦弘始十三年至十四年(411~412)間譯出。收於大正藏第三十二冊。為成實宗之根本經典。「成實」即「成四諦之實」之意。論中說明宇宙各種現象之存在皆為無實體之假象,最後終歸於空,修如是觀可體解四諦之理,以八聖道滅除所有煩惱,最後到達涅槃。 內容分發聚(序論)、苦諦聚、集諦聚、滅諦聚、道諦聚(以上為本論)等五聚,計二○二品。發聚共三十五品,先論述佛、法、僧三寶,後說造論之理由及四諦之法義,並列舉佛教有關有相、無相等十種重要異說,以示明本論之立場。苦諦聚共五十九品,說明五受陰(五取蘊)之苦,並詳敘色、識、想、受、行。集諦聚共四十六品,說明苦因與業、煩惱。滅諦聚共十四品,披瀝本書獨特之見解,即謂滅盡假名心、法心、空心等三心,可達於涅槃之境界。道諦聚共四十八品,說明滅苦而實現涅槃之方法,為禪定與智慧。其中,智乃空無我之真智,係滅煩惱後所得者;此外,復言及空與無我之實踐。 本論之立場取二世(過去及未來)無論、性本不淨論、無我論等,且說人法二空;全書之教說不僅網羅部派佛教(小乘佛教)重要教理,亦含有大乘之見解;又多立於經量部之立場,以排斥說一切有部之解釋。在佛教史上,被認為是由小乘空宗走向大乘空宗過渡時期之重要著作。古來對本論究竟為大乘或小乘時有爭論,如南朝梁代之三大法師站在般若、法華、涅槃諸經立場,判定本論為大乘論,嘉祥大師吉藏一派則斷定本論為小乘論。南北朝時一度出現專講此論之成實學派。 本論之卷數有各種異說,高麗藏本為十六卷,宋、元、明藏本為二十卷,諸經錄中則有十四卷、十六卷、二十一卷、二十四卷等說。注疏頗多,有南朝宋代僧導之成實論義疏若干卷、北魏曇度之成實論大義疏八卷、隋代靈祐之成實論抄五卷等,今多已散軼,僅於隋代慧遠所著大乘義章內尚保存部分。〔梁高僧傳卷七、卷八、歷代三寶紀卷十一、續高僧傳卷五、卷七至卷九〕
; Satyasiddhi-śāstra (S) Do ngài Ma lê Bạt ma biên soạn vào thế kỷ thứ 4 BC.
; (成實論) Phạm:Satyasiddhi-zàstra. Luận, 16 quyển hoặc 20 quyển, do ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman) soạn, ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy 13 đến 14 (411-412), được thu vào Đại chính tạng tập 32, là kinh điển căn bản của tông Thành thực. Thành thực nghĩa là Thành sự thực Tứ đế. Luận này thuyết minh tất cả hiện tượng tồn tại trong vũ trụ đều chỉ là giả tượng chứ không có thực thể, cuối cùng đều qui về Không, quán xét như thế thì thể ngộ được lí Tứ đế, dùng 8 Thánh đạo diệt trừ tất cả phiền não mà đạt được Niết bàn.Nội dung luận này chia làm 5 tụ: Phát tụ(bài tựa luận) Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ, Đạo đế tụ(4 tụ này là bản luận), gồm 202 phẩm. Phát tụ có 35 phẩm, trước nói về Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, sau nói về lí do tạo luận và pháp nghĩa Tứ đế, đồng thời nêu ra 10 dị thuyết quan trọng về Hữu tướng, Vô tướng để chỉ rõ lập trường của luận này. Khổ đế tụ có 59 phẩm, nói rõ cái khổ của Ngũ thụ uẩn(Ngũ thủ uẩn) và thuyết minh về sắc, thức, tưởng, thụ, hành. Tập đế tụ có 46 phẩm, nói rõ cái nhân của khổ và nghiệp, phiền não. Diệt đế tụ có 14 phẩm, trình bày kiến giải đặc biệt của luận này, nghĩa là nếu diệt hết giả danh tâm, pháp tâm và không tâm thì đạt đến cảnh giới Niết bàn. Đạo đế tụ có 48 phẩm, thuyết minh phương pháp diệt khổ để thực hiện Niết bàn, đó là thiền định và trí tuệ. Trong đó, trí là chân trí không vô ngã, trí này có được sau khi đã diệt hết phiền não. Ngoài ra, còn nói đến thực tiễn không và vô ngã. Lập trường của luận này là chủ trương Nhị thế vô luận(quá khứ và vị lai không thực có), Tính bản bất tịnh luận(tính con người vốn bất tịnh), Vô ngã luận..., đồng thời cho rằng Nhân, Pháp đều không. Giáo thuyết trong toàn luận chẳng những bao trùm các giáo lí trọng yếu của Phật giáo bộ phái(Phật giáo Tiểu thừa) mà còn chứa đựng các kiến giải Đại thừa; phần nhiều đứng trên lập trường Kinh lượng bộ để bài xích sự giải thích của Thuyết nhất thiết hữu bộ về các vấn đề. Trên phương diện lịch sử tư tưởng Phật giáo, luận này được xem là tác phẩm trọng yếu của thời kì quá độ từ Tiểu thừa Không tông hướng tới Đại thừa Không tông. Về vấn đề luận này thực sự là thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa thì xưa nay đã có nhiều tranh luận, như 3 vị Đại Pháp sư đời Lương thuộc Nam triều, đứng trên lập trường các kinh Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn... mà phán định luận này là luận Đại thừa; trái lại, phái của Đại sư Gia tường Cát tạng thì đoán địnhluận này thuộc về luận Tiểu thừa. Ở thời Nam Bắc triều đã có một độ xuất hiện học phái Thành thực chuyên giảng bộ luận này. Về số quyển của luận này có nhiều thuyết khác nhau, bản tạng Cao li là 16 quyển, các bản tạng Tống, Nguyên, Minh là 20 quyển. Còn trong các bộ Mục lục kinh thì có các thuyết 14 quyển, 16 quyển, 21 quyển, 24 quyển... Luận này có rất nhiều sách chú thích như: Thành thực luận nghĩa sớ của ngài Tăng đạo đời Tống thuộc Nam triều, Thành thực luận đại nghĩa sớ 8 quyển của ngài Đàm độ đời Bắc Ngụy, Thành thực luận 5 quyển của ngài Linh hựu đời Tùy, nhưng hiện nay phần nhiều đã bị thất lạc, chỉ còn một phần được bảo tồn trong các tác phẩm Đại thừa nghĩa chương của ngài Tuệ viễn đời Tùy. [X. Lương cao tăng truyện Q.7, 8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.5, 7-9].
Thành thật luận 成實論
[ja] ジョウジツロン Jōjitsuron ||| Chengshi lun The Satyasiddhi-śāstra; 16 fasc., T 1646.32.239-375; translated into Chinese by Kumārajīva 鳩摩羅什. A scholastic text that analyzes all existences into 84 elements. It also introduces conceptions of emptiness that are very Mahāyānistic. It teaches the attainment of nirvana through the destruction of attachment to names, elements, and emptiness, yet its understanding of emptiness is still analytical emptiness, rather than the "essential emptiness" of the later Mahāyāna schools. Attributed to Harivarman 訶梨跋摩. => (s: Satyasiddhi-śāstra ; j: Jōjitsuron;c: Chengshi lun) ; 16 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch sang tiếng Hán. Một chuyên luận mang tính triết học, phân tích mọi sự hiện hữu thành 84 yếu tố. Luận cũng giới thiệu những ý niệm về tính không mang đậm tư tưởng Đại thừa. Chủ trương đạt đến niết-bàn thông qua diệt trừ các chấp trước vào danh tướng và vào trống không, thế nên kiến giải về Không của luận nầy vẫn còn dựa trên sự phân tích về Không, hơn là tư tưởng “tính không” của các tông phái Đại thừa về sau. Luận được xem là của Ha-lê Bạt-ma (Harivarman 訶梨跋摩).
Thành Thật Tông
(成實宗, Jōjitsu-shū): tên gọi của học phái nghiên cứu dựa trên bộ Thành Thật Luận (s: Satyasiddhi-śāstra, 成實論) của Ha Lợi Bạt Ma (s: Harivarman, 訶利跋摩, khoảng thế kỷ thứ 3-4), do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào khoảng năm 411-412. Ở Trung Hoa thì nó thuộc một chi nhánh của Tam Luận Tông. Trước tiên tông này được môn hạ của La Thập nghiên cứu, rồi Tăng Đạo (僧道) và Tăng Tung (僧嵩) đã thành lập nên 2 hệ thống tư tưởng lớn. Tăng Đạo thì trước tác bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ (成實論義疏), đóng vai trò chỉ đạo trong việc nghiên cứu về Thành Thật Tông ở vùng phía Nam. Ông có một số đệ tử như Đàm Tế (曇濟), Đạo Lượng (道亮), Đạo Mãnh (道猛), v.v. Đệ tử của Đàm Tế và Đạo Mãnh thì có Pháp Sủng (法寵). Còn đối với Đạo Lượng, người soạn ra bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ thì có Trí Lâm (智林). Tăng Tung thì quảng bố Thành Thật Luận ở Từ Châu; còn các môn hạ của đệ tử ông là Tăng Uyên (僧淵) như Đàm Độ (曇度), Đạo Đăng (道登), Huệ Cầu (慧球), v.v., thì được tín nhiệm thời Bắc Ngụy. Vào thời Nam Tề thì Tăng Nhu (僧柔), Huệ Thứ (慧次) vâng theo mệnh lệnh của vua Tuyên Văn Vương (宣文王) trước tác bộ Lược Thành Thật Luận (略成實論); sau này môn hạ của họ cũng xuất hiện ra 3 vị đại pháp sư của nhà Lương là Trí Tạng (智藏), Tăng Mân (僧旻) và Pháp Vân (法雲). Trong số 3 người này thì Trí Tạng là người đã đem hết sức mình xiển dương Thành Thật Luận. Vào đời nhà Tùy thì có Trí Thoát (智脫) rất nổi tiếng. Đối với Nhật Bản thì tông này cũng được vương triều Bách Tế (百濟) của Triều Tiên truyền vào, nhưng chỉ phụ thuộc vào Tam Luận Tông, chứ không tồn tại như một tông phái lớn như ở Trung Quốc.
Thành thật tông
成實宗; C: chéngshí-zōng; J: jōjitsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc, xuất phát từ giáo pháp của Kinh lượng bộ (s: sautrān-tika) Ấn Ðộ. Cơ bản của tông phái này là bộ Thành thật luận (s: satyasiddhiśāstra) của Ha-lê Bạt-ma (s: harivarman) trong thế kỉ thứ 4, được Cưu-ma-la-thập (kumārajīva) dịch ra chữ Hán trong thế kỉ thứ 5.|Ðại diện cho tông phái này là Tăng Ðạo (僧導) và Tăng Khải (僧楷), cả hai đều là đệ tử của Cưu-ma-la-thập, là hai vị đã truyền bá Thành thật tông khắp Trung Quốc và vì vậy, tông này trở thành một tông phái mạnh của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ 6. Tông phái này khác với Tam luận tông vì các vị Tam luận tông cho rằng luận sư của Thành thật tông đã hiểu sai ý nghĩa của biểu đạt tính Không. Các vị Luận sư quan trọng của Tam luận tông như Pháp Lãng và Cát Tạng đã công kích Thành thật tông mạnh mẽ nên ảnh hưởng của phái này giảm dần.|Tông này được xem là Tiểu thừa vì họ chỉ chuyên tâm nghiên cứu những lời giảng của đức Phật. Quan điểm chính của tông phái này là phủ nhận mọi sự hiện hữu. Tâm thức hay vật chất đều không hiện hữu thật sự. Theo tông phái này, có hai loại chân lí: một loại chân lí »thế gian«, chân lí có tính chất quy ước và chân lí kia là chân lí tuyệt đối. Dựa trên chân lí thế gian, tông này chấp nhận sự hiện hữu của các pháp (s: dharma), các pháp này hiện hành tuỳ thuộc lẫn nhau, vô thường và sẽ bị hoại diệt. Trên phương diện tuyệt đối thì mọi pháp đều trống Không (s: śūnyatā). Như thế, Thành thật tông cũng cho rằng cả ngã lẫn pháp đều không (人法皆空; Nhân pháp giai không) nên cũng có khi tông này được xem là Ðại thừa. Tuy thế, khác với các trường phái Ðại thừa khác – vốn cho rằng có một cái Không làm nền tảng, biến hoá ra mọi hiện tượng (真空妙有; Chân không diệu hữu) – Thành thật tông nhìn nhận tính Không một cách tiêu cực hơn, đó chỉ là sự trống rỗng đằng sau các hiện tượng, thấy rõ được qua sự phân tích, phủ nhận, và vì thế tông này cũng có tên Nhất thiết không tông (一切空宗; sarvaśūnyavāda). Quan điểm về tính Không này còn vướng mắc trong trạng thái phủ định, phủ nhận thế gian, khác hẳn quan điểm tính Không của Tam luận tông Trung Quốc.|Thành thật tông Nhật Bản (jōjitsu-shū) được Cao tăng Triều Tiên là Huệ Quán (慧灌; ek-wan), người đã từng học tại Trung Quốc truyền qua Nhật năm 625. Kể từ đó Thành thật tông được nhiều người nghiên cứu, nhưng không trở thành tông phái hẳn hoi, chỉ được xem là một phần của Tam luận tông.
thành thật tông
2932即以成實論為所依之宗派。又作成論家、成實學派。為我國十三宗之一,日本八宗之一。宗祖為中印度之訶梨跋摩(梵 Harivarman),約生於佛陀入滅後七百年至九百年間,初於究摩羅陀處修學小乘薩婆多部(說一切有部)教義,繼而研習大小諸部,乃撰述成實論,批判有部理論,未久即震撼摩揭陀國,王譽稱為「像教大宗」。其後於印度之弘布情形不詳。 姚秦弘始十四年(412),鳩摩羅什漢譯此論,並與門人僧叡等講述之,曇影整理諸品,分立五聚,僧導製作成實論義疏,道亮則撰有成實論疏八卷。僧導涉跡南地,住於壽春東山寺(導公寺),大張講席,講述三論、成實。又至建康講述之,首開南方研習成實論之風。門人僧威、僧鍾、僧音等皆善此論。同時,又有道猛奉敕住於建康興皇寺講之,或謂其亦屬僧導系統,門人道慧、智欣先後敷演。 同時,慧隆(429~490)受劉宋明帝之請,在湘宮講成實。玄暢在江陵作訶梨跋摩傳一篇。智順精通涅槃、成實。南齊永明七年(489),竟陵文宣王請僧柔、慧次在普弘寺講成實,並撰「抄成實論九卷」。周顒撰三宗論,闡明三宗對二諦之解釋。 僧柔、慧次之門人智藏、僧旻、法雲等為梁代之三大法師。智藏撰有成實論大義記、成實論義疏,傳法於僧綽,僧綽傳法於警韶、慧
; Satyasiddhi School, Tch'eng-cheu Tsoung (C), Jōjitsu-shŪ (J) Tông phái tiểu thừa, truyền qua Nhật hồi thế kỷ 7, hiện không còn phổ biến nữa.
; Satyasiddi (S) Jòjitsu shù (J). Satyasiddi sect, based upon the Satyasiddi-sàstra Thành thật luận of Harivarman. In China it was a branch of Tam Luận tông.
; Satya-siddhi School of Harivarman—See Thành Thực Tông.
; (成實宗) Cũng gọi Thành luận gia, Thành thực học phái. Tông phái lấy luận Thành thực làm nền tảng, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Tông Tổ là ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman), sinh ở Trung Ấn độ, vào khoảng từ 700 năm đến 900 năm sau đức Phật nhập diệt. Lúc đầu, sư tu học giáo nghĩa của Tất bà đa bộ ( Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc Tiểu thừa nơi ngài Cứu ma la đà, sau đó, học tập, nghiên cứu các bộ phái Đại thừa, Tiểu thừa, rồi soạn luận Thành thực, phê phán lí luận Hữu bộ, chẳng bao lâu chấn động nước Ma yết đà, được nhà vua khen là Tượng Giáo Đại Tông. Về sau, tình hình hoằng pháp của sư tại Ấn độ không được rõ. Vào năm Hoằng thủy thứ 4 (412), luận này được ngài Cưu ma la thập, sống vào đời Diêu Tần, dịch ra chữ Hán, đồng thời giảng cho các học trò như Tăng duệ... nghe, ngài Đàm ảnh chỉnh lí các phẩm, chia làm 5 tụ, ngài Tăng đạo soạn Thành thực luận nghĩa sớ, ngài Đạo lượng soạnThành thực luận sớ 8 quyển. Ngài Tăng đạo xuống miền Nam, trụ ở chùa Sơn đông (chùa Đạo công)tại Thọ xuân, mở tòa giảng, thuyết giảng Tam luận, Thành thực; rồi lại đến Kiến khang giảng diễn, mở đầu phong trào học tập nghiên cứu luận Thành thực ở phương Nam. Học trò ngài Tăng đạo là các vị Tăng uy, Tăng chung, Tăng âm... cũng giỏi luận này. Đồng thời lại có ngài Đạo mãnh vâng sắc trụ chùa Hưng hoàng ở Kiến khang diễn giảng, có thuyết cho rằng ngài Đạo mãnh cũng thuộc hệ thống ngài Tăng đạo; đệ tử ngài Đạo mãnh là các vị Đạo tuệ,Trí hân... cũng lần lượt giảng luận này. Bấy giờ, ngài Tuệ long (429-490), nhận lời thỉnh của vua Minh đế nhà Lưu Tống vào Tương cung giảng Thành thực. Ngài Huyền sướng thì soạn Ha lê bạt ma truyện 1 thiên. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), Cánh lăng văn tuyên vương thỉnh các ngài Tăng nhu, Tuệ thứ giảng Thành thực ở chùa Phổ hoằng, đồng thời soạn Sao Thành thực luận 9 quyển. Đệ tử ngài Tăng nhu, Tuệ thứ là các vị Trí tạng, Tăng mân, Pháp vân là 3 vị Đại pháp sư đời Lương. Ngài Trí tạng soạn Thành thực luận đại nghĩa kí, Thành thực luận nghĩa sớ. Khoảng năm Thiên giám (502-511) đời Lương, Viên đàm doãn soạn Thành thực luận tụ sao 20 quyển, Tuệ diệm soạn Thành thực luận huyền nghĩa 17 quyển, Hồng yển soạn Thành thực luận sớ 10 quyển; ngài Bảo quỳnh soạn Thành thực luận huyền nghĩa 20 quyển, và Thành thực luận văn sớ sao 16 quyển... Tóm lại, phong trào học tập, nghiên cứu và hoằng dương luận Thành thực ở miền Nam đã rất hưng thịnh một thời. Còn ngài Tăng tung – cũng là học trò Đại sư Cưu ma la thập – thì hoằng dương luận Thành thực ở Bành thành, hình thành hệ thống phương Bắc. Học trò ngài Tăng tung có các vị Tăng uyên, Đàm độ, Đạo đăng, Tuệ cầu... đều soạn sớ và hoằng dương luận Thành thực, nhất là ngài Đàm độ giảng Thành thực ở kinh đô Đại đồng thời Bắc Ngụy, có tới hơn 1.000 đồ chúng tới dự, đồng thời soạn Thành thực đại nghĩa sớ 8 quyển. Sang các đời Tùy, Đường cũngcórất nhiềuCao tăng Đại đức tu học và hoằng dương luận Thành thực, như ngài Huyền trang trước khi du học Ấn độ, cũng đã từng tu học, nghiên cứu rất sâu luận này ở Triệu châu. Tại Cao li, Nhật bản, luận Thành thực cũng được các tông phái tu tập và hoằng dương rộng rãi. Tông Tì đàm cho các yếu tố cấu thành giả tướng như Sắc pháp, Tâm pháp... đều là thực thể, vì thế tông này được gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ;tông Câu xá thì chủ trương Vô biểu sắc, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp trong các pháp đều không có thực thể; còn tông Thành thực thì tiến thêm bước nữa cho rằng Sắc pháp, Tâm pháp rốt cuộc cũng là Không; tông này chiavạn hữu thành 5 vị 84 pháp, các pháp này đều là không, nếu thấu suốt thế giới khổ đau này là không thì hoàn toàn giải thoát khỏi sinh tử, gọi là đã đến chỗ cùng tột của việc tu đạo, đó là Diệt đế. Luận Thành thực gồm 202 phẩm có thể được qui nạp vào 5 nhóm: Phát, Khổ, Tập, Diệt, Đạo mà chỗ qui kết chính là Diệt đế. Diệt đế này mọi người đều sẵn có, cho nên gọi là Bản hữu niết bàn, khi tu mà chứng nghiệm được thì gọi là Thủy hữu niết bàn. Bản hữu, Thủy hữu nghĩa tuy khác nhau, nhưng thể thì là một. Vào thời đại Ha lê bạt ma, các luận thuyết về Ngũ tụ, Tứ đế rất là rối rắm, vì thế ngài mớilàmra luận Thành thực để phê bình, bác bỏ các luận thuyết khác. Đại khái các luận thuyết khác ấy gồm có 10 thứ là: 1. Nhị thế hữu vô luận: Quá khứ, vị lai có hay không? 2. Nhất thiết hữu vô luận: Tất cả có hay không? 3. Trung ấm hữu vô luận: Thân trước khi đầu thai có hay không? 4. Tứ đế thứ đệ đắc nhất thời đắc luận: Tứ đế thứ lớp được hay được cùng một lúc? 5. La hán hữu thoái vô thoái luận: La hán có lui sụt hay không lui sụt? 6. Tâm tâm sở tương ứng bất tương ứng luận: Tâm và tâm sở tương ứng hay không tương ứng? 7. Tâm tính tịnh bất tịnh luận: Tâm tính trong sạch hay không trong sạch? 8. Quá khứ nghiệp hữu vô luận: Nghiệp quá khứ có hay không? 9. Phật bảo tăng bảo đồng biệt luận: Phật bảo và tăng bảo là đồng hay khác? 10. Hữu ngã vô ngã luận: Có ngã hay không ngã? Trong các luận thuyết trên cũng sử dụng các danh số như Tứ đế, Tam giới, Ngũ ấm, Thập nhị nhập, Thập bát giới, Thập nhị nhân duyên, Nhị thập nhị căn, Thập thiện nghiệp đạo, cho đến phân biệt pháp tướng như 37 trợ bồ đề pháp, Tứ quả, 27 hiền thánh... nhưng đều chẳng phải lấy việc giải thuyết tính tướng của các danh tướng này làm chính, mà là đối với danh tướng này thêm vào các luận chứng trái ngược, rồi sau mới đưa ra phán đoán. Chẳng hạn như khi giải thích về Tứ đại thì trước hết nêu ra thuyết giả danh về Tứ đại, kế đến nêu thuyết thực hữu(có thật) về Tứ đại, cuối cùng mới chứng minh sự sai lầm của thuyết thực hữu, cứ như thế sau khi lập, phá đối nhau rồi mới đưa ra phán đoán. Phương pháp này có ý thú rất khác với sự tổ chức của luận Câu xá. Bây giờ, hãy so sánh một cách sơ lược chỗ khác nhau giữa Tì đàm và Thành thực về việc lập nghĩa để biết điểm lập nghĩa cốt yếu của tông này: 1. Tì đàm chủ trương 3 đời có thật; còn Thành thực thì cho rằng quá khứ, vị lai không có thực thể, chỉ có pháp sát na hiện tại là có thể dụng của nhân duyên sinh.2. Tì đàm chủ trương pháp thể là có thật; Thành thực thì cho rằng pháp thể trung đạo, nghĩa là pháp hiện tại do nhân duyên sinh ra, chẳng phải có chẳng phải không, không phải thường, không phải đoạn, lìa cả 2 bên, gọi là Thánh trung đạo. 3. Tì đàm chủ trương giữa khoảng Tử hữu và Sinh hữu có Trung ấm; Thành thực thì nói không có Trung ấm. 4. Tì đàm lập 2 loại A la hán là Thoái pháp a la hán và Bất thoái pháp a la hán; Thành thực thì chủ trương Thánh đạo bất thoái; A la hán đạo đã nhổ hết sạch gốc rễ ái dục, cho nên thuộc bất thoái(không lui sụt).5. Tì đàm chủ trương Tứ đại có thật; Thành thực thì cho rằng Tứ đại chỉ là giả danh, nếu lìa sắc... thì không có Tứ đại. 6. Tì đàm chủ trương các căn có thật; Thành thực thì cho rằng các căn là giả danh, nếu lìa Tứ đại thì không có các căn. 7. Tì đàm chủ trương các căn có khả năng chiếu kiến các cảnh; Thành thực thì cho rằng các căn là vô tri. 8. Tì đàm chủ trương Tâm sở có thể riêng; Thành thực thì cho rằng Tâm sở không có thể riêng, thụ, tưởng, hành... đều là tên khác của tâm. 9. Tì đàm chủ trương Tâm và Tâm sở có tương ứng; Thành thực thì cho rằng vì tâm và tâm sở không có thể riêng, cho nên tâm và tâm sở không có tương ứng. 10. Tì đàm chủ trương Tín và Cần chỉ có tính thiện; Thành thực thì cho rằng Tín và Cần thông cả 3 tính thiện, bất thiện, vô kí. 11. Tì đàm chủ trương Vô biểu sắc thuộc về Sắc uẩn; Thành thực thì cho rằng Vô tác (chỉ cho Vô biểusắc) thuộc về Hành uẩn, chứ không thuộc Sắc uẩn. 12. Tì đàm chủ trương Vô biểu nghiệp không bao gồm Ý nghiệp; Thành thực thì cho rằng Vô tác(chỉ cho Vô biểu nghiệp) bao gồm cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý, tức 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều có khả năng khởi Vô tác.13. Tì đàm chủ trương Si là thể của Vô minh; Thành thực thì cho rằng tâm chấp ngã là thể của Vô minh, nghĩa là các pháp hòa hợp giả gọi là Nhân, Pháp, vì phàm phu không phân biệt được nên mới sinh tâm chấp ngã. 14. Tì đàm chủ trương Nhân không Pháp hữu; Thành thực thì cho rằng Nhân không Pháp không. 15. Tì đàm chia nhỏ 5 cảnh và đều có danh số nhất định, lại lập 46 tâm sở, 6 nhân, 4 duyên, 5 quả, nhiễm ô vô tri, bất nhiễm ô vô tri, thứ tự 5 uẩn là sắc thụ tưởng hành thức; còn Thành thực thì chưa định danh số 5 cảnh, số tâm sở cũng không nhất định, lập 4 duyên, 3 nhân, chia nghiệp chướng, phiền não chướng, báo chướng, còn thứ tự 5 uẩn thì là sắc thức tưởng thụ hành. Tổng hợp các thuyết trên đây ta có thể biết được yếu chỉ của tông Thành thực, khác với thuyết của Tì đàm như Câu xá... mà điểm đặc sắc nổi bật nhất thì không ngoài luận thuyết Tam tâm, Nhị đế, Nhị không, tức nêu ra 3 tâm là Giả danh tâm (tâm chấp trước thân người do 5 uẩn cấu thành là thật có, hoặc chiếc bình do 4 trần sắc hương vị xúc tạo thành là có thật), Pháp tâm(tâm chấp trước 5 uẩn là có thật), Không tâm(tâm duyên theo chỗ không có gì); đồng thời chủ trương nếu diệt trừ được 3 tâm này thì ra khỏi 3 cõi. Nhị đế là chỉ cho Thế đế(hữu ngã) và Đệ nhất nghĩa đế(vô ngã). Nhị không là Nhân không và Pháp không. Nhân không như trong bình không có nước, Nhân do 5 uẩn hòa hợp mà hình thành thuộc về giả nhân ngã; Pháp không như cái bình không có tực thể, 5 uẩn cũng chỉ có giả danh chứ không có thực thể. Tông này lập Pháp tướng phân biệt 5 vị 84 pháp khác với 5 vị 75 pháp của tông Câu xá và 5 vị 100 pháp của tông Duy thức. Năm vị 84 pháp là: 1. Sắc pháp: Có 14 pháp, gồm 5 căn, 5 cảnh và 4 đại. 2. Tâm pháp: Tức tâm vương. 3. Tâm sở pháp: Có 49 pháp, như yếm, hân, miên... 4. Phi sắc phi tâm pháp: Gồm 17 pháp, như lão, phàm phu, vô tác... 5. Vô vi pháp: Gồm 3 pháp, giống với 3 pháp vô vi của tông Câu xá. Tông này chia từ Ngũ thú đến quả vị A la hán thành 27 giai vị tu hành, gọi là Nhị thập thất Hiền Thánh, thứ tự như đồ biểu sau đây:(xem trang 5282) Y cứ vào giáo nghĩa của luận Thành thực như đã được trình bày ở trên mà nhận xét thì tư tưởng giáo lí Thành thực vượt lên trên Tì đàm và thường khi liên quan đến lãnh vực Đại thừa, nhưng đối với vấn đề nên phán định tông này thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa thì xưa nay còn có nhiều thuyết khác nhau. Mới đầu, các học giả đều cho luận Thành thực là bộ luận Đại thừa, hoặc xem là sách cương yếu tổng quát về Đại thừa và Tiểu thừa, như các ngài Tăng nhu, Tuệ thứ, cho đến 3 vị đại Pháp sư đời Lương là Trí uy, Tăng mân và Pháp văn đều không phán định luận Thành thực thuộc Tiểu thừa, cho nên các học giả tông Tam luận phần nhiều coi các học giả Thành thực là Thành luận Đại thừa sư. Về sau, tại miền Bắc, ngài Pháp thượng là người đầu tiên phán định tông Thành thực thuộc Tiểu thừa, kế đến, trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng nêu ra 10 nghĩa chứng minh tông Thành thực thuộc Tiểu thừa, rồi đến các ngài Trí khải, Tuệ viễn cũng cho Thành thực là Tiểu thừa. Từ đó về sau, các học giả đều phán định Thành thực là Tiểu thừa. Việc nghiên cứu về tông Thành thực thịnh hành ở thời đại Nam Bắc triều, đặc biệt vào thời Lương thuộc Nam triều là thịnh hành nhất. Đến đời Đường, sau khi cácLuận sư phánđịnhThành thực là Tiểu thừa thì số người nghiên cứu luận này mỗi ngày một giảm thiểu. Thêm vào đó, xu thế của Phật giáo Đại thừa, sự lưu truyền rộng rãi của Thập địa kinh luận, Nhiếp đại thừa luận và Tam luận học dần dần hưng khởi cũng là những nguyên nhân làm cho tông này suy vi. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 thượng; Tam luận du ý nghĩa; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Lương cao tăng truyện Q.6-8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.1, 5-15; Danh tăng truyện sao; Xuất tam tạng kí tập Q.5, 11; Khai nguyên thích giáo lục Q.8]. (xt. Thành Thực Luận).
Thành thật tông 成實宗
[ja] ジョウジツシュウ Jōjitsu shū ||| Chengshi zong. The Satyasiddhi school, a late Hīnayāna 小乘 school whose doctrines come very close to Mahāyāna 大乘 on certain points. This school was established primarily on the teachings of the Satyasiddhi-śāstra, among other works by Harivarman 訶梨跋摩. One of the thirteen Chinese schools 十三宗. => (j: Jōjitsu shū;c: Chengshi zong; e: Satyasiddhi school) Là một tông phái nguyên thuộc Tiểu thừa, có giáo lý rất giống Đại thừa trong một số điểm. Tông nầy chủ yếu lập thuyết căn cứ vào Thành thật luận (s: Satyasiddhi-śāstra) của Ha-lê Bạt-ma (Harivarman 訶梨跋摩). Là một trong 13 tông phái của Phật giáo Trung Hoa.
thành thời
2925(?~1678)明代僧。徽州歙縣人,俗姓吳。號堅密。幼習儒學。二十八歲出家,初修禪、教二宗,依止智旭法師。居於仰山,山中之猛獸皆馴伏。自撰齋天法儀,闡說天神現身之旨。後往江寧,駐錫天界寺,弘揚法華,勤修淨業,日作定課,寒暑不廢。刊刻淨土十要,廣為流通,勸人如實修,並自作序。康熙十七年十月入寂,世壽不詳。著有觀無量壽佛經初心三昧門、受持佛說阿彌陀經行願儀各一卷。
; (成時) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Minh, người ở huyện Hấp tại Huy châu, họ Ngô, hiệu là Kiên mật. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, năm 28 tuổi, sư nương vào Pháp sư Trí húc xuất gia. Lúc đầu, sư tu cả Thiền tông và Giáo tông. Sư trụ ở núi Ngưỡng sơn, mãnh thú trên núi đều được sư thuần phục. Sư tự soạn Trai thiên pháp nghi, nói rõ về ý chỉ thiên thần hiện thân. Sau sư đến Giang ninh, trụ ở chùa Thiên giới, hoằng dương kinh Pháp hoa, siêng tu tịnh nghiệp, hằng ngày tu theo thời khóa nhất định, dù thời tiết nóng hay lạnh đều không bỏ. Sư khắc in Tịnh độ thập yếu, tự soạn lời tựa, lưu thông rộng rãi, khuyến hóa mọi người tu hành đúng như thực. Sư tịch vào tháng 10 năm Khang hi thứ 17 (1678). Sư có các tác phẩm: Quán vô lượng thọ Phật kinh sơ tâm tam muội môn 1 quyển, Thụ trì Phật thuyết A di đà kinh hành nguyện nghi 1 quyển.
thành thục
To ripe—To mature.
thành thục giả
The ripe; those who attain; those in whom the good nature, immanent in all the living, complete their salvation.
; Bậc đã thành thục; bậc đã chứng đắc; bậc mà bản tánh thiện nổi bậc trên chúng sanh mọi loài—The ripe; those who atain; those in whom the good nature, immanent in all the living, complete their salvation.
Thành thục 成熟
[ja] セイジュク seijuku ||| (1) The full ripening of fruits and vegetables. (2) To become highly proficient in an art or scholarly field. (3) To master, to perfect. => 1. Rau quả chín muồi. 2. Trở nên thành thạo trong một ngành nghệ thuật hoặc học thuật. 3. Thông thạo, làm cho hoàn thiện.
thành thử
As a result—Consequently.
thành thực
Honesty—Completely true—Perfect truth—Satyasiddhi (Thành Thật Tông).
thành thực luận
Satyasaddhi śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
; Thành Thực Luận gồm 16 quyển do Ha Lê Bạt Ma biên soạn. Thành Thực có nghĩa là thành lập ra cái nghĩa chân thật trong các kinh. Bộ luận được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ. Cưu Ma La Thập từng dạy một số đệ tử phải giảng thuyết về luận nầy. Một trong những đồ đệ của Cưu Ma La Thập là Tăng Duệ, khi thảo luận về luận nầy, đã khám phá ra rằng, tác giả Ha Lê Bạt Man đã bác bỏ những chủ điểm của phái A Tỳ Đàm trong nhiều trường hợp, trên bảy lần như vậy. Từ đó, chúng ta có thể xác nhận rằng cả hai tông phái, Hữu Luận và Không Luận, thường giũ vị trí chông chọi nhau, vào trước hay ngay trong thời của tác giả. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, một số người có thẩm quyền cho rằng bộ luận nầy thuộc Đại Thừa, như ba nhà Phật học danh tiếng thời nhà Lương (502-557) là Pháp Vân, Trí Tạng, và Tăng Mẫn; những học giả khác lại cho rằng bộ luận thuộc Tiểu Thừa. Phải đợi đến thời Đạo Tuyên, một môn đệ nởi tiếng của Huyền Trang, cuối cùng đã giải quyết vấn đề, bằng cách tuyên bố rằng đây là tác phẩm thuộc Tiểu Thừa và Kinh Bộ, bởi vì Thành Thật tông không vượt ngoài trình độ và uy thế của học phái Tỳ Bà Sa. Tuy nhiên, Đạo Tuyên thừa nhận bộ luận nầy là một khuynh hướng nhắm đến giáo lý Đại Thừa—The Satyasiddhi sastra of Harivarman in 16 books. The Satyasiddhi is defined as perfectly establishing the real meaning of the sutra. The sastra was translated into Chinese by Kumarajiva. He often ordered some of his pupils to lecture on this sastra. One of his pupils, Sêng-Jui, while discoursing on it discovered that the author, Harivarman, had refuted the tenets of the Abhidharma School on several occasions, more than seven times. Hence we can assume that the two schools (Realistic and Nihilistic) used to hold antagonistic positions at or before the author's time. According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the text was taken by some authorities to be Mahayanistic, as by the three noted savants of the Liang dynasty (502-557), namely Fa-Yun, Chih-Tsang, and Sêng-min. By other authorities such as Chih-I, Chi-Tsang and Ching-Ying it was taken to be Hinayanistic. It was Tao-Hsuan, a famous pupil of Hsuan-Tsang, who finally settled the question by pronouncing that it was Hinayanistic and Sautrantic, because the Satyasiddhi School had not gone beyond the level and influence of the Vaibhasika School. However, he recognized that it had a certain tendency toward the Mahayana doctrine.
thành thực tông
The Satyasiddhi School. (A) Cương Yếu—Preliminary: a) Phái Hoàn Thiện Chân Lý, dựa vào học thuyết của Sautrantika, văn bản chính của trường phái nầy là satyasiddhi của Ha Lê Bạt Ma (Harivarman) vào thế kỷ thứ tư, được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ năm. Trường phái nầy tin rằng tâm thức chỉ là người vác gánh luân hồi sinh tử. Phái nầy cũng cho rằng Niết bàn chỉ là một sự kiện tâm linh tiêu cực và giải thoát chỉ là hủy diệt—Satyasiddhi sect, based upon the Sautranika's satyasiddhi sastra of Harivarman. This school believes that the consciousness as no more than the bearer of the cycle of existence. This school also believes that Nirvana is a purely negative spiritual event; it is nonbeing. He who has attained liberation is annihilated. • Bên Trung Quốc Thành Thật Tông là một nhánh của Tam Luận Tông: In China it was a branch of the San-Lun Sect. • Không Tông hay tông phái Tiểu Thừa được thành lập sau cùng bên Ấn Độ: The Sunya Doctrine Sect or the last Hinayana Sect formed in India. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thành Thật tông, đối lập với Câu Xá tông, chủ trương không có gì hiện hữu, kể cà tâm và vật. Đây là một Tiểu Thừa Không Luận hay hư vô luận, và được gọi tên theo một nhan sách của Ha Lê Bạt Man (Harivarman) sống ở Ấn Độ khoảng 250 đến 350 sau Tây Lịch, khoảng một thế kỷ trước Thế Thân. Trong bài tụng mở đầu, tác giả nói rằng ông muốn làm sáng tỏ ý nghĩa chân thật của kinh. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng, nhan sách “Thành Thật Luận” có nghĩa là sự thiết lập toàn vẹn chân lý được phát biểu qua những bài thuyết pháp của Phật: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Satyasiddhi School is opposed to the Kosa Schol in that it asserts that nothing, matter or mind, exists at all. It is a Hinayanistic Negativism or Nihilism and is called after the title of the work by Harivarman who lived in India (250-350 A.D.), about a century before Vasubandhu. The author says in his introductory note that he intended to elucidate the true purport of the sacred literature. From this we can infer that the title “Completion of Truth,” means the complete establishment of the truth propounded in the discourses of the Buddha himself. (B) Lịch sử của Thành Thực Tông—The history of the Satyasiddhi School: a) Trong 18 bộ phái ở Ấn Độ, Thành Thực tông thuộc Kinh Lượng Bộ (Sautrantika), bộ phái nầy theo Kinh Tạng nguyên thủy, chống lại chủ truơng thực hữu luận của Hữu Bộ (Sarvastivada) mà một vài chủ điểm của nó được Thế Thân cem như là những cải cách của các luận sư Tỳ Bà Sa hay của những vị chấp trước vào giáo lý A Tỳ Đàm. Nếu chủ trương thực hữu luận có thể được coi là một sự tách rời khỏi Phật Giáo Nguyên Thủy, thì chủ trương không luận nầy đáng được như là đối lập lại với nó. Thành Thật tông, trên môt phương diện, có thể coi như là một tông phái chính thống của Phật giáo, đặc biệt là vì nó gần gủi với giáo lý nguyên thủy của Phật hơn Hữu Bộ: Vô ngã, vô thường, khổ và Niết Bàn tịch diệt: Of the eighteen schools of Buddhism in India, the Satyasiddhi School belongs to the Sautrantika School which adheres to the originalsacred scripture against the realistic Sarvastivada School, some tenets of which are regarded by Vasubandhu as innocations of the Vaibhasikas or those who adhere to the Abhidharma doctrine. If the realistic doctrine can be called a deviation from original Buddhism, this Nihilistic doctrine should be considered as a reversion to it. This Satyasiddhi School, in a way, can be considered to be an orthodox school of Buddhism, especially because it is much nearer than the Realistic School to the original teaching of the Buddha: “No substance (anatma), no duration (anitya), and no bliss (dukkha) except Nirvana.” b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, chúng ta biết rất ít, hay không biết gì cả về lịch sử của tông phái nầy ở Ấn Độ. Có lẽ chưa từng có một tông phái nào biệt lập mệnh danh là Satyasiddhi ở Ấn. Nếu có một tông phái mẹ dẻ của Satyasiddhi, thì đấy phải là một tông phái bám chặt vào giáo thuyết nguyên thủy của kinh tạng. Kinh Bộ (Sutravada) hay Kinh Lượng Bộ (Sautrantikavada) được đề cập như là hậu duệ cuối cùng trong 18 bộ phái của Phật giáo. Dù mối liên hệ của Ha Lê Bạt Man với tông phái nầy không được rõ ràng, rất nhiều điểm về giáo lý do Ha Lê Bạt Man đề ra đều mang dấu vết của bộ phái nầy. Hình như nó chiếm một địa vị có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ, bởi vì nó được Thế Thân nhắc đến một cách trực tiếp hay gián tiếp; thực sự Thế Thân chấp nhận chủ điểm của phái nầy trong một vài điểm quan trọng cốt yếu, thí dụ như vấn đề thời gian: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, we know little or nothing of the history of this school from the Indian side. Perhaps there never was a separate school called Satyasiddhi in India. If there was a mother school to which Satyasiddhi belonged it must have been one which adhered to the original discourse of the sutras. The Sutravadin, or Sautrantikavadin School, is mentioned as the latest offshot among the eighteen schools of Buddhism. Though Harivarman's connection with that school is not known, several points of the doctrine set forth by him can be traced to that school. It seems to have had an influential position in India, for it is referred to directly or indirectly by Vasubandhu, who adopted, in fact, the tenets of the school in some of the important points of contention, e.g., the problem of time. (C) Giáo thuyết—Philosophy: a) See Thành Thực Luận. b) Học thuyết của Thánh Thực Tông được hiểu như là chủ trương Nhân Không (Pudgala-sunyata) và Pháp Không (Sarva-dharma-sunyata). Do đó, nó là một chủ trương Nhị Không, trái ngược với thuyết của Hữu Bô chủ trương Ngã Không nhưng Pháp Hữu. Nhân cách được tạo thành do năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không có bản thể và không có tự ngã, cũng như cái vại trống rỗng không có nước hay tinh thể nội tại. Thêm nữa, vũ trụ gốm có 84 pháp, nhưng tất cả hoàn toàn không có thực tại lưu tồn, cũng như cái vại tự nó khong có thực tại thường hằng. Mỗi một pháp trong ngũ uẩn hay tứ đại kết hợp lại thành vũ trụ, không có bản thể thường hằng và bất biến, chúng chỉ là giả danh: The doctrine of the Satyasiddhi School is generally understood to be the void of self (Pudgala-sunyata) and of elements (sarva-dharma-sunyata). It is, therefore, the twofold void in contrast to the doctrine of the Realistic School (Kosa) which is the void of self (pudgala-sunyata) but the reality of elements (dharma-ta). Personality which is made up of five groups (Form, Perception, Conception, Volition and Consciousness) has no substratum and no individual self, just as an empty jar has no water or inner essence. Again, the universe consists of eighty-four elements, but all of them have no abiding reality at all, just as a jar itself has no permanent reality. Each of the five groups or the four great elements (earth, water, fire and air) of which the universe is composed has no permanent, changeless substance. They are only temporary names. c) Theo Ha Lê Bạt Man, tất cả vạn hữu cuối cùng phải đi đến chân lý của sự tịch diệt tức diệt đế hay Niết Bàn (nirodha satya); do đó sự tịch diệt cứu cánh. Như thế chỉ có tánh không là chân lý cứu cánh. Điều nầy không có nghĩa là tông phái nầy phủ nhận ý thức hay hiện tượng giả hữu của vạn hữu, bởi vì nó thừa nhận 5 bộ loại chia thành 84 pháp, thay vì 75 pháp như Câu Xá Tông: According to Harivarman, all beings should ultimately come to the truth of extinction (nirodha-satya), i.e., Nirvana, which is the final extinction. Thus voidness alone is the ultimate truth. This does not mean that the school denies the common-sense or phenomenal temporary existence of all beings, for it admits the five categories of all elements which are subdivided into eighty-four dharmas, instead of the seventy-five dharmas of the Kosa School. d) Khi phân tách năm cảnh, Thành Thật Tông giản lược chúng vào vi trần, và rồi giản lược thêm nữa cho chúng vào cực vi, và bằng cách lập lại tiến trình như thế, sau cùng tông nầy đạt đến một yếu tố nhỏ nhiệm nhất có một bản chất hoàn toàn khác với những đối tượng ban đầu. Tiến thêm bước nữa, tông nầy đạt đến Không. Như thế Hư Vô Luận của tông nầy là “Chiết Pháp Không” hay cái không trừu tượng. Nói cách khác, bản tính phi hữu được thừa nhận theo tông phái nầy là một thứ phân tích về sự hữu, hay chỉ là một thứ thiên không hay không một chiều, đối nghịch với hiện hữu. Và đây không phải là cái Không siêu việt (bất đản không hay không phải chỉ có không) mà Tam Luận tông đã xiển dương. Chúng ta có thể nói đây là học thuyết về vô thể, hay vô ngã, bởi vì nó phủ nhận hiện hữu của tự ngã và của tất cả các pháp, tâm và sắc. Nói rõ hơn, tâm (citta) không thường tồn, và những tâm sở (caitasika) không tự hữu; tất cả các pháp tâm bất tương ưng (cittaviprayukta) thảy đều giả hữu; pháp vô vi (asamskrita) cũng phi thực. Học thuyết Không ở đây toàn triệt và có thể được coi như là Hư Vô toàn diện (sarva-sunyata), nếu chúng ta nói theo chân lý tuyệt đối. Chỉ ở quan điểm tục đế, chúng ta mới thừa nhận hiện hữu của vạn hữu: Analyzing those five objects the school reduces them to molecules, and further reduces them to even finer atoms, and by thus repeating the process the school finally attains the finest element which has an entirely different nature from the first objects. Going one step further, the school attains the Void. Thus the nihilism of this school is a 'destructed' or abstracted Void. In other words, the non-entity asserted in this school is simply and abstraction from entity, or merely an antithetic Void as against existence. And this is not the synthetic Void or transcendental Void advanced by the San-Lun School. We may call it the doctrine of nothingness or non-ens, for it denies the existence of individual self and of all elements, matter and mind. To speak more clearly, mind (citta) is not abiding, and mental functions (caitasika) have no independence; those dharmas or elements which are neither matter nor mind (citta-viprayukta) are all temporary; the uncreated elements (asamskrita) are also unreal. The doctrine of Void is here complete and it can be taken as total nihilism (sarva-sunyata) if we follow the supreme truth. It is only from the point of view of worldly truth that they admit the existence of all things.
thành trụ hoại không
2921即指成劫、住劫、壞劫、空劫等四劫。此係佛教對於世界生滅變化之基本觀點。有關四劫之記載,詳述於長阿含經卷二十一「三災品」、大樓炭經卷五、起世經卷九、起世因本經卷九、俱舍論卷十二等諸經論中。臨濟錄示眾(大四七‧四九八中):「爾但一切入凡入聖,(中略)處處皆現國土,成住壞空。」(參閱「四劫」1694、「住劫」2601、「成劫」2924、「空劫」3475、「壞劫」6653)
; (成住壞空) Chỉ cho 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Đây là quan niệm cơ bản của Phật 19. Thoái tướng (Thoái pháp tướng) 20. Thủ tướng (Thủ hộ tướng) 21. Tử tướng 22. Trụ tướng 23. Khả tiến tướng 24. Bất hoại tướng 25. Tuệ giải thoát tướng (Tuệ giải thoát) 26. Câu giải thoát tướng (Câu giải thoát) 27. Bất thoái tướng Vô Học––– A la hán quả – Tu đà hoàn hướng (Dự lưu hướng) 1. Tùy tín hành 2. Tùy pháp hành 3. Tùy vô tướng hành (Vô tướng hành) –4. Tu đà hoàn quả (Dự lưu quả) –5. Tư đà hàm hướng (Nhất lai hướng) –6. Tư đà hàm quả (Nhất lai quả) –7. A na hàm hướng (Bất hoàn hướng) – A na hàm quả (Bất hoàn quả) – A la hán hướng Hữu Học 8. Trung ấm diệt (Trung ban) 9. Sinh diệt (Sinh ban) 10. Hành diệt (Hữu hành ban) 11. Bất hành diệt (Vô hành ban) 12. Thượng hành chí A ca ni tra diệt (Thượng hành diệt, Lạc tuệ) 13. Chí vô sắc xứ (Lạc định) 14. Chuyển thế 15. Hiện diệt (Hiện ban) 16. Tín giải thoát (Tín giải) 17. Kiến đắc 18. Thân chứng Đồ biểu hai mươi bảy giai vị Hiền Thánh:giáo đối với sự sinh diệt biến hóa của thế giới. Phẩm Tam tai trong kinh Trường a hàm quyển 21, kinh Đại lâu thán quyển 5, kinh Khởi thế quyển 9, kinh Khởi thế nhân bản quyển 9, luận Câu xá quyển 12... đều có ghi rõ về 4 kiếp này. Phần Thị chúng trong Lâm tế lục (Đại 47, 498 trung) nói: Bấy giờ, tất cả vào phàm vào thánh (...) mọi nơi đều hiện cõi nước, thành trụ hoại không. (xt. Tứ Kiếp, Trụ Kiếp, Thành Kiếp, Không Kiếp, Hoại Kiếp).
thành tâm
Frankness—Sincerity.
thành tích
Performance—Result.
thành tín
Śraddha (S), Conviction Saddha (P) 2- Lòng thành tín 2- Lễ cúng thực cho người chết.
; True and trustworthy—True and reliable.
Thành Tôn
(成尊, Seizon, 1012-1074): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 30 của Đông Tự, húy là Thành Tôn (成尊), hiệu Tiểu Dã Tăng Đô (小野僧都). Sau khi xuất gia với Nhân Hải (仁海) ở Mạn Trà La Tự (曼荼羅寺, Mandara-ji, tức Tùy Tâm Viện [隨心院]) vùng Tiểu Dã (小野, Ono), ông được thọ phép Quán Đảnh và làm trú trì chùa này. Đến năm 1065, ông hành phép cầu mưa và có linh nghiệm, sau đó ông lại cầu nguyện cho Hậu Tam Điều Thiên Hoàng (後三條天皇, Gosanjō Tennō, tại vị 1068-1072) tức vị, nên rất được sủng kính. Năm 1069, ông làm Quyền Luật Sư, đến năm 1072 thì truyền trao phép Quán Đảnh cho Minh Toán (明算) ở Cao Dã Sơn. Năm sau ông làm Quyền Thiếu Tăng Đô, và năm sau nữa thì làm Tự Trưởng của Đông Tự. Đệ tử của ông có Nghĩa Phạm (義範), Phạm Tuấn (範俊), v.v. Trước tác ông để lại có Chơn Ngôn Phú Pháp Toản Yếu Sao (眞言付法纂要抄) 1 quyển, Tiểu Dã Lục Thiếp Khẩu Quyết (小野六帖口決) 5 quyển, Quán Tâm Nguyệt Luân Ký (觀心月輪記) 1 quyển, Đồ Sư Quán Đảnh Quyết Nghĩa Sao (徒師灌頂決義抄) 4 quyển, v.v.
thành tướng
2924為六相之一。據華嚴五教章卷四所釋,由諸緣而成一緣起之法,是為成相;譬如屋舍,由椽瓦等而成。(挩「六相」1280、「六相圓融」1280)
; (成相) Tướng thành, 1 trong 6 tướng. Theo sự giải thích trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 thì một pháp duyên khởi là các thứ duyên tạo thành, đó là Thành tướng; ví như tòa nhà là do rường cột, ngói gạch, nhân công... tạo thành. (xt. Lục Tướng, Lục Tướng Viên Dung).
Thành Tầm
(成尋, Shōjin, 1011-1081): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sang nhà Tống cầu pháp, cha là con của Đằng Nguyên Thật Phương (藤原實方), mẹ là con của Nguyên Tuấn Hiền (源俊賢); tuy nhiên cũng có nhiều thuyết khác nhau. Năm lên 7 tuổi, ông nhập môn xuất gia với Văn Khánh (文慶, Bunkei, sau này là Trưởng Lại của Viên Thành Tự [園城寺, Onjō-ji]) ở Đại Vân Tự (大雲寺, Daiun-ji) vùng Nham Thương (岩倉, Iwakura), kinh đô Kyōto và học giáo lý Hiển Mật. Sau đó, ông thọ pháp Thai Mật của Hành Viên (行圓, Gyōen) và Minh Tôn (明尊, Myōson); đến năm 1041 (niên hiệu Trường Cửu [長久] thứ 2) thì làm Biệt Đuơng (別當, Bettō) của Đại Vân Tự. Cùng lúc đó, ông còn làm vị tăng hộ trì cho vị Quan Bạch Đằng Nguyên Lại Thông (藤原賴通, Fujiwara-no-Yorimichi). Đến năm 62 tuổi (1072), ông mang bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) cũng như Tuần Lễ Ký (巡禮記) của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và Điều Nhiên (奝然, Chōnen) sang nhà Tống, đi tham bái khắp các nơi, rồi tham gia dịch kinh ở Biện Kinh (汴京, Khai Phong [開封]) và được ban cho hiệu là Thiện Huệ Đại Sư (善慧大師) nhờ ông cầu mưa có linh nghiệm. Vì không được phép trở về nước, ông ủy thác cho đệ tử 527 quyển kinh mang về và cuối cùng qua đời tại Khai Bảo Tự (開寳寺), Phủ Khai Phong. Ngoài tác phẩm Tham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Ký (參天台五台山記), ông còn để lại một số trước tác khác như Quán Tâm Luận Chú (觀心論註), Pháp Hoa Kinh Chú (法華經註), v.v.
thành tầm
2928(1011~1081)日本天台宗僧。京都人,為藤原佐理之子。從其族兄文慶受內外之學及顯密之法,後專誦持法華經。延久四年(1072,宋神宗熙寧五年),六十二歲時來宋,遊歷天台山、五臺山,入汴京,敕住於太平興國傳法院。以祈雨靈驗,敕號「善慧大師」,並任譯經場監事。欲歸故國而不獲允,遂送回大小乘經典五二七卷。後住於開寶寺,神宗元豐四年示寂,世壽七十一。著有觀心論註、法華經註、法華實相觀註、觀經鈔、參天台五臺山記等。〔佛祖統紀卷四十五、元亨釋書卷十六、本朝高僧傳卷六十七〕
; (成尋) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, người ở Kyoto, là con của ông Đằng nguyên Tá lí. Sư theo người anh họ là Văn khánh học nội điển, ngoại điển và giáo pháp Hiển, Mật, sau, sư chuyên trì tụng kinh Pháp hoa. Năm Diên cửu thứ 4 (1072), sư được 62 tuổi và đến Trung quốc (đời Tống). Sư đi chiêm bái các núi Thiên thai, Ngũ đài, rồi đến Biện kinh, được vua Thần tông nhà Tống ban sắc cho sư trụ ở viện Thái bình hưng quốc truyền pháp. Nhờ cầu mưa linh nghiệm nên được vua ban hiệu Thiện Tuệ Đại Sư, đồng thời giữ chức Giám sự trong Dịch kinh trường. Sư muốn về nước nhưng không được phép, sư bèn gửi 527 quyển kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa về Nhật bản. Sau, sư trụ ở chùa Khai bảo. Năm Nguyên phong thứ 4 (1081) sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Quán tâm luận chú, Pháp hoa kinh chú, Pháp hoa thực tướng quán chú, Quán kinh sao, Tham thiên thai ngũ đài sơn kí. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Nguyên hanh thích thư Q.16; Bản triều cao tăng truyện Q.67].
thành tự nhiên giác
To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth thực tướng within their own hearts.
; Đạt được tự nhiên giác ngộ bằng cách giữ lấy chân lý ngay nơi tâm mình—To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth within their own heart.
thành tựu
2928<一>梵語 samanvāgama,巴利語 samannāgama。為「得」之一種。即已得而現在相續不失之意。乃說一切有部之教義,然有部之論師亦有持異說者。於俱舍論卷四載,「成就」與「獲」均屬於「得」之一種。未得或已失而今得,稱為獲;已得而至今相續不失,則稱為成就。然大毘婆沙論卷一五七則以得、獲、成就等三者異聲而同義。另據同論卷一六二載,得與成就之差別有「未得而得名得,已得而得名成就」、「初得而得名得,得已不斷名成就」等七說。〔順正理論卷十二、阿毘達磨藏顯宗論卷六、俱舍論光記卷四〕(參閱「得」4548) <二>梵語 saṃpanna,巴利語同。具足、所有、支配之意,即具足七寶或戒、定、慧等,且於此自在,是謂成就。或為完成志願之意。密教以此為悉地(梵 sidhi)之意譯。〔中阿含卷五成就戒經、長阿含經卷十八轉輪聖王品、阿彌陀經、俱舍論卷四〕 <三>即印度名著 Sādhaṇā。本書之副題為 Realization of Life(生命之實現)。近代印度文學家、思想家泰戈爾(Rabindranath Tagore, 1861~1941)撰。係輯錄其於一九一三年,在美國哈佛大學多次之演講稿而成書。本書內容包括有:個人與宇宙之關係、靈魂之意識、惡之問題、自之我問題、美之實現、無限者之實現等八篇。主要闡示:(一)西方都市文化產生「他」與「我」、人與自然之對立;而印度文化則產生人與自然融合一體之意識。現象界雖然呈現千形百狀,然真理唯有一個;吾人只要體悟其一,即悟一切。(二)人生之悲劇,係由於以有限之條件,欲升達無限世界之結果,故須實踐奧義書中「捨離一切乃可獲得一切」之真理;佛陀所說之捨棄自我,即如油燈之捨油而照明;所謂解脫,無非是從無知與貪欲之中脫離而出。文中充滿復興印度精神之熱情與理論。〔A. Chakravarty, Macmillan: A Tagore Reader, 1961、タゴ─ル生誕百年祭記念論文集〕
; Samanvagama (S), Samannagama (P), Sampana (S) Đầy đủ, ngay đó được tự tại Sự tồn tại của một pháp Xem Thành tựu giả.
; Siddi (S). Accomplishment, fulfilment, completion, to bring to perfection.
; Siddhi (skt)—Aspire—To accomplish—To fulfill—To undertake—Accomplishment—Fulfilment—Completion—To bring to perfection.
; (成就) I. Thành Tựu. Phạm: Samanvàgana. Pàli: Samannàgama. Đã được một cái gì đó và hiện tại vẫn còn tiếp tục chưa mất, là 1 trong các loại Đắc(được). Đây là giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Nhưng các Luận sư trong Hữu bộ cũng có vị chủ trương thuyết khác. Theo luận Câu xá quyển 4 thì Thành tựu và Hoạch đều thuộc về một trong các thứ Đắc. Chưa được hoặc đã mất mà nay được, gọi là Hoạch; đã được mà đến nay vẫn còn tiếp tục không mất, gọi là Thành tựu. Nhưng luận Đại tì bà sa quyển 157 thì cho rằng đắc, hoạch và thành tựu chỉ là khác âm thôi, chứ nghĩa thì đồng. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 162 thì có 7 thuyết về sự khác nhau giữa Đắc và Thành tựu như Chưa được mà được gọi là Đắc, đã được mà được gọi là Thành tựu, Mới được mà được gọi là Đắc; được rồi vẫn tiếp tục gọi là Thành tựu. [X. luận Thuận chính lí Q.12; luận A tì đạt ma hiển tông Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4]. (xt. Đắc). II. Thành Tựu. Phạm, Pàli: Saôpanna. Nghĩa là đầy đủ, sở hữu, chi phối. Tức đầy đủ 7 thứ quí báu hoặc giới, định, tuệ và được tự tại đối với các thứ đó, gọi là Thành tựu. Hoặc chỉ cho sự hoàn thành chí nguyện. Mật giáo cho rằng Thành tựu là do dịch ý của từ Tất địa (Phạm:Sidhi). [X. kinh Thành tựu giới trong kinh Trung a hàm Q.5; phẩm Chuyển luân Thánh vương trong kinh Trường a hàm Q.18; kinh A di đà; luận Câu xá Q.4]. III. Thành Tựu. TứcSàdhaịà, tên của một tác phẩm nổi tiếngcủa Ấn độ. Đề mục phụ của sách này là Realization of Life(Hiệnthực cuộc sống), do nhà Văn học, nhà Tư tưởng người Ấn độ thời cận đại là Thái qua nhĩ (Rabindranath, Tagore, 1861-1941) soạn. Sách này do thu góp các bản thảo diễn giảng nhiều lần tại trường đại học Harvard, Hoa kì, vào năm 1913 mà thành. Nội dung sách này bao gồm 8 thiên: Mối quan hệ giữa cá nhân và vũ trụ,Ýthức về linh hồn, Vấn đề cái ác,Vấn đề tự ngã, Sự thực hiện cái đẹp vàSự thực hiện cái vô hạn. Những điều chủ yếu mà tác phẩm nhấn mạnh là: 1. Nền văn hóa đô thị phương Tây đã tạo ra sự đối lập giữa người và ta, giữa người và thiên nhiên; còn văn hóa Ấn độ thì sản sinh ý thức nhất thể dung hợp giữa con người và thiên nhiên. Thế giới hiện tượng tuy thiên sai vạn biệt, nhưng chân lí thì chỉ có một; con người chỉ cần thể ngộ được cái một ấy thì liền hiểu rõ hết tất cả. 2. Bi kịch của kiếp sống con người là do những điều kiện hữu hạn mà lại mong muốn đạt đến kết quả của thế giới vô hạn, vì thế cần phải thể hiện chân lí xả bỏ tất cả để được tất cả trong Áo nghĩa thư. Sự xả bỏ tự ngã mà đức Phật nói giống như nhờ dầu cạn dần mà đèn được sáng. Giải thoátchínhlà từ trong xiềng xích ngu si và tham dục mà thoát ra. Trong tác phẩm tràn đầy nhiệt tình và líluậnphục hưng tinh thần Ấn độ. [X. A. Tagore Reader, 1961, by Maemillan].
thành tựu bảy diệu pháp
Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã chỉ dạy về sự thành tựu bảy diệu pháp—According to the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha mentioned about seven good qualities: 1) Vị Thánh đệ tử có lòng tin và đặt lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai: “Ngài là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”—Here a noble disciple has faith and he places his faith in the Tathagata's enlightenment thus: “The Blessed One is accomplished, fully enlightened, perfect in true knowledge and conduct, sublime, knower of words, incomparable leader of persons to be tamed, teacher of gods and humans, enlightened blessed.” 2) Vị nầy có lòng tàm, tự xấu hổ vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; tự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp: He has shame; he is ashamed of misconduct in body, speech, and mind, ashamed of engaging in evil unwholesome deeds. 3) Vị nầy có lòng quý, tự sợ hãi vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; tự sợ hãi vì thành tựu ác, bất thiện pháp: He has fear of wrong doing; he is afraid of misconduct in body, speech, and mind, afraid of engaging in evil unwholesome deeds. 4) Vị nầy là vị đa văn, nhớ nghĩ những điều đã nghe, tích tụ những điều đã nghe. Nghe những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, có nghĩa, có văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đọc tụng bằng lời, được ý suy tư, được chánh kiến thể nhập: He has learned much, remembers what he learned, and consolidates what he has learned. Such teachings as are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing, and affirm a holy life that is utterly perfect and pure–such teachings as these he has learned much of, remembered, recited verbally, investigated with the mind and penetrated well by view. 5) Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, trừ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp: He is energetic in abandoning unwholesome states and in undertaking wholesome states; he is steadfast, firm in striving, not remiss in developing wholesome states. 6) Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, nhớ lại, nhớ lại nhiều lần những gì đã làm từ lâu, đã nói từ lâu: He has mindfulness; he possesses the highest mindfulness and skill; he recalls and recollects what was done long ago and spoken long ago. 7) Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau: He is wise; he possesses wisdom regarding rise and disappearance that is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering.
thành tựu chúng sanh
Chuyển hóa chúng sanh bằng cách phát triển Phật tánh nơi họ và khiến họ đạt được giác ngộ—To transform all beings by developing their Buddha-nature and causing them to obtain enlightenment.
thành tựu chúng sinh
To transform all beings by developing their Buddha-nature and causing them to obtain enlightenment.
thành tựu công đức
Achievement of merit.
thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quỹ
2929全一卷。唐代不空譯。略稱法華經觀智儀軌、成就法華儀軌、法華觀智軌、法華儀軌。今收於大正藏第十九冊。本書屬密教經典之祕密部,係說明法華經之供養法。初有歸命法華經二十八品之讚偈,又列舉成就此法者應具備之四緣,即親近真善知識、聽聞正法、如理作意、法隨法行;並敘述作壇法及入壇之行法、觀法、迎請等供養。次為擇地、淨地、塗地、加持供物、澡浴等作壇法。後明示入壇行法、入真如法性觀法,乃至誦真言、作塗香等五供養,入實相三摩地等,皆有詳示。此中,由開始至五供養依準於胎藏界;從實相三摩地以下則依準金剛界。〔續開元釋教錄卷上、諸阿闍梨真言密教部類總錄卷上〕
; (成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌) Gọi tắt: Pháp hoa kinh quán trí nghi quĩ, Thành tựu pháp hoa nghi quĩ, Pháp hoa quán trí quĩ, Pháp hoa nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Sách này thuộc Bí mật bộ trong kinh điển Mật giáo, nội dung nói về cách thức cúng dường kinh Pháp hoa. Trước hết là kệ tán thán, qui mệnh 28 phẩm kinh Pháp hoa, rồi nêu ra 4 duyên cần phải có để thành tựu pháp này; 4 duyên ấy là: Gần gũi thiện tri thức chân chính, lắng nghe chính pháp, tác ý đúng như lí và theo pháp tu hành pháp; đồng thời nói về cách làm đàn và cách vào đàn, cách quán tưởng, cách cúng dường nghinh thỉnh... Kế đến nói về cách lập đàn tràng như việc chọn đất, làm sạch đất, tô đất, gia trì vật cúng, tắm gội... Sau cùng, nói rõ việc vào đàn tu pháp, vào pháp quán tưởng chân như pháp tính, cho đến 5 pháp cúng dường như tụng chân ngôn, xoa hương, nhập Thực tướng tam ma địa... Trong quá trình này, từ lúc bắt đầu đến 5 pháp cúng dường là y theo Thai tạng giới; còn từ Thực tướng tam ma địa trở xuống thì y theo Kim cương giới.[X. Tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng].
thành tựu giác huệ bồ tát
Dhimat (S) Tên một vị Bồ tát.
thành tựu giả
Siddhi (P), Accomplished One drup top (T), ngodrup (T) Tất địa, Thành tựu Người trì tụng chân ngôn để tâm mật tương ưng mà thành tựu các diệu quả thế gian và xuất thế gian.
thành tựu giới hạnh
Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật dạy về Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh như sau—According th the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed that in order to possess of virtue, a noble disciple should: 1) Hộ trì các căn: Guard the doors of his sense-faculties—See Hộ Trì Các Căn. 2) Tiết độ trong ăn uống: Be moderate in eating—See Tiết Độ Trong Ăn Uống. 3) Chú tâm cảnh giác: Be devoted to wakefulness—See Chú Tâm Cảnh Giác. 4) Thành tựu Bảy Diệu Pháp: Possess seven good qualities—See Thành Tựu Bảy Diệu Pháp. 5) Lạc trú bốn thiền: Pleasant abiding in the four jhanas—See Tứ Thiền. 6) Sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha: Dwell restrained with the restraint of the Patimokkha. 7) Đầy đủ oai nghi chánh hạnh: Be perfect in conduct and resort. 8) Thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt: See fear in the slightest faults. 9) Thọ lãnh và tu học các học pháp: Train by undertaking the training precepts.
thành tựu hạnh nguyện phổ hiền
To accomplish or undertake the acts and vows of Universally Good Enlightened Beings—See Phổ Hiền Thập Nguyện.
thành tựu nhiên giác
To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth within their hearts.
thành tựu nhất thiết ấn
2928為瑜祇經金剛吉祥大成就品所載密教六種佛眼印之一。又作成就一切明印。其印契為:二手各作不動劍印,左手仰上,右手覆下,以劍(食指、中指)互插入掌中(小指、無名指、拇指間)。互插入掌中,表示生(眾生)佛(諸佛)不二、生佛共住心月輪等義。蓋此印乃密教用以表示諸尊「入我,我入」之印。印相中之小指為???(a)字,表示胎藏界;無名指為???(va)字,表示金剛界。以拇指(空指)壓小指與無名指指甲,表示在???、???二字之上加空點,即???(aṃ)、???(vaṃ)。於二指中加一空點,即表示不二之意;左手為胎藏界之不二,右手為金剛界之不二;左右互插入掌中,表示不二之上之不二。於密教深祕之義,本尊與行者之本乃金胎兩部不二之體,故「入我,我入」,亦表不二之上之不二。又此印亦用於臨終之祕印。 真言為:唵(oṃ)吒吒(ṭa ṭa)吒烏吒烏(ṭu ṭu)置智置智(ṭi ṭī ṭi ṭī)吒烏吒烏吒烏吒烏(ṭu ṭū ṭu ṭū)嚩日羅婆怛嚩(vajra satva)弱吽鍐榖(jjaḥ hūṃ baṃ hoḥ)纈哩郝吽北吒吽(hrīḥ haḥ hūṃ phaṭ hūṃ)。瑜祇經又記載此真言之功德,謂其能成就一切明,攝伏一切天,成辦一切事,若欲預知未來事,即結印安於左脅,誦真言一○八遍,隨印便睡,本尊阿尾奢即於夢中示現一切吉凶事。
; (成就一切印) Cũng gọi Thành tựu nhất thiết minh. Một trong 6 thứ ấn Phật nhãn ghi trong phẩm Kim cương cát tường đại Thành tựu kinh Dukì. Cách kết ấn khế này là : Hai tay đều kết ấn Bất động kiếm, tay trái ngửa lên, tay phải úp xuống, dùng kiếm (tức ngón trỏ, ngón giữa)cắm vào trong lòng bàn tay(khoảng giữa ngón út, ngón vô danh, ngón cái). Cắm vào trong lòng bàn tay biểu thị ý nghĩa sinh(chúng sinh), Phật(chư Phật) không hai, chúng sinh và chư Phật cùng trụ trong tâm nguyệt luân. Đây là ấn mà Mật giáo sử dụng để biểu thị ý nghĩa nhập ngã, ngã nhập của chư tôn. Ngón út trong ấn tướng là chữ (a), tượng trưng Thai tạng giới. Ngón vô danh là chữ (va) tượng trưng Kim cương giới. Dùng ngón cái(ngón không) đè lên móng ngón út và ngón vô danh là tượng trưng cho việc thêm chấm không lên trên 2 chữ và , tức (aô), (vaô). Trên 2 ngón mà thêm 1 cái chấm không (.), tức là biểu thị ý nghĩa không hai; tay trái là nghĩa không hai của Thai tạng giới, tay phải là nghĩa không hai của Kim cương giới; cả hai bên phải bên trái đặt vào trong lòng bàn tay là biểu thị nghĩa không hai trên không hai. Theo nghĩa thâm bí của Mật giáo, Bản tôn và hành giả vốn là thể không hai củaKim cương giới và Thai tạng giới, vì thế nhập ngã, ngã nhập cũng biểu thị không hai trên không hai. Ngoài ra, ấn này cũng là ấn bí mật được dùng lúc lâm chung. Chân ngôn là: Án (oô) tra tra (ỉa ỉa) tra ô tra ô (ỉu ỉu) trí trí trí trí (ỉitì ỉitì) tra ô tra ô tra ô tra ô (ỉu ỉù ỉu ỉù) phạ nhật la sa đát phạ (Vajrasatva) nhược hồng tông cốc (jja# hùô baô ho#) hiệt lí hác hồng bắc tra hồng (hrì# ha# hùô phaỉ hùô). Kinh Du kì cũng ghi rõ công đức của chân ngôn này là có năng lực thành tựu tất cả ấn, nhiếp phục tất cả các trời, thành tựu tất cả việc; nếu muốn biết trước các việc vị lai thì kết ấn đặt bên eo trái, tụng 108 lượt chân ngôn, xong rồi thì kết ấn mà ngủ, Bản tôn A vĩ xa liền thị hiện tất cả việc lành dữ trong mộng.
thành tựu pháp man
2930梵名 Sādhana-mālā。又作成就法集(梵 Sādhana-samuccaya)。編者、編纂年代均不詳。係收集有關印度後期密教金剛乘(梵 Vajra-yāna)諸尊崇拜之成就法、儀軌等而成之叢書。內容包括三三昧耶王成就法(梵 Tri-samaya-rāja-sādhana)、金剛座至尊成就法優波提舍儀軌(梵 Vajrāsana-bhaṭṭāraka-sādhanopadeśa-vidhi)、聖六字母大明成就法(梵 Ārya-ṣaḍakṣarī-mahāvidyā-sādhana)等三一二種,依諸佛、諸菩薩、諸尊之順序編列之。 此三百餘種成就法中,僅五十五種存有作者名,共計四十二人。據巴達恰利亞(Benoytosh Bhattacharyya)之考證,推定作者年代最古者為瑜伽派之無著(310~390 年頃),最近者為阿巴亞卡拉笈多(梵 Abhayākaragupta, 1084~1130)。又本書之各種寫本中,劍橋大學圖書館所藏之貝葉本上有相當於一一六五年之紀年,故可推知本書之編纂年代為十二世紀中葉。至近代,有巴達恰利亞校訂之梵本出版(Sādhanamālā, Gaekwad's Oriental Series, No. 26, 41. Baroda, 1925~1928)。此外,一九一四年頃,瑪斯比婁(M. Henri Maspero)曾在我國浙江鄞縣之普安寺發現相當於本書第二一七、二五二、二五三之古貝葉。 在西藏大藏經中,雖無相當本書之譯作,然丹珠爾祕密部中,相當於本書所收之成就法者頗多,尤以本書最初二二○種之成就法,與彼祕密部中部分所揭之順序幾為一致。〔東北帝國大學西藏大藏經總目錄、C. Bendall: Catalogue of the Buddhist Sanskrit MSS in the University Library, Cambridge〕
; Sādhana-mala (S), Sadhana-samuccaya (P) Bộ biên soạn tổng hợp các luận về Thành tựu pháp, được biên soạn vào thế kỷ XI.
; (成就法鬘) Phạm:Sàdhana-màlà. Cũng gọi Thành tựu pháp tập (Phạm: Sàdhana-samuccaya). Tùng thư thu chép các thành tựu pháp, nghi quĩ... nói về việc sùng bái chư tôn của Kim cương thừa (Phạm: Vajra-yàna) trong Mật giáo vào thời kì cuối ở Ấn độ. Người thu tập và niên đại biên soạn đều không rõ. Nội dung tùng thư này gồm 312 loại kinh quĩ được sắp xếp theo thứ tự chư Phật, chư Bồ tát, chư tôn như: Tam muội da vương thành tựu pháp (Phạm:Tri-samaya-ràjasàdhana), Kim cương tòa chí tôn thành tựu pháp ưu ba đề xá nghi quĩ (Phạm: Vajràsana-bhaỉỉàraka-sàdhanopadezavidhi), Thánh lục tự mẫu đại minh thành tựu pháp (Phạm: Àrya-wađakwarìmahàvidyà-sàdhana)... Trong hơn 300 loại thành tựu pháp này, chỉ có 55 loại là còn tên tác giả, gồm 42 người. Theo sự khảo chứng của ông Benoytosh Bhattacharyya mà suy đoán thì tác giả có niên đại xưa nhất là ngài Vô trước (khoảng 300-390 Tây lịch) của phái Du già và người có niên đại gần nhất là ngài A ba ca lạp cấp đa (Phạm: Abhayàkaragupta, 1084-1130). Lại trong các bản chép tay của sách này thì bản viết trên lá bối được cất giữ tại thư viện của trường Đại học Cambridge tại Anh quốc có niên kỉ tương đương với năm 1165, vì thế có thể suy biết niên đại biên soạn sách này là giữa thế kỉ XII. Đến đời cận đại có bản tiếng Phạm do ông Benoytosh Bhattacharyya hiệu đính được xuất bản, đó là:Sàdhanamàlà (Gaekwad’s Oriental Series, No. 26, 41. Baroda, 1925- 1928). Ngoài ra, khoảng năm 1914, M. Henri Maspero tìm thấy ở chùa Phổ an tại huyện Ngân, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, các lá bối xưa tương đương với các pháp thứ 217, 252, 253 trong bộ tùng thư này.Trong Đại tạng kinh Tây tạng tuy không có các tác phẩm phiên dịch tương đương với sách này, nhưng trong Bí mật bộ của Đan châu nhĩ thì có rất nhiều tác phẩm tương đương với các Thành tựu pháp được thu gom trong sách này, nhất là các Thành tựu pháp thuộc 220 loại đầu trong sách này gần như giống với thứ tự từng phần được nêu trong Bí mật bộ ấy. [X. Đông bắc Đế quốc Đại học Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; Catalogue of the Buddhist Sanskrit MSS in the University Library, Cambridge, by C. Bendall].
thành tựu pháp tập
Sādhana-samuccaya (P).
thành tựu quán đỉnh
2930又作悉地灌頂、持明悉地灌頂。為瞿醯經卷下分別護摩品所說四種灌頂之一。密教修法中,行者於第三三昧耶「受明灌頂」之終,應入修法壇,修藥物成就之護摩法,其時所受之成就曼荼羅灌頂即稱成就灌頂。此法為瞿醯經、蘇悉地經卷下灌頂壇品、八字文殊軌等所舉示,然大日經卷三悉地出現品僅舉出成就曼荼羅及其成就法,而未論及其灌頂之法。又據金剛頂經初會中之四大品所說,則四印曼荼羅皆為成就灌頂之壇場。
; (成就灌頂) Cũng gọi Tất địa quán đính, Trì minh tất địa quán đính. Một trong 4 loại quán đính nói trong phẩm Phân biệt hộ ma kinh Cù hê quyển hạ. Trong pháp tu của Mật giáo, khi hành giả kết thúc Tam muội da thứ 3 Thụ minh quán đính thì phải vào đàn tu pháp để tu pháp Hộ ma thành tựu các vị thuốc, Thành tựu mạn đồ la quán đính được truyền thụ lúc đó gọi là Thành tựu quán đính. Pháp Thành tựu quán đính này được nêu rõ trong các kinh quĩ như kinh Cù hê, phẩm Quán đính đàn trong kinh Tô tất địa quyển hạ, Bát tự văn thù nghi quĩ... nhưng trong phẩm Tất địa xuất hiện của kinh Đại nhật quyển 3 thì chỉ mới nêu ra Thành tựu mạn đồ la và Thành tựu pháp của Mạn đồ la này, chứ chưa nói gì đến pháp Thành tựu quán đính. Còn cứ theo phẩm Tứ đại trong hội đầu tiên của kinh Kim cương đính thì Tứ ấn mạn đồ la đều là đàn tràng của Thành tựu quán đính.
thành tựu sự mong cầu
Fullfil one's longings, to.
thành tựu thế gian
Worldly achievement.
thành vô úy luận
Abhayasiddhi-śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
thành ý
Frank idea.
thành đạo
2931成佛得道之略稱。即完成佛道之意。又作成佛、得佛、得道、成正覺。為八相之一。謂菩薩完成修行,成就佛果。據傳釋尊歷六年苦行後,於菩提樹下吉祥草之金剛座上成道,此處即稱為成道處。然大乘經論中以在樹下成道為示現應身成佛之相,而謂佛陀之報身乃於色究竟天摩醯首羅智處成佛。 釋尊成道之年歲有諸多異說,十二遊經、佛本行集經卷十相師占看品、島史(巴 Dīpavaṃsa,Ⅲ)、大史(巴 Mahāvaṃsa, Ⅱ)等均謂三十五歲,另有三十、三十一歲等說。成道之月日則有二月八日、十六日、四月八日等說。若據大唐西域記卷八載,佛陀成道日為吠舍佉月後半八日,即陰曆三月八日;又同書記載上座部謂吠舍佉月後半十五日,即三月十五日。我國盛行臘八(十二月八日)成道之說,而以此日所修之法會,稱為成道會、臘八會,特受禪宗所重視。又在日本,禪宗於釋尊成道日所修之法會,稱為成道忌。即從十二月一日至八日晨止,舉行「臘八接心」,而於八日晨修成道忌。 在天台宗,三乘教之菩薩,須經初、第二、第三阿僧祇劫及百大劫等四修行階段,始可成道,稱為四階成道。然於說一切有部等小乘教則認為四修行階段應為:(一)三阿僧祇劫,(二)百大劫,(三)菩薩於最後身斷除九地中之下八地煩惱,(四)三十四心斷結成道。〔增一阿含經卷二十三、道行般若經卷十、大般泥洹經卷下、過去現在因果經卷三、佛本行集經卷二十五、太子瑞應本起經卷下、薩婆多毘尼毘婆沙卷二、十地經論卷下、入大乘論卷下、大毘婆沙論卷一○三、翻譯名義集卷七〕(參閱「八相」289)
; Jōdō (J) Đắc đạo 1- Đắc đạo 2- Thượng đường.
; To attain the Way, or become enlightened, e.g. Buddha under the bodhi tree.
; Chứng đạo hay trở thành toàn giác như Phật Thích Ca—To attain the way, or to become enlightened, i.e. the Buddha under the bodhi tree.
; (成道) Gọi đủ: Thành Phật đắc đạo. Cũng gọi Thành Phật, Đắc Phật, Đắc đạo, Thành chính giác. Chỉ cho việc hoàn thành Phật đạo, 1 trong 8 tướng. Tức là Bồ tát hoàn thành việc tu hành, thành tựu quả Phật. Cứ theo truyền thuyết, sau khi qua 6 năm tu khổ hạnh, đức Thích ca ngồi trên tòa Kim cương có trải cỏ Cát tường dưới gốc cây Bồ đề mà thành đạo, nơi này sau được gọi là nơi thành đạo. Nhưng các kinh luận Đại thừa thì cho rằng thành đạo dưới gốc cây là thị hiện tướng Ứng thân thành Phật, chứ Báo thân của Phật thì thành đạo ở trí xứ Ma hê thủ la trên tầng trời Sắc cứu cánh. Về vấn đề đức Thích tôn thành đạo lúc bao nhiêu tuổi thì có nhiều thuyết khác nhau. Kinh Thập nhị du, phẩm Tướng sư chiêm khán trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 10, Đảo sử (Pàli:Dìpavaôsa, III), Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, II)... đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo lúc 35 tuổi. Cũng có các thuyết cho rằng lúc Ngài 30, 31 tuổi... Còn về ngày tháng thành đạo thì có các thuyết ngày mồng 8, 16 tháng 2, ngày mồng 8 tháng 4... Nếu cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8 thì ngày Phật thành đạo là ngày mồng 8 nửa sau tháng Phệ xá khư, tức ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch; cũng trong Đại đường tây vực kí còn ghi: Thượng tọa bộ cho là ngày 15 nửa sau tháng Phệ xá khư, tức ngày 15 tháng 3 âm lịch. Ở Trung quốc thịnh hành thuyết Lạp bát thành đạo (ngày mồng 8 tháng Chạp) và pháp hội được cử hành vào ngày này gọi là Thành đạo hội, Lạp bát hội, đặc biệt được Thiền tông xem trọng. Còn ở Nhật bản thì pháp hội được cử hành vào ngày đức Thích tôn thành đạo, Thiền tông gọi là Thành đạo kị. Tức từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 8 tháng Chạp âm lịch tu Lạp bát tiếp tâm, sáng sớm ngày mồng 8 thì cử hành Thành đạo kị. Theo tông Thiên thai thì Bồ tát Tam giáo phải trải qua 4 giai đoạn tu hành là kiếp a tăng kì thứ nhất, thứ hai, thứ ba và 100 đại kiếp mới thành đạo, gọi là Tứ giai thành đạo. Nhưng, theo Tiểu thừa giáo như Thuyết nhất thiết hữu bộ... thì cho rằng 4 giai đoạn tu hành phải là: 1. Ba a tăng kì kiếp. 2. Một trăm đại kiếp. 3. Ở thân sau cùng, Bồ tát phải đoạn trừ phiền não của 8 địa dưới trong 9 địa. 4. Đoạn trừ 34 tâm kết sử mà thành đạo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.23; kinh Đạo hành bát nhã Q.10; kinh Đại bát nê hoàn Q.hạ; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25; kinh Thái tử thụy ứng Q.hạ; Tát bà đa tì nitiba sa Q.2; Thập địa kinh luận Q.1; luận Nhập đại thừa Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.103; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Bát Tướng).
thành đạo hội
Ngày kỷ niệm Phật thành đạo là ngày 8 tháng chạp hàng năm (còn gọi là ngày Lạp Bát)—The annual commemoration of the Buddha's enlightenment on the 8th day of the 12th month.
Thành đạo 成道
[ja] ジョウドウ jōdō ||| (saṃbodhi). Enlightenment, awakening. To enter enlightenment. To become a Buddha--equivalent to 成佛道. (2) The subjugation of various demons by Śākyamuni under the bodhi tree and his perfected awakening. => (s: saṃbodhi). 1. Giải thoát, giác ngộ. Thành Phật – Đồng nghĩa với Thành Phật đạo. 2. Sự chinh phục đủ loại ma quân của Thích-ca Mâu-ni dưới cây bồ-đề và đạt được giác ngộ hoàn toàn.
thành đạt
To succeed—To reach (attain) one's end.
thành đẳng chánh giác
Bậc Bồ Tát tu hành ngôi nhân vị tròn đầy bậc toàn giác hay thành Phật—To attain to perfect enlightenment—To become Buddha.
thành đẳng chính giác
To attain to perfect enlightenment, become Buddha.
thành đế
Chân giáo Phật pháp—Truth—The true teaching of Buddhism.
Thành 城
[ja] ジョウ jō ||| (1) A (walled) city, castle, citadel. (2) In India, a forest where ascetics carry out mendicant practices. => Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ. 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.
Thành 成
[ja] ジョウ jō ||| (1) To accomplish, to do, to bring about, to perfect, to finish, to complete, to succeed. (2) The whole, perfect. (3) One-tenth; tenths, ten. [Buddhism] (1) To consist of; materialize, be concluded, to form, be completed. Fulfillment, consummation (sidhyati, siddha, siddhi, prasiddhi). (2) To be clearly apparent. (3) Realization, fruition; to become a buddha; awakening, enlightenment. => 1. Hoàn thành, làm xong, làm xảy ra, làm cho hoàn thiện, thành tựu. 2. Toàn bộ, toàn thể. 3.Một phần mười, thứ mười, số 10. [Phật học] 1. Gồm có; cụ thể hoá, kết thúc, thành lập, hoàn thành. Sự thành tựu, sự hoàn tất (s: sidhyati, siddha, siddhi, prasiddhi). 2. Hiện bày một cách rõ ràng. 3. Chứng ngộ, chứng quả; thành Phật; giác ngộ; giải thoát.
thành, trụ, hoại, không
Formation, stability or development, dissolution or disintegration, and void.
thác
3262悉曇字???(rtha)。四十二字門之一。又作他、伊陀、辣他、囉他、咜呵、曷攞多、曷囉多。大智度論卷四十八廣乘品、放光般若經卷四陀鄰尼品、大般若經卷四一五念住等品等,均解爲義不可得,因梵語 artha(譯爲意義、義理)含此字之故;光讚般若經卷七觀品,解爲逮得所持;華嚴經普賢行願品卷三十一,則解爲利益眾生無我無人智慧燈。〔大般若經卷四九○善現品、大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門、華嚴經隨疏演義鈔卷八十九〕
; 1) Chết: To die. 2) Thác nước: Waterfall (fall). 3) Ký thác: To entrust—To confide. 4) Mang nơi tay: To carry on the palm.
Thác Am Chí Minh
(錯庵志明, Sakuan Shimyō, khoảng thế kỷ 12-13): vị tăng sống dưới thời nhà Kim, xuất thân An Châu (安州, An Tân, Tỉnh Hà Bắc), họ Hác (郝), tự là Bá Hôn (伯昏), hiệu Thác Am (錯庵), Lạc Chơn Tử (樂眞子), không rõ ngày tháng năm sinh và mất, cũng như tông phái. Ông đã từng viết cuốn Hoa Tiêu Nguyệt Tập (花標月集), được vị Thủ Tòa Khiết khích lệ nên xuất gia, rồi nương theo Hương Lâm Tịnh (香林淨) thọ giới Cụ Túc. Sau đó, ông đến tham yết Thắng Tĩnh Phổ (勝靜普) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺), người đời thường gọi ông là Thác Am Chí Minh. Vào năm thứ 2 (1125) niên hiệu Đại Chánh (大正) đời vua Thái Tông nhà Kim, ông thâu tập tất cả hành trạng của chư vị tôn túc trong Thiền lâm, soạn thành tác phẩm Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求), hay còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (禪苑瑤林) gồm 3 quyển cho những người sơ tâm học đạo.
thác bác
Piṇḍapata (P), Going for almsfood Khất thực.
thác bát
2424梵語 piṇḍapāta,巴利語同。又作乞食、分衛、團墮(食物落於鉢中之意)、持鉢、捧鉢。即以手承鉢之意。亦即持鉢遊行街市,以化緣乞食。乃印度僧人為資養色身所作之行儀。 我國古時多用持鉢、捧鉢之稱,至宋代以後,方用「托鉢」一語,如開元寺之文康作托鉢歌,明太祖和韻之;又如雲棲袾宏撰「沙彌律儀要略」敘述托鉢之法。在禪林中,又稱托鉢為「羅齋」。又粥飯之時,擎鉢而赴僧堂,亦稱托鉢。禪林於每年冬夏二季,及荒年非常之時,皆行托鉢之行儀。關於托鉢儀則,有嚴密之規定,於諸經典中有詳細之解說。 此外,於十二頭陀行中,有常行乞食與次第乞食二種。後世稱托鉢為「乞食」,即由此轉化而來。〔長阿含卷十一阿㝹夷經、景德傳燈錄卷十六巖頭全豁條、續傳燈錄卷十淨土惟正條、碧巖錄第五十一則、僧尼令第五條、百丈清規證義記卷七下分衛條、佛祖統紀卷四十五、禪林象器箋雜行門〕(參閱「乞食」724)
; 1) Các Tỳ Kheo đi khất thực: Monks and nuns go for alms (tay bưng bát mà xin ăn). 2) Bát khất thực: An almsbowl.
; (托鉢) Phạm, Pàli: Piịđapàta. Cũng gọi Khất thực, Phân vệ, Đoàn đọa (ý nói thức ăn rơi vào trong bát), Trì bát, Phủng bát. Cầm bát, bưng bát. Tức cầm bát đi trên đường phố để hóa duyên khất thực. Đây là hành nghi mà tăng nhân ở Ấn độ thực hiện hằng ngày để nuôi sắc thân. Tại Trung quốc thời xưa phần nhiều sử dụng từ ngữ Trì bát, Phủng bát, từ đời Tống về sau mới dùng tiếng Thác bát, như ngài Văn khang chùa Khai nguyên làm bài Thác bát ca, vua Thái tổ nhà Minh họa vần theo, còn ngài Vân thê Châu hoành thì soạn Sa di luật nghi yếu lược trình bày về phép thác bát. Trong Thiền lâm, thác bát còn được gọi là La trai. Khi đến giờ dùng cơm cháo, cầm bát đi đến Tăng đường cũng gọi là Thác bát. Trong Thiền lâm, hàng năm vào 2 mùa Đông và Hạ, hoặc khi mất mùa đều thực hiện hành nghi thác bát. Về uy nghi, phép tắc thác bát được qui định chặt chẽ và trong các kinh luận có giải thích tỉ mỉ, rõ ràng.Ngoài ra, trong 12 hạnh Đầu đà có 2 loại Thường hành khất thực và Thứ đệ khất thực. Đời sau gọi Thác bát là Khất thực chính do chuyển hóa từ đây mà ra. [X. kinh A nâu di trong Trường a hàm Q.11; điều Nham đầu toàn khoát trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.16; điều Tịnh độ duy chính trong Tục truyền đăng lục Q.10; Bích nham lục tắc 51; Tăng ni lệnh
Thác bát 托鉢
[ja] タクハツ takuhatsu ||| Religious mendicancy; a begging priest. => Tăng sĩ. Khất sĩ. Vị tăng sĩ khất thực.
Thác chất
(托質): đồng nghĩa với thác sanh (托生), thác thai (s: garbhāvakrānti, p: gabbhāvakkanti, 托胎), tức thác sanh vào trong bào thai mẹ, hoặc chỉ cho sự thác sanh vào trong hoa sen ở thế giới Cực Lạc. Như trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) có đoạn: “Di Đà thánh chúng, bất lai nhi lai, thân thùy tiếp dẫn, hành nhân tâm thức, bất vãng nhi vãng, thác chất bảo liên hoa dã (彌陀聖眾、不來而來、親垂接引、行人心識、不徃而徃、托質寶蓮也, đức Phật Di Đà và thánh chúng, không đến mà đến, gần gủi tiếp dẫn, tâm thức hành giả, không đi mà đi, thác sanh vào hoa sen báu).” Hay trong Ngẫu Ích Đại Sư Tịnh Độ Tuyển Tập (蕅益大師淨土選集), phần Truyện Ký, Tụng Chửu Sư Vãng Sanh Truyện (誦帚師徃生傳) có đoạn: “Sư toại thị tật, triệu dư trợ kỳ niệm Phật, mạng thị giả trừ phát dục thân; dục tất, đoan tọa, cử thủ nhi thệ, chánh niệm phân minh, thần thanh khí định; việt nhị thời, đảnh hiển thượng noãn, thác chất liên nhụy, vô nghi dã (師遂示疾、召予助其念佛,命侍者除发浴身;浴毕、端坐,举手而逝。召予助其念佛、命侍者除發浴身、浴畢、端坐、舉手而逝、正念分明,神清气定。正念分明、神清氣定、越二时,顶显尚暖。越二時、頂顯尚暖、托质莲蕊,无疑也。托質蓮蕊、無疑也, sư bèn cáo bệnh, mời tôi đến giúp sư niệm Phật, sai thị giả xuống tóc, tắm rửa thân thể; tắm xong, sư ngồi ngay ngắn, vẩy tay chào mà đi, chánh niệm rõ ràng, thần khí trong sáng, định tĩnh; trãi qua hai thời gian, trên đỉnh đầu sư vẫn còn ấm, quả là thác sanh vào nhụy hoa sen, chẳng còn nghi ngờ gì cả).” Cũng như trong Sanh Tử Quan Toàn Tập (生死關全集), Thiên Chuyển Nữ Thành Nam (轉女成男篇) do Cư Sĩ Trần Do Bân (陳由斌) biên soạn có câu: “Cánh hữu dị phương tiện, chuyên niệm A Di Đà, thác chất diệu Liên Hoa, tật đắc bất thối chuyển (更有異方便、專念阿彌陀、托質妙蓮華、疾得不退轉, lại có phương tiện khác, chuyên niệm A Di Đà, thác sanh hoa sen mầu, mau được không thối chuyển).”
Thác hành liệt 錯行列
[ja] サクコウレツ sakukōretsu ||| To go in circular rows, round and round. => Đi thành hàng theo vòng tròn, đi nhiễu quanh.
thác lâm la
Một trong mười hai đại tướng trong Kinh Dược Sư—One of the twelve generals in the Yao-Shih Sutra (Bhaisajya).
thác oan
To die innocently (injustly).
thác sanh
A womb or a Lotus in Paradise that to which birth is entrusted.
thác sự hiển pháp sinh giải môn
2423華嚴宗十玄門之一,此門乃就「智」而言。又作託事顯法生解門。謂一切事法皆互為緣起,隨托一事而觀,便顯一切事法,能生事事無礙勝解。事事無礙之理,並非抽象之理論,而為具體之事實,現象之實事即是緣起之法體,實事即是真理,所謂擎拳豎臂,觸目皆道。所托之事相,即是彼所顯之理,非托此別有所表,以破眾生執事與理異之疑。〔華嚴經升兜率天宮品、華嚴五教章卷中、華嚴探玄記卷一、華嚴經隨疏演義鈔卷十〕(參閱「十玄門」416)
; (托事顯法生解門) Môn mượn việc để hiển bày pháp nhờ đó mà sinh ra hiểu biết, là 1 trong 10 huyền môn do tông Hoa nghiêm lập ra. Môn này nói theo Trí, nghĩa là tất cả sự pháp đều làm duyên khởi lẫn nhau, tùy dựa vào 1 pháp mà quán xét thì rõ tất cả sự pháp, có năng lực sinh ra hiểu biết thù thắng Sự sự vô ngại. Lí Sự sự vô ngại chẳng phải là lí luận trừu tượng, mà là sự thực cụ thể, sự thực hiện tượng chính là pháp thể duyên khởi; sự thực chính là chân lí. Sự tướng được hiển bày chính là lí của sự tướng ấy được hiển bày, chứ không phải gá vào cái này mà lại có sự biểu hiện khác. Mục đích của môn này là phá kiến chấp cho rằng sự và lí khác nhau. [X. phẩm Thăng đâu suất thiên cung trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung; Hoa nghiêm thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
thác sự quán
2423又作託事觀、歷事觀。為天台宗止觀義例所說三種觀心法之一。即假托事義以成修觀。如觀王舍城之王為心王,舍為五陰,心王造此舍,若析五陰則舍空,空即涅槃城。如此,一一事相入心而悟解為真理,故稱為托事觀。於華嚴宗,即十玄門中之「托事顯法生解門」。(參閱「三觀」706)
; (托事觀) Cũng gọi Lịch sự quán. Nương nhờ vào sự để thành quán pháp, 1 trong 3 pháp quán tâm nói trong Chỉ quán nghĩa lệ của tông Thiên thai. Như quán tưởng vua thành Vương xá là tâm vương, nhà là 5 ấm, tâm vương làm ra nhà này, nếu tách 5 ấm ra thì nhà không, không tức là thành Niết bàn. Như thế, mỗi mỗi sự tướng nhập vào tâm mà ngộ giải thành chân lí, cho nên gọi là Thác sự quán. Pháp quán này chính là môn Thác sự hiển pháp sinh giải trong 10 huyền môn của tông Hoa nghiêm. (xt. Tam Quán).
thác thai
2423梵語 garbhāvakrānti,巴利語 gabbhāvakkanti。即托生於母胎。又作託胎、托生、託生、入胎。謂胎生(自母胎而生)之有情宿於母胎中,為受生此世之始。或指於極樂世界中,托生於蓮花內。或專指釋尊一代化儀八相中之「托胎」,即釋尊乘六牙白象,自兜率天下降,由摩耶夫人之右脅而入宿於其胎內。此類傳說備載於大小乘諸經典中,修行本起經卷上菩薩降身品、過去現在因果經卷一等,均載菩薩乘白象入母胎;普曜經卷二、異部宗輪論則謂一切菩薩入母胎時均作白象之形。今印度加爾各答博物館藏有三幅釋尊托胎圖,為西元二世紀左右之作品。另於我國各寺院中亦有釋尊入胎之刻像,其較著名者,如江蘇棲霞寺舍利塔基上之陽刻像,乃描述過去現在因果經所載釋尊托胎之經過:於宮殿中,夫人橫臥,軒端有白象乘飛雲而來,菩薩趺坐象背,放一大圓光。〔佛本行經卷一、太子瑞應本起經卷上、大毘婆沙論卷七十〕(參閱「八相」289)
; Garbhāvakranti (S), Gabbhāvakkanti (P) Thác sinh vào thai mẹ.
; Sự thụ thai trong bụng mẹ—A womb—Conception.
; (托胎) Phạm:Garbhàvakrànti. Pàli: Gabbhàvakkanti. Cũng gọi Thác sinh, Nhập thai. Thác sinh vào thai mẹ. Hữu tình thai sinh (từ trong thai mẹ sinh ra)gá vào thai mẹ là khởi đầu cho việc thụ sinh đời này. Thác thai cũng chỉ cho việc thác sinh trong hoa sen ở thế giới Cực lạc; hoặc chỉ riêng cho việc thác thai, 1 trong 8 tướng hóa nghi của 1 đời đức Thích tôn, tức việc đức Thích tôn cỡi voi trắng 6 ngà từ cung trời Đâu suất xuống đi vào sườn bên phải của Ma da phu nhân. Truyền thuyết này trong các kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa đều có ghi chép, như phẩm Bồ tát giáng thần trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1... đều nói Bồ tát cỡi voi trắng vào thai mẹ; kinh Phổ diệu quyển 2 và luận Di bộ tông luân thì nói tất cả Bồ tát khi vào thai mẹ đều mang hình tướng voi. Hiện nay,Viện Bảo tàng Calcutta của Ấn độ có lưu giữ 3 bức vẽ đức Thích tôn thác thai, là các tác phẩm khoảng thế kỉ II Tây lịch. Trong các chùa viện ở Trung quốc cũng khắc tượng Thích tôn nhập thai, tương đối nổi tiếng thì có tượng khắc trên mặt phía nam của tháp xá lợi ở chùa Thê hà ở tỉnh Giang tô, miêu tả quá trình thác thai của đức Thích tôn được ghi trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả như sau: Trong cung điện, phu nhân nằm nghiêng một bên, ở đầu hiên có voi trắng cỡi mây bay đến, Bồ tát ngồi xếp bằng trên lưng voi, phóng ra 1 luồng ánh sáng tròn lớn. [X. kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.70]. (xt. Bát Tướng).
Thác thai 托胎
[ja] タクタイ takutai ||| The second of the eight stages 八相 of the life of Śākyamuni Buddha, when he descended from Tuṣita Heaven and entered the womb of his mother, Māya. Also called 入胎. => Tướng thứ hai của tám tướng trong cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi Ngài hạ sinh từ cung trời Đâu-suất (s: Tuṣita) nhập vào thai mẹ là Ma-gia. Còn gọi là Nhập thai入胎.
thác tháp thiên vương
2423梵名 Vaiśravaṇa。音譯作毘沙門。即北方多聞天王。為佛經中四天王之一。此天王統領羅剎、夜叉,有大威德力,受佛之付囑,護持正法,守護國家。因其掌托古佛舍利塔,故俗稱托塔天王。唐宋時,敕諸府州軍建天王堂奉祀之。元時則繪其像於旗上,列於鹵簿之內。(參閱「四王天」1673、「多聞天」2331)
; Một trong Tứ Thiên Vương, Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương hay Tỳ Sa Môn. Vị Thiên Vương đở nâng chùa tháp trên lòng bàn tay—One of the four deva-kings (maharajas), Northern deva-king who learns much or Vaisravana. He is the deva-king who bears a pagoda on his palm.
; (托塔天王) Phạm: Vaizravaịa. Hán âm: Tì sa môn. Chỉ cho Đa văn thiên vương ở phương bắc, 1 trong 4 vị Thiên vương nói trong kinh Phật. Vị Thiên vương này có uy đức lớn, thống lãnh các La sát, Dạ xoa..., được đức Phật phó chúc hộ trì chính pháp, giữ gìn quốc gia. Vì bàn tay vị Thiên vương này nâng ngôi tháp xá lợi của 1 vị cổ Phật nên thường gọi là Thác tháp thiên vương. Tại Trung quốc, vào các đời Đường, Tống vua từng ban sắc cho các quân khu các châu, phủ xây Thiên vương đường để thờ cúng vị thần này. Đời Nguyên thì hình tượng vị Thiên vương này được vẽ trên cờ rồi xếp vào trong lỗ bạ (cuốn sổ ghi các đồ nhà binh như áo giáp...). (xt. Tứ Thiên Vương, Đa Văn Thiên).
Thác tổng 錯綜
[ja] サクソウ sakusō ||| Complication, confusion. To mix up, to mix together. => Sự phức tạp, rắc rối. Lộn xộn.
thác tử
2422即茶臺、茶托。又稱託子、槖子。為放置杯、碗之臺子。在佛門中,稱高臺之茶托為托子。
; (托子) Cái khay trà. Tức cái khay để tách, chén uống trà. Trong Thiền lâm gọi cái khay có thành cao để tách, chén uống trà là Thác tử.
thác định tự
2423西藏名 Tho-liṅ gser-khaṅ。為西藏西方阿里州(藏 Mṅaḥ-ris)迦當派之僧院。建於西元一○二五年,有三層樓塔。傳說此寺係模仿佛陀伽耶寺(梵 Buddhagaya)而建成者。曾一度為土耳其軍所燒燬,未久即重建。此寺為朗達磨王(藏 Glaṅ-dar-ma)毀佛(837)後佛教復興之重鎮。西元一○七六年之佛教徒會議即於此寺召開,而使佛教復興之業達於巔峰。〔カ|ダム派史(羽田野伯猷,東北大裇文裇部研究年報五)〕
Thác ấm
(托蔭): được che chở, bảo hộ, nhờ ơn, thác sanh. Như trong tiểu thuyết Duyệt Vi Thảo Bút Ký (閱微草堂筆記), chương Hòe Tây Tạp Chí (槐西雜志) 1 của Kỷ Quân (紀昀, 1724-1805) nhà Thanh có câu: “Kim hạnh thác ấm đắc nhất quan, tương cát cư doanh truân tịch hỉ (今幸托蔭得一官、將拮据營窀穸矣, nay may được che chở làm chức quan, sau gặp lúc cùng đường thì đào huyệt mộ vậy).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Ca Dương Tán Phật Môn (歌揚讚佛門), Kiều Cổ Xã (喬鼓社), có đoạn: “Thích Ca thị chơn từ phụ, hóa hiện thân hình ly bổ xứ, giá bạch tượng thừa vân khứ, hướng hoàng cung thác ấm Ma Da, cửu long thổ thủy kim bồn dục (釋迦是眞慈父、化現身形離補處、駕白象乘雲去、向皇宮托蔭摩耶、九龍吐水金盆浴, Thích Ca đúng là cha lành, hóa hiện thân hình rời bổ xứ, cỡi voi trắng nương mây đi, hướng hoàng cung gởi chất Ma Da, chín rồng phun nước bồn vàng tắm).”
thách
To dare—To defy--To challenge.
thái
1) Bóng hay sự phản chiếu: Chaya (skt)—A shadow or reflection. 2) Cắt ra từng miếng mỏng: To slice—To cut into slices—To mince. 3) Chọn lựa: To choose. 4) Ngắt: To pick—To gather. 5) Rau cải: Vegetables. 6) Thái Lan: Thailand. 7) Thái quá: Too—Very—Great. 8) Thái mỏng: See Thái (2).
thái an
4145(1910~1984)廣東伍華人。自幼虔信佛教,十九歲皈依妙果和尚為在家弟子,三十八歲剃髮。初建寶纈堂於臺北市廈門街,民國五十九年(1970)於臺北縣五股鄉觀音山創建寶纈禪寺,頗得地勢,為臺北近郊之佛門勝地。曾任臺北市佛教分會理事長多年。民國七十三年五月示寂。
thái bình
Peace.
Thái Bình Hưng Quốc Tự
(太平興國寺, Taiheikōkoku-ji): ngôi danh lam cổ sát hiện tọa lạc trong Ngưỡng Sơn (仰山), cách 80 dặm về phía Nam Huyện Nghi Xuân (宜春縣), Viên Châu (袁州, Tỉnh Giang Tây). Cùng với Quy Sơn (潙山), nơi đây là vùng đất phát xuất của Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗). Huệ Tịch (慧寂) là người khai sơn ra chùa này. Nó được kiến lập trong khoảng niên hiệu Hội Xương (會昌, 841-846), ban đầu có tên là Thê Ẩn Tự (棲隱寺) và đến thời nhà Tống thì được đổi thành Thái Bình Hưng Quốc Tự.
thái bình hưng quốc tự
1371<一>位於蔣山(江蘇鍾山)。本寺肇建於六朝,初名道林寺。梁天監(502~519)年中,保誌禪師寂於此,武帝為立塔寺,改稱開善寺,為當時義學之樞府。咸通年中,又改名寶公院,宋太平興國五年(980)改今名。元泰定年間毀於薪火,守忠禪師復之。明洪武初年,為築孝陵乃移建其東之獨龍岡,賜名靈谷寺。至清代,一度焚於太平軍火,亂平後復建之。民國十八年(1929)北伐成功,政府為追念有功將士,遂改為革命先烈紀念館。 <二>位於翼城縣(山西河東)。建於唐貞元三年(787),時稱慶國寺,規模雄大。本有大雄、天王、南羅漢、北羅漢、西羅漢、華嚴、上生、觀音、文殊、慈氏、經藏、鐘樓等十二院,明洪武年間於此置僧會司,弘治年中一度重修,今僅存大雄、華嚴、經藏等數堂。 <三>位於袁州(江西宜春縣南)。原名棲隱寺。寺在大仰山集雲峰下,山徑縈迴,懸泉飛瀑,景色幽雅,宿負盛名。寺為唐末慧寂禪師創置,時稱仰山禪院。五代時門庭轉盛,遂分為五院。宋太宗太平興國二年,詔改太平興國寺,然當地土人猶稱為仰山寺。〔古今圖書集成山川典第三十一〕 <四>宋太宗太平興國二年,重建河南開封之龍興寺,而以年號易為寺名。翌年,復將「太平興國」之寺額,敕賜予天下無名之寺,例如江西省袁州、山西省平陽府、太原府五臺山、江蘇省鍾山、河北省開州、河南省開封府中牟縣、河南省開封府尉氏縣等地,皆有太平興國寺。首都開封之太平興國寺造有譯經院(後稱傳法院),迎請天息災、施護、法天等從事經典翻譯。後又造印經院,從事經典刻版印行。日本留學僧一度參訪本寺。宋徽宗宣和元年(1119),堂宇衰頹,今已不存。〔佛祖統紀卷四十六、參天台五臺山記卷四〕 <五>位於五臺山樓觀谷。本名白鹿寺,沙門睿見住此,持律精嚴,緇白歸信之。宋太宗聞師道行,乃詔令建寺,一時頗具盛觀。〔參天台五臺山記卷五〕
thái bình lạc
1371唐代之舞樂。又稱五方師子舞。據通典卷一四六載,師子乃摯獸,出於西南夷、天竺、師子等國。綴毛為衣,倣師子俛仰馴狎之容,二人持繩拂,為習弄之狀,五方師子各依其色,百四十人歌太平樂,舞抃以從之,服飾皆作崑崙象。日本則以武昌樂、朝小子、合歡鹽等三曲合成太平樂,又稱武將太平樂、武昌太平榮、武昌破陣樂、武昌樂。
thái bình quảng kí
1371凡五百卷。北宋太平興國二年(977)李昉等奉敕撰。所引之書多達三百四十五種。內容記述古傳之神異事蹟與軼聞瑣事。其錄佛教有關者,共計三十卷。
; (太平廣記) Tác phẩm, 500 quyển, do các ông Lí phưởng... vâng sắc soạn vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (997) đời Bắc Tống. Nội dung sách này ghi chép các sự tích thần dị cổ truyền và những truyền thuyết lặt vặt từ xưa chưa được ghi chép. Những sách được trích dẫn có tới 345 loại. Trong tác phẩm này có 30 quyển nói về các truyện tích của Phật giáo.
thái bình đạo
1371後漢靈帝熹平年間(172~178),鉅鹿(河北)人張角所創道教之一派。信奉太平經,引用五行思想,以符咒等為人療病,徒眾數十萬,號為太平道。中平元年(184)起兵,以著黃巾為標幟,故被稱為黃巾軍、黃巾賊,後被鎮壓而失敗。然在民間仍祕密流傳。
; T'ai-ping tao (C) Do Trương Giác sáng lập.
; (太平道) ĐạoThái bình, một phái trong Đạo giáo, do Trương giác, người ở Cự lộc (nay là tỉnh Hà Bắc) sáng lập vào khoảng năm Hi bình (127-178) đời Linh đế nhà Hậu Hán. Giáo phái này tin thờ kinh Thái bình, dẫn dụng tư tưởng ngũ hành, dùng bùa chú để chữa bệnh, tín đồ vài mươi vạn người, lấy tên là Thái bình đạo. Niên hiệu Trung bình năm đầu (184), Thái bình đạo khởi binh, chít khăn vàng làm dấu hiệu, vì thế được gọi là Hoàng cân quân, Hoàng cân tặc, sau bị đàn áp và thất bại. Nhưng vẫn lén lút lưu truyền trong dân gian.
thái bạch
Venus.
Thái Bạch Sơn
(太白山): tên gọi khác của Thiên Đồng Sơn (天童山), nơi Như Tịnh trú ngụ. Thái Bạch còn là tên gọi của vị trú trì ở Thiên Đồng Sơn, tức Như Tịnh.
thái bạch tinh
Xem Ô sá Xem Kim Tinh.
Thái Chính Quan
(太政官, Daijōkan, Ōimatsurigoto-no-Tsukasa): (1) Cơ quan hành chính tối cao trong Luật Lịnh Quan Chế (律令官制), quản chưởng 8 Bộ trở xuống, chuyên trách toàn thể chính vụ. Hàng ngũ quan công khanh được hình thành bởi Thái Chính Đại Thần (太政大臣), Tả Hữu Đại Thần (左右大臣), Đại Nạp Ngôn (大納言, sau này còn có Trung Nạp Ngôn [中納言], Tham Nghị [參議]). Cục Thiếu Nạp Ngôn (少納言局), Cục Tả Hữu Biện Quan (左右辨官局) xử lý về mặt sự vụ kết quả phiên nghị quốc chính của các quan công khanh ấy. Cục Thiếu Nạp Ngôn thì quản lý Cục Ngoại Ký (外記局), chuyên trách về việc tuyên hạ những sắc chiếu, đóng nội ấn, ngoại ấn. Trong khi đó, Cục Tả Hữu Biện Quan thì thống lãnh cả 8 Bộ và chấp hành sự vụ hành chính. Từ cuối thời Bình An trở đi, cơ quan này hữu danh mà vô thật và vẫn tồn tại cho đến cuối thời kỳ Mạc Phủ. (2) Thái Chính Quan (太政官, Dajōkan), cơ quan tối cao của chính phủ vào đầu thời Minh Trị. Nhân phong trào Vương Chính Phục Cổ (王政復古) vào tháng 12 năm 1867 (Khánh Ứng [慶應] 3), việc phục hưng Thái Chính Quan được tiến hành; cho nên vào tháng 1 năm sau, cơ quan đại diện Thái Chính Quan được thiết lập; rồi đến tháng 4 nhuận, trong Chính Thể Thư (政体書), chức chế của Thái Chính Quan được quy định rõ ràng. Về mặt hình thức thì có 3 chức quan gồm: Nghị Chính Quan (議政官, lập pháp), Hành Chính Quan (行政官, hành chính) và Hình Pháp Quan (刑法官, tư pháp); rồi bên dưới Thái Chính Quan còn có 4 chức quan khác như Thần Kỳ (神祇), v.v. Vào năm 1869 (Minh Trị [明治] 2), dưới Thái Chính Quan và Thần Kỳ Quan lại có thêm 6 Bộ. Trong Thái Chính Quan có Chính Viện (政院), Tả Viện (左院), Hữu Viện (右院). Về sau, hai viện tả hữu bị phế bỏ; thay vào đó là Nguyên Lão Viện (元老院) và Đại Thẩm Viện (大審院). Cuối cùng, vào năm 1885 (Minh Trị 18), cơ quan này bị phế bỏ hẳn và sát nhập vào chế độ Nội Các.
Thái Chính Quan Phù
(太政官符, Daijōkampu): trên cơ sở chế độ luật lịnh của nhật bản ngày xưa, đây là bức công văn do vị quan Thái Chính (太政) phát lệnh đến các công sở của những quan hạ cấp, hay công sở của các tiểu quốc vốn trực thuộc quyền quản hạt của vị này. Văn thư này được gởi đến các cơ quan chính vụ nói trên để phát huy hiệu lực công việc thực tế. Dưới thời đại Bình An (平安, Heian), để được thừa nhận các trang viên mới lập, cần phải có Thái Chính Quan Phù hay Dân Bộ Tỉnh Phù (民部省符, văn thư của Dân Bộ Tỉnh [tương đương với Bộ Ngân Khố ngày nay]); cho nên các trang viên như vậy được gọi là Quan Tỉnh Phù Trang (官省符莊, trang viên được cấp văn thư công nhận của quan phủ). Đến cuối thời Bình An, Quan Phù này bị phế bỏ và được thay thế bằng một hình thức đơn giản hơn là Quan Tuyên Chỉ (官宣旨), hay Tuyên Chỉ (宣旨, chiếu chỉ tuyên bố của Thiên Hoàng).
thái cô nguy sinh
1372禪林用語。太,甚之義。孤危,孤峰險峻之義。生,係接尾詞。叢林中,每以孤峰之危然不可攀登,比喻機鋒銳利之向上一著,非言語思慮所能及。碧巖錄第二則垂示(大四八‧一四二下):「蓋天蓋地,又摸索不著。恁麼也得,不恁麼也得,太廉纖生;恁麼也不得,不恁麼也不得,太孤危生。不涉二塗,如何即是?」
; (太孤危生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thái nghĩa là rất; Cô nguy nghĩa là ngọn núi đứng một mình, cao chót vót; Sinh là tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền lâm, sự cao chót vót của cô phong không thể bám víu vào đâu mà leo lên ngọn, thường được dùng để ví dụ cho một con đường hướng thượng của cơ phong sắc bén, không thể nương vào ngôn ngữ, tư duy mà đạt đến. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 142 hạ) nói: Bao trùm trời đất, dò tìm không nhằm, như vậy cũng được, chẳng như vậy cũng được, quá bé nhỏ thay! Như vậy cũng chẳng được, chẳng như vậy cũng chẳng được, Cô phong chót vót thay! Chẳng kẹt 2 đường, thế nào là đúng?
thái căn đàm
5259凡二卷。明代洪自誠撰。又作菜根談。書名「菜根」二字,係由「咬得菜根,百事可做」而來。本書採用語錄之形式,係在儒家思想上穿插以老莊與禪學之說,描述仕宦、保身、待人處世之道及辭官後閒居之樂。書中屢以儒家及禪宗之語彙作成詩文,顯現出透徹體悟禪境之後,身心自由自在之境界。又本書融攝儒釋道三教之思想,而與當時民間信仰三教合一之潮流相符合,故於民間及知識階層中廣爲流傳。至今我國及香港、東南亞華人社會中之民間宗教生活形式,猶含本書所述三教合一之思想。
; (菜根譚) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Hồng tự thành soạn vào đời Minh. Hai chữ Thái căn(rễ rau)của tên sách có xuất xứ từ câu Nhai được rễ rau, làm được trăm việc. Sách này dùng hình thức ngữ lục, đứng trên phương diện tư tưởng Nho gia là chính yếu, rồi dựa vào thuyết của LãoTrang và Thiền học mà bàn về đạo làm quan, cách giữ mình, việc đãi nhân xử thế và niềm vui nhàn cư sau khi từ quan. Trong sách thường dùng các từ ngữ của Nho gia và Thiền tông làm thành thơ văn để hiển bày trạng thái tự do tự tại của thân tâm sau khi thấu suốt, thể ngộ cảnh giới của Thiền. Sách này cũng dung hòa tư tưởng của Nho, Phật và Đạo, rất phù hợp với trào lưu Tam giáo hợp nhất của tín ngưỡng dân gian đương thời, cho nên sách được lưu truyền rất rộng trong dân gian cũng như giai tầng trí thức. Cho đến nay, trong hình thức sinh hoạt tông giáo dân gian trong xã hội của người Hoa ở Trung quốc, Hương cảng và Đông nam á vẫn còn bao hàm tư tưởng Tam giáo hợp nhất được trình bày trong tác phẩm này.
thái cổ
Very ancient--Great antiquity.
thái cổ tự
1370位於韓國京畿道高陽郡神道面之北漢山城內重興洞。乃高麗末期僧普愚於忠惠王復位二年(1341)所建。其後一度荒廢,直至肅宗、英祖間,聖能始復興其遣址,而稱太古寺。寺中存有普愚之塔碑、舍利塔、石鐘等。〔東國輿地勝覽卷三、海東金石苑卷八〕
Thái cổ 太古
[ja] タイコ Taiko ||| Taego; see 普愚. => Xem Phổ Ngu 普愚.
Thái Cực
(太極): có hai nghĩa chính. (1) Các triết học gia cổ đại gọi Thái Cực là khí hỗn độn lúc ban đầu. Khi Thái Cực vận động thì phân hóa thành âm dương; từ âm dương mà sinh ra 4 thời biến hóa (Xuân, Hạ, Thu, Đông), từ đó xuất hiện các loại hiện tượng tự nhiên, và đó là nguồn gốc của vạn vật vũ trụ. Như trong Dịch Kinh (易經), Hệ Từ Thượng (繫辭上), giải thích rằng: “Dịch hữu Thái Cực, thị sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái (易有太極、是生兩儀、兩儀生四象、四象生八卦, Dịch có Thái Cực, sanh ra Lưỡng Nghi [âm dương], Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng [Xuân, Hạ, Thu, Đông], Tứ Tượng sanh ra Bát Quái [Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài]).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thái Cực vị thiên địa vị phân chi tiền, nguyên khí hỗn nhi vi nhất, tức thị Thái Sơ, Thái Nhất dã (太極謂天地未分之前、元氣混而爲一、卽是太初、太一也, Thái Cực nghĩa là trời đất trước khi chưa phân chia, nguyên khí hỗn tạp mà thành một, tức là Thái Sơ, Thái Nhất vậy).” (2) Chỉ thiên cung, cõi tiên. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 8 có đoạn: “Thái Cực hữu Nguyên Cảnh chi vương, ty nhiếp tam thiên chi thần tiên giả dã (太極有元景之王、司攝三天之神仙者也, thiên cung có vua Nguyên Cảnh, là người cai quản thần tiên của ba cõi trời).”
thái cực
T'aichi (C), Supreme Ultimate Energy.
; Extreme.
thái cực đồ
T'ai-chi-t'u (C).
Thái Diễn
(泰演, Taien, ?-?): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Bình An, húy Thái Diễn (泰演). Ông từng học cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, đặc biệt tinh thông về Pháp Tướng và Duy Thức. Trong thời gian niên hiệu Đại Đồng (大同, 806-810), ông trú tại Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) và tuyên dương Pháp Tướng Tông. Năm 840, ông làm giảng sư của Duy Ma Hội (維摩會). Cuộc luận tranh giữa ông với An Trừng (安澄, Anchō) về vấn đề có không đã trở thành nổi tiếng.
thái dương
Aditya—Sun.
Thái Dương Cảnh Huyền
太陽警玄; C: tàiyáng jǐngxuán; J: taiyō keigen; 943-1027;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, đắc pháp nơi Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Môn đệ chính truyền của Sư là Thánh Nham Viên Giám, Hưng Dương Thanh Phẩu và đặc biệt là Phù Sơn Pháp Viễn, một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế. Phù Sơn – vốn là đệ tử kế thừa Diệp Huyện Quy Tỉnh – được Sư truyền trao y bát, sau lại truyền cho Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh. Trong hệ thống truyền thừa của tông Tào Ðộng tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ðầu Tử được xem là người kế thừa trực tiếp của Sư.|Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết lúc du phương, Sư đến tham học với Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Gặp Lương Sơn, Sư hỏi: »Thế nào là đạo trường vô tướng?« Lương Sơn chỉ tượng Quán Thế Âm bảo: »Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.« Sư đang suy nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn lại nói nhanh: »Cái này có tướng, cái kia không tướng.« Sư nhân đây tỉnh ngộ, liền lễ bái. Lương Sơn hỏi: »Sao không nói lấy một câu?« Sư thưa: »Nói thì chẳng từ, sợ sa vào dấy mực.« Lương Sơn cười bảo: »Lời này vẫn còn ghi trên bia.« Sư trình kệ: |我昔初機學道迷,萬水天山覓見知|明今辨古終難會,直說無心轉更疑|蒙師點出秦時鏡,照見父母未生時|如今覺了何所得,夜放烏雞帶雪飛.|Ngã tích sơ cơ học đạo mê|Vạn thuỷ thiên sơn mích kiến tri|Minh kim biện cổ chung nan hội|Trực tiếp vô tâm chuyển cánh nghi|Mông sư điểm xuất Tần thời cảnh|Chiếu kiến phụ mẫu vị sinh thì|Như kim giác liễu hà sở đắc|Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.|*Con xưa học đạo cứ sai lầm|Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe|Luận cổ bàn kim càng khó hội|Nói thẳng vô tâm lại sinh nghi|Nhờ thầy chỉ rõ thời Tần kính|Soi thấy cha mẹ lúc chưa sinh|Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc|Ðêm thả gà đen trong tuyết bay.|Lương Sơn nghe kệ khen: »Có thể làm hưng thịnh tông Tào Ðộng.«|Sau khi rời Lương Sơn, Sư đến núi Thái Dương trụ trì, khai đường hoằng hoá. Sư có tinh thần rất kì lạ, từ nhỏ đến lớn chỉ ăn ngày một bữa và trụ trì tại Thái Dương 50 năm mà chưa bao giờ bước qua khỏi ranh giới.|Có một vị tăng hỏi: »Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?« Sư đáp: »Y không có tin tức, đâu cho phù hợp.« Tăng lại hỏi: »Hôm nay tông thừa đã nhờ thầy chỉ dạy, chưa biết pháp tự ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, Trước ngọn Trường Khánh một ngôi ngời.« Tăng hỏi: »Thế nào là cảnh Thái Dương?« Sư đáp: »Hạc côi vượn lão kêu vang dội, tùng gầy trúc lạnh toả khói xanh.« Lại hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư hỏi lại: »Cái gì? Cái gì?« Tăng hỏi: »Thế nào là gia phong Thái Dương?« Sư đáp: »Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.«|Ðời nhà Tống, niên hiệu Thiên Thánh năm thứ năm, ngày 16 tháng 7, Sư từ biệt chúng. Ba hôm sau, Sư viết kệ gửi Thị Lang Vương Thự:|Ngô niên bát thập ngũ|Tu nhân chí ư thử|Vấn ngã quy hà xứ|Ðỉnh tướng chung nan đổ|*Ta tuổi tám mươi lăm|Tu nhân đến thế ấy|Hỏi ta đi về đâu|Tướng đỉnh trọn khó thấy.|Sư viết xong liền tịch.|Thái Nguyên Tông Chân|太源宗真; J: taigen sáshin, ?-1370;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Sư kế thừa Nga Sơn trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) và cũng như thầy mình, Sư lấy thuyết Ðộng Sơn ngũ vị làm lí thuyết căn bản của tông phong. Dòng thiền của Sư được truyền bá rất rộng với hơn trăm lần khai sơn lập tự tại Trung và Ðông Nhật Bản. Về cuối đời, Sư trụ tại Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và sáng lập Phật-đà tự (budda-ji) tại tỉnh Kaga.
thái dương cảnh huyền
Taiyō Keigen (J) Tên một vị sư.
thái dương tinh
Xem Mặt trời.
thái giám
Eunuch.
thái hiền
1375唐代法相宗學僧,朝鮮新羅人。號青丘沙門,亦作大賢。壯歲來唐,依西明寺道證學唯識。著作甚多,撰有古迹記等四十餘種,不拘門戶,力持平允,為世崇敬。後歸國傳慈恩之學,時人譽之為海東瑜伽祖。嘗於其國景德王十二年(753)在大內誦經祈雨,後不知所終,寂年與世壽均不詳。〔三國遺事卷四、義天錄〕
; (太賢) Danh tăng kiêm học giả thuộc tông Pháp tướng, sống vào đời Đường, người Tân la, Triều tiên, hiệu là Thanh khưu sa môn, cũng gọi là Đại hiền. Lúc tuổi trẻ, sư đến Trung quốc theo ngài Đạo chứng chùa Tây minh học Duy thức. Sư trứ tác rất nhiều, soạn hơn 40 loại sách như Cổ tích kí... không câu chấp môn phái, cố giữ sự công bằng, rất được người đờikính trọng. Sau, sư về nước, truyền bá Duy thức học, người đương thời tôn sư là Hải đông Du già tổ. [X. Tam quốc di sự Q.4; Nghĩa thiên lục].
thái hoa
1) Hái hoa: To pick flowers. 2) Tên khác của hoa sen: Another name for lotus.
; (採華) Cũng gọi Bạch liên hoa. Tên gọi khác của hoa sen, Ấn độ gọi là Phân đà lợi hoa (Phạm: Puịđarìka). Có hai thuyết: 1. Dựa vào sự tích con rùa thiêng thọ 1.000 tuổi dạo chơi trên hoa sen, vì rùa thiêng có xuất xứ từ đất Thái nên gọi hoa sen là Thái hoa. Sử kí qui sách truyện nói: Rùa 1.000 tuổi dạo chơi trên hoa sen. Quán kinh tán thiện nghĩa khải định kí cũng từng nói: Minh vương sắp ra đời, lúc đó sẽ có rùa trắng cỡi hoa sen trắng nghìn cánh hiện ra. Do đó mà có tên gọi Thái hoa. Nhưng trong Giáo hành tín chứng lược tán của ngài Đạo ẩn thì thuyết này không được sử dụng mà cho rằng hoa này trực tiếp gọi là Thái hoa, vì hoa này rất hiếm có, giống như rùa thiêng cũng hiếm có nên gọi là Thái hoa. 2. Vì để nói lên sự thù thắng của hoa này khác hẳn với hoa sen thông thường, cho nên đặc biệt gọi là Phân đà lợi hoa. Quán kinh tán thiện nghĩa (Đại 37, 278 thượng) nói: Phân đà lợi được gọi là Nhân trung hảo hoa(hoa tốt đẹp trong cõi người), cũng gọi là Hi hữu hoa, cũng gọi là Nhân trung thượng thượng hoa, cũng gọi là Nhân trung diệu hảo hoa; hoa này tương truyền gọi là Thái hoa. (xt. Phân Đà Lợi Hoa).
thái huyền chân nhất bản tế kinh
1371凡十卷。初唐、中唐之際流行之道教經典。據甄正論卷下載,隋之道士劉進喜改換佛教經典,造五卷本,其後道士李仲卿又增廣為十卷。其內容旨在教化三乘以導入一乘,並說一切諸法之根本為非因非果之道性。綜觀全經,受佛教之影響頗巨,尤其受三論宗之影響最大。係為對抗佛教教理而創之作。
; (太玄真一本際經) Kinh, 10 quyển, là bộ kinh của Đạo giáo lưu hành vào khoảng Sơ Đường, Trung Đường. Cứ theo luận Chân chính quyển hạ thì đạo sĩ Lưu tiến hỉ đời Tùy sửa đổi kinh Phật mà soạn ra bản 5 quyển, về sau, đạo sĩ Lí trọng khanh lại soạn rộng thêm thành 10 quyển. Nội dung kinh này là giáo hóa Tam thừa để dắt dẫn vào Nhất thừa, đồng thời cho rằng căn bản của tất cả các pháp là đạo tính phi nhân phi quả. Xét chung toàn kinh chịu ảnh hưởng Phật giáo rất lớn, nhất là chịu ảnh hưởng của tông Tam luận. Tác phẩm này được tạo ra với mục đích chống đối giáo lí Phật giáo.
thái hư
1373(1889~1947)浙江崇德人,俗姓張,本名淦森。法名唯心。為民國以來佛教革新運動之倡導者。號華子、悲華、雪山老僧、縉雲老人。十六歲出家。十八歲受具足戒於寧波(即今鄞縣)天童寺寄禪和尚,時與圓瑛法師私交甚密。十九歲在西方寺閱讀藏經,因讀般若經而有悟境。其後遊學於楊仁山之祇洹精舍,與歐陽漸、梅光羲同學。因受時代思潮之激發,故主張革除佛教積弊,以弘教護國,進而興國救世。民國元年(1912)赴廣州宣揚佛法,被推為白雲山雙溪寺住持。並與仁山法師首倡組織「佛教協進會」,進京晉謁臨時大總統孫中山先生,提出改革佛教計畫,中山先生以手令褒勉之。旋倡改金山寺為佛教大學,未獲成功。翌年,在南京創設中國佛教協進會,後併入中華佛教總會。在追悼寄禪和尚大會上,主張教理、教制、教產三大革命,撰文鼓吹佛教復興運動,建立新僧團制度。 民國三年掩關於普陀山。某夜,忽聞前寺開大靜,心念驀然斷息,復歷悟境。二十八歲又歷第三次悟境。在關中先後撰寫佛法導論、整理僧伽制度論、首楞嚴經攝論等書。二十九歲出關後,即代圓瑛法師參加臺灣法會,遊歷日本,並在上海創設覺社,主編覺社叢書,翌年改為海潮音月刊。三十二歲,與歐陽漸之支那內學院有法義之諍。大師以平素反對用進化論之歷史考證法研究佛書,故於日本學者考證大乘起信論、楞嚴經等書為偽書時,乃起而反對。嘗作「評大乘起信論考證」、「佛法總抉擇談」,力主法相必宗唯識,並為起信論辯護。同時,倡導大乘八宗平等,而宗本天台、禪宗。更主張以禪、律振興佛教,且擬弘揚大乘佛法於國際上。時人將其歸屬為佛教界革新派之代表,而以諦閑大師為守舊派之代表。 民國十三年,在廬山舉行世界佛教聯合會。次年,率團出席日本東亞佛教大會,並考察日本佛教,日人尊之為「民國佛教界之盟主」。民國十六年,任廈門南普陀寺住持兼閩南佛學院院長。十七年在南京創設中國佛學會,並弘化於英、法、德、荷、比、美各國,應法國學者建議,在巴黎籌設「世界佛學院」,為中國僧人赴歐美傳播佛教之始。自此聲望日隆,國內有視之為佛教救星者。四十四歲,住持奉化雪竇寺。次年,與熊十力、支那內學院有法義之辯。四十九歲,作「我的佛教革命失敗史」,自陳佛教改革每遭挫折之原因。其後,積極從事於建立佛教中心組織之工作,民國三十二年與于斌、馮玉祥、白崇禧等組織中國宗教徒聯誼會。抗戰勝利後,任中國佛教整理委員會主任、國民精神總動員會設計委員等職。三十五年受宗教領袖勝利勛章。師意欲成立中國佛教會,惜未克達成,即於民國三十六年示寂於上海玉佛寺直指軒,享年五十九歲。 師一生倡導佛教革命,致力佛教事業,雖未能竟願,然其影響則極為深遠。自謂:「志在整理僧伽制度,行在菩薩瑜伽戒本。」故綜其一生,皆為實踐佛僧、佛化、佛國之三佛主義而努力。首先,為提倡僧教育,培植僧材,設立武昌佛學院(1922)、閩南佛學院及漢藏教理院(1931,重慶北碚縉雲寺)。其次,創辦海潮音、佛化報、佛化新青年等雜誌以弘揚佛法。民國十八年,更著手組織「世界佛學院」,以建立人生佛教,促使佛教世界化。並派遣學僧分赴西藏、印度、錫蘭等地留學,以從事巴利文、梵文、藏文之研究。其造就培養之人材甚多,有法舫、法尊、芝峰、印順、大醒、大勇等人。其主要著作有整理僧伽制度論、釋新僧、新的唯識觀、震旦佛教衰落原因論、法相唯識學、真現實論等,後由印順等輯為太虛大師全書六十四冊行世。〔太虛大師年譜、太虛自傳〕
; T'ai-hsu (C), Taixu (C) (1889-1947) Ngài là một nhà sư Trung quốc đã giữ vai trò quan trọng trong việc phục hưng và cải cách Phật giáo Trung quốc. Ngài cũng là người khai sáng Hội Phật Học trung quốc mà vào năm 1947 có đến 4 triệu hội viên.
; (太虛) Cao tăng Trung quốc sống vào thời đại Dân quốc, người ở Sùng đức, tỉnh Chiết giang, họ Trương, vốn tên là Cam sâm, pháp danh Duy tâm, hiệu là Hoa tử, Bi hoa, Tuyết sơn lão tăng, Tấn vân lão nhân, là người khởi xướng cuộc vận động đổi mới Phật giáo ở thời Trung Hoa Dân Quốc. Năm 16 tuổi sư xuất gia, năm 18 tuổi sư y vào Hòa thượng Kí thiền ở chùa Thiên đồng tại Ninh ba (nay là huyện Ngân) thụ giới Cụ túc, thường qua lại rất thân mật với Pháp sư Viên anh. Năm 19 tuổi, sư đọc Đại tạng ở chùa Tây phương, nhân xem kinh Bát nhã mà tỉnh ngộ. Về sau, sư đến học tại tinh xá Kì hoàn của Dương nhân sơn, cùng học với Âu dương tiệm, Mai quang hi... Nhân ảnh hưởng của tư trào thời đại nên sư chủ trương tẩy trừ các tệ hại đã chất chứa trong Phật giáo từ lâu để hoằng pháp hộ quốc, tiến xa hơn là hưng quốc cứu đời. Năm 1912 (Dân quốc năm đầu), sư đến Quảng châu tuyên dương Phật pháp, được suy tôn làm Trụ trì chùa Song khê ở núi Bạch vân. Sư cùng với Pháp sư Nhân sơn bắt đầu tổ chức Phật giáo hiệp tiến hội, đến Kinh đô yết kiến Tổng thống lâm thời là Tôn trung sơn tiên sinh, trình bày kế hoạch đổi mới Phật giáo, Trung sơn tiên sinh rất khen ngợi và khuyến khích việc ấy. Sư liền đề nghị đổi chùa Kim sơn làm Đại học Phật giáo, nhưng chưa thành công. Năm sau, sư sáng lập Trung quốc Phật giáo hiệp tiến hội tại Nam kinh, sau sáp nhập vào Trung quốc Phật giáo tổng hội. Trong đại hội truy điệu Hòa thượng Kí thiền, sư chủ trương 3 cuộc đổi mới lớn về giáo lí, giáo chế và giáo sản, soạn lời hô hào vận động phục hưng Phật giáo, thiết lập chế độ Tân tăng đoàn. Năm 1914 (năm Dân quốc thứ 3), sư nhập thất ở núi Phổ đà. Một đêm kia, bỗng nghe tiếng chuông khai tĩnh (chuông báo thức buổi sáng sớm) từ ngôi chùa phía trước vọng tới, tâm niệm sư chợt dứt bặt, lại trải qua ngộ cảnh lần thứ 2. Năm 28 tuổi, sư lại trải qua ngộ cảnh lần thứ 3. Trong thời gian nhập thất, sư lần lượt soạn thảo 3 bộ luận: Phật pháp đạo luận, Chỉnh lí tăng già chế độ luận và Thủ lăng nghiêm kinh nhiếp luận. Năm 29 tuổi, sau khi ra thất, sư được đề cử đại diện Pháp sư Viên anh tham dự Đài loan pháp hội, sau đó, sư sang thăm Nhật bản. Khi trở về Trung quốc, sư sáng lập Giác xã tại Thượng hải, làmChủ biên Giác xã tùng thư, năm sau đổi thành nguyệt san Hải triều âm. Năm 32 tuổi, sư có tranh luận về pháp nghĩa với học giả Âu dương tiệm, người chủ trì China nội học viện. Sư vốn phản đối sự ứng dụng phương pháp khảo chứng lịch sử của Tiến hóa luận (Theory of evolution) trong việc nghiên cứu kinh điển Phật. Bởi thế, đối với sự khảo chứng của các học giả Nhật bản cho luận Đại thừa khởi tín, kinh Thủ lăng nghiêm... là ngụy thư, sư đã kịch liệt phản đối. Sư từng soạn Bình Đại thừa khởi tín luận khảo chứng, Phật pháp tổng quyết trạch đàm, cực lực chủ trương Pháp tướng phải y cứ vào Duy thức, đồng thời bênh vực luận Khởi tín. Sư cũng chủ trương 8 tông của Đại thừa là bình đẳng, dùng Thiền, Luật để chấn hưng Phật giáo và mở rộng Phật pháp Đại thừa trên trường quốc tế. Người đương thời coi sư là đại biểu cho phái cách tân và xem ngài Đế nhàn là đại biểu cho phái thủ cựu trong giới Phật giáo. Năm 1924 (Dân quốc năm 13), Liên hiệp hội Phật giáo thế giới được tổ chức tại Lô sơn. Năm sau, sư dẫn đầu phái đoàn đi dự Đại hội Phật giáo Đông nam á tổ chức tại Nhật bản, đồng thời khảo sát các hoạt động của Phật giáo Nhật bản, người Nhật tôn sư là Minh chủ của giới Phật giáo Dân quốc. Năm 1927 (Dân quốc năm thứ 16), sư làm Trụ trì chùa Nam phổ đà ở Hạ môn kiêm Viện trưởng Phật học viện Mân nam. Năm 1928 (Dân quốc năm thứ 17), sư sáng lập hội Phật học Trung quốc tại Nam kinh, đồng thời du hóa các nước như: Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà lan, Hoa kì... thể theo kiến nghị của các học giả nước Pháp, sư trù hoạch thiết lập viện Phật học thế giới tại Paris. Sư là vị tăng Trung quốc đầu tiên đến Âu Mĩ truyền bá Phật giáo. Kể từ đó, tiếng tăm sư ngày càng trở nên lừng lẫy, trong nước có người coi sư là vị cứu tinh của Phật giáo. Năm 44 tuổi, sư trụ trì chùa Tuyết đậu ở Phụng hóa. Năm sau, sư lại biện luận về pháp nghĩa với học giả Hùng thập lực ở Chi na nội học viện. Năm 49 tuổi, sư viết Ngã đích Phật giáo cách mạng thất bại sử, trong đó, sư trình bày những nguyên nhân đã làm cho cuộc đổi mới Phật giáo bị thất bại. Về sau, sư tích cực trong việc thiết lập một tổ chức trung tâm của Phật giáo. Năm 1943 (Dân quốc năm 32), sư cùng với các cư sĩ Vu bân, Phùng ngọc tường, Bạch sùng hi... tổ chức Trung quốc tông giáo đồ liên nghị hội. Sau khi kháng chiến thành công, sư làm chủ nhiệm Trung quốc Phật giáo chỉnh lí ủy viên hội, ủy viên thiết kế của Quốc dân tinh thần tổng động viên hội. Năm 1946 (Dân quốc năm 35), sư được huân chương Lãnh tụ tông giáo thắng lợi. Ý sư muốn thành lập hội Phật giáo Trung quốc, nhưng tiếc thay chưa đạt thành thì sư đã thị tịch ở hiên Trực chỉ chùa Ngọc Phật tại Thượng hải vào năm 1947 (Dân quốc năm 36), thọ 59 tuổi. Sư một đời khởi xướng việc đổi mới Phật giáo, tận lực phụng sự Phật pháp, tuy sư chưa làm tròn ý nguyện nhưng ảnh hưởng của sư thì rất sâu xa. Sư từng tự nói: Chí nguyện là chỉnh lí chế độ tăng già, còn tu hành thì theo Bồ tát du già giới bản, cho nên trọn một đời sư đều gắng sức thực hiện chủ nghĩa Tam Phật: Phật tăng, Phật hóa, Phật quốc. Trước hết là đề xướng nền giáo dục chúng tăng, bồi dưỡng tăng tài, thiết lập viện Phật học Vũ xương (1922), viện Phật học Mân nam và viện Giáo lí Hán Tạng (1931, chùa Tấn vân ở tỉnh Trùng khánh). Kế đến là sáng lập các tạp chí: Hải triều âm, Phật hóa báo, Phật hóa tân thanh niên... để hoằng dương Phật pháp. Năm 1927 (Dân quốc năm 16), sư bắt tay vào việc tổ chức viện Phật học thế giới để kiến lập Phật giáo nhân sinh, xúc tiến việc Phật giáo hóa thế giới. Đồng thời, phái học tăng đến các nước Tây tạng, Ấn độ, Tích lan... du học để nghiên cứu tiếng Pàli, Phạm và Tây tạng. Sư đã gây dựng và bồi dưỡng rất nhiều tăng tài như các vị: Pháp phưởng, Pháp tôn, Chi phong, Ấn thuận, Đại tỉnh, Đại dũng... Sư có các phẩm: Chỉnh lí tăng già chế độ, Thích tân tăng, Tân đích duy thức quan, Chấn đán Phật giáo suy lạc nguyên nhân luận, Pháp tướng duy thức học, Chân hiện thực luận và rất nhiều loại tác phẩm khác mà sau do các ngài Ấn thuận... thu gom lại và biên thành Thái hư Đại sư toàn thư gồm 64 tập lưu hành ở đời. [X. Thái hư Đại sư niên phổ; Thái hư tự truyện].
thái hư không
1375謂浩浩宇宙之虛空。又稱頑空、偏空。此虛空湛然常寂,畢竟無為無物,教中常以之譬喻小乘灰身滅智之涅槃,而異於大乘涅槃之妙空、第一義空。〔菩提心論〕
; Space, where nothing exists.
; (太虛空) Cũng gọi Ngoan không, Thiên không. Chỉ cho bầu hư không bao la, rộng lớn của vũ trụ. Hư không này thường vắng lặng, rốt ráo vô vi vô vật; trong kinh thường dùng hư không này để ví dụ với Niết bàn khôi thân diệt trí của Tiểu thừa, khác với diệu không, đệ nhất nghĩa không của Niết bàn Đại thừa. [X. luận Bồ đề tâm].
thái hư đại sư
Nhà sư Trung quốc nổi tiếng (1889-1947). Ngài đã làm sống lại Phật giáo Trung quốc bằng chủ trương khôi phục Tăng già. Vào năm ông thị tịch 1947, hội Phật giáo Trung quốc do ông lập ra đã có trên 4 triệu môn đồ. Một trong những thành công lớn của ông là hòa hợp được các triết học của các trường phái Pháp Tướng, Hoa Nghiêm và Thiên Thai—A famous Chinese monk (1889-1947). He reformed the Chinese Buddhism by revitalizing the Sangha. In 1947, the year he passed away, the Chinese Buddhist Society founded by him had over 4 million followers. One of his most important achievements was a harmonious blending of philosophies from Fa-Hsiang, Hua-Yen and T'ien-T'ai schools.
thái hư đại sư toàn thư
1373凡六十四冊,印順主編。乃民國佛教主要推動者太虛大師之著述全集。內分佛法總學、五乘共學、三乘共學、大乘通學、法性空慧學、法相唯識學、法界圓覺學、律釋、制議、學行、真現實論宗依論、真現實論宗體論、真現實論宗用論、支論、時論、書評、酬對、講演、文叢、詩存等二十編。附冊為印順主編之太虛大師年譜上下冊。
; (太虛大師全書) Tác phẩm, gồm 64 tập, do ngài Ấn thuận chủ biên. Đây là toàn bộ trứ tác của Đại sư Thái hư, người vận động đổi mới Phật giáo chủ yếu của thời Dân quốc. Nội dung toàn tập chia làm 20 bộ môn: Phật pháp tổng học, Ngũ thừa cộng học, Tam thừa cộng học, Đại thừa thông học, Pháp tính không tuệ học, Pháp tướng duy thức học, Pháp giới viên giác học, Luật thích, Chế nghị, Học hạnh, Chân hiện thực luận tông y luận, Chân hiện thực luận tông thể luận, Chân hiện thực luận tông dụng luận, Chi luận, Thời luận, Thư bình, Thù đối, Giảng diễn, Văn tùng và Thi tồn. Tập phụ thêm là Thái hư đại sư niên phổ tập thượng, hạ, do ngài Ấn thuận chủ biên.
thái hậu
Queen mother.
thái khâm
4146請參閱 俱舍論疏 或寶疏 (?~974)宋代法眼宗僧。魏府(河北)人。入法眼文益門下參禪。初住洪州(江西)雙林院,後遷金陵(南京)清涼山。傳法於雲居道齊。太祖開寶七年示寂,壽不詳,諡號「法燈禪師」。世人多稱師金陵法燈、清涼泰欽。〔景德傳燈錄卷二十五、聯燈會要卷二十七、五燈會元卷十〕
Thái Kinh Nhập Đạo
(泰經入道, Taikyō Nyūdō, ?-1201): tức là Cao Giai Thái Kinh (高階泰經), con của Trưởng Quan Kami vùng Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, nay là Fukui-ken [福井縣]), tên Thái Trọng (泰重), làm quan đến chức Chánh Tam Vị. Ông xuất gia vào ngày mồng 6 tháng 9 năm thứ 8 (1197) niên hiệu Kiến Cửu (建久), qua đời ngày 23 tháng 11 năm đầu (1201) niên hiệu Kiến Nhân (建仁).
thái liêm tiêm sinh
1375請參閱 律經根本釋 禪林用語。太,甚之義。廉纖,即綿密而微細之義。生,猶言者,係接尾詞。意即師家接化學人之方法,甚為親切而微細綿密。碧巖錄第二則垂示(大四八‧一四二下):「恁麼也得,不恁麼也得,太廉纖生。」
; (太廉纖生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thái nghĩa là rất; Liêm tiêm nghĩa là khít khao nhỏ nhiệm; Sinh là tiếng tiếp vĩ ngữ. Ý nói phương pháp tiếp hóa người học của bậc thầy rất thân thiết, tế nhị. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 142 hạ) nói: Như vậy cũng được, không như vậy cũng được, rất khít khao nhỏ nhiệm (thái liêm tiêm sinh.
thái miếu
Imperial (Royal) temples.
thái nguyên phu
Tai yuan Pu (C) Tên một vị sư.
thái nguyên tự
1373唐初,於長安、洛陽、太原、荊州、揚州等地置五所太原寺。長安之太原寺,乃咸亨元年(670)則天武后外氏侍中觀國公楊恭仁捨故宅所建者,後經重修,改名魏國西寺。載初元年(690),復改名崇福寺。菩提流志與般若三藏分別於該寺譯出大寶積經及四十華嚴經,智昇之開元釋教錄、法藏之起信論義記亦成於此。洛陽之太原寺,先後改稱魏國東寺、大周東寺,後稱大福先寺。義淨、善無畏、日照、寶思惟、菩提流志等諸師,相繼於此從事譯經工作,寺中並有武后所書福先寺聖教序碑。後因洛水泛濫,寺址北遷。太原之太原寺,亦改名崇福寺,慧警、崇政、懷玉等諸師,均曾住此講學。荊、揚二太原寺亦屬一方名剎,學僧雲集,而為當地佛教之淵叢。
Thái nhiên
泰然; C: tàirán; J: taizen;|Thanh thản, điềm tỉnh; ung dung, không lay động.
Thái nhiên 泰然
[ja] タイゼン taizen ||| Calm, composed; firm, imperturbable. => Thanh thản, điềm tĩnh; ung dung, không lay động.
thái nhỏ
To cut into small pieces.
thái năng
1373(1562~1649)朝鮮潭陽(全羅南道)人,俗姓吳。號逍遙。十三歲出家習經律,又從浮休善修受習禪法,後與雲谷冲徽、松月應祥,並稱門下三傑。曾於妙香山訪休靜而嗣其法,並歷住金剛、五臺、九月等名山。仁祖移南漢之際,曾奉命修治西城。於仁祖二十七年十一月入寂,世壽八十八。諡號「慧鑑禪師」。門下數百,其法系稱逍遙派。遺有逍遙集行世。〔朝鮮佛教通史上篇(李能和)、朝鮮禪教史(忽滑谷快天)〕
Thái Năng 太能
[ja] タイノウ Tainō ||| T'aenŭng (1562-1649); later Chosŏn Sŏn master, one of the four leading disciples of Hyujŏng 休靜. Posthumously named Soyo 逍遥. Originally from Cholla Namdo. Ordained into the Buddhist order as a novice at age thirteen at 白羊山, and later on studied at Haein-sa 海印寺. He would eventually come under the tutelage of Hyujŏng; attaining such a deep grasp on the Buddhist teachings, that a separate "school" called the Soyop'a 逍遥派 would form around him. He authored the Soyodangjip 逍遥堂集. => (k: T'aenŭng ; 1562-1649); Thiền sư Triều Tiên, một trong 4 đệ tử thượng thủ của Hưu Tịnh (k: Hyujŏng 休靜). Thụy hiệu là Tiêu Diêu (k: Soyo 逍遥). Xuất thân từ Cholla Namdo. Xuất gia hành điệu lúc 13 tuổi tại Bạch Dương sơn, sau đó tu học tại chùa Hải ấn (k: at Haein-sa 海印寺). Cuối cùng sư được ngài Hưu Tịnh dạy dỗ và thông đạt sâu sắc giáo lý Phật pháp, đến mức làm phát xuất một chi phái mang tên Tiêu Diêu phái (k: Soyop'a 逍遥派). Sư là tác giả của Tiêu Diêu đường tập (k: Soyodangjip 逍遥堂集).
Thái Phạm
(泰範, Taihan, 778-?): một trong 10 vị đại đệ tử của Không Hải (空海, Kūkai). Ban đầu ông xuất gia ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), rồi sau đó theo hầu Tối Trừng (最澄, Saichō) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Năm 810, ông làm Tổng Biệt Đương (總別當) của Tỷ Duệ Sơn, cùng với Tối Trừng định ra quy chế Thiền môn. Vào năm 812, ông cùng với Tối Trừng và đồ chúng đến Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺) tự thọ lễ Quán Đảnh với Không Hải. Sau đó, ông không nghe lời khuyên của thầy để trở về núi mà theo hầu Không Hải để học về Mật Giáo, trở thành một trong mấy vị đại đệ tử của Không Hải và tận lực khai sáng Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan).
thái phạm
4147(778~858?)日本真言宗僧。二十五歲於東大寺受具戒,學於比叡山,師事最澄,博通天台,任全山總別當之職。後與最澄同至高雄山寺,受空海之灌頂,繼之歸空海修密教,成為空海門下四哲之一,十大弟子之一。最澄數度催其歸山(比叡山),然未歸返。相傳曾致力協助空海籌建高野山,後被選為東寺定額僧之上首,時年六十。其後之事蹟不詳,或謂寂於天安二年。〔南都高僧傳、本朝高僧傳卷五〕
thái qua nhĩ
4145(Tagore, Rabindranath 1861~1941)印度詩人、文學家、思想家。孟加拉語稱為 Ṭhākur。出生於加爾各答之名門,早年受印度傳統思想、學藝等教育。一八七七年赴英國學習法律,受近代西歐思想之影響。歸國後接管其父廣大之田產,此外則專事作詩。以其民族愛國之熱情,對印度獨立運動寄以莫大期望,時人尊為抒情詩人。後傾向於東方之自然觀,自閑寂自然而歸入宗教與神祕之瞑想境界,乃形成其隨想式之詩風,而展開其獨特之生命哲學。主張於生命神秘之調和中,以愛之實踐為第一義。曾訪問我國與日本。於訪問期間之演講中洋溢著對亞洲之真情,並嚴重警告模仿西方文化之危險。氏一生博通詩、小說、戲曲、隨筆、評論、哲學論集、宗教論集等,主要以孟加拉語著書,其作品大半已英譯。為東方蒙獲諾貝爾文學獎之第一人(1913)。生平熱切注意印度民眾之教育與藝術,自身亦擅長繪畫、作曲等。一九○一年於加爾各答近郊之「和平之憩地」創建學校,教育子弟。一九二一年改建為大學,即泰戈爾國際大學(後改為國立大學)。該校之建立乃成為印度獨立運動之一股原動力。
; (泰戈爾) Tagore, Rabindranath, 1816-1941. Nhà thơ, nhà văn học, nhà tư tưởng Ấn độ. Gọi theo tiếng Bengali thì tên ông làỈhàkur. Ông xuất thân từ một gia đình danh giá ở Calcutta, sớm được giáo dục theo tư tưởng, học thuật truyền thống của Ấn độ. Năm 1877, ông đến nước Anh học tập pháp luật, chịu ảnh hưởng tư tưởng Tây âu thời cận đại. Sau khi về nước, ông thừa kế sản nghiệp to lớn của cha để lại, ngoài ra thì chuyên làm thơ. Ông đem nhiệt tình yêu dân tộc, yêu đất nước của ông và niềm mơ ước lớn lao gửi gấm vào cuộc vận động độc lập cho Ấn độ, người đương thời tôn ông là nhà thơ trữ tình. Về sau, ông có khuynh hướng về quan niệm tự nhiên của Đông phương, từ trạng thái vắng lặng tự nhiên đi vào tông giáo và cảnh giới thầm tưởng thần bí, do đó hình thành phong cách thi ca theo hình thức tùy tưởng và mở ra nền triết học sinh mệnh đặc thù của ông. Ông chủ trương lấy tình yêu thực tiễn làm đệ nhất nghĩa trong sự điều hòa sinh mệnh thần bí. Ông từng đến thăm Trung quốc và Nhật bản. Trong các buổi diễn giảng, ông thường bày tỏ tấm chân tình chan chứa đốivới các dân tộc Á châu, đồng thời nghiêm trọng cảnh báo mối nguy hiểm của sự bắt chước văn hóa Tây phương. Một đời ông viết rất nhiều về thơ, tiểu thuyết, hí khúc, tùy bút, bình luận, triết học luận tập, tông giáo luận tập... chủ yếu ông dùng tiếng Bengali để trứ tác, đa số các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Anh. Ông là người châu Á đầu tiên được tặng giải thưởng Nobel văn chương (1913). Ông bình sinh tha thiết chú ý đến việc giáo dục và nghệ thuật của dân chúng Ấn độ. Ông cũng giỏi về hội họa và sáng tác ca khúc. Năm 1901, ông sáng lập trường học ở Shantiniketan, vùng phụ cận Calcutta, tại tiểu bang West Bengal để giáo dục con em. Năm 1921 xây dựng lại thành Đại học, tức Đại học Quốc tế Tagore (sau đổi thành Đại học Quốc lập). Sự ra đời của ngôi trường này đã trở thành một trong các nguyên động lực của cuộc vận động độc lập cho Ấn độ.
thái quá
Excessive—Exaggerated—Immoderate—Exhorbitant.
thái quốc phật giáo
4146泰國(Thailand)位於中南半島中央,古稱墮羅鉢底(梵 Dvārapati),又稱社和鉢底、墮和羅。居民為傣族(Thai),原住我國雲南省西南部,以受漢人壓迫,漸遷至湄南河、湄公河沿岸,西元七世紀左右,征服近鄰,建立王國之基礎。十三世紀中葉,於湄南河(Menam)上、中游分別建立蘭那泰王朝(Lanna-thai)與素可泰王朝(Sukho-thai, 1257~1436),至十四世紀中葉,兩王朝合併定立國都,正式統一,建立阿踰陀王朝(Auodhyā 1350~1766,又稱大城王朝),我國稱之為暹羅。統一之前,佛教信仰已甚興盛,造佛建寺之風氣亦極普遍,據南海寄歸內法傳卷一所載,則義淨之時佛法已極盛行。大約傣族人立國前之佛教可分上座部佛教之傳入(西元前三世紀)、大乘佛教之傳入(西元八世紀)、蒲甘佛教之傳入(十一世紀)、錫蘭佛教之傳入(十三世紀)等四個 伝薄A至於信史,則始自素可泰王朝。 素可泰王朝初期之佛教兼揚上座部與大乘,第五代立泰王(Thammaraja Luthai, 1347~1370)在位通內外典,著三界論,詳述佛教之宇宙觀與人生觀,又領導鑄造佛像,今供於彭世洛府大舍利寺之清那叻銅佛與曼谷善見寺之大銅佛即是。十四世紀中葉,大城王朝(1350~1766)取代素可泰,曾興建佛陀最勝寺、巴考寺;怛萊洛迦王(Boroma Trailokanātha, 1448~1488)更將舊王宮改為佛寺,定名最勝徧知寺;拉瑪鐵波底二世(Ramadhipati Ⅱ, 1491~1529)更敕造十六公尺高之大佛;頌曇王(Songtham, 1610~1628)少年時曾出家,法名淨法,曾命建佛寺於蘇槃那山,改名佛足山。一七六七年,皇室傾軋,內亂頻仍,緬甸乘機入侵,後由漢人鄭昭光復,建立吞武里王朝,鄭昭即現今泰國王室之祖拉瑪一世(Rama Ⅰ)。拉瑪一世曾校訂三藏(1788),改革僧團;拉瑪三世諭令翻譯三藏及特別論典為泰文;其弟即四世,曾出家,法號金剛智,提倡嚴格戒律,創法宗派(Dhammayuttika-nikāya),原有僧人眾多,稱大宗派(Mahā-nikāya),泰國僧團自此分成兩派,流傳至今;五世朱拉隆功王(Chulalongkorn, 1868~1901)以泰文刊行巴利語聖典,創建大舍利寺學院為高級巴利文研究中心,皇冕學院為高級佛學研究中心,後者並發行「法眼」雜誌迄今,為泰國佛教最久之刊物;拉瑪六世(1910~1925)著有「佛陀覺悟什麼」、「東方猶太」等書; 拉瑪七世(1925~1934)改編巴利三藏;拉瑪八世(1934~1946)時,佛教僧伽組織曾仿國會形式,除僧王為最高領袖外,設有僧伽部長、僧伽議會、僧伽法庭。又拉瑪四世至六世期間,修建佛統大塔,高約一二○餘公尺,周圍二四○公尺,為泰國最大佛塔。 今日,佛教為泰國國教,僧侶備受敬重,王室儀式、國民教育及生活種種,概以佛教為其規範,且規定男子二十歲時須一度出家,其僧眾於社會各階層有極大之發言權。與錫蘭佛教相同,俱為使用巴利語三藏,近代亦曾刊行泰文三藏,後更續刊三藏註及藏外聖典。〔大唐西域記卷十、南海寄歸內法傳卷一、古今圖書集成邊裔典第一○一、東西交涉史の研究南海篇、泰國佛教簡史(演培)、南傳佛教史第三篇(淨海)〕
; (泰國佛教) Thái quốc (Thailand) nằm giữa bán đảo Trung nam, xưa gọi là Đọa Rabindranath Tagore la bát để (Phạm: Dvàrapati), cũng gọi Xã hòa bát để, Đọa hòa la. Cư dân là dân tộc Thái, vốn định cư ở vùng tây nam tỉnh Vân nam, Trung quốc, nhưng vì bị người Hán áp bức nên dần dần phải dời đến ven sông Mê nam, Mê kông, khoảng thế kỉ VII, chinh phục các vùng lân cận, xây dựng nền tảng vương quốc. Giữa thế kỉ XIII, ở miền thượng du và trung du của sông Mê nam (Menam), các Vương triều Lan na thái (Lanna-thái) và Vương triều Tố khả thái (Sukho-thai, 1257-1436) lần lượt được kiến lập. Đến giữa thế kỉ XIV, hai Vương triều sáp nhập lại lập ra quốc đô, chính thức thống nhất, thành lập Vương triều A du đà (Auodhyà, 1350-1766, cũng gọi Vương triều Đại thành), Trung quốc gọi là Xiêm la. Trước khi thống nhất, tín ngưỡng Phật giáo đã rất hưng thịnh, phong khí tạo tượng Phật, xây chùa viện cũng rất phổ biến. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì thời ngài Nghĩa tịnh Phật pháp ở xứ này đã rất thịnh hành. Phật giáo khoảng trước khi dân tộc Thái lập quốc có thể chia làm 4 thời kì: Thời kì truyền nhập của Phật giáo Thượng tọa bộ (thế kỉ III trước Tây lịch); thời kì truyền nhập của Phật giáo Đại thừa (thế kỉ VIII Tây lịch), thời kì truyền nhập của Phật giáo Bồ cam (thế kỉ XI) và thời kì truyền nhập của Phật giáo Tích lan (thế kỉ XIII), còn lịch sử xác thực thì bắt đầu từ Vương triều Tố khả thái (Sukhothai).Phật giáo ở thời kì đầu của Vương triều Tố khả thái hoằng dương cả Thượng tọa bộ và Đại thừa, vua Lập thái (Thammaraja Luthai, ở ngôi 1374-1370) đời thứ 5 thông hiểu cả nội ngoại điển, vua soạn luận Tam giới, trình bày về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật giáo; vua còn chủ trì đúc tạo tượng Phật. Tượng Phật bằng đồng được thờ ở chùa Đại xá lợi tại phủ Bành thế lạc và tượng Phật lớn bằng đồng thờ ở chùa Thiện kiến tại Bangkok hiện nay chính là do nhà vua đúc tạo. Giữa thế kỉ XIV, Vương triều Đại thành (1350-1766) thay thế Vương triều Tố khả thái, từng xây dựng chùa Phật đà tối thắng, chùa Ba khảo; vua Đát lai lạc ca (Boroma Trailokanàtha, 1448-1488) lại đổi vương cung cũ thành chùa Phật, đặt tên là chùa Tối thắng biến tri; vua Lạp mã thiết ba để đời thứ 2 (Ramadhipati II, 1491-1529) thì ban sắc tạo tượng Đại Phật cao 16 mét; vua Tụng đàm (Songtham, 1610-1628), lúc còn trẻ đã từng xuất gia, pháp danh là Tịnh pháp, từng ban sắc xây chùa Phật trên núi Tô bàn na, đổi tên là núi Phật túc. Năm 1767, Hoàng gia khuynh đảo, nội loạn liên miên, Miến điện thừa cơ xâm lấn, sau nhờ người Hán là Trịnh chiêu khôi phục nghiệp cũ, kiến lập Vương triều Thôn vũ lí. Trịnh chiêu chính là Lạp mã đời thứ nhất (Rama I), tổ tiên của Vương triều Thái quốc hiện nay. Vua Lạp mã đời thứ nhất từng hiệu đính Tam tạng (1788), cải cách tăng đoàn; vua Lạp mã đời thứ 3 ban sắc phiên dịch Tam tạng (đặc biệt là tạngLuận) ra tiếng Thái; em vua, tức Lạp mã đời thứ 4, từng xuất gia, pháp hiệu là Kim cương trí, chủ trương giữ gìn giới luật một cách nghiêm khắc, sáng lập phái Pháp tông (Dhammayuttika-nikàya), vốn có rất đông chư tăng, vì thế nên gọi là phái Đại tông (Mahà-nikàya), từ đó, tăng đoàn Thái lan chia ra 2 phái, lưu truyền đến nay. Vua Chu lạp long công (Chulalongkorn, 1868-1901) đời thứ 5, dùng tiếng Thái ấn hành kinh điển Pàli, sáng lập học viện chùa Đại xá lợi làm trung tâm nghiên cứu Pàli cao cấp, học viện Hoàng miện là trung tâm nghiên cứu Phật học cao cấp, viện này đồng thời phát hành tạp chí Pháp nhãn cho mãi đến hiện nay; là tờ báo lâu đời nhất của Phật giáo Thái lan; vua Lạp mã đời thứ 6 (1910-1925) có soạn các sách Phật đà giác ngộ thập mạ, Đông phương Do thái...; vua Lạp mã đời thứ 7 (1925-1934), biên lại Tam tạngPàli; vua Lạp mã thứ 8 (1934-1946) từng tổ chức tăng già Phật giáo phỏng theo hình thức Quốc hội, ngoài Tăng vương(VuaSãi) là vị lãnh đạo tối cao ra còn lập Tăng già bộ trưởng, Tăng già nghị hội, Tăng già pháp đình. Trong thời gian từ Lạp mã thứ 4 đến Lạp mã thứ 6, ngôi Đại tháp Phật thống cao khoảng hơn 120 mét, chu vi 240 mét được xây dựng, đây là ngôi tháp Phật lớn nhất ở Thái lan. Hiện nay, Phật giáo làquốc giáo của Thái lan, chư tăng rất được tôn kính, nghi thức của Hoàng gia, nền giáo dục quốc dân và các hình thức sinh hoạt khác nói chung đều lấy Phật giáo làm khuôn mẫu. Hơn nữa còn qui định con trai đến 20 tuổi phải xuất gia một lần; tăng chúng có quyền phát ngôn rất lớn đối với các tầng lớp xã hội. Giống như Phật giáo Tích lan, Phật giáo Thái lan cũng sử dụng Tam tạng Pàli, thời gần đây cũng có ấn hành Tam tạng bằng tiếng Thái, về sau lại tiếp tục in Tam tạng chú thích và các kinh sách ngoài Đại tạng. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Đông tây giao thiệp sử đích nghiên cứu Nam hải thiên; Thái quốc Phật giáo giản sử (Diễn bồi); Nam truyền Phật giáo sử thiên thứ 3 (Tịnh hải)].
Thái Sơn
(泰山): còn gọi là Đại Tông (岱宗), Đại Sơn (岱山), Đông Nhạc (東嶽), là ngọn núi đứng đầu Ngũ Nhạc (五嶽), tọa lạc tại miền Trung của Tỉnh Sơn Đông (山東省), giáp giới với các tỉnh như Tề Nam (濟南), Trường Thanh (長清), Lịch Thành (歷城), Thái An (泰安), v.v., rộng khoảng hơn 400 dặm vuông, phía Đông là biển lớn, phía Tây tựa vào Hoàng Hà (黃河). Theo Thuật Dị Ký (述異記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) thời Lục Triều (六朝, 220-589), dưới thời Tần (秦, 221-207 ttl.), Hán (漢, 202ttl.-220), truyền thuyết dân gian cho rằng Bàn Cổ (盤古) sau khi chết, đầu là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc (中岳), tay trái là Nam Nhạc (南岳), tay phải là Bắc Nhạc (北岳), chân là Tây Nhạc (西嶽). Đầu của Bàn Cổ hướng về phía Đông, nên hóa thành Đông Nhạc, vì vậy Thái Sơn trở thành đầu của Ngũ Nhạc. Trong 36 Động Thiên của Đạo Giáo, Thái Sơn được xếp vào hàng Động Thiên thứ hai. Đạo Giáo du nhập vào ngọn Thái Sơn này lúc nào, hiện tại vẫn chưa xác định rõ. Tuy nhiên, trong quyển 94 của Tấn Thư (晉書), Ẩn Dật Truyện (隱逸傳) có ghi rằng vào thời nhà Tấn (晉, 265-316) có Đạo Sĩ Trương Trung (張忠) vào ẩn cư trong Thái Sơn, vậy ta có thể biết được rằng ít nhất ông là vị Đạo Sĩ đầu tiên vào trong núi này. Về miếu vũ trên Thái Sơn, có Đại Nhạc Miếu (岱嶽廟) được kiến lập sớm nhất vào thời Bắc Ngụy (北魏, 386-543). Theo Thủy Kinh Chú (水經注) của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, ?-527) nhà Bắc Ngụy cho biết rằng Đại Nhạc Miếu phân làm 3 miếu thượng, trung và hạ. Đến thời nhà Đường (唐, 618-907), cả ba ngôi đều được trùng tu, miếu trung được gọi là Đại Nhạc Quan (岱嶽觀), thế gian gọi là Lão Quân Đường (老君堂), là nơi được Hoàng Đế nhà Đường phái Đạo Sĩ đến thờ tự Thái Sơn Thần. Từ thời nhà Đường, Tống (宋, 960-1279) trở đi, trên Thái Sơn có nhiều công trình kiến trúc được tạo dựng như Thanh Đế Quan (青帝觀), Vương Mẫu Trì (王母池), Thăng Nguyên Quan (升元觀), Bích Hà Nguyên Quân Từ (碧霞元君祠), Ngọc Đế Quan (玉帝觀), Hội Chơn Cung (會眞宮), v.v. Đến thời nhà Minh (明, 1368-1644), Thanh (清, 1644-1912), Đạo Giáo trên Thái Sơn lại càng hưng thạnh hơn thêm và kéo dài cho đến hiện tại. Bên cạnh đó, các tự viện Phật Giáo cũng phát triển trên núi rất nhiều như Linh Nham Tự (靈岩寺), Phổ Chiếu Tự (普照寺), Hóa Quang Tự (光化寺), Tứ Thiền Tự (四禪寺), Song Tuyền Am (雙泉庵), Hàm Thảo Tự (銜草寺), v.v. Lịch đại chư vị đế vương đều tỏ vẻ vô cùng tôn sùng đối với Thái Sơn. Tương truyền xưa kia có xuất hiện 72 vị quân chủ, đều tập trung chư hầu trên núi này để tiến hành lễ tế trời đất gọi là Phong Thiền (封禪). Từ thời thượng cổ các đế vương như Vô Hoài Thị (無懷氏), Thần Nông Thị (神農氏), Viêm Đế (炎帝), Hoàng Đế (黃帝), Nghiêu (堯), Thuấn (舜), v.v., đều đã từng lên núi này hành lễ Phong Thiền, để tạ ơn chư vị thiên thần ủng hộ cho. Kể từ khi Tần Thỉ Hoàng (秦始皇, tại vị 246-210 ttl.) lên núi hành lễ này vào năm 219 trước Công Nguyên trở về sau, Tây Hán Võ Đế Lưu Triệt (西漢武帝劉徹, tại vị 141-87 ttl.), Đông Hán Quang Võ Đế Lưu Tú (東漢光武帝劉秀, tại vị 25-57), Chương Đế Lưu Đạt (章帝劉達, tại vị 75-88), An Đế Lưu Hộ (安帝劉戶, tại vị 106-125), Đường Cao Tông Lý Trị (唐高宗李治, tại vị 649-683), Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (唐玄宗李隆基, tại vị 712-756), Tống Chơn Tông Triệu Hằng (宋眞宗趙恆, tại vị 997-1022), v.v., cũng đã từng thân hành lên Thái Sơn làm lễ Phong Thiền. Như trong Sử Ký (史記), Phong Thiền Thư (封禪書) có đoạn: “Thử Thái Sơn đảnh thượng trúc đàn tế Thiên, báo Thiên chi công, cố viết Phong (此泰山頂上築壇祭天、報天之功、故曰封, trên đỉnh Thái Sơn dựng đàn tế Trời để báo đáp công Trời, gọi là Phong),” và “Thử Thái Sơn hạ tiểu sơn thượng trừ địa, báo Địa chi công, cố viết Thiền (此泰山下小山上除地、報地之功、故曰禪, dưới chân Thái Sơn, dọn dẹp sạch trên núi nhỏ để báo đáp công Đất, gọi là Thiền).” Bên cạnh đó, các thi hào, văn nhân qua các thời đại cũng rất kính ngưỡng Thái Sơn, như Khổng Tử (孔子, 552/551-479 ttl.) nhà Chu (周), Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy (魏, 220-265), Tư Mã Thiên (司馬遷, 135-90 ttl.) nhà Hán, Lục Cơ (陸機, 261-303) nhà Tấn, Lý Bạch (李白, 701-762), Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường, Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống, v.v., đều có lưu lại những áng thi văn tuyệt hảo tán tụng về Thái Sơn. Trong Hàn Phi Tử (韓非子), chương Thập Quá (十過) có đoạn rằng: “Tích giả Hoàng Đế hợp quỷ thần ư Thái Sơn thượng, giá tượng xa nhi lục giao long, Tất Phương tinh hạt; Xí Vưu cư tiền, Phong Bá tấn tảo, Vũ Sư lệ đạo, hổ lang tại tiền, quỷ thần tại hậu, Đằng Xà phục địa, Phụng Hoàng phú thượng, đại hợp quỷ thần (昔者黃帝合鬼神於泰山之上、駕象車而六蛟龍、畢方並轄、蚩尤居前、風伯進掃、雨師灑道、虎狼在前、鬼神在後、騰蛇伏地、鳳皇覆上、大合鬼神, xưa kia Hoàng Đế tập hợp quỷ thần trên Thái Sơn, hộ vệ xe voi có sáu con thuồng luồng, quái điểu Tất Phương nâng trục xe, thú thần Xí Vưu ở phía trước, Thần Gió Phong Bá quét dọn đường, Thần Mưa Vũ Sư rưới sách đường, cọp sói ở trước, quỷ thần phía sau, Rắn Bay nép dưới đất, chim Phụng Hoàng núp trên không, các quỷ thần tập hợp rất đông).” Hay như trong Trang Tử (莊子), chương Tiêu Dao Du (逍遙遊) có câu: “Hữu điểu yên, kỳ danh vi bằng, bối nhược Thái Sơn, dực nhược thùy thiên chi vân (有鳥焉、其名爲鵬、背若泰山、翼若垂天之雲, có con chim, tên nó là bằng [đại bàng], lưng nó như núi Thái Sơn, cánh nó như đám mây che trời).” Như trong bài Phi Long Thiên (飛龍篇) của Tào Thực có đoạn miêu tả sự linh thiêng trên núi Thái Sơn rằng: “Thần du thái sơn, vân vụ yểu điệu, hốt phùng nhị đồng, nhan sắc tiên hảo, thừa bỉ bạch lộc, thủ y chi thảo, ngã tri chân nhân, trường quỳ vấn đạo (晨遊泰山、雲霧窈窕、忽逢二童、顏色鮮好、乘彼白鹿、手醫芝草、我知眞人、長跪問道, sớm dạo Thái Sơn, khói mây yểu điệu, chợt thấy hai trẻ, cỡi con hươu trắng, tay nắm cỏ chi, biết là chân nhân, quỳ xuống hỏi đường).” Trong ca dao Việt Nam thường có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Từ đó, núi Thái Sơn to lớn, vĩ đại kia được ví cho công ơn của người cha đối với con.
thái sơn
4144又作東嶽、岱山、太山。位於山東泰安。為我國五嶽之一。係傳說中專司招魂之太山府君所住之山。與佛教融合後,太山府君成為閻魔王之書記,專門記錄人類之善惡行為。故此山成為道教、佛教信仰對象之靈山。山上之神通寺為前秦皇始元年(351)僧朗所創,初名朗公谷山寺,至隋代,改稱神通寺。據云,義淨曾於此寺受學。山上之單層四面石塔與朗公塔,以建築樣式馳名於世。山腹之千佛崖,有唐初所雕之大小石佛數百尊,若較之雲崗、龍門等處,則極少受到破損。此外,另有刻於花岡岩上之金剛般若波羅蜜經,稱經石峪。每字大小約三十至五十公分,至今殘存約九百餘字,書體雄渾,為唐代之遺蹟。〔梁高僧傳卷五、水經注卷八、泰山誌〕
; T'ai-shan (C), Mount T'ai.
; Đông Sơn trong tỉnh Sơn Đông thuộc Trung Quốc—The Eastern Sacred Mountain in Shan-Tung province, China.
; (泰山) Cũng gọi Đông nhạc, Đại sơn. Tên núi nằm ở huyện Thái an, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, 1 trong Ngũ nhạc. Theo truyền thuyết, núi này là chỗ cư trú của Thái sơn Phủ quân, vị thần chuyên coi việc chiêu hồn. Sau khi được dung hợp với Phậtgiáo, Thái sơn Phủ quân trở thành thư kí của vua Diêm ma, chuyên môn ghi chép những hành vi thiện ác của con người, do đó, núi này trở thành ngọn núi linh thiêng và là đối tượng tín ngưỡng của Đạo giáocũng như của Phật giáo. Trên núi có chùa Thần thông do ngài Tăng lãng sáng lập vào niên hiệu Hoằng thủy năm đầu (351) đời Tiền Tần, ban đầu gọi là Lãng công Cốc sơn tự, đến đời Tùy mới đổi tên là Thần thông tự. Theo truyền thuyết, ngài Nghĩa tịnh từng thụ học ở chùa này. Trên núi có ngôi tháp bằng đá một tầng 4 mặt và tháp Lãng công nhờ kiểu kiến trúc mà nổi tiếng ở đời. Thiên Phật nhai ở lưng chừng núi, có vài trăm pho tượng Phật bằng đá lớn nhỏ được tạo vào đầu đời Đường, nếu so với tượng Phật ở các nơi khác như Vân cương, Long môn thì tượng ở đây ít bị phá hoại nhất. Ngoài ra còn có kinh Kim cương Bát nhã ba la mật được khắc trên vách đá hoa cương, gọi là Thạch kinh dục. Khuôn khổ mỗi chữ khoảng 30cm đến 50cm, đến nay còn khoảng hơn 900 chữ, nét viết rất mạnh mẽ, là di tích của đời Đường. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Thủy kinh chú Q.8; Thái sơn chí].
thái sơn nham
4144位於臺灣臺北泰山鄉。創建於清乾隆十九年(1754),初稱福山巖。由李序彥、李序原等人自福建泉州迎奉媽祖而草創。咸豐三年(1853)遭火災,寺宇盡毀,重建後改稱泰山巖。民國二十四年(1935),第二次重建。同年邱創標居士自普陀山迎回白玉釋迦牟尼佛像供奉於大殿,並恭塑觀世音菩薩像,自此該寺乃為一佛教道場。民國五十七年成立財團法人。民國六十一年全面整修。
; (泰山岩) Tên chùa nằm ở làng Thái sơn, huyện Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm Càn long 19 (1754) đời Thanh, do 2 ông Lí tự ngạn và Lí tự nguyên sau khi thỉnh Mã tổ từ Tuyền châu, Phúc kiến về cung phụng ở đây. Ban đầu lấy tên là Phúc sơn nham. Năm Hàm phong thứ 3 (1853), chùa bị thiêu hủy trongmột trận hỏa hoạn, sau đó được xây dựng lại mới đổi tên là Thái sơn nham. Năm Dân quốc 24 (1935), chùa được kiến thiết lại lần thứ 2. Cùng năm ấy, cư sĩ Khưu sáng tiêu thỉnh tượng Phật Thích ca ma ni bằng ngọc trắng từ núi Phổ đà về thờ ở Đại điện, đồng thời đắp tạo tượng bồ tát Quan thế âm, từ đó chùa này trở thành một đạo tràng Phật giáo danh tiếng. Năm Dân quốc 61 (1972), chùa được sửa lại toàn diện.
thái sơn nương nương
T'ai-shan Niang-niang (C), Taishan Niangniang (C).
thái sơn phủ quân
4144<一>梵名 Citragupta。音譯質多羅笈多。意譯奉教官。指冥界主宰者閻魔王之記錄官。為密教胎藏界曼荼羅之外金剛部院閻魔天主伴十六位之一。率領鬼眾,侍閻魔天,左持人幢,右執筆。常使役鬼類察知人類善惡諸業,記錄於簿冊,人死至閻魔王處時,生前所作諸業,悉依其記錄對證。〔大日經疏卷六、焰羅王供行法次第、法苑珠林卷六十二、古今圖書集成山川典第十三〕 <二>我國泰山之神,專司冥府。日本陰陽道將其附會為素盞鳴尊而祈求壽福。
; 1370梵名 Citragupta。音譯質呾羅笈多,意譯作奉教官。又作泰山府君。我國以之為冥府東嶽泰山之主司神,佛教則以太山府君配當閻魔王之書記,記錄人間善惡諸業,亦為冥界十王之一,稱為太山王。在密教,太山府君位於胎藏現圖曼荼羅外金剛部院南方,身呈肉色,右手執筆,左手持檀拏杖(杖端有金環,環中現人面),三摩耶形為人頭棒。阿闍梨所傳曼荼羅稱之為質呾羅笈多訊獄者。〔淨度三昧經卷一、法事讚卷上、大日經疏卷六、玄法寺儀軌、法苑珠林卷六十二、幽冥記、冥報記卷中、十王經注卷五〕
; (太山府君) I. Thái Sơn Phủ Quân. Phạm: Citragupta. Hán âm: Chất đa la cấp đa. Hán dịch: Phụng giáo quan. Chỉ cho vị quan trông coi sổ sách của vua Diêm ma ở cõi âm, là 1 trong 16 vị quyến thuộc của Diêm ma thiên chủ được an trí trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này thống lãnh chúng quỉ, hầu vua Diêm ma, tay trái cầm cờ có hình đầu người, tay phải cầm bút; thường sai loài quỉ xem xét các nghiệp thiện ác của con người, ghi chép vào sổ sách, khi người chết được đưa đến trước vua Diêm ma để đối chứng các việc thiện ác mình đã làm lúc còn sống mà Thái sơn Phủ quân đã ghi chép. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6; Diêm la vương cúng hành pháp thứ đệ; Pháp uyển châu lâm Q.62; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 13]. II. Thái Sơn Phủ Quân. Chỉ cho vị thần núi Thái sơn ở Trung quốc, chuyên trách các việc cõi âm.
thái sơn vương
1370又稱泰山王。為冥界十王之第七王。據預修十王生七經、地藏十王經等所舉,此王之本地為藥師如來,係決定罪人生處之冥官。此王座前有通往地獄、餓鬼、畜生、修羅、人間、天上等六道之門,死者於七七四十九日中陰滿時,過闇鐵所,至太山王殿(廳),決定當來之生處。然在一般民間信仰中,則認為亡者尚須經過八、九、十等三殿之審判,才能投胎轉世。〔禪林象器箋靈像門〕(參閱「十王」406、「太山府君」1370、「閻羅十殿」6339)
; (太山王) Vị vua thứ 7 trong 10 vị vua ở cõi âm. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là Dược sư Như lai, là vị quan cõi âm có quyền quyết định nơi mà các người tội sẽ sinh đến. Phía trước tòa của vị vua này có cửa thông đến 6 đường: Địa ngục, ngã quỉ, sú sinh, Tu la, nhân gian và cõi trời. Khi người chết đủ 49 ngày của thân trung ấm thì đi qua chỗ tối tăm, đến điện vua Thái sơn để nghe quyết định nơi sinh đến trong đương lai. Nhưng, trong tín ngưỡng dân gian phổ thông thì cho rằng người chết còn phải chịu sự phán xét qua 3 Cảnh bên ngoài của Đại điện Thái sơn nham điện nữa là 8, 9, 10, rồi mới được đi đầu thai chuyển thế. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thập Vương, Thái Sơn Phủ Quân, Diêm La Thập Điện).
thái thô sanh
Người thô thiển—A ruffian—A rough fellow.
thái thô sinh
1373禪林用語。又作太麤生。太,甚之義。粗,暴之義。生,係接尾詞。禪林中,每借此語責斥修行未臻圓熟而舉止不慎重者。臨濟錄(大四七‧五○三中)載:「師一日同普化赴施主家,齋次,師問:『毛吞巨海,芥納須彌,為是神通妙用?本體如然?』普化踏倒飯床。師云:『太麤生!』」
; (太粗生) Thái là rất, Thô là thô bạo, thô tháo; Sinh là tiếng tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền lâm, từ ngữ này thường được sử dụng để tỏ ý chê trách những người tu hành chưa được thuần thục, cử chỉ còn thô tháo, lỗ mãng, thiếu thận trọng. Lâm tế lục (Đại 47, 503 trung) ghi: Một hôm, Sư cùng Phổ hóa đến nhà thí chủ, trong lúc thụ trai,Sư hỏi: Lỗ chân lông hút hết nước biển cả, hạt cải chứa trọn núi Tu di, đó là thần thông diệu dụng hay là bản thể như thế? Phổ hóa đạp đổ bàn cơm. Sư nói: Thô bạo quá! (Thái thô sinh).
thái thúc thị
1) Người hái đậu: Bean-picker. 2) Tên khác của Mục Kiền Liên: Name of Maudgalyayana.
thái thương
1375(1895~1968)江蘇東臺縣人,俗姓張。二十歲出家於江蘇如缭縣菩提禪院。四年後,受具足戒於鎮江名剎金山江天寺,並留寺任職。歷任湯樂、衣鉢、知客、副寺、監院諸職。民國三十四年(1945),陞座為金山寺住持。其間,嘗赴揚州天寧寺、安慶迎江佛學院參學。大陸淪陷後,於臺灣北投創金山分院,並曾任慈航寺及日月潭玄奘寺住持。於五十七年四月入寂。
thái thượng
1) The king. 2) The highest.
thái thượng linh bảo nguyên dương diệu kinh
1369請參閱 海空智藏經 凡十卷。乃依據佛教大乘經典而成之道教經典。據北周道安所著之二教論載,元陽妙經乃採撮法華經所偽作。然道安時之元陽妙經,與現存本之元陽妙經不甚相同,現存本主要以涅槃經為素材,唯卷四之問行品仍依據法華經之序品所改作;當其改動之時,刪除佛教之人名用語而改為道教名稱。
; (太上靈寶元陽妙經) Kinh, 10 quyển, do đạo sĩ Đạo giáo y cứ vào kinh điển của Phật giáo Đại thừa mà soạn thành. Cứ theo luận Nhị giáo do ngài Đạo an soạn vào đời Bắc Chu thì Nguyên dương diệu kinh là ngụy tác bằng cách trích lấy những phần cốt yếu trong kinh Pháp hoa mà soạn thành. Như Nguyên dương diệu kinh ở thời ngài Đạo an và Nguyên dương diệu kinh bản hiện còn không giống nhau lắm, bản hiện còn chủ yếu lấy kinh Niết bàn làm tư liệu, chỉ có phẩm Vấn hành trong quyển 4 là vẫn y cứ vào phẩm Tựa của kinh Pháp hoa mà sửa đổi soạn thành. Sửa đổi bằng cách cắt bỏ những nhân danh dụng ngữ của Phật giáo mà thay đổi bằng tên gọi của Đạo giáo.
thái thượng lão quân
T'ai-shang Lao-chun (C).
Thái Thốc
(太簇、太蔟、泰簇): còn gọi là Thái Tộc (太族、泰族), Đại Tộc (大族), Đại Thốc (大蔟), có hai nghĩa chính. (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Bình Điệu (平調, hyōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong chương Thời Tắc Huấn (時則訓) của Hoài Nam Tử (淮南子) có giải thích rằng: “Luật trung Thái Thốc, kỳ số bát (律中太蔟、其數八, âm Thái Thốc trong các luật âm, số của nó là 8).” Trong tác phẩm Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh còn giải thích thêm: “Thái Thốc trường bát thốn, tích lục bách tứ thập bát phần (太簇長八寸、積六百四十八分, Thái Thốc dài tám tấc, chứa 648 phân).” (2) Người xưa lấy 12 âm luật phối hợp với 12 tháng trong năm; Thái Thốc được phối hợp với tháng Giêng; nên đây là tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), chương Âm Luật (音律) có câu: “Thái Thốc chi nguyệt, dương khí thỉ sanh, thảo mộc phồn động (太蔟之月、陽氣始生、草木繁動, tháng Thái Thốc, khí dương bắt đầu sinh, cỏ cây nảy nở nhiều).” Cao Dụ (高誘, ?-?) nhà Đông Hán (東漢, 25-220) chú thích rằng: “Thái Thốc, chánh nguyệt (太蔟、正月, Thái Thốc là tháng Giêng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng cho biết rằng: “Chánh nguyệt kiến Dần, viết Nhiếp Đề Cách, hựu viết Thái Thốc, hựu viết Mạnh Tưu (正月建寅、曰攝提格、又曰太簇、又曰孟陬, tháng Giêng kiến Dần, gọi là Nhiếp Đề Cách, lại có tên là Thái Thốc, hay gọi là Mạnh Tưu).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích thêm về Thái Thốc rằng: “Dần vi Thái Thốc, Chánh nguyệt chi thần danh Dần; Dần giả, tân dã; Tân giả đồ chi nghĩa; Chánh nguyệt chi thời, sanh vạn vật chi tân đồ, cố vị chi Dần (寅爲太蔟、正月之辰名寅、寅者、津也、津者塗之義、正月之時、生萬物之津塗、故謂之寅, Dần là Thái Thốc, chi của tháng Giêng là Dần; Dần là tân; tân nghĩa là con đường; vào dịp tháng Giêng, mở ra con đường cho vạn vật, nên gọi đó là Dần).” Hay trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) quyển 1 có câu: “Đạo Quang lục niên nguyệt tại Thái Thốc nhân nhật Bí Sô Ni Ngộ Đức Thông Viên thư ư Hiếu Viên Am chi Ma Ha Diễn Thất (道光六年月在太簇人日苾芻尼悟德通圓書於孝圓菴之摩訶衍室, ngày mồng 7 tháng Giêng năm thứ 6 [1826] niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh, Tỳ Kheo Ni Ngộ Đức Thông Viên viết tại Ma Ha Diễn Thất của Hiếu Viên Am).”
Thái Tuế
(太歲): Mộc Tinh (木星, Jupiter), còn gọi là Tuế Tinh (歲星), Thái Âm (太陰), Tuế Âm (歲陰), Tuế Quân (歲君), Thái Tuế Tinh Quân (太歲星君), là tên gọi của vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc. Ngày xưa ngôi sao này được dùng để đếm tuổi nên có tên gọi như vậy, về sau biến thành một loại tín ngưỡng thần linh. Thái Tuế còn là tên của một trong Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, với câu kệ là: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. Trong dân gian thường có từ “phạm Thái Tuế (犯太歲)”, “xung Thái Tuế (衝太歲)”, “hình Thái Tuế (刑太歲)” hay “thiên xung Thái Tuế (偏衝太歲)”. Tỷ dụ như năm nay là năm con Tỵ (巳, con rắn), người tuổi con rắn là phạm Thái Tuế, tuổi Hợi (亥, con heo) là xung Thái Tuế; tuổi Thân (申, con khỉ) và Dần (寅, con cọp) là thiên xung Thái Tuế. Vì vậy, có câu ngạn ngữ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa (太歲當頭坐、無喜恐有禍, Thái Tuế trên đầu ngự, chẳng vui e có họa).” Cho nên, người ta có tục lệ An Thái Tuế (安太歲), tức cúng sao giải hạn, cầu nguyện được vạn sự bình an, cát tường. Ngay từ buổi đầu, tục lệ An Thái Tuế rất giản dị. Tín đồ nào muốn cúng An Thái Tuế thì nên nhân dịp trước hay sau tiết Xuân, lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ như “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (本年太歲星君到此, năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị (本年太歲星君神位, thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)”, “Nhất tâm kính phụng Thái Tuế Tinh Quân (一心敬奉太歲星君, một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân)”, đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm, nên đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.” Tương truyền trong vòng 60 năm, mỗi năm Trời phái một vị thần phụ trách năm ấy, quản lý toàn bộ việc phước họa của con người. Cho nên, trong thời gian 60 năm ấy có 60 vị Thái Tuế. Tín ngưỡng này có từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 220-589), và đến đầu thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì có tên họ rõ ràng của 60 vị thần Thái Tuế Tinh Quân. Tên của mỗi vị ứng vào các năm như sau: (1) Thái Tuế năm Giáp Tý là Kim Biện Tổ Sư (金辦祖師), (2) Thái Tuế năm Ất Sửu là Trần Tài Tổ Sư (陳材祖師), (3) Thái Tuế năm Bính Dần là Đam Chương Tổ Sư (耿章祖師), (4) Thái Tuế năm Đinh Mão là Trầm Hưng Tổ Sư (沉興祖師), (5) Thái Tuế năm Mậu Thìn là Triệu Đạt Tổ Sư (趙達祖師), (6) Thái Tuế năm kỷ tỵ là Quách Xán Tổ Sư (郭燦祖師), (7) Thái Tuế năm Canh Ngọ là Vương Thanh Tổ Sư (王清祖師), (8) Thái Tuế năm Tân Mùi là Lý Tố Tổ Sư (李素祖師), (9) Thái Tuế năm Nhâm Thân là Lưu Vượng Tổ Sư (劉旺祖師), (10) Thái Tuế năm Quý Dậu là Khang Chí Tổ Sư (康志祖師), (11) Thái Tuế năm Giáp Tuất là Thí Quảng Tổ Sư (施廣祖師), (12) Thái Tuế năm Ất Hợi là Nhiệm Bảo Tổ Sư (任保祖師), (13) Thái Tuế năm Bính Tý là Quách Gia Tổ Sư (郭嘉祖師), (14) Thái Tuế năm Đinh Sửu là Uông Văn Tổ Sư (汪文祖師), (15) Thái Tuế năm Mậu Dần là Tằng Quang Tổ Sư (曾光祖師), (16) Thái Tuế năm Kỷ Mão là Long Trọng Tổ Sư (龍仲祖師), (17) Thái Tuế năm Canh Thìn là Đổng Đức Tổ Sư (董德祖師), (18) Thái Tuế năm Tân Tỵ là Trịnh Đán Tổ Sư (鄭但祖師), (19) Thái Tuế năm Nhâm Ngọ là Lục Minh Tổ Sư (陸明祖師), (20) Thái Tuế năm Quý Mùi là Ngụy Nhân Tổ Sư (魏仁祖師), (21) Thái Tuế năm Giáp Thân là Phương Kiệt Tổ Sư (方杰祖師), (22) Thái Tuế năm Ất Dậu là Tương Sùng Tổ Sư (蔣崇祖師), (23) Thái Tuế năm Bính Tuất là Bạch Mẫn Tổ Sư (白敏祖師), (24) Thái Tuế năm Đinh Hợi là Phong Tề Tổ Sư (封齊祖師), (25) Thái Tuế năm Mậu Tý là Trịnh Thang Tổ Sư (鄭鏜祖師), (26) Thái Tuế năm Kỷ Sửu là Phan Tá Tổ Sư (潘佐祖師), (27) Thái Tuế năm canh dần là Ổ Hoàn Tổ Sư (鄔桓祖師), (28) Thái Tuế năm Tân Mão là Phạm Ninh Tổ Sư (范寧祖師), (29) Thái Tuế năm Nhâm Thìn là Bành Thái Tổ Sư (彭泰祖師), (30) Thái Tuế năm Quý Tỵ là Từ Hoa Tổ Sư (徐華祖師), (31) Thái Tuế năm Giáp Ngọ là Chương Từ Tổ Sư (章詞祖師), (32) Thái Tuế năm Ất Mùi là Dương Tiên Tổ Sư (楊仙祖師), (33) Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師), (34) Thái Tuế năm Đinh Dậu là Đường Kiệt Tổ Sư (唐傑祖師), (35) Thái Tuế năm Mậu Tuất là Khương Võ Tổ Sư (姜武祖師), (36) Thái Tuế năm Kỷ Hợi là Tạ Đảo Tổ Sư (謝燾祖師), (37) Thái Tuế năm Canh Tý là Ngu Khởi Tổ Sư (虞起祖師), (38) Thái Tuế năm Tân Sửu là Dương Tín Tổ Sư (楊信祖師), (39) Thái Tuế năm Nhâm Dần là Hiền Ngạc Tổ Sư (賢諤祖師), (40) Thái Tuế năm Quý Mão là Bì Thời Tổ Sư (皮時祖師), (41) Thái Tuế năm Giáp Thìn là Lý Thành Tổ Sư (李誠祖師), (42) Thái Tuế năm Ất Tỵ là Ngô Toại Tổ Sư (吳遂祖師), (43) Thái Tuế năm Bính Ngọ là Văn Triết Tổ Sư (文哲祖師), (44) Thái Tuế năm Đinh Mùi là Mậu Bính Tổ Sư (繆丙祖師), (45) Thái Tuế năm Mậu Thân là Từ Hạo Tổ Sư (徐浩祖師), (46) Thái Tuế năm Kỷ Dậu là Trình Bảo Tổ Sư (程寶祖師), (47) Thái Tuế năm Canh Tuất là Nghê Bí Tổ Sư (倪秘祖師), (48) Thái Tuế năm Tân Hợi là Diệp Kiên Tổ Sư (葉堅祖師), (49) Thái Tuế năm Nhâm Tý là Kheo Đức Tổ Sư (丘德祖師), (50) Thái Tuế năm Quý Sửu là Chu Đắc Tổ Sư (朱得祖師), (51) Thái Tuế năm Giáp Dần là Trương Triều Tổ Sư (張朝祖師), (52) Thái Tuế năm Ất Mão là Vạn Thanh Tổ Sư (萬清祖師), (53) Thái Tuế năm Bính Thìn là Tân Á Tổ Sư (辛亞祖師), (54) Thái Tuế năm Đinh Tỵ là Dương Ngạn Tổ Sư (楊彥祖師), (55) Thái Tuế năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Tổ Sư (黎卿祖師), (56) Thái Tuế năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Tổ Sư (傅黨祖師), (57) Thái Tuế năm Canh Thân là Mao Tử Tổ Sư (毛梓祖師), (58) Thái Tuế năm Tân Dậu là Thạch Chính Tổ Sư (石政祖師), (59) Thái Tuế năm Nhâm Tuất là Hồng Sung Tổ Sư (洪充祖師), và (60) Thái Tuế năm Quý Hợi là Ngu Trình Tổ Sư (虞程祖師).
thái tuế
1375<一>凶神。舊曆紀年所用值歲干支之別名。如逢甲子年,甲子即是太歲。習慣上只重視十二地支,故太歲每十二年一循環。 <二>值歲之神名。據杜佑所著通典載,北魏道武帝(386~409)時,已立神歲十二(即十二位太歲神)專祀。
; (太歲) I. Thái Tuế. Tên 1 vị hung thần trong quan niệm của người xưa, là tên khác của trị tuế can chi được dùng để ghi lịch cũ. Như gặp năm Giáp tí thì Giáp tí tức là Thái tuế. Về phương diện tập quán, chỉ có 12 chi được coi trọng, cho nên cứ 12 năm là 1 vòng tuần hoàn của Thái tuế.II. Thái Tuế. Tên vị thần trị tuế. Cứ theo Thông điển do ông Đỗ hựu soạn thì vua Đạo vũ đế (386-409) nhà Bắc Ngụy đã lập 12 vị thần năm (tức 12 vị thần Thái tuế) để thờ.
thái tông hoàng đế
Tai-tsung (C), Daizong (C) Một vị hoàng đế nhà Đường.
thái tổ
Founder of a dynasty.
thái tử
Kumararaja (skt). 1) Crown prince. 2) Danh hiệu của Đức Phật: An epithet of Buddha. 3) Danh hiệu của Văn Thù Sư Lợi: An epithet of Manjusri.
thái tử hòa hưu kinh
Thái Tử Loát Hộ Kinh—Một tên của bộ kinh Thái Tử A Xà Thế gặp Phật vấn kinh và được Phật thọ ký. Kinh được ngài Trúc Pháp Hộ dịch sang Hoa ngữ khoảng từ 265 đến 316 sau Tây Lịch—One name of the Subahu-pariprccha, translated into Chinese by Dharmaraksa between 265-316 A.D.
thái tử kỳ đà
Jita (S) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili See Jeta.
thái tử Lưu-ly
hay Tỳ-lưu-ly, là con vua Ba-tư-nặc ở thành Xá-vệ, nước Kiều-tát-la, đồng thời với Phật. Thái tử phế vua cha, tự mình lên ngôi. Vua Ba-tư-nặc phải chạy sang thành Vương-xá nước Ma-kiệt-đà mà nương náu với vua A-xà-thế. Sau khi đuổi vua cha ra khỏi nước, thái tử Lưu-ly xưng vương. Kế đó, nhớ đến mối thù xưa giữa nước mình với nước Ca-tỳ-la-vệ, liền mang quân sang đánh, giết rất nhiều người trong họ Thích-ca.
thái tử tam phi
1370翻譯名義集卷三皇后篇第二十六載,悉達多太子十七歲時,納妃三人,即:(一)瞿夷(梵 Gopī),意為明女,其父名為水光長者,女生之時,日將沒,餘光照其室內皆明,故名瞿夷,是太子第一妃。(二)耶輸陀羅(梵 Yaśodharā),意為華色,其父名為移施長者,是太子第二妃,即羅睺羅之母。(三)鹿野,其父名為釋長者,是太子第三妃。〔太子瑞應本起經卷上〕
; (太子三妃) Chỉ cho 3 người vợ của Thái tử Tất đạt đa. Theo thiên Hoàng hậu trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển3 thì năm Thái tử Tất đạt 17 tuổi có 3 người vợ là: 1. Cù di (Phạm: Gopì, Hán dịch: Minh nữ), cha của bà là Trưởng giả Thủy quang,bà sinh vào lúc hoàng hôn, ánh mặt trời còn rớt lại chiếu sáng vào trong nhà, vì thế đặt tên cho bà là Cù di, là người vợ đầu tiên của Thái tử. 2. Da du đà la (Phạm:Yazodharà, Hán dịch: Hoa sắc), cha của bà là Trưởng giả Di thí, bà là người vợ thứ 2 của Thái tử, tức là mẹ của La hầu la. 3. Lộc dã, cha của bà là Trưởng giả Thích, bà là người vợ thứ 3 của Thái tử. [X. Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng].
thái tử thuỵ ứng bản khởi kinh
1370請參閱 太子瑞應本起經 請參閱 和休經 凡二卷。又作太子本起瑞應經、瑞應本起經、瑞應經。吳‧支謙譯。收於大正藏第三冊。木經為佛傳中早期成立者,其內容之編排或記述之體裁,大抵皆與「修行本起經」類似,兩經均採十七歲納妃、十九歲出家之說。記述釋尊之過去因地至成道後濟度三迦葉等事。有關四門出遊、出城時內殿之描寫,與車匿訣別,尤其降魔成道之記載,氣勢磅礡雄渾,為重要佛傳文獻。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷五、大唐內典錄卷二、古今譯經圖紀卷一、開元釋教錄卷二〕
thái tử thụy ứng bản khởi kinh
(太子瑞應本起經) Cũng gọi Thái tử bản khởi thụy ứng kinh, Thụy ứng bản khởi kinh, Thụy ứng kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô, thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này được soạn sớm nhất trong các Phật truyện, về cách sắp xếp nội dung hoặc hình thức trình bày đại khái đều giống với kinh Tu hành bản khởi, cả 2 kinh đều sử dụng thuyết Thái tử 17 tuổi lấy vợ, 19 tuổi xuất gia. Trong kinh nói về nhân địa quá khứ của đức Thích tôn đến việc tế độ 3 anh em Ca diếp sau khi Ngài thành đạo. Về việc miêu tả Thái tử ra chơi 4 cửa thành, tình hình trong cung điện lúc vượt thành, khi từ biệt Xa nặc, nhất là nói về việc hàng ma thành đạo thì khí thế văn chương rất là mạnh mẽ trôi chảy, là đoạn văn chương Phật truyện trọng yếu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
Thái tử 太子
[ja] タイシ taishi ||| (kumārarāja) (1) "Crown prince"--an epithet of buddhas and Mañjuśrī. (2) The founder of a school. => 1. Danh hiệu của Chư Phật và Văn-thù-sư-lợi. 2. Người sáng lập tông phái.
thái âm
Moon.
thái âm tinh
Xem Tô ma.
thái điền đễ tạng
1372(1900~1976)日本佛教學者。青森縣人。東京大學印度哲學科畢業。歷任法政大學、大東文化大學教授。生平專研中國儒釋道關係史。著有禪と倫理,譯註弘明集、廣弘明集、寒山詩等。
thái đầu
5260禪林中,典座之下,設有管領菜蔬之僧,稱爲菜頭。其職司爲揀捨枯葉、蝕葉、菜蟲等。若誤煮菜蟲,則造殺業;若以非法之食供養三寶,大眾不知而受,其害甚多,故菜頭須謹慎爲之。
; Vị Tăng lo về việc cung cấp rau cải trong chùa—The monk who has charge of supplying of vegetables in a temple.
; (菜頭) Chức vụ của vị tăng trông coi việc rau quả trong Thiền lâm, gọi là Thái đầu. Chức này được đặt dưới quyền chức Điển tọa. Nhiệm vụ của chức này là lựa bỏ những lá rau héo úa, lá bị sâu ăn, vì nếu lỡ nấu rau có dính côn trùng thì tạo nghiệp sát sinh; nếu cúng dường Tam bảo thức ăn không đúng pháp, đại chúng không biết mà dùng thì có hại rất lớn, cho nên vị Thái đầu phải hết sức thận trọng khi lãnh trách nhiệm này.
thái độ
Attitude
thái độ bất tịnh
Impure attitude
thái độ khoan dung
Tolerance.
thái độ ích kỷ
Selfish attitude
thái ất
Name of a star.
thám
1) Gián điệp: To spy. 2) Mật thám: Secret services. 3) Thám hiểm: To explore—To feel for. 4) Thám sát: To investigate.
thám can ảnh thảo
4581請參閱 華嚴經探玄記 【探玄記→】請參閱華嚴經探玄記 或 華嚴經疏 臨濟宗七事隨身之一、四喝之一。略稱探草。因其作用與目的,有不同解釋:(一)指探竿、影草皆為漁者之工具。探竿,係束鵜羽於竿頭,探於水中,誘聚群魚於一處,然後以網漉之。影草,係刈草浸水中,則群魚潛影,然後以網漉之。此皆漁者聚魚之方便法。(二)指探竿、影草為盜者之道具。探竿,指盜者將之從窗、壁等洞穴插入,以探測室內動靜之竹竿。影草,為可隱身之蓑衣,穿著之便於竊盜。又探竿影草,於禪家,引申為師家探測學人,以試其器量。〔臨濟錄勘辨、從容錄第八十一則〕(參閱「濟宗七事隨身」6445、「臨濟四喝」6505)
; (探竿影草) Gọi tắt: Thám thảo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho 2 cách bắt cá. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được vận dụng để thăm dò trình độ của người học, là 1 trong 4 tiếng hét, 1 trong 7 việc tùy thân của tông Lâm tế. Tùy theo tác dụng và mục đích mà Thám can ảnh thảo có 2 cách giải thích như sau: 1. Thám can, ảnh thảo là công cụ của người bắt cá. Thám là thăm dò; Can là cây sào. Nghĩa là buộc lông cánh con chim bồ nông vào đầu cây sào rồi dìm xuống nước thăm dò, dụ cho đàn cá tụ lại một chỗ, sau đó dùng lưới để bắt. Ảnh là bóng; Thảo là cỏ. Nghĩa là cắt cỏ ngâm dưới nước, đàn cá sẽ đến núp dưới bóng đám cỏ ấy, sau đó dùng lưới bắt. Đây đều là pháp phương tiện của người bắt cá dùng để dụ cá tụ vào một chỗ để bắt. 2. Thám can, ảnh thảo là dụng cụ của kẻ ăn trộm. Thám can chỉ cho cái sào tre mà kẻ trộm dùng để luồn qua cửa sổ, hoặc lỗ hổng của tường vách để dò xét động tĩnh trong nhà. Còn ảnh thảo là chỉ cho cái áo tơi có thể ẩn mình, mặc vào rất tiện cho việc ăn trộm, ăn cắp. Trong Thiền gia, Thám can ảnh thảo được chuyển dụng để chỉ cho việc thầy dò xét trình độ của người học. [X. Lâm tế lục khám biện; Thung dung lục tắc 81]. (xt. Tế Tông Thất Sự Tùy Thân, Tế Tông Tứ Hát).
thám hiểm
4581求法者之遊歷,經常是實質上的探險行為。如華嚴經入法界品中,善財童子所遍遊之地,真實地名極多。又如東晉法顯之佛國記、唐玄奘之大唐西域記等,皆記載當時印度、西域之地理、民族、政治、學藝、語言、宗教、民俗等各種資料。歐德瑞格(Oderico)等中世紀西方人之亞洲旅遊記中,則較缺乏有關佛教之資料。然十九世紀以來歐洲人對亞洲之研究,在佛教資料收集方面貢獻極大。如荷吉森(Hodgson)、來特(Wright)、賓達(Bendall)、萊維(Lévi)等人廣泛收集來自尼泊爾的文獻;巴傑士(Burgess)、康林罕(Cunningham)等人在印度各地的發掘調查;胡克(Huc)、狄斯羅斯(Csoma de Körös)、乾德拉達斯(Sarat Chandra Das)、斯拉根特威特(Schlagintweit)、洛克西爾(Rockhill)、河口慧海、寺本婉雅、圖吉(Tucci)等人則至西藏發掘調查;哈欽(Hackin)、弗修爾(Foucher)等人在阿富汗調查。此外,包爾(Bower)以收集古寫本為其發端;陸庫克(Le Coq)、葛倫維德(Grūnwedel)、史坦因(Stein)、伯希和(Pelliot)、大谷光瑞等人之中亞探險,著名於世,並因而發現大量之資料與遺蹟。二次大戰前,日本曾至華北、滿蒙等地調查佛教遺蹟。戰後中國大陸亦於西北地方調查發掘多處遺蹟。
; (探險) Mạo hiểm đi thăm xét những nơi xa xôi.Những cuộc hành trình mà các nhà cầu pháp từng trải, trên thực chất là những cuộc thám hiểm. Như Phật quốc kí của ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang đời Đường... đều là những tư liệu ghi chép về địa lí, dân tộc, chính trị, học nghệ, ngôn ngữ, tông giáo, dân tục... của Ấn độ và các nước vùng Tây vực. Từ thế kỉ XIX đến nay, người Âu tây đối với việc nghiên cứu Á châu, về phương diện sưu tầm các tư liệu Phật giáo đã có những đóng góp rất lớn lao. Như các học giả Hodgson, Wright, Bendall, Lévi... đã sưu tập rộng rãi các văn hiến từ Népal, Burgess, Cunningham đã đào bới điều tra nhiều nơi ở Ấn độ; Huc, Csoma de Kôrôs, Sarat Chandra Das, Schlagintweit, Rockhill, Hà khẩu Tuệ hải, Tự bản Uyển nhã, Tuci... thì đến Tây tạng đào bới điều tra; Hackin, Foucher... thì điều tra ở Afghanistan. Ngoài ra, các cuộc thám hiểm của các ông Bower, Le coq, Grünwedel, A. Stein, P. Pelliot... ở vùng Trung á đều rất nổi tiếng ở đời, đồng thời đã phát hiện rất nhiều tư liệu và di tích. Trước cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2, người Nhật bản từng đến vùng Hoa bắc như Mãn châu, Mông cổ... điều tra các di tích Phật giáo. Sau chiến tranh, ở các vùng Tây bắc Trung quốc, các nhà thám hiểm cũng đào tìm được nhiều di tích.
thám sát
To scout.
thám thuỷ
4581即附於拄杖之小枝。據禪林象器箋器物門載,禪僧拄杖下約二尺許,附有一小枝,屈而向下,纏繞於主幹,渡水時必先下杖驗之,視水痕在小枝上之高低,藉以測知水之深淺,而後決定是否涉渡,故稱為探水。〔祖庭事苑卷八〕
thám thủy
Đo chiều sâu bằng âm thanh, phần dưới gậy để đo chiều sâu—To sound the depth of water, the lower part of a staff, i.e. for sounding depth.
; (探水) Thăm dò mực nước. Tức chỉ cho nhánh cây nhỏ buộc váo đầu gậy để thăm dò mực nước nông hay sâu. Cứ theo môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên, ở đầu dưới cây gậy của Thiền tăng buộcmộtnhánh cây nhỏ dài khoảng 40 cm hướng xuống, khi lội qua dòng nước thì trước phải đặt đầu gậy trong nước để thăm dò xem mực nước cao hay thấp, nhờ đó mà biết dòng nước sâu hay nông, sau đó mới quyết định việc lội qua hay không, vì thế gọi là Thám thủy.
thám đầu
4582禪林用語。原為刺探之意;於禪林中轉指師家之勘辨。臨濟錄(大四七‧四九六下):「上堂。有僧出禮拜,師便喝。僧云:『老和尚莫探頭好!』」〔從容錄第三十二則〕
; (探頭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thám đầu vốn có nghĩa là thăm dò. Trong Thiền lâm nó được chuyển dụng để chỉ cho sự khảo xét của Sư gia. Lâm tế lục (Đại 47, 496 hạ) ghi: Sư thướng đường. Có vị tăng ra lễ bái, sư liền hét. Vị tăng nói: Xin Lão hòa thượng chớ dò xét(thám đầu)!.
thám đề
4582日本佛教用語。又作題者、探題博士。略稱博士。於敕會之論議場中,選定論題,令問答論議往復進行,並於最後判定勝負得失之最高職官。日本法華會、維摩會論議時,由探題選定十個論題,令論議進行,並判定試業之學僧是否及第。因探題為統領論場之重要職位,故須由朝廷敕命任之。又此一職官,始設於康保五年(968)延曆寺「六月會」中,當時由禪藝律師任之。日本天台宗以此為最高學階。(參閱「豎義」6173)
; (探題) Cũng gọi Đề giả, Thám đề bác sĩ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho chức quan cao nhất trong trường nghị luận do vua ban sắc hội họp. Vị Thám đề có nhiệm vụ tuyển chọn luận đề, khiến cho việc hỏi đáp bàn luận tiến hành qua lại, đồng thời, cuối cùng phán định hơn thua, được mất. Khi hội Pháp hoa và hội Duy ma ở Nhật bản luận nghị thì vị Thám đề chọn lấy 10 luận đề để tiến hành bàn luận, đồng thời phán định các vị học tăng dự thi đậu hay rớt. Vì Thám đề là chức vụ quan trọng thống lãnh luận trường nên phải do triều đình ban sắc bổ nhiệm. Chức năng này bắt đầu được đặt ra trong cuộc họp tháng 6 năm Khang bảo thứ 5 (968) ở chùa Diên lịch và đương thời do Luật sư Thiền nghệ đảm nhiệm. Tông Thiên thai Nhật bản cho chức quan này là giai vị học vấn cao nhất. (xt. Thụ Nghĩa).
Thán
歎; C: tàn; J: tan;|1. Thán phục, tán thành, khen ngợi; 2. Thở dài, than van.
thán
1) Tán thán: Thán phục—To admire—To praise—To extol. 2) Ta thán: To sigh. 3) Than: Charcoal—Coal.
thán ba na
Tấm (loại gạo nát)—Broken rice.
thán chân
6102又作嘆真、白真。意即讚歎祖師之真容。後轉稱祖師忌迴向文之首語為歎真。〔敕修百丈清規卷二〕
; (嘆真) Cũng gọi Bạch chân. Có nghĩa là tán thán chân dung của Tổ sư. Sau chuyển sang gọi lời đầu tiên trong văn hồi hướng kị Tổ sư là thán chân. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
thán di sao
6102全一卷。日本真宗開祖親鸞之弟子唯圓著。收於大正藏第八十三冊。唯圓因感歎其師示寂後,真宗教義分歧,故引用乃師之言,闡述他力本願之真意,並批判當時之佛教界。後序附有注記,記載後鳥羽院時代,被處虛妄之罪者的傳記。本書為真宗重要聖典,注釋書頗多。
; (嘆异抄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Duy viên thuộc Chân tông Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sau khi thầy mình thị tịch (tức ngài Thân loan, Tổ khai sáng của Chân tông), ngài Duy viên cảm thương vì giáo nghĩa của Chân tông bị hiểu một cách sai lệch, cho nên trích dẫn lời thầy nói rõ về chân ý của bản nguyện tha lực và phê phán giới Phật giáo đương thời mà thành sách này. Trong lời bạt có phụ thêm phần ghi chú, chép về truyện kí của những người bị xử tội một cách sai lầm ở thời đại Hậu điểu Vũ viện. Sách này là Thánh điển quan trọng của Chân tông, có rất nhiều bản chú thích.
thán linh
6103又作嘆靈。即面對亡者之靈,讚歎其德業。為亡者迴向之首語。例如禪林象器箋卷十三諷誦類嘆靈條:「舊說曰:『亡俗回向,首語言嘆靈。』淨極光通達,寂照含虛空是也。」
; Tán thán công đức của người quá vãng—To praise the spirit of the departed.
; (嘆靈) Đối trước hương linh người chết, khen ngợi những việc làm nhân đức của họ. Điều Phúng tụng, loại Thán linh trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Người xưa nói rằng hồi hướng cho vong linh, lời đầu tiên là thán linh. Ánh sáng thanh tịnh thông suốt, lặng lẽ chiếu soi, trùm khắp hư không.
thán phật
6101又作嘆佛、白佛。禪門疏文及迴向之首,以聯句或四句偈等讚歎佛德,稱為歎佛。又讚歎佛德時所唱之偈文,稱為歎佛偈。〔無量壽經卷上〕
; Tán thán công đức của Phật—To praise Buddha.
; (嘆佛) Cũng gọi Bạch Phật. Khen ngợi công đức của Phật. Trong Thiền môn, bài kệ khen ngợi công đức Phật được đặt ở đầu văn sớ và văn hồi hướng, gọi là Thán Phật, hoặc Thán Phật kệ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thán phục
To admire.
thán đầu
3887禪剎中,司掌寒季薪炭之職稱。勅修百丈清規卷四(大四八‧一二三三上):「預備柴炭,以禦寒事。或化施主,或出公界,須令足用。」
; Vị sư coi về củi lửa trong tự viện—The fire-tender in a monastery.
; (炭頭) Tên chức vụ coi về than củi vào mùa lạnh trong Thiền viện. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1233 thượng) nói: Chuẩn bị trước than củi để chống rét. Hoặc khuyến hóa thí chủ, hoặc xuất tiền của công quĩ ra mua, phải cho đủ dùng.
thán đức
6103又作嘆德。指讚歎佛、菩薩、祖師、佛弟子等之功德。若記錄成諷誦之文,則稱歎德文。經典之首,常載有讚歎佛、菩薩、聲聞(佛弟子)等功德之文。
; Tán thán công đức của người khác—To praise the virtue of others.
; (嘆德) Tán thán công đức của Phật, Bồ tát, Tổ sư, các đệ tử Phật... Nếu viết thành văn để đọc tụng thì gọi là Thán đức văn. Ở đầu các kinh thường có đoạn văn khen ngợi công đức của Phật, Bồ tát, Thanh văn (đệ tử Phật)...
thán đức sư
6103又作嘆德師。密教行灌頂之時,誦讚新阿闍梨(傳法灌頂)及大阿闍梨(結緣灌頂)之德者,稱為歎德師。此為最榮譽之職。
; (嘆德師) Trong Mật giáo, khi cử hành Quán đính, người tán tụng công đức của vị Tân a xà lê(Truyền pháp quán đính) và Đại a xà lê (Kết duyên quán đính), được gọi là Thán đức sư. Đây là chức vụ rất danh dự.
Thán 歎
[ja] タン tan ||| (1) Admiration, applause, praising. (2) To sigh, to lament. => 1. Thán phục, tán thành, khen ngợi. 2. Thở dài, than van.
tháng
Month.
Tháng Ba âm lịch
có tên gọi khác như Mộ Xuân (暮春), Mạt Xuân (末春), Quý Xuân (季春), Vãn Xuân (晚春), Diểu Xuân (杪春), Khiết Xuân (褉春), Tàm Nguyệt (蠶月), Hoa Nguyệt (花月), Đồng Nguyệt (桐月), Đào Nguyệt (桃月), Quái Nguyệt (夬月), Gia Nguyệt (嘉月), Thần Nguyệt (辰月), Đạo Nguyệt (稻月), Anh Duẩn Nguyệt (櫻筍月), Cô Tẩy (姑洗), Đào Lãng (桃浪), Vu Phong (雩風), Ngũ Dương Nguyệt (五陽月), Đào Quý Nguyệt (桃季月), Hoa Phi Nguyệt (花飛月), Tiểu Thanh Minh (小清明), Trúc Thu (竹秋), Phu Nguyệt (夫月), Mộ Nguyệt (暮月), Thần Nguyệt (辰月), Oa Nguyệt (窩月), Tú Nguyệt (宿月), Thương Nguyệt (商月), Anh Nguyệt (莫月), Linh Nguyệt (靈月), Vân Nguyệt (雲月). Một số câu hay cho tháng Ba như phụng tình hoa tín (鳳情花信, phụng quyến luyến tin tức hoa nở), vũ trạc xuân trần (雨濯春塵, mưa tẩy sạch bụi Xuân), bình tinh điểm lục (萍星點綠, bèo trôi điểm màu xanh), đào vũ phiên hồng (桃雨翻紅, mưa Đào phất phơ màu hồng), tuế hàn linh tiết (歲寒令節, năm rét tiết khó), cấm hỏa lương thần (禁火良辰, cấm lửa dịp tốt). Một số từ dùng cho Tiết Thanh Minh như liễu yên ngưng thoại (柳煙凝瑞, khói liễu đọng điềm lành), lan bội nghênh hy (蘭佩迎禧, ngọc đeo đón điều tốt), xuân thâm bích hải (春深碧海, Xuân sâu thẳm như biển xanh), hoa mãn thiên trì (花滿天池, hoa đầy khắp hồ Trời), phong hoa chánh tú (風花正秀, hoa gió rực rỡ), đồng quan du xuân (童冠遊春, trẻ đội mũ đi chơi Xuân), Lê hoa lạc viện (梨花落院, hoa Lê rơi rụng nơi tòa viện), liễu nhứ phi tường (柳絮飛牆, tơ liễu bay qua tường). Các từ dùng cho tháng Ba nhuận như Tam Xuân nghi cửu (三春宜久, ba tháng mùa Xuân vẫn còn lâu), nhuận quy trừ tận (潤歸除盡, ẩm ướt về dứt sạch). Từ ngữ dùng cho truy điệu vào tháng này là oanh đề hoa lão (鶯啼花老, oanh khóc hoa già cỗi), điệp trướng xuân tàn (蝶悵春殘, bướm buồn Xuân tàn tạ).
Tháng Bảy âm lịch
có tên gọi khác như Mạnh Thu (孟秋), Thủ Thu (首秋), Thượng Thu (上秋), Qua Thu (瓜秋), Tảo Thu (早秋), Tân Thu (新秋), Triệu Thu (肇秋), Lan Thu (蘭秋), Lan Nguyệt (蘭月), Thân Nguyệt (申月), Xảo Nguyệt (巧月), Qua Nguyệt (瓜月), Lương Nguyệt (涼月), Tương Nguyệt (相月), Văn Nguyệt (文月), Thất Tịch Nguyệt (七夕月), Nữ Lang Hoa Nguyệt (女郎花月), Văn Phi Nguyệt (文披月), Đại Khánh Nguyệt (大慶月), Tam Âm Nguyệt (三陰月), Di Tắc (夷則), Sơ Thương (初商), Mạnh Thương (孟商), Qua Thời (瓜時), Tố Thu (素秋), Sơ Thu (初秋), Sương Nguyệt (霜月), Trung Nguyệt (中月), Triệu Nguyệt (肇月). Một số câu hay cho tháng Bảy như vân thu Hạ sắc (雲收夏色, mây thâu sắc màu mùa Hè), nguyệt động Thu thanh (月動秋聲, trăng làm động tiếng Thu), kim phong đãng thử (金風蕩暑, gió Thu quét phăng đi hơi nóng), ngọc luật minh Thu (玉律鳴秋, nhạc ngọc vang vọng mùa Thu), kiểu nguyệt như sương (皎月如霜, trăng sáng như sương), Thu khai ngọc vũ (秋開玉宇, Thu mở nhà ngọc), luật ứng thanh cao (律應清高, nhạc vận thanh cao), thủy thiên nhất sắc (水天一色, nước và trời cùng một sắc màu), phong nguyệt song thanh (風月雙清, gió và trăng đều trong suốt), tam canh thử thối (三更暑退, ba canh oi bức thối lui), nhất chẩm lương sanh (一枕涼生, bên gối hưởng gió mát). Một số từ dùng cho Thất Tịch (七夕) như nhân gian khất xảo (人間乞巧, mọi người xin trí tuệ khôn ngoan), thiên thượng giai kỳ (天上佳期, thời kỳ tốt trên trời). Một số từ dùng cho tháng Bảy nhuận như song tinh nhất hội (雙星一會, hai sao cùng gặp nhau), nhất nhuận quy dư (一閏歸餘, một lần nhuận vẫn còn dư). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền thanh đề mộ (蟬聲啼暮, tiếng ve khóc chiều), cùng vận bi Thu (蛩韻悲秋, tiếng dế buồn mùa Thu).
Tháng Chín âm lịch
có tên gọi khác như Cúc Nguyệt (菊月), Thọ Y Nguyệt (授衣月), Thanh Nữ Nguyệt (青女月), Tiểu Điền Nguyệt (小田月), Bác Nguyệt (剝月), Quán Nguyệt (貫月), Sương Nguyệt (霜月), Trưởng Nguyệt (長月), Tuất Nguyệt (戌月), Hủ Nguyệt (朽月), Vịnh Nguyệt (詠月), Huyền Nguyệt (玄月), Nỉ Giác Nguyệt (禰覺月), Cúc Khai Nguyệt (菊開月), Hồng Diệp Nguyệt (紅葉月), Quý Thu (季秋), Mộ Thu (暮秋), Vãn Thu (晚秋), Cúc Thu (菊秋), Thu Mạt (秋末), Tàn Thu (殘秋), Lương Thu (涼秋), Tố Thu (素秋), Ngũ Âm Nguyệt (五陰月), Cùng Thu (窮秋), Diểu Thu (杪秋), Thu Thương (秋商), Mộ Thương (暮商), Quý Bạch (季白), Vô Xạ (無射), Sương Tự (霜序), Lương Nguyệt (涼月), Tam Thu (三秋), Quý Thương (季商), Cúc Tự (菊序). Một số câu hay cho tháng Chín như hà bàn lạc thúy (荷盤落翠, gương sen không còn sắc xanh biếc), phong cảnh phiêu hồng (楓景飄紅, cảnh cây phong phất phơ màu hồng), giang phong huyến cẩm (江風絢錦, gió sông rực rỡ gấm), ly cúc thư kim (籬菊舒金, cúc bờ rào phô màu vàng óng). Một số từ dùng cho tiết Trùng Dương (重陽) như Tam Thu hầu túc (三秋候足, khí tiết Ba Thu vừa đủ), vạn bảo cáo thành (萬寶告成, muôn điều quý báu đã thành), hoàng hoa mãn kính (黃花滿徑, hoa vàng khắp lối), hồng diệp doanh câu (紅葉盈溝, lá đỏ đầy rãnh nước), thư truyền tặng cúc (書傳贈菊, thư truyền đi tặng hoa cúc), Mạnh Gia lạc mạo (孟嘉落帽, Mạnh Gia rơi mũ), Hoàn Cảnh đăng cao (桓景登高, Hoàn Cảnh lên núi cao), sương lăng cúc nhị (霜淩菊蕊, sương thấm nhụy hoa cúc), tửu túy Thù Du (酒醉茱萸, rượu say Thù Du). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như cùng thanh bi thiết (蛩聲悲切, tiếng dế buồn da diết), nhạn trận hoành không (雁陣橫空, nhạn dàn trận trên không).
Tháng Giêng Âm Lịch
có tên gọi khác như Nguyệt Chánh (月正), Tân Chánh (新正), Mạnh Xuân (孟春), Thủ Xuân (首春), Thượng Xuân (上春), Dần Mạnh Xuân (寅孟春), Thỉ Xuân (始春), Tảo Xuân (早春), Nguyên Xuân (元春), Tân Xuân (新春), Sơ Xuân (初春), Đoan Xuân (端春), Triệu Xuân (肇春), Hiến Xuân (獻春), Xuân Vương (春王), Hoa Tuế (華歲), Tuế Tuế (歲歲), Triệu Tuế (肇歲), Khai Tuế (開歲), Hiến Tuế (獻歲), Phương Tuế (芳歲), Sơ Tuế (初歲), Sơ Nguyệt (初月), Sơ Dương (初陽), Mạnh Dương (孟陽), Tân Dương (新陽), Xuân Dương (春陽), Xuân Vương (春王), Thái Thấu (太簇), Tuế Thỉ (歲始), Vương Chánh Nguyệt (王正月), Sơ Không Nguyệt (初空月), Hà Sơ Nguyệt (霞初月), Sơ Xuân Nguyệt (初春月), Tưu Nguyệt (陬月), Vương Nguyệt (王月), Đoan Nguyệt (端月), Mạnh Tưu (孟陬), Thái Nguyệt (泰月), Cẩn Nguyệt (謹月), Kiến Dần (建寅), Dần Nguyệt (寅月), Dương Nguyệt (楊月), Mạnh Xuân Nguyệt (孟春月), Tam Vi Nguyệt (三微月), Tam Chánh (三正), Mục Nguyệt (睦月), Thượng Nguyệt (上月), Tam Chi Nhật (三之日). Một số câu hay cho tháng Giêng như Tam Dương sơ trưởng (三陽初長, tháng Giêng mới lớn), Tứ Tự cánh đoan (四序更端, bốn mùa trở lại đầu), mai đôi bạch ngọc (梅堆白玉, mai chất đầy ngọc trắng [tuyết]), liễu đĩnh hoàng kim (柳錠黃金, liễu trĩu nặng vàng ròng), tiêu hoa tống lạp (椒花送臘, hoa tiêu tiễn năm cũ đi), canh điểu sơ minh (庚鳥初鳴, chim Vàng Anh bắt đầu hót), Ngọc Luật hồi phù (玉律回夫, nhạc khí Ngọc Luật trở về chăng), duệ Ki tiễn lạp (睿璣餞臘, sao Ki sáng tiễn năm cũ), tiêu chuyển Bắc Đẩu (杓轉北鬥, chuôi sao chuyển Bắc Đẩu), nhân tại Đông phong (人在東風, người nơi gió Đông), nhất thanh trừ cựu (一聲除舊, một tiếng vang trừ năm cũ), vạn hộ cánh tân (萬戶更新, ngàn nhà lại mới mẻ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như mai tai lệ phấn (梅腮淚粉, mặt hoa mai đầy phấn lệ), liễu nhãn bi thanh (柳眼悲青, mắt liễu buồn trong xanh). Ngữ cú dành cho Thượng Nguyên như cửu thiên nguyệt lãng (九天月朗, chín tầng trời trăng sáng rực), vạn hộ đăng huy (萬戶燈輝, vạn nhà đèn tỏ rạng). Một số từ dùng cho Lập Xuân như Đông phong giải đống (東風解凍, gió Đông làm tan băng), Bắc Đẩu hồi chước (北斗回杓, chùm Bắc Đẩu trở về đuôi).
Tháng Hai âm lịch
có tên gọi khác như Như Nguyệt (如月), Mai Kiến Nguyệt (梅見月), Mai Nguyệt (梅月), Lệ Nguyệt (麗月), Mão Nguyệt (卯月), Hạnh Nguyệt (杏月), Hàm Nguyệt (酣月), Lệnh Nguyệt (令月), Khiêu Nguyệt (跳月), Tiểu Thảo Sanh Nguyệt (小草生月), Y Cánh Trước Giáp Chung (衣更著夾鐘), Trọng Chung (仲鐘), Trọng Xuân (仲春), Trọng Dương (仲陽), Trung Hòa Nguyệt (中和月), Tứ Dương Nguyệt (四陽月), Xuân Trung (春中), Hôn Nguyệt (婚月), Môi Nguyệt (媒月), Đại Tráng (大壯), Trúc Thu (竹秋), Hoa Triêu (花朝), Hoa Nguyệt (花月), Tứ Chi Nguyệt (四之月). Một số câu hay cho tháng Hai như Hải Đường tẩm nguyệt (海棠浸月, hoa Hải Đường ngấm trăng), Dương Liễu lung yên (楊柳籠煙, cây Dương Liễu nhốt khói), liễu khê tiếu bích (柳溪醮碧, khe liễu cúng màu xanh biếc), hoa ổ phi hồng (花塢飛紅, ụ hoa phất phơ màu hồng), oanh ca hoa tự (鶯歌花序, oanh ca đầu hoa), yến tiễn xuân phong (燕剪春風, chim Yến xé gió Xuân), hoa vũ lộng tình (花雨弄晴, mưa hoa đùa giỡn với trời tạnh), thời cánh thường hoa (時竟嚐花, đến lúc lại thưởng thức hoa), dã điểu hổ xuân (野鳥唬春, chim rừng dọa nạt mùa Xuân), ngạn hoa khấp hiểu (岸花泣曉, hoa bên bờ khóc lúc hừng sáng), Đỗ ông hành vũ (杜翁行雨, ông lão họ Đỗ đi trong mưa), hoa tín xuy phong (花信吹風, tin tức hoa nở thổi gió bay). Một số từ dùng cho gió Xuân như Tam Xuân tiền bán (三春前半, một nửa trước của ba tháng mùa Xuân), bách khắc bình phân (百刻平分, trăm khắc phân rõ). Các từ dùng cho tháng Hai nhuận như Trọng Xuân kỷ nhuận (仲春紀閏, Trọng Xuân gặp nhuận), tích vũ lưu hàn (積雨留寒, chứa mưa giữ lại cái lạnh), tự hoa thời lạc (序花時落, hoa tuần tự rơi rụng đúng lúc), dã điểu tranh minh (野鳥爭鳴, chim rừng tranh nhau hót).
Tháng Mười Hai âm lịch
có tên gọi khác như Lạp Nguyệt (臘月), Trừ Nguyệt (除月), Sửu Nguyệt (丑月), Nghiêm Nguyệt (嚴月), Băng Nguyệt (冰月), Dư Nguyệt (餘月), Cực Nguyệt (極月), Đồ Nguyệt (塗月), Địa Chánh Nguyệt (地正月), Nhị Dương Nguyệt (二陽月), Gia Bình Nguyệt (嘉平月), Tam Đông Nguyệt (三冬月), Mai Sơ Nguyệt (梅初月), Xuân Đãi Nguyệt (春待月), Quý Đông (季冬), Mộ Đông (暮冬), Vãn Đông (晚冬), Diểu Đông (杪冬), Cùng Đông (窮冬), Hoàng Đông (黃冬), Lạp Đông (臘冬), Tàn Đông (殘冬), Mạt Đông (末冬), Nghiêm Đông (嚴冬), Sư Tẩu (師走), Đại Lữ (大呂), Tinh Hồi Tiết (星回節), Ân Chánh (殷正), Thanh Tự (清祀), Đông Tố (冬素), Xú Nguyệt (醜月), Gia Bình (嘉平), Tuế Diểu (歲杪), Cửu Đông (九冬), Nghiêm Hàn (嚴寒), Tuế Nguyệt (歲月), Mạt Nguyệt (末月). Một số câu hay cho tháng Mười Hai như tiêu thương tiễn lạp (椒觴餞臘, chén rượu tiêu tiễn cuối năm), mai tín truyền Xuân (梅信傳春, tin cây Mai truyền mùa Xuân đến), cẩm diên thủ tuế (錦筵守歲, tiệc gấm đón năm mới), họa các nghênh Xuân (畫閣迎春, gác vẽ tranh hoa lệ đón Xuân), Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, cành Mai truyền ý Xuân), tuyết triệu phong niên (雪兆豐年, tuyết có điềm cho biết năm mới phong phú), khúc tấu Lương Viên (曲奏梁園, tấu khúc Lương Viên), Tây sơn tuyết tễ (西山雪霽, núi Tây tuyết tan), Đông các Mai hương (東閣梅香, gác Đông thơm hoa Mai), hàn tùy lạp khứ (寒隨臘去, lạnh theo cuối năm đi), noãn trục Xuân lai (暖逐春來, hơi ấm cùng mùa Xuân đến), Mai ngạc truyền Xuân (梅萼傳春, đài hoa Mai truyền sắc Xuân), tuế trừ kim tịch (歲除今夕, năm hết đêm nay), Xuân nhập tân niên (春入新年, Xuân vào năm mới), pháo thôi tàn lạp (炮催殘臘, pháo thúc giục cuối năm còn sót), Mai báo tảo Xuân (梅報早春, Mai báo Xuân sớm), nhất niên tương tận (一年將盡, một năm sắp hết), tứ quý vân chung (四季雲終, bốn mùa chấm dứt). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như tinh hồi nguyệt triển (星回月展, sao lùi trăng hiện), phong thảm vân sầu (風慘雲愁, gió thảm mây buồn), diêm khuynh trường lệ (簷傾長淚, mái nghiêng ngấn lệ), thủy kết đôi băng (水結堆冰, nước kết băng trôi). Một số từ dùng cho tháng Mười Hai nhuận như nhuận dĩ thành tuế (潤以成歲, nhuận đã thành năm), hàn bách chu niên (寒迫周年, lạnh đuổi theo trọn năm).
Tháng Mười Một âm lịch
có tên gọi khác như Trọng Đông (仲冬), Trung Đông (中冬), Chánh Đông (正冬), Sướng Nguyệt (暢月), Sương Nguyệt (霜月), Sương Kiến Nguyệt (霜見月), Tý Nguyệt (子月), Cô Nguyệt (辜月), Gia Nguyệt (葭月), Chỉ Nguyệt (紙月), Phục Nguyệt (復月), Thiên Chánh Nguyệt (天正月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Quảng Hàn Nguyệt (廣寒月), Long Tiềm Nguyệt (龍潛月), Tuyết Nguyệt (雪月), Hàn Nguyệt (寒月), Hoàng Chung (黃鐘, 黃鍾), Dương Phục (陽復), Dương Tế (陽祭), Băng Tráng (冰壯), Tam Chí (三至), Á Tuế (亞歲), Trung Hàn (中寒), Trọng Nguyệt (仲月), Phức Nguyệt (複月), Long Tiềm (龍潛), Long Đông (隆冬), Hỷ Nguyệt (喜月). Một số câu hay cho tháng Mười Một như nhật hành Bắc lục (日行北陸, mặt trời đi về đất Bắc), Xuân đáo Nam chi (春到南枝, Xuân đến trên cành Nam), thiên hàn dục tuyết (天寒欲雪, trời lạnh tuyết sắp rơi), Xuân ý tại Mai (春意在梅, ý Xuân ở cây Mai), hàn sương điểm tuyết (寒霜點雪, sương lạnh lấm chấm tuyết), đống nghiễn ha băng (凍硯呵冰, nghiên mực đóng băng phun tuyết), Mai thổ Nam chi (梅吐南枝, Mai nở cành Nam), ngân hà phiêu tuyết (銀河飄雪, sông ngân thổi tuyết), ngọc vũ phi sương (玉宇飛霜, nhà ngọc bay sương), Tam Dương trình thụy (三陽呈瑞, xuân đến bày điềm lành), Lục Bạch triệu phong (六白兆豐, Lục Bạch [tượng trưng cho Càn, tức là trời] thể hiện điềm phong phú), Nhất Dương lai phức (一陽來複, tháng 11 lại đến nữa), vạn gia chiêu hồi (萬家昭回, muôn nhà trở lại sáng sủa).
Tháng Mười âm lịch
có tên gọi khác như Dương Nguyệt (陽月), Hợi Nguyệt (亥月), Cát Nguyệt (吉月), Lương Nguyệt (良月), Khôn Nguyệt (坤月), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Tiểu Dương Xuân (小陽春), Thần Vô Nguyệt (神無月), Thập Nguyệt (拾月), Thời Vũ Nguyệt (時雨月), Sơ Sương Nguyệt (初霜月), Ứng Chung (應鐘, 應鍾), Sơ Đông (初冬), Mạnh Đông (孟冬), Thượng Đông (上冬), Khai Đông (開冬), Huyền Đông (玄冬), Huyền Anh (玄英), Tiểu Xuân (小春), Đại Chương (大章), Thỉ Băng (始冰), Cực Dương (極陽), Dương Chỉ (陽止), Mạnh Đông (孟冬), Nguyên Đông (元冬), Tiểu Lương (小良), Ứng Nguyệt (應月), Lập Nguyệt (立月), Tiểu Hòa Xuân (小和春), Âm Nguyệt (陰月), Lộ Nguyệt (露月), Phi Âm Nguyệt (飛陰月). Một số câu hay cho tháng Mười như Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, Mai truyền ý Xuân), Cúc ngạo sương chi (菊傲霜枝, Cúc ngạo nghễ cành sương), hàn uy vị chấn (寒威未振, uy lực cái lạnh chưa đến nỗi), ái cảnh sơ khai (愛景初開, cảnh đẹp mới bày), đấu tiêu chỉ Bắc (鬥杓指北, chuôi sao về hướng Bắc), nhật ảnh hồi Nam (日影回南, bóng mặt trời trở về hướng Nam), nhật lâm chiết mộc (日臨折木, mặt trời đến bẻ cây), Nam chi nhật noãn (南枝日暖, cành Nam mặt trời ấm), Đông các hàn khinh (東閣寒輕, gác Đông se lạnh), hòa khí như Xuân (和氣如春, khí trời ôn hòa như mùa Xuân). Một số từ dùng cho Lập Đông (立冬) như nguyên anh khải tú (元英啟秀, hoa cỏ khởi sắc), thanh nữ ty hàn (青女司寒, cô gái tự nhiên màu xanh làm chủ cái lạnh), sương lăng Mai nhụy (霜淩梅蕊, sương thấm nhụy hoa Mai), tuyết ngạo sương chi (雪傲霜枝, tuyết cười ngạo cành sương), Dương Xuân tương Hạ (陽春將夏, tháng Mười như Hè), Xuân ý phương xa (春意方賒, ý Xuân còn xa). Một số từ dùng cho tháng Mười nhuận như Tiểu Dương dư nhuận (小陽餘閏, tháng Mười còn nhuận), Dương Nguyệt tăng trưởng (陽月增長, tháng Mười kéo dài). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như phong mộc thanh phân (風木聲分, tiếng gió cây rã rời), tuyết sơn dung lão (雪山容老, dáng núi tuyết già cỗi).
Tháng Năm âm lịch
có tên gọi khác như Trọng Hạ (仲夏), Siêu Hạ (超夏), Trung Hạ (中夏), Thỉ Nguyệt (始月), Tinh Nguyệt (星月), Hoàng Nguyệt (皇月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Bồ Nguyệt (蒲月), Lan Nguyệt (蘭月), Mang Nguyệt (忙月), Ngọ Nguyệt (午月), Lựu Nguyệt (榴月), Độc Nguyệt (毒月), Ác Nguyệt (惡月), Quất Nguyệt (橘月), Nguyệt Bất Kiến Nguyệt (月不見月), Xuy Hỷ Nguyệt (吹喜月), Cao Nguyệt (皋月), Nhuy Tân (蕤賓), Đoan Dương Nguyệt (端陽月), Thử Nguyệt (暑月), Thuần Nguyệt (鶉月), Minh Điêu (鳴蜩), Hạ Ngũ (夏五), Tiện Nam Nhiễm Nguyệt (賤男染月), Tiểu Hình (小刑), Thiên Trung (天中), Mang Chủng (芒種), Khải Minh (啟明), Úc Chưng (郁蒸), Cấu Nguyệt (垢月), Nhuy Nguyệt (蕤月), Bạc Nguyệt (薄月), Đạm Nguyệt (炎月). Một số câu hay cho tháng Năm như hà kị nghênh phong (荷芰迎風, củ sen đón gió), hòe âm kết duyên (槐陰結緣, bóng hòe kết duyên), lựu hỏa thư hồng (榴火舒紅, hoa Thạch Lựu phô sắc màu hồng đỏ rực), nông tương đăng thử (農將登黍, nhà nông sắp cúng lúa mùa), nguyệt kỷ minh điêu (月紀鳴蜩, tháng ghi nhớ tiếng ve sầu rả rích), trì hà thổ lục (池荷吐綠, hoa sen dưới hồ nhả màu xanh non), liễu hỏa thư đan (柳火舒丹, hoa Liễu phô sắc màu đỏ rực), lan thang thức dục (蘭湯拭浴, Lan nóng phe phẩy tắm), bạc tửu phù thương (薄酒浮觴, rượu nhạt uống chén phạt). Một số từ dùng trong Tiết Đoan Dương (端陽節) như khiết lan tiết giới (潔蘭節屆, tiết Lan thanh khiết), huyền ngải thời tân (懸艾時新, ngải treo luôn mới). Từ dùng cho Hạ Chí như nhật thiên Đông thăng (日偏東升, mặt trời nghiêng lên từ phương Đông), nguyệt chánh Nam Khâu (月正南邱, mặt trăng chính hướng đất Nam Khâu). Một số từ dùng cho tháng Năm nhuận như nhuy tân kỷ nhuận (蕤賓紀閏, tháng Năm ghi nhuận), ngải hổ do huyền (艾虎猶懸, da lông chồn còn treo). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như trì hà lệ lộ (池荷淚露, sen nơi hồ giọt sương lệ), viện trúc bi phong (院竹悲風, hàng tre bên nhà thoảng gió buồn).
Tháng Sáu âm lịch
có tên gọi khác như Thả Nguyệt (且月), Hà Nguyệt (荷月), Thử Nguyệt (暑月), Tiêu Nguyệt (焦月), Phục Nguyệt (伏月), Quý Nguyệt (季月), Mùi Nguyệt (未月), Mộ Hạ (暮夏), Diểu Hạ (杪夏), Vãn Hạ (晚夏), Quý Hạ (季夏), Trường Hạ (長夏), Cực Thử (極暑), Tổ Thử (組暑), Nhục Thử (溽暑), Lâm Chung (林鐘), Tinh Dương (精陽), Độn Nguyệt (遁月), Lâm Chung (林鍾), Cam Chung (甘鍾), Tinh Nguyệt (精月), Đán Nguyệt (旦月), Cửu Hạ (九夏), Đản Thử (但暑), Lệ Nguyệt (荔月), Tổ Nguyệt (祖月). Một số câu hay cho tháng Năm như lục hà hương viễn (綠荷香遠, sen xanh hương ngát xa), liễu ám phong thanh (柳暗風清, liễu râm gió mát), tất suất cư bích (蟋蟀居壁, dế mèn sống nơi tường nhà), Xạ Thảo vi oánh (麝草爲瑩, cỏ Xạ Thảo trong suốt), băng bàn tiến quả (冰盤薦果, mâm băng cúng quả), hồng tảo phất hạm (紅藻拂檻, cỏ hồng phất qua song cửa), bích thọ lâm song (碧樹臨窗, cây xanh đến bên cửa sổ). Một số từ dùng cho Sơ Phục (初伏, chỉ 10 ngày đầu của mùa nóng) như huề cầm tải tửu (攜琴載酒, mang đàn cầm đi chở rượu), trầm lý phù qua (沉李浮瓜, mận chìm dưa nỗi). Một số từ dùng cho Trung Phục (中伏, chỉ 10 ngày giữa của mùa nóng) như viêm phong chánh tích (炎風正積, gió nóng tích tụ), Canh Phục phương trung (庚伏方中, ngay giữa Tam Phục). Một số từ dùng cho Mạt Phục (末伏, chỉ 10 ngày cuối của mùa nóng) như Tam Canh tại hậu (三庚在後, ngay sau Tam Phục), Mạt Phục dư viêm (末伏餘炎, hơi nóng còn lại kỳ Mạt Phục). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền thanh hiệu nguyệt (蟬聲號月, tiếng ve sầu than thở với trăng), yến ngữ bi phong (燕語悲風, chim yến chuyện trò với gió buồn).
Tháng Tám âm lịch
có tên gọi khác như Trọng Thu (仲秋), Trung Thu (中秋), Thu Bán (秋半), Thu Cao (秋高), Quất Xuân (橘春), Thanh Thu (清秋), Chánh Thu (正秋), Quế Thu (桂秋), Hoạch Nguyệt (獲月), Tráng Nguyệt (壯月), Quế Nguyệt (桂月), Diệp Nguyệt (葉月), Thu Phong Nguyệt (秋風月), Dậu Nguyệt (酉月), Nguyệt Kiến Nguyệt (月見月), Hồng Nhiễm Nguyệt (紅染月), Nam Lữ (南呂), Trọng Thương (仲商), Chá Nguyệt (柘月), Nhạn Lai Nguyệt (雁來月), Trung Luật (中律), Tứ Âm Nguyệt (四陰月), Sảng Nguyệt (爽月), Đại Thanh Nguyệt (大清月), Trúc Tiểu Xuân (竹小春), Quán Nguyệt (觀月), Kết Xuân (桔春), Cử Nguyệt (舉月). Một số câu hay cho tháng Tám như châu lộ ngưng bạch (珠露凝白, sương châu đọng thành màu trắng), quế nhụy sanh hương (桂蕊生香, nhụy hoa quế ngát hương), lộ doanh tiên chưởng (露盈仙掌, sương đọng đầy bàn tay tiên), quế trán thiềm cung (桂綻蟾宮, quế khắp cung trăng), lộ châu trích lãnh (露珠滴冷, giọt sương ngọc lạnh băng), quế nguyệt phù hàn (桂月浮寒, trăng quế trôi nỗi lạnh ngắt), thiềm quang chánh mãn (蟾光正滿, ánh sáng trăng tròn đầy), nhạn hoành độ ảnh (雁橫度影, nhạn bay ngang qua còn lưu bóng), thiềm thố trừng quang (蟾兔澄光, ánh trăng sáng tỏ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền hiệu cổ mộc (蟬號古木, ve khóc cây cổ), yến biệt điêu lương (燕別雕梁, yến giã biệt xà nhà chạm trỗ).
Tháng Tư âm lịch
có tên gọi khác như Phạp Nguyệt (乏月), Hoang Nguyệt (荒月), Dương Nguyệt (陽月), Nông Nguyệt (農月), Càn Nguyệt (乾月), Tỵ Nguyệt (巳月), Úy Nguyệt (畏月), Vân Nguyệt (雲月), Hòe Nguyệt (槐月), Mạch Nguyệt (麥月), Chu Nguyệt (朱月), Dư Nguyệt (餘月), Thủ Hạ (首夏), Hạ Thủ (夏首), Mạnh Hạ (孟夏), Sơ Hạ (初夏), Duy Hạ (維夏), Thỉ Hạ (始夏), Hòe Hạ (槐夏), Đắc Điểu Vũ Nguyệt (得鳥羽月), Hoa Tàn Nguyệt (花殘月), Trọng Lữ (仲侶、仲呂), Thuần Dương (純陽), Thuần Càn (純乾), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Hòa Nguyệt (和月), Mạch Thu Nguyệt (麥秋月), Mạch Hầu (麥候), Mạch Tự (麥序), Lục Dương (六陽), Mai Nhục (梅溽), Mai Nguyệt (梅月), Thanh Hòa (清和), Chu Minh (朱明), Phạp Hạ (乏夏), Xuân Dư (春餘), Hòe Tự (槐序), Anh Tự (櫻序). Một số câu hay cho tháng Tư như Hòe phong mị Hạ (槐風媚夏, gió đưa cây Hòe nịnh hót mùa Hè), mạch Hạ phiên Thu (麥夏翻秋, mùa Hè lúa chuyển sang Thu), ngũ phong mạch thục (五風麥熟, năm gió làm lúa chín), tế vũ mai phì (細雨梅肥, mưa nhẹ làm cho Mai tươi tốt), Chu Minh bố lệnh (朱明布令, Chu Minh ban lệnh), Xích Đế ty quyền (赤帝司權, Xích Đế nắm quyền). Một số từ dùng cho tháng Tư nhuận như nguyệt tiêu kỷ nhuận (月蕭紀閏, trăng tiêu điều tháng năm nhuận), thử khí sơ lai (暑氣初來, khí nóng bắt đầu đến), vân đường nghênh Hạ (雲堂迎夏, nhà mây đón mùa Hè), tuyết sơn tống Xuân (雪山送春, núi tuyết tiễn Xuân đi). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như Mai hoàng sầu vũ (梅黃愁雨, Mai vàng buồn mưa), mạch thục bi phong (麥熟悲風, lúa chín sầu gió). Từ dùng cho Lập Hạ là Hạ hành triệu thỉ (夏衡肇始, mùa Hè thật sự bắt đầu), viêm đức phương tân (炎德方新, khí nóng càng mới), quỳ hoa hướng dương (葵花向陽, hoa Quỳ hướng về mặt trời), trúc diệp thùy âm (竹葉垂陰, lá tre tìm bóng râm), tân hà thiếp thủy (新荷貼水, sen mới bám vào nước), trĩ trúc thành âm (稚竹成陰, tre non thành bóng râm), lục long hành Hạ (六龍行夏, sáu rồng đi khắp mùa Hè), vạn tính thư Hạ (萬姓舒憂, muôn họ thư thả hưởng mùa Hè).
tháng vaisakha
Vaisākha (S), Vesākha (P) Tháng 4, 5 ở Ấn độ.
thánh
5575 【聖】<一>梵語 ārya,巴利語 ariya。於日常的、世俗的價值上,其性質與「俗」乃相異而對稱。以宗教行事而言,例如中止日常行事之斷食、安息日等,亦稱爲聖。 西元前十三世紀末,自西北印度入侵,占據五河地方之白種人自稱爲雅利安(梵 Ārya),而將被征服之黑種民族視爲非雅利安(梵 Anārya)。西元前一千年頃,雅利安人自旁遮普(Pañjāb,即五河地方)逐漸向東遷移,占領了閻牟那河、恆河中游等肥沃地區,稱之爲中國(梵 Madhyadeśa),或聖地(梵 Āryāvarta)。雅利安文化逐漸興隆,社會制度確立後,視被征服之先住民爲奴隸(梵 śūdra,首陀羅),而自稱爲婆羅門(梵 brāhmaṇa,司祭者)。此外另有剎帝利(梵 kṣatriya,王族、武士)、吠舍(梵 vaiśya,庶民、農工商民)等階級。四階級中,以司掌祭祀之婆羅門爲最高階級,故知此種「聖」之觀念乃與特權階級相結合。 然西元前六世紀,爲印度文化之大轉型期,「聖」之觀念亦因而開放。文化中心逐漸東移之時,摩羯陀國勃興於東方邊域。此類新興之國,王族權力大增,工商業發達,工商階級富裕,逐漸掌握社會上之經濟實權。其時,亦產生一群否定婆羅門階級之新興思想家,即沙門(梵 śramaṇa),其中最具代表性者爲釋尊。釋尊主張打破四姓階級。無論任何階級,一旦加入教團,皆成爲平等之釋子;且不以家世、身分、財產爲聖,而以正道爲聖。探求正道,或實踐正道者,皆稱爲聖。故釋尊之出家求道,又稱聖求(巴 ariya-pariyesa)。八正道,又稱八聖道(巴 ariya-magga);四諦,又稱四聖諦(巴 ariya-sacca,聖的真理)。此外,另有聖智(巴 ariya-paññā)、聖解脫(巴 ariya-vimutti)、聖戒(巴 ariya-sīla)、聖聲聞(巴 ariya-sāvaka,聖弟子)等冠以聖字之詞。「聖」字,本意味雅利安民族之高貴血統,佛教採用之後,其意義因而大大轉變。 <二>學德殊勝者之美稱。(參閱「聖人」5577)
; Ariyan (P), Asekha (P), Aśaikṣa (S), Aśaiksha (S), Saint Xem Tôn giả.
; Arya, sàdhu (S). A sage; wise and good; upright, or correct in all his character; sacred, holy, saintly. The thánh nhân is the opposite of the phàm nhân common or unlightened man.
; Arya (skt). 1) Thánh giả: Saint—Sage. 2) Thiêng liêng: Holy. 3) Thánh thần: Gods. 4) Chứng đắc Chính Đạo: One who is wise and good, and is correct in all his characters. 5) Thánh Nhân đối lại với Phàm Nhân: The saint is the opposite of the common or unenlightened man. 6) Tứ Thánh: See Tứ Thánh Quả.
; (聖) I. Thánh. Phạm:Àrya. Pàli:Ariya. Đối lại: Phàm, Tục. Đối với giá trị bình thường của thế tục thì tính chất của Thánh khác hẳn với tục. Nghĩa là những việc làm, lời nói và tư tưởng khác với người thường, người ta cũng cho là Thánh, như hàng tháng không ăn, hàng năm không ngủ nghỉ chẳng hạn. Vào cuối thế kỉ XIII, trước Tây lịch, giống người da trắng từ vùng Tây bắc Ấn độ xâm nhập, chiếm cứ khu vực Ngũ hà, tự xưng làÀrya (Nhã lợi an) và coi giống da đen bị chinh phục là Anàrya (Phi nhã lợi an). Khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, ngườiÀrya từPaĩjàb (tức khu vực Ngũ hà) dần dần dời về phía đông, chiếm lãnh các vùng đất màu mỡ ở trung du sông Diêm mâu na và sông Hằng, gọi là Trung quốc (Phạm: Madhyadeza), hoặc Thánh địa (Phạm:Àryàvarta). Văn hóa của người Àrya dần dần hưng thịnh, sau khi chế độ xã hội được xác lập thì dân bản xứ bị chinh phục được xem là nô lệ (Zùdra, Thủ đà la), còn ngườiÀrya thì tự xưng là Bà la môn (Phạm: Brahmaịa), giai cấp trông coi việc cúng tế. Ngoài ra còn có các giai cấp Sát đế lợi (Phạm:Kwatriya, vương tộc, vũ sĩ), Phệ xá (Phạm: Vaizya, dân thường, làm các nghề nông, công, thương). Trong 4 giai cấp thì người Bà la môn coi việc cúng tế là giai cấp cao nhất, cho nên biết quan niệm về Thánh này được kết hợp với giai cấp đặc quyền. Nhưng thế kỉ thứ VI trước Tây lịch là thời kì biến chuyển lớn lao đối với văn hóa Ấn độ, quan niệm Thánh cũng nhân đó mà được khai phóng. Khi trung tâm văn hóa dần dần dời về phíađông thì nước Ma yết đà đã nổi lên là một nước phát triển mạnh ở vùng biên thùy phía đông. Tại các nước mới nổi lên này, quyền lực của các vương tộc rất lớn, công thương nghiệp phát đạt, giai cấp công thương trở nên giàu có, dần dần nắm thực quyền kinh tế trong xã hội. Bấy giờ, cũng xuất hiện các nhà tư tưởng mới không chấp nhận giai cấp Bà la môn, đó là các nhà Sa môn (Phạm:Zramaịa), trong đó người có tính đại biểu nhất là đứcThích tôn. Ngài chủ trương xóa bỏ 4 giai cấp, bất luận là giai cấp nào, hễ gia nhập giáo đoàn thì đều trở thành Thích tử bình đẳng, không căn cứ vào gia thế, thân phận, tài sản để gọi là Thánh, mà lấy Chính đạo là Thánh. Những người tìm cầu Chính đạo hoặc thực hành Chính đạo đều gọi là Thánh. Bởi thế, sự xuất gia cầu đạo của đức Thích tôn cũng gọi là Thánh cầu (Pàli:Ariya-pariyesa). Bát chính đạo cũng gọi là Bát Thánh đạo (Pàli:Ariya-magga); Tứ đế cũng gọi là Tứ Thánh đế (Pàli:Ariya-sacca, chân lí của bậc Thánh). Ngoài ra, cũng có các từ ngữ có chữ Thánh đứng đầu như Thánh trí (Pàli:Ariya-paĩĩa), Thánh giải thoát (Pàli: Ariya-vamutti), Thánh giới (Pàli:Ariyasìla), Thánh thanh văn (Pàli: Ariyasàvaka, Thánh đệ tử)... Chữ Thánh vốn có nghĩa là huyết thống cao quí của dân tộcÀrya, nhưng sau khi được Phật giáo sử dụng thì ý nghĩa thay đổi khác hẳn. II. Thánh. Từ tôn xưng người có học vấn và đức hạnh vượt trội. (xt. Thánh Nhân).
Thánh Bảo
(聖寳, Shōbō, 832-909): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, Tự Trưởng đời thứ 8 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), vị tổ khai sáng Dòng Tiểu Dã (小野流), húy là Thánh Bảo (聖寳), tên tục là Hằng Ấm Vương (恒蔭王), thụy hiệu là Lý Nguyên Đại Sư (理源大師), xuất thân vùng Kyoto, con của Binh Bộ Đại Thừa Cát Thanh Vương (兵部大丞葛聲王). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Chơn Nhã (眞雅, Shinga), rồi học Tam Luận, Pháp Tướng và Hoa Nghiêm với Nguyên Hiểu (源曉, Gankyō), Viên Tông (圓宗, Enshū) và Bình Nhân (平仁, Heinin). Năm 869, ông làm việc cho Duy Ma Hội Thụ Nghĩa và luận phá các nghĩa học khác, sau đó đến năm 871 thì thọ nhận pháp Vô Lượng Thọ từ Chơn Nhã và chuyên tu về Mật Giáo. Đến năm 874, ông kiến lập nên Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), rồi đến năm 880 thì thọ nhận 2 bộ đại pháp từ Chơn Nhiên (眞然, Shinzen) ở Cao Dã Sơn và vào năm 884 thì thọ pháp Quán Đảnh ở Nguyên Nhân (源仁, Gennin) tại Đông Tự. Sau đó, vào năm 890, ông làm Tọa Chủ của Trinh Quán Tự (貞觀寺, Jōgan-ji), rồi năm 905 thì làm Viện Chủ Đông Nam Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và năm sau thì làm Tự Trưởng cũng như Tăng Chánh của Đông Tự. Các trước tác của ông để lại có Đại Nhật Kinh Sớ Sao (大日經疏鈔), Thai Tạng Giới Hành Pháp Thứ Đệ (胎藏界行法次第), Như Ý Luân Tu Cúng Quỹ (如意輪修軌), Ngũ Đại Hư Không Tạng Thức Pháp (五大虛空藏式法), Tu Nghiệm Tối Thắng Huệ Ấn Tam Muội Da Cực Ấn Quán Đảnh Pháp (修驗最勝惠印三昧耶極印灌頂法).
thánh bảo
5589(832~909)日本真言宗僧。勅諡「理源大師」。大和(奈良縣)人。初隨真雅、真然學密,後於南都修習三論、法相、華嚴。仰慕役小角之行誼,遂遊歷山河,精勤修練。後任貞觀寺座主,且先後創建東大寺之東南院、醍醐寺,其後升任僧正之職。延喜九年示寂,世壽七十八。後世尊爲東密小野流之祖。著有胎藏界行法次第、大日疏鈔等。〔日本紀略後篇卷一、東寺長者補任卷一、三代實錄卷三十〕
; Shobo (S) Sơ tổ phái Đề Hổ, Mật tông Nhật bản.
thánh bảo tạng thần
The deva, or devas, of the sacred treasury of precious things (who bestows them on the living).
; Một trong các vị chư Thiên, vị có nhiều của cải quý báu, được gọi là Tài Thần, đem của cải đến làm giàu cho chúng sanh—The deva, or devas of the sacred treasury of precious things, who bestows them on the living.
thánh ca
Samhita (P), Dohā (S), gur (T), Spiritual song Bài hát của những bậc Đại giác ở Tây tạng do các sư Kim cang thừa sáng tác, mỗi câu có 9 vần.
Thánh chúng
(聖眾): chủ yếu chỉ đức Phật, Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), v.v. Tăng Nhất A Hàm (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 45 có nêu ra 6 hạng Thánh chúng, gồm: (1) Tu Đà Hoàn (s: srota-āpanna, p: sotāpanna, 須陀洹, hay Dự Lưu [預流]), (2) Tư Đà Hàm (s: sakṛd-āgāmin, p: sakad-āgāmin, 斯陀含, hay Nhất Lai [一來]), (3) A Na Hàm (s, p: anāgāmin, 阿那含, hay Bất Lai [不來]), (4) A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), (5) Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), và (6) Phật. Trong Phật Thuyết Tôn Thắng Đại Minh Vương Kinh (佛說尊勝大明王經, Taishō Vol. 21, No. 1413) có đoạn rằng: “Quy mạng nhất thiết chư Phật, nhất thiết tôn pháp, nhất thiết Thánh chúng; hựu phục quy mạng đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (歸命一切諸佛、一切尊法、一切聖眾、又復歸命大悲觀自在菩薩摩訶薩, kính lễ hết thảy chư Phật, hết thảy giáo pháp, hết thảy Thánh chúng; lại thêm kính lễ đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát).” Hay trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) cũng có đoạn: “Do Tịnh Độ nghiệp cảm sanh thời thục, Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (由淨土業感生時熟、聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, do đến lúc nghiệp cảm sanh về cõi Tịnh Độ đã chín, Thánh chúng đến nghinh đón, quay về Tịnh Độ, bỏ chất nhơ nhớp chốn Ta Bà, thành thân trong sạch cõi Cực Lạc).”
thánh chúng
5583係指佛、菩薩、緣覺、聲聞等。增一阿含經卷四十五中,舉出須陀洹、斯陀含、阿那含、阿羅漢、辟支佛等五項,稱爲聖眾。淨土教謂,於人臨命終時,阿彌陀佛及聖眾從淨土來迎,稱爲聖眾來迎。描繪其相之圖者,稱爲聖眾來迎圖。〔無量壽經、往生論註卷下〕
; The holy multitude, all the saints.
; • Tất cả các bậc Thánh—The holy multitude—All the saints, or sacred assembly. • Những vị Bồ Tát Thánh đã vượt thoát phiền não từ sơ địa trở lên—The Bodhisattva saints who have overcome illusion, from the first stage upwards. • Đối với Thánh chúng hay bậc trí, những gì thường phải được xem là một sự lầm lẫn, tức là cái thế giới của các đặc thù nầy, vẫn không biểu hiện là điên đảo hay phi điên đảo: To all the saints, or the wise, what is to be ordinarilyregarded as an error, that is, this world of particulars, appears neither perverted nor unperverted. • Đoàn thể do Đức Phật lập nên gọi là “Thánh Chúng” (Aryan sangha), đó là môi trường tu tập của những người cao quý. Vì truyền thống Bà La Môn đã được thiết lập kiên cố nên giai cấp bấy giờ đã được phân chia thậ là rõ rệt. Bởi lẽ đó, Đức Phật luôn xác nhận rằng trong hàng Tăng chúng của Ngài không có phân biệt giữa Bà La Môn và võ tướng, hay giữa chủ và tớ. Ai đã được nhìn nhận vào hàng Tăng chúng đều được quyền học tập như nhau. Đức Phật dạy rằng không thể gọi một giai cấp nào là cao quý hay không cao được bởi vì vẫn có những người đê tiện trong cái giai cấp gọi là cao quý và đồng thời cũng có những người cao quý trong giai cấp đê tiện. Khi chúng ta gọi cao quý hay đê tiện là chúng ta nói về một người nào đó chứ không thể cả toàn thể một giai cấp. Đây là vấn đề của tri thức hay trí tuệ chứ không phải là vấn đề sinh ra ở trong dòng họ hay giai cấp nào. Do đó, vấn đề của Đức Phật là tạo nên một người cao quý hay Thánh giả (Arya pudgala) trong ý nghĩa một cuộc sống cao quý. Thánh chúng đã được thiết lập theo nghĩa đó. Theo đó thì Thánh Pháp (Arya dharma) và Thánh luật (Arya vinaya) được hình thành để cho Thánh chúng tu tập. Con đường mà Thánh giả phải theo là con đường Bát Thánh Đạo (Arya-astangika-marga) và cái sự thật mà Thánh giả tin theo là Tứ Diệu Đế. Sự viên mãn mà Thánh giả phải đạt tới là Tứ Thánh quả (Arya-phala) và cái toàn bị mà Thánh giả phải có là Thất Thánh Giác Chi (sapta-arya-dharma). Đó là những đức tính tinh thần cả. Người học Phật không nên đánh mất ý nghĩa của từ ngữ “Thánh” nầy vốn được áp dụng cẩn thận vào mỗi điểm quan trọng trong giáo pháp của Đức Phật. Đức Phật, như vậy, đã cố gắng làm sống lại ý nghĩa nguyên thủy của chữ “Thánh” nơi cá tính con người trong cuọäc sống thường nhật: The special community established by the Buddha was called “The Assembly of the Noble” (Arya-sangha), intended to be the cradle of noble persons. Since the Brahmanical tradition had been firmly established, the race distinction was strictly felt. On that account the Buddha often asserted that in his own community there would be no distinction between Brahmans (priests) and warriors or between masters and slaves. Anyone who joined the Brotherhood would have an equal opportunity for leading and training. The Buddha often argued that the word Arya meant 'noble' and we ought not call a race noble or ignoble for there will be some ignoble persons among the so-called Aray and at the same time there will be some noble persons among the so-called Anarya. When we say noble or ignoble we should be speaking of an individual and not of a race as a whole. It is a question of knowledge or wisdom but not of birth or caste. Thus the object of the Buddha was to create a noble personage (arya-pudgala) in the sense of a noble life. The noble community (Arya-sangha) was founded for that very purpose. The noble ideal (Arya-dharma) and the noble discipline (Arya-vinaya) were set forth for the aspiring candidates. The path to be pursued by the noble aspirant is the Noble Eightfold Path (Arya-astangika-marga) and the truth to be believed by the noble is the Noble Fourfold Truth (Catvariarya-satyani). The perfections attained by the noble were the four noble fruitions (Arya-phala) and the wealth to be possessed by the noble was the noble sevenfold wealth (sapta-arya-dhana), all being spiritual qualifications. The careful application of the word Arya to each of the important points of his institution must not be overlooked by a student of Buddhism. The Buddha thus seemed to have endeavored to revive the original meaning of Arya in personality and the daily life of his religious community. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả.
; (聖衆) Chỉ cho Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn.Kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 nêu 5 bậc: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán và Bích chi phật, gọi là Thánh chúng. Tịnh độ giáo cho rằng lúc người ta lâm chung thì đức Phật A di đà và Thánh chúng từ Tịnh độ đến đón, gọi là Thánh chúng lai nghinh. Bức tranh vẽ tả cảnh Thánh chúng đến đón, gọi là Thánh chúng lainghinh đồ. [X. kinh Vô lượng thọ; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
thánh chúng lai nghinh
Những ai tinh chuyên tu hành niệm Phật, lúc lâm chung sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng ở cõi Tịnh Độ đến đón về cõi Tịnh Độ—Amitabha's saintly host come to welcome at death those who call upon him.
thánh chúng lai nghênh
5583即念佛行者臨命終時,阿彌陀佛及聖眾前來迎接往生極樂淨土。又作來迎引接。略稱來迎、迎接。阿彌陀經(大一二‧三四七中):「若有善男子、善女人聞說阿彌陀佛,執持名號,若一日、若二日、若三日、若四日、若五日、若六日、若七日,一心不亂,其人臨命終時,阿彌陀佛與諸聖眾現在其前,是人終時,心不顛倒,即得往生阿彌陀佛極樂國土。」其他如無量壽經卷上、觀無量壽經上品上生之文,均有同類說明,揭示往生彌陀淨土者,經由彌陀之願力,臨終之時,得蒙佛、聖眾等之來迎。另據觀藥王藥上二菩薩經、觀彌勒菩薩上生兜率天經等之記載,則知此等諸佛聖眾來迎之情形並不限於往生彌陀淨土者,如兜率天等之往生者亦可得諸佛聖眾之來迎。然不論何種淨土之往生者,皆須以「臨終正念」爲前提,此即上文所引之「是人終時,心不顛倒」一語之意義。 有關彌陀來迎之情形,觀無量壽經經文中詳細記載九品來迎之相,即:(一)上品上生,阿彌陀佛與觀音、勢至等菩薩,乃至無數化佛、百千比丘、無量之諸天等來迎。(二)上品中生,阿彌陀佛在觀音、勢至等無量之大眾眷屬圍繞中前來,與一千之化佛同時授手接引。(三)上品下生,阿彌陀佛與觀音、勢至、諸眷屬,及五百化佛來迎。(四)中品上生,阿彌陀佛在諸比丘、眷屬圍繞中來迎。(五)中品中生,阿彌陀佛與諸眷屬共同來迎。(六)下品上生,化佛、化觀世音、化大勢至等來迎。(七)下品中生,化佛、菩薩來迎。(八)下品下生,金蓮花前來引領。其中,於有關中品下生之文中,未提及來迎之說,或謂此係譯者所略。又唐代善導大師於觀經疏定善義中舉出三緣,而以聖眾來迎爲增上緣,並謂由聖眾之來迎,得免諸種障礙,畢竟往生淨土。 關於來迎之意義,唐代之懷感於所撰釋淨土群疑論卷二詳加闡論,其義有二:(一)就如來之真身而言,並無來去;然就「自真化垂」而言,即有往還,故知如來之來迎實乃隨機應物之化用。(二)佛實未來此,而諸佛聖眾來迎之相僅係行者自心見及佛來;亦即佛之來迎乃行者藉自身之功德力並以佛之慈悲本願爲增上緣而變現之眾生相分。〔大阿彌陀經卷上、稱讚淨土佛攝受經、觀佛三昧海經卷十、觀念法門、往生禮讚、佛祖統紀卷二十七懷感傳、卷二十八〕
; Amitàbha's saintly host come to welcome at death those who call upon him.
; (聖衆來迎) Cũng gọi Lai nghinh dẫn tiếp. Gọi tắt: Lai nghinh, nghinh tiếp. Các Thánh đến đón. Tức hành giả niệm Phật, lúc lâm chung, được đức Phật A di đà và Thánh chúng đến trước đón về Tịnh độ cực lạc. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) nói: Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào nghe nói đến Phật A di đà mà chấp trì danh hiệu của Ngài trong 1 ngày, hoặc 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 7 ngày, một lòng không rối loạn, thì khi người ấy sắp mệnh chung, Phật A di đà và các Thánh chúng sẽ hiện thân ở trước mặt người ấy, lúc người ấy hấp hối mà tâm không điên đảo thì liền được sinh về cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà. Ngoài ra, kinh Vô lượng thọ quyển thượng và phần Thượng phẩm thượng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ cũng đều nói rõ rằng người sinh về Tịnh độ, nhờ nguyện lực của Phật A di đà, lúc mệnh chung được Phật và Thánh chúng đến đón. Lại theo kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát và kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên thì biết tình hình chư Phật và Thánh chúng đến đón này không phải chỉ giới hạn ở lãnh vực những người vãng sinh Di đà Tịnh độ, mà những người sinh lên cõi trời Đâu suất cũng có thể được chư Phật Thánh chúng cùng đến đón. Tuy nhiên, bất luận vãng sinh Tịnh độ nào, đều phải lấy lâm chung chính niệm làm điều kiện tiên quyết, đó chính là ý nghĩa câu văn Lúc người ấy mệnh chung, tâm không hề điên đảo trích dẫn ở trên.Về việc đức Phật A di đà đến đón thì kinh Quán vô lượng thọ nói tỉ mỉ rõ ràng về tướng 9 phẩm đến đón như sau: 1. Thượng phẩm thượng sinh: Đức Phật A di đà và các bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, cho đến vô số hóa Phật, trăm nghìn tỉ khưu và vô lượng chư thiên đến đón.2. Thượng phẩm trung sinh: Đức Phật A di đà có các bồ tát Quán âm, Thế chí, vô lượng, đại chúng quyến thuộc tùy tòng đến trước mặt hành giả, cùng với 1.000 hóa Phật đồng thời cầm tay tiếp dẫn. 3. Thượng phẩm hạ sinh: Đức Phật A di đà, bồ tát Quán âm, Thế chí, các quyến thuộc và 500 hóa Phật đến đón. 4. Trung phẩm thượng sinh: Đức Phật A di đà cùng các tỉ khưu, quyến thuộc tùy tòng đến đón. 5. Trung phẩm trung sinh: Đức Phật A di đà cùng với quyến thuộc đến đón. 6. Hạ phẩm thượng sinh: Hóa Phật, hóa Quán thế âm, hóa Đại thế chí đến đón.7. Hạ phẩm trung sinh: Hóa Phật, Bồ tát đến đón. 8. Hạ phẩm hạ sinh: Hoa sen vàng đến trước tiếp dẫn. Trên đây, trong kinh không thấy nói đến Trung phẩm hạ sinh, có thuyết cho rằng người dịch kinh đã bỏ sót. Còn trong Quán kinh sớ định thiện nghĩa của ngài Thiện đạo thì nêu ra 3 duyên và cho rằng Thánh chúng lai nghinh là Tăng thượng duyên, đồng thời cho rằng nhờ được Thánh chúng đến đón mà thoát khỏi mọi chướng ngại, rốt ráo vãng sinh Tịnh độ. Về ý nghĩa đến đón, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 2 do ngài Hoài cảm soạn có nói rõ thêm như sau: 1. Đứng về phương diện Chân thân Như lai mà nói thì không có việc đi, đến; nhưng đứng về phương diện Tự chân thùy hóa mà nói thì có đi, về; cho nên việc Như lai đến đón thực ra là sự hóa dụng tùy cơ ứng vật. 2. Thực ra Phật không đến đón, mà tướng chư Phật Thánh chúng lai nghinh chỉ do tự tâm hành giả thấy Phật đến; cũng chính là sự đến đón của Phật là do sức công đức của tự thân hành giả lấy bản nguyện đại bi của Phật làm tăng thượng duyên mà biến hiện ra. [X. kinh Đại A di đà Q.thượng; kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Quán Phật tam muội hải Q.10; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh lễ tán; Hoài cảm truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.27; 28].
thánh chúng lai nghênh đồ
5583描繪佛菩薩前來迎接臨終之行者之圖相。略稱來迎圖、迎接曼荼羅、迎接變相。最常見之來迎圖爲阿彌陀佛與二十五菩薩,故又稱二十五菩薩迎接圖。印度及我國古來願求臨終見佛之思想極盛,而於臨終時蒙佛菩薩迎接之實例頗多,如竺僧顯、慧永、曇鸞、道綽、懷感等諸師皆感佛來迎。古來即有來迎圖之造立,如隋代之五通曼荼羅即爲圖繪一佛五十菩薩之來迎圖。又近年於甘肅黑水城所發現之阿彌陀三尊來迎圖,爲現存來迎圖中之極品。
; (聖衆來迎圖) Gọi tắt: Lai nghinh đồ, Nghinh tiếp mạn đồ la, Nghinh tiếp biến tướng. Bức tranh vẽ cảnh Phật, Bồ tát đến đón rước hành giả lúc hành giả lâm chung. Bức Lai nghinh thường thấy nhất là đức Phật A di đà và 25 vị Bồ tát, vì thế nên còn gọi là Nhị thập ngũ Bồ tát nghinh tiếp đồ. Ở Ấn độ cũng như ở Trung quốc, từ xưa đến nay, tư tưởng cầu mong lúc lâm chung được thấy Phật rất thịnh và cũng rất nhiều trường hợp lúc lâm chung hành giả được Phật và Bồ tát đón tiếp. Như các Ngài Trúc tăng hiển, Tuệ vĩnh, Đàm loan, Đạo xước, Hoài cảm... đều cảm được Phật đến đón. Xưa nay cũng đã có Lai nghinh đồ được tạo lập, như Ngũ thông Mạn đồ la ở đời Tùy, chính là bức Lai nghinh đồ vẽ 1 đức Phật và 50 vị Bồ tát. Những năm gần đây, bức A di đà tam tôn lai nghinh đồ được tìm thấy ở thành Hắc thủy, ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, là tác phẩm đẹp nhất trong các bức Lai nghinh đồ hiện còn.
thánh chủ
5577又作聖主師子。佛之尊號。佛爲諸聖中之上首,故稱聖主。師子,即獅子,謂佛自在無畏,猶如獅子。法華經序品(大九‧二下):「聖主師子演說經典。」法華義疏卷二(大三四‧四七三上):「中論云,聖有三種:一外道五通,二辟支羅漢,三法身菩薩。佛於三聖最大,故稱聖主。」
; (聖主) Cũng gọi Thánh chúa sư tử. Chỉ cho tôn hiệu của đức Phật. Phật là bậc đứng đầu trong các Thánh nên gọi là Thánh chúa Sư tử, nghĩa là Phật có đức tự tại không sợ hãi, giống như sư tử. PhẩmTựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 hạ) nói: Thánh chúa Sư tử diễn nói kinh điển. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 2 (Đại 34, 473 thượng) ghi: Trung luận nói có 3 loại Thánh: Một là ngoại đạo 5 thần thông, hai là Bích chi la hán, ba là pháp thân Bồ tát. Phật là bậc cao cả nhất trong 3 loại Thánh nên gọi là Thánh chúa.
thánh chủ sư tử
The holy lion lord, i.e. Buddha.
thánh chủ thiên trung thiên
The holy lord deva of devas, i.e. Buddha.
; The holy lord—Deva of devas.
Thánh chủ 聖主
[ja] ショウス ショウジュ shōsu shōju ||| Holy lord; sagely master (narendra-rāja, jina). A reference to the Buddha 佛. => (s: narendra-rāja, jina). Chỉ cho Đức Phật.
thánh chủng
5586<一>意即聖賢之種子。佛陀入滅之後,弟子次第嗣繼其法,猶如植物之種子相傳不絕,故以爲喻。此係以聖人之種引伸爲佛教之命脈。〔俱舍論卷二十二〕 <二>於菩薩修行之四十二階位中,可大別爲六種種性,「聖種性」即六種中之一者,即指十地之菩薩。〔菩薩瓔珞本業經卷上賢聖學觀品、天台四教儀集註卷下之本〕(參閱「十地」419、「菩薩階位」5221)
; (1) The holy seed, i.e. the community of monks; (2) that which produces the discipline of the saints, or monastic community.
; 1) Chủng tử của bậc Thánh Hiền: Tăng chúng (sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối pháp, như hạt giống cây truyền đi mãi mãi)—The holy seed, i.e. the community of monks. 2) Một trong lục chủng tính: One of the six germ-natures or roots of Bodhisattva development—See Lục Chủng Tính.
; (聖種) I. Thánh Chủng. Chủng tử(hạt giống) Thánh Hiền. Sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối tiếp giáo pháp của Ngài, cũng như hạt giống của cây cỏ truyền nối nhau không dứt, cho nên dùng hạt giống (chủng tử) để ví dụ. Cũng tức là hạt giống Thánh nhân giữ cho mệnh mạch của Phật giáo được trường tồn. [X. luận Câu xá Q.22]. II.Thánh Chủng. Chi cho Bồ tát Thập địa. Bốn mươi hai giai vị tu hành của Bồ tát được chia làm 6 chủng tính, trong đó, chủng thứ 6 là Thánh chủng tính tức Bồ tát thập địa. [X. phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng;Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ, phần đầu]. (xt. Thập Địa, BồTát Giai Vị).
thánh cúng
Holy offerings, or those made to the saints, especially to the Triratna tam bảo.
; The holy offerings, or those made to the saints, especially to the Triratna.
thánh cảnh
Auspicious scenes.
thánh cầu
Ariya-pariyesa (P) Sự xuất gia cầu đạo.
thánh cứu độ phật mẫu
Xem Đa la Bồ tát.
Thánh cứu độ Phật mẫu nhị thập nhất chủng lễ tán kinh 聖救度佛母二十一種禮讃經
[ja] ショウキュウトブツモニジュウイチシュライサンキョウ Shō kudo butsumo nijūisshu raisan gyō ||| Skt. Bhagavatyāryatāra-devyā-namaskāre-ekaviṃśati-stotra; Tib. sGrol ma la phyag 'tshal nyi shu rtsa gcig gi bstod pa phan yon dang bcas pa [To.438, P.77]; (Twenty-One Hymns to the Rescuer Saint Tārā, Mother of Buddhas). 1 fasc. (T 1108a.20.478-479), abbr. Hymns to the Twenty-One Forms 二十一種禮讃經, tr. Anzang 安藏 (from a Tibetan version). A very brief series of homages to twenty-one manifestations of Tārās 多羅. These forms are illustrated alongside the Chinese translation in another document (救度佛母二十一種禮讃經 (T 1108b)). The phrase śiva-sakti 善靜威力 appears as an epithet of Paripūraṇa-tāra 具三眞實母, the twenty-first manifestation. One Sanskrit version of this text is extant as a dhāraṇī in another scripture, the Sarvatathāgatamātṛtārāviśvakarmabhava [To.326, P.390]. For a Sanskrit edition, Tibetan edition and English translation, see Willson (1985); for a Japanese translation and Tibetan edition of a related text (Jo bo lugs kyi sgrol ma nyer gcig gi sgrub thabs, rjes gnang dang bcas pa) see Tanaka (1990), pp. 220-224. A Chinese ritual manual was composed or translated from Tibetan by the Nuona Khutughtu 諾那呼圖克圖 (1934) . BGBT4/323. Shō kudo butsumo nijūisshu raisan gyō (j); Bhagavatyāryatāra-devyā-namaskāre-ekaviṃśati-stotra (s); sGrol ma la phyag 'tshal nyi shu rtsa gcig gi bstod pa phan yon dang bcas pa (t); Twenty-One Hymns to the Rescuer Saint Tārā, Mother of Buddhas (e); => Một quyển. Tên gọi tắt là Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh (e: Hymns to the Twenty-One Forms 二十一種禮讃經). An Tạng (Anzang 安藏) dịch từ bản tiếng Tây Tạng. Là bộ kinh vắn gọn về sự lễ bái 21 biểu tượng của Đa-la (Tārās 多羅). Những hình ảnh nầy được minh hoạ theo nội dung bản dịch tiếng Hán trong một tài liệu khác Cứu độ Phật mẫu Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh. Câu Thiện tịnh uy lực (s: śiva-sakti 善靜威力) được xem như một danh hiệu của Cụ tam chân thật mẫu (Paripūraṇa-tāra 具三眞實母), là 21 hình tượng. Có một bản tiếng Sanskrit của kinh nầy còn lưu hành như là một đà-la-ni nằm trong một bản kinh khác, đó là Sarvatathāgatamātṛtārāviśvakarmabhava [To.326, P.390]. Về ấn bản tiếng Sanskrit, ấn bản tiếng Tây Tạng, bản dịch tiếng Anh, xin xem Tác phẩm của Willson (1985); bản dịch tiếng Nhật và ấn bản tiếng Tây Tạng của kinh văn liên quan (Jo bo lugs kyi sgrol ma nyer gcig gi sgrub thabs, rjes gnang dang bcas pa), xin xem tác phẩm của Tanaka (1990), trang 220-224. Một cuốn nghi quỹ bằng tiếng Hán đã được soạn hay dịch từ tiếng Tây Tạng của Nặc na hồ đồ khắc đồ (Nuona Khutughtu 諾那呼圖克圖) năm 1934.
Thánh diệm mạn đức ca uy nộ vương lập thành đại thần nghiệm niệm tụng pháp 聖閻曼德迦威怒王立成大神驗念誦法
[ja] ショウエンマンタッカイヌオウリュウジョウダイジンケンネンジュホウ Shō Emmantokka inuō ryūjō daijin ken nenju hō ||| The Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa (Method for Recitation and Establishing Supernatural Effects through Sacred Yamāntaka, the Indignant King). 1 fasc. (T 1214.21.73-76), abbreviated as Recitation Protocols of the Indignant King 威怒王念誦法, trans. Amoghavajra 不空. => Sŏng yŏmman tŏkka winowang ipsŏng taesinhŏm yŏmsong pŏp (k); Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa (c); Method for Recitation and Establishing Supernatural Effects through Sacred Yamāntaka, the Indignant King (e); Một quyển; Gọi tắt là Uy nộ vương niệm tụng pháp ( e: Recitation Protocols of the Indignant King 威怒王念誦法), Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch.
thánh diệu mẫu đà la ni
Ārya-grahamatṛkadhāranī (S).
thánh diệu mẫu đà la ni kinh
Grahāmātrikā (S) Một bộ kinh trong Mật bộ.
; Arya-grahamatrka-dhàrani (S).
Thánh diệu mẫu đà-la-ni kinh 聖曜母陀羅尼經
[ja] ショウヨウモダラニキョウ Shō yōmo darani kyō ||| The Sheng yaomu tuoluoni jing; Skt. [āryaśrī-nāva-]Grahamāṭrkā-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] gza' rnams kyi yum shes bya ba'i gzungs [To. 660/997, 661/998, P.339/622, 340/623]; (Dhāraṇī of the Sacred Planet Mothers). Seventh text of the Saptavāra corpus. Two Chinese translations: (1) 1 fasc. (T 1302.21.420-421), Dhāraṇī of the Planet Mothers 諸星母陀羅尼經 trans. Facheng 法成. (2) 1 fasc. (T 1303.21.421-422), Dhāraṇī of the Sacred Planet Mothers 聖曜母陀羅尼經 trans. Fatian 法天. BGBT4/116-7. => Shō yōmo darani kyō (j); Sheng yaomu tuoluoni jing (c); [āryaśrī-nāva-]Grahamāṭrkā-dhāraṇī (s); 'phags pa] gza' rnams kyi yum shes bya ba'i gzungs (t); Dhāraṇī of the Sacred Planet Mothers (e); Là bản kinh thứ 7 của tập sao lục Saptavāra. Có hai bản dịch tiếng Hán: 1. Một quyển; Chư tinh mẫu đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Planet Mothers 諸星母陀羅尼經). Pháp Thành (c: Facheng 法成) dịch. 2. Một quyển; Thánh diệu mẫu đà-la-ni kinh聖曜母陀羅尼經; Pháp Thiên (Fatian 法天) dịch.
thánh duyên
Holy conditions of, or aids to the holy life.
; Những điều kiện hay trợ lực giúp đưa đến cuộc sống Thánh Thiện—Holy conditions of or aids to the holy life.
thánh dũng
5580梵名 Āryaśūra。西元六世紀頃之印度佛教文學家。爲繼馬鳴後之佛教詩人。曾以本生譚爲題材,以梵文寫成一部佛教故事集(梵 Jātakamālā,即菩薩本生鬘論,宋代紹德、慧詢合譯,收於大正藏第三冊),以流利之美文(相當於中國韻文)詠唱佛陀之生平,爲印度古典文學之佳作。
; ĀryaśŪra (S) Tên một vị sư Ấn độ. Tỳ kheo, thế kỷ VI, biên soạn Phật giáo Cố sự tập (Jatakamala).
; (聖勇) Phạm:Àryazùra. Nhà văn học Phật giáo Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VI, là thi nhân Phật giáo kế sau ngài Mã minh. Ngài từng dùng Bản sinh đàm làm đề tài và sử dụng tiếng Phạm viết thành bộ Phật giáo cố sự tập (Phạm: Jàtakamàlà, tức luận Bồ tát bản sinh man, do các ngài Thiệu đức và Tuệ tuân cùng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 3), dùng lời văn lưu loát, bóng bẩy (tương đương với văn vần của Trung Quốc) ca ngợi cuộc đời đức Phật, là 1 tác phẩm hay trong văn học cổ điển Ấn Độ.
thánh giáo
5581梵語 āgama,巴利語同。音譯作阿笈摩。聖者所說之教法。即指佛所說之教與聖賢等所撰述之典籍。又總稱經、律、論三藏及其他聖賢等之著書爲聖教。異部宗輪論述記(卍續八三‧二一二上):「聖者,正也,與正理合,目之爲聖。又契理通神,名之爲聖。此言所顯,即佛世尊所說教能引聖,名聖教。」唐時,玄奘大師所譯述之經典概稱爲「新譯聖教」。此外,唐太宗之大唐三藏聖教序、唐中宗之大唐中興三藏聖教序、宋太宗之大宋新譯三藏聖教序等,皆廣稱三藏及賢聖集爲聖教。日本則對自中國請去之經論儀軌及傳授之典籍等,總稱聖教。〔大毘婆沙論卷七十一、瑜伽師地論卷四、卷二十、佛祖統紀卷四十四〕
; Sasanakaro (P) Xem A hàm.
; The teaching of the sage, or holy one; holy teaching.
; Những lời dạy của Thánh Nhân—The teaching of the sages, or holy one; holy teaching
; (聖教) Phạm;Pàli:Àgama. Hán âm: A cấp ma. Giáo pháp do bậc Thánh nói. Tức chỉ cho giáo lí do đức Phật nói và các sách vở do Thánh hiền soạn thuật. Tam tạng Kinh, Luật, Luận và các trứ tác khác của thánh hiền cũng được gọi chung là thánh giáo. Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 212 thượng) nói: Thánh có nghĩa là chính, hợp với chính lí gọi là Thánh. Khế lí thông thần cũng gọi là Thánh. Điều mà những lời nói ở đây hiển bày tức là giáo. Thái tử Thánh đức pháp do đức Phật Thế tôn thuyết giảng có năng lực khiến người thực hành trở thành Hiền Thánh, vì thế gọi là Thánh giáo. Những kinh điển do ngài Huyền trang dịch thuật vào đời Đường được gọi chung là Tân dịch Thánh giáo. Ngoài ra, bài tựa Đại đường tam tạng Thánh giáo của vua Đường Thái Tông, bài tựa Đại đường trung hưng tam tạng Thánh giáo của vua Đường Trung Tông và bài tựa Đại tống tân dịch tam tạng Thánh giáo của vua Tống Thái Tông, đều gọi chung Tam tạng và Thánh hiền tập là Thánh giáo. Nhật Bản thì gọi chung các kinh luận nghi quĩ thỉnh từ Trung Quốc về và sách vở được truyền thụ là Thánh giáo. [X. luận Đại tì bà sa Q.71; luận Du già sư địa Q.4, 20, Phật tổ thống kỉ Q.44]
thánh giáo hội
5582(Ārya Samāj)印度教近代著名之革新派。係由沙熱斯婆地(Swāmī Dayānanda Sarasvatī)所創設(1875)之改革運動之結社。尊奉吠陀聖典,認爲吠陀諸神永遠爲唯一神之異稱。並調和歐洲近代思想與吠陀、奧義書等古代之精神,且富有民族主義之復古精神。以正統婆羅門教教理爲立足點,意圖以寬容之精神逐漸進行改革,否定偶像崇拜、聖河沐浴、巡禮等陋習之價值,然以轉生一事難以免除,而對業、輪迴等思想加以肯定,與梵教會有對立之勢。於社會方面,亦採取同一方針,對於教育普及功績頗鉅。於促進印度國民自覺一事,貢獻非淺。傾向於此派之團體尚有吠陀傳導會(Vedic Mission)、顯婆納拉耶那帕拉瑪罕撒(Śīvanārāyana Paramahaṃsa)等派。〔Sivanath Sastri: History of the Brahmo Samāj, 2 vols, 1911~1912;J.N. Farquhar: Modern Religious Movement in India, 1915〕
; Ārya-samaj (S).
thánh giáo lượng
5581梵語 āgama,或 āgamapramāṇa。又作正教量、佛言量、至教量(梵 āpta-āgama,意指自可信仰者之處所受的傳統之教)、聲量(梵 śabda,又作聖言量)。意指以本派所尊奉之聖書或聖人之教導作爲正確知識之來源、標準。佛教一般使用 āgama 一詞,吠陀婆羅門諸哲學派則使用 śabda 一詞,均爲可信任者之教示(梵 āpta-nirdeśa)之意;所謂可信任者,於佛教指佛、菩薩與諸賢聖,於婆羅門哲學則指說吠陀之神仙,或吠陀中所說之「法的現證者」。 印度哲學諸派之中,除順世外道、勝論派、佛教論理學派外,皆主張聖教量爲獨立之量。蓋於佛教中,古因明在現、比二量外,承認聖教量給予現、比二量確實性之保證。瑜伽師地論卷十五並謂,一切智所說之言教稱爲聖教量,聖教量之條件有三,即:(一)不違聖言,(二)能治雜染,(三)不違法相。然陳那以後之新因明佛教論理學派則否定聖教量之獨立性,僅立「現量」與「比量」爲正確知識之來源或標準。陳那之集量論中主張,所謂聖教量,係從可信任者之聲音比知而得,故其所信任者爲比量,聽聞其聲音則爲現量。故知陳那所謂聖教量與現、比二量之關係恰與古因明之主張相反,認爲聖教之聖教性由於現量、比量而得保證;亦可說,所謂聖教量,必包含於現量、比量之中,而無別立之聖教量可言。〔阿毘達磨集論卷七、阿毘達磨雜集論卷十六、集量論觀離品、因明正理門論、因明入正理論疏卷上、大乘義章卷十、禪源諸詮集都序卷上、S.C. Vidyabhūsana: History of Indian Logic,1921; H.N. Randle:Indian Logic in the Early School,1930、佛教論理學(宇井伯壽)〕
; The argument or evidence of authority in logic, i.e. that of the sacred books.
; Chính Giáo Lượng—Những lý luận và chứng cứ cụ thể trong Thánh điển—The argument or evidence of authority in logic, i.e. that of the sacred books.
; (聖教量) Phạm: Àgama hoặc Àgamapramaịa. Cũng gọi Chính giáo lượng, Phật ngôn lượng, Chí giáo lượng (Phạm:Àpt-àgama), Thanh lượng (Phạm: Zabda, cũng gọi là Thánh ngôn lượng). Hàm ý là lấy sách Thánh mà phái mình tôn thờ hoặc lời chỉ dạy của Thánh nhân làm cội nguồn, tiêu chuẩn cho tri thức chính xác. Phật giáo thông thường sử dụng từ ngữ Àgama, còn các phái triết học Bà la môn Phệ đà thì dùng từZabda, đều có nghĩa là lời chỉ dạy của người đáng tin cậy (Phạm:Àpta-nirdeza). Cái gọi là người đáng tin cậy thì trong Phật giáo là chỉ cho đức Phật, Bồ tát và các bậc Hiền Thánh, trong triết học Bà la môn thì chỉ cho các vị Thần tiên nói kinh Phệ đà, hoặc chỉ cho những người Hiện chứng pháp nói trong Phệ đà. Trong các phái triết học ở Ấn độ, trừ phái Thuận thế ngoại đạo, phái Thắng luận, phái luận lí học Phật giáo, còn các phái khác đều chủ trương Thánh giáo lượng là lượng độc lập. Ngoài Hiện lượng và Tỉ lượng ra, Cổ nhân minh trong Phật giáo còn thừa nhận Thánh giáo lượng đem đến sự bảo chứng cho tính xác thực của Hiện lượng và Tỉ lượng. Luận Du già sư địa quyển 15 cho rằng ngôn giáo do bậc Nhất thiết trí nói ra gọi là Thánh giáo lượng. Có 3 điều kiện để được gọi là Thánh giáo lượng,đó là: 1. Không trái với Thánh ngôn. 2. Có khả năng đối trị tạp nhiễm. 3. Không trái với pháp tướng. Nhưng phái luận lí học Phật giáo thuộc Tân nhân minh từ ngài Trần na về sau thì phủ nhận tính độc lập của Thánh giáo lượng, chỉ lập Hiện lượng và Tỉ lượng làm nguồn gốc hoặc tiêu chuẩn chính xác của tri thức. Trong Tập lượng luận, ngài Trần na cho rằng Thánh giáo lượng có thể so sánh biết được từ âm thanh (lời nói) của người đáng tin cậy, cho nên người đáng tin cậy là Tỉ lượng, còn nghe lời nói của người ấy thì là Hiện lượng. Cho nên biết mối quan hệ giữa Thánh giáo lượng và Hiện lượng, Tỉ lượng mà ngài Trần na chủ trương tương phản hẳn với chủ trương của Cổ nhân minh, cho rằng tính chất Thánh giáo của Thánh giáo là do Hiện lượng và Tỉ lượng mà được bảo chứng. Nói cách khác, Thánh giáo lượng đã bao hàm trong Hiện lượng và Tỉ lượng rồi, cho nên không cần phải lập riêng Thánh giáo lượng nữa. [X. luận A tì đạt ma tập Q.7; luận A tì đạt ma tạp tập Q.16; Quán li phẩm trong Tập lượng luận; luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng; History of Indian Logic, 1921 by S.C. Vidyabhùsana; Indian Logic in the Early School, 1930, by H.N. Randle; Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ)].
thánh giáo tự
5581即指御製序。一部新的經論譯成時,爲嘉許譯者,皇帝親自作序,稱爲聖教序。最著名者爲唐太宗於貞觀二十二年(648)爲玄奘三藏所書寫之「大唐三藏聖教序」,有多種書體,如褚遂良所書之聖教序碑,爲西安大慈恩寺雁塔初層內所保有,成爲後世正楷之圭臬。又西安弘福寺之僧懷仁所收集王羲之行書之「集字聖教序」(又稱七佛聖教序),乃行書之名蹟。
; (聖教序) Bài tựa Thánh giáo, tức chỉ cho bài tựa do vua soạn. Khi một bộ kinh luận mới được dịch thành, để khen ngợi người dịch, hoàng đế đích thân viết một bài tựa, gọi là Thánh giáo tự. Nổi tiếng nhất là Đại đường tam tạng Thánh giáo tự do vua Đường Thái Tông viết cho ngài Huyền Trang vào năm Trinh Quán 22 (648). Những bài tựa này được viết bằng nhiều thể chữ, như bia Thánh giáo tự do Chử toại lương viết được bảo tồn trong tầng đầu tiên của tháp Nhạn ở chùa Đại từ ân tại Tây An, trở thành viên ngọc của thể chữ chân cho đời sau. Lại như Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi được viết theo thể Hành thư (hơi đá thảo) do ngài Hoài nhân chùa Hoằng phúc ở Tây An thu tập, là di tích nổi tiếng của thể Hành thư.
Thánh giáo 聖教
[ja] ショウギョウ shōgyō ||| The sagely teaching. The instruction of the Buddha. That which is contained in the scriptures (āgama, śāsana). 〔二障義 HPC 1.802c〕 Giáo lý của bậc hiền thánh, Lời giáo huấn của chư Phật. Những điều chứa đựng trong kinh điển (s: āgama, śāsana).
thánh giả
Ariya-puggala (P), Ārya-pudgala (S), Sage, Enlightened one
; Arya (S). Holy or saintly one; one who has started on the path to nirvàna; holiness.
; Arya (skt)—Bậc Thánh đã bước vào con đường đi đến Niết Bàn—The saint—The holy or saintly one; one who has started on the path to nirvana—See Lục Phàm Tứ Thánh.
Thánh giả 聖者
[ja] ショウシャ shōsha ||| A sage (ārya, pandita). 'Buddha.' A person who has arisen undefiled wisdom and sees reality. The stage of darśana-mārga (見道) and above. => Bậc thánh (ārya, pandita). 'Đức Phật'. Người đã phát sinh trí huệ vô lậu và nhận ra được thực tại. Giai vị Kiến đạo (s: darśana-mārga 見道) hoặc cao hơn.
thánh giới
Ārya-śīla (S).
Thánh Hiến
(聖憲, Shōken, 1307-1392): vị học tăng của Phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, thông xưng là Căn Nham Tiên Đức (根巖先德), Gia Trì Môn Tiên Đức (加持門先德); tự là Định Lâm (定林), hiệu Hoa Hải (華海); xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka [大阪]). Ông theo hầu Thật Tuấn (實俊) ở Di Lặc Viện (彌勒院) của Căn Lai Tự (根來寺, Negoro-ji), rồi được Tăng Hỷ (增喜) của Trung Tánh Viện (中性院) truyền trao cho Dòng Trung Tánh Viện (中性院流). Sau ông theo học Mật Giáo với Thuận Kế (順繼), Lại Hào (賴豪); rồi tiến hành chỉnh lý lại các giảng luận xưa nay của Phái Tân Nghĩa (新義派) và hình thành học thuyết Gia Trì Môn (加持門) của Lại Du (賴瑜). Ông kế thế làm Tổ đời thứ 4 của Trung Tánh Viện, rồi làm Học Đầu (學頭) của Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), chuyên tâm giáo dưỡng chúng học đồ. Trước tác của ông có Đại Sớ Bách Điều Đệ Tam Trọng (大疏百條第三重) 10 quyển, Thích Luận Bách Điều Đệ Tam Trọng (釋論大疏百條第三重) 10 quyển, Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Thính Sao (華嚴五敎章聽鈔) 5 quyển, Tự Chứng Thuyết Pháp Thập Bát Đoạn (自証說法十八段), v.v.
thánh hiền
5588聖人與賢人之並稱。修行佛道,達於見道以上之階位者,稱爲聖;而未達見道,僅離惡者,則稱爲賢。俱舍論中舉出「七賢、七聖」之說,七賢又作七加行,即:五停心、別相念住、總相念住(以上爲三賢)、煖、頂、忍、世第一法(以上爲四善根)。七聖即:隨信行、隨法行、信解、見至、身證、慧解脫、俱解脫。又大乘有「三賢、十聖」之說,三賢即指十住、十行、十迴向,十聖則指初地至第十地之菩薩。此外,十八有學與九無學並稱爲二十七賢聖,然此皆爲聖者之分類,並無賢聖之分別。(參閱「有學」2458、「阿羅漢」3692、「賢聖」6180)
; Great sage, saints and sages.
; Saints and sages.
; (聖賢) Từ gọi chung Thánh nhân và Hiền nhân. Người tu hành Phật đạo, khi đạt đến giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Thánh; còn người chưa đến Kiến đạo, chỉ mới bỏ các điều ác thì gọi là Hiền. Trong luận Câu xá có nêu thuyết Thất hiền, Thất thánh. Thất hiền cũng gọi là Thất gia hạnh, tức là: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ(trên đây là Tam hiền), Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp (trên 0939252565đây là Tứ thiện căn). Thất thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Còn Đại thừa thì có thuyết Tam hiền, Thập thánh. Tam hiền chỉ do Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng; Thập thánh thì chỉ cho Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa. Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi. Ngoài ra, Thập bát hữu học và Cửu vô học, được gọi chung là Nhị thập thất hiền thánh, nhưng số này đều là các bậc Thánh, chứ không phân biệt Hiền và Thánh. (xt. Hữu Học, A La Hán, Hiền Thánh).
thánh hiệu
Buddha's name—Câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”—The recitation of “Namo Amitabha Buddha.”
Thánh Huệ
(聖惠, Shōkei, 1094-1137): vị Tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ của Dòng Hoa Tạng Viện (華藏院流), húy là Thánh Huệ (聖惠), thông xưng là Hoa Tạng Viện Cung (華藏院宮), Trường Vĩ Cung (長尾宮); là Hoàng Tử thứ 5 của Bạch Hà Thiên Hoàng (白河天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086). Ông theo xuất gia với Khoan Trợ (寬助) ở Thành Tựu Viện (成就院); đến năm 1112 thì được thọ phép Quán Đảnh ở Quan Âm Viện (觀音院) và trở thành Nhất Thân A Xà Lê (一身阿闍梨). Ông khai sáng Hoa Tạng Viện (華藏院) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), truyền thừa dòng pháp của Khoan Trợ và sáng lập Dòng Hoa Tạng Viện. Vào năm 1130, ông viếng thăm anh Giác Pháp (覺法), lên Cao Dã Sơn, cùng với bàn luận với Giác Noan (覺鑁), dâng biểu xin triều đình cho xây dựng Truyền Pháp Viện (傳法院). Ông có tín ngưỡng sâu sắc về A Di Đà Phật, nên đã sáng lập Dẫn Nhiếp Viện (引攝院). Năm 1132, nhân lúc Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇) lâm trọng bệnh, ông tiến hành tu Khổng Tước Kinh Pháp (孔雀經法) trong cung nội để cầu nguyện cho Thượng Hoàng lành bệnh. Đệ tử phú pháp của ông có Khoan Hiểu (寬曉).
thánh hành
5577請參閱 一百八名陀羅尼經 五行之一。即佛菩薩等所修之行。北本大般涅槃經卷十一聖行品(大一二‧四三三下):「聖行者,佛及菩薩之所行處故,故名聖行。」廣義而言,即虔信大般涅槃經,捨俗出家,護持性重戒、息世譏嫌戒等,住於不動地;又觀其身無我,得四念處,住於堪忍地;復觀四聖諦,了達常樂我淨之理,住於無所畏地,稱爲聖行。大般涅槃經疏卷十四(灌頂)分聖行爲戒、定、慧三種,即:(一)持守戒律,住於不動地中,稱爲戒聖行。(二)得四念處,住於堪忍地中,稱爲定聖行。(三)觀四聖諦,住於無所畏地中,稱爲慧聖行。〔大智度論卷十八、法華玄義卷三下、摩訶止觀卷九上〕(參閱「五行」1085)
; Cuộc sống chân chính của một vị Bồ Tát là tu hành giới định tuệ—The holy bodhisttva life of the monastic commandments, meditation, and wisdom. ** For more information, please see Ngũ Hành (C).
; (聖行) Hạnh tu của Phật, Bồ tát, 1 trong 5 hạnh. Phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 11 (Đại 12, 433 hạ) nói: Thánh hạnh là những việc mà Phật và Bồ tát thực hành. Nói theo nghĩa rộng thì Thánh hạnh là kính tin kinh Đại bát niết bàn, bỏ tục xuất gia, giữ gìn Tính trọng giới, Tức thế cơ hiềm giới, trụ trong Bất động địa; lại quán thân vô ngã, được Tứ niệm xứ, trụ nơi Kham nhẫn địa; lại quán Tứ thánh đế, rõ suốt lí thường lạc ngã tịnh, trụ trong Vô sở úy địa, gọi là Thánh hạnh. Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 14 (Quán đính) chia Thánh hạnh làm 3 thứ Giới, Định, Tuệ: 1. Giới thánh hạnh: Giữ gìn giới luật, trụ trong Bất động địa. 2. Định thánh hạnh: Được Tứ niệm xứ, trụ trong Kham nhẫn địa. 3. Tuệ thánh hạnh: Quán Tứ thánh đế, trụ trong Vô sở úy địa. [X. luận Đại trí độ Q.18; Pháp hoa huyền nghĩa Q.3 hạ; Ma ha chỉ quán Q.9 thượng]. (xt. Ngũ Hạnh).
thánh hùng
5584(1948~ )臺灣高雄人。十八歲於樹林海明寺依悟明法師剃度,民國六十一年(1972)於屏東東山寺受具足戒。畢業於海明佛學院,親近悟明法師多年。六十五年創設壽山內學書院,培育弘法人才。同年赴韓、日等國弘法。又自五十五年起,興建法興禪寺,並任該寺住持。
Thánh hư không tạng Bồ-tát đà-la-ni kinh 聖虚空藏菩薩陀羅尼經
[ja] ショウコクウゾウボサツダラニキョウ Shō kokūzō bosatsu darani kyō ||| The Sheng xukongzang pusa tuoluoni jing; an alternative translation of the Xukongzang pusa wen qifo tuoluonizhou jing 虚空藏菩薩問七佛陀羅尼呪經 => Shō kokūzō bosatsu darani kyō (j); Sheng xukongzang pusa tuoluoni jing (c); là bản dịch khác của Hư không tạng Bồ-tát vấn thất Phật đà-la-ni kinh (c: Xukongzang pusa wen qifo tuoluonizhou jing 虚空藏菩薩問七佛陀羅尼呪經).
thánh hạnh
The holy bodhisattva life of giới định tuệ the (monastic) commandments, meditation and wisdom.
thánh hộ viện
5590爲日本修驗道(本爲天台宗寺門派)大本山,位於京都市左京區聖護院中町。爲圓珍所創。平安朝末期,法親王入室,兼園城寺長吏及熊野三山之別當(僧職)。慶長十八年(1613)德川幕府定本山主管修驗道,延寶三年(1675)毀於大火,隔年重建,將寺基移至現址。明治維新以前,稱爲聖護院宮。〔扶桑略記卷三十、京都坊目誌〕
thánh kinh
Bible; sacred canon; holy scripture.
thánh kinh học
Hermeneutics.
thánh kiên
5581東晉譯經僧。西域人。久居涼州,通華、胡語文。出三藏記集卷二中並未列爲譯人,僅於曇無讖所譯方等王虛空藏經之注有「別錄云河南國乞佛時沙門釋聖堅譯出」之記載。又歷代三寶紀卷九謂師譯有婦人遇辜經等十四部二十一卷。其餘事蹟不詳。
; (聖堅) Danh tăng Tây vực, đến Trung Quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn. Sư cư trú lâu tại Lương châu, thông hiểu tiếng Hoa, tiếng Hồ. Xuất tam tạng kí tập quyển 2 chưa xếp sư vào hàng dịch giả, chỉ trong phần chú thích của kinh Phương đẳng vương hư không tạng do ngài Đàm vô sấm dịch là có ghi Biệt lục vân Hà nam quốc Khất Phật thời sa môn Thích thánh kiên dịch xuất. Còn Lịch đại tam bảo kỉ quyển 9 thì nói sư có dịch 14 bộ 21 quyển như kinh Phụ nhân ngộ cô... Các sự tích khác về sư thì không được rõ.
thánh linh
Linh hồn hay tâm thức của người quá cố—The saintly spirit of the dead
Thánh lục tự đại minh vương đà-la-ni kinh 聖六字大明王陀羅尼經
[ja] ショウロクジダイミョウオウダラニキョウ Shōrokujidaimyōōdarani kyō ||| The Shengliuzi damingwang tuoluoni jing (T 1047.20.44-48); alternative version of the Liuzi shenzhou wang jing 六字神呪王經 => Shōrokujidaimyōōdarani kyō (j); Shengliuzi damingwang tuoluoni jing (c); Tên gọi bản dịch khác của Lục tự thần chú vương kinh (c: Liuzi shenzhou wang jing 六字神呪王經). Thanh Lương 清涼 [ja] ショウリョウ Shōryō ||| The National Teacher Qingliang, Chinese Chan monk. See Fayan 法眼. => (c: Qingliang) Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn法眼.
thánh minh
Holy enlightenment; or the enlightenment of saints.
; Sự giác ngộ của bậc Thánh—The holy enlightenment; the enlightenment of saints.
thánh mẫu
Sheng-mu (C), Holy Mother Tên khác của Bích hà Nguyên Quân.
thánh nghi
The saintly appearance, i.e. an image of Buddhả.
; 1) Oai nghi của bậc Thánh: The saintly appearance. 2) Tượng Phật: An image of Buddha.
thánh nghiêm
5589(1930~ )江蘇南通人,俗姓張。號慧空。襁褓中以水患遷居常熟,年十三,依廣教寺朗慧和尚披剃,十六歲入上海靜安寺佛學院,親近道源、白聖、南亭等法師。民國三十八年(1949)春,入伍隨軍至臺灣,經十年,恢復僧籍,另投東初長老披剃。翌年,受比丘戒於基隆海會寺,隨即赴高雄美濃禁足及掩關,前後六年,出關後曾任各佛學院教職及寺院之講座。師以苦學勵志,勤於讀寫,至此完成戒律學綱要、比較宗教學、基督教之研究、世界佛教通史上冊等之撰作。五十八年春,東渡日本,於東京立正大學獲得博士學位。六十四年冬,應美國佛教會之請,赴美擔任該會副會長及大覺寺住持,同時應邀至美加兩國諸大學及電視、電臺等作專題演講,並出版英文季刊「禪雜誌」(Chan Magazine)。六十七年,在臺北接掌中華佛教文化館,擔任中國文化大學哲學研究所教授職,及中華學術院佛學研究所所長職,同時在紐約創立禪中心。又先後創設北投農禪寺、東初出版社等。近年出版有關禪之中英文著作有禪門驪珠集、禪門囈語、佛心(英文本)等多種,此外其他著述甚豐。
; (聖嚴) Danh tăng Trung Quốc, người ở Nam Thông, Giang Tô, họ Trương, hiệu Tuệ Không. Năm 13 tuổi, sư nương vào Hòa thượng Lãng tuệ ở chùa Quảng giáo xuất gia, 16 tuổi theo học ở viện Phật học chùa Tĩnh an tại Thượng hải, được gần gũi các Pháp sư Đạo nguyên, Bạch thánh, Nam đình... Năm 1949, sư ra Đài loan, dạy học tại các Đại học viện và giảng thuyết ở các chùa tại Cao hùng. Năm 1969, sư du học Nhật bản và đậu Tiến sĩ ở Đại học Lập chính tại Tokyo. Năm 1975, nhận lời thỉnh của Hội Phật giáo Mĩ quốc, sư đến Hoa kì giữ chức Phó hội trưởng của Hội này và trụ trì chùa Đại giác, đồng thời, nhận lời mời đến các trường Đại học và các đài truyền hình ở Mĩ và Canada giảng diễn các chuyên đề, rồi sư xuất bản quí san Thiền tạp chí (Chanmagazine) bằng tiếng Anh. Năm 1978, sư tiếp quản nhà Văn hóa Phật giáo Trung hoa ở Đài bắc, làm Giáo sư Sở nghiên cứu Triết học Đại học Văn hóa Trung Quốc và giữ chức Trưởng sở nghiên cứu Phật học thuộc viện Học thuật Trung Hoa, đồng thời sáng lập Trung tâm Thiền tại New York. Sư còn sáng lập chùa Nông Thiền ở Bắc Đầu, nhà xuất bản Đông Sơ. Những năm gần đây sư có xuất bản các tác phẩm về Thiền bằng tiếng Hoa, tiếng Anh như Thiền môn li châu tập, Thiền môn nghệ ngữ, Phật tâm (bản tiếng Anh)... và nhiều loại sách khác. Sư có các tác phẩm: Giới luật học cương yếu, Tỉ giảo tông giáo học, Cơ đốc giáo chi nghiên cứu, Thế giới Phật giáo thông sử tập.
thánh ngôn
5578謂正直之言語。阿毘達磨集異門足論卷十載有四聖言,即:(一)不見言不見,(二)不聞言不聞,(三)不覺言不覺,(四)不知言不知。(參閱「四聖言」1787)
; Holy words; the words of a saint, or sage; the correct words of Buddhism.
; 1) Lời nói chính thực đúng đắn của bậc Hiền Thánh: Holy words—The words of a saint or sage. 2) Lời dạy của Phật: The correct words of Buddhism. ** For more information, please see Tứ Thánh Ngôn.
; (聖言) Lời nói ngay thẳng, chân thật. Luận A tì đạt ma tập dị môn túc quyển 10 có ghi 4 Thánh ngôn là: 1. Không thấy nói không thấy. 2. Không nghe nói không nghe. 3. Không hay nói không hay. 4. Không biết nói không biết. (xt. Tứ Thánh Ngôn).
thánh ngôn lượng
Ngôn giáo của Phật thuyết khiến chúng sanh trừ mê khởi tín, theo pháp tu hành được chứng quả, cũng gọi là Thánh giáo lượng.
; Tìm hiểu qua lời nói của Phật và Bồ Tát—Guideline to the teachings of the sages.
Thánh ngôn 聖言
[ja] ショウゴン shōgon ||| (1) The words of the buddha (avavāda). (2) True words that agree with the reality-principle. (3) The words in the sutras and śāstras, etc. In the case of Hinduism, the words of the Vedas. => 1. Lời của chư Phật (avavāda). 2. Lời nói chân thật phù hợp với nguyên lý thực tại. 3. Lời trong kinh luận v.v...Trong Ấn Độ giáo, đó là lời dạy trong kinh Phệ-đà (Vedas).
thánh ngữ
5586梵語 āryabhāsa。又作聖言。<一>古印度之語言,爲中天竺之正音。大毘婆沙論卷七十九(大二七‧四一○上):「世尊有時爲四天王,先以聖語說四聖諦。四天王中,二能領解,二不領解。世尊憐愍饒益彼故,以南印度邊國俗語(舊婆沙作毘陀羅語)說四聖諦,謂瑿泥、迷泥、蹋部達、荡部。二天王中,一能領解,一不領解。世尊憐愍饒益彼故,復以一種篾戾車語(舊婆沙作彌離車語)說四聖諦,謂摩奢、睹奢、僧攝、摩薩縛怛毘刺遲。時四天王皆得領解。」 故知佛陀以聖語說四諦,係對四天王之一時隨說,非爲佛之常語。佛以當時摩竭陀國之俗語爲佛語,此語之經文,今已不可得。佛另以南方阿利耶語講說之經文,流傳於錫蘭島,即今之巴利語。故暹羅國之佛教徒,稱巴利之佛語爲「摩呼」。佛於諸律中曾呵責使用聖語者,如四分律卷五十二載(大二二‧九五五上):「時有比丘,字勇猛,婆羅門出家,往世尊所(中略)白世尊言:『大德!此諸此丘,眾姓出家,名字亦異,破佛經義,願世尊聽我等以世間好言論修理佛經。』佛言:『汝等癡人!此乃是毀損,以外道言論而欲雜糅佛經。』佛言:『聽隨國俗言音所解,誦習佛經。』」〔五分律卷二十六、十誦律卷三十八〕 <二>聖者所說之語。
; Ārya-bhāṣā (S).
; Aryabhàsà (S). Sacred speech, language, words or sayings; Sanscrit.
; Aryabhasa (skt). 1) Thánh ngôn hay những lời nói của các bậc Thánh: Sacred speech, language, words, or sayings. 2) Phạn ngữ: Sanskrit—Ngôn ngữ của Ấn Độ—Indian language.
; (聖語) Phạm: Àryabhasa. Cũng gọi Thánh ngôn. I. Thánh Ngữ. Tiếng nói của Ấn Độ đời xưa, là ngôn ngữ chính thức của Trung thiên trúc. Luận Đại tì bà sa quyển 79 (Đại 27, 410 thượng) nói: Có lần đức Thế tôn vì Tứ thiên vương trước dùng Thánh ngữ để giảng nói Tứ thánh đế. Trong 4 vị Thiên vương, có 2 vị nhận hiểu được, còn 2 vị kia không nhận hiểu được. Đức Thế Tôn thương xót muốn đem lại lợi ích cho 2 vị Thiên vương ấy, nên dùng tục ngữ (Cựu bà sa gọi là Tì đà la ngữ) của các nước thuộc biên thùy miền Nam Ấn độ để giảng nói Tứ thánh đế: Hề nê (Khổ đế), Mê nê (Tập đế), Đạp bộ đạt (Diệt đế) và Diệp bộ (Đạo đế). Trong 2 vị Thiên vương ấy, 1 vị lãnh giải được, còn 1 vị thì không. Đức Thế tôn thương xót muốn làm lợi ích cho vị Thiên vương ấy, nên đức Thế tôn lại dùng một thứ ngôn ngữ khác là Miệt lệ xa (Bà sa cũ gọi là Di li xa ngữ) để giảng nói Tứ thánh đế, đó là: Ma xa, Đổ xa, Tăng nhiếp và Ma tát phược đát tì lạt trì. Bấy giờ cả 4 Thiên vương đều hiểu được. Bởi thế nên biết đức Phật dùng Thánh ngữ giảng nói Tứ đế chỉ là trường hợp đặc biệt đối với Tứ thiên vương mà thôi chứ không phải là ngôn ngữ mà đức Phật thường dùng. Đức Phật dùng tục ngữ của nước Ma yết đà đương thời làm Phật ngữ, những kinh văn được ghi chép bằng thứ ngôn ngữ này hiện nay không còn. Loại kinh văn do đức Phật giảng nói bằng A lợi da ngữ (Aryan) ở miền Nam Ấn độ được lưu truyền tại đảo Tích lan chính là Pàli ngữ hiện nay. Bởi thế, tín đồ Phật giáo nước Xiêm la (Thái lan) gọi Phật ngữ Pàli là Ma hô. Trong các luật, Phật từng quở trách việc sử dụng Thánh ngữ, như luật Tứ phần quyển 52 (Đại 22, 955 thượng) nói: Bấy giờ, có tỉ khưu, tự là Dũng mãnh, thuộc dòng Bà la môn xuất gia, đến chỗ đức Thế tôn (...) bạch rằng: Bạch Đại đức! Các tỉ khưu này từ nhiều dòng họ xuất gia, tên gọi cũng khác, phá nghĩa kinh của Phật, xin đức Thế tôn cho phép chúng con dùng ngôn luận mà thế gian ưa thích để sửa chữa kinh Phật. Phật dạy: Các ông là người si mê! Đó chính là điều hủy tổn, dùng ngôn luận ngoại đạo muốnxen lẫn vào kinh Phật. [X. luật Ngũ phần Q.26; luận Thập tụng Q.38]. II. Thánh Ngữ. Chỉ cho ngôn ngữ do bậc Thánh nói ra.
Thánh nhân
聖人; S: ārya-pudgala; P: ariya-puggala;|Danh từ chỉ người đang đi trên Thánh đạo nhưng cũng thường được dùng cho những người có đạo hạnh xuất chúng.
thánh nhân
5577<一>梵語 ārya。又稱聖者、聖。指證得聖智,而在見道位以上之人;此因見道位以上之人終將完成無漏之聖智,故稱之。 <二>指佛、菩薩及權化之人(方便示現爲人,而德高者)。 <三>對高僧或碩德之尊稱。印度人即尊稱諸論師爲「聖者」;日本對高僧亦尊稱爲「聖人」。
; Ariyaka (S), Nobleman.
; Arya-pudgala (S). Noble one, saint, sage. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, the race is not to the swift, nor the battle to the strong. Also tôn giả.
; Saint—Genuine sages.
; (聖人) I. Thánh Nhân. Phạm:Àrya. Cũng gọi Thánh giả, Thánh. Chỉ cho bậc đã chứng được Thánh trí và ở địa vị Kiến đạo trở lên. Vì người ở địa vị Kiến đạo trở lên cuối cùng sẽ hoàn thành Thánh trí vô lậu nên gọi là Thánh nhân. II. Thánh Nhân. Chỉ cho Phật, Bồ tát và những người quyền hóa(phương tiện thị hiện làm người nhưng có đức hạnh cao hơn người). III. Thánh Nhân. Từ tôn xưng các bậc cao tăng, thạc đức. Người Ấn Độ thường tôn xưng các bậc Luận sư là Thánh giả. Tại Nhật bản, các bậc cao tăng cũng được tôn xưng là Thánh nhân.
thánh nhân tự
5577位於浙江杭縣孤山山麓。本爲清聖祖之行宮,雍正時改爲聖因寺。本寺以風景馳名天下,位處西湖錦帶橋之西側,建築宏偉,所藏貴重之物甚多,內奉有康熙帝之牌位。此外,禪月大師所畫之十八羅漢刻石亦珍藏於寺中。本寺後燬於太平天國之兵火。〔大清一統志卷二一六、古今圖書集成職方典第九五○、第九五一、孤山志〕
Thánh nhân 聖人
[ja] ショウニン shōnin ||| (1) A saint, holy man; an enlightened person--a buddha or bodhisattva 菩薩 (ārya, ārya-jana). (2) In Yogācāra technical usage, a practitioner who is at the level of the Path of Seeing 見道 or above. (3) A title given to a person of high rank. => 1. Hiền nhân, nhà hiền triết; người thánh thiện; người đã giác ngộ – Đức Phật hay Bồ-tát (s: ārya, ārya-jana). 2. Theo cách dùng riêng của Duy thức tông, là chỉ cho hành giả đến giai vị Kiến đạo 見道 hoặc hơn nữa. 3. Danh hiệu dành cho những người có phẩm trật cao.
thánh nhất ngữ lục
Shōichi goroku (J).
thánh nhất phái
Shōichi-ha (J).
thánh nhất quốc sư ngữ lục
5576 【聖一國師住東福禪寺語錄】請參閱 聖一國師語錄 【聖一國師語錄】全一卷。全稱聖一國師住東福禪寺語錄。日本臨濟宗僧東福圓爾(1202~1280)語,虎關師鍊編。收於大正藏第八十冊。編錄圓爾住東福寺之法語、偈頌、佛祖贊、自贊等,並附錄與我國之無準師範、西巖了慧等往來之書信。
; (聖一國師語錄) Gọi đủ: Thánh nhất quốc sư trụ Đông Phúc Thiền tự ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Đông Phúc Viên nhĩ (1202-1280) thuộc tông Lâm tế Nhật Bản giảng, ngài Hổ quan Sư luyện biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ, kệ tụng, Phật tổ tán, tự tán... của ngài Viên nhĩ giảng nói khi ngài trụ trì chùa Đông Phúc, có phụ thêm phần thư tín gửi qua lại với các Thiền sư Vô chuẩn Sư phạm và Tây nham Liễu tuệ của Trung Quốc.
thánh pháp
The holy law of Buddha; the law or teaching of the saints, or sages.
; Những lời dạy của chư Hiền Thánh—Những lời Phật dạy—The holy law of Buddha—The law or teaching of the saints or sages.
thánh pháp ấn kinh
Acalā-dharma-mudrā (S) A già đàm ma văn đồ.
; Acalà-dharma-mudrà (S).
Thánh pháp 聖法
[ja] ショウホウ shōbō ||| (1) The correct teaching, true dharma. (2) Elements, or affairs associated with holiness, sageliness, etc. 〔二障義HPC 1.794c〕 => 1. Giáo lý đúng đắn, giáo pháp chân chính. 2. Những yếu tố hoặc việc làm liên quan đến bậc thánh v.v...
thánh phúc
Holy happiness, that of Buddhism, in contrast with Phạm phúc that of Brahma and Brahmanism.
; Một trong hai phước, thánh phước hay phước của Phật giáo để đối lại với Phạm phước hay phước của Phạm Thiên—One of the two kinds of happiness, holy happiness, that of Buddhism, in contrast with that of Brahma and Brahmanism—See Nhị Phước.
thánh phương
Aryadesa (S). The holy land, India; the land of the sage, Buddha.
; Aryadesa (skt)—A Ly Đà Tề Xá—Tiếng gọi tôn xưng của xứ Ấn Độ nơi Đức Phật đản sanh—The holy land (the land of the sage), India where the Buddha was born (India).
Thánh Phật mẫu Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 聖佛母般若波羅蜜多經
[ja] ショウブツモハンニャハラミツタキョウ Shō butsumo hannya haramitta kyō ||| Tib. bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i gzungs kyi rtog pa; (Perfection of Wisdom of the Sacred Buddha-Mothers ) 1 fasc. [T 257.8.852], alt. 諸佛母經. tr. Dānapāla 施護. [To.664, P.165] => Shō butsumo hannya haramitta kyō (j); Tib. bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i gzungs kyi rtog pa; Perfection of Wisdom of the Sacred Buddha-Mothers (e); Một quyển. Tên gọi khác là Chư Phật mẫu kinh 諸佛母經. Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch . Thánh Phật mẫu tiểu tự Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 聖佛母小字般若波羅蜜多經 [ja] ショウブツモショウジハンニャクヒラミツタキョウ Shō butsumo shōji hannya haramitsu kyō ||| The Sheng fomu xiaozi banruo boluomiduo jing; Skt Svalpākṣara-prajñāparamitā; Tib. bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i rtog pa [To.22/530, P.159] Perfection of Wisdom of the Little Mother Syllables; 1 fasc. [T 257.8.852-4], tr. Tianxizai 天息災. [IMK53] The Buddha teaches at Grdhrakūta in response to the questions by Avalokiteśvara. => Shō butsumo shōji hannya haramitsu kyō (j); Sheng fomu xiaozi banruo boluomiduo jing (c); Svalpākṣara-prajñāparamitā (s); Bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i rtog pa (t); Perfection of Wisdom of the Little Mother Syllables (e); Một quyển, Thiên Tức Tai (c: Tianxizai 天息災) dịch. kinh ghi lại lời Đức Phật giảng tại núi Linh Thứu (s: Grdhrakūta) đáp lại lời thưa hỏi của Bồ-tát Quán Thế Âm.
thánh quan âm
5590梵名 Āryāvalokiteśvara。觀世音菩薩總體之尊稱。又作正觀世音菩薩、正觀音。與「千手觀音」、「十一面觀音」、「如意輪觀音」相對稱。蓋正觀音爲大悲之總體,千手爲大悲之別用,此乃就其能變之本身,稱爲正觀音。此尊位於胎藏界曼荼羅蓮華部中,身呈白肉色,頭戴寶冠,左手持蓮花,右手微啟,呈蓮花形。此外,尚有其他種類之形像。〔補陀落海會軌〕
; Ārya-valokiteśvara (S) Thánh Quán Thế Âm Tên một vị Bồ tát.
; (聖觀音) Phạm:Àryàvalokitezvara. Cũng gọi: Chính Quán thế âm bồ tát, Chính Quán âm. Đối lại: Thiên thủ Quán âm, Thập nhất diện Quán âm, Như ý luân Quán âm. Từ ngữ tôn xưng tổng thể bồ tát Quán thế âm. Chính Quán âm là tổng thể của đại bi, Thiên thủ là biệt dụng của đại bi, đây là y cứ vào bản thân của năng biến mà gọi là Chính Quán âm. Vị tôn này được an vị trong Liên hoa bộ của Mạn đồ la Thai tạng giới, thân có màu da người, đầu đội mũ báu, tay trái cầm hoa sen, tay phải hơi xòe ra làm thành hình hoa sen. Ngoài ra còn nhiều loại hình tượng khác. [X. Bổ đà lạc hải hội quĩ].
Thánh Quang
(聖光, Shōkō): tức Biện Trường (辨長, Benchō, 1162-1238), xem chú thích bên trên.
Thánh Quynh
(聖冏, Shogei, 1341-1420): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống khoảng vào giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ thời Trung Hưng của Dòng Trấn Tây (鎭西流); húy là Thánh Quynh (聖冏), thông xưng là Tam Nhật Nguyệt Thượng Nhân (三日月上人); hiệu là Tây Liên Xã (西蓮社), Liễu Dự (了譽); thụy hiệu là Thánh Quynh Thiền Sư (聖冏禪師); xuất thân vùng Thường Lục (常陸, Hitachi, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); con của Bạch Cát Chí Ma Thủ Nghĩa Quang (白吉志摩守義光). Ông bắt đầu xuất gia theo Liễu Thật (了實) ở Thường Phước Tự (常福寺) thuộc vùng Thường Lục, rồi học Tịnh Độ Giáo của Dòng Trấn Tây với Liên Thắng (蓮勝) cũng như Đinh Huệ (定慧); và tu học hết giáo nghĩa của các Tông khác. Sau đó, ông kế thừa trú trì Thường Phước Tự, chỉ đạo dạy dỗ học đồ, viết ra bộ Nhị Tạng Tụng Nghĩa (二藏頌義) và hệ thống hóa Tông nghĩa Tịnh Độ. Hơn nữa, ông đã làm sáng tỏ dòng huyết mạch truyền thừa từ thời đức Thích Ca trở về sau, cũng như Viên Đốn Giới từ thời Viên Nhân (圓仁) trở đi; và nêu rõ tính độc lập của Tịnh Độ Tông. Ông còn chỉnh đốn lại chế độ truyền pháp của Ngũ Trùng Tương Truyền (五重傳承); rồi đến năm 1393, lần đầu tiên ông truyền áo nghĩa cho đệ tử là Thánh Thông (聖聰). Vào năm 1415, thể theo lời thỉnh cầu của Thánh Thông, ông chuyển đến ở tại thảo am ở Tiểu Thạch Xuyên (小石川, Koishikawa), Giang Hộ (江戸, Edo). Trước tác của ông có Thích Tịnh Độ Nhị Tạng Nghĩa (釋淨土二藏義) 30 quyển, Tịnh Độ Nhị Tạng Nhị Giáo Lược Tụng (淨土二藏二敎略頌) 1 quyển, Truyền Thông Ký Nhữu Sao (傳通記糅鈔) 48 quyển, Quyết Nghi Sao Trực Điệp (決疑鈔直牒) 10 quyển, Phá Tà Hiển Chánh Nghĩa (破邪顯正義) 1 quyển, Tịnh Độ Chơn Tông Phú Pháp Truyện (淨土眞宗付法傳) 1 quyển, Hiển Tịnh Độ Truyền Giới Luận (顯淨土傳戒論) 1 quyển, Giáo Tướng Thập Bát Thông (敎相十八通) 2 quyển, v.v.
thánh quán tự
5590位於臺灣臺北市。屬臨濟宗寺院。創建於民國三十七年(1948),初爲日式房屋改建,稱聖觀佛堂,五十七年拆除重建,改稱聖觀寺。開山住持爲盛雲禪師。該寺供奉有隋朝仁壽元年(601)之石鐫佛像一尊,爲歷時千餘年之古物。
thánh quán tự tại
Xem Thánh Quán âm Bồ tát.
Thánh Quán tự tại Bồ-tát nhất bách bát danh kinh 聖觀自在菩薩一百八名經
[ja] ショウカンジザイボサツイチヒャクハチミョウキョウ Shō kanjizai bosatsu ippyakuhachimyō kyō ||| The Sheng guanzizai pusa yibaibaming jing; Skt. Avalokiteśvarasyāṣṭottaraśatanāma-mahāyānasūtra; Tib. 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug gi mtshan brgya rtsa brgyad pa [To.705/900, P.381/525]; (Sutra of the One Hundred and Eight Names of the Sacred Bodhisattva who Contemplates Freely). 1 fasc. (T 1054.20.69-70), trans. Tianxizai 天息災. => Shō kanjizai bosatsu ippyakuhachimyō kyō (j); Sheng guanzizai pusa yibaibaming jing (c); Avalokiteśvarasyāṣṭottaraśatanāma-mahāyānasūtra (s); 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug gi mtshan brgya rtsa brgyad pa (t); Sutra of the One Hundred and Eight Names of the Sacred Bodhisattva who Contemplates Freely (e); Một quyển; Thiên Tức Tai (c: Tianxizai 天息災) dịch.
Thánh Quán tự tại Bồ-tát phạm tán 聖觀自在菩薩梵讃
[ja] ショウカンジザイボサツボンサン Shō kanjizai bosatsu bonsan ||| The Sheng guan zi zai pu sa fan zan; (Sanskrit Eulogy to the Sacred Bodhisattva of Spontaneous Contemplation). 1 fasc. (T 1055), tr. Faxian 法賢. See von Staëml-Holstein (1934) for a restored Sanskrit edition. IB325. Shō kanjizai bosatsu bonsan (j); Sheng guan zi zai pu sa fan zan (c); Sanskrit Eulogy to the Sacred Bodhisattva of Spontaneous Contemplation (e); => Một quyển; Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch. Xem bản của Von Staëml-Holstein (1934), phục hồi lại từ ấn bản tiếng Sanskrit. Thành sở tác trí 成所作智 [ja] ジョウショサチ jōshisachi ||| (anusthānam-nispatti, krtya-anusthāna-jñāna). One of the "four wisdoms" 四智 in Consciousness-only theory. The wisdom of achievement of the Buddha vow. This wisdom is attained through the transformation of the first five consciousnesses. Through this wisdom one brings to fulfillment the work of saving sentient beings. The "wisdom of unrestricted activity." (s: anusthānam-nispatti, krtya-anusthāna-jñāna). => Một trong Tứ trí theo giáo lý Duy thức. Là trí thành tựu bổn nguyện thành Phật. Trí nầy đạt được do chuyển hoá năm thức đầu. Thông qua tria nầy mà thành tựu ý nguyện độ sanh. 'Thành tựu trí'.
thánh quán âm bồ tát
Āryavalokiteśvara (S) Thánh Quán Tự Tại Xem Thánh Quan Âm.
thánh quân
Good king.
thánh quả
5580<一>依聖道所證得之果報。即指菩提涅槃。〔天台四教儀集註卷中本〕[1] <二>指四種沙門果中之阿羅漢果。〔華嚴五教章卷二〕
; The holy fruit, or fruit of the saintly life, i.e. bodhi, nirvàna.
; Ariyaphalam (p)—Đạo quả của bậc Thánh, đạt được Bồ Đề hay Niết Bàn—The holy truth—Fruit of the saintly life (bodhi or nirvana)—Holy fruition—Fruit of Arhatship—The fruition of holiness—See Lục Tức Phật (6).
; (聖果) I. Thánh Quả. Quả báo nhờ tu Thánh đạo mà chứng được. Tức chỉ cho Bồ đề niết bàn. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần đầu]. II. Thánh Quả. Chỉ cho quả A la hán trong 4 quả Sa môn. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].
Thánh quả 聖果
[ja] ショウカ shōka ||| (1) The sagely fruit, sagehood. The end result of the course of Buddhist practice; nirvana. 〔二障義HPC 1.794a1〕(2) The stage of arhat 阿羅漢. => 1. Quả vị của bậc thánh. Kết quả sau cùng của sự tu tập Phật đạo; niết-bàn. 2. Quả vị A-la-hán (arhat 阿羅漢).
thánh sư
GurŪdeva (S), Sacred master Gurudeva (P).
; Gurùdeva (S). Highest teacher.
thánh sư tử
Tôn hiệu của Đức Phật. Đức Phật là vị vua trong cõi Thánh như sư tử là vua trong muôn thú—The holy lion, Buddha.
thánh sử
Sacred history.
thánh sự tự tánh
Āryāvastusvabhāva (S).
thánh thai
5580指菩薩修行階位中之十住、十行、十迴向等三賢位。因其以自種爲因,善友爲緣,聽聞正法,修習長養,至於初地而見道,生於佛家,故稱聖胎。〔仁王經卷上菩薩教化品、仁王經疏(良賁)〕
; Sheng t'ai (C), Holy emryo.
; The womb of holiness which enfolds and develops the bodhisttva, i.e. the tam hiền vị three excellent positions attained in the thập trụ, thập hạnh, and thập hồi hướng.
; Thai tạng của những bậc Thánh, bọc quấn và trưởng dưỡng chư Bồ Tát, chỉ ba hiền vị Thập trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng—The womb of holiness which enfolds and develops the bodhisattvas, i.e. the three excellent positions attained in the ten grounds, ten kinds of dedication, and ten necessary activities of a bodhisattva. ** For more information, please see Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, and Thập Trụ.
; (聖胎) Chỉ cho giai vị Tam hiền: Thập trụ,Thánh Quán Âm. Thập hành, Thập hồi hướng trong các giai vị tu hành của Bồ tát. Vì hàng Bồ tát này lấy chủng tính của chính mình làm nhân, bạn tốt làm duyên, lắng nghe chính pháp, tu tập trưởng dưỡng, đến bậc Sơ địa thì thấy đạo mà sinh trong Phật gia, nên gọi là Thánh thai. [X. phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương Q.thượng; Nhân vương kinh sớ (Lương bôn)].
thánh thanh văn
Ariya-savaka (P) Đệ tử bậc Thánh.
Thánh Thiên
聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là »Ðơn nhãn«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8, đệ tử của Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (s: nāgārju-na). Trong thế kỉ thứ hai cũng có vị Long Thụ của Trung quán tông và vị này cũng có đệ tử tên Thánh Thiên.|Thánh Thiên là một Tỉ-khâu tu học tại Na-lan-đà. Một hôm Sư nghe có vị Tất-đạt nổi danh tên Long Thụ sống tại Nam Ấn Ðộ liền bỏ đi tìm, được Quán đỉnh vào Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra), và ở lại luyện Nghi quỹ (s: sādhana) chung với thầy. Sư đi khất thực luôn luôn được nhiều thức ăn ngon lạ hơn thầy. Long Thụ lấy làm lạ cho Sư ở nhà, tự mình đi. Khi về nhà thì Long Thụ thấy một thần nữ đã dâng cúng bánh trái cho Thánh Thiên và phê bình là mình chưa hết ô nhiễm hẳn như đệ tử. Long Thụ khâm phục môn đệ mình và đặt tên Thánh Thiên. Bài kệ chứng đạo của Thánh Thiên như sau:|Chư Phật cả ba đời,|duy nhất một Tự tính.|Chứng được tự tính này,|là chứng được tâm thức.|Ðể mọi sự diễn ra,|hoà vào với thật tại,|không hề có cơ cấu.|Chính trạng thái buông thỏng,|là đời sống Du-già.|Sau khi Long Thụ chế tạo được nước trường sinh, ông lè lưỡi liếm và đưa cho Sư làm theo. Sư liền cầm bát nước đổ hết vào một gốc cây, cây này bất chợt đâm tược. Long Thụ quát lớn: »Nếu ngươi phí phạm nước bất tử của ta thì phải hoàn lại!« Sư liền cầm một cái thùng, tiểu tiện vào rồi cầm một nhánh cây quậy đưa Long Thụ. »Nhiều quá« Long Thụ nói. Sư liền đổ nửa thùng vào gốc cây, cây này liền ra lá. Long Thụ nghiêm trang bảo: »Nay ngươi đã chứng Ðạo, đừng lưu lại lâu trong Luân hồi (saṃ-sāra)«. Nghe câu này, thân Sư bay vọt lên cao. Ngay lúc này, một người đàn bà đến gần xin Sư một con mắt. Không một chút chần chừ, Sư móc con mắt phải ra trao cho bà này và từ đây mang tên là »Ðơn nhãn« hay »Ðơn nhãn Ðề-bà«. Sau khi thuyết pháp từ trên không trung, Sư đứng ngược đầu xuống đất, chân đối trời rồi biến mất.
; 聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là Ðề-bà, Ka-na Ðề-bà, Ðơn nhãn Ðề-bà (s: kāṇadeva); |Học trò của Long Thụ (nāgārjuna) và Ðại luận sư của Trung quán tông (s: mādhyami-ka), tác giả của nhiều bộ luận. Người ta cho rằng Thánh Thiên sinh trong thế kỉ thứ 3 tại Tích Lan và là Tổ thứ 15 của Thiền Ấn Ðộ dưới tên »Ðề-bà một mắt« (kāṇadeva). Tương truyền Sư bị ngoại đạo chống đạo Phật giết. Ngày nay, tác phẩm của Sư chỉ còn được giữ lại trong các bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng, phần lớn là các luận đề về giáo pháp của Long Thụ. Truyền thống Tan-tra xem Sư là một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).|Sư sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Tích Lan. Thay vì nhận chức làm quan thì Sư lại gia nhập Tăng-già dưới sự hướng dẫn của Hermadeva. Sau khi học xong các thuyết luận, Sư đi hành hương, viếng thăm những thánh tích của Phật giáo tại Ấn Ðộ. Nhân dịp này, Sư gặp Long Thụ và theo hầu học nhiều năm và khi Long Thụ rời Na-lan-đà đi Trung Ấn, Sư cũng theo thầy. Dần dần, Sư được truyền trao trách nhiệm giảng pháp và được xem là người kế vị Long Thụ. Không rõ là Sư lưu lại Trung Ấn bao nhiêu lâu nhưng trong thời gian này, Sư có thành lập nhiều tu viện. Nghe tin một luận sư lừng danh thuộc dòng Bà-la-môn tung hoành tại viện Na-lan-đà và không một Tỉ-khâu nào đủ tài năng đối đầu tranh luận, Sư liền đến Na-lan-đà một lần nữa và chiến thắng vị Bà-la-môn trong ba vòng tranh luận. Sau nhiều năm trụ tại Na-lan-đà, Sư trở về miền Nam và mất tại Raṅganātha, Kiến-chí (kāñcī).|Tác phẩm Tứ bách luận (catuḥśataka) của Sư gồm 400 câu kệ, với suy luận biện chứng phủ định, giải thích giáo pháp Vô ngã và tính Không. Tập Bách luận (śataśāstra) được xem là bản thu gọn lại của Tứ bách luận, cũng gây ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trong tập Bách luận Thánh Thiên đã đưa nhiều luận giải đối trị các quan điểm bài bác Phật giáo. Bách luận là một tác phẩm căn bản của Tam luận tông tại Trung Quốc.
thánh thiên
Deva-ārya (S) Xem Đại Thánh Hoan Hỷ Thiên Xem Ca na Đề bà. Xem Đề bà.
thánh thiện
Divine saintly, godly (person, life)
thánh thuỷ tự
5577<一>位於浙江杭縣吳山西南雲居之山中。宋元祐年間(1086~1094)佛印了元於山中開創雲居庵。後中峰明本於附近創建聖水寺。明洪武二十四年(1391)兩寺合併重建,蒙賜「雲居聖水寺」之額。〔大明一統志卷三十八、大清一統志卷二一七〕 <二>位於福建羅源縣城南蓮花山麓。創建於北宋紹聖三年(1096),寺三楹,山中奇石羅列,有天然洞,名棲雲洞,洞內之十八羅漢石像,雕造於宋淳祐八年(1248)。山中岩壁詩文題刻頗多。
Thánh Thông
(聖聰, Shōsō, 1366-1440): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, Tổ khai sơn Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji); húy là Thánh Thông (聖聰), tục danh là Thiên Diệp Dận Minh (千葉胤明); hiệu Đại Liên Xã (大蓮社), Tây Dự (西譽); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), con của Thiên Diệp Thị Dận (千葉氏胤, Chiba Ujitane). Ban đầu, ông học Mật Giáo ở Minh Kiến Tự (明見寺, tức Thiên Diệp Tự [千葉寺]) thuộc vùng Hạ Tổng, nhưng đến năm 1385 thì được Thánh Quynh (聖冏) cảm hóa, rồi quy y theo Tịnh Độ Tông; từ đó trở đi trải qua trong vòng 9 năm, ông theo học Tông Nghĩa với Thánh Quynh ở Thường Phước Tự (常福寺). Vào năm 1393, ông khai sáng Tăng Thượng Tự ở vùng Bối Trũng (貝塚, Kaizuka), Võ Tàng (武藏, Musashi); được dòng họ Thiên Diệp cũng như tầng lớp hào tộc quy y theo rất đông, và nỗ lực bố giáo ở địa phương này. Chính ông đã phổ cập tư tưởng Ngũ Trùng Truyền Pháp của Thánh Quynh, và hết mình giáo dưỡng chúng đệ tử. Trước tác của ông có Tam Kinh Trực Đàm Yếu Chú Ký (三經直談要註記) 48 quyển, Đương Ma Mạn Đà La Sớ (當麻曼荼羅疏) 48 quyển, Triệt Tuyển Trạch Bản Mạt Khẩu Truyền Sao (徹選擇本末口傳鈔) 2 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Ký Kiến Văn (徃生論註記見聞) 2 quyển, v.v.
thánh thông
5588(1366~1440)日本淨土宗僧。號「大蓮社酉譽」。生於千葉,初在真言宗出家。二十歲時,隨聖冏受淨土教義而改宗。遊歷近畿,於武藏貝塚創建三緣山增上寺,爲鎮西派正統第八祖。後專事講學與著述。永享十二年示寂,世壽七十五。著有當麻曼荼羅抄四十八卷、三部經直談要注記、徹選擇本末口傳鈔等多種。〔本朝高僧傳卷十八、鎮流祖傳卷二、淨土傳燈總系譜卷中〕
thánh thần
Saint and gods.
thánh thọ tự
5585<一>位於陝西綏德縣伏龍山。創建情形不詳。元英宗泰定四年(1327),千巖元長(1284~1357)入伏龍山,見其荒廢已久,即欲復建,鄉民爭助之,未久蔚成大伽藍。元長承受中峰明本之教,其後並嗣其法。歸化於日本之隱元隆琦即爲元長之法統。〔五燈全書卷五十八〕 <二>位於四川省成都西南。唐元和二年(807)奉敕建立,時稱元和聖壽寺。南印、道圓等先後住錫本寺。〔唐會要卷四十八、大清一統志卷二九三〕 <三>位於山西沁源縣城西北之靈空山峪。唐乾符六年(879),懿宗第四子李侃因避黃巢之亂至此,景福二年(893)建寺隱居,並削髮爲僧,諡封「先師菩薩」,寺稱「先師禪院」。北宋端拱二年(989)重修,改今名,明清重建成現狀。 <四>位於河南睢縣城西南。建於宋代,今寺毀,僅存一塔。 <五>位於四川大足縣東北十五公里之寶頂山。與寶頂石窟有密切關連。寺建於宋代,後廢。今之建築係建於明清之時。主要有天王殿、玉皇殿、大雄殿、經殿、燃燈殿、維摩殿等。寺依山建築,殿宇巍峨。
thánh thủy
Xem Cam lồ.
thánh tiên
The holy rsi, Buddha.
thánh tiết
5588即皇帝之誕辰。又稱天長節。據興禪護國論卷下所載,禪林中,於皇帝誕生日以前三十日間,啟建聖節道場,每日不斷諷誦大般若、仁王、法華、最勝等經,祈聖壽無疆。依大宋僧史略卷中及事物紀原所載,慶祝皇帝之誕辰,始於北魏太武帝,立節之名則始於唐玄宗。〔敕修百丈清規卷上祝釐章聖節條、唐書本紀第五〕(參閱「祝聖」4269)
; (聖節) Cũng gọi Thiên trường tiết. Chỉ cho ngày sinh của Hoàng đế. Cứ theo luận Hưng thiền hộ quốc quyển hạ thì khoảng 30 ngày trước sinh nhật của Hoàng đế, trong Thiền lâm có lập đạo tràng Thánh tiết, hàng ngày tụng đọc các kinh: Đại bát nhã, Nhân vương, Pháp hoa, Tối thắng để cầu Thánh thọ vô cương. Theo Đại Tống tăng sử lược quyển trung và sự vật kỉ nguyên thì việc chúc mừng sinh nhật Hoàng đế bắt đầu từ đời vua Thái Vũ Đế nhà Bắc Ngụy, còn lập tên tiết thì bắt đầu từ vua Huyền tông nhà Đường. [X. điều Thánh tiết chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Đường thư bản kỉ thứ 5]. (xt. Chúc Thánh).
thánh tiễn đường thuật cổ
5587全一卷。明代僧爲霖道霈(1615~1702)編。收於卍續藏第一二七冊。內容收錄行止殊異、履踐嚴明,足爲後世學人楷模之古聖先賢事蹟,及理致精深、諄諄教誡,足以針砭末法時弊之經傳著述,包括僧堂記、大般若經、宏智正覺、雲門匡真、羅湖野錄、菩提達磨、息心銘等三十二項,一一予以闡論比評。三十二項中,道霈以所獲文獻之先後編集成書,而未依時代古今之次序列述。
; (聖箭堂述古) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vi lâm Đạo bái (1615-1684) biên soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 127. Nội dung sách này thu chép sự tích của các bậc Thánh hiền quá khứ gồm 32 hạng mục như: Tăng đường kí, Đại bát nhã kinh, Hoành trí Chính giác, Vân môn Khuông chân, La hồ Dã lục, Bồ đề đạt ma, Tức tâm minh... mỗi hạng mục đều được bàn rõ và kèm theo lời phê bình.
Thánh trang nghiêm đà-la-ni kinh 聖莊嚴陀羅尼經
[ja] ショウショウゴンダラニキョウ Shō shōgon darani kyō ||| The Sheng zhuangyan tuoluoni jing; Skt. Mekhalā-dhāraṇī (Dhāraṇī of the Sacred Adornment). 2 fasc. (T 1376.21.895-898), trans. Dānapāla 施護. Alternate translation (T 1377): Dhāraṇī of the Precious Belt 寶帶陀羅尼經. => Sheng zhuangyan tuoluoni jing (c); Mekhalā-dhāraṇī (s); Dhāraṇī of the Sacred Adornment (e); Hai quyển; Thi Hộ (c: Dānapāla 施護) dịch. Bản dịch khác có tên là Bảo đái đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Precious Belt 寶帶陀羅尼經).
Thánh triết
(聖哲): chỉ đạo đức tài trí siêu nhân, cũng chỉ cho người có đạo đức tài trí; cũng dùng chỉ cho đế vương. Trong Tả Truyện (左傳), phần Văn Công Lục Niên (文公六年), có đoạn: “Cổ chi vương giả, tri mạng chi bất trường, thị dĩ tinh kiến Thánh triết (古之王者、知命之不長、是以幷建聖哲, vua ngày xưa, biết mạng không lâu dài, cho nên mới lập đạo đức tài trí).” Hay trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 3, phần Kiện Đà La Quốc Ca Nị Sắc Ca Vương (健馱邏國迦膩色迦王), lại có đoạn rằng: “Vương nãi tuyên lịnh viễn cận, chiêu tập Thánh triết, ư thị tứ phương bức thấu, vạn lí tinh trì, anh hiền tất tụy (王乃宣令遠近、召集聖哲、於是四方輻湊、萬里星馳、英賢畢萃, nhà vua bèn tuyên lệnh xa gần, chiêu tập tài đức, do đó bốn phương tập trung, vạn dặm bôn ba, hiền sĩ tụ họp).”
Thánh trì thế đà-la-ni kinh 聖持世陀羅尼經
[ja] ショウジセダラニキョウ Shō jise daranikyō ||| The Sheng chishi tuoluoni jing; Skt. Vasudhārā-sādhana; Tib. nor rgyun ma'i sgrub thabs [To.663]; 1 fasc. (T 1165.20.672-674), trans. Dānapāla 施護. Corresponds to sādhana nos. 213-216 in the Sādhanamāla (which are included as individual texts in Tibetan canons [To. 3237, 3603, 3238, 3349, 3604, 3239, 3605, 3240, 3606]). [BGBT4/116,461,462] => Shō jise daranikyō (j); Sheng chishi tuoluoni jing (c); Vasudhārā-sādhana (s); Nor rgyun ma'i sgrub thabs (t); Một quyển, Thi Hộ (c: Dānapāla 施護) dịch. Tương đương với sādhana nos. 213-216 trong kinh Sādhanamāla (được xem là bản kinh riêng biệt trong tạng kinh của Tây Tạng) .
thánh trí
5584正照真諦,遠離虛妄分別之智慧,稱爲聖智。往生論註卷下(大四○‧八四三下):「法性無相,故聖智無知。」此外,佛之教法稱爲聖網,以其羅致眾生,使歸於正法,故以網喻之。又以佛所說之法契合於正理,故稱爲聖法。佛之感應則稱爲聖應。
; Ariya-paa (P), Ariyaāṇa (P), Noble knowledge.
; Aryajnàna (S). The wisdom of Buddha, or the saints, or sages; the wisdom which is above all particularization, i.e. that of transcendental truth.
; Arya-jnana (skt)—Supreme knowledge. • Cái trí tuệ tối thượng hay trí huệ của bậc Thánh, nhờ đó người ta có thể nhìn vào những chỗ thâm sâu nhất của tâm thức để nắm lấy cái chân lý thâm mật bị che khuất mà cái trí tầm thường không thể thấy được: Supreme wisdom, or the wisdom of a saint, whereby one is enabled to look into the deepest recesses of consciousness in order to grasp the inmost truth hidden away from the sight of ordinary understanding. • Phật trí hay trí của các bậc Thánh, trí siêu việt và vượt ra ngoài mọi sự phân biệt—The wisdom of Buddha, or the saints or the sages; the wisdom which is above all particularization, i.e. the wisdom of transcendental truth—Sage-like or saint-like knowledge.
; (聖智) Chỉ cho trí tuệ soi đúng chân đế, xa lìa hư vọng, phân biệt, gọi là Thánh trí. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 843 hạ) nói: Pháp tính vô tướng, cho nên Thánh trí vô tri. Ngoài ra, giáo pháp của đức Phật còn được gọi là Thánh võng (lưới của bậc Thánh), vì nó bao trùm khắp cả chúng sinh, khiến trở về chính pháp nên dùng lưới để ví dụ mà gọi là Thánh võng. Lại nữa, vì pháp do đức Phật nói khế hợp với chính lí nên gọi là Thánh pháp. Còn sự cảm ứng của Phật thì gọi là Thánh ứng.
thánh trí bách tính sự
Aryajnanasvabhavavastu (skt)—Trí tuệ tối thượng như là tạo thành sự kiện tối hậu của hiện hữu—Supreme wisdom as constituting the ultimate fact of existence.
thánh trí nhãn
Aryajnanacakshus (skt)—Con mắt của trí tuệ tối thượng, cũng được gọi là tuệ nhãn—The eye of supreme wisdom, also called the wisdom eye or Prajnanacakshus.
thánh trí phi ngôn ngữ
Chân lý tối hậu chỉ vào sự thể chứng cái trí tuệ tối thượng trong tâm thức sâu thẳm nhất, và không thuộc phạm vi của ngôn từ và cái trí phân biệt; sự phân biệt như thế không thể phát hiện được chân lý tối hậu. Tuy nhiên ngọn đèn ngôn từ là có lợi ích cho việc soi sáng con đường đưa đến chứng ngộ tối hậu—The ultimate truth points to the realization of supreme wisdom in the inmost consciousness, and does not belong to the realm of words and discriminative intellect; thus discrimination fails to reveal the ultimate truth. However, the lamp of words is useful to illuminate the passage to final enlightenment.
thánh trí tự giác
Pratyātmāryajāna (S).
thánh trí tự tánh sự
Aryajāna-svabjava-vastu (S).
Thánh trí 聖智
[ja] ショウチ shōchi ||| Sagely wisdom. The correct wisdom of the buddha which correctly apprehends things as they are (ārya-jñāna, samyag-jñāna). As distinguished from worldly wisdom 世俗智.〔二障義HPC 1.813c〕 => Trí tuệ của bậc thánh. Trí huệ chân chính của chư Phật biết các pháp chính như chúng đang là (ārya-jñāna, samyag-jñāna). Để phân biệt với trí hiểu biết của hàng phàm phu (thế tục trí 世俗智).
Thánh trú sơn 聖住山
[ja] ショウジュウザン Shoujūzan ||| Sŏngju san; one of the early "nine mountain" 九山 schools of Korean Sŏn, founded by Muyŏm 無染. Sŏngju san (k); Shoujūzan (j); => Là một trong Cửu sơn, thuộc Thiền tông Triều Tiên thời trước do ngài Vô Nhiễm ( k: Muyŏm 無染) sáng lập .
thánh trụ chí
Shengg Chou Chi (C).
thánh trụ tập
5580凡五卷。華嶽玄偉編於唐代光化二年(899)。又作玄門聖冑集。本書係收集寶林傳(成立於唐代貞元十七年)以後禪宗傳法宗師之機緣、傳法偈等之禪宗燈史,主張婆須蜜系之西天二十八祖說。此書已散佚,現僅存斷片。僅知寶林傳卷二與本書卷二相當,另由敦煌本史坦因第四四七八號,可得知本書卷一至卷二間所省略之文;此外,依北京本鹹字二十九及伯希和第三九一三號之壇法儀則(爲不空所譯之密教儀軌)之內容,可知壇法儀則乃引用本書卷一,並加以密教化所成者。除此之外,內容不明。又本書之書名「聖冑」一詞即指聖冑大師,乃梁武帝對菩提達摩之敬稱;由此,亦可推知本書內容應錄有菩提達摩等西天二十八祖之傳記。〔釋氏稽古略卷三、大藏經綱目指要錄卷八〕
; (聖胄集) Cũng gọi Huyền môn thánh trụ tập. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Hoa nhạc Huyền vĩ biên soạn vào năm Quang hóa thứ 2 (899) đời Đường. Sách này thu chép các cơ duyên, kệ truyền pháp của các bậc tông sư truyền phương pháp trong lịch sử truyền đăng của Thiền tông từ Bảo lâm truyện (được thành lập vào năm Trinh Nguyên 17 (801) đời Đường) về sau, chủ trương thuyết 28 vị Tổ Tây thiên thuộc hệ thống Bà tu mật. Sách này đã bị thất lạc, hiện nay chỉ còn các mảnh rời rạc. Chỉ biết Bảo lâm truyện quyển 2 tương đương với quyển 2 của sáchnày và căn cứ vào bản Đôn hoàng số 4478 của ông Sử thản nhân (A. Stein) mà có thể biết được đoạn văn bị lược bớt từ quyển 1 đến quyển 2 của sách này. Ngoài ra, căn cứ vào nội dung của Đàn pháp nghi tắc(là Nghi quĩ của Mật giáo do ngài Bất không dịch) bản Bắc kinh chữ Hàm số 29 và Bá hi hòa (P. Pelliot) số 3913, ta có thể biết Đàn pháp nghi tắc là do dẫn dụng quyển 1 của sách này, rồi Mật giáo hóa thêm mà thành Đàn pháp. Ngoài điểm này ra, các chi tiết khác về nội dung sách này thì không rõ. Từ Thánh trụ trong tên sách là chỉ cho Đại sư Thánh trụ, là tiếng kính xưng của vua Vũ Đế nhà Lương đối với Tổ Bồ đề đạt ma. Do đó ta cũng có thể suy đoán nội dung sách này có lẽ đã ghi chép truyện kí của 28 vị Tổ của Tây thiên. [X. Thích thị kê cổ lược Q.3; Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục Q.8].
thánh trụ tự
5578請參閱 略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門經位於韓國忠清南道保寧郡。爲朝鮮佛教禪門九山中聖住山派之根本道場。新羅憲德王十三年(821),無染來唐,先後參禮馬祖道一之門人佛光如滿、麻谷寶徹。文聖王七年(845)歸國,受王子昕之請,住於保寧烏合寺,未久賜以「聖住」之額,尊稱無染爲東方菩薩。無染之門人極眾,較著名者有玄影、僧亮、圓藏等,蔚爲聖住山門派。〔朝鮮金石總覽上、有唐新羅國故兩朝國師教諡大朗慧和尚白月葆光之塔碑銘並序、東國輿地勝覽卷二十〕
thánh tuệ nhãn
Aryaprajnàcaksu (S). Noble eye of wisdom.
thánh tào
Aryavarman (S) Tên một vị sư.
thánh tánh tự tánh
Nispatti-svabhāva (S) Thánh tự tánh Thật tánh các pháp.
thánh tâm
The holy mind, that of Buddha.
; Tâm của bậc Thánh như tâm Phật—The holy mind, that of Buddha.
thánh tích
Relic of a saint.
thánh tích tự
5588位於四川峨眉縣。爲峨眉山下第一大寺,古稱慈福院。傳說軒轅氏曾在此地問道。本寺歷代數度遭火災,民國重修。正殿供奉普賢大士騎象之銅像,全身丈六。後殿有銅塔,高約六、七公尺,共計四層,鑄有佛像四千七百餘尊,其旁鐫有華嚴經全部經文,寺中老寶樓內有八卦銅鐘一口,高約三公尺,徑約二點五公尺,重約一萬五千公斤,爲明代別傳和尚所募鑄。「聖積晚鐘」爲峨眉山十景之一,相傳朔望之夕,鐘聲可達峨眉金頂。
; (聖積寺) Chùa ở huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Đây là ngôi chùa lớn nhất nằm dưới chân núi Nga Mi, xưa gọi là Từ Phúc Viện. Cứ theo truyền thuyết thì họ Hiên viên từng hỏi đạo ở đất này. Chùa này qua các đời đã nhiều lần bị hỏa hoạn, đến đời Dân quốc được sửa lại. Chính điện thờ tượng đồng Đại sĩ Phổ hiền cỡi voi, toàn thân cao 1 trượng 6 thước. Hậu điện có tháp đồng, cao khoảng 6,7m, gồm 4 tầng, có đúc hơn 4.700 pho tượng Phật, bên cạnh khắc toàn văn bộ kinh Hoa nghiêm, trong lầu chuông có quả chuông bát quái, cao khoảng 3m, đường kính khoảng 2,5m, nặng khoảng 15.000 cân, do Hòa thượng Biệt truyền quyên góp để đúc vào đời Minh. Thánh tích vãn chung(Tiếng chuông chiều chùa Thánh tích) là 1 trong 10 thắng cảnh ở núi Nga Mi, tương truyền vào những chiều mồng 1 hoặc rằm, tiếng chuông có thể ngân vang tới tận đỉnh vàng Nga Mi.
Thánh tích 聖迹
[ja] ショウシャク shōshaku ||| The footprints of the Buddha; that which the sages have left behind--the teachings. Writings, temples or any kind of traces left behind by an eminent monk.〔二障義HPC 1.797a9〕 => Dấu chân của Đức Phật, những gì của bậc thánh còn lưu lại– như giáo lý. Kinh sách, chùa chiền hoặc bất kỳ dấu tích nào mà một vị cao tăng lưu lại.
thánh tính
5579唯識家稱生無漏智而斷煩惱之性爲聖性,即俱舍家所說之正性。唯識以無漏智之種子爲聖性之體,俱舍以離煩惱爲正性。俱舍論卷十(大二九‧五六下):「何名正性?謂契經言,貪無餘斷、瞋無餘斷、癡無餘斷,一切煩惱皆無餘斷,是名正性。」
; The holy nature, according to the Abhidharma kosa Câu xá luận, of the passionless life; according to the Vijnànamàtrasiddhi Duy thức luận, of enlightenment and wisdom.
; 1) Tánh của bậc Thánh: Saintivity. 2) Câu Xá Luận gọi Thánh Tính là Chính Tính hay một đời sống Thánh thiện không còn bị dục vọng lôi cuốn: The holy nature, according to the Abhidharma-kosa of the passionless life. 3) Duy Thức Luận gọi Thánh Tính là cái tính sanh ra trí vô lậu mà đoạn trừ phiền não: According to the Vijnanamatrasiddhi of enlightenment and wisdom, the holy nature is the nature that produces the passionless or pure wisdom.
; (聖性) Cũng gọi Chính tính. Nhà Duy thức gọi tính phát sinh ra trí vô lậu và đoạn trừ phiền não là Thánh tính, tức là Chính tính mà tông Câu xá thường gọi. Duy thức cho chủng tử của trí vô lậu là thể của Thánh tính, còn Câu xá thì cho tính lìa phiền não là chính tính. Luận Câu xá quyển 11 (Đại 29, 56 hạ) ghi: Chính tính là gì? Khế kinh nói: Đoạn hết tham, đoạn hết sân, đoạn hết si, đoạn hết tất cả phiền não, gọi là Chính tính.
thánh tính li sinh
5580謂生無漏智而斷煩惱,永離異性(凡夫)之生。唯識家稱爲聖性離生,俱舍家稱爲正性離生。聲聞、緣覺二乘入於見道之位,生一分之無漏智,斷除分別起之煩惱障;菩薩生一分之無漏智,斷除煩惱、所知等二障,因而得一分之聖性,永離凡夫之生,故稱聖性離生。成唯識論卷九(大三一‧五二中):「二乘見道現在前時,唯斷一種,名得聖性;菩薩見道現在前時,具斷二種,名得聖性。」俱舍論卷二十三(大二九‧一二○下):「得世第一法,雖住異生位,而能趣入正性離生。」四教義卷六(大四六‧七三九上):「聖以正爲義,(中略)捨凡夫性,得入聖人性。」(參閱「正性離生」1991)
; The life of holiness apart or distinguished from the life of common unenlightened people.
; (聖性離生) Cũng gọi Chính tính li sinh. Phát sinh trí vô lậu, đoạn trừ hết phiền não, mãi mãi xa lìa cái sinh của dị tính (phàm phu). Các nhà Duy thức gọi là Thánh tính li sinh, còn các nhà Câu xá thì gọi là Chính tính li sinh. Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác vào giai vị Kiến đạo, phát sinh một phần trí vô lậu, đoạn trừ phiền não chướng phân biệt khởi; còn hàng Bồ tát thì phát sinh một phần trí vô lậu, đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng, do đó được một phần Thánh tính, vĩnh viễn xa lìa cái sinh của phàm phu, vì thế gọi là Thánh tính li sinh. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 52 trung) nói: Hàng Nhị thừa khi Kiến đạo hiện tiền thì chỉ đoạn được một thứ, được gọi là Thánh tính; hàng Bồ tát khi Kiến đạo hiện tiền thì đoạn cả 2 thứ, được gọi là Thánh tính. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 120 hạ) nói: Chứng được Thế đệ nhất pháp, tuy trụ ở địa vị dị sinh nhưng có khả năng đi vào Chính tính li sinh. Tứ giáo nghĩa quyển 6 (Đại 46, 739 thượng) nói: Thánh lấy Chính làm nghĩa, (...), xả bỏ phàm phu tính, được vào Thánh nhân tính. (xt. Chính Tính Li Sinh).
thánh tính ly sinh
Theo Duy Thức Luận, Thánh Tính Ly Sinh là cuộc sống của sự Thánh thiện của các vị Thanh Văn, Duyên Giác, A La Hán hay Bồ Tát, những vị đã đạt được vô lậu trí và dứt bỏ phiền não do phân biệt khởi lên (đã dứt bỏ phiền não và sở tri chướng), đối lại với cuộc sống của phàm phu hay người chưa giác ngộ—According to the Vijnanamatrasiddhi, the life of holiness apart or distinguished from the life of common unenlightened people.
thánh tôn
The holy honored one, Buddha.
; Vị Thánh được tôn kính như Phật—The holy honored one—Buddha.
thánh tăng
5585又作上僧。原指開悟且德高望重之僧,後轉指於齋堂上座所安置之聖僧像而言。一般小乘寺院安置賓頭盧,大乘寺院則安置文殊。用食之際,設一空座(即聖僧之座)以供養飲食,乃印度以來所盛行之風習,後世則以置一圖像或塑像替代之。於禪宗,僧堂中央或安置文殊菩薩,或安置觀音菩薩、賓頭盧、憍陳如、空生、大迦葉,或布袋和尚之像。較普遍者,於僧堂安置僧形之文殊菩薩,稱爲聖僧文殊;另於眾寮堂安置觀音菩薩。後世之聖僧多安置於僧堂,故僧堂又稱聖僧堂。又僧堂中,安置聖僧之佛龕,稱爲聖僧龕。供養聖僧之飯,稱爲聖僧飯。服侍照應聖僧者,稱爲聖僧侍者(又稱聖侍、侍聖)。聖僧前方之下間,即進入僧堂後,位於左方之板頭,爲聖僧侍者之板,稱爲聖僧板頭,又稱西堂板頭。〔南海寄歸內法傳卷一受齋軌則、法苑珠林卷四十二受請篇聖僧部、敕修百丈清規卷下兩序章西序頭首條、禪林象器箋殿堂門、靈像門〕
; The holy monk, the image in the monks' assembly room; in Mahàyàna that of Manjusri; in Hìnayàna that of Kasyapa, or Subhùti, etc.
; 1) Hàng Tăng chúng đức cao đạo trọng đã dứt bỏ mê hoặc, đã chứng đắc chân lý, đối lại với phàm Tăng—The holy monk who has achieved higher merit, in contrasted with the ordinary monk (phàm tăng). 2) Tượng vị Thánh Tăng ở giữa Tăng Đường: The image in the monk assembly room. 3) Trong Phật Giáo Đại Thừa thì coi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như là một Thánh Tăng, và tượng của ngài được đặt ở giữa Tăng Đường: In Mahayana Buddhism, Manjusri is considered as a holy monk, his image is placed in the center of the monks' assembly room. 4) Trong Phật Giáo Tiểu Thừa thì Ngài Ca Diếp hay Tu Bồ Đề được coi như là những Thánh Tăng, tượng của các ngài thường được đặt giữa Tăng Đường: In Hinayana Budhism, Kasyapa and Subhuti are considered holy monks, their images are usually placed in he centre of the monks' assembly room.
; (聖僧) Cũng gọi Thượng tăng. Vốn chỉ cho vị tăng đã khai ngộ và có đức hạnh cao quí, về sau chuyển sang chỉ cho tượng Thánh tăng an vị trên tòa trong Trai đường. Thông thường, các chùa viện Tiểu thừa an vị tượng ngài Tân đầu lô, còn các chùa viện Đại thừa thì an vị tượng ngài Văn thù. Khi thụ trai thì đặt 1 tòa trống Không (tức tòa ngồi dành cho Thánh tăng) để cúng dường thức ăn uống, đây là phong tục tập quán thịnh hành ở Ấn độ từ xưa, đời sau thì an trí 1 tượng vẽ hoặc tượng đắp để thay thế. Trong Thiền tông thì chính giữa Tăng đường an trí tượng bồ tát Văn thù, hoặc tượng bồ tát Quán âm, hay tượng các vị: Tân đầu lô, Kiều trần như, Không sinh, Đại ca diếp, hay Bố đại hòa thượng. Phổ biến hơn thì an vị tượng bồ tát Văn thù, gọi là Thánh tăng Văn thù. Còn cỗ khám an vị Thánh tăng trong Tăng đường thì gọi là Thánh tăng khám. Cơm cúng dường Thánh tăng, gọi là Thánh tăng phạn. Người hầu hạ phục vụ Thánh tăng, gọi là Thánh tăng thị giả(cũng gọi Thánh thị, Thị Thánh). Gian dưới ở phía trước Thánh tăng, tức bản đầu ở phía trái sau khi tiến vào Tăng đường, là bản đầu của Thánh tăng thị giả, gọi là Thánh tăng bản đầu, cũng gọi là Tây đường bản đầu. [X. Thụ trai nghi tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Thụ thỉnh thiên Thánh tăng bộ trong Pháp uyển châu lâm Q.42; điều Tây tự đầu thủ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Điện đường môn, Linh tượng môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thánh tượng
Icon, ikon; iconic statue. Sự phá hủy thánh tượng iconoclasm.
; Chỉ tượng của Đức Phật—The statue of the Buddha. a) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, tất cả những điêu khắc đầu tiên tại Sanci và Barhut không trình bày Phật trong diện mạo con người. Điều đáng lưu ý chúng ta là, những biến cố chính trong đời sống của Đức Phật đã được đưa ra đầy đủ trong điêu khắc mà không mang diện mạo một anh hùng. Làm sao có thể được? Phật khi giáng sinh được tượng trưng bằng đóa hoa sen nở trọn; khi thành đạo tượng trưng bằng cây Bồ Đề có tường rào chung quanh; lúc Ngài thuyết pháp đầu tiên (chuyển Pháp Luân) tượng trưng bằng một bánh xe trên đó đôi khi có thêm dấu hiệu Tam Bảo (Tri-ratna); lúc khất thực tượng trưng bằng một cái bình bát, vân vân. Nếu sự gợi hứng là một phương tiện của nghệ thuật đích thực, các nghệ sĩ Phật tử đầu tiên đã hiểu điều đó khá trọn vẹn và đã dùng ý niệm đó một cách khéo léo cho những mục đích thực tiễn: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, none of the earlier sculptures of sanchi and Barhut represent the Buddha in huma figure. It is remarkable to us that the principle events of the Buddha's life have been fully given in sculture without a figure of the hero. How was that possible? The Buddha at birthis represented by a full blooming lotus; the Buddha in Enlightenment by the Bodhi tree with a rail around it; the Buddha in his first preaching by a wheel, above which a tri-ratna mark is sometimes added; the Buddha in his beggng round, or mendicancy, by a bowl; and the like. If suggestion be a means of true art, the early Buddhist artists understood it perfectly and utilized the idea skilfully for practical purposes. b) Tuy nhiên, tất cả những điều nầy không nhất thiết có nghĩa rằng các trưởng lão đã tuyệt nhiên không trình bày Đức Phật suốt thời gian Ngài còn tại thế, vì có truyện kể về việc họ đã tạo một bức tượng để cúng dường trong suốt thời gian Ngài vắng mặt. Họ là những người chủ trương hình thức và duy thực, và như thế nếu Phật đang ở ngay trước mặt, họ có quyền miêu tả Ngài bằng hội họa hay điêu khắc. Nhưng bây giờ Ngài đã đi vào Niết Bàn, mà trình bày một người không còn hiện hữu trong thực tại nữa, đó là điều bất xác. Chính do sau nầy, một phát triển khả quan của các nền nghệ thuật Gandhara mà Nam phương Phật giáo bắt đầu có những tượng Phật. Việc nầy có thể xãy ra cùng lúc với việc ghi chép các giáo thuyết của Phật thành văn tự, tức khoảng năm 80 trước Tây Lịch: However, all this does not necessarily mean that the elders did not represent the Buddha at all during his lifetime, for there is a legend which tells of their making an image for the purpose of offering veneration during the Buddha's absence. They were formalistic and realistic, and so if the Buddha was actually before them, they had a right to depict him in painting or sculture. Now that he had passed into Nirvana, however, it was improper to represent the one who no longer really lived. It was after a considerable development of the Gandhara art that the southern school of Buddhism began to have images of Buddha. This was believed at about the same time when the Buddha's teachings were committed to writing, i.e., 80 B.C. c) Các trưởng lão có khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng, mà chúng ta có thể coi như là những nhà tiền phong của Đại Thừa, hình như không có cuộc hội họp để đọc lại các bài pháp của Phật, cũng không mở rộng các luật nghi của họ vượt ngoài những gì Phật đã thiết định. Họ thường ghi lại những Thánh ngôn bằng ký ức hay bằng văn tự tùy theo sở thích. Họ không ngần ngại xử dụng các tài năng của mình trong hội họa hay điêu khắc để miêu tả hình ảnh Phật theo lý tưởng riêng của mình về cái đẹp và cái toàn như họ đã làm ở nghệ thuật Gandhara: The elders of idealistic and free-thinking tendencies, whom we might regard as the foreunners of the Mahayana, would not hold any meetings for the rehearsal of the Buddha's sermons, nor would they enlarge upon their Vinaya rules beyond what was laid down by the Buddha himself. They would commit those sacred words to memory or to writing as they pleased. They did not hesitate in using their talents in painting or sculture to depict the Buddha's image according to their own ideal of beauty and perfection, as they did in the Gandhara art. d) Ngành tự do tư tưởng cũng có thể được thấy trong các luận giải siêu hình của các nhà Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika) hay Tý Bà Sa, trong đó nhiều quan niệm về pháp (dharma) hay thắng pháp (abhidharma) được sưu tập và một số quan niệm tự do đã được tuyển và được khuyến cáo học tập. Mặc dù phái Tỳ Bà Sa thuộc hệ Tiểu Thừa, nhưng đã mở ra một khuynh hướng nhắm tới trường phái tự do tư tưởng. Hạng người tự do tư tưởng như thế cố nhiên can đảm trong việc thích nghĩa, bác học, chú giải, hay hình thành và diễn tả bất cứ quan niệm nào. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa rằng họ đi xa ngoài các giáo pháp nguyên thủy của Phật: The trend of the free-thinking mind can also be seen in the metaphysical treatises of the Optionalists (Vaibhasikas), in which several opinions about dharmas or higher dharmas (abhidharmas) are gathered together and some optional ones have been selected and recommended for study. Though the Vaishasika School belonged to the Hinayana, it already betrayed a tendency toward the free-thinking school. Such free-thinking people would be bold in exegesis, erudition, annotation, or in forming and expressing opinion. This, however, does not mean that they departed from the original teachings of the Buddha.
thánh tịnh
The schools of Buddhism and the Pure Land School.
; Những trường phái Phật Giáo và Tịnh Độ—The schools of Buddhism and the Pure Land School.
thánh tịnh nhị môn
5582即指聖道門、淨土門二種。乃淨土教於佛陀一代教化中所判立之兩大門。依靠自己之能力修行,在此世間能獲得開悟者,稱爲聖道門;相信阿彌陀佛之誓願,並依靠此一誓願,死後蒙佛接引至淨土而獲得開悟者,稱爲淨土門,又稱往生淨土門。此係源自龍樹所說之難易二道。唐朝道綽於所著之安樂集卷上詳判之,道綽於聖淨二門中,主張於末法之世,聖道之理甚深難證,唯得以淨土一門蒙獲接引,故於後世,有將聖道門稱爲自力門、難行道,淨土門稱爲他力門、易行道者。〔往生論註卷上、選擇本願念佛集〕
; (聖淨二門) Chỉ cho Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, là 2 pháp môn lớn do tông Tịnh độ y cứ vào giáo pháp của một đức Phật mà phân lập. Nhờ vào năng lực tu hành của chính mình mà đạt được khai ngộ ngay ở thế gian này gọi là Thánh đạo môn; còn tin vào thệ nguyện của Phật A di đà, đồng thời nương nhờ năng lực của thệ nguyện ấy, sau khi chết được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ mà khai ngộ thì gọi là Tịnh độ môn, cũng gọi là Vãng sinh tịnh độ môn. Thánh tịnh nhị môn này là bắt nguồn từ Nan dị nhị đạo do bồ tát Long thụ chủ xướng. Về Thánh tịnh nhị môn, trong An lạc tập quyển thượng, ngài Đạo xước đời Đường nói rất rõ. Ngài chủ trương trong đời mạt pháp, lí của Thánh đạo rất sâu xa khó chứng, chỉ có Tịnh độ môn mới mong được tiếp dẫn, cho nên đời sau, Thánh đạo môn được gọi là Tự lực môn, Nan hành đạo; còn Tịnh độ môn thì được gọi là Tha lực môn, Dị hành đạo. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
Thánh tối thượng đăng minh Như Lai đà-la-ni kinh 聖最上燈明如來陀羅尼經
[ja] ショウサイジョウトウミョウニョライダラニキョウ Shōsaijō tōmyō nyorai darani kyō ||| 1 fasc. (T 1355.21.872-874); see Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing 東方最勝燈王陀羅尼經 => Shōsaijō tōmyō nyorai darani kyō (j); Một quyển; Xem Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (c: Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing 東方最勝燈王陀羅尼經).
Thánh tối thắng đà-la-ni kinh 聖最勝陀羅尼經
[ja] ショウサイショウダラニキョウ Shō saiShō daranikyō ||| The Sheng zuisheng tuoluonijing; Skt. Viśeṣavatī; Tib. khyad par can [To.570/991]; (Sutra of the Sagely and Most Excellent Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1409.21.924-925), trans. Dānapāla 施護. => Shō saishō daranikyō (j); Sheng zuisheng tuoluonijing (c); Viśeṣavatī (s); ; Khyad par can (t); Sutra of the Sagely and Most Excellent Dhāraṇī (e); Một quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
thánh tụệ nhãn
Āryaprajācakṣu (S), Ariyapaācakkhu (P).
thánh từ tự
5585位於四川成都東勝街。又稱大慈寺。唐代肅宗(756~761 在位)敕建。安祿山之亂,唐玄宗駐蹕成都,時有僧英幹自救窮民,以禱國運,且發願於府東立寺,爲國崇福。玄宗聞之大悅,御書「大聖慈寺」之額,賜田一千畝,又敕新羅全禪師立其規制,全寺共有九十六院八千五百區,遂爲蜀地名剎。藏川曾住本寺,作十王之讚偈三十三頌,添以經文,作爲逆修滅罪之行法。明宣德十年(1435),罹火災,御書之額被燒毀。清順治年間(1644~1661)重修,改今名。
thánh tự tánh
Xem Thánh tánh tự tánh.
Thánh Võ Thiên Hoàng
(聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Nại Lương, hoàng tử của Văn Võ Thiên Hoàng (文武天皇, Monmu Tennō, tại vị 697-707), tên thật là Thủ (首, Obito). Ông cùng với Quang Minh Hoàng Hậu (光明皇后) rất tin tưởng Phật pháp, đã xây dựng một số ngôi chùa như Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji), Quốc Phận Ni Tự (國分尼寺, Kokubunni-ji), thiết lập Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và an trí tượng Đại Phật tại ngôi chùa này.
thánh võng
The holy jàla, or net, of Buddha's teaching which gathers all into the truth.
; Lưới Phật Pháp co cụm tất cả chân lý—The holy jala, or net, of Buddha's teaching which gathers all into the truth.
thánh vũ thiên hoàng
5580日本第四十五代天皇。爲文武天皇之第一皇子。與皇后(光明皇后)皆虔信佛教。建立國分寺並鑄造東大寺之盧舍那佛,藉以象徵以華嚴教義爲基礎之國家統一理想。在位時,朝野之間造寺、造佛像、寫經之風極盛,因而形成日本佛教美術巔峰時期之天平美術。其遺物、遺作,至今保存於奈良東大寺內之正倉院。〔東大寺大佛堂緣起碑文、元亨釋書卷二十一、日本紀略前篇卷十〕
; (聖武天皇) Vị Thiên hoàng đời thứ 45 của Nhật bản, là Hoàng tử thứ nhất của Thiên hoàng Văn vũ. Vua và Hoàng hậu (Hoàng hậu Quang minh) đều kính tin Phật giáo. Vua xây dựng chùa Quốc phần và đúc tượng Phật Tì lô xá na ở chùa Đông đại để tượng trưng cho lí tưởng thống nhất quốc gia lấy giáo nghĩa kinh Hoa nghiêm làm nền tảng. Thời gian vua ở ngôi, trong triều ngoài nội đều xây chùa, tạo tượng Phật và phong khí viết kinh rất thịnh, nhờ đó mà hình thành nền mĩ thuật Thiên bình, là thời kì mà mĩ thuật Phật giáo Nhật Bản nói chung đạt đến điểm cao nhất. Các di vật, tác phẩm còn lại, đến nay vẫn được bảo tồn ở viện Chính thương trong chùa Đông đại tại Nại lương (Nara). [X. Đông đại tự đại Phật đường duyên khởi bi văn; Nguyên hanh thích thư Q.21; Nhật bản kỉ lược tiền thiên Q.10].
thánh vương
Holy King.
thánh vị
5578<一>三乘人證得菩提之果位。新華嚴經卷二十六(大一○‧一四○上):「願一切眾生,速入聖位。」〔俱舍論卷二十四〕 <二>指斷盡見惑之初果聖者。(參閱「須陀洹」5360)
; The holy position, the holy life of Buddhism.
; The holy position—The holy life of Buddhism.
; (聖位) I. Thánh Vi. Chỉ cho quả vị Bồ đề do hàng Tam thừa chứng được. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 26 (đại 10, 140 thượng) nói: Nguyện hết thảy chúng sinh, mau được vào Thánh vị. [X. luận Câu xá Q.24]. II. Thánh Vị. Chỉ cho địa vị của các bậc Thánh Sơ quả đã dứt sạch Kiến hoặc. (xt. Tu Đà Hoàn).
thánh y
5578聖者所著用之衣服。即依據佛制所定之衣,有僧伽梨(大衣)、鬱多羅僧(七條衣)、安陀會(五條衣)等三衣。
; (聖衣) Chỉ cho y phục của bậc Thánh, là y được may theo qui định do đức Phật đặt ra, gồm có 3 y: Tăng già lê (Đại y), Uất đa la tăng (thất điều y) và An đà hội (ngũ điều y).
Thánh ý 聖意
[ja] ショウイ shōi ||| Sagely intention; the mind of the Buddha. 〔二障義HPC 1.797a〕 => Mục đích của bậc thánh; tâm của chư Phật.
thánh đa la bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
Thánh đa la Bồ-tát nhất bách bát danh đà-la-ni kinh 聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經
[ja] ショウタラボサイッピャクハチミョウダラニキョウ Shō Tara bosatsu ippyakuhachi myō daranikyō ||| Skt. Tārādevīnāmāsṭaśataka; Tib. rje btsun ma 'phags ma sgrol ma'i mtshan brgya rtsa brgyad pa [To.727, 728, 745, 1000]; (Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā). (1) 1 fasc. (T 1105.20.472-474) Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā 聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經, trans. Fatian 法天. (2) 1 fasc. (T 1106.20.474-476) Dhāraṇī of Praises to the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā 讃揚聖德多羅菩薩一百八名陀羅尼經, tr. Tianxicai. Shō Tara bosatsu ippyakuhachi myō daranikyō (j); Tārādevīnāmāsṭaśataka (s); Rje btsun ma 'phags ma sgrol ma'i mtshan brgya rtsa brgyad pa (t); Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā (e); => 1. Một quyển. Thánh đa la Bồ-tát nhất bách bát danh đà-la-ni kinh 聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經; Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā (e); Pháp Thiên (Fatian 法天) dịch. 2. Một quyển. Tán dương thánh đức Đa-la Bồ-tát bát danh đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of Praises to the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā 讃揚聖德多羅菩薩一百八名陀羅尼經); Thiên Tức Tai (c: Tianxicai 天息災) dịch.
thánh đa la trì quan tán
Ārya-tārā-sragdhara-stotra (S) Tên một bộ luận kinh.
thánh điển
5578「聖典」一詞,自我國西漢以降,即指與聖人之言行有關之典籍。迄今,於世界諸宗教中,泛指神聖之典籍。佛教中,乃指佛教聖典。在阿育王法敕之中,有「律的最勝法說」等七種爲最古之聖典。其後,聖典分類爲九分教、十二部教,總歸納爲三藏(梵 piṭaka,巴同)。部、藏等名稱,可見於西元前一世紀之諸金石文中。 印度古代,文字被視爲世俗之物,聖典則以口誦相傳。有關三藏及其注疏之書寫,相傳最早是在西元前一世紀末,錫蘭王婆他伽馬尼(巴 Vaṭṭagāmani)時代。然大乘佛教自始即於經典中強調書寫之功德,以令其普及。又聖典之用語,印度古代使用俗語,其後用雅語(梵語),旋因佛教向各地傳教,故漸用各國之語譯或書寫。在我國,北宋以來之開板頗爲盛行,視書寫聖典爲一項儀禮,而流傳迄今。聖典除了讀誦、理解以增進信仰爲本來目的外,亦成爲儀式之一要素而被讀誦,或以聖典爲禮拜之對象,此亦爲印度以來所流傳者。佛教聖典較諸其他宗教之聖典爲多,此乃佛教之一大特色,故有學者將佛教稱爲「書之宗教」(Schrift-Religion)。(參閱「佛教教典」2679)
; The sacred canon, or holy classics, the Tripitaka tam tạng.
; 1) Điển tịch của Thánh nhân: The sacred canon, or holy classics. 2) Thánh điển Phật Giáo hay Tam tạng Kinh Điển: The Tripitaka.
; (聖典) Sách Thánh. Danh từ Thánh điển, ở Trung Quốc, từ thời Tây Hán về sau, là chỉ cho những sách vở có liên quan đến những lời nói, việc làm của Thánh nhân. Đến nay, trong các tông giáo trên thế giới, từ ngữ Thánh điển là chỉ chung cho kinh điển của thần Thánh. Trong Phật giáo thì chỉ cho Thánh điển của Phật giáo. Trong các Pháp sắc của vua A dục ở Ấn độ, có 7 loại Luật đích tối thắng pháp thuyết là Thánh điển xưa nhất. Về sau, Thánh điển được phân loại làm 9 phần giáo, 12 bộ giáo, qui nạp chung thành 3 tạng (Phạm;Pàli:Piỉaka). Những tên gọi như Bộ, Tạng được thấy trong các văn Kim thạch ở thế kỉ I trước Tây lịch. Ở Ấn độ đời xưa, văn tự bị coi là vật thế tục, Thánh điển chỉ được khẩu truyền qua các thế hệ. Tương truyền, Tam tạng và chú sớ được viết thành sách đầu tiên là vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, tức vào thời đại vuaVaỉỉagàmani của nước Tích lan.Ở Trung Quốc thì vào thời đại Bắc Tống việc khắc bản in đã rất thịnh hành và việc chép Thánh điển được coi là một nghi lễ, còn lưu truyền mãi đến ngày nay. Ngoài việc đọc tụng, học hiểu để tăng tiến tín ngưỡng, Thánh điển còn là đối tượng lễ bái, việc nàyvốn đã được lưu truyền ở Ấn Độ. So với Thánh điển của các tông giáo khác thì Thánh điển của Phật giáo đồ sộ hơn, đây là 1 đặc sắc lớn của Phật giáo, vì thế nên đã có học giả gọi Phật giáo là Thư chi tông giáo (SchriftReligion, tông giáo của sách). (xt. Phật Giáo Giáo Điển).
thánh điển a hàm
Xem A hàm.
thánh điển giáo thư
5578Granth Sāhib 或 Guru Granth Sāhib)音譯格蘭特沙哈卜。印度錫克教之主要經典。一六○四年間,錫克教五祖阿爾瓊(Arjun Mal, 1563~1606),彙編歷代祖師,及羅摩難陀(Rāmānanda)、喀比爾(Kabīr)等印度教改革思想家之讚歌、聖句、祈禱文等,稱爲根本聖典(Ādi Granth,音譯阿底格蘭特),共一萬五千餘詩節。至十祖哥賓德辛格(Govind Singh, 1666~1708),注釋根本聖典,並增編六祖以降,諸祖之言行錄,稱爲第十代教祖之聖典(Dasve pātsāh kā granth),即今之聖典教書,現存於阿穆利薩(Amritsar)錫克教本山黃金寺(Darbar Sāhib),該寺奉爲本尊。辛格生前,廢除教祖制,以聖典教書爲教團崇拜之對象。錫克教信奉哈里神(Hari),本書即以一神教義爲主,揭示對教祖之敬愛,對神之絕對皈依,並強調「業」之倫理生活等;然亦雜有印度教之泛神論、不二一元思想,及伊斯蘭教蘇非(Sūfī)之神祕主義等。於本書之作者群中,包括自一一五○年以降五百年間伊斯蘭教神學家四十二人,故由本書亦可略窺伊斯蘭教傳入印度後,印度思想轉變之概況。〔Duncan Greenless: The Gospel of the Guru Granth Sahib, 1952;Trilochan Singh, B. Jodh Singh, Kapur Singh, Bawa H. Singh, Khushwant Singh:The Sacred Writings of the Sikhs, with the Foreword by Arnold Toynbee and the Introduction by S. Radhakrishnan, 1960〕
thánh điển không văn tự
The Unwritten Sacred Literature. a) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, toàn bộ kết tập của Thánh điển do đại hội san định chưa được viết trên giấy hay lá thốt nốt suốt thời gian gần 400 năm. Dĩ nhiên, ngay cho đến hôm nay Bà La Môn giáo cũng chưa viết ra văn học Vệ Đà, nhất là những sách mệnh danh là “khải thị lục.” Chúng ta có thể tưởng tượng, đạo Phật đã giản dị noi gương nền tôn giáo xưa hơn, nhưng cũng còn có những lý do khác nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the whole collection of the sacred literature authorized by the Council was not written on paper or palm leaf during a period of about four hundred years. It is well known that Brahmanism has never written down its Vedic literature even to this day, especially those revealed texts called “Hearing” (Sruti). We may imagine that Buddhism simply followed the example of the older religion, but there were other reasons as well. • Trước hết các ngài đã không dám tục hóa âm thanh dịu ngọt và những lời êm ái của Đức Thích Tôn bằng cách đặt chúng vào những văn tự mạo phạm có nguồn gốc ngoại lai. Phật đã có lần cấm dịch những lời của Ngài thành tiếng Sanskrit của Vệ Đà. Thế thì Ngài sẽ í hài lòng hơn nếu viết những lời của Ngài trong mẫu tự của học thuật thế gian, vốn chỉ được dùng cho mục đích thương mại và bình dân. First, they dare not desecrate the sweet voice and kindly words of the Blessed One by putting them down in the profane letters of a foreign origin. The Buddha had once forbidden the translation of his words into the Vedic sanskrit. How much less would it please him to write his words in the foreign Accadian alphabet, which was used only for commercial and popular purposes? • Thứ hai, ngôn ngữ mà các ngài chấp thuận trong đại hội rất có thể là một thứ tiếng hỗn chủng, gần giống tiếng Ba Li, đó là tiếng Hoa Thị (Pataliputra). Thật không thích hợp nếu ngôn ngữ và văn học linh thiêng của các Ngài phải mở ra cho quần chúng, nhất là khi có một số trưởng lão có dị kiến theo khuynh hướng tự do tư tưởng: Secondly, the language they adopted in the council was, in all probability, a commingled one, something like the Pali language, that is, the language of Pataliputra. It was not advisable that their sacred language and literature should be open to the public, especially when there were some dissenting elders of a free-thinking tendency. a) Thứ ba, đặt những Thánh ngôn của Phật vào văn tự có thể coi là mạo phạm cũng như miêu tả thánh tượng bằng hội họa hay điêu khắc. Dù sao, toàn bộ văn học được duy trì trong ký ức và không được phép viết trải qua khoảng bốn thế kỷ: Thirdly, to put the Buddha's holy words to letters might have seemed to them a sacrilege just as depicting his sacred image in painting or sculpture. At any rate, the whole literature was kept in memory and was not committed to writing until about four centuries later. b) Cộng đồng Phật tử, trái hẳn với cộgn đồng Bà La Môn, là một tập hợp của cả bốn giai cấp đến từ mọi phương hướng, và đã không thích hợp cho việc tụng đọc cẩn thận các Thánh ngôn. Kết quả là cuộc lưu truyền thiếu sót. Vì sợ thất lạcvà xuyên tạc từ những giáo thuyết nguyên thủy, nên vua Vattagamani của Tích Lan đã ban lệnh ghi chép toàn bộ văn học viết bằng chữ Tích Lan, khoảng năm 80 trước Tây Lịch: The Buddhist community, quite different from that of the Brahmans, was an assortment of all four castes coming from all quarters, and was not suitable for a serious recital of the holy words. The result was an imperfect transmission. Fearing the loss and distortion of the original teachings, King Vattagamani of Ceylon gave orders to commit the whole literature to writing in Sinhalese characters, about the year 80 B.C.
thánh điển ngũ bộ
Xem Thánh điển.
Thánh điện
聖殿; S: caitya; P: cetiya;|Nơi các vị Tỉ-khâu ngày xưa hội họp và ngồi thiền. Về sau, Thánh điện này không còn được chú trọng và hoà nhập lại thành Chính điện, nơi thờ tượng của đức Phật.
Thánh đại tổng trì vương kinh 聖大總持王經
[ja] ショウダイソウジオウキョウ Shō dai sōji ō kyō ||| The Sheng da zongchi wang jing; Skt. Āryamahā-dhāraṇī ; Tib. gzungs chen po [To.529/888]; (Great Holy Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1371.21.888-889), trans. Dānapāla 施護. => Shō dai sōji ō kyō (j); Sheng da zongchi wang jing (c); Āryamahā-dhāraṇī (s); Gzungs chen po (t); Great Holy Dhāraṇī (e); Một quyển ; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
Thánh đạo
聖道; S: ārya-mārga; P: ariya-magga;|Ðạo xuất thế, con đường xuất thế bao gồm bốn cấp bậc. Mỗi cấp lại được phân biệt là: Thánh nhân (s: ārya-pudgala) đi trên đạo và Thánh quả (s: phala) của đạo đó. Bốn cấp của đạo xuất thế là: 1. Dự lưu (s: śrotāpana), người mới nhập dòng; 2. Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin), người tái sinh trở lại thế gian này một lần nữa; 3. Bất hoàn (s: anāgāmin), người không bao giờ trở lại thế gian này nữa; và 4. A-la-hán (s: arhat).
thánh đạo
5584<一>聖正之道。與「俗道」相對。即無漏智所行之正道,與「出世道」同義。雜阿含經卷二十二(大二‧一六○中):「精勤修習者,能開發聖道。」〔大方等大集經卷三、梁譯攝大乘論釋卷十五、俱舍論卷二十二、卷二十三、成唯識論卷五〕 <二>指八聖道支。又作八正道,即:正見、正思惟、正語、正業、正命、正精進、正念、正定。(參閱「八正道」280)
; Āryamārga (S), Ariya-magga (P), Path of Sages Nền đạo lý của chư thánh.
; Arya-màrga (S).The holy way, Buddhism; the way of the saints, or sages; also the noble eightfold path. Noble path, the path of holiness.
; 1) Con đường Thánh Thiện: The holy way. 2) Con đường của bậc Hiền Thánh: The way of the saints or sages. 3) Đạo Phật: See Buddhism in English-Vietnamese Section. 4) Bát Thánh Đạo: The Eightfold Noble Path—See Bát Thánh Đạo.
; (聖道) I. Thánh Đạo.Đối lại: Tục đạo. Đồng nghĩa: Xuất thế đạo. Chỉ cho chính đạo của bậc thánh. Tức chính đạo do trí vô lậu đạt được. Kinh Tạp a hàm quyển 22 (Đại 2, 160 trung) nói: Người siêng năng tu tập, mở tỏ được Thánh đạo. Mồng 1 tháng giêng Ngày 19 tháng 2 Ngày 21 tháng 2 Ngày 16 tháng 3 Ngày mồng 4 tháng 4 Ngày mồng 8 tháng 4 Ngày mồng 3 tháng 6 Ngày 13 tháng 7 Ngày 30 tháng 7 Ngày 30 tháng 9 Ngày 17 tháng 11 Bồ tát Di lặc Bồ tát Quán âm Bồ tát Phổ hiền Bồ tát Chuẩn đề Bồ tát Văn thù Đức Phật Thích ca Bồ tát Vi đà Bồ tát Đại thế chí Bồ tát Địa tạng Phật Dược sư Phật A di đà[X. kinh Phương đẳng đại tập Q.3; nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (bản dịch đời Lương; luận Câu xá Q.22, 23; luận Thành duy thức Q.5]. II. Thánh Đạo. Cũng gọi Bát chính đạo. Chỉ cho 8 Thánh đạo, tức là: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm và Chính định. (xt. Bát Chính Đạo).
Thánh Đạo Môn
(聖道門, Shōdōmon): môn (門) có nghĩa là pháp môn hay lời dạy, giáo lý, Thánh Đạo Môn có nghĩa là giáo lý dạy người tu tập chứng quả trong hiện đời này nhờ tự lực của bản thân mình. Đặc biệt là từ này dùng để chỉ cho Thiên Thai Tông và Chơn Ngôn Tông. Thánh Độ Môn (聖土門) đối với Tịnh Độ Môn.
thánh đạo môn
5585淨土教將佛道大別爲聖道門與淨土門二種。(一)在此世自力修行悟道而成聖者,稱此土入聖,是爲聖道門。(二)仰仗阿彌陀佛之力往生淨土而悟道,稱彼土入證,是爲淨土門。此係根據唐朝道綽之安樂集所說而分者。(參閱「聖淨二門」5583)
; The ordianary schools of the way of holiness by the processes of devotion, in contrast with immediate salvation by faith in Amitàbha.
; Con đường của bậc Hiền Thánh đạt đạo qua quá trình tu tập, đối lại với tịnh độ môn hay sự cứu độ qua niềm tin nơi Đức Phật A Di Đà—The ordinary schools of the way of holiness by the process of devotion, in contrast with immediate salvation by faith in Amitabha. **For more information, please see Nhị Môn (1).
; (聖道門) Tịnh độ giáo chia Phật đạo làm 2 môn là Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. 1. Thánh đạo môn: Người ở thế giới này nhờ vào tự lực tu hành mà ngộ đạo thành Thánh, gọi là Thử độ thành Thánh, đó là Thánh đạo môn. 2. Tịnh độ môn: Người nương nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà, sinh về Tịnh độ mà ngộ đạo, gọi là Bỉ độ nhập chứng, đó là Tịnh độ môn. Sự phân chia này là căn cứ vào thuyết của ngài Đạo xước đời Đường được nói trong An lạc tập. (xt. Thánh Tịnh Nhị Môn).
Thánh đạo 聖道
[ja] ショウドウ shōdō ||| (1) Enlightenment, awakening; the path of the sages. (2) Sagely knowledge; undefiled wisdom. (3) The 'sagely paths:' a reference to the Path of Seeing 見道, the path of cultivation 修道 and the Path of No More Learning 無學道. (4) The Correct Eightfold Path . => 1. Sự giác ngộ, sự tỉnh thức; đạo của bậc thánh. 2. Trí huệ của bậc thánh; trí huệ vô lậu. 3. Chỉ cho giai vị Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo. 4. Bát chánh đạo八正道.
Thánh Đạt
(聖達, Shōtatsu, ?-?): vị Tăng của Dòng Tây Sơn (西山流) thuộc Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Thánh Đạt (聖達). Ông theo hầu Chứng Không (証空), học về Tịnh Độ Giáo của Dòng Tây Sơn. Ông đã từng nỗ lực bố giáo ở Thái Tể Phủ thuộc vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen), rồi khai sáng Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở vùng Phì Tiền (肥前, Hizen). Môn đệ của ông có Hiển Ý (顯意), Thánh Quán (聖觀); và ngay cả vị Tổ của Thời Tông là Nhất Biến (一遍, Ippen) cũng đã từng theo tu học với ông trong vòng 12 năm trường.
thánh đản
Birthday of a saint.
thánh đản nhật
5586即諸佛菩薩之降誕日期,爲佛教界之重要節日。我國通常以農曆爲準。
; (聖誕日) Ngày đản sinh của chư Phật, Bồ tát, là những ngày lễ quan trọng của giới Phật giáo. Thông thường, người Trung Quốc dùng âm lịch làm chuẩn. Sau đây là những ngày Thánh đản Phật và Bồ tát trong năm(tính theo Âm lịch):
Thánh đế
(聖諦): đế có nghĩa là chân lý, nguyên lý; Thánh đế có nghĩa là chân lý giác ngộ của bậc Thánh. Từ đó, theo nghĩa rộng, nó có nghĩa là Phật đạo, Phật pháp, chân tánh, chân đế.
thánh đế
5588所謂諦,乃真實不虛之理;聖諦即指聖者所知一切寂靜之境界,係佛教之根本大義,故又稱第一義、真諦;乃屬出離世間法中之究竟深義。據碧巖錄第一則所載,梁武帝曾以「聖諦」一語向達磨祖師請益宗要。(參閱「第一義諦」4760)
; Ārya-satya (S), Ariya saccani (P), Ariya-sacca (P), Noble truth Chân lý của bậc Thánh. Diệu đế Xem Đệ I nghĩa đế. Xem Diệu đế.
; The sacred principles, or those of the saints, or sages; especially the Four Noble Truths tứ thánh đế.
; Lý đạo chân chánh do bậc Thánh sở thuyết, gọi là Thánh đế.
; Đế lý mà các bậc Thánh thấy được; đặc biệt là Tứ Thánh Đế (Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chân thực không hư vọng, không điên đảo)—The sacred principles or dogmas, or those of the saints, or sages; especially the Four Noble Truths. ** For more information, please see Tứ Thánh Đế.
; (聖諦) Đế nghĩa là lí chân thực không hư dối; Thánh đế tức chỉ cho tất cả cảnh giới tĩnh lặng mà bậc Thánh thấy biết, đây là nghĩa căn bản của Phật giáo nên cũng gọi là Đệ nhất nghĩa, Chân đế, thuộc nghĩa sâu xa cùng tột trong pháp xuất li thế gian. (xt. Đệ Nhất Nghĩa Đế)
thánh đế hiện quán
5588謂於見道之位以無漏智觀四聖諦之境。即於見道苦法智忍等十六心,現見分明等同之境,稱爲現觀,全稱聖諦現觀。俱舍論卷二十三(大二九‧一二一上):「世第一無間,即緣欲界苦,生無漏法忍,忍次生法智,次緣餘界苦,生類忍類智;緣集滅道諦,各生四亦然。如是十六心,名聖諦現觀,此總有三種,謂見、緣、事。」 聖諦現觀有見現觀、緣現觀、事現觀三種。(一)以無漏之慧於四諦之境現見分明,稱爲見現觀。(二)此無漏之慧及與此慧相應之心、心所共同緣四諦之境,稱爲緣現觀。(三)無漏智慧及與之相應之心、心所及無表色,並生、住、異、滅等不相應法,共同對四諦能作知、斷、證、修等事業,稱爲事現觀。〔成唯識論卷九、瑜伽師地論卷五十五、顯揚聖教論卷十七、攝大乘論本卷中、大毘婆沙論卷三、卷四、卷五十一、卷七十八、卷一○三〕(參閱「現觀」4731)
; (聖諦現觀) Gọi Tắt: Hiện Quán. Chỉ cho giai vị Kiến đạo dùng trí vô lậu quán xét 4 đế. Tức trong 16 tâm Kiến đạo khổ pháp trí nhẫn, hiện thấy cảnh giới đồng đẳng rõ ràng, gọi là Hiện quán, gọi đủ là Thánh đế hiện quán. Thánh đế hiện quán có Kiến hiện quán, Duyên hiện quán và Sự hiện quán. 1. Kiến hiện quán: Dùng trí vô lậu quán xét cảnh giới 4 đế hiện thấy rõ ràng, gọi là Kiến hiện quán. 2. Duyên hiện quán: Trí vô lậu này và tâm, tâm sở tương ứng với trí này cùng duyên theo cảnh giới 4 đế, gọi là Duyên hiện quán. 3. Sự hiện quán: Trí vô lậu và tâm, tâm sở tương ứng với trí này, đồng thời, các pháp Bất tương ứng như sinh, trụ, dị, diệt... cùng thực hiện các việc (sự) như biết, đoạn, chứng, tu đối với 4 đế, gọi là Sự hiện quán. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; luận Đại tì bà sa Q.3, 4, 51, 78, 103]. (xt. Hiện Quán).
Thánh đế trí 聖諦智
[ja] ショウタイチ shōtaichi ||| The wisdom of the holy truths, which is necessary for the elimination of the static afflictions of ignorance 無明住地. 〔勝鬘經 T 353.12.221a25〕 => Trí huệ của bậc thánh, rất cần thiết để giải trừ cảnh giới vô minh phiền não (Vô minh trú địa 無明住地).
Thánh đế 聖諦
[ja] ショウタイ shōtai ||| The sagely truth(s); the holy truth(s). Reality as perceived by the buddhas (Skt. ārya-satyam; Pali ariyasacca). Also a reference to the Four Noble Truths 四諦. 〔雜阿含經、 T 99.2.103c〕 => Chân lý của bậc thánh, Thực tại được nhận biết bởi chư Phật (s: ārya-satyam; p: ariyasacca). Còn được chỉ cho Tứ đế 四諦.
thánh đề bà
Aryadeva (S). A native of Sri Lanka and disciple of Nàgàrjuna, famous for his writings and discussions. Also Thánh Thiên.
; Aryadeva or Devabodhisattva (skt)—Bồ Tát Đề Bà, người gốc Tích Lan, đệ tử của Ngài Long Thọ. Thánh Đề Bà là tác giả bộ Bách Luận nổi tiếng—A native of Ceylon and disciple of Nagarjuna, famous for his hundred writings and discussions.
Thánh Đề-bà 聖提婆
[ja] ショウダイバ Shōdaiba ||| Āryadeva, an important figure in the formation of the Mādhyamika 中觀派 school. He was the disciple of Nāgārjuna 龍樹 and author of such works as the Bailun 百論 and the Guangbai lun 廣百論. => Āryadeva (s); Nhân vật quan trọng trong sự hình thành Trung quán tông (Mādhyamika 中觀派). Sư là đệ tử của Ngài Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹) và là tác giả của những Tác phẩm như Bách luận (Bailun 百論) và Quảng bách luận (Guangbai lun 廣百論)
thánh địa
Holy Land.
Thánh địa 聖地
[ja] ショウチ shōchi ||| The stage of enlightenment; stage of Buddhahood. => Cảnh giới giác ngộ giải thoát; quả vị Phật.
thánh đức
A saint's virtue.
; Virtue of a saint.
Thánh Đức Thái Tử
(聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622): vị Hoàng Tử của Dụng Minh Thiên Hoàng (用明天皇, Yōmei Tennō, tại vị 585-587), mẹ là Hoàng Hậu Huyệt Huệ Bộ Gian Nhân (穴穗部間人, Anahobe-no-Hashihito). Ông còn được gọi là Phong Thông Nhĩ Hoàng Tử (豐聰耳皇子), Pháp Đại Vương (法大王), Thượng Cung Thái Tử (上宮太子). Thái Tử thông hết thảy học vấn nội ngoại, thâm tín quy y Phật Giáo. Truyền thuyết cho rằng khi người cô là Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628) lên ngôi thì ông làm Hoàng Thái Tử, trở thành Nhiếp Chính, lãnh đạo chính trị, chế định ra quan vị 12 cấp và hiến pháp 17 điều, phái người đi sứ sang nhà Tùy Trung Hoa. Hơn thế nữa, Thái Tử còn có công rất lớn trong việc nỗ lực làm cho hưng thạnh Phật Giáo, xây dựng rất nhiều tự viện và trước tác bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ (三經義疏).
thánh đức thái tử
5587(572~621)又稱廐戶皇子、豐聰耳命、上宮太子、聖王。乃日本用明天皇第二皇子。天資聰明,爲推古天皇之攝政。於儒學、佛學之外,博通曆學、天文、地理等。曾遣留學生至我國隋朝,致力於中國文化之輸日。又爲抑制豪族,加強皇權,制定冠位十二階(603)與憲法十七條(604),成爲日本善政之骨幹,其憲法第二條即規定篤信三寶。平生信仰佛法,極力發揚大乘精神。又親自開講三經(法華經、維摩經、勝鬘經),建立悲田院、敬田院,大興國民救濟事業。所建之寺院有四天王寺、法隆寺、廣隆寺、法興寺等,奠定佛教在日本之傳播基礎,爲調和中國文化與日本文化之指導者。後於推古二十九年薨(一說推古三十年),享年四十九,葬於日本大阪磯長。其傳記由於早期事蹟之傳說化而失真,然於「上宮聖德法王帝說」與「日本書紀」兩書所記載部分則極具重要性。在平安、鎌倉時代盛行聖德太子之繪傳。民間與各寺社中亦普遍供奉太子之肖像或雕刻。〔聖德太子傳曆卷下、日本書紀卷二十一、元亨釋書卷二十〕
; Shotoku-taishi (J) Ngài có công dựng ngôi chùa vĩ đại ở Nhật năm 587.
; (聖德太子) Cũng gọi Cứu hộ hoàng tử, Phong thông nhĩ mệnh, Thượng cung thái tử, Thánh vương. Vị hoàng tử thứ 2 của Thiên hoàng Dụng minh, Nhật bản. Ông bẩm sinh thông minh, là Nhiếp chính của Thiên hoàng Suy cổ. Ngoài Nho học, Phật học, ông còn thông suốt cả lịch học, thiên văn, địa lí... Ông từng phái học sinh đến du học ở Trung Quốc vào đời Tùy, tận lực du nhập văn hóa Trung Quốc vào Nhật bản. Ông đặt ra 12 bậc quan (603) và 17 điều Hiến pháp (604) làm nồng cốt cho nền nhân chính ở Nhật bản, điều thứ 2 trong Hiến pháp này qui định lòng tin chân thành đối với Tam bảo. Bình sinh, ông tin thờ Phật pháp, tận lực phát huy tinh thần Đại thừa. Ông thường giảng 3 bộ kinh Pháp hoa, Duy ma và Thắng man, kiến lập các viện Bi điền, Kính điền, phát triển sự nghiệp cứu tế toàn dân. Ông xây dựng 4 ngôi chùa lớn là chùa Tứ thiên vương, chùa Pháp long, chùa Quảng Long và chùa Pháp Hưng, đặt vững nền tảng cho việc truyền bá Phật giáo tại Nhật bản để điều hòa văn hóa Trung Quốc và văn hóa Nhật bản. Ông mất năm 612 (có thuyết nói năm 622), hưởng dương 49 tuổi, được an táng tại Ki trường, Đại phản, Nhật bản. Truyện kí của ông được ghi trong Thượng cung Thánh đức Pháp vương đế thuyết và trong Nhật bản thư kỉ. Vào thời Bình An và Liêm Thương rất thịnh hành truyện tranh về Thái tử Thánh đức. Trong dân gian và các chùa miếu cũng phổ biến việc thờ chân dung hoặc tượng khắc của Thái tử. [X. Thánh đức thái tử truyện lịch Q.hạ; Nhật Bản thư kỉ Q.21; Nguyên hanh thích thư Q.20].
Thánh Đức Thái tử 聖徳太子
[ja] ショウトクタイシ Shōtoku Taishi ||| Shōtoku Taishi (574-622); prince Shōtoku, second son of the emperor Yōmei. Studied under Korean monks who had come to Japan to teach Buddhism, and was responsible for much of the early dissemination of knowledge of Buddhist doctrine in Japan. He wrote commentaries on the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經, Lotus Sutra 法華經, and Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經. He later sent missions to China for gathering more scriptural materials, and then subsequently established seven Buddhist temples: the Shitennō-ji 四天王寺, Hōryū-gakumon-ji , the Chūgū-ji 中宮寺, Tachibana-dera 橘寺, Hachioka-dera , Ikejiri-dera 池尻寺, and Katsuragi-dera 桂木寺. => Sŏngdŏk T'aecha (k); Shōtoku Taishi (j); Shōtoku Taishi (574-622); Thái Tử Thánh Đức, con trai thứ của Hoàng đế Yōmei. Học đạo với một vị tăng Cao Ly đến Nhật Bản để truyền bá Phật pháp, là người có trách nhiệm rất lớn trong việc truyền bá kiến thức Phật học đầu tiên ở Nhật Bản. Ông viết các luận giải về Kinh Thắng Man (Śrīmālā-sūtra 勝鬘經), kinh Pháp Hoa, kinh Duy-ma (Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經). Sau đó ông gởi nhiều đoàn sứ giả sang Trung Hoa để thu thập kinh điển Phật giáo; rồi sau đó kiến lập bảy ngôi chùa Phật giáo: Tây thiên vương tự (Shitennō-ji 四天王寺), chùa Hōryū-gakumon, Trung cung tự (Chūgū-ji 中宮寺), chùa Hachioka-dera, Quất tự (Tachibana-dera 橘寺), Trì cừu tự (Ikejiri-dera 池尻寺) và Quế mộc tự (Katsuragi-dera 桂木寺).
thánh ấn
5577(1930~ )臺灣臺中人,俗姓陳。日本京都佛教大學畢業。年十七,依北投慈航寺智性和尚剃度。民國四十四年(1955),在基隆靈泉寺受具足戒。爲臺中慈明寺、萬佛寺之開山住持。平素致力於弘法、教育及慈善事業。除興建寺院之外,設有慈明托兒所、幼稚園、慈明商工職業學校與中華佛教學院;並創辦慈明雜誌、慈聲月刊,復於各電臺舉辦空中弘法,於電視布教。六十八年獲美國洛杉磯東方大學授予榮譽哲學博士學位。歷任中國佛教會理事、臺灣省分會常務理事、臺中市支會理事長、中華佛教學院院長等。著作有禪林寶訓講記、六祖壇經講話、佛教概論等二十餘部行世。
thánh ứng
The influence of Buddha; the response of Buddha, or saints.
; Sự cảm ứng linh nghiệm của chư Phật và chư Thánh—The influence of Buddha—The response of the Buddha or saints.
Thánh 聖
[ja] ショウ shō ||| (1) A sage, a saint, a wise man (Skt. ārya, Pali ariya). (2) Pure, undefiled 無漏. (3) In Buddhism, the Buddha, or an arhat (Skt. bhagavat; Pali bhagavat). A person who is enlightened, as contrasted with unenlightened worldlings 凡夫. (4) Correct, right, true 正. => 1. Hiền nhân, nhà hiền triết; người thánh thiện; người thông thái (s: ārya; p: ariya). 2. Thanh tịnh, vô lậu 無漏. 3. Trong Phật pháp là để chỉ cho Đức Phật hoặc các vị A-la-hán (s: bhagavat; p: bhagavat). Là người đã giác ngộ, khác với kẻ phàm phu. 4. Đúng đắn, chân thực, chân chính.
tháo
To unbind—To untie—To undo.
tháo bình thiên tử
6255又稱「作瓶天子」。據佛本行集經卷十四至卷十六載,佛陀為太子時,十年於宮內受五欲之樂,作瓶天子見之,遂以神力,令宮內婇女伎兒所作音聲歌曲自然傳述出離五欲、趣向涅槃之聲,太子聞之,漸生厭離之心。其後,作瓶天子復以神力,於太子遊觀四門時,依次變化為老人、病人、死屍、出家人,令太子徹見老、病、死之相,而欣求出離之道。又作瓶天子之名,於過去現在因果經作「淨居天」。
tháo gỡ
To disentangle.
tháo lui
To draw back—To retreat—To withdraw.
tháo thân
To get away—To escape.
tháo đậu
(澡豆), tức nước tro, là loại nước làm sạch ngày xưa, có công dụng như xà-phòng ngày nay, được chế biến bằng cách ngâm tro bếp rồi gạn lấy nước trong, sử dụng khi tắm, giặt, rửa...
; 6255請參閱 閻羅王五天使經 [1] 洗滌身體、衣服等污穢所用之豆粉。為比丘十八物之一。係由大豆、小豆、摩沙豆、豌豆、迦提婆羅草、梨頻陀子等磨粉而成。故南海寄歸內法傳卷一食罷去穢條稱之為「豆屑」,並謂將此豆屑與土乾、牛糞混合,則稱三屑淨揩。比丘於齋食之後,以澡豆淨手,方可執取經卷。據大威德請問經載,若不以澡豆淨手而執經卷、香爐等物,死後將墮於不淨地獄。又依十誦律卷三十九所說,澡豆係貯放於木桶中。〔蘇悉地羯囉經卷下、五分律卷二十六、有部毘奈耶雜事卷十、十誦律卷三十八、四分律卷三十三、摩訶僧祇律卷三十三〕
; (澡豆) Loại bột được dùng để tẩy sạch những vết dơ trên thân thể hoặc quần áo, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu. Bột này là do nghiền nát các loại đậu như đậu nành, đậu nhỏ, đậu ma sa, hoặc cỏ ca đề bà la, hay hạt lê đầu đà... mà thành. Sau khi thụ trai, các tỉ khưu phải dùng bột này rửa tay cho sạch rồi mới được cầm kinh sách. Cứ theo kinh Đại uy đức thỉnh vấn nếu không dùng táo đậu rửa sạch tay mà cầm kinh, bưng lư hương... thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục Bất tịnh. Lại theo luật Thập tụng quyển 39 thì táo đậu được để trong thùng gỗ. [X. kinh Tố tất địa yết ra Q.hạ; luật Ngũ phần Q.26; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.10; luật Thập tụng Q.38; luật Tứ phần Q.33; luật Ma ha tăng kì Q.33].
Tháp
(s: stūpa, p: thūpa, 塔): âm dịch là Tốt Đổ Bà (窣睹婆、窣堵婆), Tốt Đổ Ba (窣堵波), Tốt Đô Bà (窣都婆), Tẩu Đẩu Bà (藪斗婆), Tẩu Đẩu Ba (數斗波), Tô Thâu Bà (蘇偷婆), Tố Đổ Ba (素睹波), Suất Đô Bà (率都婆), Tốt Đô Bà (卒都婆); dịch tắt là Tháp Bà (塔婆), Thâu Bà (偷婆), Đâu Bà (兜婆), Phật Đồ (佛圖), Phù Đồ (浮圖、浮屠), Phật Tháp (佛塔); ý dịch là cao hiển xứ (高顯處), công đức tụ (功德聚), phương phần (方墳), viên trũng (圓塚), đại trũng (大塚), trũng (塚), phần lăng (墳陵), tháp miếu (塔廟), miếu (廟), quy tông (歸宗), đại tụ (大聚), tụ tướng (聚相), linh miếu (靈廟). Nguyên lai chỉ cho nơi an trí vật Xá Lợi, v.v., của đức Phật, lấy gạch ngói, v.v., dựng thành vật kiến trúc; nhưng đời sau phần lớn hỗn đồng với nghĩa Chi Đề (s: caitya, 支提), mà chỉ chung cho nơi đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân, Nhập Niết Bàn, nơi các đức Phật quá khứ kinh hành, thánh địa liên quan đến tiền sanh của đức Phật, hang Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), cho đến những nơi an trí tượng chư Phật, Bồ Tát, hay di cốt của chư vị cao tăng, Tổ sư, v.v. người ta thường lấy đất, đá, gạch ngói, gỗ, v.v., xây dựng nên vật kiến trúc để lễ bái cúng dường. Tuy nhiên, Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律, Taishō Vol. 22, No. 1425) quyển 33, Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 11, v.v., phân biệt rõ rằng nơi nào có Xá Lợi đức Phật thì gọi là Tháp, nơi nào không có là Chi Đề. Căn cứ vào đó, 8 ngôi tháp có an trí Xá Lợi đức Phật ở Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), v.v., là Tốt Đổ Ba; còn các ngôi tháp nơi đức Phật đản sanh ở Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), nơi Thành Đạo dưới cây Bồ Đề ở Phật Dà Già Da (s: Buddha-gayā, 佛陀伽耶), nơi Chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), nơi đại thần thông của Tinh Xá Kỳ Viên (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇園精舍), nơi có ba đường bậc cấp báu (khi đức Phật từ trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利] xuống) ở gần khúc Nữ Thành (曲女城), nơi tuyên thuyết kinh điển Đại Thừa ở núi Kỳ Xà Quật (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), nơi cư sĩ Duy Ma Cật (s: Vimalakīrti, 維摩詰) thị hiện tướng bệnh ở Am La Vệ Lâm (菴羅衛林), nơi đức Phật nhập Niết Bàn ở rừng Sa La (沙羅), v.v., được gọi là Bát Đại Linh Tháp (八大靈塔, tám ngôi tháp lớn linh thiêng), đều thuộc về Chi Đề. Về nguồn gốc tạo dựng tháp, có thể suy tận thời đại đức Phật, như Thập Tụng Luật (十誦律, Taishō Vol. 23, No. 1435) quyển 56 cho biết rằng trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達) đã từng cầu xin lấy tóc và móng tay của đức Phật, dựng tháp thờ cúng dường. Hay Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 33 có ghi rằng vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng từng bắt chước đức Phật, kiến lập tháp Phật Ca Diếp (s: Kāśyapa Buddha, 迦葉佛) để lễ bái cúng dường. Sau khi đức Phật nhập diệt, có 8 quốc gia như Ba Bà (波婆), Nhân Già La (人遮羅), La Ma Già (羅摩伽), v.v., nhờ Bà La Môn Hương Tánh (香姓) phân chia Xá Lợi cho, các nước ấy đều tự đem trở về dựng tháp cúng dường; và đây được xem như là khởi điểm của việc kiến tạo Tốt Đổ Ba. Ngoài ra, theo A Dục Vương Truyện (阿育王傳, Taishō Vol. 50, No. 2042) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 1, v.v., cũng cho biết thêm rằng sau khi đức Phật diệt độ khoảng 200 năm, nhân dịp quân lâm đến vương quốc Ma Kiệt Đà, vua A Dục (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育) đã cho kiến lập 84.000 bảo tháp ở khắp các địa phương của lãnh thổ này. Theo khảo chứng của học giả Nhật Bản là Dật Kiến Mai Vinh (逸見梅榮, Henmi Baiei, 1891-1977), cổ tháp trong di tích Sanchi, ngói tạo tháp ở vị trí trung tâm được vua A Dục làm từ thời xưa. Nếu nói chung về nghĩa của Tháp (gồm Tháp Bà lẫn Chi Đề), có rất nhiều kiến trúc nổi tiếng trên khắp thế giới, tỷ dụ như: (1) Tháp của di tích Bharhut (巴赫特, Ba Hách Đặc) ở miền Trung Ấn, thân tháp đã bị đỗ nát hoàn toàn, chỉ còn lại lan can bằng đá, cổng đá; suy định thuộc loại cổ tháp, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, dưới thời vua Huân Ca (熏迦). (2) Lan can đá cổ ở vùng phụ cận Đại Tháp Phật Đà Già Da, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN. (3) Các Chi Đề ở những di tích Phật Giáo trứ danh như hang động thứ 10 của Ajanta (阿旃多, A Chiên Đa), hang động thứ 17 của Nāsik (那西克, Na Tây Khắc), ở Kārlī (迦利, Ca Lợi), Bedsā (貝德沙, Bối Đức Sa), v.v., đều được tạo dựng vào khoảng từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 1 trước CN; là các di sản tiểu biểu quan trọng của tháp Phật thời cổ đại. (4) Ca Nị Sắc Ca (s: Kaniṣka, p: Kanisika, 迦膩色迦) của nước Kiền Đà La (s, p: Gandhāra, 犍馱羅) thuộc Bắc Ấn, vị vua thống trị vào khoảng thế kỷ thứ 1 sau CN, đã từng kiến lập một ngôi tháp cao đến 32 thước dưới Tuyết Sơn thuộc nước Ca Tất Thí (s: Kapiśa, 迦畢試). Rồi nhà vua lại cho dựng ngôi Tước Ly Phù Đồ (雀離浮圖) ở nước Kiền Đà La, cao hơn 220 thước, gồm 13 cấp; cho nên Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 5 gọi đó là “Tây Vức Phù Đồ tối vi đệ nhất (西域浮圖最爲第一, ngôi tháp số một trong những ngôi tháp ở Tây Vức [Ấn Độ]).” (5) Tại địa phương Kiền Đà La còn có một số di tích tháp cổ, đều được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước sau CN cho đến thế kỷ thứ 2, 3 sau CN; như tháp Đạt Nhĩ Mã Lạp Tư Sá (達爾瑪拉茲卡, Darmarajka), Mã Ni Kháp Lạp (瑪尼恰拉, Manikyala), Tháp Khố Đặc Y Ba Hy (塔庫特伊巴希, Takt-i-Bahi), Á Lực Mã Tư Cát Đức (亞力瑪斯吉德, Ali Masjid), v.v. (6) Tại địa phương A Nậu La Đà Bổ La (阿㝹羅陀補羅, Anuradhapura) của Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka), vẫn còn mấy tòa cổ tháp, trong đó có Tháp Viên (p: Thūpārāma, 塔園) do vua Thiên Ái Đế Tu (p: Devānampiya-tissa, 天愛帝須) kiến lập, được xem như là ngôi tháp xưa nhất của đất nước này. Lại có Vô Úy Sơn Phật Tháp (p: Abhayagiri, 無畏山佛塔) được vua Bà Tha Già Mã Ni (p: Vaṭṭagāmaṇi, 婆他伽馬尼) kiến lập vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN, cao hơn 120 thước, đường kính đáy tháp khoảng 115 thước. Ngoài ra, ngôi Lỗ Uyển Duy Lợi Tháp (魯宛維利塔, Ruwanveli) vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, được xem như tháp cổ nổi tiếng nhất. (7) Ngôi Thụy Đức Cung Phật Tháp (瑞德宮佛塔, Shwedagon) ở thủ đô Rangoon (蘭貢, Lan Cống), Miến Điện (緬甸, Myanmar), thân tháp cao đến 118 thước. Ngôi Tu Mã Đỗ Tháp (修瑪杜塔, Shwemaudau) ở cố đô Pegu (庇古, Tí Cổ), cao 102 thước; tầng bên ngoài tháp đều được trang sắc bằng vàng ròng, chung quanh có mấy mươi tòa tháp nhỏ. Bên cạnh đó, còn có Tô Lôi Tháp (蘇雷塔, Soolay) ở Rangoon; vùng phụ cận của Mandalay cũng có khoảng 450 ngôi tháp nổi tiếng khác. Tại Pagan có một số như Đạt Tân Vưu Tháp (達濱尤塔, Tapinyu), Cáo Đạt Ba Lâm Tháp (告達巴林塔, Gauda-palin), A Nan Đà Tháp (阿難陀塔, Ānanda), v.v. (8) Tại Thái Lan, có rất nhiều tháp Phật vẫn còn tại cố đô Ayuthia (猶地亞, Do Địa Á). Ngoài ra, ngôi Phỉ Lạp Thác Mỗ Ma Yết Đề Tháp (菲拉托姆麻歇提塔, Phra-Thomma chedi) tại thủ đô Bangkok (曼谷, Mạn Cốc), thân tháp cao đến 125 thước; ngôi Thanh Tự Tháp (青寺塔, Wat Ching), đều là những kiến trúc Phật Giáo trứ danh. (9) Các ngôi Duy Ân Thường Tháp (維恩常塔, Vienchang), Khoa Ma Nghênh Tháp (科摩迎塔, Chom-yong) của Lào, đều là những ngôi tháp cổ quan trọng. (10) Ngôi Bà La Phù Đồ (婆羅浮屠, Buro-Budur) ở xứ Java (爪哇, Trảo Oa) là ngôi tháp có quy mô rộng lớn, hình tứ giác, trên đỉnh có một tòa tháp lớn, chung quanh bao bọc bởi 72 tháp nhỏ với hình dáng tương đồng với tháp lớn kia; trong mỗi tháp có an trí tượng Phật, toàn bộ thể hiện hình dáng Kim Tự Tháp của Ai Cập; mỗi tháp dài rộng 123 thước, cao 42 thước, được xem như là Thánh địa vĩ đại nhất, hùng tráng nhất hiện tồn của Phật Giáo Đại Thừa trên toàn cầu. (11) Tại Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), có ngôi Tư ổ Nhã Mỗ Bố Na Đức Tháp (斯塢雅姆布那德塔, Swuyambhūnāth) ở Katmandu (加德滿都, Gia Đức Mãn Đô) cũng rất to lớn, hình trạng giống như bình bát úp xuống; trên có mấy mươi tầng vòng tròn, trên đỉnh tháp có bảo cái. (12) Tháp tại Tây Tạng được gọi là Lạt Ma Tháp (喇嘛塔), nhưng trong nước này có khá nhiều tháp nhỏ. (13) Tại Trung Quốc, ở phương Bắc, Đông Bắc cũng như Mông Cổ, vẫn còn rất nhiều tháp lớn; như Lợi Tự (利寺, Leh) ở Ladakh (拉達克, Lạp Đạt Khắc); ngôi Bố Đạt Lạp Miếu (布達拉廟) ở Nhiệt Hà (熱河). Những ngôi tháp có quy mô hoành tráng tại 4 ngôi chùa ở Đông Tây Nam Bắc của Thẩm Dương (瀋陽), Liêu Ninh (遼寧); tại Đại Tháp Viện Tự (大塔院寺) trên Ngũ Đài Sơn (五臺山) vùng Sơn Tây (山西); Tịnh Minh Tự (淨明寺) ở Thái Nguyên (太原), Sơn Tây; Vĩnh An Tự (永安寺), Diệu Ứng Tự (妙應寺) ở Bắc Bình (北平), v.v. Trong số đó, ngôi tháp ở Đại Tháp Viện Tự cao 86 thước, thuộc loại lớn nhất. Việc kiến tạo tháp Phật tại Trung Quốc khởi đầu từ thời Tam Quốc (三國, nghĩa hẹp là 220-280), tức nhân sự kiện Ngô chúa Tôn Quyền (孫權, tại vị 229-252) cảm đắc Xá Lợi nơi cao tăng Khương Tăng Hội (康僧會, ?-280), vô cùng thán phục, bèn xây tháp cúng dường, lấy hiệu là Kiến Sơ Tự (建初寺). Lúc bấy giờ là năm thứ 3 (240) niên hiệu Xích Ô (赤烏). Tuy nhiên, nếu theo Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 54 ghi chép, ngôi tháp tại Bạch Mã Tự (白馬寺) được kiến lập vào năm thứ 10 (67) niên hiệu Vĩnh Bình (永平) đời vua Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Đông Hán, là tháp xưa nhất của Trung Quốc. Sau đó, sự tích kiến lập tháp trãi qua các triều đại rất nổi tiếng. Như vào năm thứ 2 (281) niên hiệu Thái Khang (太康) đời vua Võ Đế Tư Mã Viêm (武帝司馬炎, tại vị 266-290) nhà Tây Tấn, tăng sĩ Huệ Đạt (慧達) cảm đắc một tòa bảo tháp cao khoảng 45 thước, rộng 22 thước ở Huyện Mậu (鄮縣), Triết Giang (浙江), bèn dựng tháp để an trí tháp ấy. Đến năm đầu (516) niên hiệu Hy Bình (熙平) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ (孝明帝元詡, tại vị 515-528) nhà Bắc Ngụy, Linh Thái Hậu họ Hồ sai thợ kiến lập một tòa tháp bằng gỗ cao 9 tầng tại Vĩnh Ninh Tự (永寧寺), Lạc Dương (洛陽); tháp này cao đến 320 thước, cả ngoài trăm dặm đều có thể nhìn thấy được; nơi mái tháp có treo phong linh, thường phát ra âm thanh du dương, thanh thoát khi gió thoảng qua; tiếc thay tháp này hiện không còn nữa. Trong khoảng niên hiệu Chánh Quang (正光, 520-524) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ, tại Tung Nhạc Tự (嵩嶽寺) ở Tung Sơn (嵩山), Hà Nam (河南), có tạo dựng một ngôi tháp bằng gạch nung, cao khoảng 64 thước, có 12 góc, 15 tầng, được xem như là ngôi tháp tối cổ của Trung Quốc. dưới thời vua Dương Đế (煬帝, tại vị 604-618) nhà Tùy, nhà vua đã từng vì Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), kiến lập một ngôi tháp cũng bằng gạch tại Quốc Thanh Tự (國清寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), cao khoảng 74 thước. Chính vua Thái Tông (太宗, tại vị 626-649) nhà Đường cũng từng đáp ứng lời thỉnh cầu của Đại Sư Huyền Trang (玄奘, 602-664) cho dựng một tòa tháp bằng gạch nung cao 58 thước tại Đại Từ Ân Tự (大慈恩寺), Tây An (西安). Ngoài ra, số lượng tháp được tạo dựng ở các tự viện Trung Quốc qua các triều đại, nhiều không thể kể xiết; nhưng nếu nói về loại bằng gỗ hiện tồn thì rất ít. Sau thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) trở đi, vì chịu ảnh hưởng của văn hóa Lạt Ma Giáo, dạng thức của tháp cũng biến thành gọi là “hình thức bạch tháp (白塔式).” Dạng thức này vốn xuất phát từ Bắc Ấn và Đại Nguyệt Thị (大月氏), như Bạch Tháp ở Bắc Hải (北海), Bắc Bình (北平); Xá Lợi Tháp (舍利塔) ở Pháp Hải Tự (法海寺) thuộc Giang Đô (江都), Giang Tô (江蘇); Bách Linh Miếu Tháp (百靈廟塔) ở Võ Châu (武川), v.v., đều có quy chế kiến tạo khác xa với truyền thống của Trung Quốc. Về phía Nhật Bản, vào tháng 2 năm thứ 14 (585) đời Mẫn Đạt Thiên Hoàng (敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), đại thần Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) kiến lập một ngôi tháp trên phía Bắc đồi Đại Đã (大野, Ōno); trên đầu trụ tháp có an trí Xá Lợi do nhóm Tư Mã Đạt (司馬達) dâng cúng. Đây được xem như là tháp đầu tiên tại đất nước Phù Tang này. Đến năm thứ 15 (606) đời Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628), Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) tạo lập một ngôi Ngũ Trùng Tháp (五重塔, tháp năm tầng) tại Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), cho đến nay vẫn còn và được đánh giá như là tháp bằng gỗ tối cổ của thế giới. Theo Tục Nhật Bản Kỷ (續日本紀, Shokunihongi) quyển 30 cho biết, vào năm thứ 8 (764) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (天平寶字), Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758) phát nguyện tạo dựng 1.000.000 ngôi tháp 3 tầng bằng gỗ, cao 15 thước, mãi cho đến năm đầu (770) niên hiệu Bảo Quy (寶龜) mới hoàn thành; đem an trí tại các chùa trên toàn quốc. Về chủng loại của tháp thì có rất nhiều, lấy dạng thức mà phân biệt, có các loại như tháp hình thức như cái bát úp xuống, tháp như khám thờ, tháp hình trụ, tháp nhạn, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt Ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình lục giác, tháp hình bát giác, đại tháp, tháp Đa Bảo, tháp Du Kỳ (瑜祇), tháp Bảo Khiếp Ấn (寶篋印), tháp 5 vòng tròn, tháp quả trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái rèm kín, tháp Kim Cang Bảo Tòa (金剛寶座), mộ tháp, v.v. Nếu phân biệt theo vật cất giữ bên trong tháp thì có tháp Xá Lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp y áo, tháp bình bát, tháp chơn thân, tháp thân bằng tro, tháp thân đã hủy hoại, tháp bình, tháp Hải Hội (海會), tháp Tam Giới Vạn Linh (三界萬靈), tháp một chữ một viên đá, v.v. Nếu lấy vật liệu dựng tháp mà phân biệt thì có tháp bằng gạch nung, tháp bằng gỗ, tháp bằng đá, tháp bằng ngọc, tháp bằng cát, tháp bằng bùn, tháp bằng đất, tháp bằng phân, tháp bằng sắt, tháp bằng đồng, tháp bằng vàng, tháp bằng bạc, tháp bằng thủy tinh, tháp bằng Pha Lê, tháp bằng Lưu Ly, tháp bằng ngà voi, tháp bằng bảo vật, tháp bằng hương, v.v. Nếu lấy ý nghĩa tính chất mà phân biệt thì có tháp cầu phước, tháp báo ân, tháp Pháp Thân, tháp trường thọ, v.v. Nếu theo dạng thái của vị trí bày biện tháp mà phân biệt thì có tháp dạng đứng một mình, tháp dạng đối lập, tháp theo dạng hàng dọc, tháp theo dạng đứng hình vuông, v.v. Trong các dạng thức vừa nêu trên, loại tháp như cái bát úp xuống là tối cổ. Trong Thí Dụ Kinh (譬喻經, Taishō Vol. 4, No. 217) có nêu ra 10 loại công đức thù thắng của việc tạo tháp: (1) Không sanh vào nước biên giới xa xôi; (2) Không chịu sự nghèo nàn khốn khổ; (3) Không có thân ngu si, tà kiến; (4) Có thể đạt được ngôi vị vua của 16 nước lớn; (5) Thọ mạng lâu dài; (6) Có thể đạt được sức mạnh Kim Cang Na La Diên (金剛那羅延); (7) Có thể đạt được phước đức to lớn không sánh bằng; (8) Nhận được từ bi của chư Phật Bồ Tát; (9) Đầy đủ Ba Minh, Sáu Thần Thông, Tám Giải Thoát; (10) Được vãng sanh về cõi Tịnh Độ ở mười phương. Ngoài ra, Phật Thuyết Tạo Tháp Công Đức Kinh (佛說造塔功德經, Taishō Vol. 16, No. 699), Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026), v.v., cũng nêu ra các công đức như được sống lâu, sanh lên cõi trời, diệt 5 tội Vô Gián, thành Phật, v.v. Riêng trong Hữu Nhiễu Phật Tháp Công Đức Kinh (右繞佛塔功德經, Taishō Vol. 16, No. 700) nhấn mạnh rằng nhiễu quanh tháp thì có thể xa lìa tám nạn, đầy đủ sắc tướng kỳ diệu, có được phước mạng, của báu, cho đến làm thầy của Trời và người, v.v. Đề Vị Kinh (提謂經) cũng nêu ra 5 loại công đức của việc nhiễu quanh tháp: (1) Đời sau có được tướng tốt đoan chánh; (2) Được âm thanh tốt; (3) Được sanh lên cõi Trời; (4) Được sanh vào nhà vương hầu; (5) Chứng quả Niết Bàn. Nhiễu quanh tháp có hình thức nhất định là thường đi nhiễu bên phải, đầu cúi thấp nhìn xuống đất, không được đạp nhầm lên côn trùng trên mặt đất, không được nhìn hai bên phải trái, không được khạc nhổ trước tháp, không được đứng trong tháp nói chuyện với người. Bên cạnh việc tạo tháp, nhiễu tháp như vừa nêu trên, việc tu sửa tháp, quét tháp, lễ bái tháp, v.v., cũng đều có công đức không phải nhỏ. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 7, chương Ni Ba La Quốc (尼波羅國), có đoạn: “Tinh Xá Tây Nam hữu thạch Tốt Đổ Ba, Vô Ưu vương kiến dã (精舍西南有石窣堵波、無憂王建也, phía Tây Nam Tinh Xá có tháp bằng đá, do vua Vô Ưu kiến lập).”
; 塔; C: tǎ; J: tō; S: stūpa; P: thūpa; dịch nguyên âm là Tháp-bà, dịch nghĩa là Cao hiển xứ, Miếu, Linh miếu, cũng được gọi là Bảo tháp; |Kiến trúc Phật giáo, một trong những đặc trưng của chùa chiền thánh tích đạo Phật.|Từ xưa, tháp trước hết là nơi chứa đựng Xá-lị (s: śarīra) các vị Phật hoặc các bậc Thánh. Tháp cũng được xây dựng tại các thánh tích quan trọng, kỉ niệm cuộc đời của đức Thích-ca Mâu-ni (Lam-tì-ni, Giác Thành, Câu-thi-na, Vương xá). Dưới thời vua A-dục, thế kỉ thứ 3, nhiều tháp được xây để thờ các vị thánh, ngày nay vẫn còn.||H 52: Ba dạng tháp khác nhau (từ trái sang phải): nghệ thuật Ấn Ðộ, nghệ thuật Càn-đa-la và Tây Tạng.|Tháp không nhất thiết là những nơi chứa đựng Xá-lị, đó cũng là nơi chứa đựng kinh điển, tranh tượng. Một trong những tháp lớn nhất còn tới ngày nay là Bô-rô-bu-đua (e: borobudur) tại Nam Dương (indonesia). Tháp cũng là một trong những đối tượng thiền quán, thường thường có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Các bậc thang lên tháp đôi lúc biểu hiện cho các khái niệm Ðại thừa, như bốn bậc là từ, bi, hỉ, xả hay mười bậc là Thập địa. Tại Kiến-chí (sāñcī), Ấn Ðộ, người ta tìm thấy những tháp xưa nhất. Ðó là những kiến trúc hình bán cầu xây trên nền hình tròn. Trên bán cầu thường có những kiến trúc bằng đá. Trong tháp thường có những hộp đựng xá-lị, các hộp đó cũng có hình tháp, làm bằng vật liệu quý, đặt ngay tại giữa bán cầu hoặc trên đỉnh. Từ các tháp tại Kiến-chí, người ta xây các kiến trúc tương tự, kể từ đầu Công nguyên. Ngay cả kiến trúc các chùa tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam cũng có nguồn gốc từ các tháp này.|Một loại kiến trúc tháp khác, xuất phát từ Càn-đà-la (Tây bắc Ấn Ðộ), trong đó nền hình tròn bằng phẳng nói trên được thay thế bằng một nền hình ống, chia thành nhiều đoạn. Phần bán cầu cũng được kéo dài ra, nhưng so với nền hình ống thì nhỏ hơn trước. Phần nằm trên bán cầu cũng được kéo dài, chia nhiều tầng, biến thành hình nón. Khoảng giữa những năm 150 và 400 sau Công nguyên, phần gốc hình ống lại biến thành vuông và trở thành phổ biến tại vùng Nam Á.|Tại Tây Tạng, kiến trúc tháp có mối liên hệ trực tiếp với giáo pháp Ðại thừa. Bốn bậc thấp nhất của tháp tượng trưng cho bốn tâm từ, bi, hỉ, xả. Trên đó là mười bậc tượng trưng cho mười bậc tu học của Bồ Tát (Thập địa). Trung tâm của tháp gồm có một kiến trúc hay một linh ảnh, tượng trưng cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta). Trên đó là 13 tầng tháp, tượng trưng cho các phương tiện truyền pháp khác nhau, trên đó là một hoa sen năm cánh, tượng trưng cho Ngũ Phật và cao nhất là hình mặt trời tượng trưng cho Chân như.
tháp
5420梵語 stūpa,巴利語 thūpa。音譯作窣睹婆、窣堵婆、窣都婆、藪斗婆、數斗波、蘇偷婆、素睹波、私鮱簸、率都婆、卒都婆。略譯作塔婆、偷婆、兜婆、佛圖、浮圖、浮屠、佛塔。意譯作高顯處、功德聚、方墳、圓塚、大塚、塚、墳陵、塔廟、廟、歸宗、大聚、聚相、靈廟。爲「頂」、「堆土」之義。 原指爲安置佛陀舍利等物,而以甎等構造成之建築物,然至後世,多與「支提」(梵 caitya)混同,而泛指於佛陀生處、成道處、轉法輪處、般涅槃處、過去佛之經行處、有關佛陀本生譚之聖地、辟支佛窟,乃至安置諸佛菩薩像、佛陀足迹、祖師高僧遺骨等,而以堆土、石、甎、木等築成,作爲供養禮拜之建築物。然據摩訶僧祇律卷三十三、法華義疏卷十一等之記載,則應以佛陀舍利之有無爲塔與支提之區別,凡有佛陀舍利者,稱爲塔;無佛陀舍利者,稱爲支提。準此,則安置佛陀舍利之拘尸那、摩揭陀等八塔爲窣堵波,另如迦毘羅城佛生處塔、佛陀伽耶菩提樹下之成道處塔、鹿野苑之轉法輪處塔、祇園精舍大神通處塔、曲女城邊三道寶階處塔、耆闍崛山大乘經處塔、菴羅衛林維摩現疾處塔、沙羅林中涅槃處塔等「八大靈塔」則皆屬支提。 有關造塔之起源,可遠溯至佛陀時代,如十誦律卷五十六所載,須達長者曾求取佛陀之髮與爪,以之起塔供養;另如摩訶僧祇律卷三十三所載,波斯匿王仿效佛陀,建立迦葉佛塔禮拜供養。於佛陀入滅之後,則有波婆國、人遮羅國、羅摩伽國等八國,由香姓婆羅門八分佛陀舍利,八國各自奉歸起塔供養,此即建造窣堵波之嚆矢。此外,據阿育王傳卷一、善見律毘婆沙卷一等載,佛陀入滅後二百年頃,君臨摩揭陀國之阿育王,曾於其領土各地建八萬四千寶塔。據日本學者逸見梅榮之考證,山琦(Sanchi)遺蹟中之古塔,其核心部位之甎造塔即昔時阿育王所造者。 若就塔之廣泛名義(兼含塔婆與支提)而言,世界各地著名之建構極多,例如:(一)中印度巴赫特(Bharhut)遺蹟之塔,塔身已全然壞滅,僅存石欄、石門,推定係建於西元前二世紀熏迦王朝時代之古塔。(二)佛陀伽耶大塔附近之古石欄,約造於西元前一世紀頃。(三)阿旃多(Ajanta)第十窟、那西克(Nāsik)第十七窟、迦利(Kārlī)、貝德沙(Bedsā)等著名佛教遺蹟之支提,均造於西元前二世紀至一世紀頃,爲古制佛塔之重要代表遺構。(四)西元一世紀頃統領北印度犍馱羅國之迦膩色迦王,曾於迦畢試國雪山下造立高達三十二公尺之塔。又於犍馱羅國建立雀離浮圖,高二百二十餘公尺,共十三級,洛陽伽藍記卷五稱之爲「西域浮圖中最第一」。(五)犍馱羅地方另有數處遺蹟之古塔(見下圖),均造於西元前後至二三世紀,如達爾瑪拉茲卡(Darmarajka)、瑪尼恰拉(Manikyala)、塔庫特伊巴希(Takt-i-Bahi)、亞力瑪斯吉德(Ali Masjid)等處之塔。(六)錫蘭(今斯里蘭卡)之阿㝹羅陀補羅遺存有數座古塔,其中之塔園(巴 Thūpārāma,又稱塔寺)係天愛帝須王(巴 Devānampiya-tissa)所建,乃錫蘭島上最早之塔。另有造於西元前一世紀頃之無畏山佛塔(巴 Abhayagiri),高一百二十餘公尺,基壇底部之直徑約一一五公尺,塔身直徑約八十六公尺,係護持無畏山寺派之婆他伽馬尼王(巴 Vaṭṭagāmaṇi)所建。此外,造於西元前二世紀頃之魯宛維利塔(Ruwanveli)亦爲極著名之古塔。(七)緬甸蘭貢(Rangoon)之瑞德宮佛塔(Shwedagon),塔身高達一一八公尺。庇古(Pegu)之修瑪杜塔(Shwemaudau),塔高一○二公尺,塔之外層全面塗飾黃金,基壇周圍林立數十座小塔。又蘭貢之蘇雷塔(Soolay)、瓦城(Mandalay,舊稱曼德勒)附近著名的四百五十塔、帕根(Pagan)之達濱尤塔(Tapinyu)、告達巴林塔(Gauda-palin)、阿難陀塔(Ānanda)等皆爲緬甸重要之塔。(八)於泰國,舊都猶地亞(Ayuthia)一帶遺留不少古代佛塔。此外,曼谷(Bangkok)之菲拉托姆麻歇提塔(Phra-Thomma chedi),塔身高達一二五公尺,以及青寺塔(Wat Ching),均爲馳名宇內之佛塔。(九)寮國之維恩常塔(Vienchang)、科摩迎塔(Chom-yong)均爲現存之重要古塔。(十)爪哇之婆羅浮屠(Buro-Budur)爲規模龐大之塔,基壇複雜,呈四角形,頂端立大塔一座,周圍環繞七十二座型制相同之小塔,每一塔中均置有佛像,全部建築呈現階梯狀之金字塔型,長寬各一二三公尺,高四十二公尺(今僅餘三十一公尺半),爲全球大乘佛教現存最大最壯觀之聖地。(十一)於尼泊爾,以加德滿都(Katmandu)之斯塢雅姆布那德塔(Swuyambhūnāth)爲最大,形狀似覆鉢式塔,上有十數層相輪,頂端置天蓋,型制自成一格。(十二)西藏之塔習稱喇嘛塔,然在西藏境內大多爲小型之塔。(十三)於我國北方、東北及蒙古遺留不少大塔,如拉達克(Ladakh)之利寺(Leh)、熱河之布達拉廟、遼寧瀋陽之東西南北四寺、山西五臺山之大塔院寺、山西太原之淨明寺、北平妙應寺、永安寺等諸寺之塔皆爲規模宏大之塔。其中,大塔院寺之塔,全高八十六公尺,爲同類塔中最大者。 我國最早建造佛塔係在三國時代,即吳主孫權由於康僧會感得舍利之盛事,大爲歎服,遂造塔供養,號爲建初寺,時爲赤烏三年(240)。然若依佛祖統紀卷五十四之記載,則東漢明帝永平十年(67)所建之白馬寺塔乃我國最早之塔。其後,各朝代建塔事蹟較著名者如:西晉武帝太康二年(281),慧達於浙江鄮縣,自地中感得一座高約四十五公分、寬約二十二公分之寶塔,遂建塔安置。北魏熙平元年(516),靈太后胡氏令匠人於洛陽永寧寺營建一座九層高之木塔,高達三二○公尺,百里之外猶可望見;飛簷所懸之鈴鐸,隨風交鳴,十餘里間皆可聞之。其建構之鉅大,可以想見,惜今已不存。北魏孝明帝正光年間(520~524)於河南嵩山嵩嶽寺造一磚塔,全高約六十四公尺,共十二角十五層,爲我國現存最古之塔。隋煬帝時,曾爲天台大師智顗於天台山國清寺造立磚塔,爲一座六角形之九層塔,高約七十四公尺。唐太宗亦曾應玄奘大師之請,於西安大慈恩寺構築一座五十八公尺之磚塔。此外,我國歷朝於各地寺院所造之塔不勝枚舉,然以木造建築而言,遺存者極少;且於元明以後,受喇嘛文化之影響,塔之樣式丕變爲「白塔式」,此係由北印度及大月氏之樣式衍成者,如北平北海之白塔、江蘇江都法海寺之舍利塔、武川之百靈廟塔等,皆與我國傳統佛塔之規制相去甚遠。蓋我國佛塔之建築規制,首重配置之嚴整、基壇之堅固、枓栱之婉麗、藻井之繪飾,似此種種,可於六和塔、六榕寺花塔、迎江寺塔、嘉興三塔寺塔、歙縣西平塔等諸塔窺見之。 日本方面,敏達天皇十四年(585)二月,大臣蘇我馬子於大野丘之北造立一塔,塔之柱頭安置司馬達等所獲之舍利,此係日本建塔之濫觴。推古天皇十五年(606),聖德太子於法隆寺造一座五重塔,迄今猶存,爲世界最古之木造塔。另據續日本紀卷三十載,孝謙天皇於天平寶字八年(764)發願造立一百萬座十五公分高之木製三重塔,直至寶龜元年(770)始完成,分置全國諸寺,爲當時日本佛教界之盛事。 塔之種類極多,以樣式區別之,有覆鉢式塔、龕塔、柱塔、雁塔、露塔、屋塔、無壁塔、喇嘛塔、三十七重塔、十七重塔、十五重塔、十三重塔、九重塔、七重塔、五重塔、三重塔、方塔、圓塔、六角形塔、八角形塔、大塔、多寶塔、瑜祇塔、寶篋印塔、五輪塔、卵塔、無縫塔、樓閣式塔、密簷塔、金剛寶座塔、墓塔、板塔婆、角塔婆等;以所納藏之物區別之,有舍利塔、髮塔、爪塔、牙塔、衣塔、鉢塔、真身塔、灰身塔、碎身塔、瓶塔、海會塔、三界萬靈塔、一字一石塔、
; ThŪpa (P), Chorten (J), StŪpa (S), ch ten (T), Pagoda Bảo tháp.
; Stùpa (S). A tumulus, or mound, for the bones, or remains of the dead, or for other sacred relics, especially of the Buddha. Tháp Cửu phẩm Liên hoa: Tower of the Nine Holy Grade of Lotus. Tháp tổ Minh Hải: Tower of Patriarch Minh Hải. Tháp Xá lợi: Relics stùpa. Tháp Xá lợi Phật: The stùpa of Buddha relics.
; (塔) Phạm: Stùpa. Pàli:Thùpa. Hán âm: Tốt đổ bà, Tốt đô bà, Tẩu đẩu bà, Tẩu đẩu ba, Tô thâu bà, Tố đổ ba, Tư thâu pha, Suất đô bà. Gọi tắt: Tháp bà, Thâu bà, Đâu bà, Phật đồ, Phù đồ, Phật tháp. Hán dịch: Cao hiển xứ, Công đức tụ, Phương phần, Viên trủng, Đại trủng trủng, Phần lăng, Tháp miếu, Miếu, Qui tông, Đại tụ, Tụ tướng, Linh miếu. Vốn chỉ cho tòa kiến trúc để an vị xá lợi của Phật, thường được xây bằng gạch, nhưng đến đời sau thì tháp phần nhiều bị lẫn lộn với Chi đề (Phạm:Caitya) mà chỉ chung cho nơi Phật đản sinh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển pháp luân, nơi Phật nhập Niết bàn, nơi kinh hành của Phật quá khứ, thánh địa trong bản sinh đàm của Phật, hang Bích chi phật, cho đến các kiến trúc an vị tượng của chư Phật, Bồ tát, lốt chân Phật, di cốt các bậc Tổ sư cao tăng, được xây cất bằng đất, đá, gạch, gỗ... để làm nơi lễ bái, cúng dường... Nhưng, cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 33 và Pháp hoa nghĩa sớ quyển 11 thì tháp và chi đề khác nhau ở chỗ có xá lợi Phật và không có xá lợi Phật, hễ có xá lợi Phật thì gọi là Tháp, không có xá lợi Phật thì gọi là Chi đề. Theo đó thì 8 ngôi tháp ở Câu thi na, Ma yết đà... có an vị xá lợi Phật là Tốt đổ ba, còn 8 đại linh tháp như tháp ở nơi Phật đản sinh, trong thành Ca tì la, tháp nơi Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Phật đà già da, tháp nơi Phật chuyển pháp luân ở vườn Lộc dã, tháp nơi Phật hiện đại thần thông ở tinh xá Kì hoàn, tháp nơi Tam đạo bảo giai bên cạnh thành Khúc nữ, tháp nơi Phật thuyết giảng kinh Đại thừa ở núi Kì xà quật, tháp nơi Duy ma thị hiện có bệnh trong rừng Am ma vệ và tháp nơi Phật niết bàn trong rừng Sa la thì thuộc về Chi đề. Về nguồn gốc của việc xây tháp, ta có thể biết đã bắt đầu ngay từ lúc đức Phật còn tại thế, như luật Thập tụng quyển 56 đã ghi: Trưởng giả Tu đạt từng xin tóc và móng tay của đức Phật để xây tháp cúng dường; còn luật Ma ha tăng kì quyển 33 thì ghi: Vua Ba tư nặc vâng lời Phật dạy xây tháp Phật Ca diếp để lễ bái cúng dường. Sau khi đức Phật nhập diệt thì 8 nước như: Nước Ba bà, nước Già la, nước La ma già... giành nhau lấy xá lợi của Phật, do đó, Bà la môn Hương tính phải chia xá lợi Phật làm 8 phần đều nhau cho 8 nước, mỗi nước đều mang về xây tháp cúng dường, đây là những ngôi tháp xá lợi được xây dựng đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Ngoài ra, theo A dục vương truyện quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua A dục nước Ma yết đà Từng xây 84.000 ngôi tháp báu tại các nơi trên khắp lãnh thổ. Cứ theo sự khảo chứng của học giả Nhật bản là Dật kiến Mai vinh thì ngôi tháp bằng gạch trong phần ruột ngôi tháp cổ(như hình vẽ) ở di tích Sơn kì (Sanchi) chính là do vua A dục thủa xưa xây dựng. Nếu nói theo danh nghĩa chung của Tháp(kể cả Tháp bà lẫn Chi đề) thì các nơi trên thế giới córấtnhiều kiến trúc nổi tiếng như:1. Tháp di tích ở Ba hách đặc (Bharhut) thuộc Trung Ấn độ, thân tháp đã hoàn toàn hoại diệt, chỉ còn lan can bằng đá, cửa đá, được suy đoán là ngôi tháp xây dựng vào thời Vương triều Huân ca thế kỉ II trước Tây lịch. 2. Lan can xưa bằng đá ở vùng phụ cận Đại tháp Phật đà già da được kiến tạo vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch. 3. Các di tích Chi đề nổi tiếng của Phật giáo như ở hang thứ 10 tại A chiên đa (Ajantà), hang 17 ở Na tây khắc (Nàsik), ở Ca lị (Kàrlì), ở Cụ đức sa (Bedsà)... đều được kiếntạovào khoảng thế kỉ II đến thế kỉ I trước Tây lịch, là những kiến trúc đại biểu quan trọng cho các tháp Phật kiểu cổ còn lại. 4. Vua Ca nị sắc ca thống lãnh nước Kiện đà la ở miền Bắc Ấn độ vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, có kiến tạo tòa tháp cao 32m dưới chân núi Tuyết sơn tại nước Ca tất thí. Vua còn xây tháp Tước li ở nước Kiện đà la, cao hơn 220m, gồm 13 tầng. Lạc dương già lam kí quyển 5 gọi ngôi tháp này làtòatháp bậc nhất trong các tòa tháp ở Tây vực. 5. Địa phương Kiện đà la còn có nhiều nơi di tích cổ tháp (xem hình ở dưới), đều được kiến tạo vào khoảng trước sau Tây lịch đến thế kỉ II, III, như các tòa tháp ở Đạt nhĩ mã lạp tư ca (Dharmarajka), Mã ni cáp lạp (Manikyala), Tháp khố đặc y ba hi (Takt-i-Bahi), Á lực mã tư cát đức (Ali Masjid)... 6. Ở A nâu đà bổ la tại Tích lan (nay là Sri Lanka), hiện còn vài ngôi tháp cổ, trong đó, Tháp viện (Pàli:Thùpàràma, cũng gọi Tháp tự) là do vua Thiên ái đế tu (Pàli:Devànampiya-tissa) kiến tạo, là ngôi tháp xưa nhất trên đảo Tích lan. Còn có Vô úy sơn Phật tháp (Pàli: Abhayagiri) được xây dựng vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch, cao hơn 120m, đường kính ở phần đáy của nền tháp khoảng 115m, đường kính của thân tháp khoảng 86m, do vua Bà tha già mã ni (Pàli:Vaỉỉagamani) là người hộ trì Vô úy sơn tự phái kiến tạo. Còn tháp Lỗ uyển duy lợi (Ruwanvelì) được xây dựng vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch cũng là tòa tháp cổ rất nổi tiếng. 7. Ngôi Phật tháp Thụy đức cung (Shwedagon) ở Ngưỡng quang (Rangoon), ngoại cảnh Đại tháp kiểu bát úp ở Sơn kì, Ấn độ.Tháp Phật xây theo kiểu Kiện đà la Miến điện, thân tháp cao tới 118m. Tháp Tu mã đỗ (Shwemaudau) ở Tì cổ (Pegu) cao 102m, toàn bộ mặt ngoài của tháp được trang sức bằng vàng ròng, chung quanh nền tháp có vài mươi ngôi tháp nhỏ. Ngoài ra, tháp Tô lôi (Soolay) ở Rangoon, 450 tòa tháp ở vùng phụ cận Ngõa thành (Mandalay, xưa gọi là Mạn đức lặc), tháp Đạt tân vưu (Tapinyu), tháp Cáo đạt ba lâm (Gauda-palin), tháp A nan đà (Ànanda)... ở Phạ căn đều là những tháp nổi tiếng của Miến điện. 8. Ở Thái lan, tại vùng Cố đô Ayuthia hiện còn nhiều tòa tháp Phật thời cổ (xem hình dưới). Ngoài ra, tháp Phra-Thomma chedi ở Bangkok, thân tháp cao tới 125m, tháp này và tháp Wat Ching đều là các tòa tháp Phật nổi tiếng trong nước. 9. Ở nước Lào, tháp Vienchang, tháp Chomyong đều là những ngôi tháp cổ quan trọng hiện còn. 10. Ở Java, Indonesia, tháp Buro-Budur là tòa tháp có qui mô to lớn, nền đàn phức tạp, hình 4 góc, trên đỉnh tháp có một tòa đại tháp và 72 ngôi tháp nhỏ có hình dáng giống nhau bao bọc chung quanh đại tháp, trong mỗi tháp đều có tượng Phật, toàn bộ kiến trúc có hình Kim tự tháp kiểu bậc thang, mỗi chiều rộng 123m, cao 42m (nay chỉ còn 31,5m), là Thánh địa hoành tráng nhất, hùng vĩ nhất hiện còn của Phật giáo Đại thừa trên toàn cầu. 11. Tại Nepal, tháp Swuyambhùnàth ở Katmandu là tòa tháp lớn nhất, hình dáng giống như ngôi tháp kiểu bát úp(xem hình dưới), phía trên có tướng luân (tướng bánh xe) mười mấy lớp, trên chóp tháp đặt thiên cái tự hình thành một phong cách riêng. 12. Ở Tây tạng, tháp quen gọi là Lạt ma tháp, nhưng trên đất Tây tạng phần nhiều là tháp nhỏ. 13. Ở phía bắc, đông bắc Trung quốc và ở Mông cổ còn lại nhiều ngôi tháp lớn, như tháp Lợi tự ở Lạp đạt khắc, miếu Bố đạt lạp ở Nhiệt hà, 4 chùa Đông, Tây, Nam, Bắc ở Thẩm dương, tỉnh Liêu ninh, chùa Đại tháp viện ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, chùa Tịnh minh ở huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn Tây, chùa Diệu ứng ở Bắc bình... những tòa tháp ở các chùa nêu trên đều có qui mô rộng lớn. Trong đó, ngôi tháp ở chùa Đại tháp viện cao tới 86m, là ngôi tháp lớn nhất. Tại Trung Quốc, tháp Phật được kiến tạo sớm nhất là vào thời Tam quốc. Bấy giờ, vua nước Ngô là Tôn quyền rất thán phục việc ngài Khang tăng hội cảm được xá lợi bèn xây tháp cúng dường vào năm Xích ô thứ 3 (240), gọi là Kiến sơ tự. Nhưng nếu theo Phật tổ thống kỉ quyển 54 thì vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67), vua Minh đế nhà Đông Hán đã xây tháp ở chùa Bạch mã, như vậy, tháp chùa Bạch mã là ngôi tháp đầu tiên ở Trung quốc. Về sau, có các sự tích về việc kiến tạo tháp qua các đời tương đối nổi tiếng như: Vào năm Thái khang thứ 2 (281) đời Tây Tấn, ngài Tuệ đạt ở huyện Mậu, tỉnh Chiết giang, cảm được từ trong đất một ngôi tháp Tháp Phật ở Ayuthia tại Thái Lan Tháp Swuyambhùnàth ở Katmandu, Nepal.cao khoảng 45m, rộng khoảng 22m, liền xây tháp ở chỗ đó để ghi nhớ. Vào niên hiệu Hi bình năm đầu (516) đời Bắc Ngụy, LinhThái hậu sai thợ kiến tạo 1 tòa tháp gỗ 9 tầng ở chùa Vĩnh ninh tại Lạc dương, cao tới 320m, cách xa trăm dặm vẫn có thể thấy được, những cái chuông nhỏ treo trên mái kêu leng keng mỗi khi gió thổi, ở xa 10 dặm cũng có thể nghe được. Đây là kiến trúc bằng gỗ to lớn, rất quí, nhưng tiếc thay nay đã không còn. Khoảng năm Chính quang (520-524) đời vua Hiếu minh đế nhà Bắc Ngụy, chùa Tung nhạc ở núi Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, xây một tòa tháp gạch cao khoảng 64m, 15 tầng, 12 cạnh, là tòa thápxưa nhất hiện còn tại Trung Quốc. Vua Dượng đế nhà Tùy xây một ngôi tháp gạch ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai để cúng dường Đại sư Thiên thai. Đây là ngôi tháp hình lục giác, 9 tầng, cao 74m. Vua Thái tông nhà Đường xây một tòa tháp gạch ở chùa Đại từ ân tại Tây an, cao 58m để cúng dường Đại sư Huyền trang. Ngoài ra, những tháp được xây dựng trong các chùa viện qua nhiều triều đại tại Trung Quốc thực không thể kể hết, nhưng các tháp kiến trúc bằng gỗ thì còn lại rất ít. Từ đời Nguyên, Minh về sau, do chịu ảnh hưởng văn hóa Lạt ma, kiểu Bạch tháp trở nên phổ biến, đó là do kiểu tháp Bắc Ấn độ và Đại nguyệt chi diễn biến mà thành, như Bạch tháp ở Bắc hải, Bắc bình, tháp xá lợi ở chùa Pháp hải tại huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tây, tháp Bạch linh miếu ở Vũ xuyên... đều khác xa với qui chế tháp Phật truyền thống của Trung quốc. Bởi vì qui chế kiến trúc tháp Phật ở Trung Quốc rất chú trọng sự phối trí nghiêm chỉnh, nền tháp chắc chắn, đẩu củng uyển chuyển, mĩ lệ... như tháp Lục hòa, tháp Hoa ở chùa Lục dung, tháp chùa Nghinh giang, tháp chùa Tam tháp ở Gia hưng... Tại Nhật bản, vào tháng 2 năm Mẫn đạt Thiên hoàng 14 (585) Đại thần Tô mã ngã tử kiến tạo 1 tòa tháp ở phía bắc gò Đại dã, trên đầu trụ tháp đặt xá lợi mà Tư mã đạt thỉnh được. Đây là sự mở đầu cho việc xây tháp ở Nhật bản. Vào năm Suy cổ Thiên hoàng 15 (606), Thái tử Thánhđức làm 1 tòa tháp 5 tầng bằng gỗ ở chùa Pháp long đến nay vẫn còn. Đâylà ngôi tháp gỗ xưa nhất trên thế giới. Lại theo Tục Nhật bản kỉ quyển 30, vào năm Thiên bình bảo tự thứ 8 (764), Thiên hoàng Hiếu khiêm phát nguyện tạo một trăm vạn ngôi tháp bằng gỗ 3 tầng cao 15cm, mãi đến niên hiệu Bảo qui năm đầu (770) mới hoàn thành, tôn trí ở khắp các chùa trên cả nước. Tháp có rất nhiều chủngloại, nếu phân biệt theo kiểu dáng thì cóthápkiểu bát úp, tháp khám, tháp trụ, tháp nhạn, tháp lộ, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình 6 góc, tháp hình 8 góc, đại tháp, tháp Đa bảo, tháp Du kì, tháp Bảo khiếp ấn, tháp Ngũ luân, tháp hình trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái dày, tháp tòa Kim cương báu, tháp mộ, tháp gỗ, tháp có góc... Nếu phân biệt theo các vật được đặt trong tháp thì có tháp xá lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp áo, tháp bát, tháp chân thân, tháp thân tro (đã thiêu), tháp thân vụn(những mẩu xương Tháp 5 tầng ở chùa Pháp long tại Nhật Bản còn lại sau khi thiêu), tháp bình, tháp hải hội, tháp tam giới vạn linh(vong linh chúng sinh trong 3 cõi)... Nếu phân biệt theo chất liệu kiến trúc thì có tháp gạch, tháp gỗ, tháp đá, tháp ngọc, tháp cát, tháp bùn, tháp đất, tháp sắt, tháp đồng, tháp vàng, tháp bạc, tháp thủy tinh, tháp pha lê, tháp lưu li, tháp báu, tháp hương... Nếu phân biệt theo ý nghĩa tính chất thì có tháp cầu phúc, tháp báo ân, tháp pháp thân, tháp thọ... Nếu phân biệt theo vị trí tháp được sắp bày theo các kiểu thì có tháp kiểu cô lập, tháp kiểu đối lập, tháp kiểu bài lập(đứng theo hàng lối), kiểu phương lập(đứng vuông vức theo 4 góc), kiểu củng lập(đứng vòng tròn)... Trong các kiểu tháp thì có tháp kiểu bát úp là xưa nhất. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 33 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 18, tháp kiểu bát úp được cấu tạo thành bởi các bộ phận: Lan can, nền đàn, thân tháp, bát úp đầu bằng, cột luân tướng, luân tướng, bình báu... Trong các di tích hiện còn thì Đại tháp ở Sơn kì (Sanchi) có cấu trúc điển hình nhất và phù hợp với qui định trong luật nhất(xem hình Đại tháp Sơn kì ở trên). Luật đã dẫn còn nói: Nếu xây tháp để cúng dường Như lai thìphải đầy đủ các bộ phận cấu trúc nói trên; nếu xây tháp cúng dường Độc giác thì không được đặtbình báu; nếu xây tháp cúng dường A la hán thì luân tướng không được làm quá 4 tầng; nếu là tháp của Bất hoàn quả thì luân tướng không được làm quá 3 tầng; nếu là tháp của Nhất lai quả thì luân tướng không được quá 2 tầng; nếu là tháp của ngườiDự lưu quả thì luân tướng không được quá một tầng; nếu là tháp của người lành trong phàm phu thì chỉ được làm đầu bằng chứ không được dùng luân cái. Lan can bao bọc 4 chung quanh tháp là kết giới phạm vi tháp, hồi lang(lối đi vòng quanh) của các Đại tự tháp đời sau chính đã bắt nguồn từ lan can này. Mặt bằng của nền đàn ở Ấn độ thường là hình tròn, nhưng ở Trung quốc và Nhật bản phần nhiều có cấu trúc hình 4 góc hoặc 8 góc. Thân tháp được xây trên nền đàn, như thápDhamekh ở vườn Lộc dã, tháp trong Quật viện A chiên đa, tháp ở vùng Kiện đà la... đều là những tháp cấu trúc theo kiểu cổrất nổi tiếng, nhất là mặt ngoài thân tháp của tháp Dhamekh có khắc các bức tranh và hoa sen rất tinh xảo, còn tháp ở Kiện đà la thì mặt ngoài làm Phật khám để trang nghiêm thân tháp. Đến đời sau, thân tháp dần dần biến thành cấu trúc nhiều tầng, vào khoảng thế kỉ III, IV thì kiểu thân tháp 3 tầng đã xuất hiện; về sau lại có các cấu trúc gồm 5 tầng, 7 tầng, 9 tầng, 13 tầng, 15 tầng, 17 tầng, cho đến 37 tầng. Vấn đề thân tháp diễn biến thành hình thức nhiều tầng có lẽ cũng liên quan và phù hợp với kinh luật. Chẳng hạn như Tì nại da tạp sự quyển 18 (Đại 24, 291 hạ) nói: Số tầng của tướng luân hoặc 1, 2, 3, 4, cho đến 13; tức là thân tháp nhiều tầng và tướng luân nhiều tầng thực ra có quan hệ mật thiết với nhau. Về những ngôi tháp nhiều tầng nổi tiếng hiện còn thì có: Tháp gạch gồm 15 tầng 12 cạnh ở chùa Tung nhạc tại Tung sơn, tháp Tiểu nhạn gồm 15 tầng ở chùa Đại tiến phúc tại Tây an, tháp gạch gồm 15 tầng ở chùa Hương Tích, Tây An, Trung Quốc; tháp đá gồm 13 tầng ở chùa Tịnh từ ở Thượng khánh bắc đạo, Hàn quốc; tháp đá gồm 13 tầng ở chùa Bát nhã tại chùa Đại hòa, Nhật bản... Các tháp cổ nổi tiếng từ 13 tầng trở xuống tại các nước Phật giáo còn rất nhiều không thể kể xiết... Kiểu bát úp là thể bán cầu úp xuống, giống như cái bát úp. Phần mộ ở Trung Quốc và các nước Đông phương nói chung từ xưa đã có hình dáng cái gò nhỏ, rất phù hợp với kiểu bát úp của tháp Phật. Nhưng đến đời sau thì hình bán cầu của bát úp dần dần cao thêm, như tháp Dhamekh ở vườn Lộc dã, các tháp ở Kiện đà la và Tích lan, hình bát úp đều rất cao. Còn như tháp Ổ đức khương ở Phra- Prang thì hình bát úp đã cao bằng quả đạn đại bác. Nhưng tháp ở Tây tạng thì ngược lại, phía trên phình rộng ra, phía dưới thì thu nhỏ lại, giống hình cầu. Ở Trung Quốc và Nhật bản thì hình dáng bát úp đã rút lại đến mức cực nhỏ, chỉ còn hình thức mà thôi. Tướng luân cũng gọi là Bàn cái, Thừa lộ bàn, Luân cái là kiến trúc hình chiếc mâm tròn, chồng thành nhiều lớp trên đầu bằng, ở giữa có cây cột xuyên qua, trên chóp có lọng che. Ở Ấn Độ cổ đại đã có tướng luân, số luân(vòng tròn) có nhiều lớp, như ngôi tháp Tước li ở Kiện đà la có 13 lớp tướng luân, ngôi tháp ở chùa Vĩnh ninh tại Lạc dương, Trung Quốc, có 30 lớp, còn Đại tháp ở Sơn kì (Ấn độ) thì chỉ có 3 luân. Các chùa viện ở Nhật Bản thường có tháp 9 tướng luân, cho nên cũng gọi là Cửu luân. Ngoài tháp hình bát úp ra còn có nhiều kiểu tháp như: 1. Tháp Đa bảo: Bắt nguồn từ tháp đức Phật Đa bảo nói trong phẩm Kiến bảo tháp kinh Pháp hoa, tức là ngôi tháp được phụ thêm trên bảo tháp 1 tầng nói chung. 2. Tháp Du kì: Tháp được kiến tạo căn cứ theo kiểu tháp được nói trong kinh Du kì, là biến dạng của bảo tháp phổ thông, tức ở chính giữa và 4 góc trên nóc tháp có lập 5 tướng luân, trên mỗi tướng luân đều có thêm 5 luân. 3. ThápBảo khiếp ấn: Nền đàn và thân tháp mang hình dạng núi Tu di, trên thân tháp có lọng che hình vuông, bên trong có cất giữ Đà la ni Bảo khiếp ấn. 4. Cột tướng luân: Kiểu tháp căn cứ theo kiểu tháp nói trong kinh Vô cấu tịnh quang đà la ni, tức chỉ tạo dựng phần tướng luân có hình dáng cột tháp và được coi đó là tháp. 5. Tháp có thân hình cái bình: Như tháp bảo bình, tháp uyển, tháp năng tác... 6. Tháp Ngũ luân(cũng gọi Ngũ luân tháp bà, Ngũ luân bình tháp bà): Phần nhiều là kiểu tháp được Mật giáo sử dụng. Tức chồng xếp 5 tảng đá có hình dángvuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và bảo châu, trên đó lần lượt viết chữ chủng tử của Ngũ đại , theo thứ tự tượng trưng cho 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. 7. Tháp cái lọng:Tức tháp được tạo lập bằng cách dựng câytrụ vuông, trên đầu trụ làm lọng che và đặt bảo châu trên chóp cây trụ. 8. Tháp LụcĐịa tạng: Tháp được tạo lập bằng cách trên cây trụ vuông an vị Lục địa tạng. 9. Tháp vô phùng: Tức chỉ dùng 1 tảng đá bia làm bia mộ của vị tăng quá cố; hoặc dùng 1 khối đá có hình quả trứng làm bia mộ thì gọi là Noãn tháp. 10. Tháp gỗ: Trên tấm ván nhỏdài khắc hình dạng tháp Ngũ luân, thông thường dựngtrên đất mộ để cầu âm phúc cho người chết. 11. Tháp có góc cạnh: Cũng là biến dạng của tháp Ngũ luân, tức trên cây cột hình 4 góc nhỏ và dài ghi văn kinh tiếng Phạm, thông thường dùng trong hội cúng dường khi khánh thành nhà cửa, được dựng ở trước nhà. 12. Tháp kiểu lầu gác: Như tháp gỗ ở huyện Ứng, tỉnh Sơn tây, tháp gạch ở chùa Khai Nguyên, huyện Định, tỉnh Hà Bắc, tháp lưu li ở chùa Hựu quốc, phủ Khai phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc... là những di tích tháp kiểu lầu gác nổi tiếng còn lại. 13. Tháp mái dày: Như tháp chùa Tung nhạc tại Tung sơn, tỉnh Hà nam và tháp chùa Thiên ninh ở Bắc bình. 14. ThápLạt ma: Như tháp trắng ở chùa Diệu ứng tại Bắcbình. 15. Tháp Kim cương bảo tọa: Như tháp chùa Chân giác ở Bắc bình. Ngoài các kiểu tháp nói trên, còn có hình tháp cao chót vót đến tận mây, là tượng trưng cho Phật giáo của Nhật bản. Lại trong các loại kiểu tháp ghi trên, phần nhiều là các kiểu tạo tháp đặc thù chỉ Nhật Bản mới có. Ở Trung Quốc, dáng vẻ bề ngoài của tháp Phật thông thường được chia làm 2 loại là hình tháp tầng và hình tháp mái. Trong các di tích tháp đời Đường thì tháp Đại nhạn 7 tầng hình 4 góc ở chùa Từ ân tại huyện Tây An, tỉnh Thiểm Tây, là đại biểu cho hình tháp tầng; còn tháp Tiểu nhạn 13 mái hình 4 góc ở chùa Tiến phúc là đại biểu cho hình tháp mái. Nếu phân biệt theo những vật được đặt ở bên trong thì tháp có các loại như sau:1. Tháp xá lợi(cũng gọi tháp Phật): Tức nghĩa gốc của Tốt đổ ba (Phạm:Stùpa), là tháp thờ xá lợi được kết thành sau khi hỏa thiêu thân đức Phật. 2. Tháp thờ tóc: Tháp được kiến lập để cúng dường tóc của Phật. 3. Tháp thờ móng tay: Tức tháp được xây để cúng dường móng tay, móng chân của Phật. Loại tháp này bắt đầu từ Trưởng giả Tu đạt. 4. Tháp thờ răng: Tháp cúng dường răng của đức Phật. 5. Tháp chân thân: Tháp cúng dường chân thân(nhục thân)của các bậc cao tăng, như tháp chân thân của ngài Tịnh tạng ở núi Tung Sơn được xây dựng vào đời Đường, tháp chân thân của ngài Ma đằng được kiến tạo vào đời Hậu Tấn... đều là các di tích nổi tiếng. 6. Tháp khôi thân: Tức sau khi bậc cao tăng được hỏa thiêu, phần tro (khôi) còn lại được thu gom và xây tháp để thờ. 7. Tháp toái thân: Tức không đặt toàn thân hoặc toàn bộ tro than sau khi hỏa thiêu, mà chỉ đặt một phần vào trong tháp để thờ, như tháp Toái thân của ngài Huyền trang, tức tháp Từ ân, ở Nhật nguyệt đàm. 8. Tháp phổ thông(cũng gọi Phổ đồng, tháp Hải hội): Tức tháp thờ chung di cốt của chúng tăng. Tháp Đại Nhạn, Tháp Tiểu Nhạn Tháp TừÂn ở Nhật nguyệt đàm9. Tháp tam giới vạn linh: Tức tháp thờ chung di cốt của những người hữu duyên vô duyên. 10. Tháp một chữ một viên đá: Tức khắc hoặc viết một chữ của các kinh như kinh Pháp hoa... lên một hòn đá nhỏ, rồi chôn xuống đất, sau đó xây tháp lên trên để cúng dường. Ngoài ra, kinh Quán hư không tạng bồ tát cũng nói đến 4 tòa tháp của đức Phật là tháp tóc, tháp áo, tháp bát và tháp răng ở trên cõi trời Đao lợi, gọi là Đế thích tứ tháp. Bốn tháp này được ghi trong Thích ca Như lai thành đạo kí chú quyển hạ thì tháp áo được thay thế bằng tháp mũi tên.Còn phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa thì cho rằng kinh là Pháp thân của Như lai, vì thế cũng nên xây tháp cúng dường. Những tháp cất giữ tiêu biểu điển hình là tháp sắt ở Nam thiên trúc, trong đó kinh Kim cương đính được cất giữ; tháp Nam ở chùa Vân cư, núi Phòng sơn, Trung quốc, ở dưới chôn giấu 180 tấm bia kinh lớn và 4080 tấm bia kinh nhỏ. Ngoài ra, ở bên trong tháp hoặc ở thân tháp cũng khắc hoặc vẽ hình đồ 8 tướng thành đạo của đức Phật, như bức phù điêu Bát tướng thành đạo được khắc ở nền đàn của tháp xá lợi chùa Thê hà ở tỉnh Giang tô là di tích rất nổi tiếng. Nếu phân biệt theo nguyên liệu kiến trúc thì đại khái tháp có các chủng loại sau đây:1. Tháp gạch: Các di tích hiện còn ở Tích lan, Miến điện và các nước vùng Tây vực đại đa số là tháp gạch. Ở Trung quốc, di tích tháp nổi tiếng hiện còn, có giá trị về nghệ thuật kiến trúc rất cao là tòa tháp gạch gồm 15 tầng, có hình 12 cạnh ở chùa Tung nhạc, núi Tung sơn, phủ Đăng phong, tỉnh Hà nam, rất tráng lệ, hùng vĩ. Còn có tháp gạch gồm 13 tầng, 8 cạnh ở chùa Thiên ninh tại Bắc bình, tháp gạch 9 tầng ở chùa Trùng hưng, huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông, tháp Lục hòa ở chùa Khai hóa tại Hàng châu... đều là những ngôi tháp gạch rất lớn, cao đến mấy mươi mét. 2. Tháp gỗ: Như ngôi tháp Tước li ở Ấn Độ do vua Ca nị sắc ca kiến tạo nói ở trên, ngôi tháp chùa Vĩnh ninh ở Lạc Dương, Trung Quốc... đều là những tháp được kiến trúc bằng gỗ rất lớn. Nhưng những ngôi tháp gỗ đời xưa hiện nay rất hiếm thấy, vì dễ bị gió mưa, binh lửa tàn phá nên ít còn tồn tại. Ngôi tháp bằng gỗ xưa nhất hiện còn tại Trung quốc là tháp Thích ca ở chùa Phật cung, huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây, được tạo lập vào năm Thanh ninh thứ 2 (1056) đời Liêu. Tháp gồm 5 tầng, hình 8 góc, cao tới 115m, cấu trúc rất chắc chắn. Thời Tháp gạch ở chùa Tung nhạc Tháp Thích ca làm bằng gỗ xưa nhất tại Trung Quốc vua Thuận đế nhà Nguyên, huyện Ứng bị động đất lớn suốt 7 ngày mà tòa tháp này vẫn sừng sững bất động. Còn ngôi tháp gồm 9 tầng, có hình 8 góc ở chùa Thiên ninh, huyện Chính định, tỉnh Hà bắc, cũng là tòa tháp cổ làm bằng gỗ rất nổi tiếng. Riêng Nhật bản, vì những trận động đất thường xảy ra nên phần nhiều tháp đều được kiến trúc bằng gỗ, trong đó, tòa tháp 5 tầng ở chùa Pháp long, do Thái tử Thánh đức tạo lập vào năm Suy cổ Thiên hoàng 15 (606) là nổi tiếng. 3. Tháp đá: Ở Ấn độ từ xưa phần nhiều tháp được cấu trúc bằng đá. Tại Trung Qquốc, như các ngôi tháp hiện còn ở quần thể hang đá Vân cương tại Đại đồng phần nhiều cũng được kiến tạo bằng đá. Tòa tháp đá 4 cửa ở chùa Thần thông, huyện Tế Nam, tỉnh Sơn đông, là tòa tháp cổ được kiến tạo vào năm Đại nghiệp thứ 7 (611) đời vua Dượng đế nhà Tùy; tháp Bắc ở chùa Vân cư, núi Phòng sơn, tỉnh Hà Bbắc, được xây dựng bằng đá hoa màu trắng và tháp Trấn Quốc bằng đá ở chùa Khai nguyên, Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến cũng là những tòa tháp đá tiêu biểu điển hình. Tại Hàn quốc, vào thời đại Tân la, cũng có nhiều ngôi tháp được tạo lập bằng đá, như tháp Thích ca ở chùa Phật quốc, tháp 13 tầng ở chùa Tịnh huệ, tháp Xá lợi ở chùa Hoa nghiêm... Tại Nhật bản, tháp được cấu trúc bằng đá sớm nhất là ngôi tháp đá 13 tầng. Những tháp đá hiện còn là ngôi tháp ở chùa Thạch tháp tại Cận Giang và ngôi tháp gồm 7 tầng ở chùa Oánh Sơn là nổi tiếng. 4. Tháp ngọc: Loại tháp này còn rất ít. Năm Khang Hi 19 (1709), vua Thánh tổ có sai thợ khắc 1 tòa tháp ngọc gồm 8 tầng, cao khoảng 3m, thếp thành 3 màu vàng, lục và trắng, gọt dũa tinh vi, trong mỗi tầng tháp có khắc vài pho tượng Phật, nét khắc kì diệu, đáng được gọi là Quốc bảo, rất tiếc sau vì thế cuộc biến thiên, tòa tháp bị lưu lạc, cuối cùng đã bị bán cho một người Mĩ chuyên sưu tầm đồ cổ. 5. Tháp bùn, tháp đất: Như phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 hạ) nói: Hoặc dựng miếu bằng đá, chiên đàn và trầm thủy, cây có hương thơm và các vật liệu khác như gạch, gốm, bùn, đất... Năm Kiến bảo thứ 4 (1217) đời Thiên hoàng Thuận đức, Pháp thân vương Đạo trợ của Nhật bản từng tạo lập 84.000 ngôi tháp bằng đất. 6. Tháp sắt: Ngôi tháp bằng sắt nổi tiếng được nói trong kinh điển là ngôi tháp ở NamThiên trúc, tức Nam Thiên Thiết Tháp, ở bên trong có tàng trữ kinh Kim cương đính. Theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí quyển 3, tháng 9 năm Lân đức thứ 2 (665) đời Đường cao tông, chùa Pháp vân kiến tạo 1 tòa tháp bằng sắt gồm 7 tầng cao tới 1 trượng. Nhưng ngôi tháp bằng sắt nổi tiếng hiện còn thìcó ngôi tháp sắt ở chùa Thiết tháp, huyện Tế ninh, tỉnh Sơn Tháp Trấn quốc ở chùa Khai nguyên Tháp Thích ca, chùa Phật Quốc, Hàn Quốcđông, ngôi tháp sắt ở chùa Cam lộ, huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô... 7. Tháp bằng đồng: Vua nước Ngô việt là Tiền hoằng thúc, ngưỡng mộ di phong tạo tháp của vua A dục, bắt đầu từ năm Hiển đức thứ 2 (955) đời Hậu Chu, ròng rã 10 năm, đúc tạo 84000 tòa tháp bằng đồng cao khoảng 20 cm, bên trong để kinh Bảo khiếp ấn tâm chú rồi ban tặng các nước, xa gần đều khen là đẹp, người đời gọi là tháp Tiền hoằng thúc. 8. Tháp bằng vàng: Ở Ấn độ đời xưa đã có phương pháp tạo lập tháp Phật bằng vàng, nhưng loại tháp này rất ít, vì nguyên liệu quá quí hiếm. 9. Tháp bằng bạc: Giống như tháp bằng vàng, tháp bạc cũng thuộc loại quí hiếm. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 8, một người Bà la môn ở thành Hoa thị, nước Ma yết đà, Trung ấn độ, từng tạo lập 1 tòa tháp bằng bạc trong nhà mình, cao khoảng 3 trượng, rộng 8 thước, trong tháp đặt 4 khám thờ, mỗi khám một pho tượng bằng bạc cao hơn 3 thước. 10. Tháp bằng thủy tinh: Như tòa tháp xá lợi bằng thủy tinh ở phường Thực tạng, huyện Bản bản của Nhật bản là tòa tháp nổi tiếng và được xem là quốc bảo của Nhật bản.11. Tháp bằngpha lê, bằng xà cừ, mã não, lưu li và tháp Đa bảo được trang nghiêm bằng các thứ quí báu nói trong phẩm Phương tiện và phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa. 12. Tháp bằng hương: Tức dùng các loại hương liệu nghiền thành bột rồi nhào lẫn với bùn, sau đó nặn thành những ngôi tháp nhỏ, cao từ 1 đến 20cm trở lên, trong tháp đặt kinh văn chép tay để cúng dường lễ bái, gọi là Pháp xá lợi. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì phong tục này đã thịnh hành ở Ấn Độ từ xưa. Nếu nói theo tính chất của việc tạo lập tháp thì phổ biến nhất là: 1. Tháp cầu phúc: Vì Phật giáo thường nói việc tạo lập tháp Phật sẽ được công đức phúc báo rất thù thắng, cho nên tín chúng phần nhiều góp phần vào việc tạo tháp là để cầu phúc báo. Người cầu phúc thường tùy tài lực của mình mà xây tháp bao nhiêu tầng, tối thiểu là 3 tầng, tối đa là 13 tầng. Nổi tiếng là các tháp Bảo thúc, tháp Lục hòa ở Hàng Châu, tháp sắc chùa Hựu quốc và tháp Niết bàn chùa Tướng quốc ở phủ Khai phong... 2. Tháp báo ân: Tạo lập tháp để báo đáp ơn của Phật, nên gọi là tháp Báo ân. Tháp Báo ân nổi tiếng nhất là tòa tháp trong chùa Báo ân phía ngoài cửa Trung Hoa tại Nam kinh, bắt đầu xây dựng vào năm Vĩnh lạc 11 (1413) đời vua Thành tổ nhà Minh đến năm Tuyên đức thứ 7 (1432), ròng rã 19 năm mới hoàn thành. Thân tháp cao khoảng hơn 100m, hình 8 góc, gồm 9 tầng, mỗi tầng đều có hành lang. Trên mặt ngoài tháp gắn gạch men trắng rất mịn, mỗi viên gạch có 1 tượng Phật, mái che mỗi tầng tháp lợp bằng ngói lưu li 5 màu, trên chóp tháp của tầng trên cùng đặt mũ báu bằng vàng ròng, nặng 2000 lạng. Mỗi góc tháp treo 1 quả chuông nhỏ có lưỡi gà, mỗi khi gió thổi thì các chuông khua leng keng, tựa hồ như tiếng từ tầng mây phát ra. Tim tháp có hình ba la, ở trên đặt quả cầu bằng vàng. Tháp Báo ân ở chùa Báo ân qui mô cực kì hoành vĩ, tráng lệ, bộ Đại Anh bách khoa toàn thư cũng miêu tả rất rõ về tòa tháp này. 3. Tháp Pháp thân: Tháp được tạo dựng để thờ xá lợi của pháp thân. Như đã nói ở trên, Ấn độ từ xưa đã tạo lập tháp hương, bên trong để văn kinh chép tay hoặc kệ Pháp thân, vì thế nên gọi tháp Pháp thân. Chữ (vaô) của tiếng Phạm trong Mật giáo là chủng tử của pháp giới, hình ngoài củachữnày giống nhưngôi tháp tròn, cho nên cũng gọi là tháp Pháp thân. 4. Tháp thọ: Tức bia mộ được tạo dựng trước lúc còn sống. Ngoài ra, khu đất được chọn lựa để dự định xây tháp, gọi là Tháp sự.Nếu phân biệt về vị trí tháp được sắp xếp thì đại khái chia ra: 1. Tháp đứng một mình: Tức tháp đơn thuần độc lập, là kiểu thápphổ biến nhất. 2. Tháp đứng đối diện nhau: Như 2 tòa tháp Đại nhạn và Tiểu nhạn ở huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây đứng trông nhau. 3. Tháp đứng theo hàng thẳng: Như 3 tòa tháp ở chùa Trà thiền, huyện Gia hòa, tỉnh Chiết giang, được xây dựng vào cuối đời Đường, đã nhiều lần bị đổ nát, năm Quang tự thứ 2 (1876) được làm lại. 4. Tháp đứng theo hình vuông: Như 4 tòa tháp ở 4 cửa tại huyện Thẩm dương, tỉnh Liêu ninh, gọi là Thẩm Dương Tứ Tháp. Đó là: Tháp Bắc của chùa Pháp luân phía ngoài cửa Địa tạng, tháp Nam của chùa Quảng từ ở phía ngoài cửa Đức thịnh, tháp Tây của chùa Diên thọ ở phía ngoài cửa Ngoại nhương và tháp Đông của chùa Vĩnh quang ở phía ngoài cửa Phủ cận.5. Tháp đứng theo hình tròn: Như 5 ngôi tháp của chùa Ngũ tháp ở phía ngoài cửa Tây trực thành phố Bắc bình. Chùa Ngũ tháp vốn có tên là chùa Chân giác, phía sau chùa có 1 đài tòa Kim cương bảo bằng phẳng hình vuông, trên có 5 ngôi tháp nhỏ đứng theo hình vòng tròn, trong mỗi tháp an vị 1 tôn tượng Như lai bằng vàng. 6. Kiểu tháp đứng chia cách: Như 7 ngôi tháp của viện Kim cương bảo tháp ở núi Tây sơn, Bắc bình, đứng theo hàng lối của những quân cờ, 7 tháp đều do những tảng đá ngọc xếp lên mà thành. Ngôi tháp ở chính giữa hình vuông gồm 13 tầng là tháp lớn nhất; ở 4 góc mỗi góc dựng 1 tháp, lớn vừa; 2 ngôi tháp ở mặt trước là các tháp hình tròn, hơi nhỏ. Tháp là phần quan trọng nhất trong kiến trúc chùa viện, cho nên tại Ấn độ từ xưa, đối với việc phối trí tháp đã có qui chế nhất định. Như luật Ma ha tăng kì quyển 33 ghi rằng: Trong 1 già lam, tháp không được xây dựng ở phía nam hoặc phía tây, mà phải đặt ở phía đông hoặc phía bắc; nhưng phòng tăng thì ngược lại, phải cất ở phía nam hoặc phía tây. Trong các tượng chư tôn của Mật giáo, có nhiều vị dùng tháp làm hình Tam muội da (Gọi tắt: Tam hình) hoặc làm vật cầm tay, như Đại nhật Như lai và Đa văn thiên. Năm ngôi tháp của chùa Ngũ tháp của Kim cương giới lấy bảo tháp làm hình Tam muội da; còn Đại nhật Như lai của Thai tạng giới thì lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. Lại vì Mật giáo cho rằng Đại nhật Như lai biểu thị cho pháp giới thể tính trí, cho nên Tam hình tháp của Ngài cũng gọi là Pháp giới pháp. Ngoài ra, vật cầm tay trong tay thứ 30 của bồ tát Di lặc và vật cầm tay của trời Đa văn đều là tháp báu; cũng có khi trên mũ báu của bồ tát Di lặc có đặt tháp Ngũ luân. Các kinh điển cũng như các giáo thuyết xưa nay đều cho rằng việc tạo lập tháp có công đức rất lớn, như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói xây tháp tạo tượng là nhân hạnh vãng sinh Tịnh độ. Còn kinh Thí dụ thì nêu 10 quả báo thù thắng của việc lập tháp như sau: 1. Không sinh vào nơi biên quốc. 2. Không bị nghèo khó, khốn khổ. 3. Không bị thân phận ngu si, tà kiến. 4. Có thể làm vua 16 nước lớn. 5. Thọ mệnh lâu dài. 6. Có sức mạnh như Kim cương na la diên.7. Được phúc đức rộng lớn không ai sánh bằng. 8. Được chư Phật, Bồ tát rủ lòng thương xót.9. Có đầy đủ 3 minh, 6 thông và 8 Giải thoát. 10. Được sinh về Tịnh độ trong 10 phương. Ngoài ra, kinh Tạo tháp công đức và kinh Tạo thápdiên mệnhcũngnêu các công đức như: Sống lâu, sinh lên cõi trời, diệt trừ 5 tội Vô gián, thành Phật... Kinh Hữu nhiễu Phật tháp công đức thì cho rằng đi vòng quanh tháp xa lìa được 8 nạn, đầy đủ sắc tướng vi diệu, được của báu, phúc đức, cho đến được làm thầy trời, người... Kinh Đề vị cũng nêu rõ nhiễu tháp có 5 công đức như sau: 1. Đời sau được thân tướng đoan chính, đẹp đẽ. 2. Được tiếng nói dịu dàng, trong trẻo. 3. Được sinh lên cõi trời. 4. Được sinh vào nhà vương hầu. 5. Được đạo Nê hoàn. Nhưng đi vòng quanh tháp cũng có 1 hình thức nhất định, như phải đi theo chiều bên phải làm chuẩn, khi đi quanh tháp phải cúi đầu nhìn xuống để tránh dẵm lên các côn trùng bò trên mặt đất, không được liếc nhìn 2 bên, không được khạc nhổ trước tháp, không được dừng lại giữa đường nói chuyện với người khác. Ngoài ra, không chỉ giới hạn ở việc xây tháp, đi quanh tháp mà làm các việc như tu sửa tháp, quét tước tháp, lễ bái tháp... cũng đều được công đức rấtlớn. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; kinh Tăng nhất a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.2; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.1; Phật sở hành tán Q.5; kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; luật Tứ phần Q.52; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8; Du già luận kí Q.21; Đại đường tây vực kí Q.2; Lương cao tăng truyện Q.1; Thích ca phương chí; Quảng hoằng minh tập Q.15, 17; Lạc dương già lam kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.7; Nhật bản thư kỉ Q.20; Phù tang lược kí Q.30; History of Indian and Eastern Architecture, vol. I, II, by J. Fergusson; A History of Fine Art in India and Ceylon, by V.A. Smith]. (xt. Tháp Đầu).
tháp chuông
Bell tower.
tháp chủ
5421禪林中,奉侍祖師之木像、畫像、墓所之職稱。即禪宗寺院之守塔僧,或掌管塔頭之人。(參閱「塔頭」5436)
tháp khắc y bố tư thản
5433(Tāk-i-Bustān)[1] 西亞細亞薩珊朝(Sassanid)時代之巖窟遺蹟。位於伊朗西部克曼沙(Kermanshah)郊外九公里處。其地有泉,設有苑池。塔克意謂「穹窿」,布斯坦意謂「樂園」,合稱即指具現樂園之穹窿建築所在地。蓋伊朗高原多屬不毛之沙漠,有水之處則茂生草木,能解熱渴,每被視如樂園,塔克伊布斯坦即典型之一例。部分日本學者認爲此窟之構造頗類似佛說阿彌陀經中之極樂世界,而謂西亞細亞與伊朗之樂園思想影響大乘佛教之成立,如無量壽佛之不老不死,及能滿足官能欲求之極樂世界之構想等。 此窟正面上段岩壁有以薩珊朝訶斯洛二世(Khusro Ⅱ 590~628 在位)爲中心之浮雕,其兩邊有祆教之教主神阿凡士旦(Avestan,英文名 Ahura Mazda,亞甫拉馬哲達)及泉之女神阿那希多,左右壁有狩獵遊樂圖。其中訶斯洛爲樂園主人,光明與正義之神阿凡士旦,具有大勢至菩薩之特徵,泉之女神則顯示出觀音菩薩之各種機能;即表現阿彌陀三尊。據彼等日本學者推測,或係極樂世界原型遺蹟之一。
tháp loan
5436(Dhātu Luang)位於寮國永珍之北。西元一五六六年,悉達提拉王(Sethathirath)於原有小塔基礎上所修建之大舍利塔。佔地數百畝,塔作方形,分爲三層,座落於一方形之平臺上,底層四面迴廊,東西長六十公尺,南北寬五十八公尺。各邊中央有門出入,四面入口門外各建有禮亭;第二層四周繞以三十座小形方塔;第三層中央爲一方形尖高之大塔,下部呈蓮花瓣形,中部有三級方形壇柱,上部呈逐漸高尖之方瓶狀,接以尖長塔頂。大塔上部貼鍍金箔,遠望金碧輝煌,華麗而莊嚴,爲寮國歷代最偉大之建築,風格獨特,異於東南亞傳統之圓形佛塔。大 薴漕悕)佛陀舍利骨,或謂供奉佛髮。一八七三年曾遭庸奴(Yunnan)盜匪之損毀,經數度整修,至本世紀三十年代方復其舊觀。寮國佛教徒視之爲聖潔之象徵,每年十一月中旬,全國佛教徒群集,舉行隆重之盛會。〔南傳佛教史(淨海)〕
; (塔鑾) Dhàtu Luang. Tên tháp, nằm về phía Bắc thành phố Viên chăn, nước Lào, là ngôi Đại tháp xá lợi do vua Sethathirath xây dựng trên nền 1 ngôi tháp nhỏ cũ vào năm 1566. Tháp tọa lạc trên khu đấtrộngmấy trăm mẫu, có hình vuông, chia làm 3 tầng, trên 1 cái nền cũng hình vuông bằng phẳng, tầng đáy 4 mặt có lối đi vòng quanh, từ đông sang tây rộng 60m, từ nam đến bắc rộng 58m. Ở chính giữa của mỗi bên có cửa ra vào, phía ngoài cửa ra vào ở 4 mặt đều có xây Lễ đình, 4 chung quanh tầng thứ 2 có 30 ngôi tháp nhỏ hình vuông; chính giữa tầng thứ 3 là 1 ngôi tháp lớn cao nhọn hình vuông, phần dưới có hình cánh hoa sen, phần giữa có cây cột đàn hình vuông 3 bậc, phần trên giống như cái bình vuông nhô lên cao nhọn dần, tiếp giáp đỉnh tháp dài nhọn. Phần trên của tháp lớn được dát vàng thếp, trông xa như vàng ngọc sáng chói, hoa lệ trang nghiêm, là kiến trúc vĩ đại nhất qua các đời của nước Lào, có phong cách đặc biệt, khác với tháp Phật hình tròn truyền thống của vùng Đông nam á. Trong tháp lớn thờ xương xá lợi của Phật, có chỗ nói thờ tóc của Phật. Năm 1873, tháp bị tổn hại bởi bị bọn cướp Dung nô (Yunnan), trải qua mấy lần sửa chữa, đến năm 1930 mới phục hồi được cảnh quan cũ. Tín đồ Phật giáo nước Lào coi tòa tháp này là biểu tượng thanh khiết của Phật. Hằng năm vào trung tuần tháng 11, tín đồ Phật giáo trên toàn nước Lào vân tập về đây cử hành lễ hội rất long trọng. [X. Nam truyền Phật giáo sử (Tịnh hải)].
Tháp miếu
塔廟; C: tǎmiào; J: tōbyō; |Chùa và miếu, Tháp.
tháp miếu
Pagodas and temples.
Tháp miếu 塔廟
[ja] トウビョウ tōbyō ||| Pagodas and temples. => Chùa và miếu.
tháp nhĩ tự
5433西藏名 Skuḥbum。意譯十萬佛像。又作金瓦寺、塔兒寺。位於青海西寧郊外之塔山。其地爲黃教祖師宗喀巴之降生處,亦爲今日蒙藏地方之宗教中心。始建於明嘉靖三十九年(1560),爲黃教六大寺院之一(其餘五寺爲西藏之色拉寺、哲蚌寺、扎什倫布寺、甘丹寺及甘肅之拉卜楞寺)。寺前有栴檀樹一株,據傳宗喀巴出生後,於埋藏其胞衣之處生出此樹,葉上浮現無數佛像;sku-ḥbum(十萬體,意即十萬佛像)之名即由此而來。全寺建築,隨山依勢,逐漸升起,有大小院落千餘處,僧舍四千五百餘間,可容數千人,儼然一座宗教都市,其中以大經堂、大、小金瓦寺爲其核心。 大經堂爲塔爾寺宗教組織之最高權力機構,藏式平頂建築,佔地一九八一平方公尺。建於明萬曆三十四年(1606),後數經擴建,民國二年(1913)遭回祿,民國六年重建。堂內矗立一百零八根大柱,柱子上部均雕有優美圖案,外裹彩色毛氈,並綴有各色刺繡、飄帶、幢、幡等,四壁掛有各種綢緞剪堆、綉堆之佛像、佛教故事圖、宗教生活圖等,均生動而別緻。經堂內可供三千人誦經,內有一純金鑄造之塔,高約六、七公尺,內置宗喀巴之骨灰。四壁有經架、佛龕等。大經堂下設四大扎倉(學院):(一)參尼扎倉(顯宗學院),爲成立最早、規模最大的研究顯宗教義之學經部門,並研究內明。(二)居巴扎倉(密宗學院),爲研究密宗教義之部門,並研究因明。(三)丁科扎倉(時輪學院),爲研究天文、曆算、占卜之部門。(四)曼巴扎倉(醫學院),爲研究醫藥治病之部門。大經堂爲參尼扎倉之經堂,亦爲四個扎倉全體喇嘛聚會誦經之大禮堂。 大金瓦寺爲塔爾寺之精華部分,其最精華處爲正殿,外表以碧綠細緻之磁甎砌成。牆上嵌有無數珍珠、瑪瑙、金銀、寶石、翠玉,寶光四射。正殿供奉宗喀巴像,周圍環以五千餘尊一尺餘高西藏式或印度式之小金佛,長目細腰,以襯托莊嚴靜穆之宗喀巴巨像。殿中懸有數千酥油小燈,纓絡垂飾,宛如繁星;像前懸有二巨燈,全以珍珠穿成,點以酥油,永不熄滅,金光璀燦中,香煙繚繞,爲塔爾寺最神聖之處。大殿之後有藏經櫃,內藏黃教之主要經典甘珠爾及丹珠爾。經典原藏於西藏,後移至此,爲本寺之寺寶。大金瓦寺殿頂全以金瓦舖成,上有數十座一、二公尺高之經幢,全爲金製,其含金量總計十萬兩以上,有瓶形、塔形、傘形等,鑄工細緻精美,陽光照射下,金碧輝煌,光芒萬丈,誠可謂佛教之聖地、青海之寶庫。 小金瓦寺又稱大護法殿,建於明崇禎四年(1631),爲大金瓦寺之縮影,然風格與大金瓦寺不同。寺前有八座高塔矗立。清雍正皇帝時,年羹堯平定羅卜藏丹津之亂,由於寺僧亦曾參與叛亂,年羹堯欲屠寺僧,經鎮海堡千總苦求,僅殺主其事之八大喇嘛,後分葬寺域內,建八座白塔藏其遺骸。小金瓦寺之建築有如一放大之喇嘛塔,屋瓦亦銅製鍍金,金色燦爛,與大金瓦寺相互輝映。寺內所供神像,多呈忿怒像,表示護法神之威嚴;各柱上皆由整張虎皮裹製,後殿並藏有各種凶惡面孔之木製面具,係供跳神用者。 由於藏人對宗喀巴之崇敬,本寺遂成爲蒙藏兩族善男信女心目中不可侵犯之聖地,猶如耶、回二教之聖地耶路撒冷,喇嘛教徒大都發願一生中至少能至該寺朝拜一次,往往傾窮年累月辛勤工作之全部積蓄,長途跋涉,至此朝聖奉獻。寺前階梯舖有跪拜所用之厚松木板,每經一時期,常因手掌與腳膝之起伏用力而磨成深槽,宛若人體之伏地,堪稱奇景。又寺內之繪畫、堆綉、酥油花被譽爲本寺之「三絕」,每年藏曆正月十五舉行燈節大會,展覽酥油花雕,吸引無數遊客。〔Waddell: The Buddhism of Tibet or Lamaism, 1895;Filchner: Das Kloster Kumbum in Tibet, 1906、蒙藏佛教史(妙舟)〕
; (塔爾寺) Tạng: Sku#bum. Cũng gọi Kim ngõa tự, Tháp nhi tự. Chùa trên núi Tháp sơn, vùng ngoại ô ở Tây ninh, tỉnh Thanh hải. Đây là nơi giáng sinh của Đại sư Tông khách ba – Tổ sư khai sáng Hoàng giáo, cũng là trung tâm tông giáo của vùng Mông Tạng hiện nay. Chùa được bắt đầu xây dựng vào năm Gia tĩnh thứ 19 (1560) đời Minh, là 1 trong 6 ngôi tự viện lớn của Hoàng giáo (5 chùa kia là chùa Sắc lạp, chùa Triết bạng, chùa Trát thập luân bố, chùa Cam đan ở Tây tạng và chùa Lạp bốc lăng ở tỉnh Cam túc, Trung quốc). Phía trước chùa có 1 gốc cây chiên đàn, theo truyền thuyết, cây này mọc lên từ chỗ chôn cái nhau của ngài Tông khách ba sau khi ngài sinh ra, trên các lá của cây này hiện lên vô số tượng Phật. Từ Sku#bum (10 vạn thể, ý nói 10 vạn tượng Phật) chính là từ đây mà ra. Kiến trúc toàn chùa dựa theo thế núi, dần dần lên cao, có hơn 1000 viện lớn nhỏ, hơn 4500 tăng phòng, dung chứa được mấy nghìn người, giống như một đô thị tông giáo, trung tâm trong đó là Đại kinh đường, Đại kim ngõa tự và Tiểu kim ngõa tự. Đại kinh đường là cơ quan quyền lực cao nhất của tổ chức tông giáo mà chùa Tháp nhĩ, là kiến trúc nóc bằng theo kiểu Tây tạng, chiếm diện tích 1981m2, được xây dựng vào năm Vạn lịch 34 (1606) đời Minh, sau nhiều lần được mở rộng thêm, đến năm Dân quốc thứ 2 (1913), chùa bị phá hủy và năm Dân quốc thứ 6 (1917) được xây dựng lại. Trong Đại kinh đường có 108 cây cột lớn, phần đầu các cột có điêu khắc các hình vẽ rất đẹp, 4 vách có treo tượng Phật, các bức vẽ sự tích Phật giáo, các bức vẽ sinh hoạt tông giáo đều rất sinh động. Trong Kinh đường có thể dung chứa 3000 người tụng kinh, tại đây có 1 tòa tháp đúc bằng vàng ròng, cao khoảng 6, 7 mét, bên trong an trí tro xương của ngài Tông khách ba. Bốn vách có giá để kinh, khám thờ Phật... Dưới Đại kinh đường, thiết lập 4 Đại trát thương(học viện) là: 1. Tham ni trát thương(Học viện của Hiển tông): Thuộc bộ môn nghiên cứu giáo nghĩa của Hiển tông được thành lập sớm nhất và có qui mô lớn nhất, đồng thời nghiên cứu Nội minh. 2. Cư ba trát thương(Học viện của Mật tông): Thuộc bộ môn nghiên cứu giáo nghĩa của Mật tông, đồng thời nghiên cứu Nhân minh. 3. Đinh khoa trát thương(Học viện của Thời luân): Thuộc bộ môn nghiên cứu thiên văn, lịch pháp, bói toán... 4. Mạn ba trát thương (Viện Y học): Thuộc bộ môn nghiên cứu y dược trị bệnh. Đại kinh đường là Kinh đường của Tham ni trát thương, cũng là đại lễ đường để toàn thể Lạt ma của 4 Trát thương nhóm họp tụng kinh. Đại kim ngõa là phần tinh hoa của chùa Tháp nhĩ, chỗ tinh hoa nhất là chính điện, bên ngoài được gắn bằng gạch sứ màu xanh biếc rất mịn. Trên tường có nhấn vô số trân châu, mã não, vàng bạc, đá quí, ngọc biếc, ánh sáng tỏa ra 4 phía. Chính điện thờ tượng ngài Tông khách ba, trong điện treo vô số đèn dầu nhỏ, dây tơ rủ xuống, như những chùm sao lấp lánh; trước tượng treo 2 ngọn đèn lớn được xỏ toàn bằng trân châu, thắp bằng dầu tô, không bao giờ tắt, ánh vàng rực rỡ, làn khói hương uốn quanh, là nơi thiêng liêng nhất của chùa Tháp nhĩ. Phía sau Đại điện có tủ xếp kinh, bên trong tàng trữ Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ, là kinh điển chủ yếu của Hoàng giáo. Kinh điển vốn được cất giữ ở Tây tạng, sau mới được dời đến đây, là của báu của chùa này. Trên nóc Đại kim ngõa tự lợp toàn bằng ngói vàng, phía trên có mấy mươi cột kinh cao từ 1 đến 2m, được làm toàn bằng vàng, số lượng vàng tính chung có tới 100.000 lượng trở lên, có hình cái bình, hình tháp, hình lọng... đúc rất tinh khéo, đẹp đẽ, dưới những tia ánh sáng mặt trời, vàng ngọc ánh lên chiếu soi muôn trượng, thật đáng gọi là Thánh địa của Phật giáo, kho báu của Thanh hải. Tiểu kim ngõa tự cũng gọi là điện Đại hộ pháp, được xây dựng vào năm Sùng trinh thứ 4 (1631) đời Minh, là hình ảnh thu nhỏ của Đại kim ngõa tự, nhưng phong cách thì khác với Đại kim ngõa tự. Trước chùa có 8 tòa tháp đứng sừng sững. Vào thời Hoàng đế Ung chính nhà Thanh, Niên canh nghiêu dẹp yên được loạn La bốc tạng đan tân, vì chúng tăng trong chùa cũng tham gia cuộc phản loạn, cho nên Niên canh nghiêu định giết hết, nhưng nhờ có Trấn hải bảo thiên tổng cầu xin, nên Niên canh nghiêu chỉ giết 8 vị Lạt ma lớn chủ chốt trong việc này, sau chia ra chôn ở 8 chỗ trong nội tự của chùa, xây 8 tòa tháp trắng để an trí di hài của 8 vị. Sự cấu trúc của Tiểu kim ngõa giống như tòa tháp Lạt ma phóng lớn, ngói lợp cũng bằng đồng có mạ vàng, ánh sáng chói lọi, phản ánh lẫn với ánh sáng của Đại kim ngõa tự. Các tượng thần thờ trong chùa phần nhiều lộ vẻ phẫn nộ, biểu trưng dáng uy nghiêm của thần Hộ pháp, trên các cột đều được quấn bằng nguyên tấm da hổ, ở phía sau điện thì cất giữ những mặt nạ bằng gỗ đầy vẻ hung ác, là những vật dùng để diễn tuồng xua đuổi tà thần, ác quỉ. Do sự sùng kính của người Tây tạng đối với ngài Tông khách ba nên chùa này trở thành thánh địa bất khả xâm phạm trong ý nghĩ của các thiện nam tín nữ thuộc 2 dân tộc Tây tạng và Mông cổ, giống như Thánh địa Jerusalem của Gia tô giáo và Hồi giáo. Tín đồ Lạt ma giáo phần lớn đều phát nguyện trong một đời ít ra cũng phải đến chùa này chiêm ngưỡng lễ bái một lần. Ở bậc thềm trước chùa có lót những tấm gỗ thông dày dùng để quì lạy. Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng theo lịch Tây tạng, chùa có tổ chức Đại hội thắp đèn, triển lãm hoa tô du, rất đông người tham dự. [X. The Buddhism of Tibet or Lamaism, 1895; Dao Kloster Kumbam in Tibet, 1906, by Filchner; Mông tạng Phật giáo sử của Diệu chu].
tháp sám pháp
5436根據占察善惡業報經所行之懺法。隋朝曾一度禁行此法,續高僧傳卷二(大五○‧四三五下):「初開皇十三年,廣州有僧行塔懺法,以皮作帖子二枚,書爲善惡兩字,令人擲之,得善者吉;又行自撲法以爲滅罪,而男女合雜,妄承密行。青州居士接響同行,官司檢察,謂是妖異。其云:『此塔懺法,依占察經;自撲懺法,依諸經中五體投地,如大山崩。』時以奏聞,乃敕內史侍郎李元操,就大興善問諸大德。有沙門法經、彥琮等,對云:『占察經見有兩卷,首題菩提登在外國譯,文似近代所出,眾藏亦有寫而傳者,檢勘群錄,並無正名及譯人時處,塔懺與眾經復異,不可依行。』敕因斷之。」即可見其一斑。〔三國遺事卷三、卷四〕
; (塔懺法) Pháp sám hốitháp được thực hành theo kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo. Vào đời Tùy, có 1 thời gian pháp sám này bị cấm không được cử hành. Tục cao tăng truyện quyển 2 (Đại 50, 435 hạ) nói: Vào đầu năm Khai hoàng 13, ở Quảng châu có vị tăng cử hành Tháp sám pháp, dùng 2 miếng da viết 2 chữ Thiện, Ác, rồi bảo người gieo quẻ, nếu được chữ Thiện thì tốt, còn thực hành Tự phác sám pháp(tự đánh mình) để diệt tội, nhưng nam nữ lộn xộn, nói càn là làm theo hạnh bí mật. Các cư sĩ ở Thanh châu hưởng ứng cùng nhau thực hành, bị quan ti kiểm tra, cho là yêu dị. Họ nói: Tháp sám pháp này y cứ vào kinh Chiêm sát; còn Tự phác sám pháp thì theo các kinh dạy 5 vóc gieo sát đất, như núi lớn sụp đổ. Bấy giờ, quan ti tâu lên vua, vua sai quan Nội sử thị lang là Lí nguyên tháo đến chùa Đại hưng thiện hỏi các vị Đại đức. Có các sa môn Pháp kinh, Ngạn tông... trả lời rằng: Kinh Chiêm sát thấy có 2 quyển, ở đầu quyển có ghi do ngài Bồ đề đăng dịch ở nước ngoài, lời văn giống như văn cận đại, trong các tạng cũng có chép và lưu truyền; tra xét trong các bộ mục lục kinh đều không thấy chính danh và tên người dịch, dịch vào lúc nào và dịch ở đâu... Tháp sám lại khác với các kinh, cho nên Chùa Tiểu Kim Ngõa nằm trong phạm vi chùa Tháp nhĩ.Một trong những tượng làm bằng tô du ở chùa Tháp nhĩkhông thể thực hành theo. Nghe vậy, vua vua liền ban lệnh cấm chỉ.[X. Tam quốc di sự Q.3, 4].
tháp sử
5432巴利名 Thūpavaṃsa。南傳上座部佛教經典以外之著作。十三世紀錫蘭比丘伐其沙拉(巴 Vācissara)著。主要敘述釋迦牟尼之生平,及其入滅後分舍利之情況,此外亦收錄阿努拉達普拉大塔之歷史。
; ThŪpavaṃsa (S) Do Tỳ kheo Vacissara người Tích Lan, thế kỳ 13, biên soạn.
; (塔史) Pàli: Thùpavaôsa. Tác phẩm ở ngoài các kinh điển của Phật giáo Thượng tọa bộ phương Nam, do vị tỉ khưu tên là Vàcissara người Tích lan soạn vào thế kỉ XIII. Nội dung sách này chủ yếu nói về cuộc đời đức Phật Thích ca mâu ni và về việc phân chia xá lợi sau khi Ngài nhập diệt; ngoài ra cũng thu chép lịch sử tòa đại tháp ở Anuràdhapura.
tháp thờ xá lợi
Cetiya (P), Caitya (S), Stupa Thánh điện.
tháp tự kiên cố
5432五五百年之一。五堅固之一。即佛入滅後第四個五百年,爲造立塔寺堅固之時期。此說出自大方等大集經卷五十五。(參閱「五五百年」1065)
; (塔寺堅固) Thời kì chùa tháp được xây dựng một cách kiên cố, 1 trong 5 lần 500 năm, 1 trong 5 cái kiên cố. Chỉ cho 500 năm lần thứ 4 sau khi đức Phật nhập diệt, là thời kì tạo lập chùa tháp kiên cố, tức thuộc thời kì mạt pháp. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
tháp viên
ThŪparama (S).
tháp viện tự
5433位於山西五臺山顯通寺之南。又稱大寶塔院寺。五臺山爲我國佛教一大聖地,山中古蹟、佛剎不可勝數,然全山五峰之中,僅此寺有阿育王所置之佛舍利塔及文殊髮塔,因而得名。明成祖永樂五年(1407),敕命太監楊昇重修大塔,始建寺。萬曆六年(1578),太后敕令中相范江、李友重建,寺觀恢宏壯麗,冠於五臺。舍利塔又稱白塔,高達八十六公尺餘,建築型態極爲別緻。
; (塔院寺) Cũng gọi Đại bảo tháp viện tự. Chùa nằm về phía nam chùa Hiển thông trên núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây. Núi Ngũ đài là Thánh địa của Phật giáo Trung quốc, chùa Phật và những di tích cổ ở núi này thực không thể kể hết, nhưng trong 5 ngọn (Ngũ đài) của toàn núi thì chỉ có chùa này là có tháp thờ xá lợi Phật và tháp thờ tóc bồ tát Văn thù do vua A dục thiết trí, do đó mà nổi tiếng. Vào năm Vĩnh lạc thứ 5 (1407) đời Minh, vua Thành tổ ban sắc sai quan Thái giám Dương thăng trùng tu đại tháp và bắt đầu làm chùa. Năm Vạn lịch thứ 6 (1578), Thái hậu hạ lệnh cho Trung tướng Phạm giang, Lí hữu xây dựng lại, cảnh chùa nguy nga tráng lệ, đứng đầu Ngũ đài. Xá lợi tháp cũng gọi là Bạch tháp, cao hơn 86m, hình thái kiến trúc đặc biệt khác lạ.
tháp y
5463搭,掛之意;將袈裟掛於身上,稱搭衣。又稱搭袈裟。搭衣法有偏袒右肩、通肩兩種。通肩法唯適用於如來與耆年老宿,其披法有顯露胸臆、隱覆胸臆之分,於化導、授戒、行乞時所搭;一般比丘在佛及耆年老宿之前不得通肩披袈裟。偏袒右肩爲通常之披法,其披法爲:(一)雙手持衣,以兩手之中指、食指壓住外邊。(二)將搭時,左手拿住衣頭,右手拿住衣尾。(三)將衣拋在左肩,以左手之小指、中指、食指壓住,右手拿住衣背。(四)將左手所執之衣,向頭後右手傳拋。(五)用左手執勾,右手執環。(六)左手執衣勾與衣環,右肩披露之,右手拈住袍袖。(七)右手將衣環套在扣上。(八)勾環既套上,將右手拿住左膀之衣,一摺之,遞在膀上。又古之搭衣,另有其法而異於今日。 搭衣之時,所誦之偈,稱搭衣偈、搭袈裟偈。於偈之外,另須結咒三遍。著五衣(安陀會)之搭衣偈爲(卍續一○六‧六五下):「善哉解脫服,無上福田衣;我今頂戴受,世世不捨離。」咒爲:「唵悉陀耶莎訶。」著七衣(鬱多羅僧)之搭衣偈爲:「善哉解脫服,無上福田衣;我今頂戴受,世世常得披。」咒爲:「唵度波度波莎訶。」著大衣(僧伽黎)之搭衣偈爲:「善哉解脫服,無上福田衣;奉持如來命,廣度諸眾生。」咒爲:「唵摩訶婆波吒悉帝莎訶。」〔毘尼日用切要、沙彌律儀要略、南海寄歸內法傳卷二〕
tháp đầu
5434在禪宗,指開山祖師塔之所在。高僧入寂時,弟子因仰其遺德,不忍驟離塔頭,遂住於一新設之小屋,稱塔頭支院。至後世,尤以日本,指本寺所屬且爲本寺境內之寺院,亦稱爲塔頭。〔景德傳燈錄卷十五洞山良价條、鎮州臨濟慧照禪師語錄、禪林象器箋區界門〕
; (塔頭) Chỉ cho chỗ xây tháp của vị Tổ sư khai sơn trong Thiền tông. Khi vị cao tăng thị tịch, vì quí mến đức hạnh của thầy, không nỡ xa tháp, nên các đệ tử trụ trong một căn nhà nhỏ mới được dựng lên ở bên cạnh, gọi là Tháp đầu chi viện. Đến đời sau, nhất là ở Nhật Bản, những chùa viện chi nhánh trực thuộc chùa gốc hoặc chùa viện nằm trong khuôn viên của chùa gốc, cũng gọi là Tháp đầu. [X. điều Động sơn Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; môn Khu giới trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tháp ấn
5432表示塔之印。又稱率都波印。即密教金、胎兩部大日如來及法華經之本尊釋迦牟尼如來之印契。塔印有理塔、智塔、心塔三種。以表胎藏界大日如來一字所成之理塔的無所不至印爲佛部塔印,以表金剛界大日如來五字所成之智塔的外五股印爲金剛部塔印,以表法華經本尊釋迦牟尼如來之未敷蓮華,即毘盧遮那之心塔的法華印爲蓮華部塔印。即以此三印配列三部之故,稱爲三部塔印。其中,無所不至印表六大、四曼、三密之印契,有開塔、閉塔二傳。開塔印以左右二手虛心合掌,二食指相捻,開二大拇指之間,著於二食指之上節;閉塔印先虛心合掌,二食指相捻,二大拇指並合,著於二食指之端。外五股印表五智五佛之印契,豎合二中指,屈二食指如鉤,置中指之傍,合豎二小指、二拇指如五股金剛杵。法華印乃表金、胎不二之印契,其印相有二傳。初傳先結無所不至印,後以二拇指稍入掌中;後傳與無所不至印之開塔印同,即與聖觀自在菩薩心真言瑜伽觀行儀軌所說之大日如來劍印相同。〔印訣鈔卷三(純瑜)、金剛峰樓閣一切瑜伽瑜祇經修行法卷二(安然)、總持鈔卷七〕(參閱「五股印」1116、「無所不至印」5092)
; (塔印) Cũng gọi Suất đô ba ấn. Ấn biểu thị cho tháp là ấn khế của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương bộ, Thai tạng bộ trong Mật giáo và của Bản tôn Thích ca Như lai trong kinh Pháp hoa. Tháp ấn có 3 loại: Lí tháp, Trí tháp và Tâm tháp. Vô sở bất chí ấn là Phật bộ tháp ấn biểu thị cho Lí tháp được thành hình bằng một chữ của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới. Ngoại ngũ cổ ấn là Kim cương bộ tháp ấn biểu thị cho Trí tháp được hình thành bằng 5 chữ của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Pháp hoa ấn thuộc Tâm tháp của đức Tì lô giá na là Liên hoa bộ tháp ấn, biểu thị cho hoa sen chưa nở của Bản tôn Thích ca mâu ni Như lai trong kinh Pháp hoa. Vì 3 ấn này được phối hợp với 3 bộ nên gọi là Tam bộ tháp ấn. Trong đó, Vô sở bất chí ấn là biểu thị cho các ấn khế lục đại, tứ mạn và tam mật, được chia làm 2 là Khai tháp ấn(ấn mở tháp) và Bế tháp ấn(ấn đóng tháp). Cách kết Khai tháp ấn là: Hai tay chắp, để rỗng ở giữa, đầu 2 ngón trỏ châu vào nhau, 2 ngón cái mở ra, bấm vào 2 đốt trên của 2 ngón trỏ; cách kết Bế tháp ấn thì cũng chắp 2 tay, để rỗng ở giữa, đầu 2 ngón trỏ châu vào nhau, đầu 2 ngón cái sáp vào nhau và đặt ở đầu của 2 ngón trỏ. Ngoại ngũ cổ ấn biểu thị cho ấn khế của Ngũ trí ngũ Phật, 2 ngón giữa dựng thẳng chấm đầu vào nhau, 2 ngón trỏ co lại như hình lưỡi câu, đặt bên cạnh 2 ngón giữa, 2 ngón út dính liền và dựng đứng, 2 ngón cái như chày kim cương 5 chĩa. Pháp hoa ấn là ấn khế biểu thị Kim, Thai bất nhị, có 2 loại ấn tướng. Ấn tướng thứ nhất là trước kết ấn Vô sở bất chí, sau là hơi đưa 2 ngón cái vào trong lòng 2 bàn tay. Ấn tướng thứ hai giống với Khai tháp ấn của Vô sở bất chí ấn, tức giống với Đại nhật Như lai kiếm nói trong Thánh Quán tự tại bồ tát tâm chân ngôn Du già quán hành nghi quĩ. [X. Ấn quyết sao Q.3 (Thuần du); Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh tu hành pháp Q.2 (An nhiên); Tổng trì sao Q.7]. (xt. Ngũ Cổ Ấn, Vô Sở Bất Chí Ấn). THÁP CHỦ Chỉ cho chức vụ coi việc phụng thờ tượng gỗ, tượng vẽ, phần mộ các Tổ sư trong Thiền lâm. Tức là vị tăng giữ gìn tháp trong chùa viện Thiền tông, hoặc điều khiển nhữngngườicoi giữ tháp. (xt. Tháp Đầu).
Tháp 塔
[ja] トウ tō ||| (1) A stūpa, i.e., a mound where the remains of a great sage are buried. (2) A temple. => Ngôi tháp, là một gò đất nơi hài cốt của bậc đại hiền nhân được chôn cất.
Thát Đát
(韃靼, Dattan): tên của một bộ tộc ngày xưa, còn gọi là Tháp Tháp Nhĩ (塔塔爾), được tìm thấy sớm nhất trong các ký lục dưới thời nhà Đường. Sau khi Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗) chinh phục bộ tộc Tháp Tháp Nhĩ, Thát Đát trở thành tên gọi của chung của các bộ tộc Mông Cổ. Dưới thời nhà Minh, Thát Đát là tên gọi các bộ tộc hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn ở miền Đông; phía Đông có bộ tộc Ngột Lương Cáp (兀良哈), phía Tây tiếp giáp với bộ tộc Ngõa Lạt (瓦剌). Đức vua lớn lên gọi là Khả Hãn (可汗); có các quan Tri Viện (知院), Thừa Tướng (丞相), v.v. Trung tâm hoạt động đầu tiên của bộ tộc Thát Đát là Hòa Lâm (和林, tức là Cáp Nhĩ Hòa Lâm [哈爾和林] của nước Mông Cổ ngày nay). Vào năm thứ 8 (1410) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402~1424) thân chinh lên vùng sa mạc phía Bắc, quân thần của nhà vua bèn phân tán ra hoạt động ở các địa khu rộng lớn như Liêu Đông (遼東), Tuyên Phủ (宣府), Cam Túc (甘肅). Từ sau niên hiệu Thiên Thuận (天順, 1457-1464) nhà Minh, bộ tộc này dần dần vào địa khu Hà Sáo (河套). Dưới thời Gia Tĩnh (嘉靖, 1522-1566) nhà Minh, bộ tộc Yêm Đáp (俺答) cường thịnh, nên vào năm thứ 29 (1550) cùng niên hiệu trên, bộ tộc này đã từng vây khốn kinh đô. Tuy nhiên, thủ lãnh của họ là A Lỗ Đài (阿魯台), Yêm Đáp Hãn (俺答汗), v.v., đã từng được nhà Minh phong hiệu, và dâng cống phẩm. Ngoài ra, những người dân Thổ Nhĩ Kỳ cư trú ở một phần phía Nam nước Nga, nguyên xưa kia cũng có nguồn gốc quan hệ với người Mông Cổ; cho nên đây cũng là từ dùng để gọi dân Thổ Nhĩ Kỳ.
Thâm
深; C: shēn; J: shin;|Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.
thâm
1) Đen: Black. 2) Sâu: Deep—Profound.
thâm bát nhã
4659指深妙真如之理。又作甚深般若、實相般若。即諸佛之教法,為三千世界內外無與倫比的最上最尊之微妙法,故稱深般若。
; (深般若) Cũng gọi Thậm thâm bát nhã, Thực tướng bát nhã. Chỉ cho lí của chân như sâu xa, mầu nhiệm. Tức giáo pháp của chư Phật là pháp vi diệu tối tôn, tối thượng mà cả trong lẫn ngoài ba nghìn thế giới đều không có gì sánh được, cho nên gọi là Thâm bát nhã.
thâm bí
Sâu sắc, bí ẩn, huyền diệu, trái với nông cạn—Deep—Profound—Abstrue, in contrast with “shallow.”
thâm bí a xà lê
4659「顯略阿闍棃」之對稱。即大日如來,或由大日如來受灌頂者。又稱深祕師。據大日經疏卷三載,毘盧遮那佛以本願之故,住於加持世界,普現悲生曼荼羅,稱為深祕阿闍棃。同書卷十五載,蒙佛灌頂者,為深祕之佛;蒙世間人師之所授者,即稱為顯略阿闍棃。又大日經疏演奧鈔卷二載,淺略(即顯略)、深祕二種阿闍棃有三義:(一)事業壇傳法灌頂之阿闍棃(第四三昧耶)為淺略,祕密壇寂然以上之阿闍棃(第五三昧耶)為深祕。(二)事業阿闍棃至毘盧遮那究竟阿闍棃,各具淺深之二義。(三)初地以上見諦阿闍棃為深祕,地前六無畏未見諦阿闍棃為淺略。〔大日經卷五祕密漫荼羅品〕
; 1) Tên gọi Đức Đại Nhật Như Lai: Name of the Vairocana. 2) Những vị sư đã được thụ pháp quán đỉnh ở Đức Đại Nhật Như Lai: Bhiksus who have already received the initiation ceremony from Vairocana (esoterics).
; (深秘阿闍梨) Đối lại: Hiển lược a xà lê. Cũng gọi Thâm bí sư. Chỉ cho đức Đại nhật Như lai, hoặc chỉ cho người được Đại nhật Như lai thụ quán đính cho. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 3, vì bản nguyện nên đức Phật Tì lô giá na trụ ở thế giới gia trì, phổ hiện Mạn đồ la bi sinh, gọi là Thâm bí a xà lê. Cũng Đại nhật kinh sớ quyển 15 thì cho rằng người được Phật quán đính cho thì gọi là Thâm bí a xà lê, còn người do bậc thầy thế gian trao cho quán đính thì gọi là Hiển lược a xà lê. Ngoài ra, theo Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 2, Hiển lược a xà lê và Thâm bí a xà lê có 3 nghĩa: 1. A xà lê của đàn truyền pháp quán đính sự nghiệp (Tam muội da thứ 4) là Hiển lược a xà lê; A xà lê của đàn tịch nhiên bí mật trở lên (Tam muội da thứ 5) là Thâm bí a xà lê. 2. A xà lê sự nghiệp đến A xà lê Tì lô giá na cứu cánh đều có đủ cả 2 nghĩa thâm bí và hiển lược. 3. A xà lê thấ đế lí từ Sơ địa trở lên là Thâm bí a xà lê; còn A xà lê Địa tiền lục vô úy chưa thấy đế lí là Hiển lược a xà lê.[X. phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5].
thâm canh
Late into the night.
thâm diệu
See Thâm Bí.
thâm huyền
1) Màu đen đậm: Deep black—Dark. 2) Sâu sắc: Deep—Abstrue.
thâm hành
Hành nghiệp thâm mật từ bậc sơ địa Bồ Tát trở lên—Deep or deepening progress, that above the initial bodhisattva stage.
thâm hành a xà lê
4658「淺行阿闍棃 」之對稱。深行,深祕之行業,即初地以上之行業。有廣狹二義:就狹義而言,初地以上證悟諦理與大日如來同位之阿闍棃,即稱深行阿闍棃;又就廣義而言,指第二無畏以上之阿闍棃,亦稱出世間深行阿闍棃。據大日經義釋演密鈔卷五載,若同毘盧遮那智業圓滿者,智即是觀自身為大日身業,即觀自身同薩埵,若如是者,即稱深行阿闍棃。〔大日經疏卷三、大日經疏演奧鈔卷二〕(參閱「十重深行」461)
; A xà lê từ bậc sơ địa Bồ Tát trở lên—Acarya who has attained stages above the initial bodhisattva stage.
; (深行阿闍梨) Đối lại: Thiển hành a xà lê. Thâm hành là sự nghiệp tu hành sâu xa, bí mật, tức sự nghiệp tu hành từ Sơ địa trở lên. Có 2 nghĩa rộng và hẹp: Nói theo nghĩa hẹp, A xà lê từ Sơ địa trở lên đã chứng ngộ chân lí 4 đế, đồng địa vị với Đại nhật Như lai, gọi là Thâm hành a xà lê; còn nói theo nghĩa rộng thì Thâm hành a xà lê từ Đệ nhị vô úy trở lên, cũng gọi Xuất thế gian thâm hành a xà lê. Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 5, nếu người có trí nghiệp viên mãn đồng với Tì lô giá na –trí tức là quán xét tự thân là thân nghiệp của Đại nhật, tức quán tự thân đồng với Tát đỏa – nếu người được như thế thì gọi là Thâm hành a xà lê. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.2]. (xt. Thập Trùng Thâm Hành).
thâm khang
Hố sâu—A deep or fathomless pit.
thâm khanh
4658原指深奧之坑穴;佛教中,引喻為聲聞、緣覺二乘證涅槃者及斷壞善根之人,猶如墮入深坑,永不得出離。據八十華嚴經卷五十至卷五十二載,如來之智慧如大藥樹王,能利益一切有情,唯於二乘及壞善根之非器眾生,不能為作利益。
; (深坑) Vốn chỉchocái hố sâu tối tăm, kín mít. Trong Phật giáo, từ ngữ Thâm khanh được sử dụng để dụ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chứng niết bàn và những người đã hủy hoại căn lành, hệt như người rơi xuống hố sâu, mãi mãi không có cách nào thoát ra được. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 50-52 (bản 80 quyển) thì trí tuệ của Như lai như một cây đại dược thụ vương (cây vua thuốc lớn), có khả năng mang lại lợi ích cho tất cả hữu tình, nhưng đối với hàng Nhị thừa và những chúng sinh đã hủy hoại thiện căn thì không giúp được gì.
Thâm khí
(深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Ngài biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm trú Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chin tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).”
; (深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Ngài biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm trú Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chín tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).”
thâm kinh
4659請參閱解深密經 為諸大乘經典之通稱。此等經典宣說諸法實相深理,故稱深經。與「深藏」一語同義。維摩經法供養品(大一四‧五五六中):「諸佛所說深經。」〔安樂集卷上〕
; Thâm Tạng—Gọi chung các kinh điển Đại Thừa, thuyết giảng về sự thậm thâm của chánh pháp—Profound sutras, or texts, those of Mahayana.
; (深經) Đồng nghĩa: Thâm tạng. Từ ngữ gọi chung các kinh điển Đại thừa. Những kinh điển này giảng nói về lí sâu xa của thực tướng các pháp nên gọi là Thâm kinh. Phẩm Pháp cúng dường kinh Duy ma (Đại 14, 556 trung) nói: Những kinh sâu xa (Thâm kinh) do chư Phật nói. [X. An lạc tập Q.thượng].
thâm lý
Nguyên lý thậm thâm—Profound principle, law or truth.
thâm lệ
4660(1749~1817)日本淨土真宗僧。大谷派講師。字子勗,號龜洲,又號垂天社。寬延二年生於越前坂井郡養浦大行寺,天資聰敏,為金津町永臨寺壽天收為法嗣。後投京都慧琳、隨慧門下,師事隨慧,並從之前往播磨,參究奧蘊,復從智道、龍山諸宗龍象潛研性相及顯密之學。寬政三年(1791)任擬講之職,六年晉升講師。文化十四年,於永臨寺示寂,世壽六十九。諡號「香月院」。生平著述頗豐,有淨土三部經講義二十四卷、教行信證講義二十卷、文類聚鈔講義十卷、選擇集二十五個異同辨等書傳世。
; (深勵) Vị tăng thuộc Tịnh độ chân tông của Nhật bản, Giảng sư phái Đại cốc, tự là Tử úc, hiệu Qui châu, hiệu khác là Thùy thiên xã. Sư sinh ở chùa Đại hạnh tại Dưỡng phố thuộc quận Bản tỉnh, Việt tiền vào năm Khoan diên thứ 2 (1749). Sư bẩm tính thông minh, được ngài Thọ thiên trụ ở chùa Vĩnh lâm thuộc đinh Kim tân thu nhận làm đệ tử nối pháp. Sau, sư đến tham học các ngài Tuệ lâm, Tùy tuệ ở Kyoto, thờ ngài Tùytuệ làm thầy; đồng thời, theo ngài Tùy tuệ đến Bá ma tham cứu nghĩa sâu xa; lại theo các bậc long tượng của các tông như ngài Trí đạo, Long sơn... chuyên tâm nghiên cứu các học thuyết Tính Tướng và Hiển Mật. Năm Khoan chính thứ 3 (1791), sư giữ chức Nghĩ giảng; năm Khoan chính thứ 6 (1794), sư được thăng chức Giảng sư. Năm Văn hóa 14 (1817), sư thị tịch ở chùa Vĩnh lâm, thọ 69 tuổi, thụy hiệu là Hương Nguyệt Viện. Lúc sinh tiền, sư soạn thuật rất nhiều, có các tác phẩm lưu truyền ở đời như: Tịnh độ tam bộ kinh giảng nghĩa 20 quyển, Giáo hành tín chứng giảng nghĩa 20 quyển, Văn loại tụ sao giảng nghĩa 10 quyển, Tuyển trạch tập nhị thập ngũ cá dị đồng biện...
thâm ma xá na
Smasana (skt)—Nơi vứt xác người chết—Place for disposing of the dead.
Thâm mật
深密; C: shēnmì; J: shinmitsu;|Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.
thâm mật
See Thâm Bí.
Thâm mật giải thoát kinh
深密解脱經; C: shēnmì jiĕtuō jīng; J: shin-mitsu gedatsukyō; S: saṃdhinirmocana-sūtra|Tên bản dịch của Bồ-đề Lưu-chi dịch từ Saṃdhinirmocana-sūtra; gồm 5 quyển. Xem Giải thâm mật kinh (解深密經).
Thâm mật kinh
深密 (蜜) 經; C: shēnmì jīng; J: shinmikkyō;|Giải thâm mật kinh (解深密經; s: saṃ-dhinirmocana-sūtra).
Thâm mật kinh 深密經, 深蜜經
[ja] シンミツキョウ Shinmikkyō ||| Shenmi jing Saṃdhinirmocana-sūtra See Jieshenmi jing 解深密經. => (c: Shenmi jing; s: Saṃdhinirmocana-sūtra). Xem Giải thâm mật kinh (c: Jieshenmi jing 解深密經).
Thâm mật 深密
[ja] シンミツ shinmitsu ||| (saṃdhi). Deep or profound teaching. => Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.
thâm nhiễm
Imbued (a)—Impragnated.
thâm nhập
Nyanti (skt)—Ni Diên Để—Tên riêng của tham (lòng tham có khả năng đi sâu vào cái cảnh mà nó muốn, lại có thể đi sâu vào tự tâm nên gọi là thâm nhập)—Deep entering—To infiltrate—To penetrate into, or the deep sense, i.e. desire, covetousness, cupidity.
thâm nhập vào đại trí của ngài văn thù sư lợi bồ tát
To penetrate the great wisdom of Manjusri Bodhisattva.
thâm niên
Length of service—Seniority.
thâm pháp
See Thâm Pháp Môn.
thâm pháp môn
Pháp môn sâu sắc—Profound truth or method.
thâm pháp nhẫn
Pháp nhẫn sâu sắc (người nghe được pháp nầy thì trụ vững không thối chuyển)—Patience or perseverance in faith and practice.
thâm phòng hạn phần
4659南山律宗以為佛陀制戒有深防、限分二法。制戒係為阻止業因之發生,業因必起自貪、瞋、癡三毒,以凡夫未能了知心性,故就身口二業所犯之殺、盜、淫、妄而制定四重罪,更制定其他戒律以防止違犯四重罪,此為防範之作用,故稱深防。相對而言,若僅就意業,為抑制而不令起錯誤之意識,即稱限分。
thâm sa đại tướng
4658指除滅諸難之神。又稱深沙神、深沙神王、深沙大王、深砂童子、深砂菩薩。唐代玄奘西行求法,渡越流沙,遭遇危難,傳說當時有一深沙大將守護之。或謂其為多聞天、觀音等之化身。在密教中,有關其形相,一般所傳有二,一呈神王形,左手執青蛇,右手屈臂,揚掌置於右胸前;另一為二手合捧鉢,鉢盛白飯。種子為???(a)或???(hūṃ),印契為金剛合掌,三昧耶形為三鉾或三蛇。或謂深沙大將乃毘沙門天手下之大將,為七千藥叉之上首,其形相,頭為火炎,口為血河,以髑髏為頸瓔珞,以畜皮為衣,以象皮面為袴膝,以小兒為腹臍,足踏蓮花。又據深沙大將儀軌載,有三使者,天上使者淨滿、虛空使者縛斯大仙、下地使者水火雷自在王,能滅除三災、三種執著。〔大慈恩寺三藏法師傳卷一、圖像抄卷十〕
; (深沙大將) Cũng gọi Thâm sa thần, Thâm sa thần vương, Thâm sa đại vương, Thâm sa đồng tử, Thâm sa bồ tát. Chỉ cho vị thần trừ diệt các tai nạn. Có thuyết cho rằng vị thần này là Đa văn thiên, cũng là hóa thân của bồ tát Quán thế âm. Về hình tướng của vị thần này, trong Mật giáo, thông thường có 2 thuyết: Một là hình tướng thần vương, tay trái cầm con rắn màu xanh, cánh tay phải co lại, bàn tay giơ lên để ở trước ngực phía bên phải. Hai là hình tướng thần vương, 2 tay bưng bát, trong bát đựng cơm trắng. Chủng tửlà (a) hoặc (hùô), ấn khế là Kim cương hợp chưởng, hình Tam muội da là 3 cái mâu, hoặc 3 con rắn. Có thuyết cho rằng Thâm sa đại tướng là thuộc hạ của trời Tì sa môn, đứng đầu 7000 Dược xoa, hình tướng thì đầu là những ngọn lửa, miệng phun ra máu, xâu những cái đầu lâu làm chuỗi anh lạc đeo ở cổ, dùng da thú làm áo, da voi làm quần cụt, dùng đứa trẻ con làm bụng và rốn, chân đạp lên hoa sen. Lại theo Thâm sa đại tướng nghi quĩ thì vị thần này có 3 sứ giả. Sứ giả trên trời là Tịnh mãn, sứ giả ở hư không là đại tiên Phược tư và sứ giả dưới đất là Thủy hỏa lôi tự tại vương. Thần này có năng lực diệt trừ 3 thứ tai nạn và 3 thứ chấp trước. Theo truyền thuyết, ngài Huyền trang đời Đường đi Ấn độ cầu pháp, lúc vượt sa mạc Gobi gặp rất nhiều nguy hiểm, nhưng nhờ Thâm sa đại tướng bảo vệ nên ngài đã qua sa mạc bình an. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.1; Đồ tượng sao Q.10].
thâm sa đại tướng nghi quỹ
4658全一卷。唐代不空譯。又稱深沙大將菩薩儀軌。收於大正藏第二十一冊。深沙大將,據傳,玄奘於遠涉流沙遭遇危難時,感見此神之守護,或以此大將為北方多聞天王之化身,本儀軌則以之為觀世音菩薩化身。若誦其真言,惡業悉能消滅,文中並載修法及所成就事。
; (深沙大將儀軌) Cũng gọi Thâm sa đại tướng Bồ tát nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung nghi quĩnàynói về pháp tu Thâm sa đại tướng, cho rằng vị thần này là hóa thân của bồ tát Quán thế âm, nếu trì tụng chân ngôn của Ngài thì các ác nghiệp đều bị tiêu diệt.
thâm sâu
Profound.
thâm sơn cùng cốc
Remote area (place).
thâm thiền định lạc
4660指第三禪定之妙樂。與禪定之樂受相應者,為四禪中之初禪、二禪、三禪,其中第三禪為離喜妙樂,即離初禪、二禪之喜樂,為正念正知,住於自地之妙樂;因其身心共為純一妙樂,乃屬禪定樂之最,故謂此禪定之樂受為深禪定樂。法華經卷三化城喻品(大九‧二三中):「我等所從來,五百萬億國,捨深禪定樂,為供養佛故。」又所謂深禪定,係於諸種淺深不同之禪定中,上地之禪勝於下地之禪,故上地對於下地之禪定,稱為深禪定。
; (深禪定樂) Chỉ cho niềm tin sâu xa mầu nhiệm của Thiền định thứ 3, tương ứng với lạc thụ (cảm giác vui) của Thiền định là Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền. Trong đó, Thiền thứ 3 là Li hỉ diệu lạc, tức lìa niềm vui mừng ở Thiền thứ nhất và Thiền thứ 2, là niềm vui mầu nhiệm chính niệm chính tri, trụ trong tự địa. Vì thâm tâm hành giả cùng là một niềm vui thuần nhất mầu nhiệm, là niềm vui bậc nhất của Thiền định, nên gọi lạc thụ của thiền định này là Thâm thiền định lạc. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 23 trung) nói: Chúng con từ năm trăm muôn ức cõi nước đến đây, xả bỏ niềm vui thiền định sâu xa (thâm thiền định lạc) là vì cúng dường Phật. Lại Thâm thiền định còn có nghĩa là trong các thứ thiền định có sâu, cạn khác nhau, thiền định cõi trên thù thắng hơn thiền định cõi dưới, vì thế đối lại với cõi dưới mà gọithiền định cõi trên là Thâm thiền định.
thâm thù
Deep hatred
thâm thúy
Deep—Profound.
Thâm triết kinh 深蟄經
[ja] シンチュウキョウ Shinchūkyō ||| Shen-che ching; a corrupted way of writing 深蜜經, which is in turn a shortened title of the 解深密經 (Saṃdhinirmocana-sūtra T 675-678). => (c: Shen-che ching); Một cách gọi khác của Thâm mật kinh 深蜜經, tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật 解深密經 (s: Saṃdhinirmocana-sūtra).
thâm trí
Trí thâm sâu—Profound knowledge or wisdom.
thâm tuệ bồ tát
Ghambhiramati (S) Tên một vị Bồ tát.
thâm tâm
4657梵語 adhyāśaya。為三心之一。又稱深信。此詞於佛典中之語義,頗有異解。惟通常係指深求佛道之心,或指掃除猶疑不定而對佛法真實確信之心,或指樂集諸功德善行,又深信愛樂之心。維摩經卷上佛國品(大一四‧五三八中):「深心是菩薩淨土,菩薩成佛時,具足功德眾生來生其國。(中略)隨其直心則能發行,隨其發行則得深心,隨其深心,則意調伏。」六十華嚴經卷二十四中列舉十種深心之名(大九‧五五一上):「何等為十?一淨心,二猛利心,三厭心,四離欲心,五不退心,六堅心,七明盛心,八無足心,九勝心,十大心。」觀無量壽經載,若有眾生欲往生淨土,若發三心即便往生,深心即為其一。善導釋為深信之心。另外亦指凡夫執迷之深固,如法華經卷一方便品載,眾生有種種欲,深心所著。〔八十華嚴經卷三十五、占察善惡業報經卷上、大智度論卷七十一〕(參閱「三心」532)
; Ajjhāsaya (P), Adhyāśaya (S), Mental disposition, Adhyāśayati (S).
; 1) Tự đáy lòng: Bottom of one's heart. 2) Một trong tam tâm, cái tâm cầu Phật, cầu Pháp sâu nặng: One of the three minds, profound mind engrossed in Buddha-truth, or thought, or illusion, etc.
; (深心) Phạm: Adhyàzaya. Cũng gọi Thâm tín. Chỉ cho tâm sâu xa cầu Phật đạo, là 1 trong 3 tâm. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 538 trung) nói: Thâm tâm là tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh có đầy đủ công đức sẽ sinh đến cõi nước của Ngài (...) Theo trực tâm thì phát được hạnh, theo phát hạnh thì được thâm tâm, theo thâm tâm thì ý điều phục. Kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản 60 quyển) có liệt kê tên của 10 thứ Thâm tâm (Đại 9, 55 thượng): Mười thâm tâm là những gì? –Một là tâm thanh tịnh, hai là tâm mạnh mẽ nhạy bén, ba là tâm chán xa, bốn là tâm lìa dục, năm là tâm không lui sụt, sáu là tâm bền vững, bảy là tâm sáng suốt, tám là tâm tinh tiến, chín là tâm thù thắng và mười là tâm rộng lớn. Kinh Quán vô lượng thọ cho rằng nếu có chúng sinh muốn sinh về Tịnh độ mà phát ba tâm thì liền được vãng sinh, Thâm tâm là 1 trong 3 tâm đó. Ngài Thiện đạo giải thích Thâm tâm là tâm tin sâu. Ngoài ra, Thâm tâm cũng chỉ cho tâm mê chấp bền vững không lay chuyển của phàm phu, như phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa cho rằng chúng sinh có nhiều tham muốn mà tâm bám dính vào rất sâu chắc, khó gỡ ra được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản 80 quyển); kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; luận đại trí độ Q.71]. (xt. Tam Tâm).
thâm tín
Tin tưởng sâu xa—Deep faith.
thâm tạng
See Thâm Kinh.
thâm tịnh
4659南宋雲門宗僧。溫州(浙江)人。生卒年不詳。入中天竺寺,參謁癡禪元妙,並嗣其法。後任溫州光孝寺住持。世稱「已菴深淨」。著有已菴深和尚語要一卷,刊行於南宋理宗嘉熙二年(1238),收於續古尊宿語要卷二(卍續藏第一一九冊)〔五燈會元卷十六〕
; Thanh tịnh sâu sắc—Profound pure.
; (深淨) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Vân môn, sống vào đời Nam Tống, người ở Ôn châu (nay là tỉnh Chiết giang). Sư đến chùa Trung thiên trúc tham yết ngài Si thiền Nguyên diệu và được nối pháp. Sau, sư nhận chức Trụ trì chùa Quang hiếu ở Ôn châu. Người đời gọi sư là Dĩ am Thâm tịnh. Sư có để lại các tác phẩm Dĩ am Thâm tịnh hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 2 (Vạn tục tạng tập 119). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.16].
Thâm viễn
深遠; C: shēnyuăn; J: shin'on, jinnon;|1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng; 2. Trí tuệ sâu mầu.
Thâm viễn 深遠
[ja] シンオン、ジンノン shin'on, jinnon ||| (1) Profound; profound and far-reaching. (2) Profound wisdom. => 1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng. 2. Trí tuệ sâu mầu.
thâm áo
See Thâm Bí.
thâm ố
To hate deeply.
Thâm 深
[ja] シン shin ||| Profound, deep, unfathomable--especially in reference to a teaching. => Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.
Thâm-trập kinh
深蟄經; C: shēnzhé jīng; J: shinchūkyō;|Một cách gọi khác của Thâm mật kinh (深蜜經), tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).
thân
3015<一>梵語 kāya。音譯迦耶。屬六根之第五,即身根。指觸覺器官之皮膚及其機能。然有部主張,身根乃眼所不能見之精妙物質(淨色),亦即指勝義根而言。然通常所說身與心並稱為身心,身與語(或口)、意並稱身語意]或身口意)之「身」則係指身體、肉體而言。 <二>集合之意。即附加於語尾,表示複數之語,如六識身。 <三>梵語 śarīra。身骨、遺骨之意。(參閱「舍利」3495)
; Kāya (S), Body Thân căn.
; Kàya, tanu, deha (S). The body, the self.
; Kaya or Tanu (skt). 1) Làm cho dài ra: To draw out—To stretch—To expand. 2) Thân ái: To love—Beloved. 3) Thân quyến: Family—Relatives. 4) Thân thích: Personally related—Intimate. 5) Thân hình: Kaya, or tanu, or deha (skt)—Physical existence—Body—The self—The sense or organ of touch. 6) Thân là một đối tượng của Thiền: Mục đích đầu tiên của thiền tập là để nhận thức bản chất thật của thân mà không chấp vào nó. Đa phần chúng ta nhận thân là mình hay mình là thân. Tuy nhiên sau một giai đoạn thiền tập, chúng ta sẽ không còn chú ý nghĩ rằng mình là một thân, chúng ta sẽ không còn đồng hóa mình với thân. Lúc đó chúng ta chỉ nhìn thân như một tập hợp của ngũ uẩn, tan hợp vô thường, chứ không phải là nhứt thể bất định; lúc đó chúng ta sẽ không còn lầm lẫn cái giả với cái thật nữa: The first goal of meditation practices is to realize the true nature of the body and to be non-attached to it. Most people identify themselves with their bodies. However, after a period of time of meditation practices, we will no longer care to think of yourself as a body, we will no longer identify with the body. At that time, we will begin to see the body as it is. It is only a series of physical and mental process, not a unity; and we no longer mistake the superficial for the real—See Ngũ Uẩn. • Tỉnh thức về hơi thở: Anapanasati (p)—Mindfulness of your breathing. • Tỉnh thức về thân trong những sinh hoạt hằng ngày, như đi, đứng, nằm, ngồi, nhìn ai, nhìn quang cảnh, cúi xuống, duỗi thân, mặc quần áo, tăm rữa, ăn uống, nhai, nói chuyện, vân vân. Mục đích là chú ý vào thái độ của mình chứ không chạy theo những biến chuyển: Mindfulness of your body in daily life activities, such as mindfulness of your body while walking, standing, lying, sitting, looking at someone, looking around the environments, bending, stretching, dressing, washing, eating, drinking, chewing, talking, etc. The purpose of mindfulness is to pay attention to your behavior, but not to run after any events. 7) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh của Đức Phật đi thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, nên mới có cuộc đối đáp về “thân” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Upasaka Vimalakirti to enquire after his health, there was a converssation about the “body” as follows: • Văn Thù hỏi cư sĩ Duy Ma Cật: “Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bệnh như thế nào?”—Manjusri asked Vimalakirti: “What should a Bodhisattva say when comforting another Bodhisattva who falls ill?” • Duy Ma Cật đáp: “Nói thân vô thường, nhưng không bao giờ nhàm chán thân nầy. Nói thân có khổ, nhưng không bao giờ nói về sự vui ở Niết Bàn. Nói thân vô ngã mà khuyên dạy dắt dìu chúng sanh. Nói thân không tịch, chứ không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, chứ không nói vào nơi quá khứ. Lấy bệnh mình mà thương bệnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếp trước, phải nghĩ đến sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước, tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi lòng tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bệnh của chúng sanh. Bồ Tát phải an ủi Bồ Tát có bệnh như thế để cho được hoan hỷ.”—Vimalakirti replied: “He should speak of the impermanence of the body but never of the abhorrence and relinquishment of the body. He should speak of the suffering body but never of the joy in nirvana. He should speak of egolessness in the body while teaching and guiding all living beings (in spite of the fact that they are fundamentally non-existent in the absolute state). He should speak of the voidness of the body but should never cling to the ultimate nirvana. He should speak of repentance of past sins but should avoid slipping into the past. Because of his own illness he should take pity on all those who are sick. Knowing that he has suffered during countless past aeons he should think of the welfare of all living beings. He should think of his past practice of good virtues to uphold (his determination for) right livelihood. Instead of worrying about troubles (klesa) he should give rise to zeal and devotion (in his practice of the Dharma). He should act like a king physician to cure others' illnesses. Thus a Bodhisattva should comfort another sick Bodhisattva to make him happy.” • Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh đấy phải quán sát được các pháp như thế. Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là huệ. Dù thân có bệnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ích cho chúng sanh không nhàm mỏi, đó là phương tiện.—Manjusri, a sick Bodhisattva should look into all things in this way. He should further meditate on his body which is impermanent, is subject to suffering and is non-existent and egoless; this is called wisdom. Although his body is sick he remains in (the realm of) birth and death for the benefit of all (living beings) without complaint; this is called expedient method (upaya). • Lại nữa, ngài Văn Thù Sư Lợi! Quán thân, thân không rời bệnh, bệnh chẳng rời thân, bệnh nầy, thân nầy, không phải mới, không phải cũ, đó là huệ. Dù thân có bệnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là phương tiện—Manjusri! He should further meditate on the body which is inseparable from illness and on illness which is inherent in the body because sickness and the body are neither new nor old; this is called wisdom. The body, though ill, is not to be annihilated; this is the expedient method (for remaining in the world to work for salvation).
; (身) I. Thân. Phạm:Kàya. Hán âm: Ca da. Căn thứ 5 trong 6 căn, tức là Thân căn. Chỉ cho làn da ngoàicủa khí quan xúc giác và cơ năng của nó. Nhưng Hữu bộ thì cho rằng Thân căn là vật chất nhỏ nhiệm(tịnh sắc) mà mắt không thể thấy được, cũng tức là chỉ cho thắng nghĩa căn. Tuy nhiên, thông thường chữ Thân trong thân và tâm gọi chung là thân tâm, thân và ngữ(hoặc khẩu), ý gọi chung là thân ngữ ý(thân khẩu ý) là chỉ cho thân thể, nhục thể. II. Thân. Nghĩa tập hợp. Tức chữ phụ thêm ở cuối câu, biểu thị số nhiều, như Lục thức thân.III. Thân. Phạm:Zarìra. Thân cốt, di cốt. (xt. Xá Lợi).
thân an tâm lạc
Ease of body and joy of heart.
thân bình đằng
Kayāsamatā (S).
thân bình đẳng
Kàyasamatà (S). Equal state ơođ body.
; Same in body—Đức Phật nói: “Ta và chư Như Lai đều cũng như nhau về thân thể.”—The Buddha said: “All Tathagatas and I are the same as regards the body.”
thân bịnh
Physical sickness.
thân chúng sanh thân phật
Sentient beings' bodies-Buddha's body—Theo Kinh Duy Ma Cật thì ông Duy Ma Cật đã dùng phương tiện hiện thân có bệnh để thuyết pháp hóa độ chúng sanh. Do ông (Duy Ma Cật) có bệnh nên các vị Quốc Vương, Đại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số ngàn người đều đến thăm bệnh. Ông nhơn dịp thân bệnh mới rộng nói Pháp—According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti used expedient means of appearing illness in his body to expound about sentient beings' bodies and the Buddha's body to save them. Because of his indisposition, kings, ministers, elders, upasakas, Brahmins, et., as well as princes and other officials numbering many thousands came to enquire after his health. So Vimalakirti appeared in his sick body to receive and expound the Dharma to them, saying: • “Nầy các nhân giả! Cái huyễn thân nầy thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh, không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bệnh hoạn. Các nhân giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ thì cái thân nầy như đống bọt không thể cầm nắm; thân nầy như bóng nổi không thể còn lâu; thân nầy như ánh nắng dợn giữa đồng, do lòng khát ái sanh; thân nầy như cây chuối không bền chắc; thân nầy như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra; thân nầy như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có; hân nầy như bóng của hình, do nghiệp duyên hiện; thân nầy như vang của tiếng, do nhân duyên thành; thân nầy như mây nổi, trong giây phút tiêu tan; thân nầy như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng; thân nầy không chủ, như là đất; thân nầy không có ta, như là lửa; thân nầy không trường thọ, như là gió; thân nầy không có nhân, như là nước; thân nầy không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành; thân nầy vốn không, nếu lìa ngã và ngã sở; thân nầy là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá; thân nầy vô tác (không có làm ra), do gió nghiệp chuyển lay; thân nầy là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn; thân nầy là giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan rã; thân nầy là tai họa, vì đủ các thứ bệnh hoạn khổ não; thân nầy như giếng khô trên gò, vì nó bị sự già yếu ép ngặt; thân nầy không chắc chắn, vì thế nào nó cũng phải chết; thân nầy như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ, vì do ấm, giới, nhập hợp thành—“Virtuous ones, the human body is impermanent; it is neither strong nor durable; it will decay and is, therefore, unreliable. It causes anxieties and sufferings, being subject to all kinds of ailments. Virtuous ones, all wise men do not rely on this body which is like a mass of foam, which is intangible. It is like a bubble and does not last for a long time. It is like a flame and is the product of the thirst of love. It is like a banana tree, the centre of which is hollow. It is like an illusion being produced by inverted thoughts. It is like a dream being formed by fasle views. It is like a shadow and is caused by karma. This body is like an echo for it results from causes and conditions. It is like a floating cloud which disperses any moment. It is like lightning for it does not stay for the time of a thought. It is ownerless for it is like the earth. It is egoless for it is like fire (that kills itself). It is transient like the wind. It is not human for it is like water. It is unreal and depends on the four elements for its existence. It is empty, being neither ego nor its object. It is without knowledge like grass, trees and potsherds. It is not the prime mover, but is moved by the wind (of passions). It is impure and full of filth. It is false, and though washed, bathed, clothed and fed, it will decay and die in the end. It is a calamity being subject to all kinds of illnesses and sufferings. It is like a dry well for it is prusued by death. It is unsettled and will pass away. It is like a poisonous snake, a deadly enemy, a temporary assemblage (without underlying reality), being made of the five aggregates, the twelve entrances (the six organs and their objects) and the eighteen realms of sense (the six organs, their objects and their perceptions). • Các nhân giả! Hãy nên nhàm chán cái thân nầy, chớ tham tiếc nó, phải nên ưa muốn thân Phật. Vì sao? Vì thân Phật là Pháp Thân, do vô lượng công đức trí tuệ sanh; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến sanh; do từ bi hỷ xả sanh; do bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, và phương tiện sanh; do lục thông, tam minh sanh; do 37 phẩm trợ đạo sanh; do chỉ quán sanh; do thập lực, tứ vô úy, thập bát bất cộng sanh; do đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh; do chân thật sanh; do không buông lung sanh; do vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai—“Virtuous ones, the (human) body being so repulsive, you should seek the Buddha body. Why? Because the Buddha body is called Dharmakaya, the product of boundless merits and wisdom; the outcome of discipline, meditation, wisdom, liberation and perfect knowledge of liberation; the result of kindness, compassion, joy and indifference (to emotions); the consequence of (the six perfections or paramitas) charity, discipline, patience, zeal, meditation and wisdom, and the sequel of expedient teaching (upaya); the six supernatural powers; the three insights; the thirty-seven stages contributory to enlightenment; serenity and insight; the ten transcendental powers (dasabala); the four kinds of fearlessness; the eighteen unsurpassed characteristics of the Buddha; the wiping out of all evils and the performance of all good deeds; truthfulness, and freedom from looseness and unrestraint. So countless kinds of purity and cleanness produce the body of the Tathagata. • Nầy các nhân giả, muốn được thân Phật, đoạn tất cả bệnh chúng sanh thì phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Virtuous ones, if you want to realize the Buddha body in order to get rid of all the illnesses of a living being, you should set your minds on the quest of supreme enlightenment (anuttara-samyak-sambodhi).” • Như vậy, trưởng giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh, mà nói pháp làm cho vô số ngàn người đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Thus the elder Vimalakirti expounded the Dharma to all those who came to enquire after his health, urging countless visitors to seek supreme enlightenment.
thân chứng
3019梵語 kāya-sākṣin,巴利語 kāya-sakkhin。七聖之一,二十七賢聖之一。又作身證那含、身證不還。即不還果中,利根之人依滅盡定,得似涅槃法,身得寂靜樂之聖者。大毘婆沙論卷一五二(大二七‧七七六中):「世尊安立身作證,名想受滅解脫。以無心故,在身非心,身力所起,非心力起,是故世尊說為身證。」 關於身證之得名有二說,說一切有部以滅盡定為無心定,若於身中生滅盡定之得,即身得寂靜之樂,稱為身證;經量部則以出定後,緣滅盡定之寂靜,以此極似涅槃法,由得及智現前證得身之寂靜,稱為身證。大乘乃就譬喻以立身證之名。〔雜阿毘曇心論卷五、成實論卷一、顯揚聖教論卷三、俱舍論卷二十四、卷二十五、大乘阿毘達磨雜集論卷十三、成唯識論了義燈卷一末、大乘義章卷十七本〕(參閱「不還果」997)
; Kāya-saksin (S), Kaya-sakkhin (P), Kāya-sakkhin (P).
; (身證) Phạm:Kàya-sàkwin. Pàli:Kàya-sakkhin. Cũng gọi Thân chứng na hàm, Thân chứng bất hoàn. Chỉ cho bậc Thánh lợi căn trong quả Bất hoàn, nương vào Diệt tận định mà chứng pháp tương tự như Niết bàn, thân được niềm vui tịch lặng, là 1 trong 7 bậc Thánh, 1 trong 27 bậc Hiền Thánh. Luận Đại tì bà sa quyển 152 (Đại 27, 776 trung) nói: Đức Thế tôn an lập Thân tác chứng, gọi là Tưởng thụ diệt giải thoát. Vì vô tâm nên ở thân chẳng phải tâm, là cái do thân lực sinh khởi chứ không phải tâm sinh khởi, cho nên đức Thế tôn nói là Thân chứng. Về tên gọi Thân chứng có 2 thuyết: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương định Diệt tận là định Vô tâm, nếu trong thân sinh được định Diệt tận thì thân được niềm vui vắng lặng, gọi là Thân chứng. 2. Kinh lượng bộ thì cho rằng sau khi xuất định, duyên theo sự tĩnh lặng của định Diệt tận, cho rằng sự tĩnh lặng này rất giống pháp Niết bàn, do đạt được trí hiện tiền mà chứng đắc sự tĩnh lặng của thân, gọi chung là Thân chứng. Đại thừa bèn căn cứ vào thí dụ để đặt tên gọi Thân chứng. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.24, 25; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần đầu]. (xt. Bất Hoàn Quả).
thân có tám vạn loại trùng
chỉ thân xác thịt dễ hư hoại, thối rửa của chúng sanh, là chỗ nương náu, chui rúc của muôn loại vi trùng.
Thân Căn
(s, p: kāyendriya, 身根): một trong 5 căn, 6 căn, 12 xứ, 18 giới, 22 căn; gọi tắt là thân (身); tức chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể, chứ không phải căn phù trần của nhục thể. Về ngữ nghĩa của thân, theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 3 lấy Phạn ngữ kāya (âm dịch là Ca Da [迦耶]) với nghĩ là tích tập (積集, gom chứa, tập trung), y chỉ (依止, nương vào, dừng lại). Thân Căn là nơi nhiều pháp của các căn y chỉ, nhiều pháp đều tích tập nơi Thân Căn này, nên có tên là Ca Da. Trong 12 Xứ, Thân Căn này có tên là Thân Xứ (s: kāyāyatana, 身處); trong 18 Giới là Thân Giới (s: kāya-dhātu, 身界). Thông thường, cái gọi là thân, đều chỉ chung cả đống thịt, hoàn toàn khác với Thân Căn. Trong các luận thư, gân thịt, v.v., gọi là Phù Trần Căn (扶塵根); còn đối với Thân Căn vốn có thể xúc tác thì gọi là Thắng Nghĩa Căn (勝義根). Thân Căn chỉ tồn tại trong Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界) và Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), còn trong Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界) thì không. A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 90 cho rằng Thân Căn của Địa Ngục không giống như của con người. Như trong Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi (法華三昧懺儀, Taishō Vol. 46, No. 1941), phần Sám Hối Thân Căn Pháp (懺悔身根法), có đoạn: “Quy hướng Phổ Hiền Bồ Tát cập nhất thiết Thế Tôn thiêu hương tán hoa, thuyết thân quá tội bất cảm phú tàng, dĩ thị nhân duyên linh ngã dữ pháp giới chúng sanh, Thân Căn nhất thiết trọng tội tất cánh thanh tịnh (歸向普賢菩薩及一切世尊燒香散華、說身過罪不敢覆藏、以是因緣令我與法界眾生、身根一切重罪畢竟清淨, quy hướng về Bồ Tát Phổ Hiền và hết thảy Thế Tôn đốt hương rãi hoa, bày rõ tội sai lầm của thân không dám che giấu, lấy nhân duyên này khiến con cùng với chúng sanh trong pháp giới, hết thảy tội nặng của Thân Căn cuối cùng được trong sạch).”
thân căn
3017梵語 kāyendriya,巴利語同。五根之一,六根之一,十二處之一,十八界之一,二十二根之一。略作身。即指身識所依,取觸境無見有對之淨色。此指身體內之淨色根,而非謂肉體之扶塵根。 關於身之語義,據大乘法苑義林章卷三載,此蓋取梵語 kāya(音譯迦耶)之積集義、依止義。其他眼根等之大種及造色雖皆亦積集,而身根為諸根多法所依止,多法皆積集於身根,故特稱迦耶。 此身根,在十二處中稱為身處(梵 kāyāyatana),在十八界中稱為身界(梵 kāya-dhātu)。通常所謂之身,皆總指肉團而言,與身根不同。在婆沙等諸論中,筋肉等稱為扶塵根,對於有能觸作用之身根,則稱之為勝義根。又身根唯欲色二界存有,無色界則無。大毘婆沙論卷九十載地獄身根不同於人等身根,謂地獄中解諸肢節,乃至糜爛,亦有身根。〔大毘婆沙論卷一四四、瑜伽師地論卷三、卷五十四、成唯識論卷十、俱舍論卷四、俱舍論光記卷二至卷四、成唯識論述記卷三本、卷十末、佛家名相通釋卷上(熊十力)〕
; Kāyendriya (S) Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
; Kàyendriya (S). The organ of touch.
; Kayendriya (skt)—Một trong ngũ căn—The organ of touch, one of the five organs of sense.
; (身根) Phạm,Pàli:Kàyendriya. Gọi tắt: Thân. Chỉ cho tịnh sắc(vật chất rất nhỏ nhiệm) tiếp thu lấy xúc cảnh vô kiến hữu đối, là chỗ nương gá của thức thân. Ở đây chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể chứ không phải nói về phù trần căn của nhục thể; là 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 3 thì nghĩa của chữ Thân là lấy theo nghĩa chứa nhóm, nghĩa nương tựa của tiếng Phạm Kàya (Hán âm: Ca da). Các đại chủng và tạo sắc khác như nhãn căn... tuy cũng đều chứa nhóm, nhưng Thân căn là chỗ nương tựa của các căn và nhiều pháp, tức nhiều pháp đều chứa nhóm trong thân căn, cho nên đặc biệt gọi Thân Là Kàya. Thân căn này, trong 12 xứ được gọi là Thân xứ (Phạm: Kàyàyatana), trong 18 giới, gọi là Thân giới (Phạm:Kàya-dhàtu). Thông thường gọi Thân là chỉ chung cho khối thịt, khác hẳn với Thân căn. Trong các luận Tì bà sa... gân, thịt... được gọi chung là Phù trần căn, đối với Thân căn có tác dụng năng xúc thì gọi là Thắng nghĩa căn. Thân căn chỉ tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, cõi Vô sắc thì không. Luận Đại tì bà sa quyển 90 cho rằng Thân căn ở địa ngục khác với Thân căn ở cõi người, nghĩa là trong địa ngục cho dù bị cắt đứt ra từng lóng đốt, cho đến rữa nát ra cũng vẫn có Thân căn. [X. luận Đại tì bà sa Q.144; luận Du già sư địa Q.3, 54; luận Thành duy thức Q.10; luận Câu xá Q.4; Câu xá luận quang kí Q.2, 4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu, 10 phần cuối; Phật gia danh tướng thông thích Q.thượng (Hùng thập lực)].
thân danh
Body and fame.
thân diệu hạnh
Kāya-sucarita (S) Một trong Tam diệu hạnh.
thân duyên
6292念佛行者所蒙受攝取之利益有三緣,親緣即三者之一。即行者與彌陀間密切之關係。行者日常口稱佛,佛即聞之;身常禮敬佛,佛即見之;心常念佛,佛即知之;心常憶念佛,佛亦常憶念行者。行者與佛,彼此之三業不相捨離,此種密切之關係乃稱親緣。(參閱「三緣」674)
; (親緣) Duyên gần gũi. Chỉ cho mối quan hệ mật thiết giữa đức Phật A di đà và hành giả niệm Phật, là 1 trong 3 duyên. Hằng ngày nếu hành giả miệng thường niệm Phật thì Phật liền nghe; thân thường lễ kính Phật thì Phật liền thấy, tâm thường nghĩ đến Phật thì Phật liền biết, ý thường nhớ nghĩ đến Phật thì Phật cũng thường nhớ nghĩ đến hành giả. Như vậy thì 3 nghiệp của Phật và 3 nghiệp của hành giả không lìa bỏ nhau, mối quan hệ khắng khít này gọi là Thân duyên. (xt. Tam Duyên).
thân giáo sư
6292梵語 upādhyāya,巴利語 upajjhāya 之意譯。略作親教。音譯鄔波馱耶。upādhyāya 之俗語(巴 Prākrit)音譯為和尚、和上,即親從受教之師。通常指:(一)授戒時之師,亦稱戒和上。(二)在印度指一般師父而言。此外,西藏喇嘛教四種階位中最上之第四位,稱親教師,權力僅次於達賴喇嘛、班禪喇嘛。〔玄應音義卷二十三、秘藏記〕(參閱「和尚」3124)
; Còn gọi là Hòa thượng, nghĩa là bổn sư xuống tóc cho người xuất gia trong Phật Giáo gọi là hòa thượng Xem Hoà thượng.
; Upàdhyaya (S). One's own teacher.
; Thầy bổn sư—Upadhyaya (skt)—One's own teacher.
; (親教師) Phạm:Upàdhyàya. Pàli:Upajjhàya. Hán âm: U ba đà da. Gọi tắt: Thân giáo. Chỉ cho bậc thầy mà mình được gần gũi để thụ giáo. Chữ Upàdhyàya, Hán dịch là Hòa thượng, thông thường chỉ cho: 1. Vị thầy lúc truyền giới, cũng gọilà Giới hòa thượng. 2. Tại Ấn độ, chỉ chung cho bậc sư phụ. Ngoài ra, Lạt ma giáo Tây tạng, trong 4 giai vị, giai vị cao nhất, tức giai vị thứ 4, gọi là Thân giáo sư, quyền lực chỉ kém Đạt lai lạt ma và Ban thiền lạt ma mà thôi. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Bí tạngkí]. (xt. Hòa Thượng).
thân giới
Kāyadhātu (S).
thân giới tâm huệ
Thân mình giữ gìn giới hạn, tâm mình giữ cho trong sáng—Controlled in body and wise in mind.
thân gần cuối
(hậu biên thân): là thân gần kế với thân tối hậu, sau chót của một vị Bồ Tát. Bồ Tát sau khi thọ thân này rồi mới thọ thân tối hậu và thành Phật. Xem thân sau cùng.
Thân huyên
(親萱): từ chỉ cho người mẹ. Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ Huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Cho nên “thân huyên dĩ thệ (親萱已逝)” có nghĩa là mẹ hiền đã qua đời.
thân hà
Hiranyavati (skt)—Sông Ni Liên Thiền—Nairanjana River.
thân hành
Kāyasaṃskāra (S), Kāyasaṇkhāra (P) Tác động của thân thể.
; To come in person.
thân hành niệm
Kāyagatāsmṛti (S), Kāyagatāsati (P), Kāyagatāsati (P).
; Kàyagatàsmrti (S) Mindfulness with regard to the body. Also niệm thân.
thân hành niệm tu tập
Theo Kinh Thân Hành Niệm trong Trung Bộ Kinh, Tu tập thân hành niệm là khi đi biết rằng mình đang đi; khi đứng biết rằng mình đang đứng; khi nằm biết rằng mình đang nằm; khi ngồi biết rằng mình đang ngồi. Thân thể được xử dụng thế nào thì mình biết thân thể như thế ấy. Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và các tư duy về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy mà nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất và định tĩnh. Như vậy là tu tập thân hành niệm—According to the Kayagatasati-Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, cultivation of mindfulness of the body means when walking, a person understands that he is walking; when standing, he understands that he is standing; when sitting, he understands that he is sitting; when lying, he understands that he is lying. He understands accordingly however his body is disposed. As he abides thus diligent, ardent, and resolute, his memories and intentions based on the household life are abandoned. That is how a person develops mindfulness of the body.
thân hình
Body.
thân hình quý báu
Precious body.
thân hình vô gián địa ngục
3017五種無間地獄之第五無間獄。又作形無間地獄。五無間地獄係屬八大地獄中之阿鼻地獄。無間,即無間隙之意。地獄之廣有八萬四千由旬,獄中眾生之身形亦有八萬四千由旬,故眾生身形填滿地獄之空間,而無有間隙,故稱身形無間地獄。
; (身形無間地獄) Cũng gọi Hình vô gián địa ngục. Ngục Vô gián thứ 5 trong 5 loại địa ngục Vô gián. Ngục Vô gián thứ 5 là địa ngục A tì trong 8 địa ngục lớn. Vô gián là không xen hở, không lìa cách. Chiều rộng của địa ngục này là 84.000 do tuần, thân hình của các chúng sinh chịu khổ trong địa ngục này cũng cao 84.000 do tuần, bởi thế thân hình chúng sinh đầy ắp khoảng không gian của địa ngục, không xen kẽ, không cách hở, cho nên gọi là Thân hình vô gián địa ngục.
thân hữu
6291指正直有德之人,亦即能教導正道之人。又作善知識。與善友、勝友同義。據觀無量壽經所載,釋迦如來稱念佛行者為人中芬陀利花,觀世音、大勢至菩薩為其勝友。〔北本涅槃經卷二十五、俱舍論卷十〕(參閱「善知識」4884)
; An intimate friend.
; Người bạn thân—An intimate friend.
; (親友) Cũng gọi Thiện tri thức. Đồng nghĩa: Thiện hữu, Thắng hữu. Chỉ cho người bạn thân thiện, chính trực và có đức. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì đức Thích ca Như lai gọi hành giả niệm Phật là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí là các Thắng hữu của người này.[X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Câu xá Q.10]. (xt. Thiện Trí Thức).
thân hữu lậu
Temporal (worldly) impure body.
thân hữu thất pháp
6291又作善友七事。指成為正直有德者所應具足之七種善法。據釋氏要覽卷下所列舉者,即:(一)難作能作,(二)難與能與,(三)難忍能忍,(四)密事相告,(五)互相覆藏,(六)遭苦不捨,(七)貧窮不輕。〔四分律卷四十一〕
; (親友七法) Cũng gọi Thiện hữu thất sự. Bảy pháp của người bạn thân. Tức chỉ cho 7 pháp lành của người muốn trở thành người chính trực, có đức. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ thì 7 pháp lành ấy là: 1. Làm được những việc khó làm. 2. Cho được vật khó đem cho. 3. Nhịn được điều khó nhịn. 4. Nói cho bạn biết về những việc bí mật của mình. 5. Che giấu lẫn nhau. 6. Gặp khổ nạn không bỏ nhau. 7. Nghèo cùng không khinh nhau. [X. luật Tứ phần Q.41].
thân khí
3019比喻有情之身體,猶如器物,能容受諸法,故稱身器。依俱舍論頌疏抄卷二十二載,身,指修行者之依身;器,即譬喻依身。教法依身而運轉,如同法水隨器物而流傳。大明三藏法數卷四十八中列舉構成有情身體之三十六物,其中皮、膚、血、肉、筋、脈、骨、髓、肪、膏、腦、膜等為身器之十二物。又身器清淨有三因:(一)身心遠離,指身遠離相之雜住,心遠離不善之尋(心所法之一),此二係由喜足少欲而得。(二)喜足少欲,指無不喜足,無有大欲。(三)住四聖種,指於衣服、飲食、臥具等三者,隨所得而喜足,及樂斷惡、樂修善。此四法能生眾聖,故稱聖種。〔俱舍論卷二十二、四分律刪繁補闕行事鈔卷上三、俱舍論頌疏論本卷二十二〕
; The body as a utensil. i.e. containing all the twelve parts skin, flesh, blood, hair, etc.
; Thân thể người ta chứa đựng 12 phần như da, thịt, máu, tóc, vân vân—The body as a utensil, i.e. containing all the twelve parts, skin, flesh, blood, hair, etc.
; (身器) Thân như đồ dùng. Tức ví dụ thân thể của hữu tình chúng sinh giống như đồ vật, có khả năng dung chứa các pháp, cho nên gọi là Thân khí. Theo Câu xá luận tụng sớ sao quyển 22 thì Thân chỉ cho y thân(thân làm chỗ nương) của người tu hành; Khí là ví dụ Y thân. Giáo pháp nương vào thân mà vận chuyển, giống như nước tùy theo đồ vật chứa đựng mà có hình dạng khác nhau. Đại minh tam tạng pháp số quyển 48 liệt kê 36 vật cấu thành thân thể loài hữu tình, trong đó da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ lá, mỡ nước, não, màng mỏng... là 12 vật của Thân khí. Thân khí thanh tịnh có 3 nguyên nhân: 1. Thân tâm xa lìa: Thân xa lìa sự chung chạ của tướng, tâm xa lìa sự suy tìm (1 trong các pháp tâm sở)bất thiện, 2 điều này là do biết đủ, ít muốn mà được. 2. Biết đủ, ít muốn: Thường biết đủ, không tham muốn nhiều. 3. Trụ nơi 4 Thánh chủng: Chỉ cho áo mặc, cơm ăn, đồ nằm ngồi được bao nhiêu cũng tự biết đủ và thích dứt ác ưa tu thiện, 4 pháp này là nhân sinh ra các bậc Thánh, cho nên gọi là Thánh chủng. [X. luận Câu xá Q.22; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3; Câu xá luận tụng sớ luận bản Q.22].
thân khẩu thất chi
3015十惡業中之七種。即身業之殺生、偷盜、邪婬,口業之兩舌、惡口、妄語、綺語;身三口四,故稱身口七支。若再加上意業之貪欲、瞋恚、愚癡,則為十惡業,稱為身三口四意三。
; (身口七支) Bảy chi của thân và miệng. Chỉ cho 7 ác nghiệp trong 10 ác nghiệp, tức 3 ác nghiệp giết hại, trộm cướp, gian dâm của nghiệp thân và 4 ác nghiệp 2 lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt của nghiệp khẩu, vì thân 3 miệng 4 nên gọi là Thân khẩu thất chi. Nếu lại thêm 3 ác nghiệp tham lam, giận dữ và ngu si của nghiệp ý thì thành 10 ác nghiệp, gọi là Thân tam khẩu tứ ý tam (Thân 3 miệng 4 ý 3).
thân khẩu ý
Kāya-vak-citta (S), Body, words and thoughts.
thân kim cang
(Kim cang thân): Thân bền chắc không gì có thể làm hư hoại được, cũng không tự hư hoại theo thời gian. Đây là cách nói để ví với thân Phật.
thân kiến
Xem Kiến kết.
; Satkàyadrsti (S). The illusion that the body, or self is real and not simply a compound of the five skandhas; one of the five wrong views ngũ kiến.
; Satkayadrshti (skt). • Ảo tưởng cho rằng thân mình là có thật, một trong ngũ kiến—The illusion of the body or self, one of the five wrong views. • Ý tưởng về một cái ngã, một trong tam kết. Có hai cách mà người ta có thể đi đến cái quan niệm cho rằng có sự hiện hữu thực sự của một cái ngã, một là sự tưởng tượng chủ quan, hai là quan niệm khách quan về thực tính—Thought of an ego, one of the three knots. There are two ways in which one comes to conceive the real existence of an ego, the one is subjective imagination and the other the objective conception of reality. • Tưởng rằng cái ngã cuả chính mình là lớn nhất và là tái sản quí báu nhất:Tin rằng cái ta là lớn nhât và vị đại nhất, nên mục hạ vô nhân. Chỉ có cái ta là quý báu nhứt mà thôi, người khác không đáng kể. Mình tìm fử để chà đạp hay mưu hai người khác—Believe that our self is our greatest and most precious possession in a nix in our eyes. We try by all means to satisfy to our self, irrespective of others' interest of rights. ** For more information, please see Ngã Kiến, Ngũ Kiến Vi Tế, and Tam Kết.
thân liên
The lotus in the body, i.e. the heart or eight-leaved lotus in all beings; it represents also the Garbhadhatù, which is the matrix of the material world out of which all beings come.
; 1) Hoa sen trong thân, như tâm hay tám cánh sen trong loài hữu tình—The lotus in the body, i.e. the heart, or eight-leaved lotus in all beings. 2) Thân liên cũng tiêu biểu cho Thai Tạng Pháp Giới—It also represents the Carbhadhatu, which is the matrix of the material world out of which all beings come.
Thân Loan
(親鸞, Shinran, 1173-1262): vị tăng sống vào đầu thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ sư khai sáng ra Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản, con đầu của Hoàng Thái Hậu Cung Đại Tấn Nhật Dã Hữu Phạm (宮大進日野有範), thông xưng là Xước Không (綽空), Thiện Tín (善信). Ban đầu ông đầu sư với Từ Viên (慈圓), sau trở thành đệ tử của Pháp Nhiên (法然, Hōnen). Vào năm 1207 (năm đầu niên hiệu Thừa Nguyên [承元]), do vì pháp môn niệm Phật bị đàn áp nên ông bị lưu đày đến địa phương Việt Hậu (越後, Echigo), và trong khoảng thời gian này ông tự xưng là kẻ ngu ngốc và sống cuộc đời phi tăng phi tục. Cũng chính trong giai đoạn này, ông đã cưới vị Ni Huệ Tín (慧信) làm vợ. Đến năm 1211 (năm đầu niên hiệu Kiến Lịch [建曆]), ông được xá tội, và năm sau ông trở về kinh đô. Nơi đây ông gặp Thường Lục Quốc Đạo Điền Hương (常陸國稻田郷) ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), lấy giáo nghĩa Tín Tâm Vi Bổn (信心爲本, tín tâm làm gốc) và tiến hành truyền đạo bố giáo. Các tác phẩm của ông để lại cho hậu thế có Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証), Duy Tín Sao Văn Ý (唯信抄文意), Tịnh Độ Văn Loại Tụ Sao (淨土文類聚抄), Ngu Ngốc Sao (愚禿抄), v.v. Ôngđược ban cho thụy hiệu là Kiến Chơn Đại Sư (見眞大師).
; 親鸞; J: shinran; 1173-1262;|Cao tăng người Nhật, sáng lập Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) của Phật giáo Nhật Bản. |Ông là học trò của Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen, Tịnh độ tông) nhưng có quan điểm khác thầy. Giáo pháp của tông này không còn giống Phật pháp nguyên thuỷ là bao nhiêu. Ba ngôi báu (Tam bảo; s: triratna) được đơn giản hoá thành lời thệ nguyện của đức Phật A-di-đà (s: amitābha, amitāyus) – nói chính xác hơn là lời nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Ngài. Ngôi báu thứ ba của Tam bảo là Tăng-già bị bác bỏ, các đệ tử của ông hoàn toàn là những Cư sĩ, chính ông lập gia đình. Theo Thân Loan thì sự tu tập thuần tuý theo Tự lực vô bổ. Ông quan niệm rằng, mọi người đều cần sự giúp đỡ từ bên ngoài (Tha lực) của đức A-di-đà và giải thoát chỉ có thể đạt được với sự giúp đỡ của Ngài. Ông quy tất cả các phương pháp tu hành về một: là Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà và cho rằng, đó chính là sự báo ân đối với vị Phật này và ngay cả cách niệm Phật này cũng trở thành dư thừa nếu niềm tin của người niệm danh nơi Ngài đủ mạnh, vững chắc.|Thân Loan quan niệm rằng, người tu hành Phật đạo có thể sống tại gia. Ông bị Tăng-già tại Kinh Ðô (kyōto) trục xuất và bị đày đi đến một tỉnh miền Bắc bởi vì sống chung với một phụ nữ. Theo yêu cầu của thầy, ông cưới vợ để chứng minh rằng, Giới luật dành cho tăng chúng không phải là điều kiện chính yếu để đạt giải thoát. Việc này gây sự bất hoà và chia rẽ trong giới đệ tử của Pháp Nhiên vì đa số tăng sĩ muốn giữ giới độc thân.|Sau đó Thân Loan sống bên lề xã hội, cùng với những kẻ mà theo ông là không biết phân biệt thiện ác. Thân Loan cho rằng Phật A-di-đà là vị sẵn sàng hơn cả cứu độ những người »kém cỏi« vì những người này không có gì khác hơn là lòng tin nơi A-di-đà. Còn những người »giỏi giang« hơn thì hay bị rơi vào ý nghĩ – theo ông là mê lầm – là nhờ thiện nghiệp hay Công đức tự tạo mà có thể đạt giải thoát. Ông chỉ biết đến thệ nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà và vì vậy có nhiều khác biệt với Tịnh độ tông và Pháp Nhiên.
thân loan
6293(1173~1262)為日本淨土真宗開祖。京都人,俗姓藤原。幼喪父母,遂入青蓮院慈圓門下剃髮。出家後數易其名,計有範宴、綽空、善信、愚禿親鸞。後遊學於比叡山、南都,研習諸宗,然未能滿足。建仁元年(1201)二十九歲,訪法然於吉水,始達宿志,而致力於念佛他力門。因法然之念佛遭受排斥,師徒皆獲罪。後親鸞獲准歸京,遂至信濃(長野縣)、下野(訤木縣)、常陸(茨城縣)等地說法教化,皈依者甚眾。 元仁元年(1224),於常陸之稻田草庵著教行信證六卷,成為日後真宗之根本聖典。後遂以此年為開宗立派之紀元。六十歲返京途中,於近江(滋賀縣)木部創建錦織寺。抵達京都後,輾轉於岡崎、吉水、五條西洞院各寺,致力於教化、著述。弘長二年示寂,世壽九十。弟子於鳥邊野荼毘之,葬於大谷。敕諡「見真大師」。 又師入於法然門下後,獲法然許可,而娶妻惠信尼,是為真宗帶妻制之起源。其子女善鸞(義絕)與覺信尼均著稱於世。門下有真佛、性信、唯圓等。所著除教行信證外,另有淨土文類聚鈔、愚禿鈔、入出二門偈頌、一念多念文意、唯信鈔文意等,及其他讚類甚多,其繪卷傳記有親鸞聖人繪傳等多幅。〔善信聖人親鸞傳繪、拾遺古德傳卷七、卷九、淨土真宗聖教目錄〕
; Shinran (J) Chân Loan Tổ sư phái Chơn tông ở Nhật.
; (親鸞) Tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông Nhật bản, người Kyoto, họ Đằng nguyên. Sư mồ côi cha mẹ từ nhỏ, theo ngài Từ viên ở viện Thanh liên cạo tóc xuất gia. Từ đó sư đổi tên nhiều lần như: Phạm yến, Xước không, Thiện tín, Ngu thốc Thân loan... Sau, sư đến núi Tỉ duệ và Nam đô học tập, nghiên cứu các tông, nhưng chưa được thỏa mãn. Niên hiệu Kiến nhân năm đầu (1208), bấy giờ đã 29 tuổi, sư đến tham vấn ngài Pháp nhiên ở Cát thủy mới đạt được túc chí và dốc toàn lực vào pháp môn Niệm Phật tha lực. Nhưng pháp môn niệm Phật của ngài Pháp nhiên bị chê bai nên thầy trò đều đắc tội. Sau, ngài Thân loan được phép trở về Kyoto, bèn đến các vùng Tín nùng (huyện Trường dã), Hạ dã (huyện Bản mộc), Thường lục (huyện Thứ thành)... thuyết pháp giáo hóa, tín đồ qui y rất đông. Niên hiệu Nguyên nhân năm đầu (1224), sư soạn Giáo hành tín chứng 6 quyển tại thảo am Đạo điền ở Thường lục, trở thành Thánh điển căn bản của Chân tông sau này. Sau, niên hiệu Nguyên nhân năm đầu được lấy làm kỉ nguyên khai tông lập phái. Năm 60 tuổi, trên đường trở về Kyoto, sư sáng lập chùa Cẩm chức ở Mộc bộ thuộc Cận giang(huyện Tư hạ). Sau khi đến Kyoto, sư ra sức giáo hóa và soạn thuật tại các chùa Cương kì, Cát thủy, Ngũ điều tây động viện... Năm Hoằng trường thứ 2 (1262), sư thị tịch, thọ 90 tuổi. Đệ tử an táng sư ở Đại cốc, thụy hiệulàKiến Chân Đại Sư. Sau khi làm đệ tử ngài Pháp nhiên, được thầy cho phép, sư lấy ni Huệ tín làm vợ, đó là khởi nguồn cho chế độ lấy vợ của Chân tông. Con trai của sư là Thiện loan (Nghĩa tuyệt) và con gái là ni Giác tín đều nổi tiếng ở đời. Đệ tử của sư có các vị: Chân Phật, Tính tín, Duy viên... Sư để lại các tác phẩm: Giáo hành tín chứng, Tịnh độ văn loại tụ sao, Ngu thốc sao, Nhập xuất nhị môn kệ tụng, Nhất niệm đa niệm văn ý, Duy tín sao văn ý... và rất nhiều loại tán khác. [X. Thiện tín thánh nhân Thân loan truyện hội; Thập di cổ đức truyện Q.7, 9; Tịnh độ chân tông thánh giáo mục lục].
thân lí giác
6292八種惡覺之一。即常思憶親戚鄉里之念。據成實論卷十四惡(不善)覺品第一八二所說,出家人若憶念親里,則生貪著,由貪著復生守護之念,故不宜生親里覺。當念一切眾生生死流轉,悉皆親里,無須偏著;又於生死中為親里之故,憂悲啼哭淚成大海,若復貪著則苦患無窮。〔華嚴經疏卷十三〕(參閱「八覺」319)
; (親裏覺) Chỉ ý niệm thường nhớ nghĩ đến thân thích, làng xóm... là 1 trong 8 thứ ác giác. Theo phẩm Ác giác (Bất thiện giác) trong luận Thành thực quyển 14 nói, nếu người Xuất gia nhớ nghĩ đến họ hàng, làng xóm thì tâm sinh tham đắm, do tham đắm lại sinh tâm thủ hộ, bởi vậy không nên sinh Thân lí giác, mà phải nhớ nghĩ đến tất cả chúng sinh đang sống chết trong vòng luân hồi, tất cả đều là thân thích xóm làng, không nên thiên chấp. Vả lại, tất cả chúng sinh trong vòng sống chết đều là thân thích, xóm làng nên đau buồn khóc lóc lệ đã thành biển, nếu lại tham đắm thì khổ hoạn vô cùng. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.13]. (xt. Bát Giác).
thân mao thượng mi tướng
Lông trên thân Phật xoắn ngược lên trên, một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật—The hairs on Buddha's body curled upwards, one of the thirty-two marks.
thân mê hoặc
6292於「見道」所斷十惑中之疑與五見(邊見、身見、邪見、見取見、戒禁取見)等六惑,稱為親迷惑;以皆親迷於四諦之理而起諸惑之故,而有此稱。
; (親迷惑) Sáu thứ Hoặc (phiền não) là Nghi và Năm kiến(Biên kiến, thân kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến) trong 10 thứ Hoặc do Kiến đạo đoạn trừ, gọi là Thân mê hoặc. Vì đều do thân mê đối với lí Tứ đế mà khởi các phiền não, cho nên gọi là Thân mê hoặc.
thân mình bất tịnh, thân người cũng bất tịnh, chỉ có thân phật là thanh tịnh
Our own bodies being impure and disgust, the bodies of others are likewise, only the Buddha-body is forever pure.
thân mạng
Jīvātman (S).
thân mẫu
Mother.
thân mật
3017梵語 kāya-guhya。三密之一。密教之三密有法佛三密、眾生三密之分。法佛三密中,一切形色為身密;眾生三密中,修行者身結印契以召請聖眾,稱為身密。通於顯教,則一會眾生,或見佛身黃金色、白銀色、諸雜寶色,或見佛身一丈六尺,或見一里、十里、百千萬億,乃至無邊無量,遍於虛空,此概非諸天人所能知能解,亦稱為身密。(參閱「三密」606)
; Kāya-guhya (S) Một trong Tam mật.
; Intimate—Familiar.
; (身密) Phạm: Kàya-guhya. Một trong 3 mật(tức thân mật, khẩu mật, ý mật). Tam mật của Mật giáo có chia ra Pháp Phật tam mật và Chúng sinh tam mật. Trong Pháp Phật tam mật thì tất cả hình sắc là Thân mật; còn trong Chúng sinh tam mật thì người tu hành thân kết ấn khế để triệu thỉnh Thánh chúng, gọi là Thân mật. Trong Hiển giáo thì chúng sinh trong 1 hội hoặc thấy thân Phật màu vàng ròng, màu bạc trắng, màu các thứ báu, hoặc thấy thân Phật cao 1 trượng 6 thước, hoặc thấy thân Phật cao 1 dặm, 10 dặm, trăm nghìn muôn ức dặm, cho đến vô biên vô lượng trùm khắp hư không, điều này đại khái trời, người không thể biết được, không thể hiểu được, cũng gọi là Thân mật. (xt. Tam Mật).
thân mến
Beloved—Dear.
thân mệnh
Body and life.
; Body and life (bodily life).
thân mục
To see with one's eyes.
Thân Nghiêm
(親嚴, Shingon, 1151-1236): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, trú trì đời thứ 98 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Tự Trưởng đời thứ 55 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), húy là Thân Nghiêm (親嚴), thông xưng Đường Kiều Đại Tăng Chánh (唐橋大僧正), Tùy Tâm Viện Đại Tăng Chánh (隨心院大僧正), Việt Hậu Đại Tăng Chánh (越後大僧正), xuất thân vùng Kyoto, con của vị Trưởng Quan Kami vùng Phi Đạn (飛驒, Hida) là Trung Nguyên Thân Quang (中原親光). Ông theo hầu Chuyên Niệm (專念), học về Mật Giáo; đến năm 1181 thì thọ phép Quán Đảnh với Hiển Nghiêm (顯嚴) ở Pháp Trú Tự (法住寺). Ông đã từng tu phép cầu mưa ở Thần Tuyền Uyển (神泉苑) để cầu nguyện cho cung phi sinh sản an toàn. Vào năm 1228, ông làm Tự Trưởng, Pháp Vụ cũng như Hộ Trì Tăng của Đông Tự. Năm 1229, ông nhận tuyên chỉ của triều đình ban cho Tùy Tâm Viện (隨心院) ở vùng Tiểu Dã (小野, Ono) trở thành ngôi chùa Môn Tích. Đến năm 1235, ông làm Biệt Đương của Đông Đại Tự.
thân nghiệp
xem ba nghiệp.
; 3018梵語 kāya-karman,巴利語 kāya-kamma。三業之一。指身所造作之業。可分為善、惡、無記三種。身惡業指殺生、偷盜、邪婬;反之,不殺生、不偷盜、不邪婬即為身善業。非善非惡而無感果之力者,則為無記之身業。 身業又有表業、無表業之別,表業指有所表示之動作,如舉手、投足等皆是;無表業指無表示之業,但由表業之力,自生防非、止善等勢力。小乘說一切有部謂身、語二業共稱思已業,主張表業以形色為體,無表業以無表色為體。經部則主張表業以思心所(即指動身思)為體,無表業以思心所之種子為體。大乘唯識家亦以動發勝思(動身思、發語思)為業體,主張表業、無表業皆為假立,非是實有;即謂表業乃就手足等色相生滅相續之似有表示而假立者,無表業係就思心所種子之分位而假立者。成實宗則立業體為非色非心法。〔眾事分阿毘曇論卷五、俱舍論卷一、卷十三、成唯識論卷一、大毘婆沙論卷一一三、順正理論卷三十三、成實論卷七、俱舍論光記卷十三、成唯識論述記卷二本、大乘義章卷七、大乘法苑義林章卷三末〕(參閱「業」5494)
; Kāya-karman (S), Kāya-kamma (P), Bodily action
; The karma operating in the body
; Kaya-sankhara (p)—Thân nghiệp tiêu biểu cho kết quả của những hành động của thân trong tiền kiếp. Tuy nhiên, thân nghiệp khó được thành lập hơn ý và khẩu nghiệp, vì như có lúc nào đó mình muốn dùng thân làm việc ác thì còn có thể bị luân lý, đạo đức hay cha mẹ, anh em, thầy bạn, luật pháp ngăn cản, nên không dám làm, hoặc không làm được. Vì thế nên cũng chưa kết thành thân nghiệp được. Hai nghiệp khác là khẩu và ý nghiệp—The karma operating in the body (the body as representing the fruit of action in previous existence. Body karma is difficult to form than thought and speech karma, for there are times when we wish to use our bodies to commit wickedness such as killing, stealing, and commiting sexual misconduct, but it is possible for theories, virtues as well as our parents, siblings, teachers, friends or the law to impede us. Thus we are not carry out the body's wicked karma—The other two karmas are the karma of the mouth and of the mind). ** For more information, please see Tam Nghiệp.
; (身業) Phạm: Kàya-karman. Pàli: Kàya-kamma. Một trong 3 nghiệp, chỉchocác nghiệp do thân tạo tác, được chia làm 3 loại là thiện, ác và vô kí. Thân ác nghiệp chỉ cho giết hại, trộm cướp, gian dâm; trái lại, không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm là Thân thiện nghiệp. Còn các nghiệp chẳng phải thiện, chẳng phải ác, không có năng lực cảm quả thì là Thân nghiệp vô kí. Thân nghiệp lại có Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp khác nhau. Biểu nghiệp chỉ cho tất cả động tác được bày tỏ ra, như huơ tay, giơ chân... đều thuộc Biểu nghiệp. Vô biểu nghiệp chỉ cho các nghiệp không bày tỏ ra, nhưng do năng lực của Biểu nghiệp mà tự sinh thế lực phòng ngừa điều sai trái, xấu ác. Thuyết nhất thiết bộ Tiểu thừa cho rằng Thân nghiệp và Ngữ nghiệp gọi chung là Tư dĩ nghiệp, chủ trương Biểu nghiệp lấy hình sắc làm thể, Vô biểu nghiệp lấy Vô biểu sắc làm thể. Kinh bộ thì chủ trương Biểu nghiệp lấy tâm sở Tư (chỉ cho Động thân tư) làm thể, còn Vô biểu nghiệp thì lấy chủng tử của tâm sở Tư làm thể. Các nhà Duy thức Đại thừa cũng lấy Động phát thắng tư (Động thân tư, Phát ngữ tư) là thể của nghiệp, chủ trương Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp đều là giả lập, chứ chẳng phải có thật; tức cho rằng Biểu nghiệp được giả lập dựa theo sự sinh diệt nối tiếp nhau của các sắc tướng như tay, chân tựa hồcóbày tỏ ra..., còn Vô biểu nghiệp thì được giả lập dựa theo phần vị của chủng tử thuộc tâm sở Tư. Tông Thành thực thì chủ trương thể của nghiệp là pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm. [X. luận Chúng sự phân A tì đạt ma Q.5; luận Câu xá Q.1, 13; luận Thành duy thức Q.1; luận Đại bà sa Q.113; luận Thành thực Q.7; Câu xá luận quang kí Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Nghiệp).
thân nghiệp công đức
3018為極樂淨土二十九種莊嚴中之佛八種功德之一。即指阿彌陀佛之身業具有微妙之相好功德。於天親淨土論之偈中,有(大二六‧二三一上):「相好光一尋,色像超群生」一語,即為莊嚴身業功德成就之義。曇鸞之往生論註卷下載,佛莊嚴身、口、意三業,乃為對治眾生虛妄之三業;如眾生以「身見」,而受三途、卑賤、醜陋、八難、流轉等身,若見阿彌陀佛之相好光明,則可解脫身業之繫縛,而得畢竟平等之身業。據日僧了惠之論註略鈔載,此身業功德乃依彌陀四十八願中之第十二願及第三十三願而成就。 關於佛身「相好光一尋」中之「一尋」,諸經論及各宗派之說法紛紜,莫衷一是,然一般皆以阿彌陀佛之舒臂為一尋,此指圓光之徑有六十萬億那由他恆河沙由旬。 另據月珠之淨土論隨釋,解釋「色像超群生」一語,謂「色像」乃指佛身,其「像」一詞,謂其形像不同於真實之像,而為法性顯現之妙相;「超群生」則具有超出三界及超過聖眾二義。
; (身業功德) Chỉ cho thân nghiệp của đức Phật A di đà có đầy đủ các công đức tướng hảo vi diệu, là 1 trong 8 thứ công đức của Phật thuộc 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc. Bài kệ trong luận Tịnh độ của ngài Thiên thân có câu (Đại 26, 231 thượng) : Ánh tướng hảo một tầm, sắc tượng vượt quần sinh, đó là ý nghĩa thành tựu công đức trang nghiêm thân nghiệp. Theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì 3 nghiệp thân, khẩu, ý trang nghiêm của Phật là đối trị 3 nghiệp hư vọng của chúng sinh; như chúng sinh do Thân kiến mà chịu thân thấp hèn, xấu xí, 8 nạn, trôi lăn trong 3 đường, nếu được thấy thân tướng sáng chói, tốt đẹp của Phật A di đà thì thoát khỏi sự trói buộc của thân nghiệp mà được thân nghiệp rốt ráo bình đẳng. Cứ theo luận chú lược sao của ngài Liễu huệ người Nhật thì công đức thân nghiệp rốt ráo bình đẳng này là nhờ vào các nguyện thứ 12 và 33 trong 48 nguyện của Phật A di đà mà thành tựu.
thân người khó được
It is difficult to be reborn as a human being—Trong các trân bảo, sinh mạng là hơn, nếu mạng mình còn là còn tất cả. Chỉ mong sao cho thân mạng nầy được sống còn, thì lo chi không có ngày gầy dựng nên cơ nghiệp. Tuy nhiên, vạn vật ở trên đời nếu đã có mang cái tướng hữu vi, tất phải có ngày bị hoại diệt. Đời người cũng thế, hễ có sanh là có tử; tuy nói trăm năm, nhưng mau như ánh chớp, thoáng qua tựa sương, như hoa hiện trong gương, như trăng lồng đáy nước, hơi thở mong manh, chứ nào có bền lâu? Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng khi sanh ra đã không mang theo một đồng, nên khi chết rồi cũng không cầm theo một chữ, suốt đời làm lụng khổ thân tích chứa của cải, rốt cuộc vô ích cho bản thân mình trước cái sanh lão bệnh tử. Sau khi chết di, của cải ấy liền trở qua tay người khác một cách phủ phàng. Lúc ấy không có một chút phước lành nào để cho thần thức nương cậy về kiếp sau, cho nên phải đọa vào tam đồ ác đạo. Cổ đức có dạy: “Thiên niên thiết mộc khai hoa dị, nhất thất nhơn thân vạn kiếp nan.” Nghĩa là cây sắt ngàn năm mà nay nở hoa cũng chưa lấy làm kinh dị, chớ thân người một khi đã mất đi thì muôn kiếp cũng khó mà tái hồi. Vì thế, Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ những gì Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp. Được thân người, gặp Phật pháp, mà ta nở để cho thời gian luống qua vô ích, quả là uổng cho một kiếp người.”—Of all precious jewels, life is the greatest; if there is life, it is the priceless jewel. Thus, if you are able to maintain your livelihood, someday you will be able to rebuild your life. However, everything in life, if it has form characteristics, then, inevitably, one day it will be destroyed. A human life is the same way, if there is life, there must be death. Even though we say a hundred years, it passes by in a flash, like lightening streaking across the sky, like a flower's blossom, like the image of the moon at the bottom of a lake, like a short breath, what is really eternal? Sincere Buddhists should always remember when a person is born, not a single dime is brought along; therefore, when death arrives, not a word will be taken either. A lifetime of work, putting the body through pain and torture in order to accumulate wealth and possessions, in the end everything is worthless and futile in the midst of birth, old age, sickness, and death. After death, all possessions are given to others in a most senseless and pitiful manner. At such time, there are not even a few good merits for the soul to rely and lean on for the next life. Therefore, such an individual will be condemned into the three evil paths immediately. Ancient sages taught: “A steel tree of a thousand years once again blossom, such a thing is still not bewildering; but once a human body has been lost, ten thousand reincarnations may not return.” Sincere Buddhists should always remember what the Buddha taught: “It is difficult to be reborn as a human being, it is difficult to encounter (meet or learn) the Buddha-dharma; now we have been reborn as a human being and encountered the Buddha-dharma, if we let the time passes by in vain we waste our scarce lifespan.”
thân nhân
Relatives.
thân nhân duyên
6291即四緣中第一之「因緣」,為能生起有為諸法之直接、親密之原因。於唯識宗稱為親因緣,意謂能親生自果,辨生自體之因緣種子性。以法本無自性,乃依他之親因緣法而生起,即種子生現行,現行熏種子,三法同時而互為因果,此為大乘緣起之實義。〔成唯識論卷七〕(參閱「四緣」1832)
; (親因緣) Nhân duyên gần gũi, tức chỉ cho nhân duyên thứ nhất trong 4 nhân duyên, là nhân duyên trực tiếp, thân mật, có năng lực sinh ra các pháp hữu vi. Tông Duy thức gọi là Thân nhân duyên, ý nói có khả năng thân sinh ra tự quả, biện biệt tính chất sinh ra chủng tử nhân duyên của tự thể. Vì các pháp vốn không có tự tính, phải nương vào pháp thân nhân duyên khác mà sinh khởi, tức chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử, 3 pháp đồng thời và làm nhân quả lẫn nhau, đây là nghĩa chân thực về duyên khởi của Đại thừa. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Tứ Duyên).
thân nhãn
See Thân Mục in Vietnamese-English Section.
thân nhĩ
To hear with one's own ears.
thân như ý thông
Rddhividhi-jnàna (S). The power to trasnfer oneself to various regions at will, also to change the body at will. Also thần thông, thần túc thông.
; Rddhividhi-jnana (skt)—See Thân Túc Thông.
thân nhẫn
Patience of the body—Endurance or forebearing of the body.
thân nhẫn ý nhẫn
To forebear in both the body and the mind—Nếu muốn thành tựu quả vị Bồ Tát, chúng ta phải thực hành thân nhẫn ý nhẫn—If we want to accomplish the Bodhisattvahood, we should always be forebearing in both the body and the mind.
thân nhập
The sense of touch, one of the six senses lục nhập.
; Một trong lục nhập. Cũng là một trong thập nhị nhơn duyên—The sense of touch, one of the six senses. Also one of the links in the chain of causation. ** For more information, please see Lục Nhập and Thập Nhị Nhơn Duyên.
thân nhật
2078意譯為首寂。為王舍城一長者名,其子即月光童子。申日嘗與不蘭迦葉等六師外道共同謀害佛陀,即假意請佛陀來受供養,暗中則設火坑及毒飯,思欲害之;佛陀雖知其詭計,然愍其狂愚而許之。時申日有一子名為月光,年僅十六,識德高超,遂勸諫其父而讚歎佛德,謂佛身乃金剛不壞之體。申日不聽,遣使迎佛陀。佛陀一到即以神力化現諸種莊嚴,則火坑忽變浴池,申日大驚而悔罪,六師外道等亦皆慚愧而逃竄。佛陀乃為之講說八解、四諦、三脫、六度等法,申日遂開悟,而得不退轉法忍。〔申日經、月光童子經、申日兒本經、玄應音義卷八〕
; Candra (skt). 1) Mặt Trăng: The moon. 2) Tên của một vị trưởng lão: Name of an elder.
; (申日) Hán dịch: Thủ tịch. Tên một vị Trưởng giả ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, con ông tức là đồng tử Nguyệt quang. Thân nhật từng cng với nhóm Lục sư ngoại đạo như Bất lan ca diếp... âm mưu hãm hại đức Phật bằng cách giả vờ thỉnh Phật đến nhà nhận sự cúng dường, lén đào hầm lửa trước và trộn thuốc độc vào cơm để hại Phật. Tuy biết quỉ kế của Thân nhật nhưng vì thương xót tính ngông cuồng ngu dại của ông ta nên đức Phật vẫn nhận lời. Bấy giờ, Thân nhật có 1 người con tên là Nguyệt quang, mới 16 tuổi nhưng kiến thức cao siêu lại thêm có đức, bèn khuyên can cha và ca ngợi công đức của Phật, cho rằng thân Phật là thân kim cương bất hoại, Thân nhật không nghe, cứ sai người đi đón rước Phật. Đức Phật vừa đến nơi liền dùng thần lực hóa hiện ra các thứ trang nghiêm, lúc đó hầm lửa bỗng biến thành ao tắm, Thân nhật kinh hãi, ăn năn tội lỗi, nhóm Lục sư ngoại đạo cũng đều hỗ thẹn và tìm đường rút lui. Đức Phật liền giảng Bát giải, Tứ đế, Lục độ, Tam thoát... cho Thân nhật nghe, Thân nhật khai ngộ, chứng được pháp nhẫn bất thoái chuyển. [X. kinh Thân nhật; kinh Nguyệt quang đồng tử; Thân nhật nhi bản kinh; Huyền ứng âm nghĩa Q.8].
Thân niệm xứ
một pháp trong Tứ niệm xứ (gồm có: thân, thọ, tâm và pháp). Thân niệm xứ dạy quán thân là bất tịnh, bằng cách quán tưởng các món tạo thành thân như: da, thịt, xương, gân, ruột, gan, tim, phổi... để thấy rằng hết thảy đều là bất tịnh, không thường còn. Cũng quán tưởng thân người sau khi chết tan rã, hôi thối, không thường còn.
thân niệm xứ
3017梵語 kāyasmṛty-upasthāna,巴利語 kāye kāyānupassī viharati。四念處之一。又作身念住、身觀。即觀身之自相不淨,又觀其共相苦、空、非常、非我,而對治四顛倒中之淨顛倒。據雜阿含經卷四十三載,人之身中有髮、毛、齒、塵垢、流涎、皮等三十六種不淨物;以此三十六種不淨之物,一一作觀,則可脫離貪愛之執著。(參閱「四念住」1708)
; Kāyānapassana (S), Kāya-smṛsty-upasṭhāna (S).
; Mindfulness with regard to the body.
; (身念處) Phạm: Kàyasmfty-upasthàna. Pàli:Kàye kàyànupassi viharatì. Cũng gọi Thân niệm trụ, Thân quán. Quán xét tự tướng bất tịnh của thân, là 1 trong 4 niệm xứ. Cũng quán xét cộng tướng khổ, không, vô thường, vô ngã, để đối trị tịnh điên đảo trong 4 điên đảo. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 43 thì trong thân con người có 36 thứ vật bất tịnh như tóc, lông, răng, ghét gúa, nước dãi, da dày, da mỏng... nếu quán xét kĩ từng vật trong 36 vật dơ bẩn này thì xa lìa được sự đắm đuối về ái dục. (xt. Tứ Niệm Trụ).
thân nầy là một khối ung sang bất tịnh
This body is an impure mass of ulcers.
thân nầy là trung tâm bão của khổ đau phiền não
This body is the storm center of sufferings and afflictions.
thân nộ ba lâm
Yasti-vana (skt)—Trượng Lâm—Rừng Thân Nộ Ba nơi mà ngoại đạo đã dùng một trong những cây trong đó để đo Đức Phật và cuối cùng phải ném bỏ, vì càng đo Đức Phật càng cao thêm—Groves of staves, said to have grown from the staff (of 16 foot bamboo pole) with which the heretic measured the Buddha and which he threw away, because the more he measured the higher the Buddha grew. Another part of the legend is that the forest grew from the bamboo which heretics left behind in chagrin.
thân phạt nghiệp
Kāya-daṇḍa (S) Một trong Tam phạt nghiệp.
thân phần
3016<一>指身體之一部分或身體全部。大悲空智金剛大教王儀軌經卷二(大一八‧五九二中):「修瑜伽者應善籌量,乃至身分飲食不雜亂出。」如遺教經論所謂之「身分供養」,即指飲食、衣服、臥具、湯藥等之身業供養。〔大毘婆沙論卷一七七〕 <二>專指男根。十誦律卷一(大二三‧一下):「是愚癡人開諸漏門,寧以身分內毒蛇口中,終不以此觸彼女身。」
; Kāya dhātu (S).
; (身分) I. Thân Phần. Chỉ cho 1 bộ phận của thân thể hoặc toàn bộ thân thể. Kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ quyển 2 (Đại 18, 592 trung) nói: Người tu Du già phải khéo suy tính, cho đến thân phần ẩm thực không sinh ra tạp loạn, như Thân phần cúng dường nói trong Di giáo kinh luận là chỉ cho Thân nghiệp cúng dường như thức ăn uống, áo mặc, đồ nằm, thuốc thang... [X. luận Đại tì bà sa Q.177]. II. Thân Phần. Chuyên chỉ cho nam căn. Luật Thập tụng quyển 1 (Đại 23, 1 hạ) nói: Kẻ ngu si này mở các cửa hữu lậu, thà để thân phần (nam căn) vào miệng rắn độc chứ quyết không để nó vào nữ căn.
thân phận
Condition.
thân phụ
Father.
thân quang
6291梵名 Bandhu-prabha,或 Parbhā-mitra。中印度摩揭陀國那爛陀寺之學者,大乘佛教瑜伽行派論師。約生存於六世紀中葉,相傳為護法菩薩之門人,著有佛地經論。論中將佛地經科判為教起因緣分、聖教所說分、依教奉行分等三分以注釋之,稱為親光三分科經。此與晉代道安(314~385)所創「三分科經」說相符。道安之三分科經,即將經文科判為序分、正宗分、流通分等三分。後為諸家釋經者所沿用。〔解深密經疏卷一、成唯識論述記卷一本、英譯大明三藏聖教目錄〕(參閱「三分科經 531」)
; Bandhu-prabhā (S), Prabhā-mitra (S).
; The body shining from the person of a Buddha, or a Bodhisattva; a halo, aura.
; Ánh sáng phát ra từ chính thân Phật hay thân các vị Bồ Tát—The glory or halo shining from the person of a Buddha or Bodhisattva.
; (親光) I. Thần Quang. Cũng gọi Uy thần quang. Ánh sáng của Phật linh diệu không thể nghĩ bàn. Quang minh tượng trưng cho trí tuệ, trí của Phật xa lìa tất cả tướng phân biệt hư vọng, không thể nghĩ bàn, vì thế quang minh của Phật cũng lìa hình tướng, cho nên gọi là Thần quang. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Tán A di đà Phật kệ (Đàm loan)]. II. Thần Quang. Thiền tông gọi ánh sáng xưa nay của chính mình là Thần quang. Thiền gia qui giám (Vạn tục 112, 463 hạ) nói: Thần quang chẳng mờ, xưa nay sáng rỡ, vào được cửa này, chẳng còn hiểu biết. III. Thần Quang. Tên của ngài Tuệ khả, Tổ thứ 2 của Thiền tông, lúc còn trẻ. (xt. Tuệ Khả).
thân quyến
See Thân (3).
thân sau cùng
(tối hậu thân): tức là lần thọ thân cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi thành tựu quả Phật. Vị Bồ Tát này cũng được gọi là Bồ Tát Nhất sanh bổ xứ.
thân sơ
Close and far.
thân sắc
Countenance.
thân sắt tri
Xem Trượng Lâm, Xem Thiện Kiến Lập Chi đề.
thân sắt tri lâm
2079梵名 Yaṣṭi-vana,巴利名 Yaṭṭhi-vana, Laṭṭhi-vana。又作申怒林、申怒波林、遮越林、祠祀林。即指杖林。位於古代印度摩竭陀國王舍城外之林苑。據雜阿含經卷三十八載,佛陀於遊化摩竭陀國時,曾居住善建立支提杖林(梵 Suppatiṭṭha-cetiya,又作善安住塔、善住窣堵波)中,頻婆沙羅王與諸小王、群臣等皆來受佛陀教化。上記之善建立支提,即申瑟知林。另於頻婆沙羅王經、過去現在因果經卷四、有部毘奈耶破僧事卷七等書,均有記載此事。又竹杖外道亦曾於此量佛之身量。關於此林名稱之由來,釋迦方志卷下(大五一,九六三下):「申瑟知林(言杖林也),滿山谷。昔有人以丈六竹杖量佛,而恆出杖表;因投杖而去,遂生根,而被山焉。」此外有關此林之位置,據中阿含經卷十一載,距王舍城一由延;中本起經卷上度瓶沙王品亦載,距羅閱祇城四十里(即一由延)。其它另有不同之記載。〔中阿含卷十一頻鞞娑邏王迎佛經、別譯雜阿含經卷一、普曜經卷八、佛所行讚卷四、大莊嚴論經卷十二、四分律卷三十三、大唐西域記卷九〕
; Xem Thân sắt tri.
; (申瑟知林) Phạm: Yawỉi-vana. Pàli: Yaỉỉhi-vana, Laỉỉhi-vana. Cũng gọi: Thân nộ lâm, Thân nộ ba lâm, Già việt lâm, Từ tự lâm. Hán dịch: Trượng lâm. Rừng gậy, là khu vườn rừng ở phía ngoài thành Vương xá, nước Ma yết đà, thuộc Trung Ấn độ đời xưa. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 38 thì khi đến nước Ma yết đà giáo hóa, đức Phật đã từng trụ ở khu vườn rừng này, vua Tần bà sa la và các Tiểu vương, quần thần đều đến nghe đức Phật thuyết pháp. Về nguyên do tại sao khu vườn rừng này có tên là Trượng lâm thì Thích ca phương chí quyển hạ (Đại 51,963 hạ) ghi: Thân sắt tri lâm (Hán dịch là Trượng lâm – rừng gậy) có rất nhiều hang núi. Thủa xưa có người dùng chiếc gậy tre dài 1 trượng 6 thước để đo lường thân Phật, thân Phật luôn cao hơn đầu gậy; do đó, người ấy ném gậy rồi bỏ đi, gậy mọc rễ, lan ra khắp núi. Ngoài ra, về vị trí khu rừng này, theo kinh Trung a hàm quyển 11, Trượng lâm ở cách thành Vương xá 1 do diên; còn phẩm Độ bình sa vương trong kinh Trung bản khởi quyển thượng cũng ghi cách thành La duyệt kì 40 dặm(tức 1 do diên). Tuy nhiên, cũng còn nhiều ghi chép khác nữa.
thân sở duyên duyên
6292「疏所緣緣」之對稱。唯識宗將四緣中之所緣緣分為親、疏二種。與能緣之體不相離,而為見分(能認識客觀之主體)等內之所慮託,稱為親所緣緣。〔成唯識論卷七〕(參閱「四緣」1832、「疏所緣緣」4740)
; (親所緣緣) Đối lại: Sơ sở duyên duyên. Tông Duy thức chia Sở duyên duyên trong 4 duyên làm 2 loại là Thân sở duyên duyên và Sơ sở duyên duyên. Duyên không xa lìa thể năng duyên và là chỗ nưong gá của sự suy nghĩ trong Kiến phần(chủ thể có năng lực nhận thức đối tượng khách quan), gọi là Thân sở duyên duyên. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Tứ Duyên, Sơ Sở Duyên Duyên).
thân tam khẩu tứ ý tam
(A) 1) Thân tam: Kaya-karmas (skt)—Ba giới về thân—The three commandments dealing with the body: a. Không sát sanh: Not to kill or prohibiting taking of life—Chúng ta chẳng những không phóng sanh cứu mạng, mà ngược lại còn tiếp tục sát sanh hại mạng nữa, chẳng hạn như đi câu hay săn bắn, vân vân—We do not free trapped animals; but, in contrast, we continue to kill and murder innocent creatures, such as fishing, hunting, etc. b. Không trộm cắp: Not to steal or prohibiting stealing—Chúng ta chẳng những không bố thí cúng dường, mà ngược lại còn lại tiếp tục ích kỷ, keo kiết, trộm cắp nữa—We do not give, donate, or make offerings; but, in contrast, we continue to be selfish, stingy, and stealing from others. c. Không tà dâm: Not to commit adultery or prohibiting commiting adultery—Chúng ta chẳng những không đoan trang, chánh hạnh, mà ngược lại còn tiếp tục tà dâm tà hạnh nữa—We do not behave properly and honorably; but, in contrast, we continue to commit sexual misconduct or sexual promiscuity. 2) Khẩu tứ: Vac-karmas (skt)—Bốn giới về—The four dealing with the mouth: a. Không nói dối: Not to lie—Chúng ta chẳng những không nói lời ngay thẳng chơn thật, mà ngược lại luôn nói lời dối láo—We do not speak the truth; but, in contrast, we continue to lie and speak falsely. b. Không nói lời đâm thọc: Not to exaggerate—Chúng ta không nói lời hòa giải êm ái, mà ngược lại luôn nói lưỡi hai chiều hay nói lời xấu ác làm tổn hại đến người khác—We do not speak soothingly and comfortably; but, in contrast, we continue to speak wickedly and use a double-tongue to cause other harm and disadvantages. c. Không chửi rũa: Not to abuse—Chúng ta chẳng những không nói lời ôn hòa hiền dịu, mà ngược lại luôn nói lời hung ác như chữi rũa hay sỉ vả—We do not speak kind and wholesome words; but, in contrast, we continue to speak wicked and unwholesome words, i.e., insulting or cursing others. d. Không nói lời vô tích sự: Not to have ambiguous talk—Chúng ta không nói lời chánh lý đúng đắn, mà ngược lại luôn nói lời vô tích sự—We do not speak words that are in accordance with the dharma; but, in contrast, we continue to speak ambiguous talks. 3) Ý tam: Moras-karmas (skt)—Ba giới về ý—The three dealing with the mind: a. Không ganh ghét: Not to be covetous—Chúng ta không chịu thiểu dục tri túc, mà ngược lại còn khởi tâm tham lam và ganh ghét—We do not know how to desire less and when is enough; but we continue to be greedy and covetous. b. Không xấu ác: Not to be malicious—Chúng ta chẳng những không chịu nhu hòa nhẫn nhục; mà lại còn luôn sanh khởi các niềm sân hận xấu ác—We do not have peace and tolerance toward others; but, in contrast, we continue to be malicious and to have hatred. c. Không bất tín: Not to be unbelief—Chúng ta chẳng những không tin luật luân hồi nhân quả; mà ngược lại còn bám víu vào sự ngu tối si mê, không chịu thân cận các bậc thiện hữu tri thức để học hỏi đạo pháp và tu hành—We do not believe in the Law of Causes and Effetcs, but in contrast we continue to attach to our ignorance, and refuse to be near good knowledgeable advisors in order to learn and cultivate the proper dharma. (B) 1) Thân tam: Kaya-karmas (skt)—Ba giới về thân—The three commandments dealing with the body: a. Không sát sanh: Not to kill. b. Không trộm cắp: Not to steal. c. Không tà dâm: Not to commit adultery. 2) Khẩu tứ: Vac-karmas (skt)—Bốn giới về ý—The four dealing with the mouth: a. Không nói dối: Not to lie. b. Không nói lời hung dữ: Not to insult. c. Không nói lời đâm thọc: Not to exaggerate. d. Không nói lưỡi hai chiều: Not to speak with a double-tongue. 3) Ý tam: Moras-karmas (skt)—Ba giới về ý—The three dealing with the mind: a. Không tham: Not to be greedy. b. Không sân: Not to be hatred. c. Không si: Not to be ignorant.
thân tam muội
The embodiment of samaya—The symbol of a Buddha or bodhisattva.
thân thanh tịnh
3018三種清淨之一。指身業遠離煩惱垢行。即不殺生、不偷盜、不邪婬。〔俱舍論卷十六、集異門足論卷六〕(參閱「清淨」4667)
; (身清淨) Chỉ cho thân nghiệp xa lìa các hành vi phiền não, ô nhiễm. Tức không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, là 1 trong 3 thứ thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.16; luận Tập dịmôn túc Q.6]. (xt. Thanh Tịnh ).
thân thiết
Intimate—Familiar.
thân thiện
Friendly.
thân thuộc
Relatives.
thân thành
Thân như là thành trì của tâm—The body as the citadel of the mind.
Thân thích
(親戚): sự thân cận, gần gủi về mặt huyết thống. Theo Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648), học giả thời nhà Đường của Trung Quốc, thân thích được giải thích là “Thân chỉ tộc nội, thích ngôn tộc ngoại (親指族內、戚言族外, thân là chỉ cho những người trong gia tộc, thích là chỉ cho những người ngoài gia tộc).” Cho nên, thân thích gồm 2 loại: những người thân thuộc hệ huyết thống trực tiếp (直系血親, trực hệ huyết thân) và hệ huyết thống gián tiếp (旁系血親, bàng hệ huyết thân). Câu “luân trung thân thích (倫中親戚)” có nghĩa là sự gần gủi trong luân thường đạo lý.
thân thích
Relatives.
thân thông
See Thân Túc Thông.
thân thắng
6292梵名 Bandhuśri。音譯畔度室利、畔徒室利。為唯識十大論師之一。其事蹟不詳,傳說與世親為同時代人。嘗就世親之唯識三十頌作略釋,以妙契作者之意,後代論師皆依據之,然其書今已不傳。〔成唯識論述記卷一本〕
; Bandhuśrī (S) Một trong 10 đại luận sư của Tông Duy thức.
; Badhusrì (S).
; (親勝) Phạm: Bandhazri. Hán âm: Bạn độ thất lợi, Bạn đồ thất lợi.Một trong 10 vịđạiLuận sư Duy thức. Sự tích về sư không được rõ, tương truyền sư là người cùng thời đại với ngài Thế thân. Sư có soạn Lược thích về tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, vì rất khế hợp với ý của tác giả nên các Luận sư đời sau đều y cứ vào bộ lược thích, nhưng đáng tiếc hiện nay sách này đã thất truyền.
thân thể
3020佛教稱為身根,或單稱身。乃五根之一,六根之一,十二處之一,十八界之一。即身識之所依。梵語 kāya,音譯迦耶,為積集、依止之意;眼等諸根雖皆為積集,但諸根皆依於身方能成立,故特稱身為迦耶。於十二處中,稱身處(梵 kāyāyatana);於十八界中,稱為身界(梵 kāya-dhātu)。大毘婆沙論等諸論中,為區別身根與筋肉等肉團,特稱後者為扶塵根;相對於扶塵根而言,有觸覺作用之身根稱為勝義根。〔品類足論卷一、大乘法苑義林章卷三本〕(參閱「身根」3017)
; (身體) Phạm:Kàya. Hán âm: Ca da. Hán dịch: Tích tập, y chỉ. Chỉ cho chỗ nương gá(y chỉ) của thức thân, Phật giáo gọi là Thân căn, hoặc gọi tắt là Thân, 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Các căn như mắt, tai... tuy đều là chứa nhóm, nương gá, nhưng các căn đều phải nương vào Thân mới thành lập được, vì thế mới đặc biệt gọi Thân là Ca da. Trong 12 xứ gọi là Thân xứ (Phạm:Kàyàyatana) trong 18 giới gọi là Thân giới (Phạm:Kàyadhàtu). Trong các luận như luận Đại tì bà sa, để phân biệt Thân căn với thân gồm xương, thịt, gân, mạch... gọi thân xương, thịt... là Phù trần căn. Đối lại với Phù trần căn, Thân căn có tác dụng xúc giác, gọi là Thắng nghĩa căn. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần đầu]. (xt. Thân Căn).
thân thụ
3017指眼、耳、鼻、舌、身等前五識所感肉體或感覺之苦、樂、捨三受。受乃根(感官)、境(對象)、識(感覺)三者之結合,佛教之「受」(梵 vedanā)即相當於一般之感受。(參閱「受」3096)
; (身受) Chỉ cho 3 cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui(tức khổ, lạc, xả)của nhục thân hoặc cảm giác do 5 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân)cảm nhận. Thụ là sự kết hợp của 3 thứ: Căn(cảm quan), Cảnh(đối tượng), Thức(cảm giác). Thụ (Phạm: Vedanà) của Phật giáo tương đương với cái mà người ta thường gọi cảm thụ. (xt. Thụ)
thân thức
3019梵語 kāya-vijñāna,巴利語 kāya-viññāna。五識之一,六識之一,十八界之一。以身根為所依而了別觸境之心識。觸境有地、水、火、風、滑性、澀性、重性、輕性、冷、饑、渴等十一種。復次,關於眼、耳、鼻、舌、身等五色根(即勝義根)所依之大種是否為身識所緣,大毘婆沙論卷一二七舉出兩種說法,一說五色根不可觸,故不發身識,因而所依之大種於現在亦無發身識之義;一說身根所依之大種極為鄰近,故不能發身識,其他色根之大種則皆得為身識之所識。又身根所依之大種,為其他身識所緣之境,故亦得名為身識之所識。此外,繫屬於欲界之身識,通善、不善、無記等三性;在色界初禪,身識與修所斷之煩惱相應,攝於有覆無記;在無色界,以無所依之根成就,故不生身識。〔識身足論卷三、卷六、品類足論卷一、大毘婆沙論卷七十一、卷七十三、雜阿毘曇心論卷一、俱舍論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷二〕(參閱「大種」878、「五識」1209)
; Kāya-vijāna (S), Kaya-vināṇa (P), Body-consciousness.
; Kàya-vijnàna (S). Cognition of the objects of touch.
; Kaya-vijnana (skt)—Body consciousness—Tactile consciousness—Thân thức phát triển khi điều kiện nổi bậc trong đó thân tiếp xúc với đối tượng bên ngoài. Thân căn nằm khắp các nơi trong cơ thể—Tacticle sensation consciousness—Body consciousness develops when the dominant condition in which the body faculty meets an object of touch. The location of the body faculty is throughout the entire body. Cognition of the objects of touch, one of the five forms of cognition. ** For more information, please see Bát Thức.
; (身識) Phạm:Kàya-vijĩàna. Pàli:Kàya-viĩĩàna. Chỉ cho tâm thức nương gá vào thân căn để nhận biết đối tượng tiếp xúc, 1 trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 18 giới. Các đối tượng (cảnh)mà thân thức tiếp xúc gồm 11 thứ: Đất, nước, lửa, gió, tính trơn, tính ráp, tính nặng, tính nhẹ, lạnh, đói và khát. Lại nữa, về đại chủng mà 5 sắc căn(tức Thắng nghĩa căn)mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nương gá có phải là chỗ mà thân thức duyên theo hay không thì luận Đại tì bà sa quyển 127 có nêu ra 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng 5 sắc căn không thể va chạm, cho nên không phát ra thân thức, do đó mà đại chủng là chỗ nương gá trong hiện tại cũng không có nghĩa phát ra thân thức. Thuyết thứ hai cho rằng đại chủng mà thân căn nương gá rất gần, cho nên không thể phát ra thân thức, còn đại chủng của các sắc căn khác thì đều là sở thức của thân thức. Đại chủng của thân căn nương gá là cảnh sở duyên của thân thức khác, cho nên cũng được gọi là sở thức của thân thức. Ngoài ra, thân thức bị trói buộc ở cõi Dục có đủ 3 tính thiện, bất thiện và vô kí; ở Sơ thiền cõi Sắc thân thức tương ứng với các phiền não do Tu đạo đoạn trừ, thuộc về hữu phú vô kí; còn tại cõi Vô sắc thì vì không có thân căn làm chỗ nương gá nên không sinh thân thức. [X. luận Thức thân túc Q.3, 6; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.71, 73; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Đại Chủng, Ngũ Thức).
thân tiên nhãn
The eye that precedes the body—The ability to regulate our physical actions even before we are conscious of them.
thân tiền hữu
Antecendent Existence Body—Tiền có nghĩa là trước, khởi thủy hay đầu tiên. Hữu có nghĩa là đang có, đang mang, hay đang nhận lấy. Thân Tiền Hữu là cái thân xác tứ đại hiện tại, thể chất hay phi thể chất, do các nghiệp duyên tiền kiếp tạo thành mà chúng sanh chúng ta đang mang lấy hiện giờ. Thân tiền hữu nầy sẽ phải lần lượt trải qua bốn giai đoạn, sanh, lão, bệnh, và tử. Thân tiền hữu chỉ sống còn được trong một thời gian nào đó, chớ không được bền vững hay trường cửu. Bởi lẽ hễ có sanh tất có diệt. Không có bất cứ một loại chúng sanh nào trong tứ sanh có thể vượt qua định luật vô thường bất di bất dịch nầy, kể cà các bậc Thiên Tiên—Antecedent means before, the origin, or the beginning, etc. Existence means it is inhabited currently, and used presently, etc. The antecedent existence body is the present form body, physical or non-physical, created from various karmasand predestined affinities that each sentient being accumulated in the past. In turn, this antecedent existence body will pass through these four stages of impermanence: birth, old age, sickness, and death. The antecedent existence body will remain only for a definite period of time, but it will not be permanent or eternal because there is birth, then there must be death. There is absolutely no being of the four types of sentient beings, with an antecedent existence body, can overcome this inevitable fate of these four unchanging laws of impermanence including the Heavenly Fairies.
thân trung hữu
Antara-bhava (skt)—Intermediate Existence Body. (A) Nghĩa của Thân Trung Hữu—The meanings of the Intermediate Existence Body: Giai đoạn giữa lúc chết và lúc đi đầu thai. Đây là tiến trình chết và tái sanh trong vòng 49 ngày. Hễ có thân tiền hữu, thì đương nhiên là phải có thân trung hữu và thân hậu hữu. Trung có nghĩa là ở khoảng giữa, ở giữa của hai khoảng đời nầy và đời sau. Hữu là hiện có, hay đang mang lấy. Vì cái quả báo do nghiệp tội của thân tiền hữu đã gây tạo là có chứ không phải là Không. Chính thế nên mới được gọi là Hữu. Thân Trung Hữu là thân kế sau của thân tiền hữu. Nói cách khác, tất cả các loại chúng sanh hữu tình sau khi mạng chung tức là đã bỏ thân tiền hữu rồi. Khi đó thân xác hoàn toàn bị hư hoại, ngũ ấm chia lìa, tứ đại phân ly, thần thức liền thoát ngay ra khỏi xác thân tiền hữu, trước khi chưa thọ lấy thân hậu hữu tức là thân của đời sau, thì thần thức nầy ở vào trong giai đoạn thọ cảm lấy một cảnh giới khác. Trong lúc nầy, thần thức ở vào trong một giai đoạn chuyển tiếp ngắn và mang lấy một thân thể khác gọi là thân trung hữu—Bardo stage—The intermediate stage between death and rebirth. It's the 49-day-long process death and rebirth. If there is an antecedent existence body, then, naturally, there has to be an Intermediate Existence Body and an After Existence Body. Intermediate means middle, or in between two lives of the present and future. Existence means present, or currently inhabitating. Because the karmic retribution are concrete and not emptiness. Thus, because of the genuineness of karmic consequences, it is called Existence. The intermediate existence body means the body to be inhabited after the antecedent body. In other words,once a sentient being's dstiny ends, he or she must abandon the antecedent existence body. Once this happens, that body will decay, the five aggregates will separate, and that person's spirit will leave the antecedent existence body. And before inhabiting the after existence body or the body of the future life, the spirit of this individual will exist in a period where it will take on a new realm. During this time, the spirit will enter a transitional period as they immediately exist as another entity or inhabit a different body called intermediate existence body—For more information, please Antara-bhava in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (B) Các giai đoạn thọ báo của Thân Trung Ấm—Various stages of retributions of the intermediate existence body: a) Giai đoạn 49 ngày đầu hay thời kỳ minh định nghiệp báo—The first 49 days or the period of determination of karmic retributions: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, thân trung hữu do năm ấm vi tế kết thành, cho nên nó còn có tên là Thân Trung Ấm. Thân trung ấm nầy có nhiều hình sắc khác nhau, nhưng đại khái có hai loại chánh: loại hình sắc xinh đẹp, và loại hình sắc xấu xí. Trước khi thân trung ấm thọ cảm lấy thân hậu ấm sẽ phải trải qua một thời gian dài 49 ngày để minh định nghiệp báo, tức là cảm thọ lấy các nghiệp nhân, hoặc thiện hoặc ác, mà kẻ ấy đã gây tạo trong lúc còn mang thân tiền hữu. Kinh Địa Tạng có dạy rằng: “Quỷ vô thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mù chưa rõ là tội hay là phước, trong 49 ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong, thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo.”—According to Venerable Thích Hải Quang in the Philosophical Conversations with Buddhist Followers, the intermediate existence body is formed by five infinitesimally small aggregates; therefore, it is also called the Intermediate Skandha Body. The intermediate skandha body has many different characteristics, but, in general, there are two types of form appearances: one is having a beautiful form appearance, the other is having a dreadful form appearance. Before the intermediate skandha body assumes the after existence body or the future body, it must pass through a period of forty-nine days in order to determine each individual's karmic retribution, i.e., judgment day. This is to assume responsibilities for the various karmic activities, whether wholesome or unwholesome, taken when the individual still had the antecedent existence body or when still alive. The Ksitigarbha Sutra taught: “The great demon of impermanence makes no appointments yet it comes, the spirits of the dead are confused and delirious not knowing whether meritorious or transgression. For forty-nine days, their existence is like darkness and deafness, not knowing what will happen, or they may be at various underworld courthouses to go on trials for their karma. Once decisions are made, they will follow their karma to reap the karmic retributions.” b) Giai đoạn thọ thân hậu hữu—The period of transition beyween life: Thân trung hữu hay thân trung ấm không liền được đi đầu thai chuyển kiếp sau khi thoát ra khỏi xác thân tiền hữu, mà bắt buộc phải trải qua 49 ngày để thẩm định nghiệp quả. Nói cách khác, ngay sau khi thần thức thoát ra khỏi xác thân tiền hữu và trở thành thân trung hữu, liền bị nghiệp nhân dẫn dắt tùy theo nghiệp báo mà đi đầu thai chuyển kiếp, tức là thọ lấy thân hậu hữu tương xứng với tội phước mà thân tiền hữu đã gây ra, để tiếp tục trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Chính vì thế mà Kinh Địa Tạng dạy: “Như sau khi người đã chết, lại có thể trong vòng 49 ngày thân quyến vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó ra khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc trong cõi người, hưởng lấy sự vui sướng mà thân quyến hiện tại cũng được rất nhiều lợi lạc.” Như vậy, nếu thân nhân người quá cố biết rằng lúc đương đời người nầy đã gây tạo nhiều ác nghiệp, tất phải thọ báo nơi địa ngục. Vì thương xót người quá vãng nên đứng ra làm các công đức, phước lành như bố thí, phóng sanh, và trì tụng kinh chú, rồi đem nhữõng công đức ấy mà hồi hướng cho hương linh người quá cố trong khi người ấy vẫn còn mang thân trung ấm chớ chưa đi đầu thai chuyển kiếp. Làm được như vậy, hương linh người quá cố sẽ được tội tiêu, chướng diệt, lìa hẳn chốn ác đạo mà sanh về cõi trời người, thọ lấy những điều an vui sung sướng—The antecedent existence body or the skandha existence body is not reborn (reincarnated) into another life, but must pass through a period of 49 days of determination of karmic retributions or transition between life. In other words, right after the spirit escapes from the antecedent existence body and becomes the intermediate existence body, it is led by that individual's karmic effect, depending on the karmic retributions (various merits and transgressions created when that being still had the antecedent existence body) to get reborn into the next life in the six realms of existence. Thus, the Ksitigarbha Sutra taught: “Supposing once a person dies, within the first forty-nine days, for that person's benefit, loved ones are willing to cultivate and form many meritorious and wholesome practices, then it is possible to free completely that spirit of the dead from the various evil paths to be reborn in Heaven or in the Human realm to reap the various luxuries and hapiness. Not only that, but the curently living loved ones will also benefit greatly. Family and friends know when alive, their loved one who died recently, had created many unwholesome karmic deeds, and will have to endure the karmic retributions of hell. Through love and compassion for their loved one, they follow the Buddha's 'eachings, take the person's place to practice various virtuous, meritorious, and wholesome deeds such as make donations, charity work, free trapped animals, chant sutras, recite Buddha's name and mantras, etc. Thereafter, use thse merits and virtues to dedicate and pray for the deceased spirit when that spirit still exists with the intermediate existence body and has not yet been reborn or reincarnated to another life. If family and friends are able to do all these, the deceased's intermediate skandha body will be able to eradicate and overcome his or her transgressions to varying degrees. That person will be able to abandon the evil paths and be reborn to Heaven or Human realms to enjoy the various happiness and luxuries. c) Trường hợp thọ báo đặc biệt của thân trung hữu—Special and unique karmic retribution conditions of the intermediate existence body: Thường thì thân trung hữu phải trải qua một thời gian chuyển tiếp là bốn mươi chín ngày, sau đó mới cảm thọ lấy thân hậu hữu. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt mà thân trung hữu không cần phải trải qua giai đoạn chuyển tiếp thông thường nầy. Những chúng sanh nầy sau khi đã bỏ thân tiền hữu rồi thì thần thức hoặc liền được siêu thoát về các cõi trời tương xứng như trời dục giới, sắc giới và vô sắc giới; hoặc bị đọa thẳng xuống địa ngục, chớ không phải trải qua giai đoạn 49 ngày thông thường của thân trung ấm—As usual, the intermediate existence body must go through seven cycles with seven days in each cycle. Only thereafter, the spirit is able to receive the future body. However, there are special situations where the intermediate body does not need to go through that ordinary transitional period. These sentient beings, after leaving their antecedent bodies, their spirits will immediately be liberated to the appropriate heavens accordingly to their merits and spiritual achievements, or be condemned to hell immediately without having to pass through the ordinary transitional period of forty-nine days of the intermediate skandha body: • Chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã gây tạo những nghiệp nhân cực thiện, tức gieo nhân thập thiện bậc thượng thuộc các cõi trời dục giới, sắc giới và vô sắc giới: When the sentient beings were alive with antecedent body, they created an extraordinary amount of wholesome karma, planted the fruit of the ten wholesome deeds to the highest level with regard to the various Heavens of Desires, Form, and Formlessness. • Chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã gây tạo những nghiệp nhân cực ác, như phạm tội tứ trọng hay ngũ nghịch, thập ác, thuộc đại địa ngục A Tỳ: When the sentient beings were alive with antecedent body, they created an extraordinary amount of unwholesome karma, the most evil and wicked deeds, such as guilty of violating the four offenses, five betrayals, ten evils, belonging to the great Avichi Hell—See Tứ Đọa, and Ngũ Nghịch. • Ngoài ra, còn có một loại chúng sanh ngoại hạng, không cần phải trải qua giai đoạn thân trung ấm và cũng không bị lệ thuộc vào trong ba cõi sáu đường, đó là những chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã y theo pháp Phật tu hành, như niệm Phật và phát lòng Tín Nguyện cầu sanh Cực Lạc. Các chúng sanh ấy sau khi bỏ thân tiền hữu rồi thì thần thức liền siêu thoát ngang qua ba cõi, nương theo nguyện lực nhiếp thọ của chư Phật, Bồ Tát, trong khoảng sát na, lập tức được hóa sanh ngay về cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, ngự trên tòa sen báu, vĩnh viễn thoát khỏi các cảnh luân hồi sanh tử: Besides, there is one more type of sentient beings who are beyond limits; they also do not need to go through the transition period, do not experience having the intermediate body, nor are they a part of the three worlds and the six realms of existences. These sentient beings are those when alive with the antecedent body, followed the Buddha Dharma to cultivate and practice Buddha Recitation by developing Faith and Vow to gain rebirth to the Ultimate Bliss World. After abandoning the antecedent body, their spirits will transcend through the Three Worlds, relying on the rescuing vow powers of the Bodhisattvas and Buddhas. Within a split moment, they will transform to gain rebirth to the Ultimate Bliss Worldof the Amitabha Buddha and attain a place in the jeweled lotus throne and eternally escape from the conditions of the cycle of rebirths, life, death, etc. (C) Đặc điểm của Thân Trung Ấm—Special characteristics of the Intermediate skandha body: Thân trung ấm chỉ lưu trụ được bảy ngày. Như không tìm được chỗ thọ sanhtrong thời hạn ấy thì phải chết đi sống lại, nhưng đại khái không quá bảy lần tức 49 ngày thì phải thọ sanh lấy thân hậu hữu. Thân trung hữu khi chết đi, hoặc sanh trở lại y như thân trước, hoặc do nơi nghiệp nhân chiêu cảm có thể biến đổi thành ra thân trung hữu của loài khác trước khi thọ thân hậu hữu. Khi thân trung hữu sắp diệt để thọ lấy thân hậu hữu, bấy giờ tùy theo các hành nghiệp đã gây tạo mà cảm thấy có nhiều tướng trạng khác nhau. Những kẻ gây nghiệp sát, như lúc sanh tiền chuyên nghề giết heo, dê, vân vân thì lúc đó tự nhiên thấy toàn là những loài vật ấy. Hoặc mắt thấy có những kẻ hàng thịt tay còn cầm dao, búa làm thịt, hoặc tai nghe tiếng thú vật kêu la. Bởi do túc nghiệp chiêu cảm nên thân trung ấm tự nhiên sanh tâm yêu thích, muốn đến nơi ngắm nhìn. Khi đến nơi rồi liền bị các cảnh sắc đó làm cho trở ngại không thể nào thoát ly được. Trong chớp mắt, thân trung hữu liền bị diệt mà thọ lấy thân hậu hữu—Usually, the intermediate body will remain only for seven days. If it is unable to find a place to get reborn within that time, then it must die and come back to life again as an intermediate body. But, in general, this period will not last more than seven cycles of seve days each before it is able to be reborn and acquire an after existence body. When the intermediate body dies, it can return just as it was before or depending on the karmic reflection, it can transform and change into an intermediate body of another realm before it acquires an after existence body through reincarnation. When the intermediate body is nearing extinction and is about to be reincarnated, at that time, depending on the various karma created by the individual, each will see and perceive different realities, i.e., while living those who created many karma of killing various animals such as slaughtering pigs, goats, etc., then at this time, suddenly all they will see is those various animals they have killed in the past. They may see butchers slaughtering animals or the sounds of animals screaming in agony. Because this is a reflection of the karma they created. Suddenly, the intermediate body will give rise to the state of joy and yearning to be near what they are seeing and hearing. Upon reaching their destination, they will be impeded by their environment and will no longer be able to free themselves from it. In a split moment, their intermediate body is dead as they acquire the after existence body. (D) Thân Trung Ấm sanh về các đường ác—Intermediate Existence Body born to the evil paths: Trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy: “Những chúng sanh nào tạo nên ác nghiệp, lúc sắp lâm chung sắp bị đọa vào ác đạo, tự nhiên có lòng buồn thảm, kinh sợ. Tùy theo nghiệp của mình chiêu cảm mà tự thấy tướng trạng của các đường ác hiện ra.”—In the Great Heap Sutra, the Buddha taught: “Those sentient beings who committed evil karma, when they are about to die, and are going to fall into evil paths. They will feel extremely sad and terrified. Depending on the reflection of their individual karma, they will see different images of the various evil paths appear.” a) Thân trung ấm sắp sửa chuyển sanh về cõi A Tu La, thì sẽ thấy những vườn cây khả ái, xinh đẹp, trong đó có những vòng lửa lẫn lộn chuyển xoay. Nếu thấy cảnh tượng đó mà đem lòng vui vẻ đi đến xem, tức là bị sanh về nẻo nầy. Thân trung ấm nào sắp sửa chuyển thân vào nẻo A Tu La, do sức nghiệp chiêu cảm tự nhiên trước mặt thấy một vùng ánh sáng lờ mờ, liền khởi lòng ưa thích, đi vào trong đó, liền bị thọ sanh: The intermediate body is about to be born in th Asura realm will see various beautiful and irresistible gardens. In these gardens, there are a variety of rings of flames rolling around everywhere. When seeing these images and they bring joy and elation to the spirit, this means that spirit will be born in this realm. The intermediate body about to enter the Asuras, through a recollections of the spirit karmic power, suddenly will see a large area of dim light, develop a yearning for it, go into that domain and reborn. b) Thân trung ấm sắp sanh vào loài chó heo thường thấy nhiều cô gái đẹp, liền sanh tâm ưa thích chạy theo. Do nhân duyên đó mà bị thác sanh vào cõi ấy: The intermediate body is about to be born as a dog or pig will often see amny beautiful young ladies; the spirit will give rise to attachment and yearning to chase after them. Consequently, this spirit will be born in that realm. c) Thân trung ấm sắp đọa vào các loài bàng sanh tự nhiên cảm thấy có luồng gió mãnh liệt cuốn xoay không sao cưỡng lại được. Hoặc thấy vô số quỷ thần đến gần, hoặc thấy sấm chớp phủ lên đầu ghê rợn, hoặc thấy sương giăng mù mịt, núi lở, nước cuốn ầm ầm, thần thức sợ hãi, chạy trốn vào trong rừng bụi, hang đá để ẩn thân, hoặc thấy những hố lớn màu trắng, đỏ, đen, liền nhào xuống ẩn núp. Ngay khi đó là thần thức đã bị lọt vào trong bào thai, vừa mở mắt đã thấy mình thọ thân dị loại như chồn, beo, rắn, vân vân: The intermediate body is about to be born as other types of animals will feel suddenly there is a gust of wind twisting so forcefully it is impossible to oppose it. Or it may see infinite demons spreading and coming closer, or terrifying thunders and lightening overhead, etc. Or it may see fog covering, mountain splitting, water crashing, and the spirit will be terrified as it runs away into trees, bushes, and caves, in order to hide or it may see three large holes with the colors of white, red, and black, and will jump to hide. At that very moment, the spirit has entered the womb, when eyes are open, it will realize it has acquired the body of various animals such as a fox, leopad, snake, etc. d) Thân trung ấm sắp sửa đọa vào đường ngạ quỷ, thình lình thấy trước mặt hiện ra một bãi sa mạc rộng lớn thênh thang, không cây cối, hoặc chỉ thấy toàn là những hang hố, cây cỏ khô héo. Lúc ấy tự thấy mình bị gió nghiệp thổi đến nơi đó, trong khi thảng thốt, liền bị thác sanh về đường ngạ quỷ, chịu nhiều nóng bức, đói khát vô cùng. Thân trung ấm nào thấy ánh sáng màu đỏ nhạt, khởi niệm ưa thích muốn vào dạo chơi trong đó. Ngay khi đi vào liền thọ thân loài ngạ quỷ: Those intermediate bodies about to be condemned to the path of hungry ghost suddenly will see before them appear a vast and endless desert, without any vegetation or see only holes, dead and dry weeds, etc. The intermediate body which sees a great area of faded red light, feels a yearning and a wish to go there to play. The moment of entry is when the spirit is at at the point of rebirth in the realm of Hungry Ghosts. e) Thân trung ấm sắp sanh về đường địa ngục, bên tai bỗng nhiên nghe có tiếng những bài ca hát hết sức buồn rầu, bi thảm, đó là những tiếng kêu la rên siết của tội nhân dưới địa ngục; kế đến lại thấy cảnh giới mù mịt, tối tăm hiện ra trước mặt, nhà cửa sắc đen hoặc trắng đượm đầy màu tang chế, âm u, hoặc thấy hang hố sâu thẳm, đường xá lờ mờ. Lúc ấy thấy chính mình bị các loài quỷ dữ tay cầm binh khí xua đuổi đi vào trong đó, khi vào rồi thì thân không được tự do, liền bị thác sanh vào trong địa ngục, tùy theo nghiệp báo, chịu vô lượng thống khổ. Thân trung ấm nào thấy ánh sáng mờ đục như khói đen, khởi niệm ưa thích muốn vào dạo chơi trong đó. Ngay khi bước vào liền bị thọ thân địa ngục, chịu vô lượng nỗi thống khổ: The intermediate body is about to be born in Hell suddenly will begin hearing sounds of very sad and melancholy songs, these are the sounds of prisoners aginizing and screaming in hell; next darkness will appear, houses made out of black and white iron, very melancholy looking, similar to being at a funeral. It may see deep holes and caves; the roads are unclear. At that time, it will see itself getting chased by ferocious demons with weapong in hand forcing it to enter these areas. Once it is in there, it will lose all freedom and will be reborn in the realm of hell. Depending on each spirits' karmic retribution, it must endure infinite pains and sufferings. The intermediate body which sees a great area of murky light similar to black smokes, feels a yearning and a wish to go there to play. The moment of entry is when the spirit is at the point of rebirth in Hell. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào địa ngục hàn băng, do nơi sức nghiệp chiêu cảm, thân thể bỗng nhiên sanh ra nóng bức không kham, gặp hơi lạnh ở nơi hàn ngục xông lên, tự cảm thấy mát mẻ dễ chịu, liền khởi lòng ưa thích vội bay tìm đến nơi đó để cho được mát mẻ, liền bị thác sanh vào đó: The intermediate body about to be condemned to glacial hell through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will feel like an intolerable inferno. It then encounters the cold air rising from the glacial hell and will feel cool and refreshed. Its thoughts give rise to yearning and immediately will fly in search of that place to be cool. Once reaching this place, it is reborn. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào viêm nhiệt địa ngục, do sức nghiệp chiêu cảm, bổng nhiên thân thể cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, khó thể kham nổi. Gặp hơi nóng ở hỏa ngục xông lên, tự nhiên cảm thấy ấm áp dễ chịu, liền khởi lòng ưa thích, vội vã tìm bay xuống nơi đó để sưởi ấm, ngay khi ấy là lúc thọ sanh: Intermediate body is about to be condemned to the inferno hell, through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will feel an extreme and intolerable cold. It then encounters the hot air rising from the inferno hell and will feel warm and comfortable. Its thoughts give rise to yearming and immediately will fly in search for that warmth. Once reaching this place, it is reborn. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào địa ngục xú uế (hôi thúi), do nơi sức nghiệp chiêu cảm, bỗng cảm nhận được một mùi thơm ngào ngạt đến mức không kham. Bấy giờ trong tâm liền khởi niệm muốn tìm một mùi hôi thúi nào đó để lấn át mùi thơm kia. Gặp hơi thúi từ ngục phẩn uế xông lên, liền sanh tâm niệm ưa thích, liền bay đến nơi. Do nhân duyên đó, liền bị thác sanh trong ngục phẩn uế: The intermediate body about to be condemned to the odorous hell (foul smelling hell), through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will sense and intolerable and strong fragrance (perfume wishes to fine that it vecomes nauseous. At that time, its mind wishes to find other foul smelling odor to neutralize that good scent. It then encoulters the foul odor rising from odorour . As a result, it is reborn in the odorous hell.
thân trung ấm
Thần thức chúng sanh sau khi chết đi vào giai đoạn trung gian chuyển tiếp trước khi thọ sanh vào một đời sống mới. Trong giai đoạn này, chúng sanh mang thân trung ấm. Điều này có được nhắc đến trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 8.
; Ấm trước đã hết, ấm sau chưa sanh, có thân huyễn hóa nơi khoảng giữa gọi là thân trung ấm, vì thiện nghiệp ác nghiệp bằng nhau chưa rõ đầu thai sanh nơi nào, trung ấm này mỗi bảy ngày một sanh tử để đợi nghiệp duyên chuyển biến rồi đi đầu thai, có thể kéo dài 49 ngày.
; Intermediate Existence Body—See Thân Trung Hữu.
thân tu tâm chẳng tu
Body cultivates but the mind does not—Thân tu tâm chẳng tu nghĩa là có một số người muốn có hình tướng tu hành bằng cách cạo tóc nhuộm áo để trở thành Tăng hay Ni, nhưng tâm không tìm cầu giác ngộ, mà chỉ cầu danh, cầu lợi, cầu tài, vân vân như thường tình thế tục. Tu hành theo kiểu nầy là hoàn toàn trái ngược với những lời giáo huấn của Đức Phật, và tốt hơn hết là nên tiếp tục sống đời cư sĩ tại gia—Body cultivates but mind does not meaning, there are people who have the appearance of true cultivators by becoming a monk or nun, but their minds are not determined to find enlightenment but instead they yearn for fame, notoriety, wealth, etc just like everyone in the secular life. Thus, cultivating in this way is entirely contradictory to the Buddha's teachings and one is better off remaining in the secular life and be a genuine lay Buddhist.
thân tâm
Body and mind, the direct fruit of the previous life.
; Thân tâm là chánh báo của loài hữu tình—Body and mind, the direct fruit of the previous life. 1) Thân: Trong ngũ uẩn, sắc uẩn là thân—The body is rups, the first skandha. 2) Tâm: bao gồm bốn uẩn, thọ, tưởng, hành, thức—Mind embraces other four, consciousness, perception, action, and knowledge.
thân tâm bất tương ứng
Action non-interrelated with mind.
thân tâm giải thoát
Getting free of body and mind.
thân tâm nhất như
3016禪林用語。身,指色身、身體;心,指心靈、精神。即肉體與精神為一體不二者,乃一體之兩面,身即心之身,心即身之心;與「色心不二」、「性相不二」、「身心如一」等語同義。 印度古代之先尼外道(巴 Senika)認為身乃無常而有生滅,唯心常住不變,此即於身起斷見,於心則起常見。蓋身、心二者與善惡、苦樂等,皆為密切相關,無法獨自存在,若身為無常生滅,則心亦然;若心為常住不滅,則身亦是,故以身心一如為法界之真相。〔北本大般涅槃經卷二十九、禪苑清規卷八坐禪儀〕
; (身心一如) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đồng nghĩa: Sắc tâm bất nhị, Tính tướng bất nhị, Thân tâm như nhất. Thân và tâm là một. Thân chỉ cho sắc thân, thân thể; Tâm chỉ cho tâm linh, tinh thần. Thân tâm nhất như nghĩa là thân và tâm là cùng một thể như nhau, chứ không phải là hai thể khác nhau, tức là một thể hai mặt, thân là thân của tâm, tâm là tâm của thân. Ngoại đạo Tiên ni (Pàli: Senika) ở Ấn độ đời xưa cho rằng thân là vô thường và sinh diệt, chỉ có tâm là thường trụ bất biến, đây tức là đối với thân thì khởi đoạn kiến(thấy dứt hẳn), đối với tâm thì khởi thường kiến(thấy còn mãi). Thân và tâm, thiện ác và khổ vui đều liên quan mật thiết với nhau, không cái nào có thể tồn tại một cách độc lập, nếu thân là vô thường sinh diệt thì tâm cũng thế; nếu tâm là thường trụ bất diệt thì thân cũng vậy, cho nên Thân tâm nhất như là chân tướng của pháp giới.
thân tâm não
3016指肉身痛苦,心神憂惱。又作身苦心苦。據大智度論卷二十二載,所謂身惱,凡繫縛、牢獄、刑戮等皆屬之;所謂心惱,即指由淫慾、瞋恚、慳貪、嫉妒等之因緣所生之憂愁怖畏。同論卷十九又謂,身苦即指身痛、頭痛等四百零四種病,心苦即指憂愁、瞋、怖、嫉妒、疑等。又淨土論於論述極樂淨土之莊嚴時即謂(大二六‧二三一上):「永離身心惱,受樂常無間。」曇鸞之淨土論註卷上乃闡釋為:身惱,指飢渴、寒熱、殺害等;心惱,指是非、得失、三毒等。
; (身心惱) Cũng gọi Thân khổ tâm khổ. Thân thể thì đau đớn, khổ sở, tâm thần thì lo âu, buồn bực. Theo luận Đại trí độ quyển 22 thì Thân não nghĩa là thân bị trói buộc, giam cầm, tra tấn...; còn tâm não thì chỉ cho sự lo sầu, sợ hãi sinh ra do các nguyên nhân như dâm dục, sân hận, keo tham, ghen ghét... Cũng luận Đại trí độ quyển 19 lại cho rằng thân khổ là chỉ cho 404 thứ bệnh như thân đau, đầu nhức..., còn tâm khổ thì chỉ cho sự lo sầu, giận dữ, sợ hãi, buồn bực, ghen ghét, nghi kị... Luận Tịnh độ, khi nói về sự trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc, cho rằng (Đại 26, 231 thượng): Vĩnh viễn xa lìa mọi khổ não của thân và tâm(thân tâm não), thường được an vui không gián đoạn. Còn trong Tịnh độ luận chú quyển thượng thì ngài Đàm loan giải thích là: Thân não chỉ cho đói khát, lạnh nóng, sát hại...; tâm não chỉ cho phải trái, được mất, ba độc(tham, sân, si...).
Thân tâm thoát lạc
(身心脫落, shinjindatsuraku): thoát lạc (脫落) nghĩa là cởi bỏ đi, nới lỏng, nghĩa là cả thân cũng như tâm đều thoát ly khỏi mọi ràng buộc, và đạt đến tận cùng cảnh giới của đại ngộ. Đạo Nguyên cho rằng pháp môn Chỉ Quản Đả Tọa (祗管打坐, shikantaza) là thân tâm thoát lạc, không phải thông qua môi giới của Tọa Thiền mà đạt đến cản giới giác ngộ, mà chính hình thức của Tọa Thiền là bóng dáng của thân tâm thoát lạc. Trong Bảo Khánh Ký (寶慶記) có đoạn rằng: “Tham Thiền giả, thân tâm thoát lạc dã; bất dụng thiêu hương lễ bái niệm Phật tu sám khán kinh, chỉ quản đả tọa nhi dĩ (參禪者、身心脫落也、不用燒香禮拜念佛修懺看經、祗管打坐而已, người tham Thiền thì [cần phải] thân tâm giải thoát, không cần phải đốt hương, lễ bái, niệm Phật, sám hối, hay đọc kinh làm gì; chỉ chuyên tâm ngồi Thiền mà thôi).”
thân tâm thoát lạc
3016禪林用語。又作脫落身心。謂脫卻身心之一切煩惱妄想,而入真空無我之自由妙境。此亦為如淨禪師印可證明日僧道元之語。天童如淨禪師續語錄跋(卍續一二四‧四九五上):「師因入堂,懲納子坐睡云:『夫參禪者,身心脫落,只管打睡作麼?』予聞此語,豁然大悟,徑上方丈燒香禮拜。師云:『禮拜事作麼生?」予云:『身心脫落來。』師云:『身心脫落,脫落身心。』予云:『這箇是暫時伎倆,和尚莫亂印。』師云:『我不亂印儞。』予云:『如何是不亂印底事?』師云:『脫落!脫落!』予乃休。」或謂「身心脫落」為向上門,「脫落身心」為向下門之語。
; (身心脫落) Cũng gọi Thoát lạc thân tâm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thân tâm trút bỏ. Nghĩa là thân tâm trút bỏ tất cả phiền não vọng tưởng mà hòa nhập với cảnh giới tự tại mầu nhiệm của chân không vô ngã. Đây cũng là lời mà Thiền sư Như tịnh ấn khả, chứng minh cho vị tăng người Nhật là Đạo nguyên. Lời bạt trong Thiên đồng Như tịnh thiền sư ngữ lục (Vạn tục 124, 495 thượng) ghi: Nhân lúc vào Thiền đường, sư quở trách vị tăng ngồi thiền ngủ gục rằng: Phàm người tham thiền, thân tâm thoát lạc, chỉ biết ngủ gục thế là sao? Ta nghe lời ấy, thình lình đại ngộ, liền đi thẳng đến phương trượng đốt hương lễ bái: Sư hỏi: Lễ bái việc gì vậy? Ta thưa: Thân tâm thoát lạc rồi! Sư nói: Thân tâm thoát lạc, thoát lạc thân tâm. Ta thưa: Việc này là tài khéo tạm thời, Hòa thượng chớ vội tin chắc! Sư nói: Ta không tin chắc ông. Ta thưa: Rốt cuộc không tin chắc là thế nào? Sư bảo: Thoát lạc! Thoát lạc! Ta bèn thôi. Có thuyết cho rằng Thân tâm thoátlạc là môn hướng thượng(cầu giác ngộ), còn Thoát lạc thân tâm là môn hướng hạ (độ chúng sinh).
thân tâm vô thường
Impermanence of the body and mind—Có người cho rằng luận thuyết “Thân Tâm Vô Thường” của đạo Phật phải chăng vô tình gieo vào lòng mọi người quan niệm chán đời, thối chí. Nếu thân và tâm cũng như sự vật đều vô thường như vậy thì chẳng nên làm gì cả, vì nếu có làm thành sự nghiệp lớn lao cũng không đi đến đâu. Mới nghe tưởng chừng như phần nào có lý, ký thật nó không có lý chút nào. Khi thuyết giảng về thuyết nầy, Đức Phật không muốn làm nản chí một ai, mà Ngài chỉ muốn cảnh tỉnh đệ tử của Ngài về một chân lý. Phật tử chơn thuần khi hiểu được lẽ vô thường sẽ giữ bình tĩnh, tâm không loạn động trước cảnh đổi thay đột ngột. Biết được lẽ vô thường mới giữ được tâm an, mới cố gắng làm những điều lành và mạnh bạo gạt bỏ những điều ác, cương quyết làm, dám hy sinh tài sản, dám tận tụy đóng góp vào việc công ích cho hạnh phúc của mình và của người—Some people wonder why Buddhism always emphasizes the theory of impermanence? Does it want to spread in the human mind the seed of disheartenment, and discourage? In their view, if things are changeable, we do not need to do anything, because if we attain a great achievement, we cannot keep it. This type of reasoning, a first, appears partly logical, but in reality, it is not at all. When the Buddha preached about impermanence, He did not want to discourage anyone, but warning his disciples about the truth. A true Buddhist has to work hard for his own well being and also for the society's. Although he knows that he is facong the changing reality, he always keeps himself calm. He must refrain from harming others, in contrast, strive to perform good deeds for the benefit and happiness of others. a) Thân Vô Thường—The human body is changeable: Vạn sự vạn vật không ngừng thay đổi, chứ không bao giờ chịu ở yên một chỗ. Cuộc đời nay còn mai mất, biến chuyển không ngừng nghỉ. Thân con người cũng vậy, nó cũng là vô thường, nó cũng nằm trong định luật “Thành Trụ Hoại Không.” Thân ta phút trước không phải là thân ta phút sau. Khoa học đã chứng minh rằng trong thân thể chúng ta, các tế bào luôn luôn thay đổi và cứ mỗi thời kỳ bảy năm là các tế bào cũ hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi làm cho chúng ta mau lớn, mau già và mau chết. Càng muốn sống bao nhiêu chúng ta lại càng sợ chết bấy nhiêu. Từ tóc xanh đến tóc bạc, đời người như một giấc mơ. Thế nhưng có nhiều người không chịu nhận biết ra điều nầy, nên họ cứ lao đầu vào cái thòng lọng tham ái; để rồi khổ vì tham dục, còn khổ hơn nữa vì tham lam ôm ấp bám víu mãi vào sự vật, đôi khi đến chết mà vẫn chưa chịu buông bỏ. Đến khi biết sắp trút hơi thở cuối cùng mà vẫn còn luyến tiếc tìm cách nắm lại một cách tuyệt vọng—All things have changed and will never cease to change. The himan body is changeable, thus governed by the law of impermanence. Our body is different from the minute before to that of the minute after. Biological researches have proved that the cells in our body are in constant change, and in every seven years all the old cells have been totally renewed. These changes help us quickly grow up, age and die. The longer we want to live, the more we fear death. From childhood to aging, human life is exactly like a dream, but there are many people who do not realize; therefore, they continue to launch into the noose of desire; as a result, they suffer from greed and will suffer more if they become attached to their possessions. Sometimes at time of death they still don't want to let go anything. There are some who know that they will die soon, but they still strive desperately to keep what they cherish most. b) Tâm Vô Thường—Impermanence of the mind: Thân ta vô thường, tâm ta cũng vô thường. Tâm vô thường còn mau lẹ hơn cả thân. Tâm chúng ta thay đổi từng giây, từng phút theo với ngoại cảnh, vui đó rồi buồn đó, cười đó rồi khóc đó, hạnh phúc đó rồi khổ đau đó—Not only our body is changeable, but also our mind. It changes more rapidly than the body, it changes every second, every minute according to the environment. We are cheerful a few minutes before and sad a few minutes later, laughing then crying, happiness then sorrow.
thân tín
Trustworthy.
thân tòa
The body as the throne oơđ Buddha.
thân túc thông
Thân như ý thông—The power to transfer onself to various regions at will, also to change the body at will—The power to transfer the body through space at will.
thân tướng
Bodily form; the body.
; Bodily form (the body).
thân tọa
Thân như Phật Tòa—The body as the throne of Buddha.
thân tộc
Relatives on the father's side.
thân tứ đại
The physical body—The physical body possessed the four elements of air, water, dirt, and fire.
thân vân
3018即比喻佛身無量無數無邊際,或喻示現種種之身蔭覆眾生如雲。又喻諸尊之多如雲。吽字義(大七七‧四○六下):「遮那如來自受用故,化作種種神變,現無量身雲。」
; The numberless bodies of Buddhas, hovering like clouds over men; the nunberless forms which the Buddhas take to protect and save men, resembling clouds; the numberless saints compared to clouds.
; 1) Vô số thân Phật lơ lững như mây trên đầu chúng sanh: The numberless bodies of Buddhas, hovering like clouds over men. 2) Phật biến hóa vô số hình thức để cứu độ chúng sanh như mây tỏa khắp trên đầu chúng sanh: The numberless forms which the Buddhas take to protect and save men, resembling clouds. 3) Chư Thánh chúng nhiều vô số như mây: The numberless saints compared to clouds.
; (身雲) Mây thân, tức ví dụ thân Phật vô lượng vô số vô biên, hoặc ví dụ thị hiện các thứ thân che khắp chúng sinh như mây. Cũng ví dụ các vị tôn nhiều như mây. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 hạ) nói: Già na Như lai tự thụ dụng, hóa ra các thứ thần biến, hiện vô lượng Thân vân.
thân vô hại lực tam muội
3018即能得無礙之身自在之力,而無有能障難加害之三昧。又作無害力身三昧。大日如來即住此三昧,宣說「三明真言」,此真言又稱「無礙無害無等力」。〔大日經密印品、大日經疏卷十三〕
; (身無害力三昧) Cũng gọi Vô hại lực thân tam muội. Tam muội làm cho hành giả có được thân vô ngại, năng lực tự tại, không gì có thể gây chướng nạn, gia hại. Đức Đại nhật Như lai an trụ trong Tam muội này, tuyên thuyết Tam minh chân ngôn, chân ngôn này cũng gọi là Vô ngại vô hại vô đẳng lực. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.13].
thân xa
Thân như một cỗ xe, trên đó chuyên chở tiền nghiệp đi vào con đường luân hồi sanh tử—The body as a vehicle, which with previous karma carries one into the path of transmigration.
thân xứ
Kāyayatana (S).
thân yêu
Dear.
thân ái
See Thân (2).
thân điền
The body regarded as a field which produces good or evil fruit in future existence.
; Trên thân chính là chỗ gieo trồng và sanh sản thiện hay ác nghiệp cho kiếp lai sinh—The body regarded as a field which produces good and evil fruit in the future existence.
thân đăng
The body as a lamp, burnt in offering to a Buddha, e.g. the Medicine King in the Lotus sùtra.
; Đốt thân mình làm đèn để cúng dường Phật, như việc làm của Đức Dược Vương Bồ Tát nói trong Kinh Pháp Hoa—The body as a lamp burnt in offering to a Buddha, i.e. the Medicine King in the Lotus Sutra.
thân đầu la
2079梵語 sindūra 之音譯。意指作飛行空中之幻者。央掘魔羅經卷二之注文(大二‧五二二中):「申頭羅者,外國幻人,作飛人,戲令空中,來去往返至速。」
; Sindura (skt)—Trò ảo thuật của ảo tưởng hiện ra và biến mất trong không trung—The trick of the illusionist who disappears in the air and repappears.
; (申頭羅) Phạm:Sindùra. Chỉ cho người huyễn bay đi trong hư không. Phần chú thích trong kinh Ương quật ma la quyển 2 (Đại 2, 522 trung) nói: Thân đầu la là người huyễn ở nước ngoài, làm người bay, đùa giỡn trong hư không, đi về qua lại rất nhanh chóng.
thân độ
3015指凡夫或佛、菩薩所受之身體與國土。即正報與依報。(參閱「依正二報」3054)
; Chánh Báo—Thân ta hôm nay chính là kết quả trực tiếp của tiền nghiệp; hoàn cảnh xung quanh chính là kết quả gián tiếp của tiền nghiệp—Body and environment (the body is the direct fruit of the previous life; the environment is the indirect fruit of the previous life). ** For more information, please see Chánh Báo and Nhị Báo.
; (身土) Chỉ cho thân thể và quốc độ mà phàm phu hoặc Phật, Bồ tát lãnh thụ. Tức chính báo và y báo. (xt. Y Chính Nhị Báo).
thân độ tứ y
3016據華嚴經疏卷十,舉出佛身之四依,即:(一)色身依色相土,謂如來隨類應化,示現丈六等相好之色身,依住於娑婆等凡聖同居之色相土,此即有山河大地等色相之身土,故稱色身依色相土。(二)色身依法性土,謂如來丈六等相好之身,當體即是法性之身,故其所依之土,亦即為常寂光土(指佛所居之淨土),故稱色身依法性土。(三)法身依法性土,謂如來法性之身,非心非色,猶如虛空,徧一切處,故其所依之土,即是常寂光土,故稱法身依法性土。(四)法身依色相土,謂如來法性之身,徧於剎塵之土,身土相攝,事理交互,色即非色,相即非相,而不離於剎塵之土,故稱法身依色相土。
; (身土四依) Chỉ cho 4 cõi nương ở của thân Phật nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 10, đó là: 1. Sắc thân y sắc tướng độ: Sắc thân nương ở cõi sắc tướng. Như lai tùy loại ứng hóa, thị hiện sắc thân với tướng tốt đẹp, cao 1 trượng 6, nương ở các cõi sắc tướng phàm thánh ở chung như thế giới Sa bà, đó chính là thân độ có sắc tướng như núi sông, đất liền, cho nên gọi là Sắc thân y sắc tướng độ. 2. Sắc thân y pháp tính độ: Sắc thân nương ở cõi Pháp tính. Thân tướng tốt đẹp cao 1 trượng 6 của Như lai là thân mà đương thể tức là pháp tính, cho nên cõi nước mà Như lai nương ở cũng chính là cõi Thường tịch quang(chỉ cho Tịnh độ của chư Phật) vì thế gọi là Sắc thân y pháp tính độ.3. Pháp thân y pháp tính độ: Pháp thân nương ở cõi Pháp tính. Thân Pháp tính của Như lai, chẳng phải tâm chẳng phải sắc, giống như hư không, trùm khắp mọi nơi mọi chốn, cho nên cõi nước mà Như lai an trụ chính là cõi Thường tịch quang, vì thế gọi là Pháp thân y pháp tính độ.4. Pháp thân y sắc tướng độ: Pháp thân nương ở cõi sắc tướng. Thân Pháp tính của Như lai, trùm khắp hết thảy các cõi nước, thân và độ dung nhiếp nhau, sự và lí giao thoa nhau, sắc tức chẳng phải sắc, tướng tức chẳng phải tướng và chẳng lìa các cõi, vì thế gọi là Pháp thân y sắc tướng độ.
thân độc
Sindhu, Indus, Sindh (skt)—Hiền Thủ—Ấn Độ.
Thân, khẩu, ý
身口意; S: kāya-vāk-citta;|Ba khái niệm quan trọng (thân thể, lời nói, ý niệm) trong đạo Phật, có ý nghĩa rất sâu xa. Từ thời Phật giáo nguyên thuỷ, khi luận về Nghiệp (s: karma), người ta đã chia ra ba loại Nghiệp do thân, khẩu, ý sinh ra. Ðến Kim cương thừa, ba thành phần trên đây của con người trở thành ba phép tu luyện thiền định. Mục đích cuối cùng của hành giả qua phương pháp tu tập các Nghi quỹ là chứng được Ba thân Phật (s: trikāya). Hành giả bắt Ấn (s: mudrā) thuộc thân, thực hành Thiền định (s: samādhi) thuộc ý và tụng đọc Man-tra (Thần chú) thuộc khẩu để chứng được ba thân đó. Sau đây là mối liên hệ:|Phạm vi Phương pháp Chứng ngộ||Thân Bắt ấn Ứng hoá thân|Khẩu Man-tra Báo thân|Ý Thiền định Pháp thân||Phép chia ba thành phần này thường được biểu diễn bởi ba âm OṂ ĀḤ HŪṂ. Ba thành phần và ba âm đó đóng vai trò tuyệt đối quan trọng trong các phép hành trì Nghi quỹ (s: sādhana) và là bước đi cần thiết để tạo linh ảnh. OṂ được xem là có sắc trắng, đặt tại trán và đại diện cho Thân. ĀḤ có sắc đỏ, đặt tại cổ, đại diện cho Khẩu và HŪṂ sắc xanh, đặt tại tim, đại diện cho Ý. Ba khuynh hướng xấu ác của ba thành phần này chính là tham, sân và si, là ba nguyên nhân trói buộc trong Luân hồi. Sau khi được chuyển hoá, Thân khẩu ý được biểu diễn bằng ba Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) tượng trưng cho thể tính đích thật của ba thành phần. Trong các tranh trình bày đức Phật (Thăng-ka), người ta hay thấy mặt sau bức tranh các âm OṂ ĀḤ HŪṂ đặt tại trán, cổ và tim.|Giáo pháp tu luyện biến Thân khẩu ý thành Ba thân được trình bày trong hệ thống Ðại thủ ấn (s: mahā-mudrā) và trong Ðại cứu kính (t: dzogchen) của Phật giáo Tây Tạng, gồm có bốn phép tu đặc biệt: 1. Quy y tam bảo (t: kyabdro) và phát Bồ-đề tâm (s: bodhicitta); 2. Quán tưởng đến Kim cương Tát-đoá (s: vajrasattva) để rửa sạch thân khẩu ý; 3. Tích tụ phúc đức (s: puṇya) bằng cách quán niệm Man-đa-la (s: maṇḍala); 4. Hoà nhập tự ngã vào một dòng tu dưới sự hướng dẫn của một Ðạo sư (s: guru).|Cần biết thêm rằng rất nhiều phép tu của Phật giáo Tây Tạng đều nằm trong mối liên hệ chung với ba thành phần Thân khẩu ý. Ðặc biệt trong ba thành phần này thì Khẩu đóng một vai trò trung gian giữa Thân và Ý.
thâu la ấn
(thâu la ấn) Thâu la, Phạm:Sùla. Chỉ cho ấn tướng hình cây kích. Thâu la nghĩa là cây kích, 1 trong các loại binh khí.
thâu lan già
4384巴利語 thullaccaya 或 thūlaccaya。又作偷蘭遮耶、偷羅遮、薩偷羅、土羅遮、窣吐羅。略稱偷蘭。梵語為 sthūlātyaya,音譯窣吐羅底也。意譯大罪、重罪、粗罪、粗惡、粗過、大障善道。為佛制戒六聚之一,七聚之一。乃觸犯將構成波羅夷、僧殘而未遂之諸罪;不屬於波羅夷等五篇之罪,除突吉羅罪外,其餘一切或輕或重的因罪、果罪皆總稱為偷蘭遮。可分獨頭、方便之正、從二種,即:(一)獨頭偷蘭,又作自性偷蘭、根本偷蘭。即已成就罪過,能斷善根。(二)方便偷蘭,又作從生偷蘭。欲犯波羅夷罪或僧殘罪而行方便,終不成立之因罪。另有次於僧殘重罪之偷蘭遮,與次於提舍尼輕罪之偷蘭遮等兩種。 有關此罪之懺悔法,依四分律刪補隨機羯磨卷下、薩婆多毘尼摩得勒伽卷三、僧羯磨卷中等可分三品,破法輪僧、盜四錢、盜僧食等為上品罪;破羯磨僧、盜三錢以下、互有衣相觸為 井~罪;惡心罵僧、盜一錢、使用人髮、食生肉血、裸身著外道衣為下品罪。上品之罪須於結界內對一切大眾懺悔,中品罪須出界外對四比丘懺悔,下品罪僅對一比丘懺悔即可。又有關犯此罪之業報,據目連問戒律中五百輕重事五篇事品(大二四‧九七二中):「犯偷蘭遮,如兜率天壽四千歲,墮泥犁中,於人間數五十億六十千歲。」又善見律毘婆沙卷九謂,犯此罪後墮惡道,蓋特就偷蘭遮中之重罪而言。〔毘尼母經卷七、四分律卷五十八、四分律刪繁補闕行事鈔卷中一〕(參閱「律」3789)
; (偷蘭遮) Pàli:Thullaccaya,Thùlaccaya. Cũng gọi Thâu lan giá da, Thâu la giá, Tát thâu la, Thổ la giá, Tốt thổ la. Gọi tắt: Thâu lan. Phạm:Sthùlàtyaya. Hán âm: Tốtthổ la để dã. Hán dịch: Đại tội, trọng tội, Thô tội, Thô ác, Thô quá, Đại chướng thiện đạo. Chỉ cho các tội nếu xúc phạm sẽ cấu thành Ba la di, Tăng tàn nhưng chưa thành Ba la di, Tăng tàn. Những tội không thuộc Ngũ thiên như Ba la di... ngoại trừ tội Đột cát la, tất cả nhân tội, quả tội còn lại hoặc nhẹ hoặc nặng đều gọi chung là Thâu lan giá, là 1 trong 6 tụ, 1 trong 7 tụ giới do đức Phậtchế định. Thâu lan giá được chialàm2 loại chính và phụ là Độc đầu, phương tiện. 1. Độc đầu thâu lan(cũng gọi Tự tính thâu lan, Căn bản thâu lan): Tức tội lỗi đã thành tựu, có công năng dứt mất gốc lành. 2. Phương tiện thâu lan(cũng gọi Tòng sinh thâu lan): Muốn phạm Ba la di hoặc Tăng tàn mà bày ra phương tiện, nhưng cuối cùng không thành tức là Nhân tội. Còn có 2 loại: Thâu lan giá đứng sau trọng tội Tăng tàn và Thâu lan giá đứng sau khinh tộiĐề xá ni. Về phép sám hối tội này, thì Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma quyển hạ, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già quyển 3 và Tăng yết ma quyển trung chia làm 3 phẩm: Phá pháp luân tăng, lấy trộm 4 tiền, lấy trộm thức ăn của chúng tăng... là các tội thuộc Thượng phẩm; Phá yết ma tăng, lấy trộm 3 tiền trở xuống và xúc chạm lẫn nhau có cách y phục là các tội thuộc Trung phẩm; Ác tâm chửi mắng chúng tăng, lấy trộm 1 tiền, sử dụng tóc người, ăn máu thịt chúng sinh, khỏa thân mặc áo ngoại đạo, là các tội thuộc Hạ phẩm.Tội thượng phẩm phải ở trong phạm vi kết giới, đối trước tất cả đại chúng mà sám hối; tội trung phẩm phải ra ngoài phạm vi kết giới, đối trước 4 vị tỉ khưu mà sám hối; còn tội hạ phẩm thì chỉ đối trước 1 vị tỉ khưu mà sám hối cũng được. Về nghiệp báo phải chịu khi phạm tội này, thì phẩm Ngũ thiên sự trong Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự (Đại 24, 972 trung) nói: Phạm tội Thâu lan giá, như chư thiên ở cõi trời Đâu suất thọ 4.000 tuổi, đọa vào địa ngục Nê lê, bằng 50 ức, 60 nghìn năm ở nhân gian. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 9 cho rằng sau khi phạm tội này đọa vào ác đạo là đặc biệt nói về trọng tội của Thâu lan giá.
thâu lan giá
Xem Đại tội.
thâu lan giá da
Xem Đại tội.
thâu thạch
(thâu thạch) Loại hợp kim do đồng và đá lô cam luyện thành, có thể dùng để đúc tượng Phật và các đồ thờ Phật. Phạm ngữ tạp danh ghi tiếng Phạm của Thâu thạch làRìti, Hán âmLí để.Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì ghi tiếng Phạm của Thâu thạch là Ràcaka#. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 81 cho rằng Thâu thạch là bạch kim, đứng thứ nhì sau vàng. ĐiềuYết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 ghi rằng ở nước Yết nhã cúc xà có tượng Phật được đúc bằngthâu thạch. Điều Bà la ni tư quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 7 cũng nói ở chùa Lộc dã tại nước Bà la ni tư có thờ tượng Phật bằng thâu thạch. Còn Xuất tam tạng kí tập quyển 12 (Đại 55, 92 trung) thì ghi: Nước Lâm ấp dâng tượng Phật Vô lượng thọ bằngthâu thạch.
thâu tâm
4384禪林用語。原指偷盜之心;於禪林中轉指向外分別之心。係對動念之貶責。虛堂錄卷三(大四七‧一○一一上):「僧云:『學人今夜借大眾威光,別置一問得麼?』答云:『偷心鬼子得人憎。』」又對於向外尋求不止之心,稱為偷心未止、偷心猶未止。
; (偷心) Tiếng dùng trongThiền lâm. Tâm trộm cắp. Trong Thiền lâm, từ này được sử dụng để chuyên chỉ cho tâm hướng ngoại tìm cầu, phân biệt, cũng là lời chê trách tâm động niệm. Hư đường lục quyển 3 (Đại 47, 1011 thượng) ghi: Vị tăng nói: Đêm nay, học nhân nhờ uy quang của đại chúng, xin hỏi một câu có được không? Đáp rằng: Con quỉ thâu tâm bị người ghét. Đối với tâm hướng ngoại tìm cầu không dừng, gọi là Thâu tâm vị chỉ, Thâu tâm do vị chỉ.
Thâu đạo
偸盜; C: tōudào; J: tōtō;|Lấy những vật thuộc về người khác; lấy trộm (p: adinnādāna), dồng nghĩa với Bất dữ thủ (不與取). Trong Phật pháp, tội nầy được xếp là một trong Thập ác (十惡), và là giới cấm căn bản trong Ngũ giới (五戒).
thâu đạo
4384梵語 adattādāna,巴利語 adinnādāna。不與而取,稱為偷盜。新譯作不與取。乃力取或盜取他人財物之意。於身、口、意十種惡行為(十惡)中,與殺生、邪淫同屬身業。偷盜為戒律所嚴禁,若犯偷盜,嚴重者如盜五錢以上,則犯波羅夷罪(如斷頭之重罪),在十惡、五戒中,為僅次於殺生之重罪。據舊華嚴經卷二十四「十地品」之說,偷盜之罪能令眾生墮於三惡道,若生於人中,亦必得二種果報,一為貧窮,二為失財不得自在。〔十不善業道經、俱舍論卷十六、法界次第卷上之上〕(參閱「十善十惡」468)
; Adinnadanam (P), Theft du, trộm cắp Xem Trộm cắp (giới).
; (偷盜) Phạm:Adattàdàna. Pàli:Adinnàdàna. Dịch mới: Không cho mà lấy (Bất dữ thủ).Trộm cướp. Nghĩa là dùng sức mạnh cướp đoạt hoặc lén lấy tài vật của người khác. Trong 10 hành vi ác(Thập ác) của thân, khẩu, ý thì thâu đạo, sát sinh, tà dâm thuộc về thân. Thâu đạo là hành vi bị giới luật nghiêm cấm, nếu thâu đạo đến mức nghiêm trọng như lấy trộm từ 5 tiền trở lên thì phạm tội Ba la di(là tội nặng giống như chặt đầu), đâylà tội nặng chỉ đứng sau tội giết hại trong thập ác và ngũ giới. Theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) thì tội thâu đạo khiến chúng sinh phải đọa vào 3 đường ác, nếu được sinh trong loài người thì cũng phải chịu 2thứquả báo: Một lànghèo túng, cùng quẫn; hai là bị trộm mất tiền bạc, của cải.
Thâu đạo 偸盜
[ja] トウトウ tōtō ||| To take what belongs to someone else; stealing (Pali adinnādāna); equivalent to 不與取. This crime is considered to be one of the ten evil actions 十惡 in Buddhism, and is prohibited in the five basic precepts . => Lấy những vật thuộc về người khác; lấy trộm (p: adinnādāna), dồng nghĩa với Bất dữ thủ. Trong Phật pháp, tội nầy được xếp vào 1 trong Thập ác, và là giới cấm căn bản trong Ngũ giới五戒.
Thâu-lan-già
xem Du-lan-già.
thèm
To desire—To fust for—To covet.
thèm khát
Greed.
; Greedy.
thèm muốn
See Thèm.
thèm thuồng
Covetous.
thét
To shout—To scream—To roar.
thê
1) Cái thang: A ladder—Stairs. 2) Nghỉ ngơi: Rest.
thê chỉ
Tức là cư trú.
thê hiền trí nhu
Chi hsien Cinh jou (C)Tên một vị sư.
thê hà tự
5051位於江蘇南京東北二十三公里攝山中峰之西麓。又作栖霞寺。為江南著名古剎之一。與荊州玉泉、濟南靈巖、天台國清,並稱四大叢林。攝山又稱聶山、攝嶺、棲霞山。山多產藥材,食之可以攝生,故稱攝山。又其形狀如繖,亦稱繖山。其中峰屹然卓立、左右諸山環抱如拱。 據梁高僧傳卷八法度傳、陳侍中尚書令江總持之攝山棲霞寺碑銘等所載,劉宋明帝泰始年中,處士明僧紹(即明徵君)隱居此山,結草菴,凡二十餘年。時有法度自黃龍來遊,與僧紹道契甚厚。僧紹去世後,法度以其宅為寺,號栖霞精舍。是為棲霞寺之起源。 初,僧紹夢巖間有如來之光彩,擬造佛窟,未果。其次子仲璋嗣其遺志,於西峰石壁開鑿龕窟,與法度共同鑄造無量壽佛坐像,高三丈一尺五寸,通座四丈,並鐫造二菩薩像,高三丈三寸(唐代明徵君碑則言仲璋造釋迦像,法度另造十餘龕)。南齊文惠太子、豫章文獻王等人各捨財貨,共成福業。宋太宰江夏王霍姬等亦施資財,琢磨巨石。梁武帝天監十年(511),臨川靖慧王復加瑩飾,刻成億萬化身,是為著名之千佛巖。其時,有高麗遼東人僧朗至此,師事法度。後領山寺,精通華嚴、三論,稱江南三論宗之初祖,梁武帝尤尊崇之。 唐高祖時,增置梵宇四十九所,改稱功德寺。高宗時,改稱隱君棲霞寺。會昌年中,一度被廢;重建後號妙因寺。其後寺號迭經變更,明洪武二十五年(1392),復稱棲霞寺。清末,毀於太平軍之役。民國初年,中央禪師重興寺宇,規模宏偉,雖不及舊時,然仍為南京名剎。 寺中有八角五層石塔、千佛巖,天開巖等奇勝。五層塔係隋文帝仁壽元年(601)初所建舍利塔之一,後唐時再建。自基壇至塔身皆有雕飾,極精麗巧緻。尤以基壇羽目刻有釋迦八相成道之陽刻,手法頗為精妙。千佛巖在寺之後方,中央大佛龕內有大石佛,即仲璋、法度共造之無量壽佛。大佛龕東方有四龕相列,西方約有二十石窟,內部皆刻佛像、羅漢、仁王、天部等。除大佛龕外,其餘石窟、佛龕共有二百餘個,造像五百餘尊,大多為唐代開鑿。千佛巖石窟之規模較大同、龍門石窟為小,精緻亦不及,惟該石窟係目前已知唯一之南朝石窟,故在佛教藝術史上頗為珍貴。 寺門外有上元三年(676)所製明徵君碑,銘係高宗御製,碑文為唐代書法名家高正臣所寫,為江南古碑之一。 棲霞寺後方約二公里處,有天開巖,據傳,為明代袁了凡從雲谷法會授功過格之故址。〔梁高僧傳卷八、廣弘明集卷十七、續高僧傳卷七、卷十、卷二十、卷二十五、法苑珠林卷三、法華玄義釋籤卷十九、宋高僧傳卷十七、佛祖統紀卷六、釋氏稽古略續集卷三、大明高僧傳卷四、金陵梵剎志卷四、攝山志、光緒金陵瑣志(南朝佛寺誌卷下)、古今圖書集成山川典第八十二、職方典第六六一〕
; (栖霞寺) Chùa nằm về phía tây dưới chân ngọn Trung phong thuộc Nhiếp sơn, cách huyện Nam kinh, tỉnh Giang tô 23 km về mạn đông bắc, là 1 trong các ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng Giang nam. Chùa này cùng với chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu, chùa Linh nham ở Tế nam và chùa Quốc thanh ở Thiên thai được gọi chung là Tứ đại tùng lâm.Cứ theo Pháp độ truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 8 thì chùa vốn là ngôi am tranh của ẩn sĩ Minh tăng thiệu (tức Minh trưng quân). Sau khi Minh tăng thiệu qua đời, ngài Pháp độ sửa thành chùa, đặt tên là tinh xá Thê hà, đây chính là nguồn gốc chùa Thê hà. Mới đầu, Tăng thiệu mộng thấy trong hang núi có hào quang nhiều màu của đức Như lai, định tạo lập động thờ Phật, nhưng chưa thực hiện được thì ông qua đời. Người con thứ của Tăng thiệu là Trọng chương nối chí cha, bắt đầu đục vách đá của ngọn núi phía tây làm động thờ Phật, rồi cùng với ngài Pháp độ đúc tượng Phật Vô lượng thọ ngồi, cao 3 trượng, 1 thước, 5 tấc, kể cả tòa ngồi thì cao 4 trượng, đồng thời, đúc tượng 2 vị Bồ tát, cao 3 trượng, 3 tấc. Ngài Pháp độ tiếp tục đục mở hơn 10 hang khám và đúc tượng Phật Thích ca, Thái tử Văn huệ nhà Nam Tề và Văn hiến vương Dự chương cũng góp công hoàn thành phúc nghiệp. Rồi Thái tể Giang hạ là Vương hoắc cơ, Tuệ tĩnh vương Lâm xuyên... cũng tham gia và khắc ức vạn hóa thân Phật, đó chính là Thiên Phật Động lừng danh. Lúc ấy, có ngài Tăng lãng, người Liêu đông, Cao li, đến đây, thờ ngài Pháp độ làm thầy, sau kế thừa chùa Thê hà. Ngài tinh thông Hoa nghiêm, Tam luận, được tôn làm Sơ tổ tông Tam luận tại Giang nam, Lương vũ đế rất tôn kính ngài. Thời vua Cao tổ nhà Đường, chùa được xây dựng thêm 49 tòa đường vũ, đổi tên là chùa Công đức, thời vua Cao tông, chùa lại được đổi tên là chùa Ẩn quân thê hà. Trong pháp nạn Hội xương (848), chùa bị phá hủy, sau được làm lại và đổi tên là chùa Diệu nhân. Về sau, tên chùa được đổi đi đổi lại nhiều lần, đến năm Hồng vũ 25 (1392) đời Minh, chùa lại được gọi là Thê hà tự. Vào cuối đời Thanh bị quân Thái bình thiên quốc phá hủy. Đến đầu năm Dân quốc (1912), Thiền sư Trung ương xây dựng lại, qui mô hoành tráng, tuy không bằng thời xưa nhưng vẫn là ngôi chùa nổi tiếng ở Nam kinh. Trong chùa hiện có tòa tháp bằng đá cao 5 tầng, hình bát giác, Thiên Phật động, Thiên khai động... là những danh thắng. Tháp 5 tầng là 1 trong các tháp xá lợi do vua Văn đế nhà Tùy xây dựng đầu tiên vào niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601), sau được xây dựng lại vào đời Hậu Đường.Từ nền tháp đến thân tháp đều được chạm trổ rất tinh xảo đẹp đẽ, đặc biệt bứcphù điêu khắc Thích ca bát tướng thành đạo nét khắc cực kì mĩ lệ. Thiên Phật động nằm về phía sau chùa, khám thờ Đại Phật ở trong có pho tượng Phật bằng đá rất lớn, tức là tượng đức Phật Vô lượng thọ do ngài Pháp độ và cư sĩ Trọng chương cùng tạo lập. Tất cả có hơn 200 khám thờ Phật, La hán, Nhân vương, Thiên bộ... phần lớn được đục mở vào đời Đường. Về qui mô các hang động và khám thờ ở đây, so với các hang động ở Đại đồng và Long môn thì nhỏ hơn, nét tinh vi cũng không bằng, nhưng đây là những hang động duy nhất của thời Nam triều, cho nên rất quí giá về mặt lịch sử nghệ thuật của Phật giáo. Ngoài cửa chùa có tấm bia Minh trưng quân được tạo lập vào năm Thượng nguyên thứ 3 (676) đời Đường, bài minh do vua Cao tông ngự chế, văn bia do nhà thư pháp trứ danh đời Đường là Cao chính thần viết, là 1 trong các tấm bia xưa ở Giang nam.
thê lương
Lonely—Desolate.
thê nham tự tháp
5051寺位於山西永濟縣城西南二十公里中條山巔。建於北周建德年間(572~577),初名靈居寺,隋仁壽元年(601)改今名。同年,隋文帝奉送舍利至三十州,詔令十月十五日同時起塔,此寺即為其一。隋唐之際,寺況極盛,宋以後各代屢有修葺,並於山巔、山腰、山麓分置上、中、下三寺。對日抗戰時寺宇被毀,唯存仁壽二年所立舍利塔銘碑及二十六座磚塔,其中唐、五代、宋塔各一座、元塔二座、明清塔二十一座。除宋塔外,其餘皆為禪師塔。大禪師塔建於唐天寶十三年(754),圓形實心,高八公尺,基座占塔身之半,正面設假門,背面鑲有塔銘;五代石塔建於後唐同光三年(925),單層,高三公尺半,平面八角,基座束腰,塔身中空,正面雕二金剛像,側面雕陀羅尼經,雕工秀美;宋代舍利塔為密檐式,平面六角形,五層,高十七公尺,第一層特高,檐下仿木構建築雕斗栱及飛椽,二層以上迭澀出檐,簡潔莊重;元塔為二層,平面六角形,高六公尺,座為須彌式,塔身雕假門窗;明清各塔比例和諧,雕造富麗。於此處遠可眺望黃河波濤,近可盡覽群塔聳立,極富古趣。
thê nhục tăng
3138指食肉娶妻之僧侶。僧侶娶妻食肉(小乘主張淨肉可食,大乘以食肉乃斷大悲種,故禁之)爲戒律所禁,然病僧可方便食肉。後世行者多行方便,或以「無分別心」爲由,主張食肉娶妻。如我國西藏、蒙古等地,喇嘛多娶妻食肉;然自宗喀巴推行改革運動,組織教團(世稱黃帽派)後,即禁斷喇嘛之娶妻食肉。日本自親鸞(1173~1262)以後,食肉娶妻之風亦頗爲盛行。又如韓國之太古宗僧,亦娶妻食肉。(參閱「肉食妻帶」2511)
thê quang
Ánh sáng của Đức Như Lai ngừng nghỉ hay Niết Bàn của Đức Phật (khi Như Lai diệt độ thì trường quang của ngài cũng tắt theo)—To bring his light to rest, the Buddha's nirvana.
thê thân
To take one's rest—To retire from the world.
thê thảm
Tragic.
thê thần
To rest the spirit, or mind, be unperturbed.
thê đăng
Bậc thang, ý nói tiệm giáo, đối lại với đốn giáo—Ladder rungs, or steps, used for the school of gradual revelation in contrast with the full and immediate revelation.
thêm
1) To augment—To increase—To add. 2) Further.
thêm bớt
To increase and to diminish.
thêm thắt
Thêu dệt—To embroider—To exaggerate (a story).
thêm thắt câu chuyện
To embroider the story.
thênh thang
Immense—Vast—Spacious.
thêu dệt
See Thêm Thắt.
thì giờ
Time.
thì thầm
To whisper—To murmur.
thìn
The fifth year in the Earth's stem—See Mười hai con giáp.
thình lình
All of a sudden—Unexpectedly—Suddenly—All at once.
thí
Xem Bố thí.
; Dàna (S). Alms; charity. To give, grant, bestow, to distribute. Also thi.
; 1) Bố thí: Dana (skt)—To give alms—To bestow—To give—Charity—See Bố Thí in Vietnamese-English Section, and Dana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Thí dụ: a) So sánh: To compare—To allegorize—Resembling—Parable—Metaphor—Simile. b) A-Ba-Đà-Na: Lấy pháp mình đã biết để làm sáng tỏ cái pháp chưa biết—The avadana section of the canon 3) Thí phát: Cạo tóc—To shave the hair.
thí ba la mật
3828梵語 dāna-pāramitā。又作布施波羅蜜、檀波羅蜜、檀那波羅蜜。爲六波羅蜜之一,十波羅蜜之一。施有財施、法施、無畏施等三種,能對治慳吝,除滅貧窮。財施者,施財貨予他人;法施者,爲他人說法教化;無畏施者,令他人安心,使不怖畏。菩薩以此施人,故特稱施波羅蜜。又菩薩之施波羅蜜有九種相。即:自性施、一切施、難行施、一切門施、善士施、一切種施、遂求施、此世他世樂施、清淨施。〔華嚴經入不思議解脫境界普賢行願品卷二、瑜伽師地論卷三十九〕(參閱「六波羅蜜」1273)
; Dàna-pàramità (S).
; (施波羅蜜) Phạm:Dàna-pàramità. Cũng gọi Bố thí ba la mật, Đàn ba la mật, Đàn na ba la mật. Bố thí tiền tài, giáo pháp và sự can đảm một cách viên mãn, rốt ráo, là 1 trong 6Ba la mật, 1 trong 10Ba la mật. Thí ba la mật của Bồ tát có 9 tưởng là: Tự tính thí, Nhất thiết thí, Nan hành thí, Nhất thiết môn thí, Thiện sĩ thí, Nhất thiết chủng thí, Toại cầu thí, Thử thế tha thế nhạo thí và Thanh tịnh thí.
Thí ba-la-mật 施波羅蜜
[ja] セハラミツ seharamitsu ||| The perfection of giving (dāna-pāramitā); the free giving of one's material assets to others without any thought of merit or recompense. One of the six pāramitās 六波羅蜜 and ten pāramitās 十波羅蜜. => Sự viên mãn của pháp bố thí (s: dāna-pāramitā); tự nguyện bố thí tài sản vật chất của mình cho người khác mà không mong cầu công đức. Một trong sáu ba-la-mật.
thí chẩn
See Thí.
thí chủ
3828梵語 dāna-pati。即施與僧眾衣食,或出資舉行法會等之信眾。音譯檀越、陀那鉢底、陀那婆。又作布施家。又梵漢兼舉而稱檀越施主、檀那主、檀主。依長阿含卷十一善生經(大一‧七二上):「檀越當以五事供奉沙門、婆羅門。(中略)一者身行慈,二者口行慈,三者意行慈,四者以時施,五者門不制止。善生!若檀越以此五事供奉沙門、婆羅門,沙門、婆羅門當復以六事而教授之。(中略)一者防護不令爲惡,二者指授善處,三者教懷善心,四者使未聞者聞,五者已聞能使善解,六者開示天路。」又增一阿含經卷二十四謂,施主惠施有五功德:(一)名聞四遠,眾人歎譽。(二)若至眾中,不懷慚愧,亦無所畏。(三)受眾人敬仰,見者歡悅。(四)命終之後,或生天上,爲天所敬;或生人中,爲人尊貴。(五)智慧遠出眾人之上,現身漏盡,不經後世。今施主泛指一切布施者,或舉行喪葬儀式之喪家,亦稱施主。〔增一阿含經卷三清信士品、北本大般涅槃經卷十一、梵網經卷下、大智度論卷三〕
; Dānapati (S) Noble giver Đàn việt, Đàn chủ, Công đức chủNgười cho nhiều giữ ít, cho phần tốt giữ lại phần xấu.
; Dànapati (S). An almsgiver, a benefactor, a patron of Buddhism.
; Danapati (skt)—Tiếng Phạn gọi là Đàn Viêt Bát Để. 1) Người chủ làm việc bố thí, người tự mình bỏ ra của cải để cúng dường: An almsgiver. 2) Người hộ trì Phật pháp: A patron of Buddhism.
; (施主) Phạm:Dàna-pati. Hán âm: Đàn việt, Đàn na bát để, Đà na bà. Cũng gọi Bố thí gia. Còn cả Phạm và án ghép chung thì gọi là Đàn việt thí chủ, Đàn na chủ, Đàn chủ.Chỉ cho những tín đồ bố thí thức ăn, áo mặc cho chúng tăng hoặc xuất tiền của để cử hành pháp hội... Trong kinh Thiện sinh thuộc Trường a hàm quyển 11 (Đại 1, 72 thượng) nói: Đàn việt nên đem 5 việc cung phụng Sa môn, Bà la môn(...) một là thân làm từ thiện, hai là miệng nói từ thiện, ba là ý nghĩ từ thiện, bốn là bố thí đúng thời, năm là cửa luôn mở rộng. Này Thiện sinh! Nếu đàn vua Tỳ Thi (hang đá Đôn hoàng)việt đem 5 việc nàycung phụng Sa môn, Bà la môn thì Sa môn, Bà la môn phải đem 6 pháp dạy họ, (...) một là ngăn ngừa, giữ gìn không cho họ làm điều ác, hai là truyền dạy điều thiện, ba là dạy giữ tâm thiện, bốn là nói chohọnghe những điều họ chưa được nghe, năm là điều nghe rồi khiến cho họ khéo hiểu, sáu là chỉ bày con đường sinh thiên. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 24 thì nói thí chủ bố thí được 5 công đức: 1. Tiếng tăm lan khắp 4 phương, mọi người đều khen ngợi. 2. Nếu vào trong chúng hội, lòng không hổ thẹn, cũng không sợ hãi. 3. Được mọi người kính ngưỡng, ai thấy cũng vui mừng. 4. Sau khi mệnh chung, hoặc sinh cõi trời, được trời kính trọng, nếu sinh trong loài người sẽ là người tôn quí. 5. Trí tuệ hơn người, đời hiện tại hết phiền não, không còn thụ sinh đời sau.
thí dụ
6808略稱「譬」或「喻」。為使人易於理解教說之意義內容,而使用實例或寓言等加以說明,稱為譬喻。其梵語有四,即:upamā, dṛṣṭānta, udāharaṇa, avadāna。四者之間有所差異,upamā 為類推、比較之意,表示比較、相似、同一,如法華經中之火宅喻、藥草喻等譬喻故事;dṛṣṭānta 與 udāharaṇa 均為因明用語,係論述某一教說之後,作為實際例證之陳述語;avadāna 為九部經或十二部經之一,音譯阿波陀那,在形式上與「本生譚」相同,廣義言之,包含佛傳文學、讚佛文學、因緣故事等。其梵文本代表經典有譬喻百頌詩集(梵 Avadānaśataka)、天業譬喻(梵 Divyāvadāna)、菩薩本生鬘論(梵 Jātaka-mālā)等,其漢譯本有賢愚經、六度集經、百喻經、撰集百緣經、菩薩本生鬘論、雜寶藏經、大莊嚴經論、菩薩本緣經等。 蓋釋尊說法,巧用譬喻,大小乘諸經論多處舉示譬喻以說明教法要旨。一般而言,譬喻大多舉示現今之事實,然亦間有舉示假設之例證。如以滿月比喻某人之容光煥發,以眼前之小物推比大物,或以粗境粗法喻顯細境細法,或準照部分(或全體)之類似點加以類推、譬喻。 據北本大般涅槃經卷二十九師子吼菩薩品載,依譬喻方式之不同,可分為八種,即:(一)順喻,依事物生起之順序所作之譬喻。(二)逆喻,逆於事物生起之順序所作之譬喻。(三)現喻,以當前之事實所作之譬喻。(四)非喻,以假設之事件所作之譬喻。(五)先喻,於比喻之事項前所說之譬喻;即先說譬喻,後舉所欲喻顯之教法。(六)後喻,於比喻之事項後所說之譬喻;即先說教法,後舉譬喻。(七)先後喻,先後所說之譬喻;即於闡說教法之前後均作譬喻以彰顯之。(八)遍喻,譬喻內容全部契合所欲喻顯的事項之全部內容;即逐一設喻,並逐一說明教法,如以植物為喻,逐一說其萌芽乃至開花、結果,以之逐一比喻佛弟子之出家乃至成道。若就類別而言,常見於諸經論中之著名譬喻有:(一)顯示諸現象之存在悉無實體、一切皆空之譬喻。大品般若經卷一舉出十喻:即(1)如幻喻,譬如魔術師,以幻術變化出諸物;謂諸法本非實有,但以見聞之故,能識別諸相,此稱如幻假有、如幻即空。(2)如焰喻,焰,即指塵影,日光照射時,因風吹動而令塵埃飛散,譬如在曠野中,因見塵影,誤以為水,遂生取執之心;謂煩惱纏縛眾生,流轉於生死曠野中,令起男女等相,而致愛著沈淪。(3)如水中月喻,又作水月喻。譬如月在空中,影現於水,曚昧小兒,見水中月,歡喜欲取;謂實相之月,猶如法性,在於實際之虛空中,然在凡夫心中則現為我、我所之相,且執此幻相以為實。(4)如虛空喻,譬如虛空,但有假名而無實體,非可見之物,如吾人遠眺,轉見薄青色;謂凡夫之人,遠離無漏真實智慧,故捨棄實相,而執著於差別之現象,遂見彼我、男女、屋舍、城郭等種種雜物。(5)如響喻,譬如深山峽谷,從聲有聲,稱之為響(回音),無智之人謂為實有人語音聲;謂諸法皆空,亦唯誑相而已。(6)如犍闥婆城喻,犍闥婆城,又作乾闥婆城,意譯作尋香城,即指蜃氣樓。譬如日初出時,見城門、宮殿、行人等蜃氣所成之幻相;謂無智之人在本空之五陰、十二入、十八界中,妄見有我與諸法。(7)如夢喻,譬如夢中無實事,卻妄執為有,夢覺之後,始知空無所有;謂若能遠離煩惱執著,則了知一切虛幻無實。(8)如影喻,又作光影喻。譬如光映而影現,不映則無;謂我相、法相之影,俱為煩惱遮住正見之光所現。(9)如鏡中像喻,譬如鏡中之像,非鏡所作,非面所作,非執鏡者所作,亦非自然所成,亦非無因緣而成;謂諸法皆空,不生不滅,非自作、他作、共作、無作,但以凡夫不解,遂陷迷惑。(10)如化喻,譬如諸天、仙人等以神通力假變人形,然無生滅苦樂之實;謂諸法亦如是,無有生滅,如化而成,亦無實有,是知諸法皆空。 上述十喻之中,前九喻說空以破諸法之有,後一喻則是以空不生不滅說空。大智度論卷六云(大二五‧一○五下):「諸法雖空而有分別,有難解空,有易解空,今以易解空喻難解空。」又此十喻亦見於般若部諸經典,然略有異同。此外,大日經卷一舉出下列十喻,即:幻、陽焰、夢、影、乾闥婆城、響、水月、浮泡、虛空華、旋火輪等,稱之為「十緣生句」。以此十喻作觀,則稱十緣生觀、十喻觀。 (二)顯示人類肉體為空與無常之譬喻。維摩詰所說經卷上方便品列舉十喻,稱為維摩經十喻、十種喻身,即:聚沫、泡、炎、芭蕉、幻、夢、影、響、浮雲、電等十喻。古來對此解釋不一,例如鳩摩羅什以之作為無常之比喻;僧肇以之作為空之比喻;慧遠亦以之作為空之比喻,然以前五喻各別相應於五陰,而以後五喻通於五陰全部。 又諸經論所舉類似之譬喻俯拾皆是,如舊譯華嚴經卷七舉出水沫、幻、野馬、水中月、夢、浮雲等六喻;鳩摩羅什譯之金剛般若經舉出夢、幻、泡、影、露、電等六喻;菩提流支譯之金剛般若經舉出星、翳、燈、幻、露、電、泡、夢、雲等九喻;攝大乘論本卷中舉出幻事、陽炎(陽焰)、所夢(夢境)、影像(鏡像)、光影、谷響、水月、變化等八喻用以喻顯「依他起性」之理,故稱依他八喻。此外,楞伽阿跋多羅寶經卷二針對凡夫與外道不知真相之迷妄,而舉出渴鹿陽焰、乾闥婆城、夢中諸境、畫像高下、翳目垂髮、火輪非輪、水泡摩尼、水中樹影、明鏡色像、風水出聲、日照洪浪、咒術機發等十二喻。 又比喻人類肉體無常之譬喻,較著名者,另有注維摩詰經卷二之「是身如丘井」之故事,謂昔有人獲罪於王,其人畏罪逃走,王令醉象追之,其人怖急,遂自投枯井,墜半井時,於井壁得一腐草,即以手執之。井底有惡龍,吐毒向之;傍有五毒蛇,復欲加害;又有黑白二鼠嚙其腐草,草將斷裂;醉象臨其上,復欲取之。其人危苦,極大恐怖。其時,頂上有一樹,樹上有蜜,滴落其人口中;以著味之故,遂忘怖畏。此則故事中,以丘井比喻生死,醉象比喻無常,毒龍比喻惡道,五毒蛇比喻五陰,腐草比喻命根,黑白二鼠比喻黑月與白月,蜜滴比喻五欲之樂,罪人得蜜滴而忘怖畏者,則比喻眾生得五欲之蜜滴而不畏諸苦。其他諸經亦可見此一譬喻,稱為二鼠嚙藤喻。後世繪畫多以虎代象,稱為無常之虎,二鼠則稱月日之鼠。 (三)顯示佛陀一代教化次第之譬喻:(1)據舊譯華嚴經卷三十四寶王如來性起品載,太陽初出,先照諸大山,次第及於一切大地;以此比喻佛之出世,順次教化菩薩、緣覺、聲聞與根機低淺者,稱為華嚴經三照、華嚴三照。(2)據北本大般涅槃經卷十四聖行品載,從牛出乳,依其精製程度,順序可得酪、生酥、熟酥、醍醐;以此比喻從佛出十二部經,復從十二部經出修多羅,從修多羅出方等經,從方等經出般若波羅蜜經,復更從般若波羅蜜經出涅槃經。上述之五味原係顯示自整體佛教(即十二部經)漸出其要之譬喻,其中以涅槃經為要中之要、最勝之教。但歷來諸師表示教化之次第,大多將五味與華嚴三照之說互相依用。(3)天台宗智顗將涅槃經之五味說,配於五時,而從說教之順序,與受教之機(對象)所得之利益兩方面加以判釋佛陀一代之教化,此即華嚴時(乳味)、阿含時(酪味)、方等時(生酥味)、般若時(熟酥味)、法華涅槃時(醍醐味)。其中,法華經即相當於前番五味中之後教後味,涅槃經則相當於後番五味中之後教後味。復就化法四教言之,以藏教為例,凡夫如乳,須陀洹如酪,斯陀含如生酥,阿那含如熟酥,阿羅漢與辟支佛如醍醐。藏、通、別三教各具五味,圓教獨具一味。(4)隋代灌頂(561~632)之涅槃經會疏卷十三根據諸經論與歷來諸師之說,謂牛為涅槃經之教主,乳為戒聖行,酪為定聖行,生酥為四諦慧聖行,熟酥為二諦慧聖行,醍醐為一實諦慧聖行。 (四)顯示三乘斷惑修行深淺不同之譬喻。優婆塞戒經卷一以兔、馬、象等三獸渡河之情形比喻聲聞、緣覺、菩薩等三乘斷惑修行之深淺。譬如三獸有強弱,河水有底岸,兔、馬力弱,雖能至彼岸,但涉水未深;僅象之渡河,得至其底。此蓋以水比喻因緣之理,謂聲聞覺悟最淺,緣覺稍深,菩薩最深。法華玄義卷八下則以三獸比喻通教之三乘,以水喻即空,底喻不空。 (五)顯示佛陀應眾生根機施以各種不同教法之譬喻。其目的不外為導入佛境;此一譬喻與顯示佛之法身不滅而遍於虛空之譬喻結合為七種譬喻,稱作法華七喻。據法華經載,即:(1)火宅喻,又作火宅三車喻。出自譬喻品。譬如家宅遭遇大火,幼兒仍在宅中遊玩,不知脫離危險,長者乃施設方便,告以門外有幼兒所期望之羊車、鹿車、牛車等三車,藉以誘出門外,遂共乘大白牛車脫離火宅。於此譬喻中,火宅比喻三界,謂三界為五濁、八苦等苦惱所聚,無法安住;幼兒比喻眾生,謂眾生貪著三界,耽於享樂之生活,不知處境之危險;長者比喻佛,羊車比喻聲聞乘,鹿車比喻緣覺乘,牛車比喻菩薩乘,大白牛車比喻一佛乘。此一譬喻,歷來有三車家與四車家之不同看法,主張方便之牛車與大白牛車為同一,而立三車之見的三論宗與法相宗,稱為三車家;主張方便之牛車與大白牛車有別之天台宗、華嚴宗,則稱為四車家。(2)窮子喻,又作長者窮子喻。出自信解品。窮子原係長者之子,然以年幼即流離失所,不知自己之出身,後輾轉浪迹至長者家,見府第之豪貴,心大恐懼,欲疾走而去,長者一見便識,設施種種方法,收為嗣子,以令其自覺。以此比喻佛對自認為聲聞者施設種種方便,增上其心,轉為菩薩之自覺。(3)藥草喻,又作雲雨喻。出自藥草喻品。譬如諸藥草種類有別,名色各異,雖密雲瀰布遍覆,同受一雨所澤,然因根、莖、枝、葉之別,大、小諸樹各稱性而長,致各有差別。謂眾生根性各異亦復如是,佛陀隨眾生品類,以教化眾生各自之智性,治癒其病惑,令證入菩提。天台宗依據此一譬喻,而謂受如來方便法雨之眾生有「三草二木」之別,其中小草配於人天乘,中草配於二乘,上草配於藏教菩薩,小樹配於通教菩薩,大樹配於別教菩薩;準此,遂有五乘七方便人之譬喻。(4)化城喻,又作寶處化城喻。出自化城喻品。譬如有一旅行者,本欲行至五百由旬之寶處(真實之悟界),然於中途因疲憊而休止,其時,優越之指導者即在三百由旬處假現化城(方便之悟界),藉之誘導旅行者抵達寶處。(5)衣珠喻,又作繫珠喻。出自五百弟子授記品。譬如有人至親友家,醉酒而臥,時彼親友因官事當遠行,即以無價寶珠繫其衣內而去,其人醉臥,毫不覺知。其後,為求衣食故,備受艱苦。直至親友告知贈珠之事,生活遂得改善無缺。謂二乘人過去世曾在大通智勝佛之處結下大乘之緣,然為無明所覆而隱蔽不顯,今依如來方便開示,遂能入於一佛乘。準此 ,又以「衣裡寶珠」、「衣內明珠」等用語喻指眾生本具之佛性。(6)髻珠喻,又作頂珠喻。出自安樂行品。譬如轉輪聖王將覆藏在髮髻中之寶珠解開,給予功臣觀看。謂如來說法華經,開顯所有權教(方便教)而會歸一乘實教,給予二乘亦必成佛之證明。(7)醫子喻,又作醫師喻。出自如來壽量品。譬如孩童不知毒藥而狂吞,父遂給予妙藥而治之。謂三乘人不知權教為方便而深信,如來出而導歸於一乘。 (六)以蓮花顯示法華開顯之旨之譬喻。智顗之法華玄義序王稱為蓮華三喻、迹本三喻。即於法華經之迹門「施開廢」,於本門「垂開廢」,而以蓮之實(比喻實與本)與其花(比喻權與迹)為喻,有所謂「為蓮故華」、「華開蓮現」、「華落蓮成」等語。 (七)顯示如來藏之譬喻。稱為如來藏九喻。據如來藏經、究竟一乘寶性論卷一、大明三藏法數卷三十四等載,即:(1)譬如佛所化無數蓮花,忽然萎變,無量化佛在蓮花內,相好莊嚴,結跏趺坐。萎花比喻無明煩惱,佛身比喻如來藏。謂一切眾生煩惱身中本有功德莊嚴之如來藏,然為無明貪惑所覆而不能見。(2)譬如醇蜜在巖樹中,無數群蜂圍繞守護,故欲取蜜,必先除彼蜂。群蜂比喻無明煩惱,蜜比喻如來藏。謂一切眾生本具之如來藏原有功德法味,然為無明所纏繞,則不得其用。(3)譬如稻、麥、粟、豆等,所有精實為糠所裹,若不去糠,則不堪食用。稻、麥、粟、豆等比喻如來藏法身之體,糠比喻無明煩惱。謂如來藏法身之體深隱在無明煩惱中,不得受用。(4)譬如真金雖墮於糞穢中,然永不變質,若知其所在,則得覓取而用之。真金比喻如來藏性,糞穢比喻無明煩惱。謂如來藏性為無明煩惱所覆,然不失本淨,一旦尋獲,去其垢穢,則復現其明潔淨性。(5)譬如貧窮家,其屋宅內地藏有珍寶,卻了無所知,待發掘後始得用處。貧家比喻眾生,珍寶比喻如來藏性,地比喻無明煩惱。謂眾生雖具如來藏性,然為無明煩惱所覆,了不自知。(6)譬如菴摩羅果之種子深藏於果實之中,安住不動,未能萌芽生成,然亦含藏不朽,若遇地緣,種植其中,久後自成大樹王。菴摩羅果之種子比喻如來藏,果實比喻無明煩惱。謂如來藏久藏於無明煩惱中,安住不動,然亦始終不朽,其後若遇佛法殊緣,則自然萌生,證成無上菩提。(7)譬如真金之像,披裹臭穢弊垢之衣,棄擲於地,流轉曠野,見者不知,皆賤視之。真金之像比喻如來藏清淨法身,臭穢弊衣比喻無明煩惱,曠野比喻三界之生死大海。謂眾生雖有如來藏清淨法身,然為無明煩惱所纏裹,故墮在生死大海之中。(8)譬如貧賤女,身懷貴胎(轉輪聖王)而不自知,猶作賤子之想。貧賤女比喻無明煩惱,貴胎比喻如來藏清淨法身之體。謂一切眾生以無明煩惱之故,不知自身即有如來藏清淨法身之體。(9)譬如鑄造金像,真金在內,燋模在外,其模為黑泥覆蔽,形狀燋惡,令人不能推知其內有真金。真金比喻如來藏性,燋模之黑泥比喻無明煩惱。謂如來藏性被無明煩惱所覆蔽,眾生遂沈浮於闇昧迷惑中,全然不識自身中之如來藏性。 上述譬喻皆在喻顯一切眾生皆由無始以來之煩惱覆蔽,以至本來清淨無染之如來法身不得顯現。又北本大般涅槃經卷七之「貧女寶藏喻」相當於上述之第五喻,四卷楞伽經卷二之「大價寶垢衣喻」相當於第七喻。此外,前述法華七喻中之「衣珠喻」亦為如來藏之譬喻。與之類似者,另有北本大般涅槃經卷七之「額珠喻」,係用以比喻佛性。譬如王家有大力士,其眉間有金剛珠,與他人角力時,力士以頭抵觸對方額上,金剛珠即沒於膚中,不知所在;其處有瘡,力士乃命良醫為之治療。時有明醫,善知方藥,診之即知此瘡係由金剛珠入體所致,遂教其照鏡,始知珠之所在。如是,眾生不知自己本具之佛性,待佛陀教導始覺悟。 (八)顯示念佛三昧殊勝之譬喻。觀佛三昧海經卷十舉出長者閻浮檀金、王寶印、長者如意珠、仙人誦咒、力士明珠、劫盡時之金剛山等譬喻,皆用來比喻念佛三昧之殊勝功德。 (九)顯示自眾生貪、瞋煩惱中生清淨之往生心之譬喻。出自善導之觀經疏散善義。譬如有人遭群賊、惡獸追趕,向西逃亡,發現一條四五寸寬之白道,白道一邊是火焰兇猛之火河,一邊是波濤洶湧之水河,逃亡者心知進退皆難免一死,值此危急之際,忽聞東岸傳來「決心往白道」,西岸傳來「一心正念即刻來」之呼聲;逃亡者遂不顧一切渡過白道,到達西岸,終獲無窮幸福。上述之故事,水河比喻眾生之貪愛,火河比喻眾生之瞋恚,白道比喻清淨之往生心。即表示眾生依東岸釋迦之發遣與西岸彌陀之招喚,遂生起清淨之往生心,以此而得往生淨土。此稱二河白道喻或二河譬。 除上述各種類別之譬喻外,經典中常用之譬喻尚有:(一)師子身中蟲,出自仁王經卷下,略稱師蟲。譬如獅子,雖號稱萬獸之王,死後尚不免為自身中之蟲所食;以此比喻在佛法中破壞佛法者。(二)盲龜浮木,出自雜阿含經卷十五、中阿含經卷五十三等。譬如大海中有一盲龜,壽命無量,每百年探出水面一次,而海中有一浮木,中有一孔;盲龜若欲遇值此浮木之孔,則甚為難得。謂人類生於此世、遇佛聞法之機緣極為稀罕難得,彌足珍貴。〔雜阿含經卷五、卷十一、卷四十三、譬喻經、五陰譬喻經、大品般若經卷十五、卷二十三、卷二十六、法華經卷一、卷六、金光明經卷一、大毘婆沙論卷一○三、卷一四三、卷一四五、大智度論卷三十五、卷五十四、成唯識論卷八、法華文句卷五上、大乘法苑義林章卷一末、翻譯名義集卷十四〕
; Avadāna (S)A bà đa naDùng thí dụ để nói pháp nghĩaNhững thí dụ làm dẫn chứng hay hình ảnh tượng trưng trong kinh.
; See Thí (2).
; (譬喻) Gọi tắt: Thí, Dụ. Nêu ra 1 sự kiện hoặc 1 sự vật có thật, 1 câu chuyện ngụ ngôn, hoặc lập 1 giả thiết để so sánh thuyết minh ngõ hầu giúp người ta dễ dàng hiểu rõ ý nghĩa nội dung của giáo pháp, gọi là Thí dụ. Thí dụ trong tiếng Phạm có 4 từ: Upamà, Dfwỉànta, Udàharaịa và Avadàna. Giữa 4 từ này có điểm khác nhau.Upamà nghĩa là loại suy, tức biểu thị sự so sánh, tương tự, đồng nhất, như các thí dụ: Hỏa trạch dụ(dụ nhà lửa), Dược thảo dụ(dụ cỏ thuốc) trong kinh Pháp hoa. Dfwỉànta và Udàharaịa đều là những tiếng dùng trong Nhân minh, là thí dụ chứng minh thực tế sau khi đã trình bày 1 giáo thuyết nào đó. CònAvadàna thì là 1 trong 9 thể tàikinhhoặc 1 trong 12 thể tài kinh. Khi thuyết pháp, đức Phật dùng rất nhiều thí dụ một cách khéo léo để nói rõ yếu chỉ của giáo pháp. Nói cách tổng quát, phần nhiều các thí dụ nêu ra những sự thực hiện tại, nhưng đôi khi cũng nêu ra những ví dụ giả thiết. Như dùngvầngtrăng tròn đểthí dụ khuôn mặt rạng rỡ của người nào đó; dùng vật nhỏ trước mắt làm thí dụ để suy ra vật lớn hơn, hoặc sử dụng cảnh thô, pháp thô làm thí dụ để hiển bày cảnh tế, pháp tế, hoặc căn cứ vào điểm giống nhau của bộ phận(hay toàn thể)để loại suy, thí dụ. Cứ theo phẩm Sư tử hống bồ tát trong kinh Đại bát niết bàn quyển 29 (bản Bắc), dựa theo những phương thức thí dụ khác nhau có thể chia làm 8 loại: 1. Thuận dụ: Thí dụ được đặt ra thuận theo thứ tự sinh khởi của sự vật. 2. Nghịch dụ: Thí dụ được đặt ra ngược với thứ tự sinh khởi của sự vật. 3. Hiện dụ: Thí dụ được đặt ra theo sự thực trước mắt. 4. Phi dụ: Thí dụ được đặt ra theo sự kiện giả thiết. 5. Tiên dụ: Thí dụ được nêu ra trước khi trình bày sự kiện được ví dụ, tức trước nêu thí dụ, sau nói giáo pháp muốn hiển bày.6. Hậu dụ: Thí dụ được nêu ra sau khi đã trình bày sự kiện được thí dụ; tức trước nói giáo pháp, sau nêu thí dụ. 7. Tiên hậu dụ: Thí dụ được nêu ra trước và sau khi sự việc được trình bày; tức trước và sau khi nói rõ giáo pháp đều dùng thí dụ để hiển bày. 8. Biến dụ: Toàn bộ nội dung thí dụ khế hợp với toàn bộ nội dung sự kiện muốn ví dụ hiển bày; tức mỗi phần của toàn bộ nội dung thí dụ được sử dụng để thuyết minh 1 sự việc tương ứng của nội dung giáo pháp; nếu dùng thực vật làm thí dụ thì nói từng giai đoạn của cây ấy từ lúc nứt mầm cho đến khi trổ hoa, kết quả để ví dụ cho từng giai đoạn từ khi xuất gia đến lúc thành đạo của đệ tử Phật. Những thí dụ nổi tiếng thường thấy trong các kinh luận thì có: I. Thí dụ nêu rõ sự tồn tại của các hiện tượng đều không có thực thể, tất cả chỉ là không. Như kinh Đại phẩm bát nhã nêu ra 10 dụ là: 1. Dụ như huyễn(trò ảo thuật). 2. Dụ như dương diệm(sóng nắng). 3. Dụ như bóng trăng dưới đáy nước. 4. Dụ như hư không. 5. Dụ như tiếng vang trong hang núi. 6. Dụ như thành Kiện thát bà(thành quách thấy trên mặt biển lúc mặt trời mọc). 7. Dụ như mộng (chiêm bao). 8. Dụ như bóng(bóng không có thật). 9. Dụ như hình ảnh trong gương. 10. Dụ như biến hóa. Trong 10 thí dụ trên, 9 thí dụ trước là nói không để phá trừ kiến chấp cho các pháp là có, còn thí dụ sau cùng thì dùng không bất sinh bất diệt để nói về không, tức chân không. II. Những thí dụ nêu rõ thân thể của con người là không và vô thường. Phẩm Phương tiện trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng nêu ra 10 dụ, gọi là Duy ma kinh thập dụ, Thập chủng dụ thân. Đó là: Đám bọt nước, bong bóng nước, ánh lửa, cây chuối, ảo thuật, chiêm bao, bóng dáng, tiếng vang, mây nổi và tia chớp. Trong 10 dụ trên, 5 dụ trước mỗi dụ tương ứng với 1 thành phần của 5 ấm, còn 5 dụ sau thì chung cho toàn bộ 5 ấm. III. Những thí dụ nói về thứ tự của sự giáo hóa trong một đời của đức Phật: 1. Phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch cũ) nói: Mặt trời mới mọc, trước hết chiếu trên các đỉnh núi lớn, kế đến chiếu các núi, sau cùng chiếu tất cả mặt đất. Việc này được dùng để ví dụ sự xuất hiện của Phật, theo thứ tự giáo hóa Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn và người có căn cơ thấp kém, gọi là Hoa nghiêm kinh tam chiếu, Hoa nghiêm tam chiếu. 2. Phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc) nói: Từ bò có sữa, qua trình tự tinh chế, lần lượt được lạc(cao sữa), sinh tô(bơ), thục tô(kem) và đề hồ(phó mát). Việc này được dùng để ví dụ từ Phật có 12 thể tài kinh, lại từ 12 thể tài kinh có Tu đa la, từ Tu đa la có kinh Phương đẳng, từ kinh Phương đẳng có kinh Bát nhã ba la mật, lại từ kinh Bát nhã ba la mật có kinh Niết bàn. Tức chỉ cho 5 thời thuyết pháp, giáo hóa của đứcPhật: Thời Hoa nghiêm(nhũ), thời A hàm (lạc), thời Phưong đẳng(sinh tô), thời Bát nhã(thục tô) và thời Pháp hoa Niết bàn(đề hồ).3. Niết bàn kinh hội sớ quyển 13 của ngài Quán đính đời Tùy căn cứ vào kinh luận à các thuyết của các Luận sư xưa nay mà cho rằng bò là giáo chủ của kinh Niết bàn, sữa là giới thánh hạnh, lạc là định thánh hạnh, sinh tô là Tứ đế tuệ thánh hạnh, thục tô là Nhị đế tuệ thánh hạnh và đề hồ là Nhất thực đế tuệ thánh hạnh. IV. Thí dụ hiển bày sự đoạn hoặc tu hành khác nhau giữa Tam thừa. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 dùng việc 3 con thú là thỏ, ngựa và voi lội qua sông để ví dụ sự cạn sâu trong việc tu hành đoạn hoặc của hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Nghĩa là khi qua sông, thỏ và ngựa vì sức yếu nêntuy đến được bờ bên kia, nhưng lội nước không sâu, chỉ có voi là chân đến tận đáy sông. Cũng thế, Thanh văn, Duyên giác hiểu đạo còn nông cạn, chỉ có Bồ tát là hiểu sâu nhất. V. Thí dụ nêu rõ đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói các giáo pháp khác nhau, như 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa: 1. Hỏa trạch dụ. 2. Cùng tử dụ. 3. Dược thảo dụ. 4. Hóa thành dụ. 5. Y châu dụ. 6. Kế châu dụ. 7. Y tử dụ(Y sư dụ). VI. Thí dụ hiển bày Như lai tạng. Kinh Như lai tạng, luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 1 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 34 nêu ra 9 thí dụ là: Dụ hoa sen, dụ tổ ong, dụ lúa mì, dụ vàng ròng, dụ nhà nghèo có kho báu, dụ hạt của quả am ma la, dụ tượng bằng vàng bọc trong dẻ rách, dụ cô gái nghèo mang thai quí tử và dụ đúc tượng bằng vàng ròng. VII. Thí dụ nêu rõ sự thù thắng của tam muội Niệm Phật. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 nêu các thí dụ:Vàng diêm phù đàn của ông trưởng giả, ấn báu của vua, ngọc như ý của trưởng giả, tiên nhân tụng chú, hạt minh châu của lực sĩ và núi Kim cương lúc kiếptận... Ngoài ra còn rất nhiều thí dụ khác rải rác trong các kinh luận mà ởđây không thể thu chép hết được.
thí dụ bộ
6815指印度小乘十八部中之經量部。以其本師鳩摩邏多嘗造喻鬘論廣說譬喻,世稱譬喻師,其傳承之部派則稱譬喻部。
; (譬喻部) Chỉ cho Kinh lượng bộ trong 18 bộ phái Tiểu thừa ở Ấn độ. Vì Bản sư của bộ này là ngài Cưu ma la đa có soạn luận Dụ man nói rộng về các thí dụ nên người đời gọi các sư thuộc bộ này là Thí dụ sư, bộ phái truyền thừa thì gọi là Thí dụ bộ.
thí dụ kinh
6816全一卷。唐代義淨譯。收於大正藏第四冊。本經係佛陀於舍衛城為勝光王(波斯匿王)所說之譬喻。謂往昔有一人,於曠野為惡象所逐,乃依樹根而入空井中,以避惡象。時有黑白二鼠互齧樹根,井四邊有毒蛇,井底復有毒龍。其人心畏龍、蛇,又恐樹根斷折。此時有蜂蜜五滴由樹根墜其口中,又蜂亦來螫其人,更有野火燒井邊之樹。其中,曠野比喻無明,人比喻異生(凡夫),象比喻無常,空井比喻生死,樹根比喻生命,二鼠比喻晝夜,齧樹根比喻念念滅,四毒蛇比喻四大,蜜比喻五欲,蜂比喻邪思,火比喻老病,毒龍比喻死;以說明生老病死之可怖可畏,應離五欲,以求解脫。
; (譬喻經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 4.Kinh này là đức Phật nói cho vua Thắng quang(vua Ba tư nặc) ở thành Xá vệ nghe. Nội dung kinh thuật rằng thủa xưa có người bị voi dữ rượt đuổi giữa nơi đồng không mông quạnh, đang lúc nguy cấp thì gặp được cái giếng khô, người ấy liền bám theo rễ cây lần xuống để tránh voi dữ. Bấy giờ có 2 con chuột, 1 con màu đen, 1 con màu trắng, thay nhau nhấmrễ cây, 4 bên giếng có 4 con rắn độc, còn dưới đáy giếng thì có rồng độc. Trong lòng người ấy rất lo sợ, vừa sợ rồng, rắn, lại thêm nỗi sợ rễ cây bị đứt. Lúc đó, có 5 giọt mật ong từ trên cành cây rơi vào trong miệng, đàn ong cũng bay đến đốt, lại có lửa ở đồng hoang đốt cháy cây đại thụ bên giếng, thật vô cùng nguy hiểm. Trong thí dụ trên, đồng trống dụ cho vô minh, người dụ cho dị sinh (phàm phu), voi dụ cho vô thường, giếng khô dụ cho sinh tử, rễ cây dụ cho mệnh sống, 2 con chuột dụ cho ngày và đêm,nhấmrễ cây dụ cho niệm niệm diệt, 4 rắn độc dụ cho 4 đại, 5 giọt mật dụ cho 5 dục, ong dụ cho nghĩ bậy, lửa dụ cho già bệnh, thật rất đáng sợ, nên lánh xa 5 dục để cầu giải thoát.
thí dụ luận sư
Nhật Xuất Luận Giả—Thí Dụ Sư—Vị tổ đầu tiên của Kinh Lượng Bộ (trong số 18 bộ Tiểu Thừa)—Reputed founder of the Sautrankita school.
thí dụ lượng
Những thí dụ trong kinh điển theo lý luận giúp người hiểu được giáo lý—The example in logic.
thí dụ sư
6809梵語 dṛṣṭāntika。又稱譬喻論師、譬喻部師、譬喻者。指經量部之本師鳩摩邏多(梵 Kumāralāta)及其繼承者。據成唯識論述記卷二本載,佛滅後一百年中,北天竺怛叉翅羅國有鳩摩邏多,造九百論,時有五大論師,世喻如日出,明導世間,故稱日出者,又稱譬喻師。另據同書卷四載,譬喻師為經部之異師,鳩摩邏多造喻鬘論,廣說譬喻,故稱為譬喻師。又佛陀提婆(梵 Buddhadeva,覺天)承鳩摩邏多之說,故亦被稱為譬喻師。 依異部宗輪論,經量部係於佛滅後四百年由說一切有部分出。其分派約在大毘婆沙論結集之後,此前稱為譬喻師,為一有力之派別,可視為說一切有部中一種進步之異義者,後經量部集成其說,無著、世親等復基於經部之說,組織法相瑜伽派之教學。〔鞞婆沙論卷二、卷八、大毘婆沙論卷十九、卷二十、卷二十七、卷三十一、卷三十五、卷四十二、卷四十四、雜阿毘曇心論卷四、俱舍論卷十五、順正理論卷十二、卷十五、卷十六、卷五十一、卷五十三、卷七十三〕(參閱「經量部」5555)
; Distantika (S).
; See Thí Dụ Luận Sư.
; (譬喻師) Phạm:Dfwỉàntika. Cũng gọi Thí dụ luận sư, Thí dụ bộ sư, Thí dụ giả. Chỉ cho ngài Cưu ma la đa (Phạm: Kumàralàta) bản sư của kinh lượng bộ và những người thừa kế ngài. Theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần đầu, trong 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ở nướcĐát xoa sí la thuộc Bắc thiên trúc có ngài Cưu ma la đa soạn 900 bộ luận. Bấy giờ có 5 vi Đại luận sư người đời ví như mặt trời mọc, dắt dẫn thế gian, nên gọi là Nhật xuất giả, cũng gọi là Thí dụ sư. Ngài Phật đà đề bà (Phạm: Buddhadeva, Giác thiên) cũng theo thuyết của ngài Cưu ma la đa, nên cũng được gọi là Thí dụ sư. Theo luận Dị bộ tông luân thì Kinh lượng bộ là từ Thuyết nhất thiết hữu bộ chia ra khoảng 400 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Sự phân phái này xảy ra khoảng sau khi kết tập luận Đại tì bà sa, trước đó gọi là Thí dụ sư, là 1 phái riêng có thế lực, được xem là 1 thứ dị nghĩa tiến bộ trong Thuyết nhất thiết hữu bộ, về sau Kinh lượng bộ tập đại thành học thuyết của phái này, rồi các ngài Vô trước, Thế thân lại căn cứ vào luận thuyết của Kinh bộ mà tổ chức giáo học các phái Du già Pháp tướng.
thí dụ tập
Avadāna-kalpalata (S)Tên một bộ kinh.
thí huệ
To bestow kindness, or charity.
thí hành
3828布施東西與人之行法。梵志頞波羅延問種尊經(大一‧八七七上):「佛言:『我經中以施行爲本,施行善者最爲大種。其天下尊貴者,皆施行善得耳,不以種得也。』」
; Hành pháp bố thí (tài thí, pháp thí, và vô úy thí)—The practice of charity—See Tam Bố Thí, Tứ Bố Thí, Ngũ Bố Thí, Thất Bố Thí, and Bát Bố Thí.
; (施行) Thực hành bố thí tài vật cho người. Kinh Phạm chíÁt ba la diên vấn chủng tôn (Đại 1, 877 thượng) ghi: Đức Phật dạy: Trong kinh của ta lấythí hành làm gốc, bố thí cho những người làm điều lành là gieo hạt giống lớn nhất. Những người được thiên hạ tôn quí đều do bố thí cho người làm điều lành mà được, chứ không phải do dòng dõi mà có.
thí hóa
To bestow the transforming truth.
; Bố thí chân lý giáo hóa chúng sanh, hay bố thí và giáo hóa—To bestow the transforming truth.
Thí Hộ
(s: Dānapāla, j: Shigo, 施護, khoảng thế kỷ thứ 10): vị tăng dịch kinh dưới thời nhà Tống, xuất thân Ô Chấn Nẵng Quốc (s: Udyāna, 烏塡曩國) ở miền Bắc Ấn Độ, người đời thường gọi là Hiển Giáo Đại Sư (顯敎大師), năm sanh và mất không rõ. Vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) đời vua Thái Tông nhà Bắc Tống, ông cùng với Tam Tạng Thiên Tức Tai (天息災) nước Ca Thấp Di La (迦濕彌羅) thuộc miền Bắc Ấn Độ sang vùng Biện Kinh (汴京, Khai Phong), dừng chân trú tại Dịch Kinh Viện (譯經院, cơ quan dịch kinh do triều đình lập nên) của Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) và dốc hết toàn lực cho việc phiên dịch kinh điển. Tác phẩm cọng dịch có Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh (大乘莊嚴寳王經) 4 quyển, Cấp Cô Trưởng Giả Nữ Đắc Độ Nhân Duyên Kinh (給孤長者女得度因緣經) 3 quyển, Quảng Thích Bồ Đề Tâm Luận (廣釋菩提心論) 4 quyển, Đại Thừa Nhị Thập Tụng Luận (大乘二十頌論) 1 quyển, Lục Thập Tụng Như Lý Luận (六十頌如理論) 1 quyển, Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh (一切如來眞實攝大乘現證三昧大敎王經) 30 quyển, Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh (一切如來金剛三業最上祕密大敎王經) 7 quyển, Thủ Hộ Đại Thiên Quốc Độ Kinh (守護大千國土經) 3 quyển, Biến Chiếu Bát Nhã Ba La Mật Kinh (遍照般若波羅蜜經) 1 quyển, v.v., gồm 115 bộ và 225 quyển.
thí hộ
3832梵名 Dānapāla。宋代譯經僧。北印度烏填曩國(梵 Udyāna)人。世稱顯教大師。生卒年不詳。北宋太宗太平興國五年(980),與北印度迦濕彌羅國之天息災三藏同抵汴京(開封),駐錫於太平興國寺之譯經院(官立翻譯機構),致力於經典翻譯。共譯有大乘莊嚴寶王經四卷、給孤長者女得度因緣經三卷、廣釋菩提心論四卷、大乘二十頌論一卷、六十頌如理論一卷、一切如來真實攝大乘現證三昧大教王經三十卷、一切如來金剛三業最上祕密大教王經七卷、守護大千國土經三卷、遍照般若波羅蜜經一卷等,凡一一五部二五五卷。〔宋高僧傳卷三、宋史太宗本紀第四〕
; Danapala (skt)—Vị Tăng xứ Udyana, người đã dịch 111 bộ kinh sang Hoa ngữ. Năm 982 sau Tây Lịch, ngài được ban tước hiệu Minh Tín Đại Sư—A native of Udyana who translated into Chinese some 111 works. In 982 A.D. he received the title of Great Master and brilliant expositor of the faith.
thí khai phế
3831乃實施權、開權顯實、廢權立實三者之合稱。天台宗爲顯示佛陀一代之化導之用語。湛然著之法華玄義釋籤卷一上,就蓮華三喻而論施、開、廢三義,文曰(大三三‧八一六下):「今從事說現蓮爲譬,以順譬,故先施後開,又先開後廢。」〔玄義釋籤講述卷一〕(參閱「蓮華三喻」6148)
; Theo Kinh Pháp Hoa, đây là từ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ ba thời giáo thuyết của Đức Phật—According to the Lotus Sutra, this is a term which the T'ien-T'ai sect used to indicate the three periods of Buddha's teaching. 1) Thí Thời: Trước thời kỳ Pháp Hoa, Đức Phật đã nói về Tam thừa giáo, đây Ngài chỉ dùng phương tiện thiện xảo để giúp người đi vào Chánh Đạo Nhất Thừa Giáo, nên gọi là “vị thực thí quyền”—Bestowing the truth in Hinayana and other partial forms. 2) Khai Thời: Thờ kỳ Đức Phật “khai quyền hiển thực” để giúp chúng sanh hiểu rõ Tam Thừa chỉ là phương tiện của Nhất Thừa—Opening of the perfect truth like the Lotus, as in the Lotus Sutra. 3) Phế Thời: Đức Phật chỉ dạy nên “phế quyền lập thực” một khi đã biết rõ Tam Thừa chỉ là phương tiện cho Nhất Thừa—Abrogating the earlier imperfect forms.
; (施開廢) Dụng ngữ gọi tắt của 3 từ: Thực thi quyền(Thi), Khai quyền hiển thực (Khai) và Phế quyền lập thực (Phế), do tông Thiên thai dùng để nói về sự hóa đạo trong một đời của đức Phật. Pháp hoa huyền nghĩa thích thêm quyển 1, phần đầu của ngài Trạm nhiên dựa theo 3 thí dụ hoa sen mà nói về 3 nghĩa Thi, Khai, Phế như sau (Đại 33, 816 hạ): Từ sự mà nói thí dụ liên hiện (sen hiện), vì thuận với thí dụ cho nên trước Thi, sau Khai, lại trước Khai sau Phế.
thí kinh
5606唐代爲控制僧尼人數,禁止私自出家而設立之制度。度僧時,令其讀誦經論,且陳述其義,以試驗學力。佛祖統紀卷五十一試經度僧條(大四九‧四五二下):「唐中宗景龍初,詔天下試經度僧,山陰靈隱僧童大義誦法華,試中第一。」由此可知,試經之制始於唐中宗在位(705~710)之時。其後於肅宗至德二年(757),以白衣能誦經五百紙者,聽度爲僧。代宗時,對童行策試經、律、論三科。宣宗時,勅每歲度僧,依戒、定、慧三學,有道性且通法門者,擇給度牒。其後宋、元、明各朝亦相繼行之。〔慈恩寺三藏法師傳卷一、佛法金湯編卷七唐中宗條、禪林象器箋叢軌門〕
; (試經) Thí kinh. Chỉ cho chế độ thi cử kinh điển được thiết lập vào đời Đường để ngăn ngừa việc tự ý xuất gia và khống chế số lượng tăng ni trong nước, tức lúc độ tăng thì người này phải đọc tụng kinh luận và trình bày nghĩa lí để thử nghiệm học lực. Điều Thí kinh độ tăng trong Phật tổ thống kỉ quyển 51 (Đại 49,452 hạ) nói: Đầu năm Cảnh long, vua Trung tông nhà Đường ban chiếu cho trong nước thi kinh độ tăng, vị tăng tên Đồng đại nghĩa ở chùa Linh ẩn, huyện Sơn âm, tụng kinh Pháp hoa đậu hạng nhất. Do đây mà được biết chế độ thi kinh bắt đầu vào thời vua Đường Trung tông tại vị (705-710). Về sau, vào năm Chí đức thứ 2 (757) đời vua Túc tông, nếu người bạch y, cư sĩ tụng được 500 tờ kinh thì cho phép xuất gia làm tăng. Thời vua Đại tông, đối với người trẻ tuổi phải thi cả 3 môn kinh, luật, luận. Thời vua Tuyên tông, vua ban sắc hằng năm độ tăng, y theo tam học giới, định, tuệ, người nào có đạo tính và thông hiểu pháp môn thì được chọn cấp độ điệp. Về sau, vào các đời Tống, Nguyên, Minh, triều đình cũng tiếp tục thi hành chế độ này.
thí lâm
Một trong bốn cách tống táng, lâm táng, hay tống táng bằng cách đem xác người chết bỏ vào trong rừng—One of the four kinds of burial, to give to the forest, i.e. burial by casting the corpse into the forest.
thí mạng
To risk (venture) one's life.
thí nghịch
To kill a superior.
thí nguyện ấn
3831梵語 varada mudrā。隨順眾生之所欲,由佛菩薩惠施資具之印相。又作與願印、滿願印。結此印時,左手作拳,執衣角,安於臍上。右手開五指,掌向外垂。據大日經疏卷十三稱,作此印時,以如來之力故,一切佛滿其所願,皆得成就。今剛界寶生如來與胎藏界寶幢如來均結此印。〔大日經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三〕
; Varada-mudrā (S).
; (施願印) Phạm: Varada-mudrà. Cũng gọi Dữ nguyện ấn, Mãn nguyện ấn.Ấn tướng mà Phật và Bồ tát dùng khi ban phát các vật cần thiết cho chúng sinh tùy theo ýmongmuốn của họ.Khi kết ấn này, tay trái nắm lại thành quyền, cầm lấy chéo áo,đặt ở trên rốn. Tay phải duỗi thẳng 5 ngón, lòng bàn tay hướng ra ngoài và chúi xuống. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì khi bắt ấn này, nhờ thần lực của Như lai mà tất cả Phật đều mãn nguyện. Bảo sinh Như lai thuộc Kim cương giới và Bảo chàng Như lai của Thai tạng giới đều kết ấn này.
thí ngạ quỷ hội
3831指施餓鬼之法會。又稱施餓鬼食、施食會、水陸會、眉山水陸、冥陽會。略稱施餓鬼。即爲墮於惡趣之餓鬼迴施諸種飲食之法會。依唐代不空所譯之救拔焰口餓鬼陀羅尼經載,阿難一夜在靜處思惟,焰口惡鬼來告阿難,謂其三日後將命終墮餓鬼道。阿難大驚,便問餓鬼行何方便得免其苦,餓鬼告以若能於翌日布施百千餓鬼及百千婆羅門仙等,各施一斛飲食,且供養三寶,即得增壽。阿難乃以此事白佛,佛爲示一陀羅尼,且說施食之法。此即後世施餓鬼法之根據。 不空之前,實叉難陀譯有救面然餓鬼陀羅尼神咒經、甘露陀羅尼各一卷,前者與不空所譯之經乃同本異譯。梁武帝創水陸會(普施齋食於水陸有情,以救拔諸鬼之法會),唐咸亨年間再興,然至實叉難陀後之水陸會,已和施餓鬼會混雜。依釋門正統卷四利生志(卍續一三○‧四○一下):「若夫施食之法,又非一切人天所知,惟如來以大慈普覆,不忍一切含靈受其飢餓苦惱,故假面然鬼王緣起,令阿難尊者以一摶食誦咒施之,今緇素通行,謂之施餓鬼食。經律所出有三不同,一涅槃經謂之曠野鬼,二焰口經謂之焰口鬼,三鼻奈耶律謂之訶利帝母,皆由如來善權示迹。」有關施餓鬼者之記載,始於道誠之釋氏要覽,其後有宋代遵式撰施食法、仁岳著施食須知。南宋後有如如居士顏丙亦作施食文、石芝宗曉作施食通覽、元代中峰明本作開甘露門等。勅修百丈清規卷七月分須知七月條(大四八‧一一五五上):「十五日解制,當晚設盂蘭盆會,諷經施食。」〔釋氏要覽卷一、忍辱雜記卷上施餓鬼會條、禪林象器箋卷十四喪薦門〕(參閱「焰口」5065)
; (施餓鬼會) Cũng gọi Thí ngã quỉ thực, Thí thực hội, Thủy lục hội, Khán sơn thủy lục, Minh dương hội. Gọi tắt: Thí ngã quỉ. Chỉ cho pháp hội cúng thí cho quỉ đói ăn.Kinh Cứu bạt diệm khẩu đà la ni do ngài Bất không dịch vào đời Đường nói: Một đêm, ngài A nan đang ngồi tư duy ở nơi vắng vẻ thì có ác quỉ Diệm khẩu(miệng bốc lửa) đến báo rằng 3 hôm nữaNgài sẽ mệnh chung và rơi vào đường quỉ đói. Ngài A nan rất kinh hãi, liền hỏi ngã quỉ làm cách nào để thoát khỏi khổ nạn, ngã quỉ bảo nếu ngày mai mà bố thí cho trăm nghìn quỉ đói, trăm nghìn vịBà la môn..., mỗi vị 1hộc thức ăn uống, đồng thời cúng dường Tam bảo thì được thêm tuổi thọ. Ngài A nan bạch đức Phật về việc này, Phật liền dạy 1 bàiĐà la ni và nói về pháp thí thực. Đây chính là nguồn gốc của pháp Thí ngã quỉ ở đời sau. Trước ngài Bất không, ngài Thực xoa nan đà có dịch kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ thần chú 1 quyển và Cam lộ đà la ni 1 quyển. Kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ thần chú là bản dịch khác của kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni do ngài Bất không dịch.Pháp hội Thủy lục (Pháp hội cúng thí thức ăn cho khắp các hữu tình ở dưới nước (thủy) và ở trên cạn(lục) để cứu các quỉ đói) đầu tiên ở Trung quốc là do vua Vũ đế nhà Lương tổ chức. Lợi sinh chí trong Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 401 hạ) nói: Pháp thí thực tất cả trời, người đều không biết, chỉ có đức Như lai vì lòng đại bi bao trùm khắp cả, không nỡ thấy hết thảy hàm linh chịu khổ não đói khát, nên Ngài mượn nhân duyên quỉ vương Diện nhiên, sai tôn giả A nan trì chú vào 1 nắm thức ăn rồi bố thí cho quỉ này. Hiện nay nghi thức cúng thí lưu hành trong giới xuất gia, tại gia, gọi là Thí ngã quỉ thực(cho quỉ đói ăn). Về quỉ vương này, trong kinh, luật có 3 tên gọi khác nhau: 1. Kinh Niết bàn gọi là Khoáng dã quỉ (quỉ đồng hoang). 2. Kinh Diệm khẩu gọi là Diệm khẩu quỉ(quỉ miệng lửa). 3. Luật Tì nại da gọi là Ha lợi đế mẫu, đều do đức Như lai khéo dùng phương tiện quyền xảo biến hiện ra. Những ghi chép về Thí ngã quỉ đầu tiên được thấy trong Thích thị yếu lãm của ngài Đạo thành. Về sau, có Thí thực pháp do ngài Tuân thức soạn vào đời Tống và Thí thực tu tri do ngài Nhân nhạc soạn. Vào đời Nam Tống thì có cư sĩ Như như Nhan bính soạn Thí thực văn, Thạch chi Tông hiểu soạn Thí thực thông lãm. Đến đời Nguyên, ngài Trung phong Minh bản soạn Cam lộ môn... Điều Nguyệt phần tu tri thất nguyệt trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) nói: Ngày 15 giải chế(kết thúc an cư), buổi chiều, cử hành hội Vu lan bồn, phúng kinh thí thực.
Thí ngạ quỷ hội 施餓鬼會
[ja] セガキエ se gaki e ||| 'Feeding-hungry-ghosts meeting.' A dharma-assembly where food is thrown onto sacred earth or water for hungry beings (ghosts) who have fallen into an evil destiny. "Repose of Souls." It is said that Ānanda started the tradition when he was informed to by a 'burning mouth' hungry ghost to do so. => 'Lễ bố thí thức ăn cho quỷ đói'. Pháp hội mà thức ăn, nước uống được dặt trong một đàn tràng để cúng cho loài quỷ đói đã bị đoạ vào đường ác. “ Những chúng sinh trong vô gián địa ngục”. Tương truyền A-nan bắt đầu thực hiện nghi thức nầy khi được một loài Diệm khẩu ngạ quỷ báo cho biết.
Thí nhất thiết vô uý đà-la-ni kinh 施一切無畏陀羅尼經
[ja] セイッサイムイダラニキョウ Se issai mui daranikyō ||| The Shi yiqie wuwei tuoluonijing; Skt. Sarvābhāyapradāna-dhāraṇī; Tib. thams cad la mi 'jigs pa rab tu sbyin pa [To.609/925]; (Dhāraṇī of Bestowing Complete Fearlessness). 1 fasc. (T 1373.21.889-890), trans. Dānapāla 施護. => (c: Shi yiqie wuwei tuoluonijing; s: Sarvābhāyapradāna-dhāraṇī; t: thams cad la mi 'jigs pa rab tu sbyin pa ; e: Dhāraṇī of Bestowing Complete Fearlessness). 1 quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
thí nhất thiết vô úy bồ tát
Xem Thí Vô Úy Bồ tát.
thí pháp
To dispense the Buddha's teachings.
thí phát
Cạo tóc theo như Đức Phật Thích Ca, người đã dùng lưỡi gươm bén cắt bỏ tóc hàm ý cắt đứt mọi hệ lụy với trần thế—To shave the hair, following Sakyamuni, who cut off his locks with a sharp sword or knife to signify his cutting himself off from the world.
thí quả cảm ngũ bất tử
3828據付法藏經卷三載,毘婆尸佛時,一比丘頭痛,薄拘羅尊者持一訶梨勒果施彼食之,其病即愈。尊者因施果之故,於九十一劫中在天上人間享福快樂,且未嘗有病。後生於婆羅門家,其母早亡,父所娶之繼母苦厭尊者,曾五度加害之,然皆無所損。及長,出家學道,證得阿羅漢果。尊者以施果之善因,招感其後母五度加害而不死之果報,即:(一)置鏊不死,尊者年幼,於後母做餅時從而索之,後母憎嫉,將其置於熱鏊上,然不能燒害。(二)釜煮不死,尊者於後母煮肉時從而索之,母益瞋恚,擲其於熱釜中,然不能害。(三)水溺不死,尊者於後母向河去時從而隨之,母即嫌惡,擲其於深水中而不溺斃。(四)魚吞不死,尊者於深水中被大魚吞入而不死。(五)刀割不死,尊者被魚吞入後,其魚亦遭捕入市場,然遇尊者之父買回,剖魚腹而救之。
; (施果感五不死) Bố thí quả được phúc báo 5 lần thoát chết.Kinh Phó pháp tạng quyển 3 ghi:Ở thời đức Phật Tì bà thi, có vị tỉ khưu bị đau đầu, tôn giả Bạt câu la bố thí cho vị ấy 1 quả Ha lê lặc, vị tỉ khưu liền hết bệnh. Nhờ công đức bố thí này mà ngài Bạc câu la được hưởng phúc lạc ở cõi trời, cõi người trong 91 kiếp và không hề bị đau ốm. Về sau, tôn giả Bạc câu la được sinh trong nhà 1 người Bà la môn, mẹ mất sớm, cha lấy vợ lẽ, tôn giả bị dì ghẻngượcđãi, ghét bỏ, 5 lần bà ta hãm hại mà tôn giả đều thoát chết. Lớn lên, tôn giả xuất gia học đạo và chứng quả A la hán. Năm lần bị hại và thoát chết là: 1. Đặt trên vỉnướng bánh không chết: Lúc tôn giả còn nhỏ, dì ghẻ làm bánh, tôn giả đòi ăn, dì ghẻ đặt tôn giả lên vỉ nướng bánh đang nóng đỏ, nhưng không thiêu hại được tôn giả. 2. Bỏ vào nồi nước nóng không chết: Dì ghẻ nấu thịt, tôn giả đòi ăn, bà ta tức giận, ném tôn giả vào nồi nước sôi, nhưng không giết hại được tôn giả. 3. Bỏ xuống sông không chết: Dì ghẻ đi chợ, tôn giả đòi đi theo, dìghẻrất ghét, liền ném tôn giả xuống sông nhưng không bị chết đuối. 4. Cá nuốt không chết: Trong dòng nước sâu, tôn giả bị con cá lớn nuốt vào trong bụng nhưng không chết. 5. Dao cắt không chết: Sau khi tôn giả bị cá nuốt vào bụng thì ông chài lưới được, đem ra chợ bán, gặp cha tôn giả mua đưa về và mổ bụng cá, cứu tôn giả thoát chết.
thí thiết
Thiết lập hay bắt đầu—To start, to establish, or to set up.
thí thiết luận
3830梵名 Prajñapti-śāstra。凡七卷。譯自小乘論部六足論中施設足論之「因施設門」。前四卷宋代法護譯,後三卷宋代惟淨譯。收於大正藏第二十六冊。內容論述有關世間業報差別之因。凡十四章。其中卷首標示對法大論中世間施設門第一,即第一章,其文注曰(大二六‧五一四上):「按釋論有此門,梵本元闕。」即世間施設門等缺,餘十三章爲對法大論中因施設門,於諸門中論釋輪王之七寶、佛初生之瑞相、有情之因果、三毒之輕重、世間諸法之差別、山海、變化、神通等。〔俱舍論寶疏卷一、俱舍論頌疏卷一、開元釋教錄卷十三〕(參閱「施設足論」3830)
; (施設論) Phạm:Prajĩapti-zàstra.Luận, 7 quyển, do ngài Pháp hộ và ngài Duy tịnh dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 26.Luận này tức là bản dịch của phần Nhân thi thiết môn trong Thi thiết túc luận, 1 trong 6 bộ Túc luận thuộc Luận bộ Tiểu thừa. Trong đó, 4 quyển đầu do ngài Hộ pháp dịch, 3 quyển sau do ngàiDuy tịnh dịch. Nội dung trình bày về Nhân sai biệt của nghiệp báo thế gian, gồm 14 chương. Trong đó, đầu quyển nêu lên môn thứ nhất là Thế gian thi thiết trong Đối pháp đại luận,tứcchương 1, văn chú thích nói (Đại 26, 514 thượng): Thấy trong Thích luận có môn này, còn nguyên bản tiếng Phạm thì thiếu; 13chươngcòn lại là Nhân thi thiết môn trong Đối pháp đại luận, giải thích về 7 thứ báu của Luân vương, tướng điềm lành lúc đức Phật mới sinh, nhân quả của hữu tình, sự khinh trọng của 3 độc, sự sai biệt của các pháp thế gian, núi sông, biến hóa, thần thông...
thí thiết luận bộ
Karmikah (skt)—Trường phái chủ trương trì giới vượt trên kiến thức—The school of Karma, which taugh the superiority of morality over knowledge.
thí thiết túc luận
3830梵名 Prajñāpti-pāda。小乘有部根本論藏之六足論之一。全稱阿毘達磨施設足論。唐玄奘三藏譯出六論中之五部,尚未譯及此論便止。舊譯俱舍論卷一以下名此論爲分別假名論,舊譯婆沙論亦往往有所引用。北宋法護等所譯之施設論七卷,即此論之節譯本。施設足論之完整本,今唯有西藏本,存於丹珠爾中,其內分:(一)世間施設,(二)因施設,(三)業施設。漢譯之施設論即其第二因施設,然亦非全譯。本論之作者,或謂大迦多衍那,或謂係大目犍連所造。
; (施設足論) Phạm:Prajĩàpti-pàda. Gọi đủ: A tì đạt ma thi thiết túc luận. Luận, là 1 trong 6 bộ Túc luận thuộc Luận tạng căn bản của Hữu bộ, Tiểu thừa; có thuyết cho rằng do ngài Đại ca đa diễn na, hoặc do ngài Đại mục kiền liên soạn. Luận Câu xá quyển 1 (bản dịch cũ) gọi luận này là luận Phân biệt giả danh. Luận Thi thiết 7 quyển do ngài Pháp hộ dịch vào đời Bắc Tống chính là bản dịch lược bớt của luận này. Bản dịch hoàn chỉnh của Thi thiết túc luận hiện nay chỉcóbản dịch Tây tạng được thu vào Đan châu nhĩ. Nội dung gồm: 1. Thế gian thi thiết. 2. Nhân thi thiết. 3. Nghiệp thi thiết. Luận Thi thiết bản Hán dịch chính là1 phần của chương thứ 2 Nhân thi thiết.
thí thân
To sacrifice one's life.
thí thực
3829<一>將飲食布施予他人之義。施食有許多功德,如佛爲首迦長者說業報差別經稱,奉施飲食,得十種功德:(一)得命。(二)得色。(三)得力。(四)得安無礙辯。(五)得無所畏。(六)無諸懈怠,爲眾敬仰。(七)眾人愛樂。(八)具大福報。(九)命終生天。(十)速證涅槃。其他如未曾有因緣經卷上、經律異相卷十一等,都列出施食可得種種功德。此外,以餓鬼爲對象之施食儀式,稱施餓鬼、施食會。在諸回向清規式卷一中,除施餓鬼之外,尚有盂蘭盆結緣施食、盂蘭盆亡者追薦施食、施食、時正施食、臨時施食略回向、施食略回向、施食略通回向等之回向文。 <二>又作唱食。在禪林,食粥之際,首座首先唱偈咒願之謂。據禪苑清規卷一中載,粥時唱(卍續一一一‧四四一下):「粥有十利,饒益行人;果報生天,究竟常樂。」(施粥偈)又載「粥是大良藥,能除消飢渴;施受獲清涼,共成無上道。」齋時則唱:「三德六味,施佛及僧;法界人天,普同供養。」(施齋偈)又施食已,行者須喝食。〔勅修百丈清規卷四維那條、禪林象器箋卷十三諷唱門〕
; To bestow food.
; 1) Cúng dường thức ăn cho chư Tăng: To bestow food on monks. 2) Bố thí thức ăn cho quỷ đói: To bestow food on hungry ghosts.
; (施食) I. Thí Thực. Đem bố thí thức ăn uống cho người khác. Kinh Phật vị Thủ catrưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt nói rằng bố thí thức ăn uống được 10 công đức như sau: Được sống lâu, thân xinh đẹp, được mạnh khoẻ, được yên vui và biện tài vô ngại, không sợ hãi, không biếng nhác, được mọi người kính ngưỡng, ai cũng thương mến, đầy đủ phước báo, chết được sinh cõi trời, mau chứng niết bàn.Các kinhluậnkhác như kinh Vị tằng hữu nhân duyên quyển thượng, kinh luật dị tướng quyển 11... đều cho rằng thí thực được rất nhiều công đức. Trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 1, ngoài Thí ngã quỉ, còn có Vu lan bồn kết duyên thí thực, Vu lan bồn vong giả truy tiến thí thực, Thí thực, Thời chính thí thực, Lâm thời thí thực lược hồi hướng, Thí thực lược hồi hướng, Thí thực lược thông hồi hướng... II. ThíThực. Cũng gọi Xướng thực. Xướng kệ chú nguyện khi thụ thực trong Thiền lâm. Thiền uyển thanh qui quyển 1 ghi: Khi ăn cháo, xướng kệ thí chúc (Vạn tục 111, 441 hạ): Chúc hữu thập lợi, nhiêu ích hành nhân; quả báo sinh thiên, cứu cánh thường lạc(Kệ cho cháo:Cháo có 10 điều lợi, lợi ích cho người tu hành, quả báo được sinh cõi trời, rốt ráo thường yên vui). Sách này còn ghi: Cháo là phương thuốc hay, tiêu trừ bệnh đói khát; cho, nhận đều mát mẻ, cùng thành đạo vô thượng. Giờ thụ trai thì xướng: Tam đức lục vị, thí Phật cập tăng; pháp giới nhân thiên, phổ đồng cúng dường(Ba đức 6 vị, cúng Phật và tăng; pháp giới trời, người, cúng dường đều khắp). Đây là kệ thí trai, xướng xong thì hành giả thỉnh trai.
thí thực hoạch ngũ phúc báo
3829據施食獲五福報經舉出,施食者當得下列五種福報,即:(一)人於七日不食則死,若以食施之而延其性命,即爲施命,此施命者當得世世長壽、財富無量之福報。(二)人不得食則顏色憔悴,若以食施之而潤其色澤,即爲施色,此施色者當得世世端正、人見歡喜之福報。(三)人不得食則身羸力弱,若以食施之而增其體力,即爲施力,此施力者當得世世多力而無耗減之福報。(四)人不得食則心愁身危,不能自安,若以食施之而令其安穩,即爲施安,此施安者當得世世安穩、不遇災患之福報。(五)人不得食則乏力難言,若以食施之而令其言語,即爲施辯,此施辯者當得辯慧通達、聞者喜悅之福報。
; (施食獲五福報) Bố thí thứcăn được năm phúc báo. Cứ theo kinh Thí thực hoạch ngũ phúc báo thì bố thí thức ăn cho người sẽ được 5 phúc báo như sau: 1. Người trong 7 ngày không ăn thì chết, nếu bố thí thức ăn thì mệnh sống của họ được kéo dài, tức là thí mệnh. Người thí mệnh này sẽ được phúc báo đời đời sống lâu, giàu có vô lượng. 2. Người không có ăn thì thân thể tiều tụy, nếu bố thí thức ăn thì dung mạo của họsẽtươi tắn, tức là thí sắc. Người thí sắc này sẽ được phúc báo đời đời xinh đẹp, mọi người trông thấy đều ưa thích. 3. Người không được ăn thì thân gầy sức yếu, nếu bố thí thức ăn thì sẽ làm tăng thể lực của họ, tức là thí lực. Người thí lực này sẽ được phúc báo đời đời nhiều sức khoẻ, không tổn hao. 4. Người không được ăn thì lòng buồn rầu, thân bất an, nếu bố thí thức ăn thì giúp họ được an ổn, tức là thí an. Người thí an này sẽ được phúc báo đời đời yên vui, không gặp tai nạn. 5. Người không được ăn thì sức yếu ớt, không thể nói năng; nếu bố thí thức ăn thì giúp họ nói được, tức là thí biện. Người thí biện này sẽ được phúc báo đời đời trí biện thông suốt, người nghe vui vẻ.
thí tài
3829即布施財物。與財施、達嚫同義。若有檀家(施主)施財時,維那通過聖龕之後,至首座前,問訊請施財偈,回槌處打槌一下,首座唱施財偈。禪苑清規卷一赴粥飯(卍續一一一‧四四一下):「(維那)打槌一下,首座施財,(喝云:『財法二施,等無差別,檀波羅蜜,具足圓滿。』)庫頭或維那次第行襯。」
; Tài thí—To give money to the poor.
; (施財) Đồng nghĩa: Tài thí, đạt thấn. Bố thí tài vật. Khi có người(thí chú, đàn việt) bố thí tài vật thì vị Duy na, sau khi tác bạch Thánh tăng, đến trước vị Thủ tọa vấn an và xin xướng kệ thí tài, rồi đến chỗ để kiền chùy, gõ 1 tiếng, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài. ĐiềuPhó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) ghi: ... (Duy na) gõ 1 tiếng kiền chùy, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài rằng: Tài pháp nhị thí, đẳng vô sai biệt, đàn ba la mật, cụ túc viên mãn(tài thí và pháp thí như nhau, không khác, bố thí ba la mật trọn vẹn, hoàn toàn). Xong rồi, vị Thủ kho hay vị Duy na theo thứ tự phân chia tài vật.
thí tăng
To give alms to monks.
; Cúng dường một vị Tăng—To give alms to a monk.
thí vô uý
3830梵語 abhaya-dāna。即拔濟種種之怖畏。又作無畏捨、無畏施。施,有財施、法施、無畏施三種,此無畏施即救度眾生,爲其祛除種種怖畏之意。法華經卷七普門品謂,觀世音菩薩於怖畏急難中,能施無畏,故有「施無畏者」之稱。蓋佛苦薩以種種之威力方便,拔濟獅子、虎、狼、水、火、盜賊等諸怖畏,施以安慰眾生。〔瑜伽師地論卷三十九〕
; Abhaya dāna (S), Abhayapradāna (S), Fearlessness giving Vô úy thíThí cho chúng sanh cái đức tánh chẳng sợ sệt. Một trong tam thí: tài thí, pháp thí, vô úy thí.
; (施無畏) Phạm: Abhaya-dàna. Cũng gọi Vô úy xả, Vô úy thí. Dứt trừ sự sợ hãi cho người, 1 trong 3 thí.Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 nói rằng Bồ tát Quán thế âm thường cứu độ chúng sinh trong những lúc họ gặp tai nạn nguy cấp, làm cho họ không sợ hãi, nênNgài có hiệu là Thí vô úy giả. Phật, Bồ tát dùng các phương tiện uy lực để trừ khử sự sợ hãi sư tử, hổ báo, chó sói, nước trôi, lửa cháy, giặc cướp... mang lại an ổn cho chúng sinh.
thí vô uý bồ tát
3830施無畏,梵名 Abhayaṃ-dada。全稱施一切無畏菩薩。爲密教現圖胎藏界曼荼羅除蓋障院之第三尊。此尊以拔除一切眾生之種種怖畏憂患爲本誓。密號爲自在金剛。其形像,身呈肉色,右手結施無畏印,左手作金剛拳安於膝上,坐於赤蓮華上。其真言爲:歸命阿佩延(abhayaṃ,無畏)那那(dada,施)莎訶(svāhā)。〔大日經卷四、大日經疏卷十三〕
; (施無畏菩薩) Thí vô úy, Phạm: Abhayaô-dada. Gọi đủ: Thí nhất thiết vô úy Bồ tát. Vị tôn thứ 3 của viện Trừ cái chướng trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này lấy việc diệt trừ sự lo âu sợ hãi cho tất cả chúng sinh làm bản thệ, mật hiệu là Tự tại kim cương. Về hình tượng, vị tôn này mình màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay phải kết ấn Thí vô úy, tay trái nắm lại thành kim cương quyền đặt trên đầu gối. Chân ngôn là: Qui mệnh A bội diên (abhayaô, vô uý) na na (dada, thí) sa ha (svàhà).
thí vô uý ấn
3830梵語 abhayaṃ-dada mudrā。施無所畏之德,離怖畏之印明,即象徵施一切眾生安樂無畏之印。結此印時,舉右手,五指前伸,掌向外,左手作拳,又執袈裟之兩角,安於臍上。如法句譬喻經卷三載,調達欲害佛,放五百醉象時,佛舉五指調御之。金剛界不空成就如來與胎藏界開敷華如來亦結此印。結此印所誦之真言爲:南麼三曼多勃馱喃(namaḥ samanta buddhānām,歸命普遍諸佛)薩婆他(sarvathā,遍一切處)爾娜爾娜(jina jina,勝)佩也那者那(bhaya naśna,除恐怖)莎訶(svāhā,成就),意即如來之勝力遍一切處,普除一切之恐怖煩惱。〔大日經卷四、卷十三、胎藏界三密抄卷三〕
; (施無畏印) Phạm: Abhayaô-dada mudrà. Chỉ cho ấn khế biểu thị sự bố thí cho tất cả chúng sinh niềm an vui không sợ hãi.Khi kết ấn, tay phải giơ lên, 5 ngón duỗi thẳng, bàn tay hướng ra ngoài, tay trái nắm lại, cầm lấy 2 góc áo ca sa để ở trên rốn. Bất không thành tựu Như lai thuộc Kim cương giới và Khai phu hoa Như lai thuộc Thai tạng giới của Mật giáo cũng kết ấn này. Bài chân ngôn được tụng khi kết ấn này là: Na ma tam mạn đa bột đà nẫm (Nama# samanta buddhànàm, qui mệnh phổ biến chư Phật) tát bà tha (sarvathà, biến nhất thiết xứ) nhĩ na nhĩ na (jina, jina, thắng) bội dã na giả na (bhaya nazna, trừ khủng bố) sa ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là năng lực thù thắng của Như lai trùm khắp tất cả mọi nơi, diệt trừ hết thảy phiền não sợ hãi.
thí vô yếm tự
See Na Lan Đà Tự.
thí vô úy
Abhayandada (S). The bestower of fearlessness, a tittle of Quán Âm.
; Abhayandada or Abhayadana (skt)—Còn gọi là Thí Vô Úy Giả hay Thí Vô Úy Tát Đỏa. 1) Người bố thí sự vô úy: Làm cho người khác không còn lo âu sợ hãi—The bestower of fearlessness. 2) Một danh hiệu của Đức Quán Thế Âm (vì ngài là chỗ nương tựa của chúng sanh, khiến họ không còn sợ hãi nữa): A title of Kuan-Yin. 3) Một vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới: A bodhisattva in the Garbhadhatu.
thí vô úy bồ tát
Abhayaṃdāna (S), Abhayaṃdada (S), Fearlessness-Giving Bodhi-sattvaThí Nhất Thiết Vô Úy Bồ tátMột trong những danh hiệu của Quan Thế Âm Bồ tát vỉ Ngài ban phát cho những ai cầu nguyện Ngài 14 phép vô úy để người ta không bị lo sợ khổ - nạn.
thí vô úy ấn
Abhaya mudrā (S).
thí ân
To grant s.o. a favour; to do s.o. a kindness. Thi ân bất cầu báo to do good for its own sake.
; See Thi ân.
Thí đáo bỉ ngạn 施到彼岸
[ja] セトウヒガン setōhigan ||| The perfection of giving. See => Sự viên mãn của việc bố thí. Xe, Thí ba-la-mật施波羅蜜. .
Thí độ
xem Đàn Ba-la-mật.
Thí, thi 施
[ja] セ shi, se ||| (1) Give alms; conduct, carry out, administer, apply, perform. To bestow, to grant, to act, to do. Giving, 'charity.' (2) To extend to. (3) To relax, to do away with. (4) One of the Six Perfections (dāna). => 1. Bố thí, thi hành, thực hiện, ứng dụng, trình bày. Ban cho, tặng cho, hành động, làm. 2. Tặng phẩm 'từ thiện'. 3. Mở rộng đến. 4. Buông lỏng, gạt bỏ. 5. Một trong sáu ba-la-mật (s: dāna).
thích
6817<一>釋迦之略稱。釋迦即釋尊出生種族之名稱。故皈依佛教之出家弟子稱為釋子,取釋迦佛(釋迦族出身之佛)之法孫之意;又各捨其俗姓,故稱釋氏,意即以釋迦為氏,此乃東晉道安之主張。此外,釋尊之教法(即佛教),稱為釋教;奉其教法之門流宗派(即佛門),則稱釋家、釋門;佛教、道教並稱為釋道。 <二>對於釋尊所說之經及印度諸論師所造之論,各國佛教徒予以注釋,亦謂之「釋」,注釋者即稱釋家。(參閱「經家」5553)
; ~vṛtti (S)Tiếp vĩ ngữ: thích, như trong Thất thập không tính luận thích.
; To separate out, set free, unloose, explain; Buddhism, Buddhist.
; 1) Cắt: To cut. 2) Favored—To be fond of—To prefer—To like—To love. 3) To explain (giải thích). 4) To tattoo (xâm). 5) To assassinate (hành thích). 6) Đá: To kick. 7) Vừa Đến: To reach—To go to. 8) Thích Hợp Với: To accord with. 9) Thình lình: Suddenly. 10) Phóng thích: To set free—To unloose. 11) Thích Già: Sakyamuni (skt)—See Thích Ca. 12) Đạo Thích Ca: Buddhism. 13) Thích Tử: Buddhist.
; (釋) I. Thích. Gọi đủ: Thích ca. Thích ca là tên gọi dòng họ của đức Phật, cho nên các đệ tử xuất gia theo Phật được gọi là Thích tử, đồng thời bỏ họ thế tục lấy theo họ Thích ca, ọi là Thích thị, đây là chủ trương của ngài Đạo an đờiĐông Tấn. Ngoài ra, giáo pháp của đức Thích tôn(tức Phật giáo), gọi là Thích giáo; các dòng phái(tức Phật môn) vâng theo giáo pháp của Phật, gọi là Thích gia, Thích môn; Phật giáo và Đạo giáo gọi chung là Thích đạo.II. Thích. Đối với các kinh do đức Thích tôn nói và các luận do các Tổ sư Ấn độ soạn, tín đồ Phật giáo các nước đem ra chú thích, cũng gọi là Thích, người chú thích thì gọi là Thích gia.
thích ca
6823梵名 Śākya。意譯作能仁。釋迦牟尼所屬種族之名稱,為佛陀五姓之一。又為釋迦牟尼之簡稱。釋迦族為古印度民族之一,屬武士階級,為雅利安民族中日種系(梵 Sūryavaṃśa)甘蔗王(梵 Ikṣvāku)之後裔。佛陀出身於此族,因而稱為釋迦牟尼(梵 Śākya-muni,即釋迦族之聖者)。
; Sakiya (P), Śākya (S), Sakka (P), Sakiya (P)Thiên chủ, Thích Đề Hoàn.
; Sakya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, bộ tộc hay gia đình Thích Ca, người ta nói từ Thích Ca lấy từ danh từ “Saka” có nghĩa là thực vật, nhưng theo Hoa ngữ có nghĩa là mạnh, có sức lực, và được giải thích bằng chữ “Năng.” Dòng họ Thích Ca đã rày đây mai đó (dân du mục) dọc theo thung lũng đồng bằng Ấn Hà,sau đó chiếm cứ một khu vực vài ngàn dặm vuông nằm theo triền đồi xứ Népal và những vùng thảo nguyên về phía nam. Kinh đô là thành Ca Tỳ La Vệ. Vào thời Đức Phật còn tại thế, bộ tộc được đặt dưới sự quyền cai trị của Kosala, một vương quốc lân cận. Về sau nầy, muốn cho vượt trội hơn Bà La Môn, những Phật tử đã dựng nên một dòng họ huyền thoại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, the clan or family of the Buddha, said to be derived from Saka, vegetables, but interpreted in Chinese as powerful, strong, and explained by “Neng.” The clan, which is said to have wandered hither from the delta of the Indus, occupied a district of a few thousand square miles lying on the slopes of the Nepalese hills and on the plains to the south. Its capital was Kapilavastu. At the time of the Buddha, the clan was under the suzerainty of Kosala, an adjoining kingdom. Later Buddhists, in order to surpass Brahmans, invented a fabulous line of five kings: (I) Một dòng họ huyền thoại Vivartakalpa khởi đầu bởi Thiên Tam Muội Đa—A fabulous line of five kings of the Vivartaklapa headed by Mahasammata. (II) Theo sau đó là năm vị Luân Vương, và vị vua đầu tiên là Đảnh Sanh Vương: Followed by five Cakravarti, the first being Murdhaja. (III) Theo sau đó là mười chín (19) vua khác, bắt đầu với vua Xả Đế và cuối cùng là vua Đại Thiên—Then came nineteen kings, the first being Catiya, the last Mahadeva. (IV) Sau đó được kế vị bởi các triều đại của 5.000 vị vua—These were succeeded by dynasties of 5,000 kings. (V) 7.000 vị vua—7,000 kings. (VI) 8.000 vị vua—8,000 kings. (VII) 9.000 vị vua—9,000 kings. (VIII) 10.000 vị vua—10,000 kings. (IX) 15.000 vị vua—15,000 kings. (X) Sau đó vua Cồ Đàm mở đầu 1.100 vị vua, cuối cùng bởi vua Iksvaku, ngự trị vùng Potala—After which king Gautama opens a line of 1,100 kings, the last, Iksvaku, reigning at Potala. (XI) Với dòng vua cuối cùng Iksvaku, người ta nói dòng Thích Ca khởi đầu. Bốn người con của Iksvaku ngự trị vùng Ca Tỳ La Vệ. Thích Ca Mâu Ni là dòng dõi bảy đời của Iksvaku. Về sau thành Ca Tỳ La Vệ bị Trì Quốc tiêu diệt, bốn người sống sót của dòng họ lập nên những vương quốc Udyana, Bamyam, Himatala, và Sambi—With Iksvaku, the sakyas are said to have begun. His four sons reigned at Kapilavastu. Sakyamuni was one of his descendants in the seven generations. Later, after the destruction of Kapilavastu by Virudhaka, four survivors of the family founded the kingdoms of Udyana, Bamyam, Himatala, and Sambi.
; (釋迦) Phạm:Zàkya. Hán dịch: Năng nhân. Dòng họ của đức Phật, 1 trong 5 họ của Ngài. Tộc Thích ca là 1 trong các dân tộc ở Ấn độ đời xưa, thuộc giai cấp Vũ sĩ, là con cháu của vua Cam giá (Phạm: Jkwvàka) thuộc hệ thống Nhật chủng (Phạm:Sùryavaôsa). Đức Phật xuất thân từ chủng tộc này, cho nên gọi là Thích ca mâu ni (Phạm: Zàkya-muni, tức là bậc Thánh của chủng tộc Thích ca).
thích ca bà
Sakra (skt)—Thiên vương.
thích ca bát tướng nuy văn khố
6823凡五十七冊。日人萬亭應賀(1818~1890)作。以婦女為對象而改寫有關釋尊一生之傳記。書中之人名、地名皆沿用本名,人物之言行則一律日本化。一編一冊,自弘化二年至慶應四年(1845~1868)陸續刊行。各編編首皆附自序。前二十三編插畫為歌川豊國所繪;第二十四編以後為歌川國貞所繪。作者萬亭應賀本名為服部長三郎,除本書外,尚有遺作神代藻鹽草、日連記旭衣、忠義教誡赤松譚、葛葉九重錦、教訓武藏鐙、孝惡兩面鏡、英雄五大力等。
; (釋迦八相倭文庫) Truyện kí, 57 tập, do ông Vạn đình Ứng hạ (1818-1890) người Nhật bản soạn. Nội dung sách này lấy phụ nữ làm đối tượng để cải biên những truyện có liên quan đến cuộc đời của đức Thích tôn. Nhân danh, địa danh trong sách đều dùng theo tên cũ, nhưng ngôn hạnh của các nhân vật thì đều được Nhật bản hóa. Từ năm Hoằng hóa thứ 2 đến năm Khánh ứng thứ 4 (1845- 1868) liên tục ấn hành mỗi lần 1 tập. Ở đầu mỗi tập đều có lời tựa của chính tác giả. Những tranh minh họa trong 23 tập trước do Ca xuyên Phong quốc vẽ, từ tập 24 trở đi thì do Ca xuyên Quốc trinh vẽ. Tác giả Vạn đìnhỨng hạ vốn có tên là Phục bộ trường Tam lang, ngoài sách này, ông còn có các tác phẩm: Thần đại tảo diêm Thỉ Xuy Khánh Huythảo, Nhật liên kí húc y, Trung nghĩa giáo giới xích tùng đàm,Cát diệp cửu trùng cẩm, Giáo huấn vũ tạng đăng, Hiếu ác lưỡng diện kính, Anh hùng ngũ đại lực...
thích ca bồ tát
Sakya-bodhisattva (skt)—Một trong những tiền kiếp của Phật Thích Ca—One of the previous incarnation of the Buddha.
thích ca di danh
6832謂如來於娑婆世界中有無數之稱號。如一切義成、圓滿月、獅子吼、釋迦牟尼、第七仙、毘盧遮那、瞿曇氏、大沙門、導師等。〔八十華嚴經卷十二〕
; (釋迦异名) Các danh hiệu khác của đức Thích ca. Trong thế giới Sa bà, đức Như lai có vô số danh hiệu, như Nhất thiết nghĩa thành, Viên mãn nguyệt, Sư tử hống, Thích ca mâu ni, Đệ nhất tiên, Tì lô giá na, Cù đàm thị, Đại sa môn, Đạo sư...
thích ca giáp thị
6829夾侍,又作挾侍、脅士,指侍立於中尊兩側之侍聖。大乘以文殊、普賢二菩薩為釋迦佛之夾侍,由勝劣之次第,文殊在左(印度俗法尚左),普賢在右;若依理智、定慧等法門,則普賢當在左,文殊當在右。小乘則以迦葉、阿難二阿羅漢為釋迦之夾侍,依戒臘之高低,迦葉在左,阿難在右。
; (釋迦夾侍) Giáp thị, cũng gọi Hiếp sĩ, tức chỉ cho 2 vị Thánh đứng hầu 2 bên đức Thích ca Trung tôn. Đại thừa lấy 2 Bồ tát Văn thù, Phổ hiền làm giáp thị của Phật Thích ca, do thứ tự thắng, liệt nên ngài Văn thù ở bên trái(phép thế tục Ấn độ chuộng bên trái), ngài Phổ hiền ở bên phải. Nếu y theo pháp môn lí trí, định tuệ thì ngài Phổ hiền ở bên trái, ngài Văn thù ở bên phải. Tiểu thừa thì lấy 2 vị A la hán Ca diếp và A nan làm giáp thị của Phật Thích ca, theo giới lạp cao, thấp nên ngài Ca diếp ở bên trái, ngài A nan ở bên phải.
thích ca kinh
6832為唐代敏法師所立二教之一。指釋迦佛為應眾生之機根而說方便委屈之教法,如法華經、涅槃經等。為「盧舍那經」之對稱。(參閱「二教」211)
; (釋迦經) Đối lại: Lô xá na kinh. Chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca nói ra, tức giáo pháp phương tiện thích ứng với căn cơ của chúng sinh mà thuyết giảng, như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn... Đây là 1 trong 2 giáo do Pháp sư Mẫn đời Đường phán lập.
Thích Ca Mâu Ni
(s: Śākya-muni, p: Sakya-muni, 釋迦牟尼): ý là bậc Thánh nhân xuất thân từ dòng họ Thích Ca; còn gọi là Thích Ca Văn Ni (釋迦文尼), Xa Ca Dạ Mâu Ni (奢迦夜牟尼), Thích Ca Mâu Nẵng (釋迦牟曩), Thích Ca Văn (釋迦文); gọi tắt là Thích Ca (釋迦), Mâu Ni (牟尼), Văn Ni (文尼); ý dịch là Năng Nhân (能仁), Năng Nhẫn (能忍), Năng Tịch (能寂), Tịch Mặc (寂默), Năng Mãn (能滿), Độ Ốc Tiêu (度沃焦), hay Thích Ca Tịch Tĩnh (釋迦寂靜), Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn (釋迦牟尼世尊), Thích Tôn (釋尊); là đấng giáo tổ của Phật Giáo. Nguyên do xưng hiệu của Ngài có thể tìm thấy trong Quán Chư Dị Đạo Phẩm (觀諸異道品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 20, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ Luận (阿毘曇八犍度論, Taishō Vol. 26, No. 1543) quyển 30, v.v. Đức Thích Tôn vốn là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯) thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛) thuộc miền Bắc Ấn Độ. Thành này hiện tại ở vùng phụ cận Tilori-Kot (提羅里克, Đề La Lí Khắc) thuộc phía Nam Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), phía Đông Bắc sông Rapti (拉布提, Lạp Bố Đề). Diện tích tiểu quốc này khoảng 320 m2, thuộc vào vương quốc Kiều Tát La (s: Kauśala, Kośalā, p: Kosala, 憍薩羅). Đương thời Bắc Ấn thực hành chế độ Cộng Hòa quý tộc, phân thành 10 bang thành nhỏ, trong đó chọn ra vị lãnh đạo có thế lực nhất, và lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn là vị lãnh tụ tối cao. Hoàng hậu Ma Da (s: Māyā, 摩耶), mẫu thân của đức Phật, là con gái của chủ Thành Thiên Tý (s: Devadaha, 天臂) thuộc bộ tộc Cư Lợi (居利) lân quốc. Trước khi hạ sinh Thái Tử, theo tập tục đương thời, phu nhân phải quay trở về Thành Thiên Tý để chờ ngày lâm bồn, dọc đường khi đang dừng chân nghỉ tại vườn Lâm Tỳ Ni (s, p: Lumbinī, 藍毘尼), ngay dưới gốc cây Vô Ưu (s: aśoka, 無憂), nàng hạ sinh Thái Tử. Theo Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng, Phẩm Giáng Thân (降身品), khi đản sanh, đức Thích Tôn đi bảy bước, đưa tay lên nói rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, Tam Giới giai khổ, ngô đương an chi (天上天下、唯我爲尊、三界皆苦、吾當安之, trên trời dưới đất, chỉ ta trên hết, Ba Cõi là khổ, ta sẽ làm yên).” Ngoài ra, các điển tịch như Vị Tằng Hữu Pháp Kinh (未曾有法經) của Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 8, dị xuất bồ tát bản khởi kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Phẩm Dục Sanh Thời Tam Thập Nhị Thụy (欲生時三十二瑞品) của Phổ Diệu Kinh (普曜經, Taishō Vol. 3, No. 186) quyển 2, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3, Phẩm Thọ Hạ Đản Sanh (樹下誕生品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 8, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 70, v.v., đều có ghi lại nhiều tướng lạ khác nhau khi đức Thích Tôn hạ sanh. Sau khi trở về cung, Thái Tử được đặt cho tên là Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多), hay Tát Bà Tất Đạt (s: Sarva-siddhārtha, p: Sabba-siddhattha, 薩婆悉達), Tát Bà Ngạch Tha Tất Đà (s: Sarvārtha-siddha, 薩婆額他悉陀), Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đà (薩婆曷刺他悉陀), Tất Đạt La Tha (悉達羅他), Tất Đạt (悉達); ý dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (一切義成), Nhất Thiết Sự Thành (一切事成), Tài Cát (財吉), Cát Tài (吉財), Thành Lợi (成利), Nghiệm Sự (驗事), Nghiệm Nghĩa (驗義). Sau khi sanh con được 7 ngày, phu nhân qua đời, Thái Tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, 摩訶波闍波提) nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Theo Phẩm Tập Học Kỷ Nghệ (習學技藝品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 11, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 3, v.v., cho biết rằng thưở thiếu thời Thái Tử từng theo học tập văn chương với Bà La Môn Tỳ Xa Mật Đa (s: Viśvamitra, 毘奢蜜多), học võ nghệ với Sàn Đề Đề Bà (s: Kṣāntideva, 羼提提婆), hết thảy đều thông hiểu. Khi trưởng thành, Thái Tử kết hôn với Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅), con gái của Thiện Giác Vương (s: Suprabuddha, 善覺王)—thành chủ của Thiên Tý Thành, hạ sanh La Hầu La (s, p: Rāhula, 羅睺羅). Theo Phẩm Du Quán (遊觀品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho biết rằng Thái Tử từng ra bốn cửa thành dạo chơi, thấy các hình tượng già, bệnh, chết, vị Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門), v.v., thâm cảm được nỗi thống khổ cũng như vô thường của kiếp người, bèn dấy khởi ý chí xuất gia tu đạo. Năm lên 29 tuổi (có thuyết cho là 19), nữa đêm Người rời khỏi vương cung, tự cởi bỏ áo mão để trở thành Sa Môn. Ban đầu, Thái Tử cầu đạo với tiên nhân Bạt Già Bà (s: Bhārgava, 跋伽婆) của nước Tỳ Xá Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘舍離), rồi đến thọ giáo với các hiền giả A La La Ca Lam (s: Ārāḍa-kālāma, 阿羅邏迦藍), Uất Đà Ca La Ma Tử (s: Udraka-rāmaputra, 鬱陀迦羅摩子) ở Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城). Cuối cùng, Người đến Khổ Hạnh Lâm ở thôn Ưu Lâu Tần La (s: Uruvilvā, 優樓頻羅) thuộc phương Nam thành Già Da (s, p: Gayā, 伽耶) của vương quốc Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), bắt đầu cuộc sống khổ hạnh trong vòng 6 năm, và có 5 người thị giả do vua Tịnh Phạn phái đến cùng tu. Trong thời gian này, mỗi ngày Người chỉ ăn một hạt mè, một hột lúa mạch, đến nỗi thân hình khô gầy, tâm thể suy kiệt, nhưng cuối cùng vẫn không thành đạo; nên Người mới ngộ được rằng khổ hạnh không phải là nhân đạt đến đạo quả, bèn rời khỏi khu rừng này. Lúc bấy giờ, 5 người cùng tu ngộ nhận rằng Thái Tử thối thất đạo tâm, nên bỏ đi. Thái Tử đến tắm rửa bên dòng sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, 尼連禪), thọ nhận bát sữa cúng dường của cô mục nữ. Sau khi phục hồi thể lực, Người đến dưới cây Tất Bát La (s: pippala, 畢鉢羅) ở thôn Già Da, lấy cỏ Cát Tường trãi thành tòa Kim Cang, ngồi Kiết Già xoay mặt về hướng Đông, thân ngay thẳng chánh niệm, tâm tĩnh lặng mặc chiếu, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào lúc trời hừng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Người hoát nhiên đại ngộ, lúc đó là 35 tuổi (có thuyết cho là 32). Do nhân duyên này, cây Tất Bát La được gọi là Bồ Đề Thọ (s: bodhivṛkṣa, 菩提樹). Sự kiện đức Thích Tôn hàng phục ma quân, cho đến thành đạo được ghi lại trong các điển tịch như La Ma Kinh (羅摩經) của Trung A Hàm Kinh quyển 56, Lục Niên Cần Khổ Phẩm (六年勤苦品) và Hàng Ma Phẩm (降魔品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, phật bản hạnh tập kinh quyển 26~30, Ngũ Phần Luật (五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 15, v.v. Sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc Dã (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿野, tức Lộc Uyển), Thành Ba La Nại (s: Vārāṇasī, p: Bārāṇasī, 波羅奈), độ cho 5 vị thị giả đã từng cùng tu với Ngài trước đây. Các vị này sau trở thành những Tỳ Kheo nổi tiếng là A Nhã Kiều Trần Như (p: Ājñāta-Kauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 阿若憍陳如), A Thấp Bà Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿濕婆恃), Bạt Đề (s: Bhadrika, p: Bhaddiya, 跋提), Ma Ha Nam (s, p: Mahānāma, 摩訶男), Bà Sa Ba (s: Bāṣpa, p: Vappa, 婆沙波, tức Thập Lực Ca Diếp [s: Daśabala-kāśyapa, p: Dasabala-kassapa, 十力迦葉]). Liên quan đến sự tích đức Phật lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, diễn thuyết Tứ Thánh Đế (s: catvāri-āryasatyāni, p: cattāri-ariyasaccāni, 四聖諦), Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), v.v., Chuyển Pháp Luân Kinh (轉法輪經) của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 15, Ngũ Phần Luật quyển 15, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 39, v.v., có ký lục đầy đủ. Như trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (法華經通義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) quyển 4 có đoạn rằng: “Thích Tôn sơ ư Lộc Uyển, tam chuyển Tứ Đế pháp luân, độ tham thị ngũ nhân, nhi Kiều Trần tiên ngộ, dĩ tối sơ đắc độ (釋尊初於鹿苑、三轉四諦法輪、度參侍五人、而憍陳先悟、以最初得度, đức Thích Tôn ban đầu tại Lộc Uyển, ba lần chuyển bánh xe pháp thuyết Tứ Đế, độ năm người hầu cận tham học, mà Kiều Trần Như ngộ trước, là người đắc độ đầu tiên).” Sau này, đức Phật tự xưng là Như Lai (s, p: tathāgata, 如來). Có rất nhiều ngữ nghĩa của từ này, nhưng nghĩa chung nhất của nó là “thừa như thật chi đạo, nhi thiện lai thử Ta Bà thế giới (乘如實之道、而善來此娑婆世界, mang đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà này).” Sau khi chuyển Pháp Luân lần đâu tiên, đức Thích Tôn đến nước Ma Kiệt Đà, hóa độ 3 anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, 優樓頻羅迦葉), Na Đề Ca Diếp (s: Nadi-kāśyapa, 那提迦葉), Già Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉) của phái Bái Hỏa Giáo (拜火敎) và cả ngàn đệ tử của họ. Tiếp theo, Ngài hóa độ Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) thuộc Phái Ngụy Biện của Lục Sư Ngoại Đạo; về sau chính hai vị này trở thành đệ tử thượng túc của đức Phật. Sau đó, tại Thành Vương Xá, vua Tần Bà Ta La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅) quy y theo đức Phật; nhà vua cho xây dựng Tinh Xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca Lan Đà (s: Kalanda, 迦蘭陀) dâng cúng, lấy tên là Ca Lan Đà Trúc Lâm Tinh Xá (迦蘭陀竹林精舍). Đến đây, giáo đoàn Phật Giáo phát triển với thế lực mạnh. Về sau, đức Phật có trở về cố hương Ca Tỳ La Vệ một lần, số người quy y theo rất đông, trong đó có người em cùng cha khác mẹ Nan Đà (s, p: Nanda, 難陀), con trai La Hầu La, người em họ Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多), người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離), v.v., mọi người đều xuống tóc xuất gia. Ngài thuyết pháp cho trưởng giả Tu Đạt Đa (s, p: Sudatta, 須達多) ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), nhân đó trưởng giả kiến lập ngôi Đại Tinh Xá trong khu rừng do Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) tặng, để dâng cúng đức Phật. Đây gọi là Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) hay Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍). Vào lúc này, vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng phát tâm quy y với đức Phật. Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, đức Phật lại trở về cố hương lần nữa. Về sau, bà di mẫu Ma Ha Bà Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, p: Mahāpajāpatī, 摩訶波闍波提), công chúa Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅) cũng xuống tóc xuất gia, và đây được xem như là khởi đầu cho giáo đoàn Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); trong đó Ma Ha Bà Xà Ba Đề là Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Từ đó về sau, đức Thích Tôn đi khắp Ấn Độ thuyết pháp giáo hóa, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, thảy đều được hưởng ân huệ giáo pháp của Ngài. Giáo pháp ấy ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa cũng như tôn giáo Ấn Độ. Sau khi Ngài thành đạo, những nơi Ngài đã từng trãi qua Kết Hạ An Cư, đều được ghi rõ trong Tăng Già La Sát Sở Tập Kinh (僧伽羅剎所集經, Taishō Vol. 4, No. 194) quyển Hạ. Theo đó, đức Phật đã từng trú qua các nơi như nước Ba La Nại, núi Linh Thứu (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), núi Ma Câu La (s: Makula, 摩拘羅), cõi Trời Ba Mươi Ba, cõi quỷ thần, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc (祇樹給孤獨) ở Thành Xá Vệ, Chá Lê Sơn (柘梨山), v.v. Theo Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), đức Phật từng tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn, sau từng sống tại rừng Tỳ Sa (毘沙), đỉnh núi Nhã Lí (惹里), các tụ lạc Đại Dã (s: Aḷāvī, 大野), Mao Nỗ (尾努), v.v. Hơn nữa, học giả Anh quốc T.W. Rhys Davids (1843-1922) căn cứ vào tích truyện Phật Giáo của Tích Lan, Miến Điện, bản pháp cú kinh chú (p: Dhammapada atthakathā, 法句經註) tiếng Pāli, v.v., cho rằng sau khi kiến lập vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, đức Phật đã từng trú tại Đại Lâm (p: Mahā-vana, 大林) của Thành Tỳ Xá Ly (s: Vaiśāli, 毘舍離), núi Ma Câu La, Tăng Ca Xá (p: Saṅkissa, 僧迦舍), Ba Lợi Lôi Nhã Tạp (s: Parileyyaka, 巴利雷雅卡), Mạn Đặc Lạt (p: Mantala, 曼特剌), v.v. Ngoài ra, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 3, Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論, Taishō Vol. 25, No. 1507) quyển 2, Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (高僧法顯傳, Taishō Vol. 51, No. 2085), v.v., cũng có ký lục như vậy. Tổng hợp các tư liệu trên, chúng ta có thể suy ra rằng địa phương hoằng pháp của đức Phật phần lớn tập trung tại hai thành Xá Vệ và Vương Xá. Về những sinh hoạt cuối đời của Ngài, Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 26, Phật Thuyết Nghĩa Túc Kinh (佛說義足經, Taishō Vol. 4, No. 198) quyển Hạ, Xuất Diệu Kinh (出曜經, Taishō Vol. 4, No. 212) quyển 16, Tỳ Ni Mẫu Kinh (毘尼母經, Taishō Vol. 24, No. 1463) quyển 4, Ngũ Phần Luật quyển 3, 21, 25, Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 46, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự quyển 13, 14, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 2, v.v., có ký lục rõ ràng. Lúc bấy giờ, Đề Bà Đạt Đa muốn bức bách đức Phật phải nhường lại giáo đoàn tăng chúng cho ông, nhưng ý đồ không thành, bèn phá tăng hoại Phật. Thêm vào đó, vua Lưu Ly (琉璃), con của vua Ba Tư Nặc, sau khi tức vị, tấn công Thành Ca Tỳ La Vệ, cố hương của đức Phật, diệt vong dòng họ Thích Ca. Vào năm cuối cùng khi đức Phật còn tại thế, Ngài rời nước Ma Kiệt Đà, đi về phía Bắc sông Hằng, kinh qua Tỳ Xá Ly, đến Thành Ba Bà (s: Pāvā, 波婆), thọ nhận bữa cơm cúng dường của người thợ vàng Thuần Đà (s, p: Cunda, 純陀), và nhân vì ăn loại nấm Tô Ca Lạp Ma Đạt Phạt (s: sūkaramaddava, 蘇迦拉摩達伐, tức nấm cây Chiên Đàn) mà mắc bệnh. Trước khi lâm chung, Ngài đến tắm lần cuối cùng tại dòng sông Câu Tôn (p: Kakuṭṭha, 拘孫河), rồi đến rừng Sa La Song Thọ (沙羅雙樹) ở Thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), đầu xoay về hướng Bắc, mặt hướng phía Tây, nằm thế cát tường. Vào nữa đêm, Ngài để lại lời giáo huấn cuối cùng cho chúng đệ tử, rồi sau đó thì an nhiên nhập diệt. Ban đầu, di cốt của đức Thích Tôn được an trí tại Thiên Quan Tự (s: Makuṭabandhana-cetiya, 天冠寺) của bộ tộc Mạt La (s, p: Malla, 末羅), sau đó hỏa táng. Khi tham gia lễ Trà Tỳ có sứ đoàn của 8 nước, gồm Câu Thi Na Yết La (拘尸那揭羅), Ba Bà (波婆), Giá La (遮羅), La Ma Già (羅摩伽), Tỳ Lưu Đề (毘留提), Ca Tỳ La (迦毘羅), Tỳ Xá Ly (毘舍離), Ma Kiệt Đà (摩揭陀), v.v., do vấn đề phân phối Xá Lợi (s: śarīra, p: sarīra, 舍利) mà nảy sinh đấu tranh lẫn nhau. Sau đó, nhờ sự điều đình của Bà La Môn Hương Tính (s: Doṇa, 香姓) mà được yên ổn, cho nên người này có được bình Xá Lợi. Từ đó, mỗi nước dựng tháp cúng dường, và đây là phát xuất của truyền thống thập tháp (10 ngôi tháp) ngày nay. Năm đức Phật nhập diệt, tại Hang Thất Diệp (s: Sapta-parṇa-guhā, 七葉窟) của Thành Vương Xá, cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên được tiến hành. Đương thời, Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là người triệu tập chủ yếu; A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) và Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離) thì tụng đọc các Kinh Luật của Phật thuyết trên cơ sở từng được nghe qua, rồi được đại chúng thảo luận, hiệu đính để trở thành tiêu chuẩn cho Kinh Luật đời sau. Về sau, trãi qua biết bao biến thiên, giáo pháp của đức Thích Tôn được phân thành hai hệ thống chính, truyền bá khắp nơi: Nam Truyền chủ yếu là tiếng Pāli và Bắc Truyền chủ yếu là kinh điển Hán dịch. Liên quan đến năm tháng xác thật đức Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, lần đầu chuyển Pháp Luân, tuổi thọ, nhập diệt, v.v., trong kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ, có 4 thuyết chính: (1) Tam Thế Đẳng Phẩm (三世等品) của Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (菩薩從兜術天降神母胎說廣普經, Taishō Vol. 12, No. 384, tức Bồ Tát Xử Thai Kinh [菩薩處胎經]) quyển 23 cho là thọ 84 tuổi. (2) Bát Nê Hoàn Kinh (般泥洹經, Taishō Vol. 1, No. 6) quyển Hạ cho là 79 tuổi. (3) Thọ Lượng Phẩm (壽量品) của Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 1, Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), Đại Bát Niết Bàn Kinh (p: Mahāparinibbāna-sutta, 大般涅槃經) bản tiếng Pāli, truyền thống của Miến Điện, v.v., cho là 80. (4) A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 126 cho là hơn 80. Về niên đại đản sanh của Ngài, học giả hiện đại cũng có nhiều suy định khác nhau. Học giả Nhật Bản Vũ Tỉnh Bá Thọ (宇井伯壽, Ui Hakuju, 1882-1963) cho rằng năm Phật đản sanh là 466 trước CN. Trung Thôn Nguyên (中村元, Nakamura Hajime, 1912-1999) cũng ý cứ vào thuyết này, sau lấy sử liệu mới phát hiện của Hy Lạp, sau khi khảo chứng thì cho là năm 463 trước CN. Về ngày tháng đản sanh của đức Phật, có 5 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 7, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa (薩婆多毘尼毘婆沙, Taishō Vol. 23, No. 1440) quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bồ Tát Giáng Than Phẩm (菩薩降身品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng cho là ngày mồng 7 hay 8 tháng 4. (3) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh (太子瑞應本起經, Taishō Vol. 3, No. 185) quyển Thượng, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi Kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Sanh Phẩm (生品) của Phật Sở Hành Tán (佛所行讚, Taishō Vol. 4, No. 192) quyển 1, Phật Thuyết Thập Nhị Du Kinh (佛說十二遊經, Taishō Vol. 4, No. 195), Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh (佛說灌洗佛形像經, Taishō Vol. 16, No. 695), v.v., thì cho là ngày mồng 8 tháng 4. (4) Điều Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ Quốc (劫比羅伐窣堵國條) của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 6 thì cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (5) Thượng Tọa Bộ (上座部) cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng xuất gia của đức Phật, có 5 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. (3) Xuất Gia Phẩm (出家品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. (4) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh quyển Thượng, Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh, v.v., cho là mồng 8 tháng 4. (5) Bản Sanh Kinh Phật Truyện (本生經佛傳) bản tiếng Pāli cho là ngày thứ 15 của tháng A Sa Trà (s: Āsāḷhā, 阿沙荼). Về ngày tháng thành đạo của Ngài, có 4 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bản Đại Sử (p: Mahāvaṃsa, 大史) tiếng Pāli cho là ngày trăng tròn tháng Vesākhā. (3) Đại Đường Tây Vức Ký quyển 8 cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Thượng Tọa Bộ cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, có 2 thuyết. (1) Bồ Tát Xử Thai Kinh quyển 7 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 182 cho là ngày mồng 8 của tháng Ca Lật Để Ca (s: Kārttika, 迦栗底迦, hay Ca Hi Na [迦絺那]). Về ngày tháng nhập diệt của Ngài, có 6 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 1, v.v., cho là ngày 15 tháng 2. (3) Bài tựa của Nhất Thiết Thiện Kiến Luật (p: Samantapāsādikā, 一切善見律) bản tiếng Pāli, Luật Tạng (p: Vinaya-piṭaka, 律藏) tiếng Pāli, chương thứ 3 của Đại Sử, Điều Câu Thi Na Yết La Quốc (拘尸那揭羅國條) của Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6, v.v., cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. (5) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 191, Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6 viện dẫn truyện của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, p: Sabbatthivādin, 說一切有部), cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Ca Lật Để Ca. (6) Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 4. Bên cạnh đó, liên quan đến niên đại nhập diệt của đức Thích Tôn, cũng có nhiều thuyết bất đồng. Như học giả Vũ Tỉnh Bá Thọ của Nhật thì chủ trương là năm 386 trước CN. Tiến Sĩ Trung Thôn Nguyên cho là năm 383 trước CN. Pháp sư Ấn Thuận (印順, 1906-2005) của Trung Hoa thì chủ trương năm 390 trước CN. Tổng hợp tất cả những thông tin vừa nêu trên, ngày tháng đản sanh, xuất gia, thành đạo của đức Phật có thể phân thành 3 thuyết chính: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 8 tháng 4, (3) ngày 15 tháng 2. Ngày tháng nhập diệt cũng được chia thành 3 thuyết: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 15 tháng 2, (3) ngày 8 tháng 8. Ngoài ra, Nhị Giáo Luận (二敎論) của Đạo An (道安, 312[314]-385) nhà Bắc Chu, Câu Xá Luận Bảo Sớ (俱舍論寶疏) quyển 1, v.v., so sánh tháng của lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc, cho rằng tháng 2 của Ấn Độ tương đương với tháng 4 của Tàu. Thêm vào đó, vào ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn Độ thì tương đương với ngày 16 âm lịch của Trung Quốc; ngày cuối tháng thì tương đương với ngày 15 của tháng kế tiếp theo lịch của Trung Quốc.
thích ca mâu ni
6824梵名 Śākya-muni,巴利名 Sakya-muni。意即釋迦族出身之聖人。又作釋迦文尼、奢迦夜牟尼、釋迦牟曩、釋迦文。略稱釋迦、牟尼、文尼。意譯作能仁、能忍、能寂、寂默、能滿、度沃焦,或梵漢並譯,稱為釋迦寂靜。又稱釋迦牟尼世尊、釋尊。即佛教教祖。其稱號之原由,見於佛本行集經卷二十觀諸異道品、有部毘奈耶雜事卷二十、阿毘曇八犍度論卷三十等。 釋尊為北印度迦毘羅衛城(梵 Kapila-vastu)淨飯王(梵 Śuddhodana)之太子。該城在今尼泊爾南部提羅里克(Tilori-Kot)附近,拉布提河(Rapti)東北。國土面積約三二○方里,為憍薩羅國(梵 Kosalā)之屬國。其時北印度實行貴族共和制度,該處分成十個小城邦,由十城中選出最有勢力之城主為領導者,淨飯王即當時共和國之領袖。母摩耶夫人(梵 Māyā)為鄰國居利族天臂城(梵 Devadaha)主之女。 摩耶夫人將分娩之前,依習俗返娘家天臂城待產,途中於藍毘尼園(梵 Lumbinī)小憩,即於無憂樹(梵 aśoka)下產子,即是釋尊。據修行本起經卷上降身品載,釋尊誕生時,行七步,舉手言(大三‧四六三下):「天上天下,唯我為尊;三界皆苦,吾當安之。」另於中阿含卷八未曾有法經、普曜經卷二欲生時三十二瑞品、異出菩薩本起經、過去現在因果經卷一、眾許摩訶帝經卷三、佛本行集經卷八樹下誕生品、有部毘奈耶雜事卷二十、大毘婆沙論卷七十等經典中,亦載有釋尊誕生時之種種瑞相。 太子還宮後,命名悉達多(梵 Siddhārtha,巴 Siddhattha),又作薩婆悉達(梵 Sarva-siddhārtha,巴 Sabba-siddhattha)、薩婆額他悉陀(梵 Sarvārtha-siddha)、薩婆曷刺他悉陀、悉達羅他、悉達,意譯為一切義成、一切事成、財吉、吉財、成利、驗事、驗義。摩耶夫人於分娩後七日去世,太子遂由姨母摩訶波闍波提(梵 Mahāprajāpatī)撫育成人。據佛本行集經卷十一習學技藝品、有部毘奈耶破僧事卷三等記載,太子少時隨從婆羅門毘奢蜜多羅(梵 Viśvamitra,彩光甲)學習文藝,隨羼提提婆(梵 Kṣāntideva,同神)學習武技,皆悉通曉。及長,迎娶天臂城主善覺王(梵 Suprabuddha)之女耶輸陀羅(梵 Yaśodharā)為妻,生子羅睺羅(梵 Rāhula)。 據修行本起經卷下遊觀品等所載,太子曾由城之四門出遊,見老、病、死、沙門等現象,深感人生之苦痛與無常,遂萌出家修道之志。於二十九歲(一說十九歲),太子夜出王宮,自脫衣冠為沙門。初訪毘舍離國(梵 Vaiśālī)跋伽婆(梵 Bhārgava)求道,復至王舍城(梵 Rajagṛha)受賢者阿羅邏迦藍(梵 Ārāḍa-kālāma)、鬱陀迦羅摩子(梵 Udraka-rāmaputra)之教,以所學難臻解脫之境,遂至摩揭陀國(梵 Magadha)伽耶(梵 Gayā)南方之優樓頻羅村(梵 Uruvilvā)苦行林,開始六年苦行生活,有淨飯王所派五位侍者與之共修。苦修期間,太子日食一麻一麥,雖至形體枯瘦,心身衰竭,而始終未能成道,乃悟苦行非得道之因,遂出苦行林。時,共修之五侍者誤以太子退失道心,遂捨之而去。 太子放棄苦行後,至尼連禪河(梵 Nairañjanā)沐浴,且接受牧女乳糜之供養。恢復體力後,至伽耶村畢鉢羅樹(梵 pippala)下,以吉祥草敷金剛座,東向跏趺而坐,端身正念,靜心默照,思惟解脫之道。四十九日後,於十二月八日破曉時分,豁然大悟,時年三十五歲(一說三十歲)。由此因緣,乃稱畢鉢羅樹為菩提樹(梵 bodhivṛkṣa)。釋尊降魔、成道之經過,載於中阿含卷五十六羅摩經、修行本起經卷下六年勤苦品及降魔品、過去現在因果經卷三、佛本行集經卷二十六至卷三十、五分律卷十五等。 釋尊成道後,於波羅奈城(梵 Bārāṇasī)鹿野苑(梵 Mṛgadāva)首先教化共修苦行之五位侍者,此即初轉法輪。五位侍者即有名之五比丘:阿若憍陳如(梵 Ājñāta-Kauṇḍinya)、跋提(梵 Bhadrika)、婆沙波(梵 Bāṣpa)、摩訶男(梵 Mahānāma)、阿說示(梵Aśvajit)。有關釋尊初轉法輪、演說四聖諦、八正道等事跡,載於雜阿含卷十五轉法輪經、五分律卷十五、有部毘奈耶雜事卷三十九等。此後,釋尊自稱如來(梵 tathāgata)。如來之語義甚多,一般意指「乘如實之道,而善來此娑婆世界」。初轉法輪後,釋尊至摩揭陀國,化度拜火教之優樓頻羅迦葉(梵 Uruvilvā-kāśyapa)、那提迦葉(梵 Nadi-kāśyapa)、伽耶迦葉(梵 Gayā-kāśyapa)等三兄弟,及其弟子千人。又化度六師外道之一的詭辯派舍利弗(梵 Śāriputra)及目犍連(巴 Moggallāna),其後二人成為釋尊之兩大高足。又於王舍城得國王頻婆娑羅王(梵 Bimbisāra)之歸依,王於迦蘭陀長者(梵 Kalanda)所獻之竹園中建立精舍,供養釋尊,稱迦蘭陀竹林精舍。至此,佛教教團之進展遂呈麗日中天之勢。 此後釋尊一度返故鄉迦毘羅衛城,歸依者眾,如異母弟難陀、子羅睺羅、堂弟提婆達多、理髮匠優波離等,皆剃髮出家。又為舍衛城(梵 Śravastī)須達多長者(梵 Sudatta)說法,長者於舍衛城太子祇多(梵 Jeta)所贈園林中建立大精舍以獻釋尊,供長期安住弘法。舍衛城國主波斯匿王(梵 Prasenajit)亦於此時歸依。及淨飯王駕崩後,釋尊再度回國。後姨母波闍波提、妃耶輸陀羅等亦剃髮出家,此為比丘尼教團之始,波闍波提則為佛教教團第一位比丘尼。此後釋尊巡歷印度各地說法布教,無論貴賤男女,悉施教化。其教法予印度文化及宗教影響甚鉅。 釋尊成道以後四十四年間夏安居之處所,於僧伽羅剎所集經卷下有詳細記載。依之,釋尊先後住於波羅奈國、靈鷲頂山(梵 Gṛdhrakūṭa)、摩拘羅山(梵 Makula)、三十三天、鬼神界、舍衛祇樹給孤獨園、柘梨山等地。另據八大靈塔名號經載,釋尊曾於雪山修苦行,後歷住毘沙林、惹里巖、大野(梵 Aḷāvī)、尾努聚落等。又英國學者大衛斯(T.W. Rhys Davids, 1843~1922)據錫蘭及緬甸之佛傳、巴利文法句經註(Dhammapada atthakathā)等,謂祇樹給孤獨園建立以後,釋尊曾住於毘舍離城之大林(巴 Mahā-vana)、摩拘羅山、僧迦舍(巴 Saṅkissa)、巴利雷雅卡(巴 Parileyyaka)、曼特剌(巴 Mantala)等地。此外,大智度論卷三、分別功德論卷二、高僧法顯傳等對此亦有記載。綜合以上諸說,可推知釋尊弘法之地多在王舍城與舍衛城一帶。 有關釋尊之晚年生活,據增一阿含經卷二十六、義足經卷下、出曜經卷十六、毘尼母經卷四、五分律卷三、卷二十一、卷二十五、四分律卷四十六、有部毘奈耶破僧事卷十三、卷十四、善見律毘婆沙卷二等所載,彼時提婆達多欲迫釋尊讓與教團僧眾,所欲不遂,乃不斷破僧害佛;又波斯匿王之子琉璃王即位後,攻伐釋尊之故鄉迦毘羅衛城,亡釋迦族,其時大目犍連等建言釋尊施予援手,釋尊為說釋迦族之宿業。 釋尊在世之最後一年,離摩揭陀國,北渡恆河,經毘舍離(梵 Vaiśālī),至波婆城(梵 Pāvā),受金工純陀(梵 Cunda)之供養,因食蘇迦拉摩達伐(巴 Sūkaramaddava,即旃檀樹茸)而罹病。臨終前於拘孫河(巴 Kakuṭṭha)作最後之沐浴,復至拘尸那揭羅城(梵 Kuśinagara)沙羅雙樹林,頭北面西呈吉祥臥。夜半,釋尊將捨壽前,對諸弟子作最後之教誡,而後平靜入滅。 釋尊之遺骸初置於末羅族(梵 Malla,巴同)之天冠寺(梵 Makuṭabandhana-cetiya),施以火葬。然參與祭事之拘尸那揭羅、波婆、遮羅、羅摩伽、毘留提、迦毘羅、毘舍離、摩揭陀等八國使節,由於分配遺骨問題而起爭端。後經香姓婆羅門(巴 Doṇa)調停乃得定議,由八國均分遺骨,香姓婆羅門得舍利瓶,另有較遲入會之畢鉢(梵 Pipphalivana)村人僅得燋炭。各國紛紛建塔供養,此即今日十塔之由來。 釋尊入滅之年,於王舍城之七葉窟,舉行第一次經典結集。時以大迦葉(梵 Mahākāśyapa)為主要召集人,阿難(梵 Ānanda)與優波離(梵 Upāli)各依其聽聞佛說之記憶誦出經、律,復經大眾討論勘訂,而成為後世經律之準則。此後歷經變遷,釋尊之教法遂分為以巴利語為主之南傳系統,與以漢譯經典為主之北傳系統,廣傳於後世。 關於釋尊之誕生、出家、成道、初轉法輪、年壽、入滅等之確實年月,經典中有各種不同說法。釋尊之年壽:(一)菩薩處胎經卷二十三世等品,謂年壽八十四。(二)般泥洹經卷下,謂年壽七十九。(三)金光明經卷一壽量品、八大靈塔名號經、巴利文大般涅槃經(Mahāparinibbāna-sutta)、 緬甸所傳等,謂年壽八十。(四)大毘婆沙論卷一二六,謂年壽八十餘。 釋尊誕生之年代,現代學者亦有多種推定。日本佛教學者宇井伯壽謂西元前四六六年為佛誕年;中村元依據其說,後採用新發現之希臘史料,考證後訂為西元前四六三年。 釋尊誕生之月日:(一)長阿含經卷四、過去現在因果經卷一、佛本行集經卷七、薩婆多毘尼毘婆沙卷二等,謂二月八日。(二)修行本起經卷上菩薩降身品,謂四月七日,或四月八日。(三)太子瑞應本起經卷上、異出菩薩本起經、佛所行讚卷一生品、十二遊經、灌洗佛形像經等,謂四月八日。(四)大唐西域記卷六劫比羅伐窣堵國條,謂衛塞月(巴 Vesākhā)之後半八日,相當於我國農曆三月八日。(五)上座部,謂衛塞月後半十五日,即滿月之日,相當於我國農曆三月十五日。 釋尊出家之月日:(一)長阿含經卷四,謂二月八日。(二)過去現在因果經卷二,謂二月七日。(三)修行本起經卷下出家品,謂四月七日。(四)太子瑞應本起經卷上、灌洗佛形像經等,謂四月八日。(五)巴利文本生經佛傳,謂阿沙荼月(巴 Āsāḷhā)之第十五日。 釋尊成道之月日:(一)長阿含經卷四、過去現在因果經卷三、薩婆多毘尼毘婆沙卷二等,謂二月八日。(二)巴利文大史(Mahāvaṃsa), 謂衛塞月滿月之日。(三)大唐西域記卷八,謂衛塞月後半八日。(四)上座部,謂衛塞月後半十五日。 釋尊初轉法輪之月日:(一)菩薩處胎經卷七,謂二月八日。(二)大毘婆沙論卷一八二,謂迦栗底迦月白半八日。 釋尊入滅之月日:(一)長阿含經卷四,謂二月八日。(二)大般涅槃經卷一、善見律毘婆沙卷一等,謂二月十五日。(三)巴利文一切善見律(Samantapāsādikā)序、巴利文律藏(Vinaya-piṭaka)、大史第三章、大唐西域記卷六拘尸那揭羅國條等,謂衛塞月後半十五日。(四)薩婆多毘尼毘婆沙卷二,謂八月八日。(五)大毘婆沙論卷一九一、大唐西域記卷六援引說一切有部所傳,謂迦剌底迦月後半八日。(六)灌洗佛形像經,謂四月八日。又釋尊之入滅年代,眾說紛紜,日人宇井伯壽主張為西元前三八六年,中村元主張西元前三八三年,我國印順則主張為西元前三九○年。 綜上所述,釋尊降生、出家、成道等之月日可大別為三說,即:(一)二月八日,(二)四月八日,(三)二月十五日;入滅之月日亦大別為三說,即:(一)二月八日,(二)二月十五日,(三)八月八日。此外,北周道安之二教論、俱舍論寶疏卷一等,比較印度曆與我國農曆之月分,謂印度之二月相當於我國之四月。又印度曆每月初一相當於我國農曆第十六日,月末日相當於我國次月之十五日,其前半月稱為黑分,後半月則稱為白分。(參閱「佛傳典籍」2729、「佛滅年代」2734、「曆」6227)
; Shakya tubpa (T), Sakkamuni (P), Buddha Ṣākyamuni (S)Năng nhơn, Năng tịch, Năng mãng, đức Phật tổ, đức Như Lai, đức Thế tônSakya: tài năng, năng lực, anh hùng, một họ ở Ấn độ ngày xưa; Muni: nhơn từ. 1- Tên đức Phật trong hiện đại kỳ kiếp: Nguyên tên có nghĩa là Bậc Tịch tĩnh trong dòng họ Thích. Ngài hạ sanh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước Tây lịch, đi tu năm 29 tuổi (ngày 8 tháng 2), năm 35 tuổi thành đạo (ngày 8 tháng 12), nhập diệt năm 84 tuổi (ngày 15 tháng 2 năm 479 trước Tây lịch), thuyết pháp 49 năm. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn (Sudhodana), vương quốc Ca tỳ la vệ. Mẹ Ngài là Hoàng hậu Ma Da (Maya), sanh Ngài được 7 ngày thì qua đời, Ngài được người dì ruột cũng là kế mẫu tên Ba xà ba đề nuôi dưỡng đến trưởng thành. Vợ Ngài là Công chúa Da du đà la (Yasodhara) con gái vua Thiện giác vương (Suprabuddha). Ngài có một con trai tên La hầu La (Rahula). 2- Tên một cổ Phật thời quá khứ cách nay vô lượng kiếp, cũng tên Thích Ca Mâu Ni và cõi thế cũng tên là Ta bà. Theo kinh Niết bàn quyển 22, thuở ấy đức Như lai của chúng ta ngày nay là một người nghèo, vì muốn cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni nên bán mình lấy tiền, do không ai mua thân mạng nên cuối cùng phải bán cho một người mắc bệnh nan y cần mỗi ngày ăn 3 lượng thịt người. Do trí óc ám độn nên Ngài chỉ còn nhớ bài kệ 4 câu. Sau khi nghe pháp Ngài đến với người ấy, mỗi ngày lóc 3 lượng thịt như đã hứa. Nhờ oai lực bài kệ mà vết thương không còn, người bệnh cũng hết bệnh. Do đó Ngài nguyện cầu thành Phật: 'Ta nguyện rằng về sau, chừng thành Phật, ta cũng tên là Thích Ca Mâu Ni và cõi thế giới của ta cũng kêu là cõi Ta bà.".
; Sàkyamuni (S)
; Sakyamuni (skt)—See Thích Ca.
; (釋迦牟尼) Phạm: Zàkya-muni. Pàli: Sakya-muni. Cũng gọi Thích ca văn ni, Xa ca dạ mâu ni, Thích ca mâu nẵng, Thích ca văn. Gọi tắt: Thích ca, Mâu ni, Văn ni. Hán dịch: Năng nhân, Năng nhẫn, Năng tịch, Tịch mặc, Năng mãn, Độ ốc tiêu.Phạm Hán: Thích ca tịch tĩnh, cũng gọi Thích ca mâu ni thế tôn, Thích tôn. Đức Thích tôn ra đời khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, sinh trong dòng họ Thích ca, là Thái tử con vua Tịnh phạn (Phạm: Zuddhodana) và Hoàng hậu Ma da (Phạm: Màyà), thành Ca tì la vệ (Phạm:Kapilavastu), thuộc Bắc Ấn độ, được đặt tên là Tất đạt đa (Phạm: Siddhàrtha,Pàli: Siddhattha), cũng gọi Tát bà tất đạt (Phạm: Sarva-siddhàrtha,Pàli:Sabbasiddhattha). Sau khi sinh được 7 ngày thì Hoàng hậu Ma da qua đời, Thái tử được di mẫu (em gáicủaHoàng hậu Ma da)là Ma ha ba xà ba đề (Phạm:Mahàprajàpatti) nuôi nấng nên người. Theo phẩm Tập học kĩ nghệtrong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 3, lúc còn nhỏ, Thái tử theo người Bà la môn tên Tì sa mật đa la (Phạm: Visvamitra,Thể quang giáp) học tập văn chương và theo ông Sằn đề đề bà (Phạm: Kwàntideva,Đồng thần) học tập vũ nghệ, mọi môn đều thông hiểu. Khi lớn lên, Thái tử cưới con gái vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) ở thành Thiên tí (Phạm: Devadaha) tên là Da du đà la (Phạm: Yazodharà) làm vợ, sinh con là La hầu la (Phạm:Ràhula). Theo phẩm Du quan trong kinh Tu hành bản khởi quyển hạ, một hôm Thái tử đi dạo 4 cửa thành, thấy các người già, người bệnh, người chết và sa môn, Ngài cảm nhận sâu xa nổi thống khổ và vô thường của đời người, từ đó Thái tử đã lập chí xuất gia tu đạo. Năm 29 tuổi (có thuyết nói 19 tuổi), nữa đêm Thái tử ra khỏi cung vua tìm đường giải thoát như vị sa môn mà Thái tử đã thấy ngoài cửa thành. Trước hết, Thái tử đến hỏi đạo nơi đạo sĩ Bạt già đà (Phạm:Bhàrgava) ở nước Tì xá li (Phạm:Vaizàlì), sau đó, Thái tử đến thành Vương xá (Phạm: Rajagfha) thỉnh vấn các đạo sĩ: A la la ca lam (Phạm: Àràđa-kàlàma) và Uất đà ca la ma tử (Phạm: Udraka-ràmaputra). Vì những điều đã học được từ các đạo sĩ trên không thể đưa đến giải thoát nên Thái tử bèn đến rừng Khổ hạnh ở thôn Ưu lâu tần loa (Phạm:Uruvilvà), phía nam thôn Già da (Phạm:Gayà) thuộc nước Ma yết đà (Phạm:Magadha), mở đầu cuộc sống khổ hạnh trong 6 năm. Sau thời gian này, Thái tử nhận ra rằng khổ hạnh không phải là nhân đắc đạo nên từ bỏ, ra khỏi rừng khổ hạnh, đến sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà) tắm gội, đồng thời tiếp nhận bát cháo sữa do cô gái chăn bò cúng dường. Sau đó, Thái tử đến gốc cây Tất bát la (Phạm:Pippala) ở thôn Già da, trải cỏ cát tường làm tòa kim cương, ngồi kết già xoay mặt về hướng đông, đoan thân chính niệm, tĩnh tâm lặng soi, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào rạng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Thái tử hoát nhiên đại ngộ, bấy giờ Thái tử đã 35 tuổi(có thuyết nói 30). Sau khi thành đạo, đức Thích tôn đến vườn Lộc dã (Phạm:Mfgadava) gần thành ba la nại (Phạm:Bàràịasì), nói pháp Tứ đế độ cho 5 vị thị giả cùng tu khổ hạnh với Ngài ở rừng khổ hạnh, nhưng khi thấy Ngài không tu khổ hạnh nữa thì 5 vị bỏ Ngài mà đến vườn Lộc dã này. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của đức Phật mà trong sử gọi là Sơ chuyển pháp luân. Năm vị thị giả này chính là 5 vị tỉ khưu nổi tiếng: A nhã kiều trần như (Phạm:Ajĩatakauịđinya), Bạt đề (Phạm:Bhadrika), Bà sa ba (Phạm: Bàwpa), Ma ha nam (Phạm: Mahànàma) và A thuyết thị (Phạm: Azvajit). Rời vườn Lộc dã, đức Thích tôn đến nước Ma yết đà hóa độ 3 anh em: Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm:Uruvilvà-kàzyapa), Na đề ca diếp (Phạm:Nadi-kàzyada), Già da ca diếp (Phạm:Gaỳa-kàzyada), thuộc giáo phái thờ lửa và 1000 đệ tử của họ. Rồi Ngài lại hóa độ Xá lợi phất (Phạm: Zàriputra) và Mục kiền liên (Pàli: Moggallàna), thuộc 1 trong 6 phái ngoại đạo. Quốc vương thành Vương xá là Tần ba sa la qui y đức Thích tôn. Vua kiến lập tinh xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca lan đà (Phạm:Kalanda) hiến tặng để cúng dường đức Thích tôn. Sau, đức Thích tôn trở về thành Ca tì la vệ, ở đây có nhiều người qui y xuất gia, như Nan đà, La hầu la, Đề bà đạt đa, người thợ hớt tócƯu ba li... Ngài lại độ cho Trưởng giả Tu đạt đa (Phạm: Sudatta) ở thành Xá vệ (Phạm: Zravastì), Trưởng giả tạo lập một đại tinh xá trong khu rừng cây do Thái tử Kì đà (Phạm:Jeta) ở thành Xá vệ tặng để cúng dường đức Thích tôn, làm nơi an trụ và hoằng pháp lâu dài. Vua nước Xá vệ là Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) cũng qui y đức Thích tôn vào thời gian này. Sau khi vua Tịnh phạn băng hà, đức Thích tôn lại trở về cố quốc. Lần này, di mẫu Ba xà ba đề, Da du đà la và một số phụ nữ dòng họ Thích trong hoàng tộc cũng thế phát xuất gia. Sau đó, đức Thích tôn lần lượt thuyết pháp giáo hóa ở nhiều nơi thuộc Ấn độ, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ đều được giáo hóa. Trong khoảng thời gian 44 năm kể từ sau khi đức Thích tôn thành đạo, Ngài đã lần lượt an cư ở những nơi như: Nước Ba la nại, trên núi Linh thứu (Phạm: Gfdhrakùỉa), núi Ma câu la (Phạm: Makula), Trời 33,vườn Cấp cô độc, núi Chá lê... Còn theo kinh Bát đại linh tháp danh hiệu thì đức Thích tôn từng trụ ở rừng Tì sa, núi Nhạ lí, núi Đại dã (Phạm: Aơàvì), tụ lạc Vĩ nỗ... Lại học giả người Anh là T.W.Rhys Davids (1843-1922), căn cứ vào Phật truyện của Tích lan và Miến điện, Pháp cú kinh chú (Dhammapada atthakathà) bằng tiếngPàli..., cho rằng từ khi vườn Cấp cô độc được kiến lập trong rừng cây của Thái tử Kì đà về sau, đức Thích tôn từng trụ ở Đại lâm (Pàli:Mahà-vana) gần thành Tì xá li, núi Ma câu la, Tăng ca xá (Pàli:Saíkìssa), Ba lợi lôi tạp ca (Pàli: Prrileyyaka), Mạn đặc lạt (Pàli: Mantala)... Trong một năm cuối cùng còn tại thế của đức Thích tôn, Ngài rời nước Ma yết đà, vượt qua sông Hằng đi về phía bắc, qua Tì xá li, đến thành Ba bà (Phạm:Pàvà), nhận sự cúng dường lần cuối cùng của người thợ kim hoàn tên là Thuần đà (Phạm: Cunda). Sau đó, đức Thích tôn xuống sông Câu tôn (Pàli:Kakuỉỉhà) tắm gội lần sau cùng, rồi Ngài lại đi đến thành Câu thi na yết la (Phạm:Kuzinagara), tới rừng cây Sa la song thụ, nằm theo dáng cát tường, đầu hướng về phía bắc. Nửa đêm, đức Thích tôn răn dạy các đệ tử lần cuối cùng, sau đó Ngài an nhiên nhập tịch. Di thể đức Thích tôn ban đầu được đặt ở chùa Thiên quan (Phạm: Makuỉaban= dhana-cetiya) của dòng họ Mạt la (Phạm, Pàli:Malla) và được hỏa táng. Nhưng do vấn đề phân phối di cốt, 8 nước là Câu thi na yết la, Ba bà, Già la, La ma già, Tì lưu đề, Ca tì la, Tì xá li và Ma yết đà khởi tranh chấp. Sau nhờ Bà la môn Hương tính (Pàli:Doịa) đứng ra dàn xếp mới được ổn thỏa, theo đó 8 nước được chia di cốt đều nhau, còn Bà la môn Hương tính thì được chiếc bình dùng để chia xá lợi, còn những người ở thôn Tất bát (Phạm: Pipphalivana) vì đến chậm nên chỉ được phần tro. Các nước đều xây tháp cúng dường, đó là nguồn gốccủa10 ngôi tháp hiện nay. Ngay trong năm đức Thích tôn nhập diệt, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất được cử hành ở hang Thất diệp gần thành Vương xá. Ngài Đại ca diếp (Phạm: Mahàkàzyapa) làm chủ tọa, ngài A nan (Phạm:Ànanda) tụng lại kinh, ngài Ưu ba li (Phạm:Upàli) tụng lại luật; sau đó, đại chúng thảo luận, kiểm xét, sửa chữa mà thành là chuẩn tắc cho kinh luật đời sau. Từ đó về sau, trải qua nhiều biến thiên, giáo pháp của đức Thích tôn bèn chia làm 2 hệ thống là hệ thống Nam truyền lấy tiếng Pàli làm chính và hệ thống Bắc truyền lấy kinh điển Hán dịch làm chính. Cả 2 hệ thống đều được truyền bá rộng rãi ở đời sau.Năm tháng xác thực về đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân lần đầu, tuổi thọ, nhập diệt... của đức Thích tôn trong các kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Phẩm Thế đẳng trong kinh Bồ tát xử thai cho rằng Ngài thọ 84 tuổi. 2. Kinh Bát nê hoàn quyển hạ nói Ngài thọ 79 tuổi. 3. Phẩm Thọ lượng trong kinh Kim quang minh quyển 1, kinh Bát đại linh tháp danh hiệu, kinh Đại bát niết bàn (Mahàparinibbàna-sutta) bằng tiếng Pàli và truyền thuyết của Miến điện cho rằng Ngài thọ 80 tuổi. 4. Luận Đại tì bà sa quyển 126 nói Ngài thọ hơn 80 tuổi. Về niên đại đản sinh của đức Thích tôn thì giữa các học giả hiện đại cũng có nhiều suy đoán. Học giả Phật giáo Nhật bản là ông Vũ tỉnh Bá thọ cho rằng năm 466 trước Tây lịch là năm Phật đản; ông Trung thôn nguyên y cứ vào thuyết này, sau dùng các sử liệu Hi lạp mới được phát hiện để khảo chứng rồi sửa lại là năm 463 trước Tây lịch. Về ngày tháng đản sinh của đức Thích tôn thìcó các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại quyển 1, kinh Phật bản hạnh tập quyển 7 và Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 8 tháng 2. . Phẩm Bồ tát giáng thân trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, cho là ngày mồng 7 tháng 4, hoặc ngày mồng 8 tháng 4. 3. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng, kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, phẩm Sinh trong Phật sở hành tán quyển 1, kinh Thập nhị du và kinh Quán tẩy Phật hình tượng... đều cho là ngày mồng 8 tháng 4. 4. ĐiềuKiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Vệ tắc (Pàli: Vesàkhà), tương đương với ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch Trung quốc. 5. Thượng tọa bộ cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc, tức ngày trăng tròn, tương đương với ngày 15 tháng 3 âm lịch Trung quốc. Về ngày tháng xuất gia của đức Thích tôn có các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Quá khứ hiện tại quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. 3. Phẩm Xuất giakinhTu hành bản khởi quyển hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. 4. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng và kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. 5. Kinh Phật truyện bản sinh tiếngPàli cho là ngày 15 A sa trà (Pàli:Asàơhà). Về ngày tháng thành đạo của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 và Tát bàđa tì ni tì bà sa quyển 2 đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Đại sử (Mahàvaôsa) tiếngPàli cho là ngày trăng tròn tháng Vệ tắc. 3. Đại đường tây vực kí quyển 8 cho là ngày mồng 8 của nửa tháng sau tháng Vệ tắc.4. Thượng tọa bộ cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc. Về ngày tháng chuyển pháp luân lần đầu của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho rằng đức Thích tôn chuyển pháp luân lần đầu vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Đại bát niết bàn quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 đều cho là ngày 15 tháng 2. 3. Bài tựa trong Nhất thiết thiện kiến luật (Samantapàsàdikà) bằng tiếngPàli, Luật tạng (Vinaya-piỉaka) tiếngPàli, Đại sử chương 3, điều Câu thi na yết la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6, đều cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc.4. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. 5. Luận Đại tì bà sa quyển 191 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Ca lạt để ca. 6. Kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. Sau hết, về niên đại nhập diệt của đức Thích tôn cũng có nhiều thuyết khác nhau. Ông Vũ tỉnh bá thọ người Nhật chủ trương năm 386 trước Tây lịch, ông Trung thôn nguyên chủ trương 383 trước Tây lịch; còn ngàiẤn thuận của Trung quốc thì chủ trương năm 390 trước Tây lịch. Tóm lại, tổng hợp các điểm trình bày trên, về ngày tháng đức Thích tôn đản sinh, xuất gia, thành đạo có thể chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Mồng 8 tháng 4. 3. Ngày 15 tháng 2. Về ngày tháng nhập diệt cũng chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Ngày 15 tháng 2. 3. Mồng 8 tháng 8. Ngoài ra, luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Bắc Chu, Câu xá luận bảo sớ quyển 1...so sánh nguyệt phần giữa lịch Ấn độ và âm lịch Trung quốc cho rằng tháng 2 của Ấn độ tương đương với tháng 4 của Trung quốc; ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn độ tương đương với ngày 16 của âm lịch Trung quốc, ngày cuối tháng tương đương với ngày 15 tháng kế của lịch Trung quốc, nửa tháng trước gọi là phần đen, nữa tháng sau gọi là phần trắng. (xt. Phật TruyệnĐiển Tịch, Phật Diệt Niên Đại, Lịch).
thích ca mâu ni như lai
Sakyamuni Thus Come One—Sakyamuni Tathagata—Vị Phật thứ bảy trong bảy vị cổ Phật—The seventh of the seven ancient Buddhas. ** For more information, please see Thích Ca Mâu Ni Phật in Vietnamese-English Section.
thích ca mâu ni như lai tượng pháp diệt tận chi kí
6824全一卷。唐代法成譯。收於大正藏第五十一冊。記載于闐國等之佛教歷史。即于闐國第七世毘左耶訖多王時代,僧伽婆爾陀那羅漢以預言方式講述于闐國佛教之興廢,乃至像法滅盡等事。本書僅為藏文原本之部分漢譯,乃伯希和於敦煌所發現者,為研究古代西域之珍貴資料及研究西藏原本之重要參考書。
; (釋迦牟尼如來像法滅盡之記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp thành dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung nói về lịch sử Phật giáo các nước như Vu điền..., tức vào thời vua đời thứ 7 của nước Vu điền là Tì tả da ngật đa, La hán Tăng già bà nhĩ đà na dùng phương thức tiên đoán để trình bày về sự hưng phế của Phật giáo nước Vu điền, cho đến việc tượng pháp diệt hết. Sách này chỉ là một phần Hán dịch trong nguyên bản tiếng Tây tạng, do học giả người Pháp là ông P.Pelliot tìm thấy ở Đôn hoàng, Trung quốc, là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu về Phật giáo các nước vùng Tây vựcđờixưa và là sách tham khảo quan trọng để nghiên cứu nguyên bản tiếng Tây tạng.
thích ca mâu ni phật
1) Đức Phật lịch sử, người đã sanh ra trong dòng họ Thích Ca—Nhà Thông Thái của dòng họ Thích Ca—Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Phật lịch sử đã sáng lập ra Phật giáo. Ngài tên là Cồ Đàm Sĩ Đạt Đa, đản sanh năm 581-501 trước Tây lịch, là con đầu lòng của vua Tịnh Phạn, trị vì một vương quốc nhỏ mà bây giờ là Nepal và kinh đô là Ca Tỳ La Vệ. Vào tuổi 29 Ngài lìa bỏ cung điện và vợ con, ra đi tìm đường giải thoát chúng sanh. Vào một buổi sáng lúc Ngài 35 tuổi, Ngài đã thực chứng giác ngộ trong khi đang thiền định dưới cội Bồ đề. Từ đó về sau, Ngài đã đi khắp các miền Ấn Độ giảng pháp giúp người giải thoát. Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi—Sakyamuni Buddha—The historical Buddha, who was born into the Sakya clan—The Sage of the Sakyas—A title applied to the Buddha—Historical founder of Buddhism, Gautama Siddhartha, the Buddha Sakyamuni, who was born in 581-501 BC as the first son of King Suddhdana, whose small kingdom with the capital city of Kapilavastu was located in what is now Nepal. At the age of twenty nine, he left his father's palace and his wife and child in search of the meaning of existence and way to liberate. One morning at the age of thirty five, he realized enlightenment while practicing meditation, seated beneath the Bodhi tree. Thereafter, he spent the rest 45 years to move slowly across India until his death at the age of 80, expounding his teachings to help others to realize the same enlightenment that he had. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thích Ca Mâu Ni là vị Thánh của dòng họ Thích Ca. Chữ Thích Ca có nghĩa là nhân từ hay tịnh mặc, là một vị sống độc cư, hay bậc tịch tĩnh trong dòng họ Thích Ca. Sau 500 hay 550 kiếp, cuối cùng Đức Thích Ca Mâu Ni đạt được quả vị Bồ tát, sanh vào cung trời Đâu Suất, và vào ngày 8 tháng tư giáng trần bằng bạch tượng, vào hông phải của Hoàng Hậu Ma Da vợ vua Tịnh Phạn. Năm sau vào ngày 8 tháng hai Hoàng Hậu hạ sanh ngài trong vườn Lâm Tỳ Ni, ở phía đông thành Ca Tỳ La Vệ, nay thuộc Népal. Ngài là con vua Tịnh Phạn, dòng dõi Sát Đế Lợi, cai trị thành Ca Tỳ La Vệ. Hạ sanh ngài được bảy ngày thì Hoàng Hậu Ma Da qua đời, ngài được bà dì tên Ba Xà Ba Đề nuôi nấng dạy dỗ. Ngài vâng lệnh vua cha kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La, được một con trai tên La Hầu La. Sau đó Ngài lìa bỏ gia đình ra đi tìm chân lý, trở thành một nhà tu khổ hạnh, cuối cùng vào năm 35 tuổi Ngài chứng ngộ và nhận thức rằng giải thoát khỏi vòng sanh tử không phải do khổ hạnh, mà do nơi giới đức thanh tịnh; những điều nầy ngài giải thích trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Cộng đồng Tăng Sĩ của ngài dựa trên đức hạnh và trí tuệ, được biết đến như là Đạo Phật, và Ngài cũng được biết đến như là vị Phật. Ngài nhập diệt khoảng năm 487 trước Tây Lịch, khoảng 8 năm trước Khổng Tử. Tên tộc (gia đình) của ngài là Cồ Đàm, người ta nói Cồ Đàm là tên của toàn bộ tộc—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Sakyamuni, the saint of the sakya tribe. Muni is saint, holy man, sage, ascetic, monk; it is interpreted as benevolent, charitable, kind, also as one who dwells in seclusion. After 500 or 550 previous incarnations, Sakyamuni finally attained to the state of Bodhisattva, was born in the Tusita heaven, and descended as a white elephant, through her right side, into the womb of the immaculate Maya, the purest woman on earth; this was on the 8th day of the 4th month; the following year on the 8th day of the 2nd month he was born from her right side painlessly as she stood under a tree in the Lumbini garden. He was born the son of King Suddhodana, of the Ksatriya caste, ruler of Kapilavastu, and Maya his wife; that Maya died seven days later, leaving him to be brought up by her sister Prajapati; that in due course he was married to Yasodhara who bore him a son, Rahula; that in search of truth he left home, became an ascetic, severely disciplined himself, and finally at 35 years of age, under a tree, realized that the way of release from the chain of rebirth and death lay not in asceticism but in moral purity; this he explained first in his four dogmas, and eightfold noble way. He founded his community on the basis of poverty, chastity, and insight or meditation, and it became known as Buddhism, as he became known as Buddha, The Enlightened. His death was probably in or near 487 B.C., a few years before that of Confucius in 479. The sacerdotal name of his family is Gautama, said to be the original name of the whole clan, Sakya being that of his branch; his personal name was Siddhartha, or Sarvarthasiddha.
thích ca mạn đồ la
6830密宗修法中,以釋迦如來為中心而建立之曼荼羅。此類圖像,諸經所載各有不同。據大日經卷五祕密漫荼羅品所載,釋迦師子壇稱為大因陀羅,其壇黃色,極令鮮麗,四方均等,於中畫金剛杵,杵上置蓮花,蓮上置鉢。若作佛形者,當畫釋迦佛持鉢,又以金剛圍之,右邊置袈裟,左邊置錫杖。另據釋迦文尼佛金剛一乘修儀軌法品所載,若欲報無上釋尊恩德者,先作曼荼羅,其中央畫釋迦牟尼像,趺坐於白蓮花臺上。普賢、文殊、觀音、彌勒住於四隅,如胎藏說,各坐蓮花,半跏而居。於佛前有如來鉢,於佛右有賢瓶含花,於佛後有錫杖,於佛左邊有寶螺,四物各置於蓮葉上,光炎圍繞。此即通常所稱之釋迦曼荼羅。此外,一切功德莊嚴王經、大方廣曼殊室利經漫荼羅品等經中皆有釋迦曼荼羅畫法之描述。〔一字佛頂輪王經卷一、不空羂索神變真言經卷九廣大解脫漫荼羅品、牟梨曼陀羅咒經、大日經疏卷十六、大日經義釋卷十二、覺禪鈔釋迦上卷〕
; (釋迦曼荼羅) Chỉ cho Mạn đồ la lấy đức Thích ca Như lai làm trung tâm mà kiến lập. Theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5 thì đàn Thích ca sư tử gọi là Đại nhân đà la, đàn màu vàng tươi, rất đẹp, 4 cạnh bằng nhau, chính giữa vẽ chày kim cương, trên chày đặt hoa sen, trên hoa sen đặt bình bát. Nếu là hình Phật thì vẽ Phật Thích ca cầm bát, có kim cương vây quanh, bên phải đặt ca sa, bên trái đặt tích trượng. Còn Thích ca văn ni Phật kim cương nhất thừa tu nghi quĩ pháp phẩm thì nói rằng: Nếu muốn báo đáp ân đức vô thượng của đức Thích tôn thì nên kiến lập Mạn đồ la, chính giữa vẽ tượng Phật Thích ca mâu ni, ngồi kết già trên đài sen trắng; ở 4 góc, vẽ 4 bồ tát: Văn thù, Phổ hiền, Quán âm và Di lặc, đều ngồi bán già trên hoa sen. Trước tượng Phật có bình bát của Như lai, bên phải Phật đặt hiền bình có cắm hoa, bên trái đặt bảo loa, phía sau Phật để tích trượng, 4 vật này đều được đặt trên hoa sen, có ngọn lửa bao quanh. Đây chính là Thích ca mạn đồ la. Ngoài ra, kinh nhất thiết công đức trang nghiêm vương, phẩm Mạn đồ la trong kinh Đại phương quảng Mạn thù thất lợi... đều có nói về cách vẽ Thích ca mạn đồ la.
thích ca như lai
Śākyamuni-Tathāgata (S).
thích ca như lai thành đạo kí
6824凡二卷。唐代王勃撰。收於卍續藏第一三○冊。係敘述釋迦牟尼一代教化之事蹟,及其入滅後教法之弘通等。明萬曆六年(1578),明得為作序,極言此書「要而不略,該而不漏,玉潤金精,星明日耀」。唐代道誠作成道記註,凡二卷。
; (釋迦如來成道記) Tác phẩm, 2 quyển, do Vương bột soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Nội dung nói về sự tích giáo hóa trong một đời của đức Thích ca mâu ni và về việc hoằng dương giáo pháp sau khi Ngài nhập diệt. Năm Vạn lịch thứ 6 (1578) đời Minh, ngài Minh đắc viết bài tựa, đánh giá rất cao bằng những lời như sau: Sách này rút gọn mà không qua loa, bao quát mà không sót, thật là ngọc khiết vàng ròng, là ánh sao lung linh, là mặt trời rực sáng. Ngài Đạo thành đời Đường có soạn Thành đạo kí chú, 2 quyển.
thích ca niệm phật
6829謂唱念釋迦牟尼佛之名號,迴願證大菩提。為念佛法門之一。又稱釋迦大念佛、大念佛。法華經卷六如來神力品(大九‧五二上):「亦當禮拜供養釋迦牟尼佛,彼諸眾生聞虛空中聲已,合掌向娑婆世界作如是言:『南無釋迦牟尼佛!南無釋迦牟尼佛!』以種種華香、瓔珞、幡蓋及諸嚴身之具、珍寶妙物,皆共遙散娑婆世界。」此處稱念釋迦牟尼佛之名號,係表示歸命之意。〔觀普賢菩薩行法經〕(參閱「念佛」3208)
; (釋迦念佛) Cũng gọi Thích ca đại niệm Phật, Đại niệm Phật. Xướng niệm danh hiệu Phật Thích ca mâu ni, hồi hướng nguyện chứng Đại bồ đề, là 1 trong các pháp môn niệm Phật. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 52 thượng) nói: Cũng nên lễ bái, cúng dường Phật Thích ca mâu ni, các chúng sinh cõi kia nghe âm thanh trong hư không, liền chắp tay hướng về thế giới Sa bà xướng niệm rằng: Na mô Thích ca mâu ni Phật! Na mô Thích ca mâu ni Phật! Rồi cùng nhau từ xa rải vào thế giới Sa bà các thứ hoa thơm, anh lạc, phướn lọng và các vật quí báu nghiêm thân. Ở đây, xưng niệm danh hiệu đức Phật Thích ca mâu ni là biểu trưng ý nghĩa qui mệnh.
thích ca pháp
6830供養釋迦牟尼佛之壇法。為密教修法之一種。即以釋迦牟尼佛為本尊,為增益、除障難、治病而修之祕法。陀羅尼集經卷二謂,咒師若欲得供養十方諸佛,欲避一切障難,除一切鬼病,治一切病痛者,應作此法。又釋迦文尼佛金剛一乘修行儀軌法品載其作法,謂其供養儀式、勸請奉送,皆依如來部;如蘇悉地經等說,以佛眼尊為部母,以難勝忿怒為結護明王。此外,大日經、胎藏部之經軌,及陀羅尼集經卷一等,雖亦載有釋迦之印言,然有關釋迦法之典據則甚少。〔牟梨曼陀羅咒經、圖像抄卷二、祕密真言法要彙聚(悟光)〕
; (釋迦法) Chỉ cho pháp đàn cúng dường Phật Thích ca mâu ni, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Tức bí pháp thờ đức Phật Thích ca mâu ni làm Bản tôn mà tu các pháp Tăng ích, Trừ chướng nạn và Trị bệnh. Kinh Đà la ni tập quyển 2 nói: Nếu các Chú sư muốn cúng dường chư Phật trong 10 phương, muốn tránh khỏi tất cả chướng nạn, quỉ nạn và trị tất cả bệnh tật đau đớn thì nên tu hành pháp này. Còn Thích ca văn ni Phật kim cương nhất thừa tu hành nghi quĩ pháp phẩm thì nói về tác pháp, cho rằng nghi thức cúng dường, khuyến thỉnh phụng tống của pháp tu này đều y cứ theo Như lai bộ; như kinh Tô tất địa... nói: Lấy Phật nhãn tôn làm bộ Mẫu, lấy Nan thắng phẫn nộ làm Minh vương Kết hộ. Ngoài ra, kinh Đại nhật, kinh quĩ của Thai tạng bộ và kinh Đà la ni tập quyển 1, tuy cũng có nói về ấn tướng và chân ngôn của Phật Thích ca nhưng điển cứ liên quan đến Thích ca pháp thì rất ít
thích ca phát khiển
6832發遣,為「招喚」之對稱。謂釋迦如來於娑婆穢土勸說往生阿彌陀佛之淨土。觀無量壽佛經疏玄義分(大三七‧二四六中):「仰惟釋迦此方發遣,彌陀即彼國來迎。彼喚此遣,豈容不去也。」
; (釋迦發遣) Phát khiển, đối lại: Chiêu hoán. Thích ca phát khiển. Nghĩa là đức Phật Thích ca ở uế độ Sa bà khuyên bảo chúng sinh cầu sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. Phần Huyền nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ (Đại 37, 246 trung) nói: Ngưỡng mong đức Thích ca ở phương này phát khiển, đức Di đà ở cõi kia đến đón. Cõi kia kêu gọi, nơi này khuyên bảo, lẽ nào không đi?.
thích ca phát tâm
6832大智度論卷四、俱舍論卷十八等載,三大阿僧祇劫前,有佛名釋迦牟尼,世尊為菩薩時,逢此佛而發心,且願如其作佛,此即最初之發心。今如願為釋迦牟尼,其行化一同彼佛。又依法華經卷三化城喻品載,過去久遠劫,有佛名大通智勝如來,於未出家時,有十六王子,後均出家為沙彌,聽聞法華經,遂皆成佛;其第十王子即後之釋迦如來。法華經化城喻品(大九‧二五上):「已曾供養百千萬億諸佛,淨修梵行,求阿耨多羅三藐三菩提。」故知此時已非初發心。 又依悲華經卷二、卷三之說,往昔刪提嵐國無諍念王時,寶海梵志有一子出家成道,稱為寶藏如來,其時寶海梵志勸王及王之千子與其他眾多弟子發心,王等隨之願求清淨佛國,其一千弟子與五侍者願求濁惡世界,梵志最後亦發五百大願,願求濁惡世界,即後來之釋迦如來,是為賢劫佛中之第四佛。
; (釋迦發心) Sự phát tâm của đức Phật Thích ca khi còn là Bồ tát ở địa vị tu nhân. Luận Đại trí độ quyển 4 và luận Câu xá quyển 18 nói: Cách nay 3 đại a tăng kì kiếp có đức Phật hiệu là Thích ca mâu ni, lúc bấy giờ đức Thích tôn vẫn còn là Bồ tát, lần đầu tiên Ngài phát tâm, nguyện cầu thành Phật và nay Ngài là Phật Thích ca mâu ni đúng như nguyện. Nhưng, theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3 thì trong 1 kiếp quá khứ rất lâu xa, có đức Phật hiệu là Đại thông trí thắng Như lai, khi chưa xuất gia, Ngài có 16 vương tử, sau đều xuất gia làm sa di, được nghe kinh Pháp hoa và đều thành Phật; trong đó, vị vương tử thứ 10 chính là đức Thích ca Như lai sau này. Lại nữa, cũng phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa (Đại 9, 25 thượng) nói: Đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức chư Phật, tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô thượng chính đẳng chính giác. Như vậy, trường hợp trên không phải là lần phát tâm đầu tiên. Ngoài ra, theo kinh Bi hoa quyển 2, 3 thì thủa xưa vào thời vua Vô tránh niệm nước San đề lam, Phạm chí Bảo hải có người con xuất gia thành đạo hiệu là Bảo tạng Như lai. Bấy giờ, Phạm chí Bảo hải khuyên vua Tránh niệm và 1000 vương tử phát tâm, nhà vua làm theo lời khuyên và phát tâm nguyện cầu sinh cõi Phật thanh tịnh, còn 1000 vương tử thì nguyện cầu sinh vàothế giới trược ác. Cuối cùng, Phạm chí Bảo hải cũng phát 500 đại nguyện và cầu sinh vào thế giới trược ác, đó chính là đức Phật Thích ca sau này, là Phật thứ 4 trong 1000 Phật kiếpHiền.
thích ca phương chí
6823凡二卷。唐永徽元年(650),道宣撰。又作釋迦方誌。收於大正藏第五十一冊。全書分為封疆、統攝、中邊、遺蹟、遊履、通局、時住、教相等八篇。敘述佛教傳播之地域及時期、佛教傳說之須彌山及四洲之相狀,以及中印佛教交流之路線、十六位入印求法僧俗之傳略、流傳於中國之印度佛教故事等。本書除引用佛教經傳外,亦參考一般史書、道教經書等。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八、唐書藝文志第四十九〕
; (釋迦方志) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Toàn sách chia làm 8 thiên: Phong cương, Thống nhiếp, Trung biên, Di tích, Du lí, Thông cục, Thời trụ và Giáo tướng. Nội dung trình bày về các khu vực và thời kì truyền bá Phật giáo, về tướng trạng 4 châu và núi Tu di trong truyền thuyết Phật giáo, về tuyến đường giao lưu của Phật giáo giữa Trung quốc và Ấn độ, về lược truyện 16 vị tăng, tục đến Ấn độ cầu pháp và về những truyện tích Ấn độ lưu truyền ở Trung quốc. Ngoài việc dẫn dụng các kinh truyện Phật giáo, sách này còn tham khảo 1 số sách sử, kinh thư Đạo giáo.
thích ca phả
6833凡五卷或十卷。梁代僧祐撰。收於大正藏第五十冊。內容廣引大小乘經律,記述釋迦族世系之傳說、釋迦牟尼佛一代之事蹟,及其入滅後至阿育王時佛法之流布。分為三十四項逐條敘述,附加撰者簡單之意見,並一一揭示典據、引文,為我國撰述佛傳之始,唯略嫌冗長繁雜,故有唐代道宣簡略之釋迦氏譜之作。本書有廣略二本,高麗本為略本,分五卷,宋、元、明三本為廣本,有十卷。〔梁高僧傳卷十一、法經錄卷六、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷六〕
; (釋迦譜) Tác phẩm, 5 quyển (hoặc 10 quyển), do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung trích dẫn nhiều kinh luật Đại, Tiểu thừa, nói về các truyền thuyết liên quan đến các thế hệ của dòng họ Thích ca, sử tích một đời của đức Phật Thích ca mâu ni và sự truyền bá Phật pháp từ sau khi Phật nhập diệt cho đến thời đại vua A dục. Toàn sách được chia làm 34 điều, phụ thêm ý kiến ngắn gọn của soạn giả, mỗi điều đều có nêu điển cứ, văn trích dẫn. Đây là tác phẩm soạn thuật Phật truyện đầu tiên ở Trung quốc, nhưng đáng tiếc hơi dài dòng, luộm thuộm, vì thế, ngài Đạo tuyên đời Đường có soạn Thích ca thị phổ giản lược hơn. Sách này có 2 bản quảng và lược, bản Cao li là bản lược, gồm 5 quyển, còn 3 bản Tống, Nguyên, Minh là bản quảng, gồm 10 quyển.
thích ca phật đài
Thích Ca Phật Đài là một tượng đài đẹp nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu, tọa lạc phía tây bắc sườn núi Lớn ở Vũng Tàu. Đây là công trình kiến trúc của hệ phái Phật Giáo Nguyên Thủy, được xây dựng vào năm 1961. Nơi đây gồm hai khu vực: Thiền Lâm Tự ở phía dưới và Thích Ca Phật Đài ở phía trên. Theo từng bậc đá men sườn núi có nhiều pho tượng về sự tích Đức Phật: Tượng Đức Phật Thích Ca Đản Sinh, Thích Ca xuất gia, Thích Ca Thành Đạo, và cây Bồ Đề được Đại Đức Narada cung thỉnh từ Tích Lan về trồng tại đây vào ngày 2 tháng 11 năm 1960. Ở trung tâm là tượng Phật Thích Ca ngồi kiết già trên một tòa sen, cao 10 mét 20, đường kính 6 mét, khánh thành ngày 10 tháng 3 năm 1963. Ở đây còn có tháp xá lợi bát giác, cao 19 mét, bốn phía đặt bốn đỉnh lớn, đất bên trong đỉnh được mang về từ Tứ động tâm (Ấn Độ): Nơi Phật Đản Sanh, Phật Thành Đạo, Phật Chuyển Pháp Luân, Phật Nhập Niết Bàn—Name of a famous statue of Sakyamuni Buddha, or Sakyamuni Buddha Monument, a famous beautiful scenery of Vũng Tàu City, located on the northwest slope of Mount Lớn in Vũng Tàu City. It is an architectural monument of the Theravada Sect, being built in 1961. There are two sections in the area: Thiền Lâm Pagoda is located at the foot of the mountain whereas the Sakyamuni Buddha Monument is on the slope. Along the stone stairs of the mountain slope, one can see many statues illustrating Lord Buddha's biography. That is, the statue of Sakyamuni Buddha at His Holy Birth, that of Sakyamuni entering the monkhood and one statue cast to memorize His Great Enlightenment. One can see also Bo-tree brought from Sri Lanka and planted in the area by Most Venerable Elder Narada on November 2nd, 1963. At the center of the area is placed a Sakyamuni Buddha statue sitting in meditation in cross-legged posture on the lotus pedestal, 10.20 meters high and 6 meters in diameter. The statue was inaugurated on March 10, 1963. Also in this area stands the octogonal stupa for Buddha's relics, 19 meters high, with four great cauldrons situated in four corners of the stupa. Inside the cauldrons is the soil brought from the four places where Lord Buddha was born, where he received is Great Enlightenment, where he set the Dharma wheel moving and where he reached Parinirvana.
thích ca sư tử
Śākyasiṃha (S).
; Sakyasimha (skt)—The lion of the Sakyas, i.e. the Buddha.
thích ca thi khí phật
Xem Kế Na Thi Khí Phật.
thích ca thị phả
6823請參閱 釋迦氏譜全一卷。唐代道宣撰。又作釋氏略譜、釋迦氏略譜。收於大正藏第五十冊。內容分所依賢劫、氏族根源、所託方土、法王化相、聖凡後胤等五科。係據大小乘三藏,敘述釋迦出世之時間、釋迦族譜之傳說、釋迦創教之地域、傳教經過及圓寂後佛教之興廢等。大意雖同南朝梁代僧祐所作之釋迦譜,而簡略其文,結構整然,使後進者易得其門而入。唯引用之經文多闕題名,出典之檢索不便。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八〕
; (釋迦氏譜) Cũng gọi Thích thị lược phổ, Thích ca thị lược phổ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này được chia làm 5 khoa: Sở y hiền kiếp, Thị tộc căn nguyên, Sở thác phương thổ, Pháp vương hóa tướng và Thánh phàm hậu dận. Nội dung trên y cứ vào Tam tạng Đại, Tiểu thừa để trình bày về thời gian xuất thế của đức Thích ca, về truyền thuyết tộc phổ của Ngài, về những khu vực Ngài sáng lập giáo pháp, về quá trình truyền giáo và về sự hưng phế của Phật giáo sau khi Ngài viên tịch. Đại ý tuy giống với Thích ca phổ do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương thuộc Nam triều nhưng lời văn ngắn gọn hơn, kết cấu rõ ràng mạch lạc, giúp cho người sau dễ hiểu hơn. [X.Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
thích ca trí
6831(1354~1435)西藏名 Śākya-ye-śes,又作釋迦也失、釋迦益西。或西藏名 Byams-chen chos-rje,譯作甲卿曲吉、江卿曲吉、降青曲結。明初喇嘛教額爾德派僧。宗喀巴八大弟子之一,為第十世章嘉呼圖克圖。西藏根塘(藏 Guṅ-thaṅ)人。從宗喀巴學習菩提道次第、祕密集五次第等密宗典籍及戒律。時宗喀巴受明成祖之請,令師代行。永樂十二年(1414)經成都至北京,駐錫法淵寺。翌年,修祕密集等成就供養,成祖賜「妙覺圓通慈慧普應輔國顯教灌頂弘善西天佛子大國師」之印誥,從受灌頂。後於五臺山傳法授戒一年有餘。返藏後建色拉寺(藏 Se-ra),並奉宗喀巴之命,在色拉寺設置大乘學院。二十一年,二度入京,遇成祖崩,為修曼荼羅供。宣德九年(1434),三度入朝,宣宗留住於京,冊封「萬行妙明真如上勝清淨般若弘照普慈輔教顯教至善大慈法王西天覺如來自在大圓通佛」(略稱大慈法王)。翌年示寂,世壽八十二。為喇嘛黃教額爾德派僧入內地傳教之第一人。〔明史列傳第二一九、蒙藏佛教史(妙舟)、蒙古喇嘛教史〕(參閱「大慈法王」876)
thích ca tì lăng già ma ni bảo
6830梵語 śakrābhi lagna-maṇi-ratna。又作釋迦毘楞伽寶、釋迦毘楞伽勝摩尼寶、毘楞伽摩尼寶珠、毘楞伽寶。釋迦毘楞伽,一般譯作帝釋持,意即「帝釋天之所有」;又譯作能勝、離垢。摩尼,為寶珠之總稱。即帝釋天之頸飾,常能放光。經典中亦以之為釋尊、觀世音、彌勒等佛菩薩之莊嚴具。依大方廣寶篋經卷上載,帝釋頸上之毘楞伽摩尼寶珠遍照三十三天;此淨寶珠比喻菩薩之智性能現一切事。又大法炬陀羅尼經卷五忍較量品謂,須彌山頂有威花、釋迦毘楞伽、寶精三寶,其中毘楞伽寶係純真金色,為善根所生,自然彫瑩,能出過須彌山頂之忉利天處、夜摩天處、兜率天處,住於梵宮;菩薩從閻浮提生兜率天,以善根力,此寶即自然生於篋中,所有魔事自然壞滅。〔觀無量壽經、觀彌勒上生兜率天經、觀經妙宗鈔卷二〕
; (釋迦毘楞伽摩尼寶) Phạm: Zakràbhi lagna-maịi-ratna. Cũng gọi Thích ca tì lăng già bảo, Thích ca tì lăng già thắng ma ni bảo, Tì lăng già ma ni bảo châu, Tì lăng già bảo. Chỉ cho vật báu trang sức đeo ở cổ của trời Đế thích thường phóng ra ánh sáng. Thích ca tì lăng già thông thường được dịch là Đế thích trì, nghĩa là sở hữu của trời Đế thích, cũng dịch là Năng thắng, Li cấu. Ma ni là từ gọi chung các châu báu. Trong kinh cũng cho đây là vật trang nghiêm của Phật và Bồ tát. Theo kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển thượng thì bảo châu Tì lăng già ma ni trên cổ trời Đế thích chiếu sáng khắp cung trời 33. Bảo châu thanh tịnh này được ví dụ cho trí tính của Bồ tát có năng lực hiển hiện tất cả mọi việc. Còn theo phẩm Nhẫn giảo lượng trong kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 5 thì trên đỉnh núi Tu di có 3 thứ báu là Uy hoa, Thích ca tì lăng già và Bảo tinh, trong đó, Tì lăng già bảo có màu vàng ròng, do thiện căn sinh ra, tự nhiên chiếu sáng vượt qua cõi trời Đao lợi, trời Dạ ma, trời Đâu suất, đỉnh núi Tu di và trụ lại ở Phạm cung. Bồ tát từ cõi Diêm phù đề sinh lên cung trời Đâu suất, nhờ năng lực thiện căn nên vật báu này tự nhiên sinh ra ở trong hộp, tất cả ma sự tự nhiên hoại diệt.
thích ca tôn
Bậc Chí Tôn của dòng họ Thích Ca, ý nói Phật Thích Ca—The honoured one of the Sakyas, i.e. Sakyamuni.
thích ca tượng
6833指雕畫釋迦牟尼佛之身像。即思慕釋尊人格之偉大而雕畫供奉其像。釋迦像之造立,據增一阿含經卷二十八、觀佛三昧海經卷六等載,佛世時,優填王、波斯匿王均曾為佛陀以純金鑄像,然此等記載恐係後世之傳說。蓋未有佛像以前,印度一般以法輪、菩提樹、舍利塔等象徵佛陀及本生譚圖,至西曆紀元前後,印度犍陀羅地方始出現各種姿態之釋迦佛像,有兩手交合之思惟像、右手結觸地印之降魔像、兩手於胸前結轉法輪印之說法像等。上述皆為坐像。佛傳中最常見者為誕生佛與涅槃像,另有苦行釋迦、出山釋迦等,畫題極為豐富。 據弘明集卷一所載牟子理惑論、梁高僧傳卷一竺法蘭傳等,我國後漢明帝時已有圖寫之釋迦像。又據出三藏記集卷十三康僧會傳、廣弘明集卷十五所載東晉支道林之釋迦文佛像讚等,可知三國以降,佛像之造立逐漸風行。苻秦建元二年(366),沙門樂僔於敦煌鳴沙山掘鑿佛龕,為我國鑿窟造像之嚆矢。北涼沮渠蒙遜復於鳴沙山以東之三危山開鑿窟殿,其後漸次增築,達數千窟之多,即所謂敦煌千佛巖,又稱莫高窟。北魏文成帝時,命曇曜於平城西北之雲崗作五大石窟(第十六至第二十窟),獻文、孝文二帝亦相繼開鑿,凡二十窟,大多供奉釋迦佛像。北魏太和十九年(495),遷都洛陽後,於龍門造佛龕,隋、唐繼之,其中亦多釋迦像。 初唐以降,密教傳來,同時亦傳入釋迦及釋迦曼荼羅之畫法,在胎藏界曼荼羅中為天鼓雷音如來,配於中臺八葉院北方,又為東方釋迦院之主尊。其中,中臺八葉院之形像呈黃金色,左手作拳,仰置臍下,伏右掌,安於膝上,坐寶蓮華,即毘盧遮那法身住離熱清涼、寂定之相;以置於中臺,故稱第一重釋迦。釋迦院之形像呈真金色,著乾陀色袈裟,左手執袈裟一角,右手豎指,以姆指、無名指為輪相持,坐白蓮華臺,即毘盧遮那說自內證法門之說法相;以別置於東方第三重,故稱外三重釋迦。又敦煌千佛洞自北魏迄唐宋諸代間,屢有增築,其中,第一二○N洞(依伯希和之編號)正面龕中置有中印度式之釋迦佛像;第一一一洞置有兼採中印、北魏樣式之釋迦與多寶佛並坐之像。史坦因亦嘗於此地發現繡造靈鷲山說法圖與絹本著色釋迦說法圖等。〔大日經卷一具緣品、一字佛頂輪王經卷一、卷二、清淨觀世音普賢陀羅尼經、尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷上、高僧法顯傳、弘明集卷十一、釋迦譜卷三、梁高僧傳卷一、卷十三、洛陽伽藍記卷四、大唐西域記卷二、卷四至卷六、法苑珠林卷十三、卷十四、佛祖統紀卷三十五至卷三十九、佛祖歷代通載卷八、J. Fergusson:Tree and Serpent Worship; A. Cunningham: The Stūpa of Bharhut〕
; (釋迦像) Tượng đức Phật Thích ca mâu ni được điêu khắc hoặc vẽ tranh để lễ bái cúng dường. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28 và kinh Quán Phật tam muội hải quyển 6 thì vào thời đức Phật còn tại thế, vuaƯu điền và vua Ba tư nặc đều đã đúc tượng Phật bằng vàng ròng. Nhưng việc này có lẽ là truyền thuyết của người đời sau. Trước khi có tượng Phật, người Ấn độ thường dùng bánh xe pháp, cây Bồ đề, tháp xá lợi... để tượng trưng cho đức Phật và các bức tranh bản sinh đàm, cho đến khoảng kỉ nguyên Tây lịch thì ở vùng Kiện đà la thuộc Bắc Ấn độ mới thấy xuất hiện tượng Phật Thích ca trong nhiều tư thái, tượng ngồi tư duy với 2 bàn tay chồng lên nhau, tượng ngồi hàng ma tay phải kết ấn Xúc địa(chạm đất), tượng ngồi thuyết pháp 2 tay kết ấn chuyển pháp luân đặt ở trước ngực... Trong Phật truyện thường thấy tượng Phật đản sinh, nhập Niết bàn và tượng Thích ca khổ hạnh, Thích ca xuất sơn... đề tài vẽ rất phong phú. Theo Lí hoặc luận của Mâu tử trong Hoằng minh tập quyển 1 và truyện Trúc pháp lan trong Lương cao tăng truyện quyển 1 thì vào thời vua Minh đế nhà Hậu Hán ở Trung quốc đã có vẽ tượng Phật. Lại theo truyện ngài Khang tăng hội trong Xuất tam tạng kí tập quyển 13, bài tán tượng Thích ca văn Phật của ngài Chi đạo lâm đời Đông Tấn chép trong Quảng hoằng minh tập quyển 10 thì người ta biết được là từ đời Tam quốc về sau, việc tạo lập tượng Phật đã dần dần thịnh hành. Vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Phù Tần, sa môn Lạc tôn đục hang đá tạo tượng Phật ở núi Minh sa tại Đôn hoàng, đây là sự nghiệp đục hang đá tạc tượng Phật đầu tiên ở Trung quốc. Kế đến, Thư cừ Mông tốn ở Bắc Lương mở đục điện hang tại núi Tam nguy nằm về phía đông núi Minh sa để tạo lập tượng Phật, dần dần hang đá đạt đến số nghìn, đó chính là Đôn hoàng thiên Phật động, cũng gọi là Mạc cao quật. Thời Bắc Ngụy, vua Văn thành đế sai ngài Đàm diệu đục mở 5 hang đá lớn (hang 16 đến hang 20) ở núi Vân cương nằm về phía tây bắc Bình thành. Đến đời các vua Hiến văn và Hiếu văn cũng tiếp tục đục mở, gồm 20 hang, phần lớn là thờ tượng Phật Thích ca. Vào năm Thái hòa 19 (495) đời Bắc Ngụy, sau khi dời đô đến Lạc dương, hang đá và tượng Phật bắt đầu được tạo lập ở Long môn, đến các đời Tùy, Đường tiếp nối, trong đó, phần lớn cũng tạo tượng Phật Thích ca. Đầu đời Đường về sau, Mật giáo truyền vào, đồng thời cũng truyền vào cách vẽ tượng Thích ca và Thích ca mạn đồ la. Trong mạn đồ la Thai tạng giới, Thiên cổ lôi âm Như lai ngồi ở phương bắc viện Trung đài bát diệp, là vị chủ tôn của viện Thích ca ở phương đông. Trong đó, hình tượng Ngài ở viện Trung đài bát diệp là màu vàng ròng, tay trái nắm lại và ngửa lên để ở dưới rốn, bàn tay phải úp xuống đặt trên đầu gối, ngồi trên hoa sen báu, tức là tướng của Pháp thân Tì lô giá na lìa nóng bức được mát mẻ, an trụ trong định tịch lặng; vì đặt ở Trung đài cho nên gọi là Đệ nhất trùng Thích ca. Còn hình tượng trong viện Thích ca cũng màu vàng ròng, đắp ca sa màu càn đà, tay trái cầm 1 góc áo ca sa, đầu ngón tay cái và ngón vô danh của tay phải bấm vào nhau làm thành hình tròn, 3 ngón còn lại dựng đứng, đây tức là tướng thuyết pháp của đức Tì lô giá na nói pháp môn tự chứng; vì đặt riêng ở lớp thứ 3 cho nên gọi là Đệ tam trùng Thích ca. Trong khoảng thời gian từ đời Bắc Ngụy đến các đời Đường, Tống, Thiên Phật động ở Đôn hoàng đã được đục mở thêm nhiều lần, trong đó, khám thờ Phật ở mặt chính của độngNthứ 120 (theo biên hiệu của Pelliot) có thờ tượng Phật Thích ca theo kiểu dáng Trung Ấn độ, động thứ 111 thờ tượng Phật Thích ca và Phật Đa bảo ngồi chung theo kiểu dáng dung hợp Trung Ấn và Bắc Ngụy. Ông A.Stein người Anh cũng từng tìm thấy ở đây bức tranh thêu Phật thuyết pháp trên núi Linh thứu và bức tranh thêu Phật Thích ca thuyết pháp bằng lụa có tô màu.
thích ca tỳ lăng già ma ni bảo
Sakrabhilagma-mani-ratna (S)Đế Thích Trì, Tỳ lăng già bảo, Tỳ lăng già ma ni bảoVật trang sức trên cổ của trời Đế Thích.
thích ca viện
6830為密教胎藏界曼荼羅中之一院。位於東方第二重,即遍知院之上方。此院表示大日如來說法利生、方便攝化之德,以釋迦如來(此釋迦如來非為生身佛,乃變化之法身佛)為主尊,故稱釋迦院。由三十九尊所成,其中,釋迦如來為佛寶,觀自在菩薩為法寶,虛空藏菩薩為僧寶,表示三寶具足之意。釋迦如來坐於白蓮花上,表示其出於五濁之世,雖與眾生應同,但卻不變自體之清淨。 關於釋迦院之曼荼羅,諸經軌說法不一,現圖曼荼羅所舉如次: 供養雲海 如來咲 智拘絺羅 如來語 優婆梨 如來舌 迦旃延 除障佛頂 阿難 高佛頂 拘絺羅 最勝佛頂 寶幅辟支佛 輪幅辟支佛 勝佛頂 如來牙 白傘蓋佛頂 觀自在 釋迦無能勝 虛空藏 釋迦無能勝妃 如來爍乞底 一切如來寶 栴檀香辟支佛 如來毫相 多摩羅香辟支佛 大目犍連 轉輪佛頂 須菩提 光聚佛頂 迦葉 無量聲佛頂 舍利弗 如來悲 如來喜 如來愍 如來捨 如來慈 該院列有除障、高,最勝等八佛頂。佛頂,係表示果德幽玄之義;蓋釋迦如來雖為變化身之佛,然為表示與本地法身無二而果德幽玄之義,故列於此院。又如來牙、如來毫相亦列入釋迦院中,此係表示釋迦如來本來常住之自性法身。無能勝、無能勝妃二尊,表示釋迦如來於菩提樹下成道,降伏四魔之德。〔大日經具緣品、密印品、大日經疏卷五〕
; (釋迦院) Một trong các viện thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, lấy đức Thích ca Như lai(đức Thích ca Như lai này không phải là sinh thân Phật, mà là Pháp thân Phật biến hóa ra) làm chủ tôn, cho nên gọi là Thích ca viện. Vị trí của viện này nằm ở lớp thứ 2 phía đông, tức phía trên viện Biến tri, tượng trưng cho đức thuyết pháp lợi sinh, phương tiện nhiếp hóa của Đại nhật Như lai. Viện này gồm có 39 vị tôn, trong đó, Thích ca Như lai là Phật bảo, Bồ tát Quán tự tại là Pháp bảo và Bồ tát Hư không tạng là Tăng bảo, biểu thị ý nghĩa Tam bảo cụ túc. Thích ca Như lai ngồi trên hoa sen trắng, tượng trưng ý nghĩa tuy Ngài xuất hiện giữa cõi đời 5 trọc ác, ứng hiện đồng với chúng sinh, nhưng tự thể thanh tịnh của Ngàithì không biến đổi. Về Mạn đồ la của viện Thích ca, các kinh quĩ nói khác nhau, Mạn đồ la hiện nay nêu như sau: Cúng dường vân hải, Như lai tiếu. Trí câu hi la, Như lai ngữ Ưu bà lê, Như lai thiệt Ca chiên diên, Trừ chướng Phật đính A nan, Cao Phật đính Câu hi la, Tối thắng Phật đính. Bảo phúc Bích chi Phật Luân phúc Bích chi Phật, Thắng Phật đínhNhư lai nha, Bạchtản cái Phật đính Quán tự tại, Thích ca vô năng thắng Hư không tạng, Thích ca vô năng thắng phi.Như lai thước khấtđể, Nhất thiết Như lai bảo Chiên đàn hương Bích chi Phật, Như lai hào tướng Đa ma la hương Bích chi Phật Đại mục kiền liên, Chuyển luân Phật đínhTu bồ đề, Quang tụ Phật đính Ca diếp, Vô lượng thanh Phật đính Xá lợi phất, Như lai bi Như lai hỉ, Như lai mẫn Như lai xả, Như lai từ Viện này bày xếp 8 vị Phật đính: Trừ chướng Phật đính, Cao Phật đính, Tối thắng Phật đính... Phật đính biểu thị ý nghĩa quả đức sâu kín. Vì Thích ca Như lai tuy là Phật hóa thân nhưng biểu thị nghĩa quả đức sâu xa cùng với Pháp thân bản địa không hai, cho nên được bày ở viện này. Còn Như lai Nha, Như lai Hào tướng cũng được xếp trong viện này là vì biểu thị nghĩa Tự tính pháp thân của Thích ca Như lai xưa nay vốn thường trụ. Hai tôn vị Vô năng thắng và Vô năng thắng phi biểu thị cho đức hàng phục 4 ma, thành đạo dưới gốc cây Bồ đề của Thích ca Như lai
thích ca vô sư
6831據增一阿含經卷十四載,優毘伽梵志嘗問佛陀,佛師是誰?依何人出家學道?佛答曰(大二‧六一八下):「我亦無師保,亦復無與等;獨尊無過者,冷而無復溫。」
; (釋迦無師) Đức Thích ca không có thầy mà tự ngộ. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 14 thì có lần Phạm chí hỏi đức Phật rằng: Thầy của Ngài là ai? Ngài nương vào ai để xuất gia học đạo?. Đức Phật đáp rằng (Đại 2, 618 hạ): Ta không có thầy dạy, cũng không ai bằng ta; độc tôn không ai hơn, đã lạnh không còn ấm.
thích ca văn
Thích Ca Văn Ni—Sakyamuni, the saint of the Sakya tribe—See Thích Ca Mâu Ni.
thích ca văn ni
See Thích Ca Mâu Ni.
thích ca vương
Xem Trì quốc thiên vương.
thích ca đa bảo
6823釋迦如來與多寶如來之並稱。據法華經卷四寶塔品載,釋迦佛於靈鷲山說法華經時,由地中踊出寶塔,多寶佛於塔中出大音聲,證明釋迦佛所說真實不虛,並分半座予釋迦佛。在我國隨同法華信仰之盛行,諸寺多造立多寶塔,安置二佛,釋迦佛坐右,多寶佛坐左。(參閱「多寶塔」2337)
; (釋迦多寶) Đức Thích ca Như lai và Đa bảo Như lai. Theo phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì lúc đức Phật Thích ca đang giảng nói kinh Pháp hoa trên núi Linh thứu, từ dưới đất có tòa tháp báu nhô lên, đức Phật Đa bảo ngồi trong tháp phát ra âm thanh lớn, chứng minh những lời đức Thích ca nói là chân thực, không hư dối, đồng thời chia nửa tòa ngồi cho Phật Thích ca. Tại Trung quốc, theo đà thịnh hành của tín ngưỡng Pháp hoa, các chùa phần nhiều tạo lập tháp Đa bảo, trong đó an vị 2 đức Phật, Phật Thích ca ngồi bên phải, Phật Đabảongồi bên trái.
thích ca đại bát ấn
6823略作鉢印、如來鉢。鉢乃諸佛大仙之寶器,釋迦如來特以之為三眛耶形,阿闍梨所傳曼荼羅中以此為一菩薩,列於釋迦院。胎藏儀軌次第於釋迦院中未提及此印明,而係出自如來身會,表示大日如來持鉢之德。據大日經密印品所載,其印相為兩手置於臍間;大日經疏卷十三謂左手持袈裟之二角,並謂(大三九‧七一六上):「作此即同如來,持此袈裟諸佛標幟之儀,亦能令一切非器眾生,皆堪為法器。」
; (釋迦大鉢印) Gọi tắt: Bát ấn, Như lai bát. Ấn tướng có hình bát báu của Phật Thích ca. Trong Thai tạng nghi quĩ thứ đệ, phần nói về viện Thích ca, chưa đề cập đến ấn minh(ấn tướng và chân ngôn) này, mà ấn minh này có xuất xứ từ hội Như lai thân, tượng trưng cho đức trì bát của Đại nhật Như lai. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật thì ấn tướng này là: Hai bàn tay ngửa ra đặt nơi rốn. Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì cho rằng tay trái cầm lấy 2 chéo áo ca sa, biểu thịýnghĩa đồng với Như lai, cũng có năng lực khiến tất cả chúng sinh chẳng phải là pháp khí đều trở thành pháp khí.
thích ca đề bà
Xem Đế Thích thiên.
thích ca đề bà nhơn đà la
Sakra-devendra or Sakro-devanamindra (skt)—Thích Đề Hoàn Nhơn—Thích Đế (Indra).
thích ca đề hoàn nhân
Xem Đế Thích thiên.
thích ca đề hoàn nhân đà la
Xem Đế Thích thiên. Xem Đế thích.
thích chí
Satisfied—Content—Pleased.
thích chúng
Buddhist.
thích chủng
6836釋迦種族之意。釋,乃釋迦(梵 Śākya)之略稱,意譯作能仁、能、直,為淨飯王家之本姓,屬剎帝利種,在印度為貴族,古來備受尊重,後世轉稱佛弟子為釋種。據長阿含經卷十三、有部毘奈耶破僧事卷二下等載,憍薩羅國娑枳多城之城主聲摩王(梵 Okkāka)有四王子,此四王子有大能力,且曾居於雪山之南之直樹林;以此之故,遂以聲摩為釋種之祖先。長阿含經卷十三之注文(大一‧八三上):「釋,秦言能,在直樹林,故名釋;釋,秦言亦言直。」又據佛本行集經卷五賢劫王種品載,釋迦姓又稱奢夷耆耶(梵 Śakiya)。蓋依「能」之義,稱為釋迦;依「直樹」之義,則稱奢夷耆耶。 釋種另有瞿曇種、甘蔗種、日炙種等異名。蓋聲摩王為雅利安人種(Aryan)中有名之王族,其苗裔釋種,亦即為純粹之雅利安民族。一說釋迦族為突那尼爾人種(Turanians)之塞族,然塞族侵入印度在紀元前二世紀半左右,其時佛教已經興起,故此說並不允當。〔中阿含卷三十三釋問經、起世經卷十、起世因本經卷十、眾許摩訶帝經卷二、四分律卷三十一、卷四十一、五分律卷二十一、釋迦氏譜、釋氏要覽卷上〕(參閱「釋迦」6823)
; Sàkya-seed; the Sàkya clan; the disciples of Sàkyamuni, especially monks and nuns.
; Chủng tử Thích Ca—Bộ tộc Thích Ca hay những đệ tử của Thích Ca, đặc biệt là chư Tăng Ni—The Sakya-seed—The Sakya clan—The disciples of Sakyamuni, especially monks and nuns.
; (釋種) Cũng gọi Cù đàm chủng, Cam giá chủng, Nhật chá chủng. Chủng tộc Thích ca thuộc giai cấp Sát đế lợi, một chủng tộc được tôn quí ở Ấn độ. Cứ theo kinhTrường a hàm quyển 13 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 2, phần cuối, thì vua Thanh ma (Phạm: Okkàka) của thành Sa chỉ đa, nước Kiêu tát la, sinh ra 4 vương tử có đại năng lực, từng trụ ở trong rừng Trực thụ tại phía nam Tuyết sơn, vì thế mà cho rằng Thanh ma là tổ tiên của Thích chủng. Lời chú thích trong kinh Trường a hàm quyển 13 (Đại 1, 83 thượng) ghi: Thích, Hán dịch là Năng, vì sống trong rừng Trực thụ nên gọi là Thích; Thích cũng dịch là Trực. Lại theo phẩm Hiền kiếp vương chủng trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 5 thì Thích ca tính còn gọi là Xa di kì da (Phạm:Zakiya). Vì y theo nghĩa Năng thì gọi là Thích ca, còn y theo nghĩa Trực thụ thì gọi là Xa di kì da. Vua Thanh ma thuộc vương tộc nổi tiếng trong các chủng tộc người Aryan, dòng họ Thích con cháu của ông cũng chính là dân tộc Aryan thuần túy. Có thuyết cho rằng chủng tộc Thích ca là Tái tộc trong các chủng tộc người Đột na ni nhĩ (Turanians). Nhưng Tái tộc xâm chiếm Ấn độ vào khoảng 250 năm trước Tây lịch, lúc đó Phật giáo đã hưng khởi rồi, cho nên thuyết này không thích đáng
thích cung
6834指釋迦氏之宮殿。法華經卷五踊出品(大九‧四一下):「如來為太子時,出於釋宮,去伽耶城不遠,坐於道場,得成阿耨多羅三藐三菩提。」
; Cung điện Thích Ca, chính từ nơi đó Thái Tử Sĩ Đạt Đa đã ra đi tìm đạo và đã thành Phật—The Sakya palace, from which prince Siddhartha went forth to become Buddha.
; (釋宮) Chỉ cho cung điện của họ Thích ca. Phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 41 hạ) nói: Khi đức Như lai là Thái tử, ra khỏi Thích cung, đi đến thành Già da cách đó không xa, ngồi ở đạo tràng, thành Vô thượng chính đẳngchính giác.
thích danh
6820即解釋名目之意義。古來注釋家以釋名、出體、義相等同為解釋上之一科目。智顗於經典之解釋立五重玄義,其第一即為釋名,即解釋經典題目之名義。又南海寄歸內法傳卷三記載印度之釋名有二種:(一)有義名,依其義而立名稱,故宜依其義以釋其名。(二)無義名,不論其義,僅就世人一般習慣之稱呼而立其名稱。此外,解釋經論本文之文句,則稱為釋文。
; (釋名) Giải thích ý nghĩa của danh mục. Xưa nay các nhà chú thích cho rằng Thích danh, Xuất thể, Nghĩa tướng... đều là các khoa mục về giải thích. Khi giải thích kinh điển, ngài Trí khải lập ra Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa sâu xa); huyền nghĩa thứ nhất là Thích danh, tức giải thích danh nghĩa của đề mục kinh điển. Theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì Thích danh của Ấn độ có 2 loại, đó là: 1. Hữu nghĩa danh: Y cứ theo nghĩa mà đặt tên, vìthếphải căn cứ vào nghĩa mà giải thích tên ấy. 2. Vô nghĩa danh: Không đặt nặng vấn đề ý nghĩa mà chỉ y cứ vào tập quán thông thường người đời đã quen gọi để đặt tên. Ngoài ra, lời văn giải thích chính văn trong kinh luận thì gọi là Thích văn.
thích danh tự tam muội
6821梵語 adhivacana-praveśa。為百八三昧之一。又作入名字三昧、等入增語三昧。即能解釋諸法名字(名稱)之三昧。大智度論卷四十七(大二五‧三九九中):「釋名字三昧者,諸法雖空,以名字辯諸法義,令人得解。」(參閱「百八三昧」2480)
; Adhivacana-pravesa-samādhi (S).
; (釋名字三昧) Phạm: Adhivacana-praveza. Cũng gọi Nhập danh tự tam muội,Đẳng nhập tăng ngữ tam muội. Chỉ cho Tam muội có năng lực giải thích tên gọi của các pháp, 1 trong 108 Tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399) nói: Các pháp tuy không nhưng dùng danh tự(tên gọi) để giải thíchnghĩacác pháp khiến người hiểu được, đó gọi là Thích danh tự tam muội.
thích duyệt kim cang nữ
Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.
thích dụng
Practical—Applicable.
thích gia
6834為「經家」與「論家」之對稱。指注釋經論之文義者。又指佛門之修道者,亦即佛家。
; The Sàkya family, i.e. the expounders of Buddhist sùtras and scriptures.
; 1) Người thuộc gia đình Thích Ca—The Sakya family. 2) Người giảng kinh nói pháp: The expounders of Buddhist sutras or scriptures.
; (釋家) Đối lại: Kinh gia, Luận gia. Chỉ cho người chú thích văn nghĩa các kinh, luật, luận; hoặc chỉ cho người tu hành Phật đạo, cũng tức là Phật gia.
thích giám kê cổ lược tục tập
6839凡三卷。明代僧幻輪著。略稱稽古略續集。收於大正藏第四十九冊。本書續稽古略,始自元代至元元年(1264),止於明天啟七年(1627),共三六四年,以四百三十餘僧之事蹟為中心記載佛教歷史,對於歷朝佛教之興替、宗教政策、佛道關係等,亦有記載。
; (釋鑒稽古略續集) Gọi tắt: Kê cổ lược tục tập. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Huyễn luân soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Sách này biên soạn tiếp theo bộ Kê cổ lược, lấy sự tích của hơn 430 vị tăng làm trung tâm để ghi chép lịch sử Phật giáo trong khoảng thời gian 364 năm kể từ niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264) đời Nguyên đến năm Thiên khải thứ 7 (1627) đời Minh thì dừng, trong đó nói về sự hưng suy của Phật giáo, về chính sách đối với tông giáo và về mối quan hệ giữa Phật giáo và Đạo giáo qua các triều đại.
thích giáo
6834指釋尊所說之教法。與「佛教」同義,然則特用此稱者,源於我國古來佛教與道教並稱時,各取其教祖之名,稱為釋老,遂稱釋教。如弘明集卷十一孔稚珪書并答云(大五二‧七三中):「情於釋老,非敢異同。」又如魏書等置釋老志,皆屬其例。〔開元釋教錄卷一、元史本紀第九、第十二、明史西域列傳第二一九〕
; Buddhism.
; Phật Giáo—Buddhism—The teaching of the Buddha (Sakyamuni).
; (釋教) Đồng nghĩa: Phật giáo. Chỉ cho giáo pháp của đứcThích tôn. Danh từ này đặc biệt được sử dụng ở Trung quốc từ khi Phật giáo và Đạo giáo được gọi chung bằng tên vị Giáo tổ của mỗi giáo là ThíchLão nên gọi là Thích giáo. Như Khổng trĩ khuê thư tinh đáp (Đại 52, 73 trung) ghi: Đã để tâm nơi Thích Lão, chẳng dám nói đồng dị. Lại như Ngụy thư... đặt ra thiên ThíchLão chí, cũng thuộc trường hợp này.
thích giáo bộ vị khảo
6835凡七卷。全稱古今圖書集成釋教部彙考。清代蔣延錫等輯。收於卍續藏第一三三冊。本書為編年體之中國佛教史,由周莊王九年釋迦生於天竺迦毘羅衛國始,經秦、漢以至明、清,記述歷代對佛教之政策及措施。卷七並有鄯善國、于闐國、師子國等之佛國記,及釋氏之源、佛入中國、佛法入中國等三篇短文。內容豐富,為研究中國佛教之良好參考書。
; (釋教部彙考) Gọi đủ: Cổ kim đồ thư tập thành Thích giáo bộ vậng khảo. Tác phẩm, 7 quyển, do Tưởng diên tích biên tập vào đời Thanh, được thu vào Vạn tụctạngtập 33. Đây là bộ lịch sử Phật giáo Trung quốc viết theo thể biên niên, bắt đầu từ khi đức Thích ca giáng sinh ở nước Ca tì la vệ thuộc Thiên trúc vào đời vua Trang vương nhà Chu năm thứ 9, trải qua các đời Tần, Hán cho đến đời Minh, Thanh, trong đó ghi chép các chính sách và đường lối của các triều đại đối với Phật giáo. Trong quyển 7 còn có Phật quốc kí nói về Phật giáo ở các nước Thiện thiện, Vu điền, Sư tử (Tích lan)... và 3 bài văn ngắn:Nguồn gốc họ Thích, Phật vào Trung quốc, Phật pháp vào Trung quốc... Nội dung bộ sách này rất phong phú, là tư liệu tham khảo tốt cho việc nghiên cứu Phật giáo Trung quốc.
thích giáo chính mậu
6835全一卷。清代艾約瑟迪謹撰,三眼居士譯。撰者為英籍傳教師,自基督教徒之立場批評佛教,認為佛教所說有違正理,尤以大乘非佛說為主要之論說。其內文網羅經典、教乘、釋迦牟尼、輪迴、三寶、沙門、十惡、功德、偶像、淨土、觀音、世界、諸天、地獄、瑜伽、持咒、宗門、止觀、涅槃、無常等諸項,計二十章。此書於同治七年(1868)由香港英華書院印行。佛教界辯駁此書者,有日本養鵜徹定之釋教正謬初破、釋教正謬再破各一卷、南溪之釋教正謬噱斥二卷、南條神興之釋教正謬辨駁等。
; (釋教正謬) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Ngải ước sắt địch cẩn, nhà truyền giáo người Anh, cư sĩ Tam nhãn dịch. Soạn giả đứng trên lập trường Cơ đốc giáo để phê bình Phật giáo, cho rằng giáo pháp của Phật giáo có điều trái với chính lí, đặc biệt dùng thuyết Đại thừa chẳng phải Phật nói làm luận đề chủ yếu. Nội dung gồm 20 chương: Kinh điển, Giáo thừa, Thích ca mâu ni, Luân hồi, Tam bảo, Sa môn, Thập ác, Công đức, Ngẫu tượng, Tịnh độ, Quán âm, Thế giới, Chư thiên,Địa ngục, Du già, Trì chú, Tông môn, Chỉ quán, Niết bàn và Vô thường. Sách này do thư viện Anh Hoa ởHương cảng ấn hành vào năm Đồng trị thứ 7 (1868). Sau, giới Phật giáo Nhật bản có soạn Thích giáo chính mậu sơ phá 1 quyển, Thích giáo chínhmậu tái phá 1 quyển của ông Dưỡng đệ Triệt định, Thích giáo chính mậucược xích 2 quyển của ông Nam khê, Thích giáo chính mậu biện bác của ông Nam điều Thần hưng...
thích giáo tam tự kinh
6835全一篇。明代吹萬老人著,敏修注釋。又稱佛教三字經。本書係作者模仿宋末區適子所著「三字經」之體裁而撰述者。全書共有一八三偈,分為十大段。於第五大段中又分為十段,以分別敘述大小乘十宗。內容豐富廣博,初釋法界之義;次述佛陀降生、出家修道、證道之因緣,及其演說華嚴、阿含等之次序;其次敘說佛法在印度、我國傳承之歷史,及十宗之概要;再次論釋五蘊、六根、十二處等諸法之義;最後勸人依循信、解、行、證之次序修行,並舉出諸多古德之行誼,以勸誡後學。 作者吹萬老人,四川人,法號聚雲,法諱廣真。得法於瑞池月和尚,為南嶽下第二十八代。遺有聚雲吹萬真禪師語錄三卷,收於嘉興本續藏經中。作者為隨順初學者之根器,故倣效儒家啟蒙書「三字經」之體例而作本書,即以三字成句、四句成偈之方式,將較淺易之佛學教理凸顯出,以便接引初機,並使之易於學習記誦。 本書於清末時曾重行編定,楊仁山並為之作序,據其序文所載,印光大師在普陀山掩關時,曾將本書內文改正十分之三,並修改注解十分之七。其後,楊仁山又將印光大師之改正本重新修訂,並另行命名,稱為「佛教初學課本」。今有南亭法師淺顯之語體文注解本,即「釋教三字經講話」一書,南亭並曾將此書播講於民本電臺之「佛教之聲」節目中。
; (釋教三字經) Tác phẩm, 1 quyển, do Xuy vạn lão nhân soạn vào đời Minh, Mẫn tu chú thích. Sách này được soạn theo thể tài Tam tự kinh của Khu thích tử cuối đời Tống. Toàn sách gồm có 183 bài kệ, chia làm 10 đoạn lớn, trong đoạn lớn thứ 5 lại chia làm 10 đoạn nhỏ theo thứ tự trình bày 10 tông phái Đại và Tiểu thừa. Nội dung tác phẩm rất phong phú, trước hết giải thích nghĩa pháp giới, kế đến tường thuật các nhân duyên giáng sinh, xuất gia tu đạo và chứng đạo của đức Phật, thứ tự Phật giảng thuyết kinh Hoa nghiêm, A hàm...; tiếp theo, trình bày về lịch sử truyền thừa Phật pháp ở Ấn độ, Trung quốc, khái quát về 10 tông rồi giải thích nghĩa 5 uẩn, 6 căn, 12 xứ..., cuối cùng khuyên mọi người theo thứ tự tín, giải, hành, chứng mà tu học, đồng thời nói về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cổ đức để khuyên dạy người tu học đời sau. Vào cuối đời Thanh, sách này từng được kiểm xét biên soạn lại, Cư sĩ Dương nhân sơn soạn bài tựa. Theo lời bài tựa này thì khi Đại sưẤn quang nhập thất tại núi Phổ đà, ngài có cải chính 3/10 văn trong sách này và chú giải 7/10.Về sau, cư sĩ Dương nhân sơn lại sửa chữa bản cải chính của Đại sưẤn quang, đồng thời đặt lại tên là Phật giáo sơhọc khóa bản. Hiện nay có bản chú giải bằng văn bạch thoại của Pháp sư Nam đình, tức là bộ Thích giáo tam tự kinh giảng thoại. Ngoài ra, Pháp sư Nam đình cũng giảng rộng sách này trong tiết mục Tiếng nói Phật giáo trên đài phát thanh Dân bản.
thích giáo vị môn tiêu mục
6836凡四卷。明代寂曉撰。全稱大明釋教彙門標目。為「大明釋教彙目義門」一書之總目。大明釋教彙目義門又稱釋教彙目義門、法藏司南,為解說大藏經所收經論之解題書,全書共四十一卷,內容雖完備,惜未廣行,今依本書,可窺知其組織大要。該書係依據天台宗五時判教之先後,分為華嚴、阿含、方等、般若、法華、涅槃、陀羅尼、聖賢著述等八部。智旭所撰閱藏知津一書即參考釋教彙目義門而作。
; (釋教彙門標目) Gọi đủ: Đại minh Thích giáo vậng môn tiêu mục. Mục lục, 4 quyển, do ngài Tịch hiểu soạn vào đời Minh, là tổng mục của bộ Đại minh Thích giáo vậng mục nghĩa môn. Đại minh Thích giáo vậng mục nghĩa môn(cũng gọi Thích giáo vậng mục nghĩa môn, Pháp tạng tư nam), là sách giải nói về các tựa đề kinh luận trong Đại tạng kinh, toàn sách gồm 41 quyển, nội dung tuy hoàn bị nhưng tiếc là không được lưu hành rộng rãi. Nay y cứ vào mục lục này ta có thể thấy đại khái cách tổ chức của bộ Đại minh thích giáo vậng mục nghĩa môn là y cứ vào thứ tự 5 thời phán giáo của tông Thiên thai mà chia làm 8 bộ: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn, Đà la ni và Thánh hiền trứ thuật. Khi ngài Trí húc soạn bộ Duyệt tạng tri tân có tham khảo Thích giáo vậng mục nghĩa môn.
thích gây gỗ
To be quarrelsome.
thích hoan tuỳ phiền não
6061又作戚歡隨煩惱。小乘分隨煩惱為慼隨煩惱、歡隨煩惱二種。慼隨煩煩惱,又作慼行轉隨惑。慼,憂慼之意;即隨惑現行時與憂受根相應者,如嫉、悔、忿、惱、害、恨等。歡隨煩惱,又作歡行轉隨惑。歡,歡喜之意;即隨惑現行時與喜受根相應者,如慳、憍等。兩者分別以嫉、慳為代表。俱舍論記卷二十一(大四一‧三一九下):「隨煩惱中總有二類:一戚,二歡。嫉能顯戚,慳能顯歡。」
; (戚歡隨煩惱) Tiểu thừa chia Tùy phiền não làm 2 loại là Thích tùy phiền não và Hoan tùy phiền não. Thích tùy phiền não cũng gọi là Thích hành chuyển tùy hoặc. Thích nghĩa là lo âu; tức khi tùy hoặc hiện hành thì tương ứng với Ưu thụ căn(giác quan lo âu) như ghen ghét, hối hận, bực tức... Hoan tùy phiền não, cũng gọi là Hoan hành chuyển tùy hoặc. Hoan nghĩa là vui mừng; tức khi tùy hoặc hiện hành thì tương ứng với Hỉ thụ căn(cảm giác vui) như bỏn sẻn, kiêu căng... Loại trước lấy ghen ghét làm đại biểu, loại sau lấy bỏn sẻn làm đại biểu. Câu xá luận kí quyển 21 (Đại 41, 319 hạ) nói: Trong Tùy phiền não gồm có 2 loại: Một là Thích, hai là Hoan. Ghen ghét thường biểu lộ Thích, còn bỏn sẻn thì biểu lộ Hoan.
thích hoá vô phương
6187指隨機教化眾生而不拘泥特定之方式。謂菩薩出入生死,教化眾生,令悟性空,乃權巧方便之智,亦為如來適應眾生機緣所施設之法門。所謂(大四二‧七下):「適化無方,陶誘非一。」三世如來與諸大士出現於世,係為息滅眾生執見、愚惑之病;雖宣說恆沙經教,然其意唯為開示中道實相三諦之理。若依「開」能得悟者,則以「開」之法為其導;若依「合」能得道者,則以「合」為其說法。此乃適於物機而化度之,不可執守一法,否則即障礙道門而成毒藥。〔中觀論疏卷一本、三論玄義、中觀論疏記卷一本、三論玄義註卷一〕
; (適化無方) Chỉ cho việc giáo hóa tùy theo căn cơ, trình độ của chúng sinh chứ không câu nệ vào một phương thức nhất định nào. Bồ tát ra vào đường sinh tử, giáo hóa chúng sinh, khiến tỏ ngộ tính Không, đó là trí phương tiện quyền biến khéo léo, cũng là pháp môn do đức Như lai thích ứng với cơ duyên của chúng sinh mà đặt ra. Chư Phật, Bồ tát xuất hiện ở đời là nhằm diệt trừ căn bệnh kiến chấp, ngu hoặc của chúng sinh, tuy giảng nói vô lượng kinh giáo nhưng ý của Phật chỉ là mở bày lí Trung đạo thực tướng tam đế. Nếu người nương vào pháp Khai mà được ngộ thì dùng pháp Khai để dắt dẫn; nếu người nương vào Hợp mà có thể đắc đạo thì dùng Hợp để thuyết giáo. Đó chính là thích nghi với căn cơ chúng sinh mà hóa độ, không thể chấp chặt một pháp nào, nếu không thì sẽ chướng ngại đạo và trở thành thuốc độc
thích huyết tế cơ
3083即世尊與憍陳如等五比丘過去世之因緣故事。昔時閻浮提有國王,名爲彌佉羅拔羅,慈悲仁厚,常以十善教誨士庶,以至諸噉人血氣之疫鬼,亦攝持身口意而敦從十善,然日久不免饑羸困乏。一日有五夜叉來至王所,請求解困,王因哀愍乃自刺身體五處,以鮮血供五夜叉飲之。王復告知五夜叉,他日成佛,當以法身之戒定慧血,滅除彼等三毒諸欲,令得涅槃安穩之境。彌佉羅拔羅王即世尊之前身,五夜叉即五比丘;故世尊初成道時,五比丘以此因緣首先得度。〔賢愚經卷二慈力王血施品、根本說一切有部破僧事卷十一〕
; (刺血濟饑) Chích lấy máu để cứu đói, là sự tích nhân duyên từ đời quá khứ giữa đức Thế tôn và 5 vị tỉ khưu Kiều trần như... Thuở xưa, ở cõi Diêm phù đề có vị Quốc vương tên là Di khư la bạt la, từ bi nhân hậu, thường đem 10 điềuthiện dạybảo nhân dân, đến cả các loài dịch quỉ chuyên hút khí huyết của người cũng giữ gìn thân, khẩu, ý và làm theo 10 điều thiện, nhưng lâu ngày không tránh khỏi sự đói khát, khốn khó. Một hôm, 5 quỉ Dạ xoa đến chỗ vua xin được giải cứu, vì thương xót 5quỉ Dạ xoa nên nhà vua tự chích lấy máu ở 5 chỗ trên thân để cho 5 quỉ Dạ xoa uống. Nhà vua lại bảo 5 quỉ Dạ xoa rằng sau khi thành Phật sẽ dùng máu giới, định, tuệ của pháp thân để diệt trừ các dục tham, sân, si, của họ, khiến cho họ được cảnh giới Niết bàn an ổn. VuaDi khư la bạt la chính là tiền thân của đức Thế tôn, còn 5 Dạ xoatứclà 5 vị tỉ khưu. Cho nên lúc đức Thế tôn mới thành đạo, 5 vị tỉ khưu nhờ nhân duyên ấy mà được độ đầu tiên.
thích hóa
Thích ứng sự giáo hóa vào hoàn cảnh thật—To adapt teaching to circumstances
thích hùng
Buddha, the hero of the Sakyas.
thích hợp
Rational—Suitable—Appropriate—Fitting—To suite—To fit—To be consonant (agreeable) with.
thích khen ghét chê
Fond of praise, but loathing of criticism.
thích khí phật
Sikkin (S)Một vị Phật quá khứ thuộc Trang nghiêm kỳ kiếp.
thích khẩu
Pleasant to the taste.
thích luân
6838又作因陀羅輪。為密教五智輪之一。即金剛輪(地輪),黃色方形,種子為???(a)。瑜祇經疏卷三夾注載(大六一‧五○○上):「天帝釋,一名因陀羅,此云帝,亦云主也。居妙高山頂善法堂中,中有常住金剛界大曼荼羅三十七尊,八方天出守護經,此曼荼羅名為釋輪。輪者,方壇。名為大因陀羅,是地輪名。」
; Một biểu hiện của đất hay địa luân—Sakra's wheel, the discuss of Indra, symbol of the earth.
; (釋輪) Cũng gọi Nhân đà la luân. Tức Kim cương luân (địa luân), màu vàng, hình vuông, chủng tử là (a), là 1 trong 5 trí luân của Mật giáo. Phần chú thích trong Du kì kinh sớ quyển 3 (Đại 61, 500 thượng) nói: Trời Đế thích tên là Nhân đà la, Hán dịch là Đế, cũng dịch là Chủ, ở trong Thiện pháp đường trên đỉnh núi Diệu cao, bên trong có 37 vị tôn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới thường trụ. Mạn đồ la này gọi là Thích luân.
thích luận
6837<一>顯教謂為大智度論之略稱,以之為解釋大品般若經之作;於密教則為釋摩訶衍論之略稱,以之為大乘起信論之注釋書。 <二>解釋經典之論書,亦稱釋論。 <三>「宗論」之對稱。就一經總括宗旨而建立法義,稱為宗論;反之,一一解釋其文義,則稱釋論。
; Xem Đại Trí độ luận.
; The Pràjna-pàramità-sùtra; also explanatory discussions, or notes on foundation treatises.
; The Prajna-paramita-sutra; explanatory discussions, or notes on foundation treaties—See Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajan Paramita Sutra).
; (釋論) I. Thích Luận. Từ gọi tắt của luận Đại trí độ. Đây là chủ trương của Hiển giáo, vì Hiển giáo cho rằng luận Đại trí độ là tác phẩm giải thích kinh Đại phẩmBát nhã. Còn Mật giáo thì cho Thích luận là từ gọi tắt của luận Thích ma ha diễn, vì luận này là sách chú thích luận Đại thừa khởi tín. II. Thích Luận. Từ gọi chung các sách giải thích kinh điển.III. Thích Luận. Đối lại: Tông luận. Tóm tắt một cách khái quát tông chỉ của một bộ kinh để kiến lập pháp nghĩa, gọi là Tông luận; còn giải thích văn nghĩa của một bộ kinh thì gọi là Thích luận.
thích lâm địa ngục
3083指於刺林間懲治罪人之地獄。乃惡口、兩舌、綺語、不義語、說經典之過、毀論議師等罪人所墮之處。據觀佛三昧海經卷五載,此地獄縱廣八千由旬,充滿鐵刺,每一刺端復有十二劍,樹上又有大熱鐵鉗。罪人命欲終時,咽噪舌乾,渴念得一利刺以刺破頸項,令眾脈出血,流注如水。其念一起,獄卒羅剎即應此而化作罪人之父母,手執月珠,珠頭生刺,其形如口,作水欲滴之狀,罪人見之歡喜,自覺所願已得了遂,便氣絕命終,墮於刺林間,獄卒羅剎拔出其舌,令八十鐵牛以大鐵犂耕破其舌,刺林諸樹爲風所吹而撲打其軀,於一日一夜間經歷六百生死。罪畢復得生人中,面目醜惡,語言不利,又體生惡瘡,膿血盈流;經五百世而爲人所惡見,其後,彼之所說皆不爲人信受,後得遇善知識,始發菩提心。
; (刺林地獄) Chỉ cho địa ngục mà tội nhân bị trừng trị giữa rừng gai nhọn, là nơi chịu khổ báo của những người phạm tội nói ác, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời bất nghĩa, nói lỗi kinh điển, hủy báng nghị luận sư... Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyền 5 thì địa ngục này rộng 8000 do tuần, đầy dẫy gai sắt nhọn, ở đầu mỗi cáigailại có 12 lưỡi kiếm, trên các cây thì có kìm sắt lớn rất nóng. Lúc sắp chết, tội nhân thấy cổ họng cháy bỏng, miệng lưỡi khô rát, nghĩ rằng nếu được gai nhọn đâm vào cổ họng khiến các mạch máu tuôn chảy như sông thì thật sung sướng. Khi ý niệm ấy vừa khởi lên thì ngục tốt La sát liền theo đó hóa thành cha mẹ của tội nhân, tay cầm hạt châu, trên hạt châu có gai, hình dáng như miệng người sắp nhỏ giọt nước xuống, tội nhân trông thấy rất mừng, tự nghĩ mình đã được toại nguyện thì liền tắt thở mệnh chung, rơi vào giữa rừng gai, ngục tốt La sát kéo lưỡi tội nhân ra, khiến 80 con bò sắt dùng lưỡi cày lớn bằng sắt cày nát lưỡi; các cây trong rừng gai bị gió thổi đánh vào thân tội nhân, trong khoảng 1 ngày 1 đêm, trải qua 600 lần chết đi sống lại. Chịu hết tội khổ, được sinh trong loài người, mặt mũi xấu xí, nói năng ngượng nghịu, thân thể ghẻ lở, máu mủ chảy ra lênh láng; trải qua 500 đời bị người kinh tởm. Về sau, những điều người ấy nói không được ai tin, sau được gặp thiện tri thức, mới biết phát tâm bồ đề.
thích lão chí
6821全稱魏書釋老志。北齊魏收著。載於魏書卷一一四。為我國釋道史志之濫觴。全志分佛、道二部分,佛教佔極大篇幅。佛教部分,奉北魏、東魏、北齊為正統,有關佛教傳入我國之經過、發展情況,及北魏朝廷與佛教之關係與對佛教之政策等,均有詳細之敘述。此外,對北魏寺院之經濟狀況,尤以有關僧祇戶、佛圖戶之記載,為研究中國佛教史之重要資料。道教部分,記述其發展及寇謙之改革之經過。
; (釋老志) Gọi đủ: Ngụy thưThíchlãochí.Sử kí, 1 thiên, do Ngụythâusoạn vào đời Bắc Tề, được thu vào Ngụy thư quyển 114, là sách sử đầu tiên ghi chép về Thích và Lão. Toàn sách được chia làm 2 phần Phật và Đạo, trong đó Phật giáo chiếm phần lớn, lấy các đời Bắc Ngụy, Đông Ngụy và Bắc Tề làm chính thống, trình bày tỉ mỉ, rõ ràng, về quá trình Phật giáo truyền vào Trung quốc, tình hình phát triển, mối quan hệ giữa triều đình Bắc Ngụy với Phật giáo và chính sách đối với Phật giáo. Ngoài ra, những ghi chép nói về trạng huống kinh tế của các chùa viện thời Bắc Ngụy, nhất là về chế độ Tăng kì hộ và Phật đồ hộ... là các tư liệu quan trọng cho các việc nghiên cứu lịch sửPhật giáoTrung quốc. Còn phần Đạo giáo thì trình bày về quá trình phát triển và cuộc cải cách của Khấu khiêm.
thích lão truyện
6821全稱元史釋老傳。明代宋濂等撰。載於元史卷二○二。記述元代佛教、道教之情況。前半部記載皇室崇信喇嘛教,以及歷朝皇帝之宗教政策、機構與佛教概況,後半部記述全真道祖丘處機與帝室之關係及傳道情況。並揭露元代供佛之龐大耗費及僧官之貪婪橫暴。
; (釋老傳) Gọi đủ: Nguyên sử Thích lão truyện. Sử truyện, do nhân sĩ Tống liêm soạn vào đời Minh, được thu vào Nguyên sử quyển 202. Nội dung nói về tình hình Phật giáo và Đạo giáo ở đời Nguyên. Nửa phần trước nói về sự sùng tín Lạt ma giáo của nhà vua, về chính sách của các Hoàng đế các đời đối với tông giáo, về cơ cấu và trạng huống của Phật giáo. Nửa phần sau nói về sự quan hệ giữa đạo sĩ Khâu xử cơ của Toàn chân giáo với nhà vua và tình hình truyền đạo. Đồng thời nêu ra sự chi phí hao tổn trong việc cúng Phật và thói tham lam cửa quyền của giới tăng quan đời Nguyên.
thích lượng luận
6836請參閱 能顯解脫道論 請參閱 綜理眾經目錄 梵名 Pramāṇa-vārttika,西藏名 Tshad-marnam-ḥgrel。印度因明大論師法稱著。又稱廣釋量論本頌。與法稱其他六部因明著作並稱「因明七論」。本書係針對新因明之創倡者陳那「集量論」而作之注釋書,全書將集量論所說之六品賅攝為四品,即:(一)為自比量品,又稱自義比量品,闡述立論者本人引生「比量智」所須具備之條件,如「正因」等。(二)成量品,又稱成立量士夫品,闡述集量論中「歸敬頌」之義,成立如來為量士夫之理。(三)現量品,闡述「現量」之定義、差別以及「似現量」等。(四)為他比量品,又稱他義比品,廣釋能立因之得失,闡明使他人引生比量智之方便。為西藏格魯派(黃教)學制規定必修課程之一。
; Pramāṇa-vaṛttika (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Pháp Xưng (Dharmakirti) sáng lập.
; (釋量論) Phạm: Pramàịa-varttika. Tạng: Tshađ-marnam-#grel. Cũng gọi Quảng thích lượng luận bản tạng.Tác phẩm, do Đại luận sư Nhân minh học là ngài Pháp xứng củaẤn độ soạn. Luận này cùng với 6 trứ tác khác về Nhân minh của ngài Pháp xứng được gọi chung là Nhân minh thất luận(Bảy bộ luận về Nhân minh). Đây là sách chú thích bộ Tập lượng luận của ngài Trần na, người cải cách Cổ nhân minh thành Tân nhân minh. Toàn sách rút gọn 6 phẩm nói trong Tập lượng luận làm 4 phẩm, đó là: 1. Phẩm Vị tự tỉ lượng(cũng gọi phẩm Tự nghĩa tỉ lượng): Nói rõ về các điều kiện mà người lập luận phải có đủ để dẫn sinh ra trí Tỉ lượng, như Chính nhân. 2. Phẩm Thành lượng(cũng gọi phẩm Thành lập lượng sĩ phu): Trình bày rõ ý nghĩa của bài tụng Qui kinh trong Tập lượng luận, thành lập lí Như lai và lượng sĩ phu. 3. Phẩm Hiện lượng: Nói rõ về định nghĩa của Hiện lượng, sự sai khác giữa Hiện lượng và Tự hiện lượng... 4. Phẩm Vị tha tỉ lượng (cũng gọi phẩmTha nghĩa tỉ): Giải thích rộng và ưu khuyết điểm của nhân Năng lập và nói rõ vềcác phương tiện khiến người khác sinh ra trí Tỉ lượng. Đây là sách giáo khoa bắt buộc trong học trình của phái Cách lỗ (Hoàng giáo) Tây tạng.
thích lữ
6822有廣狹二義,廣義乃泛指所有佛教徒,狹義則指僧侶,意謂釋門中之徒侶。四分律刪繁補闕行事鈔卷下三(大四○‧一四一下):「沙門釋侶,三界之賓。」
; Tín đồ Phật giáo—Tăng lữ—Follower or disciple of the Buddha—Buddhist comrade—Buddhists.
; (釋侶) Chỉ cho những người tu hành đạo Phật. Nếu theo nghĩa rộng thì chỉ chung cho tất cả tín đồ Phật giáo, còn theo nghĩa hẹp thì chỉriêngcho tăng lữ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hànhsự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 141 hạ) nói: Sa môn thích lữ là khách của 3 cõi.
thích ma ha diễn luận
6837凡十卷。印度龍樹菩薩造,姚秦筏提摩多譯。收於大正藏第三十二冊。為大乘起信論之注釋書,一般略稱釋論。文前先說造論之旨趣,次舉論之差別,將一代諸論總分為十類,大乘起信論攝屬於攝義論。次明藏之差別,以起信論通攝於諸藏,別則攝於阿毘達磨藏。次說經之差別,謂諸經凡一百億部,起信論為諸經之所依。次述造起信論者,謂馬鳴論其本為大光明佛,論其因則為第八地菩薩。次入文廣釋,就起信論之因緣分、立義分、解釋分、修行信心分、勸修利益分等五分解釋其意。於立義分開立三十三種法門,大別為修行種因海與性德圓滿海,以對辨其深淺。第十卷性德圓滿海之思想與密教極為一致,日本弘法大師即依此論發揮真言教義。 本書相傳為龍樹所作,然其真偽論說不一。或謂本書乃日僧圓仁根據新羅僧珍聰口傳而成立者;或謂原撰者為新羅國大空山沙門月忠;或謂本論諸咒各種奇特之異字中,有類於武則天之文字者,故推論本書成立於武周時代。 本書之注疏極多,重要者有:釋摩訶衍論記一卷(唐代聖法)、釋摩訶衍論疏三卷(唐代法敏)、釋摩訶衍論贊玄疏五卷(宋代法悟),以上均收於卍續藏第七十二冊;釋摩訶衍論記六卷(宋代普觀)、釋摩訶衍論通玄鈔四卷(宋代志福),以上均收於卍續藏第七十三冊。
; (釋摩呵衍論) Gọi tắt: Thích luận. Luận, 10 quyển, do bồ tát Long thụ của Ấn độ soạn, ngài Phiệt đề ma dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là sách chú thích bộ luận Đại thừa khởi tín. Nội dung gồm những điểm như: Nói về chỉ thú tạo luận, phân biệt các luận, chia các luận đã tạo trong một đời làm 10 loại, xếp luận Đại thừa khởi tín vào loại Nhiếp nghĩa, nói rõ sự sai khác về tạng: Chung thì luận Khởi tín thuộc các tạng, riêng thì thuộc tạng A tì đạt ma, phân biệt kinh, cho luận Khởi tín là chỗ nương của các kinh; nói về tác giả của luận Khởi tín, về bản thì ngài Mã minh là Phật đại quang minh, về nhân thì Ngài là bồ tát Địa thứ 8; sau hết, chia luận Khởi tín làm 5 phầnđể giải thích, đó là: Phần Nhân duyên, phần Lập nghĩa, phần Giải thích, phần Tu hành tín tâm và phần Khuyến tu lợi ích. Trong phần Lập nghĩa, lập 33 pháp môn, chia làm 2 mục là Tu hành chủng nhân hải và Tính đức viên mãn hải để bàn rõ về nghĩa cạn, sâu. Tư tưởng Tính đức viên mãn hải trong quyển 10 rất giống với Mật giáo. Đại sư Hoằng pháp người Nhật bản đã y cứ vào luận này để phát huy giáo nghĩa Chân ngôn. Luận Thích ma ha diễn tương truyền do ngài Long thụ soạn, nhưng vấn đề chân ngụy vẫn chưa ngã ngũ. Có thuyết cho rằng luận này do vị tăng người Nhật bản là Viên nhân căn cứ vào khẩu truyền của vị tăng người Tân la tên Trân thông mà thành lập; hoặc có thuyết cho rằng soạn giả luận này vốn là Sa môn Nguyệt trung trụ ở núi Đại không, nước Tân la; lại thuyết khác cho rằng trong các chữ đặc biệt kì lạ của các bài chú trong luận này có nhữngchữ giống với văn tự thời Vũ tắc thiên, cho nên suy đoán rằng sách này được thành lập vào thời đại Vũ chu. Luận này có rất nhiều sách chú thích, trong đó có các bộ quan trọng là: 1. Thích ma ha diễn luận kí, 1 quyển, do ngài Thánh pháp soạn vào đời Đường. 2. Thích ma ha diễn luận sớ, 3 quyển, do ngài Pháp mẫn soạn vào đời Đường. 3. Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ, 5 quyển, do ngài Phápngộ soạn vào thời Tống. 4. Thích ma ha diễn luận kí, 6 quyển, do ngài Phổ quán soạn vào đời Tống. 5. Thích ma ha diễn luận thông huyền sao, 4 quyển, do ngài Chí phúc soạn vào đời Tống. Trên đây 1, 2, 3 được thu vào Vạn tục tạng tập 72; 4 và 5 được thu vào Vạn tục tạng tập 73.
thích ma nam
Sàkya-Mahanama-Kulika (S). One of the first five of the Buddha's disciples.
; Sakya-Mahanama Kulika (skt)—Thái tử Kulika, một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Phật—One of the first five of the Buddha's disciples, prince Kulika.
thích ma phạm
6839指忉利天之主釋提桓因、六欲天之主天魔、娑婆世界之主梵天王。為天中之三大主。釋提桓因又稱因陀羅(梵 Indra),為佛教之護法神,住於須彌山頂忉利天之善見大城,領四天王。據雜阿含經卷四十載,因陀羅具有聰明智慧,能觀千種之義,故稱千眼。天魔又稱天子魔(梵 deva-putra-māra),住於他化自在天(即欲界最上之第六天),此天魔能妨礙人之勝善,憎嫉賢聖法,作種種擾亂事,令修行人不得成就出世善根。梵天王又稱大梵天(梵 Mahābrahmā-deva),住於色界初禪天之第三天,此天以自主獨存,謂己為眾生之父,乃自然而有,無人能造者,後世一切眾生皆為其化生。〔大智度論卷十〕
; (釋魔梵) Chỉ cho Thích đề hoàn nhân, chủ của cõi trời Đao lợi; Thiên ma, chủ của 6 tầng trời cõi Dục và Phạm thiên vương, chủ của thế giới Sa bà, là 3 vị Đại chủ trong hàng ngũ trời. Cứ theo kinhTạp a hàm quyển 40 thì Nhân đà la trí tuệ thông minh, có khả năng quán thông nghìn thứ nghĩa, cho nên gọi là Thiên nhãn(nghìn mắt). Thiên ma, cũng gọi là Thiên tử ma, trụ ở cõi trời Tha hóa tự tại(là tầng trời thứ 6 cao nhất trong cõi Dục), có khả năng làm trở ngại những điều thiện của người, ghen ghét pháp hiền thánh, gây não loạn, làm cho người tu hành không thành tựu được thiện căn xuất thế. Phạm thiên vương trụ ở tầng thứ 3 của trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc, tự chủ độc lập, cho mình là cha của chúng sinh, do tự nhiên mà có chứ không ai tạo ra, tất cả chúng sinh đều do trời Phạm vương hóa sinh ra.
thích môn
6821又作釋家。即奉行釋尊教法之門派。與「佛門」同義。集古今佛道論衡卷乙(大五二‧三七四下):「五眾釋門減三百萬,皆復軍民,還歸編戶。」〔俱舍論卷七、釋氏要覽卷中〕
; The school of Sàkyamuni, Buddhism.
; Phật Giáo—Cửa dẫn vào Thích giáo—The School of Sakyamuni—Buddhism.
; (釋門) Cũng gọi Thích gia. Đồng nghĩa: Phật môn. Môn phái tu hành theo giáo pháp của đức Thích tôn. Tập cổ kim Phật đạo luận hành, quyển ất (Đại 52, 374 hạ) nói: Năm chúng của Thích môn giảm 300 vạn, hoàn tục làm quân dân.
thích môn chính thống
6822凡八卷。宋代宗鑑集。為天台宗之記傳史。收於卍續藏第一三○冊。初由鎧庵吳克己執筆,未竣而歿,後由宗鑑增續完成。本書編集天台宗相承諸宗師之傳記,闡明天台宗為釋門之正統。倣史記、漢書,分為本紀、世家、諸志、列傳、載記等五部。
; (釋門正統) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Tông giám biên tập vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Sách này lúc đầu do ông Khải am Ngô khắc kỉ soạn, nhưng chưa xong thì ông qua đời; sau do ngài Tông giám tiếp tục hoàn thành. Nội dung biên tập truyện kí củacác tông sư tương thừa thuộc tông Thiên thai và chủ trương tông này là chính thống của Thích môn. Phỏng theo Sử kí, Hán thư, sách này chia làm 5 phần: Bản kỉ, Thế gia, Chư chí, Liệt truyện và Tải kí.
thích môn chương phục nghi
6822全一卷。唐代道宣撰。收於大正藏第四十五冊。內容記述法服之材質、裁縫及補浣等法。分為制意釋名、立體拔俗、勝德經遠、法色光俗、裁製應法、方量幢相、單複有據、縫製裁成、補浣誠教、加法行護等十篇。 本書論法服之材質,於絹、布二種中,以布為如法者,此乃南山律宗之規矩。蓋因佛教尚慈悲而戒殺生,若以蠶絲作法服,則有違拔濟之心,故屬不如法。注疏有元照之應法記一卷。〔道宣律師感通錄〕
; (釋門章服儀) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về chất liệu, cách may vá và giặt giũ pháp phục. Toàn sách chia làm 10 thiên: Chế ý thích danh, Lập thể bạt tục, Thắng đức kinh viễn, Pháp sắc quang tục, Tài chế ứng pháp, Phương lượng chàng tướng, Đơn phức hữu cứ, Phùng chế tài thành, Bổ hoành thánh giáo và Gia pháp hành hộ. Chú sớ sách này cóỨng pháp kí, 1 quyển, do ngài Nguyên chiếu soạn.
thích môn hiếu truyện
6822全一卷。日本黃檗宗僧高泉性潡撰。簡略敘述印度、中國、日本三國佛門孝子之傳記。分為蘭盆勝會、啟佛供親、啟母斷殺等五十一條,敘述孝養父母之事蹟,並一一作贊。其體裁取法於淨土宗雲棲袾宏所撰之緇門崇行錄。〔禪籍志卷下〕
; (釋門孝傳) Truyện kí, 1 quyển, do ngài Cao tuyền Tính đôn tông Hoàng bá Nhật bản soạn. Nội dung trình bày vắn tắt về truyện kí của những người con có hiếu hạnh trong Phật môn tại 3 quốc gia: Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Toàn sách chia làm 51 mục: Lan bồn thắng hội, Khải Phật cung thân, Khải mẫu đoạn sát... nói về sự tích hiếu dưỡng cha mẹ; sau mỗi sự tích đều có thêm một bài tán. Thể tài sách này phỏng theo hình thức Truy môn sùng hành lục của ngài Vân thê Châu hoành.
thích môn quy kính nghi
6822凡二卷。唐代道宣撰。略稱歸敬儀。詳述佛教禮拜歸敬之法則。收於大正藏第四十五冊。分為十篇,即:敬本教興、濟時護法、因機立儀、乘心行事、寄緣真俗、引教徵迹、約時科節、威儀有序、功用感通、程器陳迹。注疏有宋代彥起之護法記二卷、了然之通真記三卷。護法記僅存上卷。
; (釋門歸敬儀) Gọi tắt: Qui kính nghi. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về phép tắc lễ bái qui kính trong Phật giáo. Toàn sách chia làm 10 thiên: Kính bản giáo hưng, Tế thời hộ pháp, Nhân cơ lập nghi, Thừa tâm hành sự, Kí duyên chân tục, Dẫn giáo trưng tích, Ước thời khoa tiết, Uy nghi hữu tự, Công dụng cảm thông và Trình khí trần tích. Sách chú thích có: Hộ pháp kí, 2 quyển, do ngài Ngạn khởi soạn vào đời Tống (nay chỉ còn quyển thượng), Thông chân kí, 3 quyển, do ngài Liễu nhiên soạn.
thích môn sự thuỷ khảo
6822全一卷。撰者不詳。收於日本續史籍集覽卷四十七。記述有關佛教事物之起源。有教法流通、東西遊化、度者出家、火葬封塔等由來,總立六十四條。於附錄載有僧官稱謂等。
thích môn sự thủy khảo
(釋門事始考) Tác phẩm, 1 quyển (không rõ soạn giả), được thu vào Tục sử tịch tập lãm quyển 47 của Nhật bản. Nội dung nói về nguồn gốccácsự vật trong Phật giáo, gồm 64 điều như: Giáo pháp lưu thông, Đông tây du hóa, Độ giả xuất gia, Hỏa táng phong pháp..., phần phụ lục có ghi tên các tăng quan.
thích môn tự kính lục
6822凡二卷。唐代懷信撰。收於大正藏第五十一冊。蒐集有關因果報應之故事,以警勸世人。分為十類,計有七十三條、雅誥二章、事蹟七十一人(附見十四人)。所集以南北朝至唐代之事蹟為多,為了解此期佛教信仰之珍貴資料。本書並保留他書所未載之資料,如有關三階教徒之事蹟。本書傳至日本後,慶證寺僧玄智曾作續補,附於卷下末。
; (釋門自鏡錄) Truyện kí, 2 quyển, do ngài Hoài tín soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sưu tập các sự tích về nhân quả báo ứng để khuyên răn người đời. Toàn sách chia làm 10 loại, gồm 73 điều, 2 chương Nhã, Cáo, sự tích 71 người (có thêm 14 người). Phần nhiều là các sự tích từthời Nam Bắc triều đến đời Đường, là tư liệu giá trị cho việc tìm hiểu tín ngưỡng Phật giáo ở thời kì này. Sách này còn giữ được các tư liệu mà các sách khác không ghi chép, như sự tích về tín đồ Tam giai giáo. Sau khi truyền đến Nhật bản, sách này được ngài Huyền trí chùa Khánh chứng soạn thêm tục bổ, phụ vào cuối quyển hạ.
thích mùi thơm
Gandhalubdha (S), Desirous of odours.
thích mạc
6188適,指適意;莫,指不適意。無量壽經卷下(大一二‧二七三下):「去來進止,情無所係,隨意自在,無所適莫;無彼無我,無競無訟。」無量壽經義疏卷下(大三七‧一一○上):「於眾生所,無適適之親,無莫莫之疏,名無適莫。」
; 1) Bênh vực và chống đối: Pro and con. • Thích: Thích ý, vui thích, hay bênh vực—Pro. • Mạc: Không thích ý, không vui thích, hay chống đối—Con. 2) Thuận và nghịch: According and contrary (to wishes). • Thích: Thuận—According. • Mạc: Nghịch—Contrary.
; (適莫) Thích là vừa ý, mạc là không vừa ý. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 hạ) nói: Đi lại, tới lui không bị ràng buộc, tùy ý, tự tại, thích cũng không, mạc cũng không, không ta không người, chẳng tranh chẳng biện. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 110 thượng) nói: Đối với chúng sinh, không thân không sơ, gọi là Vô thích mạc.
thích mệnh
The sovereign commands of the Buddha.
thích na
Ratna (skt)—Bảo (vật quí)—Precious thing—Jewel.
thích na già la
Ratnakara (skt). 1) Kho báu vật: A jewel mine—The jewel heap. 2) Tên của một cư dân cùng thời với Đức Phật trong thành Tỳ Xá Lê: Name of a native of Vaisali, contemporary of Sakyamuni. 3) Tên của vị Phật hay Bồ Tát: Name of a Buddha or Bodhisattva. 4) Tên của vị Phật thứ 112 trong hiền kiếp: Name of the 112th Buddha of the present kalpa.
thích na thi khí
Ratnasikhin (skt)—See Thi Khí (3) and (4).
thích nghi
Explanation of doubtful points, solution of doubts.
; 1) Giải thích những nghi nan: Explanation of doubtfull points—Solution of doubts. 2) Thích hợp: Appropriate—Suitable.
thích nghi luận
6836請參閱 法華五百 斒? 全一卷。東晉戴安道(戴逵 335?~396)撰。收於大正藏第五十二冊廣弘明集卷十八。安道少時即重善行,然自覺始終未能自苦海中解脫,乃懷疑佛教之善惡報應說,於孝武帝太元十九年(394)頃撰寫本論,藉安處士與玄明先生之問答,論述積善受福、積惡受禍之說僅係聖人勸勉世人行善之權宜而已,實則人之福禍早經命定,無法改變。安道將本論寄予廬山慧遠;慧遠之弟子周續之(道祖)遂作難釋疑論一文,駁斥其說。
; (釋疑論) Luận, 1 quyển, do ông Đới an đạo (Đới quì 335?-396) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 16 trong Đại chính tạng tập 52. Thuở thiếu thời, An đạo đã xem trọng thiện hạnh, nhưng tự biết chưa thể từ trong biển khổ mà thoát ra được, do đó sinh ra hoài nghi về thuyết thiện ác báo ứng của Phật giáo. Khoảng năm Thái nguyên 19 (394) đời Hiếu vũ đế ông viết luận này, mượn lời hỏi đáp giữa An xử sĩ và Huyền minh tiên sinh để nói lên rằng thuyết làm thiện được phúc, tạo ác chịu họa chỉ là phương tiện quyền nghi của Thánh nhân khuyên bảo người đời làm thiện, lánh ác mà thôi, chứ thực thì họa phúc của con người đã do số mệnh định đoạt cả rồi, không thể nào thay đổi được. Ông An đạo gởi luận này đến ngài Tuệ viễn ở Lô sơn. Đệ tử ngài Tuệ viễn là Chu tục chi (Đạo tổ) bèn soạn bài Nạn thích nghi luận để bác bỏ thuyết của An đạo.
thích nghĩa
6836 即解釋經論等之意義。諸宗解釋經論及真言之文句有種種不同之釋體。如天台智顗解釋法華經,用因緣釋、約教釋、本迹釋、觀心釋等四釋;真言宗則用淺略釋、祕密釋、祕密中祕釋、祕祕中祕釋之四釋。
; Arthavāda (S)Cội nguồn, công đức của tế lễ.
; (釋義) Giải thích ý nghĩa của các kinh luận. Các tông giải thích văn của kinh luận và chân ngôn bằng nhiều thể thức khác nhau. Như ngài Trí khải tông Thiên thai giải thích kinh Pháp hoa sử dụng 4 thích: Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tíchthích và Quán tâm thích. Còn tông Chân ngôn thì dùng 4 thích: Thiển lược thích, Bí mật thích, Bí mật trung bí thích và Bí bí trung bí thích.
thích nguy hiểm
To be fond of danger.
thích nhiên
Unexpectedly—Naturally—Suddenly.
thích nữ
6818指釋種之婦女。據增一阿含經卷二十六載,昔流離王征服釋種,並選五百釋女充實宮闈,釋女憤恚,怨言不遜,王聞之而怒,遂令群臣斷釋女手足擲深坑中。時諸釋女受其刑罰,含苦稱佛,佛陀愍其哀苦,乃與諸比丘共來為釋女宣說微妙法,諸釋女聞佛教誨,心開意解,遠離塵垢,得法眼淨,同時命終,俱生天上。〔大唐西域記卷六室羅伐悉底國條〕
; The woman of the Sàkya clan.
; 1) Những người nữ trong dòng họ Thích Ca: The women of the Sakya clan. 2) Những vị nữ tu trong đạo Phật: Nuns in Buddhism.
; (釋女) Chỉ cho các cô gái dòng họ Thích. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 26: Thuở xưa, sau khi chinh phục dòng họ Thích, vua Lưu li hạ lệnh tuyển chọn 500 Thích nữsungvào cung, các Thích nữ tức giận, oán than, không chịu tuân lệnh; nhà vua nghe được việc ấyliền nổi nóng, sai quần thần chặt đứt chân tay các Thích nữ ném xuống hố sâu. Lúc các Thích nữ chịu hình phạt, bèn xưng niệm danh hiệu Phật trong nỗi đau đớn, đức Phật thương xót nổi khổ ấy liền cùng các tỉ khưu đến giảng nói pháp mầu nhiệm cho các Thích nữ nghe,các Thích nữ nghe đức Phật dạy bảo, tâm sáng ý tỏ, xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh, đồng thời mệnh chung, đều sinh lên cõi trời.
thích phong
Phong tục Phật Giáo—The custom of Buddhism.
thích phạm
6836請參閱 大唐開元釋教廣品歷章 請參閱 淨土群疑論 又作梵釋。指帝釋與梵王。此二天王歸依釋迦牟尼佛,為經論中常見之守護神。觀無量壽經(大一二‧三四一中):「目連侍左,阿難在右,釋、梵、護世諸天在虛空中,普雨天華,持用供養。」〔無量壽經卷上、無量壽經義疏卷上、觀經玄義分〕
; Đế Thích và Phạm Thiên, cả hai đều là chư thiên hộ pháp—Indra and Brahma (both protectors of Buddhism).
; (釋梵) Cũng gọi Phạm thích. Chỉ cho Đế thích và Phạm thiên. Sau khi qui y đức Phật, 2 vị Thiên vương này trở thành thiện thần giữ gìn Phật pháp thường được nói đến trong các kinh luận. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 341 trung) nói: Mục liên đứng hầu bên trái, A nan đứng bên phải, các trời: Thích, Phạm, Hộ thế thì đứng giữa hư không, rải hoa trời xuống như mưa để cúng dường.
thích phạm hộ thế
Indra and Brahma, both protectors of Buddhism.
thích sư
Đạo Sư Thích Ca—Phật—The Sakya Teacher—Buddha.
thích sư tử
6834梵語 śākya-siṃha。為釋尊之德號。釋尊為人中之王,於三界中得無畏自在,如獸中之獅子王,故稱釋師子。略出經卷一(大一八‧二二四上):「於菩提樹下,獲得最勝無相一切智,勇猛釋師子。」又佛為人天之師,因以釋迦為始,稱為釋師。此外,釋尊乃世間第一之勇雄,故亦尊之為釋雄或世雄。
; Sư tử Thích Ca, ý nói Đức Phật—The lion of the Sakyas, Buddha.
; (釋師子) Phạm: Zàkya-siôha. Đức hiệu của đức Thích tôn, vì Ngài là vua trong cõi người, được tự tại vô úy trong 3 cõi, giống như sư tử chúa giữa các loài thú, nên gọi là Thích sư tử. Kinh Lược xuất quyển 1 (Đại 18, 224 thượng) nói: Dưới cội Bồ đề, chứng được Nhất thiết chủng trí vô tướng tối thắng, dũng mãnh Thích sư tử.
thích tam báo luận
6817全一卷。又作三報論。東晉廬山慧遠(334~416)撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷五。孝武帝太元十九年(394)頃,戴逵撰釋疑論,懷疑佛教因果報應說;慧遠乃作三報論,為世俗解惑。謂業報即善惡行為之果報,依受報時間之先後,可分三種,即:(一)現報,此世受報。(二)生報,來世受報。(三)後報,未來無量世受報。謂若無三報之說,則善人受苦,惡人反得榮福等現象,則為常理所不能解釋者。
; (釋三報論) Cũng gọi Tam báo luận. Luận, 1 quyển, do ngài Lô sơn Tuệ viễn (334-416) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Khoảng năm Thái nguyên 19 (394) đời Đông Tấn, Đới quì soạn luận Thích nghi, ngờ vực về thuyếtnhân quả báo ứng của Phật giáo, do đó ngài Tuệ viễn mới soạn luận Tam báo để giải tỏa mối nghi ngờ của người đời. Ngài cho rằng nghiệp báotức là quả báocủa các hành vi thiện ác, căn cứ vào thời gian chịu báo có trước, sau mà chia quả báo làm 3 loại: 1. Hiện báo: Chịu quả báo ở đời này. 2. Sinh báo: Chịu quả báo ở đời sau. 3. Hậu báo: Chịu quả báo trong vô lượng đời ở vị lai. Ngài Tuệ viễn cho rằng nếu khôngcó thuyết Tam báo trên đây thì những hiện tượng trên thế gian như: Người làm lành chịu khổ, kẻ làm ác lại được vinh hoa phú quí... sẽ là lí thường nhiên không thể nào giải thích được.
thích tam phá luận
6817全一卷。又作答道士假稱張融三破論。南北朝沙門僧順撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷八。三破論係道教人士假託主張三教同源之劉宋士人張融之名所作,謂佛教入國則國破,入家則家破,入身則身破。僧順於本書中,以十九項論說批駁三破論之妄謬,指出道教之錯誤主張。本書內容略嫌瑣碎,解釋亦多牽強附會,如 Buddha 之音譯為浮圖,僧順則謂浮圖係指靈妙之圖像由海上浮來之意。僧順之生平不詳,或謂其與劉勰(466?~520?)同時。劉勰撰滅惑論,亦為批駁三破論之著作。
; (釋三破論) Cũng gọi Đáp đạo sĩ giả xưng Trương dung tam phá luận. Luận, 1 quyển, do sa môn Tăng thuận soạn vào thời Nam Bắc triều, được thu vào Hoằng minh tập quyển 8 trong Đại chính tạng tập 52. Tam phá luận là do một nhân sĩ của Đạo giáo mượn tên của Trương dung người đời Lưu Tống chủ trương Tam giáo đồng nguyên mà soạn ra. Trong Thích tam phá luận, ngài Tăng thuận nêu ra 19 mục để phê bình và bác bỏ sự sai lầm của Tam phá luận, chi ra chủ trương sai trái của Đạo giáo.Nội dung sách này hơi phiền tỏa, giải thích cũng có nhiều chỗ miễn cưỡng, chẳng hạn như âm Hán của chữ Buddha là Phù đồ, ngài Tăng thuận cho rằng Phù đồ là tượng vẽ linh thiêng, mầu nhiệm nổi trên biển mà đến! Cuộc đời ngài Tăng thuận không được rõ, có thuyết cho rằng ngài sống đồng thời với Lưu hiệp (446?-520?), vì Lưu hiệp cũng soạn luậnDiệthoặc để phê bình và bác bỏ luận Tam phá.
thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn
6838凡十卷。隋代天台智顗述,法慎記,其後灌頂再加編整。略稱禪波羅蜜。又作漸次止觀、次第禪門。收於大正藏第四十六冊。其內容乃於三種止觀中,詳說漸次止觀。凡分十大章:(一)修禪波羅蜜大意,(二)釋禪波羅蜜名,(三)明禪波羅蜜門,(四)辨禪波羅蜜詮次,(五)簡禪波羅蜜法心,(六)分別禪波羅蜜前方便,(七)釋禪波羅蜜修證,(八)顯示禪波羅蜜果報,(九)從禪波羅蜜起教,(十)結會禪波羅蜜歸趣。 其中:(一)修禪波羅蜜大意,係敘述全書之大意,略論十非心,並明菩薩之四弘誓願。(二)釋禪波羅蜜名,就禪波羅蜜之翻譯,作種種解釋料簡。(三)明禪波羅蜜門,說禪有色心二門,及世間禪、出世間禪、出世間上上禪等三門之別。(四)辨禪波羅蜜詮次,說自初發心至佛果等修禪之次第階級。(五)簡禪波羅蜜法心,明法心分為有漏、無漏、亦有漏亦無漏、非有漏非無漏等四種,及說佛以四悉檀之因緣說此法。(六)分別禪波羅蜜前方便,為欲開發內心、安心習學者,示修禪之前方便。初說外方便定外用心之法(即二十五方便),次明內方便定內用心之法。(七)釋禪波羅蜜修證,謂禪有世間禪、亦世間亦出世間禪、出世間禪、非世間非出世間禪等四種,並詳說九想、八念、十想、八背捨、八勝處、十一切處、九次第定、師子奮迅三昧、超越三昧等九種禪波羅蜜。而緣理無漏一段及非世間非出世間禪修證之相,及後之果報、起教、歸趣等三章,則闕而不述。〔隋智者大師別傳、國清百錄卷四、止觀輔行傳弘決卷一之二、佛祖統紀卷二十五〕
; (釋禪波羅蜜次第法門) Gọi tắt: Thiền ba la mật. Cũng gọi Tiệm thứ chỉ quán, Thứ đệ thiền môn. Tác phẩm, 10 quyển, do Đại sư Trí khải giảng vào đời Tùy, ngài Pháp thận ghi chép, về sau, ngài Quán đính biên soạn, chỉnh lí thêm, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung nói rõ về Tiệm thứ chỉ quán trong 3 loại Chỉ quán. Toàn sách chia làm 10 chương, đó là: 1. Tu thiền ba la mật đại ý: Nói đại ý toàn sách, bàn sơ lược về 10 phi tâm, đồng thời nêu rõ 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát.2. Thích thiền ba la mật danh: Giải thích, lựa chọn sự phiên dịch danh từ Thiền ba la mật. 3. Minh thiền ba la mật môn: Nói rõ về sự khác nhau của 2 môn thiền là Sắc môn, Tâm môn và sự khác nhau giữa 3 môn thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền, Xuất thế gian thượng thượng thiền. 4. Biện thiền ba la mật thuyên thứ: Nói về thứ tự các giai đoạn tu thiền từ lúc mới phát tâm đến khi thành quả Phật. 5. Giản thiền ba la mật pháp tâm: Nói rõ tâm pháp chia làm 4 thứ: Hữu lậu, vô lậu, cũng hữu lậu cũng vô lậu, chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu và nói Phật dùng nhân duyên của 4 tất đàn để nói pháp này. 6. Phân biệt thiền ba la mật tiền phương tiện: Chỉ dạy tiền phương tiện tu thiền cho người muốnkhaiphát nội tâm, an tâm tu tập. Trước hết nói pháp phương tiện bên ngoài dùng để định tâm bên ngoài (tức 25 phương tiện), kế đến nói pháp phương tiện bên trong để định tâm bên trong. 7. Thích thiền ba la mật tu chứng: Thiền có 4 thứ là Thế gian thiền, Cũng thế gian cũng xuất thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian thiền, đồng thời nói rõ về 9 loại Thiền là: Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam muội và Siêu việt tam muội. 8. Hiển thị thiền ba la mật quả báo. 9. Tòng thiền ba la mật khởi giáo. 10. Kết hội thiền ba la mật qui thú. Ba chương này và đoạn duyên lí vô lậu, tướng tu chứng phi thế gian, phi xuất thế gian thiền không thấy giải thích
thích thú
Pleasant—The tone of pleasure—Interesting.
thích thị
6818釋迦氏族之意。即出家僧尼捨其本姓,而以釋為姓。轉為僧尼之總稱。係東晉道安所倡。蓋魏晉沙門皆依師為姓,故姓各不同,道安主張凡出家為僧,是繼承釋迦種姓,故應皆以釋為姓,當時未獲一般承認。至譯出增一阿含經,見其卷二十一載(大二‧六五八下):「四大河入海已,無復本名字,但名為海。此亦如是,有四姓;云何為四?剎利、婆羅門、長者、居士種,於如來所剃除鬚髮,著三法衣,出家學道,無復本姓,但言沙門釋迦子。」其說與經相符,遂為定式。自梁、唐、宋、明各朝之高僧傳,乃至日本之元亨釋書、本朝高僧傳等,所錄諸僧皆冠以「釋」字,其後遂成為僧尼之通稱。日本自明治五年(1872)始,僧尼皆稱其俗姓,其制遂廢。真宗則每於死者法名冠上「釋」字,流傳迄今。〔摩訶僧祇律卷二、卷十、梁高僧傳卷五、開元釋教錄卷一、釋氏要覽卷上、集古今佛道論衡卷乙、魏書卷一一四釋老志〕
; Họ của bộ tộc Thích Ca—The Sakya clan or family name.
; (釋氏) Dòng họ Thích ca, tức chỉ cho tăng ni xuất gia bỏ họ tên cũ của mình mà lấy họ Thích và được dùng để gọi chung tăng ni. Đây là chủ trương của ngài Đạo an đời Đông Tấn đề xướng. Vì vào các đời Ngụy, Tấn, sa môn xuất gia đều theo họ của thầy, cho nên đều khác nhau; ngài Đạo an cho rằng xuất gia làm tăng là kế thừa chủng tộc Thích ca, bởi vậyđềunên lấy Thích chủng làm họ. Nhưng bấy giờ không phải ai cũng chấp nhận chủ trương này. Đến khi kinh Tăng nhất a hàm được dịch ra, thấy trong quyển 21 có nói (Đại 2, 658 hạ): Bốn sông lớn chảy vào biển rồi thì không còn tên cũ mà chỉ gọi là biển. Ở đây cũng như thế, có bốn dòng họ. Những gì là bốn? Là Sát lợi, Bà la môn, Trưởng giả và Cư sĩ; nếu đã cạo bỏ râu tóc, mặc ba áo pháp, xuất gia học đạo trong chính pháp của Như lai thì không còn gọi theo họ cũ mà chỉ gọi là Sa môn Thích ca tử, thì chủ trương cũ của ngài Đạo an phù hợp với kinh, từ đó trở thành qui tắc nhất định. Từ Cao tăng truyện của các đời Lương, Đường, Tống của Trung quốc, cho đến Nguyên hanh thích thư, Bản triều cao tăng truyện... của Nhật bản, chư tăng được ghi chép đều đặt chữ Thích trước tên, từ đó Thích thị được dùng để gọi chung cho tăng ni. Còn Chân tông ở Nhật bản thì mỗi khi có người chết cũng đặt chữ Thích trên pháp danh.
Thích Thị Kê Cổ Lược
(釋氏稽古略, Shakushikeikoryaku): 4 quyển, do Giác Ngạn Bảo Châu (覺岸寳洲) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 23 (1544) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) nhà Minh. Là bộ sử truyền ký do vị Thiền tăng Giác Ngạn ở Ngô Hưng (呉興) thâu lục, đây cũng là sử thư biên niên giống như Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載). Với trung tâm là cương quy của các triều đại Trung Quốc, tác phẩm này thuật rõ sự tích của vườn Thiền, bao trùm các sự thật lịch sử trong ngoài Tam Giáo. Vào năm thứ 14 (1354) niên hiệu Chí Chánh (至正), nó được tái biên, và sau đó được san hành vào các năm thứ 11 (1638) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞), thứ 12 (1886) niên hiệu Quang Tự (光緒), thứ 3 (1663) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.
thích thị kê cổ lược
6820請參閱 緇門世譜 凡四卷。元至正十四年(1354),寶州覺岸著。略稱稽古略。為編年體佛教通史。收於大正藏第四十九冊。本書敘述佛教傳入我國與歷代發展之史實,所述至宋為止。卷一收錄國朝圖及五祖弘忍之釋迦文佛宗派祖師授受圖略,說明三皇、五帝至西晉歷代帝王之世代,及釋迦、西天二十八祖之事蹟。卷二記敘東晉至隋之佛教史,收錄道安、鳩摩羅什、傅大士、達摩等傳記。卷三為唐高祖至五代之佛教史,述慈恩教、賢首教、祕密教等。卷四敘述宋太祖至南宋之佛教史。 明崇禎十一年(1638),幻輪編集釋鑑稽古略續集三卷,蒐錄元至元元年(1264)迄明天啟七年(1627)間之佛教史實。
; (釋氏稽古略) Gọi tắt: Kê cổ lược. Sử truyện, 4 quyển, do ngài Bảo châu Giác ngạn soạn vào năm Chí chính 14 (1354) đời Nguyên, được thu vào đại chính tạng tập 49. Sách này được soạn theo thể biên niên, ghi chép việc Phật giáo truyền vào Trung quốc và lịch sử phát triển qua các thời đại cho đến đời Tống. Quyển 1 ghi chép Quốc triều đồ và Thích ca văn Phật tông phái Tổ sư thụ thụ đồ lược của Ngũ tổ Hoằng nhẫn(Sơ đồ nói về sự truyền thừa của các vị Tổ sư thuộc tông phái Thích ca văn Phật do Ngũ tổ Hoằng nhẫn soạn), nói về Tam hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng), Ngũ đế(Thái hiệu, Hoàng đế, Thần nông, Thiếu hiệu và Chuyên húc hoặc Phục hi, Thần nông, Hoàng đế, Đường nghiêu và Ngu thuấn) cho đến đời Tây Tấn và trình bày sử tích của đức Phật Thích ca và 28 vị Tổ Tây thiên. Quyển 2 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời Đông Tấn đến đời Tùy, gồm truyện kí của các ngài Đạo an, Cưu ma la thập, Phó đại sĩ, Đạt ma... Quyển 3 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời vua Cao tổ nhà Đường cho đến thời Ngũ đại(Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), trình bày về Từ ân giáo, Hiền thủ giáo, Mật giáo... Quyển 4 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời Tống thái tổ đến Nam Tống. Năm Sùng trinh 11 (1638), ngài Huyễn luân biên tập Thích giám kê cổ lược tục tập, 3 quyển, ghi chép lịch sử Phật giáo từ niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264) đời Nguyên đến năm Thiên khải thứ 7 (1627) đời Minh.
thích thị lục thiếp
6818凡二十四卷。又稱義楚六帖。五代僧義楚該覽大藏三遍,仿白居易之六帖而著本書,自後晉開運二年(945)至後周顯德元年(954),凡十年,纂集有關釋氏之義理文章,庶事群品,以類相從,分立門目,總括大綱。所彙集者,始自佛法僧三寶,護法之諸神、君臣,乃至寺舍塔殿、禽獸草木等,一一示其典據。全書分五十部,總計四百四十門。書成呈於朝廷,後周世宗敕付史館頒行,復加「明教大師」之號。本書之敘述精扼,門目分明,考證賅博,古今學者每加援用。〔宋高僧傳卷七、佛祖統紀卷四十二〕(參閱「義楚」5573)
; (釋氏六帖) Cũng gọi Nghĩa sở lục thiếp. Tác phẩm, 24 quyển, do ngài Nghĩa sở đời Ngũ đại, phỏng theo Lục thiếp của Bạch cư dị mà biên soạn trong khoảng thời gian 10 năm từ năm Khai vận thứ 2 (945) đời Hậu Tấn đến niên hiệu Hiển đức năm đầu (954) đời Hậu Chu. Nội dung sách này thu chép, biên soạn về các việc liên quan đến Phật giáo (Thích thị), như Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, các thần hộ pháp, vua tôi, cho đến chùa viện, điện tháp, chim muông, cây cỏ... tất cả đều có nêu điển cứ. Toàn sách chia làm 50 bộ,tổng cộng gồm 440 môn. Sau khi hoàn thành, sách được dâng lên triều đình, vua Thế tông nhà Hậu Chu ban sắc cho sử quán ban hành, đồng thời, ban cho ngài Nghĩa sở hiệu Minh Giáo Đại Sư.
thích thị mông cầu
6819凡二卷。清代靈操撰。收於卍續藏第一四八冊。仿後唐李翰所編蒙求一書,以四言韻語記述漢魏以來佛教高僧之事蹟,以利童蒙記誦。卷上為「摩騰入漢,僧會來吳,慧則石甕,寶意銅壺」以下共一一八句,卷下「琳祐會郊,可育面壁,法開善醫,曇遷妙易」以下共九十六句。卷末附跋述其旨趣,志在勉誘後進童儒,繼承聖賢行蹟。
; (釋氏蒙求) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Linh tháo soạn vào đời Tống, được thu vàoVạn tục tạngtập 148. Soạngiảphỏng theo sách Mông cầu của Lí hàn đời Hậu Tấn, dùng thể văn vần, mỗi câu 4 chữ để ghi chép sự tích các bậc Cao tăng Phật giáo từ đời Hán, Ngụy về sau đểdễghi nhớ. Quyển thượng gồm 118 câu, từ Ma đằng vào Hán, Tăng hội đến Ngô, Tuệ tắc hũ đá, Bảo ý bình đồng... trở xuống; quyển hạ gồm 96 câu, từ Lâm hựu hội giao, Khả dục nhìn vách, Pháp khai thuốc hay, Đàm thiên giỏi Dịch... về sau. Cuối quyển có phụ lời bạt nói về chỉ thú của sách, mục đích để khuyên nhủ hàng hậu tiến trẻ kế thừa hành tích của Thánh hiền.
thích thị nghi niên lục
6819請參閱 釋迦氏譜凡十二卷。陳垣(新會)撰於民國二十七年(1938)。本書係考據歷代僧侶生卒年代之著作。共收錄兩晉至清初僧侶二千八百人之生卒年或其相近之年代。本書之體例,以僧人同名者多,故於僧名之上冠有地名、寺名。宋元以後,僧輒有號,或以號綴名上,或以號綴名下,本書則一概以號綴名上,以便查索;又生年採用西紀年月;所附通檢,皆以僧名之末字為筆劃先後,減少查閱之繁瑣費時,皆為本書特色。此外,本書引據之典籍多達七百餘種,其中包含二三百種語錄資料,蒐輯之廣泛豐富、考訂之嚴謹審慎,於各種「疑年錄」中,自錢大昕以來,傳為佳作。民國六十六年由臺北鼎文書局影印再版。
; (釋氏疑年錄) Niên phổ, 12 quyển, do ông Trần viên (Tân hội) soạn vào năm Dân quốc 27 (1938). Nội dung sách ghi chép năm sinh, năm mất hoặc niên đại gần đúng của 2800 vị tăng từ đời Lưỡng Tấn(Tây Tấn và Đông Tấn) cho đến đầu đời Thanh. Nếu có nhiều vị tăng cùng tên thì ở trước tên các vị ấy có thêm tên đất, tên chùa để phân biệt. Nếu vị tăng nào có biệt hiệu, hoặc đặt trước tên, hoặc đặt sau tên thì trong sách này đều được đặt ở trước tên để tiện việc tra cứu. Năm sinh thì dùng năm tháng Tây lịch; phần thông kiểm thì đều dùng chữ cuốicủatên vị tăng làm số nét để giảm thiểu phiền phức và mất thì giờ trong việc tra tìm, đó đều là những đặc sắc của sách này. Ngoài ra, sách này còn dẫn cứ có tới hơn 700 loại sách vở, trong đó bao gồm từ 2 đến 3 trăm tư liệu thuộc ngữ lục; sự sưu tập rất rộng rãi, phong phú, khảo đính thận trọng, nghiêm cẩn. Trong các loại Nghi niên lục từ Tiền đại hân đến nay, tương truyền đây là tác phẩm hay nhất. Năm Dân quốc 66 (1977), sách này được Đỉnh văn thư cục ảnh ấn ở Đài Bắc tái bản.
thích thị thông giám
6819 【釋氏通鑑】凡十二卷。宋代本覺撰。全稱歷代編年釋氏通鑑。收於卍續藏第一三一冊。為一編年體之佛教通史,記載周昭王二十六年(1027 B.C.)迄宋太祖建隆元年(960),凡一千九百餘年間有關佛教之史實。南宋咸淳六年(1270)薦福用錯為之作序;明天啟六年(1626),畢凞志、畢抵康亦作序。
; (釋氏通鑒) Gọi đủ: Lịch đại biên niên thích thị thông giám. Sử truyện, 12 quyển, do ngài Bản giác soạn vào đời Tống, được thu vàoVạn tục tạng tập 131. Đây là bộ thông sử của Phật giáo được soạn theo thể biên niên, ghi chép các sự kiện lịch sử của Phật giáo trong khoảng thời gian từ năm 26 (1027 trước Tây lịch) đời vua Chiêu vương nhà Chu, đến niên hiệu Kiến long năm đầu (960) đời vua Thái tổ nhà Tống gồm hơn 1900 năm. Vào năm Hàm thuần thứ 6 (1270) đời Nam Tống, ông Tiến phúc Dụng thố có viết lời tựa và vào năm Thiên khải thứ 6 (1626) đời Minh, các ông Tất hi chí, Tất để khang cũng soạn bài tựa cho sách này.
thích thị yếu lãm
6819凡三卷。北宋天禧三年(1019),道誠輯。係為令一般僧尼了解佛教知識而編。收於大正藏第五十四冊。為有關佛教基本概念、寺院儀則、法規和僧官制度等之詞義匯編,引內外典籍加以注解。全書共二十七篇,分六七九目。上卷包括姓氏、稱謂、居處、出家、師資、剃髮、法衣、戒法、中食等九篇;中卷包括禮數、道具、制聽、畏慎、勤懈、三寶、思孝、界趣、習學等九篇;下卷包括說聽、躁靜、諍忍、入眾、擇友、住持、雜記、瞻病、送終等九篇。本書以贊寧之大宋僧史略為基礎而加以充實,引證廣博,保存當時有關佛教制度、風俗等資料,對研究佛教史極具參考價值。〔佛祖統紀卷四十四〕
; (釋氏要覽) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Đạo thành biên soạnvào năm Thiên hỉ thứ 3 (1019) đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này thu chép các từ ngữ về các khái niệm cơ bản của Phật giáo, về các nghi tắc, pháp qui tự viện, về chế độ tăng quan... rồi trích dẫn nội, ngoại điển để giải thích. Toàn sách gồm 27 thiên, chia làm 679 mục. Quyển thượng gồm 9 thiên: Tính thị(họ), Xưng vị(tên gọi), Cư xứ(chỗ ở), Xuất gia, Sư tư(thầy trò), Thế phát(cạo tóc), Pháp y(áo pháp), Giới pháp và Trung thực(ăn đúng giờ Ngọ). Quyển trung gồm 9 thiên: Lễ số, Đạo cụ, Chế thính (cấm chỉ và cho phép), Úy thận(sợ hãi và thận trọng), Cần giải(Siêng năng và biếng nhác), Tam bảo, Tư hiếu(nghĩ về đạo hiếu), Giới thú(đi tới các cõi) và học tập. Quyển hạ gồm 9 thiên: Thuyết thính(nói và nghe), Tháo tĩnh (động và tĩnh), Tránh nhẫn (tranh cãi và nín nhịn), Nhập chúng(hòa nhập chúng tăng), Trạch hữu(chọn bạn), Trụ trì, Tạp kí(ghi vặt), Chiêm bệnh(xem bệnh) và Tống chung(đưa ma). Sách này là tư liệu tham khảo rất quí cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo.
thích tàn bạo
To be fond of cruelty.
thích tâm
3082爲大日經所說六十種妄心之第四十。指行善事後所生之追悔心,與犯惡行後所生之慚懼心。亦即不善性之追悔心,如人於接近「刺」時,乃起惴惴不安之念。對治刺心之法,係對過失惡行,須行虔誠之懺悔;對嘉行善事,則生慶幸歡喜之心。〔大日經住心品、大日經疏卷二〕
; (刺心) Tâm gai nhọn. Chỉ cho tâm hối tiếc sau khi làm việc thiện và tâm sợ hãi sau khi phạm tội ác, là vọng tâm thứ 40 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đại nhật, giống như cảm giác ghê rợn khi đến gần đống gai ngọn nên gọi là Thích tâm. Cách đối trị tâm này là chân thành sám hối các tội ác đã tạo và tiếp tục làm các điều thiện để nuôi dưỡng tâm vui mừng.
thích tông
6821謂依人師之釋文而立之宗旨。如天台宗依天台智顗之三大部、五小部及荊溪湛然、四明知禮之著述而立宗旨,即為釋宗。另如華嚴、真言、淨土等宗,依經立其宗旨,稱為經宗;俱舍、成實、三論等宗,依論而立宗旨,稱為論宗。
; (釋宗) Tông chỉ được thành lập do y cứ vào văn giải thích của các bậc Thầy, như tông Thiên thai y cứ vào Tam đại bộ, Ngũ tiểu bộ của Đại sư Trí khải và những trứ tác của các ngài Kinh khê Trạm nhiên, Tứ minh Tri lễ... mà lập tông chỉ, gọi là Thích tông. Cũng giống như các tông Hoa nghiêm, Chân ngôn, Tịnh độ... y cứ vào các kinh mà lập tông chỉ, gọi là Kinh tông; còn các tông như Câu xá, Thành thực, Tam luận... y cứ vào luận mà lập tông chỉ thì gọi là Luận tông.
thích tú phật tượng
(剌綉佛像) Chỉ cho tượng Phật được thêu trên lụa. Giới Phật giáo Nhật bản gọi hình tượng Phật, Bồ tát thêu trên lụa là Tú Phật, hoặc Phùng Phật. Nghệ thuật thêu tượng đã phát triển từ đời xưa ở Ấn độ và Trung quốc, sau được truyền vào Nhật bản đồng thời với Phật giáo. Hiện nay, chùa Cựu khuyến tu ở Nhật bản có cất giữ bức tranh Thích Ca Như Lai Thuyết Pháp được tạo vào thời đại Bình an, có người ngờ rằng đây là bức tranh thêu có xuất xứ từ đời Đường, Trung quốc.
thích tạng
6838謂釋教之三藏。宋、元、明皆有雕本,鴻編鉅帙,搜羅詳備。其中傳記部、纂集目錄部等可以考釋教源流,宗派護教部、音義部則多隋唐以前之古文,不但為修行之寶筏,亦為藝林之珍祕。(參閱「中文大藏經」1001)
; The tripitaka—The Buddhist scriptures—The Sakya thesaurus.
; (釋藏) Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Thích giáo.
Thích tử
(釋子): Thích (釋) là từ gọi tắt của Thích Ca (s: Śākya, 釋迦), đệ tử xuất gia của đức Phật được gọi là Thích tử. Từ này còn dùng để chỉ cho giáo đồ Phật Giáo sau khi đức Phật diệt độ; còn gọi là Thích chủng tử (釋種子), Thích Ca tử (釋迦子). Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 36 giải thích rằng: “Ư ngã pháp trung, tứ chủng tánh Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, dĩ tín kiên cố, tùng gia xả gia học đạo, diệt bổn danh, giai xưng vi Sa Môn Thích tử (於我法中、四種姓剎利、婆羅門、毘舍、首陀、以信堅固、從家捨家學道、滅本名、皆稱爲沙門釋子, trong pháp của ta, bốn dòng họ là Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, lấy niềm tin kiên cố, từ nhà bỏ nhà học đạo, bỏ hẳn tên mình, đều gọi là Sa Môn, đệ tử dòng họ Thích).” Cho nên, Thích tử và Phật tử đồng nghĩa với nhau. Trong Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 18 có đoạn: “Nhược dục vi phước giả, ưng ư Sa Môn Thích tử sở tác phước (若欲爲福者、應於沙門釋子所作福, nếu người nào muốn làm phước, nên làm phước nơi Sa Môn Thích tử).” Hay trong bài thơ Ký Kiểu Nhiên Thượng Nhân (寄皎然上人) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) nhà Đường lại có đoạn: “Ngô Hưng lão Thích tử, dã tuyết cái tinh lô, thi danh đồ tự chấn, đạo tâm trường yến như (吳興老釋子、野雪蓋精廬、詩名徒自振、道心長晏如, Ngô Hưng lão Thích tử, tuyết phủ mái chùa sơ, thơ hay tự chấn động, đạo tâm sáng như xưa).” Hoặc trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, Phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, cũng có đoạn: “Tất đương thế trừ tu phát, phi trước Ca Sa, viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (必當剃除鬚髮、披著袈裟、圓頂方袍、名爲釋子比丘, tất phải cắt bỏ râu tóc, mang áo Cà Sa, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).”
; Phật vốn dòng họ Thích-ca nên đệ tử Phật về sau đều lấy tên trong đạo theo họ Thích, gọi là Thích tử. Vì thế Thích tử có nghĩa là đệ tử Phật.
thích tử
6818釋,釋迦之略稱;釋尊出身於釋迦族,故指依釋尊出家之弟子為釋子。或指釋尊入滅後之教徒。又作釋種子、釋迦子。四分律卷三十六(巴利律藏小品之第九遮說戒犍度)(大二二‧八二四下):「於我法中,四種姓剎利、婆羅門、毘舍、首陀,以信堅固,從家捨家學道,滅本名,皆稱為沙門釋子。」隋代慧遠之維摩義記卷二末亦云(大三八‧四六五下):「女為惑垢,名非法物,比丘息惡,故曰沙門,從佛釋師,教化出生,故名釋子。」故知釋子與佛子同義。〔長阿含卷十三阿摩晝經、小品般若波羅蜜經卷七阿毘跋致覺魔品、大品般若經卷十八夢誓品、維摩詰所說經卷上菩薩品、五分律卷四、摩訶僧祇律卷二十、梁高僧傳卷六道融傳〕
; Śākyaputta (S), Son of the Sakyan.
; Sàkyaputrìya (S). Sons of Sàkyamuni, i.e. his disciples in general.
; Sakyaputriya (skt)—Con Phật, chỉ một vị Tăng, học và thực hành giáo lý nhà Phật—Buddha's son—Monk—A person who understands and practice deeply the philosophy (teaching) of Buddhism.
; (釋子) Cũng gọi Thích chủng tử, Thích ca tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia của đức Thích tôn, hoặc chỉ chung cho tín đồ Phật giáo từ sau khi đức Thích tôn nhập diệt. Luật Tứ phần quyển 36 (Kiền độ Già thuyết giới thứ 9 trong Tiểu phẩm Luật tạng Pàli) (Đại 22, 824 hạ) nói: Ở trong giáo pháp của ta, có 4 chủng tính Sát lợi, Bà la môn, Tì xá, Thủ đà, nếu lòng tin vững chắc, xuất gia học đạo, từ bỏ tên cũ thì đều gọi là Sa môn Thích tử. Duy ma nghĩa kí quyển 2, phần cuối của ngài Tuệ viễn đời Tùy cũng nói (Đại 38, 465 hạ): Người nữ hoặc cấu, nên gọi là phi pháp khí; tỉ khưu dứt ác, nên gọiSa môn; từ Phật Thích tôn giáo hóa mà sinh ra, cho nên gọi là Thích tử
thích vương tự
6820位於韓國咸鏡南道安邊郡雪峰山。韓國佛教三十一本山之一。創立年代有諸異說,據太祖御製釋王寺記所載,應創建於辛缮王三年(1377)以前。係李成桂(朝鮮太祖)因夢參謁雪峰山無學禪師,乃設該寺,又自海陽(今吉州郡)廣積寺運載大藏經及佛像、法器等安置於寺中。一三九二年(明洪武二十五年)七月,李成桂即位後,封無學為王師,並增建堂舍,一時蔚為巨剎。其後成為御願寺,頗受歷代國王尊崇。世宗十八年(1436)以後逐漸衰頹,至仁祖五年(1627)頃遭火災,後經碧嵒覺性募資重建。肅宗三十四年(1708),寺僧行淨請鐫刻太祖手書之釋王寺記,其後又陸續建閣撰碑。今有大雄殿、應真殿、延賓館等,山內有內院菴、三遂菴等,山外有分院凡四十二寺。〔西山大師雪峰山釋王寺記、北道陵殿誌、朝鮮寺剎史料卷下、朝鮮佛教通史、李朝佛教〕
thích ý
Agreeable—Satisfied—Content—Pleased.
thích ý hoa
Xem Mạn đà la hoa.
thích ăn ngon
To be fond of good food.
thích điển
6821即釋尊說法,經結集而成之經典,後世遂以佛門經籍,統稱為釋典。
; The scriptures of Buddhism.
; Kinh điển Thích Giáo—The scriptures of Buddhism.
; (釋典) Những lời thuyết pháp của đức Thích tôn được kết tập lại thành kinh, do đó, đời sau mới gọi chung các kinh sách của Phật giáo là Thích điển.
thích đáng
Appropriate—Suitable.
thích đạo thái
Tao T'ai (C)Tên một vị Sa môn Trung quốc hồi thế kỷ 5.
thích đảo
Đá lộn nhào—To kick over.
thích đầu nhập giao bồn
3083禪林用語。比喻落入文字語言之陷阱而不得脫出。膠盆,係溶膠之器皿,若不知究裏,一頭栽入滿盛膠液之盆中,則如身陷泥淖,動彈不得。因之,學人若以可見之文字、所聞之言教即爲究竟佛法,遂鑽入其中,緊緊抓持,輾轉思慮,乃至吟詠玩味,竟無法放下一切,以求證悟;猶如栽入膠盆之中,粘手縛足,不得解脫。〔碧巖錄第四十六則〕
; (刺頭入膠盆) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rơi vào bồn chứa keo toàn thân bị dính chặt, ví dụ người bị văn tự ngôn ngữ trói buộc(vì chấp trước) không thoát ra được. Nếu người học cho rằng văn tự mà mình thấy, ngôn giáo mà mình nghe chính là Phật pháp cùng tột, rồi miệt mài trong đó, tư duy, ngâm vịnh, đến nỗi bị trói buộc, rốt cuộc không thể buông bỏ để cầu chứng ngộ; giống như người bị vấp, ngã vào bồn đựng keo, chân tay bị dính chặt, không cách nào gỡ ra được.
thích đế
Sakra or Indra (skt)—Đế vương của ba mươi ba tầng trời—Lord of the thrity three Heavens.
thích đế hoàn nhơn
Xem Đế thích.
Thích Đề Hoàn Nhân
(s: Śakra Devānāmindra, 釋提桓因): Thích Đề Hoàn Nhân (釋提桓因), còn gọi là Đế Thích Thiên (s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Trời Đế Thích), Năng Thiên Chủ (能天主), Thiên Chủ Đế Thích (天主帝釋), Thiên Đế Thích (天帝釋), Thiên Đế (天帝), Đao Lợi Thiên Vương (忉利天王); âm dịch là Thích Ca Đề Hoàn Nhân Đà La (釋迦提桓因陀羅); còn có các tên gọi khác như Nhân Đà La (因陀羅), Kiều Thi Ca (憍尸迦), Ta Bà Bà (娑婆婆), Thiên Nhãn (千眼), v.v. Nguyên lai, Ngài là vị thần của Ấn Độ Giáo, thời cổ đại Ấn Độ gọi là Nhân Đà La. Vì được thần cách hóa như là ánh sáng chớp của sấm sét, dưới thời đại Veda, vị này được xem như là có sức mạnh nhất trong các vị thần, thường hay đánh nhau với ác thần A Tu La. Người Trung Quốc thường gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝). Theo các kinh luận cho biết, xưa kia vị này là người dòng dõi Bà La Môn ở nước Ma Già Đà (摩伽陀), nhờ có phước đức tu tập hạnh Bố Thí, được sanh lên cung trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利), làm Thiên chủ của 33 cõi trời. Trời Đế Thích trú tại Thành Thiện Kiến (善見城), cung điện tối cao của cõi Trời Ba Mươi Ba, nơi có ngọn Tu Di Sơn (須彌山) cao nhất trên mặt đất, và cai trị địa giới. Cùng với Phạm Thiên, vị trời này được xem như là vị thần bảo vệ của Phật Giáo. Hai bên Trời Đế Thích có 10 vị Thiên tử hầu hạ thường xuyên. Về cõi Trời Ba Mươi Ba, do vì trước kia vị trời này đã cùng với 32 người khác tu tập thiện nghiệp tại nước Ma Kiệt Đà. Tương truyền xưa kia, sau khi đức Phật Ca Diếp qua đời, có một người nữ phát tâm tu sửa tháp của Ngài, rồi lại có thêm 32 người khác trợ lực. Tất cả sau khi qua xả bỏ báo thân này thì cùng được sanh cõi Trời Đao Lợi. Do đó, chung quanh cõi Trời này có 32 cung điện của 32 người kia; còn ở giữa là Đế Thích, tổng cọng là 33. Ngài có 3 vị phu nhân tên Viên Sanh (園生), Thiện Pháp (善法), Xá Chi (赦支). Tại phía Đông Bắc của cung điện Trời Đế Thích có cây Viên Sanh; phía Tây Nam có Thiện Pháp Đường (善法堂). Trời Đế Thích thường tập trung chư Thiên thuyết pháp tại đây. Nếu Trời Đế Thích đi nữa, chư Thiên vẫn cung kính chỗ ngồi của Ngài, xem như Ngài có mặt. Tuổi thọ của Ngài rất dài, một ngày một đêm trên cõi Trời ấy bằng 100 năm dưới cõi người, tính 36.000 năm của con người làm 1 tuổi của Ngài. Mỗi nữa tháng vào các ngày trai giới, Trời Đế Thích thường hạ lịnh Tứ Thiên Vương, Thái Tử, Thị Giả, v.v., thám sát thiên hạ vạn dân, xem thử thiện ác, tà chánh thế nào. Nếu nghe chúng sanh nhiều việc ác, không hiếu thuận cha mẹ, không kính trọng thầy tổ, không bố thí cho người nghèo khốn, tức làm cho chư Thiên buồn phiền, giảm tổn đi, và làm cho chúng A Tu La tăng trưởng. Và ngược lại, nếu nghe chúng sanh làm các việc thiện nhiều, hiếu thuận cha mẹ, tôn kính thầy tổ, siêng năng tu tập trai giới, bố thí cho người nghè khốn, nhờ vậy chư thiên vô cùng hoan hỷ, số lượng tăng thêm; và chúng A Tu La giảm xuống. Sau khi đức Phật thành đạo, Trời Đế Thích trở thành thần thủ hộ cho Ngài. Khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân, Trời Đế Thích tạo thành bậc cấp bằng 7 thứ báu, đích thân Ngài cầm lọng báu che đức Phật đi từ trên xuống. Sau đó, Trời Đế Thích cung thỉnh Phật thuyết pháp trong cung điện. Ngài từng hóa hiện ra nhiều thân hình để hóa độ, khuyên răn mọi người làm lành tránh dữ, bố thí, cúng dường. Ngài tuy là vua của tất cả chư Thiên, thống lãnh muôn loài, như từ tâm vô lượng. Tương truyền có một con quỷ Dạ Xoa thân hình rất nhỏ, nhan sắc đen thùi, xấu xí, hung ác, ngồi trên ngai của Trời Đế Thích. Thấy vậy chư Thiên tức giận, muốn đánh đuổi con quỷ ấy đi. Trời Đế Thích bảo rằng: “Vị này tên là Trợ Sân Quỷ (助瞋鬼, quỷ giúp cho sân hận).” Bèn trịch áo, bày vai bên phải, tay cầm lò hương thưa với quỷ Dạ Xoa rằng: “Thưa đại tiên, tôi là Trời Đế Thích đây.” Thưa như vậy ba lần. Nghe xong, thân hình quỷ Dạ Xoa biến nhỏ dần và tiêu mất. Cho nên, dù làm vua cõi Trời đi nữa, nhưng Trời Đế Thích cũng không bao giờ làm tổn thương muôn vật, lấy đức từ để hóa độ chúng sanh. Về hình tượng, vị này thường thể hiện hình trời người, cỡi voi trắng, tay phải cầm cây chày báu Tam Cô, hay cây Chày Kim Cang; tay trái đặt trên bắp vế.
thích đề hoàn nhân
Xem Đế Thích thiênXem Thích Ca Đề hoàn Nhân đà la.
; Sakro-devànàmindra (S). Sakra the Indra of the devas, the sky-god, the god of the nature-gods, ruler of the thirty tree heavens, a deva protector of Buddhism.
thích đề hoàn nhân vấn kinh
Xem Kinh Đế thích Sở vấn.
thích đề hoàn nhơn
Sakro-devanamindra or Indra (skt)—Trời Đế Thích, cai trị cõi trời ba mươi ba tầng, được Phật tử coi như thấp hơn Phật, nhưng lại là một vị thiên long hộ pháp—Sakra the Indra of the devas, the sky-god. The god of the nature-gods, ruler of the thirty-three heavens, considered by Buddhists as inferior to the Buddhist saint, but as a deva-protector of Buddhism.
thích địa thành traăn
3082據法顯傳所載,西元四世紀頃,天竺祇洹精舍西北方約三公里處有一片榛林,稱爲得眼木。其緣起,係於佛世時,有五百盲人依精舍而住,佛陀即爲彼等說法,彼等之眼因而盡得復明,乃將一向所用之手杖刺入土中,向佛作禮,杖林逐漸成長爲榛林,世人以此因緣,無有敢於砍伐者。祇洹眾僧於食後,多往此林中坐禪。
thích địa thành trăn
(刺地成榛) Cắm gậy xuống đất thành rừng cây trăn. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì vào khoảng thế kỉ IV, cách tinh xá Kì hoàn ở Thiên trúc về phía tây bắc khoảng 3 km có một khu rừng cây trăn gọi là Đắc nhãn mộc(cây được mắt sáng). Duyên khởi khu rừng này là: Lúc đức Phật còn tại thế, có 500 người mù ở nhờ trong tinh xá, đức Phật nói pháp cho họ nghe, nhờ đó mắt họ được sáng trở lại, tất cả đều vui mừng và đem những cây gậy mà họ vẫn thường dùng cắmxuống đất, rồi đính lễ đức Phật. Về sau, những cây gậy ấy dần dần mọc lan ra và trở thành khu rừng cây trăn cao lớn, um tùm, người đời không ai dám chặt. Chư tăng trong tinh xá Kì hoàn, sau khi thụ trai thường vào khu rừng này để tọa thiền.
thích ờ trên trời
Gaganapriya (S), Fond of the sky.
thích ứng
Adaptability—Appropriate—The adaptability of body, mental factors and consciousness.
thích ứng với mọi người
To get along with people.
Thích-ca
釋迦; S: śākya; P: sakka; |Dòng dõi quý tộc, gốc của vị Phật lịch sử Tất-đạt-đa. Dòng Thích-ca là dòng cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Ðộ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepāl. Kinh đô thời đó là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu), là nơi đức Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha của Phật là Tịnh Phạn (s, p: sud-dhodana), trị vì tiểu vương Thích-ca.|Thời bấy giờ, tiểu vương dòng Thích-ca có một hội đồng trưởng lão tham gia quốc sự, nhưng tiểu vương này bị phụ thuộc vào nước Kiêu-tát-la (s: kośala). Ngay trong thời đức Phật còn tại thế, tiểu vương Thích-ca bị một quốc vương của Kiêu-tát-la đem quân xâm chiếm và tiêu diệt gần hết. Sau khi Phật thành đạo và trở lại Ca-tì-la-vệ giảng dạy, nhiều vị trong dòng dõi Thích-ca xin gia nhập Tăng-già. Tại đó, người thợ cạo Ưu-bà-li (upāli) xin gia nhập, trở thành tăng sĩ trước và vì vậy được xem cao quý hơn các vị lĩnh đạo trong hoàng gia gia nhập sau.
Thích-ca Mâu-ni
釋迦牟尼; S: śākyamuni; P: sakkamuni; dịch nghĩa là »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca« (Mâu-ni);|Một tên khác của Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama) là người sáng lập Phật giáo. Tất-đạt-đa mang tên này sau khi Ngài từ bỏ các vị thầy và tự mình tìm đường giải thoát. Danh hiệu »Thích-ca Mâu-ni« thường được dùng để chỉ vị Phật lịch sử đã từng sống trên trái đất này, nhằm phân biệt với các vị Phật khác.||H 64: Thích-ca Mâu-ni, Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca
Thích-ma-nam
Một trong năm vị tỳ-kheo thuộc nhóm ông Kiều-trần-như, quy y trước nhất với Phật tại Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại. Vị này trước vốn là vương tử dòng họ Thích, con người chú ruột của thái tử Tất-đạt-đa.
Thích-đề-hoàn-nhân
phiên âm từ Phạn ngữ là Śakrodevnm Indrah, gọi đủ là Thích-ca Đề-hoàn Nhân-đà-la, là tên gọi của vị Thiên Đế-thích, tức vị vua ở cõi trời Đao-lợi, còn gọi là cõi trời Ba mươi ba (Tam thập tam thiên), thuộc Dục giới.
thính
To hear, listen, hearken; listen to, obey.
; 1) Powdered grilled rice. 2) Keen—Sharp—Acute(of smelling or hearing). 3) Nghe: To hear—To listen.
thính chúng
6904聽聞說法之大眾。依法華文句卷二下載,佛陀之說法會上,聽眾可分為發起眾、當機眾、影響眾、結緣眾等四種。關於聽法者之類別,據大智度論卷一○○載,可簡別為二種人:(一)但聽而不信受奉行,(二)聽而信受奉行。又據釋氏要覽卷一載,聽可區分為三品:(一)神聽,(二)心聽,(三)耳聽。(參閱「四眾」1763)
; (聽衆) Đại chúng nghe thuyết pháp. Theo Pháp hoa văn cú quyển 2 hạ thì trong hội thuyết pháp của đức Phật, thính chúng được chia làm 4 loại là Phát khởi chúng, Đương cơ chúng,Ảnh hưởng chúng và Kết duyên chúng. Còn về loại người nghe pháp, theo luận Trí độ quyển 100 thì chia làm 2 loại: 1. Chỉ nghe chứ không tin nhận làm theo.2. Nghe và tin nhận làm theo. Lại theo Thích thị yếu lãm quyển 1 thì Thính có thể phân biệt làm 3 phẩm: 1. Thần thính: Nghe bằngthần. 2. Tâm thính: Nghe bằng tâm. 3. Nhĩ thính: Nghe bằng tai. (xt. Tứ Chúng).
thính giác
Sāvaka-kicca (P), Function of hearing.
thính giáo
6903<一>聽聞教法之意。[1] <二>為「制教」之對稱。道宣律師依律藏而立制、聽二教之說,謂佛依理所制之法,稱為制教;隨緣計情而聽許之法,稱為聽教。如四重禁係屬制教,十二頭陀法係屬聽教;持有三衣為制教,三衣之外得蓄餘衣,則為聽教。(參閱「制聽二教」3088) <三>我國禪宗於每夜之初夜分坐禪畢與開枕間,聽許僧眾各自隨意於諸寮舍談論,稱為聽教。〔禪林象器箋垂說門〕
; Those who hear the Buddha's doctrine; those who obey.
; Nghe và phụng hành Phật pháp—To hear the Buddha's doctrine—Those who hear and obey the Buddha's doctrine.
; (聽教) I. Thính Giáo. Nghe giáo pháp. II. Thính Giáo. Đối lại: Chế giáo. Luật sư Đạo tuyên y cứ vào tạng Luật mà lập ra thuyết Chế giáo và Thính giáo, cho rằng pháp do đức Phật theo lí mà chế định, gọi là Chế giáo; còn pháp tùy nhân duyên, phong tục mà cho phép thì gọi là Thính giáo. Như 4 giới trọng cấm là thuộc về Chế giáo, 12 pháp đầu đà thì thuộc về Thính giáo. Chỉ giữ 3 áo là Chế giáo, ngoài 3 áo được cất giữ áo khác là Thính giáo. (xt. Chế Thính Nhị Giáo). III. Thính Giáo. Trong Thiền tông Trung quốc, mỗi đêm, sau giờ tọa thiền, trước khi đi ngủ, chúng tăng được phép tùy ý đàm luận tại các liêu xá, gọi là Thính giáo. [X.môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thính giả
Listener—Auditor.
thính hơi
To have a good nose for smelling or finding things out.
thính khiếu
6903又作聽呼。勤侍住持左右,聽其叫呼,受其使令,並傳達其命令於諸寮之職稱。〔敕修百丈清規卷七板帳式條、禪林象器箋職位門〕
; (聽叫) Cũng gọi Thính hô. Chỉ cho chức vị hầu cạnh vị Trụ trì, nghe lời gọi, làm theo sự sai bảo và truyền đạt mệnh lệnh của vị Trụ trì đến các liêu phòng. [X.điều Bản trướng thức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thính kinh
To hear the recitation of the scripture.
thính kinh lâu
6904明成祖所創建。靖難之變後,成祖為導民向善,遂於都城各通衢大道建聽經樓,每夜請高僧登樓誦經講義,使臣民席地靜聽,遷都北京後,其事漸廢,諸樓皆傾圯,於「北門橋」尚存其一,與「十廟」相近,世宗嘉靖初年,僧眾重加翻修,但時人已不知其為聽經樓之舊址。〔人海記、碧里雜存卷上(董穀)〕
; (聽經樓) Lầu nghe kinh, do vua Thành tổ nhà Minh xây dựng. Sau cuộc biến loạn Tĩnh nan, vua Thành tổ dạy dân hướng thiện bằng cách xây dựng Thính kinh lâu ở các ngã tư đại lộ trong đô thành, hằng đêm, thỉnh các vị tăng lên lầu tụng kinh giảng nghĩa, dân chúng trải chiếu dưới đất ngồi nghe. Nhưng sau khi dời đô về Bắc kinh thì việc này dần dần bị phế bỏ, cáckinh lâu đổ nát, chỉ còn 1lầu ở Bắc môn kiều và 1 ở gần Thập miếu. Đầu năm Gia tĩnh đời vua Thế tông, chúng tăng trùng tu lại, nhưng người đương thời không biết đó là nền cũ của Thính kinh lâu.[X. Nhân hải kí; Bích lí tạp tồn Q.thượng (Đổng cốc).
thính pháp ngũ bất tác di ý
6903據瑜伽師地論卷四十四載,諸菩薩欲聽聞法時,對於說法之法師不應產生五種異意,而當以純淨之心傾耳諦聽;否則,若對說法師心生嫌鄙,而不欲從其聽聞正法,則必將退失殊勝之智慧。即:(一)於壞戒不作異意,謂不可起念計量此說法師之破戒犯律。(二)於壞族不作異意,謂不可起念計量此說法師之種姓卑微。(三)於壞色不作異意,謂不可起念計量此說法師之容貌醜陋。(四)於壞文不作異意,謂不可起念計量此說法師之言詞缺乏藻飾。(五)於壞美不作異意,謂不可起念計量此說法師之粗惡語、懷忿恚、不以美言說法。
; (聽法五不作异意) Khi nghe pháp không nên khởi 5 ý khác. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 44 thì các Bồ tát khi muốn nghe pháp, đối với vị pháp sư thuyết pháp, không nên sinh ra 5 thứ ý nghĩ khác, mà nên lắng tai nghe với tâm thuần tịnh. Còn nếu sinh tâm khinh thường đối với vị pháp sư, không muốn nghe chính pháp do vị ấy nói thì chắc chắn sẽ mất trí tuệ thù thắng. Năm thứ ý khác ấy là: 1. Ư hoại giới bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so lường sự phá giới phạm luật của vị pháp sư thuyết pháp. 2. Ư hoại tộc bất tác dị ý: Không được có ý niệm khác so lường đối với dòng họ thấp hèn của vị pháp sư thuyết pháp. 3. Ư hoại sắc bất tácdị ý: Không được khởi ý niệm so lường dung mạo xấu xí của vị pháp sư thuyết pháp. 4. Ư hoại văn bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so đo về văn từ thiếu trau chuốt của vị pháp sư nói pháp. 5. Ư hoại mĩ bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so đo về lời nói quê mùa, thô kệch của vị pháp sư, chê là lời thuyết pháp không bóng bảy, đẹp đẽ.
thính quan
Auditory organ—Organ of hearing.
thính tai
To have a keen sense of hearing—To be quick of hearing.
thính thị
Audio-visual.
Thính thọ 聽受
[ja] チョウジュ chōju ||| To listen and receive (the Buddha's teaching). To listen and believe (śraddhāsyanti); to listen well. => Lắng nghe và tiếp nhận (lời Phật dạy). Lắng nghe và tin tưởng (s: śraddhāsyanti); nghe rõ.
thính văn
瑜伽三十七卷二十三頁云:聽聞者:謂於佛語,深生信解;精進聽聞受持讀誦契經等法。
; Nghe và phụng hành—To hear and to obey.
thính văn chính pháp
瑜伽四十四卷八頁云:若諸菩薩、欲聽法時,作五種想,應從善友,聽聞正法。一、作寶想。難得義故。二、作眠想。能得廣大俱生妙慧因性義故。三、作明想。已得廣大俱生慧眼,於一切種如實所知等照義故。四、作大果勝功德想。能得涅槃及三菩提無上妙迹因性義故。五、作無罪大適悅想。於現法中,未得涅槃及三菩提,於法如實簡擇止觀無罪大樂因性義故。二解法蘊足論一卷二十頁云:云何名為聽聞正法?謂所親近供養善士,未顯了處、為正顯了,未開悟處為正開悟;以慧通達深妙句義,方便為其宣說施設安立開示。以無量門、正為開示苦真是苦,集真是集,滅真是滅,道真是道。如彼廣說。又云:若於此等所說正法,樂聽,樂聞,樂受持,樂究竟,樂解了,樂觀察,樂尋思,樂推究,樂通達,樂觸,樂證,樂作證。為聞法故;履艱險徑,涉邊表路,遊平坦道,皆無忌難。為受持故;數以耳根對說法音,發勝耳識。如是名為聽聞正法。三解集異門論六卷十六頁云:云何聽聞正法?答:正法者:謂前說善士、未顯了處、為正顯了,未開悟處、為正開悟。以慧通達深妙句義,方便為他宣說施設安立開示。以無量門、正為開示苦真是苦,集真是集,滅真是滅,道真是道。如是等、名正法。若能於此所說正法,樂聽,樂聞,樂受持,樂究竟,樂解了,樂觀察,樂尋思,樂推究,樂通達,樂觸,樂證,樂作證;為聞法故,不憚艱辛;為受持故,數以耳根、對說法音、發勝耳識。如是名為聽聞正法。
Thính 聽
[ja] チョウ chō ||| (1) To listen very well; to listen intently or carefully. To hear, to listen; to understand. (2) To comply with, to allow, to let. (3) To acknowledge, to await. => 1. Lắng nghe kỹ lưỡng; lắng nghe chăm chú. Nghe, lắng nghe, hiểu. 2. Đồng ý làm theo; để cho; 3. Thừa nhận; dành cho.
thò
To put (stretch) out.
thòng
To drop a rope.
thòng lọng
Runing-knot—Slip-knot—Noose.
thóa mạ
To revile and to spit into someone's face
thóc
Maize—Millet.
thóc gạo
Paddy and rice.
thóc tán
Giống như hạt kê nát—Like scattered millet.
thóc tán vương
Vua cai trị xứ Tán Thóc—Scattered kings, or rulers who own allegiance to a supreme sovereign, as Scattered country means their territories.
thói
Manner—Habit.
thói quen
Habit.
thói xấu
Vice—Bad habit.
thói đời
Ways of the world.
thô
瑜伽五十六卷五頁云:問:何義、幾種、是粗?答:不光潔、積聚、相增長義。一切一分是粗。二解顯揚五卷十六頁云:問:何義、幾種、是粗?答:不細滑、聚集、充滿相義故。一切少分是粗。
; Sthàla (S). Coarse, rough, crude, unrefined, immature.
; Sthula (skt)—Coarse—Rude—Rough—Crude—Unrefined—Immature.
thô bạo
Unmannerly—Rude.
thô bỉ
Rustic—Boorish.
thô hạnh tế hạnh
集異門論十一卷九頁云:若麁若細者:云何施設麁行細行?答:觀待施設麁行細行。復如何等?答:若觀待無尋唯伺行;則有尋有伺行名麁。若觀待有尋有伺行;則無尋唯伺行名細。若觀待無尋無伺行;則無尋唯伺行名麁。若觀待無尋唯伺行;則無尋無伺行名細。若觀待色界行;則欲界行名麁。若觀待欲界行;則色界行名細。若觀待無色界行;則色界行名麁。若觀待色界行;則無色界行名細。若觀待不繫行;則無色界行名麁。若觀待無色界行;則不繫行名細。如是施設麁行細行。如是名為若麁若細。
thô khổng huyệt
如入息出息有二種地中說。
thô kệch
Rustic.
thô lỗ
Parusāvācā (S), Evil words Pharusāvācā (P)Cục cằn.
thô ngôn
4766即粗惡之言語,或指粗淺之教說。又作麤言、麤語、麤語、粗語。歷來之判教有大小乘二教之說,而以小乘之教法稱為粗言。又於判教之中,有勸(勸善)、誡(誡惡)二門之別,其誡門之教法,亦稱粗言。北本大般涅槃經卷二十梵行品(大一二‧四八五上):「麤語及軟語,皆歸第一義,是故我今者,歸依於世尊。」〔北本大般涅槃經卷十八梵行品〕(參閱「投子一切佛聲」2950)
; Coarse, crude, rough, immature words or talk.
; 1) Lời nói thô ác—Coarse, rude, rough, immature words or talk—Evil words—Rough outline, preliminary words. 2) Thô Tế Nhị Thừa—Immature and Mature yanas: a) Immature Yana: Tiểu Thừa—Hinayana. b) Mature Yana: Đại Thừa—Mahayana.
; (粗言) Cũng gọi Thô ngữ. Lời nói thô ác, hoặc chỉ cho giáo thuyết thô thiển. Trong phán giáo xưa nay có 2 thuyết là Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo, trong đó, Tiểu thừa giáo được gọi là Thô ngôn. Hoặc chia làm hai môn là Khuyến (thiện) môn và Giới (ác) môn khác nhau. Trong đó, giáo pháp của Giới môn cũng gọi là Thô ngôn. Phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc)quyển 20 (Đại 12, 485 thượng) nói: Thô ngữ và nhuyến ngữ đều qui về đệ nhất nghĩa, vì thế con nay qui y đức Thế tôn. [X. phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc)]. (xt. Đầu Tử Nhất Thiết Phật Thanh).
thô ngữ
Coarse language.
; See Thô Ngôn.
thô nhân
4765又作麤人、麤人。即指小乘行者;反之,大乘行者稱為細人。大智度論卷三十九(大二五‧三四五下):「聲聞法中,十不善道是為罪業,摩訶衍中,見有身、口、意所作是為罪。所以者何?有作、有見;作者、見者,皆是虛誑故。麤人則麤罪,細人則細罪。」天台宗之教判依此而有粗人、細人之說;即四教之中,藏、通、別三教者為粗人,圓教者為細人。法華玄義釋籤卷一(大三三‧八二○上):「細人、麤人,二俱犯過,從過邊說,俱名麤人。」
; The immature man of Hìnayàna, who has a rough foundation, in contrast with the mature or refined tế nhân man of Mahàyàna. Thiên Thai Tông applied thô to the Tạng, Thông, Biệt schools, reseving tế for the Viên school.
; 1) Hành nhân Tiểu thừa là thô nhân, hành giả Đại thừa là tế nhân—The immature man of Hinayana, who has a rough foundation, in contrast with the mature or refined man of the Mahayana. 2) Nhị Giáo Thiên Thai—Four schools of the T'ien-T'ai: a) Thô Giáo—Immature schools: • Tạng Giáo: Tripitaka Teaching. • Thông Giáo: Interrelated teaching. • Biệt Giáo: Differentiated Teaching. b) Tế Giáo—Mature schools: • Biệt Giáo: Complete or Final Teaching.
; (粗人) Chỉ cho hành giả Tiểu thừa; trái lại, hành giả Đại thừa gọi là Tế nhân. Luận Đại trí độ quyển 39 (Đại 25, 345 hạ)nói:Trong pháp Thanh văn, 10 điều bất thiện là tội nghiệp, trong Ma ha diễn thấy những việc do thân, khẩu, ý tạo tác là tội. Vì sao vậy? Vì có tạo tác, có trông thấy đều là hư dối. Thô nhân thì tội thô, Tế nhân thì tội tế. Giáo phán của tông Thiên thai dựa theo đây mà có thuyết Thô nhân. Tức 3 giáo Tạng, Thông, Biệt trong 4 giáo là Thô nhân, còn Viên giáo là Tế nhân. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 1 (Đại 33, 820 thượng) nói: Tế nhân, Thô nhân cả 2 đều phạm lỗi, nếu đứng về phương diện lỗimà nóithì cả 2 đều gọi là Thô nhân.
thô phác tự
4766位於西藏堆龍德慶。又譯作族普寺、磋朴寺。南宋淳熙十四年(1187),由喇嘛教迦爾居派(白教,又譯作噶舉派)迦爾瑪系創始人求松肯巴主持興建。為迦爾居派之主寺。寺主迦爾瑪巴(明史作「哈立麻」,又譯作噶瑪巴)活佛曾受明朝「如來大寶法王」之封號,為當時白教領袖。十七世紀中葉,黃教得勢後,白教實力受挫,寺內有黃教僧官一人常駐監督。寺中保存明代以來之文物甚多。
thô phẩm tạp nhiễm
瑜伽八十卷八頁云:云何名為麁品雜染?謂在家者、貪瞋癡行性,諸出家者、見依止性;及彼所依不正作意依止性;後有願依止性;由總別四顛倒故,於非解脫、執為解脫、依止性。
thô quảng
如言過中說。
thô quảng ngữ
瑜伽八卷十三頁云:麤獷語者:謂惱亂他言。發苦觸故。二解集異門論十三卷六頁云:問:云何麁獷語?答:且如苾芻、於他苾芻,結恨憤發,兇暴惡意。作如是言:汝見如是所犯罪不?汝是惡沙門,愚鈍沙門,無羞恥沙門,難調難伏;汝應除首如是諸罪,勿有覆藏。彼如是語、名麁獷語。
thô sắc tế sắc
集異門論十一卷二頁云:若麁若細者:云何施設麁色細色?答:觀待施設麁色細色。復如何等?答:若觀待無見有對色;則有見有對色名麁。若觀待有見有對色;則無見有對色名細。若觀待無見無對色;則無見有對色名麁。若觀待無見有對色;則無見無對色名細。若觀待色界色;則欲界色名麁。若觀待欲界色;則色界色名細。若觀待不繫色;則色界色名麁。若觀待色界色;則不繫色名細。如是施設麁色細色。如是名為若麁若細。
thô thiển
Gross—Awkwark and superficial.
thô thụ tế thụ
集異門論十一卷四頁云:若麁若細者:云何施設麁受細受?答:觀待施設麁受細受。復如何等?答:若觀待無尋唯伺受;則有尋有伺受名麁。若觀待有尋有伺受;則無尋唯伺受名細。若觀待無尋無伺受;則無尋唯伺受名麁。若觀待無尋唯伺受;則無尋無伺受名細。若觀待色界受;則欲界受名麁。若觀待欲界受;則色界受名細。若觀待無色界受;則色界受名麁。若觀待色界受;則無色界受名細。若觀待不繫受;則無色界受名麁。若觀待無色界受;則不繫受名細。如是施設麁受細受。如是名為若麁若細。
thô thức tế thức
集異門論十一卷十一頁云:若麁若細者:云何施設麁識細識?答:觀待施設麁識細識。復如何等?答:若觀待無尋唯伺識;則有尋有伺識名麁。若觀待有尋有伺識;則無尋唯伺識名細。若觀待無尋無伺識;則無尋唯伺識名麁。若觀待無尋唯伺識;則無尋無伺識名細。若觀待色界識;則欲界識名麁。若觀待欲界識;則色界識名細。若觀待無色界識;則色界識名麁。若觀待色界識;則無色界識名細。若觀待不繫識;則無色界識名麁。若觀待無色界識;則不繫識名細。如是施設麁識細識。如是名為若麁若細。
thô trung tế thô trọng
雜集論十卷十四頁云:麤中細麤重者:謂欲色無色所有粗重如其次第。
thô trọng
瑜伽二卷二頁云:又於諸自體中所有種子、若煩惱品所攝;名為麁重,亦名隨眠。若異熟品所攝、及餘無記品所攝;唯名麁重,不名隨眠。若信等善法品所攝種子,不名麁重,亦非隨眠。何以故?由此法生時,所依自體、唯有堪能;非不堪能。二解世親釋七卷十九頁云:謂煩惱障及所知障、無始時來,熏習種子,說名麁重。三解法蘊足論八卷十五頁云:云何麁重?謂身重性、心重性、身無堪任性、心無堪任性、身剛強性、心剛強性、身不調柔性、心不調柔性、總名麁重。四解成唯識論九卷十二頁云:二障種子,立粗重名。性無堪任,違細輕故。
thô trọng chuyển y
雜集論十卷十五頁云:粗重轉依者:謂阿賴耶識一切煩惱隨眠永遠離故;名為轉依。
thô trọng nhị thập chủng
顯揚十九卷三頁云:麁重有二十種者:一、性執麁重。二、性煩惱麁重。三、性業麁重。四、煩惱障麁重。五、所知障麁重。六、定障麁重。七、業障麁重。八、報障麁重。九、蓋障麁重。十、不正尋思麁重。十一、愁惱麁重。十二、怖畏麁重。十三、勞倦麁重。十四、食麁重。十五、眠夢麁重。十六、婬欲麁重。十七、大種乖違麁重。十八、時分變異麁重。十九、死麁重。二十、遍行麁重。
thô trọng sở tác khổ
如不守根住受二種苦中說。
thô trọng tán loạn
集論一卷九頁云:云何麁重散亂?謂依我我所執及我慢品,麁重力故;修善法時,於已生起所有諸受,起我我所及與我慢;執受、間雜、取相。
thô trọng tán động
如五種心散動法中說。
thô trọng tâm tán loạn
顯揚十八卷二頁云:五、麁重心散亂。謂內作意為緣生起諸受。由麁重身故;計我我所。
thô trọng tướng
瑜伽六十四卷十六頁云:云何麁重相?謂若略說、無所堪能,不調柔相;是麁重相。此無堪能不調柔相、復有五相。一、現重相,二、剛強相,三、障礙相,四、怯劣相,五、不自在轉無堪能相。由有此相,順雜染品;違清淨品;相續而住。是故說為無所堪能不調柔相。二解世親釋三卷二十二頁云:粗重相者:謂所依中、無堪能性。
thô trọng tướng chủng cập khinh an tướng chủng
攝論一卷十八頁云:復有麁重相及輕安相。麁重相者:謂煩惱隨煩惱種子。輕安相者:謂有漏善法種子。此若無者;所感異熟,無所堪能有所堪能所依差別,應不得成。无性釋三卷二十四頁云:麁重相者:惡故名麁。得此沈沒,故名麁重。卽是煩惱及隨煩惱所有種子。此若無者;所有麁重無堪能性,不應得有。輕安相者:如說相違。輕而安隱,有堪能性;是輕安相。
thô tính
如淨惑所緣中說。
thô tướng
瑜伽十一卷二十一頁云:云何粗相?謂所觀下地一切粗相。
; The six grosser or cruder form of enlightenment or ignorance mentioned in the Khởi tín luận in contrast with its three finer forms.
; Theo khởi Tín Luận đây là sáu thô tướng vô minh (chưa giác ngộ)—The six grosser or cruder forms of unenlightenment or ignorance mentioned in the sastra on the Prajna Sutra.
thô tướng hiện hành chướng
成唯識論九卷二十頁云:六、麁相現行障。謂所知障中俱生一分,執有染淨麁相現行。彼障六地無染淨道。入六地時,便能永斷。由斯六地,說斷二愚,及彼麁重。一、現觀察行流轉愚。卽是此中執有染者。諸行流轉,染分攝故。二、相多現行愚。卽是此中執有淨者。取淨相故;相觀多行。未能多時住無相觀。
thô tướng phật
Rudimentary aspect of the Buddha.
thô tưởng tế tưởng
集異門論十一卷七頁云:若麁若細者;云何施設麁想細想?答:觀待施設麁想細想。復如何等?答:若觀待無尋唯伺想;則有尋有伺想名麁。若觀待有尋有伺想;則無尋唯伺想名細。若觀待無尋無伺想;則無尋唯伺想名麁。若觀待無尋唯伺想;則無尋無伺想名細。若觀待色界想;則欲界想名麁。若觀待欲界想;則色界想名細。若觀待無色界想;則色界想名麁。若觀待色界想;則無色界想名細。若觀待不繫想;則無色界想名麁。若觀待無色界想;則不繫想名細。如是施設麁想細想。如是名為若麁若細。
thô tế chân thật
辯中邊論中卷四頁云:麁細真實、謂世俗勝義諦。云何此依根本真實?頌曰:應知世俗諦、差別有三種。謂假行顯了,如次依本三。勝義諦亦三。謂義得正行。依本一無變,無倒二圓實。論曰:世俗諦有三種。一、假世俗,二、行世俗,三、顯了世俗。此三世俗,如其次第,依三根本真實建立。勝義諦亦三種。一、義勝義。謂真如。勝智之境,名勝義故。二、得勝義。謂涅槃。此是勝果,亦義利故。三、正行勝義。謂聖道。以勝法為義故。此三勝義,應知但依三根本中圓成實立。此圓成實,總有二種。無為、有為、有差別故。無為總攝真如涅槃。無變異故;名圓成實。有為總攝一切聖道。於境無倒故;亦名圓成實。
thô tế pháp
瑜伽一百卷十六頁云:微著差別故;淨穢差別故;勢用差別故;應知建立色趣麁細。輭等品類、有差別故;應知建立無色諸法所有麁細。又有色法無色法、由世俗勝義諦理,易了難了故;應知麁細二種差別。微、謂極微聚。著、謂所餘聚。淨、謂中—有上—地色聚。穢、謂餘—有下—地色聚。言勢用者,謂若是處、有地大等、勢用增強。雖與餘聚、其物量等;而能勝餘、麁顯可得。輭等品類、有差別者:謂樂等諸受、信等諸法、有輭中上品類差別。
thô tụ sắc
雜集論六卷十頁云:又說麁聚色極微集所成者:當知此中極微,無體,無實,無性;唯假建立。展轉分析,無限量故。但依覺慧漸漸分析,細分損減,乃至可析邊際;卽約此際,建立極微。
thô tục
Ill-mannered—Coarse.
thô xan dị bão tế tước nan cơ
4766禪林用語。又作麤食易飽細嚼難饑、麤食易飽細嚼難饑。即大口吞食雖容易飽腹,但不易吸收;細細嚼嚥則不易饑餓,且能體會其中滋味和養身。禪林中,轉指若能持續綿密之修行,將有所體悟,終必得道。無門關第四十八則兜率三關條(大四八‧二九八下):「若能下得此三轉語,便可以隨處作主,遇緣即宗;其或未然,麤蕴易飽,細嚼難飢。」
; (粗餐易飽細嚼難饑) Cũng gọi Thô thực dị bão tế tước nan cơ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nuốt trửng mau no, nhai kĩ lâu đói. Nghĩa là nuốt trửng thức ăn thì tuy chóng no bụng nhưng không dễ hấp thụ; còn từ từ nhai kĩ thì lâu mới đói, hơn nữa lại được thưởng thức được vị ngon của thức ăn và bổ dưỡng thân thể. Trong Thiền lâm nhóm từ này được sử dụng để chuyển sang chỉ cho việc tu hành nếu bền bỉ và liên tục thì có khả năng thể ngộ, cuối cùng, chắc chắn sẽ đắc đạo. ĐiềuĐâu suất tam quan tắc 48 trong Vô môn quan (Đại 48, 298 hạ) nói: Nếu hạ được 3 chuyển ngữ này thì đến đâu cũng làm chủ, gặp duyên liền ngộ; nếu chưa được như thế thì nuốt trửng mau no, nhai kĩ lâu đói (thô xan dị bão, tế tước nan cơ).
thô ác ngữ
瑜伽八卷十六頁云:云何麁惡語?謂於他有情,起麁語欲樂,起染污心,若卽於彼起麁語方便、及於麁語究竟中,所有語業。
; Coarse, evil, slanderous language
; Lời nói thô bỉ xấu ác phỉ báng người khác—Coarse, evil and slanderous language.
thô ác ngữ giả tướng
瑜伽八卷十二頁云:此中毒螫語者:謂毀摩他言。縱瞋毒故。麁獷語者:謂惱亂他言。發苦觸故。所餘麁惡語,翻前白品,應知。
thô ác ngữ hữu tam chủng
大毗婆沙論一百十六卷十七頁云:云何麁惡語從貪生?如以名利、於他有情,罵詈毀辱。若為己,若為他。如國王等,委酷法人,令主辭獄,及令軍佐、制造書檄。由此等緣,作麁惡語。是名從貪生。云何從瞋生?謂如於他、有損惱心,怨嫌惡意樂心,便罵辱彼,或彼親友。若為己,若為他。是名從瞋生。云何從癡生?謂如大髻外道,名事火天。性甚卒暴,多麁惡語。彼諸弟子、以為善妙,皆習麁語。是名從癡生。所以如前。
thô ác ngữ nghiệp hành
集異門論十卷五頁云:云何麁惡語惡行?答:如世尊說:苾芻當知;有麁惡語者,彼所發語,能惱澁強,令他辛楚,令他憤恚,眾生不愛,眾生不樂,眾生不喜,眾生不悅,令心擾亂,能障等持,說麁惡語。不離麁惡語。此中有麁惡語者者:謂不離麁惡語者,不斷麁惡語者,不厭麁惡語者,安住麁惡語者,成就麁惡語者,是名有麁惡語者。彼所發語能惱者:謂所發語、鄙穢麁礦;是名能惱。澁強者:謂所發語、不滑不輭,亦不調順;是名澁強。令他辛楚者:謂所發語、令能聞者、無利無樂;是名令他辛楚。令他憤恚者:謂所發語、先自憤恚忿惱憂慼,亦令他生憤恚等事;是名令他憤恚。眾生不愛眾生不樂眾生不喜眾生不悅者:謂所發語、令多有情、不愛不樂不喜不悅;是名眾生不愛,乃至不悅。令心擾亂者:謂所發語、令心躁動擾濁,不得安定。是名令心擾亂。能障等持者:謂所發語、令他聞已;其心躁動擾濁,不得安定。是名能障等持。說麁惡語者:謂數宣說演暢表示麁惡語言,是名說麁惡語。不離麁惡語者:謂於惡心不善心所起惡行不善行所攝麁惡語,不離不斷,不厭不息。如是語言唱詞評論語音語路語業語表,名麁惡語惡行。
thô ác ngữ nghiệp đạo
瑜伽五十九卷十四頁云:麁惡語業道事者:謂諸有情、能為違損。想者:謂於彼彼想。欲樂者:謂樂麁言欲。煩惱者:謂三毒、或具不具。方便究竟者:謂呵罵彼。二解俱舍論十六卷十七頁云:若以染心、發非愛語,毀呰於他;名麁惡語。前染心語、流至此故。解義、不誤、亦與前同。謂本期心所欲罵者、解所說義,業道方成。
thô ác ngữ tăng thượng quả
瑜伽六十卷五頁云:若器世間、其地處所、多諸株杌荊棘毒刺凡石沙礫,枯槁無潤,無有池沼,河泉乾竭,土田鹹鹵,丘陵坑險,饒諸怖畏恐懼因緣;如是一切,是麁惡語增上果。
thô ác ngữ tội
瑜伽五十九卷十七頁云:復次若有對面、發辛楚言;名麁惡語。或不現前,或對大眾,或幽僻處,或隨實過,不隨實過、或書表示,或假現相,或依自說,或依他說,或因掉舉,或因不靜,或依種族過失,或依依止過失,或依作業禁戒現行過失,或自發起辛楚之言,或令他發;如是皆名麁惡語罪。
thô ác uyển
4766梵名 Pāruṣyaka。又作麤澀園、粗澀園、麤澀園、麤惡苑、麤惡苑。帝釋天四苑(眾車苑、粗惡苑、雜林苑、喜林苑)之一。據長阿含經卷二十忉利天宮品、正法念處經卷二十五、俱舍論卷十一等載,欲界六天之第二天為忉利天,又稱三十三天,位於須彌山之頂,由帝釋天統領之。於須彌山頂有善見堂,堂之四方各有園林,乃諸天遊觀嬉戲之處,粗惡苑即是善見堂東方之林苑,諸天人欲鬥戰時,則入此苑,將隨其所需而現甲冑、刀杖等兵器。阿毘達磨順正理論卷三十一(大二九‧五一九上):「麤惡苑,天欲戰時,隨其所須,甲仗等現。」〔大智度論卷八〕(參閱「四苑」 1736 )
; The rough and evil park, one of Indra's four parks, that of armaments and war.
; Vườn thô ác là một trong bốn vườn của Trời Đế Thích, khi nào muốn đánh nhau thì vào trong vườn nầy, muốn thứ vũ khí nào thì lập tức vũ khí ấy hiện ra—The rough and evil park, one of Indra's four parks, that of armaments and war.
; (粗惡苑) Phạm: Pàruwyaka. Cũng gọi Thô sáp viên. Một trong 4 khu vườn (vườn Chúng xa, vườn Thô ác, vườn Tạp lâm, vườn Hỉ lâm) của trời Đế thích. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên cung trong kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 25 và luận Câu xá quyển 11 thì tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời cõi Dục là trời Đao lợi(cũng gọi Tam thập tam thiên) ở trên đỉnh núi Tu di, do trời Đế thích thống lãnh. Trên đỉnh núi Tu di có Thiện kiến đường, ở 4 phía của Thiện kiến đường đều có vườn rừng, là nơi du ngoạn, vui chơi của chư thiên; Thô ác uyển chính là khu vườn ở phía đông của Thiện kiến đường. Khi chư thiên muốn đánh nhau thì vào vườn này và tùy theo nhu cầu của họ mà hiện ra các thứ binh khí như áo giáp, mũ trụ, dao, gậy... Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 519 thượng) nói: Vườn Thô ác, lúc các trời muốn đánh nhau thì theo nhu cầu của họ, giáp, gậy...hiện ra. [X.luận Đại trí độ Q.8]. (xt. Tứ Uyển)
thôi
1) Ngừng: To cease—To stop—To recede from—To decline—To resign. 2) Thôi thúc: To push away.
thôi công quy bổn
Bỏ những công đức nhỏ để trở về với những điều căn bản—To put off minor merit for the sake of fundamentals.
Thôi dĩ cập nhân 推以及人
[ja] スイイゴンイン sui-igon'in ||| To extend (compassion, enlightenment) to others after achieving a viable degree of enlightenment for oneself. => Trải rộng (lòng từ, trí giác ) đến cho mọi người sau khi tự mình đạt được sự giác ngộ khả dĩ.
Thôi Hạo
(崔浩) Tể tướng nhà Bắc Ngụy, người Thanh hà (Sơn đông), tự Bá uyên. Ông theo cha là Thôi hoành học kinh sử, bách gia, lập chí thực hiện lí tưởng chính trị, xã hội của Nho gia.Năm Thái thường thứ 8 (423), vì hộ giá vua Thái tông và vua băng trên đường đi nên ông bị bãi chức. Về sau, ông kết giao với Đạo sĩ Khấu khiêm và cả 2 người đều được Thái vũ đế trọng dụng. Họ cùng nhau ra sức thuyết phục Thái vũ đế qui y đạo Thiên sư. Thôi hạo lại đi xa hơn nữa là xúi dục nhà vua hủy diệt Phật giáo. Do đó, vào năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), Thái vũ đế hạ chiếu chỉ phá Phật. Sau, Thôi hạo biên soạn quốc sử, trong đó dùng các từ tỏ vẻ xem khinh bộ tộc họ Hồ, vua nổi giận, ra lệnh chém đầu!
thôi miên
Hypnotize.
thôi thúc
To urge—To press.
thôn long
2819(1556~1623)日本淨土宗僧。武藏(埼玉縣)人。號源蓮社然譽大阿。早年學於林西寺、增上寺。廣行教化,受德川家康之知遇。後於各地開創寺院,道俗皈依者甚眾。元和九年入寂,享年六十八。門下有文宗、存也、雲龍等。
thôn thượng chuyên tinh
2954(1851~1929)日本淨土真宗大谷派佛教史學者。兵庫縣人。號不住道人。畢業於京都淨土宗本願寺教師學校。先後講佛學於曹洞宗大學、哲學館(東洋大學),並創立佛教講話所,發行「講演會‧佛教講演集」等;明治二十七年(1892)復發刊佛教史林;開佛教史研究之先聲。二十九年,因就其所屬真宗大谷派之改革問題發表己見,而被革除學階與教職;三十四年,著佛教統一論,倡言大乘非佛說,觸犯本山忌諱,乃自動脫離僧籍,後又復籍。三十八年設立東洋高等女校,大正六年(1917)任東京大學印度哲學科教授,十五年任大谷大學校長。昭和四年示寂,世壽七十九。為日本近代佛教史研究之奠基者。所著除日本佛教史綱、佛教論理學、真宗全史、和漢佛教年契、因明學全書外,佛教統一論包括大綱論、原理論、佛陀論、教系論、實踐論等五部。
; (村上專精) Học giả Phật giáo sử thuộc phái Đại cốc Tịnh độ chân tông Nhật bản, người huyện Binh khố, hiệu Bất trụ đạo nhân. Ông tốt nghiệp trường đào tạo giáo sư thuộc chùa Bản nguyện, lần lượt giảng dạy Phật học ở Đại học tông Tào động, Triết học quán(Đại học Đông dương), đồng thời sáng lập Phật giáo giảng thoại sở, phát hành các tạp chí Giảng diễn hội, Phật giáo giảng diễn tập... Năm Minh trị 27 (1892), ông lại ấn hành Phật giáo sử lâm, mở đường cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Năm Minh trị 29 (1894), vì phát biểu ý kiến của mình về vấn đề cải cách phái Đại cốc thuộc Chân tông nên ông bị tước bỏ học vị và giáo chức. Năm Minh trị 34 (1899), ông soạn luận Phật giáo thống nhất, chủ trương Đại thừa chẳng phải Phật nói, xúc phạm điều cấm kị của Bản sơn, nên ông tự động bỏ tăng tịch, nhưng sau lại phục hồi. Năm Minh trị 38 (1903), ông mở trường Cao đẳng Đông dương dành cho nữ sinh. Năm Đại chính thứ 6 (1917), ông làm Giáo sư dạy môn Triết học Ấn độ tại Đại học Đông kinh; năm Đại chính 15 (1926), ông làm Hiệu trưởng Đại học Đại cốc. Năm Chiêu hòa thứ 4 (1929), ông qua đời thọ 79 tuổi. Ông có các tác phẩm: Nhật bản Phật giáo sử cương, Phật giáo luận lí học, Chân tông toàn sử, Hòa Hán Phật giáo niên khế, Nhân minh học toàn thư, Phật giáo thống nhất luận bao gồm 5 bộ: Đại cương luận, Nguyên lí luận, Phật đà luận, Giáo hệ luận và Thực tiễn luận
thôn thượng thiên hoàng
2954(926~967)日本第六十二代天皇。天慶九年(946),由朱雀天皇讓位而登基。天曆元年(947),禮請定助,受法身心印,傳毘盧之大觀,並下詔創建下醍醐寺之五層塔、西大門。在位二十一年,於康保四年讓位出家,法諱覺貞。未久即崩,世壽四十二。
; (村上天皇) Vị thiên hoàng đời thứ 62 của Nhật bản, lên ngôi năm Thiên khánh thứ 9 (946) do Thiên hoàng Chu tước nhường ngôi. Niên hiệu Thiên lịch năm đầu (947), ông lễ ngàiĐịnh trợ thụ pháp Thân tâm ấn, truyền Đại quánTì lô, đồng thời ban sắc xây tháp 5 tầng và cổng Tây đại ở chùa Đề hồ hạ. Ông làm vua 21 năm. Vào năm Khang bảo thứ 4,Ông nhường ngôi rồi xuất gia, pháphúy là Giác trinh. Không bao lâu ông mất, hưởng dương 42 tuổi.
thôn thổ bất đắc
2819禪林用語。又作吞吐不下。不得,即不能。乃用以形容處境之尷尬、難堪;猶如口中含物,既無法吞入,又吐之不出,萬般難堪。又比喻無法作任何之應答。又同類用語另有「吞不入吐不出」,原謂難以處置;禪林中,轉指雖給予佛法之妙藥,然若缺乏道心,亦難以消受、處置。從容錄第八十三則(大四八‧二八○下):「妙藥何曾過口?(吞不入吐不出)」
; (吞吐不得) Cũng gọi Thôn thổ bất hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nuốt vào chẳng được, nhả ra không xong. Nhóm từ này được sử dụng để ví dụ hoàn cảnh khó khăn, khó xử, tiến thoái lưỡng nan, giống như người ngậm một vật trong miệng, nuốt đã chẳng vào, mà nhả cũng không ra, cực kì khó chịu, cũng ví dụ trong hoàn cảnh không thể nào đáp ứng được. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ việc tuy cho diệu dược của Phật pháp, nhưng nếu thiếu đạo tâm thì cũng khó tiêu thụ, xử trí được. Tắc 83, Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ) nói: Thuốc hay từng qua miệng ra sao? (Nuốt chẳng vào, nhả không ra, thôn bất nhập, thổ bất xuất).
Thôn Điền Châu Quang
(村田珠光, Murata Shukō, 1422-1502): một trà nhân nổi tiếng sống giữa hai thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi) và Chiến Quốc (戰國, Sengoku), húy là Châu Quang, xuất thân vùng Nại Lương (奈良, Nara). Ban đầu ông là vị tăng của Xưng Danh Tự (稱名寺) vùng Nại Lương, nhưng vì ông rất say mê trong việc uống trà, nên đã bỏ chùa đi ngao du. Sau ông lên kinh đô, đến tham Thiền với Tông Thuần (宗純), khai sáng ra hình thức Trà Lễ của Thiền Viện, và hiểu được áo nghĩa của Trà Thiền Nhất Vị (Trà và Thiền cũng một vị), và tương truyền ông là người khai sáng ra Wabicha (侘茶). Ông từng giao du với những bậc thầy liên ca như Tâm Kính (心敬), Tông Kỳ (宗祇), và hình thành nên lý luận độc đáo của Wabicha (侘茶). Đệ tử ông có Tông Châu (宗珠), Thiệu Trích (紹滴), Tông Lý (宗理), v.v.
thông
Permeate, pass through, pervade; perceive; know thoroughly; communicate; current; free; without hindrance, unimpeded, universal, e.g. thần thông supernatural, ubiquitous powers. There are categories of ngũ thông, lục thông and thập thông, all referring to supernatural powers.
; (A) Nghĩa của “Thông”—The meanings: 1) Đi qua: To pass through—To pervade. 2) Hiểu rõ: To know thoroughly—Quick at hearing—Clever—Sharp—Wise. 3) Phổ thông: General—Universal. 4) Rõ ràng: Clear. 5) Thông suốt: To understand—To comprehend—To perceive. 6) Thông tin: To communicate. 7) Current. 8) Free. 9) Without hindrance—Unimpeded. (B) Các loại “Thông”—Categories: 1) Ngũ Thông: The five supernatural powers—See Ngũ Thần Thông and Ngũ Thông. 2) Lục Thông: The six supernatural powers—See Lục Thông. 3) Thập Thông: The ten supernatural powers—See Thập Thông.
Thông Biện
通辯; ?-1134|Thiền sư Việt Nam đời thứ 8 dòng Vô Ngôn Thông, đắc pháp nơi Thiền sư Viên Chiếu. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðạo Huệ.|Sư họ Ngô, quê ở Ðan Phượng (Hà Ðông). Sư học với Thiền sư Viên Chiếu, thầm nhận được ý chỉ, về sau đến trụ tại Quốc Tự trong kinh đô Thăng Long, lấy hiệu là Trí Không.|Ngày rằm tháng hai năm 1096, Hoàng Thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân đến chùa thiết lễ trai tăng và hỏi ý nghĩa Phật pháp, hỏi về các dòng thiền. Sư trả lời uyên thâm, thông suốt. Thái hậu hoan hỉ ban hiệu là Thông Biện Ðại sư và bái phong làm Quốc sư. Nội dung trả lời của Sư rất được các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo sau này quan tâm, xem là thông tin quan trọng của thế kỉ thứ 12 về việc truyền thừa của đạo Phật tại Việt Nam. Sư được xem là một trong những tác giả của Thiền uyển tập anh, một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam.|Nhờ sự giáo hoá của Sư, về sau Thái hậu cũng là người ngộ đạo. Lúc tuổi cao, Sư về trụ trì chùa Phổ Minh, thường dạy người kinh Pháp hoa, nên có có hiệu là Ngô Pháp Hoa. Ngày rằm tháng hai năm Giáp Dần (1134), đời Lí Thần Tông, Sư lâm bệnh rồi tịch.
thông biện
Thiền sư Thông Biện (?-1134)—Zen master Thông Biện—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Viên Chiếu, và là Pháp tử đời thứ tám dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài tới Thăng Long và trụ tại chùa Quốc Tự với tên Trí Không. Lúc về già, ngài trở về Từ Liêm và trụ tại chùa Phổ Minh thuyết pháp. Ngài thường khuyến tấn đệ tử tụng kinh Pháp Hoa. Hầu hết cuộc đời, ngài chấn hưng và hoằng hóa tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1134—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He was a disciple of Zen master Viên Chiếu. He became the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Thăng Long and stayed at Quốc Tự Temple with the name Trí Không. When he was old, he returned to Từ Liêm to stay at Phổ Minh Temple to preach Buddha Dharma. He always encouraged his disciples to recite the Lotus Sutra. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1134.
thông biệt
4797指討論某一問題時,有通、別之區分。義相上之一般共通,稱為通;各各別異,稱為別。又作通局。局,局限於某一部分之意。通別一語,向為諸種義門所用。劉宋慧觀於其五時教中,立三乘別教、三乘通教之名目;吉藏之三論玄義,為破大小二迷,分通論、別論;智顗在維摩經文疏卷二十一謂,空、假、中「三觀」分通相、別相;迦才之淨土論卷上,區分往生之因為通因、別因;義寂之梵網菩薩戒本疏卷上載,受戒之法有通別二受。此外尚有通序別序、通解別解等,例證不勝枚舉。〔十八空論、佛性論卷二自體相品、大乘義章卷二、勝鬘寶窟卷上本〕
; (通別) Cũng gọi Thông cục. Thông là cùng chung một nghĩa tướng; Biệt là mỗi mỗi khác nhau; còn Cục thì có nghĩa hạn cục ở một bộ phận nào đó. Từ ngữ Thông Biệt trước nay thường được dùng trong các nghĩa môn. Trong 5 thời giáo của mình, ngài Tuệ quán đời Lưu Tống lập các danh mục Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo; trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng chia ra Thông luận, Biệt luận để phá trừ sự mê lầm của Đại thừa và Tiểu thừa; trong Duy ma kinh sớ quyển 21, ngài Trí khải chia 3 quán Không, Giả, Trung làm Thông tướng và Biệt tướng; trong luận Tịnh độ quyển thượng, ngài Ca tài chia nhân của sự vãng sinh làm Thông nhân, Biệt nhân; trong Phạm võng bồ tát giới quyển thượng, ngài Nghĩa tịch cũng chia pháp thụ giới làm Thông thụ và Biệt thụ. Ngoài ra, xưa nay còn có Thông tự biệt tự, Thông giải biệt giải... những ví dụ chứng minh còn nhiều, không thể kể hết. [X.luận Thập bát không; phẩm Tự thể tướng trong luận Phật tính Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu].
thông biệt nhị tự
The general and specific introduction to a sùtra; như thị ngã văn being the thông tự general introduction in every sùtra.
; The general and specific introductions to a sutra. 1) Thông Tự: Chứng tín tự nói rộng ra tới cả các kinh khác hay lời tựa chung—General introduction. • Như Thị Ngã Văn: Thus Have I heard, being the general introduction in every sutra. 2) Biệt Tự: Phát Khởi Tự hay lời giới thiệu hạn hẹp trong một bộ kinh—Specific introduction.
thông báo
To inform—To advise—To warn.
thông cảm
To comprehend—To understand.
thông dung
4802(1593~1661)明末清初臨濟宗僧。福建福州人,俗姓何。號費隱。幼即英異絕倫,十四歲出家,博通經論。歷參無明慧經、湛然圓澄諸師。天啟二年(1622),參謁密雲圓悟,遂頓釋知見,並嗣其法。其後歷住黃檗山萬福禪寺、蓮峰院、浙江天寧寺、江蘇超果寺、福嚴禪寺、萬壽禪寺、維摩寺、堯峰山興福院等諸剎。俱能復興古剎、傳揚圓悟之法道。法嗣有隱元隆琦等六十四人。著有五燈嚴統二十五卷、五燈嚴統解惑編一卷、祖庭鉗鎚錄二卷等。清順治十八年示寂,世壽六十九。〔徑山費隱和尚紀年錄、祖庭指南卷下、高僧摘要卷一〕
; (通容) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Phúc châu (tỉnh Phúc kiến), họ Hà, hiệu Phí ẩn. Thủa nhỏ, sư đã thông minh khác thường, năm 14 tuổi, sư xuất gia học thông kinh luận. Sư lần lượt tham yết các ngài Vô minh Tuệ kinh và Viên trừng. Năm Thiên khải thứ 2 (1622) sư tham yết ngài Mật vân Viên ngộ được ấn chứng và nối pháp của ngài. Về sau, sư lần lượt trụ Vạn phúc Thiền tự ở núi Hoàng bá, Liên phong viện, chùa Thiên ninh ở Chiết giang, chùa Siêu quả ở Giang tô, Phúc nghiêm thiền tự, Vạn thọ thiền tự, chùa Duy ma, viện Hưng phúc ở núi Nghiêu phong... Ở đâu sư cũng khôi phục lại các cảnh chùa xưa và truyền bá Thiền pháp của ngài Viên ngộ. Đệ tử nối pháp của sư có 64 vị như Ẩn nguyên Long kì...Năm Thuận trị 18 (1661) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Ngũ đăng nghiêm thống 25 quyển, Ngũ đăng nghiêm thống giải hoặc biên 1 quyển, Tổ đình kiềm chủy lục 2 quyển. [X. Kính sơn Phí ẩn hòa thượng kỉ niên lục; Tổ đình chỉ nam Q.hạ; Cao tăng trích yếu Q.1].
thông dâm
To commit adultery.
thông dạ
4798原指由日沒至日出徹夜未眠。與「徹夜」、「終夜」同義。可分為二種情況:(一)於寺院通宵達旦祈願、說法。(二)於死者入葬之前夕,親友終夜守護死者之靈以為安慰。〔長阿含經卷二、禪林象器箋節時門〕
; Tụng niệm suốt đêm—The whole night, i.e. to recite or intone throughout the night.
; (通夜) Đồng nghĩa: Triệt dạ, Chung dạ. Suốt đêm, thâu canh. Suốt đêm (từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời mọc) không ngủ. Có hai trường hợp: 1. Các chùa viện tổ chức pháp hội cầu nguyện, thuyết pháp suốt đêm. 2. Đêm trước ngày tiễn đưa người chết, bạn bè, thân thuộc ngồi bên cạnh linh cữu suốt đêm để an úy. [X.kinh Trường a hàm Q.2; môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thông dụng
In common or general use.
thông dự
4809(1588~1646)明末清初臨濟宗僧。江蘇崑山人,俗姓陳。又稱本豫。字林剦,世稱林剦通豫禪師。二十歲禮堯峰湛川出家,受具足戒後遍歷諸方,得法於磬山天隱圓修。後出住金陵鍾山石湫寺,次移住武林寶巖、姑蘇堯峰,崇禎十一年(1638)復遷鎮江夾山竹林寺,重興殿宇大弘法化,舉足篤實,足為匡徒者所效法。清順治三年示寂,世壽五十九。著有宗門誠範四卷及語錄行世。〔五燈嚴統卷二十四、五燈書卷六十七、續指月錄卷十九〕
; (通豫) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Côn sơn, tỉnh Giang tô, họ Trần, cũng gọi Bản dự, tự Lâm cao, người đời gọi sư là Lâm cao Thông dự thiền sư. Năm 20 tuổi, sư lễ ngài Nghiêu phong Trạm xuyên cầu xuất gia, sau khi thụ giới Cụ túc, sư đi các nơi tham học, đắc pháp nơi ngài Thiên ẩn Viên tu ở Khánh sơn. Sau, sư ra trụ trì chùa Thạch tưu ở núi Chung sơn tại Kim lăng, sau đó dời đến trụ ở núi Bảo nham tại Vũ lâm, núi Nghiêu phong tại Cô tô;năm Sùng trinh 11 (1638), sư lại dời đến chùa Trúc lâm ở Giáp sơn tại Trấn giang, trùng tu các điện đường, mở rộng tông phong, mọi việc làm đều chân thực, đủ làm khuôn phép cho đồ chúng noi theo. Năm Thuận trị thứ 3 (1646) đời Thanh, sư tịch, thọ 59 tuổi. Sư có tác phẩm: Tông môn thành phạm 4 quyển và Ngữ lục.
thông gian
Adulterous—Adultery (n)—Adulterer.
Thông Giác Thuỷ Nguyệt
通覺水月; 1637-1704|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Tào Ðộng truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 36. Sư nối pháp Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và truyền lại cho đệ tử là Chân Dung Tông Diễn.|Sư họ Ðặng, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng. Sư trước học Nho giáo nhưng không hài lòng. Năm 20 tuổi, Sư xuất gia cầu đạo, vân du khắp nơi nhưng không tìm được nơi khế hợp. Sau, Sư quyết chí sang Trung Quốc tu học.|Chuyến du học này gặp đầy trở ngại, một trong hai đệ tử đi theo lâm bệnh, mất giữa đường và khi đến núi Phụng Hoàng, Sư phải ở ngoài chờ ba tháng mới vào được cổng chùa yết kiến Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo.|Nhất Cú gặp Sư hỏi: »Trước khi cha mẹ sinh, trong ấy thế nào là Bản lai diện mục của ngươi?« Sư thưa: »Mặt trời sáng giữa hư không.« Nhất Cú bảo: »Ba mươi gậy, một gậy không tha«, và cho phép Sư nhập chúng.|Sáu năm trôi qua, một hôm, Nhất Cú gọi Sư vào Phương trượng hỏi: »Ðã Kiến tính chưa?« Sư lễ bái và trình kệ:|Viên minh thường tại thái hư trung|Cương bị mê vân vọng khởi long|Nhất đắc phong xuy vân tứ tán|Hằng sa thế giới chiếu quang thông.|*Sáng tròn thường ở giữa hư không|Bởi bị mây mê vọng khởi lồng|Một phen gió thổi mây tứ tán|Thế giới hà sa sáng chiếu thông.|Nhất Cú đưa tay điểm vào đầu Sư, ban hiệu là Thông Giác Ðạo Nam Thiền sư và nói kệ sau để truyền tông Tào Ðộng tại Việt Nam:|Tịnh trí thông tông, từ tính hải khoan|Giác đạo sinh quang, chính tâm mật hạnh|Nhân đức vi lương, huệ đăng phổ chiếu|Hoằng pháp vĩnh trường.|Nhất Cú căn dặn: »Ngươi về nên tinh tiến làm Phật sự, giảng thuyết đề cao chính pháp, không nên chần chờ để tâm theo vọng trần, trái lời Phật, Tổ dặn dò. Ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay ta cho một bài kệ để gắng tiến:|Quế nham suy phức tục truyền đăng|Thu nhập trường không quế bích đằng|Trì nhĩ viên lai khai bảo kính|Từ dư quy khứ thị kim thằng|Thuỵ thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết|Cáp thụ An Nam nhất cá tăng|Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi|Hạo tòng thiên tế thức tăng hằng.|*Rừng quế gương xưa đền nối sáng|Thu về đâu đấy ngát mùi hương|Vì người xa đến treo gương báu|Từ biệt ta về chỉ đạo Thiền|Ai vào núi Phụng nghìn trùng tuyết|Dường có An Nam một vị tăng|Nửa đêm áo gấm ra sau núi|Như ở chân trời thấy mặt trăng«.|Từ biệt thầy, Sư cùng với đệ tử trở về Việt Nam. Về đến Việt Nam, Sư đi khắp các thắng cảnh như Yên Tử, Quỳnh Lâm và sau, Sư dừng chân tại Ðông Sơn ở huyện Ðông Triều, trụ tại chùa Hạ Long. Dân chúng xa gần nghe danh Sư đều đến xin quy y, tăng chúng đua nhau đến tham học.|Sắp tịch, Sư gọi Tông Diễn đến nói kệ:|Thuỷ xuất đoan do tẩy thế trần|Trần thanh thuỷ phục nhập nguyên chân|Dữ quân nhất bát cam lộ thuỷ|Bái tác ân ba độ vạn dân.|*Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần|Sạch rồi nước lại trở về chân|Cho ngươi bát nước cam lộ quý|Ân tưới chan hoà độ vạn dân.|Sau, Sư nói kệ truyền pháp:|山織錦水畫圖。玉泉涌出白酡酥|岸上黃花鶯弄語。波中碧水鰈群呼|月白堂堂魚父醉。日紅耿耿繭婆晡|Sơn chức cẩm thuỷ hoạ đồ|Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô|Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ|Ba trung bích thuỷ điệp quần hô|Nguyệt bạch đường đường ngư phủ tuý|Nhật hồng cảnh cảnh kiển bà bô.|*Núi dệt gấm, nước vẽ hình|Suối ngọc chảy, tuôn rượi đà tô|Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót|Nước trong sóng biếc cá điệp nhào|Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ|Trời soi rừng rực kén nằm nhơ.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương. Nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm là ta ở đấy.« Chúng bùi ngùi mà không dám theo. Sau đúng bảy ngày, chúng cùng nhau đi tìm thì nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, thấy Sư ngồi kết già trên một tảng đá trong hang. Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 20 đời vua Lê Hi Tông.
Thông Giám
(通鑑, Tsugan): xem Tư Trị Thông Giám (資治通鑑, Shijitsugan) bên dưới.
thông giáo
4803天台四教之一。即五時八教中化法四教之第二,以方等及般若二時所宣說之因緣即空、無生四諦為教旨。智顗於四教義卷一、法華玄義卷三下、四念處卷二等書中,對通教之「通」有不同之詮釋。據四教義卷一載,通教之「通」有八義,即:(一)教通,此教為三乘同稟。(二)理通,三乘同見偏真之理。(三)智通,三乘同得巧度之一切智。(四)斷通,三乘同斷界內見思之惑。(五)行通,三乘同修見思無漏之行。(六)位通,三乘同經歷乾慧乃至辟支佛等位次。(七)因通,三乘同以九無礙為因。(八)果通,三乘同得九解脫二種涅槃。又此教稱為通教,而不稱共教,乃其教意不僅近共二乘,亦遠通別教、圓教。 法華經玄義卷三下載,通教之「通」有二義,即:(一)三乘共學之義,即藏教之三乘於四諦、十二因緣、六度所學各異;通教三乘共學諦、緣、度,皆見「當體即空」之理,故稱通。(二)單就菩薩有通前通後之義,通教之菩薩有利、鈍二種,鈍根之菩薩與前之藏教同證但空之涅槃,稱為通前藏教、鈍同二乘;利根菩薩聞當體即空之說而知不但空之義,通於其後之別、圓二教所詮中道實相之理,稱為通後別圓。如此唯就菩薩有通前通後之義,故稱通教。 據四念處卷二載,通有三義,稱為三通,即:(一)因果皆通,指共學行因、得果皆同之三乘。(二)因通果不通,指初三乘共學,其後分別接入別教、圓教之利根菩薩。(三)通別通圓,指藉通開導之人,雖本為別、圓之根機,以通教之當體即空為方便,而開導別、圓中道之智解。 於化法四教中,藏通二教不同:藏教以三乘為各別之教,觀修不同,以聲聞觀四諦,緣覺觀十二因緣,菩薩修六度行等,其行位亦各有異,且正教二乘,傍化菩薩;而通教則以三乘同修般若,共觀因緣即空之理,所斷之惑、所證之智與行位亦皆同,正化菩薩,傍化二乘,故藏通二教不同。然天台以藏通二教皆為界內之教,皆斷除見思之惑,見偏真之空理,僅出離三界之分段生死;其中,藏教之機為鈍根,即析色見空,故稱為界內之拙度;相對於藏教之鈍根,通教之機為利根,即觀當體即空,故稱為界內之巧度。又通教雖說空,其中自含中道之理,故利根菩薩見之,得以接入其後之別教、圓教,稱之為別接通、圓接通;此即通教被視為大乘初門之原因。 又若配上菩薩之修行階位,則乾慧等十地乃三乘所共之十地,聲聞及鈍根之菩薩於第七地,緣覺於第八地各灰身滅智,利根菩薩之中,其上根者於第四地,中根者於第五或第六地,下根者於第七或第八地「被接」於通教之後的別、圓二教,故第九菩薩地及第十佛地,無有實在之佛菩薩,稱為有教無人、果頭無人。〔三論玄義、法華玄論卷三〕(參閱「十地」419、「化法四教」1325)
; Thiên Thai classified Buddhist schools into four periods tạng, thông, biệt, and viên. The tạng pitaka school was that of Hìnayàna. The thông interrelated or intermediate school, was the first stage of Mahàyàna, having in it elements of all the three vehicles. The biệt is separate, or differentiated Mahàyàna teaching. The viên is full-orbed, complete, or perfect Mahàyàna. The Thông Giáo held the doctrine of the Void, but had not arrived at the doctrine of the Mean.
; Giai đoạn thứ hai trong Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo, cho rằng vạn hữu là “Không,” nhưng chưa đạt được lý “Trung Đạo”—The second stage in the T'ien-T'ai four periods od teaching, which held the doctrine of “Void,” but had not arrived at the doctrine of the “Mean.” ** For more information, please see Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo.
; (通教) Một trong 4 giáo của tông Thiên thai, tức giáo thứ 2 của 4 giáo Hóa pháp trong 5 thời 8 giáo. Giáo này lấy nhân duyên tức không nói trong 2 thời Phương đẳng, Bát nhã và Tứ đế vô sinh làm giáo chỉ. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 1, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 hạ và Tứ niệm xứ quyển 2 của ngài Trí khải, chữ Thông của Thông giáo có các giải thích khác nhau: Cứ theo Tứ giáo nghĩa quyển 1 thì Thông của Thông giáo có 8 nghĩa: 1. Giáo thông: Đây là giáo pháp 3 thừa cùng tu. 2. Lí thông: Ba thừa cùng thấy lí thiên chân(thiên về bên không). 3. Trí thông: Ba thừa cùng được Nhất thiết trí khéo độ. 4. Đoạn thông: Ba thừa cùng đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. 5. Hạnh thông: Ba thừa cùng tu hạnh kiến, tư vô lậu. 6. Vị thông: Ba thừa cùng trải qua các giai vị Can tuệ cho đến Bích chi Phật. 7. Nhân thông:Ba thừa cùng lấy 9 vô ngại làm nhân. 8. Quả thông: Ba thừa cùng được 9 thứ giải thoát và 2 thứ Niết bàn. Sở dĩ giáo pháp này được gọi là Thông giáo chứ không gọi là Cộng giáo là vì giáo ý chẳng những gần thì chung cho Nhị thừa, mà xa còn thông với Biệt giáo, Viên giáo.Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 3 hạ thì Thông của Thông giáo có 2 nghĩa: 1. Nghĩa ba thừa cùng học: Tức 3 thừa của Tạng giáo đều có sở học khác nhau là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và Lục độ; còn 3 thừa của Thông giáo cùng tu Đế, Duyên, Độ, đều thấy lí Đương thể tức không nên gọi là Thông. 2. Nghĩa riêng về Bồ tát có Thông tiền Thông hậu: Bồ tát của Thông giáo có 2 loại là Lợi và Độn, Bồ tát độn căn và Bồ tát của Tạng giáo nói trên, cùng chứng Niết bànđãn không, gọi là Thông tiền Tạng giáo, Độn đồng Nhị thừa(độn căn giống như Nhị thừa); còn các Bồ tát lợi căn khi nghe thuyết Đương thể tức không thì biết ngay nghĩa bất đãn không, thông với lí Trung đạo thực tướng nói trong Biệt giáo và Viên giáo sau đó, gọi là Thông hậu Biệt, Viên. Như vậy chỉ riêng với Bồ tát mới có nghĩa Thông tiền thông hậu, cho nên gọi là Thông giáo.Cứ theo Tứ niệm xứ quyển 2 thì Thông có 3 nghĩa, gọi là Tam thông. Đó là: 1. Nhân quả đều thông: Chỉ cho hàng Tam thừa cùng tu nhân và cùng được quả giống nhau. 2. Nhân thông quả không thông: Chỉ cho hàng Bồ tát lợi căn, ban đầu thì Tam thừa cùng học, về sau theo thứ tự được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo. 3. Thông Biệt Thông Viên: Chỉ cho người mượn Thông giáo để mở đường, tuy vốn là căn cơ Biệt, Viên, nhưng dùng Đương thể tức không của Thông giáo làm phương tiện để mở đường cho trí hiểu biết về Trung đạo của Biệt giáo, Viên giáo. Trong 4 giáo Hóa pháp thì Tạng giáo và Thông giáo có khác nhau, vì Tạng giáo cho rằng giáo pháp của mỗi thừa trong 3 thừa đều khác nhau, quán pháp cũng bất đồng, như Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác, quán 12 nhân duyên, Bồ tát tu hạnh 6 độ; giai vị tu hành cũng đều khác nhau, mục đích chính là giáo hóa Nhị thừa, mục đích phụ là giáo hóa Bồ tát; còn Thông giáo thì 3 thừa cùng tu Bát nhã, cũng quản lí nhân duyên tức không, đoạn hoặc, chứng trí và giai vị tu hành đều giống nhau, mục đích chính là giáo hóa Bồ tát, mục đích phụ là giáo hóa Nhị thừa, vì thế nên Tạng giáo và Thông giáo khác nhau. Nhưng tông Thiên thai cho rằng Tạng giáo và Thông giáo đều là giáo thuộc 3 cõi, đều đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, thấy Không lí thiên chân, chỉ ra khỏi Phần đoạn sinh tử trong 3 cõi; trong đó, căn cơ của Tạng giáo thuộc về độn căn, tức chia chẻ sắc mới biết không, nên gọi là Chuyết độ(vụng độ)trong 3 cõi; đối lại với hàng độn căn của Tạng giáo, căn cơ của Thông giáo thuộc về lợi căn, tức quán đương thể chính là không, chứ không cần chia chẻ sắc mới thấy không, cho nên được gọi là Xảođộ(khéo độ) trong 3 cõi. Hơn nữa, Thông giáo tuy nói Không nhưng trong đó tự bao hàm lí Trung đạo, cho nên Bồ tát thấy lí ấy mà được tiếp nhận vào Biệt giáo, Viên giáo ở sau, gọi là Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông. Đây chính là lí do cắt nghĩa tại sao Thông giáo lại được xem là cánh cửa đầu tiên của Đại thừa. Ngoài ra, nếu phối hợp giai vị tu hành của các Bồ tát nói trên thì Thập địa là 10 địa của 3 thừa tu chung, Thanh văn và Bồ tát độn căn ở Địa thứ 7, Duyên giác ở Địa thứ 8 đều là khôi thân diệt trí. Trong hàng Bồ tát lợi căn thì các vị thuộc về Thượng căn ở Địa thứ 4, các vị thuộc trung căn ở Địa thứ 5 hoặc Địa thứ 6, các vị thuộc hạ căn ở Địa thứ 7, hoặc Địa thứ 8 được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo sau Thông giáo, cho nên Bồ tát Địa thứ 9 và Phật Địa thứ 10 không có Phật và Bồ tát thực tại gọi là Hữu giáo vô nhân, Quả đầu vô nhân. [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.3]. (xt. Thập Địa, Hóa Pháp Tứ Giáo].
thông giáo tứ môn
4803謂通教之學人所學雖同為諸法如幻、因緣即空之理,然觀法有四門之別:(一)有門,又稱實門。諸法如幻即空,故有即空,空即有。然而,有門以即空之有而入道;亦即雖以善惡業果之法乃至涅槃皆如幻化,如鏡中像無實性,然尚有幻相之認知。(二)空門,又稱不實門。謂以即有之空而入道;亦即以幻化本自無實,以無實故空,如求鏡中像,終不可得。(三)亦有亦空門,又稱亦實亦不實門。謂雙照空有而入道;亦即以諸法既如幻,故稱為有,幻不可得,故稱為空,如鏡中像,雖見然實無可見,雖實無可見而有見。(四)非有非空門,又稱非實非不實門。謂幻有不可得,幻空不可得,雙遮空有而入道;即二邊皆捨。據四教義卷三載,通教四門者,即大智度論卷一所說一切實、一切不實、一切亦實亦不實、一切非實非不實。〔大智度論卷二、法華經玄義卷八下〕
; (通教四門) Bốn môn quán của Thông giáo. Sở học của hành giả thuộc Thông giáo, tuy cùnglà lí các pháp như huyễn; nhân duyên tức không, nhưng về pháp quán thì có 4 môn khác nhau.Đó là: 1. Hữu môn(cũng gọi Thực môn): Các pháp như huyễn tức không, vì thế Hữu chính là Không, Không cũng chính là Hữu. Tuy nhiên, Hữu môn dùng Hữu tức không làm con đường vào đạo. Nghĩa là tuy chủ trương các pháp nghiệp quả thiện ác đều như huyễn như hóa, như bóng trong gương không có thực tính, nhưng vẫn có nhận biết về các tướng hư dối. 2. Không môn(cũng gọi Bất thực môn): Dùng cái Không của Tức hữu làm con đường vào đạo; cũng chính là cái như huyễn như hóa vốn tự chẳng thực, vì chẳng thực nên là không, như tìm bắt bóng trong gương, chẳng thể nào được. 3.Diệc hữu diệc không môn(cũng gọi Diệc hữu diệc bất thực môn): Tức chiếu rọi suốt cả Không và Hữu mà vào đạo. Nghĩa là các pháp như huyễn nên gọi là Hữu, huyễn bất khả đắc nên gọi là Không; như bóng trong gương tuy thấy đấy nhưng thực thì không thấy được, tuy không thấy được nhưng mà có thấy. 4. Phi hữu phi không môn (cũng gọi Phi thực phi bất thực môn): Chẳng phải thật chẳng phải chẳng thật. Nghĩa là cái có giả không thể nắm bắt được, cái không giả cũng không thể có được, như vậy, ngăn cả Không, Hữu mà vào đạo; tức cả 2 bên đều bỏ. Theo Tứ giáo nghĩa quyển 3 thì 4 môn này của Thông giáo chính là 4 môn được nói trong luận Đại trí độ quyển 1. Đó là: Tất cả thật, Tất cả chẳng thật,Tất cả cũng thật cũng chẳng thật, Tất cả chẳng thật chẳng phải chẳng thật. [X.luận Đại trí độ Q.2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8, hạ].
thông giải thập như thị
4806又作總釋十如是。法華經卷一方便品舉出十項「如是」之語,稱為十如是,然經中並無進一步之解說,歷代諸師遂就此「十如是」廣作闡釋,較著名者有劉宋之法瑤、蕭齊之玄暢、梁代之法雲等。天台大師智顗綜合諸師之說,於所著摩訶止觀卷五詳述十如是之一般解說,稱為通解;智顗又創立新說,另從十法界、佛界、離合、位次等四方面,分別解釋十如是,稱為別解四類。 通解之十如是,即:(一)相如是,又作如是相,指外在可見之形相,如顯現之善惡行為。(二)性如是,又作如是性,指內在不可見之本性,諸法本性各不相同,無可改變,如木有火性,遇緣即發;此性亦指理性、佛性。(三)體如是,又作如是體,指眾生之質體,如五蘊、十二處皆以色、心為其體。(四)力如是,又作如是力,指諸法所具有之功能,如甎、泥可為砌牆之材料。(五)作如是,又作如是作,指身、口、意三業之作為。(六)因如是,又作如是因,指招致果報之業因(玄奘之後新譯作等流因),即前時所習染者成為後時之善惡業種。(七)緣如是,又作如是緣,「緣」指助因,如以五穀之種為因,雨露水土為其緣,所謂因緣和合,種子即藉雨露等助力而成長(新譯作異熟因)。(八)果如是,又作如是果,指從過去所習染之因得其相應之果(新譯作等流果)。此習因、習果相隔之時限有三:(1)二者相隔過去、現在二世,(2)二者相隔現在、未來二世,(3)於現在世中因果皆有。(九)報如是,又作如是報,指由善惡業因所招感之未來苦樂果報(新譯作異熟果)。此報因、報果間,必相隔一世以上。(十)本末究竟等如是,又作如是本末究竟等,即以上述各項「如是」中之「相」為本,「報」為末,本末皆由因緣和合所產生 A故本末皆空,此空即為諸法平等之極致。又前九種如是皆屬於「事」,本末究竟等如是則為「理」。若以天台宗之空假中三諦闡釋之,則自空諦觀之,本末皆為真空;自假諦觀之,本末皆為妙假;自中諦觀之,本末皆為中道法界。是知此本末究竟平等之三諦即為「實相」,而前九種如是則為「諸法」;兩者合之,即天台宗以十如是闡釋諸法實相「性空真如」之要理。〔法華玄義卷二上、卷三上、法華文句卷三下、法華義疏卷四、授決集卷下、十如是義私記〕(參閱「十如是」427、「別解四類十如是」2803)
; (通解十如是) Cũng gọi Tổng thích Thập như thị. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 nêu ra 10 từ ngữ Như thị,gọi là Thập như thị, nhưng không giải thích chi tiết, các vị Luận sư nhiều đời mới y cứ vào Thập như thị mà giải thích rõ hơn, trong đó, tương đối nổi tiếng thì có các vị như Pháp dao đời Lưu Tống, Huyền sướng đời Tiêu Tề, Pháp vân đời Lương... Đại sư Thiên thai Trí khải tổng hợp thuyết của các Luận sư và giải thích chung trong bộ Ma ha chỉ quán quyển 5 của ngài, gọi là Thông giải. Ngài Trí khải lại lập ra thuyết mới, rồi đứng về 4 phươngdiện: Pháp giới, Phật giới, Li hợp và Vị thứ mà lần lượt giải thích Thập như thị, gọi là Biệt giải tứ loại.Thập như thị thông giải là: 1. Tướng như thị (cũng gọi Như thị tướng): Chỉ cho các hình tướng được thấy từ bên ngoài, như những hành vi thiện ác hiển hiện rõ ràng. 2. Tính như thị(cũng gọi Như thị tính): Chỉ cho bản tính ở bên trong không thấy được, bản tính các pháp đều không giống nhau, không thay đổi được, như cây gỗ có tính lửa, gặp duyên liền phát; tính này cũng chỉ cho lí tính, Phật tính. 3. Thể như thị(cũng gọi Như thị thể): Chỉ cho thể chất của chúng sinh, như 5 uẩn, 12 xứ...đều lấy sắc và tâm làm thể. 4. Lực như thị(cũng gọi Như thị lực): Chỉ cho công năng của các pháp, như gạch, đất có thể dùng làm vật liệu xây đắp tường vách. 5. Tác như thị(cũng gọi Như thị tác): Chỉ cho sự tạo tác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 6. Nhân như thị(cũng gọi Như thị nhân): Chỉ cho nghiệp nhân (dịch mới là Đẳng lưu nhân) đưa đến quả báo, tức các việc làm nhơ nhớp ở đời trước trở thành hạt giống nghiệp thiện ác ở đời sau. 7. Duyên như thị (cũng gọi Như thị duyên): Duyên chỉ cho cái nhân giúp đỡ thêm (nhân phụ), như dùng hạt ngũ cốc làm nhân, nắng mưa, đất nước làm duyên, nhân duyên hòa hợp, hạt giống nhờ đó nẩy mầm và trưởng thành tốt tươi. 8. Quả như thị(cũng gọi Như thị quả): Chỉ cho nhân nhơ nhớp ở quá khứ nay được quả tương ứng (dịch mới là Đẳng lưu quả). Thời gian cách nhau giữa nhân và quả này có 3: a. Nhân và quả cách nhau giữa 2 đời quá khứ và hiện tại. b. Nhân và quả cách nhau giữa 2 đời hiện tại và vị lai. c. Trong đời hiện tại nhân quả đều có. 9. Báo như thị(cũng gọi Như thị báo): Chỉ cho quả báo khổ, vui ở vị lai (dịch mới là Dị thục quả) do nghiệp nhân thiện ác mang lại. Giữa nhân báo và quả báo này phải cách nhau 1 đời trở lên. 10. Bản mạt cứu cánh đẳng như thị (cũng gọi Như thị bản mạt cứu cánh đẳng): Tức Tướng trong các Như thị nói trên là Bản, Báo là Mạt, Bản Mạt đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, vì thế Bản Mạt đều Không, Không là chỗ cực trí bình đẳng của các pháp. Chín loại Như thị trước đều thuộc về Sự, còn Bản mạt cứu cánh đẳng như thị thì thuộc về Lí. Nếu giải thích rõ theo 3 đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai, từ Không đế mà quán thì Bản Mạt đều là chân không; từ Giả đế mà quán thì Bản Mạt đều là diệu giả; từ Trung đế quán thì Bản Mạt đều là pháp giới Trung đạo. Cho nên biết 3 đế của Bản Mạt cứu cánh bình đẳng này tức là Thực tướng, còn 9 thứ Như thị trước thì là Các pháp; hợp chung Thực tướng và Các pháp lại thì chính là tông Thiên thai dùng Thập như thị để giải thích rõ yếu lí Chân như tính không của thực tướng các pháp vậy.[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 thượng, 3 thượng; Pháp hoa văn cú Q.3 hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4; Thụ quyết tập Q.hạ; Thập như thị nghĩa tư kí]. (xt. Thập Như Thị, Biệt Giải Tứ Loại Thập Như Thị).
thông giới
Universal precept.
thông hiền
4808(1593~1667)明末清初臨濟宗僧。浙江當湖人,俗姓趙。號浮石。十九歲背親至普陀山禮謁紹宗剃髮,由雲棲祩宏授沙彌戒。其後歷參諸方,至金粟寺密雲圓悟處,參學數年,並隨圓悟赴閩地。後辭別圓悟,住普淨庵,又住浙江東塔寺三年。其間,圓悟遷往天童寺,師隨後亦往天童省覲圓悟一年,即閉關於武原。翌年,聞圓悟患疾,再度參謁之,為其法嗣。其後歷住浙江青蓮、江蘇吳江報恩、海門三仙廣慧、浙江東塔、天童景德、棲真、江蘇善權、福城諸剎。康熙六年示寂,世壽七十五。著有浮石禪師語錄十卷。〔續燈正統卷三十三、五燈全書卷六十七、天童寺志〕
; (通賢) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Đương hồ, tỉnh Chiết giang, hiệu Phù thạch, họ Triệu. Năm 19 tuổi, sư xin phép cha mẹ đến núi Phổ đà, lễ yết ngài Thiệu tông cầu xuất gia, do ngài Vân thê Châu hoành truyền giới Sa di. Về sau, sư đi tham học các nơi, đến chùa Kim túc học ngài Mật vân Viên ngộ vài năm và theo ngài đến đất Mân. Sau, sư bái biệt ngài Viên ngộ, đến trụ ở am Phổ tịnh, ít lâu sau, sư lại dời đến ở chùa Đông tháp tại tỉnh Chiết giang 3 năm. Trong thời gian ấy thì ngài Viên ngộ dời chùa Kim túc đến trụ chùa Thiên đồng, sư cũng theo đến Thiên đồng yết kiến ngài Viên ngộ và ở lại đó 1 năm. Sau, sư đến Vũ nguyên nhập thất. Khi nghe tin ngài Viên ngộ lâm bệnh, sư lại về tham yết và làm đệ tử nối pháp của ngài. Sau đó, sư mở rộng Thiền phong của ngài Mật vân Viên ngộ ở nhiều nơi và trong nhiều năm,không biết mỏimệt. Năm Khang hi thứ 6 (1667), sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Thạch phù thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Tục đăng chính thống Q.33; Ngũ đăng toàn thư Q.67; Thiên đồng tự chí].
thông hiểu
To understand thoroughly.
thông hoặc
4805「別惑」之對稱。天台宗所立三惑中,見思惑為聲聞、緣覺、菩薩等三乘之人所共通斷除者,故稱通惑。至於塵沙、無明二惑,係別教菩薩所當斷,故稱別惑。(參閱「三惑」624)
; The two all-pervading deluders kiến and tư, seeing and thinking wrongly, i.e. taking appearance for reality.
; Hai thứ kiến hoặc và tư hoặc, cho rằng hình tướng bên ngoài là thực—Two all pervading deluders (taking appearance for reality) due to seeing and thinking wrongly: 1) Kiến hoặc: Seeing wrongly—See Kiến Hoặc. 2) Tư hoặc: Thinking wrongly—See Tư Hoặc. ** For more information, please see Kiến Hoặc Tư Hoặc.
; (通惑) Đối lại: Biệt hoặc. Phiền não chung. Trong 3 thứ hoặc do tông Thiên thai lập ra thì Kiến tư hoặc là những phiền não chung của hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Còn Trần sa hoặc và Vô minh hoặc thì do Bồ tát Biệt giáo phải đoạn trừ, vì thế gọi là Biệt hoặc. (xt. Tam Hoặc).
thông huyền
To see through the mysteries (of nature, etc.)
thông huyền bách vấn
4797全一卷。又作通玄問答集。青州一辯法嗣宋代僧通玄圓通問,萬松行秀答,理宗淳祐四年(1244)刊行。收於卍續藏第一一九冊。係江西廣信府通玄庵之圓通,設百問以激勵學人,並宣揚祖道。林泉從倫於其師萬松一一作答之後,次第附頌,生生道人徐琳刊行之。世人常以之與青州一辯之青州百問合稱通玄青州二百問,而並行流通。
; (通玄百問) Cũng gọi Thông huyền vấn đáp tập. Tác phẩm, 1 quyển, của ngài Thông huyền Viên thông đời Tống, ấn hành vào năm Thuần hựu thứ 4 (1244), được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này là 100 câu hỏi của ngài Viên thông ở am Thông huyền, phủ Quảng tín, tỉnh Giang tây và lời đáp của ngài Vạn tùng Hành tú. Sau mỗi lời đáp của ngài Hành tú, đệ tử ngài là sư Lâm tuyền Tòng luân lần lượt phụ thêm kệ tụng, do Sinh sinh đạo nhân là Từ lâm ấn hành. Người đời thường gọi chung Thông huyền bách vấn và Thanh châu bách vấn của ngài Thanh châu Nhất biện là Thông huyền Thanh châu nhị bách vấn và lưu hành song song.
Thông Huyễn Tịch Linh
通幻寂靈; J: tsūgen jakurei; 1322-1391; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Trong năm vị đại đệ tử này thì Sư là thượng thủ. Lúc còn nhỏ Sư đã đọc Kinh và năm lên 17, Sư xuất gia cầu đạo. Ban đầu, Sư đến học với Thiền sư Minh Phong Tố Triết (1277-1350) tại chùa Ðại Thừa (daijō-ji). Nơi đây, Sư tu tập không kể ngày đêm và vì vậy được tăng chúng cũng như dân dã xung quanh tôn kính. Sau hơn mười năm tu tập với Minh Phong, Sư chuyển sang Tổng Trì tự (sōji-ji) tu học với Thiền sư Nga Sơn và ngay tại đây, Sư triệt ngộ và được Nga Sơn Ấn khả.|Song song với bạn đồng học Thái Nguyên Tông Chân (taigen sáshin, ?-1370), Sư rất thành công trong việc truyền bá dòng thiền Tào Ðộng. Sư khai sáng và trụ trì nhiều thiền viện lớn và nhiều thiền sinh đến tham học dưới sự hướng dẫn của Sư – khắc khe nhưng nhiệt tình. Trong số các vị đệ tử thì Liễu Am Huệ Minh (了菴慧明; j: ryōan emyō) trội hơn hết. Liễu Am lần lượt trụ trì Tổng Trì tự, Vĩnh Trác tự (yōtaku-ji) và sau khai sáng Tối Thừa tự (saijō-ji) tại Sagami.
thông huyễn tịch linh
TsŪgen Jakurei (J)Tên một vị sư.
thông huệ
Thần thông và trí tuệ, mọi phép thần thông đều dựa vào trí tuệ làm thể (thông cũng tức là tuệ)—Supernatural powers and wisdom, the former being based on the latter.
thông hành
The thoroughfare, or path which leads to nirvàna.
; Con đường dẫn tới Niết Bàn—The thoroughfare, or path which leads to nirvana.
thông hóa
Perpicacious, or influential teaching; universal powers of teaching.
; Phổ lực giáo hóa—Perspicacious, or influence teaching; universal powers of teaching.
thông hội
To harmonize differences of teaching.
thông kiên
4799全稱通兩肩。又作通披。搭袈裟時,右肩露外,稱為偏袒右肩;兩肩均為袈裟所覆之披法,則通稱肩。前者係對佛及師僧修供養時披之,以方便行事;而通肩則用以表示福田之相,於乞食、坐禪、誦經、經行等時披之。又乞食「行到」時,通覆兩肩,若於途中見和尚等三師,則偏袒右肩。佛像中作通肩形者不少。〔舍利弗問經、大比丘三千威儀卷上、四分律刪繁補闕行事鈔卷下一〕(參閱「偏袒右肩」4374)
; (通肩) Gọi đủ: Thông lưỡng kiên. Cũng gọi Thông phi. Đắp ca sa phủ kín cả 2 vai.Khi đắp ca sa để lộ vai bên phải, gọi là Thiên đản hữu kiên; còn đắp ca sa mà trùm kín cả 2 vai thì gọi là Thông kiên. Khi tu cúng dường trước đức Phật và sư tăng thì đắp ca sa theo phép Thiên đản hữu kiên để làm việc được dễ dàng; còn khi đi khất thực, tọa thiền, tụng kinh, kinh hành...thì đắp ca sa theo phép Thông kiên để biểu thị tướng phúc điền. Lại khi đi khất thực, như vừa nói ở trên, thì đắp ca sa phủ kín 2 vai, nhưng nếu giữa đường gặp Tam sư như Hòa thượng...thì phải để lộ vai bên phải ra. Trong tượng Phật, có nhiều tượng đắp ca sa theo hình thức Thông kiên. [X.kinhXá lợi phất vấn; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ; phần 1]. (xt. Thiên Đản Hữu Kiên).
thông kiên phái
ParŪpana (S)Tên một tông phái. Thế kỷ thứ 19.
thông kì
4799(1595~1652)明代臨濟宗僧。合州(四川合川)人,俗姓蔡。字林野,世稱林野通奇禪師。師生而澄靜,不喜肉食。少即依金鐘寺叔父道然為童行,十七歲參禮黔州(四川)之蓮峰出家,年十九出蜀南遊,意欲窮研教典,息居於湖北當湖,期掩關翻閱時教,突患痢疾瀕死,乃知經論之學非究竟法,偶聞天童參禪偈(卍續一三九‧五一七上)「一念未生前,試看底模樣」,若有所悟。一日失足墮樓,豁然而悟,遂往謁天童圓悟於吳門,得其心印。崇禎十六年(1643)出住於天台通玄寺,歷遷嘉禾東塔、棲真、天童等諸名剎。清順治九年示寂,世壽五十八。遺有林野和尚語錄八卷。〔五燈會元續略卷八、五燈嚴統卷二十四、五燈全書卷六十七〕
; (通奇) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người Hợp châu (Hợp xuyên, Tứ xuyên), họ Thái,tự Lâm dã, người đời gọi sư là Lâm dã Thông kỳ thiền sư. Thuở nhỏ, sư y vào người chú ở chùa Kim chung là Đạo nhiên làm đồng hành (chú tiểu), thường sống lặng lẽ. Năm 17 tuổi, sư lễ ngài Liên phong ở Kiềm châu cầu xuất gia; năm 19 tuổi, sư rời đất Thục đi về phía nam, ý muốn nghiên cứu giáo điển đến nơi đến chốn, nên trụ lại ở Đương hồ tại tỉnh Hồ bắc, định đóng cửa để xem kinh giáo, nhưng đột nhiên bị bệnh kiết lị gần chết, mới nhận ra rằng cái học kinh luận chẳng phải là pháp cứu cánh; tình cờ nghe bài kệ tham thiền của ngài Thiên đồng (Vạn tục 139, 517 thượng): Khi một niệm chưa sinh, hãy thử xem hình dạng thì tựa hồ có chỗ tỉnh. Một hôm, sư trượt chân ngã xuống lầu, bỗng tỉnh ngộ, liền đến tham yết ngài Thiên đồng Viên ngộ ở Ngô môn và được ngài truyền tâm ấn. Sau đó, sư lần lượt xiển dương Thiền pháp tại các chùa danh tiếng như Thông huyền, Đông tháp, Thê chân, Thiên đồng... Năm Thuận trị thứ 9 (1652) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 58 tuổi. Sư có tác phẩm: Lâm dã hòa thượng ngữ lục 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24, Ngũ đăng toàn thư Q.67].
thông luận gia
4808攝論宗之異稱。即指弘通無著所撰攝大乘論者。唐代道綽之安樂集卷上,及善導之觀無量壽佛經疏玄義分中皆曾提及通論家。
; (通論家) Tên khác của tông Nhiếp luận. Tức chỉ cho các Luận sư hoằng thông bộ luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước. An lạc tập quyển thượng của ngài Đạo xước và phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ của ngài Thiện đạo đời Đường, đều có đề cập đến Thông luận gia.
thông lãnh sơn
Hindukush (S), Tsung ling shan (C)
thông lí
4804(1701~1782)清代僧。河北新河人,俗姓趙。字達天。幼時出家,隨從顯如珍學習經論,二十歲依潭柘山岫雲寺德彰受具足戒,精研律部。後隱棲河北妙峰山,注釋法華等諸經,讀方便品十如是之文,了解權實二智雙歎之意,由是通達諸經。更依岫雲寺洞翁律主探研四分律,受南山之傳,入京闡明華嚴五教十宗之旨,為清代華嚴宗中興之祖。嘗閱澄觀之華嚴大疏,講報恩經於五臺山萬緣庵,感得文殊來現。乾隆十八年(1753),奉命於圓明園佛樓管理僧錄司之印務,賜紫衣。乾隆四十四年,高宗七十歲萬壽之際,與入京之第六世班禪喇嘛論佛法大義,喇嘛贈與香帛、曼答等。後敕封「闡教禪師」。乾隆四十七年示寂,世壽八十二。著有楞嚴經指掌疏十卷、楞嚴經懸示一卷、法華經指掌疏七卷,及法華經科文、法華經懸示、法華經事義、普門品別行疏等各一卷。〔新續高僧傳卷十、中國佛教史第四章(黃懺華)〕
; (通理) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người ở Tân hà, tỉnh Hà bắc, họ Triệu, tự Đạt nhiên. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, theo ngài Tòng hiển Như trân học tập kinh luận. Năm 20 tuổi, sư y vào ngài Đức chương ở chùa Tụ vân tại núi Đàm chá thụ giới Cụ túc, chuyên học Luật bộ. Sau, sư ẩn cư tại núi Diệu phong thuộc tỉnh Hồ bắc, chú thích các kinh như kinh Pháp hoa... khi đọc đoạn văn Thập như thị trong phẩm Phương tiện, sư hiểu rõ được ý nghĩa của 2 thứ trí Quyền và Thực, nhờ đó mà thông suốt các kinh. Sư lại theo Luật chủ Động ông chùa Tụ vân học luật Tứ phần, được chính truyền của Luật tông Nam sơn. Rồi sư vào kinh đô giảng rõ ý chỉ Ngũ giáo Thập tông của Hoa nghiêm, nên sư được tôn làm Tổ Trung hưng Hoa nghiêm ở đời Thanh. Sư từng xem Hoa nghiêm đại sớ của ngài Trừng quán, giảng kinh Báo ân ở am Vạn duyên trên núi Ngũ đài, cảm được bồ tát Văn thù hiện đến. Năm Càn Long 18 (1753), sư vâng mệnh vua trông coi việc ấn loát của Ti Tăng lục ở Phật lâu trong vườn Viên minh, được vua ban cho áo đỏ. Năm Càn long 44 (1779), lúc vua Cao tông được 70 tuổi, sư cùng Ban thiền lạt ma đời thứ 6 vào kinh để luận về đại nghĩa Phật pháp, Lạt ma tặng sư lụa thơm, mạn đáp... Sau, sư được sắc phong danh hiệu Xiển Giáo Thiền Sư. Năm Càn long 47 (1782), sư thị tịch, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm: Lăng nghiêm kinh chỉ chưởng sớ 10 quyển, Lăng nghiêm kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh chỉ chưởng sớ 7 quyển, Pháp hoa kinh khoa văn 1 quyển, Pháp hoa kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh sự nghĩa 1 quyển và Phổ môn phẩm biệt hành sớ 1 quyển.
thông lĩnh
(葱嶺 ) Tên dãy núi trên cao nguyên Pamir, phía tây nam tỉnh Tân cương, Trung quốc, là trục giao thông chủ yếu nằm giữa các rặng núi ở đại lục Á tế a, từ xưa đã được gọi là nóc nhà của thế giới. Phía nam giáp Bắc Ấn độ, phía đông giáp nước Ô sát (Usa, hoặc Osh), phía tây giáp nước Hoạt (Kunduz) thuộc Afghanistan, phía bắc giáp Thiên sơn mà chia Tây vực thành 2 phần. Điều Hoạt quốc trong Đại đường tây vực kí (Đại 51, 940 thượng) nói: Núi Thông lĩnh nằm ở giữa châu Nam thiệm bộ, phía nam giáp núi Đại tuyết, phía bắc giáp Nhiệt hải thiền tuyền, phía tây giáp Hoạt quốc, phía đông giáp nước Ô sát. Đông, tây, nam,bắc mỗi bề dài mấy nghìn dặm, ngọn núi chập chùng mấy trăm lớp, hang sâu hiểmhóc,ngọn cao chót vót, lúc nào cũng có băng tuyết, gió lạnh cắt da. Vì cây hành(chữ Hán gọi cây hành là Thông) xanh rờn trên các sườn núi, là sản vật chủ yếu ở đây, nên gọi là Thông lĩnh(núi trồng hành). Trong 4 con sông lớn thì 2 sông Phược sô và Đồ đa bắt nguồn từ núi Thông lĩnh. Sự giao thông giữa Trung quốc và Ấn độ có 2 đường Nam, Bắc, đường phía bắc phần nhiều phải đi qua giữa các núi non trùng điệp của rặng núi này.Con đường mà các vị cao tăng như ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, ngài Xà na quật đa, Đạt ma cấp đa đời Tùy, Huyền trang, Tuệ siêu, Ngộ không... đời Đường đi về phía tây đến Ấn độ, hoặc đi sang phía đông đến Trung quốc phải trải qua phần nhiều đều thuộc khu vực dãy núi này. [X. Thích ca phương chí Q.thượng; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Giải thuyết tây vực kí].
thông lĩnh sơn
Xem Thông lĩnh sơn.
thông lạc tự
4807位於山西大同。元魏成帝時,曇曜創建。寺在武周山中。帝初命就山崖鑿龕立佛像,為先帝追福,後成數百龕,綿延二十餘里,是即大同雲岡石窟之濫觴。其後又立二寺,通樂寺為其中之一。常住千僧,為國行道。俗稱石窟寺。今尚存,殿宇則係明代建築物。
thông lệ
General rule.
thông lợi
Intelligence keen as a blade, able to penetrate truth.
; Trí thông minh sắc bén như lưỡi dao, có thể xuyên qua chân lý—Intelligence keen as a blade, able to penetrate truth.
thông lực
4796即神通或業通等不可思議之力用。佛菩薩及外道仙人所得稱神通,有五通、六通之別;鬼神、狐狸等所得為業通,由業力所使然。華嚴大疏卷三載,通力有三種:(一)報得通力,三界諸天皆有五種神通,鬼神亦有小通。此神通依果報而自然感得。(二)修得通力,三乘聖人修三學而感得六通,外道仙人修禪時亦感得五通。(三)變化通力,三乘聖人能變現種種之神通力者。大毘婆沙論卷九十八(大二七‧五○九上):「我等皆是梵王化作,從彼而生,是我等父,故由通力,彼起是念。」(參閱「五通」1153、「神通」4251、「業通」5500)
; The capacity to employ supernatural powers without hindrance. Buddhas, bodhisattvas, etc., have thần lực spiritual or transcendent power; demons have nghiệp lực power acquired through their karma.
; Tác dụng của sức mạnh thần thông không chướng ngại—The capacity to employ supernatural powers without hindrance. a) Thần Thông: Thông lực của chư Phật và chư Bồ Tát—Buddhas or Bodhisattvas, etc, have spiritual or transcendent power. b) Nghiệp Thông: Thông lực của quỷ thần đạt được bằng nghiệp lực—Demons have magical powers acquired through their karma.
; (通力) Lực dụng không thể nghĩ bàn của thần thông hay nghiệp thông. Thần thông mà Phật, Bồ tát và các tiên nhân ngoại đạo đạt được có 5 thông, 6 thông khác nhau; các thông lực này gọi là Thần thông. Còn thông lực mà các loại quỉ thần, hồ li... có được thì gọi là Nghiệp thông, do nghiệp lực sinh ra. Theo Hoa nghiêm đại sớ quyển 3 ghi thì Thông lực có 3 thứ: 1. Báo đắc thông lực: Chư thiên trong 3 cõi đều có 5 thứ thần thông, quỉ thần cũng có tiểu thông. Loại thần thông này do quả báo tự nhiên cảm được. 2. Tu đắc thông lực: Các bậc Thánh tam thừa nhờ tu Tam học mà cảm được 6 thông, các tiên nhân ngoại đạo tu thiền cũng cảm được 5 thông. 3. Biến hóa thông lực: Bậc Thánh Tam thừa có khả năng biến hiện các thứ thần thông lực. Luận Đại tì bà sa quyển 89 (Đại 27, 509 thượng) nói: Chúng ta đều do Phạm vương hóa ra, từ ngài mà sinh, ngài là cha chúng ta, cho nên do thông lực, ngài khởi lên niệm này. (xt. Ngũ Thông, Thần Thông, Nghiệp Thông).
thông minh
Intelligent.
thông minh hay ngu dốt
Intelligent or stupid—Intelligent or simple.
thông minh huệ
4799即指六通、三明、三慧。六通者,又作六神通,依佛菩薩之定慧力而示現之六種無礙自在妙用,即神足通證、天耳通證、知他心通證、宿命通證、天眼通證、漏盡通證。三明,為至無學位,除盡愚闇,於三事通達無礙之智明,即宿命智證明、生死智證明、漏盡智證明。三慧,指聞思修三慧,為簡擇事理之三種精神作用,即聞所成慧,思所成慧,修所成慧。(參閱「三明」569、「三慧」670、「六通」1292)
; See Thông Minh Tuệ.
; (通明慧) Tức chỉ cho Lục thông, Tam minh và Tam tuệ. Lục thông(cũng gọi Lục thần thông): Tức thứ diệu dụng tự tại vô ngại do năng lực định tuệ của Phật, Bồ tát thị hiện ra. Đó là: Thần túc thông chứng (bay đi tự tại), Thiên nhĩ thông chứng (nghe rất xa), Tri tha tâm thông chứng (biết rõ tâm niệm người khác), Túc mệnh thông chứng (biết các việc ở đời trước), Thiên nhãn thông chứng (thấy rất xa) và Lậu tận thông chứng (Thần thông do dứt hết các phiền não mà có). Tam minh:Tức trí tuệ sáng suốt, nhờ đến địa vị Vô học, trừ hết ngu tối, đối với 3 việc(hơi thở, sắc, tâm) thông suốt vô ngại mà có được 3 loại trí này. Đó là: Túc mệnh trí chứng minh(trí biết rõ các việc đời trước), Sinh tử trí chứng minh(Trí biết rõ việc sống chết) và Lậu tận trí chứng minh(trí thấy rõ lí 4 đế như thực nhờ đã dứt hết phiền não). Tam tuệ: Chỉ cho Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ; là 3 thứ tác dụng tinh thần phân biệt sự và lí. Tức trí tuệ do nghe chính pháp, suy tư về chính pháp và tu hành chính pháp mà thành. (xt. Tam Minh, Tam Tuệ, Lục Thông).
thông minh thiền
4799禪定之一種。阿羅漢等聖者於修四禪定、四無色定、滅盡定等九次第定時,觀息、色、心三事之禪法。又作通明觀禪、通明觀。修此禪定時,必通觀息、色、心三事而徹見無礙,故稱通明;又能得六通、三明,故稱通明。大方等大集經卷二十二以下論及此禪法,然未有通明禪之名;於我國,自天台智顗之前的北地禪師修得證之,始稱通明禪。摩訶止觀卷九上(大四六‧一二一上):「次通明禪發相者,上特勝修時觀慧,猶總見三十六物,證相亦總。通明修時,細妙證時分明,華嚴亦有此名。大集辨寶炬陀羅尼,正是此禪也;請觀音亦是此意。修時三事通修,能發三明、六通。」 此禪修證之相:初禪時,斷離五蓋(貪欲、瞋恚、睡眠、掉悔、疑),具覺、觀、喜、安、定五支,視息、色、心三事如泡沫之相;二禪時,斷離五蓋,具喜、安、定三支,視三事如浮雲之相;三禪時,斷離五蓋,具念、捨、慧、安、定五支,視三事如影相;四禪時,斷離五蓋,具念、捨、不苦不樂、定四支,視三事如鏡像;五空處定,滅盡三事,見皆空;六識處定,斷滅其空,緣識;七無所有處定,斷滅其識,緣無所有;八非想非非想定,斷滅其無所有,緣非想非非想;九滅盡定,斷滅非想非非想等三種受想,身證滅受想之法。〔法界次第卷上〕
; (通明禪) Cũng gọi Thông minh quán thiền, Thông minh quán. Một trong các loại Thiền định. Chỉ cho pháp thiền quán xét hơi thở, sắc và tâm mà bậc Thánh A lahán thực hành khi tu 9 định thứ đệ: Bốn định cõi Sắc, 4 định cõi Vô sắc và định Diệt tận. Khi tu thiền định này, hành giả phải quán xét chung hơi thở, sắc, tâm và thấy rõ suốt một cách vô ngại, cho nên gọi là Thông minh; lại nữa, tu định này cũng được 6 thông, 3 minh, cho nên gọi Thông minh. Kinh Đại phương đẳng đại tập từ quyển 22 trở đi có luận về pháp thiền này, nhưng chưa có tên Thông minh thiền.Ở Trung quốc, các Thiền sư miền Bắc trước thời ngài Thiên thai Trí khải tu chứng được loạiThiền này, từ đó mới có tên Thông minh thiền. Ma ha chỉ quán quyển 9 thượng (Đại 46, 121 thượng) nói: Kế đến là Thông minh thiền phát tướng, khi tu đặc thắng quán tuệ thì hầu như thấy hết 36 vật và chứng tướng cũng gồm đủ. Khi tu Thông minh, khi chứng vi tế rõ ràng, Hoa nghiêm cũng có tên gọi này. Đà la ni Đại tập biện bảo cự chính là Thiền định này; thỉnh Quán âm cũng là ý này. Khi tu chung 3 việc thì có năng lực phát ra 3 thông, 6 thông. Tướng tu chứng loại thiền này như sau: 1. Lúc vào Sơ thiền: Dứt lìa 5 cái(5 phiền não tham dục, sân khuể, thụy miên, trạo hối, nghi), có đủ 5 chi: Giác, quán, hỉ, an, định, xem 3 việc: Hơi thở, sắc, tâm như đám bọt nước. 2. Lúc vào Nhị thiền: Dứt trừ 5 cái, có đủ 3 chi: Hỉ, an, định, xem 3 việc như mây nổi.3. Lúc vào Tam thiền: Dứt trừ 5 cái, có đủ 5 chi: Niệm, xả, tuệ, an, định,xem 3 việc như bóng. 4. Lúc vào Tứ thiền: Dứt lìa 5 cái, có đủ 4 chi: Niệm, xả, không khổ không vui, định, xem 3 việc như tượng như gương. 5. Lúc vào định không xứ: Diệt hết 3 việc, thấy tất cả đều không. 6. Vào định Thức xứ: Đoạn diệt cái Không ấy, duyên theo thức. 7. Vào định Vô sở hữu xứ: Đoạn diệt thức, duyên theo vô sở hữu. 8. Vào định Phi tưởng phi phi tưởng: Đoạn diệt vô sở hữu, duyên theo Phi tưởng phi phi tưởng. 9. Vào định Diệt tận: Đoạn trừ 3 thứ thụ tưởng như Phi tưởng phi phi tưởng... thân chứng pháp diệt thụ tưởng. [X. Pháp giới thứ đệ Q.thượng].
thông minh tuệ
The six thông, three minh and three tuệ.
; Trong Lục Thông, có ba loại “Minh” và ba loại “Tuệ”—In the six supernatural powers, there are three types of knowledge and three types of prajna. ** For more information, please see Lục Thông.
thông môn
4800(1599~1671)明代臨濟宗僧。江蘇常熟人,俗姓張。號牧雲,世稱牧雲通門禪師。禮謁虞山興福寺洞聞為師,依其出家。初參謁無異元來,後至金粟寺參謁密雲圓悟,得其心印,掌管記室多年,從學者數以千計。萬曆八年(1580)出住浙江嘉興古南禪院,歷住棲真、梅谿、興福、極樂、鶴林、天童景德諸名剎,後辭歸隱遁十餘載,居無定所,清康熙十年示寂於石湖靜室,世壽七十三。師博通外學,能詩文,擅長書繪,頗有魏晉古風。著有牧雲和尚語錄二十卷、牧雲和尚七會餘錄六卷。〔五燈會元續略卷八、五燈嚴統卷二十四、五燈全書卷六十七〕
; (通門) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Trương, hiệu Mục vân, người đời gọi sư là Mục vân Thông môn thiền sư. Sư vốn là người thông minh, học rộng, giỏi văn chương, thư họa. Sư theo ngài Động Văn ở chùa Hưng Phúc tại Ngu Sơn. Ban đầu, sư tham yết ngài Vô dị Nguyên lai, sau, sư đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ và được truyền tâm ấn. Năm Vạn lịch thứ 8 (1580), sư ra trụ ở Cổ nam thiền viện, huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết giang, người đến theo học rất đông. Sư từng hoằng pháp ở các chùa danh tiếng như Thê chân, Mai khê, Hưng phúc, Cực lạc, Hạc lâm, Thiên đồng cảnh đức... Về sau, sư ẩn tu hơn 10 năm, chỗ ở không nhất định. Năm Khang Hi thứ 10 (1671), sư thị tịch ở tĩnh thất Thạchhồ, thọ 73 tuổi. Sư có các tác phẩm: Mục vân hòa thượng ngữ học 20 quyển, Mục vân hòa thượng thất hội dư lục 6 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.67].
thông mẫn
Wise—Clever.
Thông ngộ 聰悟
[ja] ソウゴ sōgo ||| Wise, sharp, quick. => Thông thái, thông minh, nhanh nhẹn.
thông nhẫn
4797(1604~1648)明代臨濟宗僧。常州(江蘇)毘陵人,俗姓陳。號朝宗,世稱朝宗通忍禪師。二十二歲,投於江蘇靖江縣長生菴獨知禪師剃度出家,得聞「無生」之說,遂往金粟寺參謁密雲圓悟,為其侍從。崇禎四年(1631)隨圓悟赴阿育王山,圓悟拈寺碑所刻大千禪師垂語向師謂(卍續一三九‧五一四下):「山中猛虎以肉為命,何故不食其子?」師通身汗如雨下,坐臥不安。經二日,偶自外入寮,驀然有所悟,乃對圓悟謂:「惟人自肯方乃親。」復呈偈,並蒙印可。其後歷住金陵祇陀林、海鹽靈祐寺、福州靈石院、莆田曹山上生寺、廣東曹溪南華寺、江西龔公山寶華寺等諸名剎。清順治五年示寂,世壽四十五。著有朝宗禪師語錄十卷行世。〔續指月錄卷十九、黃山志卷二〕
; (通忍) Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Tì lăng, Thường châu (Giang tô), họ Trần, hiệu Triều tông, người đời gọi sư là Triều tông Thông nhẫn thiền sư. Năm 20 tuổi, sư theo ngài Độc Tri ở am Trường Sinh, huyện Tĩnh Giang, tỉnh Giang tô xuất gia, được nghe thuyết Vô sinh. Sau, sư đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, làm thị giả hầu ngài. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631), sư theo ngài Viên Ngộ đến núi A dục vương, ngài Viên ngộ nhìn vào lời dạy của Thiền sư Đại thiên được khắc trên tấm bia chùa mà bảo sư rằng (Vạn tục 139, 514 hạ): Hổ dữ trong núi ăn thịt để sống, tại sao không ăn thịt nó? Toàn thân sư đẫm mồ hôi như mưa, ngồi nằm không yên.Hai ngày sau, tình cờ từ bên ngoài bước vào liêu, bỗng có chỗ ngộ, liền thưa ngài Viên ngộ rằng: Chỉ người tự nhận ra mình mới là thân, lại trình kệ và được ấn khả. Về sau, sư lần lượt hoằng pháp ở các chùa danh tiếng như: Kỳ đà lâm ở Kim lăng, chùa Linh hựu ở Hải diêm, viện Linh thạch ở Phúc châu, chùa Thượng sinh ở núi Tào sơn tại Bồ điền, chùa Nam hoa ở Tào khê tại Quảng đông, chùa Bảo hoa, núi Cung công, tỉnh Giang tây... Năm Thuận trị thứ 5 (1648) đời Thanh, sư thị tịch, hưởng dương 45 tuổi.Sư có tác phẩm: Triềutông thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lục Q.19; Hoằng Sơn chí Q.2].
thông niệm phật
4799「別念佛」之對稱。謂通廣三世諸佛名號而稱念之,係相對於僅稱念一佛名號之別念佛。(參閱「念佛」3208)
; Niệm chung danh hiệu chư Phật ba đời—To call on the Buddhas in general, not not limit to any specific Buddha.
; (通念佛) Đối lại: Biệt niệm Phật. Thông niệm Phật là niệm chung danh hiệu của chư Phật trong3đời, còn Biệt niệm Phật là chỉ niệm riêng danh hiệu của một đức Phật. (xt. Niệm Phật).
thông phú
4809謂陳述事情以表達志向而令人知。敕修百丈清規卷四(大四八‧一一三一下):「湯藥侍者,(中略)或暫缺侍者,客至,通覆燒香。」
thông phật giáo
4797不偏於一宗一派,而通達佛教全盤之教理。
; (通佛教) Phật giáo chung. Nghĩa là lí Phật giáo là thông suốt toàn bộ nền Phật giáo, chứ không thiên về một tông một phái nào.
thông suốt
To penetrate (understand) thoroughly.
Thông Thiền
通禪; ?-1228|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông pháp hệ thứ 13. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Thường Chiếu và truyền lại cho đệ tử là Tức Lự.|Sư họ Ðặng, quê ở làng Ốc, An La. Sư cùng Thiền sư Thần Nghi thờ Thường Chiếu làm thầy.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Làm thế nào để biết rõ Phật pháp?« Thường Chiếu đáp: »Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp để biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.« Sư nhân đây lĩnh ngộ ý chỉ.|Sau, Sư về cố hương trụ trì chùa Lưỡng Pháp, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Trung thứ 4 đời Trần Thái Tông, Sư viên tịch.
thông thiền thiền sư
Zen Master Thông Thiền (?-1228)—Thiền sư Việt Nam, quê ở An La, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu tại chùa Lục Tổ. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Vô Ngôn Thông, ngài trở về làng cũ để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1228—A Vietnamese Zen master from An La, North Vietnam. He was a disciple of Zen master Thường Chiếu at Lục Tổ Temple. After he became the dharma heir of the thirteenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect, he returned to his home town to revive and expand Buddhism there. He passed away in 1228.
thông thuộc
To know perfectly.
thông thái
A learned man—Savant—A well-known scholar.
thông thân biệt thân
4797對全體作一敘述,稱為通申;對特殊一事件申訴者,則稱別申。將通於諸經教義集顯之論,稱為通申論;特別對一經教義作顯論,則稱為別申論。例如,中論及攝大乘論,乃通於大乘經一般之說,故屬通申論;大智度論則僅對般若經加以解釋,故屬別申論。 吉藏在三論玄義中謂,論有通論與別論。通破大乘、小乘之迷而申演大乘、小乘之教,稱為通論;若僅別破大乘、小乘之迷而申演大乘、小乘之教,則稱為別論。智顗於四教義卷六亦列有通申大乘經論(如攝大乘論、成唯識論、中論)、通申小乘經論(如阿毘曇、成實)、別申大乘經論(如大智度論)、別申小乘經論(如阿毘曇毘婆沙論)之別。又於淨土教,世親之淨土論,究屬三經通申(對無量壽經、觀無量壽經、阿彌陀經等淨土三部經之教作敘述),或是無量壽經別申(僅敘無量壽經之教),自古即議論不一。
; (通申別申) Trình bày toàn thể gọi là Thông thân, trình bày một sự kiện đặc biệt thì gọi là Biệt thân. Bộ luận hiển bày rõ ràng giáo nghĩa trong các kinh, gọi là Thông thân luận; trái lại, bộ luận chỉ trình bày rõ giáo nghĩa của một bộ kinh đặc biệt thì gọi là Biệt thân luận. Chẳng hạn như Trung luận và Nhiếp đại thừa luận là các luận thuyết minh chung về giáo nghĩa các kinh Đại thừa, cho nên thuộc Thông thân luận; còn luận Đại trí độ thì chỉ giải thích riêng bộ kinh Bát Nhã, cho nên thuộc Biệt thân luận.Trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng nói rằng: Luận có Thông luận và Biệt luận. Luận phá chung mê chấp của Đại thừa, Tiểu thừa và diễn bày giáo nghĩa Đại thừa, Tiểu thừa, gọi là Thông luận; nếu luận chỉ phá riêng mê chấp của Đại thừa, Tiểu thừa và trình bày giáo nghĩa của Đại thừa, Tiểu thừa thì gọi là Biệt luận. Trong Tứ giáo nghĩa, ngài Trí khải cũng liệt kê các luận Đại thừa thuộc Thông thân(như luận Nhiếp đại thừa, luận Thành duy thức, Trung luận...); các luận Tiểu thừa thuộc thông thân(như A tì đàm, Thành thực...); các luận Đại thừa thuộc Biệt thân (như luận Đại trí độ); các luậnTiểu thừa thuộc Biệt thân (như luận A tì đàm tì bà sa)khác nhau. Còn trong Tịnh độ giáo, đối với bộ luận Tịnh độ của ngài Thế thân thì rốt cuộc thuộc về Tam kinh thông thân (trình bày chung giáo nghĩa của cả 3 bộ kinh Tịnh độ là kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà) hay thuộc về Vô lượng thọ kinh biệt thân(chỉ trình bày giáo nghĩa riêng của kinh Vô lượng thọ)? Về vấn đề này, từ xưa đã có nhiều ý kiến khác nhau.
thông thân thị thủ nhãn
4798禪林用語。原意指全身都是手,全身都是眼;禪宗欲闡示忘卻主客之對立,而臻一如境界之用語。碧巖錄第八十九則(大四八‧二一三下):「雲巖問道吾:『大悲菩薩用許多手眼作什麼?』吾云:『如人夜半背手摸枕子。』巖云:『我會也。』吾云:『汝作麼生會?』巖云:『遍身是手眼。』吾云:『道即太殺道,只道得八成。』巖云:『師兄作蛱生?』吾云:『通身是手眼。』」〔碧巖錄第十八則、從容錄第五十四則〕
; (通身是手眼) Tiếng dùng trong Thiền lâm.Vốn chỉ cho toàn thân đều là tay, toàn thân đều là mắt; trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để nêu rõ ý quên mất sự đối lập chủ khách mà đạt đến cảnh giới nhất như. Bích nham lục tắc 89 (Đại 48, 213 hạ) ghi: Ngài Vânnham hỏi ngài Đạo ngô: Bồ tát Đạibi dùng nhiều tay nhiều mắt để làm gì?.Ngài Đạo ngô đáp: Giống như người lúc nửa đêm vói tay về sau lưng mò chiếc gối.Ngài Vân nham nói: Tôi hiểu rồi. Ngài Đạo ngô hỏi: Ông hiểu cái gì? Ngài Vân nham đáp: Toàn thân là tay mắt. Ngài Đạo ngô bảo: Đã nói thì phải nói cho cùng tột, ông mới chỉ nói được 8 phần. Ngài Vân Nham hỏi lại: Vậy sư huynh hiểu thế nào?. Ngài Đạo Ngô nói: Toàn thân là tay mắt!. [X. Bích nham lục tắc 18; Thung dung lục tắc 54].
thông thạo
Expert.
thông thụ biệt thụ
4798受戒時,總括受之,稱為通受;一一個別受之,則稱別受。又作通授別授、總受別受。受三歸時,初歸依佛,次歸依法,後歸依僧,循如是次第,一一受之,是為別受;若具唱歸依佛歸依法歸依僧,通括受之,即為通受。又如受十戒時,初受不殺生,其次不偷盜,乃至最後不得捉持生像,依此次第,一一受戒,是為別受;若唱一不殺生、二不偷盜,乃至十不得捉持生像,一時具受十戒,則是通受。受菩薩三聚淨戒時,亦有通受別受之分,總括攝律儀戒、攝善法戒、攝眾生戒而受之,是為通受;別就攝律儀戒,受七眾各別之五戒、八戒、十戒、具足戒等,則是別受。亦即攝善法戒、攝眾生戒唯通受,攝律儀戒則通於通別二受。〔善見律毘婆沙卷十六、梵網經菩薩戒本疏卷上(義寂)、律宗綱要卷上、顯戒論卷中〕(參閱「三聚淨戒」665、「受戒」3101)
; (通受別受) Cũng gọi Tổng thụ biệt thụ. Khi thụ giới, thụ tổng quát gọi là Thông thụ; còn thụ riêng từng phần một thì gọi là Biệt thụ. Như lúc thụ Tam qui, trước hết qui y Phật, kế đến qui y Pháp, sau cùng qui y Tăng, tuần tự theo thứ lớp như thế, thụ riêng từng phần một, đó là Biệt thụ. Nếu cùng lúc, thụ tổng quát xướng đủ qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng thì là Thông thụ. Cũng như lúc thụ Thập giới, trước hết thụ giới không giết hại, kế đến thụ giới không trộm cắp, cho đến sau cùng thụ giới không cất giữ vàng bạc châu báu, theo thứ tự như thế, thụ riêng từng giới một thì là Biệt thụ; còn nếu xướng: Một không giết hại, hai không trộm cắp, cho đến mười không nắm giữ vàng bạc châu báu, cùng lúc thụ đủ 10 giới, gọi là Thông thụ. Khi thụ Bồ tát tam tụ tịnh giới cũng có chia ra Thông thụ và thụ, thụ tổng quát Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới, gọi là Thông thụ; còn nếu y cứ riêng vào Nhiếp luật nghi giới mà thụ các thứ giới khác nhau của 7 chúng như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc thì gọi là Biệt thụ. Tức là Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới chỉ có Thông thụ, còn Nhiếp luật nghi giới thì có cả Thông thụ và Biệt thụ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.16; Phạm Võng kinh Bồ Tát giới bản sớ Q. thượng (Nghĩa tịch); Luật tông cương yếu Q. thượng; luận Hiển giới Q. trung]. (xt. Tam TụTịnhGiới, ThụGiới).
thông thừa
4801(1593~1638)明代臨濟宗僧。浙江金華人,俗姓朱。字石車,世稱石車通乘禪師。年二十六,依天真海藏出家,受具足戒於雲門,遍參知識,後至金栗寺謁密雲圓悟,得其心印,執侍七載。崇禎四年(1631),出住杭州童光山之隆慶寺,後繼席金粟,開法弘化,廣度群迷。崇禎十一年示寂,世壽四十六。〔五燈會元續略卷八、五燈嚴統卷二十四〕
thông tri
To notify—To advise—To announce.
thông tuý
4808(1610~1695)明末清初臨濟宗僧。四川內江人,俗姓李。字丈雪。禮古字山清然出家。讀法華經(大九‧九上):「乃至舉一手,或復小低頭,(中略)皆以成佛道。」即期望得道,遂往峨嵋山修道。後聞密雲圓悟之道風而轉為修禪,隱居古字山讀諸家語錄,於萬峰參謁圓悟之法嗣破山海明。明崇禎九年(1636)秋,至天童寺參謁圓悟而大悟,回萬峰受印可。永曆元年(1647),為避難赴遵義;三年,改稱江西樂安江上之龍興禪院為禹門,以為道場,集四方禪師講傳十二年,門人徹綱等記其間之德業行實,作成紀年錄一卷。師嘗採錄蜀地古今僧俗一○一○人之法語行實等,歷三十餘年,集成錦江禪燈二十卷及目錄一卷(1672)。康熙三十四年示寂,世壽八十六。其遺作有語錄十二卷、里中行一卷、青松詩集一卷、雜著文二卷。其法嗣有雲南半生本襄、懶石聆禪及貴州月幢徹了。〔新續高僧傳卷二十四、明季滇黔佛教考卷一、卷二〕
; (通醉) Thiền tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người ở Nộigiang, tỉnh Tứxuyên, họ Lí, tự Trượng tuyết. Sư lễ ngài Thanh nhiên ở núi Cổ tự cầu xuất gia và được độ. Một hôm, sư đọc kinh Pháp hoa đến câu (Đại 9, 9 thượng): Dù chỉ đưa một tay lên, hoặc lại hơi cúi đầu (...) cũng đều thành Phật đạo liền kỳ vọng đắc đạo, nên sư đến núi Nga mi tu niệm. Sau, sư nghe biết đạo phong ngài Mật vân Viên ngộ, bèn chuyển sang tu thiền, ở ẩn tại núi Cổ tự để đọc ngữ lục của các thiền sư, tham yết đệ tử nối pháp của ngài Viên ngộ ở Vạn phong là Thiền sư Phá sơn Hải minh. Mùa thu năm Sùng trinh thứ 9 (1636), sư đến chùa Thiên đồng tham yết ngài Viên ngộ được đại ngộ, sư trở về Vạn phong được thiền sư Hải minh ấn khả. Niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu (1647), sư lánh nạn đến Tuân nghĩa; năm Vĩnh lịch thứ 3 (1649), sư đổi thiền viện Long hưng ở thượng lưu sông An lạc tại tỉnh Giang tây thành Vũ môn và lấy đó làm đạo tràng hoằng dương Thiền pháp, nhóm các Thiền sinh từ khắp nơi về giảng truyền suốt 12 năm, các học trò sư như Triệt cương... ghi chép hạnh nghiệp của sư trong thời gian này mà tập thành Kỉ niên lục 1 quyển. Sư từng gom chép các pháp ngữ và hành trạng của tăng tục xưa nay gồm 1010 vị, trải hơn 30 năm, tập thành bộ Cẩm giang thiền đăng 20 quyển và mục lục 1 quyển (1627). Năm Khang hi 34 (1695) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngữ lục 12 quyển, Lí trung hành 1 quyển, Thanh tùng thi tập 1 quyển, Tạp trứ văn 2 quyển. [X. Tân tục cao tăng truyện Q.24; Minh quí Điềnkiềm Phật giáo khảo Q.1, 2).
thông tuệ
Supernatural powers and wisdom, the former being based on the latter.
; See Thông Huệ.
Thông Tải
(通載, Tsūsai): xem Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai) ở trên.
thông vi
4805(1594~1657)明代臨濟宗僧。浙江嘉興人,俗姓張。字萬如,世稱萬如通微禪師。年十九,於興善寺出家受具足戒。初謁聞谷大師,復歷參諸名宿,一日偶閱楞嚴經(大一九‧一一一中):「諸可還者,自然非汝;不汝還者,非汝而誰?」似有所得,遂往金粟寺參密雲圓悟,久而未契。一日入城,見路旁人家毆叱小廝(卍續一四一‧二○二上):「看你藏在那裡去?」師不覺通身踴躍而得悟,後嗣圓悟之法。崇禎十三年(1640)開法如如院,後移住莆州之曹山,復遷往龍池山,闡化十餘年。清順治十四年示寂,世壽六十四。著有萬如微禪師語錄十卷,今收於明續藏第七十冊。〔五燈會元續略卷八、五燈全書卷六十六、續指月錄卷十九〕
; (通微) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, họ Trương, tự là Vạn Như, người đời gọi sư là Vạn Như Thông Vi thiền sư. Năm 19 tuổi, sư xuất gia và thụ giớiCụ túc ở chùa Hưng thiện. Ban đầu, sư tham yết ngài Văn cốc, lại lần lượt tham yết các bậc danh túc. Một hôm, sư tình cờ xem kinh Lăng nghiêm đến câu (Đại 19, 111 trung): Cái gì trả về được thì tự nhiên chẳng phải là ông, cái không trả về được chẳng phải ông thì là ai? tựa hồ có chỗ được. Sư bèn đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, nhưng qua thời gian khá lâu mà không khế hợp. Một hôm, sư vào thành, thấy người nhà bên đường đánh mắng đứa ở (Vạn Tục 141, 202 thượng): Nào! Xem mày giấu ở đâu?, sư bỗng toàn thân hớn hở được ngộ,sau được nối pháp ngài Viên ngộ. Năm Sùng trinh 13 (1640), sư khai pháp ở viện Như như, sau dời đến ở Tào sơn tại Bồ châu, sau lại dời đến núi Longtrì hoằng hóa hơn 10 năm. Năm Thuận trị 14 (1657) đời Thanh, sư thị tịch,thọ64 tuổi. Sư có tác phẩm: Vạn như Vi thiền sư ngữ lục 10 quyển, hiện được thu vào Minh tục tạng tập 70. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng toàn thư Q.66; Tục chỉ nguyệt lục Q.19].
thông vinh
Thiền Sư Thông Vinh—Zen Master Thông Vinh—Thiền sư Việt Nam, quê ở Hải Dương. Thuở nhỏ ngài xuất gia tại chùa Hàm Long. Về sau, ngài theo làm đệ tử Hòa Thượng Phúc Điền và trở thành Pháp tử đời 44 dòng Lâm Tế. Phần lớn cuộc đời ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch hồi nào và ở đâu không ai biết—A Vietnamese Zen master from Hải Dương. He left home at his young age to go to Hàm Long Temple to become a monk. Later, he became a disciple of Most Venerable Phúc Điền. He was the Dharma heir of the 44th generation of the Linn-Chih Zen Sect. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. His whereabout and when he passed away were unknown.
thông vân
4805(1594~1663)明代臨濟宗僧。江蘇人,俗姓徐。字石奇,世稱石奇通雲禪師。自幼多疾,乃至南廣寺出家,學貫內外。偶覽江蘇嘉定護國寺壁上中峰明本所書之偈有感,遂參顯聖寺之湛然圓澄,復謁密雲圓悟,屢呈所見,然皆為圓悟所叱,一日入室尚未啟口,圓悟舉棒便打,師遂大徹大悟,頓脫疑滯。崇禎十四年(1641),出住於浙江靈鷲禪寺,大弘法化。歷住天台景星巖淨居禪寺、浙江雪竇山資聖寺、普潤禪院、香山禪寺、浙江永嘉頭陀山之密印禪寺等。清順治十七年(1660)復歸南廣。康熙二年欲東歸雪竇山,未幾疾作而化,世壽七十。著有雪竇石奇禪師語錄十五卷。〔高僧摘要卷三、五燈嚴統卷二十四、五燈全書卷六十六〕
; (通雲) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người tỉnh Giangtô, họ Từ, tự Thạch kì, người đời gọi sư là Thạch kì Thông vân thiền sư. Từ nhỏ, sư đã nhiều bệnh. Sau, sư cầu xuất gia ở chùa Nam quảng, học thông nội điển và ngoại điển. Một hôm, tình cờ sư xem bài kệ do ngài Trung phong Minh bản viết trên vách chùa Hộ quốc ở huyện Gia định, tỉnh Giang Tô mà có cảm ngộ, sư bèn đến tham yết ngài Trạm nhiên Viên trừng chùa Hiển thánh, rồi lại tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, thường trình lên chỗ thấy biết của mình, nhưng lần nào cũng bị ngài Viên ngộ quát mắng. Một hôm, sư vừa bước vào thất chưa kịp mở miệng thì ngài Viên ngộ đã giơ gậy lên đánh, sư liền đại ngộ, những điều nghi ngờ trước nay bỗng tan biến hết. Năm Sùng trinh 14 (1641), sư trụ Linh thứu thiền tự ở tỉnh Chiết giang, mở rộng Thiền pháp. Sau, sư còn lần lượt hoằng pháp, giáo hóa ở các chùa như Tịnh cư thiền tự ở núi Cảnh tinh thuộc huyện Thiên Thai, chùa Tư Thánh, núi Tuyết Đậu, Phổ Nhuận thiền viện, Hương Sơn thiền tự, Mật ấn thiền tự, núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang... Năm Khang Hi thứ 2 (1663) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 70 tuổi. Sư có tác phẩm: Tuyết đậu Thạchkì thiền sư ngữ lục 15 quyển.
thông vấn
4802(1604~1655)明末清初臨濟宗僧。江蘇吳江人,俗姓俞。號箬菴,世稱箬菴通問禪師。其父晚憂無子,遂於鷲峰寺設無遮大會百日,師應禱而生。幼即失恃,年十六始奮志讀書,博覽群籍,一日偶過山寺閱楞嚴經,若有所悟,遂往磬山謁天隱圓修,久而未契;二十四歲為婚事所逼,乃星夜投南澗理安寺法雨佛石落髮,復師事金粟寺密雲圓悟,不得所契,旋歸磬山,一日聞大風迸崖而有所省悟。 後住理安寺,復移夾山,往來於江東諸地,以興復廢寺、安輯道侶為要務。清順治十二年示寂於江蘇南潯應天寺,世壽五十二。著有五會語錄十二卷、續燈存槀二十卷、磬室後錄一卷等行世。〔正源略集卷二、五燈全書卷六十八、續指月錄卷十九〕
; (通問) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Ngôgiang, tỉnh Giangtô, họ Du, hiệu Nhượcam, người đời gọi sư là Nhược am Thôngvấn thiền sư. Thân phụ sư đã nhiều tuổi, lo không con nên đến chùa Thứu phong mở hội Vô già 100 ngày cầu tự, sau sinh ra sư đúng theo sở nguyện. Lúc ấu thơ sư đã mất nơi nương tựa, năm 16 tuổi mới lập chí học hành, đọc nhiều sách vở. Một hôm, tình cờ sư xem kinh Lăng nghiêm, tựa hồ như có chỗ ngộ, sư liền đến Khánh sơn tham yết ngài Tham ẩn Viên tu, đã lâu mà không khế hợp. Năm 24 tuổi sư bị ép buộc kết hôn, bèn nửa đêm đi đến chùa Lí An tại Nam Giản lễ ngài Pháp vũ Phật thạch cầu xuất gia, rồi đến chùa Kim túc thờ ngài Mật vân Viên ngộ làm thầy, không được khế hợp, sư lại trở về Khánh sơn. Một hôm, sư nghe tiếng gió thổi ngoài sườn núi mà có chỗ tỉnh ngộ. Sau, sư trụ chùa Lí an, lại dời đến Giáp sơn, qua lại các vùng thuộc Giang đông, lấy việc khôi phục những ngôi chùa đã hoang phế và tạo hoàn cảnh yên ổn cho tăng ni tu học làm nghĩa vụ chính. Năm Thuận Trị 12 (1655) đời Thanh, sư thị tịch ở chùa Ứngthiên tại Namtầm, tỉnh Giang Tô, hưởng thọ 52 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Ngũ hội ngữ lục 12 quyển, Tục Đăng tồn cảo 20 quyển, Khánh thất hậu lục 1 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.2; Ngũ đăng toàn thư Q.68; Tục chỉ nguyệt lục Q.19].
thông điệp
Message—Diplomatic note.
thông điệp bất tử
Immortal message—The Buddha's teaching is an immortal message to all of us.
thông điệp vượt thời gian
Timeless message.
thông đạo quán
4806北周武帝建德三年(574)五月,廢佛道二教,為培養保存二教根本義之人士,遂置通道觀。因二教已遭廢毀,乃由還俗僧侶道士之中選出優秀人才為通道觀學士,著衣冠笏履,講老莊周易,兼亦鑽研佛經。佛教僧侶中為通道觀學士者有普曠、任道林、彥琮等。於建德七年武帝崩時,通道觀仍存,何時廢止則不確知。〔續高僧傳卷二十三道安傳、大唐內典錄卷五、周書卷五武帝紀、漢魏兩晉南北朝佛教史第十四章(湯用彤)〕
; (通道觀) Tháng 5 năm Kiến đức thứ 3 (574) đời Vũ đế nhà Bắc Chu phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo, vì muốn bồi dưỡng và bảo tồn nghĩa lí căn bản của 2 tông giáo này nên các nhân sĩ thiết lập Thông đạo quán, chọn các nhân tài ưu tú trong giới tăng lữ, đạo sĩ đã bị bắt buộc hoàn tục trong pháp nạn để làm học sĩ ở Thông đạoquán, mặc áo, đội mũ, cầm hốt, đi giày, giảng Lão Trang, Chu dịch, kiêm nghiên cứu kinh Phật. Những học giả trong Thông đạo quán thuộc giới tăng lữ Phật giáo thì có Phổ khoáng, Nhậm đạo lâm, Ngạn tông...Khi Vũ đế mất vào năm Kiến đức thứ 7 (578) thì Thông đạo quánvẫn còn, về sau, nó bị bãi bỏ vào lúc nào thì không được biết. [X. Truyện ngài Đạo an trong Tục cao truyện Q.23; Đại đường nội điển lục Q.5; Vũ đế kỉ trong Chu thư Q.5; Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo chương 14].
thông đạt
To pervade, perceive; unimpeded, universal.
; Hiểu rõ—To pervade—To perceive—To understand thoroughly.
thông đạt bồ đề tâm
Đạt được Bồ Đề Tâm nhờ vào vị Thầy (A Xà Lê) dạy dỗ, một trong Ngũ Tướng Thành Thân—To attain to the enlightened mind; the stage where one understands the truth, one of the five stages in Vairocana Buddhahood. ** For more information, please see Ngũ Chuyển, and Ngũ Tướng Thành Thân.
thông đạt phật đạo
Entering the Buddha Path—Theo Kinh Duy Ma Cật, chương tám, phẩm Phật Đạo, cư sĩ Duy Ma cật đã nói về “Thông Đạt Phật Đạo” như sau—According to the Vimalalkirti Sutra, chapter eighth, the Buddha Path, Upasaka Vimalakirti explained to Manjusri Boshisattva about “Entering the Buddha Path” as follows: • Bấy giờ ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo?”—Manjusri asked Vimalakirti: “How does a Bodhisattva enter the Buddha path?” • Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát thực hành phi đạo (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.”—Vimalakirti replied: “If a Bodhisattva treads the wrong ways (without discrimination) he enters the Buddha path.” • Văn Thù Sư Lợi hỏi: “Thế nào là Bồ Tát thực hành phi đạo?”—Manjusri asked: “What do you mean by a Bodhisattva treading the wrong ways?” • Duy Ma Cật đáp: “Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỷ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh sắc và vô sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn xẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện pháp giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết lòng sợ sệt; hiện làm thù hận mà thường từ bi nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng như cầu đó; hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong dòng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na la diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bệnh mà đoạn hẳn gốc bệnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn đứt nhơn duyên; hiện vào Niết Bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.”—Vimalakirti replied: “(In his work of salvation) if a Bodhisattva is free from irritation and anger while appearing in the fivefold uninterrupted hell; is free from the stain of sins while appearing in (other) hells; is free from ignorance, arrogance and pride while appearing in the world of animals; is adorned with full merits while appearing in the world of hungry ghosts; does not show his superiority while appearing in the (heavenly) worlds of form and beyond form; is immune from defilements while appearing in the world of desire; is free from anger while appearing as if he were resentful; uses wisdom to control his mind while appearing to be stupid; appears as if he were greedy but gives away all his outer (i.e. money and worldly) and inner (i.e. bodily) possessions without the least regret for his own life; appears as if he broke the prohibitions while delighting in pure living and being apprehensive of committing even a minor fault; appears as if he were filled with hatred while always abiding in compassionate patience; appears as if he were remiss while diligently practicing all meritorious virtues; appears as if he were disturbed while always remaining in the state of serenity; appears as if he were ignorant while possessing both mundane and supramundane wisdoms; appears as if he delighted in flattering and falsehood while he excels in expedient methods in conformity with straightforwardness as taught in the sutras; shows arrogance and pride while he is as humble as a bridge; appears as if he were tormented by troubles while his mind remains pure and clean; appears in the realm of demons while defeating heterodox doctrines to conform with the Buddha wisdom; appears in the realm of sravakas where he expounds the unheard of supreme Dharma; appears in the realm of pratyeka-buddhas where he converts living beings in fulfillment of great compassion; appears amongst the poor but extends to them his precious hand whose merits are inexhaustible; appears amongst the crippled and disabled with his own body adorned with the excellent physical marks (of the Buddha); appears amongst the lower classes but grows the seed of the Buddha nature with all relevant merits; appears amongst the emaciated and ugly showing his strong body to the admiration of them all; appears as an old and ill man but is actually free from all ailments with no fear of death; appears as having all the necessities of life but always sees into impermanence and is free from greed; appears to have wives, concubines and maids but always keeps away from the morass of the five desires; appears amongst the dull-witted and stammerers to help them win the power of speech derived from the perfect control of mind; appears amongst heretics to teach orthodoxy and deliver all living beings; enters all worlds of existence to help them uproot the causes leading thereto; and appears as if entering nirvana but without cutting off birth and death; Manjusri, this Bodhisattva can tread heterodox ways because he has access to the Buddha path.”
thông đạt tâm
4807五相成身觀之第一。又作通達本心。全稱通達菩提心。指行者初蒙阿闍梨之開示而觀察通達本有性德之菩提心,修心月輪觀法之位。即觀察自心,住於三摩地,口誦自性成就真言,觀自心形如月輪,此月輪於輕霧中。蓋輕霧表徵無明,月輪表徵本有之清淨菩提心;行者依此而觀,漸拂無明妄想之念。(參閱「五相成身觀」1120)
; To attain to the enlightened mind; the stage of one who has passed through the novitiate and understand the truth.
; See Thông đạt Bồ đề tâm.
; (通達心) Cũng gọi Thông đạt bản tâm. Gọi đủ: Thông đạt bồ đề tâm. Một trong Ngũ tướng thành thân quán. Chỉ cho hành giả đầu tiên nhờ sự khai thị của vị A xà lê mà quán xét thông suốt tâm bồ đề sẵn có đầy đủ tính đức của mình. Đây là giai vị tu pháp quán Tâm nguyệt luân. Tức quán tưởng tâm mình trụ trong Tam ma địa, miệng tụng chân ngôn Tự tính thành tựu; quán tưởng hình dáng tâm mình giống như vầng trăng, ẩn trong lớp sương mỏng. Sương mỏng tượng trưng cho vô minh, vầng trăng tượng trưng cho tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có; hành giả cứ theo đó mà quán thì dần dần sẽ gột sạch vọng tưởng vô minh. (xt. Ngũ Tướng Thành Thân Quán).
thông đạt vị
4807通達真如之位。又作見道位、見位、見地。乃唯識宗所說悟入「唯識真如」的五種修行階位(唯識五位)之一。即菩薩證得無分別智,斷離能取與所取之一切分別心,體會平等法界之修行階位。即於前一階位「加行位」之「世第一法」(四善根位之一)中,依於無間定,生起上品之如實智,印證能取、所取之空,而得根本無分別智,遠離有所得之心,了證二空所顯之真理,斷除二障之分別隨眠,而正住於唯識之實性,稱為通達位。 依成唯識論卷九,此位有真見道、相見道之別。所謂「真見道」,為根本無分別智,實證唯識性之真如,斷除分別之隨眠,雖經多剎那方得究竟,然以其相相等,故總稱一心真見道;所謂「相見道」,為後得智所攝,即證唯識之相。相見道又有行相相見道、九心相見道之別。行相相見道更分三心相見道與十六心相見道。菩薩若入真、相二種見道時,即生如來之家而住於極喜地(初地)。〔大乘莊嚴經論卷二真實品〕(參閱「見道」3000)
; (通達位) Cũng gọi Kiến đạo vị, Kiến vị, Kiến địa.Chỉ cho giai vị thông đạt chân như, là 1 trong 5 giai vị tu hành(Duy thức ngũ vị) để ngộ nhập Chân như duy thức do tông Duy thức lập ra. Tức ở giai vị này, Bồ tát đã chứng được trí Vô phân biệt, dứt trừ tất cả tâm phân biệt về năng thủ, sở thủ, thể nhập pháp giới bình đẳng. Nghĩa là trongThế đệ nhất pháp(1 trong 4 giai vị Thiện căn), hành giả nương theo định Vô gián, sinh khởi trí như thực thượng phẩm, ấn chứng lí không của năng thủ, sở thủ, được trí vô phân biệt căn bản, xa lìa tâm sở đắc(tâm còn thấy có cái để được), chứng biết rõ ràng chân lí Nhân không, Pháp không, đoạn trừ tùy miên phân biệt về Phiền não chướng và Sở tri chướng, chân chính trụ trong thực tính Duy thức gọi là Thông đạt vị. Theo luận Thành duy thức quyển 9 thì giai vị này có Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo khác nhau. Chân kiến đạo là trí vô phân biệt căn bản, thực chứng chân như của tính Duy thức, đoạn trừ Tùy miên phân biệt, tuy trải qua nhiều sát na mới được rốt ráo nhưng tướng của các sát na ấy bằng nhau, cho nên gọi chung là Nhất tâm chân kiến đạo. Còn Tướng kiến đạo thì thuộc về trí Hậu đắc, tức chứng được tướng Duy thức. Tướng kiến đạo lại còn có Hành tướng tướng kiến đạo và Cửu tâm tướng kiến đạo khác nhau. Hành tướng tướngkiến đạo lại chia làm 3 tâm tướng kiến đạo và 16 tâm tướng kiến đạo. Khi Bồ tát vào Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo thì liền sinh trong nhà Như lai, trụ nơi Cực hỉ địa (Sơ địa). [X. phẩm Chân thực trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận]. (xt. Kiến Đạo).
thông đồ
4805即一般、共通之義。「別途」之對稱。一般佛教共通之義理教說,稱為通途教義;若限於特定宗派,則稱為別途教義。別途教義乃一宗獨特之教說,故較著重異於他宗之妙談。如凡夫往生報土,即淨土教別途之說。
; Con đường rộng mở (đưa đến Niết Bàn)—Thoroughfare, an open way that leads to nirvana.
; (通途) Đối lại: Biệt đồ. Con đường chung. Nghĩa là phổ thông, cộng thông. Nói chung, nghĩa lí, giáo thuyết cộng thông của Phật giáo, gọi là Thông đồ giáo nghĩa; nếu giáo nghĩa chỉ hạn cuộc trong một tông phái đặc biệt, nhất định thì gọi là Biệt đồ giáo nghĩa. Biệt đồ giáo nghĩa là giáo thuyết riêng của một tông, cho nên đặc biệt chú trọng hơn về những điểm khác với diệu tâm của các tông khác. Như chủ trương phàm phu vãng sinh Báo độ chính là giáo thuyết biệt đồ của tông Tịnh độ.
thông đồng
To collute.
thông độ tự
4800韓國佛教三十一本山之一。號稱靈鷲山。位於韓國慶尚南道梁山郡下北面芝山里。慈藏開山創建。慈藏於新羅善德女王仁平五年(貞觀十年,636)來唐,登五臺山之北臺祈求文殊,感得四句偈、佛袈裟、佛頂骨、佛舍利、貝葉經等。翌年,入終南山雲際寺習律法,貞觀十七年(643)回國。仁平十五年,善德女王與慈藏同來此山,慈藏於九龍淵說法後,即於此築金剛戒壇和伽藍,安奉由唐地求回之佛舍利、佛牙、佛頂骨、貝葉經等。 通度寺之命名,或說此山之氣象通西域、印度,或說因慈藏設戒壇通受度牒,或說為通方度人,具「通達萬法,濟度一切眾生」之悲願,故稱通度寺。後高麗光宗十六年(965),王親至此寺,禮拜佛袈裟,營造皇華閣、金堂、甘露堂、明月房等。辛缮王三年(1377)四月、五月,海寇二次來犯,寺僧持月松護奉佛舍利逃奔至京城,太后命暫安奉於松林寺。朝鮮宣祖二十五年(1591),日軍來犯,堂舍燒毀。三十六年,松雲惟政之門人敬岑、泰然、道淳等重修舍利塔,還置舍利。肅宗三十年(1704),性能重建舍利塔及塔碑。其後景宗、英宗、正宗、憲宗、哲宗、李太王等時代,陸續增建各堂舍,寺門繁榮。 今有佛舍利塔、大雄殿、應真殿、極樂寶殿、靈山殿、藥師殿、觀音殿、龍華殿、海藏寶閣、大光明殿、冥府殿、獨聖閣、山靈閣、一柱門、天王門、不二門、普光殿、伽藍殿、梵鐘閣、萬歲樓、華嚴殿(現為宗務所)、住持室、圓通所、甘露堂、皇華閣、影子殿、世尊碑閣、一爐香閣、沐浴室、源宗第一禪院、證師壇、講師室、中持殿、中興寮(今應接室)、凝香閣、金堂房、明月寮、九河校舍等。山中尚有安養、翠雲、修道、泗冥、瑞雲、白蓮、玉蓮、慈藏、鷲棲、極樂、毘盧、白雲等十二庵。 寺境周廣四里,分寺六十五座,並設有專門講院、學院、高等禪院、養老院等。主要之寺寶有:金字法華經、三藏西行路程記、金剛杵、青銅香爐、甘露瓶、舊印刷木版十一部帙等。通度寺與海印寺、松廣寺齊名,並稱韓國佛寺之三寶。通度寺因供奉佛舍利,被稱為佛寶寺;海印寺因藏八萬塊大藏經木刻版,被稱為法寶寺;松廣寺因僧眾最多,為禪宗之修行道場,被稱為僧寶寺。〔續高僧傳卷二十四、朝鮮寺剎史料卷上、朝鮮佛教通史、朝鮮佛教の寺と歷史〕
Thông 聰
[ja] ソウ sō ||| (1) Wise, sharp, quick. (2) Excellent hearing, quick understanding. => 1. Thông thái, thông minh, nhanh nhẹn. 2. Nghe rõ, hiểu nhanh.
thù
To kill, exterminate; different; very.
; 1) Đặc thù: Surpassing—Extraordinary—Special. 2) Đơn vị cân lượng tương đương với một phần hai mươi bốn (1/24) lượng: A weight equal to the tweny-fourth part of a tael. 3) Đồng tiền thời cổ: A small ancient coin. 4) Giết hại: To kill. 5) Hiếm hoi: Rare. 6) Khác biệt: Different. 7) Tàn sát: To exterminate. 8) Thù địch: To be hostile. 9) Thù Tạc: Đền đáp—To requite.
thù diệu thân
Surpassingly wonderful body, i.e. Padmottara, the 729th Buddha of the present kalpa.
; Sắc thân thù diệu, tên của Thù Thắng Diệu Thân Như Lai, vị Phật thứ 729 trong 1000 vị Phật trong Hiền kiếp—Surpassingly wonderful body, i.e. Padmottara, the 729th Buddha of 1000 Buddhas of the present kalpa.
Thù diệu 殊妙
[ja] シュミョウ shumyō ||| Extraordinarily wonderful; outstanding wonders; peculiarly fine. 〔法華經、T 262.9.3c1〕 => Kỳ diệu phi thường; kỳ diệu vô cùng; vi diệu khác thường.
thù hoàn
To pay a vow—To repay.
thù hằn
Revengeful—Vindictive—Hostile.
thù nghịch
Hostile—Unfriendly.
thù nhân cảm quả
5685謂酬報因行功德而感得果報。三身中之報身即爲酬因感果之身。(參閱「三身」555、「因果」2293)
; (酬因感果) Đền đáp công đức của nhân hạnh mà cảm được quả báo. Báo thân trong ba thân tức là thân Thù nhân cảm quả. (xt. Tam Thân, Nhân Quả).
thù oán
Hatred.
Thù thường 殊常
[ja] シュジョウ shujō ||| Extraordinary. => Khác thường. .
thù thắng
4144事之超絕而稀有者,稱為殊勝。如吾人常讚歎極樂淨土因緣殊勝,因阿彌陀佛發四十八大願普度眾生,凡有一念之善者皆可往生淨土,蓮花化生,實乃稀有之事。
; Xem Tăng thượng.
; Rare, extraordinary, surpassing, as the thù thắng điện and trì surpassing palace and lake of Indra.
; Visesa (p & skt)—Lỗi lạc—Siêu việt nhất trên đời—Vượt trội—Xuất chúng—Distinction—Exalted—Excellence—Extraordinary—Rare—Superiority—Surpassing—Transcendent.
; (殊勝) Tính cách siêu tuyệt, hiếm có của một sự kiện gọi là Thù thắng. Như trong kinh thường tán thán Tịnh độ cực lạc, vì đức Phật A di đà đã phát 48 đại nguyện độ khắp các chúng sinh, bất cứ ai, hễ có một niệm thiện thì đều được vãng sanh, hóa sinh trong hoa sen, đó thật là một việc hiếm có.
thù thắng trì
4144位於帝釋殊勝殿前之如意池。〔六波羅蜜經卷三、俱舍論卷十一〕
; Ao Thù Thắng hay ao báu ở ngay trước cung điện của vua Trời Đế Thích (theo Câu Xá Luận, trong tòa thành lớn nơi trời Đế Thích đóng đô, có điện Thù Thắng, trước điện có ao Thù Thắng, với vô số châu báu đầy đủ trang nghiêm, che khắp Thiên cung)—The surpassing lake of Indra.
; (殊勝池) Chỉ cho cái ao nằm ở phía trước điện Thùthắng của trời Đếthích. [X. kinh Lục ba la mật Q.3; luận Câu xá Q.11].
thù thắng điện
4144帝釋之宮殿。殿中有種種妙寶校飾,具足莊嚴,蔽餘天宮,故稱殊勝殿。〔俱舍論卷十一〕
; Cung điện của vua Trời Đế Thích—The surpassing palace of Indra.
; (殊勝殿) Cung điện của trời Đếthích. Trong điện có nhiều bảo vật vi diệu trang sức đầy đủ trang nghiêm, hơn hẳn các thiên cung khác, nên gọi là Thù thắng.
Thù thắng 殊勝
[ja] シュショウ shushō ||| (1) Especially excellent (viśesa, viśista, pranīta). (2) The most excellent among a group of things. (3) Enlightenment. => 1. Đặc biệt, ưu tú (s: viśesa, viśista, pranīta). 2. Tuyệt hảo nhất trong một nhóm vật. 3. Giác ngộ.
thù trí a la bà
Jyotirasa (skt)—Dịch là “quang vị” hay mùi vị của ánh sáng; người ta nói đây là tên riêng của Kharostha—Translated as the flavour of the light, said to be the proper name of Kharostha.
thù trưng già
Một trong những loại khổ hạnh, mặc rách rưới và ăn những thứ rác bỏ—One of several kinds of ascetics who dressed in rags and ate garbage.
thù tạc
To offer wine.
thù vặt
Thù ghét ai vì chuyện nhỏ nhặt—To bear a grudge against someone for a petty thing.
Thù xưng 殊稱
[ja] シュショウ shushō ||| Another name; a different name (for the same thing). => Tên gọi khác (của cùng một vật).
thù y
5945銖,爲古代稱量輕重之器具名,指極輕極微之單位。故以銖衣比喻至輕之衣。佛經謂諸天人之衣,有重自數銖至半銖者不等。
; Chiếc áo rất nhẹ của chư Thiên—The gossamer clothing of the devas, or angels.
; (銖衣) Áo rất nhẹ. Thù là tên của một dụng cụ dùng để cân nặng, nhẹ ở Ấn độ thời xưa, chỉ cho đơn vị cực nhỏ, nhẹ. Cho nên Thù y được dùng để ví dụ cái áo rất nhẹ. Kinh Phật cho rằng áo của các người trời có trọng lượng từ vài thù đến nửa thù.
thù ân
Exceptional favour.
thù đặc
Particular, very special.
thù để sắc ca
Jyotiska (skt)—See Thụ Đề Ca.
thù địch
Adversary—Enemy—Foe.
Thù 殊
[ja] シュ shu ||| (1) To kill, to exterminate. (2) To distinguish, to define. (3) Different, unlike. Really, very, extremely. (4) Especially, exceptionally, very, extremely. => 1. Giết hại, tiêu diệt. 2. Phân biệt, định rõ. 3. Khác, không giống. Thực ra, rất, cực kỳ. 4. Đặc biệt , khác thường, tột cùng, cực độ.
thùng rác
Garbage box.
thùy
1) Rũ xuống—Droop—Let down—Pass down. 2) Ngủ: To sleep.
thùy dục
Desire for sleep.
thùy ngữ
Thùy Thị—Tuyên bố—To make an announcement.
thùy phát
(垂髮) Tóc xõa. Nghĩa là tóc rủ xuống 2 vai. Trong các bức vẽ hình tượng Phật, Bồtát, thông thường những vị có hình tướng Bồ tát thì ngoài búi tóc trên đỉnh đầu, thường có vị rủ tóc xuống 2 vai, như Minh vương bất động nói trong phẩm Cụ duyên, kinh Đại Nhật quyển 1. Hình tượng Minh vương này là: Tóc xõa xuống vai bên trái, 1 mắt nhìn trừng trừng, hiện tướng lẫm liệt, giận dữ, có lửa hừng bao quanh thân. Nhưng theo luật qui định thì Bồtát xuất gia và tỉ khưu đều phải cạo tóc chứ không được để tóc dài. (xt. Thế Phát).
Thùy Thu
(垂秋): đến gần mùa Thu, tức chỉ cho sự tàn lụi, băng hoại, suy tàn, thời mạt pháp. Phật pháp thùy Thu (佛法垂秋) nghĩa là đang thời kỳ mạt pháp. Như trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 6 có câu: “Tượng Pháp thùy Thu, danh lợi căn thâm, như tượng một thâm nê, châu trầm cự hải (像法垂秋、名利根深、如象沒深泥、珠沉巨海, thời Tượng Pháp sắp tàn, gốc danh lợi sâu nặng, như voi lún bùn sâu, hạt châu chìm biển lớn).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 13 có đoạn: “Thiết niệm đạo pháp thùy Thu, chánh tông đạm bạc, lại ngô sư thừa đại bi nguyện luân, cao thụ pháp tràng, tông thuyết kiêm sướng, Chỉ Quán song vận, Tỳ Ni độc yết, Tịnh Độ chuyên môn, sử cuồng tử tri quy (切念道法垂秋、正宗澹薄、賴吾師乘大悲願輪、高豎法幢、宗說兼暢、止觀雙運、毗尼獨揭、淨土專門、使狂子知歸, thiết nghĩ đạo pháp lu mờ, chánh tông phai nhạt, nhờ Thầy ta nương bánh xe nguyện đại bi, dương cao cờ pháp, tông môn và giáo thuyết cùng tuyên xướng, Chỉ và Quán đều vận hành, Luật nghi xem trọng, Tịnh Độ chuyên môn, khiến cho người con điên biết quay về).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (沙彌律儀毗尼日用合參, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) có câu: “Cao tăng dĩ Phật pháp vi kỷ nhiệm, cố văn ngọ hậu cử thoán, tri pháp vận thùy Thu, cố thế khấp nhi bi thán dã. Kim nhân thể nhược đa bệnh, dục số số thực giả, hoặc bất năng trì thử giới; cố cổ nhân xưng vãn thực vi dược thạch, thủ liệu bệnh chi ý dã (高僧以佛法爲己任、故聞午後舉爨、知法運垂秋、故涕泣而悲嘆也、今人體弱多病、欲數數食者、或不能持此戒、故古人稱晚食爲藥石、取療病之意也, vị cao tăng lấy pháp Phật làm trách nhiệm của mình, nên sau buổi trưa nghe nấu ăn, mới biết vận thế Phật pháp suy tàn, vì vậy rơi lệ mà buồn than vậy. Người đời nay thân thể suy yếu nhiều bệnh, muốn ăn nhiều lần, nên không thể giữ giới này được, vì vậy người xưa gọi buổi ăn chiều là Dược Thạch, với ý để trị bệnh vậy).”
thùy thị
See Thùy Ngữ.
; (垂示) Cũng gọi Thùy ngữ, Thùy thuyết, Thị chúng. Thùy thuyết thị chúng (dạy bảo đại chúng). Trong Thiền lâm, vị thầy giảng nói tông yếu cho đệ tử, đại chúng nghe là Thùythị. Khi giảng dạy pháp yếu, trước dùng các câu ngắn gọn, sáng sủa để nêu rõ những điểm then chốt muốn nói, cũng gọi là Thùy thị, như Bích nham lục, Thung dung lục... đều trước hết thùy thị, kế nêu bản tắc, rồi sau cùng mới bình xướng. Ngoài ra, sau khi thùy thị, vị thầy tiếp nhận những lời thưa hỏi của người học để giải đáp những nghi nan của họ, gọi là Sách ngữ, Sách thoại, Câu ngữ, Câu thoại. [X. phẩm Định tuệ trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục; Thiền lâm bảo huấn; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thùy thủ
(垂手) Đối lại: Bất thùy thủ. Rủ tay xuống. Trong Thiền lâm, khi tiếp dắt người học, bậc thầy dùng môn hướng hạ(tức Đệ nhị nghĩa môn), ân cần, tha thiết chỉ dạy với tất cả niềm thương mến, giống như cha mẹ rủ đôi tay vỗ về con trẻ, cho nên gọi là Thùy thủ. Cùng nghĩa với dụng ngữ này còn có Nhập triềnthùy thủ, Thùy thủ vị nhân, Bất thùy thủ(nghĩa là trong tâm chỉ có chí thượng cầu bồ đề chứ không có nguyện hạ hóa chúng sinh). Bởi vậy, nếu dùng cả 2 dụng ngữ Thùy thủ bất thùy thủ làm một thì tức dùng thay cho dụng ngữ Xuất thế bất xuất thế. Ngoài ra, Thùy thủ còn chỉ cho chức vị của 2 ban Đông, Tây, vì chức vị của 2 ban này đứng ở 2 bênTrụ trì, giống như 2 tay của vịTrụ trì rủ xuống. [X. Bích Nham lục tắc 2, tắc 4].
thùy tích
Từ bản địa của chư Phật và chư Bồ Tát mà thị hiện ra nhiều thân thể để tế độ chúng sanh (với dấu tích còn để lại)—Traces—Vestiges—Manifestations or incarnations of Buddhas abd Bodhisattvas in their work of saving the living.
; (垂迹) Từ bản thể(Bản địa), Phật, Bồ tát thị hiện ra các thứ thân hình để cứu độ chúng sinh. Tư tưởng này bắt nguồn từ thuyết Bản tích nhị môn của kinh Pháp hoa và thuyết Bản địa gia trì của kinh Đại nhật, như những điều được nói trong phẩm Thọ lượng của kinh Pháp hoa và trong Tứ trùng mạn đồ la Thai tạng giới của kinh Đại nhật chính là sự biểu hiện đầy đủ tư tưởng này. Pháp thân, Báo thân trong 3 thân Phật là Bản địa, còn Hóa thân là Thùy tích. Đứng về phương diện Thùy tích mà nói thì các trời, các thần ở viện Ngoại kim cương thuộc lớp thứ 4 của Thai tạng giới, kinh Đại nhật, trong tín ngưỡng của Ấn độ từ nghìn xưa, đều là Thùy tích của Đại nhật Như lai. Phật giáo Nhậtbản đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng Bản địa thùy tích này. Vì lúc Phật giáo mới truyền vào Nhậtbản, để dung hợp với tín ngưỡng Thần đạo cố hữu truyền thống của Nhậtbản, các vị cao tăng Nhật bản như Hànhcơ, Tốitrừng, Khônghải... mới đề xướng tư tưởng này, cho rằng Phật và Bồtát của Phật giáo là Phật Bản địa (Phật gốc), còn các thần của Thần đạo Nhật Bản là Phật Thùy tích(Phật ngọn – Phật hóa thân), đó là khởi đầu của tư tưởng Thần Phật tập hợp của Phật giáo Nhật bản. Trường hợp này cũng giống như lúc Phật giáo mới truyền vào Trung quốc. Bấy giờ, để tránh bị tư tưởng Nho gia truyền thống bài xích, nên 1số vị cao tăng đem dung nhiếp những tín điều cơ bản của Phật giáo với Nho gia, như đem Ngũ giới phối hợp với Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.Chú duy ma kinh tự (Đại 38, 327 thượng) nói; Nhưng cửa kín khó mở, Thánh ứng khác nhau, không có Bản địa thì không thể Thùy tích, chẳng nhờ Thùy tích thì không nương vào đâu để hiển Bản địa, Bản, Tích tuy khác, nhưng Bất tư nghị thì là một. (xt. Bản Địa Thùy Tích).
thú
6184梵語 gati,巴利語同。意譯道。指眾生以自己所作之行為(業)所導趨來生之生存或生存世界而言。趣之分類大致有:(一)六趣,指地獄、餓鬼、畜生(傍生)、阿修羅(修羅)、人、天等,又稱六道。(二)五趣,六趣若去除阿修羅則為五趣,又稱五道。大乘多說六趣,說一切有部則說五趣。說五趣時,即將阿修羅含攝於餓鬼、天等趣之中。又五趣亦稱為五惡趣,乃相對於無漏淨土而言,即有漏穢土,亦即迷之世界。(三)將上記之六趣區分為善、惡二類:(1)善趣,即指天、人、阿修羅等三趣,均為善業所生,故稱三善趣,又稱三善道。(2)惡趣,即指地獄、餓鬼、畜生等三趣,均為惡業所生,故稱三惡趣,又稱三惡道。又三惡趣亦稱三塗、三途(塗、途,道之意,又為塗炭之意),即指火塗、刀塗、血塗三者,通常依序相當於地獄、餓鬼、畜生。又三惡趣加阿修羅,則為四惡趣。 此外,有關「趣」之義,諸典籍之詮釋各異。據俱舍論卷八釋為所往之義。大乘義章卷八末載,趣乃相對「因」而言,因能向果,而果為因趣,故稱為趣。又攝大乘論釋(無性)卷四解釋六十二見趣之趣,係指品類之義。(參閱「六道」1298)
; 1) Thú Vật: Animal—Beast. 2) Nơi Đi Đến (đặc biệt về tái sanh): Destination—Destiny especially on rebirth). ** For more information, please see Ngũ Thú.
; (趣) Phạm,Pàli:Gati. Hán dịch: Đạo. Chỉ cho sự sinh tồn hoặc thế giới sinh tồn mà chúng sinh sẽ sinh đến tùy theo những hành vi(nghiệp) do chính họ đã tạo tác. Đại khái, Thú được chia ra mấy loại sau đây: 1. Lục thú(cũng gọi Lục đạo): chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh (bàng sinh) A tu la, người và trời. 2. Ngũ thú(cũng gọi Ngũ đạo): Lục thú nếu bỏA tu la thì thành Ngũ thú. Đại thừa phần nhiều nói Lục thú, Thuyết nhất thiết hữu bộ thì nói Ngũ thú. Khi nói Ngũ thú thìA tu la được thu nhiếp vào các thú ngã quỉ, trời... Ngũ thú cũng gọi là Ngũ ác thú, đối lại với Tịnh độ vô lậu, tức uế độ hữu lậu, cũng chính là thế giới mê lầm. 3. Lục thú trên đây được chia làm hai loại Thiện thú và Ác thú: a. Thiệnthú:Chỉ cho3thú trời, người vàA tu la, đều do nghiệp thiện sinh ra, cho nên gọi là Tam thiện thú, cũng gọi là Tam thiện đạo. b. Ác thú: Chỉ cho 3 thú địa ngục, ngã quỉ và súc sinh, đều do nghiệp ác sinh ra, cho nên gọi là Tam ác thú, cũng gọi là Tam ác đạo. Tam ác thú cũng gọi là Tam đồ(Đồ nghĩa là đường, cũng có nghĩa là cực kì khổ sở, lầm than), chỉ cho hỏa đồ(con đường lửa đốt), đao đồ(con đường dao đâm) và huyết đồ(con đường uống máu), thông thường, theo thứ tự, tương đương với địa ngục, ngã quỉ và súc sinh. Tam ác thú nếu thêmA tu la thì thành Tứ ác thú. Ngoài ra, về nghĩa Thú, các sách vở đều giải thích khác nhau. Luận Câu xá quyển 8 giải nghĩa là nơi đi tới. Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần cuối giải thích Thú là do đối lại với Nhân mà nói, nhân thường hướng tới quả, mà quả thì do nhân thú mới có, vì thế gọi là Thú. Còn nhiếp đại thừa luận thích(Vô tính) quyển 4 thì giải thích chữ Thú trong 62 kiến thú là chỉ cho nghĩa phẩm loại. (xt. Lục Đạo).
thú bác ca
Svaka (S)Một trong 16 vị La hán được Phật phái đi hoằng pháp nước ngoài.
; (戍博迦) Phạm:Jìvaka. Cũng gọi Nhung bác ca, Cù ba ca, Oa ba kiết. Vị La hán thứ 9 trong 16 vị La hán. Vị Thánh này cùng với 900 vị A la hán quyến thuộc cùng ở trong núi Hương túy, giữ gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài ngồi nghiêng trên tảng đá, tay trái cầm quạt, tay phải co 3 ngón, ngửa bàn tayđặt trên đầu gối, ánh mắt rực sáng nhìn đăm đăm về phía trước. Thi hào Tô đông pha khen rằng: Bảy ngày một kiếp, Ba đời sát na; Chăm chỉ nghĩ gì, Co tay ngồi lặng; Ngài Thú Bác CaNgười co đã trụ, Người tin thì chưa. Ai hay trụ giữa co và tin này. Trong 16 vị La hán được truyền ở Tây tạng, ngài Thúbácca được xếp vào vị thứ 15.[X. phẩm Trìchính pháp trong kinh Đại bi Q.2; Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].
thú chủ
Pasupati (skt)—Bát Du Bát Đa. 1) Chúa tể loài thú hay loài súc sanh: Lord of the animals, or herds. 2) Tên của một chi phái ngoại đạo: Name of a non-Buddhist sect.
thú chủ ngoại đạo
ParŪpata (S).
thú chủ ngoại đạo phái
6668梵名 Pāśupata。印度教濕婆派之一。廣義而言,為別於濕婆悉檀派(梵 Śaiva-siddhānta),而專指崇拜濕婆為獸主之宗派。狹義而言,指成立於八世紀以前,古稱大自在天(梵 Māheśvara)外道之教派。該派主張主宰神(濕婆)為動力因(梵 kāraṇa),獸之個人我及自然世界為其結果(梵 kārya)。於此大悟下,勤修瑜伽,履行諸種義務,遵守規定,依之解脫現世生存之苦,即此派之根本宗旨。
; (獸主外道派) Phạm:Pàzupata. Một trong các phái Thấp Bà thuộc Ấn độ giáo. Nói theo nghĩa rộng thì phái này khác với phái Thấp bà tất đàn (Phạm: Zaiva-siddhànta), riêng chỉ cho tông phái sùng bái Thấp bà (Phạm:Ziva) là Thú chủ. Còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ cho giáo phái được thành lập trước thế kỷ VIII, xưa gọi là ngoại đạo Đại tự tại thiên (Phạm: Màhezvara). Phái này chủ trương thần Chủ tể (Thấp bà) làĐộng lực nhân (Phạm:Kàraịa), còn ngã cá nhân của Thú và thế giới tự nhiên là kết quả (Phạm:Kàrya) của động lực nhân ấy. Muốn hiểu rõ lí này thì phải siêng tu Dugià, thực hành các nghĩa vụ, tuân thủ các qui định, nhờ đó mà thoát khỏi sự khổ của cuộc sống hiện tại, đó là tông chỉ căn bản của phái này.
Thú Dã Thám U
(狩野探幽, Kanō Tanyū, 1661-1674): nhà danh họa sống đầu thời Giang Hộ, con trai đầu của Thú Dã Hiếu Tín (狩野孝信), cháu của Vĩnh Đức (永德); tên húy là Thủ Tín (守信), sau lấy pháp hiệu là Thám U Trai (探幽齋). Ông có tài năng vẽ tranh rộng lớn, là nhà hội họa nổi tiếng của chính quyền Mạc Phủ, và đã làm cho môn phong phồn vinh nhờ tài năng của ông. Ông đã để lại khá nhiều bức tranh vẽ trên tường ở một số nơi như Thành Nhị Điều (二條城, Nijō-jō), Thành Danh Cổ Ốc (名古屋城, Nagoya-jō), phương trượng của Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), v.v.
thú dữ
Ferocious beast.
thú nhận
To avow—To admit—To confess (one's fault).
thú thật
To confess the truth.
thú tánh
Animal nature—Animality—Bestiality.
thú tịch
Cõi Niết bàn được hiểu theo trường phái Tiểu Thừa—The destiny of nirvana, as understood by the Hinayana.
thú tội
Confession—See Thú Nhận.
thú vật
See Thú.
thú vị
Pleasant—Agreable—Interesting.
thú đạo
Cảnh thú—Tirracchana (p)—Phật giáo đồ tin rằng cảnh thú là cảnh bất hạnh và chúng sanh bị sanh vào cảnh thú vì tạo nghiệp bất thiện trong quá khứ. Dù cảnh thú không khổ như địa ngục, nhưng nó cũng được xếp vào cảnh bất hạnh vì nơi nầy khổ đau nhiều hơn hạnh phúc, và nơi nầy chúng sanh không có điiều kiện thuận tiện để tạo tác công đức thiện nghiệp—Buddhists believe that animal realm is a woeful plane into which beings may be reborn as a result of their past evil kammas. Although the animal realm does not involve as much misery as the hells, it is included in the woeful planes because the suffering there greatly exceeds the amount of happiness, and it does not provide suitable conditions for the performance of meritorious deeds.
Thú-bác-ka 戍博迦
[ja] ジュハクカ Juhaka ||| Jīvaka, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => s: Jīvaka, một trong 16 vị A-la-hán phát nguyện ở lại thế gian nầy để hộ trì việc truyền bá chính pháp.
thúc
1) Thúc cùi chỏ: To elbow. 2) Chú: Uncle—A father's younger brother.
thúc ca bà
Suka (skt)—Chim két—A parrot.
Thúc hốt
(倐忽): trong chớp nhoáng, trong thoáng chốt, chỉ thời gian biến chuyển nhanh đến nỗi không thể lường được. Như trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) có đoạn: “Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu (譬如春霜曉露、倐忽卽無、岸樹、井藤、豈能長久, ví như sương mùa xuân, móc buổi sáng, cây bên bờ, dây leo ở giếng, làm sao bền lâu ?).” Hay như trong Khổng Triều Bá Ca (孔廟柏歌) của Hồ Kỳ Nghị (胡其毅, ?-?) nhà Minh có câu: “Lễ nhạc sơ truyền tam bách tải, phong trần thúc hốt câu thiên cải (禮樂初傳三百載、風塵倐忽俱遷改, lễ nhạc mới truyền ba trăm năm, gió bụi thoáng chốt đều biến đổi).” Câu “lão niên thúc hốt (老年倐忽)” có nghĩa là trong thoáng chốc tuổi già lại đến.
thúc ly
Sukla or Sukra (skt). 1) Màu trắng bạc: Silvery white. 2) Nửa mảnh trăng tròn: The waxing half of the moon.
thúc lô nhị nghĩa
2954宗鏡錄卷四十七以束蘆來比喻六根、六塵間之關係,即:(一)互相依,束蘆互相依倚,以此比喻六根、六塵更相由藉,而成染惑。根依塵而發妄知,塵依根而有幻相,稱為互相依。(二)取中空,蘆葦中本空虛,自性不實,以此比喻根塵中間,各無自性,一切皆空,稱為取中空。〔成唯識論卷三〕
; (束蘆二義) Hai nghĩa của bó lau. Tông kính lục quyển 47 dùng bó lau để ví dụ sự quan hệ giữa 6 căn và 6 trần. Có 2 nghĩa: 1. Hỗ tương y: Nương tựa lẫn nhau. Nghĩa là những cây lau trong bó lau nương tựa lẫn nhau, ví dụ 6 căn và 6 trần nhờ vào nhau mà cấu thành ô nhiễm, phiền não. Căn nương vào trần mà phát sinh cái biết hư dối, trần nương vào căn mà có các tướng giả, gọi là Hỗ tương y. 2. Thủ trung không: Đều là không. Nghĩa là những cây lau và bó lau vốn hư giả, chẳng thật, chúng không có tự tính, ví dụ căn và trần đều không có tự tính, tất cả đều không, gọi là Thủ trung không. [X. luận Thành duy thức Q.3].
thúc mẫu
Aunt (wife of one's father's younger's brother).
thúc phụ
Uncle.
thúc thúc ma la
Sisumara (skt)—Cá sấu—A crocodile.
thúc thủ
To be at the end of one's resources.
thúc đẩy
Motivation
thúi
Rotten—Stinking.
thúy nham
Ts'ui-yen (C)Một nhân vật trong thí dụ 8, Bích Nham Lục.
; Thiền sư Trung Hoa—Chinese Zen master—Nhân ngày hạ mạt, Thúy Nham nói với Tăng chúng: “Từ đầu mùa an cư đến nay, tôi vì chư huynh đệ nói khá nhiều. Coi thử lông mi của tôi còn không?” Sư muốn nhắc lại truyền thuyết cho rằng người nào giảng sai giáo pháp của Phật sẽ rụng hết lông mày. Trong suốt mùa an cư kiết hạ, tuy Thúy Nham giảng nói nhiều cho chư huynh đệ nhưng không một lời nói năng nào giải thích được đạo pháp là gì, vậy có lẽ lông mi của sư đã rụng hết rồi. Đây là một lối nhấn mạnh Thiền không ăn nhập gì với kinh điển vậy—At the end of one summer retreat, Ts'ui-Yen made the following remark: “Since the beginning of this summer retreat, I have talked much; see if my eyebrows are still there.” This refers to the tradition that when a man makes false statements concerning the Dharma of Buddhism he will lose all the hair on his face. As Ts'ui-Yen gave many sermons during the summer retreat for the edification of his pupils, while no amount of talk can ever explain what the truth is, his eyebrows and beard might perhaps by this time have disappeared altogether. This is a way of emphasis of no connection between Zen and Sutras.
thúy nham khả châu
Tsui yen Ke Chen (S)Tên một vị sư. (Khoảng giửa TK thứ 9 và 10) Xem Thúy Nham Linh Nham.
thúy nham linh nham
Ts'ui-yen Ling-ts'an (C), Suigan Reisan (J)(Thế kỳ 9 - 10) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Tuyết Phong Nghịa Tồn Xem Thúy Nham Khả Châu.
Thúy Nham Linh Tham
(翠巖令參, Suigan Reisan, ?-?): xuất thân vùng Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存). Ông sống tại Thúy Nham Sơn (翠巖山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) và cử xướng Thiền phong của mình rất mạnh mẽ. Ông được ban cho Tử Y và hiệu là Vĩnh Minh Đại Sư (永明大師).
Thúy Vi Vô Học
(翠微無學, Suibi Mugaku, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然). Ông đã từng sống ở Thúy Vi Tự (翠微寺), thuộc Chung Nam Sơn (終南山), Kinh Triệu (京兆, Tỉnh Thiểm Tây). Tuân chiếu của vua Hy Tông, ông vào cung nội thuyết pháp, được ban tặng Tử Y và hiệu là Ứng Chiếu Đại Sư (應照大師).
thúy vi vô học
Tsui wei Wu hsiao (C), Suibi Mugaku (J)(khoảng đầu thế kỷ thứ 9). Đệ tử của Đơn Hà Thiên Nhiên.
thúy vi vô học thiền sư
Zen Master Shui-Wei-Wu-Xue—See Vô Học Thúy Vi Thiền Sư.
thăm
To pay a visit—To visit—To call on.
thăm dò
To feel—To sound out.
thăm hỏi
To inquire—See Thăm.
thăm hỏi ai
To inquire after someone's well-being.
thăm thẳm
Very deep.
thăm viếng
See Thăm.
thăng
đơn vị đo lường ngày xưa, bằng một phần mười của đấu.
; Đi lên—To ascend—To rise—To raise.
Thăng giáng
昇降; C: shēngxiáng; J: shōkō; |Lên và xuống.
thăng giáng
To ascend and to descend.
Thăng giáng 昇降
[ja] ショウコウ shōkō ||| To rise and fall. => Lên và xuống.
thăng hà
To die (talk of king).
thăng thiên
Externalists believe that their founder ascended to heaven (not dying) in the Ascension Day.
thăng thưởng
To promote and to reward.
Thăng tiến đạo
xem Tứ đạo thánh nhân.
thăng toà
4338禪林用語。即陞高座之意。係指師家登高座說法。據古制,陞座與上堂同義,至後世乃有所別。〔臨濟錄上堂條、禪林象器箋垂說門〕
; (升座) Tiếng dùngtrongThiền lâm. Nghĩa là lên tòa cao. Tức chỉ cho bậc thầy lên tòa cao thuyết pháp. Theo qui tắc xưa thì Thăng tòa đồng nghĩa với Thướng đường, nhưng đến đời sau thì có phân biệt khác nhau. [X. điều Thướng đường trong Lâm tế lục; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thăng trầm
To ascend and descend—Ups and downs—Vicissitudes—Rise and fall.
Thăng trầm 升沈
[ja] ショウジン shōchin ||| Rising and falling; flourishing and decaying, etc. => Sinh khởi và chìm đắm; thịnh vượng và suy tàn.
thăng trật
To be promoted.
thăng tọa
Đăng đàn thuyết pháp—To ascend the platform to expound the sutras—To ascend the seat (platform), or to go up to the Dharma Hall to preach or to expound the sutras.
thăng âm thành
Roruka (S).
thăng đường
See Thăng Tọa in Vietnamese-English Section.
Thăng-ka
T: thaṅ-ka;|Tranh vẽ trong Phật giáo Tây Tạng. Các Thăng-ka thường là vải lụa được cuốn tròn. Tranh này phần lớn lấy nội dung là giáo pháp, hay cuộc đời đức Phật. Vẽ tranh này, người ta phải chú ý đến ba nguyên tắc: sức truyền lên người xem, sự hài hoà và chi tiết bức tranh. Người ta cho rằng việc đặt vẽ Thăng-ka cũng như bản thân vẽ Thăng-ka mang lại rất nhiều phúc đức.|Thăng-ka được vẽ bằng màu lấy trong thiên nhiên và là đối tượng hay phương tiện để thiền định và tạo linh ảnh, như tranh vẽ Vòng sinh tử (s: bhavacakra), cuộc đời và tiền thân đức Phật (Bản sinh kinh). Ngoài ra, Thăng-ka cũng trình bày lại hình ảnh các vị giáo chủ các tông phái để các đệ tử chú tâm lúc quy y. Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất của Thăng-ka chính là phương tiện để thiết tưởng (e: visualize) linh ảnh lúc hành trì các giáo pháp Tan-tra, Nghi quỹ (s: sādhana). Ðến thế kỉ 16 tại Tây Tạng vẫn tiếp tục hình thành các trường phái vẽ Thăng-ka khác nhau, trong đó khuynh hướng vẽ của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) là nổi tiếng nhất.
thơ
Poetry.
thơ ca ngợi sông hằng
Gaṅgāmāhātmya (S), Poems in praise of the Ganges.
thơ dại
Childlike—Nạve—Innocent.
thơ ngây
See Thơ Dại.
thơ thẩn
To stroll.
thơ yếu
Young and weak.
thơ ấu
Young.
thơi
Thảnh thơi—Leisurely—Free.
thơû
To respire—To breath.
thư
Book.
thư cừ kinh thanh
3447(?~464)北京王沮渠蒙遜之從弟。匈奴人。封安陽侯。強識疏通,敏朗智鑒,涉獵群書,善於談論。少時曾度流沙,至于闐學梵文,於衢摩帝大寺遇佛陀斯那,受禪要祕密治病經(治禪病祕要法)。後歸返河西,會曇無讖入河西,京聲致禮親迎,多所咨稟。宋元嘉十六年(439),魏併涼州,乃南奔入宋,倦意世務,常遊止塔寺,翻譯經文,所譯經書現存者有禪要秘密治病經、八關齋經、觀彌勒菩薩上生兜率天經等十六部十七卷。大明八年得疾而卒,享壽不詳。〔出三藏記集卷十四、梁高僧傳卷二曇無讖傳、居士傳卷四〕
; Chu-sha-ching-sheng (C)Tên một vị sư.
; (沮渠京聲) Em họ của Thư cừ Mông tốn, vua nước Bắclương, người Hungnô, được phong tước An dương hầu. Ông là người thông minh, học rộng nhớ dai, đọc rất nhiều sách, giỏi đàm luận. Thuở thiếu thời, ông từng vượt sa mạc đến nước Vuđiền học tiếng Phạm, được gặp ngài Phậtđàtưna ở Cù ma đế Đại tự học kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh (Trị thiền bệnhbí yếu pháp). Sau, ông trởvề Hà tây, gặp ngài Đàmvôsấm đến Hà tây, ông hết lòng lễ kính đón rước, thưa hỏi ngài nhiều điều. Vào năm Nguyêngia 16 (439), nhà Ngụy thôn tính Lương châu, ông chạy xuống miền Nam đến đất Tống; cảm thấy chán ngán việc đời, ông thường lui tới các chùa tháp, phiên dịch kinh điển. Các kinh điển do ông dịch hiện còn gồm 16 bộ 17 quyển như: Kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh, kinh Bát quan trai, kinh Quán dilặcbồtát thướng sinh Đâu suất thiên... Năm Đại minh thứ 8 (439), ông lâm bệnh và qua đời. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.14; truyện ngài Đàm vô sấm trong Lương cao tăng truyện Q.2; Cư sĩ truyện Q.4].
thư cừ mông tốn
3447(368~433)魏晉南北朝五胡十六國中北涼之創建者。匈奴人。最初擁立後涼呂光之叛將段業,於東晉隆安五年(401)自立於張掖,義熙八年(412)占領姑臧,稱河西王。元熙二年(420)滅西涼,攻佔敦煌,得以確保與西域諸國之交通,而令境內物阜民豐。其在位之世,興隆佛教,召請曇無讖翻譯方等、涅槃等二十部經,由慧嵩、道朗筆錄。
; (沮渠蒙遜) Người sáng lập nước Bắc Lương trong 16 nước vùng Ngũhồ thuộc Nam Bắc triều thời Ngụy Tấn, Trung quốc, người Hung nô.Ban đầu, ông ủng hộ phản tướng của Lữquang là Đoàn nghiệp. Đến năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn, ông tự lập ở Trương dịch. Năm Nghĩa hi thứ 8 (412), ông chiếm cứ Cô tang, xưng là Hà tây vương. Năm Nguyên hi thứ 2 (420), ông diệt Tây lương, đánh chiếm Đôn hoàng, thiết lập và bảo vệ sự giao thông với các nước Tâyvực, làm cho dân trong nước đông đúc, giàu có. Thời gian ông ở ngôi, Phật giáo rất hưng thịnh, ông thỉnh ngài Đàm Vô sấm phiên dịch 20 bộ kinh như: Phương đẳng, Niếtbàn... do các ngài Tuệtrung và Đạolãng ghi chép.
thư hùng
Female and male.
thư kí
4126禪林六頭首之一,掌文疏翰墨之職稱。又稱書狀、記室、外史、外記。書記,原為古清規之書狀,職掌文翰,凡山門之榜疏書問、祈禱之詞語,悉屬之。蓋古之名山大剎凡奉聖旨之敕,住持即具謝表。示寂之時,亦須具遺表。或有所賜,或有所問,具奉表進,而住持專柄大法,文字之事少有研究,故特設書記之職,主執山門之書疏。然古無書記之名,僅有書狀,書記乃取元戎之幕府署記室參軍之名,於禪林特請書記以職之,非百丈禪師所設者。〔敕修百丈清規卷下兩序章西序頭首書記條、禪林象器箋職位門〕
; (書記) Cũng gọi Thư trạng, Ký thất, Ngoại sử, Ngoại ký. Một trong 6 vị Đầu thủ của Thiền lâm, là chức vụ coi về văn sớ, thư tín, các loại giấy tờ liên quan đến sơn môn. Thư kývốn là vịThư trạng trong Cổ thanh qui, tất cả giấy tờ, thư tín, văn sớ cầu đảo... đều thuộc trách nhiệm của vị này. Những tùng lâm danh tiếng thời xưa, khi lãnh sắc chỉ của vua, vị trụ trì phải dâng biểu tạ. Khi vị Trụ trì thị tịch cũng phải có biểu tâu trình. Hoặc khi vua ban vật gì, hoặc hỏi việc gì... đều phải dâng biểu. Mà vị trụ trì thì chuyên nắm giữ Đại pháp, việc văn tự ít có nghiên cứu, vì thế đặc biệt đặt ra chức Thư ký, chuyên trách việc giấy tờ, văn sớ trong tùng lâm. Nhưng thời xưa không có tên Thư ký mà chỉ có Thư trạng; danh từ Thư ký là lấy ý từ chức Mạc phủ thư kí thất tham quân của Nguyên nhung, trong Thiền lâm đặc biệt gọi là chức Thư ký, chứ không phải Thiền sư Bách trượng đặt ra. [X. điều Tây tự đầu thủ thư kí, chương Luỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thư ký
Vị Tăng thư ký phụ tá viện chủ—Clerk assisting the head monk.
thư mạt quốc
3447位於今新疆羅布諾爾(Lopnor)西南車爾成(Charchan)之西域古國。又作沮沫國,左末國、且末國、折摩馱那國(Calmadana)。據漢書西域列傳第六十六、洛陽伽藍記卷五等記載,漢時此國僅有二三○戶,一六一○口,北魏時則居民亦僅百家而已。據大唐西域記卷十二載,玄奘西行時,此國城郭依然存在,但人煙已絕。又大唐西城記將此國之名作「涅末」(一作濕末),恐係「沮末」之誤寫。〔破邪論卷下、北史西域列傳第八十五、通典卷一九一、文獻通考卷三三六、A. Stein: Ruins of Desert Cathay, vol. I〕
; (沮末國) Cũng gọi Tả mạt quốc, Thả mạt quốc, Chiết ma đà na quốc (Calmadana). Tên một nước xưa ở Tâyvực tại Xa nhĩ thành (Chanchan) nằm về phía tây nam Labốmặcnhĩ (Lopnor) thuộc Tân cương hiện nay. Theo Tây vực liệt truyện thứ 66 trong Hán thư và Lạc dương già lam kí quyển 5 thì nước này vào đời Hán chỉ có 230 hộ gia đình với 1610 nhân khẩu, vào thời Bắc Ngụy thì dân cư cũng chỉ có 100 nhà mà thôi. Theo Đại Đường tây vực kí quyển 12, khi ngài Huyền trang đi Ấn độ, qua đây thì nước này thành quách vẫn y nguyên như xưa, nhưng người thì vắng tanh, không còn một ai. Và Đại đường tây vực kí gọi nước này là Niết Mạt (.......), cũng có chỗ gọi là Thấp mạt ( ), có lẽ đã viết lầm từ chữ Thư Mạt (.......). [X. luận Phá tà Q. hạ; Bắc sử tây vực liệt truyện thứ 85; Thông điển Q.191; Văn hiến thông khảo Q.336; Ruins of Desert Cathay, vol. I, by A.Stein].
thư ngọc
4125(1645~1721)清代律僧。江蘇武進人,俗姓唐。字宜潔,號佛庵。幼時通儒學,一日聞僧誦行願品,因萌出家之志。二十二歲依京口嘉山自謙剃度,服勤既久,從金陵寶華山隆昌寺見月讀體受具足戒,並親近之,以研究律部。康熙二十二年(1683),與定庵德基赴杭州昭慶寺臨壇演戒,遂止於該寺主持其事,凡三十八年,每歲春冬兩期弘戒,四方僧俗翕集,受具足戒者達萬餘人。三十九年罹火災,翌年興工再建,成大雄寶殿、戒壇等,寺宇輪奐一新。五十二年受賜龍藏,六十年示疾,說偈坐定入寂,享年七十七。著有梵網經菩薩戒初津八卷、毘尼日用切要香乳記、沙彌律儀要略述義、二部僧授戒儀式、羯磨儀式各二卷等。〔大昭慶律寺志卷一、卷二、卷八、新續高僧傳卷二十九、中國佛教史卷四〕
; (書玉) VịLuật tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người Vũtiến, tỉnh Giangtô, họ Đường, tự Nghikhiết, hiệu Phậtam. Thuở nhỏ, sư thông hiểu Nho học. Một hôm, sư nghe vị tăng tụng phẩm Hành nguyện mà nảy chí xuất gia. Năm 22 tuổi, sư theo ngài Tự khiêm cạo tóc ở núi Gia sơn tại Kinh khẩu, siêng năng tu học, ít lâu sau, sư y vào ngài Kiến nguyệt Độc thể chùa Long xương, núi Bảo hoa ở Kim lăng thụ giới Cụ túc, đồng thời gần gũi ngài để nghiên cứu Luật bộ. Năm Khang hi 22 (1683), sư cùng với ngài Định am Đức cơ đến chùa Chiêu khánh ở Hàng châu giảng về giới, rồi từ đó sư trụ ở chùa này chủ trì việc giảng luận suốt 38 năm, mỗi năm hoằng giới 2 lần vào mùa Xuân và mùa Đông, tăng tục từ khắp nơi nhóm họp, có tới hơn vạn người thụ giới Cụ túc. Năm Khang hi 39 (1700), chùa bị hỏa hoạn, năm sau được xây dựng lại. Năm Khang hi 52 (1713), chùa được vua ban cho Long tạng. Năm Khang hi 60 (1721) sư thị hiện có bệnh, ngồi nói kệ rồi nhập định thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Sư có các tác phẩm: Phạm võng kinh Bồtát giới sơ tân 8 quyển, Tì ni nhật dụng thiết yếu hương nhũ kí 2 quyển, Sa di luật nghi yếu lược thuật nghĩa 2 quyển, Nhị bộ tăng thụ giới nghi thức 2 quyển, Yết ma nghi thức 2 quyển. [X. Đại chiêu khánh luật tự chí Q.1, 2, 8; Tân tục cao tăng truyện Q.29; Trung quốc Phật giáo sử Q.4].
thư nhàn
Unoccupied—Free.
thư thái
Xem Khinh an.
thư thả
To have leisure time—To have spare time.
thư trinh
4126明末清初律僧。雲南祿豐人,俗姓王。字靜觀。通儒學,然發絕塵之志,從翠峰西林寺心田出家,通達內典,遍遊諸方。明崇禎十七年(1644)至金陵,值三昧寂光之報恩寺開戒壇,因以得戒,感塔頂有紫燄飛騰之瑞,遂稱五道獅子兒。嘗依止寶華山,纂修律部,援助寂光之徒見月讀體弘戒,或任教授,或司羯磨,遂受附囑僧伽黎衣。清康熙年中,嘗建律堂,受淮郡淨土禪林之迎請,啟建戒壇,求戒者接踵而至,王公卿相慕其道風,亦多隨從。至年七十專事著作,有隨機羯磨疏鈔六卷、毘尼甘露擇要十卷、律學日雲要本等書傳世。師不僅專精律藏,亦博通禪學,曾於定中遊天台,見阿羅漢逞奇。據傳羯磨疏鈔完成之際,嘗夢禮道宣之塔,遂有「智者之後身、南山之再來」之稱。寂年與壽享均不詳。〔滇釋紀卷三、新續高僧傳卷二十九〕
; (書禎) Vị Luật tăng Trung quốc sống vào cuối đời nhà Minh đầu đời Thanh, người ở Lộc phong, tỉnh Vân nam, họ Vương, tự Tĩnh quán. Sư tinh thông Nho học, nhưng có chí xuất trần, nên theo ngài Tâm điền chùa Tâylâm ở Thúyphong xuất gia. Học thông nội điển, vân du khắp nơi. Năm Sùng trinh 17 (1644), sư đến Kimlăng, gặp lúc chùa Báoân của ngài Tammuội Tịchquang mở đàn giới, nhân đó được giới, cảm thấy điềm lành trên đỉnh tháp có ngọn lửa màu tía bay lên, nên được gọi là Ngũ đạo sư tử nhi. Sư bèn dừng lại ở núi Bảohoa biên soạn Luật bộ, giúp sư Kiếnnguyệt Độcthể – học trò ngài Tịchquang– hoằng dương giới luật, hoặc làm Giáo thụ, hoặc làm Yết ma nên được phó chúc áo Tăng già lê. Trong năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, sư từng xây cất Luật đường, nhận lời thỉnh cầu của Tịnh độ thiền lâm ở quận Hoài, sư đến mở đàn giới, những người cầu giới nối nhau đến, các bậc vương công khanh tướng kính mộ đạo phong của sư cũng thường tùy tòng. Đến năm 70 tuổi sư chuyên việc trứ thuật. Sư không những chuyên tinh tạng Luật mà còn thông hiểu Thiền học, có lần ở trong định, sư đến núi Thiênthai thấy các vị A la hán hiện điềm lạ. Theo truyền thuyết, khi hoàn thành bộ Yết ma sớ sao, sư từng nằm mộng thấy mình lễ tháp ngài Đạotuyên nên được tôn xưng là Hậu thân ngài Trígiả, ngài Namsơn tái lai. Sư cócáctác phẩm: Tùy cơ Yết ma sớ sao 6 quyển, Tì ni cam lộ trạch yếu 10 quyển, Luật học nhật vân yếu bản. [X. Điền thích kỉ Q.3; Tân tục cao tăng truyện Q.29].
thư trạng thị giả
4126又稱內記、內史、侍狀。三大侍者之一,或五侍者之一。職掌禪家住持往復文疏之起草、書狀,及有關之一切典翰文墨之侍者。敕修百丈清規卷四侍者條(大四八‧一一三一下):「凡住持往復書問,製作文字,先具草呈,如闕書記,山門一應文翰,書狀侍者職之。」〔禪林象器箋職位門〕
; (書狀侍者) Cũng gọi Nội kí, nội sử, Thị trạng. Một trong 3 đại thị giả, 1 trong 5 vị thị giả, là chức Thị giả phụ trách công việc khởi thảo viết chép các văn thư đi và đến của vị Trụ trì, cùng tất cả giấy tờ sách vở có liên quan đến Thiền gia. Điều Thị giả trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1131 hạ) nói: Hễ vị Trụ trì cần viết thư thăm hỏi qua lại, hay những việc cần đến văn chữ, thì trước hết(Thư trạng thị giả) phải thảo trình đầy đủ; nếu thiếu chức Thư kí thì tất cả các loại văn kiện, sổ sách, giấy tờ trong sơn môn đều do Thư trạng thị giả đảm nhiệm. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thư tôm bùa ngải
Talisman.
thư tả
4126<一>梵語 lekhana。十種法行之第一。有關經典受持之方法行儀,其第一者即是書寫經典。 <二>五種法師之一。稱能精通經論,書寫弘通佛法而為人之師者。
; (書寫) I. Thư Tả. Phạm: Lekhana. Chỉ cho việc viết chép kinh điển, là pháp hạnh thứ nhất trong 10 pháp hạnh. Về phương pháp hành nghi thụ trì kinh điển thì phương pháp hành nghi thứ nhất chính là Thư tả kinh điển. II. Thư Tả. Chỉ cho người tinh thông kinh luận, viết chép hoằng thông Phật pháp và là bậc thầy của mọi người, 1 trong 5 loạiPháp sư.
Thư đạo
書道; J: shodō; cũng gọi là Thư pháp;|Nghệ thuật viết chữ; một trong những tu tập đạo của giới hâm mộ thiền Nhật Bản. Thư đạo được xem là nghệ thuật cốt tuỷ của tất cả các nghệ thuật bởi vì nơi đây, tâm trạng của nghệ sĩ được thể hiện một cách rõ ràng, hoàn thiện. Trong Thư đạo, người ta không chủ ý đến việc »viết đẹp« mà muốn gói gém vào tác phẩm một tâm trạng, một biểu tượng cô đọng của nghệ thuật, của cuộc sống. Những đặc điểm của Thư đạo nêu trên người ta có thể tìm thấy ở những Mặc tích, »dấu mực«, những tác phẩm được xem là tiêu biểu nhất của nghệ thuật này.
thư đạo
Shodō (C), Way of writing Một cách rèn luyện tâm linh ở Nhật.
thưa
To reply—To answer politely.
thưa gởi
To talk in a very respectful way.
thưa thớt
Scattered—Thin.
thưû
1) Chuột: Musa (skt)—A mouse—A rat. 2) Đây (đối lại với “bỉ” là kia): This—Here, in contrast with “that,” “there.” 3) Thử nghiệm: To test—To try—To attempt.
Thương
傷; C: shāng; J: shō;|Có hai nghĩa: 1. Vết thương, bị thương; 2. Đau khổ thể xác và tinh thần – đặc biệt là đau khổ về tinh thần hay sự xúc cảm.
thương
1) Bị thương: To injure—Wound. 2) Màu xanh biếc: Azure—Grey. 3) Tên của một loài quỷ Dạ Xoa: Name of a Yaksa. 4) Thương mại: Trade—Merchant. 5) Thương nghị: To trade. 6) Thương thảo: To consult. 7) Tổn thương: Hurt—Harm—Distress. 8) Trời: The heavens. 9) Yêu thương: To love.
thương ai sâu đậm
To love someone deeply.
thương chủ
người dẫn đầu một đoàn người đi buôn bán bằng đường bộ hoặc bằng đường thủy.
thương chủ thiên tử sở vấn kinh
4407全一卷。隋代闍那崛多譯。又稱商主天子問經、商主天子經。收於大正藏第十五冊。本經乃記載佛陀住王舍城耆闍崛山時,文殊師利受佛之教,為答商主等諸天之請問法要,而說諸菩薩入一切智、達一切法彼岸、滿足六度等諸種成就;商主天子並請問佛陀「無生」之意,後蒙佛授記將來成佛。
; (商主天子所問經) Cũng gọi Thương chủ thiên tử vấn kinh, Thương chủ thiên tử kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc khi đức Phật ở tại núi Kì xà quật gần thành Vương xá, ngài Vănthùsưlợi vâng lời Phật dạy đáp những câu hỏi về pháp yếu của chư thiên như Thươngchủ... và nói về các thành tựu như: Các Bồtát nhập Nhất thiết trí, đạt đến tất cả pháp rốt ráo, đầy đủ 6 độ... Thương chủ thiên tử còn thưa hỏi đức Phật về ý nghĩa vô sinh, sau đó được Phật thụ kí sẽ thành Phật trong vị lai.
thương di quốc
4410西域古國名。又作賒彌國、雙靡城、奢摩羯羅闍國。別稱折薛莫孫國、俱位國、拘緯國、拘衛國。關於「商彌」之原音,有各種異說,或作 śāmbī, śāmbhī, śambī, śama 等。依大唐西域記卷十二載,此國周長二千五、六百里,山川相間,堆阜高下,穀稼備植,菽麥彌豐,盛產葡萄,出雌黃,鑿崖折石方得之。氣序寒而風俗急,人性淳質,俗無禮義,智謀寡狹,技能淺薄,文字同睹貨邏國,語言則不同,多穿氈褐。王為釋種,故崇敬佛法,國人從其教化,莫不淳信。有伽藍二所,僧徒寡少。此國位置,約當於今巴基斯坦之契特拉(Chitral)地方,即白夏瓦之北、興都庫什山脈之南。〔往五天竺國傳(慧超)、洛陽伽藍記卷五、悟空入竺記、大唐西域記卷六劫比羅伐窣堵國條、漢書西域傳第六十六上、北史西域列傳第八十五、唐書西域列傳第一四六下、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol.Ⅱ; T. Watters: On Yuang Chwang, vol. Ⅱ〕
; (商彌國) Cũng gọi Xa di quốc, Song mị thành, Xa ma yết la xà quốc, Chiết tiết mạc quốc, Câu vị quốc, Câu vĩ quốc, Câu vệ quốc. Tên một nước thời xưa ở Tây vực. Về nguyên âm Thương di có nhiều thuyết khác nhau, hoặc là Zàmbì, Zàmhì, Sambì, Zama... Theo Đại đường tây vực kí quyển 12 thì nước này có diện tích từ 2500-2600 dặm, núi sông xen kẽ nhau, gò đống cao thấp, trồng lúa và các loại hạt khác, sản xuất nhiều nho. Khí hậu lạnh lẽo, tính người chất phác, thường không có lễ nghĩa, mưu trí thấp kém, kĩ năng nông cạn, văn tự giống như văn tự củanước Đổ hóa la, nhưng tiếng nói thì khác, dân cư phần nhiều mặc áo dạ. Quốc vương thuộc dòng họ Thích nên sùng kính Phật pháp, dân chúng thuần tín và đều nghe lời dạy bảo của vua. Trong nước có 2 ngôi già lam, tăng đồ rất ít. Vị trí nước này ở khoảng vùng Chitra thuộc Pakistan hiện nay, tức phía bắc Peshawar, phía nam rặng núi Hindukush. [X. VãngNgũ thiên trúc quốc truyện (Tuệ siêu); Lạc dương già lam kí Q.5; Ngộ không nhập trúc kí; điều Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đạiđường tây vực kí Q.6; Hán thư tây vực truyện thứ 66 thượng; Bắc sử tây vực liệt truyện thứ 85; Đường thư tây vực liệt truyện thứ 146 hạ; Buddhist Records of the Western World, vol. II, by S.Beal; On Yuang Chwang, vol.II, by T.Watters].
thương gia
A merchant—A business-person.
thương hòa khí
Phá hoại sự hòa hợp—To disturb the harmony.
thương hại
Kṛpā (S), Pity Tội nghiệp.
; To have pity (mercy--compassion) on—To pity—To feel pity.
thương khư
4407請參閱 商主天子所問經請參閱 商主天子所問經 梵語 śaṅkha,巴利語 saṅkha。<一>又作儴佉、穰佉、蠰佉、餉佉、霜佉、勝佉、商迦、商企羅、償起羅。意譯螺、貝、珂。海底軟體動物之腹足類,乃體外具螺殼者之總稱。其中梭尾螺,俗名海哱囉,發聲甚響而遠聞,故佛門以之喻佛說法大勇猛,而稱法螺。(參閱「法螺」3428) <二>係彌勒下生時,統治世界之轉輪聖王。據增一阿含經卷四十四載,此王住閻浮地,具足七寶,以正法治化,國土豐樂,人民殷盛。王有大臣,名修梵摩(梵 Brahmāyu),大臣夫人名梵摩越(梵 Brahmavatī),彌勒即由梵摩越右脅降生,終出家成道。其後,王聞彌勒說法,讓位太子,出家得道果。〔長阿含卷六轉輪聖王修行經、彌勒下生經、彌勒大成佛經、玄應音義卷二〕
; (商佉) Phạm: Zaíkha. Phễu lớn và phễu nhỏPàli:Saíkha. I. Thương Khư. Cũng gọi Nhương khư, Hướng khư, Sương khư, Thắng khư, Thương ca, Thương xí la, Thưởng khởi la. Hán dịch: Loa, Bối, Kha. Chỉ cho loại động vật bò sát sống dưới đáy biển, là tên gọi chung loài động vật bề ngoài có vỏ cứng như con ốc, con sò, con hến... Trong đó, loài ốc(loa) có đuôi dài giống như cái thoi dệt vải, tục gọi là ốc tù và, vỏ của nó được dùng làm tù và, khi thổi thì phát ra tiếng vangđirất xa, cho nên nhà Phật dùng nó để ví dụ tiếng thuyết pháp mạnh mẽ của đức Phật, gọi là Pháp loa(tù và pháp). (xt. Pháp Loa). II. Thương Khư. Tên của vị Chuyển luân thánh vương sẽ thống trị thế giới khibồtát Di Lặc ra đời.Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 thì vị vua này ở tại cõi Diêm phù đề, có đầy đủ 7 thứ báu, dùng chính pháp giáo hóa nhân dân, đất nước giàu có yên vui, nhân dân đông đúc. Vua có vị Đại thần tên là Tu phạm ma (Phạm: Brahmàyu), Đại thần phu nhân tên là Phạm ma việt (Phạm:Brahmavatì). Bồtát Dilặc sẽ giáng sinh vào gia đình này, cuối cùng xuất gia thành đạo. Về sau, vua nghe Ngài Dilặc thuyết pháp, liền nhường ngôi cho Thái tử rồi xuất gia và được đạo quả. [X. kinh Chuyển luân thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; kinh Di lặc hạ sinh; kinh Di Lặc đại thành Phật; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
thương khư ấn
4407即標示法螺之印契。商佉,梵語 śaṅkha,意為法螺。乃不動十四根本印之一。其印相為左右二手之食指加附於無名指、小指,二中指豎合,右手拇指附於中指指節,左手拇指豎開。又如來商佉印即表大日如來宣說大法之德,於胎藏修法中,為如來身會印明之一,結誦此印明,可滿一切善願,宣說大法十方聞及。其印相,據大日經卷四密印品,為虛心合掌,屈二拇指,以二食指絞之。
; (商佉印) Ấn khế biểu thị cho pháp loa. Thương khư, Phạm:Zaíkha, nghĩa là cái tù và, là 1 trong 14 ấn căn bản Bất động. Ấn Thương khư của Nhưlai là biểu thị đức tuyên giảng đại pháp của Đại nhật Như Lai, trong pháp tu Thai tạng giới, ấn này là 1 trong các ấn minh (ấn khế và chân ngôn) của hội Như Lai thân, kết ấn và tụng chân ngôn này thì đầy đủ tất cả nguyện lành, nói đại pháp thì khắp 10 phương đều nghe được. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn này được kết như sau: Hai tay chắp để rỗng ở lòng bàn tay, co 2 ngón cái, dùng 2 ngón trỏ giữ lấy.
thương long huyệt
Hang rồng xanh quấn lấy miếng ngọc bùa phép, mà chỉ có người gan dạ lắm mới đạt được—The cave of the azure or green dragon, where it lies curled over the talismanic pearl, which only a hero can obtain.
thương lượng
4408原指商賈買賣物品時之互相議價,於禪林中,引申為學人參禪辦道時之問答審議。如祖庭事苑卷一,謂審察量知佛祖之真意,一如商賈之量度,使不失於中平,而各得其意。碧巖錄第三十八則評唱(大四八‧一七六中):「一日,院到園裏,問云:『南方一棒,作麼生商量?』穴云:『作奇特商量。』穴云:『和尚此間,作麼生商量?』院拈棒起云:『棒下無生忍,臨機不讓師。』」又禪林中「商量浩浩地」一語,乃形容問答討論激烈盛大之狀況。亦用於呵責口頭禪之意。從容錄第十二則(大四八‧二三四下):「地藏問脩山主:『甚處來?』脩云:『南方來。』藏云:『南方近日佛法如何?』脩云:『商量浩浩地。』」〔臨濟錄示眾、景德傳燈錄卷七〕
; Thương thảo hay bàn luận với nhau, như học trò bàn đạo với thầy—To consult—To discuss together (between master and pupil)—To negotiate.
; (商量) Vốn chỉ cho việc bàn tính giữa các nhà buôn với nhau để trả giá khi mua bán sản phẩm. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng với nghĩa là hỏi đáp, bàn bạc khi người học tham thiền hành đạo. Như Tổ đình sự uyển quyển 1 cho rằng xem xét lường biết chân ý của Phật Tổ, cũng giống như các thương gia tính toán, cân nhắc, khiến cho không mất mức trung bình và đều thể hiện được ý của các Ngài. Phần Bình xướng trong Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 176 trung) ghi: Một hôm ngài Nam viện vào trong vườn hỏi ngài Phong Huyệt: - Một gậy của phương Nam phải thương lượng thế nào? Ngài Phong huyệt đáp: Phải thương lượng kì đặc. Rồi hỏi lại : - Về việc này, Hòa thượng thương lượng ra sao? Ngài Namviện cầm gậy lên, nói: - Ngay khi bị ăn gậy là vô sinh nhẫn, cơ hội đến không nhường thầy! Còn từ ngữ Thương lượng hạo hạo địa trong Thiền lâm là hình dung trạng huống hỏi đáp, bàn bạc sôi nổi, gay gắt. Cũng có khi được dùng với ý quở trách khẩu đầu thiền (thiền cửa miệng). Thung dung lục tắc 12 (Đại 48, 234 hạ) ghi: Ngài Địatạng hỏi ngài Tu sơn chủ: - Từ đâu đến? Ngài Tu Sơn đáp: - Từ phương nam đến. Ngài Địa Tạng lại hỏi: - Gần đây, Phật pháp ở phương nam thế nào? Ngài Tusơn đáp: - Thương lượng hạo hạo địa!. [X. Lâm tế lục thị chúng; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].
thương mạc ca
4407梵名 Śyāmaka,巴利名 Sāma 或 Suvaṇṇa-sāma。又作睒摩迦、睒摩、睒施、睒子、睒。意譯金。乃釋尊於因位修菩薩行時之名。依菩薩睒子經所載,過去世有一菩薩名為一切妙,見迦夷國有一長者,夫妻皆盲,孤苦無兒,然願入山修無上慧,菩薩為助之,遂願下生為其子,名為睒。睒事奉父母至孝,父母嘗渴欲飲水,睒乃著鹿皮提瓶至水邊,遇迦夷國王入山射獵,誤為麋鹿,而為毒箭射入胸中。睒大呼,王驚而至睒前謝罪,睒不訴其痛苦,僅憂其父母,遂託王奉養而死。王乃伴其父母至睒之屍旁,父抱其腳,母抱其頭,仰天大號,天帝釋為其至誠所感動,以神藥灌入睒口中,箭自拔出而復活,父母驚喜兩目皆開。按,睒即釋尊,盲父即父王閱頭檀,盲母即母摩耶夫人,迦夷國王即阿難,天帝釋即彌勒。據大唐西域記卷二載,由化鬼子母北行五十餘里有一窣堵波,即商莫迦遇迦夷國王處。〔六度集經卷五、雜寶藏經卷一〕
; Xem Thiểm.
; (商莫迦) Phạm: Zyàmaka. Pàli: Sàma, Suvaịịa-sàma. Cũng gọi Thiểm ma ca, Thiểm ma, Thiểm thi, Thiểm tử, Thiểm. Hán dịch: Kim. Tên của đức Thích tôn khi còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị ( ). Theo kinh Bồ tát thiểm tử thì ở đời quá khứ có vị Bồ tát tên là Nhất thiết diệu thấy nước Ca di có một trưởng giả, vợ chồng đều mù, cô đơn khổ sở, không con, nhưng lại nguyện vào núi tu vô thượng tuệ, nên Bồ tát giúp đỡ bằng cách sinh làm con trong gia đình này, tên là Thiểm. Thiểm hầu hạ cha mẹ rất hiếu thảo; có lần cha mẹ khát muốn uống nước, Thiểm bèn mặc da nai mang bình đến bờ suối, gặp lúc vua nước Ca Di vào núi săn bắn, lầm tưởng Thiểm là nai nên bắn mũi tên độc vào giữa ngực. Thiểm la lớn, vua kinh hãi chạy đến trước Thiểm tạ tội, Thiểm không than đau mà chỉ lo cho cha mẹ, nên nhờ vua nuôi dưỡng cha mẹ rồi tắt thở. Vua cho người dẫn cha mẹ Thiểm đến chỗ xác chết của Thiểm, cha ôm chân, mẹ ôm đầu, ngước mặt lên trời kêu gào. Trời Đế thích cảm động vì lòng hiếu thảo chí thành của Thiểm nên dùng thuốc thần rót vào miệng Thiểm, mũi tên liền tự bật ra và Thiểm sống lại, cha mẹ vừa kinh ngạc vừa vui mừng mở to 2 mắt. Xét trong chuyện này thì Thiểm chính là đức Thích Tôn, bà mẹ mù là Ma da phu nhân, người cha mù là phụ vương Duyệt đầu đàn, vua nước Ca di là A nan, trời Đế thích là Dilặc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, từ Hóa quỉ tử mẫu đi về hướng bắc hơn 50 dặm, đến nơi có 1 ngôi tháp, đó chính là chỗ Thương mạcca gặp vua nước Ca Di. [X. kinh Lục độ tập Q.5; kinh Tạp bảo tạng Q.1].
thương mại
Người buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn gia cấp ở Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế—A trader, the third of the four castes in India at the time of the Buddha—See Tứ Giai Cấp Ấn Độ.
thương mến
To love—To cherish.
thương mệnh
Sự tổn thương đến sinh mệnh—Injury to life.
thương na
Sana (S)Xa naTên một loài cỏ.
thương na hoà tu
4407梵名 Śāṇa-vāsin,巴利名 Sāṇa-vāsī。及作奢那婆數、舍那波私、舍那和修、舍那婆斯、耶貰䩭、奢搦迦(梵 Śāṇaka)、商諾迦縛娑(梵 Śāṇaka-vāsa)。意譯胎衣、自然衣、麻衣。係阿難之弟子,付法藏之第三祖。據景德傳燈錄卷一、付法藏因緣傳卷二載,商那和修係摩突羅國人,姓毘舍多,在胎六年而生。由阿難處受八萬四千法藏,悉憶持之,又遊化諸方,於摩突羅國曼陀山化二龍子,於彼處營建僧住處,至罽賓現龍奮迅定等五百三昧,化度憂波毱多及其弟子,後飛騰虛空作十八變,而入涅槃。時為周宣王乙未年(806 B.C.)。又彼由前生願力,於處母胎至入涅槃期間,常著商那衣,未嘗脫卻,因而得名。此蓋基於梵語 śāṇa,音譯商那、奢那、設若迦、奢搦迦,意譯大麻;vāsin,音譯和修,意譯為衣而來者。按巴利文大史(Mahā-vaṃsa, IV)載,彼本名 三浮陀(巴 Sambhūta)、三菩伽、參復多,意譯已生。嘗與離婆多等共詣毘舍離城,阻跋耆(巴 Vajji)比丘之倡十事非法。〔賢愚經卷十三優波毱提品、舍利弗問經、達摩多羅禪經卷上、五分律卷三十、大唐西域記卷一、卷七〕(參閱「十事非法」442)
; Śāṇavāsa (S), Śanaka-vāsa (S), Śānavāsin (S)Tổ thứ 3 trong 28 tổ Phật giáo Ấn độ.
; (商那和修) Phạm:Zàịa-vàsin. Pàli:Sàịa-vasì. Cũng gọi Xà na bà số, Xá na ba tư, Xá na hòa tu, Xá na bà tư, Du thế kì, Xa nặc ca (Phạm:Zàịaka), Thương nặc ca phụ sa (Phạm:Zàịaka-vàsa). Hán dịch: Thai y, Tự nhiên y, Ma y. Đệ tử ngài Anan,Tổ thứ 3 được phó pháp tạng. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 và Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2, ngài Thương na hòa tu là người nước Ma đột la, họ Tì xá đa, ở trong thai mẹ đến 6 năm mới sinh ra. Sư được ngài A nan truyền cho 84.000 pháp tạng, đều nhớ giữ hết; sư đi du hóa các nơi, đến núi Mạn đà ở nước Ma đột la hóa độ 2 con rồng, rồi xây cất trụ xứ tăng ở chỗ này. Sau đó, sư đến nước Kế tân hiện 500 tam muội như định Phấn tấn... hóa độ ngài Ưu ba cúc đa và đệ tử, rồi bay lên hư không hiện Thập bát biến mà nhập Niết bàn.Do nguyện lực đời trước, trong thời gian từ khi còn ở trong thai mẹ đến khi vào Niết bàn, ngài Thương na hòa tu thường mặc áo thương na(áo thai, áo tự nhiên), không hề cởi ra, do đó mà đặt tên là Thương na hòa tu. Đó là căn cứ vào tiếng Phạm Zàịa, Hán âm là Thương na, Xa na, Thiết nhã ca, Xa nặc ca, Hán dịch là Đại ma (vải gai thô to);Vàsin, Hán âm là Hòa tu, Hán dịch là Y(áo). Theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, IV) thì ngài Thương na hòa tu vốn có tên là Tam phù đà (Pàli:Sambhùta), Tam bồ già, Tham phục đa, dịch ý là đã sinh ra. Sư cùng với ngài Ưu bà đa đến thành Tì xá li ngăn cản việc đề xướng và áp dụng 10 điều phi pháp (Thập sự phi pháp) của các tỉ khưu Bạt Kì (Pàli: Vajji). [X. phẩm Ưu ba cúc đa trong kinh Hiền ngu Q.13; kinh Xálợiphất vấn; kinh Đạt ma đa la thiền Q. thượng; luật Ngũ phần Q.30; Đại đường tây vực kí Q.7]. (xt. Thập Sự Phi Pháp).
thương na hòa tu
Arya Sanavasa (S). The 3rd Indian Patriarch.
; Sanakavasa or Sanavasa (skt)—Còn gọi là Na Hòa Tu, Thương Nặc Ca, Thương Nặc Ca Phược Sa, Xá Na Ba Tư, người em trai và cũng là đệ tử của ngài A Nan. Một vị A La Hán, mà theo Eitel, trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, cho là vị tổ thứ ba ở Ấn Độ, gốc Ma Thâu Đà, người đã chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai. Theo truyền thống Tây Tạng, ông được gọi là “Thiết Nặc Ca” vì khi sanh ra ông đã được trùm bởi áo Thiết nặc Ca (có thuyết nói Thương Nặc Ca là tên một loại áo. Khi ngài đổi đời mặc áo “thiết nặc ca” nên nhân đó mà gọi áo “thiết nặc ca” là áo gai. Theo Tây Vực Ký, Thương Na Hòa Tu khi còn ở kiếp trước đã lấy cỏ “thiết nặc ca” làm áo, và bố thí cho chúng Tăng vào ngày giải an cư kiết hạ. Ngài thường mặc chiếc áo nầy trong năm trăm thân. Ở đời hậu thân, ngài và chiếc áo cũng theo thai ra đời. Thân thể lớn dần, chiếc áo cũng rộng theo. Khi ngài được A Nan độ cho xuất gia, thì chiếc áo trở thành pháp phục. Khi ngài thọ cụ túc giới thì chiếc áo trở thành chiếc Cà sa 9 mảnh. Khi tịch diệt ngài phát nguyện sẽ để lại chiếc áo cho hết thảy di pháp của Đức Thích Ca, nguyện lưu cái áo lại cho đến khi đạo pháp của Đức Thích Ca truyền tận áo mới bị mục nát)—A younger brother and disciple of Ananda. An arhat, whom Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, gives as the third patriarch, a native of Mathura, and says: “A Tibetan tradition identifies him with yasas, the leader of the II Synod. Because of his name he is associated with a hemp or linen garment, or a covering with which he was born.
thương nghị
To negotiate—To discuss.
thương nhân
4406印度佛教與商人階級向來深具淵源。最早布施食物予佛陀者即是提謂(巴 Tapussa)、婆梨迦(巴 Bhallika)兩商人。佛陀的教團中,出身於商人階級者頗眾;在家信徒之主力亦為都市商人。可說商人為原始佛教之基礎,農民則殊少信教者,此為印度佛教滅亡原因之一。至大乘佛教之菩薩團,亦以都市商人階級為主,故於當時產生各種都市文明。紀元後,商人集團(梵 gaṇa)大致形成。根據天業譬喻(梵 Divyāvadāna)之記述,由於西海岸史魯巴拉卡港商人集團與海洋貿易船之交易,甚而制定一禁止獨占法。商人中大資產家稱資產者(梵 gṛhapati)。資產者中包括貿易商(梵 sārthavāha)、大航海者(梵 mahā-nāvika)、香料商(梵 gandhika)等,其他另有工匠(梵 āvesani)、染物商(梵 rajaka)等。
; (商人) Người buôn bán. Chỉ chung cho những người sống bằng nghề thương mãi. Phật giáo và giai cấp thương nhân(giai cấp thứ 3 trong 4 giai cấp của xã hội Ấnđộ đời xưa) vốn có quan hệ rất sâu xa. Những người đầu tiên cúng dường thức ăn cho đức Phật chính là 2 thương nhân tên là Đềvị (Pàli:Tapussa) và Bà lê ca (Pàli:Bhallika. Trong giáo đoàn của đức Phật có rất nhiều người xuất thân từ giai cấp thương nhân; chủ lực của tín đồ tại gia cũng là thương nhân ở các đô thị. Có thể nói thương nhân là nền tảng của Phật giáo nguyên thủy, còn nông dân thì ít người tin đạo, đây là 1 trong các nguyên nhân khiến Phật giáo diệt vong ở Ấn Độ. Đến các đoàn Bồtát của Phật giáo Đại thừa cũng lấy giai cấp thương nhân đô thị làm chính, cho nên lúc bấy giờ đã sản sinh ra các nền văn minh đô thị. Sau kỉ nguyên, đại khái tập đoàn thương nhân (Phạm:Gaịa) đã được hình thành. Cứ theo Thiên nghiệp thí dụ (Phạm:Dìvyàvadàna) thì do sự giao dịch giữa tập đoàn thương nhân cảng Sử lỗ ba lạp ca bờ biển phía tây và các thuyền buôn Hải dương nên đã lập ra pháp cấm chỉ độc quyền, độc chiếm. Những nhà đại tư sản trong giới thương nhân gọi là Tư sản giả (Phạm:Gfhapati). Trong giới tư sản giả thì bao gồm Mậu dịch thương (Phạm:Sàrthavàha), Đại hàng hải giả (Phạm: Mahà-navika), Hương liệu thương (Phạm:Gandhika)...Ngoài ra còn có Công tượng (Phạm: Àvesani), Nhiễm vật thương (Phạm:Rajaka)...
thương nhân tâm
4406大日經卷一所說六十妄心之一。即欲使內外諸學兼備,以隨所用而教授之心。此心恰似商人先聚儲貨物,後考察用途以得大利,故稱商人心。修捷疾智以為此心之對治法。大日經卷一住心品(大一八‧二下):「云何商人心?謂順修初收聚、後分析法。」〔大日經疏卷二〕(參閱「六十心」1242)
; (商人心) Tâm lái buôn, 1 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đại nhật quyển 1, là tâm muốn cho các học thuyết trong, ngoài đều đầy đủ để tùy nghi sử dụng và truyền dạy. Tâm này giống như người lái buôn trước đầu cơ tích trữ các loại hàng hóa, chờ khi vật giá leo thang thì bán ra để thu lời lớn, cho nên gọi là Thương nhân tâm. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 2 hạ) nói: Thế nào là thương nhân tâm? Nghĩa là trước thu góp các pháp, sau mới phân tích.
thương nhớ
To mourn over.
thương nặc ca phược sa
Sanakavasa or Sanavasa (skt)—See Thương Na Hòa Tu.
thương thuyết
To enter into (upon) negotiations—To negotiate.
thương tiếc
To lament—To regret—To mourn for.
thương triều
Shang Dynasty (C)Triều đại nhà Thương, do Thang đế lập ra.
thương tâm
Heart-rending (stricken—Gripping—piercing)—Pitiful.
thương tật
Thương tàn—Wounded and crippled.
thương tổn
To deteriorate—To wound someone's pride—Harmful.
thương xót
To commiserate—To have pity on—To pity—To feel pity for—To take pity for---To have mercy on someone.
thương yêu
Love—To be affectionate to.
thương yêu lẫn nhau
To love one another—Buddha spent all his life to teach all of us how to love one another.
thương yết la
4408<一>梵語 śaṃkara。又作賞迦羅。意譯骨鏁。乃古代印度外道祭祀所供之骨鏁。此外,亦指商羯羅天,即為骨鏁天,乃大自在天之別名。據傳,大自在天曾至人間化導,歸天之後,信眾顧戀,遂造立其苦行饑羸、骨節相連成鏁(鎖)之像,於祭祀時供奉之。〔因明入正理論疏卷上〕(參閱「骨鏁天」4353) <二>梵名 Śaṅkara。又稱商羯羅阿闍梨(梵 Śaṅkarācārya)、商卡拉。印度吠檀多派哲學家,婆羅門教改革家。生於南印度之摩拉巴爾,生卒年約於七○○至七五○年間,或謂七八○至八二○年間。曾遍遊印度,成立教團,進行傳教活動。直接承襲吠陀之冥思方式與奧義書「萬物一體」之理論,又吸收大乘佛教思想及耆那教部分教義,而改革婆羅門教為印度教,對佛教、耆那教造成極大之衝擊;更為印度思想界注入了新血,至今仍為印度思潮之主流。其所建立絕對一元論(或純粹不二論)之體系,認為現實世界皆為幻相(梵 māyā)而非真實,唯有個人之精神(我),和宇宙之最高原則(梵),方為同一不二之真實存在。 商羯羅之主要論點為:(一)梵論,商羯羅以為「梵」雖是真實而唯一者,但由於各人智慧不同,所體現之梵亦有上梵、下梵之分。(1)上梵,乃表現於「上智」之梵,為一絕對而實存之精神,其特性為:無德、無形、無差別、無屬性。(2)下梵,乃表現於無明「下智」之梵,其特性為:有德、有意志、人格性,此時有無數的有情存在。(二)世界觀,採取兩種看法,即:(1)從真諦門看,世界乃幻化迷妄之產物,亦即心識動,生萬物;心識不動,一切皆空。(2)從俗諦門看,世界之最初,唯有「梵」存在,其時,梵雖具有無量之種子力,然仍未發展為「名色」,此一冥然狀態稱為「非變異」;持續一段時期後,梵以自身之意志,發揮其種子力,將非變異世界變成紛華之現實世界,稱為「已變異」。再經一段時期,梵又收回此「已變異」狀態而回復「未變異」之世界,如是不斷反覆交替,乃為商羯羅之「下梵世界觀」。(三)有情觀,自上智立場觀之,並無有情之存在,僅有一唯一常住之「最上我」(梵 Haramātman);然自下智之立場觀之,由於下梵所具有之「人格性」,遂有下梵之世界出現,並因而產生無數有情,稱為「個人我」(梵 jivātman)。此等有情由於無明之故,乃附上五風、十一根、肉體等性質,猶如水中之月,映現出千差萬別之現象。(四)解脫觀:(1)從第一義諦而言,上智者具有常住、光明之真我,故不須經由修行證悟,此乃真實之「觀脫」(即無身解脫,梵 videha mukti),即可達於梵界。(2)從下梵之信仰而言,下智者則須修寂靜、節制、離欲、祭祀、苦行等,並於身滅之後,由天道而入於梵界。著有梵經(梵 Brahma-sūtra)注、薄伽梵歌(梵 Bhagavad-gītā)注、我之覺知(梵Ātma-bodha)、問答鬘(梵 Upadeśa-sāhasrī)、五分法等。
; Sankara (skt). 1) Kiết tường—Auspicious. 2) Tên của Thần Siva, dịch là Cốt Tỏa: Name for “Siva,” interpreted as “Bone-chains.” 3) Tên của vị ngoại đạo, một triết gia nổi tiếng vào thế kỷ thứ tám sau Tây Lịch, người nổi tiếng chống lại đạo Phật: Sankaracarya, the celebrated Indian philosopher of the eighth century A.D. who is known as a great opponent of Buddhism.
; (商羯羅) I. Thương Yết La. Phạm: Zaịkara. Cũng gọi: Thưởng ca la. Hán dịch: Cốt tỏa. Xâu chuỗi xương do ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa thờ phụng khi cúng tế. Ngoài ra cũng chỉ cho Thương yết la thiên, tức là Cốt tỏa thiên, là tên khác của trời Đại tự tại.Theo truyền thuyết, trời Đại tự tại từng xuống nhân gian giáo hóa, dắt dẫn người đời, sau khi trở về cõi trời, tín chúng tưởng nhớ nên tạo lập hình tượng khổ hạnh của ngài gầy gò, những đốt xương liền nhau như các vòng móc của chuỗi xích(tỏa) để thờ cúng, gọi là Cốt tỏa. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng]. (xt. Cốt Tỏa Thiên). II. Thương Yết La. Phạm: Zaịkara. Cũng gọi Thương yết la A xà lê (Phạm: Zaịkaràcàrya), Thương ca lạp. Nhà triết học thuộc phái Phệ đàn đa ở Ấnđộ, nhà cải cách Bà la môn giáo. Ông sinh ở Ma lạp ba nhĩ tại nam Ấn độ, sống và hoạt động vào khoảng thời gian từ năm 700 đến 750, hoặc có thuyết cho là từ năm 780 đến năm 820 Tây lịch. Ông thường đi khắp cõi Ấnđộ, thành lập giáo đoàn, tiến hành các hoạt động truyền giáo. Trực tiếp noi theo phương thức minh tưởng của Phệ đà và lí luận Vạn pháp nhất thể của Áo nghĩa thư, lại hấp thu tư tưởng Phật giáo Đại thừa và một phần giáo nghĩa của Kìna giáo mà cải cách Bà la môn giáo thành Ấn độ giáo; tạo thành lực xung kích rất lớn đối với Phật giáo và Kìna giáo, đồng thời thổi vào tư tưởng giới Ấnđộ một luồng gió mới, mà cho đến nay vẫn còn là dòng chính trong tư trào Ấnđộ. Hệ thống Nhất nguyên luận tuyệt đối(hoặc Thuần túy bất nhị luận) do ông kiến lập, cho rằng thế giới hiện tượng đều là huyễn tướng (Phạm: Màyà) chứ chẳng phải chân thực, chỉ có tinh thần cá nhân(Ngã) và nguyên tắc tối cao(Phạm) mới là sự tồn tại chân thực đồng nhất bất nhị.Những luận điểm chủ yếu của Thương yết la như sau: 1. Phạm luận: Thương yết la chủ trương Phạm tuy là chân thực và chỉ có một, nhưng vì trí tuệ của mỗi người có khác nhau, nên Phạm được thể hiện cũng chia ra Thượng phạm và Hạ phạm bất đồng. a. Thượng phạm: Phạm biểu hiện ở bậc Thượng trí là loại tinh thần tuyệt đối và có thật, đặc tính của Phạm này là: Vô đức, vô hình, vô sai biệt, vô thuộc tính. b. Hạ phạm: Phạm biểu hiện ở bậc Hạ trí vô minh, đặc tính của Phạm này là: Hữu đức, hữu ý chí, nhân cách tính, lúc này có vô số hữu tình tồn tại. 2. Thế giới quan: Có 2 cách nhìn. a. Nhìn từ môn Chân đế: Thế giới là sản phẩm của sự huyễn hóa mê vọng, cũng tức là tâm thức động thì sinh ra muôn vật, tâm thức lắng yên thì tất cả đều không. b. Nhìn từ môn tục đế: Thế giới lúc ban đầu chỉ có Phạm, bấy giờ tuy Phạm có vô lượng chủng tử lực nhưng vẫn chưa phát triển thành Danh sắc, trạng thái tối tăm tự nhiên này gọi là Phi biến dị(chẳng đổi khác). Sau khi tiếp tục kéo dài trong một thời kì, Phạm mới dùng ý chí của tự thân, phát huy năng lực của chủng tử mà biến thế giới phi biến dị thành thế giới hiện tượng thiên sai vạn biệt, gọi là Dĩ biến dị (đã đổi khác). Rồi trải qua một thời kì nữa, Phạm lại thu hồi trạng thái dĩ biến dị này và hồi phục thế giới Vị biến dị(chưa đổi khác), cứ như thế không ngừng lập đi lập lại nhiều lần, đó là Hạ phạm thế giới quan của Thương yết la. 3. Hữu tình quan: Nhìn từ lập trường Thượng trí thì hoàn toàn không có hữu tình, mà chỉ có một Tối thượng ngã (Phạm: Haramàtman) duy nhất thường trụ. Nhưng nhìn từ lập trường của Hạ trí thì vì Hạ phạm có nhân cách tính nên mới có thế giới Hạ phạm xuất hiện, đồng thời từ đó sinh ra vô số hữu tình, gọi là Cá nhân ngã (Phạm: Jivàtman). Những hữu tình này vì vô minh nên mang thêm các tính chất: Năm thứ gió, 11 căn, nhục thể... giống như bóng trăng trong nước ánh hiện ra các hiện tượng thiên sai vạn biệt. 4. Giải thoát quan: a. Nói theo Đệ nhất nghĩa đế thì bậc Thượng trí có chân ngã thường trụ, có ánh sáng, cho nên không cần phải tu hành mới chứng ngộ, đó là Thoát quan chân thực (tức vô thân giải thoát, Phạm: Videha mukti), nghĩa là đạt đến thế giới Phạm. b. Nói theo tín ngưỡng của Hạ phạm thì hàng Hạ trí phải tu tịch tĩnh, tiết chế, lìa dục, cúng tế, khổ hạnh... và sau khi thân diệt thì từ thiên đạo mà nhập vào thế giới Phạm. Ông có các trứ tác: Phạm kinh (Phạm: Brahma-sùtra) chú, Bạc già phạm ca (Phạm:Bhagavad-gìta) chú, Ngã chi giác tri (Phạm: Àtman-bodha) Vấn đáp man (Phạm: Upadeza-sahasrì), Ngũ phần pháp...
thương yết la chủ
4409梵名 Śaṃkara-svāmin。音譯商羯羅塞縛彌。意譯骨鏁主。又稱商羯羅主菩薩。係印度之因明學者,陳那之門人。為六世紀人,繼世親、陳那等後出。其學以因明為宗,釋其師陳那菩薩之因明正理門論,而著因明入正理論一卷,以破外道邪說,復興因明之學。又商羯羅乃大自在天之別名,師之父母以祈請此天而得師,故稱為商羯羅主。〔因明入正理論疏卷上、因明論疏瑞源記卷一〕(參閱「鏁鎖天」4353)
; Sankarasvàmin (S). Name.
; (商羯羅主) Phạm: Zaịkara-svàmin. Hán âm: Thương yết la tắc phạ di. Hán dịch: Cốt tỏa. Cũng gọi Thương yết la chủ bồ tát. Học giả Nhân inh người Ấn Độ, học trò ngài Trầnna, sống vào thế kỉ VI, ra đời kế sau ngài Thế Thân, Trần Na... Cái học của sư lấy Nhânminh làm tông chỉ, giải thích luận Nhân minh chính lí môn của thầy mình là bồ tát Trần Na, soạn luận Nhân Minh nhập chính lí 1 quyển để phá đổ tà thuyết của ngoại đạo, đồng thời phục hưng Nhân minh học. Thương yết la vốn là tên khác của trời Đại tự tại, cha mẹ sư nhờ cầu xin vị trời này mà sinh được sư nên đặt tên là Thương yết la chủ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1]. (x. Cốt Tỏa Thiên).
thương yết la chủ bồ tát
Śaṅkarasvāmin (S)Cốt tỏa chủ Bồ tátMôn đệ của ngài Trần Na.
Thương Yết La Chủ 商羯羅主
[ja] ショウカラシュ Shōkarashu ||| () An Indian logician of the end of the sixth century. He was a disciple of Dignāga and author of the Nyāyapraveśa-śāstra 因明入正理論, one of the most important works on logic in East Asia. => (s: Śaṃkarasvāmin). Nhà luận lý học Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ 6. Ngại là đệ tử của Trần Na (Dignāga) và là tác giả của Nhân minh nhập chính lý luận, một trong những tác phẩm chủ yếu về luận lý học ở Đông Á,
thương điếm
Trading place.
thương điền bách tam
4052(1891~1943)日本佛教劇作家。廣島人。早期仰慕西田哲學,遂入一燈園接受宗教、文學之薰陶。後與同道創辦雜誌「生命之流」,並發表戲曲之作「出家之弟子」一舉成名。該書描寫日本淨土真宗開祖親鸞寬恕一度背叛之親子善鸞及其徒弟唯圓而往生之經過,極富人道主義之色彩。倉田自幼病弱,然終其一生創作不輟。嘗與赤松克麿等人組織國民協會,成為佛教與日本主義結合之一大勢派,引起社會各界之回響。昭和十八年歿於自宅(東京大森),享年五十三。有倉田百三選集十三卷、倉田百三作品集六卷等遺世。
thương đàm
To negotiate.
Thương 傷
[ja] ショウ shō ||| (1) A wound, to receive a wound. (2) Pain, suffering--esp. mental or emotional suffering. => Có hai nghĩa : 1. Vết thương, bị thương. 2. Đau khổ thể xác và tinh thần--đặc biệt là đau khổ về tinh thần hay sự xúc cảm.
Thương-na Hoà-tu
商那和修; S: śānavāsin;|Tổ thứ 3 của Thiền tông Ấn Ðộ
Thương-yết-la-chủ
商羯羅主; C: shāngjiéluózhŭ; J: shōkarashu; S: śaṃkarasvāmin|Nhà luận lí học Ấn Độ vào cuối thế kỉ thứ 6. Sư là đệ tử của Trần-na (s: dignāga) và là tác giả của Nhân minh nhập chính lí luận (因明入正理論, s: nyāyapraveśa-śāstra), một trong những tác phẩm chủ yếu về luận lí học ở Đông á.
Thượng Tọa Định
(定上座, Jō Jōza, ?-?): nhân vật sống cuối thời nhà Đường, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc. Cuối phần Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), theo ký lục của Lâm Tế Lục (臨濟錄) cho thấy, ông thuộc pháp từ của Lâm Tế. Còn trong Bích Nham Lục (碧巖錄) thì sau khi đắc pháp, ông có vấn đáp với ba nhân vật Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯), Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và Khâm Sơn Văn Thúy (欽山文邃).
thước
1) Chim ác là: Magpie—Jay—Daw. 2) Nấu chảy kim loại—To melt metal. 3) Sáng rực: Bright—Glistening—Flashing—Shining.
thước ca la
6666梵語 cakra,巴利語 cakka。又作灼羯羅、斫迦羅、斫迦婆羅。為金剛、堅固、輪鐵等意。例如梵語之 Cakravāḍa,乃指鐵圍山。又如楞嚴經卷三(大一九‧一一九中):「爍迦羅心無動轉。」其爍迦羅一詞,乃精進、堅固之義。又爍迦羅眼,謂金剛眼、堅固眼,即指明定正邪、辨別得失之眼。〔碧巖錄第九則頌古、慧琳音義卷四十二、玄應音義卷二十三〕
; Xem Thiết vi.
; Sakraditya (skt)—Chước Ca Bà La—Chước Ca La—Chước Yết La. 1) Luân: Cakra (skt)—Vòng bánh xe—A wheel. 2) Núi Tu Di: See Meru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section. 3) Một vị vua của xứ Ma Kiệt Đà sau thời Phật Thích Ca. Vị nầy đã xây một tháp thờ Phật tại đây—A king of Magadha, some time after Sakyamuni's death, to whom he built a temple.
; (爍迦羅) Phạm: Cakra. Pàli:Cakka. Cũng gọi Chước yết la, Chước ca la, Chước ca bà la. Nghĩa là kim cương, cứng chắc, bánh xe sắt... Chẳng hạn như từ ngữCakravàđa của tiếng Phạm là chỉ cho núi Thiết vi (núi sắt bao quanh). Lại như kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 119 trung) nói: Tâm thước ca la không chuyển động, thì thước ca là có nghĩa là tinh tiến, kiên cố. Lại thước ca la nhãn nghĩa là mắt kim cương, mắt sắc sảo, tức chỉ cho con mắt sáng suốt thấy rõ tà chính, phân biệt được hay dở... [X. Bích nham lục tắc 9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.42; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
thước ca la a dật đa
See Thước Ca La.
thước ca ra
Unfaltering will; steadiness; unswerving in one's intention; strong determination; fixed purpose.
thước cạt để
See Thước Ngật Để.
thước ngật để
Sakti (skt)—Tướng hay dấu hiệu—A tally or sign.
thước phong lâm
Xem Trúc lâm Tịnh xá.
thước sào
1) Tổ chim ác là: A magpie's net. 2) Nơi dùng cho thiền tập: Sometimes applied to a place of meditation.
thước sào hoà thượng
6731(741~824)即唐代牛頭宗之道林禪師。杭州富陽人,俗姓潘(一說翁)。師嘗見秦望山有長松盤曲如蓋,遂棲止其上,故時人稱為鳥窠禪師;其側有鵲構巢,故有「鵲巢和尚」之稱。(參閱「鳥窠道林」4844)
; (鵲巢和尚) Thiền sư Trung quốc, tên là Đạo lâm, thuộc tông Ngưu đầu, sống vào đời Đường, người ở Phú dương, Hàng châu, họ Phan (có thuyết nói họ Ông). Sư từng thấy trên núi Tần vọng có cây tùng cao lớn, tàn tán uốn tròn như cái lọng, sư bèn trụ trên tàn cây ấy, cho nên người đương thời gọi sư là Điểu khòa thiền sư(Thiền sư ổ chim), bên cạnh sư có chim khách(thước) đến làm tổ, cho nên cũng gọi là Thước sào thiền sư (Thiền sư tổ chim khách). (xt. Điểu Khỏa Đạo Lâm).
thước viên
6731梵名 Veṇuvana kāraṇḍaka nivāpa。即指迦蘭陀竹林。梵語 kāraṇḍaka,意指好聲鳥,譯為鵲,故有將迦蘭陀竹林譯為竹林鵲園者。諸經中本無鵲園之語,然以阿育王之雞雀寺亦稱雀園,故取其音同而名為鵲園。例如廣弘明集卷二十內典碑銘集序所載(大五二‧二四四下):「鵲園善誘,馬苑弘宣。」上引「馬苑」一詞,即指漢之白馬寺。
; Veṇuvana-karandaka-nivapa (S)Vườn trúc Ca lan đà.
; Trúc Lâm—Vườn có nhiều chim ác là, ám chỉ vườn Trúc Lâm—Magpie garden, applied to Venuvana.
; (鵲園) Phạm: Veịuvana kàraịđaka nivàpa. Chỉ cho rừng trúc Ca lan đà. Tiếng Phạm: Kàraịđaka, Hán dịch là Thước (chim khách), là loài chim có giọng hót hay, vì thế rừng trúc Ca lan đà được dịch là Trúc lâm thước viên. Trong các kinh vốn không có từ ngữ Thước viên, nhưng vì chùa Kê tước của vua A dục cũng gọi là Tước viên, cho nên dựa theo đồng âm mà gọi là Thước viên. Chẳng hạn như bài tựa Nội điển bi minh tập trong Quảng hoằng minh tập quyển 20 (Đại 52, 244 hạ) nói: Thước viên khéo dụ, Mã uyển rộng tuyên, từ Mã uyển dẫn trên đây là chỉ cho chùa Bạch mã ở đời Hán.
thước yết la
Sakra (skt)—Thích Ca La—Thích Yết La—Xa Yết La. 1) Tên của Trời Đế Thích: Name of Indra. 2) Tên của một xứ vùng bắc Ấn: Name of a country north of India.
thước yết la giáo
Giáo pháp của Trời Đế Thích—Indra's dharma.
thước đổ lư
Satru (skt)—Tên của một loài quỷ (kẻ thù)—Name of a demon, enemy.
thướt tha
Slender.
thườn thượt
Very long.
thường
Nitya, sasvata (S). Prolonged, constant, always, unceasing, permanent, perpetual, ever, eternal; normal, regular, ordinary.
; 1) Thường hằng: Nitya (skt)—Eternity—Prolonged—Constant Permanent—Constant and eternal. 2) Bình thường: Normal—Ordinary—Regular—Often. 3) Bồi thường: To make amends—To compensate—To repay.
thường ba la mật
The first of the four pàramitàs, eternity.
; Thường là Ba La Mật đầu tiên trong Tứ Ba La Mật—Eternity—The first of the four paramitas, the others are Bliss (Lạc), Personality (Ngã), Purity (Tịnh)—See Thường Lạc Ngã Tịnh.
thường bi bồ tát
Xem Thường Đề Bồ tát.
thường bàn đại định
4533(1870~1945)日本宮城縣人,研究中國佛教之學者。號榴邱,屬真宗大谷派。十七歲入仙台市道仁寺,二十九歲畢業於東京帝國大學文科大學哲學科。歷任真宗中學、天台宗大學、日蓮宗大學、真宗大學、豐山大學、東京帝大等教師。氏畢生研究中國佛教,大正九年(1920)以後,曾先後五次親至中國,研究佛教史蹟,功不可沒。昭和六年(1931),自東京帝國大學退休。後任慶應義塾大學東方文化學院評議員,並兼任東洋大學教授。十四年,主持淺草本願寺兼大谷派本願寺東京分支機構之宗務。同年創立日本佛學院,並自任校長。二十年示寂,享年七十六。重要著作有:印度文明史、釋迦牟尼傳、支那佛教史蹟全六輯、支那佛教史蹟評解六冊、支那佛教史蹟英文評解五冊(與關野博士合著)、支那文化史蹟全十二輯、支那文化史蹟解說十二冊(與關野博士合著)。〔道仁寺藏碑文、大人名事典〕
; (常盤大定) Học giả nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc, người huyện Cung Thành, Nhật Bản, hiệu Lựu Khâu, thuộc phái Đại Cốc, Chân Tông.Năm 17 tuổi, ông vào chùa Đạo nhân ở phố Tiên đài, năm 29 tuổi tốt nghiệp môn triết học, khoa Văn thuộc trường Đại học Đông kinh. Ông lần lượt làm giáo sư các trường: Trung học Chân tông, Đại học Thiên thai tông, Đại học Nhật liên tông, Đại học Chân tông, Đại học Phong sơn, Đại học Đế quốc Đông kinh... Ông suốt đời nghiên cứu Phật giáo Trung quốc. Từ năm Đại chính thứ 9 (1920) trở đi, ông từng đến Trung quốc 5 lần, nghiên cứu sử tích Phật giáo. Năm Chiêu hòa thứ 6 (1931), ông nghỉ dạy ở Đại học Đế quốc Đông kinh. Sau, ông làm Bình nghị viên của học viện văn hóa Đông phương thuộc trường đại học Nghĩa thục Khánh ứng, đồng thời kiêm nhiệm giáo sư Đại học Đông dương. Năm Chiêu Hòa 14 (1939), ông sáng lập viện Phật học Nhật bản và tự làm Hiệu trưởng. Năm Chiêuhòa 20 (1945), ông qua đời, thọ 76 tuổi. Ông có các tác phẩm: Ấn độ văn minh sử, Thích ca mâu ni truyện, Chi na Phật giáo sử tích 6 tập; Chi na Phật giáo sử tích bình giải 6 tập; Chi na Phật giáo sử tích bình giải (Anh văn) 5 tập (soạn chung với Tiến sĩ Quan Dã), Chi na văn hóa sử tích 12 tập, Chi na văn hóa sử tích giải thuyết 12 (soạn chung với Tiến sĩ Quan dã). [X. Đạo nhân tự tàng bi văn; Đại nhân danh sự điển].
thường bất khinh bồ tát
4522常不輕,梵名 Sadāparibhūta。又作常被輕慢菩薩。略稱不輕菩薩。法華經常不輕菩薩品中所說之菩薩,係過去威音王佛滅後像法時出世之菩薩比丘,即釋尊之前身。此菩薩每見比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,皆悉禮拜讚歎,而作是言(大九‧一八四下):「我深敬汝等,不敢輕慢,所以者何?汝等皆行菩薩道,當得作佛。」眾人聞言而有生怒者,以瓦、石、木杖等擊之,然常不輕菩薩恭敬依然,乃至遠見四眾,亦復禮拜讚歎如昔,以故增上慢之四眾稱之為常不輕。此菩薩臨終時,聞威音王佛說法華經,得六根清淨,增益壽命,更為人宣說此經,顯現神通,遂令增上慢四眾歸服,常不輕菩薩終得成佛。當時之常不輕菩薩即為釋尊,增上慢四眾則指釋尊宣說法華經時,會上之跋陀婆羅等五百菩薩、師子月等五百比丘尼、思佛等五百優婆塞等。此菩薩之授記,係示現眾生悉有佛性;亦即表現大乘佛教精神之一位重要菩薩。常不輕之行,亦為古來篤行者所精修,歷代三寶紀卷十二所載,隋代僧信行,於道路不問男女均禮拜。念佛三昧寶王論卷上設有念未來佛一門,明示念佛與法華不輕行之不二。〔添品妙法蓮華經卷六、法華論卷下、法華經文句卷十上、法華經玄贊要集卷三十四〕
; SadaparibhŪta (S)Tiền thân Phật Thích Ca. Khi tại thế gặp ai trong tứ chúng Ngài đều bái mà nói: 'Tôi chẳng dám khinh Ngài vì Ngài sẽ thành Bồ tát', cho dù có người đánh chưởi Ngài cũng chỉ nói thế. Thường Bất Khinh Bồ Tát nhờ nghe kinh Pháp hoa nên đắc quả Phật.
; Sadàparibhùta (S). A monk who never slighted others, but assured all of Buddhahood, a former incarnation of Sàkyamuni.
; Sadaparibhuta (skt)—Theo Phẩm 20 Kinh Pháp Hoa, Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân Phật Thích Ca, Ngài luôn chào hỏi và tán thán những người Ngài gặp và nói “Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài rồi đây sẽ thành Phật.” Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—According to the Lotus Sutra, Chapter 20, Never Despite (Never Slighted) Bodhisattva was the previous incarnation of the Buddha. Bodhisattva who constant greeted all beings he met and praised that they were destined for Buddhahood. Never Despite (slighted others) Bodhisattva, a former reincarnation of Sakyamuni Buddha.
; (常不輕菩薩) Thường bất khinh, Phạm: Sadàparibhùta. Cũng gọi: Thường bị khinh mạnbồtát. Gọi tắt: Bất khinhtồtát. Vị Bồ tát nói trong phẩm Thường bất khinh bồ tát kinh Pháp hoa, là vị Bồ Tát tỉ khưu ra đời vào thời Tượng pháp của đức Phật Uy âm vương ở quá khứ, chính là tiền thân của đức Thích tôn. Vị Bồ tát này mỗi khi thấy các tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di thì đều lễ bái, khen ngợi và nói rằng (Đại 9, 184 hạ): Tôi rất cung kính quí vị, không dám khinh nhờn, vì sao? Vì quí vị đều thực hành đạo Bồ tát và sẽ được thành Phật. Mọi người nghe rồi cũng có người tức giận, lấy gạch, ngói, gậy gộc đánh, ném, nhưng Bồ tát thường bất khinh vẫn cung kính, cho đến thấy 4 chúng từ xa cũng lại lễ bái khen ngợi như trước, vì thế nên 4 chúng tăng thượng mạn gọi Ngài là Thường bất khinh. Lúc vị Bồ tát này lâm chung, nghe đức Phật Uy âm vương giảng nói kinh Pháp hoa, được 6 căn thanh tịnh, thọ mệnh tăng thêm, lại giảng nói kinh Pháp hoa cho người khác nghe, hiển hiện thần thông, nên làm cho 4 chúng tăng thượng mạn qui phục, cuối cùng Bồ tát Thường bất khinh được thànhPhật. Bồ tát Thường bất khinh thời bấy giờ nay chính là đức Thích tôn, 4 chúng tăng thượng mạn là chỉ cho 500 Bồ tát như Bạt đà ba la..., 500 tỉ khưu ni như Sư tử nguyệt..., 500 ưu bà tắc như Tư Phật... trên hội Pháp hoa của đức Thích tôn. Sự thụ kí của vị Bồtát này là thị hiện chúng sinh đều có Phật tính, cũng tức là1 trong các vị Bồtát quan trọng biểu hiện tinh thần của Phật giáo Đại thừa. Hạnh thường bất khinh cũng là hạnh tu của các hành giả chí thành xưa nay. Như trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 có ghi, ngài Tín hành đời Tùy, gặp bất kì ai trên đường đều lễ bái. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương quyển thượng, có lập một môn Niệm vị lai Phật cho thấy rõ rằng hạnh bất khinh trong kinh Pháp hoa và hạnh niệm Phật chỉ là một. [X. kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa Q.6; luận Pháp hoa Q. hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.10 thượng; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.34].
Thường Bất Khinh 常不輕
[ja] ジョウフギョウ jōfugyō ||| (1) To never despise; never look down upon; never take lightly. (2) Sadāparibhūta. The name of a bodhisattva in the Lotus Sutra; this was also a name of Śākyamuni in one of his previous lifetimes as a bodhisattva, when he saw the equality in all beings in their possession of the buddha-nature. 〔法華經 T 262.9.50c16〕 => 1. Không bao giờ xem thường ai; không bao giờ ra vẻ trịch thượng với ai, không bao giờ xem nhẹ ai. 2. Sadāparibhūta. Tên một vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa; đây cũng là tên của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong đời trước, khi đang tu hạnh Bồ-tát, thấy mọi chúng sinh đều bình đẳng trong Phật tính của họ.
thường bất tư nghì
Nityam-acintyam (S).
; Nityam-acintyam (S). Eternally unthinkable.
Thường Chiếu
常照; ?-1203|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 12. Sư kế thừa Thiền sư Quảng Nghiêm và truyền pháp lại cho Thông Thiền và Thần Nghi.|Sư họ Phạm, quê ở làng Phù Ninh. Ðời vua Lí Cao Tông, Sư có giữ một chức quan nhưng sau đó từ chức, xuất gia tu học với Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả. Trong hội Quảng Nghiêm, Sư là người đứng đầu chúng và ở lại hầu thầy nhiều năm.|Rời Quảng Nghiêm, Sư đến phường Ông Mạc trụ trì một ngôi chùa cổ nhưng sau lại dời về chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Học chúng quy tụ về ngày càng đông. Danh tiếng Sư vang khắp tùng lâm.|Ngày 24 tháng 9 niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai, Sư có chút bệnh gọi chúng lại nói kệ phó chúc:|道本無顏色。新鮮日日誇|大天沙界外。何處不爲家|Ðạo bản vô nhan sắc|Tân tiên nhật nhật khoa|Ðại thiên sa giới ngoại|Hà xứ bất vi gia.|*Ðạo vốn không màu sắc|Ngày ngày lại mới tươi|Ngoài đại thiên sa giới|Chỗ nào chẳng là nhà.|Nói xong, Sư ngồi Kết già thị tịch.
thường chiếu
4532<一>(?~1906)清代僧。海陵(廣東陽江)人。字昌道。號雲颿。通經史,能制藝。太平天國亂中,與家人失散,遂剃度為僧,依焦山大須習經論,復從觀心慧公參究禪法,俱有所成。其後,並繼任焦山定慧寺丈席,調御四眾,唯戒是依,清譽震四方。光緒三十二年示寂,世壽不詳。 <二>(1672~1703)日本真宗大谷派本願寺琢如上人第十五子,乃越中瑞泉寺住持。本名晴研,後改晴寬,法名常照。延寶五年(1677)出家,入井波町瑞泉寺。天和三年(1683)升導師。元祿十六年示寂,世壽三十二。著有日記四卷,俳諧文章及名月集等書。 <三>日本真宗本願寺派學者。一名臻道,又稱超倫菴。乃肥後八代郡人,幼投大谷派寺院出家,後從本願寺派法光寺受宗學,任肥後國玉名郡野部田村法光寺住持。生卒年不詳。著作有真宗安心相承義一卷、三帖和讚述要五卷等書。
; Tên của một thiền viện tân lập, tọa lạc tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa, Nam Việt Nam. Thiền viện được Thiền Sư Thích Thanh Từ sáng lập năm 1974, mang tên một danh sư Việt Nam thời Lý. Thiền viện hiện nay được mở rộng, là trung tâm của các thiền viện nổi tiếng trong vùng như Viên Chiếu (1974), Linh Chiếu (1974), Huệ Chiếu (1975), và Phổ Chiếu (1975)—Name of a newly built Ch'an Institute, located in Phước Thái village, Long Thành district, Biên Hòa province. The Ch'an Institute was built in 1972 by Most Venerable Thích Thanh Từ, and was named after a Vietnamese famous Master in the Lý dynasty. Nowadays, the enlarged Cha'n Institute is the center of other famous Ch'an Institutes, i.e. Viên Chiếu (1974), Linh Chiếu (1974), Huệ Chiếu (1975), and Phổ Chiếu (1975).
thường chiếu thiền sư
Zen Master Thường Chiếu (?-1203)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phù Ninh, Bắc Việt. Ngài là một viên quan của triều đình, nhưng xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Quảng Nghiêm tại chùa Tịnh Quả. Ngài là pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài đến làng Ông Mạc và trụ tại một ngôi chùa cổ. Phần đời còn lại của ngài, ngài dời về chùa Lục Tổ trong vùng Thiên Đức để hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1203—A Vietnamese Zen master from Phù Ninh, North Vietnam. He was a mandarin of the royal court before he left home and became a disicple of Zen master Quảng Nghiêm at Tịnh Quả Temple. He was the dharma heir of the twelfth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Ông Mạc village and stayed at an old temple for some years. He spent the rest of his life to expand Buddhism at Lục Tổ Temple in Thiên Đức. He passed away in 1203.
thường chuyển như thị kinh
4535即禪宗於印度相承二十八祖中,第二十七祖般若多羅之語。即般若多羅自言日常行為即合乎真如實相之狀態,而以經典譬喻真如實相,並謂自身與諸法融為一體之語。從容錄第三則(大四八‧二二九上):「祖云:『貧道入息不居陰界,出息不涉眾緣,常轉如是經,百千萬億卷。』」
; (常轉如是經) Lời ngài Bát nhã đa la, Tổ thứ 27 trong 28 vị Tổ phó pháp tương thừa của Thiền tông Ấn độ. Tức lời ngài Bát nhã đa la tự nói những hành vi hàng ngày chính là trạng thái hợp với chân như thực tướng và dùng kinh điển ví dụ cho chân như thực tướng, đồng thời cho rằng tự thân và các pháp dung hợp thành một thể. Thung dung lục tắc 3 (Đại 48, 229 thượng) ghi: Tổ nói: Bần đạo thở vào không trụ ấm giới, thở ra không dính mắc các duyên, thường chuyển như thị kinh trăm ngàn muôn ức quyển.
thường chân
4528遼代僧。生卒年不詳。嘗住河北趙州開元寺。作俱舍論頌疏鈔八卷,由南京(指今之北京)僧瓊煦校定,為唐代僧圓暉所撰俱舍論頌疏之注釋書。高麗僧義天攜疏鈔歸國,後於海印寺開版。
; (常真) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Liêu, từng ở chùa Khai nguyên tại Triệu châu, thuộc tỉnh Hàbắc. Sư có soạn bộ Câu xá luận tụng sớ sao 8 quyển, làsách chú thích Câu xá luận tụng sớ của ngài Viên Huy đời Đường. Sau, ngài Nghĩa thiên người Cao li mang bộ sớ sao này về nước rồi khắc in ở chùa Hải Ấn.
thường có
Frequent.
thường cảnh
Cảnh giới lìa bỏ tất cả mọi tướng sanh diệt—The eternal realm.
thường dân
Civilian.
thường dùng
In current (common) use.
thường dạ đăng
4527指於佛前無分晝夜,不斷點燃獻供之燈。又作長明燈、無盡燈、常燈明、常燈。蓋燃燈原為供佛之用,而佛乃獲得大覺悟、大解脫者,業已證得涅槃,其性真常,原無凡夫所謂晝夜明暗之別,然為令施者得福,故燃燈供佛之法,宜應晝夜不斷,常燃不熄。又賢愚經卷三所載貧女供燈之故事,或為常夜燈之起源。〔目連問戒律中五百輕重事經卷上問佛事品、四分律行事鈔資持記卷下四〕(參閱「長明燈」3597)
; (常夜燈) Cũng gọi Thường minh đăng, Vô tận đăng, Thường đăng minh, Thường đăng. Chỉ cho ngọn đèn không phân ngày đêm, không ngừng thắp sáng cúng dường trước Phật. Thắp đèn vốn là để cúng Phật, mà Phật là bậc đã đạt được đại giác ngộ, đại giải thoát, bậc đã chứng được Niết bàn, bản tính thường trụ, vốn không có cái mà phàm phu gọi là ngày đêm sáng tối khác nhau. Nhưng vì muốn cho người bố thí được phúc, cho nên pháp thắp đèn cúng Phật cũng nên thắp ngày đêm không dứt, thường cháy không tắt. Sự tích người đàn bà nghèo cúng đèn ghi trong kinh Hiền Ngu quyển 3 có lẽ đã bắt nguồn từ Trường dạ đăng. [X. phẩm Vấn Phật sự trong kinh Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự Q. thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q. hạ, phần 4]. (xt. Trường Minh Đăng).
thường giác
4535(1927~ )福建泉州人。幼年皈投崇福寺出家,於廈門南普陀養正院親近當代律學泰斗弘一律師。後至杭州武陵佛學院受教於會覺和尚,及南普陀大覺講舍親炙印順導師,並隨侍數十年,淡泊名利,得印公真髓。師精熟唯識,雅好文史,曾主編海潮音雜誌數年,並先後執教於太虛佛學院、佛光山叢林大學、慈雲佛學院、福嚴佛學院、中國文化大學印度文化研究所等。現隱居臺北近郊,專事研究、靜修,並任獅子吼雜誌主編。
thường hay
Consistently
Thường Hiểu
(常曉, Jōgyō, ?-866): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, húy là Thường Hiểu, thông xưng là Tiểu Lật Thê Luật Sư (小栗栖律師), Nhập Đường Căn Bản Đại Sư (入唐根本大師). Ban đầu ông theo Phong An (豐安) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) học về Tam Luận, đến năm 815 thì thọ giới, rồi sau đó thọ phép Quán Đảnh với Không Hải (空海, Kūkai). Vào năm 829, ông làm Đạo Sư cho Ngự Trai Hội, rồi năm 838 thì sang nhà Đường cầu pháp với tư cách là Lưu Học Tăng học về Tam Luận, rồi được Linh Tiên (靈仙), vị tăng sang nhà Đường trước ông, phó chúc lại các di phẩm tại Hoài Nam (淮南). Sau ông thọ phép Quán Đảnh với Văn Tế ở Thê Linh Tự (栖靈寺), Dương Châu (揚州), theo học Tam Luận với Nguyên Chiếu (元照) ở Hoa Lâm Tự (華林寺), và đến năm 839 thì trở về nước. Năm sau, ông cho an trí tượng Thái Nguyên Soái Minh Vương (太元帥明王) tại Pháp Lâm Tự (法琳寺), vùng Vũ Trị (宇治, Uji), rồi được sắc chỉ cho phép lập Tu Pháp Viện (修法院) để trấn hộ quốc gia, và cùng năm đó thì tiến hành pháp tu Thái Nguyên Soái tại Thường Ninh Điện (常寧殿) trong cung nội. Trước tác của ông để lại có Tôn Thắng Phật Đảnh Thứ Đệ (尊勝佛頂次第), Nhập Đường Căn Bổn Đại Sư Ký (入唐根本大師記), Tấn Quan Thỉnh Lai Lục (進官請來錄), A Tra Bà Câu Thứ Đệ (阿吒婆倶次第) 1 quyển.
thường hiểu
4534(?~865)日本真言宗僧。幼性俊利,弘仁六年(815)於東大寺受具足戒,後從空海習密教。承和三年(836)奉敕來唐,以遇風未果,五年再行。未久,入棲霞寺大悲持念院,就灌頂阿闍梨文㻮受金剛界大法,又習太元帥密法。三年後返國,奉上請回國之經書目錄,仁明天皇頗尊之。貞觀六年(863)出任權律師,八年示寂,世壽不詳。為來唐五家之一、八家之一。著有尊勝佛頂次第、入唐根本大師記等。〔常曉和尚請來目錄、入唐五家傳、元亨釋書卷三〕
thường hành
Constantly doing, or practising; ordinary procedure.
; 1) Những phương pháp bình thường: Ordinary procedures. 2) Thường xuyên tu hành—Constantly doing, or practising.
thường hành giả
Xem Trí Tràng Bồ tát.
thường hành tam muội
4523天台宗所立四種三昧之一。又作般舟三昧。即依般舟三昧經,於七日乃至九十日中旋遶行道以期見佛之修行方法。文殊般若經所說之「一行三昧」為「常坐三昧」,相對於此,常行三昧,特指專事行旋法。修行時,獨居閑處,常乞食,不受別請,嚴飾道場,備諸供具香餚甘果,盥沐其身。修行期間在阿彌陀佛像周圍步行,口中稱念阿彌陀佛名號,心中想念阿彌陀佛,即步步聲聲念念皆在阿彌陀佛,稱為三昧。完成此三昧即能見諸佛,故又作佛立三昧。善導所著般舟三昧行道往生撰中,將「般舟」意譯為常行道,即以三業無間,故有此稱。又於觀念法門一書中詳述般舟三昧見佛法。至宋代以降,所盛行之蓮社念佛,即繼承此法而來。日本則以天台宗開祖最澄於比叡山所立修四種三昧之制為始。〔摩訶止觀卷二上〕(參閱「般舟三昧」4300)
; (常行三昧) Cũng gọi Bát chu tam muội. Một trong 4 loại Tam muội do tông Thiênthai lập ra, là phương pháp hành đạo dựa theo kinh Bát chu tam muội bằng cách đi nhiễu quanh đạo tràng từ 7 cho đến 90 ngày để mong được thấy Phật. Nhất hạnh tam muội nói trong kinh Văn thù bát nhã tức là Thường tọa tam muội, là pháp đặc biệt chỉ chuyên việc ngồi; còn Thường hành tam muội thì trái lại, là pháp đặc biệt chỉ chuyên việc đi nhiễu. Khi tu pháp này, một mình ở nơi vắng vẻ, thường đi khất thực, không nhận thỉnh riêng, trang nghiêm đạo tràng, sắm sửa các vật cúng như hương đèn, hoa thơm, quả ngọt..., tắm gội thân thể. Trong thời gian tu hành, đi bộ chung quanh tượng Phật A di đà, miệng xưng niệm danh hiệu Phật A di đà, tâm tưởng niệm Phật A di đà, tức mỗi bước đi, mỗi tiếng niệm đều tưởng nhớ Phật A di đà, gọi là Tam muội. Hoàn thành Tam muội này liền được thấy chư Phật, cho nên cũng gọi là Phật lập tam muội(tức trạng thái thiền định thấy Phật đứng trước mặt hành giả). Trong Bát chu tam muội hành đạo vãng sinh tán do ngài Thiện đạo soạn, Bát chu được dịch là Thường hành đạo, vì 3 nghiệp hành đạo không gián đoạn nên gọi là Thường hành đạo. Còn trong Quán niệm pháp môn thì có nói rõ về pháp Bát chu tam muội thấy Phật. Từ đời Tống trở về sau, Liên xã niệm Phật được thịnh hành chính đã kế thừa pháp này mà có. Tại Nhậtbản thì tu 4 thứ Tam muội là các pháp Tam muội đầu tiên do Tổ khai sáng tông Thiênthai là ngài Tối trừng lập ra ở núi Tỉ duệ. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, thượng]. (xt. Bát Chu Tam Muội).
thường hành tam muội đường
4523即依般舟三昧經,以阿彌陀佛為本尊,為修念佛三昧所設之堂舍。略稱常行堂。又作常行佛立三昧院、般舟三昧院、阿彌陀三昧堂。般舟三昧法始行於東晉慧遠,其廬山般若臺精舍即此種念佛道場之濫觴。至唐代,承遠於衡山建般舟道場,其門人法照於五臺山竹林寺建道場,兩處均修般舟三昧。日本圓仁至五臺山,習得念佛三昧之法,回日本後,於比叡山建立常行三昧堂,始修不斷念佛之法。〔入唐求法巡禮行記卷三、顯戒論卷上〕
; (常行三昧堂) Gọi tắt: Thường hành đường. Cũng gọi: Thường hành Phật lập tam muội viện, Bát chu tam muội viện, A di đà tam muội đường. Chỉ cho ngôi nhà được thiết lập dành cho việc tu hành pháp Niệm Phật tam muội, pháp này dựa theo kinh Bát chu tam muội và thờ Phật A di đà làm Bản tôn. Pháp Bát chu tam muội bắt đầu được thực hành do ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn, tinh xá Bát nhã đài ở Lô sơn là nơi mở đầu cho các đạo tràng tu theo pháp này. Đến đời Đường, ngài Thừa viễn thiết lập đạo tràng Bát chu ở Hành sơn, học trò ngài Thừa viễn là sư Pháp chiếu thì lập đạo tràng ở chùa Trúc lâm trên núi Ngũ đài, cả hai đạo tràng đều tu Bát chu tam muội. Ngài Viên nhân người Nhật bản đến núi Ngũ đài tu tập pháp Niệm Phật tam muội; sau khi trở về Nhật bản, ngài kiến lập Thường hành tam muội đường ở núi Tỉ duệ, bắt đầu tu pháp Niệm Phật không gián đoạn. [X. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.3; luận Hiển giới Q. thượng].
thường hôn
4532唐代僧。并洲(山西太原)人。嘗發大誓願,往生淨土,專修淨業,曾書般若經萬卷。貞觀年間(627~649),遠至西域,欲參禮如來聖蹟,遂附舶南征,途經室利佛逝遇颶風,舟重將沈,諸人爭上小舶,師為讓他人而犧牲自己,遂合掌西向,稱念阿彌陀佛名號,與船同沒水中。〔西域求法高僧傳卷上、淨土聖賢錄卷二〕
thường hằng
Aksaya (S). Constantly, eternal; non decaying. Also trường tồn, vĩnh cửu.
; Permanent—Constantly.
thường khải
4529(1916~ )福建晉江人,俗姓洪。法名禪即,以號行世。年十一,禮泉州崇福寺元鎮法師出家。民國二十年(1931)受具足戒於泉州開元寺。先後就學於廈門萬石佛學研究社、寧波七塔寺報恩佛學院、泉州松社。師不僅深究佛理,尤長醫學,以醫濟世。後弘法於新加坡,並於當地創辦佛教施診所、南洋佛教月刊、文殊中學等。歷任中國佛教會福建省分會常務理事、泉州崇福寺監院、新加坡僧伽聯合會祕書、新加坡中醫師公會主辦藥物研究院院長等職,現任新加坡佛教總會總務主任、南洋佛教月刊發行人、文殊中學董事、佛教施診所祕書長等。著有戒月心珠、中醫正骨科學、伽陀吟草行世。一九八五年榮獲新加坡共和國總統頒發公共服務星章(BBM)。
thường kiến
quan điểm sai lầm cho rằng thân tâm này với các pháp thế gian là thường tồn, không dứt mất, chẳng hạn như cho rằng mỗi con người đều có một linh hồn bất diệt.
; 4526梵語 nityadṛṣṭi 或 śāśvatadṛṣṭi,巴利語 sassata-diṭṭhi。又作常邪見、常論。二見之一。為「斷見」之對稱。主張世界為常住不變,人類之自我不滅,人類死後自我亦不消滅,且能再生而再以現狀相續,即說我為常住;執著此見解,即稱常見。大慧書(大四七‧九二三中):「常見者,不悟一切法空,執著世間諸有為法,以為究竟。」說此常見之外道,則稱常見外道。常見之見解有多種差異:即認為過去、未來之我及世間為常之見解中,計前際(過去)之我及世間為常者,有一分常、一切常之別;計後際(未來)為常,而分有想、無想等之別。六十二見中,十八種為前際分別見,其餘四十四種為後際分別見;其中以四種遍常論、四種一分常論(屬前際分別見)、十六種有想論、八種無想論、八種非想非非想論(屬後際分別見),及計極微為常住之極微常住論,總為計常論。諸經論中,多明示以空觀對治常見。 釋尊既不偏於常(有)見,亦不偏於斷(無)見。至於靈魂不滅說,即屬常見之一例,虛無主義則為斷見之一例,釋尊主張遠離有、無兩邊,而取中道。斷常二見,俱非中道,總名邊見,乃五惡見之第二。〔雜阿含經卷三十四、北本涅槃經卷二十七、大毘婆沙論卷四十九、瑜伽師地論卷六〕(參閱「斷見」6560)
; Śāśvatadṛṣṭi (S), Sassata-diṭṭhi (P), Nityadṛṣṭi (S), Sasvatadṛṣṭi (S).
; The view that (personality) is permanent.
; Eternalism—Holding to the view of permanence or immortality—Permanence—The view that holds personality as permanent—See Nhị Kiến (B) (2).
; (常見) Phạm:Nityadfwỉi, Zàzvatadfwỉi. Pàli:Sassata-diỉỉhi. Cũng gọi: Thường tà kiến, Thường luận. Đối lại: Đoạn kiến. Một trong 2 thứ kiến chấp. Tức kiến chấp chủ trương thế giới là thường còn không biến đổi, cái Ta của con người là bất diệt, cái ta của con người sau khi chết cũng không tiêu mất, lại có khả năng tái sinh và diễn lại hiện trạng tương tục, tức nói Ta là thường còn; chấp trước kiến giải này gọi là Thường kiến. Đại tuệ thư (Đại 47, 923 trung) nói: Thường kiến có nghĩa là không hiểu tất cả pháp đều không, chấp trước các pháp hữu vi ở thế gian là rốt ráo. Ngoại đạo chủ trương Thường kiến này gọi là Thường kiến ngoại đạo. Kiến giải về Thường kiến có nhiều thứ khác nhau, tức trong kiến giải thừa nhận cái Ta quá khứ, vị lai và thế gian làthường, những người chấp cái Ta quá khứ và thế gian là thường, thì có một phần thường và hết thảy thường khác nhau.; còn những người chấp vị lai là thường thì có hữu tưởng và vô tưởng khác nhau. Trong 62 kiến chấp thì 18 kiến chấp là Quá khứ(tiền tế) phân biệt kiến, 44 kiến chấp còn lại là Vị lai (hậu tế) phân biệt kiến. Trong đó, 4 thứ Biến thường luận, 4 thứ Nhất phần thường luận (thuộc Quá khứ phân biệt kiến), 16 thứ Hữu tưởng luận, 8 thứ Vô tưởng luận, 8 thứ Phi tưởng phi phi tưởng luận(thuộc Vị lai phân biệt kiến) và Cực vi thường trụ luận chấp cực vi là thường trụ đều thuộc về Kế thường luận. Trong các kinh luận thường chỉ bày rõ việc dùng Không quán đối trị Thường kiến.Đức Thích tôn thì chẳng thiên về Thường kiến (Hữu kiến), mà cũng không thiên về Đoạn kiến(Vô kiến). Còn thuyết Linh hồn bất diệt thì thuộc về Thường kiến, Hư vô chủ nghĩa thì thuộc về Đoạn kiến; đức Thíchtôn thì xa lìa 2 bên Hữu, Vô mà chủ trương Trung đạo. Thường kiến và Đoạn kiến đều chẳng phải Trung đạo, đều là Biên kiến, Thiên kiến, là Ác kiến thứ 2 trong 5 Ác kiến. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.49; luận Du già sư địa Q.6]. (xt. Đoạn Kiến).
Thường kiến 常見
[ja] ジョウケン jōken ||| The eternalistic view--the notion that the self and the objects of the world exist and persist. The opposite of the nihilistic view 斷見. => Quan niệm thường hằng--quan niệm cho rằng bãn ngã và các pháp tồn tại và mãi mãi thường còn. Ngược lại là Đoạn kiến (e: nihilistic view 斷見).
thường lưu
4528指凡俗之人物。又作常凡。從容錄第四十七則(大四八‧二五六下):「庭前柏樹,竿上風幡,如一華說無邊春,如一滴說大海水,間生古佛,迴出常流,不落言思。」
; (常流) Cũng gọi Thường phàm. Chỉ cho nhân vật phàm tục. Thung dung lục tắc 47 (Đại 48, 256 hạ) ghi: Cây bách trước sân, phướn gió trên sào, như một đóa hoa nói lên ý xuân man mác, như một giọt nước nói lên biển cả mênh mông, thế gian sinh cổ Phật, khác xa thường lưu, không rơi vào nói năng, suy nghĩ.
thường lạc
Everlasting joy.
thường lạc ngã tịnh
4533<一>大乘涅槃與如來法身所具足之四德。又稱涅槃四德。達涅槃境界之覺悟為永遠不變之覺悟,謂之常;其境界無苦而安樂,謂之樂;自由自在,毫無拘束,謂之我;無煩惱之染污,謂之淨。〔北本涅槃經卷二十三、佛性論卷二〕(參閱「四德」1829) <二>凡夫不知一己與世界之真相本為無常、苦、無我、不淨,而生之四種謬誤見解。常,以為人將永遠存在;樂,以為人生是快樂的;我,以為有自由、自主、可掌握的主體之「我」;淨,以為身心是清淨的。此亦即四顛倒。故印度之早期佛教,為對治此四顛倒,而教之修習觀身不淨、觀受是苦、觀心無常、觀法無我等四念處。(參閱「四顛倒」1852)
; Bốn phẩm chất của cuộc đời Đức Phật được giảng trong Kinh Niết Bàn—The four paramitas of knowledge—Four noble qualities of the Buddha's life expounded in the Nirvana Sutra—Four transcendental realities in nirvana (Eternity, Bliss, Personality or true self, Purity).
; (常樂我淨) I. Thường Lạc Ngã Tịnh. Cũng gọi Niết bàn tứ đức. Chỉ cho 4 đức của Niết bàn Đại thừa và pháp thân Như lai. Sự giác ngộ đạt đến cảnh giới Niết bàn là sự giác ngộ vĩnh viễn không biến đổi, được gọi là Thường; cảnh giới ấy không có các khổ não, chỉ có an vui, gọi là Lạc; được tự do tự tại, không một mảy may bó buộc, gọi là Ngã; không có phiền não nhiễm ô, gọi là Tịnh. [X. kinh Niết bàn Q.23 (bản Bắc); luận Phật tính Q.2]. (xt. Tứ Đức). II. Thường Lạc Ngã Tịnh. Chỉ cho 4 kiến giải sai lầm vì phàm phu không biết chân tướng của mình và thế giới vốn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà sinh ra. Thường là hiểu lầm rằng con người sẽ tồn tại vĩnh viễn; Lạc là cho rằng đời người là khoái lạc; Ngã là tưởng lầm mình có tự do, tự chủ, là cái ta chủ thể có thể nắm bắt được; Tịnh là cho rằng thân tâm mình trong sạch. Đây cũng là 4 cái điên đảo. Cho nên Phật giáo thời kì đầu ở Ấn độ đã dạy tu tập 4 Niệm xứ để đối trị 4 cái điên đảo này, đó là: Quán thân là bất tịnh, Cảm thụ là khổ, tâm là vô thường, các pháp là vô ngã. (xt. Tứ Điên Đảo).
thường lạc tự
4533位於河南武安縣。寺後之鼓山有北響堂山石窟。本寺創建於北齊,世宗高澄葬父高歡於避暑宮,並改為佛寺。文宣帝因見聖僧所現之靈瑞,於此開鑿三石窟,敕造佛像,初名「石窟寺」,天統年間(565~569)令僧稠禪師住持,並改稱「智力寺」。宋嘉祐年間(1056~1063)改稱今名。後毀於兵亂,金皇統八年(1148),尚書胡礪重修,至天德二年(1150)始告竣工,至明、清時,仍續有修補。
thường lập thắng phan
Anavanamita-vaidjayanta (S)Đức Thích Ca có thọ ký cho ngài A Nan vể vị lai sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, cõi của ngài là Thường lập Thắng Phan, kỳ kiếp là Diệu âm biến mãn.
; Avanamita-vaijayanta (skt)—Danh hiệu của Đức Phật mà ngài A Nan sẽ thành sau nầy—Ever errect victorious banner—Name of Ananda's future Buddha-realm.
Thường Lục
(常陸, Hitachi): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc đại bộ phận của Ibaraki-ken (茨城縣).
thường lục thiên đức tự ngữ lục
4529凡四卷。詳稱月坡禪師住常陸州岱宗山天德寺語錄。日本曹洞宗僧月坡道印(1637~1716)撰,元湛等編。收於大正藏第八十二冊。收錄道印住天德寺時之入門、上堂、小參、普說、茶話、機緣、拈古、頌古、法語、開光、拈香、佛事、詩偈七言律、歌、書等法語。
; (常陸天德寺語錄) Gọi đủ: Nguyệt pha thiền sư trụ Thường lục châu Đại tông sơn Thiên đức tự ngữ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Nguyệt pha Đạo ân (1637-1716) thuộc tông Tào động Nhật bản soạn, các vị Nguyên trạm... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung thu chép các pháp ngữ của ngài Đạo ấn khi trụ chùa Thiên đức gồm: Nhập môn, thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, trà thoại, cơ duyên, niêm cổ, tụng cổ, pháp ngữ, khai quang, niêm hương, Phật sự, thị kệ, ca, thư...
thường lực
Lực không bao giờ mất—Unfailing powers.
thường một
Ever drowning in the sea of mortality.
; Luôn luôn bị chìm đắm trong biển sanh tử—Ever drowning in the sea of mortality.
thường một chúng sinh
4526即指常沈淪於迷界,不得出離之眾生。又作常沒凡夫。北本涅槃經卷三十二,比喻河如生死大海,洗浴如出家受戒有清淨功能,賊如煩惱,採花即如以七淨花為因而擬求涅槃果。由上述之譬喻而舉出恆河邊七種人:(一)闡提,(二)人天,(三)內凡,(四)四果,(五)緣覺,(六)菩薩,(七)佛。此七種人或為洗浴、或恐畏寇賊、或因採花而入河中。其中第一種人,因羸弱無力又未習升浮,故沈沒河中;恰如闡提之人親近惡友,聽受邪法,以惡業重、無信力而沈沒生死河。第二種人雖具身力,一度能出離,然以未習浮升,故還沈沒;恰如人天雖進又退,曾親近善友,能生信心,卻又遇惡友,受邪法,反沒入生死河中。此二種人皆為外凡,常沒入生死河不得出離。
; (常沒衆生) Cũng gọi Thường một phàm phu. Chỉ cho chúng sinh thường chìm đắm trong cõi mê không thoát ra được. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) ví dụ sông như biển lớn sinh tử, tắm gội như việc xuất gia thụ giới có công năng thanh tịnh, giặc cướp như phiền não, ví dụ việc hái hoa như dùng hoa thất tịnh làm nhân để cầu quả Niết bàn. Từ các ví dụ trên mà nêu ra 7 hạng người bên sông Hằng: Xiển đề, người trời, nội phàm, 4 quả, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Bảy hạng người này, có người xuống sông để tắm gội, có người xuống sông vì sợ giặc cướp, có người xuống sông để hái hoa. Trong đó, hạng người thứ nhất vì sức yếu đuối lại không biết bơi nên bị chìm trong sông; giống như hạng người Xiển đề gần gũi bạn ác, nghe theo tà pháp, vì nghiệp ác sâu nặng lại không có đức tin nên chìm đắm trong sông sinh tử. Hạng người thứ hai tuy có đủ sức khỏe, đã 1 lần ra khỏi, nhưng vì chưa tập bơi lội nên bị chìm lại, giống như người trời tuy tiến lại lui, đã từng gần gũi bạn lành, lại có tín tâm, nhưng lại gặp bạn ác, nghe theo tà pháp nên lại chìm trong sông sinh tử. Hai hạng người nói trên đều là phàm phu, thường chìm đắm trong sông sinh tử không thoát ra được.
thường nghiệp
Āciṇṇa-kamma (P), Bahula kamma (P), Habitual karma.
; Acinna-kamma (P). Habitual karma.
; Acinna (p)—Habitual karma—See Nghiệp Thường.
thường nhuận
4533(?~1585)明代曹洞宗僧。南昌(江西)進賢人,俗姓黃。字大千,號幻休,世稱幻休常潤禪師。幼入伏牛山禮坦然平出家,越三載而質疑未決,遂南遊徑山,參謁萬松林,復參禮大方蓮,不得所契,聞小山宗書之法道異於諸方,遂往宗鏡菴參謁之,得嗣其法。宗書示寂後,應眾之請,於神宗萬曆二年(1574)繼席少林,力荷大法,以道自任,入室者二百七十人。於萬曆十三年四月示寂,世壽不詳。〔五燈會元續略卷一、五燈全書卷六十一、續燈正統卷三十七〕
thường nhãn
Mắt thịt của phàm phu—The ordinary physical eye.
thường niên
Yearly—Annually.
thường niệm
Always remembering; always repeating.
; Luôn luôn ức niệm (theo Kinh Pháp Hoa, nếu có chúng sanh có nhiều dâm dục, mà biết thường xuyên niệm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát, thì có thể lìa bỏ dâm dục)—Always remembering; Always repeating.
thường niệm phật
4527謂長時間相續不斷的念佛。又作不斷念佛。即固定時日或於二六時中,不間斷地誦念彌陀名號。為淨土宗之修習法。相當於四種三昧中之常行三昧。此法乃依據觀無量壽經(大一二‧三四六上):「如是至心,令聲不絕,具足十念,稱南無阿彌陀佛。」觀無量壽經疏卷四(大三七‧二七二中):「一心專念彌陀名號,行住坐臥,不問時節久近,念念不捨者,是名正定之業。」(參閱「念佛」3208、「常行三昧」4523)
; (常念佛) Cũng gọi Bất đoạn niệm Phật. Niệm Phật liên tục không ngừng trong thời gian dài. Tức trong số ngày cố định hoặc trong 12 thời hằng ngày, liên tiếp niệm danh hiệu Phật A di đà không gián đoạn. Đây là pháp tu tập của tông Tịnh độ, tương đương với Thường hành tam muội trong 4 loại tam muội. Pháp này y cứ theo lời dạy trong kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, khiến cho tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Na mô A di đà Phật. Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 272 trung) nói: Một lòng chuyên niệm danh hiệu Diđà, đi đứng ngồi nằm, bất luận thời gian lâu mau, niệm niệm không bỏ, đó gọi là Chính định nghiệp. (xt. Niệm Phật, Thường Hành Tam Muội).
thường niệm quan âm
4528謂長時期相續不斷的憶念觀音。出自法華經卷七普門品(大九‧五七上):「若有眾生多於婬欲,常念恭敬觀世音菩薩,便得離欲。」常念,為時常提起正念之意。正念有事理二種:(一)事之常念,指晝夜、行住坐臥皆念觀音之神力而不忘。(二)理之常念,可依藏、通、別、圓四教而有差異,然皆以觀音為正念之體。(1)就藏教而言,以不淨觀、九想觀遠離婬心。(2)就通教而言,則以諸男女之境界,皆由因緣生,觀自性空以滅欲情。(3)就別教而言,先以即空之觀破實有之執,次用假有之觀破空相之執,後觀非空非有以離空假二邊,而隨順中道。(4)就圓教而言,以一切境界原本融通一味無別體,能愛、所愛莫非法性、實相,無自他之別,畢竟無相,故愛著之心即息,此乃不斷自除之術。〔摩訶止觀卷九上、止觀輔行傳弘決卷九之二〕
; (常念觀音) Nhớ nghĩ Quán âm tương tục không ngừng trong thời gian dài. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 thượng) nói: Nếu có chúng sinh nào đa dâm mà thường niệm cung kính bồ tát Quán thế âm thì lìa được dâm dục. Thường niệm là thường khởi tâm chính niệm. Chính niệm có 2 mặt là Sự và Lí. 1. Thường niệm về mặt Sự: Ngày đêm, đi đứng ngồi nằm đều niệm thần lực của Quán âm không lúc nào quên. 2. Thường niệm về mặt Lí:Y cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên mà có khác nhau, nhưng đều lấy Quán âm làm thể của chính niệm. a. Nói theo Tạng giáo thì dùng Bất tịnh quán và Cửu tưởng quán để xa lìa tâm dâm.b. Nói theo Thông giáo thì xem các cảnh giới nam nữ đều do nhân duyên sinh ra, quán tự tính không để diệt tình dục. c. Nói theo Biệt giáo thì trước hết quán tức không để phá chấp có thật, kế đến quán có giả để phá chấp tướng không, sau cùng quán chẳng có chẳng không để lìa 2 bên không, giả mà thuận theo Trung đạo. d. Nói theo Viên giáo thì xem tất cả cảnh giới vốn dung thông nhất vị không có thể tính riêng, năng ái, sở ái đều là pháp tính, thực tướng, không có mình, người khác nhau, rốt ráo vô tướng, cho nên tâm ái trước liền diệt, đó là cách không đoạn mà tự trừ. [X. Ma ha chỉ quán Q.9 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.9, phần 2].
Thường Phước Tự
(常福寺, Jōfoku-ji): ngôi tự viện của Tịnh Độ Tông, hiệu núi là Thảo Địa Sơn (草地山); tên chính thức là Thảo Địa Sơn Liên Hoa Viện Thường Phước Tự (草地山蓮華院常福寺); hiện tọa lạc tại số 1222 Urizura (瓜連), Naka-shi (那珂市), Ibaraki-ken (茨城縣). Chùa được Liễu Thật Thượng Nhân (了實上人), Tổ thứ 6 của Tịnh Độ Tông, sáng kiến trong khoảng thời gian niên hiệu Diên Nguyên (延元, 1336-1339). Sau đó, vào năm 1388 (Gia Khánh [嘉慶] 2), Tăng Phòng bị cháy rụi, vị Tổ đời thứ 2 của chùa là Liễu Dự Thượng Nhân (了譽上人) mới dời chùa về khu di tích Thành Qua Liên (瓜連城) và tái kiến lại như cũ. Từ đó về sau, chùa kết thâm giao với nhà Thiên Hoàng, chính quyền Mạc Phủ, nên đã phát triển rực rỡ. Chùa quản lý khoảng hơn 100 ngôi chùa con và hưng thịnh tột đỉnh. Tuy nhiên, vào năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), chùa bị tước đi ấn tín cũng như khá nhiều đất đai sở hữu, cho nên phải chịu cảnh hoang phế. Về sau, các đời Trú Trì đã tận lực lập kế hoạch tái kiến chùa và kiến trúc hiện tại được xây dựng vào năm 1973 (Chiêu Hòa [昭和] 48).
thường quang
ánh hào quang thường tỏa chiếu ra từ nơi thân Phật, cũng gọi là Thân quang, khác với Phóng quang là ánh hào quang phóng ra khi có những nhân duyên nhất định.
; 4522佛所具三十二相之一。即常圍繞佛菩薩身邊,晝夜恆照之光明。又稱圓光、丈光、常光一丈、常光一尋。大毘婆沙論卷一七七謂,面各一尋,周帀佛身,晝夜常照之光明,稱為常光。大乘經典則謂,諸佛以常光遍照十方,不限一尋。大智度論卷八載,佛唯現一丈之光明,乃因五濁惡世中薄福鈍根者,眼微不堪見,若利根福厚者,如來則為之常現無量之光明。至於阿彌陀佛之光明,以因位之願行,故以常光常徧照十方世界。眾生若見佛之常光必得阿耨多羅三藐三菩提。又平等覺經卷一以常光為頭光;觀無量壽經則視之為身光。常光與神通光不同,神通光係臨時發放之光明,如釋迦如來欲說法華經時,所放之光照東方一萬八千之土,即是神通光。大法炬陀羅尼經卷四說常光與放光之別,於平時唯有常光,若有因緣始放異光。因若佛常放殊異之光,世間即無有日月星辰、晝夜時節、晦朔弦望,乃至春夏秋冬之別。〔過去現在因果經卷一、舊華嚴經卷三十佛不思議法品〕(參閱「三十二相」507、「光明」2173)
; The unceasing radiance of the Buddha's body, represented as a halo.
; Ánh sáng không ngừng của hóa thân Phật—The constant or eternal light—The unceasing radiance (halo) of the Buddha's body.
; (常光) Cũng gọi Viên quang, Trượng quang, Thường quang nhất trượng, Thường quang nhất tầm. Vòng hào quang của Phật, 1 trong 32 tướng của Phật. Tức ánh sáng thường bao quanh bên thân Phật, Bồ tát, chiếu sáng suốt ngày đêm. Theo luận Đại tì bà sa quyển 177 thì ánh sáng chiếu ra xa mỗi phía 1 tầm (8 thước Tàu) bao quanh thân Phật, thường chiếu sáng ngày đêm, gọi là Thường quang. Kinh điển Đại thừa thì cho rằng Thường quang của chư Phật soi sáng khắp 10 phương, chứ không giới hạn ở 1 tầm. Luận Đại trí độ quyển 8 cho rằng Phật chỉ hiện ánh sáng 1tầm là vì chúng sinh độn căn bạc phúc ở cõi đời 5 trược ác, có đôi mắt bé nhỏ không thể thấy xa rộng hơn; nếu những chúng sinh lợi căn phúc lớn thì sẽ thấy được vô lượng ánh sáng của Như lai. Còn ánh sáng của đức Phật A di đà thì vì hành nguyện ở Nhân vị nên Thường quang của Ngài chiếu khắp các thế giới trong 10 phương. Nếu chúng sinh thấy được Thường quang của Phật thì chắc chắn sẽ chứng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Kinh Bình đẳng giác gọi Thường quang của Phật là Đầu quang (ánh sáng của đầu), kinh Quán vô lượng thọ quyển 1 thì gọi Thường quang của Phật là Thân quang (ánh sáng của thân). Thường quang và Thần thông quang có khác nhau. Thần thông quang là ánh sáng phát ra lúc lâm chung, như đức Thích ca Như lai khi muốn nói giảng kinh Pháp hoa thì ánh sáng do Ngài phóng ra chiếu sáng 18000 cõi nước ở phương Đông, đây tức là Thần thông quang. Lại kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 4 cho rằng Thường quang và Phóng quang có khác nhau, lúc bình thường chỉ có Thường quang, nếu khi có nhân duyên mới phóng quang khác. Vì nếu Phật thường phóng ra ánh sáng khác lạ thì thế gian sẽ không có mặt trời, mặt trăng, các vì sao, ngày đêm thời tiết, trăng tròn, trăng khuyết cho đến xuân, hạ, thu, đông khác nhau. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; phẩm Phật bất tư nghì pháp trong kinh Hoa nghiêm Q.30 (bản dịch cũ)]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng, Quang Minh).
thường số
4532<一>即指通常之理法。肇論(大四五‧一六一中):「夫涅槃之道,妙盡常數,融治二儀,蕩滌萬有,均天人,同一異。」 <二>指一定之命運。〔本朝高僧傳卷三十一〕
; (常數) I. Thường Số. Chỉ cho lí pháp thông thường. Triệu luận (Đại 45, 61 trung) nói: Đạo niết bàn mầu nhiệm tận cùng thường số, dung hợp hai nghi, rửa sạch muôn vật, trời người đồng đều, một khác như nhau. II. Thường Số. Chỉ cho vận mệnh nhất định. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.31].
thường thuyết sí nhiên thuyết vô nhàn yết
4532唐代僧南陽慧忠回答一僧所問之語。意謂盡十方界之一切存在,莫非法之顯現,皆經常而無間斷地說法。〔正法眼藏無情說法〕
thường thân
Thân thường trụ của Phật—Permanent or eternal body of the Buddha—Eternal Buddha-body (Dharmakaya).
thường thường
Usually—Ordinarily—Always—Generally.
thường thị trịch hạ bút
4526禪宗公案名。又作常侍擲筆。此公案係指唐代僧溈山靈祐法嗣在俗弟子,任常侍官職之王敬初,與同門京兆府之米胡互相之問答。五燈會元卷九載,王常侍一日辦完事務,米和尚來訪。常侍乃舉筆示之,米謂(大五一‧二八六上):「還判得虛空否?」常侍擲下筆入宅便不復出。米和尚致疑,請託供養主備設筵席,藉以試探其意。常侍才坐,供養主便問昨日為何不復見之事。常侍答曰:「師子齩人,韓獹逐塊。」米和尚終得明白。常侍再試米和尚,豎起一隻筷子,米謂:「這野狐精!」常侍云:「這漢徹也!」 此公案,係常侍說明邪見外道為求解脫,僅欲斷死而不知斷生。若法不生即無有滅,如人以物塊擲獅子,獅子逐人,便不再被物塊所擲;如以物塊擲狗,狗逐物塊而不逐人,物塊終不息。亦即菩薩著眼於根本,外道、凡夫著眼於末梢,終無所得。米和尚明了此理之後,與常侍之對答遂相契合。〔景德傳燈錄卷十一〕
thường tinh
4530(1896~1939)江蘇如皋人,俗姓朱。名寂祥,後以嗣光孝寺法派,易名優祥。每自署名「雉水沙門」。少為孤兒,年十二,依福成寺自誠長老出家。二十歲,入上海華嚴大學,未久,往寶華山受具足戒。曾從月霞法師學華嚴,又隨諦閑法師習天台。後矢志改革僧制,振興僧伽教育,與太虛大師相呼應。民國十四年(1925),南普陀寺請師創辦閩南佛學院,並受聘為該寺住持。其後又住持光孝寺、萬壽寺等名剎。民國二十八年示寂於上海。著有佛法概論、圓覺經講義、大乘起信論親聞記、因明入正理論要解等書。
; (常惺) Danh tăng Trung Quốc, sống vào thời Dân quốc, người ở huyện Như cao, tỉnh Giang Tô, họ Chu, tên Tịch tường, sau sư nối pháp giòng chùa Quang Hiếu mới đổi tên là Ưutường, thường tự kí tên là Trĩ thủy sa môn. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, năm 12 tuổi, nương vào Trưởng lão Tự thành ở chùa Phúc thành xuất gia. Năm 20 tuổi, sư vào học tại Đại học Hoa nghiêm ở Thượng hải, ít lâu sau, đến núi Bảo hoa thụ giới Cụ túc. Sư từng theo ngài Nguyệt hà học Hoa nghiêm và theo ngài Đế nhàn học Thiên thai. Sau, sư quyết tâm cải cách chế độ tăng già, chấn hưng giáo dục tăng sĩ, liên kết chặt chẽ với Đại sư Thái hư. Năm 1925, chùa Nam Phổ đà thỉnh sư sáng lập viện Phật học Nam mân, đồng thời thỉnh sư giữ chức Trụ trì chùa này. Về sau, sư còn trụ trì các chùa danh tiếng khác như chùa Quang hiếu, chùa Vạn thọ... Năm 1939, sư thị tịch ở Thượng hải. Sư có các tác phẩm: Phật pháp khái luận, Viên giác kinh giảng nghĩa, Đại thừa khởi tín luận tâm văn kí; Nhân minh nhập chính lí luận yếu giải.
thường tinh tiến bồ tát
Eternal vigour Bodhisattva.
thường tinh tấn bồ tát
Nityodhyukta (S), Nityodhyukta-bodhisattva (S), Viriyarabdhika (S), Satasamitabhiyukta (S), Joshojin (J), Joshojin-Bosatsu (J), Bosatsu (J)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Nitya Bodhisatvas.
Thường tinh tấn 常精進
[ja] ジョウショウシン jōshōshin ||| (1) To make constant effort. (2) The name of a bodhisattva (Nityodyukta). 〔法華經 T 262.9.2a9〕 => 1. Nỗ lực thường xuyên. 2. Danh hiệu của một vị Bồ-tát (s: Nityodyukta).
thường toạ tam muội
4525為天台宗所立四種三昧之一。又作一行三昧。依文殊師利所說般若波羅蜜經而修之法,即於一靜室或空閑處,安一繩床,傍無餘座,以九十日為一期,結跏趺坐,不動不搖不萎不倚,以坐自誓,不拄肋床,除經行、飲食、便利外,必常隨一佛,端坐正向,時刻相續,須臾不廢,若起睡蓋、疲倦、疾病等內外障,欲奪正念,當常專稱一佛之名,慚愧懺悔,以命自歸。若能於一期中精勤不懈,念念無間,則能破除業障,顯發實相之理,稱為常坐三昧。(參閱「一行三昧」44)
; (常坐三昧) Cũng gọi Nhất hạnh tam muội. Một trong 4 loại tam muội do tông Thiênthai lập ra, là pháp tu dựa theo kinh Vănthù sư lợi sở thuyết bát nhã ba la mật. Tức đặt 1 chiếc giường dây trong căn nhà yên tĩnh hoặc nơi vắng vẻ, bên cạnh không có tòa ngồi nào khác, trong thời gian 90 ngày ngồi kiết già, không cử động, chỉ ngồi thẳng không dựa vào cạnh giường, ngoài những lúc kinh hành, ăn uống, đại tiểu tiện ra, thường phải ngồi ngay thẳng, tập trung tâm ý vào một đức Phật, thời khắc nối nhau, không bỏ phế cho dù chốc lát; nếu các chướng trong ngoài nổi dậy như buồn ngủ, mệt mỏi, bệnh tật... làm mất chính niệm mà muốn tập trung trở lại thì phải thường xuyên xưng niệm danh hiệu của 1 đức Phật, hổ thẹn sám hối, chí tâm qui y. Nếu trong thời gian 90 ngày ấy chuyên cần không biếng nhác, không buông lơi, niệm niệm không gián đoạn thì phá trừ được nghiệp chướng, hiểnphátlí thực tướng, gọi là Thường tọa tam muội. (xt. Nhất Hạnh Tam Muội).
thường trung
4527(1514~1588)明代曹洞宗僧。建昌(江西)人。號蘊空,世稱蘊空常忠禪師。出家前,嘗講姚江王陽明致良知之學,一日客遊鎮江鶴林,遇一中洲僧古溪,相談甚契,乃從其出家,承師命遍參眾知識,嘉靖四十三年(1564)往嵩山參小山宗書,不契,乃辭宗書遍遊諸方,久之,對宗書所言若有所省,遂復返嵩山,得嗣其法,適逢宗書辭少林事,往住北京宗鏡菴,師隨侍三載,盡得玄旨。後辭歸建昌府(江西),隱於從姑山。一日遊至旴江新城廩山,喜其八面秀拔,師乃結茅其地,二十年不與人接,諸士紳故人來訪,唯默坐而已。獨與羅近溪、鄧潛谷論性命之學,後二人俱為師所化。傳法於壽昌無明慧經。萬曆十六年示寂,世壽七十五。〔五燈會元續略卷一、五燈全書卷六十一、續指月錄卷十八、續燈正統卷三十七〕
thường trí
4530即證得真實、無生滅變易之智慧。又稱常住智。諸法實相,離生滅而為無相,證此無相常境之智,已絕斷緣慮,則稱為無緣之常智。天台四教儀(大四六‧七七九上):「常境無相,常智無緣。」常境,即常智所照之境,為離一切生滅相之境地。
; Knowledge not conditioned by phenomena, abstract.
; Trí tuệ vĩnh hằng. Thực tướng của chư pháp là lìa bỏ sinh diệt mà thành vô tướng, cái trí chứng được thường cảnh vô tướng gọi là thường trí—Eternal knowledge, not conditioned by phenomena, abstract.
; (常智) Cũng gọi Thường trụ trí. Tức chứng được trí tuệ chân thực, không sinh diệt biến đổi. Thực tướng các pháp vốn vô tướng, lìa sinh diệt, trí chứng được thường cảnh vô tướng này, đã dứt bặt duyên lự, thì gọi là Thường trí vô duyên. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Thường cảnh vô tướng, thường trí vô duyên. Thường cảnh tức là đối tượng do Thường trí chiếu soi, là cảnh giới lìa tất cả tướng sinh diệt.
Thường trú 常住
[ja] ジョウジュウ jōjū ||| Eternal, eternally abiding, everlasting, permanent, unchanging (nitya, sthita). 〔法華經 T 262.9.b10〕 => Tồn tại, tồn tại mãi mãi, vĩnh viễn, thường hằng, bất biến (s: nitya, sthita).
thường trụ
4524<一>梵語 nitya-sthita。略稱常。為「無常」之對稱。意指綿亙過去、現在、未來三世,恆常存在,永不生滅變易。勝鬘經自性清淨章、北本涅槃經卷三十四等,均謂如來法身常住不變。大乘莊嚴經論卷三菩提品則載不唯如來法身,即報、應二身亦常住不變,而以法身為本性常(本質上永遠不變),報身為無間常(受樂不絕),應身為相續常(為教化眾生而變現,生滅無限相續)。佛性論卷四無變異品復就三身常住說十種因緣,謂此三身者,恆能生起世間利益等事,故說常住;此係依於十種因緣,即:(一)因緣無邊,謂無量劫來捨身命攝正法,以正法為無窮無盡,故以無窮因招感無窮果,果即三身,故為常。(二)眾生界無邊,謂初發心時結四弘誓,起十無盡之大願,若眾生不可盡,我願無盡;眾生既無盡,化身常在世間教導眾生,故為常。(三)大悲無邊,謂如來眾德圓滿常在大悲,救拔眾生之恩無邊際,故為常。(四)如意足無邊,謂世間得四神足者尚能住壽四十小劫,何況如來大神足之師,當能住壽自在,於百千億劫廣化眾生,故為常。(五)無分別智無邊,謂遠離生死、涅槃二執,與第一義諦相應,不動、不出,故為常。(六)恆在禪定無散,謂如來恆在禪定,無可壞者,故為常。(七)安樂清涼,謂安樂即是金剛心,能斷除無明住地最後念之無常苦,因已無苦,是為安樂,佛果顯成,是為清涼;此是解脫道,故為常。(八)行於世間八法不染,佛身雖復在於道前,與生死相應,但不為煩惱所染,而無妄想之緣,故為常。(九)甘露寂靜遠離死魔,佛果常樂,故寂靜,寂靜故遠離死魔,遠離死魔,故為常。(十)本性法然無生無滅,即法身非本無今有、本有今無,行三世而非三世法,故為謂常。〔雜阿含經卷三十、梁譯攝大乘論釋卷十三、佛地經論卷七、成唯識論卷十、大般涅槃經疏卷八〕(參閱「三常」608、「無常」5109) <二>叢林之職務中,總稱擔任支配、運作日常事務之住眾為常住。此外,亦指常備供僧伽受用之物。
; Nitya-sthita (S)Xem Như Lai.
; Permanent, always abiding, eternal.
; 1. Chúng (Tăng, Ni) ở trong Tòng lâm đều là người thường trụ, nghĩa là chủ nhân của Tòng lâm, quyền lợi và nghĩa vụ của đại chúng đều bình đẳng. 2. Thường trụ Tam bảo thì cho tượng Phật là Phật bảo, kinh Phật là Pháp bảo, Tăng Ni hiện tiền là Tăng bảo. Thường trụ Tam bảo này cũng đại diện cho Phật giáo thọ nhận sự quy y của Phật tử.
; Pháp không sinh diệt không biến thiên gọi là thường trụ—Permanent—Eternal—Eternal existence—Nothing having been created nothing can be destroyed—Always abiding.
; (常住) I. Thường Trụ. Phạm:Nitya-sthita. Gọi tắt: Thường. Đối lại: Vô thường. Chỉ cho cái kéo dài suốt 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai thường hằng tồn tại, vĩnh viễn không sinh diệt biến đổi. Chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man và kinh Niết bàn quyển 34 (bản Bắc) đều cho rằng Pháp thân Như lai là thường trụ bất biến. Còn phẩm Bồ đề trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 lại đi xa hơn nữa mà chủ trương chẳng những Pháp thân mà ngay cả Báo thân và Ứng thân của Như lai cũng là thường trụ bất biến, Pháp thân là bản tính thường (vĩnh viễn bất biến về mặt bản chất),Báo thân là Vô gián thường (thụ hưởng niềm vui không dứt) và Ứng thân là tương tục thường (vì giáo hóa chúng sinh mà biến hiện, sinh diệt liên tục không hạn định). Phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4 lại y cứ vào 3 thân thường trụ mà đề ra thuyết Thập chủng nhân duyên, nghĩa là 3 thân này thường sinh khởi các việc lợi ích ở thế gian, cho nên gọi là Thường trụ, đó là do dựa vào 10 loại nhân duyên sau đây:1. Nhân duyên vô biên: Trải qua vô lượng kiếp đến nay xả thân cầu Chính pháp, vì Chính pháp là vô cùng vô tận, cho nên nhờ nhân vô cùng mà chiêu cảm quả vô cùng, quả tức 3 thân, nên là Thường. 2. Chúng sinh giới vô biên: Lúc mới phát tâm đã phát 4 thệ nguyện rộng lớn, khởi 10 đại nguyện vô tận, nếu chúng sinh không bao giờ hết thì nguyện của Như Lai cũng không baogiờ hết; chúng sinh đã không bao giờ hết thì Hóa thân cũng thường ở thế gian để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, cho nên là Thường. 3. Đại bi vô biên: Nhưlai đầy đủ các công đức, tâm đại bi thường trụ, ơn cứu giúp chúng sinh không có bờ mé, cho nên là Thường. 4. Như ý túc vô biên: Người thế gian chứng được 4 Thần túc còn có khả năng sống lâu đến 40 tiểu kiếp, huống chi Như lai là bậc thầy có đại thần túc, có khả năng sống lâu tự tại, trải trăm nghìn ức kiếp, rộng độ chúng sinh, nên là Thường. 5. Vô phân biệt trí vô biên: Xa lìa 2 chấp sinh tử, Niết bàn, tương ứng với Đệ nhất nghĩa đế, chẳng lay động, không ra vào, nên là Thường. 6. Hằng tại Thiền định vô tán: Như lai thường hằng ở trong thiền định, không có gì phá hoại được, nên là Thường. 7. An lạc thanh lương: Yên vui mát mẻ, đó là đạo giải thoát, nên là Thường. 8. Hành ư thế gian bát pháp bất nhiễm: Sống giữa thế gian mà không nhiễm trước tám pháp. Nghĩa là trước khi thành đạo, Phật tuy sống trong thế gian, tương ứng với sinh tử, nhưng không bị phiền não làm cho nhơ nhuốm và không có các duyên vọng tưởng, cho nên là Thường. 9. Cam lộ tịch tĩnh viễn li tử ma: Cam lộ vắng lặng xa lìa ma chết. Nghĩa là quả Phật thường vui, cho nên vắng lặng, vì vắng lặng nên xa lìa ma chết, xa lìa ma chết nên là Thường. 10. Bản tính pháp nhiên vô sinh vô diệt: Bản tính tự nhiên, không sinh không diệt. Nghĩa là pháp thân chẳng phải xưa không mà nay có, xưa có mà nay không, mà là xưa nay vốn tự nhiên như thế, cho nên là Thường. [X. kinh Tạp a hàm Q.30; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương); Phật địa kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.10; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.8]. (xt. Tam Thường, Vô Thường). II. Thường Trụ. Trong các chức vụ của Tùng lâm, trụ chúng đảm trách việc điều hành tất cả sự vụ hàng ngày, được gọi chung là Thường trụ. Ngoài ra, những vật cúng dường chúng tăng thụ dụng hàng ngày gọi là Thường trụ (tức Thường trụ vật).
thường trụ giáo
4525又作雙林常住教。五時教之一。南朝劉宋之慧觀、蕭齊之劉虯分判佛陀一生之教化為漸、頓二教,於漸教中依五時次序而立五時教,常住教即為佛陀第五時涅槃時之教化。即佛陀臨滅度時,一日一夜說大涅槃,明示眾生悉有佛性,法身常住。在判教中,常住教係屬最高之教義。(參閱「五時教」1136)
; (常住教) Cũng gọi Song lâm thường trụ giáo. Một trong 5 thời giáo. Ngài Tuệ quán đời Lưu Tống thuộc Nam triều và cư sĩ Lưu cầu đời Tiêu Tề chia sự giáo hóa một đời của đức Phật làm Tiệm giáo và Đốn giáo, trong Tiệm giáo lại y cứ vào thứ tự 5 thời mà lập thành 5 thời giáo. Thường trụ giáo tức là sự giáo hóa trong thời Niết bàn thứ 5 của đức Phật. Nghĩa là khi Phật sắp niết bàn, Ngài giảng nói kinh Đại niết bàn trong 1 ngày 1 đêm, dạy rõ rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Pháp thân thường trụ. Trong phán giáo, thường trụ là giáo nghĩa thuộc bậc tối cao. (xt. Ngũ Thời Giáo).
thường trụ nhất tướng
The eternal unity or reality behind all things.
thường trụ nhứt tướng
Chân lý phía sau vạn hữu là thường trụ nhứt tướng—The eternal unity or reality behind all things.
thường trụ niết bàn
Pratiṣṭhita-nirvāṇa (S).
thường trụ tam bảo
Eternally dwelling Triple Gems.
thường trụ tâm nguyệt luân
4524指吾人本有常住之菩提心,如同清淨圓明之滿月。於密教金剛界,觀想吾心為清淨之月輪,離諸煩惱垢、能執、所執;依此觀法,照見本心,開顯智慧,使客塵所翳之菩提心,得以湛然清淨,猶如滿月之光徧照虛空,無所分別。此即以滿月為圓明之體,類似吾人本具常住之菩提心,並經由此種觀想以開顯本心。〔諸佛境界攝真實經卷中〕
; (常住心月輪) Chỉ cho tâm bồ đề thường trụ của chúng sinh vốn trong sáng như vầng trăng tròn. Pháp quán trong kinh Kim cương giới của Mật giáo, quán tưởng tâm người ta là vầng trăng thanh tịnh tròn sáng, lìa các phiềnnão năng chấp, sở chấp nhơ nhớp; y theo pháp quán này mà chiếu rọi tâm mình, mở bày trí tuệ, khiến cho tâm bồ đề bị khách trần che lấp được lắng trong thanh tịnh, giống như ánh sáng của vầng trăng tròn chiếu khắp hư không, không phân biệt chỗ nào. Đây là lấy vầng trăng làm thể của sự tròn sáng, giống như tâm bồ đề của mọi người vốn thường trụ tròn sáng, thanh tịnh, đồng thời nhờ sự quán tưởng này mà mở bày tâm mình. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q. trung].
thường trụ tương tự quá loại
4525因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第十四。於因明對論中,敵者(問難者)欲破斥立者(立論者)所舉正確的宗(命題),遂另立一似是而非之量(論式),以論證對方有過,反自招此一過誤。例如佛弟子立「聲為無常(宗),所作性故(因,理由),猶如瓶(喻,譬喻)」之論式,外教徒欲破斥之,遂另立一論式:「聲為常(宗),恆不捨自性故(因),猶如虛空(喻)。」其意概謂無常之聲乃常合自性之無常性,此因諸法恆不捨其自性之故,故聲應為常住,準此,對方所立之宗乃與比量相違,故有「似宗」之過。此時佛弟子可反破之,謂:「聲本無今有,暫有還無,故稱為無常,而非另有合無常之自性,汝所用以論證之因不能成立,故汝自身違犯常住相似之過失。」又此一過誤相當於世親如實論道理難品中所說之「常難」。〔因明正理門論、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21))〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
; (常住相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thứ 14 trong 14 lỗi Tự năng phá do Tổ của Cổ nhân minh là ngài Túc mụ thành lập. Trong tiến trình biện luận của Nhân minh, người vấn nạn (địch giả)muốn bác bỏ Tông (mệnh đề) chính xác của người lập luận (lập giả)nên lập ra một luận thức (lượng) khác (có vẻ như đúng nhưng thực ra là sai) để chứng minh đối phương có lỗi, nhưng trái lại, lại tự chuốc lấy lỗi. Chẳng hạn như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì được tạo tác mà có. Dụ: Giống như cái bình. Tín đồ ngoại đạo muốn bác bỏ luận thức này bèn lập 1 luận thức khác như sau: Tông: Âm thanh là thường. Nhân: Vì hằngkhông bỏtự tính. Dụ: Giống như hư không. Ý của luận thức này đại khái cho rằng âm thanh vô thường là tính chất vô thường thường hợp với tự tính, đó là vì các pháp hằng không bỏ tự tính của chúng, cho nên âm thanh phải là thường trụ; theo đó, Tông do đối phương lập ra là trái với tỉ lượng, cho nên có lỗi Tự tông (Tông có vẻ như đúng nhưng thực ra là sai). Đệ tử Phật có thể bác lại rằng: Âm thanh xưa không mà nay có, tạm có rồi lại không, cho nên gọi là Vô thường, chứ chẳng phải có tự tính riêng hợp với vô thường, do đó Nhân dùng để chứng minh trong luận thức này không thành lập được, vì thế đối phương đã phạm lỗi tương tự như thường trụ chứ không phải thường trụ. Lỗi này tương đương với Thường mạn nói trong phẩm Đạo lí nạn thuộc luận Như thực của ngài Thế Thân. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy Hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Thập Tứ Quá loại, Nhân Minh).
thường trụ vật
4525指常備供僧伽受用之物。又作常住僧物、常住、常什。如伽藍、房舍等供給四方僧伽受用之資具即是。若據為私有或買賣之,則犯大罪。常住錢,即指寺院公有之金錢。四分律行事鈔卷中一載,僧物可分四種,即:(一)常住常住物,指廚庫寺舍等。(二)十方常住物,指供僧之常食等。(三)現前現前物,指現前之僧物。(四)十方現前物,指亡僧之遺品。前二種為四方僧物,後二種即指現前之僧物。〔大方等大集經卷四十四、四分律卷五十〕(參閱「僧物」5736)
; (常住物) Cũng gọi Thường trụ tăng vật, Thường trụ, Thường thập. Vật của thường trụ, tức chỉ cho những vật cung cấp cho chúng tăng thụ dụng. Các tư cụ như già lam, phòng xá... cung cấp cho chúng tăng các nơi thụ dụng chính là Thường trụ vật. Nếu ai chiếm Thường trụ vật làm của riêng, hoặc mua bán đổi chác thì phạm đại tội. Thường trụ tiền là tiền bạc chung của chùa viện. Theo Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, tăng vật được chia làm 4 loại: 1. Thường trụ thường trụ vật: Vật thường trụ do chúng tăng thường trụ sử dụng, như chùa viện, phòng xá, nhà kho, bếp núc... 2. Thập phương thường trụ vật: Vật thường trụ được dành cho chúng tăng 10 phương sử dụng. 3. Hiện tiền hiện tiền vật: Vật thường trụ mà chúng tăng hiện tiền được thụ dụng. 4. Thập phương hiện tiền vật: Những vật do chúng tăng 10 phương hiện tiền được thụ dụng, tức chỉ cho những vật do vị tăng qua đời để lại. Hai loại vật sau (3, 4) là những vật thuộc quyền sử dụng của chúng tăng hiện diện.[X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.44; luật Tứ phần Q.50]. (xt. Tăng Vật).
thường trực
Standing—Permanent.
thường tuý thiên
4534常醉,梵名 Sadāmatta。住須彌山第三層之夜叉神。又作常醉神、常放逸天、恆醉天、恆憍天、喜樂天。此尊主伊舍那天本迷之德,本迷即醉於三毒無明之酒,為諸煩惱生死之根源,故稱常醉。乃密教胎藏界曼荼羅中伊舍那天之眷屬,列於外金剛部院之東北方。種子為???(sa)三昧耶形為戟。身呈赤肉色,坐於圓筵,左手持酒杯,右手握拳置於膝上。〔俱舍論卷十一、瑜伽師地論卷二,胎藏界漫荼羅尊位現圖鈔私卷六〕
; (常醉天) Phạm: Sadàmatta. Cũng gọi Thường túy thần, Thường phóng dật thiên, Hằng túy thiên, Hằng kiêu thiên, Hỉ lạc thiên. Trời thường say. Tức chỉ cho vị thần Dạ xoa ở tầng thứ 3 trên núi Tu di lúc nào cũng say sưa. Vị tôn này chủ về đức bản mê của trời Y xá na. Bản mê tức là say sưa rượu vô minh 3 độc(tham, sân, si), là cội nguồn của các phiền não sinh tử, cho nên gọi là Thường túy. Đây là quyến thuộc của trời Y xá na trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, được đặt ở phía đông bắc của viện Ngoại kim cương bộ. Chủng tử là (sa), hình Tam muội da làcây kích. Hình tượng vị tôn này là thân màu da người, ngồi trên cái chiếu tròn, tay trái cầm bát rượu, tay phải nắm lại để trên đầu gối. [X. luận Câu xá Q.11; luận Du già sư địa Q.2; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.6].
thường tùy học phật
To follow the teachings of the Buddha at all times—Đây là hạnh nguyện thứ tám trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Thường tùy học Phật là chúng ta sẽ giống như Phật Tỳ Lô Giá Na, phát tâm tu hành tinh tấn không trễ lui, đem thân khẩu ý thanh tịnh, tùy theo căn tánh của chúng sanh mà hóa độ cho họ được thành thục—This is the eighth of the ten conducts and vows of Samantabhadra bodhisattva. To follow teachings of the Buddha at all times means that we will be like Vairocana Thus Come One, vow never retreat from vigor. We should utilize our pure body, mouth and mind to learn and to preach Buddha-dharma, according to the living beings' levels.
thường tùy ma
Xem Chướng ngại thần.
thường túy thiên
Sadamatta (S)Hỷ Lạc thiênTên một vị thiên.
thường tại linh thứu sơn
4523又作常在靈山。指釋尊之肉身,雖以八十歲為期而入涅槃,然其法身卻常於靈鷲山說法。靈鷲山,因係釋尊說法之地而著名。此語載於法華經卷五壽量品(大九‧四三下):「因其心戀慕,乃出為說法,神通力如是,於阿僧祇劫,常在靈鷲山,及餘諸住處。」
; (常在靈鷲山) Cũng gọi Thường tại Linhsơn. Thường ở trên núi Linhthứu. Tức nhục thân của đức Thíchtôn tuy 80 tuổi đã vào Niết bàn, nhưng pháp thân của Ngài vẫn thường thuyết pháp trên núi Linh thứu. Núi Linhthứu là nơi đức Thíchtôn thuyết pháp nên rất nổi tiếng. Từ ngữ trên đây được thấy trong phẩm Thọ lượng kinh Pháphoa quyển 5 (Đại 9, hạ 43): Vì tâm chúng sinh lưu luyến, ngưỡng mộ, nên Như lai thường hiện thân nói pháp cho họ nghe; năng lực thần thông như thế, trải a tăng kì kiếp, thường ở tại núi Linhthứu và ở các nơi khác.
thường tịch
Eternal, peace, nirvàna.
; Thân thể lìa bỏ tướng vô diệt và dứt hết mọi não phiền, hay sự tịch tịnh vĩnh hằng nơi Niết Bàn—Eternal peace—Nirvana.
Thường tịch quang
(常寂光): từ gọi tắt của Thường Tịch Quang Độ (常寂光土), là cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai an trú, một trong 4 quốc độ của giáo thuyết Thiên Thai Tông, còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光). Thế giới an trú của chư Phật là bản tánh chân như, không biến hóa, sanh diệt (tức thường [常]), không bị phiền não nhiễu loạn (tức tịch [寂]) và có ánh sáng trí tuệ (tức quang [光]), cho nên có tên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Đây là quốc độ chư Phật tự chứng bí tạng tối cùng cực, lấy pháp thân, giải thoát và bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我) và Tịnh (淨). Trong Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (觀普賢菩薩行法經, Taishō 9, 393) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật danh Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịch Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼佛名毘盧遮那遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ [Tỳ Lô Giá Na Biến Hết Thảy Các Nơi], trú xứ của Phật ấy tên là Thường Tịch Quang, nghĩa là nơi được nhiếp thành của Thường Ba La Mật, nơi được an lập của Ngã Ba La Mật, nơi diệt hết các tướng có của Tịch Ba La Mật và nơi không trú vào tướng thân tâm của Lạc Ba La Mật)”. Hơn nữa, quốc độ này được phân thành Phần Chứng (分證) và Cứu Cánh (究竟) với 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo lời dạy trong quyển 1 của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏) cho biết rằng cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土), cõi của Nhất Sanh Đẳng Giác (一生等覺) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土), cõi của Viên Giáo (圓敎) từ sơ trú trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土). Ngoài ra, vị tăng nhà Bắc Tống là Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮) lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang (寂光) phối hợp thành Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), để xướng ra thuyết “Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相, Tịch Quang Có Tướng)”; ngược lại vị tăng Tịnh Giác (淨覺) lại tuyên xướng thuyết “Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相, Tịch Quang Không Tướng).” Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Thanh có đoạn rằng: “Phục thứ, chỉ thử nguyện trang nghiêm nhất thanh A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược vi Thanh Tịnh Hải Hội, chuyển Kiến Trược vi Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược vi Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược vi Liên Hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược vi Vô Lượng Thọ; cố nhất thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư Ngũ Trược ác thế, sở đắc chi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp (復次、只此信願莊嚴一聲阿彌陀佛、轉劫濁爲清淨海會、轉見濁爲無量光、轉煩惱濁爲常寂光、轉眾生濁爲蓮華化生、轉命濁爲無量壽、故一聲阿彌陀佛、卽釋迦本師於五濁惡世、所得之阿耨多羅三藐三菩提法, lại nữa, chỉ lấy nguyện này trang nghiêm một tiếng niệm A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược thành Hải Hội Thanh Tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hoa sen hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ; cho nên một tiếng niệm A Di Đà Phật là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do đức Bổn Sư Thích Ca chứng đắc ở đời ác có Năm Trược).” Hay như trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 6, phần Cảnh Tâm Cư Sĩ Trì Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân Tự (警心居士持地藏本願經兼勸人序) có câu: “Nhất niệm mê Thường Tịch Quang Độ tiện thành A Tỳ Địa Ngục, nhất niệm ngộ A Tỳ Địa Ngục tiện thị Thường Tịch Quang Độ (一念迷常寂光土便成阿鼻地獄、一念悟阿鼻地獄便是常寂光土, một niệm mê bèn thành Địa Ngục A Tỳ, một niệm ngộ tức là Thường Tịch Quang Độ).”
Thường Tịch Quang Độ
(常寂光土): còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光); tức chỉ cho cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai cư trú. Thế giới của chư Phật cư trú là chân như bản tánh, không sanh diệt, biến hóa (thường); không có sự nhiễu loạn của phiền não (tịch, vắng lặng); mà có ánh sáng trí tuệ (quang); nên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Quốc độ này là cõi tự chứng của Phật, vô cùng bí tàng; lấy Pháp Thân, giải thoát, Bát Nhã làm thể; đầy đủ, trọn vẹn 4 đức là Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我), Tịnh (淨). Như trong Phật Thuyết Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (佛說觀普賢菩薩行法經, Taishō Vol. 9, No. 277) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni danh Tỳ Lô Giá Na, biến nhất thiết xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịnh Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼名毘盧遮那、遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, Phật Thích Ca Mâu Ni tên là Tỳ Lô Giá Na, biến khắp tất cả nơi chốn, trú xứ của đức Phật đó tên là Thường Tịch Quang, là trú xứ được nhiếp thành bởi Thường Ba La Mật, trú xứ được an lập bởi Ngã Ba La Mật, trú xứ của Tịnh Ba La Mật diệt tướng có, trú xứ của Lạc Ba La Mật không trú vào tướng thân tâm).” Lại nữa, quốc độ này có khác nhau về phần chứng và cứu cánh, nên phân thành 3 phẩm Thượng, Trung và Hạ. Theo thuyết của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏, Taishō Vol. 38, No. 1778) quyển 1 cho biết, cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土); cõi của Đẳng Giác Nhất Sanh (等覺一生) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (中品寂光土), cõi của Viên Giáo Sơ Trú (圓敎初住) trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (下品寂光土). Vị tăng Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮, 960-1028) của Thiên Thai Tông, sống vào thời Bắc Tống, lại lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang phối với Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), đề xướng thuyết Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相). Trong khi đó, tăng sĩ Tịnh Giác (淨覺) cùng thời đại này lại đưa ra thuyết Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26 có đoạn rằng: “Pháp tánh hải trung, bổn vô xuất một, Thường Tịch Quang Độ, an hữu khứ lai, nhân thế biến thiên nhậm vận, Phật quốc tịnh uế tùy tâm (法性海中、本無出沒、常寂光土、安有去來、人世變遷任運、佛國淨穢隨心, biển pháp tánh trong, vốn không hiện mất, Thường Tịch Quang Độ, sao có đến đi, cõi đời đổi thay phó mặc, nước Phật sạch nhớp tùy tâm).”
thường tịch quang độ
4528指諸佛如來法身所居之淨土。為天台宗所說四土之一。又作寂光淨土、寂光國、寂光土、寂光。佛所住之世界為真如本性,無生滅變化(常)與煩惱之擾亂(寂),而有智慧之光(光),故稱常寂光土。此土乃佛自證最極祕藏之土,以法身、解脫、般若為其體,具足圓滿「常、樂、我、淨」等四德。觀普賢菩薩行法經(大九‧三九二下):「釋迦牟尼佛名毘盧遮那遍一切處,其佛住處名常寂光;常波羅蜜所攝成處,我波羅蜜所安立處,淨波羅蜜滅有相處,樂波羅蜜不住身心相處。」 又此土有分證、究竟之別,分上、中、下三品。依維摩經略疏卷一之說,妙覺法身所居之土為上品寂光土,等覺之一生所居之土為中品寂光土,圓教初住以上所居之土為下品寂光土。北宋僧四明知禮更以實報、寂光二土配當始覺與本覺,而提倡「寂光有相」之說,北宋僧淨覺則倡導「寂光無相」說。〔梁譯攝大乘論卷十五、觀無量壽佛經疏卷上、法華經文句卷九之上、觀無量壽佛經疏妙宗鈔卷一〕(參閱「化土」1322)
; The realm (of spirit) where all are in perpetual peace and glory; Thiên Thai's fourth Buddhaksetra
; Thường Tịch Quang Tịnh Độ, trú xứ của chư Phật (Theo Kinh A Di Đà, thì đây là cõi nước không phải ai cũng vãng sanh về được, cũng không thể bỗng nhiên niệm vài tiếng “namo” không chí thành mà được. Thân Như Lai không thể thân cận với những ai căn lành cạn cợt. Đây không phải là nơi của những hạng người phước đức mỏng manh có thể hưởng thọ được)—The realm where permanent tranquility and enlightenment reign—Buddha Parinirvana—The realm of spirit where all are in perpetual peace and glory. The realm of eternal rest and light, and of eternal spirit (dharmakaya), the abode of Buddhas. T'ien-T'ai fourth Buddhaksetra.
; (常寂光土) Cũng gọi Tịch quang tịnh độ, Tịch quang quốc, Tịch quang độ, Tịch quang. Chỉ cho cõi nước ánh sáng thường vắng lặng. Tức tịnh độ do pháp thân của chư Phật Như lai an trụ, 1 trong 4 độ theo thuyết của tông Thiên thai. Thế giới của Phật an trụ thuộc về bản tính của chân như, không sinh diệt biến hóa (Thường), vắng bặt sự nhiễu loạn của phiền não(Tịch) và có ánh sáng trí tuệ(Quang), cho nên gọi là Thường tịch quang độ. Đây là cõi nước tối cực bí tạng do Phật tự chứng, lấy pháp thân, giải thoát, bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Kinh Quán Phổ hiềnbồ tát hành pháp (Đại 9, 392 hạ): Đức Phật Thích ca mâu ni được gọi là Tì lô giá na biến nhất thiết xứ, nơi Ngài an trụ gọi là Thường tịch quang, có đủ 4 đức Thường ba la mật, Lạc ba la mật, Ngã ba la mật và Tịnh ba la mật. Ngoài ra, cõi này có Phần chứng và Cứu cánh khác nhau, chia làm 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo Duy ma kinh lược sớ quyển 1, cõi do Diệu giác pháp thân an trụ là Thượng phẩm tịch quang độ, cõi do bậc 1 đời nữa bước lên địa vị Đẳng giác an trụ là Trung phẩm tịch quang độ, còn cõi do bồ tát Viên giáo từ Sơ trụ trở lên an trú là Hạ phẩm tịch quang độ. Ngài Tứ minh Tri lễ đời Bắc Tống lại phối hợp Thực báo độ và Tịch quang độ với Thủy giác và Bản giác mà đề xướng thuyết Tịch quang hữu tướng; còn ngài Tịnh giác đời Bắc Tống thì đề xướng thuyết Tịch quang vô tướng. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.15 (bản dịch đời Lương); Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q. thượng; Pháp hoa văn cú Q.9, thượng; Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1]. (xt. Hóa Độ).
thường tổng
4535(1025~1091)宋代臨濟宗僧。劍州尤谿(四川劍閣)人,俗姓施。字照覺。又稱常聰。十一歲依寶雲寺文兆出家,從契思受具足戒。後隨黃龍慧南參究二十年,受大法之決旨,以大興臨濟宗風為志,名噪叢林。慧南歿,住泐潭寺,其徒激賞,稱之為「馬祖再來」。後移江州(江西九江)東林寺。元豐三年(1080)敕改廬山東林律寺為禪林,師奉命駐錫說法;其徒以為應慧遠之讖「吾滅七百年後有肉身大士革吾道場」,遂大揚法化。曾與蘇軾交遊。五年,神宗敕主相國寺智海禪院,固辭不受,乃賜紫衣及「廣惠禪師」之號;元祐三年(1088)賜號「照覺禪師」,六 ~示寂,世壽六十七。付法弟子有泐潭印乾、開先行瑛、圓通可仙等十餘人。〔禪林僧寶傳卷二十四、釋氏稽古略卷四、續傳燈錄卷十六〕
thường vô thường
4530指常與無常。常,梵語 nitya,又作常住(梵 nitya-sthita),為「無常」之對稱。即過去、現在、未來三世恆常不變,不生不滅而相續不斷。緣起法性之理及如來之法身均為常住不變。常亦為凡夫之「四顛倒」與「四德」之一。一般多將常住者稱為無為法。然據大乘莊嚴經論卷三菩提品及佛地經論卷七載,如來之法、報、應三身雖均為常住,然以其意義不同,而有三常之說,即:(一)自性身(真如法身),乃絕對平等,在本質上為永遠不變之自性常(本性常、凝然常)。(二)受用身(報身),為受樂不絕之無間常(不斷常)。(三)變化身(化身、應身),為教化眾生而變現之身,雖有生滅,然變現能無限相續,故稱相續常。但上述之後二者並非屬無為法原意之常。 又據佛性論卷四無變異品載,如來之三身恆能生起世間利益等事,故稱常住。此常住依於下列十種因緣,而能相續不絕,即:(一)因緣無邊,(二)眾生無邊,(三)大悲無邊,(四)如意足無邊,(五)無分別智無邊,(六)恆在禪定而不散亂,(七)安樂清涼,(八)行世間八法而無染,(九)甘露寂靜而遠離死魔,(十)本性法然而無生滅。此即顯示如來三身之體用乃恆常不斷。 另據大般涅槃經疏卷八載,於諸常中,有世間之相續不斷而稱為常者,以及三無為常;三無為常,即:得斷煩惱者,稱為數緣常;事緣差者為非數緣常;不屬前二者,則為虛空常。此四種皆不及如來常。所謂「如來常」,即是妙有,其本自有而無所對待,此常實照,為非常非無常之真常,且即邊而中,具足三點而不縱橫,故如來常為諸常中之第一者。其他尚有世間相常住、佛性常住等說。 此外,與常相對者即無常,梵語為 anitya,又作非常。即有生滅變化,而無法保有短暫之同一狀態者。一切有為法皆具生、住、異、滅之四有為相,隨時間遷流而存在,故稱無常。一切有為法均屬無常,故稱諸行無常,乃三法印(佛教的三個基本標幟)之一。大智度論卷四十三有二種無常之說。即:(一)有為法位於現在一剎那間停留,而立刻又沒入於過去(剎那滅),此稱念念無常(剎那無常)。(二)相續之法壞滅,例如,人在壽命終盡時則死滅,此稱相續無常(一期無常)。金七十論卷上所載數論學派之說,舉出暫住無常與念念無常二種無常,主張轉變為無常,而自性為常住,此與佛教所說有異。辯中邊論卷中,就遍、依,圓三性而立有三種無常:(一)遍計所執性,即其體全無之無性無常(無物無常)。(二)依他起性,乃由因緣所生,故為有生滅之生滅無常(起盡無常)。(三)圓成實性,屬真如,乃有變化之垢淨無常(有垢無垢無常)。 比喻無常之不實、短暫,則言如夢、如幻、如泡、如影、如露、如電;如喻無常之可怖,則謂無常狼、無常虎;而死之來臨,則比喻為無常殺鬼、無常風、無常刀、無常使。此外有關無常之用語如:生者必滅、盛者必衰、會者定離等均屬之。至於觀想無常,稱為無常觀、非常觀;闡說無常之偈頌,稱為無常偈;安置病僧之堂院,稱為無常院、無常堂;臨終之際所擊之磬,稱為無常磬。〔雜阿含經卷十二、卷三十、北本涅槃經卷三十四、卷三十九、勝鬘經自性清淨章、法華經卷一方便品、梁譯攝大乘論釋卷十三、成唯識論卷十、華嚴五教章卷四〕(參閱「三無為」629、「無常」5109)
; (常無常) Thường và vô thường. Thường, Phạm: Nitya, cũng gọi Thường trụ (Phạm:Nityasthita), đối lại với Vô thường. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai thường hằng bất biến, không sinh không diệt, nối nhau chẳng dứt. Lí pháp tính duyên khởi và pháp thân Nhưlai đều là thường trụ bất biến. Thường cũng là một trong 4 điên đảo và 4 đức. Thông thường, phần nhiều Thường trụ được gọi là pháp Vô vi. Nhưng theo phẩm Bồ đề Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 và Phật địa kinh luận quyển 7 thì tuy Pháp thân, Báo thân và Ứng thân của Nhưlai đều là thường trụ, nhưng vì ý nghĩa khác nhau nên có thuyết Tam thường, đó là: 1. Tự tính thân(Pháp thân chân như): Tuyệt đối bình đẳng, về mặt bản chất là tự tính thường(bản tính thường, ngưng nhiên thường), vĩnh viễn không biến đổi. 2. Thụ dụng thân(Báo thân): Vô gián thường(Bất đoạn thường) thụ dụng niềm vui không gián đoạn. 3. Biến hóa thân(Hóa thân, Ứng thân): Thân biến hiện ra để giáo hóa chúng sinh, tuy có sinh diệt nhưng có năng lực biến hiện tương tục vô hạn, cho nên gọi là Tương tục thường. Tuy nhiên, 2 thân sau trong 3 thân được trình bày trên đây hoàn toàn không phải thuộc về Thường như nguyên ý của pháp vô vi. Lại cứ theo phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4, 3 thân của Như Lai thường sinh khởi các việc lợi ích cho thế gian nên gọi là Thường trụ. Thường trụ này nhờ 10 nhân duyên dưới đây mà được liên tục không dứt. Đó là: 1. Nhân duyên vô biên. 2. Chúng sinh vô biên. 3. Đại bi vô biên. 4. Như ý túc vô biên. 5. Vô phân biệt trí vô biên. 6. Thường hằng tại thiền định và không tán loạn. 7. An vui mát mẻ. 8. Thực hành 8 pháp thế gian mà không bị ô nhiễm. 9. Cam lộ vắng lặng, xa lìa ma chết. 10. Bản tính tự nhiên, không có sinh diệt.Mười loại nhân duyên này hiển bày rõ thể dụng của 3 thân Nhưlai là thường hằng không gián đoạn. Còn theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 8 thì trong các Thường, có cái ở thế gian tương tục không gián đoạn mà gọi là Thường và Tam vô vi thường. Tam vô vi thường là: Đoạn được phiền não gọi là Số duyên thường; Sự duyên sai biệt là Phi số duyên thường, không thuộc 2 loại trên thì gọi là Hư không thường. Bốn loại Thường này (Thường trụ và Tam vô vi thường) đều không bằng Như lai thường. Vì Như lai thường tức là diệu hữu, vốn tự có và không có đối đãi, Thường này chiếu thực, là chân thường chẳng phải thường chẳng phải vô thường, ngay nơi biên mà trung đầy đủ 3 chấm, không dọc không ngang, cho nên Như lai thường là bậc nhất trong các Thường. Ngoài ra, còn có các thuyết như: Thế gian tướng thường trụ, Phật tính thường trụ... Đối lại với Thường là Vô thường, Phạm: Anitya, cũng gọi là Phi thường. Tức sự sinh diệt biến hóa mà không có cách nào giữ cho nó ở nguyên trạng thái đồng nhất dù chỉ trong giây lát. Tất cả các pháp hữu vi đều có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, theo với dòng thời gian trôi chảy mà tồn tại, cho nên gọi là Vô thường. Tất cả pháp hữu vi đều thuộc vô thường, vì thế gọi là Chư hành vô thường, là 1 trong 3 pháp ấn (3 biểu trưng cơ bản của Phật giáo). Theo luận Đại trí độ quyển 43 thì có 2 thuyết Vô thường, đó là: 1. Pháp hữu vi dừng lại 1 sát na ở hiện tại, rồi tức khắc lại chìm vào quá khứ (sát na diệt), đây gọi là Niệm niệm vô thường (Sát na vô thường). 2. Pháp hoại diệt một cách liên tục, chẳng hạn như con người, khi thọ mệnh hết thì tử diệt, đây gọi là Tương tục vô thường(Nhất kì vô thường). Luận Kim thất thập quyển thượng có ghi thuyết của học phái Số luận, chủ trương 2 thứ vô thường là Tạm trụ vô thường và Niệm niệm vô thường. Thuyết này cho rằng chuyển biến là vô thường, tự tính là Thường trụ, thuyết này có khác với thuyết của Phật giáo.Luận Biện trung biên quyển trung y cứ vào 3 tính Biến kế, Y tha và Viên thành mà lập ra 3 loại vô thường như sau: 1. Biến kế sở chấp tính: Chỉ cho vô tính vô thường(vô vật vô thường), thể của nó hoàn toàn không có. 2. Y tha khởi tính: Vì do nhân duyên mà sinh ra nên có sinh có diệt, thuộc về Sinh diệt vô thường(Khởi tâm vô thường). 3. Viên thành thực tính: Thuộc về Chân như, là Cấu tịnh vô thường (Hữu cấu vô cấu vô thường). Để ví dụ tính chất hư dối, ngắn ngủi của vô thường thì nói: Như chiêm bao, như ảo thuật, như bọt nước, như cái bóng, như hạt móc(sương), như tia chớp...; để ví dụ sự đáng sợ đối với vô thường thì nói: Vô thường lang (chó sói vô thường), vô thường hổ(cọp vô thường)...Khi chết đến nơi thì ví dụ là vô thường sát quỉ, vô thường phong (gió vô thường), vô thường đao(dao vô thường), vô thường sứ... Ngoài rà còn có các dụng ngữ về vô thường như: Sinh giả tất diệt(có sinh ắt có diệt), thịnh giả tất suy(có thịnh thì có suy), hội giả định li(có hợp thì có tan)... Còn quán tưởng về vô thường thì gọi là Vô thường quán, Phi thường quán; bài kệ nói rõ về ý nghĩa vô thường, gọi là Vô thường kệ; nhà viện nuôi bệnh tăng, gọi là Vô thường viện, Vô thường đường, cái khánh được đánh lúc lâm chung, gọi là Vô thường khánh. [X.kinh Tạp a hàm Q.12, 30; kinh Niết bàn Q.34, 39 (bản Bắc), chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man, phẩm Phương tiện kinh Pháphoa Q.1; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương; luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Tam Vô Vi, Vô Thường).
thường vô thường nhị thân
4530即常身與無常身,為如來所具有之二種身。常身,為常住之佛身;即指如來之真身、法身。蓋常身為涅槃常住之理體,無有生老病死等之生滅變易現象,故稱為常身。無常身,為方便之應化身;即指如來之應身、化身、生身。無常身係為接化眾生而方便示現者,有生老病死之生滅變易現象,故稱無常身。〔北本涅槃經卷三十四〕(參閱「二身」199)
; (常無常二身) Thường thân và Vô thường thân, là 2 loại thân của Nhưlai. Thường thân là Phật thân thường trụ; tức chỉ cho Chân thân, Pháp thân của Nhưlai. Vì thường thân là lí thể thường trụ của Niết bàn, không có các hiện tượng sinh diệt biến dịch như sinh lão bệnh tử... cho nên gọi là Thường thân. Vô thường thân là thân ứng hóa phương tiện; tức chỉ cho Ứng thân, Hóa thân, Sinh thân của Như Lai. Vô thường thân là thân phương tiện thị hiện để giáo hóa chúng sinh, có các hiện tượng sinh diệt biến dịch như sinh lão bệnh tử... cho nên gọi là Vô thường thân. [x. kinh Niết bàn Q.34 (bản Bắc)]. (xt. Nhị Thân).
thường xuyên
Unceasingly without a break.
thường đạo
1) Đạo lý bình thường: Regular way. 2) Đạo lỳ vĩnh cữu: Way of eternity—Enternal way.
thường đề bồ tát
4529常啼,梵名 Sadāprarudita。音譯薩陀波倫菩薩。又作普慈菩薩、常悲菩薩。乃大品般若經卷二十七所說之菩薩。此菩薩得稱為常啼者,有諸種說法:或謂菩薩因見惡世之人身受苦惱而悲哀哭泣;或以菩薩生於無佛之世,然為利益眾生,追求佛道,於空閑林中憂愁啼哭七日七夜,天龍鬼神遂號之為常啼;或以幼時喜啼而得名。此菩薩常以勇猛心,修般若波羅蜜之行。據道行般若經卷九薩陀波倫菩薩品載,此菩薩於夢中聞東方有般若波羅蜜之大法,為求法乃向東行,途經魔所樂國,為供養其師乃賣身,遂過二萬里到達揵陀越國(梵 Gandhavati),見曇無竭菩薩(梵 Dharmodgata)而得其法。其中,揵陀越指北印度健馱羅(梵 Gandhāra),又大毘婆沙論編纂以前,般若流行於健馱羅地方,以此事實推究,薩陀波倫菩薩可能是真實之人物,於當時從遙遠之印度西方來健馱羅求般若波羅蜜之法。又以此菩薩為利益眾生,積難苦之行以求般若波羅蜜,而被列為般若守護十六善神之一。〔大智度論卷九十六〕
; Sadaprarudita (S)Thường Bi Bồ tát, Phổ Từ Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (常啼菩薩) Thường đề, Phạm: Sadàprarudita. Hán âm: Tát đà ba luânbồtát. Cũng gọi: Phổ từbồtát, Thường bibồ tát.Vị Bồtát được nói trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27. Lí do tại sao vị Bồtát này được gọi là Thường đề(thuờng kêu khóc) thì có nhiều thuyết khác nhau: Có thuyết cho rằng vì thấy con người sống trong đời ác trược phải chịu khổ não nên Bồtát xót thương mà khóc; có thuyết cho rằng vì sinh vào thời đại không có Phật, nhưng vì lợi ích chúng sinh mà tìm cầu Phật đạo nên Bồtát buồn rầu than khóc suốt 7 ngày đêm trong rừng vắng vẻ, thiên long quỉ thần bèn gọi Bồtát là Thường đề; có thuyết cho rằng thuở nhỏ Bồtát hay khóc nên đặt tên là Thường đề. Vị Bồtát này thường dùng tâm mạnh mẽ tu hạnh Bát nhã ba la mật. Cứ theo phẩm Tát đà ba luân bồ tát trong kinh Đạo hành bát nhã quyển 9, trong giấc mộng, Bồ tát Thường đề nghe ở phương đông có Đại pháp Bát nhã ba la mật, liền đi về hướng đông cầu pháp, trải qua 2 vạn dặm thì đến nước Kiện đà việt (Phạm:Gandhavati), gặp bồ tát Đàm vô kiệt (Phạm:Dharmodgata) và được pháp của Ngài. Kiện đà việt ở đây là chỉ cho Kiện đà la (Phạm: Gandhàra) ở Bắc Ấn độ. Còn trước khi luận Đại tì bà sa được biên soạn thì Bát nhã đã được lưu hành ở vùng Kiện đà la; y cứ vào sự thực này mà suy cứu thì bồ tát Tát đà ba luân có khả năng là một nhân vật có thật,và Bồ tát Thường đễ đãtừ phía tây Ấn độ xa xôi đến Kiện đà la cầu pháp Bát nhã ba la mật. Lại vị Bồ tát này vì lợi ích chúng sinh mà trải qua nhiều gian khổ để cầu Bát nhã ba la mật, cho nên được xếp vào 1 trong 16 vị thiện thần giữ gìn Bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.96].
thường đồ
4528即指尋常所遵行之規則、道理;亦即不變之理。佛典中,多指諸佛及歷代祖師以來所行之道。又作常塗。從容錄第二十四則(大四八‧二四二下):「東海鯉魚,南山鱉鼻,普化驢鳴,子湖犬吠,不墮常塗,不行異類,且道,是什麼人行履處?」 此外,以密教之立場,多指顯教為常途,意謂顯教之教理、教義概屬通常而一般化之常軌定則,不如密教之殊勝,故多稱遵循顯教義理、教說之修證方式為「順常途」。
; Quy tắc thông thường—Regular ways or methods.
; (常途) Chỉ cho những qui tắc và đạo lí phải được tuân thủ trong các sinh hoạt bình thường, cũng tức là lí bất biến. Trong kinh Phật, thườngđồchỉ cho đạo mà chư Phật và lịch đại Tổ sư xưa nay đã thực hành. Thung dung lục tắc 24 (Đại 48, 242 hạ) ghi: Cá chép của Đônghải, ba ba của Nam Sơn, lừa của Phổ hóa kêu, chó của Tử hồ sủa, không rơi vào thường đồ, không thực hành dị loại, hãy thử nói xem là chỗ đi của hạng người nào?. Ngoài ra, theo lập trường của Mật giáo thì Hiển giáo là Thường đồ, nghĩa là giáo lí, giáo nghĩa của Hiển giáo nói chung thuộc về những qui tắc cố định thông thường và phổ thông hóa, không bằng giáo lí thù thắng của Mật giáo, bởi thế phương thức tu chứng tuân theo giáo thuyết, nghĩa lí của Hiển giáo được Mật giáo gọi là Thuận thường đồ.
Thường 嘗
[ja] ジョウ jō ||| (1) To taste, to prove, to experience. (2) Indication of the past tense; has, have. (3) Autumnal offering of first fruits to ancestors. => 1. Có các nghĩa sau: 2. Nếm (thức ăn), chứng tỏ, kinh nghiệm. 3. Biểu thị cho thời quá khứ; đã có, đã qua, đã từng. 4. Lễ tế Thu, dâng cúng hoa trái đầu mùa cho tổ tiên.
thường, lạc, ngã, tịnh
The four pàramitàs of knowledge: eternity, bliss, personality, purity, the four transcendental realities in nirvàna.
thường, vô thường
Phật tánh phi thường phi vô thường, chấp thường là thường kiến ngoại đạo, chấp vô thường là đoạn kiến ngoại đạo.
thưởng
1) Khen thưởng: To reward—To compensate. 2) Thưởng thức: To enjoy—To contemplate.
thưởng ca la
Xem Bát bộ lực sĩ.
thưởng công
To requite (compensate) someone's services.
thưởng hoa
To enjoy the flower.
thưởng ngoạn
To admire.
thưởng nguyệt
To admire the moon.
thưởng thức
To enjoy.
thược
(勺) Chỉ cho cái phễu, cái môi được sử dụng khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo. Có 2 loại phễu lớn và phễu nhỏ. -Loại phễu lớn(cũng gọi là Chú thược) dùng để rót vật cúng như tô du vào lò. - Loại phễu nhỏ(cũng gọi là Tả thược, Tế thược) thì dùng để rót vật cúng sang phễu lớn, hay rót trực tiếp vào trong lò.Cứ theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ thì phễu lớn có hình dáng giống như quả lựu, chiều dài kể cả phễu và cán là 1 thước 8 tấc (Tàu); phễu nhỏ hình tròn, chiều dài bằng với phễu lớn. Phễu nhỏ hình tròn biểu thị đức viên mãn của Phật, phía trong phễu có khắc hình hoa sen nở 8 cánh, hoặc khắc chày kim cương; hoa sen nở tượng trưng cho Đại nhật của Thai tạng, chày Kim cương, tức chày 5 chĩa, tượng trưng cho Đại nhật củakim cương. Cũng có khi vẽ bánh xe báu, tức là hình Tam muội da của đức Đại nhật, biểu trưng cho quả thể của Phổ môn, cho nên dùng hình tròn. Phễu lớn có hìnhquả lựu, lấy ý nghĩa bên trong quả lựu có rất nhiều hột, tượng trưng cho Kim cương tát đóa có đầy đủ muôn đức; phía trong phễu khắc chày 3 chĩa, là hình Tam muội da của Kim cương tát đóa, tức là tâm bồ đề thanh tịnh tiêu biểu cho tâm, Phật và chúng sinh cả 3 đều bình đẳng. Lại vì phễu nhỏ biểu thị cho quả của Đạinhật, còn phễu lớn thì biểu thị cho đức Nhân của Kim cương tát đóa, cho nên phễu lớn không được trực tiếp rót các vật cúng như tô du(dầu)... mà trước phải dùng phễu nhỏ rót vào phễu lớn, tức hàm ý là Kim cương tát đóa nhận lãnh giáo sách của đức Tì lô giá na mà thi hành sự nghiệp Hộ ma.[X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô tất địa yết ra Q. hạ; Đại nhậtkinh sớ Q,20; Hộ ma bí yếu sao Q.6].
thược ca la a dật đa vương
6920鑠迦羅阿逸多,梵名 Śakrāditya,意譯帝日。為印度笈多王朝之國王。又稱鑠迦羅迭多王。此王約於西元五世紀初,為王舍城北之比丘曷羅社槃社(梵 Rājavaṃśa)創建那爛陀寺。爾後歷代君主相繼增築,遂為印度佛教之中心。大唐西域記卷九(大五一‧九二三中):「佛涅槃後未久,此國先王鑠迦羅阿逸多,敬重一乘,遵崇三寶;式占福地,建此伽藍。」或謂此王即新日王;新日王曾因世親以俱舍論破斥外道之毘伽羅論,而贈金一洛叉。〔婆藪槃豆法師傳〕
; (鑠迦羅阿逸多王) Thước ca la a dật đa, Phạm:Zakràditya. Hán dịch: Đế nhật. Cũng gọi Thước ca la điệt đa vương. Tên vị vua của vương triều Cấp đa ở Ấn độ. Vào đầu thế kỷ V Tây lịch, nhà Vua sáng lập chùa Na lan đà ở phía bắc thành Vương xá để cúng dường tỉ khưu Hạt la xã bàn xã (Phạm: Ràjavaôza) an trụ. Về sau, trải qua nhiều đời, các vua đều tiếp nối nhau xây dựng thêm, nên chùa này đã trở thành trung tâm của Phật giáo Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 923 trung) nói: Sau khi đức Phật nhập Niết bàn khoảng hơn 800 năm, tiên vương nước này là Thước ca la a dật đa, kính trọng Nhất thừa, tôn sùng Tam bảo, chọn nơi phúc địa, xây dựng ngôi chùa này. Có thuyết cho rằng vị quốc vương này chính là vua Tân nhật; vua Tân nhật từng tặng cho ngài Thế thân 1 lạc xoa vàng khi ngài dùng luận Câu xá bác bỏ luận Tì già la của ngoại đạo. [X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện].
thược khất để
6920梵語 śakti,巴利語 satti。又作鑠訖底、爍訖底、鑠底。意譯作槊。即指槍戟。密教以之安置於曼荼羅中,或作為不動明王之持物。於印度,以鑠乞底象徵威力、性力之義,始見於斯吠達修達羅奧義書(梵 Śvetāśvataropaniṣad)等諸奧義書中。於印度教,原係用來象徵主上神之威力,後亦以之寓於其配偶神,由是遂擬人化而轉變為女神之性力崇拜,今印度教中即有崇拜濕婆(梵 Śiva)配偶神杜爾嘉(梵 Durgā)之性力派;佛教中有關如來鑠乞底菩薩之說,恐係受此思想影響而產生者。〔蘇悉地羯囉經卷下、佛母大孔雀明王經卷下、大日經疏卷六、慧琳音義卷三十五〕(參閱「如來鑠乞底」2364)
; (鑠乞底) Phạm:Zakti. Pàli:Satti. Cũng gọi Thước ngật để, Thước để. Chỉ cho cái giáo dài, hoặc chỉ cho cây kích. Mật giáo đặt thước khất để trong Mạn đồ la, hoặc dùng làm vật cầm của Minh vương Bất động. Ở Ấn độ, thước khất để tượng trưng cho ý nghĩa uy lực, tính lực, đầu tiên thấy trong các Áo nghĩa thư như Tư phệ đạt tu đạt la Áo nghĩa thư (Phạm: Zvetàzvataropaniwad). Trong Ấn độ giáo, vật này vốn được dùng để tượng trưng cho uy lực của thần Chúathượng, về sau cũng dùng vật này ngụ cho thần phối ngẫu sánh đôi với thần Chúa thượng, do đó bèn nhân cách hóa mà chuyển biến thành là sùng bái Tính lực nữ thần, trong Ấn độ giáo hiện nay có pháp Tính lực sùng bái nữ thần Đỗ nhĩ gia (Phạm:Durgà) là thần phối ngẫu của thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Trong Mật giáo có thuyết nói về vị Bồ tát tên là Nhưlai thước khất để e có lẽ đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng này mà ra. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q. hạ; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q. hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.35]. (xt. Như Lai Thước Khất Để).
thược kê mô nễ
6921即釋迦牟尼之異譯。陀羅尼集經卷一(大一八‧七九四中):「中心帝殊羅施,鑠雞謨儞為道場主。」
; (鑠雞謨你) Dịch âm khác của Thích ca mâu ni. Kinh Đà la ni tập quyển 1 (Đại 18, 794 trung) nói: Trung tâm Đế thù la thi, Thước kê mô nễ là Đạo tràng chủ.
thượng
Uttarà (S). Above, upper, superior; on; former. To ascend, offer to a superior.
; 1) Uttara (skt)—Superior. 2) Above—Upper. 3) High. 4) To ascend.
thượng bối
Superior, or highest class.
; Superior or highest class.
thượng bối quán
The fourteenth of the sixteen contemplations of the Amitàbha school.
; Phép quán tưởng thứ 14 trong 16 phép quán của trường phái A Di Đà, cho những người thành tâm cầu về Tịnh Độ với lòng vị tha thâm sâu—The fourteen of the sixteen contemplations of the Amitabha school, with reference to those who seek the Pure Land with sincere, profound and altruistic hearts.
thượng chuyển
722指向上轉。又作上轉門。與「下轉」對稱。始覺為自利而上進,稱為上轉;本覺為化他而下向,稱為下轉。即真言行者發心修行,轉向佛果菩提;此係從因至果之義。釋摩訶衍論卷二(大三二‧六一○上):「諸淨法有力,諸染法無力,向原上上轉,名為上轉門。」〔大日經疏指心鈔卷一〕
; The upward turn: (1) progress upward, especially in transmifration; (2) increase in enlightenment for self, while hạ chuyển is for others.
; The upward turn in transmigration—Những hành động theo đúng chân lý đưa đến sự chuyển hóa theo chiều hướng đi lên—Acts in accordance with the primal true, or Buddha-nature (when the good prevails over the evil) cause upward turn in transmigration.
; (上轉) Cũng gọi Thượng chuyển môn. Đối lại: Hạ chuyển. Chuyển hướng lên. Thủy giác vì tự lợi mà hướng lên, gọi là Thượng chuyển; Bản giác vì lợi tha mà hướng xuống, gọi là Hạ chuyển. Tức hành giả chân ngôn phát tâm tu hành chuyển hướng đến quả Phật bồ đề, đó là nghĩa từ nhân đến quả. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 610 thượng) nói: Các pháp thanh tịnh có năng lực, các pháp ô nhiễm không năng lực, hướng vốn chuyển lên trên, gọi là Thượng chuyển môn. [X. Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.1]. THƯỢNG GIAN Gian trên. Chỉ cho chỗ ngồi phía trên trong Thiền viện. Khi nhìn vào Thiền đường thì phía bên phải mình là Thượng gian;Pháp đường,Phương trượng(hướng nam) thì phía đông mình là Thượng gian, Tăng đường(hướng đông) thì phía bắc mình là Thượng gian, Khố ti(hướng tây)thì phía nam mình là Thượng gian. [X. chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2].
thượng chủ bồ tát
Sarthavaha (S)Tên một vị Bồ tát.
thượng cung
716指於諸佛、祖師聖像前,備供物聖膳等物供養。敕修百丈清規卷四兩序章(大四八‧一一三二上):「聖僧侍者,貴有道心,齋粥二時,上供鳴下堂椎。」〔禪林象器箋卷十四〕
thượng cúng
To offer up an offering to Buddha, or to ancestors.
thượng căn
719指上等之根器,即眼、耳、鼻、舌、身等諸根之上利者,或修行佛道之能力特優者。又指「信、進、念、定、慧」等五根銳利之修道者。
; A man of superior character or capacity, e.g. with superior organs of sight, hearing, etc.
; Superior character or capacity.
; (上根) Chỉ cho căn khí thượng đẳng, tức người có các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân rất bén nhạy, hoặc chỉ cho người tu hành Phật đạo có năng lực đặc biệt hơn người. Cũng chỉ cho người tu đạocó5 căn: Tín, tiến, niệm, định và tuệ sắc bén.
thượng cầu bản lai
Similar to the first half of Thượng cầu Bồ đề, hạ hóa chúng sinh. Above to seek bodhi, below to save all. Bản lai means the original or Buddha-nature.
thượng cầu bồ đề, hạ hóa chúng sanh
Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, một trong những đại nguyện của một vị Bồ Tát—Above to seek bodhi, below to save (transform) beings, one of the great vow of a Bodhisattva.
thượng cầu bổn lai chân diện mục
Trên cầu Phật tánh nguyên thủy (to seek for the original or Buddha-nature)—See Thượng Cầu Bồ Đề, Hạ Hóa Chúng Sanh.
thượng cầu hạ hoá
715謂上求菩提,下化眾生。乃菩薩行之內容。勝思惟梵天所問經論卷一(大二六‧三三七下):「自利利他,勝如實修行,自求菩提,亦化眾生,令得菩提。」上求菩提是自利,下化眾生是利他,菩薩之萬行不出此二者。大乘菩薩於初發心之時,立弘誓之願,自求菩提而淨佛土,亦以大悲赴諸難而化導一切眾生。〔四念處卷四、止觀輔行傳弘決卷五之二、往生要集卷上末、正修觀記卷上〕(參閱「菩提心」5200)
; (上求下化) Trên cầu bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh, là nội dung của hạnh Bồtát. Thắng tư duy phạm thiên sở vấn kinh luận (Đại 26, 337 hạ) nói: Lợi mình lợi người, tu hành như thực, tự cầu bồ đề và hóa độ chúng sinh, giúp họ cùng chứng bồ đề. Thượng cầu bồ đề là lợi mình, hạ hóa chúng sinh là lợi người, muôn hạnh của Bồtát không ngoài2điều này. Bồtát Đại thừa lúc mới phát tâm lập thệ nguyện rộng lớn, tự cầu bồ đề làm cho cõi Phật thanh tịnh, dùng tâm đại bi đi đến những nơi khổ nạn để giáo hóa, dắt dẫn tất cả chúng sinh.[X. Tứ niệm xứ Q.4; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 2; Vãng sinh yếu tập Q. thượng, phần cuối; Chính tu quán kí Q. thượng]. (xt. Bồ Đề Tâm).
thượng cổ
Antiquity.
thượng du
High region.
thượng duệ
721<一>(1624~?)清代臨濟宗僧。號楚林。中年時捨世榮,得洪山俞昭允汾之法。歷住潭州(湖南)南雲興化禪林寺、梅城(安徽)放光山毘盧寺、郢州(湖北)潼泉山法興寺等。其餘事蹟不詳。有楚林禪師語錄一書行世。〔五燈全書卷一○四〕 <二>清代畫僧。生卒年不詳。江蘇吳縣人。字尋濬、潯濬。號目存、蒲室子、童心行者、童心和尚。博通廣洽,高潔自持,中年慕道,投杭州六通院願菴伊禪師剃度。擅長山水人物,尤精佛像,然不輕作,每繪像,則施予僧人充作油香錢。晚年多疾,養一侄為其嗣,兩人相與詠繪,罕與世人往來。著有餘習吟。〔國朝書畫家筆錄卷四、國朝書人輯略卷十四〕
thượng gian
721指禪院之上位。人面向堂時,以己身之右為上間,法堂、方丈(南向)則以東為上間,僧堂(東向)則以北為上間,庫司(西向)則以南為上間。〔敕修百丈清規卷一祝釐章、禪林象器箋卷二〕
Thượng giới
上界; C: shàngjiè; J: jōkai;|1. Sắc giới, Vô sắc giới, không kể Dục giới (theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Viết tắt của Thiên thượng giới (天上界), cõi trời phía trên; 3. Cảnh giới của chư thiên ở các cõi trời như Nhân-đà-la (s: śakra) hay Đế-thích (s: indra).
thượng giới
717<一>指色界、無色界等上界天。與「欲界」對稱。於密教中,為金剛界曼荼羅外金剛部五類天之一。此天為魔醯首羅等無量諸天王及其后所居。〔金剛頂經瑜伽十八會指歸〕 <二>又稱天上界。六道之一。與「下界」對稱。即包括無色界、色界、欲界等諸天。(參閱「天」1330) <三>即位於諸天中,上方之位者。如空居天為地居天之上界;色界天為欲界天之上界。
; Mahādevaloka (S).
; Heaven.
; (上界) I. Thượng Giới. Đối lại: Dục giới. Chỉ cho trời cõi Sắc và cõi Vô sắc, 1 trong 5 loại trời thuộc Ngoại kim cương bộ trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Các cõi trời này là chỗ ở của Vô lượng vua trời như Ma hê thủ la... và các Thiên hậu (vợ trời). [X. Kim cương đính kinh Du già thập bát hội chỉ qui]. II. Thượng Giới. Đối lại: Hạ giới. Cũng gọi Thiên thượng giới. Một trong 6 đường. Tức bao gồm các tầng trời cõi Vô sắc, cõi Sắc và cõi Dục. (xt. Thiên). III. Thượng Giới. Tức chỉ cho tầng trời phía trên trong các tầng trời. Như tầng trời Không cư là thượng giới của tầng trời Địa cư; trời cõi Sắc là thượng giới của trời cõi Dục...
thượng giới thiên
The devas of the regions of form and formlessness.
thượng hiền
3186北宋僧。生卒年不詳。四明(浙江鄞縣)人。號廣智。依四明知禮修習教觀。聞講淨名經,頓悟性相之旨。歷事既久,遂居高第。天聖六年(1028)繼知禮之後主持四明延慶寺,道化盛行。當世雲門宗高僧雪竇重顯禪師聞師之盛名,曾特別出山來訪。其時,日本遣比叡山僧紹良等奉送金字法華經,請學於師之座下,三年學成歸返日本,大弘師說。明道年間,淨覺居於靈芝,致書於師,議論「指要三千」之義,師謂僅係心性所具,俗諦之法,未是中道之本,又援引湛然「三千即空假中」之文以輔知禮之「三千俱體俱用」之義。世壽不詳。著有闡幽志、廣智遺編、光明記等。〔佛祖統紀卷八、卷十二、續傳燈錄卷十一〕
Thượng hành
上行; C: shàngxíng; J: jōgyō;|1. Đi về hướng trên. Đi ngược dòng về phía trên, có khuynh hướng ngược dòng để lên phía trên; 2. Công hạnh của một chúng sinh căn cơ bậc thượng. Công hạnh cao tột; 3. Tên của một vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa.
thượng hành bồ tát
715上行,梵名 Viśiṣṭa-cāritra。即法華經所載從地踊出菩薩中之第一位。又作種種行菩薩。據法華經從地踊出品載,法華虛空會時,自娑婆世界地下踊出無量無數菩薩,此菩薩眾從無數劫來即蒙佛教化,修習佛慧,為求佛道之故,住於下空中;今從地踊現,乃為證明佛之壽量長遠,且受釋尊之付囑,流布法華經。。此等地踊菩薩中有四位導師,其第一位即是上行菩薩。以其功行殊勝,乃眾中之最上者,故稱上行菩薩。〔法華經如來神力品、法華經句解卷五、法華義疏卷十〕
; Visista-caritra (skt). • Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát-Bodhisattva, who suddenly rose out of the earth as Buddha was concluding one of his Lotus sermons. He is supposed to have been a convert of the Buddha in long past ages and to come to the world in its days of evil. • Sau khi trải qua nhiều gian khổ và khó khăn trong việc truyền bá Nhật Liên tông, Nhật Liên cũng viết được nhiều tác phẩm. Trong “Khai Mục Sao,” ông có lời nguyện trứ danh của ông là “Ta sẽ là cột trụ của Nhật Bản, ta sẽ là con mắt của Nhật Bản, ta sẽ là huyết mạch của Nhật Bản.” Qua đây, ông tự nhận ông là Bồ Tát Thượng Hành là vị mà Đức Phật phó thác cho công việc bảo vệ chánh pháp: After undergoing so many hardships and troubles, Nichiren wrote several works. In the Eye-opener, his famous vows are found: “I will be the pillar of Japan; I will be the eyes of Japan; I will be the vessel of Japan.” Here he became conscious of himself being the Distinguished Action Bodhisattva (Visistacaritra) with whom the Buddha entrusted the work of protecting the Truth.
; (上行菩薩) Thượng hạnh, Phạm:Vizesta-càritra. Cũng gọi Chủng chủng hạnhbồtát. Chỉ cho vị Bồtát thứ nhất trong các vị Bồtát từ trong đất vọt lên. Cứ theo phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa; đang lúc diễn ra hội Hư không của kinh Pháp hoa, thì từ trong lòng đất của thế giới Sa bà vọt lên vô lượng vô số Bồ tát. Chúng Bồ tát này từ vô số kiếp đến nay đã được đứcPhật giáo hóa, tu tập Phật tuệ, vì cầu Phật đạo nên trụ trong hư không dưới mặt đất. Nay từ trong đất hiện lên là để chứng minh thọ lượng của đức Phật lâu dài, lại được đức Thích tôn phó chúc việc truyền bá kinh Pháp hoa. Trong số các Bồ tát này có 4 vị Đạo sư mà vị thứ nhất chính là Thượng hạnh bồ tát. Vì công hạnh của Ngài thù thắng, là bậc tối thượng trong chúng nên gọi là Thượng hạnh bồ tát.[X. phẩm Nhưlai thần lực trong kinh Pháphoa; Pháphoa kinh cú giải Q.5; Pháp hoa nghĩa sớ Q.10].
thượng hóa
Uttama-nirmāna (S)Một trong Tam hóa.
thượng hương
718奉香於佛前之爐中。上香之法,分成線香與檀香兩種。(一)線香,將香穿在食指及中指中間,並用拇指將香之一端捺住。執時置於胸前,舉時則齊眉。(二)檀香,用雙手拇指、食指執持香之 熇搳A其餘三指啟開高舉,高與眉齊,其後置入香爐。第一根檀香以左手拾起,右手置入香爐;第二根以右手拾起,左手置入香爐;第三根如第一根。
; (上香) Dâng hương vào lư trước Phật. Pháp dâng hương chia làm 2 thứ là tuyến hương và đàn hương. 1. Tuyến hương:Đặt cây hương ở giữa hai ngón trỏ và 2 ngón giữa, rồi dùng ngón cái đè lấy một đầu cây hương cho vững. Khi cầm hương thì để trước ngực, khi giơ hương lên thì phải ngang với chân mày. 2. Đàn hương:Dùng ngón cái và ngón trỏ của 2 tay cầm 2 đầu cây hương, 3 ngón còn lại xòe ra và giơ cao lên ngang chân mày, sau đó đặt hương vào lư. Cây đàn hương thứ nhất dùng tay trái cầm lên, tay phải đặt vào lư hương; cây thứ 2 dùng tay phải cầm lên, tay trái đặt vào lư hương; cây thứ 3 giống như cây thứ nhất.
Thượng hạ bát đế
上下八諦; C: shàngxiàbādì; J: jōgehachitai;|Tám chân lí (bát đế 八諦) trên và dưới. Bốn chân lí trên thuộc về Sắc giới (色界) và Vô sắc giới (無色界); bốn chân lí dưới thuộc về Dục giới (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
thượng hạ hoa nghiêm tự
714指山西大同境內之上華嚴寺與下華嚴寺。兩寺皆建於遼時,為市區內最大、最古老之寺宇,具有濃郁之中國風味。上華嚴寺以金代(1115~1234)所建之大雄寶殿最為壯觀。殿內之須彌壇上,整齊排列明代諸佛像,周圍內壁則保存清代之大壁畫。 下華嚴寺則以保存初期塑造之三十一尊佛像馳名天下。此外,於遼興宗重熙七年(1038)建造之薄伽教藏殿,後則改建為大雄寶殿。
; (上下華嚴寺) Chỉ cho 2 ngôi chùa Hoa nghiêm thượng và Hoa nghiêm hạ trong khu vực Đạiđồng, tỉnh Sơntây, Trung quốc. Hai chùa này đều được xây dựng vào đời Liêu và là 2 chùa xưa nhất, lớn nhất trong nội thành, có phong cách rất đặc trưng của Trung quốc. Đại hùng bảo điện của chùa Hoa Nghiêm thượng cực kì hoành tráng được xây cất vào đời Kim (1115-1234). Trên đàn Tu di trong Nội điện, những pho tượng Phật tạo vào đời Minh được sắp xếp rất chỉnh tề; trên các vách chung quanh còn bảo tồm được các bức bích họa to lớn được vẽ vào đời Thanh, màu sắc rất tươi đẹp.Chùa Hoa nghiêm hạ thì còn giữ được 31 pho tượng Phật được đắp tạo vào thời kì đầu, nổi tiếng trong nước. Ngoài ra, năm Trùng hi thứ 7 (1038) đời vua Hưng Năm tượng Phật trong Đại hùng bảo điện chùa Hoa nghiêm thượng Điện Bạc già giáo tạng của chùa Hoa nghiêm hạ tông nhà Liêu, có xây điện Bạc già giáo tạng, sau được xây lại làm Đại hùng bảo điện.
thượng hạng
First class (rate).
thượng hạnh bồ tát
Vicishtachritra (S)Tên một vị Bồ tát.
; Vidista-càritra Bodhisattva who suddenly rose out of the earth as Buddha was concluding one of his Lotus sermons.
thượng hảo hạng
First rate quality.
thượng khách
Most honoured guest.
thượng khẩn
Extremely urgent—most immediate.
thượng kiên
716指禪家之上位。例如東序之人以佛座在上,而以己之右肩為上肩,西序之人則以左肩為上肩。我國秦漢以前以右為上,後世頻加變動,叢林多取以左為上,故又稱左肩,如敕修百丈清規卷二住持日用之念誦條(大四八‧一一二一上):「順左肩轉,依圖位立。」〔摩訶僧祇律卷三十五、戰國策趙策〕(參閱「肩次」3493)
; (上肩) Vai trên. Chỉ cho chỗ ngồi trên trong nhà Thiền. Chẳng hạn như người thuộc Đông tự cho tòa Phật ở trên thì lấy vai bên phải của mình làm thượng kiên, còn người thuộc Tây tự thì lấy vai bên trái làm thượng kiên. Ở Trung quốc, từ đời Tần, Hán về trước cho bên phải là thượng, đời sau đã thay đổi, các tùng lâm phần nhiều lấy bên trái làm thượng, cho nên cũng gọi Thượng kiên là Tả kiên, như điều Trụ trì niệm tụng nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 ghi (Đại 48, 1121 thượng): Thuận theo tả kiên mà chuyển, đứng vào các vị trí đã định. [X. luật Ma ha tăng kì Q.35; Chiến quốc sách Triệu sách]. (xt. Kiên Thứ).
thượng kiên thuận chuyển
716上肩,指左肩;即順左肩而轉。敕修百丈清規卷六日用軌範條(大四八‧一一四四下):「以上肩順轉(謂左肩也)若前門從南頰入。」摩訶僧祇律卷三十五(大二二‧五○六下):「行時,不得背迴,應面向右迴。」古人尚右,後世尚左,禪林從取後者,故順左肩而轉。〔敕修百丈清規卷二住持日用條、禪林象器箋禮則門〕(參閱「上肩」716)
; (上肩順轉) Thượng kiên, chỉ cho vai bên trái, tức di chuyển thuận theo vai bên trái. Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh quyển 2 (Đại 48, 1144 hạ) ghi: Thuận theo vai bên trái mà di chuyển (thượng kiên thuận chuyển), nếu là cửa trước thì từ phía nam mà vào. Luật Ma ha tăng kì quyển 35 (Đại 22, 506 hạ) nói: Khi đi không được ngoái lại sau lưng, nếu cần phải nhìn lại thì nênxoay mặt về phía bên phải. Người xưa chuộng bên phải, người đời sau chuộng bên trái, Thiền lâm theo người đời sau nên di chuyển thuận theo vai trái. [X. điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thượng Kiên).
thượng kiếp
The superior life.
thượng lam thuận
722宋代臨濟宗僧。生卒年不詳。西蜀人。出家後,與圓通居訥同行赴蜀,後參謁黃龍慧南,得其心法。歷住洪州(江西)上藍禪院、景福、香城、雙峰諸剎。以其接化親切,人稱順婆婆。世壽八十餘,於香城山坐化。〔嘉泰普燈錄卷四、續傳燈錄卷十六〕
thượng lí thiên
3186凡一卷。明代景隆撰。正統五年(1440),應天府五聖廟道士繆尚誡曾繪製一幅黃龍禪師與呂洞賓之講禮圖,名爲「神化圖」,並附上虛妄臆想之解說,謂黃龍禪師深羨呂洞賓之道法。當世淺智之徒多爲所惑,景隆乃作尚理篇以駁破其偽。
; (尚理篇) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cảnh long soạn vào đời Minh. Vào năm Chính thống thứ 5 (1440), Đạo sĩ Mục thượng giới ở miếu Ngũ thánh, phủ Ứng thiên, có vẽ 1 bức tranh giảng lễ giữa Thiền sư Hoàng long và Lã động tân, gọi là Thần hóa đồ, đồng thời có phụ thêm phần giải thích về sự tưởng nhớ hư vọng, cho rằng Thiền sư Hoàng long rất hâm mộ đạopháp của Lã động tân. Những người kiến thức nông cạn thời đó phần nhiều bị mê hoặc, cho nên ngài Cảnh long mới soạn Thượng lí thiên để bác bỏ sự ngụy tạo của Đạo sĩ Mục thượng giới.
thượng lưu
Urdhvasrotas (S). The flow upwards, or to go upwards against the stream of transmigration to parinirvàna.
; 1) Đi ngược dòng sanh tử để đến Niết Bàn: Urdhvasrotas (skt)—The flow upwards—To go upwards against the stream of transmigration to parnirvana. 2) Thượng nguồn: Up-stream.
thượng lưu xã hội
High society.
thượng lạc kim cương
722又稱勝樂金剛。為西藏拉薩下密院修無上瑜伽密之本尊。其像為雙尊,置於雙層蓮花座上。明王上樂金剛有三面,每面各三目,計十二臂,主臂擁抱明妃金剛亥母,其餘諸臂持物,裸體,下身掛骷髏瓔珞,雙足踏人。另有作四面六臂之像者。迦爾居派修法時多奉為本尊。
; (上樂金剛) Cũng gọi Thắng lạc kim cương. Vị bản tôn được thờ phụng khi tu pháp Vô thượng du già mật ở Mật viện tại Lạp tát hạ, Tây tạng. Hình tượng là 2 vị tôn được đặt trên tòa sen 2 tầng. Minh vương Thượng lạc kim cương có 3 mặt, mỗi mặt đều có 3 mắt, tất cả có 12 tay, 2 tay chính ôm Minh phi Kim cương hợi mẫu, còn các tay khác thì cầm các vật, lõa thể, phần thân dưới đeo chuỗi anh lạc bằng những cái đầu lâu, 2 chân đạp trên thân người. Cũng có hình tượng của vị tôn này được tạo với 4 mặt 6 tay. Phái Ca nhĩ cư khi tu pháp phần nhiều thờ vị Bản tôn này.
thượng lộ
To set out (start) on one's way.
thượng mao thành
717<一>梵名 Kuśāgrapura。音譯矩奢揭羅補羅。位於中印度摩揭陀國之正中,為摩揭陀國王舍城之舊城,故又稱舊王舍城。此地多生勝上之吉祥香茅,因以得名。據大唐西域記卷九載,其城以四周之崇山為外廓,西通峽徑,北闢山門,東西長,南北狹,城周一百五十餘里,內城餘址周三十餘里。就地勢而言,為一軍防要害之地。又上茅城又稱山城(梵 Girivṛja,巴 Giribbaja),今僅餘內城之南壁與北壁。本為摩揭陀國之都城,至頻婆娑羅王時,以城內頻傳火災,且吠舍離國不時來寇,遂遷都至新王舍城。〔善見律毘婆沙卷八、大智度論卷三、高僧法顯傳〕(參閱「王舍城」1510) <二>梵名 Kuśi-nagara。即中印度拘尸那揭羅城之意譯。此處係佛世時印度十六大國中末羅(梵 Malla,巴同)力士族所居之地,其城北即釋尊涅槃之地。(參閱「拘尸那揭羅」3267)
; (上茅城) I. Thượng Mao Thành. Phạm: Kuzàgrapura. Hán âm: Củ xa yết la bổ la. Tên tòa thành nằm chính giữa nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ, đây là tòa thành cũ của thành Vương xá nước Ma yết đà, vì thế cũng gọi là Cựu vương xá thành. Đất trong thành này mọc nhiều cỏ tranh có mùi thơm thượng hảo, cho nên được đặt tên là Thượng mao thành. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì 4 chung quanh thành này có núi cao bao bọc, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, chu vi thành hơn 150 dặm, nền cũ trong nội thành chu vi hơn 30 dặm. Nói về mặt địa thế thì đây là chỗ rất hiểm yếu đối với kế hoạch quốc Thượng mao thành còn được gọi là Sơn thành (Phạm:Girivfja,Pàli:Giribbaja), hiện nay chỉcòn2 bức tường phía nam và phía bắc của nội thành. Thành này vốn là thủ đô của nước Ma yết đà, đến thời vua Tần bà sa la thì vì trong thành thường bị hỏa hoạn, hơn nữa, nước Phệ xá li thường bất chợt đến cướp phá, cho nên nhà vua phải dời đô đến thành Vương xá mới. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luận Đại trí độ Q.3; Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Vương Xá Thành). II. Thượng Mao Thành. Phạm: Kuzi-nagara. Hán âm: Câu thi na yết la. Đây là nơi quê hương của chủng tộcLực sĩ Mạtla (Phạm,Pàli:Malla), một trong 16 nước lớn ở Ấnđộ vào thờiđức Phật. Phía bắc thành này là nơi đức Thích tôn nhập Niết bàn. (xt. Câu Thi Na Yết La).
thượng minh tự
716位於湖北江陵之古剎。塔宇壯麗,僧房萬間,當地寺廟無堪比擬者。南北朝時高僧多棲止於此,為當時義學名剎。
thượng nghi châu
Uttaramantrina (S), Uhara-Mantrina (P)Một trong hai Trung châu của Tây Ngưu hoá châu.
thượng nguyên
The fifteen of the first moon.
thượng ngươn
The Superior world.
thượng nhân
714梵語 puruṣarṣabha。對智德兼備而可為眾僧及眾人師者之高僧的尊稱。釋氏要覽卷上謂,內有智德,外有勝行,在眾人之上者為上人。大品般若經卷十七堅固品則載,若菩薩摩訶薩能一心行阿耨多羅三藐三菩提,護持心不散亂,稱為上人。在日本,上人一語,特用於淨土宗與日蓮宗,並謂聖人較上人為重要,故日本真宗稱宗祖親鸞為聖人,稱其列祖為上人。中世紀後,日本朝廷以此作為僧位敕授高僧。〔增一阿含經卷三十九、十住毘婆沙論卷十五、大智度論卷七十三〕
; Puruṣar-sabha (S).
; A man of superior wisdom, virtue and conduct, a term applied to monks during the Đường dynasty.
; Một người có thượng trí, thượng đức và thượng hạnh—A man of superior wisdom, virtue and conduct.
; (上人) Phạm: Puruwarwbha. Từ tôn xưng bậc cao tăng có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh, xứng đáng làm thầy chúng tăng và mọi người. Thích thị yếu lãm quyển thượng cho rằng bậc bên trong có trí đức, ngoài có thắng hạnh, ở trên mọi người, gọi là Thượng nhân. Phẩm Kiên cố trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 thì cho rằng: Nếu bậc Đại Bồtát nhất tâm tu hành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, giữ gìn tâm không để tán loạn thì gọi là Thượng nhân. Ở Nhật bản, từ Thượng nhân đặc biệt được tông Tịnh độ và tông Nhật liên sử dụng, đồng thời cho rằng Thánh nhân quan trọng hơn so với Thượng nhân. Vì thế nên Chân tông Nhật bản gọi Tông tổ Thân loan là Thánh nhân, còn gọi các tổ kế tiếp là Thượng nhân. Từ thời Trung thế về sau, triều đình Nhật bản dùng từ Thượng nhân làm tăngvị để sắc ban cho các bậc cao tăng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.39; luận Thập trụ tì bà sa Q.15; luận Đại trí độ Q.73]. Một trong 3 phép thụ giới của Đại thừa giới. Chỉ cho giới được nhận lãnh trước chư Phật và Bồtát, là giới chân thực thượng phẩm. Kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1020 hạ) nói: Các Phật tử! Có 3 cách thụ giới: 1. Thụ giới trước chư Phật và Bồ tát hiện tại, được giới chân thực thượng phẩm. 2. Thụ giới khi chư Phật và Bồtát đã diệt độ (...) 3. Sau khi Phật diệt độ (...), tu học tất cả giới Bồ Tát, đó là hạ phẩm.
Thượng phiền não
上煩惱; C: shàngfánnăo; J: jōbonnō;|1. Trạng thái cường thịnh của căn bản phiền não; 2. Phiền não hiện hành (theo Khởi tín luận 起信論, Thắng-man kinh 勝鬘經).
thượng phiền não
721<一>即由根本無明所生之枝末惑。又指十大惑中之根本煩惱強盛者。勝鬘寶窟卷中末(大三七‧五二中):「四住所起煩惱,麤強名上,故云一切上煩惱;四住與上煩惱作依作種,已起煩惱依之得立,故名依也。」大乘起信論(大三二‧五七八中):「過恒沙等上煩惱,依無明起差別。」 <二>現前生起之煩惱亦稱為上煩惱。
; The severe fundamental trials arising out of the ten great delusions; also the trials or distresses of present delusions.
; Distress of present delusions.
; (上煩惱) I. Thượng Phiền Não. Phiền não chi mạt(cành ngọn) do vô minh căn bản(gốc rễ) sinh ra. Cũng chỉ cho phiền não trong 10 hoặc lớn phát sinh mạnh mẽ. Thắng man bảo quật quyển trung, phần cuối (Đại 37, 52 trung) nói: Các phiền não từ Tứ trụ sinh khởi, vì chúng thô to, mạnh mẽ nên gọi là Thượng, bởi vậy, ở đây nói tất cả Thượng phiền não. Tứ trụ và Thượng phiền não làm chỗ nương, chỗ gieo trồng, phiền não đã sinh ra nương vào đó mà tồn tại, cho nên gọi là Y. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 23, 578 trung) nói: Thượng phiền não nhiều hơn số cát sông Hằng, nương nơi vô minh mà khởi sai biệt. II. Thượng Phiền Não. Phiền não sinh khởi ngay ở hiện tiền cũng gọi là Thượng phiền não.
thượng pháp ưng xả, hà huống phi pháp
Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy—According to the Diamond Sutra, the Buddha taught: • Chúng sanh không nên chấp vào tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tướng vô pháp, và cũng không chấp vào tướng không phải là phi pháp—Sentient beings should not attached to the concept of self, others, affliations and incessantness, not to the concept of doctrines, nor no doctrines. • Tại vì sao? Nếu tâm còn chấp vào tướng, tức là chấp có ta, có người, có chúng sinh, có thọ giả. Nếu cố chấp vào pháp tướng, cũng tức là chấp có ta, chấp có người, chấp có chúng sinh, và chấp có thọ giả—Why? One who grasps a concept is attached to the self, others, affiliations and incessantness. One who grasps doctrine is attached to the self, others, affiliations and incessantness. • Bởi vậy không nên chấp là pháp, không nên chấp là phi pháp—One who grasps no-doctrines is attached to the self, others, affiliations and incessantness. Therefore, do not attach to the concept of doctrines or no-doctrine. • Vì lẽ đó, cho nên Như Lai thường nói: “Tỳ Kheo các ông nên hiểu rằng 'Pháp của ta nói ra, cũng ví như cái bè khi sang qua sông, thế nên Thượng Pháp ưng xả, hà huống phi pháp!' (chính pháp có khi còn nên bỏ, huống là phi pháp.)”—Thus, the Tathagata always says: “You, Bhikshus, should be aware that my teaching is a raft. It can be cast aside. How much more should you cast aside non-Buddhist teachings?”
thượng phương
Heaven—Also see Thượng thủ.
thượng phương kim cang võng bồ tát
Xem Kim Cang Võng Bồ tát.
thượng phương, thượng thủ
An abbot. Thượng phương originally meant a mountain monastery.
Thượng phẩm
上品; C: shàngpǐn; J: jōbon;|Tầng lớp trên, thứ bậc trên. Thường dùng để nói đến căn cơ của hành giả. Đối nghịch với Trung phẩm (中品) và Hạ phẩm (下品).
thượng phẩm
Superior order, grade or class. Thượng phẩm liên đài. The highest stages in the Pure Land.
; The high quality—High rank (class)—First quality.
thượng phẩm giới
716為大乘戒三種受戒之一。指在諸佛菩薩面前所受之戒,為真實上品之戒。菩薩瓔珞本業經卷下(大二四‧一○二○下):「佛子!受戒有三種受:一者,諸佛菩薩現在前受,得真實上品戒。二者,諸佛菩薩滅度(中略)。三,佛滅度後(中略)我學一切菩薩戒者,是下品戒。」
thượng phẩm liên thai
717指上品往生極樂者所化生之蓮臺。往生極樂之三品中,上品生者化生於七寶池中之七寶大蓮華,故稱上品蓮臺。
; (上品蓮台) Đài sen thượng phẩm. Chỉ cho đài sen trong đó những người vãng sinh Cực lạc thuộc bậc thượng phẩm được hóa sinh. Trong 3 phẩm vãng sinh Cực lạc thì những người thuộc Thượng phẩm sinh, được hóa sinh trong hoa sen lớn bằng bảy báu trong ao Bảy báu, cho nên gọi là Thượng phẩm liên đài.
thượng phẩm liên đài
Phẩm cao nhất trên cõi Tịnh Độ, nơi mà những vị vãng sanh hiện ra như những hoa sen trong ao thất bảo. Khi những hoa sen nầy nở thì các vị ấy sẽ chuyển hóa thành những chúng sanh trong cõi Tịnh Độ—The highest stages in the Pure Land where the best appear as the lotus flowers on the pool of the seven precious things. When the lotuses open they are transformed into beings of the Pure Land.
thượng phẩm thượng sanh
Reborn in the uppermost of the Lotus grade—Tái sanh vào cõi cao nhất trên Tịnh Độ (tùy theo nghiệp lực)—The highest quality of the incarnated beings with corresponding to karma—The highest grade in the Pure Land.
thượng phẩm thượng sinh, trung sinh, hạ sinh
The three highest of the nine stages of birth in the Pure Land.
thượng phẩm trung sanh
The middle rank or quality of the incarnated beings with corresponding to karma.
thượng quỹ bồ tát
Xem Tối Thánh Bồ tát.
Thượng Sam Cảnh Thắng
(上杉景勝, Uesugi Kagekatsu, 1555-1623): còn gọi là Trường Vĩ Cảnh Thắng (長尾景勝, Nagao Kagekatsu), vị Võ Tướng sống dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山), con của Trường Vĩ Chính Cảnh (長尾政景), con nuôi của Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信). Sau khi Khiêm Tín qua đời, ông làm việc cho tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi, 1537-1598), được liệt vào hàng ngũ của Ngũ Đại Lão (五大老).
Thượng sinh
上生; C: shàngshēng; J: jōshō;|Tái sinh ở trong cõi tốt lành hơn. Chẳng hạn tái sinh vào Sắc giới thay vì Dục giới.
Thượng sinh kinh
上生經; C: shàngshēng jīng; J: jōshō kyō;|Viết tắt của Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經).
thượng sĩ
715<一>菩薩之異稱。又作大士。菩薩遠離迷執邪見,正見法理,乃圓滿自利利他之行者,故稱上士。釋氏要覽卷上(大五四‧二六一上):「瑜伽論云:『無自利利他行者,名下士;有自利無利他者,名中士。有二利,名上士。』」〔永嘉證道歌〕 <二>上根之人亦稱上士。
; The superior disciple, who becomes perfect in (spiritually) profiting himself and others. The trung sĩ profits self but not others; the hạ sĩ neither.
; The superior disciple who become spiritually perfect profiting himself and others.
; (上士) I. Thượng Sĩ. Cũng gọi là Đại sĩ. Tên khác của Bồtát – Bồ tát xa lìa mê chấp tà kiến, thấy pháp lí chân chính, là bậc tu hành viên mãn hạnh lợi mình lợi người, cho nên gọi là Thượng sĩ. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 261 thượng) ghi: Luận Du già nói; Người không tu hạnh lợi mình, lợi người gọi là Hạ sĩ; người có tu hạnh lợi mình mà không tu hạnh lợi người, gọi là Trung sĩ; còn người tu hành cả 2 hạnh lợi mình và lợi người thì gọi là Thượng sĩ. [X. Vĩnh gia chứng đạo ca]. II. Thượng Sĩ. Bậc thượng căn cũng gọi là Thượng sĩ.
thượng sư
718西藏佛教對具有高德勝行、堪為世人軌範者之尊稱。又作金剛上師。西藏人稱為喇嘛。喇嘛,為藏語 bla-ma 之漢語音譯,本為 bla(上)與 ma(人)之複合詞,意指上德之人。相當於梵語 guru(古魯、咕嚕),意即師匠、師範,為古代印度人或一般修行者對其師之尊稱。 西藏佛教特重喇嘛崇拜,於藏人之日常生活,舉凡誕婚壽喪、疾病災害,乃至旅遊遷徙,皆特別延請喇嘛為之祈禱而後行事,至於出家之修行者,於皈依佛法僧三寶之外,特重對喇嘛之皈依,而有四皈依之作法;並以自己之身口意,悉數供養歸投上師;認為奉侍喇嘛,即等於供事三寶。 以「法統」而言,西藏密教最重視師承關係,認為金剛上師乃師師相承中的大日如來之代表,故凡遇傳受密法,必經金剛上師之灌頂,修持密法之儀軌亦須先請金剛上師加持之。又因密教強調心法相傳,故密法之傳授,必須由上師與弟子秘密授受。 依密乘之規定,堪任軌範師(阿闍黎)之上師須具備下列條件:(一)須有正統傳承的根本金剛上師之密法灌頂。(二)從金剛佛至自己的根本上師,其間所有密法之傳承灌頂皆須圓滿無缺,不可間斷。(三)須受本尊大灌頂(阿闍黎灌頂),精通顯密佛法及菩提心學,並具備火供、壇城等修法材料,熟習諸經軌所說之修法。(四)自己有能力傳授密法時,須經根本金剛上師許可,方能擔任上師阿闍黎,為人傳法灌頂。圓具上述條件後,依照西藏之習慣,即可稱為「仁波切」,意指轉世佛爺。
; (上師) Cũng gọi Kim cương thượng sư. Danh từ của Phật giáo Tâytạng dùng để tôn xưng người có trí đức cao sâu, giới hạnh thù thắng, xứng đáng làm khuôn mẫu cho mọi người. Người Tây Tạng gọi các bậc ấy là Lạt ma. Lạt ma là Hán âm của tiếng Tây Tạng Bla-ma, vốn là 1 danh từ ghép, gồm bla (thượng) và ma(nhân), tức chỉ cho người thượng đức, tương đương với tiếng Phạm Guru, nghĩa là Sư tượng, Sư phạm, là từ ngữ mà người Ấnđộ đời xưa hoặc người tu hành nói chung dùng để tôn xưng thầy của mình. Phật giáo Tây tạng đặc biệt sùng bái Lạt ma. Trong sinh hoạt thường ngày của người Tây tạng, hễ có các việc như cưới xin, mừng thọ, ma chay, đau ốm, tai nạn cho đến dời nhà đi xa... đều đặc biệt trước thỉnh Lạt ma cầu nguyện rồi sau mới thực hiện. Còn những người xuất gia tu hành thì ngoài việc qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng ra, còn phải đặc biệt qui y Lạt ma, do đó mà có tác pháp Tứ qui y; đồng thời đem thân khẩu ý của chính mình cúng dường, qui y Thượng sư, cho rằng phụng sự Lạt ma cũng ngang với phụng thờ Tam bảo. Nói theo Pháp thống thì Mật giáo Tây tạng rất xem trọng mối quan hệ kế thừa sự nghiệp của thầy, cho rằng Kim cương thượng sư là đại biểu cho đức Đại nhật Như lai trong hệ thống Sư sư tương thừa, cho nên nếu truyền trao Mật pháp thì phải có Kim cương thượng sư quán đính, nghi quĩ tu trì Mật pháp cũng phải thỉnh Kim cương thượng sư gia trì trước. Lại vì Mật giáo coi trọng Tâm pháp tương truyền, cho nên sự truyền trao Mật pháp cũng do Thượng sư và đệ tử bí mật truyền trao.Theo sự qui định của Mật thừa, vị Thượng sư đảm nhiệm chức vị Quĩ phạm sư (A xà lê) phải có đủ các điều kiện sau đây:1. Phải có Mật pháp quán đính của Kim cương thượng sư căn bản trong hệ truyền thừa chính thống. 2. Từ Kim cương Phật đến vị Thượng sư căn bản của chính mình, sự truyền thừa quán đính Mật pháp suốt thời gian ấy, đều phải đầy đủ không thiếu, không được gián đoạn. 3. Phải thụ đại quán đính Bản tôn(quán đính A xà lê), tinh thông Phật pháp Hiển mật và Bồ đề tâm học, đồng thời có đủ các tài liệu về các pháp tu như Hỏa cúng, Đàn thành..., luyện tập thành thục các pháp tu nói trong các kinh quĩ. 4. Khi bản thân mình có năng lực truyền trao Mật pháp, phải có sự cho phép của vị Kim cương thượng sư căn bản mới được đảm nhiệm chức vị Thượng sư A xà lê, truyền pháp quán đính cho người. Có đủ các điều kiện như đã trình bày ở trên rồi, theo tập quán của Tâytạng, bấy giờ mới có thể được gọi là Nhân ba thiết, nghĩa là Đức Phật chuyển thế.
thượng thi la bộ
Xem Bắc sơn trụ bộ.
thượng thông
3186朝鮮李朝初期之曹溪宗僧。現今韓國京畿道高陽郡神道面北漢里太古寺之圓證國師塔碑,載有太古普愚及其門人大禪師尚聰之名。可知師爲圓證國師普愚之弟子。普愚屬臨濟宗楊岐派之法脈,故大揚我國臨濟宗風;然師屬朝鮮禪本流曹溪宗之法脈。故可推知,師雖名列普愚門下,然並非承其宗風或正式之入室付法弟子。師曾任興天寺住持,該寺建於李朝太祖康獻王年間(1392~1398),爲曹溪宗之本山。師有感於當時佛教徒薰染高麗朝末期爭名奪利之陋習,荒廢修禪講經,乃上疏謂,禪宗應仿松廣寺第一世普照國師之遺制,嚴於修禪,並主張教禪兼修。其後,並制定「興天社作法」,成爲後世韓國教界之規範。〔太祖實錄卷十四、朝鮮金石總覽上、朝鮮史第四編第一卷、朝鮮佛教通史上中編(李能和)、李朝佛教(高橋亨)、朝鮮禪教史(忽滑谷快天)〕
thượng thú
The higher gati—The higher directions of transmigration.
thượng thượng nhân
714日本淨土宗對念佛行者之讚譽。為五種嘉譽之一。日本淨土宗開祖源空根據觀無量壽經稱念佛人為人中之分陀利華,以分陀利華為諸花中之最上最勝者,而謂念佛法門為諸行中之最上、最殊勝者,故有上上人之稱。〔北本涅槃經卷三十三〕
; (上上人) Từ ngữ do tông Tịnh độ Nhậtbản dùng để khen ngợi người tu hạnh niệm Phật, là 1 trong 5 thứ danh dự. Vị tổ khai sáng tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Nguyênkhông đã căn cứ vào kinh Quán vô lượng thọ mà gọi người niệm Phật là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, vì hoa phân đà lợi là loại tối thượng, tối thắng trong các loài hoa, cho nên dùng để ví dụ cho nguời tu hạnh niệm Phật, là hạnh tối thượng, tối thắng trong các hạnh tu mà gọi là Thượng thượng nhân. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc)].
Thượng thượng phẩm
上上品; C: shàngshàngpǐn; J: jōjōhon;|Thứ nhất (thượng 上) trong hàng cao cấp nhất (thượng phẩm 上品). Bậc cao nhất trong chín hạng thường được đề cập trong kinh văn Phật giáo để phân loại các giới bằng phẩm lượng. Thuật ngữ nầy thường được dùng để nói đển căn cơ của chúng sinh (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Thượng thủ
上首; C: shàngshǒu; J: jōshu;|1. Cao quý nhất, quan trọng nhất; 2. Giai vị cao nhất, hoặc người đang trên giai vị đó. Người đứng đầu, lĩnh đạo, thủ lĩnh.
thượng thủ
người đứng đầu, dẫn đầu hay giữ cương vị tôn quý nhất trong một tập thể.
; 717梵語 pramukha,巴利語 pamukha。<一>即大眾之中位居最上者。於佛世時即有此稱,上首一詞散見於各漢譯經典中。後於禪林裡,間以「首座」代稱上首,而其推重之意不變。〔大品般若經卷四金剛品、觀無量壽經、法華論卷上〕 <二>指諸法門中最上之法。例如守護國界主陀羅尼經卷二,將「厭離一切法三昧、超過一切法三昧」等十五種三昧稱為一切三昧中之上首,復將「觀諸法性陀羅尼門、發菩提心陀羅尼門」等五十三陀羅尼門稱為一切陀羅尼門之上首。〔法華經卷五、大智度論卷四十五、大日經疏卷十二〕 <三>指佛弟子優波離。梵名 Upāli,意譯化生,或譯上首,以其持律第一,為眾紀綱,故稱上首。如來入滅後,其與五百聖人於畢鉢羅窟內,結集毘奈耶藏。〔付法藏因緣經卷一〕
; Pramukha (S), Most Seniority.
; President, or presiding elders.
; President—Presiding elders—An abbot.
; (上首) Phạm: Pramukha. Pàli: Pamukha. I. Thượng Thủ. Chỉ cho người ở địa vị cao nhất trong đại chúng. Lúc đức Phật còntạithế đã có tên gọi này rồi, từ Thượng thủ cũng thấy rải rác trong kinh điển Hán dịch. Sau, trong Thiền lâm, đôi khi từ ngữ Thủ tọa được dùng thay cho Thượng thủ, tuy nhiên, ý nghĩa tôn trọng không thay đổi. [X. phẩm Kim cương trong kinh Đại phẩm Bát nhã Q.4; kinh Quán vô lượng thọ; luận Pháp hoa Q. thượng]. II. Thượng Thủ. Chỉ cho pháp tối thượng trong các pháp môn. Chẳng hạn như kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 2 gọi 15 thứ Tam muội như Yếm li nhất thiết pháp tam muội, Siêu quá nhất thiết pháp tam muội... là thượng thủ trong tất cả Tam muội; lại gọi 53 Đà la ni môn như Quán chư pháp tính đà la ni môn, Phát bồ đề tâm đà la ni môn...là thượng thủ của tất cả Đà la ni môn.[X. kinh Pháp hoa Q.5; luận Đại trí độ Q.45; Đại nhật kinh sớ Q.12]. III. Thượng Thủ. Chỉ cho ngài Ưu ba li, đệ tử của đức Phật. Ưu ba li, Phạm:Upàli, Hán dịch là THƯỢNG THỦ. Hóa sinh, hoặc dịch là Thượng thủ. Vì ngài giữ luật vào bậc nhất, làm kỉ cương cho đại chúng nên gọi là Thượng thủ. Sau khi đức Phật nhập diệt, Ngài cùng với 500 vị Thánh tăng kết tập tạng Luật trong động Tát bát la. [X. kinh Phó pháp tạng nhân duyên Q.1].
thượng thủ bồ tát
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
thượng thủ công đức
717指勝妙無過之功德。乃極樂淨土二十九種莊嚴中八種佛功德之一。彼淨土之上首以阿彌陀佛為最尊,其勝妙拔群,無有超過者。曇鸞之往生論註卷上(大四○‧八三二中):「如須彌山王,勝妙無過者。此二句名莊嚴上首功德成就。佛本何故起此願?見有如來,眾中或有強梁者,如提婆達多流比;或有國王,與佛並治,不知甚推佛;或有請佛,以他緣廢忘。有如是等似上首力不成就,是故願言:『我為佛時,願一切大眾無能生心,敢與我等,唯一法王,更無俗王。』是故言:如須彌山王,勝妙無過者。」〔無量壽經卷下〕
; (上首功德) Chỉ cho công đức vi diệu, thù thắng không có công đức nào hơn, là 1 trong 8 thứ công đức của Phật trong 29 thứ trang nghiêm cõi Tịnh độ cực lạc. Bậc Thượng thủ ở Tịnh độ ấy là đức Phật A di đà mà sự tối tôn, tối thắng, vi diệu của Ngài hơn tất cả mọi người, không ai vượt qua được. Trong Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 832 trung), ngài Đàm loan nói: Như núi chúa Tu di, thù thắng vi diệu không núi nào hơn. Hai câu này gọi là Trang nghiêm thượng thủ công đức thành tựu. Vì sao Phật đã phát khởi nguyện này? Vì thấy có Như lai, trong chúng có kẻ ngang ngược như Đề bà đạt đa; hoặc có quốc vương không biết kính trọng đức Phật, hoặc có người thỉnh Phật, nhưng vì bận nhiều việc nên quên mất. Có những việc tựa như năng lực bậc thượng thủ không thành tựu như thế, cho nên nguyện rằng: Khi tôi thành Phật, nguyện tất cả mọi người không ai dám sinh tâm ngang hàng với tôi, chỉ có một đấng Pháp vương, không có vua thế tục. Vì thế nói rằng: Như núi chúa Tu di, thù thắng vi diệu không núi nào hơn. [X. kinh Vô lượng thọ Q. hạ].
thượng thừa
Mahàyàna (S). Also thượng thuật, đại thừa.
; Supreme Yana—Mahayana—See Đại thừa.
thượng thừa du già
Mahàyàna-yoga (S).
; Mahayana-Yoga.
thượng thừa mật tông
The Mahàyàna esoteric school, especially Chân ngôn tông Shingon.
; The Mahayana Esoteric school.
thượng thừa thiền
718指頓悟自心之禪。禪宗自謂超乎大、小二乘之上,故別立此名。據景德傳燈錄載,禪有深淺階級,悟「我空偏真」之理而修者,是小乘禪;悟「我法皆空」所顯真理而修者,是大乘禪。若頓悟自心本來清淨,原無煩惱,本自具足無漏之智,此心即佛,依次而修者,即是上乘禪。
; Mahàyàna Zen school, which considers that it alone attains the highest realization of Mahàyàna truth.
; The Mahayana meditation—Attainment of the highest realization of Mahayana truth—To realize the unreality of the ego and of all things.
; (上乘禪) Chỉ cho thứ thiền đốn ngộ tự tâm. Thiền tông tự cho mình vượt lên trên Đại thừa và Tiểu thừa, cho nên lập riêng Thượng thừa thiền. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục thì thiền có cấp bậc sâu cạn khác nhau, người ngộ lí Ngã không thiên chân mà tu thiền thì gọi là Tiểu thừa thiền; người ngộ chân lí Ngã pháp giai không mà tu thiền là Đại thừa thiền. Nếu ngộ ngay tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, vốn không phiền não, tâm này chính là Phật, theo đó mà tu thiền thì chính là Thượng thừa thiền.
thượng toà
718梵語 sthavira,巴利語 thera。音譯悉他薛羅、悉提那。又稱長老、上臘、首座、尚座、住位等。乃三綱之一。指法臘高而居上位之僧尼。毘尼母經卷六,就法臘之多少而立下座、中座、上座、耆舊長宿等四階。又以無臘至九臘,稱為下座;十臘至十九臘,稱為中座;二十臘至四十九臘,稱為上座。五十臘以上而受國王、長者、出家人所重者,稱為耆舊。惟南海寄歸內法傳卷三載,滿十臘是為悉他薛羅,此蓋以上記中座以上總為上座。 集異門足論卷四所言之上座有如下三種:(一)生年上座(梵 jati-sthavira),即指尊長、耆舊。(二)世俗上座(梵 saṃvṛti-sthavira),即有世俗財產、地位、權力者。(三)法性上座(梵 dharma-sthavira),即法臘較長,智慧解脫,已證得阿羅漢者。另於釋氏要覽卷上舉出「四種上座」之說,即:(一)僧房上座,即律所說之三綱上座。(二)僧上座,即壇上之上座,或授戒時堂中之首座。(三)別房上座,即禪林諸寮之首座。(四)住家上座,即計齋席之上座。此外,上座亦為比丘之泛稱。〔四分律卷五十四、十誦律卷三十九、禪苑清規卷一、禪林象器箋稱呼門〕
; (上座) Phạm: Sthavira. Pàli:Thera. Hán âm: Tất tha bệ la, Tát đề na. Cũng gọi: Trưởng lão, Thượng lạp, Thủ tọa, Thượng tọa, Trụ vị. Một trong Tam cương. Chỉ cho vị tăng hay vị ni có tuổi hạ cao, ở địa vị trên. Kinh Tì ni mẫu quyển 6 y cứ vào tuổi hạ cao hay thấp mà lập ra 4 bậc: Hạ tọa, Trung tọa, Thượng tọa và Kì cựu trưởng túc. Rồi qui định từ chưa có hạ lạp nào 19 hạ, gọi là Trung tọa; từ 20 hạ đến 49 hạ, gọi là Thượng tọa. Từ 50 hạ trở lên, được quốc vương, trưởng giả, người xuất gia kính trọng thì gọi là Kì cựu. Nhưng Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì cho rằng đủ 10 hạ là Tất tha bệ la, đó là vì từ bậc Trung tọa trở lên gọi chung là Thượng tọa.Theo Tập dị môn túc luận quyển 4 thì Thượng tọa có 3 loại như sau: 1. Sinh niên thượng tọa (Phạm:Jatisthavina): Chỉ cho Tôn trưởng, Kì cựu. 2. Thế tục thượng tọa (Phạm:Saôvftisthavira): Người có tài sản, địa vị, quyền hành thế tục. 3. Pháp tính thượng tọa (Phạm: Dharma-sthavira): Người có tuổi hạ khá cao, trí tuệ giải thoát, đã chứng quả A la hán.Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì nêu thuyết Tứ chủng thượng tọa, đó là: 1. Tăng phòng thượng tọa: Tức chỉ cho Tam cương thượng tọa nói trong các luật.2. Tăng thượng tọa:Tức Thượng tọa ở trên đàn, hoặc chỉ cho vị Thủ tọa trong giới đàn khi truyền giới. 3. Biệt phòng thượng tọa: Tức chỉ cho vị Thủ tọa của các liêu trong Thiền lâm. 4. Trụ gia thượng tọa: Chỉ cho vị Thượng tọa coi về trai tịch. Ngoài ra, Thượng tọa cũng là từ gọi chung các tỉ khưu. [X. luật Tứ phần Q.54; luật Thập tụng Q.39; Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thượng toà bộ
719梵名 Ārya-sthavira-nikāya,巴利名 Thera-Vāda。又稱銅鍱部。音譯作他鞞羅部、體毘履、他毘利與。乃部派佛教之一派。據北傳佛典所載,佛入滅百餘年後,大天(梵 Mahādeva,巴同)等進步派之比丘倡導五條教義,保守派起而反對之,教團因此分裂為上座、大眾二部。佛入滅三百年初,自保守之上座部又分出說一切有部(略稱有部),根本上座部受有部勢力壓迫,遂遷至雪山(梵 Himālaya),稱為雪山部。其後,自有部又分出八部,上座部本末計有十一部(有部、本上座部、犢子部、法上部、賢冑部、正量部、密林山部、化地部、法藏部、飲光部、經量部)。然據南傳佛典所載,最初分裂乃因對有關戒律十事之見解不同而引起,故上座部本末共十二部。在上座部系統中,有部勢力最大,可謂為上座部理論之代表。此一部派,於公元前三世紀,由印度傳入錫蘭等地,後稱南傳上座部,至今仍盛行。〔異部宗輪論、大毘婆沙論卷九十九、三論玄義、大乘法苑義林章卷一本〕(參閱「大天五事」754、「小乘二十部」928、「印度佛教」2215、「部派佛教」4814)
; (上座部) Phạm:Àrya-sthavira-nikàya. Pàli:Thera-vàda. Cũng gọi Đồng diệp bộ. Hán âm: Tha kệ la bộ, Thể tì lí, Tha tì lợi dữ. Một trong các phái của Phật giáo bộ phái. Theo kinh điển Bắc truyền thì sau khi đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, các tỉ khưu thuộc phái tiến bộ như Đại thiên (Phạm,Pàli:Mahàdeva) đề xướng 5 điều giáo nghĩa và bị phái bảo thủ phản đối, do đó, giáo đoàn đã chia ra thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Khoảng các năm đầu thứ 300 sau Phật nhập diệt, từ Thượng tọa bộ bảo thủ lại chia ra Thuyết nhất thiết hữu bộ(gọi tắt là Hữu bộ),không bao lâu, Thượng tọa bộbảo thủbị thế lựcHữu bộ chèn ép nên phải dời đến Tuyết sơn (Phạm: Himàlaya), gọi là Tuyết sơn bộ. Về sau, từ Hữu bộ lại chia ra 8 bộ, Thượng tọa bộ trước sau gồm 11 bộ(Hữu bộ, Bản thượng tọa bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ,Ẩm quang bộ và Kinh lượng bộ). Nhưng theo kinh điển Nam truyền thì nguyên nhân đưa đến sự chia rẽ đầu tiên là do ý kiến khác nhau về 10 điều liên quan đến giới luật, nên Thượng tọa bộ trước sau đã chia thành 12 bộ. Trong hệ thống Thượng tọa bộ thì Hữu bộ có thế lực lớn nhất và có thể nói là đại biểu cho lí luận của Thượng tọa bộ. Vào khoảng thế kỷ III trước Tây lịch, Thượng tọa bộ đã từ Ấn độ truyền đến các nước như Tíchlan... sau gọi là Nam truyền Thượng tọa bộ, đến nay vẫn thịnh hành. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Đại tì bà sa Q.99; Tam luận huyền nghĩa; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Đại Thiên Ngũ Sự, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Ấn Độ Phật Giáo, Bộ Phái Phật Giáo).
thượng toà thập pháp
719指上座所應具足之十種條件。據十誦律卷五十載,即:(一)有所住處。(二)無畏、無能遮者。(三)能息煩惱。(四)多知識,有名聞,能令他生淨心。(五)辯才具足,無能勝者。(六)無有滯礙,義趣明了。(七)聞者信受。(八)善能安詳入他家。(九)能為白衣說深妙法,分別諸道,勸令行施齋戒,令他捨惡從善。(十)自具四諦,現法安樂,無有所乏。(參閱「三綱」664、「上座」719)
; (上座十法) Chỉ cho 10 pháp của Thượng tọa, tức THƯỢNG TỌA THẬP PHÁP 10 điều kiện mà bậc Thượng tọa phải có. Cứ theo luật Thập tụng quyển 50 thì Thượng tọa thập pháp gồm: 1. Có chỗ cư trú. 2. Không sợ hãi, không có gì ngăn trở được. 3. Dứt trừ được phiền não. 4. Kiến thức sâu, uy tín cao, có năng lực làm cho người khác sinh tâm thanh tịnh.5. Có khả năng biện luận, không ai hơn được. 6. Không có trệ ngại, nghĩa lí rõ ràng. 7. Người nghe tin nhận. 8. Khéo léo, khoan thai khi vào nhà người. 9. Có khả năng giảng nói pháp sâu xa cho người tại gia nghe, phân biệt các đạo, khuyên họ thực hành bố thí, giữ gìn trai giới, khiến họ bỏ ác theo thiện. 10. Tự quán xét lí Tứ đế, được an vui trong hiện pháp, không có khuyết điểm. (xt. Tam Cương, Thượng Tọa).
Thượng toạ
上座; C: shàngzuò; J: jōza; S: sthavira; P: the-ra;|I. Chỉ một người cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1. Ðức hạnh cao; 2. Nắm vững tất cả giáo lí căn bản của Phật pháp; 3. Nắm vững các phép Thiền định; 4. Người đã diệt Ô nhiễm (s: āśrava), Phiền não (s: kleśa) và đạt Giải thoát (s: vimokṣa).|Danh hiệu Thượng toạ được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỉ-khâu có danh tiếng, cao tuổi hạ (Hoà thượng).|II. Trong Thiền tông, là danh hiệu kính cẩn để gọi thầy của mình; |III. Chỉ cho Thượng toạ bộ.
Thượng toạ bộ
上座部; C: shàngzuòbù; J: jōzabu; S: sthavira-vāda; P: theravāda;|Trường phái thuộc Trưởng lão bộ (s: sthavi-ravāda), xuất phát từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) thành lập (Kết tập). Phái này được Ma-hi-đà đưa về Tích Lan năm 250 trước Công nguyên và được các sư tại Ðại Tự (mahāvihāra) tu tập. Về giới luật cũng có nhiều bất đồng trong nội bộ phái Thượng toạ bộ. Ngày nay Thượng toạ bộ được lưu hành tại các nước Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchia và Lào.|Thượng toạ bộ là trường phái Tiểu thừa duy nhất còn lưu lại đến ngày nay, tự xem là dạng Phật giáo nguyên thuỷ nhất. Thượng toạ bộ cho rằng các kinh điển viết bằng văn hệ Pā-li của mình là ngữ thuyết của chính đức Phật (Tam tạng). Giáo pháp của Thượng toạ bộ chủ yếu gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên và thuyết Vô ngã. Thượng toạ bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Hình ảnh cao quý của Thượng toạ bộ là A-la-hán. Giáo pháp của Thượng toạ bộ có khuynh hướng phân tích, trong đó A-tì-đạt-ma (s: abhidharma) đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra bộ Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) và Di-lan-đà vấn đạo kinh (p: milinda-pañha) cũng rất được phổ biến. Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ là Phật Âm (p: buddhagosa), Hộ Pháp (p: dhammapāla), A-na-luật (anuruddha) và Phật-đà Ðạt-đa (buddhadatta).
thượng trung hạ pháp
The three dharmas, systems or vehicles, bồ tát, duyên giác, and thanh văn, bodhisattva, pratyekabuddha, sràvaka.
; The three dharmas systems or vehicles of Bodhisattvas (Bồ tát), Prayetka-buddhas (Duyên giác) and Sravakas (Thanh văn).
thượng trung hạ phẩm
Superior, middle, and lower class, grade, or rank.
thượng truyện
Hsiang-chuan (C), Commentary on the Images Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
Thượng Trực Biên
(尚直編, Shōjikiben): 2 quyển, trước tác của Không Cốc Cảnh Long (空谷景隆) nhà Minh, san hành vào năm thứ 5 (1440) niên hiệu Chánh Thống (正統). Không Cốc Cảnh Long―pháp từ của Sư Tử Lâm Thiên Như Duy Tắc (師子林天如惟則), pháp hệ của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本)―phản bác thuyết bài xích Phật Giáo của Nho Giáo nhà Tống và Chu Tử và khẳng định rõ rằng đạo của chư vị thánh nhân của 3 tôn giáo Nho, Phật, Đạo là kết hợp trời đất với đức, ánh sáng với trời trăng, tất cả đều là tư lương để chứng đạo nguyên sơ.
thượng tuần
The first ten days of the month.
Thượng tâm
上心; C: shàngxīn; J: jōshin;|1. Trong Bồ Tát trì địa kinh (菩薩地持經), đây là trạng thái tinh thần của thiền định trong cõi trời Vô sắc (無色界天); 2. Thượng tâm phiền não (上心煩惱).
Thượng tâm hoặc
上心惑; C: shàngxīnhuò; J: jōshinwaku;|Thượng tâm phiền não.
Thượng tâm phiền não
上心煩惱; C: shàngxīn fánnăo; J: jōshin bon-nō;|Cũng viết Thượng tâm hoặc: 1. Theo trong Tam vô tính luận, phiền não tái sinh khởi sau khi trực quán được diệu đế; 2. Thượng phiền não.
thượng túc
716指上首弟子,即門下、會中之優秀弟子。
; Xem Đâu suất thiên cung.
; A superior disciple or follower.
; (上足) Chỉ cho hàng đệ tử thượng thủ, tức hàng đệ tử ưu tú trong các môn phái, pháp hội.
thượng tế
To place offering on an altar.
thượng tọa
Thera (P), Sthavira (P)Trưởng lão.
; Sthavira or Mahàsthavira (S). Old man, or elder; head monk, president or abbot; the first Buddhist fathers; a tittle of Mahàkàsyapa; also a monk of twenty to forty nine years standing, as trung tọa are from ten to nineteen, and hạ tọa under ten.
; Venerable—A monk or a nun who has from twenty to forty nine years of renunciation—See Tam Cương (B) (2).
Thượng Tọa Bộ
(s: Sthaviravāda, p: Theravāda, j: Jōzabu, 上座部): nghĩa đen là “Con Đường Của Các Bậc Trưởng Lão”, là bộ phái Phật Giáo sống còn xưa nhất; trong nhiều thế kỷ qua nó là tôn giáo chiếm ưu thế của Sri Lanka (Tích Lan, khoảng 70% dân số) cũng như hầu hết lục địa Đông Nam Á (Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan). Bộ phái này cũng được thực hành với mức độ ít hơn ở Tây Nam Á như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Indonesia. Trong khi đó, gần đây nó cũng chiếm được đa số ở Singapore và Úc Châu. Ngày nay, tín đồ Phật Giáo Thượng Tọa Bộ trên khắp thế giới lên đến hơn 100 triệu và trong những thập niên gần đây, Thượng Tọa Bộ bắt đầu cắm gốc rễ ở phương Tây. Thượng Tọa Bộ chủ yếu phát xuất từ trường phái Vibhajjavāda (分別說部, Phân Biệt Thuyết Bộ) vốn xuất hiện giữa nhóm Trưởng Lão (s: sthavira, p: thera, 長老) tại Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3 (250 sau công nguyên) trong suốt thời gian trị vì của A Dục Vương. Sau Đại Hội Kết Tập này, tín đồ của Phân Biệt Thuyết Bộ dần dần tách thành 4 nhóm: Mahīśāsaka (化地部, Hóa Địa Bộ), Kāśyapīya (飲光部, Ẩm Quang Bộ), Dharmaguptaka (法藏部, Pháp Tạng Bộ) và Tāmraparnīya (銅鍱部, Đồng Diệp Bộ). Thượng Tọa Bộ xuất thân từ Đồng Diệp Bộ, có nghĩa là “dòng truyền thừa Tích Lan”. Những ký sự về nguồn gốc của Thượng Tọa Bộ cho biết rằng bộ phái này nhận giáo lý vốn được đồng ý trong Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3 và giáo lý này của trường phái Phân Biệt Thuyết Bộ. Bản thân tín đồ Phân Biệt Thuyết Bộ xem họ là sự tương tục của các Trưởng Lão chính thống và sau đó đại hội tiếp tục đề cập đến họ là “Chư Trưởng Lão (The Elders)”, mặc dầu giáo điển của họ có lẽ tương tự với các vị Trưởng Lão xưa, nhưng có thể không đồng nhất. Vào thế kỷ thứ 7, hai nhà chiêm bái Trung Hoa là Huyền Trang (玄奘, 602-664) và Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) có đề cập đến trường phái Phật Giáo ở Tích Lan là “Sthaviravāda”. Khi tiếng Pāli được dùng rộng rãi và chiếm ưu thế, khoảng thế kỷ 11, tên Pāli “Theravāda” của bộ phái này được sử dụng thay thế cho tên Sanskrit. Theo truyền thống Tích Lan, Phật Giáo được Ma Sẩn Đà (p: Mahinda, 摩哂陀)—con của A Dục Vương thuộc vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀)—truyền vào Tích Lan đầu tiên như là một phần của hoạt động truyền giáo dưới kỷ nguyên A Dục Vương. Ma Sấn Đà thiết lập tu viện Mahavihara ở Anuradhapura. Sau này tu viện này phân chia thành 3 nhóm phụ dưới tên gọi của các trung tâm tu tập như Mahavihara, Abhayagirivihara và Jetavanavihara. Vào năm 1164, dưới sự hướng dẫn của 2 vị tu sĩ thuộc nhóm tu tập trong rừng của Mahavihara, vua Tích Lan đã hợp nhất tất cả tỳ kheo khắp Tích Lan lại thành phái Mahavihara. Vài năm sau khi Ma Sấn Đà đặt chân lên xứ sở này, Tăng Già Mật Đa (p: Saṅghamittā, 僧伽蜜多)—con gái của A Dục Vương và cũng là em gái của Ma Sấn Đà—đến Tích Lan. Cô hình thành giáo đoàn Ni đầu tiên tại đây, nhưng giáo đoàn này tuyệt diệt vào khoảng giữa thế kỷ thứ 10. Vào năm 429, thể theo yêu cầu của vua nhà Hán Trung Quốc, vị ni từ Anuradhapura được phái đến Trung Quốc để thiết lập giáo đoàn Ni. Sau đo, giáo đoàn này lan rộng sang Triều Tiên. Vào năm 1996, 11 vị Ni Tích Lan có chọn lọc kết hợp với một số Ni Hán Quốc, được một nhóm tăng sĩ Theravāda truyền thọ Tỳ Kheo Ni giới tại Ấn Độ. Việc này nảy sinh sự bất đồng giữa những người có quyền uy về Luật Tạng Thượng Tọa Bộ về vấn đề thọ giới này có đúng pháp hay không. Dưới thời A Dục Vương trị vì, một đoàn truyền giáo được phái đến Kim Địa Quốc (s: Suvarṇa-bhūmi, p: Suvaṇṇa-bhūmi, 金地國), tương truyền nơi đó đã có sự hiện diện truyền giáo của Soṇa và Uttara. Tuy nhiên, kiến giải của các học giả thì hoàn toàn khác nhau về vị trí vùng đất này. Người ta tin rằng Kim Địa Quốc có thể thuộc một nơi nào đó trong khu vực bao gồm Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và bán đảo Mã Lai. Dân tộc thiếu số Mon là một trong những nhóm người sớm nhất trú ngụ ở Miến Điện và đã từng là tín đồ của Theravāda từ thế kỷ thứ 3. Những phát hiện về khảo cổ cho biết rằng dân tộc này có quan hệ mật thiết với Nam Ấn và Tích Lan. Người Miến Điện chọn tôn giáo và văn bản viết của dân tộc Mon khi họ chinh phục Thaton, vương quốc người Mon, vào năm 1057. Theo truyền thống địa phương, đây là địa vức của Kim Địa Quốc được giáo đoàn của triều đình A Dục Vương viếng thăm. Dân tộc Mon cũng là một trong những sắc tộc định cư tại Thái Lan. Người Thái lấy tôn giáo Mon để chinh phục Haripunjaya, vương quốc người Mon, vào năm 1292. Một số giáo phái chính ở các nước Phật Giáo Thượng Tọa Bộ ngày nay như Tích Lan có Siam Nikaya, Amarapura Nikaya, Ramañña Nikaya; Miến Điện có Thudhamma Nikaya, Shwekyin Nikaya, Dvara Nikaya; Thái Lan có Maha Nikaya, Thammayut Nikaya; Bangladesh có Sangharaj Nikaya, Mahasthabir Nikaya, v.v.
thượng tọa bộ
Sthāvirānikāya (P), Sthvira (P), Sthāvirāvāda (S), Sthāvirā (S), Ārya-sthāvirā (S), Theravāda (P), neten depa (T), Sthāvathah (S),Supreme Vehicle.The school of the elders Phật Giáo nguyên thủyNghĩa gốc là "đạo của người xưa". Danh hiệu của trường phái tiểu thừa duy nhất còn tồn tại. Còn gọi là Phật giáo Nam tông.
; Sthaviràh (S) The shool of the presiding elder, or elders.
; Sthaviravadin or Theravada—Phật Giáo Nguyên Thủy— Thượng Tọa Bộ: Mahasthavirah or Sthavirah—The elders—Một trăm năm sau ngày Phật nhập diệt, những bậc kỳ lão trong Tăng đoàn đã họp nhau trong hang núi để cùng kết tập luật bộ. Tại cuộc hội nghị ở Tỳ Xá Lê, đã có một số Tăng lữ bất đồng ý kiến trầm trọng với một số Tăng lữ khác những điểm quan trọng liên quan tới giáo pháp. Số Tăng lữ có những ý kiến khác biệt tuy chiếm đa số nhưng họ lại bị một số Tăng lữ khác lên án và gọi là Ác Tỳ Kheo và kẻ thuyết phi pháp đồng thời đã trục xuất họ. Trong lịch sử Phật giáo, số Tỳ Kheo nầy được gọi là Đại Chúng Bộ vì trong cuộc hội tập họ đã chiếm đa số và phản ảnh được ý kiến của đại đa số tục chúng. Những Tăng lữ đã xua đuổi những vị nầy đã tự xưng là Thượng Tọa Bộ hoặc Trưởng Lão vì họ tự cho là đại biểu chính thống giáo nghĩa Phật Giáo Nguyên Thủy. Giáo lý của Đức Phật theo trường phái nầy rất đơn giản. Ngài dạy chúng ta 'tránh mọi điều ác, làm các điều lành và giữ cho tâm ý thanh sạch.' Có thể đạt được những điều nầy bằng sự hành trì giới, định, tuệ. Giới hay giữ hạnh kiểm tốt là nền tảng chủ yếu của sự tiến bộ trong đời sống con người. Một người tại gia bình thường phải tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm và uống các chất cay độc. Nếu trở thành tu sĩ thì phải sống đời độc thân, tuân thủ cụ tục giới, tu tập thiền định để trau dồi tuệ giác—Elder disciples who assembled in the cave after the Buddha's death. The elder monks or intimate disciples. At the council held at Vaisali, certain monks differed widely from the opinions of other monks on certain important points of the dharma. Though the monks that differed formed the majority, they were excommunicated by the others who called them Papa-Bhikkhus and Adhamma-vadins. In Buddhist history, these Bhikkhus were known as Mahasanghikas because they formed the majority at the council or probably because they reflected the opinions of the larger section of the laity. The Bhikkhus who excommunicated them styled themselves Sthaviras or the Elders, because they believed that they represented the original, orthodox doctrine of the Buddha. We have seen that Mahasanghikas coined the term Mahayana to represent their system of belief and practice, and called the Sthaviras Hinayana. The teaching of the Buddha according to this school is very simple. He asks us to 'abstain from all kinds of evil, to accumulate all that is good and to purify our mind.' These things can be accomplished by the practice of what are called sila, samadhi, and prajna. Sila or good conduct is the very basis of all progress in human life. An ordinary householder must abstain from murder, theft, falsehood, wrong sexual behavior and all intoxicating drinks. To become a monk, one must live a life of celibacy, observe complete silas, practise meditation, and cultivate prajna—Nam Tông từ Ấn Độ truyền về phương Nam (Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt)—See Nhị bộ.
Thượng Tộ
(尚祚, Shōso, ?-1245): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Thượng Tộ (尚祚), tự là Giác Thể (覺体), Giác Thiền (覺禪). Ông vào nhập môn tu học với Giác Hải (覺海) trên Cao Dã Sơn, chuyên tâm nghiên tầm cực ý của Mật Giáo, cùng với Đạo Phạm (道範) ở Chánh Trí Viện (正智院) tiến hành nghiên cứu. Về sau, ông khai sáng Tâm Nam Viện (心南院) để dẫn dắt đàn hậu tấn. Ông không những chỉ nghiên cứu về Mật Giáo, mà còn an trí tượng A Di Đà Phật, và tìm hiểu về Tịnh Độ Giáo. Ông được xem là một trong 8 nhân vật kiệt xuất của Cao Dã Sơn.
thượng uyên
720(1627~1679)明末清初禪僧。又稱海淵。冀州新河人,俗姓曹。號波停。年十六至海虞(江蘇常熟東)之三峰,入嵩隱門下,苦參十九年而得悟。未幾,往靈峰弘法,並大力整飭叢林規矩。康熙十八年冬示寂,享年五十三,建塔於寺之東崗。〔靈峰志卷四〕
thượng vị
716指最佳味。往生要集卷中載,阿彌陀佛以飲食施與眾生之故,遂得上味相;其舌下有二寶珠,流注甘露,滴舌根上,諸天世人及十地菩薩均無此舌根,亦無此味。又楞嚴經中,以酥酪醍醐為世間諸味中之最上者。
; (上味) Chỉ cho vị ngon nhất. Vãng sinh yếu tập quyển trung nói rằng: Do bố thí thức ăn uống cho chúng sinh nên đức Phật A di đà cảm được tướng thượng vị; dưới lưỡi của Ngài có 2 hạt bảo châu tiết ra nước cam lộ, thấm trên lưỡi, chư thiên, loài người và hàng Bồtát Thập địa đều không có lưỡi này, cũng không có vị này. Còn kinh Lăng nghiêm thì cho tô lạc đề hồ là vị tối thượng trong các vị của thế gian.
thượng xí pháp
721指如廁之作法。乃為僧徒日常生活所應注意之事項,尤以律宗、禪宗視之為重要規定。據毘尼母經卷六載,如廁之時,應先取籌草至戶前,三彈指作聲,若人、非人,令得覺知,復於戶前安衣處脫衣放妥。若值天雨無藏衣處,持衣好自纏身。其次開戶看廁內,無諸毒蟲否。看已欲便利時,應徐徐次第抄衣而上,不得忽褰,令露身體。坐起之法,不中倚側,當中而坐,莫令污廁兩邊。欲起時,衣次第漸漸而下,不得忽放。起止已竟,用「籌淨」刮之令淨。若無竹籌,不得壁上拭令淨,不得廁板梁柱上拭令掙,亦不得用石、青草、土塊、軟木皮、軟葉、奇木等。所應用者,以木竹葦作籌,最長者一磔,最短者四指,已用者不得著於淨籌中。另於道宣之教誡新學比丘行護律儀中,亦舉出上廁之法二十條。於密教,修法時最忌穢物,故對上廁法亦有所規定,且用烏樞沙摩明王之法除穢。此即入明王之三昧,在自身觀「恽」字、「吽」字,結手印、誦真言等之隱所作法。〔大比丘三千威儀卷下、諸經要集卷二十、禪苑清規卷七〕(參閱「隱所作法」6533)
thượng y
xem ba tấm pháp y.
; Xem Uất đà la tăng.
; A monk's outer robe.
; Uttara-samghati (skt)—Y ngoài có 25 mảnh—The superior or outer robe described as of twenty-five patches.
thượng yết na
Xem Cốt tỏa Thiên.
thượng điền nghĩa văn
715請參閱 彌勒上生經 (1904~ )日本佛教學者。畢業於東京大學文學部印度哲學科。現任名古屋大學教授。著有體驗と反省、佛教思想史研究─印度之大乘佛教及妄念論、事實と論理─唯識說の理解と關連して等論文。
Thượng Đường
(上堂, Jōdō): đến Tăng Đường (僧堂) để ăn cơm cháo. Trong Chương Thạch Thê Hòa Thượng (石梯和尚章) của Hội Yếu (會要) 5 có đoạn rằng: “Sư kiến thị giả thác bát thượng đường, nãi hô vân: 'thị giả', giả ứng 'nặc'; sư vân: 'thậm xứ khứ ?', vân: 'thượng đường trai khứ' (師見侍者托鉢上堂、乃呼云、侍者、者應諾、師云、甚處去、云上堂齋去, Thầy thấy vị thị giả mang bình bát lên nhà ăn, bèn gọi rằng: 'này thị giả !' Người thị giả đáp: 'dạ'; thầy hỏi: 'đi đâu vậy ?' Đáp: 'lên nhà ăn cơm')”. Bên cạnh đó, từ này còn có nghĩa là lên Pháp Đường (法堂) để thuyết pháp. Ngày xưa, nghi thức này được tiến hành hằng ngày hai thời sáng và tối; nhưng sau này nó được tiến hành vào buổi sáng với thời gian quy định với các tên gọi như Tứ Tiết Thượng Đường (四節上堂), Ngũ Tham Thượng Đường (五參上堂), v.v. Từ này còn được gọi là Triêu Tham (朝參), Đại Tham (大參), Phổ Thuyết (普說) và Thăng Tòa (陞座). Trong phần Bách Trượng Quy Thằng Tụng (百丈規繩頌) của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 10 có đoạn rằng: “Kỳ hạp viện đại chúng, triêu tham tịch tụ, trưởng lão thượng đường thăng tòa, chủ sự đồ chúng nhạn lập trắc linh (其闔院大眾、朝參夕聚、長老上堂陞座、主事徒眾鴈立側聆, đại chúng trong toàn viện ấy đều buổi sáng tham vấn, buổi tối tập trung, vị trưởng lão lên tòa thuyết pháp, tất cả đồ chúng đứng ngay ngắn một bên lắng nghe).”
thượng đường
720禪林用語。<一>指上法堂說法。古時長老住持可隨時上堂,中世以後則有定期及臨時上堂之別,有:(一)旦望上堂,每月初一、十五日上堂。(二)五參上堂,每月五、十、二十、二十五日上堂,另加上望上堂,約每五日上堂一回,故稱為五參。(三)九參上堂,每三日上堂一回,則每月約有九回上堂。(四)聖節上堂,皇帝誕生日上堂。(五)出隊上堂,住持出外勸化,歸來後上堂。(六)因事上堂,寺內發生毀逆違難等事,住持乃特別上堂說法。(七)謝秉拂上堂,謝頭首秉拂之勞。(八)謝都寺齋上堂,謝都寺辦齋之勞,住持特為上堂說法。(九)大行追嚴上堂,為皇帝之中陰追薦而上堂說法。其中,五參上堂(五上堂)之日,稱為五參日(參有參加之意),與旦望合稱為「五旦望」。住持上堂昇座時,大眾應起立聽法。〔祖庭事苑卷八、敕修百丈清規卷上祝釐章、禪林象器箋座位門、垂說門、報禱門〕 <二>上堂說法之後,赴齋堂受供,稱為上堂齋。 <三>指僧堂之上間(上位)。下間則稱下堂(下位)。(參閱「上間」721) <四>指祝國上堂、晉山上堂。為晉山之儀式。
; To go into the hall to expound the doctrine; to go to a temple for the purpose of worship or bearing presents to the monks; to go to the refectory for meals.
; Vị trụ trì Tòng lâm mỗi ngày hai lần sớm chiều lên pháp đường giải đáp sự tham vấn của Tăng chúng, gọi là thượng đường.
; Đi đến sảnh đường thuyết pháp—To go to the hall to expound the Buddha's teaching (the doctrine)—To go to a temple for the purpose of worship or bearing presents to the monks.
; (上堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thướng Đường. Lên Pháp đường thuyết pháp. Thời xưa, vị Trưởng lão trụ trì có thể thướng đường bất cứ lúc nào, nhưng từ thời Trung thế về sau thì có Định kì thướng đường và Lâm thời thướng đường khác nhau: 1. Đán vọng thướng đường: Thướng đường vào các ngày mồng 1, 15 mỗi tháng. 2. Ngũ tham thướng đường: Thướng đường vào các ngày mồng 5, 10, 20, 25 mỗi tháng, lại thêm Thướng vọng thướng đường nữa, cứ cách khoảng 5 ngày thướng đường một lần, cho nên gọi là Ngũ tham thướng đường. 3. Cửu tham thướng đường: Mỗi 3 ngày thướng đường một lần, thì mỗi tháng có khoảng 9 lần thướng đường, vì thế gọi là Cửu tham thướng đường. 4. Thánh tiết thướng đường: Thướng đường vào ngày sinh của Hoàng đế. 5. Xuất đội thướng đường:Vị trụ trì đi khuyến hóa, sau khi trở về chùa thì thướng đường. 6. Nhân sự thướng đường: Trong chùa phát sinh các việc đặc biệt khó khăn thì vị trụ trì thướng đường thuyết pháp.7. Tạ Bỉnh phất thướng đường:VịTrụ trì thướng đường để cảm tạ công lao của vị Đầu thủ bỉnh phất đã thuyết pháp thay cho mình. 8. Tạ Đô tự trai thướng đường:Để cảm tạ công lao thiết trai của vị Đô tự, vị trụ trì đặc biệt thướng đường thuyết pháp. 9. Đại hành trang nghiêm thướng đường: Thướng đường thuyết pháp để truy tiến cho thân trung ấm của Hoàng đế. Trong các Thướng đường trên đây thì ngày Ngũ tham thướng đường (Ngũ thướng đường) được gọi là Ngũ tham nhật (tham nghĩa là tham gia), hợp chung với Đán vọng gọi là Ngũ đán vọng. Khi vị trụ trì thăng tòa thướng đường, đại chúng nên đứng dậy nghe pháp. Sau khi thướng đường thuyết pháp, đại chúng đến Trai đường thụ cúng, gọi là Thướng đường trai. [X. Tổđình sự uyển Q.8; chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Thướng Đường. Chỉ cho Chúc quốc thướng đường, Tấn sơn thướng đường(nghi thức thuyết pháp cầu nguyện cho đất nước thanh bình, yên vui, ngày vị trụ trì nhậm chức).
thượng đường bài
720指預告上堂之牌示。即報大眾上堂時日之揭示,懸於法堂之前門,縱二尺三寸,橫一尺三寸。每逢朔望之時,侍者吩咐客頭行者,必掛上堂牌以報示僧眾。〔僧堂清規卷四諸牌法〕
; (上堂牌) Bảng yết thị báo trước việc thướng đường. Tức chỉ cho tấm bảng yết thị chiều dài 2 thước 3 tấc, chiều ngang 1 thước 3 tấc treo ở cửa trước của Pháp đường để thông báo cho đại chúng biết về ngày giờ thướng đường. Mỗi khi đến ngày mồng 1, 15 thì vị Thị giả dặn vị hành giả khách đầu nhớ treo Thướng đường bài để báo cho chúng tăng biết. [X. Chư bài pháp trong Tăng đường thanh qui].
thượng đẳng
Superior—Supreme.
thượng đẳng thần
Supreme Deities.
thượng đế
God or Creator—Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Thượng Đế” sáng tạo mọi thứ, có quyền năng thưởng phạt. Nói cách khác, mọi sự vật, họa phúc, xấu tốt, vui khổ trên thế gian đều do quyền năng của một đấng tạo hóa tối cao, một vị chúa tể duy nhất sáng tạo có quyền thưởng phạt—Externalists believe that there exists a so-called “God” who creates all creatures and has the almighty power to punish and reward them. In other words, everything in this world whether good or bad, lucky or unlucky, happy or sad, all come from the power of a supreme Creator, the only Ruler to have the power of reward and punishment.
Thượng địa
上地; C: shàngdì; J: jōchi, jōji; S: upari-bhūmi.|Cảnh giới cao trong công phu tu tập, cảnh giới cao của tâm thức Hạ địa (下地; theo Du-già luận 瑜伽論)
Thượng 尚
[ja] ショウ shō ||| (1) Beg, request, entreat, beseech. (2) Still, after all, as expected. Further, furthermore, yet, even. (3) Accumulate, stack up, pile up, increase. (4) To value, prize, esteem, honor, respect, regard. (5) High; to raise up. (6) Besides, in addition to. => 1. Cầu xin, thỉnh cầu, nài xin, cầu khẩn. 2. Vẫn còn, xét cho cùng, như mông chờ. Lại nữa, Hơn nữa, ngay cả. 3. Tích luỹ, so sánh, đo lường; chất đống, gia tăng. 4. Đánh giá, định giá, quý trọng. 5. Cao cấp; nâng cao. 6. Ngoài ra, thêm vào.
thượt
Thườn thượt—Very long.
thạc học
Man of great learning.
thạc pháp sư
5847唐代僧。生卒年不詳。擅長中論、百論、十二門論,著有中論疏十二卷、三論遊意義等。日本平安時代之三論學僧安澄(763~814)所作中論疏記等,數度引用師之見解。據日本典籍記載,師爲吉藏之弟子,然未見於僧傳。今據上記資料,並綜觀其思想、學說,考證師或係唐代住於清禪寺之慧賾法師(580~636)。據續高僧傳卷三記載,慧賾係荊州江陵人,俗姓李。自幼聰慧異常,十二歲任大法席主。隋代開皇(581~600)年中住於江陵寺,唐代時移住清禪寺。於貞觀十年示寂,世壽五十七。著有般若燈論等。
; (碩法師) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư tinh thông Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận. Sư từng soạn Trung luận sớ 12 quyển. Trong Trung luận sớ kí của mình, ngài An trừng (763-814) người Nhật bản, 1 học giả Tam luận, sống vào thời Bình an, đã trích dẫn kiến giải của sư ở nhiều chỗ. Cứ theo các sách vở của Nhật bản thì sư là đệ tử ngài Cát tạng, nhưng không thấy được nói đến trong các bộ Cao tăng truyện. Ở đây, căn cứ vào các tư liệu trên, đồng thời khảo chứng chung về tư tưởng, học thuyết của sư thì có lẽ sư là Tuệ trách Pháp sư (580-636) trụ trì chùa Thanh thiền đời Đường. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 3 thì ngài Tuệ trách là người ở Giang lăng thuộc Kinh châu, họ Lí. Từ nhỏ sư đã thông minh khác thường, lúc 12 tuổi đã làm chủ tọa các hội giảng pháp. Trong năm Khai hoàng (581-600) sư trụ ở chùa Giang lăng, sang đời Đường thì dời đến trụ chùa Thanh thiền. Năm Trinh quán thứ 10 sư thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi. Sư có các tác phẩm: Trung luận sớ 12 quyển, Tam luận du ý nghĩa, Bát nhã đăng luận.
thạc sĩ
Doctor—One who has passed the Doctorate Degree.
thạc đức
High virtue.
thạch
Stone—Rock. 1) Họa Thạch: A painting of a rock (though the water of the water-colour rapidly disappears, the painting remains). 2) Nan Thạch Thạch Liệt: Ngay cả đá mà chạm mạnh hay bị vặn vẫn phải bể—Even a rock meeting hard treatment will split.
thạch bát
2137指佛鉢。佛陀初成道時,有四天王來,各獻一只青石鉢,佛陀接受後,以神力合為一鉢,遂成為四際分明之石鉢。佛弟子則多持用鐵鉢、瓦鉢等,而不得使用石鉢。佛陀入滅後,將此鉢付囑阿難。〔普曜經卷七、放鉢經、五分律卷十五、大智度論卷二十六、卷三十五、法顯傳師子國條、法苑珠林卷九十八〕(參閱「佛鉢」2738、「鉢」5687)
; Bốn bát bằng đá rất nặng mà tứ thiên vương dâng lên cho Đức Phật nhân ngày Phật thành đạo. Phật lấy xong bèn chồng bốn cái lên nhau, rồi ấn xuống thành một cái (có thể vì vậy mà từ đó về sau chỉ có Đức Phật mới có thể dùng bát đá chứ các đệ tử không được phép dùng)—The four heavy stone begging-bowls handed by the four devas to the Buddha on his enlightenment, which he miraculously received one piled on the other.
; (石鉢) Bát bằng đá. Tức chỉ cho bát của Phật. Lúc đức Phật mới thành đạo, có 4 vị Thiên vương đến, mỗi vị dâng cúng Phật 1 chiếc bát bằng đá màu xanh, sau khi tiếp nhận, Phật dùng thần lực hợp thành một bát, đó là chiếc bát đá có 4 vành rõ ràng. Đệ tử Phật thì phần nhiều dùng bát sắt, bát sành, chứ không được sử dụng bát đá. Đến khi đức Phật sắp nhập diệt, Ngài phó chúc bát này cho tôn giả A nan. [X. kinh Phổ diệu Q.7; kinh Phóng bát; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.26, 35; điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện; Pháp uyển châu lâm Q.98]. (xt. Phật Bát, Bát).
thạch bích kinh
2139指石壁刻經。據隆興佛教編年通論卷二十四載,唐長慶四年(824),白居易為杭州刺史時,曾於當地永福寺石壁刻法華經,長約十九公尺,上下約二公尺;又由長慶二年至文宗太和三年(829),清晃、清海等於蘇州重玄寺法華院刻成石壁經,係為寺僧契元所書,白居易亦為之作讚碑。計刻法華經、維摩詰經、金剛般若經、佛頂尊勝陀羅尼經、阿彌陀經、觀普賢菩薩行法經、實相法密經及般若心經等十萬言以上。此外,依阿彌陀經義疏聞持記卷下、龍舒增廣淨土文卷一等載,湖北襄陽之龍興寺有隋代陳仁稜所書之石刻阿彌陀經碑,至宋代,靈芝元照亦模刻該經碑,而立於西湖崇福寺大殿之後;又日本福岡縣宗像神社境內,亦存有模刻襄陽龍興寺之阿彌陀經碑。〔佛祖通載卷二、稽古史略卷三〕
; Kinh khắc trên vách đá vào khoảng năm 829 sau Tây Lịch, đời nhà Đường, tại Trùng Huyền Tự, ở Tô Châu do Bạch Cư Dị làm bia. Kinh Thạch Bích gồm Kinh Pháp Hoa 69.550 chữ, Kinh Duy Ma 27.092 chữ, Kinh Kim Cang 5.287 chữ, Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni 3.020 chữ, Kinh A Di Đà 1.800 chữ, Kinh Phổ Hiền Hạnh Pháp 6.990 chữ, Kinh Thực Tướng Pháp Mật 3.150 chữ, và Kinh Bát Nhã Tâm Kinh 258 chữ—Sutras cut in stone in 829 A.D. during the T'ang dynasty in the Ch'ung Hsuan temple, Soo-Chow, where Po-Chu-I put up a tablet. They consist of 69,550 words of the Lotus Sutra, 27,092 of the Vimalakirti Sutra, 5,287 of the Diamond Sutra, 3,020 of the Unisha-Vijaja-Dharani-Sutra, 1,800 of Amitabha Sutra, 6,990 of the Samantabhadra's practices, 3,150 of the Esoteric Reality Dharma (???), and 258 of the Prajna Heart Sutra.
; (石壁經) Kinh được khắc trên vách đá. Cứ theo Long hưng Phật giáo biên niên thông luận quyển 24, vào năm Trường khánh thứ 4 (824) đời Đường, khi làm quan Thứ sử Hàng châu, Bạch cư dị từng khắc kinh Pháp hoa lên vách đá chùa Vĩnh phúc ở địa phương, dài khoảng 19m, từ trên xuống dưới khoảng 2m. Từ năm Trường khánh thứ 2 (822) đến năm Thái hòa thứ 3 (829), các ngài Thanh hoảng, Thanh hải... khắc xong Thạch bích kinh ở viện Pháp hoa chùa Trùng huyền tại Tô châu, do vị tăng trong chùa là Khế nguyên viết chữ, Bạch cư dị làm bia tán thán. Tính ra khắc được các kinh như kinh Pháp hoa, kinh Duy ma cật, kinh Kim cương bát nhã, kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, kinh A di đà, kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp, kinh Thực tướng pháp mật và Bát nhã tâm kinh, tổng cộng trên 10 vạn lời. Ngoài ra, theo A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển hạ, Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 1..., chùa Long hưng ở huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc có bia khắc kinh A di đà do Trần nhân lăng đời Tùy viết chữ, đến đời Tống, ngài Linh chi Nguyên chiếu cũng bắt chước khắc bia kinh A di đà và dựng ở phía sau Đại điện chùa Sùng phúc ở Tây hồ. Lại nữa, trong khuôn viên Tông tượng thần xã ở huyện Phúc cương tại Nhật bản cũng có bia kinh A di đà được khắc phỏng theo bia kinh ở chùa Long hưng tại Tương dương, Trung quốc. [X. Phật tổ thông tải Q.2; Kê cổ sử lược Q.3].
thạch bích vô ngại
2139謂佛菩薩之神力能自在通行石壁而無障礙。楞伽經卷二(大一六‧四八九下):「意生身者,譬如意去,迅疾無礙,故名意生。譬如意去,石壁無礙。」
; (石壁無礙) Vách đá không ngăn ngại. Nghĩa là sức thần thông của Phật, Bồ tát có năng lực đi xuyên qua vách đá một cách tự tại không chướng ngại. Kinh Lăng gìà quyển 2 (Đại 16, 489 hạ) nói: Thân ý sinh ví như ý thức đi lại, nhanh chóng không ngại, vì thế gọi là Ý sinh. Giống như ý thức đi lại, vách đá cũng không ngăn ngại.
thạch chung sơn thạch quật
2142請參閱 石經 位於雲南劍川縣西南石鐘山。又作劍川石窟。依山鑿龕造像,可分石鐘寺(八窟)、獅子關(三處)與沙登村(四處)等三區。相傳曾有南詔國王閣羅鳳(748~779 在位)及異牟尋(779~808 在位)之壁像。現存有南詔國王豐祐天啟十一年、大理國王段智興盛德四年(1179),以及元、明等代之題記。造像之主要內容為石刻之佛、菩薩、王者、后妃、文吏、侍從等,乃中國古代大理地方白族人民藝術遺產之一,亦為研究雲南少數民族宗教、文化等之重要資料。(參閱「石窟」2118)
; (石鍾山石窟) Cũng gọi Kiếm xuyên thạch quật. Tên hang đá ở núi Thạch chung, nằm về phía tây nam huyện Kiếm xuyên, tỉnh Vân nam, Trung quốc. Dọc theo sườn núi, một số khám thờ và tượng Phật được xoi đục, chia làm 3 khu: Chùa Thạch chung (8 hang động), Sư tử quan (3 chỗ) và thôn Sa đăng(4 chỗ). Tương truyền ở đây có tượng của các vua nước Nam chiếu là Các la phượng (ở ngôi 748-779) và Dị mâu tầm (ở ngôi 779-808) được khắc trên vách đá. Hiện còn các đề kí của vua nước Nam chiếu là Phong hựu được khắc vào năm Thiên khải thứ 11, của vua nước Đại lí là Đoàn trí hưng được khắc vào năm Thịnh đức thứ 4 (1179) và của các đời Nguyên, Minh ở Trung quốc. Các tượng được khắc trong quần thể hang động này chủ yếu là tượng Phật, Bồ tát, Vương giả, Hậu phi, Văn lại, thị tòng... Đây là 1 trong những di sản nghệ thuật của người dân Bạch tộc ở vùng Đại lí đời xưa của Trung quốc, cũng là tư liệu trọng yếu để nghiên cứu về tôn giáo, văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Vân nam. (xt. Thạch Quật).
thạch cung
Shih kung (C).
Thạch Củng Huệ Tạng
石鞏慧藏; C: shígòng huìcáng; J: shakkyō ezō; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, truyền nhân của Mã Tổ.|Trước khi xuất gia, Sư làm nghề thợ săn. Một hôm nhân đuổi bầy nai qua am Mã Tổ, gặp Tổ đứng trước, Sư hỏi: »Hoà thượng có thấy bầy nai chạy qua đây không.« Tổ không đáp hỏi: »Ông là người gì?« Sư đáp: »Thợ săn.« Tổ hỏi: »Ông bắn giỏi không?« Sư đáp: »Bắn giỏi.« Tổ hỏi bắn một lần được mấy con, Sư giật mình nói mỗi mũi chỉ bắn được một con. Nghe Mã Tổ nói mỗi mũi bắn được một bầy, Sư nói: »Sinh mệnh của chúng, đâu nên bắn một bầy?« Tổ hỏi: »Ông đã biết như thế sao không tự bắn?« Sư thưa: »Nếu dạy tôi bắn tức không chỗ hạ thủ.« Mã Tổ nói: »Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay đã đoạn.« Ngay lúc đó, Sư ném cung bẻ tên, tự cạo đầu quy y (xem thêm câu chuyện của Sa-va-ri-pa).|Sư cùng Thiền sư Tây Ðường Trí Tạng đi dạo, Sư hỏi: »Sư đệ biết bắt hư không chăng?« Tạng đáp: »Biết.« Tạng liền lấy tay chụp hư không. Sư thấy thế bảo: »Làm như thế sao bắt được hư không!« Tạng hỏi: »Sư huynh làm sao bắt được?« Sư liền nhéo mũi Trí Tạng một cái mạnh. Tạng đau quá la: »Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!« Sư bảo: »Phải như thế mới bắt được hư không.« Trí Tạng về phòng và đến khuya rõ chuyện.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.
thạch củng huệ tạng
Sakkyō ezō (J) Tên một vị sư.
thạch cựu thiền sư
Zen master Shih-Chiu—Thiền sư Thạch Cựu, một trong những đệ tử nổi bậc của Mã Tổ vào thời nhà Đường—Zen master Shih-Chiu was one of the most outstanding disciples of Ma-Tsu during the T'ang dynasty. • Một hôm có một vị Tăng đến hỏi Thạch Cựu: “Trong tay Bồ Tát Địa Tạng có hạt minh châu, là ý nghĩa gì?” Thạch Cựu hỏi lại: “Trong tay ông có hạt minh châu không?” Vị Tăng đáp: “Con không biết.” Thạch Cựu bèn nói kệ—One day a monk asked him: “There is a jewel in the palm of Ksitigarbha Bodhisattva. What does it mean?” He asked the monk: “Do you have a jewel in your hand?” The monk replied: “I don't know.” He then composed the following verse: “Bất thức tự gia bảo Tùy tha nhận ngoại trần Nhật trung đào ảnh chất Cảnh lý thất đầu nhân.” (Báu nhà mình chẳng biết Theo người nhận ngoại trần Giữa trưa chạy trốn bóng Kẻ nhìn gương mất đầu). “Don't you know you have a treasure at home? Why are you running after the externals? It is just like running away from your own shadow at noon time. Or the man is frightened when not seeing his head in the mirror, after putting the mirror down.”
thạch hoả
2112禪林用語。指燧石擊出之火光。比喻生滅之迅速。萬善同歸集卷下(大四八‧九八六中):「無常迅速,念念遷移。石火風燈,逝波殘照,露華電影,不足為喻。」五燈會元卷七(卍續一三八‧一二七下):「此事如擊石火,似閃電光。」碧巖錄第二十六則頌曰(大四八‧一六七上):「祖域交馳天馬駒,化門舒卷不同途;電光石火存機變,堪笑人來捋虎鬚。」〔碧巖錄第七則、第九十五則、禪宗頌古聯珠通集卷十三、卷三十一〕
; (石火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tia lửa bắn ra khi cọ vào hòn đá, ví dụ sự sinh diệt nhanh chóng. Vạn thiện đồng qui tập quyển hạ (Đại 48, 986 trung) nói: Vô thường nhanh chóng, niệm niệm đổi dời, tia lửa đá (thạch hỏa), đèn trướcgió, nước chảy, bóng xế, giọt sương, ánh chớp, không đủ để ví dụ.[X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.13, 31; Bích nham lục tắc 7, 95].
thạch hỏa
Ánh lửa do đá tóe ra, ví với sự khởi diệt nhanh chóng của vô thường—Tinder or lighted tinder, i.e. of but momentary existence.
thạch hổ
2115(295~349)五胡十六國後趙第三世皇帝。石勒之從子。字季龍。驍勇絕倫,長於征戰,頗為石勒所重。石勒逝後,子弘繼位,以虎為相,封為魏王。延熙元年(334),虎殺弘自立為帝,稱大趙天王,定都於鄴。 對外遠伐近攻,內則大興土木工事,賦重役繁,民不堪其苦,國力日衰。然其在文化方面,繼石勒之後,尊禮佛圖澄,且許人民出家,華北佛教因而隆盛。永和五年歿。在位十五年。
thạch khanh
Shih fan (C).
thạch khê
2140(16112~1692?)明末僧。湖南武陵人,俗姓劉。以書畫知名於世,為我國繪畫史上「明末四僧」之一。幼即好書畫、佛學。清兵入關時,年三十餘,棄舉業而抗清。四十歲時出家為僧。法名髠殘,字石谿,一字介丘,號白禿,自稱殘道人,電住道人、䒶壤殘道者、石道人。棲止於牛首山,受衣鉢於金陵浪杖人。其後參研禪學,並私奉雲棲為師。曾赴南京,創作甚勤。晚年多病,示寂於牛首祖堂山幽棲寺。卒年不詳,論者或謂寂於康熙三十一年(1692)以後,世壽約八十餘。 師性情高峻,每結交如顧炎武等之抗清志士。曾數度閉關參禪,為當時緇流所重。其寫山水,多源自黃公望及王蒙。頗多巨幅,造境奇闢,氣韻蒼渾,尤工人物花草。四十歲時,卓然成家,開金陵一派。
; (石溪) Danh tăng Trung quốc sống vào cuối đời Minh, người ở Vũ lăng tỉnh Hồ nam, họ Lưu. Sư nổi tiếng về thư họa, là 1 trong 4 vị tăng trứ danh ở cuối đời Minh (Minh mạt tứ tăng) trong lịch sử hội họa Trung quốc. Thủa nhỏ, sư thích thư họa, Phật học. Lúc quân Thanh tiến vào cửa ải, sư đã hơn 30 tuổi, bỏ việc thi cử, tham gia phong trào chống Thanh. Năm 40 tuổi, sư xuất gia làm tăng, lấy Pháp danh là Khôn tàn, tự Thạch khê, Giới khưu, hiệu là Bạch thốc, tự xưng là Tàn đạo nhân. Điện trụ đạo nhân. Thạch đạo nhân... Sư trụ ở núi Ngưu thủ, thụ y bát nơi Lãng trượng nhân ở Kim lăng. Về sau, sư tham cứu Thiền học và riêng thờ ngài Vân thê làm thầy. Sư từng đến Nam kinh, rất siêng sáng tác, từng nhiều lần nhập thất tham thiền, rất được giới tăng sĩ đương thời kính trọng. Sư có nhiều họa phẩm lớn, nét vẽ sơn thủy của sư chủ yếu bắt nguồn từ Hoàng công vọng và Vương mông, tạo cảnh kì đặc, khí vận bao la, nhất là về nhân vật, hoa cỏ. Năm 40 tuổi, sư trở thành 1 họa sĩ tài ba, khai sáng ra phái Kim lăng. Về già, sư nhiều bệnh, thị tịch tại Tổ đường chùa U thê núi Ngưu thủ, không rõ tuổi thọ. Có thuyết cho rằng sư tịch vào năm Khang hi 31 (1692) về sau, hưởng thọ hơn 80 tuổi.
Thạch Khê Tâm Nguyệt
(石溪心月, Shitsukei Shingetsu, ?-1254): vị tăng của Phái Dương Kì và Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thạch Khê (石溪), xuất thân Mi Sơn (眉山, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Vương (王). Ông xuất gia và kế thừa dòng pháp của Yểm Thất Thiện Khai (掩室善開). Sau đó, ông khai đường thuyết pháp tại Báo Ân Thiền Tự (報恩禪寺), Phủ Kiến Khang (建康府, Tỉnh Giang Tô). Ông đã sống qua một số nơi như Năng Nhân Thiền Tự (能仁禪寺) ở Phủ Kiến Khang, Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự (太平興國禪寺) ở Tương Sơn (蔣山), Vân Nham Thiền Tự (雲巖禪寺) ở Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Vạn Thọ Tự (萬壽寺) ở Kính Sơn (徑山). Trong khoảng thời gian này, ông viết lời trước ngữ cho Bát Phương Châu Ngọc Tập (八方珠玉集). Ông được gọi là Phật Mẫu Thiền Sư (佛母禪師). Vị thị giả của ông là Trú Hiển (住顯) biên tập bộ Thạch Khê Hòa Thượng Ngữ Lục (石溪和尚語錄) 3 quyển. Ông thị tịch vào năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寶祐).
thạch khí thời đại tông giáo
2139為史前宗教之主體。於法國西南部、西班牙西北部、西西里島及烏拉爾山脈南段等原始社會遺址之石洞深處,發現約西元前三萬二千年至西元前一萬七千年石器時代之宗教遺蹟,其中有動物及人型之狩獵繪畫與雕刻。人型多為女性,輪廓簡單,體態突顯。法國阿里埃(Ariege)地區之特魯瓦弗雷爾洞(Trois Frⅳres)中所發現舊石器時代之石雕像,附戴獸形面具作舞狀,有人以為係巫師作法之形像,而名之為「作神舞之驅邪者」;亦有以為係主宰眾獸之神,而稱之為「獸主」;或有以為是主持受孕之神。凡此,均顯示初期之宗教觀念與當時狩獵經濟有直接關係,反映人類將求食、生殖寄望於法術及宗教。 小亞細亞之安納托利亞(Anatolia)薩塔勒許余克(⑸atal Hüyük)之新石器時代遺址(西元前七○○○年)中,發現有四十個神壇,說明此時已出現排成序列和層次之崇拜儀式,主神皆為女神,神壇間飾以雄牛與女性乳房造型圍成之圈,圈內放置兀鷹、狐狸之頭骨及野豬之下頷骨。經專家鑑定,認為此代表繁殖與死亡關連之象徵,充分表現此時之宗教觀念已反映畜牧經濟之意識型態,動物不再為獵取之對象,甚至進而為崇拜之對象;除求食與生殖外,已開始重視死亡問題;擬人神觀念已漸漸形成,擁有較繁複之宗教儀式,而不再以準宗教現象之法術為主。 我國舊石器時代之山頂洞人與新石器時代之西安半坡村墓葬亦顯示,當時已有明顯之靈魂觀念及一定形式之宗教性葬儀,例如遺骸頭部均朝向固定方向。前者屍骸上撒有紅色赤鐵礦粉末,後者墓穴中尚有豐富之早期陪葬品。
; (石器時代宗教) Tông giáo ở thời đại Đồ đá, là chủ thể của tông giáo thời Tiền sử. Những di tích tông giáo của thời đại Bảndập kinh A di đà khắc trên đá.Một phần trong bức tranh chùa Báo ân do Thạch khuê vẽ T 5171 Đồ đá được phát hiện ước tính đã có từ 32.000 năm đến 17.000 năm trước kỉ nguyên Tây lịch ở chỗ sâu trong động đá, nơi có các di chỉ(nền cũ) của các xã hội nguyên thủy như miền tây nam nước Pháp, miền tây bắc Tây ban nha, đảo Sicile và đoạn phía nam dãy núi Ural... Trong đó có vẽ và khắc hình các động vật và người đi săn; hình người phần nhiều là phụ nữ, vóc dáng đơn giản đường nét nổi bật. Tượng thạch khắc thuộc thời đại Đồ đá tìm thấy trong động Frois Frènes ở vùng Ariege nước Pháp, có phụ thêm mặt nạ hình thú trong tư thế đang múa, có người cho đó là hình tượng thầy mo đang làm phép và gọi là Điệu múa thần đuổi tà; cũng có người cho rằng đó là vị thần chúa tể của các loài thú và gọi là Thú chủ; cũng có người cho đó là vị thần chủ trì việc thụ thai. Những điều trên đây đều cho thấy quan niệm về tông giáo ở thời kì đầu có liên quan trực tiếp với nền kinh tế săn bắn lúc bấy giờ, phản ảnh việc kiếm sống và sinh hoạt của con người hoàn toàn kì vọng vào pháp thuật và tông giáo. Trong các di chỉ thuộc thời đại Đồ đá mới (7.000 năm trước Tây lịch) ở Catal Hüyük tại vùng Anatolia của Tiểu á, người ta đã phát hiện 40 thần đàn, điều đó cho thấy thời kì này đã xuất hiện nghi thức sùng bái xếp thành hàng lối có thứ tự, tầng lớp, chủ thần đều là thần nữ, giữa các thần đàn được trang sức bằng vòng tròn có hình bò mộng và vú người nữ vây chung quanh, trong vòng tròn có đặt xương đầu của chim ưng, của con chồn và xương hàm dưới của lợn rừng. Theo sự giám định của các nhà chuyên môn thì đó là đại biểu tượng trưng cho mối liên quan giữa sự sinh sản và tử vong, biểu hiện đầy đủ quan niệm về tông giáo ở thời kì này đã phản ảnh hình thái ý thức của nền kinh tế chăn nuôi; động vật không còn là đối tượng để săn bắn mà thậm chí trở thành đối tượng của sự sùng bái. Ngoài nhu cầu kiếm ăn và sinh sản, con người đã bắt đầu coi trọng vấn đề tử vong; quan niệm Thần nhân đồng hình (Anthropomorphisme) dần dần đã hình thành, những nghi thức tông giáo tương đối đã phức tạp hơn, không còn lấy hiện tượng pháp thuật của tông giáo làm chính. Những người ở hang động trên đỉnh núi thuộc thời đại Đồ đá cũ và các ngôi mộ ở thôn Bán pha, huyện Tây an thuộc thời đại Đồ đá mới tại Trung quốc, cũng cho thấy đương thời đã có quan niệm rõ ràng về linh hồn và nghi thức chôn cất có tính cách tông giáo với 1 hình thức nhất định, chẳng hạn như đầu của các thi hài đều xoay về 1 hướng cố định. Trường hợp trước(tức người ở hang động trên đỉnh núi) thì trên các thi hài có rải bột sắt màu đỏ, còn trường hợp sau(tức những ngôi mộ ở thôn Bán pha) thì trong mộ còn có những phẩm vật được chôn theo ở thời kì đầu rất phong phú.
thạch không tự thạch quật
2115請參閱石經 位於寧夏中寧縣西北雙龍山上。為一石窟群,包括石空寺窟(又稱萬佛寺)、睡佛洞、百子觀音洞、靈光洞等四窟。石窟始鑿時間,有唐、西夏、元三種記載,但從塑像之風格與窟之形制看,始鑿於唐之可能性最大。石窟開鑿於砂礫岩山中,洞口南向,高約二十五公尺,深七點二四公尺,寬十二公尺。俗稱九間無樑殿。正壁上鑿有三個佛龕,正中一龕為一鋪五身群像,本尊是石胎泥塑之釋迦佛坐像。兩側佛龕亦為一鋪五身之佛像,但可能為後期所增塑。東西二壁前之臺基上,各有三排泥塑佛像,每排八、九尊,亦疑為後期所增塑。正壁繪有表裏兩層壁畫,表層壁畫繪佛教故事,工筆細膩。窟頂繪有西番蓮之圖案。此一石窟目前大多已為流沙所埋。
; (石空寺石窟) Những hang đá nằm trên núi Song long phía tây bắc huyện Trung ninh, tỉnh Ninh hạ, Trung quốc, là một quần thể hang động gồm 4 thạch quật: Thạch không tự quật(cũng gọi Vạn Phật tự), Thụy Phật động, Bách tử Quan âm động và Linh quang động. Về thời gian bắt đầu đục mở các hang động thì có 3 thuyết là vào đời Đường, đời Tây hạ và đời Nguyên, nhưng nhận xét theo phong cách đắp tượng và hình thức hang động thì có khả năng nhất là chúng đã bắt đầu khai tạc vào đời Đường. Những hang động được đục mở trong ngọn núi nham thạch, cửa động xoay hướng Nam, cao khoảng 25 mét, sâu khoảng 7,24 mét, rộng 12 mét. Người đời gọi là Cửu gian vô lương điện(Ngôi điện chín gian không córường). Trên vách chính đục 3 chiếc khám thờ Phật, khám chính giữa thờ 5 tượng Phật, Bản tôn là tượng Phật Thích ca ngồi đắp bằng đất. Khám Phật ở 2 bên cũng thờ 5 tượng Phật, nhưng có lẽ đã do người đời sau đắp thêm. Trên nền đài ở phía trước 2 vách đông và tây mỗi bên đều có 3 hàng tượng Phật bằng đất, mỗi hàng có 8, 9 pho, cũng ngờ là do người đời sau đắp thêm. Vách chính có vẽ 2 lớp bích họa trong và ngoài, bích họa lớp ngoài vẽ các sự tích Phật giáo, nét bút rất tế nhị. Trên vòm nóc hang đá có vẽ đồ án sen Tây vực. Hiện nay, phần lớn quần thể hang động này đã bị sa mạc lấp vùi.
thạch khắc a di đà kinh
2115請參閱 石經 指於碑面雕刻阿彌陀經。最著名者為湖北襄陽龍興寺之石刻彌陀經,世稱襄陽石經。據龍舒增廣淨土文卷一阿彌陀經脫文條(卍續一○七,三七一下):「襄陽石刻阿彌陀經,乃隋陳仁稜所書,字畫清婉,人多慕玩。自一心不亂而下云:『專持名號,以稱名故,諸罪消滅,即是多善根福德因緣。』今世傳本脫此二十一字。」又阿彌陀經義疏聞持記卷下(卍續三三‧一三五下):「朝散郎陳仁稜書碑在襄州龍興寺,本朝殿撰李公諱友聞,字季益,嘗守官於彼,持此經皈錢唐。疏主(元照)得之,喜不自勝,遂復刊石立于靈芝大殿之後,續因兵火焚毀,悲夫!逆推梁陳,去晉未遠,可驗得真。」依此可知,隋代有陳仁稜在碑面刻阿彌陀經,安置於湖北襄陽龍興寺;宋代元照復加以模刻,後立於靈芝崇福寺佛殿後。現今日本筑前國宗像神社境內,亦存有與此相同之經碑。〔阿彌陀經義疏卷下〕
; (石刻阿彌陀經) Kinh A di đà được khắc trên đá. Tức chỉ cho tấm bia trên đó có khắc kinh A di đà. Nổi tiếng nhất là tấm bia khắc kinh A di đà dựng ở chùa Long hưng, huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, người đời gọi là Tương dươngthạch kinh. Cứ theo điều A di đà kinh thoát văn trong Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 1 (Vạn tục 107, 371 hạ) thì Thạch khắc A di đà kinh ở Tương dương, do Trần nhân lăng ở đời Tùy viết chữ, nét chữ thanh thoát, mềm mại ai cũng ngắm nhìn. Từ nhất tâm bất loạn trở xuống có câu Chuyên trì danh hiệu, dĩ xưng danh cố, chư tội tiêu diệt, tức thị đa thiện căn phúc đức nhân duyên. Bản lưu truyền đời nay bỏ mất 21 chữ này. A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển hạ (Vạn tục 33, 135 hạ) cũng nói: Triều tán lang Trần nhân lăng viết bia ở chùa Long hưng tại Tương châu, đem kinh Thạch khắc A di đà về Tiền đường. Người soạn sớ (Nguyên chiếu) được bản kinh ấy vui mừng khôn xiết, liền khắc vào đá dựng ở phía sau Linh chi đại điện, về sau bị thiêu hủy trong binh lửa, đáng buồn thay! Suy lại đời Lương Trần cách đời Tấn chưa xa, có thể nghiệm biết được sự thật. Căn cứ vào đây thì biết đời Tùy có Trần nhân lăng khắc kinh A di đà trên mặt bia, dựng ở chùa Long hưng tại Tương dương tỉnh Hồ bắc; ngài Nguyên chiếu đời Tống phỏng theo đó mà khắc lại, dựng ở phía sau điện Phật của chùa Sùng phúc tại Linh chi. Hiện nay, trong khuôn viên của Tôn tượng thần xã ở nước Trúc tiền, Nhật bản, cũng còn có bia kinh giống như vậy. [X. A di đà kinh nghĩa sớ quyển hạ].
thạch kinh
2133指鏤刻於岩石表面之經文。又作石刻經、石刻、石藏。大寶積經卷七十八、正法念處經卷四十八等均有刻經偈於石壁之記載。我國係以與儒家有關之石經為最早,較著名者為漢代熹平石經,及唐文宗開成二年(837)刻於長安之開成石經。至於佛經則一方面受北魏開鑿石窟風氣之影響,一方面本於「正法久住」之意而有模仿儒家經典之石刻出現。現存佛教石經中,年代以北齊為最古,規模則以河北房山石經(石經山藏經)為最大,現存石經版四千餘塊,共刻佛經數千卷。 又石經有壁面刻、摩崖刻、碑板刻或幢柱刻等不同之形式。刻於壁面上者,稱為壁面刻,如河南北響堂山(又稱鼓山)石窟之壁面上,鏤寫有維摩詰經、勝鬘經、孛經、彌勒成佛經等,其外壁刻有開國公唐邕之發願文,為北齊天統四年(568) 至武平三年(572)所刻之石經。又河北居庸關過街塔內壁有元至正五年(1345) 所刻之佛頂尊勝陀羅尼經、佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經等,各刻大小兩種字體,計有梵、漢、蒙、回紇、西藏、西夏等六種文字,可比照而觀,為極珍貴之語文資料,頗受重視。此外,隋開皇九年(589),刻於河南寶山大住窟之大集經月藏分法滅盡品、勝鬘經、法華經,及涅槃經之一部等;宋太平興國二年(977),刻於河南開封府繁塔內之十善業道經要略等;宋熙寧年間(1068~1077)刻於江蘇蘇州雲巖寺之法華經普門品;南宋紹興五年(1135),刻於浙江杭州六和塔內之四十二章經;唐代,刻於河南龍門香山洞之涅槃經;凡此,亦屬壁面刻。刻於摩崖(磨崖)上者,稱為摩崖刻,如山東泰山山麓經石峪,於花崗岩之溪床所刻出之大字金剛般若經等即是,年代及刻者均不詳,或稱唐邕,或以為韋子深所作。字體頗大,凡九百餘字,字體雄渾,為石經中之最突出者。又北齊武平元年刻於山東徂徠山映佛巖之大般若經之一部,北齊初年,刻於山西遼州屋騋嶝之華嚴成就品,均屬此刻。刻於碑板上者,稱為碑板刻、石板刻,多刻於石板之兩面而收藏於石室。如河北房山,即藏有自隋大業中至遼大安十年(1094)凡四百八十年間所刻之正法念處經、大般若經、大般涅槃經、大寶積經、成唯識論、阿毗達磨集論等八十五部石經,均極為有名。大陸之「中國佛教協會」曾費時三年進行調查、發掘、拓印房山之石經,於民國四十七年(1958)完成工作,計拓印完整之石經一萬五千張、殘缺之石經七百八十多張,經碑、經幢、題名、題記等七十多張。此種石板石經主要分佈於華北寶山、泰山、響堂山一帶。又北齊天保年間(550~559),刻於山西風峪之六十華嚴經,係動用一百二十餘碑板面鏤寫而成,板高約一點三公尺,廣零點六公尺,置於地下之迴廊中。 朝鮮、日本亦有石刻,惟不如我國之盛。朝鮮自古即流行石經,今存於全羅南道求禮郡智異山華嚴寺之華嚴經,係刻於新羅文武王(661~680)時代,然今僅殘存斷片十一個。另外,於慶尚北道慶州石窟寺等,藏有經名不詳之遺品。日本最古之石經,係由大和宇智川摩崖刻出之涅槃經碑,刻於寶龜九年(778),上有「諸行無常,是生滅法,生滅滅已,寂滅為樂」之偈及其他八十餘字經文;福岡縣宗像神社之阿彌陀經石刻,乃模刻我國湖北襄陽龍興寺之碑,因比一般阿彌陀經多出二十一字而著稱於世。據傳是在建久之頃(1190~1198),由我國宋朝傳入者,現為日本國寶;又豐後大野郡上井田村之山尾塚,埋藏有曆應二年(1339)刻出之淨土三部經;大阪之大鏡寺亦藏有慶安元年(1648)刻出之觀無量壽經三輩往生之部分。〔漢魏石經考、石刻佛經記、唐宋石經考、北宋石經考異、佛祖統紀卷四十二、古今圖書集成職方典第十一、海東金石苑第二、支那佛教史蹟評解卷一、卷三〕(參閱「石經山藏經」2137、「石壁經」2139)
; (石經) Cũng gọi Thạch khắc kinh, Thạch khắc, Thạch tạng. Chỉ cho kinh văn được khắc trên mặt đá. Kinh Đại bảo tích quyển 78 và kinh Chính pháp niệm xứ quyển 48 đều có ghi chép việc khắc kinh kệ trên vách đá. Tại Trung quốc, thạch kinh có quan hệ với Nho gia rất sớm, nổi tiếng hơn cả là thạch kinh Hi bình đời Hán và thạch kinh Khai thành được khắc vào năm Khai thành thứ 2 (837) đời vua Văn tông nhà Đường tại Trường an. Còn về kinh Phật thì 1 mặt chịu ảnh hưởng phong khí mở đục hang đá đời Bắc Ngụy, mặt khác, vì muốn cho Chính pháp trụ ở đời lâu dài nên đã phỏng theo Nho gia mà thực hiện việc khắc thạch kinh. Trong các thạch kinh của Phật giáo hiện còn, về niên đại thì thạch kinh đời Bắc Tề là xưa nhất, còn về qui mô thì thạch kinh Phòng sơn, Hà bắc (Thạch kinh sơn tạng kinh) là lớn nhất, hiện còn hơn 4000 bản thạch kinh, khắc tổng cộng vài nghìn quyển kinh Phật. Thạch kinh có các hình thức khác nhau, như khắc trên mặtvách đá, khắc trên sườn núi, khắc trên những tấm bia, hoặc trên các cột đá... Thạch kinh trên mặt vách, gọi là Bích diện khắc, như trên mặt vách của hang đá ở núi Bắc hưởng đường(cũng gọi Cổ sơn), tỉnh Hà nam, có khắc kinh Duy ma cật, kinh Thắng man, Một phần thạch kinh bằng 6 thứ tiếng ở cửa ải Cư Dungkinh Bột, kinh Di lặc thành Phật..., vách phía ngoài có khắc văn phát nguyện của Khai quốc công tên là Đường ung, là những thạch kinh được khắc từ năm Thiên thống thứ 4 (568) đến năm Vũ bình thứ 3 (572) đời Bắc Tề. Lại trên vách tháp Quá nhai ở cửa ải Cư dung, tỉnh Hà bắc, có các thạch kinh như kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, kinh Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập Phổ môn quan sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni... được khắc vào năm Chí chính thứ 5 (1345) đời Nguyên. Những thạch kinh này được khắc theo 2 thể chữ lớn và nhỏ bằng 6 thứ tiếng: Phạm, Hán, Mông cổ, Hồi hột, Tây tạng và Tây hạ, có thể đối chiếu để xem, đây là tư liệu về ngữ văn vô cùng quí giá và rất được coi trọng. Ngoài ra, phẩm Pháp diệt tận trong phần Nguyệt tạng kinh Đại tập, kinh Thắng man, kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn được khắc trong động Đại trụ, núi Bảo sơn ở tỉnh Hà nam vào năm Khai hoàng thứ 9 (589) đời Tùy; Thập thiện nghiệp đạo kinh yếu lược, khắc trong tháp Phồn ở phủ Khai phong, tỉnh Hà nam vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (977) đời Tống; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa được khắc ởchùa Vân nham tại Tô châu, tỉnh Giang tô vào khoảng năm Hi ninh (1068-1077) đời Tống; kinh Tứ thập nhị chương được khắc trong tháp Lục hòa ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang vào năm Thiệu hưng thứ 5 (1135) đời Nam Tống, kinh Niết bàn được khắc trong động Hương sơn tại Long môn, tỉnh Hà nam vào đời Đường..., tất cả những thạch kinh này cũng đều thuộc về Bích diện khắc. Thạch kinh được khắc trên sườn núi gọi là Ma nhai khắc, như kinh Đại tự Kim cương bát nhã khắc tại Thạch kinh dục ở chân núi Thái sơn, tỉnh Sơn đông... đều thuộc Ma nhai khắc, niên đại và người khắc đều không rõ, có thuyết cho là do ông Đường ung, có thuyết nói do ông Vi tử thâm khắc, gồm hơn 900 chữ theo thể đại tự, nét chữ mạnh mẽ, nổi tiếng nhất trong loại thạch kinh. Một bộ của kinh Đại bát nhã khắc ở động Ánh Phật thuộc núi Tồ Thạch kinh ở núi Thái sơn Kinh Kim cương khắc ở núi Thái sơn lai, tỉnh Sơn đông vào niên hiệu Vũ bình năm đầu (570) đời Bắc Tề và phẩm Thành tựu, kinh Hoa nghiêm khắc ở núi Ốc lai, Liêu châu, tỉnh Sơn tây đều thuộc về Ma nhai khắc. Thạch kinh được khắc trên tấm bia, gọi là Bi bản khắc, Thạch bản khắc, thường được khắc trên 2 mặt tấm đá và cất giữ trong thạch thất. Như ở núi Phòng sơn tại tỉnh Hà bắc có tàng trữ 85 bộ thạch kinh là kinh Chính pháp niệm xứ, kinh Đại bát nhã, kinh Đại niết bàn, kinh Đại bảo tích, luận Thành duy thức, luận A tì đạt ma tạp tập... được khắc trong thời gian 480 năm, từ khoảng năm Đại nghiệp (605- 616) đời Tùy đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu, đều rất nổi tiếng. Hiệp hội Phật giáo Trung quốc ở đại lục, từng tiến hành cuộc điều tra, đào bới, in thác bản(bản dập lại) các thạch kinh ở Phòng sơn trong 3 năm, vào năm Dân quốc 47 (1958) thì hoàn thành công việc, tính ra in thác bản hoàn chỉnh được 15.000 trang thạch kinh, in không hoàn chỉnh 780 trang thạch kinh; bia kinh, cột kinh, đề danh, đề kí... hơn 70 trang. Loại bản đá của thạch kinh chủ yếu phân bố ở vùng Hoa bắc như núi Bảo sơn, núi Thái sơn, núi Hưởng đường... Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) được khắc ở núi Phong dục, tỉnh Sơn tây vào khoảng năm Thiên bảo (550- 559) đời Bắc Tề, khắc trên hơn 120 mặt tấm bia, mỗi tấm bia cao khoảng 1,3 mét, rộng 0,6 mét, được chôn dưới lòng đất của dãy hồi lang. Ở Triều tiên, Nhật bản cũng có thạch khắc nhưng không thịnh hành bằng Trung quốc. Triều tiên từ xưa đã lưu hành thạch kinh, nay còn kinh Hoa nghiêm ở chùa Hoa nghiêm, núi Trí dị, quận Cầu lễ, tỉnh Toàn la nam, được khắc vào thời Tân la Văn vũ vương (661-680), nhưng nay chỉ còn sót lại 11 mảnh mà thôi. Ngoài ra, chùa Thạch quật ở Khánh châu, tỉnh Khánh thượng bắc còn cất giữ di phẩm thạch kinh, nhưng không rõ tên kinh. Ở Nhật bản, thạch kinh xưa nhất là bia khắc kinh Niết bàn ở sườn núi Trí xuyên do ông Đại hòa vũ khắc vào năm Bảo qui thứ 9 (778), trên có bài kệ Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc và hơn 80 chữ văn kinh. Thạch kinh A di đà khắc ở Tông tượng thần xã tại huyện Phúc cương là khắc phỏng theo bia kinh A di đà ở chùa Long hưng, huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, vì so với kinh A di đà phổ thông thì nhiều hơn 21 chữ nên nổi tiếng ở đời. Theo truyền thuyết, thạch khắc này được truyền đến Nhật bản vào năm Kiến cửu (1190-1198) từ triều Tống của Trung quốc, hiện là quốc bảo của Nhật bản. Lại nữa, tại nghĩa trang Thượng vĩ, thôn Thượng tỉnh điền, quận Phong hậu đại dã có chôn giấu 3 bộ kinh Tịnh độ, được khắc vào năm Lịch ứng thứ 2 (1339). Còn chùa Đại kính ở Đại phản (Osaka) cũng có cất giữ một phần của kinh Quán vô lượng thọ tam bối vãng sinh, được khắc vào niên hiệu Khánh an năm đầu (1648). [X. Hán ngụy thạch kinh khảo; Thạch khắc Phật kinh kí; Đường Tống thạch kinh khảo; Bắc Tống thạch kinh khảo dị; Phật tổ thống kỉ Q.42; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 11; Hải đông kim thạch uyển 2; China Phật giáo sử tích bình giải Q.1, 3]. (xt. Thạnh Kinh Sơn Tạng Kinh, Thạch Bích Kinh).
thạch kinh sơn
Kinh được khắc trong núi đá Bạch Đái Sơn, vào đời nhà Tùy ở Trụy Châu bên Tàu—The hill with the stone sutras, which are said to have been carved in the Sui dynasty in Pai-Tai-Shan, west of Cho-Chou, China.
Thạch kinh sơn tạng kinh
(石經山藏經) Tạng kinh ở núi Thạch kinh. Đây là thạch kinh có qui mô lớn nhất trong các di vật hiện còn tại Trung quốc, thuộc loại Bi bản khắc(khắc trên mặt bia). Thạch kinh sơn, tên cũ là Bạch đới sơn, Vân cư sơn, tọa lạc ở huyện Phòng sơn, tỉnh Hà bắc. Vì ngài Tĩnh uyển (Minh báo kí ghi là Trí uyển) đời Tùy là người đầu tiên khởi xướng sự nghiệp khắc Thạch kinh tạng ở trong động núi này, cho nên mới đổi tên là Thạch kinh sơn. Lại vì dãy núi quanh co liền nhau, những ngọn núi thì cao đẹp, nên cũng được gọi là Tiểu tây thiên. Ở ngọn núi phía đông có chùa tên là chùa Vân cư, thông thường gọi là chùa Thạch kinh. Khoảng năm Đại nghiệp (605-616), sa môn Tĩnh uyển chùa Trí tuyền tại U châu, sợ tam tai kiếp Hoại ập đến làm cho Đại pháp tiêu mất như nạn diệt Phật đời Bắc Chu, Bắc Tề, nên ngài phát nguyện tạo Thạch khắc Đại tạng kinh, cất giữ ở trong núi để truyền lại cho đời sau. Bấy giờ, ngài từng được Hoàng hậu của vua Tùy Dạng đế giúp đỡ. Sang đời Đường, vào năm Trinh quán 13 (639), chí nguyện chưa hoàn thành mà ngài đã viên tịch, các đệ tử nối tiếp sự nghiệp của ngài, trải qua 4 đời: Huyền đạo, Nghi công, Huệ xiêm (có chỗ ghi là Huệ ngộ) và Huyền pháp khắc xong 4 bộ kinh lớn: Kinh Chính pháp niệm xứ 70 quyển, kinh Đại bát Niết bàn 40 quyển, kinh Đại hoa nghiêm 80 quyển và kinh Đại bát nhã 520 quyển, gọi là Tứ đại bộ kinh. Sự kiện lớn lao này được ghi trong Tứ đại bộ kinh thành tựu bi kí do cư sĩ Triệu tuân nhân soạn vào năm Thanh ninh thứ 4 (1058) đời Liêu và trong Tục bí tạng thạch kinh tháp kí, do cư sĩ Phương chí soạn vào năm Thiên khánh thứ 7 (1117), trong đó cóghi rõ ràng lời phát nguyện, ngày khởi công, quá trình thực hiện và họ tên của những người tham gia công cuộc khắc kinh. Về sau, lại có các vị Khả nguyên, Hưng tông, Triệu tuân nhân, Đạo tông, Thông lí... nối tiếp nhau san khắc, mãi đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu, trải qua thời gian 480 năm mới hoàn thành, tính ra khắc được 80 quyển kinh Đại bát nhã còn lại (trước đó, các ngài Huyền đạo... mới khắc được 520 quyển), kinh Đại bảo tích 120 quyển, kinh Hoa thủ, kinh Phật danh, kinh Tâm địa quán, luận Đại trí độ, luận Thành duy thức, luận A tì đạt ma tạp tập... tất cả gồm 85 bộ kinh luận kể từ ngài Tĩnh uyển, là sự nghiệp khắc kinh chưa từng có trong lịch sử, người đời gọi là Phòng sơn thạch kinh. Sự nghiệp khắc kinh này đến năm Khang hi 30 (1691) đời Thanh mới đình chỉ. Trong đó, những kinh được khắc vào đời thịnh Đường, Liêu, Kim... có số lượng nhiều nhất. Trải qua thời gian gần 1000 năm, khắc hơn 1000 bộ kinh, hơn 3400 quyển, bản khắc đá lớn nhỏ tất cả gồm hơn 1 vạn 5 nghìn tấm. Đây là thạch khắc tạng kinh qui mô nhất hiện còn tại Trung quốc. Số kinh thạch khắc này được chia ra cất giữ ở trong 9 động đá tại núi Thạch kinh (Phòng sơn) và trong địa huyệt (được chôn dưới đất) phía tây nam chùa Vân cư. Ngoài 1 số ít bị gió mưa làm tổn hại, phần lớn vẫn còn đầy đủ, là những vật thực rất tốt để y cứ trong việc nghiên cứu xã hội, kinh tế, lịch sử Phật giáo, diễn biến thư pháp, nghệ thuật thạch khắc ở vùng đất này vào thời cổ đại, đồng thời cũng là chỗ dựa quí báu để khảo đính tạng kinh bản gỗ. Ngoài ra, ở chùa Vân cư và trên núi Thạch kinh còn giữ được 8 ngôi tháp đá hình vuông được kiến tạo vào đời Đường và 1 tòa tháp gạch 8 góc kiểu mái kín đời Liêu, cho thấy sự thành tựu của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc trong thời kì này. Nhân hải kí quyển thượng nói: Thạch kinh được cất giữ trong 7 nham động và 3 địa huyệt. Ở động thì chốt bằng cửa đá, ở huyệt thì trấn bằng phù đồ(tháp), xưa nay binh lửa không xâm nhập được. Tử bá lão nhân tập quyển 15 nói: Dưới đèn đọc bia kinh khắc trên vách đá ở chùa Trùng huyền của quan Thứ sử Tô châu là Bạch cư dị đời Đường, bỗng nhớ về tôn giả Tĩnh uyển đời Tùy, khắc kinh trên đá thành Đại tạng, trộm so sánh hơn kém, khôn xiết buồn thương. [X. Hàm sơn lão nhân mộng du tập Q.22; điều Trí uyển trong Minh báo kí Q.thượng].
thạch kinh sơn tạng kinh
2134為我國現存遺物中,規模最大之石經。屬碑板刻。石經山,舊名白帶山、雲居山,位於河北房山縣。以隋代靜琬(冥報記作智苑)創刻石經藏於此山洞中,故改稱石經山。以峰巒秀拔,故又稱小西天。其東峰有寺稱雲居寺,一般則稱為石經寺。 隋大業年間(605~616),幽州智泉寺沙門靜琬,因北周、北齊之廢佛,恐三災壞劫而大法湮沒,遂發願刊造「石刻大藏經」,藏於山中以待後人。當時,曾得隋煬帝皇后之助。唐貞觀十三年(639), 師志未竟而示寂,其門人繼之,歷玄導、儀公、惠暹(或作惠遇)、玄法四代,刻成正法念處經七十卷、大般涅槃經四十卷、大華嚴經八十卷、大般若經五二○卷等四大部經,此事載於遼清寧四年(1058)趙遵仁所撰之四大部經成就碑記,與天慶七年(1117)志方所撰之續祕藏石經塔記裏,其中並詳記刻經之發願、起工、進度及從事者之氏名;其後又經可元、興宗、趙遵仁、道宗、通理等人相繼刊刻,直至遼大安十年(1094),歷時四百八十年,始告完成,計刻出大般若經之殘部八十卷、大寶積經一二○卷、華手經、佛名經、心地觀經、大智度論、成唯識論、阿毘達磨集論等,前後凡八十五部經論,為一史無前例之刻經事業,世稱房山石經。 此刻經事業,至清康熙三十年(1691)方告停止。其間,以盛唐、遼、金所刻之數量最多。歷時近千年,刻經千餘部,三千四百餘卷,大小經版共一萬五千餘塊,為我國現存規模最大之石刻藏經。分別藏於石經山九個石洞及雲居寺西南之地穴內。除少數因風化殘損外,大部分完整,對研究古代此一地區之社會經濟、佛教歷史、書法演變、石刻藝術及對於校勘木版藏經,為一頗佳之實物依據。此外,雲居寺和石經山上尚保存有唐代方形石塔八座,及遼代八角密檐式磚塔一座,顯示這一時期建築與雕刻藝術之成就。又某些刻經題記中,仍然保存唐天寶(742~756)至貞元(785~805)年間一些州郡行會之名稱,對研究當時工商情況,極具參考價值。 據人海記卷上載:「貯於巖洞者七,地穴者三。洞鍵以石門,穴鎮以浮圖,自來兵燹不之及。」紫柏老人集卷十五:「燈下讀唐蘇州刺史白居易重玄寺石壁經碑,逆思隋靜琬尊者,刊石為經,積盈大藏,竊校優劣,不勝悲惋。」〔憨山老人夢遊集卷二十二、冥報記卷上智苑條〕
Thạch Liêm
石溓; 1633-1704|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông →Tào Ðộng đời thứ 29. Sư là người đầu tiên truyền tông Tào Ðộng sang miền Trung Việt Nam.|Sư quê ở Giang Tây, học vấn uyên bác, rành thiên văn địa lí, thư, thi pháp và cả hội hoạ. Sư sớm xuất gia tu hành và là môn đệ của Thiền sư Giác Lãng thuộc tông Tào Ðộng.|Ðược lời mời của Thiền sư →Nguyên Thiều, Sư sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Ất Hợi, niên hiệu Khang Hi thứ 34 (1695). Ngày 28 tháng giêng, Sư đến Thuận Hoá và mồng 1 tháng 2, Sư gặp chúa Nguyễn Phúc Chu.|Chúa Nguyễn thỉnh Sư ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường đến thưa hỏi đạo lí. Ngoài ra, các Thiện tri thức tham vấn Sư rất nhiều, hoặc trực tiếp thưa hỏi, hoặc gián tiếp qua thư từ. Sư cũng không ngần ngại trả lời những bức thư này với tất cả tấm lòng và nhiều bức thư trả lời của Sư vẫn được lưu truyền đến ngày nay.|Nhưng đáng tiếc là Sư hoằng hoá hai năm ở Việt Nam và sau đó trở về Trung Quốc và viên tịch tại đây. Tông Tào Ðộng do Sư truyền sang không rõ người Việt Nam thừa kế trong phái xuất gia, còn trong giới Cư sĩ thì có chúa Nguyễn Phúc Chu, hiệu Hưng Long và Thiều Dương Hầu, anh thứ ba của chúa. Ðệ tử nối pháp người Trung Quốc thì có ba vị được nhắc đến là Hưng Liên Quả Hoằng (sang Việt Nam trước thầy), Hưng Triệt và Hoàng Thần.
thạch lưu
Một biểu hiện của nhiều trẻ nít qua quả lựu vì nó có nhiều hột; đây cũng là dấu hiệu trên tay của Quỷ Tử Mẫu Thần, vị được Phật chuyển hóa—The pomegranate, symbol of many children because of its seeds; a symbol held in the hand of Hariti, the deva-mother of demons, converted by the Buddha.
thạch lặc
2117(274~333)五胡十六國之後趙第一世皇帝。羯族上黨(山西)人,字世龍。年十四,行販洛陽。長為盜,投匈奴劉淵。淵使之領兵,屢破晉軍,佔據襄國(河北邢台)以為根本。太興二年(319),背叛劉淵,自稱趙王,不久,滅劉曜自立,統有冀、秦、并、豫等十州之地。於十六國中,最稱強盛。生性凶狠好殺,民以為害,佛圖澄以佛法化之,氣燄稍歛。於咸和五年(330)稱帝,八年歿,諡號「明帝」,廟號「高祖」,年號「太和」、「建平」。〔晉書卷一○四、卷一○五、魏書卷九十五〕
; (石勒) Tên vị Hoàng đế đời thứ nhất của nhà Hậu Triệu trong 16 nước Ngũ hồ, Trung quốc, người ở Thượng đảng, Yết tộc (nay là tỉnh Sơn tây), tự là Thế long. Năm 14 tuổi, ông đi buôn bán ở Lạc dương. Lớn lên, làm nghề ăn trộm, theo quân Hung nô Lưu uyên, Uyên cho làm Lãnh binh, thường đánh phá quân nhà Tấn, chiếm cứ nước Tương (nay là huyện Hình thai, tỉnh Hà bắc) làm căn bản. Năm Thái hưng thứ 3 (319), Lặc phản bội Lưu uyên, tự xưng là Triệu vương. Không bao lâu, ông diệt Lưu diệu tự lên làm vua, thống lãnh 10 châu như Kí, Tần, Tính, Dự..., là nước cườngthịnhnhất trong 16 nước. Bản tính Thạch lặc hung hãn, thích giết chóc, dân đều ghê sợ, ngài Phật đồ trừng dùng Phật pháp giáo hóa ông, tính nóng dần giảm bớt.Năm Hàm hòa thứ 5 (330), ông xưng đế, 3 năm sau thì qua đời, thụy hiệu là Minh đế, miếu hiệu là Cao tổ, niên hiệu Thái hòa, Kiến bình. [X. Tấn thư Q.104, 105; Ngụy thư Q.95].
thạch lựu
2138乃鬼子母神所持之果物。一切供物果子之中,石榴為上。瞿醯經奉請供養品(大一八‧七六八下):「其果子中,石榴為上;於諸根中,毘多羅根為上。」或謂石榴為吉祥果;以石榴一花多果,一房千實(子),因此稱鬼子母為千子(一說五百子,或一萬子)之母,故以之為吉祥果。(參閱吉祥果」2239)
; (石榴) Tên loại trái cây mà thần Quỉ tử mẫu cầm ở tay. Trong tất cả các loại trái cây làm vật cúng thì thạch lựu là quí nhất. Phẩm Phụng thỉnh cúng dường trong kinh Cù hê (Đại 18, 768 hạ) nói: Trong các loại quả, thạch lựu là trên hết; trong các căn, Tì đa la căn là nhất. Có thuyết cho rằng thạch lựu là quả cát tường; vì thạch lựu 1 hoa mà nhiều quả, 1 quả có 1000 hạt, bởi vậy mà gọi Quỉ tử mẫu là mẹ của 1000 đứa con (có thuyết nói 500 con, hoặc 10.000 con), cho nên thạch lựu được gọi là quả cát tường. (xt. Cát Tường Quả).
Thạch Môn Hiến Uẩn
(石門献蘊, Sekimon Kenon, ?-?): nhân vật sống dưới thời Ngũ Đại, vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, pháp từ của Thanh Lâm Sư Kiền (青林師虔), người Kinh Triệu (京兆, thuộc Tỉnh Thiểm Tây), được gọi là Đại Ca Hòa Thượng (大哥和尚). Ban đầu ông sống ở Lan Nhã (蘭若) thuộc Nam Nhạc (南岳), sau chuyển đến Đàm Châu (潭州), Tỉnh Hồ Nam (湖南省). Ông được vua nước Sở tiếp đãi rất trọng hậu, khai sáng Thạch Môn Tự (石門寺) ở Nhượng Châu (襄州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc).
thạch môn thông
Shih men Tsung (C) Tên một vị sư.
Thạch Môn Uẩn Thông
(石門蘊聰, Sekimon Unsō, 965-1032): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Nam Hải (南海, Tỉnh Quảng Đông), họ là Trương (張). Sau khi xuất gia, ông đến tham yết Bách Trượng Đạo Thường (百丈道常), và cuối cùng được đại ngộ dưới trướng của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念). Ngoài ra ông còn đến tham vấn Động Sơn Thủ Sơ (洞山守初) ở Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc), Đại Dương Sơn Cảnh Diên (大陽山警延) ở Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc), cũng như Trí Môn Sư Giới (智門師戒) ở Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc), và vào năm thứ 3 (1006) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đến trú tại Thạch Môn Sơn (石門山) vùng Nhượng Châu. Đến năm thứ 4 (1020) niên hiệu Thiên Hy (天禧), ông chuyển đến Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự (太平興國禪寺) ở Cốc Ẩn Sơn (谷隱山). Đồ chúng tập trung đến tham học với ông lên đến cả ngàn người. Ông đã từng kết thâm giao với Hàn Lâm Dương Văn Ức (翰林楊文億), Trung Sơn Lưu Quân (中山劉筠), v.v. Vào ngày mồng 8 tháng 3 năm thứ 10 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Từ Chiếu Thiền Sư (慈照禪師). Ngữ lục của ông có Thạch Môn Sơn Từ Chiếu Thiền Sư Phụng Nham Tập (石門山慈照禪師鳳巖集), 1 quyển.
Thạch Môn Văn Tự Thiền
(石門文字禪, Sekimonmojizen): 30 quyển, trước tác của Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống, Giác Từ (覺慈) biên tập, san hành vào năm thứ 25 (1597) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Là tập thơ văn của Huệ Hồng―người có thiên tài về văn chương, tác phẩm này rất phong phú với các loại cổ thi, hài luật, ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, lục ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú, kệ, tán, từ, phú, đề, bạt, sớ, thư, văn bia tháp, hành trạng, truyền ký, văn tế, v.v. Sau khi san hành với lời tựa của Đạt Quán (達觀), bộ này được nhập vào trong Minh Bản Tục Tạng Kinh (明本續藏經) và trùng san vào năm thứ 20 (1681) niên hiệu Khang Hy (康熙).
thạch môn văn tự thiền
2116凡三十卷。宋代僧慧洪(1071~1128)語,覺慈編。略稱文字禪。又稱筠谿集。收於宋詩鈔初集第四卷、四部叢刊卷一○八。係輯錄江西筠溪石門寺慧洪覺範之詩、文、詞、疏及記、銘等而成。明神宗萬曆二十五年(1597)八月達觀所作之序謂,禪如春,文字則花;春在花,全花是春;花在春,全春是花。而日禪與文字有二,故德山、臨濟棒喝交馳,未嘗非文字;清涼、天台疏經作論,未嘗非禪。蓋本書係以不學之學、不立文字之文字而發揮禪旨。書中禪味橫溢,頗值一讀。
; (石門文字禪) Gọi tắt: Văn tự thiền. Cũng gọi: Quân khê tập. Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, ngài Giác từ biên tập, được thu vào Tống thi sao quyển 4, Tứ bộ tùng san 108. Nội dung sách này thu chép những thơ văn, từ, sớ, minh... của ngài Tuệ hồng Giác phạm chùa Thạch môn ở Quân khê, tỉnh Giang tây. Bài tựa do ngài Đạt quán soạn vào tháng 8 năm Vạn lịch 25 (1597) đời Minh, nói: Thiền như mùa Xuân, văn tự như hoa; Xuân nhờ có hoa, tất cả hoa là Xuân; hoa nhờ có Xuân, tất cả Xuân là hoa. Lại nói: Thiền và văn tự có 2, nên Đức sơn, Lâm tế đánh hét xen lẫn nhau, chưa bao giờ chẳng phải là văn tự; Thanh lương, Thiên thai sớ kinh, soạn luận, chưa bao giờ không phải là Thiền. Sách này dùng cái học của vô học, văn tự của bất lập văn tự để phát huy yếu chỉ của thiền. Trong sách dạt dào thiền vị, rất là đáng đọc.
thạch mật
2138梵語 phāṇita。冰糖之異稱。五分律卷五作五種藥之一。蘇悉地羯囉經卷上分別燒香品作五香之一。善見律卷十七(大二四‧七九五中):「廣州土境,有黑石蜜者,是甘蔗糖,堅強如石,是名石蜜。伽尼者,此是蜜也。」正法念處經卷三(大一七‧一七上):「如甘蔗汁,器中火煎,彼初離垢,名頗尼多。次第二煎,則漸微重,名曰巨呂。更第三煎,其色則白,名曰石蜜。」本草綱目記載,石蜜,又稱乳糖、白雪糖,即白糖,出產於益州(四川)及西戎。用水、牛乳汁、米粉和沙糖煎煉作成餅塊,黃白色而堅重。主治心腹熱脹,滋潤肺氣,助益五藏津。
; Phāṇita (S) Đường phèn.
; (石蜜) Phạm:Phàịita. Tên khác của đường phèn. Luật Ngũ phần quyển 5 cho là 1 trong 5 thứ thuốc. Phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng thì cho là 1 trong 5 thứ hương. Thiện kiến luật quyển 17 (Đại 24, 795 trung) nói: Đất Quảng châu có loại thạch mật đen (đường phèn đen) là đường mía, cứng như đá nên gọi là Thạch mật... Già ni Trung quốc gọi là Mật. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 3 (Đại 17, 17 thượng) nói: Như nước cho vào nồi nấu, lần đầu gạn chất dơ ra, gọi là Phả ni sa. Nấu lần thứ 2 thì đường từ từ đặc lại, gọi là Cự lữ. Lại nấu lần thứ 3 thì đường đặc hẳn, trở thành màu trắng, gọi là Thạch mật. Bản thảo cương mục kí nói: Thạch mật cũng gọi là đường sữa, đường tuyết trắng, tức là đường trắng, sản xuất ở Ích châu (tỉnh Tứ xuyên) và Tây nhung. Dùng nước, sữa bò, bột gạo hòa với đường cát nấu thành bánh, có màu vàng lợt, cứng và nặng, chủ trị bệnh nóng trong người, làm tươi mát buồng phổi, giúp ích tân dịch của ngũ tạng.
thạch mật tương
2138即冰糖水。為石蜜加水而成。石蜜即冰糖之異稱。大智度論卷三(大二五‧八三中):「瓦師布施草坐、燈明、石蜜漿三事,供養佛及比丘僧。」(參閱「石蜜」2138)
; (石蜜漿) Tức là nước đường phèn. Đường phèn (thạch mật)hòa với nước thì thành Thạch mật tương. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 83 trung) nói: Người thợ gốm bố thí 3 thứ là nệm để ngồi, đèn sáng và nước thạch mật (thạnh mật tương) để cúng dường Phật và tỉ khưu tăng. (xt. Thạch Mật).
thạch ngư
2117指石造之魚鼓(魚形之板鼓)。叢林中,為告知諸事之時間所敲打之器物。〔禪林象器箋唄器門〕
; (石魚) Cá đá, tức là quả trống bằng đá có hình con cá. Trong tùng lâm, đánh thạch ngư để báo về giờ giấc cho đại chúng biết. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thạch nữ
2111梵語 vandhyā 或 bandhyā,巴利語 vañjhā。舊譯石女,新譯虛女。即女之無子,不能為淫者。北本大般涅槃經卷二十五(大一二‧五一五中):「譬如石女,本無子相,雖加功力,無量因緣,子不可得。心亦如是,本無貪相,雖造眾緣,貪無由生。」因明入正理論(大三二‧一一下):「自語相違者,如言我母是其石女。」四分律行事鈔資持記卷中二之一(大四○‧二八七下):「石女者,根不通淫者。」此外,禪門機語中,每以石女與木人相對稱,乃喻指遠離情識,天真無作之妙用。如普燈錄卷五(卍續一三七‧五二上):「石女舞成長壽曲,木人唱起太平歌。」又石女兒,即比喻非有,如言龜毛兔角。維摩詰所說經卷中觀眾生品(大一四‧五四七中):「如空中鳥跡,如石女兒。」〔大毘婆沙論卷十六、瑜伽師地論卷六、俱舍論光記卷十九、翻譯名義集卷五〕
; Vanjha (P).
; Người nữ đá, chỉ người phụ nữ không còn khả năng giao hợp và sanh con nữa—A barren woman—A woman who is incompetent for sexual intercourse.
; (石女) Phạm: Vandhyà, Bandhyà. Pàli:Vaĩjhà. Dịch mới: Hư nữ. Con gái đá, tức chỉ cho đàn bà không có con, không thể hành dâm. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 25 (Đại 12, 515 trung) nói: Ví như thạch nữ vốn không thể có con, dù có gắng bao nhiêu công đức, vô lượng nhân duyên đi nữa, cũng không thể có con. Tâm cũng như thế, vốn không có tướng tham, dù tạo tác các duyên, tham cũng không do đâu mà sinh ra được. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ) nói: Tự ngữ tương vi(mình tự mâu thuẫn với lời nói của mình), chẳng hạn như nói mẹ tôi là thạch nữ. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển trung, phần 1, tiết 2 (Đại 40, 287 hạ) nói: Thạch nữ, căn không thể hành dâm. Ngoài ra, Thiền môn cơ ngữ, tức các câu nói có tính cách cơ thiền, thường dùng thạch nữ đối lại với mộc nhân(người gỗ) để dụ chỉ cho việc xa lìa tình thức và diệu dụng thiên chân vô tác. Như Phổ đăng lục quyển 5 (Vạn tục 137, 52 thượng) nói: Thạch nữ múa khúc trường thọ, mộc nhân hát bài ca thái bình. Lại từ ngữ thạch nữ nhi được sử dụng để ví dụ những sự vật không bao giờ tồn tại, như lông con rùa, sừng con thỏ. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 547 trung) nói: Như lốt chân chim trong hư không, như con của thạch nữ (thạch nữ nhi). [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Du già sư địa Q.6; Câu xá luận quang kí Q.19; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].
thạch nữ nhi
Xem Bàn đại tử.
; Con của Thạch Nữ, danh từ dùng để chỉ một việc không thể xãy ra được—Son of a barren woman, an impossibility.
thạch phật
2113<一>指石雕之佛像。又作石佛像、石像。我國、印度、西域等地之各石窟中、摩崖上均可見規模鉅大之石佛,有高達十七公尺餘,亦有小至二公分者。至於日本、朝鮮則囿於地理環境,缺乏石材,故其遺品甚少,雕琢技巧亦不如中、印之精湛。又用以造立佛像之石材亦因各地出產質料之不同而有別,如北印度犍馱羅地方,多以青色綠泥片岩,中印度則多以白色砂岩為材料;錫蘭、緬甸則用大理石,我國六朝所傳之白石佛像即屬此類。石佛可分為圓雕、浮雕、線雕三種。北魏時,鑿造石佛之風盛行,北齊、北周繼之,其雕刻特色雄壯粗獷,而唐代之刻像,素以豐腴圓滿著稱。 於印度,石佛之遺品現存不少。其中,以聯合州秣菟羅(梵 Mathurā)之博物館所藏釋迦佛坐像、菩薩立像與同州鹿野苑(梵 Mṛgadāva)之博物館所藏菩薩立像(臺座周圍有迦膩色迦大王三年造立之銘文)為最古,據考證為西元前二世紀初期之石佛。錫蘭古來亦盛行石佛之造立,婆羅那魯韃馱羅瓦(Polonnaruwa) 存有高約六公尺之阿難陀立像,奧克那(Awkana)存有高約十五公尺之釋迦佛立像。又爪哇(Java)之婆羅浮屠(Bara-budur)刻有五○四尊石佛。 我國最早之石佛像,據梁高僧傳卷十三、法苑珠林卷十二等載,西晉愍帝建興元年(313)有維衛佛、迦葉佛二石像,浮現於吳郡淞江滬瀆口,由朱膺、帛尼等數十人迎之安置於通玄寺,像高七尺。又北涼沮渠蒙遜開鑿沙洲三危山作佛像,乃著名之事實。北魏文成帝之時,曇曜於山西大同雲岡之石崖開窟龕五所,稱為靈巖寺,於各窟造佛像一尊,是為雲岡最初之石龕。雲岡最大之石佛像,以第五窟大佛洞之正面中央鑿刻有本尊釋迦坐像,高約十七公尺,端嚴雄偉。蓋雲岡之岩層為砂岩之水平層,適合大龕大佛之造設,加上北魏拓跋帝室之雄偉志向,其石窟規模之壯大,實為世界之冠。其他如河南龍門石窟、山東玉函山、山西天龍山、河北南響堂山等亦有石佛像之造立。 上述石佛像之造立均位於我國北方;反之,南方較少,恐係南方之岩崖少,不適合造巨大之石佛。然據佛祖統紀卷四十載,唐開元十八年(730) 沙門海通於嘉州大江之濱鑿石,造立彌勒像,以九層之閣覆之,此即凌雲寺。其像現存於四川樂山,位於長江之支流岷江,高七十一公尺,乃鑿一大絕壁造刻而成,今樹木苔蘚茂生,宛然如山丘屹立,為世界最大之石像。〔有部毘奈耶雜事卷三、大唐西域記卷一梵衍那國條、續高僧傳卷一、卷二十五、廣弘明集卷二、卷十五、魏書卷一一四、V. Smith:A History of Fine Art in India and Ceylon; N.J. Krom: Barabudur〕(參閱「石窟」2118) <二>指峰名。位於浙江樂清縣雁蕩山。又稱老僧巖、接客僧。山峰下有石佛寺。
; (石佛) I. Thạch Phật. Cũng gọi Thạch Phật tượng, Thạch tượng. Chỉ cho tượng Phật được khắc bằng đá. Trong các hang đá, trên vách núi ở Trung quốc, Ấn độ, Tây vực... đều có thể thấy những thạch Phật với qui mô rất lớn, có tượng cao tới 17m, cũng có tượng nhỏ đến 2cm. Còn ở Nhật bản, Triều tiên thì vì hoàn cảnh địa lí bị giới hạn, thiếu Tượng Phật Thích ca bằng đá đào được ở Mạt thố la Tượng Phật bằng đá đào được ở Kiện đà la nguyên liệu về đá, nên có rất ít các di phẩm và kĩ thuật điêu khắc cũng không được tinh xảo bằng Trung quốc, Ấn độ. Về nguyên liệu đá dùng để tạo lập tượng Phật cũng tùy theo chất lượng sản xuất ở mỗi nơi mà có khác nhau, như ở vùng Kiện đà la thuộc miền Bắc Ấn độ phần nhiều dùng những phiến đá có màu xanh lục, Trung Ấn độ thì dùng nham thạch màu trắng; Tích lan, Miến điện thì dùng đá Đại lí, các tượng Thạch Phật màu trắng được truyền lại từ thời Lục triều của Trung quốc chính là thuộc loại đá này. Thạch Phật được chia làm 3 loại là Viên điêu, Phù điêu và Tuyến điêu. Phong khí tạc thạch Phật thịnh hành ở thời Bắc Ngụy, các thời Bắc Tề, Bắc Chu nối tiếp. Đặc sắc nghệ thuật điêu khắc ở các thời kì này là nét mạnh mẽ, cứng cáp, còn thạch Phật khắc vào thời Đường thì vốn nổi tiếng về nét đầy đặn, phúc hậu. Ở Ấn độ, các di phẩm về thạch Phật hiện còn có nhiều, trong đó, tượng Phật Thích ca ngồi, tượng Bồ tát đứng được cất giữ trong viện bảo tàng ở Mathurà (Mạt thố la) thuộc châu Liên hợp và tượng Bồ tát đứng (chung quanh tòa ngồi có bài minh cho biết tượng được tạo lập vào thời Đại vương Ca nị sắc ca năm thứ 3) hiện được cất giữ trong viện bảo tàng ở vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva) cũng thuộc châu Liên hợp là xưa nhất. Theo sự khảo chứng thì đây là những thạch Phật được tạo lập vào thời kì đầu của thế kỉ II Tây lịch.Tại Tích lan, xưa nay cũng thịnh hành việc tạo lập thạch Phật, ở Polonnaruwa còn có tượng ngài A nan đà đứng cao khoảng 6m và ở Awkana còn tượng Phật Thích ca đứng cao khoảng 15m. Còn ở Bà la phù đồ (Bara-budur) tại đảo Java, Indonesia, có khắc 504 pho tượng Phật bằng đá. Tại Trung quốc, theo Lương cao tăng truyện quyển 13 và Pháp uyển châu lâm quyển 12, vào niên hiệu Kiến hưng năm đầu (313) đời vua Mẫn đế nhà Tây Tấn, 2 tượng Thạch Phật đầu tiên là tượng Phật Duy vệ, Phật Ca diếp nổi lên ở cửa sông Hỗ độc tại Tùng giang, quận Ngô, do mấy mươi vị như Chu ưng, Bạch ni... rước về thờ ở chùa Thông huyền, tượng cao 7 thước (Tàu). Thư cừ Mông tốn ở Bắc Lương đục mở núi Tam nguy tại Sa châu để tạo tượng Phật là 1 sự kiện nổi tiếng. Thời vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy, ngài Đàm diệu đục mở 5 khám thờ trên vách đá của động Vân cương ở Đại đồng, tỉnh Sơn tây, gọi là chùa Linh nham, trong mỗi khám thờ tạc một pho tượng Phật, đó là những khám thờ đầu tiên ở Vân cương. Tượng thạch Phật lớn nhất ở Vân cương là tượng Bản tôn Thích ca ngồi khắc ở mặt chính của động Đại Phật thứ 5 ở chính giữa, cao khoảng 17m, đoan nghiêm hùng vĩ. Bởi vì tầng nham thạch ở Vân cương thuộc tầng lớp sa nham, rất thích hợp cho việc khắc tạo đại khám, đại Phật, thêm vào đó là chí hướng vĩ đại của vua Thác bạt nhà Bắc Ngụy mà qui mô hoành tráng của hang động đã khiến cho những tác phẩm thạch khắc ở Vân cương trở thành bậc nhất thế giới. Ngoài ra, như động đá Long môn ở tỉnh Hà nam, núi Ngọc hà ở tỉnh Sơn đông, núi Thiên long ở tỉnh Sơn tây, núi Nam hưởng đường ở tỉnh Hà bắc... cũng đều có khắc tạo tượng thạch Phật. Những tượng thạch Phật nói trên đều được khắc tạo ở miền Bắc Trung quốc, trái lại, ở miền Nam tương đối ít hơn, có lẽ miền nam ít sườn núi thích hợp cho việc khắc tạo những tượng thạch Phật to lớn. Tuy nhiên, cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 40 thì vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, sa môn Hải thông đục đá ở bãi Đại giang thuộc Gia châu, tạo lập tượng Di lặc, làm gác 9 tầng để che phủ, đây chính là chùa Lăng vân. Tượng Đại Phật này hiện còn ở núi Lạc sơn tỉnh Tứ xuyên, gần sông Dâu, 1 chi nhánh sông Dương tử, cao 71m, được khắc tạo trên 1 vách núi lớn, hiện nay cây cối mọc um tùm, rêu phong kín mít, trông giống như 1 ngọn đồi đứng chênh vênh, là tượng thạch Phật lớn nhất thế giới. [X. Hữubộtì nại da tạp sự Q.3; điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Tục cao tăng truyện Q.1, 25; Quảng hoằng minh tập Q.2, 15; Ngụy thư Q.114; A History of Fine Art in India and Ceylon by V. Simth; Barabudur by N. J. Krom]. (xt. Thạch Quật). II. Thạch Phật. Cũng gọi Lão tăng nham, Tiếp khách tăng.Tên 1 ngọn núi trong dãy núi Nhạn đãng, huyện Lạc thanh, tỉnh Chiết giang, dưới chân núi có chùa Thạch Phật.
thạch quan âm tự
2143位於臺灣苗栗縣頭屋鄉。清光緒八年(1882),信徒見一天然石洞,洞中泉水自涌,清涼甘美,乃於洞中奉祀石刻觀音一尊,遠近善信前來膜拜求水者日眾,遂籌建寺院,稱為石觀音寺。歷任住持,代代皆有建樹。
thạch quật
2118又稱石窟寺院、石室、窟寺、窟院、窟殿。即將山岳之岩質斷崖鑿成洞窟,並安置佛像以作為寺院者。其起源甚早,西元前一、二世紀之古代印度即已有之。法顯、宋雲、玄奘等旅印遊記中即有關於開鑿石窟寺院之記載,其中且有保存至今者。我國石窟之開鑿,依目前所發現者推知,約在前秦建元二年(366),由沙門樂僔於敦煌鳴沙山試鑿開始,直至十五世紀,歷時千餘年而不衰,其分布遍於中國西部、北部,自新疆之高昌、庫車、甘肅之敦煌、天水,及南北二石窟,大同之雲岡,洛陽之龍門,太原之天龍山,河北河南之響堂山,濟南之千佛崖,南京之棲霞山,杭州之飛來洞,以至遼寧之萬佛洞等,規模均極宏大;其中,敦煌石窟以壁畫名聞中外,雲岡、龍門則以石刻著稱於世。其他江蘇、浙江等地,亦有規模較小之石窟。又在西域、阿富汗之巴米安(Bamian)一帶亦有許多開鑿於五至八世紀間之石窟,以高五十三公尺與三十五公尺之佛像為主,部分石窟且有殘留之壁畫。此外,錫蘭之獅子山(Sīgiriya)係鑿於五世紀頃,內有壁畫。朝鮮慶州石窟菴,則為新羅時代之建築,乃積聚石材而建者,其上以土覆之,與上述石窟之性質不同。在日本,則無石窟寺院之建築。以下簡介印度與我國現存之石窟: 在印度,或將石窟作為禮拜堂(梵 caitya,支提),或視之為僧院(梵 vihāra,精舍),一般多作禮拜堂之用,並於石窟之前造一普通房屋充作僧房。據傳,釋尊曾於王舍城東之帝釋窟(石室精舍)說法。據玄奘之大唐西域記卷十載,憍薩羅國引正王為龍猛菩薩所建之黑蜂伽藍,即屬石窟式之寺院。印度現存之石窟多散佈於西印度。其中,孟買州之婆訶亞(Bhājā,位於今孟買東方約八十公里)與貝得薩(Bedsā,位於婆訶亞南方約八公里)均鑿於西元前一七五年左右,為今日現存諸窟中之最古者。又那西克(Nāsik,位於今孟買東北約一九三公里)、迦利(Kārle,在婆訶亞之東約六公里)二窟,皆為西元前後所開鑿。以上四窟所保存之雕刻,均極簡素,但無佛像。又在笈多王朝(梵 Gupta)以後之石窟,有阿旃多(梵 Ajantā,阿闍恩陀)、伊羅拉(Ellora,位於孟買之東北約四百餘公里)、巴格赫(梵 Bāgh)、甘赫瑞(梵 Kāṇheri,位於孟買之東北約三十二公里,在 Salsette 島上)等,內存許多阿彌陀、觀音、多羅之像,阿旃多與巴格赫二石窟且有壁畫。其中,阿旃多規模壯大,凡有大小二十九窟,係自西元前二世紀至西元後七世紀數百年間逐次開鑿者,以壁畫著稱於世,為印度美術之精華。伊羅拉則存有大小三十二窟,其第一至第十二窟屬於佛教之物,係西元六世紀至八世紀(一說四世紀至七世紀)所開鑿。其他,尚有烏代耶耆利(梵 Udayagiri)、坎岱耆利(梵 Khandagiri)等大小石窟,均安置有塔形或佛像等,並以壁畫莊嚴之。 近代,我國發現一連串之石窟,尤以敦煌千佛洞為世所矚目,甚受東、西方各有關學者之重視,紛紛從事研究,迄今已有「敦煌學」之成立。而石窟藝術遂亦成為中國藝術史上不可或缺之一環,其間蘊藏有豐富之佛教、文學、歷史等珍貴之文獻史料,在中國學術、文化史上佔有極其重要之地位;不但可補上自北魏下至北宋六百年間之文史空白部分,並可校正諸多經典謬誤之處。 <一>敦煌千佛洞:清光緒五年(1879),匈牙利地質調查所所長洛克齊(I. de L无czy)探訪敦煌,發現千佛洞壁畫,驚為虦寶,返歐後公諸於世,是為世界學者知有千佛洞壁畫之始。時有王道士圓籙,於光緒二十六年(一說二十五年)發現石室藏經,初猶封閉,不敢啟視。光緒三十三年,英籍匈牙利人史坦因(A. Stein)聞風而至,賄通王道士,私啟石室,擇其精要之寫經約三千卷,及其他文卷等又三千之數,劫持而去。次年,法國伯希和又劫取五千多種寫本,並勘查諸洞,其壁畫無法搬運者,則選其精品為之攝影、編號,攜之而去。迨政府知而收拾殘餘時,僅得八、九千餘卷,收藏於北京圖書館。其間,尚有美國華爾納、日本橘瑞超等人,或黏揭壁畫,或搜購流落民間者。迄今,敦煌石室藏書及壁畫多流入法、英、日、美、德等國博物館中。 千佛洞,自四世紀鑿起,至十四世紀止。又稱莫高窟(Dmag-mgo)、千佛巖、雷音寺。位於甘肅敦煌之鳴沙山麓,係沿沙岡峭壁,分上下二列乃至四列開鑿而成,計有大小洞窟四百以上,綿亙約一點六公里;可分為中央、南、北三大部分。其中,中央及北部窟數較少,規模較小,無裝飾之痕跡,開鑿年代亦較晚,今已荒廢。北部所存者傳已作為僧房之用。南方部分則連綿九三○公尺,其兩端各有一大窟,窟前建有殿閣,中間安置高二十四公尺以上之坐佛像。又莫高窟乃開創於前秦建元二年(366),係沙門樂僔首先營建,法良、東陽王繼之,後周李廣重修之。其後,自北魏、隋、唐、五代以迄宋代數百年間,逐次增設經營。至宋仁宗時,西夏入侵,兵亂頻仍;明代,又遭回人蹂躪,佛像屢毀,龕亦為沙所掩;至清代中葉為道士所住持,直至上述伯希和等人劫寶之後,始廣為世人所知。 窟中主要為壁畫、塑像及石室藏書。室中藏有典籍、經卷、碑版,上自經史正典,下至里巷小說、小曲曲譜之類,均兼容並蓄;並含有漢文、佉盧文、回鶻文、康居文、古和闐文、龜茲文、西藏文等文體。其經卷大多為佛經,亦有道教、摩尼教、景教等書。其壁畫則可大別為:(一)經變圖,指佛經故事。(二)本生故事圖。(三)尊像,乃佛、菩薩、侍者等像。(四)供養人,有施主及眾生相、小供養人行列及車馬儀仗圖等。(五)裝飾圖案,包括天花藻井、背景山水畫、繪畫之裝飾紋樣等。(六)飛天。(七)伎樂舞踊圖。此等壁畫為佛教藝術之珍貴資料。〔西域水道記卷三、敦煌縣志卷七、大哉中華第三冊(新晨出版)、中國佛教近代史(東初)〕(參閱「敦煌石窟」4964) <二>麥積山石窟:鑿自五世紀,至十一世紀止。為我國吸收西方文化精華後,開拓出之佛教藝術寶庫。位於甘肅天水東南方四十五公里處,在秦嶺之西端。當地人稱為麥積崖奇峰。其峰頂呈圓錐形,垂直而下,有如鄉間堆成之麥積,故稱麥積山。山高一四二公尺,山頂有塔,山下有寺,峰身遍佈龕窟和摩崖石刻,計有一九四處,保存自北魏、隋、唐、五代至宋以來一千尊以上之大佛像。但因受歷代地震及風雨之侵蝕,中間部分已斷裂,故石窟可分東、西二崖。 東崖以涅槃窟(建於魏末)、千佛廊(建於魏初)、上七佛閣、中七佛閣、牛兒堂為代表,尚能保持原狀。其中之上七佛閣為一鑿於離地五十餘公尺之懸崖洞窟,其正面廣三十公尺,高十六公尺,深達七公尺,乃本石窟中規模最大者,其由來詳見庾信之「秦州天水郡麥積崖佛龕銘」(收於庾子山文集卷十二);其壁畫具有隋唐之風。西崖有三大窟,以萬佛洞規模最大(鑿於魏末),以天堂洞(鑿於魏末)最高,該窟極險,無人敢登。又此石窟中刻有北魏景明三年(502)張元伯之祈願文,為現存最古之墨蹟。〔梁高僧傳卷十一玄高傳、太平廣記卷三九七(玉堂閒話)〕(參閱「麥積山」4850) <三>炳靈寺石窟:鑿自五世紀,至九世紀止。位於甘肅永靖縣(蘭州西南方)董河北岸之小積石山中。又稱榆林寺萬佛峽。有上、下二寺,上寺建於唐代,原稱龍興寺。北宋稱為靈岩寺。炳靈寺,係依西藏語「十萬佛」之音譯而來,與所謂「千佛洞」、「萬佛峽」同義。元時,為西藏密教之喇嘛寺院。自上寺沿山谷步行約兩公里始至下寺,下寺創建於北魏延昌二年(513),為北魏至隋唐間之禪林聖地。今僅餘殘缺之佛殿,以及摩崖石刻;各石窟間本有窟椽遊廊、棧道飛橋相連接,今已毀。 本石窟最早見於史料者,為北魏酈道元(469?~527)之水經注卷二,其他如法苑珠林卷五十三亦有記載。若鑿於西晉司馬炎時代之說屬實,則本石窟為現存各地石窟遺蹟中有紀年之最古者。由此,大概可推知在此以前已有佛教石窟存在。一般以自魏開窟起,至唐鼎盛,歷宋、元、明,至清中葉始漸衰落而被人遺忘。計有三十六窟、八十八座佛龕。其風格與敦煌、雲岡、龍門大致相同,唯石壁上所鑿佛龕較多,多成印度式之塔形,為其特色。開鑿者為祈求冥福之「功德主」;蓋永靖自古為軍事重地,又相當於宋代之河西地,為防西夏、吐蕃侵入之軍事據點,故護持石窟之功德主多屬守將。石窟內有以泥塑為主之造像;亦有不少宋、明壁畫,尤以明畫,適可補敦煌壁畫之不足;其色彩濃烈,筆調粗壯,與敦煌壁畫之風格迥異。此外,本石窟為紅砂岩,不宜石刻,雖歷經自然之風化及兵火,雕像不乏斷頭折臂者,然以發現較遲,故比其他石窟保存得較完整,與麥積山石窟、敦煌千佛洞,同為我國西北部之重要文化遺產。(參閱「炳靈寺石窟」3887) <四>南北二石窟:兩窟遙隔數百公里,但同為北魏末年涇川刺史奚俟(字康生)分別於永平二年(509)、三年所開鑿。北石窟位於甘肅慶陽西峰鎮西北四十公里,在涇水支流蒲、茹二河交匯處。其石崖高十四公尺,長一一○公尺,計有二八一個窟龕,建於北魏者有三十四個,建於隋代者有三十八個,唐代者有一三一個,為數最多;宋以後開窟者有二十餘個,年代不詳者有五十餘個。現存造像銘刻及遊人題記,自隋迄清計一四○餘方,各代書法均有其特點,為研究石窟史之可靠資料。南石窟,與北石窟為姐妹窟。位於甘肅涇川縣城南約六公里之山壁上,係魏初所建,連綿約三公尺,內均浮雕佛像或塑像,然佛像多為外人盜去,殘留者不及原有之十分之一。(參閱「北石窟寺」1582、「南石窟寺」3738) <五>龍門石窟:鑿於五世紀至八世紀。距河南洛陽約十四公里。古稱「伊闕」,以香山、龍門山東西對峙,遠望似「闕」,伊河又從西南流過,故得名。沿伊河兩壁大理石懸崖鑿有約十三萬多個佛洞,狀如蜂巢,石佛共計一四二二八九尊,規模鉅大,最大者高十七點一四公尺,最小者僅兩公分。其主要石窟,在西崖有二十八處,東崖有七處。其中造像以唐代作品佔百分之六十,北魏作品佔百分之三十。 該石窟係北魏太和十八年(494)始開鑿,歷經北齊、北周、隋、唐,締造經營在四百年以上。與雲岡石窟、鞏縣石窟,同為北魏一代以國家之力所開鑿者。其中以古陽洞、賓陽洞、蓮花洞、魏字洞、石窟寺等為北魏之代表性大石窟,先後費時二十四年,動用八十多萬人工,足見工程之艱鉅浩大。其後東魏、北齊至隋唐均繼續經營之,尤以唐高宗及武后經營最力。賓陽洞中有釋迦牟尼坐像,高達八點四公尺,古樸渾厚,其「背光」上刻有蓮花、忍冬、火焰、紋狀浮雕,氣象莊嚴;兩旁分列有菩薩、天王、力士、供養人等十一尊造像。其風格已由雲岡造像之粗獷一變而漸趨清癯秀美,面部神情由嚴峻而趨溫和,服飾為長裙、寬袖,此種雕刻技巧曾影響日本飛鳥時代之佛像雕刻。其次,古陽洞又稱老君洞,其規模之大,造像之精,推稱龍門之冠;四壁有浮雕式佛龕,洞壁上則刻有銘記、詩文,前人曾拓集全山石刻,而別為一千品、一百品、二十品,其中即以龍門二十品最為著名,又龍門二十品中之十九品均在此洞壁上,甚受書法家之重視,洞門右上方,存有一品精美之陽文深刻,在千百年前能有如此之石刻,實令人稱讚。又奉先寺石窟為龍門之唐代諸窟中最具代表性者,其盧舍那大佛即為龍門石窟中之最大者,雕造規模世所罕見,尤以刻畫大佛之莊嚴溫和及睿智之性格最為特出,堪稱唐代雕刻之代表作。(參閱「龍門石窟」6381) <六>天龍山石窟:鑿自六至八世紀。位於山西太原西方約四十公里。原名方山,北齊時建有天龍寺,故改稱天龍山,因屬水平之砂岩層,故適造窟龕,惟其規模遠不及雲岡、龍門之大,然與響堂山石窟同稱為北齊佛教文化之代表。本石窟鑿於北齊、隋唐間,以漫山閣及九連洞著稱。九連洞係由九洞相連而成,洞之內外有佛像及浮雕,均依山勢建成。漫山閣共三層,中藏石佛二尊,為魏代之作品,其兩旁石壁間,有佛龕無數,惜多被外人剷鑿竊去,殊為可惜。〔支那佛教史蹟評解卷三〕 <七>雲岡石窟:又作雲崗石窟。鑿自五至六世紀。位於山西大同西北約十七公里雲岡堡之武周山。自北魏文成帝和平元年(460)曇曜奉詔開鑿五大石窟始,至孝文帝太和十八年(494),凡經營三十四年之久,其後至隋末均有營建。窟鑿於山麓武周川北岸高約三十二公尺之斷崖上,計有二十餘處,大小佛龕數百個。 因有二山谷界於石窟之間,故依日本常盤大定、關野貞等之編號而分為第一至第四之東部四窟、第五至第十三之中部九窟,及第十四至第二十之西部七窟,共分三區。其中,第三窟之計劃頗為雄壯,有一東西約四十八公尺之前庭;內陣東西約四十二公尺,南北約十六公尺,高約十三公尺;外陣東西約四十八公尺,高僅五公尺左右。惜半途而止。第五窟之前面,建有五間四層之樓閣;東西徑約二十三公尺,南北徑約十九公尺。中央之本尊釋迦坐像,高約十八公尺,兩膝之徑約十七公尺,氣勢端嚴雄偉,為雲岡最大之石佛。第六窟之前面,亦築有五間四層樓,縱廣各約十五公尺,於後壁設有大佛龕;於中央分為二層,並刻有坐佛像、交腳佛像、倚佛像等,雄渾遒勁;此外,其餘壁面亦刻滿忍冬文、殿堂、菩薩、佛傳圖、飛天、化佛、五層塔及諸佛像等,而均不餘空處。雕飾之富麗與技巧之精練,堪稱大同第一。第十一窟刻有過去七佛立像七尊,姿容最為豐美。第十八窟造像之雄偉,堪為雲岡石窟之首。 通觀二十大窟之規模樣式,以第十六至第二十之「曇曜五窟」規模最大,氣象最雄偉,被推定為最早之五窟。各窟中均刻有高達十六公尺以上之大石佛,透出莊嚴偉大而咄咄逼人之氣度,亦顯示早期造像之純樸豪放之風格。其餘諸窟構想縱橫,雕飾富麗,發揮北魏盛時之藝術手法。又第十九窟之左脅侍佛及第二十窟佛像之紐樣衣文與敦煌千佛洞之二佛並坐像有相通之處。其他細膩部分雖與中印度式、薩珊波斯式等相通,然其厚唇、高鼻、長眼、豐頰等大丈夫之面貌,即明顯的受北涼拓跋氏之影響。蓋大同之岩層屬水平層之砂岩石,適合大規模鑿窟造像,加以拓跋氏之雄壯氣象與真摯信念,成就了我國古代佛教藝術之三大寶庫之一。(參閱「大同」776) <八>鞏縣石窟:鑿自六世紀。位於河南鞏縣西北約一公里。背邙山,臨洛水。石窟即開鑿於砂岩石之斷崖上(其上為黃土層)。北魏時,有寺稱為希玄寺,後以石窟甚多,故稱石窟寺。始鑿於北魏宣武帝景明年間(500~503),其後經東魏、西魏、北齊之相繼營造,至唐高宗時,更鑿許多大小佛龕,號稱淨土寺。至宋、明、清年間皆曾屢廢屢興。今佛殿後方斷崖上計有五個石窟、三尊摩崖大像、一千個佛龕與二三八個小龕。其中以第五窟為最大。五窟中除大小佛龕外,尚鑿有佛、菩薩、羅漢像、唐銘、千體佛,與供養人物行列圖、帝后禮佛圖、天人奏樂圖等浮雕,其雕刻精美,內容豐富,保存完整,為全國各石窟中所罕有。 各窟內均築有巨形方柱,係繼大同雲岡、龍門賓陽洞後一脈相承之北魏手法。其崖壁上刻有「後魏孝文帝故希玄寺碑」,故知寺院為北魏孝文帝所創建,又由帝后禮佛圖之浮雕,可證實石窟與北魏帝室之關係。又位於第四、五兩窟中間之三尊摩崖大像,其巨大之佛龕大半已毀。本尊為釋迦立像,自膝以下埋於土中,左脅侍菩薩已失,右脅侍菩薩則頭部已毀,惟均具北魏雕塑之特色。 <九>河北南響堂山、河南北響堂山石窟:鑿自六世紀。河南武安縣有北響堂山石窟群,其東南約十五公里之河北磁縣西方之彭城鎮,有南響堂山石窟群。此石窟群又稱北響堂寺、南響堂寺。均創鑿於北齊時代,可能建於北齊文宣帝之世。響堂山又稱鼓山、石鼓山、滏山。 北響堂寺,初係隋文帝仁壽二年(602),明芬奉敕而建之慈州石窟寺,其大窟像背後傳有北齊文宣帝之陵。北宋嘉祐年間,寺改稱常樂寺。至金正隆四年(1159),有住僧福源刻立「磁州武安縣鼓山常樂寺重修大士佛殿記」碑。其後屢經補修。至民國元年(1912),佛像之首多為袁世凱截賣。今廢頹之常樂寺僅餘大雄殿、天王殿、方丈室。前庭左右分別有北宋建隆三年(962)、乾德三年(965)之尊勝陀羅尼幢,門外有宋代建造、明朝重修之八角九層大磚塔,恐係隋代舍利塔之後身。寺之背面有石窟群,在鼓山中腹西面有南、中、北三大窟與四小窟、四小龕。南邊大窟(刻經洞),洞廣四公尺,深三點三公尺,三面分別有一龕,每龕各安置七尊佛像,其中尊之坐像作施無畏印、與願印二印,旁之脅侍為聲聞、緣覺、菩薩。內壁面刻有鳩摩羅什譯維摩詰所說經全卷、無量義經等。洞外有摩崖,刻有勝鬘經、孛經、彌勒成佛經、特進驃騎大將軍唐邕之刻經記等刻文,據此等刻文可知,乃成於北齊天統四年(568)至武平三年(572),比房山石經早約四十年,其隸書大字,筆鋒犀利,剛勁挺拔。中央大窟(釋迦洞),洞廣七點八公尺,深七公尺。外檐雕兩層樓檐,外觀略似樓閣。窟中有六方柱、八角柱、火焰拱龕,及蓮瓣流雲文等紋飾,周圍壁上有許多明代所造佛像、佛龕、造像記及浮雕花卉、珍禽異獸等,整潔雅麗,形制古樸。北邊大窟(大佛洞)寬十三點三公尺,深十二點五公尺,其中心大方柱正面及左右三面各置一佛二菩薩像;於寶壇中供奉配有香爐、獅子、甲冑之神像。其正面壇上之坐佛,高近四公尺,端莊渾厚,神氣秀逸,大佛面平素無飾,經千餘年風日侵蝕,依然光潔如新。以上三大窟均開鑿於北齊,後又經補鑿而成。其次,四小窟即隋大業洞、唐倚像洞、明嘉靖洞、隋二佛洞,二佛洞上方之摩崖,有十二部經名與大聖十號之刻文。四小龕即唐銘洞、明五佛洞、宋洞、明三尊洞,均刻有銘文。 南響堂寺,除石刻文外,其沿革幾不見於文獻。寺今為道士所住。有六角七層之磚塔。寺後西南面有石窟群,分上下二層,下層有華嚴洞與般若洞二大窟;其上層有空洞、拱門洞、釋迦洞、力士洞、千佛洞等五小窟。其中之華嚴洞,位於下層之東北部,縱廣各六點三五公尺,高四點七公尺,面積最大。洞內有方三點六公尺之方柱,及樹下說法像、佛菩薩供養者像、犍陟悉多太子像等浮雕、佛龕、華嚴經刻等,佛像千姿百態,造型優美;入口上部之浮雕圖,被認為係阿彌陀淨土圖之先驅。般若洞,位於下層西南部,廣六點二公尺,深六點五五公尺,高四點六公尺。洞中有方三點三公尺之方柱,構造同於華嚴洞,又有佛龕、釋迦說法圖和阿彌陀淨土圖之浮雕,及般若經、文殊般若經之一部等經刻,並存有自證聖元年(695)至先天元年(712)之十一種造像銘。總之,二大窟均鑿於北齊時代,與上述北響堂山之三大窟同與北齊王室關係密切,窟中並以唐代小佛龕居多。五小窟由東北而西南,分別為:(一)空洞,方約三公尺,分前、後二室,與次洞之間,有明嘉靖四十四年(1565)之創建響堂石欄杆證之碑。(二)拱門洞,廣二點二公尺,深二點三五公尺,高二公尺。(三)釋迦洞,廣二點一公尺,深二點三公尺,高二點五公尺。(四)力士洞,略大於釋迦洞,而構造略同。其上部刻有四角多檐之三層塔,作磚塔之形,被認為係最古之一種。洞中並存有唐代造像記銘十三種。(五)千佛洞,廣三點六公尺,深三點四公尺,洞壁佛像鱗次櫛比,有佛像一○二八尊;洞頂浮雕飛天,或手彈琵琶,或吹奏笙管,飄帶搖曳,精緻典雅。除上述二大窟、五小窟之外,寺之西方岩面上,有業已破損之唐代倚佛像龕及二空洞,二洞中存有被認為係作於隋代之十二個小佛龕,二洞之旁,另有一稍大之佛洞,刻有太平興國七年(982)之造像記。 又南響堂山石窟較北響堂山規模為小,惟富於變化,其壁刻文字則屬最優者。南北響堂山自民國十年經日人常盤大定勘查以來,已為世人所矚目,惜諸佛像之頭部多被鑿去,保存情況甚差。〔支那文化史蹟解說五、支那佛教史蹟踏查記(常盤大定)〕 <十>雲南石鐘山石窟:位於雲南劍川縣西南金沙江上流沙溪附近之石鐘山。又作劍川石窟。係住於雲南邊境之白族南詔國人歷經唐、宋而開鑿之佛教石窟。可分為石鐘寺區(八窟)、獅子關區(三處)、沙登村區(四處)等三區。於石鐘寺區石窟中,視為供養主像之第一、二窟之王者像窟或諸佛窟、釋迦窟、菩薩窟,其雕鑿手法雖未必傑出,然為宋、元石刻藝術之貴重遺品;第八窟中有南詔盛德四年(1179)之長方形匾額,或即開鑿本石窟之願文。獅子關區之石窟中,記載有關大聖聖躅之題刻,大聖聖躅可能係當地民俗信仰之一種。沙登村區之第二佛窟中,有南詔天啟十一年之題刻;天啟十一年,約當唐武宗會昌元年(841),乃屬劍川石刻中最初期之作品。又由劍川石窟可了解南詔之佛教實況。南詔佛教係傳自唐代,為一以觀音信仰為中心,而受漢民族文化影響之大乘佛教;此外,尚接受西藏佛教及印度、泰國等文化之影響,而呈現一種特異之風格。〔康熙劍川州志卷二、卷十七〕 <十一>四川廣元千佛崖:位於四川廣元縣城北四公里之嘉陵江西岸。抗日戰爭時,政府為改修川陝公路,將蜀棧道要衝地區之造像毀壞大半以上。相傳咸豐四年(1854)之石刻造像有一萬七千尊,今僅存窟龕四百餘個、造像七千尊左右。石窟大者高疊十三層,高四十公尺。開元七年(719)之題刻為最初期之作品。本石窟歷經唐、五代、宋、元、明代逐次經營而成,其規模之宏大堪與洛陽龍門石窟相匹敵。〔四川佛教摩崖造像的藝術價值及其現況(溫廷寬,現代佛教學術叢刊(20))〕(參閱「廣元千佛崖摩崖造像」5988) <十二>杭州西湖石窟:散布於西湖周圍之將臺山、石屋洞、煙霞洞、飛來峰、玉皇山、慈雲嶺、寶石山等處。其大小尊像約千數,在規模數量上雖不及敦煌莫高窟、麥積山、大同雲岡、洛陽龍門,但就五代、宋、元之造像藝術而言,亦佔有重要之地位,且對我國南部雕刻繪塑影響甚大。 將臺山摩崖龕像創於五代後晉天福七年(942),為此區最早開鑿者,且保存較完整。石屋洞主要有三龕,據兩浙金石志等記載,知由不同供養人陸續雕鑿而成,約為五代至宋初之作品。此中五百羅漢及水月觀音像,在題材上,均為浮雕之先例。煙霞洞造像數量甚多,題材亦繁多,時代綿延最長。其中羅漢像頗具特色,有沈思、入定,有仰瞻、俯矚,表情各自不同,此為宋、明流行十六羅漢型式之始例。飛來峰為規模最大之處,滿山遍布石刻佛像,較完整者約有二百八十多尊,頗為珍貴。 其他如山東濟南千佛崖、青州雲門山、駝山等石窟,及遼寧義縣萬佛洞石窟、廣西桂林斷崖、山西平順縣林慮山麓寶巖寺石窟(其第五窟之六十九幅水陸浮雕,可顯示明代佛教之實況)、四川大足石窟(重要者有北山、寶頂、南山、石門村、石篆山、妙高寺、舒成岩、七拱橋、佛安橋、朝陽洞、玉灘等十餘處)等均頗負盛名,亦頗具研究價值。又沿天山山脈南麓之佛教遺蹟,大多為石窟寺院,如新疆庫車(Kucha)之庫木吐喇千佛洞、辛辛千佛洞、庫茲卡哈千佛洞、卡拉撒魯、米魏千佛洞、沙魯其谷、及龜茲(Kizil)千佛洞等,開鑿年代自四、五世紀至八、九世紀不等。其中以龜茲千佛洞最具代表性,為西域一帶最大之石窟寺,座落於木札特河之北岸,東西綿延二公里,凡有三群石窟(克孜爾、臺臺爾、溫巴什)、二百多座石洞;其中藏有伊朗色彩濃厚之佛傳及本生壁畫。又如古高昌國(Turfan,即吐魯番)附近有貝沙克魯克千佛洞,開鑿於九、十世紀之回紇統治時代;位於木頭溝河(流經火焰山麓)西岸斷崖上,連同上游之石窟共五十七窟。所謂「貝沙克魯克」意指「具有美麗裝飾之屋」,內藏有具唐代風格之壁畫及塑像。 總之,石窟寺院與一般平地之木造、石造或磚造廟宇不同,係利用岩盤或岩山開鑿而成,十分堅固並富有防護性,故大多保存迄今,其間留有印度佛教傳入我國之歷史痕迹,實彌足珍貴。又為使石窟兼具寺院之功能,故內部多設有佛龕、佛壇、華蓋、塑像,飾以浮雕、壁畫等,並收藏各種經典、佛畫、佛具及寺院文書等,儼然佛教之寶庫,形成石窟藝術,同時造就了佛教藝術史,實為震撼全世界之文化寶藏。〔支那佛教史蹟評解〕(參閱「千佛洞」737、「佛教藝術」2712)
; (石窟) Cũng gọi Thạch quật tự viện, Thạch thất, Quật tự, Quật viện, Quật điện. Hang đá, Động đá. Tức đục mở các sườn núi, vách đá thành hang động, đồng thời tạc tượng Phật để thờ làm các chùa viện. Nguồn gốc các thạch quật này rất sớm, ngay từ thế kỉ I, II trước Tây lịchở Ấn độ đã có rồi. Trong các tậpdu kí của các ngài Pháp hiển, Tống vân, Huyền trang... khi đến Ấn độ cũng có ghi chép về việc đục mở các thạch quật tự viện, trong đó có những thạch quật tự viện vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Ở Trung quốc, việc đục mở các thạch quật, dựa vào những gì đã được tìm thấy hiện nay mà suy đoán, thì vào khoảng năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần, sa môn Lạc tôn đã bắt đầu đục mở thạch quật ở núi Minh sa tại huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc; từ khởi điểm đó, đã bao nhiêuthế hệ sau nối tiếp, cho mãi đến thế kỉ XV, trải hơn một nghìn năm mà việc đục mở thạch quật vẫn không suy giảm, rải rác khắp miền Tây, miền Bắc Trung quốc, từ Cao xương, Khố xa ở Tân cương, Đôn hoàng, Thiên thủy ở Cam túc, Vân cương ở Đại đồng, Long môn ở Lạc dương, núi Thiên long ở Thái nguyên, núi Hưởng đường ở Hà nam, Thiên Phật nhai ở Tế nam, núi Thê hà ở Nam kinh, động Phi lai ở Hàng châu, cho đến động Vạn Phật ở Liêuninh... qui mô đều rất hoành tráng. Trong đó, thạch quật Đôn hoàng nhờ bích họa mà nổi tiếng khắp thế giới, còn Vân cương, Long môn thì nhờ thạch khắc mà trứ danh ở đời. Ngoài ra, ở vùng Giang tô, Chiết giang... cũng có các thạch quật với qui mô tương đối nhỏ hơn. Ở Tây vực và vùng Bamian ở Afghanistan cũng có nhiều thạch quật được đục mở vào thế kỉ V đến thế kỉ VIII Tây lịch, trong đó có những pho tượng Phật cao 53m và 35m là chủ yếu; phần lớn các thạch quật đều có bích họa, nhưng hiện nay còn sót lại rất ít. Tại Tích lan thì trên núi Sư tử (Sìgiriya) có thạch quật được đục mở vào thế kỉ V, trong đó có bích họa. Triều tiên thì có Thạch quật am ở Khánh châu được kiến trúc vào thời đại Tân la, do xếp những tảng đá mà thành, bên trên phủ đất, chứ không phải do đục mở sườn núi, nên tính chất khác với các thạch quật nói trên. Còn Nhật bản thì không tạo lập thạch quật tự viện. Sau đây chỉ giới thiệu sơ lược những thạch quật ở Ấn độ và Trung quốc hiện còn.Ở Ấn độ, có nơi dùng thạch quật làm Lễ bái đường (Phạm:Caitya, Chi đề) hoặc được xem là Tăng viện (Phạm: Vihàra, tinh xá), nhưng phần nhiều thì được sử dụng làm Lễ bái đường, đồng thời ở phía trước thạch quật kiến tạo một phòng ốc thông thường dùng làm tăng phòng. Tương truyền, đức Thích tôn từng thuyết pháp trong động Đế thích (thạch thất tinh xá) ở phía đông thành Vương xá. Theo Đại đường tây vực kí quyển 10, già lam Hắc phong do vua Dẫn chính nước Kiêu tát la xây dựng cúng dường bồ tát Long mãnh chính là tự viện dưới hình thức thạch quật. Những thạch quật hiện còn ở Ấn độ phần nhiều nằm rải rác ở miền Tây Ấn độ, trong đó, thạch quật Bà ha da (Bhàjà) nằm về phía đông cách thành phố Bombay hiện nay khoảng 80 km và thạch quật Bối đắc tát (Bedsà) cách thạch quật Bhàjà về phía nam khoảng 8km, đều được đục mở vào khoảng năm 175 trước Tây lịch, là những thạch quật xưa nhất trong những thạch quật hiện còn cho đến ngày nay. Hai thạch quật Na tây khắc (Nàsik) nằm cách thành phố Bombay hiện nay khoảng 193km và thạch quật Ca lợi (Kàrle) nằm cáchBhàjà về phía đông khoảng 6km, đều được đục mở vào khoảng kỉ nguyên Tây lịch. Các điêu khắc được bảo tồn trong 4 thạch quật nói trên đều rất đơn giản, nhưng không có tượng Phật. Còn các thạch quật được đục mở từ Vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta) về sau thì có: A chiên đa (Phạm:Ajantà), Y la lạp (Ellora, nằm cách thành phố Bombay về mạn đông bắc khoảng hơn 400km), Ba cách hách (Phạm: Bàgh), Cam hách thụy (Phạm: Kànheri, trên đảo Salsette, cách Bombay về phía đông bắc khoảng 32km...), trong các thạch quật này có rất nhiều tượng A di đà, Quan âm, Đa la..., A chiên đa và Ba cách hách còn có bích họa. Trong đó, A chiên đa có qui mô rất lớn, gồm có 29 hang động lớn nhỏ, được đục mở trong khoảng mấy trăm năm, từ thế kỉ II trước Tây lịch đến thế kỉ VII sau Tây lịch, nhờ các bức bích họa mà nổi tiếng ở đời, là tinh hoa của nền mĩ thuật Ấn độ. Quần thể Y la lạp thì hiện còn 32 hang động lớn nhỏ, từ hang thứ 1 đến hang 12 thuộc các vật của Phật giáo, được đục mở từ thế kỉ VI đến thế kỉ VIII Tây lịch (có thuyết nói thế kỉ IV đến thế kỉ VII). Ngoài ra còn có các hang động lớn nhỏ như Udayagiri, Khandagiri... đều có thờ hình tháp hoặc tượng Phật và trang nghiêm bằng các bức bích họa. Tại Trung quốc thời gần đây, một chuỗi các hang độngđãđược phát hiện, nhất là động Thiên Phật ở Đôn hoàng được người đời chú ý và rất được các học giả Đông, Tây coi trọng, liên tục đến nghiên cứu, đến nay đã có Đôn Hoàng Học được thành lập. Do đó, nghệ thuật thạch quật cũng đã trở thành một khâu không thể thiếu trong lịch sử nghệ thuật của Trung quốc, trong đó cất chứa các sử liệu vănhiến quí giá về Phật giáo, văn học và lịch sử, chiếm1 địa vị rất quan trọng trong lịch sử văn hóa và học thuật Trung quốc, không những nó có thể bổ khuyết cho các phần trống thiếu về văn hóa, lịch sử trong khoảng 600 năm từ thời Bắc Ngụy đến thời Bắc Tống, mà còn giúp sửa chữa những chỗ sai lầm trong nhiều kinh điển. I. Động Thiên Phật ở Đôn hoàng: Năm Quang tự thứ 5 (1879), sở Điều tra địa chất của Hung gia lợi (Hungary) do ông I. de Lóczy dẫn đầu đến thăm dò Đôn hoàng, đã phát hiện những bích họa ở động Thiên Phật, đoàn người đã hết sức kinh ngạc và cho là mình đã tìm ra của báu. Sau khi trở về Âu châu, đoàn Điều tra công bố tin này cho thế giới, đó là lần đầu tiên các học giả thế giới biết có bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng. Năm Quang tự 26 (có thuyết nói năm 25– 1900, 1899), đạo sĩ Vương viên lục tìm thấy thạch thất cất chứa kinh sách được đóng kín, lúc đầu, đạo sĩ họ Vương không dám mở. Năm Quang tự 33 (1907), ông Sử thản nhân (A. Stein), người Hung gia lợi gốc Anh nghe tin tìm đến, trả tiền cho đạo sĩ Vương viên lục rồi lén mở thạch thất, chọn lấy những cuốn kinh quan trọng chép tay khoảng 3.000 quyển và 3.000 quyển thuộc các loại sách khác lấy mang đi. Năm sau, ông Bá hi hòa (P. Pelliot) người Pháp, lại đến lấy đi hơn3.000 bản sách viết tay nữa, rồi lục soát các hang động, những bức Đức Phật và vị tăng một mắt trong hang động thứ 17 họa trên vách ở Ajantà Không có cách nào lấy đem đi thì chụp ảnh đánh số. Khi triều đình nhà Thanh biết, đến thu nhặt những sách còn sót lại thì chỉ còn khoảng 8 hoặc 9 nghìn quyển đưa về cất giữ ở thư viện Bắc kinh. Trong thời gian ấy, còn có người Hoa kì, người Nhật bản đến, hoặc niêm yết các bích họa, hoặc tìm mua lại những tác phẩm lưu lạc trong dân gian. Đến nay những kinh điển và bích họa được cất giấu trong thạch thất tại Đôn hoàng phần lớn đã có mặt ở các thư viện, bảo tàng viện của các nước Pháp, Anh, Mĩ, Đức, Nhật... Thiên Phật động, cũng gọi là Mạc cao quật (Dmag-mgo), Thiên Phật nham, Lôi âm tự, tọa lạc ở chân núi Minh sa, thuộc huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, bắt đầu được đục mở từ thế kỉ IV đến thế kỉ XIV thì ngưng. Quần thể hang động này được chia làm 2 hàng cho đến 4 hàng trên dưới men theo sườn núi, tính ra có tới hơn 400 hang động lớn nhỏ, chạy dài 1,6 km, được chia làm 3 bộ phận lớn: Chính giữa, Nam, Bắc. Trong đó, số hang động ở bộ phận chính giữa tương đối ít và qui mô nhỏ hơn, không có dấu vết trang sức, nay đã hoang phế. Những hang động thuộc bộ phận phía Bắc thì có chứng tích cho thấy đã được sử dụng làm phòng tăng. Còn bộ phận phía Nam thì chạy dài suốt 930m, ở hai đầu, mỗi đầu có một động lớn, trước động xây điện, trong đó tôn trí tượng Phật ngồi cao trên 24m. Thiên Phật động vốn do sa môn Lạc tôn khai sáng vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần, ngài Pháp lãng và Đông dương vương tiếp nối, Lí quảng trùng tu. Về sau, trong khoảng mấy trăm năm, từ các đời Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ đại, cho đến đời Tống... lần lượt sửa sang mở rộng thêm. Đến đời Tống Nhân tông thì người Tây hạ xâm nhập, binh lửa liên miên; đời Minh lại bị nạn Hồi giáo đánh phá, hủy hoại tượng Phật, khám thờ Phật bị sỏi cát lấp vùi; đến giữa đời Thanh, đạo sĩ trụ trì, cho mãi đến khi nhóm người Âu châu như A.Stein, P.Pelliot đến cướp đi những bảo vật như đã nói ở trên thì người đời mới biết đến Thiên Phật động. Phần chủ yếu trong thạch quật là bích họa, tượng đắp và thạch thất cất giữ kinh sách đủ loại và được viết bằng các thứ tiếng: Hán, Khư lô, Hồi cốt, Khang cư, Cổ hòa điền, Cưu tư, Tây tạng... Kinh thì gồm phần lớn là kinh Phật, nhưng cũng có kinh của Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo và các bản bia kinh. Bích họa thì được chia làm các thể loại: 1. Kinh biến đồ: Chỉ cho những sự tích kinh Phật. 2. Bản sinh cố sự: Nói về các sự tích tiền thân của Phật. 3. Tôn tượng: Chỉ cho những tượng Phật, Bồ tát và thị giả... 4. Cúng dường nhân: Chỉ cho thí chủ, tức những người cúng dường đi từng hàng và cảnh xe, ngựa... 5. Trang sức đồ án: Bao gồm hoa trời, giếng trời, sông núi, hoa văn... 6. Phi thiên: Chỉ cho các người trời đang bay trong hư không. 7. Kĩ nhạc vũ dũng: Tức các nghệ nhân biểu diễn âm nhạc và các điệu múa... II. Những Hang Động Ở Núi Mạch Tích: Được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ XI Tây lịch. Đây là kho báu của nghệ thuật Phật giáo được kiến tạo sau khi Trung quốc đã hấp thụ tinh hoa văn hóa Ấn độ. Quần thể hang động này nằm cách huyện Thiên thủy, tỉnh Cam túc 45 km về phía đông, ở đầu cực tây của dãy núi Tần lãnh, người địa phương gọi là Mạch tích nhai kì phong (núi Mạch tích kì lạ). Đỉnh núi nhọn như hình cái dùi, thân núi thẳng tắp, trông giống như một đống lúa trong làng xóm, vì thế gọi là Mạch tích sơn(núi chứa lúa mạch). Núi cao 142 mét, trên đỉnh có tháp, dưới chân núi có chùa, 4 chung quanh thân núi thì toàn là thạch khắc như khám thờ và hang động, tất cả có 194 chỗ, gồm trên 1000 pho tượng Đại Phật, được bảo tồn từ các đời Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ đại cho đến đời Tống trở lại đây. Nhưng vì bị các trận động đất hủy hoại và mưa gió xâm lấn nên phần ở chính giữa đã đứt nát, chỉ còn lại 2 sườn Đông và Tây. Sườn phía đông, tiêu biểu là động Niết bàn (đục mở vào cuối đời Bắc Ngụy), hiên Nghìn Phật (đầu đời Bắc Ngụy), Thượng thất Phật các(gác 7 Phật trên), Trung thất Phật các(gác 7 Phật ở giữa)và Ngưu nhi đường. Các hang động này vẫn còn giữ gìn được nguyên trạng. Trong đó, Thượng thất Phật các là 1 hang động đục cheo leo trên sườn núi, cách đất hơn 50m, mặt chính rộng 30m, cao 16m, sâu 7m, là hang động có qui mô lớn nhất trong các thạch quật thuộc sườn phía đông. Các bích họa trong động này mang đầy đủ phong cách các đời Tùy, Đường. Sườn phía tây có 3 hang động lớn, trong đó, động Vạn Phật có qui mô lớn nhất (được đục mở vào cuối đời Bắc Ngụy), động Thiên đường thì cao nhất (cũng đục vào cuối đời Bắc Ngụy), động này rất hiểm trở, không ai dám lên. Trong thạch quật này có văn kì nguyện của ông Trương nguyên bá, được khắc vào năm Cảnh minh thứ 3 (502) đời Bắc Ngụy, là dấu tích mực xưa nhất hiện còn. [X. truyện Huyền cao trong Lương cao tăng truyện Q.11; Thái bình quảng kí Q.397 (Ngọc đường nhàn thoại)]. (xt. Mạch Tích Sơn).III. Những Hang Động Chùa Bính Linh: Cũng gọi chùa Du lâm. Quần thể hang động nằm trong núi Tiểu tích thạch bên Bắc ngạn sông Đổng ở huyện Vĩnh tĩnh, tỉnh Cam túc, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ IX. Có 2 chùa Thượng và Hạ. Chùa Thượng được xây cất vào đời Đường, vốn có tên là chùa Long hưng, đời Bắc Tống gọi là chùa Linh nham. Chùa Bính linh là dịch âm theo tiếng Tây tạng, có nghĩa là Mười vạn Phật, đồng nghĩa với ĐộngNghìn Phật, Núi Vạn Phật. Vào đời Nguyên, chùa Bính linh là tự viện Lạt ma của Mật giáo Tây tạng. Từ chùa Thượng đi bộ dọc theo hang núi khoảng 2km mới đến chùa Hạ; chùa Hạ được sáng lập vào năm Diên xương thứ 2 (513) đời Bắc Ngụy, là Thánh địa của Thiền lâm từ khoảng Bắc Ngụy đến Tùy, Đường. Nay chỉ còn lại điện Phật không nguyên vẹn và những thạch khắc trên sườn núi. Những hang động vốn được nối liên nhau bằng đường đi qua những tấm ván gỗ bắc ngang như cầu treo, nhưng nay đã mục nát. Sử liệu sớm nhất nói về quần thể thạch quật này là Thủy kinh chú quyển 2 của Lịch đạo nguyên (469?-527) đời Bắc Ngụy; ngoài ra, như Pháp uyển châu lâm quyển 53 cũng có ghi chép. Nếu thuyết chủ trương những hang động này được đục mở vào thời đại Tư mã viêm đời Tây Tấn là đúng thì đây là di tích thạch quật có niên kỉ xưa nhất trong những di tích hang động ở các nơi hiện còn. Thông thường cho rằng công cuộc đục các hang động này được bắt đầu từ đời Bắc Ngụy, đến đời Đường thì cực thịnh, qua các đời Tống, Nguyên, Minh đến giữa đời Thanh thì bắt đầu suy vidần và cuối cùng bị quên lãng. Tính ra, quần thể thạch quật chùa Bính linh có 36 hang động, 88 tòa khám thờ Phật, phong cách đại khái cũng giống như các hang động ở Đôn hoàng, Vân cương, Long môn, nhưng các khám thờ Phật đục trên vách đá thì nhiều hơn và đặc sắc là phần lớn theo kiểu hình tháp của Ấn độ. Người đứng ra đục mở là chủ công đức cầu phúc, vì đất Vĩnh tĩnh từ xưa là vùng quân sự quan trọng, cũng như đất Hà tây vào đời Tống, là cứ điểm đề phòng sự xâm nhập của người Tây hạ, Thổ phồn, cho nên các chủ công đức hộ trì thạch quật phần nhiều là các tướng lãnh quân đội. Trong các thạch quật này, tượng đắp bằng đất là chính, cũng có nhiều bích họa đời Tống, Minh, nhất là bích họa đời Minh, có thể bổ sung cho những bích họa ở Đôn hoàng đã bị mất mát; màu sắc đậm đà, nét bút mạnh mẽ, khác xa với phong cách bích họa Đôn hoàng. Ngoài ra, thạch quật này thuộc loại nham hồng sa, không thích hợp cho việc điêu khắc, vả lại, đã trải qua nhiều sương nắng, gió mưa thiên nhiên và binh lửa do con người gây ra, nên nhiều tượng Phật đã bị tổn hại. So với các thạch quật ở các nơi khác thì thạch quật ở đây được phát hiện muộn hơn. Do đó, cũng được bảo trì hoàn chỉnh hơn. Bính linh tự thạch quật cùng với Mạch tích sơn thạch quật và Đôn hoàng thiên Phật động đều là những di sản văn hóa quan trọng của vùng Tây bắc Trung quốc. (xt. Bính Linh Tự Thạch Quật). IV. Hai Thạch Quật Nam và Bắc: Hai hang động tuy cách xa nhau vài trăm km nhưng đều do quan Thứ sử Kinh xuyên là Hề sĩ (tự là Khang sinh) lần lượt đục mở vào các năm Vĩnh bình thứ 2 (509) và thứ 3 (510) vào những năm cuối đời Bắc Ngụy. Thạch quật Bắc nằm về phía tây bắc cách trấn Tây phong, huyện Khánh dương, tỉnh Cam túc 40km, ở chỗ 2 con sông Bồ và Như, chi nhánh của sông Kinh, gặp nhau. Sườn đá cao 14m, dài 110m, tính tất cả có 281 hang khám, trong đó có 34 khám được kiến tạo vào đời Bắc Ngụy, 38 cái kiến tạo vào đời Tùy và 131 cái kiến tạo vào đời Đường; từ đời Tống về sau có hơn 20 hang động được đục mở và hơn 50 hang không rõ niên đại. Hiện còn các bài minh nói về việc tạo tượng và những đề kí của khách tham quan, từ đời Tùy đến đời Thanh, có tất cả hơn 140 văn kiện, thư pháp của các thời đại đều có đặc điểm riêng; đây là các tư liệu có thể giúp cho việc nghiên cứu lịch sử thạch quật. Thạch quật Nam nằm ở trên vách núi, cách huyện lị Kinh xuyên, tỉnh Cam túc khoảng 6 km về phía nam, được đục mở vào đầu đời Bắc Ngụy, ở trong thạch quật đều có khắc tượng Phật nổi hoặc tượng đắp, nhưng tượng Phật phần nhiều đã bị người ngoài lấy trộm, còn lại không bằng 1 phần 10 tượng vốn có trước đó. (xt. Bắc Thạch Quật Tự, Nam Thạch Quật Tự). V. Những Hang Động ở Long Môn: Quần thể thạch quật này nằm cách thành Lạc dương, tỉnh Hà nam khoảng 14km, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ VIII, xưa gọi là Y khuyết, vì núi Hương sơn ở phía đông và núi Long môn ở phía tây đứng đối nhau, trông xa giống cái lầu canh, sông Y lại chảy qua theo hướng tây nam, vì thế nên có tên là Y khuyết. Trên vách đá của 2 sườn núi dọc theo sông Y có đục mở hơn 13 vạn Phật động, có hình dáng trông giống như cái tổ ong, tượng Phật bằng đá tổng cộng có 142289 pho, qui mô rất lớn, pho tượng lớn nhất cao 17,14m, pho nhỏ nhất thì chỉ có 2cm. Những hang động chủ yếu thì ở sườn núi phía tây có 28 chỗ, sườn núi phía đông có 7 chỗ. Trong đó, tượng được tạo lập vào đời Đường chiếm 60% và đời Bắc Ngụy chiếm 30%. Thạch quật Long môn bắt đầu được đục mở vào năm Thái hòa 18 (494) đời Bắc Ngụy, trải qua các đời Bắc Tề, Bắc Chu, Tùy, Đường nối tiếp nhau đục mở trên 400 năm. Những hang động này cùng với các hang động Vân cương và hang động ở huyện Củng đều do 1 đời Bắc Ngụy dùng sức nhà nước để tạo lập. Trong đó, động Cổ dương, động Tân dương, động Liên hoa, động Ngụy tự, chùa Thạch quật... là những hang động lớn có tính cách tiêu biểu cho đời Bắc Ngụy, trước sau hết 24 năm, sử dụng hơn 80 vạn công nhân, đủ thấy công trình lớn lao khó tưởng tượng. Về sau, các đời Đông Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường đều nối tiếp nhau đục mở, đặc biệt vua Cao tông và Vũ hậu nhà Đường dụng công nhiều nhất. Trong động Tân dương có tượng Phật Thích ca mâu ni ngồi cao 8,4m, chất phác hồn hậu, trên vòng hào quang sau lưng có khắc hoa sen, ánh lửa, hoa văn khắc nổi, khí tượng trang nghiêm; hai bên khắc tạo 11 pho tượng Bồ tát, Thiên vương, lực sĩ, người cúng dường... Về phong cách thì từ vẻ mộc mạc, mạnh mẽ của nét tạo tượng Vân cương đã dầndầnthay đổi và nhường chỗ cho vẻ thanh tú mĩ lệ, bộ diện thì từ tinh thần nghiêm khắc đến ôn hòa; về phục sức thì quần dài, ống tay áo rộng, kĩ xảo điêu khắc này về sau đã ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc tượng Phật ở thời đại Phi điểu của Nhật bản. Kế đến là động Cổ dương (cũng gọi động Lão quân), với qui mô to lớn, tạo tượng tinh xảo, cho nên được gọi là bậc nhất Long môn; trên 4 vách có khám Phật kiểu khắc nổi; trên vách động cũng có các bài minh kí, thi văn... Còn các thạch quật chùa Phụng tiên thì có tính cách tiêu biểu nhất trong các hang động đời Đường ở Long môn, tượng Đại Phật Lô xá na trong chùa này chính là tượng Phật lớn nhất trong quần thể hang động Long môn, qui mô khắc tạo hiếm thấy ở đời, nhất là nét khắc vẻ trang nghiêm, hiền từ và tính duệ trí của tượng Phật thì nổi bật, xứng đáng đại biểu cho nền điêu khắc đời Đường. (xt. Long Môn Thạch Quật). VI. Những Hang Động Ở Núi Thiên Long: Quần thể thạch quật nằm cách huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây khoảng 40 km về phía tây, được đục mở từ thế kỉ VI đến thế kỉ VIII. Núi Thiên long vốn có tên là núi Phương sơn, nhưng khi nhà Bắc Tề xây chùa Thiên long trên núi này nên mới đổi tên là Thiên long sơn. Núi này thuộc tầng sa nham Thủy bình, nên thích hợp cho việc đục mở hang động, tuy qui mô không lớn bằng Vân cương, Long môn, nhưng cùng với thạch quật ở núi Hưởng đường đều là tiêu biểu cho nền văn hóa Phật giáo Bắc Tề. Những thạch quật này được đục mở trên đất Bắc Tề, vào khoảng Tùy, Đường có gác Mạn sơn và động Cửu liên là nổi tiếng. Động Cửu liên do 9 hang động nối liền nhau mà thành, phía trong, phía ngoài động có tượng Phật và phù điêu, tất cả đều dựa vào thế núi mà được kiến tạo thành. Gác Mạn sơn có 3 tầng trong đó có cất giữ 2 pho tượng Phật bằng đá, là những tác phẩm đời Bắc Ngụy; giữa khoảng vách đá 2 bên, có khắc vô số khám thờ Phật, nhưng tiếc thay, phần nhiều đã bị người ngoài lén vào đục lấy đem đi, rất đáng tiếc! [X. China Phật giáo sử tích bình giải Q.3].VII. Những Hang Động Ở Vân Cương: Quần thể thạch quật nằm ở núi Vũ chu, bờ lũy Vân cương, cách huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây khoảng 17km về mạn bắc, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ VI. Bắt đầu vào niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), sa môn Đàm diệu vâng sắc của vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy đục mở 5 hang động lớn, suốt 34 năm, tức đến năm Thái hòa 18 (494) đời vua Hiếu văn đế mới hoàn thành, về sau, mãi đến cuối đời Tùy, các hang động vẫn tiếp tục được đục mở, tất cả được hơn 20 chỗ và hàng trăm khám Phật lớn nhỏ. Vì khoảng giữa các thạch quật có 2 hang núi ngăn đôi, nên các học giả Nhật bản như Thường bàn Đại định và Quan dã trinh mới đánh số động và chia làm 3 khu: Khu Đông gồm 4 hang động từ 1 đến 4; khu Giữa gồm 9 hang động từ số 5 đến số 13 và khuTây gồm 7 hang động, từ số 14 đến số 20. Trong đó, kế hoạch ở động thứ 3 rất là hoành tráng, 1 sân phía trước khoảng 48m, cao khoảng 13m; mặt tiền của động thứ 5 có lầu gác 5 gian 4 tầng, chiều đông tây khoảng 23m, chiều nam bắc khoảng 19m. Tượng đức Bản tôn Thích ca ngồi ở chính giữa, cao 18m, đường kính của 2 đầu gối khoảng 17m, khí thế trang nghiêm hùng vĩ, là tượng Phật bằng đá to nhất ở Vân cương. Mặt tiền động thứ 6 cũng tạo lập lầu 5 gian 4 tầng, mỗi gian đều rộng 15m, ở vách sau có đặt khám thờ Phật lớn, ở chính giữa chia làm 2 lớp, đều có khắc tượng Phật ngồi, mạnh mẽ cứng cáp; trên mặt các vách đều có khắc điện đường, tượng Phật, Bồ tát, tranh truyện Phật, phi thiên, hóa Phật, tháp 5 tầng... không có chỗ nào để trống. Kĩ xảo điêu khắc tinh luyện, đáng gọi là bậc nhất ở Đại đồng. Trong động thứ 11 có khắc 7 pho tượng đứng của 7 đức Phật quá khứ, tư thái dung mạo rất đẹp. Tạo tượng ở động thứ 18 hùng vĩ, có thể gọi là đứng đầu thạch quật Vân cương. Nhìn chung 20 hang động thì 5 hang động đầu tiên do sa môn Đàm diệu vâng sắc đục mở (tức từ động 16 đến 20) có qui mô lớn nhất, khí tượng rất hùng vĩ. Trong mỗi động đều có khắc tượng Phật bằng đá cao từ 16m trở lên, rất trang nghiêm vĩ đại, cũng cho thấy phong cách tạo tượng hào phóng và thuần phác ở thời kì đầu, cấu tưởng phong phú, điêu khắc mĩ lệ, phát huy nét nghệ thuật đang hưng thịnh của thời Bắc Ngụy. Về phần tế nhị, tuợng Phật tuy có nét giống với kiểu Trung Ấn độ, hoặc kiểu Tát san Ba tư, nhưng diện mạo đại trượng phu môi dày, mũi cao, mắt dài, hàm bạnh... thì rõ ràng đã chịu ảnh hưởng Thác bạt của Bắc Lương. Nhờ tầng nham ở Đại đồng thuộc đá sa nham của tầng mặt nước bằng, rất thích hợp cho việc đục hang động và tạo tượng với qui mô lớn, thêm vào đó là khí tượng hùng tráng và niềm tin sắt đá của dòng họ Thác bạt, nên đã thành tựuđược1 trong 3 kho báu lớn của nghệ thuật Phật giáo Trung quốc cổ đại. (xt. Đại Đồng). VIII. Những Hang Động Ở Huyện Củng: Quần thể thạch quật nằm cách huyện Củng, tỉnh Hà nam khoảng 1km về phía tây bắc, được đục mở từ thế kỉ thứ VI. Hang động được đục mở trên sườn núi Mang, nhìn ra sông Lạc. Vào thời Bắc Ngụy, ở núi này có chùa Hi huyền, về sau vì rất nhiều hang động được đục mở nên đổi tên là Thạch quật tự. Những động đá này bắt đầu được khai tạc vào khoảng năm Cảnh minh (500-503) đời Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, về sau, qua các đời Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề... kế tiếp nhau đục mở; đến Cao tông nhà Đường lại đục mở rất nhiều khám thờ Phật, gọi là chùa Tịnh độ. Qua các đời Tống, Minh, Thanh thì có lúc tiếp tục khai tạc, có lúc lại bỏ. Hiện nay, trên sườn núi phía sauđiệnPhật có 5 hang động và 3 tượng Phật lớn khắc ngay vào sườn núi, 1.000 khám thờ Phật lớn và 238 khám nhỏ. Trong 5 hang động thì động thứ 5 là lớn nhất. Trong đó, trừ các khám Phật lớn nhỏ, còn có các tượng Phật, Bồ tát, La hán, các bài minh đời Đường, tranh ngàn Phật và những nhân vật cúng dường đứng xếp hàng, tranh của vua và Hoàng hậu lễ Phật, tranh các người trời tấu nhạc... tất cả đều được khắc nổi, nét khắc tinh xảo, thanh tú, nội dung phong phú, bảo tồn hoàn chỉnh, rất hiếm thấy trong các hang động hiện còn trên toàn cõi Trung quốc. Trong mỗi hang động đều có kiến trúc các cột hình vuông lớn, đây là thủ pháp Bắc Ngụy kế thừa các động Vân cương, Long môn. Trên vách núi có khắc Hậu Ngụy Hiếu văn đế cố Hi huyền tự bi (Bia ghi về chùa Hi huyền cũ của vua Hiếu văn nhà Hậu Ngụy), vì thế biết chùa này do Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy sáng lập, lại do tấm phù điêu khắc vua và Hoàng hậu lễ Phật mà biết chắc rằng quần thể thạch quật ở huyện Củng này có quan hệ mật thiết với hoàng thất Bắc Ngụy. Ngoài ra, 3 pho tượng lớn khắc trên sườn núi ở khoảng giữa 2 động 4 và 5 và các khám Phật lớn đã bị hủy hoại đến quá phân nửa. Còn tượng đức Bản tôn Thích ca đứng thì từ đầu gối trở xuống đã bị chôn trong đất, tượng Bồ tát đứng hầu bên trái đã bị mất, còn vị Bồ tát đứng hầu bên phải thì phần trên đã bị hủy hoại, nhưng đều mang nét đặc sắc của nghệ thuật đắp tượng thời Bắc Ngụy. IX. Những Hang Động Ở Núi Nam Hưởng Đường, Tỉnh Hà Bắc Và Ở Núi Bắc Hưởng Đường, Tỉnh Hà Nam. Quần thể thạch quật của núi Bắc Hưởng đường nằm ở huyện Vũ an, tỉnh Hà nam và quần thể thạch quật của núi Nam Hưởng đường nằm ở trấn Bành thành, phía tây nam huyện Từ, tỉnh Hà bắc, cách núi Bắc Hưởng đường khoảng 15km về phía đông nam. Hai quần thể thạch quật này còn được gọi là Bắc Hưởng đường tự và Nam Hưởng đường tự, đều được đục mở vào thời đại Bắc Tề (thế kỉ VI), có khả năng vào đời Văn tuyên đế nhà Bắc Tề. Núi Hưởng đường cũng gọi là Cổ sơn, Thạch cổ sơn, Phủ sơn. Quần thể thạch quật của núi Bắc Hưởng đường có 3 hang động lớn nằm ở phía nam, giữa và phía bắc núi cùng với 4 hang động nhỏ và 4 cái khám nhỏ. Hang động lớn ở phía nam (động khắc kinh) rộng 4m, sâu 3,3m, 3 mặt mỗi mặt đều có 1 khám thờ, trong mỗi khám thờ đều an vị 7 pho tượng Phật(tượngThất Phật), trong đó, pho tượng ngồi kết ấn Thí vô úy và ấn Dữ nguyện, đứng hầu bên cạnh là các tượng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Mặt vách bên trong khắc toàn bộ kinh Duy ma cật sở thuyết do ngài Cưu ma la thập dịch và kinh Vô lượng nghĩa. Trên sườn núi bên ngoài động thì khắc các kinh Thắng man, kinh Bột, kinh Di lặc thành Phật, đặc biệt có bài kí khắc kinh của Đại tướng quân Phiêu kị là Đường ung. Theo bài kí này thì biết rằng các kinh được khắc từ năm Thiên thống thứ 4 (568) đến năm Vũ bình thứ 3 (572) đời Bắc Tề, so với Thạch kinh Phòng sơn thì sớm hơn khoảng 40 năm. Các kinh được khắc theo thể đại tự, nét bút rất sắc sảo, cứng cáp. Động lớn khoảng giữa(động Thích ca) thì rộng 7,8m, sâu 7m, trên vách chung quanh có nhiều tượng Phật, khám thờ Phật, bài kí tạo tượng được khắc vào đời Minh, cùng với các bức phù điêu hoa cỏ, các loài cầm thú quí lạ... hình thức chất phác. Còn hang động lớn phía bắc(động Đại Phật) rộng 13,3m, sâu 12,5m, chính giữa có 1 cây cột hình vuông lớn, mặt chính và bên phải, bên trái đều có an vị 1 tượng Phật và 2 vị Bồ tát; trong bảo đàn có đặt lư hương, sư tử. Mặt chính trên đàn có tượng Phật ngồi, cao gần 4m, đoan nghiêm hồn hậu, thần khí siêu thoát, bộ diện bình dị không trang sức đã trải qua hơn 1000 năm, mưa nắng dãi dầu mà vẫn y nhiên sáng sạch như mới. Ba hang động nói trên đều được mở vào đời Bắc Tề. Qua các đời Tùy, Đường cho đến đời Minh... tiếp tục được mở đục thêm, hoặc hang động, hoặc khám Phật, hoặc kinh văn... Quần thể thạch quật ở núi Nam Hưởng đường được chia làm 2 lớp trên và dưới, lớp dưới có 2 động lớn là động Hoa nghiêm và động Bát nhã; lớp trên có 5 động nhỏ là động Không, động Củng môn, động Thích ca, động Lực sĩ và động Thiên Phật. Trong đó, động Hoa nghiêm nằm về phía đông bắc của lớp dưới, mỗi bề rộng 6,35m, cao 4,7m có diện tích lớn nhất. Trong động có tượng Phật thuyết pháp dưới gốc cây, những người cúng dường Phật và Bồ tát, tượng Thái tử Tất đạt đa và ngựa Kiền trắc, khám thờ Phật và khắc kinh Hoa nghiêm... tất cả đều là khắc nổi. Tượng Phật trăm dáng nghìn vẻ tạo hình rất đẹp; bức phù điêu ở phần trên của cửa vào được xem là mở đầu cho tranh vẽ Tịnh độ A di đà. Động Bát nhã nằm ở phía tây nam của lớp dưới, rộng 6,2m, sâu 6,55m, cao 4,6m, cấu tạo giống như động Hoa nghiêm, cũng có khám thờ Phật, tranh khắc nổi Phật Thích ca thuyết pháp dưới gốc cây và Tịnh độ A di đà, khắc kinh Bát nhã, kinh Văn thùbát nhã... Còn 5 động nhỏ thì động Không vuông khoảng 3m, chia làm 2 căn trước và sau; động Củng môn rộng 2,2m, sâu 2,35m, cao 2m; động Thích ca rộng 2,1m, sâu 2,3m, cao 2,5m; động Lực sĩ, đại khái cũng to bằng động Thích ca, cấu tạo cũng giống nhau; động Thiên Phật rộng 3,6m, sâu 3,4m, trên vách động có khắc tượng Phật, phi thiên, tay cầm đàn tì bà, hoặc đang thổi sáo... [X. China văn hóa sử tích giải thuyết 5; China Phật giáo sử tích đạp tra kí (Thường bàn Đại định)]. X. Những Hang Động Ở Núi Thạch Chung Tỉnh Vân Nam: Cũng gọi Kiếm xuyên thạch quật. Quần thể hang động nằm trong núi Thạch chung, gần Sa khê thuộc vùng thượng lưu sông Kim sa, phía tây nam huyện Kiếm xuyên, tỉnh Vân nam, do người nước Nam chiếu thuộc Bạch tộc, sống ở vùng biên giới tỉnh Vân nam đục mở từ đời Đường đến đời Tống. Quần thể thạch quật này được chia làm 3 khu: Khu chùa Thạch chung(8 động), khu cửa ải Sư tử(3 động) và khu thôn Sa đăng(4 động). Trong các động ở khu chùa Thạch chung thì động thứ 1, thứ 2 có khắc tượng người chủ cúng dường hoặc tượng vương giả, rồi động chư Phật, động Thích ca, động Bồ tát, nét khắc tuy chưa đạt nhưng là di phẩm quí trọng của nghệ thuật khắc đá đời Tống, Nguyên. Trong động thứ 8 có tấm biển hiệu hình chữ nhật đề là Nam chiếu Thịnh đức năm thứ 4 (1179), có lẽ là văn phát nguyện đục mởcáchang động này. Trong các hang động ở khu cửa ải Sư tử,có khắc tên Đại thánh Thánh trục; Đại thánh Thánh trục có thể là 1 loại tín ngưỡng dân gian ở địa phương. Trong động Phật thứ 2 của khu thôn Sa đăng có đề khắc Nam chiếu thiên khải năm 11; năm Thiên khải 11 tươngđươngkhoảng niên hiệu Hội xương năm đầu (841) đời vua Vũ tông nhà Đường. Như vậy có lẽ hang động này là tác phẩm thạch khắc thuộc thời kì đầu tiên ở Kiếm xuyên. Lại nữa, nhờ thạch quật Kiếm xuyênmà có thể hiểu rõ thực trạng của Phật giáo Nam chiếu. Phật giáo được truyền vào Nam chiếu từ đời Đường, lấy tín ngưỡng Quan âm làm trung tâm, là Phật giáo Đại thừa chịu ảnh hưởng văn hóa của dân tộc Hán. Ngoài ra, cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Tây tạng, Ấn độ, và Thái lan mà hiển hiện 1 phong cách đặc biệt khác. [X. Khang hi kiếm xuyên châu chí Q.2, 17].XI. Sườn Núi Nghìn Phật Ở Quảng Nguyên Thuộc Tỉnh Tứ Xuyên. Sườn núi nằm về bờ tây sông Gia lăng, cách huyện lị Quảng nguyên, tỉnh Tứ xuyên về phía bắc 4km. Tương truỵền, vào năm Hàm phong thứ 4 (1854) đời Thanh, ở đây có 1 vạn 7 nghìn pho tượng khắc bằng đá, nay chỉ còn hơn 400 khám thờ và khoảng 7 nghìn pho tượng, như vậy, trong khoảng hơn 100 mấy mươi năm mà số tượng đá ở đây đã bị hủy hoại quá phân nửa. Quần thể hang động nơi đây được đục mở vào đời Đường, qua các đời Ngũ đại, Tống, Nguyên, Minh tiếp tục đục mở dần mà thành. Qui mô to lớn của các thạch quật ở đây có thể sánh ngang với những thạch quật ở Long môn tại Lạc dương. [X. Tứ xuyên Phật giáo ma nhai tạo tượng đích nghệ thuật giá trị cập kì hiện huống (Ôn đình khoan, Hiện đại Phật giáo tùng san 20)]. (xt. Quảng Nguyên Thiên Phật Nhai Ma Nhai Tạo Tượng). XII. Những Hang Động Ở Tây Hồ Thuộc Hàng Châu: Quần thể thạch quật nằm rải rác khắp các vùng chung quanh Tây hồ như núi Tướng đài, động Thạch ốc, động Yên hà, núi Phi lai, núi Ngọc hoàng, núi Từ vân, núiBảo thạch... Những tượng Phật được khắc tạo trong những thạch quật có khoảng 1 nghìn pho, về qui mô cũng như số lượng tuy không sánh được với các thạch quật Mạc cao ở Đôn hoàng, thạch quật núi Mạch tích, thạch quật Vân cương ở Đại đồng, thạch quật Long môn ở Lạc dương... nhưng đứng về phương diện nghệ thuật tạo tượng của các đời Ngũ đại, Tống, Nguyên mà nói thì thạch quật Tây hồ cũng chiếm 1 địa vị quan trọng, hơn nữa, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với nền điêu khắc, hội họa của miền Nam Trung quốc. Tượng và khám ở sườn núi Tướng đài được khắc vào năm Thiên phúc thứ 7 (942), nhà Hậu Tấn đời Ngũ đại, đây là khu thạch quật đượcđụcmở sớm nhất và cũng được bảo tồn 1 cách tương đối hoàn chỉnh. Trong động Thạch ốc có 3 khám thờ, theo Lưỡng chiết kim thạch chí thì hang động này do những người cúng dường khác nhau, tiếp nối mở đục mà thành, là những tác phẩm vào khoảng đầu đời Ngũ đại đến đời Tống. Trong đó, 500 pho tượng La hán và tượng Bồ tát Quan âm Thủy nguyệt, trên phương diện đề tài, đều là tiền lệ của nghệ thuật điêu khắc. Số lượng tạo tượng ở động Yên hà rất nhiều, đề tài cũng bề bộn, thời đại thì dài dặc. Trong đó, tượng 500 vị La hán rất đặc sắc, mỗi vị biểu lộ 1 tư thái khác nhau: Vị thì trầm tư, vị nhập định, có vị trông lên, có vị nhìn xuống... không vị nào giống vị nào, đây là trường hợp mở đầu cho hình thức 16 vị La hán lưu hành ở đời Tống, Minh... Ngọn Phi lai là nơi qui mô lớn nhất, khắp núi, chỗ nào cũng có tượng Phật khắc bằng đá, những tượng tương đối còn hoàn chỉnh thì có khoảng 280 pho, rất quí giá. Ngoài ra, những quần thể thạch quật khác như Thiên Phật nhai ở Tế nam, tỉnh Sơn đông, núi Vân môn ở Thanh châu, núi Đà sơn, động Vạn Phật ở huyện Nghĩa tại Liêu ninh, Đoạn nhai ở Quế lâm, tỉnh Quảng tây, chùa Bảo nham ở chân núi Lâm lư, huyện Bình thuận, tỉnh Sơn tây (69 bức phù điêu Thủy lục trong động thứ 5 có thể cho thấy rõ thực trạng Phật giáo đời Minh), thạch quật Đại túc ở Tứ xuyên (có 10 chỗ quan trọng: Bắc sơn, Bảo đính, Nam sơn, Thạch môn thôn, Thạch triệu sơn, Diệu cao tự, Thư thành nham, Thất củng kiều, Phật an kiều, Triều dương động, Ngọc than...) đều rất nổi tiếng và giá trị nghiên cứu cũng rất cao. Rồi đến các di tích Phật giáo ở chân núi phía nam dọc theo dãy núi Thiên sơn, phần lớn đều là các chùa viện thạch quật, như động Thiên Phật Khố mộc thổ lạt ở Khố xa (Kucha) tại Tân cương, Tân tân Thiên Phật động, Khố tư ca hạp Thiên Phật động, Mê ngụy Thiên Phật động và Cưu tư (Kizil) Thiên Phật động... được đục mở từ thế kỉ IV, V đến thế kỉ VIII, IX. Trong đó, Cưu tư Thiên Phật động có tính tiêu biểu hơn cả, là chùa viện thạch quật lớn nhất ở vùng Tây vực, tọa lạc bên Bắc ngạn sông Mộc trát đặc, chiều đôngtâychạy dài 2km, gồm 3 quần thể thạch quật (Khắc đôn nhĩ, Đài đài nhĩ, Ôn ba thập) với hơn 200 hang động, trong đó chứa đựng các bích họa về truyện tiền thân của đức Phật, rất đậm sắc thái Iran. Còn Bối sa khắc lỗ khắc
thạch quật am
2132韓國著名石窟建築之一,為新羅石刻藝術之最高傑作。位於慶尚北道慶州市南約十六公里,海拔六百公尺之吐含山頂東側,其西南即為著名之佛國寺。本菴於新羅景德王十年(751)由金大城所創建。係模仿我國雲岡、龍門二石窟之形式,依山壁而開鑿,然菴內所用之花崗岩全由他處移來。 石窟依次分前室、扉道、圓室三區。前室為天龍八部眾之雕像,扉道兩側則為金剛力士與四大天王。圓室中央之正後方,有一座石刻蓮臺,蓮臺上為釋迦佛之雕像。本尊後方正中央,刻有十一面觀音之立像,觀音之左右兩側則為阿難等十大弟子之立像。於圓室入口處附近則有文殊、普賢、帝釋天、梵天四尊雕像。室頂之藻井亦屬石材,刻成莊嚴之蓮花。又十一面觀音之前,原置有一座五重塔,然今已不存。此石窟由於遠離人煙,故能逃過歷代烽火之破壞。日據時代,曾三次整修,惟因任意整修之故,致使部分原始造形遭到破壞。至一九六二年,韓國政府將之列為國家重要文物,並予以全面修補整理。或謂本窟前方原有一座石佛寺,惜已傾圮,本窟即附屬於該寺;或謂本窟又稱石佛寺。〔朝鮮佛教の寺と歷史〕
; (石窟庵) Một trong các kiến trúc thạch quật nổi tiếng của Hàn quốc, là kiệt tác cao nhất về nghệ thuậtthạchkhắc ở Tân la. Am nằm ở sườn phía đông đỉnh núi Thổ hàm trên mặt nước biển 600m, cách thành phố Khánh châu thuộc tỉnh (đạo) Khánh thượng bắc 16km, phía tây nam am có chùa Phật quốc nổi tiếng. Am này do ngài Kim đại thành sáng lập vào năm Tân la Cảnh đức vương thứ 10 (751), phỏng theo hình thức thạch quật Vân cương và Long môn của Trung quốc, được đục mở dựa theo vách núi, nhưng các khối đá hoa cương sử dụng trong am lại được đưa từ nơi khác đến. Thạch quật theo thứ tự được chia ra 3 khu: Tiền thất, Phi đạo và Viên thất. Tiền thất là các tượng điêu khắc Thiên long bát bộ chúng, 2 bên Phi đạo là Kim cương lực sĩ và Tứ đại thiên vương. Ngay phía sau chính giữa Viên thất có một đài sen thạch khắc, trên đài sen là tượng điêu khắc Phật Thích ca. Ngay chính giữa phía sau Bản tôn, có khắc tượng Quan thế âm 11 mặt đứng, 2 bên Quán âm là tượng đứng của 10 vị đệ tử lớn như A nan..., ở gần cửavàocủa Viên thất có 4 tượng điêu khắc là Văn thù, Phổ hiền, Đế thích thiên và Phạm thiên. Giếng trời (một loại khung trang trí)trên vòm nóc thất cũng bằng đá, có khắc hoa sen rất trang nghiêm. Ở phía trước tượng Quan âm vốn có một tòa tháp 5 tầng, nhưng hiện nay không còn. Nhờ cách xa làng xóm nên thạch quật này đã tránh được nạn binh lửa qua nhiều thời đại. Vào thời kì người Nhật chiếm cứ, thạch quật này được sửa chữa 3 lần, nhưng vì tu bổ tùy tiện nên đã làm cho phần tạo hình nguyên thủy bị phá hoại. Đến năm 1962, chính phủ Hàn quốc đã xếp thạch quật này vào hàng những di sản văn hóa quí trọng của quốc gia, đồng thời cho trùng tu toàn diện. Có thuyết cho rằng phía trước thạch quật này vốn có một ngôi chùa Thạch Phật, nhưng rất tiếc đã bị đổ nát, Thạch quật am này chính là phần phụ thuộc của ngôi chùa ấy. Lại có chỗ nói thạch quật này cũng có tên là Thạch Phật tự. [X. Triều tiên Phật giáo chi tự dữ lịch sử].
thạch quật tự
2118位於河南鞏縣城西北一公里。背邙山,臨洛水。因在砂岩石之斷崖鑿有多數石窟,故名石窟寺。建於北魏熙平二年(517),一說景明年間(500~503)原名希玄寺,宋代改稱「十方淨土寺」,清代改今名。東西魏、北齊、隋、唐、北宋,相繼於此造窟鑿像。現存五窟,七七四三尊佛像和數十篇題記。 第一窟最小,約四公尺平方,門內兩側雕有「帝后禮佛圖」,餘三壁雕佛像和佛傳故事。於壁角雕神王、怪獸、樂伎等。帝后禮佛圖分為三層六組,每層由比丘和比丘尼作前導,帝后、侍從,前呼後擁,反映皇室之宗教信仰。此等雕像多已破損,且經後世加塑補彩,大抵失去本來面目,然其構圖簡練生動,是我國現存浮雕中較為完整者。 第二、第三兩窟,由其構造判斷,殆為同一人之作品,中央方柱之每面作有三尊佛、兩羅漢等之佛龕,四面壁上並雕有千體佛像、奏樂天人及供養行列等。 第四窟係由東、西二窟組成。東窟有北魏所造之三尊佛,上有唐咸亨元年(670)十月之銘文,其左右並有二佛龕。西窟前面西方之側壁上亦有大小之三佛龕,其一即刻有唐乾封二年(667)八月之銘文。又東西二窟之界壁上,尚有三層之佛龕,佛像中並有唐龍朔二年(662)及三年之銘文。蓋此等石窟之最初,只刻三尊佛而已,至唐代開始開鑿更多之佛龕。 第五窟呈方形,面積最 j,縱橫及天井高各約七公尺。外壁入口之左右安置金剛力士像。入口東方之側壁已崩壞,西方則有小佛龕,刻有唐延載元年(694)、久視元年(700)、咸通八年(867)等之銘文。中央有約三公尺之方柱,其四面各刻有大佛龕,窟內東西北三壁上,各開四佛龕,安置三尊佛,上部並造千體佛。前面入口之左右壁同於第二、第三窟,三層浮雕上,刻有供養人物行列之圖,上面亦有千體佛。四壁之腰壁如同第二、第三窟,其前面及左右均刻有天人奏樂之圖。 總之,五窟共同之特色,係在各窟內築造大方柱,觀其手法,則是承雲岡、龍門之後,於北魏開鑿而成。然或因年久破損,或經塗抹塑土,故現在第一窟除存有東魏天平三年(536)之造像銘外,其他之北魏銘刻已不見。第四、第五窟巖壁間有佛龕,內置三尊摩崖大佛像,其巨大之佛龕大半破壞,左脅侍菩薩已失;右脅侍菩薩之頭部亦損,然頗能顯出北魏雕刻之特質;本尊為釋迦立像,表現北魏風格,惟膝以下埋沒地中。此外,本寺大殿之外壁間所嵌入之碑中,保存有唐代禪宗大德演公(明演)之塔銘并序,寺之前庭亦存有宋紹聖三年(1096)十二月建立之淨土寺寶月大師(惠深)碑。〔古今圖書集成職方典第四三四〕(參閱「石窟」2118、「鞏縣石窟」6198)
; (石窟寺) Chùa nằm cách huyện lị huyện Củng tỉnh Hà nam về phía tây bắc 1km. Sau lưng chùa là núi Mang, trước mặt chùa là sông Lạc. Vì ở trên sườn núi sa nham có đục rất nhiều hang đá nên gọi là Thạch quật tự. Chùa được sáng lập vào năm Hi bình thứ 2 (517) đời Bắc Ngụy, có thuyết nói chùa được xây cất vào khoảng năm Cảnh minh (500-503), vốn có tên là Hi huyền tự, đời Tống đổi là Thập phương Tịnh độ tự, đời Thanh mới đổi tên như hiện nay. Các đời Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường, Bắc Tống... tiếp nối nhau mở hang động, tạo tượng. Hiện nay còn 5 hang động với 7743 pho tượng Phật và mấy mươi thiên đề kí. Hang động thứ nhất nhỏ hơn cả, chỉ rộng khoảng 4m2, 2 bên phía trong cửa có khắc bức tranh Vua và Hoàng hậu lễ Phật, 3 vách còn lại khắc tượng Phật và các sự tích tiền thân của Phật. Ở góc vách khắc hình thần vương, quái vật, kĩ nhạc. Tranh Vua và Hoàng hậu lễ Phật được chia làm 3 lớp 6 nhóm, mỗi lớp có các vị tỉ khưu và tỉ khưu ni đi trước dẫn đường, vua, hoàng hậu và những người tùy tùng tiền hô hậu ủng, phản ảnh tín ngưỡng tông giáo của nhà vua. Các tượng điêu khắc này phần nhiều đã bị phá hư, rồi người sau tu bổ lại và chính vì thế mà làm mất đi cái vẻ mặt nguyên bản, nhưng hình ảnh thì đơn giản, sinh động, là các tượng khắc tương đối vẫn hoàn chỉnh trong các phù điêu hiện còn ở Trung quốc. Hang động thứ 2, thứ 3, dựa vào sự cấu tạo của chúng mà suy đoán thì gần như là các tác phẩm của cùng một người. Mỗi mặt của cây cột vuông ở chính giữa có khám thờ Tam tôn Phật và 2 vị La hán. Trên 4 mặt vách đều khắc tượng Phật thiên thể, chư thiên tấu nhạc và đoàn người cúng dường xếp thành hàng. Hang động thứ 4 gồm hai hang Đông và Tây. Hang Đông có Tam tôn Phật được khắc tạo vào đời Bắc Ngụy, phía trên có bài minh khắc vào tháng 10 niên hiệu Hàm hanh năm đầu (670) đời Đường, ở 2 bên đều có khám thờ Phật. Trên vách mé tây mặt trước của hang Tây cũng có 3 khám lớn nhỏ thờ Phật, một trong 3 cỗ khám ấy có bài minh được khắc vào tháng 8 năm Càn phong thứ 2 (667) đời Đường. Trên vách ngăn đôi 2 hang Đông và Tây còn có khám thờ Phật 3 tầng, trong có bài minh cho biết các tượng Phật trong khám 3 tầng này đều được khắc tạo vào các năm Long sóc thứ 2 (662) và Long sóc thứ 3 (663) đời Đường. Bởi vì lúc đầu, trong các thạch quật này chỉ khắc có Tam tôn Phật mà thôi, đến đời Đường mới đục mở thêm nhiều Phật khám. Hang động thứ 5 có hình vuông, diện tích lớn nhất, rộng khoảng 7m, thiên tỉnh (khung trang trí trên vòm nóc động) cũng cao khoảng 7m. Trên mặt vách ở 2 bên phía ngoài của cửa vào có khắc tượng Kim cương lực sĩ, vách phía đông đã đổ nát, vách phía tây thì có khám thờ Phật cỡ nhỏ, trong đó có các bài minh được khắc vào các năm Diên tải năm đầu (694), Cửu thị năm đầu (700) và Hàm thông thứ 8 (867). Ở chính giữa có cây cột vuông khoảng 3m, ở4mặt đều có khắc khám thờ Phật cỡ lớn. Trên vách 3 phía đông tây bắc ở trong hang động, mỗi vách đều đục mở 4 khám thờ Phật, an trí Tam tôn Phật, phần trên đều tạo tượng Phật thiên thể. Trên vách ở 2 bên cửa vào phía trước cũng giống như hang thứ 2 và thứ 3, trên đó có 3 lớp phù điêu, khắc tranh nhân vật cúng dường xếp thành hàng, trên mặt vách cũng khắc tượng Phật thiên thể và tranh chư thiên tấu nhạc... Tóm lại, đặc sắc chung của 5 thạch quật trên đây là trong mỗi thạch quật có làm cột hình vuông, nhìn vào thủ pháp thì đây là thừa kế nghệ thuật thạch khắc Vân cương, Long môn, được đục mở, kiến tạo vào thời Bắc Ngụy mà thành. Nhưng không rõ hoặc vì đã lâu đời mà bị phá hủy, hay vì đã qua nhiều lần tô đắp mà hiện tại chỉ có bài minh tạo tượng ở thạchquật thứ nhất được khắc vào năm Thiên bình thứ 3 (536) đời Đông Ngụy là còn, ngoài ra các bài minh khác khắc vào đời Bắc Ngụy thì không thấy nữa. Giữa các vách đá của động thứ 4, thứ 5 có khám thờ Phật, bên trong thờ 3 tượng Phật ma nhai(tức tượng được khắc vào sườn núi) lớn, hơn phân nửa các Phật khám to lớn đã bị phá hoại, tượng Bồ tát đứng hầu bên trái đã mất; còn phần trên của tượng Bồ tát đứng hầu bên phải cũng bị hư hại, tuy nhiên vẫn còn biểu hiện rất rõ cái đặc chất của nghệ thuật điêu khắc thời Bắc Ngụy. Bản tôn là tượng Phật Thích ca đứng, hiển thị phong cách Bắc Ngụy, nhưng từ đầu gối trở xuống đã bị chôn vùi trong đất. Ngoài ra, trong tấm bia được khảm vào vách bên ngoài đạiđiện của chùa này còn giữ được bài tháp minh và lời tựa của ngài Diễn công (Minh diễn), 1 bậc Đại đức của Thiền tông đời Đường, đồng thời, sân trước của chùa cũng còn giữ được tấm bia của Đại sư Bảo nguyệt chùa Tịnh độ được dựng vào tháng 12 năm Thiệu thánh thứ 3 (1096) đời Tống. [X. Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 434]. (xt. Thạch Quật, Củng Huyện Thạch Quật).
thạch sơn tự
2112山號石光山。屬日本真言宗。位於大津市石山。本尊為二臂如意輪觀音。其起源係良辨奉聖武天皇(724~749 在位)之命,為獲得建造奈良東大寺大佛之黃金,故於此處造寺,安置如意輪像,祈頌如意輪觀音,終於獲得黃金,並建成大佛;其後刻丈六觀音像,左右各安置約三公尺之金剛藏王及執金剛神,並建堂塔,乃成為敕願寺。日本承曆二年(1078),毀於火災,至源賴朝始獲再興。寺內藏有珍貴之佛像、佛畫及石山寺緣起七卷,並有多種珍貴之古寫經、古籍。
thạch sương
2141<一>(807~888)指唐代普會大師慶諸。師棲止石霜山二十年,大揚宗風,其中,有學侶長坐不臥,屹若株杌者,世人稱為「石霜枯木眾」。(參閱「慶諸」6019) <二>(986~1039) 宋代僧。乃臨濟義玄(六祖慧能門下)之六世孫。廣西全洲人,俗姓李。師名楚圓,字慈明。住湖南潭州石霜山。少為儒生,二十二歲於湘山隱靜寺出家。嗣法汾陽善昭。此後,師走訪山西、江西、湖南之間,交遊廣闊。下開「楊岐」、「黃龍」二派。宋仁宗寶元二年(一說康定二年)示寂,世壽五十四。弟子為其建塔於石霜山。〔五燈會元卷十二、續傳燈錄卷三〕(參閱「楚圓」5484)
; (石霜) I. Thạch Sương (807-888). Chỉ cho Đại sư Phổ hội Khánh chư sống vào đời Đường. Ngài trụ ở núi Thạch sương 20 năm, mở mang Thiền phong, trong số đại chúng tham học, có nhiều vị tăng ngồi mãi không nằm, sừng sững như những gốc cây, người đời gọi là Thạch sương khô mộc chúng (Chúng cây khô ở Thạch sương). (xt. Khánh Chư). II. Thạch Sương (986-1039). Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, là pháp tôn đời thứ 6 của ngài Lâm tế Nghĩa huyền, người Toàn châu, tỉnh Quảng tây, họ Lí, tên là Sở viên, tự Từ minh, trụ ở núi Thạch sương, thuộc Đàm châu, tỉnh Hồ nam.Thủa nhỏ, sư là một Nho sinh, năm 22 tuổi xuất gia ở chùa Ẩn tĩnh tại Tương sơn, nối pháp ngài Phần dương Thiện chiêu. Sau đó, sư đi tham họccác nơi như Sơn tây, Giang tây, Hồ nam... giao du rất rộng. Dưới sư, mở ra 2 phái Dương kì và Hoàng long. Năm Bảo nguyên thứ 2 (1039) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư tịch, thọ 54 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ sư ở núi Thạch sương. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Tục truyền đăng lục Q.3]. (xt. Sở Viên).
Thạch Sương Khánh Chư
石霜慶諸; C: shíshuāng qìngzhū; J: sekisō kei-sho; 807-888/889;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.|Sư con nhà họ Trần, quê ở Tân Cang, Lô Lăng. Ban đầu Sư theo học Luật nhưng cho đây không phải là pháp môn đốn ngộ, bèn đến Quy Sơn Linh Hựu và làm chức giữ kho (tri khố). Một hôm Sư sàng gạo, Quy Sơn đến bảo: »Vật của thí chủ chớ để rơi rớt.« Sư thưa: »Chẳng dám rơi rớt.« Quy Sơn lượm từ dưới đất một hạt gạo lên hỏi: »Chẳng rơi rớt, đây là cái gì?« Sư không đáp được, Quy Sơn lại nói: »Chớ xem thường một hạt này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sinh.« Sư thưa: »Trăm ngàn hạt từ một hạt này sinh, chẳng biết hạt này từ đâu sinh?« Quy Sơn cười ha hả rồi trở về phương trượng. Buổi chiều, Quy Sơn thượng đường bảo: »Ðại chúng! Trong gạo có sâu, các ngươi hãy khéo xem!«|Sau, Sư đến Ðạo Ngô. Sư hỏi: »Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?« Ðạo Ngô gọi: »Sa-di!« Sư ứng: »Dạ!« Ðạo Ngô bảo: »Thêm nước trong tịnh bình«. Im lặng giây lâu Ðạo Ngô lại hỏi Sư: »Vừa rồi hỏi cái gì?« Sư toan thuật lại, Ðạo Ngô liền đứng dậy đi. Sư nhân đây có tỉnh.|Một hôm, Ðạo Ngô nói với chúng: »Ta trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, có người nào hay vì ta dẹp?« Sư thưa: »Tâm vật đều không, trừ đó càng thêm bệnh.« Ðạo Ngô nói: »Lành thay! Lành thay!«|Sau đó khoảng hai năm, Sư rời Ðạo Ngô, đến Lưu Dương ở ẩn, sáng đi tối về không ai hay. Sau, Ðộng Sơn Lương Giới nhân lời nói của một thiền khách biết được Sư tại đây và từ đây chúng quanh lại thỉnh Sư trụ trì núi Thạch Sương. Sư trụ ở Thạch Sương 20 năm, dạy môn đệ rất kỉ luật, học chúng thường ngồi chẳng nằm vì vậy người ta thường gọi là »Chúng cây khô« (石霜枯木眾; Thạch Sương khô mộc chúng). Vua Ðường Hiến Tông quý trọng đạo hạnh của Sư, ban cho tử y (ca-sa tía), nhưng Sư từ chối không nhận.|Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (889), ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ. Vua sắc phong là Phổ Hội Ðại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.
thạch sương khánh chư
Shih-shuang Ch'ing-chu (C), Sekisō-keishō (J) (807-888/889) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Đạo Ngô Viên Trí.
Thạch Sương Khánh Chư 石霜慶諸
[ja]セキソウキョウショ Sekisō kyōsho ||| Shíshuāng qìngzhū the fourth in the line of Chan tradition after Qīngyuán 青原. => (c: Shíshuāng qìngzhū; 807-888); Tổ thứ tư trong dòng thiền của Ngài Thanh Nguyên (c: Qīngyuán 青原).
thạch sương sơn
2142又稱霜華山。位於湖南瀏陽縣西南四十六公里處。南接醴陵,北為洞陽山。山上有崇勝寺,唐代普會禪師慶諸於此棲止二十年。北宋仁宗寶元二年(1039),楚圓禪師示寂時,亦葬於此山。蓋楚圓晚年,雖曾移至潭州興化寺,然其大揚臨濟宗風之全盛期,乃在石霜山,故葬於此山。又當時之叢林,以臨濟宗最為興盛;楚圓之門下又衍生「黃龍」、「楊岐」二派,故石霜楚圓之名頗著。〔大明一統志卷六十三、大清一統志卷二七六)
; (石霜山) Cũng gọi Sương hoa sơn. Tên núi, nằm cách huyện Lựu dương, tỉnh Hồ nam 46km về phía tây nam. Phía nam giáp Lễ lăng, phía bắc giáp núi Động dương. Trên núi có chùa Sùng thắng, là nơi Thiền sư Phổ hội Khánh chư đời Đường đã cư trụ trong 20 năm. Vào năm Bảo nguyên thứ 2 (1039) đời vua Nhân tông nhà Bắc Tống, khi Thiền sư Sở viên thị tịch cũng được an táng ở núi này. Ngài Sở viên lúc cuối đời tuy có dời đến chùa Hưng hóa ở Đàm châu, nhưng thời kì sư mở mang tông phong Lâm tế đến độ toàn thịnh lại diễn ra ở Thạch sương, vì vậy nên an táng sư ở núi này. Trong các tùng lâm đương thời, tông Lâm tế là hưng thịnh nhất; dưới cửa ngài Sở viên lại mở ra 2 phái Hoàng long và Dương kì, vì thế ngài Thạch sương Sở viên rất nổi tiếng. [X. Đại minh nhất thống chí Q.63; Đại thanh nhất thống chí Q.276].
thạch sương sở duyên
Shih-shuang Ch'u-yuan (C), Shishuang Chuyuan (C), Sekiso Soen (J), Ch'i-ming (C) (986-1039) Còn gọi là Từ Minh. Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Phần Dương Triệu Châu.
Thạch Sương Sở Viên
(石霜楚圓, Sekisō Soen, 986-1039): tức Từ Minh Sở Viên (慈明楚圓), vị tổ đời thứ bảy của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Toàn Châu (全州, thuộc Tỉnh Quảng Tây), họ là Lý (李). Hồi nhỏ ông là thư sinh, đến năm lên 22 tuổi ông xuất gia tại Ẩn Tỉnh Tự (隱靜寺), Tương Sơn (湘山, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), rồi đến tham vấn với Thiện Chiêu (善昭) ở Phần Dương (汾陽) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Ngoài ra, ông còn đến tham yết với Đường Minh Tung (唐明嵩) nữa. Lần đầu tiên ông hóa đạo tại Nam Nguyên Sơn Quảng Lợi Thiền Viện (南源山廣利禪院), ở Viên Châu (袁州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), rồi chuyển đến trú tại các chùa thuộc vùng Đàm Châu (潭州) như Thạch Sương Sơn Sùng Thắng Thiền Viện (石霜山崇勝禪院), Nam Nhạc Sơn Phước Nghiêm Thiền Viện (南岳山福嚴禪院), Hưng Hóa Thiền Viện (興化禪院). Đến năm thứ hai (1039) niên hiệu Bảo Nguyên (寳元), ông viên tịch, hưởng thọ 54 tuổi. Môn nhân của ông là Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) biên tập cuốn Từ Minh Thiền Sư Ngữ Lục (慈明禪師語錄) 1 quyển, ngoài ra còn có Từ Minh Thiền Sư Ngữ Yếu (慈明禪師語要) 1 quyển. Dòng pháp từ của ông có Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) là hai nhân vật kiệt xuất nhất; sau nầy hai người đã phân thành 2 dòng phái khác là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍).
; 石霜楚圓; C: shíshuāng chǔyuán; J: sekisō soen; 986-1039, còn được gọi là Từ Minh (慈明);|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối pháp của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp nhưng có hai vị trội hơn hết, sáng lập ra hai hệ phái trong tông Lâm Tế là Hoàng Long Huệ Nam và Dương Kì Phương Hội.|Sư họ Lí quê ở Toàn Châu, xuất gia năm 22 tuổi. Mẹ Sư khuyến khích Sư đi du phương. Nghe danh Phần Dương là thiện tri thức bậc nhất, Sư tìm đến bất chấp mọi khó khăn. Phần Dương thấy Sư liền thầm nhận cho nhập hội.|Sư ở hai năm mà chưa được riêng dạy, mỗi lần vào thưa hỏi chỉ bị mắng chửi, nghe Phần Dương chê bai những vị Tôn túc khác, hoặc dùng những lời thô kệch. Một hôm Sư trách: »Từ ngày đến bây giờ đã hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia.« Phần Dương nhìn thẳng vào mặt Sư mắng: »Ðây là ác tri thức dám chê trách ta« và cầm gậy đánh. Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư bỗng nhiên đại ngộ, nói: »Mới biết đạo Lâm Tế vượt ngoài thường tình.« Sư ở lại hầu hạ thầy bảy năm.|Sau, Sư trụ ở Thạch Sương. Nhân ngài giải hạ, Sư dạy chúng:|Ngày xưa làm trẻ con, hôm nay tuổi đã già, chưa rõ ba tám chín, khó đạp đường ngôn ngữ khéo léo. Tay quét Hoàng hà khô, chân đạp Tu-di ngã, phù sinh thân mộng huyễn, mệnh người đêm khó giữ. Thiên đường địa ngục đều do tâm tạo ra, núi Nam tùng ngọn Bắc, ngọn Bắc cỏ núi Nam. Một giọt thấm vô biên, gốc mầm mạnh khô kháo, tham học vào năm hồ, chỉ hỏi hư không thảo. Chết cởi áo trời hạ, sinh đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sinh phiền não.|Sư nói xong hét một tiếng rồi xuống toà.|Sư hoằng hoá tại Thạch Sương, môn phong Lâm Tế rất thịnh hành. Một hôm, sau khi thăm người bạn đạo Lí Công xong, Sư cùng thị giả trở về. Giữa đường, Sư bảo thị giả: »Ta vừa bị bệnh phong.« Nhìn thấy Sư bị bệnh phong giật méo qua một bên, thị giả dậm chân nói: »Tại làm sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại như vậy?« Sư bảo: »Ðừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa lại ngay«. Nói xong, Sư lấy tay sửa miệng lại ngay như cũ và nói: »Từ nay về sau chẳng nhọc đến ngươi.«|Năm 1041, Sư đến Hưng Hoá. Ngày mùng năm tháng giêng, Sư tắm gội xong từ biệt chúng rồi ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 54 tuổi, 32 tuổi hạ.
thạch sương sở viên
Shih-huang Ch'u-yuan (C), Sekisō Soen (J) Tên một vị sư.
thạch sương sở viên thiền sư ngữ lục
2142全一卷。全稱慈明禪師五會住持語錄。又作慈明和尚語錄。宋代僧石霜楚圓撰,黃龍慧南重編。收於卍續藏第一二○冊。編集楚圓於袁州廣利寺、潭州道吾山、潭州石霜山崇勝院(寺)、南嶽山福嚴寺等處之示眾、上堂語,及機緣、勘辨、偈頌等。偈頌之中,除臨濟宗之三決三句、三玄三要外,亦有曹洞五位之頌。又卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷十一摘要刊錄楚圓語要,題名慈明禪師語錄。
; (石霜楚圓禪師語錄) Gọi đủ: Từ minh thiền sư ngũ hội trụ trì ngữ lục. Cũng gọi: Từ minh hòa thượng ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Thạch sương Sở viên soạn vào đời Tống, ngài Hoàng long Tuệ nam biên lại, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung biên tập các pháp ngữ thị chúng, thướng đường của ngài Sở viên nói ở chùa Quảng lợi tại Viên châu, ở núi Đạo ngô tại Đàm châu, ở viện Sùng thắng tại núi Thạch sương thuộc Đàm châu, ở chùa Phúc nghiêm tại núi Nam nhạc và các phần cơ duyên, khám biện, kệ tụng... Trong phần kệ tụng, ngoài Tam quyết tam cú, Tam huyền tam yếu của tông Lâm tế ra, còn có Ngũ vị tụng của tông Tào động. Ngoài ra, Cổ tôn túc ngữlụcquyển 11 trong Vạn tục tạng tập 118 có trích in các ngữ yếu của ngài Sở viên, lấy tên là Từ minh thiền sư ngữ lục.
Thạch Sương Sở Viên 石霜楚圓
[ja]セキソウソエン Sekisō soen ||| Shíshuāng chŭyuán (986-1039) ; the sixth in the line of the Chan tradition after Linji 臨濟. He is referred to in the Wumenguan 無門關, probably refers to the latter. => (c: Shíshuāng chŭyuán; 986-1039). Tổ thứ sáu trong dòng thiền Lâm Tế. Được đề cập trong Vô môn quan (c: Wumenguan 無門關).
thạch sương thiền sư
Zen master Shi-Shuang—See Khánh Chư Thiền Sư.
thạch sương thất khứ
2142唐代石霜慶諸禪師(807~888)之法嗣九峰道虔,以石霜生前開示學人時所常說之七語句來勘驗首座,並認為此七句乃學人應備之修行態度;此七語句中,每語句之末字均為「去」字,故統稱為七去。即:(一)休去,謂停止一切之動作行為。(二)歇去,謂泯絕身與心、能與所等一切之對立分別見解。(三)冷湫湫地去,謂熄卻一切迷悟凡聖之熱惱,而達於清涼之境地。(四)一念萬年去,謂持守一念而如如不動。(五)寒灰枯木去,謂不存絲毫之情識分別。(六)古廟香爐去,謂去除執著,一如散盡古廟之香灰。(七)一條白練去,謂於領悟佛法之過程中,無論對正位(代表真如之空界)、偏位(代表現象之色界),皆能分明了然,而無任何疑滯塵垢,猶如一匹純淨無染之白絹。〔虛堂集第三十八則、鐵文樹和尚百則評頌〕
; (石霜七去) Bảy chữ khứ(đi, bỏ qua)của ngài Thạch sương. Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch sương Khánh chư (807-888) đời Đường là ngài Cửu phong Đạo kiền dùng 7 ngữ cú mà Thiền sư Thạch sương lúc sinh tiền thường nói khi khai thị người học để xét nghiệm Thủ tọa, đồng thời cho rằng 7 câu này là thái độ tu hành mà người học cần phải có. Trong 7 ngữ cú này, chữ cuối của mỗi ngữ cú đều là chữ Khứ, vì thế gọi chung là thất khứ. Đó là: 1. Hưu khứ (thôi đi): Đình chỉ tất cả mọi hành vi động tác. 2. Hiết khứ (nghỉ đi, dứt đi): Dứt bặt tất cả kiến giải phân biệt, đối lập như thân với tâm, năng với sở... 3.Lãnh tưu tưu địa khứ (lạnh mát rời rợi đi): Dập tắt tất cả sự nhiệt não về mêngộ, phàm thánh để đạt đến cảnh giới mát rợi.4. Nhất niệm vạn niên khứ (hãy như một niệm vạn năm đi): Giữ gìn một niệm như như bất động. 5. Hàn khôi khô mộc khứ(tro lạnh cây khô đi): Không còn mảy may hình thức phân biệt.6. Cổ miếu hương lư khứ (lò hương miếu cũ đi): Hãy trừ bỏ hết chấp trước, giống như tàn nhang trong miếu xưa bay hết. 7. Nhất điều bạch luyện khứ (một loạt trắng tinh đi): Trong quá trình lãnh ngộ Phật pháp, bất luận đối với Chính vị (tiêu biểu chokhông giới chân như) hay Thiên vị (tiêu biểu cho sắc giới hiện tượng) đều phân minh rõ ràng, không có bất cứ một vết nhơ nghi ngại nào, giống như tấm lụa trắng phau thuần khiết không nhuộm màu vậy.[X. Hư đường tập, tắc 38; Thiết văn thụ hòa thượng bách tắc bình tụng].
thạch sương tánh không
Shih shuang Hsing k'ung (C) Tên một vị sư.
Thạch Sương 石霜
[ja]セキソウ sekisō ||| A reference to either Shíshuāng qìngzhū 石霜慶諸 or Shíshuāng chŭyuán 石霜楚圓. => Chỉ cho Thạch Sương Khánh Chư (c: Shíshuāng qìngzhū 石霜慶諸 ) hoặc Thạch Sương Sở Viên (c: Shíshuāng chŭyuán 石霜楚圓).
thạch thành kim
2113清代揚州人。字天基,號惺齋。事親至孝,重然諾。著有傳家寶四集,係以居家尋常事,演以俚俗語,意存激勸,頗行世上;內含禪宗直指一卷,為宗門所重。乾隆(1736~1795)初年卒,享年八十餘。
thạch tháp
2117塔婆(梵 stūpa)之一種。即石造之層塔。又稱石窣堵波、石塔婆、率塔婆、石浮圖、石浮屠、石佛圖。原為安置佛舍利而造之建築物,後多作墓碣之用,如墳塔、墓石、墓碑,故又稱石碑;乃為紀念死者,標示其德而建之。據長阿含卷三遊行經載,佛說天下有四種人應起塔,即如來、辟支佛、聲聞人、轉輪王。又為表示如來乃至凡夫之不同,塔之構造亦有等級之別。於密教胎藏界五輪形之塔,乃象徵大日如來之三昧耶形。 據大唐西域記卷九可知印度很早即有墓塔之制。於我國原來就有墓碣依墳陵而設之制,帝王及富人且設有石人、石獸、石闕等,佛教傳來之後又加設塔碑。六朝以後遂廣行墳塔之造立,現存之塔多係隋唐之後所造立。石塔之種類很多,有四角七層、六角五層、十三層、九層等,形狀、層次各有不同;且有無縫塔者,其中一種即作卵形,稱為卵塔。〔增一阿含經卷十九「四意斷品」、有部毘奈耶雜事卷十八、南海寄歸內法傳卷二、洛陽伽藍記卷四白馬寺、法苑珠林卷二十九、林間錄卷上、禪林象器箋殿堂門〕(參閱「塔」5421)
; (石塔) Cũng gọi Thạch tốt đổ ba, Thạch tháp bà, Suất tháp bà, Thạch phù đồ, Thạch phật đồ.Một trong các loại tháp bà (Phạm: Stùpa). Vốn là vật kiến trúc được tạo lập để thờ xá lợi Phật, về sau thường được dùng làm bia mộ, như tháp mộ, đá mộ, bia mộ, nên cũng gọi là Thạch bi, được xây dựng để kỉ niệm người chết và tiêu biểu cho đức của họ. Theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3, đức Phật dạy trong thế gian có 4 hạng người nên xây tháp để ghi nhớ, đó là Như lai, Bích chi phật, Thanh văn, và Chuyển luân vương. Và để nêu rõ sự sai biệt giữa Như lai và phàm phu, sự cấu tạo tháp cũng có tầng bậc khác nhau. Như tháp Ngũ luân trong Thai tạng giới của Mật giáo là hình Tam muội da tượng trưng đức Đại nhật Như lai. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì biết Ấn độ đã có chế độ tháp mộ rất sớm. Ở Trung quốc xưa nay vốn có chế độ bia mộ được dựng theo lăng mộ, bậc vua chúa và người giàu có còn tạc người bằng đá, thú vật bằng đá, cửa khuyết bằng đá..., sau khi Phật giáo truyền đến thì lại dựng thêm bia tháp. Từ thời Lục triều về sau sự tạo lập tháp mộ đã lưu hành rộng rãi, những tháp hiện còn phầnnhiều được tạo lập từ các đời Tùy, Đường về sau. Thạch tháp có rất nhiều chủng loại, như tháp 4 góc 7 tầng, 6 góc 5 tầng, 13 tầng, 9 tầng..., hình dáng và số tầng đều có khác nhau; lại có loại tháp vô phùng, 1 trong đó mang hình quả trứng, gọi là Noãn tháp. [X. phẩm Tứ ý đoạn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.19; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.18; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Bạch mã tự trong Lạc dương già lam kí Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.29; Lâm gian lục Q.thượng; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tháp).
thạch thất hành giả
2116即指唐代青原行思系統下之石室善道禪師。石室,此處指搗米之磨坊。善道嗣潭州長髭曠之法,受戒之後,參謁石頭希遷而大悟。得法之後,適值法難,遂離僧位而為行者,住於磨坊中。師雖於坊中搗米,然亦不忘舉揚佛法,故禪林間稱之為石室行者。〔禪林口實混名集卷上〕
; (石室行者) Chỉ cho Thiền sư Thạch thất Thiện đạo thuộc hệ thống ngài Thanh nguyên Hành tư đời Đường. Thạch thất nghĩa là nhà giã gạo. Ngài Thiện đạo nối pháp Thiền sư Trường tề khoáng ở Đàm châu, sau khi thụ giới, sư tham yết ngài Thạch đầu Hi thiên được đại ngộ. Sau khi đắc pháp thì gặp đúng lúc pháp nạn, sư liền bỏ hình thức tăng mà làm hành giả (người chưa xuất gia) và ở trong nhà giã gạo. Tuy sư ở trong nhà giã gạo mà vẫn không quên việc xiển dương Phật pháp, vì thế trong Thiền lâm gọi sư là Thạch thất hành giả. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.thượng].
thạch thất quốc
2116指北印度犍馱羅國東南之呾叉始羅(梵 Takṣaśilā)。 意譯作截頭國,蓋釋尊於過去世為菩薩時,曾於此國以頭施人,為與施頭之傳說相符應,遂由有「石」之義的始羅(梵 śilā)變為有「頭」之義的尸羅(梵 śiras)。(參閱「呾叉始羅國」3112)
; (石室國) Chỉ cho nước Đát xoa thủy la (Phạm: Takwazila, Hán dịch là Tiệt đầu quốc) nằm về phía đông nam nước Kiện đà la, Bắc Ấn độ. Thời quá khứ xa xưa, đức Thích tôn còn là Bồ tát từng ở nước này đem đầu của mình bố thí cho người. Vì ứng hợp với truyền thuyết bố thí đầu, cho nên từ chữ Thủy la (Phạm:Zilà) có nghĩa là Thạch biến thành chữ Thi la (Phạm: Ziras) có nghĩa là Đầu. (xt. Đát Xoa Thủy La Quốc).
thạch thất thiện cửu
2116(1294~1389)日本臨濟宗僧。筑前(福岡縣)人。元代時,渡海來我國,以松源派之古林清茂為師。返日後,歷住京都南禪、天龍二寺。其後,應足利基之請,住持圓覺、建長二寺,並於岩槻創建平林寺。師將禪文化導入五山文學中,對於日本室町初期五山文學之興盛,有極大之貢獻。元中六年示寂,享年九十六。
thạch trụ
Stone pillar.
thạch tượng
2117指石造之象,或象所化之石。據大明一統志載,象莊位於河南府,有石象,乃東漢時西僧以象馱經來洛陽,後化為石者。
; (石象) Chỉ cho con voi khắc bằng đá hoặc voi đã hóa thành đá. Cứ theo Đại minh nhất thống chí thì trong trang trại voi ở phủ Hà nam có thạch tượng, đó là do thời Đông Hán các vị tăng từ Tây trúc dùng voi chở kinh Phật đến Lạc dương, sau hóa thành đá.
thạch vân tự
2117位於臺灣桃園縣龜山鄉。民國十年(1921)由日本曹洞宗雪凝與常達所建。三十八年第二次重建時,增設靈山塔,四十五年第三次重建後,成立財團法人董事會,由常達任董事長,五十七年常達示寂,由慧霖接任第三任住持。
Thạch Vũ Minh Phương
(石雨明方, Sekiu Myōhō, 1593-1648): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Thạch Vũ (石雨), sinh ngày 29 tháng giêng năm thứ 21 (1593) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh, xuất thân Võ Đường (武塘), Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Ông đến tham học và xuất gia với Tây Trúc Tông (西築宗). Vào năm thứ 43 (1615) niên hiệu Vạn Lịch, ông đến tham yết Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄) ở Thạch Phật Tự (石佛寺), Gia Hưng (嘉興). Tu hành khắc khổ trong vòng 7 năm, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông làm trú trì Thiên Hoa Tự (天華寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang) và sau đó từng sống qua các chùa khác như Vân Môn Thánh Hiển Tự (雲門聖顯寺), Bảo Thọ Sơn Quang Hiếu Tự (寶壽山光孝寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), Di Sơn Tây Thiền Tự (怡山西禪寺), Tuyết Phong Tự (雪峰寺) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), Linh Sơn Tự (靈山寺) ở Đinh Châu (汀州, Tỉnh Phúc Kiến), Phổ Minh Tự (普明寺) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến), Linh Phong Tự (靈峰寺) ở Khảo Đình (考亭), Long Môn Sơn Ngộ Không Tự (龍門山悟空寺) ở Hàng Châu, Đông Tháp Quảng Phước Tự (東塔廣福寺) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), Cao Đình Sơn Phật Nhật Tự (皐亭山佛日寺) ở Hàng Châu, Tượng Điền Tự (象田寺) và Lan Ngạc Sơn Tự (蘭萼山寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府). Vào ngày mồng 8 tháng giêng năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 35 hạ lạp. Môn nhân là Viễn Môn Tịnh Trú (遠門淨住) biên tập bộ Thạch Vũ Thiền Sư Pháp Đàn (石雨禪師法檀) 20 quyển và soạn bản Hành Trạng (行狀).
thạch vũ thiền sư pháp đàn
2116請參閱林間錄 凡二十卷。又作石雨法檀。明代僧石雨明芳撰,遠門淨柱編,清順治六年(1649)刊行。編集明芳由杭州府佛日寺始,經六府十三處道場,計十五會之語錄、普說、示眾、機緣,以及頌古、贊、法語、詩偈、序、記、銘、跋、疏、書問、佛事、祭文、雜著、行狀等。
; (石雨禪師法檀) Cũng gọi Thạch vũ pháp đàn. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Thạch vũ Minh phương soạn vào đời Minh, ngài Viễn môn Tịnh trụ biên tập, ấn hành vào năm Thuận trị thứ 6 (1649) đời Thanh. Nội dung sách này biên tập các ngữ lục, phổ thuyết, thị chúng, cơ duyên, cho đến các bài tụng cổ, tán, pháp ngữ, thi kệ, tự, kí, minh, bạt, sớ, thư vấn, Phật sự, tế văn, tạp trứ, hành trạng của ngài Minh phương đã giảng dạy hoặc biên soạn, bắt đầu từ chùa Phật nhật ở phủ Hàng châu, qua đến 13 đạo tràng tại 6 phủ, tất cả gồm 15 hội.
thạch xuyên tinh xá
2112日本最早之寺院。又稱馬子塚。有五輪石塔,高約三公尺。相傳今奈良縣橿原市(畝傍町石川)之本明寺即其遺址。敏達天皇十三年(584),蘇我馬子於石川之自宅修建精舍,安奉佛像及舍利(為司馬達等攜來),後因被誣為惡疫流行之因,遂為物部守屋燒燬,其後不詳。
Thạch Ðầu Hi Thiên
石頭希遷; C: shítóu xīqiān; J: sekitō kisen; 700-790; |Thiền sư Trung Quốc, đắc đạo nơi Thanh Nguyên Hành Tư. Môn đệ của Sư có ba vị danh tiếng là Dược Sơn Duy Nghiễm, Ðan Hà Thiên Nhiên và Thiên hoàng Ðạo Ngộ.|Sư ở Hồ Nam và Mã Tổ ở Giang Tây là hai vị thầy danh tiếng nhất đương thời. Sử sách ghi lại rằng »Mã Ðại sư hoằng hoá tại Giang Tây, Thạch Ðầu Hoà thượng tại Hồ Nam và Thiện tri thức đều đến hai nơi này. Ai không yết kiến hai vị này là uổng công tu hành«.|Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nhân nghe Lục tổ Huệ Năng giáo hoá tại Tào Khê Sư liền đến. Ðến chưa bao lâu thì Tổ báo tin sắp tịch, khuyên Sư đến Thanh Nguyên Hành Tư tham vấn. Sư đến Thiền sư Hành Tư và nhân đây ngộ đạo. Sau, Sư đến Hoành Nhạc tại Nam Tự cất am tranh ở. Cạnh chùa có đồi đá cao nên thời nhân kính trọng gọi Sư là Hoà thượng Thạch Ðầu.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Ai trói ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Tịnh độ?« Sư đáp: »Cái gì làm nhơ ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Niết-bàn?« Sư đáp: »Ai đem sinh tử cho ngươi?«|Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu, ngày rằm tháng chạp Sư viên tịch, thọ 91 tuổi, được 63 tuổi hạ. Vua sắc phong là Vô Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.
thạch điền pháp huân
Shih tien Fa hsun (C) Tên một vị sư.
thạch đào
2140(1630?~1708)明末僧。廣西清湘人,一說桂林人。以書畫著稱於世,為我國繪畫史上「明末四僧」之一。本名朱若極,為明朝宗室。自幼即以明室內亂而寄跡空門。嘗從學於本月。佛學之外,兼習書畫詩文。明亡之後,剃髮為僧,法名原濟,旋改稱道濟,號大滌子、清湘老人。晚號瞎尊者、老濤、枝下叟,自稱苦瓜和尚。秉性耿介,不與人俯仰。嘗有反清復明之志,後見大勢已去,乃雲遊瀟湘、洞庭、廬山等地。中年多居於安徽宣城,並常遊黃山,自云得黃山之性,其山水畫實以黃山為其骨脈,遂開黃山一派。康熙二十九年(1690)曾赴北京,得清帝之禮遇,惟無意出仕。 晚年定居揚州,交遊甚廣,與石谿髠殘齊名,稱二石。平生最擅繪畫,尤精於山水、蘭、竹,構圖古雅,時人推許為江南第一。又善書法、刻印,尤長分隸,詩文亦著。撰有大滌子題畫詩跋四卷、苦瓜和尚畫語錄。該語錄為其畫論,詞意深奧,立論精闢,頗多禪機,影響後世至鉅。〔清湘老人書畫編年(張大千)、清史稿列傳第二九○〕(參閱「道濟」5661)
; (石濤) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người ở Thanh tương, tỉnh Quảng tây, có thuyết nói người ở Quế lâm. Sư nổi tiếng về thư họa, là 1 trong 4 vị tăng trứ danh cuối đời Minh (Minh mạt tứ tăng) trong lịch sử hội họa Trung quốc. Sư vốn là Chu nhược cực, tôn thất (họ vua) của triều Minh. Từ nhỏ, thấy mầm mống nội loạn của nhà Minh, sư đã gửi mình nơi cửa Phật. Sư từng theo học ngài Bản nguyệt. Ngoài Phật học, sư còn theo học cả thư họa, thi văn(viết các kiểu chữ, vẽ tranh, làm thơ, soạn văn). Sau khi nhà Minh diệt vong, sư xuất gia làm tăng, lấy pháp danh là Nguyên tế, sau đổi thành Đạo tế, hiệu Đại địch tử, Thanh tương lão nhân. Về già, sư lấy các biệt hiệu là Hạt tôn giả, Lão đào, Chi hạ tẩu và tự xưng là Khổ qua hòa thượng. Sư bẩm tính ngay thẳng, không ưa bợ đỡ người khác, từng nuôi chí phản Thanh phục Minh(đánh đổ nhà Thanh, khôi phục nhà Minh). Sau thấy vận thế nhà Minh đã hết, sư bèn vân du các nơi Tiêu tương, Động đình, Lô sơn... Lúc trung niên, sư thường ở Tuyên thành thuộc tỉnh An huy và thường du ngoạn Hoàng sơn, tự cho rằng mình đã lãnh hội được tính Hoàng sơn, tranh sơn thủy của sư lấy Hoàng sơn làm cốt mạch, từ đó mở ra phái Hoàng sơn.Về già, sư định cư ở Dương châu, giao du rất rộng, tiếng tăm ngang với Thạch khê Khôn tàn, được gọi chung là Nhị thạch. Bình sinh, sư giỏi về hội họa, nhất là tranh sơn thủy, lan, trúc, hình thức trang nhã, cổ kính, người đương thời suy tôn sư là Giang Nam Đệ Nhất. Sư cũng giỏi về thư pháp, khắc ấn, nhất là kiểu chữ Lệ, thơ văn cũng hay. Những họa phẩm của sư phần nhiều mang đậm ý Thiền, ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Sau có các tác phẩm: Đại địch tử đề
thạch đầu
Shih-t'ou (C).
thạch đầu hi thiên
2140(700~709)唐代禪僧。又稱無際大師。端州高要(廣東高要)人,俗姓陳。生而聰敏。以鄉民畏鬼神而祭祀之,常殺牛釃酒,頗多弊害,師輒毀神祠,奪牛而歸。曾禮六祖慧能、青原行思為師。得青原行思之印可。天寶(742~755)初年,居衡山南寺,結菴坐禪於寺東石臺上,大揚宗風,世稱石頭和尚。自稱其法門不論禪定精進,僅須了達佛之知見即是「即心即佛」;心佛眾生,菩提煩惱,名異體一。懷讓等皆推重之。時江西以馬祖為主,湖南以石頭為主,四方學徒多輻湊於二師之門。唐貞元六年十二月示寂,世壽九十一。著有參同契、草庵歌各一篇行世。〔宋高僧傳卷九、景德傳燈錄卷十四、五燈會元卷五〕
; Shih-t'ou Hsi hsien (C), Sekitō Kisen (J) (700 - 790). Một vị thầy nổi tiếng cùng thời ngài Mã Tổ (thế kỷ thứ 8) ở Trung quốc, người thừa kế của ngài Thanh Nguyên Hành Tự Tên một vị sư. (700-790).
; (石頭希遷) Cũng gọi Vô tế đại sư. Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Cao yếu, Đoan châu (Cao yếu, Quảng đông), họ Trần. Sư thông minh lanh lợi từ thủa nhỏ. Vì dân làng sợ hãi quỉ thần nên thường giết trâu, nấu rượu để cúng tế, gây rất nhiều tệ hại. Sư liền phá bỏ miếu thờ thần, dắt trâu đem về. Sư từng lễ các ngài Lục tổ Tuệ năng và Thanh nguyên Hành tư làm thầy, được Thanh nguyên Hành tư ấn khả. Khoảng đầu năm Thiên bảo (742-755), sư trụ ở chùa Hành sơn nam, kết am tọa thiền trên tảng đá phía đông chùa, do đó, người đời gọi sư là Thạch đầu hòa thượng. Sư tự cho rằng pháp môn của mình không bàn thiền định có tinh tiếnhay không, mà chỉ cần rõ suốt tri kiến của Phật, chính là Tức tâm tức Phật; tâm, Phật, chúng sinh, bồ đề, phiền não, tên tuy khác nhưng thể thì là một. Các Thiền sư Hoài nhượng... đều kính trọng sư. Bấy giờ, ở tỉnh Giang tây, đứng đầu là ngài Mã tổ; ở tỉnh Hồ nam, đứng đầu là ngàiThạch đầu, người học từ 4 phương phần nhiều đều qui tụ dưới tòa của 2 ngài. Tháng 12 năm Trinh nguyên thứ 6 (790), sư thị tịch, thọ 91 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tham đồng khế 1 thiên, Thảo am ca 1 thiên.
Thạch Đầu Hy Thiên
(石頭希遷, Sekitō Kisen, 700-790): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, còn được gọi là Vô Tế Đại Sư (無際大師), người vùng Cao Yếu (高要), Đoan Châu (端州, Cao Yếu, Quảng Đông), họ Trần (陳). Ông bản tánh rất thông minh, lanh lợi, nhân thấy người dân trong làng thường giết bò tế quỷ thần, nhiều lần như vậy, ông bèn phá đền thờ thần rồi dẫn bò về nhà. Ban đầu ông theo hầu hạ Huệ Năng (慧能), rồi sau khi thầy mình qua đời, ông chuyển sang làm đệ tử của Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) ở Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm đầu niên hiệu Thiên Bảo (天寳, 742-755), ông sống tại Nam Tự (南寺), Hành Sơn, làm am tranh trên tảng đá ở phía Đông chùa mà ngồi Thiền, nên được người đời gọi là Hòa Thượng Thạch Đầu (石頭). Đương thời ở Giang Tây (江西), Mã Tổ là chủ, còn ở Hồ Nam (湖南) Thạch Đầu là chủ, học đồ ở bốn phương đều tập trung về pháp tịch của 2 vị này. Tuy nhiên, giống như Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然) cũng đã từng tu hành dưới trướng của Mã Tổ, rồi Ngũ Duệ Linh Mặc (五洩靈黙) mà sau này được xem như là đệ tử của Mã Tổ, cũng có đến tham yết Thạch Đầu, sự qua lại giữa môn hạ của hai nhân vật này rất thường xuyên, và ta cũng thấy rằng họ có cùng một tư tưởng như nhau. Vào tháng 12 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Trước tác của ông có Tham Đồng Khế (參同契), Thảo Am Ca (草庵歌).
thạch đầu hy thiên thiền sư
Ông sanh vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch, quê ở làng Cao Yếu, quận Đoan Châu (bây giờ là phía Tây của Quảng Châu). Ông họ Trần. Người ta kể lại khi thọ thai ông, mẹ ông tránh ăn thịt. Khi còn rất nhỏ mà sư đã không bao giờ làm phiền ai. Đến lúc lớn khôn, lúc nào sư cũng tự an ổn vui tươi, không khi nào tỏ vẻ không bằng lòng. Nơi ông ở dân chúng kinh sợ quỷ thần nên giết bò mua rượu tế lễ. Sư một mình đi vào rừng sâu, phá đàn và thả bò đi. Khi xuất gia, sư đến Tào Khê thọ giáo với Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chưa thọ cụ túc giới. Khi Lục Tổ tịch, ông về thọ giáo với sư huynh Hành Tư (cũng là một đại đệ tử của Lục Tổ). Ông trở thành đại đệ tử của Thiền Sư Hành Tư, và từ đó ông cũng trở thànhø một trong những thiền sư hàng đầu của Trung Quốc vào thời đại nhà Đường. Ông có tên Thạch Đầu (đầu hòn đá) do sự kiện ông sống trong một cái am mà ông tự xây trên một tảng đá lớn và phẳng. Ba trong số năm Thiền phái Trung Hoa ngày nay có nguồn gốc từ Thạch Đầu và những người kế tục ông. Ông tịch vào năm 790 sau Tây Lịch—Shih-T'ou-Hsi-T'ien was born in 700 A.D. in Cao-Yao hamlet, Duan-Chou district (west of present-day Kuang-Chou). His last name was Chen. It is said that when Shi-Tou's mother became pregnant she avoided eating meat. When he was a small child he was untroublesome. As a young man he was magnanimous. The people where he grew up feared demons and performed debased sacrifices of oxen and wine. He would go alone into the deep woods and destroy the ceremonial altars, seize the oxen, and drive them away. Later, Shi-Tou went to Tao-Xi to become a disciple of the Sixth Patriarch Hui-Neng, but did not undergo full ordination as a monk. When the Sixth Patriarch died, Shi-Tou obeyed Hui-Neng's request to go to study with Xing-Si (also one of the great disciples of the Sixth Patriarch). He later became one of the great disciples of Xing-Si Zen Master, and since then he also became one of the leading Chinese Zen masters during the T''ang dynasty. He acquired the name Shih-T'ou or rock-top from the fact that he lived in a hut he had built for himself on a large flat rock. Three of the five traditional schools of Chinese Zen traced their origins through Shi-Tou and his heirs. He died in 790 A.D.
thạch đầu sơn
2139位於江蘇江寧之西約一公里處。山下有清涼寺,法眼文益及清涼泰欽曾住持該寺。
thạch địa tạng
2113指石造之地藏像。於日本,多將地藏菩薩之石像安置於路旁,稱為「濡佛」。
; (石地藏) Chỉ cho tượng củabồ tát Địa tạng được tạc bằng đá. Tại Nhật bản, tượngbồ tát Địa tạng bằng đá thường được an trí bên lề đường, gọi là Nhu Phật.
thạch ốc thanh hòng
Shih wu Ching hung (C) Tên một vị sư.
thạch ốc động
2116位於浙江九曜山西南之石屋嶺下。洞壁上有五一六尊大小羅漢雕刻像,相傳為五代以前之作品,其中以坐於中間之釋迦佛及立於兩旁之迦葉與羅漢等之神態最為莊嚴肅穆。壁上尚有生動活潑之飛天浮雕。此外,洞內之石床、石枕等,皆為宋代遺物。
thạnh
Upadana (p)—Growing.
thạnh giả tất suy
5166謂勢力盛者必致衰滅。與「生者必滅」同義。表示諸行無常之義,為佛教人生觀所顯示之真理。〔北本大般涅槃經卷二壽命品、未生冤經〕
thạnh vân
5167(1906~ )福建福鼎縣人,俗姓陳。法名印覺。年十八,禮浙江普陀山鶴鳴庵清巖法師出家。年二十,於寧波天童寺受具足戒。民國十六年(1927),隨侍其師公廣通法師前往馬來西亞吉隆坡,於觀音亭助理法務。後返大陸,於江蘇天寧寺住學戒堂。十九年到臺灣,掛錫於觀音山凌雲禪寺。二十五年受聘住持基隆慈雲寺。三十七年,於臺北市赤峰街創建聖觀佛堂(後更名為聖觀寺),住持迄今。
Thạnh, Thịnh 盛
[ja] ジョウ jō ||| (1) Serve, fill, help up, hold, contain. (2) To prosper, flourish; abundant. Plentiful, prosperous, successful, energetic. (3) Quantity; good measure. (4) Height, peak, prime, bloom. => 1. Chứa, làm đầy, giúp đỡ, dung nạp, chứa đựng. 2. Thịnh vượng, phồn thịnh; phong phú. Sung túc, phát đạt, thành công, đầy nghị lực. 3. Số lượng lớn; biện pháp đúng đắn. 4. Chiều cao, đỉnh, chóp, chủ yếu, thời kỳ rực rỡ.
thả
1531禪林用語。含有況且、而且、尚且、暫且、姑且等意。禪宗典籍如語錄或宗門傳燈錄中,常有「且……」之用語,如且住(暫且停止)、且莫(暫且莫要,或作罷之意)、且道(試說看)、且喜(總之是可喜、好歹是可喜)、且如(例如)、且說(轉語詞)、且置(暫且擱置)等語,其用法與語意並無一定。
; 1) Trả tự do: To let go—To set free—To free—To release—To discharge. 2) Giải phóng: To liberate. 3) Hơn nữa: Moreover—yet—Meanwhile.
; (且) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thả bao hàm các ý nghĩa: Vả lại, vả chưng,hãy thế, tạm hãy thế, hãy còn, vẫn còn... Trong các sách vỡ Thiền tông như Ngữ lục hoặc Truyền đăng lục... thường có dụng ngữ thả như thả trụ (hãy tạm dừng), thả mạc (tạm thời không cần đến, hoặc hãy bỏ), thả đạo(hãy nói thử xem), thả hỉ (tất cả đều đáng mừng, hoặc dù sao cũng đáng mừng), thả như(ví dụ như, chẳng hạn như), thả thuyết(lời nói chuyển sang câu khác), thả trí(hãy tạm gác qua 1 bên)... cách dùng cũngnhư ý nghĩa của các từ này không nhất định.
thả chim
To release or let a bird go.
thả cửa
As one pleases.
thả hỉ một giao thiệp
1531禪林用語。且喜,意即幸喜、總之是可喜;沒交涉,言與所義不相干,為否定前人之語。即含有一往隨喜前人之語而後否定之意味。〔碧巖錄第五則、從容錄第四十九則〕
; (且喜沒交涉) Thả hỷ là vẫn đáng mừng; Một giao thiệp là chẳng liên quan gì. Tức điều đó cũng tốt, nhưng chẳng liên quan gì cả. Thiền tông thường dùng nhóm từ này để phủ định những câu nói mới nghe tựa hồ rất hay, rất đúng, nhưng thực chất thì chẳng liên quan gì cả. [X. Bích nham lục tắc 5; Thung dung lục tắc 49].
thả hỷ
So be it—Granted.
Thả như
且如; C: qiěrú; J: shonyo;|Giống như, như là.
thả trôi
Moving about without being guided—Driven by wind or water—To adrift at the mercy of the waves.
Thả ước
且約; C: qiěyuē; J: shaaku;|Theo quan điểm nầy, từ phương diện nầy.
thải
To discharge—To eliminate—To fire—To dismiss.
thải hồi
See Thải.
thảm
1) Carpet. 2) Tragic.
thảm khốc
Tragic—Cruel—Terrible.
thảm sầu
Grievous—Sad—Sorrowful.
thảm thiết
Tragic.
thảm thê
Thê thảm—Painful—Piteous.
thảm thương
Pitiful.
thảm trạng
Tragic (painful) situation.
thảm đạm
Ảm đạm—Sad—Gloomy.
thản
Bình thản—Unevenful—Even.
thản nhiên
3128(?~1158)高麗僧。俗姓孫。十五歲爲明經生。十九歲於京北山安寂寺落髮。後修廣明寺慧炤國師之心要,有所領悟。歷住義林寺、禪巖寺、天和寺、菩提寺等,獲得三重大師之封號。仁宗十七年(1139),住廣明寺,以所著之四威儀頌、上堂語句等,呈送我國四明阿育王山之無示介諶禪師,介諶覆書予以印可。仁宗二十三年受任王師。毅宗元年(1147),住晉州(慶尚北道)之斷俗寺。毅宗十二年示寂,世壽不詳。〔朝鮮金石總覽上、嘉泰普燈錄卷十七、五燈全書卷四十〕
; Tan jan (C) Xem Xả.
; Unimpressionable—Unmoved—Emotionless—Even-mindedness.
thản nhiên không chút động tâm trước những đau thương hay cái chết của người khác
To remain emotionless before the suffering or the death of others.
Thản phục
(坦腹): để lộ bụng ra thấy rốn, nằm phơi bụng. Trong Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語), phần Nhã Lượng (雅量) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) nhà Tống thời Nam Triều có đoạn: “Khích Thái Phó tại kinh khẩu, khiển môn sinh dữ Vương Thừa Tướng thư, cầu nữ tế. Thừa Tướng ngữ Khích Tín: 'Quân vãng đông sương, nhậm ý tuyển chi.' Môn sinh quy bạch Khích viết: 'Vương gia chư lang giai khả hỷ.' Văn lai mích tế, hàm tự căng trì, duy hữu nhất lang tại đông sàng thượng thản phục ngọa, như bất văn. Khích công vân: 'Chánh thử hảo.' Phỏng chi, nãi thị dật thiểu, nhân giá nữ dữ yên (郄太傅在京口、遣門生與王丞相書、求女壻。丞相語郄信:君徃東廂、任意選之。門生歸白郄曰:王家諸郎亦皆可嘉。聞來覓壻、咸自矜持、唯有一郎在東牀上坦腹臥、如不聞。郄公雲:正此好、訪之、乃是逸少、因嫁女與焉, khi Khích Thái Phó đang ở kinh đô, sai môn sinh đem thư đến cho Vương Thừa Tướng cầu kén rễ. Thừa Tướng bảo Khích Tín rằng: 'Ngươi cứ qua bên nhà đông, tùy ý chọn lựa.' Môn sinh trở về thưa lại với Khích Thái Phó rằng: 'Các chàng trai của vương gia đều có thể vui mừng thuận theo.' Nghe vậy, ông bèn đến xem mặt chàng rễ, ai ai cũng háo hức chờ đợi, duy chỉ có một chàng nằm phơi bụng thản nhiên trên giường phía đông, như thể chẳng nghe thấy gì cả. Khích Thái Phó bảo: 'Quả đúng người này rồi !' Hỏi ra mới biết chàng ta là người sống ít ham muốn, do đó ông gả con gái cho anh ta).” Từ đó, xuất hiện từ “đông sàng thản phục (東牀坦腹)” hay “thản phục đông sàng (坦腹東牀)”, được dùng dể chỉ cho người chồng của con gái mình, tức chú rễ. Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 6 của Trử Nhân Hoạch (褚人獲, ?-?) nhà Thanh, có đoạn rằng: “Ngã thị Lý phủ trung tiểu thư đích bảo mẫu, nhân lão da, phu nhân yếu sính công tử đông sàng thản phục, đản ngã gia tiểu thư … thệ nguyện giá nhất cá thiện võ năng văn, túc trí đa mưu đích kỳ nam tử (我是李府中小姐的保母、因老爺、夫人要聘公子東牀坦腹、但我家小姐…誓願嫁一個善武能文、足智多謀的奇男子, tôi là bảo mẫu của tiểu thư trong phủ họ Lý; nhân lão gia và phu nhân cần kén chàng rễ công tử, nhưng tiểu thư nhà tôi … lại thề nguyện lấy một chàng trai đặc biệt khéo võ nghệ, giỏi văn chương, túc trí đa mưu).”
thản sơn
3127(1819~1892)日本曹洞宗僧。磐城(福島縣)人,俗姓原,故世人多稱之爲原坦山和尚。號鶴巢、覺仙。初名良作。於江戶昌平黌修習儒學,兼攻佛學、醫學。進入佛門後,在明治五年(1872)任教導之職。後以違反出版法,被除去僧籍。未久,應築地本願寺之請,開講佛經。十一年,在東京創立佛仙社,教導學徒。翌年,任東京大學印度哲學科講師,教授佛教課程。十三年,恢復僧籍後,住最乘寺。歷任曹洞宗大學林總監、管長代理等職。明治二十五年示寂,世壽七十四。著有首楞嚴經講義、心識論、時得抄、惑病同源論、鶴巢集等書,均收入坦山和尚全集。
; (坦山) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Tào động, người ở Bàn thành (huyện Phú đảo), họ Nguyên, hiệu Hạc sào, Giác tiên. Sư kiêm học tập Nho học, Phật học và Y học. Năm Minh trị thứ 5 (1872), sau khi vào cửa Phật, sư làm chức Giáo đạo. Sau vì vi phạm luật xuất bản nên bị tước bỏ tăng tịch. Không bao lâu, theo lời thỉnh của Bản nguyện ở Trúc địa, sư khai giảng kinh Phật. Năm Minh trị 11 (1878), sư sáng lập Phật tiên xã tại Tokyo để chỉ dạy người học. Năm sau, sư làm Giảng sư môn Triết học Ấn độ ở trường Đại học Tokyo, dạy chương trình Phật giáo. Năm Minh trị 13 (1880), sau khi được khôi phục tăng tịch, sư trụ ở chùa Tối thừa. Sư từng giữ các chức Tổng giám và Quản trưởng Đại lí Đại học lâm của tông Tào động. Năm Minh trị 25 (1892) sư tịch, thọ 74 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thủ lăng nghiêm kinh giảng nghĩa, Tâm thức luận, Thời đắc sao, Hoặc bệnh đồng nguyên luận, Hạc sào tập... tất cả được thu vào Thản sơn Hòa thượng toàn tập.
Thản Văn
坦文; C: tănwén; J: tanbun; K: tanmun, 900-975;|Học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời Cao Li (k: koryŏ).
Thản Văn 坦文
[ja] タンブン Tanbun ||| (900-975) Tanmun; a major Hwaŏm scholar of the Koryŏ period. => k: Tanmun(900-975); học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời kỳ Cao Lệ (k: Koryŏ).
thảng hoặc
By chance---Occasionally.
thảnh nữ li hồn
(倩女離魂) Tên công án trong Thiền lâm. Cô gái xinh đẹp hồn lìa khỏi xác. Đây là một câu chuyện quái đản được ghi trong Tiễn đăng tân thoại quyển thượng như sau: Thảnh nương đã hứa hôn với một người tên là Vương trụ, nhưng sau cha nàng cự tuyệt, Thảnh nương vì uất ức mà thành bệnh. Vương trụ cũng rất oán hận mà bỏ nhà đi đến kinh đô; giữa đường bỗng gặp Thảnh nương, 2 người bèn đưa nhau đến đất Thục. Sau khi sống với nhau trong 5 năm, Thảnh nương sinh được 2 con, 2 vợ chồng lại dắt 2 con trở về nhà nhạc gia tạ lỗi.Nhưng thực ra từ khi Vương trụ bỏ nhà ra đi, Thảnh nương vẫn còn bị bệnh nằm trong khuê phòng, chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bởi vậy, khi thấy Vương trụ và Thảnh nương dắt 2 con trở về, mọi người đều kinh ngạc. Bấy giờ, cô gái nằm liệt trên giường bệnh trong phòng nghe tin cũng rất vui mừng và đi ra đón họ. Hai vị Thảnh nương mới nhập lại làm một. Thảnh nương đi với Vương trụ thực ra chỉ là hồn của cô gái đang bệnh nằm liệt giường đã lìa khỏi xác mà thôi. Vô môn quan tắc 35 (Đại 48, 297 trung) nói: Ngũ tổ hỏi vị tăng: Thảnh nữ li hồn, cô nào là thật? Thiền tông mượn câu chuyện li kì trên đây làm công án, mục đích khiến người học tham cứu bản tính của tự tâm con người rốt cuộc là chân hay vọng, thiện hay ác, hoặc thân, tâm là một hay khác. [X. chương Ngũ tổ trong Chính thống lục Q.6; Chiết trung lục Q.15; Đạo thụ lục Q.86].
thảnh thơi
Disengaged—Free.
thảo
1) Cỏ: Grass—Herbs—Plants. 2) Hiếu thảo: Filial.
thảo am
Ngôi nhà tranh dùng làm tự viện hay chỗ an cư kiết hạ—A thatched hut as a monastery or retreat—A thatched hut for meditation.
thảo diệu pháp hành
Saddhammacara (P) Tỳ kheo Tích Lan.
Thảo dã
(草野): có ba nghĩa. (1) Cánh đồng cỏ dại mọc um tùm, thảo nguyên hoang sơ. Như trong bài Thái Sơn Lương Phủ Hành (泰山梁甫行) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Bát phương các dị khí, thiên lí thù phong vũ, kịch tai biên hải dân, ký thân ư thảo dã (八方各異氣、千里殊風雨、劇哉邊海民、寄身於草野, tám phương đều khác khí, ngàn dặm lạ gió mưa, tội thay dân ven biển, gởi thân chốn đồng hoang).” (2) Miền quê, dân gian, dân dã, đối nghĩa với triều đình. Như trong tác phẩm Luận Hành (論衡), phần Thư Giải (書解) của Vương Sung (王充, 27-97) nhà Hán có đoạn: “Tri ốc mãn giả tại vũ hạ, tri thất chính giả tại thảo dã, tri kinh khóa giả tại Chư Tử (知屋滿者在宇下、知失政者在草野、知經課者在諸子, người biết được nhà đầy khi ở dưới mái nhà, người biết được mất việc quan khi ở chốn dân dã, người biết được kinh điển nhờ các hiền triết).” (3) Chỉ bá tánh bình dân, thảo dân. Như trong Minh Sử (明史), Điền Thọ Dân Truyện (田壽民傳), có đoạn: “Thử hà đẳng sự, tại triều giả bất ngôn nhi thảo dã ngôn chi, ngô bối quý tử hĩ (此何等事、在朝者不言而草野言之、吾輩愧死矣, đây là chuyện gì, nơi triều đình thì không nói mà hạng thảo dân lại nói, bọn ta xấu hổ chết đi được).”
thảo hoàn
4316請參閱 大通禪師語錄 又作茅環、指釧。以茅草所造之指環,為密教修法時所用。據蘇悉地經卷一載,行者若供養、持誦、護摩時,著草環於右手無名指上,可除滅罪障,所作皆成。日本小野三流、台密諸流至今猶用之。
; Còn gọi là Mao Hoàn, chiếc nhẫn làm bằng cỏ. Mật giáo dùng trong các nghi lễ—A grass finger-ring used by the esoteric sect.
; (草環) Cũng gọi Mao hoàn, Chỉ xuyến. Chỉ cho chiếc nhẫn được làm bằng cỏ tranh sử dụng khi tu pháp trong Mật giáo.Cứ theo kinh Tô tất địa quyển 1, nếu khi hành giả cúng dường, trì tụng hộ ma mà đeo thảo hoàn vào ngón vô danh bên tay phải thì chẳng những trừ diệt được các tội chướng mà làm việc gì cũng thành tựu.Tại Nhật Bản, 3 dòng Tiểu dã, các dòng Thai mật(Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền)đến nay vẫn còn sử dụng thảo hoàn.
thảo hài
4316又稱芒鞋。古代僧侶於行腳時所著之鞋。故亦稱僧侶行腳時所須之旅費為草鞋錢。景德傳燈錄卷八南泉普願章(大五一‧二五七下):「師云:『漿水價且置,草鞋錢教阿誰還?』」
; (草鞋) Cũng gọi Mang hài. Giày cỏ, là loại giày mà chư tăng ngày xưa mang khi đi hành cước (du phương tham học). Do đó, tiền lộ phí mà các vị tăng cần dùng khi đi hành cước cũng được gọi là Thảo hài tiền. Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 257 hạ) ghi: Sư nói: Tiền uống nước đã tạm xong, thế còn thảo hài tiền thì bảo ai trả.
thảo hạ
4315簡略之祝賀稱為草賀。禪宗住持於入院之時,知事上首等先略賀,稱為草賀。住持於開堂下座之後,一山之大眾再行祝賀,稱為展賀。〔敕修百丈清規卷三入院條〕
; (草賀) Chúc mừng đơn giản. Trong Thiền Tông, khi vị Trụ trì làm lễ nhập viện thì vị tri sự thượng thủ trước nói sơ qua vài lời chúc mừng, gọi là Thảo hạ. Sau khi vị Trụ trì khai đường xuống tòa thì đại chúng trong toàn chùa lại chúc mừng, gọi triển hạ.[X. điều Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].
thảo hệ tỉ khâu
4316喻指嚴守禁戒之比丘。草繫,梵語 kuśa-vandhana。大莊嚴經論卷三載,有眾多比丘途遇盜賊,盜賊即用草繫縛其身;眾比丘唯恐斷殺草之生命,故不敢解縛。以此為例,比喻其守禁戒之嚴正。梵網經卷下(大二四‧一○○七中):「若佛子護持禁戒,行住坐臥日夜六時讀誦是戒,猶如金剛,如帶持浮囊欲度大海,如草繫比丘。」〔賢愚經卷五沙彌守戒自殺品、法苑珠林卷九〕
; (草系比丘) Thảo hệ, Phạm: Kuza-vandhana. Vị tỉ khưu bị trói bằng cỏ. Thí dụ chỉ cho tỉ khưu nghiêm giữ giới cấm. Đại trang nghiêm kinh luận quyển 3 nói: Có nhiều tỉ khưu đi giữa đường gặp giặc cướp, chúng liền dùng cỏ tươi trói họ lại;tháp xá lợi của ngài Cưu ma la thập ở chùa Thảo đườngvì sợ làm đứt sự sống của cỏ nên các tỉ khưu không dám cởi trói. Câu chuyện này được dùng để ví dụ việc giữ gìn giới cấm một cách nghiêm chính. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1007 trung) nói: Nếu các Phật tử giữ gìn giới cấm thì đi đứng nằm ngồi, ngày đêm 6 thời đọc tụng giới này, giống như kim cương, như mang phao nổi vượt qua biển cả, như tỉ khưu bị trói bằng cỏ tươi(Thảo hệ tỉ khưu). [X. phẩm Sa di thủ giới tự sát trong kinh Hiền ngu Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.9].
Thảo hệ tỷ-khưu 草繋比丘
[ja] ソウケビク soukebiku ||| "A monk tangled up in the grass." In ancient India, a monk was mugged by a thief, who restrained him by tying him up in the live grasses. The monk, not wanting to break the precept of "not killing" remained lying tied up in the grass, rather than ripping out. A king who passed by and found the monk was so moved by this scene that he converted to Buddhism. => “Vị tỷ-khưu bị trói bằng cỏ”. Vào thời cổ Ấn Độ, có vị tỷ-khưu bị kẻ cướp bắt và trói bằng cỏ tươi. Vị tỷ-khưu không muốn mình bị phạm vào giới sát nên chịu nằm vậy hơn là bức ra. Có vị vua đi ngang qua thấy vậy rất xúc động nên đã quy y Phật pháp.
thảo khấu
Bandit—Pirate.
thảo luận
To dispute—To debate—To discuss.
thảo lí hán
4315禪林用語。因草深而迷路者,引申為陷入第二義門之人。碧巖錄第三十六則之夾注(大四八‧一七四中):「不可落草,故缺不少,草裏漢!」
; (草裏漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người trong cỏ, nghĩa là vì đi trong lùm cỏ um tùm rậm rạp mà bị lạc đường. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người bị rơi vào đệ nhị nghĩa môn. Phần chú thích trong Bích nham lục tắc 36 (Đại 48, 174 trung) nói: Vì không thể hạ mình nên phạm nhiều khiếm khuyết, thảo lí hán!.
thảo mộc
4312譬喻受佛陀教法之一切眾生,猶如受雨水滋潤之草木。(參閱「三草二木」603)
; Cây cỏ đều nhận nước mưa như nhau, ý nói tất cả chúng sanh đều bình đẳng thọ nhận Phật pháp (nhận nhiều hay ít còn tùy ở căn cơ của mỗi người)—Herbs and trees, equally recipients of rain, as all humanity is of the Buddha's truth. .
; (草木) Cỏ cây. Ví dụ tất cả chúng sinh lãnh nhận giáo pháp của Phật giống như cỏ cây được mưa móc thấm nhuần. (xt. Tam Thảo Nhị Mộc).
thảo mộc quốc độ tất giai thành phật
4312謂草木、瓦礫、國土等非情、無情亦能成佛。又作草木成佛、非情成佛、無情成佛、無情有性。佛教諸宗中,小乘教無「無情有性」、「草木成佛」之論。大乘教中,主張草木成佛論者,如華嚴、天台、密宗等一乘教皆是。華嚴宗以毘盧遮那佛十身具足,融三世間之佛與定,故器世間亦有成佛之義。真如之性通於情、非情,依報之草木等亦有佛性。又如華嚴經中善財童子,禮彌勒之樓觀,乃得法門三昧;無量壽經有寶樹說法,蓮華世界之海水寶樹皆能說法,故亦有佛性。天台宗之草木成佛說,其教依法華涅槃而立,其理依色香中道而立,故有「一色一香,無非中道」之說,認為一切物悉具中道之理。密宗主張草木國土皆大日如來之法身,以六大為佛性,盛談非情成佛之義。蓋密教之意,十界之依正皆由六大所成,故若約五大,則為本初之佛體;若約識大,亦為性德之五智。草木等雖不具識大,然其自體即是本來佛,況又具覺知之功德,故亦具發心成佛之義。〔華嚴經探玄記卷十六、華嚴大疏鈔卷三十、台宗二百題卷七〕
; (草木國土悉皆成佛) Cũng gọi Thảo mộc thành Phật, Phi tình thành Phật, Vô tình thành Phật, Vô tình hữu tính. Các loài phi tình, vô tình như cỏ, cây, ngói, đá, đất, nước... đều thành Phật. Trong các tông Phật giáo, Tiểu thừa giáo không nói về vô tình hữu tính, thảo mộc thành Phật. Trong Đại thừa giáo thì các Nhất thừa giáo như Hoa nghiêm, Thiên thai, Mật tông... đều chủ trương thảo mộc thành Phật. Tông Hoa nghiêm cho rằng Phật Tì lô giá na có đủ 10 thân, Phật và định dung hợp 3 thế gian, cho nên khí thế giancũng có nghĩa thành Phật. Tính của chân như thông cả tình, phi tình, thảo mộc thuộc về y báo cũng có Phật tính. Lại như trong Hoa nghiêm, đồng tử Thiện tài lễ lầu quán của ngài Di lặc liền được pháp môn Tam muội; kinh Vô lượng thọ có cây báu nói pháp, nước biển, cây báu của thế giới Liên hoa đều có thể nói pháp, vì thế cũng có Phật tính. Giáo thuyết Thảo mộc thành Phật của tông Thiên thai y cứ vào kinh Pháp hoa Niết bàn mà được thành lập, vì thế mà có thuyết Nhất sắc nhất hương, vô phi trung đạo, chủ trương tất cả mọi việc đều có lí trung đạo. Mật tông cho rằng cỏ cây đất nước đều là Pháp thân của Đại nhật Như lai, lấy lục đại làm Phật tính, chủ trương nghĩa phi tình thành Phật. Bởi vì Mật giáo cho rằng y báo, chính báo của 10 giới đều do 6 đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức) mà thành, cho nên nếu nói về 5 đại Thì đó là Phật thể bản sơ; còn nếu nói về thức đại thì cũng là 5 trí của tính đức. Cây cỏ tuy không có thức đại nhưng tự thể của chúng chính là Phật vốn có từ xưa đến nay, hơn nữa còn có công đức giác tri, cho nên cũng có đủ nghĩa phát tâm thành Phật. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.30; Thai tông nhị bách đề Q.7].
thảo mộc thành phật
Hai tông Thiên Thai và Chân Ngôn lập ra lý “Ngay cả chúng vô tình như cỏ cây thảo mộc cũng có thể thành Phật” (tuy nhiên, theo Kinh Hoa Nghiêm thì chân như tùy duyên ở loài hữu tình gọi là Phật tánh, ở loài vô tình gọi là Pháp tánh. Phật tánh và pháp tánh sai biệt nên không có cái lý loài vô tình thành Phật)—Even herbs and trees (inanimate things—chúng vô tình) have Buddha-nature and can become Buddha, a T'ien-T'ai and Chên-Yen (Shingon) doctrine.
thảo phạn
4316指粗飯。敕修百丈清規卷四請立僧首座條(大四八‧一一三三下):「仍往庫司諸寮舍問訊,方丈備草飯,請特為湯藥石。」
; (草飯) Chỉ cho cơm thô sơ. Điều Thỉnh lập tăng thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 hạ) nói: Vẫn đến các liêu xá của Khố ti thăm hỏi, Phương trượng chuẩn bị thảo phạn, xin xem đó là dược thạch.
thảo sáng
4315初創之義。凡事物之初始,稱為草創,如草創開山,謂寺院堂塔之初建。此外,又指起稿之義;草創初稿,尚須修飾潤色,乃成其文。
; (草創) Bắt đầu sáng lập. Lúc mới bắt đầu tạo tác sự vật, gọi là Thảo sáng, như Thảo sáng khai sơn, nghĩa là chùa viện nhà tháp mới được xây dựng. Ngoài ra, Thảo sáng còn chỉ cho nghĩa soạn bản thảo, mới soạn bản thảo còn phải sửa chữa, cho hoàn chỉnh mới thành văn.
thảo sớ
4315禪林中所用之文疏,多為四六對仗之駢體文,然間亦有散文者。草,作草稿解;草疏,指自作之文疏。〔禪林象器箋文疏門〕
; (草疏) Văn sớ dùng trong Thiền lâm, phần nhiều được viết theo thể văn biền ngẫu, câu 4 chữ câu 6 chữ đối nhau, nhưng đôi khi cũng dùng văn xuôi. Thảo được hiểu là bản thảo; Thảo sớ chỉ cho văn sớ do mình tự soạn. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thảo thư kinh
4313以草書體寫成之經典。丹鉛總錄卷十五與畢沅之關中金石記卷一中,皆有草書心經石刻之記載;該石刻今存於長安之碑林,相傳係唐朝駙馬鄭萬鈞所書。一般佛教經文碑石,殊少以草體字書成,例如敦煌出土之古寫佛典中,大多為正體字,僅有大乘起信論略述(唐寶應二年寫,763)、大乘起信論廣釋、法華經玄贊等註釋類為草書寫本。
; (草書經) Chỉ cho kinh điển viết bằng lối chữ thảo. Đan duyên tổng lục quyển 15 và Quan trung kim thạch kí quyển 1 của Tất nguyên đều có nói về thảo thư Tâm kinh được khắc trên đá, thạch khắc này hiện còn trong Bi lâm(rừng bia)ở Trường an, tương truyền do Phò mã Trịnh vạn quân đời Đường viết. Thông thường, các bia đá khắc văn kinh Phật giáo rất ít khi được viết bằng lối chữ thảo, chẳng hạn trong các kinh Phật chép tay xưa đào được ở Đôn hoàng thì phần nhiều được viết bằng thể chữ khải(chữ viết ngay ngắn, rõ ràng), chỉ có loại sách chú thích như Đại thừakhởi tín luận lược thuật (được viết vào năm Bảo ứng thứ 2 –763– đời Đường), Đại thừa khởi tín luận quảng thích, Pháp hoa huyền tán... là được viết bằng lối chữ thảo.
thảo toà
4313又作茅座。法會時,於佛前長老所用座具之一。乃依佛陀成道時敷吉祥草之典故而來,後世所用之草座,模仿吉祥草之形狀,垂絲於四周,縱約四十公分,橫約二十公分,兩片相聯而為褥座,收時則疊,其兩端垂亂線,擬草之樣。〔無量壽經卷上、諸佛要集經卷上、僧綱式卷下〕
; (草座) Cũng gọi Mao tọa. Nệm để ngồi được tết bằng cỏ, 1 trong các loại tọa cụ mà vị Trưởng lão sử dụng khi ngồi trước Phật. Thảo tọa có nguồn gốc từ sự tích Phật trải cỏ cát tường để ngồi khiNgài thành đạo. Thảo tọa mà đời sau sử dụng bắt chước hình dáng cỏ cát tường có những tua rủ xuống 4 chung quanh, chiều dài khoảng 40cm, chiều ngang Thảo thư kinhkhoảng 20cm, 2 tấm đặt liền nhau, khi thu lại thì chồng lên, 2 đầu có những tua rủ xuống, giống như cỏ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Chư Phật yếu tập Q.thượng; Tăng cương thức Q.hạ].
thảo y văn thù
4312相對於顯密二教之文殊菩薩像,禪門所用之文殊菩薩像體黑,髮長,蒲衣,偏袒右肩,右手持梵篋,此像稱為草衣文殊。約始於宋代元豐年間(1078~1084),太尉呂惠卿遊五臺山時,命畫工所繪。
; (草衣文殊) Chỉ cho tượng bồ tát Văn thù mặc áo bằng cỏ. Khác với tượng bồ tát Văn thù của Hiển giáo và Mật giáo, tượngbồ tát Văn thù trong Thiền tông thân màu đen,tóc dài, mặc áo bằng cỏ bồ, để trần vai bên phải, tay phải cầm quyển kinh tiếng Phạm, tượng này gọi là Thảo y Văn thù. Có lẽ tượng này đã do quan Thái úy Lã huệ khanh sai họa sĩ vẽ vào khoảng năm Nguyên phong (1078- 1084) đời Tống khi ông du ngoạn núi Ngũ đài.
Thảo Ðường
草堂; tk. 11|Thiền sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông người đã đem dòng thiền này đến Việt Nam. Sư là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, không biết vì lí do gì sang ở Chiêm Thành và bị vua Lí Thánh Tông bắt làm tù binh năm 1069 trong cuộc chiến tranh với Chiêm Thành. Khám phá ra Thảo Ðường là một Cao tăng, bị bắt trong lúc đi truyền giáo pháp, Lí Thánh Tông phong làm Quốc sư. Ðến 50 tuổi, Sư có chút bệnh, ngồi kết già viên tịch.|Thảo Ðường lập ra một dòng Thiền, đó là dòng thiền thứ ba của Việt Nam, bên cạnh Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Tuyết Ðậu có đặc điểm là dung hợp Phật giáo và Nho giáo và cũng như thầy mình, Thảo Ðường và các môn đệ sau này thiên về văn chương và trí thức. Dòng Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ, trong đó thế hệ thứ hai phải kể Lí Thánh Tông, một nhà vua kiệt xuất. Trong phái này có cả hai Thiền sư Minh Không và Giác Hải, vốn thuộc dòng Vô Ngôn Thông nhưng lại theo học với phái Thảo Ðường, đồng thời lại có khuynh hướng Mật tông kì bí. Hai nhà vua Lí Anh Tông và Lí Cao Tông cũng được xem là thuộc phái Thảo Ðường.
thảo ăn
Generous with food.
thảo đan
4315略稱單。記載文書之紙片,指禪林中使用之書札,亦指安居時之戒臘簿。
; (草單) Gọi tắt: Đơn. Chỉ cho tờ giấy ghi chép văn thư, tức các thư từ được sử dụng trong Thiền lâm, cũng chỉ cho quyển sổ ghi giới lạp khi an cư.
thảo đường
4313<一>宋代雲門宗僧。生卒年及籍貫均不詳。為越南禪宗草堂派初祖。相傳為雪竇重顯禪師之弟子。嘗隨其師赴占城弘法,為占城人捕捉入行伍為兵。時越南聖宗(1054~1072 在位)為王,率兵攻伐占城。師在行伍間與占城士兵一齊被俘入越。其後為聖宗發現,乃予釋放,且敕封為國師。師遂在越南昇龍城之開國寺開講三藏教典,大揚宗風,主要傳「雪竇百則」,倡導「禪淨一致」之教義。為聖宗授戒,並傳禪宗心法,聖宗且因而悟道。當時皈依之弟子甚多,遂開創草堂派,分為李朝聖宗、般若、吳舍三支系,為越南禪宗之第三派(另二派為毘尼多流支派與無言通派)。李朝聖宗支系僅在朝廷內部流傳,至三祖杜武,法系中斷。般若支系由般若禪師創建,至十三世紀初法系中斷。吳舍支系為吳舍禪師創建,歷經五代,亦告中斷。該派得李朝聖宗、英宗(1138~1175 在位)、高宗(1176~1210 在位)之崇仰,分別為草堂禪師第一代、第三代、第五代之弟子。後隨李朝之覆滅(1225)而逐漸衰亡。 <二>(1057~1142)宋代臨濟宗黃龍派僧。世稱草堂善清。南雄保昌(廣東)人,俗姓何。自幼參謁香雲寺法思禪師。神宗元豐四年(1081)試經得度,禮謁大溈慕喆,後入晦堂祖心門下,並嗣其法。政和五年(1115)於江西黃龍山闡揚大法。歷住曹山、疎山、隆興(江西)泐潭寺。紹興十二年,示寂於泐潭寺,世壽八十六,法臘六十二。遺有草堂清和尚語要一卷。或謂師即越南佛教草堂禪派之初祖。〔聯燈會要卷十五、嘉泰普燈錄卷六、五燈會元卷十七、釋氏稽古略卷四〕
; 1) Căn nhà lợp bằng tranh—The thatched hall (building). 2) Chánh điện trong ngôi Thảo Đường Tự, tại Trường An nơi ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh sách: The building in the Thatched Hall monastery at Ch'ang-An where Kumarajiva translated sutras.
; (草堂) I. Thảo Đường (?-?) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Vân môn sống vào đời Tống, là Sơ tổ của phái Thảo đường thuộc Thiền tông Việt nam, tương truyền sư là đệ tử ngài Tuyết đậu Trùng hiển. Vào khoảng giữa thế kỉ XI, sư đến nước Chiêm thành hoằng pháp, bị người Chiêm bắt nhập ngũ làm lính. Khi vua Lí thánh tông (ở ngôi 1054-1072) của Việt nam đem quân đánh Chiêm thành, nhiều lính Chiêm bị bắt làm tù binh đưa về Việt nam, trong đó có sư. Về sau, vua Thánh tông phát hiện bèn thả sư ra và thỉnh về trụ trì chùa khai quốc tại Thăng Long(nay là Hà Nội). Sư bắt đầu khai giảng kinh điển, mở rộng tông phong, chủ yếu truyền Tuyết đậu bách tắc và đề xướng giáo nghĩa Thiền Tịnh Nhất Trí. Sau, sư truyền giới cho vua Thánh Tông, đồng thời truyền thụ Thiền tông tâm pháp, nhờ đó mà vua Thánh tông ngộ đạo và phong cho sư làm Quốc sư. Bấy giờ, đệ tử qui y sư rất đông, từ đó mở ra phái Thảo đường, chia làm 3 chi hệ là Lí triều thánh tông, Bát nhã và Ngô xá, trở thành phái thứ 3 của Thiền tông Việt nam(hai phái kia là phái Tì ni đa lưu chi và phái Vô ngôn thông). Chi hệ Lí triều Thánh tông chỉ lưu truyền trong nội bộ triều đình, đến Tổ thứ 3 là ngài Đỗ vũ thì pháp hệ chấm dứt. Chi hệ Bát nhã do Thiền sư Bát nhã sáng lập, đến đầu thế kỉ XIII thì pháp hệ cũng chấm dứt. Chi hệ Ngô xá do Thiền sư Ngô xá kiến lập, truyền được 5 đời thì cáo chung. Phái ThiềnThảo đường được 3 vị vua triều Lí là Thánh tông, Anh tông (ở ngôi 1138-1175) và Cao tông (ở ngôi 1176-1210) kính ngưỡng, theo thứ tự là đệ tử đời thứ nhất, đời thứ ba và đời thứ năm của Thiền sư Thảo đường. Sau, triều Lí bị diệt (1225) thì phái Thiền này cũng dần dần suy vong theo.II. Thảo Đường (1057-1142). Thiền sư Trung quốc thuộc phái Hoàng long, tông Lâm tế, sống vào đời Tống; người ở Bảo Xương, Nam Hùng thuộc tỉnh Quảng Đông, họ Hà, người đời gọi sư là Thảo đường Thiện thanh. Từ nhỏ, sư đã tham yết Thiền sư Pháp tư ở chùa Hương vân. Năm Nguyên phong thứ 4 (1081), sư thi kinh được độ, lễ yết ngài Đại qui Mộ triết, sau sư đến tham học ngài Hối đường Tổ tâm và được nối pháp. Năm Chính hòa thứ 5 (1115), sư xiển dương Thiền pháp ở núi Hoàng long, tỉnh Giang Tây. Sư lần lượt trụ ở Tào sơn, Sơ sơn và chùa Lặc đàm ở Long Hưng (Giang Tây).Năm Thiệu Hưng 12 (1142), sư thị tịch ở chùa Lặc đàm, thọ 86 tuổi, pháp lạp 62. Có thuyết cho rằng sư chính là Sơ tổ Thiền phái Thảo đường của Thiền tông Việt nam.Sư để lại tác phẩm: Thảo đường Thanh hòa thượng ngữ yếu 1 quyển. [X. Liên đăng hội yếu Q.15; Gia thái phổ đăng lục Q.6; Ngũ đăng hội nguyên Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.4].
thảo đường thiền phái
4314為越南早期佛教禪宗派別之一。又稱雪竇明覺派。傳係雪竇重顯(980~1052)之門人草堂,將我國雲門宗雪竇重顯系統之禪傳入越南,受到李朝聖宗(1054~1072 在位)以國師之禮相待,於昇龍(河內)開國寺開創草堂派,主要傳揚「雪竇百則」,倡導「禪淨一致」之教義。一說開創本派之草堂,乃南嶽懷讓之後第十二世晦堂祖心之弟子草堂善清(1057~1142)。 本派之支系分為李朝聖宗、般若、吳舍(一說遇赦)等三支。聖宗支系為越南李朝聖宗所創,僅於朝廷內部傳授,傳至三祖杜武,法系中斷。般若支系為般若禪師所創,傳二祖紹明及梵音、三祖張三藏,經海常、阮識、李朝第七代皇帝高宗,至十三世紀初,法系中斷。吳舍支系為吳舍禪師所創,傳二祖空路與定覺,英宗即出自定覺門下,而空路與定覺皆受仁宗厚遇;又四祖真玄與杜常相傳,歷經五代,後法系中斷。草堂派得李朝皇帝聖宗、英宗(1138~1175 在位)、高宗(1176~1210 在位)之信仰,分別為草堂禪師第一代、三代和五代之弟子。至一二二五年,隨著李朝之覆滅而趨於衰亡。〔安南誌略卷十五人物篇(黎肼)〕
; (草堂禪派) Cũng gọi Tuyết đậu minh giác phái. Một trong các phái Thiền tông của Phật giáo Việt nam ở thời kì đầu. Theo truyền thuyết, đệ tử của Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển (980-1052) là ngài Thảo đường đem hệ thống Thiền của Thiền sư Tuyết đậu thuộc tông Vân môn Trung Quốc truyền vào Việt nam, được vua Thánh tông triều Lí (ở ngôi 1054-1072), phong làm quốc sư, trụ ở chùa Khai quốc tại Thăng Long (Hà Nội), sáng lập phái Thảo đường, chủ yếu truyền Tuyết đậu bách tắc và đề xướng giáo nghĩa Thiền Tịnh Nhất Trí. Lại có thuyết cho rằng người sáng lập phái này là ngài Thảo đường Thiện thanh (1057- 1142), đệ tử của Thiền sư Hối đường Tổ tâm đời thứ 12 thuộc hệ thống Nam nhạc Hoài nhượng. Chi hệ của phái này chia làm 3 chi: Lí triều Thánh Tông, Bát nhã và Ngô xá (có thuyết cho là Ngộ xá). Chi hệ Thánh tông do vua Thánh tông triều Lí sáng lập, chỉ lưu truyền trong nội bộ triều đình Việt nam, truyền đến vị tổ thứ 3 là ngài Đỗ vũ thì pháp hệ dứt. Chi hệ Bát nhã do Thiền sư Bát nhã sáng lập, truyền được 3 thế hệ: Thế hệ thứ nhất là Thiền sư Bát nhã; thế hệ thứ 2 gồm 2 vị là Thiệu minh và Phạm âm; thế hệ thứ 3 gồm 4 vị là Trương tam tạng, Hải thường, Nguyễn thức và Hoàng đế Cao tông triều Lí. Đến đầu thế kỉ13 thì pháp hệ chấm dứt. Chi hệ Ngô xá do Thiền sư Ngô xá sáng lập, truyền đến Nhị tổ Không lộ và Định giác, vua Anh tông (đệ tử ngài Định giác), đến Tứ tổ Chân huyền và Đỗ thường thì pháp hệ chấm dứt. Phái Thảo đường được các vị Hoàng đế Thánh tông, Anh tông (ở ngôi 1138- 1175) và Cao tông (ở ngôi 1176-1210) triều Lí kính ngưỡng, theo thứ tự là đệ tử đời thứ 1, đời thứ 3 và đời thứ 5 của Thiền sư Thảo đường. Đến năm 1225, nhà Lí bị lật đổ thì phái này cũng dần dần suy vong theo.[X. thiên Nhân vật trong An mam chí lược Q.15].
thảo đường tự
4313<一>位於陝西鄠縣東南圭峰北麓。又稱圭峰寺。據明代趙肠石墨鐫華卷七遊城南記所載,高觀谷之西即為草堂寺,後秦姚興迎鳩摩羅什在此譯經,時稱逍遙園。唐代天寶初年,飛錫禪師住此弘法撰述。其後華嚴宗五祖圭峰宗密居之,稱為草堂寺,後又改稱棲禪寺。寺西有葬鳩摩羅什之舍利石塔,塔身高二點三三公尺,八面十二層,以八種顏色之玉石雕刻鑲嵌而成,俗稱八寶玉石塔。塔下層為須彌山座,三層雲臺刻以蔓草花紋,靖緻殊勝,故宋人作亭覆之,今尚存。由佛像衣著及雕造作風觀之,似為唐代作品。又北周初年,寺分為四寺,其後被毀,唐昭宗時重建,宋代以後復經多次重修。現僅存大殿三間、東西配房各兩間,堂前有清朝碑一、明朝碑二、元朝鐘一、山門等,堂後堆積瓦磚碑碣之殘片,唐代之尊勝陀羅尼經幢與折損的圭峰定慧禪師宗密碑放置其間;堂內外壁間頗多宋元人之碑石。〔出三藏記集卷二、卷八、卷十、卷十四、西安勝蹟史略、大明一統志卷三十二〕 <二>位於江蘇南京城外,鍾山之南。為梁代之周顒所創,時稱山茨寺。僧詮嘗於本寺弘傳三論宗,道朗亦曾駐錫於此。寺原位於鍾山西麓,明洪武七年(1374),為築開平王之墓,遂將本寺移至今址。
; See Thảo Đường (2).
; (草堂寺) Cũng gọi Khuê phong tự. Chùa ở chân núi phía bắc núi Khuê Phong, phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Cứ theo mục Du hành nam kí trong Thạch mặc tuyên hoa quyển 7 của Triệu hàm đời Minh thì ở phía tây hang Cao quan là chùa Thảo đường, vua Diêu hưng nhà Hậu Tần rước ngài Cưu ma la thập đến chùa này dịch kinh, bấy giờ gọi là vườn Tiêu dao. Đầu năm Thiên bảo đời Đường, Thiền sư Phi tích trụ ở chùa này để hoằng pháp và soạn thuật. Về sau, Ngũ tổ tông Hoa nghiêm là ngài Khuê phong Tông mật trụ trì, gọi là chùa Thảo đường, sau lạiđổi tên là Thê thiền tự. Phía tây chùa có tháp xá lợi của ngài Cưu ma la thập được xây bằng đá, thân tháp cao 2,32m, hình bát giác cao 12 tầng, được khắc và nạm bằng loại đá ngọc 8 màu, thường gọi là Bát bảo ngọc thạch tháp. Tầng dưới của tháp là tòa núi Tu di, đài mây ở tầng 3 có khắc hoa văn mạn thảo (cỏ bò lan trên mặt đất), rất tinh khéo đẹp đẽ, nên người đời Tống làm đình để che cho tháp, nay vẫn còn. Nếu nhìn vào y phục của tượng Phật và tác phong khắc tạo mà nhận xét thì có vẻ như đây là tác phẩm đời Đường. Vào những năm đầu đời Bắc Chu, chùa được chia làm 4 chùa, về sau bị phá hủy và được xây dựng lại vào thời vua Chiêu tông nhà Đường, từ đời Tống về sau cũng được trùng tu nhiều lần. Hiện nay chỉ còn 3 gian đại điện, phía đông tây mỗi bên 2 gian, ở phía trước điện có 1 tấm bia được dựng vào đời Thanh, 2 tấm bia đời Minh, 1 quả chuông đời Nguyên, Sơn môn, ở phía sau điện xếp đống những mảnh vỡ của gạch ngói và bia đá, cột kinh Tôn thắng đà la ni đời Đường và những mảnh vụn bia Thiền sư Khuêphong Tông mật nằm lẫn trong đó; giữa các vách bên trong và bên ngoài điện có rất nhiều bia đá của nhữngngườiđời Tống, đời Nguyên. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 8, 10, 14; Tây an thắng tích sử lược; Đại minh nhất thống chí Q.32].
thấm
To blot—To permeate—To absorb—To soak up.
thấm nhuần
To impregnate.
thấm qua
To go through.
thấm thoát
Time flies.
Thấp
濕; C: shī; J: shitsu;|1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp; 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước; 3. Tính bầy nhầy, kết dính; 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
thấp
1) Nơi thấp: Low. 2) Ướt: Wet—Humid—Moist. 3) Thấp sanh hay loài sanh ra bởi sự ẩm thấp như sâu bọ và cá, vân vân: The class of beings produced by moisture, such as fish and worm, etc—See Tứ Sanh.
thấp bà phái
6448梵名 Śaiva。印度教派系之一。與毘濕奴派、羅摩派同為現今印度最廣受信仰之宗派。隨著歷史之演變,由於各自尊奉自己之主宰神(梵 iṣṭadevatā),印度教遂形成各種派別,而以濕婆天為主神者稱為濕婆派。濕婆派又分為獸主外道(梵 Pāśupata)、濕婆悉檀(梵 Śaiva-siddhānta)兩大派別。此兩大派系又分為許多小支派。濕婆派信仰大約形成於二世紀頃。
; Saiva (S).
; (濕婆派) Phạm:Zaiva. Phái thờ thần Thấp bà (Phạm: Ziva) làm chủ thần, có lẽ đã hình thành ào thế kỉ II, 1 trong các hệ phái của Ấn độ giáo, cùng với phái Tì thấp nô và phái La ma đều là các tông phái được sùng tín rộng rãi nhất ở Ấn độ hiện nay. Phái Thấp bà lại chia làm 2 biệt phái lớn là Thú chủ ngoại đạo (Phạm:Pàzupata) và Thấp bà tất đàm (Phạm:Zaiva-siddhànta). Từ 2 phái lớn này còn chia ra rất nhiều chi phái nhỏ.
thấp bà thiên
6447濕婆,梵名 Śiva。為印度教三主神之一。亦稱魯達羅(梵 Rudra,荒神)。為毀滅之神、苦行之神、舞蹈之神。古印度婆羅門教聖典中之梨俱吠陀卷首即見其記載。濕婆天為兩極神格,兼具破壞之恐怖與救濟萬病之恩惠,蓋係象徵印度季風的疾風驟雨之淒慘,與風雨後萬物復甦之生機。其異名極多,自摩訶婆羅多以來,均稱作濕婆天,於富蘭那聖典(梵 Purāṇa)中最常見。據說其有極大之降魔能力,額上第三隻眼之神火能燒毀一切,曾將妖魔之三座城及愛神燒成灰燼。又傳聞其終年在喜馬拉雅山上修苦行,亦善於跳舞,被稱為舞王。 濕婆天係對立於創造宇宙之梵天與司掌維持之毘濕奴,而專事破壞,故而印度教有所謂三神一體(梵 Trimūrti)之教義。濕婆天即係濕婆派之主神,而以男性生殖器官為其象徵,蓋以印度教認為毀滅即有再生之意,故表示生殖能力之男性生殖器被認為是其象徵,而受到教徒之祟拜。濕婆天在佛教中常以大自在天、摩醯首羅之姿態出現,與後世左道密教有密切之關係。(參閱「大自在天」783)
; Xem Hạnh phúc.
; (濕婆天) Thấp bà, Phạm:Ziva. Cũng gọi Lỗ đạt la (Phạm:Rudra). Hán dịch: Hoang thần. Thần hủy diệt, thần khổ hạnh, thần nhảy múa, là 1 trong 3 vị chủ thần của Ấn độ giáo. Vị thần này được ghi chép trong quyển đầu của Lê câu phệ đà thuộc các Thánh điển của Bà la môn giáo ở Ấn độ xưa. Thấp bà thiên là thần cách lưỡng cực, có đủ 2 mặt là phá hoại khủng bố và ban ân cứu tế vạn bệnh, tượng trưng cho cảnh bão táp mưa sa thê thảm do gió mùa gây ra ở Ấn độ và cảnh xanh tươi khi vạn vật sống lại sau gió mưa. Vị thần này có rất nhiều tên khác nhau, nhưng từ thời đại Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) về sau, đều gọi là Thấp bà thiên, thường thấy nhất là trong Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa). Theo truyền thuyết, vị thần này có năng lực hàng ma rất lớn, lửa thần của con mắt thứ 3 ở trên trán có năng lực thiêu hủy tất cả, thần từng đốt 3 tòa thành của yêu ma và của Ái thần thành tro bụi. Lại nghe nói Thần này quanh năm tu khổ hạnh trên núi Hi mã lạp sơn, cũng giỏi khiêu vũ, được gọi là Vũ vương(vua nhảy múa). Thấp bà thiên chuyên về việc phá hoại, đối lập với Phạm thiên sáng tạo và thần Tì thấp nô (Phạm: Viwịu) thần trông coi gìn giữ vũ trụ, do đó trong Ấn độ giáo có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm: Trimùrti = 3 thần cùng một thể). Thấp bà thiên là thần chính của phái Thấp bà và tượng trưng bằng sinh thực khí nam tính, vì Ấn độ giáo cho rằng hủy diệt chính là nghĩa tái sinh, cho nên mới tượng trưng Thần Thấp bà trong tư thế đang khiêu vũ bằng sinh thực khí nam tính để biểu thị ý nghĩa năng lực sinh sản và rất được giáo đồ sùng bái. Trong Phật giáo, Thấp bà thiên thường được thấy xuất hiện trong tư thế của Đại tự tại thiên và Ma hê thủ la thiên, có quan hệ mật thiết với Mật giáo tả đạo ở đời sau. (xt. Đại Tự Tại Thiên).
thấp bà tất đàn phái
6448梵名 Śaiva-siddhānta。印度教濕婆派(梵 Śaiva)之支派。廣義而言,濕婆悉檀派指崇奉阿笈摩(梵 Āgama)為其聖典之各宗派之總稱,包含(一)狹義之濕婆悉檀派,(二)塔米爾(梵 Tamil)之濕婆派,(三)迦濕彌羅之濕婆派,(四)吠拉濕婆派(梵 Vira Śaiva),(五)悉躂爾派(梵 Sittar)。 狹義之濕婆悉檀派被視為典型之濕婆派,故亦單稱濕婆派。其教理以獸主(梵 paśupati,即濕婆)、獸(梵 paśu,即個人我)、繩索(梵 pāśa,即現世之繫縛)等為三原理。謂無知(梵 ānava)、業(梵 karman)、幻(梵 māyā)等之繩索束縛本來常住遍在之潛在精神力(即獸、個人我),性力(梵 śakti)成為濕婆之恩寵,逐漸除去繩索之束縛,而使個人我解脫。人為求解脫束縛,須勵行明知,實修瑜珈(梵 yoga)。此外,值得特別注意者,乃阿笈摩聖典中所含濕婆派之性力崇拜思想。 上記為使用梵語之系統,對於此,使用塔米爾語之系統,稱為塔米爾之濕婆派。對於前者之制限不二說(梵 Viśiṣṭādvaita),塔米爾之濕婆派則採取不一不異說(梵 Bhedābheda),或不二一元論(梵 Advaitavāda)之立場。此派雖受梵語系統派及迦濕彌羅之濕婆派之影響甚多,然亦僅部分承認阿笈摩。此派現今於南印度最具勢力,普遍為庶民階級所信奉,於各地開設濕婆教會,推行現代教育。
; (濕婆悉檀派) Phạm: Zaiva-siddhànta. Chi phái của phái Thấp bà trong Ấn độ giáo. Nói theo nghĩa rộng thì phái Thấp bà tất đàn là chỉ chung cho các tông phái tôn thờ A cấp ma (Phạm: Àgama) làm Thánh điển y cứ, tức gồm các phái: 1. Phái Thấp bà tất đàn(theo nghĩa hẹp).2. Phái Thấp bà ở Tháp mễ nhĩ (Phạm: Tamil). 3. Phái Thấp bà ở Ca thấp di la (Phạm: Casmìra). 4. Phái Phệ lạp thấp bà (Phạm: Vira Zaiva). 5. Phái Tất thát nhĩ (Phạm:Sittar). Phái Thấp bà tất đàn theo nghĩa hẹp được coi là Thấp bà điển hình, cho nên cũng gọi tắt là Thấp bà phái. Giáo lí của phái này lấy Thú chủ (Phạm: Pazupati, tức Thấp bà), Thú (Phạm:Pazu, tức ngã cá nhân) và Thằng sách (Phạm:Paza, tức sự trói buộc của đời hiện tại) làm 3 nguyên lí. Nghĩa là những sợi dây Vô tri (Phạm: Ànava), Nghiệp (Phạm: Karman) và Huyễn (Phạm:Màyà) trói buộc năng lực tinh thần(tức Thú, ngã cá nhân) tiềm tàng xưa nay vốn thường trụ, trùm khắp; Tính lực (Phạm:Sakti) trở thành ân sủng của Thấp bà, dần dần cắt đứt sự trói buộc của những sợi dây kia(thằng sách) làm cho ngã cá nhân được giải thoát. Vì cầu cởi bỏ được sự trói buộc, con người phải gắng sức thực hành minh tri(trừ diệt vô tri), thực tu Du già (Phạm:Yoga). Ngoài ra, điều đặc biệt đáng được lưu ý là trong Thánh điển A cấp ma có bao hàm tư tưởng sùng bái Tính lực của phái Thấp bà.
thấp cao
Low and high.
thấp hèn
Base—Low.
thấp kém
low.
thấp ma
6449悉曇字???(sma)。悉曇四十二字門之一。又作娑摩、娑莽、颯磨、魔、摩。濕麽字門有憶念之義。大般若波羅蜜多經卷一四五(大七‧八二上):「入颯磨字門,悟一切法可憶念性不可得故。」守護國界主陀羅尼經卷三(大一九‧五三五上):「娑莽字印者,念不散動,無忘失故。」蓋梵語 smṛti(憶念、念)之字首為sma,故有上述說法。又濕麽為石之義,大智度論卷四十八(大二五‧四○八下):「若聞溼麽字,即知諸法牢堅如金剛石。」此乃因梵語 aśman(石)之字母中亦有類似於 sma 者之故。唱濕麽字時,能入甚深般若波羅蜜門。〔八十華嚴卷七十六、四十華嚴卷三十一、海意菩薩所問淨印法門經卷十二〕
; (濕麽) Cũng gọi Sa ma, Sa mãng, Táp ma, Ma. Chỉ cho chữ (sma) trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ Thấp ma có nghĩa là nhớ nghĩ. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 145 (Đại 7, 82 thượng) nói: Vào môn chữ Táp ma ngộ tất cả pháp, tính nhớ nghĩ của chữ này không thể tưởngtượng được. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 3 (Đại 19, 535 thượng) nói: Kế ấn chữ Sa mãng thì nhớ nghĩ không tán loạn, không quên mất. Vì ở đầu chữ Smfti tiếng Phạm là chữSma nên mới có thuyết trên đây. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ) nói: Nếu nghe chữ Thấp ma thì biết các pháp cứng chắc như kim cương. Nghĩa cứng chắc này là vì trong tự mẫu của chữAsman (nghĩa là đá) tiếng Phạm cũng có chữSma. Khi đọc chữ Thấp ma thì có năng lực đi sâu vào môn Bát nhã ba la mật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản 80 quyển); kinh Hoa nghiêm Q.31 (bản 40 quyển); kinh Hải ý bồ tát sở vấn tịnh ấn pháp môn Q.12].
thấp sanh
Saṅsedaja (P), Saṃsvedaja (S), Saṅsedaja (P), Jalaja (S), Birth from moisture, Moisture- or water-born.
; Nhờ vào khí ẩm thấp mà sanh ra, một trong tứ sanh—Form of moisture or water-born, born in damp or wet place, as worms and fishes, one of the four forms of birth. **For more information, please see Tứ Sanh.
Thấp sinh
濕生; C: shīshēng; J: shitsushō;|(Các loài) sinh nơi ẩm thấp; như muỗi và các côn trùng khác. Một trong Tứ sinh (四生).
thấp sinh hoá sinh
6447有情出生之方式有卵生、胎生、濕生、化生四種。濕生,亦作因緣生。由濕氣而生之意,如蟋蟀、飛蛾、蚊蟲、蠓蚋、麻生蟲等及某類人、龍等,以彼等依糞聚、注道、穢廁、腐肉、陳粥、叢草、池沼、江河等潤濕之地出生。化生,為無所依託而自然藉業力生出者,此有一切之天眾、地獄之有情、中有之有情及某類人。人與傍生趣各具四生。人之卵生,如鄔波世羅由鶴卵出生;人之胎生,如今世之人;人之濕生如曼馱多(梵 Māndhāta)、遮盧(梵 Cāru)、鄔波遮盧(梵 Upacāru)、鴿鬘、菴羅衛等;人之化生則僅見於劫初之人。(參閱「四生」1680)
; (濕生化生) Từ nơi ẩm ướt sinh ra và hóa hiện sinh ra, là 2 trong 4 phương thức xuất sinh của loài hữu tình. Thấp sinh cũng gọi Nhân duyên sinh, nghĩa là từ nơi ẩm thấp sinh ra, như các loài mèn dế, thiêu thân, muỗi mòng, mối đất, sâu mè... sinh ra từ những chỗ ẩm ướt, hôi thối như đống phân, cống rãnh, nhà cầu, thịt rữa, cháo thiu, cỏ rậm, mương ao, sông ngòi... Hóa sinh là do nghiệp lực tự nhiên sinh chứ không cần nương gá vào đâu, như các Thiên chúng và hữu tình trong địa ngục, hữu tình trung ấm(thân sau khi chết và trước khi sinh) cũng như một số trong loài người. (xt. Tứ Sinh).
Thấp sinh 濕生
[ja] シツショウ shitsushō ||| (That which is) born from moisture, for example, mosquitoes and other bugs. One of the four types of birth (四生). => (Các loài) sinh nơi ẩm thấp; như muỗi và các côn trùng khác. Một trong Tứ sinh (四生).
thấp thoáng
appear and disappear—To appear vaguely.
thấp thỏm
Restless—Anxious.
Thấp 濕
[ja] シツ shitsu ||| (1) Dampness, moisture; to get damp or wet; damp, moist, humid. (2) That which has a fluid nature; the special characteristic of the element water. (3) Stickiness, adhesion. (4) Fluidity (drava, dravatva). => 1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp. 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước. 3. Tính bầy nhầy, kết dính. 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
; [ja] シツ shitsu ||| (1) Dampness, moisture; to get damp or wet; damp, moist, humid. (2) That which has a fluid nature; the special characteristic of the element water. (3) Stickiness, adhesion. (4) Fluidity (drava, dravatva). => 1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp. 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước. 3. Tính bầy nhầy, kết dính. 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
thất
Sapta (S). Seven.
Thất bách kết tập
七百結集; C: qībăi jiéjí; J: shichihyaku keketsujū;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).
Thất bách tập pháp
七百集法; C: qībăi jífǎ; J: shichihyaku shūhō;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).
thất bát hành
88指七覺支與八正道之修行方法。七覺支即:念、擇法、精進、喜、輕安、定、捨等。八正道為:正見、正思惟、正語、正業、正命、正精進、正念、正定。(參閱「七覺支」125、「八正道」280)
; (七八行) Chỉ cho phương pháp tu hành Thất giác chi và Bát thánh đạo. Thất giác chi là: Niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỉ, khinh an, định và xả. Bát chính đạo là: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định. (xt. Thất Giác Chi, Bát Chính Đạo).
thất báu
Gồm: kim, ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, san hô.
Thất Bảo
(七寶): xem Thất Trân (七珍) bên dưới.
Thất bảo
七寶; C: qībăo; J: shichihō;|Bảy loại châu báu. Nhiều kinh luận Phật học đề cập đến bảy loại châu báu khác nhau. Thông dụng nhất là: 1. Vàng (金), bạc (銀), lưu li (琉璃), pha lê (頗胝迦), xa cừ (硨磲), xích châu (赤珠), mã não (碼瑙); 2. San hô, hổ phách, như ý châu (s: cintāmaṇi), kiṃśuka, śakrābhilagna, ngọc lục bảo, kim cương; 3. Vàng, bạc, lưu li, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não….
thất bảo
xem bảy báu.
; 124請參閱 七斷滅論 梵語 sapta ratnāni。即七種珍寶。<一>又稱七珍。指世間七種珍貴之寶玉。諸經說法不一,阿彌陀經、大智度論卷十等謂七寶即:(一)金。(二)銀。(三)琉璃,又作琉璃、毘琉璃、吠琉璃等。屬青玉類。(四)頗梨,又作頗胝迦,意譯作水精(晶)。指赤、白等之水晶。(五)車渠,又作硨磲。經常與碼瑙混同,概指大蛤或白珊瑚之類。(六)赤珠,又稱赤真珠。(七)碼瑙,深綠色之玉,但異於後世所稱之碼瑙。法華經卷四則以金、銀、琉璃、硨磲、碼瑙、真珠、玫瑰為七寶。〔稱讚淨土佛攝受經、無量壽經卷上〕(參閱「寶」6737) <二>總稱轉輪聖王所擁有之七種寶。即:輪寶、象寶、馬寶、珠寶、女寶、居士寶(又稱主藏寶)與主兵臣寶(將軍)。〔長阿含經卷三、舊華嚴經卷四十三〕(參閱「轉輪聖王」6624)
; Sapta-ratnani (S), Sapta-ratna (S) Seven treasures. Bảy món báu: kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
; Sapta ratna (S). The seven treasures, or precious things, of which there are various descriptions, e.g. kim suvarna, gold; ngân rùpya, silver; lưu li vaidùrya, lapis lazuli; pha lê sphatika, crystal; xa cừ musàragalva, agate, mother pearl; xích châu rohita mukta, rubies or red pearls; mã não asmagarbha, cornelian. Also the seven royal treasures: the golden wheel; elephants; dark swift horses; the divine pearl; able minister of the treasury; jewels of women; and loyal generals.
; (七寶) Phạm:Saptaratnàni. Bảy thứ quí báu. I. Thất Bảo. Cũng gọi Thất trân. Chỉ cho 7 thứ ngọc báu quí giá ở thế Tranh Thập Vương gian. Các kinh nói về 7 thứ báu có khác nhau. Theo kinh A di đà và luận Đại trí độ quyển 10 thì 7 báu là: 1. Vàng. 2. Bạc. 3. Lưu li, cũng gọi là Tì lưu li, Phệ lưu li, thuộc loại ngọc xanh. 4. Pha lê, cũng gọi Phả chi ca, Hán dịch là thủy tinh. Chỉ cho thủy tinh màu đỏ, thủy tinh màu trắng. 5. Xà cừ, thường được coi là mã não. Chỉ chung cho loại ngọc trai, hoặc san hô trắng. 6. Xích châu, cũng gọi Xích chân châu. 7. Mã não, chỉ cho loại ngọc có màu xanh thẫm, nhưng khác với mã não mà đời sau thường gọi. Kinh Pháp hoa quyển 4 thì cho rằng 7 thứ báu là vàng, bạc, lưu li, xa cừ, mã não, chân châu và mai khôi. [X. kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Vô lượng thọ Q. thượng]. (xt. Bảo).II. Thất Bảo. Từ gọi chung 7 thứ báu của Chuyển luân Thánh vương. Đó là luân bảo(bánh xe), thượng bảo(voi), mãbảo(ngựa), châu bảo(ngọc), nữ bảo(con gái), cư sĩ bảo, cũng gọichủ tạng bảo(chủ kho) vàchủ binh thần bảo(tướng quân). [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch cũ)]. (xt. Chuyển Luân Thánh Vương).
thất bảo chúc
124又稱佛粥。陰曆十二月八日,諸佛寺以乳蕈、胡桃等物煮粥,供佛並供眾結緣,稱為七寶粥。即臘八粥。今已普及民間。吳存楷之江鄉節物詩小序:「臘八粥,亦名七寶粥,本僧家齋供,今則居室者亦為之矣。」
; (七寶粥) Cũng gọi Phật chúc. Cháo bảy báu dâng cúng Phật. Hằng năm, vào ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch, các chùa Phật thường dùng những vật như đậu, hồ đào... nấu cháo cúng Phật và mọi người để kết duyên, gọi là Thất bảo chúc, tức Lạp bát chúc(cháo ngày mồng 8 tháng chạp). Hiện nay, Thất bảo chúc đã phổ biến trong dân gian.Bài tiểu tựa trong tập thơ Giang hương tiết vật của Ngô tôn khải nói: Lạp bát chúc, cũng gọi là Thất bảo chúc, vốn là vật cúng trong nhà tăng, nhưng nay thì ở nhà các cư sĩ cũng nấu loại cháo này.
thất bảo hoa
124謂由七寶所成之蓮華。無量壽經卷下(大一二‧二七八中):「得生無量壽國,於七寶華中自然化生。」
; (七寶華) Chỉ cho hoa sen bằng bảy thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 trung) nói: Được sinh về cõi nước của Phật Vô lượng thọ, ở trong hoathất bảo tự nhiên hóa sinh.
thất bảo ngục
124指具有七寶莊嚴之牢獄。若有人疑惑佛智,以自力之善本,胎生於西方極樂之邊地懈慢界者,五百歲間將不見三寶,不能得法樂,此猶如置身於七寶所成之牢獄中。無量壽經卷下(大一二‧二七八中):「譬如轉輪聖王,別有宮室,七寶莊飾,張設床帳,懸諸繒幡。若有諸小王子,得罪於王,輒內彼宮中,繫以金鎖,供給飲食、衣服、床褥、華香、伎樂,如轉輪王,無所乏少。」
; (七寶獄) Chỉ cho lao ngục có 7 thứ báu trang nghiêm. Nếu có người ngờ vực trí Phật,nhưng nhờ gốc lành của tự lực mà được sinh về cõi Giải mạn ở biên địa của thế giới Cực lạc phương tây trong hình thức thai sinh, thì trong khoảng thời gian 500 năm không được thấy Tam bảo, không được thụ pháp lạc, giống như ở trong lao ngục được làm bằng 7 thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 trung) nói: Ví như Chuyển luân Thánh vương, có cung thất riêng, tranghoàng bằng 7 thứ báu, kê giường, giăng màn, treo các phướn lụa. Nếu có tiểu vương tử nào đắc tội với vua thì bị giam vào cungthất ấy, khóa bằng khóa vàng, cung cấp đầy đủ thức ăn uống, quần áo, giường chiếu, chăn gối, hoa thơm, kĩ nhạc, hệt như vua Chuyển luân, không thiếu thốn một thứ gì.
thất bảo tháp
124亦即多寶塔。釋迦佛於靈鷲山說法華時,忽於地下湧現七寶塔,高五百由旬,縱橫二百五十由旬。多寶如來全身舍利,坐於其中。〔法華經見寶塔品〕
; (七寶塔) Tháp bảy báu, cũng chính là tháp Đa bảo. Lúc đức Phật Thích ca đang nói kinh Pháp hoa trên núi Linh thứu, bỗng từ trong đất nhô lên một ngôi tháp Thất bảo, cao 500 do tuần, toàn thân xá lợi của đức Đa bảo Như lai ngồi ở trong tháp. [X. phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa].
thất bảo thụ lâm
124指極樂淨土之林,由七寶樹所成,又稱七寶行樹。〔法華經卷二譬喻品、法華經玄贊卷五之本、阿彌陀經要解(智旭)〕(參閱「七重行樹」102)
; The grove of jewel trees, or trees of the seven precious things - a part of the Pure Land.
; (七寶樹林) Cũng gọi Thất bảo hàng thụ. Chỉ cho khu rừng cây ở Tịnh độ Cực lạc do 7 thứ báu tạo thành. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.5, phần đầu; A di đà kinh yếu giải (Trí húc)]. (xt. Thất Trùng Hàng Thụ).
thất bất khả tị
91乃指眾生不能避免之七件事,即:生、老、病、死、罪報、福報(既有善業,則善道之樂果不可避)、因緣(如是因感如是果,即法爾之理不可避)七種。〔法句譬喻經卷二惡行品、經律異相卷七、法苑珠林卷六十九〕
; The seven unavoidables: (1) Sinh chẳng tránh được, rebirth;(2) Già chẳng tránh được, old age; (3) Bệnh chẳng tránh được, sickness; (4) Chết chẳng tránh được, death; (5) Tội chẳng tránh được, punishment (for sin); (6) Phúc chẳng tránh được, happiness (for goodness); (7) Nhân duyên chẳng tránh được,consequences (cause and effect).
; (七不可避) Chỉ cho 7 sự kiện mà chúng sinh không thể nào tránh khỏi, đó là sinh, lão, bệnh, tử, tội báo, phúc báo(đã có nghiệp thiện thì không thể tránh khỏi quả vui sinh vào đường lành), nhân duyên(tức nhân thế nào thì sẽ cảm quả thế ấy, đó là lí tự nhiên không thể tránh khỏi). [X. phẩmÁc hạnh trong kinh Pháp cú thí dụ Q.2;Kinhluật dị tướng Q.7; Pháp uyển châu lâm Q.69].
thất bất thiện luật nghi
92即指殺生、偷盜、邪淫、妄語、兩舌、惡口、綺語等不律儀之七種惡戒。反之,為七善律儀。此七不善律儀各配以上、中、下三品之心,而有二十一種,再配以貪、瞋、癡三煩惱,計六十三種,復更配以三品之心,如此遂成無量差別。〔成實論卷八、大乘義章卷七〕(參閱「七善律儀」109)
; (七不善律儀) Đối lại: Thất thiện luật nghi. Chỉ cho 7 giới ác bất luật nghi là giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, hai lưỡi, nói ác, nói thêu dệt. Trong 7Bất thiện luật nghi này, mỗiBấtthiệnluật nghi đều được phối hợp với 3 phẩm tâm thượng, trung, hạ thì có 21 thứ, lại phối hợp với 3 phiền não tham, sân, si thì thành 36 thứ, rồi lại phối hợp với 3 phẩm tâm thì thành vô lượng sai biệt. [X. luận Thành thực Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Thất Thiện Luật Nghi).
thất bệnh
102以澡浴所除之七種病患。據洞上伽藍雜記載,澡浴之益有:一者四大安穩,二者除風,三者除濕痺,四者除寒冰,五者除熱氣,六者除垢穢,七者身體輕安,眼目清明。
; (七病) Bảy thứ bệnh do tắm rửa mà tránh khỏi. Cứ theoĐộng thượng già lam tạp kí thì tắm rửa có các lợi ích như sau: 1. Bốn đại an ổn. 2. Trừ được bệnh gió. 3. Trừ bệnh tê thấp. 4. Trừ được lạnh giá. 5. Giải được khí nóng. 6. Trừ cáu ghét nhơ nhớp. 7. Thân thể khoan khoái, cặp mắt sáng trong.
thất bồ đề phần
Sapta-bodhyaṅgani (S), Seven factors of enlightenment, Sattabojjhaṅga (P), Saptabuddhividhya (S) Thất giác chi, Thất giác phần, giác chi, giác ý, Bồ đề phần Bảy phần để hiệp thành quả bồ đề. Gồm: niệm xứ, chánh cần, như ý, căn, lực, giác chi, chánh đạo. Thất giác chi, là bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ. Gồm: - niệm (recollection): trí thường niệm định và huệ - trạch pháp (distinguishment): trí lựa chọn chánh pháp, phân biệt chánh tà - tinh tấn (effort): trí tinh tấn mạnh mẽ mà tu hành chánh pháp - hỷ (delight): trí hoan hỷ tiếp nhận chánh pháp - khinh an (calmness): trí nhẹ nhàng trừ bỏ các chướng ngại - định (contemplation): trí thường đại định không tán loạn - xả (equanimity): trí xả bỏ không bám víu.
; Saptabodhyanga (S). Seven characteristics of bodhi. It represents seven grades in bodhi: (1) Trạch pháp, dharma-pravicaya-sambhodyanga, discrimination of the true and false; (2) Tinh tiến, vìrya-sam., zeal or undeflected progress; (3) Hỉ, prìti-s., joy, delight; (4) Khinh an, prasrabidhi-s., riddance of all grossness or weight of body or mind, so that they may be light, free and at ease; (5) Niệm, smrti-s., power of remembering the various stages passed through in contemplation; (6) Định, samàdhi-s., power to keep the mind in a given realm undiverted; (7) Hành xả, upeksà-s., complete abandonment, or indifference to all disturbances of the subconscious or ecstatic mind.
Thất Bồ-đề phần
xem Bảy giác chi.
thất chi
93<一>謂身三、口四之惡業。身三者,殺生、偷盜、邪淫等;口四者,妄言、綺語、惡口、兩舌等。以七惡支分,故稱為支,乃十惡中之前七惡。 <二>轉輪聖王象寶之七支。即四足、首及陰、尾等。〔大薩遮尼乾子所說經卷三〕
; (七支) I. Thất Chi. Bảy chi phần, tức 3 nghiệp ác của thân và4 nghiệp ác của khẩu. Ba nghiệp ác của thân là giết hại, trộm cướp, tà dâm; 4 nghiệp ác của khẩu là nói dối, nói thêu dệt, nói ác, nói 2 lưỡi. Vì có 7 chi phần ác nên gọi là Chi, là 7 điều ác trước trong 10 điều ác. II. Thất Chi. Chỉ cho 7 chi phần thuộc voi báu của Chuyển luân Thánh vương, tức 4 chân, đầu, dương vật và đuôi. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.3].
thất chi luận pháp
93梵語 saptabhaṅgī-naya。印度耆那教哲學不定主義之七種判斷形式。即:(一)有,肯定判斷。(二)無,否定判斷。(三)有、無(亦有亦無),肯定判斷與否定判斷之結合。(四)非有非無、不可言。(五)有、不可言,第一種與第四種判斷形式之結合。(六)無、不可言,第二種與第四種判斷形式之結合。(七)有、無、不可言(亦有亦無亦不可言),第三、四種判斷形式之結合。以上七種判斷唯於特定條件之下方能成立,故各判斷前均須冠以「或許」二字。
; Sapta-bhangi-naya (S) Bảy hình thức phán đoán của chủ nghĩa bất định trong triết học Kỳ na giáo Ấn độ.
; (七支論法) Phạm: Saptabhaígì-naya. Bảy hình thức phán đoán của chủ nghĩa bất định trong triết học Kì na giáo, Ấn độ. 1. Hữu(có): Phán đoán khẳng định. 2. Vô(không): Phán đoán phủ định. 3. Hữu, Vô(cũng có, cũng không): Kết hợp cả phán đoán khẳng định và phán đoán phủ định. 4. Phi hữu phi vô(chẳng phải có chẳng phải không), không thể nói. 5. Hữu, không thể nói: Kết hợp giữa hình thức phán đoán thứ 1 và thứ 4. 6. Vô, không thể nói: Kết hợp giữa hình thức phán đoán thứ 2 và thứ 4. 7. Hữu, Vô, không thể nói (cũng có, cũng không, cũng không thể nói): Kết hợp giữa các hình thức phán đoán thứ 3 và thứ 4. Bảy hình thức phán đoán nói trên chỉ có thể thành lập trong điều kiện đặc biệt nhất định, cho nên ở đầu mỗi hình thức phán đoán đều phải đặt thêm 2 chữ hoặc hứa(có lẽ, chắc là).
thất chu hành từ
98指七種修慈悲觀之境。五停心觀中第二為慈悲觀,用意在使多瞋眾生修慈悲以對治瞋毒。其所行之境有七,以三樂(上樂、中樂、下樂)與之,是為七周行慈。周者,周遍之義,乃於怨親平等,或周遍施行之義。七境即:上品之親、中品之親、下品之親、中人非冤親、下品之冤、中品之冤、上品之冤。
; (七周行慈) Chỉ cho 7 cảnh tu Từ bi quán. Pháp quán thứ 2 trong Ngũ đình tâm quán là Từ bi quán, mục đích khuyến khích những người đa sân tu từ bi để đối trị sân độc. Có 7 cảnh thực hành, tức ban phát tam lạc (thượng lạc, trung lạc, hạ lạc) cho mọi người, đó là Thất chu hành từ. Chu nghĩa là cùng khắp, nghĩa là oán thân bình đẳng, hoặc là thực hành việc ban cho cùng khắp. Bảy cảnh là: Thân thượng phẩm, thân trung phẩm, thân hạ phẩm, người không oán thân, oán hạ phẩm, oán trung phẩm và oán thượng phẩm.
thất chuyển cửu lệ
122七轉又作七聲、七例或蘇漫多聲(subanta), 乃梵語文法上表示名詞等語尾之變化者。九例又作二九韻、丁彥哆聲(tiṅ-anta),乃梵語表示動詞之變化者,有十八種變化。〔南海寄歸內法傳卷四、成唯識論樞要卷上本〕(參閱「八轉聲」315)
; (七轉九例) Thất chuyển cũng gọi Thất thanh, Thất lệ, hoặc Tô mạn đa thanh (Subanta), chỉ cho sự biến hóa của các tiếp vĩ ngữ về mặt văn pháp trong những danh từ tiếng Phạm. Cửu lệ cũng gọi Nhị cửu vận, Đinh ngạn đa thanh (Tií-anta), chỉ cho sự biến hóa của các động từ trong tiếng Phạm, tất cả có 18 thứ biến hóa. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu]. (xt. Bát Chuyển Thanh).
thất chuyển thức
122指八識中之前七識。瑜伽行派與法相宗主張八識說,將依止阿賴耶識生滅轉變之前五識、意識及末那識稱為七轉識。略稱七轉、轉識、轉心。前五識又作五轉識,緣阿賴耶識所變之色等五境,行相粗動,轉外門,了別現在之境;第六意識緣過去、未來等一切境,轉內外門,審別境相,通善等之三性,與六位之心所相應;第七末那識緣阿賴耶識之見分,為有覆無記性,與捨受相應,又與無明等四根本煩惱相應,恆審思量我相,微細任運相續。總之,七轉之諸法具「能薰四義」,具有薰成阿賴耶識種子之條件(現行薰種子)。〔瑜伽師地論卷六十三、成唯識論卷二〕
; (七轉識) Gọi tắt: Thất chuyển, Chuyển thức, Chuyển tâm. Bảy chuyển thức, tức chỉ cho 7 thức trước trong 8 thức. Du già hành phái và tông Duy thức chủ trương thuyết 8 thức, gọi 5 thức trước, ýthức và mạt na thức nương vào thức A lại da mà sinh diệt chuyển biến là Thất chuyển thức. Năm thức trước cũng gọi là Ngũ chuyển thức, duyên theo 5 cảnh sắc, thanh... do thức A lại da biến ra, hành tướng thô động, chuyển ở bên ngoài, phân biệt rõ các cảnh hiện tại. Ý thức thứ 6 duyên theo tất cả cảnh ở quá khứ, vị lai, chuyển ở bên trong lẫn bên ngoài, phân biệt kĩ các cảnh tướng, chung cả 3 tính thiện, ác, vô kí, tương ứng với 6 nhóm tâm sở. Thức mạt na thứ 7, duyên theo Kiến phần của thức A lại da, là tính hữu phú vô kí, tương ứng với Xả thụ, đồng thời cũng tương ứng với 4 phiền não căn bản, hằng tính lường so đo với ngã tướng, liên tục không gián đoạn. Tóm lại, Thất chuyển thức có đủ 4 nghĩa năng huân và đủ các điều kiện huân thành chủng tử của A lại da thức(hiện hành huân chủng tử).[X. luận Du già sư địa Q.63; luận Thành duy thức Q.2].
thất chuyển đệ bát hỗ vi nhân quả
122唯識家顯七轉識(眼識乃至末那識)與第八識(阿賴耶識)相互為因果。即七轉識與第八識於能生、所生及能熏、所熏中互為因果。能生、所生為種子生現行之關係時,第八識為能生之因,七轉識為所生之果;又能熏、所熏為現行熏種子之關係時,七轉識為能熏之因,第八識為所熏之果。此等因果為同時而非異時。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷三〕(參閱「三法展轉因果同時」572)
; (七轉第八互爲因果) Bảy chuyển thức và thức thứ 8 làm nhân quả lẫn nhau. Tức 7 chuyển thức(từ nhãn thức đến mạt na thức) và thức thứ 8(A lại da thức) trong quá trình năng sinh, sở sinh, năng huân và sở huân làm nhân quả lẫn cho nhau. Khi mối quan hệ giữa năng sinh và sở sinh là chủng tử sinh hiện hành, thì thức thứ 8 là nhân của năng sinh và 7 chuyển thức là quả của sở sinh; còn khi mối quan hệ giữa năng huân và sở huân là hiện hành huân chủng tử, thì 7 chuyển thức là nhân của năng huân và thức thứ 8 là quả của sở huân. Mối quan hệ nhân quả này là đồng thời chứ không phải khác thời.[X.luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Tam Pháp Triển Chuyển Nhân Quả Đồng Thời).
thất chân như
102梵語 sapta vidhāḥ tathatāḥ。 約能詮而立真如有七種之別。又作七種如如、七如。即:(一)流轉真如(梵 pravṛtti-tathatā),又作生真如、生如如、輪轉如如、生起真實,若隨相而言,生死流轉非以自在等為因,即由分別、依他之因緣而起,此乃真實不虛。(二)實相真如(梵 lakṣaṇa-tathatā),又作相真如、相如如、空相如,指於一切法上之人法二無我所顯之實相。(三)唯識真如(梵 vijñapti-tathatā),又作了別真如、識真如、識如如‧唯識如,若隨相而言,指無漏唯識之觀智。(四)安立真如(梵 saṃniveśa-tathatā),又作依止真如、依止如、安立真實,即苦聖諦,若隨相而言,乃我、我所之所執處,指器世間、眾生世間。(五)邪行真如(梵 mithyā-pratipatti-tathatā),又作邪行如、邪行如如、邪行真實,即集聖諦,若隨相而言,為苦因之渴愛。(六)清淨真如,又作清淨如、清淨如如、清淨真實,即滅聖諦,乃煩惱、所知二障永滅之畢竟清淨。(七)正行真如(梵 samyak-pratipatti-tathatā),又作正行如、正行如如、正行真實,即道聖諦,謂苦滅之道,如八正道等。〔解深密經卷三、卷六〕(參閱「真如」4197)
; Sapta-vidhah-tathatāh (S).
; The seven aspects of the bhùtatathatà: (1) Lưu chuyển chân như; (2) Thật tướng chân như; (3) Duy thức chân như; (4) An lập chân như; (5) Tà hạnh chân như; (6) Thanh tịnh chân như; (7) Chính hạnh chân như.
; (七真如) Phạm: Sapta vidhà# tathatà#. Cũng gọi Thất chủng như như, Thất như.Bảy loại chân như khác nhau được thành lập theo nghĩa năng thuyên. Đó là: 1. Lưu chuyển chân như (Phạm: Pravftti-tathatà), cũng gọi Sinh chân như, Sinh như như, Luân chuyển như như, Sinh khởi chân thực. Nếu nói theo tướng thì sinh tử lưu chuyển chẳng phải lấy tự tại... làm nhân, tức do các nhân duyên phân biệt, y tha mà khởi, đây là chân thực không hư dối. 2. Thực tướng chân như (Phạm: Lakwana-tathatà), cũng gọi Tướng chân như, Tướng như như, Không như như. Nghĩa là thực tướng do chân lí nhân vô ngã, pháp vô ngã của tất cả các pháp hiển bày.3. Duy thức chân như (Phạm:Vijĩaptitathatà), cũng gọi Liễu biệt chân như, Thức chân như, Thức như như, Duy thức như. Nghĩa là nếu nói theo tướng thì Duy thức chân như chỉ cho trí quán duy thức vô lậu. 4. An lập chân như (Phạm:Saônivezatathatà), cũng gọi Y chỉ chân như, Y chỉ như, An lập chân thực. Tức là Khổ thánh đế. Nếu nói theo tướng thì chỗ mà ngã và ngã sở chấp trước là chỉ cho khí thế gian, chúng sinh thế gian. 5. Tà hành chân như (Phạm:Mithyàpratipatti-tathatà), cũng gọi Tà hành như, Tà hành như như, Tà hành chân thực. Tức là Tập thánh đế. Nếu nói theo tướng thì khát ái là nhân của mọi khổ não. 6. Thanh tịnh chân như(cũng gọi Thanh tịnh như, Thanh tịnh như như, Thanh tịnh chân thực). Tức là Diệt thánh đế. Nghĩa là sự thanh tịnh rốt ráo dứt hẳn phiền não chướng và sở tri chướng. 7. Chính hành chân như (Phạm: Samyak-pratipatti-tathatà), cũng gọi Chính hành như, Chính hành như như, Chính hành chân thực. Tức Đạo thánh đế. Nghĩa là con đường diệt khổ, như Bát chính đạo... [X. kinh Giải thâm mật Q.3, 6]. (xt. Chân Như).
Thất chúng
(七眾): 7 hạng đệ tử hình thành nên giáo đoàn xuất gia và tại gia của đức Phật, gồm: (1) Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘); (2) Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); (3) Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌); (4) Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼); (5) Thức Xoa Ma Na (s: śikṣamāṇa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); (6) Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞); và (7) Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷). Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 10 có giải thích rằng: “Phật đệ tử thất chúng, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Học Giới Ni, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di; Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thị cư gia, dư ngũ chúng thị xuất gia (佛弟子七眾、比丘、比丘尼、學戒尼、沙彌、沙彌尼、優婆塞、優婆夷、優婆塞、優婆夷是居家、餘五眾是出家, bảy chúng đệ tử của Phật là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Học Giới Ni [tức Thức Xoa Ma Na], Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di; Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di là cư sĩ tại gia, còn năm chúng kia là xuất gia).” Trong bài văn Đông Dương Song Lâm Tự Phó Đại Sĩ Bi (東陽雙林寺傅大士碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần (陳, 557-589) thời Nam Triều (南朝, 420-589) có câu: “Thất chúng phàn hiệu, ai du thanh thọ (七眾攀號、哀踰青樹, bảy chúng khóc thảm thiết, buồn ngút cây xanh).” Hay như trong bài Thống Lược Tịnh Trú Tử Tịnh Hạnh Pháp Môn Tự (統略淨住子淨行法門序) của Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cũng có khẳng định rằng: “Dĩ Tam Quy thất chúng, chế ngự tình trần (以三歸七眾,制御情塵, lấy ba phép Quy Y bảy chúng để chế ngự ô nhiễm bụi trần).”
; 七衆; C: qīzhòng; J: shichishu;|Bảy chúng đệ tử Phật. Gồm: 1. Tỉ-khâu, 2. Tỉ-khâu-ni, 3. Ưu-bà-tắc (cư sĩ nam), 4. Ưu-bà-di (cư sĩ nữ), 5. Sa-di (沙彌): Tăng trẻ chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu, 6. Sa-di ni (沙彌尼): Ni chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu-ni. Trong ni giới, đặc biệt có số người trong dạng chuyển tiếp, là sa-di-ni đã lớn tuổi, chuẩn bị thụ giới Tỉ-khâu-ni, được gọi là Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā). Hai nhóm đầu tiên thực hành toàn bộ giới luật đức Phật đã chế. Hai nhóm cư sĩ chỉ giữ năm giới (五戒). Thức-xoa-ma-na ngoài giới sa-di còn phải thực hành thêm Sáu học pháp (六法); Sa-di và sa-di-ni giữ Mười giới (十戒).
thất chúng
105即七類弟子,構成釋尊之教團(出家與在家)。又作道俗七眾。七者即:(一)比丘(梵 bhikṣu,巴 bhikkhu),又作苾芻、乞士,指滿二十歲之出家男。(二)比丘尼(梵 bhikṣunī,巴 bhikkhunī),又作苾芻尼、乞士女,指滿二十歲之出家女。(三)沙彌(梵 śrāmaṇera,巴 sāmaṇera),又作勤策男,指未滿二十歲之出家男。(四)沙彌尼(梵 śrāmaṇerikā,巴 sāmaṇerī),又作勤策女,指未滿二十歲之出家女。(五)式叉摩那(梵 śikṣamāṇa,巴 sikkhamānā),譯作學法女,乃沙彌尼為比丘尼前二年之稱呼。(六)優婆塞(梵 upāsaka,巴同),譯作近事男,指在家之男信徒。(七)優婆夷(梵 upāsikā,巴同),譯作近事女,指在家之女信徒。又此七眾加近住(受三皈,一日一夜受持戒者),稱為八眾;或加近住男、近住女,稱為九眾。〔仁王般若波羅蜜經卷下、摩訶僧祇律卷二、卷二十四、大毘婆沙論卷一二三〕
; The seven classes of disciples: (1) Tỉ khưu, bhiksu, monk; (2) Tỉ khưu ni, bhiksuni, nun; (3) Thức xoa ma na, siksamàna, a novice-nun; (4) Sa di, sràmanera, novice-monk; (5) Sa di ni, sràmanerika, novice-nun; (6) Ưu bà tắc, upàsaka, lay-man; (7) Ưu bà di, upàsikà, lay-woman.
; (七衆) Cũng gọi Đạo tục thất chúng. Chỉ cho 7 loại đệ tử(gồm xuất gia và tại gia) tạothành giáo đoàn của đức Thích tôn. Đó là: 1. Tỉ khưu (Phạm: Bhikwu, Pàli: Bhikkhu), cũng gọi Bật sô, Khất sĩ. Chỉ cho người nam xuất gia đủ 20 tuổi. 2. Tỉ khưu ni (Phạm: Bhikwunì,Pàli: Bhikkhunì), cũng gọi Bật sô ni, Khất sĩ nữ. Chỉ cho người nữ xuất gia đủ 20 tuổi. 3. Sa di (Phạm: Zràmaịera, Pàli: Sàmaịera), cũng gọi Cần sách nam. Chỉ cho người nam xuất gia chưa đủ 20 tuổi. 4. Sa di ni (Phạm:Zràmaịerikà,Pàli: Sàmịerì), cũng gọi Cần sách nữ. Chỉ cho người nữ xuất gia chưa đủ 20 tuổi. 5. Thức xoa ma na (Phạm: Zikwamàịa, Pàli:Sikkhamàna), Hán dịch là Học pháp nữ. Từ ngữ này được dùng để gọi các Sa di ni học giới trong 2 năm trước khi chính thức trở thành các Tỉ khưu ni. 6. Ưu bà tắc (Phạm,Pàli:Upàsaka), Hán dịch là Cận sự nam. Chỉ cho nam tín đồ tại gia. 7. Ưu bà di (Phạm, Pàli:Upàsikà), Hán dịch là Cận sự nữ. Chỉ cho nữ tín đồ tại gia. Bảy chúng nói trên, thêmCận trụ(người thụ Tam qui, thụ trì giới một ngày một đêm), gọi là Bát chúng; hoặc thêmCận trụ nam, Cận trụ nữ, gọi là Cửu chúng. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; luật Ma ha tăng kì Q.2, 24; luận Đại tì bà sa Q.123].
thất chúng nịch thuỷ
105北本涅槃經對眾生之分類譬喻,謂眾生有七種。該經卷三十二載,第一人入水,以不習浮,故入水即溺;譬如一闡提,入生死河即沒。第二人雖沒還出,出已還沒;譬如人天乘將進而退者。第三人沒已即出,出更不沒;譬如內凡之人,具軟、頂、忍、世第一法之四善根,永不墮三惡道。第四人入已便沒,沒已還出,出已即住,遍觀四方;譬如四果之人。第五人入已即沒,沒已還出,出已即住,住已觀方,觀已即去;譬如緣覺。第六人入已即去,淺處則住;譬如菩薩。第七人既到彼岸,登上大山,無復恐怖,離諸冤賊,受大悅樂;譬如佛。 同經卷三十六亦載:(一)常沒,入水則沒,譬如一闡提,常墮於惡道。(二)暫出還沒,如人天。(三)出已則住,如內凡。(四)出已遍觀四方,四方即四諦,如聲聞。(五)遍觀已行,越聲聞而行於緣覺,如緣覺。(六)行已復住,如菩薩。(七)水陸俱行,如佛。
thất chúng nịch thủy
(七衆溺水) Bảy chúng đắm chìm. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) có nêu 7 ví dụ về 7 loại chúng sinh như sau: 1. Hạng người thứ nhất xuống nước, vì không biết bơi nên liền bị chìm; ví dụ cho Nhất xiển đề vào sông sinh tử liền bị chìm ngay. 2. Hạng người thứ 2 xuống nước, tuy bị chìm nhưng lại ngoi lên, ngoi lên rồi lại chìm; ví dụ cho hạng trời và người có lúc tiến lên, nhưng lại trở lui. 3. Hạng người thứ 3chìm rồi liền ngoi lên, ngoi lên rồi không bị chìm nữa; ví dụ cho hàng Nội phàm đầy đủ 4 thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, vĩnh viễn không bị rơi vào 3 đường ác nữa. 4. Hạng người thứ 4 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, quán sát khắp 4 phương; ví dụ cho hàng Thanh văn. 5. Hạngngườithứ 5 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, dừng lại quán sát các phương, quán sát rồi đi; ví dụ cho hàng Duyên giác. 6. Hạng người thứ 6xuống nước liền bơi đi, đến chỗ cạn thì dừng lại, ví dụ Bồ tát.7. Hạng người thứ 7 bơi đến bờ kia, leo lên núi lớn, không còn sợ hãi, lìa các giặc oán, hưởng sự yên vui to lớn, ví dụ chư Phật.
thất chủng biện
119謂菩薩七種殊勝之辯慧。又作七辯。(一)據大品般若經卷八幻聽品、大智度論卷五十五所載,七辯為:(1)捷疾辯,於一切法無礙,故得捷疾辯。(2)利辯,有人雖能捷疾,但以鈍根故猶不能深入;以能深入故為利。(3)不盡辯,說諸法實相,無邊無盡。(4)不可斷辯,於般若中無諸戲論,故無能問難斷絕者。(5)隨應辯,能斷法愛,故能隨眾生所應而為說法。(6)義辯,為說趣於涅槃之利益事。(7)一切世間最上辯,說一切世間第一之事,即指大乘。 (二)據大般若經卷四九九所載,七辯為:(1)無礙辯,相當於利辯。(2)無斷盡辯,相當於不盡辯。(3)無疏謬辯,相當於不可斷辯。(4)應辯,相當於隨應辯。(5)迅辯,相當於捷疾辯。(6)諸所演說豐義味辯,相當於義辯。(7)一切世間最勝妙辯,相當於一切世間最上辯。
; The seven rhetorical powers or methods of bodhisattvas: (1) Tiệp tật biện, direct and unimpeded; (2) Lợi biện, acute and deep; (3) Bất tận biện, unlimited in scope: (4) Bất khả đoạn biện, irrefutable; (5) Tùy ứng biện, appropriate, or according to receptivity; (6) Nghĩa biện, purposive or objective (i.e. nirvàna); (7) Nhất thiết thế gian tối thượng biện, proving the universal supreme method of attainment, i.e. Mahàyàna.
; (七種辯) Cũng gọi Thất biện. Bảy biện tuệ thù thắng của Bồ tát. A. Theo phẩm Huyễn thính trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 8 và luận Đại trí độ quyển 55 thìthất biện là: 1. Tiệp tật biện: Biện luận mau lẹ, vì Bồ tát đối với tất cả pháp đều thông suốt vô ngại. 2. Lợi biện: Biện luận rất sắcsảo, vì Bồ tát thâm nhập tất cả pháp. 3. Bất tận biện: Biện luận thao thao như dòng nước chảy, vì Bồ tát rõ suốt thực tướng các pháp nên giảng nói bất tận. 4. Bất khả đoạn biện: Vì trong Bát nhã không có các hí luận nên không thể dùng các vấn nạn để làm gián đoạn tài biện luận của Bồ tát. 5. Tùy ứng biện: Tùy theo yêu cầu của chúng sinh mà nói pháp, vì Bồ tát đã dứt hẳn pháp ái. 6. Nghĩa biện: Bồ tát giảng nói về sự lợi ích hướng tới Niết bàn. 7. Nhất thiết thế gian tối thượng biện: Nói tất cả những việc bậc nhất ở thế gian, tức chỉ cho Đại thừa. B. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 99 thì thất biện là: 1. Vô ngại biện: Tươngđươngvới Lợi biện.2. Vô đoạn tận biện: Tương đương với Bất tận biện. 3. Vô sơ mậu biện: Tương đương với Bất khả đoạn biện. 4.Ứngbiện: Tương đương với Tùy ứng biện.5. Tấn biện: Tương đương với Tiệp tật biện.6. Chư sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện: Tương đương với Nghĩa biện. 7. Nhất thiết thế gian tối thắng diệu biện: Tương đương với Nhất thiết thế gian tối thượng biện.
thất chủng bất tịnh
114乃對自他「身分」貪著所說之七種不淨。即:(一)種子不淨,煩惱業因之內種,與父母遺體之外種,皆為不淨。(二)受生不淨,父母交媾赤白和合之不淨。(三)住處不淨,於不淨之女體胎處十月。(四)食噉不淨,胎中食母血之不淨。(五)初生不淨,十月生時之腥穢狼籍。(六)舉體不淨,即薄皮之下盡為穢物。(七)究竟不淨,死亡後置於塚間之不淨流溢。
; The seven kinds of uncleaness: (1) Hột giống chẳng sạch derived from the parental seed; (2) Thụ sinh chẳng sạch, parental intercourse; (3) Nơi đậu chẳng sạch, the womb; (4) Ăn uống chẳng sạch, the pre-natal blood of the mother; (5) Lúc mới sinh chẳng sạch, birth; (6) Tất cả thân thể chẳng sạch, one's own flesh; (7) Rốt cục chẳng sạch, one's own putrid corpse.
; (七種不淨) Bảy thứ nhơ nhớp đối với sự tham đắm thân phần của mình và người. Đó là: 1. Chủng tử bất tịnh: Hạt giống bên trong là nghiệp nhân phiền não và hạt giống bên ngoài là di thể của cha mẹ, đều là nhơ nhớp. 2. Thụ sinh bất tịnh: Khi cha mẹ giao cấu, tinh huyết hòa hợp là nhơ nhớp. 3. Trụ xứ bất tịnh:Ở trong bào thai 10 tháng là chỗ nhơ nhớp. 4. Thụ đạm bất tịnh:Ở trong thai, ăn uống máu huyết nhơ nhớp của mẹ. 5. Sơ sinh bất tịnh: Lúc sinh ra máu me bẩn tưởi. 6. Cử thể bất tịnh: Dưới lớp da mỏng khắp mình toàn là những vật nhơ nhớp. 7. Cứu cánh bất tịnh: Sau khi chết, bỏ thây ngoài nghĩa địa, dòi bọ rúc rỉa, hôi thối, nhớp nhúa.
thất chủng bố thí
The seven kinds of almsgiving: (1) Bố thí cho người khách, to callers; (2) Bố thí cho người đi đường, to travellers; (3) Bố thí cho người bệnh the sick; (4) Bố thí cho người hầu bệnh, their nurse; (5) Bố thí vườn tược cho chùa, monasteries; (6) Bố thí thức ăn hàng ngày, regular food (to mnks); (7) Tùy lúc bố thí, general alms.
Thất chủng chân như
七種眞如; C: qīzhǒng zhēnrú; J: shichishu shinnyo;|Bảy loại chân như được đề cập trong bài luận về mười tám loại tính Không (Thập bát Không luận 十八空論). Đó là: Sinh chân như (生眞如), Tướng chân như (相眞如), Thức chân như (識眞如), Y chỉ chân như (依止眞如), Tà hạnh chân như (邪行眞如), Thanh tịnh chân như (清淨眞如) và Chính hạnh chân như (正行眞如).
Thất chủng hữu lậu
xem Bảy lậu hoặc.
thất chủng lập đề
115天台宗以一切經題不出人、法、譬三者,此中,又由單、複、具足之不同而生分別,即單三、複三、具足一,總為七種。(一)單人立題,如佛說阿彌陀經。佛為能說之人,阿彌陀為所說之人,乃以兩土之果人立名。(二)單法立題,如涅槃經。涅槃為經中所說之法,是為以法立名。(三)單譬立題,如梵網經。梵網乃梵天之羅網,以譬戒律之節目交絡無盡,是為以譬立名。(四)人法立題,如文殊問般若經。文殊為人,般若為法。(五)法譬立題,如妙法蓮華經。妙法為法,蓮華為譬。(六)人譬立題,如如來師子吼經。如來為人,師子吼為譬。(七)具足立題,如大方廣佛華嚴經。大方廣為法,佛為人,華嚴為譬。(參閱「單三複三具足一」4912)
; (七種立題) Chỉ cho 7 cách đặt tên kinh.Tông Thiên thai cho rằng tất cả tên kinh không ngoài 3 yếu tố Nhân, Pháp và Dụ, trong đó, lại do đơn, phức và cụ túc khác nhau mà có phân biệt, tức đơn 3, phức 3 và cụ túc 1, cộng chung là 7 thành phần. 1. Đơn nhân lập đề: Như kinh Phật thuyết A di đà. Phật là người năng thuyết, A di đà là người sở thuyết. Đây là dùng quả và nhân của 2 thế giới để đặt tên kinh. 2. Đơn pháp lập đề: Như kinh Niết bàn. Niết bàn là pháp sở thuyết trong kinh. Đây là dùng pháp để đặt tên kinh. 3. Đơn thí lập đề: Như kinh Phạm võng. Phạm võng là mành lưới của Phạm thiên, dùng các mắt lưới để ví dụ các tiết mục của giới luật giao xen nhau vô tận. Đây là dùng ví dụ để đặt tên kinh. 4. Nhân pháp lập đề: Như kinh Văn thù vấn bát nhã. Văn thù là Nhân(người), Bát nhã là pháp. 5. Pháp thí lập đề: Như kinh Diệu pháp liên hoa. Diệu pháp là pháp, liên hoa là ví dụ.6. Nhân thí lập đề: Như kinh Như lai sư tử hống. Như lai là người, sư tử là ví dụ.7. Cụ túc lập đề: Như kinh Đại phương quảng Phậthoa nghiêm. Đại phương quảng là pháp, Phật là người và hoa nghiêm là ví dụ.(xt. Đơn Tam Phức Tam Cụ Túc Nhất).
thất chủng lễ phật
118據法苑珠林卷二十儀式部第七載,中印度勒那摩提三藏傳來七種禮佛之法,有是非淺深之不同,欲令人知其中我慢與求名二種禮之非,而歸於身心禮等五種之正。七種禮佛即:(一)我慢禮,謂人禮佛,身雖設拜,而內懷我慢。(二)求名禮,又作唱和禮。謂人禮佛,但為要其修行名譽,而實無慇重之心。(三)身心禮,謂人禮佛,口唱佛名,心存佛之相好,身業翹勤,恭敬供養,無有異念。(四)發智清淨禮,謂人禮佛,慧心明利,達佛境界,內外清淨,虛通無礙,禮一佛時即是禮一切諸佛,禮一切諸佛即是禮一佛,以諸佛法身,體本融通,故禮一拜,遍通法界。禮佛如是,禮法、禮僧亦同。(五)遍入法界禮,謂人禮佛,想自己身心等法,從本以來,不離法界,諸佛不離我心,我心不離諸佛,性相平等,本無增減,今禮一佛即遍通諸佛,如一室中懸百千鏡,有人觀鏡,鏡皆現像,鏡無不照,影無不現,如是正觀,則功歸法界,德用無邊。(六)正觀修誠禮,謂人禮佛,攝心正念,雖對佛身,即是自禮自身佛。(七)實相平等禮,謂人禮佛,前正觀中,猶存有禮有觀,自他兩異,今此一禮,無自無他,凡聖一如,體用不二。
; Seven degrees of worshipping Buddha ranging from the merely external to the highest grade.
; (七種禮佛) Bảy cách lễ Phật. Cứ theo phần Nghi thức bộ thứ 7 trong Pháp uyển châu lâm quyển 20 thì Tam tạng Lặcna ma đề ở TrungẤn độ truyền đến Trung quốc 7 cách lễ Phật, trong đó có đúng sai, sâu cạn khác nhau, muốn cho người ta biết 2 cách lễ ngã mạn và cầu danh trong đó là sai, còn 5 cách kia là đúng. Bảy cách lễ Phật ấy là: 1. Ngã mạn lễ: Người lễ Phật tuy thân lễ lạy nhưng trong lòng thì ngã mạn. 2. Cầu danh lễ(cũng gọi là Xướng họa lễ): Người lễ Phật chỉ vì cầu danh chứ không có tâm ân trọng. 3. Thân tâm lễ: Người lễ Phật, miệng xướng danh hiệu Phật, tâm quán tưởng tướng tốt đẹp của Phật, thân nghiệp ân cần, cung kính cúng dường, không có niệm khác. 4. Phát trí thanh tịnh lễ: Người lễ Phật, tuệ tâm sáng suốt, đạt đến cảnh giới Phật, trong ngoài thanh tịnh, rỗng suốt vô ngại, khi lễmột đức Phật tứclàlễ tất cả các Phật, lễ tất cả các Phậtchính là lễ một đức Phật, vì pháp thân chưPhậtthể vốn dung thông, cho nênhễlễ một lạy thì cùng khắp pháp giới, lễ Phật như thế, lễ pháp, lễ tăng cũng giống như thế. 5. Biến nhập pháp giới lễ: Người lễ Phật, quán xét các pháp như thân tâm của chính mình, từ xưa đến nay không lìa pháp giới, chư Phật chẳng lìa tâm ta, tâm ta chẳng lìa chư Phật, tính tướng bình đẳng, vốn không thêm bớt, nay lễ một đức Phật tức lễ khắp các đức Phật, giống như trong ngôi nhà treo trăm, nghìn tấm gương, có người đến soi gương thì gương đều hiện bóng, không tấm gương nào không soi, không hình bóng nào không hiện, chính quán như thế thì công qui về pháp giới, đức dụng thì vô biên. 6. Chính quán tu thành lễ: Người lễ Phật nhiếp tâm chính niệm, tuy đối trước thân Phật nhưng đó chính là mình lễ thân Phật trong thân của chính mình. 7. Thực tướng bình đẳng lễ: Người lễ Phật, trong chính quán vừa nói trên vẫn còn có lễ có quán, mình, người khác nhau, một lễ ở đây bây giờ là không mình không người, phàm thánh là một, lễ dụng chẳng hai.
thất chủng ngư
�� Buddha's seven modes of discourse: (1) Nhân ngữ: from presentcause to future effect. (2) Quả ngữ: from present sffect to past cause. (3) Nhân quả ngữ: inherent cause and effect. (4) Dụ ngữ: illustrative or figurative. (5) Bất ứng thuyết ngữ: spontaneous or parabolic. (6) Thế lưu bố ngữ: ordinary or popular. (7) Như ý ngữ: unreserved, or as he really thought, e.g. sa when he said that all things have the Buddha-nature.
thất chủng ngữ
118北本涅槃經卷三十五舉出佛陀為眾生說法時之七種類型,即:(一)因語,如來於現在因中說未來之果,如謂眾生樂殺,乃至樂行邪見,以此為因,是人當受地獄果報。(二)果語,如來於現在之果中說過去之因,如見貧窮醜陋之眾生,則謂此皆由是人前世破戒瞋妒、無有慚愧所致。(三)因果語,如來說一事過去之因乃至未來之果,如謂眾生現在之六入觸乃由過去之業為因,且現在之六入觸能起惑業而招未來之果。(四)喻語,如來為鈍根之眾生巧說譬喻,如喻佛身為獅子王。(五)不應語,如來說法必依真俗二諦之理,真則言一切法離性離相,皆即中道;俗則言世間、出世間之法,法法宛然,不可斷滅。如是而說,無不於理相應。然如來亦嘗謂天地可合、河不入海、四方山來、沙羅樹能受八戒;如是等說,於理不相應,故稱不應語。(六)世流布語,如來隨順世間流布之語,如謂男女、大小、車乘、房舍、城邑等。(七)如意語,如來於諸眾生,凡所教誡,悉如其意,方便而說。
; (七種語) Bảy loại ngữ(lời nói)mà đức Phật sử dụng khi thuyết pháp cho chúng sinh nghe, được nêu trong kinh Niết bàn quyển 35 (bản Bắc). Đó là: 1. Nhân ngữ: Đức Phật ngay nơi nhân hiện tại nói về quả vị lai, như nói chúng sinh thích giết hại, cho đến ưa làm theo tà kiến, đó chính là nhân, người ấy sẽ chịu quả báo địa ngục. 2. Quả ngữ: Đức Như lai ở ngay quả hiện tại mà nói về nhân quá khứ, như thấy chúng sinh nghèo cùng xấu xí thì nói đó đều do người ấy đời trước phá giới, ghen ghét, sân hận, không biết hổ thẹn mà ra. 3. Nhân quảngữ: Như lai nói một việc từ nhân ở quá khứ cho đến quả ở vị lai, như nói 6 nhập xúc ở hiện tại của chúng sinh là do nghiệp ở quá khứ làm nhân, 6 nhập xúc hiện tại khởi tạo hoặc nghiệp sẽ chiêu cảmquảở quả vị lai. 4. Dụ ngữ: Đức Phật vì chúng sinh độn căn nên khéo dùng ví dụ để dẫn dắt, như ví dụ thân Phật là Sư tử vương. 5. Bất ứng ngữ: Như lai thuyết pháp y cứ vào lí chân đế và tục đế, chân đế là nói tất cả pháp lìa tính lìa tướng, tất cả đều là Trung đạo; tục đế thì nói các pháp thế gian, xuất thế gian mỗi pháp đều rõ ràng, không thể đoạn diệt. Nói cả 2 đế như thế mà đế nào cũng tương ứng với lí. Tuy nhiên, cũng có khi Như lai nói trời đất có thể hợp lại, sông chẳng chảy về biển, núi từ 4 phương ập đến, cây Sa la có thể thụ 8 giới...; những lời nói này không tương ứng với lí, vì thế nên gọi là Bất ứng ngữ.6. Thế lưu bố ngữ: Như lai tùy thuận ngôn ngữ phổ thông ở thế gian, như nói nam nữ, xe ngựa, phòng xá, thành ấp... 7. Như ý ngữ: Đối với chúng sinh, hễ có điều gì dạy bảo thì Như lai đều dùng phương tiện nói những lời vừa ý mọi người.
thất chủng nhị đế
113真俗二諦有七種之別。即:(一)三藏教之二諦,以陰入界等實法而成之森羅萬品為俗諦,滅此俗諦所會之理為真諦;即承認諸法實生實滅,故又稱實有二諦、生滅二諦。(二)通教之二諦,以幻有為俗諦,幻有即空為真諦;即不承認實生實滅,又稱無生滅二諦。(三)別接通之二諦,以幻有為俗諦;別接通之人稟通教之法,見但中之理,接入別教,其所見為真諦,即以幻有即空、不空為真諦;又稱單俗複真二諦、幻有空不空二諦。(四)圓接通之二諦,俗諦同通教;圓接通之人稟通教之法,見不但中之理,接入圓教,以其所見為真諦,即以幻有即空不空、一切法趣空不空為真諦。(五)別教之二諦,以幻有、幻有即空為俗諦,不有不無之中道為真諦。(六)圓接別之二諦,俗諦同前之別教,圓接別之人稟別教之法,悟入不但中之理,接入圓教,以其所見為真諦,即合但中、不但中為真諦。(七)圓教之二諦,以幻有、幻有即空為俗諦,一切法趣有、趣空、趣不有不空為真諦。〔北本大般涅槃經卷十三聖行品、法華經玄義卷二下、大般涅槃經疏卷十五〕
; (七種二諦) Chỉ cho 7 thứ chân đế và tục đế. Đó là: 1. Hai đế của Tam tạng giáo: Các thực pháp như ấm, giới, nhập... tạo thành sum la muôn tượng là tục đế, lí thể lãnh hội được do diệt trừ tục đế này là chân đế; tức chủ trương cho rằng các pháp có sinh thật, diệt thật, vì thế cũng gọi Thực hữu nhị đế, Sinh diệt nhị đế. 2. Hai đế của Thông giáo: Có giả là tục đế, có giả tức không là chân đế; chủ trương không thừa nhận có sinh thật, diệt thật, cũng gọi Vô sinh diệt nhị đế. 3. Hai đế của Biệt tiếpThông: Lấy có giả làm tục đế; hàng Biệt tiếpThông theo giáo pháp Biệt giáo, thấy lí Đãn trung, được tiếp vào Biệt giáo, lấy cái họ thấy là chân đế, tức lấy có giả chính là không và bất không làm chân đế, cũng gọi Đơn tục phức chân nhị đế, Huyễn hữu không bất không nhị đế. 4. Hai đế của Viên tiếp Thông: Tục đế đồng với Thông giáo; hàng Viên tiếp Thông theo giáo pháp Thông giáo, thấy lí Bất đãn trung, được tiếp vào Viên giáo, lấy điều họ thấy làm chân đế, tức cho có giả chính là không bất không, tất cả pháp không bất không là chân đế. 5. Hai đế của Biệt giáo:Lấy có giả và có giả tức không làm tục đế, Trung đạo chẳng có chẳng không là chân đế. 6. Hai đế của Viên tiếp Biệt: Tục đế đồng Biệt giáo ở trước, hàng Viên tiếp Biệt theo giáo pháp Biệt giáo, ngộ nhập lí Bất đãn trung, được tiếp vào Viên giáo, lấy điều họ thấy làm chân đế, tức hợp chung Đãn trung và Bất đãn trung làm chân đế. 7. Hai đế của Viên giáo: Lấy có giả và có giả tức không làm tục đế, tất cả pháp có, không và chẳng có chẳng không là chân đế. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát Niết bàn Q.13 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, hạ; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.15].
thất chủng sinh tử
114眾生於六道迷界中之輪迴流轉可大別為分段、變易等二種生死,諸論書就此二種又別立新說,而有「七種生死」之說。(一)據顯識論、摩訶止觀卷七上之說,分段生死依於欲界、色界、無色界等三界,故有三種之別,以此三種再加上界外之四種生死,即:方便、因緣、有有、無有,共為七種生死。 (二)據止觀輔行傳弘決卷七之一、大明三藏法數卷三十之說,七種生死指:(1)分段生死,謂三界果報,其壽命有長短分限,身有大小形段,皆不免於生死。(2)流入生死,謂眾生從有識之初,迷真逐妄,流入生死苦海,漂溺不息。(3)反出生死,眾生若發心修行,背妄歸真,則能反出生死,至於涅槃。(4)變易生死,又作方便生死。因移果易,稱為變易。阿羅漢、辟支佛、菩薩等,既離三界之生死,出生於方便等土,就其斷惑證果之時,因移果易,故稱生死。(5)因緣生死,初地以上之諸菩薩,皆以所觀之不思議理為因,能觀之真無漏智為緣,共破無明之惑,復為化度眾生之故而示現生死。(6)有後生死,謂第十地(法雲地)菩薩因有最後一品無明未斷,尚有一番變易生死。(7)無後生死,謂等覺菩薩破最後一品無明煩惱,究竟永盡而入妙覺之位,不受後身。〔翻譯名義集卷十七〕(參閱「生死」2059)
; (七種生死) Sự sinh tử luân hồi của chúng sinh trôi lăn trong 6 đường cõi mê được chia làm 2 thứ là Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Các bộ luận y cứ vào 2 thứ sinh tử này mà lập ra thuyết mới là thuyết Thất chủng sinh tử. Đó là: A. Theo thuyết của luận Hiển thức và Ma ha chỉ quán quyển 7, thượng, thì Phần đoạn sinh tử y cứ vào 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc, cho nên có 3 thứ sinh tử khác nhau; thêm vào 3 thứ này có 4 thứ sinh tử của giới ngoại là Phương tiện, Nhân duyên, Hữu hữu và Vô hữu mà thành 7 thứ sinh tử. B. Theo thuyết của Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1, và thuyết của Đại minh tamtạng pháp số quyển 30 thì Thất chủng sinh tử là: 1. Phần đoạn sinh tử: Quả báo trong 3 cõi, về thọ mệnh có phần hạn dài ngắn, về thân thì có hình đoạn lớn nhỏ, đều không tránh khỏi sinh tử. 2. Lưu nhập sinh tử: Chúng sinh từ lúc bắt đầu có thức thì quên chân theo vọng, trôi vào biển khổ sinh tử, chìm nổi không dừng. 3. Phản xuất sinh tử: Nếu chúng sinh phát tâm tu hành, bỏ vọng về chân thì có thể ra khỏi sinh tử, đạt đến Niết bàn. 4. Biến dịch sinh tử(cũng gọi Phương tiện sinh tử): Nhân dời quả đổi, gọi là biến dịch. Nghĩa là các bậc A la hán, Bích chi Phật, Bồ tát... đã ra khỏi sinh tử của 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc mà sinh vào các cõi Phương tiện... y cứ vào lúc đoạn hoặc chứng quả, vì nhân dời quả đổi nên gọi là Sinh tử. 5. Nhân duyên sinh tử: Các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đều lấy líbất tư nghị của sở quán làm nhân, lấy chân vô lậu trí của năng quán làm duyên, cùng phá hoặc vô minh, rồi vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện sinh tử. 6. Hữu hậu sinh tử: Vì Bồ tátĐệ thập địa(Pháp vân địa) còn một phẩm vô minh cuối cùng chưa đoạn trừ nên còn có một lần Biến dịch sinh tử. 7. Vô hậu sinh tử: Bồ tát Đẳng giác phá trừ một phẩm vô minh phiền não cuối cùng, rốt ráo hết hẳn, chứng nhập địa vị Diệu giác, không thụ thân sau. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.17]. (xt. Sinh Tử).
thất chủng sám hối tâm
118指懺悔時應發露之七種心,即:(一)生大慚愧心,慚愧我與釋迦如來同為凡夫,今世尊成佛已歷多劫,我猶輪轉生死,無有出期。(二)生恐怖心,我等凡夫身口意所作業常與罪相應,以此因緣,命終後應墮於地獄、畜生、餓鬼諸道,受無量苦,以此而生恐怖。(三)生厭離心,我等流轉生死之中,虛假不實,如水上泡,速起速滅;往來流轉。並此身為眾苦所集,一切皆不淨,以此而生厭離。(四)發菩提心,欲成就如來身者,當發菩提心以救度眾生,於身、命、財無所吝惜。(五)冤親平等心,於一切眾生,起慈悲心,無人我相,平等救度,以此心為懺。(六)念報佛恩心,如來為我等故,往昔無量劫中修諸苦行,如此恩德實難酬報,須於此世勇猛精進,不惜身命,廣度眾生,入於正覺,應以此為念。(七)觀罪性空,罪性本空,無有實體,但從因緣顛倒而生。可知罪之性本來為空,故罪亦無,以此作觀。〔慈悲水懺法卷上〕
; The seven mental attitudes in penitential meditation or worship: shame, at not being free from mortality; fear, of the pains of hell,etc.; turning from the evil world; desire for enlightenment and complete renunciation; impartiality in love to all; gratitude to the Buddha; meditation on the unreality of the sin nature.
; (七種懺悔心) Chỉ cho 7 thứ tâm được tỏ bày lúc sám hối, đó là: 1. Sinh đại tàm quí tâm: Sinh tâm rất hổ thẹn. Nghĩa là hổ thẹn rằng mình và đức Thích ca Như lai cùng là phàm phu mà nay đức Thế tôn đã thành Phật trải qua nhiều kiếp, trong khi mình vẫn còn luân hồi sinh tử, không biết đến bao giờ mới ra khỏi.2. Sinh khủngbố tâm: Sinh tâm sợ hãi. Nghĩa là các nghiệp do thân, khẩu, ý của lũ phàm phu như ta tạo tác thường tương ứng với tội lỗi, vì nhân duyên ấy nên sau khi chết sẽ phải đọa vào các đường địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, chịu vô lượng khổ, do đó mà sinh sợ hãi. 3. Sinh yếm li tâm: Sinh tâm chán lìa. Nghĩa là lũ chúng ta trôi lăn trong sinh tử, hư giả chẳng thật, như đám bọt nước chợt nổi chợt tan, trôi chảy qua lại. Hơn nữa, thân này là do các khổ gom lại, tất cả đều nhơ nhớp, do đó mà sinh tâm chán lìa. 4. Phátbồ đềtâm: Phát tâm bồ đề. Nghĩa là muốn thành tựu thân Như lai thì phải nên phát tâm bồ đề để cứu độ chúng sinh, đối với thân mệnh và tài vật đều không sẻn tiếc. 5. Oán thân bình đẳng tâm: Coi kẻ oán người thân đều bình đẳng. Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh khởi tâm từ bi, không có tướng mình, người, bình đẳng cứu độ, dùng tâm này để sám hối. 6. Niệm báo Phật ân tâm: Tâm nhớ nghĩ báo ân Phật. Nghĩa là Như lai đã vì chúng ta mà tu hành khổ hạnh trong vô lượng kiếp xa xưa, ân đức ấy thật khó báo đền; cho nên ngay trong đời này phải dũng mãnh tinh tiến, không tiếc thân mệnh, rộng độ chúng sinh, lên ngôi Chính giác, nên luôn nhớ nghĩ như thế. 7. Quán tội tính không: Tính chất của tội vốn không, không có thực thể, chỉ do nhân duyên điên đảo mà sinh. Quán xét như thế thì biết được tội tính xưa nay vốn không, cho nên tội cũng là không. [X. Từ bi thủy sám pháp Q.thượng].
thất chủng tam muội
Xem Thất giác phần Tam muội.
thất chủng thiện
117普光據俱舍論所立之生得、聞、思、修、學、無學、勝義等七種善。生得善者,謂於自然起任運之善心。聞、思、修三善亦稱三慧,乃發心修行入見道,持戒修觀所得加行善中之三善。由聞而成者謂聞慧;思惟而成者謂思慧;修定而成者謂修慧。以上四種皆屬有漏善。又無漏善分有為、無為二種。其中,學、無學屬有為無漏。前者乃於四向三果之有學位所起之善;後者即無學位;乃於阿羅漢果所起之善。勝義善者屬無為無漏,乃擇滅無為之涅槃法。〔俱舍論卷四、卷二十二、俱舍論光記卷一〕(參閱「三性」563)
; (七種善) Chỉ cho 7 thứ thiện là Sinh đắc thiện, Văn thiện, Tư thiện, Tu thiện, Học thiện, Vô học thiện và Thắng nghĩa thiện, do ngài Phổ quang y cứ vào luận Câu xá mà lập ra. Sinh đắc thiện là thiện tâm nhậm vận sinh khởi mộtcách tự nhiên. Ba thiện Văn, Tư, Tu cũng gọi Tam tuệ, là 3 thứ thiện trong các thiện nhờ gia hành như phát tâm tu hành vàoKiến đạo, trì giới, tu quán... mà có được. Văn thiện do nghe mà thành gọi là Văn tuệ; Tư thiện do suy tư mà thành gọi là Tư tuệ; Tu thiện do tu định mà thành gọi là Tu tuệ. Bốn thứ trên đây đều thuộc hữu lậu thiện. Còn vô lậu thiện thì được chia làm 2 thứ làhữu vi và vô vi. Trong đó, Học thiện và Vô học thiện thuộc vô lậu hữu vi. Học thiện do giai vị Hữu học của Tứ hướng, Tam quả sinh khởi; còn Vô học thiện thì chính làVô học vị, là thiện do quả A la hán sinh khởi. Thắng nghĩa thiện thuộc vô lậu vô vi, là pháp Niết bàn của Trạch diệt vô vi. [X. luận Câu xá Q.4, 22; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Tam Tính).
thất chủng thụ thai
116據善見毘婆沙律卷六載,有七種受胎,即:(一)相觸受胎,指女子月水生時,喜樂男子,若男子以身觸其身分,即生貪著而便懷胎。(二)取衣受胎,如優陀夷共婦出家,後優陀夷往到婦處,兩情欲愛不止,各相發問,欲精污衣,尼得此衣而懷胎。(三)下精受胎,指往昔有一道士,小便與精俱下,鹿母飲之而懷胎,生鹿子道士。(四)手摩受胎,如睒菩薩,其父母俱盲,出家學道,受帝釋之教,以手摩臍下而懷胎,生睒子。(五)見色受胎,指有女子,月華水成,欲情極盛,唯目視男子,即便懷胎。(六)聞聲受胎,指如白鷺鳥,皆雌無雄,到春來時,陽氣始布,雷聲初鳴,雌鷺一心聞聲,即便懷胎。(七)嗅香受胎,指如荨牛母,但嗅犢氣而懷胎。
; (七種受胎) Chỉ cho 7 cách thụ thai theo thuyết của luật Thiện kiến tì bà sa quyển 6.Đó là: 1. Tương xúc thụ thai: Khi người nữ có kinh nguyệt, ưa thích người nam, nếu người nam giao hợp(tương xúc) với người nữ thì người nữ sinh tâm tham đắm mà mang thai. 2. Thủ y thụ thai: Như trường hợp 2 vợ chồng Ưuđàdi cùng xuất gia, sau đó Ưuđàdi đến chỗ vợ, vì cả 2 đều chưa dứt tình cảm ái dục, nên khi nói chuyện với nhau tinh dục thoát ra làm dơ quần áo, người vợ được quần áo này(thủ y) mà thụ thai.3. Hạ tinh thụ thai: Thủa xưa, có một Đạo sĩ đi tiểu tiện tinh trùng chảy ra theo nước tiểu(hạ tinh), có con naicáiuống nhằm nước ấy liền mang thai, sau sinh ra Đạo sĩ Lộc tử. 4. Thủ ma thụ thai: Như trường hợp Thiểm bồ tát, cha mẹ đều mù, xuất gia học đạo, nghe theo lời dạy củaĐế thích, lấy tay xoa(thủ ma) dưới rốn mà thụ thai, sinh ra Thiểm tử. 5. Kiến sắc thụ thai: Có người con gái đến tuổi có kinh nguyệt, dục tình rất mạnh, chỉ nhìn người nam (kiến sắc) mà thụ thai. 6. Văn thanh thụ thai: Như loài chim cò trắng đều là con mái, không có con trống, khi mùa xuân đến, khí dương lan khắp, tiếng sấm vừa vang thì cò trắng lắng nghe liền thụ thai. 7. Khứu hương thụ thai: Như con trâu cái chỉ ngữi hơi(khứu hương) con trâu đực liền thụ thai.
thất chủng thực
116謂眼、耳、鼻、舌、身、意、涅槃等七種之食。即眼以眠為食,耳以聲為食,鼻以香為食,舌以味為食,身以細滑為食,意以法為食,涅槃以不放逸為食。以彼等能增益身心,長養發達,故稱為食。〔增一阿含經卷三十一〕
; (七種食) Bảy thứ thức ăn của mắt, mũi, lưỡi, thân, ý và niết bàn. Tức mắt lấy ngủ làm thức ăn, tai lấy tiếng làm thức ăn, mũi lấy mùi thơm làm thức ăn, lưỡi lấy vị làm thức ăn, thân lấy trơn láng làm thức ăn, ý lấy pháp làm thức ăn và niết bàn lấy không buông lung làm thức ăn. Vì 7 thứ trên có công năng làm lợi ích cho thân tâm, nuôi lớn và phát triển thân tâm, nên gọi là Thực.
Thất chủng tác pháp
xem bảy hình thức yết-ma.
thất chủng tịnh
116<一>七淨華之異稱。(參閱「七淨華」105) <二>指初地菩薩願求淨土之七種清淨相。即:(一)同體淨,係就土體之無別而言。即一切報應土以法性土為體,一切應土以真土為體。應土中諸土亦同體無別。(二)自在淨,係就土體之清淨而言。即如淨珠之體淨,能自在顯現其美醜,以土體淨故,染淨圓通,法界齊等。(三)莊嚴淨,係就土之相而言。即以神變自在莊嚴淨土,又常具光明,照破癡闇,且集眾寶而予以莊嚴。(四)受 帣b,係就土之用而言。即受用淨土之境界時,能滅煩惱,出生聖道。(五)住處眾生淨,係就寄人以顯勝而言。即有無量功德智慧之眾生充滿淨土。(六)因淨,係就舉因以顯果而言。即得淨土之德業,所謂淨土三昧法門。(七)果淨,係就對因明果而言。即依淨土三昧之德業,隨眾生心之所樂,示現種種果。〔十地經論卷三、大乘義章卷十九〕
; (七種淨) I. Thất Chủng Tịnh. Tên khác của Thất tịnh hoa. (xt. Thất Tịnh Hoa). II. Thất Chủng Tịnh. Chỉ cho 7 tướng thanh tịnh nguyện cầu tịnh độ của Bồ tát Sơ địa. Đó là: 1. Đồng thể tịnh:Đây là nói về thể không sai khác của các cõi nước. Tức tất cả Báo ứng độ lấy Pháp tính độ làm thể, tất cảỨng độ lấy Chân độ làm thể. Các độ trongỨng độ cũng đều đồng thể không khác. 2. Tự tại tịnh: Đây là nói về thể thanh tịnh của các cõi nước. Tức như thể tính trong sáng của viên ngọc thanh tịnh có công năng hiển bày tính chất đẹp, xấu của nó một cách tự tại, vì thể của cõi nước thanh tịnh, cho nên nhiễm tịnh viên thông, pháp giới bình đẳng. 3.Trang nghiêm tịnh:Đây là nói về tướng của cõi nước. Tức dùng thần biến tự tại để trang nghiêm Tịnh độ, lại thường có ánh sáng, chiếu phá mê tối, gom chứa các thứ báu để trang nghiêm. 4. Thụ dụng tịnh:Đây nói về Dụng của cõi nước. Tức khi thụ dụng cảnh giới Tịnh độ thì diệt được phiền não, sinh ra Thánh đạo. 5. Trụ xứ chúng sinh tịnh: Đây là nói về người cư trú để hiển bày tính chất thù thắngcủacõi nước. Tức là chúng sinh có vô lượng công đức trí tuệ đầy khắp Tịnh độ.6. Nhân tịnh:Đây là nói về nhân để nêu rõ quả. Tức đức nghiệp mà chúng sinh ở Tịnh độ có được chính là nhờ tu pháp môn Tam muội tịnh độ. 7. Quả tịnh:Đây là nói nhìn vào nhân mà rõ quả. Tức y cứ vào đức nghiệp của Tam muội tịnh độ, tùy theo tâm ưa thích của chúng sinh mà thị hiện các thứ quả. [X. Thập địa kinh luận Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
thất chủng tự tính
115七種染淨諸法之自性。又作七種性自性。即:(一)集性自性(梵 samudaya-svabhāva),又稱集自性,謂善惡聚集,成就染淨法之性。(二)性自性(梵 bhāva-svabhāva),謂諸法各自任持之性。(三)相性自性(梵 lakṣaṇa-svabhāva),又稱相自性,謂諸法相狀各別之性。(四)大種性自性(梵 mahā-bhūta-svabhāva),又稱大性自性,謂能造一切色法之因,亦即四大種各各之性。(五)因性自性(梵 hetu-svabhāva),又稱因自性,即諸法生起之親因之性。(六)緣性自性(梵 pratyaya-svabhāva),又稱緣自性,即諸法生起之助緣之性。(七)成性自性(梵 niṣpatti-svabhāva),又稱成自性,謂諸法之實性,即淨法成就之如來藏自性清淨心。〔楞伽阿跋多羅寶經卷一、入楞伽經卷一、楞伽經通義卷一〕
; (七種自性) Cũng gọi Thất chủng tính tự tính. Chỉ cho 7 tự tính của các pháp nhiễm tịnh. Đó là: 1. Tập tính tự tính (Phạm:Samudayasvabhàva), cũng gọi Tập tự tính. Nghĩa là tính gom góp thiện ác mà thành tựu các pháp nhiễm tịnh. 2. Tính tự tính (Phạm: Bhàvasvabhàva):Tính tự giữ gìn của các pháp. 3. Tướng tính tự tính (Phạm: Lakwaịa-svabhàva), cũng gọi Tướng tự tính. Nghĩa là tướng trạng của các pháp mỗi tướng đều có tính khác nhau. 4. Đại chủng tính tự tính (Phạm: Mahà-bhùta-svabhàva), cũng gọi Đại tính tự tính. Nghĩa là cái nhân làm ra tất cả sắc pháp cũng chính là cái tính riêng của mỗi chủng trong 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió). 5. Nhân tính tự tính (Phạm: Hetusvabhàva), cũng gọi Nhân tự tính. Chỉ cho tính của nhân gần sinh khởi các pháp. 6. Duyên tính tự tính (Phạm: Pratyaya-svabhàva), cũng gọi Duyên tự tính. Tức tính của trợ duyên giúp cho việc sinh khởi các pháp. 7. Thành tính tự tính (Phạm: Niwpatti-svabhàva), cũng gọi Thành tự tính. Chỉ cho thực tính của các pháp, tức là tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh thành tựu các pháp thanh tịnh. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1; kinh Nhập lăng già Q.1; ăng già kinh thông nghĩa Q.1].
thất chủng viên mãn
117謂法身佛之德所具備之七種圓滿。又稱七種圓德。即屬自心圓滿、具常住圓滿、具清淨圓滿、無功用圓滿、能施有情大法樂圓滿、遍行無依止圓滿、平等利多生圓滿。此出自攝大乘論本卷下果智分,惟以偈頌示其名稱。廣義釋為:(一)一切法皆隨屬佛之自心,自在無礙之德圓滿。(二)如來身者,圓滿具足常住之德。(三)既已永斷煩惱垢習,即圓具清淨之德。(四)於一切佛事,圓具無功用之德。(五)法身自住清淨佛土,不惟受用大法樂,復能施與一切有情大法樂,自在之德圓滿具足。(六)佛既已離諸垢染,故遍行世間而垢染亦無所依止,轉為清淨無礙。(七)佛以萬德能平等利樂諸多眾生於圓滿。〔攝大乘論釋卷十(無性)〕
; (七種圓滿) Cũng gọi Thất chủng viên đức. Chỉ cho 7 đức viên mãn của pháp thân Phật là Thuộc tự tâm viên mãn, Cụ thường trụ viên mãn, Cụ thanh tịnh viên mãn, Vô công dụng viên mãn, Năng thí hữu tình đại pháp lạc viên mãn, Biến hành vô y chỉ viên mãn và Bình đẳng lợi đa sinh viên mãn. Bảy thứ viên mãn này có xuất xứ từ phần Quả trí trong Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ, nhưng các tên gọi đều được biểu thị bằng kệ tụng.Ý nghĩa Thất chủng viên mãn được giải thích rộng như sau: 1. Thuộc tự tâm viên mãn: Tất cả pháp đều thuộc tự tâm của Phật, đức tự tại vô ngại viên mãn. 2. Cụ thường trụ viên mãn: Thân Như lai viên mãn trọn đủ đức thường trụ. 3. Cụ thanh tịnh viên mãn: Phật đã vĩnh viễn diệt trừ tập khí nhơ nhớp của phiền não, cho nên đức thanh tịnh của Phật viên mãn. 4. Vô công dụng viênmãn: Đối với tất cả Phật sự, Như lai có đức vô công dụng đầy đủ. 5. Năng thí hữu tình đại pháp lạc viên mãn: Pháp thân Phật trụ ở cõi Phật thanh tịnh, không những thụ dụng đại pháp lạc mà còn ban phát đại pháp lạc cho tất cả hữu tình, viên mãn đầy đủ đức tự tại. 6. Biến hành vô y chỉ viên mãn: Phật đã xa lìa các nhơ nhớp, cho nên Ngài đi khắp thế gian mà không mảy may bị nhơ nhớp bám dính, trái lại đều chuyển thành trong sạch thông suốt. 7. Bình đẳng lợi đa sinh viên mãn: Phật dùng muôn đức làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh một cách như nhau và hoàn toàn đầy đủ.
thất chủng vô thường
117出自楞伽經卷四,謂一切外道有七種無常,乃非佛法。即:(一)作捨無常,以四大造色,作已而捨,故為無常。(二)處壞無常,處即諸色形狀,彼以為四大及造色畢竟不壞,但觀形狀長短等壞滅,故謂無常。(三)色即無常,前項乃見形處變壞以為無常,此項謂形色即為無常;佛破其言,謂同前之處壞無常。(四)轉變無常,以四大及造色為常住,唯色相之轉變為無常。(五)性無常,即彼計著無常之自性不壞;謂此性雖不壞而能壞一切法,使之無常,猶杖破瓦石,壞他物而自體不壞。(六)性無性無常,四大之性皆無自性,能造及所造之相皆變壞是為無常。(七)不生無常,一切之法本來不生,不生即無常,佛破其言,謂不生尚無,何有生滅?名為無常,實不成無常。
; (七種無常) Chỉ cho 7 thứ vô thường được nêu trong kinh Lăng già quyển 4.Bảy thứ vô thường này là của tất cả ngoại đạo chứ không phải Phật pháp. Đó là: 1. Tác xả vô thường: Vì sắc(vật chất) do 4 đại tạo ra, tạo rồi thì xả bỏ, nên là vô thường. 2. Xứ hoại vô thường: Xứ là hình dáng các sắc; ngoại đạo cho rằng 4 đại và các sắc do 4 đại tạo ra rốt ráo không hoại diệt, nhưng hình dáng bề ngoài như dài, ngắn... thì hoại diệt, cho nên là vô thường. 3. Sắc tức vô thường: Mục trên cho rằng hình dáng bề ngoài biến hoại nên là vô thường, còn mục này thì cho hình sắc tức là vô thường; đức Phật bác bỏ ý kiến này và cho rằng mục này cũng giống như mục Xứ hoại vô thường ở trước. 4. Chuyển biến vô thường: Chủ trương 4 đại và các sắc do 4 đại tạo ra là thường trụ, chỉ cósắc tướng chuyển biến là vô thường. 5. Tính vô thường: Ngoại đạo chấp trước tự tính của vô thường là bất hoại và dầu bất hoại nhưng lại có năng lực hủy hoại tất cả các pháp, làm cho các pháp vô thường, cũng giống như cậy gậy đập nát gạch ngói, hủy hoại vật khác nhưng tự nó thì bất hoại. 6. Tính vô tính vô thường: Tính của 4 đại đều không có tự tính, tướng năng tạo và sở tạo đều biến hoại, đó là vô thường. 7. Bất sinh vô thường: Tất cả pháp xưa nay vốn chẳng sinh, chẳng sinh tức vô thường; đức Phật bác bỏ quan niệm này cho rằng đã chẳng sinh thì làm gì còn có sinh diệt? Nói là vô thường nhưng thực ra chẳng thành vô thường.
thất chủng vô thượng
The seven peerless qualities of a Buddha: thân, his body with its thirty two signs and eighty four marks; đạo, his way of universal mercy; kiến, his perfect insight or doctrine; trí, his wisdom; thần lực, his supernatural power; li chướng, his ability to overcome hindrances, e.g. illusion, karma, suffering; trụ, and his abiding place i.e. nirvàna.
thất chủng xá
116即:(一)心性平等,情無存著。(二)於眾生捨離一切怨親等礙。(三)捨一切貪瞋等過。(四)見生得脫,不復憂念。(五)證空平等離相。(六)自捨己樂,施與他人。(七)益眾生無所希望。〔維摩經義記卷三本〕
thất chủng xả
Seven abandonments or riddances: cherishing none and nothing; no relation with others; riddance of love and hate; of anxiety about the salvation of others; of form; giving to others (e.g. supererogation); benefiting others without hope of return.
thất chủng y
115乃七種故衣。佛制比丘不得使非親族之比丘尼浣洗故衣,若犯,則得捨墮之罪。此故衣有七,是為七種衣,即:(一)毛,(二)芻摩迦(野麻衣),(三)奢搦迦(粗布衣),(四)羯播死迦(白氈),(五)獨孤洛迦(紵布),(六)高詁薄迦(上毛緂),(七)阿般闌得迦(絁絹之衣)。〔根本說一切有部毘奈耶卷十八〕(參閱「父六親」1503、「母六親」2008)
; The seven kinds of clothing, i.e. of hair, hemp, linen, felt, fine linen, wool, or silk.
; (七種衣) Chỉ cho 7 thứ áo. 1. Mao y:Áo may bằng lông loài vật. 2. Dã ma y:Áo may bằng sợi cây gai hoang. 3. Thô bố y:Áo may bằng vải thô. 4. Bạch chiên y:Áo may bằng loại giạ trắng. 5. Trữ bố:Áo may bằng vải gai trồng. 6. Thượng mao y: Áo may bằng lông chim. 7. Thi quyên y:Áo may bằng lụa sống. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.18].
thất chủng đại
114據菩薩地持經卷八載,菩薩有七種大,即:(一)法大,法,即諸佛所說之法。指菩薩能受持十二部經之法,為最上最大。(二)心大,心,即諸佛廣大之心。指菩薩能發阿耨多羅三藐三菩提心。(三)解大,解,即解了。指菩薩由解十二部經,了知諸法之義理,全無疑礙。(四)淨心大,指菩薩既能解了十二部經,依之而行,則能遠離諸惑染,超過一切解行,心得清淨。(五)眾具大,指菩薩所修福德智慧,皆為成佛之具,畢竟證得無上菩提。(六)時大,時,即時數。指菩薩歷三阿僧祇劫修行六度,畢竟當得無上菩提。(七)得大,指菩薩由前六種功德為因,證得無上菩提之果。
; (七種大) Bảy năng lực lớn lao của Bồ tát. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 8 thì Bồ tát có 7 năng lực to lớn, đó là: 1. Pháp đại: Pháp là pháp do chư Phật nói. Chỉ cho Bồ tát có năng lực thụ trì pháp trong 12 bộ kinh, là tối thượng tối đại.2. Tâm đại: Tâm là tâm rộng lớn của chư Phật. Chỉ cho Bồ tát có năng lực phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác. 3. Giải đại: Giải là hiểu rõ. Chỉ cho Bồ tát có năng lực hiểu rõ 12 bộ kinh, nhờ đó biết suốt nghĩa lí các pháp, hoàn toàn không nghi ngại. 4. Tịnh tâm đại: Bồ tát đã hiểu rõ 12 bộ kinh, nương vào đómà tu hành nên có năng lực xa lìa các hoặc nhiễm, vượt qua tất cả giải hành, tâm được thanh tịnh. 5. Chúng cụ đại: Phúc đức và trí tuệ mà Bồ tát tu hành đều là công cụ để thành Phật, rốt ráo chứng được Vô thượng bồ đề. 6. Thời đại: Thời là thời số. Chỉ cho Bồ tát trải qua 3 a tăng kì kiếp tu hành lục độ, cuối cùng sẽ được Vô thượng bồ đề. 7. Đắc đại: Chỉ cho Bồ tát nhờ 6 công đức trước làm nhân mà chứng được quả Bồ đề vô thượng.
thất chủng định danh
116謂禪定之七種異名。即:(一)三摩呬多(梵 samāhita),譯為等引。(二)三摩地(梵 samādhi),譯為等持,音譯為三昧。(三)三摩鉢底(梵 samāpatti),譯為等至。(四)馱那演那(梵 dhyāna),又稱禪那,略稱禪。譯為靜慮。(五)質多翳迦阿羯羅多(梵 cittaikāgratā),譯為心一境性。(六)奢摩他(梵 śamatha),譯為止。(七)現法樂住(梵 dṛṣṭa-dharma-sukha-vihāra),又稱現法樂行。(參閱「三昧」580、「定」3171)
; (七種定名) Chỉ cho 7 tên khác của thiền định, đó là: 1. Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita). Hán dịch làĐẳng dẫn. 2. Tam ma địa (Phạm: Samàdhi). Hán dịch làĐẳng trì, Hán âm là Tam muội. 3. Tam ma bát để(Phạm:Samàpatti). Hán dịch là Đẳng chí. 4. Đà na diễn na (Phạm: Dhyàna), cũng gọi Thiền na, gọi tắt là Thiền. Hán dịch là Tĩnh lự. 5. Chất đa ế ca a yết la đa (Phạm: Cittaikàgratà). Hán dịch là Tâm nhất cảnh tính. 6. Xa ma tha (Phạm: Zamatha). Hán dịch là Chỉ. 7. Hiện pháp lạc trụ (Phạm:Dfwỉadharma-sukha-vihàra), cũng gọi Hiện pháp lạc hành. (xt. Tam Muội).
Thất Cá Điều Chế Giới
(七箇條制誡, Shichikajōseikai): Bảy Điều Răn Dạy của Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (法然房源空) đối với chúng đệ tử; còn gọi là Thất Cá Điều Khởi Thỉnh Văn (七箇條起請文). Kể từ khi Nguyên Không tuyên xướng nghĩa của Tịnh Độ Tông vào năm 1175 (An Nguyên [安元] nguyên niên) cho đến khi trước tác cuốn Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) vào năm 1198 (Kiến Cửu [建久] thứ 9), ông bắt đầu chính thức công bố xướng đạo; trong vòng 10 năm trường, môn hạ ông tạp lẫn những hạng vô trí bất thiện, bao gồm cả chư tăng của giáo đoàn Phật Giáo cũ; cho nên chân ý của Nguyên Không bị truyền thừa sai lạc khá nhiều; cuối cùng phải chịu hậu quả bị phê phán mãnh liệt từ phía Phật Giáo Nam Đô Bắc Lãnh. Vào tháng 10 năm 1204 (Nguyên Cửu [元久] nguyên niên), đồ chúng của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) tố cáo lên Tọa Chủ Chơn Tánh (眞性), yêu cầu đình chỉ nhóm Chuyên Tu Niệm Phật. Trước tình huống đó, vào ngày mồng 7 tháng 11, đối với chúng môn đồ lấy hiệu là Niệm Phật Thượng Nhân (念佛上人), Nguyên Không đưa ra 7 điều răn dạy. Nếu ai phản lại những điều này, họ không phải là môn nhân, là quyến thuộc của ma, cấm không được vãng lai thảo am ở vùng Cát Thủy (吉水, Yoshimizu). Ngày hôm ấy, Nguyên Không và đệ tử có 80 người, đến ngày mồng 8 có 61 người, rồi đến ngày mồng 9 có thêm 49 người nữa, tổng cọng là 190 người cùng nhau ký tên vào cuối bản Thất Cá Điều Chế Giới này, và thệ nguyện bảo vệ những điều răn dạy của tôn sư. Nguyên bản hiện được bảo tồn tại Nhị Tôn Viện (二尊院), Kyoto. Có bản đề năm 1824 (Văn Chính [文政] thứ 7). Bản này được thâu lục vào Tịnh Độ Tông Toàn Thư (淨土宗全書) 9, phần Tông Điển Bộ 3 của Quốc Dịch Đại Tạng Kinh (國譯大藏經), Nhật Bản Cổ Điển Toàn Tập (日本古典全集), Pháp Nhiên Thượng Nhân Toàn Tập (法然上人全集) 6, Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 10.
thất câu chi phật
Sapta-koṭi-buddha-matṛ (S) Thất Câu Chi, Mẫu Tôn, Thất câu đệ Phật mẫu tôn (1) Hoá thân của Bồ tát Quán Thế Âm, cũng là tên khác của Chuẩn Đề Quán Thế Âm Bồ tát. (2) Mẹ của chư Phật.
Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh
七倶胝佛母所説准提陀羅尼經; C: qī jùzhī fómǔ suǒshuō zhǔntí tuóluóníjīng; J: shichi kutei butsumo josetsu jundei darani kyō;|Kinh. Có nhiều bản dịch: 1. Thất Câu chi Phật mẫu tâm Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母心大准提陀羅尼經). Viết tắt là Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (大准提陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 2. Thất Câu chi Phật mẫu Chuẩn-đề đại minh đà-la-ni kinh (七倶胝佛母准提大明陀羅尼經), 2 quyển, Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi) dịch; 3. Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經), viết tắt là Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (准提陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy cấu trúc trong sáng hơn bản dịch trước. Luận giải bằng tiếng Hán của Hoằng Tán (弘贊) gồm có: Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh hội thích (七倶胝佛母所説準提陀羅尼經會釋) và Trì tụng Chuẩn-đề chân ngôn pháp yếu (持誦準提眞言法要).
thất câu chi phật mẫu tôn
102梵名 Sapta-koṭi-buddha-mātṛ。乃觀音菩薩化身之一。略作七俱胝。即准提觀音之異名。為蓮華部之母,司生蓮華部諸尊功德之德,故稱佛母尊。白黃色,呈十八臂,遍身有白色輕羅錦文。〔七俱胝佛母所說准提陀羅尼經〕
; (七俱胝佛母尊) Phạm: Sapta-koỉi-buddha-màtf. Gọi tắt: Thất câu chi. Một trong các hóa thân củabồ tát Quán âm, tức tên khác của Quán âm Chuẩn đề, là mẹ của Liên hoa bộ, chủ về đức sinh ra công đức của chư tôn thuộc Liên hoa bộ, vì thế gọi là Phật mẫu tôn. Hình tượng vị tôn này thânmàu vàng nhạt, có 18 tay, khắp mình có các nếp hoa văn gấm là màu trắng. [X. kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni].
thất cú nghĩa luận
Sapta-padarthi (S) Tên một bộ luận kinh.
thất cú đáp
93因明用語。據大乘阿毘達磨集論卷七載,因明對論法中,對諸種質問答辯之種類有七種情形,即對於「A是B,或B是A否」之質問,其答辯有如下七種:(一)順前句答(梵 Pūrvapādaka),即順應前句,且僅肯定前句之答法,例如:「凡A是B,然B未必是A。(二)順後句答(梵 Paścātpādaka),與(一)相反,即順應後句,且僅肯定後句之答法,例如:「凡B是A,然A未必是B。」(三)二句答,即以「或A非B,或B非A」二句作為答辯。(四)三句答,即以「或A非B,或B非A,或A亦B」三句作為答辯。(五)四句答,所謂四句分別即是以:「或A而非B,或B而非A,或A而亦是B,或非A非B。」(六)述可句答,全然以「是」答辯。(七)遮止句答,遮斷他人之質問,使其質問無法成立之答辯。〔阿毘達磨雜集論卷十五〕(參閱「四句分別」1675)
; (七句答) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 7 cách đáp. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tập quyển 7 thì trong pháp đối luận Nhân minh có 7 cách hỏi đáp. Tức như đối với câu hỏi A là B, hoặc B có là A không thì có 7 cách đáp như sau: 1. Thuận tiền cú đáp (Phạm: Pùrvadàka): Cách đáp thuận theo câu trước và chỉ khẳng định câu trước; chẳng hạn như: A là B, nhưng B chưa hẳn là A.2. Thuận hậu cú đáp (Phạm: Pascàtpàdaka): Trái với cách đáp 1 thuận theo câu trước, cách đáp 2 này thuận theo câu sau và chỉ khẳng định câu sau. Thí dụ như B là A, nhưng A chưa hẳn là B. 3. Nhị cú đáp: Tức đáp bằng 2 câu Hoặc A chẳng phải B, hoặc B chẳng phải A.4. Tam cú đáp: Tức đáp bằng 3 câu Hoặc A chẳng phải B, hoặc B chẳng phải A, hoặc A cũng là B. 5. Tứ cú đáp: Gọi Tứ cú phân biệt, tức dùng Hoặc A mà chẳng phải B, hoặc B mà chẳng phải A, hoặc A mà cũng là B, hoặc chẳng phải A chẳng phải B. 6. Thuật khả cú đáp: Hoàn toàn đáp bằng chữ Đúng. 7. Già chỉ cú đáp: Cách đáp bằng cách ngăn chặn lời hỏi của đối phương, làm cho họ không thành lập được câu hỏi. [X. A tì đạt ma tạp tập luận Q.15]. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).
Thất Cưu Sào
(室鳩巢, Muro Kyūsō, 1658-1734): Nho gia của phái Chu Tử Học, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Trực Thanh (直清); tự Sư Lễ (師禮); thông xưng là Tân Trợ (新助); biệt hiệu Thương Lãng (滄浪); xuất thân Giang Hộ. Ban đầu, ông phục vụ cho Tiền Điền Cương Kỷ (前田綱紀, Maeda Tsunanori), Phiên chủ Phiên Gia Hạ (加賀藩, Kaga-han), rồi vâng mệnh vị này, ông lên kinh đô Kyoto học với Mộc Hạ Thuận Am (木下順庵). Vào năm 1711 (Chánh Đức [正德] nguyên niên), nhờ Tân Tỉnh Bạch Thạch (新井白石) suy cử, ông làm Nho quan cho chính quyền Mạc Phủ. Sau đó, ông làm chức quan Thị Giảng (侍講) cho Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) và viết cuốn Lục Dụ Diễn Nghĩa Đại Ý (六諭衍義大意). Trong thời kỳ Phái Cổ Học bộc phát mạnh mẽ, ông đã tận lực giữ gìn Chu Tử Học và trước sau vẫn với tư cách là nhà Chu Tử Học nghiêm cẩn. Trước tác của ông có Tuấn Đài Tạp Thoại (駿台雜話), Xích Tuệ Mỹ Nhân Lục (赤穗美人錄), Hiến Khả Lục (獻可錄), v.v.
thất cảnh giới
113全稱七種第一義境界。乃諸佛所證所得之境界,計有心境界、慧境界、智境界、見境界、過二見境界、過佛子地境界、入如來地內行境界等七種。約其極處,悉皆成就,故總稱第一義。(一)心境界,心乃中道之理心。此為諸佛菩薩中道之理心所造。(二)慧境界,慧乃慧性。謂諸佛菩薩之慧性照了分明。(三)智境界,智乃智用。謂諸佛菩薩之智力現前,了知一切萬法。(四)見境界,見乃正見。謂諸佛菩薩之正見現前,無諸邪妄。(五)過二見境界,又作超二見境界。二見乃斷、常二見。即諸佛菩薩能超斷、常二見。(六)過佛子地境界,又作超子地境界。子地者,登地菩薩等視眾生如己子,故名。此謂諸佛菩薩能超十地,成正覺。(七)入如來地內行境界,又作如來自到境界。內行乃果上之行。謂如來能盡法性之源底,成就二利,成就世間、出世間上上之法。以上七種,前六者通於佛菩薩,後者則為如來之自境界。〔入楞伽經卷二、大明三藏法數卷二十九〕
; (七境界) Gọi đủ: Thất chủng đệ nhất nghĩa cảnh giới.Chỉ cho 7 thứ cảnh giới do chư Phật chứng được đến chỗ cùng tột, gọi chung là Đệ nhất nghĩa đế. Đó là: 1. Tâm cảnh giới: Tâm là lí tâm trung đạo. Cảnh giới này do lí tâm trung đạo của chư Phật và Bồ tát tạo ra. 2. Tuệ cảnh giới: Tuệ là tuệ tính. Nghĩa là tuệ tính của chư Phật, Bồ tát chiếu soi rõ ràng. 3. Trí cảnh giới: Trí là trí dụng. Nghĩa là trí lực của chư Phật, Bồ tát hiện tiền, rõ biết tất cả muôn pháp. 4. Kiến cảnh giới: Kiến là chính kiến. Nghĩa là chính kiến của chư Phật và Bồ tát hiện tiền, không có tà vọng. 5. Quá nhị kiến cảnh giới(cũng gọi Siêu nhị kiến cảnh giới): Nhị kiến là Đoạn kiến, Thường kiến. Tức chư Phật, Bồ tát vượt qua Đoạn kiến, Thường kiến. 6. Quá Phật tử địa cảnh giới(cũng gọi Siêu tử địa cảnh giới): Tử địa nghĩa là các vị Bồ tátĐăng địa(địa)coi chúng sinh như con(tử) của mình nên gọi là Tử địa. Tức là chư Phật, Bồ tát đã vượt qua Thập địa, thành Chính giác. 7. Nhập Như lai địa nội hành cảnh giới(cũng gọi Như lai tự đáo cảnh giới): Nội hành là hành vi của Quả thượng. Nghĩa là Như lai đã thấu suốt tận đáy nguồn của pháp tính, thành tựu nhị lợi, thành tựu pháp thế gian, pháp xuất thế gian thượng thượng. Bảy cảnh giới trên đây, 6 cảnh giới trước chung cho cả Phật và Bồ tát, còn cảnh giới sau cùng thì là cảnh giới riêng của Như lai. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.29].
thất cấu
100請參閱 七斷滅論 請參閱 一切如來金剛三業最上祕密大教王經 請參閱 大乘法苑義林章 七種能垢染眾生心之煩惱。即:欲垢、見垢、疑垢、慢垢、憍垢、隨眠垢(即煩惱)、慳垢等。〔瑜伽師地論卷十四〕
; The seven defilements: dục desire, kiến false views, nghi doubt, mạn pride, kiêu arrogance, hôn trầm torpor, and san stinginess.
; (七垢) Chỉ cho 7 thứ phiền não hay làm nhơ nhớp tâm chúng sinh, đó là: Dục cấu, kiến cấu, nghi cấu, mạn cấu, kiêu cấu, tùy miên cấu và xan cấu. [X. luận Du già sư địa Q.14].
thất diệp quật
112梵名 Sapta-parṇa-guhā。音譯作薩多般那求訶。又作七葉樹窟、七葉樹林石室、剎帝山窟、車帝石室、七葉穴、七葉巖、七葉園。位於印度王舍城附近毘婆羅(巴 Vebhāra)山中之石窟,為王舍城五精舍之一。因窟前有七葉樹,故名。其地原為釋尊說法之靈跡,佛滅後迦葉尊者於其處會五百賢聖,以阿難陀、優婆離、迦葉等為上首,結集經、律、論三藏,安居三月,完成大業。據法華經文句卷一載,五精舍指鞞婆羅跋恕、薩多般那求訶、因陀世羅求訶、薩簸恕魂直迦鉢婆羅、耆闍崛山等。但據枳橘易土集卷二十一,則將薩多般那求訶、鞞婆羅跋恕二者合併為鞞婆羅跋恕薩多般那求呵,而加入竹園一名,合為五精舍。〔雜阿含經卷三十九、大唐西域記卷九〕(參閱「五精舍十塔」1190)
; Sapta-parnaguha (S) Hang Thất Diệp Hang nằm trong núi Tỳ bà la (Vebhara) gần thành Vương xa, là nơi Phật thuyết pháp, nơi Ca Diếp nhóm họp 500 hiến Thánh kiết tập kinh điển trong 3 tháng.
; (七葉窟) Phạm: Sapta-parịa-guhà. Hán âm: Tát đa ban na cầu ha. Cũng gọi Thất diệp thụ quật, Thất diệp thụ lâm thạch thất, Sát đế sơn quật, Xà đế thạch thất, Thất diệp huyệt, Thất diệp nham, Thất diệp viên. Tên của động đá nằm trong núi Tì bà la (Pàli:Vebhàra), gần thành Vương xá, Trung Ấn độ; là 1 trong 5 tinh xá thuộc thành Vương xá. Vì trước cửa hang động có cây Thất diệp nên gọi là Thất diệp quật. Chỗ này vốn là linh tích đánh dấu nơi đức Thích tôn thuyết pháp, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Ca diếp triệu tập 500 vị Hiền thánh về họp tại đây, các ngài A nan đà, Ưu ba li, Ca diếp... là những bậc Thượng thủ, kết tập 3 tạng Kinh, Luật, Luận, an cư 3 tháng, hoàn thành đại sự. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1 thì 5 tinh xá là chỉ cho Tì bà la bạt thứ, Tát đa ban na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha, Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la và Kì xà quật sơn. Nhưng Chỉ quật dịch thổ tậpquyển 21 thì hợp chung Tát đa ban na cầu ha và Tì bà la bạt thứ làm một gọi là Tì bà la bạt thứ tát đa ban na cầu ha, rồi thêm tinh xá Trúc viên mà thành 5 tinh xá. [X. kinh Tạp a hàm Q.39; Đại đường tây vực kí Q.9]. (xt. Ngũ Tinh Xá Thập Tháp).
thất diệp thụ
112梵語 sapta-parṇa。音譯作薩多般羅那。乃由七枚小葉形成掌狀複葉之常綠喬木。佛教第一次結集經典之處─七葉窟,即因窟前有大七葉樹而命名。〔翻梵語卷九、枳橘易土集卷十〕
; (七葉樹) Phạm: Sapta-parịa. Hán âm: Tát đa ban la na. Loại cây cao xanh quanh năm, lá kép giống như bàn tay, do 7 lá nhỏ hình thành nên gọi là Thất diệp. Nơi kết tập kinh điển lần đầu tiên của hật giáo được gọi là hang Thất diệp, vì trước cửa hang có cây Thất diệp rất to. [X. Phiên Phạm ngữ Q.9; Chỉ quật dịch thổtập Q.10].
thất diệt tránh
110梵語 saptādhikaraṇa-śamathāḥ。即為裁斷僧尼之諍論所設之七種法。又作七滅諍法、七止諍法。即:(一)現前毘尼(梵 saṃmukha-vinaya),又作面前止諍律。使起諍之雙方對決於現前,或於現前引證三藏之教法而決之,或於現前引證戒律之制條而決之。(二)憶念毘尼(梵 smṛti-vinaya),又作憶止諍律。即諍議罪過之有無時,質犯人記憶之有無,若無記憶則免之;但僅限平生為善,以善知識為友者。(三)不癡毘尼(梵 amūḍha-vinaya),又作不癡止諍律。犯戒之人若精神異常,待其冶癒,羯磨而令悔其罪。(四)自言毘尼(梵 pratijñā-kāraka),又作自發露止諍律。比丘犯罪時,令其自白,始治其罪。(五)覓罪相毘尼(梵 tat-svabhāvaiṣīya),又作本言治毘尼、居止諍律。犯人不吐實,陳述矛盾時,舉示其罪狀,盡形壽令持八法,不得度人或受人依止等。(六)多人覓罪相毘尼(梵 yad-bhūyasikīya),又作多覓毘尼、展轉止諍律。互相諍議而不易裁決時,集有德之僧,依多數而決是非。(七)如草覆地毘尼(梵 tṛṇa-prastāraka),又作草伏地、如棄糞掃止諍律。鬥訟者互悟其非,如草之伏地,共至心發露,相道歉而懺悔。〔中阿含卷五十二周那經、四分僧戒本、四分律卷四十七、摩訶僧祇律卷四十、十誦律卷五十三、五分律卷二十三〕(參閱「四諍」1834)
; Sapta-dhikarana-śamathā (S) Bảy phương pháp để chấm dứt các tranh luận trong tăng ni.
; (七滅諍) Phạm: Saptàdhikaraịa-Zamathà#. Cũng gọi Thất diệt tránh pháp, Thất chỉ tránh pháp. Chỉ cho 7 cách cắt đứt sự tranh luận giữa tăng ni, đó là: 1. Hiện tiền tì ni (Phạm:Saômukhavinaya), cũng gọi Diện tiền chỉ tránh luật. Nghĩa là 2 bên tranh chấp phải giáp mặt nhau để giải quyết vấn đề, bằng cách dẫn chứng giáo pháp Tam tạng để giải quyết, hoặc trước mặt dẫn chứng các điều chế của giới luật để giải quyết. 2. Ức niệm tì ni (Phạm: Smftivinaya), cũng gọiỨc chỉ tránh luật. Nghĩa là khi tranh luận muốn biết có tội hay không thì nên hỏi phạm nhân có nhớ hay không, nếu không nhớ thì được miễn, nhưng chỉ với điều kiện người ấy trong đời sống bình thường là người tốt, thường gần gũi thiện tri thức. 3. Bất si tì ni(Phạm:Amùđha-vinaya), cũng gọi Bất si chỉ tránh luật. Nghĩa là nếu người phạm giới tinh thần không ổn định, thì đợi họ trở lại bình thường, rồi mới yết ma khiến họ sám hối tội lỗi. 4. Tự ngôn tì ni (Phạm: Pratijĩàkàraka), cũng gọi Tự phát lộ chỉ tránh luật. Nghĩa là khi tỉ khưu phạm tội, phải bảo họ tự nói rarồi mới trị tội. 5. Mịch tội tướngtì ni (Phạm: Tatsvabhàvaisìya), cũng gọi Bản ngôn trị tì ni, Cư chỉ tránh luật. Nghĩa là khi người phạm tội không thú thật, trình bày mâu thuẫn thì nêu tội trạng của họ ra, khiến suốt đời phải tuân thủ 8 pháp, không được độ người hoặc nhận người y chỉ. 6. Đa nhân mịch tộitướng tì ni(Phạm: Yad-bhùyasikìya), cũng gọi Đa mịch tì ni, Triển chuyển chỉ tránh luật. Nghĩa là khi nhiều người tranh cãi lẫn nhau, không dễ quyết đoán để chấm dứt, thì phải thỉnh các vị tăng có đức, nương vào số đông để phán định đúng sai. 7. Như thảo phú địa tì ni (Phạm: Tfịa-prastàraka), cũng gọi Thảo phục địa, Nhưkhí phẩn tảo chỉ tránh luật. Nghĩa là sau khi 2 bên tranh cãi đều nhận ra lỗi lầm của mình, thì như cỏ rạp trênmặtđất, cùng chí tâm phátlộ, xin lỗi nhau và sám hối.[X. kinh Chu na trong Trung a hàm Q.52; Tứ phần tăng giới bản; luật Tứ phần Q.47; luật Ma ha tăng kì Q.40; luật Thập tụng Q.53; luật Ngũ phần Q.23]. (xt. Tứ Tránh).
thất diệt tránh giới
Sapta-dhikkāraśamathā (P), Adhikāraśamathā (S, P) Gồm 7 giới, là đoạn chót trong 8 đoạn ghi 250 giới của tỳ kheo trong quyển Giới luật Tỳ kheo, phần thứ nhất của Luật Tạng. Là bảy phép dùng giải hoà khi có sự cãi lẫy giữa chư Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni 7 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
thất diệt tránh pháp
xem bảy pháp dứt sự tranh cãi.
; Saptàdhikarana-samatha (S). Seven rules given in the Vinaya for setting disputes among the monks. Disputes arise from four causes: from arguments; from discovery of misconduct; judgement and punishment; the correctness or otherwise of a religious observance.
thất diệu
121即日、月、火、水、木、金、土等七星。宿曜經卷上載,七曜之精升天,放射光芒,其靈則降下,司人間之善惡吉凶。七者即:(一)日精為太陽(梵 Āditya),(二)月精為太陰(梵 Soma),(三)火精為熒惑(梵 Aṅgāraka),(四)水精為辰星(梵 Budha),(五)木精為歲星(梵 Bṛhaspati),(六)金精為太白(梵 Śukra),(七)土精為鎮星(梵 Śanaiścara)。一般用在曆術與占法方面。以上七曜,加上羅睺(梵 Rāhu)與計都(梵 Ketu)等二蝕星,則稱為九執或九曜。又執曜為九執七曜之略稱。祭供七曜之修法,稱七曜供。〔守護大千國土經卷中、七曜攘災決、七曜星辰別行法〕
; (七曜) Chỉ cho 7 thiên thể: Mặt trời, mặt trăng, sao Hỏa, sao Thủy, sao Mộc, sao Kim và sao Thổ. Theo kinh Tú diệu quyển thượng thì phần tinh túy của Thất diệu bay lên trời, phóng ra ánh sáng cùng khắp, phần linh thiêng thì giáng xuống, coi về các việc tốt xấu, lành dữ ở nhân gian. Thất diệu gồm: 1. Nhật tinh: Mặt trời (Phạm:Àditya). 2. Nguyệt tinh: Mặt trăng (Phạm: Soma). 3. Hỏa tinh: Sao Huỳnh hoặc (Phạm: Aígaraka). 4. Thủy tinh: Sao Thần (Phạm:Budha). 5. Mộc tinh: Sao Tuế (Phạm: Bfhaspati). 6. Kim tinh: Sao Thái bạch (Phạm: Zukara). 7. Thổ tinh: Sao Trấn (Phạm: Zanaizcara). Thông thường, 7 sao này được dùng về phương diện lịch pháp và chiêm tinh. Bảy sao này thêm 2 thực tinh là La hầu (Phạm: Ràhu) và Kế đô (Phạm:Ketu) thì gọi là Cửu chấp hoặc Cửu diệu. Chấp Diệu gọi tắt của Cửu chấp Thất diệu. Pháp tu cúng tế Thất diệu gọi là Thất diệu cúng. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.trung, Thất diệu nhương tai quyết; Thất diệu tinh thần biệt hành pháp].
Thất diệu nhương tai quyết
七曜攘災決; C: qīyào răngzāi jué; J: shichiyō jōsai ketsu;|Một quyển, Kim-câu-tra (金倶吒; s: koṅta) dịch.
thất diệu pháp
98梵語 sapta sat-puruṣa-dharmāḥ。又作七法、七知、七善、七善法。即:(一)知法,乃知悉經中所說之法,即了解能詮之教法有十二 ☆g之別。(二)知義,乃分別說法所表詮之義理,於文字不壅塞。(三)知時,乃知悉適合修行之時宜,即適宜修止時修止,適宜修觀時修觀,乃至語默誦授皆適時而行。(四)知足,即知節、知量。乃知悉飲食、衣服、行、住、坐、臥等之節量。(五)知自,即知己。即了知自己之德多少,信戒聞施,乃至族姓、辯才等之分。(六)知眾,乃知悉集會大眾之族姓、身分等差別,而決定如何對機說法。(七)知尊卑,即知人勝如,又作知補特伽羅有勝有劣。乃知眾人德行之優劣。〔北本涅槃經卷十五〕(參閱「七知」99)
; (七妙法) Phạm: Sapta sat-puruwa-dharmà#. Cũng gọi Thất pháp, Thất tri, Thất thiện, Thất thiện pháp. Chỉ cho 7 pháp mầu nhiệm, đó là: 1. Tri pháp: Biết hết các pháp nói trong kinh, tức hiểu rõ giáo pháp năng thuyên có 12 bộ kinh khác nhau. 2. Tri nghĩa: Phân biệt rõ nghĩa lí được giảng giải trong giáo pháp, không bị văn tự làm trở ngại. 3. Tri thời: Biết hết thời nghi tu hành thích hợp, thích nghi tu Chỉ thì tu Chỉ, thích nghi tu Quán thì tu Quán, cho đến tùy nghi mà nói, nín, tụng niệm, truyền trao.4. Tri túc: Biết tiết chế, biết hạn lượng, tức biết hết tiết lượng về việc ăn, mặc, đi, đứng, ngồi, nằm... 5. Tri tự: Biết mình, tức biết rõ đức của mình nhiều hay ít, biết rõ về tín tâm, giới hạnh, nghe nhiều, bố thí và các phần về dòng họ, biện tài... 6. Tri chúng: Biết rõ hết sự sai khác về dòng họ và thân phận của đại chúng tập họp để quyết định đối cơ thuyết pháp như thế nào. 7. Tri tôn ti(cũng gọi Tri bổ đặc già la hữu thắng hữu liệt). Nghĩa là biết người khác hơn mình hay bằng mình. Tức biết rõ đức hạnh của mọi người hơn kém thế nào. [X. kinh Niết bàn Q.15 (bản Bắc)]. (xt. Thất Tri).
thất duy
104請參閱 因明七論 七種不招致衰退之方法。即:(一)惟經道,指無常觀。(二)惟人生,指苦觀。(三)惟精進,指捨離觀。(四)惟謙虛,指無我觀。(五)惟降意,指離情觀。(六)惟軀中,指不淨觀。(七)惟自觀,指滅觀。〔般泥洹經卷一〕
; (七惟) Bảy phương pháp không dẫn đến sự suy thoái. Đó là: 1. Duy kinh đạo: Chỉ cho sự quán xét về lí vô thường. 2. Duy nhân sinh: Chỉ cho sự quán về cái khổ. 3. Duy tinh tiến: Chỉ cho sự quán xét về lìa bỏ. 4. Duy khiêm hư: Chỉ cho sự quán xét về lí vô ngã. 5. Duy hàng ý: Chỉ cho sự quán xét về lìa tình. 6. Duy khu trung: Chỉ cho sự quán xét về dơ bẩn. 7. Duy tự quán: Chỉ cho sự quán xét về sự diệt. [X. kinh Bát nê hoàn Q.1].
thất dạ đãi
98全稱七夜待大事。於每月十七至二十三日中,以七夜之月各配以六觀世音及大勢至菩薩,每夜住各尊之三昧而禮拜,祈諸願成就。十七日為千手觀音、十八日正觀音、十九日馬頭觀音、二十日十一面觀音、二十一日准胝觀音、二十二日如意輪觀音、二十三日大勢至菩薩。類此之修法,有霜月二十六夜待,以愛染明王為本尊。〔十七通印信、十結二、修驗深祕行法符咒集卷四〕
; (七夜待) Gọi đủ: Thất dạ đãi đại sự. Mỗi tháng lấy 7 đêm từ đêm17 đến đêm 23, mỗi đêm phối hợp với 6 bồ tát Quán thế âm vàbồ tát Đại thế chí, mỗi đêm trụ trong Tam muội của mỗi vị tôn mà lễ bái để cầu cho các nguyện được thành tựu. Đêm 17 là Thiên thủ Quán âm, đêm 18 là Chính quán âm, đêm 19 là Mã đầu Quán âm, đêm 20 là Thập nhất diện Quán âm, đêm 21 là Chuẩn đề Quán âm, đêm 22 là Như ý luân Quán âm và đêm 23 là bồ tát Đại thế chí. [X. Thậpthất thông ấn tín, Thập kết nhị; Tu nghiệm thâm bí hành pháp phù chú tập Q.4].
thất dịch kinh điển
1880指佚失翻譯者名之經典。即無記錄翻譯者之經典。又稱無譯經典、闕譯經典。蓋中國佛教至苻秦道安(314~385)撰述「綜理眾經目錄」(今已不存)為止,一般流傳之經典大抵未記載經題、翻譯者之名,如現存初唐以前之古寫經,即無一部於卷首署有譯號者,故至道安時,雖校定諸經之題名、譯者,然難以判明譯者之經典為數仍多。 失譯經典多數為傳譯初期之作。據南朝梁代僧祐所調查,我國自東漢至南北朝中期三百年間,傳譯之經典已有二千餘部,其中失譯經典之數目約達已知譯人之經典數的三倍。至隋初費長房編修歷代三寶紀時、卻依據漢代佛經目錄、朱士行漢錄、道祖錄、始興錄等偽目錄,將一三○八部失譯經典分配予安世高、法炬等前代譯經家之名下。後世如大唐內典錄、開元釋教錄等經錄,雖曾略加刪補訂正,然大體仍引用三寶紀之不實目錄,遂造成我國傳譯史糾雜紛亂之局面。 關於失譯經典之數目,歷代所編經錄皆有記載,然所舉之目錄則有出入,僧祐之出三藏記集卷三記載道安勘定之失譯經錄,共列記一四二部;僧祐又作新集續撰失譯雜經錄,列記一三○六部;梁代寶唱作眾經目錄,列記三二一部;隋代法經等作眾經目錄,列記四三一部;隋代費長房作歷代三寶紀,列記三○九部;大唐內典錄及古今譯經圖紀,則準照歷代三寶紀所載之數,大周刊定眾經目錄列記四二四部;唐代智昇作開元釋教錄,列記七四一部;現行之日本大正新脩大藏經則列記一四三部。上舉之中,內典錄、開元錄等,皆已受三寶紀之影響,故所列出之失譯經典較之出三藏記集所引,皆大量銳減;又法經錄、武周錄等,則僅收失譯經典中之現存本,故所列經目亦較出三藏記集為少。大正藏一方面採開元錄之記載,另又僅收現存經本,故所列最少。〔佛書解說大辭典佛典總論第二部第二章(小野玄妙)〕
; (失譯經典) Cũng gọi Vô dịch kinh điển, Khuyết dịch kinh điển. Chỉ cho các kinh điển mất tên người dịch, tức là những kinh điển không ghi tên người dịch. Phật giáo Trung quốc đến đời PhùTần, có ngài Đạo an (314-385) soạn Tông lí chúng kinh mục lục (hiện nay không còn) thì dừng, nói chung, các kinh điển được lưu truyền đại khái không có ghi tên kinh và tên người dịch, như các bộ kinh chép tay xưa từ đầu đờiĐườngvề trước hiện còn, không bộ nào có ghi tên người dịch ở đầu quyển, cho nên đến thời ngài Đạo an tuy có kiểm xét lại tên kinh, tên người dịch, nhưng vẫn còn nhiều kinh điển rất khó định rõ tên người dịch. Thất dịch kinh điển đa số là những trứ tác được truyền dịch vào thời kì đầu. Cứ theo sự điều tra của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều thì trong khoảng thời gian 300 năm từ đời Đông Hán đến giữa thời Nam Bắc triều, ở Trung quốc đã có tới hơn 2.000 bộ kinh điển được truyền dịch, trong đó, số kinh điển thất dịch ước chừng nhiều gấp 3 lần số kinh điển đã biết tên người dịch. Đến đầu đời Tùy, khi Phí trường phòng biên tập sửa chữa bộ Lịch đại tam bảo kỉ, bèn y cứ vào các bộ mục lục ngụy tác như: Hán đại Phật kinh mục lục, Chu sĩ hành hán lục, Đạo tổ lục, Thủy hưng lục... mà gán tên các nhà dịch kinh đời trước như An thế cao, Pháp cự... vào 1308 bộ kinh điển thất dịch. Các bộ mục lục kinh đời sau, như Đại đường nội điển lục, Khai nguyên thích giáo lục..., tuy có đính chính thêm bớt đôi chút, nhưng đại khái vẫn dẫn dụng những mục lục sai lầm của Tam bảo kỉ, nên đã tạo thành cục diện rối ren, lộn xộn trong lịch sử truyền dịch của Trung quốc. Về con số các kinh điển thất dịch thì các bộ mục lục kinh được biên tập qua các đời đều có ghi chép, nhưng mục lục được nêu thì có khác. Xuất tam tạng kí tậpquyển 3 của ngài Tăng hựu ghi các kinh điển thất dịch do ngài Đạo an xét định, có liệt kê 142 bộ; ngài Tăng hựu còn biên soạn Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục, trong đó ghi 1306 bộ. Ngài Bảo xướng đời Lương soạn Chúng kinh mục lục, liệt kê 321 bộ thất dịch; ngài Pháp kinh đời Tùy soạn Chúng kinh mục lục, ghi 431 bộ thất dịch; Phí trường phòng đời Tùy soạn Lịch đại tam bảo kỉ, liệt kê 309 bộ thất dịch, Đại đường nội điển lục và Cổ kim dịch kinh đồ kỉ thì ghi theo con số của Lịch đại tam bảo kỉ; Đại chu san định chúng kinh mục lục liệt 424 bộ; Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng đời Đường ghi 741 bộ; Đại chính tân tu đại tạng kinh của Nhật bản hiện nay thì ghi 143 bộ thất dịch. Những bộ kinh lục nêu trên, như Đại đường nội điển lục, Khai nguyên thích giáo lục... đều chịu ảnh hưởng của Tam bảo kỉ, cho nên số kinh điển thất dịch trong đó được nêu đều giảm nhiều so với Xuất tam tạng kí tập. Còn Pháp kinh lục, Vũ chu lục... thì thu chép những bản hiện còn trong số các kinh điển thất dịch, nên số kinh mục được nêu cũng ít hơn so với Xuất tam tạng kí tập. Đại chính tạng thì một mặt sử dụng con số của Khai nguyên lục, mặt khác lại chỉ thu tập các bản kinh thất dịch hiện còn, cho nên kinh thất dịch được nêu ít nhất. [X. bộ thứ hai, chương 2 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận (Tiểudã Huyềndiệu)].
thất dụ
The seven parables of the Lotus sùtra.
thất giai phật danh
110全一卷。又作七階佛名經、禮懺、禮懺文、禮佛懺悔文、六時發願法。隋代三階教之祖信行(540~594)撰,記述三階教之禮懺法。目前有大英博物館史坦因第五十九號、第二三六號、第一三○六號等數種敦煌寫本,而各版本之內容、順序等,皆略有出入。經錄中之「觀藥王藥上菩薩經佛名」一書,亦即本書之別名,為一卷三十紙或一卷三十一紙之廣本,及一卷六紙之略本。或謂廣本即係本書之原本。此外,有一種敦煌寫本之後記中,附有北宋太宗「太平興國」之年號。
; (七階佛名) Cũng gọi Thất giai Phật danh kinh, Lễ sám, Lễ sám văn, Lễ Phật sám hối văn, Lục thời phát nguyện pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do Tổ khai sáng Tam giai giáo là ngài Tín hành (540-594) soạn vào đời Tùy, nói về cách lễ sám của Tam giai giáo. Hiện nay có vài ba bản chép tay đào được ở Đôn hoàng mang các số hiệu 59, 236, 306... của A.Stein được cất giữ ở bảo tàng viện nước Anh, nội dung, thứ tự của các bản in đều hơi khác nhau. Quyển Quán Dược vương Dược thượng bồ tát kinh Phật danh trong kinh lục cũng chính là tên khác của sách này, quảng bản là 1 quyển 30 tờ hoặc 1 quyển 31 tờ, còn lược bản thì 1 quyển 6 tờ. Có thuyết cho rằng quảng bản chính là bản gốc của sách này. Ngoài ra, trong lời Bạt của một bản chép tay đào được ở Đôn hoàng có ghi thêm niên hiệu Thái bình hưng quốc đời vua Thái tông nhà Bắc Tống.
Thất Giác Chi
(s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支): còn gọi là Thất Đẳng Giác Chi, Thất Biến Giác Chi, Thất Bồ Đề Phần, Thất Bồ Đề Phần Bảo, Thất Giác Phần, Thất Giác Ý, Thất Giác Chí, Thất Giác Chi Pháp, Thất Giác Ý Pháp, gọi tắt là Thất Giác, là 1 trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có:(1). Trạch Pháp Giác Chi (s: dharma-pravicaya-sambodhyaṅga, 擇法覺支): nghĩa là chọn lựa sự đúng sai của pháp, lấy cái đúng và bỏ đi cái sai,(2). Tinh Tấn Giác Chi (s: virya-sambodhyaṅga, 精進覺支): là chọn lựa pháp đúng đắn và tinh tấn chuyên tâm tu tập pháp ấy,(3). Hỷ Giác Chi (s: srīti-sambodhyaṅga, 喜覺支): an trú trong pháp vui đúng đắn,(4). Khinh An Giác Chi (s: prasrabdhi-sambodhyaṅga, 輕安覺支): là đoạn trước tà ác đạt được sự nhẹ nhàng an lạc của thân tâm và tăng trưởng thiện căn,(5). Xả Giác Chi (s: supeksā-sambodhyaṅga, 捨覺支): là xả bỏ đi tâm phan duyên với ngoại cảnh và quay trở về sống bình an,(6). Định Giác Chi (s: sammādhi-sambodhyaṅga, 定覺支): là nhập vào thiền định, tâm và cảnh trở thành một, làm cho tâm không tán loạn gọi Định Giác Chi,(7). Niệm Giác Chi (s: smṛti-sambodhyaṅga, 念覺支): khi tu tập đạo pháp, trú trong chánh niệm và thường làm quân bình trí tuệ. Khi tâm được bình lặng với 3 Giác Chi Trạch Pháp, Tinh Tấn và Hỷ, hành giả quán sát các pháp khích lệ tâm mình. Khi tâm bị dao động thì dùng tâm Khinh An Giác Chi để nhập vào thiền định và làm cho tâm được an tịnh. Trong khi đó 3 Giác Chi trước thuộc về Tuệ và 3 Giác Chi sau thuộc Định còn Giác Chi cuối cùng thuộc về cả Định và Tuệ.
Thất giác chi
xem Bảy giác chi.
; 七覺支; C: qījuézhī; J: shichikakushi; S: sapta-bodhy-angāni.|Bảy giác chi.
thất giác chi
125梵語 saptabodhyaṅgāni。又稱七等覺支、七遍覺支、七菩提分、七菩提分寶、七覺分、七覺意、七覺志、七覺支法、七覺意法,略稱七覺。乃三十七道品中第六品之行法。覺,意謂菩提智慧;以七種法能助菩提智慧開展,故稱覺支。七者即:(一)念覺支,心中明白,常念於禪定與智慧。(二)擇法覺支,依智慧能選擇真法,捨棄虛偽法。(三)精進覺支,精勵於正法而不懈。(四)喜覺支,得正法而喜悅。(五)輕安覺支,又作猗覺支,指身心輕快安穩。(六)定覺支,入禪定而心不散亂。(七)捨覺支,心無偏頗,不執著而保持平衡。〔雜阿含經卷二十六、大毘婆沙論卷九十六、大乘義章卷十六末〕
; Xem Thất bồ đề phần.
; Xem thất bồ đề phần.
; (七覺支) Phạm: Saptabodlyaígàni. Cũng gọi Thất đẳng giác chi, Thất biến giác chi, Thất bồ đề phần,Thất giác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất giác chi pháp, Thất giác ý pháp. Gọi tắt: Thất giác. Hành pháp thuộc nhóm thứ 6 trong 37 đạo phẩm. Giác nghĩa là trí tuệ bồ đề; vì 7 pháp này có công năng giúp cho trí tuệ bồ đề khai triển, nên gọi là Giác chi. Thất giác chi gồm: 1. Niệm giác chi: Trong tâm sáng suốt, luôn nghĩ đến thiền định và trí tuệ. 2. Trạch pháp giác chi: Nhờ vào năng lực trí tuệ, lựa chọn pháp chân chính, gạt bỏ pháp hư dối. 3. Tinh tiến giác chi: Đối với việc tu hành pháp chân chính, gắng sức, không biếng nhác. 4. Hỉ giác chi: Được pháp chân chính, tâm sinh vui mừng. 5. Khinh an giác chi(cũng gọiỶgiác chi): Chỉ cho trạng thái thân tâm an ổn, khoan khoái, nhẹ nhàng. 6. Định giác chi: Vào thiền định mà tâm không tán loạn. 7. Xả giác chi: Tâm không nghiêng lệch, không chấp trước, luôn ở trong trạng thái cân bằng, không thái quá, không bất cập.
thất giác phần
Xem thất bồ đề phần.
thất giác phần tam muội
Sapta-bodhyaṅga-samādhi (S) Thất chủng Tam muội Phép tam muội dùng quán tưởng để đắc Thấbt Bồ đề phần hiệp thành quả Bồ đề. - Niệm xứ giác phần Tam muội: quán tưởng về sức niệm nơi mình. - Trạch pháp giác phần Tam muội: quán tưởng về sự phân biệt pháp lý. - Tinh tấn giác phần Tam muội: quán tưởng về sự tinh tấn nơi mình. - Hỷ giác phần Tam muội: quán tưởng để đắc sự hỷ lạc nơi mình. - Trừ giác phần Tam muội: quán tưởng để thân tâm được nhẹ nhàng yên tịnh. - Định giác phần Tam muội: nhập định phép chánh định. - Xả giác phần Tam muội: quán tưởng cho đắc lẽ xả để tâm được bình đẳng không tranh đua, đắc Bồ đề, thấy Phật tánh.
Thất giác ý
xem Bảy giác chi.
thất giác ý
Xem thất bồ đề phần.
thất giới
100又稱七心界、七識界。即十八界中,於眼、耳、鼻、舌、身、意等六識,再加上六根之意根。於十二處中,意根收攝其他六識,成為意處一者。又於十八界中別說六識,意根僅存其名,於六識外並無別體,即攝於六識中。故知「七界」一詞,雖有七之名,實質僅為一或六。其所以於六識外別加意根,而立七界之說者,說一切有部主張,自性不知自性,為不許二心併起,故僅說六識心王,則自知之「心」的自覺層面必隱沒,而欲說明此一自覺層面,故以時間前後採自性知他性之說,且於六識之外,另立一意根為六識於過去所落謝者。〔俱舍論本頌分別界品第十六頌、順正理論卷三、俱舍論卷一、雜阿毘曇心論卷一、阿毘達磨顯宗論卷十〕
; (七界) Cũng gọi Thất tâm giới, Thất thức giới. Bảy giới. Tức chỉ cho 6 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trong 18 giới và thêm ý căn trong 6 căn. Trong 12 xứ thì ý căn bao nhiếp cả 6 thức kia mà trở thành 1 ý xứ. Trong 18 giới nói riêng 6 thức thì ý căn chỉ có tên gọi, chứ ngoài 6 thức không có thể riêng, nên được xếp vào 6 thức. Vì thế biết từ ngữ Thất giới tuy có 7 tên nhưng thực chất chỉ có 1 hoặc 6, do đó, ngoài 6 thức còn thêm ý căn để lập thuyết Thất giới. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tự tính không biết tự tính, vì không chấp nhận 2 tâm cùng khởi lên một lượt, cho nên chỉ nói 6 thức tâm vương, thì tầng tự giác của tâm tự biết ắt ẩn mất, nhưng muốn thuyết minh tầng tự giác này nên theo thời gian lần lượt dùng thuyết Tự tính tri tha tính, và ngoài 6 thức còn lậpý căn là 6 thức ở quá khứ đã tàn lụi.
thất hiền
120<一>小乘俱舍宗所立。為「七聖」之對稱。謂聲聞入見道以前之七方便位。又作七加行位。即:(一)五停心位:修不淨、慈悲、緣起、界分別、數息等五觀,順次對治貪、瞋、癡三毒及著我、散亂等五障。(二)別相念住位:於身、受、心、法等四項所緣,觀其自性與共相,以治淨、樂、常、我四顛倒。(三)總相念住位:總觀身、受、心、法,修非常、苦、空、非我之行相。(四)煖法位。(五)頂法位。(六)忍法位。(七)世第一法位,具觀三界四諦之境,修十六行相,遂至生世間最勝之善根之位。前三位為三賢,又稱外凡;後四位為四善根,又稱內凡。以未生無漏智,不能名聖;而以入正性離生之方便加行位故,又稱七方便、七加行。法相宗立五位,以最初資糧、加行二位,總名七方便位。〔大乘義章卷十七本、法華經玄義卷四下、華嚴五教章卷二〕 <二>大乘所謂之七賢,即(一)初發心人,(二)有相行人,(三)無相行人,(四)方便行人,(五)習種性人,(六)性種性人,(七)道種性人。此七賢皆於地前調心順道,故稱為七賢。〔仁王經天台疏卷上〕
; (七賢) I. Thất Hiền. Cũng gọi Thất gia hành vị. Đối lại: Thất thánh. Chỉ cho bảy vị Phương tiện từ Kiến đạo trở xuống của Thanh văn do tông Câu xá thuộc Tiểu thừa thành lập. Đó là: 1. Ngũ đình tâm vị: Tu 5 pháp quán: Bất tịnh, từ bi, duyên khởi, giới phân biệt và sổ tức, theo thứ tự đối trị tham, sân, si, chấp ngã và tán loạn. 2. Biệt tướng niệm trụ vị: Quán xét tự tính và tướng chung của 4 đối tượng: Thân, thụ, tâm, pháp để đối trị 4 điên đảo: Tịnh, lạc, thường, ngã. 3. Tổng tướng niệm trụ vị: Quán xét chung thân, thụ, tâm, pháp và tu các hành tướng vô thường, khổ, không, vô ngã. 4. Noãn pháp vị. 5. Đính pháp vị. 6. Nhẫn pháp vị. 7. Thế đệ nhất pháp vị: Quán xét cảnh 4 đế của 3 cõi, tu 16 hành tướng, cho đến địa vị sinh ra thiện căn tối thắng ở thế gian.Ba vị trước là Tam hiền, cũng gọi Ngoại phàm; 4 vị sau là Tứ thiện căn, cũng gọi Nội phàm. Vì chưa sinh ra trí vô lậu nên chưa được gọi là Thánh. Vì đã nhập vào vị Phương tiện gia hành thuộc chính tính li sinh, nên cũng gọi là Thất phương tiện, Thất gia hành. Tông Pháp tướng lập Ngũ vị, 2 giai vị đầu tiên là Tư lương và Gia hành được gọi chung là Thất phương tiện. II. Thất Hiền. Chỉ cho Thất hiền của Đại thừa. Đó là: 1. Người mới phát tâm. 2. Người tu hành ở địa vị hữu tướng. 3. Người tu hành ở địa vị vô tướng. 4. Người tu hành ở địa vị Phương tiện. 5. Người tu hành ở địa vịTập chủng tính.6. Người tu hành ở địa vị Tính chủng tính.7. Người tu hành ở địa vị Đạo chủng tính.Thất hiền này đều đã điều tâm thuận đạo ở Địa tiền, cho nên gọi là Thất hiền.
thất hiền vị
Xem thất phương tiện vị.
thất hoa bát liệt
100禪林用語。有支離破碎之意。然亦用於讚賞自在通達無障礙之意。七或八表示多數。碧巖錄卷一第九則趙州四門之本則評唱謂(大四八‧一四九下):「纔問著,卻是極則相似;纔拶著,七花八裂,坐在空腹高心處。」同書卷二第十四則雲門對一說之下語:(大四八‧一五四下)「無孔鐵鎚,七花八裂,老鼠咬生薑。」類似用語尚有七縱八橫、七穿八穴、七通八達、七顛八倒、七支八節、七零八落、七凹八凸等。〔碧巖錄第二則、第十五則、第四十則、從容錄卷四第六十四則、古尊宿語錄卷六、卷七、天目中峰和尚廣錄卷二十七下〕
; (七花八裂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bảy tiêu hao, tám rách nát, hàm ý là tan tành, tơi tả, nhưng cũng được dùng với ý tán thưởng sự tự tại thông đạt không chướng ngại. Thất hoặc bát biểu thị số nhiều. Phần bình xướng, tắc 9trong Bích nham lục quyển 1 (Đại 48, 149 hạ) nói: Vừa hỏi đến thì dường như đã đến chỗ cùng cực; nhưng vừa chạm tới thì 7 tiêu 8 rách(thất hoa bát liệt), ngồi ở chỗ bụng rỗng lòng cao. Về các dụng ngữ tương tự như dụng ngữ trên, còn có thất tung bát hoành, thất xuyên bát huyệt, thất thông bát đạt, thất điên bát đảo, thất chi bát tiết, thất linh bát lạc, thất ao bát đột...
thất hương thang
102以陳皮、茯苓、地骨皮、肉桂、當歸、枳殼、甘草等七種香藥煎沸而成之湯汁。我國民間極早即有晨飲此湯之風俗,律宗稱為甘露湯,禪家亦曾用之,於佛誕日浴佛,煎七香湯以供大眾。〔禪林象器箋卷十七飲啖門〕
; (七香湯) Loại nước thơm được nấu bằng 7 vị thuốc: Trần bì, phục linh, địa cốt bì, nhục quế, đương qui, chỉ xác và cam thảo. Ở Trung quốc, phong tụcuốngloại nước này đã có từ rất sớm trong dân gian, Luật tong gọi là Cam lộ thang, Thiền gia cũng có dùng, vào ngày Phật đản tắm Phật có nấu Thất hương thang cúng dường đại chúng.
thất hải
102圍繞於須彌山之七金山,其內側有八海。除鹹海外,餘海皆充滿八功德水,總稱七海。〔俱舍論卷十一、南海寄歸內法傳卷四〕(參閱「九山八海」127)
; (七海) Bảy biển. Núi Tu dicó 7 lớp núi vàng bao bọc, ở khoảng giữa các núi ấy có 8 lớp biển. Ngoài lớp biển nước mặn, thì 7 lớp biển còn lại đều chứa đầy nước 8 công đức, được gọi chung là Thất hải. THẤT HẮC SƠN Chỉ cho 7 ngọn Hắc sơn ở khoảng giữa từ phía bắc thành Tì xá li, Trung Ấn độ, đến núi Hương túy (Phạm: Gandhamadana) thuộc dãy Hi mã lạp nhã ở Bắc Ấn độ. Phẩm Diêm phù đề trong luận Lập thế a tì đàm quyển 1 ghi tên của 7 ngọn núi này như sau: Núi Tiểu hắc,núi Đại hắc, núiĐa li ngưu, núi Nhật quang, núi Ngân, núi Hương thủy và núi Kim biên. Nếu người lên đỉnh núi Kim biên, đứng xoay mặt hướng bắc, trông về nơi xa thẳm thì chỉ thấy màu tối đen. Theo luận Câu xá quyển 11 thì các núi thuộc dãy Hi mã lạp nhã trên chóp núi thường có tuyết trắng bao phủ, cho nên gọi là Tuyết sơn. Còn các núi ở phía nam thì trên đỉnh không có tuyết phủ, thay vào đó là cây cối um tùm, rậm rạp, chỉ toàn một màu tối đen, cho nên gọi là Hắc sơn.
thất hắc sơn
110由印度毘舍離城北方至喜馬拉雅山脈中香醉山(梵 Gandha-mādana)間,有七座黑山。其名稱依立世阿毘曇論卷一南剡浮提品所載,為小黑山、大黑山、多犛牛山、日光山、銀山、香水山、金邊山。若人登金邊山頂,轉面向北,聳身遠望,唯見黑暗。又據俱舍論卷十一所載可知,喜馬拉雅山脈諸山,山頂常戴白雪,故稱雪山;以南之諸山山頂無覆雪,草木叢茂,其色黑故,稱為黑山。〔法苑珠林卷二〕
thất hữu
96一切有可分為七類。即:(一)地獄有,又作不可有。(二)畜生有,又作傍生有。(三)餓鬼有,又稱鬼界有。(四)人有。(五)天有。(六)業有,又作行有。(七)中有。此七種稱為有,乃因地獄等五趣,依果報存在之義而為有;業有,乃彼果報之因,故稱有;中有,則為趣彼果之方便,故稱有。〔長阿含十報法經卷上、大毘婆沙論卷六十〕
; The seven stages of existence in a human world, or in any dục giới desire world: (1) Địa ngục hữu, in the hells; (2) Súc sinh hữu, as animals; (3) Ngạ quỉ hữu, hungry ghosts; (4) Thiên hữu, gods; (5) Nhân hữu, men; (6) Nghiệp hữu, karma; and (7) Trung hữu, the intermediate stage.
; (七有) Tất cả Hữu(các cõi tồn tại) được chia làm 7 loại là: 1. Địa ngục hữu, cũng gọi Bất khả hữu. 2. Súc sinh hữu, cũng gọi Bàng sinh hữu.3. Ngã quỉ hữu, cũng gọi Quỉ giới hữu. 4. Nhân hữu. 5. Thiên hữu. 6. Nghiệp hữu, cũng gọi Hành hữu. 7. Trung hữu. Bảy cõi trên đây được gọi là Hữu vì trong 5 đường như địa ngục... y cứ vào nghĩa quả báo tồn tại nên gọi là Hữu; Nghiệp hữu là nhân của quả báo ấy nên gọi là Hữu; Trung hữu(thân trung ấm) là phương tiện đi tới quả báo ấy nên gọi là Hữu.
thất hữu y phúc nghiệp
96乃依他苦而行布施以成福業者,共有七種,稱為七有依福業。即:(一)施於客人,(二)施於行人,(三)施於病人,(四)施於侍病者,(五)以園林施於諸寺等,(六)以常食施於眾僧,(七)應寒風熱等時,施隨時之飲食、衣服等。俱舍論卷十八(大二九.九六中):「如七有依福業事中,先說應施客、行、病、侍、園林、常食、及寒風熱隨時食等。復說若有具足淨信男子女人成此所說七種有依福業事者,所獲福德不可取量。」
; (七有依福業) Chỉ cho 7 cách thực hành bố thí để thành tựu phúc nghiệp. 1. Bố thí cho người đi xin. 2. Bố thí cho người lỡ đường. 3. Bố thí cho người bị bệnh. 4. Bố thí cho người săn sóc bệnh nhân. 5. Đem vườn rừng bố thí cho các chùa. 6. Đem thức ăn uống bố thí cho chúng tăng.7. Tùy theo thời tiết nóng, rét mà bố thí thức ăn, áo mặc cho người nghèo khổ... Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 96 trung) ghi: Như trong Thất hữu y phúc nghiệp thì trước nói nên bố thí cho người đi xin, người tu hành, người bệnh, người săn sóc bệnh, vườn rừng, thức ăn thường dùng và các thực phẩm thích hợp với các mùa nóng, lạnh... Rồi lại nói nếu có người nam, người nữ có đầy đủ lòng tin thanh tịnh thực hành những điều được nói trong Thất hữu y phúc nghiệp trên đây thì được phúc đức không thể tính lường.
thất không
The seven unrealities, or illusions. There are two lists: (1) Tướng không, Tính tự tính không, Hành không, Vô hành không, Nhất thiết pháp li ngôn thuyết không, Đệ nhất nghĩa thánh trí đại không, Bỉ bỉ không; (2) Cái không của tính, Cái không của tướng mình, Cái không của các pháp, Chẳng thể được là không, Không có pháp là không, Cái có pháp là không, Có pháp không pháp là không.
thất kim sơn
100位於須彌山及鐵圍山間之七座山,其山悉由金寶所成,故有此稱。七者即:(一)踰健達羅山(梵 Yugaṃdhara),繞須彌之山,高四萬由旬。(二)伊沙馱羅山(梵 Īṣādhara),繞踰健達羅,高二萬由旬。(三)朅地洛迦山(梵 Khadiraka)。(四)蘇達梨舍那山(梵 Sudarśana)。(五)頞濕縛羯拏山(梵 Aśvakarṇa)。(六)毘那怛迦山(梵 Vinataka)。(七)尼民達羅山(梵 Nimiṃdhara)。此七座金山,依序繞其前座,高度亦為前座之半。然長阿含經卷十八、起世經卷一等所載相異。〔瑜伽師地論卷二、大毘婆沙論卷一三三〕
; (七金山) Chỉ cho 7 lớp núi nằm ở khoảng giữa núiTu di và núi Thiết vi, vì 7 lớp núi này đều do vàng báu cấu tạothành,nên có tên là Thất kim sơn. Đó là: 1. Du kiện đạt la sơn (Phạm: Yugaôdhara): Cao 4 vạn do tuần, bao quanh núi Tu di. 2. Y sa đà la sơn (Phạm: Ìwàdhara): Cao 2 vạn do tuần, bao quanh núi Du kiện đạt la. 3. Khiết địa lạc ca sơn (Phạm: Khadiraka). 4. Tô đạt lê xá na sơn (Phạm: Sudarzana). 5.Át thấp phượcyết noa sơn(Phạm: Azvakarịa). 6. Tì na đát ca sơn (Phạm:Vinataka). 7. Ni dân đạt la sơn (Phạm: Nimiôdhara). Bảy lớp núi vàng này, theo thứ tự, lớp sau bao quanh lớp trước, độ cao cũng giảm, lớp sau chỉ cao bằng nửa lớp trước. Nhưng kinh Trường a hàm quyển 18 và kinh Khởi thế quyển 1 đều ghi chép khác nhau.
thất kiến
98謂邪見、我見、常見、斷見、戒盜見、果盜見、疑見等七種妄見。不解正理,以非為是,以邪為正,不正確之推度堅執,稱為見。邪見者,否定善惡、因果之理。我見者,不知此身為五蘊假和合,妄計有我之主宰。常見者,不知己身及外物皆無常,終歸壞滅,而妄執其為常住不變。斷見者,不知諸法本性常住不壞,反起斷滅之見,妄計此身死已不復續生。戒盜見又作見取見,不知如來之正戒,妄執牛戒、狗戒等為實,不修正因。果盜見者,不知正因正果,以不善為妙善,以塗灰、臥棘等苦行為正行,以少有所得妄計為得極果。疑見者,於諸諦理心生疑慮,猶豫不決。〔華嚴孔目章卷三、大明三藏法數卷三十〕
; (七見) Chỉ cho 7 vọng kiến là tà kiến, ngã kiến, thường kiến, đoạn kiến, giới đạo kiến, quả đạo kiến và nghi kiến. Kiến nghĩa là không hiểu chính lí, cho quấy là phải, lấy tà làm chính, cố chấp những quan niệm không chính xác, như thế gọi là Kiến. 1. Tà kiến: Chối bỏ lí nhân quả, thiện ác. 2. Ngã kiến: Không biết thân này là do 5 uẩn giả hòa hợp, mà vọng chấp có ngã chủ tể. 3. Thường kiến: Không biết thân mình và ngoại vật đều vô thường, cuối cùng đều hoại diệt, nhưng lại vọng chấp chúng là thường trụ bất biến. 4. Đoạn kiến: Chẳng biết bản tính các pháp thường trụ bất hoại, trái lại, khởi kiến chấp đoạn diệt, cho rằng thân này chết rồi không còn tiếp tục tái sinh nữa. 5. Giới đạo kiến(cũng gọiKiến thủ kiến): Không biết giới chân chính của Như lai, vọng chấp giới bò, giới chó, chẳng tu chính nhân, lại cho các giới bò, chó là thật. 6. Quả đạo kiến: Chẳng biết chính nhân, chính quả, cho bất thiện là diệu thiện, lấy các khổ hạnh như bôi tro, trát trấu lên mình, nằm trên gai nhọn... làm chính hạnh, rồi vọng chấp được chút ít thì cho đó là quả cao tột. 7. Nghi kiến: Đối với các lí chân thực tâm sinh nghi ngại, do dự không quyết.
thất la bà
1880梵名 Śravaṇa。意譯牛宿、吉祥宿、無容宿。二十八宿之一。因失羅婆與月之運行無關,故印度曆法無之。惟以最吉祥宿之故,而列於二十八宿之一。據摩登伽經卷上說星圖品、大方等大集經卷四十一星宿品載,此宿有三星(我國則認為有六星),狀似牛頭,屬風梵摩神,姓梵氏。於密教之曼荼羅中,稱為「對主」。其形像,右手掌上仰,指端下垂;左手持蓮,蓮上有赤珠。寶星陀羅尼經卷四(大一三‧五五六上):「失羅婆(唐言牛宿)星生者,於右脛上必有兩靨,常豐爵祿,受身無病,人所愛樂,命終生天。「參閱「二十八宿」173)
; (失羅婆) Phạm: Zravaịa. Hán dịch: Ngưu tú, Cát tường tú, Vô dung tú. Một trong 28 ngôi sao. Vì sự vận hành của sao Thất la bà và mặt trăng không có liên quan với nhau, nên trong lịch pháp Ấn độ không có ngôi sao này. Nhưng vì Thất la bà là ngôi sao tốt lành nhất nên được xếp vào 1 trong 28 ngôi sao. Cứ theo phẩm Thuyết tinh đồ trong kinh Ma đăng già quyển thượng và phẩm Tinh tú trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, thì chòm sao này có 3 ngôi (Trung quốc thì cho rằng có 6 ngôi), hình dáng giống như đầu bò, họ Phạm, thuộc về thần Phong phạm ma. Trong Mạn đồ la của Mật giáo, vị thần này được gọi là Đối chủ. Hình tượng vị tôn này bàn tay phải ngửa lên, đầu ngón tay rủ xuống, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu màu đỏ. Kinh Bảo tinh đà la ni quyển 4 (Đại 13, 556 thượng) nói: Người nào sinh nhằm sao Thất la bà (Hán dịch là Ngưu tú) thì trên ống chân phải nhất định có 2 cái đốm, người này có tước vị bổng lộc, không bệnh tật, được mọi người yêu mến, sau khi chết được sinh cõi trời.
thất la phiệt thành
Xem Xá vệ.
thất long vương
121即蓮華龍王、翳羅葉龍王、大力龍王、大吼龍王、小波龍王、持驛水龍王、金面龍王等。〔最勝經卷一〕
; (七龍王) Chỉ cho 7 vị vua Rồng, đó là: Liên hoa long vương,Ế la diệp long vương, Đại lực long vương, Đại hống long vương, Tiểu ba long vương, Trì dịch thủylong vương và Kim diện long vương.
thất lưu
100乃對煩惱之分類。見思二惑之煩惱,能令眾生漂流流轉生死海中,四果之聖者對此流漸次斷滅行上,所滅之數為七,故稱七流。即:(一)見諦所滅流,初果之人入見道,由斷欲界之見惑,故不再流轉於欲界。(二)修道所滅流,二果、三果之人於修道修四諦觀,能斷欲界之思惑,故不再流轉於欲界。(三)遠離所滅流,第四果之人修四諦觀,斷盡見思之惑而無餘,乃至遠離三界,不再流轉。(四)數事所滅流,第四果之人觀五蘊、十二入、十八界等法悉皆空寂,盡見思之惑,不再流轉三界。(五)捨所滅流,第四果之人已空五蘊等法,所空之法既無,亦捨能空之心,則能所兩亡,無憎無愛,平等一味,證無學,不再流轉三界。(六)護所滅流,第四果之人盡見思之惑,證無學,恐己於所證有退失,善加守護,令見思之習氣更不再起,不再流轉三界。(七)制伏所滅流,第四果之人見思之惑縛已斷,色身之果縛猶有,遂制伏見思之習氣永不令起,故三界之流轉止息。〔華嚴孔目章卷三、大明三藏法數卷二十九〕
; (七流) Bảy dòng. Là sự phânloại phiền não. Các phiền não Kiến hoặc và Tư hoặc làm cho chúng sinh nổi trôi trong biển sinh tử, bậc Thánh Tứ quả dần dần ngăn dứt dòng trôi chảy này để tiến lên, vì có 7 phiền não được ngăn dứt, cho nên gọi là Thất lưu. Đó là: 1. Kiến đế sở diệt lưu: Hàng Sơ quả vào Kiến đạo, vì đã dứt trừKiến hoặc của cõi Dục nên không còn bị trôi lăn trong cõi Dục nữa. 2. Tu đạo sở diệt lưu: Hàng Nhị quả, Tam quả ở giai vị Tu đạo, tu quán Tứ đế, diệt được Tư hoặc của cõi Dục, nên không còn bị trôi lăn trong cõi Dục nữa. 3. Viễn li sở diệt lưu: Hàng Tứ quả tu quán Tứ đế, diệt sạch Kiến hoặc, Tư hoặc không sót, cho nên xa lìa 3 cõi, không bị trôi lăn nữa. 4. Số sự sở diệt lưu: Hàng Tứ quả quán xét thấy 5 uẩn, 18 giới tất thảy đều rỗng lặng, hết sạch các hoặc Kiến, Tư, không còn bị trôi lăn trong 3 cõi nữa. 5. Xả sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã thấy các pháp 5 uẩn... đều không, pháp được thấy là không đã không thì cũng bỏ luôn tâm thấy không, năng và sở đều mất, không còn thương ghét, bình đẳng một vị, chứng quả Vô học, không còn trôi lăn trong 3 cõi.6. Hộ sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã hết sạch Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng quảVô học, đối với quả đã chứng được, sợ mình lui sụt mất, nên khéo giữ gìn, không để cho tập khí Kiến, Tư có cơ hội tái sinh khởi, thì không còn trôi lăn trong 3 cõi. 7. Chế phục sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã cắt đứt sự trói buộc của các phiền não Kiến, Tư, nhưng quả trói buộc sắc thân vẫn còn, vì thế nên phải chế phục tập khí Kiến, Tư, vĩnh viễn không cho sinh khởi nữa, có như thế thì sự trôi lăn trong 3 cõi mới được chấm dứt hoàn toàn.
Thất lậu
xem Bảy lậu hoặc.
thất lậu
113謂七種有漏煩惱。即見漏、修漏、根漏、惡漏、親近漏、受漏、念漏等。漏者,漏泄之義;即煩惱之異稱,謂一切煩惱之流注漏泄。(一)見漏,即見道所斷之諸種邪見。(二)修漏,修道所斷之貪、瞋、癡等諸煩惱。以上二者係就漏之體所立,分別為見、修二道所斷。(三)根漏,依眼、耳、鼻、舌等根所生之煩惱。此係就諸根能生煩惱之外緣而立。(四)惡漏,依一切惡象、惡王、惡知識、惡國等之惡事、惡法所生之煩惱。(五)親近漏,依親近衣服、飲食、醫藥、房舍四事所生之煩惱。與惡漏同為漏產生之內緣,前者為違緣,後者為順緣。(六)受漏,受乃苦、樂、捨三受,能生貪、瞋、癡等煩惱。(七)念漏,念乃邪念。與受漏同為漏之因,與前三緣和合而生諸煩惱。〔中阿含經卷二、增一阿含經卷三十四、北本涅槃經卷二十二、成實論卷十、大乘義章卷五末〕
; (七漏) Chỉ cho 7 phiền não hữu lậu. Tức kiến lậu, tu lậu, căn lậu, ác lậu, thân cận lậu, thụ lậu và niệm lậu. Lậu nghĩa là rò rỉ, tức tên khác của phiền não, nghĩa là tất cả phiền não thường rò rỉ, tuôn chảy. 1. Kiến lậu: Chỉ cho cáctà kiến được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu lậu: Các phiền não như tham, sân, si được trừ ở giai vị Tu đạo. 3. Căn lậu: Chỉ cho các phiền não nương vào các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... mà sinh ra. 4.Ác lậu: Các phiền não nương vào tất cả ác sự, ác pháp như ác tượng, ác vương, ác tri thức, ác quốc... mà sinh ra. 5. Thân cận lậu: Các phiền não nương vào 4 thứ gần gũi là quần áo, thức ăn uống, thuốc thang và phòng xá mà sinh ra. 6. Thụ lậu: Thụ gồm khổ thụ, lạc thụ, xả thụ có công năng sinh ra tham, sân và si. 7. Niệm lậu: Niệm là tà niệm. Niệm lậu và thụ lậu đều là nhân của lậu. Niệm lậu hòa hợp với ác lậu, thân cận lậu và thụ lậu mà sinh các phiền não.
thất lễ
121指禮拜七種佛菩薩。全稱七敬禮。善導之法事讚卷下(大四七‧四三八上):「南無本師釋迦牟尼佛等一切三寶,我今稽首禮,迴願往生無量壽國。南無十方三世盡虛空遍法界微塵剎土中一切三寶,我今稽首禮,迴願往生無量壽國。南無西方極樂世界阿彌陀佛,願共諸眾生往生安樂國。(中略)普為四恩、三友、帝王、人王、師僧、父母、善知識、法界眾生,斷除三障,同得往生阿彌陀佛國,和南一切賢聖,迴願往生無量壽國。」
; (七禮) Gọi đủ: Thất kính lễ. Chỉ cho việc lễ bái 7 loại Phật, Bồ tát. Pháp sự tán quyển hạ của ngài Thiện đạo (Đại 47, 438 thượng) ghi: Nam mô Bản sư Thích ca mâu ni Phật... Nhất thiết Tam bảo, nay con cúi đầu đính lễ, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ. Nam mô Thập phương tam thế tận hư không biến pháp giới vi trần sát độ trung nhất thiết Tam bảo, nay con cúi đầu kính lễ, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ. Nam mô Tây phưong cực lạc thế giới A di đà Phật, nguyện cùng chúng sinh sinh về cõi nước An lạc. (...).Khắp vì 4 ân, 3 cõi,Đế vương, Nhân vương, sư tăng, phụ mẫu, thiện tri thức, pháp giới chúng sinh, đoạn trừ 3 chướng, cùng được sinh về cõi nước Phật A di đà, kính lễ tất cả Hiền Thánh, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ.
thất lợi
3772<一>梵語 śrī。又作師利、尸利、室哩、室離。意譯勝、吉祥、德、好善嘉良。華嚴經疏卷十二(大三五‧五九一上):「梵云室利,一名四實。一首、二勝、三吉祥、四德。」又同書卷七(大三五‧五五二上):「以梵音含於二義,一云吉祥,二翻爲守故。下譯跋陀室利以爲賢首,又以首字音同義別,彼爲頭首。法界品中乃爲守護,皆譯者方言少融耳。若以義會,增長威力即是普現吉祥。」 <二>爲文殊室利之略稱。四明教行錄卷四(大四六‧八九五上):「補處逸多,尚受折於維摩詰;上首室利,甘負屈於菴提遮。」(參閱「文殊菩薩」1426)
; (室利) I. Thất Lợi. Phạm:Zrì. Cũng gọi Sư lợi, Thi lợi, Thất lí, Thất li. Hán dịch: Thắng, Cát tường, Đức, Hảo thiện gia lương. Chỉ cho sự tốt lành, thù thắng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 (Đại 35, 591 thượng) nói: Tiếng Phạm Thất lợi, một tên mà 4 nghĩa: Thủ, thắng, cát tường, đức. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7 (Đại 35, 552 thượng) nói: Vì tiếng Phạm có bao hàm 2 nghĩa làcát tường và Thủ (...). Phần sau dịch Bạt đà thất lợi là Hiền thủ ( ), chữ ( ...) này âm đồng mà nghĩa khác với chữ (...) ở trên, tức chữ (...) này nghĩa là đứng đầu, còn chữ (...) ở trên nghĩa là giữ gìn. Cho nên trong phẩm Pháp giới, Thất lợi được dịch là Thủ hộ (giữ gìn, che chở), đó là do tiếng phương ngôn của các dịch giả, nhưng dịch như vậy thì không được dung thông lắm. Còn nếu hiểu theo nghĩa thì tăng trưởng uy lực chính là Phổ hiện cát tường. II. Thất Lợi. Gọi đủ: Văn thù sư lợi. Tứ minh giáo hành lục quyển 4 (Đại 46, 895 thượng) nói: Bồ tát Bổ xứ A dật đa còn bị cư sĩ Duy ma cật bẻ gãy, Thượng thủ Thất lợi đành chịu khuất phục trước Am đề già.
thất lợi cáp lợi mạnh địa nhĩ tự
3773興第語 Jakht Śri Hari Mandir Sahib。印度錫克教寺廟之一。位於巴特那市。十八世紀所建,後遭焚毀,西元一八三九年由蘭季特辛格(Ranjit Singh, 1780~1839)重建。原爲錫克教第十代祖師哥賓德辛格之誕生地,後成爲錫克教徒朝拜的聖地之一。
thất lợi la đa
3773梵名 Śrīrāta 或 Śrīlabdha。又作室利羅多。意譯勝受。西印度人,乃鳩摩羅邏多之弟子,爲經部中興之論師。與東天馬鳴、南天提婆、北天鳩摩羅邏多、中天龍樹相抗衡,稱西天室利邏多。五大論師之一。眾賢於順正理論中所稱之上座,即指師而言。師曾於阿踰陀國製作經部毘婆沙論,然今已不傳。經部有根本、枝末兩部,其中後者即以師爲開祖。師生卒年不詳,據推算,約出生於西元四世紀頃。〔俱舍論光記卷九、大唐西域記卷五〕
; (室利邏多) Phạm:Zrìràta hoặcZrìlabdha. Hán dịch: Thắng thụ. Người ở miền Tây Ấn độ, đệ tử của ngài Cưu ma la ra đa, là Luận sư trung hưng Kinh bộ. Đối với ngài Mã minh ở Đông thiên (trúc), ngàiĐề bà ở Nam thiên, ngài Cưu ma la ra đa ở Bắc thiên, ngài Long thụ ở Trung thiên, sư được gọi là Tây thiên Thất lợi la đa, 1 trong 5 vị Đại luận sư. Người được gọi là Thượng tọa trong luận Thuận chính lí của ngài Chúng hiền chính là chỉ cho sư. Sư từng soạn luận Tì bà sa của Kinh bộ ở nước A du đà, nhưng hiện nay đã thất truyền. Kinh bộ chia ra 2 bộ là Căn bản và Chi mạt, trong đó, Kinh bộ chi mạt tôn sư làm Tổ khai sáng. Năm sinh, năm mất của sư không rõ. Cứ theo sự suy đoán thì sư sinh và hoạt động vào khoảng thế kỉ IV Tây lịch.
thất lợi phất thệ
3773梵名 Śrīboja。又稱尸利弗逝。相當於今之馬來諸島中蘇門答臘島之東部,以巴鄰旁(Palembang,又稱巨港)爲首邑。自六朝末年至唐宋時代,此地因佛教盛行而著稱。義淨往返印度之時,此地正爲南海一帶之大都城,乃爲當時末羅瑜國(梵 Malaya)之首都,義淨抵達印度之前曾於此處滯留兩個月。大唐西域求法高僧傳卷下之末羅瑜國條,其下之註云(大五一‧七下):「今改爲室利佛逝也。」〔南海寄歸內法傳卷一〕
; (室利弗逝) Phạm:Zrìboja. Cũng gọi Thi lợi phất thệ. Tên đất, tương đương với đông bộ đảo Sumatra trong quần đảo Mã lai hiện nay, lấy Balembang làm thủ ấp. Từ những năm cuối thời Lục triều, cho đến các đờiĐường, Tống, Trung quốc, nơi này nhờ Phật giáo thịnh hành mà nổi tiếng. Khi ngài Nghĩa tịnh đến Ấn độ thì nơi này chính là một đô thành lớn ở vùng Nam hải, là thủ đô của nước Mạt la du (Malaya) đương thời; trước khi đi Ấn độ, ngài Nghĩa tịnh đã lưu lại đây 2 tháng.Ở dưới điều Mạt la du quốc trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển hạ có ghi chú (Đại 51, 7 hạ): Nay đổi là Thất lợi phật thệ.
thất lỵ la
Xem xá lợi.
Thất mạn
七慢; C: qīmàn; J: shichiman;|Bảy loại kiêu mạn: 1. Mạn (慢; s: māna): Đối với người kém mình mà cho mình hơn; chưa được bằng người mà cho là bằng; 2. Quá mạn (過慢; s: ati-māna): Đối với người bằng mình mà cho là hơn, đối với người hơn mình mà cho mình bằng; 3. Mạn quá mạn (慢過慢; s: mānāti-māna): Đối với người hơn mình mà cho rằng mình hơn họ; 4. Ngã mạn (我慢; s: asmi-māna, ātma-māna): Tự hào có một hợp thể là ngã và ta là sở hữu cái ngã đó; 5. Tăng thượng mạn (增上慢; s: adhi-māna): Chưa chứng đạo mà kiêu hãnh cho rằng mình đã chứng đắc rồi; 6. Ti mạn (卑慢; s: avamāna, ūna-māna): Đối với người tài giỏi, kiêu hãnh cho rằng mình kém họ ít thôi; 7. Tà mạn (邪慢; s: mithyā-māna): Mình không có đức hạnh, trí huệ mà kiêu hãnh cho rằng mình có đủ các điều ấy (theo A-tì-đạt-ma câu-xá thích luận 阿毘達磨倶舎釋論).
thất mạn
The seven pretensions or arrogances.
thất mẫu thiên
94指焰摩天或大黑天之眷屬,為七女鬼。又作七摩怛里天、七母女天、七姊妹、七母。大日經疏卷十六載,七母為焰摩天眷屬;大日經義釋卷七並列其名如下:左悶拏(梵 Cāmuṇḍā)、嬌吠哩(梵 Kauverī)、吠瑟拏微(梵 Viṣṇavī)、嬌麼哩(梵 Kaumārī)、燕捺利(梵 Indrī)、咾捺哩(梵 Raudrī)、末羅呬弭(梵 Brāhmī)。理趣釋卷下則載為摩訶迦羅(梵 Mahākāla,即大黑天)之眷屬。「南麼三曼多勃馱南忙怛履弊莎縛訶」為七母共通之真言。左手為拳,豎拇指,作鎚印。種子為軚(mā)。〔七卷理趣經卷三、大日經疏卷五〕
; (七母天) Cũng gọi Thất ma đát lí thiên, Thất mẫu nữ thiên, Thất tỉ muội, Thất mẫu. Chỉ cho 7 nữ quỉ, quyến thuộc của Diệm ma thiên hoặc của Đại hắc thiên. Đại nhật kinh sớ quyển 16 cho rằng Thất mẫu thiên là quyến thuộc của trời Diệm ma. Còn Đại nhật kinh nghĩa quyển 7 thì liệt kê toàn bộ tên gọi của Thất mẫu thiên như sau: 1. Tả muộn noa (Phạm: Càmuịđà). 2. Kiều phệ lí(Phạm:Kauverì). 3. Phệ sắt noa vi (Phạm:Viwịavì). 4. Kiều ma lí(Phạm:Kaumàrì). 5. Yến nại lợi(Phạm:Indrì). 6. Lão nại lí(Phạm:Raudrì). 7. Mạt la hi nhĩ (Phạm:Bràhmì). Líthú thích quyển hạ thì cho rằng Thất mẫu thiên là quyến thuộc của trời Đại hắc. Chân ngôn chung của Thất mẫu thiên là Na ma tam mạn đa bộc đà nam mang đát lí tệ sa phạ hạ. Tướng ấn là tay trái nắm lại, ngón tay cái dựng thẳng thành ấn chùy (cái dùi). Chủng tử là (mà).
thất nan
123即七種災難。<一>仁王般若經卷下受持品所載之七難,即:(一)日月失度難,日月之運行失時,或赤日出、黑日出,或日蝕無光。(二)星宿失度難,二十八宿失度,金星、彗星等諸星各各變現。(三)災火難,即大火燒國,萬姓燒盡。(四)雨水變異難,即大水漂沒百姓。(五)惡風難,大風吹殺萬姓,國土、山河、樹木一時滅沒。(六)亢陽難,即百草亢旱,五穀不登。(七)惡賊難,四方賊來侵國,刀兵劫起。 <二>藥師琉璃光如來本願功德經亦說七難,即:(一)人眾疾疫難,(二)他國侵逼難,(三)自界叛逆難,(四)星宿變怪難,(五)日月薄蝕難,(六)非時風雨難,(七)過時不雨難。<三> 法華經普門品亦載七難,即:火難、水難、羅剎難、刀杖難、鬼難、枷鎖難、怨賊難。<四> 依陀羅尼集經卷十所載之七難為:王難、賊難、水難、火難、羅剎難、荼枳儞鬼難、毒藥難。
; (七難) I. Thất Nạn. Chỉ cho 7 nạn nói trong phẩm Thụ trì kinh Nhân vương bát nhã quyển hạ, đó là: 1. Nhật nguyệt thất độ nạn: Sự vận hành của mặt trời, mặt trăng không đúng thời, hoặc mặt trời đỏ xuất hiện, mặt trời đen xuất hiện, hoặc nhật thực không có ánh sáng. 2. Tinh tú thất độ nạn: Hai mươi tám vì sao vận hành không đúng thời, sao kim, sao chổi... đều biến hiện. 3. Tai hỏa nạn: Lửa lớn thiêu đốt sạch cõi nước, nhân dân. 4. Vũ thủy biến dị nạn: Nước lũ cuốn trôi và nhận chìm trăm họ. 5.Ác phong nạn: Gió bảo thổi mạnh làm chết nhân dân, đất nước, núi sông, cây cối cùng lúc đều bị tiêu diệt. 6. Kháng dương nạn: Tức các loại thảo mộc bị khô hạn, ngũ cốc thất thu. 7.Ác tặc nạn: Giặc cướp từ các nơi kéo đến xâm chiếm đất nước, chiến tranh tàn phá, nhân dân lầm than. II. Thất Nạn. Bảy nạn nói trong kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức, đó là: 1. Nhân chúng tật dịch nạn: Dân chúng bị bệnh dịch. 2. Tha quốc xâm bức nạn: Nước khác đến xâm chiếm, áp bức. 3. Tự giới phản nghịch nạn: Nhân dân trong nước làm phản. 4. Nhật nguyệt bạc thực nạn: Nhật thực,nguyệt thực xảy ra. 5. Tinh tú biến quái nạn: Các vì sao biến hiệnđiềm quái gở. 6. Phi thời phong vũ nạn: Mưa gió trái mùa.7. Quá thời bất vũ nạn: Quá thời không mưa(hạn hán). III. Thất nạn. Bảy nạn nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa, đó là: Nạn lửa, nạn nước, nạn La sát, nạn dao gậy(bị đánh chém), nạn quỉ, nạn gông cùm và nạn oán giặc. IV. Thất Nạn. Bảy nạn nói trong kinh Đà la ni tập quyển 10, đó là: Nạn vua, nạn giặc, nạn nước, nạn lửa, nạn La sát, nạn quỉ Đồ chỉ nễ và nạn thuốc độc.
thất nghịch tội
103又作七遮罪、七遮。略作七逆。乃不順理行,能障礙受戒之七種重罪。即:(一)出佛身血,(二)殺父,(三)殺母,(四)殺和尚,(五)殺阿闍梨,(六)破羯磨轉法輪僧,(七)殺聖人。止觀輔行傳弘決卷二之一(大四六‧一八四中):「言五逆者,謂殺父、殺母、殺阿羅漢、破僧、出血。(中略)若大乘中加殺和尚及阿闍黎,以為七逆。」蓋以和尚與阿闍梨為授戒師,若曾殺害者,對現前之戒師亦不生慇重心,從而不能得戒,故稱遮罪。〔梵網經卷下、梵網經菩薩戒本疏卷下(法藏)〕
; The seven rebellious acts, or deadly sins: (1) Làm thân Phật ra máu, shedding a Buddha's blood; (2) Giết cha, killing father; (3) Giết mẹ, mother ; (4) Giết Hòa thượng, monk; (5) Giết A xà lê, teacher; (6) Phá Tăng, subverting or disrupting the moks; (7) Giết bậc Thánh, killing an Arhat.
; (七逆罪) Cũng gọi Thất già tội, Thất già. Gọi tắt: Thất nghịch. Chỉ cho 7 trọngtội là những hành vi không thuận đạo lí, gây trở ngại cho việc thụ giới: 1. Làm thân Phật chảy máu. 2. Giết hại cha. 3. Giết hại mẹ. 4. Giết Hòa thượng. 5. Giết A xà lê. 6. Phá yết ma chuyển pháp luân tăng. 7. Giết hại bậc Thánh. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2, phần 1 (Đại 46, 184 trung) ghi: Nói Ngũ nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá tăng và làm thân Phật chảy máu (...). Trong Đại thừa thêm giết Hòa thượng, giết A xà lê thành Thất nghịch. Vì hòa thượng và A xà lê là thầy truyền giới, nếu sát hại các vị ấy thì đối với giới sư hiện tiền cũng không sinh tâm ân trọng, do đó không được thụ giới, cho nên gọi là Già tội.
thất nhân minh
94因明用語。印度古因明論師彌勒所立,為有關論議要件之七種規定。即論體性、論處所、論所依、論莊嚴、論墮負、論出離、論多所作法等七種。(一)論體性(梵 vāda):議論之題目有六種性質:(1)言論,(2)尚論,(3)諍論,(4)毀謗論,(5)順正論,(6)教導論。(二)論處所(梵 vādādhiṣṭhāna):議論之場所。有六:(1)國王之前,(2) 麛z者之前,(3)大眾之中,(4)賢哲之前,(5)善解法義之沙門、婆羅門前,(6)樂法義者之前。(三)論依所(梵 vādādhikaraṇa):立論之依據,有所成立之義及能成立之法,略稱所立能立。前者有二:(1)自性,(2)差別。後者有八:(1)立宗(命題)(2)辯因(理由),(3)引喻(比喻),(4)同類,(5)異類,(6)現量,(7)比量,(8)正教量。(四)論莊嚴(梵 vādālaṃkāra):議論之態度及言詞之修飾。有五:(1)善自他宗,(2)言具圓滿,(3)無畏,(4)敦肅,(5)應供。(五)論墮負(梵 vādanigraha):議論敗北的原因。有三:(1)捨言者,捨一己之立論。(2)言屈者,屈伏於他論。(3)言過者,言論訛誤或義理欠通。(六)論出離(梵 vādaniḥsaraṇa):預先觀察立論能否成立,務期出離於不成功。有三:(1)觀察得失,(2)觀察時眾,(3)察善巧與否。(七)論多所作法(梵 vādebahukarā dharmā):於所議論時所具有之信心。有三:(1)善自他宗,即於一切法能起議論。(2)勇猛無畏,即處一切眾能起議論。(3)辯才不竭,即隨所問難,自在酬答。〔瑜伽師地論卷十五、顯揚聖教論卷十一、雜集論卷十六〕(參閱「因明」2276)
; (七因明) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 7 qui định về những điều kiện quan trọng của cuộc nghị luận do Luận sư Di lặc thuộc Cổ nhân minh ở Ấn độ lập ra, đó là: Luận thể tính, luận xứ sở, luận sở y, luận trang nghiêm, luận đọa phụ, luận xuất li và luận đa sở tác pháp. 1. Luận thể tính (Phạm:Vàda):Đề mục nghị luận có 6 tính chất: Ngôn luận, thượng luận, tránh luận, hủy báng luận, thuận chính lí luận, giáo đạo luận. 2. Luận xứ sở(Phạm:Vàdàdhiwỉhàna): Nơi chỗ để nghị luận. Có 6 nơi: a. Trước mặt vua. b. Trước người chấp lí. c. Giữa đám đông. d. Trước bậc Hiền triết. e. Trước các vịSa môn, Bà la môn thông hiểu pháp nghĩa. g. Trước người ưa thích pháp nghĩa. 3. Luận y sở(Phạm:Vàdàdhikaraịa): Chỗ y cứ của sự lập luận, gồm có: Nghĩa sở thành lập và Pháp năng thành lập, gọi tắt là Sở lập Năng lập. Sở lập có 2: Tự tính và Sai biệt; Năng lập có 8: Lập tông(mệnh đề), Biện nhân(lí do), Dẫn dụ(thí dụ),Đồng loại, Dị loại, Hiện lượng, Tỉ lượng và Chính giáo lượng. 4. Luận trang nghiêm (Phạm: Vàdàlaôkàra):Thái độ và sự trau chuốt ngôn từ nghị luận. Có 5 việc: a. Thông thạo cách lập tông của mình và của người. b. Ngôn từ phong phú. c. Không khiếp sợ, nhút nhát. d. Dày dạn, nghiêm túc. e. Tỏ ra xứng đáng. 5. Luận đọa phụ(Phạm:Vàdanigraha): Nguyên nhân khiến nghị luận thất bại. Có 3 nguyên nhân: a. Xả ngôn: Bỏ lập luận của mình. b. Khuất ngôn: Khuất phục trước lập luận của đối phương. c. Ngôn quá: Ngôn luận sai lầm hoặc nghĩa lí quanh co. 6. Luận xuất li (Phạm: Vàdani#= saraịa):Xét kĩ xem lập luận có thành lập được hay không, nếu thấy không thành lập được thì rút ra trước để tránh chuốc lấy thất bại. Có 3 cách xem xét: a. Xem xét được, thua. b. Xem xét thời gian và đại chúng. c. Xem xét mình có khéo léo hay không. 7. Luận đa sở tác pháp (Phạm:Vàde bahukarà dharmà): Lúc nghị luận cần có 3 niềm tin: a. Thông thạo cách lập tông của mình và của đối phương thì đối với tất cả các đề tài đều có khả năng nghị luận. b. Mạnh mẽ dày dạn, không nhút nhát khiếp sợ thì nghị luận trước đám đông một cách dễ dàng. c. Biện tài thao thao thì sẽ giải đáp được tất cả các vấn nạn.
thất như lai
95指施餓鬼會時,所唱禮之七尊如來。即:(一)寶勝如來,(二)多寶如來,(三)妙色身如來,(四)廣博身如來,(五)離怖畏如來,(六)甘露王如來,(七)阿彌陀如來。瑜伽集要所揭之名略異,乃寶勝、離怖畏、廣博身、妙色身、多寶、阿彌陀及世間廣大威德自在光明如來。又現今施餓鬼會,常於七流五色幡上書此七尊如來名號,懸施餓鬼柵周圍,稱七如來幡。〔焰口餓鬼陀羅尼經、淨土諸迴向寶鑑卷一〕(參閱「五如來」1075)
; (七如來) Chỉ cho 7 đức Như lai được xướng lễ trong pháp hội cúng thí ngã quỉ, đó là: 1. Bảo thắng Như lai. 2. Đa bảo Như lai. 3. Diệu sắc thân Như lai. 4. Quảng bác thân Như lai. 5. Li bố úy Như lai. 6. Cam lộ vương Như lai. 7. A di đà Như lai. Danh hiệu của 7 đức Như lai trên được nêu trong Du già yếu tập lại hơi khác, tức là: Bảo thắng Như lai, Li bố úy Như lai, Quảng bác thân Như lai, Diệu sắc thân Như lai, Đa bảo Như lai, A di đà Như lai và Quảng đại uy đức tự tại quang minh Như lai. Ngoài ra, trong các pháp hội cúng thí ngã quỉ hiện nay, danh hiệu của 7 đức Như lai này thường được viết trên 7 lá phan 5 màu, rồi treo ở chung quanh khu rạp cúng thí ngã quỉ, gọi là Thất Như lai phan.
thất nhật luân xuất
93一日乃至七日次第而出,乃劫末之相。據法苑珠林載,一日出時,百草樹木一時凋落。二日出時,四大海水從百由旬乃至七百由旬內,皆自然枯涸。三日出時,四大海水千由旬乃至七千由旬內,皆展轉消盡。四日出時,四大海水深千由旬,亦皆乾竭。五日出時,四大海水縱廣七千由旬,亦皆竭盡。六日出時,此地厚六萬八千由旬,皆悉烟出,從須彌山乃至三千大千世界,及八大地獄,燒滅無餘,人民命終,六欲諸天亦皆命終,宮殿皆空,一切無常,不得久住。七日出時,大地須彌山漸漸崩壞,百千由旬永無遺餘,山皆洞然,諸寶爆裂,裂焰震動至於梵天,蕩盡惡道。〔中阿含卷二「七日經」〕
; (七日輪出) Một mặt trời cho đến 7 mặt trời lần lượt xuất hiện, đó là tướng báo hiệu kiếp Mạt.Cứ theo Pháp uyển châu lâm, khi 1 mặt trời xuất hiện thì các loại cỏ cây đều héo rụng. Khi 2 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển lớn từ phạm vi 100 do tuần cho đến 700 do tuần, đều tự nhiên khô cạn. Khi 3 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển từ phạm vi 1000 do tuần cho đến 7000 do tuần đều lần lượt cạn hết. Khi 4 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển lớn sâu1000 do tuầncũng đều khô cạn. Khi 5 mặt trời xuất hiện thì nước 4 biển lớn rộng 7000 do tuần cũng đều cạn hết. Khi 6 mặt trời xuất hiện thì mặt đất này dày 68.000 do tuần đều bốc khói, từ núi Tu di cho đến 3000 thế giới Đại thiên, cho đến 8 địa ngục lớn đều bị thiêu đốt sạch, nhân dân chết hết, chư thiên ở 6 tầng trời cõi Dục cũng đều mệnh chung, cung điện đều không. Khi 7 mặt trời xuất hiện thì quả đất và núi Tu di dần dần lở đổ, trong phạm vi hàng nghìn do tuần không còn sót một vật; núi non đều trống rỗng, các vật báu vỡ nát, các tia lửa tung tóe làm rúng động đến cõi Phạm thiên, các ác đạo đều tiêu sạch.
thất nhật tác đàn pháp
93指密教行灌頂或護摩時,於七日七夜中築土壇,壇上畫諸尊曼荼羅之作法。乃壇法之一種。又作七日供養壇法。法事終了,其壇常破毀之。又築壇中,於第三日以前,若起障難,則中止之;若障難起於第四日以後,則修除災法拂之,再行法事。築壇七日,須先擇地、擇時,除地中穢物等,再依陀羅尼集經等密教經軌所載之作法行事。掘地、治地等作法,係依古印度家屋建築之儀式。印度密教行傳法灌頂其他諸尊之修法時,阿闍梨依此作壇法新築曼荼羅壇。〔陀羅尼集經卷四、卷九、大日經疏卷五〕
; (七日作壇法) Cũng gọi Thất nhật cúng dường đàn pháp. Tác pháp đắp đàn đất trong 7 ngày 7 đêm, trên đàn có vẽ Mạn đồ la chư tôn khi cử hành Quán đính hoặc Hộ ma trong Mật giáo. Đây là một trong các loại đàn pháp. Khi pháp sự kết thúc thì đàn này thường bị phá hủy. Trong thời gian làm đàn, trong vòng 3 ngày đầu, nếu xảy ra chướng nạn thì ngưng; từ ngày thứ tư trở đi, nếu có chướng nạn thì tu pháp Trừ tai để diệt, rồi lại tiếp tục làm pháp sự. Trong 7 ngày lập đàn, trước hết phải chọn đất, chọn ngày giờ, loại bỏ các vật ô uế trong đất nơi lập đàn, rồi thực hành tác pháp ghi trong các kinh quĩ của Mật giáo như kinh Đà la ni tập... Các tác pháp như đào đất, sửa đất... là y cứ theo nghi thức xây dựng nhà cửa ở Ấn độ cổ đại. Mật giáo ở Ấn độ, khi thực hành pháp tu của các vị tôn khác để truyền pháp Quán đính, thì vị A xà lê y theo phép làm đàn này để làm đàn Mạn đồ la mới.
thất niệm
1880梵語 musita-smṛtitā 之意譯。又作忘念。乃心所(心之作用)之名。百法之一。為「念」之對稱。指對於所緣境及諸善法不能明白記憶之精神作用。唯識宗將其視為二十隨煩惱中八大隨煩惱之一。關於其體則有三說:(一)為大乘阿毘達磨雜集論卷一所說,以念為體,依此之故而為念之一分。(二)為瑜伽師地論卷五十八所說,以癡之等流為體,依此之故而為癡之一分。(三)併取前述之二種,以念與癡之一分為體。〔成唯識論卷六、顯揚聖教論卷一、大乘五蘊論〕(參閱「隨煩惱」6353)
; Musita-smṛtita (S).
; (失念) Phạm:Musita-smftità. Cũng gọi Vong niệm. Đối lại: Niệm. Tên của tâm sở(tác dụng tâm), 1 trong 100 pháp. Chỉ cho tác dụng tâm không có khả năng ghi nhớ rõ ràng cảnh sở duyên và các thiện pháp. Tông Duy thức coi Thất niệm là 1 trong 8 đại phiền não thuộc 20 phiền não. Về thể tính của Thất niệm thì có 3 thuyết: 1. Theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì Thất niệm lấy Niệm làm thể, do đó, Thất niệm là một phần của Niệm. 2. Theo luận Du già sư địa quyển 58 thì Thất niệm lấy đẳng lưu của Si làm thể, vì thế Thất niệm là một phần của Si. 3. Tổng hợp 2 thuyết nói trên thì Thất niệm lấy một phần của Niệm và Si làm thể.
Thất niệm 失念
[ja] シツネン shitsunen ||| (smṛti-nāśa). 'forgetting.' One of the twenty secondary defilements (隨煩悩) in the doctrine of the Yogācāra school. The mental action of the mind scattering and loss of ability to hold to the object of perception, especially in the case of śamatha meditation. A mistaken or impaired memory. It is considered to be a provisional element rather than a real one. => (s: smṛti-nāśa) Một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Du-già hành tông. Tâm hành tán loạn tâm ý và mất khả năng nhận biết đối tượng nhận thức, đặc biệt trong pháp tu chỉ quán. Sai lầm do kém trí nhớ. Được xem là một yếu tố tạm thời hơn là yếu tố thực.
thất nữ kinh
91請參閱 七女經 全一卷。吳‧支謙譯。又作七女本經。收於大正藏第十四冊。係佛於拘留國分儒達樹園時,因婆羅門之七女貢高憍奢,佛呵之,而說往昔國王七女之因緣。佛說女人所以多墮地獄者,乃因多嫉妒所致,若能誡之,而心意端正,則能生天上。
; (七女經) Cũng gọi Thất nữ bản kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Lúc đức Phật trụ trong vườn cây Phân nho đạt tại nước Câu lưu, có 7 cô gái Bà la môn, tính tình ngạo mạn, kiêu xa, đức Phật quở trách và nói về nhân duyên của 7 cô gái con quốc vương thủa xưa mà thành kinh này. Đức Phật dạy rằng sở dĩ người nữ phần nhiều bị đọa địa ngục là do tính nhiều ghen ghét mà ra, nếu biết ngăn ngừa thì tâm ý trở nên tốt đẹp, nhờ đó mà có thể sinh cõi trời.
thất phan cộng giải
110天台宗釋五重玄義之七法。天台宗立名、體、宗、用、教等五重,以標章、引證、生起、開合、料簡、觀心、會異等七法,分別加以解釋。(一)標章,即標名。(二)引證,引經文為證據。(三)生起,明其次第。(四)開合,分別種種之開合。(五)料簡,設問答而料簡。(六)觀心,實際即觀心。(七)會異,會釋其異點。法華玄義卷一(大三三‧六八二上):「標章令易憶持,起念心故;引證據佛語,起信心故;生起使不雜亂,起定心故;開合、料簡、會異等,起慧心故;觀心即聞即行,起精進心故。五心立,成五根,排五障,成五力,乃至入三脫門。」
; (七番共解) Chỉ cho 7 pháp được sử dụng để giải thích Ngũ trùng huyền nghĩa của tông Thiên thai. Tông Thiên thai lập ra 5 lớp: Danh, Thể, Tông, Dụng và Giáo, rồi dùng 7 cách: Tiêu chương, Dẫn chứng, Sinh khởi, Khai hợp, Liệu giản, Quán tâm và Hội dị để lần lượt giải thích. Đó là: 1. Tiêu chương: Tức nêu danh. 2. Dẫn chứng: Trích dẫn văn kinh để làm chứng cứ. 3. Sinh khởi: Nói rõ thứ tự, lớp lang. 4. Khai hợp: Sự khai hợp phân biệt các loại. 5. Liệu giản:Đưa ra lời hỏi đáp để lựa chọn. 6. Quán tâm: Thực tế chính là quán tâm.7. Hội dị: Hội thích các điểm khác nhau. Pháp hoa huyền nghĩa quyển1(Đại 33, 682 thượng) nói: Tiêu chương giúp cho dễ ghi nhớ, là vì khởi tâm nhớ nghĩ; dẫn chứng cứ lời Phật nói là giúp để khởi tâm tin; sinh khởi khiến không rối loạn là để khởi tâm định; còn khai hợp, liệu giản, hội dị là để khởi tâm tuệ; quán tâm tức nghe rồi làm liền, là để giúp khởi tâm tinh tiến. Năm tâm đã lập thì thành tựu 5 căn, bài trừ 5 chướng thì thành tựu 5 lực, cho đến tiến vào 3 cửa giải thoát.
thất pháp bất khả tị
99謂生、老、病、死、罪、福、因緣等七者不可避。據法苑珠林卷六十九載:(一)生不可避,指依前世善惡之業因,苦樂之生不可避。(二)老不可避,指生者不可避老。(三)病不可避,指生者不可避疾病。(四)死不可避,指生者不可避死。(五)罪不可避,指多造罪業,則惡道之苦果不可避。(六)福不可避,指造善業,則善道之樂果不可避。(七)因緣不可避,指由如是之因,和於如是之緣,而生吉凶、禍福、貧富、壽夭等,係法爾之道理,故不可避。
; (七法不可避) Chỉ cho 7 pháp không thể tránh khỏi, đó là: Sinh, già, bệnh, chết, tội, phúc, nhân duyên. Pháp uyển châu lâm quyển 69 giải thích: 1. Sinh bất khả tị: Nương vào nghiệp nhân thiện ác đời trước mà sinh ra đời này chịu quả báo khổ, vui không thể tránh khỏi. 2. Lão bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi già. 3. Bệnh bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi tật bệnh. 4. Tử bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi chết. 5. Tội bất khả tị: Đã tạo nhiều nghiệp tội thì không thể tránh khỏi quả khổ ác đạo.6. Phúc bất khả tị: Đã tạo nghiệp thiện thì không thể tránh khỏi quả vui thiện đạo.7. Nhân duyên bất khả tị: Do nhân như thế, hòa hợp với duyên như thế mà sinh ra quả lành dữ, họa phúc, nghèo giàu, thọ yểu... là đạo lí tự nhiên, không thể tránh khỏi.
thất pháp tài
The seven riches, or seven ways to become rich in the Law: tín, faith; tiến, zeal; giới, moral restraint; tàm quí, shame; văn, obedient hearing (of the law); abnegation; and định tuệ, wisdom arising from meditation.
thất phân biệt
92唯識家將心識之認知作用分為有相、無相、任運、尋求、伺察、染污、不染污等七種分別。據瑜伽師地論卷一所釋:(一)有相分別,謂於過去所受之義,諸根成熟而善於名言者所起之分別。(二)無相分別,謂隨過去所引者,及嬰兒等,不善於名言者所起之分別。(三)任運分別,謂於現前之境界,隨境之勢力,任運而轉者所起之分別。(四)尋求分別,謂觀察尋求諸法所起之分別。(五)伺察分別,謂於已所尋求、已所觀察者,復加以伺察安立所起之分別。(六)染污分別,謂因顧戀過去,希樂未來,執著現在所起之分別。例如恚分別、害分別,或與煩惱、隨煩惱中任何一法相應所起之分別,皆屬染污分別。(七)不染污分別,例如善、無記等法即屬之。謂出離分別、無恚分別、無害分別,或與信等任何一善法相應所起之分別,或威儀路、工巧處,及各種變化所起之分別。同論卷五謂此七分別皆以尋伺為體。另據大乘阿毘達磨雜集論卷二所說之七分別,前三者與瑜伽師地論所說各異,即:有相分別,謂取過去與現在境界之種種相;無相分別,謂希求未來之境而行;任運分別,謂五識身於自境界任運而轉。其餘之尋求分別、伺察分別、染污分別及不染污分別等四者,皆以計度分別為自性。〔成唯識論了義燈卷五末〕
; (七分別) Nhà Duy thức chia tác dụng nhận biết của tâm thức làm 7 thứ phân biệt là Hữu tướng, Vô tướng, Nhậm vận, Tầm cầu, Tứ sát, Nhiễm ô và Bất nhiễm ô. Luận Du già sư địa quyển 1 giải thích: 1. Hữu tướng phân biệt: Đối với nghĩa đã tiếp nhận ở quá khứ, khi các căn thành thục và thạo về danh ngôn mà khởi lên phân biệt. 2. Vô tướng phân biệt: Người chỉ theo sự dắt dẫn của quá khứ và như trẻ thơ... thông thạo về danh ngôn mà khởi lên phân biệt.3. Nhậm vận phân biệt: Đối với cảnh giới hiện tiền, tùy theo thế lực của cảnh, tự do, tự tại chuyển biến mà khởi lên phân biệt.4. Tầm cầu phân biệt: Xem xét, tìm cầu các pháp mà khởi lên phân biệt. 5. Tứ sát phân biệt: Đối với điều đã tìm cầu, đã quán sát, lại thêm dò xét an lập mà khởi lên phân biệt. 6. Nhiễm ô phân biệt: Do nuối tiếc quá khứ, ước vọng tương lai, chấp trước hiện tại mà khởi lên phân biệt. 7. Bất nhiễm ô phân biệt: Chẳng hạn như các pháp thiện, vô kí... đều thuộc về Bất nhiễm ô phân biệt, là sự phân biệt khởi lên do tương ứng với xuất li phân biệt, vô khuể phân biệt, vô hại phân biệt, hoặc với bất kì một pháp thiện nào như Tín... Luận Du già sư địa quyển 8 cho rằng 7 phân biệt này đều lấy Tầm Tứ làm thể. Còn 7 Phân biệt nói trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2 thì 3 phân biệt đầu đều khác với các phân biệt nói trong luận Du già sư địa; tức Hữu tướng phân biệt là chấp lấy tướng cảnh giới ở quá khứ và hiện tại; Vô tướng phân biệt khởi lên do mong cầu cảnh vị lai; Nhậm vận phân biệt nghĩa là Ngũ thức thân tự tại chuyển biến ở cảnh giới của chính nó. Bốn phân biệt còn lại là Tầm cầu phân biệt, Tứ sát phân biệt, Nhiễm ô phân biệt và Bất nhiễm ô phân biệt đều lấy sự tính toán, phân biệt làm tự tính.
thất phúc thần
113乃日本七尊能賜予財寶之福神。盛行於室町時代末期之民間信仰。此即:(一)大黑天,本非福神,因其性愛三寶,護持五眾,無令耗損,求者稱情,故為福神之一。(二)惠比須,乃自中世西宮之信仰演變成福神。(三)毘沙門天,原為佛教護法神,亦演化為施福之神。(四)辯才天,能令壽命增益,資身具悉圓滿。(五)福祿壽,為南極星之化身,司長壽(或福、祿、壽)之神。(六)壽老人,同為南極星之神格,象徵壽命久長之意。(七)布袋和尚,為我國五代時之禪僧契此(?~916),被稱為彌勒之化身,以福神祀之,概取其樂天之意。其中大黑天、毘沙門天、辯才天三神為佛教之天部;福祿壽與壽老人皆為我國延壽之神,與布袋和尚共為宋代所流行道釋畫之一種。
; (七福神) Bảy vị phúc thần của người Nhật bản thường ban cho tài bảo. Tín ngưỡng này thịnh hành trong dân gian vào cuối thời kì Thất đinh. Bảy vị thần ấy là: 1. Đại hắc thiên: Vốn không phải là Phúc thần, nhưng vì lòng tôn kính Tam bảo, che chở, giữ gìn 5 chúng, không để họ bị hao tổn, cầu gì cũng như ý, nên được liệt làm 1 trong các vị Phúc thần. 2. Huệ tỉ tu: Tín ngưỡng Tây cung từ thời Trung cổ diễn biến thành Phúc thần. 3. Tì sa môn thiên: Vốn là vị thần hộ pháp của Phật giáo, cũng diễn biến thành thần ban phúc. 4. Biện tài thiên: Vị thần làm cho tuổi thọ con ngườităng thêm, giúp cho thân thể con người đầy đủ, viên mãn. 5. Phúc lộc thọ: Hóa thân của sao Nam cực, là thần coi về việc trường thọ(hoặc phúc, lộc, thọ). 6. Thọ lão nhân: Cũng là sao Nam cực được thần cách hóa, tượng trưng cho ý nghĩa sống lâu. 7. Bố đại hòa thượng: Thiền sư Khế thử (?-916) người Trung quốc, sống vào thời Ngũ đại, được xem là hóa thân của Bồ tát Di lặc và được thờ làm vị Phúc thần. Trong 7 vị nói trên thì Đại hắc thiên, Tì sa môn thiên và Biện tài thiên là 3 vị thuộc Thiên bộ của Phật giáo; Phúc lộc thọ và Thọ lão nhân đều là thần Diên thọ của Trung quốc, 2 vị này cùng với Bố đại Hòa thượng đều là những nhân vật trong tranh tiêu biểu cho Đạo giáo và Phật giáo được lưu hành ở đời Tống.
thất phương tiện
93<一>聲聞入見道以前之七位。又稱七方便位、七賢、七賢位、七加行位。分別為:五停心觀、別相念住、總相念住、煖法、頂法、忍法、世第一法。(參閱「七賢」120) <二>天台宗涉於諸教立有二種。(一)依藥草喻品三草二木之意而立者,謂人乘、天乘、聲聞乘、緣覺乘及藏教、通教、別教之菩薩乘。(二)依斷見、思二惑而立者,謂藏教之聲聞、緣覺,通教之聲聞、緣覺、菩薩,與別教、圓教之菩薩。
; (七方便) I. Thất Phương Tiện. Cũng gọi Thất phương tiện vị, Thất hiền, Thất hiền vị, Thất gia hành vị. Chỉ cho 7 giai vị trước khi vào ngôi Kiến đạo của hàng Thanh văn, đó là: Ngũ đình tâm quán, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ, Noãn pháp, Đính pháp, Nhẫn pháp và Thế đệ nhất pháp. II. Thất Phương Tiện. Tông Thiên thai căn cứ vào Tứ giáo mà thành lập 2 loại Thất phương tiện: 1. Y cứ theo ý nghĩa 3 cỏ, 2 cây nói trong phẩm Dược thảo dụ, kinh Pháp hoa mà thành lập các thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa của Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo.2. Y cứ theo ý nghĩa đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc mà thành lập các thừa giáo gồm: Thanh văn, Duyên giác của Tạng giáo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát của Thông giáo và Bồ tát của Biệt giáo, Viên giáo.
thất phương tiện vị
(1) The seven "expedient" or temporary attainments or positions of Hìnayàna, supersided in Mahàyàna by the thất hiền vị or thất gia hạnh vị all preparatory to the thất thánh vị. (2) The seven vehicles i.e. those of ordinary human beings, of devas, of sravakas, of pratyeka-buddhas, and of the three bodhisattvas of the three teachings tạng, thông and biệt.
thất phần hoạch nhất
92為去世之父母親族作追薦回向,若死者生前不信道德,不修善因,多造眾罪,於一切聖事功德利益,七分之中僅得其一。〔灌頂經卷十一、地藏菩薩本願經卷下〕
; (七分獲一) Bảy phần được hưởng một. Nghĩa là truy tiến, hồi hướng phúc lợi cho cha mẹ, thân tộc đời quá khứ, nhưng nếu những người ấy lúc còn sống không tin đạo đức, chẳng tu nhân thiện, gây nhiều tội ác thì chỉ được hưởng một phần trong bảy phần tất cả công đức lợi ích thánh sự.
thất phần toàn đắc
92凡為他人布施供養以追福者,若能精勤護淨及奉獻佛僧,他人可得一分功德,七分功德自受,合為八分功德。其來源不明,疑係受印度人分身體為八部分(梵 aṣṭaṅga,即:胸、頭、視力、語、意、兩足、兩手、兩膝)之說所影響。此外,另有「七分獲一」之說。
; (七分全得) Bảy phần được hưởng trọn vẹn. Nếu bố thí cúng dường để cầu phúc cho người khác mà mình siêng năng gìn giữ sạch sẽ, dâng cúng Phật và tăng thì người khác được hưởng một phần công đức, bảy phần công đức còn lại thì chính mình được hưởng, cộng chung là 8 phần công đức. Nguồn gốc của thuyết này không được rõ, có lẽ đã chịu ảnh hưởng thuyết chia thân thể làm 8 phần (Phạm:Awỉaíga, tức là ngực, đầu, 2 mắt, lời nói, ý nghĩ, 2 chân, 2 tay, 2 đầu gối) của người Ấn độ. Ngoài ra, còn có thuyết Thất phần hoạch nhất.
Thất Phật
(七佛, bảy vị Phật): hay còn gọi là Quá Khứ Thất Phật (過去七佛, bảy vị Phật đời quá khứ). Phật Giáo lấy 6 vị Phật trong thời quá khứ và đức Phật Thích Ca, hình thành Thất Phật; gồm Tỳ Bà Thi Phật (s: Vipaśyin-buddha, p: Vipassin-buddha, 毘婆尸佛), Thi Khí Phật (s: Śikhin-buddha, p: Sikhin-buddha, 尸棄佛), Tỳ Xá Phù Phật (s: Viśvabhū-buddha, p: Vessabhū-buddha, 毘舍浮佛), Câu Lưu Tôn Phật (s: Krakucchanda-buddha, p: Kakusandha-buddha, 拘留孫佛), Câu Na Hàm Mâu Ni Phật (s: Kanakamuni-buddha, p: Konāgamana-buddha, 拘那含牟尼佛), Ca Diếp Phật (s: Kāśyapa-buddha, p: Kassapa-buddha, 迦葉佛), và Thích Ca Mâu Ni Phật (s: Śākyamuni-buddha, p: Sakyamuni-buddha, 釋迦牟尼佛). Như trong Trường A Hàm (長阿含經) quyển 1 có đoạn: “Thất Phật tinh tấn lực, phóng quang diệt ám minh (七佛精進力、放光滅闇冥, bảy Phật sức tinh tấn, phóng quang diệt tối tăm).”
; 七佛; C: qīfó; J: shichibutsu; S: sapta-tathā-gata.|Bảy đức Phật thời quá khứ, gồm đức Phật Thích-ca Mâu-ni (釋迦牟尼) và sáu vị Phật tiền bối: 1. Tì-bà-thi Phật (毘婆尸佛; s: vi-paśyin; p: vipassin), 2. Thi-khí Phật (尸棄佛; s: śikhin; p: sikkhin), 3. Tì-xá-phù Phật (毘舎浮佛; s: viśvabhū; p: vessabhū), 4. Câu-lưu-tôn Phật (拘留孫佛; s: krakuc-chanda; p: kondañña), 5. Câu-na-hàm Mâu-ni Phật (拘那含牟尼佛; s: kanakamuni; p: konāgamana) và 6. Ca-diếp Phật (迦葉佛; s: kāśyapa; p: kassapa).
thất phật
96又稱過去七佛。指釋迦佛及其出世前所出現之佛,共有七位。即:毘婆尸佛、尸棄佛、毘舍浮佛、拘留孫佛、拘那含牟尼佛、迦葉佛與釋迦牟尼佛。據景德傳燈錄卷一載,此過去七佛各舉之得法偈,稱七佛說偈。〔長阿含大本經、增一阿含十不善品〕
; Seven Buddhas Có 7 đức Phật ra đời trước đây kễ cả đức Thích Ca, gồm: - Tỳ bà Thi Phật, đức Phật thứ 998 thuộc Trang nghiêm Kiếp. - Thi Khí Phật, đức Phật thứ 999 thuộc Trang nghiêm Kiếp. - Tỳ xá Phù Phật, đức Phật thứ 1000 thuộc Trang nghiêm Kiếp. - Ca la tôn đại Phật, đức Phật thứ nhất thuộc Hiền Kiếp. - Câu na hàm Mâu ni, (Kim Tịch Phật) đức Phật thứ nhì thuộc Hiền Kiếp. - Ca Diếp Phật, đức Phật thứ ba thuộc Hiền Kiếp. - Thích Ca Mâu ni Phật, đức Phật thứ tư thuộc Hiền Kiếp.
; Sapta Buddha (S). The seven ancient Buddhas: Tì bà thi, Vipasyin; Thi khí, Sikhin; Tì xá phù, Visvabhù; Câu lưu tôn, Krakucchanda; Câu na hàm mâu ni, Kanakamuni; Ca diếp, Kasyapa; Thích ca mâu ni, Sàkyamuni.
; (七佛) Cũng gọi Quá khứ thất Phật. Chỉ cho Phật Thích ca và các đức Phật đã xuất hiện trước khi Ngài ra đời. Gồm có 7 vị, đó là: Phật Tì bà thi, Phật Thi khí, Phật Tì xá phù, Phật Câu lưu tôn, Phật Câu na hàm mâu ni, Phật Ca diếp và Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 thì 7 đức Phật quá khứ này mỗi vị đều có nói kệ đắc pháp, gọi là Thất Phật thuyết kệ. phẩm Thập bất thiện trong Tăng nhất a hàm].
thất phật bát bồ tát
96出自七佛八菩薩神咒經卷一。七佛為維衛佛、式佛、隨葉佛、拘留秦佛、拘那含牟尼佛、迦葉佛與釋迦牟尼佛,八菩薩為文殊師利、虛空藏、觀世音、救脫、跋陀和、大勢至、得大勢、堅勇等八位菩薩。(參閱「七佛八菩薩所說大陀羅尼神咒經」96)
; (七佛八菩薩) Chỉ cho 7 đức Phật và 8 vị Bồ tát. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Thất Phật bát bồ tát thần chú kinh quyển 1. Thất Phật là: Phật Duy vệ, Phật Thức, Phật Tùy diệp, Phật Câu lưu tần, Phật Câu na hàm mâu ni, Phật Ca diếp và Phật Thích ca mâu ni. Bát Bồ tát là: Văn thù sư lợi, Hư không tạng, Quán thế âm, Cứu thoát, Bạt đà hòa, Đại thế chí, Đắc đại thế và Kiên dũng.
thất phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú kinh
96凡四卷。失譯。乃屬於雜部密教之密部經典之一。 又作七佛神咒經、七佛八菩薩大陀羅尼神咒經、七佛十一菩薩陀羅尼經、七佛所說神咒經、廣濟眾生神咒。收於大正藏第二十一冊。本經可視為後世純密教之根源。(參閱「七佛八菩薩」96)
thất phật chân thật luận
Tattva-saptati (S) Tên một bộ luận kinh. Do Bồ tát Thiên Thân soạn.
Thất Phật danh hiệu công đức kinh
七佛名號功德經; C: qīfó mínghào gōngdé jīng; J: shichibutsu myōgō kudoku kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
Thất Phật danh kinh
七佛名經; C: qīfó ming jīng; J: shichibutsu myō kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
thất phật dược sư
97即七尊藥師。又作七躬醫王。此七佛即:善名稱吉祥王如來、寶月智嚴光音自在王如來、金色寶光妙行成就如來、無憂最勝吉祥如來、法海雷音如來、法海勝慧遊戲神通如來、藥師琉璃光如來。彼等住於東方四恆河沙乃至十恆河沙之世界,各於因位發願拔濟眾生之苦惱。然玄奘譯藥師瑠璃光如來本願經中,唯說東方藥師一佛,無出七佛名。對此,自古多有論議,或謂七佛藥師為別尊,或為藥師一佛之異名或分身。〔藥師瑠璃光七佛本願功德經卷上、阿娑縛抄卷四十八〕
; The seven Healing Buddhas.
; (七佛藥師) Cũng gọi Thất cung y vương. Chỉ cho 7 đức Phật Dược sư, đó là: 1. Thiện danh xưng cát tường vương Như lai. 2. Bảo nguyệt trí nghiêm quan âm tự tại vương Như lai. 3. Kim sắc bảo quang diệu hạnh thành tựu Như lai. 4. Vô ưu tối thắng cát tường Như lai. 5. Pháp hải lôi âm Như lai. 6. Pháp hải thắng tuệ du hí thần thông Như lai. 7. Dược sư lưu li quang Như lai. Bảy đức Phật này trụ trong các thế giới ở phươngĐông cách đây bằng số cát của 4 sông Hằng cho đếnbằngsố cát của 10 sông Hằng, mỗi vị khi còn ở địa vị tu nhân đều phát nguyện cứu giúp chúng sinh khổ não. Nhưng trong kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện do ngài Huyền trang dịch, chỉ nói về một đức Phật Dược sư ở phươngĐông chứ không nêu tên 7 vị Phật. Về vấn đề này, từ xưa đã có nhiều nghị luận. Có thuyết cho rằng Thất Phật Dược Sư là 7 vị khác nhau, có thuyết thì cho là tên khác hoặc là phân thân của 1 Phật Dược sư.
thất phật dược sư pháp
97日本台密以七佛藥師為本尊,為息災、增益所修之祕法。又作七佛藥師御修法、七壇御修法。以藥師七佛本願經、藥師本願經為依據經典。據藥師瑠璃光王七佛本願功德經卷下載,若有人有所祈願,應當造此七佛形像,供養香華、懸繒、幡蓋、飲食及伎樂,在佛像前端坐誦咒,於七日中持八戒齋,誦滿一千八遍。此人可為諸如來所護,消諸業障,消災延壽,所求如願。(參閱「七佛藥師 」97)
; (七佛藥師法) Cũng gọi Thất Phật dược sư ngự tu pháp, Thất đàn ngự tu pháp. Chỉ cho pháp bí mật của Thai mật Nhật bản thờ Thất Phật dược sư làm Bản tôn để tu các pháp Tức tai và Tăng ích. Pháp này được thành lập do y cứ vào kinh Dược sư thất Phật bản nguyện và kinh Dược sư bản nguyện. Cứ theo kinh Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đứcquyển hạ, nếu người nào có điều cầunguyện, nên tạo hình tượng 7 đức Phật Dược sư, cúng dường hương hoa, treo cờ phướn, dâng các thức ăn uống và kĩ nhạc,ngồi ngay thẳng trước tượng Phật tụngchú, trong 7 ngày giữ 8 giới quan trai, tụng đủ 1008 biến, thì người ấy được các đức Như lai che chở, nghiệp chướng được diệt trừ, tai nạn qua khỏi, tuổi thọ tăng thêm và mọi điều mong cầu đều được như ý.
Thất Phật kinh
七佛經; C: qīfó jīng; J: shichibutsu kyō;|Kinh, một quyển, Pháp Thiên (法天) dịch, nằm trong bộ A-hàm. Là một trong năm bản dịch của kinh nầy, ghi chép hành trạng của bảy vị Phật thời quá khứ. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết thất Phật kinh (佛説七佛經).
thất phật kinh
97全一卷。宋代法天譯。現收於大正藏第一冊。本經共有五本異譯,內容頗似釋迦傳,為七佛之傳記,載有其氏族姓字等,後尤詳載毘婆尸佛之事蹟。
; (七佛經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này có 5 bản dịch khác nhau, nội dung rất giống truyện Phật Thích ca, là truyện kí về 7 đức Phật, nói về dòng dõi, họ tên... đặc biệt ghi chép sự tích của Phật Tì bà thi rất rõ ràng.
thất phật phạn tán
Xem Thất Phật Tán Bái Già Bà kinh.
thất phật thông giới kệ
96請參閱 稱讚七佛名號功德經 請參閱 稱讚七佛名號功德經 請參閱 七佛八菩薩所說大陀羅尼神咒經 乃指過去七佛通戒之偈頌。迄今仍為佛教徒所傳誦。此偈之義,依增一阿含經卷一序品(大二‧五五一上):「四阿含義,一偈之中盡具足諸佛之教及辟支佛、聲聞之教。所以然者,諸惡莫作,戒具之禁,清白之行;諸善奉行,心意清淨;自淨其意,除邪顛倒;是諸佛教,去愚惑想。」因諸佛出世之初,弟子清淨,不須別制禁戒,但以一偈通為禁戒,故又稱通戒、略戒。又據增一阿含經卷四十四載,過去七佛之偈頌為:(一)毘婆尸佛:忍辱為第一,佛說無為最,不以剃鬚髮,害他為沙門。(二)試結(尸棄)佛:若眼見非邪,慧者護不著,棄捐於眾惡,在世為黠慧。(三)毘舍羅婆(毘舍婆)佛:不害亦不非,奉行於大戒,於食知止足,座床亦復然,執志為專一,是則諸佛教。(四)拘樓孫佛:譬如蜂採花,其色甚香潔,以味惠施他,道士游聚落,不誹謗於人,亦不觀是非,但自觀身行,諦觀正不正。(五)拘那含牟尼佛:執志莫輕戲,當學尊寂道,賢者無愁憂,當滅志所念。(六)迦葉佛:一切惡莫作,當奉行其善,自淨其志意,是則諸佛教。(七)釋迦牟尼佛:護口意清淨,身行亦清淨,淨此三行跡,修行仙人道。後世佛教所通用之通戒偈乃迦葉佛之偈,但文字上略有不同,即增一阿含陘卷一阿難所引「諸惡莫作,諸善奉行,自淨其意,是諸佛教」四句。〔出曜經卷二十五、根本薩婆多部律攝卷十四、有部毘奈耶卷五十、四分律卷三十五〕
; (七佛通戒偈) Chỉ cho các bài kệ tụng về giới luật chung của 7 đức Phật quá khứ, cho đến nay vẫn còn được tín đồ Phật giáo truyền tụng. Về ý nghĩa của các kệ tụng này, phẩm Tựa trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 551 thượng) nói: Nghĩa của Tứ hàm, trong 1 bài kệ đều có đủ lời dạy của chư Phật, lời dạy của Bích chi Phật và Thanh văn. Sở dĩ như thế là vì các điều ác chớ làm thì cấm giới đầy đủ, đạo hạnh thanh bạch; các điều thiện vâng làm thì tâm ý trong sạch; tự tịnh ý mình thì trừtà điên đảo; đó là lời chư Phật dạy, diệt trừ ngu hoặc. Vì chư Phật mới ra đời, các đệ tử đều thanh tịnh, cho nên các Ngài không cần đặt ra giới cấm riêng, mà chỉ dùng 1 bài kệ chung làm giới cấm, cho nên gọi là Thông giới, cũng gọi là Lược giới. Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 thì các bài kệ tụng của 7 đức Phật quá khứ là: 1. Kệ của Phật Tì bà thi: Nhẫn nhục vi đệ nhất, Phật thuyết vô vi tối; Bất dĩ thế tu phát, Hại tha vi sa môn. (Nhịn nhục là bậc nhất, Đạo vô vi (Niết bàn) cao tột; Xuất gia não hại người, Không phải là sa môn). 2. Kệ của Phật Thí kết (Thi khí): Nhược nhãn kiến phi tà, Tuệ giả hộ bất trước; Khí tổn ư chúng ác Tại thế vi hiệt tuệ. (Mắt thấy điều tà bậy, Người trí không dính mắc; Vứt bỏ các việc ác, Là bậc tuệ trong đời). 3. Kệ của Phật Tì xá la bà(Tì xá bà): Bất hại diệc bất phi, Phụng hành ư đại giới; Ư thực tri chỉ túc, Tòa sàng diệc phục nhiên; Chấp chívichuyên nhất, Thị tắc chư Phật giáo. (Không hại, không làm trái, Vâng giữ các đại giới, Ăn uống biết dừng đủ, Giườngchiếu cũng như thế; Phải giữ chí chuyên nhất, Là lời chư Phật dạy). 4. Kệ của Phật Câu lâu tôn: Thí như phong thái hoa, Kì sắc thậm hương khiết; Dĩ vị huệ thí tha, Đạo sĩ du tụ lạc, Bất phỉ báng ư nhân, Diệc bất quán thị phi, Đãn tự quán thân hành Đế quán chính bất chính. (Như ong hút mật hoa, Hương sắc hoa không tổn; Lấy vị ban cho người, Tỉ khưu vào làng xóm, Chớ nên dèm chê người, Không bàn chuyện phải quấy, Chỉ xét hành vi mình Xem chính hay bất chính). 5. Kệ của Phật Câu na hàm mâu ni: Chấp chí mạc khinh hí, Đương học tôn tịch đạo; Hiền giả vô sầu ưu, Đương diệt chí sở niệm. (Giữ tâm chớ bàn suông, Nên học đạo vắng lặng; Người trí không buồn sầu, Diệt trừ mọi tà niệm). 6. Kệ của Phật Ca diếp: Nhất thiết ác mạc tác, Đương phụng hành kì thiện; Tự tịnh kì chí ý, Thị tắc chư Phật giáo. (Phải tránh mọi việc ác, Vâng làm các điều lành; Giữ tâm ý trong sạch, Là lời chư Phật dạy). 7. Kệ của Phật Thích ca Mâu ni: Hộ khẩu ý thanh tịnh, Thân hành diệc thanh tịnh; Tịnh thử tam hành tích, Tu hành tiên nhân đạo. (Giữ miệng, ý trong sạch, Thân hành cũng trong sạch, Ba nghiệp đều trong sạch, Là tu đạo Như lai). Bài kệ Thông giới mà Phật giáo đời sau thường dùng là bài kệ của Phật Ca diếp, nhưng về mặt văn từ có hơi khác nhau, tức như 4 câu trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 do tôn giả A nan dẫn: Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành; Tự tịnh kì ý, Thị chư Phật giáo.
thất phật tán bái già bà kinh
Sapta-jinastava (S) Thất Phật Phạn tán, Thất Thắng Giả tán Tên một bộ kinh.
thất phật tán bái già đà
98梵名 Sapta-jīna-stava。全一卷。宋代法天譯。又作七佛梵讚、七勝者讚。收於大正藏第三十二冊。係對過去七佛之梵讚。由於本書全係漢字音譯梵語之讚唄,並未附加意譯,故自古不解其義。後經日本袯亮三郎博士將之還原為梵語,再附以日譯,始曉其意。
; (七佛贊唄伽陀) Phạm: Sapta-jina-stava. Cũng gọi Thất Phật phạm tán, Thất thắng giả tán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại tạng tập 32. Nội dung sách này gồm các bài kệ tụng bằng tiếng Phạm tán thán công đức của 7 đức Phật quá khứ. Vì sách này toàn là các bài tụng tán chữ Hán phiên âm tiếng Phạm chứ không có dịch ý, cho nên từ xưa không ai hiểu được nghĩa. Sau này nhờ có Tiến sĩ Thần lượng Tam lang người Nhật khôi phục lại nguyên bản tiếng Phạm và dịch ra tiếng Nhật thì người ta mới hiểu nghĩa.
Thất Phật Đà la ni thần chú kinh
(七佛陀羅尼神咒 經) Cũng gọi Thất Phật thần chú kinh, Thất Phật bát bồ tát đại đà la ni thần chú kinh, Thất Phật thập nhất bồ tát đà la ni kinh, Thất Phật sở thuyết thần chú kinh, Quảng tế chúng sinh thần chú. Kinh, 4 quyển (mất tên người dịch), 1 trong những kinh điển Mật bộ thuộc Mật giáo tạp bộ, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này được xem như nguồn gốc của Mật giáo thuần túy ở đời sau.
thất quan âm
125為教化利益眾生,觀世音菩薩變現七種之身。即:千手觀音、馬頭觀音、十一面觀音、聖觀音、如意輪觀音、准胝觀音、不空羂索觀音。
; (七觀音) Vì mục đích giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh, nênbồ tát Quán thế âm đã biến hóa ra 7 loại thân, đó là: Thiên thủ Quán âm, Mã đầu Quán âm, Thập nhất diện Quán âm, Thánh Quán âm, Như ý luân Quán âm, Chuẩn đề Quán âm và Bất không quyên sách Quán âm.
Thất Sanh Tự
(室生寺, Murō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thất Sanh Tự (室生寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiệu là Thất Sanh Sơn Tất Địa Viện (室生山悉地院), hiện tọa lạc tại Murō-mura (室生村), Uda-gun (宇陀郡), Nara-ken (奈良縣). Năm 681 (niên hiệu Thiên Võ [天武] thứ 10), thể theo ý nguyện của Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō), tương truyền Dịch Tiểu Giác (役小角, En-no-Ozunu) sáng lập ra chùa này. Trong khoảng thời gian niên hiệu Bảo Quy (寳龜, 770-780), Hiền Cảnh (賢璟, Kenkyō, 705-793) của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) quản lý chùa và đệ tử của ông là Tu Viên (修圓, Shūen, 771-835) kiến lập các ngôi đường tháp vào khoảng thời gian niên hiệu Thiên Trường (天長, 824-834). Vào năm 824 (niên hiệu Thiên Trường thứ 1), Không Hải (空海, Kūkai) đến chùa này, dâng cúng bảo châu Ma Ni và biến nơi đây thành đạo tràng của Chơn Ngôn Mật Giáo. Sao đó, Kiên Tuệ (堅慧, Kene) đến trú trì, làm cho chùa trở nên hưng thạnh, và chùa đã trãi qua một thời gian khá dài phụ thuộc vào sự quản lý của Hưng Phước Tự. Dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), các vị Luật tăng của Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji) cũng như Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) đã từng đến trú trì ở đây. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), vào năm 1694 (niên hiệu Nguyên Lộc [元祿] thứ 7), Hộ Trì Viện Long Quang (隆光, Ryūkō, 1649-1724) đến làm trú trì, cho nên chùa trở thành đạo tràng của Phái Phong Sơn (豐山) thuộc Chơn Ngôn Tông, và nhờ sự hiến cúng tịnh tài của Quế Xương Viện (桂昌院, mẹ của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát [德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi]), các đường vũ của chùa được tu sửa lại hoàn chỉnh. Vào thời Cận Đại, Phái Phong Sơn tách riêng ra khỏi chùa và nơi đây trở thành ngôi chùa trung tâm của Phái Thất Sanh Tự. Khuôn viên chùa rất u nhã, người nữ bị cấm không được đến tham bái. Chùa chưa từng bị hỏa tai hay binh hỏa, cho nên các ngôi đường tháp vẫn còn giữ lại nét ngày xưa. Kim Đường (金堂) là kiến trúc được dựng vào đầu thời Bình An (平安, Heian), bên trong ở giữa thờ tượng đứng Thích Ca Như Lai, bên phải nhìn vào có tượng Dược Sư Như Lai và Địa Tạng Bồ Tát, bên trái có tượng Văn Thù Bồ Tát Và Thập Nhất Diện Quan Âm; tất cả đều những kiệt tác đầu thời Bình An. Ngoài ra, còn có tượng Thập Nhị Thần Tướng, thuộc thời đại Liêm Thương. Ngũ Trùng Tháp được kiến lập từ khoảng cuối thời đại Nại Lương (奈良, Nara) cho đến đầu thời Bình An. Chánh Điện là Quán Đảnh Đường (灌頂堂), tôn trí tượng Như Ý Luân Quan Âm (cuối thời Bình An). Ngự Ảnh Đường (御影堂) là Đại Sư Đường (大師堂), được kiến tạo dưới thời Liêm Thương. Bên cạnh đó, còn có Di Lặc Đường (彌勒堂), Hộ Ma Đường (護摩堂), Nhà Kho, v.v. Bảo vật của chùa có các tượng Phật trong Kim Đường, tượng ngồi Thích Ca Như Lai (đầu thời Bình An), tượng đứng Di Lặc Bồ Tát (thời đại Nại Lương), những pháp cụ Mật Giáo, v.v.
Thất sinh
七生; C: qīshēng; J: shichishō;|1. Bảy đời, tái sinh vào trong thế gian bảy đời; 2. Là số lần mà một vị Dự lưu (預流) sẽ phải tái sinh trong cõi luân hồi.
thất sinh
94即七次受生於人天之間,乃「極七返有」思想之轉訛。(參閱「極七返有」5477)
; (七生) Chỉ cho 7 lần thụ sinh ở cõi người, cõi trời, là do sự chuyển đồi sai lầm tư tưởng Cực thất phản hữu mà ra.
thất sử
The seven messengers, agents, or klesas: dục ái, desire; sân nhuế, anger or hate; hữu ái, attachment; mạn, pride, or arrogance; vô minh, ignorance, or unenlightenment; kiến, false views; nghi, doubt.
thất sự tùy thân
The seven appartenances of a monk: the three garments, bowl, censer, duster (or dry brush), stool (nisidana), paper, and material for washing,
thất tai nạn
The seven calamities in the Nhân Vương Kinh Thụ trì phẩm, during which that sùtra should be recited: (1) Mặt trời mặt trăng lỗi độ, sun and moon losing their order; (2) Các vì sao lỗi độ, constellations irregular; (3) Lửa, fire; (4) Nước, water; (5) Gió dữ, wind storms; (6) Khí dương quá thịnh, drought; (7) Giặc dữ, brigands. Another set is: pestilence, invasion, rebellion, unlucky stars, eclipses, too early monsoon, too late monsoon.
thất thiên
119巴利語 satta āpattikkhandhā。又稱七聚。即七種罪聚。戒律之分科,有波羅夷、僧殘、偷蘭遮、波逸提、提舍尼、突吉羅、惡說等。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷中一〕(參閱「七聚」119、「篇聚」6119)
; (七篇) Pàli:Satta àpattikhandhà. Cũng gọi Thất tụ. Chỉ cho 7 nhóm tội. Giới luật được chia làm 7 khoa là Ba la di, Tăng tàn, Thâu lan già, Ba dật đề,Đề xá ni, Đột cát la vàÁc thuyết. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1]. (xt. Thất Tụ). I. Thất Thiện. Gọi đủ: Thất xứ thiện. II. Thất Thiện. Các kinh điển Đại, Tiểu thừa do Phật nói có 7 thiện, gọi là Thất thiện. Về thất thiện này, các kinh luận Đại, Tiểu thừa giải thích cóhơikhác nhau. A. Theo phẩm Tam thiện trong luận Thành thực thì Thất thiện là: 1. Thời thiện: Giáo pháp được nói trong 3 thời sơ, trung, hậu của 1 bộ kinh đều rất sâu xa. 2. Nghĩa thiện: Nghĩa của Phật pháp rất có lợi ích, là đạo xuất thế có lợi ích đời này, đời sau. 3. Ngữ thiện: Tùy theo phương ngôn, tục ngữ của mỗi nơi mà chỉ bày chính nghĩa. 4. Độc pháp: Chỉ nói vì Niết bàn vô dư.5. Cụ túc: Các pháp viên mãn, không đợi các kinh khác mới thành. 6. Thanh tịnh điều nhu: Lời nói thanh tịnh nên gọi là thanh tịnh, nghĩa thanh tịnh nên gọi là điều nhu. 7. Phạm hạnh: Đạo này có năng lực đưa đến Niết bàn. B. Theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa và Pháp hoa văn cú quyển 3giải thích thì Thất thiện(cũng gọi Đốn giáo thất thiện, Đại thừa thất thiện) là: 1. Thời tiết thiện: Ba phầnTựa, Chính tông và Lưu thông của Đốn giáo đều thiện. 2. Nghĩa thiện: Trí tuệ của Nhị thừa không thể lường biết lí liễu nghĩa 3. Ngữ thiện: Dùng 8 âm(rất hay, dịu dàng, hòa nhã, trịnh trọng, mãnh mẽ, chân chính, sâu xa, vô cùng)đểtrình bày, hội lí nói thẳng, làm đẹp lòng Bồ tát. 4. Độc nhất thiện: Thuần nhất, không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Thuyết minh pháp mãn tự trong 3 cõi, ngoài 3 cõi. 6. Điều nhu thiện: Không có dấu vết thiên lệch. 7. Vô duyên từ thiện: Tức hạnh vô duyên đại từ thanh tịnh. Nghĩa thất thiện này tuy chung cho cả kinh điển Đại, Tiểu thừa, nhưng pháp thể thì tùy theo kinh luận mà có khác, như kinh Tiểu thừa giải thích Độc nhất là Niết bàn vô dư, kinh Pháp hoa thì giải thích Độc nhất là pháp Viên đốn Nhất thừa. C. Phẩm Danh tự công đức trong kinh Niết bàn(bản Bắc) cũng có nói về Thất thiện như sau (Đại 21, 385 thượng): Thượng ngữ cũng thiện, Trung ngữ cũng thiện, Hạ ngữ cũng thiện, nghĩa vị sâu xa của văn tự cũng thiện, phạm hạnh thanh tịnh thuần nhất đầy đủ, tạng báu kim cương tròn trịa không thiếu.
thất thiện
108<一>七處善之略稱。(參閱「七處善」106) <二>佛所說大小乘經典具有七善。此大小乘經論之解略異。(一)據成實論三善品,七善即:(1)時善,一部初、中、後三時之所說皆甚深。(2)義善,佛法之義,深有利益,可得今世、後世出世之道利。(3)語善,隨方俗之語而能示正義。(4)獨法,僅為無餘而說。(5)具足,指諸法圓滿,不待餘經而成。(6)清淨調柔,語清淨故謂清淨,義清淨故謂調柔。(7)梵行,此道能至涅槃之意。(二)依法華經序品所載,法華文句卷三釋之。又稱頓教七善、大乘七善。即:(1)時節善,頓教之序、正、流三分皆善。(2)義善,了義之理以二乘之智慧不能測知。(3)語善,以八音(極好、柔軟、和適、尊慧、不女、不誤、深遠、不竭)吐露,會理直說,悅樂菩薩之心。(4)獨一善,純一不共二乘。(5)圓滿善,明界內、界外滿字之法。(6)調柔善,無二邊之瑕穢。(7)無緣慈善,即無緣大慈清淨之行。此七善之義雖通大小乘經典,其法體則隨經論而有別,如小乘經解獨一為無餘涅槃,法華經解為圓頓一乘法。(三)北本涅槃經名字功德品亦說有七善,即(大二一‧三八五上):「上語亦善,中語亦善,下語亦善,義味深邃其文亦善,純備具足清淨梵行,金剛寶藏滿足無缺。」
; The seven excellences claimed for the Buddha's teaching: good in its thời timing or seasonableness, nghĩa meaning, ngữ expression, độc pháp uniqueness, cụ túc completeness, thanh tịnh điều nhu pure adaptability, and phạm hạnh its noble objective, nirvàna.
thất thiện luật nghi
109「七不善律儀」之對稱。略稱七律儀。即不殺生、不偷盜、不邪淫、不妄語、不兩舌、不惡口、不綺語等七種戒律。前三律乃離惡之身業律儀,餘為離惡之口業律儀,加以意業之不貪、不瞋、不邪見而稱十善戒。十地經論卷四曾就此論其因離、果行離、對治離三者。以不殺生而言,因離者,乃離殺心之因;果行離者,離殺生之行;對治離者,以慈悲心及安穩心對治殺心殺業而予以遠離。餘者準此。七者合為唯一善律儀,開之或成身、口二業之七律儀。若各由上、中、下三品之心加以分之,則成二十一種;配以無貪、無瞋、無癡三善根,則成六十三種。〔成實論卷八、大乘義章卷十二〕
; (七善律儀) Đối lại : Thất bất hiện luật nghi. Gọi tắt: Thất luật nghi. Chỉ cho 7 giới luật: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nóihai lưỡi, không nói ác và không nói thêu dệt. Ba điều trước là luật nghi xa lìa tội ác của nghiệp thân, 4 điều còn lại là luật nghi xa lìa tội lỗi của nghiệp khẩu; thêm 3 điều không tham, không sân, không tà kiến của nghiệp ý nữa thì gọi là Thập thiện giới. Thập địa kinh luận quyển 4, đã y cứ vào các luật nghi này mà nói về 3 thứ Nhân li, Quả hành li, và Đối trị li. Nói về giới không giết hại thì Nhân li là nhân xa lìa tâm giết hại; Quả hành li là xa lìa hành vi giết hại; Đối trị li là dùng tâm từ bi và tâm an ổn đối trị tâm giết hại, nghiệp giết hại khiến xa lìa 2 việc này. Đối với các luật nghi còn lại cứ suy đây thì rõ. Bảy luật nghi này nếu hợp lại thì thành một thiện luật nghi duy nhất, nếu mở rộng ra thì thành 7 luật nghi của 2 nghiệp thân và khẩu. Nếu mỗi luật nghi được chia theo 3 phẩm tâm thượng, trung, hạ thì thành 21 thứ; đem phối hợp với 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si thì thành 63 thiện luật nghi.
thất thiện sĩ thú
108不還果之聖者,斷盡欲界煩惱,故無惡業雜行,有生般、中般、上流般等三種涅槃。生般又分生般、有行般、無行般三種,中般又分速般、非速般、經久般三種,此六者與上流般合之,而稱七善士趣。趣者,行之義,以行善且住於上地而無還來,故稱善士趣。據大毘婆沙論卷一七五之說,上流般之所以不別立者,以各受多生,其行易知,故不分之;生、中二般,各為一生中之差別,行相難知,故分之。然另有別立上流般為全超般、半超般、遍沒般等三種,合中般、生般、有行般、無行般等四種,稱為七善士趣者。〔大毘婆沙論卷六十九、卷一七四、俱舍論卷二十四〕
; (七善士趣) Chỉ cho 7 nơi mà bậc Thánh Bất hoàn (thiện sĩ) hướng tới. Bậc Thánh Bất hoàn đã đoạn trừ hết phiền não cõi Dục, cho nên không còn ác nghiệp tạp hành và chứng Niết bàn. Có 3 thứ Niết bàn là Sinh ban, Trung ban và Thượng lưu ban. Sinh ban lại được chia làm 3 loại là Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban; Trung ban cũng được chia làm 3 loại là Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban, 6 loại này hợp chung với Thượng lưu ban, gọi là Thất thiện sĩ thú. Thú nghĩa là hành, vì hành thiện và trụ ở cõi trên, không còn trở lại cõi Dục, nên gọi là Thiện sĩ thú. Theo thuyết của luận Đại tì bà sa quyển 175 thì sở dĩ Thượng lưu ban không lập riêng vì phải thụ sinh nhiều đời, hành tướng của loại này dễ biết, cho nên không chia ra; còn Sinh ban và Trung ban mỗi loại đều là sự sai biệt trong một đời, hành tướng khó biết, cho nên cần chia ra. Tuy nhiên, cũng có thuyết lập riêng Thượng lưu ban làm 3 loại là Toàn siêu ban, Bán siêu ban và Biến một ban, gộp chung với 4 loại: Trung ban, Sinh ban, Hữu hành và Vô hành ban, gọi là Thất thiện sĩ thú.
thất thánh
111乃指見道、修道、無學道之七種聖者。又作七聖人、七聖者、七士夫、七丈夫。諸論所載各異,據俱舍論卷二十五載:(一)隨信行,稟性多信,得遇如來或佛弟子宣說正法,教授教誡,依此修加行,而入見道。(二)隨法行,稟性多思惟,自依正法修加行,以入見道。(三)信解,隨信行之人入修道位(十六心)。(四)見至,隨法行之人入修道位。(五)身證,雖未以慧盡諸漏,身已證八解脫。(六)慧解脫,身雖未證八解脫,以慧永盡諸漏。(七)俱解脫,身已證八解脫,亦以慧永盡諸漏;即於煩惱障、解脫障俱得解脫。〔中阿含卷五十一阿濕貝經、集異門足論卷十六、瑜伽師地論卷十四〕
; (七聖) Cũng gọi Thất thánh nhân, Thất thánh giả, Thất sĩ phu, Thất trượng phu. Chỉ cho 7 bậc Thánh thuộc các giai vị Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo. Các luận nói về Thất thánh đều khác nhau. Cứ theo luận Câu xá quyển 25 thì Thất thánh là: 1. Tùy tín hành: Bẩm tính nhiều đức tin, được gặp Như lai hoặc đệ tử Phật giảng nói chính pháp, chỉ bảo răn dạy, theo đó mà tu gia hạnh, được vào Kiến đạo. 2. Tùy pháp hành:Bẩm tính nhiều tư duy, tự mình nương vào chính pháp mà tu gia hạnh để vào Kiến đạo. 3. Tín giải: Bậc thánh Tùy tín hành vào giai vị Tu đạo (16 tâm). 4. Kiến chí: Bậc thánh Tùy pháp hành vào giai vị Tu đạo. 5. Thân chứng: Tuy chưa dùng trí tuệ để trừ sạch các lậu hoặc, nhưng thân đã chứng 8 giải thoát. 6. Tuệ giải thoát: Thân tuy chưa chứng 8 giải thoát, nhưng đã vận dụng trí tuệ dứt hẳn các lậu hoặc. 7. Câu giải thoát: Thân đã chứng 8 giải thoát, đồng thời cũng dùng tuệ đoạn trừ hẳn các lậu; tức giải thoát được cả phiền não chướng và sở tri chướng.
Thất thánh giác
xem Bảy giác chi.
thất thánh tài
111又作七財、七德財、七法財。謂成就佛道之七種聖法。即信、戒、慙、愧、聞、施、慧等七者。以其所持之法能資助成佛,故稱為財。(一)信財,信受正法。(二)戒財,持戒律。(三)慙財,自慙而不造諸惡。(四)愧財,於不善法心生羞愧。(五)聞財,能聞正教。(六)施財,捨離一切無染著。(七)定慧財,攝心不散,照了諸法。〔長阿含卷九之十上經、大寶積經卷四十二、般泥洹經卷上、維摩經卷中佛道品〕
; Seven riches Gồm: Lòng tin (faith), giới hạnh (discipline), sự nghe pháp (listening to Dharma), biết xấu hổ (shame), lòng nhiệt thành (zeal and devotion), xả bỏ (abnegation), trí huệ (meditation) Bảy món báu tinh thần, gồm: - tín: đức tin, lòng chánh tín - giới: giới hạnh trong sạch - tàm: lòng hỗ thẹn - quí: lòng quá thẹn - đa văn: nghe nhiều, biết rộng - trí huệ - xả ly: xả bỏ, rời các sự trỉu mến, ràng buộc.
; Saptadhana (S).Tín, faith; Giới, observance of the commandments; Tàm, shame (for self); Quí, shame (for others); Đa văn, hearing instruction; Trí tuệ, wisdom; Xả li, renunciation.
; (七聖財) Cũng gọi Thất tài, Thất đức tài, Thất pháp tài. Chỉ cho 7 Thánh pháp để thành tựu Phật đạo. Đó là Tín, Giới, Tàm, Quí, Văn, Thí và Tuệ. Vì 7 pháp được gìn giữ này có công năng trợ giúp cho sự nghiệp thành Phật nên gọi là Tài(của cải). 1. Tín tài: Tin nhận chính pháp. 2. Giới tài: Giữ gìn giới luật. 3. Tàm tài: Tự hổ thẹn không dám làm các việc xấu ác. 4. Quí tài: Tâm sinh hổ thẹn khi làm điều bất thiện. 5. Văn tài: Có khả năng nghe chính giáo.6. Thí tài: Lìa bỏ tất cả không đắm trước. 7. Định tuệ tài: Thu nhiếp tâm không tán loạn, chiếu soi rõ các pháp.
thất tháp tự chí
110凡八卷。民國陳寥士撰。收在中國佛寺史志彙刊第一輯。 七塔寺位於浙江鄞縣甬江之東、南海之北,與阿育王、天童並峙,號四明名藍。寺始建於唐大中十二年(858),迄今已有千餘載。明洪武年間,因普陀山前寺懸於海邊,乃徙建於本寺餘地,改稱補陀寺,故當地尚有本寺即「南海普陀」之說,世因稱曰「小補陀」。清康熙間重加修葺,建七浮圖,「七塔寺」名始於此。民國以來,傳戒講經,設藏經樓,立佛學院,大振臨濟宗風。寺志草創,綱目有八:圖記、金石、沿革、建置、僧譜、法要、產業、藝文。
thất thú
120謂七種所往。即:地獄趣(梵 narakagati)、餓鬼趣(梵 preta)、畜生趣(梵 tiryagyoni)、人趣(梵 manusya)、神仙趣(梵 rṣi)、天趣(梵 deva)、阿修羅趣(梵 asura)等。〔楞嚴經卷九〕
; (七趣) Chỉ cho 7 nơi mà chúng sinh tùy theo nghiệp nhân sẽ sinh tới. Đó là: 1. Địa ngục thú (Phạm: Narakagati). 2. Ngã quỉ thú (Phạm:Preta). 3. Súc sinh thú (Phạm: Tiryagyoni). 4. Nhân thú (Phạm: Manusya). 5. Thần tiên thú (Phạm:Rwi). 6. Thiên Thú (Phạm: Deva). 7. A tu la thú (Phạm:Asura).
thất thú ma la ngư
3773室獸摩羅,梵語 śiśumāra。學名 Delphinus gangeticus。又作失收摩羅魚、失守摩羅魚。意譯作殺子魚、鱷魚。產於印度恆河的海豚或河豬之一種。據玄應音義卷二十四載,其性猛惡,其形如象,長二丈餘,有四足,齒甚利,禽鹿入水,齧腰即斷。俱舍論光記卷二(大四一‧三四下):「傍生類也,形如壁裾脍,小者二丈,大者乃至百尺。」經論中常有猿猴智欺此魚之本生故事。〔本行集經卷三十一鱷魚品、生經卷一鱉獼猴經、善見律毘婆沙卷九、俱舍論神泰疏卷二〕
; (室獸摩羅魚) Thất thú ma la, Phạm: Zizumara. Tên khoa học: Delphilnus gangeticus. Cũng gọi Thất thu ma la ngư, Thất thủ ma la ngư. Hán dịch: Sát tử ngư, Ngạc ngư. Một trong các loại cá sấu sống ở biển hoặc ở sông Hằng, Ấn độ. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 thì tính của loài cá sấu này rất hung dữ, thân hình giống như voi, dài hơn 2 trượng, có 4 chân, răng rất sắc, hễ có con cầm thú nào sa xuống sông thì bị nó cắn đứt ngang lưng.Câu xá luận quang kí quyển 2 (Đại 41, 34 hạ) nói: Cá này thuộc loại bàng sinh, nhỏ thì dài 2 trượng, lớn thì cả trăm thước. Trong kinh luận thường có sự tích bản sinh con khỉ dùng trí lừa loài cá này.
thất thường trụ quả
104就證得佛位,得不生不滅而常住之果所立之七種名稱,即:(一)菩提,謂知覺,亦即智果。(二)涅槃,謂寂滅,亦即斷果。(三)真如,謂離偽妄而無遷改。(四)佛性,謂照察不變。(五)菴摩羅識,菴摩羅譯為無垢,乃離障之所顯,即為白淨無垢識。(六)空如來藏,與妄染不相應,含藏無量功德。(七)大圓鏡智,能現身土,離倒圓成,周鑒萬有。此等常住之果,名稱雖七,其體為一,清淨圓滿,堅固凝然,如金剛常住而不壞。〔首楞嚴經卷四、楞伽經卷四、首楞嚴經義海卷十四〕
; (七常住果) Chỉ cho 7 tên gọi được lập ra dựa theo sự chứng đắc quả vị Phật, là quả thường trụ bất sinh bất diệt. Đó là: 1. Bồ đề: Nghĩa là tri giác, cũng tức là quả Trí. 2. Niết bàn: Nghĩa là vắng lặng, cũng tức là quảĐoạn. 3. Chân như: Nghĩa là lìahư vọng và không đổi dời. 4. Phật tính: Nghĩa là chiếu soi không biến đổi. 5. Am ma la thức: A ma la, Hán dịch làvô cấu(không cấu bẩn), là thức được hiển lộ khi lìa chướng, tức là Bạch tịnh vô cấu thức.6. Không Như lai tạng: Không tương ứng với vọng nhiễm, hàm chứa vô lượng công đức. 7. Đại viên kính trí: Có năng lực hiển hiện sắc thân và cõi nước, lìa các điên đảo, thành tựu viên mãn, soi sáng khắp muôn vật.Những quả thường trụ này tuy có 7 tên gọi nhưng thể thì chỉ là một, trong sáng tròn đầy, cứng chắc bất động, như kim cương thường trụ không hoại diệt
thất thất
The period of forty nine days after death, when masses are said every seventh day till the seventh seventh day.
thất thất trai
87人死後四十九日間,親屬每七日為其營齋作法;或指第七次之追薦日,稱為七七齋。又作七七忌、累七齋、七七日、齋七日。蓋人命終後至受報間稱為中有,中有之壽命但極於七日而死;死而復生,未得生緣,輾轉而至七七日,自此以後定得生緣,方受報,此間親屬為亡者修法追福,可轉劣為勝。〔藥師如來本願經、地藏菩薩本願經卷上、梵網經卷下、瑜伽師地論卷一〕(參閱「忌日」2885)
; (七七齋) Cũng gọi Thất thất kị, Lũy thất trai, Thất thất nhật, Trai thất nhật. Trai nghi được thiết cúng vào ngàythứ 49 sau khi người chết. Trong khoảng 49 ngày sau khi người qua đời, thân thuộc vì họ cứ 7 ngày cúng trai một lần, hoặc chỉ cho ngày truytiến lần thứ 7, gọi là Thất thất trai. Khoảng thời gian từ sau khi chết đến khi chịu báo gọi là Trung hữu(Trung ấm), tuổi thọ của Trung hữu chỉ được 7 ngày là chết; chết rồi sống lại, nếu chưa được duyên sinh thì cứ chết đi sống lại như thế cho đến tuần 7 ngày thứ 7 (49 ngày), từ đây về sau nhất định được duyên sinh mới thụ báo. Trong thời gian này, thân nhân vì người quá cố tu pháp truy phúc, có thể chuyển được nghiệp xấu thành tốt.
thất thập
Saptati (S). Seventy.
thất thập chân thật luận
91梵名 Tattva-saptati。天親菩薩造。係為破斥數論(僧佉)派之金七十論而作。今已失佚。婆藪槃豆法師傳(大五○‧一九○上):「外道身已成石,天親彌復憤懣,即造七十真實論,破外道所造僧佉論,首尾瓦解,無一句得立。」
; (七十真實論) Phạm:Tattva-saptati. Luận, do Bồ tát Thiên thân soạn. Tác phẩm này được soạn ra với mục đích bác bỏ luận Kim thấtthập của phái Số luận (Tăng khư), hiện nay đã thất truyền. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện (Đại 50, 190 thượng)nói: Ngoại đạo thân đã hóa đá, ngài Thiên thân lại càng buồn bã, bèn soạn luận Thất thập chân thực để bác bỏ luận Tăng khư do ngoại đạo soạn, từ đầu đến cuối đều bị phá, không câu nào đứng vững được.
thất thập không tính luận
88龍樹造。為「十二門論」(鳩摩羅什譯)觀因緣門第一所引用。本論論述諸法無自性,倡性空中道之思想。其主旨與論證方法,大體與中論相近。全書計有七十三首偈頌。第一頌總論,為根本命題部分,即宗要。自第二頌至第七十一頌,詳述第一頌內容,為本論之中心。其中,第二頌至第六十六頌,由世俗之觀點,敘述存在之生滅變化;而自六十七頌至七十一頌,即由勝義諦之立場,敘述不變化之境界。後二頌乃「勸信得益」分,為本書之結論。故書名「七十」即指第二頌至七十一頌。本論僅有藏譯本,缺梵本、漢譯本。〔龍樹七十空性論之研究(楊白衣,佛光學報第四期)〕
; ŚŪnyatāsapati (S), ŚŪnyatāsapativṛtti (S) Tên một bộ luận kinh.
; (七十空性論) Luận, dobồ tát Long thụ soạn, được dẫn dụng trong Quán nhân duyên môn của luận Thập nhị môn (do ngài Cưu ma la thập dịch). Nội dung luận này nói về các pháp không có tự tính, đề xướng tư tưởng Trung đạo tính không. Ý chỉ chủ yếu và phương pháp luận chứng của luận này đại thể cũng gần với Trung luận. Toàn sách có 73 bài kệ tụng. Bàitụngthứ nhất là Tổng luận, tức phần tông yếu. Từ bài tụng thứ 2 đến bài tụng 71 trình bày nội dung của bài tụng Tổng luận thứ nhất, là phần trung tâm của luận này. Trong đó, từ bài tụng thứ 2 đến bài tụng thứ 66, đứng trên quan điểm thế tục, nói về tính sinh diệt biến hóa của sự tồn tại; còn từ bài tụng thứ 67 đến 71 thì đứng trên lập trường thắng nghĩa đế, trình bày cảnh giới không sinh diệt, biến hóa. Hai bài tụng cuối là phần Khuyến tín đắc ích(khuyên tin theo được lợi ích) là phần kết luận của tác phẩm này. Cho nên tên sách Thất thập là chỉ cho bài tụng thứ 2 đến bài 71. Luận này chỉ có bản Tạng dịch chứ không có bản Hán dịch và nguyên bản tiếng Phạm cũng không còn.
thất thập ngũ
Pancasaptati (S). Seventy-five.
thất thập ngũ pháp
88又作小乘七十五法。小乘俱舍宗於一切法概括為七十五種,攝為五類。即:(一)色法十一種:(1)眼根(梵 cakṣur-indriya),(2)耳根(梵 śrotrendriya),(3)鼻根(梵 ghrāṇendriya),(4)舌根(梵 jihvendriya),(5)根(梵 kāyendriya),(6)色境(梵 rūpa-viṣaya),(7)聲境(梵 śabda-viṣaya),(8)香境(梵 gandha-viṣaya),(9)味境(梵 rasa-viṣaya),(10)觸境(梵 spraṣṭavya-viṣaya),(11)無表色(梵 avijñapti-rūpa)。其中前五者能發識取境,故稱五根;次五者為五根所緣之境界,故稱五境;無表色係依身、口發動之善業與惡業,為生於身內之一種無形色法,乃感苦、樂果之業因,具防非止惡或防善止惡之功能。 (二)心法一種:即依根而生,覺知境之總作用,指六識心王(梵 citta)。 (三)心所有法四十六種,又分遍大地法(梵 mahā-bhūmikā dharmāḥ)、大善地法(梵 kuśala-mahā-bhūmikā-dharmāḥ)、大煩惱地法(梵 kleśa-mahā-bhūmikā dharmāḥ、大不善地法(梵 akuśala-mahā-bhūmikau dharmāḥ)、小煩惱地法(梵 parītta-kleśa-bhūmikā dharmāḥ)、不定地法(梵 aniyata-bhūmikā dharmāḥ)六位。此四十六法皆隨附於心法而起,故稱心所有法。即:(1)遍大地法十種:受(梵 vedanā,領納苦、樂、捨三境之作用)、想(梵 saṃjñā,想像事物之作用)、思(梵 cetanā,造作諸業之作用)、觸(梵 sparśa,對境之作用)、欲(梵 chanda,希求之作用)、慧(梵 prajñā,揀擇善惡法之作用)、念(梵 smṛti,記憶不忘之作用)、作意(梵 manasikāra,令心心所警覺對象之作用)、勝解(梵 adhimokṣa,明了事理之作用)、三摩地(梵 samādhi,譯作定,令心心所專注一境而不散之作用)。此十法通善、不善、無記之一切心王而起,故稱遍大地法。略作大地法。(2)大善地法十種:信(梵 śraddhā,令心心所澄淨之作用)、不放逸(梵 apramāda,止惡行善)、輕安(梵 praśrabdhi,使身心輕妙安穩之作用)、行捨(梵 upekṣā,令身心捨離雜執著諸法之念,而住於平等之作用,為行蘊所攝之捨)、慚(梵 hrī,於所造罪,自觀有恥)、愧(梵 apatrāpya,於所造罪,觀他有恥)、無貪(梵 alobha,不貪著順境之作用)、無瞋(梵 adveṣa,於逆境不起忿怒之作用)、不害(梵 ahiṃsā,不損惱他之作用)、勤(梵 vīrya,精進修習諸善法之作用)。此十法與一切之善心相應而起,故稱大善地法。(3)大煩惱地法六種:無明(梵 avidyā,以愚癡為性)、放逸(梵 pramāda,於惡法放逸之作用)、懈怠(梵 kausīdya,於善法不勇悍之作用)、不信(梵 āśraddhya,令心不澄淨之作用)、惛沈(梵 styāna,令心沈重之作用)、掉舉(梵 auddhatya,令心輕浮之作用)。此六法常與惡心及有覆無記心相應,故稱大煩惱地法。(4)大不善地法二種:無慚(梵 āhrīkya,不自羞恥之作用)、無愧(梵 anapatrāpya,不他恥之作用)。此二法與一切之不善心相應,故稱大不善地法。(5)小煩惱地法十種:忿(梵 krodha,令起怒相之作用)、覆(梵 mrakṣa,隱藏己過之作用)、慳(梵 mātsarya,於財施、法施等,不能惠施之作用)、嫉(梵 īrṣyā,妒忌之作用)、惱(梵 pradāsa,堅執惡事而惱亂身心之作用)、害(梵 vihiṃsā,損惱他人之作用)、恨(梵 upanāha,於忿境結怨不捨之作用)、諂(梵 māyā,令心心所邪曲不直之作用)、誑(梵 śāthya,欺他不實之作用)、憍(梵 mada,心貢高而傲他之作用)。此十法唯為修道所斷,僅與意識之無明相應,且其現行各別,而非十法俱起,故稱為小煩惱地法。(6)不定地法八種:尋(梵 vitarka,尋求事理之粗勝作用)、伺(梵 vicāra,伺察事理之細性作用)、睡眠(梵 middha,令心心所昏昧之作用)、惡作(梵 kaukṛtya,思念所作之事而令心追悔之作用)、貪(梵 rāga,貪愛順境之作用)、瞋(梵 pratigha,於逆境瞋恚之作用)、慢(梵 māna,使心高舉而凌他之作用)、疑(梵 vicikitsā,使於諦理猶豫不決之作用)。此八法不入前五位,廣通善、惡、無記三性,故稱不定地法。 (四)心不相應行法十四種:(1)得(梵 prāpti),令得諸法於身之實法。(2)非得(梵 aprāpti),令諸法離身之實法。(3)眾同分(梵 nikāya-sa-bhāga),各隨其趣,而使得同一果報之實法。(4)無想果(梵 āsaṃjñika),於無想天之中令心心所皆滅之實法。此為外道所執之涅槃。(5)無想定(梵 āsaṃjñi-samāpatti),乃為得無想果所修得之無心定。(6)滅盡定(梵 nirodha-samāpatti),不還或阿羅漢之聖者,為止息暫時所入之無心定。(7)命根(梵 jīvitendriya),維持壽命之實法。(8)生(梵 jāti),令諸法生起之實法。(9)住(梵 sthiti),令諸法不遷之實法。(10)異(梵 anyathātva),令諸法衰異之實法。(11)滅(梵 vyaya),令諸法消盡之實法。(12)名身(梵 nāma-kāya),色聲等之名。(13)句身(梵 pada-kāya),諸法無常等之章句。(14)文身(梵 vyañjana-kāya),名與句所依之文字;二個以上,故稱為身。此十四法為非色非心之法,而不與心相應,故稱為心不相應行法。 (五)無為法三種:(1)擇滅無為(梵 pratisaṃkhyā-nirodha),依正智簡擇力而得之寂滅法。(2)非擇滅無為(梵 apratisaṃkhyā-nirodha), 非依正智簡擇力,但依缺生緣而現之寂滅法。(3)虛空無為(梵 ākāśa),以無礙為性,容受萬物而遍一切處。此三法無生、住、異、滅四相之作為,故稱無為法。大毘婆沙論卷四十二等所說與上略異。亦有就七十五法分為色非色、有見無見、有對無對等。〔俱舍論卷四、俱舍論光記卷四〕(參閱「五位七十五法」1089)
; The seventy-five dharmas of the Abhidharma-Kosa, which classifies all phenomena under seventy-five categories, or elements, divided into five groups: (1) Sắc pháp rùpani, material, 11; (2) Tâm pháp cittam, mind,1; (3) Tâm sở hữu pháp, citta-samprayuktasamskàràh, mental qualities, 46; (4) Tâm bất tương ưng hành pháp citta-vipravuktasamskàrah, non mental, 14; (5) Vô vi pháp asamskrta, non phenomenal elements, 3.
; (七十五法) Cũng gọi Tiểu thừa thất thập ngũ pháp. Chỉ cho 75 pháp của tông Câu xá thuộc Tiểu thừa, được chia thành 5 loại.Đó là: I. Sắc pháp có 11 thứ: 1. Nhãn căn (Phạm: Cakwur-indriya). 2. Nhĩ căn (Phạm: Zrotrendriya). 3. Tị căn (Phạm: Ghràịendriya). 4. Thiệt căn (Phạm: Jihvendriya). 5. Thân căn (Phạm: Kàyendriya). 6. Sắc cảnh (Phạm:Rùpa-viwaya). 7. Thanh cảnh (Phạm: Zabda-viwaya). 8. Hương cảnh (Phạm: Gandhaviwaya). 9. Vị cảnh (Phạm: Rasa-viwaya). 10. Xúc cảnh (Phạm: Sprawỉavyaviwaya). 11. Vô biểu sắc (Phạm:Avijĩapti-rupa). Trong 11 thứ trên, 5 thứ trước có công năng phát sinh thức và thu lấy cảnh nên gọi là 5 căn; 5 thứ kế tiếp là cảnh giới sở duyên(đối tượng) của 5 căn, nên gọi là 5 cảnh; Vô biểu sắc là thiện nghiệp và ác nghiệp nương theo sự phát động của thân, khẩu, là 1 loại sắc pháp vô hình phát sinh trong thân, là nghiệp nhân cảm nhận quả báo khổ, vui, có công năng ngăn điều quấy, dứt điều ác. II. Tâm pháp có 1 thứ: Chỉ cho 6 thức Tâm vương (Phạm: Citta): Tác dụng chung để nhận biết cảnh, do nương vào các căn mà sinh ra. III. Tâm sở hữu pháp gồm 46 thứ. Chia làm 6 nhóm: 1. Biến đại địa pháp (Phạm:Mahàbhùmikà dharmà#), có 10 thứ: -Thụ (Phạm:Vedanà): Tác dụng lãnh nạp 3 cảnh khổ, vui,xả(khôngkhổkhông vui).-Tưởng (Phạm: Saôjĩa): Tác dụng tưởng tượng sự vật. -Tư (Phạm:Cetanà): Tác dụng tạo tác các nghiệp. -Xúc (Phạm:Sparza): Tác dụng tiếp xúc với cảnh. -Dục (Phạm: Chanda): Tác dụng mong cầu.-Tuệ (Phạm:Prajĩà): Tác dụng lựa chọn pháp thiện ác. -Niệm (Phạm:Smfti): Tác dụng ghi nhớ không quên. - Tác ý (Phạm:Manasikàra): Tác dụng khiến tâmsởchú ý đến đối tượng. -Thắng giải (Phạm: Adhimokwa): Tác dụng hiểu rõ sự lí. -Tam ma địa (Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Định): Tác dụng khiến tâm, tâm sở chuyên chú vào một cảnh không tán loạn. Mười thứ trên đây cùng khởi lên với tất cả tâm vương thiện, bất thiện, vô kí, cho nên gọi là Biến đại địa pháp, gọi tắt là Đại địa pháp. 2. Đại thiện địa pháp(Phạm:Kuzalamahà-bhùmikà-dharmà#), gồm 10 thứ: -Tín (Phạm:Zradhà): Tác dụng làm cho tâm, tâm sở lắng trong thanh tịnh. -Bất phóng dật (Phạm: Apramàda): Tác dụng dứt ác làm thiện. -Khinh an (Phạm: Prazrabdhi): Tác dụng khiến thân tâm nhẹ nhàng, an ổn. -Hành xả (Phạm:Upekwà): Tác dụng khiến thân tâm lìa bỏ ý nghĩ chấp trước các pháp và trụ trong bình đẳng, là xả thuộc về Hành uẩn. -Tàm (Phạm:Hrì): Tác dụng tự thẹn khi tạo tội. -Quí (Phạm:Apatràpya): Tác dụng xấu hổ với người khác khi mình tạo tội. -Vô tham (Phạm: Alobha): Tác dụng không tham đắm cảnh thuận. -Vô sân (Phạm: Advewa): Tác dụng không tức giận trước cảnh nghịch. -Bất hại (Phạm:Ahiôsà): Tác dụng không gây tổn hại cho người khác. -Cần (Phạm: Vìrya): Tác dụng siêng năng tu tập các thiện pháp. Mười pháp trên đây khởi lên đồng loạt với tất cả tâm thiện, nên gọi là Đại thiện địa pháp. 3. Đại phiền não địa pháp (Phạm: Kleza-mahà-bhùmikà-dharmà#), gồm 6 thứ: -Vô minh (Phạm: Avidyà): Lấy ngu si làm tính. -Phóng dật (Phạm:Pramàda): Tác dụng buông lơi đối với pháp ác. -Giải đãi (Phạm:Kausìdya): Tác dụng thờ ơ đối với pháp thiện. -Bất tín (Phạm:Azraddhya): Tác dụng không làm cho tâm lắng trong thanh tịnh. -Hôn trầm (Phạm:Styàna): Tác dụng khiến cho tâm mờ tối, nặng nề. -Trạo (điệu) cử (Phạm: Auddhatya): Tác dụng làm cho tâm xao động. Sáu thứ trên thường khởi lên với tâm ác và tâm hữu phú vô kí, nên gọi là Đại phiền não địa pháp. 4. Đại bất thiện địa pháp (Phạm: Akuzala-mahà-bhùmikau-dharmà#), gồm có 2 thứ: -Vô tàm (Phạm: Ahrìkya): Tác dụng không biết tự thẹn. -Vô quí (Phạm: Anapatràpya): Tác dụng không xấu hổ với người khác. Hai pháp trên đây tương ứng với tất cả tâm bất thiện, nên gọi là Đại bất thiện địa pháp. 5. Tiểu phiền não địa pháp (Phạm: Parìtta-kleza-bhùmikà-dharmà#), gồm 10 thứ: -Phẫn (Phạm:Krodha): Tác dụng làm cho dấy lên sự giận dữ. -Phú (Phạm: Mrakwa): Tác dụng che giấu lỗi của mình. -Khan (Phạm: Màtsarya): Tác dụng bỏn sẻn đối với việc bố thí tiền của và giáo pháp. -Tật (Phạm:Ìrwyà): Tác dụng ganh ghét. -Não (Phạm:Pradàsa): Tác dụng khư khư giữ các việc xấu ác, làm não loạn thân tâm.-Hại (Phạm:Vihiôsà): Tác dụng gây tổn hạichongười khác. -Hận (Phạm:Upanàha): Tác dụng kết oán không buông tha đối với cảnh phẫn hận.-Siểm (Phạm:Màyà): Tác dụng nịnh nọt làm cho tâm, tâm sở xiên xẹo. -Cuống (Phạm:Zàthya): Tác dụng gạt gẫm người khác. -Kiêu (Phạm: Mada): Tác dụng kiêu căng, ngạo mạn, khinh thường người khác. Mười pháp trên đây chỉ do giai vị Tu đạo đoạn trừ và cũng chỉ tương ứng với vô minh của ý thức, hiện hành riêng rẽ, chứ không khởi 10 pháp cùng một lượt, vì thế gọi là Tiểu phiền não địa pháp. 6. Bất định địa pháp(Phạm:Aniyatabhùmikà-dharmà#), gồm có 8 thứ: -Tầm (Phạm: Vitarka): Tác dụng tìm tòi sự lí một cách thô tháo. -Tứ (Phạm: Vicara): Tác dụng dò xét sự lí một cách tế nhị. -Thụy miên (Phạm: Middha): Tác dụng làm cho tâm, tâm sở mờ tối. -Ác tác (Phạm:Kaukftya): Tác dụng nghĩ nhớ đến việc đã làm khiến cho tâm truy hối. -Tham (Phạm: Ràya): Tác dụng tham đắm cảnh thuận ý. -Sân (Phạm:Pratigha): Tác dụng bực tức đối với cảnh trái ý. -Mạn (Phạm: Mana): Tác dụng khiến tâm cao ngạo, lấn lướt người khác. -Nghi (Phạm: Vicikitsà): Tác dụng khiến tâm do dự không quyết đối với chân lí. Tám pháp nói trên không thuộc về 5 nhóm trước, nhưng chung cho cả 3 tính thiện, ác, vô kí, cho nên gọi là Bất định địa pháp. IV. Tâm bất tương ứng hành pháp gồm 14 thứ: 1. Đắc (Phạm: Pràpti): Thực pháp khiến cho được các pháp nơi thân. 2. Phi đắc (Phạm:Apràpti): Thực pháp khiến cho các pháp lìa khỏi thân. 3. Chúng đồng phận (Phạm: Nikàyasa-bhàga): Thực pháp tùy theo chỗ hướng tới mà khiến cho được cùng một quả báo. 4. Vô tưởng quả (Phạm: Àsaôjĩika): Thực pháp làm cho tâm, tâm sởở cõi trời Vô tưởng đều diệt. Đây là Niết bàn do ngoại đạo chấp trước. 5. Vô tưởng định (Phạm: Àsaôjĩisamàpatti): Định vô tâm tu được nhờ chứng đắc Vô tưởng quả. 6. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasamàpatti): Định vô tâm mà bậc thánh Bất hoàn hoặc A la hán nhập vào để tạm thời ngưng mọi hoạt động tâm lí. 7. Mệnh căn (Phạm: Jivitendriya): Thực pháp duy trì thọ mệnh. 8. Sinh (Phạm:Jàti): Thực pháp làm cho các pháp sinh khởi. 9. Trụ (Phạm:Sthiti): Thực pháp làm cho các pháp không đổi dời. 10. Dị (Phạm:Anyathàtva): Thực pháp làm cho các pháp suy hao, đổi khác. 11. Diệt (Phạm:Vyaya): Thực pháp làm cho các pháp tiêu diệt hết. 12. Danh thân (Phạm: Nàma-kàya): Tên gọi như sắc, thanh... 13. Cú thân (Phạm: Pada-kàya): Chỉ cho các câu nói như Các pháp là vô thường. 14. Văn thân (Phạm: Vyaĩjana-kàya): Chỉ cho văn tự là chỗ nương của danh thân và cú thân, vì có 2 thành phần trở lên nên gọi là Thân. Mười bốn thứ nói trên là các pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm, cũng không tương ứng với tâm, cho nên gọi là Tâm bất tương ứng hành pháp. V. Vô vi pháp có 3 thứ: 1. Trạch diệt vô vi (Phạm: Pratisaôkhyà-nirodha): Pháp tịch diệt do sức lựa chọn của chínhtrí mà được. 2. Phi trạch diệt vô vi (Phạm: Apratisaôkhỳa-nirodha): Pháp tịch diệt không phải nhờ sức lựa chọn của chính trí, chỉ do thiếu duyên sinh mà hiện. 3. Hư không vô vi (Phạm:Àkàza): Lấy vô ngại làm tính, dung chứa muôn vật và trùm khắp mọi nơi. Ba pháp này không có sự tạo tác của 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, cho nên gọi là Vô vi pháp. Luận Đại tì bà sa quyển 42 nói về 3 pháp vô vi hơi khác với 3 pháp ở đây. Cũng có chỗ chia 75 pháp làm Sắc phi sắc, Hữu kiến vô kiến, Hữu đối vô đối.
thất thập nhị thiên
88乃合太山府君、五道大神、大吉祥天及六十九天而為七十二天。六十九天即:四臂之不動、四大明王、十二天、北斗七星、十二宮神、五星、二十八宿。〔諸尊要鈔〕
; (七十二天) Chỉ cho 72vị trời do kết hợp Thái sơn phủ quân, Ngũ đạo đại thần, Đại cát tường thiên và 69 vị trời mà thành. Sáu mươi chín vị trời tức là: Bất động, 4Đại minh vương, 12 vị trời, 7 sao Bắc đẩu, 12 cung thần, 5 sao và 28 sao.
thất thập nhị tự
88劫初,梵天王得七十二字來化世間,世間皆不信,故吞七十字,唯留二字於口之左右,即阿與漚。外道之書,以此二字安於卷首,阿者無,漚者有,謂一切諸法不出有無二義,故安之以表吉相。〔百論〕
; (七十二字) Bảy mươi hai chữ. Thủa kiếp sơ, Phạm thiên được 72 chữ, đem xuống dạy cho thế gian, nhưng người thế gian đều không tin, Phạm thiên bèn nuốt 70 chữ chỉ giữ lại 2 chữ để ở 2 bên trong miệng, tức là chữ A và chữ Âu. Các sách của ngoại đạo đều dùng 2 chữ này đặt ở đầu quyển, A nghĩa là không, Âu nghĩa là có, tức tất cả các pháp đều không ngoài 2 nghĩa có và không. Cho nên 2 chữ này được viết ở đầu sách để biểu thị tướng tốt lành.
thất thập nhị uy nghi
88沙彌之威儀,如事師法、白師法、入眾法等,總為七十二種。〔沙彌十戒法并威儀、沙彌威儀〕
; (七十二威儀) Chỉ cho uy nghi của sa di, như phép thờ thầy, phép bạch thầy, phép nhập chúng... tất cả có 72 pháp .
thất thập tam tôn
The "Diamond world" mandala, or pantheon, of the esoteric sect, containing seventy three honoured ones.
thất thập thất trí
88在十二緣起各支中,除無明外,於其餘十一支,各就三世順逆及法性常住觀察之智。十一支各具七智,合為七十七智;七智乃先觀今之緣生而有老死,為知生緣老死智,次觀非無緣生而有老死,為知非不生緣老死智,如是就過去、未來亦各作順逆二觀;又遍知生起法,而知有佛無佛,法性常住,是為法住智。如此十一支中,以「生」支為例,其七智為:知生緣老死智、知非不生緣老死智、知過去生緣老死智、知彼(過去)非不生緣老死智、知未來生緣老死智、知彼(未來)非不生緣老死智、法住智。其餘十支亦各具如是之七智,總為七十七智,其一一之名,詳載於成實論卷十五、卷十六。〔雜阿含經卷十四、大毘婆沙論卷九十六、卷一○三、瑜伽師地論卷八十八〕
; (七十七智) Bảy mươi bảy trí. Trong 12 chi duyên khởi, trừ Vô minh, 11 chi còn lại, mỗi chi đều y cứ vào trí quán xét thuận nghịch 3 đời và pháp tính thường trụ, thì mỗi chi trong 11 chi đều có 7 trí, cộng chung thành 77 trí. Bảy trí là trước quán xét do duyên sinh ở đời này mà có lão tử, là trí biết duyên sinh lão tử; kế đến quán xét chẳng pháp nào không có duyên sinh mà có lão tử, là trí biết chẳng lão tử nào mà không có duyên sinh, cứ như thế ở quá khứ, vị lai cũng đều quán 2 quán thuận, nghịch; lại biết khắp pháp sinh khởi, biết có Phật, không Phật, pháp tính thường trụ, đó là trí Pháp trụ. Như vậy, trong 11 chi, lấy chi Sinh làm thí dụ thì 7 trí là: Trí biết duyên sinh lão tử, trí biết chẳng lão tử nào không có duyên sinh, trí biết duyên sinh lão tử ở quá khứ, trí biết ở quá khứ không lão tử nào mà không có duyên sinh,trí biết duyên sinh ở vị lai, trí biết ở vị lai không lão tử nào mà chẳng có duyên sinh và trí Pháp trụ. Mười chi còn lại mỗi chi cũng đều có 7 trí, tổng cộng 77 trí.Tên của mỗi trí đều được ghi rõ ràng, đầy đủ trong luận Thành thực quyển 15, 16.
thất thắng giả tán
Xem Thất Phật Tán Bái Già Bà kinh.
thất thắng sự
107佛特有之七種勝事。又作七勝法、如來七勝事、七種最勝、七種無上。即:(一)身勝,謂如來身為三十二相、八十種好之所嚴飾,一一節力敵萬八千伊羅鉢那香象之力,眾生樂見,無有厭足。(二)如法住勝,謂如來安住如法之大道而修正行。即如來既自得利益,復能憐愍救濟,利益無量眾生。(三)智勝,謂如來成就無上殊勝之四無礙智。(四)具足勝,如來圓滿具足最勝之正戒、正命、正行、正見。(五)行處勝,如來修三三昧、九次第等,非諸聲聞、緣覺所及。(六)不可思議勝,如來威神力不可思議,超乎一切。(七)解脫勝,如來斷所知、煩惱二障,並永斷一切煩惱習氣,智緣二事俱得自在。此七勝事依次相當於瑜伽師地論卷三十八(別譯地持論卷三)所說七種無上:身無上、道無上、智無上、正無上、住無上、神力無上、斷無上等。〔優婆塞戒經卷三〕
; The seven surpassing qualities of a Buddha. Also thất chủng vô thượng. They are his body or person, his universal law, wisdom, perfection, destination (nirvàna), ineffable truth, and deliverance.
; (七勝事) Cũng gọi Thất thắng pháp, Như lai thất thắng sự, Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Chỉ cho 7 việc thù thắng chỉ Phật mới có. Đó là: 1. Thân thắng:Thân Như lai được trang sức bằng 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sức mạnh của một lóng xương có thể địch lại sức mạnh của 1 vạn 8 nghìn con hương tượng Y la bát na, chúng sinh vui mừng nhìn thân Như lai không hề nhàm chán. 2. Như pháp trụ thắng: Như lai an trụ đại đạo như pháp mà tu chính hạnh. Tức Như lai đã tự được lợi ích, lại hay thương xót cứu giúp, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.3. Trí thắng: Như lai thành tựu 4 trí vô ngại, thù thắng vô thượng. 4. Cụ túc thắng: Như lai viên mãn đầy đủ chính giới, chính mệnh, chính hạnh và chính kiến thù thắng vô thượng. 5. Hành xứ thắng: Như lai tu 3 Tam muội, 9 Định thứ đệ... mà Thanh văn và Duyên giác không thể sánh kịp. 6. Bất khả tư nghị thắng: Sức uy thần của Như lai không thể nghỉ bàn, vượt trên tất cả. 7. Giải thoát thắng: Như lai đã đoạn trừ vĩnh viễn phiền não chướng và sở tri chướng, đồng thời dứt hẳn tập khí của tất cả phiền não, đối với trí và duyên đều được tự tại. Bảy thắng sự trên, theo thứ tự, tương đương với 7 vô thượng: Thân vô thượng, Đạo vô thượng, Trí vô thượng, Chính vô thượng, Trụ vô thượng, Thần lực vô thượng và Đoạn vô thượng nói trong luận Du già sư địa (Biệt dịch Địa trì luận quyển 3).
Thất thức
七識; C: qīshì; J: shichishiki;|1. Bảy thức, ngoại trừ A-lại-da thức (阿頼耶識). Chuyển thức (轉識); 2. Đệ thất thức (第七識): Thức thứ bảy, Mạt-na thức (s: manas), nơi có khuynh hướng chấp giữ bản ngã.
thất thức thập danh
122第七識末那識有十種不同之名稱,即:七識、轉識、妄相識、相續識、無明識、解識、行識、無畏識、現識、智障識等。
; (七識十名) Mười tên gọi của thức Mạt na thứ bảy. Thức Mạt na có 10 tên gọi khác nhau, đó là: Thất thức, Chuyển thức, Vọng tướng thức, Tương tục thức, Vô minh thức, Giải thức, Hành thức, Vô úy thức, Hiện thức và Trí chướng thức.
thất thức trụ
123梵語 saptavijñāna-sthitayaḥ。有情依果報受生三界,其識所愛樂、止住之處有七,又作七識處、七識止處、七神識止處。即:(一)身異想異識住,又作身異想異如人一分天,指人界、六欲天及劫初起除外之色界初禪天,此處之有情身相、容貌皆異,苦樂、不苦不樂之想各亦差別,故稱身異、想異。(二)身異想一識住,又作身異想一如梵眾天謂劫初起,指色界初禪之劫初起之梵眾天,彼等皆自想為大梵王所生,大梵王亦想此諸梵眾皆我所生。同執一因無別想,故想一;然大梵王身量高廣,容貌、威德、言語、光明、衣冠等,一一異於梵眾,故身異。(三)身一想異識住,又作身一想異如極光淨天,為色界第二禪。此中有情身相、容貌無異,樂與非苦樂二想交參,故稱身一想異。(四)身一想一識住,又作身一想一如遍淨天,為色界第三禪。此中有情身相無異,唯有樂想,故想一。(五)空無邊處識住,超出一切之有色處。(六)識無邊處識住,超出一切之空無邊處。(七)無所有處識住,超出一切識無邊處。後三識住為無色界之下三天。此七處為識之安住處,為有情皆希往止之所,故稱識住。〔中阿含卷二十四大因經、俱舍論卷八〕
; Sapta-vijāna-sthitayah (S) Thất thức xứ Bảy chỗ mà thần thức loài hữu tình thích dừng trụ.
; (七識住) Phạm: Saptavijĩàna-sthitaya#. Cũng gọi Thất thức xứ, Thất thức chỉ xứ, Thất thần thức chỉ xứ. Chỉ cho 7 chỗ mà thần thức của loài hữu tình thích dừng ở tùy theo quả báo thụ sinh trong 3 cõi. Đó là: 1. Thân di tưởng di thức trụ(cũng gọi Thân dị tưởng di như nhân nhất phần thiên): Chỉ cho thế giới của loài người, 6 tầng trời cõi Dục và trừ các vị trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc ở kiếp đầu tiên; hữu tình ở những nơi này thân tướng, dung mạo đều khác, các ý tưởng khổ, vui, không khổ không vui cũng đều khác nhau, nên gọi Thân dị, Tưởng dị. 2. Thân dị tưởng nhất thức trụ(cũng gọi Thân dị tưởng nhất như Phạm chúng thiên vị kiếp sơ khởi): Chỉ cho tầng trời Phạm chúng thuộc Sơ thiền cõi Sắc ở kiếp đầu tiên; hữu tình ở cõi này đều tự tưởng rằng mình do Đại phạm vương sinh ra, Đại phạm vương cũng tưởng rằng Phạm chúng ở đây đều do mình sinh ra. Vì cùng chấp mộtnhân không có tưởng khác, nên gọi là Tưởng nhất; nhưng thân hình của Đại phạm vương cao lớn, dung mạo, uy đức, ngôn ngữ, ánh sáng, áo mũ... mỗi mỗi đều khác với Phạm chúng, nên gọi là Thân dị. 3. Thân nhất tưởng dị thức trụ(cũng gọi Thân nhất tưởng dị như Cực quang tịnh thiên): Chỉ choĐệ nhị thiềncủacõi Sắc. Thân tướng, dung mạo củahữu tình ở cõi này không khác nhau, tưởng vui và tưởng không khổ không vui xen lẫn nhau, nên gọi là Thân nhất tưởng dị. 4. Thân nhất tưởng nhất thức trụ(cũng gọi Thân nhất tưởng nhất như Biến tịnh thiên): Chỉ choĐệ tam thiền thuộc cõi Sắc; hữu tình ở cõi này thân tướng không khác nhau và chỉ có ý tưởng vui thôi, nên gọi là Tưởng nhất. 5. Không vô biên xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõicó sắc chất. 6. Thức vô biên xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõi Không vô biên. 7. Vô sỡ hữu xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõi Thức vô biên. Ba thức trụ sau là 3 tầng trời dưới của cõi Vô sắc. Bảy nơi nói trên là chỗ an trụ của thức, là những nơi mà loài hữu tình đều mong được sinh đến để an trụ, cho nên gọi là Thức trụ.
thất tinh như ý luân
100指七星隨伴之如意輪觀音。七星即:貪狼、巨門、祿存、文曲、廉貞、武曲、破軍等星。又以七星如意輪為本尊所修之祕法,稱為七星如意修法。依七星如意輪祕密要經所載,佛在世時,俱尸羅大國興兵圍迦夷城,波斯匿王遣使求佛救護,佛遂令建立如意寶輪般多羅道場七星火壇,一日一夜如法而作,賊眾自然退散。依此,歷來多修此法以退治逆賊。
; (七星如意輪) Chỉ cho Quán âm Như ý luân có kèm theo 7 ngôi sao. Bảy sao gồm: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc vá Phá quân. Bí pháp thờ Thất tinh Như ý luân để tu, gọi là Thất tinh Như ý tu pháp. Cứ theo kinh Thất tinh Như ý luân bí mật yếu, vào thời đức Phật tại thế, nước Câu thi la dấy binh vây thành Ca di, vua Ba tư nặc liền saisứđến xin Phật cứu giúp, Phật bèn dạy lập hỏa đàn thất tinh trong đạo tràng Như ý bảo luân ban đa la, làm đúng như pháp một ngày một đêm, bọn giặc ngoại xăm tự nhiên rút lui. Y theo đó, người ta thường tu pháp này để đẩy lui quân địch.
thất tri
99據北本涅槃經卷十五梵行品載,佛於涅槃會上,告諸菩薩,住於大乘,知七善法,稱為具足梵行。七知即:(一)知法,知十二部經能詮之法。(二)知義,知經中一切文字語言所詮之義理。(三)知時,知可修寂靜、精進、捨定、供養佛師、布施、忍辱、般若等之時。(四)知足,於飲食、衣、藥、行、住、坐、臥等,知所止足。(五)知自,知悉自己之戒、多聞、慧、正念、善行等。(六)知眾,知分別剎利、婆羅門、居士、沙門之眾,而為應機之說法問答。(七)知人尊卑,知信者與不信者之別,又知自度與他度之尊卑。(參閱「七妙法」98)
; (七知) Chỉ cho phạm hạnh biết đầy đủ bảy pháp lành. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết bàn quyển 15 (bản Bắc), trên hội Niết bàn, đức Phật bảo các vị Bồ tát rằng trụ trong Đại thừa biết 7 pháp lành được gọi là phạm hạnh đầy đủ. Thất tri gồm: 1. Tri pháp: Biết pháp năng thuyên 12 bộ kinh. 2. Tri nghĩa: Biết nghĩa do tất cả văn tự ngôn ngữ trong kinh giảng nói. 3. Tri thời: Biết rõ lúc nào nên tu tịch tĩnh, tinh tiến, xuất định, cúng dường Phật, sư trưởng, bố thí, nhẫn nhục, bát nhã... 4. Tri túc: Biết dừng đủ đối với việc ăn mặc, thuốc men, đi đứng, ngồi nằm... 5. Tri tự: Biết rõ giới pháp, đa văn, trí tuệ, chính niệm, thiệnhạnhcủa mình. 6. Tri chứng: Biết phân biệt các chúng Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ, sa môn... để tùy cơ nói pháp, hỏi đáp với họ. 7. Tri nhân tôn ti: Biết rõ sự khác nhau giữa những người có lòng tin và những người không có lòng tin, cũng biết sự tôn ti giữa tự độ và tha độ.
thất tri kinh
99全一卷。吳‧支謙譯。又作七智經。今收於大正藏第一冊。本經與(一)A.(Aṅguttara-nikāya,增支部)VII.64 Dhammaññū、(二)中阿含七法品善法經(大正藏第一冊)、(三)增一阿含經等法品第三十九(大正藏第二冊)合為四異譯本,其中以本經為最短,旨在敘述比丘若知七法(知法、知義、知時、知節、知己、知眾、知人),可得證悟。
; (七知經) Cũng gọi Thất trí kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này có 4 bản dịch khác nhau, ngoài bản dịch của ngài Chi khiêm, 3 bản còn lại là: 1. A. (Aíguttara-nikàya-Tăng chi bộ) VII.64 Dhammaĩĩù. 2. Kinh Thiện pháp trong phẩm Thất pháp của Trung a hàm (Đại chính tạng tập 1). 3. PhẩmĐẳng pháp thứ 39 trong kinh Tăng nhất a hàm (Đại chính tạng tập 2). Trong 4 bản dịch trên, bản dịch này của ngài Chi khiêm là ngắn nhất, nội dung nói rằng nếu tỉ khưu biết rõ 7 pháp (tri pháp, tri nghĩa, tri thời, tri tiết, tri kỉ, tri chúng, tri nhân) thì sẽ được chứng ngộ.
Thất Trân
(七珍): hay Thất Bảo (七寶), tức là 7 loại trân bảo quý giá của thế gian. Các kinh điển giải thích về 7 loại trân bảo này có khác nhau, như A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 10, v.v., giải thích Thất Bảo là: (1) Vàng; (2) Bạc; (3) Lưu Ly (瑠璃、琉璃), thuộc loại ngọc xanh; (4) Pha Lê (頗梨), ý dịch là Thủy Tinh, chỉ loại Thủy Tinh màu đỏ, trắng, v.v.; (5) Xa Cừ (車渠), trong các kinh điển thường gộp chung loại này với Mã Não (碼瑙), chỉ cho loại San Hô trắng; (6) Xích Châu (赤珠, hạt châu đỏ), hay Xích Chơn Châu (赤眞珠); (7) Mã Não, loại ngọc có màu xanh đậm. Bên cạnh đó, Pháp Hoa Kinh (法華經) quyển 4 cho Thất Bảo là: Vàng, Bạc, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, Chơn Châu và Mân Côi (玫瑰). Như trong Di Đà Phật Minh (彌陀佛銘) của Lương Trầm Ước (梁沉約, ?-?) thời Nam Triều có câu: “Nguyện du bỉ quốc, thần kiều mộ tưởng, Thất Trân phi tiện, tam đạt tư ngưỡng (願遊彼國、晨翹暮想、七珍非羨、三達斯仰, nguyện rong chơi nước ấy, ngày trông đêm nhớ, bảy báu chẳng ham, ba lần đạt đến sự khát ngưỡng).” Hay trong Ngọc Thanh Hành (玉清行) của Liễu Bí (柳泌, ?-820) nhà Đường lại có câu: “Thất Trân phi mãn tòa, Cửu Dịch chước như tuyền (七珍飛滿座、九液酌如泉, Bảy Báu bay đầy tòa, Chín Dịch rót như suối).” Trong Tịnh Độ Tùy Học (淨土隨學) quyển hạ của Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) nhà Minh có câu: “Nhất thanh Phật hiệu vi vi tụng, Thất Bảo Liên Hoa đại đại khai (一聲佛號微微誦、七寶蓮花大大開, một danh hiệu Phật tụng nho nhỏ, hoa sen bảy báu lớn dần khai).”
Thất trân
七珍; C: qīzhēn; J: shichichin, shicchin;|Bảy thứ châu báu, bảy thứ ngọc quý, có nghĩa như Thất bảo (七寶).
thất trí
The seven knowins - to know the Law, its meaning, the times for all duties, moderation, oneself, the different classes of people, and people as individual.
Thất trùng hàng thọ
(七重行樹): bảy lớp hàng cây, từ xuất hiện trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經). Con số 7 ở đây chỉ cho các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới và ở giữa; thể hiện ý nghĩa viên mãn. Theo Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Minh giải thích trong A Di Đà Kinh Yếu Giải (阿彌陀經要解, 1 quyển, Taishō No. 1762), là “Thất trùng biểu thất khoa đạo phẩm (七重表七科道品, bảy lớp biểu thị cho bảy khoa đạo phẩm).” Như vậy, Thất Khoa Đạo Phẩm ở đây là 37 Phẩm Trợ Đạo, gồm: (1) Tứ Niệm Xứ (s: catvāri smṛti-upasthānāni, p: cattāro sati-patṭḥānāni, 四念處), tức Thân Niệm Xứ (s: kāya-smṛty-upasthāna, p: kayekāyānupassi viharati atāpi sampajāno satimā, 身念處), quán thân thể là bất tịnh; Thọ Niệm Xứ (s: vedanā-smṛty-upasthāna, p: vedanāsu vedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 受念處), quán sự thích ghét của các tác dụng thọ cảm, hết thảy đều là khổ; Tâm Niệm Xứ (s: citta-smṛty-upasthāna, p: citte cittānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 心念處), quán tâm là sinh diệt, vô thường; Pháp Niệm Xứ (s: dharma-smṛty-upasthāna, p: dhammesu dhammānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 法念處), quán hết thảy các pháp là vô ngã. (2) Tứ Chánh Cần (s: catvāri prahāṇāni, p: cattāri sammappadhānāni, 四正勤), tức siêng năng tinh tấn đoạn trừ các điều ác đã sanh; siêng năng tinh tấn làm cho không sanh khởi các điều ác chưa sanh; siêng năng tinh tấn làm cho sanh khởi các điều thiện chưa sanh; siêng năng tinh tấn làm cho tăng trưởng các điều thiện đã sanh. (3) Tứ Như Ý Túc (s: catur-ṛddhipāda, p: catu-iddhipāda, 四如意足), tức Dục Như Ý Túc, Tinh Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc, Tư Duy Như Ý Túc. (4) Ngũ Căn (s: pañcendriyāni, 五根), tức Tín Căn (s: śradhendriya, 信根), niềm tin vào Tam Bảo, đạo lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), v.v.; Tấn Căn (s: vīryendriya, 進根), hay còn gọi là Tinh Tấn Căn, siêng năng dũng mãnh tu các pháp lành; Niệm Căn (s: smṛtīndriya, 念根), nghĩ nhớ đến các pháp đúng; Định Căn (s: samādhīndriya, 定根), năng lực khiến cho tâm dừng lại một chỗ, không bị tán loạn; Tuệ Căn (s: prajñendriya, 慧根), nhờ có định mà trí tuệ quán xét sanh khởi, cho nên biết được như thật chân lý. (5) Ngũ Lực (s: pañca-bala, 五力), tức Tín Lực (s: raddhā-bala, 信力), năng lực tin tưởng; Tinh Tấn Lực (s: vīrya-bala, 精進力), năng lực cố gắng tinh tấn; Niệm Lực (s: smṛti-bala, 念力), năng lực bảo trì; Định Lực (s: samādhi-bala, 定力), năng lực chú tâm tập trung vào Thiền định; Tuệ Lực (s: prajñā-bala, 慧力), năng lực chọn lọc trí tuệ. (6) Thất Giác Chi (s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支), tức Trạch Pháp Giác Chi (s: dharma-pravicaya-sambodhyaṅga, 擇法覺支), nghĩa là chọn lựa sự đúng sai của pháp, lấy cái đúng và bỏ đi cái sai; Tinh Tấn Giác Chi (s: virya-sambodhyaṅga, 精進覺支), là chọn lựa pháp đúng đắn và tinh tấn chuyên tâm tu tập pháp ấy; Hỷ Giác Chi (s: srīti-sambodhyaṅga, 喜覺支), an trú trong pháp vui đúng đắn; Khinh An Giác Chi (s: prasrabdhi-sambodhyaṅga, 輕安覺支), là đoạn trước tà ác đạt được sự nhẹ nhàng an lạc của thân tâm và tăng trưởng thiện căn; Xả Giác Chi (s: supeksā-sambodhyaṅga, 捨覺支), là xả bỏ đi tâm phan duyên với ngoại cảnh và quay trở về sống bình an. (7) Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), tức Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見); Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟); Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語); Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業); Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命); Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進); Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念); Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定). Cho nên thất trùng hàng thọ còn có nghĩa là bảy lớp chồng chất các pháp môn tu tập giải thoát, nhờ vậy hành giả mới có thể an nhiên, tự tại.
thất trạch tâm
3772持戒修善,防護自身之心相;猶如人之建立室宅,以期保護一身。爲聲聞自利心之一,乃六十心中之第三十五心。大日經住心品(大一八‧三上):「云何室宅心?謂順修自護身法。」此心應以救護一切眾生之化他心品爲其對治之法。
; (室宅心) Tâm nhà cửa. Tướng tâm giữ giới, tu thiện để phòng hộ tự thân; giống như người xây cất nhà cửa để che chở cho mình, nên gọi là Thất trạch tâm, 1 trong các tâm tự lợi của Thanh văn, là tâm thứ 35 trong 60 tâm.Phẩmtrụ tâm trong kinh Đại nhật (Đại 18, 3 thượng) nói: Thấttrạchtâm là gì? Là pháp tu theo để tự giữ mình. Hành giả nên dùng Hóa tha tâm phẩm cứu giúp tất cả chúng sinh làm phương pháp đối trị tâm này.
Thất trị pháp
xem bảy hình thức yết-ma.
thất trọng hành thụ
101乃七重行道樹,為極樂世界之寶樹。阿彌陀經(大一二‧三四六下):「極樂國土,七重欄楯,七重羅網,七重行樹,皆是四寶周匝圍繞,是故彼國名曰極樂。」觀無量壽經並載寶樹觀,然於「七重」無具體之說明。唐代善導之觀無量壽佛經疏卷三指出,七重非為七列寶樹,而係指一樹而言,以黃金、紫金、白銀、瑪瑙、珊瑚、白玉、真珠等七重寶為根莖乃至花果等。〔阿彌陀經通贊疏卷中、觀經疏傳通記卷十一〕
; (七重行樹) Chỉ cho 7 lớp hàng cây, là loại cây báu ở thế giới Cực lạc. Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Cõi nước Cực lạc có 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây đều là các vật báu bao quanh, vì thế cõi nước ấy có tên là Cực lạc.Kinh Quán vô lượng thọ cũng có nói về quán tưởng cây báu, nhưng không thuyết minh cụ thể về thất trùng. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 3 của ngài Thiện đạo đời Đường cho rằng thất trùng không phải là 7 lớp cây báu mà chỉ cho 1 cây, từ gốc thân cho đến hoa quả đều bằng 7 lớp báu: Vàng ròng, vàng tía, bạc trắng, mã não, san hô, bạch ngọc và chân châu.
Thất trục
(七軸): bảy quyển, như trong bài kệ xưng tán Pháp Hoa Kinh có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng (六萬餘言七軸裝、無邊妙義廣含藏, hơn sáu vạn lời thành bảy quyển, vô biên nghĩa mầu rộng hàm tàng).” Hay trong Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng (古林清茂禪師拾遺偈頌, CBETA No. 1413) quyển Hạ cũng có câu: “Thất trục Liên Kinh lục vạn ngôn, Linh Sơn nhất hội thượng y nhiên, hoàng kim tự hữu hoàng kim giá, bảo sở phân minh tại mục tiền (七軸蓮經六萬言、靈山一會尚依然、黃金自有黃金價、寶所分明在目前, bảy quyển Liên Kinh sáu vạn lời, Linh Sơn nhất hội vẫn muôn đời, vàng ròng vốn có vàng ròng giá, chỗ báu rõ ràng trước mắt mình).”
thất tuỳ miên
121即將貪、瞋、癡、慢、疑、見等六隨眠中之貪隨眠分為欲貪、有貪二種,合為七隨眠。又稱七使。隨眠者,根本煩惱之異稱,隨逐有情而起,且其行相微細,故稱隨眠。欲貪者,於欲界貪著外在五欲妙境;有貪者,為上二界之貪,即貪著上二界之定及依身,故稱有貪。〔俱舍論卷十九、大乘義章卷五〕(參閱「六隨眠」1311)
; (七隨眠) Cũng gọi Thất sử. Chỉ cho 7 Tùy miên. Trong 6 tùy miên (tham, sân, si, mạn, nghi, kiến) thì Tham tùy miên được chia làm 2 thứ là Dục tham và Hữu tham cộng chung là 7 tùy miên. Tùy miên là tên khác của phiền não căn bản, theo đuổi hữu tình mà sinh khởi và vì hình tướng của các phiền não này rất nhỏ nhiệm nên gọi là Tùy miên. Dục tham là tham đắm cảnh 5 dục vi diệu ở ngoài cõi Dục; Hữu tham là tham của cõi Sắc và cõi Vô sắc, tức tham đắm thiền định và y thân của 2 cõi ấy, cho nên gọi là Hữu tham.
Thất tài
七財; S: saptadhanāṇi; cũng được gọi là Thất thánh tài;|Bảy của báu của một tu sĩ đạo Phật, bao gồm: |1. Tín tài (信財; śraddhādhana): lòng tin vững chắc là của quý; 2. Giới tài (戒財; śīladhana): lấy giới luật thanh tịnh làm của báu; 3. Tàm tài (慚財; hrīdhana): cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh là tài của; 4. Quý tài (愧財; apatrāpya-, apatrapādhana): biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 5. Văn tài (聞財; śrutadhana): lấy việc nghe nhiều lời thuyết pháp, sự hiểu rộng làm tài của; 6. Xả tài (捨財) hoặc Thí tài (施財; tyāgadhana): xem bố thí là tài của riêng; 7. Huệ tài (慧財; prajñādhana): Trí huệ là tài của.
thất tài
Sapta-dhanāṇi (S).
Thất tâm giới
七心界; C: qī xīn jiè; J: shichishinkai;|Gồm nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý thức, cộng thêm ý căn (thức thứ bảy). Bảy loại nầy được rút ra từ mười tám giới (Thập bát giới).
Thất tâm 失心
[ja] シツシン shitsushin ||| Scattered mind, loss of mindfulness, loss of spiritual composure. 〔瑜伽論 T 1579.30.622c7〕 => Xao nhãng tâm ý, không chú tâm, tâm không điềm tĩnh.
thất tình
104情者,乃是非之主,利害之根。或指喜、怒、哀、樂、愛、惡、欲;或指喜、怒、憂、思、悲、恐、驚;或指喜、怒、憂、懼、愛、憎、欲。〔釋氏要覽卷下〕
; Seven sentiments Gồm: - Hỷ (mừng) - nộ (giận) - ai (đau đớn) - cụ (sợ sệt) - aí (yêu) - ố (ghét) - dục (muốn).
; The seven emotions: hỉ pleasure; nộ anger; ái love; ố hate; ai sorrow; dục desire; lạc joy.
; (七情) Chỉ cho 7 thứ tình cảm của con người. Tình là đầu mối của thị phi, nguồn gốc của lợi hại. Thất tình có 3 thuyết khác nhau:1. Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục(mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn). 2. Hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh(mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, hãi). 3. Hỉ, nộ, ưu, cụ, ái, tăng, dục(mừng, giận, lo, sợ, yêu, ghét, muốn).
thất tình lục dục
104七情,指一般人所具有之七種感情:喜、怒、哀、懼、愛、惡、欲。六欲,據大智度論卷二記載,係指凡夫對異性所具有之六種欲望:色欲、形貌欲、威儀欲、言語音聲欲、細滑欲、人相欲;或指眼、耳、鼻、舌、身、意等六欲。今所用「七情六慾」一語,即套用佛典中之「六欲」,泛指人之情緒、慾望等。
; (七情六欲) Thất tình chỉ cho 7 thứ tình cảm mà mọi người đều có, đó là mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn. Còn Lục dục, theo luận Đại trí độ quyển 2 là chỉ cho 6 thứ dục vọng của phàm phu đối với người khác phái, đó là: Sắc dục(muốn vì nhan sắc), hình mạo dục(muốn vì vóc dáng), uy nghi dục (muốn vì cử chỉ), ngôn ngữ âm thanh dục (muốn vì giọng nói),tế hoạt dục(muốn vì làn da láng mịn) và nhân tướng dục(muốn vì tướng người khêu gợi); hoặc chỉ cho nhãn dục (muốn vì cặp mắt), nhĩ dục(muốn vì đôi tai), tị dục(muốn vì cáimũi), thân dục(muốn vì thân hình) và ý dục(muốn vì ý hợp). Từ ngữ Thất tình lục dục hiện nay được sử dụng rộng rãi chính là dùng theo từ Lục dục trong kinh điển Phật để chỉ chung cho tình cảm, dục vọng... của con người.
thất tông
99<一>指律、法相、三論、華嚴、天台、真言、禪等七宗。是於八宗中去俱舍、成實宗,更加禪宗而成。〔元亨釋書卷二十七〕 <二>指禪宗之七派。禪宗自六祖慧能以後,分為曹洞、雲門、法眼、臨濟、溈仰五派,臨濟一派復出楊岐、黃龍二派,後世稱為七宗。(參閱「禪宗」6455)
; Shichi-shŪ (S).
; The seven Japanese sects of Luật Ritsu (J), Pháp tướng Hossò, Tam luận Sanron, Hoa nghiêm Kegon, Thiên thai Tendai, Chân ngôn Shingon, and Thiền Zen.
; (七宗) I. Thất Tông. Chỉ cho 7 tông: Luật, Pháp tướng, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai, Chân ngôn và Thiền. Tức trong 8 tông bỏ 2 tông Câu xá và Thành thực, rồi thêm Thiền tông mà thành 7 tông. II. Thất Tông. Chỉ cho 7 phái của Thiền tông. Từ Lục tổ Tuệ năng về sau, Thiền tông chia ra 5 phái là Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, Lâm tế và Qui ngưỡng, rồi từ Lâm tế lại chia ra 2 phái là Dương kì và Hoàng long, đời sau gọi là Thất tông.
thất tăng
112日本佛教界舉行大法會時,有司重要職務之七位僧 Q,稱為七僧。即:(一)講師,(二)讀師,(三)咒願師,(四)三禮師,(五)唄師,(六)散華師,(七)堂達。由七僧所舉行之大法會,即稱七僧法會。
; (七僧) Bảy vị tăng giữ các chức vụ quan trọng khi cử hành đại pháp hội của giới Phật giáo Nhật bản. Đó là: Giảng sư, Độc sư, Chú nguyện sư, Tam lễ sư, Bái sư, Tán hoa sư vàĐường đạt. Đại pháp hội do 7 vị tăng này cử hành được gọi là Thất tăng pháp hội.
thất tăng trai
112西國之法,以錢財或莊田布施寺院,限七僧常供齋食,稱為七僧齋。〔俱舍論光記卷十八〕
; (七僧齋) Theo phép của các nước Tây vực, đem tiền tài, hoặc ruộng vườn bố thí cho chùa viện, nhưng trai thực thì thường chỉ cúng cho 7 vị tăng, gọi là Thất tăngtrai.
thất tướng lân hôn
101據菩薩善戒經卷八如法住定心品載,菩薩於諸有情起七相憐愍,即:(一)無畏憐愍,指菩薩於諸有情,以無畏力,起憐愍心,隨順眾生身、語、意三業,利益安樂。(二)真實憐愍,非煩惱愛故,菩薩於諸有情,如法憐愍,利益一切,而終不以非法、非律、非賢善行勸化有情,乖違於理。(三)不愁憐愍,指菩薩於諸有情,慇懃憐愍,隨其所宜,發起一切饒益事業,而心無憂悔。(四)不求憐愍,指菩薩於諸有情,不待求請,而自起憐愍,為作利益。(五)不愛憐愍,指菩薩於諸有情,無愛染心而起憐愍,廣饒益於他,不祈恩報,亦不希望當來之果。(六)廣大憐愍,指菩薩於諸有情,起憐愍心,至廣至大,雖遭遇一切不饒益事,寧可自身受苦,終不棄捨,令其安樂。(七)平等憐愍,指菩薩以如上種種憐愍眾生功德相狀,普於一切平等饒益,無有分限。
thất tướng lân mẫn
(七相憐愍 ) Chỉ cho 7 tướng thương xót của Bồ tát đối với các loài hữu tình. Theo phẩm Như pháp trụ định tâm trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 8, Bồ tát đối với các loài hữu tình khởi 7 tướng thương xót là: 1. Vô úy lân mẫn: Bồ tát đối với hữu tình dùng năng lực không sợ hãi, khởi tâm thương xót, tùy theo 3 nghiệp thân, ngữ, ý của chúng sinh mà mang lại lợi ích an vui cho họ. 2. Chân thực lân mẫn: Bồ tát thương xót và làm lợi ích cho tất cả hữu tình một cách chân thực, đúng pháp, chứ không vì phiền não ái trước, không bao giờ khuyến hóa các hữu tình theo những điều phi pháp, phi luật, phi hiền thiện hạnh, trái với chân lí. 3. Bất sầu lân mẫn: Bồ tát ân cần thương xót các hữu tình, tùy nhu cầu của họ mà phát khởi tất cả sự nghiệp lợi ích mà không lo buồn, hối hận. 4. Bất cầu lân mẫn:Đối với các hữu tình, Bồ tát không đợi họ cầu xin, mà tự mình khởi tâm thương xót, làm lợi ích cho họ.5. Bất ái lân mẫn: Bồ tát không khởi tâm ái nhiễm mà thương xót các hữu tình, làm lợi ích cho họ mà không cầu báo ân, cũng không mong quả báo ở đương lai. 6. Quảng đại lân mẫn: Tâm thương xót của Bồ tát rất sâu rộng, dù gặp nhiều khó khăn, bất lợi, nhưng thà tự mình chịu khổ, chứ không bỏ sự nghiệp mưu lợi ích an vui cho chúng sinh. 7. Bình đẳng lân mẫn: Bồ tát dùng các tướng trạng công đức thương xót đối với các hữu tình như đã nói trên để làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt.
thất tịnh hoa
105以華比喻七種淨德。又稱七淨。鳩摩羅什謂七淨華為:(一)戒淨,為始終淨。即身口所作,無有微惡;意不起垢亦不取相,亦不願受生。施人無畏,不限眾生。(二)心淨,三乘制伏煩惱心、斷結心,乃至三乘漏盡心,稱為心淨。(三)見淨,即見法真性,不起妄想。(四)度疑淨,即見解深透而斷除疑惑。(五)分別道淨,即善能分別是非,合道宜行,非道宜捨。(六)行斷知見淨,「行」指苦難、苦易、樂難、樂易四行。「斷」指斷除諸結(惑)。即證得無學盡智、無生智者,能知見所行、所斷,而通達分明。(七)涅槃淨。 此外,據隋代慧遠之維摩義記卷三末所舉,七淨德清淨如華,故稱七淨華。此華唯取清淨之義。七淨德,即:(一)戒淨,(二)定淨,(三)見淨,(四)度疑淨,(五)道非道淨。此五種大小乘同名,後二種則稍異。在小乘法中,第六為行淨,第七為行斷智淨。在大乘法中,則第六為行斷智淨,第七為思量菩提分法之上上淨。又唐代湛然之維摩經略疏卷九,將七淨華配於八正道及行位三道。〔中阿含卷二「七車經」、維摩經卷中佛道品、注維摩詰經卷七、說無垢稱經疏卷五末(窺基)〕
; (七淨華) Cũng gọi Thất tịnh. Dùng hoa để ví dụ cho 7 đức tính thanh tịnh. Theo ngài Cưu ma la thập thì thất tịnh hoa là: 1. Giới tịnh: Trước sau đều thanh tịnh. Tức mọi hành vi của thân, khẩu đều không có lỗi xấu nhỏ nào, trong tâm không khởi ý nghĩ ô nhiễm, cũng không chấp tướng, cũng không nguyện thụ sinh. Đem sự can đảm không sợ hãi đến cho người, không hạn cuộc chúng sinh nào. 2. Tâm tịnh: Tâm Tam thừa chế phục phiền não, tâm đoạn kết, cho đến tâm Tam thừa lậu tận, gọi là Tâm tịnh. 3. Kiến tịnh: Thấy tính chân thực của các pháp, không sinh khởi vọng tưởng. 4. Độ nghi tịnh: Tức kiến giải sâu sắc, dứt hết nghi hoặc. 5. Phân biệt đạo tịnh:Tức khéo phân biệt phải quấy, hợp đạo thì làm, không đúng đạo thì bỏ. 6. Hành đoạn tri kiến tịnh:Hành chỉ cho 4 hành khổ khó, khổ dễ, vui khó, vui dễ; Đoạn là đoạn trừ các kết hoặc. Tức người chứng Vô học tận trí, Vô sinh tríthìthấy biết được những gì nên thực hành, những gì nên đoạn trừ, đều thông suốt một cách rõ ràng. 7. Niết bàn tịnh. Ngoài ra, theo Duy ma nghĩa kí quyển 3, phần cuối của ngài Tuệ viễn đời Tùy thì Thất tịnh đức thanh tịnh như hoa, vì thế gọi là Thất tịnh hoa. Hoa này chỉ lấy nghĩa thanh tịnh. Trong Thất tịnh đức thì Giới tịnh, Định tịnh, Kiến tịnh, Độ nghi tịnh và Đạo phi đạo tịnh trong Đại, Tiểu thừa đều giống nhau, còn 2 tịnh đức sau thì hơi khác. Trong pháp Tiểu thừa, tịnh đức thứ 6 là Hành tịnh, tịnh đức thứ 7 là Hành đoạn trí tịnh. Còn trong pháp Đại thừa thì tịnh đức thứ 6 là Hành đoạn trí tịnh, tịnh đức thứ 7 là Tư lương bồ đề phần pháp thượng thượng tịnh. Duy ma kinh lược sớ quyển 9 của ngài Trạm nhiên đời Đường phối hợp Thất tịnh hoa với Bát chính đạo và Hành vị tam đạo.
thất tối thắng
109請參閱 七知經 謂安住最勝、依止最勝、意果最勝、事業最勝、巧便最勝、迴向最勝、清淨最勝等七者。蓋一切布施等行,不得悉名波羅蜜多,必具最勝,方能成之。(一)安住最勝,安住於菩薩之種性。(二)依止最勝,依止於大菩提心。(三)意果最勝,悲愍一切有情。(四)事業最勝,具行一切事業而不限一行。(五)巧便最勝,住於無相智,了達一切法如空如幻而離執著。(六)迴向最勝,迴向於無上菩提。(七)清淨最勝,不為煩惱、所知二障所間雜。〔成唯識論卷九〕
; (七最勝) Chỉ cho 7 điều tối thắng. Tất cả các hạnh như bố thí... không phải đều là ba la mật đa, mà phải có tối thắng(hơn hết) mới thành Ba la mật đa. Thất tối thắng là: 1. An trụ tối thắng: An trụ trong chủng tính Bồ tát. 2. Y chỉ tối thắng: Nương tựa vào tâm đại bồ đề. 3.Ýquả tối thắng: Thương xót tất cả loài hữu tình. 4. Sự nghiệp tối thắng: Thực hành tất cả sự nghiệp, không giới hạn ở một hạnh nào.5. Xảo thiện tối thắng: Trụ nơi trí vô tướng, rõ suốt tất cả pháp như huyễn như hóa, xa lìa chấp trước. 6. Hồi hướng tối thắng: Hồi hướng về Vô thượng bồ đề. 7. Thanh tịnh tối thắng: Không để bị phiền não chướng và sở tri chướng xen lẫn.
thất tổ
102即七位傳承各宗法統之祖師。淨土、華嚴、密教等宗皆立七祖之說。<一>淨土(蓮社)七祖。指廬山慧遠、長安善導、南岳承遠、長安法照、少康、延壽、省常。或除始祖慧遠外,以餘之六祖加宗賾,立為七祖。此外,日本淨土真宗亦立七祖,稱七高祖或七高僧,指印度龍樹、天親(世親),我國曇鸞、道綽、善導,與日本源信、法然(源空)等七人。〔佛祖統紀卷二十六、樂邦文類卷三、淨土指歸卷上〕 <二>華嚴宗七祖。指馬鳴、龍樹、法順、智儼、法藏、澄觀、宗密。昔華嚴宗僅立唐朝五祖,然以馬鳴造大乘起信論,龍樹造十住毘婆沙論,俱為弘通華嚴教旨,故宋朝淨源奉詔,立馬鳴、龍樹為初之二祖,成立七祖說。〔五教章通路記卷一、八宗綱要卷下〕 <三>密教七祖。即大日如來、金剛薩埵、龍猛、龍智、金剛智、不空、惠果。復有除大日如來、金剛薩埵,加善無畏、一行,另立七祖說。〔十住心論卷十〕
; Seven patriarches, tarab dun (T).
; (七祖) Chỉ cho 7 vị Tổ sư truyền thừa pháp thống của các tông. Các tông như Tịnh độ, Hoa nghiêm, Mật giáo... đều có lập thuyết Thất tổ. I. Thất Tổ. Thất tổ của tông Tịnh độ (Liên xã), chỉ cho 7 vị: Lô sơn Tuệ viễn, Trường an Thiện đạo, Nam nhạc Thừa viễn, Trường an Pháp chiếu, Thiếu khang, Diên thọ và Tỉnh thường. Hoặc trừ Thủy tổ Tuệ viễn ra, thêm ngài Tông trách lập thành Thất tổ. Ngoài ra, Tịnh độ chân tông của Nhật bản cũng lập Thất tổ, gọi là Thất cao tổ hoặc Thất cao tăng, chỉ cho 7 vị là các ngài Long thụ, Thiên thân (Thế thân) người Ấn độ, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo người Trung quốc và ngài Nguyên tín, Pháp nhiên (Nguyên không) người Nhật bản.II. Thất Tổ. Thất tổ của tông Hoa nghiêm, chỉ cho 7 vị: Mã minh, Long thụ, Pháp thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật. Ngày xưa, tông Hoa nghiêm chỉ lập 5 vị Tổ đời Đường, nhưng vì ngài Mã minh soạn luận Đại thừa khởi tín, ngài Long thụ soạn luận Thập trụ tì bà sa, là các bộ luận hoằng truyền giáo chỉ Hoa nghiêm, cho nên ngài Tịnh nguyên đời Tống vâng sắc lập ngài Mã minh và Long thụ làm 2 vị Sơ tổ mà thành thuyết Thất tổ. III. Thất Tổ. Thất tổ của Mật giáo: Tức 7 vị Tổ là Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không và Huệquả. Cũng có chỗ trừ Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, thêm ngài Thiện vô úy và ngài Nhất hạnh mà thành lập thuyết Thất tổ.
thất tổ thánh giáo
103日本淨土真宗所立七祖之聖教,即指七祖所撰述十三部有關淨土論釋之總稱。即:(一)龍樹之十住毘婆沙論易行品一卷、十二禮一卷。(二)天親之往生淨土論一卷。(三)曇鸞之往生論註二卷、讚阿彌陀佛偈一卷。(四)道綽之安樂集二卷。(五)善導之觀經疏四卷、法事讚二卷、觀念法門一卷、往生禮讚一卷、般舟讚一卷。(六)源信之往生要集三卷。(七)源空之選擇本願念佛集一卷。
; (七祖聖教) Thánh giáo của 7 vị tổ do Tịnh độ chân tông Nhậtbảnlập ra, là từ gọi chung 13 bộ luận thích về Tịnh độ do 7 vị Tổ soạn thuật. Đó là: 1. Thập trụ tì bà sa luận Dị hành phẩm 1 quyển, Thập nhị lễ 1 quyển của ngài Long thụ.2. Luận Vãng sinhtịnh độ 1 quyển của ngài Thiên thân. 3. Vãng sinh luận chú 2 quyển, Tán A di đà Phật kể 1 quyển của ngài Đàm loan. 4. An lạc tập 2 quyển của ngài Đạo xước. 5. Quán kinh sớ 4 quyển, Pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển, Vãng sinh lễ tán 1 quyển và Ban chu tán 1 quyển của ngài Thiện đạo. 6. Vãng sinh yếu tập 3 quyển của ngài Nguyên tín. 7. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của ngài Nguyên không.
thất tụ
119將犯戒之相分為七類,即統括五篇與篇外諸戒條為七類。又作七犯聚、七罪聚、七篇。即:(一)波羅夷(梵 pārājika),意譯斷頭。(二)僧伽婆尸沙(梵 saṃghāvaśeṣa),即僧殘。僧為僧伽之略;殘為婆尸沙之譯。(三)偷蘭遮(梵 sthūlātyaya),意譯大障善道。(四)波逸提(梵 pāyattika,或 prāyaścittika),意譯墮。(五)波羅提提舍尼(梵 pratideśanīya),意譯向彼悔。(六)突吉羅(梵 duṣkṛta),意譯惡作。(七)惡說(梵 durbhāṣita)。七聚之說各有不同,毘尼母經卷三,以尼薩耆波逸提代惡說。律二十二明了論則載七聚為:(一)波羅夷聚,謂四波羅夷。(二)僧伽胝施沙聚,謂十三僧伽胝施沙。(三)偷蘭遮耶聚,謂一切三聚不具分所生偷蘭遮耶。(四)尼薩耆波羅逸尼柯聚,謂三十尼薩耆波羅逸尼柯。(五)波羅逸尼柯聚,謂九十波羅逸尼柯。(六)波胝提舍尼聚,謂四波胝提舍尼。(七)非六聚所攝罪、六聚不具分所生罪及學對。〔四分律卷六十〕(參閱「五篇」1197、「律」3789)
; (七聚) Cũng gọi Thất phạm, Thất tội tụ, Thất thiên. Tướng phạm giới được chia làm 7 loại, tức tóm thu các giới điều thuộc 5 thiên và ngoài 5 thiên vào làm 7 loại. Đó là: 1. Ba la di (Phạm:Pàràjika): Hán dịch là đoạn đầu (chặt đầu). 2. Tăng già bà thi sa (Phạm: Saôghàvazewa), tức Tăng tàn. Tăng gọi đủ là Tăng già; Tàn là dịch nghĩa của Bà thi sa. 3. Thâu lan giá(Phạm:Sthùlàtyaya), dịch ý là rất chướng ngại cho thiện đạo. 4. Ba dật đề(Phạm:Pàyattika hoặc Pràyazcittika), dịch ý là rơi. 5. Ba la đề đề xá ni (Phạm Pratidezanìya), dịch ý là hướng vào người ấy mà sám hối. 6. Đột cát la(Phạm: Duwkfta), Hán dịch làÁc tác. 7.Ác thuyết(Phạm:Durbhàwita). Thuyết Thất tụ có nhiều điểm khác nhau, như kinh Tì nimẫu quyển 3 dùng Ni tát kì ba dật đề thay choÁc thuyết. Còn luận Luật nhị thập minh liễu thì liệt kê thất tụ là: 1. Ba la di tụ: Gồm 4 Ba la di. 2. Tăng già đê thi sa tụ: Gồm 13 Tăng già đê thi sa. 3. Thâu lan già da tụ: Thâu lan già da do không đủ tính chất của cả 3 tụ sinh ra. 4. Ni tát kì ba la dật ni kha tụ: Gồm 30 Ni tát kì ba la dật ni kha. 5. Ba la dật ni kha tụ: Gồm 90 Ba la dật ni kha. 6. Ba đê để xá ni tụ: Gồm 4 Ba đê để xá ni. 7. Phi lục tụ sở nhiếp tội: Tội và học đối không đủ tính chất của Lục tụ sinh ra.
thất tử
91乃佛陀慈悲之喻。謂一人有七子,於患病之子慈心最深。「七子」之說法不一,一說係六道眾生六者與有罪之人,或謂六住之菩薩與十信之外凡,或四果、緣覺、聲聞與外凡人。大般涅槃經(北本)卷二十(大一二‧四八一上):「譬如一人而有七子,是七子中一子遇病,父母之心非不平等,然於病子心則偏多。大王!如來亦爾,於諸眾生非不平等,然於罪者,心則偏重。」
; (七子) Bảy người con, là ví dụ cho lòng từ bi của đức Phật. Kinh Đạiniết bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 481) nói: Ví như một người có bảy đứa con, một trong bảy đứa ấy bị bệnh thì cha mẹ quan tâm đến nó nhiều hơn, chứ không phải yêu thương các conmột cách thiên vị. Đại vương!Như lai cũng thế, đối với các chúng sinh chẳng phải không có tâm bình đẳng, nhưng với người có tội thì tâm nghiêng nặng về người ấy nhiều hơn. Ngoài ra, về thuyết Thất tử còn có các thuyết khác nhau; như có thuyết cho rằng Thất tử là chúng sinh trong 6 đường và người có tội; hoặc cho rằng Thất tử là Bồ tát Lục trụ và Ngoại phàm Thập tín; hoặc chủ trương Thất tử là Tứ quả, Duyên giác, Thanh văn và hàng Ngoại phàm...
thất uế hành
122據出曜經卷十載,如來教法將滅時,有七種穢行,即:(一)百歲持戒,為惡所破。指有持戒滿百年者,於一彈指頃,為惡知識所破壞。(二)久行慈心,為瞋所壞。指有人久行平等慈忍,一旦逆境現前,不能安忍,瞋恚倏起,壞滅善根。(三)薄賤不隨師教,指善行寡少,為此道者,皆為輕薄污賤之徒,不修威儀進止,不順師長教誨。(四)互諍勝負,指正教不行,人我妄興,交相毀諍,以求勝負,而不思反邪歸正。(五)鬭亂彼此,指出家之人貪求利養,我慢貢高,互相毀謗,爭鬭不已,而不解弘持其教。(六)貪著利養,指出家之人多貪利養,惟思口體之奉,不以勤苦為勞,致令身多疾病,不能流通佛教。(七)凡聖皆被毀辱,指教道不明,以偽亂真,以邪混正,是非不明,凡聖無別,故自凡夫之僧至阿羅漢,皆受人輕賤毀辱。
; (七穢行) Chỉ cho 7 hạnh nhơ nhớp. Cứ theo kinh Xuất diệu quyển 10, khi giáo pháp của Như lai sắp hoại diệt thì có 7 việc nhơ nhớp là: 1. Trăm năm giữ giới bị người ác phá: Có người trì giới cả trăm năm, nhưng chỉ trong khoảng thời gian búng đầu ngón tay đã bị ác tri thức phá hoại. 2. Thực hành tâm từ bi đã lâu rồi bị sân tâm phá hoại: Có người tu hành tâm bình đẳng từ nhẫn đã lâu, bỗng nghịch cảnh hiện tiền, không an nhẫn được, tức giận nổi lên, làm cho căn lành hoại diệt. 3. Hèn kém không theo lời thầy chỉ dạy: Chỉ cho những người tu được chút ít hạnh lành rồi cho đó là Đạo, họ đều là những kẻ hèn kém xấu xa, chẳng tu uy nghi, không nghe lời dạy bảo của Sư trưởng. 4. Tranh nhau hơn thua: Không tu hành chính giáo, vọng khởi nhân ngã, tranh cãi, hủy báng lẫn nhau để tranh giành hơn thua, không biết bỏ tà về chính. 5. Làm náo loạn mọi người: Chỉ cho người xuất gia tham cầu lợi dưỡng, kiêu căng ngạo mạn, chê bai lẫn nhau, tranh đấu không thôi, chẳng biết hoằng truyền giáo pháp. 6. Ham đắm danh lợi: Người xuất gia ham đắm danh lợi, chỉ lo cung phụng cho thân, không chịu siêng năng tu tập, đến đỗi thân mang nhiều bệnh, không thể lưu thông Phật pháp. 7. Phàm thánh đều bị hủy nhục: Dạy đạo không rõ ràng, lấy ngụy làm chân, lấy tà làm chính, phải trái không rành, thánh phàm một duộc, do đó, từ tăng phàm phu đến bậc A la hán, đều bị người đời khinh rẻ, hủy nhục...
thất vô kí
109小乘分別無記法為有覆、無覆二種,其中無覆無記又分異熟、威儀、工巧、通過、自性、勝義等六種,與有覆無記合稱七無記。(參閱「三性」563)
; (七無記) Tiểu thừa chia pháp Vô kí làm 2 thứ là Hữu phú vô kí và Vô phú vô kí, trong đó, Vô phú vô kí lại được chia làm 6 thứ Dị thục, Uy nghi, Công xảo, Thông quá, Tự tính và Thắng nghĩa, rồi cộng chung Hữu phú vô kí gọi là Thất vô kí. (xt. Tam Tính).
thất vô tận
Saptaksara (S).
thất vật
99古代僧院中澡浴必備之七樣物品。即:然火、淨水、澡豆、酥膏、淳灰、楊枝、內衣。據洞上伽藍雜記載,澡浴之法當用七物除去七病,可得七福報。(參閱「七病」102)
; (七物) Chỉ cho 7 vật cần thiết dùng vào việc tắm gội trong các tăng viện thời xưa. Đó là: đốt lửa, nước sạch, bột đậu, dầu dừa, tro, cành dương và áo lót. Theo Động thượng già lam tạp kí thì dùng 7 vật trên đây tắm gội sẽ tiêu trừ 7 thứ bệnh, có được 7 phúc báo
thất vọng
Xem Gian truân.
thất xứ bình mãn tướng
106又作七處隆滿相、七處滿足相。如來三十二相之一。謂佛兩足下、兩手及兩肩、頸項等七處,皆平滿端正,柔軟微妙。此係佛於因位時,不惜施捨,不計福田非福田,所感得之妙相;乃表佛斷盡七隨眠,具足七聖財,令一切眾生得滅罪生善之益的一種德相。〔大智度論卷四〕
; (七處平滿相) Cũng gọi Thất xứ long mãn tướng, Thất xứ mãn túc tướng. Chỉ cho đức tướng của Như lai có 7 chỗ bằng phẳng và đầy đặn, 1 trong 32 tướng của Phật. Bảy chỗ là: 2 lòng bàn chân, 2 lòng bàn tay, 2 vai và cổ. Đó là những tướng vi diệu cảm được do đức Phật khi còn tu nhân đã bố thí không tiếc, bất luận người nhận cólàphúc điền hay không là phúc điền. Đây là 1 thứ tổng tướng biểu thị ý nghĩa đức Phật đã dứt hết 7tùy miên, đầy đủ 7 thánh tài, khiến tất cả chúng sinh được lợi ích diệt tội sinh thiện.
thất xứ chinh tâm
106佛於楞嚴會上徵詰阿難心目所在之處,阿難先後以七處回答之,均為佛所論破,稱為七處徵心。楞嚴會前,阿難因乞食而遭遇摩登伽女以幻術誘惑,將毀戒體時,佛遙知之,敕文殊持咒往護阿難歸來。楞嚴會時,佛乃徵其心目所在之處,阿難答以目在外而心在內,迨佛徵其心不在內時又答以在外。如是輾轉窮逐徵詰,至於無所著處。蓋佛欲破除阿難之妄想緣心,使其妄心無所依止,故一一論破,以顯此心遍一切處,無在無不在之妙淨。 (一)心在內。阿難初答「心居身內,目在於外」,佛遂謂:「心若在身內,則應先見身中之心肝脾胃等物,然後才能見外境。若不先見身中之物,心豈在身內?」 (二)心在外。阿難以燈光為譬喻,謂:「眾生心在身外,不見身中,如燈光在室外,故不能照見室內。」佛詰之:「若言心在身外,則身心兩異,各不相知;而今身心相知,豈可謂在外?」 (三)潛根。阿難以琉璃籠眼為譬喻,謂心潛伏眼根裏,若眼見物時,心隨即能分別而無有障礙,如以琉璃籠於眼上而不礙於見物。佛以阿難引喻失義而責之曰:「若以琉璃喻眼,則眼亦可見;眼若可見,即同於境矣!眼若同境,則心境各異,豈可謂心潛伏根內而可分別?」 (四)在闇內。阿難又計:「諸眾生之身,腑臟在中,竅穴居外,如我今者,開眼見明為見外,閉眼見暗為見內。」佛乃問其:「閉眼見暗之時,此暗境界與眼相對否?若與眼相對,暗在眼前,云何成『內』?若不相對,云何成『見』?」 (五)隨所合處。四度被論破後,阿難答以「隨所合處,心則隨有」,佛又詰之:「汝言隨所合處者,若心無體,則無所合;心若有體,則汝以手自挃其身,汝心必能覺知,此覺知心為復內出?為從外來?若於內出,則心在身中;若從外來,則應先見表面。既非內外,則無出入;出入既無,體性何有?若無體性,誰為隨合?」 (六)在中間。阿難謂:「心在根、塵中間。」佛又問:「心若在根、塵之中,此心體為復兼於根、塵?為不兼於根、塵?若兼於根、塵,則根有知而塵無知,根、塵敵對,有知、無知兩立,云何為中?若不兼者,不屬根、塵,即無體性,中何有相?」 (七)無著。阿難最後答以「一切無著,名之為心」,然佛又詰之曰:「若言不著名之為心者,如世間水陸飛行一切物象,汝心不著,然此等物象為有為無?若言無者,則同龜毛兔角,云何更有不著之物而言不著?若言有者,物在則心亦在,又云何無著?」〔大佛頂首楞嚴經卷一〕
thất xứ tam quán kinh
106全一卷,或二卷。後漢安世高譯。收於大正藏第二冊。乃集輯有關修道修觀之小經。此經版本有二:(一)高麗本為一卷,共收三十部小經。(二)宋、元、明三本為二卷,共集四十七部小經。就後者而言,第一經(稱為七處三觀經)及第三經後半(無眼)說色諦、色習、色盡、色滅、色味、色出要、色苦之七處,及觀色、觀五陰、觀六衰之三觀,故經名七處三觀。
; (七處三觀經) Kinh, 1 quyển hoặc 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này thu chép các tiểu kinh nói về tu đạo, tu quán. Kinh này có 2 bản in: 1. Bản Cao li, 1 quyển, thu chép tất cả 30 bộ tiểu kinh. 2. Ba bản đời Tống, Nguyên, Minh, 2 quyển, thu chép tất cả 47 bộ tiểu kinh. Nói theo 3 bản Tống. Nguyên, Minh thì kinh thứ nhất(gọi là Thất xứ tam quán kinh) và nửa sau của kinh thứ 3(Vônhãn) nói về 7 chỗ và 3 quán. Bảy chỗ là: Sắc đế, Sắctập, Sắc tận, Sắc diệt, Sắc vị Sắc xuất yếu và Sắc khổ. Ba quán là: Quán sắc, quán 5 ấm, quán 6 suy. Vì thế có tên là kinh Thất xứ tam quán.
thất xứ thiện
106乃觀法之一。略稱七善。此說見於阿含經與一切有部之說。自七方面如實逐一觀察五蘊,如以色為例,觀色本身(果)與其所生原因(因)、消滅之相狀(滅)、至滅之實踐道(對治道)、成為執著對象之可愛面(愛味)、成為嫌惡對象之不可愛面(過患),甚至超越以上二面(出離)而如實作觀。〔雜阿含經卷二〕
; (七處善) Gọi tắt: Thất thiện. Bảy phương diện quán xét các pháp một cách đúng như thực, 1 trong các pháp quán. Thuyết này nói trong kinh A hàm và Nhất thiết hữu bộ. Từ 7 phương diện mà quán xét mỗi uẩn trong 5 uẩn một cách như thực, ví dụ như Sắc thì quán xét bản thân sắc(quả) và nguyên nhân(nhân)sinh ra sắc, tướng trạng tiêu diệt(diệt) con đường thực tiễn(đạo đối trị) đưa đến Diệt, thành là phương diện khả ái(ái vị) chấp trước đối tượng và phương diện bất khả ái(quá hoạn) hiềm ghét đối tượng, thậm chí vượt lên trên 2 phương diện(xuất li) mà quán xét một cách như thực.
thất xứ thuyết
106又作華嚴七處說。謂佛說華嚴經之處有七。據華嚴經隨疏演義鈔卷一載,七處包括人間三處、天上四處,即指:(一)第一處菩提場,指佛在摩竭提(摩揭陀)國阿蘭若菩提場中始成正覺,於此處說如來依正果報法門,共六品經,即:世主妙嚴品、如來現相品、普賢三昧品、世界成就品、華嚴世界品、毘盧遮那品。(二)第二處普光明殿,指佛於菩提道場之側普光明殿中,三次聚會,共說十八品經。初於此處說十信等法門,共六品經,即:如來名號品、四聖諦品、光明覺品、菩薩問明品、淨行品、賢首品。次於此處說等覺法門,凡十一品經,即:十定品、十通品、十忍品、阿僧祇品、壽量品、菩薩住處品、佛不思議品、十身相海品、如來隨好光明品、普賢行品、如來出現品。後於此處說離世間法,即離世間品。(三)第三處忉利天,指佛於須彌山頂帝釋所居之處說十住等法門,共六品經,即:升須彌山品、山頂偈讚品、十住品、梵行品、發心功德品、明法品。(四)第四處夜摩天,指佛於夜摩天說十行等法門,共四品經,即:升夜摩天品、夜摩偈讚品、十行品、十無盡藏品。(五)第五處兜率天,指佛於兜率天說十回向等法門,共三品經,即:升兜率天品、兜率偈讚品、十回向品。(六)第六處他化天,指佛於他化天說十地法門,即十地品。(七)第七處逝多林,指佛於給孤獨園說入法界法門,即入法界品。 以上係指八十華嚴經一部三十九品,七處九會所說。又六十華嚴經一部三十四品,七處八會所說,乃合他化天與普光明殿(次說者)二處,而為他化天會十一品經,故成八會。
; (七處說) Cũng gọi Hoa nghiêm thất xứ thuyết. Bảy chỗ đức Phật nói kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 1, thì 7 chỗ bao gồm 3 chỗ ở nhân gian và 4 chỗ trên cõi trời. Đó là: I. Chỗ thứ nhất: Bồ đề đạo tràng. Lúc mới thành Chính giác ở Bồ đề đạo tràng A la nhã tại nước Ma kiệt đề(Ma yết đà), đức Phật nói về pháp môn Y báo chính báo của Như lai ở đây, gồm có 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm. 2. Phẩm Như lai hiện tướng. 3. Phẩm Phổ hiền tam muội. 4. Phẩm Thế giới thành tựu. 5. Phẩm Hoa tạng thế giới. 6. Phẩm Tì lô giá na. II. Chỗ thứ hai:Điện Phổ quang minh. Ở điện Phổ quang minh bên cạnh Bồ đề đạo tràng, đức Phật 3 lần nhóm hội, giảng nói tất cả 18 phẩm kinh. Lần thứ nhất tại đây, đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập tín... gồm 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Như lai danh hiệu. 2. Phẩm Tứ thánh đế. 3. Phẩm Quang minh giác. 4. Phẩm Bồ tát vấn minh. 5. Phẩm Tịnh hạnh. 6. Phẩm Hiền thủ. Lần thứ hai tại đây, đức Phật giảng nói pháp môn Đẳng giác, gồm 11 phẩm kinh: 1. Phẩm Thập định. 2. Phẩm Thập thông. 3. Phẩm Thập nhẫn, 4. Phẩm A tăng kì. 5. Phẩm Thọ lượng. 6. Phẩm Bồ tát trụ xứ. 7. Phẩm Phật Bất tư nghị. 8. Phẩm Thập thân tướng hải. 9. Phẩm Như lai tùy hảo quang minh. 10. Phẩm Phổ hiền hạnh. 11. Phẩm Như lai xuất hiện. Lần thứ ba tại đây, đức Phật nói về pháp Li thế gian, tức phẩm Li thế gian. III. Chỗ thứ 3: TrờiĐao lợi. ĐứcPhật giảng nói các pháp môn như Thập trụ... trên chóp núi Tu di, nơi ở của trời Đế thích, gồm 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng tu di sơn. 2. Phẩm Sơn đính kệ tán. 3. Phẩm Thập trụ. 4. Phẩm Phạm hạnh. 5. Phẩm Phát tâm công đức. 6. Phẩm Minh pháp. IV. Chỗ thứ tư: Trời Dạ ma. Đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập hạnh ở cung trời Dạ ma, gồm có 4 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng Dạ ma thiên. 2. Phẩm Dạ ma kệ tán. 3. Phẩm Thập hạnh. 4. Phẩm Thập vô tận tạng. V. Chỗ thứ năm: Trời Đâu suất. Đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập hồi hướng..., gồmcó3 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng Đâu suất thiên. 2. Phẩm Đâu suất kệ tán. 3. Phẩm Thập hồi hướng. VI. Chỗ thứ sáu: Trời Tha hóa. Tại cung trời này, đức Phật giảng nói pháp môn Thập địa, tức phẩm Thập địa. VII. Chỗ thứ bảy: Rừng Thệ đa. Ở trong vườn Cấp cô độc, Đức Phật giảng nói pháp môn Nhậpphápgiới, tức phẩm Nhập pháp giới. Trên đây là 39 phẩm của bộ kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) được giảng nói trong 9 hội tại 7 chỗ(thất xứ cửu hội). Còn 34 phẩm của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) thì được nói trong 8 hội tại 7 chỗ, tức gộp chung 2 chỗ trời Tha hóa và điện Phổ quang minh (lần thứ 2) làm 1 hội, còn 8 hội, thành là Thất xứ bát hội(7 chỗ 8 hội).
thất xứ trưng tâm
(七處徵心) Chỉ cho 7 chỗ gạn hỏi về tâm. Trên hội Lăng nghiêm, đức Phật gạn hỏi ngài A nan về 7 chỗ ở của tâm và mắt, ngài A nan lần lượt trả lời 7 chỗ, nhưng đều bị đức Phật bác, gọi là Thất xứ trừng tâm. Trước lúc hội Lăng nghiêm diễn ra, ngài A nan đi khất thực bị nàng Ma đăng già dùng bùa chú mê hoặc, gần mất giới thể, Phật ở xa biết rõ việc gì đang xảy ra cho ngài A nan, nên Phật sai bồ tát Văn thù đem thần chú Thủ lăng nghiêm đến cứu A nan đưa về. Trên hội Lăng nghiêm, đức Phật gạn hỏi ngài A nan về chỗ ở của tâm và mắt, ngài A nan thưa mắt ở ngoài, tâm ở trong, đến khi nghe đức Phật giải thích tâm không phải ở trong thì ngài A nan lại trả lời là tâm ở ngoài. Cuộc vặn hỏi như thế cứ diễn ra liên tục, dồn ngài A nan đến chỗ không còn chấp trước được nữa mới thôi. Bởi vì đức Phật muốn phá trừ tâm phan duyên vọng tưởng của ngài A nan, làm cho tâm vọng tưởng ấy không còn chỗ nào để bám níu, nương tựa, nên Phật luôn bác lời luận đáp của ngài A nan để chỉ ra rằng chân tâm thanh tịnh mầu nhiệm này bao trùm khắp mọi nơi, không ở đâu mà không đâu chẳng ở. 1. Tâm ở trong thân: Đầu tiên, ngài A nan trả lời Tâm ở trong thân, mắt ở ngoài thân. Đức Phật bảo: Nếu tâm ở trong thân thì đáng lẽ phải nhìn thấy tim,gan, tì, vị... ở trong thân trước rồi mới thấy các cảnh vậtởbên ngoài. Nếu chẳng thấy các vật ở trong thân thì lẽ đâu tâm lại ở trong thân? 2. Tâm ở ngoài thân: Ngài A nan dùng đèn sáng làm ví dụvà nói: Tâm của chúng sinh ở bên ngoài thân nên không thấy trong thân, giống như đèn sáng ở bên ngoài căn phòng, cho nên không soi sáng được trong phòng. Đức Phật gạn hỏi: Nếu nói tâm ở ngoài thân thì thân và tâm khác nhau, đều không biết nhau, nhưng thật ra hễ thân biết thì tâm cũng biết và hễ tâm biết thân cũng biết, như vậy lẽ nào tâm ở ngoài thân? 3. Tâm núp sau con mắt: Ngài A nan dùng việc đeo kính làm ví dụ và thưa: Tâm núp phía sau con mắt, nếu khi mắt thấy cảnh vật thì tâm liền phân biệt theo mà không có chướng ngại, giống như đeo kính thì mắt vẫn thấy vật mà không có chướng ngại. Đức Phật nhận thấy ngài A nan ví dụ sai và quở rằng: Nếu kính ví dụ mắt thì mắt cũng nhìn thấy được; nếu mắt thấy được thì cũng đồng với cảnh rồi! Nếu mắt đồng với cảnh thì tâm khác với cảnh và cảnh khác với tâm, vậy lẽ nào tâm núp sau con mắt mà có thể phân biệt được? 4. Tâm ở trong chỗ tối: Ngài A nan lại chấp tâm ở trong chỗ tối và bạch Phật rằng: Thân của các chúng sinh, tạng phủ ở trong, khiếu huyệt ở ngoài, như con giờ đây, mở mắt thấy sáng là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong. Đức Phật hỏi gạn: Khi nhắm mắt thấy tối thì cái cảnh tối ấy có đối trước mắt không? Nếu có đối thì cái tối ở ngay trước mắt, làm sao mà thành ở trong? Còn nếu không đối trước mắt thì làm sao gọi là thấy được? 5. Tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó: Sau 4 lần bị Phật bác, ngài A nan thưa: Tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó, đức Phật lại gạn hỏi: Ông nói tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó, nếu tâm không có thể tính thì không hợp được; còn nếu tâm có thể tính thìhãythử lấy tay tự đánh vào thân ông, chắc chắn tâm ông sẽ giác biết, vậy tâm giác biết ấy từ trong thân ra hay từ bên ngoài vào? Nếu từ trong ra thì tâm ở trong thân, còn nếu ở ngoài vào thì đáng lẽ tâm phải thấy cái mặt của ông. Tâm chẳng phải ở trong ở ngoài thì không có ra vào, ra vào đã không thì làm sao có thể tính; nếu không có thể tính thì cái gì tùy hợp? 6. Tâm ở khoảng giữa: Ngài A nan bạch Phật: Tâm ở khoảng giữa căn và trần. Phật lại hỏi: Nếu tâm ở khoảng giữa căn và trần thì thể tính của tâm gồm cảcăn và trần hay không gồm cả căn và trần? Nếu gồm cả căn và trần thì căn có biết mà trần thì không biết, căn và trần đối lập, ranh giới giữa có biết và không biết rạch ròi, như vậy làm sao nói được là ở khoảng giữa? Còn nếu không gồm thì chẳng thuộc căn, trần, tức không có thể tính, làm sao có khoảng giữa? 7. Tâm không bám dính vào đâu: Sau cùng, ngài A nan trả lời: Tất cả không bám dính, gọi đó là tâm. Nhưng đức Phật lại vặn hỏi Nếu nói không bám dính gọi đó là tâm, tức là tâm ông không bám dính vào tất cả sự vật hiện tượng thuộc thủy lục không hành trên thế gian này, nhưng những sự vật hiện tượng ấy là có hay không có? Nếu nói là không có thì cũng đồng với lông rùa sừng thỏ, làm sao còn có vật để không bám dính mà nói là không bám dính? Còn nếu nói là có thì vật có tâm cũng có, làm sao mà nói không bám dính được?
Thất yết ma
xem bảy hình thức yết-ma.
thất yết ma
120羯磨,梵語 karman,巴利語 kamma。謂治罰比丘之七種作法。即訶責、擯出、依止、不至白家、不見舉、不懺舉、惡見不捨舉等七者。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上二〕
; (七羯磨) Yết ma, Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Chỉ cho 7 tác pháp trị phạt các tỉ khưu phạm tội, đó là: 1. Ha trách(quở trách). 2. Tẩn xuất(đuổi ra khỏi tăng đoàn). 3. Y chỉ(nương tựa). 4. Bất chí bạch gia(không được đến nhà bạch y). 5. Bất kiến cử(có lỗi không chịu thừa nhận). 6. Bất sám cử(có tội không chịu sám hối). 7.Ác kiến bất xả cử(có ác kiến không chịu bỏ).
Thất ác
七惡; C: qī è; J: shichiaku;|Bảy hành vi xấu ác: ba thuộc về thân và bốn thuộc về khẩu.
thất ích
102謂聖人施化之七種利益。即:(一)二十五有果報益(地上清涼益),有能化之聖人,對二十五有之眾生一人,應機施化,乃得冥顯兩益。(二)二十五有因華開敷益(小草益),有能化之聖人,辨眾生一人心之多因,對其起二十五有,應機施化,乃得冥顯兩益。(三)真諦三昧析法益(中草益),有能化之聖人,對聲聞、緣覺二乘,應機令其析色入空,乃得冥顯兩益。(四)俗諦三昧五通益(上草益),有能化之聖人,對藏教六度之菩薩,應機使得五神通,遊六道,乃得冥顯之兩益。(五)真諦三昧體法益(小樹益),有能化之聖人,對通教之三乘,應機令其體色入空,乃得冥顯兩益。(六)俗諦三昧六通益(大樹益),有能化之聖人,對別教之菩薩,應機使學恆沙佛法,具六通,出假利生,乃得冥顯兩益。(七)中道王三昧益(最實事益),有能化之聖人,對圓教之菩薩,應機使修不次第之三觀,乃得冥顯兩益。〔法華玄義卷六下〕
; (七益) Chỉ cho 7 lợi ích giáo hóa của Thánh nhân. Đó là: 1. Nhị thập ngũ hữu quả báo lợi ích (Địa thượng thanh lương ích): Quả báo lợi ích trong 25 Hữu(cõi tồn tại). Nghĩa là bậc Thánh có khả năng tùy theo căn cơ, trình độ của mỗi một chúng sinh trong 25 Hữu để giáo hóa, khiến họ được lợi ích trông thấy trước mắt, hoặc lợi ích âm thầm kín đáo.2. Nhị thập ngũ hữu nhân hoa khai phu ích(Tiểu thảo ích): Lợi ích hoa nhân 25 Hữu nở rộ. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ trong tâm của mỗi chúng sinh có nhiều nhân, tùy theo chỗ họ sinh khởi 25 Hữu mà ứng cơ giáo hóa, khiến họ được lợi ích trông thấy trước mắt hay âm thầm kín đáo.3. Chân đế tam muội tích pháp ích (Trung thảo ích): Sự lợi ích dùng Tam muội chân đế phân tích các pháp. Nghĩa là bậc Thánh đối vớihàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ phân tích sắc, chứng nhập không, giúp họ được lợi ích trông thấy hoặc âm thầm. 4. Tục đế tam muội ngũ thông ích (Thượng thảo ích): Ích lợi được 5 thần thông. Nghĩa là đối với hàng Bồ tát thuộc Tạng giáo tu 6 độ, bậc Thánh có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ chứng được 5 thần thông, qua lại trong 6 đường, nhờ đó họ được lợi ích trông thấy hoặc âm thầm. 5. Chân đế tam muội thể pháp ích (Tiểu thụ ích): Lợi ích dùng Tam muội chân đế thể nhập pháp không. Nghĩa là bậc Thánh đối vớihàng Tam thừa của Thông giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ thể hội sắc chứng nhập không, do đó được lợi ích rõ rệt hoặc âm thầm. 6. Tục đế tam muội lục thông ích (Đại thụ ích): Lợi ích được 6 thần thông nhờ Tam muội tục đế. Nghĩa là bậc Thánh đối với hàng Bồ tát của Biệt giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa, khiến họ tu học hằng sa Phật pháp, ra khỏi Giả để thuyết pháp lợi sinh, nhờ đó họ được lợi ích rõ rệt hay âm thầm. 7. Trung đạo vương tam muội ích (Tối thực sự ích): Lợi ích nhờ Tam muội vương trung đạo. Nghĩa là bậc Thánh đối với hàng Bồ tát của Viên giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa, khiến họ tu Tam quán không theo thứ tự mà được lợi ích trông thấy trước mắt, hoặc âm thầm kín đáo.
thất đa la thụ
95多羅樹,梵語 tāla,為高大之植物,極高者可達二十五公尺。故譬物體之高大,常謂七多羅樹,言其較多羅樹高出七倍。如法華經藥王品(大九‧五三下):「坐七寶之臺,上昇虛空,高七多羅樹。」
; (七多羅樹) Đa la thụ, Phạm:Tàla. Cao gấp 7 lần cây đa la. Đa la là tên loài thực vật cao to, cây cao nhất có thể lên tới 25m. Vì thế, khi ví dụ về sự cao to của vật thể nào đó, người nói Cao gấp 7 lần cây đa la (Thất đa la thụ). Như phẩm Dược vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 53 hạ) nói: Ngồi trên đài 7 báu, bay lên hư không, cao bằng bảy lần cây đa la(Thất đa la thụ).
thất điên đảo
123謂七種顛倒事理之妄見。即:(一)想倒,即非理之想。(二)見倒,即邪見。(三)心倒,即妄心邪識。(四)於無常常倒,即於世間無常之法而起常見。(五)於苦樂倒,於世間之諸苦而起樂見。(六)於不淨淨倒,於世間之不淨法而起淨見。(七)於無我我倒,於世間之無我法而起我見。〔瑜伽師地論卷八〕
; (七顛倒) Chỉ cho 7 thứ vọng kiến làm đảo lộn sự lí. Đó là: 1. Tưởng đảo: Tưởng phi lí. 2. Kiến đảo: Tức tà kiến. 3. Tâm đảo: Tức vọng tâm, tà thức. 4. Ư vô thường thường đảo: Tức đối với pháp thế gian vô thường mà khởi thường kiến. 5. Ư khổ lạc đảo: Đối với các khổ ở thế gian mà khởi lạc kiến. 6. Ư bất tịnh tịnh đảo: Đối với pháp bất tịnh ở thế gian mà khởi tịnh kiến. 7. Ư vô ngã ngã đảo: Đối với pháp vô ngã ở thế gian mà khởi ngã kiến.
Thất điều
七條; C: qītiáo; J: shichijō; S: uttara-āsanga;|Một trong ba y (三衣) mà Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni được phép sử dụng. Đó là y phục may bằng những mảnh vải chắp lại với nhau và có bảy điều (đường may dọc).
thất điều y
The outer mantle, or toga, of a monk, composed of seven pieces.
thất đoạn diệt luận
121外道之七種斷滅論說。又稱七斷見論、七事斷滅宗。外道十六宗之一,六十二見中屬第七見。成唯識論述記卷六末(大四三‧四四七中):「七斷滅論者:一、我有色,麤四大種所造為性,死後斷滅,畢竟無有,見身死後有而無故,若自若他之我,皆以麤大種所造,死後斷滅。(中略)二、我欲界天死後斷滅。三、我色界天死後斷滅。四、我空無邊處死後斷滅。五、我識處死後斷滅。六、我無所有處死後斷滅。七、我非想非非想處死後斷滅。」
; (七斷滅論) Cũng gọi Thất đoạn kiến luận, Thất sự đoạn diệt tông. Chỉ cho 7 thứ luận thuyết đoạn diệt của ngoại đạo, 1 trong 16 tông ngoại đạo, là kiến chấp thứ 7 trong 62 kiến chấp. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6, phần cuối thì Thất đoạn diệt là: 1. Ngã có sắc, cái do 4 đại chủng thô tạo ra là tính, sau khi chết là đoạn diệt, rốt ráo không có, thấy thân sau khi chết rõ có mà hóa ra không, cho nên cái ngã của ta hay của người đều do đại chủng thô tạo ra, sau khi chết là đoạn diệt... 2. Ngã ở các tầng trời cõi Dục sau khi chết là đoạn diệt. 3. Ngã ở các tầng trời cõi Sắc sau khi chết là đoạn diệt. 4. Ngã ở cõi Không vô biên sau khi chết là đoạn diệt. 5. Ngã ở cõi Thức vô biên sau khi chết là đoạn diệt. 6. Ngã ở cõi Vô sở hữu sau khi chết là đoạn diệt. 7. Ngã ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết là đoạn diệt.
thất đường già lam
104謂具備七種主要堂宇之寺院。又稱悉堂伽藍。七,表示完整之義。寺院之諸堂表佛面之義,則七堂係指頂、鼻、口、兩眼、兩耳;或相當於人體之頭、心、陰、兩手、兩腳等。然未必只限於七堂,凡大寺皆具多種堂宇,如南海寄歸內法傳謂印度那爛陀精舍,有八院、三百房舍。又如我國五臺山之竹林寺有六院,大華嚴寺有十二院,此皆不侷於七堂之數。〔南海寄歸內法傳卷四、入唐求法巡禮行記卷三〕(參閱「伽藍」2769)
; (七堂伽藍) Cũng gọi Tất đường già lam. Chỉ cho chùa viện có 7 tòa nhà chủ yếu. Chữ thất biểu thị ý nghĩa hoàn chỉnh. Nếu các tòa nhà của chùa viện tượng trưng cho mặt Phật thì thất đường chỉ cho đỉnh đầu, mũi, miệng, 2 mắt, 2 tai; hoặc tương đương với đầu, ngực, sinh thực khí, 2 tay, 2 chân của thân thể. Tuy nhiên, không hẳn chỉ giớihạn ở thất đường, các chùa lớn đều có rất nhiều tòa nhà, như trong Nam hải kí qui nội pháp truyện có nói chùa Na lan đà ở Ấn độ có 8 tòa viện, gồm 300 phòng xá. Cũng như chùa Trúc lâm trên núi Ngũ đài của Trung quốc có 6 tòa viện, chùa Đại hoa nghiêm có 12 viện. Những ngôi chùa này đều không hạn cuộc ở con số thất đường.
thất đại
91即色心萬法之體性,可大別為地大、水大、火大、風大、空大、見大、識大七種。又作七大性。地、水、火、風稱四大,為色法之體;加空大為五大,復加識大為六大。大,乃周遍法界之義。萬法之生成,不離四大,依空建立,依見有覺,因識有知。前五乃非情所具,後二則有情所兼;然舉七法該攝萬法。其中,地大稱萬法之堅性,火大為煖性,水大為濕性,風大為動性,空大為無礙之性,見大為覺知之性,識大為了別之性。即前五大約於六境,見大約於六根,識大約於六識,故與十八界僅有開合之不同。此七大非各各獨立之實性,乃真性如來藏觸緣所發動者。〔大佛頂首楞嚴經卷三〕
; The seven elements: earth địa, water thủy, fira hỏa, wind phong, space không, sight kiến, perception thức.
; (七大) Cũng gọi Thất đại tính. Thể tính của vạn pháp sắc tâm được chia làm 7 thứ là địađại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại. Địa, thủy, hỏa, phong gọi là Tứ đại, là thể của sắc pháp(vật chất), thêm không đại thành Ngũ đại, lại thêm thức đại thành Lục đại. Đại có nghĩa là trùm khắp pháp giới. Sự sinh thành của muôn pháp không ngoài 4 đại, nương vào hư không mà kiến lập, nương vào kiến(thấy), mà có giác(biết), nhờ thức mà phân biệt rõ các sự vật. Loài vô tình chỉ có 5 đại trước, loài hữu tình thì đủ cả 7 đại; nhưng khi nêu 7 pháp thì gồm nhiếp cả muôn pháp. Trong đó, địa đại là tính cứng của muôn pháp, hỏa đại là tính nóng, thủy đại là tính ướt, phong đại là tính động, không đại là tính thông suốt, kiến đại là tính hay biết và thức đại là tính phân biệt. Năm đại trước thuộc về 6 cảnh, kiến đại thuộc về 6 căn, thức đại thuộc về 6 thức, cho nên 7 đại và 18 giới chỉ khác nhau ở chỗ mở rộng ra hay rút gọn lại mà thôi. Bảy đại trên không phải mỗi đại đều có thực tính độc lập mà là do Chân tính Như lai tạng tùy duyên phát động ra. [X. kinh ĐạiPhật đính thủ lăng nghiêm Q.3].
thất đại sư
Seven Masters.
thất đế
120指七種真實之理。即:(一)愛味諦,又作味諦、愛實,乃集諦之理,指於諸有漏法能生愛心,實為生死流轉之因。(二)過患諦,又作患諦、苦實,即苦諦之理,指諸有漏果,實滿四苦八苦等過患。(三)出離諦,又作離諦、解脫實,即道諦之理,八正道實為滅苦之因,出離生死之對治道。(四)法性諦,又作法諦、法實,即滅諦之理,指二無我所顯真如法性之理。(五)勝解諦,又作解諦、解實,即道諦之理,意解思惟二空所顯之理為空之行相。(六)聖諦,又作聖實,即滅諦之理,指聖所知之一切寂靜境界。(七)非聖諦,又作非聖實,即苦集二諦之理,指凡夫所繫之境界。發智論卷八,則以七處善為七諦,解義有所不同。〔瑜伽師地論卷四十六、大乘法苑義林章卷二末〕(參閱「諦」6294)
; (七諦) Chỉ cho 7 đế lí chân thực. 1.Ái vị đế(cũng gọi Vị đế,Ái thực): Chỉ cho lí của Tập đế, đối với các pháp hữu lậu sinh tâm ưa thích, đó chính là nhân của sinh tử lưu chuyển. 2. Quá hoạn đế(cũng gọi Hoạn đế, Khổ thực): Chỉ cho lí của Khổ đế, tức các quả hữu lậu đầy dẫy những quá hoạn như 4 khổ, 8 khổ... 3. Xuất li(cũng gọi Li đế, Giải thoát thực): Chỉ cho lí của Đạo đế, Bát chính đạo là nhân diệt khổ, là đạo đối trị để ra khỏi sinh tử. 4. Pháp tính đế(cũng gọi Pháp đế, Pháp thực): Chỉ cho lí của Diệt đế, tức là lí chân như pháp tính do nhân vô ngã, pháp vô ngã hiển bày. 5. Thắng giải đế(cũng gọi Giải đế, Giải thực): Chỉ cho lí của Đạo đế, tức tư duy và hiểu rõ cái lí do nhân không, pháp không hiển bày chính là hành tướng của cái Không. 6. Thánh đế(cũng gọi Thánh thực): Chỉ cho lí của Diệt đế, tức tất cả cảnh giới vắng lặng mà bậc Thánh chứng biết. 7. Phi thánh đế(cũng gọi Phi thánh thực): Chỉ cho lí của Khổ đế và Tập đế, tức cảnh giới trong đó phàm phu bị trói buộc. Luận Phát trí quyển 8 thì cho rằng Thất xứ thiện là Thất đế và giải nghĩa có chỗ khác nhau. [X. luận Du già sư địa Q.46; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối]. (xt. Đế).
Thất địa
七地; C: qīdì; J: shichiji;|Địa thứ bảy trong Thập địa (十地). Còn gọi là Viễn hành địa (遠行地). Gồm một phần của Tu đạo vị (修道位) trong Du-già hành tông.
thất địa
94由菩薩地至佛地間之行位。包括種性地、解行地、淨心地、行跡地、決定地、決定行地、畢竟地七位。(一)種性地,乃佛道之因種成就不壞。(二)解行地,依次前進修方便行,於出世道得行解。以上二地於大乘義章唯作菩薩地前之位;華嚴孔目章卷二則定種性地為十解以前,解性地為十行、十迴向。(三)淨心地,即初地。入此地者,實際上已證一分真如,離無明住地之惑,從而對菩提淨信希望。(四)行跡地,即二地以上乃至七地,於此間起修道。(五)決定地,即第八地。至此地者,決定趣向無上菩提。(六)決定行地,即第九地。乃由前地再向上增進。(七)畢竟地,即第十地及如來地。第十地中因行圓滿,如來地中果德已極,故稱畢竟地。〔菩薩地持經卷十、大乘義章卷十二〕
; (七地) Chỉ cho 7 giai đoạn tu hành từ Bồ tát địa đến Phật địa. Đó là: 1. Chủng tính địa: Hạt giống Phật đạo thành tựu bất hoại. 2. Giải hành địa: Theo thứ tự tiến tu hạnh phương tiện, đối với đạo xuất thế được hành giải. 3. Tịnh tâm địa: Tức Sơ địa. Người đến địa vị này, trên thực tế, đã chứng được một phần chân như, xa lìa hoặc Vô minh trụ địa, từ đó khởi tâm tin thanh tịnh mong cầu bồ đề. 4. Hành tích địa: Tức từ Nhị địa trở lên cho đến Thất địa, trong thời gian này bắt đầu tu chính đạo. 5. Quyết định địa: Tức Đệ bát địa. Người đến địa vị này, quyết định hướng tới Vô thượng bồ đề. 6. Quyết định hành địa: Tức Đệ cửu địa.Từ địa trước lại tiến lên hơn nữa. 7. Tất cánh địa: Tức Thập địa và Như lai địa. Thập địa nhân hạnh viên mãn, Như lai địa quả đức cùng tột, cho nên gọi là Tất cánh địa. Trong Thất địa nói trên thì Chủng tính địa và Giải hành địa, theo Đại thừa nghĩa chương, là các giai vị Bồ tát Địa tiền; Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 2 thì cho rằng Chủng tính địa là Thập giải trở xuống, còn Giải hành địa thì là Thập hạnh, Thập hồi hướng. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.10; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
thất địa trầm không nan
95謂十地中第七遠行地之菩薩,住於無相觀,上不求菩提,下不度眾生,沈於一切空寂之理,而不能起六度事行。此為此土菩薩沈空之難,若往生安樂淨土,則能免此難。〔大智度論卷十、往生論註卷下、往生論註翼解卷七、往生論註顯深義記卷五〕
; (七地沈空難) Chỉ cho Bồ tát Địa thứ 7 trong Thập địa bị chìm đắm trong lí Không. Trong 10 Địa, Bồ tát Viễn hành địa trụ trong vô tướng quán, trên không cầu bồ đề, dưới không độ chúng sinh, chìm đắm trong lí tất cả không tịch, vì thế không thể khởi hạnh Lục độ. Đó là vì Bồ tát ở cõi này chìm đắm trong nạn Không, nếu sinh về Tịnh độ an lạc thì thoát được nạn này. [X. luận Đại trí độ Q.10; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú dực giải Q.7; Vãng sinh luận chú hiểm thâm nghĩa kí Q.5].
Thất 失
[ja] シツ shitsu ||| (1) To be lost, to disappear (Skt. nāśa; Tib. nub par gyur pa). (2) Mistake, error, shortcoming, fault (vraṇa, doṣa). 〔二障義 HPC 1.791b19〕(3) A mental lapse; a lapse in consciousness. => 1. Bị mất, biến mất (Skt. nāśa; Tib. nub par gyur pa). 2. Lầm lỗi, sai lầm, thiếu sót, khuyết điểm (s: vraṇa, doṣa). 3. Lãng trí, không chú tâm.
thấu tam quan
4813禪林用語。三關,指三種由低而高之參禪境界。行者若能凡情銷盡,徹見諸法之虛妄不實及悟得自己之心性本源(本來面目,或本地風光),則稱為「破初關」,或破本參,又作見性。其次,在見性之後,再用功修持,則不但不為「有」所礙,而且亦能不執著於「空」,此稱為「透重關」,又作大死大活。此後,再用功磨鍊,乃能達寂照不二、空有無礙之境,雖五欲當前,亦運用自如而不失本性,此為「透末後牢關」。〔御選語錄總序〕
; (透三關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vượt qua được 3 cửa ải quan trọng. Tam quan chỉ cho 3 cảnh giới tham thiền từ thấp đến cao. Nếu hành giả diệt sạch được phàm tình, thấy suốt tính chất hư dối không thật của các pháp, ngộ được cội nguồn tâm tính(mặt mày thật xưa nay hoặc bản địa phong quang) của chính mình thì gọi là Phá sơ quan(phá cửa ải đầu tiên), cũng gọi là Phá bản tham, hoặc gọi là Kiến tính. Kế đến, sau khi kiến tính, lại dụng công tu trì, thì chẳng những không bị Hữu làm trở ngại, mà còn chẳng chấp trước Không, đây gọi là Thấu trùng quan(qua cửa ải thứ hai), cũng gọi Đại tử đại hoạt(chết lớn sống lớn). Sau đó, lại dụng công tôi luyện, bèn đạt đến cảnh giới Tịch chiếu bất nhị, không hữu vô ngại thì dù 5 dục ngay trước mắt, cũng nhậm vận tự như, không mất bản tính, đây chính là Thấu mạt hậu lao quan(vượt qua cửa ải khó khăn cuối cùng).
thấu triệt
Prativedha (S), Attainment Paṭivedha (P) Chứng ngộ. Xem Liễu tri.
thấy như thật
YathābhŪtaṁnanadarśana (S), Knowing or seeing as they are Hiểu như thật.
thầm
1) To whisper (thì thầm). 2) Secretly.
thần
4243梵語 deva。超越人格的一種宗教信仰之對象。一般被視為不具物質軀體,然非不具軀體形象;不受自然規律所限制,能對物質世界施加影響,直至主宰物質世界之一定部分或全部。神的觀念自原始宗教發展至高等宗教之歷程中,依序有自然崇拜(animatism)、精靈崇拜(animism)、人格神崇拜等。所謂自然崇拜,即視自然界本身為神,如太陽崇拜等,對太陽的敬與畏兼而有之。精靈崇拜即對自然物之精靈產生敬畏心,進而視之如神;此係由前者逐漸進化而成者,然猶未臻至人格化。人格神崇拜即自然現象被人格化,或死者之靈魂被神化等兩種情形所衍生者,且由此種多神教發展到交替神教(最高神由A交替成B)、單一神教(多神之中有一神為最高神)、唯一神教(信仰唯一存在的絕對之神)。此外,如汎神論則僅著重於理論性之反省而求發展,然卻否定人格性。 雅利安人侵入印度後,至梨俱吠陀時代,於此一期間,自然現象被神格化而成為自然神,又因戰爭中殲滅敵人而有因陀羅(梵 Indra)之產生,其性格即屬多神教或交替神教。及至社會生活安定之後,由於規約之制定而有律法神(梵 Varuṇa)之出現。其後,自古以來之多神教已無法滿足一般之需要,遂又傾向於統一的最高神之探求。梵書時代,一方面由於最高神造物主(梵 Prajāpati)而產生創造說,另一方面則產生懷疑論、無神論,且汎神論之傾向亦於同時出現。進而亦產生「有(梵 sat)」、「無(梵 asat)」,及超越有無之一元原理,或如梵(梵 Brahman)、我(梵 ātman)等宇宙或個體之原理,以上屬於婆羅門教(Brahmanism)之思想。至後世,則融合土著之民間信仰而形成印度教(Hinduism),此教中有「梵天(梵 Brahmā,為梵之人格化,乃印度教之創造神)、毘濕奴(梵 Viṣṇu,維持神)、濕婆(梵 Śiva,破壞神)」的三神一體(梵 trimūrti,三位一體)之說。 佛教則否定神創造說(神意說),主張因緣、緣起之法為世界之根本原理;基於此點而被評為無神論。及至後來,印度諸神被引入佛教中,各種天(梵 deva)界亦被攝入,所謂梵天即其代表。梵天在婆羅門教及印度教中皆為最高神,然佛教之最高者為佛;佛教認為天界雖高於人界,但仍然屬於迷界(六道),尚不能脫離輪迴轉生,其果德一旦用盡,仍會墮至天界以下。相對者,佛則斷迷悟道,脫離輪迴轉生,故超越諸天、諸神而存在, 稱為超神(梵 atideva)、神中之神(梵 devadeva)、天中天(梵 devātideva)、天中之最勝尊、天人師等。 故知若以佛教立場觀之,「神」一詞可分為下列數義:(一)神我,靈魂之義,即梵語之 ātman,亦即數論學派所立二十五諦之一,惟佛教之觀點異於數論學派。數論學派以之為實有、常住、獨存之純粹情神;佛教則以之為「離蘊之我」,而主張「諸法無我」,故反對數論派之神我說。(二)精神之義,如孝子經(大一六‧七八○中):「命終神去,繫于太山。」(三)指具有生命者,如雜阿含經卷三十八(大二‧二八一上):「我於一切神,止思於刀杖。」(四)指識別作用,如十二因緣之第三支「識」(梵 vijñāna,巴 viññāṇa)。(五)指具有靈妙之作用者,即梵語、巴利語之 devtā,如諸經中所常述及之龍神、阿修羅、鬼子母神、樹神等。那先經(大三二‧六九四上):「其樹大有神。」又灌頂經卷十二(大一二‧五三三下):「諸天善神。」
; Shen (C), Spirit Trong tinh, khí, thần - những nguyên lý căn bản trong phép luyện thở của Đạo gia.
; Inscrutable spiritual powers, or power; a spirit; a deva, god or divinity; the human spirit; divine, spiritual, supernatural. Thần chiến tranh god of war.
; 1) Bình Minh: Dawn—Morning. 2) Nhân Thần: Human spirit. 3) Thiên Thần: A spirit—A deva—god—Divinity—Deity—The celestial spirit—Divine—Spiritual—Supernatural—Inscrutable spiritual powers.
; (神) Phạm: Deva. Một thứ đối tượng của tín ngưỡng tông giáo siêu việt nhân cách. Thông thường, Thần được coi là 1 loài tồn tại không có thân thể vật chất, nhưng không phải không có hình tượng thân thể; Thần không bị hạn chế bởi qui luật tự nhiên, có thể gây ảnh hưởng đối với thế giới vật chất, ngay cả làm chúa tể 1 phần nhất định hoặc toàn bộ thế giới vật chất. Trong quá trình phát triển quan niệm về Thần từ tông giáo nguyên thủy đến tông giáo cao đẳng, lần lượt đã tiến từ: Sùng bái Tự nhiên (Animatism), sùng bái Tinh linh (Animism) đến sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Tự nhiên có nghĩa là xem bản thân thế giới tự nhiên là Thần, như sùng bái mặt trời thì có tâm tôn kính và sợ hãi đối với mặt trời. Sùng bái Tinh linh thì đối với tinh linh của vật tự nhiên sinh lòng kính sợ, mà xem như Thần. Đó là do lòng sùng bái tự nhiên dần dần tiến hóa mà thành, nhưng vẫn chưa đến giai đoạn sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Nhân cách thần tức là những hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa, hoặc linh hồn người chết được Thần hóa, do 2 trường hợp ấy mà đưa đến phong tục sùng bái Nhân cách thần; từ loại Đa thần giáo này phát triển đến Giao thế thần giáo (thần tối cao từ A được thay thế thành B), Đơn nhất thần giáo(trong nhiều thần có 1 thần là Thần tối cao), Duy nhất thần giáo(tin 1 vị Thần duy nhất tồn tại tuyệt đối). Ngoài ra, như Phiếm thần luận thì chỉ chú trọng sự phản tỉnh có tính lí luận để cầu phát triển, nhưng phủ định tính nhân cách. Sau khi người Aryans xâm nhập Ấn độ, đến thời đại Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda), các hiện tượng tự nhiên được thần cách hóa mà trở thành những thần tự nhiên, lại vì chiến tranh phải tiêu diệt quân địch nên mới sản sinh ra Nhân đà la (Phạm: Indra), tính cách các thần này thuộc Đa thần giáo hoặc Giao thế thần giáo. Cho đến sau khi các sinh hoạt xã hội được ổn định, do sự chế định qui ước mà có thần Luật pháp (Phạm:Varuịa) xuất hiện. Về sau, Đa thần giáo vốn đã có từ xưa đến nay không thể nào đáp ứng được các nhu cầu thông thường một cách đầy đủ, nên lại có khuynh hướng tìm cầu một vị thần tối cao cho việc thống nhất các thần. Thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa), một mặt do nhu cầu một vị thần tối cao tạo ra muôn vật (Phạm:Prajàpati, Tạo vật chủ) mà sản sinh thuyết Sáng tạo, mặt khác thì nảy sinh Hoài nghi luận, Vô thần luận và khuynh hướng Phiếm thần luận cũng đồng thời xuất hiện. Tiến hơn nữa cũng sản sinh Hữu (Phạm:Sat), Vô (Phạm:Asat) và nguyên lí Nhất nguyên siêu việt Hữu vô, hoặc nguyên lí vũ trụ hay cá thể như Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: Àtman), các nguyên lí trên thuộc tư tưởng của Bà la môn giáo (Brahmanism). Đến đời sau, các tín ngưỡng dân gian địa phương dung hợp mà hình thành Ấn độ giáo (Hinduism). Trong tông giáo này có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm:Trimùrti, Tam vị nhất thể): Phạm thiên (Phạm:Brahàm, là Phạm được nhân cách hóa, tức thần sáng tạo của Ấn độ giáo), Tì thấp nô (Phạm:Viwịu, thần duy trì) và Thấp bà (Phạm:Ziva, thần phá hoại). Phật giáo thì phủ định thuyết Thần sáng tạo(thuyết Thần ý)mà chủ trương pháp Nhân duyên, Duyên khởi là nguyên lí căn bản của thế giới. Do điểm này mà Phật giáo bị phê bình là Vô thần luận. Đến đời sau, khi các thần Ấn độ được du nhập Phật giáo thì các loại Thiên giới cũng được thu dụng và Phạm thiên là đại biểu. Trong Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, Phạm thiên là thần tối cao, nhưng trong Phật giáo thì Phật là tối cao. Phật giáo cho rằng Thiên giới(cõi trời)tuy cao hơn nhân giới (cõi người) nhưng vẫn thuộc mê giới(lục đạo), vẫn không thoát khỏi luân hồi chuyển sinh, một khi hết phúc đức thì lại bị rơi xuống các cõi dưới. Trái lại, Phật đã dứt mê, ngộ đạo, thoát li luân hồi chuyển sinh, cho nên vượt ra ngoài các trời, các thần mà tồn tại, gọi là Siêu thần (Phạm: Atideva), Thiên trung thiên (Phạm: Devàtideva), Thiên trung chi tối tôn, Thiên nhân sư... Nếu đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét thì từ Thần được chia làm những nghĩa sau đây: 1. Nghĩa thần ngã, linh hồn: Tiếng Phạm làÀtman, cũng tức là 1 trong 25 đế do học phái Số luận lập ra, nhưng quan điểm của Phật giáo thì khác với quan điểm của học phái Số luận. Học phái Số luận cho rằng Thần ngã, Linh hồn là tinh thần thuần túy, có thật, thường trụ và tồn tại độc lập; Phật giáo thì cho rằng Thần ngã, Linh hồn là cái ngã lìa uẩn mà chủ trương các pháp vô ngã, cho nên phản đối thuyết Thần ngã của phái Số luận. 2. Nghĩa tinh thần: Như kinh Hiếu tử (Đại 16, 780 trung): Khi mệnh chung thì Thần đi, trụ ở Thái sơn. 3. Chỉ cho các loài có sinh mệnh: Như kinh Tạp a hàm quyển 38 (Đại 2, 281 thượng) ghi: Ta đối với tất cả Thần, ngăn lòng nghĩ giết hại. 4. Chỉ cho tác dụng phân biệt của thức: Như chi Thức (Phạm: Vijĩàna, Pàli:Viĩĩàịa) trong 12 nhân duyên. 5. Chỉ cho các loài có tác dụng linh thiêng mầu nhiệm: Tiếng Phạm,Pàli là Devatà, như cácthầnRồng, thần A tu la, thần Quỉ tử mẫu, thần cây... thường được nói đến trong các kinh. Kinh Na tiên (Đại 32, 694 thượng) nói: Cây ấy lớn lên có thần. Còn kinh Quán đính quyển 12 thì ghi (Đại 12, 533 hạ): Chư thiên thiện thần...
thần biến
4261梵語 vikurvaṇa。為教化眾生,佛、菩薩等以超人間之不可思議力(神通力),變現於外在之各種形狀與動作。狹義言之,一般係以身來表現,即指六神通中之神足通;廣義言之,則包括身、語、意。大寶積經卷八十六舉出:說法(意)、教誡(語)、神通(身)等三種神變(指三示現)。相對於神足通之神變,另有震動乃至放大光明等十八種,稱為十八變、十八神變。〔長阿含經卷一、太子瑞應本起經卷下、法華文句卷一下〕(參閱「十八變」360)
; Vikurvana (S).
; Supernatural influences causing the changes in natural events; miracles; miraculous transformations, e.g. the transforming powers of a Buddha, both in regard to himself and others.
; 1) Những hiện tượng thần kỳ làm thay đổi những chuyện tự nhiên (thần là bên trong, biến là bên ngoài): Miracles or supernatural influences causing the changes in natural events. 2) Sự biến hóa kỳ diệu, như lực biến hóa của Phật, có thể tự biến hóa mình và biến hóa nơi người khác: Miraculous transformations, e.g. the transforming powers of a Buddha, both in regard to himself and others. 3) Những tác động kỳ diệu của Phật, như rắn độc không hại được, rồng lửa không đốt cháy được, vân vân: The Buddha's miraculous acts, e.g. unharmed by poisonous snakes, unburnt by dragon fire, etc. ** For more information, please see Thần Thông, Ngũ Thần Thông, and Lục Thông.
; (神變) Phạm: Vikurvaịa. Thần thông biến hiện. Vì hóa độ chúng sinh nên Phật, Bồ tát dùng năng lực siêu nhân (năng lực thần thông)không thể nghĩ bàn biến hiện ra các thứ hình tướng và động tác bên ngoài. Nói theo nghĩa hẹp thì thông thường dùng thân thể để biểu hiện, tức chỉ cho Thần túc thông trong 6 thứ thần thông; còn nói theo nghĩa rộng thì bao gồm cả thân, ngữ, ý. Kinh Đại bảo tích quyển 86 nêu ra 3 loại thần biến(chỉ cho 3 cách thị hiện)là Thuyết pháp(ý), Giáo giới(ngữ)và Thần thông(thân). Đối lại với thần biến của Thần túc thông, còn có 18 thứ khác như chấn động cho đến phóng ánh sáng chói lọi... gọi là Thập bát biến, Thập bát thần biến. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; Pháp hoa văn cú Q.1 hạ]. (xt. Thập Bát Biến).
thần biến gia trì
4261梵語 vikṛiṇitādhiṣṭa。又作神力所持、佛所護念。佛、菩薩為教化眾生,於其身上示現種種不思議之變異,依此神變之加持力,眾生得蒙其益。〔大日經疏卷一〕
; Vikrinitadhista (S) Vì giáo hóa chúng sanh, Bồ tát thị hiện đủ các loại biến hóa, không thể nghĩa bàn.
; (神變加持) Phạm:Vikfiịitàdhiwỉa. Cũng gọi Thần lực sở trì, Phật sở hộ niệm. Vì giáo hóa chúng sinh nên Phật, Bồ tát thị hiện trên thân các Ngài những thứ biến hóa không thể nghĩ bàn. Nhờ sức gia trì của thần biến này mà chúng sinh được lợi ích. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
thần biến nguyệt
See Thần Túc Nguyệt.
Thần biến 神變
[ja] ジンぺン jinpen ||| (1) Supernatural transformation(s); supernatural power(s); magical feat(s). Especially the supernormal powers used by of buddhas and bodhisattvas in their efforts to teach and transform sentient beings. In this sense, very close in connotation to shéntōng 神通 〔法華經 T 262.9.48c25〕 . => 1. Năng lực thần thông biến hoá, năng lực siêu nhiên, phép thần thông. Đặc biệt là năng lực thần thông của chư Phật và Bồ-tát trong việc giáo hoá chúng sinh. Trong ý nghĩa nầy, rất gần với thuật ngữ Thần thông (c: shéntōng 神通).
thần bí
Mystic(al); mysterious; occult.
thần bản phật tích
4245乃日本佛教特有的主張之一,與「本地垂迹」說相對。一般之本地垂迹說是佛本神迦,即佛菩薩為本地,神祇為垂迹、化現,然日本主張神本佛迹,即以神祇為本地,佛菩薩為垂迹。此一說法盛行於日本南北朝至室町時期。(參閱「本地垂迹」1956)
; (神本佛迹) Đối lại: Bản địa thùy tích. Một trong những chủ trương mà chỉ Phật giáo Nhật bản mới có. Thông thường, thuyết Bản địa thùy tích là Phật bản thần tích, tức Phật, Bồ tát là bản địa, thần kì là thủy tích, hóa hiện, nhưng Nhật bản lại chủ trương Thần bản Phật tích, tức cho thần kì là bản địa, Phật, Bồ tát là thùy tích. Thuyết này thịnh hành ở Nhật bản vào thời Nam Bắc triều đến thời đại Thất đinh. (xt. Bản Địa Thùy Tích).
thần bảo tự
4260位於山東長清。據傳為北魏孝明帝正光元年(520)之明沙門所建,一說為法定禪師所建,時稱靜默寺。北周廢佛時遭毀,至隋文帝時,由曇遷奏請再興,隋末復荒頹。至唐代,復有當地豪族王氏整修堂塔,加以復興。由開元二十四年(736)子寰所撰碑文知,歷住之僧有:明幹、彥休、元質、神解、宏哲、惠冲、景淳、貞固、慧珍。此後因寺廢絕,故無紀錄。
thần bổn
Original spirit.
thần châu
Deha (P) Đề ha Một trong 2 Trung châu của Đông Thắng Thần châu.
thần chí
Spirit and will.
Thần chú
神咒; S: dhāraṇī;|Ðà-la-ni, Man-tra
thần chú
Rddhi-mantra, dhàrani (S). Divine, or magic incantations.
; Rddhi-mantra (skt)—Dharani—Đà La Ni hay những lời chú thần bí—Dharani, or magic or divine incantations.
Thần chú 神咒
[ja] ジンシュ jinshu ||| One Chinese translation for mantra or dhāraṇī; see 眞言. => Một cách dịch chữ mantra hoặc dhāraṇī trong tiếng Phạn sang tiếng Hán. Xem Chân ngôn 眞言.
Thần Chủ
(神主, Kannushi, Kamunushi): xưa kia, từ này được dùng để chỉ cho người đứng đầu trong các chức vụ Thần Quan (神官, Shinkan); nhưng hiện tại thì đồng nghĩa với Thần Quan, là người đứng giữa trong khi hành lễ tế Thần; còn gọi là Tế Chủ (祭主). Thần Quan là vị quan lại (công vụ viên) chuyên trông coi việc tế tự, trước Đệ Nhị Thế Chiến thì chỉ có chức quan ở Thần Cung Ty (神宮司) của Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) mới được gọi như vậy. Sau khi thi hành Hiến Pháp Nhật Bản, chức Thần Quan không tồn tại. Cho đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), chức quan nữ tồn tại với danh xưng như Vật Kỵ (物忌, Y Thế Thần Cung, Lộc Đảo Thần Cung [鹿島神宮, Kashima Jingū]), Kỵ Tử (忌子, Gia Mậu Thần Xã [賀茂神社, Kamo Jinja]), v.v. Tuy nhiên, do vì chính sách tôn giáo của chính phủ Minh Trị có ảnh hưởng mạnh tư tưởng Nho Giáo, Thần Chức nữ tánh không còn tồn tại nữa. Về sau, với tư tưởng nam nữ bình quyền, cọng thêm vấn đề người kế thừa đền thờ Thần Xã (do các vị Thần Chức chết trong chiến trận, hay đi lâu không về, v.v.), Thần Chức nữ tánh được tái công nhận.
thần chủ
Ancestral tablet.
thần cung
4249密教供養諸鬼神之作法。修護摩時,於道場外淨處設神供壇,誦十二天及鬼神等之真言,並獻上供物。此種修法即稱神供法。〔大日經疏卷八、大日經義釋卷六、諸尊要抄卷十一〕
; (神供) Tác pháp cúng dường các quỉ thần trong Mật giáo. Khi tu pháp Hộ ma thì bày đàn Thần cúng ở nơi thanh tịnh bên ngoài đạo tràng, tụng chân ngôn của Thập nhị thiên và các quỉ thần, đồng thời dâng các cúng vật. Loại pháp tu này gọi là Thần cúng pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.6; Chư tôn yếu sao Q.11].
thần cung tự
4250又作神宮院、宮寺、神願寺、神護寺、神供寺。指日本為服侍神祇,而於神社內所設之寺院而言。以本地垂迹說為基礎之日本寺院,通常附屬於神社。於神社中任職修行佛事者,稱社僧。奈良時代,每於神宮與諸大社中設置神宮寺。至平安時代,全國各地之神社內,皆設有神宮寺,其中,間或有領取官方俸祿者。至江戶末期,神宮寺之勢力盛極一時。及至明治維新之神佛分離運動,局勢一變,或廢棄、或易名獨立,故此類堂塔伽藍迄今多僅存舊名。
Thần cánh thông 神境通
[ja] ジンキョウツウ jinkyōtsū ||| The power of unimpeded bodily action, which includes such things as the ability to fly and the ability to make oneself invisible. One of the six supernatural powers 六神通. => Năng lực vô ngại của các hành vi thuộc về thân, gồm những việc như bay được và tàng hình. Là một trong sáu thứ thần thông (Lục thần thông六神通).
thần cúng
Offerings placed before the gods or spirits.
; Những phẩm vật tế thần—Offerings placed before the gods or spirits.
thần căn
The vital spirit as the basis of bodily life.
; The vital spirit as the basis of body life.
Thần cơ
(神機): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ máy dệt vải. (2) Chỉ cho cơ vận, thời cơ. Như trong Đáp Phục Hy Thư (答伏羲書) của Nguyễn Tịch (阮籍, 210-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Nhược lương vận vị hiệp, thần cơ vô chuẩn (若良運未協、神機無准, nếu vận tốt không gặp thì thời cơ không đúng).” Hay trong truyện Tái Sanh Duyên (再生緣), hồi thứ 63 lại có câu: “Ngộ triệt thần cơ nhất niệm chơn, tiện tùng Cực Lạc chuyển kim luân (悟徹神機一念眞、便從極樂轉金輪, rõ biết thần cơ một niệm chơn, bèn từ Cực Lạc chuyển pháp luân).” Trong Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 1, phần Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Lục Hội Ngữ Lục Tự (佛日普照慧辯楚石禪師六會語錄序) có câu: “Đại Huệ đề xướng Viên Ngộ chi đạo ư Kính Sơn, thần cơ diệu dụng, quảng đại vô ngại (大慧提唱圜悟之道於徑山、神機妙用、廣大無礙, Đại Huệ đề xướng, Viên Ngộ truyền đạo ở Kính Sơn, thần cơ mầu nhiệm, rộng lớn không ngăn ngại).” Hoặc trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 3 có đoạn: “Vạn duyên tịch tức, nhất tánh dung thông, đại dụng toàn chương, thần cơ độc lộ, cổ Phật dữ lộ trụ giao tham (萬緣寢息、一性融通、大用全彰、神機獨露、古佛與露柱交參, vạn duyên lặng dứt, một tánh thông suốt, đại dụng lộ rõ, thần cơ hiện bày, Phật xưa cùng cột trụ tham vấn).”
thần cốt
Spiritual bones.
thần diệt bất diệt luận tranh
4257自佛教傳入我國,至六朝時代,信奉佛教者與批判佛教者之間產生多種歧見,其中,以佛教之輪迴報應說為主題所進行之理論探討,稱為神滅不滅論爭。首先,承認佛教輪迴報應說者以為,人死後,宿於肉體之靈魂兮神識一不會隨之死滅,而將繼續轉宿於另一肉體;且人經三世,輪迴於五道或六道中,必定身受相應於自己所做所為之善惡業報。反之,神滅論者站在我國傳統思想之立場,否認三世、輪迴報應、心神不滅之說,而以為人死之後,心神必隨形體散滅。 「神不滅」說,最早見於三國時代吳‧牟融所作之理惑論;然最具代表性者,為東晉廬山慧遠(334~416)之主張,其所作沙門不敬王者論卷五有「形盡神不滅」一說,以木與火之關係比喻形體與心神之關係,而謂:心神由一形體輪迴入於另一形體,而繼續存在;猶如火之燃燒,燃盡一木再轉燃另一木。慧遠之弟子宗炳(375~443)作「明佛論」,揭示二種神不滅義:(一)輪迴之神識不滅,(二)法身之神識常住。或謂「法身神識常住」之義融合涅槃經之佛性說與道家思想,而將佛性視作道家理想境界中虛靜無為之心,此心即神識;又佛性(此處指法身)常住,亦即心神不滅之意。此外,宗炳又聯結輪迴之本體神識與法身之神識,闡述人於輪迴過程中漸次斷除煩惱,則輪迴之神識亦能歸於本來清淨之法身神識;成為唯有法身神識之狀態時,人即成佛。吾人由(一)沙門不敬王者論卷五,(二)何承天(370~447)批駁沙門不敬王者論及明佛論之書簡,(三)何承天致神不滅論者顏延之(384~456)之書簡等文獻中,可進一步了解神滅論與神不滅論者間相互問難之情形。 學者咸謂,神滅論係源於中國傳統之思想,然若自神不滅論者之觀點而言,神滅論者之否定靈魂與精靈之存在無異違反儒家之傳統,蓋因儒者行宗廟祭儀,自是承認精靈存在;故若非難死後神識之存在,即是反對自己所信奉之儒家道統。此外,一般對神不滅論之評語則是:彼等將輪迴本體之神識與死後之靈魂視為同一者,此種混同之論,係因輪迴本體之神識乃源自中國傳統觀念中之「神」。然此種輪迴本體神識之論,實與否定實體存在之佛教無我論相悖。綜上所述,神不滅論亦非基於對佛教之正確理解,乃是國人為使自己容易接受佛教輪迥業報之說,所作之特殊解釋。 南朝梁武帝時,范縝作「神滅論」一文,引起學者間之激烈論戰。其主張形神一體,形為神之質,神為形之用;形若滅亡,神亦隨之滅亡。此一說法非但否定輪迴業報之論,亦且否定精靈鬼神之存在,乃一典型之反佛論者,遂使當時篤信佛教之人士紛紛著書批駁。如范縝之外弟蕭琛(476~513)作「難神滅論」,曹思文作「難范中書神滅義」,沈約作「神不滅義」、「難范縝神滅義」,梁武帝作「大梁皇帝立神明成佛義記」、「大梁皇帝敕答臣下神滅論」等。因梁武帝虔心信佛,致令當時之佛教勢力興盛異常,故對范縝之神滅論反應極為激烈。又當時之佛教信仰難免受魏晉玄談風氣之影響,而流於浮華迷信,范縝作神滅論,或即立意鍼砭時風,警醒世人崇尚自然、破除迷信因果。〔弘明集卷一至卷五、卷八至卷十、廣弘明集卷二十二、漢魏兩晉南北朝佛教史下(湯用彤)〕(參閱「三教論衡」612)
; (神滅不滅論爭) Sự tranh luận về vấn đềthầnthức diệt hay bất diệt. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc cho đến thời đại Lục triều, giữa những người tin thờ Phật giáo và những người phê phán Phật giáo nảy sinh các kiến giải khác nhau, trong đó, lấy thuyết Luân hồi báo ứng của Phật giáo làm chủ đề để tiến hành cuộc tranh luận, gọi là Thần diệt bất diệt luận tranh. Trước hết, những người thừa nhận thuyết Luân hồi báo ứng của Phật giáo cho rằng sau khi người ta chết, linh hồn(thần thức)ở trong thể xác không tử diệt theo mà sẽ tiếp tục chuyển sang nương gá trong 1 thể xác khác. Đồng thời, con người qua 3 đời(quá khứ, hiện tại, vị lai)luân hồi trong 5 đường hoặc 6 đường nhất định sẽ chịu thân phận tương ứng với nghiệp báo thiện ác mà mình đã tạo tác. Trái lại, những người chủ trương Thần diệt thì đứng trên lập trường tư tưởng truyền thống của Trung quốc, phủ nhận thuyết 3 đời, luân hồi báo ứng, tâm thần bất diệt mà cho rằng con người sau khi chết thì tâm thần ắt tan diệt theo nhục thể. Thuyết Thần bất diệt đầu tiên được thấy trong luận Lí hoặc của Mâu dung người đất Ngô ở thời đại Tam quốc. Nhưng có tính cách đại biểu nhất là chủ trương của ngài Lô sơn Tuệ viễn (334-416) đời Đông Tấn, trong luận Sa môn bất kính vương giả quyển 5 do ngài soạn có thuyết Hình tận thần bất diệt(Hình thể chết đi, tâm thần không diệt theo),ngài dùng mối quan hệ giữa củi và lửa để ví dụ mối quan hệ giữa thể xác và tâm thần, cho rằng tâm thần từ một thể xác này luân hồi sang một thể xác khác và tiếp tục tồn tại, giống như lửa đốt cháy củi, thanh củi này cháy hết thì lửa liền bén sang thanh củi khác, tiếp tục đốt cháy. Đệ tử ngài Tuệ viễn là Tông bính (375-443) soạn luận Minh Phật, nêu ra 2 nghĩa Thần bất diệt, một là thần thức luân hồi bất diệt, hai là thần thức pháp thân thường trụ. Có người cho rằng nghĩa Thần thức pháp thân thường trụ dung hợp thuyết Phật tính trong kinh Niết bàn với tư tưởng Đạo gia, xem Phật tính là tâm hư tĩnh vô vi trong cảnh giới lí tưởng của Đạo gia, tâm này chính là thần thức; lại Phật tính (ở đây chỉ cho pháp thân) thường trụ cũng hàm ý là tâm thần bất diệt. Ngoài ra, ngài Tông bính còn liên kết thần thức bản thể luân hồi với thần thức pháp thân, nói rõ trong quá trình luân hồi, con người dần dần dứt trừ phiền não thì thần thức luân hồi cũng có thể trở về thần thức pháp thân xưa nay vốn thanh tịnh; khi trở thành trạng thái chỉ có thần thức pháp thân thì con người liền thành Phật. Căn cứ vào những văn hiến như:1. Luận Sa môn bất kính vương giả quyển 5 của ngài Tuệ viễn. 2. Các bức thư của Hà thừa thiên (370- 447) bác bỏ luận Sa môn bất kính vương giả và luận Minh Phật. 3. Các bức thư Hà thừa thiên gửi cho người chủ trương Thần bất diệt là Nhan diên chi (384-456)... ta có thể hiểu rõ hơn về tình hình vặn hỏi lẫn nhau giữa những người chủ trương Thần diệt và Thần bất diệt.Các học giả đều cho rằng Thần diệt luận bắt nguồn từ tư tưởng truyền thống của Trung quốc, nhưng nói theo quan điểm của những người chủ trương Thần bất diệt thì việc những người chủ trương Thần diệt phủ định sự tồn tại của linh hồn và tinh linh, không khác gì phản lại truyền thống Nho gia; bởi vì khi Nho gia thực hành nghi thức cúng tế tông miếu là đã nghiễm nhiên thừa nhận sự tồn tại của tinh linh. Cho nên nhữngngườiphủ nhận sự tồn tại của thần thức sau khi chết là đã tự phản lại đạo Nho chính thống mà mình tin thờ. Ngoài ra, những người chủ trương Thần bất diệt coi thần thức bản thể của luân hồi và linh hồn sau khi chết là một, đây chính là điểm mà họ thường bị nhắm vào để phê bình. Nhưng sở dĩ có luận thuyết cho là một này là vì thần thức bản thể luân hồi có nguồn gốc từ Thần trong quan niệm truyền thống của Trung quốc. Song, loại thần thức bản thểluân hồinày thực ra là trái với luận thuyết vô ngã của Phật giáo, vốn phủ định thực thể tồn tại. Tóm lại, quan điểm Thần bất diệt được trình bày ở trên cũng chẳng phải được đặt nền tảng trên sự lí giải chính xác của Phật giáo mà chỉ là sự giải thích đặc thù do người Trung quốc suy diễn ra để giúp cho chính mình dễ dàng tiếp nhận thuyết nghiệp báo luân hồi của Phật giáo. Thời vua Lương vũ đế thuộc Nam triều, ông Phạm chẩn có soạn Thần diệt luận đã gây ra cuộc luận chiến kịch liệt giữa các học giả. Phạm chẩn cho rằng thân xác và tâm thần là một thể, thân xác là chất của tâm thần, tâm thần là dụng của thân xác, khi thân xác diệt mất thì tâm thần cũng diệt theo. Chủ trương này chẳng những phủ định thuyết nghiệp báo luân hồi mà còn phủ định cả sự tồn tại của tinh linh quỉ thần, là chủ trương phản Phật giáo điển hình, khiến các nhân sĩ tin Phật đương thời xôn xao và soạn sách bác bỏ. Như người em bên ngoại của Phạm chẩn là Tiêu sâm (476-513) soạn Nạn thần diệt luận, Tào tư văn soạn Nạn Phạm Trung thư thần diệt nghĩa, Thẩm ước soạn Thần bất diệt nghĩa, Nạn Phạm chẩn thần diệt nghĩa, Lương vũ đế soạn Đại Lương Hoàng đế lập thần minh thành Phật nghĩakí, Đại Lương Hoàng đế sắc đáp thần hạ Thần diệt luận... Vì vua Lương vũ đế thành tâm tin Phật nên Phật giáo đương thời cực kì hưng thịnh, bởi vậy, phản ứng đối với Thần diệt luận của Phạm chẩn cũng rất dữ dội. [X. Hoằng minh tập Q.1-5, 8-10; Quảng hoằng minh tập Q.22; Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, hạ (Thang dụng đồng)]. (xt. Tam Giáo Luận Hành).
thần diệu
Wonderful, miraculous, marvellous.
; Mysterious—Mystic—Miraculous—Occult—Marvellous—Recondite.
Thần Duệ
(神叡, Shinei, ?-737): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời Nại Lương, húy Thần Duệ (神叡), thông xưng là Phương Dã Tăng Đô (芳野僧都), xuất thân nhà Đường (Trung Quốc, ?). Ông theo hầu Nghĩa Uyên (義淵, Gien) ở Long Cái Tự (龍蓋寺) vùng Đại Hòa (大和, Yamato), thông hiểu cả Pháp Tướng, Duy Thức và Tam Luận. Vào năm 693, ông theo sứ sang Tân La (新羅, Shiragi, Triều Tiên). Sau khi trở về nước, ông trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), đến năm 717 thì làm Luật Sư, danh tiếng vang khắp cùng với Đạo Từ (道慈, Dōji) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 729, ông được thăng chức Thiếu Tăng Đô, và tương truyền ông có sự cảm ứng của Hư Không Tạng Bồ Tát tại Hiện Quang Tự (現光寺, Genkō-ji) vùng Cát Dã (吉野, Yoshino). Ông được kính ngưỡng như là một trong 6 vị tổ của Pháp Tướng Tông Nhật Bản.
Thần dân 臣民
[ja] シンミン shinmin ||| Subjects (vijita); ministers and people. 〔法華經 T 262.9.37c24〕 => (s: vijita) Người dân; quan chức và dân chúng.
thần dược
Marvellous cure.
thần dược thụ
4260乃善信經中所載,能驅毒避邪之神奇樹木。據云有神藥樹,名摩陀祇主厭,時天下萬毒,不得妄行。有大神蛇,身長百二十丈,蛇行索食。有黑頭蟲,身長五丈,於行道中與蛇相遇,蛇適舉頭,欲食大蟲,聞神藥樹之藥香,屈頭欲走,然蛇身罹於藥樹,身即斷為二,頭部半生,得遁走,尾部便臭爛;後諸毒聞此蛇臭皆消滅。〔經律異相卷三〕
; (神藥樹) Cây thuốc thần, loại cây thần kì có công năng trừ độc xua tà nói trong kinh Thiện tín. Theo kinh này, có cây thần dược tên là Ma đà kì chủ yếm, bấy giờ trong nước có muôn ngàn thứ độc hại, mọi người không dám đi bậy. Lúc ấy có con rắn thần to lớn, mình dài 120 trượng, bò đi kiếm ăn; lại có con trùng đầu đen, thân dài 5 trượng, trên đường đi gặp con rắn thần, rắn liền ngóc đầu lên định ăn thịt trùng, bỗng ngửi thấy mùi thơm của cây thuốc thần liền co đầu toan bỏ chạy, nhưng mình rắn bị vướng vào cây thuốc thần, bèn đứt làm 2 đoạn, nửa phần đầu còn sống chạy thoát được, còn nửa phần đuôi thì thối rữa. Về sau, hễ nghe mùi hôi của con rắn này thì các chất độc đều tiêu tan. [X.Kinhluật dị tướng Q.3].
thần giao
Spiritual relations.
thần giao cách cảm
Telepathy.
; Telepathy.
thần giáo
Xem Thần đạo.
thần hoán
4257南宋僧。安吉(浙江杭縣)人。字堯文。幼學於慧覺,學行超群。紹興年間(1131~1162)至思溪(安徽婺源縣北)覺悟寺,於講訓之暇從事著述,對大部難解之文悉明辨之,出先賢未盡之義,凡一百章,世稱煥百章。時諸方天供位次未定,乃參究大藏經,編諸天傳。又著安樂記一卷、圓覺疏二卷等行世。寂年、享壽均不詳。〔釋門正統卷七、佛祖統紀卷十五〕
; (神煥) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người ở An cát (nay là huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), tự là Nghiêu văn. Thủa nhỏ, sư theo học ngài Tuệ giác, đức hạnh và học vấn đều hơn mọi người. Khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162), sư đến chùa Giác ngộ ở Tư khê (về phía bắc huyện Vụ nguyên, tỉnh An huy) để giảng dạy, những lúc rỗi rảnh thì sư soạn thuật, giải thích rõ các bản văn khó hiểu, nêu những nghĩa mà các bậc hiện tiền chưa nói hết, tất cả gồm 100 chương, người đời gọi là Hoán bách chương. Bấy giờ, sự thờ cúng chư thiên ở các nơi chưa phân định vị thứ, sư bèn tham cứu Đại tạng kinh, biên soạn Chư thiên truyện. Sư còn soạn An lạc kí 1 quyển, Viên giác sớ 2 quyển lưu hành ở đời.[X. Thích môn chính thống Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.15].
thần huýnh
4250(566~630)唐代僧。馮翊(陝西)臨晉人,俗姓田。聰慧絕倫,博通經典,年少出家。住京師大莊嚴寺,常於春夏之間雲遊山林,精進修業,致力於大乘教說之布衍,好嘲笑當代世人之重視武功,而努力於老莊、詩、史等文學研究,人皆敬畏,號大論主。大業十年(614)入禪定寺。後應詔入鴻臚寺,教化三韓(新羅、高句麗、百濟)之外國留學生及諸方之士。貞觀三年(629)入蜀,從事道俗之宣化。貞觀四年示寂於法聚寺,世壽六十五。〔續高僧傳卷十三〕
Thần Hành 神行
[ja] ジンギョウ Jingyō ||| Sinhaeng (704-779); Silla period Sŏn master; one of the earliest people to transmit the Chan teachings in Korea. => Sinhaeng (704-779); Thiền sư Triều Tiên; là một trong những thiền sư truyền bá thiền tông sớm nhất ở Triều Tiên.
thần hóa
Miraculous change; to spiritualize; to divinize, deify.
thần hưng tự
4259位於韓國江原道襄陽郡束草市。新羅真德女王七年(653),慈藏律師於雪岳山創建寺剎,時稱香城寺。前庭並建有九層寶塔,奉安釋尊舍利,為慈藏來唐請回舍利並創寺奉安的古剎之一。孝昭王十年(701)遭火毀損。義湘乃就原址創建禪定寺。李朝仁祖王二十二年(1644)復遭大火,至此名剎化為烏有。後有雲瑞、連玉、惠元三僧,由於夢中神人之啟示,乃於故址後方之小林菴復建本寺,遂稱神興寺。相傳寺中所供奉之佛像,係禪定寺時義湘大師所作。
thần hải lộ
Xem A tu vân.
thần học
Theology.
; Theology.
; Theology.
thần hồi
4249唐代僧。幼習佛道,博學多聞。從大義修習天台學,復從左溪尊者學三觀,皆能精通奧旨。於寶應年中(762),聲名遠播,四方欽仰。生卒年不詳。
thần hồn
Soul, mind, spirit. Liệu cái thần hồn mind yourself. Thần hồn nát thần tính to take fright, to be afraid of one's own shadow.
; Spirit—Soul.
thần hộ mạng
Externalists believe that each one of them has a so-called Guardian Angel to protect them.
thần hộ mệnh
Guardian angel, guardian spirit.
thần hộ thủ
Prajpati (S).
Thần Hộ Tự
(神護寺, Jingo-ji): ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông Cao Dã Sơn, hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市). Tiền thân của chùa này là Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺, Takaosan-ji), do dòng họ Hòa Khí (和氣, Waki) sáng lập nên vào khoảng năm 784 khi Trường Cương Kinh (長岡京) dời đô. Trước và sau khi Tối Trừng (最澄, Saichō) sang nhà Đường cầu pháp, Hòa Khí Quảng Thế (和氣廣世) đã từng cung thỉnh ông đến chùa này để thuyết giảng Kinh Pháp Hoa cũng như mở Đàn Quán Đảnh. Vào năm 806 (niên hiệu Đại Đồng [大同] nguyên niên), sau khi trở về nước, Không Hải (空海, Kūkai) cũng tiến hành lễ Quán Đảnh của hai bộ Thai Tạng tại chùa này; sự việc Tối Trừng và đệ tử ông đăng đàn thọ pháp Quán Đảnh được ghi lại trong cuốn Quán Đảnh Lịch Danh (灌頂歷名) do chính tay Không Hải viết. Đến năm 824 (niên hiệu Thiên Trường [天長] nguyên niên), Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro, 733-799) dời Thần Nguyện Tự (神願寺) đến Cao Hùng Sơn Tự, lấy tên là Thần Hộ Quốc Tộ Chơn Ngôn Tự (神護國祚眞言寺, Jingokokusoshingon-ji, gọi tắt là Thần Hộ Tự), trở thành ngôi chùa được cấp ngạch của triều đình và là đạo tràng trấn hộ quốc gia. Tượng thờ chính, Dược Sư Như Lai, ở Kim Đường rất nghiêm nghị, là tượng Phật có đặc trưng của nền văn hóa đầu thời Bình An (平安, Heian). Trong hai lần chùa bị hỏa hoạn vào năm 994 (niên hiệu Chánh Lịch [正曆] thứ 5) và 1149 (niên hiệu Cửu An [久安] thứ 5), may thay tượng Phật vẫn còn nguyên vẹn; nhưng cảnh quan của chùa thì bị suy tàn. Vào mùa Thu năm 1168 (niên hiệu Nhân An thứ 3), đau xót trước trước cảnh điêu tàn của chùa khi đến viếng thăm, Văn Giác (文覺, Bunkaku) có dâng lời thỉnh cầu Hậu Bạch Hà Viện (後白河院) hỗ trợ phục hưng chùa, nhưng thất bại. Đến năm 1182 (niên hiệu Thừa An [承安] thứ 3), được sự trợ duyên của Tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), mục đích phục hưng chùa được hoàn thành. Quần thể kiến trúc hiện tồn có Đại Sư Đường (大師堂, còn gọi là Nạp Lương Phòng [納涼房]) được tái kiến dưới Thời Đại Đào Sơn (桃山時代, Momoyama-jidai); Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Ngũ Đại Đường (五大堂), Minh Vương Đường (明王堂), Lầu Chuông, Kim Đường (金堂), Tháp Đa Bảo (多寳塔). Quốc bảo của chùa có các tượng Nguyên Lại Triều, Bình Trùng Thạnh (平重盛, Taira-no-Shigemori), Đằng Nguyên Quang Năng (藤原光能, Fujiwara-no-Mitsuyoshi), Thích Ca Như Lai, Dược Sư Như Lai, Ngũ Đại Hư Không Bồ Tát (五大虛空菩薩), đồ hình Lưỡng Giới Mạn Trà La (兩界曼茶羅, còn gọi là Cao Hùng Mạn Trà La [高雄曼茶羅]), danh sách Quán Đảnh (thủ bút của Không Hải), Tứ Thập Ngũ Cá Điều Khởi Thỉnh Văn (四十五箇條起請文) của Văn Giác, Phạn Chung, v.v.
thần hộ tự
4260為日本古義真言宗別格本山。位於京都市內,面臨清瀧川,為一風景名勝之地。建於延曆年中,原稱高雄山寺。 空海會於該寺為最澄、和氣真綱以下傳授兩部灌頂。其後空海之弟子真濟一度加以修建,未久又告荒廢。至鎌倉初期,文覺再度興修。後遇應仁之亂,該寺乃再次衰頹。今所遺留者,大多為江戶建築,所藏之佛像則多為平安初期之代表作。鐘樓之銅鐘,夙稱「三絕之鐘」。產於溪谷之楓葉,為「三尾」之最著稱者。本寺寺寶甚豐,例如相傳為空海所畫之大幅兩界曼荼羅二幅,然至今已嚴重損壞。又如鎌倉肖像畫之模仿繪,其代表作有源賴朝、平重盛等三幅。此外如浮雕空海像、雕刻雄勁的藥師佛三尊像、五大虛空藏、毘沙門天像等。另有密教法具之山水屏風、十二天圖、灌頂歷名(空海作)等,皆為日本佛教之至寶。
Thần Hội
(神會, Jinne, 720-794): vị Thiền tăng của Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người Phụng Tường (鳳翔), Thiểm Tây (陝西), nguyên gốc Tây Vức, họ Thạch (石). Năm 30 tuổi, ông đến làm môn hạ của Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺) vùng Thành Đô (城都). Sau đó, ông được thầy ấn khả cho, tiếp nối quản lý Tịnh Chúng Tự, nỗ lực xiển dương tông phong của mình, chủ xướng thuyết “tức tâm thị Phật (卽心是佛, ngay nơi tâm này là Phật)”. Vào năm thứ 10 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) đời vua Đức Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 36 hạ lạp. Đệ tử của ông là Ích Châu Nam Ấn (益州南印) truyền pháp cho Toại Châu Đạo Viên (遂州道圓) và Đạo Viên truyền lại cho Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密).
; 神會|Hà Trạch Thần Hội.
thần hội
4255<一>(668~760)唐代禪僧,荷澤宗之祖。襄陽(湖北襄陽)人,俗姓高。幼學五經、老莊、諸史,後投國昌寺顥元出家。諷誦群經,易如反掌。年十三,參謁六祖慧能。慧能示寂後,參訪四方,跋涉千里。開元八年(720)奉敕配住南陽龍興寺,大揚禪法,人稱南陽和尚。六祖入滅後二十年間,曹溪之頓旨沈廢,兩京之間皆宗神秀,由普寂等續樹法幢。師初至洛陽,欲振六祖之風,乃於開元二十年(732)設無遮大會於河南滑臺大雲寺,與山東崇遠論戰。指斥神秀一門「師承是傍,法門是漸」,欲確立南宗慧能系之正統傳承與宗旨。並於天寶四年(745)著「顯宗記」,定南北頓漸兩門,即以南能為頓宗,北秀為漸教,「南頓北漸」之名由是而起,竭力攻擊神秀之漸門,於是南宗日盛而北宗大衰。天寶十二年,師因御史盧奕誣奏,奉敕黜離洛陽荷澤寺,遷住弋陽(江西)、武當(湖北)等地。翌年轉住襄陽,再轉住荊州開元寺般若院。 安史之亂起,兩京板蕩,時大府各置戒壇度僧,聚香水錢,以充軍需。請師主壇度之事,所獲財帛悉充軍需。亂平後,肅宗詔入宮內供養,並建造禪宇於荷澤寺中,詔請住之,故世稱荷澤大師。師在荷澤寺仍闡揚六祖之宗風。上元元年入寂,世壽九十三,另一說乾元元年(758)示寂,世壽七十五。敕諡「真宗大師」。貞元十二年(796)皇太子集諸禪師,楷定禪門之宗旨,遂以師為禪宗第七祖,敕碑置神龍寺。其法流稱荷澤宗,門下英才甚多,有無名、法如等。〔六祖大師法寶壇經、圓覺經大疏鈔卷三下、宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷五、荷澤大師神會傳(胡適之)〕 <二>(720~794)唐代淨眾宗禪僧。陝西鳳翔人,原籍西域,俗姓石。年三十,入四川成都府淨眾寺無相門下。其後,受無相印可,接掌淨眾寺,致力於闡揚宗風,倡「即心是佛」說,依學人之上中下根性,個別接引入道。南康王韋皐因師而虔誠歸依。於德宗貞元十年示寂,世壽七十五,法臘三十六。弟子益州南印傳法遂州道圓,道圓傳法圭峰宗密。另有弟子那提等。〔宋高僧傳卷九〕
; Shen hui (C) Tên một vị sư.
; (神會) I. Thần Hội (668-760). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ khai sáng của tông Hà trạch, người ở Tương dương (tỉnh Hồ bắc), họ Cao.Thủa nhỏ, sư học Ngũ kinh, LãoTrang, Chư sử, sau theo ngài Hạo nguyên xuất gia ở chùa Quốc xương, đọc tụng các kinh dễ dàng như trở bàn tay. Năm 13 tuổi, sư tham yết Lục tổ Tuệ năng. Sau khi tổ Tuệ năng thị tịch, sư đi tham phỏng khắp nơi, lặn lội nghìn dặm. Năm Khai nguyên thứ 8 (720), sư vâng sắc trụ chùa Long hưng ở Nam dương, phát huy Thiền pháp, người đương thời gọi sư là Nam dương Hòa thượng. Sau khi Lục tổ nhập diệt khoảng 20 năm, yếu chỉ đốn ngộ của Tào Khê bị chìm lặng, người học ở 2 kinh (Nam kinh và Bắc kinh) đều hướng theo ngài Thần tú, do các vị như Phổ tịch... tiếp nối nhau nêu cao Thiền chỉ. Ban đầu, sư đến Lạc dương định chấn hưng Thiền phong của Lục tổ, nên vào năm Khai nguyên 20 (732), sư mở Đại hội Vô già ở chùa Đại vân tại Hoạt đài, tỉnh Hà nam, luận chiến với Sùng viễn ở Sơn đông. Sư chỉ trích pháp môn của ngài Thần tú Sư thừa là bàng, pháp môn là tiệm, muốn xác lập sự truyền thừa chính thống và tông chỉ của hệ thống Nam tông Tuệ năng. Đồng thời, vào năm Thiên bảo thứ 4 (745), sư soạn Hiển tông kí, định rõ 2 môn Nam đốn, Bắc tiệm, tức cho rằng Nam Năng là Đốn tông, Bắc Tú là Tiệm giáo, danh từ Nam đốn Bắc tiệm bắt nguồn từ đó. Sư cực lực công kích Tiệm môn của ngài Thần tú, do đó mà Nam tông mỗi ngày một thịnh, còn Bắc tông thì suy yếu nặng nề. Năm Thiên bảo 12 (753), sư bị quan Ngự sử là Lô dịch tấu gian, nên phải vâng sắc rời khỏi chùa Hà trạch ở Lạc dương, dời đến ở tại Dặc dương(tỉnh Giang tây), Vũ đương(tỉnh Hồ bắc). Năm sau, sư dời đến trụ ở Tương dương, rồi lại chuyển đến trụ viện Bát nhã chùa Khai nguyên tại Kinh châu. Loạn An sử nổi lên, 2 kinh đều rơi vào tình trạng vô luật pháp, bấy giờ ở các phủ lớn đều có lập đàn độ tăng, gom góp tiền lệ phí cấp độ điệp để sung vào quân nhu. Các giới đàn này thỉnh sư làm đàn chủ, thu được bao nhiêu tài vật đều sung vào quân nhu. Sau khi dẹp loạn, an bình trở lại, vua Túc tông ban chiếu thỉnh sư vào trong cung cúng dường, đồng thời xây dựng Thiền viện trong chùa Hà trạch thỉnh sư đến ở, cho nên người đời gọi sư là Hà Trạch Đại Sư. Sư trụ chùa Hà trạch vẫn xiển dương tông phong của Lục tổ. Niên hiệu Thượng nguyên năm đầu (760), sư nhập tịch, thọ 93 tuổi. Có thuyết cho rằng sư nhập tịch vào niên hiệu Càn nguyên năm đầu (758), thọ 75 tuổi. Vua ban thụy hiệu Chân Tông Đại Sư. Năm Trinh nguyên 12 (796), Hoàng thái tử triệu tập các Thiền sư, xác định tông chỉ của Thiền môn, suy tôn sư là Tổ thứ 7 của Thiền tông. Vua cho dựng bia kỉ niệm sư ở chùa Thần long. Dòng pháp của sư gọi là Hà trạch tông, đệ tử của sư có rất nhiều người tài giỏi, như các vị Vô danh, Pháp như... [X. Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3 hạ; Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Hà trạch đại sư Thần hội truyện (Hồ thích chi)]. II. Thần Hội (720-794). Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tịnh chúng, sống vào đời Đường, người ở Phụng tường, tỉnh Thiểm tây, nguyên quán ở Tây vực, họ Thạch. Năm 30 tuổi, sư đến tham học ngài Vô tướngở chùa Tịnh chúng, phủ Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, sau được ngài Vô tướng ấn khả và kế thừa trông coi chùa Tịnh chúng, tận lực mở mang tông phong, đề xướng thuyết Tức tâm thị Phật, tùy theo căn cơ thượng, trung, hạ của người học mà tiếp dẫn vào đạo một cách cá biệt. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), sư thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 36. Đệ tử sư là các vị: Ích châu Nam ấn truyền pháp cho Toại châu Đạo viên, Đạo viên truyền pháp cho Khuê phong Tông mật. Ngoài ra, còn có các vị như Na đề... [X. Tống cao tăng truyện Q.9].
thần hội hoà thượng di tập
4255全一冊。全稱胡適校敦煌唐寫本神會和尚遺集。民國十九年(1930),上海亞東圖書館刊行。內分四卷,另有跋四首、神會傳一篇,及附錄一卷(即景德傳燈錄卷二十八之神會語錄三則)。係胡適自敦煌稿卷中發掘有關神會和尚之各種資料,加以並比校勘,另又與其他傳世之典籍如景德傳燈錄、高僧傳等,相互補訂,並附有對神會思想、行止與著作之論述,及其作品之勘誤。所收錄之敦煌寫本包括:神會語錄第一殘卷(伯希和第三○四七號前半)、神會語錄第二殘卷(菩提達摩南宗定是非論─伯希和第三○四七號後半)、神會語錄第三殘卷(伯希和第三四八八號)頓悟無生般若頌殘卷(史坦因第四六八號)。一九四九年,法國學者葛內特(Jacques M. Gernet)出版本書之法譯本,訂正本書六十餘處,並附有對全書語句之典據,及人名、地名等之考證。 民國五十七年,中央研究院胡適紀念館重新刊行胡適校敦煌唐寫本神會和尚遺集一冊,係增輯十九年版以後有關之原始資料及研究論文兩篇:「新校定的敦煌寫本神會和尚遺著兩種」、「神會和尚語錄的第三個敦煌寫本:『南陽和尚問答雜徵義,劉澄集』」。 新校敦煌本之原始資料有:南陽和上頓教解脫禪門直了性壇語(伯希和第二○四五號之第二件)、菩提達摩南宗定是非論(伯希和第二○四五號之第一件)、南陽和尚問答雜徵義(史坦因第六五五七號),以及五章「五更轉」等。 兩篇論文之要點:(一)「南陽和上頓教解脫禪門直了性壇語」一篇,係胡適以日人鈴木大拙於國立北平圖書館發現之「和上頓教解脫禪門直了性壇語」敦煌本,與伯希和第二○四五號第二件,互相校對而定之稿,為神會闡論「無念」禪旨之語,胡適並以壇語與六祖壇經之文字思想十分接近,而主張壇經出自神會之手。(二)「壇語」之後的「南宗定邪正五更轉」歌五章,及五言律詩一首,胡適認為是神會之作,故附錄之。(三)又以鈴木大拙所攝之伯希和第二○四五號照片,與「十九年版」內之伯希和第三○四七號、三四八八號兩種抄本合併,補全「菩提達摩南宗定是非論」一卷,指出此論係神會為南宗爭取禪門正統地位而作,因而考訂此論發表於開元二十年(732)滑臺大雲寺之無遮大會,且此論在當時流傳極廣。(四)復以日人矢吹慶輝所輯「鳴沙餘韻」內影印之史坦因第二九六號,與已有之史坦因第四六八號,補全「頓悟無生般若頌」(又稱「荷澤大師顯宗記」)。(五)又由於日人入矢義高發現史坦因第六五五七號,即與原有之伯希和第三○四七號合併,完成「南陽和尚問答雜徵義」一卷(又稱「南宗荷澤禪師問答雜徵」),並假設此卷即「荷澤和尚禪要」一卷。
; (神會和尚遺集) Gọi đủ: Hồ thích giáo Đôn hoàng Đường tả bản Thần hội hòa thượng di tập. Tác phẩm, 1 tập, do thư viện Á đông ở Thượng hải ấn hành vào năm Dân quốc 19 (1930). Nội dung sách này chia làm 4 quyển, ngoài ra còn có 4 bài bạt, 1 thiên Thần hội truyện và phụ lục 1 quyển (tức Thần hội ngữ lục trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28). Đây là công trình ông Hồ thích tìm trong các bản thảo đào được ở Đôn hoàng các tư liệu về Hòa thượng Thần hội rồi so sánh, sửa chữa thêm, đồng thời y cứ vào các bộ sách khác lưu truyền ở đời như Cảnh đức truyền đăng lục, Cao tăng truyện... để sửa chữa bổ sung và phụ thêm phần trình bày về tư tưởng, hành trạng và tác phẩm của ngài, cũng có đính chính những chỗ lầm lẫn trong các tác phẩm ấy mà biên soạn thành sách này. Các bản viết tay ở Đôn hoàng được thu chép trong sách này gồm có: Thần hội ngữ lục quyển 1 còn sót lại (nửa trước của Pelliot số 3488), Thần hội ngữ lục quyển 2 còn sót lại (luận Bồ đề đạt ma nam tông định thị phi – nửa sau của Pelliot số 3047), Thần hội ngữ lục quyển 3 còn sót lại (Pelliot số 3488), Đốn ngộ vô sinh bát nhã tụng không hoàn chỉnh (A. Stein số 468). Năm 1949, học giả người Pháp là ông Jacques M.Gernet xuất bản bản dịch tiếng pháp của sách này có đính chính hơn 60 chỗ lầm lẫn trong đó, đồng thời còn phụ thêm điển cứ về ngữ cú của toàn sách và phần khảo chứng nhân danh, địa danh. Năm Dân quốc 57 (1968), Hồ thích kỉ niệm quán thuộc viện Nghiên cứu Trung ương ở Trung quốc cho ấn hành lại bộ Thần hội hòa thượng di tập bản chép tay đời Đường ở Đôn hoàng do Hồ thích kiểm xét lại, có thu chép các tư liệu gốc từ năm Dân quốc 19 (1930) về sau và 2 bài luận văn nghiên cứu: Tân giáo định đích Đôn hoàng tả bản Thần hội hòa thượng di trứ lưỡng chủng(Bản chép tay 2 tác phẩm của Hòa thượng Thần hội còn sót lại tìm thấy ở Đôn hoàng mới được kiểm xét lại) và Thần hội hòa thượng ngữ lục đích đệ tam cá Đôn hoàng tả bản: Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa, Lưu trừng tập (Bản chép tay thứ 3: Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa, Lưu trừng tập trong ngữ lục của Hòa thượng Thần hội tìm thấy ở Đôn hoàng). Những tư liệu gốc bản Đôn hoàng mới được kiểm xét lại gồm có: Nam dương hòa thượng Đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu tính đàn ngữ(văn kiện thứ 2 trong Pelliot số 2045), luận Bồ đề đạt ma Nam tông định thị phi(văn kiện thứ nhất trong Pelliot số 2045), Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa (A.Stein số 6557) và 5 bài Ngũ canh chuyển. Điểm then chốt của 2 bài luận văn này là: 1. Bài Nam dương Hòa thượng Đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu tính đàn ngữ là bản thảo do ông Hồ thích soạn bằng cách kiểm xét và đối chiếu giữa bản Đôn hoàng Hòa thượng Đốn giáo giải thoát Thiền môn trực liễu tính đàn ngữ do ông D.T. Suzuki người Nhật đã phát hiện trong thư viện quốc lập ở Bắc bình và văn kiện thứ 2 Pellliot số 2045, mà cho là lời ngài Thần hội nói rõ về ý chỉ thiền Vô niệm. Hồ thích còn dựa vào điểm văn tự, tư tưởng giữa Đàn ngữ và Lục tổ Đàn kinh rất gần nhau mà cho rằng Đàn kinh do chính Thần hội soạn. 2. Ông Hồ thích cho rằng 5 bài thi ca Nam tông định tà chính ngũ canh chuyển ở sau Đàn ngữ và bài thơ Đường luật thể 5 chữ là do ngài Thần hội làm ra, nên mới chép thêm vào. 3. Lại hợp chung tấm ảnh số 2045 của P.Pelliot do ông D.T. Suzuki chụp với 2 bản sao số 3047, 3488 của Pelliot trong bản năm 1930, bổ sung cho Luận Bồ đề đạt ma Nam tông định thị phi 1 quyển, chỉ ra rằng luận này là do ngài Thần hội soạn để giúp Nam tông giành lấy địa vị chính thống trong Thiền môn, do đó mới khảo xét, sửa chữa luận này và công bố trong Đại hội Vô già được tổ chức tại chùa Đại vân ở Hoạt đài vào năm Khai nguyên 20 (732), luận này được lưu truyền rất rộng ở đương thời. 4. Lại dùng A.Stein số 296 in ảnh trong Minh sa dư vận do Thỉ xuy Khánh huyngười Nhật bản biên tập và A.Stein số 468 đã có để bổ sung cho Đốn ngộ vô sinh bát nhã tụng(cũng gọi Hà trạch đại sư hiển thị kí).5. Lại hợp chung A.Stein số 6557 do Nhập thỉ Nghĩa cao người Nhật tìm thấy và P.Pelliot số 3047 vốn có để hoàn thành Nam dương Hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa 1 quyển(cũng gọi Nam tông Hà trạch thiền sư vấn đáp tạp trưng), đồng thời giả thiết rằng quyển này chính là Hà trạch Hòa thượng thiền yếu 1 quyển.
thần hội hà trạch
Shen-Hui-He-Ze (670-762)—Thần Hội Hà Trạch, họ Cao, sanh năm 670 sau Tây Lịch, xuất gia năm 14 tuổi. Ông là một trong những đệ tử nổi bật của Lục Tổ Huệ Năng. Ông mạnh mẽ ủng hộ cho vị trí của Lục Tổ trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa. Thần Hội dẫn đầu Thiền Phái truyền lại bởi Lục Tổ Huệ Năng ở phương Nam, và mạnh mẽ tấn công phái Thần Tú phương Bắc. Ông đưa ra hai lý do để tấn công phái Thần Tú—Shen-Hui-He-Ze, surname was Kao. He was born in 670 A.D., and left home at the age of 14. He was one of the eminent disciples of the Sixth Patriarch. He strongly supported and promoted Hui-Neng's place in Chinese Zen history. Shen-Hui led the Southern school, and strongly attacked what became widely known as the Northern school, the school associated with Shen-Xiu. Shen-Hui put forward two reasons for his attack on the Northern school: 1) Lý do thứ nhất, ông tấn công về sự không chính thống của phái Thần Tú và mạnh mẽ cho rằng Huệ Năng mới là người truyền thừa y bát chính thống từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Dĩ nhiên cuộc tranh luận tự nói lên rằng ông chính là Thất Tổ của dòng Bồ Đề Đạt Ma—The first reason, he attacked the legitimacy as the Dharma heir of Hung-Jen and proposed that the honour belonged to Hui-Neng. Of course the argument was self-serving, since Shen-Hui could claim to be the true Seventh Patriarch of the Bodhidharma line. 2) Lý do thứ nhì mà ông tấn công phái Thần Tú, ông cho rằng thiền phái của Thần Tú là “tiệm môn,” rất xa lạ với thiền phái “đốn ngộ” mà Lục Tổ Huệ Năng đã truyền lại—The second reason, for attacking Shen-Xiu was his Dharma gate was gradual, which was fundamentally at odds with what Shen-Hui regarded as the genuine Zen of his teacher, Hui-Neng. • Năm mười bốn tuổi, khi đang là Sa Di ở chùa Ngọc Tuyền, sư tìm đến yết kiến Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được bổn (gốc) theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?” Sư thưa: “Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.” Tổ bảo: “Sa Di đâu nên dùng lời đó.” Sư thưa: “Hòa Thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?” Tổ cầm gậy đánh sư ba gậy, hỏi: “Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?” Sư thưa: “Cũng đau cũng chẳng đau.” Tổ nói: “Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.” Trong khi bị đánh, Thần Hội nghĩ: “Vị Thầy nầy thật vĩ đại. Thật khó mà gặp được một người như vậy dù trong nhiều kiếp. Đã gặp rồi không thể bỏ lỡ dịp may ngàn đời—Zen master He-Ze-Shen-Hui of the Western Capital came from Xiang-Yang, when he was a novice monk at the age of fourteen. At his first meeting with the Sixth Patriarch. The Sixth Patriarch asked Shen-Hui: “You have come on an arduous journey from afar. Did you bring what is fundamental? If you have what is fundamental then can you see the host. Let's see what you have to say.” Shen-Hui said: “I take no abode as the fundamental. What is seen is the host.” The Sixth Patriarch said: “This novice is talking nonesense!” He then took his staff and struck Shen-Hui. As he was being beaten, Shen-Hui thought: “This Master is such a great and wise sage. It is difficult to meet such a person even after many kalpas of time. Having met him today how can I lament my life?” • Một hôm Tổ bảo đại chúng: “Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?” Sư bước ra thưa: “Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh ngươi là không tên không họ, nguơi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh. Ngươi lại đi lấy tranh che đầu, cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.” Sư lễ bái lui ra—Once, the Sixth Patriarch addressed the congregation, saying: “I have something which has no head or tail. It is nameless and can't be described. It has no back and no front. Do any of you know what it is?” Shen-Hui came forward and said: “It is the source of all things. It is the Buddha-nature of Shen-Hui.” The Sixth Patriarch said: “I said that it has no name and no description. How can you say it is the source of the Buddha-nature?” Shen-Hui bowed and retreated. • Năm 760, Sư thị tịch trong lúc đang ngồi thiền. Tháp của sư được đặt tại Long Môn—In 760, he passed away while sitting in meditation. His burial stupa was located at Dragon Gate.
thần hội ngữ lục
4256係收集唐代荷澤宗之祖神會法語之書。完本今散佚不傳。據景德傳燈錄卷二十八所收之「洛京荷澤神會大師示眾」,及同書卷三十所收之「荷澤大師顯宗記」,可知神會僅著有「南宗荷澤禪師問答雜徵」一卷及「荷澤和尚禪要」一卷,然近年自敦煌所發現之資料,可確知神會之著作至少有三種刊本:(一)民國十九年(1930)胡適出版之神會和尚遺集,共四卷。民國五十七年,中央研究院胡適紀念館曾重新刊行。(二)日本昭和七年(1932)鈴木大拙出版之荷澤神會禪師語錄,其語錄之內容與胡適本之第一卷相同,然卷尾載有唐貞元八年(792)沙門寶珍與判官趙看琳共奉北庭張大夫之旨而作校勘之事。此外,並有自初祖達摩至六祖慧能,禪宗諸祖之略傳,及神會之「大乘頓教頌并序」。(三)昭和十年(1935)鈴木大拙出版之和尚頓教解脫禪門直了性壇語,共四冊一帙,係鈴木大拙參考胡適本,再加以整理校對,將全書分為若干章節,並附敦煌本與興聖寺本之六祖壇經及解說。〔敦煌劫餘錄(陳垣)卷十三、唐代長安與西域文明(向達)、唐代文化史(羅香林)、禪宗史研究(宇井伯壽)、荷澤神會禪師考(山崎宏,中國の社會と宗教)〕(參閱「神會和尚遺集」4256)
; (神會語錄) Sách thu gom các pháp ngữ của ngài Thần hội, Tổ khai sáng tông Hà trạch đời Đường. Bản hoàn chỉnh này đã thất truyền. Cứ theo Lạc kinh Hà trạch Thần hội đại sư thị chúng được thu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 và Hà trạch đại sư hiển thị kí được thu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 thì được biết ngài Thần hội chỉ soạn có Nam tông Hà trạch thiền sư vấn đáp tạp trưng 1 quyển và Hà trạch hòa thượng thiền yếu 1 quyển. Nhưng, những năm gần đây, qua các tư liệu tìm thấy ở Đôn hoàng, ta có thể biết chắclàtác phẩm của ngài Thần hội ít ra cũng có 3 ấn bản sau đây:1. Thần hội hòa thượng di tập 4 quyển, do ông Hồ thích xuất bản vào năm Dân quốc 19 (1930). Năm Dân quốc 57 (1968), Hồ thích kỉ niệm quán thuộc viện Nghiên cứu Trung ương, Trung quốc, in lại.2. Hà trạch thiền sư ngữ lục, do ông D.T.Suzuki người Nhật xuất bản vào năm Chiêu hòa thứ 7 (1932), nội dung của bộ ngữ lục này giống với quyển thứ nhất trong bản Hồ thích, nhưng ở cuối quyển có ghi việc sa môn Bảo trân và phán quan Triệu khán lâm cùng theo ý của Bắc đình Trương đại phu mà kiểm xét lại ngữ lục này vào năm Trinh nguyên thứ 8 (792) đời Đường. Ngoài ra còn ghi lược truyện của các Tổ Thiền tông từ Sơ tổ Đạt ma đến Lục tổ Tuệ năng và Đại thừa đốn giáo tụng tinh tự của ngài Thần hội. 3. Hòa thượng đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu đàn ngữ, 1 pho 4tập, do D.T. Suzuki xuất bản vào năm Chiêu hòa thứ 10 (1935). Bản này Suzuki có tham khảo Hồ thích, kiểm xét đối chiếu và sửa sang thêm và chia toàn sách làm một số chương tiết, đồng thời phụ thêm bản Đôn hoàng và Lục tổ đàn kinh tập giải thuyết của bản chùa Hưng thánh. [X. Đôn hoàng kiếp dư lục (Trần viên) Q.13; Đường đại trường an dữ tây vực văn minh (Hướng đạt); Đường đại văn hóa sử (La hương lâm); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Hà trạch Thần hội thiền sư khảo (Sơn kì hoành, Trung quốc chi xã hội dữ tông giáo)]. (xt. Thần Hội Hòa Thượng Di Tập).
Thần Hội 神會
[ja] ジンネ Jinne ||| Shenhui (668-760): Chinese monk, disciple of Huineng 慧能, considered to be the founder of the Heze 荷澤 school of Chinese Chan, being a primary representative of what is termed as the southern "sudden" tradition. => Shenhui (668-760). Thiền sư Trung Hoa, đệ tử cuả Huệ Năng, được xem là người sáng lập dòng thiền Hà Trạch (Heze 荷澤), là biểu tượng đầu tiên của thuật ngữ Nam 'đốn' trong Thiền tông Trung Hoa.
thần kim cương
Vajra god.
Thần Kinh
(神京): (1) Đế đô, thủ đô. Như trong bài Phụng Hòa Biệt Việt Vương (奉和別越王) của Trương Đại An (張大安, ?-?) nhà Đường có câu: “Lệ nhật khai phương điện, giai khí tích thần kinh (麗日開芳甸、佳氣積神京, trời đẹp bày thơm cõi, khí tốt tụ kinh đô).” Hay trong bài Tiểu Trùng Sơn (小重山) của Hòa Ngưng (和凝, 898-955) thời Ngũ Đại có đoạn: “Xuân nhập thần kinh vạn mộc phương, cấm lâm oanh ngữ hoạt, điệp phi cuồng (春入神京萬木芳、禁林鶯語滑、蝶飛狂, xuân đến đế đô cây cỏ thơm, vườn cấm oanh líu lo, bướm bay rối rít).” Trong bài Võ Xương Khởi Nghĩa Chơn Sử (武昌起義真史) của Tào Á Bá (曹亞伯, 1875-1937) cũng có câu: “Bỉnh nhĩ bạch mao, báo nhĩ tiên đức, trùng tân Cửu Đỉnh, tái điện thần kinh (秉爾白茅、報爾先德、重新九鼎、再奠神京, giữ vững ý chí người, báo đáp đức lớn người, trùng tu mới Cửu Đỉnh, tái thiết chốn thần kinh).” (2) Giống như tiên cảnh, kinh đô của tiên nữ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 42 có đoạn: “Chiêu chơn hạ lưu, quán ngã ngọc sương, vũ quần phân phân, y ngã tiên thường, việt quá thủy hỏa, phi đăng thần kinh (招眞下流、灌我玉霜、羽裙紛紛、衣我仙裳、越過水火、飛登神京, mời Chơn Quân xuống dòng, rưới sương ngọc ta, quần long phấp phới, mặc áo tiên ta, vượt qua nước lửa, bay lên tiên cảnh).”
Thần Kì Quan
(神祇官, Jinkikan, Kamuzukasa, Kamizukasa): (1) Tên gọi một cơ quan quốc gia được thiết lập theo Luật Lịnh Chế thời cổ đại. Từ Thần Kì (神祇) ở đây, Thần (神) tức là Thiên Thần (天神); Kì (祇) là Địa Kì (地祇); cho nên theo Luật Lịnh Chế thời xưa thì Thần Kì Quan là vị quan chuyên trách việc cúng tế Thiên Thần và Địa Kì, quản lý chung các đền thờ Thần Xã trên toàn quốc. Vị này có địa vị trên các chức quan, thậm chí trên cả Thái Chính Quan (太政官), người lo việc hành chính. Tứ Đẳng Quan (四等官) gồm Bá (伯), Phó (副, Đại Phó [大副] và Thiếu Phó [少副]), Hữu (佑, Đại Hữu [大佑] và Thiếu Hữu [少佑]) và Sử (史, Đại Sử [大史] và Thiếu Sử [少史]). Tuy nhiên, trên thực tế thì chức Thần Kì Quan nằm dưới Thái Chính Quan. (2) Tên gọi một cơ quan quốc gia được thiết lập vào đầu thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911). Vào tháng 4 năm 1868 (Khánh Ứng [慶應] 4) nhuận, thể theo Chính Thể Thư (政体書), Thần Kì Quan được chính thức thiết lập; là cơ quan chưởng quản các sự việc liên quan đến tế tự, Thần Kì, chúc từ, v.v.
thần linh
God, deity, spirit.
; Divinity.
thần linh học
Spiritism.
thần lâm long tịnh
4249(1876~1963)日本佛教學者。新潟縣人。先後就學於真言宗新義派大學林、東京大學印度哲學科。其後進入研究科,師事高楠順次郎。大正二年(1913)留學德國,專攻印度學。歸國後又從荻原雲來學梵語,從河口慧海學藏語。歷任豊山大學、大正大學教授、真言學研究室主任。著有密教學、菩薩思想の研究,及國譯一切經大日經、金剛頂經之日譯、解說、註解等。
thần lặc tự
4250位於韓國京畿道。創始年代不詳。高麗辛荦王二年(1376),王師懶翁慧勤示寂於本寺,建有墓塔(石鐘)。八年,花山君權僖等人於寺南建重層閣。至李朝,一般傾向於排佛,當時本寺與王室關係頗深,如世祖之妃貞熹王后於睿宗元年(1469)將世宗陵墓自廣州北遷至驪州時,以先王遺旨故不另造陵寺,遂重建本寺,以為英陵之陵寺,另賜「報恩寺」之額。其後,屢經重修。今尚存哲宗十一年(1860)金炳冀所撰之神敕寺重修記。〔朝鮮寺剎史料卷上、朝鮮金石總覽上〕
thần lực
4244梵語 ṛddhi,巴利語 iddh丿。又作神通力。謂佛菩薩所示現的種種神變不可思議之力。諸經中,多處載有佛菩薩顯現神力之說,如法華經卷六如來神力品謂,世尊嘗於百億萬人天眾前,現大神力,出廣長舌至於上梵世,其一切毛孔均放出無量無數色光,悉皆徧照十方世界。智顗之法華文句卷二十九(大三四‧一四一下):「神名不測,力名幹用;不測則天然之體深,幹用則轉變之力大。」窺基之法華經玄義贊卷十(大三四‧八四一上):「妙用無方曰神,威勢能摧為力。」
; Ṛddhibala (S), Ṛddhi (S), Iddhi (P), Adhitiṣṭhati (S), Iddhibala (P), Bindhu (S), tiglī (T) Supernatural powers, Magic power, Psychic energy Gia trì, Gia bị, Thần, Thần thông, Thần sắc, Thần khí. Trong: Tinh, Khí, Thần Xem Sanh lực.
; Rddhibala (S). Divine power. Superhuman strength.
; Abhijna (skt)—Abhinna (p)—Supernatural power(s)—Spiritual power(s)—Awesome spiritual power(s)—See Thần Thông.
; (神力) Phạm: Fddhi. Pàli:Iddhị. Cũng gọi Thần thông lực. Các thứ năng lực thần biến không thể nghĩ bàn do Phật và Bồ tát thị hiện. Trong các kinh có nhiều chỗ nói về việc Phật và Bồ tát hiển hiện thần lực, như phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 ghi rằng: Đức Thế tôn ở trước trăm ức vạn chúng trời, người hiện đại thần lực, thè lưỡi rộng dài đến tận cõi trời Phạm thế, từ tất cả lỗ chân lông của Ngài đều phóng ra vô lượng vô số ánh sáng nhiều màu, chiếu soi hết thảy các thế giới trong 10 phương. Pháp hoa văn cú quyển 29 của ngài Trí khải (Đại 34, 141 hạ) nói: Thần là không lường được, Lực là tài dùng; không lường được thì thể của thiên nhiên sâu, tài dùng thì sức chuyển biến lớn. Pháp hoa kinh huyền nghĩa tán quyển 10 của ngài Khuy cơ (Đại 34, 841 thượng) nói: Diệu dụng vô phương gọi là Thần, uy thế có công năng phá dẹp gọi là Lực.
thần lực của chư phật
The Buddhas' spiritual powers.
Thần minh
(神明): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tức thiên thần địa kỳ; không đo lường được gọi là thần, sáng trong như kính gọi là minh; là tên gọi chung của chư vị thần linh trong trời đất. Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648), nhà kinh học, sống dưới thời nhà Đường, giải thích rằng: “Vạn vật biến hóa, hoặc sanh hoặc thành, thị thần minh chi đức (萬物變化、或生或成、是神明之德, vạn vật biến hóa, hoặc sinh nở hoặc lớn lên, là đức của thần minh).” Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Nhật nguyệt chiếu kiến, thần minh ký thức, cố hữu tự nhiên tam đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ (日月照見、神明記識、故有自然三塗無量苦惱、展轉其中、世世累劫、無有出期, trời trăng chiếu thấy, thần minh ghi biết, cho nên tự nhiên có Ba Đường vô lượng khổ não, xoay vần trong đó, đời đời bao kiếp, không có lúc ra).” Hay trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光如來本願功德經, Taishō Vol. 14, No. 450) lại có đoạn: “Sát chủng chủng chúng sanh, giải tấu thần minh, hô chư võng lượng, thỉnh khất phước hựu (殺種種眾生、解奏神明、呼諸魍魎、請乞福祐, giết các loại chúng sanh, tâu trình thần minh, gọi quỷ gỗ đá, cầu xin ban phước).” (2) Đặc biệt chỉ cho Thần Thái Dương (太陽神). Như trong Sử Ký (史記), phần Phong Thiền Sư (封禪書), có đoạn rằng: “Trường An Đông Bắc hữu thần khí, thành ngũ thái, nhược nhân quan miến yên, hoặc viết Đông Bắc, thần minh chi xá; Tây phương, thần minh chi mộ dã (長安東北有神氣、成五采、若人冠絻焉、或曰東北、神明之舍、西方、神明之墓也, phía Đông Bắc Trường An có thần khí, tạo thành năm màu, giống như người đội vương miện vậy; hoặc gọi Đông Bắc, là nhà của Thần Thái Dương; phương Tây là mộ của Thần Thái Dương).” (3) Trí sáng như thần. Như trong Hoài Nam Tử (淮南子), phần Binh Lược Huấn (兵略訓), có đoạn: “Kiến nhân sở bất kiến vị chi minh, tri nhân sở bất tri vị chi thần; thần minh giả, tiên thắng giả dã (見人所不見謂之明、知人所不知謂之神、神明者、先勝者也, thấy người ở chỗ không thấy được gọi là minh [sáng suốt], biết người ở chỗ không biết được gọi là thần; thần minh là cái biết trước vậy).” (4) Chỉ cho thần thánh, đấng cao siêu. Như trong bài thơ Thượng Lô Tam Thập Di Dĩ Ngôn Kiến Truất (上盧三拾遺以言見黜) của Từ Di (徐夤, ?-?) thời Ngũ Đại có câu: “Tật nguy tất yểm thần minh dược, tâm hoặc đa hiềm chánh trực ngôn (疾危必厭神明藥、心惑多嫌正直言, bệnh nguy ắt chán thần thánh thuốc, tâm mê lại ghét nói ngay lời).”
thần minh
4249無法思惟分別者,稱為神;能照見者稱為明。(一)指天地之諸神,諸神能明白察知善惡邪正,確實無誤,故有此稱。(二)指眾生之神識(靈魂、精神之主體)。
; The spirits of heaven and earth, the gods; also the intelligent or spiritual nature.
; The intelligent or spiritual nature—The spirits of heaven and earth, the gods.
; (神明) Không cách nào suy nghĩ phân biệt được gọi là Thần; soi thấy được gọi là Minh. 1. Chỉ cho các thần trong trời đất, vì các thần có năng lực xét biết rõ ràng thiện ác chính tà một cách đúng như thực nên gọi là Thần minh. 2. Chỉ cho thần thức của chúng sinh (chủ thể của linh hồn, tinh thần).
Thần Nghi
神儀; ?-1216|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông thứ 13, nối pháp Thiền sư Thường Chiếu.|Sư họ Quách, quê ở Ngoại Trại, xuất thân từ một gia đình mộ đạo. Sau khi xuất gia, Sư đến học với Thiền sư Thường Chiếu.|Lúc Thường Chiếu sắp tịch, Sư hỏi: »Mọi người đến thời tiết này, vì sao đều theo thế tục mà chết?« Thường Chiếu bảo: »Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục?« Sư thưa: »Một mình Tổ (Bồ-đề) Ðạt-ma.« Thường Chiếu hỏi: »Có những đặc biệt gì?« Sư thưa: »Một mình đạp trên sóng mà trở về Tây.« Thường Chiếu hỏi: »Núi Hùng Nhĩ là nhà ai?« Sư thưa: »Chỉ là nơi chôn chiếc gậy trong hòm mà thôi.« Thường Chiếu bảo: »Lừa người lấy lợi, đứng đầu là Thần Nghi.« Sư hỏi: »Ðâu thể nói Tống Vân truyền dối, việc vua Trang Ðế quật mồ thì sao?« Thường Chiếu bảo: »Một con chó lớn sủa láo.« Sư hỏi: »Hoà thượng cũng tuỳ tục chăng?« Thường Chiếu bảo: »Tuỳ tục.« Sư hỏi: »Vì sao như thế?« Thường Chiếu đáp: »Ấy là cùng người đồng đều.« Sư nhân đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, lễ bái thưa: »Con đã hiểu lầm rồi.« Thường Chiếu liền hét.|Sau đó Thường Chiếu lấy bản đồ truyền thừa của Thiền sư Thông Biện ra vì Sư giảng nghĩa.|Sau khi Thường Chiếu tịch, Sư về trụ trì chùa Thắng Quang ở làng Thị Trung, Kim Bài. Ðồ chúng theo học rất đông.|Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tí, niên hiệu Kiến Gia thứ 6 đời Lí Huệ Tông, Sư gọi đệ tử là Ẩn Không đến lấy bản đồ của Thường Chiếu trao cho và dặn: »Phương này hiện nay tuy loạn, ngươi khéo giữ bản dồ này, cẩn thận đừng để binh lửa làm hại, ắt là tổ phong của ta không mất vậy«. Nói xong, Sư tịch.
thần ngã
4246梵語 puruṣa。意即「人」,指個人之精神本體。又作神我諦、我知者。或單稱「神」、「我」。印度數論學派所立二十五諦之第二十五。即執「我」為「常住獨存,受用諸法之實我一。蓋數論於自性等立二十五諦,而以其中最初之自性諦(梵 prakṛti)為本性,中間二十三諦為變異,第二十五神我諦則非本性亦非變異,其體乃實有常住、清淨獨存,常為其餘之二十四諦所圍繞。為根本質料因之根本原質(即自性)若與神我結合,則由根本原質展開現象世界。而於根本原質興神我結合時,神我會受物質之繫縛;然在解脫之時,神我則脫離根本原質,單獨存在,而成為本來純粹而清淨者。 依數論派之學說,神我之存在,可由五種情形證明之:(一)為他積聚(梵 saṃghātaparārthatvāt)故,凡世間可見之一切聚集皆非為自身而存在,例如床席,其性質之存在非為自身,乃供他人受用而積聚為物者。(二)異於三德(梵 triguṇādiviparyayāt)故,三德係指喜、憂、闇三者。神我以外之二十四諦不離三德,乃為盲目者;神我則能知見其自性,異於三德,而為常住之我。(三)依(梵 adhiṣṭhānāt,又稱支配)故,若依神我,則此身有作用;若不依之,則此身亦無作用。神我能支配物質性之身體,其餘二十四諦則必須依於神我始成意義,故神我乃為實存者。(四)有食者(梵 bhoktṛbhavāt)故,其餘二十四諦猶如食物,神我則如食者;有食物則必有食者以感受吟味其滋味。(五)為獨存而努力(梵 kaivalyārtham pravṛtteḥ)故,如無神我,則吾人種種努力(例如為求解脫之努力)終歸無效,因果報應亦失其意義,故知神我必然實存於吾人之內。佛教反對上述之說,謂神我乃「離蘊」之我,而以「諸法無我」之主張評破妄執神我之諸論說。〔金七十論卷上、百論卷上破神品、成唯識論述記卷一末〕
; Puruṣa (S), Purisa (P) Nguyên thần.
; Purusa, Atman (S). The soul, the spiritual ego, or permanent person, which by non-Buddhists was said to migrate on the death of the body. Purusa is also the Supreme Soul, or Spirit, which produces all forms of existence.
; Purusa or Atman (skt). 1) Cái thực ngã mà ngoại đạo chấp rằng khi thân chết thì thần ngã xuất ra: The soul, the spiritual ego, or permanent person, which by non-Budhists was said to migrate on the death of the body. 2) Thần Thức cũng là cái tâm thức tối thượng sản sanh mọi hình thức của sự hiện hữu: Purusa is also the Supreme Soul or Spirit, which produces all forms of existence.
; (神我) Phạm: Puruwa. Cũng gọi Thần ngã đế, Ngã tri giả. Gọi tắt: Thần, Ngã. Chỉ cho bản thể tinh thần của cá nhân, đế thứ 25 trong 25 đế do học phái Số luận ở Ấn độ lập ra. Tức chủ trương cho rằng Ngã là Thực ngã thường trụ độc tồn, thụ dụng các pháp. Vì đối với Tự tính, phái Số luận lập ra 25 đế và lấy Tự tính đế (Phạm:Prakftì) đầu tiên trong 25 đế làm bản tính, 23 đế ở khoảng giữa là biến dị (đổi khác), còn Thần ngã đế thứ 25 thì chẳng phải bản tính cũng chẳng phải biến dị, thể của nó là có thật, thường còn, thanh tịnh và độc lập, thường được 24 đế còn lại bao bọc chung quanh. Nguyên tố căn bản (tức Tự tính) là nhân của chất liệu căn bản, nếu kết hợp với Thần ngã thì từ nguyên tố căn bản sẽ triển khai ra thế giới hiện tượng. Mà khi nguyên tố căn bản kết hợp với Thần ngã thì Thần ngã sẽ bị vật chất trói buộc; nhưng khi được giải thoát thì Thần ngã thoát li khỏi nguyên tố căn bản, tồn tại độc lập, trở thành cái thuần túy xưa nay vốn thanh tịnh. Theo học thuyết phái Số luận thì sự tồn tại của Thần ngã được chứng minh qua 5 tình hình sau đây: 1. Vì người khác mà tích tụ (Phạm: Saôghàtaparàrthatvàt): Tất cả sự tụ tập mà người thế gian thấy được đều chẳng phải tự thân chúng có như vậy, chẳng hạn như giường chiếu chẳng phải tự thân chúng có ra như thế, nhưng vì đáp ứng nhu cầu cần dùng của người khác mà tụ tập lại thành vật.2. Vì khác với 3 đức (Phạm: Triguịàdiviparyaryàt): Ba đức chỉ cho Hỉ, Ưu, Ám. Ngoài Thần ngã, 24 đế kia đều không lìa 3 đức, đó là người mù; còn Thần ngã thì thấy biết được tự tính, khác với 3 đức, là cái Ngã thường trụ. 3. Vì là nương gá (Phạm: Adhiwỉhànàt, cũng gọi Chi phối): Nếu nương gá vào Thần ngã thì thân này có tác dụng; nếu không thì thân này cũng không có tác dụng. Thần ngã có khả năng chi phối thân thể có tính vật chất, 24 đế còn lại thì cần phải nương vào Thần ngã mới thành ý nghĩa, cho nên Thần ngã là cái có thật. 4. Vì có người ăn (Phạm: Bhoktfbhavàt): Hai mươi bốn đế kia giống như thực phẩm, còn Thần ngã thì như người ăn; có thực phẩm thì phải có người ăn để thưởng thức mùi vị. 5. Vì độc tồn mà gắng sức (Phạm: Kaivalyartham pravftte#): Nếu không có Thần ngã thì con người dù có gắng sức đến đâu đi nữa(chẳng hạn như gắng sức cầu giải thoát) rốt cuộc cũng vô hiệu, nhân quả báo ứng cũng mất ý nghĩa, vì thế biết chắc chắn Thần ngã có thật trong con người. Phật giáo phản đối luận thuyết nói trên mà chủ trương Thần ngã là cái Ngã lìa uẩn và dùng quan điểm các pháp vô ngã để phê phán và phá dẹp các luận thuyết vọng chấp Thần ngã. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; phẩm Phá thần trong Bách luận Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối].
thần ngã ngoại đạo
4247十種外道之一。如六派哲學中之數論、勝論等說,謂人、天各自為常住獨存者,彼等既可受用諸法,且為主宰萬有之實我。主張此一說法者,佛教皆稱之為神我外道。〔金七十論卷上、成唯識論述記卷一末〕(參閱「神我」4247、「數論學派」6093)
; (神我外道) Một trong 10 thứ ngoại đạo. Như học thuyết của phái Số luận, Thắng luận trong 6 pháiTriết học ở Ấn độ chủ trương người, trời mỗi loài đều là một thực thể thường trụ độc tồn, thực thể này vừa thụ dụng các pháp, vừa là thực ngã chủ tể vạn hữu. Những phái chủ trương thuyết này, Phật giáo đều gọi là Thần ngã ngoại đạo. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Thần Ngã, Số Luận Học Phái).
thần ngôn
Atharva-veda (S) A thát bà phệ đà kinh.
thần nhân
4243為菩薩本業經所舉的佛十名之一。與大聖人、大沙門、眾祐、勇智、世尊、能儒、昇仙、天師、最聖等名,並稱為佛之十名。又新華嚴經卷四十二所載之佛十名則異於上記所說,而為如來、佛、法師、一切智、所依處、導師、大導師、光明、十力自在、一切見者等。此外,俗稱之「神人」則多指具有神通力之仙人。
; Gods, or spirits, and men.
; Gods (spirits) and men.
; (神人) Một trong 10 danh hiệu của Phật được nêu trong kinh Bồ tát bản nghiệp. Thần nhân và Đại thánh nhân, Đại sa môn, Chúng hựu, Dũng trí, Thế tôn, Năng nho, Thăng tiên, Thiên sư, Tối thánh được gọi chung là Phật thập danh. Kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) cũng nêuPhật thập danh nhưng khác với Phật thập danh ghi trên. Đó là: Như lai, Phật, Pháp sư, Nhất thiết trí, Sở y xứ, Đạo sư, Đại đạo sư, Quang minh, Thập lực tự tại và Nhất thiết kiến giả. Ngoài ra, người đời gọi Thần nhân thì phần nhiều chỉ cho các Tiên nhân có sức thần thông.
thần nữ
A devi, a goddess, a female spirit.
; A devi, a female spirit, a sorceress.
thần phưởng
(thần phưởng) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Ban đầu, sư trụ ở chùa Pháp hải, tinh thông kinh luận Đại, Tiểu thừa. Năm Trinh quán 19 (645), ngài Huyền trang bắt đầu dịch kinh ở chùa Hoằng phúc, sư vâng sắc làm người chứng nghĩa, về sau, học trò của sư thường được mời tham gia dịch trường. Khoảng năm Hiển thánh, lúc ngài Huyền trang dịch luận Đại tì bà sa ở chùa Đại từ ân, sư giữ việc ghi chép; còn khi ngài Huyền trang dịch kinh Đại bát nhã ở cung Ngọc hoa thì sư tham gia nhuận văn. Lúc còn trẻ, sư rất kính tin kinh Địa tạng thập luân, năm Vĩnh huy thứ 2 (651), ngài Huyền trang dịch lại kinh này, sư làm bút thụ(người ghi chép). Sư để lại các tác phẩm: Thành duy thức luận yếu tập 10 quyển, Địa tạng thập luân kinh sớ 3 quyển, nay đều thất truyền. Người đời gọi sư là Đại thừa Phưởng, hoặc Phưởng pháp sư. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6].
thần phảng
4249唐代僧。生卒、鄉籍不詳。初住法海寺,精通大小乘經論,唐貞觀十九年(645)玄奘始於弘福寺譯經,師奉召證義,爾後其門下常列位譯場。顯慶年間,玄奘於大慈恩寺翻譯大毘婆沙論時,師曾參與筆受,又玄奘於玉華宮譯大般若經時,師亦參加綴文。師少時尊信地藏十輪經,永徽二年(651)玄奘重譯該經,師任筆受。著有成唯識論要集十卷、地藏十輪經疏三卷等書,今均不傳於世。世稱大乘昉,或稱昉法師。〔大慈恩寺三藏法師傳卷六〕
thần phần
4244請參閱 明佛論 又作神下。意謂將法施分與天地諸神。修密教行法之際,為除盡惡神之障礙、祈請善神之保護,特向諸天或神祇讀經,使其聽聞佛法得法樂。一般皆誦般若心經一卷,稱為神分心經。行於行法之初或表白之後等。〔青龍寺軌記〕
; (神分) Cũng gọi Thần hạ. Chia pháp thí cho các thần trong trời đất. Vì loại trừ chướng ngại do các thần xấu ác gây ra nên khi tu hành pháp Mật giáo để cầu xin sự bảo hộ của các vị thiện thần, đặc biệt hướng tới các trời hoặc thần kì tụng kinh, khiến các vị ấy nhờ nghe Phật pháp mà được pháp lạc. Thông thường đều tụng Bát nhã tâm kinh 1 quyển, gọi là Phân thần tâm kinh, tụng lúc bắt đầu tu pháp hoặc sau khi biểu bạch.
thần phận tâm kinh
Lúc khuyến thỉnh thần kỳ hay trừ tà ma khi đọc kinh—Divinely distributed Sutra, when publicly recited to get rid of evil spirits—See Bát Nhã Tâm Kinh.
thần phật
Deity and Buddhas.
thần phật phân li
4246日本佛教用語。慶應四年(1868)三月,日本政府發出祭政一致、神祇官再興之布告。自此,歷來之神佛習合之風遂告衰頹。明治維新係以王政復古為其政治理想;而以神武創業之精神為其基礎,於宗教上則產生神道復古、祭政一致與神佛分離等宗教運動,敕令神社之社僧、別當還俗。神社之神主亦脫離佛教之支配,而納入神祇官指揮下,且廢除冠有權現、明神、菩薩等佛號之神號。此外,又撤除社中之佛像、僧像、經卷、法具。反之,神祇官之地位提高,神職之待遇比照國家官吏,而成為神祇中心政策之神道國教主義。神佛分離政策由此而發展為過於激烈的廢佛毀釋運動,各處燒毀佛像、經卷、法具,進而廢除寺院、賣發寺塔,情況極其嚴重。日本佛教在江戶幕府保護下,久經安逸,經此一大刺激,遂漸產生以復興佛教為己任之覺醒人士。
; (神佛分離) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vào tháng 3 năm Khánh ứng thứ 4 (1868), chính phủ Nhật bản ra thông cáo Tế chính nhất trí, Thần kì quan tái hưng(Tông giáo và chính trị hợp nhất, phục hưng địa vị Thần kì). Từ đó, phong tập Thần Phật hợp nhất từ trước đến nay bắt đầu suy đồi. Minh trị Duy tân lấy việc khôi phục vương quyền từ ngàn xưa làm lí tưởng chính trị của ông và lấy tinh thần sáng nghiệp thần vũ làm nền tảng, cho nên bắt đầu cuộc vận động tông giáo phục hưng Thần đạo, hợp nhất tông giáo chính trị và tách rời Phật với thần, vua ban lệnh buộc các xã tăng và Biệt đương ở các Thần xã(tự viện) phải hoàn tục. Các thần của thần xã cũng thoát li sự chi phối của Phật giáo và được đặt dưới sự chỉ huy của các quan thần kì, loại bỏ các thần hiệu mang tính cách Phật hiệu như Quyền hiện, Minh thần, Bồ tát... Ngoài ra còn loại bỏ tượng Phật, tượng tăng, kinh điển, pháp cụ... Trái lại, địa vị của quan thần kì được đề cao, các Thần chức được đãi ngộ ngang với quan lại nhà nước, trở thành chính sách lấy Thần kì làm trung tâm, lấy thần đạo làm quốc giáo. Chính sách Thần Phật phân li này đã phát triển thành cuộc vận động bài trừ Phật giáo một cách quá khích, tình hình cực kì nghiêm trọng. Phật giáo Nhật bản ở Giang hộ được sự che chở của Mạc phủ, từ lâu vẫn được an ổn, bỗng trải qua biến cố này, các nhân sĩ bèn thức tỉnh và lấy việc phục hưng Phật giáo làm nhiệm vụ của mình.
thần phật tập hợp
4246日本佛教用語。又作神佛混淆。為日本佛教所特有的神、佛混合視同一體之思想,亦即佛教與日本神祇信仰兩者同化之表現。佛教傳入日本後,每與日本固有之神祇信仰不和。其後,兩者逐漸調和。奈良時代,寺院附屬於神社,即於各大社設置神宮寺。一般神社內,為神納經,或度人為僧之風氣頗盛。至平安時代,又產生神前讀經之作法。另如「八幡大菩薩」,即神號再加上佛號者。中期後,此一思想愈濃,而產生「神為佛化現」之說,此即「本地垂迹說」成立之背景。此時期,每將神冠上「權現」之稱號,而謂神乃本地之佛、菩薩等權巧化變垂迹之身。於神宮寺中則產生佛教色彩濃厚之社殿,社殿多以法會為主,社僧同時供奉神祇、修持佛事。反之,於寺院境內,亦祭祀守護寺院之神,稱為鎮守。隨本地垂迹說之進展,漸以天台宗與真言宗之教義作為神佛習合之教理。其後,前者產生山王一實神道;後者則產生兩部習合神道。由平安末期至鎌倉時期更將各神祇配定各地佛之稱。 此外又以本地垂迹之思想為基礎,而產生垂迹美術。又因佛像之影響,而開始造神像,而產生甚多權現像。另以諸佛本地畫為基礎,而有本地曼荼羅之製作。此時,神社建築之形式亦受佛寺之影響。然自南北朝以來,針對歷來之佛本神迹,而產生神本佛迹之主張,此係本地垂迹說之反動,例如北畠親房之神道論。室町時代之吉田兼俱鼓吹唯一神道。及至江戶時代,國學學者之間產生一種神道之復興思想,進而排斥佛教。明治維新之時,由於神佛分離令之公布,廢佛棄釋之運動一時之間達於極點。自此,本地垂迹說乃漸告消失。〔諸神本懷集卷本、春日社古社記、元亨釋書卷十八、日本佛教史之研究〕(參閱「神佛分離」4246)
; (神佛習合) Cũng gọi Thần Phật hỗn hào. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tư tưởng coi Thần Phật hỗn hợp cùng một thể, là tư tưởng chỉ có trong Phật giáo Nhật bản và cũng là sự biểu hiện đồng hóa giữa Phật giáo và tín ngưỡng Thần kì vốn có của Nhật bản. Sau khi Phật giáo truyền vào Nhật bản, giữa tín ngưỡng Thần kì và Phật giáo thường có mối bất hòa. Về sau, cả 2 dần dần điều hòa. Vào thời đại Nại lương (Nara), chùa chiền phụ thuộc vào Thần xã(đền thờ thần), tức ở các xã lớn có thiết lập chùa Thần cung. Thông thường, trong Thần xã phong khí cung kính cho thần, hoặc độ người làm tăng rất hưng thịnh. Đến thời đại Bình an, lại sinh ra tác pháp đọc kinh trước thần. Lại như Bát phan Bồ tát, tức là tên hiệu thần lại thêm vào danh hiệu Phật. Sau Trung kì, tư tưởng này càng sâu đậm, từ đó sinh ra thuyết Thần là Phật hóa hiện, đây chính là bối cảnh thành lập thuyết Bản Địa Thùy Tích. Vào thời kì này, chữ Thần thường được đặt trước danh hiệu Quyền hiện mà cho rằng Thần là thân thùy tích quyền xảo biến hóa của Phật, Bồ tát bản địa. Trong chùa Thần cung thì sinh ra Xã điện mang sắc thái Phật giáo sâu đậm, các Xã điện phần nhiều lấy pháp hội làm chính, Xã tăng đồng thời thờ cúng thần kì, tu trì Phật sự. Trái lại, trong khuôn viên các tự viện cũng cúng tế thần thủ hộ tự viện, gọi là Trấn thủ. Theo đà tiến triển của thuyết Bản địa thùy tích mà dần dần lấy giáo nghĩa của tông Thiên thai và tông Chân ngôn làm giáo lí cho Thần Phật tập hợp. Về sau, giáo nghĩa tông Thiên thai sinh ra Sơn vương nhất thực thần đạo và giáo nghĩa tông Chân ngôn sinh ra Lưỡng bộ tập hợp thần đạo. Từ cuối thời kì Bình an đến thời kì Liêm thương lại phối hợp các thần kì với tên gọi của các Phật ở các nơi. Ngoài ra còn lấy tư tưởng Bản địa thùy tích làm nền tảng mà sản sinh ra mĩ thuật thùy tích. Lại do ảnh hưởng của tượng Phật mà bắt đầu tạo tượng thần, rồi sinh ra rất nhiều tượng quyền hiện. Lại lấy bức họa Chư Phật bản địa làm cơ sở mà vẽ ra Bản địa mạn đồ la. Lúc này, kiểu kiến trúc thần xã cũng chịu ảnh hưởng kiểu kiến trúc các chùa Phật. Nhưng từthờiNam Bắc triều trở đi, đối với chủ trương Phật bản thần tích(Phật gốc thần ngọn) từ trước đến giờ, lại sản sinh chủ trương Thần bản Phật tích(Thần gốc Phật ngọn). Đây là chủ trương phản lại thuyết Bản địa thùy tích như Thần đạo luận của Bắc hoàng Thân phòng. Cát điền Kiêm câu thời Thất đinh đề xướng Duy nhất thần đạo. Đến thời Giang hộ, giữa các học giả Quốc học nhen nhóm tư tưởng phục hưng Thần đạo, tiến tới bài bác Phật giáo. Thời Minh trị Duy tân, sau khi lệnh Thần Phật phân li được công bố, cuộc vận động Phế Phật hủy Thích đã có lúc đạt đến cực điểm, biến thành phong trào quá khích: Tượng Phật, kinh Phật, pháp cụ đều bị thiêu hủy, tiến tới đập phá chùa chiền, bán chùa, bán pháp... từ đó, thuyết Bản địa thùy tích dần dần cáo chung. [X.Chư thần bản hoài tập Q.đầu; Xuân nhật xã cát xã kí; Nguyên hanh thích thư Q.18; Nhật bản Phật giáo sử chi nghiên cứu]. (xt. Thần Phật Phân Ly).
thần phục
To give in—To yield—To submit.
Thần Quan
(神官, Shinkan): với tư cách là quan lại của quốc gia, đây là người phụng sự cho vị Thần nào đó, hay người phụng chức ở các nơi tế tự Thần. Hiện tại, ở Nhật không còn hiện hữu chức Thần Quan nẫy nữa. Trong các thư tịch xưa liên qua đến Thần Đạo của Nhật Bản, đây là từ thỉnh thoảng có thấy vài nơi, dùng để chỉ cho Thần Chức (神職, người chuyên lo việc tế tự của Thần Xã), và hiện tại vẫn được dùng trong ngôn ngữ thường ngày. Vào đầu thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911), khi chức Thần Kì Quan (神祇官) được tái thiết lập, tất cả Thần Chức đều trở thành quan lại. Sau trận bại chiến của Nhật trong cuộc Chiến Tranh Đại Đông Á, chức Thần Quan đã bị phế bỏ.
Thần Quang
神光|Huệ Khả
Thần quang
(神光): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi khác của một kinh huyệt. Như trong tác phẩm Thiên Kim Yếu Phương (千金要方) do Tôn Tư Mạc (孫思邈, 581-682) nhà Đường sáng tác, có đoạn: “Thổ ẩu túc trấp thôn toan, cứu Thần Quang, nhất danh Đảm Mộ, Bách Tráng (吐嘔宿汁吞酸、灸神光、一名膽募、百壯, nôn mữa, giữ nước, ợ chua, lấy ngải cứu đốt huyệt Thần Quang, có tên khác là Đảm Mộ, Bách Tráng).” Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh (針灸甲乙經) có giải thích rằng: “Nhật Nguyệt, Thắng Mộ dã (日月、膽募也, huyệt Nhật Nguyệt là Thắng Mộ).” Cho nên, huyệt Thần Quang còn có tên là Nhật Nguyệt. (2) Đồng nghĩa với tinh thần. Như trong tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn (黃帝內經素問), phần Bổn Bệnh Luận (本病論) có câu: “Thần ký thất thủ, thần quang bất tụ (神旣失守、神光不聚, thần đã không giữ được, thì tinh thần không tụ lại được).” (3) Chỉ cho công năng của thị giác. Như trong tác phẩm Thẩm Thị Dao Hàm (審視瑤函) của Phó Nhân Vũ (傅仁宇, ?-?) nhà Minh giải thích rằng: “Thần quang giả, vị mục trung tự nhiên năng thị chi tinh hoa dã (神光者、謂目中自然能視之精華也, thần quang có nghĩa là tinh hoa trong con mắt tự nhiên có thể nhìn thấy được).” (4) Chỉ Huệ Khả (慧可, 487-593), hiệu là Thần Quang, Tổ sư thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. (5) Ánh sáng, hào quang linh thiên, thần thánh. Như trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 7 có đoạn: “Khả dĩ phổ độc diệu chi thần quang, viên huyễn hữu chi vạn hạnh, sở vị vô thành chi thành, vô tu chi tu (可以普獨耀之神光、圓幻有之萬行、所為無成之成、不修之修, có thể riêng tỏa sáng ấy thần quang, tròn giả huyễn ấy muôn hạnh, đó gọi không thành mà thành, không tu mà tu).” Hay trong Thứ Trung Vô Uấn Thiền Sư Ngữ Lục (恕中無慍禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1416) quyển 5 lại có đoạn: “Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, nhất đạo thần quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử vô nhị pháp, Tam Thừa Thập Địa hà tu siêu (獨孤標獨孤標。一道神光透九霄。涅槃生死無二法。三乘十地何須超, Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, một đạo hào quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử không hai pháp, Ba Thừa Mười Địa cần gì siêu).”
thần quang
4245<一>又稱威神光。謂佛之光明靈妙不可思議。光明象徵智慧,佛智離一切分別虛妄之相,為不可思議;從而其光明亦離形相,故稱神光。〔無量壽經卷下、讚阿彌陀佛偈(曇鸞)〕 <二>禪宗稱自己本來之光明為神光。禪家龜鑑(卍續一一二‧四六三下):「神光不昧,萬古徽猷;入此門來,莫存知解。」 <三>禪宗二祖慧可早年之名。(參閱「慧可」6023)
; Deva light, the light of the gods.
; Ánh sáng của chư thiên—Deva light—The light of the gods.
; (神光) Phạm: Bandhy-prabha, Prabhàmitra. Cao tăng Ấn độ trụ ở chùa Na lan đà, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, sống vào khoảng giữa thế kỉ VI, là Luận sư phái Du già hành của Phật giáo Đại thừa. Tương truyền, sư là học trò của bồ tát Hộ pháp, sư có soạn Phật địa kinh luận. Trong luận, sư chia kinh Phật địa làm 3 phần: Giáo khởi nhân duyên phần, Thánh giáo sở thuyết phần và Y giáo phụng hành phần để chú thích, gọi là Thân quang tam phân khoa kinh. Cách phân chia này giống với thuyết Tam phân khoa kinh do ngài Đạo an (314-385) sáng lập vào đời Tấn ở Trung quốc. Tam phân khoa kinh của ngài Đạo an tức là chia phần chính văn trong mỗi bộ kinh làm 3 phần là Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần. Về sau, các nhà chú thích kinh đều dùng theo phương pháp này. [X. Giải thâm mật kinh sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh)]. (xt. Tam Phân Khoa Kinh).
thần quang viện
4246屬於日本真言宗醍醐寺。位於京都北區西賀茂境內。由於神官託夢,故遷至現地。本尊本為愛染明王,後易為弘法大師(空海)像。院內有本堂、開山堂、太子堂。休憩所為蓮月尼之舊跡。寺寶有白描料紙之金光明經、空海所書之金剛經開題等。
thần quyền
Divine right; spiritual power.
thần sa nộ nhãn tình
4248神沙,侍奉閻魔王之鬼神;怒眼睛,憤怒之意。乃用以形容容貌極度恐怖、憤怒之詞。
; (神沙怒眼睛) Thần sa là quỉ thần theo hầu vua Diêm ma; Nộ nhãn tình là trợn mắt giận dữ. Thần sa nộ nhãn tình là từ ngữ được sử dụng để miêu tả dung mạo đáng sợ hãi, giận dữ cực độ.
Thần Sát
(神煞): hay Thần Sát Tinh (神煞星), là tên gọi những ngôi sao chiếu mạng quyết định việc tốt xấu của con người. Một số sao Thần Sát thường dùng như: (1) Thiên Ất Quý Nhân (天乙貴人), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, với người lớn hơn mình, với người khác phái, thích xã giao. (2) Thiên Y (天醫), người gặp sao này thì có năng lực rất mạnh như học tập, lý giải, quán sát, mô phỏng, tâm hiếu kỳ, tâm nghiên cứu, trực giác, v.v. (3) Thiên Đức (天德), người gặp sao này thì có tài trí mưu lược xuất sắc, tâm vinh dự cao, năng lực lớn, phàm mọi việc gặp hung dữ hóa thành tốt, được quý nhân giúp đỡ. (4) Nguyệt Đức (月德), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, xã giao, tâm cung kính, tâm trách nhiệm, năng lực thích ứng cao. (5) Nguyệt Đức Hợp (月德合), người gặp sao này thì có năng lực quán sát, đối ứng, bàn chuyện kinh doanh rất mạnh. (6) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì trong đời này có tiền tài dư dật, kinh tế không bao giờ gặp nguy cơ, có quý nhân giúp đỡ, thường có phước, có năng lực làm thân, kết duyên lành với mọi người. (7) Văn Xương (文昌), người gặp sao này thì có năng lực viết lách, văn nghệ, học tập. (8) Tam Kỳ Quý (三奇貴), người gặp sao này thì có năng lực học tập tinh chuyên, sức tập trung mạnh, đầu óc làm việc linh mẫn, cơ trí nhạy bén, dễ thành nhân tài có kỹ năng chuyên nghiệp, như công trình sư, nhà tư vấn, v.v. (9) Lục Tú (六秀), là ngôi sao có năng lực viết văn trác việt, người gặp sao này thì có năng lực học tập, tư duy rất mạnh, thuộc nhà nghệ thuật ở trạng thái tĩnh như họa sĩ, nhà thư pháp, sáng tác khúc từ, v.v. (10) Thập Linh Nhật (十靈日), là ngôi sao thuộc về tôn giáo, người gặp sao này thì có trực giác linh nhuệ, khéo quán sát lời nói, nhìn sắc mặt người, năng lực lãnh ngộ, khéo hiểu ý người, v.v. (11) Khôi Cương (魁罡), người gặp sao này thì về ăn uống nên thận trọng, chớ ăn thịt bò, chó; duyên hôn nhân rắc rối, tai tiếng, có đủ tinh thần độc lập tự chủ, năng lực tổ chức mạnh. (12) Học Đường (學堂), người gặp sao này thì có năng lực bắt chước, sáng tác, tưởng tượng, lý giải. (13) Học Sĩ (學士), người gặp sao này thì có tâm nghiên cứu, lòng hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, có năng lực học thuộc lòng, nhớ dai. (14) Kim Quỹ (金匱), người gặp sao này thì có đầy đủ năng lực sáng tác, lãnh ngộ, cầm quyền, quyết đoán, quy hoạch. (15) Tấn Thần (進神), người gặp sao này thì có ý thức chủ quan rất mạnh, kiêu ngạo, tự phụ, không chịu phục tùng bất cứ ai, nóng nảy. (16) Lộc Thần (祿神), người gặp sao này thì có thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (17) Bối Lộc (背祿), đại diện cho những người xem thường tổ tiên, ly hương biệt xứ, không được hưởng phúc ấm của tổ tông. (18) Kiến Lộc (建祿:代表建功立業白手自足,不得雙視庇蔭,不宜合夥生意), đại diện cho những người tạo công lập nghiệp tay trắng một mình, không được phúc ấm của song thân. (19) Chuyên Lộc (專祿), đại diện cho những người thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (20) Quy Lộc (歸祿), đại diện cho những người giao tế rộng rãi, tài lộc đầy đủ, tránh chuyện vay mượn, có thể tránh kiện tụng. (21) Hoa Cái (華蓋), người gặp sao này thì có tâm cầu học, tự động tìm tòi, tự ngộ để đạt đến kết quả cao, có thiên tánh về mỹ thuật, thiết kế, trang hoàng, âm nhạc; về phương diện văn học thì rất hứng thú và có thiên tài; đây là ngôi sao chỉ chuyên về nghệ thuật, tôn giáo, nên có tánh nghiên cứu, muốn tìm cầu, năng lực học tập, tính chất mẫn cảm. (22) Cô Thần (孤辰), người gặp sao này thì có tánh cách cô đơn, trầm mặc, không nói nhiều, tâm trong sạch, ít ham muốn, thường an phận, không có tâm cầu tiến. (23) Quả Tú (寡宿), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái rất ít, duyên hôn nhân cũng mong manh, chủ nghĩa độc thân. (24) Nguyên Thần (元辰), là sao hao tổn, miệng tiếng. (25) Kim Dư (金輿), là sao về tài của cùng với quan hệ phối ngẫu, được hỗ trợ về chuyện phối ngẫu, kỹ thuật. (26) Kim Tinh (金星), người gặp sao này thì anh minh, trí tuệ, dũng cảm, quả quyết, kiên nhẫn, cương nhu đều có đủ, chú trọng vinh dự, quyền uy. (27) Thiên Xá (天赦), người gặp sao này thì một đời bị kiện tụng cửa quan, lao ngục, tai hại ngoài ý muốn, một đời thường đều có thể gặp xấu hóa tốt, có kinh động nhưng không nguy hiểm. (28) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì có quý nhân tương trợ, kinh tế phát triển, một đời tài lộc, ăn uống sung túc, có duyên xã giao, năng lực kết duyên lành. (29) Tướng Tinh (將星), người gặp sao này thì hiển đạt về quan quyền, có thể nắm quyền bính trong tay, có năng lực quản lý, quyết đoán, cơ trí. (30) Dịch Mã (驛馬), là sao đổi dời, đi xa, biến động. (31) Âm Dương Sát (陰陽煞), người gặp sao này thì nên tiến hành duyên hôn nhân chậm, không nên sớm, mới có thể trừ được lo âu thay đổi chuyện hôn nhân, nên thận trọng trong việc giao tế với người khác phái, mới có thể tránh được chuyện thị phi, tranh giành. (32) Kiếp Sát (劫煞), người gặp sao này thì có cơ trí linh mẫn, phản ứng nhạy bén, tâm háo thắng. (33) Quải Kiếm Sát (掛劍煞), người gặp sao này thì dễ mắc phải các bệnh tật về gân cốt, đường ruột, cơ quan vận động, v.v., hằng ngày nên đề phòng các vật kim loại bén nhọn, vật nguy hiểm gây thương tích; dễ bị thương tích đánh đập, ngã quỵ, té xuống đất. (34) Câu Giao (勾絞), là sao phiền phức về chuyện cảm tình, hôn nhân. (35) Đào Hoa (桃花), đại diện cho sức hấp dẫn, thu hút, năng lực thưởng thức, trang sức, có duyên xã giao. (36) Thiên Hỷ (天喜), là sao vui sướng, như ý, có cảm giác thâm sâu, năng lực hòa đồng, tình người. (37) Hồng Diễm (紅艷), là sao nghệ thuật lãng mạn, có đủ năng lực thưởng thức, thiết kế trang phục, trang hoàng, có duyên với người khác phái. (38) Hồng Loan (紅鸞), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái, tư tưởng lãng mạn, có năng lực phối hợp sắc màu nghệ thuật tranh tĩnh vật. (39) Lưu Hà (流霞), người gặp sao này thì trong quá trình sinh sản dễ gặp nguy hiểm, lưu sản, dễ mắc bệnh tuần hoàn huyết dịch về tim mạch. (40) Vong Thần (亡神), là sao ẩn tàng, không lộ hiện tung tích, người gặp sao này thì giỏi về mưu lược, vui, buồn, tức giận đều không thể hiện ra ngoài sắc mặt. (41) Dương Nhận (羊刃), là sao về chức võ, chủ yếu người gặp sao này thì có tâm háo thắng, không chịu khuất phục, dõng mãnh, đảm đương, lanh lẹ. (42) Huyết Nhận (血刃), là sao thương tích ngoài ý muốn, bất ngờ, người gặp sao này thì hằng ngày nên thận trọng về bỏng lửa, thương tích đánh đập, các vật kim loại, bén nhọn, chú ý về giao thông. (43) Phi Nhận (飛刃), là sao gặp công kích bất ngờ, tranh tụng, thị phi. (44) Cách Giác (隔角), là sao chủ về việc kiện tụng cửa quan, miệng tiếng, thị phi; nếu gặp Hình Xung (刑沖) thì ắt sẽ có tai họa về kiện tụng, lao ngục. (45) Không Vong (空亡), kim loại rỗng thì kêu to, lửa trống thì sẽ phát lớn, cây rỗng thì mục, đất rỗng thì lỡ sụt; người gặp sao này thì vô duyên với thân thích, nên tinh tấn tu hành. Ngoài ra, còn có 12 ngôi sao Thần Sát, được gọi là Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, gồm: (1) Thái Tuế (太歲), có câu kệ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. (2) Thái Dương (太陽), có câu kệ rằng: “Thái Dương cát tinh chiếu, cầu tài ngộ trân bảo, âm dương hữu hòa hợp, định cảm phước lai bảo (太陽吉星照、求財遇珍寶、陰陽有和合、定感福來保, Thái Dương sao tốt chiếu, cầu tài gặp của báu, âm dương có hòa hợp, tất có phước đến nhà).” Người gặp sao này chủ yếu chiếu sáng hóa tốt, lấy lễ đãi người, thông minh cần mẫn, có chuyện vui giáng lâm. (3) Tang Môn (喪門), câu kệ là: “Tang Môn tối vi hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phá tài tinh ngoại hiếu, nùng huyết kiến tai nghinh (喪門最爲凶、孝服重重逢、破財幷外孝、濃血見災迎, Tang Môn thật rất hung, tang phục lại trùng phùng, phá tài thêm bất hiếu, máu chảy thấy tai ương).” Người gặp sao này chủ yếu có đám tang, khóc lóc, hiếu sự hay hung tai, bị trộm cướp, con nhỏ sợ bị mất mạng vì xe cộ. (4) Thái Âm (太陰), câu kệ là: “Thái Âm nhập mạng lai, thiêm hỷ hựu tấn tài, quý nhân tương tiếp dẫn, canh tác ngộ tài phong (太陰入命來、添喜又進財、貴人相接引、耕作遇財豐, Thái Âm gặp mạng này, thêm vui lại có tài, quý nhân thường giúp đỡ, canh tác gặp của hay).” Sao này chủ yếu tích tụ tài của hoặc thuộc loại ngũ quỷ đem tài của đến, người gặp sao này kinh doanh rất tốt, mỗi ngày càng phát tài, rất hợp với người nữ. (5) Quan Phù (官符), có câu kệ là: “Quan Phù nhập mạng hung, khẩu thiệt quan ty trùng, phá tài kiêm ngoại hiếu, tác phước đảo thương cùng (官符入命凶、口舌官司重、破財兼外孝、作福禱蒼窮, Quan Phù gặp mạng hung, miệng tiếng chốn quan trường, phá tài thêm bất hiếu, làm phước cầu khắp cùng).” Người gặp sao này thường gặp kẻ tiểu nhân, tất gây ồn ào nơi cửa quan, chọn bạn nên cẩn thận, nên khuyên kẻ tiểu nhân làm phước. (6) Tử Phù (死符), bài kệ rằng: “Tử Phù nhập mạng lai, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ mẫu thê nhi khắc, tác phước miễn tai ương (死符入命來、孝服重重逢、父母妻兒剋、作福免災殃, Tử Phù gặp mạng đây, tang phục lại chất chồng, mẹ cha vợ con khắc, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu có tai họa đột xuất như hình phạt của quan ty, bệnh tật, tranh đấu, phá tài, v.v. Người gặp sao này nên thận trọng khi đi băng qua khe nước, nên tìn đường vòng mà đi. (7) Tuế Phá (歲破), bài kệ rằng: “Tuế Phá nhập mạng lai, nhật nguyệt phá tiền tài, lục súc hữu tổn thất, hợp gia vĩnh vô tai (歲破入命來、日月破錢財、六畜有損失、合家永無災, Tuế Phá gặp mạng đây, trời trăng phá tiền tài, gia súc có tổn thất, cả nhà hết ương tai).” Tuế Phá có nghĩa là xung phá Thái Tuế, chủ yếu làm hao phá tài vật cũng như trong nhà nhiều tai họa kéo dài trong nữa năm. (8) Nguyệt Đức (月德), bài kệ rằng: “Nguyệt Đức nhập mạng lai, tứ quý tấn hoành tài, tại gia dã vô sự, xuất lộ dã vô tai (月德入命來、四季進橫財、在家也無事、出路也無災, Nguyệt Đức gặp mạng đây, bốn mùa thêm tiền tài, trong nhà cũng vô sự, ra đường chẳng hung tai).” Sao này chủ yếu là đức của người lớn, được gọi là Long Đức (龍德), nhờ bố thí, làm việc thiện tạo lợi lạc, trăm việc gặp xấu hóa thành tốt. (9) Bạch Hổ (白虎), bài kệ rằng: “Bạch Hổ khiếu nhai nhai, nhân đinh tổn huyết tài, ngưu sự tài quá khứ, mã sự hựu tấn lai (白虎叫涯涯、人丁損血財、牛事才過去、馬事又進來, Bạch Hổ kêu hoài hoài, người thêm tổn tiền tài, chuyện trâu về quá khứ, chuyện ngựa lại về đây).” Sao này chủ yếu có tai họa về tang lễ, phá tài, họa về xe cộ, thương tật; nếu có hóa giải thì sẽ nhẹ bớt; nếu không hóa giải thì quá xấu. (10) Phước Đức (福德), bài kệ rằng: “Phước Đức nhập mạng du, niên nguyệt tấn tứ ngưu, thiêm hộ tinh tấn khẩu, tài hỷ lưỡng toàn chu (福德入命遊、年月進四牛、添戶並進口、財喜兩全週, Phước Đức đến mạng chơi, năm tháng tăng bò trâu, thêm nhà lại thêm người, tài vui cả hai tròn).” Sao này chủ yếu tốt đẹp, hanh thông, vui vẻ, có thiên tướng, được trời phù hộ, đến đâu gặp xấu hóa tốt, đại thành công. (11) Điếu Khách (吊客), bài kệ rằng: “Điếu Khách nhập mạng hung, nội ngoại hiếu phục phùng, quan tai tinh nùng huyết, tiểu khẩu đa tao độn (吊客入命凶、內外孝服逢、官災並濃血、小口多遭迍, Điếu Khách đến mạng hung, trong ngoài tang phục chung, tai vạ máu loang chảy, thận trọng miệng tiếng tăm).” Sao này chủ yếu về tang phục, chuyện hung tai, bệnh tật, lo buồn khóc than, trộm cắp, tai nạn về cốt nhục. (12) Bệnh Phù (病符), bài kệ rằng: “Bệnh Phù nhập mạng hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ phục hữu hình khắc, tác phước miễn tai ương (病符入命凶、孝服重重逢、父服有刑剋、作福免災殃, Bệnh Phù đến mạng hung, tang phục lại trùng phùng, thân phụ mang hình phạt, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu bệnh kéo dài lâu, trong một năm hay vài tháng, kỵ thấy xe tang hoặc ăn các đồ tang lễ, nên cúng tế thì có thể giải được.
thần sắc
Appearance—Aspect.
Thần Thanh
(神清, Shinsei, ?-820): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Xương Minh (昌明, thuộc Chương Minh, Tứ Xuyên), họ Chương (章), tự Linh Dữu (靈庾). Lúc nhỏ ông học Nho điển, nghe nhiều, nhớ kỹ, rất rành về thi văn, sau lớn lên xuất gia ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Miên Châu (緜州, thuộc Miên Dương, Tứ Xuyên), chuyên tâm nghiên cứu kinh luận. Về sau ông vào làm việc trong Đại Nội, rất được đãi ngộ. Đến cuối đời ông từ chức trở về núi ẩn tu, sống tại Huệ Nghĩa Tự (慧義寺) vùng Tử Châu (梓州, thuộc Tam Đài, Tứ Xuyên), chuyên tâm giảng diễn và trước tác. Đến năm thứ 15 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, không rõ hưởng thọ bao nhiêu tuổi. Trước tác của ông có hơn 10 loại như Pháp Hoa Huyền Tiên (法華玄箋), Thích Thị Niên Chí (釋氏年誌), Bắc Sơn Tham Huyền Ngữ Lục (北山參玄語錄), v.v.
thần thanh
4251(?~820)唐代僧。昌明(四川彰明)人,俗姓章。字靈庾。少習儒典,多聞強記,工詩文。於長投緜州(四川緜陽)開元寺出家,致力經論史傳。後以辭章仕於大內,備受禮遇。晚年辭歸故山,住梓州(四川三臺)慧義寺,以講說著作為事。元和十五年示寂,世壽不詳。著作有法華玄箋、釋氏年誌、北山參玄語錄等十餘種。〔宋高僧傳卷六〕
; (神清) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Xương minh (Chương minh, Tứ xuyên), họ Chương, tự là Linh dữu. Thủa nhỏ, sư học Nho, nghe nhiều, nhớ dai, giỏi văn thơ. Sư xuất gia ở chùa Khai nguyên tại Miên châu (Miên dương, Tứ xuyên) lúc tuổi trưởng thành, ra sức học kinh luận, sử truyện. Sau, nhờ tài văn chương mà sư làm quan trong đại nội, rất được ưu đãi. Lúc tuổi già, sư từ quan trở về núi xưa, trụ chùa Tuệ nghĩa ở Tử châu (Tam đài, Tứ xuyên), chuyên việc giảng thuyết và trứ tác. Năm Nguyên hòa 15 (820), sư tịch, không rõ tuổi thọ. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa huyền tiên, Thích thị niên chí, Bắc sơn tham huyền ngữ lục, tất cả hơn 10 loại.
thần thiên giới
Dyans (S).
thần thiệt
Lips and tongue.
thần thoại
Myth, legend.
; Myth
thần thuật
Magic.
thần thái
4250唐代僧。籍貫不詳。初住蒲州普救寺,及唐太宗貞觀十九年(645)六月,玄奘於京師弘福寺譯經,與靈潤等十一人共至譯場,任證義之職。顯慶二年(657)敕主西明寺。翌年四月召佛道七人於合璧宮對論,師立九斷知義,破道士之說。其後又住蒲州栖嚴寺、大慈恩寺。其年壽不詳。著有俱舍論疏二十卷(一說三十卷)、攝大乘論疏二十卷、掌珍論疏二卷、觀所緣緣論疏、道品章、大乘四善根章、十二緣起章各一卷,其中之俱舍論疏與普光、法寶之疏,共稱俱舍三大疏,惜已殘缺,今僅存七卷。〔大慈恩寺三藏法師傳卷六、卷八、開元釋教錄卷八〕
; (神泰) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư trụ ở chùa Phổ cứu tại Bồ châu, đến tháng 6 năm Trinh quán 19 (645) đời vua Thái tông nhà Đường, ngài Huyền trang bắt đầu dịch kinh ở chùa Hoằng phúc tại kinh đô, sư cùng với 11 vị tăng khác như ngài Linh nhuận... cùng đến dịch trường, làm chức vụ chứng nghĩa. Năm Hiển khánh thứ 2 (657), vua ban sắc cho sư trụ chùa Tây minh. Tháng 4 năm sau, vua ban sắc triệu 7 vị thuộc Phật giáo và Đạo giáo vào cung Hợp bích để biện luận với nhau, sư lập ra Cửu đoạn tri nghĩa đã phá đổ luận thuyết của Đạo sĩ. Về sau, sư lại trụ ở chùa Thê nghiêm và chùa Đại từ ân ở Bồ châu. Sư có các tác phẩm: Câu xá luận sớ, 20 quyển (có thuyết nói 30 quyển), Nhiếp đại thừa luận sớ, 20 quyển, Chưởng trân luận sớ, 2 quyển, Quán sở duyên duyên luận sớ, 1 quyển, Đạo phẩm chương, 1 quyển, Thập nhị duyên khởi chương, 1 quyển. Trong đó Câu xá luận sớ cùng với 2 bộ sớ của các ngài Phổ quang, Pháp bảo được gọi chung là Câu xá tam đại sớ, nhưng rất tiếc không còn đầy đủ, hiện nay chỉ còn 7 quyển mà thôi. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6, 8; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
thần thánh
Sacred—Deities and saints.
thần thánh sinh hoạt
4259(The Life Divine)凡二卷。印度哲學家、詩人奧羅賓多高士(Sri Aurobindo Ghose, 1872~1950),撰於一九四九年。全書旨在闡揚積極實踐神聖生活,排斥消極冥想之處世方式,其目的在提昇印度傳統精神達於現代化。以為人類存在之意義, 乃在現實生活中完成其精神生活。 並指出薄伽梵歌中之幻像(梵 māyā)說,雖謂世間是苦的、虛幻的,但仍有其追求最高真理之積極意義, 即:人應探研「個我」與人生終極目標之神。人若能捨棄「我欲」,將自己奉獻予神,即能實踐神聖生活;此因「我欲」能導致個人與個人,乃至國家與國家間之爭鬥,使吾人與世界上之一切分離,故知「我欲」乃束縛、爭鬥與苦惱之根源。個人生命在基本上係與神、萬物合而為一者,故若能超越我欲,得知個我之真性,確立自己,則能建立真正自由、平等、博愛之世間社會。若未能先行確立神聖之內在生活,而欲建立理想之外在生活,則一切努力終歸徒勞無功。〔Nathaniel Pearson: Sri Aurobindoand the Soul Quest of Man, London 1952〕
Thần thông
(s: abhijñā, p: abhiññā, 神通): âm dịch là Tác Tuần (作旬); ý dịch là thần thông lực (神通力), thần lực (神力), thông lực (通力), thông (通), v.v.; nghĩa là nương vào việc tu tập Thiền định mà đạt được tác dụng tự tại vô ngại, siêu việt con người, không thể nghỉ bàn. Có 5 loại thần thông (Ngũ Thần Thông [五神通], Ngũ Thông [五通]) là Thần Túc Thông (神足通), Thiên Nhãn Thông (天眼通), Thiên Nhĩ Thông (天耳通), Tha Tâm Thông (他心通), Túc Mạng Thông (宿命通). Nếu cọng thêm Lậu Tận Thông (漏盡通) thì trở thành Lục Thần Thông (s: ṣaḍ-abhijñāḥ, 六神通, hay Lục Thông [六通]). Ngoài ra, cũng có khi chỉ riêng Thần Túc Thông là thần thông. Theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 27, Lục Thông thì lấy tuệ (慧) làm bản chất (tự tánh); trong đó Ngũ Thần Thông nhờ tu Tứ Thiền (s: catvāri dhyānāni, p: cattāri jhānāni, 四禪) mà chứng được; không phải chỉ có bậc Thánh mới chứng đắc, mà ngay cả phàm phu cũng có thể chứng được. Tuy nhiên, đối với trường hợp Lậu Tận Thông thì chỉ có bậc Thánh mới có được. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 28, Bồ Tát có Ngũ Thông, Phật thì có Lục Thông. Thành Thật Luận (成實論, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 16 còn cho biết rằng ngoài Phật Giáo ra, ngoại đạo cũng có thể đạt được Ngũ Thông. Vị tiên chứng đắc được Ngũ Thông được gọi là Ngũ Thông Tiên Nhân (五通仙人). Đại Thừa Nghĩ Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 20 có nêu lên 4 phương pháp đạt được thần thông. (1) Nhờ quả báo sanh lên cõi Thiền thứ tư mà đạt được Báo Thông (報通, thần thông có được nhờ quả báo); (2) Tiên nhân nhờ năng lực của thuốc, có được Nghiệp Thông (業通, do nghiệp mà đạt được năng lực thần thông) tự do bay trên không. (3) Bà La Môn nhờ trì chú mà đạt được Chú Thông (咒通); (4) Nhờ tu Thiền định mà chứng được thần thông gọi là Tu Thông (修通). Trong đó, Nghiệp Thông và Chú Thông thuộc về thần thông của ngoại đạo. Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48) quyển 15 lại chia thần thông làm 5 loại khác: (1) Đạo Thông (道通), là thần thông đạt được sau khi ngộ lý Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道), lấy vô tâm để ứng với muôn vật mà biến hiện vạn hữu. (2) Thần Thông (神通), là năng lực thần thông nương vào sự tĩnh tâm của Thiền định, quán sát tư duy mà biết được mạng sống đời trước, v.v. (3) Y Thông (依通), là năng lực thần thông nương vào dược liệu, hộ phù hay chú, v.v., mà có được. (4) Báo Thông (報通), là năng lực thần thông nương vào quả báo mà có được. (5) Yêu Thông (妖通), là năng lực thần thông của hàng yêu quái. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12, chương Khiết Bàn Đà Quốc (朅盤陀國), của Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường, có đoạn: “Thời Khiết Bàn Đà quốc, hữu đại La Hán, diêu quán kiến chi, mẫn kỳ nguy ách, dục vận thần thông, chửng tư luân nịch (時朅盤陀國、有大羅漢、遙觀見之、愍其危厄、欲運神通、拯斯淪溺, lúc bấy giờ ở nước Khiết Bàn Đà, có một vị đại La Hán, xa quán thấy như vậy, thương xót tai ách của họ, muốn vận thần thông, cứu vớt sự chìm đắm ấy).” Vua Lý Nhân Tông (李仁宗, tại vị 1072-1127) có bài thơ rằng: “Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo hựu huyền, thần thông kiêm biến hóa, nhất Phật nhất thần tiên (覺海心如海、通玄道又玄、神通兼變化、一佛一神仙, Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo lại huyền, thần thông và biến hóa, bên Phật bên thần tiên).” Hay trong bài Lục Quán Đường Tán (六觀堂贊) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngã quán chúng sanh, thần thông tự tại (我觀眾生、神通自在, ta quán chúng sanh, thần thông tự tại).”
; 神通; S: ṛddhi; P: iddhi; cũng được gọi là Như ý thông, Thần túc thông;|Thần thông siêu nhiên, một trong Lục thông (sáu thắng trí). Người ta hiểu thần thông với các khả năng như sau: năng lực biến ra nhiều người, lấy dạng hình người khác, tàng hình, xuyên qua đất đá, đi trên nước, rờ mặt trời mặt trăng, đến những tầng trời cao nhất, cứu độ người đang hiểm nguy… Những khả năng này được xem là kết quả phụ của các phép tu thiền định. Tuy nhiên tăng, ni không được dùng các khả năng này để biểu diễn hay lạm dụng. Phạm những quy định này có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.
thần thông
4251梵語 abhijñā,巴利語 abhiññā。音譯作旬。又作神通力、神力、通力、通等。即依修禪定而得的無礙自在、超人間的、不可思議之作用。共有神足、天眼、天耳、他心、宿命等五神通(五通、五旬、般遮旬),加漏盡通,共為六神通(六通)。此外,又特指神足通為神通。分別而言: (一)神足通,又稱神境智證通、神境通、身如意通、如意通、身通等。據大智度論卷五、卷二十八所載,神足通有三種,一為隨心所欲,可至任何地方之能到(飛行),一為隨意改變相狀之轉變(變化),另一為隨意轉變外界對境(六境)之聖如意(隨意自在)。其中,後者唯佛所獨具者。(二)天眼通,又稱天眼智證通、天眼智通。即看透世間所有遠近、苦樂、粗細等之作用。(三)天耳通,又稱天耳智證通、天耳智通。即悉聞世間一切音聲之作用。(四)他心通,又稱他心智證通、知他心通。即悉知他人心中所想各種善惡等事之作用力(他心徹鑒力)。(五)宿命通,又稱宿住隨念智證通、宿住智通、識宿命通。即悉知自他過去世等各種生存狀態之作用力。(六)漏盡通,又稱漏盡智證通。即斷盡煩惱,永不再生於迷界之悟力。 其中,以佛、阿羅漢所具有之三通(宿命通、天眼通、漏盡通)最為殊勝,故稱為三明。天眼是徹見未來世眾生的死生之時與各種情況之通力,稱為死生智證明。據俱舍論卷二十七,六神通皆以慧為本質(自性),其中五神通係依修四禪而得,不唯聖者獨有,凡夫亦可得;但漏盡通唯聖者可得。據大智度論卷二十八謂,菩薩有五通,佛有六通。成實論卷十六指出,佛教以外之外道亦可得五通。得五通之仙人,即稱為五通仙人。此外,如鬼畜或諸天等之通力又分為與生俱有(生得)與修禪定而得(修得)二種。 據大乘義章卷二十本載,得神通之方法有四種,分別為:(一)生四禪天之果報而自然得之報通,(二)仙人依藥力自由飛空之業通(由業所得之通力),(三)婆羅門依持咒所得之咒通,(四)依修禪定而得通力之修通,其中業通與咒通屬於外道之神通。宗鏡錄卷十五廣分通力為五種通(五通),即:(一)道通,悟中道之理後,以無心應物,而變現萬有之通力。(二)神通,依禪定靜心,觀察思惟而知宿命等之通力。(三)依通,依藥、護符或咒等而得之通力。(四)報通,依業之果報而得之通力。(五)妖通,妖怪所具之通力。〔增一阿含經卷三十四、法華經卷五如來壽量品、大薩遮尼乾子所說經卷七、卷八、新華嚴經卷二十八「十通品」、集異門足論卷十五、大毘婆沙論卷七十〕
; Abhijā (S), Supernatural powers Abhiā (P), Abhijānāti (S, P) - Một vị A la hán đắc ngũ thông (tức Hữu lậu thông: Abhijĩa riddhi) gồm: thiên nhãn thông (dibbacakkhu), thiên nhĩ thông (dibbasotam), túc mạng thông (pubbenivasanussatinanam), tha tâm thông (paracittavijananam) và thần túc thông (iddhividha). Một bị Phật có lục thông (tức Vô lậu thông: Abhija asrava) gồm ngũ thông thêm lậu tận thông (asavakkhayakaran-nanam). - Ngũ thông và lục thông được cả Tiểu thừa và Đại thừa công nhận Xem Thần lực.
; Rddhi (S). Ubiquitous supernatural power, especially of a Buddha, his ten powers including power to shake the earth, to issue light from his pores, extend his tongue to the Brahma-heavens effulgent with light, cause divine flowers to rain from the sky, be omnipresent and other powers. Supernatural powers of eye, ear, body, mind etc. Thần thông thừa, the supernatural or magic vehicle, i.e. the esoteric sect of Chân Ngôn Shingon.
; Abhijna (skt)—Abhinna (p)—Sức mạnh kỳ diệu bao gồm sự hiểu biết, kỹ xảo, thông minh, trí nhớ, vân vân. Thần thông là những thứ mà sự tưởng tượng của xã hội văn minh trần tục hiện nay cho là phi thường, hay những thứ mà sự tưởng tượng trong các tôn giáo phương tây cho là siêu nhiên; thần lực đạt được bằng trí tuệ sáng suốt, được thấy qua Kinh A Di Đà, và không thể nghĩ bàn—Miracle powers include knowing, skillful, clever, understanding, conversant with, remembrance, recollection. Miracles mean ubiquitous supernatural power, psychic power, high powers, supernormal knowledges, or superknowledge. Miraculous Powers are what the Western religious imagination would regard as miraculous or supernatural, attainable only through penetrating insight, as seen in the two Amitabha Sutras as inconceivable—Supernatural science or faculty of a Buddha: 1) Thiên nhãn thông: Dibba-cakkhu—Khả năng thấy không ngăn ngại, thấy chúng sanh biến mất rồi xuất hiện, ti tiện và cao quý, đẹp xấu, tùy theo nghiệp lực của họ—Seeing to any distance—Ability to see without hindrances. Ability to see beings vanishing and reappearing, low and noble ones, beautiful and ugly ones, seeing beings are reappearing according to their deeds (karma). 2) Thiên nhĩ thông: Dibba-sota—Khả năng nghe được âm thanh của trời và người, xa hay gần—Hearing to any distance—Ability to hear sound both heavenly and human, far and near. 3) Tha tâm thông: Ceto-pariya-nana—Khả năng xuyên suốt tâm trí của người khác. Người nầy nhìn biết tâm tham, tâm sân, tâm mê mờ, cũng như tâm đắm nhiễm, tâm phát triển, tâm tập trung tâm giải thoát của người khác, hay ngược lại—Penetrating men's thoughts—Ability to know the minds of other beings, by penetrating them with one's own mind. This person knows the greedy mind, hate mind and deluded mind, shrunken and distracted mind, developed mind and free mind of others or vice sersa. 4) Thần túc thông: Iddhi-vidha—Khả năng đi xuyên qua tường vách, núi non, cũng như đi trên không, trên nước mà không chìm như đi trên đất—Magical powers—Taking any form at will—Ability to pass through walls and mountains, just as if through the air—Ability to walk on the water without sinking, just as if on the earth. 5) Lậu tận thông: Asavakhaya—Khả năng hủy diệt phiền não ngay trong đời nầy kiếp nầy bằng trí tuệ—Ability to extinct all cankers (afflictions) in this very life, extinction of cankers through wisdom. 6) Túc mạng thông: Pubbe-nivasanus-sati (skt)—Khả năng nhớ lại tiền kiếp, có thể từ một đến năm hay một trăm, một ngàn đời—Knowing their state and antecedents—Ability to remember former existences, may be from one to five or even to hundred or thousand births
; (神通) Phạm:Abhijĩà. Pàli:Abhiĩĩà. Hán âm: Tuần. Cũng gọi Thần thông lực, Thần lực, Thông lực, Thông. Năng lực siêu nhân, tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn do tu thiền định mà được. Thần thông gồm có 5 thứ(Ngũ thông, Ngũ tuần, Ban đầu tuần)là Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông và Túc mệnh thông, nếu thêm Lậu tận thông nữa thì thành 6 thần thông (Lục thông). Ngoài ra, cũng đặc biệt chỉ cho Thần túc thông là Thần thông. Nói một cách rõ ràng hơn thì Lục thông là: 1. Thần túc thông(cũng gọi Thần cảnh trí chứng thông, Thần cảnh thông, Thân như ý thông, Như ý thông, Thân thông): Theo luận Đại trí độ quyển 5, 28 thì Thần túc thông có 3 thứ: a. Năng đáo(đi như bay): Theo ý muốn có thể đến bất cứ nơi nào. b. Chuyển biến(biến hóa): Thay đổi tướng trạng theo ý muốn. c. Thánh như ý(tùy ý tự tại): Chuyển biến các đối cảnh (6 cảnh) của thế giới bên ngoài theo ý muốn. Trong đó, loại thứ 3 chỉ riêng Phật mới có. 2. Thiên nhãn thông (cũng gọi Thiên nhãn trí chứng thông, Thiên nhãn trí thông): Tác dụng thấy suốt tất cả các việc xa gần, khổ vui, thô tế ở thế gian. 3. Thiên nhĩ thông(cũng gọi Thiên nhĩ trí chứng thông, Thiên nhĩ trí thông): Tác dụng nghe được tất cả âm thanh ở thế gian. 4. Tha tâm thông(cũng gọi Tha tâm trí thông, Tri tha tâm thông): Tác dụng có năng lực(năng lực biết rõ tâm người khác)biết rõ tất cả việc thiện ác mà người khác nghĩ tưởng trong tâm. 5. Túc mệnh thông(cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí chứng thông, Túc trụ trì thông, Thức túc mệnh thông): Tác dụng có sức rõ suốt tất cả trạng thái sinh tồn của mình và người khác trong đời quá khứ. 6. Lậu tận thông(cũng gọi Lậu tận trí chứng thông): Năng lực giác ngộ dứt hết sạch các phiền não, vĩnh viễn không còn tái sinh trong cõi mê. Trong 6 thông trên đây, 3 thông (Túc mệnh thông, Thiên nhãn thông, Lậu tận thông) của Phật và A la hán rất thù thắng, cho nên gọi là Tam minh. Thiên nhãn(mắt trời) là năng lực thần thông thấy suốt thời gian sinh tử của chúng sinh và các loại tình huống ở đời vị lai, gọi là Sinh tử trí chứng minh. Theo luận Câu xá quyển 27 thì 6 thần thông đều lấy Tuệ làm bản chất(tự tính), trong đó, 5 thần thông là nhờ tu Tứ thiền mà được, không phải chỉ riêng bậc Thánh mới có mà phàm phu cũng có thể có; nhưng Lậu tận thông thì chỉ bậc Thánh có được. Theo luận Đại trí độ quyển 28 thì Bồ tát chỉ có 5 thần thông, Phật mới có đủ 6 thần thông. Luận Thành thực quyển 16 cho rằng, ngoài Phật giáo ra, ngoại đạo cũng có 5 thần thông. Những Tiên nhân được 5 thần thông gọi là Ngũ thông tiên nhân. Ngoài ra, sức thần thông của quỉ súc hoặc chư thiên cũng được chia ra 2 loại là Sinh đắc(sinh ra đã có) và Tu đắc(nhờ tu Thiền định mà được). Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần đầu, có 4 phương pháp chứng được thần thông là: 1. Báo thông: Do quả báo sinh về cõi trời Tứ thiền mà tự nhiên được. 2. Nghiệp thông (sức thần thông do nghiệp mà có): Các người tiên nhờ năng lực của thuốc(tiên dược)mà tự do bay đi trong hư không. 3. Chú thông: Thần thông do Bà la môn nhờ vào sức trì chú mà được. 4. Tu thông: Nhờ tu thiền định mà được sức thần thông. Trong đó, Nghiệp thông và Chú thông là thần thông thuộc ngoại đạo. Tông Kính lục quyển 15 chia Thông lực thành Ngũ chủng thông (Ngũ thông): 1. Đạo thông: Sức thần thông dùng vô tâm ứng vật, biến hiện ra vạn hữu sau khi giác ngộ lí Trung đạo. 2. Thần thông: Sức thần thông nhờ thiền định tĩnh tâm, tư duy quán xét mà biết được đời quá khứ... 3. Y thông: Sức thần thông nhờ vào thuốc, bùa hộ thân hoặc trì chú mà có. 4. Báo thông: Sức thần thông do quả báo của nghiệp mà được. 5. Yêu thông: Sức thần thông của loài yêu quái. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5;kinh Đại tát ni kiển tử sở thuyết Q.7, 8; phẩm Thập thông trong kinh Hoa nghiêm Q.28 (bản dịch mới); luận Tập dị môn túc Q.15; luận Đại tì bà sa Q.70].
thần thông biến hiện
Xem Như ý túc thị hiện.
thần thông biến hoá
Ṛddi (S) Thí dụ: thần túc thông (Iddhividdha).
thần thông du hý kinh
Xem Phổ Diệu Kinh.
Thần thông du hý kinh 神通遊戲經
[ja] ジンツウユキキョウ Jintsū yuki kyō ||| The Shentong youxi jing; an alternative title for the Fangguang da zhuangyan jing 方廣大莊嚴經, T 187.3.539-617. => c: Shentong youxi jing; Tên gọi khác của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (c: Fangguang da zhuangyan jing 方廣大莊嚴經).
thần thông du ký tam muội
Ṛddhivikridita (S) Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
thần thông kim cang
See Hỏa Tụ Phật Đảnh.
thần thông lực
Sappatihariyam (P).
; The resulting supernatural powers.
thần thông nguyệt
4251又作神變月、神足月、三長齋月。每年正月、五月、九月等三月為持齋行善之月,故稱三長齋月。據釋門正統卷四載,於此三月,諸天以神足巡行天下,考查眾生之善惡,故此時宜持齋行善,以修福德,利於果報。法苑珠林卷八十八詳引提謂經之說,其意為正月宜用小陽事,以生萬物,五月用大陽事以長萬物,九月以小陰事以藏萬物,是皆依道氣而生沒;此時若持齋修善,萬物同感,普受助益。梵網經疏及釋氏要覽卷下則謂,正月時,天帝釋以大寶鏡照南贍部洲,鑑察人民之善惡,二、三、四月照其他三洲,五月復照南洲,六、七、八照其餘三洲,九月更照南洲,故正、五、九等三月應持齋行善。 「三長齋月」之稱,早於梵網經卷下即明白舉示,然經中僅謂於此三月,不得犯殺生、劫盜、破齋等戒,蓋以此一時期,宜應受持清淨戒之故。其餘如不空羂索神變真言經卷二、灌頂經卷十二及大智度論卷十三等皆有類似說法,惟並無「諸天以神足考察人間善惡」之說,故現代學者主張,法苑珠林、釋門正統、釋氏要覽等之記載恐係由於道教思想之影響所致。〔佛祖統紀卷二十三、歷代三寶紀卷十二、敕修百丈清規卷一善月條〕
; See Thần Túc Nguyệt
; (神通月) Cũng gọi Thần biến nguyệt, Thần túc nguyệt, Tam trường trai nguyệt. Chỉ cho tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 hàng năm là 3 tháng trì trai tu thiện nên gọi là Tam trường trai nguyệt. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 thì trong 3 tháng này, chư thiên dùng Thần túc thông đi tuần trong thiên hạ để xem xét các việc thiện ác của chúng sinh, vì thế, thời gian này nên giữ trai tịnh, làm các việc thiện để tu phúc đức có lợi cho quả báo về sau. Pháp uyển châu lâm quyển 88 trích dẫn thuyết trong kinh Đề vị nói rằng tháng giêng nên dùng tiểu dương sự khiến vạn vật sinh sôi nảy nở, tháng 5 dùng đại dương sự để nuôi lớn muôn vật và tháng 9 dùng tiểu âm sự để thu giấu vạn vật, đó đều là theo đạo khí tự nhiên mà sinh ra và tàn diệt. Trong thời gian 3 tháng này nếu trì trai tu thiện thì muôn vật cũng đồng cảm, được nhờ sự giúp ích lớn. Theo Phạm võng kinh sớ và Thích thị yếu lãm quyển hạ thì thời gian tháng giêng trời Đế thích dùng gương chiếu xuống châu Nam thiệm bộ soi xét các việc thiện ác của loài người; tháng 2, tháng 3 và tháng 4 thì chiếu soi 3 châu kia, đến tháng 5 lại chiếu Nam châu, tháng 6, tháng 7, tháng 8 chiếu xuống 3 châu còn lại, tháng 9 lại chiếu xuống Nam châu, vì thế tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 nên trì trai tu thiện. Từ ngữ Tam trường trai nguyệt đã thấy rất sớm trong kinh Phạm võng quyển hạ, nhưng trong kinh chỉ nói trong 3 tháng này không được phạm các giới sát sinh, trộm cắp, phá trai, là vì trong thời gian này cần phải thụ trì giới thanh tịnh. Còn như các kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 2, kinh Quán đính quyển 12 và luận Đại trí độ quyển 13 đều nói giống nhau, nhưng không hề có thuyết Chư thiên dùng thần túc thông đi xem xét các việc thiện ác dưới nhân gian. Cho nên các học giả hiện đại chủ trương những điều được ghi trong Pháp uyển châu lâm, Thích môn chính thống và Thích thị yếu lãm có lẽ đã do chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạo giáo mà ra. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; điều Thiện nguyệt trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].
thần thông quang
4252又作圓光、現起光、放光。佛菩薩身上所發之光焰,恆常不滅,乃非尋常之光,故稱神通光。法華經序品(大九‧二中):「佛放眉間白毫相光,照東方萬八千世界。」往生論有「相好光一尋」之語,此乃就應身佛而論,故言光一尋;若以報身佛而言,則其光不限一尋。又此光非唯能照耀十方,亦能變現種種,施作佛事,使眾生得其利益。此光包含多種,類別之,佛全身發光,稱為舉身光;一相放光,稱隨一相光;眉間白毫放光,稱白毫光、眉間光;毛孔發光,稱毛孔光;項邊所放之光,稱圓光;而總稱佛菩薩身上所放之光為身光、色光、外光、神通光。〔大智度論卷八、卷三十四、往生要集卷中〕
; (神通光) Cũng gọi Viên quang, Hiện khởi quang, Phóng quang. Ánh sáng phát ra trên thân Phật, Bồ tát, thường hằng bất diệt, chẳng phải là ánh sáng tầm thường, cho nên gọi là Thần thông quang. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 trung) nói: Phật phóng ánh sáng từ sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, chiếu soi 1 vạn 8 nghìn thế giới ở phương Đông. Trong luận Vãng sinh có từ ngữ Tướng hảo quang nhất tầm(Ánh sáng từ tướng tốt đẹp phóng ra một tầm) tức 8 thước Tàu, đó là luận theo Ứng thân Phật nên nói là ánh sáng một tầm; nếu nói theo Báo thân Phật thì ánh sáng không phải chỉ một tầm. Lại nữa, ánh sáng này chẳng phải chỉ có năng lực chiếu soi 10 phương mà còn biến hiện ra nhiều thứ, làm các Phật sự khiến cho chúng sinh được lợi ích. Thần thông quang gồm có nhiều loại, nếu phân biệt thì ánh sáng phát ra từ toàn thân Phật, gọi là Cử thân quang; ánh sáng phát ra từ một tướng hảo, gọi là Tùy nhất tướng quang; ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, gọi là Bạch hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phát ra từ lỗ chân lông gọi là Mao khổng quang; ánh sáng phátratừ 2 bên cổ gọi là Viên quang; còn ánh sáng phát ra từ trên thân của Phật, Bồ tát thì gọi chung là Thân quang, Sắc quang, Ngoại quang, Thần thông quang. [X. luận Đại trí độ Q.8, 34; Vãng sinh yếu tập Q.trung].
Thần thông quang 神通光
[ja] ジンズウギョウ jinzūkō ||| The Great Bright Light emitted due to the spiritual power of the Buddha=> Hào quang Đại quang minh phóng ra do năng lực thần thông của Đức Phật.
thần thông thị hiện
Xem Như ý túc thị hiện.
thần thông thừa
4253指密教。三密之教法具有速疾之力,故喻稱為神通乘。佛教之目的乃在於渡越生死海,達於解脫之境,故若以教法而別,二乘可喻為羊車,顯教諸大乘可喻為馬車;與此二車比較之,則密教可稱為神通乘。大日經疏卷一(大三九‧五七九下):「龍樹以為,如人遠行,乘羊去者,久久乃到,馬則差速。若乘神通,人於發意頃便至所詣。」
; Tên gọi Chân Ngôn giáo, tức thừa giáo dựa vào sức gia trì thần biến của Như Lai—The supernatural or magic vehicle, i.e. the esoteric sect or Shingon.
; (神通乘) Chỉ cho Mật giáo. Giáo pháp Tam mật có năng lực nhanh chóng cho nên ví dụ gọi là Thần thông thừa. Mục đích của Phật giáo là vượt qua biển sinh tử, đạt đến cảnh giới giải thoát, vì thế, nếu dùng giáo pháp để phân biệt thì Nhị thừa có thể dụ là xe dê, Đại thừa Hiển giáo có thể ví dụ là xe ngựa; so sánh với 2 loại xe trên thì Mật giáo có thể được gọi là Thần thông thừa (xe thần thông). Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 579 hạ) nói: Ngài Long thụ cho rằng như người đi xa, nếu ngồi xe do dê kéo thì lâu mới đến, nếu ngồi xe do ngựa kéo thì đi nhanh hơn; nhưng nếu dùng xe thần thông thì chỉ trong nháy mắt đã đến chỗ mình muốn.
thần thông tự
4253位於山東濟南東南約四十六公里處。前秦皇始元年(351,即東晉永和七年),僧朗移居泰山與隱士張忠結交。未久,秦主苻堅召忠,忠奉召而行,至華陰山卒,僧朗乃於泰山西北之金輿谷崑崙山中建精舍,築石室,內外屋宇數十棟,聞風而來者達百餘人。苻堅、慕容德、晉孝武帝欽仰其德,苻堅欲請之,僧朗皆固辭不往。其後慕容德以東齊王之名,給予二縣之租稅,聲名大著。時人稱金輿谷為朗公谷,稱寺為朗公谷山寺。北周時曾遭廢毀,至隋代再興,改名「神通寺」。唐貞觀十五年(641),義淨七歲,嘗於本寺親侍寺僧善遇及慧智,受其化育。其後沿革不詳,迄今雖頗為荒廢,然昔日遺物尚存者不少,如四面塔、朗公塔、金元時代之歷代住持墓塔,及元明年間諸碑等。其中四面塔為石造建築,係東魏武定二年(544)所建,為僅次於漢代石闕之石造建築。朗公塔俗稱龍虎塔,內部中心柱四面刻有佛像,建立年代,有說中唐,有說唐末者。又寺西之山腹懸崖有千佛崖,刻有大小石佛數百尊,約為唐初作品。又有僧明德所造佛像,上有唐貞觀年間之銘。此石窟比雲岡、龍門、天龍山等石窟之破損還少,為識者所重。〔梁高僧傳卷五、南海寄歸內法傳卷四、泰山志、支那佛教史蹟評解卷一〕
; (神通寺) Chùa ở cách huyện Tế nam, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, khoảng 46km, về phía đông nam. Vào niên hiệu Hoằng thủy năm đầu (351) đời Tiền Tần, ngài Tăng lãng dời đến núi Thái sơn, kết giao với ẩn sĩ Trương trung. Không bao lâu, vua nhà Tần là Phù kiên ban chiếu vời Trương trung, Trương trung vâng mệnh về kinh, nhưng đến núi Hoa âm thì qua đời. Ngài Tăng lãng bèn cất tinh xá, làm thạch thất trong núi Côn luân thuộc hang Kim dư ở phía tây bắc Thái sơn, với vài mươi ngôi nhà trong ngoài, có hơn 100 người nghe tiếng tăm đến ở. Phù kiên, Mộ dung đức, Hiếu vũ đế nhà Tấn... đều kính ngưỡng đức hạnh của ngài Tăng lãng, Phù kiên muốn thỉnh sư, nhưng sư đều từ tạ không đi. Về sau, Mộ dung đức nhân danh là vua Đông Tề cấp cho sưthuế tô của 2 huyện, tiếng tăm của sư càng lừng lẫy. Người đương thời gọi hang núi Kim dư là Lãng công cốc(hang núi ông Lãng), gọi chùa là Lãng công cốc sơn tự. Thời Bắc Chu, chùa bị phá hủy, đến đời Tùy được xây dựng lại, đổi tên là Thần thông tự. Năm Trinh quán 15 (641), ngài Nghĩa tịnh được 7 tuổi, từng ở chùa này thị giả các ngài Thiện ngộ và Tuệ trí, được các ngài dạy dỗ. Về sau, sự thay đổi của chùa như thế nào thì không rõ, còn hiện nay đã hoang vắng, nhưng những di vật thời xưa thì còn rất nhiều, như tháp 4 mặt, tháp Lãng công, các tháp mộ của các vị Trụ trì qua các đời Kim, Nguyên và các bia Nguyên, Minh. Trong đó, tháp 4 mặt bằng đá được kiến trúc vào năm Vũ định thứ 2 (544) đời Đông Ngụy chỉ kém Thạch khuyết kiến trúc bằng đá vào đời Hán. Tháp Lãng công thường được gọi là tháp Long hổ, 4 mặt của cây trụ trong ruột tháp có khắc tượng Phật, có thuyết cho rằng tháp được kiến trúc vào thời Trung Đường, có thuyết lại nói vào cuối đời Đường. Còn trên sườn núi cheo leo lưng chừng núi ở mé tây chùa có Thiên Phật Nhai, khắc vài trăm pho tượng Phật bằng đá lớn nhỏ, là những tác phẩm khoảng đầu đời Đường. Lại có tượng Phậtdo vị tăng tên là Tháp bốn mặt ở chùa Thần Thông Tháp Lãng Công chùa Thần Thông Minh đức khắc tạo, trên có bài minh được khắc vào khoảng năm Trinh quán đời Đường. So với hang đá ở cácnúi Vân cương, Long môn, Thiên long... thì hang đá ở đây ít bị tổn hại hơn, rất được các thức giả kính trọng. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thái sơn chí; China Phật giáo sử tích bình giải Q.1].
Thần thông 神通
[ja] ジンズウ jinzū ||| (1) Excellent wisdom. Supernatural abilities, spiritual powers. The powers of unimpeded existence, i.e., the five sagely powers or the six supernatural powers of an arhat. (ṛddhi, abhijñāna). (2) Arhat. (3) In Chan teachings, the free actions of one who demonstrates thorough great awakening, and is not caught up in anything. "Sleeping when tired and eating when hungry." => 1. Trí huệ siêu tuyệt. Năng lực siêu nhiên, năng lực thần thông. Năng lực hoạt động vô ngại, có nghĩa là Ngũ thông hoặc Lục thông của bậc A-la-hán (ṛddhi, abhijñāna). . 2. A-la-hán3. Trong Thiền tông, thuật ngữ nầy chỉ cho hành vi tự tại của bậc đã đạt ngộ, không bị vướng mắc trong bất cứ điều gì. “Đói ăn, mệt ngủ.” Thần thông đệ nhất 神通第一 [ja]ジンツウダイイチ jintsū daiichi ||| The first in the degree of attainment occult powers; a appellation given Śākyamuni's eminent disciple Maudgalyāyana 摩訶目犍連, who is said to have had supernatural abilities that surpassed the other disciples. => Bậc đạt được năng lực siêu nhiên cao tột nhất; danh hiệu mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban tặng cho đệ tử là Ma-ha Mục-kiền-liên (s: Maudgalyāyana 摩訶目犍連), người có được năng lực thần thông trội vượt trên tất cả các đệ tử Phật.
thần thức
4260猶言靈魂。有情之心識靈妙不可思議,故稱神識。神識界不可以色得見,亦不至色體,但以所入行作而體現色。楞嚴經卷八(大一九‧一四四中):「臨終時先見猛火滿十方界,亡者神識飛墮,乘煙入無間獄。」〔增一阿含經卷七、大寶積經卷一○九〕
; The intelligent spirit, also called linh hồn the soul; incomprehensible or divine wisdom.
; • Linh Hồn—Soul—The intelligent spirit—Consciousness—Incomprehensible or divine wisdom. • Về những vấn đề tâm lý học, Phật giáo không chấp nhận sự hiện hữu của một linh hồn được cho là chân thật và bất tử. Vô ngã áp dụng cho tất cả vạn hữu (sarva dharma), hữu cơ hay vô cơ: With regard to the psychological question, Buddhism does not admit the existenceof a soul that is real and immortal. Anatma or non-self refers to all things (sarva-dharma), organic and inorganic. • Theo Nhân Sinh, cũng không có linh hồn, không có cái ngã chơn thật nào là bất tử: In the case of human beings, there will accordingly to be no soul, no real self that is immortal. • Còn trong trường hợp chỉ chung cho vạn hữu, cũng không có bản thể, không có bản chất nào mà không biến dịch. Bởi vì không có một cách ngã chân thực theo không gian, nghĩa làkhông có thực thể, nên không bao giờ có thường hằng—While in the case of things in general, there will be no noumenon, no essence which is unchangeable. Because there is no real self spatially, i.e., no substance, there will be no permanent, i.e., no duration. Therefore, no bliss, is to be found in the world.
; (神識) Cũng gọi Linh hồn. Tâm thức của loài hữu tình linh thiêng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần thức. Thần thức giới không thể dùng vật chất mà thấy được, cũng không đến được bằng thể vật chất, chỉ có thể dùng hành vi thể nhập để thể hiện. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144 trung) nói: Lúc lâm chung trước hết thấy lửa hừng khắp các thế giới trong 10 phương, thần thức người chết bay đi, theo khói mà rơi vào địa ngục Vô gián. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.7; kinh Đại bảo tích Q.109].
thần tiên
The genii, immortals, rsi, of whom the five kinds are thiên tiên deva immortals, thần tiên spirit immortals, nhân tiên human immortals, địa tiên earth (or cave) immortals and quỉ tiên preta immortals.
; (A) Nghĩa của Thần Tiên—The meanings of Deities and immortals—Thần và Tiên—Spirit-rsis who roam the air—Spirit genii—Deities and immortals. (B) Năm loại Thần Tiên—Five kinds of Deities and immortals: 1) Thiên Tiên: Deva. 2) Thần Tiên: Spirit. 3) Nhân Tiên: Human immortals. 4) Địa Tiên: Earth or cave immortals. 5) Quỷ Tiên: Preta immortals.
thần tiên ngoại đạo
Extenalist deities and immortals.
thần tiên ngũ thông
Tức là những vị tiên nhân lánh mình vào núi, tu thiền định, được trường thọ và đắc năm phép thần thông: 1. Thiên nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Túc mạng thông, 4. Tha tâm thông, 5. Thần túc thông. Tuy nhiên, ngũ thông này không đồng với ngũ thông của Phật và Bồ Tát.
thần tiên tư tưởng
4245指我國古代之神祕思想。人皆嚮往長生不老,致產生神仙修鍊及仙藥之故事。根據考證,西元前三世紀,此種與山岳信仰結合之神仙思想已流行各地,可見於楚辭之崑崙山神仙、莊子之藐姑射山仙人。此一思想乃源於山東半島,由其北部沿岸之海市蜃樓而引起。據史記記載,戰國時代齊威王、宣王、燕昭王皆曾遣方士入海,探訪蓬萊島、三神山,求不死之藥。此後,方士活躍,長生術及鍊金丹之說盛行。秦始皇及漢武帝亦曾遣使入海求仙,卻一無所得。 三神山之信仰衰落後,轉為尊崇五岳,並發展為養生術。晉代葛洪則集其大成,著有抱朴子一書,論及仙藥、金丹鍊法,及辟穀(不食穀物)、胎息法(呼吸法)等養生術。又當時之知識分子對於神仙思想抱有興趣者亦不少,此由陶淵明之桃花源記、嵇康之養生論,可窺見之。至東漢末年,張陵合併神仙說與陰陽說,依託道家之玄理而成立道教,並以道家之真人即道教之神仙。至此神仙說已揉和道教。唐代以後之神仙說,則多依附道教。
; (神仙思想) Chỉ cho tư tưởng thần bí của Trung quốc đời xưa. Người ta đều mong sống mãi không chết, từ đó mới có các sự tích về việc tu tiên, luyện thuốc. Theo khảo chứng, vào thế kỉ III trước Tây lịch thì tư tưởng thần tiên kết hợp với tín ngưỡng núi non đã lưu hànhởcác nơi tại Trung quốc, người ta có thể thấy thần tiên núi Côn luân trong Sở từ, tiên nhân núi Miểu cô xạ trong Trang tử. Tư tưởng này có nguồn gốc ở bán đảo Sơn đông, do Hải thị thẩn lâu(lâu đài do hơi loài sò sinh ra trên mặt biển) dọc theo bờ biển phía bắc mà nảy sinh. Theo Sử kí thì Uy vương và Tuyên vương nước Tề, Chiêu vương nước Yên trong thời đại Chiến quốc đều đã từng sai các phương sĩ(người học phép tiên và các thuật trừ tà) ra biển, tìm đến đảo Bồng lai, núi Tam thần để hái thuốc trường sinh bất tử. Từ đó về sau, các phương sĩ hoạt động mạnh mẽ, thuật trường sinh và thuyết luyện kim đan rất thịnh hành. Tần thủy hoàng và Hán vũ đế cũng từng sai sứ ra biển tìm tiên, nhưng không ai tìm được. Sau khi tín ngưỡng Tam thần sơn suy đồi thì chuyển sang tôn sùng Ngũ nhạc (5 quả núi cao tiêu biểu cho 5 phương ở Trung quốc, tức là Hành sơn nam nhạc, Hoa sơn tây nhạc, Trung sơn trung nhạc, Thái sơn đông nhạc và Hằng sơn bắc nhạc), đồng thời phát triển thành thuật trường sinh. Cát hồng đời Tấn tập đại thành tư tưởng này bằng cách soạn bộ Bão phác tử, trong đó bàn về thuật trường sinh như thuốc tiên, phép luyện kim đan, tịch cốc(không ăn các loại hạt cây như lúa, bắp...), Thai tức pháp(phương pháp hô hấp)... Bấy giờ có nhiều phần tử trí thức đối với tư tưởng thần tiên cũng có hứng thú, điều này có thể thấy qua Đào hoa nguyên kí của Đào uyên minh, Dưỡng sinh luận của Kê khang... Đến những năm cuối đời Đông Hán, Trương lăng kết hợp thuyết Thần tiên với thuyết Âm dương rồi dựa vào huyền lí của Đạo gia mà thành lập Đạo giáo, đồng thời cho rằng chân nhân của Đạo gia chính là thần tiên của Đạo giáo. Đến đây, thuyết Thần tiên đã dung hòa vào Đạo giáo. Thuyết Thần tiên từ đời Đường về sau phần nhiều phụ thuộc vào Đạo giáo.
thần triêu
Một trong ba thời trong ngày, buổi sáng—The morning period, the first of the three divisions of the day—See Tam Thời (A).
thần triều
4613梵語 pūrvāhṇa,巴利語 pubbaṇha。即指辰時,即今之八時頃;或謂由卯時至巳時,即今六時至十時頃。為六時之一。又作清旦,晨旦、平旦。寺院中,於此時勤修佛事,稱為晨朝,或作晨課、朝課、早課。善導之往生禮讚偈,謂晨朝為六時之第五時。〔阿彌陀經、般若理趣經、摩訶僧祇律卷六僧殘法〕(參閱「六時」1283)
; (晨朝) Phạm:Pùrvàhịa. Pàli: Pubbaịha. Cũng gọi Thanh đán, Thần đán, Bình đán.Chỉ cho giờ Thìn, tức hiện nay khoảng 8 giờ sáng. Có thuyết cho rằng Thần triêu là từ giờ Mão đến giờ Tị, tức nay là khoảng từ 6 đến 10 giờ sáng, là 1 trong 6 thời. Trong các chùa viện, vào giờ này siêng tu Phật sự, gọi là Thần triêu, hoặc gọi là Thần khóa, Triêu khóa, Tảo khóa. Trong Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo cho rằng Thần triêu là thời thứ 5 trong 6 thời.[X. kinh A di đà ; kinh Bát nhã lí thú; Tăng tàn pháp trong luật Ma ha tăng kì Q.6].
thần trí
4254<一>無礙自化,徹見事理之智慧。無量壽經卷上(大一二‧二七○中):「神智洞達,威力自在。」 <二>(819~886)唐代僧。婺州義烏(浙江金華)人,俗姓力。出家於雲門寺。日持大悲咒,常以杯水治百疾,人稱大悲和尚。大中年間(847~859)入京,裴休為請院額,曰「大中聖壽」,並賜銅鐘一口。光啟年中,寂於東白山,世壽六十八。〔宋高僧傳卷二十五〕 <三>(1042~1091)北宋僧。溫州平陽人,俗姓葉。法名從義,字叔端,諡「神智」。八歲出家,十七歲誦法華得度,學於四明之扶宗繼忠。其後歷主大雲、真白、五峰、寶積、妙果等五剎,學徒雲集。於其所補注之集解,議論他宗之任意臆測佛經,如論賢首之妄判華嚴,議慈恩之專用唯識,斥二十八祖之相承荒誕。晚年居壽聖寺,大振宗風。雖出自山家,而異於山家正統,以自義為骨架,故世稱「後山外」。元祐六年示寂,享年五十。著有三大部補注十四卷、光明文句新記七卷、觀經疏往生記四卷等多種。〔釋門正統卷五、佛祖統紀卷二十二〕
; Spiritual wisdom, divine wisdom which comprehends all things, material and immaterial.
; Cái trí thông hiểu tất cả sự việc, từ vật chất đến phi vật chất—Spirit and intelligence—Spiritual wisdom—Divine wisdom which comprehends all things, material and immaterial.
; (神智) I. Thần Trí. Trí tuệ thấy suốt sự lí một cách tự tại vô ngại. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng Đại 12, 270 trung) nói: Thần trí rỗng suốt, uy lực tự tại. II. Thần Trí (1042-1091). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người ở Bình dương, Ôn châu, họ Diệp, pháp danh Tòng nghĩa, tự Thúc đoan, thụy Thần trí. Sư xuất gia năm 8 tuổi, 17 tuổi, tụng kinh Pháp hoa được độ làm tăng, theo học ngài Phù tông Kế trung ở Tứ minh. Về sau, sư trụ các chùa: Đại vân, Chân bạch, Ngũ phong, Bảo tích, Diệu quả... người đến theo học rất đông. Trong các tập giải do sư chú thích bổ sung, sư ức đoán kinh Phật theo ý mình để nghị luận tông phái khác, như bàn về việc vọng phán Hoa nghiêm của ngài Hiền thủ, luận về việc chuyên dùng Duy thức của ngài Từ ân, bài bác sự hoang đường trong việc truyền thừa giữa 28 vị Tổ Thiền tông. Về già, sư trụ ở chùa Thọ thánh, phát huy tông phong rực rỡ. Tuy sư xuất thân từ phái Sơn gia nhưng lại khác với Sơn gia chính thống, dùng nghĩa của chính mình làm nòng cốt, cho nên người đời sau gọi sư là Hậu sơn ngoại. Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091), sư tịch, hưởng dương 50 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tam đại bộ bổ chú 14 quyển; Quang minh văn cú tân kí 7 quyển, Quán kinh sớ vãng sinh kí 4 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.22].
thần trí huệ học vấn
Ganesa (S).
thần trí học
Theosophy.
Thần trí 神智
[ja] ジンチ jinchi ||| (1) Divine wisdom, supernatural wisdom. 〔法華經 T 262.9.51b11〕(2) Shenzi (819-886), a Tang period monk. 〔宋高僧傳卷二十五〕 => 1. Trí tuệ siêu phàm, trí huệ siêu nhiên. 2. Shenzi (819-886), Thiền sư đời Đường (Tống cao tăng truyện, quyển 25 ; 宋高僧傳卷二十五)
thần tài
Siri (P).
; Goddess of fortune
; The goddess of fortune.
thần tán thiền sư
Zen master Shen-Tsan—Thần Tán Thiền Sư là một trong những đệ tử nổi bậc của Thiền Sư Bách Trượng. Ngài xuất gia lúc tuổi còn nhỏ. Sau khi ngộ đạo với Tổ Bách Trượng , ngài còn vị bổn sư chưa thấu đạo (nhưng rất kiêu ngạo và không muốn nghe lời khuyên của đệ tử, vì nghĩ rằng đệ tử làm sao hơn thầy được). Vì thế ngài trở về quê tìm cách cảnh tỉnh bổn sư. Một hôm bổn sư đang ngồi xem kinh bên khung cửa, vì trời lạnh nên ông lấy giấy dán kín cửa lại. Thần Tán đi ngang thấy một con ong cứ bay đập vào tờ giấy để tìm lối ra, nhưng chui ra không được. Thần Tán đứng ngoài cửa sổ ngâm một bài kệ: “Không môn bất khẳng xuất Đầu song dã thái si Bách niên táng cố chỉ Hà nhật xuất đầu thì?” (Cửa không chẳng chịu ra Lại mê muội vùi đầu vào song cửa Trăm năm vùi đầu vào tờ giấy cũ ấy Cũng không có ngày nào ra được?) Zen master Shen-Tsan was one of the outstanding of Zen master Bai-Zhang. He left home to become a monk at the young age. After attaining enlightenment, he bid farewell to Master Bai-Zhang and returned to his home town hoping to help his former teacher (who was too proud to take advice from his student, as he thought disciples would never surpass their teacher) get awakened. One day, his old teacher was reading the sutra by the window. Because it was too cold outside, he sealed the window with paper. This incidentally entrapped a bee inside the room. When Shen-Tsan passed by the abbot's room and notice the bee banging itself against the taped window, trying to find its way out, he composed the following verses: “The gateless gate is there, Why don't you get out, how stupid of you! Even though you poke your nose into The old paper for hundreds of years, When can you expect to set free?”
thần tình
Marvellous—Miraculous.
thần tích
Myth, legend.
; Story of a god.
thần tính
Divinity—Deity.
Thần Tú
(神秀, Jinshū, 605-706): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Huyện Úy Dân (尉民縣), Biện Châu (汴州, phía Nam Khai Phong, Hà Nam), họ Lý (李), thân cao 8 thước, mắt rộng mày dài, có đức tướng uy nghiêm. Theo bia văn của Trương Thuyết (張說), lúc nhỏ ông đã đọc các kinh sử (Nho học), học rộng nghe nhiều. Vào năm thứ 8 (625) niên hiệu Võ Đức (武德), ông xuất gia tại Thiên Cung Tự (天宮寺), Lạc Dương (洛陽). Sau đó, ông đi tìm thầy học đạo, đến Song Phong Tự (雙峰寺) ở Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Kì Châu (蘄州) tham yết Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍), thề nguyện chịu đựng tất cả khổ nhọc chỉ một lòng cầu đạo mà thôi. Lúc đó ông đã 50 tuổi. Nhờ đức nhẫn thụyc ấy, trong chúng ai cũng kính phục và trở thành Thượng Tọa trong chúng môn hạ hơn 700 người của Ngũ Tổ; cho nên ông có tên gọi là Thượng Tọa Thần Tú. Ông cũng có quan hệ thân thiện với Đại Giám Huệ Năng (大鑒慧能). Bài kệ nổi tiếng của ông là “thân thị bồ đề thọ, tâm như minh kính đài, thời thời cần phất thức, mạc sử nhạ trần ai (身是菩提樹、心如明鏡臺、時時勤拂拭、莫使惹塵埃, thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, hằng ngày siêng lau quét, chớ để nhuốm bụi trần)”. Vào tháng 10 năm thứ 2 (675) niên hiệu Thượng Nguyên (上元) đời vua Cao Tông nhà Đường, khi Hoằng Nhẫn viên tịch, ông chuyển đến Đương Dương Sơn (當陽山) ở Giang Lăng (江陵) giáo hóa, chúng đạo tục quy tụ về rất đông, từ đó đạo phong và tiếng tăm của ông càng vang xa. Trong thời gian niên hiệu Cửu Thị (久視, 700), Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) nghe tiếng của ông, cho triệu vào cung nội và cho xây dựng ở Đương Dương Sơn ngôi Độ Môn Tự (度門寺). Đến khi vua Trung Tông lên ngôi, vua lại càng trọng hậu ông và vị quan Trung Thư Lệnh Trương Thuyết (張說) cũng lấy lễ bái ông làm thầy. Vua Duệ Tông (睿宗) thì rất kính mộ ông, cho nên ông được gọi là Tam Đế Quốc Sư (三帝國師), được suy cử làm Pháp Chủ của Trường An và Lạc Dương trong vòng 6 năm. Chính ông đã từng tâu lên Võ Hậu cho triệu thỉnh Huệ Năng, nhưng Huệ Năng cố từ, trả lời rằng ông đã có duyên với Lãnh Nam (嶺南) rồi, nên không đến Đại Dữu Lãnh (大庾嶺) nữa, từ đó trong Thiền môn có câu “Nam Năng Bắc Tú (南能北秀, phía Nam có Huệ Năng, phía Bắc có Thần Tú)”. Ông thị tịch vào tháng 2 năm thứ 2 niên hiệu Thần Long (神龍) tại Thiên Cung Tự ở Lạc Dương (洛陽), hưởng thọ 101 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Thông Thiền Sư (大通禪師), là người được nhận thụy hiệu Thiền sư sớm nhất. Thiền phong của ông chủ yếu là tiệm ngộ, thuyết về ly niệm và xem trọng Ngũ Phương Tiện (五方便), trái ngược với chủ trương đốn ngộ của Huệ Năng bên Nam Tông Thiền. Trong khi Nam Tông Thiền được phổ cập ở Hoa Nam (華南) và Giang Tây (江西), Bắc Tông Thiền của Thần Tú thì hưng thạnh ở Hoa Bắc (華北), hai kinh đô Trường An (長安) và Lạc Dương (洛陽) cũng như địa phương Giang Nam (江南). Môn nhân Đạo Tuyền (道璿) của ông là người đến Nhật Bản sớm nhất, cho nên những Thiền tăng thời kỳ đầu của Nhật Bản đều thuộc hệ thống này. Pháp từ của ông có Tung Sơn Huệ Tịch (嵩山慧寂), Kinh Triệu Nghĩa Phước (京兆義福), v.v. Trước tác của ông có Quán Tâm Luận (觀心論) 1 quyển, Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (大乘無生方便門) 1 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 30 quyển, Diệu Lý Viên Thành Quán (妙理圓成觀) 3 quyển. Kì Vương Phạm (岐王範), Yến Quốc Công Trương Thuyết (燕國公張說) và Trưng Sĩ Lô Hồng (徴士盧鴻) mỗi người soạn một bài bia minh.
; 神秀; C: shénxiù; J: jinshū; ~ 605-706, cũng được gọi là Ngọc Tuyền Thần Tú;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Theo truyền thuyết, Sư thua cuộc trong việc chọn người nối pháp của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng được truyền y bát. Sư vẫn tự xem mình là người nối pháp của Hoằng Nhẫn và sáng lập Bắc tông thiền, một dòng thiền vẫn còn mang đậm sắc thái Ấn Ðộ với bộ kinh Nhập Lăng-già làm căn bản.|Sư thuở nhỏ đã thông minh hơn người. Ban đầu, Sư học Nho giáo nhưng không hài lòng, sau đó (năm 46 tuổi) đến núi Hoàng Mai nhập hội của Hoằng Nhẫn. Nơi đây, Sư là môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ (Sử sách có ghi lại tên của 11 người đệ tử của Hoằng Nhẫn đã giáo hoá danh tiếng). Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, Sư rời Hoàng Mai và đi du phương gần 20 năm. Sau, khi Vũ Hậu là Tắc Thiên mời đến kinh đô, Sư chần chừ rồi nhận lời. Nơi đây, Sư giáo hoá rất nhiều người, danh tiếng lừng lẫy.|Năm Thần Long thứ hai (706), Sư viên tịch. Vua sắc phong là Ðại Thông Thiền sư. Ðến giữa thế kỉ 8, vương triều công nhận Sư là người thừa kế Ngũ tổ, nhưng dòng Thiền của Sư tàn lụi sau vài đời, có lẽ vì liên hệ chính trị nhiều với vương triều.
; (神秀) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Úy thị, Biện châu (phía nam phủ Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Lí. Sư mình cao 8 thước Tàu, lông mày rậm, mắt đẹp, có uy đức vòi vọi, từ nhỏ đã xem kinh sử, học rộng nghe nhiều. Khi đã xuất gia thụ pháp liền tìm thầy học đạo. Sau, sư đến chùa Đông sơn ở núi Song phong thuộc Kì châu, tham yết Ngũ tổ Hoằng nhẫn, thệ nguyện kham khổ, bổ củi, gánh nước để cầu đạo. Ngũ tổ rất kính trọng sư, cho làm Giáo thụ sư, vì ở vào địa vị cao nhất trong số môn nhân của Ngũ tổ cho nên sư được gọi là Thần tú Thượng tọa. Sư rất gần gũi với ngài Đại giám Tuệ năng, có khải phát lẫn nhau. Bài kệ sau đây là bài kệ nổi tiếng của sư: Thân thị Bồ đề thụ, Tâm như minh kính đài; Thời thời cần phất thức, Mạc sử nhạ trần ai. (Thân như cây Bồ đề, Tâm là đài gương sáng; Thường siêng năng lau chùi, Chớ để dính bụi bặm.) Tháng 10 năm Thượng nguyên thứ 2 (675) đời Đường, Tổ Hoằng nhẫn thị tịch, sư dời đến núi Đương dương tại Giang lăng hoằng pháp, đức hạnh của sư cao cả, tiếng tăm vang dội, chúng tăng theo về rất đông. Vũ hậu Tắc thiên nghe danh sư liền triệu sư vào Nội đạo tràng, đặc biệt kính trọng, ban sắc xây chùa Độ môn ở núi Đương dương để biểu dương đức hạnh của sư. Khi vua Trung tông lên ngôi cũng rất kính trọng sư, quan Trung thư lệnh là Trương thuyết giữ lễ đệ tử. Sư từng tâu lên Vũ hậu triệu thỉnh ngài Tuệ năng và tự viết thư mời, nhưng ngài Tuệ năng từ chối, đáp rằng mình có duyên với Lĩnh nam nên không vượt qua dãy núi Đại dữu, do đây mà trong Thiền môn có từ ngữ Nam Năng Bắc Tú. Tháng 2 năm Thần long thứ 2 (706), sư thị tịch ở chùa Thiên cung tại Lạc dương, thọ 102 tuổi, vua ban thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư, là thụy hiệu đầu tiên trong Thiền môn. Dòng pháp của sư hưng thịnh ở vùng Trường an, Lạc dương. Sư nêu cao Thiền chỉ, chủ trương thuyết Tiệm ngộ, ngài Tuệ năng thuộc thiền Nam tông thì chủ trương Đốn ngộ, vì thế trong lịch sử Thiền tông có danh xưng Nam Đốn Bắc Tiệm. Đệ tử sư là ngài Đạo tuyền là người đầu tiên đến Nhật bản, cho nên những người tu thiền ở thời kì đầu tại Nhật bản phần nhiều thuộc hệ thống của sư. Đệ tử nối pháp có các vị: Phổ tịch ở Tung sơn, Nghĩa phúc ở Kinh triệu... Môn đình hưng thịnh 1 thời, người đời gọi sư là Tổ của thiền Bắc tông. Nhưng dòng pháp của sư chỉ được vài đời thì suy vi. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.2].
thần tú
4248(605~706)唐代禪僧。汴州尉氏(河南開封之南)人,俗姓李。身長八尺,尨眉秀目,有巍巍威德,少覽經史,博學多聞。既剃染受法,尋師訪道。後至蘄州雙峰東山寺,參謁五祖弘忍,誓苦節,樵汲自役,以求其道。忍亦深器重之,令為教授師,因居五祖門中第一位,有神秀上座之名。又與大鑒慧能相親,互有啟發。「身是菩提樹,心如明鏡臺;時時勤拂拭,莫使惹塵埃。」是其名偈。 唐高宗上元二年(675)十月,弘忍示寂,師遷江陵當陽山傳法,緇徒靡然歸其德風,道譽大揚。則天武后聞之,召入內道場,特加敬重,敕於當陽山建度門寺,以表旌其德。中宗即位亦厚重之,中書令張說執弟子之禮。師嘗奏武后召請慧能,亦自裁書招之,慧能固辭,答己與嶺南有緣,遂不踰大庾嶺,禪門乃有「南能北秀」之稱。神龍二年二月示寂於洛陽天宮寺,世壽一○二。敕號「大通禪師」,為禪門諡號最早者。其法流興盛於長安、洛陽一帶。闡揚禪旨,力主漸悟之說,南宗禪慧能則主頓悟,故禪史上有「南頓北漸」之稱。其門人道璿最早至日本,故日本初期之修禪者大多屬其系統。法嗣有嵩山普寂、京兆義福等。門庭隆盛一時,世稱北宗禪之祖。然其法流僅數代即衰微。〔宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷四、五燈會元卷二〕
; Chang Shuo (C), JinshŪ (J), Shenxiu (C), Shen-Hsiu (C) (?-706) Đệ tử của Hoằng Nhẫn, khai sáng dòng thiền Bắc phương Trung quốc.
; Shin Shau (C). Name.
; Shen-Hsiu (606-706)—Một trong những đệ tử nổi tiếng cũa Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, vị kia là Lục Tổ Huệ Năng. Sau khi ngũ tổ thị tịch, hai trường phái được hai vị thành lập, dòng thiền phương bắc và dòng thiền phương nam. Thần Tú đã truyền bá thiền về phương bắc và được biết đến như Tiệm Giáo; dù được Hoàng Triều nức lòng bảo trợ vẫn không tồn tại được bao lâu, chẳng bao lâu sau thì dòng thiền phương bắc tàn rụi, và được thay thế bởi dòng thiền của Lục tổ Huệ Năng được biết với tên dòng Thiền Trung Hoa. Chính dòng thiền của Lục Tổ Huệ Năng đã nẩy sanh ra các dòng Lâm Tế, Thiên Thai, vân vân—One of the most famous disciples of the Fifth Patriarch Hung-Jen, the other being Hui-Neng. After Hung-Jen passed away, the rival schools founded by the two men, the North and the South. Shen-Hsiu spread Zen Buddhism in northern China. His lineage called the Northern School and became known as the Gradual Teaching; although patronized by the reigning Emperor, did not last very long, soon later it died out and was replaced by the Hui-Neng School which became known as the Chinese Ch'an School, or Suden School of Hui Neng, which sprang the present Lin-Chi, Soto, and T'ien-T'ai schools of Zen—Shen-Hsiu is the author of this Poem: **Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài Thời thời thường phất thức, Vật xử nhạ trần ai. (Thân là cây Bồ Đề, Tâm như đài gương sáng Luôn luôn siêng lau chùi Chớ để dính bụi bặm). **The body is like the bodhi tree, The mind is like a mirror bright, Take heed to keep it always clean, And let no dust accumulate on it.
thần túc
chỉ Tứ thần túc, cũng gọi là Tứ như ý túc (四如意足; Phạn ngữ: catvra ṛddhipdḥ), bao gồm: 1. Dục (Phạn ngữ: chanda) thần túc, sự tập trung ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tấn (Phạn ngữ: vỵrya) thần túc, nghị lực mạnh mẽ; 3. Tâm (Phạn ngữ: citta) thần túc, sự chú tâm; 4. Trạch pháp (Phạn ngữ: mỵmṃs) thần túc, chú tâm vào sự tra xét, tìm tòi.
; Xem Như ý túc.
; Rddhipada (skt)—Magic powers.
thần túc biến hóa thị hiện
Xem Như ý túc thị hiện.
thần túc nguyệt
Thần Biến Nguyệt—Thần Thông Nguyệt—Tam trường trai nguyệt trong tháng giêng, tháng năm, và tháng chín, vì trong những tháng nầy chư Thiên đi khắp thế giới để kiểm soát—The first, fifth, and ninth months, when the devas go on circuit throughout the earth.
thần túc thông
4248又作如意足通、神境智通、神境智證通。五通之一,六神通之一。即得如意自在之神通力。大毘婆沙論卷一四一載有三種神用:(一)運身神用,舉身凌虛,猶如飛鳥,亦如壁上所畫飛仙。(二)勝解神用,於遠作近解,依此力故,或住此洲手捫日月,或屈伸臂頃至色究竟天。(三)意勢神用,眼識至「色頂」,或上至「色究竟天」,或超越無邊之世界。另如大智度論卷五所述,有三種如意:(一)能到,復分:(1)身能飛行,如鳥之無礙。(2)移遠令近,不往而到。(3)此沒彼出。(4)一念能至。(二)轉變,即大能作小,以小作大;以一變多,以多變一,種種諸物皆能轉變。外道之轉變至極不過七日,諸佛及弟子之轉變久近自在。(三)聖如意,即能觀六塵之不可愛不淨之物為淨,觀可愛清淨之物為不淨。此聖如意之法唯佛獨有。其他經論有關如意之論頗多,然皆大同小異。〔長阿含卷九增一經、俱舍論卷二十七、瑜伽師地論卷三十七、成實論卷十六「六通智品」〕(參閱「十八變」360、「神通」4251)
; Iddhividhā (P), Ṛddhi-sākśākṛya (S) Phép đi khắp nơi và biến hoá. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông.
; Rddhipàda; rddhi-sàksàtkriyà (S). Supernatural power to appear at will in any place, to fly or go without hindrance, to have absolute freedom. Also thần cảnh trí thông, như ý thông. Thần túc nguyệt, the first, fifth, and ninth months, when the devas go on circuit throughout the earth.
; Rddhipada or Rddhi-Saksatkriya (skt)—Thần Cảnh Trí Thông—Như Ý Thông—Thần thông xuất hiện bất cứ đâu, bay hay đi theo ý mình không ngăn ngại—Deva-foot ubiquity—Supernatural power to appear at will in any place, to fly or go without hindrances, to have absolute freedom. ** For more information, please see Thần Thông.
; (神足通) Cũng gọi Như ý túc thông, Thần cảnh trí thông, Thần cảnh trí chứng thông. Năng lực thần thông được tự tại như ý, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Theo luận Đại tì bà sa quyển 141 thì có 3 thứ thần dụng: 1. Vận thân thần dụng: Thân lướt trong hư không giống như chim bay, cũng hệt như vị tiên bay vẽ trên vách. 2. Thắng giải thần dụng: Ở xa mà thấy như gần, nhờ vào năng lực này, trụ ở châu Diêm phù đề mà tay với tới mặt trời mặt trăng, hoặc trong khoảng thời gian co duỗi cánh tay mà tới được tầng trời Sắc cứu cánh. 3. Ý thế thần dụng: Thức mắt đến đỉnh cõi Sắc, hoặc lên đến tầng trời Sắc cứu cánh, hoặc vượt qua vô biên thế giới. Còn theo luận Đại trí độ quyển 5 thì có 3 thứ Như ý: 1. Năng đáo, lại chia làm 4 loại: a. Thân có thể bay đi như chim, không bị chướng ngại. b. Dời xa lại gần, không đi mà đến. c. Biến mất ở nơi này, xuất hiện ở nơi kia.d. Chỉ trong một ý nghĩ đã đến nơi. 2. Chuyển biến: Lớn biến thành nhỏ, nhỏ biến thành lớn; một biến ra nhiều, nhiều biến thành một, tất cả các vật đều có thể chuyển biến được. Sự chuyển biến của ngoại đạo cùng lắm không quá 7 ngày, còn sự chuyển biến của Phật và các đệ tử thì lâu mau, xa gần đều tự tại. 3. Thánh như ý: Tức năng lực quán tưởng vật bất tịnh không đáng ưa thuộc 6 trần là tịnh, quán tưởng vật thanh tịnh đáng ưa là bất tịnh. Pháp Thánh như ý này chỉ Phật mới có. Các kinh luận khác có rất nhiều chỗ bàn về Như ý, nhưng đại khái thì đều giống nhau, chỉ khác nhau về chi tiết.[X. kinh Tăng nhất trong Trường a hàm Q. 9; luận Câu xá Q.27; luận Du già sư địa Q.37; phẩm Lục thông trí trong luận Thành thực Q.16]. (xt. Thập Bát Biến, Thần Thông).
Thần túc thông 神足通
[ja] ジンソクツウ jinsokutsū ||| The supernatural power of unimpeded bodily function, which includes such abilities as flying, making oneself invisible, etc (ṛddhi-prātihārya). One of the six supernatural powers. See 六神通. => Năng lực thần thông hoặc tác dụng vô ngại của các hành vi thuộc về thân, gồm những việc như bay được và tàng hình.v.v...(ṛddhi-prātihārya). Là một trong sáu thần thông (Lục thần thông 六神通).
thần túc trí thông nguyện
4248為彌陀四十八願中之第九願。聖眾或可以天眼徹見淨土,或以天耳遠聽其土之音聲,然若欲身至,則不得如意,或山川遙隔,或海陸途絕,僅能瞻望。彌陀遂發此誓,願一切往生淨土者皆得神足通,可於一食之頃直詣十方無量世界。
; (神足智通願) Nguyện được thần thông bay đi không gì làm chướng ngại, là nguyện thứ 9 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Hàng Thánh chúng có thể dùng Thiên nhãn trông thấy suốt các cõi Tịnh độ trong 10 phương, hoặc dùng Thiên nhĩ nghe được những âm thanh ở các Tịnh độ xa xăm ấy, nhưng nếu thân muốn đến tận nơi thì không được như ý. Vì sao? Vì núi sông ngăn cách, hoặc đường biển đường bộ đều dứt, chỉ có thể trông thấy từ xa. Cho nên đức Phật A di đà mới phát nguyện này, nguyện cho tất cả chúng sinh vãng sinh Tịnh độ đều được Thần túc thông để chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn thẳng đến vô lượng thế giới trong 10 phương.
Thần Tăng
(神僧): những cao tăng có hành trạng thần bí, kỳ đặc, không thể luận bàn, không thể tư duy được. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) có thâu lục bộ Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064), 9 quyển với 208 vị Thần Tăng, bắt đầu từ nhân vật đầu tiên là Ma Đằng (摩騰) cho đến người cuối cùng là Đảm Ba (膽巴).
thần tăng truyện
4259凡九卷。明成祖撰。現收於大正藏第五十冊。集錄以神異知名之名僧傳記。有關神異萬變而超乎其類之異僧,歷來雖皆有傳,然散見各經,若欲觀之,則三藏之文宏博浩瀚,難以周徧,是以世多不盡知,故著者繙閱各傳,集彙而成本書。全傳收錄竺摩騰、竺法蘭、道安等,總計二○八人。
; (神僧傳) Truyện kí, 9 quyển, do vua Thành tổ soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này thu chép truyện kí của các bậc danh tăng do thần dị mà nổi tiếng. Tuy các bậc dị tăng có thần dị vạn biến vượt trội các vị tăng bình thường, xưa nay đều có truyện kí, nhưng lại nằm rải rác trong các kinh, nếu muốn xem thì lời văn trong Tam tạng quá đồ sộ, bao la, khó xem hết được, cho nên người đời phần nhiều không biết hết. Do đó, soạn giả xem kĩ các truyện, tập hợp thành sách này. Toàn truyện thu chép 208 vị như các ngài Ma đằng, Trúc pháp lan, Đạo an...
thần tấu
4254(744~817)唐代僧。藍田(陝西)人,俗姓成。大曆年中(766~779),應選得度,配住九江興果精舍。後入廬山東林寺,登壇傳法,歷三十年。師居常戒律精深,長於詩文,每與白居易詩文往還,頗能相知。元和十二年示寂,世壽七十四。白居易為撰塔銘。〔宋高僧傳卷十六〕
thần tịch tham khấu
4613即朝夕扣師門,以祈請教誨。碧巖錄第九十六則(大四八‧二一九上):「近聞達磨大師住少林,乃往彼晨夕參扣,達磨端坐面壁,莫聞誨勵。」
; (晨夕參扣) Sớm, tối gõ cửa thầy, cầu xin dạy bảo. Bích nham lục tắc 96 (Đại 48, 219 thượng) ghi: Gần đây, nghe tin Đại sư Đạt ma trụ ở chùa Thiếu lâm, liền đến chỗ ngài sớm, tối gõ cửa cầu xin chỉ dạy (Thần tịch tham khấu), nhưng ngài chỉ ngồi thẳng quay mặt vào vách, không dạy bảo lời nào.
thần tọa
Deva or spirit thrones.
; Chỗ ngồi của chư Thiên—Deva or spirit throne.
thần tốc
Lightning speed.
Thần Tử Vinh Tôn
(神子榮尊, Shinshi Esion, 1195-1272): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Thần Tử (神子), có thuyết cho rằng ông có húy là Khẩu Quang (口光), tự là Vinh Tôn (榮尊), họ là Bình (平). Ông xuất thân ở vùng Trúc Hậu (筑後, Chikugo, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), con của Bình Liêm Lại (平廉賴). Năm lên 7 tuổi, ông theo hầu đệ tử của Vinh Tây là Nguyên Lâm (元淋, tức Nghiêm Lâm [嚴林]), rồi xuống tóc xuất gia và học giáo quán của Mật Giáo, sau đó ông đến hầu hạ người đệ tử nối dòng của Vinh Tây là Vinh Triêu (榮朝, Eichō) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬顯]). Vào năm đầu (1225) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), ông cùng với Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ (聖一國師圓爾) lên thuyền sang nhà Tống cầu pháp, đến tham vấn chư lão túc ở khắp nơi, rồi làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山) mà tham cứu Thiền chỉ, và ba năm sau thì ông trở về nước. Vào năm đầu (1240) niên hiệu Nhân Trị, ông sáng lập ra Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji) và hoằng dương Thiền phong của mình. Chính tự bản thân ông đã từng đi du hóa khắp các nơi, rồi khai sáng ra các chùa như Triêu Nhật Tự (朝日寺), Báo Ân Tự (報恩寺), Diệu Lạc Tự (妙樂寺), v.v. Đến cuối đời thì ông lên Kinh Đô Kyoto và quy y cho Nhị Điều Tướng Quốc (二條相國). Đến ngày 28 tháng 12 năm thứ 9 niên hiệu Văn Vĩnh (文永) thì ông viên tịch, hưởng thọ 78 tuổi.
thần văn biểu bạch
4245密教修法之儀式。即於修法之先,誦神分以求諸天善神之保護,次對住持之三寶讀表白文。其文表白六事:(一)讚修善之體。(二)歎施主之意。(三)願成菩提。(四)願成就聽眾之願。(五)言以所修之善根,迴向法界有情。(六)請增諸天威光。
; (神文表白) Nghi thức tu pháp của Mật giáo. Tức trước khi tu pháp, tụng thần phân để cầu chư thiên thiện thần bảo hộ. Kế đến đối trước Trụ trì Tam bảo đọc văn biểu bạch. Nội dung văn biểu bạch gồm 6 việc: 1. Tán thán thể tính của việc tu thiện. 2. Khen ngợi thiện ý của thí chủ. 3. Nguyện thành tựu bồ đề. 4. Nguyện thành tựu nguyện vọng của thính chúng. 5. Hồi hướng căn lành tu được cho hữu tình trong pháp giới. 6. Cầu xin chư thiên tăng thêm uy quang.
thần văn biểu bạch nguyện văn
4245於表白之後所讀之隨願文。此願文乃隨施主之意願所造,故稱隨願文。
; (神文表白願文) Văn tùy nguyện được đọc sau khi biểu bạch. Văn nguyện này được soạn theo ý của thí chủ, cho nên gọi là Tùy nguyện văn.
thần vương hình
4245佛教塑像之一。為威嚴的護法神之形像。通常著有甲冑。與忿怒形之動態形像相對,而呈靜態形像。此類神王形可參見毘沙門天等四天王與帝釋天圖像。
; (神王形) Hình tượng uy nghiêm của thần Hộ pháp, 1 trong các loại tượng đắp của Phật giáo. Thông thường, hình tượng này có đội mũ sắt, mặc áo giáp. Đối lại với hình tượng sống động có dáng vẻ phẫn nộ thì Thần vương hình lại có dáng vẻ điềm tĩnh. Loại Thần vương hình này có thể thấy trong tranh vẽ Tứ thiên vương như Tì sa môn thiên và Đế thích thiên.
thần vật đồng thể luận
Spinozism Vạn vật giai thần luận.
thần vực
Cảnh giới chứng ngộ chân thật, không thể nghĩ bàn—The realm of spirit, of reality, surpassing thought, supra-natural.
Thần Xã
(神社, Jinja): cơ quan tế tự được thiết lập trên cơ sở tín ngưỡng của Thần Đạo; thường làm bằng gỗ. Cơ sở này khác với lễ bái đường, nơi thuyết pháp, truyền đạo của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và các tự viện Phật Giáo. Về nguồn gốc, Thần Xã vốn là tế đàn gọi là Thần Li (神籬, Himorogi), được thiết lập tạm thời vào những lúc tế cúng, tiến hành ở các vùng đất cấm địa (tục gọi là Thần Thể Sơn [神体山])—Bàn Tọa (磐座, Iwakura), nơi trú ngụ của chư vị Thần. Nguyên lai, Thần Xã cũng giống như Ngự Nhạc (御嶽, Utaki) ở Xung Thằng (沖繩, Okinawa). Đối với các đền thờ Thần Xã kế tục từ thời Cổ Đại đến nay, vẫn có Thần Xã không có điện thờ chính. Đó là các đền thờ kiến lập Bái Điện (拜殿) ngay trước nơi Bàn Tọa, vùng đất cấm túc, núi rừng hay hoang đảo; tỷ dụ như trường hợp Đại Thần Thần Xã (大神神社), Thạch Thượng Thần Cung (石上神宮), Tông Tượng Đại Xã (宗像大社), v.v.; hay nơi hoàn toàn không có điện thờ như Phi Lang Thần Xã (飛瀧神社). Tín ngưỡng cho rằng Thần thường ngự nơi điện thờ vốn hình thành từ khi kiến thiết Xã Điện (社殿, điện thờ của Thần Xã). Trong quá trình kiến thiết, cũng có ảnh hưởng của các tự viện Phật Giáo. Những ngôi đền thờ Thần Xã cổ xưa thì do một nhân duyên nào đó, người ta thiết lập nên Xã Điện ở nơi gần với ngự thần thể; tỷ dụ như Việt Mộc Nham Thần Xã (越木岩神社). Mặt khác, trường hợp khi cần phải có ngôi đền thờ Thần Xã mới, khi thôn làng hình thành, người ta tạo dựng ngôi đền ở nơi thích hợp để tôn thờ các Phân Linh (分靈), Thị Thần (氏神). Cho nên, cũng có nhiều phương pháp chọn lựa vị trí để tôn tạo Thần Xã. Tỷ dụ, theo nhân duyên mà chọn lựa, như trường hợp nơi phát xuất đầu tiên của một dòng tộc, như Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu), nơi đầu nguồn của dòng họ Quản (菅); hay chọn nơi thanh tịnh (kỵ ô uế), như vùng đất xây dựng Minh Trị Thần Cung (明治神宮); hoặc chọn nơi tham bái dễ dàng, thuận tiện, như trường hợp Nhị Hoang Sơn Thần Xã (二荒山神社) vốn tọa lạc trên đỉnh núi, nhưng lại có Xã Điện ở nơi khác để tiện tham bái hơn. Tùy theo từng vị trí, Xã Điện có thể ở trên biển, đỉnh núi, hay thậm chí vào thời hiện đại này, ngay trên nóc tòa nhà cao tầng vẫn có. Với nghĩa rộng, tại tư gia vẫn có thiết Thần Bằng (神棚), hình thức đền thờ thu nhỏ. Về kiến trúc, hầu hết các đền thờ Thần Xã đều có quần thể kiến trúc chung nhất, gồm: Điểu Cư (鳥居, Torii, cổng chính màu đỏ dẫn vào đền thờ), Tham Đạo (參道, Sandau, Sandō), Đăng Lung (燈籠, Tōrō, đèn lồng bằng đá), Bạch Khuyển (狛犬, Komainu), Thủ Thủy Xá (手水舍, Teuzuya, nơi rửa tay trước khi vào tham bái), Bái Điện (拜殿, Haiden, thường an trí trước điện thờ chính), Tệ Điện (幣殿, Heiden, nơi có đặt thùng đựng tiền cúng dường công đức, gọi là Tái Tiền Sương [賽錢箱], có trường hợp được nhất thể hóa với Bái Điện và Bổn Điện), Bổn Điện (本殿, điện thờ chính, nơi Thần trấn tọa), Thần Lạc Điện (神樂殿, Kaguraden), Vũ Điện (舞殿, Mahidono, Midono), Hội Mã Điện (繪馬殿, Emaden), Sự Vụ Sở (事務所, Jimusho, văn phòng làm việc điều hành), Nạp Trát Sở (納札所, Nōsatsusho, nơi thâu nạp các thẻ bài cầu nguyện hay thẻ bùa cũ), v.v.
thần y dược
Xem A tu vân.
thần yến
4250唐末五代僧。生卒年不詳。大梁人,俗姓李。幼惡葷羶,樂聞梵鐘之音。十二歲染疾甚篤,夢神人賜藥而頓癒。次年,復夢梵僧告之曰(大五一‧三五一上):「出家時至矣!」遂從衛州(河南)白鹿山道規禪師出家,歷參諸禪德。及參雪峰義存,機緣相契,釋然了悟,得其心印。雪峰歸寂後,閩帥王延彬常往詢法要,並於府城左二十里處,造鼓山湧泉禪院,請師入住,舉揚宗旨,歷三十餘年。天福年間(936~944)示寂,世壽七十七。諡號「興聖國師」。有鼓山先興聖國師和尚法堂玄要廣集一卷行世。〔祖堂集卷十、景德傳燈錄卷十八、五燈會元卷七〕
thần ám
The darkened mind without faith.
; Tâm hôn ám không có niềm tin—The darkened mind without faith.
thần án
(thần án) Cao tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Đường, đầu đời Ngũ đại, người ở Đại lương, họ Lí. Thủa nhỏ, sư đã không ưa mùi thịt cá tanh hôi, thích nghe tiếng chuông chùa. Năm 12 tuổi, sư nhuốm bệnh rất nặng, nằm mộng thấy thần nhân cho thuốc uống liền hết bệnh. Năm sau, sư lại mộng thấy vị Phạm tăng bảo rằng (Đại 51, 351 thượng): Đã đến lúc xuất gia!, sư bèn lễ Thiền sư Đạo qui ở núi Bạch lộc thuộc Vệ châu (Hà nam) xin xuất gia và tham học các vị Thiền đức. Đến khi sư tham yết ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì cơ duyên khế hợp, hoátnhiên đại ngộ, được truyền tâm ấn. Sau khi ngài Tuyết phong thị tịch, Vương diên bân ở đất Mân thường đến thưa hỏi sư về pháp yếu, đồng thời xây dựng Thiền viện Dũng tuyền ở núi Cổ sơn cách Phủ thành 20 dặm, thỉnh sư về an trụ. Tại đây, sư mở mang tông chỉ suốt hơn 30 năm. Khoảng năm Thiên phúc (936-944), sư thị tịch, thụy hiệu Hưng Thánh Quốc Sư. Sư để lại các tác phẩm: Cổ sơn tiên Hưng thánh quốc sư hòa thượng pháp đường huyền yếu quảng tập 1 quyển. [X. Tổ đường tập Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].
thần điểu
Garuda (S). Mystical bird. Also kim xí điểu, ca lâu la.
Thần đạo
神道; J: shintō;|Tôn giáo truyền thống của Nhật Bản bắt đầu từ Công nguyên. Trong thế kỉ thứ 5, 6, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Trung Quốc. Từ Phật giáo, Thần đạo thu nhận thêm một số tư tưởng triết học và giới luật. Năm 1868, Thần đạo trở thành quốc giáo, nhà vua được xem là có thiên mệnh. Năm 1945, Thần đạo mất tính chất quốc giáo và kể từ năm 1946, nhà vua không còn tự cho mình có tính thần quyền.|Thần đạo thời nguyên thuỷ tin tưởng đa thần: mỗi con sông, ngọn núi, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều do một vị thần (kami) trấn giữ. Các vị thần quan trọng nhất là cha trời mẹ đất, là hai vị đã tạo nên hải đảo Nhật Bản và các vị thần khác. Thần Amaterasu Omikami được xem là vị đại thần quan trọng nhất do cha trời mẹ đất sinh ra, vị này thống lĩnh mặt trời, cho con cháu xuống đất thống lĩnh từng hòn đảo của Nhật và dựng nên vương quốc vĩnh viễn tại đó. Ðó là huyền thoại xây dựng nước Nhật và hoàng gia, trở thành quan niệm của Thần đạo. Ðến năm 1868, Thần đạo vẫn đóng một vai trò phụ thuộc bên cạnh Phật giáo. Hơn thế nữa, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Thiên Thai tông (j: tendai), Chân ngôn tông (j: shingon) và các vị thần Thần đạo được xem là hoá thân của chư Phật và Bồ Tát. Từ thế kỉ 16 đến giữa thế kỉ 19, dưới thời Ðức Xuyên (tokugawa), Thần đạo bắt đầu kết hợp với Khổng giáo, một lí do là vì Khổng giáo tôn sùng quyền lực của triều đình. Cũng trong thời gian đó, Thần đạo bị chia thành nhiều bộ phái khác nhau, dựa trên niềm tin mỗi nơi mỗi khác. Người ta tìm thấy 13 khuynh hướng khác nhau với nhiều khía cạnh khác nhau về phong tục, trong đó có cả nhóm chuyên thờ thần núi và thực hành phép chữa bệnh đồng cốt.
thần đạo
4259<一>謂神妙之道,即佛道。 <二>總稱六道中天道、阿修羅道、鬼道三者。 <三>神為神靈;即有情之精靈。其神靈之道稱為神道。三論玄義(大四五‧一下):「夫神道幽玄,惑人多昧,義經丘而未曉,理涉旦而猶昏,唯有佛宗乃盡其致。」 <四>指日本固有之宗教。此一宗教特別注重敬神、祭祀,為一典型之神社宗教。
; Shintō (J), Shintoism Way of the Gods Shinto (J) Thần giáo Thần đạo là một tôn giáo thờ cúng các thần linh tự nhiên, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Khổng giáo. Từ năm 1868 đế`n 1945, Thần đạo được công nhận là quốc giáo và hoàng đế được xem như thần thánh.
; The spirit world of devas, asuras and pretas. The doctrines concerning the soul. Shintò (J), the Way of the Gods, a Japanese national religion.
; 1) Tên gọi chung ba đạo: Thiên Đạo, A Tu La Đạo, và Quỷ Đạo—The spirit world of devas, asuras and pretas. 2) Tâm Lý Học coi “Thần Đạo” như là linh hồn hay thần thức của chúng hữu tình: Psychology, or doctrine concerning the soul. 3) Thần Đạo hay quốc đạo của Nhật Bản: Shintoism, the way of the Gods, a Japanese national religion. 4) Đạo Thần Diệu hay Đạo Phật: The Teaching of Buddha.
; (神道) I. Thần Đạo. Đạo thần kì, mầu nhiệm tức Phật đạo. II. Thần Đạo. Gọi chung Thiên đạo, A tu la đạo và quỉ đạo trong Lục đạo. III. Thần Đạo. Thần là thần linh, tức là tinh linh của loài hữu tình. Đạo của thần linh ấy gọi là Thần đạo. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 1 hạ) nói: Thần đạo sâu kín, người mê hoặc nhiều tối tăm; đối với nghĩa kinh cao siêu chưa hiểu, lí dù có hợp nhưng vẫn còn mờ tối, chỉ có Phật tông mới đạt đến chỗ cùng tột.IV. Thần Đạo. Chỉ cho tông giáo có sẵn ở Nhật bản. Tông giáo này đặc biệt chú trọng việc kính thần, cúng tế, là 1 tông giáo thần xã điển hình.
Thần Đỉnh Hồng Nhân
(神鼎洪[鴻]諲, Shintei Kōin, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, xuất thân Tương Thủy (襄水, Tỉnh Hồ Bắc), họ là Ung (扈). Sau khi xuất gia, ông đến tham học với Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Thần Đỉnh Sơn (神鼎山) ở Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam). Ông có để lại tác phẩm Thần Đỉnh Sơn Đệ Nhất Đại Nhân Thiền Sư Ngữ Lục (神鼎山第一代諲禪師語錄) 1 quyển.
thần đồng tự
4255屬日本真言宗智山派寺院,位於京都相樂郡。相傳為聖德太子所創。日本修驗道之祖役小角曾於此感得金剛藏王像,改稱寺名為「神童教護國寺」,奈良之名僧亦多於此修行。興福寺之願安再興後,成為法相、真言兼學之道場。本堂建於應永十三年(1406),為室町時代之建築。境內為櫻花著名產地,景緻極佳。
Thần 神
[ja] ジン shin ||| (1) Spirit, god. Spiritual, godly. (2) Supernatural; supernatural function. (3) Soul, ghost, spirit. (4) Living, alive. (5) Heart, essence, core. => 1. Tinh thần, tâm hồn, thần, thượng đế. (Thuộc) tinh thần, linh hồn tâm hồn. 2. Siêu nhiên, dị thường; chức năng, tác dungj siêu nhiên. 3. Linh hồn, ma, linh hồn, thần linh. 4. Sinh động, đang tồn tại, còn sống. 5. Điểm chủ yếu, cốt lõi, tinh chất.
thầy
Acaryā (S), Śastā (S), Guru (S), Ajarn (Thai), Ajahn (Thai), Acariya (P), lo pon (T), sensei (J), Master A xà lê Bậc thầy có đủ giới hạnh hạnh, đạo đức và nghi thức để truyền dạy đạo lý.
thẩm duyệt
To examine carefully.
Thẩm Hy 審希
[ja] シンキ Shinki ||| Simhŭi (fl. 9c); major figure in the establishment of the early Silla Sŏn movement. Along with his teacher Wŏngam Hyŏn'uk 圓鑑玄昱, established the Pongnim san 鳳林山 school. => k: Simhŭi Gương mặt kiệt xuất trong cuộc vận động thành lập Thiền tông của Tân La (k: Silla Sŏn ) trước đây. Sư cùng với thầy mình là Viên Giám Huyền Dục 圓鑑玄昱sáng lập Phụng Lâm sơn (k: Pongnim san 鳳林山).
thẩm kiến
Sự hiểu biết sâu xa—Profound insight.
thẩm quyền
Power.
thẩm thấu
Absorption.
Thẩm Tường
(審祥, Shinjō, ?-?): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương. Ông sang nhà Đường cầu pháp, theo học Hoa Nghiêm Tông với Pháp Tạng (法藏), đến trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bình (天平, 729-749) thì trở về nước và trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 740, thể theo lời cung thỉnh của Lương Biện (良辨, Rōben) ở Kim Chung Tự (金鐘寺, Konshō-ji), ông làm Giảng Sư đầu tiên giảng về Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) và tạo cơ sở tư tưởng để đúc tượng Đại Phật Lô Xá Na (盧舍那) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Ông có khá nhiều kinh luận, tàng thư của ông được gọi là Thẩm Tường Sư Kinh (審祥師經) và thỉnh thoảng có người đến thỉnh kinh. Trước tác của ông có Hoa Nghiêm Khởi Tín Quán Hành Pháp Môn (華嚴起信觀行法門) 1 quyển.
; 審祥; C: shěnxiáng; J: shinshō; tk. 8;|Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Hoa nghiêm, đã đem giáo lí của tông này truyền sang Nhật và được ở đây xem là Sơ tổ (Hoa nghiêm tông).
thẩm tường
5978(?~742)日本華嚴宗初祖。唐代新羅國人。早年出家,曾來中國從賢首法藏大師學華嚴。日本天平(729~749)年中赴日本,住於大安寺。其時金鐘寺之良辨,欲興華嚴宗,偶於夢中感知元興寺之嚴智精通華嚴經,即往請弘講華嚴。嚴智則推薦師,並謂新羅國審祥大德即賢首大師之高足,包蘊宗乘,心亦契之,可往請敷講華嚴。良辨乃赴大安寺,惟三請不起,遂上奏勅請師。 天平十二年十月八日聖武天皇寶算四十誕辰,師於寧樂金鐘道場(今東大寺法華堂)宣講六十卷華嚴經,當時空中現紫雲被覆春日山,天皇即賜采帛一千餘匹,皇后以下諸卿等亦各供檀䞋。師依華嚴經探玄記解說六十卷經達三年之久,天平十四年示寂,世壽不詳。著有華嚴起信觀行法門一卷。〔三國佛法傳通緣起卷二、花嚴宗經論章疏目錄〕
thẩm vấn
To interrogate—To examine—To inquire.
thẩm định
To judge.
thẩn khí lâu
See Quỷ Thành.
thẩn thơ
To stroll.
thẩn thờ
To look haggard.
thậm
1) Sâu: Deep—Profound—Abstruse. 2) Cực xa: Extreme—Very.
thậm hi hữu kinh
3889全一卷。唐代玄奘譯。收於大正藏第十六冊。本經係佛於鷲峰山,應阿難之問而說。內容敘述建造佛塔供養佛之舍利子,其功德遠較供養四方僧殊勝。又本經與梁代真諦所譯無上依經之校量功德品及囑累品,係同本異譯。(參閱「無上依經」5072)
; (甚希有經) Kinh, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Kinh này đức Phật theo lời thưa hỏi của tôn giả A nan mà giảng nói khi Ngài ở trên núi Linh thứu. Nội dung kinh này nói về việc xây tháp cúng dường xá lợi của Phật thì công đức ấy thù thắng hơn nhiều so với công đức cúng dường chúng tăng 4 phương. Bản dịch khác của kinh này là phẩm Giáo lượng công đức và phẩm Chúc lụy trong kinh Vô thượng y do ngài Chân đế dịch vào đời Lương. (xt. Kinh Vô Thượng Y).
Thậm hy hữu kinh 甚希有經
[ja] シンケウキョウ Shin keu kyō ||| The Shen xiyou jing; *Adbhūta-dharma-paryāya sūtra (Sutra on Most Rarified Existence). Translated by Xuanzang 玄奘 in 649 at Cuìwēi Palace 翠微宮, Mt. Zhongnan 終南山. One fascicle, T 689.16.782-783. => (c: Shen xiyou jing; s: *Adbhūta-dharma-paryāya sūtra; e: Sutra on Most Rarified Existence). Huyền Trang dịch năm 649 tại cung Thuý Vi , núi Chung Nam. 1 quyển.
thậm khả bố úy bồ tát
Xem Kim cang Nha Bồ tát.
thậm ma xá na
Smasana (skt)—See Thi Đà Lâm.
thậm thâm
Sự thậm thâm của Phật pháp—Profundity of Buddha-truth.
Thậm thâm giáo 甚深教
[ja] シンシンキョウ jinjinkyō ||| Extremely profound teaching; esoteric teaching. In Wŏnhyo's Ijang ui, this term refers to the teaching of emptiness as seen in the prajñāpāramitā texts, as distinguished from the teaching of existence seen in Yogācāra. 〔二障義 HPC 1.814a〕 => Giáo lý rất sâu mầu; giáo lý bí truyền. Trong tác phẩm Ijang ui của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo), thuật ngữ nầy đề cập đến giáo lý về không trong kinh Bát-nhã, để phân biệt với giáo lý về Hữu trong Duy thức tông.
thậm thâm quán
3889西藏語 zab-moḥi lta-ba。西藏佛教稱之爲中觀(梵 mādhyamika),相當梵語之 gambhīra-darśana,與瑜伽行之「廣大行」相對。西藏佛教特重學問之相承,至黃教之開祖宗喀巴,在相承上有三種傳承,即以黃教之宗義學而言。所謂三種傳承,即甚深觀、廣大行、加持祈禱三派之相承,黃教係於前二者之綜合統一而成立,又第三之相承爲那洛巴(藏 Nāro-pa)之傳承,在西藏有馬爾巴(藏 Mar-pa)─密勒(藏 Mi-la)─達保哈解(藏 Drags-po lha-rje)等之相承,自迦爾居派、迦爾瑪派等之傳承可見。就黃教學問等之教學而言,甚深觀之教學乃以入中論(梵 Madhyamakāvatāra);廣大行則以現觀莊嚴論(梵 Abhisamayālaṃkāra)爲代表,故顯教學部之研究,即以此二論爲中心。甚深觀之教學源流,即文殊─龍樹─提婆;廣大行則爲彌勒─無著─世親,此與印度大乘佛教二大潮流之源流一致。〔西藏佛教研究、Waddell: The Buddhism of Tibet〕
; (甚深觀) Tạng: Zab-mo#i lta-ba. Thậm thâm quán, Phật giáo Tây tạng gọi là Trung quán (Phạm: Màdhyamika), tương đương với tiếng Phạm Gambhìradarzana,đối lại với Quảng đại hành của Du già hành. Phật giáo Tây tạng đặc biệt quí trọng việc đem học vấn truyền trao cho nhau, đến vị Khai tổ của Hoàng giáo là Tông khách ba thì về mặt truyền thừa có 3 loại, tức nói theo tông nghĩa học của Hoàng giáo. Ba loại truyền thừa tức là 3 phái: Thậm thâm quán, Quảng đại hành và Gia trìkì đảo trao truyền cho nhau, Hoàng giáo được thành lập bởi sự tổng hợp thống nhất của Thậm thâm quán và Quảng đại hành, còn sự truyền thừa thứ 3 là của Na lạc ba (Tạng:Naro-pa), ở Tây tạng thì có sự truyền thừa cho nhau giữa Mã nhĩ ba (Tạng: Mar-pa) –Mật lặc (Tạng:Mi-la)– Đạt bảo cáp giải (Tạng: Drags-po lha-rje)... Ta có thể thấy điều này qua sự truyền thừa của phái Ca nhĩ cư, phái Ca nhĩ mã... Nói theo giáo học của học vấn Hoàng giáo thì giáo học Thậm thâm quán là để tiến vào Trung luận (Phạm: Madhyamakàvatàra); Quảng đại hành thì lấy luận Hiện quán trang nghiêm (Phạm: Abhisamayàlaôkàra) làm đại biểu, vì thế sự nghiên cứu Hiển giáo học bộ phải lấy 2 luận trên đây làm trung tâm. Nguồn gốc và sự phát triển về giáo học của Thậm thâm quán là từ ngài Văn thù - Long thụ - Đề bà; còn nguồn gốc và sự phát triển của Quảng đại hành thì từ ngài Di lặc - Vô trước - Thế thân; nguồn gốc và sự phát triển của 2 tư trào này cũng giống hệt như nguồn gốc và sự phát triển của 2 trào lưu lớn của Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; The Buddhism of Tibet by Waddell].
Thậm thâm 甚深
[ja] ジンジン jinjin ||| Incredibly profound; extremely deep. => Thâm thuý không ngờ; rất sâu mầu.
thậm tín
Deep faith.
thậm xét nghĩa lý
Artha-darśimant (S), Having insight into meanings, Attha-dassimant (P) Truy xét nghĩa lý.
thận
1) Quả thận: Kidney. 2) Thận trọng: Attentive—Careful—Cautious—Heedful.
thận na phất đát la
Jinaputra (skt)—Vị Luận Sư đã viết bộ Du Già Sư Địa Thích Luận, ngài Huyền Trang đã dịch sang Hoa ngữ vào khoảng năm 654 sau Tây Lịch—Author of the Yogacaryabhumi-sastra-karika, translated by Hsuan-Tsang around 654 A.D.
thận na thất đát la
Xem Tối Thắng Tử.
thận ngôn
Careful in speech.
thận trọng
Discreet—Careful—Cautious—Prudent.
thập
322華嚴圓教以「十」說諸法之數量。「十」數表圓,以此現其圓滿無盡。〔華嚴探玄記卷三、演密鈔卷五〕
; Daśa- (S), Ten Evil Deeds, Ten dark evil acts, Ten faults, Ten Evil Acts, Ten Sins Mười.
; Dasa (S). Ten.
; 1) Mười: Dasa (skt)—Ten. 2) Thâu thập: To collect—To gather—To pick up—Gathered up.
; (十) Số mười. Viên giáo Hoa nghiêm dùng số 10 để nói về số lượng của các pháp. Số 10 biểu thị cho sự viên mãn vô tận. [X. Hoa nghiêm thám huyền kí Q.3; Diễn mật sao Q.5].
thập (bất) hối giới
The ten rules which produce (no) regrets: 1) (Không) sát sanh: (Not) to kill. 2) (Không) trộm cắp: (Not) to steal. 3) (Không) gian dâm: (Not) to fornicate. 4) (Không) nói dối: (Not) to lie. 5) (Không) nói lỗi người: (Not) to tell of a fellow-Buddhist's sins. 6) (Không) uống, cũng không buôn bán rượu: (Not) to drink nor deal in wine. 7) (Không) ca ngợi mình và làm mất uy tín người: (Not) to praise oneself and discredit others. 8) (Không) hèn hạ thô lỗ: (Not) to be mean nor rude. 9) (Không) sân hận: (Not) be angry. 10) (Không) hủy báng Tam Bảo: (Not) to defame the Triratna.
thập ba la di
The ten pàràjikas, or sins unpardonable in a monk involving his exclusion from the community.
thập ba la mật
449梵語 daśa-pāramitā。菩薩到達大涅槃所必備之十種勝行。全稱十波羅蜜多。又作十勝行,或譯為十度、十到彼岸。<一>六波羅蜜加方便、願、力、智之四波羅蜜。法相宗以此十波羅蜜配菩薩十地,說明修行之次第。即:(一)施波羅蜜(梵 dāna-pāramitā),有財施、法施、無畏施三種。(二)戒波羅蜜(梵 śīla-pāramitā),持戒而常自省。(三)忍波羅蜜(梵 kṣānti-pāramitā),忍耐迫害。(四)精進波羅蜜(梵 virya-pāramitā),精勵進修而不懈怠。(五)禪波羅蜜(梵 dhyāna-pāramitā),攝持內意,使心安定。(六)般若波羅蜜(梵 prajñā-pāramitā),開真實之智慧,曉了諸法實相。(七)方便波羅蜜(梵 upāya-pāramitā),以種種間接方法,啟發其智慧。(八)願波羅蜜(梵 praṇidhāna-pāramitā),常持願心,並付諸實現。(九)力波羅蜜(梵 bala-pāramitā),培養實踐善行,判別真偽之能力。(十)智波羅蜜(梵 jñāna-pāramitā),能了知一切法之智慧。 十波羅蜜皆以菩提心為因。解深密經卷四載,六波羅蜜之外另施設四波羅蜜之原因,謂方便波羅蜜為施、戒、忍三波羅蜜之助伴;願波羅蜜為精進波羅蜜之助伴;力波羅蜜為禪波羅蜜之助伴;智波羅蜜為般若波羅蜜之助伴。 密教以十波羅蜜配當十菩薩,而置於胎藏界曼荼羅之虛空藏院,以表示虛空藏菩薩之福智二德,即右方置施、戒、忍、精進、禪等五菩薩,屬於蓮華部,表示福門;左方置般若、方便、願、力、智等五菩薩,屬於金剛部,表示智門。又以十指配當十波羅蜜,即施為右小指,戒為右無名指,忍為右中指,精進為右食指,禪為右拇指,般若為左小指,方便為左無名指,願為左中指,力為左食指,智為左拇指。每一波羅蜜之手印如下圖所示。〔六十華嚴經卷三十八離世間品、金光明最勝王經卷四最淨地陀羅尼品〕 <二>巴利文本生經佛傳等所出之十波羅蜜,為:檀(施)、尸(戒)、般若、毘梨耶(精進)、羼提(忍)、捨世(否認世間及自己)、真實(不說為害真實之妄語)、決意(不動搖自己之決意)、慈(不顧己利,為一切有情住於慈心)、捨(不為苦樂喜怒等所動)。而行此十德目之位,即稱波羅蜜地(梵 pāramitā-bhūmi)。
; Daśapāramitā (S), Ten perfections Thập Ba la mật gồm: Bố thí Ba la mật - Trí giới Ba la mật - Nhẫn nhục Ba la mật - Tinh tấn Ba la mật - Thiền định Ba la mật - Bát nhã Ba la mật - Phương tiện Ba la mật - Nguyện Ba la mật - Lực Ba la mật - Trí Ba la mật.
; Dasapàramità (S). The ten pàramitàs: (1) Bố thí ba la mật dànapàramità, charity; (2) Trì giới silapàramità, purity (or morality); (3) Nhẫn nhục ksantipàramità, patience; (4) Tinh tiến viryapàramità, zealous progress; (5) Thiền định dhyànapàramità, meditation; (6) Bát nhã prajnàpàramità, wisdom; (7) Phương tiện thiện xảo upayapàramità adaptability (or teaching as suited to the occasion and hearer; (8) Nguyện pranidanapàramità vows; (9) Lực balapàramità, force of purpose; (10) Trí jnànapàramità, knowledge.
; Mười Ba La Mật được các Bồ Tát tu hành giác ngộ—Ten perfections—Ten paramitas cultivated by a bodhisattva who is aspirant for full enlightenment: (A) Đại Thừa Thập Ba La Mật—Mahayana Ten Parimitas: 1) Bố thí Ba la mật: Dana-paramita (skt)—Giving-paramita or generosity or charity (tài thí, pháp thí, vô úy thí). 2) Trì giới Ba la mật: Sila-paramita (skt)—Holding Precepts Paramita or morality or discipline (tự mình giữ giới, khuyên người giữ giới và phát tâm vô thượng). 3) Nhẫn nhục Ba la mật: Kshanti-paramita (skt)—Patience paramita or forebearance. 4) Tinh Tấn Ba La Mật: Virya-paramita (skt)—Effort—Vigor paramita or enegy or exertion (bất thối và nói viết pháp tối thắng khiến người nghe được về cõi Chánh giác). 5) Thiền Định Ba La mật: Dhyana-paramita (skt)—Meditation paramita or contemplation (luôn giữ chánh định, giáo hóa chúng sanh, nhập chơn pháp giới). 6) Bát nhã hay Trí Huệ Ba La Mật: Prajna-paramita (skt)—Wisdom paramita or prajna wisdom (hiểu rõ chơn lý). 7) Nguyện Ba la mật: Pranidana-paramita (skt)—Vow paramita or vow for Bodhicitta (Nguyện tu từ bi và hóa độ chúng sanh đồng đắc quả vị Phật). 8) Lực Ba la mật: Bala-paramita (skt)—(dùng sức trí huệ khiến cho chúng sanh đắc nhập pháp Đại thừa)—Power paramita or strength or manifestations of the ten powers. 9) Phương tiện Ba la mật: Upaya-paramita (skt)—(hiểu rõ cách giúp ích cho chúng sanh đáo bỉ ngạn)—Expedient paramita or right methods or means. 10) Trí Ba la mật: Jnana-paramita (skt)—Hiểu rõ các pháp, giữ vững trung đạo—Knowledge paramita or knowledge of the true definition of all dharmas. (B) Tiểu Thừa Thập Ba La Mật—Hinayana Ten Paramitas: 1) Bố Thí: Dana (p)—Generosity. 2) Trì Giới: Sila (p)—Keeping precepts—Morality. 3) Xuất Gia: Nekkhamma (p)—Renunciation. 4) Trí Tuệ: Panna (p)—Wisdom. 5) Tinh Tấn: Viriya (p)—Vigor—Energy. 6) Nhẫn Nhục: Khanti (p)—Patience. 7) Chân Thật: Sacca (p)—Truthfulness. 8) Quyết Định: Aditthana (p)—Strong determination. 9) Tâm Từ: Metta (p)—Loving-kindness. 10) Tâm Xả: Upekkha (p)—Equanimity.
; (十波羅蜜) Phạm:Daza-pàramità. Gọi đủ: Thập ba la mật đa. Hán dịch: Thập thắng hạnh, Thập độ, Thập đáo bỉ ngạn. Mười hạnh thù thắng mà Bồ tát phải tu tập đầy đủ để đạt đến Đại niết bàn. I. Thập Ba La Mật. Sáu Ba la mật thêm 4 Ba la mật: Phương tiện, nguyện, lực, trí thành 10 là: 1. Thí ba la mật (Phạm: Dànapàramità): Có 3 thứ là Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. 2. Giới ba la mật (Phạm: Zìlapàramità): Giữ giới và thường tự xét. 3. Nhẫn ba la mật (Phạm: Kwàntipàramità): Nhẫn nại chịu sự bức hại. 4. Tinh tiến ba la mật (Phạm:Viryapàramità): Gắng sức tiến tu, không biếng nhác. 5. Thiền ba la mật (Phạm: Dhyànapàramità): Tập trung tư tưởng khiến tâm an định. 6. Bát nhã ba la mật (Phạm:Prajĩàpàramità): Mở ra trí tuệ chân thực, hiểu rõ thực tướng các pháp. 7. Phương tiện ba la mật (Phạm: Upàya-pàramità): Dùng các phương pháp gián tiếp để khơi mở trí tuệ. 8. Nguyện ba la mật (Phạm: Praịidhàna-pàramità): Thường giữ gìn nguyện tâm và thực hiện các nguyện tâm ấy trong việc tu tập hằng ngày. 9. Lực ba la mật (Phạm: Balapàramità): Năng lực bồi dưỡng những thiện hạnh thực tiễn và phân biệt chân ngụy. 10. Trí ba la mật (Phạm: Prajĩàpàramità): Trí tuệ có năng lực rõ biết tất cả các pháp. MườiBa la mật đều lấy tâm bồ đề làm nhân. Kinh Giải thâm mật quyển 4 cho rằng lí do ngoài 6 Ba la mật còn thiết lập thêm 4 Ba la mật là vì Phương tiện ba la mật giúp đỡ cho 3 Ba la mật Thí, Giới và Nhẫn; Nguyện ba la mật là giúp đỡ cho Tinh tiến ba la mật; Lực ba la mật là giúp đỡ cho Thiền ba la mật; Trí ba la mật là giúp đỡ cho Bát nhã ba la mật. Mật giáo đem 10 Ba la mật phối hợp với 10 vị Bồ tát và đặt ở viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới để biểu thị cho phúc đức và trí đức của bồ tát Hư không tạng. Tức về phía bên phải an vị 5 Bồ tát Thí, Giới, Nhẫn, Tinh tiến và Thiền, thuộc về Liên hoa bộ, biểu thị Phúc môn; về phía bên trái an vị 5 Bồ tát Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực và Trí, thuộc về Kim cương bộ, biểu thị Trí môn. Lại đem 10 ngón tay phối hợp với 10 Ba la mật, tức Thí là ngón út bên phải, Giới là ngón vô danh bên phải, Nhẫn là ngón giữa bên phải, Tinh tiến là ngón trỏ bên phải, Thiền là ngón cái bên phải, Bát nhã là ngón út bên trái, Phương tiện là ngón vô danh bên trái, Nguyện là ngón giữa bên trái, Lực là ngón trỏ bên trái và Trí là ngón cái bên trái. Thủ ấn của mỗi Ba la mật như hình vẽ dưới đây: Thí ba la mật Giới ba la mật Nhẫn ba la mậtII. Thập Ba La Mật. Mười Ba la mật được nêu trong Phật truyện kinh Bản sinh tiếngPàli là: Đàn (Thí), Thi(Giới), Bát nhã, Tì lê da(tinh tiến), Sằn đề(nhẫn), Xả thế(phủ nhận thế gian và tự kỉ), Chân thực(không nói lời dối trá làm hại chân thực), Quyết ý(ý mình đã quyết không để lay động), Từ(không màng lợi riêng, vì tất cả hữu tình mà trụ nơi từ tâm), Xả(không vì khổ vui mừng giận mà động tâm). Giai vị tu hành 10 đức mục này được gọi là Ba la mật địa (Phạm: Pàramitàbhùmi).
thập ba la mật bồ tát
449指密教胎藏界曼荼羅虛空藏院之檀波羅蜜、戒波羅蜜、忍辱波羅蜜、精進波羅蜜、禪那波羅蜜、般若波羅蜜、方便波羅蜜、願波羅蜜、力波羅蜜、智波羅蜜等十位菩薩。前五尊以福德莊嚴為本誓,得觀音部之果德,屬千手觀音。後五尊以智慧莊嚴為本誓,得金剛部之果德,屬金剛藏菩薩。觀自在最勝心明王經則除去般若、方便、願、力,加慈、悲、喜、捨,而為十波羅蜜。
; (十波羅蜜菩薩) Chỉ cho 10 vị Bồ tát: Đàn ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Thiền na ba la mật, Bát nhã ba la mật, Phương tiện ba la mật, Nguyện ba la mật, Lực ba la mật và Trí ba la mật trong viện Hư không tạng của Mạn đồ la Thai tạng giới thuộc Mật giáo. Năm vị tôn trước lấy phúc đức trang nghiêm làm bản thệ, được quả đức của Quán âm bộ, thuộc Thiên thủ Quán âm. Còn 5 vị tôn sau thì lấy trí tuệ trang nghiêm làm bản thệ, được quả đức của Kim cương bộ, thuộc bồ tát Kim cương tạng. Kinh Quán tự tại tối thắng tâm minh vương thì bỏ 4 vị: Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực và thêm 4 vị: Từ, Bi, Hỉ, Xả là 10 Ba la mật.
Thập ba la mật 十波羅蜜
[ja] ジュウハラミツ jūharamitsu ||| The ten pāramitās, or perfections. Ten Mahāyāna practices which enumerated based on the original six pāramitās 六波羅蜜, to which the four of expedient means 方便, vow 願, power 力, and wisdom are added. In the Faxiang school, these ten are attached to the ten bodhisattva stages. The ten are: the perfection of giving 施波羅蜜 (dāna-pāramitā); the perfection of morality 戒波羅蜜 (śīla-pāramitā); the perfection of forbearance 忍波羅蜜 (kṣānti-pāramitā); the perfection of effort 精進波羅蜜 (virya-pāramitā); the perfection of meditation 禪波羅蜜 (dhyāna-pāramitā); and the perfection of wisdom (that discerns the inner principle of things) 般若波羅蜜 (prajñā-pāramitā); the perfection of expedient means 方便波羅蜜 (upāya-pāramitā); the perfection of the vow (to attain enlightenment) 願波羅蜜 (praṇidhāna-pāramitā) ; the perfection of one's powers 力波羅蜜 (bala-pāramitā); and the perfection of omniscience 智波羅蜜 (jñāna-pāramitā). => Mười ba la mật. Mười pháp tu của Đại thừa mà số lượng căn cứ vào gốc là sáu ba-la-mật, thêm 4 Ba-la-mật là Phương tiện, nguyện, Lực và Trí tuệ. Theo Pháp tướng tông, 10 Ba-la-mật nầy gắn liền với 10 giai vị của đạo Bồ-tát. Đó là: 1. Thí Ba-la-mật 施波羅蜜 (dāna-pāramitā) 2. Giới Ba-la-mật 戒波羅蜜 (śīla-pāramitā). 3. Nhẫn Ba-la-mật 忍波羅蜜 (kṣānti-pāramitā). 4. Tinh tiến Ba-la-mật 精進波羅蜜 (virya-pāramitā). 5. Thiền Ba-la-mật 禪波羅蜜 (dhyāna-pāramitā). 6. Bát-nhã Ba-la-mật 般若波羅蜜 (prajñā-pāramitā). 7. Phương tiện Ba-la-mật 方便波羅蜜 (upāya-pāramitā). 8. Nguyện Ba-la-mật 願波羅蜜 (praṇidhāna-pāramitā). 9. Lực Ba-la-mật 力波羅蜜 (bala-pāramitā). 10. Trí Ba-la-mật 智波羅蜜 (jñāna-pāramitā).
Thập biến xứ
xem Mười nhất thiết nhập.
thập biến xứ
480梵語 daśakṛtsnāyatanāni。又作十一切入、十一切處、十遍入、十遍處定。即依勝解作意,觀色等十法各周遍一切處無間隙。十法即:地、水、火、風、青、黃、赤、白、空、識,觀其周遍一切處,故稱地遍處乃至識遍處等。此觀法為行者修八解脫、八勝處後,於色等得淨相,於所觀之中轉變自在,然仍未周遍,故更修此定。〔俱舍論卷二十九、解脫道論卷九「五通品」〕
; Daśa-kṛtsnayatanani (S).
; Ten objects for the attainment of absorption—See Mười Biến Xứ.
; (十遍處) Phạm: Dazakftsnàyatanàni. Cũng gọi Thập nhất thiết nhập, Thập nhất thiết xứ, Thập biến nhập, Thập biến xứ định. Chỉ cho 10 pháp trùm khắp tất cả mọi nơi. Tức nương vào thắng giải tác ý, quán xét 10 pháp: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không và thức trùm khắp mọi nơi, cho nên gọi là Địa biến xứ cho đến Thức biến xứ. Sau khi hành giả tu Bát giải thoát, Bát thắng xứ thì đối với sắc... được tướng thanh tịnh, đối với cảnh sở quán được chuyển biến tự tại, nhưng vẫn chưa trùm khắp, cho nên còn phải tu định này. [X. luận Câu xá Q.29; phẩm Ngũ thông trong luận Giải thoát đạo].
thập báo pháp kinh
(十報法經) Gọi đủ: Trường a hàm Thập báo pháp kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này cùng với các kinh Chúng tập, kinh Tăng nhất trong Trường a hàm đều tập hợp, sắp xếp các pháp số được truyền trì trong giáo đoàn vào thời kì đầu của Phật giáo. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thập thượng. Nội dung, theo kinh Thập thượng được chia làm 10 môn: Thành pháp, Tu pháp, Giáo pháp, Diệt pháp, Thoái pháp, Tăng pháp, Nan giải pháp, Sinh pháp, Tri pháp và Chứng pháp, tổng thu tất cả 550 pháp số.
thập bát
Astàdasa (S). Eighteen.
thập bát biến
359指佛、菩薩、羅漢等依禪定自在之力所示現之十八種神變。又作十八神變。有二說:(一)瑜伽師地論卷三十七威力品之所說。即:(1)振動(梵 kampana),又作震動,即普動一切世界。(2)熾然(梵 jvalana), 即身上出猛焰之火, 迨U注清冷之水,又入火界定,由身上各處復出種種火焰。(3)流布(梵 spharaṇa),又作遍滿,即光明流布。(4)示現(梵 vidarśana),又作顯示,即隨順沙門、婆羅門等一切與會大眾之所欲而示現佛土、惡趣。(5)轉變(梵 anyatī-bhāvakaraṇa),轉變火為水,轉變水為火,乃至轉變草葉、牛糞、泥、沙石、瓦礫等為飲食、車乘、衣服、摩尼珠、琉璃等。(6)往來(梵 gamanāgamana),隨其所欲,速疾往來於山石牆壁等,乃至於三千大千世界中而一無障礙。(7)卷(梵 saṃkṣepa),能縮捲一切雪山王等,成為極微(物質之最小單位)之小物。(8)舒(梵 prathana),能將一個極微舒展成一切雪山王等極大之物體。(9)眾像人身(梵 sarvarūpa-kārya-praveśana),能令現前大眾乃至諸山、大地等一切色相入於己身之中。(10)同類往趣(梵 sabhāgatopasaṃkrānti),能往趣剎帝利眾、婆羅門眾乃至諸天等,同其色類、形量、言音而為其演說正法。(11)顯(梵 āvirbhāva),於大眾之前,百千度自在顯現其身。(12)隱(梵 tirobhāva),亦能百千度自在隱沒其身。(13)所作自在(梵 vaśitva-karaṇa),於一切有情界,往來去住,自在無礙。(14)制他神通(梵 para-rddhy-abhibhavana),能制伏他人所現之神通。(15)能施辯才(梵 pratibhā-dāna),若眾生之辯才窮盡時,能給與辯才之力。(16)能施憶念(梵 smṛti-dāna),若眾生於法失念時能給與憶念之力。(17)能施安樂(梵 sukha-dāna),能給與聽法者饒益身心輕安之樂,又能息滅諸界之災癘疾病等障難。(18)放大光明(梵 raśmi-pramokṣana),以神通力,放無量光明,作諸佛事,給予眾生無量之利益。 (二)止觀輔行傳弘決卷十之二根據法華經卷七妙莊嚴王本事品所說,而列舉出十八種神變。即:(1)右脅出水,(2)左脅出火,(3)左脅出水,(4)右脅出火,(5)身上出水,(6)身下出火,(7)身下出水,(8)身上出火,(9)履水如地,(10)履地如水,(11)沒空於地,(12)沒地於空,(13)行於空中,(14)住於空中,(15)坐於空中,(16)臥於空中,(17)現大身滿虛空,(18)現大復小。〔法華經玄贊卷十、教乘法數卷三十八、大藏法數卷六十三、真言廣明目卷三〕
; Thần thông biến hóa hiển hiện trong Thập bát giới (Lục căn, Lục trần, Lục thức), gọi là Thập bát biến.
; (十八變) Cũng gọi Thập bát thần biến. Chỉ cho 18 thứ thần biến do chư Phật, Bồ tát, La hán... nương vào năng lực tự tại của thiền định mà thị hiện ra. Có 2 thuyết như sau: I. Thuyết của phẩm Uy lực trong luận Du già sư địa quyển 37: 1. Chấn động (Phạm: Kampana): Tức làm rúng động khắp tất cả thế giới. 2. Xí nhiên (Phạm:Jvalana): Tức trên thân phát ra lửa hừng, dưới thân tuôn ra nước lạnh, lại vào định Hỏa giới, từ khắp trên thân phát ra những ngọn lửa. 3. Lưu bố (Phạm: Spharaịa): Cũng gọi Biến mãn, tức ánh sáng tràn ngập. 4. Thị hiện (Phạm:Vidarzana): Cũng gọi Hiển thị, tức thị hiện các cõi Phật, các đường ác, thể theo ý muốn của tất cả đại chúng tham dự pháp hội. 5. Chuyển biến (Phạm: Anyatìbhàvakaraịa): Tức chuyển biến lửa thành nước, nước thành lửa, cho đến chuyển biến cỏ lá, phân bò, bùn đất, cát sỏi, gạch ngói... thành thức ăn uống, quần áo, xe cộ, ma ni, lưu li... 6. Vãng lai (Phạm: Gamanàgamana): Tức theo ý muốn, đi lại nhanh chóng, xuyên qua núi đá, tường vách... cho đến khắp trong 3 nghìn thế giới đại thiên mà không hề bị ngăn trở. 7. Quyển (Phạm: Saôkwepa): Tức thu rút tất cả núi Tuyết thành một vật nhỏ như cực vi(đơn vị vật chất bé nhỏ nhất). 8. Thư(Phạm:Prathana): Tức đànra, làmchomột cực vi thành một vật thể cực lớn như tất cả núi Tuyết. 9. Chúng tượng nhập thân (Phạm: Sarvarùpa-kàrya-pravezana): Tức làm cho tất cả sắc tướng như đại chúng hiện tiền, cho đến các núi rừng, đất liền, biển cả... đều vào trong thân mình. 10. Đồng loại vãng thú (Phạm: Sabhàgatopasaôkrànti): Tức đi vào trong chúng Sát đế lợi, chúng Bà la môn, cho đến chư thiên... thị hiện cùng sắc loại, hình lượng, ngôn ngữ như họ mà giảng nói chính pháp cho họ nghe. 11. Hiển (Phạm:Àvirbhàva): Tức trăm nghìn lần hiện thân một cách tự tại trước đại chúng. 12. Ẩn(Phạm:Tirobhàva): Tức cũng trăm nghìn lần tự tại ẩn thân. 13. Sở tác tự tại (Phạm:Vazitvakaraịa): Tức đi về qua lại trong tất cả các cõi hữu tình một cách tự tại vô ngại. 14. Chế tha thần thông (Phạm:Pararddhy-abhibhavana): Tức có năng lực chế phục, ngăn chận thần thông do người khác biến hiện. 15. Năng thí biện tài (Phạm: Pratibha-dàna): Tức khi biện tài của chúng sinh đã cùng tận thì cấp năng lực biện tài cho họ. 16. Năng thí ức niệm (Phạm: Smftidàna): Tức nếu khi chúng sinh đã quên mất chính pháp thì cấp cho họ năng lực ghi nhớ. 17. Năng thí an lạc (Phạm: Sukhadàna): Tức có năng lực mang lại cho người nghe pháp niềm an vui khiến thân tâm họ được nhẹ nhàng, lợi ích; cũng có năng lực tiêu trừ các chướng nạn như tai họa, dịch bệnh của các cõi. 18. Phóng đại quang minh (Phạm: Razmi-pramokwana): Tức dùng năng lực thần thông phóng ra vô lượng ánh sáng, làm các Phật sự để mang lại lợi ích cho vô lượng chúng sinh. II. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 2, căn cứ vào phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 mà liệt kê 18 thứ thần biến là: Hông bên phải ra nước, hông bên trái ra lửa, hông bên trái ra nước, hông bên phải ra lửa, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, đi trên nước như đi trên đất, đi trên đất như đi trên nước, ẩn trong hư không rồi hiện ở trên đất, ẩn trên đất lại hiện trong hư không, đi giữa hư không, đứng giữa hư không, ngồi giữa hư không, nằm giữa hư không, hiện thân to lớn đầy ắp hư không, hiện thân lớn trở thành nhỏ. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.10; Giáo thừa pháp số Q.38; Đại tạng pháp số Q.63; Chân ngôn quảng minh mục Q.3].
Thập bát bất cộng pháp
xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.
thập bát bất cộng pháp
348請參閱 十八大經 十八種不共通之法。即不共通於聲聞、緣覺,唯佛與菩薩特有之十八種功德法。 <一>佛之十八不共法。全稱十八不共佛法。(一)出自大品般若經卷五廣乘品:(1)諸佛身無失,佛自無量劫來,持戒清淨,以此功德滿足之故,一切煩惱皆盡,故於身無失。(2)口無失,佛具無量之智慧辯才,所說之法隨眾機宜而使皆得證悟之謂。(3)念無失,佛修諸甚深禪定,心不散亂,心於諸法無所著,得第一義之安穩。以上三法指身、口、意三業皆無過失。(4)無異想,佛於一切眾生平等普度,心無簡擇。(5)無不定心,佛之行住坐臥常不離甚深之勝定,攝心住善法中,於諸法實相中不退失。(6)無不知己捨心,於苦等之受,佛念念之中覺知其生住滅等相,而住於寂靜平等。(7)欲無減,佛具眾善,常欲度諸眾生,心無厭足。(8)精進無減,佛之身心精進滿足,為度眾生恆行種種方便,無有休息。(9)念無減,三世諸佛之法、一切智慧,相應滿足,無有退轉。(10)慧無減,指佛具一切智慧,又三世之智慧無礙故,於慧無缺減。(11)解脫無減,佛遠離一切執著,具有為、無為二種解脫,一切煩惱之習悉盡無餘,即於解脫無缺減。(12)解脫知見無減,佛知見諸解脫相,了了無闇障。(13)一切身業隨智慧行。(14)一切口業隨智慧行。(15)一切意業隨智慧行。以上三項,乃佛造作身、口、意三業時,先觀察得失,後隨智慧而行,故無過失,皆能利益眾生。(16)智慧知見過去世無閡無障。(17)智慧知見未來世無閡無障。(18)智慧知見現在世無閡無障。上三者謂佛之智慧照知過去、未來、現在三世所有一切之事,皆通達無礙。 (二)即指十力、四無所畏、三念住、大悲等十八種法。此十八種乃諸佛初成道時,於盡智位所修得之法,為餘之聖者所無。即唯佛獨得十力,除諸惑習氣;得四無所畏,說法無怖畏;得三念住,不生歡慼心;得大悲,緣一切有情,得明三苦之行相。十力為:處非處智力、業異熟智力、靜慮解脫等持等至智力、根上下智力、種種勝解智力、種種界智力、偏趣行智力、宿住隨念智力、死生智力、漏盡智力。四無所畏為:正等覺無畏、漏永盡無畏、說障法無畏、說出道無畏。三念住為:於恭敬聽聞者住平等心、於不恭敬聽聞者住平等心、於恭敬聽聞與不恭敬聽聞者住平等心。 (三)有餘師所說佛之十八不共法。大智度論卷二十六舉:一切智、功德無量、大悲、智慧中自在、定中自在、變化自在、記莂無量、記莂不虛、言無失、智慧無減、常施捨行、常觀眾生、不失念、無煩惱習、無有能如法出其失、無能見頂、足下柔軟、得神通波羅蜜故,轉眾生心令歡喜得度。大抵此不共法皆以智慧為義。另外十住毘婆沙論卷十之四十不共法品說佛四十不共法,卷十一說四十四不共法,瑜伽師地論卷四十九出佛一百四十不共法。〔文殊師利問經卷下、大毘婆沙論卷十七〕 <二>菩薩之十八不共法。出自寶雨經卷四。即:(一)行施不隨他教。(二)持戒不隨他教。(三)修忍不隨他教。(四)精進不隨他教。(五)靜慮不隨他教。(六)般若不隨他教。(七)行於攝事,能攝一切有情。(八)能解迴向。(九)方便善巧為主,自在令一切有情有所修行,復能示現於最上乘而得出離。(十)不退大乘。(十一)善能示現於生死涅槃,而得安樂,言音善巧能隨世俗。(十二)智為前導,雖現前起種種受生,而無所作,離諸過失。(十三)具足十善身語意業。(十四)為攝諸有情,恆不捨離,常能忍受一切苦蘊。(十五)能為示現一切世間之所愛樂。(十六)雖於眾多苦惱愚夫及聲聞中住,而不忘失一切智心,如寶堅固清淨莊嚴。(十七)若受一切法王位時,以繒及水繫灌其頂。(十八)能不捨離諸佛正法示現悕求。又新譯華嚴經卷五十六離世間品出菩薩十不共之說,與寶雨經所載雷同。奮迅王問經卷下亦出菩薩十八不共法,亦有不少與前載相通者。〔自在王菩薩經卷下、華嚴經疏卷五十二、大乘義章卷十六〕
; Xem Mười tám thượng căn của đức Phật.
; Mười tám món công đức của Phật, chẳng chung cùng với hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác nên gọi là Bất Cộng—The eighteen distinctive characteristics or unique qualities of Buddhas, so called because they are not similar to those of Sravakas and Pratyeka-buddhas. There are two definitions: (A) Tiểu Thừa Thập Bát Bất Cộng Pháp: Mười tám Bất Cộng Pháp của Tiểu Thừa—The eighteen characteristics defined by the Hinayana: 1) (10) Thập Lực: ten kinds of power. 2) (4) Tứ Vô Úy: Four Fearlessnesses. 3) (3) Ba Niệm Trụ: Three kinds of mindfulness. 4) (1) Phật Đại Bi: Đại bi của Phật—The Buddha's great pity. (B) Đại Thừa Thập Bát Bất Cộng: Mười tám điều không lỗi theo Đại Trí Độ Luận—The eighteen distinctive characteristics defined by the Mahayana or eighteen kinds of perfection, according to the Sastra on the Prajna-Paramita-Sutra: 1) Thân Vô Thất: Thân Không Lỗi—Perfection of body—Impacability of action. 2) Khẩu Vô Thất: Miệng Không Lỗi—Perfection of speech—Impacability of speech. 3) Niệm Vô Thất: Ý Không Lỗi—Perfection of memory—Impacability of mind. 4) Vô Dị Tưởng (đối với hết thảy chúng sanh đều bình đẳng không có tư tưởng khác): Không có tư tưởng phân biệt—Impartiality or universality—Having no discriminatory thoughts. 5) Vô Bất Tri Dĩ Xả (xả bỏ mọi pháp không chấp trước): Chẳng phải không biết chuyện xả bỏ—Entire self-abnegation—Unfailing discernment and relinquishment. 6) Vô Bất Định Tâm: Không bao giờ có tâm tán loạn—Ever in samadhi or unfailing concentration. 7) Dục Vô Diệt: Ý muốn cứu độ chúng sanh không hề nhàm chán và không cùng tận—Never diminishing will to save—Endless volition, or desire of saving beings. 8) Tinh Tấn Vô Diệt: Tinh Tấn Không Suy Giảm—Endless zeal or vigor. 9) Niệm Vô Diệt: Niệm Không Giảm hay tỉnh thức không cùng tận—Endless thought or endless mindfulness. 10) Huệ Vô Diệt: Tuệ Không Giảm—Endless wisdom. 11) Giải Thoát Vô Diệt: Giải Thoát Không Giảm hay giải thoát không cùng tận—Endless salvation or liberation. 12) Giải Thoát Tri Kiến Vô Diệt: Giải Thoát Tri Kiến Không Giảm hay không cùng tận—Endless insight into salvation or endless liberated knowledge and vision. 13) Nhất Thiết Thân Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Thân Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Deeds are accordant with wisdom—All actions are in accordance with knowledge and wisdom. 14) Nhất Thiết Khẩu Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Khẩu Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—All speech is accordant with wisdom or knowledge and wisdom. 15) Nhất Thiết Ý Nghiệp Tùy Trí Huệ: Mọi Ý Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Mind is accordant with wisdom or all thoughts are in accordance with knowledge and wisdom. 16) Trí Huệ Tri Quá Khứ Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Quá Khứ Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the past or unobstructed insight into the past. 17) Trí Huệ Tri Vị Lai Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Vị Lai Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the future of unobstructed insight into the future. 18) Trí Huệ Tri Hiện Tại Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Hiện Tại Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the present or unobstructed insight into the present.
; (十八不共法) I. Thập BátBấtCộng Pháp. Gọi đủ: Thập bát bất cộng Phật pháp. Chỉ cho 18 pháp công đức mà chỉ riêng Phật mới có chứ không chung cho hàng Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác. A. Mười tám pháp được nêu trong phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, đó là: 1. Thân vô thất: Thân không có lỗi. Phật từ vô lượng kiếp đến nay, giữ giới thanh tịnh, vì công đức này đầy đủ, tất cả phiền não hết sạch nên thân không có lỗi. 2. Khẩu vô thất: Miệng không có lỗi. Phật có vô lượng trí tuệ biện tài, pháp Phật nói ra tùy theo các cơ nghi khiến cho họ đều chứng ngộ. 3. Niệm vô thất: Ý nghĩ không có lỗi. Phật tu các thiền định rất sâu xa, tâm không tán loạn, đối với các pháp tâm không dính dấp, được sự an ổn đệ nhất nghĩa. 4. Vô dị tưởng: Không có ý tưởng khác. Phật đối với tất cả chúng sinh bình đẳng hóa độ, không có tâm lựa chọn, phân biệt.5. Vô bất định tâm: Tâm thường ở trong định. Phật đi đứng ngồi nằm thường không lìa thắng định sâu xa, thường nhiếp tâm trụ trong thiện pháp, đối với thực tướng các pháp không thoái thất. 6. Vô bất tri kỉ xả tâm: Thường ý thức xả tâm của mình. Đối với các cảm thụ như khổ, vui... Phật biết rõ các tướng sinh trụ diệt của chúng trong từng niệm và an trú trong vắng lặng bình đẳng, tức thường ở trạng thái tâm không khổ không vui (xả tâm).7. Dục vô giảm: Ý muốn không giảm. Phật đầy đủ các thiện pháp, luôn muốn hóa độ chúng sinh, tâm không chán bỏ. 8. Tinh tiến vô giảm: Tinh tiến không giảm. Thân tâm của Phật đều tinh tiến, vì độ chúng sinh nên thường thực hành các phương tiện, không dừng nghỉ. 9. Niệm vô giảm: Tâm niệm không giảm. Pháp và tất cả trí tuệ của chư Phật 3 đời tương ứng đầy đủ, không có thoái chuyển. 10. Tuệ vô giảm: Tuệ không giảm. Phật có đầy đủ tất cả trí, vả lại, còn trí tuệ của 3 đời không bị chướng ngại, nên tuệ không khuyết giảm. 11. Giải thoát vô giảm: Giải thoát không giảm. Phật xa lìa tất cả chấp trước, có đầy đủ 2 loại giải thoát hữu vi, vô vi, tất cả phiền não tập khí đều hết sạch, cho nên giải thoát không khuyết giảm. 12. Giải thoát tri kiến vô giảm: Giải thoát tri kiến không giảm. Phật thấy biết các tướng giải thoát, rõ suốt không bị ngăn ngại.13. Nhất thiết thân nghiệptùy trí tuệ hành: Tất cả hành động của thân đều được trí tuệ soi sáng, chỉ dẫn. 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả lời nói từ miệng Phật phát ra đều theo trí tuệ. 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả ý nghĩ đều được trí tuệ hướng dẫn. Ba pháp trên đây là khi Phật khởi động 3 nghiệp thân, khẩu, ý trước hết xem xét, cân nhắc đúng sai, lợi hại rồi sau mới thực hành theo trí tuệ, cho nên không sai lầm, đều mang lại lợi ích cho chúng sinh. 16. Trí tuệ tri kiến quá khứ thế vô ngại vô chướng:Trí tuệ thấy biết đời quá khứ không bị chướng ngại. 17. Trí tuệ tri kiến vị lai thế vô ngại vô chướng: Trí tuệ thấy biết đời vị lai không bị chướng ngại. 18. Trí tuệ tri kiến hiện tại thế vô ngại vô chướng: Trí tuệ thấy biết đời hiện tại không bị ngăn ngại. B. Chỉ cho 18 Pháp: 10 lực, 4 vô sở úy, 3 niệm trụ và đại bi mà chư Phật tu được ở giai vị Tận trí lúc các Ngài vừa thành đạo, là những pháp mà các bậc Thánh khác không có. Được 10 lực, diệt trừ hết các hoặc tập khí; được 4 vô sở úy, thuyết pháp không sợ sệt; được 3 niệm trụ, không sinh tâm vui mừng, buồn lo; được đại bi, duyên theo tất cả hữu tình, thấy rõ hành tướng 3 khổ. Mười lực là: Xứ phi xứ trí lực, nghiệp dị thục trí lực, tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực, căn thượng hạ trí lực, chủng chủng thắng giải trí lực, chủng chủng giới trí lực, biến thú hành trí lực, túc trụ tùy niệm trí lực, tử sinh trí lực và lậu tận trí lực. Bốn vô sở úy là: Chính đẳng giác vô úy, lậu vĩnh tận vô úy, thuyết chướng pháp vô úy và thuyết đạo vô úy. Ba niệm trụ là: Đối với người cung kính nghe pháp, Phật giữ tâm bình đẳng, đối với người không cung kính nghe pháp, Phật giữ tâm bình đẳng, đối với người cung kính nghe pháp và không cung kính nghe pháp, Phật cũng giữ tâm bình đẳng. C. Mười tám pháp bất cộng của Phật theo thuyết của các Luận sư khác: Luận Đại trí độ quyển 26 nêu: Nhất thiết trí, công đức vô lượng, đại bi, trong trí tuệ được tự tại, trong định được tự tại, biến hóa tự tại, thụ kí vô lượng, thụ kí không hư dối, lời nói chẳng trái, trí tuệ không giảm, thường làm bố thí, thường xem xét chúng sinh, chẳng mất niệm, không còn tập khí phiền não, không thể đúng như pháp nói ra lỗi của Phật, không thấy được tướng trên đỉnh đầu của Phật, dưới lòng bàn chân mềm mại, được thần thông ba la mật, chuyển tâm chúng sinh khiến cho vui mừng được độ. Nói một cách đại khái, các pháp bất cộng này đều lấy nghĩa trí tuệ làm chính. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.17]. II. Thập Bát Bất Cộng Pháp của Bồ Tát.Mười tám Bất cộng pháp nói trong kinh Bảo vũ quyển 4, đó là: 1. Làm việc bố thí không theo người khác chỉ bảo. 2. Giữ giới không theo người khác chỉ bảo.3. Tu nhẫn không theo người khác chỉ bảo. 4. Tinh tiến không theo người khác chỉ bảo.5. Tĩnh lự không theo người khác chỉ bảo.6. Bát nhã không theo người khác chỉ bảo.7. Thực hành nhiếp sự, thu nhiếp được tất cả hữu tình. 8. Hiểu rõ hồi hướng. 9. Dùng phương tiện khéo léo là chính, tự tại khiến tất cả hữu tình tu hành, lại có năng lực thị hiện trong Tối thượng thừa mà được xuất li. 10. Không lui sụt Đại thừa. 11. Khéo thị hiện ở nơi sinh tử niết bàn mà được an vui, lời nói thuận thế tục. 12. Trí tuệ dẫn đường, tuy hiện tiền khởi các thứ thụ sinh, nhưng không tạo tác và xa lìa các lỗi lầm. 13. Đầy đủ 10 điều thiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 14. Vì nhiếp thụ các hữu tình nên thường không lìa bỏ, thường nhịn chịu được tất cả các khổ uẩn. 15. Có năng lực thị hiện tất cả những điều mà thế gian ưa thích. 16. Tuy sống giữa những ngu phu khổ não và Thanh văn, nhưng không mất tất cả trí tâm, như kim cương cứng chắc, thanh tịnh trang nghiêm. 17. Nếu khi nhận ngôi vị Pháp vương thì dùng lụa buộc và nước rưới lên đầu. 18. Không xa lìa chính pháp của chư Phật mà thường thị hiện tâm mong cầu. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 26 (bản dịch mới) có nêu thuyết Mười pháp bất cộng của Bồ tát giống với 10 pháp Bất cộng nói trong kinh Bảo vũ. Kinh Phấn tấn vương vấn quyển hạ, cũng nêu 18 pháp Bất cộng của Bồ tát và cũng có nhiều chỗ giống với các thuyết trên.[X. kinh Tự tại vương bồ tát Q.hạ; Hoa nghiêm kinh sớ Q.52; Đại thừa nghĩa chương Q.16].
Thập bát bất cộng pháp 十八不共法
[ja] ジュウハチフグウホウ jūhachifugūhō ||| The Eighteen Distinctive Characteristics of the Buddha. In East Asian Buddhism these are (1) Unmistaken thought, (2) unmistaken word; (3) unmistaken action; (4) mind of equality toward all beings; (5) stable mind in meditation; (6) all-embracing mind which rejects nothing; (7-11) the power of not-backsliding in terms of the aspiration, diligence, mindfulness, concentration and wisdom towards the salvation of all beings; (12) the power of not falling back from freedom into bondage; (13-15) the manifestation of wisdom power in thought, word and deed for the purpose of saving all beings; (16-18) immediate total knowledge of all affairs of past, present and future. (daśa avenika buddha dharmah).' 〔華嚴經 T 278.9.435c11〕In Indian Buddhism these are the ten powers shīi 十力, the four fearlessnesses siwuwei 四無畏, the three bases of mindfulness sannianchu 三念處, and great compassion dabei 大悲. => Mười tám pháp bất cộng. Theo Phật giáo Đông Nam Á, đó là: 1. Niệm vô thất: ý tưởng không sai sót. 2. Ngữ vô thất: lời nói không sai sót. 3. Thân vô thất: hành động không sai sót. 4. Vô dị tưởng: tâm bìmh đẳng với tất cả chúng sinh. 5. Vô bất định tâm: tâm an tịnh trong thiền định. 6. Vô bất tri dĩ xả: Tân biết rõ các pháp rồi xả bỏ. 7-11. Dục vô giảm, Tinh tiến vô giảm, Niệm vô giảm, Huệ vô giảm, và Giải thoát vô giảm. Năng lực không thối chuyển trong các lĩnh vực: mong đựơc độ thoát cho tất cả chúng sinh. 12. Giải thoát tri kiến vô giảm. 13-15. Sự biểu hiện của năng lực trí tuệ qua tư tưởng, ngôn ngữ, và hành động vì mục đích cứu độ chúng sinh. 16-18. Trí tuệ nhận biết đời quá khứ, hiện tại, vị lai (s:daśa avenika buddha dharmah). Theo kinh Hoa Nghiêm. Theo Phật giáo Ấn Độ, đó là Thập lực, Tứ vô uý (四無畏 c:siwuwei), Tam niệm xứ 三念處 c:sannianchu và Đại bi 大悲 c:dabei.
Thập bát bất cụ pháp
xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.
thập bát bất cụ pháp
Avenikadharma, buddhadharma (S). The eighteen different characteristics of a Buddha as compared with bodhisattvas: (1) his perfection of body (or person) thân vô thất; (2) mouth (or speech) khẩu vô thất; (3) memory niệm vô thất; (4) impartiality to all vô dị tưởng; (5) serenity vô bất định tâm; (6) self-sacrifice vô bất tri dĩ xả; (7) unceasing desire to save dục vô diệt; (8) unflagging zeal therein tinh tiến vô diệt; (9) unfailing thought thereto niệm vô diệt; (10) wisdom in it tuệ vô diệt; (11) powers of deliverance giải thoát vô diệt; (12) the principles of it giải thoát tri kiến vô diệt; (13) revealing perfect wisdom in deed nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành; (14) in word nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành; (15) in thought nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành; (16) perfect knowledge of past trí tuệ tri quá khứ thế vô ngại; (17) future trí tuệ tri vị lai thế vô ngại; (18) and present trí tuệ tri hiện tại thế vô ngại.
thập bát chi
350又稱十八禪支、十八支林、十八靜慮支。指色界四禪定之十八種功德法。法界次第卷上載,十八支即:(一)初禪天定五支:(1)覺支(尋支),謂行者在欲界依未到地,發初禪色界諸淨色法,觸欲界身根,心大驚悟,即生身識,覺此色觸。(2)觀支(伺支),謂行者既證初禪功德,以細心分別此禪定中色法,諸妙功德,境界分明,為欲界所未有。(3)喜支,謂行者初發禪時,乃有喜生,思惟所捨欲界之樂甚少,今得初禪,利益甚多,歡喜無量。(4)樂支,謂行者發初禪時,喜踊之心既息,則恬然靜慮,受怡悅之樂。(5)一心支(定支),謂行者初證禪時,心依覺觀喜樂之法,故有細微之散,若喜樂心息,自然心與定一。 (二)二禪天定四支:(1)內淨支(內等淨支),謂行者欲離初禪,呵責覺觀,覺觀既滅,則心內淨。(2)喜支,謂行者初得內淨時,得免覺觀之患,而獲勝定,內證之喜無量(3)樂支,謂行者喜踊之情既息,則怡然靜慮,受怡悅之樂。(4)一心支,謂行者喜樂心息,則心與定一,澄渟不動。 (三)三禪天定五支:(1)捨支,謂行者欲離第二禪時,呵責二禪之喜,喜既滅謝,則發第三禪之樂,若證三禪之樂,則捨二禪之喜,不生悔心。(2)念支,謂行者既發第三禪之樂,則樂從內起,應須愛念將息,則樂得增長。(3)慧支,謂行者既發第三禪之樂,此樂微妙,難得增長,若非善巧解慧,則不能方便長養。(4)樂支,謂行者發第三禪樂已,若能善用捨、念、慧三支,將護此樂,樂則徧身,若離三禪,則餘地更無徧身之樂。(5)一心支,謂行者受樂心息,則心自與定法為一,澄渟不動。 (四)四禪天定四支:(1)不苦不樂支,謂行者欲離第三禪時,呵責於樂,樂既謝滅,則不動之定與捨俱發,故內心湛然,無苦無樂。(2)捨支,謂行者既得第四禪不動真定,則捨第三禪難捨之樂,不生悔心。(3)念清淨支,謂行者既得第四禪真定,當念下地之過,復念自己功德,方便將養,令其不退,進入勝品。(4)一心支,謂行者既得第四禪之定,用前捨、念二支將護,則心無所依,泯然寂靜,一心在定,猶如明鏡不動,淨水無波,湛然而照,萬象皆現。〔瑜伽師地論卷十一、顯揚聖教論卷二、雜集論卷九、俱舍論卷二十八〕
; (十八支) Cũng gọi Thập bát thiền chi, Thập bát chi lâm, Thập bát tĩnh lự chi. Chỉ cho 18 thứ công đức của 4 thiền định cõi Sắc được ghi trongPháp giới thứ đệ quyển thượng, đó là: 1. Năm chi thuộc định Sơ thiền thiên: a. Giác chi(Tầm chi): Hành giả ở cõi Dục nương vào Vị đáo địa, phát khởi các pháp tịnh sắc thuộc Sơ thiền cõi Sắc, tiếp xúc với thân căn cõi Dục, tâm bỗng tỉnh ngộ, liền sinh thức thân, biết rõ sắc xúc này.b. Quán chi (Tứ tâm): Hành giả đã chứng được công đức Sơ thiền, dùng tâm vi tế phân biệt sắc pháp trong thiền định này, thấy các công đức mầu nhiệm và cảnh giới rõ ràng mà ở cõi Dục chưa thấy. c. Hỉ chi: Khi hành giả mới phát thiền thì sinh mừng(hỉ), tư duy niềm vui ở cõi Dục đã xả bỏ rất ít, nay được Sơ thiền, lợi ích rất nhiều, mừng rỡ vô lượng. d. Lạc chi: Lúc hành giả phát Sơ thiền, tâm mừng rỡ đã dứt, thì bỗng nhiên tĩnh lặng, đượcniềm vui khoan khoái. e. Nhất tâm chi (Định chi): Lúc hành giả mới chứng thiền, vì tâm nương theo pháp giác quán hỉ lạc nên có sự tán động nhỏ nhiệm, nếu tâm hỉ lạc(mừng vui) dứt bặt, thì tự nhiên tâm và định hợp nhất. 2. Bốn chi định thuộc Nhị thiền thiên: a. Nội tịnh chi(Nội đẳng tịnh chi): Hành giả muốn lìa Sơ thiền, nên diệt trừ giác quán, giác quán đã diệt thì nội tâm yên tịnh.b. Hỉ chi: Lúc hành giả vừa được nội tịnh thì thoát khỏi nỗi lo về giác quán, được định thù thắng và mừng rỡ vô lượng do nội chứng. c. Lạc chi: Tâm mừng rỡ của hành giả đã dứt thì tâm an nhiên tĩnh lặng, được niềm vui khoan khoái. e. Nhất tâm chi: Tâm mừng vui của hành giả đã dứt thì tâm và định hợp nhất, lóng lặng bất động. 3. Năm chi định thuộc Tam thiền thiên: a. Xả chi: Khi hành giả muốn lìa Đệ nhị thiền nên trừ diệt niềm mừng rỡ của Nhị thiền, mừng rỡ đã diệt thì sinh niềm vui vẻ của Đệ tam thiền; nếu chứng được niềm vui vẻ của Tam thiền thì xả bỏ sự mừng rỡ của Nhị thiền, không sinh tâm hối tiếc. b. Niệm chi: Hành giả đã phát được niềm vui vẻ của Đệ tam thiền thì vui vẻ từ bên trong sinh khởi, cần phải dứt ái niệm thì vui vẻ được tăng trưởng. c. Tuệ chi: Hành giả đã phát được niềm vui vẻ của Đệ tam thiền, nhưng niềm vui vẻ vi diệu này rất khó tăng trưởng, nếu không phải là giải tuệ thiện xảo thì không thể dùng phương tiện để nuôi lớn. d. Lạc chi: Hành giả đã phát niềm vui Đệ tam thiền rồi, nếu khéo dùng 3 chi Xả, Niệm, Tuệ để giữ gìn niềm vui ấy thì nó sẽ bao trùm khắp thân; nếu lìa Tam thiền thì các cõi khác không còn niềm vui khắp thân. e. Nhất tâm chi: Nếu tâm vui vẻ của hành giả đã dứt bặt thì tâm tự hợp nhất với định, lóng lặng bất định. 4. Bốn chi định của Tứ thiền thiên: a. Bất khổ bất lạc chi: Khi hành giả muốn lìa Đệ tam thiền nên trừ diệt niềm vui thì định bất động và xả cùng lúc phát khởi, cho nên trong tâm vắng lặng, không khổ không vui. b. Xả chi: Hành giả đã được định chân thực bất động của Đệ tứ thiền, thì xả bỏ niềm vui khó xả của Đệ tam thiền, không sinh tâm hối tiếc. c. Niệm thanh tịnh chi: Hành giả đã được định chân thực của Đệ tứ thiền, nhớ nghĩ lỗi của các cõi dưới, lại nghĩ đến công đức của chính mình, dùng phương tiện giữ gìn nuôi lớn, không để định này lui mất mà tiến vào phẩm thù thắng. d. Nhất tâm chi: Hành giả đã được định của Đệ tứ thiền, dùng 2 chi Xả và Niệm ở trước để hộ trì thì tâm không còn chỗ nương, tự nhiên vắng lặng, nhất tâm trụ định, giống như gương sáng chẳng động, nước trong không sóng, yên lặng chiếu soi, muôn tượng đều hiện. [X. luận Du già sư địa Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Tạp tập luận Q.9; luận Câu xá Q.28].
thập bát chủng không
Eighteen kinds of Emptiness—See Mười Tám Hình Thức Của Không.
thập bát chủng tâm vô nhân
Eighteen Rootless Consciousnesses—See Mười Tám Loại tâm Vô Nhân.
thập bát chủng địa ngục
The eighteen layers of hells, which are described by one writer as the conditions in which the six sense organs, their six objects and their six perceptions do not harmonize. Another says the eighteen are the hell of knives, the boiling sands, the boiling excrement, the fiery carriage, the boiling cauldron, the iron bed, etc.
thập bát cụ pháp
Eighteen unique qualities of Buddhas—See Thập Bát Bất Cộng.
Thập bát giới
xem Mười tám giới.
thập bát giới
354梵語 aṣṭādaśa dhātavaḥ。乃指在我人一身中,能依之識、所依之根與所緣之境等十八種類之法。界為種類、種族之義。謂十八種類自性各別不同,故稱十八界,又作十八持。即眼、耳、鼻、舌、身、意等六根(能發生認識之功能),及其所對之色、聲、香、味、觸、法等六境(為認識之對象),以及感官(六根)緣對境(六境)所生之眼、耳、鼻、舌、身、意等六識,合為十八種,稱為十八界。十八界中,除去六識,則為十二處,而六識實際亦由十二處之意處所展開,依此,十八界或十二處攝盡一切法。〔大毘婆沙論卷七十一、俱舍論卷一〕(參閱「十二處」343)
; Aṣṭadaśa-dhatavah (S).
; The eighteen dhàtu, or realms of sense, i.e. lục căn the six organs, lục cảnh their objects or conditions, lục thức and their perceptions.
; Astadasa dhatavah (skt). (I) Eighteen spheres (six senses, their six objects, and corresponding kinds of consciousness: (A) Lục Căn: Six senses—See Lục Căn in Vietnamese-English Section. (B) Lục Cảnh: Six objects corresponding to the six senses—See Lục Cảnh in Vietnamese-English Section. (C) Lục Thức: Six sense-data or six consciousness—For more information, please see Lục Thức in Vietnamese-English Section and Loka (E) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (II) Eighteen realms—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Ba, Đức Phật đã giải thích cho ông A Nan vì sao bản tính của Thập Bát Giới là Như Lai Tạng diệu chân như tính—In the Surangama Sutra, book Three, the Buddha explained to Ananda the reasons why he said that the eighteen realms were basically the wonderful nature of true suchness, the treasury of the Thus Come One: 1-2-3) Nhãn Sắc Thức Giới: Cakshu-rupa-vijnana-dhatu (skt)—The realm of eye, form, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, con mắt và sắc làm duyên, sinh ra nhãn thức. Cái thức đó nhân sinh mắt, lấy mắt làm giới, hay nhân sinh sắc, lấy sắc làm giới?: Ananda! As you understand it, the eyes and form create the conditions that produce the eye-consciousness. Is the consciousness produced because of the eyes, such that the eyes are its realm? Or is it produced because of form, such that form is its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân mắt sinh, không có sắc và không, không thể phân biệt; dù có thức dùng để làm gì?: Ananda! If it were produced because of the eyes, then in the absence of emptiness and form it would not be able to make distinctions; and, so even if you had a consciousness, what use would it be? • Cái thấy của ông, nếu phi các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, không thể chỉ bày ra, vậy từ đâu lập ra giới hạn: Moreover, Ananda, your seeing is neither green, yellow, red, nor white. There is virtually nothing in which it is represented. Therefore, what is the realm established from? • Nếu nhân sắc sinh, khi nhìn hư không, không có sắc, đáng lẽ thức diệt, sao lại biết hư không?: Suppose it were produced because of form. In emptiness, when there was no form, your consciousness would be extinguished. Then, why is it that the consciousness knows the nature of emptiness? • Nếu khi sắc tướng thay đổi, ông cũng biết nó thay đổi, mà thức của ông không thay đổi, thì đâu lập được giới?: Suppose a form changes. You are also conscious of the changing appearance; but your eye-consciousness does not change, where is the boundary established? • Nếu theo sắc thay đổi, thức là cái thay đổi, không thể có giới hạn: If the eye-consciousness were to change when form changed, then there would be no appearance of a realm. • Nếu không thay đổi, nhãn thức là cái thường hằng, vậy đã từ sắc sinh ra, lẽ không biết được hư không là gì?: If it were not to change, it would be constant, and given that it was produced from form, it should have no conscious knowledge of where there was empty. • Nếu gồm cả hai thứ mắt, sắc cùng sinh, nói hợp, chặng giữa lại phải ly; nói ly, hai bên phải hợp, thể tính tạp loạn, làm sao thành giới?: Suppose the eye-consciousness arose both from the eyes and from form. If they were united, there would still be a point of separation. If they were separated, there would still be a point of contact. Hence, the substance and nature would be chaotic and disorderly; how could a realm be set up? b) Vậy ông nên biết, mắt và sắc làm duyên sinh nhãn, và thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới mắt, sắc và nhãn thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that as to the eyes and form being the conditions that produce the realm of eye-consciousness, none of the three places exists. Thus, the eyes, form, and the form realm, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 4-5-6)Nhĩ Thanh Thức Giới: Srota-sabda-vijnana-dhatu (skt)—The realm of ear, sound, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, tai và tiếng làm duyên, sinh ra nhĩ thức. Cái thức đó nhân tai sinh, lấy làm giới, hay nhân tiếng sinh lấy tiếng làm giới?: Ananda! As you understand it, the ear and sound create the conditions that produce the ear-consciousness. Is this consciousness produced because of the ear such that the ear is its realm, or is it produced because of sound, such that sound is its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân tai sinh, hai tướng động tĩnh đã không hiện tiền, cái căn không thành tri giác. Tri giác không thành, cái thức hóa ra hình tướng gì? Nếu cái tai không có động tĩnh, không thành cái nghe, làm sao hình cái tai xen với sắc, chạm với trần, mà gọi được là thức giới. Cái nhĩ thức giới lại từ đâu mà lập ra được?: Ananda! Suppose the ear-consciousness were produced because of the ear. The organ of hearing would have no awareness in the absence of both movement and stillness. Thus, nothing would be known by it. Since the organ would lack awareness, what would characterize the consciousness? You may hold that the ears hear, but when there is no movement and stillness, hearing cannot occur. How, then, could the ears, which are but physical forms, unite with external objects to be called the realm of consciousness? Once again, therefore, how would the realm of consciousness be established? • Nếu nhân tiếng sinh, thức nhân tiếng mà có, không quan hệ gì đến cái nghe, như thế chính cái tướng của tiếng sẽ mất. Thức do tiếng sinh, dù cho tiếng nhân nghe mà có tướng, thì cái nghe phải nghe được thức: Suppose it was produced from sound. If the consciousness existed because of sound, then it would have no connection with hearing. Without hearing, then the characteristic of sound would have no location. Suppose consciousness existed because of sound. Given that sound exists because of hearing, which causes the characteristic of sound to manifest, then you should also hear the hearing-consciousness. • Nếu không nghe được, thức giống như tiếng. Thức đã bị nghe, thì cái gì biết nghe cái thức? Còn nếu không biết, hóa ra như cỏ cây. Không lẽ tiếng và nghe xen lộn thành trung giới. Giới đã không có địa vị ở giữa, thì tướng trong và ngoài từ đâu mà thành lập được?: If the hearing-consciousness is not heard, there is no realm. If it is heard, then it is the same as sound. If the consciousness itself is heard, who is it that perceives and hears the consciousness? If there is no perceiver, then in the end you would be like grass or wood. Nor is it likely that the sound and hearing mix together to form a realm in between. Since a realm in between could not be established, how could the internal and external characteristics be delineated? b) Vậy ông nên biết, tai và tiếng làm duyên sinh nhĩ thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới tai, tiếng, và nhĩ thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that as to the ear and sound creating the conditions which produce the realm of the ear-consciousness, none of the three places exists. Thus, the ear, sound, and sound-consciousness, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 7-8-9) Tỷ Hương Thức Giới: Ghrana-gandha-vijnana-dhatu (skt)—The realm of nose, smell, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, mũi và mùi làm duyên sinh ra tỷ thức. Cái thức đó nhân mũi sinh, lấy mũi làm giới; hay nhân mùi sinh, lấy mùi làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the nose and smell create the conditions that produce the nose-consciousness. Is this consciousness produced because of the nose, such that the nose is its realm? Or, is it produced because of smell, such that smell are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân mũi sinh, ý ông lấy gì làm tỷ căn? Cái mũi bằng thịt hay cái tính ngửi biết?: Suppose, Ananda, that the nose-consciousness were produced because of the nose, then in your mind, what do you take to be the nose? Do you hold that it takes the form of two fleshy claws, or do you hold it is an inherent ability of the nature which perceives smells as a result of movement? • Nếu lấy cái mũi bằng thịt, thịt tức là thân căn, thân biết gọi là xúc. Thân không phải là mũi. Xúc là trần của thân. Vậy không có cái gì đáng gọi là mũi, sao lập được giới?: Suppose you hold that it is fleshy claws which form an integral part of your body. Since the body's perception is touch, the sense organ of smelling would be named 'body' instead of 'nose,' and the objects of smelling would be objects of touch. Since it would not even have the name 'nose,' how could a realm be established for it? • Nếu lấy tính ngửi biết làm tỷ căn, ý ông muốn lấy cái gì làm biết ngửi? Nếu lấy chất thịt làm biết ngửi, thì cái mà thịt biết được là xúc chứ không phải tỷ căn. Nếu lấy hư không làm biết ngửi, thì hư không tự có biết, còn chất thịt lẽ ra không có biết. Như vậy đáng lẽ hư không mới thực là ông. Thân ông không phải có biết, thì ông A Nan biết nương vào đâu: Suppose you held that the nose was the perceiver of smells. Then, in your mind, what is it that perceives? Suppose it were the flesh that perceived. Basically, what the flesh perceives is objects of touch, which have nothing to do with the nose. Suppose it were emptiness that perceived. Then emptiness would itself be the perceiver, and the flesh would have no awareness. Thus, empty space would be you, and since your body would be without perception, Ananda would not exist. • Nếu lấy mùi làm biết ngửi, cái biết thuộc về mũi, nào có quan hệ gì đến ông?: If it is the smell that perceives, perception itself would lie with the smell. What would that have to do with you? • Nếu các mùi thơm thúi sinh ở mũi của ông, không phải ở cây y-lan hay chiên đàn mà ra, vậy khi không có hai thứ đó, ông thử ngửi mũi ông xem thơm hay thúi? Mùi thúi không phải thơm, mùi thơm không phải thúi. Nếu ngửi được cả hai mùi thơm thúi, thì một mình ông lẽ ra phải có hai mũi, và đứng trước tôi hỏi đạo, phải có hai A Nan, vậy ai là ông?: If it is certain that vapors of fragrance and stench are produced from your nose, then the two flowing vapors of fragrance and stench would not arise from the wood of Airavana or Chandana. Given that the smell does not come from these two things, when you smell your own nose, is it fragrant, or does it stink? What stinks does not give off fragrance; what is fragrance does not stink. Suppose you say you can smell both the fragrance and the stench; then you, one person, would have tow noses, and I would now be addressing questions to two Anandas. Which one is you? • Nếu mũi có một, thơm thúi không phải hai, thúi là thơm, thơm thành thúi, hai tính không có, vậy theo đâu mà lập giới?: Suppose there is one nose; then fragrance and stench would not be two. Since stench would be fragrance and fragrance would become stench, there would not be two natures, thus what would make up the realm? • Nếu nhân mùi sinh, cái tỷ thức nhân mùi mà có. Như con mắt thấy được, không nhìn con được mắt. Vậy tỷ thức nhân mùi mà có, lẽ ra không biết được mùi. Nếu biết được, không phải do mùi sinh. Còn nếu không biết, không phải là thức. Nếu mùi không có cái biết mùi thì không thành được giới hạn cái thức. Nếu không biết mùi, thì không phải do mùi mà lập ra giới. Không có tỷ thức là chặng giữa, thì nội căn, ngoại trần không thể thành lập, và các tính ngửi biết chỉ là hư vọng: If the nose-consciousness were produced because of smells, it follows that it is in existence just because of smells. Just as the eyes can see but are unable to see themselves, so, too, if it exists because of smells, it would not be aware of smells. If it is aware of smells, then it is not produced from smells. If it had no awareness, the realm of smelling would not come into being. If the consciousness were not aware of smells, then the realm would not be established from smells. Since there is no intermediate realm of consciousness, there is no basis for establishing anything internal or external, either. Therefore, the nature of smelling is ultimately empty and false. b) Vậy ông nên biết, mũi và mùi làm duyên sinh tỷ thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới mũi, mùi và tỷ thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the nose and smells being the conditions which produce the realm of the nose-consciousness, none of the three places exists. Thus, the nose, smells, and the realm of smelling, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 10-11-12) Thiệt Vị Thức Giới: Jihva-rasa-vijnana-dhatu (skt)—The realm of tongue, flavors, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, lưỡi và vị làm duyên sinh ra thiệt thức. Cái thức đó nhân lưỡi sinh, lấy lưỡi làm giới; hay nhân vị sinh, lấy vị làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the tongue and flavors create the conditions that produce the tongue-consciousness. Is the consciousness produced because of the tongue, such that the tongue is its realm, or is it produced because of the flavors, such that the flavors are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân lưỡi sinh, thì các vị trong thế gian ngọt như mía, chua như me, đắng như huỳnh liên, mặn như muối, cay như gừng và quế, mấy thứ đó đều không có vị. Ông thử tự nếm lưỡi ông, xem ngọt hay đắng? Nếu đắng thì cái chi đến nếm lưỡi. Lưỡi đã không tự nếm, thì lấy cái chi mà biết vị? Nếu không đắng, lưỡi không sinh ra được vị, sao lập thành giới?: Suppose, Ananda, that it were produced because of the tongue. Then all the sugar, black plums, Huang-lien, salt, wild ginger, and cassia in the world would be entirely without flavor. Also, when you taste your own tongue, is it sweet or bitter? Suppose the nature of your tongue were bitter. Then, what would it be that tasted the tongue? Since the tongue cannot taste itself, who would have the sense of taste? If the nature of the tongue were not bitter, there would be no flavor engendered by it. Thus, how could a realm be established? • Nếu nhân vị sinh, thì thiệt thức tự mình đã là vị, giống như lưỡi, không thể tự nếm vị mình được, sao biết là vị hay không phải vị? Lại tất cả các vị không phải do một vật sinh ra. Các vị đã do nhiều vật sinh ra, lẽ ra thức có nhiều thể: If it were produced because of flavor, the consciousness itself would be a flavor. The case would be the same as with the tongue-organ being unable to taste itself. How could the consciousness know whether it had flavor or not? Moreover, flavors do not all come from one thing. Since flavors are produced from many things, the consciousness would have many substances. • Nếu thức thể là một, và thể do vị sinh ra, thì đáng lẽ những vị mặn, nhạt, chua, cay hòa hợp cùng nhau sinh ra các tướng sai khác, đồng là một vị, không có phân biệt. Đãõ không có phân biệt, không gọi là thức, sao còn gọi là Thiệt-Vị-Thức Giới? Chẳng lẽ hư không sinh ra tâm thức của ông? Còn nói lưỡi và vị hòa hợp nhau mà sinh, thì cái chặng giữa căn trần đã không có tự tính, làm sao sinh được giới?: Suppose that the consciousness were of a single substance and that the substance was definitely produced from flavor. Then, when salt, bland, sweet, and pungent were combined, their various differences would change into a single flavor and there would be no distinctions among them. If there were no distinctions, it could not be called consciousness. So, how could it further be called the realm of tongue, flavor, and consciousness? Nor can it be that empty space produces your conscious awareness. The tongue and flavors could not combine without each losing its basic nature. How could a realm be produced? b) Vậy ông nên biết, lưỡi và vị làm duyên sinh thiệt thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới lưỡi, vị và thiệt thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the tongue and flavors being the conditions and that produce the realm of tongu-consciousness, none of the three places exists. Thus, the tongue, flavors, and the realm of the tongue, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 13-14-15) Thân Xúc Thức Giới: Kaya-sparshtavya-vijnana-dhatu (skt)—The realm of body-consciousness, objects of touch: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, thân và xúc làm duyên sinh ra thân thức. Cái thức đó nhân thân sinh, lấy thân làm giới hạn, hay nhân xúc sinh, lấy xúc làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the body and objects of touch create the conditions that produce the body-consciousness. Is the consciousness produced because of the body, such that the body is its realm, or is it produced because of objects of touch, such that objects of touch are its realm? • Nếu nhân thân sinh, tất không có hai cái duyên giác quán hợp ly, thân còn biết gì nữa?: Suppose, Ananda, that it were produced because of the body. When there was no awareness of the two conditions of contact with and separation from objects of touch, what would the body be conscious of? • Nếu nhân xúc sinh, chắc không có thân ông, ai không có thân mà biết hợp, biết ly được?: Suppose it were produced because of objects of touch. Then you would not need your body. Without a body, what could perceive contact with and separation from objects of touch? b) Ông A Nan! Vật không thể biết xúc, thân mới biết có xúc. Xúc biết thân, thân biết xúc. Đã là xúc thì không phải là thân. Đã là thân, tức không phải là xúc. Hai tướng thân và xúc vốn không có xứ sở. Hợp với thân thì thành ra tự thể tính của thân. Ly với thân thành ra những tướng hư không. Nội căn và ngoại trần đã không thành, cái giữa là thức làm sao lập được? Giữa đã không lập được, tính trong ngoài là không, vậy từ đâu mà lập được cái giới sinh ra thức của ông?: Ananda! Things do not perceive objects of touch. It is the body that perceives objects of touch. What the body knows is objects of touch, and what is aware of objects of touch is the body. What is objects of touch is not the body, and what is the body is not the objects of touch. The two characteristics of body and objects of touch are basically without a location. If it united with the body, it would be the body's own substance and nature. If it were apart from the body, it would have the same appearance as empty space. Since the inside and the outside don't stand up, how can one set up a middle? The middle cannot be set up either. The inside and the outside are by nature empty. From what realm, then, is your consciousness born? c) Vậy ông nên biết, thân và xúc làm duyên sinh thân thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới thân, xúc, và thân thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the body and objects of touch being conditions that produce the realm of body-consciousness, none of the three places exists. Thus, the body, objects of touch, and the realm of the body, thse three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 16-17-18) Ý-Pháp-Thức Giới: Mano-dharma-vijnana-dhatu (skt)—The realm of mind, dharmas, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, ý và pháp làm duyên sinh ra ý thức. Cái thức đó nhân ý sinh, lấy làm giới, hay nhân pháp sinh, lấy làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the mind and dharmas create the conditions that produce the mind-consciousness. Is this consciousness produced because of the mind, such that the mind is its realm, or is it produced because of dharmas, such that dharmas are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân ý sinh, trong ý ông chắc có suy nghĩ mới phát minh ý ông. Nếu không có sự vật ở ngoài, ý không sinh ra được. Lìa các pháp duyên, ý không có hình tướng. Vậy thức dùng để làm gì? Thức tâm của ông giống hay khác các tư tưởng và các sự rõ biết. Nếu đồng với ý, sao gọi là do ý sinh. Nếu khác với ý, đáng lẽ không biết gì. Nếu thế, sao nói là do ý sinh. Nếu có biết, sao lại chia ra thức và ý? Nguyên đồng và khác còn không lập được, sao lập được giới?: Supose, Ananda, that it were produced because of the mind. In your mind there certainly must be thoughts; these give expression to your mind. If there are no dharmas before you, the mind does not give rise to anything. Apart from conditions, it has no shape; thus, what use would the consciousness be? Moreover, Ananda, is your conscious awareness the same as your mind-organ, with its capacity to understand and make distinctions, or is it different? If it were the same as the mind, it would be the mind; how could it be something else that arises? If it were different from the mind, it should thereby be devoid of consciousness. If there were no consciousness, how would it arise from the mind? If there were consciousness, how would it differ from the mind? Since it is by nature neither the same nor different, how can a realm be established? • Nếu từ pháp trần sinh, các pháp trong thế gian, không rời năm trần. Ông hãy xem các sắc pháp, thanh pháp, hương pháp, vị pháp và xúc pháp, các tướng trạng đều phân minh, để đối với năm căn, các thứ đó đều không phải về phần trần cảnh của ý căn: Suppose it were produced because of dharmas. None of the dharmas of the world exists apart from the five defiling objects. Consider the dharmas of form, the dharmas of sound, the dharmas of smell, the dharmas of taste, and the dharmas of touch, each has a clearly distinguishable appearance and is matched with one of the five organs. They are not what the mind takes in. • Nếu thức của ngươi nhất định từ pháp trần ra, thì ngươi hãy xem xét hình tướng của mỗi pháp như thế nào? Suppose your consciousness were indeed produced through a reliance on dharmas. Take a close look at them now. What does each and every dharma look like? • Nếu lìa sắc, không, thông, nghẽn, ly, hợp, và sanh diệt, ngoài các tướng nầy chẳng có sở đắc: Underlying the characteristics of form and emptiness, movement and stillness, penetration and obstruction, unity and separation, and production and extinction there is nothing at all. • Sanh thì các pháp sắc không cùng sanh, diệt thì các pháp sắc không cùng diệt, vậy cái nhân sanh ra đã không, làm sao có thức? Thức đã chẳng có, giới từ đâu lập?: When there is production, then form, emptiness, and all dharmas are produced. When there is extinction, then form, emptiness, and all dharmas are extinguished. Since what is causal does not exist, if those causes produce the consciousness, what appearance does the consciousness assume? If there is nothing discernable about the consciousness, how can a realm be established for it? • Vì thế ông nên biết ý căn, pháp trần làm duyên với nhau sanh ra ý thứ giới, ba chỗ đều không, tức ý căn, pháp trần, ý thức giới vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the mind and dharmas being the conditions that produce the realm of the mind-consciousness, none of the three places exists. Thus, the mind, dharmas, and the realm of the mind, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously.
; (十八界) Phạm: Awỉàdaza dhàtava#. Cũng gọi Thập bát trì. Chỉ cho 18 pháp trong thân con người là: Sáu thức năng y, 6 căn sở y và 6 cảnh sở duyên. Giới nghĩa là chủng loại, chủng tộc. Vì 18 chủng loại này đều có tự tính khác nhau cho nên gọi là Thập bát giới. Tức 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý(có công năng phát sinh nhận biết), 6 cảnh đối tượng của sự nhận biết là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức là thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý. Trong 18 giới trừ 6 thức thì thành Thập nhị xứ, mà 6 thức thực tế cũng từ ý xứ mà được triển khai ra. Theo đây thì Thập bát giới hoặc Thập nhị xứ gồm thâu hết thảy pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.71; luận Câu xá Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ).
Thập bát giới 十八界
[ja] ジュウハッカイ jūhakkai ||| (astādaśa-dhātavah). (1) The eighteen compositional elements of human existence. The six sense faculties, their six objects and the six consciousnesses 六識. A way of pointing out the six intrinsic corresponding relationships between the six faculties (六根) and their objects (六塵) as separate functions. (2) In Consciousness-only theory, a classification of the one hundred dharmas in 18 elements. The first ten are the five sense organs and their objects. Added to this is the category of "mind elements" (manas and ālaya consciousness), the "dharma realm" (mental function dharmas, dharmas not concomitant with mind, and unconditioned dharmas), plus the six consciousnesses (六識), totaling eighteen. => (s: astādaśa-dhātavah) Có các nghĩa sau: 1. Mười tám phần tử cấu thành sự hiện hữu của con người, gồm 6 căn, 6 trần, và 6 thức. Phương pháp vạch ra sự liên hệ mật thiết bên trong của sáu căn, sáu trần thành những chức năng riêng biệt. 2. Theo giáo lý Duy thức, có sự phân loại 100 pháp thành 18 yếu tố. Mười yếu tố đầu là 5 giác quan(căn) và 5 đối tượng của giác quan(trần). Cộng thêm Tâm (Mạt-na thức và A-lại-da thức), Pháp (Tâm sở pháp, Tâm bất tương ưng hành pháp, và Vô vi pháp), và 6 thức, tổng cộng thành 18.
thập bát hội
359指大本十萬偈「金剛頂經」所載之十八說會。全稱金剛頂經瑜伽十八會,或稱金剛頂經十八會。十八會為:(一)一切如來真實攝教王會,乃於色究竟天之說會。(二)一切如來祕密主瑜伽會,亦於色究竟天之說會。(三)一切教集瑜伽會,於法界宮殿之說會。(四)降三世金剛瑜伽會,於須彌盧頂之說會。(五)世間出世間金剛瑜伽會,於波羅奈國空界中之說會。(六)大安樂不空三昧耶真實瑜伽會,於他化自在天宮之說會。(七)普賢瑜伽會,於普賢菩薩宮殿中之說會。(八)勝初瑜伽會,於普賢菩薩宮殿中之說會。(九)一切佛集會拏吉尼戒網瑜伽會,於真言宮殿之說會。(十)大三昧耶瑜伽會,於法界宮殿之說會。(十一)大乘現證瑜伽會,於阿迦尼吒天之說會。(十二)三昧耶最勝瑜伽會,於空界菩提場之說會。(十三)大三昧耶真實瑜伽會,於金剛界曼荼羅道場之說會。(十四)如來三昧耶真實瑜伽會,於金剛界曼荼羅道場之說會。(十五)祕密集會瑜伽會,於喻師婆伽處之說會。(十六)無二平等瑜伽會,於法界宮之說會。(十七)如虛空瑜伽會,於實際宮殿之說會。(十八)金剛寶冠瑜伽會,於第四靜慮天之說會。〔金剛頂經瑜伽十八會指歸、金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經卷上、金剛頂經大瑜伽祕密心地法門義訣卷上〕
; (十八會) Gọi đủ: Kim cương đính kinh du già thập bát hội; Kim cương đính kinh thập bát hội. Chỉ cho 18 hội thuyết pháp trong kinh Kim cương đính (Đại bản 10 vạn bài kệ): 1. Hội Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp giáo vương: Thuyết trên cõi trời Sắc cứu cánh. 2. Hội Nhất thiết Như lai bí mật chủ du già: Cũng thuyết trên cõi trời Sắc cứu cánh. 3. Hội Nhất thiết giáo tập du già: Thuyết ở cung điện Pháp giới. 4. Hội Hàng tam thế kim cương du già: Thuyết trên đỉnh Tu di lô. 5. Hội Thế gian xuất thế gian kim cương du già: Thuyết trong không giới nước Ba la nại. 6. Hội An lạc bất không tam muội da chân thực du già: Thuyết trên cung trời Tha hóa tự tại. 7. Hội Phổ hiền du già: Thuyết trong cung điện của bồ tát Phổ hiền. 8. Hội Thắng sơ du già: Thuyết trong cung điện của bồ tát Phổ hiền. 9. Hội Nhất thiết Phật tập hội noa cát ni giới võng du già: Thuyết ở cung điện Chân ngôn. 10. Hội Đại tam muội da du già: Thuyết ở cung điện Pháp giới. 11. Hội Đại thừa hiện chứng du già: Thuyết trên cõi trời A ca ni tra. 12. Hội Tam muội da tối thắng du già: Thuyết ở Bồ đề tràng không giới. 13. Hội Đại tam muội da chân thực du già: Thuyết ở Mạn đồ la đạo tràng Kim cương giới. 14. Hội Như lai tam muội da chân thực du già: Thuyết ở Mạn đồ la đạo tràng Kim cương giới. 15. Hội Bí mật tập hội du già: Thuyết ở nơi Dụ sư bà già. 16. Hội Vô nhị bình đẳng du già: Thuyết trong cung điện Pháp giới. 17. Hội Như hư không du già: Thuyết ở cung điện Thực tế. 18. Hội Kim cương bảo quan du già: Thuyết ở cõi trời Đệ tứ tĩnh lự. [X. Kim cương đính kinh du già thập bát hội chỉ qui; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai nhiếp chân thực đại thừa hiện chứng đại giáo vương; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng].
Thập bát hội chỉ quy 十八會指歸
[ja] ジュウハチエシキ Jūhachie shiki ||| The Shibahui zhigui; see Jingangdingjing yuqie shibahui zhigui 金剛頂經瑜伽十八會指歸 => c: Shibahui zhigui. Xem Kim cương đỉnh kinh Du già thập bát hội chỉ quy 金剛頂經瑜伽十八會指歸.
thập bát hữu
351有,為「空」之對稱。十八有乃指以十八空所破之十八種妄執。據止觀輔行傳弘決卷三之一(大四六‧二二○下)載:「破十八有,云十八空。」十八空為:內空、外空、內外空、空空、大空、第一義空、有為空、無為空、畢竟空、無始空、散空、性空、自相空、諸法空、不可得空、無法空、有法空、無法有法空。(參閱「十八空」353)
; (十八有) Đối lại: Thập bát không. Chỉ cho 18 vọng chấp (có) bị phá bằng 18 không. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 1 (Đại 46, 220 hạ) ghi: Phá 18 Hữu, nói 18 không. Mười tám không là: Nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thủy không, tán không, tính không, tự tướng không, chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không. (xt. Thập Bát Không).
thập bát hữu học
351指十八種有學之聖人。又作十八學人。即:隨信行、隨法行、信解、見至、身證、家家、一間、預流向、預流果、一來向、一來果、不還向、不還果、中般、生般、有行般、無行般、上流般。中阿含卷三十福田經即作此說,其中於「見道」之階段中,鈍根者為隨信行,又稱信行;利根者為隨法行,又稱法行。隨信行者入修道位稱為信解,隨法行者入修道位稱為見至,又稱見到或見得。不還果中得滅盡定者稱為身證。一來向中,斷欲界修惑之三品乃至四品者,稱為家家。不還向中,已斷七品乃至八品之惑,唯為第九品之惑間隔住果者,稱為一間,又稱一種、一種子。有學之三向三果,稱為預流向乃至不還果。七種不還中,色界生之五種聖者稱為中般乃至上流般。 大乘義章卷十七本以初之隨信、隨法、信解、見至四種統攝一切有學之人,謂餘者悉從此四種開出。然諸經論所舉互有差異,大乘法苑義林章卷五之本中,除去隨信、隨法,加極七返有、阿羅漢向。順正理論卷六十五除去身證加入阿羅漢向,所列順序初為四向三果,次揭隨信行、隨法行、信解、見至、家家、一間、中般乃至上流般,此為說一切有部所說。成實論卷一分別賢聖品,列舉隨信行、隨法行、隨無相行、須陀洹、行斯陀含、斯陀含、行阿那含、阿那含、中陰滅者、有生有滅者、有不行滅、有行滅者、有上行至阿迦尼吒滅者、有至無色處者、有轉世者、信解脫、見得、身證,為十八有學。〔大智度論卷二十二、俱舍論卷二十四〕(參閱「有學」2458)
; (十八有學) Cũng gọi Thập bát học nhân. Chỉ cho 18 bậc Thánh hữu học. Đó là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Gia gia, Nhất gián, Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban và Thượng ban. Thuyết trên đây được thấy trong kinh Phúc điền thuộc Trung a hàm quyển 30, trong đó, những người độn căn trong giai đoạn Kiến đạo là Tùy tín hành, cũng gọi Tín hành; hàng lợi căn là Tùy pháp hành, cũng gọi Pháp hành. Những người Tùy tín hành, khi vào giai vị Tu đạo thì gọi là Tín giải, người Tùy pháp hành khi vào giai vị Tu đạo thì gọi là Kiến chí, cũng gọi Kiến đáo hoặc Kiến đắc. Trong quả Bất hoàn, người được định Diệt tận, gọi là Thân chứng. Trong Nhất lai hướng, người dứt được 3 phẩm cho đến 4 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, gọi là Gia gia. Trong Bất hoàn hướng, người đã đoạn 7 phẩm, cho đến 8 phẩm hoặc, chỉ còn phẩm hoặc thứ 9 làm gián cách trụ quả, gọi là Nhất gián, cũng gọi Nhất chủng, Nhất chủng tử. Tam hướng tam quả của hàng Hữu học, gọi là Dự lưu hướng cho đến Bất hoàn quả. Trong 7 loại Bất hoàn, 5 loại bậc Thánh thụ sinh nơi cõi Sắc, gọi là Trung ban cho đến Thượng lưu ban. Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần đầu cho rằng Tùy tín, Tùy pháp, Tín giải và Kiến chí thống nhiếp tất cả hàng Hữu học, các bậc còn lại đều từ 4 bậc này khai triển ra. Tuy nhiên, các kinh luận nói về điểm này có khác nhau. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5, phần đầu, trừ Tùy tín, Tùy pháp ra mà thay vào đó bằng Thất cực phản hữu và A la hán hướng. Luận Thuận chính lí quyển 65 thì bỏ Thân chứng, thêm nhập A la hán hướng, còn thứ tự sắp xếp thì đầu tiên là Tứ hướng tam quả, kế là Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Gia gia, Nhất gián, Trung ban, cho đến Thượng lưu ban, đây là thuyết củaHữu bộ. Còn phẩm Phân biệt hiền thánh trong luận Thành thực quyển 1 thì liệt kê Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tùy vô tướng hành, Tu đà hoàn, Hành tư đà hàm, Tư đà hàm, Hành a na hàm, A na hàm, Trung ấm diệt giả, Hữu sinh hữu diệt giả, Hữu bất hành diệt giả, Hữu hành diệt giả, Hữu thượng hành chí A ca ni tra diệt giả, Hữu chí vô sắc xứ giả, Hữu chuyển thế giả, Tíngiải thoát, Kiến đắc và Thân chứng, đây là thuyết Thập bát hữu học của luận Thành thực. [X. luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.24]. (xt. Hữu Học).
Thập bát không
xem Mười tám nghĩa không.
thập bát không
352梵語 aṣṭādaśa śūnyatāḥ。即為破種種邪見所說之十八種空。即:(一)內空(梵 adhyātma-śūnyatā),指眼等六內處中,無我、我所及無眼等之法。(二)外空(梵 bahirdhā-śūnyatā),指色等六外處中,無我、我所,及無色等之法。(三)內外空(梵 adhyātma-bahirdhā-śūnyatā),即總六根、六境內外十二處中,無我、我所及無彼之法。(四)空空(梵 śūnyatā-śūnyatā),不著前三空。(五)大空(梵 mahā-śūnyatā),即於十方世界,無本來定方彼此之相。(六)第一義空(梵 paramārtha-śūnyatā),又作勝義空、真實空。即離諸法外,別無第一義實相之自性可得,於實相無所著。(七)有為空(梵 saṃskṛta-śūnyatā),即因緣集起之法與因緣之法相皆不可得。(八)無為空(梵 asaṃskṛta-śūnyatā),即於涅槃法離定取。(九)畢竟空(梵 atyanta-śūnyatā),又作至竟空。即以有為空、無為空破一切法,畢竟無有遺餘。(十)無始空(梵 anavarāgra-śūnyatā),又作無限空、無際空、無前後空。即一切法雖生起於無始,而亦於此法中捨離取相。(十一)散空(梵 anavakāra-śūnyatā),又作散無散空、不捨空、不捨離空。即諸法但和合假有,故畢竟為別離散滅之相無所有。(十二)性空(梵 prakṛti-śūnyatā),又作本性空,佛性空。即諸法自性空。(十三)自相空(梵 svalakṣaṇa-śūnyatā),又作自共相空、相空。即諸法總別、同異之相不可得。(十四)諸法空(梵 sarva-dharma-śūnyatā),又作一切法空。即於蘊、處、界等一切法,自相不定,離取相。(十五)不可得空(梵 anupalambha-śūnyatā),又作無所有空。即諸因緣法中,求我、法不可得。(十六)無法空(梵 abhāva-śūnyatā),又作無性空、非有空。即諸法若已壞滅,則無自性可得,未來法亦如是。(十七)有法空(梵 svabhāva-śūnyatā),又作自性空、非有性空。即諸法但由因緣而有,故現在之有即非實有。(十八)無法有法空(梵 abhāva-svabhāva-śūnyatā), 又作無性自性空。即總三世一切法之生滅及無為法,一切皆不可得。此十八空,各經典依廢立互異,而立十三空、十四空、十六空、二十一空等諸說。〔大品般若經卷一序品、放光般若經卷一、光讚般若經卷一、大般若經卷四七九、卷四八○、仁王護國般若波羅蜜多經卷上、大智度論卷三十一〕
; Aṣṭadaśa-suntyatah (S).
; (十八空) Phạm:Awỉàdaza-zùnyatà#. Mười tám thứ không được lập ra để phá các loại tà kiến. Đó là: 1. Nội không (Phạm: Adhyàtma- zùnyatà): Chỉ cho 6 chỗ bên trong như mắt... không có ngã, ngã sở và không có các pháp như mắt... 2. Ngoại không (Phạm: Bahirdhàzùnyatà): Chỉ cho 6 chỗ bên ngoài như sắc... không có ngã, ngã sở và các pháp như sắc... 3. Nội ngoại không (Phạm: Adhyàtma-bahirdhà-zùnyatà): Tức nói chung 12 chỗ trong và ngoài như 6 căn, 6 cảnh không có ngã, ngã sở và không có các pháp như 6 căn, 6 cảnh... 4. Không không (Phạm: Zùnyatàzùnyatà): Không bị vướng mắc vào 3 không nói trên. 5. Đại không (Phạm:Mahà-zùnyatà): Tức các thế giới trong 10 phương không có tướng định phương vị đây kia, xưa nay. 6. Đệ nhất nghĩa không (Phạm: Paramàrtha-zùnyatà), cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không. Tức lìa các pháp ra thì không có thực tướng Đệ nhất nghĩa đế nào khác, không chấp trước thực tướng. 7. Hữu vi không (Phạm: Saôskftazùnyatà): Tức pháp do nhân duyên sinh ra và pháp tướng của nhân duyên đều không. 8. Vô vi không (Phạm: Asaôskftazùnyatà): Không bám dính vào pháp niết bàn.9. Tất cánh không (Phạm: Atyantazùnyatà), cũng gọi Chí cánh không. Tức dùng hữu vi không, vô vi không phá tất cả pháp, rốt ráo không còn gì. 10. Vô thủy không (Phạm: Anavaràgra-zùnyatà), cũng gọi Vô hạn không, vô tế không, Vô tiền hậu không. Tức tất cả pháp tuy sinh khởi từ vô thủy nhưng cũng xa lìa tướng chấp thủ đối với pháp này(pháp vô thủy). 11. Tán không (Phạm: Anavakarazùnyatà), cũng gọi Tán vô tán không, Bất xả không, Bất xả li không. Tức các pháp chỉ do giả hòa hợp mà có, cho nên rốt cuộc thì không có tướng chia lìa tan diệt. 12. Tính không (Phạm: Prakftizùnyatà), cũng gọi Bản tính không, Phật tính không. Tức tự tính các pháp là không. 13. Tự tướng không (Phạm: Svalakwaịa-zùnyatà), cũng gọi Tự cộng tướng không, Tướng không. Tức tướng tổng biệt, đồng dị của các pháp đều không. 14. Chư pháp không (Phạm: Sarvadharma-zùnyatà), cũng gọi Nhất thiết pháp không. Tức tất cả pháp uẩn, xứ, giới... tự tướng bất định, lìa tướng chấp thủ. 15. Bất khả đắc không (Phạm: Anupalambha-zùnyatà), cũng gọi Vô sở hữu không. Tức trong các pháp do nhân duyên sinh, không có ngã và pháp. 16. Vô pháp không (Phạm: Abhàvazùnyatà), cũng gọi Vô tính không, Phi hữu không. Tức nếu các pháp đã hoại diệt thì không có tự tính, các pháp vị lai cũng vậy. 17. Hữu pháp không (Phạm: Svabhàva-zùnyatà), cũng gọi Tự tính không, Phi hữu tính không. Tức các pháp chỉdo nhân duyên mà có, cho nên cái có ở hiện tại tức chẳng phải có thật. 18. Vô pháp hữu pháp không (Phạm: Abhàva-svabhàva-zùnyatà), cũng gọi Vô tính tự tính không. Tức hết thảy pháp sinh diệt và pháp vô vi trong 3 đời đều không có thật. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; kinh Phóng quang bát nhã Q.1; kinh Quang tán bát nhã Q.1; kinh Đại bát nhã Q.479; 480; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; luận Đại trí độ Q.31].
thập bát không luận
353全一卷。陳‧真諦譯。收於大正藏第三十一冊。內容初解十八空之義,又闡釋此十八空攝於十六空、十四空之法義,次釋七種真如,詳說十勝智真實之義。本論實乃釋天親之中邊分別論中相品及真實品部分之作,因此古人視為龍樹之著,顯係錯誤,然原著者為何人迄今亦未可知。其內容除包含中邊分別論外,其餘部分亦頗重要,在唯識學發展史上值得注意。
; Aṣṭadasākasa śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
; (十八空論) Luận, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung đầu tiên giải thích nghĩa của 18 thứ không, nói rõ 18 không này được thu vào pháp nghĩa 16 không, 14 không. Kế đến giải thích 7 chân như, nói rõ ý nghĩa chân thực của 10 thắng trí. Thực ra, luận này giải thích phẩm Tướng và phẩm Chân thực trong luận Trung biên phân biệt của ngài Thiên thân, do đó mà người xưa lầm cho luận này là tác phẩm của ngài Long thụ, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa rõ ai là tác giả. Nội dung luận này ngoài điểm bao hàm luận Trung biên phân biệt ra, các phần khác cũng rất quan trọng, nhất là về mặt lịch sử phát triển Duy thức học đáng được chú ý.
Thập bát không luận 十八空論
[ja] ジュウハチクウロン Jūhachikū ron ||| Shibakong lun; 1 fasc.; the Treatise on the Eighteen Emptinesses, T 1616.31.861-7. A commentary on Vasubandhu's Treatise on Discriminating the Middle and the Extremes 中邊分別論, translated by Paramārtha 眞諦, the authorship of which is uncertain. Explain such categories as the eighteen kinds of emptiness 十八空 the seven kinds of suchness 七種眞如, etc. => c: Shibakong lun; e: Treatise on the Eighteen Emptinesses; 1 quyển . Luận giải của Thế Thân về Trung Biên phân biệt luận, Chân Đế dịch, Tác giả cuốn luận nầy chưa xác định được. Nội dung giải thích mỗi phạm trù qua 18 loại Không và bảy loại Chân như.
Thập bát không 十八空
[ja] ジュウハチクウ jūhachikū ||| "18 aspects of emptiness." as taught in the Mahāprajñāpāramitā-sūtra (摩訶般若波羅蜜經T 223). Internal emptiness, external emptiness, internal/external emptiness, empty emptiness, great emptiness, ultimate emptiness, conditioned emptiness, unconditioned emptiness, final emptiness, beginningless emptiness, dispersed emptiness, emptiness of nature, emptiness of self-marks, emptiness of all dharmas, emptiness of non-attainability, emptiness of non-existence, emptiness of existence, emptiness of existence and non-existence. Mười tám loại Không, được đề cập trong kinh Ma ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa (摩訶般若波羅蜜經 => s: Mahāprajñāpāramitā-sūtra). Đó là: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Không không, Đại không, Đệ nhất nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất cánh không, Vô thuỷ không, Tán không, Tính không, Tự tướng không, Chư pháp không, Bất khả đắc không, Vô pháp không, Vô pháp hữu pháp không.
thập bát khế ấn
353請參閱 十八大經 為通用於諸種修法之十八種印相。又作十八道契印、十八道。乃印相之基本形,為密教修行者於觀法時所用之主要合掌形相。大別為以下六法,其次第係依準印度接待貴賓之軌式。 (一)護身法:又作莊嚴行者法,即除穢淨身之法。計有五印,首先清淨行者自身之三業,結淨三業印;次令身得佛、蓮華、金剛三部之加被,身、口、意三業各各堅固,即結佛、蓮華、金剛三部三昧耶印;再結被如來甲冑莊嚴行者身之被甲護身印。 (二)結界法:結界即定道場之區域,於其四方設牆之意。有二印,即堅固所住地之地結印與四方設柵以防他人侵入之四方結印。 (三)道場法:其地區既已結界,正應建立道場莊嚴之。有二印:(1)道場觀,有廣中略三種,廣即指順次觀器界、寶樓閣、蓮華、月輪、種(子)三(形)尊(形),中乃略其中器界觀,略則更略樓閣觀,直接觀蓮、月、種三尊。(2)大虛空藏印,依此印言之加持力,道場觀所觀之身土並所想之供養供具等真實無異。 (四)勸請法:道場建已,正請入本尊聖眾。其中,為迎接本尊海會,故送七寶莊嚴之車輅,即結寶車輅印;請其乘車至道場之請車輅印;並迎出車輅降至壇上之迎請本尊印。 (五)結護法:本尊聖眾既已臨道場,故結修法所屬三部部主明王之印,以驅除常隨魔,堅固道場,即結部主印;並在虛空張網以堅固之金剛網覆道場上,令入其中者無障難,即結虛空網印;又在道場四方設柵,周圍繞以火焰護衛之,即結火院印。 (六)供養法:初結閼伽印,以香水洗浴聖眾之雙足乃至身體;又結華座印,為聖眾設圓滿開敷之蓮華座;復結廣修諸種供養之普供養印。 以上六法合為十八契印(如後圖所示),其法係根據十八契印之所記,此儀軌之作者,相傳為惠果或日僧空海。 古來對「十八」之表意有諸說。或以十八表示般若之十八空,十八界表示如來法身之德,或表示金剛界之五佛四菩薩及胎藏界中臺八葉院之九尊,或為金剛界十八會之總行等種種意義。另外契印之數古來亦有異說。 結十八契印供養本尊之修法,稱為十八道法,簡稱為十八道。又四度加行最初所行之十八道念誦次第法,亦簡稱為十八道,為初學行者所必先修者;其本尊一般乃依投花得佛而定。又十八道法為日本台密蘇悉地法之細行,在東密則攝於金剛界法。 十八契印之印相及真言如下:(一)淨三業印,即蓮華合掌,豎左右十指,而指掌共合。真言為「唵薩嚩婆嚩輸馱薩嚩達磨薩嚩婆嚩輸度唅」,意即「歸命自性清淨一切法自性清淨我」。(二)佛部三昧耶印,即「虛心合掌」,屈二食指,著二中指之上節,二拇指著二食指之下節。真言為「唵怛他蘗都納婆嚩也娑嚩訶」,意即「歸命如來發生成就圓滿」。(三)蓮華部三昧耶印,又作八葉印。即「虛心合掌」,立二食、二中、二無名等指開。真言為「唵跛娜謨納婆嚩也娑嚩訶」,意即「歸命蓮華發生成就圓滿」。(四)金剛部三昧耶印,即左手覆,右手仰,兩手背相合,以兩手之大小指相鉤,中間之三指如三股杵。真言為「唵嚩日盧納婆嚩也娑嚩訶」,意即「歸命金剛發生成就圓滿」。(五)被甲護身印,又作被甲印、護身三昧耶。即二手內縛,豎二中指相捻,屈二食指如鉤形,二拇指並豎,捻著於二無名指。真言為「唵嚩日羅儗儞鉢羅捻跛跢野娑婆賀」,意即「歸命金剛火極威耀成就」。(六)地結印,又作金剛橛。即以左之無名指、中指押入右之無名指、中指,餘之小指、食指、拇指相交。真言為「唵枳里枳里縛日羅縛日里部律滿馱滿馱吽發吒」,意即「歸命禁罰極禁罰金剛金剛定堅固結縛極結縛摧破恐怖」。(七)四方結印,又作金剛墻印。印相同前之地結印,但開二拇指。真言為「唵薩羅薩羅縛日羅鉢羅迦羅吽發吒」,意即「歸命堅固極堅固金剛墻恐怖」。(八)道場觀,印相即如來拳印,六種拳之一。即以右拳握左拳之拇指。真言為「唵步欠」,轉有相還變之穢土為寂靜無為之淨土,有遍滿法界之義。(九)大虛空藏印,即二手合掌,二中指外相叉,二食指相交如寶形。真言為「唵誐誐曩三婆嚩日囉蓥」,意即「歸命虛空生金剛歡喜」。(十)寶車輅印,又作送車輅印。即二手內相叉仰掌,二食指之側相交,二拇指各著食指之根下。真言為「唵都嚕都嚕吽」,都嚕都嚕(turu turu),乃車之轉聲;吽為金剛使者之種子,又為輪之種子。(十一)請車輅印,印相同寶車輅印,但拇指可不著食指。真言為「娜麼悉底羅野地尾迦喃怛他蘗多南唵嚩日朗銀儞野羯利沙也娑嚩訶」,意即「歸命三世諸如來,歸命金剛身召請成就」。(十二)迎請印,又作迎請本尊印、召請印。即內縛,立右拇指如鉤。真言為「唵爾曩爾迦曀荪呬娑嚩訶」,意即「歸命仁者召請」。(十三)部主印,又作部主結界印、辟除結界印。即二手合掌,屈二食指、二無名指入掌內,其指頭之背相著,二拇指豎開。真言為「唵阿蜜里都納皤嚩吽發吒娑嚩訶」,意即「歸命甘露發生摧破恐怖」。(十四)虛空網印,又作金剛網印。印相同前之地結印,但二拇指捻二食指。真言為「唵尾娑普羅捺落乞叉嚩日羅半惹羅吽發吒」,意即「歸命廣普擁護金剛網摧破恐怖」。(十五)火院印,全稱金剛火院印。即以左手掩右手之背。真言為「唵阿三莽擬儞吽發吒」,意即「歸命無等火摧破恐怖」。(十六)閼伽印,即以二手捧持閼伽器。真言為「曩莫三滿多沒馱南誐誐曩娑莽娑莽娑嚩訶」,意即「歸命普遍諸佛虛空等無等成就」。(十七)華座印,印相同前之蓮華部三昧耶印。真言為「唵迦麼攞娑嚩訶」,意即「歸命蓮華成就」。(十八)普供養印,即二手金剛合掌,二食指尖相著如寶形,二拇指並立。真言為「唵阿謨迦布惹麼尼跛納麼縛部日隸怛他蘗多尾路枳帝三滿多鉢羅薩羅吽」,意即「歸命不空供養寶珠蓮華金剛如來勝觀普遍舒展能滿願」。〔無量壽如來修觀行供養儀軌、如意輪軌、寶冊鈔卷三、十八契印義釋生起〕(參閱「四度加行」1730)
; (十八契印) Cũng gọi Thập bát đạo khế ấn, Thập bát đạo. Chỉ cho 18 thứ ấn tướng thông dụng trong các pháp tu của Mật giáo, là hình cơ bản của ấn tướng; tức là hình tướng chắp tay chủ yếu mà người tu hành Mật giáo sử dụng khi quán pháp, được chia thành 6 pháp, thứ tự sắp xếp theo nghi thức tiếp đãi khách quí của Ấn độ. Đó là: 1. Hộ thân pháp: Cũng gọi Trang nghiêm hành giả pháp, tức là pháp Trừ uế tịnh thân. Tất cả có 5 ấn, trước hết kết ấn Tịnh tam nghiệp để làm cho 3 nghiệp của chính hành giả được trong sạch; kế đến kết ấn Tam muội da của Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ cầu sự gia bị cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý được vững chắc; sau hết kết ấn Bị giáp hộ thân cầu được mặc áo giáp mũ trụ của Như lai để trang nghiêm thân hành giả. 2. Kết giới pháp: Kết giới tức là hạn định phạm vicủađạo tràng bằng cách lập các bức tường ở 4 phía. Có 2 ấn cho việc này là Địa kết ấn làm cho nơi ở được vững chắc và Tứ phương kết ấn xây tường hoặc hàng rào bao bọc 4 phía, đề phòng người ngoài xâm nhập. 3. Đạo tràng pháp: Khu đất đã được kết giới thì nên lập đạo tràng để trang nghiêm. Có 2 ấn cho việc này là ấn Đạo tràng quán và ấn Đại hư không tạng. Nhờ năng lực gia trì của ấn ngôn (ấn khế và chân ngôn) này mà thân độ của đạo tràng sở quán và vật cúng dường sở tưởng (được nghĩ tưởng đến) đều chân thực không khác. 4. Khuyến thỉnh pháp: Khi đạo tràng đã được kiến lập xong thì chính thức cung thỉnh Bản tôn thánh chúng giáng lâm đạo tràng. Trong đó, trước hết kết ấn Bảo xa lộ (một loại xe lớn) để dâng xe 7 báu đón rước Hải hội bản tôn, kế đến kết ấn Thỉnh xa lộ để cung thỉnh Chư Tôn ngồi xe đến đạo tràng, sau cùng kết ấn Nghinh thỉnh Bản tôn để tiếp rước Chư Tôn rời xe vào đạo tràng. 5. Kết hộ pháp: Sau khi Bản tôn thánh chúng vào đạo tràng thì kết Bộ chủ ấn(ấn Minh vương) của 3 bộ thuộc pháp tu để xua đuổi tà quỉ, làm cho đạo tràng vững chắc, đồng thời, kết ấn Hư không võng, giăng lưới kim cương cứng chắc trên hư không che phủ đạo tràng, khiến cho người vào đạo tràng không bị chướng nạn; sau hết, kết ấn Hỏa viện(tường lửa) bao bọc chung quanh để bảo vệ đạo tràng. 6. Cúng dường pháp: Trước hết kết ấn Át già, dùng nước thơm rửa 2 chân cho đến tắm gội thân thể của Thánh chúng; kế đến kết ấn Hoa tọa đặt tòa hoa sen nở rộ tròn đầy để Thánh chúng an tọa; sau hết kết ấn Phổ cúng dường, dâng các vật cúng để cúngdường khắp các Thánh chúng. Sáu pháp nói trên hợp chung thành 18 khế ấn(như hình vẽ ở sau), căn cứ theo sự ghi chép trong Thập bát khế ấn, tương truyền tác giả của pháp này là ngài Huệ quả của Trung quốc, hoặc là ngài Không hải của Nhật bản. Hình Tướng Của Mười Tám Khế Ấn: Từ xưa, đối với ý nghĩa tượng trưng của con số 18, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng số 18 biểu thị cho Thập Đại hư không tạng Bộ chủ (Mã đầu) Hoa tọa Phổ cúng dường Bảo xa lộ Tứ phương kết Thỉnh xa lộ Hư không võng Đạo tràng quán Nghinh thỉnh Hỏa viện Át già Tịnh tam nghiệp Phậtbộ tam muội da Liên hoa bộ tam muội da Kim cương bộ tam muội da Bị giáp hộ thân Địa kếtbát không của Bát nhã, hoặc biểu thị Thập bát giới, tượng trưng cho đức pháp thân của Như lai, hoặc biểu thị 5 đức Phật 4 vị Bồ tát của Kim cương giới và 9 vị tôn trong viện Trung đài bát diệp của Thai tạng giới, hoặc biểu thị hành nghi chung của Thập bát hội Kim cương giới. Pháp tu kết 18 khế ấn cúng dường Bản tôn, gọi là Thập bát đạo pháp, gọi tắt Thập bát đạo. Thập bát đạo niệm tụng thứ đệ pháp được tu hành trước tiên trong Tứ độ gia hạnh, cũng gọi tắt là Thập bát đạo. Bản tôn của pháp tu này thông thường được định theo phép Tung hoa chọn Phật (tung hoa lên các tượng Phật, hễ hoa dính vào đức Phật nào thì thờ đức Phật ấy làm Bản tôn). Thập bát đạo pháp là pháp Tô tất địa mà Thai mật Nhật bản tu riêng, còn Đông mật thì thu nhiếp chung vào pháp Kim cương giới. Ấn tướng và chân ngôn của Thập bát khế ấn như sau: 1. Tịnh tam nghiệp ấn: Liên hoa hợp chưởng, tức ngón tay dựng đứng, 2 bàn tay chắp lại. Chân ngôn là: Án tát phạ bà phạ du đà tát phạ đạt ma tát phạ bà phạ du độ hám(Qui mệnh tự tính thanh tịnh nhất thiết pháp tự tính thanh tịnh ngã). 2. Phật bộ tam muội da ấn: Hư tâm hợp chưởng, tức có 2 ngón trỏ, bấm vào đốt trên của 2 ngón giữa, 2 ngón cái bấm vào đốt dưới của 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Án đát tha nghiệt đô nạp bà phạ dã sa phạ ha(Qui mệnh Như lai phát sinh thành tựu viên mãn). 3. Liên hoa bộ tam muội da ấn (cũng gọi Bát diệp ấn): Hư tâm hợp chưởng, tức 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa và 2 ngón vô danh đứng dựng mở ra. Chân ngôn là: Án bả na mô nạp bà phạ dã sa phạ ha (Qui mệnh liên hoa phát sinh thành tựu viên mãn). 4. Kim cương bộ tam muội da ấn: Tay trái úp, tay phải ngửa, lưng 2 tay áp sát, 2 ngón cái và 2 ngón út móc vào nhau, 3 ngón ở giữa như chày 3 chĩa. Chân ngôn là:Án phạ nhật lô nạp bà phạ dã sa phạ ha(Qui mệnh Kim cương phát sinh thành tựu viên mãn). 5. Bị giáp hộ thân ấn(cũng gọi Bị giáp ấn, Hộ thân tam muội da): Hai tay kết nội phược, 2 ngón giữa dựng đứng bấm đầu vào nhau, co 2 ngón trỏ như hình móc câu, 2 ngón cái dựng thẳng, 2 ngón vô danh dính vào nhau. Chân ngôn là: Án phạ nhật la nghĩ nhĩ bát la nẫm bả đá dã sa bà hạ(Qui mệnh Kim cương hỏa cực uy diệu thành tựu). 6. Địa kết ấn (cũng gọi Kim cương quyết): Ngón vô danh, ngón giữa bên trái ép sát vào ngón vô danh, ngón giữa bên phải, các ngón út, ngón trỏ, ngón cái còn lại giao nhau. Chân ngôn là: Án chỉ lí chỉ lí phạ nhật la phạ nhật lí bộ luật mãn đà mãn đà hồng phát tra(Qui mệnh cấm phạt cực cấm phạt kim cương kim cương định kiên cố kết phược cực kết phược tồi phá khủng bố).7. Tứ phương kết ấn(cũng gọi Kim cương tường ấn). Ấn tướng giống như ấn Địa kết ở trên, nhưng 2 ngón cái dang ra. Chân ngôn là: Án tát la tát la phạ nhật la bát la ca la hồng phát tra (Qui mệnh kiên cố cực kiên cố kim cương tường khủng bố). 8. Đạo tràng quán: Ấn tướng là Như lai quyền ấn, 1 trong 6 Quyền ấn, tức nắm tay phải nắm lấy ngón cái của nắm tay trái. Chân ngôn là: Án bộ khiếm, chuyển uế độ hữu tướng tuần hoàn biến thành Tịnh độ tịch tĩnh vô vi, có nghĩa đầy khắp pháp giới.9. Đại hư không tạng ấn: Chắp 2 tay, 2 ngón giữa ép sát nhau, hai ngón trỏ giao nhau như hình báu. Chân ngôn là: Án nga nga nẳng tam bà phạ nhật la hộc (Qui mệnh hư không sinh kim cương hoan hỉ). 10. Bảo xa lộ ấn(cũng gọi Tống xa lộ ấn): Hai tay giao nhau bên trong và ngửa bàn tay, cạnh 2 ngón trỏ giao nhau, 2 ngón cái bấm vào chân đốt dưới của ngón trỏ. Chân ngôn là: Án đô rô đô rô hồng. Đô rô (turu turu) là tiếng chuyển động của xe; Hồng là chủng tử của sứ giả Kim cương, cũng là chủng tử của bánh xe. 11. Thỉnh xa lộ ấn: Ấn tướng giống như ấn Bảo xa lộ, nhưng ngón cái không dính vào ngón trỏ. Chân ngôn là: Na ma tất để la dã địa vĩ ca nẫm đát tha nghiệt đa án phạ nhật lãng ngân nhĩ dã yết lợi sa dã sa phạ ha(Qui mệnh tam thế chư Như lai, qui mệnh kim cương thân triệu thỉnh thành tựu).12. Nghinh thỉnh ấn (cũng gọi Nghinh thỉnh Bản tôn ấn, Triệu thỉnh ấn): Kết nội phược, ngón trỏ bên phải dựng giống như cái móc. Chân ngôn là: Án nhĩ nẵng nhĩ ca ế hê hi sa phạ ha (Qui mệnh nhân giả triệu thỉnh). 13. Bộ chủ ấn(cũng gọi Bộ chủ kếtgiới ấn, Tịch trừ kết giới ấn): Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ, 2 ngón vô danh để vào lòng bàn tay, lưng 2 đầu ngón dính nhau, 2 ngón cái dựng đứng dang ra. Chân ngôn là: Án a mật lí đô nạp bá phạ hồng phát tra sa phạ ha(Qui mệnh cam lộ phát sinh tồi phá khủng bố).14. Hư không võng ấn (cũng gọi kim cương võng ấn). Ấn tướng giống như ấn Địa kết ở trên, nhưng 2 ngón cái bấm vào 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Án vĩ sa phổ la nại lạc khất xoa phạ nhật la bán nhạ la hồng phát tra(Qui mệnh quảng phổ ủng hộ kim cương võng tồi phá khủng bố). 15. Hỏa viện ấn(gọi đủ là Kim cương hỏa viện ấn): Tay trái che trên lưng tay phải. Chân ngôn là: Án a tam mãng nghĩ nhĩ hồng phát tra(Qui mệnh vô đẳng hỏa tồi phá khủng bố). 16. Át già ấn: Hai tay bưng đồ đựng nước át già(nước thơm). Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nam nga nga sa mãng sa phạ ha(Qui mệnh phổ biến chư Phật hư không đẳng vô đẳng thành tựu). 17. Hoa tọa ấn: Ấn tướng giống như ấn Liên hoa bộ tam muội da ở trên. Chân ngôn là: Án ca ma la sa phạ ha (Qui mệnh liên hoa thành tựu). 18. Phổ cúng dường ấn: Hai tay kết Kim cương hợp chưởng, đầu 2 ngón trỏ dính vào nhau như hình báu, 2 ngón cái dựng đứng. Chân ngôn là: Án a mô ca bố nhạ ma ni bả nạp ma phạ nhật lệ đát tha nghiệt đa vĩ lộ chỉ đế tam mãn đa bát la tát la hồng(Qui mệnh bất không cúng dường bảo châu liên hoa kim cương Như lai thắng quán phổ biến thư triển năng mãn nguyện). [X. Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh cúng dường nghi quĩ; Như ý luân quĩ; Bảo sách sao Q.3; Thập bát khế ấn nghĩa thích sinh khởi].
thập bát khổ
356出自菩薩地持經卷七,即:愚癡報苦、行苦、所攝究竟苦、因苦、生苦、自作苦、他作苦、惡戒苦、惡見苦、本因苦、大苦、地獄苦、善趣攝苦、一切性苦、無智苦、增長苦、受苦、鄙穢苦等十八種苦。又舍利弗阿毘曇論卷十二亦另舉十八苦。即:老、死、憂、悲、苦、惱、大苦聚等七苦,與無明、行、識、名色、六入、觸、受、愛、取、有、生等十一苦,合為十八苦。
; (十八苦) Mười tám khổ. Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 nêu 18 khổ là: Ngu si báo khổ, hành khổ, sở nhiếp cứu cánh khổ, nhân khổ, sinh khổ, tự tác khổ, tha tác khổ, ác giới khổ, ác kiến khổ, bản nhân khổ, đại khổ, địa ngục khổ, thiện thú nhiếp khổ, nhất thiết tính khổ, vô trí khổ, tăng trưởng khổ, thụ khổ và bỉ uế khổ. Luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 12 cũng liệt kê 18 thứ khổ: Lão, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu và sinh.
thập bát la hán
359請參閱 十八大經 請參閱 十八大經 指十八位永住世間護持正法之阿羅漢。以其為應受人天供養之真人,故又稱十八應真。經典中有十六羅漢之記載,而無十八羅漢之說。最早畫十八羅漢者,有西元十世紀時之張玄及貫休,其後沙門覺範與大文豪蘇東坡皆曾對此頌贊,且蘇東坡所題之十八首贊文,每首皆標出羅漢之名,於十六羅漢之外,以慶友尊者為第十七羅漢,以賓頭盧尊者為第十八羅漢。實際上慶友即難提蜜多羅,為著「法住記」之人;賓頭盧即賓度盧頗羅墮,原已列為十六羅漢之首,此乃因不熟經典、不解梵語所致之誤。然因此而使十六羅漢逐漸發展為十八羅漢。自元代以來,多數寺院的大殿中皆供有十八羅漢,且羅漢像之繪畫及雕塑一般亦多以十八羅漢為主,自此,十八羅漢在我國遠較十六羅漢普遍。此外,另有加上迦葉尊者、軍徒鉢歎尊者為十八者;西藏地區或加達摩多羅、布袋和尚,或加降龍、伏虎二尊者,或加摩耶夫人、彌勒二者。〔佛祖統紀卷三十三〕(參閱「十六羅漢」394)
; (十八羅漢) Chỉ cho 18 vị A la hán trụ mãi trong thế gian để hộ trì chính pháp. Vì các ngài là những bậc Chân nhân đáng nhận sự cúng dường của trời và người nên cũng gọi là Thập bát Ứng thân. Trong kinh điển có chép về Thập lục La hán chứ không có thuyết Thập bát La hán. Những người đầu tiên đã vẽ tượng Thập bát La hán là các vị Trương huyền và Quán hưu sống vào thế kỉ X Tây lịch. Về sau, sa môn Giác phạm và Đại văn hào Tô đông pha đều có làm kệ tán thán Thập bát La hán, nhất là 18 bài kệ tán của Tô đông pha, mỗi bài đều có nêu tên vị La hán. Ngoài Thập lục La hán, tôn giả Khánh hữu được lấy làm vị La hán thứ 17 và tôn giả Tân đầu lô là vị La hán thứ 18. Trên thực tế, tôn giả Khánh hữu chính là ngài Nan đề mật đa la, người soạn Pháp trụ kí; còn tôn giả Tân đầu lô chính là Tân độ lô phả la đọa, vốn đã là vị đầu tiên trong 16 vị La hán, vì không thuộc kinh điển, lại cũng không hiểu tiếng Phạm nên lập thêm lầm như thế. Nhưng do đó mà Thập lục La hán đã dần dần phát triển thành Thập bát La hán. Từ đời Nguyên trở đi, trong Đại điện của nhiều chùa viện đều có thờ Thập bát La hán và đắp vẽ hoặc chạm khắc tượng La hán, nói chung phần nhiều cũng lấy Thập bát La hán làm chính, từ đó, Thập bát La hán ở Trung quốc phổ biến hơn Thập lục La hán nhiều. Ngoài ra Tượng 18 vị La hán đắp bằng đất ở chùa Báo ân, huyện Thọ, tỉnh An huy, Trung quốc còn có chỗ thêm tôn giả Ca diếp và tôn giả Quân đồ bát thán thành 18 La hán; các vùng ở Tây tạng có nơi thêm ngài Đạt ma đa la, Bố đại hòa thượng, hoặc thêm 2 tôn giả Hàng long và Phục hổ, hoặc thêm 2 vị Ma da phu nhân và Di lặc. [X. Phật tổ thống kí Q.33]. (xt. Thập Lục La Hán).
Thập bát La-hán 十八羅漢
[ja] ジュウハチラカン jūhachi rakan ||| The eighteen arhats. The scriptural tradition originally lists only sixteen arhats 十六羅漢, but later on, two more names were added (see the longer discussion under 羅漢). (1) The most commonly found two additional names are 慶友 (also known as 慶友尊者) and 賓頭盧 (also known as 賓頭盧尊者). But there are also the additions of (2) 降龍 ("Subduer of Dragons") and 伏虎 ("Suduer of Lions"), two ancient Indian Buddhist sages. (3) Queen Maya 摩耶夫人 and Maitreya 彌勒, and (4) Mahākāśyapa 迦葉 and 軍徒鉢歎. => Mười tám vị A-la-hán. Trong Kinh điển truyền thông chỉ liệt kê 16 vị, nhưng về sau, có 2 vị được thêm vào (xem trình bày kỹ hơn trong mục La hán). Có các thuyết sau: 1. Hai vị được thêm vào phổ biến nhất là: Khánh Hữu (còn gọi là Khánh Hữu Tôn giả 慶友尊者) và Tân Đầu Lô (còn gọi là Tân Tân Đầu Lô Tôn giả 賓頭盧尊者). Nhưng còn có những thuyết sau: 2. Hàng Long 降龍 và Phục Hổ 伏虎 là hai vị Thánh trong Phật giáo Ấn Độ. 3. Hoàng hậu Ma-Gia 摩耶夫人và Di Lặc 彌勒 s: Maitreya. 4. Ma-ha Ca-diếp 迦葉s: Mahākāśyapa và Quân đồ Bát thán 軍徒鉢歎.
thập bát nguyện
Eighteenth vow.
Thập Bát Nê Lê
(十八泥犁): xem Thập Bát Địa Ngục(十八地獄) bên trên.
thập bát pháp giới
See Thập Bát Giới.
thập bát sinh xứ
350謂修四禪定所生之色界十八天處。又作十八天。即:(一)初禪三天:(1)梵眾天,梵者,淨之意。謂此天無染欲,乃初禪天主之民眾。(2)梵輔天,謂此天為初禪天主之輔佐臣僚。(3)大梵天,謂此天為初禪天之主,梵名尸棄,主領三千大千世界。(二)二禪三天:(1)少光天,謂此天光明最少。(2)無量光天,謂此天光明增勝,無有限量。(3)光音天,謂此天以光明為語音。(三)三禪三天:(1)少淨天,謂此天意識之樂受清淨。(2)無量淨天,謂此天之淨勝少淨天,不可量測。(3)徧淨天,謂此天樂受最勝,其淨周徧。(四)四禪九天:(1)無雲天,前舉諸天之所居依雲而住,此天則在雲之上,居無雲之首,故稱為無雲天。(2)福生天,謂此天修勝福力而生於其中。(3)廣果天,謂此天之果報廣大,無有勝之者。(4)無想天,謂此天從生至死一期果報,心想不行。(5)無煩天,謂此天離欲界之苦與色界之樂,而無煩惱。(6)無熱天,謂此天研究心境,無依無處,清涼自在而無熱惱。(7)善見天,謂此天妙見十方世界,圓澄而無塵垢。(8)善現天,謂此天空無障礙。(9)色究竟天,謂此天於諸塵幾微之處,研窮究竟。〔天台四教儀〕(參閱「色界」2545)
; The eighteen Brahmalokas, where rebirth is necessary, i.e. where mortality still exists.
; (十八生處) Cũng gọi Thập bát thiên. Chỉ cho 18 tầng trời cõi Sắc là những nơi sinh đến của người tu Tứ thiền định: I. Ba tầng trời Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Tầng trời này không có dục nhiễm, gồm dân chúng của Thiên chủ cõi Sơ thiền. 2. Phạm phụ thiên: Tầng trời này gồm các quan liêu phụ tá của Thiên chủ Sơ thiền. 3. Đại phạm thiên: Tầng trời này là chủ của cõi trời Sơ thiền, tên tiếng Phạm làZikhi-brahman (Thi khí), đứng đầu 3 nghìn thế giới đại thiên. II. Ba tầng trời Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên: Tầng trời này có ánh sáng ít nhất. 2. Vô lượng quang thiên: Tầng trời này có vô lượng ánh sáng. 3. Quang âm thiên: Tầng trời này dùng ánh sáng làm ngôn ngữ. III. Ba tầng trời Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên: Những lạc thụ trong ý thức của tầng trời này thanh tịnh. 2. Vô lượng tịnh thiên: Sự thanh tịnh ở tầng trời này thù thắng hơn cõi trời Thiểu tịnh không thể tính lường. 3. Biến tịnh thiên: Những lạc thụ ở tầng này là thù thắng nhất, sự thanh tịnh lan tràn khắp. IV. Chín tầng trời Tứ thiền: 1. Vô vân thiên: Các tầng trời nói trên nương vào mây mà trụ, còn tầng trời này thì ở trên mây, cho nên gọi là Vô vân. 2. Phúc sinh thiên: Những người tu phúc đức thù thắng được sinh về tầng trời này.3. Quảng quả thiên:Quả báo của tầng trời này rộng lớn không cõi trời nào sánh bằng. 4. Vô tưởng thiên: Chư thiên cõi trời này có quả báo từ khi sinh ra đến khi chết đi, các hoạt động tâm tưởng đều ngưng. 5. Vô phiền thiên: Chư thiên cõi trời này đã lìa nỗi khổ ở cõi Dục và niềm vui ở cõi Sắc nên không còn phiền não. 6. Vô nhiệt thiên: Tầng trời này xét về tâm cảnh thì không có chỗ nương, thường mát mẻ tự tại, không có các nhiệt não. 7. Thiện kiến thiên: Chư thiên ở đây thấy suốt các thế giới trong 10 phương, trong sạch không có trần cấu. 8. Thiện hiện thiên: Tầng trời này không có chướng ngại. 9. Sắc cứu cánh thiên: Chư thiên tầng trời này quán xét đến chỗ cùng cực của các trần.[X. Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Sắc Giới).
thập bát sư
357印度古代有一切智、神通、韋陀等三類之六師外道,總稱十八師外道;此十八師正值佛世。即:(一)一切智六師,指尼乾子等六人,見邪理、發邪智,而辯才無礙,係由思慧而產生者。一般所說之六師外道(富蘭那迦葉、末伽梨拘舍梨子、刪闍耶毘羅胝子、阿耆多翅舍欽婆羅、迦羅鳩馱迦旃延、尼乾陀若提子)即為此類外道。(二)神通六師,指須跋陀等六人,得世間禪定,而發五神通,係由修慧而產生者。(三)韋陀六師,又稱文字外道,指阿蘭迦蘭等六人,能誦四韋陀十八經,係由聞慧而產生者。以上係注維摩詰經卷三所說。〔摩訶止觀卷十上、百論疏卷上之中、四教義卷二〕
; (十八師) Chỉ cho 18 nhà ngoại đạo Ấn độ sống cùng thời đại với đức Phật, tức là 3 nhóm Lục sư Nhất thiết trí, Thần thông và Vi đà. 1. Nhất thiết trí lục sư: Gồm Phú lan na ca diếp, Mạc già lê câu xá lê tử, San xà da tì la chi tử, A kì đa sí xá khâm bà la, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni càn đà nhã đề tử. Nhóm ngoại đạo này cố chấp tà lí, phát khởi tà trí, nhưng lại có biện tài vô ngại nhờ trí tuệ sinh ra. 2. Thần thông lục sư: Chỉ cho 6 người như Tu bạt đà... được thiền định thế gian, phát 5 thần thông, là nhờ tutuệ mà sinh ra. 3. Vi đà lục sư(cũng gọi Văn tự ngoại đạo): Chỉ cho 6 người như A lan ca lan... có khả năng đọc tụng 18 kinh trong 4 bộ Vi đà, là do văn tuệ sinh ra. [X. Chú duy ma cật kinh Q.3; Ma ha chỉ quán Q.10 thượng, Bách luận sớ Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.2].
thập bát thiên
Bràhmaloka (S). The eighteen heavens of form, rùpadhatu sắc giới three of the first dhyana: Phạm chúng, Phạm phụ, Đại Phạm; three of the second: Thiểu quang, Vô lượng quang, Quang âm: three of the third: Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh, Biến tịnh; and nine of the fourth: Vô vân, Phúc sinh, Quảng quả, Vô tưởng, Vô phiền, Vô , Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu kính.
thập bát trọng địa ngục
357即十八層地獄。(一)據十八泥犁經所載,即:先就乎、居盧倅略、乘居都、樓、旁卒、草烏卑次、都意難且、不盧都般呼、烏竟都、泥盧都、烏略、烏滿、烏藉、烏呼、須健渠、末頭乾直呼、區逋塗、沈莫。(二)據曲園雜纂引問地獄經所述,即:泥犁、刀山、沸沙、沸屎、黑身、火車、鑊湯、鐵床、
; (十八重地獄) Mười tám tầng địa ngục. 1. Theo kinh Thập bát nê lê thì 18 tầng địa ngục là: Tiên tựu hồ, Cư lô tốt lược, Thừa cư đô, Lâu, Bàng tốt, Thảo ô ti thứ, Đô ý nan thả, Bất lô đô ban hô, Ô cánh đô, Nê lô đô, Ô lược, Ô mãn, Ô tịch, Ô hô, Tu kiện cừ, Mạt đầu càn trực hô, Khu bô đồ và Trầm mạc. 2. Theo kinh Vấn địa ngục thì mười tám địa ngục là: Nê lê, Đao sơn, Phí sa, Phí thỉ, Hắc thân, Hỏa xa, Hoạch thang, Thiết sàng, Ngại sơn, Hàn băng, Bác bì, Súc sinh, Đao binh, Thiết ma, Băng địa ngục, Thiết sách, Thư trùng và Dương đồng. Trong Thất tu loại cảo của Lang anh đời Minh cho rằng 6 căn, 6 trần, 6 thức không có nơi chốn là 18 tầng địa ngục.
thập bát tuệ quán
Theo Thanh Tịnh Đạo, có mười tám pháp tuệ quán—According to The Path of Purification, there are eighteen Principal Insights of the abandoning by substitution of opposites. 1) Đoạn thường tưởng bằng quán vô thường: The abandoning of the perception of permanence, through the means of the contemplation of impermanence. 2) Đoạn lạc tưởng bằng quán khổ: The abandoning of the perception of pleasure, through the means of the contemplation of pain. 3) Đoạn ngã tưởng bằng quán vô ngã: The abandoning of the perception of self, through the means of the contemplation of not self. 4) Đoạn khoái cảm bằng quán ly dục: The abandoning of delight, through the means of the contemplation of dispassion (revulsion). 5) Đoạn tham bằng quán ly tham: The abandoning of greed, through the means of the contemplation of fading away. 6) Đoạn sinh bằng quán diệt: The abandoning of originating, through the means of the contemplation of cessation. 7) Đoạn chấp thủ bằng quán từ bỏ: The abandoning of grasping, through the means of the contemplation of relinquishment. 8) Đoạn cái tưởng nguyên vẹn bằng quán hoại: The abandoning of the perception of compactness, through the means of the contemplation of destruction. 9) Đoạn tích lũy bằng quán diệt: The abandoning of accumulation, through the means of contemplation of fall. 10) Đoạn tưởng bền bỉ bằng quán biến đổi: The abandoning of the perception of lastingness, through the means of the contemplation of change. 11) Đoạn tướng bằng quán vô tướng: The abandoning of the sign, through the means of the contemplation of the signless. 12) Đoạn dục bằng quán vô dục: The abandoning of desire, through the means of the contemplation of the desireless. 13) Đoạn tà giải bằng quán không: The abandoning of misinterpreting, through the means of the contemplation of voidness. 14) Đoạn tà giải do chấp thủ vào một cái lõi kiên cố bằng quán đi sâu vào tăng thượng tuệ: The abandoning of misinterpreting due to grasping at a core, through the means of insight into states that is higher understanding. 15) Đoạn tà giải do mê mờ bằng chánh tri kiến: The abandoning of misinterpreting due to confusion, through the means of correct knowledge and vision. 16) Đoạn tà giải do y cứ các hành bằng quán nguy hiểm trong các hành: The abandoning of misinterpreting due to reliance on formations, through the means of the contemplation of danger in them. 17) Đoạn phi tư duy bằng quán tư duy: The abandoning of non-reflexion, through the means of the contemplation of reflexion. 18) Đoạn tà giải do trói buộc bằng quán quay đi: The abandoning of misinterpreting due to bondage, through the means of the contemplation of turning away.
thập bát tông
351乃指日本佛教之十八宗。即:三論宗、法相宗.華嚴宗、律宗、俱舍宗、成實宗、天台宗、真言宗、融通念佛宗、淨土宗、真宗、日蓮宗、時宗、臨濟宗、曹洞宗、黃檗宗、普化宗與修驗宗等。
; (十八宗) Chỉ cho 18 tông của Phật giáo Nhật bản. Tức là tông Hoa nghiêm, tông Tam luận, tông Pháp tướng, Luật tông, tông Câu xá, tông Thành thực, tông Thiên thai, tông Tịnh độ, Chân tông, tông Nhật liên, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Hoàng bá, tông Tu nghiệm và Thời tông.
Thập Bát Tằng Địa Ngục
(十八層地獄): xem Thập Bát Địa Ngục(十八地獄) bên trên.
thập bát viên tịnh
357謂諸佛所住之淨土(受用土)具備有十八種圓滿之殊勝功德。又稱十八圓滿、十八具足。即:(一)色相圓淨,又作顯色圓滿、色類具足。謂諸佛之受用土普放光明,遍照一切世界。(二)形貌圓淨,又作形色圓滿、相貌具足、莊嚴具足。謂諸佛所遊化之處、所居止之處,一一皆具足眾多之妙飾莊嚴。(三)量圓淨,又作分量圓滿、量具足。謂諸佛所處之淨土廣大無邊,不可測量。(四)處圓淨,又作方所圓滿、方所具足。謂淨土超越三界之行處,非苦、集二諦之所攝。(五)因圓淨,又作因圓滿、因具足。謂淨土由勝出世間善法之功能所生起,而非以世間法之集諦為因。(六)果圓淨,又作果圓滿、果具足。謂淨土係以如來、菩薩之「清淨自在唯識智」為其體性,而非以苦諦為體性。(七)主圓淨,又作主圓滿、主具足。謂淨土為如來之所鎮,如來恆居於淨土中央。(八)助圓淨,又作輔翼圓滿、伴具足、助伴具足。謂淨土為諸大菩薩之安樂住處,菩薩於其中常助益佛道,受行正教,亦教他人受行正教。(九)眷屬圓淨,又作眷屬圓滿、眷屬具足。謂淨土為無量八部眾等之所行處。(十)持圓淨,又作住持圓滿、住持具足。謂於淨土中,諸菩薩及眷屬能持廣大之法味喜樂,長養法身。(十一)業圓淨,又作事業圓滿。謂菩薩為二乘、凡夫等作一切利益之事。(十二)利益圓淨,又作攝益圓滿、順攝具足。謂淨土遠離三界一切煩惱、災橫、纏垢。(十三)無怖畏圓淨,又作無畏圓滿、無畏具足。謂淨土遠離一切天魔、死魔等眾魔之侵擾而無所怖畏。(十四)住處圓淨,又作住處圓滿、住止具足。謂淨土乃如來所依止之所,亦為一切殊勝莊嚴之所依處。(十五)路圓淨,又作路圓滿、道路具足。謂淨土以大乘正法中之聞、思、修等三慧為其往還通達之道。(十六)乘圓淨,又作乘圓滿、乘具足。謂淨土以奢摩他(止)、毘鉢舍那(觀)為所乘之道法。(十七)門圓淨,又作門圓滿、門具足。謂淨土以空、無相、無願等三解脫門為趣人之門。(十八)依止圓淨,又作依持圓滿、依住圓淨、依持具足。謂淨土以聚集無量功德之大蓮華王為依止。〔攝大乘論卷下、華嚴經隨疏演義鈔卷二十六、五教章通路記卷十八〕
; (十八圓淨) Cũng gọi Thập bát viên mãn, Thập bát cụ túc. Chỉ cho 18 thứ công đức viên mãn thù thắng của Tịnh độ(Thụ dụng độ) nơi chư Phật an trụ. Đó là: 1. Sắc tướng viên tịnh(cũng gọi Hiển sắc viên mãn, Sắc loại cụ túc): Cõi thụ dụng của chư Phật phóng ra ánh sáng chiếu soi khắp tất cả thế giới. 2. Hình mạo viên tịnh (cũng gọi Hình sắc viên mãn, Tướng mạo cụ túc, Trang nghiêm cụ túc): Những nơi chư Phật du hóa và những nơi chư Phật an trụ, đều có đầy đủ các thứ trang nghiêm vi diệu. 3. Lượng viên tịnh(cũng gọi Phân lượng viên mãn, Lượng cụ túc): Tịnh độ của chư Phật rộng lớn vô biên, không thể nào đo lường được. 4. Xứ viên tịnh(cũng gọi Phương sở viên mãn, Phương sở cụ túc): Tịnh độ là nơi chốn vượt ngoài 3 cõi, không có Khổ đế và Tập đế. 5. Nhân viên tịnh(cũng gọi Nhân viên mãn, Nhân cụ túc): Tịnh độ là do công năng thiện pháp xuất thế gian sinh khởi, chứ chẳng phải lấy Tập đế của pháp thế gian làm nhân. 6. Quả viên tịnh(cũng gọi Quả viên mãn, Quả cụ túc): Tịnh độ lấy trí Thanh tịnh tự tại duy thức của Như lai và Bồ tát làm thể tính, chứ không phải lấy Khổ đế làm thể tính.7. Chủ viên tịnh(cũng gọi Chủ viên mãn, Chủ cụ túc): Tịnh độ được Như lai hộ trì, Như lai thường an trụ chính giữa Tịnh độ. 8. Trợ viên tịnh (cũng gọi Phụ dực viên mãn, Bạn cụ túc, Trợ bạn cụ túc): Tịnh độ là trú xứ an lạc của các vị đại Bồ tát, trong đó các Bồ tát thường giúp ích Phật đạo, thường tu hành chính pháp và dạy người khác tu hành chính pháp. 9. Quyến thuộc viên tịnh (cũng gọi Quyến thuộc viên mãn, Quyến thuộc cụ túc): Tịnh độ này là nơicóvô lượng bát bộ chúng tuần hành. 10. Trì viên tịnh (cũng gọi Trụ trì viên mãn, Trụ trì cụ túc): Trong Tịnh độ, các Bồ tát và quyến thuộc giữ gìn pháp vị hỉ lạc rộng lớn để nuôi lớn pháp thân. 11. Nghiệp viên tịnh(cũng gọi Sự nghiệp viên mãn): Các vị Bồ tát làm tất cả việc ích lợi cho hàng Nhị thừa và phàm phu. 12. Lợi ích viên tịnh(cũng gọi Nhiếp ích viên mãn, Thuận nhiếp cụ túc): Tịnh độ này xa lìa tất cả phiền não, tai nạn và sự trói buộc của 3 cõi. 13. Vô bố úy viên tịnh(cũng gọi Vô úy viên mãn, Vô úy cụ túc): Tịnh độ này xa lìa sự xâm nhập quấy nhiễu của các loài ma như Thiên ma, Tử ma nên không có sợ hãi.14. Trụ xứ viên tịnh(cũng gọi Trụ xứ viên mãn, Trụ chỉ cụ túc): Tịnh độ này là nơi nương ở của Như lai, cũng là nơi nương ở có đầy đủ tất cả sự trang nghiêm thù thắng. 15. Lộ viên tịnh(cũng gọi Lộ viên mãn, Đạo lộ cụ túc): Tịnh độ này dùng 3 tuệ văn, tư, tu trong chính pháp Đại thừa làm con đường qua lại thông suốt. 16. Thừa viên tịnh(cũng gọi Thừa viên mãn, Thừa cụ túc): Tịnh độ này lấy Xa ma tha(Chỉ)và Tì bát xá na(Quán) làm đạo pháp sở thừa. 17. Môn viên tịnh (cũng gọi Môn viên mãn, Môn cụ túc): Tịnh độ này lấy 3 cửa giải thoátKhông,Vô tướng, Vô nguyện làm cửa đi vào. 18. Y chỉ viên tịnh(cũng gọi Y trì viên mãn, Y trụ viên tịnh, Y trì cụ túc): Tịnh độ này lấy Đại liên hoa vương có vô lượng công đức làm y chỉ. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.26; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.18].
thập bát vấn
357宋代汾陽善昭禪師將學人之問話分類總為十八種。又作汾陽十八問。即:(一)請益問,乃直接向師家問法,請求指導。(二)呈解問,學人自呈見解,乞師家糾正。(三)察辨問,學人巧為辨難,試察師者。(四)投機問,學人之機宜與師機鋒互相投合之問。(五)偏僻問,學人以偏僻見解為問。(六)心行問,學人對修行之事請求糾正之問。(七)探拔問,學人探驗為師者見處深淺之問。(八)不會問,學人未會得而問。(九)擎擔問,劈頭擎某物來問。(十)置問問,引用古人問答之語而問。(十一)故問問,引用經論中某故事而問。(十二)借事問,假借事例或譬喻而問。(十三)實問問,舉事實而問。(十四)假問問,借虛假之事而問。(十五)審問問,呈露不審之點以進問。(十六)徵問問,詰難而問。(十七)明問問,學人心中既已明知,直捷而問。(十八)默問問,不現言語,以動作而問。〔人天眼目卷二〕
; Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II, Thập Bát Vấn của Phần Dương Thiện Chiểu là đường lối thực hành của giáo lý Thiền cho đến khoảng thế kỷ thứ mười. Phần Dương Thiện Chiểu sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười, là môn nhân của Thủ Sơn Tĩnh Niệm. Sự xếp loại trong Thập Bát Vấn tuy không có tính cách khoa học nhưng các câu hỏi rất là sáng sủa vì chúng phác họa cách thức học tập của Thiền thời bấy giờ—According to Zen Master D.T. Suzuki in the essays in Zen Buddhism, Book II, The Eighteen Kinds of Question, compiled by Shan-Chao of Fen-Yang, the way Zen teaching was practiced until about the tenth century. Fen-Yang-Shan-Chao lived at the end of the tenth century and was a disciple of Sheng-Nien of Shou-Shan. The classification in the work is unscientific but the “Questions” are illuminating in many ways as they illustrate how Zen was studied in those days. 1) Thỉnh Ích: Câu hỏi xin chỉ dạy. Thông thường là câu hỏi của đệ tử hỏi thầy, muốn hiểu rõ những vấn đề như Phật Đà, Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Tàu làm gì, yếu chỉ của Phật pháp, Pháp thân, vân vân: The question asking for instruction. This is what is generally asked by a novice of the master, wishing to be enlightened on such subjects as Buddha, the signification of Bodhidharma's visit to China, the essence of the Buddhist teaching, the Dharmakaya, etc. 2) Trình Giải: Người hỏi cầu xin thầy ấn chứng bằng cách bày tỏ điều kiện tinh thần của riêng mình. Một Thầy Tăng hỏi Triệu Châu: “Thầy nói gì với một người không mang cái gì hết?” Y đang phân tích tâm trạng của riêng mình. Triệu Châu đáp: “Thì cứ mang theo.”—The question in which the questioner asks for the master's judgment by describing his own mental condition. When a monk said to Chao-Chou, “What do you say to one who has nothing to carry about?” He was analyzing his own state of mind. To this Chao-Chou replied, “Carry it along.” 3) Sát Biện: Người hỏi muốn biết rõ lập trường của Bổn Sư. Một nhà sư đến kiếm Đồng Phong cư ngụ tại một thảo am trên núi, hỏi: “Nếu có con cọp bỗng nhiên hiện ra ở đây, thầy sẽ làm gì?” Am chủ liền rống lên như một con cọp; nhà sư kia có vẻ hoảng sợ; thấy thế am chủ cả cười ha hả: The question whereby the questioner attempts to see where the master stands. A monk came to Tung-Fêng who lived in a mountain hut and asked him, “If a tiger should suddenly appear here, what would you do?” The hut-keeper roared like a tiger; the monk behaved as if terrified; whereupon the keeper laughed heartily. 4) Đầu Cơ: Trong câu hỏi nầy, người hỏi cho thấy y vẫn còn có chỗ nghi ngờ về sự thành đạt của mình và y diễn tả ước muốn được xác chứng của mình. Một nhà sư hỏi Thiên Hoàng Đạo Ngộ: “Tôi phải làm gì khi bóng mờ của nghi tình chưa dứt?” Đạo Ngộ đáp: “Giữ lấy một cái cũng còn cách xa chỗ trúng.”—The question in which the questioner shows that he still has a doubt as to his attainment and expresses his desire for confirmation. A monk asked Tao-Wu of T'ien-Huang, “What shall I do when there is still a shadow of doubt?” Tao-Wu replied, “Even oneness when held on to is wide of the mark.” 5) Thiên Tích: Câu hỏi mà người hỏi nóng lòng muốn thấy ra thái độ của thầy. Một nhà sư hỏi Triệu Châu: “Vạn pháp quy nhất; nhất quy về đâu?” Triệu Châu nói: “Khi ở Thanh Châu, tôi có may được một chiếc áo nặng bảy cân.”—The question whereby the questioner is anxious to find out the master's attitude. A monk asked Chao-Chou, “All things are reducible to the One; but where is the One reducible?” Chao-Chou replied, “When I was in the district of Ch'ing I had a robe made that weighed seven pounds.” 6) Tâm Hành: Người hỏi vì không biết tiếp tục học Thiền như thế nào. Một nhà sư hỏi Hưng Hóa: “Kẻ học nầy không phân biệt nổi đen với trắng, xin sư soi sáng cho.” Câu hỏi vừa xong thì sư cho một tát bên thân: The question asked by one who is at a loss as to how to go on with his study of Zen. A monk asked Hsing-Hua: “I am unable to distinguish black from white. Pray enlighten me somehow.” The question was hardly out when the master gave him a good slashing. 7) Thám Bạt: Câu hỏi được hỏi với ý định thăm dò sở đắc của thầy. Loại câu hỏi nầy chắc chắn đã thịnh hành khi các Thiền viện được dựng lên khắp nơi và các nhà sư bái phỏng từ thầy nầy sang thầy khác. Một nhà sư hỏi Phong Huyệt: “Kẻ ấy không hiểu mà chưa từng có chút nghi, thế là làm sao?” Sư đáp: “Khi con linh qui trèo lên đất bằng, nó không thể không để lại dấu vết nơi đất bùn.”—The question asked with the intention to probe into the attainment of the master. This kind of question must have been in vogue when Zen monasteries were every where established and the monks travelled from one master to another. A monk asked Fêng-Hsueh, “How is it that one who understand not, never cherishes a doubt?” Fêng-Hsueh replied: “When a tortoise walks on the ground, he can not help leaving traces in the mud.” 8) Bất Hội: Hỏi vì không hiểu; ở đây có vẻ không khác với loại câu “Tâm Hành.” Một nhà sư hỏi Huyền Sa: “Tôi là một người mới nhập tòng lâm; mong sư chỉ thị tôi cần phải học tập như thế nào.” Huyền Sa đáp: “Nhà ngươi có nghe dòng suối rì rào kia chăng?” Vị sư đáp: “Bẩm, có!” Huyền Sa nói: “Vậy theo lối đó mà vào.”—The question of ignorance. This does not seem to differ from the sixth question. A monk asked Hsuan-Sha: “I am a new comer in the monastery; please tell me how to go on with my study.” Hsuan Sha replied: “Do you hear the murmuring stream?” The monk said: “Yes, master.” Hsuan-Sha said: “If so, here is the entrance.” 9) Kình Đảm: Người hỏi có quan điểm nào đó về Thiền và muốn biết nhận xét của thầy ra sao: “Tôi chẳng làm gì được với thế trí biện thông; xin sư cho một thoại đầu của Thiền.” Khi nhà sư hỏi như vậy, ông thầy liền giáng cho một đòn rất nặng: The question proposed by one who has his own view of Zen and wishes to see how the master takes it. A monk asked his master: “As to worldly knowledge and logical cleverness, I have nothing to do with them; please let me have a Zen theme.” The master gave him a hearty blow. 10) Trí: Trong câu hỏi nầy có đặc ra lời nói của một bậc lão túc. Một nhà sư hỏi Vân Môn: “Trừng mắt lên mà cũng không thấy bờ mé thì làm sao?” Vân Môn bảo: “Xem kìa?”—The question in which an ancient master's saying is referred to. A monk said to Yun-Mên: “What would one do when no boundaries are seen, however wide the eyes are open?” Said Yun-Mên: “Look!” 11) Cố: Câu hỏi có chứa đựng những lời nói trong kinh. Một nhà sư hỏi Thủ Sơn: Theo kinh nói hết thảy chúng sanh đều có Phật tính; vậy sao chúng sanh không biết?” Thủ Sơn đáp: “Biết chứ.”—The question containing words from the sutras. A monk asked Shou-Shan: “According to the sutra, all beings are endowed with the Buddha-nature; how is it then that they know it not?” Shou-Shan replied: “They know.” 12) Tá: Câu hỏi gồm có những đối chiếu với một sự thực đã biết. Một nhà sư hỏi Phong Huyệt: “Biển cả có châu làm sao nhặt được?” Phong Huyệt đáp: “Lúc Võng tượng đến chói chan ánh sáng; chỗ Li lâu đi sóng vỗ trùm trời. Càng cố giữ nó càng tan, càng cố thấy nó càng tối.”—The question containing references to a known fact. A monk asked Fêng-Hsueh: “The ocean is said to contain the precious gem; how can a man lay hands on it?” Fêng-Hsueh replied: “When Wang-Hsiang comes, its brightness is dazzling; when li-lou goes, the waves roll as high as the sky. The more one tries to take hold of, the farther it vanishes; the more one attempts to see it, the darker it grows.” 13) Thật: Câu hỏi bắt đầu bằng một lối nhận xét trực tiếp. Một nhà sư hỏi Tam Thánh: “Kẻ học nầy chỉ thấy Hòa Thượng là Tăng, đâu là Phật? Đâu là Pháp?” Tam Thánh đáp: “Đây là Phật, đây là Pháp, biết chăng?”—The question starts from an immediate fact of observation. A monk as San-Shêng: “I see that you belong to the Brotherhood, what is the Buddha? What is the Dharma?” San-Shêng replied: “This is the Buddha, this is the Dharma, do you know?” 14) Giả: Câu hỏi chứa đựng một trường hợp giả thiết. Một nhà sư hỏi Kính Sơn: “Đức Phật nầy ngồi trong Điện; cái nào là Đức Phật kia?” Kính Sơn đáp: “Đức Phật này ngồi trong Điện.”—The question containing a hypothetical case. A monk asked Ching-Shan: “This Buddha sits in the Hall; what is the other Buddha?” Ching Shan replied: “This Buddha sits in the Hall.” 15) Thẩm: Câu hỏi bộc bạch một nghi tình thực thụ. Một vị sư hỏi Tổ sư: “Hết thảy các pháp bản lai đều là hữu; như vậy cái gì là Vô?” Tổ sư đáp: “Câu hỏi của ngươi rất phân minh; hỏi ta làm gì?”—The question embodying a real doubt. A monk asked his master: “All things are such as they are from he beginning; what is that which is beyond existence?' The master replied with id solution: “Your statement is quite plain; what is the use of asking me?” 16) Trưng: Câu hỏi có ý định bức bách. Một vị sư hỏi Mục Châu: “Tổ sư từ Ấn sang đây để làm gì?” Mục Châu cắt nghĩa: “Hãy nói, để làm gì?” Vị sư không đáp. Mục Châu bèn đánh cho: The question with an aggressive intent. A monk asked Mu-Chou: “The Patriarch came from India and what did he design to do here?” Mu-Chou retorted: “You tell; what did he design?” The monk gave no reply, so Mu-Chou struck him. 17) Minh: Câu hỏi được nêu lên một cách đầy đủ và chính xác. Một triết gia ngoại đạo hỏi Phật: “Tôi không hỏi hữu ngôn hay vô ngôn.” Đức Phật ngồi im lặng. Triết gia nầy nói: “Đức Thế Tôn quả đại từ, đại bi. Ngài khơi sáng những mây mờ mê hoặc cho tôi, chỉ cho tôi lối vào Chánh đạo.”—The question plainly and straightforwardly stated. A non-Buddhist philosopher asked the Buddha: “Words or no-words, I ask neither.” The Buddha remained silent. The philosopher said: “The Blessed One is indeed full of mercy and compassion. He has cleared off clouds of confusion for my sake, showing me how to enter upon the path.” 18) Mặc: Câu hỏi không diễn thành lời. Một triết gia ngoại đạo đến kiếm Phật và đứng trước ngài mà không nói một tiếng. Phật liền bảo: “Quá nhiều rồi ông ơi!” Triết gia này tán thán Phật, nói: “Do lòng từ bi của Đức Thế Tôn mà nay tôi được vào Đạo.”—The question not expressed in words. A non-Buddhist philosopher came to the Buddha and stood before him without uttering a word. The Buddha then said, “Abundantly indeed, O philosopher!” The philosopher praised the Buddha saying, “It is all owing to the Blessed One's mercy that I now enter upon the path.”
; (十八問) Cũng gọi Phần dương thập bát vấn. Chỉ cho 18 câu hỏi mà những người học đặt ra khi tham vấn bậc thầy do Thiền sư Phần dương Thiện chiêu đời Tống chia làm 18 loại. (xt. Phần Dương Thập Bát Vấn).
thập bát vật
352指大乘比丘遊行諸方,托鉢乞食時,身常攜行之十八種物。原始佛教教團中,僧人所有物則僅有六種。十八物即:(一)楊枝,即齒木,乃除臭、助消化之具。(二)澡豆,即用以洗淨穢手之大豆、小豆。(三)三衣。(四)瓶,即盛裝飲用水之容器。(五)鉢,即食器。(六)座具,乃坐臥時敷於地上或床上之布。(七)錫杖,乃頭部附鐶之杖。(八)香爐。(九)漉水囊,乃為瀘過水中蟲所用之布囊。(十)手巾。(十一)刀子,即剃髮、剪指甲、裁衣等所用之小刀。(十二)火燧,乃打火之道具。(十三)鑷子,用以拔除鼻毛之物。(十四)繩床,即繩製之床。(十五)經,即經卷。(十六)律,即戒本。(十七)佛像。(十八)菩薩像。此十八種物為大乘比丘所應護持者,若虧其一,則犯輕垢罪,其中尤以離三衣為捨墮,屬重垢;離鉢為突吉羅,屬中垢;其餘屬輕垢。〔梵網經卷下〕(參閱「六物」1274)
; (十八物) Chỉ cho 18 thứ vật dụng mà vị tỉ khưu Đại thừa thường mang theo bên mình khi đi du phương khất thực. Đó là: 1. Dương chi: Tăm xỉa răng, dương chi còn có tác dụng giúp cho việc tiêu hóa. 2. Tảo đậu: Bột đậu xanh, đậuđỏ dùng để rửa tay(thời xưa chưa có xà phòng). 3. Tam y: Ba tấm áo ca sa. 4. Bình: Đồ đựng nước uống. 5. Bát: Tức bát đựng thức ăn. 6. Tọa cụ: Tấm vải để trải trên đất hay trên giường khi ngồi nằm. 7. Tích trượng: Cây gây trên đầu có đeo những cái vòng bằng kim loại. 8. Hương lư: Lò đốt hương. 9. Lộc thủy nang: Túi lọc nước may bằng vài lớp vải để lựa bỏ những con trùng trong nước trước khi dùng. 10. Thủ cân: Khăn lau tay. 11. Đao tử: Dao cạo râu tóc, cắt móng tay, cắt vải may vá... 12. Hỏa toại: Vật dùng để lấy lửa. 13. Nhiếp tử: Cái nhiếp dùng để nhổ lông mũi. 14. Thằng sàng: Giường bện bằng dây.15. Kinh Phật: Kinh mang theo để đọc tụng hằng ngày. 16. Luật: Giới bản. 17. Tượng Phật. 18. Tượng Bồ tát. Mười tám vật nói trên tỉ khưu Đại thừa phải giữ gìn, nếu thiếu 1 vật thì phạm tội khinh cấu; nếu lìa 3 áo thì phạm tội xả đọa, thuộc trọng cấu(tội nặng), lìa bát thì phạm tội đột cát la, thuộc về trung cấu (tội nặng vừa), ngoài ra đều thuộc khinh cấu(tội nhẹ). [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Lục Vật).
thập bát ý cận hạnh
358以意識為近緣所生起之十八種受。全稱十八意近行受,略稱十八受、十八意行。即喜、憂、捨三受以意識為近緣,各行於色、聲、香、味、觸、法等六境,生起十八受;分別為色喜意近行乃至法喜意近行之六種喜意近行,色憂意近行乃至法憂意近行之六種憂意近行,色捨意近行乃至法捨意近行之六種捨意近行。〔雜阿含經卷十七、大毘婆沙論卷一三九〕
; (十八意近行) Gọi đủ: Thập bát ý cận hành thụ. Gọi tắt: Thập bát ý thụ, Thập bát ý hành. Chỉ cho 18 thứ cảm thụ dùng ý thức làm duyên gần mà sinh khởi. Tức 3 cảm thụ: Hỉ(mừng), ưu(lo), xả(không mừng không lo), lấy ý thức làm duyên gần, mỗi thụ đều hiện hành trong 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà sinh khởi 18 cảm thụ. Sáu thứ hỉ ý cận hành theo thứ tự là Sắc hỷ ý cận hành cho đến Pháp hỉ ý cận hành; 6 thứ ưu ý cận hành theo thứ tự là Sắc ưu ý cận hành cho đến Pháp ưu ý cận hành và 6 thứ xả ý cận hành theo thứ tự là Sắc xả ý cận hành cho đến Pháp xả ý cận hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.139].
thập bát đại kinh
347謂印度外道之十八種經書。或作十八種大經、十八種經書、十八大論十八明處。即為四吠陀、六論及八論之合稱。四吠陀(梵 Veda)為:梨俱吠陀(梵 ^g-veda)、夜柔吠陀(梵 Yajur-veda)、沙摩吠陀(梵 Sāma-veda)、阿闥婆吠陀(梵 Atharva-veda)。六論(梵 Veda-aṅga)為:式叉論(梵 Śikṣā)、毘伽羅論(梵 Vyākaraṇa)、柯剌波論(梵 Kalpa)、豎底沙論(梵 Jyotiṣa)、闡陀論(梵 Chandas)與尼鹿多論(梵 Nirukta)。八論為:肩亡婆論(或謂眉亡娑)、那邪毘薩多論(梵 Naya-vistara?)、伊底呵婆論(梵 Itihāsa)、僧佉論(梵 Sāṃkhya)、課伽論(梵 Garga?)、陀菟論(梵 Dhanur)、揵闥婆論(梵 Gandharva)、阿輸論(梵 Āyur-śāstra)等。〔百論疏卷上之下、婆藪槃豆法師傅〕
; (十八大經) Cũng gọi Thập bát chủng đại kinh, Thập bát chủng kinh thư, Thập bát đại luận, Thập bát minh xứ. Từ ngữ gọi chung 18 bộ kinh luận của ngoại đạo ở Ấn độ, tức 4 bộ kinh Phệ đà, 6 bộ luận và 8 bộ luận. Bốn kinh Phệ đà (Phạm:Veda) gồm: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajurveda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sama-veda) và A thát bà phệ đà (Phạm: Atharvaveda). Sáu luận (Phạm: Veda-aíga) gồm: Luận Thức xoa (Phạm:Zikwà), luận Tì già la (Phạm: Vyàkaraịa), luận Kha lạt ba (Phạm: Kalpa), luận Thụ để sa (Phạm: Jyotiwa), luận Xiển đà (Phạm: Chandas) và luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta). Tám luận gồm: Luận Kiên vong bà(có chỗ gọi là Mi vong bà), luận Na tà ni tát đa (Phạm: Naya-vistara?), luận Y để để ha bà (Phạm: Jtihàsa), luận Tăng khư (Phạm: Saôkhya), luận Khóa già (Phạm:Garga?), luận Đà nâu (Phạm: Dhanur), luận Kiện thát bà (Phạm:Gandharva) và luận A du (Phạm:Àyur-zàstra). [X. Bách luận sớ Q.thượng; Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện].
thập bát đạo
359為十八道印契之略稱。又密教結十八契印供養本尊之修法,稱為十八道法,略稱十八。以修十八印言能到佛果之覺位,故稱十八道(因道);又因十八契印皆為如來內證果地之智印,故稱十八道(果道)。或謂十八道為金剛頂十八會之總行;或為表金剛界五佛四波羅蜜(或謂九會)與胎藏界中臺八葉院九尊,以顯金剛、胎藏「兩部不二」行軌之深意。
; In the two mandala Vajradhàtu and Garbhadhàtu each has nine central objects of worship. The Shingon Chân ngôn disciple devotes himself to meditation on one of these eighteen each day.
; (十八道) Gọi đủ: Thập bát đạo ấn khế. Chỉ cho 18 ấn khế của Mật giáo. Vì tu 18 ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) có thể đạt đến ngôi vị giác ngộ của quả Phật, cho nên gọi là Thập bát đạo(đạo nhân); lại do 18 ấn khế đều là trí ấn quả địa nội chứng của Như lai, cho nên gọi là Thập bát quả(đạo quả). Có thuyết cho rằng Thập bát đạo là hành nghi chung của Kim cương đính thập bát hội; hoặc biểu thị cho Ngũ Phật tứ ba la mật(hoặc gọi là Cửu hội) Kim cương giới và Cửu tôn của viện Trung đài bát diệp Thai tạng giới để hiển bày ý nghĩa sâu xa của hành quỹ Kim cương, Thai tạng Lưỡng bộ bất nhị. Ngoài ra, trong Mật giáo, pháp tu kết 18 ấn khế cúng dường Bản tôn, gọi là Thập bát đạo pháp, gọi tắt là Thập bát.
Thập Bát Địa Ngục
(十八地獄): còn gọi là Thập Bát Tằng Địa Ngục (十八層地獄), Thập Bát Trùng Địa Ngục (十八重地獄), Thập Bát Nê Lê (十八泥犁). Theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc, vua Diêm La (閻羅) là đứng đầu các địa ngục, 18 vị thuộc hạ Phán Quan Theo chủ quản 18 tầng địa ngục. Sau khi truyền vào nước này, Phật Giáo đã lấy tư tưởng này để dùng và giải thích về các tầng địa ngục. Mười Tám Tầng Địa Ngục trong Thập Bát Nê Lê Kinh (十八泥犁地獄) do An Thế Cao (安世高) nhà Đông Hán dịch, lấy sự dài ngắn, tội hình, đẳng cấp, sự nhẹ nặng trong thời gian thọ tội để bài liệt thành. Mỗi địa ngục so với địa ngục trước tăng thêm nỗi khổ lên 20 lần, tăng tuổi thọ thêm 1 lần. Mười Tám Tầng Địa Ngục này có âm dịch Phạn văn như: Quang Tựu Cư (光就居), Cư Hư Thối Lược (居虛倅略), Tang Cư Đô (桑居都), Lâu (樓), Phòng Tốt (房卒), Thảo Ô Ti Thứ (草烏卑次), Đô Lô Nan Đán (都盧難旦), Bất Lô Bán Hô (不盧半呼), Ô Cánh Đô (烏竟都), Nê Lô Đô (泥盧都), Ô Lược (烏略), Ô Mãn (烏滿), Ô Tạ (烏藉), Ô Hô (烏呼), Tu Kiện Cư (須健居), Mạt Đô Can Trực Hô (末都干直呼), Khu Thông Đồ (區通途), Trần Mạc (陳莫). Chữ “tầng (層)” trong Mười Tám Tầng Địa Ngục không phải chỉ cho phương trên dưới về mặt không gian, mà đối với thời gian cũng như hình pháp vốn bất đồng, cho nên nó có ý nghĩa về mặt thời gian nhiều hơn. Tầng địa ngục thứ nhất lấy tuổi thọ con người 3750 năm là 1 ngày, 30 ngày là 1 tháng, 12 tháng là 1 năm, tội quỷ chịu hình phạt ở chốn địa ngục này đến 1 vạn năm (tức 135 ức năm trên cõi người). Thời gian thọ hình phạt ở các tầng địa ngục sau thì lấy thời gian thọ hình ở đia ngục trước tăng lên gấp hai lần. Thuyết về Mười Tám Tầng Địa Ngục vốn phát xuất từ Bà La Môn Giáo của Ấn Độ ngày xưa và về sau có những thay đổi khác. Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 5 có nêu rõ 18 loại địa ngục (s: naraka, niraya, p: niraya, 地獄) nhỏ như A Tỳ Địa Ngục (阿鼻地獄), 18 Địa Ngục Lạnh (十八寒地獄, Thập Bát Hàn Địa Ngục), 18 Địa Ngục Tối Tăm (十八黑闇地獄, Thập Bát Hắc Ám Địa Ngục), 18 Địa Ngục Nóng Ít (十八小熱地獄, Thập Bát Tiểu Nhiệt Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Đao (十八刀輪地獄, Thập Bát Đao Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Kiếm (十八劍輪地獄, Thập Bát Kiếm Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Xe Lửa (十八火車地獄, Thập Bát Hỏa Xa Địa Ngục), 18 Địa Ngục Phân Sôi (十八沸屎地獄, Thập Bát Phí Thỉ Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục), 18 Địa Ngục Sông Tro (十八灰河地獄, Thập Bát Hôi Hà Địa Ngục), 18 Địa Ngục Đá Nhọn (十八尖石地獄, Thập Bát Tiêm Thạch Địa Ngục), 18 Địa Ngục Hang Thép (十八鐵窟地獄, Thập Bát Thiết Quật Địa Ngục), 18 Địa Ngục Uống Nước Đồng (十八飲銅地獄, Thập Bát ẩm Đồng Địa Ngục), v.v. Trong Lương Thư (梁書) có kể câu chuyện Lưu Tát Hà (劉薩河) người Hồ do bị bệnh nặng mà chết, nhưng 10 ngày sau thì sống lại và ông tự cho rằng đã đi qua 18 tầng địa ngục. Như vậy, đến thời nhà Lương, tín ngưỡng về 18 tầng địa ngục đã rất thịnh hành và lưu truyền trong dân gian Trung Quốc. Ngoài ra, tên gọi của 18 tầng địa ngục này có khác nhau tùy theo các thư tịch kinh điển. Theo Gián Địa Ngục Kinh (間地獄經), 18 tầng địa ngục là Nê Lê Địa Ngục (泥犁地獄), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Phí Sa Địa Ngục (沸沙地獄, Địa Ngục Cát Sôi), Phí Thỉ Địa Ngục (沸屎地獄, Địa Ngục Phân Sôi), Hắc Thân Địa Ngục (黑身地獄, Địa Ngục Thân Đen), Hỏa Xa Địa Ngục (火車地獄, Địa Ngục Xe Lửa), Hoạch Thang Địa Ngục (鑊湯地獄, Địa Ngục Vạc Nước Sôi), Thiết Sàng Địa Ngục (鐵床地獄, Địa Ngục Giưòng Sắt), Cái Sơn Địa Ngục (蓋山地獄, Địa Ngục Vung Núi), Hàn Băng Địa Ngục (寒冰地獄, Địa Ngục Băng Lạnh), Bác Bì Địa Ngục (剝河地獄, Địa Ngục Lột Da), Súc Sanh Địa Ngục (畜生地獄, Địa Ngục Súc Sanh), Đao Binh Địa Ngục (刀兵地獄, Địa Ngục Đao Binh), Thiết Ma Địa Ngục (鐵磨地獄, Địa Ngục Mài Sắt), Băng Địa Ngục (冰地獄, Địa Ngục Băng), Thiết Sách Địa Ngục (鐵册地獄, Địa Ngục Sách Sắt), Thư Trùng Địa Ngục (蛆蟲地獄, Địa Ngục Con Giòi), Dương Đồng Địa Ngục (烊銅地獄, Địa Ngục Nấu Đồng). Trong Thủy Lục Toàn Đồ (水陸全圖) có Bạt Thiệt Địa Ngục (拔舌地獄, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Tiễn Đao Địa Ngục (剪刀地獄, Địa Ngục Dao Cắt), Thiết Thọ Địa Ngục (鐵樹地獄, Địa Ngục Cây Sắt), Nghiệt Kính Địa Ngục (孽鏡地獄, Địa Ngục Kính Yêu), Chưng Lung Địa Ngục (蒸籠地獄, Địa Ngục Lồng Hơi Nóng), Đồng Trụ Địa Ngục (銅柱地獄, Địa Ngục Trụ Đồng), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Băng Sơn Địa Ngục (冰山地獄, Địa Ngục Núi Băng), Du Oa Địa Ngục (油鍋地獄, Địa Ngục Nồi Dầu), Ngưu Kháng Địa Ngục (牛坑地獄, Địa Ngục Hầm Trâu), Thạch Áp Địa Ngục (壓石地獄, Địa Ngục Đá Đè), Thung Cữu Địa Ngục (舂臼地獄, Địa Ngục Cối Xay), Huyết Trì Địa Ngục (血池地獄, Địa Ngục Hồ Máu), Uổng Tử Địa Ngục (枉死地獄, Địa Ngục Chết Uổng), Trách Hình Địa Ngục (磔刑地獄, Địa Ngục Phanh Thây), Hỏa Sơn Địa Ngục (火山地獄, Địa Ngục Núi Lửa), Thạch Ma Địa Ngục (石磨地獄, Địa Ngục Mài Đá), và Đao Cứ Địa Ngục (刀鋸地獄, Địa Ngục Cưa Dao). Tại thành của Phong Đô Quỷ (酆都鬼), hai bên đại điện của Thiên Tử có chia thành Đông Địa Ngục và Tây Địa Ngục. Đông Địa Ngục gồm Ma Thôi Địa Ngục (磨推地獄, Địa Ngục Mài Kéo), Oạt Tâm Địa Ngục (挖心地獄, Địa Ngục Móc Tim), Hỏa Lạc Địa Ngục (火烙地獄, Địa Ngục Áp Lửa), Hàn Thủy Địa Ngục (寒水地獄, Địa Ngục Nước Lạnh), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Xa Liệt Địa Ngục (車裂地獄, Địa Ngục Xe Nghiền), Thư Trùng Địa Ngục (蛆蟲地獄, Địa Ngục Con Giòi), Bác Bì Địa Ngục (剝皮地獄, Địa Ngục Lột Da). Tây Địa Ngục có Đối Thung Địa Ngục (碓舂地獄, Địa Ngục Cối Xay), Cứ Giải Địa Ngục (鋸解地獄, Địa Ngục Cưa Xẻ), Du Oa Địa Ngục (油鍋地獄, Địa Ngục Nồi Dầu), Bạt Thiệt Địa Ngục (拔舌地獄, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Bổ Kinh Địa Ngục (補經地獄, Địa Ngục Vá Dây), Chuyển Luân Địa Ngục (轉輪地獄, Địa Ngục Chuyển Luân), Súc Sanh Địa Ngục (畜生地獄, Địa Ngục Súc Sanh) và Hoạch Thang Địa Ngục (鑊湯地獄, Địa Ngục Vạc Nước Sôi).
thập bình đẳng tâm
Ten kinds of equanimity of great enlightening beings—See Mười Tâm Bình Đẳng Của Chư Đại Bồ Tát.
thập bất cầu hạnh
Mười hạnh không cầu để phá mười chướng ngại lớn, cũng như mọi trở ngại và cản trở khác—Ten non-seeking practices which help eliminate the ten major obstacles as well as all other obstructions and impediments—See Ten Non-seeking practices.
thập bất hối giới
Ten rules which produce regrets—See Mười Giới Bất Hối.
thập bất nhị môn
373<一>乃指天台宗所立十種不二法門,以顯示觀心之大綱者。湛然據智顗之法華玄義所說之十妙,賦與實踐之解釋,即由迹門十妙立色心不二乃至受潤不二等十門,稱為十不二門。一般認為十不二門是互不相容、對立的,但由法華圓教來說,十不二門係顯示相互圓融,一體不可區分。故從凡夫現實之一念而言,一念本自圓滿具足宇宙之一切(即圓滿具足三千諸法),觀自身為無實體之空,但為虛假之現象,即可悟入十妙之理。 十不二門之成立有其先後順序,內容大致如下: (一)色心不二門,係根據十妙中之境妙而立。智慧觀照之對象,總攝於一念之中。分別而言,則有色法與心法二種。但因宇宙一切均攝入於凡夫一念之中,故稱心外無法。此外,即使是一微塵,亦圓滿具足宇宙之一切,故稱色法與心法不二,無所區別。 (二)內外不二門,係根據智妙及行妙而立。智慧所觀照之對象,雖有內外之分(即屬自己內在之一念心法,與自己以外所有心物之現象),但自三千、三諦之理而言,實無內外之區別,故稱不二。亦即內在之心與外在之佛、眾生等三法互融,本質上無別。 (三)修性不二門,係根據智妙及行妙所立。一念之性德,本來具足一切,但必須假借智慧之力,再加以後天之實踐修行始可顯現,故性與修之關係,宛如水與波;即依修照性,依性起修,故稱不二。 (四)因果不二門,係根據位妙及三法妙而立。雖因修德而有因位與果位之別,然此亦僅是本來具足之三千諸法,其現象各有差別,實則因與果二者之本體無異。 (五)染淨不二門,係根據感應妙及神通妙而立。由因果之別,雖可分為被煩惱所污之「染」,及離煩惱之「淨」,然此亦僅是法性與無明互斥或互用之二面。亦即法性變成無明而作用時,即造出迷之九界,無明變為法性作用時,則隨緣而有自由自在之教化作用,故稱染淨迷悟無別。 (六)依正不二門,係根據感應妙及神通妙而立。對前所述之淨,雖有正報之佛身(毘盧遮那佛)與依報之佛土(常寂光土)之別,但此依正二報,於理已本具於一心,故無依正之別。 (七)自他不二門,係根據感應妙及神通妙而立。「自」指施教化之佛,「他」指被教化之眾生。佛隨眾生根機而施教,眾生亦順適其教化,此乃因眾生於理本來具足三千,佛始得以三千之理為果而完成教化,故自他之感應不二。 (八)三業不二門,係根據說法妙而立。佛陀必以身、口、意三業教化眾生,而此三業不外是本具三千之表現,此與眾生理具之三千無異,故佛與眾生之三業毫無區別。 (九)權實不二門,係根據說法妙而立。佛之三業作用於教化對象時,隨對象而說方便法與真實教,但其三業是攝入一念之中,於理為同一,故三業所表現之權實之法為不二。 (十)受潤不二門,係根據眷屬妙、利益妙而立。佛陀對大小權實之機廣施權實之益,但能受之眾生本具非權非實而成權實之機,故能潤之佛亦具足非權非實,以隨應權實之機起教化。此即共一地之所生,一雨之所潤,故稱受潤不二。〔十不二門指要鈔、十不二門論講義〕 <二>全一卷。唐代荊溪湛然(711~782)撰。為湛然法華玄義釋籤(略稱釋籤)卷十四中之一節,收於大正藏第三十三冊;另有抄錄自釋籤之單行本普遍流通,收於大正藏第四十六冊。又作十不二門義、十不二門論、本迹不二門、本迹十妙不二門、法華本迹不二門、法華本迹十不二門、法華十妙不二門、妙法蓮華經本迹十妙不二門、法華玄記十不二門。 天台大師智顗撰法華玄義(略稱玄義)來解釋妙法蓮華經經題之「妙」義,共立迹門十妙與本門十妙,以闡釋佛陀成道之修行與成果兩方面。智顗又曾講說一念三千、三諦圓融等之觀心法門,由門人灌頂記錄成摩訶止觀(略稱止觀)一書。玄義與止觀二書,可視為天台大師之佛教概論,其後並為天台宗教相與修觀方面之經典著作。本書即針對玄義一書所說本迹十妙而作之注解,共立色心、內外、修性、因果、染淨、依正、自他、三業、權實、受潤等十項相對關係之法門,於每項下又援引止觀之論點以闡明三千、三諦之要旨,確立十項法門本迹不二、教觀一如、解行雙修等之真義。故本書可謂總括玄義與止觀兩大天台要典教觀相資之宗趣,而成為天台群籍之樞要;於有宋一代,天台宗隆盛,本書更為各方推重,如義寂、源清、宗昱、知禮等天台名德皆多次講布之。 本書之注疏極多,較著名者有道邃之十不二門義一卷、源清之十不二門示珠指二卷、宗昱之十不二門註二卷、知禮之十不二門指要鈔二卷等。
; The school of the ten pairs of unified opposites founded by Kinh Khê Đại sư on the teaching of the Lotus sùtra. The unifying principle is that of the identity of contraries, and the ten apparent contraries are matter and mind sắc tâm bất nhị môn, internal and external nội ngoại bnm, practice and proof (or realization) tu tính bnm, cause and effect nhân quả bnm, impurity and purity nhiễm tịnh bnm, objective and subjective y chính bnm, self and other tự tha bnm, action speech and thought tam nghiệp bnm, relative and absolute quyền thật bnm, the fertilized and the fertilizer (i.e. receiver and giver) thụ nhuận bất nhị môn.
; (十不二門) I. Thập Bất Nhị Môn. Chỉ cho 10 pháp môn Bất nhị do tông Thiên thai lập ra để nêu rõ ý nghĩa đại cương của pháp Quán tâm. Tức ngài Trạm nhiên căn cứ vào Tích môn thập diệu trong Pháp hoa huyền nghĩa của Đại sư Trí khải mà lập ra 10 môn Bất nhị từ Sắc tâm bất nhị cho đến Thụ nhuận bất nhị, gọi là Thập bất nhị môn. Thông thường cho rằng Thập bất nhị môn không tương dung nhau mà đối lập nhau, nhưng đứng trên lập trường của Viên giáo Pháp hoa mà nhận xét thì Thập bất nhị môn là hiển bày sự viên dung lẫn nhau, một thể không tách rời. Bởi vậy, một niệm hiện thực của phàm phu tự vốn viên mãn tất cả pháp trong vũ trụ; nếu quán xét tự thân là Không, không có thực thể, chỉ là hiện tượng hư giả thì có thể ngộ nhập lí Thập diệu. Sự thành lập Thập bất nhị môn có thứ tự trước sau, nội dung đại để như sau: 1. Sắc tâm bất nhị môn: Được y cứ vào Cảnh diệu trong Thập diệu mà lập ra. Đối tượng quán chiếu của trí tuệ gồm thu trong một niệm. Phân tích ra thì có 2 loại là Sắc pháp và Tâm pháp. Nhưng vì tất cả pháp trong vũ trụ đều thu nhiếp vào trong một niệm của phàm phu nên nói ngoài tâm không có pháp. Ngoài ra, cho dù chỉ là một mảy bụi cũng viên mãn đầy đủ tất cả vũ trụ, cho nên nói Sắc pháp và Tâm pháp là bất nhị, không thể phân chia. 2. Nội ngoại bất nhị môn: Được y cứ vào Trí diệu và Hành diệu mà lập ra. Đối tượng do trí tuệ quán chiếu tuy có chia ra trong ngoài(một niệm tâm pháp ở bên trong thuộc chính mình và tất cả hiện tượng ở bên ngoài mình), nhưng nói theo lí Tam thiên, Tam đế thì thực không có phân biệt trong ngoài, cho nên gọi là Bất nhị. Cũng chính là 3 pháp:Tâm bên trong và Phật, chúng sinh bên ngoài viên dung nhau, bản chất không khác nhau. 3.Tu tính bất nhị môn: Được căn cứ vào Trí diệu và Hành diệu mà lập ra. Tính đức của một niệm xưa nay vốn đầy đủ tất cả, nhưng phải nhờ năng lực trí tuệ và sự tu hành thực tiễn của hậu thiên mới hiển hiện được, cho nên mối quan hệ giữa tính và tu hệt như mối quan hệ giữa nước vàsóng, tức là nương vào tu để tỏ tính, nương vào tính để khởi tu, cho nên là Bất nhị.4. Nhân quả bất nhị môn: Được căn cứ vào Vị diệu và Tam pháp diệu mà lập ra. Tuy do tu đức mà có nhân vị và quả vị khác nhau, nhưng đó cũng chỉ là 3 nghìn các pháp xưa nay sẵn đủ, về mặt hiện tượng tuy có sai khác, nhưng về mặt bản thể thì nhân và quả thực không khác nhau. 5. Nhiễm tịnh bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Do nhân quả khác nhau nên có thể chia làm Nhiễm và Tịnh, nhưng đó cũng chỉ là 2 mặt loại trừ nhau và sử dụng nhau giữa pháp tính và vô minh. Cũng tức là khi pháp tính biến thành vô minh và tạo tác thì tạo ra 9 cõi mê, còn khi vô minh biến thành pháp tính mà tạo tác thì tùy duyên mà có tác dụng giáo hóa tự do tự tại, cho nên gọi là Nhiễm tịnh mê ngộ vô biệt. 6. Y chính bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Đối với Tịnh đã nói trên, tuy có Phật thân chính báo(Tì lô giá na Phật) và Phật độybáo(Thường tịnh quang độ) khác nhau, nhưng đứng về mặt lí mà nói thì Y báo và Chính báo đã sẵn đủ trong nhất tâm, cho nên không có Y báo, Chính báo khác nhau. 7. Tự tha bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Tự chỉ cho Phật thi hành giáo hóa, Tha chỉ chúng sinh được giáo hóa. Phật tùy theo căn cơ chúng sinh mà giáo hóa, chúng sinh cũng thuận theo sự giáo hóa của Phật, đó là vì chúng sinh xưa nay vốn đã sẵn đủ lí 3 nghìn, nên Phật mới dùng lí 3 nghìn làm quả và hoàn thành việc giáo hóa, cho nên sự cảm ứng của tự tha là bất nhị.8. Tam nghiệp bất nhị môn: Được căn cứ vào Thuyết pháp diệu mà lập ra.Đức Phật ắt dùng 3 nghiệp thân, khẩu, ý để giáo hóa chúng sinh, mà 3 nghiệp này không ngoài sự biểu hiện lí 3 nghìn sẵn có, lí 3 nghìn này không khác gì với lí 3 nghìn sẵn đủ của chúng sinh, vì thế 3 nghiệp của Phật và 3 nghiệp của chúng sinh không khác nhau mảy may. 9. Quyền thực bất nhị môn: Được căn cứ vào Thuyết pháp diệu mà lập ra. Tác dụng 3 nghiệp của Phật khi giáo hóa là tùy theo đối tượng mà giảng nói pháp phương tiện hay pháp chân thực nhưng 3 nghiệp của Phật thì thu nhiếp vào trong một niệm về lí là đồng nhất, cho nên Quyền pháp và Thực pháp do 3 nghiệp biểu hiện là bất nhị.10. Thụ nhuận bất nhị môn: Được căn cứ vào Quyến thuộc diệu và Lợi ích diệu mà lập ra. Đối với các căn cơ đại tiểu, quyền thực, đức Phật đều ban cho lợi ích quyền thực, nhưng chúng sinh nhận lãnh vốn có đủ các căn cơ phi quyền phi thực mà thành quyền thực, nên Phật ban cho cũng vốn đủ phi quyền phi thực để tùy theo các căn cơ quyền thực mà giáo hóa. Đây chính là cùng sinh ra trên mặt đất, cùng được thấm nhuần trong một trận mưa, cho nên gọi là Thụ nhuận bất nhị.[X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao; Thập bất nhị môn luận giảng nghĩa]. II. Thập Bất Nhị Môn. Cũng gọi: Thập bất nhị môn nghĩa, Thập bất nhị môn luận, Bản tích bất nhị môn, Bản tích thập diệu bất nhị môn, Pháp hoa bản tích bất nhị môn, Pháp hoa thập diệu bất nhị môn, Diệu pháp liên hoa kinh bản tích thập diệu bất nhị môn, Pháp hoa huyền kí thập bất nhị môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Kinh khê Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Tác phẩm này là 1 tiết trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 của ngài Trạm nhiên. Đây là sách chú thích Bản tích thập diệu trong bộ Pháp hoa huyền nghĩa của ngài Trí khải. Nội dung chia làm 10 pháp môn có quan hệ đối nhau là Sắc tâm, Nội ngoại, Tu tính, Nhân quả, Nhiễm tịnh, Y chính, Tự tha, Tam nghiệp, Quyền thực và Thụ nhuận, trong mỗi pháp môn lại viện dẫn luận điểm của Chỉ quán để nói rộng về ý chỉ chủ yếu của Tam thiên, Tam đế mà xác lập nghĩa chân thực của 10 pháp môn như Bản tích bất nhị, Giáo quán nhất như, Giải hành song tu... Vì thế, có thể nói, sách này đã tổng quát tông thú Giáo quán giúp nhau trong 2 bộ sách chủ yếu của tông Thiên thai là Pháp hoa huyền nghĩa và Ma ha chỉ quán mà trở thành then chốt trong các sách vở của tông này. Vào đời Tống, tông Thiên thai hưng thịnh, sách này càng được các nơi suy tôn, quí trọng, các bậc danh đức tông Thiên thai như Nghĩa tịnh, Thanh nguyên, Tông dục, Tri lễ... đều đã thuyết giảng sách này nhiều lần. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích, nổi tiếng hơn cả thì có: Thập bất nhị môn nghĩa, 1 quyển, của ngài Đạo thúy, Thập bất nhị môn thị châu chỉ, 2 quyển, của ngài Nguyên thanh, Thập bất nhị môn chú, 2 quyển, của ngài Tông dục, Thập bất nhị môn chỉ yếu sao, 2 quyển, của ngài Tri lễ.
thập bất nhị môn chỉ yếu sao
374凡二卷。北宋四明知禮(959~1028)撰。收於大正藏第四十六冊。乃注釋湛然之十不二門,為後世天台正統教義之重要典籍。唐代湛然曾著玄義釋籤,解釋法華玄義之本門十妙與迹門十妙。另又刊行「十不二門」,以闡釋迹門十妙之「解」、本門十妙之「行」,兩者同等重要,不可獨偏。此外,另有山外派之注釋書。四明知禮撰寫指要鈔即在批判山外派之解說,而強調十不二門之重要性。書中宣揚天台性具之說,尤主張觀法之對境不僅有真心,且有妄心。
; (十不二門指要鈔) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ (959-1028) soạn vào đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là tác phẩm quan trọng chú giải Thập bất nhị môn của ngài Trạm nhiên được coi là giáo nghĩa chính thống của tông Thiên thai đời sau. Ngài Trạm nhiên đời Đường từng soạn Huyền nghĩa thích tiêm, giải thích Bản môn thập diệu và Tích môn thập diệu trong Pháp hoa huyền nghĩa của Đại sư Trí khải. Lại ấn hành riêng Thập bất nhị môn để giải thích rõ chữ Giải trong Tích môn thập diệu và chữ Hành trong Bản môn thập diệu, cả 2 đều quan trọng như nhau, không thể chỉ chú ý một bên nào. Ngoài ra còn có sách chú thích của phái Sơn ngoại. Ngài Tứ minh Tri lễ soạn Chỉ yếu sao này chính là để phê phán sự giải thích của phái Sơn ngoại, nhấn mạnh tính cách quan trọng của Thập bất nhị môn. Trong sách tuyên dương thuyết Tính cụ của tông Thiên thai, đặc biệt cho rằng đối cảnh của quán pháp chẳng những chỉ có chân tâm mà còn có cả vọng tâm.
Thập bất thiện
xem Mười điều ác.
thập bất thiện nghiệp
Daśakuśala-karma-pathani (S), Ten unwholesome karmas.
; Akusala-kammapatha (p)—Ten unwholesome courses of action—See Mười Bất Thiện Nghiệp Đạo.
Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo
(十不善業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.
thập bất tri cảnh
375小乘之果佛,因未斷「不染污無知」,故闇昧於世間事法;其事雖多,以十不知境為首。即:(一)味,指諸法之味。(二)勢,指損益之勢。(三)熟,指物之成熟。(四)德,指物之德用。(五)數,指物之數量。(六)量,指大小之量。(七)處,指遠近等處。(八)時,指遠近等時。(九)同,指物之相似。(十)異,指物之差別。〔傳通記糅鈔卷六〕
; (十不知境) Chỉ cho 10 việc mà bậc Thánh chứng được quả vị Tiểu thừa không thể biết, vì chưa dứt được Bất nhiễmôvô tri. Mười việc ấy là: 1. Vị: Chỉ cho mùi vị của các pháp. 2. Thế: Thế lực của sự tăng tổn. 3. Thục: Sự thành thục của các vật. 4. Đức: Đức dụng của các vật. 5. Số: Chỉ cho số lượng của sự vật. 6. Lượng: Lượng lớn, nhỏ. 7. Xứ: Các nơi xa, gần. 8. Thời: Thời gian lâu, mau. 9. Đồng: Sự giống nhau giữa sự vật. 10. Dị: Sự khác nhau giữa sự vật. [X. Truyền thông kí nhu sao Q.6].
thập bất trung đạo
Mười điều phản bác Trung Đạo—Ten negations in five pairs: 1) Bất Sanh Bất Tử: Không sanh không chết—Neither birth nor death. 2) Bất Tuyệt Bất Hằng: Không đoạn không hằng—Neither end nor permanence. 3) Bất Đồng Bất Dị: Không giống không khác—Neither identity nor difference. 4) Bất Khứ Bất Lai: Không đến không đi—Neither coming nor going. 5) Bất Nhân Bất Quả: Không nhân không quả—Neither cause nor effect.
thập bất tăng trường nghiệp
〖出瑜伽師地論〗〔一、夢所作業〕,夢所作者,謂夢中所為,非意思所起,亦非身口所作,是為不增長業也。〔二、無知所作業〕,無知所作者,謂無所知覺之人所作之業,皆非意思所起,是為不增長業也。〔三、無故思所作業〕,無故思所作者,謂身口所作之業,非故意所思而起,是為不增長業也。〔四、不利不數所作業〕,不利不數所作者,謂不以利養而作,亦不數數而作,是為不增長業也。〔五、狂亂所作業〕,狂亂所作者,謂癡狂昏亂之人,於身口所作,本非故意,亦非知覺,是為不增長業也。〔六、失念所作業〕,失念所作者,謂人既失正念,即同迷癡,凡所作業,不由意地而起,是為不增長業也。〔七、非樂欲所作業〕,非樂欲所作者,謂凡所作業,必從樂欲心起;若其所作,既非樂欲,是為不增長業也。〔八、自性無記業〕,自性無記者,謂無記性所作,非善因緣,亦非不善因緣,是為不增長業也。(無記性者,謂不善不惡之性也。)〔九、悔所損業〕,悔所損者,謂先所作業,既生慚愧,悔過遷善,其業即損,是為不增長業也。〔十、對治所損業〕,對治所損者,謂所作業,方便對治。如瞋心起時,即以慈悲治之,其業損減,是為不增長業也。
thập bất tăng trưởng nghiệp
376不故思業與故思業中,受他人之強制或由於無智所造之輕業,不薰增業種子,稱為不增長業。據瑜伽師地論卷九載,十種不增長業即:(一)夢所作業,謂夢中所為,非意思所起,亦非身口所作,是為不增長業。(二)無知所作業,謂無所知覺之人,所作之業,皆非意思所起,是為不增長業。(三)無故思所作業,謂身口所作之業,非故意所思而起,是為不增長業。(四)不利不數所作業,謂不以利養而作,亦不數數而作,是為不增長業。(五)狂亂所作業,謂癡狂昏亂之人,於身口所作,本非故意,亦非知覺,是為不增長業。(六)失念所作業,謂人既失正念,即同迷癡,凡所作之業,皆不由意地而起,是為不增長業。(七)非樂欲所作業,謂凡所作業,必從樂欲心而起,若其所作,既非樂欲,是為不增長業。(八)自性無記業,謂無記性(不善不惡之性)所作,非善因緣,亦非不善因緣,是為不增長業。(九)悔所損業,謂先所作業,既生慚愧,悔過遷善,其業即損,是為不增長業。(十)對治所損業,謂所作業,方便對治,如瞋心起時,即以慈悲治之,其業損減,是為不增長業。
; (十不增長業) Chỉ cho 10 thứ nghiệp không thêm lớn. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 9 thì Thập bất tăng trưởng nghiệp là: 1. Mộng sở tác nghiệp: Nghiệp được tạo tác trong mộng, chẳng phải cố ý tạo tác, cũng chẳng phải do thân, khẩu gây ra, cho nênlàBất tăng trưởng nghiệp. 2. Vô tri sở tác nghiệp: Nghiệp do người không hay biết gây ra, không do ý tư duy sinh khởi. 3. Vô cố tư sở tác nghiệp: Nghiệp do thân, khẩu tạo tác một cách không cố ý, nghĩa là không có ý suy tính trước. 4. Bất lợi bất sác sở tác nghiệp: Các nghiệp tạo tác không vì lợi lộc, cũng không tạo tác luôn luôn. 5. Cuồng loạn sở tác nghiệp: Nghiệp thân, khẩu do người cuồng loạn, ngây dại tạo tác, vốn chẳng phải cố ý, cũng không hay biết. 6. Thất niệm sở tác nghiệp: Những việc do người đã mất chính niệm, cũng như người ngu si đần độn gây ra, không do ý thức phát khởi. 7. Phi nhạo dục sở tác nghiệp: Nghiệp tạo tác không phải do tâm ưa muốn thích làm.8. Tự tính vô kí nghiệp: Nghiệp do vô kí tính(tính không thiện không ác) gây ra. 9. Hối sở tổn nghiệp: Trước tạo nghiệp, sau sinh tâm hổ thẹn, ăn năn sửa đổi thành thiện, nghiệp được giảm nhẹ. 10. Đối trị sở tổn nghiệp: Nghiệp đã gây ra liền dùng phương tiện đối trị, nghiệp bị tổn giảm.
thập bất tịnh
376梵語 daśa-aśubha,巴利語 dasa-asubha。指屍體自腐爛至成白骨之十種狀態,即膨脹相、青瘀相、膿爛相、斷壞相、食殘相、散亂相、斬斫離相、血塗相、蟲聚相、骸骨相。又脫離肉體之執著,觀察肉身之十種不淨,稱為十不淨想。〔清淨道論一、解脫道論卷三〕
; Daśa-aśubha (S).
; (十不淨) Phạm: Daza-azubha. Pàli: Dasa-asubha. Chỉ cho 10 trạng thái dơ bẩn của xác chết từ sự rữa nát đến thành xương trắng. Đó là: Sình trướng, bầm xanh, thối rữa, nát vụn, chim thú ăn còn thừa, vung vãi, chém chặt lìa ra, máu me, dòi bọ và xương khô. Nếu thoát được sự đắm trước dục thể, quán xét 10 thứ bất tịnh của nhục thân thì gọi là Thập bất tịnh tưởng. [X. luận Thanh tịnh đạo 6; luận Giải thoát đạo Q.3].
thập bồ tát hạnh
See Mười Hạnh Bồ Tát and Thập Hạnh Bồ Tát.
thập cam lộ minh
417指阿彌陀如來之真言。又作十甘露真言、阿彌陀大咒、拔一切業障根本得生淨土神咒、無量壽如來根本陀羅尼、阿彌陀大陀羅尼、阿彌陀大身咒、甘露陀羅尼咒。咒中有十句阿蜜㗚多,且阿蜜㗚多譯為甘露,故稱十甘露明。〔無量壽如來觀行供養儀軌之無量壽如來根本陀羅尼〕(參閱「甘露」2052)
; (十甘露明) Cũng gọi Thập cam lộ chân ngôn A di đà đại chú, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni, A di đà đại đà la ni, A di đà đại thân chú, Cam lộ đà la ni chú. Chỉ cho chân ngôn của A di đà Như lai. Vì trong bài chú có 10 câu A mật lật đa, được dịch là cam lộ, cho nên gọi là Thập cam lộ minh. [X. Vô lượng thọ căn bản đà la ni trong Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ]. (xt. Cam Lộ).
Thập Can
(十干): Mười Can, còn gọi là Thiên Can (天干), là 10 yếu tố được giải thích theo thứ tự cách đọc âm của tiếng Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên, thuộc Ngũ Hành (五行), Ngũ Phương (五方), âm dương, gồm: (1) Giáp (甲, kō, jiǎ, gap, Mộc [木], đông, dương); (2) Ất (乙, otsu, yǐ, eul, Mộc, đông, âm); (3) Bính (丙, hei, bǐng, byeong, Hỏa [火], nam, dương); (4) Đinh (丁, tei, dīng, jeong, Hỏa, nam, âm); (5) Mậu (戊, bo, wù, mu, Thổ [土], trung ương, dương); (6) Kỷ (己, ki, jǐ, gi, Thổ, trung ương, âm); (7) Canh (庚, kō, gēng, gyeong, Kim [金], tây, dương); (8) Tân (辛, shin, xīn, sin, Kim, tây, âm); (9) Nhâm (壬, jin, rén, im, Thủy [水], bắc, dương); (10) Quý (癸, ki, guǐ, gye, Thủy, bắc, âm). Trong 10 Can này, Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm, Mậu-Quý tạo thành 5 nhóm, giữa hai Can ấy có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Khi hai Can này gặp nhau thì tạo thành nhất thể, được gọi là Can Hợp (干合). Từ mối quan hệ này quyết định vị trí của Đức Thần (德神, tức Tuế Đức Thần [歳德神]). Tự bản thân của những Can thuộc về dương là Đức Thần, riêng những Can thuộc về âm, là Can Hợp mới trở thành Đức Thần. Vào thời nhà Ân (殷, khoảng 1600-1046 tcn), người ta cho rằng có tồn tại 10 mặt trời, mỗi ngày thay nhau mọc, tuần hoàn trong 10 ngày và tương truyền 10 Can được đặt tên theo các mặt trời ấy. Mặt trời tuần hoàn trong 10 ngày được gọi là tuần (旬); các danh từ Thượng Tuần (上旬), Trung Tuần (中旬) và Hạ Tuần (下旬) cũng phát xuất từ đây. Thiên Can kết hợp với Địa Chi (地支, tức Thập Nhị Chi [十二支, Mười Hai Chi]), gồm Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌), Hợi (亥), được gọi là Can Chi (干支), được dùng để biểu thị lịch pháp, v.v. Cứ hai yếu tố Can thuộc một yếu tố của Ngũ Hành và tương đương với âm hay dương. Tại Nhật Bản, dương (陽) được xem là huynh (兄, anh), âm (陰) là đệ (弟, em); tỷ dụ như Giáp là “ki-no-e (木の兄, mộc huynh)”, Ất là “ki-no-to (木の弟, mộc đệ)”. Cách đọc chữ Can Chi (干支) là “eto (えと)” cũng phát xuất từ cách đọc “eto (えと)” của từ “huynh đệ (兄弟)”. Chư vị Thánh nhân cũng như các nhà thiên văn học Trung Quốc quan sát cho biết rằng Can Giáp tượng trưng cho khí trời mát mẻ, cây cỏ tươi tốt; Ất là khí trời ấm áp, chim chóc, sâu bọ nhảy hót; Bính là ánh mặt trời chiếu khắp, thường có ánh Thái Dương; Đinh là ánh nắng chói chan, gió nóng bức, cảm giác tỏa nóng; Mậu là vật đến cùng cực thì phản ứng lại, chuyển sang quá độ; Kỷ là khí nóng tăng dần, khí lưu chẳng ổn định; Canh là khí trời chuyển mát, dễ sanh gió và sương mù; Tân là khí trời trở lạnh, dễ đọng mưa móc; Nhâm là trời lên lạnh ngắt, nước tràn sông hồ; Quý là khí trời âm hàn, ẩm thấp, tối tăm.
thập chi
Mười nhánh ác—The ten branches of evils: (A) Thân Tam: See Thất Chi (A) in Vietnamese-English Section. (B) Khẩu Tứ: See Thất Chi (B) in Vietnamese-English Section. (C) Ý Tam: Three sins of the mind: 1) Tham: Greed. 2) Sân: Anger. 3) Si: Ignorance.
thập chi luận
399請參閱 十支論 請參閱 十支論 以瑜伽師地論為本論,敘述支分義理之十部書。又作十支末論或十支。即:(一)百法明門論,又作略陳名數論,世親造。(二)大乘五蘊論,又作粗釋體義論、依名釋義論,世親造。(三)顯揚聖教論,又作總包眾義論,無著造。(四)攝大乘論,又作廣包大義論,無著造;有世親、無性之釋論。(五)阿毘達磨集論及雜集論,集論為無著造,師子覺為之作釋,雜集論為安慧糅合集論與師子覺之釋而成。(六)辯中邊論,又作離僻彰中論,本頌係由彌勒菩薩所造,世親造釋論。(七)二十唯識論,又作摧破邪山論,世親造,並親作釋論。(八)三十唯識論,又作高建法幢論,世親造本頌,護法等十師造釋論,僅存本頌行世。(九)大乘莊嚴論,又作莊嚴體義論,彌勒菩薩造本頌,世親造釋論。(十)分別瑜伽論,又作攝散歸觀論,彌勒菩薩造本頌,世親造釋論。十論之中,僅分別瑜伽論缺傳譯。而至後世,或有除去攝大乘論,加入陳那之正理門論為十支論。〔成唯識論了義燈卷一之本、大藏法數卷五十八〕
; (十支論) Cũng gọi Thập chi mạt luận, Thập chi. Chỉ cho 10 bộ luận lấy luận Du già sư địa làm gốc để trình bày các nghĩa lí chi phần. Đó là: 1. Luận Bách pháp minh môn: Cũng gọi luận Lược trần danh số, do ngài Thế thân soạn. 2. Luận Đại thừa ngũ uẩn: Cũng gọi luận Thô thích thể nghĩa, luận Y danh thích nghĩa, do ngài Thế thân soạn. 3. Luận Hiển dương thánh giáo: Cũng gọi luận Tổng bao chúng nghĩa, do ngài Vô trước soạn. 4. Luận Nhiếp đại thừa: Cũng gọi luận Quảng bao đại nghĩa, do ngài Vô trước soạn, có Thích luận(luận chú thích) của ngài Thế thân, Vô tính. 5. A tì đạt ma tập luận và Tạp tập luận: Tập luận do ngài Vô trước soạn, ngài Sư tử giác chú thích; còn Tạp tập luận thì do ngài An tuệ hợp chung Tập luận và bản chú thích của ngàiSư tử giác mà thành. 6. Luận Biện trung biên: Cũng gọi luận Li tịch chương trung, do bồ tát Di lặc soạn, ngài Thế thân làm Luận thích. 7. Luận Nhị thập duy thức: Cũng gọi luận Tồi phá tà sơn, do ngài Thế thân soạn, đồng thời viết Luận thích. 8. Luận Tam thập duy thức: Cũng gọi luận Cao kiến pháp chàng, do ngài Thế thân soạn bản tụng, 10 vị Luận sư như ngài Hộ pháp... viết Thích luận, nay chỉ còn bản tụng lưu hành ở đời. 9. Luận Đại thừa trang nghiêm: Cũng gọi luận Trang nghiêm thể nghĩa, do bồ tát Di lặc soạn bản tụng, ngài Thế thân làm Thích luận. 10. Luận Phân biệt du già: Cũng gọi luận Nhiếp tán qui quán, do bồ tát Di lặc soạn bản tụng, ngài Thế thân làm Thích luận. Trong 10 bộ luận trên đây, chỉ có luận Phân biệt du già là không được truyền dịch. Đến đời sau, có chỗ bỏ luận Nhiếp đại thừa mà thay bằng luận Chính lí môn của ngài Trần na, thành Thập chi luận. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu; Đại tạng pháp số Q.58].
thập chân như
The ten aspects of bhùtatathatà chân như.
thập chú
Ten Small Mantras: 1) Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: As-You-Will Jewel King Dharani. 2) Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú: Disaster Eradicating Auspicious Spirit Mantra. 3) Công Đức Bảo Sơn Thần Chú: Meritorious Virtue Jewelled Mountain Spirit Mantra. 4) Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú: Jwun Ti Spirit Mantra. 5) Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Đà La Ni: The Resolute Light King Dharani of Holy Limitless Life. 6) Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn: Medicine Master's True Words for Anointing the Crown. 7) Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn: Kuan Shi Yin's Efficacious Response True Words. 8) Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn: The True Words of Seven Buddhas for Eradicating Offences. 9) Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú: Spirit Mantra For Rebirth in the Pure Land. 10) Thiện Thiên Nữ Chú: Good Goddess Mantra.
thập chướng
Ten hindrances; bodhisattvas in the stage of thập địa overcome these ten hindrances and realize the thập chân như. The hindrances are: (1) Dị sinh tính chướng, the common illusions of the unenlightened, taking the seeming for real; (2) Tà hạnh chướng, common unenlightened conduct; (3) Ám độn chướng, ignorant and dull ideas; (4) Tế hoặc hiện hành chướng, the illusion that things are real and have independant existence; (5) Hạ thừa Niết bàn chướng, the lower ideas in Hìnayàna of nirvàna; (6) Thô tướng hiện hành chướng, the ordinary ideas of the pure and impure; (7) Tế tướng hiện hành chướng, the idea of reincarnation; (8) Vô tướng gia hành chướng, the continuance of activity even in the formless world; (9) Bất dục hành chướng, no desire to act for the salvation of others; (10) Pháp vị tự tại chướng, non attainment of complete mastery of all things.
; Mười chướng ngại mà bất cứ Bồ Tát nào cũng đều phải vượt qua—Ten hindrances that any Bodhisattva must overcome before achieving enlightenment: 1) Dị sanh tánh chướng: Chướng ngại vì tưởng rằng những cái không thật là thật—The common illusions of the unenlightened, taking the seeming for real. 2) Tà hạnh chướng: Common unenlightened conduct. 3) Ám độn chướng: Ignorant and dull ideas. 4) Vi tế hiện hành phiền não chướng: The illusions that things are real and have independent existence. 5) Hạ thừa Niết bàn chướng: The lower ideals in Hinayana of nirvana. 6) Thô tướng hiện hành chướng: The ordinary idea of pure and impure. 7) Tế tướng hiện hành chướng: The idea of reincarnation. 8) Vô tướng gia hành chướng: The continuation of activity even in the formless world. 9) Lợi tha Bất dục hành chướng: No desire to act for the salvation of others. 10) Chư pháp vị đắc tự tại chướng: Non-attainment of complete mastery.
thập chỉ
455<一>「蓮華合掌」中,十指表示十波羅蜜、十法界等。攝無礙經謂,左手五指表胎藏海五智,右手五指表金剛海五智,左手定,右手慧,十指即十度,或作十法界、十真如。大日經卷三以左手是三昧義,右手是般若義,十指是十波羅蜜滿足義,亦是譬喻一切智五輪之義。(參閱「淨三業印」4679) <二>足之十趾。據淨印法門經卷十七載,海意菩薩承佛教敕,即時於其足之十指間,放十千光明。
; (十指) I. Thập Chỉ. Mười ngón tay. Trong ấn Liên hoa hợp chưởng(chắp tay hoa sen) của Mật giáo, 10 ngón tay biểu thị 10 Ba la mật, 10 pháp giới. Kinh Nhiếp vô ngại cho rằng 5 ngón của bàn tay trái tượng trưng cho 5 trí của Thai tạng hải, còn 5 ngón của bàn tay phải thì tượng trưng cho 5 trí của Kim cương hải; tay trái là Định, tay phải là Tuệ, 10 ngón là 10 độ, hoặc 10 pháp giới, 10 chân như. Kinh Đại nhật quyển 3 cho tay trái biểu thị nghĩa Tam muội, tay phải biểu thị nghĩa Bát nhã, 10 ngón tay biểu thị đầy đủ nghĩa 10 Ba la mật, cũng ví dụ cho Nhất thiết trí ngũ luân. (xt. Tịnh Tam Nghiệp Ấn). II. Thập Chỉ. Mười ngón chân. Kinh Tịnh ấn pháp môn quyển 17 nói: Bồ tát Hải ý vâng lời Phật dạy, từ 10 ngón chân phóng ra 10 nghìn tia sáng.
Thập chỉ 十止
[ja] ジュウウシ jūshi ||| Equivalent to 十行. => Tương đương Thập hành.
thập chủng bất thiện nghiệp
Ten kinds of unwholesome karma—See Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.
thập chủng bất tư nghị pháp
484<一>指佛有十種不可思議法。乃出自大乘菩薩藏正法經卷七如來不思議品第四之一(大一一‧七九五上):「爾時佛告舍利子言:『信心住菩薩於佛如來應供正等正覺十種不思議法中,信解清淨,超越分別,離諸疑悔,後復生起身喜心喜適悅之相,發希有想。』」即:(一)最勝身相不可思議,(二)妙好音聲不可思議,(三)最上大智不可思議,(四)微妙光明不可思議,(五)圓滿戒定不可思議,(六)廣大神足不可思議,(七)十種智力不可思議,(八)四無所畏不可思議,(九)大悲之心不可思議,(十)不共佛法不可思議。此經之卷七至卷十六皆敘述十種不思議法。 <二>舊華嚴經卷三十佛不可思議法品中,亦說十種不可思議。即:(一)諸佛剎土不可思議,(二)諸佛淨願不可思議,(三)諸佛種姓不可思議,(四)諸佛出世不可思議,(五)諸佛法身不可思議,(六)諸佛音聲不可思議,(七)諸佛智慧不可思議,(八)諸佛神力自在不可思議,(九)諸佛無礙住不可思議,(十)諸佛解脫不可思議。
; (十種不思議法) Chỉ cho 10 pháp không thể nghĩ bàn của đức Phật, có 2 thuyết: I. Theo phẩm Như lai bất tư nghị trong kinh Đại thừa Bồ tát tạng chính pháp quyển 7 thì 10 pháp ấy là: 1. Thân tướng tối thắng không thể nghĩ bàn.2. Âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn.3. Đại trí tột cùng không thể nghĩ bàn. 4. Ánh sáng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn.5. Giới định tròn đầy không thể nghĩ bàn.6. Thần túc rộng lớn không thể nghĩ bàn.7. Mười thứ trí lực không thể nghĩ bàn. 8. Bốn vô sở úy không thể nghĩ bàn. 9. Tâm đại từ bi không thể nghĩ bàn. 10. Bất cộng Phật pháp không thể nghĩ bàn.II. Theo phẩm Phật bất tư nghị pháp trong kinh Hoa nghiêm quyển 30 (bản dịch cũ) thì 10 pháp là: 1. Cõi nước của chư Phật không thể nghĩ bàn.2. Thệ nguyện thanh tịnh của chư Phật không thể nghĩ bàn. 3. Chủng tính của chư Phật không thể nghĩ bàn. 4. Chư Phật xuất thế không thể nghĩ bàn. 5. Pháp thân của chư Phật không thể nghĩ bàn. 6. Âm thanh của chư Phật không thể nghĩ bàn. 7. Trí tuệ của chư Phật không thể nghĩ bàn.8. Thần lực tự tại của chư Phật không thể nghĩ bàn. 9. Sự an trụ vô ngại của chư Phật không thể nghĩ bàn. 10. Sự giải thoát của chư Phật không thể nghĩ bàn.
thập chủng bất tịnh
484出自說法明眼論卷上。即:(一)身不淨,指身在生死之汙泥中,故稱不淨。(二)口不淨,口說煩惱戲論之雜言,故說不淨。(三)意不淨,意起妄想不淨之諸念。(四)行不淨,遊行於六道輪迴之穢土。(五)住不淨,居住於流轉生死之三界火宅。(六)坐不淨,坐於生死汙泥之獄中。(七)臥不淨,臥於無常四苦之旅宿。(八)自行不淨,不行如來真傳之性戒,僅持方便之淺戒。(九)化他不淨,徒使持小乘權門之善。(十)所期不淨,僅期望有漏不淨之果。
; (十種不淨) Mười thứ bất tịnh ghi trong luận Thuyết pháp minh nhãn quyển thượng, đó là: 1. Thân bất tịnh: Vì thân ở trong bùn nhơ sinhtử nên là bất tịnh. 2. Khẩu bất tịnh: Miệng nói những lời phiền não, hí luận nên là bất tịnh. 3. Ý bất tịnh: Ý sinh khởi các niệm xấu ác, vọng tưởng bất tịnh. 4. Hành bất tịnh: Du hành trong các cõi uế tạp của 6 đường luân hồi. 5. Trụ bất tịnh: Ở trong nhà lửa 3 cõi, trôi lăn sống chết. 6. Tọa bất tịnh: Ngồi trong ngục sinh tử nhơ nhớp. 7. Ngọa bất tịnh: Nằm trong nhà trọ của 4 khổ vô thường. 8. Tự hành bất tịnh: Không tu hành tính giới chân truyền của Như lai, chỉ giữ các giới phương tiện thô thiển. 9. Hóa tha bất tịnh: Dạy người chỉ chăm hành trì những điều thiện của môn phương tiện tạm thời một cách uổng công. 10. Sở kì bất tịnh: Chỉ mong cầu quả hữu lậu bất tịnh.
thập chủng bổ đặc già la
494補特伽羅,梵語 pudgala,意譯有情,又譯作人。有情之類罪業深重,輪迴生死,難得人身,故佛說十種差別。據地藏十輪經卷五載,十種補特伽羅即:(一)不種善根,指諸有情於宿世中及現在世,不種菩提善根,唯作惡行。(二)未修福業,指未曾修習布施、持戒等福德之業,多諸惡行。(三)雜染相續,指為貪、瞋、癡等雜亂染污,相續不絕。(四)隨惡友行,指隨順惡友,習不善之惡行。(五)不畏後世苦果,指但造惡業,不畏未來生死苦報。(六)猛利貪欲,指貪求諸欲而無厭足。(七)猛利瞋恚,指於逆境忿怒瞋恚,不知止息。(八)猛利愚癡,指於一切境迷惑不了,起諸邪見,蔑裂正法。(九)其心迷亂,指心無所主,迷惑狂亂,作不善業。(十)守惡邪見,指不信如來正教,堅持外道邪見。
; (十種補特伽羅) Bổ đặc già la, Phạm:Pudgala. Hán dịch: Hữu tình. Cũng gọi Nhân(người). Loài hữu tình tội nghiệp sâu nặng, luân hồi sinh tử khó được thân người, vì thế Phật nói 10 loại khác nhau. Đó là: 1. Bất chủng thiện căn: Chỉ cho các hữu tình trong đời trước cũng như trong đời hiện tại không trồng căn lành bồ đề, chỉ làm các việc tệ ác. 2. Vị tu phúc nghiệp: Các hữu tình chưa từng tu các nghiệp phúc đức như bố thí, trì giới... phần nhiều là làm những việc ác. 3. Tạp nhiễm tương tục: Bị tham, sân, si tạp loạn làm cho nhơ nhớp, nối tiếp không dứt. 4. Tùy ác hữu hành: Thuận theo bạn ác, quen làm các việc xấu xa. 5. Bất úy hậu thế khổ quả: Không sợ quả khổ đời sau. Nghĩa là chỉ gây nghiệp ác mà không sợ quả báo khổ đau, sống chết ở vị lai. 6. Mãnh lợi tham dục: Tham muốn mạnh mẽ. Nghĩa là tham cầu các dục lạc không biết chán đủ. 7. Mãnh lợi sân khuể: Giận dữ mạnh mẽ. Nghĩa là khi gặp nghịch cảnh thì nổi cơn thịnh nộ mà không biết kiềm chế. 8. Mãnh lợi ngu si: Ngu si cùng cực. Nghĩa là không rõ các cảnh mê hoặc, khởi các tà kiến, miệt thị chính pháp. 9. Kì tâm mê loạn: Trong tâm mê loạn: Không làm chủ được tâm mình, mê hoặc cuồng loạn, tạo các nghiệp bất thiện. 10. Thủ ác tà kiến: Chấp chặt kiến giải tà ác, không tin chính pháp Như lai. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.5].
thập chủng cảnh giới
494指天台宗圓教之菩薩於十信位所證得之十種境界。又作十種證相。略稱十境界。據法華三大部讀教記卷五,十種境界即:(一)見神力化事,(二)見化事變現,(三)見普賢說法,(四)見東方之佛,(五)見十方之佛,(六)見十方之佛土,(七)見佛及地,(八)見座上之世尊,(九)見釋迦分身,(十)見多寶佛塔。十信位中,位位有十種境界,總成百法,此百法即為以後一切法門之根本。〔觀普賢菩薩行法經、法華玄義卷五之上、四教義卷六〕
; (十種境界) Cũng gọi Thập chủng chứng tướng. Gọi tắt: Thập cảnh giới. Chỉ cho 10 cảnh giới do bồ tát Viên giáo giai vị Thập tín chứng được, nói trong Pháp hoa tam đại bộ độc giáo kí quyển 5, đó là: 1. Thấy các việc do thần lực hóa hiện. 2. Thấy các hóa sự biến hiện. 3. Thấy bồ tát Phổ hiền thuyết pháp. 4. Thấy Phật ở phương đông. 5. Thấy Phật trong 10 phương. 6. Thấy các cõi Phật ở 10 phương. 7. Thấy Phật và các cõi nước. 8. Thấy đức Thế tôn ngồi trên tòa. 9. Thấy phân thân của đức Thích ca. 10. Thấy tháp Phật Đa bảo. Trong giai vị Thập tín, mỗi mỗi giai vị đều có 10 cảnh giới, tổng cộng thành 100 pháp, 100 pháp này chính là căn bản của tất cả pháp môn về sau. [X. kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6].
thập chủng diễn thuyết
495遍行外道所修菩薩行之一。善財童子遍求法門,南遊參訪五十五善知識,第二十一位即遍行外道,為說其所修之菩薩行。即:(一)演說一切世間種種技藝,令得具足一切巧術陀羅尼智。(二)演說四攝方便,令得具足一切智道。(三)演說諸波羅蜜,令其迴向一切智位。(四)稱讚大菩提心,令其不失無上道意。(五)稱讚諸菩薩行,令其滿足淨佛國土度眾生願。(六)演說造諸惡行,須受地獄等種種苦報,令於惡業深生厭離。(七)演說供養諸佛,種諸善根,決定獲得一切智果,令其發起歡喜心。(八)讚說一切如來應正等覺所有功德,令其樂佛身,求一切智。(九)讚說諸佛威德,令其願樂佛不壞身。(十)讚說佛自在身,令求如來無能映蔽大威德體。〔新華嚴經卷六十七〕
; (十種演說) Mười đề tài mà ngoại đạo Biến hành đã diễn nói cho đồng tử Thiện tài nghe, đó là: 1. Diễn nói các thứ nghề nghiệp ở thế gian, khiến chứng được đầy đủ tất cả trí xảo đà la ni. 2. Diễn nói về 4 nhiếp phương tiện, khiến chứng được đầy đủ tất cả trí đạo. 3. Diễn nói các pháp Ba la mật, khiến hồi hướng tất cả trí vị. 4. Khen ngợi tâm đại bồ đề, khiến không mất đạo ý vô thượng. 5. Khen ngợi các hạnh Bồ tát, khiến đầy đủ nguyện tịnh Phật quốc độ, hóa độ chúng sinh. 6. Diễn nói về việc tạo các nghiệp ác, sẽ phải chịu các khổ báo ở địa ngục... khiến sinh tâm chán lìa ác nghiệp. 7. Diễn nói về việc cúng dường chư Phật, trồng các căn lành, quyết định được quả Nhất thiết trí, khiến phát khởi tâm vui mừng. 8. Tán thán tất cả công đức của Như lai ứng chính đẳng giác, khiến ưa thích thân Phật, cầu nhất thiết trí. 9. Ngợi khen uy đức của chư Phật, khiến nguyện được thân Phật bất hoại. 10. Ngợi khen thân tự tại của Phật, khiến cầu thể đại uy đức của Như lai không gì che phủ được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.67 (bản dịch mới)].
thập chủng giáo thể
492教,指如來所說之一大藏教;體,即體性。謂十種教法之體。出自澄觀之華嚴玄談。即:(一)音聲言語體,以語業為教體,即以佛之言辭論說為教體。(二)名句文身體,依事立名,名之眾合為句,合眾義成文,身是聚集之義,以此三種為詮顯教法之體。(三)通取四法體,通取聲、名、文、句四法為教體。(四)通攝所詮體,通攝所詮之義理為教體。(五)諸法顯義體,世間一切諸法能顯義理者為教體。(六)攝境為心體,總前之五種為唯心所現,故以一心為教體。(七)會緣入實體,會前之六門同入一實,故以之為教體。(八)理事無礙體,以真如為理,教法為事,二者無礙,故以之為教體。(九)事事無礙體,文圓義亦圓,並具十種玄門,以之為教體。(十)海印炳現體,以如來之海印三昧為教體。 華嚴玄談卷七,就此十種加以分別,謂前五種僅涵蓋「體」,後五種則「體、性」均涵蓋之;前四種通於小乘,後六種僅限於大乘;前七種通於三乘,後三種僅限於一乘;前八種通於「同教一乘」之義,後二種則屬於「別教一乘」之義。根據此十種教體,法藏之華嚴經探玄記卷一立十門以論教體。實則華嚴玄談係詮述大小乘通談之教體,而略述別教一乘之教體;反之,探玄記略述大小乘通談之教體,而詮述別教一乘之教體。〔華嚴大疏卷二、大明三藏法數卷三十六〕(參閱「教體」4610)
; (十種教體) Mười thể tính của giáo nói trong Hoa nghiêm huyền đàm của ngài Trừng quán. 1. Âm thanh ngôn ngữ thể: Lấy ngữ nghiệp làm giáo thể, tức lấy ngôn từ luận thuyết của Phật làm giáo thể. 2. Danh cú văn thân thể: Y cứ vào sự kiện mà lập danh(danh từ), nhiều danh hợp lại thành cú(câu nói), hợp các nghĩa củacáccâu nói lại thành văn; thân có nghĩa tụ tập, dùng 3 cách này làm thể để giảng rõ giáo pháp. 3. Thông thủ tứ pháp thể: Lấy chung 4 pháp: Thanh, danh, văn và cú làm thể. 4. Thông nhiếp sở thuyên thể: Gom chung những nghĩa lí đã được trình bày rõ ràng làm giáo thể. 5. Chư pháp hiển nghĩa thể: Lấy tất cả các pháp thế gian tỏ rõ được nghĩa lí làm giáo thể. 6. Nhiếp cảnh vi tâm thể: Thu nhiếp các cảnh làm tâm thể. Nghĩa là 5 pháp trước chỉ do tâm hiển hiện, cho nên lấy nhất tâm làm giáo thể. 7. Hội duyên nhập thực thể: Hợp các duyên vào thực thể. Nghĩa là gom chung 6 môn trước vào Nhất thực và lấy đó làm giáo thể. 8. Lí sự vô ngại thể: Lấy chân như làm lí, giáo pháp làm sự, cả 2 không ngăn trở nhau, cho nên được dùng làm giáo thể. 9. Sự sự vô ngại thể: Văn viên thì nghĩa cũng viên, đều đầy đủ 10 huyền môn, nên được dùng làm giáo thể. 10. Hải ấn bính hiện thể: Thể Hải ấn hiện rõ. Nghĩa là dùng tam muội Hải ấn của Như lai làm giáo thể. Hoa nghiêm huyền đàm quyển 7 phân tích thêm, cho rằng 5 giáo thể trước chỉ bao hàm Thể, 5 giáo hàm sau thì bao hàm cả Thể và Tính; 4 loại trước chung cho cả Tiểu thừa, 6 loại sau chỉ thuộc Đại thừa; 7 loại trước chung cho cả Tam thừa, 3 loại sau chỉ thuộc Nhất thừa; 8 loại trước chung cho nghĩa Đồng giáo nhất thừa, 2 loại sau thì thuộc nghĩa Biệt giáo nhất thừa.
thập chủng hoá bất thất thời
484謂佛應眾生之機而有十種不失時宜之教化。即:(一)成等正覺化不失時,指如來出現世間,既成佛道,隨機應感,適彼時緣而起化導。(二)成熟有緣化不失時,指如來了知眾生善根成熟,隨時化度,皆令解脫。(三)授菩薩記化不失時,指如來能知菩薩久修梵行,功業成就者,即授與菩提之記。(四)示現神力化不失時,指如來隨眾生所宜,示現威神之力,令生信樂而得開解。(五)示現佛身化不失時,指如來隨順眾生所宜,而現相好之身,令皆得利益。(六)住於大捨化不失時,指如來修無著行,具大捨心,隨緣化利一切眾生,而不見有能化及所化之想。(七)入諸聚落化不失時,指如來以大悲心,隨緣攝化,徧入城邑聚落,普作饒益。(八)攝諸淨信化不失時,指如來具無礙智,能知眾生清淨心,隨緣攝化。(九)調惡眾生化不失時,指如來以大威神力,調伏暴惡眾生,令捨惡遷善,不失時宜。(十)現佛神通化不失時,指如來以不思議力示現神通,於一念中饒益一切眾生,不失時宜。〔新華嚴經卷四十六〕
; (十種化不失時) Chỉ cho 10 cách giáo hóa do đức Phật đáp ứng đúng với thời và cơ của chúng sinh mà thực hiện, không để lỡ mất. Đó là: 1. Thành đẳng chính giác hóa bất thất thời: Như lai xuất hiện trong thế gian, sau khi thành Phật đạo, tùy cơ ứng cảm, thích hợp duyên mà thực hiện việc giáo hóa. 2. Thành thục hữu duyên hóa bất thất thời: Duyên đã chín mùi thì giáo hóa, không để lỡ mất. Nghĩa là khi Như lai biết rõ thiện căn của chúng sinh đã thành thục, thì tùy thời hóa độ, khiến đều được giải thoát. 3. Thụ Bồ tát kí hóa bất thất thời: Giáo hóa để trao kí biệt cho Bồ tát không để lỡ mất thời. Nghĩa là khi biết rõ các vị Bồ tát đã trải qua nhiều kiếp tu phạm hạnh, công nghiệp thành tựu, Như lai liền thụ kí thành Phật cho các vị Bồ tát ấy. 4. Thị hiện thần lực hóa bất thất thời: Thị hiện năng lực thần thông mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai tùy theo chỗ ưa thích của chúng sinh mà thị hiện năng lực uy thần, khiến họ sinh tâm tin ưa mà được khai ngộ. 5. Thị hiện Phật thân hóa bất thất thời: Thị hiện thân Phật mà hóa độ, không để lỡ thời. Nghĩa là Như lai thuận theo điều chúng sinh ưa thích, hiện thân tướng tốt đẹp, khiến đều được lợi lạc. 6. Trụ ư đại xá hóa bất thất thời: Trụ nơi tâm đại xả mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai tu hạnh tùy thuận vô trước, có tâm đại xả, tùy duyên giáo hóa lợi ích tất cả chúng sinh, không hề có ý tưởng năng hóa(người giáo hóa)và sở hóa(người được giáo hóa). 7. Nhập chư tụ lạchóabất thất thời: Vào các xóm làng giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là vì lòng đại bi, Như lai tùy duyên nhiếp hóa, đi vào khắp thành ấp, xóm làng, mang lợi ích đến cho tất cả.8. Nhiếp chư tịnh tín hóa bất thất thời: Giáo hóa những người có lòng tin thanh tịnh không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai có trí tuệ vô ngại, biết rõ tâm thanh tịnh của chúng sinh và tùy duyên nhiếp hóa.9. Điều ác chúng sinh hóa bất thất thời: Điều phục, giáo hóa những chúng sinh bạo ác, không để lỡ thời. Nghĩa là Như lai dùng năng lực uy thần lớn, điều phục các chúng sinh bạo ác, khiến chúng bỏ ác tu thiện, không để lỡ thời cơ. 10. Hiện Phật thần thông hóa bất thất thời: Hiện thần thông của Phật mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là năng lực thần thông mà Như lai thị hiện không thể nghĩ bàn, chỉ trong một niệm có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, không mất thời cơ.
thập chủng hạnh
486又作坐禪人十種行。據解脫道論卷四行門品載,十種行即:(一)令觀處明淨,謂坐禪之人欲修禪定,先須調適飲食,不飽不飢,次須隨順時節,不先不後,又當整肅威儀,無有懈怠;修此三行,用觀分明,則諸緣屏息,心常寂靜,安於禪定。(二)徧起觀諸根,謂坐禪之人欲修禪定,當周徧觀察信、進、念、定、慧等五根,不令消滅,與定相應,心無懈怠,即得遠離疑、蓋等過,三昧現前。(三)曉了於相,謂坐禪之人欲修禪定,必當曉了意識想念之相,令其不急不寬,調適得中,則不生妄想,易入禪定。(四)制令心調,謂坐禪之人欲修禪定,當起精進,制伏其心,調停適中,勿使過度,增長亂意,則得定相現前,三昧成就。(五)折伏懈怠,謂坐禪之人若以不得勝定,令心無味,故成懈怠,而欲睡眠,是時必當諦觀諸禪功德,策勵精進,則定相現前,三昧可得。( 六)心無味著,謂坐禪之人欲修禪定,以慧根遲鈍及少方便,不得寂靜,故於勝定無所樂著。(七)心歡喜,謂坐禪之人於諸勝定,心若無味,當觀生、老、病、死及諸惡趣,令生恐怖,然後念佛、法、僧等諸功德,策進身心,令欣得禪定。(八)心定成捨,謂坐禪之人欲修禪定,當調伏諸根,如理思惟,安住寂靜,而捨一切非正之行。(九)近學定人,謂坐禪之人欲修禪定,應當遠離不修威儀及不習寂靜之人,而常親近安住寂靜、威儀整肅、心源泯淨者,依其教誡,成就正定道業。(十)樂著安定,謂坐禪之人欲修禪定,於彼得定善、解緣起、入寂靜處者,即當愛樂恭敬,求其開導,以起定心。
; (十種行) Cũng gọi Tọa thiền nhân thập chủng hành. Mười hạnh của người tọa thiền nói trong phẩm Hành môn luận Giải thoát đạo quyển 4, đó là: 1. Linh quán xứ minh tịnh: Quán xứ phải trong sáng. Nghĩa là người ngồi thiền muốn có hiệu quả trước hết phải ăn uống điều độ, không no không đói, kế đến phải tùy thuận thời tiết, không sớm không trễ và chỉnh đốn uy uy, không được biếng nhác; tu 3 hạnh này phải dụng tâm quán xét rõ ràng thì các duyên dứt bặt, tâm thường vắng lặng, an trụ trong thiền định. 2. Biến khởi quán chư căn: Khởi quán khắp các căn. Nghĩa là người ngồi thiền muốn có hiệu quả thì phải quán xét khắp 5 căn tín, tiến, niệm, định, tuệ, không để lui mất, tương ứng với định, tâm không biếng nhác, liền xa lìa các lỗi nghi, cái... Tam muội được hiện tiền. 3. Hiểu liễu ư tướng: Hiểu tướng rõ ràng. Nghĩa là người tọa thiền muốn đạt được định thì phải hiểu rõ tướng tưởng nghĩ của ý thức, khiến không nhanh không chậm, điều hòa vừa phải thì không sinh vọng tưởng, dễ vào thiền định. 4. Chế linh tâm điều: Chế phục khiến tâm điều hòa. Nghĩa là người ngồi thiền muốn đạt được định thì phải tinh tiến chế phục tâm mình, điều hòa thích đáng, không để quá độ khiến tâm tán loạn thì được tướng định hiện tiền, Tam muội thành tựu. 5. Chiết phục giải đãi: Khắc phục tính lười biếng. Nghĩa là người tọa thiền nếu vì không được thắng định nên tâm mất hứng thú, trở thànhbiếngnhácmà muốn ngủ nghỉ thì lúc đó phải quán xét kĩ công đức các thiền định, hăng hái tiến tới, tướng định sẽ hiện tiền, đạt được Tam muội. 6. Tâm vô vị trước: Tâm không hứng thú ưa thích. Nghĩa là người ngồi thiền, vì tuệ căn chậm lụt lại ít phương tiện, không được tịch lặng, cho nên đối với thắng định tâm không có hứng thú và ưa thích. 7. Tâm hoan hỉ: Tâm vui mừng. Nghĩa là người tọa thiền, đối với thắng định, nếu tâm không ưa thích thì nên quán sinh, lão, bệnh, tử và các đường ác khiến tâm sợ hãi, sau đó nghĩ đến các công đức của Phật, pháp, tăng, khích lệ thân tâm, làm cho vui mừng mong được thiền định. 8. Tâm định thành xả: Tâm định xả bỏ. Nghĩa là người tu thiền muốn đạt được định thì phải điều phục các căn, tư duy đúng như lí, tâm an trụ trong vắng lặng (định), xả bỏ tất cả hạnh không chân chính. 9. Cận học định nhân: Gần gũi người tu định. Nghĩa là người tọa thiền phải xa lìa những người không tu uy nghi, không tập tịch tĩnh, mà thường gần gũi những người an trụ trong vắng lặng, uy nghi chỉnh tề, nguồn tâm thanh tịnh, tịch tĩnh; nên nghe theo lời răn dạy của những người này để thành tựu đạo nghiệp chính định. 10. Nhạo trước an định: Ưa thích sự an định. Nghĩa là người tọa thiền muốn đạt được định thì đối với những người đã được định thiện, hiểu rõ duyên khởi, trụ trong yên lặng, nên ngưỡng mộ cung kính, mong được chỉ bảo để khởi tâm định.
thập chủng hữu y hành luân
〖出地藏十輪經〗有依行者,有可憑依之行業也。輪以摧碾為義。佛謂眾生依此行業,而修菩提,則能摧破一切煩惱惑業,故曰輪也。(梵語菩提,華言道。)〔一、具足淨信〕,謂眾生具足清淨信心,則於一切善惡業緣受報因果,皆無所疑,此為有依行也。〔二、具足慚愧〕,謂眾生具足慚愧之心,凡有所作,身口過非,而能內自羞恥,發露向人,悉不覆藏,此為有依行也。〔三、安住律儀〕,謂眾生若能攝身口意業,安住淨戒,則於殺盜婬妄等諸律儀,悉無毀犯,此為有依行也。〔四、安住慈心〕,謂眾生若能安住平等慈愛之心,則於一切有情,悉與其樂,不加惱害,此為有依行也。〔五、安住悲心〕,謂眾生若能安住平等悲憫之心,則於一切有情,見其受苦,普為救拔,令其安隱,此為有依行也。〔六、安住喜心〕,謂眾生若能安住歡喜之心,見諸有情,離苦得樂,了無憎嫉之意,此為有依行也。〔七、安住捨心〕,謂眾生若能安住捨離之心,則於一切有情,冤親平等,無憎無愛,此為有依行也。〔八、具正歸依〕,謂眾生發心修行之初,必須歸向依止佛法僧寶,則所修所證,有所憑據,而不惑於外道邪魔之見,此為有依行也。〔九、具足精進〕,謂眾生於如來一切善法,若能隨順修學,勇猛精勤,始終不懈,此為有依行也。〔十、常樂寂靜〕,謂眾生修習禪定,當遠離憒鬧,寂默一心,如理思惟,絕諸妄想,此為有依行也。
; 485有依行,為有可憑依之行業;輪,為摧破之義,謂眾生依此行業而修菩提,則能摧破一切煩惱惑業。十種行業為:(一)具足淨信,具足清淨信心。(二)具足慚愧,具足慚愧之心。(三)安住律儀,攝身、口、意業,安住淨戒。(四)安住慈心,安住平等慈愛之心。(五)安住悲心,安住平等悲憫之心。(六)安住喜心,安住歡喜之心。(七)安住捨心,安住捨離之心。(八)具正歸依,初發心修行時,須依止佛、法、僧三寶。(九)具足精進,隨順修學,勇猛精勤。(十)常樂寂靜,指寂默一心,如理思惟而絕諸妄想。〔地藏十輪經卷六〕
; (十種有依行輪) Chỉ cho 10 hành nghiệp nếu chúng sinh nương nhờ vào mà tu hành đạo Bồ đề thì có thể phá dẹp được tất cả phiền não hoặc nghiệp. Hữu y hành là hành nghiệp có thể nương tựa được; Luân là bánh xe, có nghĩa phá dẹp. Mười hành nghiệp ấy là: 1. Cụ túc tịnh tín: Đầy đủ lòng tin thanh tịnh. 2. Cụ túc tàm quí: Đầy đủ tâm hổ thẹn. 3. An trụ luật nghi: Thu nhiếp thân, khẩu, ý, an trụ trong giới luật thanh tịnh. 4. An trụ từ tâm: An trụ nơi tâm từ bình đẳng. 5. An trụ bi tâm: An trụ trong bi tâm bình đẳng. 6. An trụ hỉ tâm: An trụ trong tâm vui mừng. 7. An trụ xả tâm: An trụ trong tâm xả bỏ.8. Cụ chính qui y: Đầy đủ qui y chân chính. Nghĩa là khi mới phát tâm tu hành, phải nương tựa vào Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. 9. Cụ túc tinh tiến: Đầy đủ tinh tiến. Nghĩa là phải luôn tinh tiến, siêng chăm tu học.10. Thường nhạo tịch tĩnh: Thường ưa thích sự vắng lặng. Nghĩa là thường một lòng lặng lẽ, tư duy đúng như lí để dứt mọi vọng tưởng.
thập chủng không tướng hồi hướng tâm
490十迴向位第五無盡功德藏迴向之菩薩,以一切善根觀其所迴向時,能了知十種無相。即:(一)了知一切眾生界無有眾生,(二)知一切法無有壽命,(三)知一切法無有作者,(四)悟一切法無補特伽羅,(五)了一切法無有忿諍,(六)觀一切法皆從緣起而無有住處,(七)知一切物皆無所依,(八)了一切剎悉無所住,(九)觀一切菩薩行亦無處所,(十)見一切境界悉無所有。〔八十華嚴卷二十五〕(參閱「十迴向」455)
; (十種空相回向心) Chỉ cho 10 tướng Không mà Bồ tát ở giai vị Vô tận công đức tạng hồi hướng trong Thập hồi hướng biết rõ khi dùng tất cả thiện căn quán xét về chỗ mình hồi hướng. Mười tướng Không ấy là: 1. Rõ biết tất cả thế giới chúng sinh không có chúng sinh. 2. Biết tất cả pháp không thọ mệnh. 3. Biết tất cả pháp không có người tạo tác.4. Ngộ tất cả pháp không có ngã(bổ đặc già la). 5. Rõ biết tất cả pháp không có tức giận, tranh cãi. 6. Quán tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, không có trụ xứ. 7. Biết tất cả vật đều không có chỗ nương. 8. Rõ biết tất cả các cõi đều không có chỗ trụ. 9. Quán tất cả hạnh Bồ tát đều không nơi chỗ. 10. Thấy tất cả cảnh giới đều không có.
thập chủng kiến
〖出瑜伽師地論〗〔一、薩迦耶見〕,梵語薩迦耶,華言身見。謂於五蘊法上,妄生執取,計我、我所,是名薩迦耶見。(五蘊者,色蘊、受蘊、想蘊、行蘊、識蘊也。我者,謂五蘊法中強立主宰,妄計為我也。我所者,即五蘊色身等也。)〔二、邊執見〕,謂外道之人,於五蘊身見之中,執斷執常,隨執一邊,我見增長,是名邊執見。(執斷執常者,謂外道自計我身死已不生,名為斷見;又計我身死已再生,名常見也。)〔三、邪見〕,謂外道之人,不了四諦因果之法,邪心推度,謂無此理,因斷滅出世善根,是名邪見。(四諦因果者,苦諦、集諦,世間因果也;滅諦、道諦,出世間因果也。)〔四、見取〕,謂外道之人,於六十二見,一一別計,為最為上,為勝為妙,堅固取執,隨起言說,唯此諦實,餘皆虛妄。自謂由此見故,能得清淨解脫,而得出離,是名見取。(六十二見,謂外道人,於色受想行識五陰中,每一陰各起四種見,則成二十見;約過去、現在、未來,三世通而論之,則成六十見;以斷常二見而為根本,總成六十二見也。)〔五、戒禁取〕,謂外道之人,於所受持若戒若禁,妄計為最為上,為勝為妙,隨起言說,唯此諦實,餘皆虛妄;自謂由此戒禁,能得出離,是名戒禁取。〔六、貪見〕,謂於欲界、色界、無色界一切順情之境,耽染取著,而起諸見,是名貪見。〔七、恚見〕,謂於一切違情之境,以忿怒心,損他有情。及於他所愛,起不饒益;於他所不愛,而作饒益,是名恚見。〔八、慢見〕,謂心生憍慢,計己為勝,視他為劣,是名慢見。〔九、無明見〕,謂於真實理地,無所明了,執著邪見,是名無明見。〔十、疑見〕,謂於諸諦之理,心懷猶豫,無決定見,是名疑見。(諸諦理者,謂苦集滅道四諦之理也。)
; 487指瑜伽師地論卷八所載之十種邪見。即:(一)薩迦耶見,意譯身見。謂於五蘊法上妄生執取,計我(於五蘊法中,強立主宰,妄計為我)、我所(即五蘊色身等)。(二)邊執見,謂外道之人,於五蘊身見之中,執斷執常,隨執一邊,我見增長。(三)邪見,謂外道之人不了四諦因果(苦諦與集諦為世間因果,滅諦與道諦為出世間因果)之法,邪心推度,謂無此理,而斷滅出世善根。(四)見取見,謂外道之人於六十二見一一別計為最為上,為勝為妙,堅固取執,隨起言說:「唯此諦實,餘皆虛妄。」復自謂由此見之故,能得清淨解脫,而得出離。(五)戒禁取見,謂外道之人,於所受持若戒若禁,妄計為最上,為勝為妙,隨起言說:「唯此諦實,餘皆虛妄。」復自謂由此戒禁,能得出離。(六)貪見,謂於欲界、色界、無 漎氻@切順情之境,耽染取著而起諸見。(七)恚見,謂於一切違情之境,以忿怒心,損他有情,及於他所愛,起不饒益,於他所不愛,而作饒益。(八)慢見,謂心生憍慢,計己為勝,視他為劣。(九)無明見,謂於真實理地,無所明了,執著邪見。(十)疑見,謂於諸諦之理,心懷猶豫,無決定見。
; (十種見) Chỉ cho 10 thứ tà kiến nói trong luận Du già sư địa quyển 8, đó là: 1. Tát ca da kiến, Hán dịch:Thân kiến. Nghĩa là trong 5 uẩn vọng sinh chấp trước, chấp có ngã(ta)và ngã sở(của ta). 2. Biên kiến: Người ngoại đạo đối với thân 5 uẩn khởi chấp đoạn chấp thường, chấp một bên nào thì ngã kiến cũng tăng trưởng. 3. Tà kiến: Người ngoại đạo không rõ nhân quả của pháp Tứ đế, tà tâm suy tính, cho rằng không có lí ấy, dứt mất căn lành xuất thế gian. 4. Kiến thủ kiến: Đối với 62 kiến chấp, ngoại đạođềucho mỗi mỗi kiến chấp của mình là tối thượng, là thắng diệu, là chân thực, ngoài ra đều là hư vọng, hơn nữa còn cho rằng nhờ kiến chấp này mà được thanh tịnh giải thoát. 5. Giới cấm thủ kiến: Ngoại đạo đối với các giới mình thụ trì vọng chấp cho là tối thượng, là thắng diệu, là chân thực, ngoài ra đều hư dối, hơn nữa còn cho rằng nhờ thụ trì giới này mà được thanh tịnh giải thoát. 6. Tham kiến: Đối với tất cả cảnh vừa ý ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc đều đắm trước, bám lấy mà khởi các kiến chấp. 7. Khuể kiến: Đối với tất cả cảnh trái ý thì nổi tâm tức giận, làm hại các hữu tình khác, đối với những việc mà người khác ưa thích không khởi tâm giúp đỡ, lại làm các việc mà người khác không ưa thích. 8. Mạn kiến: Tâm sinh kiêu mạn, cho mình là hơn tất cả mọi người. 9. Vô minh kiến: Không biết gì về lí chân thực, chỉ chấp chặt tà kiến. 10. Nghi kiến: Đối với lí của các đế, tâm do dự, không quyết định.
thập chủng kiến phật
487菩薩修殊勝行,應佛所行,得見十佛,了了分明,稱為十種見佛。據華嚴經疏卷五十一離世間品載,十種見佛即:(一)安住世間成正覺佛無著見,指如來乘如實道示成正覺,安住世間,而不著涅槃,不著生死,菩薩應佛無著而見。(二)願佛出生見,指如來乘願出生,無處不現,菩薩應佛出生而見。(三)業報佛深信見,指如來修萬行善業之因,感相好莊嚴之報,此淨業果報,皆由因中深信而起,菩薩應佛深信而見。(四)住持佛隨順見,指如來隨順眾生,以身舍利住持世間,永久不壞,菩薩應佛隨順而見。(五)涅槃佛深入見,指如來由深入涅槃生死境界,故其化身能示現滅度,菩薩應佛深入而見。(六)法界佛普至見,指如來之身充滿清淨法界,無所不至,菩薩應佛普至而見。(七)心佛安住見,指如來之心湛然不動,安住真性,菩薩應佛安住而見。(八)三昧佛無量無依見,指如來清淨無量三昧,無念無依,恆現在前,菩薩應佛無量無依而見。(九)本性佛明了見,指如來本覺真性,清淨湛然,洞徹明了,菩薩應佛明了而見。(十)隨樂佛普授見,指如來隨自他意之樂欲,普授一切之身,菩薩應佛普授而見。
; (十種見佛) Bồ tát tu hạnh thù thắng, hợp với hạnh Phật, được thấy 10 Phật, phân minh, rõ ràng, gọi là Thập chủng kiến Phật. Cứ theo phẩm Li thế gian trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 51 thì Thập chủng kiến Phật là: 1. An trụ thế gian thành chính giác Phật vô trước kiến: Như lai nương đạo như thực thị hiện thành Chính giác, an trụ ở thế gian, không đắm trước Niết bàn, không đắm trước sinh tử, Bồ tát thấy không đắm trước như Phật. 2. Nguyện Phật xuất sinh kiến: Như lai nương nguyện mà xuất sinh, không chỗ nào không hiện, Bồ tát thấy xuất sinh như Phật.3. Nghiệp báo Phật thâm tín kiến: Như lai tu nhân thiện nghiệp muôn hạnh, cảm được quả báo tướng hảo trang nghiêm, quả báo của tịnh nghiệp này đều từ thâm tín trong nhân mà khởi, Bồ tát thấy thâm tín như Phật. 4. Trụ trì Phật tùy thuận kiến: Như lai tùy thuận chúng sinh, dùng thân xá lợi trụ ở thế gian, mãi mãi không hoại, Bồ tát thấy tùy thuận như Phật. 5. Niết bàn Phật thâm nhập kiến: Như lai nhờ đi sâu vào cảnh giới sinh tử niết bàn nên hóa thân của ngài có năng lực thị hiện diệt độ, Bồ tát thấy thâm nhập như Phật.6. Pháp giới Phật phổ chí kiến: Thân Như lai đầy khắp pháp giới thanh tịnh, đến tất cả mọi nơi, Bồ tát thấy đến khắp như Phật.7. Tâm Phật an trụ kiến: Tâm Như lai vắng lặng bất động, an trụ trong chân tính, Bồ tát thấy an trụ như Phật. 8. Tam muội Phật vô lượng vô y kiến: Tam muội vô lượng thanh tịnh của Như lai, vô niệm vô y, thường hiện ở trước, Bồ tát thấy vô lượng vô y như Phật. 9. Bản tính Phật minh liễu kiến: Chân tính bản giác của Như lai thanh tịnh vắng lặng, rỗng suốt rõ ràng, Bồ tát thấy rõ ràng như Phật. 10. Tùy nhạo Phật phổ thụ kiến: Như lai tùy ý ưa thích của mình và người khác, ban cho tất cả thân, Bồ tát thấy ban cho khắp như Phật.
thập chủng như lai tạng
485係釋摩訶衍論卷二根據大乘起信論所說之如來藏所別立之十種。(一)大總持如來藏,此藏總攝一切諸藏,無所不通,圓滿平等,為一切如來藏之根本。(二)遠轉遠縛如來藏,此藏無惑因、惑果,亦無覺因、覺果,一味清淨圓滿。(三)與行與相如來藏,此藏能給予流轉力,令法身如來覆藏。(四)真如真如如來藏,此藏唯有真如而無彼彼;既非正體智之所證得,亦非意識之所緣境界。(五)生滅真如如來藏,此藏即不生不滅之真如被生滅所染,故稱為生滅真如如來藏。(六)空如來藏,即一切染法為幻化差別,體用無實,作用非真,故稱為空。此空能覆藏如來實德真體,故稱為空如來藏。(七)不空如來藏,即一切淨法遠離虛偽,體用俱真,名為不空;此不空能被空所染。(八)能攝如來藏,即無明藏中之自性清淨心,能攝一切諸功德。(九)所攝如來藏,即出離一切染法無明地藏,圓滿覺者為所攝持。(十)隱覆如來藏,法身如來為煩惱所隱沒覆藏。
; (十種如來藏) Mười loại Như lai tạng do luận Thích ma ha diễn quyển 2 căn cứ vào thuyết Như lai tạng của luận Đại thừa khởi tín mà lập riêng. Đó là: 1. Đại tổng trì Như lai tạng: Tạng này tóm thu tất cả các tạng, viên mãn bình đẳng, là gốc của tất cả Như lai tạng. 2. Viễn chuyển viễn phược Như lai tạng: Như lai tạng này không có nhân mê lầm, quả mê lầm, cũng không có nhân giác ngộ, quả giác ngộ, chỉ 1 vị thanh tịnh, viên mãn.3. Dữ hành dữ tướng Như lai tạng: Tạng này có công năng phát sinh sức lưu chuyển, che phủ pháp thân Như lai. 4. Chân như chân như Như lai tạng: Tạng này chỉ có chân như chứ không có gì khác, chẳng phải chỗ sở chứng của trí chính thể mà cũng chẳng phải cảnh sở duyên của ý thức. 5. Sinh diệt chân như Như lai tạng: Tạng này chính là chân như bất sinh bất diệt bị sinh diệt làm nhiễm ô, vì thế gọi là Sinh diệt chân như Như lai tạng. 6. Không Như lai tạng: Tất cả pháp nhiễm ô là huyễn hóa sai biệt, thể dụng không thật, tác dụng chẳng phải chân, cho nên gọi là Không. Cái Không này có công năng che phủ thực đức chân thể của Như lai, nên gọi là Không như lai tạng. 7. Bất không Như lai tạng: Tức tất cả pháp thanh tịnh xa lìa hư ngụy, thể dụng đều chân thực, gọi là Bất không. Bất không này thường bị cái Không làm ô nhiễm. 8. Năng nhiếp Như lai tạng: Tức tâm tự tính thanh tịnh trong Vô minh tạng có công năng thu nhiếp tất cả mọi công đức.9. Sở nhiếp Như lai tạng: Tức tạng ra khỏi tất cả các nhiễm pháp vô minh và được bậc giác ngộ viên mãn nhiếp trì. 10. Ẩn phú Như lai tạng: Pháp thân Như lai bị phiền não che phủ.
Thập chủng phiền não 十種煩惱
[ja] ジッシュボンノウ jisshubonnō ||| Ten kinds of affliction: (1) the view of the existence of a self 薩迦耶見; (2) extreme views 邊執見; (3) evil views 邪見; (4) view of attachment to views 見取; (5) attachment to the precepts 戒禁取; (6) desire 貪; (7) anger 恚; (8) pride 慢; (9) ignorance 無明, and (10) doubt 疑. 〔瑜伽論T 1579.30.313b12-14〕The first four of these are often separately categorized as the four attached views 四見. => Mười thứ phiền não: 1. Tát-ca-da kiến: quan niệm về chấp trước về sự hiện hữu của sắc thân. 2. Biên chấp kiến. 3. Tà kiến. 4. Kiến thủ. 5. Giới cấm thủ. 6. Tham. 7. Khuể. 8. Mạn. 9. Vô minh. 10. Nghi.
Thập chủng pháp giới 十重法界
[ja] ジュウジュウホウカイ jūjū hōkai ||| Ten realms. See 十法界. 〔二障義 HPC 1.809c〕 => Mười pháp giới. Xem Thập pháp giới.
thập chủng pháp hành
489梵語 daśa dharma-caryāḥ。乃十種有關受持經典之方法行儀。略稱十法行。即:(一)書寫,書寫經、律、論,使其廣為流通。(二)供養,乃尊敬有經典或有佛塔之所在。(三)施他,指為他人說正法,並施與經典而教化之。(四)諦聽,專注聆聽他人讀誦經文。(五)披讀,自開經典讀誦。(六)受持,指受納教法,憶持不忘。(七)開演,指為他人說教法,使其起信解。(八)諷誦,指諷誦、宣揚經文,使他人產生喜悅。(九)思惟,指思惟佛陀所說之法義。(十)修習行,指修習佛陀所說之法。〔辯中邊論卷下、顯揚聖教論卷二〕
; Daśa-dharma-caryāh (S) Tên một bộ luận kinh.
; (十種法行) Phạm: Daza-dharma-caryà#. Gọi tắt: Thập pháp hành. Chỉ cho 10 phương pháp và hành nghi liên quan đến việc thụ trì kinh điển. Đó là: 1. Thư tả: Viết chép. Nghĩa là sao chép kinh điển giúp cho việc lưu thông rộng rãi.2. Cúng dường: Tôn kính cúng dường nơi có kinh điển hoặc có tháp Phật. 3. Thí tha: Bố thí cho người khác. Nghĩa là nói chính pháp cho người khác nghe, đồng thời cho họ các kinh điển để giáo hóa. 4. Đế thính: Chăm chúlắngnghe người khác đọc tụng kinh văn. 5. Phi độc: Mở đọc. Nghĩa là tự mình mở kinh điển đọc tụng. 6. Thụ trì: Nhận giữ. Nghĩa là nhận lãnh giáo pháp, ghi nhớ không quên. 7. Khai diễn: Diễn nói giáo pháp cho người khác nghe, khiến họ tin hiểu. 8. Phúng tụng: Đọc tụng, tuyên dương kinh văn, khiến người sinh tâm vui vẻ. 9. Tư duy: Suy nghĩ về pháp nghĩa do đức Phật nói. 10. Tu tập hạnh: Tu tập pháp do đức Phật nói.
thập chủng phát tâm
〖出華嚴經隨疏演義鈔〗十種發心者,謂諸眾生,迷妄失真,念念起心,貪著諸境,業報不同,苦樂有異,皆因發心不純也。〔一、發地獄心〕,謂眾生念念起貪瞋之心,日增月甚,造上品十惡,行火塗道,是名發地獄心。(上品者,謂人作惡,於欲作、正作,作已,三時之中,俱不能悔也。十惡者,一殺生、二偷盜、三邪婬、四妄語、五兩舌、六惡口、七綺語、八貪欲、九瞋恚、十邪見也。火塗道者,即地獄道也,謂地獄中受火床罏炭等苦也。)〔二、發畜生心〕,謂眾生念念起心,欲多眷屬,如海吞流,愚癡貪著;起中品十惡,行血塗道,是名發畜生心。(中品者,謂作惡已後,起少悔心也。血塗道者,即畜生道也,謂畜生常被互相吞啖之苦也。)〔三、發餓鬼心〕,謂眾生念念欲得名聞,四遠八方稱揚,內無實德,虛比聖賢,唯行諂誑,起下品十惡,行刀塗道,是名發餓鬼心。(下品者,謂作惡之時,即能悔也。刀塗道者,即餓鬼道也,謂餓鬼中常受刀杖逼迫之苦也。)〔四、發下品十善心〕,下品者,於作善之時,即生悔心也。十善者,不殺生、不偷盜、不邪婬、不妄語、不兩舌、不惡口、不綺語、不貪欲、不瞋恚、不邪見也。謂眾生念念欲勝於人,輕他重己,而外揚仁義,行修羅道,是名發下品十善心。(梵語阿修羅,華言非天,謂行非天也。)〔五、發中品十善心〕,中品者,於作善已後,起少悔心也。謂眾生念念忻樂世間,修行五戒,行人之道,是名發中品十善心。(五戒者,不殺生、不偷盜、不邪婬、不妄語、不飲酒也。)〔六、發上品十善心〕,上品者,於十善,欲作、正作、作已,三時之中,心俱不悔也。謂眾生念念知三惡道苦,及知人間苦樂相間,唯天上純受諸樂,而求生彼故,閉攝內根,不著外塵,修行天道,是名發上品十善心。(三惡道者,餓鬼道、畜生道、地獄道也。內根者,即意根也。)〔七、發欲界主心〕,欲界主者,即欲界他化自在天主也。謂眾生若念念張大威勢,奪他所化,以自娛樂,而行魔羅道,是名發欲界主心。(梵語魔羅,華言能奪命。謂能奪人智慧之命。稱大魔者,即此天也。)〔八、發世智心〕,謂眾生念念欲得利智辯聰,高才明哲,鑒達古今,不信出世教法,而行尼犍道,是名發世智心。(梵語尼犍,華言離繫,即外道也。)〔九、發梵心〕,謂眾生念念厭下欲界塵境,忻上梵天勝妙之樂,而行色、無色之道,是名發梵心。(色、無色者,謂色界、無色界也。)〔十、發無漏心〕,無漏者,不漏落生死也。謂眾生念念厭離世間生死之苦,斷除貪瞋癡之妄惑,常修無漏之因,而行二乘之道,是名發無漏心。(二乘者,聲聞乘、緣覺乘也。)
; 493謂諸眾生迷妄失真,念念起心,貪著諸境,業報不同,苦樂有異,皆由發心不純。據華嚴經隨疏演義鈔卷三十五載,十種發心即:(一)發地獄心,眾生念念起貪瞋之心,造上品(作惡之時,於欲作、正作、作已三時皆不能悔)十惡、行火塗道(即地獄道),稱為發地獄心。(二)發畜牲心,眾生念念起心,欲多眷屬,愚癡貪著,起中品(作惡之後,起少悔心)十惡,行血塗道(即畜生道),稱為發畜牲心。(三)發餓鬼心,眾生念念欲得名聞,內無實德,唯行諂誑,起下品(作惡之時,即已能悔)十惡,行刀塗道(即餓鬼道),稱為發餓鬼心。(四)發下品十善心,下品指作善之時,即生悔心。眾生念念欲勝於他,輕他重己,而外揚仁義,行修羅道,稱為發下品十善心。(五)發中品十善心,中品指於作善之後,起少悔心。眾生念念欣樂世間,修行五戒,行人之道,稱為發中品十善心。(六)發上品十善心,上品指於十善之欲作、正作、作已三時,心皆不悔。眾生念念求生天上,閉攝內根,不著外塵,修行天道,稱為發上品十善心。(七)發欲界主心,欲界主即他化自在天主。眾生念念張大威勢,奪他所化,以自娛樂,而行魔羅道,稱為發欲界主心。(八)發世智心,眾生念念欲得利智辯聰,不信出世教法,而行尼犍(即外道)道,稱為發世智心。(九)發梵心,眾生念念厭下欲界塵境,欣上梵天勝妙之樂,而行色界、無色界之道,稱為發梵心。(十)發無漏心,無漏謂不漏落生死。眾生念念厭離世間生死之苦,斷除貪、瞋、癡等妄惑,常修無漏之因,而行二乘(聲聞乘與緣覺乘)之道,稱為發無漏心。
; (十種發心) Mười loại phát tâm. Chúng sinh vì mê lầm nên niệm niệm khởi tâm, tham đắm các cảnh, nghiệp báo khác nhau, khổ vui sai biệt, đều do phát tâm không đồng thuần nhất. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 35 thì 10 loại phát tâm là: 1. Phát tâm địa ngục: Chúng sinh niệm niệm khởi tâm tham sân, làm 10 điều ác thượng phẩm, thực hành địa ngục đạo. 2. Phát tâm súc sinh: Chúng sinh khởi tâm muốn có nhiều quyến thuộc, ngu si tham trước, làm 10 điều ác trung phẩm, thực hành đạo súc sinh. 3. Phát tâm ngã quỉ: Chúng sinh khởi tâm muốn được nổi tiếng, bên trong không có thực đức, chỉ biết dua nịnh, làm 10 điều ác hạ phẩm, thực hành đạo ngã quỉ. 4. Phát tâm hạ phẩm thập thiện: Hạ phẩm là sau khi làm điều thiện sinh tâm hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm muốn hơn người, khinh người trọng mình, bên ngoài tỏ ra nhân nghĩa, thực hành đạo Tu la. 5. Phát tâm trung phẩm thập thiện: Trung phẩm là sau khi làm việc thiện khởi tâm hơi hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm ưa thích thế gian, tu hành 5 giới, thực hành đạo làm người.6. Phát tâm thượng phẩm thập thiện: Thượng phẩm là khi thực hiện 10 điều thiện thì lúc định làm, lúc đang làm và lúc làm rồi, tâm đều không hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm cầu sinh lên cõi trời, thu nhiếp các căn bên trong, không đắm cảnh trần bên ngoài, tu hành đạo trời. 7. Phát tâm Dục giới chủ: Dục giới chủ tức Tha hóa tự tại thiên chủ. Chúng sinh niệm niệm phô trương uy thế, chiếm đoạt thành quả hóa tha của người để tự vui chơi, tu hành đạo ma. 8. Phát tâm thế trí: Chúng sinh niệm niệm muốn được trí tuệ nhạy bén, biện luận thông suốt, không tin giáo pháp xuất thế, tu hành ngoại đạo. 9. Phát tâm Phạm thiên: Chúng sinh niệm niệm nhàm chán các trần cảnh ở cõi Dục, muốn được niềm vui thắng diệu trên cõi trời Phạm mà thực hành đạo Sắc giới và Vô sắc giới. 10. Phát tâm vô lậu: Chúng sinh niệm niệm nhàm chán và muốn thoát li nỗi sinh tử thế gian, đoạn trừ các vọng hoặc tham,sân, si... thường tu nhân vô lậu và tu hành đạo Nhị thừa(Thanh văn thừa và Duyên giác thừa).
thập chủng phương tiện
〖出晉譯華嚴經〗〔一、布施方便〕,謂修菩薩行者,心無慳吝,於身命財,悉皆喜捨,但欲利益眾生,不求人之恩報,是為布施方便也。〔二、持戒方便〕,謂修菩薩行者,堅持禁戒,行頭陀行,威儀具足;不輕他人,於諸塵境,心無染著,是為持戒方便也。(梵語頭陀,華言抖擻。)〔三、忍辱方便〕,謂修菩薩行者,遠離顛倒瞋恚,而無彼我之想;於諸眾生,設有橫逆侵加於己,悉能忍受,心無所動,是為忍辱方便也。〔四、精進方便〕,謂修菩薩行者,於諸梵行,即當捍勞忍苦,勇猛無怠;其所得法,念念思惟,不令忘失,是為精進方便也。(梵行,即淨行也。)〔五、禪定方便〕,謂修菩薩行者,遠離一切五欲及諸煩惱,而於禪定解脫等法,銳意修習,求證佛果,是為禪定方便也。(五欲者,色欲、聲欲、香欲、味欲、觸欲也。)〔六、智慧方便〕,謂修菩薩行者,遠離愚癡煩惱,長養一切功德,歡喜愛樂,心無厭足,開發慧解,成就菩提,是為智慧方便也。(梵語菩提,華言道。)〔七、大慈方便〕,謂修菩薩行者,運平等大慈之心,利樂一切眾生,雖歷塵劫而不疲厭,是為大慈方便也。(劫,梵語具云劫波,華言分別時節。)〔八、大悲方便〕,謂修菩薩行者,雖了知諸法元無自性,而能以平等大悲之心,代一切眾生受諸苦惱,雖歷塵劫而不疲厭,是為大悲方便也。〔九、覺悟方便〕,謂修菩薩行者,以無礙智慧,開示一切眾生,令其了悟本有覺性,無所疑惑,是為覺悟方便也。〔十、轉不退法輪方便〕,謂修菩薩行者,轉無上法輪,化導一切眾生,令其依教修學,增長菩提,行位不退,是為轉不退法輪方便也。
; 485指修菩薩行者之十種善巧方便,此說出自舊華嚴經卷四十離世間品。新華嚴經卷五十六稱為十種勤修。即:(一)布施方便,毫無慳吝,喜捨身、命、財而無求報之心。(二)持戒方便,持一切戒,心無染著。(三)忍辱方便,離瞋恚、我慢之煩惱,忍一切惡,其心不動。(四)精進方便,三業不曾散亂,一切所作皆不退轉,以至究竟。(五)禪定方便,遠離五欲、諸煩惱,於禪定之法銳意修習。(六)智慧方便,離愚癡之煩惱,修習一切功德,能開發慧解。(七)大慈方便,運平等大慈之心,利益一切眾生。(八)大悲方便,知諸法無自性,以平等大悲,代諸眾生受苦惱。(九)覺悟方便,以無礙智了悟眾生之十性。(十)轉不退法輪方便,轉無上之法輪,化導眾生,使依教修學,增長菩提,不退行位。〔華嚴經探玄記卷十七〕
; (十種方便) Chỉ cho 10 phương tiện khéo léo của người tu hạnh Bồ tát được nói trong phẩm Li thế gian kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ). Kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch mới) gọi là Thập chủng cần tu. Đó là: 1. Bố thí phương tiện: Phương tiện bố thí. Nghĩa là Bồ tát bố thí không mảy may xẻn tiếc, xả bỏ cả thân mệnh tài sản mà không có tâm cầu báo đáp. 2. Trì giới phương tiện: Phương tiện giữ giới. Bồ tát giữ tất cả giới, tâm không nhiễm trước. 3. Nhẫn nhục phương tiện: Phương tiện nhẫn nhục. Bồ tát xa lìa các phiền não sân hận, ngã mạn, nhẫn tất cả cái xấu ác, trong tâm không lay động. 4. Tinh tiến phương tiện: Phương tiện tinh tấn. Ba nghiệp của Bồ tát không tán loạn, tất cả việc Bồ tátlàmđều không lui sụt cho đến rốt ráo. 5. Thiền định phương tiện: Phương tiện thiền định. Bồ tát xa lìa 5 dục và các phiền não, đối với thiền định, Bồ tát thường tu tập. 6. Trí tuệ phương tiện: Phương tiện trí tuệ. Bồ tát xa lìa phiền não ngu si, tu tập tất cả công đức, có năng lực khai phát tuệ giải. 7. Đại từ phương tiện: Phương tiện đại từ. Bồ tát vận dụng tâm đại từ bình đẳng, làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. 8. Đại bi phương tiện: Phương tiện đại bi. Bồ tát biết các pháp không có tự tính, dùng tâm đại bi bình đẳng, chịu khổ thay cho tất cả chúng sinh. 9. Giác ngộ phương tiện: Phương tiện giác ngộ. Bồ tát dùng trí tuệ vô ngại biết rõ 10 căn tính của chúng sinh. 10. Chuyển bất thoái phương tiện: Phương tiện thuyết pháp không trở lui. Bồ tát quay bánh xe pháp vô thượng, giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, khiến y theo giáo pháp mà tu học, tăng trưởng bồ đề, không trở lui khỏi giai vị tu hành.
thập chủng phật âm
Ten types of Buddha's voice—See Âm Thanh Của Đức Như Lai, and Tứ Chủng Phật Âm.
thập chủng quyết định giải
Ten kinds of certain understanding—See Mười Thứ Quyết Định Giải.
Thập chủng quảng đại phương tiện
(十種廣大方便) Mười thứ trí rộng lớn mà Bồ tát đạt được sau khi an trụ trong 10 pháp. Theo kinh Hoa nghiêm thì 10 thứ trí ấy là:1. Tri nhất thiết chúng sinh tâm hành trí: Trí biết rõ các hoạt động tâm lí của tất cả chúng sinh. 2. Tri nhất thiết chúng sinh nghiệp báo trí: Trí biết rõ nghiệp báo của tất cả chúng sinh. 3. Tri nhất thiết Phật pháp trí: Trí biết tất cả pháp của Phật. 4. Trí nhất thiết Phật pháp thâm mật lí thú trí: Trí biết lí thú sâu kín của tất cả Phật pháp. 5. Tri nhất thiết đà la ni môn trí: Trí biết tất cả các môn Đà la ni. 6. Tri nhất thiết văn tự biện tài trí: Trí biết tất cả văn tự và biện tài. 7. Tri nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn âm thanh từ biện thiện xảo trí: Trí biết các ngôn ngữ, âm thanh, lời lẽ, biện luận khéo léo của tất cả chúng sinh. 8. Ư nhất thiết thế giới trung phổ hiện kì thân trí: Trí biết thân hiện khắp trong tất cả thế giới. 9. Ư nhất thiết chúng hội trung phổ hiện ảnh tượng trí: Trí biết các ảnh tượng hiện khắp trong tất cả chúng hội. 10. Ư nhất thiết thụ sinh xứ trung cụ nhất thiết trí: Trong tất cả các nơi thụ sinh, Bồ tát đều có đầy đủ Nhất thiết trí.
thập chủng quảng đại trí
495華嚴經載,菩薩安住十法已,則具足十種廣大智。此十種廣大智為:(一)知一切眾生心行智,(二)知一切眾生業報智,(三)知一切佛法智,(四)知一切佛法深密理趣智,(五)知一切陀羅尼門智,(六)知一切文字辯才智,(七)知一切眾生語言音聲辭辯善巧智,(八)於一切世界中普現其身智,(九)於一切眾會中普現影像智,(十)於一切受生處中具一切智。〔新華嚴經卷四十九〕
thập chủng quỷ
〖出楞嚴經〗〔一、怪鬼〕,謂此鬼宿因多貪,於物非理而取,故受此報;還託於物,即金銀草木等精怪也。〔二、魃鬼〕,謂此鬼宿因多婬,為色動亂身心,如風鼓物,故受此報;還託於風,而成魃鬼也。(魃即旱魃。)〔三、魅鬼〕,謂此鬼宿因多詐,唯憑詐偽,惑亂於人,故受此報;託附畜類,以成其質,即狐狸等精,能魅惑人者也。〔四、蠱毒鬼〕,謂此鬼宿因多怨,結怨在心,懷惡不捨,故受此報;假託毒類,以成其質,即蛇虺等毒蟲,能蠱於人者也。〔五、癘鬼〕,謂此鬼宿因多瞋,心常忿恚,故受此報;遇人年災命衰者,便入其身,興諸苦惱,如癘疫、傅屍、骨蒸之類也。〔六、餓鬼〕,謂此鬼宿因多慢,內無實德,空腹高心,陵人傲物,故受此報;寓氣為質,不逢飲食,常困饑虛,是名餓鬼。〔七、魘鬼〕,謂此鬼宿因多誑,常懷異謀,詐現有德,欺罔於人,故受此報;憑虛託暗,迷惑昏睡之人,是名魘鬼。〔八、魍魎鬼〕,謂此鬼宿因邪見,妄生執著,自謂明悟,故受此報;寓山川以託其形,為木石之怪,是名魍魎鬼。〔九、役使鬼〕,謂此鬼宿因多枉,勞心役思,常行不正,撓害無辜,故受此報;寓明顯境,託以成形,而為擔沙、負石、走使之類,是名役使鬼。〔十、傳送鬼〕,謂此鬼宿因爭訟,藏覆己罪,為人所訟,故受此報;託附於人,傳送吉凶福禍之言,是名傳送鬼。
; 491據楞嚴經卷八載,十種鬼即:(一)怪鬼,此鬼宿因多貪,於物非理而取,故受此報,還託於物,即金銀、草木等精怪。(二)魃鬼,此鬼宿因多婬,為色動亂身心,如風鼓物,故受此報,還託於風,而成魃鬼。(三)魅鬼,此鬼宿因多詐,唯憑詐偽,惑亂於人,故受此報,託附畜類,以成其質,即狐狸等精,能魅惑於人。(四)蠱毒鬼,此鬼宿因多怨,結怨在心,懷惡不捨,故受此報,假託毒類,以成其質,即蛇、虺等毒蟲,能蠱於人。(五)癘鬼,此鬼宿因多瞋,心常忿恚,故受此報,遇人流年不利或體弱命衰者,即入其身,興諸苦惱,如患癘疫、傳屍(肺病)、骨蒸(虛勞內熱之症)等。(六)餓鬼,此鬼宿因多慢,內無實德,空腹高心,凌人傲物,故受此報,寓氣為質,不逢飲食,常困飢虛。(七)魘鬼,此鬼宿因多誑,常懷異謀,詐現有德,欺罔於人,故受此報,憑虛託暗,迷惑昏睡之人。(八)魍魎鬼,此鬼宿因邪見,妄生執著,自謂明悟,故受此報,寓山川以託其形,為木石之怪。(九)役使鬼,此鬼宿因多違法,勞心役思,常行不正,撓害無辜,故受此報,寓明顯境,託以成形,而為擔沙、負石、走使之類。(十)傳送鬼,此鬼宿因爭訟,藏覆己罪,為人所訟,故受此報,託附於人,傳送吉凶福禍之言。
; (十種鬼) Chỉ cho 10 loại quỉ nói trong kinh Lăng nghiêm quyển 8. Tức là : 1. Quái quỉ: Loài quỉ nương gá vào vật, tức tinh quái của vàng bạc, cây cỏ... vì nguyên nhân đời trước tham muốn nhiều, lấy các vật phi nghĩa, bất chính, nên phải chịu quả báo này. 2. Bạt quỉ: Loài quỉ nương gá vào gió, vì nguyên nhân đời trước đa dâm, hễ thấy sắc là thân tâm động loạn, như gió thổi vật, nên chịu quả báo này. 3. Mị quỉ: Loại quỉ gá vào loài súc sinh, thành tính súc sinh, tức các loài tinh như chồn cáo, hay mê hoặc người. Vì nguyên nhân đời trước lừa gạt người, chỉ nhờ dối trá làm cho con người rối loạn, nên phải chịu quả báo này. 4. Cổ độc quỉ: Loại quỉ nương gá vào cácloài có nọc độc và trở thành tính, tức các trùng độc như rắn, rết... hay hại người. Vì nguyên nhân đời trước nhiều oán và kết oán trong tâm, ôm lòng ác độc không bỏ nên phải chịu quả báo này. 5. Lệ quỉ: Loài quỉ này thường nhập vào người có thể chất suy yếu, tinh thần bạc nhược, khơi dậy những nỗi khổ não, như các chứng bệnh dịch, bệnh phổi, bệnh nhiệt... Vì nguyên nhân đời trước đa sân, tâm thường tức giận, cho nên phải chịu quả báo này. 6. Ngã quỉ: Loài quỉ này nương gá vào khí làm chất, không gặp thức ăn uống, thường chịu khổ đói khát. Vì nguyên nhân đời trước kiêu mạn, bên trong không có thực đức, nhưng lại lên mặt khinh người, ngạo vật, nên phải chịu quả báo này. 7. Yếm quỉ: Loài quỉ nhờ vào những việc hư đản, mờ ám để làm cho tâm trí người bị mê hoặc. Vì nguyên nhân đời trước có nhiều mưu gian, giả hiện người có đức để gạt gẫm người khác, nên phải chịu quả báo này. 8. Vọng lượng quỉ: Loài quỉ nương gá vào núi sông, là tinh quái của cây, đá. Vì nguyên nhân đời trướctàkiến, vọng sinh chấp trước, tự cho là sáng suốt, nên chịu quả báo này. 9. Dịch sử quỉ: Loài quỉ nương gá vào các cảnh rõ ràng mà thành hình tướng cụ thể và bị sai khiến làm các việc nặng nhọc như gánh cát, vác đá... Vì nguyên nhân đời trước làm các việc trái phép, bất chính, nhiễu hại người vô tội... nên phải chịu quả báo này. 10. Truyền tống quỉ: Loài quỉ này thường nhập vào người để truyền nói các việc lành dữ, họa phúc... Vì nguyên nhân đời trước kiện tụng, che giấu tội của mình, bị người tố cáo, cho nên chịu quả báo này.
thập chủng sở quán pháp
489依菩薩瓔珞本業經卷上載,立於十住、十行、十迴向、十地、等覺五位,各有十種所觀法。即:(一)十心(十住)位之十種所觀法為:(1)厚集一切善根,如四弘誓。(2)修習無量善行,如四念處觀。(3)善習佛道法,如觀十「一切入」。(4)一切佛前受法而行,如八勝處。(5)修諸清白法,如八大人覺。(6)為諸佛所護,如八解脫觀。(7)廣正法,如六和敬。(8)信喜大法,如三空。(9)心住四等法,如化眾生教四諦法。(10)好求佛功德,如六念。 (二)十行心:(1)自得一切種智,如四正法。(2)為得自身有大力,如四如意足。(3)願無畏具足,如五根。(4)求具足三寶,如五分法身。(5)為化一切眾生,如八正道。(6)得大慈悲,如七觀門入一相。(7)為得四無礙,如五善根。(8)入一切佛國中行,如四化法。(9)為於一念中照一切法,如三世十二因緣。(10)為自在轉大法輪,如菩薩三寶。 (三)十迴向心:(1)二諦正直,如學習第一義諦。(2)深第一義智,如五神通。(3)淳至,如於無生慧中四不壞淨。(4)量同佛力,如三相。(5)善計量眾生力,如五陰色者。(6)佛教化力,如十二入。(7)趣向無礙智,如十八界。(8)隨順自然智,如因果。(9)能受佛法僧,如二諦空。(10)以自在慧化一切眾生,如中道第一義諦。 (四)十地心:(1)歡喜地住中道第一義諦慧,如二十歡喜心。(2)金剛海藏法寶,如自行十善、教人行十善、讚歎十善。(3)入如幻三昧,如十二門禪。(4)遍行法寶藏,如三十七道品、四念處。(5)入法界智觀,如十六諦。(6)達有法緣故起智,如十種十二因緣十種照。(7)盡果報無障無礙智,如以三空智觀三界二習。(8)不思議無功用觀,如無相大慧方便大用。(9)入法際智,如四十辯才一切功德行皆成就。(10)無礙智觀,如無量法雲雨,澍及一切眾生。 (五)等覺心之心所行法,如勇伏定入法光三昧,入此定中修行十法:(1)學佛不思議變通,(2)集菩薩眷屬,(3)重修先所行法門,(4)順一切佛國問訊一切佛,(5)與無明父母別,(6)入重玄門,(7)現同如佛現一切形相,(8)二種法身具足,(9)無有二習,(10)登中道第一義諦山頂。
; (十種所觀法) Chỉ cho 10 pháp sở quán của Bồ tát ở 5 giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác được nói trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng. Đó là: I. Mười pháp sở quán của giai vị Thập tâm(Thập trụ): 1. Hậu tập nhất thiết thiện căn: Quán xét sâu rộng tất cả thiện căn, như 4 thệ nguyện rộng lớn. 2. Tu tập tất cả thiện hạnh: Quán xét và tu tập tất cả hạnh lành, như 4 niệm xứ.3. Thiện tập Phật đạo pháp: Khéo tu tập theo pháp Phật đạo, như quán xét 10 nhất thiết nhập. 4. Nhất thiết Phật tiền thụ pháp nhi hành: Ở trước tất cả Phật nhận lãnh pháp mà tu hành, như quán xét Bát thắng xứ. 5. Tu chư thanh bạch pháp: Tu các pháp trong trắng, như Bát đại nhân giác. 6. Vị chư Phật sở hộ: Được chư Phật che chở, như quán xét Bát giải thoát. 7. Quảng chính pháp: Mở rộng chính pháp, như tu pháp Lục hòa kính. 8. Tín hỉ đại pháp: Kính tin, ưa thích đại pháp, như quán xét Tam không. 9. Tâm trụ tứ đẳng pháp: Tâm trụ trong 4 pháp bình đẳng, như dùng pháp 4 đế giáo hóa chúng sinh. 10. Hảo cầu Phật công đức: Ưa cầu công đức của Phật, như quán 6 niệm. II. Mười pháp sở quán của giai vị Thập hành tâm: 1. Tự đắc nhất thiết chủng trí: Tự được Nhất thiết chủng trí, như tu 4 chính pháp. 2. Vị đắc tự thân hữu đại lực: Để tự thân có sức mạnh mẽ,nên cầnquán xét Tứ như ý túc. 3. Nguyện vô úy cụ túc: Nguyện đầy đủ vô úy nên quán xét ngũ căn. 4. Cầu cụ túc Tam bảo: Cầu đầy đủ Tam bảo nên quán 5 phần pháp thân. 5. Vị hóa nhất thiết chúng sinh: Để giáo hóa tất cả chúng sinh nên tu Bát chính đạo.6. Đắc đại từ bi: Được đại từ bi như tu 7 quán môn nhập nhất tướng. 7. Vị đắc tứ vô ngại: Để được 4 vô ngại nên quán 5 thiện căn. 8. Nhập nhất thiết Phật quốc trung hành: Đi vào tất cả cõi Phật như 4 hóa pháp. 9. Vi ư nhất niệm trung chiếu nhất thiết pháp: Chỉ trong một niệm chiếu soi tất cả pháp, như quán 12 nhân duyên trong 3 đời. 10. Vị tự tại chuyển đại pháp luân: Chuyển đại pháp luân trong tư thế tự tại, như Bồ tát Tam bảo. III. Mười pháp sở quán của giai vị Hồi hướng tâm: 1. Nhị đế chính trực: Hai đế ngay thẳng, tức học tập Đệ nhất nghĩa đế. 2. Thâm đệ nhất nghĩa trí: Trí Đệ nhất nghĩa sâu xa, như 5 thần thông. 3. Thuần chí: Tức Tứ bất hoại tịnh trong Vô sinh tuệ. 4. Lượng đồng Phật lực: Lượng ngang với Phật lực, như Tam tướng. 5. Thiện kế lượng chúng sinh lực: Năng lực khéo tính lường chúng sinh, như quán xét sắc 5 ấm. 6. Phật giáo hóa lực: Năng lực giáo hóa của Phật, như 12 nhập. 7. Thú hướng vô ngại trí: Hướng tới trí vô ngại, như quán xét 18 giới. 8. Tùy thuận tự nhiên trí: Thuận theo trí tự nhiên, như quán nhân quả. 9. Năng thụ Phật pháp tăng: Có năng lực lãnh thụ Phật pháp tăng, như quán 2 Không đế. 10. Dĩ tự tại tuệ hóa nhất thiết chúng sinh: Dùng tuệ tự tại hóa độ tất cả chúng sinh, như quán xét Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. IV. Mười pháp sở quán của giai vị Thập địa tâm: 1. Hoan hỉ địa trụ Trung đạo đệ nhất nghĩa đế tuệ: Hoan hỉ địa trụ trong trí tuệ Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, như quán xét 20 tâm hoan hỉ. 2. Kim cương hải tạng pháp bảo: Như tự làm 10 điều thiện, bảo người làm 10 điều thiện, khen ngợi 10 điều thiện. 3. Nhập như huyễn tam muội: Vào tam muội Như huyễn, như 12 môn thiền. 4. Biến hành Pháp bảo tạng: Tu hành khắp tạng Pháp bảo, như quán 37 đạo phẩm. 5. Nhập Pháp giới trí quán: Như quán xét 16 đế. 6. Đạt hữu pháp duyên cố khởi trí: Đạt được hữu pháp duyên nên khởi trí, như quán xét 10 thứ Thập nhị nhân duyên, 10 thứ chiếu sáng. 7. Tận quả báo vô chướng vô ngại trí: Trí hết quả báo không chướng không ngại, như dùng trí 3 không quán xét 2 tập trong 3 cõi. 8. Bất tư nghị vô công dụng quán: Quán vô công dụng không thể nghĩ bàn: Như quán đại dụng của trí phương tiện vô tướng. 9. Nhập pháp tế trí: Như quán 40 biện tài tất cả hạnh công đức đều thành tựu. 10. Vô ngại trí quán: Trí quán vô ngại, như vô lượng trận mưa pháp thấm nhuần hết thảy chúng sinh. V. Mười pháp tâm sở hành của Đẳng giác tâm: Như ở Dũng phục định, Bồ tát vào tam muội Pháp quang tu hành 10 pháp: 1. Học năng lực biến thông không thể nghĩ bàn của chư Phật. 2. Nhóm họp quyến thuộc của Bồ tát 3. Tu lại các pháp môn đã thực hành khi trước. 4. Thuận theo tất cả cõi Phật thăm hỏi hết thảy Phật. 5. Từ biệt cha mẹ vô minh. 6. Đi vào các lớp huyền môn. 7. Hiện giống như Phật hiện tất cả hình tướng. 8. Đầy đủ 2 loại Pháp thân. 9. Không còn 2 tập. 10. Lên đỉnh núi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.
thập chủng tam pháp
483乃天台宗之說。即指三道(惑、業、苦)、三識(菴摩羅識、阿梨耶識、阿陀那識)、三佛性(正因、了因、緣因)、三般若(實相、觀照、文字)、三菩提(實相、實智、方便)、三大乘(理、隨、得)、三身(法、報、應)、三涅槃(性淨、圓淨、方便淨)、三寶(佛、法、僧)、三德(法身、般若、解脫)等十種三法。 在諸經論中,說明三法之例極多,由上述十種三法來說明因果之始終,以無明為本,則依序自三道乃至三德;若以法性為本,則逆次由三德乃至三道。智顗之法華玄義卷五下載,以真性、觀照、資成等三軌,各配於十種三法,例如法身配真性軌、般若配觀照軌、解脫配資成軌,依此而言,諸種三法名異而義同。又據智顗之金光明玄義卷上謂,十種三法,在空間上有無限之意義,在一種三法之中,同時具足其他九種三法,而在時間上配合於本有(三道、三識)、當有(三德、三寶)、現有(其他六種三法)等三位。〔維摩經玄疏卷五、法華玄義釋籤卷十二〕
; (十種三法) Chỉ cho 10 loại Ba pháp, đó là: Ba đạo (hoặc, nghiệp, khổ), Ba thức(Am ma la thức, A lê da thức, A đà na thức), Ba Phật tính (Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính, Duyên nhân Phật tính), Ba Bát nhã(Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã, Văn tự bát nhã), Ba bồ đề(Thực tướng bồ đề, Thực trí bồ đề, Phương tiện bồ đề), Ba Đại thừa(Lí đại thừa,Tùy đại thừa, Đắc đại thừa), Ba thân (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân), Ba Niết bàn (Tính tịnh niết bàn, Viên tịnh niết bàn, Phương tiện niết bàn), Ba ngôi báu(Phật, Pháp, Tăng), Ba đức(Pháp thân đức, Giải thoát đức, Bát nhã đức). Trong các kinh luận, có rất nhiều trường hợp nói về 3 pháp, căn cứ vào 10 loại 3 pháp liệt kê ở trên để thuyết minh thủy chung của nhân quả, nếu lấy vô minh làm đầu thì theo thứ tự từ 3 đạo cho đến 3 đức; nếu lấy pháp tính làm đầu thì thứ tự sẽ ngược lại là từ 3 đức cho đến 3 đạo. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, hạ, ngài Trí khải đem 3 quĩ là Chân tính, Quán chiếu và Tư thành phối hợp với 10 loại 3 pháp, chẳng hạn như Pháp thân phối với Chân tính quĩ, Bát nhã phối với Quán chiếu quĩ, Giải thoát phối với Tư thành quĩ. Cứ theo đó thì các loại 3 pháp, tên khác nhau mà nghĩa thì giống nhau. Lại cứ theo Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng thì 10 loại 3 pháp về mặt không gian có vô hạn ý nghĩa, trong 1 loại 3 pháp đồng thời có đủ 9 loại 3 pháp kia. Còn về mặt thời gian thì phối hợp với 3 vị: Bản hữu(3 đạo, 3 thức), Đương hữu(3 thức, 3 ngôi báu) và Hiện hữu(6 loại 3 pháp kia).
thập chủng thiện pháp
493<一>寶雨經卷五所載日喻菩薩之十種善法。即:破無明暗、能覺悟有情、光耀十方、出現善法、諸漏滅盡、能作光明、映蔽外道、能示高下、發起善業、善人愛樂。(參閱「日喻菩薩十種善法」1454) <二>除蓋障菩薩所問經所載之十種善法。有如下數種:(一)月喻菩薩之十種善法,即:皆生歡喜、眾所樂見、善法增長、惡法損減、咸皆稱讚、體相清淨、乘最上乘、常自莊嚴、遊戲法樂、具大神通。 (二)海導師喻菩薩之十種善法,即:得他信許、為他所敬、善作指引、為他依止、能為濟命、善備資糧、富有財寶、希取無足、為作先導、善到一切智城。 (三)水喻菩薩之十種善法,即:流潤赴下、植善法種、信樂歡喜、壞煩惱根、自體無雜清淨、息煩惱熱、止欲渴愛、深廣無涯、高下充滿、息諸塵坌。 (四)蓮華喻菩薩之十種善法,即:離諸染污、不與惡俱、戒香充滿、本體清淨、面相熙怡、柔軟不澀、見者皆吉、開敷具足、成熟清淨、生已有想。 (五)火喻菩薩之十種善法,即:燒煩惱薪、成熟佛法、乾煩惱淤泥、如大火聚、作光明照、能使驚怖、能作安慰、利與眾共、人所供養、人不輕慢。(參閱「月喻菩薩十種善法」1465、「水喻菩薩十種善法」1490、「火喻菩薩十種善法」1498、「海導師十喻」4172、「蓮華十喻」6147)
; (十種善法) Chỉ cho 10 pháp lành của Bồ tát. I. Mười pháp lành của Bồ tát Nhật dụ ghi trong kinh Bảo vũ quyển 5: Phá vô minh, thường giác ngộ hữu tình, ánh sáng chiếu khắp 10 phương, sinh ra các pháp lành, diệt hết các lậu(phiền não), tạo ra ánh sáng, ánh sáng che khuất ngoại đạo, hay thị hiện cao thấp, phát khởi các nghiệp thiện và được các thiện nhân ưa mến II. Mười pháp lành nói trong kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn: 1. Mười pháp lành của bồ tát Nguyệt dụ: Đều sinh vui mừng, mọi người ưa thấy, pháp lành tăng trưởng, pháp ác tổn giảm, tất cả đều khen ngợi, thể tướng thanh tịnh, ngồi xe Tối thượng, thường tự trang nghiêm, du hí pháp lạc, có đại thần thông. 2. Mười pháp lành của bồ tát Hải đạo sư dụ: Được người tín nhiệm, được người tôn kính, chỉ dẫn khéo léo, làm chỗ nương tựacho người khác, thường cứu mệnh cho người, khéo chuẩn bị tư lương, có nhiều của báu, sự mong cầu không biết đủ, làm người dẫn đường, khéo đưa đến thành Nhất thiết trí. 3. Mười pháp lành của bồ tát Thủy dụ: Thấm nhuần xuống phía dưới, gieo trồng hạt giống pháp, tin ưa vui mừng, nhổ gốc phiền não, tự thể thanh tịnh, dập tắt lửa phiền não, ngăn lấp dòng khát ái, rộng sâu không bến bờ, cao thấp đều tràn đầy và rửa sạch các bụi bẩn. 4. Mười pháp lành của bồ tát Liên hoa dụ: Lìa các ô nhiễm, không đồng với cái ác, hương giới lan tỏa, bản thể thanh tịnh, nét mặt vui tươi, mềm mại mượt mà, người trông thấy đều được tốt lành, nở rộ đầy đủ, thành thục thanh tịnh và vừa sinh ra đã được tưởng nhớ giữ gìn. 5. Mười pháp lành của bồ tát Hỏa dụ: Đốt cháy củi phiền não, thành thục Phật pháp, làm khô bùn phiền não, như đống lửa lớn, làm ra ánh sáng chiếu soi, có năng lực khiến sợ hãi, có năng lực an úy, có lợi cho mọi người cùng hưởng, được người cúng dường, không ai khinh nhờn.
thập chủng thiện xảo trí
492善巧,意為應眾生之根機,善施以方便。華嚴經中載有十種善巧之智慧,即:(一)了達佛法甚深善巧智,(二)出生廣大佛法善巧智,(三)宣說種種佛法善巧智,(四)證入平等佛法善巧智,(五)明了差別佛法善巧智,(六)悟解無差別佛法善巧智,(七)深入莊嚴佛法善巧智,(八)一方便入佛法善巧智,(九)無量方便入佛法善巧智,(十)知無邊佛法無差別善巧智。〔六十華嚴經卷十一、八十華嚴經卷十六、卷四十九〕
; (十種善巧智) Chỉ cho 10 thứ trí tuệ khéoléođức Phật dùng làm phương tiện để tùy căn cơ giáo hóa chúng sinh được nói trong kinh Hoa nghiêm. Đó là: 1. Trí tuệ thiện xảo rõ suốtPhật pháp sâu xa. 2. Trí tuệ thiện xảo sinh ra Phật pháp rộng lớn. 3. Trí tuệ thiện xảo tuyên giảng các pháp môn của Phật pháp. 4. Trí thiện xảo chứng nhập Phật pháp bình đẳng. 5. Trí tuệ thiện xảo biết rõ chỗ sai biệt của Phật pháp. 6. Trí tuệ thiện xảo hiểu rõ chỗ không sai biệt của Phật pháp. 7. Trí tuệ thiện xảo thâm nhập Phật pháp trang nghiêm. 8. Trí tuệ thiện xảo dùng một phương tiện mà vào Phật pháp. 9. Trí tuệ thiện xảo dùng vô lượng phương tiện mà vào Phật pháp. 10 Trí tuệ thiện xảo biết Phật pháp vô biên không sai khác.
thập chủng thuyết tam thế
〖出華嚴經〗十種說三世者,謂三世各三,乃分九別,會別歸總,攝在一念;故以一融九,雖九而常一,雖一而常九,一九無礙,十世圓融。經云:無量無數劫,解之即一念,知念亦無念,如是見世間,是名十種說三世也。(劫,梵語具云劫波,華言分別時節。)〔一、過去世說過去世〕,謂過去世中,說過去世之事也。〔二、過去世說未來世〕,謂過去世中,說未來世之事也。〔三、過去世說現在世〕,謂過去世中,說現在世之事也。〔四、未來世說過去世〕,謂未來世中,說過去世之事也。〔五、未來世說現在世〕,謂未來世中,說現在世之事也。〔六、未來世說無盡〕,謂未來世中,說未來世;未來之後,復有未來無窮盡之事也。〔七、現在世說過去世〕,謂現在世中,說過去世之事也。〔八、現在世說未來世〕,謂現在世中,說未來世之事也。〔九、現在世說平等〕,謂現在世中,說現在世之事也。以現在為平等者,例過去、未來之現在前後均齊也。〔十、現在世說三世即一念〕,謂世由積念而成,故三世各三,而成九世,攝九世歸三世,攝三世即一念。故合論云:十世古今,始終不離於當念也。
Thập Chủng Thông Hiệu
(十種通號): xem Thập Hiệu (十號) bên dưới.
thập chủng trì danh
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có mười cách trì danh khác nhau—Oral recitation is the most common Pure Land method at the present time. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm, there are ten variants in oral recitation: 1) Phản Văn Trì Danh: Phương pháp nầy, miệng vừa niệm, tai vừa nghe vào trong, kiểm soát từng chữ từng câu cho rành rẽ rõ ràng, hết câu nầy đến câu khác. Nghe có hai cách, hoặc dùng tai nghe, hoặc dùng tâm nghe. Tuy nghe vào trong nhưng không trụ nơi đâu, lần lần quên hết trong ngoài, cho đến quên cả thân tâm cảnh giới, thời gian không gian, chỉ còn một câu Phật hiệu. Cách thức phản văn khiến cho hành giả dễ gạn trừ vọng tưởng, mau được nhứt tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chân Giáo thể phương nầy Thanh tịnh do nghe tiếng. Muốn chứng vào tam muội, nên như thế mà tu hành” chính là ý trên đây—Reflecting the name recitation. With this technique, the ear catches the sound as the mouth recites, examining each individual word and each individual phrase, to make sure they are clear and distinct, phrase after phrase. There are two ways of hearing, with the ears or with the mind. Although the ears 'hear deep inside,' the sounds do not reside anywhere. The practitioner gradually forgets everything inside and out, even body, mind, realm, time and space, with only the Buddha's name remaining. This technique of 'reflecting the name,' makes it easy for the cultivator to filter out deluded thoughts and Surangama Sutra expresses this very idea when it states, in the words of the Bodhisattva Manjusri: “This common method of concentrating the mind on its sense of hearing, turning it inward, is most feasible and wise.” 2) Sổ Châu Trì Danh: Đây là cách thức miệng vừa niệm, tay vừa lần chuỗi. Ban đầu ý niệm còn ràng buộc nơi tràng hạt, sau lần buông bỏ đi đến cảnh nhứt tâm. Phương pháp sổ châu khiến cho niệm lực mạnh mẽ, ví như người yếu chân đi núi, nhờ nương cây gậy mà tiến bước lên cao mãi. Niệm cách mấy lần lại cần phải ghi số mỗi thời hoặc mỗi ngày là bao nhiêu câu. Ghi số có điểm lợi là bắt buộc người tu phải giữ định số, trừ được bệnh biếng trễ; nhưng cần chú ý đừng quá tham mau tham nhiều mà niệm không được rành rẽ rõ ràng. Người xưa tuy niệm nhiều nhưng cũng ở trong sự rành rõ, do nhờ hai điểm là thuần thục và định tâm. Ngẫu Ích Đại Sư, vị tổ thứ chín của Liên Tông, từng khai thị: “Muốn đi đến cảnh giới 'nhứt tâm bất loạn,' không có cách chi kỳ diệu khác. Trước tiên hành giả cần phải lần chuỗi ghi số, niệm niệm rành rẽ rõ ràng, mỗi ngày hoặc ba muôn, năm muôn, cho đến mười muôn câu, giữ khóa trình quyết định chẳng thiếu, thề một đời không thay đổi. Niệm như thế lâu ngày lần lần thuần thục, không niệm vẫn tự niệm, chừng ấy ghi sổ hay không ghi sổ cũng được. Và niệm như thế kèm thêm tín nguyện tha thiết, mà không được vãng sanh, thì chư Phật ba đời đều mang lỗi nói dối. Khi đã vãng sanh, tất cả pháp môn đều được hiện tiền. Nếu như ban sơ vì cầu cao tự ỷ, muốn tỏ ra không chấp tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại, đó là tín nguyện chẳng bền sâu, hành trì không hết sức; dù có giảng suốt mười hai phần giáo, giải ngộ một ngàn bảy trăm công án, cũng là việc ở bên bờ sanh tử mà thôi.” Lời khuyên dạy nầy thật là cây kim chỉ nam cho người niệm Phật—Counting Rosary Beads Recitation. In this method, as the mouth recites, the hand fingers the rosary. At first, thoughts are tied to the rosary beads, but later on they gradually move away from the beads, leading to the state of one-pointedness of mind. This technique increases the power of recitation in the same way that a cane enables a mountain climber with weak legs to ascend higher and higher. With this technique, we should write down the number of recitations per session or per day. This has the advantage of forcing us to keep an exact count, eliminating the affliction of laziness. However, we should take care not to be too ambitious, attempting to achieve too much too soon, or our recitation will not be clear and distinct. The ancients, while reciting the Buddha's name over and over, did so in a clear, distinct manner thanks to two factors: correct understanding, and correct concentration of mind. Elder Master Ou-I, the Ninth Patriarch of Pure Land once taught: “There is no better or loftier way to reach the state of one-pointedness of mind. At first the practitioner should finger the rosary, keeping an exact count, while reciting the Buddha' name over and over in a clear, distinct manner, 30,000, 50,000 up to 100,000 times each day, maintaining that number without fail, determined to remain constant throughout his life. Such recitation will, in time, become second nature, not reciting being reciting. At that time, recording or not recording no longer matters. If such recitation, accompanied by earnest Faith and Vows, did not lead to rebirth in the Pure Land, the Buddhas of the Three Periods (past, present and future) would all be guilty of false speech. Once we are reborn in the Pure Land, all Dharma methods will appear before eyes. If at the outset we seek too high a goal, are over-confident and eager to show that we are not attached to forms and marks, preferring to study according to the free and perfect method, we reveal a lack of stability and depth in our Faith and Vows as well as perfunctoriness (làm lấy lệ) in our practice. Even if we were to lecture exhaustively on the Twelve Divisions of the Dharma and become enlightened to the 1,700 Zen koans, these would merely be activities on the fringes of life and death.” This advice is indeed a hand-guide for the Pure Land practitioners. 3) Tùy Tức Trì Danh: Niệm Phật thầm hay niệm se sẽ tiếng, nương theo hơi thở, mỗi hơi thở ra vào đều một câu Phật hiệu; đó là ý nghĩa của tùy tức trì danh. Bởi mạng sống con người liên quan với hơi thở, nếu biết nương theo đây mà niệm, thì khi sống hằng không rời Phật, lúc lâm chung tấc hơi vừa tắt, liền về cảnh giới Liên Bang. Nhưng nên chú ý là phương thức nầy khi tập đã thuần thục, cần niệm ra tiếng, chớ không nên chỉ niệm thầm. Như thế niệm lực mới mạnh, ý nguyện cầu vãng sanh dễ được phát khởi. Bằng không, ý niệm vãng sanh sẽ khó tha thiết và sợ e lại lạc vào công dụng Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu Thừa—Breath-by-Breath Recitation. This technique consists of reciting silently or softly, with each breath, inhaling or exhaling, accompanied by one recitation of th Buddha's name. Since life is linked to breath, if we take advantage of breath while practicing Buddha Recitation, we will not be apart from Amitabha Buddha in life and at the time of death, when breath has stopped, we will be immediately reborn in the Pure Land. The practitioner should remember, however, that once he has mastered this technique, he should recite aloud as well as silently. In this way, the power of recitation will be strengthened and the will to be reborn in the Pure Land more easily developed. Otherwise, his resolve will not be earnest and he might stray into the practice of the “Five Meditations to calm the mind” of the Theravada tradition. 4) Truy Đảnh Trì Danh: Khi dùng cách nầy, nên niệm nho nhỏ tiếng, mỗi chữ mỗi câu đều kế tiếp nhau liên tỏa chặt chẽ, thành hình thế chữ sau đuổi theo chữ trước, câu nầy gối đầu câu kia nên gọi là “Truy Đảnh.” Áp dụng phương thức như thế, nhờ sự kín đáo bền chặt, trung gian không xen hở, nên tạp niệm không có chỗ xen vào. Dùng đến pháp nầy thì tình ý khẩn trương, tâm miệng dũng tiến, oai lực của chánh niệm bao trùm tất cả, khiến cho nghiệp tưởng vô minh tạm thời chìm lắng, ánh mầu tam muội bộc phát chiếu xa. Từ xưa người tu tịnh nghiệp trong lúc tình tưởng mênh mang rối loạn, thường dùng cách thức nầy—Continuously Linked Recitation. With this technique, the practitioner recites softly, each word following the one immediately before, each phrase closely following the previous phrase. During this practice, through discretion and patience, there are no empty time frames and therfore 'sundry thoughts' cannot intrude. The cultivator's feelings and thoughts are intense, his mind and mouth move boldly forward reciting the Buddha's name, the power of right thought embraces everything, temporarily subduing ignorance and delusive thought. Thus, the light of transcendental samadhi breaks through and shines forth. From early times, Pure Land pratitioners would avail themselves of this method when their emotions and thoughts wandered or were in a state of confusion. 5) Giác Chiếu Trì Danh: Niệm Phật theo giác chiếu là một mặt niệm Phật, một mặt hồi quang soi trở lại chân tánh của mình. Do niệm như thế, hành giả sẽ đi vào cảnh giới hư linh siêu tuyệt, chỉ còn cảm giác thân tâm của mình cùng chân tâm Phật ngưng đọng thành một khối, sáng tròn rực rỡ, đầy rộng mênh mang. Khi đó phòng nhà vật dụng thảy đều ẩn mất, cho đến thân giả tứ đại của ta cũng không biết rơi lạc vào chỗ nào. Niệm theo đây thì báo thân chưa mãn đã chứng tịch quang, Phật hiệu vừa tuyên liền vào tam muội. Đem thân phàm phu mà dự vào cảnh thánh, thật không chi mau lẹ hơn phương pháp trên đây. Song chỉ tiếc, nếu chẳng phải bậc thượng thượng căn tất không thể lãnh hội thực hành, nên phần độ cơ của cách thức nầy vẫn còn sơ hẹp—Enlightened, Illuminating Recitation. With this technique, the practitioner on the one hand recites the Buddha's name and on the other hand, returns the light and illumines his True Nature. He thus enters into the realm of ultimate transcendental emptiness; what remains is only the consciousness that his body-mind and the True Mind of the Buddha have become one, all-illuminating and all-encompassing. At that time, meditation rooms, cushions, gongs and all else have disappeared. Even the illusory, composite body is nowhere to be found. With this practice, even while our present retribution body is not yet dead, silent illumination is attained. Uttering the Buddha's name, the practitioner immediately achieves the state of samadhi. There is no swifter method for common mortals to enter the realm of the saints. Unfortunately, we cannot understand or practice this method unless we are of the highest capacity. Therefore, its scope is rather modest and limited. 6) Lễ Bái Trì Danh: Phương thức nầy là vừa lạy vừa niệm Phật. Hoặc niệm một câu, lạy một lạy, hoặc một mặt niệm, một mặt lạy, không luận câu Phật nhiều hay ít. Cách lễ Phật lại phải hết sức nhẹ nhàng chậm rãi, lễ niệm song hành, thân miệng hợp nhất. Nếu thêm vào đó ý thành khẩn tha thiết, thì thành ra ba nghiệp đều tập trung, ngoài câu Phật hiệu, không còn một tơ hào vọng niệm. Phương pháp nầy có sở năng phá trừ hôn trầm, công đức và hiệu lực rất to lớn, vì hành giả vận dụng cả ba nghiệp để trì niệm. Cư sĩ Vương Nhật Hưu khi xưa từng áp dụng cách trên đây, mỗi ngày đêm ông lễ niệm trung bình là một ngàn lạy. Nhưng dường như đây là lối niệm đặc biệt của hạng người tâm lực tinh tấn, thiếu khả năng tất khó vững bền, bởi lạy lâu thân thể mõi mệt dễ sanh chán nãn. Cho nên thông thường, cách thức nầy chỉ hợp kiêm dụng, khó bề chuyên dụng—Bowing to the Buddha Recitation. This technique consists of making bows as we recite the Buddha's name. Either we recite once before each bow or we bow as we recite, regardless of the number of recitations. The bowing should be supple yet deliberate, complimenting recitation, bowing and reciting perfectly synchronized. If we add a sincere and earnest mind, body, speech and mind are gathered together. Except for the words Amitabha Buddha, there is not the slightest deluded thought. This method has the ability to destroy the karma of drowsiness. Its benefits are very great, because the practitioner engages in recitation with his body, speech and mind. A lay practitioner of old used to follow this method, and each day and night, he would bow and recite and average of one thousand times. However, this practice is the particular domain of those with strong mind-power. Lacking this quality, it is difficult to persevere, because with extended bowing, the body easily grows weary, leading to discouragement. Therefore, this method is normally used in conjunction with other methods and is not practiced in exclusively. 7) Ký Thập Trì Danh: Đây là cách niệm ký số, cứ lấy mỗi mười câu làm một đơn vị. Người hơi ngắn có thể niệm thành hai lượt, mỗi lượt năm câu; hoặc chia ra ba lượt, hai lượt ba câu, một lượt bốn câu. Sau khi niệm đủ mười câu, đều lần qua một hạt chuỗi. Niệm theo lối nầy, tâm đã niệm Phật, lại còn phải ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên cũng bắt buộc phải chuyên, nếu không chuyên thì số mục liền sai lạc. Cho nên pháp nầy đại để là một phương tiện cưỡng bức cho hành giả chuyên tâm, rất có công hiệu với những kẻ có nhiều tạp niệm. Ấn Quang Đại Sư thường khuyên các liên hữu áp dụng cách thức trên đây—Decimal Recording Recitation. This is the inscription technique of Buddha Recitation, taking each ten utterances of the Buddha's name as a unit. Individuals with short breath spans can divide the ten utterances into two subunits (five utterances each) or three smaller subunits (two three utterance units and one four-utterance unit). One rosary bead is fingered after each group of ten utterances is completed. With this practice, the mind must not only recite, it must also remember the number of utterances. In this way, if we are not diligent we must become so; otherwise, it will be impossible to avoid mistakes. This technique, in general, is an excellent expedient forcing the cultivator to concentrate his mind and is very effective with those subject to many errant thoughts. Elder Master Yin Kuang used to recommend it to Pure Land practitioners. 8) Liên Hoa Trì Danh: Lấy bốn sắc hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, vừa niệm vừa tưởng, luân lưu chuyển tiếp, là danh nghĩa của lối niệm trên đây. Hành giả khi niệm câu Phật hiệu thứ nhứt, tưởng trước mặt mình hiện ra một đóa sen xanh to lớn, phóng ánh sáng xanh. Câu thứ hai, tưởng đóa sen vàng. Cho đến câu thứ ba, thứ tư, là hoa sen đỏ, trắng, màu nào phóng quang ánh sáng ấy. Kế tiếp lại tưởng hoa sen màu xanh, cứ như thế mà luân lưu mãi. Đồng thời khi hoa hiện, lại tưởng có hương sen thanh nhẹ phảng phất xung quanh. Bởi có nhiều hành giả trong Liên Hoa Tông dùng mọi pháp thức vẫn khó ngăn được tạp niệm, nên cổ nhân mới phát minh ra lối niệm nầy. Đây là cách dùng hình sắc thay đổi để buộc tâm tưởng cho chuyên nhứt, và hình sắc nầy lại lấy tướng hoa sen nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc “Một câu Di Đà, một đóa bảo liên,” bởi hoa sen Tịnh Độ hiện thành không rời hoa sen công đức của tâm niệm Phật. Và khi mạng chung, thần thức của hành giả sẽ nương theo hoa sen báu ấy mà sanh về Cực Lạc. Chư liên hữu nếu thấy có duyên với phương thức trên đây, nên áp dụng để mau đi vào niệm Phật diệu liên hoa tam muội—Lotus Blossom Recitation. As he recites, the practitioner contemplates the four colours of the lotus blossom (blue, yelow, rd, and white), one colour after another without interruption. With his first utterance of the Buddha's name, he visualizes a huge, blue lotus blossom before his eyes, emitting a blue light. With the second utterance, he visualizes a yellow lotus blossom, emitting a yellow light. The third and fourth utterances are accompanied, respectively, by visualization of red and white lotus flowers, each colour emitting its own light. He then repeats the visualization in the same sequence. As the flowers appear, he imagines a vague, lingering touch of pure, soft lotus fragrance. Ancient masters devised this method because many practitioners in the T'ien-T'ai School, despite using all available techniques, found it difficult to stem their errant thoughts. This method uses various forms and colours to focus mind and thought. These forms and colours take the marks of lotus blossoms in the Seven-Jewel Pond of the Pure Land (one utterance of the Buddha's name, one jewelled lotus blossom), because the lotus blossom appearing in the Pure Land are inseparable from the lotus blossoms created by virtues of reciting mind. At the time of death, the mind-consciousness of the practitioner relies on these jewelled lotus blossoms to achieve rebirth in the Western Pure Land. Should the Pure Land cultivator discover that he has an affinity with this technique, he should apply it and quickly enter the Wonderful Lotus Blossom Buddha Recitation Samadhi. 9) Quang Trung Trì Danh: Vì có hành giả khi nhắm mắt niệm Phật, thường bất chợt thấy những hình tướng ô uế, hoặc màu sắc đen tối xao động nổi lên, nên cổ đức mới truyền dạy cho cách thức nầy. Đây là phương pháp vừa niệm Phật, vừa tưởng mình đang ngồi giữa vùng ánh sáng trong suốt to rộng. Khi tâm đã an định trong vùng quang minh ấy, hành giả cảm thấy thần trí sáng suốt mát mẽ, không những tạp tưởng trừ dứt, mà các tướng uế sắc cũng tiêu tan. Rồi chánh niệm do đó được bền lâu, và tam muội cũng do đó lần lần thành tựu. Đây tuy là phương tiện đặc biệt chuyên trừ tướng uế ác nhưng dù không có nghiệp bệnh ấy, nếu muốn tinh thần thơ thới để đi sâu vào niệm Phật tam muội, hành giả cũng nên áp dụng cách thức nầy—Recitation Amidst Light. This method was specially designed for certain practitioners who, as soon as they close their eyes to recite, suddenly see filthy forms and marks (ugly grimacing faces, for example), or dark forms and colours swirling around. With this technique, the practitioner, while reciting the Buddha's name, visualizes himself seated in the middle of an immense, brilliant zone of light. Within that zone of light, when his mind has quieted down, the practitioner feels bright and refreshed. At that time, not only have deluded thoughts been annihilated, filthy, evil forms have also disappeared. After that, right thought is reinforced and samadhi is, in time, achieved. Although this is a special expedient to destroy evil deluded marks, even the practitioner who is not in this predicament can apply this method to clear his mind and enter deeply into the Buddha Recitation Samadhi. 10) Quán Phật Trì Danh: Pháp quán tưởng trong Quán Kinh rất trọng yếu, công đức cực kỳ to rộng, nhưng chưa phải là phương tiện phổ thông cho chúng sanh thời mạt pháp hành trì. Nhưng vì không muốn bỏ công đức đặc biệt của quán pháp, nên cổ nhân đã thể dụng trong mười sáu phép quán, lựa cách thức dễ tu tập nhứt, lấy trì danh làm chánh, quán Phật làm phụ, gọi là Quán Phật Trì Danh. Hành giả mỗi ngày sau khi niệm Phật, lại để riêng một thời tịnh tâm quán tưởng sắc tướng quang minh của Phật A Di Đà. Cách quán Phật nầy rút lựa phép quán thứ mười ba trong Quán Kinh, tưởng Đức A Di Đà thân cao một trượng sáu, sắc vàng ròng, đứng bên bờ ao thất bảo. Nếu chưa quán tưởng được ao thất bảo, hành giả có thể tưởng Đức Phật đứng trong vùng ánh sáng giữa hư không trước mắt mình, tay trái đưa ngang ngực bắt ấn kiết tường, tay mặt buông sẻ xuống theo thể tiếp dẫn. Muốn quán Phật cho thành tựu, trước tiên nên quán đại khái toàn thân, kế chỉ chuyên tâm quán tưởng lông trắng giữa đôi mày. Tướng bạch hào nầy rỗng không trong suốt như bạch ngọc, có tám cạnh, xoay về bên hữu cao thành năm vòng. Bạch hào là tướng căn bản trong ba mươi hai tướng hảo, khi tướng ấy quán thành, do sự cơ cảm, các tướng kia đều lần lượt hiện rõ. Tuy nhiên, muốn được phần chắc chắn hành giả cũng nên duyệt xem trong kinh, để ghi nhớ rõ 32 tướng tốt của Phật trước khi dụng công. Phương pháp trên đây sở dĩ để trì danh vào phần chánh, vì nếu quán tưởng không thành vẫn còn phần trì danh để bảo đảm cho sự vãng sanh. Nhưng thật ra, trì danh cũng giúp quán tưởng, quán tưởng lại phụ lực cho trì danh; hai phần nầy hổ tương đưa hành giả đến chỗ song song thành tựu. Pháp thức nầy tuy có phần khó hơn các lối khác, song nếu thành tựu thì công đức to rộng vô biên, nên xin đưa ra sau cùng để làm duyên khuyến tấn—Contemplation of the Buddha Recitation. The methods of contemplation taught in the Meditation Sutra are very important and lead to immense virtue, but they are not a popular expedient for sentient beings in the Dharma-Ending Age. Nevertheless, since the ancient masters did not wish to see the special benefits of the meditation method go unused, they selected the easiest of the Sixteen Contemplations (Contemplation of Amitabha Buddha) and combined it with Oral Recitation to form the Contemplation of the Buddha-Oral Recitation technique. Recitation is predominant, with contemplation of the Buddha occupying a subsidiary position. Each day, after reciting the Buddha's name, the practitioner reserves a special period of time for concentrating his mind and contemplating the Embellishments and Light of Amitabha Buddha. This method derived from Contemplation Number Thirteen in the Meditation Sutra, in which Amitabha Buddha is visualized as some sixteen feet tall and of golden hue, standing at the edge of the Seven-Jewel Pond. If the practitioner cannot yet visualize the Seven-Jewel Pond, he can picture Amitabha Buddha standing before his eyes in a zone of light, in open space, the left hand held at chest level and forming the auspicious mudra, the right arm extending downward in the position of welcoming and guiding. To be successful in this meditation, it is necessary, at the outset, to visualize the body of Amitabha Buddha in general, then concentrate on the urna (white mark between the eyebrows). This mark is empty and transparent, like a white gem with eight facets. The urna is the basic mark among the thirty-two auspicious marks of the Buddhas. When this visualization is successful, thanks to the affinity thus created between Amitabha Buddha and the practitioner, other marks will appear clearly, one after another. However, to ensure success, the practitioner should read through the Meditation Sutra, memorizing the thirty-two auspicious marks of Amitabha Buddha before commencing his practice. With this method, Buddha Recitation should be primary, because if the practitioner does not succeed at visualization, he can still fall back on recitation to ensure rebirth in the Pure Land. In fact, recitation aids visualization and visualization complements recitation, so that these two aspects work in parallel, leading the practitioner toward the desired goal. Although this technique is somewhat more difficult than the others, if it can be accomplished successfully, immeasurable benefits are achieved. It is therefore described here at the very end, to foster diligent practice.
thập chủng tu tam muội pháp
490據大集賢護經卷五現前三昧中十法品載,十種修三昧法即:(一)摧折我慢,指修行者應先摧滅我見與憍慢之心,於三寶及一切眾生皆起恭敬。(二)知恩念報,指修行者應知所受天地、父母等種種恩德,無時或忘,以報其恩。(三)心無嫉妒,指修行者心無偏倚,於他人不生嫉惡妒忌之心。(四)斷除疑惑,指修行者應以諸佛正知正見,斷除疑惑。(五)深信不壞,指修行者須發深信之心,於正法堅固持守。(六)精勤無倦,指修行者應精進勤敏,而無倦怠。(七)常行乞食,指修行者應行乞食,折我慢心,益彼福德。(八)少欲知足,指修行者應離塵寡欲,常自知足。(九)樂無生法忍,指修行者於不生滅之法,起希樂心,安忍不退。(十)常念三昧,指修行者應事彼能證三昧法者。即作佛想,念念於此三昧,修習而不退。
; (十種修三昧法) Chỉ cho 10 pháp tu Tam muội trong phẩmThập pháp hiện tiền tam muội của kinh Đại tập hiềnhộ quyển 5.Đó là: 1. Tồi chiết ngã mạn: Phá diệt ngã mạn. Tức người tu hành trước hết phải dẹp bỏ tâm ngã kiến và kiêu mạn, đối với Tam bảo và tất cả chúng sinh đều khởi tâm cung kính. 2. Tri ân niệm báo: Biết ơn nhớ báo. Tức người tu hành trước hết phải nhận biết các ơn đức của trời đất, cha mẹ, không lúc nào quên để mong báo đền. 3. Tâm vô tật đố: Tâm không ghen ghét. Tức người tu hành tâm không xiên xẹo, đối với người khác không sinh tâm ganh ghét, kèn cựa xấu xa. 4. Đoạn trừ nghi hoặc: Dứt trừ ngờ vực. Tức người tu hành phải dùng chính tri, chính kiến của chư Phật để trừ tâm nghi hoặc. 5. Thâm tín bất hoại: Tin sâu không hoại. Tức người tu hành phải có niềm tin sâu xa, đối với chính pháp giữ gìn vững chắc.6. Tinh cầu vô quyện: Siêng năng không mỏi mệt. Tức người tu hành phải chăm chỉ tiến lên, không sinh tâm biếng nhác, mỏi mệt. 7. Thường hành khất thực: Thường đi xin ăn. Tức người tu hành phải đi xin ăn để bỏ tâm kiêu căng ngã mạn, đồng thời giúp thí chủ chứa góp phúc lợi. 8. Thiểu dục tri túc: Ít muốn, biết đủ. Tức người tu hành lìa tham, ít muốn, thường tự biết đủ. 9. Nhạo vô sinh pháp nhẫn: Ưa thích vô sinh pháp nhẫn. Tức người tu hành đối với pháp không sinh không diệt, khởi tâm mong cầu, an nhẫn không lùi sụt. 10. Thường niệm tam muội: Người tu hành nên kính thờ những bậc đã chứng được Tam muội, tức khởi tưởng nhớ Phật, thường nghĩ đến Tam muội, tu tập không lùi.
thập chủng tâm ☸ niệm phật thập chủng tâm
〖出大寶積經〗彌勒菩薩白佛言:如佛所說,阿彌陀佛極樂世界功德利益,若有眾生,發十種心,隨一一心,專念彼佛,是人命終,當得往生也。(梵語彌勒,華言慈氏。梵語阿彌陀,華言無量壽。)〔一、無損害心〕,念佛之人,於諸眾生,常起大慈之心,不加損害,令得快樂,是名無損害心。〔二、無逼惱心〕,念佛之人,身心安靜,於諸眾生,常起大悲之心,深加愍傷,令得脫苦,是名無逼惱心。〔三、樂守護心〕,念佛之人,於佛所說正法,當須不惜身命,守護愛惜,是名樂守護心。〔四、無執著心〕,念佛之人,常以智慧觀察於一切法,不生執著,是名無執著心。〔五、起淨意心〕,念佛之人,能離世間雜染之法,復於利養等事,常生知足之心,是名起淨意心。〔六、無忘失心〕,念佛之人,求生淨土,成佛種智,於一切時,念念不捨,是名無忘失心。〔七、無下劣心〕,念佛之人,常行平等之心,於諸眾生,尊重恭敬,不生輕慢,是名無下劣心。〔八、生決定心〕,念佛之人,不著世間言論,於無上菩提之道,深生正信,畢竟不惑,是名生決定心。(梵語菩提,華言道。)〔九、無雜染心〕,念佛之人,修習功行,種諸善根,心常遠離一切雜染煩惱,是名無雜染心。〔十、起隨念心〕,念佛之人,雖觀如來相好,而不生愛著之心;於無念中,常念彼佛,是名起隨念心。
thập chủng tính
488一切眾生之種性分為十種。即:(一)凡夫性,指尚未求佛道之單純凡夫,乃起種種異見,受五趣別異之性,故新譯作異生。(二)信行性,指聞信善知識之教,如其教隨順修行者。此相當於三慧中聞、思二慧之位,七方便中五停心、別相念住、總相念住之位。(三)法行性,指不待善知識教,依佛所說之法而修行者。相當於三慧中之修慧,七方便中之後四善根位。(四)八忍性,即相當於見道十六心中前十五心之位者。因具八忍、七智,故稱八忍性。即起無漏智觀四諦,而空觀無間更無所凝滯。因觀四諦理,空四諦之相,又稱無相行。(五)須陀洹性,即為預流果,正當第十六心。以之初預入聖道之法流,故稱初果之聖者為預流。(六)斯陀含性,為一來果,指第二果之聖者。乃斷除欲界第六品修惑之位。因九品修惑中尚殘存三品,須來欲界受生一次,方得涅槃,故稱一來。(七)阿那含性,即不還果,第三果之聖者。已斷九品之修惑,不再返欲界,故稱不還。(八)阿羅漢性,斷盡一切思惑,一世之果報盡,永入涅槃不再來生三界,故又稱不生。(九)辟支佛性,即緣覺,斷盡習氣之聖者。以上為自調孤度之人,為缺乏利他之大悲者。(十)佛種性,可成二利圓滿佛果之種性。捨離與無上菩提心相違之前九性,入順應大菩提之佛種性,即得淨印三昧,以其淨故,勝一切之聲聞緣覺,而施光明與一切眾生,故以淨寶珠喻之。〔大方等大集經卷八、海意菩薩所問淨印法門經卷二、成實論卷一分別賢聖品、俱舍論卷二十三分別賢聖品〕
; (十種性) Mười chủng tính của tất cả chúng sinh. Đó là: 1. Phàm phu tính: Chỉ cho hạng người phàm phu chưa cầu Phật đạo, vì khởi các thứ dị kiến, nhận tính khác nhau trong 5 đường nên Tân dịch là Dị sinh. 2. Tín hành tính: Chỉ cho những người nghe và tin lời dạy của thiện tri thức, rồi tu hành theo đúng lời dạy ấy. Giai vị này tương đương với giai vị Văn tuệ, Tư tuệ trong Tam tuệ và các giai vị Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ trong Thất phương tiện. 3. Pháp hành tính: Chỉ cho người không đợi nghe lời dạy của thiện tri thức, trực tiếp y theo giáo pháp do đức Phật nói mà tu hành. Giai vị tương đương với giai vị Tu tuệ trong Tam tuệ và giai vị Tứ thiện căn sau trong Thất phương tiện. 4. Bát nhẫn tính: Tức giai vị 15 tâm trước trong 16 tâm Kiến đạo. Vì có đầy đủ 8 nhẫn, 7 trí nên gọi là Bát nhẫn tính, tức giai vị khởi trí vô lậu quán Tứ đế và quán Không, không gián đoạn, cũng không ngưng trệ. Lại vì quán lí Tứ đế và tướng không của Tứ đế nên cũng gọi là Vô tướng hành. 5. Tu đà hoàn tính: Chỉ cho quả Dự lưu, tương đương với tâm thứ 16. Vì mới dự vào dòng Thánh nên được gọi là Dự lưu.6. Tư đà hàm tính: Tức quả Nhất lai. Chỉ cho bậc thánh quả thứ 2, là giai vị đã đoạn trừ phẩm Tu hoặc thứ 6 ở cõi Dục. Vì vẩn còn lại 3 phẩm trong 9 phẩm Tu hoặc và phải thụ sinh trong cõi Dục một lẫn nữa nên gọi là Nhất lai. 7. A na hàm tính: Tức quả Bất hoàn, là bậc thánh quả thứ 3, đã đoạn hết 9 phẩm Tu hoặc, không còn trở lại cõi Dục nữa nên gọi là Bất hoàn. 8. A la hán tính: Đoạn hết tất cả Tư hoặc, quả báo trong một đời đã hết, vĩnh viễn vào Niết bàn không trở lại 3 cõi nữa, vì thế cũng gọi là Bất sinh. 9. Bích chi Phật tính: Tức Duyên giác, bậc thánh đã đoạn sạch tập khí. 10. Phật chủng tính: Chủng tính có khả năng thành tựu Phật quả tròn đầy, tự lợi, lợi tha. Lìa bỏ 9 tính trước(chỉ có tự lợi) trái với tâm Bồ đề Vô thượng, nhập chủng tính Phật thuận ứng đại bồ đề, tức là được tam muội Tịnh ấn, vì Tam muội này thanh tịnh, cho nên vượt hơn hàng Thanh văn, Duyên giác, ban phát quang minh cho tất cả chúng sinh, vì thế được ví dụ với bảo châu thanh tịnh.
thập chủng y
486指比丘眾能著用之十種衣服。從形狀區別,稱為三衣或五衣;從質料區分,稱為十種衣。即:(一)拘舍衣(梵 kauśa),又作高世耶衣、憍賒耶衣(梵 kauśeya)。為蠶絲(絹布)所製。(二)劫貝衣(梵 karpāsa),又作吉貝衣、劫波育衣。為棉布所製。(三)欽婆羅衣(梵 kambara),乃羊毛布作成。或稱繫奢(梵 keśa,毛髮)欽婆羅衣。(四)芻摩衣(梵 kṣauma),為麻布衣之一。(五)叉摩衣(梵 kṣama),又作纖摩衣。亦為麻之質料。(六)舍㝹衣(梵 śāṇa),又作奢那衣、扇那衣。為似麻之樹皮所製。(七)麻衣。(八)翅夷羅衣(梵 cīra),木皮布作成。(九)拘攝羅衣,又作拘遮羅衣、鳩夷羅衣。以拘翅羅鳥(梵 kokila)、鳩那羅鳥(梵 kuṇāla)之羽毛製成。(十)嚫羅鉢尼衣(梵 śaraparṇī),又作讖羅半尼衣、差羅波尼衣、廁羅婆尼衣。為草所製,亦有以野蠶繭為緯,麻苧為經製成。摩訶僧祇律卷二十八中僅舉七種衣,有部毘奈耶卷十八亦列出七種,而善見律毘婆沙卷十四則說六種。又野麻衣、駝毛緂樹葉衣、豹衣、鹿衣及小浴衣,為外道之衣類,皆不用。
; (十種衣) Chỉ cho 10 loại y phục mà chúng tỉ khưu có thể sử dụng để mặc. Theo hình dáng mà phân biệt thì gọi là Tam y, hoặc Ngũ y; còn theo chất liệu mà phân biệt thì gọi là Thập chủng y. Thập chủng y là: 1. Câu xá y (Phạm:Kauza), cũng gọi Cao thế da y, Kiêu xa da y (Phạm: Kauzeya): Áo may bằng tơ tằm(vải lụa). 2. Kiếp bối y (Phạm:Karpàsa), cũng gọi là Cát bối y, Kiếp ba dục y: Áo may bằng vải bông. 3. Khâm bà la y (Phạm: Kambara): Áo may bằng vải lông dê. Có chỗ gọi là Hệ xa (Phạm:Keza, lông tóc) Khâm bà la y. 4. Sô ma y (Phạm: Kwauma): Loại áo may bằng vải gai. 5. Xoa ma y (Phạm: Kwama), còn gọi Tiêm ma y, cũng may bằng vải gai. 6. Xá nâu y (Phạm:Zàịa), cũng gọi Xa na y, Phiến na y: Áo may bằng vỏ cây giống như gai. 7. Ma y: Áo vải gai. 8. Sí di la y (Phạm:Cìra): Áo may bằng vải vỏ cây. 9. Câu nhiếp la y, cũng gọi Câu già la y, Cưu di la y: Áo may bằng lông chim Câu sí la (Phạm:Kokila) và bằng lông chim Cưu na la (Phạm:Kuịàla)... 10. Sấn la bát ni y (Phạm:Zaraparịi, cũng gọi là Sấm la bán ni y, Sai ba la ni y, Xí la bà ni y. Tức áo được làm bằng cỏ, cũng có khi dùng sợi tăm hoang làm sợi ngang và cỏ gai làm sợi dọc. Luận Ma ha tăng kỉ quyển 28 chỉ nêu có 7 loại y, còn Thiện kiến luật tì bà sa thì nêu 6 loại.
thập chủng y quả
488相當於十種功德。所謂依果,乃諸行依前起後,或相依各得增長,亦即相依之果。出自舊華嚴經卷三十六,謂菩薩修行菩薩乘,能得如下十種功德:(一)菩提心依果,究竟不忘菩提心。(二)善知識依果,善友隨順和合。(三)善根依果,長養諸善根。(四)諸波羅蜜依果,究竟修行諸度之法。(五)一切法依果,依一切法永出生死。(六)諸願依果,起諸大願長養菩提。(七)諸行依果,廣修習諸行。(八)菩薩依果,得菩薩之一生補處。(九)供養佛依果,供養佛而信心不壞。(十)一切如來依果,如來能正教授令離顛倒。 華嚴經探玄記卷十七謂十種依果為行起之所依,故明此為信位行相中之第一,遂置於二千普賢行法之首,復辨其次第:(一)首置菩提心依果,乃因菩提心為萬行之本,不忘失菩提心,餘行方得增長。(二)內雖有勝心,若外無善友則行亦不成,若不順同善友則無功而非依果,故須以隨順和合而成依果。(三)若無宿善根不能順修,故要依宿善更增新行。(四)若未能究竟修行,則亦無可廣修諸度之法。(五)若理法不達虛通,則觸處皆礙,故依一切法皆得出。(六)若無大願,則滯寂不增菩提。(七)若不勝進廣修,無由究竟。(八)須外依勝侶之故,一生菩薩以餘之菩薩為兄為長,方堪為依。(九)供佛以成堅信。(十)唯如來為究竟之所依,以能正教授令離顛倒之故。〔華嚴經疏鈔卷五十三、傳通記糅鈔卷三十八〕
; (十種依果) Chỉ cho 10 loại y quả, tức 10 thứ công đức mà người tu Bồ tát thừa đạt được nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ).Y quả tức là hạnh trước nương vào hạnh sau, hoặc các hạnh nương nhau đều được tăng trưởng, cũng tức là quả tương y. Mười yquả là: 1. Bồ đề tâm y quả: Rốt ráo không quên tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức y quả: Bạn tốt tùy thuận hòa hợp. 3. Thiện căn y quả: Nuôi lớn các căn lành.4. Chư ba la mật y quả: Tu hành các độ một cách rốt ráo. 5. Nhất thiết pháp y quả: Nương vào tất cả pháp, vĩnh viễn ra khỏi sinh tử. 6. Chư nguyện y quả: Phát khởi các đại nguyện nuôi lớn bồ đề. 7. Chư hạnh y quả: Tu tập rộng các hạnh. 8. Bồ tát y quả: Được Nhất sinh bổ xứ của Bồ tát. 9. Cúng dường Phật y quả: Cúng dường Phật và lòng tin vững bền. 10. Nhất thiết Như lai y quả: Như lai có năng lực trao cho chính giáo khiến lìa điên đảo. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17 cho rằng Thập chủng y quả là điểm tựa để phát khởi các hạnh, nên cho đây là bậc nhất trong các hành tướng của Tín vị và đặt ở đầu 2000 hành pháp Phổ hiền, lại phân tích rõ về thứ tự như sau: 1. Bồ đề tâm y quả được xếp lên đầu, vì tâm bồ đề là gốc của muôn hạnh, nếu không quên mất tâm Bồ đề thì các hạnh khác mới được tăng trưởng. 2. Tuy bên trong có thắng tâm, nhưng nếu bên ngoài không có bạn tốt thì hạnh cũng không thành, nếu không thuận bạn tốt thì vô công chứ chẳng phải y quả, cho nên phải dùng tùy thuận hòa hợp mới thành y quả. 3. Nếu không có căn lành đời trước thì không thể thuận tu, nên cần phải nương vào căn lành đời trước để tăng thêm hạnh mới.4. Nếu chưa thể tu hành rốt ráo thì cũng không thể tu rộng các độ. 5. Nếu lí pháp không thông suốt rỗng rang thì đến đâu cũng thấy trệ ngại, cho nên nương tất cả pháp thì đều được xuất li. 6. Nếu không có đại nguyện thì sẽ rơi vào tịch lặng, không tăng trưởng bồ đề. 7. Nếu không tu hành thắng tiến thì không thể được rốt ráo. 8. Vì bên ngoài rất cần nương vào bạn tốt, cho nên phải coi hàng Bồ tát ngoài Bồ tát Nhất sinh bổ xứ là các huynh trưởng, mới xứng đáng làm nơi nương tựa. 9. Cúng dường Phật để thành niềm tin vững chắc. 10. Chỉ có đức Như lai là chỗ nương rốt ráo, vì Ngài có năng lực ban cho chính giáo để xa lìa điên đảo.
thập chủng đà la ni
Mười thứ Đà-La-Ni của chư Bồ Tát được Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Ten kinds of mental command of Enlightening Beings mentioned by the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment from the World). 1) Văn trì Đà La Ni, vì trì tất cả các pháp chẳng quên mất: Mental command of retaining what they hear, as they retain all teachings without forgetting. 2) Tu hành Đà-La-Ni, vì như thiệt khéo quán tất cả các pháp: Mental command of practice, as they skillfully observe all things as they really are. 3) Tư duy Đà-La-Ni, vì biết rõ tánh của tất cả các pháp: Mental comand of reflection, as they comprehend the nature of all things. 4) Pháp quang minh Đà-La-Ni, vì chiếu bất tư nghì Phật pháp: Mental command of light of the teachings, as they alumine the inconceivable attributes of Buddhahood. 5) Tam muội Đà-La-Ni, vì ở khắp chỗ hiện tại tất cả Phật nghe chánh pháp tâm chẳng loạn: Mental command of concentration, as their mind are not distracted as they hear the teachings of all Buddhas of the present. 6) Viên Âm Đà La Ni, vì hiểu rõ bất tư nghì âm thanh ngữ ngôn: Mental command of universal sound, as they understand inconceivable numbers of uterances. 7) Tam Thế Đà La Ni, vì diễn nói tam thế những Phật pháp bất tư nghì: Mental command of all times, as they expound the inconceivable Buddha teachings of all times. 8) Chủng Chủng Biện Tài Đà La Ni, vì diễn nói vô biên những Phật pháp: Mental command of various intellectual powers, as they expound boundless Buddha teachings. 9) Xuất Sanh Vô Ngại Nhĩ Đà La Ni, vì đều có thể nghe được pháp bất khả thuyết của chư Phật đã nói: Mental command of producing unobstructed ears, as they hear all the teachings of untold Buddhas. 10) Nhứt thiết Phật pháp Đà La Ni, vì an trụ nơi lực vô úy của Như Lai: Mental command of all qualities of Buddhahood, as they are firmly established in the powers and fearlessnesses of the enlightened.
thập chủng đại thừa luận
483隋代僧僧粲著。文帝開皇年間,僧粲曾於總化寺大開講肆,接化學眾,後於開皇十七年(597)受任命為「二十五眾」中之第一「摩訶衍匠」,住於大興善寺,乃將昔時宣講之論說整理成文,此即本論。內容分為:一通,二平,三逆,四順,五接,六挫,七迷,八夢,九相即,十中道等。全書援引經論成文,一一皆有典據,為當世學者入門書之一。〔歷代三寶紀卷十二〕
; (十種大乘論) Luận, do ngài Tăng xán soạn vào đời Tùy.Bản luận này là do thu tập và chỉnh lí các bài thuyết giảng khi soạn giả trụ ở chùa Đại hưng thiện mà thành. Nội dung luận chia làm 10 mục: Thông, Bình, Nghịch, Thuận, Tiếp, Tỏa, Mê, Mộng, Tương tức và Trung đạo. Trong sách có viện dẫn văn kinh luận, mỗi mỗi đều có điển cứ. Tác phẩm này là 1 trong các sách nhập môn của người học đương thời. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].
thập chủng đắc giới duyên
491於小乘有部,得具足戒之緣有十種。即:(一)自然得,自然發得具足戒之意。指佛與緣覺發盡智時,無師自然得具足戒,不通於餘人。(二)見諦得,又作見道得。入見道觀四諦理時所得。即世尊成道之初,度阿若憍陳如等五比丘時,彼等聞四諦之理而自得戒。(三)善來得,佛見耶舍之機已熟,稱之善來比丘,彼乃即座得戒;是唯佛獨善之。(四)自誓得,自堅誓而得戒。如大迦葉信受佛為大師,自誓言而得戒;唯大迦葉能,不通於餘人。(五)論議得,與佛陀問答論議而得受戒,如蘇陀夷。(六)受重得,又作敬重得、八敬得。指受持八尊重法(八敬)而得戒,如佛陀之姨母大愛道比丘尼。(七)遣信得,又作遣使得。由佛遣音信而得戒。如法授尼。(八)邊五得,又作五人得。由五人授之作法得戒。邊地僧侶少,不能從正式儀規行三師七證之十人受時,以四僧眾與一羯磨師作法授戒。(九)羯磨得,又作十眾得。即在國境內立三師七證,依規定行羯磨作法授戒。(十)三歸得,聞歸依佛法僧三寶即得戒,如六十賢聖三度聽聞歸依三寶而受得具足戒。上述出自十誦律卷五十六、雜心論卷三、俱舍論卷十四,但得戒之緣依諸律、論所載互有異同。〔順正理論卷三十七、大乘法苑義林章卷三〕
; (十種得戒緣) Mười duyên được giới Cụ túc theo thuyết của Hữu bộ Tiểu thừa. Đó là: 1. Tự nhiên đắc: Tự nhiên phát được giới Cụ túc. Nghĩa là Phật và bậc Duyên giác, lúc phát ra Tận trí thì tự nhiên được giới Cụ túc mà không cần thầy truyền thụ.Điều này chỉ xảy ra với Phật và bậc Duyên giác mà thôi. 2. Kiến đế đắc (cũng gọi Kiến đạo đắc):Khi lên đến giai vị Kiến đạo quán xét lí 4 đế mà được. Tức khi đức Thế tôn mới thành đạo, lúc độ cho 5 vị tỉ khưu, đứng đầu là ngài A nhã kiều trần như, các vị này nghe lí 4 đế mà tự được giới. 3. Thiện lai đắc: Đến đây được. Đức Phật thấy căn cơ của ngài Da xá đã thuần thục, nên gọi Tỉ khưu đến đây!(Thiện lai tỉ khưu!), ngài Da xá liền được giới ngay tại chỗ. Trường hợp này chỉ có Phật mới làm được. 4. Tự thệ đắc: Tự mình thề mà được. Nghĩa là tự thệ nguyện vững chắc mà được giới. Như ngài Đại Ca diếp tin nhận Phật là bậc Đại sư, tự phát lời thề mà được giới. Việc tự thệ đắc giới chỉ có ngài Ca diếp mới làm được. 5. Luận nghị đắc: Do luận nghị mà được. Nghĩa là cùng vấn đáp luận nghị với Phật mà được giới, như trường hợp ngài Tô đà di. 6. Thụ trọng đắc(cũng gọi Kính trọng đắc, Bát kính đắc): Do kính trọng mà được. Nghĩa là do thụ trì 8 pháp tôn trọng (Bát kính) mà được giới, như trường hợp tỉ khưu ni Đại ái đạo, di mẫu của Phật. 7. Khiểntín đắc(cũng gọi Khiển sứđắc): Do đưa tin mà được. Nghĩa là do Phật sai đi đưa tin mà được giới, như trường hợp ni Pháp thụ. 8. Biên ngũ đắc(cũng gọi Ngũ nhân đắc): Do 5 người mà được. Nghĩa là ở vùng biên giới ít chư tăng, nếu không thể truyền giới đầy đủ Tam sư, Thất chứng(gồm 10 người) như theo qui định chính thức thì được phép tác pháp truyền giới với 4 vị tăng và 1 vị Yết ma. 9. Yết ma đắc(cũng gọi Thập chúng đắc): Do 10 người được. Nghĩa là ở những nơi đô hội có đông chư tăng phải lập đủ Tam sư, Thất chứng(gồm 10 người), y theo qui định thực hành yết ma tác pháp truyền giới.10. Tam qui đắc: Do 3 qui y mà được. Nghĩa là nghe 3 qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng mà được giới. Như 16 vị Hiền Thánh 3 lần nghe qui y Tam bảo mà được giới Cụ túc.Mười duyên đắc giới trên đây có xuất xứ từ luật Thập tụng quyển 56, luận Tạp tâm quyển 3, luận Câu xá quyển 14, nhưng duyên đắc giới thì tùy theo các luật, luận mà có chỗ giống nhau, có chỗ khác nhau.
thập chủng đắc địa tam muội
491菩薩修行所得之三昧。蓋地之為德,博厚平靜,無物不載;生育滋長,不自為功;包含攝受,周徧無量;於淨於穢,皆無愛憎分別。菩薩修行,得其三昧,有似於地,故稱得地三昧。據寶雨經卷三載,十種得地三昧即:(一)廣大無邊,指菩薩功德智慧,不可思議,莊嚴願行,無量無邊。譬如大地,周徧十方,無有界限。(二)存濟眾生,指菩薩以廣大慈悲之心徧行六度,存濟法界一切有情。如地廣大無邊,容受一切眾生,令得生長。(三)恩不望報,指菩薩利益一切有情,而心不希報。譬如大地生育萬物,而亦無所望報。(四)普能容受,指菩薩於諸佛所說無量無邊之法,皆能一心受持而不遺。譬如大地,天降無量無邊之洪雨,皆能容受。(五)眾生依止,指菩薩能為一切有情作歸依處。譬如大地,能為一切萬物之所依止。(六)能生善種,指菩薩以方便力,能令一切有情所有善根種子,皆因法雨而生。譬如大地,世間一切種子皆依於地而得生。(七)如大寶器,指菩薩以方便力,能令一切有情修習一切功德善法之寶,隨其根器,皆因菩薩而得成就。譬如大地,能為眾寶之器。(八)能出眾藥,指菩薩善巧說法,能除一切有情煩惱等病。譬如大地,生一切眾妙之藥,以療一切病。(九)不可傾動,指菩薩以禪定力,安忍逆順二境,一切內外諸緣皆無能擾動。譬如大地,不因他緣傾覆搖動。(十)不驚不畏,指菩薩以定慧力,安住正理,於邪魔外道之侵撓傷害,全無驚畏。譬如大地,雖遇烈風雷電,而地猶自若。
; (十種得地三昧) Mười công năng do Bồ tát tu đắc địa tam muội mà đạt được. Đó là: 1. Quảng đại vô biên: Rộng lớn vôbiên. Chỉ cho công đức trí tuệ của Bồ tát không thể nghĩ bàn, hành nguyện trang nghiêm vô lượng vô biên. Ví như Đại địa trùm khắp 10 phương, không có giới hạn. 2. Tồn tế chúng sinh: Dung nạp cứu giúp chúng sinh sống còn. Chỉ cho tâm từ bi rộng lớn của Bồ tát thực hành 6 độ, cứu giúp tất cả hữu tình trong pháp giới. Như mặt đất rộng lớn bao la, dung chứa tất cả chúng sinh, giúp cho sinh tồn. 3. Ân bất vọng báo: Ơn chẳng mong được báo đền. Nghĩa là Bồ tát làm lợi cho tất cả chúng sinh, nhưng tâm không mong được báo đáp. Ví như đại địa sinh ra và nuôi nấng muôn vật cũng không cầu được đền trả. 4. Phổ năng dung thụ: Có khả năng dung nạp khắp. Nghĩa là đối với vô lượng vô biên pháp do đức Phật nói, Bồ tát có khả năng nhất tâm thụ trì, không bỏ sót pháp nào. Ví như đại địa, dù trời đổ mưa bao nhiêu cũng có khả năng tiếp nhận. 5. Chúng sinh y chỉ: Chúng sinh nương tựa. Nghĩa là Bồ tát có thể làm nơi nương tựa cho tất cả hữu tình. Ví như đại địa có khả năng làm chỗ nương tựa cho hết thảy muôn vật. 6. Năng sinh thiện chủng: Có khả năng sinh ra các hạt giống lành. Nghĩa là Bồ tát dùng sức phương tiện, có thể khiến tất cả chủng tử thiện căn của hết thảy hữu tình đều được nhờ mưa pháp mà nảy nở. Ví như hết thảy hạt giống ở thế gian đều nương vào đất mà sinh trưởng. 7. Như lai bảo khí: Như đồ chứa của báu. Nghĩa là Bồ tát dùng sức phương tiện có thể giúp hết thảy hữu tình tu tập tất cả của báu công đức thiện pháp, tùy theo căn khí, đều nhờ Bồ tát mà được thành tựu. Ví như đại địa là đồ chứa các của báu. 8. Năng xuất chúng dược: Có khả năng sinh ra các loại thuốc. Nghĩa là sự nói pháp của Bồ tát có năng lực tiêu trừ tất cả bệnh phiền não của hữu tình. Ví như đại địa sinh ra tất cả các loại thuốc thần diệu, có khả năng chửa khỏi tất cả các chứng bệnh. 9. Bất khả khuynh động: Không thể nghiêng động. Nghĩa là Bồ tát dùng năng lực thiền định chịu đựng mọi cảnh thuận,nghịch, tất cả các duyên bên trong cũng như bên ngoài đều không thể nhiễu loạn. Ví như đại địa, không một sức gì làm nghiêng động được. 10. Bất kinh bất úy: Không kinh hãi sợ sệt. Nghĩa là Bồ tát dùng năng lực thiền định và trí tuệ, an trụ trong chính lí, hoàn toàn không sợ hãi sự xâm hại của tà ma ngoại đạo. Ví như đại địa, tuy gặp bão táp sấm sét cũng vẫn an nhiên tự tại.
thập cát tây minh phi
Pukkasi (S) Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở đông nam cung.
thập công đức
408功即功能,能破生死、得涅槃、度眾生。此功乃善行利德,故稱功德。又作十德、十事功德。據大般涅槃經光明遍照高貴德王菩薩品載,菩薩因修行大涅槃經,可得十事之功德。即:(一)入智功德,觀解趣實,稱為入智。若辨其相,有五種差別:(1)未聞者能得聞,(2)已聞能為利益,(3)能斷疑惑之心,(4)慧心正直而不曲,(5)能知如來之密藏。其中,(1)為聞慧,(2)、(3)為思慧,(4)為修慧,(5)為證智。 (二)起通功德,妙用隨緣,稱為起通。其五種差別為:(1)昔不得而今得,(2)昔不到而今到,(3)昔不聞而今聞,(4)昔不見而今見,(5)昔不知而今知。其中,(1)、(2)為身通,(3)為天耳通,(4)為天眼通,(5)為他心通、宿命通。 (三)大無量功德,化心深廣,稱大無量。即菩薩無緣大悲心,如虛空無所分別,而能普益一切眾生。 (四)十利益成就功德,行德建立,稱為利益成就。有十種差別:(1)根深難拔,(2)於自身生決定想,(3)不觀福田及非福田,(4)修佛淨土,(5)滅除有餘,(6)斷除業緣,(7)修清淨身,(8)了知諸緣,(9)離怨敵,(10)除二邊。 (五)五事報果成就功德,報果成就即勝報圓具之意。五事為:(1)諸根完具,六根不缺。(2)不生邊地,常處中國,降化隨物。(三)諸天愛念。(4)一切人天大眾恭敬供養。(5)得宿命智。上舉五項中,(1)、(2)是報,(3)、(4)為福,(5)為智。 (六)心自在功德,即具金剛定,所為無礙,為諸三昧中第一。 (七)修習對治功德,即善於修習四種離過道。(1)親近善知識,(2)專心聽法,(3)繫念思惟,(4)如法修行。以此四種方法對治諸過。 (八)對治成就功德,解脫德立,稱為對治成就。其差別有八:(1)斷五事,即色、受、想、行、識。(2)離五事,即身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見。(3)成六事,即念佛、念法、念僧、念戒、念施、念天。(4)修五事,即知定、寂定、心身樂定、無樂定、首楞嚴定。(5)守一事,即菩提心。(6)近四事,即大慈、大悲、大喜、大捨。(7)信順一實,即一大乘。(8)心善解脫、慧善解脫,即滅貪瞋癡心,知一切法無礙。 (九)修習正道功德,習正道即起修上順之意。其差別有五:(1)信心,(2)直心,(3)戒心,(4)近善友,(5)多聞。 (十)正道成就功德,修習三十七道品,入大涅槃之常樂我淨,宣說大涅槃經,顯示佛性。此十種功德與五行之關係,通論之,為遍菩薩位之始終所修;若分論之,則五行為初地階位以前之菩薩所修,十種功德為初地以上之菩薩所修〔大乘義章卷十四〕參閱「五行」1085)
; Ten merits (or powers) commended by the Buddha to his bhiksus - zealous progress, contentment with few desires, courage; learning (so as to teach), fearlessness, perfect observance of the commands and the fraternity's regulations, perfect meditation, perfect wisdom, perfect liberation, and perfect understanding of it.
; Mười công đức---The ten merits (powers) commended by the Buddha to his bhiksus: 1) Tinh tấn: Zealous progress. 2) Tri túc: Contentment with few desires. 3) Kiên trì (bất thối): Courage. 4) Học tu và chia xẻ: To learn and to teach. 5) Vô úy: Fearlessness. 6) Trì giới: Perfect observance of the commandments and fratenity's regulations. 7) Toàn định: Perfect meditation. 8) Thông hiểu hoàn toàn: Perfect understanding of the dharma. 9) Toàn huệ: Perfect wisdom. 10) Toàn giác: Perfect liberation.
; (十功德) Cũng gọi Thập đức, Thập sự công đức. Chỉ cho 10 thứ công đức mà Bồ tát tu hành kinh Đại bát niết bàn đạt được nói trong phẩm Quang minh biến chiếu cao quí đức vương bồ tát, kinh Đại bát niết bàn. Đó là: 1. Nhập trí công đức: Tức đạt được công đức quán xét, hiểu tỏ, hướng tới chỗ chân thực. Nếu biện biệt cho rõ thì có 5 tướng: a. Được nghe những điều chưa nghe. b. Nghe rồi thì làm lợi ích. c. Dứt được lòng ngờ vực. d. Tâm tuệ ngay thẳng không xiên xẹo. e. Biết được tạng sâu kín của Như lai. Trong đó, (a) là văn tuệ, (b) và (c) là tư tuệ, (d) là tu tuệ, (e) là chứng trí. 2. Khởi thông công đức: Đạt được diệu dụng tùy duyên. Có 5 tướng: a. Được những điều chưa được. b. Đến những chỗ chưa đến. c. Nghe những điều chưa nghe. d. Thấy những điều chưa thấy. e. Biết những điều chưa biết. Trong đó, (a) và (b) là thân thông, (c) là thiên nhĩ thông, (d) là thiên nhãn thông, (e) là tha tâm thông, túc mệnh thông. 3. Đại vô lượng công đức: Tâm giáo hóa rộng lớn. Tức là tâm đại bi vô duyên của Bồ tát, như hư không, không phân biệt, có năng lực mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.4. Thập lợi ích thành tựu công đức: Thành tựu 10 lợi ích, kiến lập hạnh đức. Có 10 thứ khác nhau: a. Gốc sâu khó nhổ. b. Nơi tự thân sinh ý tưởng quyết định. c. Không thấy có ruộng phúc và chẳng phải ruộng phúc. d. Tu tịnh độ của Phật. e. Diệt trừ hữu dư. g. Đoạn trừ nghiệp duyên. h. Tu thân thanh tịnh. i. Rõ biết các duyên. k. Lìa oán địa. l. Trừ 2 bên (có, không...) 5. Ngũ sự báo quả thành tựu công đức: Quả báo thù thắng tròn đủ, tức thành tựu 5 bậc: a. Đầy đủ các căn. b. Không sinh nơi biên địa; thường tùy loại giáo hóa. c. Được chư thiên ưa mến. d. Được tất cả đại chúng người, trời cung kính cúng dường. e. Được trí túc mệnh (tức trí biết rõ đời trước). Trong đó (a) và (b) thuộc về báo, (c) và (d) thuộc về phúc, (e) thuộc trí. 6. Tâm tự tại công đức: Được tam muội Kim cương, là bậc nhất trong các Tam muội, làm việc gì cũng thông suốt, không bị trở ngại. 7. Tu tập đối trị công đức: Tức khéo tu tập 4 pháp xa lìa lỗi lầm: a. Gần gũi thiện tri thức. b. Chuyên tâm nghe pháp. c. Tập trung tâm tư duy. d. Tu hành đúng như pháp. 8. Đối trị thành tựu công đức: Kiến lập công đức giải thoát, có 8 việc: a. Đoạn sắc, thụ, tưởng, hành và thức. b. Lìa thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. c. Thành tựu niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm xứ, niệm thiên. d. Tu tri định, tịch định, thân tâm lạc định, vô lạc định và thủ lăng nghiêm định. e. Giữ tâm bồ đề. g. Gồm 4 pháp: đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả. h. Tin thuận nhất thực, tức Nhất Đại thừa.i. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức diệt tham, sân, si, biết tất cả pháp vô ngại. 9. Tu tập chính đạo công đức: Tức khởi tu thượng thuận, gồm 5 pháp: a. Tín tâm. b. Trực tâm. c. Giới tâm. d. Gần bạn lành. e. Nghe nhiều. 10. Chính đạo thành tựu công đức: Tức tu tập 37 phẩm trợ đạo, nhập vào thường, lạc, ngã, tịnh của Đại niết bàn, tuyên thuyết kinh Đại niết bàn, hiển bày Phật tính. Nếu bàn chung về sự quan hệ giữa Thập công đứcnàyvà Ngũ hạnh thì cả 2 đều là các pháp trước sau do các giai vị Bồ tát tu hành; nếu bàn riêng thì Ngũ hạnh là các pháp tu của hàng Bồ tát trước giai vị Sơ địa, còn Thập chủng công đức là các pháp tu của Bồ tát từ Sơ địa trở lên.
thập công đức luận
408出自增一阿含經卷四十三所載十事功德之論。釋尊為制止比丘作無意義之俗論,而令思惟正法之論,去離惡趣,故說十功德論,即:(一)精勤,(二)少欲知足,(三)有勇猛心,(四)多聞能與人說法,(五)無畏無恐,(六)戒律具足,(七)三昧成就,(八)智慧成就,(九)解脫成就,(十)解脫見慧成就。論此十事,得潤及一切,多所饒益,得修梵行,得至滅盡無為之處,乃涅槃之要。
; (十功德論) Chỉ cho 10 việc công đức ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 43, do đức Phật giảng nói để ngăn chặn các tỉ khưu bàn luận các việc thế tục vô ý nghĩa, khiến họ tư duy về chính pháp hầu lìa bỏ các đường ác. Đó là: 1. Tinh tiến siêng năng. 2. Ý muốn biết đủ. 3. Có tâm mạnh mẽ. 4. Nghe nhiều và nói pháp cho người khác.5. Không sợ hãi. 6. Đầy đủ giới luật. 7. Thành tựu tam muội. 8. Thành tựu trí tuệ. 9. Thành tựu giải thoát. 10. Thành tựu giải thoát kiến tuệ. Nếu bàn về 10 việc trên đây thì tất cả đều được thấm nhuần, mang lại nhiều lợi ích, tu hành phạm hạnh, được đến chỗ tận diệt vô vi, là then chốt của việc đạt đến Niết bàn.
thập cú nghĩa
409<一>為佛教僧團建立之十種基本精神。據四分律卷一、根本說一切有部毘奈耶卷一、五分律卷一、十誦律卷一等載,十句義即:(一)攝取於僧,(二)令僧歡喜,(三)令僧安樂,(四)未信者信,(五)已信增長,(六)難調者調,(七)慚愧者安,(八)斷現有漏,(九)斷當來有漏,(十)令正法久住。(參閱「佛教教制」2683)409 <二>梵語 daśa padārthāḥ。句義,即指依語言所詮表之內容、意義及其對象。乃印度勝論學派(梵 Vaiśeṣika)之主張,由慧月(梵 Maticandra)所倡導,謂一切諸法之實體、屬性及其生成、壞滅之原理,可用十個範疇加以顯示,即分為:實、德、業、同、異、和合、有能、無能、俱分、無說等十要素,而一切萬有之生成、壞滅,即依此等要素之集合、離散而成。按勝論學派之祖優樓佉(梵 Ulūka)立實乃至和合之六句義(六諦)說,即一般所採用之六句義說,後加無說句義,為七句義說,最後復由慧月成立十句義說。即: (一)實(梵 dravya)句義,為法之實體,亦為以下九者所依之體,計有地、水、火、風、空、時、方、我、意等九種。即形成萬有之要素分為九類,前五者為物質之要素,時、方為成立時間、空間之要素,我、意二者指心理之要素。有色、味、香、觸者為地;有色、觸、味及液潤者為水;有色、觸者為火;唯有觸者為風;唯有聲者為空;令起彼此、俱不俱、遲速等語及概念之因,即為時;令起東、西、南、北等語及概念之因,即為方;覺、樂、苦等和合之因緣,而亦能起智之相,即為我;覺、樂、苦等不和合之因緣,而亦能起智之相,即為意。 (二)德(梵 guṇa)句義,指實句義之屬性功能。即事物之性質、狀態、數量等義,計有二十四種。即色、味、香、觸、數、量、別體、合、離、彼體、此體、覺、樂、苦、欲、瞋、勤勇、重體、液體、潤、行、法、非法與聲等(古說無重體以下之七性)。 (三)業(梵 karma)句義,指實體之動作,計有取業、捨業、屈業、伸業與行業五種,以此五種包括一切運動。 (四)同(梵 sāmānya)句義,即有性,故又作有句義。為事物相互類同原因之原理。係知實、德、業三者同為有,為詮智之因。 (五)異(梵 viśeṣa)句義,賦與萬有一切特殊性、個別性,使其產生差異原因之原理,故產生九種實句義相互間之差異。於六句義說,此一異句義尚包含有能、無能與俱分三句義。 (六)和合(梵 samavāya)句義,結合以上五個獨立原理,即指繫屬使有共同關係之原理。 (七)有能(梵 śakti)句義,與實、德、業三句義和合,決定共同或個別造自果的必須之因。 (八)無能(梵 aśakti)句義,與實、德、業三句義和合,決定三者不造自果以外之其他餘果必須之因。 (九)俱分(梵 sādṛśya)句義,一法體具亦同亦異兩用之因,即諸法同異之關係,除同、異句義之極端外,其他一切關係均包攝於此句義。 (十)無說(梵 abhāva)句義,對以上九種存在之原理,指成為非存在之原理。以實、德、業等為例,若因緣未和合,則有未生之「未生無」;因緣力盡則滅之「已滅無」;有一方則無他方之「更互無」;有性與實、德、業不和合故無之「不會無」;以無因故,過、現、未不生之「畢竟無」等五種無。 前九句有關有性,第十句就非有立句義,以總括萬有之生存壞滅。又成唯識論述記卷一末,廣以諸門分別十句義。〔勝宗十句義論〕(參閱「五種無」1186)
; Daśa-padarthah (S).
; (十句義) I. Thập Cú Nghĩa. Chỉ cho 10 tinh thần cơ bản do Tăng đoàn Phật giáo kiến lập. Cứ theo luật Tứ phần quyển 1, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 1 và luận Thập tụng quyển 1 thì Thập cú nghĩa là: 1. Thu nhiếp và hộ trì chúng tăng. 2. Làm cho chúng tăng hoan hỉ. 3. Khiến cho chúng tăng được an vui. 4. Người nào chưa tin thì làm cho tin. 5. Người tin rồi thì làm cho niềm tin ấy tăng trưởng. 6. Người nào khó điều phục thì gắng sức điều phục. 7. Người có tâm hổ thẹn thì an vui. 8. Dứt hữu lậu ở hiện tại. 9. Dứt hữu lậu trong tương lai. 10. Làm cho chính pháp ở lâu nơi đời. II. Thập Cú Nghĩa. Phạm: Daza padàrthà#. Chỉ cho 10 phạm trù dùng để trình bày về thực thể thuộc tính và nguyên lí sinh thành, hoại diệt của tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ, là chủ trương của học phái Thắng luận (Phạm:Vaizewika) ở Ấn độ, do ngài Tuệ nguyệt (Phạm: Maticandra) đề xướng. Đó là: 1. Thực(Phạm:Dravya)cú nghĩa: Thực thể của các pháp, cũng là thể sở y(chỗ nương) của 9 cú nghĩa còn lại, gồm có 9 nguyên tố: Đất, nước, lửa, gió, hư không, thời gian, phương hướng, ngã và ý. Chín nguyên tố này hình thành vạn hữu, 5 nguyên tố trước thuộc vật chất, nguyên tố thời gian, phương hướng thuộc thời, không gian, ngã và ý là chỉ cho nguyên tố tâm lí. 2. Đức (Phạm: Guịa) cú nghĩa: Chỉ cho thuộc tính và công năng của Thực cú nghĩa. Tức các nghĩa tính chất, trạng thái, số lượng... của sự vật, gồm 24 thứ: Sắc, vị, hương, xúc, số lượng, biệt thể, hợp, li, bỉ thể, thử thể, giác, lạc, khổ, dục, sân, cần dũng, trọng thể, dịch thể, nhuận, hành, pháp, phi pháp, và thanh(thuyết xưa không có 7 tính từ trọng thể trở xuống). 3. Nghiệp (Phạm: Karma) cú nghĩa : Chỉ cho động tác của thực thể, gồm có 5 thứ: Thủ nghiệp, xả nghiệp, khuất nghiệp, thân nghiệp và hành nghiệp(tức là các động tác lấy, bỏ, co, duỗi, đi...), 5 thứ nghiệp(hành động)bao hàm tất cả vận động. 4. Đồng (Phạm:Sàmànya)cú nghĩa: Tức hữu tính nên cũng gọi Hữu cú nghĩa, là nguyên lí của các nguyên nhân đồng loại hỗ tương của sự vật; là nhân để biết 3 thứ Thực, Đức, Nghiệp, cùng là Hữu, cùng để giải thích trí. 5. Dị (Phạm: Vizewa) cú nghĩa : Nguyên lí tạo cho vạn hữu tất cả tính đặc thù, tính cá biệt, khiến chúng sinh ra các nguyên nhân sai khác(dị), cho nên mới tạo ra sự sai khác giữa 9 thứ Thực cú nghĩa. 6. Hòa hợp (Phạm: Samavàya) cú nghĩa: Kết hợp 5 nguyên lí độc lập nói trên, tức chỉ cho nguyên lí hệ thuộc khiến tất cả có mối quan hệ cộng đồng. 7. Hữu năng (Phạm: Zakti)cú nghĩa: Hòa hợp với 3 cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp, quyết định nhân phải tạo tự quả cộng đồng hoặc cá biệt. 8. Vô năng (Phạm: Azakti) cú nghĩa: Hòa hợp với 3 cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp, quyết định phải có nhân để không tạo các quả khác ngoài việc tạo tự quả 3 cú nghĩa nói trên. 9. Câu phần (Phạm: Sàdfzya) cú nghĩa: Một pháp thể có nhân vừa đồng vừa khác, tức sự quan hệ giữa pháp giống nhau và khác nhau, ngoại trừ cú nghĩa đồng, dị cực đoan, còn tất cả sự quan hệ khác đều bao hàm trong cú nghĩa này. 10. Vô thuyết (Phạm: Abhàva) cú nghĩa: Đối với nguyên lí của 9 thứ tồn tại nói trên, thì Vô thuyết cú nghĩa trở thành nguyên lí phi tồn tại. Hãy lấy Thực, Đức, Nghiệp làm ví dụ, nếu nhân duyên chưa hòa hợp thì có Vị sinh vô của cái chưa sinh; năng lực nhân duyên hết thì có Dĩ diệt vô của cái đã diệt; có 1 phương thì có cánh hỗ vô của phương khác; có sự bất hòa hợp giữa Tính và Thực, Đức, Nghiệp cho nên có bất hội vô, vì không có nhân nên có tất cánh vô của bất sinh trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
Thập cú nghĩa luận 十句義論
[ja] ジュウコウギロン Jūkōgi ron ||| The Shijuyi lun; The abbreviated title of the 勝宗十句義論. => Viết tắt của Thắng tông thập cú nghĩa luận.
thập cúng dường
Theo Kinh Pháp Hoa, có mười thứ lễ vật cúng dường—According to The Lotus Flower Sutra, there are ten kinds of offerings: 1) From (1) to (6)—See Lục Cúng Cụ. 7) Tràng Phan Bảo Cái: Pennants and Banners. 8) Quần Áo: Clothes. 9) Đàn dành cho lễ hội: Musical instruments for ceremonies. 10) Hợp Chưởng: Anjali (skt)—Salutation with joined palms—See Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Thập căn bản phiền não 十根本煩惱
[ja] ジュウコンポンボンノウ jū konpon bonnō ||| The ten basic defilements. Also known as 十惑 and 十使. => Mừơi phiền não căn bản. còn gọi là Thập hoặc, Thập sử.
Thập căn bản 十根本
[ja] ジュウコンポン jū konpon ||| See next 十根本煩惱. => Xem mục Thập căn bản phiền não kế theo
thập cảnh
481為天台宗十乘觀法所觀之境。又作止觀十境、十種觀境。即:(一)陰界入境,又作陰入界境、陰入境、陰妄境。即以五陰、十二入、十八界為對象作觀。正修觀時,唯取五陰中之識陰,即以現實日常之心動為對象,而觀其即空、假、中之理。因行人所受之身為五陰、十二入等所成,常自現前,故特以為初境。(二)煩惱境,即對貪、瞋、癡等重惑所引起之境地作觀。五陰、十二入等係隨煩惱而起,故須觀其原因之貪、瞋、癡。(三)病患境,又作病境。由四大不調或修觀而起病患,以之為對境,觀病患之病相、病因與治病方法等等。(四)業相境,略稱業境。觀以上三境,皆由遠昔自己所作善惡等煩惱所現之業相,故對之無須喜悅,亦無須恐怖,明朗作觀,其相自然消除。(五)魔事境,略稱魔境。觀業相而滅惡之際,即令天魔畏懼而加以擾亂,故須以死之覺悟作觀。(六)禪定境,又作禪門境、禪發境、世禪境、禪境。作觀除魔事,而真智猶未生時,將起四禪、十六特勝、通明禪等諸禪,但若耽著於此禪味,將成為止觀之障礙,故須次第觀諸禪。(七)諸見境,略稱見境。隨觀法之進境,生出相似真理之見解,或聞法而產生相似妙悟之智解,但此皆屬邪見、偏見,究非真理,將成為止觀之障礙,故須進而觀諸見。(八)增上慢境,又稱上慢境、慢境。觀前諸見而知錯誤之際,將誤以此等狀態即為涅槃,遂起慢心而成為止觀之障礙,故須觀增上慢。(九)二乘境,見與慢靜止之際,將產生滿足於卑小志之心,而偏執空寂之理,遂無法趨入大乘,墮落於二乘,故須更觀二乘。(十)菩薩境,當二乘之心靜止時,同時會產生「藏、通、別」前三教菩薩(即相異於圓教菩薩之境界)之心,凡此皆為止觀之障礙,故須再觀此境。 如上所列,次第觀此十境,遂生圓教實相之智解。十境之中,陰入境經常自現於眾生前,故十乘觀法必先以此為對象而作觀。〔摩訶止觀卷五之上、法華經玄義卷三下、四教義卷十一〕
; Ten objects of or stages in meditation quán in the Thiên Thai school, i.e. cõi ấm, the five skandhas; cảnh phiền não, life's distresses and illusion; cảnh bệnh hoạn, sickness, or dukkha, its cause and cure; cảnh nghiệp tướng, age-long karmaic influence; cảnh ma sự, màra affairs, how to overthrow their rule; cảnh thiền định, the conditions of dhyàna and samàdhi; cõi các kiến, various views and doubts that arise; cõi mạn, pride in progress and the delusion that one has attained nirvàna; cõi nhị thừa, temptation to be contest with the lower nirvàna, instead of going to the greater reward; cõi bồ tát, bodhisattvahood.
; Ten stages or objects in meditation: 1) Phiền não: Life's distress and delusion. 2) Bịnh hoạn: Dhukha—Sickness—Its cause and cure. 3) Nghiệp tướng: Age-long karmic influences. 4) Ma quân: Mara affairs—How to overthrow their rule. 5) Thiền định: The condition of meditation and concentration (Dhyana and Samadhi). 6) Chư kiến: Various views and doubts that arise. 7) Mạn: Pride in progress and the delusion that one has attained nirvana. 8) Nhị thừa Thanh Văn: Sravakas—Temptation to be content with the lower nirvana. 9) Nhị Thừa Duyên Giác: Pratyeka-buddhas. 10) Bồ Tát: Bodhisattvahood.
; (十境) Cũng gọi Chỉ quán thập cảnh, Thập chủng quán cảnh. Mười cảnh sở quán của Thập thừa quán pháp trong tông Thiên thai. Đó là: 1. Ấm giới nhập cảnh(cũng gọi Ấm nhập giới cảnh, Ấm nhập cảnh, Ấm vọng cảnh): Tức lấy 5 ấm, 12 nhập, 18 giới làm đối tượng để quán xét. Khi tu chính quán thì chỉ lấy Thức ấm trong 5 ấm làm đối tượng, tức lấy tâm tán động hiện thực hàng ngày làm đối tượng mà quán tưởng lí của tâm này tức Không, Giả, Trung. Vì thân của hành giả do 5 ấm và 12 nhập hợp thành, thường tự hiện trước, cho nên đặc biệt lấy nó làm cảnh đầu tiên để quán xét. 2. Phiền não cảnh: Tức quán xét cảnh do các hoặc(phiền não) tham, sân, si... dẫn khởi. Năm ấm, 12 nhập... là theo các phiền não mà sinh khởi, cho nên phải quán tham, sân, si, là nguyên nhân của chúng. 3. Bệnh hoạn cảnh(cũng gọi Bệnh cảnh): Bệnh hoạn do 4 đại không điều hòa hoặc do tuquánmà phát khởi, dùng nó làm đối cảnh, quán xét tướng bệnh, nguyên nhân của bệnh và phương pháp trị bệnh. 4. Nghiệp tướng cảnh(gọi tắt là Nghiệp cảnh): Quán 3 cảnh trên đều là các nghiệp tướng do phiền não thiện, ác của chính mình đã gây ra từ xưa, nay hiện hành, bởi thế, đối với cảnh này không nên vui mừng, cũng không nên sợ hãi mà phải quán xét rõ ràng, thì các cảnh tướng ấy tự nhiên tiêu diệt.5.Ma sự cảnh (gọi tắt là Ma cảnh): Khi quán xét nghiệp tướng mà cái ác tiêu diệt thì thiên ma sợ hãi và gây nhiễu loạn thêm, vì thế phải quán tưởng biết rõ sự chết. 6. Thiền định cảnh(cũng gọi Thiền môn cảnh, Thiền phát cảnh, Thế thiền cảnh, Thiền cảnh): Khi quán xét để diệt trừ ma sự nhưng chân trí vẫn chưa sinh, sẽ khởi các thiền định như Tứ thiền, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền... nhưng nếu đắm trước vào thiền vị này thì sẽ thành chướng ngại cho Chỉ quán, cho nên phải lần lượt quán xét các cảnh thiền. 7. Chư kiến cảnh(gọi tắt là Kiến cảnh): Khi quán xét các cảnh có thể sinh kiến giải tương tự chân lí, hoặc khi nghe pháp mà sinh ra trí giải tương tự diệu ngộ, nhưng đó đều thuộc tà kiến, thiên kiến chứ không phải chân lí, nếu đắm trước thì sẽ chướng ngại cho Chỉ quán, bởi vậy cần phải quán xét các kiến giải một cách sâu sắc. 8. Tăng thượng mạn cảnh (Cũng gọi Thượng mạn cảnh, Mạn cảnh): Khi quán xét các kiến giải trên đã biết là sai lầm thì có thể lại lầm tưởng chính trạng thái ấy là Niết bàn, rồi sinh tâm kiêu mạn mà chướng ngại Chỉ quán, cho nên phải quán xét tăng thượng mạn. 9. Nhị thừa cảnh: Khi kiến và mạn ngưng lặng thì sẽ sinh tâm mãn túc mà thiên chấp lí rỗng lặng, không thể nào tiến vào Đại thừa mà lại rơi vào Nhị thừa, cho nên phải quán xét Nhị thừa. 10. Bồ tát cảnh: Khi tâm Nhị thừa lắng xuống thì đồng thời sẽ sinh tâm Bồ tát Tạng, Thông, Biệt mà chướng ngại Chỉ quán, vì thế lại phải quán xét cảnh này. Như đã trình bày ở trên, theo thứ tự quán xét 10 cảnh tướng, cuối cùng sẽ phát sinh trí giải thực tướng Viên giáo. Trong 10 thì Ấm nhập cảnh thường tự hiện trước mắt chúng sinh, vì thế Thập thừa quán pháp trước hết phải dùng cảnh này làm đối tượng quán xét. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, hạ; Tứ giáo nghi Q.11].
thập cẩm
Miscellaneous.
thập cửu chấp kim cương
330指列於大日經說法之會座上之十九尊金剛,為大日如來之內眷屬。其名稱為:虛空無垢、虛空遊步、虛空生、被雜色衣、善行、住一切法平等、哀愍無量眾生界、那羅延力、大那羅延力、妙、勝迅、無垢、刃迅、如來甲、如來句生、住無戲論、如來十力生、無垢眼等十八執金剛與金剛手祕密主。彼等總司如來大智之德;若細分之,初之十八者為別德,第十九金剛手祕密主為總德。別德諸尊中,若由自證、化他而分,初之六金剛為自證,七、八、九三金剛為化他之尊,餘九尊通自證化他。此十九之數係由不動明王十九布字之內證所展開,不動明王即為胎藏界金剛部之教令輪身。〔大日經疏卷一、十九執金剛祕釋〕
; (十九執金剛) Chỉ cho 19 vị Chấp kim cương được xếp vào hội tòa thuyết pháp của kinh Đại nhật, là Nội quyến thuộc của đức Đại nhật Như lai. Đó là: Hư không vô cấu, Hư không du bộ, Hư không sinh, Bị tạp sắc y, Thiện hạnh, Trụ nhất thiết pháp bình đẳng, Ai mẫn vô lượng chúng sinh, Na la diên lực, Đại na la diên lực, Diệu, Thắng tấn, Vô cấu, Nhận tấn, Như lai giáp, Như lai cú sinh, Trụ vô hí luận, Như lai thập lực sinh, Vô cấu nhãn và Kim cương thủ bí mật chủ. Mười chín vị tôn này biểu thị đức đại trí của Như lai, nếu phân biệt kĩ thì 18 vị Chấp kim cương đều là Biệt đức, còn vị Kim cương thủ bí mật chủ thứ 19 là Tổng đức. Trong các vị tôn Biệt đức, nếu phân biệt theo tự chứng, hóa tha thì 6 vị Kim cương đầu là tự chứng, 3 vị kim cương thứ 7, thứ 8, thứ 9 là các vị tôn hóa tha, 9 vị còn lại thì chung cả tự chứng và hóa tha. Con số 19 này được triển khai từ Nội chứng thập cửu bố tự của Bất động minh vương. Bất động minh vương chính là Giáo lệnh luân thân của Thai tạng giới.
thập cửu thuyết pháp
330觀世音菩薩應眾生之機類而現十九種身以說法。此十九種身為:佛身、辟支佛身、聲聞身、梵王身、帝釋身、自在天身、大自在天身、天大將軍身、毘沙門身、小王身、長者身、居士身、宰官身、婆羅門身、四眾身(比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷)、四婦女身(長者婦女身、居士婦女身、宰官婦女身、婆羅門婦女身)、童男童女身、天龍八部身(天身、龍身、夜叉身、乾闥婆身、阿修羅身、迦樓羅身、緊那羅身、摩睺羅伽身)與執金剛身。〔法華經普門品〕
; (十九說法) hỉ cho 19 thứ thân do bồ tát Quán thế âm thị hiện ra để tùy theo căn cơ và chủng loại của chúng sinh mà thuyết pháp: Đó là: Thân Phật, thân Bích chi Phật, thân Thanh văn, thân Phạm vương, thân Đế thích, thân Tự tại thiên, thân Đại tự tại thiên thân Thiên đại tướng quân, thân Tì sa môn, thân Tiểu vương, thân Trưởng giả, thân Cư sĩ, thân Tể quan, thân Bà la môn, thân Tứ chúng(tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di), thân Tứ phụ nữ(thân phụ nữ Trưởng giả, thân phụ nữ Cư sĩ, thân phụ nữ Tể quan, thân phụ nữ Bà la môn), thân Đồng nam đồng nữ, thân Thiên long bát bộ (thân trời, thân rồng, thân Dạ xoa, thân Càn thát bà, thân A tu la, thân Ca lâu la, thân Khẩn na la, thân Ma hầu la già) và thân Chấp kim cương.
thập di vãng sinh truyện
3825凡三卷。又稱日本拾遺往生傳。日人三善爲康編。收於大日本佛教全書。係輯錄大江匡房之「續本朝往生傳」所遺漏往生淨土者之事蹟,凡九十五人。成書於保安四年(1123)。
; (拾遺往生傳) Cũng gọi Nhật bản thập di vãng sinh truyện. Truyện kí, 3 quyển, do ngài Tam thiện Vi khang người Nhật bản biên soạn, được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư. Nội dung thu chép sự tích của 95 vị được vãng sinh Tịnh độ mà trong Tục bản triều vãng sinh truyện còn bỏ sót.
thập diễn thuyết môn
Ten kinds of exposition of the inumerable facets of the Teaching of the Buddhas—See Mười Môn Diễn Thuyết Vô Lượng Của Chư Phật.
thập diệu
435乃指十種超勝之不可思議而言。智顗解釋「妙法蓮華經」(法華經)經題中最初之「妙」字,謂之包含十義,而分別說迹門十妙、本門十妙、觀心十妙。此說見於法華玄義卷二上、卷七上等。迹門之十妙屬於法華經前半十四品,係基於方便品的諸法實相之意,而謂藏、通、別之三教與菩薩等之九界為權(方便之法)。與圓教、佛界等之實相對比,權是粗、實是妙(超殊勝)。若自開除執權之心,以表顯實相之意義而言,則權即實、實即權。法華一乘圓教是權實共妙之絕待妙;法華之妙與法華以前諸經之粗相較,為相待之妙,若泯絕相待之言語思慮,則為絕待之妙。又本門之十妙屬於法華經後半十四品,係依據壽量品中開迹顯本之義,以明久遠本佛之妙。觀心之十妙則是觀照實踐法華經本迹二門所說之真理。又本迹二門之十妙各具心法妙、佛法妙、眾生法妙之三法妙,及相待妙、絕待妙之二妙,合為一百二十重。若本迹相對比,則迹是權、粗,本是實、妙。茲略述迹門、本門、觀心之十妙如下: (一)迹門十妙,即:(1)境妙,智的對象之境為妙。(2)智妙,觀照之智慧為妙。(3)行妙,實踐覺悟之行為(所修之行)為妙。(4)位妙,實踐階段之階位為妙。(5)三法妙,真性、觀照、資成之三軌為妙。即對境、智、行三妙之果而言,此為三法妙,準此加以類推,三道、三識、三佛性等十種三法亦為妙。(6)感應妙,眾生之根機與佛之應現。即導者與被導者之作用為妙。(7)神通妙,佛之身業為妙。(8)說法妙,佛之口業為妙。(9)眷屬妙,親近佛陀,受其利益者為妙。(10)利益妙,又作功德利益妙。受益之效果為妙。以上十妙復分為自行(自求菩提之實踐)與化他(教導他人)兩種,(1)至(4)是自行之因,(5)是自行之果,(6)至(8)是化他之能化(導手),(9)、(10)是化他之所化(被導之手)。 (二)本門十妙,分別為:(1)本因妙,從本佛之因而言,其修行之因為妙。(2)本果妙,依其因而得本佛之果為妙。(3)本國土妙,本佛所在之國土為妙。(4)本感應妙,本佛以悟智救度眾生之作用,與被救者之根機相應,故說妙。(5)本神通妙,本佛悟道之初,為救度眾生而示現之神通為妙。(6)本說法妙,本佛悟道最初之說法為妙。(7)本眷屬妙,最初依本佛被教化者為妙。(8)本涅槃妙,本佛之涅槃常住,本來具足,異於為教化人而示現之涅槃。(9)本壽命妙,本佛能自在地示現長短不同之壽命,其壽命為妙。(10)本利益妙,謂本佛給予之利益為妙。以上十妙復分為自行與化他二種:(1)是自行之因,(2)、(3)、(8)、(9)是自行之果,(4)、(5)、(6)是化他之能化,(7)、(10)是化他之所化。迹門之目的乃在斷迷妄、悟中道,故詳說自行之因;對此,本門係表佛是久遠佛,乃菩薩漸增長中道智慧,漸次減少變易生死,故詳說自行之果。如此本迹互異,但其不思議之境界則無差別。 (三)關於觀心十妙,雖在法華玄義中無詳說,但可由湛然之十不二門之說理解之。〔法華玄義釋籤卷二上至卷七下、法華經綸貫、法華十門觀心十妙釋〕(參閱「十不二門」374)
; The ten wonders or incomprehensibles; there are two groups, the tích traceable or manifested and bản môn the fundamental. The tích môn thập diệu are the wonder of: (1) cảnh diệu, the universe, sphere, or whole, embracing mind, Buddha and all things as a unity; (2) trí diệu, a Buddha's all embracing knowledge arising from such universe; (3) hành diệu, his deeds, expressive of his wisdom; (4) vị diệu, his attainment of all the various Buddha stages, i.e. thập trụ and thập địa; (5) tam pháp diệu, his three laws; (6) cảm ứng diệu, his response to appeal; (7) thần thông diệu, his supernatural powers; (8) thuyết pháp diệu, his preaching; (9) quyến thuộc diệu, his supernatural retenue; (10) lợi ích diệu, the blessings derived through universal elevation into Buddhahood. The bản môn thập diệu are the wonder of: (1) bản nhân diệu, the initial impulse or causative stage of Buddhahood ; (2) bản quả diệu, its fruit or result; (3) quốc độ diệu, his (Buddha) realm; (4) cảm ứng diệu, his response (to human needs); (5) thần thông diệu, his supernatural powers; (6) thuyết pháp diệu, his preaching; (7) quyến thuộc diệu, his supernatural retinue; (8) niết bàn diệu, his nirvàna; (9) thọ mệnh diệu, his (eternal) life; (10) lợi ích diệu, his blessings.
; The ten wonders or incomprehensibles: 1) Cảnh diệu: The universe, sphere, or whole, embracing mind, Buddha, and all things as a unity. 2) Trí diệu: A Buddha's all embracing knowledge arising such universe. 3) Hạnh diệu: Buddha's deeds, expressive of his wisdom. 4) Vị diệu: His attainment of all the various Buddha stages (thập trụ và thập địa). 5) Tam pháp diệu (Giới, Định, Huệ): His three laws (Truth, Wisdom and Vision). 6) Cảm ứng diệu: His response to appeal (his spiritual response or relation to humanity. To him, all beings are his children). 7) Thần thông diệu: His supernatural powers. 8) Thuyết pháp diệu: His preaching. 9) Quyến thuộc diệu: His supernatural retinue. 10) Lợi ích diệu: The blessing derived through universal elevation into Buddhahood.
; (十妙) Chỉ cho 10 nghĩa siêu việt, thù thắng không thể nghĩ bàn của chữ Diệu trong đề kinh Diệu pháp liên hoa (kinh Pháp hoa). Khi giải thích kinh Pháp hoa, ngài Trí khải lần lượt thuyết minh Tích môn thập diệu, Bản môn thập diệu và Quán tâm thập diệu như sau: I. Thập diệu của Tích môn: 1. Cảnh diệu: Cảnhđối tượng của trí là Diệu. 2. Trí diệu: Trí tuệ quán chiếu là Diệu. 3. Hạnh diệu: Hạnh tu giác ngộ thực tiễn là Diệu. 4. Vị diệu: Giai vị của giai đoạn thực tiễn là Diệu. 5. Tam pháp diệu: Tức Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu, Tư thành là Diệu. 6. Cảm ứng diệu: Căn cơ của chúng sinh và sự ứng hiện của Phật là Diệu. 7. Thần thông diệu: Nghiệp thân của Phật là Diệu. 8. Thuyết pháp diệu: Nghiệp khẩu của Phật là Diệu. 9. Quyến thuộc diệu: Người gần gũi đức Phật được Ngài giáo hóa là Diệu. 10. Lợi ích diệu(cũng gọi Công đức lợi ích diệu): Hiệu quả sự giáo hóa của Phật khiến chúng sinh được lợi ích là Diệu. Thập diệu trên đây lại được chia làm Tự hành(tự mình cầu bồ đề) và Hóa tha (giáo hóa, dắt dẫn người khác). Từ 1 đến 4 là nhân tự hành, 5 là quả tự hành, 6 đến 8 là năng hóa(giáo hóa người khác), 9, 10 là sở hóa(người được giáo hóa). II. Thập diệu của Bản môn: 1. Bản nhân diệu: Nhân tu hành của Bản Phật là Diệu. 2. Bản quả diệu: Quả của Bản Phật là Diệu. 3. Bản quốc độ diệu: Cõi nước của Bản Phật an trụ là Diệu. 4. Bản cảm ứng diệu: Bản Phật dùng trí giác ngộ cứu độ chúng sinh và căn của chúng sinh được cứu độ ứng hợp nhau, nên nói là Diệu. 5. Bản thần thông diệu: Thần thông mà Bản Phật thị hiện để cứu độ chúng sinh lúc Ngài mới thành đạo là Diệu. 6. Bản thuyết pháp diệu: Lần thuyết pháp đầu tiên lúc Bản Phật mới thành đạo là Diệu. 7. Bản quyến thuộc diệu: Những người đầu tiên được Bản Phật giáo hóa là Diệu. 8. Bản niết bàn diệu: Niết bàn của Bản Phật là thường trụ, xưa nay vốn đầy đủ, khác với Niết bàn được thị hiện để giáo hóa người, vì thế gọi là Diệu. 9. Bản thọ mệnh diệu: Bản Phật có năng lực tự tại thị hiện thọ mệnh dài, ngắn khác nhau, nên gọi là Diệu. 10. Bản lợi ích diệu: Lợi ích mà Bản Phật mang lại cho chúng sinh là Diệu. Mười diệu trên đây lại được chia làm 2 loại là Tự hành và Hóa tha: 1 là nhân tự hành, 2, 3, 8, 9 là quả tự hành, 4, 5, 6 là năng hóa, 7, 10 là sở hóa. Mục đích của Tích môn là đoạn trừ mê vọng để ngộ được Trung đạo, cho nên nói rõ về nhân tự hành; trái lại, mục đích của Bản môn là biểu thị Bản Phật đã thành Phật từ rất lâu xa, là quá trình Bồ tát tăng trưởng trí tuệ Trung đạo và dần dần giảm thiểu sinh tử biến dịch, vì thế nên nói rõ về quả tự hành. Như vậy, tuy Bản, Tích khác nhau nhưng cảnh giới bất khả tư nghị thì giống nhau. III. Thập diệu của Quán tâm: Về Thập diệu của Quán tâm tuy trong Pháp hoa huyền nghĩa không nói rõ, nhưng có thể dựa vào thuyết Thập bất nhị môn của ngài Trạm nhiên để lí giải. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2 thượng đến Q.7 hạ; Pháp hoa kinh luân quán; Pháp hoa thập môn quán tâm thập diệu thích].
thập diệu sinh khởi thứ đệ
436指迹門十妙、本門十妙生起之順序關係。(一)迹門十妙生起之次第:(1)以境妙為首,乃因實相之境體,非佛、天、人所作,本來自爾,為諸佛所師之處。(2)智妙之體為能觀之智,然迷於實相之理境者遂起惑,解理者即以此生智,故次於境妙。(3)智為行之本,由智目起行足,故行妙為第三。(4)位妙之體為智行之德相,乘住於三法而登諸位。(5)三法妙為位妙之所乘所住,故次於位妙。(6)住三法已,寂而常照十界之機,若有機感必能相應,故列感應妙為第六。(7)隨機宜先以身業現神通,以對機令生警覺,此為神通妙之體。(8)若堪受道,佛即以口業開導之,故說法妙次之。(9)受教若入道,則為法之眷屬,故眷屬妙為第九。(10)利益妙列為最後,係因眷屬若如實修行,皆拔死生之根元,開佛知見,得大利益。 (二)本門十妙生起之次第:(1)先由因行而至佛果。(2)佛果成,故有國土。(3)極果居國土,有照機。(4)若機動,則施化;施化則有神 q。(5)以神通駭動機已。(6)次為說法。(7)說法所被之機即成眷屬。(8)眷屬已度,則緣盡入涅槃。(9)涅槃故論壽命長短。(10)長短壽命所作利益,乃至佛滅度後有正、像等利益。〔法華玄義卷二上至卷七下〕(參閱「十不二門」374、「十妙」436)
; (十妙生起次第) Chỉ cho sự quan hệ thứ tự sinh khởi của Tích môn thập diệu và Bản môn thập diệu. I. Thứ tự sinh khởi của Tích môn thập diệu là: 1. Lấy cảnh diệu làm đầu, vì đó là cảnh thể thực tướng của nhân, chẳng phải do Phật, trời, người làm ra, mà xưa nay vốn tự nhiên như thế, là chỗ chư Phật tôn sùng. 2. Thể của trí diệu là trí năng quán, nhưng người mê đối với lí cảnh thực tướng lại khởi hoặc, còn người hiểu lí thì nhờ đó mà sinh ra trí, vì thế Trí diệu được xếp sau Cảnh diệu. 3. Trí là gốc của hành, nhờ mắt trí(mắt nhìn trước) mà khởi động chân hành(chân đi trước), cho nên Hành diệu được xếp thứ 3. 4. Thể của Vị diệu là đức tướng của tri hành, nhờ nương vào 3 pháp mà bước lên các giai vị. 5. Tam pháp diệu là pháp thực hành, là nơi an trụ Vị diệu, cho nên được xếp sau Vị diệu. 6. Trụ nơi 3 pháp rồi, vắng lặng mà thường chiếu soi các căn cơ trong 10 cõi, nếu có cơ cảm thì ắt sẽ tương ứng, cho nên xếp Cảm ứng diệu sau Tam pháp diệu. 7. Tùy cơ nghi nên trước dùng thân nghiệp thị hiện thần thông, khiến đối cơ tỉnh biết, đây là thể củaThần thông diệu. 8. Nếu căn cơ có thể nhận lãnh giáo pháp thì Phật liền dùng khẩu nghiệp thuyết pháp, cho nên Thuyết pháp diệu được xếp sau Thần thông diệu. 9. Nếu người nhận pháp vào đạo thì trở thành quyến thuộc của pháp, vì thế Quyến thuộc diệu được xếp thứ 9. 10. Lợi ích diệu được xếp sau cùng, vì nếu quyến thuộc tu hành như thực, thì đều nhổ được gốc sinh tử, khai phát tri kiến của Phật, được lợi ích lớn. II. Thứ tự sinh khởi của Bản môn thập diệu. 1. Trước nhờ nhân hành mà đến quả Phật.2. Thành quả Phật nên có cõi nước. 3. Cực quả ở cõi nước, có năng lực chiếu soi căn cơ. 4. Nếu căn cơ khởi động thì sự giáo hóa được đặt bày, đặt bày thì có thần thông. 5. Dùng thần thông đánh thức căn cơ. 6. Căn cơ tỉnh rồi thì thuyết pháp. 7. Căn cơ nghe pháp, trở thành quyến thuộc. 8. Quyến thuộc được độ rồi thì duyên hết vào Niết bàn. 9. Vì niết bàn nên mới luận về thọ mệnh dài ngắn. 10. Lợi ích do thọ mệnh dài, ngắn mang lại, cho đến các lợi ích Chính pháp, Tượng pháp... sau khi Phật diệt độ.
thập duyên sinh cú
498乃陳述由緣所生十物之句。出自大日經卷一住心品。即:(一)幻,幻術師所作之種種相貌。(二)陽焰,熱、空、塵等因緣和合,於曠野中現水相。(三)夢,睡眠中所見之種種境界。(四)影,鏡中之影像。(五)乾闥婆城,蜃氣映日光,於大海中現宮殿之相。(六)響,深山空谷等中,依聲而生之響音。(七)水月,映於水中之月影。(八)浮泡,水上所現之泡沫。(九)虛空華,依眼膜見空中種種花。(十)旋火輪,人持火炬旋轉於空中所生之輪像。此皆喻諸法從因緣而生,無自性。依此十句觀諸法無自性,則稱十緣生句觀、十緣生觀、十喻觀。即十種遮情之觀門。 大日經疏卷三謂此觀有三重:(一)觀一切法由因緣所生故空,此即空觀。(二)觀萬法由心展開,此即心觀。(三)觀心與諸法非一非異,捨離凡夫之情而不可思議,此即不思議觀。 此外,大品般若經卷一序品,為解諸法空理亦設有十喻;維摩經卷上方便品,亦以十種事象喻人身之空無常。(參閱「譬喻」6809)
; (十緣生句) Chỉ cho 10 câu trình bày về 10 hiện tượng do nhân duyên sinh ra. Mười câu này có xuất xứ từ phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1. Đó là: 1. Huyễn: Chỉ cho các hình tượng do nhà ảo thuật làm ra. 2. Dương diệm: Sóng nắng do sự hòa hợp của các nhân duyên như hơi nóng, hư không, bụi bặm giữa đồng hoang hiện ra như tướng nước. 3. Mộng: Những cảnh tượng thấy trong chiêm bao. 4. Ảnh: Bóng dáng trong gương. 5. Càn thát bà thành: Lâu đài trên mặt biển do hơi của con thẩn(loài sò lớn) ánh lên ánh sáng mặt trời hiện ra. 6. Hưởng: Tiếng dội lại trong các hang sâu, khe núi. 7. Thủy nguyệt: Bóng trăng trong nước. 8. Phù bào: Bọt nổi trên mặt nước. 9. Hư không hoa: Người bị bệnh mắt thấy trong hư không có các thứ hoa. 10. Toàn hỏa luân: Vòng lửa do người cầm cây đuốc quay tròn. Những hiện tượng trên đây đều ví dụ cho các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tính. Y cứ vào 10 câu này quán xét các pháp không tự tính, gọi là Thập duyên sinh cú quán, Thập duyên sinh quán, Thập dụ quán. Tức là 10 quán môn để ngăn dứt tình chấp. Đại nhật kinh sớ quyển 3 cho rằng môn quán này có 3 lớp: 1. Không quán: Quán xét tất cả pháp do nhân duyên sinh đều là không. 2. Tâm quán: Quán xét muôn pháp đều từ tâm hiển hiển. 3. Bất tư nghị quán: Quán xét tâm chẳng phải một chẳng phải khác, xả bỏ tình chấp phàm phu thì không thể nghĩ bàn.
thập dạ
442日本淨土宗於舊曆十月所舉行之十日十夜念佛會。又作十夜法要、十夜念、御十夜。大無量壽經(大一二‧二七七下):「於此修善十日十夜,勝於他方諸佛國中為善千歲。」阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經(大一二‧三五二中):「若有受持彼佛名號,堅固其心,憶念不忘,十日十夜除捨散亂,精勤修習念佛三昧(中略)十日之中,必得見彼阿彌陀佛。」此為其依據。
; (十夜) Cũng gọi Thập dạ pháp yếu, Thập dạ niệm, Ngự thập dạ. Hội niệm Phật 10 ngày 10 đêm do tông Tịnh độ của Phật giáo Nhật bản tổ chức vào tháng 10 hàng năm theo lịch cũ (tức âm lịch). Kinh Đại vô lượng thọ (Đại 12, 277 hạ)nói: Ở cõi Sa bà này tu thiện 10 ngày 10 đêm công đức lớn hơn ở các cõi Phật khác làm thiện 1000 năm. Kinh A di đà cổ âm thanh vương đà la ni (Đại 12, 352 trung) nói: Nếu có người thụ trì danh hiệu của Phật A di đà, một lòng vững chắc, nhớ nghĩ không quên, 10 ngày 10 đêm trừ bỏ tán loạn, tinh tiến siêng năng tu tập Tam muội niệm Phật (...) trong 10 ngày, chắc chắn được thấy Phật A di đà.
thập dụ
(十喻) Chỉ cho 10 thí dụ hiển bày các pháp đều không và thân người vô thường. I. Mười thí dụ giải thích lí các pháp là không. 1. Huyễn dụ (Phạm: Màyà-upama): Dụ các pháp không thật có, như những vật do nhà ảo thuật làm ra. 2. Diệm dụ (Phạm: Marìci-upama): Dụ các pháp không thật có, như dợn(sóng) nắng. 3. Thủy trung nguyệt dụ (Phạm: Udaka-candra-upama): Dụ các pháp không thật có, như bóng trăng trong nước. 4. Hư không dụ (Phạm: Àkàzaupama): Dụ các pháp không thật có, như hư không. 5. Hưởng dụ (Phạm: Pratizrutka): Dụ các pháp không thật có, chỉ như tiếng vang trong hang sâu, khe núi... 6. Kiện thát bà thành dụ (Phạm: Gandharva-nagara-upama): Dụ các pháp không thật có, như lâu đài trên mặt biển do hơi con thẩn(loại sò lớn) sinh ra. 7. Mộng dụ (Phạm: Svapna-upama): Dụ các pháp không thật có, như cảnh trong giấc mộng. 8. Ảnh dụ (Phạm: Pratibhàsaupama): Dụ các pháp không thật có, như bóng sáng, có đó mà không nắm bắt được. 9. Kính trung tượng dụ (Phạm: Pratibimba-upama): Dụ các pháp không thật có, như hình bóng trong gương. 10. Hóa dụ (Phạm: Nirmita-upama): Dụ các pháp không thật có, như các vật do sức thần thông biến hóa ra. II. Mười sự tướng ví dụ thân người là không, là vô thường. 1. Thân này như đám bọt nước, không thể nắm bắt. 2. Thân này như bong bóng trên mặt nước, tồn tại không bao lâu. 3. Thân này như ngọn lửa, từ khát ái mà sinh. 4. Thân này như cây chuối, không cứng chắc.5. Thân này như huyễn, từ điên đảo mà sinh. 6. Thân này như mộng, do hư vọng mà thấy.7. Thân này như bóng sáng, từ nghiệp duyên hiện. 8. Thân này như tiếng vang, thuộc các nhân duyên. 9. Thân này như đám mây nổi, tan biến trong chốc lát. 10. Thân này như tia chớp, biến diệt trong nháy mắt.
thập dực
Shih-i (C), Ten Wings Mười biên khảo về Kinh Dịch. Theo truyền thuyết, Thập Dực là do Khổng Tử san định, nhưng các học giả ngày nay cho thấy tác phẩm này có từ thời Chiến quốc, thuộc triều Tần hay Hán.
thập giải thoát
480十種解脫之意。<一>菩薩離繫縛之相有十種之別。即:(一)煩惱解脫,(二)邪見解脫,(三)熾然解脫,(四)陰界入解脫,(五)超出聲聞緣覺地解脫,(六)無生法忍解脫,(七)不著一切佛剎一切眾生一切諸法解脫,(八)住無量無邊諸菩薩住解脫,(九)離一切菩薩行住如來地解脫,(十)於一念中悉能了知一切三世諸法解脫。〔舊華嚴經卷三十八、華嚴經探玄記卷十七〕 <二>指佛自在無礙相,類別為十種。又作十種不思議解脫。即舊華嚴經卷三十一所說,一切諸佛於一微塵中悉能普現不可說不可說諸佛之出世乃至一切諸佛於一微塵中普現三世一切諸佛之佛事等,總為十種無礙解脫。此乃相對於前者以離縛為菩薩之解脫,而謂作用無礙自在為如來之解脫。〔華嚴經玄搜記卷四末〕
; (十解脫) Chỉ cho 10 thứ giải thoát. I. Thập Giải Thoát. Mười tướng lìa trói buộc của Bồ át: 1. Giải thoát phiền não. 2. Giải thoát tà kiến. 3. Giải thoát xí nhiên. 4. Giải thoát ấm giới nhập. 5. Giải thoát vượt ra ngoài địa vị Thanh văn, Duyên giác. 6. Giải thoát vô sinh pháp nhẫn. 7. Giải thoát không đắm trước tất cả cõi Phật, tất cả chúng sinh, tất cả các pháp. 8. Giải thoát trụ vô lượng vô biên nơi an trụ của các Bồ tát. 9. Giải thoát lìa tất cả các hạnh Bồ tát mà trụ ở địa vị Như lai. 10. Giải thoát ở trong một niệm biết rõ tất cả các pháp ở trong 3 đời. [X. kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17]. II. Thập Giải Thoát. Cũng gọi Thập chủng bất tư nghị giải thoát. Chỉ cho 10 tướng tự tại vô ngại của Phật nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 31 (bản dịch cũ). Đó là: tất cả chư Phật đều có năng lực hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất thế trong một vi trần cho đến hiện các Phật sự của tất cả chư Phật 3 đời trong một vi trần, gọi chung là Thập chủng vô ngại giải thoát. Đây là đối lại với việc lấy lìa trói buộc làm giải thoát của Bồ tát nói ở trên mà cho rằng tác dụng tự tại vô ngại là giải thoát của Như lai. [X. Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.4, phần cuối].
thập giải thoát môn
Ten doors of liberation—See Mười Cửa Giải Thoát Của Chư Đại Bồ Tát.
Thập giải 十解
[ja] ジュウゲ jūge ||| The "Ten Understandings" which are equivalent to the "Ten Abidings" (十住), the 11-20th of the 52 stages of the bodhisattva's progress. This is the way the term was translated into Chinese by Paramārtha. => Tương đương với giai vị Thập trú, là giai vị thứ 11-20 trong 52 giai vị của tiến trình tu đạo Bồ-tát. Đây là lối thuật ngữ nầy được Chân đế phiên dịch sang tiếng Hán.
thập giảng
500日本佛教用語。又稱法華十講。即講無量義經一卷、法華經八卷、普賢經一卷,合計共為十卷;在五日間朝夕共講十座,稱為十講。此等講經法會,為日本桓武天皇延曆十七年(798),在比叡山所創行。
; (十講) Cũng gọi Pháp hoa thập giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức giảng 10 thời kinh 10 quyển, trong đó giảng kinh Vô lượng nghĩa 1 quyển, kinh Pháp hoa 8 quyển, kinh Phổ hiền 1 quyển, vào các buổi sáng và buổi chiều trong 5 ngày, gọi là Thập giảng. Các pháp hội giảng kinh này được sáng lập và lưu hành ở núi Tỉ duệ vào cuối năm Diên lịch 17 (798) thời Thiên hoàng Hoàn vũ của Nhật bản.
Thập Giới
(十界): 10 loại thế giới mê và ngộ, gồm: (1) Địa Ngục Giới (地獄界, thế giới Địa Ngục), (2) Ngạ Quỷ Giới (餓鬼界, thế giới Ngạ Quỷ), (3) Súc Sanh Giới (畜生界, thế giới Súc Sanh) hay Bàng Sanh Giới (傍生界), (4) Tu La Giới (修羅界, thế giới A Tu La), (5) Nhân Gian Giới (人界, thế giới con người), (6) Thiên Thượng Giới (天上界, thế giới trên trời), (7) Thanh Văn Giới (聲聞界, thế giới Thanh Văn), (8) Duyên Giác Giới (緣覺界, thế giới Duyên Giác), (9) Bồ Tát Giới (菩薩界, thế giới Bồ Tát) và (10) Phật Giới (佛界, thế giới Phật). Trong đó, 6 thế giới đầu là cõi mê muội của hàng phàm phu, hay còn gọi là thế giới luân hồi của Lục Đạo; 4 thế giới sau là cõi giác ngộ của bậc Thánh; cho nên 10 thế giới này được gọi là Lục Phàm Tứ Thánh (六凡四聖, sáu cõi phàm và bốn cõi thánh). Hay 9 cõi đầu là nhân và cõi cuối cùng là quả, nên có tên gọi là Cửu Nhân Nhất Quả (九因一果, chín cõi nhân một cõi quả). Hơn nữa, Mật Giáo lấy Ngũ Phàm Ngũ Thánh (五凡五聖) làm Mười Pháp Giới (十法界). Ngũ Phàm là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Người, A Tu La, và Trời. Ngũ Thánh gồm Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Quyền Phật (權佛) và Thật Phật (實佛). Trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 4, phần Diệu An Thuyết (妙安說) có đoạn: “Phù tâm tuy tùy duyên cụ thành Thập Giới, kỳ tánh nhưng phi Thập Giới, do hỏa tùy duyên cụ hữu hương xú, kỳ tánh nhưng phi hương xú dã (夫心雖隨緣具成十界、其性仍非十界、猶火隨緣具有香臭、其性仍非香臭也, phàm tâm tuy tùy duyên hình thành đầu đủ Mười Giới, nhưng tánh của nó không phải là Mười Giới, giống như lửa tùy duyen có đầy đủ thơm thối, nhưng tánh của nó không có thơm thối vậy).”
Thập giới
十戒|Giới
thập giới
456指迷與悟之世界,可分為十種類,即:(一)地獄界,(二)餓鬼界,(三)畜生(傍生)界,(四)修羅界,(五)人間界,(六)天上界,(七)聲聞界,(八)緣覺界,(九)菩薩界,(十)佛界等十界。此中,前六界為凡夫之迷界,亦即六道輪迴之世界。後四界乃聖者之悟界,此即六凡四聖。或九界為因,後一界為果,稱「九因一果」。又密教以五凡五聖為十法界,是為密教十法界。五凡者,即地獄、餓鬼、畜生、人、阿修羅與天。五聖者,即聲聞、緣覺、菩薩、權佛、實佛。又有分為四類者,其順序為:四趣人天、二乘、菩薩、佛。亦有分為五類者,其順序為:三惡道(三途)、三善道、二乘、菩薩、佛。 地獄為地下牢獄,為受苦最重者。畜生是互相餌食,生存之苦亦重。餓鬼則是不得飲食,苦無休止者。修羅乃阿修羅之簡稱,為住於海中,嫉妒心強者。至於人,係苦樂參半者。天則享勝樂,但仍難免得苦。聲聞即聽聞佛所說之法而證悟者。緣覺乃觀因緣而悟者(又作獨覺)。菩薩為願他人成佛而修行者。佛則為自悟且能悟他者。天台宗認為十界各具有權實,權與實於本質上為一體,因此十界皆真實,故稱十界權實。又十界中、聲聞、緣覺二乘人,一般被認為無法成佛。但法華經卷一認為仍可成佛,故有十界眾生皆成佛之說,即所謂「十界皆成」。又天台宗以佛界為平等之真理,其他九界差別,乃因理隨緣而生之妄法,故須斷破,稱為緣理斷九。此為別教所說之方便教,非圓教之真實說法。(參閱「十界互具」458)
; 438即十種戒。大乘、小乘有各種十戒之說。<一>小乘沙彌、沙彌尼應受持之十戒。又作沙彌戒、沙彌尼戒,或勤策律儀、勤策女律儀。即:(一)不殺生,(二)不偷盜,(三)不淫欲,(四)不妄語,(五)不飲酒,(六)不香花嚴身,(七)不歌舞觀聽,(八)不坐臥高廣大床,(九)不非時食,(十)不蓄金銀財寶。 <二>大小乘共通之十善戒。(參閱「十善十惡」468) <三>大乘梵網經等所說之十重戒。在大乘教團中構成被放逐之重罪有:(一)殺生,(二)偷盜,(三)姦淫,(四)妄語,(五)販酒,(六)說在家、出家之菩薩及比丘、比丘尼之罪過,(七)自讚毀他,(八)吝施,(九)不允他人謝罪,(十)譭謗佛法僧三寶等十種禁戒。此戒為天台宗圓頓戒所依用。 <四>菩薩護他之十戒。又作十種護持、防護十願。即:(一)禁戒,持四重禁。(二)清淨戒,護持僧殘。(三)善戒,持波逸提。上記三戒屬於律儀戒。(四)不缺戒,令發未來禪、根本禪等禪定,不缺漏事行、性行之戒律。屬於定共戒。(五)不析戒,相對析空觀之道共戒而顯體空觀之道共戒。(六)大乘戒,自利利他雙修。(七)不退戒,菩薩為度眾生,以善巧方便行種種非道,而不退失禁戒。(八)隨順戒,隨物之機宜,隨順道理之戒。(九)畢竟戒,究竟無上之大法。(十)具足成就波羅蜜戒,圓滿一切,法無不備。上記六戒屬於道共戒。〔南本涅槃經卷十一、大般涅槃經義記卷五(慧遠)、摩訶止觀卷四上〕 <五>菩薩所念之十戒。又作大論十戒。即:(一)不缺戒,受持四重禁等性戒而無缺損毀犯,常能守護,如愛明珠。若犯淨戒,如器缺損,不堪使用。(二)不破戒,持十三僧殘而無破損,若有毀犯,如器破裂,不耐使用,須速補治。(三)不穿戒,持波逸提等,若有毀犯,如器物穿漏,不能受道,然猶易補治。(四)不雜戒,護持定共戒,心住禪定,不起欲念。(五)隨道戒,聲聞初果之人,隨順諦理,能破見惑,無所分別。(六)無著戒,二乘人見真諦理,能成聖道,於諸思惑無所染著。(七)智所讚戒,菩薩於諸世界化導眾生,為智者之所讚歎。(八)自在戒,菩薩化他妙用,於諸世間而得自在無礙。(九)隨定戒,菩薩隨首楞嚴定,現諸威儀,利導眾生,雖威儀變現,而任運常靜。(十)具足戒,菩薩持中道第一義諦戒,用中道慧遍入諸法,無戒不備。〔摩訶止觀卷四上、菩薩戒義疏卷上〕 <六>菩薩所持之十戒。出自舊華嚴經卷十二菩薩十無盡藏品。即:(一)饒益戒,又作普饒益戒,即廣利益一切眾生。(二)不受戒,不受外道諸戒。(三)無著戒,又作不住戒,即不求於三界受生而住。(四)安住戒,又作無悔恨戒,即不作五無間罪,永不犯一切戒,心無悔恨。(五)不諍戒,又作無違諍戒,於佛制之禁戒,心常持護,而不違犯。(六)不惱害戒,不學邪幻咒術及造方藥惱害眾生。(七)不雜戒,又作無雜穢戒,即不著邊見,不持雜戒,一心專持出離生死之戒。(八)離邪命戒,又作無貪求戒,指菩薩不以貪求心現異相,彰己有德,但為滿足出離生死法而持戒。(九)離惡戒,又作無過失戒,即一心持戒,不自貢高。(十)清淨戒,又作無毀犯戒,即受持淨戒而無毀犯,永斷十惡,具足十善。〔華嚴經探玄記卷六、華嚴經疏卷二十四〕 <七>菩薩所持之十戒,即:(一)不捨菩提心戒,(二)遠離二乘地戒,(三)觀察利益一切眾生戒,(四)令一切眾生住佛法戒,(五)修一切菩薩所學戒,(六)於一切法無所得戒,(七)以一切善根迴向菩提戒,(八)不著一切如來身戒,(九)思惟一切法離取著戒,(十)諸根律儀戒等十種。〔新華嚴經卷五十三、華嚴經探玄記卷十七〕 <八>菩薩所持之十重戒。又作俱密之十重戒。出自無畏三藏禪要。即:(一)不應退菩提心,(二)不應捨三寶,(三)不毀三寶及三乘經典,(四)對甚深大乘經典不生疑惑,(五)令已發菩提心之眾生不趣二乘,(六)末發者亦如是說法令不發二乘心,(七)對小乘及邪見人不應輒說深妙大乘,(八)不發諸邪見等法,(九)於外道前不應自說我具無上菩提之妙戒,(十)於一切眾生有所損害及無利益者皆不應作、不教人作、不見作隨喜。〔大日經疏卷十七〕(參閱「十重禁戒」461)
; Daśaśīla (S), Daśaśīlamata (S), JŪjŪ-kai (J), Daśa-silaṃ (P), Daśa-śīla (S), Ten precepts.
; Dasa-sila (S). The ten prohibitions: (1) chẳng giết mệnh sống, not to destroy life; (2) chẳng trộm cắp, not to steal; (3) chẳng dâm dục, not to commit adultery; (4) chẳng nói bậy, not to lie; (5) chẳng uống rượu, not to take intoxicating liquor; (6) chẳng đeo chuỗi anh lạc, chẳng thoa dầu thơm vào mình, not to use garlands or perfumes; (7) chẳng đóng vai trò múa hát và cố đi xem nghe, not to take part in singing, dancing, musical or theatral performances, not to see or listen to such; (8) chẳng được ngồi trên giường lớn cao rộng, not to sleep on high or broad beds; (9) chẳng được ăn trái bữa, not to eat food out of regulated hours; (10) chẳng được chứa tiền và vàng bạc châu báu, to refrain from acquiring uncoined or coined gold, silver or jewels.
; (I) Thập Giới: Mười Cảnh Giới hay mười bậc chúng sanh—The ten realms, or states of existence: 1) Địa ngục: The realm of Hell. 2) Ngạ quỷ: The realm of Hungry ghosts. 3) Súc sanh: The realm of Animals. 4) A-tu-la: The realm of Asuras. 5) Nhơn: The realm of Human beings. 6) Thiên: The realm of Gods (Devas). 7) Thanh văn: The realm of Hearers (Sravakas). 8) Duyên Giác: The realm of those who practice the twelve links (Pratyeka-buddha). 9) Bồ Tát: The realm of Bodhisattvas. 10) Phật: The realm of Buddhas. (II) Thập Giới: Mười giới của Sa Di hay Sa Di Ni—Ten basic prohibitions binding on novice monks and nuns: (A) Mười giới Sa Di—The ten commandments (precepts) observed by a novice (laity): 1) Không sát sanh: Chẳng giết mạng sống—Not to kill living beings (abstinance from taking life). 2) Không trộm cắp: Chẳng lấy của không cho—Not to steal, or not to take what is not been given (abstinance from taking what is not given). 3) Không dâm dục: Abstinance from unchasity. a) Không tà dâm (tại gia): Not to commit adultery. b) Không có hành vi dâm dục (xuất gia): Not to commit misconduct in sexual matters (monks and nuns). 4) Không nói dối: Chẳng nói láo—Not to lie—Abstinance from lying. 5) Không uống rượu: Not to drink liquor, beer or wine—Abstinance from taking fermented liquor. 6) Không ăn trái thời: Not to eat food out of regulated hours—Abstinance from taking food in unprescribed time. 7) Không dùng những chất kích thích như hành tỏi hoặc dầu thơm: Not to use garlands or perfumes. 8) a) Không nằm giường cao nệm rộng: Not to sleep on high or broad beds. b) Không mang đồ trang sức, cũng như không thoa nước hoa: Not to wear adornments and perfumes. 9) Không ca hát, đờn địch, nhảy múa: Not to take part in singing, dancing or playing musical instrument. 10) Không tích trử vàng bạc ngọc ngà: Not to possess or store gold, silver or ivory. (B) Sáu Giới Tập Sự theo Phật Giáo buổi ban sơ—Six rules for a probationer of early Buddhism: See 1 to 6 in (A). (C) The six ways of rebirth (gati) and the four holy ways of rebirth (hells, hungry ghosts, animals, asuras, men, devas, Sravakas or hearers, Pratyeka-Buddhas, Bodhisattvas, and Buddhas)—See Lục Đạo Tứ Thánh.
; (十戒) Chỉ cho 10 giới của Tiểu thừa, Đại thừa. I. Thập Giới. Cũng gọi Sa di giới, Sa di ni giới, Cần sách luật nghi, Cần sách nữ luật nghi. Chỉ cho 10 giới mà sa di, sa di ni thuộc Tiểu thừa phải thụ trì. Đó là: 1. Không sát sinh, 2. Không trộm cắp, 3. Không dâm dục, 4. Không nói dối, 5. Không uống rượu, 6. Không dùng hương hoa trang điểm thân, 7. Không hát múa xem nghe hát múa, 8. Không ngồi nằm trên giường cao rộng, 9. Không ăn phi thời, 10. Không cất giữ vàng bạc của báu. II. Thập giới. Chỉ cho 10 giới thiện chung cho cả Tiểu thừa và Đại thừa. (xt. Thập Thiện ThậpÁc). III. Thập Giới. Chỉ cho 10 trọng giới của Đại thừa nói trong kinh Phạm võng. Đó là: 1. Không giết hại, 2. Không trộm cướp, 3. Không gian dâm, 4. Không nói dối, 5. Không bán rượu, 6. Không nói lỗi của các Bồ tát tại gia, xuất gia và tỉ khưu, tỉ khưu ni, 7. Không khen mình chê người, 8. Không bỏn xẻn, 9. Không từ chối sự tạ tội của người khác, 10. Không hủy báng Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng. Mười giới trên được tông Thiên thai sử dụng làm Viên đốn giới. IV. Thập Giới. Cũng gọi Thập chủng hộ trì, Phòng hộ thập nguyện. Chỉ cho 10 giới khác mà Bồ tát giữ gìn, đó là: 1. Cấm giới: Giữ 4 giới nặng. 2. Thanh tịnh giới: Giữ gìn không phạm Tăng tàn. 3. Thiện giới: Giữ gìn ba dật đề. Ba giới trên thuộc Luật nghi giới. 4. Bất thuyết giới: Thiền định làm phát sinh Vị lai thiền, Căn bản thiền... không thiếu sót giới luật như sự hạnh, tính hạnh; giới này thuộc Định cộng giới. 5. Bất tích giới: Đối lại với Đạo cộng giới thuộc Tích không quán, hiển bày Đạo cộng giới thuộc Thể không quán. 6. Đại thừa giới: Tu cả hạnh lợi mình và lợi người. 7. Bất thoái giới: Vì cứu độ chúng sinh mà Bồ tát sử dụng phương tiện khéo léo làm nhữngviệctrái đạo nhưng không bỏ mất giới cấm. 8. Tùy thuận giới: Tức giới thuận theo đạo lí và cơ nghi của chúng sinh. 9. Tất cánh giới: Đại pháp rốt ráo không gì hơn. 10. Cụ túc thành tựu Ba la mật giới: Đầy đủ tất cả, không pháp nào không có. Sáu giới (từ 5 đến 10) trên thuộc Đạo cộng giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí Q.5 (Tuệ viễn); Ma ha chỉ quán Q.4, thượng]. V. Thập Giới. Cũng gọi Đại luận thập giới. Chỉ cho 10 giới mà Bồ tát phải nhớ nghĩ. Đó là: 1. Bất khuyết giới: Giữ gìn các tính giới như 4 giới nặng... không khuyết tổn hủy phạm, thường phải hộ trì như giữ gìn hạt minh châu. Nếu phạm tịnh giới thì như cái đồ dùng bị sứt mẻ không sử dụng được nữa.2. Bất phá giới: Giữ gìn 13 pháp Tăng tàn không được phạm, nếu có hủy phạm thì như chiếc bình bị nứt rạn, tuy không dùng được nhưng vẫn còn có thể hàn vá lại. 3. Bất xuyên giới: Giữ gìn Ba dật đề..., nếu có hủy phạm thì như cái bình đã thủng, không đựng được nước, phải hàn vá lại. 4. Bất tạp giới: Giữ gìn Định cộng giới, tâm an trụ trong thiền định, không khởi các ý nghĩ ham muốn. 5. Tùy đạo giới: Hàng Sơ quả Thanh văn, tùy thuận lí 4 đế phá được Kiến hoặc, không còn phân biệt. 6. Vô trước giới: Hàng Nhị thừa thấy lí chân đế, thành được đạo Thánh, đối với các Tư hoặc không còn nhiễm trước. 7. Trí sở tán giới: Bồ tát ở các thế giới giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, được các bậc trí khen ngợi. 8. Tự tại giới: Bồ tát giáo hóa độ sinh, nhờ có diệu dụng mà được tự tại vô ngại trong các thế gian. 9. Tùy định giới: Bồ tát theo định Thủ lăng nghiêm, hiện các uy nghi, dắt dẫn chúng sinh; tuy có biến hiện nhưng thường tĩnh lặng tự nhiên. 10. Cụ túc giới: Bồ tát giữ giới Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, dùng trí huệ Trung đạo thâm nhập tất cả pháp, không giới nào không có. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng]. VI. Thập Giới. Chỉ cho 10 giới Bồ tát thụ trì ghi trong phẩm Bồ tát thập vô tận tạng, kinh Hoa nghiêm quyển 12 (bản dịch cũ). Đó là: 1. Nhiêu ích giới(cũng gọi Phổ nhiêu ích giới): Tức làm lợi ích cho khắp tất cả chúng sinh. 2. Bất thụ giới: Tức không nhận giữ các giới của ngoại đạo. 3. Vô trước giới(cũng gọi Bất trụ giới): Tức không cầu thụ sinh và trụở trong 3 cõi.4. An trụ giới(cũng gọi Vô hối hận giới): Tức không tạo tác tội Vô gián, vĩnh viễn không phạm tất cả giới, tâm không hối hận. 5. Bất tránh giới(cũng gọi Vô vi tránh giới): Tức đối với các giới cấm do đức Phật chế định, tâm thường giữ gìn, không dám trái phạm. 6. Bất não hại giới: Không học các thứ tà pháp như huyễn thuật, bùa chú và chế các thứ thuốc làm hại chúng sinh. 7. Bất tạp giới(cũng gọi Vô tạp uế giới): Tức không chấp trước biên kiến, không giữ tạp giới, một lòng chuyên giữ giới thoát li sinh tử. 8. Li tà mệnh giới(cũng gọi Vô tham cầu giới): Tức Bồ tát không vì tâm tham cầu mà hiện tướng khác người, khoe mình có đức, chỉ vì muốn có đầy đủ pháp xuất li sinh tử mà giữ giới. 9. Li ác giới(cũng gọi Vô quá thất giới): Tức một lòng giữ giới, không tự cao tự đại. 10. Thanh tịnh giới(cũng gọi Vô hủy phạm giới): Tức thụ trì giới thanh tịnh, không hủy phạm, mãi mãi đoạn trừ 10 điều ác, đầy đủ 10 điều thiện. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6; Hoa nghiêm kinh sớ Q.24]. VII. Thập Giới. Chỉ cho 10 giới của Bồ tát thụ trì, đó là: 1. Giới không bỏ tâm bồ đề. 2. Giới xa lìađịavị Nhị thừa. 3. Giới quán xét làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 4. Giới khiến tất cả chúng sinh trụ trong Phật pháp. 5. Giới tu tất cả điều Bồ tát cần phải học.6. Giới vô sở đắc đối với tất cả pháp. 7. Giới hồi hướng tất cả thiện căn cho Bồ đề. 8. Giới không đắm trước thân của tất cả Như lai. 9. Giới tư duy tất cả pháp lìa chấp thủ. 10. Giới chư căn luật nghi. [X. kinh Hoa nghiêm Q.53 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí 17]. VIII. Thập Giới. Cũng gọi Câu mật chi trọng giới. Chỉ cho 10 giới trọng của Bồ tát thụ trì được nói trong Vô úy tam tạng thiền yếu. Đó là: 1. Không để tâm bồ đề lui sụt. 2. Không bỏ Tam bảo. 3. Không hủy Tam bảo và kinh điển Tam thừa. 4. Không sinh tâm nghi ngờ đối với các kinh điển sâu xa của Đại thừa. 5. Không làm cho những chúng sinh đã phát tâm bồ đề rơi vào Nhị thừa. 6. Đối với những người chưa phát tâm thì cũng nói pháp như thế, khiến họ không phát tâm Nhị thừa. 7. Đối với Tiểu thừa và những người tà kiến không nên vội nói Đại thừa sâu xa, vi diệu.8. Không phát khởi các pháp tà kiến. 9. Ở trước ngoại đạo, không nên tự nói mình có diệu giới Vô thượng bồ đề. 10. Đối với các việc tổn hại hoặc không mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, đều không nên làm, không bảo người làm và thấy người khác làm không hùa theo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
; (十界) Chỉ cho 10 thế giới mê và ngộ. Tức là: Địa ngục giới, Ngạ quỉ giới, Súc sinh giới, (Bàng sinh giới), Tu la giới, Nhân gian giới, Thiên thượng giới, Thanh văn giới, Duyên giác giới, Bồ tát giới và Phật giới. Trong đó, 6 giới trước thuộc thế giới mê của phàm phu, tức là thế giới 6 đường luân hồi. Còn 4 giới sau thuộc thế giới giác ngộ của các bậc Thánh. Đây chính là Lục phàm tứ thánh(6 phàm 4 thánh). Hoặc 9 giới là Nhân, giới thứ 10 là Quả, gọi là Cửu nhân nhất quả(9 nhân 1 quả). Mật giáo thì lấy 5 phàm 5 thánh làm 10 pháp giới, đó là 10 pháp giới của Mật giáo. Năm phàm là: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, người, A tu la và trời(là một), còn5 Thánh là: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Quyền Phật, Thực Phật. Cũng có khi chia làm 4 loại, theo thứ tự là: Tứ thú nhân thiên, Nhị thừa, Bồ tát, Phật. Lại có khi chia làm 5 loại, theo thứ tự là: Tam ác đạo(tam đồ), Tam thiện đạo, Nhị thừa, Bồ tát, Phật. Tông Thiên thai cho rằng 10 giới mỗi giới đều có quyền, thực; quyền và thực về bản chất là một thể, do đó, 10 giới đều là chân thực, cho nên gọi là Thập giới quyền thực. Trong 10 giới, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác thông thường được xem là không thể nào thành Phật, nhưng kinh Pháp hoa quyển 1 cho rằng vẫn có thể thành Phật, bởi vậy nên có thuyết chúng sinh trong 10 giới đều thành Phật, tức Thập giới giai thành. Tông Thiên thai cho rằng Phật giới là chân lí bình đẳng, 9 giới còn lại là sai biệt, là vọng pháp do lí tùy duyên mà sinh ra, cho nên phải đoạn phá, gọi là Duyên lí đoạn cửu. Đây là Phương tiện giáo của Biệt giáo nói ra, chứ chẳng phải pháp chân thực do Viên giáo chủ trương.
thập giới chân thật
458天台宗論十界之性(法體)真實與否之題目。又作十界權實。別教之所談,係為思議相待之十界,認為九界為妄法,佛界為真實。圓教則認為,雖說九界為權,佛界為實,此僅籠統之分法;若細論之,則十界各具權實,而權實之本質同體,故十界俱真實。蓋分別十界之權實有三義:(一)就迷悟之事用言,九界為權,唯佛界為實。(二)就修性之義門言,隨緣之義邊十界俱權,不變之義邊十界俱實。(三)就修性之法體言,隨緣及不變並為十界真實。今以十界為真實乃據第三義說。〔台宗二百題卷六〕
; (十界真實) Cũng gọi Thập giới quyền thực. Mười giới là chân thực. Đây là luận thuyết của tông Thiên thai. Theo Biệt giáo thì 10 giới là đối đãi nhau, 9 giới là vọng, Phật giới là chân thực. Viên giáo thì cho rằng tuy nói 9 giới là quyền, Phật giới là thực nhưng đó chỉ là cách phân chia tổng quát, nếu bàn kĩ hơn thì trong 10 giới mỗi giới đều có đủ cả quyền, thực và bản chất của quyền, thực là đồng thể, cho nên 10 giới đều là chân thực. Vì việc phân chia quyền, thực của 10 giới có 3 nghĩa: 1. Đứng về phương diện sự dụng của mê ngộ mà nói thì 9 giới là quyền, chỉ có Phật giới là thực. 2. Đứng về phương diện nghĩa môn của tu tính mà nói, nếu y cứ theo nghĩa tùy duyên thì 10 giới đều là quyền, nếu y cứ vào nghĩa bất biến thì 10 giới đều thực. 3. Đứng về phương diện pháp thể của tu tính mà nói thì tùy duyên và bất biến đều là 10 giới chân thực. Ở đây cho 10 giới chân thực là nói theo nghĩa thứ 3. [X. Thiên thai nhị bách đề Q.6].
thập giới chúng sanh năng thành phật
The teaching of Lotus Sutra of universalism, that all become Buddha.
thập giới giai thành
458出自法華經。謂十法界之眾生皆悉成佛,故又作十界皆成佛,此乃法華之特色。一代五時之教中,於第四時說般若經,以轉教二乘為菩薩,令知一切佛法寶藏,淘汰洗滌大小各別之情執。至法華涅槃時,說十界皆成佛,顯一切眾生悉有佛性。〔摩訶止觀卷六之三、天台四教儀集註卷上〕(參閱「十界」457)
; (十界皆成) Chúng sinh trong 10 pháp giới đều sẽ thành Phật, vì vậy cũng gọi là Thập giới giai thành Phật, là từ ngữ biểu trưng nét đặc sắc của kinh Pháp hoa. Trong 5 thời giáo, thì thời thứ 4 đức Phật tuyên thuyết kinh Bát nhã để chuyển hóa Nhị thừa thành Bồ tát, khiến họ hiểu biết tất cả kho pháp bảo của Phật, gột rửa và đãi lọc mọi tình chấp khác nhau về Tiểu thừa và Đại thừa. Đến thời Pháp hoa Niết bàn, Phật nói Thập giới giai thành, tuyên bố tất cả chúng sinh đều có Phật tính.[X. Ma ha chỉ quán Q.6, phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Thập Giới).
thập giới hạnh
Ten virtues—Ten commandments—Ten Precepts—See Thập Giới.
thập giới hỗ cụ
457乃指天台宗所謂:佛界至地獄界等十界互相具備其他境界而言。今謂一心能造十界之因果,人心已具足十界,可知十界之心性無異。十界中之任何一界,均具足十界,合有百界。此百界中,每一界各具性、相、體、力、作、因、緣、果、報、本末究竟等十如,總計則有千如,稱為百界千如。(參閱「一念三千」49、「十界」457)
; (十界互具) Chỉ cho 10 cõi, từ cõi Phật đến cõi địa ngục... trong mỗi cõi đều có đủ 10 cõi kia. Đây là thuyết của tông Thiên thai. Một tâm đã có khả năng tạo ra nhân quả của 10 cõi thì tâm người có đầy đủ 10 cõi và có thể biết tâm tính của 10 cõi cũng thế. Bất cứ một cõi nào trong 10 cõi cũng đều đầy đủ 10 cõi kia, cộng chung thành100 cõi. Trong 100 cõi này mỗi cõi đều có đủ 10 như: Tính, tướng, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu cánh, tổng cộng là 1000 như, gọi là Bách giới thiên như.(xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Giới).
thập giới mạn đồ la
458乃日本日蓮宗之本尊。又作十界大曼荼羅或十界勸請大曼荼羅。係日僧日蓮被流放佐渡時所圖顯者。中央書寫「南無妙法蓮華經」之題目,四周書諸尊、善神與十界之名稱,包圍題目,以顯示一體不二之妙理。此曼荼羅乃壽量本佛之全體、十界常住之當相及眾生己心之顯現,故一曼荼羅上十界具足,三千圓備,無始無終之理究竟。
; (十界曼荼羅) Cũng gọi Thập giới đại mạn đồ la, Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la. Bản tôn của tông Nhật liên ở Nhật bản. Là bức tranh vẽ 10 cõi do ngài Nhật liên, Tổ khai sáng của tông Nhật liên, Nhật bản, vẽ khi sư bị lưu đày đến Tá độ. Nội dung bức tranh được trình bày như sau: Ở chính giữa viết đề mục: Nam mô Diệu pháp Liên hoa kinh, bốn chung quanh viết danh hiệu Chư tôn, các thiện thần và 10 cõi, bao bọc đề mục để hiển bày diệu lí Nhất thể bất nhị. Bức Mạn đồ la này biểu hiện toàn thể thọ lượng của Bản Phật, tướng hiện tại thường trụ của 10 cõi và của bản tâm chúng sinh, vì thế, trong 1 Mạn đồ la có đủ 10 cõi, tròn đầy 3000, lí tột cùng vô thủy vô chung.
thập giới nhất niệm
457乃日本融通念佛宗之教旨。出自融通圓門章(大八四‧四上):「一人一切人,一切人一人。(中略)一行一切行,一切行一行。(中略)是名他力往生(中略),十界一念,融通念佛,(中略)億百萬遍,功德圓滿。」即依天台所說一念三千、十界互具,與華嚴所說圓融無礙、相即相入之理,解釋融通念佛之旨。所謂十界一念,即十界具一念,一念起十界,十界一念,一念十界,融通徹底,無二無別。(參閱「一念三千」49、「十界互具」458、「融通念佛宗」6288)
; (十界一念) Mười cõi một niệm. Nghĩa là 10 cõi có đủ trong 1 niệm hay là trong 1 niệm có đầy đủ 10 cõi. Đây là giáo chỉ của tông Dung thông niệm Phật ở Nhật bản. Dung thông viên môn chương (Đại 48, 4 thượng) nói: Một người là tất cả mọi người, tất cả mọi người là một người. (...) Một hạnh gồm tất cả hạnh, tất cả hạnh trong một hạnh. (...) đó gọi là Tha lực vãng sinh (...), 10 cõi trong một niệm dung thông niệm Phật, (...) trăm nghìn vạn biến, công đức tròn đầy. Tức y cứ vào thuyết Nhất niệm tam thiên, Thập giới hỗ cụ của tông Thiên thai và thuyết Viên dung vô ngại, cùng lí Tương tức tương nhập của tông Hoa nghiêm để giải thích ý chỉ dung thông niệm Phật. Thập giới nhất niệm, tức 10 cõi có đủ trong 1 niệm, 1 niệm sinh khởi 10 cõi, 10 cõi trong 1 niệm, 1 niệm gồm 10 cõi, dung thông triệt để, không hai không khác. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Giới Hỗ Cụ, Dung Thông Niệm Phật Tông).
thập giới nhất tâm bình đẳng đại niệm
457指上自佛界,下至地獄界之十界,皆為吾人一心所作,故其體平等,無有差別,觀此平等之理,稱為十界一心平等大念。(參閱「十界」457)
; (十界一心平等大念) Mười cõi từ cõi Phật đến cõi địa ngục đều do tâm tạo ra, vì thế thể tính của 10 cõi là bình đẳng, không sai khác. Quán xét lí bình đẳng này gọi là Thập giới nhất tâm bình đẳng đại niệm. (xt. Thập Giới).
thập giới năng hoá bồ tát
458初地以上之菩薩,能示現十界之身,教化十界眾生。所謂十界,係就其大數而說,實則謂除佛界外之九界而言。(參閱「十界」457)
; (十界能化菩薩) Bồ tát giáo hóa 10 cõi. Tức Bồ tát từ Sơ địa trở lên có khả năng hiện thân trong 10 cõi để giáo hóa chúng sinh. Thập giới là nói số chẵn, thực ra chỉ có 9 cõi, trừ cõi Phật.(xt. Thập Giới).
thập giới phạm võng kinh
Kinh Phạm Võng định nghĩa thập giới như sau—The Sutra of Brahma Net has another definition for ten commandments as follow: 1) Từ 1 đến 5—From 1 to 5: See Ngũ Giới. 11) Không nói tội của chư Tăng Ni trong giáo đoàn: Not to speak the sins of those in orders. 12) Không khen mình chê người: Not to vaunt (praise) self and depreciate others. 13) Không xan tham: Not to be avaricious. 14) Không sân giận: Not to be angry. 15) Không hủy báng Tam Bảo: Not to slander the Triratna.
thập giới trì luật pháp thể
439法體,即護持佛法之身體,指出家之行者。十戒持律法體,乃尊稱受十戒而能住持不犯之法師。
; (十戒持律法體) Pháp thể nghĩa là thân thể hộ trì Phật pháp, chỉ cho người xuất gia tu hành. Thập giới trì luật pháp thể là từ ngữ tôn xưng vị Pháp sư thụ 10 giới có năng lực giữ gìn không vi phạm.
thập giới đồ
458指繪有十界相狀之圖。又作十法界圖。為四聖界與六道界合繪之圖畫;即於大圓輪內畫十個小圓輪,並於各小輪內繪上佛、菩薩等十界之相,復於大圓輪之中心畫一圓輪,於輪內書上「心」字,表示十界乃一心所作。蓋於圓輪中圖繪諸界之相,源起於有部毘奈耶卷三十四之五趣生死輪圖。十界圖即以五趣生死輪圖為基礎而增廣者。 於日本,除十界圖相之外,復圖繪十界各別之相。如藏於日本來迎寺之十界圖,此圖係因圓融天皇披閱往生要集而大受感動,乃令源信描繪淨穢二土之事相,共有三十幅。其中,四聖界圖十五幀為兵火所燒燬,今存六道界圖十五幀。即等活、黑繩、眾合、阿鼻地獄等四圖,餓鬼、畜生、阿修羅等三道圖,不淨相、苦相、無常相等人道四圖,及天道圖等共十二幀為六道繪。加上譬喻經、優婆塞戒經之故事圖二,閻魔王廳圖等合計十五幀。一說此圖相傳為巨勢金岡所繪,為鎌倉時期之寫實代表作。日本禪林寺亦藏有二幅。〔天竺別集卷中圓頓觀心十法界圖序、佛祖統紀卷五十、考古畫譜〕
; (十界圖) Cũng gọi Thậpphápgiới đồ. Chỉ cho tranh vẽ chung cảnh giới 4 Thánh và 6 đường. Bức vẽ được trình bày như sau: Trong một vòng tròn lớn vẽ 10 vòng tròn nhỏ, trong mỗi vòng tròn nhỏ vẽ 10 cõi theo thứ tự Phật, Bồ tát... Ở trung tâm củavòng tròn lớn vẽ một vòng tròn, trong vòng tròn này vẽ chữ Tâm ( ) biểu thị nghĩa 10 cõi chỉ do một tâm tạo ra. Vòng tròn vẽ các cõi này là căn cứ vào bức vẽ Ngũ thú sinh tử luân trong Hữu bộ tì nại da quyển 34 mà diễn rộng ra. Tại Nhật bản, ngoài Thập giới đồ vẽ chung 10 cõi, còn có các bức vẽ riêng mỗi cõi. Như bức tranh Thập giới được cất giữ ở chùa Lai nghinh tại Nhật bản, nguyên do vẽ bức tranh này là khi Thiên hoàng Viên dung xem Vãng sinh yếu tập, ông rất cảm động, bèn ban sắc cho ngài Nguyên tín vẽ sự tướng của 2 cõi Tịnh độ và Uế độ, tất cả có 30 bức. Trong đó, 15 bức Tứ thánh đồ đã bị binh lửa thiêu hủy, nay còn 15 bức Lục đạo giới đồ. Tức 4 bức vẽ 4 địa ngục Đẳng hoạt, Hắc thằng, Chúng hợp, A tị, 3 bức vẽ 3 đường ngã quỉ, súc sinh, A tu la, 4 bức vẽ về cõi người như bất tịnh tướng, khổ tướng, vô thường tướng... và 1 bức vẽ cõi trời, cộng tất cả 12 bức, thành bức vẽ chung về 6 đường. Thêm 2 bức tranh về sự tích kinh Thí dụ, kinh Ưu bà tắc giới và 1 bức vẽ điện vua Diêm ma cộng chung là 15 bức. Thuyết khác cho rằng tương truyền tranh này do Cự thế Kim cương vẽ, là tác phẩm đại biểu cho trường phái tả thực ở thời đại Liêm thương.
thập giới ưu bà di
Daśaśīla upasika (S), Ten precepts for lay women.
Thập giới 十戒
[ja] ジッカイ jikkai ||| The ten precepts. (1) The ten kinds of good behavior, same as 十善業. (2) The ten basic precepts for bhikkhus and bhikkunīs in Theravāda and Nikāya Buddhism, the first five of which (五戒) are also observed by lay practitioners. they are: (1) not killing 不殺生; (2) not stealing ; (3) no improper sexual behavior (such as adultery, etc.) 不邪婬; (4) 不妄語 no false speech; (5) 不飲酒 no consumption of alcohol; (6) not eating after noon 不非時食; (7) not watching dancing, singing and shows 不歌舞觀聽; (8) not adorning oneself with garlands, perfumes and ointments 不塗飾香鬘; (9) not using a high bed 不坐高廣大牀; and (10) not receiving gold and silver 不蓄金銀寶. => Mười điều giới: 1. Mười hạnh lành, như Thập thiện nghiệp. 2. Mười giới căn bản của Tỉ khưu và Tỉ khưu ni trong Thượng toạ bộ và kinh văn Phật giáo hệ Nikāya, Năm giới đầu cũng được hàng cư sĩ thọ trì ; đó là: 1. Bất sát sinh不殺生: không sát hại sinh vật. 2. Bất thâu đạo不偸盗: không trộm cắp. 3. Bất tà dâm不邪婬: không tà hạnh dâm dục. 4. Bất vọng ngữ不妄語: không nói dối. 5. Bất ẩm tửu不飲酒: không uống rượu. 6. Bất phi thời thực不非時食: không ăn trái thời. 7. Bất ca vũ quan thính不歌舞觀聽: không xem nghe đàn nhạc ca múa. 8. Bất đồ sức hương man不塗飾香鬘: không dùng hương hoa trang sức thân mình. 9. Bất toạ cao quảng đại sàng不坐高廣大牀: không nằm ngòi giường cao rộng. 10. Bất súc kim ngân bảo不蓄金銀寶: không cất giữ tiền bạc châu báu.
Thập giới 十界
[ja] ジッカイ jikkai ||| "ten realms." (1) The five organs of eyes, ears, nose, tongue and skin together with their five objects of form, sound, odor, taste and tactile objects. daśa-dhātavah (2) Ten divisions of the unenlightened and enlightened worlds, according to level. These are the realms of: hell-being 地獄, hungry ghost 餓鬼, animal 畜生, asura 阿修羅, human 人間, god 天上, śrāvaka 聲聞, pratyekabuddha 縁覺, bodhisattva 菩薩 and Buddha 佛. The six realms from hell-being to god are the unenlightened realms and the four from śrāvaka to Buddha are enlightened. They are also classified as the first three being the result of evil karma, the next three the result of good karma, the next two as Hīnayāna rewards and the final two as Mahāyāna rewards. Also written 十法界. => Mười cõi giới: 1. Năm giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, cùng với năm đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc (s:daśa-dhātavah). 2. Sự phân chia thành 10 cảnh giới giác ngộ và phàm phu, theo từng cấp độ. Đó là: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người , Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật. Sáu cõi giới từ Địa ngục đến Trời là cõi giới của hàng phàm phu, 4 cõi giới từ Thanh văn đến Phật là cõi giới của bậc giác ngộ. Cũng còn được sắp xếp ba cõi giới đầu là quả báo của ác nghiệp, ba cõi giới tiếp theo là kết quả của thiện nghiệp, hai cõi giới kế tiếp là quả báo Tiểu thừa, hai cõi giới cuối cùng là quả báo Đại thừa. Còn gọi là Thập pháp giới十法界.
Thập Hiệu
(十號): 10 danh hiệu của đức Phật Thích Ca cũng như các đức Phật khác, còn gọi là Như Lai Thập Hiệu (如來十號), Thập Chủng Thông Hiệu (十種通號), gồm: (1) Như Lai (s, p: tathagāta, 如來), âm dịch là Đa Đà A Già Đà (多陀阿伽陀), nghĩa là cỡi đạo như thật mà đến và thành chánh giác. (2) Ứng Cúng (s: arhat, p: arahant, 應供), âm dịch là A La Hán (阿羅漢), nghĩa là xứng đáng để thọ nhận sự cúng dường của trời, người. (3) Chánh Biến Tri (s: samyaksaṃbuddha, p: sammāsambuddha, 正徧知), âm dịch là Tam Miệu Tam Phật Đà (三藐三佛陀), nghĩa là biết đúng đắn, cùng khắp tất cả các pháp. (4) Minh Hạnh Túc (s: vidyā-caraṇa-saṃpanna, p: vijjācaraṇa-sampanna, 明行足), tức Tam Minh (三明) là Thiên Nhãn (天眼), Túc Mạng (宿命), Lậu Tận (漏盡) và hạnh nghiệp của thân miệng được viên mãn, đầy đủ. (5) Thiện Thệ (s, p: sugata, 善逝), có nghĩa là lấy hết thảy các trí làm cổ xe lớn và hành Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) để nhập Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). (6) Thế Gian Giải (s: lokavid, p: lokavidū, 世間解), nghĩa là biết rõ hai loại thế gian có chúng sanh và không phải chúng sanh; cho nên biết rõ sự diệt tận của thế gian và con đường thoát ra khỏi thế gian. (7) Vô Thượng Sĩ (s, p: anuttara, 無上士), như trong các pháp, Niết Bàn là trên hết, trong tất cả chúng sanh, Phật là đấng tối thượng. (8) Điều Ngự Trượng Phu (s: puruṣa-damya-sārathi, p: purisa-damma-sārathi, 調御丈夫), là đại bi và đại trí của Phật, có khi dùng lời nhu hòa, có khi dùng lời bi thiết hay tạp ngữ, v.v., lấy đủ các loại phương tiện để điều ngự người tu hành, giúp cho họ nhập Niết Bàn. (9) Thiên Nhân Sư (s: śāstā devamanuṣyanaṁ, p: satthā devamanussānaṁ, 天人師), nghĩa là bậc thầy hướng dẫn chúng sanh việc gì nên làm, việc gì không nên làm, cái nào là thiện, là không thiện, khiến cho họ giải thoát khỏi phiền não. (10) Phật Thế Tôn (s, p: buddha-bhagavat, 佛世尊), nghĩa là bậc tự giác tỉnh chính minh, giác tỉnh mọi người, biết và thấy hết thảy các pháp trên đời, có đầy đủ các đức; cho nên được mọi người tôn trọng, cung kính. Như trong Đế Thích Sở Vấn Kinh (帝釋所問經, Taishō No. 15) có câu: “Ngã Phật Thế Tôn Thập Hiệu cụ túc, Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn (我佛世尊十號具足、如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛世尊, đức Phật Thế Tôn chúng ta có đủ Mười Hiệu là Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn).”
Thập hiệu
十號|Mười danh hiệu
thập hiệu
479釋迦牟尼佛或諸佛通號之十大名號。又稱如來十號、十種通號。雖稱十號,然一般皆列舉十一號,即:(一)如來(梵 tathāgata),音譯多陀阿伽陀,謂乘如實之道而來,而成正覺之意。(二)應供(梵 arhat),音譯阿羅漢,意指應受人天之供養。(三)正遍知(梵 samyak-saṃbuddha),音譯三藐三佛陀,能正遍了知一切之法。(四)明行足(梵 vidyā-caraṇa-saṃpanna),即天眼、宿命、漏盡三明及身口之行業悉圓滿具足。(五)善逝(梵 sugata),乃以一切智為大車,行八正道而入涅槃。(六)世間解(梵 loka-vid),了知眾生、非眾生兩種世間,故知世間滅及出世間之道。(七)無上士(梵 anuttara),如諸法中,涅槃無上;在一切眾生中,佛亦無上。(八)調御丈夫(梵 puruṣa-damya-sārathi),佛大慈大智,時或軟美語,時或悲切語、雜語等,以種種方便調御修行者(丈夫),使往涅槃。(九)天人師(梵 śāstā deva-manuṣyāṇāṃ),示導眾生何者應作何者不應作、是善是不善,令彼等解脫煩惱。(十)佛(梵 buddha),即自覺、覺他、覺行圓滿,知見三世一切諸法。(十一)世尊(梵 bhagavat),即具備眾德而為世人所尊重恭敬。此外,諸經論中亦有僅列舉十號者,即將世間解、無上士合為一號,或將佛、世尊合為一號,或將無上士、調御丈夫合為一號等諸說。〔大智度論卷二、卷二十一、大乘義章卷二十末〕
; Ten epithets.
; Ten tittles of a Buddha: (1) Như lai Tathàgata, Thus come ones; (2) -ng cúng Arhat, worthy of offerings: (3) Chính biến tri Samyak-sambuddha, of proper and universal khowledge; (4) Minh hạnh túc Vidyàcarana, perfect in understanding and conduct; (5) Thiện thệ Sugata, skillful; Thế gian giải Lokavidin leaving the world through liberation (6) Vơ thượng sĩ Anuttara, unsurpassed knights; (7) Điều ngự trượng phu Purusa-damya-sàrathi, taming heroes; (8) Thiên nhân sư Sàstà-deva-manusyànàm, teachers of gods and people; (9) Phật Buddha, Buddhas; (10) Thế tôn lokanàtha, Bhagavàn, world honored ones.
; Mười danh hiệu của Phật—The ten titles of a Buddha: 1) Như Lai: Tathagata (skt)—Thus Come One—Như Lai là bậc đã hoàn toàn phản bổn hoàn nguyên. Bậc ấy dù có xuất hiện nơi đời, nhưng đã hoàn toàn thoát khỏi mọi hệ lụy và trói buộc của trần tục—One who is completely original in nature. He appeared in this world, yet he was not really here since he was completely free from all bondage and attachments. 2) Ứng Cúng: A-La-hán—Arhat (skt)—Người xứng đáng nhận sự cúng dường của chúng sanh và chư thiên—One Worthy of Offerings—One who can take offerings from all sentient beings, including heavenly beings. 3) Chánh Biến Tri: Samyak-Sambuddha (skt)—Người hiểu biết thông suốt vạn pháp—One of Proper and Pervasive Knowledge—One who has deep and complete understanding of all dharmas; all knowing. 4) Minh Hạnh Túc: Vidya-carana-Sampanna (skt)—Người có đủ đầy trí đức—One Complete in Clarity and Conduct—One who possesses all wisdom and virtue—The Buddha was praised as not only perfect in knowledge, but also perfect in conduct (or not only perfect in conduct, but also perfect in wisdom). 5) Thiện Thệ: Sugata (skt)—Người luôn hướng thiện, không bao giờ thối chuyển—One who is always on the path toward goodness; never regreesing toward evil. 6) Thế Gian Giải: Lokavit (skt)—Đấng có hiểu biết toàn diện về cả lý thuyết lẫn thực hành cho chúng sanh trong tam giới (dục, sắc, và vô sắc giới)—Well Gone One who understands the World—One who has total understanding of theory and practice for all beings in the three worlds (desire, form, and formless). 7) Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu: Anuttara Purusa-Damya-Sarathi (skt)—Người đứng trên cả mọi loài trong ba cõi—Unsurpassed Knight—Taming and Subduing Hero—One who stands the highest among all beings in the Three Worlds. 8) Thiên Nhơn Sư: Sasta-deva-Manusyanam (skt)—Thầy dạy khắp trời người, dẫn dạy chúng sanh điều quấy lẽ phải. Bậc có thể dạy cho chúng sanh chánh kiến chánh tri thức để từ đó họ có thể có được trí tuệ hóa giải vô minh mà đạt thành giác ngộ—Teacher of Gods and Humans—One who is the master of all humans and heavenly beings, teaching them what is right and what is wrong. One who is able to give all sentient beings the proper view and knowledge so they may gain wisdom to see through ignorance, to attain enlightenment. 9) Phật: Buddha-lokanatha—Bhagavan (skt)—Vị đã đạt được giác ngộ tối thượng—Buddha—One who has attained the Ultimate or Supreme Enlightenment—The Awakened One. 10) Thế Tôn: Lokanatha (skt)—Đấng được chúng sanh trong các cõi kính trọng—World Honored One—One who has the most respect by all realms of existence.
; (十號) Cũng gọi Như lai Thập hiệu, Thập chủng thông hiệu. Chỉ cho 10 đại tôn hiệu của chư Phật. Đó là: 1. Như lai (Phạm:Tathàgata, Hán âm: Đa đà a già đà): Nương đạo như thực (Như) mà đến(lai) và thành chính giác. 2. Ứng cúng (Phạm: Arhat, Hán âm: A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời. 3. Chính biến tri (Phạm: Samyaksaôbuddha, Hán âm: Tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rõ đúng đắn (chính) khắp(biến) tất cả pháp. 4. Minh hành túc (Phạm: Vidyàcaraịa-saôpanna): Tức Tam minh (Thiên nhãn, Túc mệnh, Lậu tận) và hành nghiệp của thân khẩu thảy đều viên mãn. 5.Thiện thệ (Phạm: Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính mà vào Niết bàn. 6. Thế gian giải (Phạm: Loka-vid): Biết rõ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Phi chúng sinh thế gian, cho nên biết thế gian diệt và con đường ra khỏi thế gian. 7. Vô thượng sĩ (Phạm: Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật cũng là vô thượng. 8. Điều ngự trượng phu (Phạm: Puruwa-damya-sàrathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành (trượng phu) khiến họ đến Niết bàn. 9. Thiên nhân sư (Phạm: Zàstà devamanuwyànàô): Chỉ dạy chúng sinh điều gì nên làm, điều gì không nên làm, việc này là thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền não. 10. Phật Thế tôn (Phạm: Buddhabhagavat): Tức tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, thấy biết tất cả các pháp trong 3 đời. Tôn hiệu thứ 10 này cũng có chỗ chia làm 2 là Phật, Thế tôn, tức đầy đủ mọi đức và được người đời cung kính tôn trọng. Ngoài ra, trong các kinh luận cũng có chỗ hợp chung Thế gian giải, Vô thượng sĩ làm 1 tôn hiệu, hoặc Phật, Thế tôn hợp làm 1 hiệu, hoặc Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu hợp làm 1 tôn hiệu... [X. luận Đại trí độ Q.2, 21; Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối].
Thập hiệu 十號
[ja] ジュウゴウ jūgō ||| The ten epithets of the Buddha: (1) 如來 (tathāgata), "Thus-Come"; (2) 應供 (arhat) "Worthy of Respect"; (3) 正遍知 (samyak-sambuddha) "Correctly Enlightened"; (4) 明行足 (vidyā-carana-sampanna) "Perfected in Wisdom and Action"; (5) 善逝 (sugata) "Well-Gone"; (6) 世間解 (lokavid) "Knower of the Secular World"; (7) 無上士 (anuttarā) "Unsurpassed"; (8) 調御大夫 (purusadamya-sāratha) The "Tamer"; (9) 天人師 (śāstādevamanusyānām) "Teacher of Gods and Men"; (10) 佛世尊 or 蒲伽梵 (bhagavān) "World Honored One." Mười danh hiệu của Đức Phật : 1. Như Lai 如來 s: tathāgata); 2 Ứng cúng 應供 (arhat); . Chính biến tri 正遍知 (s:samyak-sambuddha); 4. Minh hạnh túc 明行足 s: vidyā-carana-sampanna); 5. Thiện thệ 善逝 (s: sugata); 6. Thế gian giải 世間解 (s: lokavid); 7. Vô thượng sĩ 無上士 (s: anuttarā) ; 8. Điều ngự trượng phu 調御大夫 s :purusadamya-sāratha); 9. Thiên nhân sư 天人師 ( s: śāstādevamanusyānām) ; 10. Phật Thế Tôn 佛世尊 hay Bạc-già-phạm 蒲伽梵 ( s: bhagavān) .
Thập hoặc 十惑
[ja] ジュウワク jūwaku ||| Ten afflictions, ten defilements, ten delusions. The first five, which are characteristic of those of developed religious sensitivity are: view of self 身見, extreme view 邊見, evil view 邪見, view of attachment to views 見取見, and view of attachment to the precepts 戒禁取見. The second five, which are characteristic of those of undeveloped religious sensitivity are: desire 欲, hatred 瞋, ignorance 癡, pride 慢, and doubt 疑. Also called 五利使and 五鈍使. Same as 十使 => Mười thứ phiền não, mười thứ nhiễm ô, mê vọng. Năm thứ đầu tiên, những đặc tính phát sinh một cách nhạy cảm trong khi tu tập là Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Năm thừ tiếp theo, là những đặc tính phát sinh bình thường trong đời sống tu tập, đó là: Dục, Sân, Si, Mạn, Nghi. Còn gọi là Ngũ lợi sử 五利使và Ngũ độn sử五鈍使. Đồng nghĩa Thập sử 十使.
thập huyền diệu lý
See Thập Huyền Môn.
thập huyền duyên khởi
Theo tông Hoa Nghiêm, có mười pháp môn huyền diệu nương nhau tạo thành sự biểu lộ của thế giới lý tưởng và duyên khởi—According to The Avatamsaka School, there are ten theories that independently cause the manifestation of the ideal world: (A) Lý tắc “Một trong tất cả, tất cả trong một” hay “Tương nhập tương dung.” (một là tất cả, tất cả là một)—The principle of “One-in-all and all-in-one. 1) Vì mọi loài cũng như mọi vật đều được hiện khởi do nội thức, nên căn nguyên là một: Because all beings as well as all things are manifested from ideation, the source is one. 2) Vì mọi loài cũng như mọi vật đều không có bản tính quyết định hay vận hành tự tại, nên vô ngã là chân lý tối thượng: Because all beings as well as all things have no determinate nature, all move freely, selflessness being the ultimate truth. 3) Vì lý duyên khởi chỉ cho sự tương y tương quan, nên tất cả đều cộng đồng liên hệ: Because the causation theory means interdependence or interrelation, all are co-related. 4) Vì tất cả đều có chung pháp tánh hay Phật tánh, nên tất cả đều có khả năng chứng đắc như nhau: Because the Dharma-nature (dharmata) or the Buddha-nature (Buddha-svabhava) is possessed in common by all, they have similar liability. (B) Linh Tinh—Miscellaneous. 5) Vì thế giới hiện tượng được cho là mộng huyễn, nên thế giới nhất chân có thể bàng bạc khắp mọi nơi không bị ước thúc: Because the phenomenal world is said to be as a dream or illusion, the world of One-Truth can be molded in any way without restraint. 6) Vì thế giới hiện tượng được coi là bóng mờ hay ảo ảnh, nên thế giới nhất chân bàng bạc khắp nơi: Because the phenomenal world is said to be as shadow or image, the world of One-Truth can be molded in any way. 7) Vì trong sự giác ngộ của Phật, những căn nhân của hiện khởi được coi như vô hạn, những cảm quả là vạn trạng vô biên, nhưng chúng không chướng ngại nhau mà lại còn cộng tác để hình thành một toàn thể nhịp nhàng: Since the Enlightenment of the Buddha, the causes of production are known to be boundless, the effects are manifold or limitless, but they do not hinder each other; rather they cooperate to form a harmonious whole. 8) Vì sự giác ngộ của Phật là tối thượng và tuyệt đối, nên sự chuyển hóa của thế giới là theo ý chí của Ngài: Because the Buddha's Enlightenment is ultimate and absolute, the transformation of the world is at his will. 9) Vì tác dụng thiền định thâm áo của Phật, sự chuyển hóa của thế giới là tùy theo ý của Ngài: Because of the function of the Buddha's profound meditation the transformation of the world is at his will. 10) Vì năng lực siêu nhiên khởi lên từ sự giải thoát, sự chuyển hóa thế giới là tự tại: Because of the supernatural power originating from deliverance, the transformation of the world is free.
thập huyền môn
416又稱十玄緣起。全稱十玄緣起無礙法門,或作華嚴一乘十玄門、一乘十玄門,單稱十玄。表示法界中事事無礙法界之相,通此義,則可入華嚴大經之玄海,故稱玄門;又此十門相互為緣而起,故稱緣起。十門相即相入,互為作用,互不相礙。華嚴宗以十玄門與六相圓融之說為根本教理,歷來並稱「十玄六相」,二者會通而構成法界緣起之中心內容。此即從十方面說明四法界中事事無礙法界之相,表示現象與現象相互一體化(相即),互相涉入而不礙(相入),如網目般結合,以契合事物之自性,即以十門表示法界緣起之深義。於此,復有古十玄與新十玄之分。智儼說一乘十玄門,法藏作華嚴五教章承其說,是為古十玄;法藏於華嚴經探玄記卷一所示者,澄觀於華嚴玄談卷六中祖述其意,此為新十玄。 以下略說新十玄各門: (一)同時具足相應門,一切現象同時相應,同時具足圓滿,依緣起理而成立,一與多互為一體,無先後之別。 (二)廣狹自在無礙門,空間廣狹之對立似為相互矛盾,然其對立之矛盾正可為相即相入之媒介,故自在圓融而無礙。 (三)一多相容不同門,有關現象之作用(用),有「一中之多、多中之一」之相入說。即一具多,多相容一,一多相入無礙,然其體不同,不失一多之相。 (四)諸法相即自在門,有關現象之體,一與一切互為空、有,兩者一體化,相融互攝而自在無礙。 (五)隱密顯了俱成門,有關緣起之現象,以「一」為有而顯現相之時,「多」即為空而不顯。即隱與顯相互一體化同時成立,一切法與一法能互為一體。 (六)微細相容安立門,就緣起之現象說相入之理時,特別著眼於不壞自相之點。即於每一現象中,以小入大、以一攝多,大小相互為不亂,不壞一多之相,而秩序整然。 (七)因陀羅網法界門,森羅萬象一一互相顯發,重重無盡,如因陀羅網(帝釋天宮殿中寶珠之網)。 (八)託事顯法生解門,深妙之理可託卑近之事法加以彰顯,所託之事與所顯之理無別無二。 (九)十世隔法異成門,過去、未來、現在之三世一一各有過現未三世,合為九世。此九世亦唯攝入一念,合九世與一念為十世。而此十世雖有時間之間隔,然彼此相即相入,先後長短同時具足顯現,時與法不相離。 (十)主伴圓明具德門,緣起之諸現象,隨舉其一則便為主,而其他一切現象即為伴,如此互為主伴,具足一切德。 古十玄之順序與新十玄稍異,且新十玄中以廣狹自在無礙門代以古十玄中之諸藏純雜具德門,以主伴圓明具德門代以唯心迴轉善成門。古十玄所以被改為新十玄之理由,疑係為避免諸藏純雜具德門與理事無礙相混淆,同時唯心迴轉善成門亦唯顯示諸法無礙之理由,並非為顯示諸法無礙之相。此外,慧苑之華嚴經刊定記卷一,曾述及德相與業用兩重十玄門。〔華嚴經隨疏演義鈔卷十、華嚴一乘十玄門〕(參閱「四法界」1717、「華嚴十義」5237)
; Để thuyết minh khả tính của thế giới “Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới,” tông Hoa Nghiêm đã đề ra mười Huyền Môn—In order to elucidate the possibility of the realm of Fact and fact world perfectly harmonized,” the Hua-Yen School set forth the “Ten Profound Theories.” 1) Đồng Thời Cụ Túc Tương Ưng Môn: Nói về sự cộng đồng liên hệ, trong đó vạn vật cộng đồng hiện hữu và đồng thời hiện khởi. Tất cả đều cộng đồng hiện hữu, không những chỉ quan hệ không gian mà cả trong quan hệ thời gian; không có sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và vị lai, mỗi thời bao hàm các thời phần khác. Mặc dù chúng có vẻ sai biệt trong thời gian, nhưng tất cả đều được hợp nhất thành một thực thể, theo quan điểm viên dung—The theory of co-relation, in which all things have co-existence and simultaneous rise. All are co-existent not only in relation to space, but also in relation to time. There is no distinction of past, present and future, each of them being inclusive of the other. Distinct as they are and separated as they seem to be in time, all beings are united to make over entity from the universal point of view. 2) Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại Môn: Nói về tự do toàn vẹn, trong đó mọi loài, thông minh hay ngu độn, đều tương giao với nhau không chướng ngại. Năng lực của tất cả nội hàm cũng như ngoại trương đều vô hạn như nhau. Một nghiệp, dù nhỏ bao nhiêu cũng bao hàm tất cả mọi nghiệp. Một và tất cả đều tương giao một cách tự do và bất tuyệt—The theory of perfect freedom in which all beings “broad and narrow” commune with each other without any obstacle. The power of all beings as to intension and extension is equally limitless. One action, however small, includes all actions. One and all are commutable freely and uninterruptedly. 3) Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn: Nói về sự hỗ tương nhiếp nhập của những sự thể bất đồng. Tất cả những hiện hữu bất đồng đều có những điểm tương đồng. Nhiều ở trong một, một ở trong nhiều và tất cả ở trong nhất thể—The theory of mutual penetration of dissimilar things. All dissimilar existences have something in common. Many in one, one in many, and all in unity. 4) Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn: Nói về tự do, nghĩa là vượt ngoài những sai biệt kỳ cùng, trong đó tất cả các pháp đều hỗ tương đồng nhất. Đây là sự đồng nhất phổ biến của vạn hữu. Thực ra, hỗ tương đồng nhất là tự tiêu hủy. Khi đồng nhất ta với kẻ khác, ta có thể hòa hợp với kẻ khác. Tự tiêu hủy và tự đồng hóa với cái khác tạo thành một đồng nhất hóa tổng hợp. Đây là lý thuyết hay thực hành đặc biệt của Đại Thừa, áp dụng cho bất cứ lý thuyết hay thực hành nào. Hai lý thuyết đối nghịch hay những sự kiện khó dung hợp thường được kết lại thành một. Thông thường do phương pháp này mà người ta đi đến một giải pháp êm đẹp cho một vấn đề. Do kết quả của sự hỗ tương nhiếp nhập và hỗ tương hòa hợp, chúng ta có khái niệm “Một trong tất cả, tất cả trong một. Một ở đàng sau tất cả, tất cả ở đàng sau một. Lớn và nhỏ, cao hay thấp, cũng vận chuyển nhịp nhàng với nhau. Ngay cả những đóng góp khiêm nhường nhứt vào công cuộc hòa điệu, cũng không ai có thể tách khỏi hay biệt lập một mình được—The theory of freedom, i.e., freedom from ultimate disctinctions, in which all elements are mutually identified. It is a universal identification of all beings. Mutual identification is, in fact, self-negation. Identifying oneself with another, one can synthesize with another. Negating oneself and identifying oneself with another constitute synthetical identification. This is a peculiar theory or practice of Mahayana. It is applied to any theory and practice. Two opposed theories or incompatible facts are often identified. Often a happy solution of a question is arrived at by the use of this method. As the result of mutual penetration and mutual identification. We have the concept “One in All, All in One. One behind All, All behind One.” The great and small, the high or low, moving harmoniously together. Even the humblest partaking of the work in peace, no one stands separately or independently alone. It is the world of perfect harmony. 5) Ẩn Mật Hiển Liễu Câu Thành Môn: Nói về thuyết tựu thành, nhờ đó mà cái ẩn mật và cái biểu hiện cùng tạo thành một toàn thể bằng hỗ tương chi trì. Nếu cái nầy ở trong thì cái kia ở ngoài hay ngược lại. Cả hai hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một nhất thể—The theory of complementarity by which the hidden and the manifested will make the whole by mutual supply. If one is inside, the other will be outside, or vice versa. Both complementing each other will complete one entity. 6) Vi Tế Tương Dung An Lập Môn: Nói về sự thành lập bằng hỗ tương nhiếp nhập của những vật chất vi tiểu và ẩn áo. Nói một cách tổng quát, một sự thể càng vi tiểu và ẩn áo, người ta càng khó mà nhận ra nó. Những sự thể vi tế hay ẩn áo vượt ngoài lãnh hội của một người cũng phải thể hiện lý thuyết về “một trong nhiều và nhiều trong một.”—The theory of construction by mutual penetration of minute and abstruse matters. Generally speaking, the more minute or abstruse a thing is, the more difficult it is to be conceived.. Things minute or abstruse beyond a man's comprehension must also be realizing the theory of one-in-many and many-in-one. 7) Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn: Nói về sự phản chiếu nội tại, như trong lãnh vực được bao quanh bằng lưới của trời Đế Thích (mỗi mắt lưới là một viên ngọc thạch lấp lánh), ở đó những hạt ngọc phản chiếu rực rỡ lẫn nhau. Cũng vậy, những sự kiện thực tế của thế giới đều chen lẫn và chiếu rọi lẫn nhau—The theory of inter-reflection, as in the region surrounded by the Indra net (a net decorated with a bright stone on each knot of the mesh), where the jewels reflect brilliance upon each other, according to which the real facts of the world are mutually permeating and reflecting. 8) Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn: Nói về sự thuyết minh chân lý bằng những điển hình thật sự. Chân lý được biểu lộ trong sự vật và sự vật là nguồn gốc của giác ngộ—The theory of elucidating the truth by factual illustrations. Truth is manifested in fact and fact is the source of enlightening. 9) Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn: Nói về “sự thành tựu từ đa thù của 10 thời gian tạo thành một thực thể.” Quá khứ, hiện tại, và vị lai, mỗi thời đều chứa đựng ba thời, như thế tạo thành chín thời, chúng hợp chung lại thành một thời duy nhất, chín và một là mười thời. Mười thời, tất cả đều khác biệt, nhưng nhiếp nhập lẫn nhau, hoàn thành cái lý tắc một-trong-tất-cả. Tất cả những lý thuyết khác, chính yếu liên hệ với sự hỗ tương nhiếp nhập nầy trong bình diện “hàng ngang,” nhưng lý thuyết nầy lại liên hệ với mọi “quan hệ hàng dọc” hay thời gian, nghĩa là mọi loài bị phân tách dọc theo chín thời, mỗi thời tự đầy đủ để cuối cùng tất cả đều tương quan tương liên trong một thời độc nhất; một thời độc nhất được hình thành bằng chín thời kia—The theory of “variously completing ten time-periods creating one entity.” Each of past, present and future contains three periods thus making up nine periods which altogether form one period, nine and one, ten periods in all. The ten periods, all distinct yet mutually penetrating, will complete the one-in-all principle. All other theories are concerned chiefly with the mutual penetration in “horizontal plane,” but this theory is concerned with the “vertical connection,” or time, meaning that all beings separated along the nine periods, each complete in itself, are, after all, interconnected in one period, the one period formed by the nine. 10) Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn: Nói về sự thành tựu của những thiện đức mà nhờ đó, chủ và tớ cùng hoạt động một cách nhịp nhàng và xán lạn. Nếu cái nầy là chủ thì tất cả những cái khác sẽ hoạt động như là thần tử của nó, nghĩa là theo lý tắc “nhứt tức nhất thiết, và nhất thiết tức nhứt.” Chúng tạo thành một toàn thể viên toàn trên thực tế, cái nầy cái kia xen lẫn nhau—The theory of completion of virtues by which the chief and the retinue work together harmoniously and brightly. If one is the chief, all others will work as his retinue, i.e., according to the one-in-all and all-in-one principle, they really form one complete whole, penetrating one another.
; (十玄門) Cũng gọi Thập huyền duyên khởi. Gọi đủ: Thập huyền duyên khởi vô ngại pháp môn, Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn, Nhất thừa thập huyền môn. Gọi tắt: Thập huyền. Chỉ cho 10 môn sâu xa, mầu nhiệm biểu thị tướng của Sự sự vô ngại pháp giới, nếu thông suốt được nghĩa này thì có thể nhập vào biển huyền diệu của kinh Hoa nghiêm, cho nên gọi là Huyền môn; muời môn này làm duyên cho nhau mà khởi, vì thế gọi là Duyên khởi. Mười môn tương tức tương nhập, làm tác dụng cho nhau, không ngăn ngại lẫn nhau. Tông Hoa nghiêm lấy thuyết Thập huyền môn và Lục tướng viên dung làm giáo lí căn bản, xưa nay gọi chung là Thập huyền Lục tướng, cả 2 hội thông mà cấu thành nội dung trung tâm của Pháp giới duyên khởi. Thập huyền chính là theo 10 phương diện để thuyết minh tướng của pháp giới Sự sự vô ngại trong 4 pháp giới, biểu thị hiện tượng và hiện tượng nhất thể hóa(tương tức), dung hòa vào nhau mà không trở ngại (tương nhập), hệt như những mắt lướikết hợp với nhau, tức dùng 10 Huyền môn để biểu thị ý nghĩa sâu xa của Pháp giới duyên khởi. Thập huyền môn lại được chia làm Cổ thập huyền(Thập huyền cũ) và Tân thập huyền(Thập huyền mới). Ngài Trí nghiễm chủ trương Nhất thừa thập huyền môn, ngài Pháp tạng soạn Hoa nghiêm ngũ giáo chương kế thừa thuyết này, đó là Cổ thập huyền. Thập huyền môn nói trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí của ngài Pháp tạng được ngài Trừng quán trình bày lại trong Hoa nghiêm huyền đàm quyển 6, đó là Tân thập huyền. Sau đây là nói sơ qua về các môn của Tân thập huyền: 1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn: Tất cả hiện tượng đồng thời tương ứng, đồng thời đầy đủ, theo lí duyên khởi mà thành lập, một và nhiều dung hợp nhau thành một thể, không có trước sau sai khác. 2. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn: Sự đối lập giữa rộng và hẹp về không gian tựa hồ như mâu thuẫn nhau, nhưng chính sự mâu thuẫn đối lập ấy lại là môi giới của sự tương tức tương nhập, vì thế là tự tại viên dung vô ngại. 3. Nhất đa tương dung bất đồng môn: Về tác dụng của hiện tượng thì trong một có nhiều, trong nhiều dungchứamột, tướng một và nhiều không ngăn ngại, nhưng thể của chúng thì khác nhau, không đánh mất tướng một và nhiều. 4. Chư pháp tương tức tự tại môn: Về thể của hiện tượng thì một và tất cả đắp đổi là không và hữu, cả 2 đều nhất thể hóa, dung nhiếp lẫn nhau một cách tự tại vô ngại.5. Ẩn mật hiểu liễu câu thành môn: Về hiện tượng duyên khởi thì khi lấy một làm hữu mà hiển hiện ra tướng, thì nhiều là không và ẩn kín không hiện. Tức ẩn và hiển nhất thể hóa lẫn nhau đồng thời thành lập, tất cả pháp và một pháp là nhất thể của nhau. 6. Vi tế tương dung an lập môn: Khi dựa vào lí tương nhập để nói hiện tượng duyên khởi thì đặc biệt chú trọng ở điểm không hoại tự tướng. Tức trong mỗi hiện tượng, đem nhỏ hòa vào lớn, dùng một bao nhiếp nhiều, nhưng lớn và nhỏ hòa nhập vào nhau mà không loạn, không hoại tướng một và nhiều, trật tự vẫn rõ ràng. 7. Nhân đà la võng pháp giới môn: Muôn tượng sum la, mỗi mỗi hiển phát lẫn nhau, lớp lớp vô cùng tận, giống như mành lưới của Nhân đà la(mành lưới bằng ngọc châu báu trong cung điện của trời Đế thích). 8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn: Nghĩa lí sâu xa, mầu nhiệm nương vào sự pháp nhỏ nhặt mà được hiển bày, sự được nương và lí được hiển không 2 không khác. 9. Thập thế cách pháp dị thành môn: Trong mỗi 3 đời quá khứ, vị lai, hiện tại đều có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, hợp chung thành 9 đời. Chín đời này cũng chỉ thu nhiếp vào trong một niệm, hợp 9 đời với 1 niệm thành 10 đời. Thời gian của 10 đời này tuy có gián cách, nhưng thời này thời kia tương tức tương nhập, trước sau, dài ngắn đồng thời hiển hiện đầy đủ, thời và pháp không lìa nhau. 10. Chủ bạn viên minh cụ đức môn: Trong các hiện tượng duyên khởi, hễ nêu một hiện tượng nào thì hiện tượng ấy là chủ, tất cả hiện tượng khác là bạn, cứ như thế làm chủ bạn lẫn nhau, đầy đủ mọi đức.Thứ tự của Cổ thập huyền và Tân thập huyền hơi khác nhau, tức trong Tân thập huyền, Quảng hiệp tự tại vô ngại môn được dùng thay cho Chư tạng thuần tạp cụ đức môn trong Cổ thập huyền và Chủ bạn viên minh cụ đức môn thay cho Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn. Lí do Cổ thập huyền được đổi thành Tân thập huyền có lẽ vì muốn tránh sự lẫn lộn giữa Chư tạng thuần tạp cụ đức môn và Lí sự vô ngại; đồng thời Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn cũng chỉ nói lên cái lí các pháp vô ngại chứ chẳng phải hiển bày cái tướng các pháp vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn]. (xt. Tứ Pháp Giới, Hoa Nghiêm Thập Nghĩa).
thập huyền đàm
416全一卷。唐代同安常察禪師撰。收於景德傳燈錄卷二十九、聯燈會要卷三十。凡分十玄:心印、祖意、玄機、塵異、佛教、還鄉曲、破還鄉曲、回機、轉位、正位前,各付以七言律之頌。自心印至佛教五首,乃敘述宗門之要旨;自還鄉曲至正位前五首,指示學人履踐之要路。然依景德傳燈錄版本之差異(祖庭事苑、宋版、高麗版、天寧寺版、元版、明版),十玄之名稱略有不同。如宋版無「祖意」、「轉位」,元版名「佛教」為「演教」等。本書之注釋,有朝鮮雪岑之十玄談註、指月慧印之十玄談假名註等。
; (十玄談) Tác phẩm, 1 quyển, do Thiền sư Đồng an Thường sát soạn vào đời Đường, được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 29 và Liên đăng hội yếu quyển 30. Nội dung nói về yếu chỉ của tông môn và chỉ ra con đường quan trọng mà người học phải đi theo. Sách được viết theo thể kệ tụng 7 chữ, chia làm 10 chương, tức 10 Huyền, đó là: Tâm ấn, Tổ ý, Huyền cơ, Trần dị, Phật giáo, Hoàn hương khúc, Phá hoàn hương khúc, Hồi cơ, Chuyển vị và Chính vị tiền. Nhưng theo sự sai khác của bản in Cảnh đức truyền đăng lục (Tổ đình sự uyển, bản đời Tống, bản Cao li, bản chùa Thiên ninh, bản đời Nguyên, bản đời Minh) thì tên gọi Thập huyền có hơi khác. Như bản đời Tống không có Tổ ý, Chuyển vị, bản đời Nguyên gọi Phật giáo là Diễn giáo... Về các bản chú thíchsáchnày thì có: -Thập huyền đàm chú, do ngài Tuyết sầm người Triều tiên soạn. -Thập huyền đàm giả danh chú, do ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn soạn.
thập huệ chương cú
497請參閱 十慧章句 全一卷。又作十慧、十慧經、沙彌十慧章句。東漢僧嚴佛調撰。本書正文已佚失,今僅殘餘序文,收於出三藏記集卷十。道安曾抄錄康僧會之六度要目與本書,而成十法句義一書。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷四〕
; (十慧章句) Cũng gọi Thập tuệ, Thập tuệ kinh, Sa di thập tuệ chương cú. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghiêm phật điều soạn vào đời Đông Hán. Chính văn sách này đã thất lạc, nay chỉ còn bài tựa được thu vào Xuất tam tạng kí tập quyển 10.Ngài Đạo an đã sao chép Lục độ yếu mục của ngài Khang tăng hội hợp chung với sách này mà thành bộ Thập pháp cú nghĩa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4].
thập hành
See Thập Hạnh.
thập hành ấm ma
Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật đã nhắc nhở ông A Nan về mười hành ấm ma—According to the Surangama Sutra, the Buddha remined Ananda about the ten states of formation skandha. 1) Hai thứ vô nhân: Two theories on the absence of cause—See Nhị Chủng Vô Nhân Luận. 2) Bốn thứ biến thường—Four theories regarding pervasive permanence—See Tứ Chủng Biến Thường. 3) Bốn thứ điên đảo: Four upside-down theories—See Tứ Chủng Điên Đảo. 4) Bốn thứ hữu biên: Four theories regarding finiteness—See Tứ Chủng Hữu Biên. 5) Bốn thứ kiểu loạn: Four kinds of sophistry—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của các loài sanh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong tri kiến, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào bốn thứ điên đảo, bất tử kiểu loạn, biến kế hư luận—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate on what he knows and sees, he could fall into error with four distorted, false theories, which are total speculation based on the sophistry of immortality. a) Một là người đó xem cái bản nguyên biến hóa; thấy cái chỗ thay đổi gọi là “biến,” thấy cái chỗ nối nhau gọi là “hằng,” thấy cái chỗ bị thấy gọi là “sinh;” chẳng thấy chỗ bị thấy gọi là “diệt;” chỗ tương tục không đoạn gọi là “tăng;” chỗ tương tục gián đoạn gọi là “giảm;” mỗi cái có chỗ sinh gọi là “có;” mỗi cái có chỗ diệt gọi là “không.” Lấy lý xem xét dụng tâm thấy riêng. Có người đến cầu pháp hỏi nghĩa, đáp: “Tôi nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng tăng, cũng giảm.” Các thời đều nói lộn xộn, khiến cho người nghe quên mất chương cú—First, this person contemplates the source of transformations. Seeing the movement and flow, he says there is change. Seeing the continuity, he says there is constancy. Where he can perceive something, he says there is production. Where he cannot perceive anything, he says there is destruction. He says that the unbroken continuity of causes is increasing and that the pause within the continuity are decreasing. He says that the arising of all things is existence and that the perishing of all things is nonexistence. The light of reason shows that his application of mind has led to inconsistent views. If someone comes to seek the Dharma, asking about its meaning, he replies, “I am both alive and dead, both existent and nonexistent, both increasing and decreasing.” He always speaks in a confusing way, causing that person to forget what he was going to say. b) Hai là người đó xem xét tâm kỹ càng, cái chỗ xoay vần không có. Nhân không mà có chứng được. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, không ngoài chữ “không,” không nói gì cả—Second, this person attentively contemplates his mind and finds that everything is nonexistent. He has a realization based on nonexistence. When anyone comes to ask him questions, he replies with only one word. He only says “no,” Aside from saying “non,” he does not speak. c) Ba là người đó xem xét kỹ càng cái tâm của mình, cái gì cũng có chỗ, nhân “có” mà chứng được. Có người đến hỏi chỉ đáp một chữ “phải.” Ngoài chữ “phải” ra không nói gì cả—Third, this person attentively contemplates his mind and finds that everything is existent. He has a realization based on existence. When anyone comes to ask him questions, he replies with only one word. He only says “yes.” Aside from saying “yes,” he does not speak. d) Bốn là người đó đều thấy hữu, vô, vì cái cảnh phân hai, tâm cũng kiểu loạn. Có người đến hỏi lại đáp “cũng có” tức là “cũng không,” trong “cũng không” chẳng phải “cũng có.” Vì so đo chấp trước kiểu loạn hư vô, nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, this person perceives both existence and nonexistence. Experiencing this branching, his mind becomes confused. When anyone comes to ask questions, he tells them, “Existence is also nonexistence. But within nonexistence there is no existence.” It is all sophistry and does not stand up under scrutiny. Because of these speculations, which are empty sophistries, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 6) Mười sáu thứ hữu tướng: The sixteen ways in which forms can exist after death—Lại có thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của các loài sanh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Chỗ lưu vô tận, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào điên đảo hữu tướng sau khi chết. Hoặc tự kiên cố thân, nói sắc là ngã, hoặc thấy ngã viên mãn, trùm khắp quốc độ. Nói ngã có sắc. Hoặc kia tiền cảnh duyên theo ngã ứng dụng. Nói sắc thuộc ngã. Hoặc ngã nương ở trong cái hành tướng tương tục, nói ngã ở sắc. Đều so đo chấp trước rằng sau khi chết có tướng. Như vậy xoay vần có mưới sáu tướng. Từ ấy hoặc chấp rằng rốt ráo phiền não, rốt ráo Bồ Đề, hai tính cách đều đi đôi, chẳng có xúc ngại nhau. Vì so đo chấp trước sau khi chết rồi có tướng, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be disturbed be demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. But if he begins to speculate the endless flow, he could fall into error with the confused ideas that forms exist after death. He may strongly identify with his body and say that form is himself; or he may see himself as perfectly encompassing all worlds and say that he contains form; or he may perceive all external conditions as contingent upon himself and say that form belongs to him; or he may decide that he relies on the continuity of the formations skandha and say that he is within form. In all these speculations, he says that forms exist after death. Expanding the idea, he comes up with sixteen cases of the existence of forms. 7) Tám thứ vô tướng: Eight ideas about nonexistence of forms—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong chỗ diệt trừ sắc, thụ, tưởng, khởi so đo chấp trước, sau khi chết đọa vào vô tướng điên đảo. Thấy sắc diệt, hình không sở nhân. Xem tưởng diệt, tâm không chỗ buộc. Biết cái thụ diệt, không còn nối liền. Tính ấm tiêu tan, dù có sinh lý, mà không thụ tưởng, đồng như cây cỏ. Cái chất ấy hiện tiền, còn không thể được, huống là khi chết mà lại còn các tướng? Nhân đó so đo, sau khi chết, tướng không có, như vậy xoay vần, có tám vô tướng. Từ đó cho rằng: niết bàn, nhân quả, tất cả đều không, chỉ có danh từ, hoàn toàn đoạn diệt. Vì so đo chấp trước sau khi chết, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper, and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of being and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. But if he begins to speculate on the skandhas of form, feeling, and thinking, which have already ended, he could fall into error with the confused idea that forms do not exist after death. Seeing that his form is gone, his physical shape seems to lack a cause. As he contemplates the absence of thought, there is nothing to which his mind can become attached. Knowing that his feelings are gone, he has no further involvements. Those skandhas have vanished. Although there is still some coming into being, there is no feeling or thought, and he concludes that he is like grass or wood. Since those qualities do not exist at present, how can there be any existence of fors after death? Because of his examinations and comparisons, he decides that after death there is no existence. Expanding the idea, he comes up with eight cases of the nonexistence of forms. From that, he may speculate that Nirvana and cause and effect are all empty, that they are mere names and ultimately do not exist. Because of those speculations that forms do not exist after death, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 8) Tám phủ định: Eight kinds of negation—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Đối trong hành ấm còn, , và thụ tường diệt, chấp cả có và không, tự thể phá nhau. Sau khi chết ngưới ấy đọa vào luận Cu-Phi, khởi điên đảo. Trong sắc, thụ, tưởng, thấy có và chẳng phải có. Trong cái hành ấm thiên lưu, xem không và chẳng không. Như vậy xoay vần cùng tột ngũ ấm, 18 giới. Tám cái tướng cu-phi, hễ theo được một cái đều nói: “chết rồi có tướng không tướng.” Lại chấp rằng các hành tính chất hay dời đổi, tâm phát ra thông ngộ, có không đều không, hư thật lầm lỗi. Vì so đo chấp trước chết rồi đều không, hậu lai mời mịt, không thể nói được, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. In this state where the skandha of formation remains, but the skandhas of feeling and thinking are gone, if he begins to speculate that there are both existence and nonexistence, thus contradicting himself, he could fall into error with confused theories that deny both existence and nonexistence after death. Regarding form, feeling and thinking, he sees that existence is not really existence. Within the flow of the formations skandha, he sees that that nonexistence is not really nonexistence. Considering back and forth in this way, he thoroughly investigates the realms of these skandhas and derives an eightfold negation of forms. No matter which skandha is mentioned, he says that after death, it neither exists nor does not exist. Further, because he speculates that all formations are changing in nature, an “insight” flashes through his mind, leading him to deny both existence and nonexistence. He cannot determine what is unreal and what is real. Because of these speculations that deny both existence and nonexistence after death, the future is murky to him and he cannot say anything about it. Therefore, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 9) Bảy chỗ đoạn diệt: Seven theories on the cessation of existence—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Đối về sau không có, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào luận bảy thứ đoạn diệt. Hoặc chấp cái thân mất, hoặc cái dục diệt tận, hoặc cái khổ mất, hoặc cực lạc mất, hoặc cực xả mất. Như vậy xoay vần cùng tột bảy chỗ hiện tiền tiêu diệt, mất rồi không còn nữa. Vì so đo chấp trước chết rồi đoạn diệt, nên đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate that there ie no existence after death, he could fall into error with seven theories of the cessation of existence. He may speculate that the body will cease to exist; or that when desire has ended, there is cessation of existence; or that after suffering has ended, there is cessation of existence; or that when bliss reaches an ultimate point, there is cessation of existence; or that when renunciation reaches an ultimate point, there is cessation of existence. Considering back and forth in this way, he exhaustively investigates the limits of the seven states and sees that they have already ceased to be and will not exist again. Because of these speculations that existence ceases after death, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 10) Năm Niết Bàn: Five kinds of immediate Nirvana—See Ngũ Niết Bàn. • Thập Hạnh: Ten necessary activities or practices of a Bodhisattva—See Thập Hạnh Bố Tát.
Thập hư 十虚
[ja] ジュウコ jūko ||| The "ten directions of space." => Mười phương hư không.
thập hạnh
428<一>菩薩修行之五十二階位中,指第二十一至第三十位所修之十種利他行。又作十行心。即:(一)歡喜行,菩薩以無量如來之妙德,隨順十方。(二)饒益行,善能利益一切眾生。(三)無瞋恨行,修忍辱,離瞋怒,謙卑恭敬,不害自他,對怨能忍。(四)無盡行,又作無屈撓行。菩薩行大精進,發心度一切眾生,令至大涅槃而無鬆懈。(五)離癡亂行,常住正念不散亂,於一切法無癡亂。(六)善現行,知無有法,三業寂滅,無縛無著,而亦不捨教化眾生。(七)無著行,歷諸塵剎供佛求法,心無厭足,而亦以寂滅觀諸法,故於一切無所著。(八)尊重行,尊重善根、智慧等法,悉皆成就,由之更增修二利行。(九)善法行,得四無礙陀羅尼門等法,成就種種化他之善法,以守護正法,令佛種不絕。(十)真實行,成就第一義諦之語,如說能行,如行能說,語行相應,色心皆順。 修十行之目的有四:(一)厭有為。(二)求菩提、滿佛德。(三)欲於現在、未來世中救度眾生。(四)求實際、證法如。以是故修諸行。有關菩薩於何階位修此十行,經論或以為三賢位之一,或六種性中之性種性,或五位中之資糧位。〔舊華嚴經卷十一之十行品、大佛頂首楞嚴經卷八、大乘義章卷十四、華嚴五教章卷二〕 <二>菩薩之十種修行。即:(一)信,信仰佛、法。(二)悲,拔眾生苦。(三)慈,施樂與眾生,對諸眾生而起眾生緣,知眾生無實體、自性而起法緣,觀五蘊之空而起無緣。(四)捨,行內外二施,令眾生心安。(五)不疲倦,指行世間、出世間之行而不疲倦。(六)知經書,指知五明。(七)知世智,知曉世間實際之事、義。(八)慚愧,恥罪過而生慚愧。(九)堅固力,自守佛道而不退失,更能向上轉進。(十)供養,供養諸佛及如其教說修行。〔舊華嚴經卷二十三、菩薩地持經卷三、卷七、十地經論卷三〕 <三>十行攝善法。即:(一)慈悲行(不殺生),(二)少欲行(不偷盜),(三)淨梵行(不邪淫),(四)諦語行(不妄語),(五)明慧行(不飲酒),(六)護法行(不說人過),(七)息惡推善行(不自讚毀他),(八)財法俱施行(不慳法財),(九)忍辱行(不瞋恚),(十)讚三寶行。〔禪戒篇〕 <四>又指身、口、意所行之十種惡行為,稱為十惡。(參閱「十善十惡」468)
; Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi sơ hạnh đến ngôi thập hạnh, thuc giai đoạn thứ nhì của tam hiền.
; The ten lines of actions: (1) Hoan hỉ hạnh, joyful service; (2) Nhiêu ích hạnh, beneficial service: (3) Vô sân hận hạnh, never resenting; (4) Vô tận hạnh, without limit; (5) Li si loạn hạnh, never out of order; (6) Thiện hiện hạnh, appearing in any form at will; (7) Vô trước hạnh, unimpeded; (8) Tôn trọng hạnh, exalting the pàramitàs amongst all beings; (9) Thiện pháp hạnh, perfecting the Buddha-law by complete virtue: (10) Chân thật hạnh, manifesting in all things the pure, final, true reality.
; Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi Sơ hạnh đến ngôi Thập hạnh, thuộc giai đoạn thứ nhì của Tam Hiền.
; (十行) I. Thập Hạnh. Cũng gọi Thập hạnh tâm. Chỉ cho 10 hạnh tu lợi người từ giai vị 21 đến giai vị 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Hoan hỉ hạnh: Bồ tát dùng vô lượng diệu đức của Như lai để tùy thuận 10 phương. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát khéo làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 3. Vô sân hận hạnh: Bồ tát tu hạnh nhịn nhục, không tức giận, khiêm nhường cung kính, không hại mình hại người, đối với oán địch thường nín nhịn. 4. Vô tận hạnh(cũng gọi Vô khuất nhiễu hạnh): Bồ tát tu hạnh tinh tiến, phát tâm độ tất cả chúng sinh, đến đại Niết bàn, không biếng nhác, xao lãng. 5. Li si loạn hạnh: Bồ tát thường trụ trong chính niệm không tán loạn, đối với tất cả pháp không si loạn. 6. Thiện hiện hạnh: Bồ tát biết rõ pháp không, 3 nghiệp vắng lặng, không trói buộc, không tham đắm, nhưng cũng không bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 7. Vô trước hạnh: Trải qua vô lượng kiếp cúng Phật cầu pháp, tâm không chán đủ, nhưng cũng dùng tâm vắng lặng quán xét các pháp, cho nên không đắm trước tất cả pháp. 8. Tôn trọng hạnh: Bồ tát tôn trọng thiện căn trí tuệ... thảy đều thành tựu, nhờ đó lại càng tiến tu hạnh lợi mình lợi người. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ tát chứng được 4 môn Đà la ni vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hóa người khác để hộ trì chính pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt mất.10. Chân thực hạnh: Bồ tát thành tựu lời nói Đệ nhất nghĩa đế, nói đúng như việc làm, làm đúng như lời nói, nói và làm phù hợp nhau, sắc tâm đều thuận. Tu thập hạnh có 4 mục đích: 1. Nhàm chán các pháp hữu vi. 2. Cầu đạo Bồ đề, đầy đủ Phật đức. 3. Muốn cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và ở đời vị lai. 4. Cầu thực tế, chứng pháp như. Ngoài ra, về việc Bồ tát tu 10 hạnh này ở giai vị nào, thì trong các kinh luận có thuyết cho rằng 1 trong 3 Hiền vị, có thuyết cho là Tính chủng tính trong 6 chủng tính, lại có thuyết cho là Tư lương vị trong 5 vị... [X. phẩm Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản dịch cũ); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Đại thừa nghĩa chương quyển Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. II. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh tu của Bồ tát đó là: 1. Tín: Kính tin Phật, Pháp. 2. Bi: Trừ diệt khổ đau cho chúng sinh. 3. Từ: Ban vui cho chúng sinh, đối với các chúng sinh khởi chúng sinh duyên, biết chúng sinh không có thực thể, không tự tính mà khởi pháp duyên, quán xét 5 uẩn là không mà khởi vô duyên. 4. Xả: Bên trong xả bỏ thân mệnh, bên ngoài xả bỏ tài vật để bố thí, giúp chúng sinh an tâm. 5. Bất bì quyện: Bồ tát tu hành các hạnh thế gian, xuất thế không biết mỏi mệt. 6. Tri kinh thư: Bồ tát biết rõ 5 môn học (Ngũ minh). 7. Tri thế trí: Bồ tát hiểu biết ý nghĩa của các việc thực tế ở thế gian. 8. Tàm quí: Đối với tội lỗi sinh tâm thẹn hổ. 9. Kiên cố lực: Bồ tát có năng lực bền vững, giữ gìn Phật đạo, khôngđể lui sụt. 10. Cúng dường: Bồ tát cúng dường chư Phật và tu hành đúng theo lời dạy của Phật.[X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát địa trì Q.3,7; Thập địa kinh luận Q.3]. III. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh bao nhiếp các thiện pháp. Đó là: 1. Từ bi hạnh(không giết hại). 2. Thiểu dục hạnh(không trộm cướp). 3. Tịnh phạm hạnh(không tà dâm). 4. Đế ngữ hạnh(không nói dối). 5. Minh tuệ hạnh(không uống rượu). 6. Hộ pháp hạnh(không nói lỗi của người khác). 7. Tức ác suy thiện hạnh (không khen mình chê người). 8. Tài pháp câu thí hạnh(không bỏn xẻn chính pháp và tài vật). 9. Nhẫn nhục hạnh(không tức giận). 10. Tán thán Tam bảo hạnh(khen ngợi Tam bảo). [X. Thiền giới thiên]. IV. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra, gọi là Thập ác. (xt. Thập Thiện Thập Ác).
thập hạnh bồ tát
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về mười hạnh cần thiết của Bồ Tát—In the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about the ten necessary activities, or practices of a Bodhisattva: 1) Hoan hỷ hạnh: The conduct of happiness • Hạnh hoan hỷ tùy thuận mười phương—The practice of joyful service, or giving joy. • Đức Phật nói với A Nan: “Ông A Nan! Người thiện nam đó thành Phật tử rồi, đầy đủ diệu đức của vô lượng Như Lai. Tùy thuận mười phương chúng sanh để ban bố đức mầu. Đó gọi là hoan hỷ hạnh—The Buddha told Ananda: “Ananda! After these good men have become sons of the Buddha, they are replete with the limitlessly many wonderful virtues of the Thus Come Ones, and they comply and accord with beings throughout the ten directions. This is called the conduct of happiness.” 2) Nhiêu ích hạnh: The conduct of benefitting. • Hạnh làm lợi ích cho tha nhân, hay thường làm việc lợi ích cho tất cả chúng sanh—The practice of beneficial service, or beneficial practice. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Khôn khéo có thể lợi ích tất cả chúng sanh gọi là nhiêu ích hạnh.”—The Buddha told Ananda: “Being well able to accommodate all living beings is called the conduct of benefitting.” 3) Vô sân hận hạnh: The conduct of non-opposition. • Nết hạnh không giận hờn; tự giác ngộ cho mình, giác ngộ cho người, chẳng trái nghịch—The practice of never resenting, or non-opposition. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Tự giác, giác tha được khỏi chống trái, gọi là vô sân hận hành.”—The Buddha told Ananda: “Enlightening oneself and enlightening others without putting forth any resistence is called the conduct of non-opposition.” 4) Vô tận hạnh: The conduct of endlessness. • Làm việc lợi tha vô tận (tùy cơ loại của chúng sanh mà hiện cái thân mình để cứu độ chúng sanh mãi mãi)—The practice of indomitability, or without limit in helping others. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Xuất sinh chủng nầy, loại khác, cho đến mãi mãi trong tương lai. Bình đẳng với ba đời, thông đạt mười phương, gọi là vô tận hạnh.”—The Buddha told Ananda: “To undergo birth in various forms continuously to the bounds of the future, equally throughout the three periods of time and pervading the ten directions is called the conduct of endlessness.” 5) Ly si loạn hạnh: The conduct of freedom from deluded confusion. • Lìa khỏi tánh ngu si, rối loạn—The practice of nonconfusion. • Đức Phật bảo A Nan: “Tất cả hợp đồng các pháp môn, được không sai lầm gọi là ly si loạn hạnh.”—The Buddha told Ananda: “When everything is equally in accord, one never makes mistakes among the various dharma doors. This is called the conduct of freedom from deluded confusion.” 6) Thiện hiện hạnh: The conduct of wholesome manifestation. • Nết hạnh khéo hiện, nhờ rời khỏi tánh ngu si mê loạn mà có thể hiện ra các tướng ở trong đồng loại để cứu độ họ—The practice of good manifestation, or appearing in any form at will to save sentient beings. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Trong chỗ 'đồng' đó, hiện ra các 'dị.' Mỗi mỗi tướng dị, đều thấy đồng. Đó gọi là thiện hiện hành.”—The Buddha told Ananda: “Then within what is identical, myriad differences appear; the characteristics of every difference are seen, one and all, in identity. This is called the conduct of wholesome manifestation.” 7) Vô trước hạnh: The conduct of non-attachment. • Nết hạnh không chấp trước, nghĩa là ở trong cõi trần mà chẳng bị nhiễm trước—The practice of nonattachment, or unimpeded practice. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Như vậy cho đến mười phương hư không đầy vi trần, trong mỗi vi trần hiện mười phương thế giới. Hiện vi trần, hiện thế giới, mà chẳng lưu ngại nhau. Đây gọi là vô trước hạnh.”—The Buddha told Ananda: “This continues until it includes all the dust motes that fill up empty space throughout the ten directions. In each and every mote of dust there appear the worlds of the ten directions. And yet the appearance of worlds do not interfere with one another. This is called the conduct of non-attachment.” 8) Tôn trọng hạnh: The conduct of veneration. • Còn gọi là “Nan Đắc Hạnh.” Nết hạnh tôn trọng Bát Nhã—The practice of exalting the paramitas amongst all beings, or the practice of that which is difficult to attain. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Các thứ biến hiện đều là đệ nhất ba la mật đa, đó gọi là tôn trọng hành.”—The Buddha told Ananda: “Everything that appears before one is the foremost paramita. This is called the conduct of veneration.” 9) Thiện pháp hạnh: The conduct of wholesome Dharma. • Nết hạnh phép lành, đức viên dung để làm thành quy tắc của chư Phật mười phương—The practice of good teaching, or perfecting the Buddha-law by complete virtue. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Như vậy viên dung, có thể thành tựu quy tắc của các Đức Phật mười phương, đó gọi là thiện pháp hành.”—The Buddha told Ananda: “With such perfect fusion, one can model oneself after all the Buddhas of the ten directions. This is called the conduct of wholesome dharma.” 10) Chơn thật hạnh: The conduct of true actuality. • Nết hạnh chơn thật của vạn hữu đều hiện ra trong giai đoạn nầy—The practice of truth, or manifest in all things the pure, final and true reality. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Mỗi mỗi đều thanh tịnh, không mê lậu. Nhất chân vô vi, tính bản nhiên. Đó gọi là chân thật hạnh.”—The Buddha told Ananda: “To then be pure and without outflows in each and every way is the primary truth, which is unconditioned, the essence of the nature. This is called the conduct of true actuality.”
thập hạnh nguyện phổ hiền
Ten vows of conduct of Samantabhadra Bodhisattva—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện, and Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện in Appendix A.
thập hạnh phổ hiền
Samantabhadra's Ten Practices—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện.
thập hạnh tiên
〖出楞嚴經〗〔一、地行僊〕,謂其服食藥餌,能駐一期之壽,而不能輕舉,故名地行僊。(一期者,從生至死也。)〔二、飛行僊〕,謂其餐食黃精松柏之類,久而身輕,故名飛行僊。(黃精,藥名;松柏者,謂松柏之葉也。)〔三、遊行僊〕,謂其久服還丹,化形易骨,遊戲人間,故名遊行僊。(還丹者,謂神仙九還之丹也。)〔四、空行僊〕,謂其乘陰陽動靜,調氣固精,騰身履空,故名空行僊。〔五、天行僊〕,謂其能鼓天池,嚥津液,不交世欲,故名天行僊。(天池,即口也。)〔六、通行僊〕,謂其吞吸日月精華,作意存變,以延身命,歲久功成,遂有異見,通世物情,故名通行僊。〔七、道行僊〕,謂其能以咒術持身,術力成就,故名道行僊。〔八、照行僊〕,謂其能繫念一境,澄凝精思,積久功成,照用顯發,故名照行僊。〔九、精行僊〕,謂其內以坎男離女為匹配,外即採陰助陽,攝衛精氣,故名精行僊。〔十、絕行僊〕,謂其存想世間有為功用,運想化理,超絕世間,故名絕行僊。
; 429十種仙人。又作十行僊、十種仙。彼等皆於人中鍊心,不循正覺,別得生理,壽千萬歲,休止深山或大海島,絕於人境。斯亦輪迴,妄想流轉,不修三昧,報盡還來散入諸趣。十者即:(一)地行仙,食麻仁草木之實而不休息,食道圓成。(二)飛行仙,食松柏等而不休息,因草木輕,故體亦輕,飛行空中而不墜地。(三)遊行仙,服丹砂而不休息,則能化骨使長壽而體固,且能化物,使賤為貴,自在遊行人間化人。(四)空行仙,堅固動止而不休息,能履虛空,氣精圓成。(五)天行仙,鼓天池而飲神液、固精華,年久有成,則離人欲。(六)通行仙,飲日月之精氣,功久遂有異見,而通物情。(七)道行仙,堅固咒術而不休息,術法圓成。(八)照行仙,堅固思念而不休息,則發用而照明境界。(九)精行仙,堅固交媾(採陰拔陽之術)而不休息,則此感彼應,吸他人之精氣以固己身。(十)絕行仙,心變化木石而不休息,則一身如槁木,絕有為之功用。〔首楞嚴經卷八、大明三藏法數卷四十三〕
; (十行仙) Cũng gọi Thập chủng tiên. Chỉ cho 10 loại tiên nhân, đó là: 1. Địa hành tiên: Các tiên nhân sống trên mặt đất, chỉ ăn các thứ hạt của cây cỏ. 2. Phi hành tiên: Các tiên nhân ăn tùng, bách... vì cỏ cây nhẹ nên thân thể cũng nhẹ, bay đi trong hư không mà không rơi xuống đất. 3. Du hành tiên: Các tiên nhân uống đan sa liên tiếp nên hóa cốt, sống lâu, thân thể cứng chắc; lại có khả năng chuyển hóa vật, khiến nghèo hèn thành giàu sang, tự tại dong chơi trong nhân gian để giáo hóa mọi người. 4. Không hành tiên: Các tiên nhân rèn luyện mọi cử chỉ hành vi không ngừng, có khả năng lướt đi trong hư không, tinh khí viên thành. 5. Thiên hành tiên: Các tiên nhân khuấy ao trời uống thần dịch, giữ chắc tinh hoa, lâu năm thành tựu thì lìa được nhân dục(lòng ham muốn của loài người). 6. Thông hành tiên: Hớp tinh khí của mặt trời, mặt trăng, nhờ công phu lâu ngày phát ra linh tri, biết suốt tình ý của chúng sinh.7. Đạo hành tiên: Tu luyện chú thuật không ngừng, nhờ đó pháp thuật viên thành. 8. Chiếu hành tiên: Chuyên tâm tưởng niệm không ngừng, cho nên phát ra dụng mà chiếu sáng cảnh giới. 9. Tinh hành tiên: Chuyên hành giao cấu(thuật lấy âm bỏ dương) không ngừng, người này cảm người kia ứng, hút tinh khí của người kia để làm cho mình cứng chắc. 10. Tuyệt hành tiên: Tâm chuyên nghĩ việc biến hóa cây đá, cho nên thân như cây khô, dứt hẳn công dụng hữu vi. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.43].
Thập hạnh 十行
[ja] ジュウギョウ jūgyō ||| The ten practices. Ten of the fifty-two stages of the career of a bodhisattva enumerated in the Avataṃsaka-sūtra. These stages are practices for the benefit of others. They are. 1. huanxixing 歡喜行 - The 'practice of giving joy.' Selfless giving to sentient beings by the bodhisattva, wherein he has no feeling of desire for reward. 2. raoyixing 饒益行 - 'beneficial practice.' Here the bodhisattvas maintain pure self control and their minds have no attachment to color or form, sound, fragrance, flavor or feeling. 3. Wuweinixing 無違逆行 - The 'practice of non-opposition.' The practice by bodhisattvas of continuous forbearance and tolerance; being humble and respectful, harming neither self nor others. 4. Wuqunaoxing 無屈撓行 - The 'practice of indomitability.' The cultivation by bodhisattvas of great, unsurpassed energy. They become naturally free from the three poisons of greed, hatred and delusion. 5. Wuchīuanxing 無癡亂行 - The 'practice of non-confusion.' The practice in which bodhisattvas perfect right mindfulness, their minds are free from distraction and disturbance, firm and imperturbable, consummately pure, immeasurably vast, without any delusion or confusion. 6. shanjianxing 善見行 - The 'practice of skillful manifestation.' The bodhisattvas are pure in thought, word and deed; they abide in non-acquisition and demonstrate non-acquisitive thought, word and deed. 7. Wuzhuxing 無著行 - The 'practice of non-attachment.' In this practice, bodhisattvas, with minds free from attachment, can in every successive instant enter into countless worlds and adorn and purify these countless worlds, their minds free from attachment to anything in these worlds. 8. nandexing 難得行 - The 'practice of that which is difficult to attain.' Here, bodhisattvas perfect inconceivable roots of goodness which are difficult to attain, and supreme understanding of the Buddha's teaching which is difficult to attain. 9. shanfaxing 善法行 - The 'practice of good teachings.' Here, bodhisattvas act as pure, cool reservoirs of truth for the sake of beings of all worlds--celestial and human beings, devils and gods, ascetics and priests, etc. 10. zhenshixing 眞實行 - The 'practice of truth.' Bodhisattvas perfect true speech--they can act in accord with what they say, and speak according to what they do. => Mười công hạnh tu tập. Mười trong 52 giai vị của Bồ-tát được ghi trong Kinh Pháp Hoa. Mười hạnh nầy là tu tập vì lợi ích cho tất cả chúng sinh. 1. Hoan hỷ hạnh: Bồ-tát bố thí với tinh thần vô ngã, không mong cầu quả báo. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ-tát duy trì sự thanh tịnh tâm ý, không dính mắc vào sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô vi nghịch hạnh: Bồ-tát thực hành kham nhẫn và khoan dung, khiêm hạ và cung kính, không làm tổn hại mình cũng như người khác. 4. Vô khuất náo hạnh: Bồ-tát tu tập bằng năng lực to lớn vô thượng, tự nhiên vượt khỏi tam độc tham, sân, si. 5. Vô si loạn hạnh: Bồ-tát tu tập chính niệm viên mãn, tâm không còn giãi đãi và dao động, an định, hoàn toàn thanh tịnh, không ngằn mé, không còn vô minh hay mê mờ. 6. Thiện hiện hạnh: Thân, khẩu ý của Bồ-tát đều thanh tịnh, an trú trong vô sử đắc và thể hiện vô sở đắc qua thân, khẩu, ý. 7. Vô trước hạnh: Tâm Bồ-tát không còn chấp trước, trong mọi thời có thể di vào vô số thế giới để trang nghiêm và thanh tịnh hoá vô ssố thế giới nầy mà tâm không vướng mắc vào bất kỳ điều gì trong các cõi giới nầy. 8. Nan đắc hạnh: Bồ-tát hoàn tất vô số thiện căn khó nghĩ khó thành, và thông hiểu rốt ráo giáo lý khó chứng đắc của chư Phật. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ-tát hành xử như là biển chân như thanh tịnh, trong lành vì lợi lạc cho toàn thể chúng sinh trong mọi cõi giới-chư thiên và loài người , ma quỷ và thiện thần, ngoại đạo và tăng sĩ. 10. Chân thật hạnh: Bồ-tát thành tựu lời nói chân thực--hành xử tương ứng với điều mình nói, và nói tương ưng với điều mình làm.
thập hải
Ten oceans—See Mười Thứ Hải Của Chư Đại Bồ Tát.
; (十海) I. Thập Hải. Chỉ cho 10 cảnh giới mà đức Phật khai ngộ, rộng lớn vô biên như biển cả khó suy lường được nên dùng biển(hải) để ví dụ.Cứ theo phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản dịch cũ) thì Thập hải là: 1. Thế giới hải: Nơi đức Phật giáo hóa. 2. Chúng sinh hải: Chúng sinh được giáo hóa. 3. Pháp giới phương tiện hải: Pháp giới này có 4 nghĩa: Lí tính(bản tính chân thực xưa nay vốn sẵn có), nhiễm sự(các hiện tượng mê), li cấu(lìa các phiền não) và tịnh dụng (tác dụng của bồ đề thanh tịnh). 4. Điều phục hải: Căn dục của chúng sinh được Phật điều phục. 5. Phật hải: Người chủ của việc giáo hóa nhiều vô lượng, thuyết pháp khắp nơi. 6. Ba la mật hải: Phương pháp thực hành do đức Phật nói và hành vi thực hành của Ngài. 7. Pháp môn hải: Giáo pháp do Phật chỉ dạy và pháp do Phật tu hành chứng ngộ.8. Hóa thân hải: Những hình tướng mà Phật biến hiện tùy theo đối tượng giáo hóa.9. Phật danh hiệu hải: Tùy theo đối tượng mà thị hiện các danh hiệu. 10. Phật thọ lượng hải: Tùy theo đối tượng mà Phật thị hiện thọ lượng dài, ngắn tự tại. Trong kinh Hoa nghiêm quyển 3 (bản dịch cũ) cũng có thuyết Ngũ hải thập trí, nhưng tên hơi khác với phẩm Như lai hiện tướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch mới). [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].II. Thập Hải. Chỉ cho 10 đức nhân của Bồ tát sâu rộng như biển nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch mới). Đó là: 1. Nhất thiết bồ tát thệ nguyện hải: Biển thệ nguyện của tất cả Bồ tát. 2. Nhất thiết bồ tát phát thú hải: Biển phát thú của tất cả Bồ tát. 3. Nhất thiết bồ tát trợ đạo hải: Biển trợ đạo của tất cả Bồ tát. 4. Nhất thiết bồ tát thừa hải: Biển pháp môn của tất cả Bồ tát. 5. Nhất thiết bồ tát hạnh hải: Biển hạnh của tất cả Bồ tát. 6. Nhất thiết bồ tát xuất li hải: Biển xuất li của tất cả Bồ tát. 7. Nhất thiết bồ tát thần thông hải: Biển thần thông của tất cả Bồ tát. 8. Nhất thiết bồ tát ba la mật hải: Biển ba la mật của tất cả Bồ tát. 9. Nhất thiết bồ tát địa hải: Biển địa của tất cả Bồ tát. 10. Nhất thiết bồ tát trí hải: Biển trí của tất cả Bồ tát.
Thập Hắc Nghiệp Đạo
(十黑業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.
thập hệ phược
Ten bonds—See Mười Điều Ràng Buộc.
thập hồi hướng
455菩薩修行五十二階位中,指從第三十一位至第四十位。迴向,乃以大悲心救護一切眾生之意。又作十迴向心,略稱十向。即:(一)救護一切眾生離眾生相迴向,即行六度四攝,救護一切眾生,怨親平等。(二)不壞迴向,於三寶所得不壞之信,迴向此善根,令眾生獲得善利。(三)等一切佛迴向,等同三世佛所作之迴向,不著生死,不離菩提而修之。(四)至一切處迴向,以由迴向力所修之善根,遍至一切三寶乃至眾生之處,以作供養利益。(五)無盡功德藏迴向,隨喜一切無盡善根,迴向而作佛事,以得無盡功德善根。(六)隨順平等善根迴向,即迴向所修之善根,為佛所守護,能成一切堅固善根。(七)隨順等觀一切眾生迴向,即增長一切善根,迴向利益一切眾生。(八)如相迴向,順真如相而將所成之善根迴向。(九)無縛無著解脫迴向,即於一切法無取執縛著,得解脫心,以善法迴向,行普賢之行,具一切種德。(十)法界無量迴向,即修習一切無盡善根,以此迴向,願求法界差別無量之功德。十迴向攝於十三住中之解行住,五位中之資糧位,正當於地前三賢中之後十位,六種性中之道種性。〔舊華嚴經卷十五至卷二十二、菩薩瓔珞本業經卷上聖賢名字品、法華經玄義卷五上〕
; Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi Sơ hồi hướng đến ngôi Thập hồi hướng, thuộc giai đoạn thứ ba của Tam Hiền.
; Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về thập hồi hướng như sau—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten transferences as follows: 1) Cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh hồi hướng: Transference apart from appearances—Người thiện nam đó, đã mãn túc thần thông, thành Phật sự rồi, thuần khiến tinh chân, xa lìa các lưu hoạn. Nên độ chúng sanh, diệt trừ tướng độ, xoay tâm vô vi đến đường Niết Bàn. Đó gọi là cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng—When these good persons replete with spiritual penetrations, have done the Buddhas' work, are totally pure and absolutely true, and remain distant from obstacles and calamities, then they take living beings across while casting aside the appearance of taking them across. They transform the unconditioned mind and go toward the path of nirvana. This is called the transference of saving and protecting living beings, while apart from the appearance of living beings. 2) Bất hoại hồi hướng: Transference of indestructibility—Bỏ cái đáng bỏ, xa lìa cái đáng xa lìa, gọi là bất hoại hồi hướng—To destroy what should be destroyed and to remain what should be behind is called the transference of indestructibility. 3) Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Transference of sameness with all Buddhas—Bản giác trạm nhiên, giác trí đã đồng ngang với chư Phật—Fundamental enlightenment is profound indeed, an enlightenment equal to the Buddhas's enlightenment. 4) Trí nhất thiết xứ hồi hướng: Transference of reaching all places—Tinh chân phát minh, địa vị đồng với địa vị của chư Phật—When absolute truth is discovered, one's level is the same as the level of all Buddhas. 5) Vô tận công đức tạng hồi hướng: Transference of the treasury of inexhaustible merit and virtue—Thế giới và Như Lai xen vào nhau được không chướng ngại—Worlds and Thus Come Ones include one another without any obstruction. 6) Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Transference of the identity of all good roots—Đối với đồng Phật địa, trong địa vị đều sinh nhân thanh tịnh. Nương theo nhân ấy phát huy để lấy đạo Niết Bàn—Since they are identical with the Buddha-ground, they create causes which are pure at each and every level. Brilliance emanates from them as they rely on these causes, and they go straight down the path to Nirvana. 7) Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng: Transference of contemplating all living beings equally—Chân căn đã thành, mười phương chúng sanh đều là bản tánh của ta. Tính viên mãn thành tựu, chẳng sót mất chúng sanh—When the true roots are set down, then all living beings in the ten directions are my own nature. Not a single being is lost, as this nature is successfully perfected. 8) Chân như tướng hồi hướng: Transference of the appearance of True Suchness—Tức tất cả pháp xa lìa hết thảy tướng. Tức và ly, hai cái đều không mắc—All dharmas are themselves apart from all appearances, and yet there is no attachment either to their existence or to separation from them. 9) Vô phược giải thoát hồi hướng: Transference of liberation—Được chân như mười phương không ngăn ngại—That which is thus is truly obtained, and thee is no obstruction throughout the ten directions. 10) Pháp giới vô lượng hồi hướng: Transference of limitlessness of the Dhama Realm—Tính đức đã thành tựu hoàn toàn, pháp giới không còn hạn lượng—When the virtue of the nature is perfectly accomplished, the boundaries of the dharma realm are destroyed. ** For more information, please see Ten kinds of Dedications expounded by the Buddhas of past, present and future (The Flower Adornment Sutra—Chapter 25—Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 25—Thập Hồi Hướng).
; (十回向) Cũng gọi Thập hồi hướng tâm. Gọi tắt: Thập hướng. Chỉ cho 10 giai vị, từ giai vị thứ 31 đến 40 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng: Tức giai vị thực hành Lục độ, Tứ nhiếp, cứu hộ tất cả chúng sinh, kẻ oán, người thân đều bình đẳng. 2. Bất hoại hồi hướng: Giai vị đã có được niềm tin bất hoại đối với Tam bảo,hồi hướng căn lành này, khiến chúng sinh được lợi ích tốt đẹp. 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Giống như sự hồi hướng của chư Phật 3 đời, tu hành không đắm trước sinh tử, không lìa bỏ bồ đề. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng đến khắp tất cả các nơi từ Tam bảo cho đến chúng sinh để làm lợi ích cúng dường. 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: Tùy hỉ tất cả thiện căn vô tận, hồi hướng làm Phật sự để được vô tận công đức thiện căn.6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Hồi hướng các thiện căn đã tu, được Phật che chở, thành tựu tất cả căn lành bền vững. 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Tức nuôi lớn tất cả gốc lành để hồi hướng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 8. Như tướng hồi hướng: Thuận theo tướng chân như mà hồi hướng các thiện căn đã thành tựu. 9. Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng: Tức đối với tất cả pháp không để bị vướng mắc, trói buộc, được tâm giải thoát, đem thiện pháp hồi hướng, thực hànhhạnhPhổ hiền, đầy đủ mọi đức. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng: Tức tu tập tất cả thiện căn vô tận, đem hồi hướng các thiện căn này để nguyện cầu vô lượng công đức trong pháp giới sai biệt.Hồi hướng hàm ý là dùng tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Thập hồi hướng thuộc về Giải hành trụ trong 13 Trụ, Tư lương vị trong 5 vị, 10 giai vị sau trong Tam hiền và Đạo chủng tính trong 6 Chủng tính. [X. kinh Hoa nghiêm Q.15-22 (bản dịch cũ); phẩm Thánh hiền danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng].
Thập hồi hướng 十廻向
[ja] ジュウエコウ jū ekō ||| 'Ten dedications (of merit).' A group of ten of the fifty-two stages of the path of bodhisattvahood in Mahāyāna Buddhism. Returning the fruits of all of one's practice to all sentient beings. These ten are: 1. jiuhuzhongshenglizhongshengxiang 救護衆生離衆生相 'Dedication to saving all beings without any mental image of sentient beings.' The stage where one, while using the mind of no-aspects to save sentient beings, is still separated from the aspects of 'not-yet-saved beings.' 2. buhuai 不懷 - 'indestructible dedication.' The rank where one sees emptiness easily without analyzing all dharmas. 3. dengyiqiefo 等一 - 'Dedication equal to all Buddhas.' The stage where one continually broadly penetrates the teachings of all the Buddhas of the three worlds. 4.zhiyiqiechu 至一切處 - 'dedication reaching all places.' The stage where one enters all Buddha-lands and practices cultivation together with all Buddhas. 5.wujingongdemie 無盡功徳滅 - 'dedication of inexhaustible treasuries of merit.' The stage of teaching people the meritorious dharma of the ever-present buddha-nature without exhaustion. 6.suishunpingdengshangen 隨順平等善根 - 'Dedication causing all roots of goodness to endure.' The stage of practicing the virtues of the middle path of no-outflow, and seeing that good and evil are not two. 7.suishundengguanyiqiezhongsheng 隨順等觀一切衆生 - 'Dedication equally adapting to all sentient beings.' The stage where one sees that the good and evil actions of all sentient beings are not distinguished. 8.zhenruxiang 眞如相 - 'Dedication with the character of true thusness.' The stage where the bodhisattva, using the wisdom of the middle path, clarifies existence and non-existence, and sees that everything is the reality-realm. 9. Wufujietuo 無縛解脱 - 'unbound liberated dedication.' The stage where one breaks off attachment with the view of all dharmas being the same, which he experiences through the wisdom of prajñāpāramitā. 10. fajiewuliang 法界無量 - 'Boundless dedication equal to the cosmos.' The stage where the bodhisattva witnesses that all existences are the middle path without aspects. => Mười trong 52 giai vị của Bồ-tát đạo trong Phật giáo Đại thừa. Hồi hướng kết quả tu tập của hành giả cho tấy cả chúng sinh. Đó là: 1. Cứu hộ chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi hướng: khi đem tâm bình đẳng cứu độ chúng sinh, mà vẫn tách rời ý tưởng "không có chúng sinh nào được cứu độ" 2. Bất hoại hồi hướng: nhận ra tính không dễ dàng không qua phân tích. 3. Đẳng nhất hồi hướng: hành giả tiếp tục thâm nhập giáo lý của chư Phật trong tam giới. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: hành giả đi vào các Phật độ và thực hành các công hạnh cùng với chư Phật . 5. Vô tận công đức diệt hồi hướng 無盡功徳滅 c: wujingongdemie: giai vị có khả năng dạy cho chúng sinh biết pháp công đức Phật tính hằng hữu không bao giờ hoại diệt. 6. Tuỳ thuận bình đẳng thiện căn công đức hồi hướng 隨順平等善根 c: suishunpingdengshangen: giại vị tu tập công đức vô lậu trung đạo, thấy rằng thiện ác chẳng phải hai. 7. Tuỳ thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng 隨順等觀一切衆生 c: suishundengguanyiqiezhongsheng: thấy mọi hành vi thiện ác của chúng sinh mà không phân biệt. 8. Chân như tướng hồi hướng: 眞如相c: zhenruxiang: giai vị mà Bồ-tát dùng trí tuệ trung đạo, để gạn lọc cái có và không, thấy rằng các pháp đều là chân như. 9. Vô phược giải thoát hồi hướng 無縛解脱 c: Wufujietuo: giai vị hành giả phá vỡ mọi kiến chấp các pháp là bình đẳng, chứng nhập trí tuệ Bát-nhã. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng 法界無量c: fajiewuliang: giai vị Bồ-tát chứng thực rằng mọi hiện hữu đều là trung đạo, không thiên chấp.
thập khoa
(十科) Bộ Tục cao tăng truyện 30 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được chia làm 10 khoa theo hạnh tu của các bậc cao tăng trong truyện. Đó là: 1. Phiên dịch: Phiên dịch tiếng Phạm ra chữ Hán, như ngài Bảo xướng đời Lương, ngài Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy... 2. Giải nghĩa: Thấu hiểu ý nghĩa sâu xa trong các kinh do đức Phật giảng nói, như ngài Tăng mân, Tuệ trừng... đời Lương. 3. Tập thiền: Các vị chuyên tu tập thiền định, như ngài Đạo trân đời Lương, ngài Pháp sung đời Tùy... 4. Minh luật: Gồm các vị hiểu rõ ý nghĩa của giới luật do đức Phật chế định, như ngài Giác lãng đời Tùy, ngài Tuệ tiển đời Đường... 5. Cảm thông: Gồm các vị hiển hiện thần diệu cảm ứng, như Thiền sư Vạn tứ, Thiền sư Nguyên Khuê đời Đường. 6. Di thân: Gồm các vị trọng pháp quên mình, phát tâm mạnh mẽ, phấn chấn tinh tiến, một niềm cầu đạo, đến nổi bỏ thân mệnh cũng không tiếc, như các ngài Pháp khoáng, Đạo hưu... đời Đường. 7. Đọc tụng: Gồm các vị chuyên đọc tụng văn kinh để cầu diệt tội sinh phúc, hoặc cầu tâm địa mở tỏ, hiển phát trí tuệ, như ngài Thiện tuệ, Tuệ thuyên đời Đường. 8. Hộ pháp: Chỉ cho các vị phát đại nguyện giữ gìn Phật pháp truyền lại cho đời sau, mong cầu giáo pháp của đức Phật trường tồn. Như ngài Đàm vô tối đời Nguyên Ngụy, ngài Tăng mãnh đời Tùy... 9. Hưng phúc: Chỉ cho các vị chuyên tạo phúc lợi, như các ngài Trí thông, Tuệ vân... đời Đường. 10. Tạp khoa: Chỉ cho các vị gồm tu cả 9 khoa nói ở trên, lại nghiên cứu cả kinh sách thế gian, ngôn ngữ răn đời, lễ nhạc văn chương... đều thông hiểu, như ngài Tuệ thường đời Tùy, ngài Bảo nham đời Đường...
thập khoái
The ten inexpressible joys of the Pure Land.
thập kim cang tâm
Mười tâm Kim Cang phát triển bởi Bồ Tát—Ten characteristics of the “Diamond heart” as developed by a Bodhisattva: 1) Giác liễu pháp tánh: Complete insight into all truth. 2) Hóa độ chúng sanh: Saving of all creatures. 3) Trang nghiêm thế giới: The glorifying of all Buddha-worlds. 4) Thiện căn hồi hướng: Transference of his good deeds. 5) Phụng sự đại sư: Services of all Buddhas. 6) Thật chứng chư pháp: Realization of the truth of all Buddha-laws. 7) Quảng hành nhẫn nhục: Manifestation of all patience and endurance. 8) Trường thời tu hành: Unflagging devotion to his vocation. 9) Tự hạnh mãn túc: perfection of his work. 10) Linh tha nguyện mãn: Aiding to all fulfill their vows and accomplish their spiritual ends.
thập kim cương tâm
451<一>指華嚴經卷五十五離世間品所說之菩薩十種堅固願心,以其堅固如金剛,故稱十金剛心。即:(一)覺了法性,菩薩發大願心,誓欲了解無量無邊不可窮盡之一切微妙法門,不使有任何遺餘。(二)化度眾生,菩薩以無上涅槃道,度脫十方無量無邊一切眾生,悉使出離諸趣。(三)莊嚴世界,菩薩謂十方世界無量無邊不可窮盡,我當以諸佛國土最上莊嚴之具莊嚴之。(四)迴向善根,菩薩以種種修行之善根,悉皆迴向於無上之佛果菩提及法界眾生。(五)事奉大師,菩薩以所修之善根功德,事奉供養無量無邊一切諸佛,悉使周遍無所缺少。(六)實證諸法,菩薩於諸法實相之理,非實非虛,非有非無,悉皆真實證知。(七)廣行忍辱,菩薩被眾生呵罵,或楚撻,或被截手足、割耳鼻,如是悉皆能忍受,無有瞋恨。(八)長時修行,菩薩謂未來世劫無量無邊不可窮盡,我當盡彼之劫,行菩薩道,教化眾生,永不疲倦。(九)自行滿足,菩薩建立妙行,以心為主,心體寂靜,則能圓滿一切功德善根,具足無上大菩提道。(十)滿足他願,菩薩自行既滿,慈悲之心轉更增上,故為求解脫者,教涅槃之道;為求佛法者,說大乘之法,悉使其願心滿足。 <二>地前菩薩所修行之十種心。梵網經卷上說三十心,其中金剛心為最後之十心。從十長養心入堅修忍中,有十金剛心向果,即:(一)信心,(二)念心,(三)迴向心,(四)達心,(五)直心,(六)不退心,(七)大乘心,(八)無相心,(九)慧心,(十)不壞心。從此十金剛心入堅聖忍中。明代智旭之梵網經合註卷二以此十金剛心類似於圓教之十信;梵網經菩薩戒本疏卷上則謂十金剛即十迴向。
; Ten characteristics of the "diamond heart" as developed by a bodhisattva: (1) Giác liễu pháp tính, complete insight into all truth; (2) Hóa độ chúng sinh, saving of all creatures; (3) Trang nghiêm thế giới, glorifying all Buddha-worlds; (4) Thiện căn hồi hướng, supererogation of his good deeds; (5) Phụng sự Đại sư, service of all Buddhas; (6) Thật chứng chư pháp, realization of the truth of all Buddha-laws; (7) Quảng hành nhẫn nhục, manifestation of all patience and endurance; (8) Trường thời tu hành, unflagging devotion to his vocation; (9) Tự hạnh mãn túc, perfection of his work; (10) Linh tha nguyện mãn, aiding all to fulfil their vows and accomplish their spiritual ends.
; (十金剛心) I. Thập Kim Cương Tâm. Chỉ cho 10 nguyện tâm bền chắc như kim cương của Bồ tát nói trong phẩm Li thế gian, kinh Hoa nghiêm quyển 55. Đó là: 1. Giác liễu pháp tính: Rõ biết pháp tính. Nghĩa là Bồ tát phát thệ nguyện lớn hiểu rõ vô lượng vô biên bất khả cùng tận tất cả pháp môn vi diệu, không để sót một pháp nào. 2. Hóa độ chúng sinh: Bồ tát dùng đạo Niết bàn vô thượng độ thoát vô lượng vô biên chúng sinh trong 10 phương, khiến ra khỏi đường ác. 3. Trang nghiêm thế giới: Bồ tát cho rằng vô lượng vô biên thế giới trong 10 phương không cùng tận, ta nên dùng các vật trang nghiêm tối thượng ở các cõi nước của chư Phật để làm đẹp đẽ các thế giớiấy. 4. Hồi hướng thiện căn: Bồ tát đem tất cả thiện căn tu được để hồi hướng về quả Phật bồ đề vô thượng và chúng sinh trong pháp giới. 5. Sự phụng đại sư: Bồ tát đem tất cả căn lành tu được để dâng lên cúng dường vô lượng vô biên chư Phật và làm cho trùm khắp mọi nơi, không chỗ nào thiếu sót. 6. Thực chứng chư pháp: Thực chứng các pháp. Nghĩa là Bồ tát đối với lí thực tướng các pháp, chẳng thực chẳng hư, chẳng có chẳng không, tất cả đều chứng biết một cách như thực. 7. Quảng hành nhẫn nhục: Thực hành hạnh nhịn nhục. Nghĩa là nếu Bồ tát bị các chúng sinh chửi mắng, hoặc đánh đập, thậm chí bị chặt chân tay, cắt đứt tai mũi, tất cả cái đó Bồ tát đều chịu đựng được, không hề tức giận, oán hận. 8. Trường thời tu hành:Tu hành lâu dài. Nghĩa là Bồ tát cho rằng các kiếp trong đời vị lai vô lượng vô biên không cùng tận, ta sẽ ở trong các kiếp tu hành đạo Bồ tát, giáo hóa chúng sinh, mãi không mệt mỏi.9. Tự hành mãn túc: Tự mình tu hành đầy đủ. Nghĩa là Bồ tát kiến lập diệu hạnh, lấy tâm làm chính, tâm thể vắng lặng thì có khả năng đầy đủ tất cả công đức thiện căn, thành tựu đạo đại Bồ đề vô thượng. 10. Mãn túc tha nguyện: Làm cho nguyện tâm của người cũng được viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tự mình đã đầy đủ các nguyện, thì tâm từ bi càng tăng thêm, cho nên vì những người cầu giải thoát mà dạy đạo Niết bàn; vì người cầu Phật pháp mà nói pháp Đại thừa, tất cả đều làm cho nguyện tâm của họ được mãn túc. II. Thập Kim Cương Tâm. Chỉ cho 10 thứ tâm tu hành của Bồ tát trước Thập địa. Kinh Phạm võng quyển thượng ghi 30 tâm, trong đó, Kim cương tâm là 10 tâm sau cùng. Từ 10 tâm Trưởng dưỡng vào trong Kiên tu nhẫn có 10 tâm Kim cương hướng quả, đó là: Tín tâm, Niệm tâm, Hồi hướng tâm, Đạt tâm, Trực tâm, Bất thoái tâm, Đại thừa tâm, Vô tướng tâm, Tuệ tâm và Bất hoại tâm. Từ 10tâmKim cương này nhập vào Kiên thánh nhẫn. Phạm võng kinh hợp chú quyển 2 của ngài Trí húc đời Minh cho rằng Thập kim cương tâm này giống với Thập tín của Viên giáo; còn Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển thượng thì cho rằng Thập kim cương chính là Thập hồi hướng.
Thập kiên tâm 十堅心
[ja] ジュウケンシン jūkenshin ||| Equivalent to 十廻向. => Tương đương Thập hồi hướng 十廻向.
thập kiến
The ten wrong views.
thập kiếp
435劫,指長久之時間單位。阿彌陀佛在過去世為法藏比丘,於修行時,立四十八願以期成佛。自成佛以來,至今十劫。阿彌陀經及無量壽經上皆有阿彌陀佛成佛,至今已十劫之記載。但依所譯之不同,亦有為十小劫或十大劫之說。〔法華經化城喻品、無量壽經卷上〕(參閱「十劫彌陀」435)
; The ten kalpas that have expired since Amitàbha made his forty vows,, or thập kiếp chính giác attained complete bodhi, hence he is styled thập kiếp Di Đà. These ten kalpas as seen by Phổ Hiền are thập kiếp tu du but as a moment.
; Mười kiếp đã qua từ khi Phật A Di Đà thệ nguyện 48 lời nguyền—The ten kalpas that have expired since Amitabha made his forty-eight vows, or to complete his bodhi.
; (十劫) Kiếp là đơn vị thời gian rất lâu dài; Thập kiếp chỉ cho 10 kiếp, tức khoảng thờigian từ khi đức Phật A di đà đã thành Phật cho đến nay. Theo kinh A di đà và kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì đức Phật A di đà thành Phật cho đến nay đã trải qua 10 kiếp; nhưng tùy theo chỗ dịch khác nhau mà cũng có thuyết cho là 10 tiểu kiếp, hoặc 10 đại kiếp. [X. phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. Thập Kiếp Di Đà).
thập kiếp di đà
435乃指阿彌陀佛。據無量壽經卷上載,阿彌陀佛於距今十劫之往昔,即已開悟成佛,是為十劫彌陀。又作十劫正覺、十劫成佛。此蓋相對於久遠彌陀而言,久遠以來即已成佛之阿彌陀佛是為久遠彌陀。有關此久遠、十劫二彌陀之關係,說法不一。一般皆針對久遠之彌陀,謂十劫彌陀為方便佛。然日本淨土宗即依十劫彌陀為中心而立教,其方便即是無上方便,故說十劫即久遠、久遠即十劫,兩者無輕重之別,十劫彌陀與久遠彌陀亦同為真實,即所謂相即之妙法身,稱為十久兩實。
; See Thập kiếp.
; (十劫彌陀) Cũng gọi Thập kiếp chính giác, Thập kiếp thành Phật. Chỉ cho đức Phật A di đà. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì Phật A di đà ở thời quá khứ là tỉ khưu Pháp tạng, trong khi tu hành có lập 48 điều nguyện mong cầu thành Phật, từ khi Ngài thành Phật đến nay đã qua 10 kiếp, đó là Thập kiếp Di đà. Thập kiếp Di đà là đối lại với Cửu viễn Di đà, tức Phật A di đà đã thành Phật từ rất lâu xa. Về mối quan hệ giữa Cửu viễn Di đà và Thập kiếp Di đà thì có nhiều thuyết khác nhau. Nói chung đều cho rằng Thập kiếp Di đà là Phật phương tiện, còn Cửu viễn Di đà mới là Phật chân thực. Nhưng tông Tịnh độ của Phật giáo Nhật bản thì y cứ vào Thập kiếp Di đà làm trung tâm mà lập giáo, phương tiện của Ngài chính là phương tiện vô thượng, vì thế nên Thập kiếp tức Cửu viễn, Cửu viễn tức Thập kiếp. Thập kiếp Di đà và Cửu viễn Di đà đều là chân thực, không bên nào khinh, không bên nào trọng. Đó chính là Diệu pháp thân tương tức, gọi là Thập Cửu lưỡng thực.
thập kiếp tu du
435指久遠之十劫時間即如短暫之一念須臾。此乃依華嚴十玄門之意,念與劫融通。例如彌陀之成佛,由凡情觀之,至今總歷十劫。由普賢眼觀之,則為現前之正覺。十萬億佛土,亦可以「十劫須臾」之觀點來測知。(參閱「須臾」5360)
; (十劫須臾) Thời gian 10 kiếp chỉ như một niệm ngắn ngủi. Đây là ý nghĩa niệm và kiếp dung thông nhau theo lí của Thập huyền môn trong kinh Hoa nghiêm. Chẳng hạn nhưviệc thành Phật của đức Di đà nếu nhận xét theo quan niệm phàm phu thì đến nay đã trải qua 10 kiếp. Nhưng theo nhãn quan Phổ hiền thì thành Chính giác trong hiện tiền. (xt. Tu Du).
thập kiết sử
See Samyojana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Kiết Sử, Ngũ Hạ Phần Kết, Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.
Thập kết 十結
[ja] ジュウケツ jūketsu ||| The ten fetters;" ten kinds of defilements which bind sentient beings to saṃsāra: desire 貪欲, anger 瞋恚, pride 慢, false views 見, doubt 疑, attachment to discipline 戒禁取, attachment to existence 有貪, jealousy 嫉, parsimony 慳, ignorance 無明. => Mười thứ nhiễm ô ràng buộc chúng sinh vào trong luân hồi: Tham dục, Sân khuể, Mạn, Kiến, Nghi, Giới cấm thủ, Hữu tham, Đố, Xan, Vô minh.
thập la sát nữ
501即守護受持法華經者之十位羅剎女。典出於法華經卷七陀羅尼品、正法華經卷十總持品。特為日本天台宗、日蓮宗所尊崇。(一)藍婆羅剎女(梵 Lambā),又稱有結縛羅剎女,係右手按劍,左手持經卷之像。(二)毘藍婆羅剎女(梵 Vilambā),又稱離結羅剎女,雙手敲鈸。(三)曲齒羅剎女,又稱施積羅剎女,手持花籠。(四)華齒羅剎女(梵 Puṣpa-dantī),又稱施華羅剎女,右手下垂,屈左手以持寶珠。(五)黑齒羅剎女(梵 Makuṭa),又稱施黑羅剎女,左手執寶幢,屈右手置於胸前。(六)多髮羅剎女(梵 Keśīnī),又稱被髮羅剎女,右手執寶幢,屈左手置於胸前。(七)無厭足羅剎女(梵 Acalā),又稱無著羅剎女,左手執水瓶,右手執蓮瓣。(八)持瓔珞羅剎女(梵 Mālā-dhārī),又稱持華羅剎女,兩手持瓔珞。(九)皐帝羅剎女(梵 Kuntī),又稱何所羅剎女,雙手捧持經篋。(十)奪一切眾生精氣羅剎女(梵 Sarvasattvojahārī),又稱取一切精羅剎女,雙手合十。十位皆為立像。另於「法華十羅剎法」中,有詳盡而荬異之記載。此外,蓮華三昧經說初四羅剎為淨行等四大菩薩、第五為釋迦佛、次四者為八葉之四大菩薩、第十為多寶如來。並菩薩處胎時、初生及生後,此等羅剎女常衛護之。〔孔雀明王經卷中、吽迦陀野儀軌卷下、法華經文句卷十下、法華義疏卷十二、佛像圖彙卷三〕(參閱「十羅剎女神本地」502)
; Mười La sát Nữ được nói đến trong Kinh Liên Hoa—The ten raksasi or demonesses mentioned in the Lotus Sutra: 1) Lam-bà: Lamba—Who is associated with Sakyamuni. 2) Tỳ-lam-bà: Vilamba—Who is associated with Amitabha. 3) Khúc Xỉ: Kutadanti—Who is associated with Bhaisajya (Dược Sư Phật). 4) Hoa Xỉ: Puspadanti—Who is associated with Prabhutaratna (Đa Bảo Như Lai). 5) Hắc Xỉ: Makutadanti—Who is associated with Vairocana (Đại Nhựt Như Lai). 6) Đa Phát: Kesini—Who is associated with Samantabhadra (Phổ Hiền). 7) Vô-Yểm-túc: Acala—Who is associated with Manjusri (Văn Thù). 8) Trì-Anh-Lạc: Maladhari—Who is associated with Maitreya (Di Lặc). 9) Cao-đế: Kunti—Who is associated with Avalokitesvara (Quán Âm). 10) Đoạn nhứt thiết chúng sanh tinh khí: Sarvasattvaujohari—Who is associated with Ksitigarbha (Earth Store Địa Tạng).
; (十羅刹女) Chỉ cho 10 vị nữ La sát bảo vệ người thụ trì kinh Pháp hoa được ghi trong phẩm Đà la ni quyển 7 của kinh Pháp hoa và phẩm Tổng trì quyển 10 của kinh Chính pháp hoa, đặc biệt được các tông Thiên thai và Nhật liên của Phật giáo Nhật bản tôn sùng. Đó là: 1. Lam bà la sát nữ (Phạm:Lambà), cũng gọi Hữu kết phược la sát nữ. Vị này tay phải ấn lên thanh kiếm, tay trái cầm quyển kinh. 2. Tì lam bà la sát nữ (Phạm: Vilambà), cũng gọi Li kết la sát nữ. Vị này 2 tay gõ não bạt. 3. Khúc xỉ la sát nữ, cũng gọi Thi tích la sát nữ. Vị này tay phải cầm lẵng hoa. 4. Hoa xỉ la sát nữ (Phạm: Puwpadantì), cũng gọi Thi hoa la sát nữ. Vị này tay phải thõng xuống, tay trái co lại và cầm bảo châu. 5. Hắc xỉ la sát nữ (Phạm:Makuỉa), cũng gọi Thi hắc la sát nữ. Vị này tay trái cầm cờ báu, tay phải co lại để trước ngực. 6. Đa phát la sát nữ(Phạm:Kezìnì), cũng gọi Bị phát la sát nữ. Vị này tay phải cầm cờ báu, tay trái co để ở trước ngực. 7. Vô yếm túc la sát nữ (Phạm: Acalà), cũng gọi Vô trước la sát nữ. Vị này tay trái cầm bình nước, tay phải cầm cánh hoa sen. 8. Trì anh lạc la sát nữ (Phạm:Màlàdhàrì), cũng gọi Trì hoa la sát nữ. Vị này 2 tay cầm chuỗi anh lạc. 9. Cao đế la sát nữ (Phạm:Kuntì), cũng gọi Hà sở la sát nữ. Vị này 2 tay bưng hộp để kinh. 10. Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí la sát nữ(Phạm:Sarvasttvojahàrì), cũng gọi Thủ nhất thiết tinh la sát nữ. Vị này chắp 2 tay. Tượng của 10 vị La sát nữ này đều là tượng đứng. Trong Pháp hoa thập la sát pháp ghi chép rất tường tận về Thập la sát nữ, nhưng lại khác xa với 10 vị trên đây. Ngoài ra, kinh Liên hoa tam muội cho rằng 4 vị La sát đầu là 4 vị Đại Bồ tát tịnh hạnh, vị thứ 5 là Phật Thích ca, 4 vị kế là 4 vị Đại Bồ tát bát diệp, vị thứ 10 là Đa bảo Như lai. Đồng thời cho rằng lúc Bồ tát ở trong thai, lúc mới sinh ra và sau khi sinh đều được 10 vị La sát này hộ vệ. [X. kinh Khổng tước minh vương Q.trung; Hồng ca đà dã nghi quĩ Q.hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.10, hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Phật tượng đồ vậng Q.3]. (xt. Thập La Sát Nữ Thần Bản Địa).
thập la sát nữ thần bản địa
502依妙法蓮華三昧祕密三摩耶經所說,金剛薩埵問世尊十羅剎之本源,毘盧遮那佛答言,十羅剎女本有三覺,即等覺、妙覺、本覺。初四羅剎女(藍婆、毘藍婆、曲齒、華齒)乃淨行等四大菩薩(上行、無邊行、淨行、安立行),第五羅剎女(黑齒)為釋迦牟尼,以上配屬「妙覺」。中之四羅剎女(多髮、無厭足、持瓔珞、剦帝)為八葉四大菩薩(普賢、文殊、觀音、彌勒),以上配屬「等覺」。第十羅剎(奪一切眾生精氣)為多寶如來,配屬「本覺」。又法華輝臨遊風談卷七以十羅剎女配法華曼荼羅會上之諸尊;法華經鷲林拾葉鈔卷二十四以藍婆為阿閦佛、文殊,毘藍婆為華開敷佛、藥王,曲齒為阿彌陀、藥上等。(參閱「十羅剎女」502)
; (十羅刹女神本地) Tức bản địa của 10 vị La sát nữ được nói trong kinh Diệu pháp liên hoa tam muội bí mật tam ma da. Mười La sát nữ vốn có 3 giác, tức Đẳng giác, Diệu giác và Bản giác. Bốn vị La sát nữ đầu(Lam bà, Tì lam bà, Khúc xỉ, Hoa xỉ) là 4 vị Đại Bồ tát tịnh hạnh(Thượng hạnh, Vô biên hạnh, Tịnh hạnh, An lập hạnh), vị La sát nữ thứ 5(Hắc xỉ) là Phật Thích ca Mâu ni, 5 vị trên đây thuộc Diệu giác. Bốn vị La sát kế đó (Đa phát, Vô yếm túc, Trì anh lạc, Cao đế) là 4 vị Đại Bồ tát bát diệp(Phổ hiền, Văn thù, Quan âm, Di lặc), 4 vị này thuộc về Đẳng giác. Vị La sát thứ 10(Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí) là Đa bảo Như lai, thuộc Bản giác. Pháp hoa huy lâm du phong đàm quyển 7 phối hợp 10 vị La sát nữ này với chư tôn của hội Pháp hoa mạn đồ la. Còn Pháp hoa kinh thứu lâm thập diệp sao quyển 24 thì cho rằng Lam bà là Phật A súc, Văn thù, Tì lam bà là Phật Hoa khai phu, Dược vương, Khúc xỉ là Phật Di đà, Dược thượng... (xt. Thập La Sát Nữ).
thập la thanh
502即梵語文法中用來表示動詞的時態與語氣之十種語態。此十種語態皆含有寏(la,羅)之聲,故有此名。依唐代義淨之南海寄歸內法傳卷四所載,所謂十羅聲,共有十種羅字,無論發出此十字中任何一字之聲,皆可明了其過、現、未三世之差別。此十種語態又分為兩大類:(一)現實法,即直接 埻z之語態,共有六種:(1)laṭ,表示現在式之語態。(2)laṅ,為表示第一種過去式之語態,又作正過去、小過去。(3)liṭ,為表示第二種過去式之語態,又作已過去、大過去。(4)luṅ,為表示第三種過去式之語態,又作不定過去。(5)ḷiṭ,為表示第一種未來式之語態。(6)luṭ,為表示第二種未來式之語態。(二)可能法,即表示願望、命令、條件等之語態,共有四種:(1)vidhi-liṅ,為表示現在式之願望語態。(2)āśīr-liṅ,為表示過去式之願望語態。(3)loṭ,為表示現在式之命令語態。(4)liṅ,為表示過去式之條件語態。
; (十羅聲) Mười ngữ thái trong văn pháp tiếng Phạm để biểu thị thời gian và ngữ khí của động từ. Vì mười ngữ thái này đều có bao hàm thanh (la), nên gọi là Thập la thanh. Theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 của ngài Nghĩa tịnh đời Đường thì trong Thập la thanh gồm có 10 chữ La, vô luận phát ra thanh của bất cứ chữ nào trong 10 chữ này đều biết rõ sự sai khác về 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai của chữ ấy. Mười ngữ thái này lại chia làm 2 loại lớn là: A. Hiện thực pháp: Ngữ thái trình bày trực tiếp, gồm có 6 thứ: 1.Lạt, ngữ thái biểu thị thời hiện tại. 2.Laí, ngữ thái biểu thị thời quá khứ thứ nhất, cũng gọi Chính quá khứ, Tiểu quá khứ. 3.Liỉ, ngữ thái biểu thị thời quá khứ thứ 2, cũng gọi Dĩ quá khứ, Đại quá khứ. 4.Luí, ngữ thái biểu thị thời quá khứthứ 3, cũng gọi Bất định quá khứ. 5.Ơiỉ, ngữ thái biểu thị thời vị lai thứ nhất. 6.Luỉ, ngữ thái biểu thị thời vị lai thứ 2. B. Khả năng pháp: Ngữ thái biểu thị nguyện vọng, mệnh lệnh, điều kiện... gồm có 4 thứ: 1.Vidhi-lií: Ngữ thái biểu thị nguyện vọng ở thời hiện tại. 2.Àzìr-lií: Ngữ thái biểu thị nguyện vọng ở thời quá khứ. 3.Loỉ: Ngữ thái biểu thị mệnh lệnh ở thời hiện tại. 4.Lií: Ngữ thái biểu thị điều kiện ở thời quá khứ.
Thập La-sát nữ 十羅刹女
[ja] ジュウラセツニョ jū rasetsunyo ||| The ten rākṣasīs. Ten kinds of female demons that protect the dharma in the Lotus Sutra. They are: Lambā 藍婆, Vilambā 毘藍婆, Kūṭadantī 曲齒 (Crooked Teeth), Puṣpa-dantī 華齒, Makuṭa 黑齒 (Black Teeth), Keśīnī 多髮, Acalā 無厭足 (Insatiable); Mālādhāri 持瓔珞 (Necklace Holder), Kuntī 皐帝, and Sarvasattvojahārī 奪一切衆生精氣.〔法華經 T 262.9.59a23〕 => Mười loại nữ thần hộ trì Phật pháp trong Kinh Pháp Hoa. Đó là:Lam bà 藍婆 s: Lambā , Tì lam bà 毘藍婆 (s: Vilambā), Khúc xỉ 曲齒 (s: Kūṭadantī ), Hoa xỉ 華齒 (s: Puṣpa-dantī), Hắc xỉ 黑齒 (s: Makuṭa) Đa phát 多髮 (s: Keśīnī) Vô yếm túc 無厭足 (s: Acalā) Trì anh lạc 持瓔珞 (s:Mālādhāri), Cao đế 皐帝 (s: Kuntī). Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí 奪一切衆生精氣 ( s: Sarvasattvojahārī).
thập lai kệ
442指十種因果法則。佛家示二世之果報有十句,各句均以「來」字作結,故稱「十來」。即:端正者忍辱中來,貧窮者慳貪中來,高位者禮拜中來,下賤者憍慢中來,瘖啞者誹謗中來,盲聾者不信中來,長壽者慈悲中來,短命者殺生中來,諸根不具者破戒中來,六根具足者持戒中來。〔反故集〕
; (十來偈) Chỉ cho bài kệ gồm 10 câu nói về 10 nguyên nhân và quả báo trong 2 đời, mỗi câu đều kết thúc bằng 1 chữ Lai, cho nên gọi là Thập lai. Toàn bài kệ như sau: Đoan chính giả nhẫn nhục trung lai, Bần cùng giả khan tham trung lai, Cao vị giả lễ bái trung lai, Hạ tiện giả kiêu mạn trung lai, Ấm á giả phỉ báng trung lai, Manh lung giả bất tín trung lai, Trường thọ giả từ bi trung lai, Đoản mệnh giả sát sinh trung lai, Chư căn bất cụ giả phá giới trung lai, Lục căn cụ túc giả trì giới trung lai. (Tuấn tú đoan trang do nhẫn nhục Nghèo cùng khốn khó bởi khan tham Địa vị cao sang nhờ lễ bái Thấp hèn đê tiện bời kiêu xa Câm ngọng dại khờ do phỉ báng Mù lòa đui điếc bởi không tin Phóng sinh kết quả vui trường thọ Giết hại chuốc vời khổ chết non Các căn khiếm khuyết do phá giới Tai mắt vẹn toàn bởi giữ nghiêm).
Thập loại
(十類): 10 loại cô hồn. Theo Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō No. 1320), quyển 1, cũng như Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, Taishō No. 1497) quyển 3, có liệt kê 10 loại như: (1) Nhất thiết thủ cương hộ giới, trần lực ủy mạng quân trận tương trì, vị quốc vong thân quan viên tướng sĩ binh tốt cô hồn chúng (一切守疆護界、陳力委命軍陣相持、爲國亡身官員將士兵卒孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của các quan viên, tướng sĩ, binh tốt đã trấn giữ biên cương, đem sức bỏ mạng trong chiến trận, hay vì nước quên mình). (2) Nhất thiết phụ tài thất khiếm mạng, tình thức câu hệ sinh sản trí mạng, oan gia trái chủ đọa thai cô hồn chúng (一切負財欠命、情識拘繫生產致命、冤家債主墮胎孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người không có tiền tài mất mạng, tình cảm vương vào sinh sản mà bỏ mạng, các oan gia trái chủ sẩy thai). (3) Nhất thiết khinh bạc Tam Bảo, bất hiếu phụ mẫu, thập ác ngũ nghịch tà kiến cô hồn chúng (一切輕薄三寶、不孝父母、十惡五逆邪見孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người khinh thường Tam Bảo, không có hiếu thảo với cha mẹ, phạm mười điều ác, năm tội nghịch, tà kiến). (4) Nhất thiết giang hà thủy nịch, đại hải vi thương, phong lãng phiêu trầm thái bảo cô hồn chúng (一切江河水溺、大海爲商、風浪飄沉採寶孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người chết đuối vì lặn lội khắp sông nước, biển lớn để bán buôn, sóng gió nỗi trôi trên biển cả để tìm kho báu). (5) Nhất thiết biên địa tà kiến trí mạng man di cô hồn chúng (一切邊地邪見致命蠻夷孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của mọi rợ bỏ mạng chốn biên địa, không có chánh kiến). (6) Nhất thiết phao ly hương tinh khách tử tha châu, vô y vô thác du đãng cô hồn chúng (一切拋離鄉并客死他州、無依無托游蕩孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người du đãng từ bỏ quê hương, bỏ mạng xứ người, không nơi nương tựa, không ai phó thác). (7) Nhất thiết hà tỉnh đao sách phó hó đầu nhai, tường băng ốc đảo thọ chiết nham tồi, thú giảo trùng thương hoạnh tử cô hồn chúng (一切河井刀索赴火投崖、牆崩屋倒樹折嵒摧、獸咬虫傷橫死孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn bị hoạnh tử vì sông giếng, đao chém, xông vào lửa, nhảy xuống vực, tường sụp, nhà đỗ, cây gãy, núi lỡ, thú cắn, trùng làm thương tổn). (8) Nhất thiết ngục trung trí mạng, bất tuân vương pháp, tặc khấu thiết đạo, bão khuất hàm oan, đại tịch phân thi phạm pháp cô hồn chúng (一切獄中致命、不遵王法、賊寇劫盜、抱屈銜冤、大辟分屍犯法孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người mất mạng trong ngục thất, không tuân phép vua, trộm cướp, ăn cắp, mang nỗi hàm oan, phạm pháp bị phân thây). (9) Nhất thiết nô tỳ cấp sử, cần lao trần lực, ủy mạng bần tiện cô hồn chúng (一切奴婢給使、懃勞陳力、委命貧賤孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của các nô tỳ phục dịch, lao nhọc tận sức, bỏ mạng, bần tiện). (10) Nhất thiết manh lung ám á túc bí thủ quyện, tật bệnh triền miên ung thư tàn hại, quan quả cô độc vô kháo cô hồn chúng (一切盲聾瘖啞足跛手裨、疾病纏綿癰疽殘害、鰥寡孤獨無靠孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người bị đui điếc, ngọng lịu, chân khập khểnh, tay tàn tật, tật bệnh triền miên, ung thư tàn hại, góa vợ cô độc không nơi nương tựa). Tuy nhiên, trong bản hiện hành Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (正刻中科瑜伽集要)—khoa nghi cúng Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn do chư tăng thường dùng—được khắc dưới thời nhà Nguyễn vào năm Mậu Tý (1888) đời vua Đồng Khánh và tàng bản tại Chùa Báo Quốc, Thành Phố Huế, lại liệt kê đến 13 loại cô hồn như: (1) vua chúa cai trị đất nước; (2) anh hùng tướng lãnh triều đình; (3) văn thần tể tướng, quan lại; (4) văn nhân tài tử; (5) tu sĩ xuất gia Phật giáo; (6) huyền môn đạo sĩ của Khổng Giáo; (7) kẻ lang thang không nơi nương tựa nơi đất khách; (8) binh sĩ chết ngoài chiến trận; (9) những phụ nữ chết vì sinh con; (10) những người phỉ báng Tam Bảo và bất hiếu với cha mẹ; (11) cung phi mỹ nữ trong cung nội; (12) những vong hồn chết oan uổng; và (13) pháp giới sáu đường, hết thảy linh hồn trong đại địa, v.v. Như vậy, con số 10 hay 13, v.v., chỉ là con số tượng trưng để liệt kê những loại cô hồn chính mà thôi. Thật ra trên thế gian có bao nhiêu hạng người thì có bấy nhiêu loại cô hồn. Cho nên, Thập Loại ở đây không phải dừng lại ở ý nghĩa 10 loại, mà còn có nghĩa vô số loại khác nhau. Trong Chúng Sanh Thập Loại Tế Văn (眾生十類祭文, Văn Tế Mười Loại Chúng Sanh) của thi hào Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có câu: “Trong trường dạ tối tăm trời đất, có khôn thiêng phảng phất u minh, thương thay thập loại chúng sinh, hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người…” Hay như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經) có bài tán công hạnh của Ngài rằng: “Địa Tạng Bồ Tát diệu nan luân, hóa hiện kim dung xứ xứ phân, Tam Đồ Lục Đạo văn diệu pháp, Tứ Sanh Thập Loại mông từ ân, minh châu chiếu triệt Thiên Đường lộ, kim tích chấn khai Địa Ngục môn, lụy kiếp thân nhân mông tiếp dẫn, Cửu Liên đài bạn lễ Từ Tôn (地藏菩薩妙難倫、化現金容處處分、三途六道聞妙法、四生十類蒙慈恩、明珠照徹天堂路、金錫振開地獄門、累劫親姻蒙接引、九蓮臺畔禮慈尊, Địa Tạng Bồ Tát mầu khó lường, hóa hiện dung vàng chốn chốn nương, Ba Đường Sáu Nẻo nghe diệu pháp, bốn loài mười loại đội ơn thương, châu sáng chiếu tận Thiên Đường cõi, kim tích chấn mở Địa Ngục toang, nhiều kiếp thân bằng được tiếp dẫn, sen đài Chín Phẩm lễ Từ Tôn).”
thập loại giới
Mười loại giới—Ten kinds of precepts—Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm, có mười loại giới dành cho chư đại Bồ Tát nhằm giúp họ đạt được giới quảng đại Ba-La-Mật vô thượng của chư Như Lai According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment From The World), great Enlightening Beings have ten kinds of precepts which help them attain the unexcelled great transcendent discipline of the Buddhas. 1) Giới chẳng bỏ Bồ Đề tâm: Not giving up the determination for enlightenment. 2) Giới xa lìa bực nhị thừa: Leaving behind the stages of individual salvation. 3) Giới quán sát lợi ích tất cả chúng sanh: Observing and benefiting all sentient beings. 4) Giới khiến tất cả chúng sanh an trụ nơi Phật pháp: Inducing all sentient beings to live by the teachings of Buddha. 5) Giới tu tất cả sở học của Bồ Tát: Cultivating all the sciences of enlightening beings. 6) Giới vô sở đắc nơi tất cả pháp: Not being acquisitive in respect to anything. 7) Giới đem tất cả thiện căn hồi hướng Bồ Đề: Dedicating all roots of goodness to enlightenment. 8) Giới chẳng tham trước tất cả thân Như Lai: Not being attached to any of the incarnations of Buddhas. 9) Giới tư duy tất cả các pháp và xa lìa nhiễm trước: Reflecting on all things and getting rid of grasping and clinging. 10) Giới chư căn luật nghi (điều tiết lục căn): Regulating all their faculties.
thập loại kinh
503華嚴經教海難思,無可限量,從狹至寬,略分十類。即:(一)略本經,指現今所傳八十卷本及舊譯六十卷,皆為下本十萬偈中之部分,故稱略本經。(二)下本經,指摩訶衍藏。龍樹菩薩入龍宮,見華嚴經上、中、下三本,下本十萬偈,四十八品,龍樹誦得流傳於世,故稱下本經。(三)中本經,龍樹於龍宮所見者,凡四十九萬八千八百偈,一千二百品,故稱中本經。(四)上本經,亦龍樹於龍宮所見者,凡十倍三千大千世界微塵數偈,四天下微塵數品,故稱上本經。(五)普眼經,即海雲比丘(善財童子所參第三位善知識)所持之經。若以大海為墨,須彌聚筆,書此普眼法門一品中之一門,一門中之一法,一法中之一義,一義中之一句,猶不能盡,故稱普眼經。(六)同說經,佛就百億同類世界,遍於虛空,皆有主伴,同說無盡法輪,故稱同說經。(七)異說經,樹形等異類世界,其中眾生報類亦別,佛於彼現身說法,而施設不同,故稱異說經。(八)主伴經,毘盧遮那佛與十方佛互為主伴,重重無盡而說此經,故稱主伴經。(九)眷屬經,下劣之機不能聞圓頓一乘大法,故佛隨宜說三乘教,引入此門,皆為此經勝方便,故稱眷屬經。(十)圓滿經,圓融以上諸本為一無盡大修多羅海,隨一會一品、一句一文,皆攝一切,無有分限,故稱圓滿經。〔華嚴經疏卷三〕
; (十類經) Chỉ cho kinh Hoa nghiêm được chia làm 10 loại bản từ lược đến rộng. Đó là: 1. Lược bản kinh: Tức bản 80 quyển và bản 60 quyển đang lưu truyền hiện nay, đều là 1 phần trong 10 vạn bài kệ của Hạ bản, vì thế gọi là Lược bản. 2. Hạ bản kinh: Chỉ cho tạng Ma ha diễn.Bồ tát Long thụ xuống Long cung, thấy kinh Hoa nghiêm có 3 bản thượng, trung, hạ, bản hạ có 10 vạn bài kệ, 48 phẩm, ngài Long thụ tụng thuộc, đem về lưu truyền ở thế gian, cho nên gọi là Hạ bản kinh. 3. Trung bản kinh: Tức là bản ngài Long thụ thấy ở Long cung, gồm 49 vạn 8 nghìn 8 trăm bài kệ, 1200 phẩm, cho nên gọi là Trung bản kinh. 4. Thượng bản kinh: Cũng là bản ngài Long thụ thấy ở Long cung, gồm 10 lần số bụi nhỏ trong Tam thiên đại thiên thế giới bài kệ, số phẩm bằng bụi nhỏ trong 4 thiên hạ, vì thế gọi là Thượng bản kinh. 5. Phổ nhãn kinh: Tức kinh do tỉ khưu Hải vân(vị thiện tri thức thứ 3 mà đồng tử Thiện tài tham vấn) thụ trì. Nếu dùng nước biển cả làm mực, cây các núi Tu di làm bút viết 1 môn trong 1 phẩm, 1 pháp trong 1 môn, 1 nghĩa trong 1 pháp, 1 câu trong 1 nghĩa của pháp môn Phổ nhãn này, thì vẫn không thể hết được, cho nên gọi là Phổ nhãn kinh. 6. Đồng thuyết kinh: Tức bản mà Phật y cứ vào trăm ức thế giới cùng loại, đầy khắp hư không, đều có chủ bạn, cùng nói vô tận pháp luân, cho nên gọi là Đồng thuyết kinh. 7. Dị thuyết kinh: Tức bản kinh mà đức Phật hiện thân trong các thế giới khác loại, trong đó quả báo của chúng sinh cũng khác loại để tuyên thuyết, cho nên gọi là Dị thuyết kinh. 8. Chủ bạn kinh: Đức Phật Tì lô giá na và chư Phật trong 10 phương đều là chủ bạn lẫn nhau, lớp lớp vô tận, thay nhau nói kinh này, cho nên gọi là Chủ bạn kinh. 9. Quyến thuộc kinh: Những người có căn cơ thấp kém, không có khả năng nghe đại pháp Nhất thừa viên đốn, nên đức Phật tùy nghi nói pháp Tam thừa để dẫn dắt họ vào môn này, như thế, họ đều là quyến thuộc thù thắng của kinh này, cho nên gọi là Quyến thuộc kinh. 10. Viên mãn kinh: Dung hòa các bản kinh trên vào 1 biển Tu đa la lớn vô tận, trong mỗi hội mỗi phẩm, mỗi câu mỗi chữ đều bao nhiếp tất cả, không có giới hạn, vì thế gọi là Viên mãn kinh. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].
thập loại ngạ quỷ tái sanh làm súc sanh để trả tiếp nghiệp trước
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã dạy ông A Nan về mười loại ngạ quỷ được tái sanh làm súc sanh khi trả hết nghiệp đời trước như sau: “Ông A Nan! Quỷ nghiệp đã hết rồi, tình và tưởng đều không, mới nơi thế gian cùng với người mắc nợ trước, oan nối gặp nhau, thân làm súc sanh để trả nợ trước.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha taught Ananda about ten kinds of ghosts that will be reborn as an animal to continue to pay their debts as follows: “Ananda! When his karma as a ghost is ended, the problem of emotion as opposed to discursive thought is resolved. At that point he must pay back in kind what he borrowed from others to resolve those grievances. He is born into the body of an animal to repay his debts from past lives.” 1) Quái quỷ: The strange Ghost. a) Nếu tham ái là nguyên nhân của hành động sai trái, sau khi trả hết tội, sẽ biến thành hình của bất cứ loài nào mà chúng gặp trong khi đọa ở địa ngục: If the craving be the cause of their misdeeds, they will, after paying for their sins, take the form of whatever they meet on living the Hells. b) Loài quái quỷ, khi đã hết báo, vật mà chúng nương bị tiêu hoại, sinh ở thế gian, phần nhiều làm loài chim cưu: The retribution of the strange ghost of material objects is finished when the object is destroyed and it is reborn in the world, usually as a species of owl (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as owls). 2) Quỷ Phong Bạt: The drought ghost. a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp là dâm dục: The cause of their misdeeds is lust. b) Loại quỷ phong bạt, báo hết, gió tiêu, sinh ở thế gian, phần nhiều làm loại chim báo điềm xấu như chim cú, chim quạ: The retribution of the drought ghost of the wind is finished when the wind subsides, and it is reborn in the world, usually as a species of weird creature which gives inauspicious prognostications (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as unlucky creatures who foretell misfortunes and calamities). 3) Mỵ quỷ—Mei Ghost (animal ghost). a) Lừa dối là nguyên nhân tạo ra ác nghiệp: The cause of their misdeeds is deceitfulness. b) Loại mỵ quỷ, báo hết, lúc chết, sinh ở thế gian, phần nhiều làm loài chồn: The retribution of the Mei ghost of an animal is finished when the animal dies, and it is reborn in the world, usually as a species of fox (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as foxes). 4) Cổ Độc Quỷ—Noxious (ku) ghost: a) Sân hận là nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy: Hate is the cause of their misdeeds. b) Loài cổ độc quỷ, báo hết, trùng chết, sinh ở thế gian, làm loại độc hại như rắn rết: The retribution of the Ku ghost in the form of worms is finished when the Ku is exhausted, and it is reborn in the world, usually as a species of venomous creature (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as venomous creatures). 5) Lệ quỷ—Cruel ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự báo thù: The cause of their misdeeds is revengefulness. b) Loài lệ quỷ, báo hết, suy mất, sinh ở thế gian, làm loài giun sán: The retribution of a pestilence ghost found in degeneration is finished when the degeneration is complete, and it is reborn in the world, usually as a species of tapeworm (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as tapeworms). 6) Ngạ quỷ—Hungry (starved) ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là kiêu ngạo: The cause of their misdeeds is arrogance. b) Loại ngạ quỷ, báo hết, khí tiêu, sinh ở thế gian, làm loài để người ta ăn thịt, như gà, vịt, lợn: The retribution of the ghost which takes shape in gases is finished when the gases are gone, and it is then reborn in the world, usually as a species of eating animal (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as creatures good for food). 7) Yểm quỷ—Nightmarish ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự gian lận hay gian trá: The cause of their misdeeds is fraud. b) Loại yểm quỷ, báo hết, u tiêu, sinh ở thế gian, làm loài để nguời ta mặc, như con tằm, con cừu: The retribution of the ghost of prolonged darkness is finished when the darkness ends, and it is then reborn in the world, usually as a species of animal used for clothing or service (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as creatures who provide material for clothing). 8) Quỷ Vọng Lượng—Naiads: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là tà kiến: The cause of their misdeeds is wrong views. b) Loại quỷ vọng lượng, báo hết, tinh tiêu, sinh ở thế gian, làm loài biết thời tiết thứ tự, như chim yến: The retribution of the ghost which unites with energy is finished when the union dissolves, and it is then reborn in the world, usually as a species of migratory creature (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as creatures through whom the future can be foretold). 9) Quỷ Dịch sử—Servant Ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự bất công: The cause of their misdeeds is unfairness. b) Loài quỷ dịch sử, báo hết, minh diệt, sinh ở thế gian, làm loài báo điềm tốt như chim phụng: The retribution of the ghost of brightness and intellect is finished when the brightness disappears, and it is then reborn in the world, usually as a species of auspicious creature (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as auspicious creatures). 10) Quỷ Truyền tống—Messenger ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự tranh cãi: The cause of their misdeeds is disputation. b) Loại quỷ truyền tống, báo hết, người chết, sinh ở thế gian, làm loài tùng phục người như mèo, chó: The retribution of the ghost that relies on a person is finished when the person dies, and it is then reborn in the world, usually as a species of domestic animal (after repaying their former debts, are reborn as domestic animals).
thập loại nhân thú
Mười loại súc sanh trả hết nghiệp báo, được tái sanh làm người—Ten kinds of animals that will be reborn as a human—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc A Nan về mười loại thú được tái sanh làm người như sau: “Ông A Nan! Loài súc sanh trả nợ trước, nếu bắt trả quá phần, thì chúng sinh bị trả trở lại làm người để đòi nợ thừa. Như người kia có sức và phúc đức, thì chẳng bỏ thân người, chỉ trả lại nợ cũ. Nếu vô phúc, phải trở lại làm súc sanh để trả nợ kia. Ông A Nan! Ông nên biết, nếu dùng tiền, hoặc dùng sức của loài vật, chúng trả đủ thì thôi. Nếu giết hay ăn thịt chúng, qua bao kiếp giết nhau, ăn nhau, luân hồi như bánh xe xoay vần không dứt. Trừ pháp sa ma tha và Phật xuất thế, không thể nào dứt hết. Các loại ấy đều do trả hết nợ, lại sinh trong nhân đạo, đều bởi vô thủy nghiệp điên đảo sinh nhau, giết nhau, chẳng gặp Phật, nghe chánh pháp, trong cảnh trần lao cứ luân chuyển mãi. Thật đáng thương!” In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten kinds of animals that will be reborn as a human as follows: “Ananda! If while repaying his past debts by undergoing rebirth as an animal, such a living being pays back more than he owed, he will then be reborn as a human to rectify the excess. If he is a person with strength, blessings, and virtue, then once he is in the human realm, he will not have to lose his human rebirth after what is owed him is restored. But if he lacks blessings, then he will return to the animal realm to continue repaying his debts. Ananda! You should know that once the debt is paid, whether with money, material goods, or manual labor, the process of repayment naturally comes to an end. But if in the process he took the lives of other beings or ate their flesh, then he continues in the same way, passing through kalpas as many as motes of fine dust, taking turns devouring and being slaughtered in a cycle that sends him up and down endlessly. There is no way to put a stop to it, except through samatha or through a Buddha's coming to the world. Ananda! These are all beings that have finished paying back former debts and are born again in the human realm. They are involved in a beginningless scheme of karma and being upside down in which their lives are spent killing one another and being killed by one another. They do not get to meet the Thus Come One or hear the proper dharma. They just abide in the wearisome dust, passing through a repetitive cycle. Such people can truly be called pitiful.” 1) Loài chim cưu, khi trả nợ xong, sinh làm người, là loại tham nhũng và ngu si cứng đầu: You should know that when owls and their kind have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are corrupt and obstinate. 2) Loài báo trước điềm xấu, khi trả nợ xong, sinh làm người, là loài bất bình thường và quỷ quyệt: When creatures that are inauspicious have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are abnormal. 3) Loài chồn, là loại tầm thường: When foxes have paid back their debts, they regain their original forms and are born as people, but among those who are simpletons. 4) Loài độc, là loại bạo ngược: When creatures of the venomous category have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are hateful. 5) Loài giun sán, là loại đê tiện: When tapeworms and their like have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are lowly. 6) Loài để người ta ăn thịt, là loại nhu nhược: When the eddible types of creatures have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people, but among those who are weak. 7) Loài để cho người ta làm đồ mặc, là loại lao động: When creatures that are used for clothing or service have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people, but among those who do hard labor. 8) Loài biết thời tiết, là loại có văn học: When creatures that migrate have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people among those who are literate. 9) Loài báo trước điềm tốt, là loại thông minh: When auspicious creatures have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people among those who are intelligent. 10) Loài phục tùng người, là loại thông thạo:
thập luân
498請參閱 興起行經 <一>指如來之十力。出自大乘大集地藏十輪經卷二之十輪品。地藏菩薩依如來之本願力,轉十種之佛輪,成就如來十力。(參閱「十力」361) <二>同經卷九之善業道品載,佛述菩薩之十輪即十善業道,為大乘本、菩提因。(一)遠離殺生輪,(二)遠離不與取輪,(三)遠離欲邪行輪,(四)遠離虛誑語輪,(五)遠離離間語輪,(六)遠離粗惡語輪,(七)遠離雜穢語輪,(八)遠離貪欲輪,(九)遠離瞋恚輪,(十)遠離邪見輪。
; (十輪) I. Thập Luân. Chỉ cho 10 lực của đức Như lai nói trong phẩm Thập luân kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân quyển 2. Bồ tát Địa tạng nương vào sức bản nguyện của Như lai, chuyển 10 Phật luân, thành tựu Như lai thập lực. (xt. Thập Lực). II. Thập Luân. Chỉ cho Thập luân của Bồ tát, tức Thập thiện nghiệp đạo, là gốc của Đại thừa, là nhân bồ đề, nói trong kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân quyển 9. Đó là: 1. Viễn li sát sinh luân: Xa lìa nghiệp giết hại. 2. Viễn li bất dữ thủ luân: Xa lìa nghiệp trộm cướp. 3. Viễn li dục tà hạnh luân: Xa lìa nghiệp tà dâm. 4. Viễn li hư cuống ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói dối. 5. Viễn li li gián ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói đơm đặt nhằm li gián người. 6. Viễn li thô ác ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói lời thô tháo, xấu ác. 7. Viễn li tạp uế ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói lời tục tằng, bỉ ổi. 8. Viễn li tham dục luân: Xa lìa nghiệp ham muốn. 9. Viễn li sân khuể luân: Xa lìa nghiệp nóng giận. 10. Viễn li tà kiến luân: Xa lìa nghiệp tà kiến.
thập luân kinh
Xem Đại Phương Quảng Thập Luân kinh.
thập lạc
498請參閱 十慧章句 即念佛行者由極樂淨土之依正二報,所得之十種快樂。又作淨土十樂。據袾宏之阿彌陀經疏鈔卷二載,相對於娑婆之苦而言,極樂淨土有十樂,即:(一)華開見佛,常得親近之樂。(二)水鳥、樹林皆宣妙法之樂。(三)諸上善人俱會一處之樂。(四)諸佛護念,遠離魔事之樂。(五)橫截生死,永脫輪迴之樂。(六)惡道永離,名且不聞之樂。(七)受用自然,不俟經營之樂。(八)壽與佛同,更無限量之樂。(九)入正定聚,永無退轉之樂。(十)一生行滿,所作得辦之樂。 日本淨土真宗第六祖源信於往生要集卷上亦舉出往生淨土之十樂,即:(一)聖眾來迎樂,(二)蓮華初開樂,(三)身相神通樂,(四)五妙境界樂,(五)快樂無退樂,(六)引接結緣樂,(七) 聖眾聚會樂,(八)見佛聞法樂,(九)隨心供佛樂,(十)增進佛道樂。〔釋淨土群疑論卷五、往生要集義記卷上之三〕
; See Thập Khoái.
; (十樂) Cũng gọi Tịnh độ cực lạc. Chỉ cho 10 niềm vui mà hành giả niệm Phật có được khi sinh về Tịnh độ cực lạc nói trong A di đà kinh sớ sao quyển 2. Đó là: 1. Vui vì hoa nở thấy Phật, thường được gần gũi Phật. 2. Vui vì chim, nước, rừng cây đều vang lên diệu pháp. 3. Vui vì thấy các bậc thượng thiện cùng họp hội ở một nơi. 4. Vui vì được chư Phật che chở, xa lìa các ma sự. 5. Vui vì cắt ngang dòng sinh tử, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. 6. Vui vì mãi mãi xa lìa đường ác, ngay cả tên đường ác cũng không nghe. 7. Vui vì được sự thụ dụng tự nhiên, không cần kinh doanh mới có. 8. Vui vì sống lâu bằng Phật, thọ lượng vô hạn. 9. Vui vì được vào chính định tụ, vĩnh viễn không lui sụt. 10. Vui vì tất cả hạnh nguyện được viên mãn trong một đời, những việc cần làm đã làm xong.
thập lợi
434<一>指散見於諸經中之種種十利。例如乞食十利、禪定十利、粥有十利、精進十利、般若十利、多聞十利、布施十利、持戒十利、慈忍十利等。〔月燈三昧經卷七、摩訶僧祇律卷二十九〕(參閱「乞食十利」725、「多聞」2330、「持戒」3816、「般若十利」4302、「粥有十利」5179、「慈忍」5800、「精進十種利益」5884、「禪定十種利益」6463) <二>佛陀制戒之十個理由。即:(一)攝僧,(二)極好攝,(三)僧安樂住,(四)折伏高心人,(五)有慚愧者得安樂,(六)不信者得淨信,(七)已信者增長信,(八)遮今世惱漏,(九)斷後世惡,(十)梵行久住。〔十誦律卷一〕 <三>十一面神咒經所載,即受持十一面觀世音神咒經之十種利益。即:(一)身常無病。(二)恆為十方諸佛憶念。(三)一切財物、衣服、飲食自然充足,恆無缺乏。(四)能破一切怨敵。(五)能使一切眾生皆生慈心。(六)一切蠱毒、熱病無能侵害。(七)一切刀杖不能為害。(八)一切水難不能漂溺。(九)一切火難不能焚燒。(十)不受一切橫死。
; (十利) I. Thập Lợi. Chỉ cho 10 lợi ích. Chẳng hạn như Khất thực thập lợi, Thiền định thập lợi, Chúc hữu thập lợi, Tinh tiến thập lợi, Bát nhã thập lợi, Đa văn thập lợi, Bố thí thập lợi, Trì giới thập lợi, Tuệ nhẫn thập lợi... [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.7; luật Ma ha tăng kì Q.29]. (xt. Khất Thực ThậpLợi, Đa Văn ThậpLợi, Trì Giới Thập Lợi, Bát Nhã ThậpLợi, Chúc Hữu Thập Lợi, Từ Nhẫn ThậpLợi, Tinh Tiến Thập Chủng Lợi Ích, Thiền Định Thập Chủng Lợi Ích). II. Thập Lợi. Chỉ cho 10 lí do đức Phật chế giới, đó là: 1. Thu nhiếp tăng. 2. Thu nhiếp thật tốt. 3. Vì muốn chúng tăng cư trụ được an vui.4. Chiết phục những người có tính cao ngạo. 5. Làm cho những người có tâm hổ thẹn được an lạc. 6. Khiến những người không tin có được tín tâm thanh tịnh. 7. Những người tin rồi thì niềm tin tăng trưởng. 8. Ngăn dứt phiền não, hữu lậu đời này. 9. Đoạn trừ thói ác đời sau. 10. Phạm hạnh được lâu dài. [X. luật Thập tụng Q.1]. III. Thập Lợi. Mười điều lợi ích của việc thụ trì kinh Thập nhất diện Quán thế âm thần chú nói trong kinh Thập nhất diện thần chú. Đó là: 1. Thân không bệnh tật. 2. Thường được chư Phật mười phương nhớ nghĩ. 3. Tất cả nhu cầu như tiền của, quần áo, thức ăn uống... đều tự nhiên đầy đủ, thường không thiếu thốn. 4. Có khả năng phá dẹp tất cả oán địch. 5. Có khả năng làm cho tất cả chúng sinh phát từ tâm. 6. Tất cả trùng độc, các chứng bệnh đều không xâm hại được. 7. Tất cả dao gậy không làm hại được. 8. Tất cả nạn lụt đều không thể cuốn trôi và nhận chìm. 9. Tất cả trận hỏa hoạn không thiêu đốt được. 10. Không bị chết oan.
thập lợi ☸ chúc hữu thập lợi
〖出摩訶僧祇律〗律云:佛住舍衛城時,難陀母作食,先飯比丘,然後自食;復作釜飯,逼上飯汁自飲,即覺身內風除,宿食頓消。由是多水少米合煎,復用胡椒蓽茇調和,以奉世尊。由是佛聽比丘,從今日後,許食粥,有十種利。時世尊即說偈曰:持戒清淨人所奉,恭敬隨時以粥施,十利饒益於行者,色力壽樂辭清辯,宿食風除饑渴消,是名為藥佛所說,欲生人天常受樂,應當以粥施眾僧。(梵語難陀,華言善歡喜。)〔一、資色〕,謂資益身軀,顏容豐盛,故云資色。〔二、增力〕,謂補益尫羸,增長氣力,故云增力。〔三、益壽〕,謂補養元氣,壽筭增益,故云益壽。〔四、安樂〕,謂清淨柔軟,食則安樂,故云安樂。〔五、辯說〕,謂滋潤喉吻,論議無礙,故云辯說。〔六、除風〕,謂調和通利,風氣消除,故云除風。〔七、消宿食〕,謂溫煖脾胃,宿食消化,故云消宿食。〔八、辭清〕,謂氣無凝滯,辭辯清揚,故云辭清。〔九、除饑〕,謂適充口腹,饑餒頓除,故云除饑。〔十、消渴〕,謂喉吻霑潤,渴想隨消,故云消渴。
thập lục
378密教用以表圓滿無盡之數。華嚴以十數為滿數,真言密教則以十六攝無盡無量,故畫胎藏界之曼陀羅,其中臺八葉院最少之極為十六指。此八葉開人法,而有八種善知識之人與八種金剛慧印之法,合成十六之數。其他金剛界之十六大菩薩、十六尊、十六執金剛神、十六天神,顯經所說之十六菩薩、十六居士等,亦以十六之數總攝一切;般若之十六空、月之十六分等,皆依此意。〔大日經疏卷五〕
; Sodaśa (S).
; Sodasa (S). Sixteen is the esoteric (Shingon) perfect number
; (十六) Mười sáu, là con số được Mật giáo sử dụng để biểu thị sự viên mãn vô tận. Chân ngôn Mật giáo dùng số 16 để thu nhiếp vô lượng vô tận, cho nên khi vẽ Mạn đồ la Thai tạng giới, trong đó, viện Trung đài bát diệp nhỏ nhất cũng phải là 16 ngón tay. Bát diệp (8 cánh sen) này mở ra Nhân và Pháp, do đó mà có 8 thiện tri thức (Nhân) và 8 Kim cương tuệ ấn (Pháp), hợp lại thành số 16. Ngoài ra, Thập lục đại bồ tát, Thập lục tôn, Thập lục chấp kim cương thần, Thập lục thiên thần của Kim cương giới, Thập lục bồ tát, Thập lục cư sĩ... nói trong các kinh của Hiển giáo, cũngđềudùng con số 16 để thu nhiếp tất cả; Thập lục không của Bát nhã, Thập lục phần của tháng... đều căn cứ vào ý này. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
thập lục bồ tát
392指密教十六菩薩,有二種。<一>又作慧門十六尊。指金剛界曼荼羅羯摩會三十七尊中,阿閦佛以下四方四佛之各各四親近菩薩,特稱為十六大菩薩。即:(一)東輪阿閦佛之四親近,即金剛薩埵、金剛王菩薩、金剛愛菩薩,及金剛喜菩薩。彼等皆以持戒忍辱而成就菩提心功德。(二)南輪寶生佛之四親近,即金剛寶菩薩、金剛光菩薩、金剛幢菩薩、金剛笑菩薩。彼等皆以無執著之布施而成就福德莊嚴功德。(三)西輪阿彌陀佛之四親近,即金剛法菩薩、金剛利菩薩、金剛因菩薩、金剛密語菩薩。彼等皆以正定大慧而成就智慧功德。(四)北輪不空成就佛 坏|親近,即金剛業菩薩、金剛護菩薩、金剛牙菩薩、金剛拳菩薩。彼等皆以利他之精進而成就事業方便功德。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 <二>指表賢劫千佛因位千位菩薩之十六菩薩。其十六菩薩之名,出自金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、金剛頂經卷一、賢劫十六尊軌。(參閱「賢劫十六尊」6175)
; (十六菩薩) Chỉ cho 16 vị Bồ tát trong Mật giáo. Có 2 loại. I. Thập lục Bồ Tát. Cũng gọi Tuệ môn thập lục tôn, Thập lục đại bồ tát. Chỉ cho 16 vị Bồ tát thân cận của 4 đức Phật ở 4 phương, từ Phật A súc trở xuống, mỗi vị có 4 Bồ tát thân cận, thuộc 37 vị tôn của hội Yết ma trong Mạn đồ la Kim cương giới. Đó là: 1. Bốn vị Bồ tát thân cận của Phật A súc trong vòng tròn ở phương Đông: Bồ tát Kim cương tát đỏa, bồ tát Kim cương vương, bồ tát Kim cương ái và bồ tát Kim cương hỉ. Bốn vị Bồ tát này đều dùng việc giữ giới nhẫn nhục để thành tựu công đức của tâm bồ đề. 2. Bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật Bảo sinh trong vòng tròn ở phương Nam: Bồ tát Kim cương bảo, bồ tát Kim cương quang, bồ tát Kim cương chàng và bồ tát Kim cương tiếu. Bốn vị Bồ tát này đều dùng việc bố thí không chấp trước mà thành tựu công đức phúc đức trang nghiêm. 3. Bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật A di đà trong vòng tròn ở phương Tây: Bồ tát Kim cương pháp, bồ tát Kim cương lợi, bồ tát Kim cương nhân và bồ tát Kim cương ngữ. Bốn vị Bồ tát này đều dùng chính định đại tuệ để thành tựu công đức trí tuệ. 4. Bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật Bất không thành tựu trong vòng tròn ở phương Bắc: Bồ tát Kim cương nghiệp, bồ tát Kim cương hộ, bồ tát Kim cương nha và bồ tát Kim cươngquyền. Bốn vị Bồ tát này đều tu hạnh tinh tiến để thành tựu công đức sự nghiệp phương tiện. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa]. II. Thập Lục Bồ Tát. Chỉ cho 16 vị Bồ tát trong 1.000 Bồ tát ở giai vị tu nhân của 1.000 đức Phật thuộc kiếp Hiền. Tên của 16 vị Bồ tát này được ghi trong các kinh quĩ như: Kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 3, kinh Kim cương đính Q.1; Hiền kiếp thập lục tôn quĩ... (xt. Hiền Kiếp Thập Lục Tôn).
thập lục chấp kim cương
389位於密教金剛界成身會曼荼羅下方之十六尊神。據大日經疏卷十六載,即:(一)虛空無垢金剛,乃十九執金剛之一。(二)金剛輪。(三)金剛牙,乃不空成就佛四親近之一。(四)蘇喇多金剛,意譯妙住,住於安穩之義。(五)名稱金剛。(六)大分金剛。(七)金剛利。(八)寂然金剛。(九)大金剛。(十)青金剛。(十一)蓮華金剛。(十二)廣眼金剛。(十三)執妙金剛。(十四)金剛金剛。(十五)住無戲論金剛,十九執金剛之一,住於大空慧。(十六)虛空無邊遊步金剛,十九執金剛之一。另據金剛頂瑜伽三十七尊出生義載,十六執金剛神為一切如來勇健菩提心所生化,表示如來修行之時,有塵數心障煩惱,以如是金剛慧破之;大覺之後,成塵數種類智門,以如是金剛慧用之,故復現其暴惡可畏之身。
; (十六執金剛) Chỉ cho 16 vị thầnởphương dưới Mạn đồ la Thành thân hội thuộc Kim cương giới Mật giáo, được ghi trong Đại nhật kinh sớ quyển 16. Đó là: 1. Hư không vô cấu kim cương, 1 trong 19 vị Chấp kim cương. 2. Kim cương luân. 3. Kim cương nha, là 1 trong 4 vị thân cận của Phật Bất không thành tựu. 4. Tô lạt đa kim cương, Hán dịch : Diệu trụ.5. Danh xưng kim cương. 6. Đại phần kim cương. 7. Kim cương lợi. 8. Tịch nhiên kim cương. 9. Đại kim cương. 10. Thanh kim cương. 11. Liên hoa kim cương. 12. Quảng nhãn kim cương. 13. Chấp diệu kim cương. 14. Kim cương kim cương. 15. Trụ vô hí luận kim cương,1 trong 19 Chấp kim cương, trụ trong Đại không tuệ.16. Hư không vô biên du bộ kim cương, 1 trong 19 Chấp kim cương. Theo Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa thì 16 vị Chấp kim cương thần là do tâm bồ đề dũng mãnh của tất cả Như lai hóa sinh, biểu thị ý nghĩa lúc Như lai tu hành, Ngài đã dùng trí tuệ kim cương phá trừ phiền não chướng tâm nhiều như số bụi nhỏ. Sau khi Như lai đại ngộ thì các phiền não ấy trở thành các loại trí môn cũng nhiều như bụi nhỏ. Vì dùng trí tuệ kim cương như thế nên lại hiện thân bạo ác đáng sợ.
thập lục huyền môn
386真言宗用以解釋梵字真言等諸字門之意義的十六種方法。即:(一)遮情,遮凡夫之迷情,覺法性之無相,不住一法,不著一相,無執無著,修行佛道。(二)表德,於一一法不論邪正,悉了本不生之理,於所見境界表顯真言之功德。(三)淺略,即其意義淺顯、內容簡略。(四)深祕,言外含有深奧之意義,非其機不授之。(五)字相,僅係文字本身並無意義,文字與所表之義有別。(六)字義,不離文字,而觀其字字不可得之義。(七)一字攝多,一字之中含攝多字之無量意義。(八)多字攝一,指多字之義攝入一字之中。(九)一字釋多,指以一字能釋多字。(十)多字釋一,以多字闡釋同一字之意義。(十一)一字成多,以一字成立一切字義。(十二)多字成一,即結合多字成一字。(十三)一字破多,以一字破析多字之疑惑。(十四)多字破一,即合多字破析一字之疑惑。(十五)順觀旋轉,略稱順旋轉。觀梵字之字義時,始自最初之阿字,依序觀至最後之賀字。(十六)逆觀旋轉,略稱逆旋轉。與前者相反,依序逆觀字門。〔三種悉地破地獄轉業障出三界祕密陀羅尼法、大日經疏卷七、法華經開題(空海)〕
; (十六玄門) Chỉ cho 16 phương pháp do tông Chân ngôn sử dụng để giải thích ý nghĩa các chữ trong những chân ngôn tiếng Phạm. Đó là: 1. Già tình: Ngăn mê tình của phàm phu, biết rõ pháp tính là vô tướng, không vướng một pháp, không dính một tướng, không chấp không trước, tu hành Phật đạo.2. Biểu đức: Đối với tất cả các pháp, bất luận tà, chính đều biết rõ lí vốn chẳng sinh, đối với cảnh giới sở kiến, biểu hiển công đức chân ngôn. 3. Thiển lược: Ý nghĩa nông cạn, nội dung giản lược. 4. Thâm bí: Ngoài lời nói còn bao hàm ý nghĩa sâu kín, căn cơ không thích hợp thì không được truyền trao. 5. Tự tướng: Bản thân văn tự không có ý nghĩa, giữa văn tự và ý nghĩa nó biểu hiển có khác nhau. 6. Tự nghĩa: Không lìa văn tự mà quán ý nghĩa của mỗi chữ đều bất khả đắc. 7. Nhất tự nhiếp đa: Trong một chữ hàm chứa vô lượng ý nghĩa của nhiều chữ. 8. Đa tự nhiếp nhất: Nghĩa của nhiều chữ được thu nhiếp vào một chữ. 9. Nhất tự thích đa: Dùng một chữ giải thích nhiều chữ. 10. Đa tự thích nhất: Dùng nhiều chữ giải thích ý nghĩa một chữ. 11. Nhất tự thành đa: Dùng một chữ thành lập tất cả nghĩa các chữ. 12. Đa tự thành nhất: Kết hợp nhiều chữ thành một chữ. 13. Nhất tự phá đa: Dùng một chữ phá trừ nghi hoặc của nhiều chữ. 14. Đa tự phá nhất: Tức hợp nhiều chữ lại để phá trừ nghi hoặc của một chữ. 15. Thuận quán toàn chuyển(gọi tắt: Thuận toàn chuyển): Khi quán nghĩa chữ của chữ Phạm thì bắt đầu quán từ chữ A đầu tiên, cứ thế theo thứ tự quán đến chữ Hạ cuối cùng. 16. Nghịch quán toàn chuyển(gọi tắt: Nghịch toàn chuyển): Trái với Thuận quán toàn chuyển, theo thứ tự nghịch quán tự môn, nghĩa là quán từ chữ Hạ cuối cùng ngược lên đến chữ A đầu tiên. [X. Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp; Đại nhật kinh sớ Q.7; Pháp hoa kinh khai đề (Không hải)].
Thập lục hành quán 十六行觀
[ja] ジュウロクギョウカン jūrokugyōkan ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hành tướng.
thập lục hành tướng
387梵語 ṣoḍaśākārāḥ。又作十六行、十六行觀、十六行相觀、十六聖行、十六諦、四諦十六行相。行相,相狀之意。觀四諦時,各有四種差別,於其時所產生之 甈萓@有十六種。據俱舍論卷二十六所載,苦聖諦有四相(苦諦四相):(一)非常(梵 anitya),待緣而成故。(二)苦(梵 duḥkha),逼迫性故。(三)空(梵 śūnya),違我所見故。(四)非我(梵 anātman),違我見故。集聖諦亦有四相(集諦四相):(一)因(梵 hetu),其理如種子。(二)集(梵 samudaya),同於顯現之理。(三)生(梵 prabhava),能令續起。(四)緣(梵 pratyaya),能令成辦;譬如泥團、輪、繩與水等眾緣,和合而成一瓶。滅聖諦亦有四相(滅諦四相):(一)滅(梵 nirodha),諸蘊盡故。(二)靜(梵 śānta),三火息故。(三)妙(梵 Pranīta),眾患無故。(四)離(梵 niḥsaraṇa),脫眾災故。道聖諦亦有四相(道諦四相):(一)道(梵 mārga),通行義故。(二)如(梵 nyāya),契正理故。(三)行(梵 pratipad),正趣向故。(四)出(梵 nairyāṇika),能永超故。十六行相名雖十六,實事唯七。謂緣苦諦者,名實俱四;緣餘三諦者,名四實一。說十六行相之目的,為治常、樂、我所、我見等見,故修非常、苦、空、非我等行相;為治無因、一因、變因、知先因等見,故修因、集、生、緣等行相;為治解脫是無之見,故修滅行相;為治解脫是苦之見,故修靜行相;為治靜慮及等至之樂為妙之見,故修妙行相;為治解脫是數數退墮而非永恆之見,故修離行相;為治無道、邪道、餘道、退道之見,故修道、如、行、出等行相。〔坐禪三昧經卷下、正法念處經卷三十四、大毘婆沙論卷七十九〕
; (十六行相) Phạm:Wođazàkàrà#. Cũng gọi Thập lục hành, Thập lục hành quán, Thập lục hành tướng quán, Thập lục đế, Tứ đế thập lục hành tướng. Chỉ cho phương pháp quán xét 16 hành tướng của 4 đế để diệt trừ các kiến chấp. Cứ theo luận Câu xá quyển 26 thì 16 hành tướng ấy là: 1. Bốn hành tướng của Khổ đế: a. Vô thường (Phạm: Anitya): Vì đợi duyên mới có. b. Khổ (Phạm:Du#kha): Vì có tính bức bách. c. Không (Phạm:Zùnya): Vì trái với nghã sở kiến. d. Phi ngã (Phạm: Anàtman): Vì trái với ngã kiến. 2. Bốn hành tướng của Tập đế: a. Nhân (Phạm: Hetu): Lí ấy như hạt giống. b. Tập (Phạm: Samudaya): Giống như lí hiển hiện. c. Sinh (Phạm:Prabhava): Có năng lực làm cho sinh khởi liên tục. d. Duyên (Phạm: Pratyaya): Có công năng khiến cho thành tựu; ví như các duyên (điều kiện): Đất sét, cái bàn quay, dây và nước hòa hợp thành cái bình. 3. Bốn hành tướng của Diệt đế: a. Diệt (Phạm:Nirodha): Vì các uẩn đều đã hết. b. Tĩnh (Phạm: Zànta): Vì 3 thứ lửa (tham, sân, si) đã tắt. c. Diệu (Phạm:Pranìta): Vì không còn các hoạn nạn. d. Li (Phạm:Ni#saraịa): Vì đã thoát khỏi mọi tai ách. 4. Bốn hành tướng của Đạo đế. a. Đạo (Phạm:Màrga): Vì có nghĩa là con đường thông suốt. b. Như (Phạm:Nyàya): Vì khế hợp với chính lí. c. Hành (Phạm: Pratipad): Vì hướng tới chân chính. d. Xuất (Phạm:Nairyàịika): Vì có khả năngvượtthoát vĩnh viễn. Mười sáu hành tướng tuy có 16 tên nhưng thực ra chỉ có 7. Nghĩa là khi duyên Khổ đế thì Danh, Thực đều có 4, nhưng duyên 3 đế còn lại thì Danh có 4, Thực chỉ có 1. Mục đích tu 16 hành tướng là để đối trị các kiến chấp, trong đó, vì đối trị các kiến chấp: Thường, lạc, ngã sở, ngã kiến... cho nên tu các hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã...; vì đối trị các kiến chấp như: Vô nhân, nhất nhân, biến nhân, tri tiên nhân... cho nên tu các hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; vì đối trị kiến chấp giải thoát là không, nên tu hành tướng Diệt; để đối trị kiến chấp giải thoát là Khổ, nên tu hành tướng Tĩnh; để đối trị kiến chấp cho cái vui của Tĩnh lự và Đẳng chí là diệu nên tu hành tướng Diệu; để đối trị kiến chấp cho rằng giải thoát luôn luôn lui sụt chứ chẳng phải vĩnh hằng, cho nên tu hành tướng Li; vì đối trị các kiến chấp vô đạo, tà đạo, dư đạo, thoái đạo... cho nên tu các hành tướng: Đạo, Như, Hành, Xuất. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; luận Đại tì bà sa Q.79].
Thập lục hành tướng 十六行相
[ja] ジュウロクコウソウ jūroku gyōsō ||| The sixteen active aspects of the Four Noble Truths (ṣoḍāśa-ākāra), which are sixteen ways of analyzing the meaning of the Four Noble Truths, including four ways for each noble truth. The first noble truth is analyzed as containing the meanings of impermanence 無常 (anitya), unsatisfactoriness 苦 (duḥkha), emptiness 空 (śūnya), and no-self 無我 (anātmaka). The second noble truth contains the implications of cause of suffering 因 (hetu), gathering 集 (samudaya), continuation 生 (prabhava) and conditions 縁 (pratyaya). The third noble truth connotes extinction of physical attachments 滅 (nirodha), the calming of afflictions 靜 (śānta), the sublimity of no discomfort 妙 (praṇita) and the escape from all difficult circumstances 離 (niḥsaraṇa). Within the fourth noble truth are seen the path to cessation 道 (mārga), accordance with the correct principle 如 (nyāya), activity leading to nirvana 行 (pratipatti) , and transcendence of life and death 出 (nairyāṇika). 〔倶舎論; T 1558.29.119b15-19〕 => Mười sáu hành tướng của Tứ diệu đế (s: ṣoḍāśa-ākāra), là Mười sáu cách phân tích ý nghĩa của Tứ diệu đế, gồm bốn cách cho mỗi đế. Khổ đế được phân tích bao gồm ý nghĩa của Vô thường 無常(s: anitya), Khổ 苦 (s:duḥkha), Không 空 (s: śūnya), Vô ngã 無我 (s: anātmaka). Tập đế gồm quan hệ mật thiết với nhân 因 (hetu), tập 集 (samudaya), sinh 生 (prabhava), và duyên 縁 (pratyaya) của khổ. Diệt đế bao hàm sự hoại diệt luyến ái sắc thân (diệt 滅 s: nirodha), thanh tịnh các phiền não (tịnh 靜 s: śānta), giải thoát mọi phiền trược (diệu 妙 s: praṇita),xa lìa mọi khổ nạn (ly 離 s: niḥsaraṇa). Đạo đế là nhận ra con đường tu tập không còn tạo nghiệp (đạo 道 s: mārga), tuỳ thuận với chính đạo (như 如 s:nyāya), tích cực hướng đến niết bàn (hành 行 s: pratipatti), siêu việt sinh tử (xuất 出 s: nairyāṇika). Theo Câu xá luận.
Thập lục hạnh
xem Mười sáu hạnh.
thập lục hạnh
The sixteen hạnh tướng of the Four Noble Truths Tứ diệu đế, i.e. four forms of considering each of the Truths, associated with kiến đạo.
Thập lục hạnh quán
xem Mười sáu hạnh.
Thập lục hạnh tướng quán
xem Mười sáu hạnh.
Thập lục hạnh 十六行
[ja] ジュウロクギョウ jūrokugyō ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hạnh tướng
thập lục khai sĩ
392指顯教經論中普遍列舉之十六位求正道之居士菩薩。又作十六大士、十六正士、十六賢士、十六善丈夫、十六丈夫眾、十六菩薩。即賢護、寶積、星德、帝天、水天、善力、大意、殊勝意、增意、善發意、不虛見、不休息、不少意、導師、日藏、持地等菩薩。有關十六開士之名稱,諸經所出略異。〔思益梵天所問經卷一、大寶積經卷一一一、無量壽經、碧巖錄第七十八則〕
; (十六開士) Cũng gọi Thập lục đại sĩ, Thập lục chính sĩ, Thập lục hiền sĩ, Thập lục thiện trượng phu chúng, Thập lục bồ tát. Chỉ cho 16 vị Bồ tát cư sĩ cầu chính đạo được nêu khắp trong các kinh luận của Hiển giáo. Đó là các vị: Hiền hộ, Bảo tích, Tinh đức, Đế thiên, Thủy thiên, Thiện lực, Đại ý, Thù thắng ý, Tăng ý, Thiện phát ý, Bất hư kiến, Bất hưu tức, Bất thiểu ý, Đạo sư, Nhật tạng và Trì địa. Về tên gọi của Thập lục khai sĩ, các kinh nêu có hơi khác nhau. [X. kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; kinh Đại bảo tích Q.111; kinh Vô lượng thọ; Bích nham lục tắc 78].
Thập Lục La Hán
(十六阿羅漢): còn gọi là Thập Lục A La Hán (十六阿羅漢), Thập Lục Tôn Giả (十六尊者), là các đệ tử đắc đạo của đức Thích Tôn. Căn cứ vào Pháp Trú Ký (法住記) của Tôn Giả Khánh Hữu (慶友尊者) nước Sư Tử (師子) thuộc thế kỷ thứ 2, khi nhập Niết Bàn, đức Phật có phó chúc cho 16 vị A La Hán hiện hữu trên thế gian để truyền bá Phật pháp, đem lại lợi ích cho chúng sanh; cho nên tác phẩm này đã sớm ghi lại danh xưng của 16 vị La Hán này. Còn gọi là Thập Lục A La Hán (十六阿羅漢), Thập Lục Tôn Giả (十六尊者), là các đệ tử đắc đạo của đức Thích Tôn. Căn cứ vào Pháp Trú Ký (法住記) của Tôn Giả Khánh Hữu (慶友尊者) nước Sư Tử (師子) thuộc thế kỷ thứ 2, khi nhập Niết Bàn, đức Phật có phó chúc cho 16 vị A La Hán hiện hữu trên thế gian để truyền bá Phật pháp, đem lại lợi ích cho chúng sanh; cho nên tác phẩm này đã sớm ghi lại danh xưng của 16 vị La Hán này. Đến thời nhà Đường (618-907), khi nhà dịch kinh nổi tiếng Huyền Tráng (玄奘, 602-664) dịch tác phẩm Pháp Trú Ký, tên gọi của 16 vị này được biết đến bằng Hán ngữ, từ đó tín ngưỡng về Thập Lục La Hán cũng bắt đầu thịnh hành dưới thời này. Từ cuối thời nhà Đường cho đến thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-979), các tác phẩm hội họa cũng như điêu khắc về 16 vị La Hán này bắt đầu xuất hiện. Một số danh gia như Lô Lăng Già (盧楞伽), Vương Duy (王維, 701-761), Đào Thủ Lập (陶守立), Quán Hưu (貫休, 832-912). Theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp Trú Ký (大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記, bản Hán ngữ là Pháp Trú Ký), danh xưng của 16 vị này là:(1) Tân Độ La Bạt Ra Nọa Xà (s: Piṇḍolabharadvāja, 賓度羅跋囉惰闍) cùng với 1.000 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲).(2) Ca Nặc Ca Phạt Sa (s: Kanakavatsa, 迦諾迦伐蹉) cùng với 500 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại phương bắc nước Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅).(3) Ca Nặc Ca Bạt Li Nọa Xà (s: Kanakabharadvāja, 迦諾迦跋厘惰闍) cùng với 600 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲).(4) Tô Tần Đà (s: Subinda, 蘇頻陀) cùng với 700 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Bắc Cu Lô Châu (s: Uttara-kuru, 北倶盧洲).(5) Nặc Cự La (s: Nakula, 諾距羅) cùng với 800 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲).(6) Bạt Đà La (s: Bhadra, 跋陀羅) cùng với 900 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Đam Một La Châu (耽沒羅洲).(7) Ca Lí Ca (s: Kālika, 迦理迦) cùng với 1.000 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tăng Già Trà Châu (僧伽荼洲).(8) Phạt Già La Phất Đa La (s: Vajraputra, 伐闍羅弗多羅) cùng với 1.100 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Bát Thích Noa Châu (缽刺拏洲).(9) Thú Bác Ca (s: Jīvaka, 戍博迦) cùng với 900 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú trong Hương Túy Sơn (香醉山).(10) Bán Thác Ca (s: Panthaka, 半託迦) cùng với 1.300 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại cõi trời thứ 33.(11) La Hỗ La (s: Rāhula, 羅怙羅) cùng với 1.100 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tất Lợi Dương Cù Châu (畢利颺瞿洲).(12) Na Già Tê Na (s: Nāgasena, 那伽犀那) cùng với 1.200 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Bán Độ Ba Sơn (半度波山).(13) Nhân Yết Đà (s: Aṅgaja, 因揭陀) cùng với 1.300 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Quảng Hiếp Sơn (廣脅山).(14) Phạt Na Ba Tư (s: Vanavāsin, 伐那婆斯) cùng với 1.400 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Khả Trú Sơn (可住山).(15) A Thị Đa (s: Ajita, 阿氏多) cùng với 1.500 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Thứu Phong Sơn (鷲峰山).(16) Chú Đồ Bán Thác Ca (s: Cūḍapanthaka, 注荼半托迦, tức Châu Lợi Bàn Đà Già [周利槃陀伽]) cùng với 1.600 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Trì Tụ Sơn (持軸山) Tại các già lam, tự viện có an trí 16 tôn tượng La Hán này, 18 La Hán hay 500 La Hán. Như vậy 18 La Hán cũng phát xuất từ 16 La Hán nêu trên, sau này dân gian Trung Quốc thêm vào 2 vị nữa, thành ra con số 18. Thuyết Thập Bát La Hán rất thịnh hành tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v. Có nhiều nguyên nhân giải thích việc biến thành Thập Bát La Hán, trong đó có thuyết giải thích người dân cổ đại Trung Quốc cho rằng con số 9 là số cát tường, tốt đẹp; vì vậy từ cuối thời nhà Đường người ta thêm 2 vị vào trong Thập Lục La Hán. Đến sau thời nhà Tống, Nguyên, thuyết về Thập Bát La Hán trở thành rất phổ cập trong dân gian cũng như văn học Trung Quốc; như trong tác phẩm Tây Du Ký (西遊記) có câu chuyện 18 vị La Hán đấu với Ngộ Không. Theo Bí Điện Châu Lâm Tục Biên (秘殿珠林續編) được hình thành dưới thời nhà Thanh, vua Càn Long (乾隆) có bài đề tụng 2 vị tôn giả cuối cùng trong 18 vị này là Hàng Long La Hán (降龍羅漢) tức Ca Diếp Tôn Giả (迦葉尊者), Phục Ma La Hán (伏虎羅漢) tức Di Lặc Tôn Giả (彌勒尊者). Ngoài ra, còn có thuyết khác về Thập Bát La Hán như:(1) Hàng Long La Hán (降龍羅漢), tức Khánh Hữu Tôn Giả (慶友尊者), tương truyền đã từng hàng phục con rồng ác độc.(2) Tọa Lộc La Hán (坐鹿羅漢), tức Tân La Bạt La Đa Tôn Giả (賓羅跋羅多尊者), từng cỡi hươu vào hoàng cung khuyến dụ quốc vương học Phật, tu hành.(3) Cử Bát La Hán (舉缽羅漢), tức Ca Nặc Ca Bạt Li Tùy Các (迦諾迦跋厘隋閣), là hành giả từng cầm bình bát đi khất thực hóa duyên.(4) Quá Giang La Hán (過江羅漢), tức Bạt Đà La Tôn Giả (跋陀羅尊者), tương truyền ông qua sông nhẹ như con chuồn chuồn.(5) Phục Hổ La Hán (伏虎羅漢), tức Tân Đầu Lô Tôn Giả (賓頭盧尊者), từng hàng phục mãnh hổ.(6) Tĩnh Tọa La Hán (靜坐羅漢), tức Nặc Cự La Tôn Giả (諾距羅尊者), còn gọi là Đại Lực La Hán (大力羅漢), do vì trong thời quá khứ ông xuất thân là võ sĩ, cho nên sức mạnh vô song.(7) Trường Mi La Hán (長眉羅漢), tức A Thị Đa Tôn Giả (阿氏多尊者), tương truyền khi ông ra đời có hai sợi lông mi dài.(8) Bố Đại La Hán (布袋羅漢), tức Nhân Yết Đà Tôn Giả (因揭陀尊者), thường mang trên một túi vải, thường mở miệng là cười.(9) Khán Môn La Hán (看門羅漢), tức Chú Đồ Bán Thác Ca Tôn Giả (注荼半托迦), hay Châu Lợi Bàn Đà Già (周利槃陀伽), vì người tận trung giữ gìn chức phận mình.(10) Thám Thủ La Hán (探手羅漢), tức Bán Thác Ca Tôn Giả (半托迦尊者), nhân khi ngồi thường chỉ tay lên không trung nên có tên như vậy.(11) Trầm Tư La Hán (沉思羅漢), tức La Hỗ La Tôn Giả (羅怙羅尊者), một trong 10 đại đệ tử của Phật, lấy mật hạnh làm đầu.(12) Kỵ Tượng La Hán (騎象羅漢), tức Ca Lí Ca Tôn Giả (迦理迦尊者), hay Tuần Tượng Sư (馴象師, bậc thầy thuần hóa voi nên thường cỡi voi).(13) Hoan Hỷ La Hán (歡喜羅漢), tức Ca Nặc Phạt Sa Tôn Giả (迦諾伐蹉尊者), nguyên là một nhà hùng biện thời cổ đại Ấn Độ.(14) Tiếu Sư La Hán (笑獅羅漢), tức La Phất Đa Tôn Giả (羅弗多尊者), nguyên là thợ săn, nhân học Phật nên từ bỏ sát sanh, sư tử đến tạ ơn, nên có tên như vậy.(15) Khai Tâm La Hán (開心羅漢), tức Thú Bác Ca Tôn Giả (戍博迦尊者), giúp người hiểu được Phật trong tâm mình.(16) Thác Tháp La Hán (托塔羅漢), tức Tô Tần Đà (蘇頻陀), là đệ tử được đức Phật thâu nhận cuối cùng; ông nhớ đến đức Phật nên thường mang theo tháp Phật trên tay.(17) Ba Tiêu La Hán (芭蕉羅漢), tức Phạt Na Bà Tư Tôn Giả (伐那婆斯尊者), sau khi xuất gia ông thường ngồi tu hành công phu dưới gốc cây chuối, nên có tên như vậy.(18) Oạt Nhĩ La Hán (挖耳羅漢), tức Na Ca Tê Na Tôn Giả (那迦犀那尊者), do ông nổi tiếng là nhĩ căn thanh tịnh nên thường được gọi là La Hán Móc Tai.
thập lục la hán
393指承佛敕命,永住世間守護正法之十六尊羅漢。一般係十六尊同受供養。即:(一)賓頭盧跋羅墮闍(梵 Piṇḍolabharadvāja),此尊者與一千阿羅漢,多分住於西牛貨洲。(二)迦諾迦伐蹉(梵 Kanakavatsa), 此尊者與五百阿羅漢,多分住於北方迦濕彌羅國。(三)迦諾迦跋釐墮闍(梵 Kanakabharadvāja), 此尊者與六百阿羅漢,多分住於東勝身洲。(四)蘇頻陀(梵 Subinda), 此尊者與七百阿羅漢,多分住於北俱盧洲。(五)諾矩羅(梵 Nakula),此尊者與八百阿羅漢,多分住於南贍部洲。(六)跋陀羅(梵 Bhadra),此尊者與九百阿羅漢,多分住於耽沒羅洲。(七)迦理迦(梵 Kālika),此尊者與一千阿羅漢,多分住於僧伽茶洲。(八)伐闍羅弗多羅(梵 Vajraputra),此尊者與一千一百阿羅漢,多分住於鉢剌拏洲。(九)戍博迦(梵 Jīvaka), 此尊者與九百阿羅漢,多分住於香醉山中。(十)半託迦(梵 Panthaka),此尊者與一千三百阿羅漢,多分住於三十三天。(十一)羅怙羅(梵 Rāhula),此尊者與一千一百阿羅漢,多分住於畢利颺瞿洲。(十二)那伽犀那(梵 Nāgasena),此尊者與一千二百阿羅漢,多分住於半度波山。(十三)因揭陀(梵 Aṅgaja),此尊者與一千三百阿羅漢,多分住於廣脅山中。(十四)伐那婆斯(梵 Vanavāsin),此尊者與一千四百阿羅漢,多分住於可住山中。(十五)阿氏多(梵 Ajita), 此尊者與一干五百阿羅漢,多分住於鷲峰山中。(十六)注荼半託迦(梵 Cūḍapanthaka),此尊者與一千六百阿羅漢,多分住於持軸山中。此係據法住記所載。自此經典漢譯以來,十六羅漢為禪宗寺院主要之造像,呈神仙姿態。十六羅漢之畫像,有法願、法鏡、僧鯀諸師所繪者,尤以五代貫休之十六羅漢圖與北宋之十六羅漢圖(今藏於日本清涼寺)均為膾炙人口之作,貫休之作品尚可由敦煌千佛洞壁畫窺其遺影。此外,盛傳於世間之十八羅漢圖,即於十六羅漢加繪達磨多羅尊者與布袋和尚,或加繪降龍、伏虎二尊者。〔彌勒下生經、入大乘論卷上、大明三藏法數卷四十五、禪林象器箋靈像門〕
; (十六羅漢) Chỉ cho 16 vị La hán vâng giáo chỉ của đức Phật trụ mãi ở thế gian để giữ gìn che chở chính pháp được ghi trong Pháp trụ kí. Đó là: 1. Tân đầu lô bạt la đọa xà (Phạm: Piịđolabharadvàja): Vị này cùng với 1000 A la hán phần nhiều trụ ở Tây ngưu hóa châu. 2. Ca nặc ca phạt tha (Phạm: Kanakavatsa): Vị này cùng với 500 vị A la hán phần nhiều trụ ở nước Ca thấp di la. 3. Ca nặc ca bạt li đoa xà (Phạm: Kanakabharadvàja): Vị này cùng với 600 vị A la hán phần nhiều trụtạiĐông thắng thân châu. 4. Tô tần đà (Phạm:Subinda): Vị này cùng với 700 vị A la hán phần nhiều trụ ở Bắc câu lô châu. 5. Nặc củ la (Phạm:Nakula): Vị này cùng với 800 vị A la hán phần nhiều trụ ở Nam thiệm bộ châu. 6. Bạt đà la (Phạm:Bhadra): Vị này cùng với 900 vị A la hán phần nhiều trụ ở Đam một la châu. 7. Ca lí ca (Phạm:Kàlika): Vị này cùng với 1000 vị A la hán phần nhiều trụ ở Tăng già trà châu. 8. Phạt xa la phất đa la (Phạm: Vajraputra): Vị này cùng với 1100 vị A la hán phần nhiều trụ ở Bát lạt noa châu. 9. Thú bác ca (Phạm:Jìvaka): Vị này cùng với 900 vị A la hán phần nhiều trụ trên núi Hương túy. 10. Bán thác ca (Phạm: Panthaka): Vị này cùng với 1300 vị A la hán phần nhiều trụ trên cõi trời Tam thập tam. 11. La hỗ la (Phạm:Ràhula): Vị này cùng với 1100 vị A la hán phần nhiều trụ ở Tất lợi dương cù châu. 12. Na già tê na (Phạm: Nàgasena): Vị này cùng với 1200 vị A la hán phần nhiều trụ ở núi Bán độ ba. 13. Nhân yết đà (Phạm: Aígaja): Vị này cùng với 1300 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Quảng hiếp. 14. Phạt na bà tư(Phạm:Vanavàsin): Vị này cùng với 1400 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Khả trụ. 15. A thị đa (Phạm:Ajita): Vị này cùng với 1500 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Thứu phong. 16. Chú đồ bán thác ca (Phạm: Cùđapanthaka): Vị này cùng với 1600 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Trì trục. Từ khi bộ Pháp trụ kí được dịch ra chữ Hán về sau thì Thập lục la hán là các pho tượng chủ yếu trong các chùa viện thuộc Thiền tông ở Trung quốc. Về tượng vẽ của Thập lục La hán thì có các họa phẩm của các ngài Pháp nguyện, Pháp kính, Tăng dao... nhất là Thập lục La hán đồ của ngài Quán hưu đời Ngũ đại và Thập lục La hán đồ đời Bắc Tống (hiện nay được cất giữ ở chùa Thanh lương tại Nhật bản), đều là các tác phẩm được nhiều người trân trọng; các tác phẩm của ngài Quán hưu vẫn còn có thể được thấy qua di ảnh các bứcbíchhọa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng. Ngoài ra, Thập bát La hán đồ được lưu truyền rộng rãi ở thế gian chính là Thập lục La hán thêm tôn giả Đạt ma đa la và Hòa thượng Bố đại, hoặc thêm 2 tôn giả Hàng long và Phục hổ. [X. kinh Di lặc hạ sinh; luận Thập đại thừa Q.thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.45; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thập lục La-hán 十六羅漢
[ja] ジュウロクラカン jūroku rakan ||| The sixteen arhats 羅漢who vowed to stay in this world and protect the true dharma: Piṇḍolabbaradvāja 賓頭盧跋羅墮闍, Kanakavatsa 迦諾迦伐蹉, Kanakabharadvāja 迦諾迦跋釐墮闍, Subinda 蘇頻陀, Nakula 諾矩羅, Bhadra 跋陀羅, Kālika 迦理迦, Vajraputra 伐闍羅弗多羅, Jīvaka 戍博迦, Panthaka 半託迦, Rāhula 羅怙羅, Nāgasena 那伽犀那, Aṅgaja 因揭陀, Vanavasin 伐那婆斯, Ajita 阿氏多, Cūḍapantbaka 注荼半託迦. (Fa zhuji 法住記;彌勒下生經、入大乘論卷上、大明三藏法數卷四十五、禪林象器箋靈像門). For an extensive discussion of the entire Luohan tradition in China, see the essay at 羅漢. II. The sixteen disciples of the Buddha: Śāriputra, Mahāmaudgalyāyana, Mahākāśyapa, Mabakapphiṇa, Mahākātyāyana, Mahākauṣṭhila, Revata, Śuddhipanthaka, Nanda, Ānanda, Rāhula, Gavāṃpati, Bharadvāja, Kālodayin, Vakkula, Aniruddha, as given in the Smaller Sukhavati-vyūha 〔阿彌陀經〕 => Mười sáu vị A-la-hán, phát nguyện ở trong thế gian để hộ trì chính pháp. Đó là: 1. Tân đầu lô bạt la đoạ xà 賓頭盧跋羅墮闍; s: Piṇḍolabbaradvāja. 2. Ca nặc ca phạt ta 迦諾迦伐蹉; s: Kanakavatsa. 3. Ca nặc ca bạt ly đoạ xà 迦諾迦跋釐墮闍; s: Kanakabharadvāja. 4. Tô tần đà 蘇頻陀;s:Subinda. 5. Nặc cự la 諾矩羅 s: Nakula 6. Bạt đà la 跋陀羅 s: Bhadra 7. Ca lý ca 迦理迦 s:Kālika 8. Bạt xà la phất đa la 伐闍羅弗多羅 s:Vajraputra 9. Thú bác ca 戍博迦 s: Jīvaka 10. Bán thác ca 半託迦 s: Panthaka 11. La hỗ la 羅怙羅s: Rāhula. 12. Na già tê na 那伽犀那 s: Nāgasena. 13. Nhân yết đà 因揭陀 s: Aṅgaja. 14. Phạt na bà tư 伐那婆斯 s: Vanavasin. 15. A thị đa 阿氏多 s: Ajita 16. Chú đồ bán thác ca 注荼半託迦 s: Cūḍapantbaka. Theo Pháp trú ký, Kinh Di Lặc hạ sinh, Nhập Đại thừa luận quyển thượng, Đại minh Tam tạng pháp số quyển tứ thập ngũ, Thiền lâm tượng khí tiên linh tượng môn.
thập lục lưu phan
392為十六執金剛神或十六大天所建者。旒,指旌旗下垂之飾物;幡,乃旌旗之總稱。於佛教,幡具有降魔延壽之福德。
; (十六旒幡) Chỉ cho 16 tràng phan(1 loại cờ của Phật giáocóphúc đức hàng ma, kéo dài tuổi thọ), được dựng lên cho 16 vị thần Chấp kim cương, hoặc cho 16 vị Đại thiên. Lưu là chỉ cho các tua may ở phần đuôi lá phan.
thập lục pháp
388密教胎藏界曼陀羅之中臺八葉中,正方四葉為如來之四智,隅角四葉為如來之四行,此八葉開立人、法二種,而成十六法。即八種善知識之人,與其所持金剛慧印之法,合而成為十六法。〔大日經疏卷五〕
; (十六法) Mười sáu pháp. Tức trong Trung đài Bát diệp (đài sen ở giữa 8 cánh sen ở chung quanh) thuộc Mạn đồ laThai tạng giới của Mật giáo thì 4 cánh sen ở 4 phương chính tượng trưng 4 trí của Như lai, 4 cánh sen ở 4 góc tượng trưng cho 4 hạnh của Như lai, 8 cánh sen này chia ra Nhân, Pháp mà thành là 16 pháp. Tức là 8 thiện tri thức (Nhân) và 8 ấn Kim cương tuệ (Pháp) mà các thiện tri thức ấy cầm, hợp lại thành Thập lục pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
thập lục quán
394即十六種觀法;出自觀無量壽經。又作十六觀法、十六想觀、十六妙觀、十六正觀、十六觀門。念佛行者由憶念彌陀之身與淨土,得以往生西方,總其觀行有十六種。即:(一)日想觀,又作日觀、日想。正坐西向,諦觀於日,令心堅住,專想不移。見日欲沒,狀如懸鼓,既見日已,開目閉目皆令明了。(二)水想觀,又作水觀、水想。初見西方一切皆是大水,再起冰想,見冰映徹,作琉璃想。(三)地想觀,又作地觀、琉璃地觀、地想。觀想下有金剛七寶金幢擎琉璃地,地上以黃金繩雜廁間錯,一一寶各有五百色光等。(四)寶樹觀,又作樹觀、樹想。觀極樂國土有七重行樹,七寶花葉無不具足,一一花葉作異寶色,又一一樹上有七重網。(五)寶池觀,又作八功德水想、池觀。觀想極樂有八功德水,一一水中有六十億七寶蓮花,摩尼水流注其間演妙法。又有百寶色之鳥,常讚念佛、念法、念僧。(六)寶樓觀,作此觀想即刻成就以上五種觀法,故又作總觀。亦作總觀想、總想觀。觀想其一一界上有五百億寶樓,其中無量諸天作伎樂。又有樂器,懸處虛空,不鼓自鳴。(七)華座觀,又作華座想。觀佛及二菩薩所坐之華座。(八)像觀,又作像想觀、佛菩薩像觀、像想。觀想一閻浮檀金色佛像坐彼花上,又觀音、勢至二菩薩像侍於其左右,各放金光。(九)真身觀,又作佛觀、佛身觀、徧觀一切色身想。觀想無量壽佛之真身;作此想即可見一切諸佛。(十)觀音觀,又作觀世音觀、觀觀世音菩薩真實色身想。觀想彌陀脅士中之觀世音菩薩。(十一)勢至觀,又作大勢至觀、觀大勢至色身想。觀想另一脅士大勢至菩薩。(十二)普觀,又作自往生觀、普往生觀、普觀想。觀自生於極樂,於蓮花中結跏趺坐。蓮花開時,有五百色光來照身,乃至佛菩薩滿虛空。(十三)雜想觀,又作雜觀、雜明佛菩薩觀、雜觀想。觀丈六佛像在池水上,或現大身滿虛空。即雜觀真佛、化佛、大身、小身等。(十四)上輩觀,又作上品生觀、上輩生想。往生淨土者依其因,而有上、中、下三輩,三輩復分上、中、下三品,總為九品。上輩觀即觀上輩徒眾自發三心、修慈心不殺行等、臨終蒙聖眾迎接,及往生後得種種勝益之相。(十五)中輩觀,又作中品生觀、中輩生想。即觀中輩徒眾受持五戒八戒、修孝養父母之行等,及感得聖眾迎接而往生等相。(十六)下輩觀,又作下品生 [、下輩生想。即觀下輩徒眾雖造作惡業,然臨終遇善知識,而知稱念彌陀名號,因之得以往生,及蒙種種勝益之相。 慧遠之觀無量壽經義疏卷本將此十六觀大別為二類,初之七門為觀依報,後九門觀彼之正報。又後十觀中,初之五門明佛菩薩觀,次一門明自往生觀,再次一門明佛菩薩觀,後三門明他生觀。智顗之觀無量壽佛經疏卷下分之為三類,初之六觀觀依果,次七觀觀正報,後三觀明三輩九品之往生。慧遠諸師皆以此十六觀為定善觀法,善導則稱唯初十三觀為定善,後九品為散善;又定善之中,初七觀為依報觀,次六觀為正報觀。〔觀無量壽佛經疏卷一玄義分、十六觀讚、觀無量壽佛經妙宗鈔卷一、佛祖統紀卷五十三〕(參閱「九品往生」136)
; The sixteen meditations of Amitàbha on the setting sun, water (as ice, crystal, etc.), the earth and so on.
; Theo K.K. Tanaka trong Tịnh Độ Nguyên Thủy Trung Hoa, có 16 phép quán trong Tịnh Độ tông (đây là 16 cách quán tưởng đến cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà hầu có vãng sanh về đó. Theo truyền thuyết, đây là 16 phép mà Đức Phật Thích Ca đã truyền dạy theo lời cầu thỉnh của bà Hoàng thái hậu Vi Đề Hy)—According to K.K. Tanaka in The Dawn of Chinese Pure Land Doctrine, there are sixteen kinds of contemplation in the Pure Land. 1) Quán tưởng thấy mặt trời sắp lặn: Visualization of the setting sun. 2) Quán tưởng Thấy nước lắng trong: Visualization of pure water. 3) Quán tưởng thấy đất nơi cõi Cực Lạc: Visualization of the ground in the Pure Land. 4) Quán tưởng thấy cây báu: Visualization of precious trees. 5) Quán tưởng thấy bát công đức thủy, hay nước tám công đức: Visualization of eight waters of merit and virtue—See Bát Công Đức Thủy. 6) Tổng quán tưởng thấy các cảnh, thấy cây báu, thấy ao báu nơi thế giới Cực Lạc: Unified visualization of the precious trees, lakes, etc., in the Pure Land. 7) Quán tưởng thấy tòa hoa của Đức Phật A Di Đà: Visualization of the lotus throne of Amitabha Buddha. 8) Quán tưởng thấy hình Phật A Di Đà và chư Bồ Tát Quán Âm ngồi bên tả tòa, và Bồ Tát Đại Thế Chí đang ngồi bên hữu tòa: Visualization of the images of the Buddha Amitabha on the throne, Bodhisattvas Avalokitesvara on the left, and Bodhisattva Mahasthamaprapta on the right side of the throne. 9) Quán tưởng thấy tỏ rõ chơn thân mà Đức Phật A Di Đà đã thị hiện nơi cõi Cực Lạc: Visualization of the Reward body of Amitabha Buddha, i.e. the form in which he appears in the Pure Land. 10) Quán tưởng thấy rõ sắc thân của Bồ Tát Quán Thế Âm: Visualization of Avalokitesvara Bodhisattva. 11) Quán tưởng thấy rõ sắc thân của Bồ Tát Đại Thế Chí: Visualization of Mahasthamaprapta Bodhisattva. 12) Quán tưởng thấy rõ ba vị A Di Đà, Quán Thế Âm, và Đại Thế Chí đầy khắp cả hư không: Visualization of the reward bodies of Amitabha Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Mahasthamaprapta Bodhisattva are every where in the space. 13) Quán tưởng tạp, khi thì quán tưởng Đức A Di Đà, khi thì quán tưởng Đức Quán Thế Âm, khi thì quán tưởng Đức Đại Thế Chí: A mixing or intermingling visualization among Amitabha Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Mahasthamaprapta Bodhisattva. 14) Quán tưởng Thượng Bối Sanh, bao gồm thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh, và thượng phẩm hạ sanh: Visualization of the rebirth of the three highest grades in the Pure Land, including the highest, the middle, and the lowest of the three highest classes. 15) Quán tưởng Trung Bối Sanh, bao gồm trung phẩm thượng sanh, trung phẩm trung sanh, và trung phẩm hạ sanh: Visualization of the rebirth of the middle grades in the Pure Land, including the highest, the middle, and the lowest of the three middle classes. 16) Quán tưởng Hạ Bối Sanh, bao gồm hạ phẩm thượng sanh, hạ phẩm trung sanh, và hạ phẩm hạ sanh: Visualization of the rebirth of the lowest grades, including the highest, the middle, and the lowest in the three lowest classes in the Pure Land.
; (十六觀) Cũng gọi Thập lục quán pháp, Thập tưởng quán, Thập lục diệu quán, Thập lục chính quán, Thập lục quán môn. Chỉ cho 16 pháp quán tưởng ghi trong kinh Quán vô lượng thọ mà người niệm Phật thực hành để được sinh về Tịnh độ phương Tây. Đó là: 1. Nhật tưởng quán(cũng gọi Nhật quán, Nhật tưởng): Ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng tây, quán xét kĩ mặt trời sắp lặn, hình dáng như cái trống treo, tâm an trụ vững chắc, chuyên tưởng không dời, đã thấy mặt trời rồi thì mở mắt, nhắm mắt đều thấy rõ ràng. 2. Thủy tưởng quán(cũng gọi Thủy quán), Thủy tưởng): Mới đầu thấy Tây phương đều là nước, sau đó tưởng là băng, thấy băng trong suốt lấp lánh, lại tưởng như lưu li. 3. Địa tưởng quán(cũng gọi Địa quán, Lưu li địa quán, Địa tưởng): Quán tưởng phía dưới có Kim chàng 7 báu kim cương nâng mặt đất lưu li, trên đất có dây vàng ròng đang dệt vào nhau, mỗi thứ báu đều có 500 tia sáng nhiều màu. 4. Bảo thụ quán(cũng gọiThụ quán, Thụ tưởng): Quán tưởng cõi nước Cực lạc có7 lớp hàng cây, hoa lá 7 báu đều đầy đủ, mỗi hoa mỗi lá đều có màu báu khác nhau, lại quán trên mỗi cây đều có 7 lớp lưới giăng. 5. Bảo trì quán(cũng gọi Bát công đức thủy tưởng, Trì quán): Quán tưởng cõi Cực lạc có ao nước 8 công đức, trong mỗi mỗi ao có 60 ức hoa sen 7 báu, nước ma ni trôi chảy trong đó diễn nói diệu pháp, lại có loài chim màu sắc 7 báu thường cất tiếng khen ngợi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. 6. Bảo lâu quán: Tu pháp quán tưởng này thì lập tức thành tựu 5 pháp quán tưởng trên, cho nên cũng gọi là Tổng quán, Tổng quán tưởng, Tổng tưởng quán. Quán tưởng trên mỗi mỗi cõi có 500 ức lầu báu, trong lầu báu có vô lượng chư thiên trỗi kĩ nhạc. Lại có các nhạc khí treo lơ lửng giữa hư không, tự tấu nhạc. 7. Hoa tọa quán(cũng gọi Hoa tọa tưởng): Quán tưởng trên tòa hoa có Phật và 2 vị Bồ tát đang ngồi(tức đức Phật A di đà và 2 Bồ tát Quan âm, Thế chí). 8. Tượng quán(cũng gọi Tượng quán tưởng, Phật Bồ tát tượng quán, Tượng tưởng): Quán tượng Phật màu vàng Diêm phù đàn ngồi trên hoa sen, có tượng 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đứng hầu 2 bên, cả 3 tôn tượng đều phóng ra ánh sáng vàng ròng. 9. Chân thân quán(cũng gọi Phật quán, Phật thân quán, Biến quán nhất thiết sắc thân tưởng): Quán tưởng chân thân của đức Phật Vô lượng thọ; khi quán tưởng pháp này thì liền được thấy tất cả chư Phật. 10. Quan âm quán(cũng gọi Quan thế âm quán, Quán Quan thế âm bồ tát chân thực sắc thân tưởng): Quán tưởng bồ tát Quan thế âm đang đứng hầu Phật Di đà. 11. Thế chí quán(cũng gọi Đại thế chí quán, Quán đại thế chí sắc thân tưởng): Quán tưởng bồ tát Đại thế chí cũng đang đứng hầu Phật Di đà. 12. Phổ quán(cũng gọi Tự vãng sinh quán, Phổ vãng sinh quán, Phổ tưởng quán): Quán tưởng mình sinh về Cực lạc, ngồi kết già trong hoa sen. Khi hoa nở thì có 500 tia sáng nhiều màu chiếu soi trên thân mình, đồng thời thấy Phật và Bồ tát đầy khắp hư không. 13. Tạp tưởng quán (cũng gọi Tạp quán, Tạp minh Phật Bồ tát quán, Tạp quán tưởng): Quán tưởng tượng Phật trượng sáu ở trên mặt nước trong ao, hoặc Phật hiện thân to lớn đầy ắp hư không. Tức quán tưởng chân Phật, hóa Phật, đại thân, tiểu thân... 14. Thượng bối quán(cũng gọi Thượng phẩm sinh quán, Thượng bối sinh tưởng): Người sinh về Tịnh độ tùy theo nhân tu mà có được 3 bậc thượng, trung, hạ; 3 bậc này lại được chia làm 3 phẩm thượng, trung, hạ nữa, cộng chung thành 9 phẩm. Thượng bối quán là quán đồ chúng bậc thượng tự phát 3 tâm, tu từ tâm, không giết hại, lâm chung được Thánh chúng đón rước, sau khi vãng sinh được các tướng lợi ích thù thắng. 15. Trung bối quán (cũng gọi Trung phẩm sinh quán, Trung bối sinh tưởng): Tức quán tưởng đồ chúng bậc trung thụ trì 5 giới, 8 giới, tu hạnh hiếu dưỡng cha mẹ và cảm được các tướng Thánh chúng đón rước, vãng sinh... 16. Hạ bối quán(cũng gọi Hạ phẩm sinh quán, Hạ phẩm sinh tưởng): Tức quán đồ chúng bậc hạ, tuy tạo các nghiệp ác, nhưng lâm chung gặp được thiện tri thức, nhờ đó biết xưng niệm danh hiệu Phật A di đà mà được vãng sinh, lại cảm được tướng lợi ích thù thắng... Trong quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ phần đầu, ngài Tuệ viễn chia 16 pháp quán này làm 2 loại, 7 môn trước là quán y báo, 9 môn sau là quán chính báo. Lại trong 10 pháp quán sau thì 5 môn trước nói về quán Phật, Bồ tát; môn thứ 6 nói về Tự vãng sinh quán(quán tưởng tự mình vãng sinh); môn thứ 7 nói về quán Phật, Bồ tát, 3 môn cuối nói về Tha vãng sinh quán(quán tưởng người khác vãng sinh). Còn trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển hạ thì ngài Trí khải chia 16 pháp quán làm 3 loại: 6 pháp quán đầu là quán Ty quả, 7 pháp quán kế là quán chính báo, 3 pháp quán cuối nói về 9 phẩm vãng sinh của 3 hạng chúng sinh. Các ngài Tuệ viễn... đều cho rằng 16 pháp này là pháp quán Định thiện, nhưng ngài Thiện đạo thì chủ trương chỉ có 13 pháp quán đầu là Định thiện, còn 3 pháp quán cuối là Tán thiện. Lại trong Định thiện thì 7 pháp quán đầu là Y báo quán, 6 pháp quán kế là Chính báo quán. [X. phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.1; Thập lục quán tán; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.53]. (xt. Cửa Phẩm Vãng Sinh).
thập lục quán kinh
Xem Kinh Quán Vô lượng thọ Phật.
thập lục quán môn
396<一>指依觀無量壽經所載十六觀,為往生西方極樂之十六觀門。(參閱「十六觀」396) <二>密宗依顯教九次第定之順逆觀,就無盡法界與無餘眾生界之說,而立十六觀門。如菩薩修禪時,於九次第定中逆順出入定散超間,奮迅遊戲無不自在。諸如來漸次證入大悲藏發生三摩地,亦復如是,或觀無盡法界,以一切心為一心,以一切門為一門;或觀無餘眾生界,以一心為一切心,以一門為一切門。無盡法界之八門:以一切心為一心(順觀),以一心為一切心(逆觀),以一心為一心,以一切心為一切心,以一切門為一門,以一門為一切門,以一門為一門,以一切門為一切門;其中,心以所入之體而名,門以能入之教而名。無餘眾生界之八門,如上。無盡法界為一法界門,而觀諸佛法界;無餘眾生界為多法界,以觀九界差別之迷境。〔大日經疏卷三〕
; (十六觀門) I. Thập Lục Quán môn. Chỉ cho 16 pháp môn quán tưởng ghi trong kinh Quán vô lượng thọ tu để cầu sinh về Tịnhđộcực lạc phương tây. (xt. Thập Lục Quán). II. Thập Lục Quán Môn. Chỉ cho 16 pháp quán do Mật tông dựa vào pháp quán thuận nghịch thuộc Cửu thứ đệ định của Hiển giáovà thuyết Vô tận pháp giới, vô dư chúng sinh giới mà lập ra. Tức khi Bồ tát tu thiền, trong Cửu thứ đệ định(4Thiền, 4 Không xứ và Diệt tận định), theo thứ tự thuận, nghịch mà nhập định, xuất định một cách tự tại không ngại. Các đức Như lai dần dần chứng nhập Đại bi tạng phát sinh tam ma địa cũng như thế. Hoặc quán Vô tận pháp giới, lấy tất cả tâm làm 1 tâm, lấy tất cả môn làm 1 môn; hoặc quán Vô dư chúng sinh giới, lấy 1 tâm làm tất cả tâm, lấy 1 môn làm tất cả môn. Đó là: 1. Tám môn của Vô tận pháp giới: Lấy tất cả tâm làm một tâm(quán thuận), lấy một tâm làm tất cả tâm(quán nghịch); lấy một tâm làm một tâm, lấy tất cả tâm làm tất cả tâm, lấy tất cả môn làm một môn, lấy một môn làm tất cả môn, lấy một môn làm một môn, lấy tất cả môn làm tất cả môn. Trong đó, Tâm lấy thể sở nhập làm tên, Môn lấy giáo năng nhập làm tên. 2. Tám môn của Vô dư chúng sinh giới: Cũng giống như trên. Lấy Vô tận pháp giới làm một pháp giới môn để quán chư Phật pháp giới; lấy Vô dư chúng sinh giới làm nhiều pháp giới để quán cảnh mê của 9 giới sai biệt. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].
thập lục sinh
386生,義即次第出生因、行、證、入四轉功德。眾生證果之過程,共有十六個生起次第;亦即以十六菩薩之位次表示真言行者之修證過程。又作十六大生、十六大菩薩生。十六菩薩,指四方四佛之四親近菩薩,即東方阿閦佛之薩、王、愛、喜四菩薩;南方寶生佛之寶、光、幢、笑四菩薩;西方阿彌陀佛之法、利、因、語四菩薩;北方不空成就佛之業、護、牙、拳四菩薩。其中東方為發心門,南方為修行門,西方為菩提門,北方為涅槃門。真言行者初由金剛薩埵之發心位,終至金剛拳之涅槃位,經十六生而成佛。或以薩、王、愛、喜四菩薩為初地以前,大日經疏則以十六生盡屬十地所攝。〔金剛頂瑜伽修習毘盧遮那三摩地法、如意輪瑜伽念誦法、大疏第三重卷十、密教奧義卷上、注理趣經卷一〕(參閱「十六菩薩」392)
; (十六生) Cũng gọi Thập lục đại sinh, Thập lục đại bồ tát sinh. Chỉ cho 16 thứ bậc sinh khởi trong quá trình chứng quả của chúng sinh; cũng tức là giai vị của 16 Bồ tát biểu thị quá trình tu chứng của hành giả Chân ngôn. Mười sáu Bồ tát chỉ cho 4 vị Bồ tát thân cận của 4 đức Phật ở 4 phương, tức 4 bồ tát: Tát, Vương, Ái, Hỉ của đức Phật A súc 13. Tạp tưởng quán (còn 3 ảnh 14, 15, 16 thì giống với 9 phẩm vãng sinh)ở phương Đông; 4 bồ tát: Bảo, Quang, Chàng, Tiếu, của đức Phật Bảo sinh ở phương Nam; 4 bồ tát: Pháp, Lợi, Nhân, Ngữ của đức Phật A di đà phương Tây và 4 bồ tát: Nghiệp, Hộ, Nha, Quyền của đức Phật Bất không thành tựu ở phương Bắc. Trong đó, phương đông là Phát tâm môn, phương nam là Tu hành môn, phương tây là Bồ đề môn và phương bắc là Niết bàn môn. Hành giả Chân ngôn bắt đầu từ Phát tâm vị của bồ tát Kim cương tát đỏa, cuối cùng đến Niết bàn vị của bồ tát Kim cương quyền, trải qua quá trình 16 sinh(thứ tự sinh khởi của Nhân, Hành, Chứng, Nhập) mà thành Phật. Có thuyết cho rằng 4 bồ tát: Tát, Vương, Ái, Hỉ là từ Sơ địa trở về trước, nhưng Đại nhật kinh sớ thì cho rằng Thập lục sinh đều thuộc Thập địa. [X. Kim cương đính du già tu tập Tì lô giá na tam ma địa pháp; Như ý luân du già niệm tụng pháp; Đại sớ đệ tam trùng quyển hạ; Mật giáo áo nghĩa Q.thượng; Chú lí thú kinh Q.1]. (xt. Thập Lục Bồ Tát ).
thập lục sư
The sixteen non-Buddhist Indian philosophers.
thập lục sử
387大乘唯識思惑之品數。即總括三界中之思惑,於欲界有貪、瞋、癡、慢、身見、邊見等六惑,色界、無色界則各除瞋惑而共有十惑,合欲界之六惑即總計為十六惑。使,煩惱之異名,有驅使、役使之義;以煩惱隨逐於人,能驅使眾生流轉於三界,故謂之使。〔成唯識論卷六、大乘義章卷六〕
; (十六使) Chỉ cho 16 Tư hoặc trong 3 cõi theo thuyết của Duy thức Đại thừa. Tức là: Cõi Dục có 6 Hoặc tham, sân, si, mạn, thân kiến và biên kiến; cõi Sắc và cõi Vô sắc thì mỗi cõi đều trừ Sân hoặc nên còn 10, hợp chung lại là 16 hoặc. Sử, có nghĩa sai khiến, là tên khác của phiền não. [X. luận Thành duy thức Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
thập lục tam muội
378為妙音菩薩所成就之三昧。出自法華經卷七妙音品,經中敘述妙音菩薩之福德智慧時,謂其已得百千萬億恒河沙等諸大三昧,而總括成此十六三昧。即:(一)妙幢相三昧,即三千之體,寂而豎超一切,無相而相。(二)法華三昧,即說圓融之法,譬喻奇特。(三)淨德三昧,即性淨無穢,具常樂我。(四)宿王戲三昧,即照權智機,善巧逗會。(五)無緣三昧,即緣平等大慧。(六)智印三昧,即以一心三智印一切法無非佛法。(七)解一切眾生語言三昧,即眾生之語言能了解 L礙。(八)集一切功德三昧,即集諸三昧之功德。(九)清淨三昧,即六根無染,互融自在。(十)神通遊戲三昧,遊諸世間,自在化眾生。(十一)慧炬三昧,即以平等大慧之炬,除無明之暗。(十二)莊嚴王三昧,即性具萬德,緣了莊嚴,融妙自在。(十三)淨光明三昧,其性清淨照明,離諸垢染。(十四)淨藏三昧,即一念之淨心能含攝權實一切功德。(十五)不共三昧,即不共淺劣之偏小。(十六)日旋三昧,即依實智之空而不住於空。又據法華文句記卷十下載,謂此十六三昧亦為法華三昧之異稱;然「法華三昧」一詞,於天台宗通常係指一種於三七日(第三個七日)中行道誦經、懺悔滅罪之修法,實又異於上記所述妙音菩薩成就之三昧。
; (十六三昧) Chỉ cho 16 thứ Tam muội mà Bồ tát Diệu âm đã thành tựu, được ghi trong phẩm Diệu âm kinh Pháp hoa quyển 7. Đó là: 1. Diệu chàng tướng tam muội: Thể vắng lặng, siêu việt tất cả, không tướng mà có tướng. 2. Pháp hoa tam muội: Tức nói pháp viên dung, ví dụ sự kì đặc. 3. Tịnh đức tam muội: Tức tính thanh tịnh và thường, lạc, ngã. 4. Tú vương hí tam muội: Quyền trí chiếu cơ, khéo léo ứng hợp. 5. Vô duyên tam muội: Tức duyên theo trí tuệ bình đẳng. 6. Trí ấn tam muội: Tức dùng Nhất tâm tam trí ấn chứng tất cả pháp. 7. Giải nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn tam muội: Tức có năng lực hiểu rõ ngôn ngữ của tất cả chúng sinh một cách dễ dàng. 8. Tập nhất thiết công đức tam muội: Tức tập hợp công đức của các Tam muội. 9. Thanh tịnh tam muội: Tức 6 căn thanh tịnh, tự tại dung nhiếp lẫn nhau. 10. Thần thông du hí tam muội: Dạo đi trong các thế gian bằng năng lực thần thông và tự tại giáo hóa chúng sinh. 1. Tuệ cự tam muội: Tức thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ bình đẳng diệt trừ vô minh si ám. 12. Trang nghiêm tam muội: Tính có muôn đức, các duyên trang nghiêm, dung diệu tự tại. 13. Tịnh quang minh tam muội: Tính thanh tịnh sáng soi, lìa các cấu uế. 14. Tịnh tạng tam muội: Một niệm tịnh tâm có năng lực hàm nhiếp tất cả công đức quyền thực. 15. Bất cộng tam muội: Không chung với Thiên, Tiểu nông cạn, yếu kém. 16. Nhật toàn tam muội: Nương nơi cái không của trí chân thực, nhưng chẳng trụ ở không. Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 10 hạ thì 16 tam muội này là tên khác của Pháp hoa tam muội. Nhưng từ ngữ Pháp hoa tam muội thông thường chỉ cho pháp tu hành đạo tụng kinh, sám hối diệt tội trong 21 ngày (7 ngày thứ 3) của tông Thiên thai, thực khác với Tam muội mà bồ tát Diệu âm thành tựu như đã nói ở trên.
thập lục thiên
383又作十六大天。八字文殊儀軌所稱之十六大天外護。即以東、南、西、北、東南、西南、西北、東北等天部中之主者,一一各有二位,合為十六天。東方為帝釋天及帝釋后;南方為焰摩天、焰摩后;西方為水天、水天后;北方為毘沙門天、毘沙門后;東南為火天、火天后;西南為羅剎天、羅剎后;西北為風天、風天后;東北為伊舍那、伊舍那后等。其圖如右。
; (十六天) Cũng gọi Thập lục đại thiên. Chỉ cho 16 vị Đại thiên ngoại hộ nói trong Bát tự văn thù nghi quĩ. Đó là: Phương đông gồm 2 vị là trời Đế thích và vợ; phương nam 2 vị là trời Diệm ma và vợ; phương tây 2 vị là Thủy thiên và vợ; phương bắc 2 vị là trời Tì sa môn và vợ; phương đông nam 2 vị là Hỏa thiên và vợ; phương tây nam 2 vị là trời La sát và vợ, phương tây bắc 2 vị là Phong thiên và vợ; phương đông bắc 2 vị là Y xá na và vợ.
thập lục thiện thần
389指守護般若經及其持誦者之十六尊夜叉善神。又作十六神王、十六夜叉神、十六大藥叉將、般若十六善神、般若守護十六善神。據陀羅尼集經卷三所載之十六善神,即:(一)提頭賴吒神王,(二)禁尾嚕神王,(三)跋折嚕神王,(四)迦毘嚕神王,(五)咩闚嚕神王,(六)鈍徒毘神王,(七)阿儞嚕神王,(八)娑儞嚕神王,(九)印陀嚕神王,(十)婆姨嚕神王,(十一)摩休嚕神王,(十二)鳩毘嚕神王,(十三)真陀嚕神王,(十四)跋吒徒嚕神王,(十五)尾迦嚕神王,(十六)俱鞞嚕神王。唐朝金剛智繪有十六善神圖(後被日僧空海攜回日本),呈神王形,以釋迦佛為中心,左右有文殊、普賢、法涌與阿難、玄奘與深沙大將等並列,兩側則分列十六善神,但此圖所示之神名與上述所舉略有不同。此外,或謂十六善神為藥師十二神將與四天王。依據別尊雜記所出之十六善神像,列圖如下:
; (十六善神) Cũng gọi Thập lục thần vương, Thập lục dạ xoa thần, Thập lục đại dược xoa tướng, Bát nhã thập lục thiện thần, Bát nhã thủ hộ thập lục thiện thần. Chỉ cho 16 vị thiện thần Dược xoa giữ gìn kinh Bát nhã và che chở người trì tụng kinh này, được ghi trong kinh Đà la ni tập quyển 3. Đó là: 1. Đề đầu lại tra thần vương. 2. Cấm vĩ rô thần vương. 3. Bạt chiết rô thần vương. 4. Ca tì rô thần vương. 5. Miết đấu rô thần vương. 6. Độn đồ tì thần vương. 7. A nễ rô thần vương. 8. Sa nễ rô thần vương. 9. Ấn đà rô thần vương. 10. Bà di rô thần vương. 11. Ma hưu rô thần vương. 12. Cưu tì rô thần vương. 13. Chân đà rô thần vương. 14. Bạt tra đồ rô thần vương. 15. Vĩ ca rô thần vương. 16. Câu tì rô thần vương. Ngài Kim cương trí đời Đường có vẽ bức tranh 16 vị này với hình tướng thần vương, lấy Phật Thích ca làm trung tâm, 2 bên tả hữu có ngài Văn thù, Phổ hiền, Pháp dũng và A nan, Huyền trang và Đại tướng Thâm sa... xếp thành hàng, 2 bên có 16 vị thiện thần, nhưng tên các thần ghi trong bức tranh này của ngài Kim cương trí có hơi khác với tên 16 vị nêu trên. Ngoài ra, có thuyết cho rằng 16 thiện thần tức là 12 thần tướng Dược sư cộng với 4 Thiên vương. Y cứ theo Biệt tôn tạp kí thì tượng 16 vị thiện thần được liệt kê như hình vẽ dưới đây:
Thập lục thánh hạnh
xem Mười sáu hạnh.
Thập lục thánh hạnh 十六聖行
[ja] ジュウロクショウギョウ jūroku shōgyō ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hạnh tướng.
thập lục tiểu địa ngục
381又作十六遊增地獄。為八大地獄(八熱地獄)之眷屬。有關十六小地獄之名稱,諸經所說不一:(一)依大智度論卷十六載,指八寒冰地獄與八炎火地獄。八寒冰地獄即:頞浮陀(多少有孔)、尼羅浮陀(無孔)、阿羅羅(寒顫之聲)、阿婆婆(亦患寒之聲)、睺睺(亦為患寒聲)、漚波羅(此地獄之外壁似青蓮華)、波頭摩(紅蓮華色,眾生於其中受苦)、摩訶波頭摩等地獄;八炎火地獄 Y炭坑、沸屎、燒林、劍林、刀道、劍刺林。鹹河、銅橛等地獄。蓋大智度論以八寒冰地獄攝於十六小地獄中,為八大地獄之眷屬,然俱舍論卷十一則以八大地獄除各有十六眷屬地獄外,別有八寒地獄。 (二)據經律異相卷四十九、諸經要集卷十八等所載,八寒、八熱大獄,每獄有四門,每門各有四獄,合為十六獄,受苦眾生於此諸獄次第遊歷,其苦轉增,故稱十六遊增地獄。十六獄為:(1)黑沙地獄,謂熱風吹熱黑沙,沙著於身,使皮骨焦爛,罪人久受苦已,方出此獄,復至沸屎地獄。(2)沸屎地獄,謂沸屎鐵丸自然滿於人前,鬼卒驅逼罪人,使其抱鐵丸,燒其身手,復使鐵丸撮著於罪人口中,從咽至腹,通徹下過,無不焦爛。另有鐵嘴蟲食肉達髓,苦毒無量,久受苦已,方出此獄,復到鐵釘地獄。(3)鐵釘地獄,謂獄卒捉罪人偃臥於熱鐵上,舒展其身,以釘釘其手足,盡五百釘,周遍其身,苦毒無量,久受苦已,方出此獄,復到饑餓地獄。(4)飢餓地獄,謂獄卒捉罪人撲於熱鐵上,以鎔銅灌口,從咽至腹,通徹下過,無不焦爛,久受苦已,方出此獄,復到渴地獄。(5)渴地獄,謂獄卒將熱鐵丸放入罪人口中,燒其唇舌,通徹下過,無不焦爛,久受苦已,方出此獄,復到一銅鑊地獄。(6)一銅鑊地獄,謂獄卒捉罪人倒投鑊中,隨湯涌沸,上下迴旋,身已壞爛,久受苦已,方出此獄,復到多銅鑊地獄。(7)多銅鑊地獄,謂獄卒捉罪人倒投鑊中,其全身爛壞,再以鐵鉤將其取置餘鑊中,苦毒無量,久受苦已,方出此獄,復到石磨地獄。(8)石磨地獄,謂獄卒捉罪人撲於熱石上,舒展其手足,以大熱石壓其身上,迴轉揩磨,使骨肉糜碎,苦毒無量,久受苦已,方出此獄,復到膿血地獄。(9)膿血地獄,謂罪人於膿血沸涌中東西馳走,湯灼其身,致使頭面爛壞,又取膿血食之,通徹下過,苦毒難忍,久受苦已,方出此獄,復到量火地獄。(10)量火地獄,謂有赤燄燃燒之大火聚,獄卒驅逼罪人手執鐵升(量器)以量火聚,火燄遍燒其身,苦毒熱痛,而呻吟號哭,久受苦已,方出此獄,復到灰河地獄。(11)灰河地獄,謂此獄縱廣各五百由旬(限量),灰河沸涌其中,惡氣蓬勃,迴波相搏,聲響可畏,從底至上,鐵刺縱橫,岸上則有劍林,其枝葉花實皆是刀劍。罪人入河,隨波上下,沈沒於迴流中,鐵刺刺其全身,內外通徹,苦痛萬端,罪人遂出灰河,至彼岸上,被利劍割刺,身體傷壞,復有豺狼來啃嚙罪人,生食其肉。罪人走上劍樹,劍刃向下刺之,下劍樹時,劍刃則向上刺之。罪人以手攀樹手絕,以足踏樹足斷,皮肉裂落,筋脈相連,另有鐵嘴鳥啄其頭,食其腦。罪人於此復入灰河,隨波沈沒,河中鐵刺刺其全身,皮肉壞爛,膿血流出,唯有白骨漂浮於外,冷風吹來,不久即起立,由宿業所牽引,不覺忽至鐵丸地獄。(12)鐵丸地獄,謂獄卒驅逼罪人撮取熱鐵丸,以致其手足爛壞,全身火燃,久受苦已,方出此獄,復到釿斧地獄。(13)釿斧地獄,謂獄卒捉犯人撲於熱鐵上,以熱鐵釿斧斫其手足及耳、鼻、身體,苦毒無量,久受罪已,方出此獄,復到豺狼地獄。(14)豺狼地獄,謂豺狼競相來齧嚙罪人,使其肉墮骨傷,膿血流水,苦痛萬端,久受苦已,方出此獄,復到劍樹地獄。(15)劍樹地獄,謂罪人入劍林中,暴風起吹落劍樹葉,墮於其身,以致頭面身體無不傷壞。另有鐵嘴鳥啄其兩目,苦痛無量,久受苦已,方出此獄,復到寒冰地獄。(16)寒冰地獄,謂有大寒風吹於罪人身上,使其全身凍傷,皮肉墮落而苦毒叫喚,然後命終。以上十六小地獄皆因眾生造極惡業,故墮此等諸地獄受苦。〔長阿含經卷十九、增一阿含經卷三十六、正法念處經卷五、大樓炭經卷二泥犁品〕(參閱「地獄」2311)
; (十六小地獄) Cũng gọi Thập lục du tăng địa ngục. Chỉ cho 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc 8 địa ngục lớn (Bát nhiệt địa ngục). Về tên gọi của 16 địa ngục nhỏ này, các kinh nói không giống nhau. Theo luận Đại trí độ quyển 16 thì Thập lục tiểu địa ngục là chỉ cho 8 địa ngục Hàn băng và 8 địa ngục Viêm hỏa. Tám địa ngục Hàn băng là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà,, Hầu hầu, Âu ba la, Ba đầu ma và Ma ha ba đầu ma. Tám địa ngục Viêm hỏa là: Thán khanh, Phí thỉ, Thiêu lâm, Kiếm lâm, Đao đạo, Kiếm lạt lâm, Hàm hà và Đồng quyết. Cứ theo Kinh luật dị tướng quyển 49 và Chư kinh yếu tập quyển 18 thì Bát hàn, Bát nhiệt địa ngục, mỗi ngục có 4 cửa, mỗi cửa đều có 4 ngục, cộng chung là 16 ngục, chúng sinh theo thứ tự lần lượt chịu khổ qua các địa ngục này và cứ mỗi lần bị chuyển từ địa ngục này đến địa ngục khác thì nỗi khổ lại càng tăng thêm, vì thế gọi là Thập lục du tăng địa ngục. Mười sáu ngục ấy là:1. Hắc sa địa ngục: Địa ngục cát đen. Nghĩa là địa ngục có gió nóng thổi cát đen nóng, cát dính vào mình, làm cho da xương cháy bỏng, người tội chịu khổ trong một thời gian lâu dài mới ra khỏi ngục này để bị chuyển đến địa ngục Phí thỉ. 2. Phí thỉ địa ngục: Địa ngục phân nóng. Nghĩa là địa ngục có những cục phân (cứt) sắt nóng tự nhiên đầy ắp ở trước mặt người tội, quỉ tốt rượt đuổi bức bách, bắt họ phải ôm lấy những cục phân ấy, khiến thân thể tay chân đều bị đốt cháy, rồi lại nhét những cục phân ấy vào miệng người tội, suốt từ cổ họng cho đến bụng đều bị cháy bỏng. Lại có những con trùng mỏ sắt ăn từ thịt cho đến xương tủy, đau đớn, khổ sở vô cùng. Người tội chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Thiết đinh. 3. Thiết đinh địa ngục: Địa ngục đinh sắt. Nghĩa là địa ngục trong đó ngục tốt đè người tội nằm trên giường sắt nóng, kéo dang tay chân, rồi đóng 500 cây đinh cùng khắp thân thể, đau đớn, khổ sở vô cùng. Người tội chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Cơ ngã. 4. Cơ ngã địa ngục: Địa ngục đói. Nghĩa là ngục tốt lấy những viên sắt nóng bỏ vào miệng người tội, từ môi và lưỡi suốt đến bụng người tội đều bị cháy bỏng, đau đớn khổ sở vô cùng. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Khát. 5. Khát địa ngục: Trong ngục này, ngục tốt lấy nước đồng sôi rót vào miệng người tội, suốt từ cổ họng cho đến bụng đều bị cháy bỏng, đau đớn vô cùng. Người tội chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi mới ra khỏi nơi này để lại bị chuyển đến địa ngục Nhất đồng hoạch. 6. Nhất đồng hoạch địa ngục: Địa ngục có một vạc nước đồng sôi. Nghĩa là trong địa ngục này, ngục tốt bắt các người tội ném vào cái vạc nước đồng đang sôi, người tội chìm nổi vòng quanh theo với nước sôi trào, thân thể rữa nát. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Đa đồng hoạch. 7. Đa đồng hoạch địa ngục: Địa ngục có nhiều vạc nước đồng sôi. Trong địa ngục này, ngục tốt bắt người tội ném vào vạc nước đồng sôi, toàn thân nhừ nát, lại dùng móc sắt móc lấy người tội đem bỏ vào vạc đồng sôi khác, chịu khổ như thế trongmột thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục để lại được chuyển đến địa ngục Thạch ma. 8. Thạch ma địa ngục: Địa ngục đá xay. Nghĩa là ở địa ngục này, ngục tốt bắt người tội đặt trên một tảng đá nóng, dang chân tay ra, rồi lấy một tảng đá nóng lớn đè lên thân người tội, xay đi xay lại, thịt xương tan nát, đau đớn vô cùng, chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục để lại bị chuyển đến địa ngục Nùng huyết. 9. Nùng huyết địa ngục: Địa ngục máu mủ. Nghĩa là trong địa ngục này, người tội phải chạy từ đông sang tây trong máu mủ sôi trào, toàn thân cháy phỏng, khiến đầu mặt nát nhừ, lại vốc lấy máu mà ăn, suốt từ cổ họng đến bụng đều bị cháy bỏng. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài, người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Lượng hỏa. 10. Lượng hỏa địa ngục: Địa ngục đong lường đống lửa. Nghĩa là địa ngục này lửa bóc cháy bừng bừng, ngục tốt bức ép người tội tay cầm đấu bằng sắt đong lường đống lửa đang cháy hừng hực, lửa đốt khắp thân người tội. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài họ mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Khôi hà. 11. Khôi hà địa ngục: Địa ngục sông tro. Ngục này mỗi bề rộng 500 do tuần, trong đó có dòng sông tro sôi sục, mùi hôi hám bốc lên, các đợt sóng cuồn cuộn vỗ vào nhau, phát ra tiếng ào ào đáng sợ, từ đáy sông lên đến mặt sông, gai sắt ngổn ngang, trên bờ sông thì có rừng gươm, cành lá hoa quả của các cây rừng đều là đao kiếm. Người tội bị ném xuống sông, nổi chìm theo các đợt sóng giữa dòng nước cuốn, gai sắt đâm khắp mình, đau đớn muôn bề; người tội ra khỏi sông, bước lên bờ thì bị các cây gươm sắc đâm chém, thân thể nát bấy, lại có chó sói chạy đến cắn xé người tội. Tội nhân leo lên cây gươm thì dao gươm đâm xuống, khi tuột xuống thì đao kiếm đâm ngược lên. Người tội bám vào cây thì đứt tay, đạp xuống cây thì chân đứt, da thịt rơi ra tứ tung, gân mạch thì liền nhau; lại có chim mỏ sắt mổ vào đầu để moi lấy não ăn. Sau đó, người tội lại bị ném xuống sông tro, bị các gai sắt đâm, da thịt tan nát, máu me lênh láng, chỉ còn xương trắng nổi trôi theo dòng nước, trận gió lạnh buốt thổi đến, người tội liền đứng dậy, rồi do nghiệp đời trước dắt dẫn, chợt đến địa ngục Thiết hoàn. 12. Thiết hoàn địa ngục: Địa ngục viên sắt. Ở đây, ngục tốt bắt người tội nắm lấy các viên sắt nóng, tay chân nhừ nát, khắp mình lửa cháy. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Cân phủ.13. Cân phủ địa ngục: Địa ngục búa sắt. Ngục tốt bắt người tội nằm trên giường sắt nóng, rồi dùng búa sắt nóng chặt đứt chân tay, tai, mũi, thân thể của người tội, đau đớn vô cùng. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội lại bị chuyển đến địa ngục Sài lang. 14. Sài lang địa ngục: Địa ngục chó sói. Nghĩa là trong địa ngục này có đàn chó sói đua nhau chạy đến cắn xé người tội, làm cho xương thịt vung vãi, máu me lênh láng, đau khổ muôn vàn. Sau một thời gian lâu, người tội được cho ra khỏi ngục này để chuyển đến địa ngục Kiếm thụ.15. Kiếm thụ địa ngục: Địa ngục cây gươm. Nghĩa là những tội nhân bị đưa vào rừng gươm, gió dữ bắt đầu thổi, lá cây gươm rơi rụng trên thân tội nhân, đầu mặt, thân thể bị đứt nát, lại có chim mỏ sắt mổ vào 2 mắt người tội đau đớn vô lượng. Chịu khổ như thế lâu rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Hàn băng. 16. Hàn băng địa ngục: Địa ngục giá buốt. Nghĩa là trong địa ngục này có những trận gió giá buốt thổi trên thân tội nhân khiến cho toàn thân lạnh cóng, da thịt nứt nẻ, khổ sở kêu gào, sau đó mệnh chung. Những chúng sinh tạo các nghiệp cực ác, sau khi chết, phải đọa vào 16 địa ngục trên đây để chịu quả báo. [X. kinh Trường a hàm Q.19; kinh Tăng nhất a hàm Q.36; kinh Chính pháp niệm xứ Q.5; phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán Q.2]. (xt. Địa Ngục).
thập lục tri kiến
388又稱十六神我。未見正道之人,於五陰等法中強立主宰,妄計有我、我所,計執我之心歷諸緣,而有十六種知見之別。即:(一)我,於五陰法中,妄計有我、我所之實。(二)眾生,於五陰等法和合中,妄計有實之眾生而生。(三)壽者,於五陰法中,妄計我受一期之報命有長短。(四)命者,於五陰法中,妄計我之命根連續不絕。(五)生者,於五陰法中,妄計我能生起眾事,又我來生於人中。(六)養育,於五陰法中,妄計我生為父母所養育,並能養育他人。(七)眾數,於五陰法中,妄計我有五陰、十二入、十八界等眾法之數。(八)人,於五陰法中,妄計我為能修行之人,異於不能修行之人;又我生於人道,異於餘道。(九)作者,於五陰法中,妄計我有身力手足而能任事。(十)使作者,於五陰法中,妄計我能使役他人。(十一)起者,於五陰法中,妄計我能起後世罪福之業。(十二)使起者,於五陰法中,妄計我能使他起後世罪福之業。(十三)受者,於五陰法中,妄計我之後身當受罪福之果報。(十四)使受者,於五陰法中,妄計我能使他受後世罪福之果報。(十五)知者,於五陰法中,妄計我有五根,能知五塵。(十六)見者,於五陰法中,妄計我有眼根,能見一切之色相;又妄計我能起諸邪見、正見等,亦稱見者。此十六知見皆為「我」之別名。〔大品般若經卷一習應品、大智度論卷三十五、大乘義章卷六〕
; (十六知見) Cũng gọi Thập lục thần ngã. Chỉ cho 16 kiến chấp đối với pháp 5 ấm. Tức là: 1. Ngã: Trong 5 ấm, vọng chấp có thực ngã, ngã sở. 2. Chúng sinh: Trong pháp 5 ấm hòa hợp, vọng chấp có chúng sinh từ đó sinh ra. 3. Thọ giả: Trong 5 ấm, vọng chấp có thọ mệnh dài ngắn. 4. Mệnh giả: Trong 5 ấm, vọng chấp mệnh căn của ta liên tục không dứt mất. 5. Sinh giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có khả năng sinh khởi các việc, trong vị lai ta sẽ sinh vào cõi người. 6. Dưỡng dục: Trong 5 ấm, vọng chấp ta sinh ra được cha mẹ nuôi nấng và ta có thể nuôi dưỡng người khác. 7. Chúng số: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có con số các pháp như 5 ấm, 12 nhập, 18 giới... 8. Nhân: Trong 5 ấm, vọng chấp ta là người có khả năng tu hành, khác với người không có khả năng tu hành. 9. Tác giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có sức mạnh của thân thể, tay chân và có năng lực làm việc. 10. Sử tác giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có thể sai khiến người khác làm việc. 11. Khởi giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có năng lực khởi tạo các nghiệp tội phúc ở đời sau. 12. Sử khởi giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có thể sai khiến người khác khởi tạo các nghiệp tội phúc ở đời sau. 13. Thụ giả: Trong 5 ấm, vọng chấp thân sau của ta sẽ nhận chịu quả báo tội phúc. 14. Sử thụ giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có khả năng sai khiến người khác nhận chịu quả báo tội phúc đời sau. 15. Tri giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có 5 căn và nhận biết được 5 trần. 16. Kiến giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có căn mắt, thấy được tất cả sắc tướng. Lại vọng chấp ta có thể khởi lên các tà kiến, chính kiến cũng gọi là Kiến giả. Mười sáu tri kiến trên đây đều là tên khác của Ngã. [X. phẩm Tập ứng trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.35; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
Thập lục tâm
xem Mười sáu tâm.
thập lục tâm
384小乘俱舍宗謂觀察思悟四諦十六行相之後,進入見道,以無漏智現觀四諦所得之十六種智慧,稱為十六心。四諦,指苦、集、滅、道四種真諦,為佛教最基本之教義。十六行相,即在修習觀悟之過程中,對四諦各自產生四個方面之理解與觀念。見道,為佛教修行階位之一種,意謂「見照四諦真理之修行階位」。無漏智,即斷除欲界、色界、無色界等三界之煩惱,而證得佛教真理(出世間智)之智慧。現觀,即透過禪定,不經語言文字等概念,而使佛教真理直接呈現於面前的一種認識方法。此類認識方法,於小乘佛教中,特以四諦作為認識對象,稱為「聖諦現觀」,亦即次第觀三界之四諦:先緣欲界之「苦諦」而觀之,乃生起無漏之「法忍智」,其後又生起「法智」;次緣色界、無色界之苦而觀之,生起「類忍智」、「類智」;準此,集、滅、道等三諦亦各生四智,則現觀四諦,共成十六種智慧。 據俱舍論卷二十三賢聖品載,此十六心即:(一)苦法智忍(梵 duḥkhe dharma-jñāna-kṣānti),現觀欲界之苦諦,斷除迷惑苦諦之見惑。(二)苦法智(梵 duḥkhe dharma-jñāna),現觀欲界之苦諦,印證苦諦之理。(三)集法智忍(梵 samudaye-dharma-jñāna-kṣānti),現觀欲界之集諦,斷除迷惑集諦之見惑。(四)集法智(梵 samudaye dharma-jñāna),現觀欲界之集諦,印證集諦之理。(五)滅法智忍(梵 nirodhe dharma-jñāna-kṣānti),現觀欲界之滅諦,斷除迷惑滅諦之見惑。(六)滅法智(梵 nirodhe dharma-jñāna),現觀欲界之滅諦,印證滅諦之理。(七)道法智忍(梵 mārge dharma-jñāna-kṣānti),現觀欲界之道諦,斷除迷惑道諦之見惑。(八)道法智(梵 mārge dharma-jñāna),現觀欲界之道諦,印證道諦之理。(九)苦類智忍(梵 duḥkhe 'nvaya-jñāna-kṣānti),現觀上二界(色界、無色界)之苦諦,斷除對苦諦之見惑。(十)苦類智(梵 duḥkhe 'nvaya-jñāna),現觀上二界之苦諦,印證苦諦之理。(十一)集類智忍(梵 Samudaye 'nvaya-jñāna-kṣānti),現觀上二界之集諦,斷除對集諦之見惑。(十二)集類智(梵 Samudaye 'nvaya-jñāna),現觀上二界之集諦,印證集諦之理。(十三)滅類智忍(梵 nirodhe 'nvaya-jñāna-kṣānti),現觀上二界之滅諦,斷除對滅諦之見惑。(十四)滅類智(梵 nirodhe 'nvaya-jñāna),現觀上二界之滅諦,印證滅諦之理。(十五)道類智忍(梵 mārge 'nvaya-jñāna-kṣānti),現觀上二界之上道諦,斷除對道諦之見惑。(十六)道類智(梵 mārge 'nvaya-jñāna),現觀上二界之道諦,印證道諦之理。 概括而言,現觀欲界四諦之智,稱為法智;現觀色界、無色界四諦之智,稱為類智。又所謂「類」,類似、相似之意,即謂其類似於先前的欲界之法。法智與類智復各有「忍」與「智」,合為「八忍八智」。所謂忍,即以「忍」(忍許、認可)來斷除煩惱,如「法忍」、「類忍」,均屬於無間道;所謂智,即以「智」來印證真理,如「法智」、「類智」,均屬於解脫道。無間道與解脫道皆為修行佛道、求得涅槃解脫的「四道」之一。上記謂「忍」屬於「無間道」者,蓋因於此階段,正處於忍許、認可四諦之理,而絲毫不被惑體障礙間隔之故;謂「智」屬於「解脫道」者,蓋因既已了知四諦之理,自然即斷除惑體而得解脫。又十六心之中,前十五心屬「見道」修行果位之預流向,又稱十五剎那;後一心則屬「修道」之預流果。〔大毘婆沙論卷一九六、俱舍論卷二十五、雜阿毘曇心論卷五、成唯識論卷九〕(參閱「見道」3000)
; The bát nhẫn eight kinds of patience and bát trí eight kinds of jnàna or gnosis acquired.
; The sixteen hearts or minds: 1) Khổ pháp nhẫn: Patience with Dharmas of Suffering. 2) Khổ pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of Suffering. 3) Khổ loại nhẫn: Patience with Kinds of Suffering. 4) Khổ loại trí: Wisdom concerning Kinds of Suffering. 5) Tập Pháp nhẫn: Patience with Dharmas of Accumulation. 6) Tập Pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of Accumulation. 7) Tập loại nhẫn: Patience with Kinds of Accumulation. 8) Tập loại trí: Wisdom concerning kinds of Accumulation. 9) Diệt Pháp nhẫn: Patience with Dharmas of Extinction. 10) Diệt Pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of Extinction. 11) Diệt loại nhẫn: Patience with Kinds of Extinction. 12) Diệt loại trí: Wisdom concerning Kinds of Extinction. 13) Đạo Pháp nhẫn: Patience with Dharmas of the Way. 14) Đạo Pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of the Way. 15) Đạo loại nhẫn: Patience with Kinds of the way. 16) Đạo loại trí: Wisdom concerning Kinds of the way. ** Mười lăm tâm đầu tiên dành cho những người đang trong tiến trình tới quả vị thứ nhất: “dự lưu.” Tâm thứ 16 dành cho người đã chứng quả “vị lưu.”—The first fifteen minds are for those who are in the process towards the first fruit of “enter the stream.” The sixteenth mind is for those who are certified to the first fruit of “stream-enter”.
; (十六心) Chỉ cho 16 thứ trí tuệ do dùng trí vô lậu hiện quán Tứ đế mà đạt được, gọi là Thập lục tâm, theo thuyết của tông Câu xá. Trí vô lậu là trí dứt trừ phiền não trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà chứng được chân lí của Phật giáo(trí Xuất thế gian). Hiện quán là phương pháp nhận thức thông qua thiền định, chứ không qua các khái niệm ngôn ngữ, văn tự, khiến cho chân lí Phật giáo trực tiếp hiện bày ở trước mặt. Trong Phật giáo Tiểu thừa, phương pháp nhận thức này đặc biệt lấy Tứ đế làm đối tượng nhận thức, gọi là Thánh đế hiện quán, cũng chính là theo thứ tự quán xét lí Tứ đế trong 3 cõi: Trước hết duyênKhổ đế ở cõi Dục để quán xét thì sinh khởi Pháp nhẫn trí vô lậu, sau đó lại sinh khởi Pháp trí; kế đến duyên Khổ đế ở cõi Sắc, cõi Vô sắc mà quán xét thì sinh khởi Loại nhẫn trí, Loại trí; theo đây, 3 đế còn lại là Tập, Diệt, Đạo mỗi đế cũng đều sinh khởi 4 trí, cộng chung thành 16 thứ trí tuệ, gọi là Thập lục tâm. Cứ theo phẩm Hiền thánh trong luận Câu xá quyển 23 thì Thập lục tâm là: 1. Khổ pháp trí nhẫn (Phạm:Du#khe dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán khổ đế cõi Dục, dứt trừ kiến hoặc của Khổ đế mê lầm. 2. Khổ pháp trí (Phạm: Du#khe dharma-jĩàna): Hiện quán Khổ đế của cõi Dục, ấn chứng lí Khổ đế. 3. Tập pháp trí nhẫn (Phạm: Samudaye dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán Tập đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc của Tập đế mê lầm. 4. Tập pháp trí (Phạm: Samudaye dharma-jĩàna): Hiện quán Tập đế của cõi Dục, ấn chứng lí Tập đế. 5. Diệt pháp trí nhẫn (Phạm:Nirodhe dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán Diệt đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc của Diệt đế mê lầm. 6. Diệt pháp trí (Phạm: Nirodhe dharma-jĩàna): Hiện quán Diệt đế của cõi Dục, ấn chứng lí Diệt đế. 7. Đạo pháp trí nhẫn (Phạm:Màrge dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán Đạo đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc của Đạo đế mê lầm. 8. Đạo pháp trí (Phạm: Màrge dharma-jĩàna): Hiện quán Đạo đế của cõi Dục, ấn chứng lí Đạo đế. 9. Khổ loại trí nhẫn (Phạm:Du#khe ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Khổ đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Khổ đế. 10. Khổ loại trí (Phạm: Du#khe ’nvaya-jĩàna): Hiện quán Khổ đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng lí Khổ đế. 11. Tập loại trí nhẫn (Phạm: Samudaye ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Tập đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Tập đế. 12. Tập loại trí (Phạm: Samudaye ’nvaya-jĩàna): Hiện quán Tập đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng líTập đế. 13. Diệt loại trí nhẫn(Phạm:Nirodhe ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Diệt đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Diệt đế. 14. Diệt loại trí (Phạm: Nirodhe ’nvaya-jĩàna): Hiện quán Diệt đế của cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng lí Diệt đế. 15. Đạo loại trí nhẫn (Phạm:Màrge ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Đạo đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Đạo đế. 16. Đạo loại trí(Phạm:Màrge ’nvaya- jĩàna): Hiện quán Đạo đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng lí Đạo đế. Nói một cách khái quát, trí hiện quán Tứ đế của cõi Dục gọi là Pháp trí; trí hiện quán Tứ đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc gọi là Loại trí. Loại nghĩa là giống, tức là giống với pháp của cõi Dục đã nói ở trước. Pháp trí và Loại trí mỗi trí lại có Nhẫn và Trí, hợp chung là Bát nhẫn bát trí. Nhẫn tức là dùng Nhẫn(chấp nhận) để đoạn trừ phiền não, như Pháp nhẫn, Loại nhẫn đều thuộc về Vô gián đạo; còn Tríthìtức là dùng Trí để ấn chứng chân lí, như Pháp trí, Loại trí đều thuộc về Giải thoát đạo. Vô gián đạo và Giải thoát đạo đều là 1 trong 4 đạo để tu hành Phật đạo, cầu được niết bàn giải thoát. Ở trên cho Nhẫn thuộc về Vô gián đạo, là vì ở giai đoạn này đã chấp nhận lí Tứ đế mà không mảy may bị thể của Hoặc (phiền não) làm chướng ngại, gián cách; cho Trí thuộc về Giải thoát đạo, là vì đã rõ biết lí Tứ đế, liền tự nhiên dứt trừ thể của Hoặc mà được giải thoát. Còn trong 16 tâm thì 15 tâm trước thuộc Dự lưu hướng của quả vị tu hành Kiến đạo, cũng gọi là Thập ngũ sát na. Một tâm sau cùng thì thuộc về quả Dự lưu của quả vị Tu đạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.196; luận Câu xá Q.25; luận Tạpa tì đàm tâm Q.5; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Kiến Đạo).
Thập lục tâm 十六心
[ja] ジュウロクシン jūrokushin ||| The sixteen minds, comprised of the eight tolerances 八忍 and eight wisdoms 八智. => Mười sáu tâm, gồm Bát nhẫn và Bát trí.
thập lục tư cụ
392指密宗行者所具有之十六種資具,即衣四種、處六種、食六種。(一)衣之四種,即:(1)糞掃衣,拾人委棄之布,洗淨以製法衣。(2)毳衣,取鳥之細毛,洗淨而製衣,行者無糞掃衣時得用之。(3)納衣,以破弊之布片,綴合為衣。(4)三衣,即僧伽梨、鬱多羅、安陀會等三衣。(二)處之六種,即:(1)阿蘭若處,住於遠離聚落之空閑處。(2)塚間,住於墳墓之處。(3)樹下,坐、住於樹下。(4)露地,住於露天之地。(5)常坐,即常趺坐。(6)隨坐,有草地即坐。(三)食之六種,即:(1)乞食,自行乞食,不敢受他人之請待及僧中之食。(2)次第乞食,不擇貧富,次第托鉢。(3)不作餘食法,於午前但作一度之正食,不作二度以上之正食;二度以上之正食,稱為餘食。(4)一坐食,於午前作一度之正食外,不作小食;餅、果、粥等,稱為小食。(5)一揣食,又作節量食,即受一丸之食於鉢中便止而不多受。(6)不中後飲水,即正午後不飲水。〔大日經不思議疏卷上〕
; (十六資具) Chỉ cho 16 thứ tư cụ của hành giả Mật tông, tức là 4 thứ áo mặc, 6 nơi cư trú và 6 pháp ăn uống. I. Bốn thứ áo: 1. Phẩn tảo y: Tức áo pháp được may bằng những mảnh vải mà người khác đã vứt bỏ sau khi giặt sạch. 2. Áo may bằng lông chim được giặt sạch. Nếu hành giả không có áo phẩn tảo thì được dùng loại áo này. 3. Nạp y: Áo được may bằng những miếng vải vụn. 4. Tam y: Tức 3 áo Tăng già lê, Uất đa la và An đà hội. II. Sáu nơi cư trú: 1. Nơi A lan nhã: Tức nơi vắng vẻ, cách xa làng xóm. 2. Trủng gian: Tức nơi gò mả. 3. Thụ hạ: Dưới các gốc cây. 4. Lộ địa: Nơi ngoài trời, tức khoảng đất trống. 5. Thường tọa: Thường ngồi kết già. 6. Tùy tọa: Tùy nơi, hễcócỏ thì ngồi. III. Sáu pháp ăn uống. 1. Khất thực: Tự đi xin ăn, không nhận người mời và thụ thực trong tăng. 2. Thứ đệ khất thực: Không lựa nghèo giàu, cứ theo thứ tự xin ăn. 3. Bất tác dư thực pháp: Chỉ ăn một bữa chính trước giờ ngọ, chứ không ăn lần thứ2 trở lên trước giờ ngọ. Ăn lần thứ 2 trở lên gọi là Dư thực. 4. Nhất tọa thực: Ngoài 1 bữa ăn chính trước ngọ ra, không được nhận tiểu thực. Tiểu thực là ăn các thứ bánh, trái cây, cháo... 5. Nhất sủy thực(cũng gọi Tiết lượng thực): Tức nhận một nắm thức ăn trong bát rồi thì thôi, chứ không nhận nhiều. 6. Bất trung hậu ẩm thủy: Tức sau lúc chính ngọ không được uống nước. [X. Đại nhật kinh bất tư nghị sớ Q.thượng].
thập lục vương tử
385法華經卷三化城喻品載,於過去無量無邊不可思議阿僧祇劫,有佛名大通智勝如來,未出家時有智積等十六位王子。彼成佛道後,十六王子皆出家為沙彌,從佛聞三乘教,過二萬劫,聞法華經,悉皆信受。後佛住禪定亘八萬四千劫,其間十六沙彌各昇法座,為四部眾廣說法華經,終得阿耨多羅三藐三菩提,現於十方國土說法。即東方作佛之阿閦、須彌頂,東南之師子音、師子相,南方之虛空住、常滅,西南之帝相、梵相,西方之阿彌陀、度一切世間苦惱,西北之多摩羅跋栴檀香神通、須彌相,北方之雲自在、雲自在王,東北之壞一切世間怖畏、釋迦牟尼。〔法華經文句卷七下、法華義疏卷八〕
; (十六王子) Chỉ cho 16 vị Vương tử, tiền thân của 16 đức Phật nói trong phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa quyển 3. Kinh chép: Trong đời quá khứ cách nay vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kì kiếp có đức Phật hiệu là Đại thông trí thắng Như lai, lúc chưa xuất gia Ngài có 16 vị Vương tử như Trí tích... Sau khi Phật thành đạo, 16 Vương tử đều xuất gia làm sa di, theo Phật nghe giáo pháp Tam thừa, qua 2 vạn kiếp, được nghe kinh Pháp hoa, tất cả đều tin nhận. Sau, Phật trụ trong Thiền định suốt 8 vạn 4 nghìn kiếp, trong thời gian ấy, 16 vị sa di đều lên tòa giảng nói kinh Pháp hoa cho 4 bộ chúng nghe, cuối cùng, 16 vị đều chứng quả Vô thượng chính đẳng chính giác, hiện thân thuyết pháp trong các cõi nước ở 10 phương. Đó là Phật A súc, Phật Tu di đính ở phương Đông; Phật Sư tử âm, Phật Sư tử tướng ở phương Đông nam; Phật Hư không trụ, Phật Thường diệt ở phương Nam; Phật Đế tướng, Phật Phạm tướng ở phương Tây nam; Phật A di đà, Phật Độ nhất thiết thế gian khổ não ở phương Tây; Phật Đa ma la bạt chiên đàn hương thần thông, Phật Tu di tướng ở phương Tây bắc; Phật Vân tự tại, Phật Vân tự tại vương ở phương Bắc và Phật Hoại nhất thiết thế gian bố úy, Phật Thích ca mâu ni ở Đông bắc.[X. Pháp hoa văn cú Q.7 hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.8].
Thập lục ác luật nghi
mười sáu việc xấu ác mà người học Phật phải tránh xa, bao gồm: 1. Vì lợi dưỡng mà nuôi dê con cho béo mập rồi đem bán, 2. Vì lợi dưỡng mà bán dê cho người ta giết hại, 3. Vì lợi dưỡng mà nuôi lợn con cho béo mập rồi đem bán, 4. Vì lợi dưỡng mà bán lợn cho người ta giết hại, 5. Vì lợi dưỡng mà nuôi trâu, bò con cho béo mập rồi đem bán, 6. Vì lợi dưỡng mà bán trâu, bò cho người ta giết hại. 7. Vì lợi dưỡng mà nuôi gà cho béo mập rồi đem bán, 8. Vì lợi dưỡng mà bán gà cho người ta giết hại. 9. Câu cá, 10. Đi săn, 11. Cướp đoạt, 12. Mò bắt các loài cua, ốc... 13. Giăng lưới bắt chim, 14. Nói lời hai lưỡi, nói lời ly gián, trêu chọc người khác, 15. Cai ngục, 16. Dùng chú thuật.
thập lục ác luật nghi
390出自北本涅槃經卷二十九,指十六種惡戒。即:(一)為利養而飼養羔羊,肥而轉賣。(二)為利養買羊而屠殺之。(三)為利養而飼養豬豚,肥而轉賣。(四)為利養買豬而屠殺之。(五)飼養牛犢,肥而轉賣。(六)為利養買牛而屠殺之。(七)為利養而養雞,肥而轉賣。(八)為利養買雞而屠殺之。(九)釣魚。(十)獵人。(十一)劫奪。(十二)魁膾。(十三)網捕飛鳥。(十四)兩舌,以離間語挑撥於人。(十五)獄卒。(十六)咒龍。從事此等惡業者為惡律儀者,乃修學佛道者所應遠離。如能破壞一切眾生之十六惡律儀,為眾生永斷如是十六惡業,則稱為修戒。〔北本涅槃經疏卷二十六(灌頂)〕(參閱「十二惡律儀」345)
; (十六惡律儀) Chỉ cho 16 thứ ác giới ghi trong kinh Niết bàn quyển 29 (bản Bắc), đó là: 1. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi dê cho béo để bán. 2. Vì cầu lợi dưỡng mà mua dê để giết. 3. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi lợn(heo) cho béo để bán. 4. Vì cầu lợi dưỡng mà mua lợn để giết. 5. Nuôi bò cho béo rồi bán để cầu lợi dưỡng. 6. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi bò để giết. 7. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi gà béo để bán.8. Vì cầu lợi dưỡng mà mua gà để giết. 9. Câu cá. 10. Săn bắn. 11. Trộm cướp. 12. Đồ tể. 13. Giăng lưới bắt chim. 14. Nói thêu dệt nhằm li gián người. 15. Ngục tốt. 16. Tà chú(dùng chú thuật cầu lợi dưỡng). Những người làm các nghề ác hại trên đây thuộc loại ác luật nghi. Người tu học Phật pháp cần phải lánh xa. Nếu phá bỏ được 16 ác luật nghi ấy của tất cả chúng sinh và vì chúng sinh mà dứt hẳn 16 ác nghiệp ấy thì gọi là Tu giới. [X. Niết bàn kinh sớ (bản Bắc) Q.26 (Quán đính)]. (xt. Thập Nhị Ác Luật).
Thập lục đại A-la-hán 十六大阿羅漢
[ja] ジュウロクダイアラカン jūroku dai arakan ||| The sixteen great arhats. See 十六羅漢. => Mười sáu vị đại A-la-hán. Xem Thập lục La-hán.
thập lục đại hộ
379指守護佛法及國土之十六夜叉神。一說為震旦國之守護神。轉法輪菩薩摧魔怨敵法中列舉十大藥叉、三龍王、三天后為十六大護。即:(一)毘首羯磨,(二)劫比羅,(三)法護,(四)肩目,(五)廣目,(六)護軍,(七)珠賢,(八)滿賢,(九)持明,(十)阿吒縛俱,以上為十大藥叉,或稱十護、十大護。(十一)嚩蘇枳,(十二)蘇摩那,(十三)補沙毘摩,以上為三大龍王。(十四)訶利帝,(十五)翳囉嚩蹉,(十六)雙目,以上為三大天后。又大聖妙吉祥菩薩祕密八字陀羅尼修行曼荼羅次第儀軌法中,則以十六大天外護(八方天及其后)為十六大護。〔大集經月藏分卷九、金剛界曼荼羅鈔卷下〕
; (十六大護) Chỉ cho 16 vị thần Dạ xoa giữ gìn Phật Pháp và che chở đất nước. Trong Chuyển pháp luân bồ tát tồi ma oán địch pháp liệt kê 10 vị Đại dược xoa, 3 vị Long vương và 3 vị Thiên hậu thành Thập lục đại hộ. Đó là: 1. Tì thủ yết ma. 2. Kiếp tỉ la. 3. Pháp hộ. 4. Kiên mục 5. Quảng mục. 6. Hộ quân. 7. Châu hiền. 8. Mãn hiền. 9. Trì minh. 10. A tra phược câu. 11. Phạ tô chỉ. 12. Tô ma na. 13. Bổ sa tì ma. 14. Ha lợi đế. 15. Ế la phạ tha. 16. Song mục. Từ 1 đến 10 là Thập đại dược xoa, hoặc gọi là Thập hộ, Thập đại hộ; từ 11 đến 13 là Tam đại long vương và từ 14 đến 16 là Tam đại thiên hậu. Trong Đại thánh diệu cát tường Bồ tát bí mật bát tự đà la ni tu hành mạn đồ la thứ đệ nghi quĩ pháp thì lấy 16 vị Đại thiên ngoại hộ(8 vị trời ở 8 phương và 8 người vợ) làm Thập lục đại hộ. [X. Đại tập kinh nguyệt tạng phần Q.9; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.hạ].
thập lục đại lực
378佛應阿耨達龍王之請,為說無欲之法,並謂若諸菩薩修諸清淨行,當得此十六大力,調攝身心,而化諸眾生。十六大力即:(一)志力,謂菩薩心志善能總持一切諸佛所說之法,化導眾生。(二)意力,謂菩薩心意與佛之所行相同,於諸眾生未得度者,皆願度脫之。(三)行力,謂菩薩能以精進之行,通達一切諸法甚深之義。(四)慚力,謂菩薩能以慚愧之故,遠離一切罪業,興起種種善法。(五)強力,謂菩薩於一切障難之中,能堅忍而不為非行。(六)持力,謂菩薩於所受持之法,皆能演說開導,而無遺忘。(七)慧力,謂菩薩有大智慧,照了諸法皆空,雖千億魔兵而不能惱之。(八)德力,謂菩薩修無欲行,具諸功德,離諸染著。(九)辯力,謂菩薩有大辯才,於百千劫隨解諸法,所說無礙。(十)色力,謂菩薩色相端正,若帝釋、梵天及四天王等至菩薩所,一見之頃,黯然無色。(十一)身力,謂菩薩之身堅固清淨,猶如金剛,火不能燒,刀不能斷,於外道中最高特勝。(十二)財力,謂菩薩於眾珍寶,隨所念願,應時即至。(十三)心力,謂菩薩知諸眾生性欲,能一其心而順化之。(十四)神足力,謂菩薩化導眾生,能以神通具足之力,即現神變而度脫之。(十五)弘法力,謂菩薩於諸佛之法,能廣為一切眾生宣說,使眾生聞之而不斷絕,信受奉行,等除眾苦。(十六)降魔力,謂菩薩修習禪定,承順佛旨,能伏眾魔。〔三昧弘道廣顯定意經卷二〕
; The sixteen great powers obtainable by a bodhisattva: chí lực of will; ý lực mind; hạnh lực action; tàm lực shame (to do evil); cường lực energy; trì lực firmness; tuệ lực wisdom; đức lực virtue; biện lực reasoning; sắc lực personal appearance; thân lực physical powers; tài lực wealth; tâm lực spirit; thần túc lực magic; hoằng pháp lực spreading the truth; hàng ma lực subduing demons.
; Mười sáu đại lực của Bồ tát—The sixteen great powers obtainable by a bodhisattva: 1) Chí lực: Will. 2) Ý lực: Mind. 3) Hạnh lực: Action. 4) Tàm lực: Sức thẹn thùa khi làm quấy—Shame when doing evil. 5) Cường lực: Energy. 6) Trì lực: Sự bền chí tu trì—Firmness. 7) Huệ lực: Wisdom. 8) Đức lực: Công đức—Virtue. 9) Biện lực: Sức hùng biện chánh pháp—Reasoning. 10) Sắc lực: Personal appearance. 11) Thân lực: Physical powers. 12) Tài lực: Wealth. 13) Tâm lực: Spiritual powers. 14) Thần túc lực: Magic. 15) Hoằng pháp lực: Power of spreading the Truth. 16) Hàng ma lực: power of subduing demons.
; (十六大力) Chỉ cho 16 năng lực lớn mà Bồ tát đạt được khi tu tập các hạnh thanh tịnh. 1. Chí lực: Tâm chí của Bồ tát khéo giữ gìn tất cả pháp do chư Phật nói để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh. 2. Ý lực: Tâm ý của Bồ tát giống như tâm ý của Phật, đối với những chúng sinh chưa được độ, đều nguyện độ thoát hết. 3. Hạnh lực: Bồ tát nhờ hạnh tinh tiến thông đạt nghĩa sâu xa của tất cả các pháp. 4. Tàm lực: Bồ tát thường nhờ tâm hổ thẹn mà xa lìa tất cả tội nghiệp, sinh khởi các thiện pháp. 5. Cường lực: Đối với tất cả chướng nạn, Bồ tát đều kiên nhẫn chứ không làm điều gì sai trái. 6. Trì lực: Đối với các pháp thụ trì, Bồ tát đều có khả năng diễn đạt khai đạo, không hề quên sót. 7. Tuệ lực: Bồ tát có trí tuệ lớn, quán chiếu các pháp đều không, dù có trăm nghìn muôn ức quân ma cũng không nhiễu hại được. 8. Đức lực: Bồ tát tu hạnh vô dục, đầy đủ các công đức, xa lìa nhiễm trước. 9. Biện lực: Bồ tát có đại biện tài, trong trăm nghìn kiếp, tùy thời giải nói các pháp, không bị chướng ngại. 10. Sắc lực: Bồ tát có thân tướng đoan nghiêm, nếu Đế thích, Phạm thiên và Tứ thiên vương trông thấy Bồ tát thì ánh sáng của họ liền mờ nhạt. 11. Thân lực: Thân Bồ tát thanh tịnh cứng chắc giống như kim cương, lửa đốt không cháy, dao chặt không đứt, đối với ngoại đạo là bậc tối cao, đặc thắng. 12. Tài lực: Đối với các thứ của báu, tùy theo ý Bồ tát muốn là có liền. 13. Tâm lực: Bồ tát biết rõ ý muốn của các chúng sinh, có năng lực thuận theo tâm của mỗi chúng sinh mà giáo hóa. 14. Thần túc lực: Bồ tát giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nếu cần dùng năng lực thần thông thì liền hiện thần biến để độ thoát họ.15. Hoằng pháp lực: Bồ tát đối với pháp của chư Phật, có năng lực giảng nói rộng cho chúng sinh nghe, khiến họ tin nhận làm theo để trừ diệt các khổ. 16. Hàng ma lực: Bồ tát tu tập Thiền định, thuận theo ý chỉ của Phật, có năng lực hàng phục các ma. [X. kinh Tam muội hoằng đạo quảng hiển định ý Q.2].
thập lục đại quốc
379即佛世時古代印度之十六大國。據長阿含卷五闍尼沙經所列,十六大國即:(一)鴦伽(梵 Aṅga),(二)摩竭陀(梵 Magadha),(三)迦尸(梵 Kāśi),(四)居薩羅(梵 Kośala 或 Kosala),(五)拔祇(梵 Vṛji),(六)末羅(梵 Malla),(七)支提(梵 Ceḍi),(八)拔沙(梵 Vatsa),(九)居樓(梵 Kuru),(十)般闍羅(梵 Pañcāla),(十一)阿濕波(梵 Aśvaka),(十二)阿般提(梵 Avanti),(十三)婆蹉(梵 Matsya),(十四)蘇羅娑(梵 Śūrasena),(十五)乾陀羅(梵 Gandhāra),(十六)劍洴沙(梵 Kambboja)。鴦伽位於摩竭陀之東,佛世時隸屬於摩竭陀,其首都為贍波(梵 Campā)。摩竭陀為當時中印之強國,首都為王舍城(梵 Rājagṛha)。迦尸位於摩竭陀之西、居薩羅東南,正當現今之貝那拉斯,具有大勢力。居薩羅位於中印北部,與摩竭陀共為當時之強國,釋迦族隸屬之。拔祇隔恒河在摩竭陀之北,與離車、毘提訶諸族同盟,成立共和國。末羅在拔祇之北,以拘尸那揭羅城為首都。支提位於迦尸之西,以憍賞彌為首都。拔沙在迦尸之西、支提之南,時或視同支提。居樓位於恒河上流西岸,正當現今德里之地。般闍羅隔恒河在居樓之東,分成南北二部。婆蹉位居樓之南,鹽牟那河(梵 Yamunā)西岸。蘇羅娑亦在鹽牟那河西岸,北鄰婆蹉,末土羅為其都城。阿濕波位於蘇羅娑之南,補多勒迦為其首都。阿般提位於阿濕波之南,以鄔闍衍那為都邑。乾陀羅占五河地方旁遮普之西北,首都為呾叉始羅。劍洴沙位印度河西岸,正當乾陀羅之西南,墮羅鉢底為其首府。 據近世之研究,在釋尊當時,十六國並非依地理性或政治性加以區分,其區分法應係採錄歷來有關種族勢力分布之說法。附十六國略圖如上頁。 有關十六大國之國名,異稱頗多。如中阿含卷五十五持齋經、出曜經卷二十二廣演品、大方等大集經卷五十一、大毘婆沙論卷一二四、仁王般若波羅蜜經卷下受持品等,皆列有不同名稱之十六國。
; The sixteen ancient kingdoms of India whose kings are addressed in the Nhân Vương Kinh, i.e. Vaisàli Tì xá li, Kosala Câu tát la, Sràvasti Xá vệ, Magadha Ma kiệt đề, Bàrànasi Ba la nại, Kapilavastu Ca tì la vệ, Kusinagara Câu thi na, Kausàmbi, Pancàla, Pàtaliputra Hoa thị thành, Mathurà, Usa (Usira), Punyavardhana, Devàvatara, Kàsi Ca thi, and Campà Chiêm bà.
; (十六大國) Chỉ cho 16 nước lớn ở Ấn độ vào thời đức Phật tại thế. Cứ theo kinh Xà ni sa trong Trường a hàm quyển 5 thì 16 nước lớn ấy là: 1. Ương già (Phạm: Aíga): Nằm về phía đông nước Ma kiệt đà, thời Phật tại thế, nước này lệ thuộc Ma kiệt đà, thủ đô là thành Chiêm ba (Phạm: Campà). 2. Ma kiệt đà (Phạm:Magadha): Một nước mạnh ở vùng Trung ấn đương thời, thủ đô là thành Vương xá (Phạm: Ràjagfha). 3. Ca thi (Phạm:Kàzi): Nằm về phía tây Ma kiệt đà, phía đông nam Câu tát la, hiện nay là Bối na lạp tư, có thế lực lớn. 4. Câu tát la (Phạm: Kozala hoặc Kosala): Nằm về phía bắc Trung ấn, cùng với Ma kiệt đà là 2 cường quốc đương thời, chủng tộc Thích ca lệ thuộc nước này. 5. Bạt kì(Phạm:Vfji): Nằm về phía bắc Ma kiệt đà, bên kia sông Hằng, liên minh với các chủng tộc Li xa, Tì đề ha đểthành lập nước Cộng hòa. 6. Mạt la (Phạm:Malla): Nằm về phía bắc nước Bạt kì, thủ đô là thành Câu thi na yết la. 7. Chi đề(Phạm:Ceđi): Nằm về phía tây nước Ca thi, thủ đô là thành Kiêu thưởng di. 8. Bạt sa (Phạm:Vatsa): Nằm về phía tây Ca thi, phía nam Chi đề, có khi được xem cùng là Chi đề. 9. Cư lâu(Phạm:Kuru): Nằm ở bờ tây thượng lưu sông Hằng, chính là vùng Đức lí hiện nay. 10. Ban xà la (Phạm: Paĩcala): Nằm về phía đông nước Cư lâu, bên kia sông Hằng, chia làm 2 phần Nam Bắc. 11. Bà tha (Phạm: Matsya): Nằm về phía nam nưóc Cư lâu, bờ tây sông Diêm mâu na (Phạm: Yamunà). 12. Tô la sa (Phạm: Zùrasena): Cũng nằm ở bờ tây sông Diêm mâu na, phía bắc giáp Bà tha, đô thành là Mạt thố la. 13. A thấp ba (Phạm: Azvaka): Nằm về phía nam nước Tô la sa, thủ đô là thành Bổ đa lặc ca. 14. A bát đề(Phạm:Avanti): Nằm về phía nam nước A thấp ba, đô ấp là Ô xà diễn na. 15. Càn đà la (Phạm: Gandhàra): Chiếm trọn vùng tây bắc Punjab thuộc địa phương Ngũ hà, thủ đô là thành Đát xoa thủy la. 16. Kiếm bình sa (Phạm: Kamboja): Nằm ở bờ tây sông Ấn độ (Indus), phía tây nam Càn đà la, thủ phủ là thành Đọa la bát để.
thập lục đặc thắng
388又作十六勝行。為數息觀中最為殊勝之十六種觀法。數息觀,即以數息來制馭散亂,使精神統一之法。有關其內容細目、順序、解釋,諸經論說法不同,據成實論卷十四所載,有下列十六種:(一)念息短,心若粗雜散亂,則呼吸短促,在此短促之呼吸中,集中心念,作意識分明之呼吸。(二)念息長,如(一)所述,觀心微細而呼吸亦長。(三)念息遍身,知肉身是空,而作氣息遍滿全身之觀想。(四)除身行,除去身體之行為,使心安靜,並消滅粗雜之氣息。(五)覺喜,即心得到歡喜。(六)覺樂,即身體得到安樂。(七)覺心行,知從喜心可能引起貪心之禍。(八)除心行,即滅貪心,除粗雜之受。(九)覺心,覺知心之不沈浮。(十)令心喜,心沈則令之振起生喜。(十一)令心攝,心浮則將之攝歸於靜。(十二)令心解脫,捨離心之浮沈而解脫。(十三)無常行,知心寂靜,一切無常。(十四)斷行,知無常而斷煩惱。(十五)離行,斷煩惱,生厭離心。(十六)滅行,厭離而得一切之滅。 法界次第卷上則載知息入、知息出、知息長短、知息遍身、除諸身行、受喜、受樂、受諸心行、心作喜、心作攝、心作解脫、觀無常、觀出散、觀離欲、觀滅、觀棄捨等十六特勝。〔大毘婆沙論卷二十六、瑜伽師地論卷二十七〕
; (十六特勝) Cũng gọi Thập lục thắng hạnh. Chỉ cho 16 pháp quán rất thù thắng thuộc Sổ tức quán. Sổ tức quán là phương pháp theo dõi và đếm hơi thở ra vào để tập trung tư tưởng khiến tâm không tán loạn. Về nội dung, thứ tự và giải thích thì các kinh luận nói có khác nhau. Luận Thành thực quyển 14 nêu 16 pháp và giải thích như sau: 1. Niệm tức đoản: Nếu tâm thô tạp tán loạn thì hơi thở ngắn, lúc này cần tập trung niệm thì ý thức sẽ phân biệt rõ ràng hơi thở. 2. Niệm tức trường: Như phần Niệm tức đoản vừa nói, nếu tâm quán vi tế thì hơi thở cũng dài. 3. Niệm tức biến thân:Biết nhục thân là không, quán tưởng hơi thở lan tỏa toàn thân.4. Trừ thân hành: Ngưng mọi hành vi của thân thể để tâm được yên tĩnh, dứt bỏ hơi thở thô tạp. 5. Giác hỉ: Tâm được hoan hỉ. 6. Giác lạc: Thân được an lạc. 7. Giác tâm hành: Cảnh giác mối họa từ tâm hỉ có thể sinh tâm tham. 8. Trừ tâm hành: Diệt tâm tham, trừ những cảm giác thô tạp. 9. Giác tâm: Biết rõ tâm không hôn rầm, không xao động. 10. Linh tâm hỉ: Tâm hôn trầm thì làm cho phấn chấn và sinh hoan hỉ. 11. Linh tâm nhiếp: Tâm xao động thì thu nhiếp về trạng thái tĩnh lặng. 12. Linh tâm giải thoát: Lìa bỏ tâm xao động và hôn trầm để được giải thoát. 13. Vô thường hành: Biết tâm vắng lặng, tất cả là vô thường. 14. Đoạn hành: Biết vô thường để dứt trừ phiền não. 15. Li hành: Đoạn phiền não, sinh tâm chán lìa. 16. Diệt hành: Chán lìa để được tất cả diệt.Pháp giới thứ đệ quyển thượng thì liệt kê Thập lục đặc thắng là: Biết hít vào, biết thở ra, biết hơi thở dài ngắn, biết hơi thở lan khắp thân, ngưng mọi hành vi của thân, cảm nhận mừng, cảm nhận vui, cảm nhận các tâm hành, tâm hoan hỉ, tâm thu nhiếp, tâm giải thoát, quán vô thường, quán tan ra, quán lìa dục, quán diệt và quán xả bỏ. [X. luận Đại tì bà sa Q.26; luận Du già sư địa Q.27].
Thập lục đế
xem Mười sáu hạnh.
thập lục đế
393指印度正理學派所立之十六種認識及推理論證方式。又作十六句義(梵 ṣoḍaśa padārthāḥ)。正理學派以考察十六諦乃到達解脫之要件。而龍樹則於其廣破經、廣破論、迴諍論中批判十六諦,並一一破之。十六諦者:(一)量(梵 pramāṇa),乃獲得真智之方法,有現量、比量、聲量、譬喻量四種。(二)所量(梵 prameya),乃指知識之對象,有:我、身、根、境、覺、意、作業、煩惱、彼有、果、苦、解脫十二種。(三)疑(梵 saṃśaya),指對所見事物之特性未明確之知,此乃推理論證之基因。(四)用(梵 prayojana),指解疑之作用。(五)喻(梵 dṛṣṭānta),指凡人、學者皆認可的推理論證之標準根據。(六)悉檀(梵 siddhānta),即宗義,乃立者之主張。(七)支分(梵 svayava),乃論證之形式, Y指五支作法。(八)思擇(梵 tarka),指為了知事物真相,根據其原因,而行深思推理。(九)決(梵 nirṇaya),指義理之決定。(十)論義(梵 vāda)。(十一)紛義(梵 jalpa),指為堅守自說,用難難等不正之法。(十二)壞義(梵 vitaṇḍā),指自無立論,而以不正之法難他人之立論。(十三)似因(梵 hetv-ābhāsa),指似是而非之因,即不正之因,有不定、相違、問題相似、所立相似、過時五種。(十四)難難(梵 chala),乃指故意將敵者之語曲解,而非難之。(十五)諍論(梵 jāti), 敵者顛倒同法、異法,以非難立者之正確論證,此與古因明之十四過類相當。(十六)墮負(梵 nigrahasthāna),指立者因誤解、不解而致敗北。〔百論疏卷上之中、印度六派哲學、印度哲學史、中觀佛教論考(山口益)〕
; Sodaśa-padarthah (S) 16 nhận thức và phương pháp luận chứng suy lý do học phái Chánh lý ở Ấn lập ra.
; (十六諦) Cũng gọi Thập lục cú nghĩa (Phạm: Wođaza padàrthà#). Chỉ cho 16 phương pháp nhận thức và luận chứng suy lí do học phái Chính lí ở Ấn độ lập ra. Đó là: 1. Lượng (Phạm: Pramàịa): Phương pháp để đạt được chân trí, có 4 thứ là hiện lượng, tỉ lượng, thanh lượng và thí dụ lượng. 2. Sở lượng (Phạm: Prameya): Chỉ T cho đối tượng được nhận biết, gồm có 12 thứ: Ngã, thân, căn, cảnh, giác, ý, tác nghiệp, phiền não, bỉ hữu, quả, khổ và giải thoát. 3. Nghi (Phạm:Saôzaya): Đối với đặc tính của sự vật được thấy không có sự nhận biết rõ ràng, chính xác, đây là nhân cơ bản của luận chứng suy lí. 4. Dụng (Phạm: Prayojana): Chỉ cho tác dụng giải nghi. 5. Dụ(Phạm: Dfwỉànta): Chỉ cho căn cứ tiêu chuẩn của luận chứng suy lí mà người thường cũng như các học giả đều thừa nhận. 6. Tất đàm (Phạm:Siddhànta): Tức tông nghĩa, chủ trương của người lập luận. 7. Chi phần (Phạm: Svayava): Hình thức luận chứng, tức chỉ cho tác pháp 5 chi.8. Tư trạch (Phạm:Tarka): Để biết rõ chân tướng của sự vật, cần phải căn cứ vào nguyên nhân của nó mà suy tư sâu hơn. 9. Quyết (Phạm:Nirịaya): Chỉ cho sự quyết định về nghĩa lí. 10. Luận nghĩa (Phạm:Vàda). 11. Phân nghĩa(Phạm:Jalpa): Vì giữ vững luận thuyết của mình nên sử dụng các phương pháp không chính đáng như nạn nạn... 12. Hoại nghĩa (Phạm:Vitaịđà): Tự mình không lập luận, mà lại dùng các phương pháp bất chính để gây khó cho lập luận của người khác. 13. Tự nhân (Phạm: Hetv-àbhàsa): Chỉ cho Nhân dường như đúng nhưng thật ra là sai, gồm 5 thứ là bất định, tương vi, vấn đề tương tự, sở lập tương tự và quá thời.14. Nạn nạn (Phạm:Chala): Cố ý hiểu sai lời nói của đối phương để làm khó. 15. Tránh luận (Phạm: Jati): Đối phương đảo lộn đồng pháp, dị pháp để chỉ trích luận chứng chính xác của người lập luận, đây tương đương với 14 lỗi của Cổ nhân minh. 16. Đọa phụ(Phạm:Nigrahasthàna): Vì hiểu lầm mà người lập luận bị thất bại. [X. Bách luận sớ Q.thượng; Ấn độ lục phái triết học; Ấn độ triết học sử; Trung quán Phật giáo luận khảo (Sơn khẩu ích)].
Thập lục đế 十六諦
[ja] ジュウロクタイ jūrokutai ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hành tướng.
Thập Lực
(s: daśa-bala, p: dasa-bala, 十力): hay Như Lai Thập Lực (如來十力), gồm:(1) Xứ Phi Xứ Trí Lực (處非處智力, trí lực phân biệt rõ ràng đạo lý hay phi đạo lý, phải trái thiện ác), (2) Nghiệp Dị Thục Trí Lực (業異熟智力, trí lực biết được nghiệp thiện ác và quả báo của nghiệp ấy), (3) Tĩnh Lự Giải Thoát Đẳng Trì Đẳng Chí Trí Lực (静慮解脫等持等至智力, trí lực biết trọn vẹn Thiền Định của Tứ Tĩnh Lự hay Tứ Thiền, Tám Giải Thoát, các Tam Muội, Tám Đẳng Chí, v.v.), (4) Căn Thượng Hạ Trí Lực (根上下智力, trí lực biết được căn cơ của chúng sanh trên dưới lợi hay độn), (5) Chủng Chủng Thắng Giải Trí Lực (種種勝解智力, trí lực biết được ý hướng, dục vọng, v.v., của chúng sanh), (6) Chủng Chủng Giới Trí Lực (種種界智力, trí lực biết được các tánh loại, giới địa của lớp lớp chúng sanh), (7) Biến Thú Hành Trí Lực (遍趣行智力, trí lực biết được sự biến thiên của các con đường hạnh nghiệp), (8) Túc Trú Tùy Niệm Trí Lực (宿住隨念智力, trí lực nhớ rõ cuộc sống xa xưa trong kiếp quá khứ), (9) Tử Sanh Trí Lực (死生智力, trí lực sanh tử trong tương lai và con đường ác con đường thiện), và (10) Lậu Tận Trí Lực (漏盡智力, trí lực biết rõ phương pháp để đoạn tận phiền não và trở thành bậc lậu tận).
Thập lực
xem Mười sức.
; 十力; S: daśabala; P: dasabala;|Mười lực
thập lực
360梵語 daśa balāni。即十種智力。<一>指如來十力,唯如來具足之十種智力,即佛十八不共法中之十種。又作十神力。謂如來證得實相之智,了達一切,無能壞,無能勝,故稱為力。十力即:(一)處非處智力,又作知是處非處智力、是處不是力、是處非處力。處,謂道理。謂如來於一切因緣果報審實能知,如作善業,即知定得樂報,稱為知是處;若作惡業,得受樂報無有是處,稱為知非處。如是種種,皆悉遍知。(二)業異熟智力,又作知業報智力、知三世業智力、業報集智力、業力。謂如來於一切眾生過去未來現在三世業緣果報生處,皆悉遍知。(三)靜慮解脫等持等至智力,又作靜慮解脫等持等至發起雜染清淨智力、知諸禪解脫三昧智力、禪定解脫三昧淨垢分別智力、定力。謂如來於諸禪定自在無礙,其淺深次第如實遍知。(四)根上下智力,又作知諸根勝劣智力、知眾生上下根智力、根力。謂如來於諸眾生根性勝劣、得果大小皆實遍知。(五)種種勝解智力,又作知種種解智力、知眾生種種欲智力、欲力。謂如來於諸眾生種種欲樂善惡不同,如實遍知。(六)種種界智力,又作是性力、知性智力、性力。謂如來於世間眾生種種界分不同,如實遍知。(七)遍趣行智力,又作知一切至處道智力、至處道力。謂如來於六道有漏行所至處、涅槃無漏行所至處如實遍知。(八)宿住隨念智力,又作知宿命無漏智力、宿命智力、宿命力。即如實了知過去世種種事之力;如來於種種宿命,一世乃至百千萬世,一劫乃至百千萬劫,死此生彼,死彼生此,姓名飲食、苦樂壽命,如實遍知。(九)死生智力,又作知天眼無礙智力、宿住生死智力、天眼力。謂如來藉天眼如實了知眾生死生之時與未來生之善惡趣,乃至美醜貧富等善惡業緣。(十)漏盡智力,又作知永斷習氣智力、結盡力、漏盡力。謂如來於一切惑餘習氣分永斷不生,如實遍知。〔雜阿含經卷二十六、新譯華嚴經卷十七、菩薩地持經卷十建立品、俱舍論卷二十七、大毘婆沙論卷三十〕 <二>菩薩之十力。指在十迴向中,第九無縛無著解脫迴向位之菩薩所具足之十種作用。十者即:深心力(直心力)、增上深心力(深心力)、方便力、智力(智慧力)、願力、行力、乘力、神變力(遊戲神通力)、菩提力、轉法輪力等。同時,首楞嚴三昧經、大智度論卷二十五等亦各曾列舉類似之十力。雜阿含經卷二十六舉出自在王者力、斷事大臣力、機關工巧力、刀劍賊盜力、怨恨女人力、啼泣嬰兒力、毀呰愚人力、審諦黠慧力、忍辱出家力與計數多聞力等世間十力。〔新譯華嚴經卷五十六、大乘義章卷十四〕
; Daśabāla (S), Dasabāla (P), Ten powers, Ten fearless powers Mười điều không sợ hãi: 1. Trí lực biết sự hợp lý, bất hợp lý. 2. Trí lực biết nghiệp báo của tam thế. 3. Trí lực biết thiền định, giải thoát. 4. Trí lực biết các căn hay, dở. 5. Trí lực biết về kiến giải. 6. Trí lực biết về cảnh giới. 7. Trí lực biết nhân quả hành đạo. 8. Trí lực thiên nhãn thông. 9. Trí lực túc mạng thông. 10. Trí lực biết tất cả sự vật đúng như thật tế.
; Dasabala (S).The ten powers of a Buddha, giving complete knowledge of (1) tri thị xứ phi xứ trí lực what is right and wrong in every condition; (2) tri tam thế nghiệp báo trí lực what is the karma of every being, past, present and future; (3) tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực all stages of dhyàna liberation, and samàdhi; (4) tri chúng sinh tâm tính trí lực the powers and faculties of all beings; (5) tri chủng chủng giải trí lực the desires, or moral directions of all beings; (6) tri chủng chủng giới trí lực the actual condition of every individual; (7) tri nhất thiết sở đạo trí lực the direction and consequence of all laws; (8) tri thiên nhãn vô ngại trí lực all causes of mortality and of good and evil in their reality; (9) tri túc mệnh vô lậu trí lực the end of all beings and nirvàna; (10) tri vĩnh đoạn tập khí trí lực the destruction of all illusion of every kind.
; 1. Trí lực biết sự hợp lý, bất hợp lý. 2. Trí lực biết nghiệp báo của tam thế. 3. Trí lực biết thiền định, giải thoát. 4. Trí lực biết các căn hay, dở. 5. Trí lực biết về kiến giải. 6. Trí lực biết về cảnh giới. 7. Trí lực biết về nhân quả hành đạo. 8. Trí lực thiên nhãn thông. 9. Trí lực túc mạng thông. 10. Trí lực biết tất cả sự vật đúng như thật tế.
; (十力) Phạm:Daza balàni. Mười thứ trí lực. I. Thập Lực. Chỉ cho 10 trí lực của Như lai, đó là: 1. Xứ phi xứ trí lực(cũng gọi Tri thị xứ phi xứ trí lực, Thị xứ bất thị lực, Thị xứ phi xứ lực): Xứ nghĩa là đạo lí. Tức là Như lai biết rõ đúng như thực đối với tất cả nhân duyên quả báo, nếu tạo nghiệp thiện thì biết nhất định được quả báo vui, gọi là Tri thị xứ; nếu tạo nghiệp ác mà được quả báo vui thì không có đạo lí(xứ) như thế, gọi là Tri phi xứ.2. Nghiệp dị thục trí lực(cũng gọi Tri nghiệp báo trí lực, Tri tam thế nghiệp trí lực, Nghiệp báo tập trí, Nghiệp lực): Như lai biết rõ nghiệp duyên, quả báo và nơi sinh trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai của tất cả chúng sinh đúng như thực. 3. Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực(cũng gọi Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí phát khởi tạp nhiễm thanh tịnh trí lực, Tri chư thiền giải thoát tam muội trí, Thiền định giải thoát tam muội tịnh cấu phân biệt trí lực, Định lực): Như lai được tự tại vô ngại đối với các thiền định và biết rõ đúng như thực thứ tự cạn, sâu của các thiền định ấy. 4. Căn thượng hạ trí lực(cũng gọi Tri chư căn thắng liệt trí lực, Tri chúng sinh thượng hạ căn trí lực, Căn lực): Như lai biết rõ căn tính hơn, kém, chứng quả lớn, nhỏ của các chúng sinh đúng như thực. 5. Chủng chủng thắng giải trí lực(cũng gọi Tri chủng chủng giải trí lực, Tri chúng sinh chủng chủng dục trí lực, Dục lực): Như lai biết rõ đúng như thực các dục lạc, thiện ác khác nhau của tất cả chúng sinh. 6. Chủng chủng giới trí lực(cũng gọi Thị tính lực, Tri tính trí lực, Tính lực): Như lai biết khắp và đúng như thực về các giới phần khác nhau của chúng sinh ở thế gian. 7. Biến thú hạnh trí lực(cũng gọi Tri nhất thiết chí xứ đạo trí lực, Chí xứ đạo lực): Như lai biết rõ đúng như thực nơi đến của hạnh hữu lậu trong 6 đường và nơi đến của hạnh vô lậu là Niết bàn. 8. Túc trụ tùy niệm trí lực(cũng gọi Tri túc mệnh vô lậu trí lực, Túc mệnh trí lực, Túc mệnh lực): Như lai biết khắp và đúng như thực về túc mệnh (đời trước), từ một đời cho đến trăm nghìn muôn đời, từ một kiếp cho đến trăm nghìn muôn kiếp, chết đây sinh kia, chết kia sinh đây, tên họ uống ăn, khổ vui thọ yểu. 9. Tử sinh trí lực(cũng gọi Tri thiên nhãn vô ngại trí lực, Túc trụ sinh tử trí lực,Thiên nhãn lực): Như lai dùng thiên nhãn thấy biết rõ ràng như thực thời gian sống chết của chúng sinh và các cõi thiện ác mà chúng sinh sẽ sinh tới trong vị lai, cho đến các nghiệp duyên tốt xấu như đẹp xấu giàu nghèo... 10. Lậu tận trí lực(cũng gọi Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực, Kết tận lực, Lậu tận lực): Đối với tập khí tàn dư của tất cả phiền não, Như lai biết rõ đúng như thực đã vĩnh viễn đoạn trừ không còn sinh khởi nữa.[X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Hoa nghiêm Q.17 (bản dịch mới); phẩm Kiến lập trong kinh Bồ tát địa trì Q.10; luận Câu xá Q.27; luận Đại tì bàsa Q.30]. II. Thập Lực. Mười lực của Bồ tát, tức chỉ cho 10 tác dụng của Bồ tát ở giai vị Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng thứ 9 trong Thập hồi hướng, đó là: Thâm tâm lực(trực tâm lực) tăng thượng thâm tâm lực (thâm tâm lực), phương tiện lực, trí lực(trí tuệ lực), nguyện lực, hạnh lực, thừa lực, thần biến lực(du hí thần thông lực), bồ đề lực và chuyển pháp luân lực. III. Thập Lực. Mười lực thế gian nêu trong kinh Tạp a hàm quyển 26, đó là: Tự tại vương giả lực, đoán sự đại thần lực, cơ quan công xảo lực, Đao kiếm tặc đạo lực, oán hận nữ nhân lực, đề khấp anh nhi lực, hủy tì ngu nhân lực, thẩm đế hiệt tuệ lực, nhẫn nhục xuất gia lực và kế số đa văn lực. [X. kinh Hoa nghiêm Q.56 (bản dịch mới); Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập lực bồ tát
Dasa-bodhisattva-balni (skt)—Mười năng lực của vị Bồ Tát theo Kinh Hoa Nghiêm—The ten powers of the Bodhisattva according to the Avatamsaka Sutra: 1) Thâm Tâm Lực: Asayabala (skt)—Có tâm dứt khoát tránh xa thế tục—Having a mind strongly turned away from worldliness. 2) Tăng Sinh Thâm Tâm Lực: Adhyasaya-bala (skt)—Có một niềm tin vào Phật giáo càng lúc càng mạnh—Having a belief growing ever stronger in Buddhism. 3) Phương Tiện Lực: Prayoga-bala (skt)—Năng lực tự tu trong tất cả mọi tu tập Bồ Tát đạo—The power of disciplining himself in all the exercises of Bodhisattvahood. 4) Trí Lực: Prajna-bala (skt)—Năng lực trực giác để hiểu tâm thức của mọi chúng sanh—The intuitive power to understand the mentalities of all beings. 5) Nguyện Lực: Pranidhana-bala (skt)—Năng lực làm cho mọi lời nguyện được thành tựu—The power of making every prayer fulfilled. 6) Hành Lực: Carya-bala (skt)—Năng lực vận hành cho đến khi tận cùng thời gian—The power of working till the end of time. 7) Thừa Lực: Yana-bala (skt)—Năng lực tạo ra mọi thừa mà không bao giờ bỏ Đại Thừa—The power of creating all kinds of conveyance or yana without ever giving up the Mahayana. 8) Thần Biến Lực: Vikurvana-bala (skt)—Năng lực tạo thành một thế giới thuần khiết thanh tịnh trong mỗi lổ lông của da—The power of making a world of immaculate purity in every pore of the skin. 9) Bồ Đề Lực: Bodhi-bala (skt)—Năng lực thức tỉnh cho mọi chúng sanh giác ngộ—The power of awakening every being in enlightenment. 10) Chuyển Pháp Luân Lực: Dharmacakrapravartana-bala (skt)—Năng lực của sự tuyên thuyết; một phần câu mà kêu gọi đồng bộ những cái tâm của mọi chúng sanh—The power of uttering one phrase which appeals uniformly to the hearts of all beings.
thập lực ca diếp
361梵名 Daśabala-kāśyapa,巴利名 Dasabala-kassapa。又稱十力迦攝或婆敷迦葉。早期即歸佛為佛弟子,乃佛最初所度五比丘之一,其餘事蹟不詳。〔雜阿含經卷五十、中本起經卷上轉法輪品、佛所行讚卷三轉法輪品〕
; Vappa (S), Vāṣpa (S), Daśabāla-Kasyapa (S) Bà sa bà Một vị trong năm tỳ kheo đệ tử đầu tiên của đức Phật và đắc A la hán trước nhất. Ông là một trong năm người Bà la môn cùng tu khổ hạnh với đức Phật như: Kiều trần Như (Kodanna), Bạc đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Vappa), Ma ha Nam (Mahanama) và ác Bệ (Assaji). Ông cũng là một trong những đệ tử đầu tiên và đắc quả A la hán đầu tiên của đức Phật.
; Dasabala-Kàsyapa (S). One of the five first disciples of Buddha.
; (十力迦葉) Phạm: Dazabala-kàzyapa. Pàli: Dasabala-kassapa. Cũng gọi Thập lực ca nhiếp, Bà phu ca diếp.Vị A la hán đệ tử đức Phật, là 1 trong 5 vị tỉ khưu được Phật hóa độ đầu tiên. [X. kinh Tạp a hàm Q.50; phẩm Chuyển pháp luân trong kinh Trung bản khởi Q.thượng; phẩm Chuyển pháp luân trong Phật sở hành tán Q.3].
Thập lực Ca-diếp 十力迦葉
[ja] ジュウリキカショウ Jūriki kashō ||| Daśabala-Kāśyapa, one of the five bhikṣus 五比丘 who first practiced asceticism with Śākyamuni, and later heard his first sermon and became his disciples. => s: Daśabala-Kāśyapa Một trong 5 vị Tỉ Khưu đầu tiên tu khổ hạnh cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi nghe Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên, liền trở thành đệ tử của Đức Phật .
Thập lực Huệ nhật
(mặt trời trí huệ có đủ Mười sức): một danh xưng khác để chỉ đức Phật, vì ngài là bậc duy nhất có đủ trí huệ viên mãn và Thập lực (Mười sức). Xem Mười sức.
thập lực như lai
Dasa-tathagata-balani (skt)—Mười đại lực của Phật—Như Lai Cụ Túc Thập Lực—The ten great powers of a Buddha: 1) Tri thị xứ phi xứ trí lực: Khả năng biết sự lý là đúng hay chẳng đúng—Complete knowledge of what is right or wrong in every condition—The power of knowing from awakening to what is and what is not the case—Knowing right and wrong—The power to distinguish right from wrong. 2) Tri tam thế nghiệp báo Trí lực: Tri Thượng Hạ Trí Lực—Complete knowledge of what is the karma of every being past, present and future—The power of knowing karmic retributions throughout the three periods of time—Knowing what karmic effects follow from which causes. 3) Tri chư Thiên giải thoát Tam muội: Complete knowledge of all stages of dhyana liberation and samadhi—The power of knowing all dhyanas, liberations and samadhis—Knowing the various balanced states (four dhyanas, eight states of liberation, three samadhi, etc). 4) Tri chúng sanh tâm tánh Trí lực: Complete knowledge of the powers and faculties of all beings—The power of knowing all faculties whether superior or inferior—Knowing the superior or inferior makings og others. 5) Tri chủng chủng giải trí lực: Biết được sự hiểu biết của chúng sanh—Complete knowledge of the desires or moral direction of every being—The power of knowing the various realms—Knowing the desires of others. 6) Tri chủng chủng giới trí lực: Biết hết các cảnh giới—Complete knowledge of actual condition of every individual—The power of knowing the various understanding—Knowing the states of others. 7) Tri nhứt thiết sở đạo trí lực: Biết hết phần hành hữu lậu của lục đạo—Complete knowledge of the direction and consequence of all laws—The power of knowing where all paths lead—Knowing the destinations of others, either nirvana or hell. 8) Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Thấy biết tất cả sự việc của chúng sanh—Complete knowledge of all causes of mortality and of good and evil in their reality—The power of knowing through the heavenly eye without obstruction—Knowing the past. 9) Tri túc mạng vô lậu trí lực: Biết các đời trước rất xa của chúng sanh—Complete knowledge of remote lives of all beings, the end of all beings and nirvana—The power of knowing previous lives without outflows—Buddha-power to know life and death, or all previous transmigrations. 10) Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Biết đoạn hẳn các tập khí—Complete knowledge of the destruction of all illusion of every kind—The power of knowing from having cut off all habits forever—Knowing how to end excesses.
Thập lực Thế hùng
Đức Thế hùng có đủ mười trí lực, là tôn hiệu của Phật. Phật có đủ 10 trí lực. Xem Mười sức.
Thập lực 十力
[ja] ジュウリキ jūriki ||| (daśa-balāni). The 'ten powers.' I. Ten kinds of powers of awareness specially possessed by the Buddha, which are perfect knowledge of the following. (1) distinguishing right and wrong; (2) knowing the karmas of all sentient beings of the past, present and future; (3) knowledge of all forms of meditation; (4) knowledge of the relative capacities of sentient beings; (5) knowledge of what sentient beings desire and think; (6) knowledge of the different levels of their existence; (7) knowledge of the results of various methods of practice; (8) knowledge of the transmigratory states of all sentient beings and the courses of karma they will follow; (9) knowledge of the past lives of all sentient beings and the nirvanic state of non-defilement; (10) knowledge of the methods of destroying all evil passions. II. One who possesses the ten powers. III. The ten powers possessed by bodhisattvas. There is another set of ten bodhisattva powers listed in the Shoulengyan sanmei jing 首楞嚴三昧經 (T vol. 15, pp. 643a-b). => (s: daśa-balāni) Có các nghĩa sau: I. Mười năng lực trí tuệ viên mãn, đặc biệt chư Phật mới có: 1. Tri giác xứ phi xứ trí lực: Trí tuệ biết phân biệt rõ pháp nào có đạo lý, pháp nào không có đạo lý. 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Biết rõ nhân quả nghiệp báo của chúng sinh trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 3. Tri chư Thiền giải thoát tam muội trí lực: Biết rõ các loại Thiền định, tám thứ giải thoát, và ba thứ Tam muội. 4. Tri chúng sinh tâm tính trí lực: Biết tâm tính của tất cả chúng sinh. 5. Tri chủng chủng giải trí lực: Biết rõ mọi loại tri giải của tất cả chúng sinh. 6. Tri chủng chủng giới trí lực: Biết rõ mọi cảnh giới khác nhau . 7. Tư nhất thiết chí sở đạo trí lực: Biết rõ mọi các pháp môn tu tập khác nhau. 8. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Trí lực vận dụng thiên nhãn thấy rõ mọi sinh tử và nghiệp báo lưu chuyển của chúng sinh. 9. Tri túc mạng vô lậu trí lực: Biết rõ túc mạng của chúng sinh và vô lậu niết bàn . 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Biết rõ như thực đối với mọi tập khí vọng tưởng vĩnh viễn đoạn diệt. II. Người đã đạt được mười lực. III. Mười lực của hàng Bồ-tát. Chi tiết được ghi rõ trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm tam muội 首楞嚴三昧經 c:Shoulengyan sanmei jing .
thập ma
〖出華嚴經隨疏演義鈔〗魔,梵語具云魔羅,華言能奪命,謂能奪眾生智慧之命;又翻作障,能於修道之人而作障難故也。〔一、蘊魔〕,謂色受想行識五蘊為魔也。蓋貪著五蘊之法,起惑造業,障礙正道,遂失智慧之命,是名蘊魔。〔二、煩惱魔〕,謂一切煩惱之惑為魔也。蓋貪著五塵之境,起諸煩惱,障礙正道,遂失智慧之命,是名煩惱魔。(五塵者,色塵、聲塵、香塵、味塵、觸塵也。)〔三、業魔〕,謂一切惡業為魔也。蓋殺盜婬妄諸罪惡業,障礙正道,遂失智慧之命,是名業魔。〔四、心魔〕,謂一切我慢之心為魔也。蓋心懷貢高,常生憍慢,障蔽正道,遂失智慧之命,是名心魔。〔五、死魔〕,謂人壽盡命終為魔也。蓋業報已畢,捨離現生之處,障蔽修道,遂失智慧之命,是名死魔。〔六、天魔〕,謂欲界第六他化自在天為魔也。蓋此天為欲界之主,見人修道,以為失我眷屬,空我宮殿,即興魔事,惱亂行者,令人障蔽正道,遂失智慧之命,是名天魔。〔七、善根魔〕,謂著所修一切善法為魔也。蓋修行之人,或得一善,即生取著之心,更不加修,由是障蔽正道,遂失智慧之命,是名善根魔。〔八、三昧魔〕,梵語三昧,華言正定。謂著於所得禪定為魔也。蓋修禪之人,得一三昧,久味耽著,不求昇進,障蔽正道,遂失智慧之命,是名三昧魔。〔九、善知識魔〕,謂慳吝於法而為魔也。蓋於一切諸法,起執著心,不能開導於他,障蔽正道,令人遂失智慧之命,是名善知識魔。〔十、菩提法智魔〕,梵語菩提,華言道。謂著一切法而為魔也。蓋修行之人,於菩提之法,起智執著,堅守不捨,障蔽正道,遂失智慧之命,是名菩提法智魔。
; 504修行佛道之十種障礙。即:欲、憂愁、飢渴、愛、睡眠、怖畏、疑、含毒、利養、高慢。語出大智度論卷五。又華嚴經卷四十二亦載有十種魔,即:五陰魔、煩惱魔、業魔、心魔、死魔、天魔、失善根魔、三昧魔(著於所得禪定為魔)、善知識魔(慳吝於法為魔)、不知菩提正法魔。
; Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ ma của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát nên mau dùng phương tiện xa rời mười thứ ma nầy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of demons of great enlightening beings. Enlightening beings should apply appropriate means to quickly escape these demons. ** See Ten ways of getting rid of demons' actions—See Mười điều rời bỏ ma nghiệp của chư Bồ Tát. 1) Ngũ uẩn ma, vì sanh các chấp thủ: The demon of the clusters of mental and material elements, giving rise to attachments. 2) Phiền não ma, vì hằng tạp nhiễm: The demon of afflictions, perpetually confusing and defiling. 3) Nghiệp ma, vì hay chướng ngại: The demon of actions, able to obstruct and inhibit. 4) Tâm ma, vì khởi ngã mạn cống cao: The demon of mind, which gives rise to pride. 5) Tử ma, vì bỏ chỗ sanh: The demon of death, which abandons life. 6) Thiên ma, vì tự kiêu căng phóng túng: The demon of heaven, being self-indulgent. 7) Thiện căn ma, vì hằng chấp thủ: The demon of roots of goodness, because of perpetual clinging. 8) Ma tam muội, vì từ lâu say đắm: The demon of concentration, because of long indulgence in the experience. 9) Thiện tri thức ma, vì khởi tâm chấp trước: The demon of spiritual teachers, because of giving rise to feelings of attachment. 10) Bồ Đề pháp trí ma, vì chẳng chịu xả lìa: The demon of phenomenon of enlightenment, because of not wanting to relinquish it.
; (十魔) I. Thập Ma. Chỉ cho 10 thứ chướng ngại của việc tu hành Phật đạo nói trong luận Đại trí độ quyển 5, đó là: Ham muốn, lo sầu, đói khát, yêu thương, thích ngủ, sợ hãi, nghi kị, tâm độc hại, lợi dưỡng và kiêu căng. II. Thập Ma. Chỉ cho 10 thứ ma nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 42, đó là: Ma ngũ ấm, ma phiền não, ma nghiệp, ma tâm, ma chết, ma trời, ma mất thiện căn, ma tam muội (chấp chặt vào thiền định đã chứng được, là ma), ma thiện tri thức(bỏn xẻn pháp, không chịu nói cho người khác nghe, là ma) và ma không biết chính pháp bồ đề.
thập ma nghiệp
Ten kinds of demons' actions—See Mười Thứ Ma Nghiệp Của Chư Đại Bồ Tát.
thập minh
447<一>出自舊華嚴經卷二十八「十明品」,新華嚴經卷四十四改為十通品。指十地菩薩所具之十種智明,又作十種神通、十種通、十通。即:(一)善知他心智明(他心智明),即如實了知一切眾生之心念。(二)無礙天眼智明(天眼智明),菩薩能照見種種眾生之死此生彼、善惡諸趣及其所受之苦樂,乃至種種思願業行等。(三)深入過去際劫無礙宿命智明(宿命智明),菩薩得九世眼,故於過去世一切世界自他之本事及過去諸佛之因果等,悉能憶念。(四)深入未來際劫無礙智明(未來際智明),菩薩了知一切世界未來無量眾生之業報相及未來諸佛之因果。(五)無礙清淨天耳智明(天耳智明),即菩薩成就無礙之天耳,於十方世界遠近等一切音聲能隨意而聞,於如來之所說能聞持不忘失,廣說妙法而度眾生。(六)安住無畏神力智明(神力智明),菩薩得無作乃至隨順行等十二神力,能自在無礙往詣十方世界現在諸佛所,讚歎供養,常聞正法,成滿勝願,修習無量之行。(七)分別一切言音智明(分別言音智明),菩薩能了解無量世界所謂中國、邊國乃至天、龍、人、非人等一切之言音及其法義。(八)出生無量阿僧祇色身莊嚴智明(色身莊嚴智明),菩薩善知一切色,而亦深入無色之法界,隨其所應住持變現無量無邊之色身,以度化眾生。(九)一切諸法真實智明(真實智明),菩薩了知一切法之真實義,不著世諦,不著第一義諦,不捨本願,攝取眾生,恆具足成就無礙自在之智用。(十)一切諸法滅定智明(滅定智明),在滅盡定寂然不動,而亦不捨大慈悲,滿足一切之菩薩行。 又據華嚴經探玄記卷十五載,此十明同以大智為體,通普賢性起之智,若隨相分之,前八 怓偉q智,後二者為理智,又據實而論,則為唯一之無礙智。〔華嚴經疏卷四十六、華嚴經孔目章卷四、華嚴經探玄記卷十七、華嚴五教章卷一、大乘義章卷十四、華嚴五教章通路記卷十八〕 <二>指新華嚴經卷五十四離世間品所說菩薩十種善巧智明。又作十種明、十種智明。大明三藏法數卷三十八稱之為:(一)知眾生業報智明,謂菩薩以善巧智明,了達一切眾生造諸惡業而受苦報。(二)知一切境界寂滅智明,謂菩薩以善巧智明,了達世間一切境界清淨寂滅,無諸雜染。(三)知一切所緣唯是一相智明,謂菩薩以善巧智明,了知一切眾生所緣諸法,唯是一實相理,皆如金剛,不可破壞。(四)能以妙音普聞十方智明,謂菩薩以善巧智明,了知眾生雖空,而能以無量妙音演一切法,遍十方界,無不聞知。(五)普壞染著心智明,謂菩薩以善巧智明,普能滅壞一切眾生愛欲染著之心。(六)能以方便受生智明,謂菩薩以善巧智明,能於十方世界種種方便,示現受生,化導有情。(七)捨離想受境界智明,謂菩薩以善巧智明,於一切想念受用境界,皆能捨離。(八)知一切法無相無性智明,謂菩薩以善巧智明,了知世間一切諸法,皆悉非相非無相,一性無性,離諸分別。(九)知眾生緣起本無有生智明,謂菩薩以善巧智明,了達一切眾生受生因緣所起之法,悉皆空寂,本來無生。(十)以無著心濟度眾生智明,謂菩薩以善巧智明,了知一切眾生雖皆空寂,而恒起無著之心,說法教化,令眾生度生死苦海,成無上正覺。〔舊華嚴經卷三十八、華嚴經探玄記卷十七〕
; Ten kinds of insight—See Mười Thứ Minh Của Chư Đại Bồ Tát.
; (十明) I. Thập Minh. Cũng gọi Thập chủng thần thông, Thập chủng thông, Thập thông. Chỉ cho 10 trí minh của hàng Bồ tát Thập địa nói trong phẩm Thập minh, kinh Hoa nghiêm quyển 28, (bản dịch cũ) và phẩm Thập thông, kinh Hoa nghiêm quyển 44 (bản dịch mới). Đó là: 1. Thiện tri tha tâm trí minh (Tha tâm trí minh): Tức trí biết rõ đúng như thật tâm niệm của tất cả chúng sinh. 2. Vô ngại thiên nhãn trí minh (Thiên nhãn trí minh): Trí thấy rõ sự chết đây sinh kia trong các ngả thiện ác của các loài chúng sinh, cho đến những việc khổ vui mà chúng lãnh nhận và ý nguyện, hành nghiệp của họ.3. Thâm nhập quá khứ tế kiếp vô ngại túc mệnh trí minh (Túc mệnh trí minh): Trí ghi nhớrõtất cả bản sự(sự tích) của mình và người ở tất cả thế giới trong đời quá khứ cũng như nhân quả của chư Phật ở đời quá khứ. 4. Thâm nhập vị lai tế kiếp vô ngại trí minh(Vị lai tế trí minh): Trí biết rõ các tướng nghiệp báo của vô lượng chúng sinh trong tất cả thế giới ở đời vị lai và nhân quả của chư Phật đời vị lai. 5. Vô ngại thanh tịnh thiên nhĩ trí minh(Thiên nhĩ trí minh): Trí nghe rõ được tất cả âm thanh xa gần ở các thế giới trong 10 phương, có năng lực nghe và thụ trì những pháp do đức Như lai giảng nói không để quên mất, đồng thời nói rộngdiệu pháp để hóa độ chúng sinh. 6. An trụ vô úy thần lực trí minh (Thần lực trí minh): Bồ tát chứng được 12 thứ thần lực từ vô tác cho đến tùy nguyện hành, có khả năng đi đến chỗ chư Phật hiện tại ở các thế giới trong 10 phương một cách tự tại vô ngại để khen ngợi cúngdường, thường nghe chính pháp, thành tựu viên mãn hạnh nguyện thù thắngvà tu tập các hạnh. 7. Phân biệt nhất thiết ngôn âm trí minh(Phân biệt ngôn âm trí minh): Trí phân biệt rõ các âm thanh ngôn ngữ ở các trung quốc(thủ đô), biên quốc(nơi biên giới),trong vô lượng thế giới, cho đến âm thanh ngôn ngữ của tất cả loài trời, rồng, người, chẳng phải người... và các pháp nghĩa trong tất cả âm thanh ngôn ngữ ấy. 8. Xuất sinh vô lượng a tăng kì sắc thân trang nghiêm trí minh (Sắc thân trang nghiêm trí minh): Bồ tát khéo biết tất cả sắc, đồng thời cũng vào sâu pháp giới vô sắc, tùy nơi nên trụ trì mà biến hiện vô lượng vô biên sắc thân để hóa độ chúng sinh.9. Nhất thiết chư pháp chân thật trí minh(Chân thực trí minh): Bồ tát rõ biết nghĩa chân thực của tất cả các pháp, không chấp trước thế đế, cũng không bám dính vào Đệ nhất nghĩa đế, không bỏ bản nguyện, nhiếp thụ chúng sinh, thường thành tựu đầy đủ trí dụng một cách tự tại vô ngại. 10. Nhất thiết chư pháp diệt định trí minh(Diệt định trí minh): Bồ tát an trụ bất động trong định Diệt tận, nhưng không lìa đại từ bi, đầy đủ tất cả hạnh Bồ tát.Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 15, thì Thập trí này đều lấy đại trí làm thể, chung cho cả trí tính khởi Phổ hiền; nếu chia theo tướng thì 8 Trí minh trước thuộc về Lượng trí, 2 Trí minh cuối thuộc về Lí trí, nhưng thực ra thì chỉ có một Vô ngại trí duy nhất. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.46; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thônglộ kí Q.18]. II. Thập Minh. Cũng gọi Thập chủng minh, Thập chủng trí minh. Chỉ cho 10 trí minh khéo léo của Bồ tát nói trong phẩm Li thế gian, kinh Hoa nghiêm quyển 54 (bản dịch mới). Đó là: 1. Tri chúng sinh nghiệp báo trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ việc chúng sinh tạo các nghiệp ác và chịu khổ báo.2. Tri nhất thiết cảnh giới tịch diệt trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ tất cả cảnh giới thế gian thanh tịnh vắng lặng, không có các tạp nhiễm. 3. Tri nhất thiết sở duyên duy thị nhất tướng trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ các pháp sở duyên của tất cả chúng sinh chỉ là lí một thực tướng, như kim cương, không thể phá hoại. 4. Năng dĩ diệu âm phổ văn thập phương trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ chúng sinh tuy không, nhưng thường dùng diệu âm diễn giảng tất cả pháp, khắp các pháp giới trong 10 phương đều được nghe biết. 5. Phổ hoại nhiễm trước tâm trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo diệt tâm ái dục của tất cả chúng sinh. 6. Năng dĩ phương tiện thụ sinh trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, thường ở các thế giới trong 10 phương dùng nhiều phương tiện, thị hiện thụ sinh để giáo hóa, dắt dẫn loài hữu tình. 7. Xả li tưởng thụ cảnh giới trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, lìa bỏ tất cả cảnh giới tưởng niệm thụ dụng. 8. Tri nhất thiết pháp vô tướng vô tính trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ tất cả các pháp thế gian đều chẳng phải có tướng chẳng phải không tướng, chẳng phải có tính chẳng phải không tính, lìa các phân biệt. 9. Tri chúng sinh duyên khởi bản vô hữu sinh trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ pháp nhân duyên khởi ra sự thụ sinh của tất cả chúng sinh thảy đều rỗng lặng, xưa nay vốn không sinh. 10. Dĩ vô trước tâm tế độ chúng sinh trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ tất cả chúng sinh tuy đều rỗng lặng, nhưng thường khởi tâm vô trước, thuyết pháp giáo hóa, giúp chúng sinh vượt qua biển khổ sinh tử, thành vô thượng Chính giác.[X. kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17].
thập môn
The ten "doors" or connections between sự and lí; sự is defined as hiện tượng form, and lí as bản thể substance; the common illustration of wave and water indicates the idea thus expressed. The Lí Sự Vô Ngại thập môn means that in ten ways form and substance are not separate, unconnected entities: (1) Lí the substance is always with Sự the phenomena; (2) Sự is always present with Lí; (3) Sự depends on Lí for its existence; (4) the Sự can reveal the Lí; (5) The Sự (mere form, which is unreal) can disappear in the Lí; (6) The Sự can conceal the Lí; (7) The true Lí is the Sự; (8) The Sự is Lí; (9) The true Lí (or reality) is not the Sự; (10) The Sự is not the (whole) Lí.
; Mười cửa nối kết giữa thế giới vật chất và hiện tượng—The ten doors or connection between noumena or substance and phenomena (theory and practice): 1) Lý luôn đi với sự: Substance (Lý) is always present with the phenomena (Sự). 2) Sự luôn đi với lý: The phenomena is always present with substance. 3) Sự tùy thuộc vào lý mà tồn tại: The phenomena depend on the substance for its existence. 4) Sự phô bày lý: The phenomena can reveal the substance. 5) Sự biến mất trong lý: The phenomena (from is unreal) can disappear in the substance. 6) Sự có thể che dấu lý: The phenomena can conceal the substance. 7) Chân lý chính là sự: The true substance is the phenomena. 8) Sự chính là lý: The phenomena is the substance. 9) Chân như không phải là sự: True reality is not the phenomena. 10) Sự không phải là lý: The phenomena is not the whole substance.
thập môn biện hoặc luận
452凡三卷。唐朝復禮撰。收於大正藏第五十二冊。係對太子文學權無二之釋典稽疑十條一一辯釋之作。十門即:通力上感門、應形俯化門、淨穢土別門、迷悟見殊門、顯實得記門、反經讚道門、觀業救捨門、隨教抑揚門、化佛隱顯門、聖王興替門。權無二見此論,百年之疑一朝頓盡。注釋書有龍空之纂述四卷、義鏡之備檢五卷。〔開元釋教錄卷九、宋高僧傳卷十七〕
; (十門辯惑論) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Phục lễ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này giải thích 10 điều nghi hoặc của Thái tử Văn học Quyền vô nhị đối với kinh Phật. Thập môn là: Thông lực thượng cảm môn, Ứng hình phủ hóa môn, Tịnh uế độ biệt môn, Mê ngộ kiến thù môn, Hiển thực đắc kí môn, Phản kinh tán đạo môn, Quán nghiệp cứu xả môn, Tùy giáo ức dương môn, Hóa Phật ẩn hiển môn và Thánh vương hưng thế môn. Sau khi Quyền vô nhị xem luận này thì mối nghi hoặc từ lâu bỗng tiêu sạch. Các sách chú thích tác phẩm này có: Soạn thuật 4 quyển của ngài Long không, Bị kiểm 5 quyển của ngài Nghĩa kính. [X. Khai nguyên thíchgiáolục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.17].
Thập môn biện hoặc luận 十門辯惑論
[ja] ジュウモンベンワクロン Jūmon benwaku ron ||| Shimen bianhuo lun; 3 fasc., by Fu-li 復禮; T 2111.52.551-559. => Luận, gồm 3 quyển , Phục Lễ 復禮 c: Fu-li soạn.
Thập môn hoà tránh luận 十門和諍論
[ja] ジュウモンワソウロン Jūmon wasō ron ||| Simmun hwajaeng non (Reconciliation of Disputes in Ten Aspects) by Wŏnhyo 元曉. An essay by the famous Silla scholiast, in which he attempted to synthesize the views of the various Buddhist teachings which had been transmitted into Korea during his era. Unfortunately, only fragments of this text are extent.HPC 1.838-841. => k: Simmun hwajaeng non; e: Reconciliation of Disputes in Ten Aspects của Nguyên Hiểu 元曉 k:Wŏnhyo. Là luận giải của một học giả nổi tiếng người Cao ly, trong đó, sư nỗ lực tổng hợp mọi quan điểm giáo lý Phật giáo khác nhau được phiên dịch sang tiếng Cao ly trong thời đại của sư. Không may, chỉ còn những đoạn rời của kinh nầy còn hiện hành.
thập môn thích kinh
452唐代澄觀著華嚴經疏,先總啟十種義門,懸談一經之大意,使知教法之興起,有所自來,稱為十門釋經。即:(一)教起因緣,即明此經教法興起之因緣。謂如來以清淨智眼,了知一切眾生具有如來智慧德相,但以妄想執著,不知不見,遂開示眾生等有佛智因緣,而令斯教興起。(二)藏教所攝,藏,指經、律、論三藏;教,指十二分教。謂此經與三藏十二分教,彼此相攝。(三)義理分齊,義,即圓教所詮玄妙之義;理,即法界所顯圓融之理。謂此經所詮義理,正屬圓教,說一法則諸法皆攝,談一位則諸位全收。分齊者,以圓教所明事事無礙法界及一切塵毛稱性圓融所顯之理,正是此經之分齊。(四)教所被機,謂此圓融具德之教,正被一乘圓頓之機,即無信機、違真機、大實機、狹劣機、守權機、正為機、兼為機、引為機、權為機、遠為機等十種根機悉皆收攝。(五)教體淺深,謂如來說教必有其體,今通論一大藏教,從淺至深,略而明之,凡有十體,即音聲語言體、名句文身體、通取四法體、通攝所詮體、諸法顯義體、攝境唯心體、會緣入實體、理事無礙體、事事無礙體、海印炳現體。(六)宗趣通局,宗,即語之所尚;趣,謂宗之所歸。通,乃總論一代時教,從狹至寬為十宗,即我法俱有宗、法有我無宗、法無去來宗、現通假實宗、俗妄真實宗、諸法但名宗、三性空有宗、真空絕相宗、空有無礙宗、圓融具德宗。局,即別局一經。(七)部類品會,部,指諸部;類,即流類。謂從此經部內流出別行之經,從狹至廣,略顯十類,即略本經、下本經、中本經、上本經、普眼經、同說經、異說經、主伴經、眷屬經、圓滿經。其中略本經有四萬五千偈。(八)傳譯感通,傳譯,謂西天傳至東土,譯梵語而成華言。此經前後凡有二譯,一為東晉義熙十四年(418)北天竺僧佛陀跋陀羅,於揚州謝司空寺譯梵本,為三萬六千偈,成六十卷。二為唐證聖元年(695)于闐國僧實叉難陀,於東都佛授記寺再譯舊文,兼補諸闕,增益九千偈,共前四萬五千偈,成八十卷,即今流傳者。感通,指佛陀跋陀羅譯經之時,感龍王遣二青衣童子每日從池而出,以給瓶硯之水;實叉難陀譯經之時,感天降甘露,徵應良多。(九)總釋經題,謂總以妙義解釋大方廣佛華嚴經之題目。(十)別解文義,謂既總釋經題,則當別解經文,略而言之,大科三分,即:(1)世主妙嚴品為序分,(2)從如來現相品至入法界品為正宗分,(3)入法界品內,爾時文殊師利從善住樓閣出以下,為流通分。
; (十門釋經) Chỉ cho 10 nghĩa môn do ngài Trừng quán đời Đường lập ra khi soạn bộ Hoa nghiêm kinh sớ, nói rõ đại ý của kinh để giúp người đọc dễ dàng hiểu biết về giáo pháp và nguyên do của bộ kinh Hoa nghiêm đã phát khởi như thế nào. Đó là: 1. Giáo khởi nhân duyên: Nói rõ về nhân duyên hưng khởi giáo pháp của kinh. Nghĩa là đức Như lai biết rõ tất cả chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ của Như lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên không hay biết, vì thế đức Phật khai thị chúng sinh đều có nhân duyên Phật trí, đó là nguyên do hưng khởi giáo pháp của kinh này.2. Tạng giáo sở nhiếp: Tạng là Tam tạng kinh, luật, luận; Giáo là 12 phần giáo. Nghĩa là kinh này và Tam tạng 12 phần giáo tương nhiếp lẫn nhau. 3. Nghĩa lí phân tề: Nghĩa tức nghĩa huyền diệu do Viên giáo giải thích; Lí là lí viên dung được hiển bày trong pháp giới. Tức nghĩa lí mà kinh Hoa nghiêm giải thích chính thuộc Viên giáo, nêu một pháp thì hàm nhiếp tất cả pháp, nói một giai vị thì bao gồm tất cả giai vị. Còn Phân tề thì Sự sự vô ngại pháp giới được Viên giáo nói rõ và lí xứng tính viên dung được hiển bày chính là phân tề(nội dung sai khác) của kinh này.4. Giáo sở bị cơ: Giáo pháp viên dung cụ đức này bao trùm 10 căn cơ Nhất thừa Viên đốn, đó là: Vô tín cơ, Vi chân cơ, Đại thực cơ, Hiệp liệt cơ, Thủ quyền cơ, Chính vị cơ, Kiêm vị cơ, Dẫn vị cơ, Quyền vị cơ và Viễn vị cơ. 5. Giáo thể thiển thâm: Như lai thuyết giáo ắt có giáo thể, nay bàn chung thì một đại tạng giáo, từ cạn đến sâu, nếu nói sơ lược thì gồm có 10 thể, tức Âm thanh ngữ ngôn thể, Danh cú văn thân thể, Thông thủ tứ pháp thể, Thông nhiếp sở thuyên thể, Chư pháp hiển nghĩa thể, Nhiếp cảnh duy tâm thể, Hội duyên nhập thực thể, Lí sự vô ngại thể, Sự sự vô ngại thể và Hải ấn bính hiện thể. 6. Tông thú thông cục: Tông là chủ của lời nói, Thú là chỗ nương của Tông, Thông là bàn chung về giáo pháp trong một đời, từ hẹp đến rộng gồm 10 tông, từ Ngã pháp câu hữu tông đến Viên dung cụ đức tông. Cục là chỉ hạn cuộc ở một kinh. 7. Bộ loại phẩm hội: Bộ là các bộ; Loại tức là Lưu loại. Nghĩa là từ bộ kinh này lưu xuất ra biệt kinh(bản kinh lưu hành riêng), từ hẹp đến rộnglượcnêu 10 loại: Lược bản kinh, Hạ bản kinh, Trung bản kinh, Thượng bản kinh, Phổ nhãn kinh, Đồng thuyết kinh, Dị thuyết kinh, Chủ bạn kinh, Quyến thuộc kinh và Viên mãn kinh. Trong đó, Lược bản kinh có 4 vạn 5 nghìn bài kệ. 8. Truyền dịch cảm thông: Truyền dịch là từ Tây thiên truyền đến Đông độ, dịch từ tiếng Phạm sang chữ Hán. Kinh này trước sau có 2 bản dịch: Một do ngài Phật đà bạt đà la, vịcao tăng người Bắc Thiên trúc, dịch vào năm Nghĩa hi 14 (418) đời Đông Tấn, ở chùa Tạ tư không tại Dương châu, nguyên bản tiếng Phạm gồm 3 vạn 6 nghìn bài kệ, dịch thành 60 quyển. Một do ngài Thực xoa nan đà, vị cao tăng người nước Vu điền, dịch lại bản cũ vào niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695) đời Đường, ở chùa Phật thụ kí tại Đông đô (Lạc dương). Bản dịch này có bổ sung những chỗ còn thiếu, thêm 9 nghìn bài kệ, cộng chung với bản dịch cũ gồm tất cả 4 vạn 5 nghìn bài tụng, dịch thành 80 quyển, tức là bản lưu truyền hiện nay. Cảm thông, tức khi ngài Phật đà bạt đà la dịch kinh cảm đến Long vương, nên Long vương sai 2 đồng tử mặc áo màu xanh hàng ngày từ trong ao xuất hiện dâng nước mài mực; còn khi ngài Thực xoa nan đà dịch kinh thì cảm được trời mưa cam lộ và hiện nhiều điều linh ứng. 9. Tổng thích kinh đề: Dùng diệu nghĩa để giải thích tổng quát đề mục Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh. 10. Biệt giải văn nghĩa: Giải thích riêng văn kinh, lược chia làm 3 khoa chính: a. Phẩm thế chủ diệu nghiêm là phần Tựa.b. Từ phẩm Như lai hiện tướng đến phẩm Nhập pháp giới là phần Chính tông. c. Trong phẩm Nhập pháp giới, từ câu Bấy giờ, ngài Văn thù sư lợi từ lầu gác Thiện trụ đi ra... trở xuống, là phần Lưu thông.
thập môn thập triết
1221鳩摩羅什之門人中,道生、道融、僧肇、僧叡(以上並稱什門四聖)、曇影、慧觀、慧嚴、僧契、道常(恆)、道標,稱為什門十哲。又有什門八俊之說,說法不一,一般指道生、僧肇、道融、僧叡、道恆、曇影、慧觀、慧嚴。〔釋氏稽古略卷二〕
; (什門十哲) Chỉ cho 10 vị học trò ưu tú của ngài Cưu ma la thập, đó là: Đạo sinh, Đạo dung, Tăng triệu, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ quán, Tuệ nghiêm, Tăng khế, Đạo thường (Đạo hằng) và Đạo tiêu. Ngoài ra còn có thuyết Thập môn bát tuấn, thông thường chỉ cho các vị: Đạo sinh, Tăng triệu, Đạo dung, Tăng duệ, Đạo hằng, Đàm ảnh, Tuệ quán và Tuệ nghiêm. [X. Thích thị kê cổ lược Q.2].
thập môn tự mật chú công đức thâm quảng
451顯密圓通成佛心要集卷下以十門敘述密咒功德之深廣,十門即:(一)護持國王安樂人民門,謂一切國土中所有陀羅尼流行之地,令其人王常得擁護,勢力自在,復令財穀豐饒,人民安樂。(二)能滅罪障遠離鬼神門,謂眾生於書寫之陀羅尼,若得睹視、觸及、頂戴,乃至書於鐘鼓鈴鐸之上而聞其聲者,縱有五無間罪,悉皆滅盡,不為鬼神天魔所侵害。(三)除身心病增長福慧門,謂行人持誦陀羅尼能除種種身心病苦,消滅貪瞋癡心,自然通曉一切經論與世間典籍,十方如來所有功德悉與此人,增長一切福慧。(四)凡所求事皆不思議門,謂行人欲求所願成就時,用四種物,一者弓箭及數珠、袈裟等,二者雄黃等種種藥物,三者河岸上土,作師子、孔雀等禽獸之形,四者或塑畫雕刻佛、菩薩、明王等像,置於檀中,如法誦咒,若得火焰出時,或手執,或塗身等,即得飛騰虛空,遊諸世界,供養諸佛,隨心所樂,悉皆成就,不可思議。(五)利樂有情救脫幽靈門,謂若有眾生得見持咒人之身,或聞其語音,或影中過者,盡滅十惡五逆之罪,來世生諸佛國。或有眾生廣造惡業,死墮三塗,若有親友持咒稱其名字,專心誦念尊勝隨求等咒,亡靈即離惡趣,生於天上。(六)是諸佛母教行本源門,謂真言為諸佛之母,成佛種子,若無真言,終不能成無上正覺,又三藏之教,盡從陀羅尼所出。(七)四眾易修金剛守護門,謂一切比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷四眾,於行、住、坐、臥四威儀中,易於誦習,不假備通教典。又誦持陀羅尼者,是無畏藏,善神龍王、金剛密跡,常隨衛護,不離其側。(八)令凡同佛如來歸命門,謂真言行者持誦神咒課數滿時,身、語、意三者所作善惡之業,皆成無漏功德法門,十方世界諸如來,護念歸命受持者。(九)具自他力現成菩提門,謂真言中密具自力(修六度萬行等)、他力(念佛等)之二力,真言行者現世能成無上菩提。(十)諸佛如來尚乃求學門,謂諸佛亦持神咒,故凡夫更應誦持之。
thập mộng
481<一>波斯匿王所夢之十事,詳見於增一阿含經卷五十一。(一)夢見三釜羅(瓶),兩邊釜滿,中釜空,兩邊釜沸氣相交往,不入中央空釜中。(二)夢見馬口進食,尻(脊椎骨末端)亦進食。(三)夢見大樹生花。(四)夢見小樹生果。(五)夢見一人索繩,然後有羊,羊主食繩。(六)夢見狐坐金床上,以金器進食。(七)夢見大牛還從犢子吸乳。(八)夢見黑牛群,從四面吼鳴而來,相趨欲鬥,當合未合,不知牛處。(九)夢見大陂池水,中央濁,四邊清。(十)夢見大溪水,波流正赤。王醒後驚怖,請佛為解夢,佛告以所夢之含意,並謂諸夢將於後世現應。〔舍衛國王十夢經、五分律卷二十六〕 <二>訖栗枳王所夢之十事。出自給孤長者女得度因緣經卷下。(一)夢見有一大象自窗牖出,身雖得出,尾為窗礙。(二)夢見有一渴人,井隨其後,是人寧忍於渴終不取飲。(三)夢見有人以其真珠交換麨。(四)夢見有人以其栴檀木交換尋常木。(五)夢見有一大園,花果茂盛,忽為猛風吹落散壞。(六)夢見有諸小象,驅大香象奔走而出。(七)夢見有一獼猴,身有糞穢,四向馳走,污諸獼猴,眾皆迴避。(八)夢見有一獼猴坐於一處,有眾獼猴為作灌頂。(九)夢見有一白岁,有十八人各各執奪一分,而岁不破。(十)夢見有多人眾聚集一處,互相鬥諍,競論是非。迦葉佛為之一一解說,謂所夢皆非王事,亦非當時善惡之相,於王壽命亦無損。如第一夢,乃示釋迦佛涅槃後,於遺法中有婆羅門長者居士,若男若女,棄捨眷屬出家學道,雖出家已,心猶貪著名利俗事,不能解脫。〔守護國界主陀羅尼經卷十阿闍世王授記品、俱舍論卷九〕
; (十夢) I. Thập Mộng. Chỉ cho 10 việc mộng của vua Ba tư nặc được ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 51, đó là: 1. Mộng thấy 3 cái bình(phũ la), 2 cái 2 bên đầy, cái ở giữa rỗng không, hơi nước nóng trong 2 bình 2 bên bốc lên giao nhau, nhưng không vào bình trống ở giữa. 2. Mộng thấy con ngựa, miệng đang ăn mà đốt xương sống cuối cùng cũng ăn. 3. Mộng thấy cây lớn nở hoa. 4. Mộng thấy cây nhỏ kết quả. 5. Mộng thấy một người tìm sợi dây, sau đó thấy đàn dê, con dê đầu đàn ăn sợi dây.6. Mộng thấy con chồn ngồi trên cái giường bằng vàng, ăn thức ăn đựng trong bát vàng. 7. Mộng thấy con bò lớn lại theo phía sau con bò con bú sữa. 8. Mộng thấy một con trâu đen từ bốn phía vừa rống vừa chạy đến, định húc nhau, nhưng chưa chạm thì biến mất, không biết trâu ở đâu. 9. Mộng thấy nước ở trong một cái ao lớn, giữa ao đục, 4 phía trong. 10. Mộng thấy dòng suối lớn, sóng màu đỏ.Sau khi tỉnh giấc, nhà vua sợ hãi, bèn đến xin Phật giải mộng, Phật nói về ý nghĩa các điềm mộng, đồng thời bảo rằng các điềm mộng ấy sẽ ứng hiện ở đời sau. [X. kinh Xá vệ quốc vương thập mộng; luật Ngũ phần Q.26]. II. Thập Mộng. Mười việc mộng của vua Ngật lật chỉ chép trong kinh Cấp cô trưởng giả nữ đắc độ nhân duyên quyển hạ. Đó là: 1. Mộng thấy một con voi lớn từ trong cửa sổ đi ra, toàn thân qua được, nhưng cái đuôi bị kẹt. 2. Mộng thấy có một người khát nước, phía sau anh ta có giếng nước, nhưng thà chịu khát chứ anh ta nhất định không uống. 3. Mộng thấy có người đem ngọc chân châu đổi lấy miến. 4. Mộng thấy người đem gỗ chiên đàn đổi lấy gỗ tầm thường. 5. Mộng thấy một khu vườn rộng, hoa quả sum suê, bỗng bị cuồng phong thổi tan tác. 6. Mộng thấy các con voi nhỏ đuổi con voi rất lớn chạy ra. 7. Mộng thấy một con khỉ, trên mình dính đầy phân, chạy khắp 4 phía, làm dính bẩn các con voi khác, chúng đều sợ bỏ chạy trốn.8. Mộng thấy một con khỉ ngồi ở một chỗ, có các con khỉ khác đem nước rưới lên đầu nó. 9. Mộng thấy một tấm dạ trắng, có 18 người, mỗi người chiếm lấy một phần mà tấm dạ không bị xé rách. 10. Mộng thấy có rất đông người tụ tập một chỗ tranh luận nhau, bàn cãi phải trái.Đức Phật Ca diếp giải thích từng điều mộng cho vua nghe, Ngài dạy rằng các điều mộng ấy chẳng phải việc của nhà vua, cũng không phải là tướng thiện ác đương thời, đối với tuổi thọ của vua cũng không hại gì. Như điều mộng thứ nhất là nói sau khi Phật Thích ca nhập Niết bàn, trong di pháp của Ngài có những Bà la môn, trưởng giả, cư sĩ, hoặc nam hoặc nữ, từ bỏ quyến thuộc, xuất gia học đạo, tuy thân xuất gia nhưng tâm còn tham đắm danh lợi thế tục, nên không thể giải thoát. [X. phẩm A xà thế vương thụ kí trong kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.10; luận Câu xá Q.9].
Thập mục ngưu đồ
十牧牛圖; J: jūgyū-no-zu;|Mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông, tương ưng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mười bức tranh này có thể xem là biểu hiện cô đọng nhất, trình bày tinh hoa của Phật giáo Ðại thừa.|Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh – có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 chăn trâu khác nhau – nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (廓庵師遠; c: kuòān shīyuǎn; j: kakuan shion; ~ 1150), được lưu lại trong bản sao của hoạ sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文; shūbun; ?-1460). Một bộ khác với sáu bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, Thiền sư Thanh Cư (清居; c: qīngjū; j: seikyo) chỉ vẽ có năm bức nhưng sau, Thiền sư Tự Ðắc (自得; c: zìdé; j: jitoku; tk. 12) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu dần dần trắng ra và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, một biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh, vô cấu.|Mười bức tranh sau được xem là của Thiền sư Khuếch Am, được trích từ tác phẩm Thiền nhục, Thiền cốt (Zen flesch, Zen bones) của Paul Reps. Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ, rất hay trong Thiền luận của Dai-setz Tei-ta-ro Su-zu-ki, bản dịch của Trúc Thiên và Tuệ Sĩ. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch.||H 53: Tìm trâu (tầm ngưu 尋牛, 1)|Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu|Núi thẳm đường xa nước lại sâu|Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy|Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu.||H 54: Thấy dấu (kiến tích 見跡, 2)|Ven rừng bến nước dấu liên hồi|Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi|Ví phải non sâu lại sâu thẳm|Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.||H 55: Thấy trâu (kiến ngưu 見牛, 3)|Hoàng anh cất tiếng hót trên cành|Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh|Chỉ thế không nơi xoay trở lại|Ðầu sừng rành rõ vẽ khôn thành||H 56: Bắt trâu (đắc ngưu 得牛, 4)|Dùng hết thần công bắt được y|Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì|Có khi vừa hướng cao nguyên tiến|Lại xuống khói mây mãi nằm ì||H 57: Chăn trâu (mục ngưu 牧牛, 5)|Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân|Ngại y chạy sổng vào bụi trần|Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã|Dây mũi buông rồi vẫn theo gần||H 58: Cỡi trâu về nhà (kị ngưu quy gia 騎牛歸家, 6)|Cỡi trâu thong thả trở về nhà|Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà|Một nhịp một ca vô hạn ý|Tri âm nào phải động môi à||H 59: Quên trâu còn người (vong ngưu tồn nhân 忘牛存人, 7)|Cỡi trâu về thẳng đến gia san|Trâu đã không rồi người cũng nhàn|Mặt nhật ba sào vẫn say mộng|Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng||H 60: Người, trâu đều quên (nhân ngưu câu vong 人牛俱忘, 8)|Roi gậy, người trâu thảy đều không|Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông|Lò hồng rừng rực nào dung tuyết|Ðến đó mới hay hiệp Tổ Tông||H 61: Trở về nguồn cội (phản bản hoàn nguyên 返本還源, 9)|Phản bản hoàn nguyên đã phí công|Ðâu bằng thẳng đó tợ mù câm|Trong am chẳng thấy ngoài vật khác|Nước tự mênh mông hoa tự hồng||H 62: Thõng tay vào chợ (nhập triền thuỳ thủ 入廛垂手, 10)|Chân trần bày ngực thẳng vào thành|Tô đất trét bùn nụ cười thanh|Bí quyết thần tiên đâu cần đến|Cây khô cũng khiến nở hoa lành|… Lúc còn trụ tại Quy Sơn, sư Trường Khánh Ðại An dạy chúng: »… Sở dĩ, Ðại An này ở tại Quy Sơn ba mươi năm, ăn cơm Quy Sơn, đại tiện Quy Sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người liền dánh đập điều phục nó… Bây giờ nó đã trở thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi…«.|Mã Tổ hỏi sư Thạch Củng Huệ Tạng: »Làm việc gì?« Sư thưa: »Chăn trâu.« Tổ hỏi: »Làm sao chăn?« Sư đáp: »Một khi vào cỏ thì nắm mũi kéo lại.« Tổ nghe bảo: »Con thật là khéo chăn trâu.«
thập mục ngưu đồ
Jugyu-zu (C), Ten Oxherding Pictures.
; See Thập Ngưu Đồ.
thập nghi luận
483全一卷。隋代智顗述。全稱淨土十疑論、阿彌陀十疑論、天台十疑論、西方十疑。收於大正藏第四十七冊。本書係就彌陀淨土往生之法門舉出十項疑難,再一一加以解答。例如:因何求生淨土?何以必須偏念西方阿彌陀佛?因何而得生西方淨土?何以必須求生西方淨土等等疑難。注釋書有十疑論注(宋代澄彧)、十疑論科(宋代元照)、升量錄(僧樸)等。〔樂邦文類卷三、淨土十要卷四〕
; (十疑論) Gọi đủ: Tịnh độ thập nghi luận, A di đà thập nghi luận, Thiên thai thập nghi luận, Tây phương thập nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nêu ra 10 nghi vấn về pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, rồi đề ra giải đáp cho từng nghi vấn một. Chẳng hạn như các câu hỏi: Vì sao cầu sinh Tịnh độ? Vì sao chỉ cần niệm riêng đức Phật A di đà ở phương Tây? Làm thế nào để được sinh về Tịnh độ phương Tây? Tại sao phải cầu sinh về Tịnh độ phương Tây?... Các sách chú thích có: Thập nghi luận chú, Thập nghi luận khoa(của ngài Nguyên chiếu đời Tống) Thăng lượng lục (Tăng phác). [X. Lạc bang văn loại Q.3; Tịnh độ thập yếu Q.4].
thập nguyện
Ten vows: (1) Nhất giả lễ kính chư Phật, the first is to worship and respect all Buddhas; (2) Nhị giả xưng tán Như lai, the second is to praise the Thus-Come-Ones; (3) Tam giả quảng tu cúng dường, the third is to cultivate the giving of offerings; (4) Tứ giả sám hối nghiệp chướng, the fourth, to repent and reform all karmic faults; (5) Ngũ giả tùy hỉ công đức, the fifth, to compliantly rejoice in merit and virtue; (6) Lục giả thỉnh chuyển pháo luân, the sixth, to request the turning of Dharma-wheel; (7) Thất giả thỉnh Phật trụ thế, the seventh, to request that Buddhas dwell in the world; (8) Bát giả thường tùy Phật học, the eighth is to always follow Buddhas in study; (9) Cửu giả hằng thuận chúng sinh, the ninth; (10) Thập giả phổ giai hồi hướng, the tenth, to universally transfer all merit and virtue.
thập nguyện bồ tát
Theo Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Thiền Sư D.T. Suzuki, theo trí tuệ siêu việt các Bồ Tát biết rằng chân lý Bồ Tát vượt khỏi mọi sự định tính và không hề chịu bất cứ hình thức miêu tả nào, nhưng vì tâm các ngài đầy từ bi đối với tất cả chúng sanh, là những kẻ không thể nào bước ra khỏi vùng nước xoáy của hữu và phi hữu, nên các ngài hướng những nguyện ước mãnh liệt của các ngài đến sự cứu độ và giải thoát chúng sanh. Trái tim của chính ngài thì thoát khỏi những chấp trước như những kẻ chưa chứng ngộ thường tôn giữ, mà lại cảm thấy kiên định vì trí tuệ cùa các ngài đã không phá diệt điều nầy, và từ đó mà có các bổn nguyện, các phương tiện thiện xảo và các Hóa Thân của các ngài. Nhưng tất cả những gì mà các ngài làm để làm chín muồi tất cả mọi chúng sanh để đáp ứng yêu cầu của họ và cũng giống như ánh trăng trong nước, các ngài hiện ra đủ mọi hình tướng mà thuyết pháp. Hoạt động của các ngài thuật ngữ Đại Thừa gọi là Vô Công Dụng Hạnh, nghĩa là những hành động không dụng công, không tác động, không mục đích. Khi vị Bồ Tát nhập vào địa thứ nhất gọi là Hoan Hỷ Địa, trong sự nghiệp tu tập tâm linh, ngài phát ra mười lời nguyện bao trùm toàn bộ vũ trụ, trải rộng tới cuối chỗ không gian, đạt đến tận cùng của thời gian, hết tất cả các kiếp và vẫn vận hành không gián đoạn khi có Đức Phật xuất hiện—According to The Studies in The Lankavatara Sutra, written by Zen Master D.T. Suzuki, according to his transcendental insight into the truth of things, the Bodhisattva knows that it is beyond all oredicates and not at all subject to any form of description, but his heart full of compassion and love for all beings who are unable to step out of the dualistic whirlpools of “becoming” or not becoming,” he directs his vows towards their salvation and emancipation. His own heart is free from such attachments as are ordinarily cherished by the unemancipated, but that which feels persists, for his insight has not destroyed this, and hence his Purvapranidhana, his Upayakausalya, his Nirmanakaya. Yet all that he does for the maturity of all beings in response to their needs, is like the moon reflection in water, showing himself in all forms and appearances he preaches to them on the Dharma. His activity is what is in Mahayana phraseology called “Anabhogacarya,” deeds that are effortless, effectless, and purposeless. When the Bodhisattva enters upon the first stage called Joy or Pramudita, in the career of his spiritual discipline, he makes the following solemn vows, ten in number, which, flowing out of his most earnest determined will, are as all-inclusive as the whole universe, extending to the extremity of space itself, reaching the end of time, exhausting all the number of kalpas or ages, and functioning uninterruptedly as long as there is the appearance of a Buddha. 1) Nguyện thứ nhất—The first vow: Tôn kính và phụng sự hết thảy chư Phật, một vị và tất cả, không trừ ra vị nào—To honour and serve all the Buddhas, one and all without a single exception. 2) Nguyện thứ hai—The second vow: Mãi mãi hộ trì giáo pháp của chư Phật—To work for the preservation and perpetuation of the teaching of all the Buddhas. 3) Nguyện thứ ba—The third vow: Có mặt khi mỗi Đức Phật xuất hiện, dù bất cứ ở đâu hay bất cứ lúc nào—To be present at the appearance of each Buddha, wherever and whenever it may be. 4) Nguyện thứ tư—The fourth vow: Thực hành Bồ Tát hạnh là rộng lớn vô lượng, vô tận, vượt khỏi mọi ô nhiễm, và mở rộng các ba la mật hay đức hạnh toàn hảo đến tất cả chúng sanh—To practice the proper conduct of Bodhisattvahood which is wide and measureless, imperishable and free from impurities, and to extend the Virtues of Perfection (paramitas) towards all beings. 5) Nguyện thứ năm—The fifth vow: Đưa chúng sanh bằng những lời lẽ dễ hiểu nhất để đến với giáo lý của chư Phật khiến họ có thể tìm thấy chỗ an trú tối hậu trong trí tuệ của các bậc toàn trí—To induce all beings in the most comprehensive sense of the term to turn to the teaching of the Buddhas so that they may find their final abode of peace in the wisdom of the all-wise ones. 6) Nguyện thứ sáu—The sixth vow: Có một nhận thức tự nội về vũ trụ rộng rãi và vô tận trong tất cả các mọi khía cạnh phức tạp của nó—To have an inner perception of the universe, wide and inexhaustible, in all its possible multitudinousness. 7) Nguyện thứ bảy—The seventh vow: Thể hội mối tương quan hỗ tương xâm nhập chặt chẻ của một và tất cả, của tất cả và một, và làm cho mọi quốc độ của chúng sanh thanh khiết như một quốc độ của Phật—To realize the most closely interpenetrating relationship of each and all, of all and each, and to make everyland of beings immaculate as a Buddha-land. 8) Nguyện thứ tám—The eighth vow: Kết hợp với hết thảy chư Bồ Tát trong sự nhất thể của ý định, trở nên thân thiết với phẩm chất, sự hiểu biết và điều kiện tâm linh của chư Như Lai, khiến cho vị Bồ tát có thể nhập vào mọi giới chúng sanh mà thành tựu Đại Thừa, là giáo pháp vượt khỏi mọi tư nghì—To be united with all the Bodhisattvas in oneness of intention, to become intimately acquainted with the dignity, understanding, and psychic condition of the Tathagatas, so that the Bodhisattva can enter any society of beings and accomplish the Mahayana which is beyond thought. 9) Nguyện thứ chín—The ninth vow: Xoay bánh xe bất thối chuyển mà từ đó thực hiện công việc phổ độ của mình bằng cách tự làm cho mình giống như vị đại y sư hay như viên ngọc Mani—To evolve the never-receding wheel whereby to carry out his work of universal salvation, by making himself like unto the great lord of medicine or wish-fulfilling gem. 10) Nguyện thứ mười—The tenth vow: Thể chứng sự chứng ngộ tối thượng trong mọi thế giới bằng cách vượt qua các Bồ Tát địa và thành tựu các nguyện ước của mọi chúng sanh bằng một tiếng nói, và trong khi tỏ hiện mình ở trong Niết Bàn, vẫn không ngừng thực hiện các mục đích của quả vị Bồ Tát—To realize the great supreme enlightenment in all the worlds, by going through the stages of Buddhahood, and fulfilling the wishes of all beings with one voice, and while showing himself to be in Nirvana, not to cease from practicing the objects of Bodhisattvahood.
thập nguyện vương
The King of the ten vows, Phổ Hiền Bồ Tát, Samantabhadra.
; The King of the Ten Vows—Samantabhadra—See Thập Đại Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.
thập ngũ quán niệm
Theo Kinh Duy Ma Cật, ngài Duy Ma Cật đã nói về mười lăm pháp quán niệm về không trụ vô vi—According to the Vimalakirti Sutra, Honorable lay man Vimalakirti explained about fifteen modes of contemplation on “staying in the supramundane state” or “non-active state” of a Bodhisattva: 1) Tu học môn Không; không lấy không làm chỗ tu chứng: Studying and practicing the immaterial or emptiness without abiding in voidness. 2) Tu học môn vô tướng, vô tác, không lấy vô tướng, vô tác làm chỗ tu chứng: Studying and practicing formlessness (nonappearance) and inaction (non pursuit) without abiding in them. 3) Tu học pháp Vô Sanh không lấy Vô Sanh làm chỗ tu chứng: Contemplating the reality of noncreation but does not take noncreation as an object of attainment. 4) Quán Vô Thường mà không nhàm việc lành (lợi hành): Looking into the impermanence without discarding the performance of good deeds (a Bodhisattva meditates on the truth of Impermanence but does not abandon his work to serve and save sentient beings). 5) Quán Thế Gian Khổ mà không ghét sanh tử: Looking into suffering in the world without hating birth and death, i.e. samsara (a Bodhisattva contemplates on suffering but does not reject the world of births and deaths). 6) Quán Vô Ngã mà dạy dỗ người không nhàm mỏi: Looking into the absence of the ego while continuing to teach all living beings indefatigably. 7) Quán Tịch Diệt mà không tịch diệt hẳn;: Looking into nirvana with no intention of dwelling in it permanently (a Bodhisattva contemplates on extinction but does not embrace extinction). 8) Quán xa lìa (buông bỏ) mà thân tâm tu các pháp lành: Looking into the relinquishment (of nirvana) while one's body and mind are set on the practice of all good deeds (a Bodhisattva meditates on detachment but goes on realizing good things in the world). 9) Quán Không Chỗ Về (không quy túc) mà vẫn về theo pháp lành: Looking into the non-existing destinations of all things while the mind is set on practicing excellent actions as true destinations (a Bodhisattva meditates on the homeless nature of all dharmas but continues to orient himself toward the good). 10) Quán Vô Sanh mà dùng pháp sanh (nương theo hữu sanh) để gánh vác tất cả: Looking into the unborn, i.e. the uncreate while abiding in the illusion of life to shoulder responsibility to save others (a Bodhisattva contemplates on the reality of neither-creation-nor-destruction but still undertakes the responsibility in the world of creations and destructions). 11) Quán Vô Lậu mà không đoạn các lậu: Looking into passionlessness without cutting off the passion-stream in order to stay in the world to liberate others. 12) Quán không chỗ làm (vô hành) mà dùng việc làm (hành động) để giáo hóa chúng sanh: Looking into the state of non-action while carrying out the Dharma to teach and convert living beings (a Bodhisattva contemplates on nonaction but continues always his acts of service and education). 13) Quán Không Vô mà không bỏ đại bi: Looking into nothingness (emptiness) without forgetting (abandoning) about great compassion. 14) Quán Chánh Pháp Vị (chỗ chứng) mà không theo Tiểu thừa: Looking into the right position (of nirvana) without following the Hinayana habit of staying in it (a Bodhisattva meditates on the position of the True Dharma but does not follow a rigid path). 15) Quán các pháp hư vọng, không bền chắc, không nhân, không chủ, không tướng, bổn nguyện chưa mãn mà không bỏ phước đức thiền định trí tuệ. Tu các pháp như thế gọi là Bồ Tát không trụ vô vi: Looking into the unreality of all phenomena which are neither firm nor have an independent nature, impermanence, and are egoless and formless (markless), but since his own fundamental vows are not entirely fulfilled, he should not regard merits, serenity and wisdom as unreal and so cease practicing them.
thập ngũ quỷ thần
376指惱亂童子之十五鬼神。常遊行於世間,驚嚇孩童。即彌酬迦(梵 Mañjuka)、彌迦王(梵 Mṛgarāja)、騫陀(梵 Skanda)、阿波悉魔羅(梵 Apasmāra)、牟致迦(梵 Muṣṭikā)、魔致迦(梵 Mātrikā)、閻彌迦(梵 Jāmikā)、迦彌尼(梵 Kāminī)、黎婆坻(梵 Revatī)、富多那(梵 Pūtana)、曼多難提(梵 Mātṛnāndā)、舍究尼(梵 Śakunī)、乾吒婆尼(梵 Kaṇṭhapaṇinī)、目佉曼荼(梵 Mukhamaṇḍitikā)、藍婆(梵 Alambā)。對治此十五鬼神之法,據守護大千國土經卷下載,若有人結五色之綖,口誦乾闥婆神王之陀羅尼,每誦念一遍,手編一結,如是作一百零八結,則乾闥婆神王可前往縛之,以守護童子。〔護諸童子陀羅尼經〕
; (十五鬼神) Chỉ cho 15 loại quỉ thần thường đi dạo chơi trong thế gian để dọa nạt, làm não loạn trẻ con. Đó là: Di thù ca (Phạm: Maĩjuka), Di ca vương (Phạm: Mfgaràja), Khiên đà (Phạm: Skanda), A ba tất ma la (Phạm: Apasmàra), Mâu trí ca (Phạm: Muwỉika), Ma trí ca (Phạm: Màtrikà), Diêm di ca (Phạm: Jàmikà), Ca di ni (Phạm:Kàminì), Lê bà chi (Phạm:Revatì), Phú đa na (Phạm: Pùtana), Mạn đa nan đề (Phạm:Màtfnàndà), Xá cứu ni (Phạm: Zakunì), Càn tra bà ni (Phạm: Kaịỉhapaninì), Mục khư mạn đồ (Phạm: Mukhamaịđitikà) và Lam bà (Phạm: Àlambà). Về cách đối trị 15 quỉ thần này, cứ theo kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ quyển hạ, nếu có người kết chỉ 5 màu, miệng tụng Đà la ni của thần Càn thát bà vương, tụng 1 biến chú thì tay tết một nút, cứ như thế tết được 108 nút thì thần Càn thát bà vương liền đến trói các quỉ này để bảo vệ trẻ con. [X. kinh Hộ chư đồng tử đà la ni].
thập ngũ trí đoạn
378十五智德與十五斷德。北本大般涅槃經卷二十梵行品(大一二‧四八一中):「譬如月光從初一日至十五日,形色光明漸漸增長,(中略)從十六日至三十日,形色光明漸漸損減。」是以月之體譬喻法身;以光色增長,譬喻十五智德之摩訶般若,謂諸善根本漸增;以光色漸減,譬喻斷德之無累解脫,謂煩惱漸減;以地前之三十心為三智斷,十地為十智斷,等覺、妙覺各為一智斷,而成十五智斷。〔法華玄義卷五之一〕
; (十五智斷) Chỉ cho 15 trí đức và 15 đoạn đức. Phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 481 trung) nói: Ví như mặt trăng từ ngày mồng 1 đến ngày 15 thì hình thể và ánh sáng dần dần tăng trưởng (...), từ ngày 16 đến ngày 30 thì hình thể và ánh sáng dần dần suy giảm. Trong thí dụ này, dùng thể của mặt trăng dụ cho pháp thân, dùng hình và ánh sáng tăng trưởng dụ cho Ma ha bát nhã của 15 trí đức, nghĩa là cội gốc các pháp thiện dần dần tăng trưởng. Dùng hình và ánh sáng dần dần suy giảm dụ cho Giải thoát không ràng buộc của đoạn đức, nghĩa là phiền não dần dần suy giảm. Lấy 13 tâm của Địa tiền làm 3 trí đoạn, Thập địa là 10 trí đoạn, Đẳng giác, Diệu giác, mỗi giai vị là 1 trí đoạn, cộng chung thành 15 trí đoạn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần 1].
thập ngũ tâm thiện sắc giới
Fifteen Kinds of Fine-Material-Sphere Wholesome Consciousness—See Mười Lăm Tâm Thiện Thuộc sắc Giới.
thập ngũ tôn
377真言行者身上應安布之十五尊。即:(一)觀身如佛形,此乃先以全身為佛身,即理法身。(二)根本命金剛,發心最初金剛薩埵之身,為智法身,攝五佛。(三)釋輪以為座,以帝釋天所住之忉利天為座,此為曼荼羅壇。(四)多羅為二目,以觀音之眷屬多羅為二目。(五)毘俱胝為耳,毘俱胝亦為觀音眷屬,與多羅攝羯磨部四菩薩。(六)吉祥為口舌,文殊以大智轉法輪,又為蓮華部說法門以利菩薩故,以之為口舌。(七)喜戲為鼻端,舉八供養中初之金剛嬉戲菩薩而攝八供養菩薩。(八)、(九)金剛觀自在,以成兩手臂,指以金剛部之金剛業為左臂,蓮華部觀自在為右臂,即此二尊攝金、蓮二部諸尊。(十)、(十一)三世不動尊,以為兩膝腳,即以降三世為右腳,不動為左腳,此二明王攝四攝菩薩。(十二)心為遍照尊,胸上為大日如來,即以大日如來為五佛心。(十三)臍成虛空眼,臍為身之中心,以表法界之中心,虛空眼即佛眼佛母,又表諸佛能生之德,故為臍輪。此尊攝外金剛部二十天。(十四)虛空寶為冠,虛空寶乃寶部之金剛寶菩薩,即虛空藏;寶部表灌頂之德,故為頂。(十五)相好金剛日,金剛日菩薩相好,攝四波羅蜜菩薩。 真言行者以此十五尊而成一身,而此十五尊統攝金、胎兩部之諸尊。上記所述乃攝金剛界三十七尊。〔瑜祇經金剛薩埵菩提心內作業灌頂悉地品、瑜祇經疏卷下〕
; (十五尊) Chỉ cho 15 vị tôn mà hành giả Chân ngôn nên quán tưởng phân bố trên thân mình. Đó là: 1. Quán thân như thân Phật: Trước hết quán tưởng toàn thân như thân Phật, tức là Lí pháp thân. 2. Quán căn bản mệnh là kim cương: Quán tưởng thân Kim cương tát đỏa phát tâm đầu tiên, là Trí pháp thân, thuộc Ngũ Phật.3. Quán thích luân là tòa ngồi: Quán tưởng lấy cõi trời Đao lợi, chỗ ở của trời Đế thích, làm tòa ngồi, đây là đàn Mạn đồ la. 4. Quán Đa la là 2 mắt: Quán tưởng lấy quyến thuộc của bồ tát Quán âm là Đa la làm 2 mắt. 5. Quán Tì câu chi là tai: Tì câu chi cũng là quyến thuộc của bồ tát Quán âm, cùng với Đa la là 4 vị Bồ tát thuộc Yết ma bộ.6. Quán Cát tường là miệng lưỡi: Vì ngài Văn thù dùng đại trí để chuyển pháp luân, lại vì Liên hoa bộ nói pháp môn để lợi ích các Bồ tát, cho nên lấy Ngài làm miệng lưỡi. 7. Quán bồ tát Kim cương Hi hí trong Bát cúng dường là mũi. 8.9. Quán Kim cương và Quán tự tại là 2 cánh tay, trong đó, Kim cương nghiệp thuộc Kim cương bộ là cánh tay trái, Quán tự tại thuộc Liên hoa bộ là cánh tay phải, tức 2 vị tôn này là các vị thuộc 2 bộ Kim cương và Liên hoa. 10.11. Quán Tam thế và Bất động tôn là 2 đầu gối, tức Hàng tam thế là chân phải, Bất động là chân trái, 2 vị Minh vương này gồm nhiếp Tứ nhiếp bồ tát. 12. Quán tâm là Biến chiếu tôn, trên ngực là Đại nhật Như lai, tức lấy Đại nhật Như lai làm Ngũ Phật tâm. 13. Quán rốn là Hư không nhãn, rốn ở chính giữa thân, biểu thị trung tâm của pháp giới; Hư không nhãn tức Phật nhãn Phật mẫu, tượng trưng đức năng sinh của chư Phật, cho nên thuộc Tề luân. Vị tôn này thuộc Nhị thập thiên của Ngoại kim cương bộ. 14. Quán Hư không bảo là mũ, Hư không bảo là Bồ tát Kim cương bảo thuộc Bảo bộ, tức Hư không tạng; Bảo bộ biểu thị đức Quán đính, cho nên là đỉnh đầu. 15. Quán Kim cương nhật tướng hảo, bồ tát Kim cương nhật tướng hảo nhiếp thuộc 4 bồ tát Ba la mật. Hành giả Chân ngôn nhờ Thập ngũ tôn này mà thành một thân, Thập ngũ tôn này thống nhiếp toàn thể chư tôn của Kim cương bộ và Thai tạng bộ. [X. phẩm Kim cương tát đỏa bồ đề tâm nội tác nghiệp quán đính tất địa trong kinh Du kì; Du kì kinh sớ Q.hạ].
thập ngũ tôn quan âm
377指(一)正觀音,(二)千手觀音,(三)馬頭觀音,(四)十一面觀音,(五)准胝觀音,(六)如意輪觀音,(七)不空羂索觀音,(八)白衣觀音,(九)葉衣觀音,(十)水月觀音,(十一)楊柳觀音,(十二)阿摩
; (十五尊觀音) Chỉ cho 15 vị tôn Quán âm, đó là: 1. Chính Quán âm. 2. Thiên thủ Quán âm. 3. Mã đầu Quán âm. 4. Thập nhất diện Quán âm. 5. Chuẩn đề Quán âm. 6. Như ý luân Quán âm. 7. Bất không quyên sách Quán âm. 8. Bạch y Quán âm. 9. Diệp y Quán âm. 10. Thủy nguyệt Quán âm. 11. Dương liễu Quán âm. 12. A ma lai Quán âm. 13. Đa la Quán âm. 14. Thanh cảnh Quán âm. 15. Hương vương Quán âm.
thập ngũ y xứ
376又稱十五種因緣依處。即唯識宗之隨說因等十因所依之處。(一)語依處,指與法、名、想而起之語性,依此處而立隨說因。(二)領受依處,指所觀待之能所受性,其能受為受之心所,所受通一切法;依此處而立觀待因。(三)習氣依處,指漏無漏、內外種未熟之位,依此處而立牽引因。(四)有潤種子依處,漏無漏、內外種已熟之位,依此處而立生起因。(五)無間滅依處,指心、心所之等無間緣。(六)境界依處,指心、心所之所緣緣(託緣而生還,是自心之所緣慮)。(七)根依處,指心、心所所依之六根。(八)作用依處,於所作業上有作具之作用,指除種子外所餘之助現緣。(九)士用依處,指於所作業上有作者之作用,即除種子外所餘之作現緣。(十)真實見依處,無漏之見除薰生自種外,能助引證無漏之法。依以上之六處(由(五)至(十))而立攝受因。(十一)隨順依處,指漏無漏、三性之現種諸行能隨順同類及勝品之諸法,依此處而立引發因。(十二)差別功能依處,即有為法於各各自果能起證而有差別之勢力,依此處而立定異因。(十三)和合依處,指從領受依處至差別功能依處,生住成得之果中有和合之力,依此處立同事因。(十四)障礙依處,指能於生住成得之事中障礙之法,依此處而立相違因。(十五)不障礙依處,指生住成得之事中不障礙之法,依此處而立不相違因。〔成唯識論卷八、成唯識論演祕卷六之末〕(參閱「十因」418)
; (十五依處) Cũng gọi Thập ngũ chủng nhân duyên y xứ.Chỉ cho 15 chỗ nương của 15 nhân do tông Duy thức lập ra. Đó là: 1. Ngữ y xứ: Chỉ cho ngữ tính khởi lên cùng với pháp, danh và tưởng; nương theo chỗ này mà lập Tùy thuyết nhân. 2. Lãnh thụ y xứ: Chỉ cho tính năng thụ, sở thụ của sở quan đãi, Năng thụ này là tâm sở của Thụ, còn Sở thụ thì chung cho tất cả pháp. Nương theo chỗ này mà lập Quan đãi nhân.3. Tập khí y xứ: Chỉ cho giai vị hữu lậu, vô lậu, chủng tử trong ngoài chưa thuần thục, nương vào chỗ này mà lập Khiên dẫn nhân. 4. Hữu nhuận chủng tử y xứ: Chỉ cho giai vị hữu lậu, vô lậu, chủng tử trong ngoài đã thuần thục, nương theo chỗ này mà lập Sinh khởi nhân. 5. Vô gián diệt y xứ: Chỉ cho Đẳng vô gián duyên của tâm, tâm sở. 6. Cảnh y xứ: Chỉ cho Sở duyên duyên của tâm, tâm sở. 7. Căn y xứ: Chỉ cho 6 căn sở y của tâm, tâm sở. 8. Tác dụng y xứ: Đối với nghiệp sở tác có tác dụng của công cụ tạo tác, chỉ cho Trợ hiện duyên ngoài các loại chủng tử khác. 9. Sĩ dụng y xứ: Chỉ cho nghiệp sở tác có tác dụng của tác giả, tức các Tác hiện duyên khác ngoài chủng tử. 10. Chân thực kiến y xứ: Kiến giải vô lậu ngoài việc huân tập để sinh ra tự chủng, còn có công năng giúp cho việc chứng được pháp vô lậu. Nương vào 6 y xứ trên đây (từ y xứ 5 đến y xứ 10) mà lập Nhiếp thụ nhân. 11. Tùy thuận y xứ: Chỉ cho các chủng tử hiện hành hữu lậu, vô lậu, tam tính, có công năng tùy thuận các pháp đồng loại và thắng phẩm, nương theo chỗ này mà lập Dẫn phát nhân. 12. Sai biệt công năng y xứ: Tức pháp hữu vi đối với mỗi mỗi tự quả có công năng khởi chứng và thế lực sai biệt, nương theo chỗ này mà lập Định dị nhân. 13. Hòa hợp y xứ: Từ Lãnh thụ y xứ đến Sai biệt công năng y xứ, trong các quả Sinh, Trụ, Thành, Đắc có năng lực hòa hợp, nương theo chỗ này mà lập Đồng sự nhân. 14. Chướng ngại y xứ: Chỉ cho pháp có khả năng gây chướng ngại trong việc sinh trụ thành đắc, nương theo chỗ này mà lập Tương vi nhân. 15. Bất chướng ngại y xứ: Chỉ cho pháp không ngăn trở việc sinh trụ thành đắc, nương theo chỗ này mà lập Bất tương vi nhân. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận diễn bí Q.6, phần cuối].(xt. Thập Nhân).
Thập Ngưu Đồ
(十牛圖): do Quách Am Sư Viễn (郭庵師遠) soạn, là tác phẩm dụ con trâu như là tự kỷ xưa nay của mình, miêu tả quá trình dẫn dắt con trâu trở về sau khi nó chạy đi mất, được phân chia thành 10 giai đoạn gồm: (1) Tìm Trâu, - (2) Thấy Dấu, (3) Thấy Trâu, - (4) Được Trâu, (5) Chăn Trâu, - (6) Cỡi Trâu Về Nhà, (7) Quên Trâu Còn Người, - (8) Người Trâu Đều Quên, (9) Về Lại Nguyên Gốc, - (10) Thỏng Tay Vào Chợ. Mỗi giai đọan như vậy được biểu hiện bằng tranh, lời giải thích và thơ. Tác phẩm này đã được truyền vào Nhật rất sớm, được thâu tập vào trong Tứ Bộ Lục (四部錄, Shiburoku) cũng như Ngũ Vị Thiền (五味禪, Gomizen), và thỉnh thoảng cũng được san hành phổ biến. Với nội dung rất đơn giản nhằm mục đích miêu tả hết toàn bộ diện mạo tu hành Thiền như thế nào, cho nên mãi đến ngày nay người ta vẫn còn quan tâm đến. Điều này vốn phát xuất từ khuynh hướng muốn truy tìm cho bằng được về mặt nhất nguyên tâm con người mang tính đặc trưng nhất. Khuynh hướng này có điểm cọng thông với Thiền Công Án, phản ánh trạng huống đương thời của tùng lâm. Hơn nữa, loại trước tác như vậy đã thấm sâu vào trong tận cùng thể chế quản lý mà bao trùm khắp chốn tùng lâm, và chúng ta cũng không thể nào bỏ qua được mặt trái của nó. Tuy nhiên, ngoài bản này ra còn có bản Thập Ngưu Đồ khác của Phổ Minh (普明, ?-?, đệ tử của Viên Thông Pháp Tú [圓通法秀, 1027-1090] thuộc Vân Môn Tông) cũng rất nổi tiếng. Nó cũng được lưu nhập vào Nhật vào thời Cận Đại.
thập ngưu đồ
403宋代廓庵師遠撰繪(一說清居禪師作)。此十圖以牧牛為主題,並各附自序及偈頌,以闡示修禪之方法與順序。十牛圖頌(全稱住鼎州梁山廓庵和尚十牛圖頌并序),一卷,收於卍續藏第一一三冊。所謂「十牛」,即:(一)尋牛,喻吾人放失本具圓成之心牛,尋於得失是非之中。(二)見跡,喻依經解義,閱教知蹤,漸見心牛之跡。(三)見牛,喻依聞法修學之功,發見本具之心牛。(四)得牛,喻雖得心牛,猶存煩惱習氣,恐再放心,遂加修練。(五)牧牛,圖示持牛之鼻索而牧之,得純和之相。即示身不離修練之意,喻悟後之調心。(六)騎牛歸家,喻脫離情識妄想之羈絆,騎本具之心牛,歸還自己本來之家鄉。(七)忘牛存人,喻若歸本覺無為之家鄉,無須再修練,則無事安閒。(八)人牛俱忘,喻凡情脫落而全界無物,凡聖共泯,生佛俱空,故圖以空白表之。(九)返本還源,以水綠山青,不留一塵一埃之圖,喻自己之本心本來清淨,無煩惱、妄念,當體即諸法實相。(十)入鄽垂手,繪濟度眾生而垂慈悲手,入市井之塵境相,以喻不偏居於向上,更能向下入利他之境。十牛圖與信心銘、證道歌、坐禪儀合印,稱四部錄。 尋牛頌: 茫茫撥草去追尋,水闊山遙路更深; 力盡神疲無所覓,但聞楓樹晚蟬吟。 見跡頌: 水邊林下跡偏多,芳草離披見也麼? 縱是深山更深處,遼天鼻孔怎藏他? 見牛頌: 黃鸚枝上一聲聲,日暖風和岸柳青; 只此更無回避處,森森頭角畫難成。 得牛頌: 竭盡精神獲得渠,心強力壯卒難除; 有時纔到高原上,又入煙雲深處居。 牧牛頌: 鞭索時時不離身,恐伊縱步入埃塵; 相將牧得純和也,鞭鎖無拘自逐人。 騎牛歸家頌: 騎牛迤邐欲還家,羌笛聲聲送晚霞; 一拍一歌無限意,知音何必鼓唇牙。 忘牛存人頌: 騎牛已得到家山,牛也空兮人也閑; 紅日三竿猶作夢,鞭繩空頓草堂間。 人牛俱忘頌: 鞭索人牛盡屬空,碧天遼闊信難通; 紅爐熖上爭容雪,到此方能合祖宗。 返本還源頌: 返本還源已費功,爭如直下若盲聾; 庵中不見庵前物,水自茫茫花自紅。 入鄽垂手頌: 露胸跣足入鄽來,抹土塗灰笑滿荫; 不用神仙真祕訣,直教枯木放花開。
; The ten oxherding pictures. I-Mahàyàna: (1) Vị mục, undisciplined; (2) Sơ điều, discipline begun; (3) Thụ chế, in harness; (4) Hồi thủ, faced round; (5) Tuần phục, tamed; (6) Vô ngại, unimpeded; (7) Nhậm vận, laissez faire; (8) Tương vong, all forgotten; (9) Độc chiếu, the soltary moon; (10) Song dẫn, both vanished. II- Zen: (1) Tầm ngưu, searcing for the ox; (2) Kiến tích, seeing the traces; (3) Kiến ngưu, seeing the ox; (4) Đắc ngưu, catching the ox; (5) Mục ngưu, herding the ox; (6) Kị ngưu qui gia, coming home on the ox's back; (7) Vong ngưu tồn nhân, the ox forgotten leaving the man alone; (8) Nhân ngưu câu vong, the ox and the man both gone out of sight; (9) Phản bản hoàn nguyên, returning to the origin, back to the source; (10) Nhập triền thùy thủ, entering the city with bliss-bestowing hands.
; The ten ox-pictures: 1) Tìm trâu: Looking for an ox—Seeking the ox. 2) Thấy dấu: Seeing its tracks—Finding the tracks. 3) Thấy trâu: Seeing the ox—First glympse of the ox. 4) Được trâu: Catching it—Catching the ox. 5) Chăn trâu: Feeding the ox—Taming the ox. 6) Cỡi trâu về nhà: Riding the ox home—Riding the ox home. 7) Quên trâu còn người: Ox dies, man lives—Forgetting the ox—Self alone. 8) Người trâu đều quên: Both dead—Forgetting the ox and self. 9) Trở về nguồn cội: Return whence both came—Returning to the source. 10) Thõng tay vào chợ (vào chốn trần ai): Enter the dust—Entering the market place with helping hands.
; (十牛圖) Chỉ cho 10 bức tranh lấy việc chăn trâu làm chủ đề nói về phương pháp và thứ tự tu thiền do ngài Quách am Sư viễn vẽ vào đời Tống(có thuyết nói do Thiền sư Thanh cư vẽ), có phụ thêm lời tựa và kệ tụng của tác giả. Tức Thập ngưu đồ tụng (gọi đủ: Trụ Đỉnh châu Lương sơn Quách am hòa thượng thập ngưu đồ tụng tinhtự), 1 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 113. Toàn tập sách gồm 10 bức tranh chăn trâu, dưới mỗi bức có một bài kệ 4 câu nói rõ nội dung của bức tranh.Mười bức theo thứ tự như sau: 1. Tìm trâu: Dụ cho việc đánh mất bản tâm viên thành sẵn có mà đi tìm kiếm trong các cảnh được mất, phải quấy. 2. Thấy dấu chân trâu: Dụ cho việc xem kinh hiểu nghĩa, dần dần thấy được dấu vết của bản tâm. 3. Thoáng thấy bóng trâu: Dụ cho công đức nghe pháp tu học mà thấy được tâm sẵn có. 4. Đã bắt được trâu: Dụ cho việc tuy đã được tâm nhưng tập khí phiền não vẫn còn đó, sợ lại phóng tâm, cho nên cần phải gia công tu luyện. 5. Chăn trâu: Dụ cho việc điều hòa tâm sau khi ngộ khiến tâm thuần thục hoàn toàn, tức tiếp tục tu luyện. 6. Cỡi trâu về nhà: Dụ cho việc thoát khỏi sự ràng buộc của tình thức vọng tưởng, trở về quê hương xưa nay của chính mình. 7. Quên trâu còn người: Dụ cho việc đã trở về quê hương bản giác vô vi, không còn cần tu luyện thì an nhàn vô sự. 8. Trâu người đều quên: Dụ cho việc đã trút sạch phàm tình, toàn cõi không một vật, phàm thánh cũng mất, chúng sinh và Phật đều không. 9. Trở về cội nguồn: Dụ cho bản tâm của mình xưa nay vốn thanh tịnh, không phiền não, vọng niệm, đương thể tức thực tướng các pháp. 10. Thõng tay vào chợ: Dụ cho việchòa quang đồng trần làm lợi ích chúng sinh. 1. Bức tranh tìm trâu 2. Bức thấy dấu chân trâu 3. Bức thoáng thấy bóng trâu 4. Bức đã bắt được trâu 5. Bức chăn trâu 6. Bức cỡi trâu về nhà 7. Bức quên trâu còn người 8. Bức quên cả trâu và người 9. Bức trở về cội nguồn 10. Thõng tay vào chợ Thập ngưu đồ, Tín tâm minh, Chứng đạo ca và Tọa thiền nghi, hợp lại in chung, gọi là Tứ bộ lục. Mười bài tụng (dịch thoát): 1. Tìm trâu: Nước biếc non xanh nhuộm một màu. Um tùm lối cỏ biết tìm đâu? Hơi tàn chân mỏi hồn hiu quạnh, Chiều xuống ve kêu gợi nỗi sầu! 2. Thấy dấu chân trâu: Ven suối bìa rừng in dấu chân, Hỏi tin hoa lá đứng tần ngần, Trời xa ráng nhạt mờ sương khói, Núi thẳm rừng sâu một chiếc thân. 3. Thoáng thấy bóng trâu: Trên cành thỏ thẻ tiếng hoàng oanh, Gió nhẹ trời quang dặm liễu xanh, Thấp thoáng đâu đây hình bóng cũ, Mơ màng giấc mộng vẫn chưa thành. 4. Đã bắt được trâu: Giờ đây trâu đã dắt nơi tay, Cố giữ làm sao khỏi sút dây, Có lúc như trèo lên đỉnh núi, Nhưng rồi chợt thấy ngủ trong mây. 5. Chăn trâu: Sợ quen đường cũ lại đi hoang, Từng phút từng dây phải buộc ràng; Đến một ngày kia nên thuần thục, Tha hồ trời rộng bước thênh thang. 6. Cỡi trâu về nhà: Cỡi trâu lững thững trở về nhà, Tiếng địch chiều thu tiễn ráng xa; Bát ngát bốn bề hương trầm tỏa, Tri âm nào biết cõi lòng ta. 7. Quên trâu còn người: Cỡi trâu giờ đã đến nhà rồi, Roi gác trâu buông ngủ thảnh thơi; Rực rỡ vầng hồng còn dệt mộng, Trong gian nhà cỏ một mình thôi. 8. Trâu người đều quên: Trâu người nhà cỏ thảy đều không, Lồng lộng trời xanh tin chẳng thông; Sợi tuyết trên lò đang rực lửa, Đến được đấy rồi hợp tổ tông. 9. Trở về cội nguồn: Tìm gốc quay về những uổng công, Nào biết xưa nay lí vốn không; Trước mắt bao la nhưng chẳng thấy, Hoa cười tươi thắm nước mênh mông. 10. Thõng tay vào chợ: Mình trần lem luốt cười ha ha, Ngất ngưỡng rong chơi chốn chợ xa; Phép lạ thần tiên không màng đến, Cây cỗi cành khô khiến trổ hoa!
thập nhân
417梵語 daśa hetavaḥ。又作十種因。<一>指四緣據所依處之十種分類。即用以說明一切物質現象與精神現象得以產生之十種原因。(一)唯識宗之說法:(1)隨說因,依語依處而立。隨見聞說諸義時,則能說之語為所說之因。(2)觀待因,依領受依處而立。觀待甲以生住成得乙之諸事,所待之甲為能待之因。例如以手為因,有執取之動作。(3)牽引因,依習氣依處而立。諸種子未熟潤之位,牽引遙遠之自果。(4)生起因,依有潤種子依處而立。種子已熟潤,生起較近之自果。(5)攝受因,依無間滅、境界、根、作用、士用、真實具等六依處而立。種子以外之諸緣相攝受而得以起果。(6)引發因,依隨順依處而立。善、染、無記之種現諸法能引起同類勝行及無為法之因。(7)定別因,又作定異因,依差別功能依處而立。一切有為法各引發證得自果,而無雜亂。(8)同事因,依和合依處而立。由以上七種因,與果和合為一。(9)相違因,依障礙依處而立。以違緣為性,於諸法之生、住、成、得等事有所障礙。(10)不相違因,依不障礙依處而立。於諸法之生等無障礙。此十因以穀物之由種子至成熟為譬喻,說明阿賴耶識種子於生起世界各種現象及支配人之種種活動中之決定性作 峞A以及業報輪迴之必然性。(二)諸經之說法:(1)菩薩地持經卷三所立之十因,即:隨說因、以有因、種植因、攝因、生因、長因、自種因、共事因、相違因、不相違因。(2)菩薩善戒經卷三所立之十因,即:流布因、從因、作因、攝因、增長因、轉因、不共因、共因、害因、不害因。〔瑜伽師地論卷三十八、顯揚聖教論卷十八、成唯識論卷八〕(參閱「十五依處」376) <二>菩薩成就十種行法,可得涅槃之境界,故此十種行法稱為涅槃十因。即:(一)信,(二)戒,(三)近善友,(四)寂靜,(五)精進,(六)正念具足,(七)濡語(軟語),(八)護法,(九)布施,(十)正意。此說出自南本涅槃經卷二十九,大乘義章卷十四明示其為十因。
; Daśa-hetavah (S) 10 nguyên phát sinh các hiện tượng vật chất và tinh thần.
; Ten Causes—See Thập Nhân Thập Quả.
; (十因) Phạm: Daza hetava#. Cũng gọi Thập chủng nhân. I. Thập Nhân. Chỉ cho 10 nguyên nhân sinh ra tất cả hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần được thuyết minh theo các Sở y xứ (chỗ nương theo). A. Thuyết của tông Duy thức. 1. Tùy thuyết nhân: Nương theo Ngữ y xứ mà lập ra. Khi tùy theo chỗ thấy nghe mà nói các nghĩa thì ngữ năng thuyết là nhân sở thuyết. 2. Quan đãi nhân: Nương theo Lãnh thụ y xứ mà lập ra. Như do quan đãi A mà có các việc sinh, trụ, thành, đắc B, A sở đãi là nhân đẳng đãi; chẳng hạn vì lấy tay làm nhân mà có động tác nắm giữ. 3. Khiên dẫn nhân: Nương theo Tập khí y xứ mà lập ra. Ở giai vị các chủng tử chưa thuần thục thì đưa đến tự quả lâu xa. 4. Sinh khởi nhân: Nương theo Hữu nhuận chủng tử y xứ mà lập ra. Chủng tử đã thuần thục thì sinh khởi tự quả tương đối gần hơn. 5. Nhiếp thụ nhân: Nương theo 6 y xứ: Vô gián diệt, cảnh giới, căn, tác dụng, sĩ dụng và chân thực mà lập ra. Tức ngoài chủng tử, các duyên nhiếp thụ nhau mà sinh ra quả. 6. Dẫn phát nhân: Nương theo Tùy thuận y xứ mà lập ra. Các pháp chủng tử hiện hành của thiện, nhiễm, vô kí có năng lực sinh ra nhân của thắng hạnh và pháp vô vi. 7. Định biệt nhân (cũng gọi Định dị nhân): Nương theo Sai biệt công năng y xứ mà lập ra. Tất cả pháp hữu vi đều dẫn phát chứng đắc tự quả mà không tạp loạn. 8. Đồng sự nhân: Nương theoHòa hợp y xứ mà lập ra. Do 7 nhân nói trên cùng với quả hòa hợp làm một. 9. Tương vi nhân: Nương theo Chướng ngại y xứ mà lập ra. Lấy duyên trái ngược làm tính, gây ra chướng ngại cho việc sinh, trụ, thành, đắc của các pháp. 10. Bất tương vi nhân: Nương theo Bất chướng ngại y xứ mà lập ra. Không cản trở việc sinh, trụ, thành, đắc của các pháp. Mười nhân này dùng chủng tử của ngũ cốc từ khi còn là hạt giống tới lúc thành thục(đã chín) làm thí dụ để thuyết minh tác dụng có tính cách quyết định của chủng tử thức A lại da đối với việc sinh khởi các hiện tượng của thế giới, các hoạt động chi phối con người cùng với tính tất nhiên của nghiệp báo luân hồi. B. Thuyết của các kinh: 1. Mười nhân được lập trong kinh Bồ tát địa trì quyển 3, đó là: Tùy thuyết nhân, Dĩ hữu nhân, Chủng thực nhân, Nhiếp nhân, Sinh nhân, Trưởng nhân, Tự chủng nhân, Cộng sự nhân, Tương vi nhân và Bất tương vi nhân. 2. Mười nhân được lập trong kinh Bồ tát giới quyển 3, đó là: Lưu bố nhân, Tòng nhân, Tác nhân, Nhiếp nhân, Tăng trưởng nhân, Chuyển nhân, Bất cộng nhân, Cộng nhân, Hại nhân và Bất hại nhân. [X. luận Du già sư địa quyển 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Thập Ngũ Y Xứ). II. Thập Nhân. Chỉ cho 10 hành pháp mà nếu Bồ tát thành tựu thì sẽ được cảnh giới Niết bàn, bởi thế, 10 hành pháp này cũng được gọi là Niết bàn thập nhân. Đó là: Tín, Giới, Cận thiện hữu, Tịch tĩnh, Tinh tiến, Chính niệm cụ túc, Nhu ngữ (Nhuyến ngữ) Hộ pháp, Bố thí và Chính ý. [X. kinh Niết bàn Q.29 (bản Nam); Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập nhân duyên
418即十支緣起。乃十二因緣中除去二支之十支緣起。諸經典對於緣起觀之說明不一,有自無明依次至生、老死者,有逆觀十二因緣者,有始自中間至於兩方者,其中皆不必一定是十二因緣,其理由雖有各種論述,尤以十支緣起為論述之對象。(一)指十二因緣除去無明、行,自識始,至生、老死止之十支。又婆沙論引用之經典,與漢譯雜阿含一致主張生觀十支、滅觀十二支。巴利文則以生滅兩觀均為十支。(二)除去生、老死之前十支。北本大般涅槃經卷二十一(大一二‧四九○下):「十因緣法為生作因」,即認為生與老死之二支屬於未來,故以自過去至現在說明因緣者為十因緣。南本大般涅槃經卷十九中,以十二支解釋過、現、未三世,以無明與行為過去之二支,其他十支則為未來。〔雜阿含經卷十二、中阿含經卷二十四、阿毘曇毘婆沙論卷十三、發智論卷一、阿毘曇八犍度論卷二、原始佛教思想論(木村泰賢)〕
; (十因緣) Chỉ cho 10 chi duyên khởi trong 12 nhân duyên. Tức đối với Duyên khởi quan, các kinh có nói khác nhau. Chủ yếu có 2 thuyết: 1. Mười chi từ Thức đến Sinh, Lão tử, tức trong 12 nhân duyên trừ Vô minh và Hành. Các kinh được dẫn dụng trong luận Bà sa và Tạp a hàm Hán dịch nhất trí chủ trương Sinh quán(quán thuận) 10 chi, Diệt quán(quán nghịch) 12 chi. Còn kinh điển tiếng Pàli thì Sinh quán và Diệt quán đều là 10 chi. 2. Mười chi từ Vô minh đến Hữu, tức Trong 12 nhân duyên, trừ Sinh và Lão tử. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 21 (Đại 12, 490 hạ) nói: Pháp 10 nhân duyên là Sinh tác nhân, tức cho rằng 2 chi Sinh và Lão tử thuộc vị lai, bởi vậy, nếu thuyết minh nhân duyên từ quá khứđến hiện tại thì chỉ có 10 chi. Kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Nam) dùng 12 chi để giải thích 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, cho Vô minh và Hành là 2 chi thuộc quá khứ, 10 chi còn lại thì thuộc vị lai. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Trung a hàm Q.24; luận A tì đàm tì bà sa Q.13; luận Phát trí Q.1; luận A tì đàm bát kiền độ Q.2; Nguyên thủy Phật giáo tư tượng luận (Kimura Taiken)].
thập nhân thập quả
Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về thập nhân thập quả như sau—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten causes and ten effects as follows: 1) Dâm Tập Nhân: Habits of lust or the habit of sexual desire. a) Dâm dục phát triển thành thói quen vì sự giao hợp trong đó hai người âu yếm nhau và phát sanh sức nóng kích thích sự ham muốn. Chuyện nầy cũng giống như việc chà xát hai tay với nhau: Lust grows into a habit because of sexual intercourse in which two people caress each other thereby producing heat that in turn stimulates desire. This is like the heat caused by rubbing the hands together. b) Nhân dâm dục có quả báo là giường sắt nóng, cột đồng, tám địa ngục nóng (giường sắt có nghĩa là sự ham muốn, và cột đồng có nghĩa là sự thèm muốn tình dục): Adultery results in the iron bed, the copper pillar, and the eight hot hells (the bed stands for sexual desire and the pillar for the partner on whom the sinner depends to stimulate his sexual appetite). c) Đức Phật dạy: “Dâm tập giao tiếp, phát ra từ nơi cọ xát mãi không thôi. Như vậy nên lúc chết thấy có lửa sáng, trong đó phát động. Ví dụ như người lấy tay cọ xát nhau thấy có hơi nóng. Hai cái tập nương nhau khởi, nên có việc giường sắt trụ đồng. Cho nên mười phương các Đức Phật nói dâm là lửa dục. Bồ Tát thấy sự dâm dục như tránh hầm lửa.”—The Buddha taught: “Habits of lust and reciprocal interactions which give rise to mutual rubbing. When this rubbing continues without cease, it produces a tremendous raging fire within which movement occurs, just as warmth arises between a person's hands when he rubs them together. Because these two habits set each other ablaze, there come into being the iron bed, the copper pillar, and other such experiences. Therefore, Thus Come Ones of the ten directions look upon the practice of lust and name it the 'fire of desire.' Bodhisattvas avoid desire as they would a fiery pit.” 2) Tham Tập Nhân: Habits of greed (craving). a) Nhân tham lam quả báo là địa ngục lạnh: Covetousness results in the cold hells. b) Đức Phật dạy: “Tham tập giao kết, phát ra thu hút mãi không thôi. Như vậy nên có chứa cái giá lạnh, trong đó lạnh lẽo. Ví dụ người lấy miệng hít gió, thấy có hơi lạnh. Hai cái tập xô đẩy nhau, nên có những việc ba ba, tra tra, la la, như băng lạnh, hoa sen trắng, đỏ, xanh. Vì thế mười phương các Đức Phật nói tham cầu như là nước tham. Bồ Tát nên tránh tham như tránh biển độc.”—The Buddha taught: “Habits of greed and intermingled scheming which give rise to a suction. When this suction becomes dominant and incessant, it produces intense cold and solid ice where freezing occurs, just as a sensation of cold is experienced when a person draws in a blast of wind through his mouth. Because these two habits clash together, there come into being chattering, whimpering, and shuddering; blue, red, and white lotuses; cold and ice; and other such expeirences.” 3) Mạn Tập Nhân: Habits of arrogance. a) Nhân ngã mạn quả báo là bị rơi vào sông máu biển độc: Conceit results in blood rivers and poisonous seas. b) Đức Phật dạy: “Mạn tập giao lấn, phát ra ỷ nhau, tuôn chảy mãi không thôi. Như vậy nên có cuồn cuộn chảy, chứa sóng thành nước. Như lưỡi nếm vị, chảy nước dãi vậy. Hai tập cổ động nhau, nên có các việc sông huyết, tro cát nóng, biển độc, nước đồng, vân vân. Vì thế mười phương Phật gọi ngã mạn là uống nước si. Bồ Tát nên tránh ngạo mạn như tránh chỗ sa lầy lớn.”—Habits of arrogance and resulting friction which give rise to mutual intimidation. When it accelerates without cease, it produces torrents and rapids which create restless waves of water, just as water is produced when a person continuously works his tongue in an effort to taste flavors. Because these two habits incite one another, there come into being the river of blood, the river of ashes, the burning sand, the poisonous sea, the molten copper which is poured over one or which must be swallowed, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon self-satisfaction and name it 'drinking the water of stupidity.' Bodhisattvas should avoid arrogance as they would a huge deluge.” 4) Sân Tập Nhân: Habits of hatred (anger)—Nhân sân hận quả báo là bị thiến, cắt, đẽo: Hatred results in emasculation of sex organ—Đức Phật dạy: “Sân tập xung đột xen nhau, phát từ nơi giận nhau, kết mãi không thôi. Tâm nóng nảy phát ra lửa, hun đúc khí kết lại thành loại kim. Như vậy nên có các việc đao sơn, kiếm thụ, và phủ việt. Như người bị hàm oan, đằng đằng sát khí. Hai tập kích thích nhau, nên có các việc bị hình, chém, đâm, đánh, đập. Vì thế mười phương Phật nói nóng giận tên là đao kiếm sắc. Bồ Tát tránh sân như tránh sự tàn sát.”—Habits of hatred which give rise to mutual defiance. When the defiance binds one without cease, one's heart becomes so hot that it catches fire, and the molten vapor turns into metal. From it produced the mountain of knives, the iron cudgel, the tree of swords, the wheel of swords, axes and halberds (cây kích), and spears and saws. It is like the intent to kill surging forth when a person meets a mortal enemy, so that he is roused to action. Because these two habits clash with one another, there come into being castration and hacking, beheading and mutilation, filing and sticking, flogging and beating, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon hatred and name it 'sharp knives and swords.' Bodhisattvas should avoid hatred as they would their own execution.” 5) Trá Tập Nhân: Gian trá lừa đảo quả báo là bị gông cùm roi vọt—Habits of deceptions (deceitfulness) result in yokes and being beaten with rods—Đức Phật dạy: “Trá tập dụ nhau, phát từ nơi dỗ nhau, dẫn dắt không thôi. Vì vậy như dây quấn cây để sống, nước tưới ruộng thì cây cỏ sinh trưởng. Hai tập nhân nhau, nên có các việc gông, xiềng, cùm, xích, roi, đánh, vân vân. Vì thế mười phương Phật gọi gian ngụy là giặc hiểm. Bồ Tát nên tránh gian trá như tránh lang sói.”—The Buddha taught: “Habits of deception and misleading involments which give rise to mutual guile. When such maneucering continues without cease, it produces the ropes and wood of gallows for hanging, like the grass and trees that grow when water saturates a field. Because these two habits perpetuate one another, there come into being handcuffs and fetters, cangues and locks, whips and clubs, sticks and cudgels, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon deception and name it a 'treacherous crook.' Bodhisattvas fear deception as they would a savage wolf.” 6) Cuốn Tập Nhân: Habits of lying—Đức Phật dạy: “Cuốn tập dối nhau, phát từ nơi dối gạt nhau, dối và vu khống mãi không thôi, buông tâm làm gian. Như vậy nên có đồ bẩn thỉu, bụi bậm ô uế, như bụi theo gió, đều không thấy. Hai tập giao nhau, nên có các việc chìm đắm, vụt, bay. Vì thế mười phương Phật gọi lừa gạt là cướp giết. Bồ Tát tránh dối gạt như tránh rắn độc.”—The Buddha taught: “Habits of lying and combined fraudulence which give rise to mutual cheating. When false accusations continue without cease, one becomes adept at corruption. From this there come into being dust and dirt, excrement and urine, filth, stench, and impurities. It is like the obscuring of everyone's vision when the dust is stirred up by the wind. Because these two habits augment one another, there come into being sinking and drowning, tossing and pitching, flying anf falling, floating and submerging, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon lying and name it 'robbery and murder.' Bodhisattvas regard lying as they would treading on a venomous snake.” 7) Oan Tập Nhân: Habits of animosity (resentment)—Đức Phật dạy: “Oan tập hiềm nhau, phát từ nơi hàm hận. Như vậy nên có những việc ném đá, ném gạch, nhốt cũi, rọ, như người âm độc, lòng chất chứa các sự ác. Hai tập lấn át nhau, nên có những việc ném bắt, đánh, bắn. Vì thế mười phương Phật gọi oan gia là quỷ phá hoại. Bồ Tát tránh oan gia như rượu độc.”—Habits of animosity and interconnected enmity which give rise to grievances. From this there come into being flying rocks, thrown stones, caskets and closets, cages on wheels, jars and containers, and bags and rods. It is like someone harming others secretly. He harbors, cherishes, and nurtures evil. Because these two habits swallow one another up, there come into being tossing and pitching, seizing anf apprehending, striking and shooting, casting away and pinching, and other such experiences. . Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon animosity and name it a 'disobedient and harmful ghost.' Bodhisattvas regard animosity as they would drinking poisonous wine.” 8) Kiến Tập Nhân: Habits of views (wrong views)—quả báo của kiến tập là bị tra tấn khảo đảo: Wrong views result in torture—Đức Phật dạy: “Kiến tập giao minh, như thân kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà giải, các nghiệp. Phát từ nơi chống trái, sinh ra trái nhau. Như vậy nên có sứ vua, chủ lại cầm văn tịch làm chứng. Ví như người đi đường qua lại gặp nhau. Hai tập giao nhau, nên có các việc tra hỏi, gian trá, xét gạn, khám tra, vạch cứu, soi rõ, và thiện ác đồng tử tay cầm quyển sổ để biện bạch. Vì thế mười phương Phật gọi ác kiến là hầm ái kiến. Bồ Tát tránh các sự thiên chấp hư vọng như xa vũng nước độc.”—The Buddha taught: “Habits of views and the admixture of understandings, such as Satkayadrishti, views, moral prohibitions, grasping, and deviant insight into various kinds of karma, which bring about opposition and produce mutual antagonism. From them there come into being court officials, deputies, certifiers, and registrars. They are like people traveling on a road, who meet each other coming and going. Because these two habits influence one another, there come into being official inquiries, baited questions, examinations, interrogations, public investigations, exposure, the youth who record good and evil, carrying the record books of the offenders' arguments and retionalizations, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon evil views and name them the 'pit of views.' Bodhisattvas regard having false and one-sided views as they would standing on the edge of a steep ravine full of poison.” 9) Uổng Tập Nhân: Habits of injustice (unfairness)—Đức Phật dạy: “Uổng tập xen nhau, phát từ nơi vu báng. Như vậy cho nên có các việc hai hòn núi đá ép lại, nghiền, xay. Ví dụ đứa giặc dèm pha, hại người lương thiện. Hai tập xô đẩy nhau, nên có các việc giằng, ép, đè, nén, lọc, cân. Vì thế mười phương Phật gọi vu oan là cọp biết dèm nói. Bồ Tát tránh sự vu oan như tránh sét đánh.”—Habits of injustice and their interconnected support of one another; they result in instigating false charges and libeling. From them are produced crushing between mountains, crushing between rocks, stone rollers, stone grinders, plowing, and pulverizing . It is like a slanderous villain who engages in persecuting good people unjustly. Because these two habits join ranks, there come into being pressing and pushing, bludgeons and compulsion, squeezing and straining, weighing and measuring, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon harmful accusations and name them a 'treacherous tiger.' Bodhisattvas regard injustice as they would a bolt of lightning.” 10) Tụng Tập Nhân: Habits of litigation (disputation)—Đức Phật dạy: “Tụng tập giao huyên, phát từ che dấu. Như vậy nên có những việc gương soi thấy tỏ rõ, ví như giữa mặt trời không thể dấu hình ảnh. Hai tập bày ra, nên có các bạn ác tố cáo, nghiệp cảnh hỏa châu, vạch rõ và đối nghiệm nghiệp đời trước. Vì thế mười phương Phật gọi che dấu là âm tặc. Bồ Tát tránh che dấu như bị đội núi cao đi trên biển cả.”—Habits of litigation and the mutual disputations which give rise to covering. From them there are produced a look in the mirror and illumination by the lamp. It is like being in direct sunlight. There is no way one can hide one's shadow. Because these two habits bicker back and forth, there come into being evil companions, the mirror of karma, the fiery pearl, exposure of past karma, inquests, and other such experiences. Therefore, all the Thus Come Ones of the ten directions look upon covering and name it a 'yin villain.' Bodhisattvas regard covering as they would having to carry a mountain atop their heads while walking upon the sea.”
thập nhãn
The ten kinds of eye: (1) Nhục nhãn, eyes of flesh; (2) thiên nhãn, deva eyes; (3) tuệ nhãn, wisdom eyes; (4) pháp nhãn, dharma eyes; (5) Phật nhãn. Buddha eyes; (6) trí nhãn, eyes of judgement; (7) quang minh nhãn, eyes shining with Buddha light; (8) xuất sinh tử nhãn, immortal eyes; (9) vô ngại, unhindered eyes; (10) nhất thiết trí nhãn, omniscient eyes.
; Ten kinds of eyes: 1) Nhục nhãn: Eyes of flesh—Ordinary eyes—Worldly eyes. 2) Thiên nhãn: Deva eyes. 3) Huệ nhãn: Wisdom eyes. 4) Pháp nhãn: Dharma eyes. 5) Phật nhãn: Buddha eyes. 6) Trí nhãn: Eyes of judgment. 7) Quang minh nhãn: Eyes shining with Buddha-light. 8) Xuất sinh tử nhãn: Immortal eyes. 9) Vô ngại nhãn: Unhindered eyes. 10) Nhứt thiết trí nhãn: Omniscient eyes.
thập nhĩ
428指八地以上菩薩所得之十種聞聲力用。即:(一)聞讚歎聲,斷除貪愛。(二)聞毀訾聲,斷除瞋恚。(三)聞聲聞、緣覺聲,不起求心。(四)聞菩薩道聲,發起歡喜奇特之心。(五)聞地獄、畜生、餓鬼、閻羅王、阿修羅、一切難處貧苦音聲,發起大悲莊嚴而自莊嚴。(六)聞天人趣勝妙音聲,觀一切法皆悉無常。(七)聞佛功德音聲,勤修精進,究竟滿足一切功德。(八)聞波羅蜜四攝菩薩經藏音聲,發究竟心到彼岸。(九)聞十方世界一切音聲,悉明了如響。(十)從初發心乃至道場,常正受法耳而亦不捨教化成熟一切眾生。〔舊華嚴經卷四十一、華嚴經探玄記卷十七、華嚴經疏卷五十三〕
; (十耳) Chỉ cho 10 thứ lực dụng nghe âm thanh mà hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên đạt được: 1. Nghe âm thanh khen ngợi, đoạn trừ tham ái. 2. Nghe âm thanh chê trách, đoạn trừ sân khuể. 3. Nghe các âm thanh Thanh văn, Duyên giác không khởi tâm mong cầu. 4. Nghe âm thanh Bồ tát đạo, phát khởi tâm hoan hỉ kì đặc. 5. Nghe các âm thanh của tất cả nơi tai nạn, nghèo khổ như địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, Diêm la vương, A tu la... phát khởi tâmđại bitựtrang nghiêm. 6. Nghe các âm thanh thù thắng, vi diệu của cõi trời,cõingười thì quán xét tất cả pháp thảy đều vô thường. 7. Nghe âm thanh công đức của Phật, thì tinh tiến siêng tu đầy đủ mọi công đức.8. Nghe âm thanh kinh tạng Tứ nhiếp bồ tátba la mật thì phát tâm rốt ráo đến bờ kia. 9. Nghe âm thanh của tất cả thế giới trong 10 phương đều biết rõ như tiếng vang. 10. Từ lúc mới phát tâm cho đến ngồi đạo tràng, thường chính thụ pháp nhĩ mà không bỏ việc giáo hóa thành thục tất cả chúng sinh. [X. kinh Hoa nghiêm Q.41 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53].
thập như quyền thật
427指「十如是」之權實。諸師對此說法不一。光宅寺僧法雲謂,前五如是─相、性、體、力、作為權,屬於凡夫。其次四如是─因、緣、果、報為實,屬於聖人。最後一如是本末究竟等,乃總結權(本末)實(究竟等)。又北地師主張前五如是為權,後五如是為實。 對以上二說,智顗評前者為凡夫缺因、緣、果、報,聖人缺相、性、體、力、作,即凡夫無實,聖人無權;評後者為偏於人情之見。故智顗另就十界而論十如是,認為一法界具十如是,十法界具有百如是;又一法界具九法界,故有百法界千如是之說。以九界之十如是為權,佛界之十如是為實;並將十界分為五類,即惡、善、二乘、菩薩、佛,以前四類為權,後一類為實。此乃就表相而論,若細論之,則十界原為一念之心所具;就理體而言,十界本來無差別平等,而方具權實。(參閱「十如是」427、權實」6894)
; (十如權實) Chỉ cho tính quyền biến và chân thực của Thập như thị. Về vấn đề này, có nhiều thuyết khác nhau. Theo ngài Pháp vân chùa Quang trạch thì 5 Như thị trước: Tướng, Tính, Thể, Lực và Tác là Quyền, thuộc phàm phu; 4 Như thị kế tiếp: Nhân, Duyên, Quả, Báo là Thực, thuộc Thánh nhân. Một như thị cuối cùng: Bản mạt cứu cánh đẳng là tổng kết Quyền(bản mạt) và Thực(cứu cánh đẳng). Còn các Luận sư miền Bắc thì chủ trương 5 Như thị trước là Quyền, 5 Như thị sau là Thực. Đối với 2 luận thuyết trên đây, ngài Trí khải bình phẩm thuyết trước, cho rằng phàm phu thiếu Nhân, Duyên, Quả, Báo; Thánh nhân thiếu Tướng, Tính, Thể, Lực, Tác, tức phàm phu không có Thực, Thánh nhân không có Quyền. Bình phẩm thuyết sau cho rằng thiên về cái thấy của nhân tình. Vì thế, ngài Trí khải mới y cứ vào Thập giới mà luận về Thập như thị, cho rằng 1 pháp giới có đủ 10 Như thị, 10 pháp giới có 100 Như thị. Lại trong 1 pháp giới có đủ 9 pháp giới, cho nên mới có thuyết Bách giới thiên như(100 pháp giới 1000 như thị). Thập như thị của 9 giới là Quyền; Thập như thị của Phật giới là Thực; đồng thời chia 10 giới làm 5 loại: Ác, thiện, Nhị thừa, Bồ tát, Phật và 4 loại trước là Quyền, 1 loại sau là Thực. Nhưng đây là nói về mặt Sự, chứ nói theo mặt Lí thì 10 giới xưa nay vốn bình đẳng vô sai biệt, mỗi giới đều có đủ Quyền, Thực. (xt. Thập Như Thị, Quyền Thực).
Thập Như Thị
(十如是, Mười Pháp Như Vậy) gồm có: (1) như thị tướng (如是相), - (2) như thị tánh (如是性), (3) như thị thể (如是体), - (4) như thị lực (如是力), (5) như thị tác (如是作), - (6) như thị nhân (如是因), (7) như thị duyên (如是緣), - (8) như thị quả (如是果), (9) như thị báo (如是報), - (10) như thị bản mạt cứu cánh đẳng (如是本末究竟等).
thập như thị
427指探究諸法實相應把握之相、性、體、力、作、因、緣、果、報、本末究竟等十種如是。又作十如。法華經卷一方便品(大九‧五下):「唯佛與佛,乃能究盡諸法實相。所謂諸法如是相、如是性、如是體、如是力、如是作、如是因、如是緣、如是果、如是報、如是本末究竟等。」即謂一切諸法之本來相狀(實相)具足十種如是。智顗用以與十法界、三種世間等相配而構成「一念三千」之理論。然歷來諸家於十如是所解各有異說,智顗之師慧思主張上文應在「如」字斷句,而稱為十如,或稱十如實相、十如境。又此經文係歸納法華經中之「開會」要義,即開權顯實、廢權立實、會三歸一等思想,故稱略開三顯一、略法華等。對此,日本天台宗亦盛行有關之各種口傳。智顗以前諸師對此文之解釋,或單稱智慧之作用、或謂佛之十力作用、或解為敘說三乘法之內容。 對上述各種解釋,智顗皆不以為然,蓋此十如是含攝下列諸理:迷悟與依正二報,事(現象)與理(本體)一體無別,權(假之事物)與實(真實)融於一如。依法華文句卷三下,則自十法界、佛界、離合與位次等四方面加以解釋。據法華玄義卷二上載,於空假中三諦,此應有三種不同讀法,即:是相如(即空)、如是相(即假)、相如是(即中)。十如是之中,「相」意即相狀,指外在之形相;「性」意即不變,指內在之本性;「體」即以相、性為屬性之主體。「力」即體所具有之潛在能力;「作」乃顯現動作者;「因」指直接原因;「緣」為間接原因;「果」即由因、緣和合所生之結果;「報」指果報。以上之因緣果形成後世之報果。「本末究竟等」之中,「本」指開始之相,「末」指最末之報,「等」指平等;即以上之如是相乃至如是報,皆歸趣於同一實相而究竟平等,故說本末究竟等。〔摩訶止觀卷五上〕(參閱「三轉讀文」695、「別解四類十如是」2803、「通解十如是」4806)
; The ten essential qualities, or characteristics, of a thing, according to the phẩm phương tiện of the Lotus sùtra: như thị tướng, form; như thị tính, nature; như thị thể, corpus or embodiment; như thị lực, powers; như thị tác function; như thị nhân, primary cause; như thị duyên, environmental cause; như thị quả, effect; như thị báo, karmaic reward; như thị bản mạt cứu kính, the inseparability, or inevitability of them all.
; (十如是) Cũng gọi Thập như. Chỉ cho 10 Như thị cần được nắm vững để tìm cầu thực tướng các pháp, đó là: Như thị tướng, Như thị tính, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo và Như thị bản mạt cứu cánh đẳng. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 5 hạ) nói: Chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt được thực tướng các pháp. Nghĩa là các tướng như thế, tính như thế, thể như thế, lực như thế, tác như thế, nhân như thế, duyên như thế, quả như thế, báo như thế và đầu cuối rốt ráo như thế. Tức tướng trạng(Thực tướng) của hết thảy các pháp xưa nay đều có đủ 10 thứ Như thị. Ngài Trí khải phối hợp 10 Như thị này với 10 pháp giới và 3 loại thế gian mà cấu thành thuyết Nhất niệm tam thiên(Một niệm ba nghìn). Nhưng xưa nay các nhà giải thích 10 Như thị đều khác nhau. Như ngài Tuệ tư chủ trương trong đoạn văn trên nên ngắt câu ở chữ Như mà gọi là Thập như, hoặc gọi là Thập như thực tướng, Thập như cảnh. Lại đoạn văn kinh này là qui nạp yếu nghĩa khai hội trong kinh Pháp hoa, tức trong tư tưởng Khai quyền hiển thực, Phế quyền lập thực, Hội tam qui nhất... cho nên gọi tắt là Khai tam hiển nhất, Lược pháp hoa... Về việc giải thích đoạn văn này, các vị Luận sư trước ngài Trí khải, có vị chỉ gọi là tác dụng của trí tuệ, hoặc gọi là tác dụng 10 lực của Phật, hoặc giải thích đó là sự trình bày về nội dung của pháp Tam thừa. Đối với các giải thích trên đây, ngài Trí khải đều không đồng ý, bởi vì, theo ngài, Thập như thị này nhiếp các lí: Mê ngộ, y chính, sự lí nhất thể, quyền thực viên dung. Pháp hoa văn cú quyển 3 hạ, thì giải thích theo 4 phương diện: Thập pháp giới, Phật giới, Li hợp và Vị thứ. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng, thì trong 3 đế Không, Giả, Trung, Thập như thịnàynên đọc theo 3 cách khác nhau, đó là Thị tướng như (tức Không), Như thị tướng(tức Giả)và Tướng như thị (tức Trung). Trong Thập như thị, Tướng nghĩa là tướng trạng, chỉ cho các hình tướng bên ngoài; Tính hàm ý là bất biến, chỉ cho bản tính bên trong; Thể tức chủ thể lấy tướng và tính làm thuộc tính; Lực tức là năng lực tiềm tàng sẵn trong Thể, Tác là động tác hiển hiện; Nhân chỉ cho nguyên nhân trực tiếp; Duyên là nguyên nhân gián tiếp; Quả là kết quả do Nhân và Duyên hòa hợp sinh ra; Báo chỉ cho quả báo. Trong Bản mạt cứu cánh đẳng thì Bản chỉ cho tướng mở đầu, Mạt chỉ cho báo cuối cùng, Đẳng chỉ cho bình đẳng, tức từ Như thị tướng cho đến Như thị báo nói ở trên đều hướng về Thực tướng đồng nhất và rốt ráo bình đẳng, cho nên nói là Bản mạt cứu cánh đẳng. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng]. (xt. Tam Chuyển Độc Văn, Biệt Giải Tứ Loại Thập Như Thị, Thông Giải Thập Như Thị).
Thập như thị 十如是
[ja] ジュウニョゼ jū nyoze ||| The ten factors, or ten "suchnesses" of existent things as taught in the Tiantai Buddhism 天台宗, based on the Lotus Sutra. These are marks 如是相, nature 如是性, substance 如是體, power 如是力, activity 如是作, primary causes 如是因, conditions 如是縁, effects 如是果, rewards and retributions 如是報, and the totality of the nine factors. Abbreviated as 〔法華經 T 262.9.5c12〕 => Mười Như thị do tông Thiên thai đề xướng, căn cứ trong kinh Pháp Hoa. Đó là: Như thị tướng, Như thị tánh, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo, Như thị cứu cánh bản mạt. Gọi tắt là Thập như十如.
thập nhất biến sử
326又稱十一遍行惑。指遍行因之惑。即迷於苦諦十惑中之身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見、疑、無明,及迷於集諦七惑中之邪見、見取見、疑、無明。此十一者為一切煩惱之生因,遍生一切惑。〔俱舍論卷十九〕(參閱「六因」1256)
; (十一遍使) Cũng gọi Thập nhất biến hành hoặc.Chỉ cho 11 hoặc(phiền não) của nhân Biến hành, cũng là nhân sinh ra tất cả phiền não. Đó là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, nghi, vô minh trong 10 hoặc do mê Khổ đế và 4 oặc: Tà kiến, kiến thủ kiến, nghi và vô minh trong 7 hoặc do mê Tập đế. [X. luận Câu xá Q.19]. (xt. Lục Nhân).
thập nhất chủng bất hoàn
326指成實論所舉的十一種不還之聖者。即:(一)現般,不還之聖者,不生於上界,而於欲界之現身斷餘惑般涅槃。(二)轉世,既得預流果,經多生欲界之生而得羅漢果。(三)中般,死於欲界而往色界,於中有之位斷餘惑而般涅槃。(四)生般,生於色界,速斷餘惑而般涅槃。(五)有行般,生於色界,加行勤修,經短暫之時而般涅槃。(六)無行般,生於色界,懈怠無加行,經長久之時,餘惑自解脫而般涅槃。(七)樂慧,(八)樂定,此二者同屬上流般,前者生於色究竟天,斷餘惑而般涅槃;後者生於無色界有頂天,斷餘惑而般涅槃,彼雖生於無色界,以經色界之生,故攝於色界。(九)信解,(十)見至,此二者乃修道中鈍、利之二根,俱舍七聖中之第三、第四。(十一)身證者,乃入滅盡定而身得寂靜樂者。〔大乘義章卷十一本〕
; (十一種不還) Chỉ cho 11 bậc Thánh Bất hoàn được nêu trong luận Thành thực, đó là: 1. Hiện ban: Bậc Thánh Bất hoàn không thụ sinh ở các cõi trên mà ngay nơi thân cõi Dục đoạn trừ các hoặc còn lại và nhập Niết bàn. 2. Chuyển thế: Đã chứng quả Dự lưu, trải qua nhiều đời thụ sinh ở cõi Dục mà được quả A la hán. 3. Trung ban: Chết ở cõi Dục mà lên cõi Sắc, ở giai đoạn Trung hữu đoạn trừ các hoặc còn lại rồi nhập Niết bàn. 4. Sinh ban: Sinh lên cõi Sắc, mau chóng đoạn trừ các hoặc còn lại mà nhập Niết bàn. 5. Hữu hành ban: Sinh lên cõi Sắc, gia hạnh siêng tu, chỉ trong thời gian ngắn là nhập Niết bàn. 6. Vô hành ban: Sinh lên cõi Sắc, nhưng biếng tu gia hạnh, nên phải trải qua thời gian dài đoạn hoặc còn lại để tự giải thoát mà nhập Niết bàn. 7. Lạc tuệ. 8. Lạc định: Hai bậc này đều thuộc Thượng lưu ban; bậc Lạc tuệ sinh lên cõi trời Sắc cứu cánh, đoạn trừ các hoặc còn lại mà nhập Niết bàn; bậc Lạc định thì sinh lên tầng trời Hữu đính cõi Vô sắc đoạn trừ các hoặc còn lại rồi nhập Niết bàn. Bậc này tuy sinh lên cõi Vô sắc, nhưng vì sinh qua cõi Sắc nên cũng thuộc cõi Sắc. 9. Tín giải. 10. Kiến chí: Hai bậc này là 2 căn cơ độn, lợi trong Tu đạo, là các bậc Thánh thứ 3, thứ 4 trong 7 bậc Thánh của luận Câu xá. 11. Thân chứng giả: Bậc Thánh vào định Diệt tận, thân được tĩnh lặng, yên vui. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.11, phần đầu].
thập nhất chủng nguyệt dụ
327據南本涅槃經卷九載,如來為救度眾生,隨機而演說種種法要,能破一切眾生之無明,令其皆能遠離貪、瞋、癡等煩惱,而獲得涅槃清淨之樂;猶如月盛滿之時,清光普照,能使一切大地悉皆明朗,故以月為喻。即:(一)能破暗,謂如來種種說法能破除一切眾生無明大暗;猶如月盛滿之時,清光普照,能使一切大地悉皆明朗。(二)令見道非道,謂如來說法開示正道、邪道,人皆分別而知其可行不可行;猶如月盛滿之時,普照大地,凡是路或非路,皆令眾生明見。(三)令見道邪正,謂如來開示生死邪險之途,令眾生趨於涅槃平正之道;猶如月盛滿之時,普照大地,凡路之邪正險夷,皆令眾生明見。(四)除鬱蒸得清涼,謂如來說法令人皆能遠離貪欲、瞋恚、愚癡、生死之苦,而獲涅槃清涼之樂;猶如月盛滿之時,雖遇炎暑鬱結之蒸熱,然令清涼之氣襲人。(五)破壞螢火高心,謂如來出世,正法昭著,一切外道邪見之光明悉皆破壞;猶如月盛滿之時,一切山河大地無不普照,而螢火之光悉皆不現。(六)息盜賊想,謂如來說法令眾生破無明暗,一切煩惱皆不復生;猶如月盛滿之時,一切幽暗無不朗耀,使盜賊竊取之想法自然息止。(七)除畏惡獸心,謂如來說法開示眾生正見,令其煩惱蓋障悉皆除滅;猶如月盛滿之時,一切幽暗無不照燭,令曠野夜行之人於惡獸出沒時皆能明見。(八)開敷優鉢羅華,優鉢羅華,指青蓮。謂如來說法開示明了,一切眾生所有心華悉皆敷榮;猶如月盛滿之時,因其光照之故,華乃開敷。(九)合蓮華,謂如來說法開示明了,令眾生被五欲覆蓋之心不復發起;猶如月盛滿之時,因其光照之故,蓮華開而復合。(十)發行人進路心,謂如來說法令諸眾生勇猛進修,趣向大涅槃之道;猶如月盛滿之時,一切道路邪正夷險悉皆明白,使行者之心歡喜前進。(十一)令眾生受樂,謂如來說法開示明了,令眾生修習禪定,破諸煩惱,而得解脫之樂;猶如月盛滿之時,令人賞玩而生娛樂心。
; (十一種月喻) Chỉ cho 11 điều lợi ích của việc Như lai Nói pháp được ví dụ như ánh sáng của vầng trăng tròn. Đó là: 1. Phá trừ bóng tối: Lời nói pháp của đức Như lai có năng lực phá trừ vô minh tăm tối của tất cả chúng sinh, giống như khi trăng tròn thì ánh sáng trong mát chiếu soi làm cho khắp mặt đất đều sáng tỏ. 2. Giúp chúng sinh thấy rõ chính đạo, tà đạo: Như lai nói pháp mở bày chính đạo, tà đạo, khiến mọi người đều biết rõ điều gì nên làm điều gì không nên làm; giống như khi trăng tròn ánh sáng soi rọi khắp mặt đất, mọi người đều thấy rõ đâu là đường đi đâu không phải đường đi. 3. Khiến chúng sinh thấy rõ đường tà chính: Đức Như lai chỉ bày con đường sinh tử tà hiểm, khiến chúng sinh hướng tới đường Niết bàn bằng phẳng thênh thang; giống như vầng trăng tròn, ánh sáng chiếu khắp mặt đất, giúp mọi người thấy rõ con đường bằng phẳng, khúc khuỷu. 4. Trừ nóng bức, được mát mẻ: Đức Như lai thuyết pháp khiến chúng sinh xa lìa các khổ tham dục, sân khuể, ngu si, sinh tử và được niềm vui Niết bàn mát mẻ; giống như vầng trăng tròn, mặc dầu trời nóng bức, vẫn tỏa ra ánh sáng mát dịu, mang lại hơi lạnh thấm vào người. 5. Phá tan tâm tự cao: Đức Như lai ra đời, chính pháp sáng rỡ, làm cho ánh sáng của tất cả ngoại đạo tà kiến đều lu mờ; giống như vầng trăng tròn, ánh sáng chiếu rọi tất cả núi sông, đất đai, không đâu không sáng tỏ, khiến cho ánh sáng của loài đom đóm đều bị tan mất. 6. Ngăn dứt ý tưởng trộm cướp: Đức Như lai nói pháp khiến chúng sinh phá trừ bóng tối vô minh, tất cả phiền não mãi mãi không khởi; giống như vầng trăng tròn, ánh sáng soi rọi tất cả các nơi tăm tối, làm cho các ý nghĩ trộm cướp tự nhiên dứt bặt. 7. Trừ bỏ tâm sợ ác thú: Như lai nói pháp mở bày chính kiến cho chúng sinh khiến tất cả phiền não nghiệp chướng đềubị tiêu trừ; giống như vầng trăng tròn ánh sáng soi chiếu tất cả chỗ tối tăm, giúp người đi trong đêm tối giữa đồng hoang thấy rõ các ác thú khi chúng xuất hiện.8. Làm cho hoa Ưu bát la nở rộ: Hoa Ưu bát la chỉ cho hoa sen xanh. Nghĩa là đức Như lai thuyết pháp chỉ bày rõ ràng, khiến cho hoa tâm của tất cả chúng sinh đều nở rộ tươi thắm; giống như vầng trăng tròn tỏa ánh sáng khiến hoa nở rộ. 9. Làm cho hoa sen cúp trở lại: Như lai nói pháp chỉ bày rõ ràng khiến tâm ngũ dục của chúng sinh không còn phát khởi nữa; giống như vầng trăng tròn, tỏa ánh sáng chiếu rọi, khiến cho hoa sen nở rồi cúp trở lại. 10. Làm cho người đi đường mạnh mẽ tiến bước: Đức Như lai thuyết pháp khiến chúng sinh dũng mãnh tiến tu, hướng tới con đường đại Niết bàn; giống như vầng trăng tròn, tất cả con đường chính tà, an nguy đều soi rõ hết, làm cho tâm người lữ hành vui mừng tiến lên. 11. Làm cho chúng sinh được vui: Đức Như lai thuyết pháp chỉ bày rõ ràng, khiến chúng sinh tu tập thiền định, phá trừ các phiền não, được niềm vui giải thoát; giống như vầng trăng tròn, khiến người ngắm trăng sinh tâm vui thích. [X. kinh Niết bàn Q.9 (bản Nam)].
Thập nhất chủng thô trọng 十一種麁重
[ja] ジュウイチシュ ソジュウ jūichishu sojū ||| The eleven coarse and heavy hindrances which accord with each of the pairs of the twenty-two kinds of folly 二十二種愚痴, and which are severed at each of the eleven bodhisattva stages 十一地. 〔瑜伽論 T 1579.30.730a9〕 => Mười một loại chướng ngại thô trọng, mỗi thứ cùng kết hợp thành một cặp trong Hai mươi hai loại ngu si (Nhị thập chủng ngu si 二十二種愚痴) mà hàng Bồ-tát thập nhất địa phải đối trị với từng loại một rất khó khăn.
thập nhất chủng trù lâm
327稠林者,喻種種煩惱交絡繁茂。十地中第九善慧地之菩薩,知眾生有十一種之稠林,即:心、煩惱、業、根、解、性、樂欲、隨眠、受生、習氣相續、三聚差別等之稠林。
; (十一種稠林) Chỉ cho 11 thứ rừng rậm. Tức dụ cho 11 loại phiền não rối rắm chằng chịt ràng buộc chúng sinh, đó là: Tâm, phiền não, nghiệp, căn, giải, tính, lạc dục, tùy miên, thụ sinh, tập khí tương tục và tam tụ sai biệt.
thập nhất diện chân ngôn
323指十一面觀音之真言,有大、小二咒。大咒為:根本陀羅尼 唵娜羅娜羅 地哩地哩 度嚕度嚕 壹知嚩知者隸者隸 鉢羅者隸 鉢羅者隸 矩蘇銘矩蘇摩縛隸 壹里弭里 止里止致 惹羅摩跛曩也 跛羅摩秫馱 薩怛縛 摩訶迦嚕尼迦 娑縛訶。小咒為:唵 嚕雞 入縛羅 紇哩。〔陀羅尼集經卷四、十一面觀自在菩薩心密言念誦儀軌經(不空)、十一面神咒心經(玄奘)〕
; (十一面真言) Chỉ cho Chân ngôn của Bồ tát Thập nhất diện Quan âm, gồm có Đại chú và Tiểu chú. -Đại chú (Căn bản đà la ni): Án na la na la địa lí địa lí độ rô độ rô nhất tri phạ tri giả lệ giả lệ bát la giả lệ bát la giả lệ củ tô minh củ tô ma phược lệ nhất lí nhĩ lí chỉ lí chỉ trí nhạ la ma bả nẵng dã bả la ma truật đà tát đát phược ma ha ca rô ni ca sa phụ ha.-Tiểu chú: Án rô kê nhập phược la hột lí. [X. Đà la ni tập Q.4; kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ (Bất không); Thập nhất diện thần chú tâmkinh (Huyền trang)].
thập nhất diện phán quan bồ tát
Ekadaśa-mukha (S) Đại Quang Phổ Chiếu Quán Thế Âm Bồ tát Tên một vị Bồ tát.
thập nhất diện quan âm
324梵名 Ekādaśa-mukha。六觀音之一,七觀音之一。又作十一面觀自在菩薩、大光普照觀世音菩薩。淵源於印度婆羅門教之十一荒神(梵 Ekādaśa-rudra),或於西元五、六世紀頃摻入佛教。其十一面之配置有種種不同,又有二臂、四臂、八臂等異。十一面觀自在菩薩心密言念誦儀軌經卷下記載其四臂之像,身長一尺三寸,前三面作寂靜相,右三面作威怒相,左三面作利牙出現相,後一面為笑怒相,頂上之一面作如來相。又印度孟買甘赫瑞(Kanheri)石窟安置之四臂像,本面頂上有三重,各安三面,其上再加一面,凡十一面,四臂中左第一手持蓮花,右第一手結施無畏印,其他二手所持之物不明。 我國山西天龍山第九窟、燉煌千佛洞伯希和第一○二號皆有十一面觀音像,前者二臂,後者八臂。有關示現十一面之意義,依十一面神咒心經義疏載,頂上之佛面表示佛果,前三面慈相,見善眾生而生慈心,大慈與樂;左三面瞋面,見惡眾生而生悲心,大悲救苦;右三面白牙上出相,見淨業者,發希有讚,勸進佛道;最後一面暴大笑面,見善惡雜穢眾生而生怪笑,改惡向道。 在密教胎藏界曼荼羅中,十一面觀音位列蘇悉地院之最左端。具四臂,本面兩側各一面(忿怒形),其上具五面,其上復有三面。左第一手持蓮花,第二手持軍持(瓶),右第一手捻小指、食指,第二手捻小指、無名指。祈求十一面觀音,可望除病、滅罪。又以十一面觀音為中尊建立之曼荼羅,稱為十一面觀音曼荼羅。此外,日本十一面觀音像之較著名者,有藏於聖林寺、觀音寺之天平佛(木心乾漆)等。〔十一面觀世音神咒經、十一面神咒心經、陀羅尼集經卷四〕
; Ekadaśa-mukha-avalokiteśvara (S) Thập Nhất Diện Quán Thế Âm Tên một vị Bồ tát.
; (十一面觀音) Phạm: Ekàdaza-mukha. Cũng gọi Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát, Đại quang phổ chiếu Quán thế âm bồ tát. Bồ tát Quán âm 11 mặt, 1 trong 6 vị Quán âm, 1 trong 7 vị Quán âm. Vị tôn này có nguồn gốc từ Thập nhất hoang thần (Phạm: Ekàdaza-rudra) của Bà la môn giáo ở Ấn độ, có lẽ đã được du nhập Phật giáo vào khoảng thế kỉ thứ V, VI. Cách phối trí 11 mặt có nhiều thuyết khác nhau và hình thức 2 tay, 4 tay, 8 tay... cũng bất đồng. Kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ quyển hạ nói rằng: Tượng Ngài có 4 tay, thân cao 1 thước 3 tấc (Tàu), 3 mặt trước mang vẻ tĩnh lặng, 3 mặt bên phải hiện tướng phẫn nộ, 3 mặt bên trái nhe răng nanh bén nhọn, mặt chính lộ vẻ mỉm cười, mặt thứ 11 trên đỉnh đầu hiện tướng Như lai. Tượng 11 mặt an trí ở hang đá Cam hách thụy (Kanheri) gần Bombay, Ấn độ, thì trên đỉnh đầu của mặt chính có 3 tầng, mỗi tầng có 3 mặt, trên 3 tầng ấy lại có thêm 1 mặt, tất cả gồm 11 mặt. Trong 4 tay thì tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ nhất bên phải kết ấn Thí vô úy. Tại Trung quốc, trong hang đá thứ 9 ở núi Thiên long thuộc tỉnh Sơn tây và Pelliot số 102 ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng đều có tượng Thập nhất diện Quán âm. Tượng ở núi Thiên long có 2 tay, tượng ở động Đôn hoàng có 8 tay. Về ý nghĩa thị hiện 11 mặt, theo Thập nhất diện thần chú tâm kinh nghĩa sớ thì mặt Như lai trên đỉnhđầu biểu thị cho Phật quả; 3 mặt phía trước hiện tướng Đại từ, hễ thấy chúng sinh làm điều thiện thì sinh từ tâm, ban cho niềm vui; 3 mặt bên trái hiện tướng phẫnnộ, hễ thấy chúng sinh làmviệcác thì sinh bi tâm, xót thương cứu khổ; 3 mặt bên phải hiện tướng Tượng Quán âm 11 mặt ở hang đá Cam hách thụy (Kanheri), Ấn độ Tượng Thập nhất diện Quán âm được khắc vào đời Đường, Trung quốcnhe răng, hễ thấy chúngsinh tutịnh nghiệp thì khen ngợi là hiếm có và khuyến khích tiến vào Phật đạo; mặt cuối cùng hiện tướng cười tươi, vì thấy chúng sinh bỏ điều ác hướng về Đạo. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì Thập nhất diện Quan âm được đặt ở vị trí cuối cùng bên trái của viện Tô tất địa, có 4 tay, 2 bên của mặt chính có 2 mặt đều hiện tướng phẫn nộ, bên trên 3 mặt này lại có 5 mặt, bên trên 5 mặt này lại có 3 mặt nữa. Tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ 2 cầm quân trì(bình), tay thứ nhất bên phải co ngón út, ngón trỏ, tay thứ 2 co ngón út, ngón vô danh. Tu pháp Thập nhất diện Quan âm cầu trừ bệnh, diệt tội. Mạn đồ la thờ Thập nhất diện Quan âm làm Trung tôn gọi là Thập nhất diện Quán âm mạn đồ la. Ngoài ra, ở Nhật bản, tượng Thập nhất diện Quán âm bằng gỗ tạc vào thời Thiên bình, được cất giữ ở chùa Thánh lâm, chùa Quán âm là nổi tiếng hơn cả. [X. kinh Thập nhất diện Quán âm thần chú; Thập nhất diện thần chú tâm kinh; kinh Đà la ni tập Q.4].